Blog Page 2150

Bạn trẻ muốn tìm hiểu Ơn gọi

CHIA SẺ VỚI BẠN TRẺ MUỐN TÌM HIỂU ƠN GỌI

Lm Micae Trương Thanh Tùng, SJ

11.05.2009 15:03

Xin giới thiệu đến quý độc giả đặc biệt là các bạn trẻ đang muốn tìm hiểu ơn gọi bài chia sẻ của cha Micae Trương Thanh Tùng, Dòng Tên với các bạn trẻ Bắc Ninh trong ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Chúng tôi sưu tầm được bài này tại trang web giadinhbacninh.com

MẾN CHÀO CÁC BẠN TRẺ ĐẾN VỚI
CHÚA NHẬT ƠN THIÊN TRIỆU 3.5.2009

 

Chúng ta vừa thảo luận theo nhóm về câu chuyện ơn gọi Mt 19,16-22:

Có thể tóm tắt thành ba câu hỏi:

    1. Có ơn gọi / tiếng gọi thật không? Tiếng gọi thể hiện thế nào?
    2. Có những ơn gọi / bậc sống nào trong Giáo Hội?
    3. Làm sao biết được ơn gọi của tôi?

Câu hỏi 1: Có “tiếng gọi” thật không? Tiếng gọi xảy ra thế nào?

– Trong đời thường: “tiếng gọi” ám chỉ một cuốn hút, thúc bách, xu hướng, lôi kéo một cá nhân, đến độ không cưỡng lại được, đến với một điều gì đó (chẳng hạn 1 NGHỀ), đến độ cá nhân không thể chọn khác được.

– Trong tình yêu: đó là “tiếng sét ái tình”, khiến một người bị hoàn toàn cuốn hút bởi người kia.

– Trong Kinh Thánh: Thiên Chúa gọi/cuốn hút Môsê (Xh 3,1-6); Samuen (1Sm 3,10); Mẹ Maria (Lc 1,26-38); 4 môn đệ đầu tiên, Lêvi,Phaolô trên đường đi Đamát (Cv 9,1-19).

– Dù thuộc lãnh vực đời thường, lãnh vực tình yêu hay Kinh Thánh, mọi tiếng gọi đều có chung các thành tố sau:

    1. Khởi đầu từ một tiếp xúc / gặp gỡ bên ngoài.
    2. Cá nhân cảm thấy sự cuốn hút mạnh mẽ từ bên trong .
    3. Cơ hội tiếp cận / ngỏ lời với “tiếng gọi”.
    4. Cá nhân đáp lời và nhận ra sự tương hợp giữa 2 phía.
    5. Đương sự cảm thấy sung mãn khi đáp ứng được tiếng gọi ấy.

– Minh họa 5 yếu tố ấy trong Ga 1,35-39 và Lc 5,1-11

      1. Đương sự gặp gỡ Chúa Giêsu.
      2. Cảm thấy sự cuốn hút mạnh mẽ, sâu thẳm từ Chúa.
      3. Chúa ngỏ lời mời gọi đầu tiên.
      4. Cá nhân đáp ứng & kinh nghiệm Chúa lớn lao / mình thật nhỏ bé.
      5. Cá nhân đáp lại tiếng gọi của Chúa và đạt sự sung mãn

B. Câu hỏi 2: Có những ơn gọi nào trong Giáo Hội?

1)  Ơn gọi căn bản là ơn gọi Kitô-hữu, trở nên môn đệ Chúa Kitô. Các bậc sống chỉ là thêm vào ơn gọi căn bản ấy.- Ơn gọi của mọi môn đệ cốt ở đi tìm tôn vinh Thiên Chúa ngay trong bậc sống của mình để cứu độ linh hồn mình. Người tu thì tôn vinh Chúa và tìm phần rỗi đời mình trong đời tu; người sống bậc hôn nhân thì tìm kiếm hai điều ấy trong đời sống gia đình. Nếu bậc sống tôi đang theo đuổi không bảo đảm hai điều ấy thì chắc chắn
đấy không là ơn gọi của tôi. Hãy tìm bậc khác.

2)  Vậy có những bậc sống nào của người môn đệ?

– Hãy nhìn vào số những người theo Chúa Kitô: Nhóm 12; Nhóm 72; các phụ nữ; theo Chúa “tại gia” như Giakêu; gia đình Bêtania…

– Giáo hội hôm nay cũng có những người tương tự

– Nhóm 12: giáo sĩ, tu sĩ, tu đoàn tông đồ, giáo dân dấn thân trọn đời.

– Nhóm 72: thành viên các nhóm truyền giáo giáo dân hay các ban phục vụ: HĐGX, GLV, Ca đoàn.

– Nhóm tại gia: các gia đình kitô-giáo đạo đức

3)  Nhóm giáo sĩ, tu sĩ và tu đoàn tông đồ

– Riêng nhóm giáo sĩ, tu sĩtu đoàn tông đồ là những người theo sát Chúa nhất và chia sẻ những trực tiếp nhất với công việc của Giáo Hội và được chuẩn nhận bởi Giáo Hội.

* Giáo sĩ: có chức thánh (phó tế, linh mục, giám mục).

* Tu sĩ: có lời khấn công theo Hiến pháp của một hội dòng (khấn tạm và vĩnh khấn). Phân loại:

    1. Dòng thuộc Tòa Thánh / dòng thuộc giáo phận
    2. Dòng chiêm niệm / Dòng hoạt động (truyền giáo, giáo dục, xã hội)
    3. Dòng giáo sĩ (nam) / Dòng giáo dân (nữ; Sư huynh Lasan)
    4. Tu Dòng (có đời sống cộng đoàn) / Tu hội đời (sống tại thế)

* Tu sĩ mỗi Dòng được huấn luyện, sốnglàm tông đồ theo tôn chỉ của Hiến Pháp riêng của Dòng đã được Tòa Thánh phê chuẩn.

* Tu đoàn tông đồ: là những hiệp hội giáo sĩ hay giáo dân cùng dấn thân làm tông đồ với tư cách cộng đoàn. Khác với Dòng tu hay tu hội đời có lời khấn công, tu đoàn tông đồ chỉ có lời khấn tư, nhưng Hiến pháp của Tu đoàn cũng phải được Tòa Thánh phê chuẩn.

* Bản chất của một lời khấn là “công” hay “tư” tùy thuộc vào Hiến Pháp được Tòa Thánh phê chuẩn. “Công”: có nghĩa được Giáo hội nhìn nhận; “”: có nghĩa chỉ riêng của cá nhân khấn với Chúa.

4)  Lịch sử phát sinh các dòng tu trong Giáo hội

  1. Thế kỷ I:  Đời sống khổ hạnh tại gia (các trinh nữ dâng hiến)
  2. Thế kỷ III:  Lối sống ẩn tu (thánh Antôn tu rừng).
  3. Thế kỷ VI:  Lối sống đan tu (thánh Biển đức)
  4. Thế kỷ XII- XIII:  Các dòng hiệp sĩ, cứu tế (y tế, hành hương).
  5. Thế kỷ XIII: Lối sống khất thực (Đaminh, Phanxicô).
  6. Thế kỷ XVI:  Khởi đầu các dòng giáo sĩ và truyền giáo (Dòng Tên)
  7. Từ thế kỷ XVII: Các dòng trợ thế mới chuyên giáo dục, y tế, xã hội.
  8. Thế kỷ XX:  Các tu hội đời được thiết định.

Câu hỏi 3: Làm sao nhận biết ơn gọi của tôi?
1) Đặt khung cảnh cho mọi chọn lựa: Đích nhắm chung của mọi chọn lựa của người KTH: chọn bậc sống nào giúp tôi phụng thờ Thiên Chúa, cứu rỗi hồn mình, phục vụ tha nhân. Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì? (Mt 16,26)

– Sau đó phải đi “shopping” ơn gọi để tìm hiểu những bậc sống khác nhau và chọn lựa. Đâu là bậc sống đem lại ý nghĩa cho đời tôi?

2) Ba tiêu chuẩn nhận định ơn gọi: Thiên thời / nhân hòa / địa lợi

a) Thiên thời: Chúa gieo vào lòng mỗi người trẻ một ước muốn về bậc sống đem lại ý nghĩa cho cuộc đời của người trẻ ấy (bậc sống, nghề nghiệp, định hướng tương lai).

– Dấu chỉ sơ khởi của ơn gọi: Tôi bị cuốn hút về bậc sống nào trong Giáo hội: giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ, lập gia đình, sống độc thân phục vụ… Bậc nào mang đến ý nghĩa và sức mạnh nhất cho đời tôi. Nếu tôi không chọn bậc ấy, có vẻ như đời tôi không toàn vẹn.

– Tuy nhiên, để chọn lựa được khách quan và chuẩn xác, bạn phải có cơ hội tiếp xúc, hiểu biết nhiều ơn gọi khác nhau thì mới rõ. Nhiều người phải đi tu “thử” rồi mới biết mình không có ơn gọi tu trì; có người khác đã hứa hôn, nhưng sau một biến cố thiêng liêng nào đó (tĩnh tâm, cuộc lễ, người thân qua đời…), lại nhận ra ơn gọi của mình là sống đời dâng hiến.

– Vì thế các buổi tĩnh tâm, giới thiệu ơn gọi, tạo điều kiện cho bạn mở ra hơn so với ơn gọi “độc đạo” là hôn nhân.

– Yếu tố thiên thời của đời tu phải là động cơ dấn thân trong suốt: khao khát hiến thân phụng sự Chúa và nhân loại, chứ không phải đi tìm cơ hội tiến thân hay cơ hội học hành.

b) Nhân hòa: Thiên Chúa ban cho người trẻ những năng lực cần thiết cho bậc sống thích hợp với người ấy.

  1. Bậc sống giáo dân và hôn nhân gần gũi với đa số người.
  2. Nếu là bậc sống giáo sĩ và tu sĩ đòi những điều kiện khác: từ sức khỏe, học vấn, ước muốn và khả năng hiến thân phụng sự Thiên Chúa và Giáo hội, khả năng sống 3 lời khuyên phúc âm, khả năng sống cộng đoàn

c) Địa lợi: Nếu là bậc sống giáo sĩ và tu sĩ, thì từ tuổi thơ cho đến lúc lớn, Chúa ban cho cá nhân ấy mọi hoàn cảnh thuận lợi (gia đình, giáo dục, xã hội…) để hướng tới ơn gọi tu trì. Và nhất là phải được sự chuẩn nhận của giáo quyền hay bề trên (nhận vào Chủng Viện hay Nhà Tập; chấp nhận cho khấn hay chịu chức…)

Tóm lại: Chỉ khi một cá nhân được Chúa ban đủ cả ba điều kiện trên thì ơn gọi mới thành sự và sung mãn. Thiếu một trong ba, một ơn gọi sẽ không thành sự, hoặc nếu thành sự thì cá nhân người đi tu không triển nở, không hạnh phúc, không sinh hoa kết quả.

3) Các dấu chỉ của một lựa chọn ơn gọi đúng hay sai:

a) ĐÚNG:
–  Nội tâm: Cá nhân bình an, hạnh phúc, thấy đời mình có ý nghĩa, ơn gọi ấy vừa sức với cá nhân.
–  Bên ngoài: Cá nhân được Chúa ban những hoàn cảnh thuận lợi và bước đường ơn gọi xuôi chảy.

b) SAI
–  Nội tâm: Bất an, uể oải, vượt sức, chán chường.
–  Bên ngoài: Trắc trở, không được nhận.

Bắc Ninh ngày 3/5/2009
Lm: Micae Trương Thanh Tùng SJ

 

Thường huấn 2009

MỘT VÀI KINH NGHIỆM HUẤN LUYỆN TU SĨ TRẺ HÔM NAY

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Dựa trên kinh nghiệm riêng khi tiếp xúc với một số Dòng Tu trong những năm qua, nhìn chung tu sĩ trẻ ngày nay có những ước mơ và những đòi hỏi về người huấn luyện.

Sau đây là chín nét mà họ thấy cần có nơi khuôn mặt nhà huấn luyện hôm nay.

1. Người huấn luyện  (NHL) là người có tự do nội tâm

NHL không còn bị hay ít bị chi phối bởi những đam mê hay tình cảm lệch lạc, không bị chi phối bởi tình cảm yêu hay ghét, thích hay không thích. NHL không quyết định vì có ác cảm hay bởi thù oán, ghen tỵ với ai. Như thế NHL là người trưởng thành về tình cảm. Sự trưởng thành này giúp NHL không có khuynh hướng lệch lạc với người dưới quyền, không lạm dụng, nhưng luôn giữ được sự chính trực và công bằng.

Hơn nữa, NHL là người trưởng thành về đời sống thiêng liêng, nghĩa là đã được giải phóng khỏi cái tôi, đã ra khỏi mình, đã “bình tâm” theo lối hiểu của thánh Inhaxiô Loyola, đã không còn muốn bám vào ý riêng của mình, vào kế hoạch của mình, dù điều đó là tốt. Nhưng NHL chỉ mong tìm ý Chúa và thực hiện, chỉ mong tìm ích chung cho cộng đoàn, cho sự lớn lên thực sự của từng thành viên. Như thế NHL là người say mê với cái hơn (MAGIS), thanh thoát và siêu thoát, không bị trói bởi ràng buộc nào, trừ những gì làm nên căn tính người tu sĩ của Dòng.

2. Người huấn luyện là con người thánh thiện

Người Thụ Huấn (NTH) trong đời tu rất mong gặp được, chạm được một mẫu mực thánh thiện đúng theo tinh thần Dòng tu của mình. Họ muốn gặp được một con người bằng xương bằng thịt đang sống trọn vẹn mẫu tu sĩ trong Hiến chương, để thấy rằng thánh thiện không phải là chuyện hoang tưởng, nhưng là một lý tưởng có thể đạt được với ơn Chúa. Thánh thiện đòi kết hiệp với Chúa liên tục trong mọi tình huống, gặp thấy Chúa trong mọi biến cố. NHL dĩ nhiên phải là con người cầu nguyện, con người luôn tìm kiếm ý Chúa và can đảm thực hiện, chứ không phải là người áp đặt ý mình trên người khác. NHL thánh thiện cũng là người biết nhận định cách khôn ngoan để phân biệt tác động của tà thần với tác động của Chúa.

NHL là người dạy dỗ và hướng dẫn không chỉ bằng lời, nhưng chủ yếu bằng gương sáng. Sống điều mình dạy, tránh nói mà không làm, gương mẫu về mọi mặt để người NTH có thể noi theo. Nơi con người của NHL, những NTH thấy sự thống nhất giữa các mặt khác nhau và cả các mặt đối nhau nữa, thí dụ như chiêm niệm và hoạt động, vâng phục và sáng kiến, cộng đoàn và tông đồ…

NHL là người có lửa và sẵn sàng chia lửa cho cộng đoàn. Sự thánh thiện của NHL còn được lộ ra qua mọi đức tính nhân bản mà mình đã tập được (Ph 4, 8-9). Sự giả hình và che đậy, sự dối trá quanh co, là những điều người tu sĩ trẻ hôm nay khó chấp nhận.

3. Người huấn luyện là người biết yêu quý từng thành viên thụ huấn

Tình yêu đối với từng người là điều quan trọng. Hơn nữa tình yêu ấy phải làm sao để được người thụ huấn (NTH) nhận ra. Tình yêu được diễn tả qua việc quan tâm đến sức khỏe, gia đình, đời sống tình cảm, học tập, cầu nguyện. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời gian NTH gặp khủng hoảng. Hỏi thăm là hình thức đơn sơ nhất và NTH nào cũng thích, miễn là biết cách để không có vẻ soi mói, điều tra. Con người là một giá trị phải được đặt lên trên công việc hay của cải vật chất.

Mỗi NTH có một lịch sử riêng, hoàn cảnh riêng, vấn đề riêng, tắt một lời, mỗi NTH là một thụ tạo độc đáo, nên cách gặp gỡ từng người cũng có phần khác nhau. Cũng nên biết NTH đang ở trong giai đoạn nào của chương trình huấn luyện, để từ đó không đòi hỏi quá đáng.

Đồng hành là thái độ ngày nay người ta thích nói đến trong việc huấn luyện. Đồng hành là cùng đi với NTH, đi cùng một nhịp nhanh chậm với người ấy, không hẳn là luôn luôn đi trước mở đường, dẫn đường như một người thầy, nhưng trở nên bạn đi chung với người ấy.

Dành giờ để gặp riêng từng người sẽ giúp tạo sự thông cảm, hiểu biết nhau, nhờ đó việc huấn luyện sẽ tốt hơn và dễ dàng hơn.

Sự hiện diện khá thường xuyên của NHL tại cộng đoàn là điều cần thiết. Nó cho thấy NHL coi trọng việc huấn luyện và các NTH hơn các việc tông đồ hay những mối bận tâm khác. Phải cho các NTH thấy là mình rất hạnh phúc khi được sống bên cạnh họ. Huấn luyện là việc tông đồ ưu tiên của dòng tu vì qua việc này chúng ta sinh ra những nhà tông đồ mới để đáp ứng nhu cầu tông đồ. Tích cực tham dự các sinh hoạt cộng đoàn như lao động, giải trí, cầu nguyện, học tập, tĩnh tâm, picnic, nghỉ hè, thăm nhà nhau…cũng giúp tạo ra sự gần gũi và thấy được con người thật của NTH.

4. Người huấn luyện là người biết đối thoại, biết lắng nghe

Lắng nghe tích cực là một hành vi của trái tim. Chỉ trái tim yêu thương mới nghe được những điều nằm ẩn sau lớp vỏ của ngôn từ. Chỉ khi thực sự muốn nghe, ta mới nghe thấy điều cần biết. Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu, đó không phải chỉ là châm ngôn của Prudential, mà còn là của NHL. Chỉ khi hiểu một người từ bên trong, ta mới có thể huấn luyện người ấy. NHL hôm nay cần nỗ lực nghe nhiều mới hy vọng hiểu được lối suy nghĩ, lối nói và lối phản ứng của NTH. Nếu không, có nguy cơ hiểu lầm, từ đó tạo đau khổ cho mình và quyết định sai cho NTH.

NHL cần tránh thái độ vội vã xét đoán, vội vã kết luận. Cần kiểm chứng từ nhiều nguồn trước khi kết luận, nhất là cần nghe ý kiến biện hộ của người bị tố cáo. Được lắng nghe là quyền của NTH, chúng ta tôn trọng quyền này. Ngay cả những điều chúng ta thấy tận mắt cũng chưa thể dẫn đến một khẳng định nào, vì chúng ta không lường hết được mọi tình huống.

Lắng nghe tích cực là dám hỏi ý và nghe góp ý của người khác, dù là những điều rất khó nghe vì đòi mình phải thay đổi. NHL càng ít tự ái khi nghe những lời phê bình, càng ít tự mãn về hiểu biết của mình, thì càng dễ lắng nghe. Chúng ta tôn trọng tri thức chuyên môn của các NTH, chúng ta không cho rằng mình biết mọi sự nên chúng ta cần tham vấn chính các NTH về chuyên ngành của họ.

Đối với NHL, lắng nghe là tin Thiên Chúa nói với mình qua NTH và cùng với người NTH, NHL tìm ra con đường riêng tư mà Chúa muốn NTH đi.

5. Người huấn luyện là người biết tôn trọng người thụ huấn

Không dùng quyền một cách vội vã, dù chính đáng. Cần cân nhắc, đắn đo trước khi bắt tay hành động. Hơn nữa, còn phải xem nên làm gì, làm khi nào hay nơi nào thuận tiện, và làm cách nào để đạt kết quả tốt nhất. Nói chung càng ít ra lệnh càng tốt. Ít ra lệnh thì lệnh mới nghiêm.

Khi cần góp ý, tránh mắng nhiếc, mạt sát, làm nhục một người được Chúa gọi và chọn. Cần sửa lỗi NTH một cách bình tĩnh, không la lối, không nổi giận, kín đáo, tế nhị, thận trọng. Nên phê phán hành vi sai lỗi hơn là phê phán người phạm lỗi.

Tôn trọng NTH còn được thể hiện qua việc để họ được tự do trong những gì không mấy quan trọng, để họ được đưa ra sáng kiến, được thể hiện chính mình. Có khi chấp nhận để họ mạo hiểm áp dụng những cách xử lý mới. Dù họ có thể có những vấp váp, sai sót trong bước đầu, nhưng NHL giúp họ biết điều chỉnh và rút kinh nghiệm hơn là đưa ra những chỉ dẫn quá chặt chẽ, chi li, bóp chết mọi suy nghĩ và sáng tạo.

Như thế cần tin tưởng nơi từng người. Dò xét thường bị coi là thiếu tin tưởng. Vấn đề là làm sao NHL biết được NTH mà lại không có vẻ dò xét?

Người thụ huấn cần có một không gian riêng tư để thở, để là mình, để lớn lên.

Họ cũng cần có không gian riêng với nhau và chúng ta tôn trọng không gian ấy ở mức độ nào đó.

NHL là khí cụ của Thiên Chúa sử dụng nên cần tôn trọng Thiên Chúa. Ngài là NHL xuyên qua những biến cố Ngài cho phép xảy ra trong cuộc đời NTH. Thiên Chúa vẫn huấn luyện NTH qua những tiếng thì thầm, mách bảo, trách cứ, khích lệ… Là NHL, chúng ta phải thấy được và tôn trọng lối huấn luyện của Thiên Chúa cho từng con người.

Cộng đoàn cũng là một NHL. Nhận xét của cộng đoàn có thể uốn nắn và thay đổi NTH, nhất là khi nhận xét đó khách quan và xây dựng. Ngoài ra một số bạn thân của NTH cũng có thể giúp giải quyết những khó khăn nhỏ mà không cần đến NHL. Chúng ta được coi như thành công khi các NTH có khả năng nhắc nhở nhau, góp ý cho nhau, chứ không giữ thái độ dĩ hòa vi quý.

Chính NTH cũng là NHL cho bản thân mình. NTH cần biết mình phải chịu trách nhiệm về việc huấn luyện của mình, nghĩa là đồng trách nhiệm với NHL. Là NHL, chúng ta coi trọng sự cộng tác của NTH trong việc huấn luyện.

