Blog Page 2149

Ý nghĩa của Thập Giá

Ý NGHĨA THẬP GIÁ

 

Trong lịch sử Kitô giáo, Thập giá đi liền với công cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Đức Kitô, đã trở thành nguồn cội ơn cứu độ của Thiên Chúa và trở nên mẫu mực lời đáp trả của con người. Từ hình ảnh đơn sơ về một đứa bé đưa tay làm dấu Thánh giá cho đến chuyện kể về một vị thánh chiến đấu anh dũng theo gương Chúa Giêsu Khổ Nạn, cả hai đều cho thấy ý nghĩa muôn đời của Thập giá trong đời sống và hoạt động Kitô giáo.

Bằng nhiều hình ảnh bóng bẩy, người ta cố gắng tìm ra chiều sâu ý nghĩa Thập giá để đem áp dụng vào cuộc sống tâm linh. Chẳng hạn như nhìn Thập giá như hai cây gỗ đặt trái chiều nhau, cây chiều dọc tượng trưng thánh ý Chúa, cây chiều ngang là ý riêng con người, để nhận ra giá trị của việc hy sinh vác lấy Thập giá. Chẳng hạn như nhìn Thập giá như một chữ T còn Đấng chịu chết treo tựa hình chữ Y, để nhận ra Tình Yệu duy nhất không có tình yêu nào lớn hơn.

1. Thập giá trong đời sống Chúa Giêsu

Sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng sứ vụ của Người. Thật vậy, Chúa Giêsu đã hiến thân mình để chu toàn sứ mạng Chúa Cha uỷ thác, là quy tự toàn thể nhân loại về dưới quyền thống trị của Cha. Dẫu trên bước đường rao giảng, Chúa Giêsu đã gặp phải những khước từ và chống đối, nhưng thay vì rút lui bỏ dở, Người vẫn một dạ trung thành, ngay cả trong những lúc khó khăn gia tăng dồn dập.

Phúc âm thứ tư đã nói tới sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha được thể hiện trong ý thức tròn đầy, đến độ như chính Thiên Chúa trong Đức Kitô thực hiện công cuộc cứu rỗi con người. (Ga 3, 17). Tất nhiên những khó khăn con người gây ra không ngăn cản được ý định cứu độ, nhưng Đức Giêsu vẫn tiếp tục hiến thân không mỏi mệt để chu toàn sứ mạng, ngay cả khi xem ra thất bại trên bình diện nhân sinh.

Nửa chừng đời sứ mạng, Đức Giêsu đã không úp mở báo trước kết cục bi thương trong đó Người sẽ phải chết bởi tay con người. Nhưng khi nhấn mạnh đến sự cần thiết phải chết để chu toàn thánh ý cũng như khi hứa hẹn sẽ Phục sinh. Người mạc khải cho biết sự chết là một yếu tố chính yếu trong việc thể hiện chương trình cứu độ.

Các Tông đồ không hiểu điều này, nên khi đến giờ Thập giá, họ chua chát nhìn niềm hy vọng của mình bị sụp đổ. Chỉ khi đã được biến đổi nhờ biến cố Phục sinh và Hiện xuống, họ mới hiểu ra rằng Thập giá không gây cản trở cho việc chu toàn sứ vụ.

2. Thập giá trong đời sống Giáo hội

Trong Tân ước, người ta có thể nhận ra nhiều mức độ nhận thức về ý nghĩa Thập giá Đức Giêsu trong chương trình cứu thế.

Mức độ đầu tiên trong việc lãnh hội ý nghĩa sự chết của Đức Giêsu chính là lời chứng của các Tông đồ nhằm phi bác những lập trường chống lại sự Phục sinh. Nếu các địch thủ nêu lên việc Đức Giêsu đã bị kết án bởi Do Thái giáo và bị hành quyết trên Thập giá bi thương, thì các Tông đồ lo bênh vực bằng cách giải thích cho thấy Thập giá sở dĩ có là do sự gian ác của con người, nhưng lại phù hợp với thánh ý Chúa và đã được báo trước trong Cựu ước bởi các Tiên tri, cách riêng trong bài ca về người Tôi tớ đau khổ của Isaia.

Các thư Thánh Phaolô cho thấy mức độ thứ hai qua đó các Kitô hữu nhanh chóng khám phá ra nét phong phú của mầu nhiệm Thập giá Đức Kitô. Họ coi sự chết như của lể hoàn hảo khả dĩ chuộc lại tội lỗi và thiết lập một giao ước mới với Thiên Chúa. Bởi vì Đức Giêsu đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết, nên Thập giá đã được tôn vinh như là biểu lộ tuyệt hảo về tình thương Thiên Chúa, và như là dụng cụ hữu hiệu của sự khôn ngoan và quyền năng Thiên Chúa hoà giải con người với Ngài.

Và tác giả thư Do Thái đã nêu lên mức độ thứ ba trong việc đón nhận Thập giá. Vì gắn liền với bản tính nhân loại của Đức Giêsu và hoàn tất trong cuộc khổ nạn, nên Thập giá đã khai mở một giao ước mới. Những đau khổ nhân loại được Đức Giêsu mang lấy đã biến Người nên vị Thượng Tế giàu tình thương, và sự chết của Người trên Thập giá đã thành của lễ hiến dâng vẹn toàn tồn tại mãi mãi nhằm thanh tẩy con người khỏi tội lỗi hầu kết hiệp với Thiên Chúa.

3. Thập giá trong đời kẻ tin

Nếu sự chết của Đức Giêsu trên Thập giá đã bộc lộ ý nghĩa và sức mạnh cứu rỗi, nhờ vào tình yêu trung tín vâng phục sứ mệnh Chúa Cha giao phó, thì mẫu gương của sự trung tín đến chết ấy cũng được khai triển trong đời sống của mỗi kẻ tin. Và hơn thế nữa, sự trung tín trong những đau khổ còn hàm chứa tính bí tích, quy hướng tới sự Phục sinh, vốn đem lại sự sống, ánh sáng và sức mạnh nhờ biết sống kết hợp với Thiên Chúa và kết hợp tích cực vào công cuộc cứu độ trần gian.

“Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác Thập giá mình mà theo Ta”. Đó là lời mời gọi Chúa Giêsu dành cho những kẻ muốn tiếp bước đi theo Người, để họ nhân ra điều kiện tiên quyết là phải hy sinh. Dù các nhà chú giải không thấy có sự liên hệ trực tiếp giữa Thập giá trong lời gọi này và Thập giá ngày thứ Sáu Tuần thánh, vì không được phép đi quá xa bản văn, nhưng không phải vì thế mà cho rằng ngữ vựng Thập giá ở đây không được thích hợp. Đơn giản, thập giá ở đây là hình bóng của những hy sinh từ bỏ thường xuyên trong đời kẻ tin.

Theo quan điểm của Phaolô, mọi Kitô hữu qua Bí tích Thánh tẩy, đều phải sống như người đã chịu đóng đinh vào Thập giá Chúa Giêsu, nghĩa là thông phần vào tình yêu và sự vâng phục của Chúa Giêsu trên Thập giá. Do đó, họ phải thường xuyên tự nguyện đóng đinh cho tính ích kỷ và chịu chết đi cho tội lỗi, để được tự do trên đường mến Chúa yêu người, cũng như trên hành trình đón nhận niềm vui và bình an của Chúa Kitô Phục sinh.

Khi đời sống