6. Người huấn luyện là người lạc quan và đầy hy vọng

Người huấn luyện buồn là người huấn luyện đáng buồn. Không cần phải buồn mới giữ được tính nghiêm túc. Thời gian huấn luyện là thời gian không dễ dàng, vì thế niềm vui và nụ cười trên khuôn mặt NHL làm vơi nhẹ đi rất nhiều cho NTH. Bầu khí nhà huấn luyện chịu ảnh hưởng bởi tính khí của NHL.

Lạc quan được diễn tả qua việc có cái nhìn tích cực, có lời nói tích cực, có việc làm tích cực đối với NTH. Lạc quan là nhìn ra những điểm sáng giữa bóng tối, là tin tưởng và hy vọng không ngơi vào lòng tốt, sự phục thiện và quyết tâm của NTH. Lạc quan là giũ bỏ mọi thành kiến để nhìn NTH bằng cái nhìn mới, là không kể tội quá khứ, là cho NTH một cơ hội nữa để làm lại từ đầu sau những vấp ngã.

Thái độ bi quan vội vã có thể bóp chết những cố gắng của NTH để bước một bước mới, đồng thời thái độ này cũng làm cho NHL ở trong tình trạng căng thẳng và chán nản thường xuyên.

7. Người huấn luyện là người nhẫn nại, bao dung, cảm thông, uyển chuyển

NHL lý tưởng thì không dễ nóng giận, có giận cũng biết làm chủ cơn giận của mình, và giận có lý do chính đáng tương xứng. Sự tự chủ của NHL được biểu lộ qua việc sống chữ nhẫn với NTH, như Thiên Chúa đã sống chữ nhẫn với mình.

Nhẫn đòi phải chờ đợi, có khi trong thời gian dài, tưởng như vô ích. Muốn nhẫn nại cần phải khiêm tốn, vì nhẫn là chấp nhận ở kèo dưới, chấp nhận chịu đựng đau khổ từ phía người dưới quyền, chấp nhận không dùng quyền dù có thể dùng. Có NHL sợ nhẫn nại sẽ làm hư NTH. Nhưng trong thực tế NTH sẽ bị đánh động nhiều và sâu xa trước sự nhẫn nại vô bờ của NHL.

Bao dung là không chấp nhất những điều nhỏ mọn, không tính toán chi li, không bắt bẻ những thiếu sót vô ý, không nhớ dai và hay nhắc lại chuyện cũ. Quảng đại là cư xử rộng rãi hơn mức NTH dám mơ, cho đi điều mà NTH không dám đòi.

NTH hôm nay mong sự cảm thông từ phía NHL. Họ mong chúng ta hiểu những thách đố, cám dỗ mà họ phải gánh chịu. Họ cũng mong chúng ta tha thứ những vấp ngã của họ. Tu sĩ trẻ bây giờ chịu sức ép lớn hơn và cũng mong manh hơn. Họ không thích chúng ta so sánh thời xưa của chúng ta với thời nay của họ, để chê bai hay để làm mẫu. Họ không thích lấy tiêu chuẩn của thời trước để đánh giá thời này, mà trước hết không nghĩ xem tiêu chuẩn đó có còn hợp hay không.

Uyển chuyển, mềm mại, nhu thuận: đó là nét quan trọng của NHL. Biết lúc cương lúc nhu, biết thích nghi với tình huống cụ thể, không cứng nhắc, chấp nhận nguyên tắc chung phải theo, nhưng cũng chấp nhận ngoại lệ cho cá nhân. Không huấn luyện theo lối làm gạch, đúc viên nào cũng như nhau, nhưng bảo trì bản sắc riêng của mỗi NTH, dù họ vẫn có nét chung của đặc sủng mỗi dòng tu.

8. Người huấn luyện là người có khả năng lãnh đạo

Có thể nói NHL cần có những phẩm chất của người lãnh đạo. Quản trị, điều hành một cộng đoàn huấn luyện còn khó hơn điều khiển một công ty, vì mục tiêu nhắm tới không chỉ là lợi nhuận, mà là sự triển nở nhân cách của người sống đời thánh hiến.

Lãnh đạo cộng đoàn cần sự cộng tác của mọi thành viên trong cộng đoàn. NHL coi trọng sự đóng góp độc đáo của từng người, tùy theo khả năng Chúa ban.

Nguyên tắc bổ trợ hay phân quyền có thể được áp dụng ở một mức nào đó trong đời tu. Các công việc trong cộng đoàn được chia ra để mỗi người đều có trách nhiệm. Tôn trọng người đảm trách một công việc, cho họ chút tự do để suy nghĩ xem làm sao có kết quả tốt nhất, đó là cách làm họ trưởng thành và gắn bó với cộng đoàn.

Làm công việc huấn luyện vừa là một nghệ thuật, vừa là một ơn ban. Cần có những khả năng tự nhiên và những khả năng có được nhờ kinh nghiệm và nhờ học hỏi liên tục. Làm sao để kiến tạo sự hiệp nhất nơi một cộng đoàn có nhiều cá tính đối lập và đang gặp xung đột? Làm sao để góp ý mà người nghe vui vẻ sửa mình? Làm sao để biết dùng người đúng chỗ, nhờ đó phát huy được toàn bộ tiềm năng của họ? Làm sao để cộng đoàn giữ được kỷ luật mà vẫn không bị căng thẳng? Làm sao để cộng đoàn đang nguội lạnh, được hâm nóng lại bởi ngọn lửa? Có biết bao vấn đề mà NHL phải khéo léo tìm ra cách trả lời.

NHL cần được huấn luyện nghiêm túc, cần có hiểu biết về tâm lý, sinh lý, thiêng liêng, linh đạo, triết học, thần học, Thánh Kinh và cả khoa học nữa. Tầm hiểu biết càng rộng, càng dễ đưa ra những nhận xét quân bình hơn về một con người.

9. Người huấn luyện là người phục vụ

Như Thầy Giêsu, NHL vừa là nhà lãnh đạo, vừa là người phục vụ cho cộng đoàn những NTH. “Thầy ở giữa anh em như người phục vụ (Lc 22, 27). Chỉ khi sống như người phục vụ thật sự, NHL mới có thể huấn luyện các NTH trở thành người phục vụ.

Phục vụ đòi cúi xuống, đòi rửa chân. NHL cũng phải đứng mũi chịu sào, chấp nhận con dại cái mang, và đón lấy thánh giá mỗi ngày không thể nào tránh khỏi.

Xin lỗi, cám ơn, hỏi thăm, khen ngợi, an ủi, giúp đỡ, cộng tác, chia sẻ, sẵn sàng dành giờ để gặp gỡ, hiện diện thường xuyên trong cộng đoàn…, đó là những cách diễn tả việc phục vụ của NHL hôm nay.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

Mong bài chia sẻ này có được một điểm nhỏ nào đó khiến Quý Vị quan tâm khi chu toàn nhiệm vụ của người huấn luyện.

 

 

Thường huấn 2009

ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

 

I. Dẫn nhập vào môn đồng hành thiêng liêng

–          Công việc Đồng Hành là một điều cần thiết cho đời sống tâm linh của một Kitô hữu.

–          Công việc Đồng Hành cũng cần thiết cho công cuộc đào tạo, cho giới trẻ thuộc diện đào tạo, cho công việc tông đồ mục vụ.

–          Công việc Đồng Hành còn cung cấp những phương thế cần thiết để thành công trong việc điều hành cộng đoàn.

II. Phân biệt giữa môn Đồng Hành Thiêng Liêng, Tham vấn và Tâm Lý học.

III. Trọng tâm của môn Đồng Hành Thiêng liêng :

a) Cầu nguyện :

* Những mẫu gương cầu nguyện :

1. Ông Ap-ra-ham

2. Ông Mô-sê

3. Ông Giê-rê-mi-a

4. Bà Giu-đi-tha

5. Đức Giê-su

* Cầu nguyện với các Thánh Vịnh

b) Chia sẻ về cuộc sống

c) Biết lắng nghe : nghệ thuật biết lắng nghe ; những trở ngại mà người đồng hành và người được hướng dẫn gặp khi lắng nghe.

d) Biện phân : những điều kiện phải có trước khi biện phân, công việc biện phân.

IV. Yêu mến người mình hướng dẫn :

a) Thái độ đón nhận

b) Sự kiên trì nhẫn nại

c) Trung thực

d) Nhẹ nhàng

e) Khả năng chuyên môn

f) Tính cẩn mật

I. DẪN NHẬP :

Đồng Hành Thiêng Liêng (ĐHTL) là một đặc ân, một tác vụ.

Mục tiêu :

  • ĐHTL giúp tôi gặp gỡ Thiên Chúa cách sâu xa, trọn vẹn để tôi có thể sống với tha nhân thân tình, hạnh phúc hơn.
  • ĐHTL cần thiết cho đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu, nhằm đào sâu Đức mến và lòng trung thành.
  • ĐHTL giúp tìm lại cái căn nguyên, cái đổi thay trong con người thực của mình. Muốn sống viên mãn thì cần phải sống trung thực với Chúa, với mình, với người khác.

* Người Đào tạo (NĐT) không đóng lòng người thụ huấn (NTH), không thiên vị, không tình cảm riêng tư, để có thể dẫn đến phán đoán sai lầm. Tránh đào tạo những con người giả dối.

* Vấn đề đặt ra : Tại sao tôi sống trong cộng đoàn mà không thuộc về cộng đoàn ?

+ Thiếu quan sát, thiếu quan tâm đến người khác
+ Không biết những nỗi đau, những khó khăn của người khác…

  • Cần biết mình :

+ biết khả năng, giới hạn, những ảo tưởng và

+ biết cả những xu hướng bên trong của mình.

  • Biết cộng đoàn :

+ quan tâm đến nhau,

+ nhạy cảm nhận ra những mệt nhọc, căng thẳng.

+ chăm sóc cho nhau, nâng đỡ nhau,

+ ơ bên nhau lúc khó khăn (không cần nói nhiều, không cần khuyên nhiều, chỉ cần hiện diện),

+ cùng nhau ở bên Chúa trong sự thinh lặng thánh thiêng.

Để có được sự thinh lặng tích cực, thánh thiêng có thể làm thay đổi con người biết mở lòng đón nhận ơn Chúa, xoa dịu nỗi đau của tha nhân, cần nhiều giờ thinh lặng bên Chúa để gặp gỡ Chúa, học biết Chúa muốn nói với mình qua Lời Chúa, để kín múc ơn Chúa, để được chữa lành, được thanh thoát hơn.

Giờ ĐHTL cần lắng nghe, đón nhận, kiên nhẫn… dẹp bỏ thái độ dạy dỗ, răn đe, phải ! phải !…

Việc Đồng Hành giúp điều hành mục vụ, điều hành cộng đoàn tốt cần lưu ý đến ba thực tại của xã hội thời nay :

1.          Chủ nghĩa tiêu thụ

2.          Chủ nghĩa cá nhân

3.          Chủ nghĩa vụ hoạt động.

1. Chủ nghĩa tiêu thụ :

– An uống nhiều, hàng hoá nhiều, lấn át mặt tinh thần.

– Đánh mất sự thánh thiêng, sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống, dẫn đến làm tội ác thoải mái (phá thai, giết người, tham nhũng, gian dối, bất công…).

2. Chủ nghĩa cá nhân :

– Sống trong tình trạng cô đơn, không ai biết ai, biệt lập…

– Sống khép kín, không cởi mở, không quan tâm đến nhau.

Tuy nhiên, Chủ nghĩa cá nhân cũng có mặt mạnh mặt yếu của nó. Sống tương quan gần gũi, mọi người đều biết, biết nhiều chuyện qúa cũng không tốt !

3. Vụ hoạt động :

– Hoạt động quá độ, quá nhiều, không có giờ nghỉ ngơi, không có giờ cho nhau, làm mất mối tương quan trong cộng đoàn, kiệt sức, cáu gắt, gây lo âu, suy giảm mối tương quan với Chúa (không cầu nguyện được, không tham dự Phụng vụ sốt sắng, đời sống thiêng liêng sa sút, cứ thế riết sẽ bị tê liệt). Đó là lý do tại sao ta tham dự Thánh Lễ và rước Chúa mỗi ngày mà ta chưa được biến đổi.

– Cần làm sao cho chương trình nhẹ nhàng, biết làm việc nhưng cũng biết nghỉ ngơi.

Để Đồng Hành cần :

–       Trung thực

–       Cẩn mật

Cần phân biệt :

–       Cha linh hướng

–       Cha bảo trợ

–       Cha giải tội

Muốn đồng hành

–       Ta phải biết mình trước

–       Ta phải sống trước

–       Mới hướng dẫn người khác được.

Hướng dẫn các em :

–       Lấy trái tim chạnh lòng thương đến với các em

–       Đừng bao giờ đe doạ ơn gọi của nó

–       Giúp các em ý thức và phân biệt

o   Cái chính yếu, thực sự cần ;

o   Cái muốn, nhu cầu tự tạo.

–       Nếu cần, có thể giải thích :

o   Sử dụng đồ chất lượng thì nên, hay đồ rẻ tiền mà mau hư, ảnh hưởng đến sức khoẻ ?

o   Trưởng thành tâm linh :

§  Tôi là tôi trước mặt Chúa

§  Luôn luôn nghĩ tích cực

§  Triển nở trong các mối tương quan.

 

II. PHÂN BIỆT GIỮA ĐHTL, MÔN THAM VẤN VÀ TÂM LÝ

1)      Tham vấn và Tâm lý học : giúp giải toả tâm sinh lý để chữa lành những chấn thương, những vấn nạn tâm lý : chứng loạn thần kinh, chán nản, lo âu, khủng hoảng …

2)      ĐHTL không giúp giải toả những chấn thương trên, nhưng nếu những điểm đó ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng, người Đồng Hành có thể giới thiệu họ đến các chuyên viên tham vấn và tâm lý. Điều gì không biết thì đừng giải quyết, rất nguy hiểm ! Đừng dại tỏ ra hiểu biết khi không có chuyên môn. Một người không thể biết hết mọi chuyện. Nếu cần, ta có thể nói : điều này tôi chưa biết, chưa học hoặc chưa đọc … tôi sẽ trả lời sau, được không ?

Lưu ý : Khi người ta có kiến thức, thì người ta không cần phải nói nhiều, nói to để vênh vang, khoe khoang.

Thí dụ :

1.      Hình ảnh bông lúa xanh và chín. Lúc mới trổ đòng đòng thì cây lúa đứng thẳng, bông vươn lên trời, khi đã chín vàng thì bông uốn cong xuống đất. ? Khiêm tốn.

2.      Khi thùng phi đầy nước thì gõ kêu bục bục. Nhưng khi thùng rỗng mà gõ kêu to lắm. “Thùng rỗng kêu to” là vậy. Những người kiến thức đầy, không cần vênh vang. Họ rất khiêm tốn. “Càng học càng thấy mình dốt” mà ! Những người yếu kém lại hay kêu to, la vang…

ĐHTL chú trọng đến :

  • Cầu nguyện
  • Biện phân các lựa chọn (nền tảng, cám dỗ, ảo tưởng)
  • Các mối tương quan : Thiên Chúa – Tôi – Tha nhân,
  • Những thách đố liên quan đến các mối tương quan.

 

? Ba môn này, ĐHTL, Tham vấn, Tâm lý cần được phối hợp chặt chẽ với nhau để củng cố các mối tương quan.

 

@ FREUD : NÓI ĐẾN VÔ THỨC

* Vô thức vượt khỏi tầm tay của ta, do bị dồn nén các biến cố, sự kiện lâu ngày, tới một lúc nào đó nó phát ra trong cuộc sống.

* Vô thức cần phải đưa lên nhận thức để được chữa lành.

* Tầm quan trọng của vô thức :

–          phản xạ tự nhiên nằm trong vô thức, bảo vệ cho bản thân, ta cần xem lại nguyên nhân các phản xạ tự nhiên.

–          Căn nguyên phát sinh hành động. Suy nghĩ méo mó dẫn đến hành động không đúng.

Thí dụ :

–          Tại sao tôi hay cửa quyền, hách dịch ?

–          Tại sao tôi bẳn gắt, nóng nảy ?

–          Tại sao tôi ghen tị, thù vặt

–          Tạo sao tôi có thái độ đó ?

–          Tại sao tôi im lặng, chịu vậy ?

–          …

Muốn chữa trị phải vạch nó ra, nhận ra tôi là thế, đừng tránh né, che đậy, trốn chạy sự thật.

 

@ Làm sao để lôi vô thức ra làm việc ?

–          Cần trung thực với chính mình.

–          Không sợ phải đối diện với sự thật.

–          Đâu là biến cố còn lấn cấn làm tôi day dứt ?

–          Thái độ trổi vượt tiêu cực của tôi là gì ? Nguyên do ?

–          Tại sao tôi ưa phản ứng lại ?

–          Tại sao tôi nao núng bất an khi nghe một lời nói, một thái độ nào đó?

Khi làm việc nghiêm túc với vô thức, ta sẽ thanh thoát, giữ được thái độ bình an.

 

PHƯƠNG PHÁP NGĂN NGỪA VÀ CHỮA LÀNH TÂM-SINH LÝ

1)  Sinh lý : Nhận thức của ta có mối liên quan đến 4 thứ bệnh :

–          Bệnh tim mạch

–          Bệnh thấp khớp

–          Bệnh ung thư

–          Bệnh đường hô hấp

2)      Tâm lý : Thái độ bi quan phi lý, gây xáo trộn, ảnh hưởng đến việc ngăn trở sự triển nở viên mãn về mọi mặt.

 

Sau đây là 10 cách suy nghĩ méo mó gây buồn bực, bệnh tật :

1.      Đánh giá tài năng và giá trị của ta một cách cực đoan, đòi hỏi cái gì cũng phải hoàn thiện, cầu toàn. Điều này làm cho chúng ta sợ mắc phải lỗi lầm hay một sự bất toàn nào đó, chúng ta cho mình là những kẻ hoàn toàn thất bại và chúng ta sẽ cảm thấy mình hoàn toàn vô dụng.

o  Khi đã giao cho ai trách nhiệm gì thì tôn trọng để cho họ làm, đừng dí mũi vào ;

o  Đừng bắt người ta phải giống mình, làm khác mình là không thể chịu được ;

o  Đừng đòi hỏi người ta phải hoàn hảo tuyệt đối : không ai giỏi hoàn toàn, cũng không ai dốt toàn diện.

2.      Có hướng chiều vơ đũa cả nắm cách thái quá. Thí dụ : một em có lầm lỗi nào đó. Ta yên chí rồi quyết định nó không thể khá hơn.

3.      Khi một sự kiện xảy ra chỉ nhìn thấy điểm tiêu cực trong các sự kiện đó, rồi dừng lại ; không nhìn thấy điểm tích cực để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho mình.

4.      Lúc một sự việc tích cực xảy ra, cứ suy đi nghĩ lại, rồi biến sự việc đó thành biến cố tiêu cực ; không nhìn được mặt tích cực, nhất là khi ta đang bị trầm cảm.

5.      Có xu hướng mau chóng kết luận cách tiêu cực. Điều này rất nguy hiểm cho người làm công tác đào tạo và chỉ huy điều hành, vì dễ tạo ra sự bất công, gây xáo trộn trong cộng đoàn.

6.      Xé ra to những chuyện không đáng, làm giảm đi sự quan trọng.

7.      Hay suy nghĩ theo cảm xúc.

8.      Hay than trách mình và không tha thứ cho mình : “Đáng lẽ tôi phải …”

9.      Gán cho mình một nhãn hiệu : Khi mắc phải một lầm lỗi, bạn hay gán cho mình một điều tiêu cực. Cách suy nghĩ này là cách suy nghĩ vô lý và là cách tự lừa dối mình. Chúng ta không phải là những người hoàn thiện, trong cuộc sống ai chẳng mắc phải lỗi lầm. Những lầm lỗi đó không diễn tả toàn diện con người chúng ta. Đó chỉ là một lầm lỗi thôi ! Đàng khác, khi mắc phải một lầm lỗi, chúng ta che đậy lỗi lầm đó bằng một nhãn hiệu không đúng sự thật. Như thế, chúng ta tiếp tục phạm lỗi, không nhìn ra sự thật để rút kinh nghiệm và sửa chữa. Điều này nguy hiểm vì không tha thứ cho mình cũng khó tha thứ cho người khác. Nên nhớ : Từ sự dữ Thiên Chúa có thể làm nên điều lành.

10.  Gán cho mình một điều tiêu cực do lỗi của người khác gây nên. Ý nghĩa đó làm nảy sinh nơi mình mặc cảm tội lỗi. Chúng ta nhận thấy gánh nặng của trách nhiệm đè nặng lên mình, trong khi đó, lỗi ấy không do trách nhiệm của ta.

Thí dụ : HS thi rớt, ta nghĩ mình dạy dở.

Chị em thấy đấy, thức ăn đã sẵn sàng, muốn vui khỏe, muốn triển nở … hãy tự chọn lấy những món ăn có ích lợi cho ta, đừng dại gì chọn cho ta những món ăn sinh bệnh tật, đau đầu, yếu bụng, dị ứng, ngứa ngáy… Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, Chúa ban cho ta thì ta hãy dùng hết thời gian để sống tích cực hơn, để hạnh phúc hơn.

 

@ Trong ĐHTL, tuyệt đối tránh dùng từ PHẢI mà dùng từ NÊN. Tránh dạy bảo, chỉ có Thiên Chúa là Thầy Dạy, chúng ta chỉ là dụng cụ.

Khi đối thoại :

–          Đừng dùng kiểu nói thách đố, lên giọng, áp đặt.

–          Đừng nóng vội trong việc giải quyết. Không phải cứ góp ý, xây dựng là đòi phải thay đổi liền.

–          Cần kiên nhẫn chờ giờ của Chúa, có lòng từ bi thương xót của Chúa.

@ Một vài ý kiến cần bàn:

– Thủ dâm : nếu thường xuyên là bệnh, phải đến bác sĩ điều trị.

– Yêu riêng : nếu không loại trừ người khác, không che đậy cái xấu cái dở của nhau thì được. Nếu loại trừ người khác thì phải điều chỉnh.

– Tình trạng cô đơn trong cộng đoàn : khi họ không được chia sẻ niềm vui nỗi buồn trong cộng đoàn, không được quan tâm, không được sử dụng …

 

III.   TRỌNG TÂM CỦA MÔN ĐHTL :

–          Tìm hiểu Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử con người.

–          Thiên Chúa hiện diện mọi nơi, mọi lúc trong đời tôi.

–          Thiên Chúa quan tâm đến từng chi tiết trong cuộc sống của tôi. Ý thức như thế, cho nên :

o   Giờ chơi – chơi

o   Giờ ngủ – ngủ

o   Giờ học – học

o   Giờ làm – làm

+ Cố gắng quan tâm đáp ứng nhu cầu của người khác. Nếu ta không có nhu cầu thì cũng đừng bắt người khác giống mình.

+ Hãm mình đền tội thời nay không cần đánh mình cho chảy máu ra. Hãm mình thời nay có thể chỉ cần :

o   Bớt đi một lời chỉ trích

o   Không đàm tiếu, phê bình, chỉ trích BT và CE.

o   Tôn trọng quyền bính, vâng phục BT hơn.

–          Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương ta. Con người có thể nhận ra Thiên Chúa trong thế giới chung quanh ; không có gì là trần tục hoàn toàn, vì tất cả mọi công trình tay Chúa sáng tạo đều mạc khải cho ta thấy sự hiện diện và yêu thương của Thiên Chúa.

o   TV 104,24-25

o   TV 19,2-3

o   TV 95,6-7

–          Thiên Chúa cũng hiện diện trong các kinh nghiệm sống của con người (Xh ): Dân Do Thái chỉ nhận ra Thiên Chúa sau khi được giải thoát. Chúng ta cũng vậy, đang khi bị thử thách chúng ta khó nhận ra, chỉ khi qua cơn thử thách, ta mới nhận ra Chúa giàu lòng từ bi và hay thương xót, đã dẫn dắt cuộc đời ta như thế nào.

–          Thiên Chúa hiện diện trong quá khứ, hiện tại, tương lai và cả trong những sự dữ, để biến cái dữ, cái rủi ro thành cơ may, thành điều lành cho ta.

Mục đích của ĐHTL : giúp ta nhạy cảm về sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong từng chi tiết của cuộc đời, để đáp trả TY của Thiên Chúa, không than van, cằn nhằn, chán nản … vì xác tín Chúa vẫn ở đó để hướng dẫn ta.

 ĐHTL quan tâm đến chiều sâu ảnh hưởng đếm mọi biến cố trong đời sống. Thí dụ :

–          Qua biến cố, sự kiện này em có cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đó không ?

–          Tin – Cậy – Mến có bao trùm mọi sinh hoạt và lựa chọn của em ? Hay em dựa trên tình cảm, xúc cảm tự nhiên của con người để lựa chọn ?

–          Cái gì đã làm em căng thẳng ? Quá khứ có gì tác động đến thái độ, suy tư, hành xử của em hiện nay ?

–          Các mối tương quan của em :

o   với Thiên Chúa ?

o   với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ ?

o   với chính mình ?

 Tham vấn và Tâm lý gia chỉ quan tâm tới bề nổi thôi, không quan tâm đi sâu vào đời sống thiêng liêng, mầu nhiệm đau khổ.

 ĐHTL là một ân huệ, một tác vụ hướng dẫn chúng ta, giúp chúng ta nghe tiếng Thiên Chúa mời gọi và nhìn thấy Người, để đáp trả tình thương của Người.

–          Đời sống người Kitô hữu là hành trình của người Kitô hữu đi theo Chúa qua lộ trình Giêsu, đó là con đường hẹp của Tin Mừng.

–          Chính Chúa Thánh Thần lôi kéo chúng ta đến với Thiên Chúa qua :

o   Lời Chúa,

o   Kinh nguyện,

o   Học hỏi,

o   Mọi cử chỉ, lời nói thân ái.

 ĐHTL còn là một cuộc gặp gỡ giữa hai cá nhân với nhau.

–          giúp nhận định về mối tương quan với Chúa – tha nhân.

–          Giúp biệnphân những gì cần chọnlựa,

–          Giúp giải thích những biến cố, tư tưởng, cảm xúc của ta đối với Chúa. Mối tương quan này dẫn đến mối tương quan với tha nhân.

Trọng tâm của môn ĐHTL : Lòng trung tín với Thiên Chúa. Thanh luyện con tim phù hợp với Tin Mừng, con tim của Giêsu. Chính vì thế, công việc ĐHTL được thực hành và nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện.

a)      Cầu nguyện :

  • Cầu nguyện không có nghĩa là đọc kinh nhiều, nhưng có tinh thần cầu nguyện, gắn bó với Chúa. Tập cho các em phải thuộc những kinh cần thiết, nhưng cũng cần tập cho các em cầu nguyện tự phát, sống tế nhị, vui tươi nhẹ nhàng, thanh thoát hơn.
  • Càng gắn bó với Chúa càng nhân bản.
  • Cầu nguyện là một ân huệ.
  • Có nhiều phương pháp cầu nguyện :

+ Cầu nguyện bằng âm nhạc

+ Cầu nguyện bằng Lectio Divina

+ Cầu nguyện theo thánh I-nhã

+ Cầu nguyện theo thánh Têrêxa

  • Có nhiều mẫu gương cầu nguyện :

+ Apra ham (St 12,15

+ Môsê (Xh 3 ; 19)

+ Giêrêmia (Gr 15,15)

+ Giuditha (Gd 9)

+ Các TV : 27,4 ; 25,5

+ Đức Giêsu : cầu nguyện liên lỉ.

 

b)      Chia sẻ về cuộc sống :

ĐHTL   là chia sẻ về cách Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống của ta như thế nào; chia sẻ các mối tương quan của ta đối với Thiên Chúa, với tha nhân và bản thân ta.

–          Khi nghe chuyện không hay về một người nam hay một người nữ nào đó, ta phải can đảm nói lên sự thật để bênh vực cho người nghèo. Người nghèo là người không có điều kiện để bào chữa và bênh vực cho chính mình.

–          Ơn gọi của ta là làm ngôn sứ. Ngôn sứ là người can đảm nói lên sự thật ; là người chấp nhận chịu liên luỵ, chịu thiệt thòi, bất chấp tất cả. Hãy nhìn gương CGS, vì dám nói thật, bênh vực sự thật, sống theo sự thật, nên đã bị treo trên thập giá ! Tại sao ta lại sợ ???

–          Ta sợ gì ? Sợ mất tình cảm ? sợ mất địa vị, chức quyền ?  sợ bị lên án ? sợ nói thật mất lòng ? sợ rắc rối, bất an ? thôi thì im lặng để an thân an phận !!!

–          Ta cần số lượng hay chất lượng ? Đi tu là cần chất lượng thật, được hạnh phúc. Cứ ham số lượng, thích đông cho hoành tráng … rồi sẽ chỉ gây bắt bớ, tạo thánh giá cho nhau vác liên tục !

–          Điều gì ngăn trở tôi với Thiên Chúa sẽ là ngăn trở tôi với tha nhân. Chia sẻ là chia cái đó chứ không phải để nói về người khác.

–          Khi chia sẻ về những giao động, những cám dỗ mà em đang phải chiến đấu … thì hãy ngồi đó mà kiên nhẫn lắng nghe và giúp nó, đừng đe doạ ơn gọi của nó.

–          Khi nói chuyện cần có một khoảng cách tối thiểu với linh mục, người ngoài và với nhau, không nên bá vai, bá cổ, khoác tay, để tránh hậu quả không hay do va chạm.

–          Khi đối thoại cần nhẹ nhàng nhưng cương quyết, không lên giọng. Cho dù nói đúng mà thái độ không đúng thì cũng không được đón nhận.

c)      Biết lắng nghe :

1)      cần ra khỏi thế giới của mình : ý nghĩ, cảm xúc, định kiến, quan điểm cá nhân.

– Ra khỏi thế giới của mình không có nghĩa luôn luôn đồng quan điểm với người khác, phải gạt ra một bên quan điểm của mình. Làm như vậy là vi phạm phẩm chất chính trực và trung thực của cá nhân mình.

– Biết nhìn sự việc đang trình bày với cái nhìn chân thực của người mình đang đối diện. Có như thế, ta mới có kinh nghiệm về tâm trạng của đối phương.

2)      Đi vào thế giới của người khác bằng con tim và quan điểm của họ. Muốn thế, ta phải làm cho tâm hồn ta ra rỗng trước, không áp đặt, không định kiến (Pl 2,6-8).

3)      Cần có sự đồng cảm

– Cái đau nhất là lòng tự trọng bị tổn thương. Cái sợ nhất của con người là trở thành kẻ vô dụng. Họ muốn tự lập.

o   Mỹ : tự lập quá – chủ nghĩa cá nhân.

o   Việt nam : ỷ lại quá, vô trách nhiệm.

– Họ sợ coi họ như người không có khả năng thay đổi những khuyết điểm, những khó khăn. Đừng bao giờ gán cho mình hoặc cho người khác nhãn hiệu không thể thay đổi. TD: Em mà cứ như thế thì không thể thay đổi được. Nó sẽ đóng lòng lại luôn. Cần đối thoại để cho các em nói ra những khó khăn của nó đang sống, đang phải chiến đấu. Lắng nghe nó nói để đồng cảm và giúp nó. Đừng suy nghĩ sắp đặt trước, rồi nó nói gì thì nói, điều ta đã quyết là đã quyết thì không được.

– Cần có cái nhìn bao dung, đối thoại thẳng thắn, cương quyết nhưng tuỳ lúc, tuỳ thời, tuỳ người và tuỳ hoàn cảnh trong tình thương mến. Điều cần thiết nhất là ta phải làm gương trước, sống trước thì các em sẽ làm theo. Ta cứ đốp chát với nhau làm sao ta đòi hỏi các em được.

4)      Đưa một lời khuyên thích hợp, ngắn gọn không cần dài dòng. Có khi chỉ cần im lặng, hoặc một cái siết tay, vỗ vai… tỏ sự đồng cảm.

+  Tập trung vào Thiên Chúa.

 

NGHỆ THUẬT LẮNG NGHE

1.      Chiều kích tâm lý của việc lắng nghe

a.       Mỗi người phải tự hiểu biết mình

–          Hiểu biết mình là cố gắng hiểu được nhu cầu căn bản của mình : Tư tưởng, tâm linh, tình cảm, trí tuệ, thể xác… và tìm cách đáp ứng cách lành mạnh. Hiểu được mình mới nhạy bén trước nhu cầu của người khác.

–          Hình ảnh nào tôi nghĩ về mình và bảo là tôi biết mình ? Thực ra có nhiều lúc ta tưởng ta biết mình nhưng chẳng biết bao nhiêu đâu.

–          Biết mình bằng cách nào ?

o   Gắn bó với Chúa bằng Lời Chúa, cầu nguyện.

o   Góp ý của người khác, tiếng khen, lời chê…

o   Biết những giao động nội tâm của mình. Tôi có những giao động nào ? Tôi đáp ứng ra sao ? Khi không được đáp ứng, tôi phản ứng thế nào ?

–          Hiểu biết mình là chấp nhận chính mình. Chán ghét mình ta sẽ chán ghét và chống đối người khác. Yêu thương mình, lắng nghe mình ta sẽ yêu thương và lắng nghe người khác.

b.   Cả hai đều phải nhìn nhận tính cách cá biệt của mình.

–          Mỗi người là một nhân cách độc nhất vô nhị. Vì thế, ta không thể hiểu thế giới của người khác cách hoàn toàn, sâu sắc. Do đó, ta mong chờ và kỳ vọng vào một người nào đó quá ta sẽ thất vọng.

–          Ao tưởng nhất là bắt người khác có suy nghĩ và làm giống như ta. Không ai có thể đáp ứng được kỳ vọng của ta ngoại trừ Thiên Chúa.

2.      Chiều kích thiêng liêng của việc lắng nghe

–          Cả hai người, người đồng hành và người được đồng hành đều có khả năng thiêng liêng, cùng lắng nghe tiếng Thiên Chúa và làm theo Ý Ngài. “Ai thuộc về Thiên Chúa thì nghe Lời Thiên Chúa” (1V 3,9 ; 1Sm 3,10 ; Is 55,2-3 ;     Mc 9,7).

–          Lắng nghe là đầu phục vô điều kiện Thiên Chúa là Cha của chúng ta với niềm tin-cậy-mến. Lắng nghe nhau thôi chưa đủ mà còn phải cùng nhau lắng nghe Chúa. Lc 13,21 : “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước …”.

–          Công việc ĐHTL tập trung vào nội tâm, Thiên Chúa là nguồn mạch và là cùng đích của đời sống con người. Ta biện phân để biết đâu là ý Chúa trong các biến cố của đời ta để làm theo.

–          Lắng nghe để biện phân. Việc biện phân để biết Chúa, biết ta, biết người ta hướng dẫn ; biết đâu là ý Chúa trong cuộc đời con người mà ta hướng dẫn, để giúp họ làm theo Ý Chúa chứ không phải làm theo ý ta.

–          Rm 8,28: “Mọi sự đều sinh ích cho người kính mến Chúa”.

–          Trong việc đào tạo thì kiên nhẫn, nhịn nhục là một chuyện. Ta cũng cần phải cho người thụ hướng biết những sai lỗi nhưng với tấm lòng từ bi, bao dung, nhẹ nhàng và cương quyết đòi hỏi phải thay đổi. Khi cần sửa lỗi cho người nào thì ta với người đó thôi, dừng ở đó và cầu nguyện cho chị em mình can đảm biến đổi. Đừng đem chuyện đó đi chia sẻ cho các chị em khác, chẳng ai thích loan báo điều xấu của mình.

o   Cần cẩn mật, giữ uy tín cho nhau.

o   Không nói tốt được cho chị em thì im lặng, chứ không gieo ấn tượng tiêu cực cho người khác. Điều đó phá huỷ cộng đoàn nhiều lắm.

–          Lắng nghe Ai ?

o   Chúa

o   Người Đồng Hành

o   Tôi

–          Lắng nghe ?

o   Đối phương nói

o   Những cảm xúc, ước mơ, nhu cầu, cử chỉ, nét mặt…

o   Thái độ của họ với Chúa và mọi người

o   Nhu cầu được đáp ứng và không được đáp ứng

o   Những giao động nội tâm (khóc, cười …).

–          Lắng nghe THẾ NÀO ?

1)      Cần tư thế sẵn sàng, để tâm hồn trống rỗng, bỏ ra ngoài những ý tưởng riêng.

2)      Chú tâm vào những câu chuyện lịch sử của cuộc đời họ đang kể cho ta nghe. Chú tâm để biết cách đặt câu hỏi, biết cách giải quyết.

3)      Cởi mở, không kết án, không thành kiến. Đó là ý kiến của tôi, có thể họ sẽ thay đổi và đã thay đổi.

4)      Chấp nhận người mình hướng dẫn. Ai cũng có điểm mạnh điểm yếu ; ai cũng có điểm ưu điểm khuyết.

5)      Phó thác, không dạy bảo, không quyết định, không giải quyết vấn đề. Đặt câu hỏi tìm ra căn nguyên gây căng thẳng : Em quyết định chuyện này thì em thấy cần làm gì ? sống thế nào để phù hợp với điều em đã quyết định ?

6)      Trong việc đào tạo phải rất quân bình, rất khách quan, đừng thiên vị ai, vì trong nhóm sẽ sinh ra ghen tương, nhòm ngó, báo cáo chị giáo, chia rẽ … làm mất bình an.

–          Trong đào tạo huấn luyện, cần can đảm dẹp ngay các báo cáo viên lấy điểm. Phải cương trực sửa sai người thụ huấn khi có lỗi. Huấn luyện cần chất lượng, cần chứng nhân cho Đức Kitô thựa sự, chứ không phải là số lượng để làm rối loạn, phản chứng !

–          Người ĐHTL cần :

+ Trưởng thành tâm linh

+ Trưởng thành tình cảm

+ Trưởng thành các mối tương quan.

7)      Bình tĩnh, không kết luận ngay, chăm chú lắng nghe không vội vã, không nôn nóng. Cần chú ý đến những em vui vẻ, chu toàn thực hành tất cả những điều ta hướng dẫn.

–       Trường hợp đó phải quay lại chất vấn, đặt vấn đề : Em làm theo ý Chúa hay làm vui lòng người hướng dẫn ?

–       Khi nhạy bén thiêng liêng, ta dễ nhận ra điều nào là Ý Chúa, điều nào không phải Ý Chúa ?

o   Thường ta thích các em làm theo ý ta, thích kết quả ngay.

o   Can đảm dừng lại khi ta nhận ra không phải Ý Chúa.

–       Bình tĩnh là kiên nhẫn chờ Giờ của Chúa. Giờ của Chúa khác giờ của chúng ta lắm. Cần nhạy bén và kiên nhẫn nhận ra tín hiệu của Chúa.

8)      Chú tâm vào Chúa là người Đồng Hành tối cao, chúng ta chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa.

 

NHỮNG DẤU HIỆU KHÔNG LẮNG NGHE

1)      Cho là mình biết rồi

2)      Khi vội kết luận và kết án, ngay cả khi ta chứng kiến rõ ràng, bắt gặp quả tang, vẫn có thể lầm. TD: Bé ăn cắp tiền không phải do tham lam mà vì mẹ đau nặng, nguy tử !

3)      Khi vội tiếp lời, thiếu tôn trọng ý của người khác.

4)      Chỉ để ý đến lời chia sẻ cuối cùng ; chỉ nghe từ ngữ chứ không chú ý đến nội dung câu chuyện.

5)      Khi cố gắng tìm hiểu quá mức, tò mò.

6)      Khi nghĩ trước những gì sẽ nói, sẽ khuyên bảo nó thế nào. Sắp đặt trước rồi làm sao lắng nghe đủ. Muốn vậy, cần phải có tự do nội tâm thực sự. Ta hay tìm dễ dãi, an thân, nhưng Chúa đòi hỏi ta phải đi vào con đường hẹp của Tin Mừng.

ĐHTL  đòi hỏi cả hai đều phải tự do nội tâm ; cả hai đều phải trưởng thành tâm linh. Ơn Chúa là cần thiết để biến đổi. Không cộng tác với Ơn Chúa thì không ai giúp được. Cương quyết đòi hỏi đối phương phải cộng tác với Ơn của Chúa, không thảo hiệp với sự dữ. Nếu em gắn bó với Chúa thì phải triển nở theo Ý Chúa chứ. Cần có can đảm của người ngôn sứ nói lời sự thật. Sự thật thì mất lòng.

 

BIỆN PHÂN

Trước khi biện phận phải có sự khôn ngoan. Ta cần xin Chúa ơn đó.

–       Khôn ngoan là một ân huệ của Thiên Chúa ban nhưng không, khôn ngoan liên kết với sự lắng nghe. Khôn ngoan lắng nghe trong yêu mến, chú tâm, đón nhận Lời Thiên Chúa. Loại ra ngoài mọi lời nói, ước muốn, thành kiến của chúng ta để làm theo ý Thiên Chúa.

–       Khôn ngoan giúp ta hiểu biết mầu nhiệm của Thiên Chúa trong mỗi con người.

–       Khôn ngoan giúp biện phân mọi hoạt động của Thiên Chúa.    Kn 7,22-26 : Đức khôn ngoan được nhân cách hoá ; Hc 1,1 : “Sự khôn ngoan gắn liền với Thiên Chúa” ; 1V 3,12 : Salomon nhận biết sự khôn ngoan ; 1Cr 1,23-24 : ĐGS là kho tàng sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

–       Khôn ngoan bao hàm trực giác, biện phân thiêng liêng, thuộc lãnh vực đức tin.

–       Sự khôn ngoan trong ĐHTL bắt nguồn từ mối hiệp thông với Thiên Chúa qua mối tương quan với người được đồng hành.

–       Sự khôn ngoan của Thiên Chúa ban cho chúng ta qua đức tin, qua các Bí tích, xuất hiện tự đáy lòng ta, chứ không qua lý luận hay phân tích nào cả.

–       Trong việc ĐHTL, cả hai đều được sự khôn ngoan nhờ lắng nghe tiếng Chúa. Càng lắng nghe bao nhiêu, hai người càng được sự khôn ngoan tinh tuyền của Thiên Chúa soi sáng và trở nên tinh anh, thấu cảm nội tâm của người mình hướng dẫn.

–       Phân biệt Ơn Khôn ngoan và Ơn Phân định

o   Ơn Khôn ngoan giúp chúng ta có khả năng nhận ra sự thật và không thành thật ; sự ảo tưởng và thực tế.

o   Ơn Phân định giúp người Đồng Hành có khả năng nhìn thực tại sự vật như Thiên Chúa nhìn (1Cr 12,10). Hiểu được sự thật trong các sự kiện xảy ra trong đời chúng ta. Khả năng biện phân của ta hoàn toàn tuỳ thuộc ý của Thiên Chúa. Thiên Chúa không muốn ơn khôn ngoan Người ban có thể giúp chúng ta giải quyết mọi vấn đề. Thiên Chúa muốn hướng dẫn cả người ĐHTL và người thụ hướng hoàn toàn phó thác và đầu phục Người trong niềm tin.

–       Vì ĐHTL không có sẵn câu gợi ý và cách giải quyết, nên cần có thái độ nội tâm :

o   Đức tin thanh thoát,

o   Không bám víu vào kiến thức sẵn có của mình,

o   Không dựa vào kinh nghiệm ĐHTL của mình.

+ Dẫn đến mù quáng thiêng liêng.

Biện phân cần hai yếu tố :

o   Nhận thức bằng giác quan hay trí tuệ đối tượng rồi

o   Phân biệt bằng trí óc những khác biệt để lựa chọn.

Điều kiện để biện phân :

o   Cầu nguyện : Xin Chúa Thánh Thần, Đấng thanh luyện, ban ánh sáng, sức mạnh và can đảm làm cho tâm hồn ta bình an, thanh thản, trí óc khôn ngoan sáng suốt để can đảm sống điều Chúa muốn.

o   Tự do nội tâm : không bị ràng buộc, vướng mắc trở ngại. Tâm hồn hoàn toàn trống rỗng, thanh bình, thảnh thơi với Thiên Chuá và thụ tạo.

o   Ước muốn tìm kiếm và thi hành ý của Thiên Chúa mọi nơi, mọi lúc trong từng hoàn cảnh cụ thể.

o   Hiểu biết và yêu mến ý của Thiên Chúa.

§  Hiểu biết này có được do bản thân mình : cảm giác, cảm xúc, những ước muốn thâm sâu về những giá trị tích cực và những giới hạn, những tham sân si của mình … sẽ giúp ta khách quan khi biện phân. Cũng cần để ý đến những xu hướng và những áp lực ảnh hưởng.

§  Hiểu biết do học hỏi để biết cách biện phân có khoa học : Em xem lại việc này xem em làm theo Ý Chúa, ý em hay ý chị ? Cần có thái độ trong sáng và ý ngay lành. Lời nói có phù hợp với TM không ?

Gương biện phân của Chúa Giêsu :

–       Ba cơn cám dỗ : Mt 4,1-11 ; Lc 4,1-13.

–       Người dùng Kinh Thánh Cựu  Ước đẩy lui cơn cám dỗ :

Dn 8,2 ; TV 91,11-12 ; Dn 6,13.

–       CGS cầu nguyện trong vuờn Dầu : Mt 26,39 ; Mc 14,36 ; Lc 22,42 ; Ga 12,27.

+ Nhận thức để tìm ra ý Thiên Chúa, nhiều khi chúng ta nhìn ra ý của Thiên Chúa, nhưng chúng ta chưa can đảm thực hiện ý của Ngài. Cần xin Chúa cho mình được ơn khôn ngoan và can đảm.

+ Một khi đã quyết định chung rồi, nếu có thay đổi gì khác phải họp chung lại, không được ỷ quyền mà cứ tự quyết định khác với quyết định chung trước đó.

+ Muốn điều chỉnh phải chấp nhận thương đau, nhưng chúng ta phải chấp nhận chung đau với nhau để cùng nhau sống hạnh phúc hơn. Đừng thoả hiệp với sự dữ, những gì có thể thay đổi được thì hãy cố gắng nhích lên một chút và can đảm thay đổi.

+ Còn những gì bức xúc, băn khoăn, lo âu, ước mơ, suy nghĩ về quá khứ và những gì còn giữ lại làm ta đau nhức, thì xin Chúa tha thứ, chữa lành.

 

IV.  YÊU MẾN NGƯỜI MÌNH HƯỚNG DẪN

1)      Chấp nhận

–       Thái độ chấp nhận là nhất quán đón nhận họ là họ.

–       Thái độ chấp nhận chân thật là cho dù ta biết rõ một người nào đó thì vẫn còn nhiều điều bí ẩn nơi họ mà ta chưa biết. Tuỳ thái độ chấp nhận họ thì họ mới tin tưởng chia sẻ những giao động nội tâm của họ, mà không sợ ta chê bai, chỉ trích.

2)       Kiên trì nhẫn nại (1Cr 13,4-7)

–       Bằng lòng với những yếu đuối, khó khăn, nghịch cảnh nhưng không đầu hàng. Rm 8, 18.28.39 : Không gì tách chúng ta ra khỏi TY của Thiên Chúa.

–       Kiên nhẫn với những phản xạ tự nhiên của chị em, nhất là những người dễ phản ứng.

–       Kiên nhẫn với chính mình khi mình nông nổi, bốc đồng, chán nản… Chờ đợi con đường Chúa mở ra cho ta.

3)      Trung thực (1Cr 13,6)

–       Thái độ nội tâm đón nhận sự thật và sống sự thật.

–       Có sự đối chất để tìm sự sự thật, thẳng thắn tìm lý do đối chất, đương đầu đối chất là giải pháp cuối cùng.

–       Cách đối chất là một nghệ thuật cần : bình tĩnh và với tự do nội tâm sâu xa, không thành kiến, không tình cảm… giúp nhau tìm ý Chúa, giúp nhau sống hạnh phúc.

–       Việc đối chất cần được Thần Khí Sự Thật thúc đẩy, nhẹ nhàng và đầy lòng thương cảm, giúp người đó lớn lên về tâm linh.

–       Thận trong suy xét nguyên nhân cần đối chất. Ngại đối chất có khi do :

o   Thiếu trông cậy Chuá

o   Sợ tổn thương họ

o   Sợ họ khước từ không thương ta, không hợp tác với ta.

o   Mt 23 ; Mc 8,31-33 ; Ga 18,19-24 ; 1Cr và 2Cr

–       Mục đích của đối chất là xây dựng, đặt nền tảng trên sự thật (Is 42,3).

–       Thiếu thận trọng sẽ làm cho người ta hướng dẫn khép lòng lại (1Cr 13,4-6) ;

–       Thái độ trung thực luôn đi đôi với thái độ nhẹ nhàng (2Tm 2,24-25). Nhẹ nhàng là đặc tính của hiện diện, diễn tả sự cảm thông với những nỗi yếu hèn của người khác.

–       Nhẹ nhàng, hiền hậu sẽ giúp cho người ta hướng dẫn có kinh nghiệm về một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, từ bi. Is 42,2-3 : Người tôi trung của Thiên Chúa không kêu to, không lớn tiếng.

4)      Khả năng chuyên môn

–       1Cr 13,4 Đức mến không vênh vang tự đắc

–       Cần có kiến thức thần học, tu đức, chiêm niệm :

o   suy ngắm đời sống đức tin của bản thân và của người được hướng dẫn

o   học hỏi Kinh Thánh, linh đạo Kitô giáo, thần học hệ thống.

–       Hiểu biết những nguyên tắc căn bản về tâm lý, nhận ra khi nào nên khuyên người được hướng dẫn đến gặp nhà Tư vấn Tâm lý.

5)      Tính cẩn mật

–       Kiên quyết giữ cẩn mật về tất cả những gì mà hai người đã chia sẻ với nhau. Người được hướng dẫn cũng cần cẩn mật. Cả hai đều giữ cẩn mật. Nếu họ mất tin tưởng ta, họ cũng sẽ mất tin tưởng nơi Chúa.

–       Nếu người Đồng Hành và người được đồng hành có sự xung đột, cẩn mật có thể bị tan vỡ khi một trong hai người đi nói với người khác về phía mình. Cầu lưu ý, khi nghe những xung đột họ kể thì để ý xem có khách quan không. Nếu mình là người được nghe, đừng vội kết luận, cần nghe cả hai phía.

6)      Đặc tính của Người Đồng Hành

–       Quân bình : trưởng thành tâm lý (không bốc đồng), có đời sống cầu nguyện và chiêm niệm sâu sắc (Lectio Divina), chăm lo đời sống tâm linh (mối tương quan của mình với bản thân, Thiên Chúa và tha nhân)

–       Kinh nghiệm trong đời sống : ngay cả khi kém hoàn chỉnh kiến thức hoặc chưa khôn ngoan đủ, kinh nghiệm có thể bù đắp. Kinh nghiệm của bản thân hoặc hỏi của người khác.

–       Khi nghe kinh nghiệm của người khác, chú tâm và suy nghĩ cầu nguyện để biến thành kinh nghiệm của mình.

–       Học hỏi liên lỉ

–       Biết tự trọng và tôn trọng người khác, tin tưởng người khác.

Kết luận, Người Đồng Hành cần :

+ Biết cẩn mật

+ Khôn ngoan trong phán đoán,

+ Rõ ràng khi cho lời khuyên,

+ Kiên quyết trong việc đòi hỏi sự vâng phục.

CHỮA LÀNH QUÁ KHỨ

Trong mọi tình huống, mỗi hoàn cảnh, mỗi biến cố có thể có hai tác động :

–       Giúp ta mở lòng ra với Thiên Chúa và người khác

–       Khép lòng lại tới mức cần đến khoa Tâm lý trị liệu.

Cựu Ước :

–       Dân Do Thái hay nhớ lại cảnh nô lệ, trong sa mạc … để nhớ đến Thiên Chúa xót thương giải phóng.

–       Giuse bị bán làm nô lệ – cứu dân tộc St 45-50 ;

Rm 8,28 : có cái nhìn tích cực để được chữa lành, không còn cay đắng, mất bình an.

Tân Ước :

Các tác giả luôn đặt cầu hỏi về cách nhìn liên quan đến các biến cố đã xảy ra. Thí Dụ :

–       Người cha nhân hậu (Lc 15,11-32)

–       Cái nhìn liên quan đến biến cố xảy ra. Người cha và người con cả cùng sống một biến cố nhưng có hai cái nhìn khác nhau.

+ Người cha : có cái nhìn tích cực, vui mừng khi người con trở về, chạnh lòng thương, quên hết nỗi đau ông đã chịu, bao dung, nhân hậu.

Người con cả : có cái nhìn tiêu cực, nhìn về quá khứ khép lòng lại, không nhìn nhận người em, căm hờn, oán ghét nên mất bình an, không hạnh phúc.

 

§  Thinh lặng xét lại quá khứ cho đến nay, xem có biến cố nào đã tác động lên ta những cái nhìn tích cực, tiêu cực ?

§  Cái nhìn nào như Ông Giuse ? Người cha ? Người con cả ?

§  Cầu xin CGS đến giải thoát chúng ta. Có khi đó chỉ là những khủng hoảng do ghen tương, bè phái, quy ngã … !

§  Hãy tự giúp mình bằng cách giải thích mọi cái cách tích cực trong những sự kiện đã làm tổn thương mình.

Sr. Anne Loan Nguyen – USA

 

 

 

 

 

Thường huấn 2010

ĐỒNG HÀNH / LINH HƯỚNG CÁC ỨNG SINH
TẠI VIỆT NAM:[1]
Thách đố và viễn cảnh

 

Khi tìm hiểu việc linh hướng trong kho tàng Kinh Thánh và giáo huấn Giáo hội, ta nhận thấy rằng việc linh hướng trong các nguồn tài liệu ấy được hiểu theo nghĩa rộng, tức là “việc hướng dẫn thông thường,” hay “hướng dẫn tổng quát.”[2] Linh hướng trước hết là công việc của Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng thường được thi hành bởi con người. Đó là các giám mục, linh mục, phụ trách cộng đoàn, nhà huấn luyện và mọi thành viên trong cộng đoàn mà chúng ta thường gọi là đồng hành thiêng liêng. Còn nhà linh hướng đảm nhận việc linh hướng theo nghĩa hẹp, tức là “việc đối thoại liên vị giữa một cá nhân với một cá nhân trong mối tương quan yêu thương, qua đó vị linh hướng và người thụ hướng cùng đồng hành tiến tới sự toàn thiện và tự do Kitô giáo, nhờ phương thế biện phân và cầu nguyện.”[3]

Đề tài này sẽ được trình bày trong ba phần:

§  Những thách đố trong việc đồng hành / linh hướng;

§  Viễn cảnh đồng hành / linh hướng trong bối cảnh Á châu;

§   Một số gợi ý nhằm cụ thể hoá viễn cảnh này.

A. Thách Đố trong Việc Xin Linh Hướng

Trong phần này chúng ta sẽ trả lời cho hai câu hỏi quan trọng sau đây: Tại sao việc linh hướng ít được coi trọng trong chương trình huấn luyện tại Việt Nam? Tại sao Giáo Huấn Giáo Hội về linh hướng chưa được áp dụng?  Chỉ có thể trả lời các câu hỏi này trong mức độ ta đối diện với các thách đố sau đây.

1. Nhận Thức và Hiểu Biết Chính Xác về Đồng Hành / Linh Hướng

Việc thực hành đồng hành / linh hướng lệ thuộc nhiều vào nhận thức của người thụ hướng lẫn các nhà huấn luyện về tác vụ này. Nhận thức bao hàm một sự hiểu biết rõ ràng về phương tiện không thể thiếu của việc đồng hành / linh hướng trong đời sống thánh hiến.

a. Nhận Thức Nhu Cầu Cần Được Đồng Hành / Linh Hướng

Làm sao giúp các ứng sinh nhận thức vai trò và tầm quan trọng của việc đồng hành / linh hướng? Làm sao giúp họ cảm nhận nhu cầu cần được đồng hành / linh hướng? Những câu hỏi này quả là thách đố đối với các nhà huấn luyện.

Vấn đề chủ yếu là làm sao giúp các ứng sinh cảm nhận việc đồng hành thiêng liêng như môt cơ hội quý báu giúp họ lớn lên trong hành trình ơn gọi và thiêng liêng, và làm thế nào giúp họ tự do chấp nhận được đồng hành.  Các ứng sinh đã nội tâm hoá xác tín này và tự nguyện xin linh hướng như thế nào? Nếu không ý thức thật sự về nhu cầu đồng hành / linh hướng thì không thể có việc đồng hành thiêng liêng.[4] Bởi đó, mối quan tâm tiên quyết của các nhà huấn luyện là khơi dây trong lòng các ứng sinh một cảm nhận thiết thực về nhu cầu này. Đó là “một tiến trình do người thụ hướng khởi xướng, với mục đích rõ ràng là lớn lên và tiến triển trong đời sống đức tin, và đồng hành / linh hướng được mời tham gia tiến trình này nhằm  tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng đó.”[5]

b. Mô Hình Linh Hướng Hiện Đại Trong Chương Trình Huấn Luyện

Việc nhận thức trên đây gắn liền với sự một sự hiểu biết chính xác về linh hướng. Những bất cập trong việc thực hành linh hướng hiện nay hầu như bắt nguồn từ sự hiểu lầm đáng tiếc về tác vụ này.  Người ta thường nghĩ rằng việc linh hướng là lãnh vực riêng của những người đang gặp khủng hoảng.  Các ứng sinh xin linh hướng bị đánh giá là người có vấn đề. Một bầu khí thiếu xây dựng như thế giúp ta hiểu tại sao các ứng sinh ngần ngại xin linh hướng, ngay cả khi cần.  Hơn thế nữa, việc linh hướng bị hiểu lầm và thu hẹp vào mô hình linh hướng có tính bí tích. Các ứng sinh có khuynh hướng giản lược việc linh hướng với bí tích hoà giải.

Bởi thế, nhiệm vụ thiết yếu của các nhà hữu trách là làm sao giúp các ứng sinh nhận thức rằng việc linh hướng là “phương thế chính và quan trọng nhất trong chương trình huấn luyện các tu sĩ.”[6] Đó là thời điểm đọc lại các kinh nghiệm sống đời thánh hiến và biện phân thánh ý Chúa dưới sự hướng dẫn của Thần Khí và vị linh hướng. Đó là thời điểm để ý thức lại nhu cầu hoán cải triệt đểtái định hướng, bằng cách trở về với con người nội tâm sâu thẳm của mình. Đó là thời điểm chữa lành, và là con đường dẫn đến một cuộc sống lành mạnh và toàn vẹn.

(1) Phân Biệt Linh Hướng Và Các Hình Thức Đồng Hành Khác

Theo chiều hướng trên, cần làm sáng tỏ vai trò của tác vụ linh hướng và các hinh thức đồng hành khác, ví như việc đồng hành thiêng của giám sư, việc tư vấn của các nhà tư vấn tâm lý và việc hướng dẫn của cha giải tội. Điều này cần thiết để giúp hiểu rõ mục tiêu và phương thức riêng ứng dụng trong việc linh hướng.

§  Linh hướng khác với tư vấn tâm lý.

Ngoài sự trưởng thành trên bình diện cá nhân và tương quan liên vị do việc tư vấn mang lại, việc linh hướng nhắm đến sự toàn vẹn và thánh thiện của con người.[7] Linh hướng cốt tại “một sự quân bình thần thiêng” phát xuất từ mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa và các loài thụ tạo khác.[8] Như thế, sự khác biệt giữa linh hướng và tư vấn hệ tại chiều kích thiêng liêng của việc linh hướng.

§  Bí tích hoà giải và việc linh hướng

Mặc dầu cả hai đều thuộc về toà trong và đòi buộc một sự cẩn mật nghiêm nhặt, song khác biệt về bản chất. Bí tích hoà giải là một bí tích, mà chỉ linh mục mới có thể ban nhằm tha tội. Còn việc linh hướng là một việc phục vụ mà bất cứ ai có khả năng đều có thể thi hành.[9] Điều hiển nhiên là “việc đồng hành thiêng liêng có thể thực hiện trong khi cử hành bí tích hoà giải,”[10] nhưng việc linh hướng đòi một tương quan liên vị, mặt đối mặt giữa vị linh hướng và người thụ hướng, nhằm giúp người thụ hướng đi sâu vào thâm cung lòng mình. Những bất cập trong việc linh hướng ít nhiều bắt nguồn từ sự hiểu lầm này, đó là thay thế việc linh hướng bằng bí tích hoà giải. Mặt khác, đời sống nội tâm cũng bị thiệt thòi, nếu bí tích hoà giải bị xem nhẹ và thay thế bởi việc linh hướng mà thôi.

§  Giám sư và vị linh hướng

Việc đồng hành của vị linh hướng là một tương quan huynh đệ, trong khi việc đồng hành của giám sư mang bộ mặt quyền bính và bó buộc.[11] Việc đồng hành thiêng liêng của giám sư là một bó buộc trong tiến trình huấn luyện và không phải là tác vụ linh hướng theo nghĩa hẹp. Các ứng sinh có thể cảm thấy do dự khi bộc lộ bản thân với giám sư. Họ chỉ có thể lướt thắng sự do dự đó, một khi họ hiểu thấu đáo các hình thức đồng hành thiêng liêng khác nhau và biết bộc lộ bản thân với ai mà không sợ bị  loại trừ.

Tóm lại, cung cấp cho ứng sinh một sự hiểu biết thích đáng về các loại đồng hành thiêng liêng có thể giúp họ tự do và tự nguyện tìm đến vị linh hướng.

(2) Cung Cách Linh Hướng

Một vị linh hướng có khuynh hướng chỉ huy thì không phù hợp với giới trẻ ngày nay.  Họ rất nhạy cảm với các giá trị như tự do và tự lập, tình bạn và bình đẳng.[12] Trái lại, vị linh hướng  đảm nhận vai trò trợ giúp người thụ hướng  khám phá và tuân theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Trong việc linh hướng có một “hệ thống thứ bậc rõ ràng,” theo đó, “người cùng rốt…là vị linh hướng.”[13] Người quan trọng bậc nhất là Chúa Thánh Thần, thứ đến là người thụ hướng. Vị linh hướng là người quy về Chúa Thánh Thần và người thụ hướng như trung tâm.[14]

2. “Đời Sống Thiêng Liêng Đặt Lên Hàng Đầu”

Việc linh hướng bị đánh giá thấp hệ tại hệ thống các giá trị. Nếu xem nhẹ đời sống thiêng liêng hay đời sống nội tâm, thì việc linh hướng hẳn nhiên không được đánh giá cao. Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến và Tu Hội Tông Đồ nêu lên thách đố lớn cho đời sống thánh hiến hiện nay khi khẳng định rằng “đời sống thiêng liêng phải được đạt lên hàng đầu trong chương trình của các gia đình sống đời thánh hiến, sao cho mỗi tu hội và cộng đoàn biến thành trường dạy linh đạo Tin Mừng đích thật.”[15]

a. Ý Nghĩa Đời Sống Thánh Hiến

Ý nghĩa đời sống thánh hiến là thách đố lớn đối với người thánh hiến hiện nay, khi bối cảnh đời sống thánh hiến hiện nay được hình dung như “đêm tối”[16] và “hỗn độn.”[17] Điều này được nhắc đến trong huấn thị Xuất Phát Lại từ Đức Kitô. Ý nghĩa đời sống thánh hiến không thể tách khỏi câu hỏi nền tảng của Đức Giêsu, “Anh em bảo thầy là ai?” (Mt 16:15)[18] Đời sống thánh hiến là câu trả lời đặc biệt cho câu hỏi đó. Đời sống thánh hiến là “ký ức sống động về cách sống và hành động của Đức Giêsu như là Lời Nhập Thể trong tương quan với Chúa Cha và với anh chị em mình.”[19] Hiện tượng toàn cầu hoá hôm nay, trong đó não trạng duy tiêu thụ, duy khoái lạc, duy vị lợi và cá nhân chủ nghĩa được tôn thờ như các giá trị tuyệt đối, là một thách đố đối với sự chọn lựa Đức Kitô làm trung tâm và vì thế, đối với đời sống thánh hiến.[20] Nếu không ý thức cách sâu sắc về ý nghĩa đời sống thánh hiến, thì đương nhiên chẳng cần đến linh hướng.

Thêm vào đó, việc linh hướng giả thiết một mối tương giao thường xuyên với Thiên Chúa qua các sinh hoạt cơ bản như cầu nguyện, chia sẻ kinh nghiệm đức tin, đọc sách thiêng liêng và xét mình.[21] Vì thế, đời sống cầu nguyện có thể xem như điều kiện tiên quyết đối với việc linh hướng.[22]

Tắt một lời, ý thức và thực hành việc linh hướng có tương quan với chỗ đứng của đời sống thiêng liêng và ý nghĩa của đời sống thánh hiến.

b. Thách Đố  của Khuynh Hướng Náo Động

Thật đáng tiếc khi khuynh hướng duy hoạt động được xem như giải pháp nhằm trả lời các thách đố của đời sống thánh hiến.[23] Người ta tránh né các câu hỏi cốt lõi về “ý nghĩa và nhiệt tâm đối với Tin Mừng” [24] của đời sống thánh hiến bằng cách buông mình trong các “hoạt động tông đồ hay tranh đấu một cách điên cuồng.”[25] Hậu quả là “thiếu thống nhất đời sống,”[26] và “đời sống ơn gọi trở nên cằn cỗi.”[27] Về điểm này, Wilkie Au và Norren Cannon, trong tác phẩm Những Thúc Đẩy của Con Tim, ghi nhận rằng tình trạng công việc quá tải hay khuynh hướng ham mê làm việc quá mức khiến ta “mất khả năng tiếp xúc với các cảm xúc, các nhu cầu của thân xác và đời sống nội tâm, và làm cho đời sống trở nên vụn nát thay vì thống nhất.”[28]

Tính duy hoạt động, như một mặt nạ che đậy sự nhạt nhẽo và tầm thường của đời sống,[29] thật sự là một cản trở đối với việc linh hướng, bởi vì việc linh hướng đòi hỏi ta phải dừng chân  để nhìn lại cuộc sống, buông bỏ mọi  mối bận tâm, “ngay cả chính bản thân để hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa.”[30]

3. Những Rào Cản Xã Hội và Văn Hoá Đối Với Việc Linh Hướng

P. Phan, một thần học gia Việt Nam, khi bàn đến nhu cầu linh hướng trong bối cảnh đa văn hoá, đã quả quyết, “hoàn cảnh mới của Giáo Hội có tính đa văn hoá đặt ra các thách đố mới cho việc linh hướng.”[31] Để trả lời cho các thách đố này, cần có một sự hiểu biết chính xác các yếu tố văn hoá, tích cực lẫn tiêu cực, đã từng khuôn đúc nhân cách người thụ hướng. Bởi thế, một trong những nhiệm vụ của vị linh hướng là khuyến khích người thụ hướng bình thản khảo sát con người sâu kín của mình, ngõ hầu nhận ra các bóng tối và ánh sáng. Người thụ hướng còn cần phải chấp nhận các khía cạnh đó mà không xem chúng như là tội lỗi.

a. Các Yếu Tố Văn Hoá

§  Sợ Hãi và Phòng thủ

Những cảm xúc của người Việt Nam như sợ sệt, bẽn lẽn, ngờ vực, phòng vệ, liên đới, ngay cả sự che đậy là các chiến thuật nhằm tồn tại trong nghịch cảnh chiến tranh, bách hại và kỳ thị tôn giáo.[32] Cảm xúc sợ sệt và chiến thuật phòng vệ là những rào cản đối với đồng hành / linh hướng.   Chúng ngăn chận sự tin tưởng và cởi mở, việc chia sẻ và bộc lộ bản thân, vốn không thể thiếu trong việc linh hướng.[33]

Các ứng sinh tại Việt nam còn mang một nỗi sợ khác, đó là sợ bị từ chối.[34] Đó là gốc rễ của các cảm xúc tiêu cực khác như  nhút nhát, thiếu tin tưởng, thiếu thành thật và che đậy. Cần kiên nhẫn giúp các ứng sinh lướt thắng các cảm xúc tiêu cực và tạo điều kiện cho họ được chữa lành. Các ứng sinh cần cộng tác với tác động chữa lành của Thiên Chúa, bằng cách chấp nhận các cảm xúc đó.[35]

§  Thiếu Thành Thật

Thiếu thành thật là hệ quả của sợ hãi. Các ứng sinh ít nhiều đều nhiễm thói xấu này.[36] Đó thật sự là một trở ngại đối với việc biết mình, ý thức về bản thân và chấp nhận bản thân, và sự cởi mở cần có trong tiến trình linh hướng.[37] Thiếu thành thực không chỉ do sợ hãi, nhưng còn là hậu quả của hệ thống giáo dục duy vật nhấn mạnh “sự tranh đua và thành tựu cá nhân.”[38] Bởi thế, nên khuyến khích các ứng sinh lướt thắng thói xấu này, bằng cách đảm nhận một “lối giáo dục trưởng thành,” nghĩa là ưu tiên hợp tác hơn tranh đua, năng động tương tác hơn thành tựu cá nhân, năng lực tập thể hơn thành công cá nhân.[39]

b. Các Nhân Tố Gia Đình

§  Hình Ảnh Người Cha

Việc linh hướng bao hàm tương quan thân thiết giữa ứng sinh với Thiên Chúa và vị linh hướng.[40] “Sự thân mật thiêng liêng này khởi sự trong lòng gia đình.”[41] Mối tương quan lành mạnh của ứng sinh với các thành viên trong gia đình tạo điều kiện phát huy mối tương quan tin cậy và cởi mở với Thiên Chúa và vị linh hướng. Trong mô hình văn hoá mang tính gia trưởng tại Việt Nam, khuôn mặt người cha thường tỏ lộ uy quyền và độc đoán. Vì thế, ứng sinh có thể cảm thấy không thoải mái khi tương quan với khuôn mặt nam giới.[42] Ứng sinh cần nâng đỡ để vượt qua trở ngại tâm lý này.[43]

§  Áp Lực Gia Đình

Điều hiển nhiên là mọi nền văn hoá đều pha lẫn ánh sáng và bóng tối. Ý thức cộng đồng, gia đình, địa vị và danh tiếng là các giá trị trong nền văn hoá Việt Nam.[44] Tuy nhiên, các giá trị đó cũng có thể gây áp lực đối với ứng sinh. Micae-Phaolô Trần Minh Huy ghi nhận rằng gia đinh Việt Nam có nhiều ảnh hưởng đối với con cái trong việc chọn lựa đời sống linh mục và đời sống thánh hiến.[45] Áp lực đó khiến ứng sinh thiếu ý thức về tự do và trách nhiệm vốn thiết yếu trong quyết định ơn gọi và trong việc linh hướng.[46] “Các động cơ vô  thức và thiếu trưởng thành này”[47] có thể khiến ứng sinh che đậy con người đích thật mình, và cản trở việc bộc bộ bản thân. Do đó, cần khuyến khích ứng sinh ý thức về bản thân, chấp nhận bản thân, ngay cả những bóng tối trong cuộc đời.

§  Giữ Thể Diện

Tương tự như áp lực gia đình, nhu cầu giữ thể diện cũng là một trở ngại cho việc linh hướng. Nó cản trở  ứng sinh buông bỏ hình ảnh bản thân mà mình muốn phô bày trước công chúng, và phơi bày con người đích thật của mình. Việc linh hướng không thể tiến hành cách sâu sát, trừ phi ứng sinh nổ lực lột bỏ mặt nạ của bản thân.

Tóm lại, những trở ngại nói trên không những ngăn chận thiện ý muốn được linh hướng, mà cả tiến trình linh hướng.

B. Linh Hướng Trong Bối Cảnh Á Châu

Những thách đố trên không chỉ là những vấn đề phải đối diện, nhưng còn là sứ điệp của Chúa Thánh Thần. Với con mắt đức tin, chúng là những cơ hội để tìm ra một mô hình linh hướng trong Á Châu.

1. Một Cách Linh Hướng Mang Tính Khải Đạo (Towards a Mystagogic Approach of Spiritual Direction)

Phương pháp khải đạo (mystagogic approach) là một nổ lực “làm sáng tỏ các diễn biến trong cuộc sống con người như một hành trình thiêng liêng,” nghĩa là “biện phân tác động của Thiên Chúa trong đời sống, hầu quyết định chọn cho mình  một con đường đúng đắn để theo… giải thích hoàn cảnh sống như các dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa và khám phá ra những tiềm năng thúc đẩy sự lớn lên dưới viễn cảnh của Thiên Chúa.”[48] Sau đây là một vài đặc tính biểu trưng của việc linh hướng tại Á Châu.

a. Tính Duy Nhất

Là một sự gặp gỡ liên vị, việc đồng hành / linh hướng không những cho thấy những khác biệt nhân cách giữa vị linh hướng và người thụ hướng, nhưng còn ám chỉ tính duy nhất của mỗi bên.  Tính duy nhất này là tổng hợp các yếu tố địa lý, lịch sử, văn hoá, gia đình, di truyền và các nhân tố tâm sinh lý của mỗi người.[49] Thiên Chúa kêu gọi mỗi ứng sinh theo một cách thức duy nhất và có một kế hoạch duy nhất cho anh.[50] Đi vào cõi thâm sâu của ứng sinh, vị linh hướng tiếp cận với “đất thánh,”[51] và “mầu nhiệm cao cả nhất của đức tin, tức là mầu nhiệm ơn gọi, mầu nhiệm của tương giao với Thiên Chúa.”[52] Cũng như Môsê phải cởi dày khi bước vào đất thánh (Xh 3:6), vị  linh hướng cũng cần phải cởi bỏ đôi dày thiên kiến và thái độ phê phán, thiếu trân trọng và não trạng gia trưởng,[53] để có thể lắng nghe với đôi tai của Thiên Chúa, nhìn với đối mắt của Người và nói với môi miệng của Người.

Tính duy nhất của mỗi người là một giá trị rất được trân trọng trong truyền thống các tôn giáo Á Châu.[54] Việc  linh hướng trong các tôn giáo tại Á Châu là mô hình một người-với-một-người (one-to-one model).[55] Trong nổ lực hội nhập Tin Mừng vào mãnh đất Á Châu, cái nhìn này quả hữu ích trong việc thi hành tác vụ linh hướng trong bối cảnh Á Châu.

Vì tính duy nhất của ứng sinh, các nhà huấn luyện, kể cả các vị linh hướng, được thôi thúc phải “trân trọng sự tự do cá nhân và tính độc đáo”[56] của mỗi ứng sinh, bằng hình thức huấn luyện và đồng hành cá nhân.[57]

b. Nhạy Cảm

Là một nghệ thuật lắng nghe và biện phân, việc linh hướng bao gồm “sự  nhạy cảm với Thánh Thần đang hoạt động trong lòng người thụ hướng.”[58] Việc linh hướng được xem như “nơi gặp gỡ riêng của con tim,”[59] qua đó vị linh hướng lẫn người thụ hướng cùng nhau mở lòng đón nhận Thánh Thần và đón nhận nhau. Việc cởi mở này không chỉ được xây dựng trên đức tin và tin tưởng lẫn nhau, nhưng còn dựa trên sự ràng buộc tình yêu.[60] Dẫu tình yêu không phải là tình cảm đơn thuần, nhưng cũng bao gồm  các thái độ trìu mến như “quan tâm và chăm sóc … mưu tìm sự thiện hảo cho người yêu.”[61] Tình yêu là động cơ thúc đẩy sự trưởng thành thiêng liêng,[62] của chính mình và người khác.

Đối với người Á Châu, con tim tượng trưng phần sâu thẳm nhất nơi con người và toàn thể các khả năng nội tâm. “Người Á Châu suy nghĩ bằng con tim.”[63] Họ tiếp cận thực tại chủ yếu không bằng trí óc, nhưng với tất cả các khả năng của con người: trí nhớ, trực giác, trí tưởng tượng, cảm xúc và cảm nghĩ, trí năng và ý chí.

c. Một Hành Trình Cùng Chia Sẻ

Thực thế, việc linh hướng là một sự đồng hành và hành trình thiêng liêng.[64] Nó giả định một “cuộc lữ hành thiêng liêng với nhau, qua đó hai người cùng buông bỏ sự an toàn của mình và mở lòng đón nhận điều xa lạ.”[65] Thánh Gioan Thánh Giá, trong tác phẩm Ngọn Lửa Sống Động của Tình Yêu, thường dùng cụm từ “đường thiêng liêng” để chỉ việc linh hướng, trong đó Thánh Thần Thiên Chúa dẫn dắt người qua những thăng trầm cuộc sống.[66] Cuộc đời trần thế của Đưc Giêsu là hình ảnh nổi bật của một người nghèo lưu động đi tìm thánh ý Cha Người  (Mt 8:20). “Cuộc đời Người là một hành trình; sứ vụ của Người là gặp gỡ những con người trên đường lữ hành.”[67]

Giáo Hội Á Châu không xem mình như một tổ chức, nhưng như một “Giáo Hội lữ hành” tiếp nối sứ vụ phục vụ và tình yêu của Đức Giêsu giữa các dân tộc Á Châu.[68]

2. Một Linh Đạo Linh Hướng Trong Bối Cảnh Á Châu

Nhìn từ góc độ bên ngoài, việc đồng hành / linh hướng dường như chỉ là một cuộc đàm thoại riêng tư giữa hai người. Nhưng cuộc đàm thoại đơn giản ấy liên hệ nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống con người, thậm chí sự toàn diện và sâu thẳm nhất của con người. Bởi thế, ngoài việc “huấn luyện kỹ lưỡng về các khoa học thánh và các  môn học liên quan,”[69] và các phẩm chất cốt yếu như trưởng thành, lòng đạo đức và tinh thần sẵn sàng,[70] “các nhân đức biện phân, quân bình, trong sáng, kiên nhẫn, cảm thông, vui tươi và hết lòng quý mến những người được uỷ thác cho mình,”[71] các vị linh hướng còn cần phẩi có khả năng thi hành việc phục vụ tế nhị này. Vị linh hướng trong bối cảnh Á Châu còn cần được huấn luyện về linh đạo, kỷ năng linh hướng,[72]toàn nhập năng lực tâm lý-tính dục (psycho-sexual integration), tư vấn và các đề tài thích đáng khác.[73]

a.  Linh Đạo Ba Ngôi

§  Quy Hướng về Đức Kitô-Lời

Khi tìm hiểu về việc linh hướng trong Kinh thánh,  ta thấy rằng Thiên Chúa là vị linh hướng duy nhất. Tuy nhiên, tính vô hình của Thiên Chúa khiến Người ít nhiều trở nên xa cách và khó gần gũi dưới con mắt người Á Châu, kể cả người Việt Nam. Vì thế, linh đạo Kitô giáo Á Châu tập chú hơn vào Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể của Thiên Chúa Cha.

Là “mẫu gương tuyệt hảo,”[74] Đức Giêsu Nagiarét sinh ra tại Á Châu với khuôn mặt Á Châu. Người thi hành sứ vụ theo cung cách Á Châu. Đó là cung cách của người lữ hành “không nơi tựa đầu” (Mt 8: 20), đầy xót thương và liên đới với người nghèo. Đó là cung cách của người chữa lành và lãnh đạo-tôi tớ.

Khuôn mặt của Đức Giêsu cũng phù hợp với vai trò đáng kính của các sĩ phu trong nền văn hoá Việt Nam.[75] Theo cung cách Á Châu, Người loan báo Nước  Thiên Chúa qua việc gặp gỡ và đối thoại trong bầu khí tin tưởng và tôn trọng.[76]

Quy về Đức Kitô là trung tâm cũng là quy về Lời của Người, bởi Người chính là Lời (Ga 1:1-4). Lời được Thần Khí gieo vào mãnh đất Á Châu “để chuẩn bị cho toàn thể tạo thành, lịch sử và loài người tiến tới sự trưởng thành viên mãn trong Đức Kitô.”[77]

Trong khi thi hành tác vụ đồng hành / linh hướng trong bối cảnh Á Châu, vị linh hướng không thể không nhìn ngắm khuôn mặt Á Châu của Đức Giêsu. Càng trở nên đồng hình đồng dạng với “vị tôn sư lỗi lạc” trong tư cách người tôi tớ, người đồng hành / linh hướng càng sinh hoa kết quả.[78]

§  “Thần Khí Thiên Chúa Hằng Hoạt Động …”[79]

“Thần Khí Thiên Chúa hiển nhiên là Đấng hướng dẫn con tim những người tìm kiếm Thiên Chúa.”[80] Người lôi kéo và dẫn dắt người ta đến sự thật, tái sinh họ trong đời sống mới, dạy họ biết mầu nhiệm Thiên Chúa, giải thoát họ khỏi vòng nô lệ tội lỗi, tạo điều kiện cho sự trưởng thành thiêng liêng và đổi mới con tim loài người và thế giới.[81] Giáo Hội Á Châu nêu bật sự hiện diện sống động và đầy sáng tạo của Chúa Thánh Thần trong đời sống người Á Châu và trong các truyền thống văn hoá và tôn giáo, như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo và Hồi Giáo.[82] Là tác nhân những điều thiện hảo, Người tiếp tục đồng hành với người Á Châu trong hành trình đức tin, hy vọng và yêu thương.[83] Vì Thánh Thần hiện diện và làm trổ sinh những hoa quả tốt tươi tại Á Châu, Giáo Hội Á Châu “hết sức kính trọng các truyền thống này và mong muốn đối thoại chân thành với các tín đồ các tôn giáo khác.”[84]

Việc đồng hành / linh hướng phải được thực hiện trong bầu khí đức tin đó, xác tín rằng Thánh Thần thật sự  đang hoạt động và hướng dẫn đôi bên trong tiến trình biện phân thánh ý Chúa. Vì thế, vị linh hướng phải chăm chú và lắng nghe sự thúc giục của thánh Thần trong tâm tình cầu nguyện và nhận ra tác động của Người nơi người thụ hướng.[85]

§  Linh Đạo Môn Đệ (Discipleship) vì Nước Thiên Chúa

Linh đạo người môn đệ bắt rễ trong Tin Mừng.[86] Đó là lời mời gọi vô điều kiện của Đức Giêsu (Mt 8:22; Lc 9:59) để bước theo chân Người, “sống những kinh nghiệm cơ bản của Đức Giêsu trong tương quan với Cha Người, Đấng yêu thương với một tình yêu vô điều kiện và đầy lòng thương xót.”[87] Đời sống người môn đệ là một hành trình, qua đó người môn đệ tự do đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, từ bỏ mọi sự, đi theo Đức Giêsu (Mt 4:20), ở với Người và với cộng đoàn các môn đệ (Ga 1:35-39), được sai đi và vác thập giá (Lc 9:23).[88] Như thế, qua việc đồng hành / linh hướng, người đồng hành / linh hướng và người thụ hướng nâng đỡ nhau để trở thành những môn đệ đích thật của Chúa Giêsu Kitô. Họ cùng nhau đi theo Đức Giêsu, cùng nhau lắng nghe Lời Người, cùng nhau chia sẻ đời sống thiêng liêng, và cùng nhau làm chứng cho sự sống là chính Đức Giêsu.

§  Linh Đạo Chiêm Niệm – Cầu nguyện

Truyền thống các tôn giáo Á Châu đánh giá cao việc cầu nguyện và lòng sốt mến.[89] Chúng phát xuất từ “bản chất sùng đạo trong linh hồn người Á Châu.”[90] Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu nêu bật mối liên hệ giữa đời sống cầu nguyện và việc đồng hành thiêng khi phát biểu, “chúng ta cần một chương trình đào tạo các linh mục và tu sĩ  là những người nam, người nữ của Thiên Chúa, nhiệt thành với đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm sâu xa, nhờ đó họ có thể hướng dẫn và đồng hành với người khác trên con đường dẫn tới Thiên Chúa.”[91] Không thể không quan tâm đến các hình thức cầu nguyện đa dạng của các tôn giáo Á Châu, nếu muốn phát huy một hinh thức cầu nguyện Kitô giáo mang bộ mặt Á Châu.[92] Hình thức cầu nguyện Á Châu tiên vàn là một tương giao liên vị “bao gồm toàn vẹn con người trong sự hiệp nhất của thân xác-tâm trí-tinh thần.”[93]

Để đạt mục tiêu đó, vị linh hướng phải là con người của câu nguyện và chiêm ngưỡng. Những kinh nghiệm của ông trong đời sống cầu nguyện là tài nguyên không thể thiếu khi thi hành tác vụ linh hướng, bởi lẽ ông không thể trao ban điều ông chưa trải qua.

Về phần các ứng sinh, đời sống cầu nguyện quả là trung tâm của việc đồng hành / linh hướng. Anh/chị giao tiếp với Thiên Chúa như thế nào trong việc cầu nguyện? Anh/chị có những cảm xúc gì  trong cầu nguyện? Anh/chị xin Chúa điều gì? Điều gì làm anh/chị chia trí? Tất cả những câu hỏi ấy liên quan đến linh đạo cầu nguyện và chiêm niệm.

§  Linh Đạo Thánh Thể

Thánh Thể, nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu, chứa đựng điều thiện hảo thiêng liêng là chính bánh hằng sống của chúng ta.[94] Thánh Thể là nơi đặc biệt để chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Giêsu và tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa.[95] Đó là bí tích tạ ơn,[96] nguồn mạch và chóp đỉnh của sứ vụ truyền giáo,[97] dấu chỉ và khí cụ của hiệp nhất và hiệp thông,[98] và sức mạnh của biến đổi.[99] Các Kitô hữu được mời gọi trở nên “dân tộc Thánh Thể.”[100] Huấn thị Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô quả quyết rằng, “đặt linh đạo lên vị trí ưu tiên có nghĩa là xuất phát lại từ việc tái khám phá vị trí trung tâm của cử hành Thánh Thể.”[101]

Giáo Hội Á Châu triển khai linh đạo Thánh Thể theo viễn cảnh truyền giáo bằng hội nhập văn hoá.[102] Thánh thể phải được hội nhập trong văn hoá và lối sống Á Châu. Vì thế, linh đạo Thánh Thể không chỉ quan tâm đến việc tháp nhập các biểu tượng văn hoá vào cử hành Thánh Thể, mà còn quan tâm đến chiều kích liên đới và chia sẻ của Thánh Thể. Con người Thánh Thể tại lục địa Á Châu  không chỉ là con người mang tâm tình tạ ơn và chiêm ngưỡng, nhưng tiên vàn là con người của liên đới với người nghèo và người sống bên lề xã hội. Bằng cách đó, Thánh Thể trở thành  con đường của hiệp thông và truyền giáo.

Thánh Thể, nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu, thật sự là trung tâm của việc linh hướng. Một nhận thức đầy đủ về linh đạo Thánh Thể sẽ giúp người thụ hướng gặp gỡ với Thiên Chúa qua Đức Giêsu Thánh Thể. Nó cũng thúc đẩy người thụ hướng vươn ra thế giới để lắng nghe tiếng nói của Đức Giêsu hiện diện trong vũ trụ (cosmic Christ), tức là lắng nghe tạo thành, nhân loại, nhất là người nghèo.

§  Linh Đạo Truyền Giáo

Truyền giáo là bản chất thiết yếu và ơn gọi của Giáo hội.[103] Bởi đó, Giáo Hội kêu gọi mọi tín hữu dấn thân vào công cuộc phúc âm hoá mới.[104] Mỗi người thực hiện sứ vụ truyền giáo theo hình thức sống của mình. Tất cả các thừa tác vụ trong Giáo Hội, kể cả tác vụ linh hướng, phải tập trung vào sứ vụ truyền giáo.[105] Trong bối cảnh văn hoá phức tạp tại Á Châu, việc truyền giáo của Giáo Hội ưu tiên cho việc  hội nhập văn hoá và đối thoại.[106] Đó là hai yếu tố then chốt để hiện thực hoá Nước Thiên Chúa và hội nhập Tin Mừng vào Á Châu.

Việc đồng hành / linh hướng tại lục địa Á Châu không thể không quan tâm đến linh đạo truyền giáo, bằng không sẽ trở nên vô ích.  Việc đồng hành / linh hướng không hiện hữu vì chính nó, nhưng vì Đức Giêsu Kitô và vì nước Thiên Chúa.

§  Linh Đạo Đối Thoại

Bản chất của việc đồng hành / linh hướng là đối thoại trong yêu thương, cảm  thông và đồng cảm. Nó giả thiết một sự thành thạo trong nghệ thuật đối thoại  tinh tế này. Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu là mẫu mực của mô hình đối thoại này.[107] Vì vậy, Giáo Hội Á Châu chọn đối thoại như cách thức chủ yếu để hiện diện trong thực tế phức tạp về mặt văn hoá và tôn giáo tại Á Châu.[108]

Trên bình diện thực hành, đối thoại tại Á Châu tập chú năm chiều kích.

Đối thoại qua cuộc sống mời gọi các đối tác chia sẻ kinh nghiệm nhân sinh của mình, làm chứng và nổ lực nâng cao nhân phẩm.

– Đối thoại qua việc chia sẻ những kinh nghiệm tôn giáo trong tinh thần Átxidi năm 1986.

Đối thoại bằng hoạt động mời gọi các Kitô hữu cộng tác với những người ngoài Kitô giáo, để cùng nhau cổ võ một sự  phát triển và giải phóng toàn diện cho các dân tộc. Việc đối thoại này bao gồm các hoạt động xã hội và bác ái nhằm nâng cao nhân quyền và nhân phẩm, công lý, hoà bình và sự toàn vẹn của tạo thành.[109]

Đối thoại văn hoá nhắm đến một sự hiểu biết hỗ tương và làm phong phú gia sản văn hoá chung.

– Đối thoại qua việc trao đổi thần học dành riêng cho các nhà chuyên môn.

Trong nổ lực “phúc âm hoá bằng đối thoại và đối thoại để phúc âm hoá”[110] các nền văn hoá và truyền thống tôn giáo, vị linh hướng không thể không dấn thân vào các cuộc đối thoại lớn của Giáo Hội.[111] Qua tiến trình linh hướng, người thụ hướng được thúc đẩy và khuôn đúc thành con người trong tương quan đối thoại với Thiên Chúa và với người khác. Tương quan này hệ tại nhiều ở bầu khí đối thoại giữa vị linh hướng và người thụ hướng.[112]

§  Linh Đạo Ngôn Sứ

Qua bí tích Thánh Tẩy, mọi Kitô hữu trở thành ngôn sứ. Họ chia sẻ thừa tác vụ ngôn sứ của Đức Giêsu Kitô bằng cách làm chứng và loan báo Lời Người để nuôi dưỡng dân chúng.[113] Điều đó ám chỉ một sự thống nhất và khả tín của đời sống.[114] Vì tính chất nghịch lý của Lời Chúa, đời sống ngôn sứ là một cuộc “lội ngược dòng” và thách thức đối với não trạng thời đại (1V 18-19).[115] Giữa ánh sáng và bóng tối tại Á Châu, Giáo Hội quyết chọn con đường ngôn sứ, và xem mình là “Giáo Hội ngôn sứ.”[116]

Vị linh hướng đặc biệt đảm nhận nhiệm vụ ngôn sứ khi giúp người thụ hướng biện phân thánh ý Thiên Chúa qua các dấu chỉ trong lịch sử và đời sống mình. Cũng thế, vị linh hướng nên khuyến khích người thụ hướng đảm nhận sứ vụ làm biểu tượng và ngôn sứ bằng một đời sống chứng tá và trong sáng.[117]

§  Linh Đạo Huynh Đệ Vì Công Lý, Hoà Bình Và Sự Toàn Vẹn Tạo Thành

Linh đạo huynh đệ có nền tảng vững chắc trong Kinh Thánh, nhất là Tân Ước.[118] Tinh thần phục vụ vì yêu thương (Mt 20:26-28; Ga 13:12-14), việc chia sẻ và hiệp thông đời sống và sứ vụ, một “cuộc sống hiến thân vì yêu thương” (Ga 17:11), bình đẳng và liên đới, công lý và hoà bình là những diễn tả khác nhau của tình tuynh đệ.[119]

Vì thực tế phức tạp tại Á Châu, Giáo Hội tại đây nhấn mạnh tình huynh đệ giữa các dân tôc.[120] Ý thức về tình huynh đệ diễn tả cách rõ ràng qua việc dấn thân vào cuộc “đối thoại đời sống và con tim” trong tinh thần huynh đệ, hiệp thông, cộng tác và hoà hợp.[121] Việc Giáo Hội Á Châu ưu tiên chọn lựa người nghèo chẳng gì khác hơn là liên đới với họ trong tình huynh đệ,[122] và dấn thân cổ võ công lý, hoà bình và bảo toàn tạo thành.[123]

§  Linh Đạo Hèn Mọn : Nghèo Khó – Khiêm Hạ – Tự Huỷ (Kenosis)

Gốc rễ của linh đạo hèn mọn là chính Đức Giêsu Kitô. “Dầu là Thiên Chúa, Người không quyết dành địa vị ngang hàng với Thiên Chúa… nhưng đã tự huỷ mình ra không, mặc lấy thân nô lệ,… hạ mình và vâng phục cho đến chết trên thập giá (Pl 2:6-8). Linh đạo tự huỷ, hèn mọn, nhỏ bé và nghèo khó là tiếp nối mầu nhiệm Nhập Thể. Người cũng mời gọi các môn đệ đi theo con đường đó (Mt 20:27-28; Mc 10:42-44).[124] Giáo Hội Á Châu nhận thức sự bé nhỏ của mình “về số lượng tín hữu, sự khôn ngoan nhân loại và quyền lực,” và “sự nghèo khó và thấp bé của mình.”[125]

Linh đạo nói trên không những là nội dung của việc huấn luyện qua tiến trình linh hướng, nhưng còn là cung cách thực hiện tác vụ linh hướng. Ý thức sự nghèo khó và bé mọn biến vị linh hướng lẫn người thụ hướng trở thành những người cùng nhau lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần trong tâm tình khiêm tốn và liên đới.

§  Linh Đạo Hài Hoà (Harmony)

“Khái niệm hài hoà… là đề tài lớn trong Kitô giáo,” bao gồm ba “chiều kích: hài hoà với Thiên Chúa, với thế giới nhân loại và với toàn thể vũ trụ.”[126] Từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong sự hài hoà giữa con người với nhau và với tạo vật. Vì sự hài hoà này bị tội lỗi phá vỡ, Thiên Chúa lập kế hoạch “phục hồi   tình trạng hài hoà nguyên thuỷ của tạo thành” nhờ Ngôi Lời Nhập Thể. Người được sai đi để loan báo “Vương Quốc Thiên Chúa,” vương quốc hài hoà và bình an.[127] Giáo Hội được giao nhiệm vụ tiếp nối sứ vụ tái lập sự hài hoà đó,  trở thành “bí tích của hiệp thông và hài hoà” và cổ võ sự hài hoà trong vũ trụ một cách năng động.”[128]

Văn hoá Á Châu trân trọng giá trị hài hoà.[129] Các giám mục Á Châu khẳng định: “Ý thức về sự hài hoà với bản thân do Thiên Chúa ban tặng, người ta tiến vào các tương quan hài hoà với anh chị em nhân loại, vươn ra với thiên nhiên và vũ trụ bao la trong sự hoà hoà. Những sự hài hoà đó… dẫn đến kinh nghiệm tuyệt  đỉnh về sự hài hoà với Thiên Chúa.”[130]

Việc linh hướng tại Á Châu phải được thực hiện trong bầu khí của linh đạo hài hoà. Việc linh hướng sẽ không mang lại kết quả, trừ phi nó tạo điều kiện giúp ứng sinh biến đổi tương quan với bản thân, với người khác, với tạo thành và với Thiên Chúa.

C. Những Đề Nghị Nhằm Thực Hiện Việc Linh Hướng

Một chương trình huấn luyện toàn diện và đầy đủ là mối ưu tư số một của Giáo Hội hoàn vũ[131] và Giáo Hội Á Châu.[132] Điều này tuỳ thuộc nhiều ở phẩm chất tri thức và thiêng liêng của các người phụ trách huấn luyện. Vì lẽ đó, việc phục vụ của vị linh hướng trong các nhà huấn luyện sẽ hiệu quả, nếu họ được cung cấp “một chương trình huấn luyện cập nhật hoá”[133] tạo điều kiện cho họ “mở ra những con đường mới và nhìn lại các mô hình và phương pháp huấn luyện của mình, hầu có thể đáp ứng các nhu cầu thời đại ta đang sống.”[134]

1. Huấn Luyện Các Người Đồng Hành / Linh Hướng

Ngoài việc huấn luyện về linh đạo như đã đề cập trên đây, người đồng hành / linh hướng Phan Sinh cần một chương trình huấn luyện thường xuyên và chuyên môn.[135]

a. Kỹ Năng Đồng Hành / Linh Hướng

Cách thức đồng hành / linh hướng một người-với-một người trong mô hình hiện đại đòi hỏi các kỹ năng thích hợp trong việc đồng hành thiêng liêng. Việc đồng hành thiêng liêng / linh hướng cần có kỷ năng lắng nghe, thách đố và biện phân.

(1) Nghệ Thuật Lắng Nghe

Cốt lõi của việc đồng hành / linh hướng không phải là khuyên bảo hay giải quyết vấn đề,[136] trái lại,  việc đồng hành / linh hướng là một sự hỗ trợ “giúp ứng sinh chú tâm vào điều Thiên Chúa truyền đạt cho họ, đích thân đáp lại điều Người truyền đạt, lớn lên trong tình thân hữu với Người, và đưa vào cuộc sống các kết quả của mối tương giao đó.”[137] Sự hỗ trợ quan trọng nhất của người đồng hành / linh hướng chính là hiện diện trong thái độ lắng nghe. Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản trong việc lắng nghe.

(a) Các Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Lắng Nghe

Việc đồng hành / linh hướng tiên vàn “thúc đẩy ứng sinh mở lòng tối đa để tiếp nhận tình yêu biến đổi và thanh luyện của Thiên Chúa.”[138] Điều đó cần có một bầu khí thích hợp giúp ứng sinh lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa. Vì thế, vị linh hướng cần biết các cách thức tạo nên bầu khí đó.

1. Người đồng hành / linh hướng ý thức mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa.

2. “Người đồng hành / linh hướng tin tưởng phó thác bản thân trong tay Chúa.”[139]

3. Người đồng hành / linh hướng ý thức rằng “việc hướng dẫn thiêng liêng mà ứng sinh muốn khám phá đã hiện diện trong lòng ứng sinh.”[140]

4. “Người đồng hành / linh hướng chỉ đưa ra lời chỉ bảo khi được Thánh Thần thúc đẩy từ bên trong.”[141]

5. “Người đồng hành / linh hướng cậy dựa chủ yếu và trực tiếp vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa,” bằng cách lắng nghe Thiên Chúa đang hiện diện trong mình và trong người thụ hướng.[142]

6. “Người đồng hành / linh hướng không bao giờ quyết định thay cho người thụ hướng,”[143] trái lại, ông  luôn luôn khuyến khích người thụ hướng đảm nhận hoàn toàn trách nhiệm trong hành trình thiêng liêng.

(b) Hai Cách Lắng Nghe: Đồng cảm và Thấu cảm  (Empathy and Interpathy)

Khả năng “lắng nghe Thiên Chúa đang nói nơi người thụ hướng được gia tăng khi người đồng hành / linh hướng chân thành yêu thương người thụ hướng,”[144] tức là mong muốn cho người thụ hướng lớn lên về mặt thiêng liêng. Động cơ này không chỉ giúp vị linh hướng loại bỏ thái độ phê phán, nhưng còn giúp ông trở nên dịu dàng, kiên nhẫn và chờ đợi.[145] Để đi vào thế giới nội tâm của người thụ hướng, người đồng hành / linh hướng cần có thái độ đồng cảm khi lắng nghe. Đồng cảm là một cách nhận thức trên bình diện liên chủ thể,[146] nhờ đó, người đồng hành / linh hướng đặt chân mình vào đôi dày của người thụ hướng[147] Người đồng hành / linh hướng có thể đi vào kinh nghiệm thiêng liêng của người thụ hướng một cách nào đó, một khi ông đã trải qua những kinh nghiệm đó và đã suy tư về kinh nghiệm đó dưới ánh sáng đức tin.[148] Sự hiểu biết đồng cảm này bao hàm một sự chăm chú lắng nghe người thụ hướng như “một thực thể tâm sinh lý duy nhất.” Điều đó có nghĩa ông không chỉ lắng nghe ngôn ngữ được diễn tả qua lời nói, nét mặt, cử chỉ, mà cả thứ ngôn ngữ chứa đựng đàng sau đó.[149]

Thêm vào đó, kỹ năng thấu cảm (interpathy) giúp ích cho việc lắng nghe, nhất là trong việc linh hướng có tính chất liên văn hoá (cross-cultural).[150] Để trở thành người lắng nghe cách thấu cảm, người đồng hành / linh hướng cần đóng khung niềm tin, ý nghĩ và cảm xúc của mình, hầu đi vào thế giới nội tâm duy nhất của người thụ hướng.

Thêm vào đó, sự hiện diện và lắng nghe của người đồng hành /  linh hướng liên quan đến tư thế của cơ thể ông.  Tư thế thoải mái của cơ thể, cởi mở, nhìn trực diện, nét mặt diễn cảm cách thích hợp và gật đầu đúng lúc là những cách thế biểu lộ sự chú ý và tiếp nhận.[151]

(c) Những Khó Khăn Trong Việc Lắng Nghe

Lắng nghe hẳn là yếu tố nòng cốt của việc đồng hành / linh hướng. Tuy nhiên, lắng  nghe sẽ vô hiệu, nếu gười đồng hành / linh hướng không nhận biết và lướt thắng những trở ngại trong việc lắng nghe. Những trở ngại thường gặp nhất là “sự chọn lọc trong việc lắng nghe, đối chuyển vị (counter-transference), thiếu quân bình giữa thái độ kiên quyết và dịu dàng, và sợ rủi ro.”[152]

§  Việc chọn lọc trong lắng nghe khiến vị linh hướng chỉ tập trung vào những điều phù hợp với kỳ vọng của mình.

§  Đối chuyển vị là hiện tượng vị linh hướng “bộc lộ với người thụ hướng những cảm xúc, suy đoán và  tương giao bắt nguồn từ một mối tương quan khác,” và vì thế, ông không thể nhìn thấy con người đích thật của người thụ hướng.[153]

§  Thiếu quân bình giữa kiên và dịu dàng: Để lắng nghe cách hiệu quả, người đồng hành / linh hướng phải có một thái độ quân bình giữa kiên quyết và dịu dàng, vì “kiên quyết mà không dịu dàng thì sẽ làm hỏng tiến trình lắng nghe, dịu dàng mà không kiên quyết sẽ gây thiệt thòi cho người thụ hướng.”[154]

§  Sợ rủi ro:  Tỏ lộ sự thiếu phó thác, cởi mở và tiếp nhận  đối với Thiên Chúa, thiếu tự tin, sợ sai lầm, tự phụ và nhút nhát.[155]

(2) Nghê Thuật Thách Đố

Lắng nghe Thần Khí là đặc điểm của việc đồng hành / linh hướng. Tuy nhiên, lắng nghe cũng là mở lòng đón nhận thách đố.[156] Thần Khí không ngừng thách thức các môn đệ Đức Giêsu lớn lên trong sự viên mãn thiêng liêng. Là dụng cụ của Chúa, người đồng hành / linh hướng được uỷ thác trách nhiệm truyền đạt cho người thụ hướng các thách đố của Thần Khí. Vấn đề này liên quan đến cách thức người đồng hành / linh hướng thách đố, tức là kỹ năng thách đố. Điều quan trọng là người thụ hướng nghe “lời thách thức” của Thần Khí hay của cá nhân gười đồng hành / linh hướng?

Trong việc linh hướng, đặt câu hỏi “không phải là phỏng vấn tìm kiếm thông tin hay việc thẩm vấn của cảnh sát.”[157] Trái lại, đặt câu hỏi có mục đích giúp người thụ hướng quan sát những điều đang diễn ra trong bản thân thâm sâu mình, và nhận ra điều Thần Khí muốn truyền đạt. Các câu hỏi trong tiến trình linh hướng sẽ vô ích, nếu chúng không giúp người thụ hướng nhận biết các cảm xúc mình, lưu ý đến sự hiện diện của chúng, thừa nhận chúng là của mình, cảm thấy thoải mái với chúng và biểu lộ chúng ra ngoài.[158] Richard Nelson-Jones, trong tác phẩm Tư vấn Thực Hành và Kỹ Năng Trợ Giúp, liệt kê ba loại câu hỏi:

§  “Câu hỏi mở” mời gọi người thụ hướng “triển khai điều đã phát biểu.”

§  Câu hỏi nhằm làm sáng tỏ vấn đề.

§  Câu hỏi mời gọi người thụ hướng bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ và ý định của mình.[159]

Đặt câu hỏi một cách từ tốn và hình thái câu hỏi giữ vai trò quan trọng trong việc tạo bầu khí tin tưởng, thân thiện nhằm giúp tăng trưởng. Trên hết mọi sự, thái độ bên trong và bên ngoài của người đồng hành / linh hướng phải thấm đượm tình yêu chân thực.[160]

(3) Nghệ Thuật Biện Phân[161]

Theo phương pháp khải đạo (mystagogic), biện phân là “hoạt động của trí năng nhằm nhận thức  sự khác biệt giữa hiện trạng của một người và sự toàn thiện của người đó trong Thiên Chúa, nhận biết cách thế khả dĩ vượt qua sự khác biệt đó, và trợ giúp người đó đi trong đường lối của Thiên Chúa, vì biết rằng chính Người thúc đẩy mình đi theo con đường đó.”[162]

Nhờ ơn biện phân, người đồng hành / linh hướng giúp người thụ hướng “nhìn thấy thực tại với cái nhìn của Thiên Chúa và giữa hoàn cảnh phức tạp, phân biệt điều gì đến từ Thiên Chúa và điều gì không đến từ Thiên Chúa.”[163] Về điểm này, Merton quả quyết rằng sự trong sáng và đơn sơ, dựa trên sự phán đoán lành mạnh, là điều không thể thiếu.[164]

Lại nữa, một người đồng hành / linh hướng có khả năng lắng nghe thì nhận biết các ranh giới của các tương quan khi thi hành tác vụ. Đó là ranh giới về thời gian, nơi chốn và con người.[165] “Ý thức về nhịp thời gian tự nhiên sẽ giúp vị linh hướng duy trì  sức khoẻ thể lý và cảm xúc.”[166] Cũng cần một nơi gặp gỡ thích hợp nhằm bảo đảm sự cẩn mật và trong sáng. Những ranh giới của con người quả quan trọng và là thách đó lớn đối với vị linh hướng. Ông cần biện phân tình trạng tâm lý của ứng sinh, hầu tránh những hiểu lầm về mặt tình cảm.[167]

(4) Nhật Ký (Supervision)

Việc đồng hành / linh hướng là một tiến trình và đồng hành với người thụ hướng. Để theo dõi các chuyển biến và sự lớn lên của người thụ hướng về mặt thiêng liêng, vị linh hướng cần viết nhật ký thiêng liêng. Nhật ký cũng là phương tiện hữu hiệu giúp ông xem xét lại và đánh giá tác động của Thần Khí, tương quan của ông với người thụ hướng, cảm xúc và phản ứng, mặt mạnh và măt yếu của ông trong quá trình linh hướng.[168]

b. Những Kỹ Năng Khác

§  Toàn Nhập về Tâm Lý – Tính Dục

Hội Nghị Chuyên Đề dành cho Các Giám Đốc và Linh Hướng các Chủng Viện Á Châu tổ chức tại Seoul tháng 10 năm 1999 ngụ ý tầm quan trọng của việc toàn nhập về mặt tâm lý – tính dục trong việc linh hướng.[169] Đời sống thiêng liêng của ứng sinh thường bị tắc nghẽn vì các khó khăn liên quan đến tính dục. Vì thế, người đồng hành / linh hướng cần có một số kiến thức và hiểu biết về tính dục, hầu giúp ứng sinh xử lý và toàn nhập “loại năng lực nồng nàn, sáng tạo,”[170] mạnh mẽ này … vốn bao gồm “các cảm xúc yêu thương, khoan hậu, ân cần, can đảm, tự nguyện hiến thân vì người khác.”[171] Năng lực này thật sự là “quà năng đặc biệt của Thiên Chúa để đưa tới sự thống nhất và viên thành,”[172] mà các ứng sinh có thể sử dụng để phát huy khả năng yêu thương, sống thân mật và tương giao.[173]

Việc toàn nhập về mặt tâm lý-tính dục liên hệ vấn đề căn tính, “tôi là ai về phương diện tính dục?” Câu hỏi này đòi phải khảo sát kỷ lưỡng khái niệm tính dục tạo nên bởi quan niệm của xã hội, gia đình, bạn bè, trường học, Giáo Hội và cộng đoàn tu trì. Việc toàn nhập tâm lý-tính dục có mục đích giúp ứng sinh vui hưởng sự tự do và đảm nhận trách nhiệm trong việc bộc lộ năng lực tính dục một cách thích đáng qua các tương giao lành mạnh. Huấn thị Đường Hướng Huấn Luyện Trong Các Dòng Tu nêu bật vai trò của “việc linh hướng đều đặn và việc chia sẻ trong tình yêu huynh đệ với anh chị em và cộng đoàn” trong tiến trình toàn nhập về tâm lý-tính dục.[174]

§  Kỹ Năng Tư vấn

Việc tư vấn tâm lý, do cứu cánh, khác với việc linh hướng. Nó không “ưu tiên nhắm đến việc cải thiện mối tương giao với Thiên Chúa,”[175] nhưng “chủ yếu nhằm xử lý các rối loạn tâm lý,” hay giải quyết các vấn đề, hầu thể hiện một sự toàn nhập bản thân. Dầu vậy, một vài kiến thức về “phương pháp tâm lý và tư vấn” cũng có thể hữu ích.[176] Trước hết, nó giúp vị linh hướng phân biệt các vấn đề mà người thụ hướng trình bày và chuyển anh/chị đến nhà tư vấn khi cần.[177] Thứ hai,  phương pháp tư vấn cũng có thể hữu ích trong việc giúp ứng sinh khám phá, ý thức và bộc lộ bản thân.[178]

2. Việc Linh Hướng Trong Chương Trình Huấn Luyện

a. Các Môn Học

Ngoài các môn học quy định  trong chương trình huấn luyện khởi đầu,[179] các ứng sinh cần được dẫn nhập vào môn học linh hướng và biện phân.[180] Cần khơi dậy nơi ứng sinh nhu cầu linh hướng và điều chỉnh quan niệm méo mó về linh hướng nếu có. Ứng sinh cũng cần am hiểu về đời sống thánh hiến, linh đạo, nhân học, tính dục, cầu nguyện và sứ vụ truyền giáo trong bối cảnh Á Châu.[181] Trong giai đoạn huấn luyện khởi đầu, ứng sinh cần ưu tiên tìm hiểu và thực tập đời sống cầu nguyện. Các môn học khác là thứ yếu và nên được giới hạn sao cho không tác hại đời sống cầu nguyện của ứng sinh.

b. Thực Hành

§  Thực Hành Linh Hướng

Các nhà hữu trách về huấn luyện phải bảo đảm rằng các ứng sinh “thực sự đang được một vị linh hướng đồng hành,” [182] nhất là trong giai đoạn “thực tập trong môi trường thực tế.” [183] Mặc dầu nhà huấn luyện tôn trọng sự tư do của ứng sinh trong việc chọn lựa vị linh hướng, và không can thiệp vào tiến trình linh hướng, ứng sinh buộc phải biểu lộ thiện ý theo đuổi ơn gọi và lớn lên cách toàn diện. Tha thiết với việc linh hướng là một trong những biểu lộ của thiện ý đó.

§  Nhật Ký

Cũng nên khuyến khích các ứng sinh viết nhật ký như một phương tiện giúp biết mình và đánh giá sự tiến triển thiêng liêng.[184] Nhật ký có thể giúp ứng sinh ý thức về cuộc sống, nhất là các cảm xúc và phản ứng trước thách đố của Lời Thiên Chúa. Nhật ký giúp anh mở lòng đón nhận các mạc khải sâu xa hơn về bản tính của Thiên Chúa khi suy gẫm Kinh Thánh, các kinh nghiệm tôn giáo trong lịch sử và chính kinh nghiệm của mình với Thiên Chúa qua việc cầu nguyện và suy niệm.” [185] Cũng cần khuyến khích ứng sinh viết “những tự truyện ngắn.” [186] Qua đó, ứng sinh nhìn lại cuộc đời của mình như một thực thể thống nhất và đọc lại các câu chuyện đó dưới ánh sáng đức tin hầu thống nhất đời sống.[187]

§  Tĩnh Tâm Có Hướng Dẫn

Các nhà huấn luyện cần khuyến khích ứng sinh thực hiện mô hình tĩnh tâm cá nhân và có hướng dẫn.[188] Đó là thì mạnh trong tương giao với Thiên Chúa,

§  Thực Hành Tinh Thần Hài Hoà

Một trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng trong thế giới hiện nay là sự vụn nát hay phân chia đời sống thành nhiều mãnh. Do đó, chương trình huấn luyện có mục đích giúp ứng sinh toàn nhập các chiều kích khác nhau của đời sống thánh hiến thành một thực thể duy nhất.[189] Cần khuyến khích ứng sinh phát huy một cuộc sống quân bình giữa cầu nguyện và học hành, cô tịch và hoạt động, làm việc và nghĩ ngơi. Điều này đòi ứng sinh “biết sử dụng thời giờ, và lưu ý đến sự thinh lặng và tư thế của thân xác trong cầu nguyện.”[190]

Cần khuyến khích ứng sinh sống tinh thần hài hoà, tức là tương giao hoà hợp và thân thiện với các thành viên trong cộng đoàn và với tất cả những người khác trong gia đình nhân loại. Cũng quan tâm đến mối tương quan hài hoà với tạo thành, bởi vì “tạo thành là bí tích đích thật cần phải khám phá và trân trọng.”[191]

§  Kinh Nghiệm Các Hình Thức Cầu Nguyện Khác Nhau

Đời sống hay tương giao với Thiên Chúa quả thật là trọng tâm của việc linh hướng và huấn luyện. “Cầu nguyện phải là xương sống, là hệ thần kinh của cuộc sống thường nhật của Kitô hữu.”[192] Người đồng hành /  hướng có thể khuyến khích ứng sinh thực tập các hình thức cầu nguyện trong  truyền thống Kitô giáo và các tôn giáo Á Châu. Điều này giúp ứng sinh mở rộng tầm nhìn về cầu nguyện và có thể áp dụng trong đời sống cầu nguyện của mình.[193]

§  Chiêm Niệm Trong Thinh Lặng

Tương quan riêng tư với Thiên Chúa trong cầu nguyện cần có thái độ chiêm niệm. Cần khuyến khích ứng sinh dành thời giờ thinh lặng, nhất là thinh lặng nội tâm, hầu sống thân mật với Chúa Giêsu Kitô, lắng nghe tiếng nói của Người và kết hiệp với Người.[194] Để đạt được điều này, ứng sinh cần “làm quen với sự thinh lặng và tập luyện sống đời sống nội tâm và tương giao.”[195]

Việc linh hướng các ứng sinh tại Việt Nam là một nghệ thuật tinh tế. Ngoài các nhân đức của sự trưởng thành về mặt thiêng liêng, người đồng hành / linh hướng cũng cần một sự hiểu biết bao quát hơn về các môn học liên nghành. Linh đạo hiện đại, kỹ năng linh hướng, văn hoá và tư vấn là những chuyên nghành cần thiết hơn cả. Tuy vậy, thách đố của việc linh hướng là làm sao cụ thể hoá các kiến thức đó. Một thách đố quan trọng khác liên hệ đến nhận thức của các ứng sinh. Một viễn cảnh  thấm nhuần tinh thần Á Châu có lẽ là phương thức thích hợp để đem lại sức sống mới cho việc đồng hành /linh hướng trong các nhà huấn luyện tại Việt Nam.

 

Lm. Anthony Nguyễn Ngọc Kính – OFM

 

 


[1] Nguyễn Ngọc Kính, Linh Hướng Các Ứng Sinh Phan Sinh Trong Giai Đoạn Huấn Luyện Khởi Đầu Tại Việt Nam: Thách Đố và Viễn Cảnh (2007), tr.91-168.

[2] Damien Isabelle, Workbooks for Franciscan Studies: Companion Guide to the Omnibus of Sources (Chicago: Franciscan Herald Press, 1979), pp. 285, 287.

[3] F. Antonisamy, An Introduction to Christian Spirituality (Bangalore: St. Paul, 2003), p. 171.

[4] Sandra Schneiders, “The Contemporary Ministry of Spiritual Direction,” Chicago Studies (Spring 1976): 50, in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction and Discernment” Summer Course 2005-2006, ICLA, Quezon City.

[5] Sandra Schneiders, “The Contemporary Ministry of Spiritual Direction,” Chicago Studies (Spring 1976): 48, in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives…,” ibid.

[6] George Aschenbrenner, Spiritual Direction: Central in the Process of Religious Formation, in Judette Gallares, “Lectures on Formation Process in Consecrated Life” 2nd Semester 2005-2006, ICLA, Quezon City.

[7] Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction and Discernment” Summer Course 2005-2006, ICLA, Quezon City.

[8] F. Antonisamy, An Introduction to Christian Spirituality (Bangalore: St. Paul, 2003), pp. 176-177.

[9] Ibid.; Thomas H. Green, The Friend of the Bridegroom (Makati City: St. Pauls, 2000), p. 62.

[10] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction (Minesota: The Liturgical Press, 1985), p. 140.

[11] Sandra Schneiders, “Contemporary Ministry of Spiritual Direction,” Chicago Studies (Spring 1976): 49-50, in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction and Discernment” Summer Course 2005-2006, ICLA, Quezon City; Jeannine Guidon, et. al., La Formation Humaine Integrale des Candidats au Presbyteriat (Integrated Human Formation of the Candidates toward Priesthood), ( Montreal: Editions Paulines, 1993), pp. 95-97.

[12] Nguyen Ngoc Son, ed., “Vietnam Family, Yesterday and Today,” in Communion and Solidarity…ibid., p. 61.

[13] George Aschenbrenner, Spiritual Direction: Central in the Process of Religious Formation, in Judette Gallares, “Lectures on Formation Process in Consecrated Life” 2nd Semester 2005-2006, ICLA, Quezon City.

[14] Teodoro C. Bacani, A Spirituality for Ministry (Manila: Gift of God Publications, 2006), p. 49.

[15] Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Starting Afresh from Christ…, ibid., no. 20.

[16] Ibid., p. 15.

[17] Ibid., p. 17.

[18] William A. Barry and William J. Connolly, The Practice of Spiritual Direction (New York: Seabury Press, 1982), p. 5.

[19] Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Starting Afresh from Christ…, ibid., no. 22.

[20] Ibid., nos. 18, 19; Synod of Bishops for Asia, Message to The People of God (Vatican City: 1998), no. 5, in James H. Kroeger, and Peter C. Phan, The Future of the Asian Churches (Quezon City: Claretian Publications, 2002), p. 46.

[21] Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction and Discernment” Summer Course2005-2006, ICLA, Quezon City.

[22] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid.,  pp. 109-110.

[23] Felicisimo Diez Martinez, Refounding Religious Life…, ibid., p. 22.

[24] Ibid., p. 23.

[25] Ibid., p. 22.

[26] Ibid., p. 23.

[27] Ibid., p. 22.

[28] Wilkie Au and Norren Cannon, Urgings of the Heart: A Spirituality of Integration (Makati City: Paulist Press, 1995), p. 96-98; Fulton J. Sheen, Lift up Your Heart: A Guide to Spiritual Peace (Bangalore: Asian Trading Corporation, 1998), p. 18.

[29] Felicisimo Diez Martinez, Refounding Religious Life…, ibid., p. 22.

[30] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid., p. 110.

[31] Peter C. Phan, “Spiritual Direction in a Multicultural Church Helping the Others Encounter God in Their Own Cultures,” New Theology Review 1 (February 2000): 15.

[32] Nguyen Ngoc Son, ed., “Viet Nam Family, Yesterday and Today,” in Communion and Solidarity…ibid., p. 53.

[33] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid., p. 111; William A. Barry and William J. Connolly, The  Practice of Spiritual Direction…, ibid., p. 89.

[34] Interview with Guy-Maria Nguyen Hong Giao, spiritual director of the Franciscan Formation Center in Viet Nam, on 25th May 2006.

[35] Suzanne Mayer, “Awareness of Feelings in Spiritual Discernment,” in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction and Discernment” Summer Course 2005-2006, ICLA, Quezon City; Diarmuid O’Murchu, Consecrated Religious Life…, ibid., pp. 69, 177.

[36] Nguyen Ngoc Son, ed., “Viet Nam Family, Yesterday and Today,” in Communion and Solidarity…ibid., p. 62.

[37] Hoanh Son, Than Hoc Thieng Lieng (Spiritual Theology) (Hochiminh City: Hochiminh Publications, 1995),   p. 143.

[38] Diarmuid O’Murchu, Consecrated Religious Life…, ibid.,  p. 175.

[39] Diarmuid O’Murchu, Consecrated Religious Life…, ibid., p. 177

[40] F. Antonisamy, An Introduction to Christian Spirituality…, ibid., p. 183-184; W. Barry, Spiritual Direction and the Encounter with God: A Theological Inquiry (New Jersey: Mahwah, 1992), p. 8.

[41] Philomena Agudo, I Chose You…, ibid., p. 123.

[42] Ibid., p. 146; William A. Barry and William J. Connolly, The  Practice of Spiritual Direction…, ibid., p. 87

[43] Hoanh Son, Spiritual Theology…, ibid., p. 674.

[44] Tran Ngoc Them, Discovering the Identity of Vietnamese Culture: Typological-systematic Views…, ibid., pp. 280-282.

[45] Tran Minh Huy, Compendium on Spiritual Formation for Future Priests in the Context of Viet Nam Today (Quezon City: ICLA Publications, 2005), p. 130.

[46] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid., p. 54.

[47] Philomena Agudo, I Chose You…, ibid., p. 167.

[48] Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods (Leuven: Peeters, 2002), p. 872.

[49] Dominic Maruca, “Predispositions for Dialogue in Spiritual Direction,” in Susan Rakoczy, ed., Common Journey, Different Paths…, ibid., p. 35; Eilis Bergin, An Enneagram Guide: A Spirituality of Love in Brokenness (Mumbai: St Paul Press, 2000), p. 12.

[50] Susan Rakoczy, “Unity, Diversity and Uniqueness: Foundations of Cross-Cultural Spiritual Direction,” in Susan Rakoczy, ed., Common Journey…, ibid., p. 9.

[51] Ibid., pp. 17-18.

[52] Carroll Stuhlmueller, Thirsting for the Lord: Essays in Biblical Spirituality (New York: Alba House), p. 52, in Judette  Gallares, “Lectures on Biblical Foundation of Religious Life”  1st Semester 2006-2007, ICLA, Quezon City.

[53] Carolyn Gratton, The Art of Spiritual Guidance…, ibid., pp. 112-113.

[54] Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods…, ibid., p. 279, 281.

[55] Hoanh Son,  Spirituality Theology…, ibid., p. 662, 671;

[56] Order of Friars Minor, Ratio Formationis Franciscanae…, ibid., no. 55; OFM International Commission, On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion…, ibid., Section II.

[57] Order of Friars Minor, Ratio Formationis…, ibid., nos. 56, 92, 95; Jose Rodriguez Carballo, “Formation in Time of Refoundation According to the International Congress,” Religious Life Asia 2  (April-June 2006): 5.

[58] Susan Rakoczy, “Unity, Diversity and Uniqueness: Foundations of Cross-Cultural Spiritual,” in Susan Rakoczy, ed., Common Journey, Different Paths…, ibid., p. 9; Thomas H. Green, The Friend of the Bridegroom…, ibid., p. 84-85.

[59] Susan Rakoczy, “Unity, Diversity and Uniqueness…,” ibid., p. 9.

[60] Ibid., p. 9.

[61] Benedict XVI, Deus Caritas Est…, ibid.,  no. 6; Jordan Aumann, “The Path to Self-Liberation,” Journal of Spiritual Formation 1 (February 1994): 114.

[62] M. Scott Peck, The Road Less Traveled: A New Psychology of Love, Traditional Values and Spiritual Growth (New York: Simon and Schuster Inc., 1978), p. 81; Morton T. Kelsey, Companions on the Inner Way…, ibid., p. 209.

[63] Lily Quintos, “Experiences of the Heart: The Spiritual Exercises across Cultures,” in Susan Rakoczy, ed., Common Journey, Different Path…, ibid., p. 89.

[64] Morton T. Kelsey, Companions on the Inner Way…, ibid., pp. 1-9.

[65] Margaret Guenther, Holy Listening: the Art of Spiritual Direction (Boston: Cowley Publications, 1992), pp. 9-10.

[66] Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods…, ibid., pp. 911-920.

[67] Anthony J. Gittins, Bread for the Journey (New York; Orbis Books, 1998), xiv.

[68] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., nos. 24, 50.

[69] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 43.

[70] Vincente Cajilig, “Spiritual Direction in Asian Context,” Boletin Eclesiastico de Filipina 824 (May-June 2001): 437.

[71] Order of Friars Minor, Ratio Formationis Franciscanae…, ibid., nos. 137, 151.

[72] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 43

[73] FABC Office of Education and Student Chaplaincy, “Seminar for Rectors and Spiritual Directors of Asian Seminaries 24-31 Octocber 1999,” in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., p. 25.

[74] Vicente Cajilig, “Workshop Discussion Guide: Formation for Priesthood in Asia – Appendix II: Spiritual Direction, Emphasis on an Asian Approach,” FABC Papers no. 92d – Seventh Plenary Assembly 3-12 January 2000 in Thailand (January 2000): 19.

[75] The social hierarchy in Viet Nam: “King, Teacher, Father,” and “Scholar, Peasant, Worker, Merchant.”

[76] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 20; Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology”…,  ibid., p. 101.

[77] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., nos. 14, 16.

[78] Manuel Ezhaparampil, Formation to Discipleship…, ibid., p. 172.

[79] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 9.

[80] Carolyn Gratton, The Art of Spiritual Guidance…, ibid., p. 107; John of the Cross, “The Living Flame of Love,in Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods…, ibid., p. 916.

[81] FABC Office of Theological Concern,  “The Spirit at Work in Asia Today,” in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid.,  no. 1, pp. 238-266;  no. 3.9, pp. 294-297.

[82] FABC Office of Theological Concern, “The Spirit at Work in Asia Today,” in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., no. 1, pp. 238-266;  no. 3.5, p. 288.

[83] Ibid., Introduction, p. 238.

[84] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 6.

[85] FABC Office of Education and Students Chaplaincy, “Seminar for Rectors and Spiritual Directors of Asian Seminaries 24-31 October 1999 in Seoul,” in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid.,  p. 25.

[86] Judette Gallares, “Lectures on Biblical Spirituality” 2nd Semester 2005-2006, ICLA, Quezon City.

[87] Ibid.

[88] Ibid.; John Paul II, Vita Consecrata…, ibid., no. 65; Amedeo Cencini, The Sentiments of the Son: A Formative Journey in Consecrated Life, Trans. Christopher Nazareth (Mumbai: Pauline Publications, 2005), pp. 37-39.

[89] Paul VI, Evangelii Nuntiandi: Apostolic Exhortation on Evangelization in the Modern World (8 December 1975), no. 53 in Welcome to the Catholic Church…, ibid.; John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid.,  nos. 22, 44; FABC, “Evangelization in Modern Day Asia: Statement and Recommendations of the First Plenary Assembly, 27 April 1974, Taipei, Taiwan,” no. 14, in Gaudencio B. Rosales and C. G. Arevalo, eds., For All the People of Asia: Federation of Asian Bishops’ Conferences Documents from 1970 to 1991 Volume 1 (Quezon City: Claretian Publications, 1997), p. 14.

[90] Clement Yoon Yang-Ho, Revitalizing Spiritual Formation and Prayer Life in Korean Seminaries…, ibid., p. 140.

[91] FABC Synod of Bishops for Asia, Message to the People of God (Vatican City: 1998), no. 5, in James H. Kroeger and Peter C. Phan, The Future of the Asian Churches (Quezon City: Claretian Publications, 2002), p. 45.

[92] FABC International Congress on Mission 7 December 1979, Manila, “Concensus Paper of the Workshop I: Towards a Theology of Mission for Asia Today,” no. 19, in Gaudencio B. Rosales and C. G. Arevalo, eds., For All the People of Asia Volume 1…, ibid., p. 140.

[93] FABC Second Plenary Assembly 25 November 1978 Calcutta, India, “Statement on Prayer: The Life of the Church of Asia,” no. 32, in Gaudencio B. Rosales and C. G. Arevalo, eds., For All the People of Asia Volume 1…,  ibid., p. 35.

[94] John Paul II,  Ecclesia de Eucharistia: Encyclical Letter on the Eucharist and its Relationship to the Church (17 April 2003) (Vatican City: Libreria Editrice, 2003),  no. 1.

[95] Ibid., nos. 1, 6; Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Starting Afresh from Christ …, ibid., no. 26.

[96] John Paul II, Ecclesia de Eucharistia…,ibid., no. 58; Anthony J. Gittins, Bread for the Journey (New York; Orbis Books, 1998), p. 76.

[97] John Paul II, Ecclesia de Eucharistia…, ibid., no. 22.

[98] Ibid., no. 40.

[99] John Paul II, Ecclesia de Eucharistia…, ibid., no. 24; Anthony J. Gittins, Bread for the Journey (New York: Orbis Books, 1998), p. 31.

[100] Anthony J. Gittins, Bread for the Journey…, ibid., p. 73.

[101] Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Starting Afresh from Christ…, no. 26.

[102] Jacob Theckanath, “Workshop Discussion Guide: The Asian Image of Jesus – Theological, Biblical, Catechetical, Liturgical Renewal,” FABC Papers no. 92q – Seventh Plenary Assembly (January 2000): 20.

[103] Vatican II, Ad Gentes: Decree on the Church’s Missionary Activity (7 December 1965) nos. 2, 6, 35-36, in Welcome…, ibid.; Paul VI, Evangelii Nuntiandi…, ibid., no. 14; John Paul II, Redemptoris Missio: Encyclical Letter on Mission of the Redeemer (7 December 1990), no. 42, in Welcome …, ibid.

[104] John Paul II, Tertio Millennio Adveniente: Apostolic Letter on Preparation for the Jubilee of the Year 2000 (10 November 1994), nos. 21, 45, in Welcome…, ibid.; John Paul II, Vita Consecrata…, ibid., nos. 64, 81.

[105] Vatican II,  Ad Gentes…, ibid., no. 40; Paul VI, Evangelii Nuntiandi…, ibid.,  nos. 42-46, 51-53, 64, 67; John Paul II,  Redemptoris Missio…, ibid., nos. 24, 66, 69, 78.

[106] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., nos. 21-23, 29, 31.

[107] Lk 24: 13-35; Jn 3: 1-21; FABC, “Final Statement of First Formation Institute for Inter-Religious Affairs, Ipoh, Malaysia, 6-14 September 1998,” no. 2.3, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., p. 120.

[108] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 3; FABC, “Final Statement of First Formation Institute…,” ibid.,  no. 3.3, p. 123; Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology….,” ibid., p. 96.

[109] S. Karotempel, ed., Following Christ in Mission…, ibid., no. 38.

[110] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 31.

[111] Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Starting Afresh from Christ…, ibid.,  no. 40.

[112] William A. Barry and William J. Connolly, The Practice of Spiritual Direction (New York: Seabury Press, 1982), p. 26.

[113] Vatican II, Lumen Gentium: Dogmatic Constitution on the Church (21 November 1965) no. 35, in Welcome to the Catholic Church…, ibid.; Apostolicam Actuositatem: Decree on the Apostolate of the Laity (18 November 1965) no. 14, in Welcome…, ibid.; John Paul II, Christifideles Laici: Apostolic Exhortation on the Vocation and the Mission of the Lay Faithful and in the World (30 December 1988) no. 10, in Welcome…, ibid.; Redemptoris Missio: Encyclical Letter on Mission of the Redeemer (7 December 1990) no. 71, in Welcome…, ibid.

[114] Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology…,” ibid., p. 108.

[115] Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods…, ibid., p. 213-214; Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology…” ibid., p. 109; Anthony J. Gittins, Bread for the Journey…, ibid., xix.

[116] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 16; FABC Office of Human Development, “Consultation on Advocacy for Justice and Peace in the 21st Century: The Prophetic Path to the New Millennium Through Social Advocacy” (Pattaya, Thailand, 28 August – 1 September 2000), no. 3.14, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., p. 50.

[117] Domingo Moraleda, “Lectures on An Introduction to Missiology – Mission of Consecrated Life”…, ibid.,  p. 110.

[118] Pontifical Commission for Justice and Peace, The Church and Racism: Towards a More Fraternal Society (3 November 1988) no. 23, in Welcome to the Catholic Church…, ibid.

[119] John Paul II, Vita Consecrata…, ibid., nos. 42, 46, 73, 75.

[120] FABC, “The Statement of the Third Plenary Assembly Bangkok, Thailand, 28 October 1982: The Church, a Community of Faith in Asia,” no. 3.6, in Gaudencio B. Rosales and C. G. Arevalo, eds., For All the People of Asia Volume 1…, ibid., p. 55.

[121] John Paul II, Vita Consecrata…, ibid., no. 31; Synod of Bishops for Asia, Message to the People of God…, ibid., nos. 3, 5.

[122] FABC Office of Human Development, “Colloquium on Church in Asia in the 21st Century: Towards a Communion and Solidarity in the Context of Globalization” (Pattaya, Thailand, 25-30 August 1997), Section V: 15, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., p. 44.

[123] FABC, “The Statement of First Plenary Assembly, Taipei, Taiwan, 27 April 1974: Evangelization in Modern Day in Asia,” nos. 19-24, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., p. 15-16; FABC, Asian Bishops’ Meeting , “Message of the Conference Manila, Philippines 29 November 1979,” no. 25, in Gaudencio B. Rosales and C. G. Arevalo, eds., For All the People of Asia Volume 1…, ibid.,  p. 6; Thomas C. Fox, Pentecost in Asia: a New Way of Being Church (Quezon City: Claretian Publications, 2003), p. 9.

[124] Leonardo Boff, Saint Francis, a Model for Human Liberation…, ibid., p. 62.

[125] FABC, Asian Bishops’ Meeting, “Message of the Conference Manila, Philippines 29 November 1979,” no. 30, in Gaudencio B. Rosales and C. G. Arevalo, eds., For All the People of Asia Volume 1…, ibid., p. 7.

[126] FABC Office of Ecumenical and Interreligious Dialogue, “Bishops Institute for Interreligious Dialogue Documents: Taoist and Confucian Contribution to Harmony in East Asia” (Taiwan 19 April 1996), no. 5, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia: Federation of Asian Bishops’ Conferences Documents from 1992 to 1996 Volume 2…, ibid.,  p. 164.

[127] FABC Theological Advisory Commision, “Asian Christian Perspectives on Harmony” (Hong Kong April 1995), no. 3.3.1, in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 2…, ibid., pp. 266-273.

[128] Ibid., pp. 273-276 .

[129] Thomas C. Fox, Pentecost in Asia: a New Way of Being Church (Quezon City: Claretian Publications, 2003), p. xii; Benjamin Robertson and Melinda Liu, “Can the Sage Save China?” Newsweek (March 20, 2006): 22, in Edgar G. Javier, Dialogue: Our Mission Today…, ibid., p.20.

[130] FABC Theological Advisory Commision, “Asian Christian Perspectives on Harmony…,” ibid., pp. 286-288.

[131] John Paul II, Vita Consecrata…, ibid., no. 69; Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Directives on Formation in Religious Institutes…, ibid.,  no. 1.

[132] John Paul II, Ecclesia in Asia…, ibid., no. 22.

[133] Jose R. Carballo, Presentation…, ibid.

[134] Jose R. Carballo, Presentation…, ibid.; Order of Friars Minor, Ratio Formationis Franciscanae…, ibid., nos. 152, 156.

[135] Order of Friars Minor, Ratio Formationis Franciscanae…, ibid.,  no. 92.

[136] William A. Barry and William J. Connolly, The Practice of Spiritual Direction…, ibid., p. 11.

[137] Ibid., p. 8; Thomas H. Green, The Friend of the Bridegroom…, ibid., pp. 33-34.

[138] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual …, ibid., p. 85.

[139] Ibid., p. 86.

[140] Ibid.

[141] Ibid.

[142] Ibid., p. 92.

[143] Ibid., p. 94.

[144] Ibid., p. 146; Morton T. Kelsey, Companions on the Inner Way…, ibid., p. 202.

[145] Margaret Guenther, Holy Listening: the Art of Spiritual Direction.., ibid., pp. 92-97.

[146] Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods…, ibid., p. 546.

[147] Ibid., p. 934.

[148] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid.,  pp. 158, 109.

[149] Kees Waaijman, Spirituality: Forms, Foundations, Methods…, ibid.,  p. 937

[150] Judette A. Gallares, “Towards a Multicultural Approach to Spiritual Direction,” in Susan Rakoczy ed., Common Journey, Different Paths…, ibid., p. 165.

[151] Richard Nelson-Jones, Practical Counseling and Helping Skills (Mumbai: Better Yourself Books, 2000), pp. 18-20.

[152] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid., p. 119.

[153] Ibid., pp. 124-126.

[154] Ibid., p. 127.

[155] Ibid., p. 128.

[156] Anthony de Mello, Tinh Thuc (Awareness) Trans. Le Cong Duc (Unpublished), p. 21.

[157] William A. Barry and William J. Connolly, The Practice of Spiritual Direction…, ibid., p. 67.

[158] Ibid., p. 65; Margaret Guenther, Holy Listening: The Art of Spiritual Direction…, ibid., p. 65.

[159] Richard Nelson-Jones, Practical Counseling and Helping Skills…, ibid., p. 72-75.

[160] Ibid., p. 74.

[161] F. Antonisamy, An Introduction to Christian Spirituality…, ibid., p. 162.

[162] Ibid., p. 565.

[163] Francis Kelly Nemeck and Maria Theresa Coombs, The Way of Spiritual Direction…, ibid., p. 101.

[164] Conrad C. Hoover, “Going Deep to the Truth: Thomas Merton and Spiritual Direction on a Cross-Cultural Context,” in Susan Rakoczy, ed., Common Journey, Different Paths…, ibid., p. 71.

[165] Paul B. Macke, “Boundaries in Ministerial Relationship,” Human Development 1 (Spring 1993): 23-25, in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction and Discernment” Summer Course2005-2006, ICLA, Quezon City.

[166] Ibid.: 24.

[167] Ibid.: 24-25.

[168] Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction…,” ibid.

[169] FABC Office of Education and Student Chaplaincy, “Seminar for Rectors and Spiritual Directors of Asian Seminaries 24-31 October 1999 in Seoul,” in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid., p. 25; John R. Yungblut, The Gentle Art of Spiritual Guidance (New York: The Continuum  Publishing Company, 1988), p. 56.

[170] Diarmuid O’Murchu, Consecrated Religious Life…, ibid., p. 200.

[171] Philomena Agudo, I Chose You…, ibid., p. 117.

[172] Ibid., p. 116.

[173] Ibid., pp. 122-124.

[174] Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Directives on Formation in Religious Institutes…, ibid., no. 13.

[175] George Aschenbrenner, “Spiritual Direction: Central in the Process of Religious Formation,” p. 9, in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction…,” ibid.; Morton T. Kelsey, Companions on the Inner Way…, ibid., p. 195.

[176] Sandra Schneiders, “The Contemporary Ministry of Spiritual Direction,” Chicago Study 15 (Spring 1976): 54, in Cenacle Sisters Team, “Lectures on Perspectives of Spiritual Direction…,” ibid.; Richard Rohr and Andreas Ebert, Discovering the Enneagram: An Ancient Tool for a New Spiritual Journey (New York: Crossroad, 1997), p. 9.

[177] Thomas Dubay, Seeking Spiritual Direction: How to Grow the Divine Life Within (Manila: St. Pauls, 1993), p. 104.

[178] Terrence P. Charton, “Forming Spiritual Directors in Ghana,” in Susan Rakoczy, ed., Common Journey, Different Paths…, ibid., p. 51.

[179] Order of Friars Minor, Ratio Formationis Franciscanae…, ibid., no. 210; Ratio Studiorum: Franciscan Plan of Study (2003), nos. 146-147.

[180] FABC Office of Education and Student Chaplaincy, “Seminar for Rectors and Spiritual Directors of Asian Seminaries 24-31 October 1999 in Seoul,” in Franz-Josef Eilers, ed., For All the People of Asia Volume 3…, ibid.,  p. 26.

[181] Ibid.

[182] Congregation for Institutes of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, Directives on Formation in Religious Institutes…, ibid., no. 30.

[183] Thomas H. Green, The Friend of the Bridegroom …, ibid., p. 27.

[184] Morton T. Kelsey, Companions on the Inner Way…, ibid., p. 129.

[185] Morton T. Kelsey, Companions on the Inner Way…, ibid., p. 133.

[186] Kees Waaijman, Spirituality. Forms, Foundations, Methods…, ibid., pp. 923, 932.

[187] Ibid., p. 923.

[188] OFM International Commission, On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion…, ibid.,  Section I, “On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion,” nos. 10 and 13, p. 2.

[189] OFM International Commission, On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion…, ibid.,  Section III, “The Spirit of Prayer and Devotion during the Formative Journey,” p. 8.

[190] Ibid., Section I, “On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion,” p. 2.

[191] Ibid., Section VI, “Unity between Word and Life,” p. 15.

[192] Ibid., Section V, “Some Conditions for a Prayerful Reading of the Word,” p. 12.

[193] Marcello Zago, “Interreligious Dialogue,in S. Karotempel, ed. Following Christ in Mission…, ibid.,  p. 107; OFM International Commission, On the Priority … ibid., Section III, “The Spirit of Prayer and Devotion During the Formative Journey,” p. 9.

[194] Judette  Gallares, “Lectures on Biblical Foundation of Religious Life” 1st Semester 2006-2007, ICLA, Quezon City, p. 20; OFM International Commission,  On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion…, ibid.,  Section I, “On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion,” p. 2.

[195] Order of Friars Minor, Ratio Formationis Franciscanae…, ibid., no. 68; OFM International Commission, On the Priority of the Spirit of Prayer and Devotion…, ibid.,  Section III, “The Spirit of Prayer and Devotion during the Formative Journey,” pp. 8-9.

Cuộc gặp gỡ kỳ diệu

Cuộc sống con người có nhiều mối tương quan liên đới với nhau, và có nhiều cuộc gặp gỡ khác nhau.  Có những cuộc gặp gỡ như gió thoảng, như mây trôi… gặp đó rồi tan biến đi không để lại một dấu tích nào trong cuộc đời.  Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi cả một đời người.  Đó là cuộc gặp gỡ kỳ diệu của tôi, người con gái dân làng Samaria, với Đức Giêsu bên bờ giếng.

Hơn hai ngàn năm trước, giữa trưa hè oi bức, trong lúc mọi người đang nghỉ trưa, nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người, tôi một mình lén lút mang bình ra giếng để múc nước với hy vọng không phải gặp mặt những người thân quen. Tôi muốn chạy trốn vì gốc gác thấp hèn không trong sạch của mình, nên những người hàng xóm láng giềng luôn xa lánh tôi. Tôi muốn trốn chạy vì trót mang thân phận hồng nhan đa truân, tình duyên lỡ làng với 5 đời chồng, nên những người họ hàng bà con luôn nhìn tôi bằng con mắt khinh bỉ. Tôi muốn chạy trốn vì xã hội này đã quay lưng với tôi, đã không có chỗ dành cho tôi, đã âm thầm kết án tôi là phường đàng điếm tội lỗi …

Một mình tôi bước đi trong cuộc đời, và hôm nay, một mình tôi bước ra bờ giếng với hy vọng không phải gặp mặt người nào cả. Nhưng kìa…một người đàn ông Do Thái đang ngồi nghỉ trưa bên bờ giếng. Ông ngước mắt nhìn tôi, tôi không còn cách nào chạy trốn nên đành phải cúi đầu bước đi trong thinh lặng. Tôi bước đi nhưng lòng tôi lại có ý nghĩ khinh miệt người đàn ông này. Hắn chỉ là một gã Do Thái đói rách bẩn thỉu, nhưng có lẽ hắn cũng tham lam và coi trọng lề luật như bao gã Do Thái khác.  Nhìn quần áo của hắn thì biết rõ hắn còn là một gã Do Thái nghèo. Cuối cùng bước chân nặng nề cũng mang tôi đến bên bờ giếng. Tôi mong muốn múc nước đổ đầy bình cho thật nhanh để ra về ngay, tránh cái nhìn soi mói của gã đàn ông Do Thái này. Hơn nữa, theo luật Do Thái, Samari và Do Thái là hai thế giới riêng biệt, không bao giờ được phép chung đụng, vì người Samari bị coi là phường ngoại đạo.

Bỗng dưng người đàn ông lên tiếng gợi chuyện với tôi: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga.4:8). Tôi bâng khuâng ngỡ ngàng về giọng nói trầm ấm đó. Tôi ngạc nhiên về lời xin nước để uống. Tôi ngước mắt nhìn ông, nhìn vào vầng trán cao với khuôn mặt nhân hậu … nhìn vào cặp mắt sáng ngời với nụ cười hiền hoà tươi vui … Tôi nhủ thầm trong lòng: “Chắc hẳn ông này không phải là người tầm thường”. Tôi lên tiếng nói với ông ” Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?” (Ga.4:9). Nghe tôi nói, ông nở nụ cười thật tươi, thật hiền hòa như trả lời với tôi rằng ông chẳng nặng lề luật, nhưng trọng tình người.

Trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, tôi mới hiểu ra rằng ông chỉ giả vờ xin nước để gợi chuyện với tôi mà thôi. Ông không khát nước, nhưng từng bước rồi từng bước, ông tế nhị chỉ bảo cho tôi biết chính tôi mới là người khát, khát Nước Hằng Sống. Ông hé mở cho tôi biết ông là ai, và ông sẽ làm gì để tôi hết khát: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga.4:13-14).  Sự xa lạ và nghi ngờ đối với ông trước đây đã dần dần tan biến trong tôi, nhường chỗ cho sự yêu thương kính trọng.

Trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, ông nhìn thấu suốt con người của tôi: những cuộc tình vụng trộm chóng qua, những thù hận và trốn chạy trong cuộc đời, những vết thương lòng nhói đau … tất cả ông đều biết rõ, cái biết của ông không nhằm soi mói, nhưng để cảm thông. Tôi giật mình sấu hổ khi thấy ông biết rõ những bí ẩn của đời tôi: “Chị nói: tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị “ (Ga.4:18). Nghe lời nói của ông, trong tôi từ chỗ yêu thương kính trọng trước đây, bây giờ tôi cúi đầu tôn kính ông là ngôn sứ của đời mình

Trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, ông chỉ vẽ cho tôi biết về Thiên Chúa :” Thiên Chúa là thần khí, và những ai thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (Ga.4:24). Và cũng trong cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, khi nghe tôi nhắc đến Ðấng Mêsia, còn gọi là Ðức Kitô. Ông đã lên tiếng: “Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga.4:26).

Tôi đứng dậy, để lại vò nước bên bờ giếng, chạy như bay về nhà, thông báo với bà con họ hàng, với hàng xóm láng giềng, với mọi người tôi gặp gỡ… những người mà chỉ vài giờ trước đây tôi còn chạy trốn không muốn gặp mặt, nay tôi mạnh dạn lớn tiếng nói với họ: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Ga.4:29).

Giêsu ơi! Cuộc gặp gỡ kỳ diệu bên bờ giếng đã biến đổi đời con, giúp con trở thành con người mới, với trái tim mới, trái tim của yêu thương và hy sinh phục vụ … Xin cho con được gặp gỡ Ngài mỗi ngày trong suốt cuộc đời của con. Amen

Linh Xuân Thôn

Định mệnh

(Một góc cảm nhận về thiên tai tại Nhật Bản)

Khá lâu rồi tôi không gặp vị ẩn sĩ. Hôm nay tôi sẽ đi gặp ngài để vấn ý, xem ngài nghĩ thế nào về thảm họa động đất-sóng thần tại Nhật Bản hôm 11 tháng Ba vừa qua.

Tôi : Thưa ngài, tôi biết ngài kính sợ Thiên Chúa. Ngài đã từng rao giảng Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và cai quản muôn loài. Vậy ngài nghĩ sao về thảm họa động đất-sóng thần tại Nhật Bản ?

Ẩn sĩ : Đó lời cảnh tỉnh cho nhân loại.

Tôi :Xin ngài nói rõ hơn.

Ẩn sĩ : Nước Nhật và cả thế giới đang mãi mê lao động, xây cất, trồng tỉa, buôn bán, ăn chơi…
Tôi :Đúng. Họ muốn xây dựng thiên đường cho mình trên trái đất này.

Ẩn sĩ : Sai lầm. Phù hoa. Tất cả là phù hoa. Không thể có thiên đường trên trái đất này. Thiên Chúa muốn cảnh tỉnh để con người hồi tâm trở về nguồn cội của mình, tìm kiếm quê hương đích thực, tìm sự sống đời đời.

Tôi :Ngài đang cầm cuốn sách gì vậy ?

Ẩn sĩ : cuốn Kinh Thánh.

Tôi :Kinh Thánh có đề cập gì tới những vấn nạn như thảm họa vừa qua không ?

Ẩn sĩ : Có. Trong Tin Mừng Luca, chương 13. Có vài người đến báo tin cho Chúa Giêsu về những người Galilê bị Philatô giết. Người nói với họ: “Các ngươi tưởng những người Galilê ấy là hạng tội lỗi hơn mọi người Galilê khác, vì đã phải khốn như thế sao? Không đâu! Ta bảo các ngươi! Nhưng nếu các ngươi không hối cải, thì các ngươi hết thảy cũng sẽ bị tiêu diệt như thế. Hay mười tám người đã bị tháp Silôam đổ xuống đè chết kia, các ngươi tưởng họ có tội nợ hơn mọi người trú ngụ tại Yêrusalem sao? Không đâu! Ta bảo các ngươi! Nhưng nếu các ngươi không hối cải, các ngươi cũng sẽ bị tiêu diệt y như thế.”

Tôi :Lời này cứng rắn quá !

Ẩn sĩ : Đúng. Thiên Chúa rất nhân hậu và hay tha thứ. Nhưng Người cũng rất công minh. Có lần Người đã nói : « Ngươi sẽ không ra khỏi địa ngục cho đến khi nào trả hết đồng xu cuối cùng.»

Tôi :Câu này làm tôi chợt nghĩ đến mấy ông tham nhũng.

Ẩn sĩ : Gieo gió thì gặt bão. Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu.

Tôi :Thiên võng khôi khôi….., nghĩa là ?

Ẩn sĩ : Nghĩa là : Lưới trời lồng lộng, xem ra có vẻ thưa, sơ sài; nhưng không để lọt một sự gì.

Tôi :Trước những thảm họa, khốn đốn của con người, Kinh Thánh không có câu trả lời nào sao?

Ẩn sĩ : Có.

Tôi :Xin ngài cho biết.

Ẩn sĩ : Anh hãy đọc sách Giô-na.

Tôi :Xin lỗi ngài, tôi không có giờ.

Ẩn sĩ : Đó chỉ là một tập sách mỏng trong bộ Cựu Ước.

Tôi :Một tập sách mỏng ? Vậy ngài có thể tóm tắt ?

Ẩn sĩ : Dân thành Ninive sống bê tha, tội lỗi. Thiên Chúa sai ngôn sứ Giô-na đến cảnh báo họ. Giô-na đến Ninive và loan báo :«Còn bốn mươi ngày nữa Ninive sẽ bị tiêu diệt!»

Tôi :Dân Ninive phản ứng thế nào ?

Ẩn sĩ : Dân thành Ninive tin vào lời ngôn sứ Giô-na. Họ đã sám hối, từ bỏ cuộc sống tội lỗi.

Tôi :Rồi sao nữa ?

Ẩn sĩ : Sau bốn mươi ngày tai ương đã không xảy ra. Họ được bình an. Họ đã thay đổi được định mệnh.

Tôi :Con người có thể thay đổi được định mệnh ?

Ẩn sĩ : Đúng. Với tấm lòng thành, niềm tin và lời cầu nguyện, con người có thể thay đổi được định mệnh. Đó là nghệ thuật, là niềm vui, là lối thoát Thiên Chúa mạc khải cho những ai tin vào Người.

Tôi :Xin cảm ơn ngài.

Tháng Ba 2011
An Nam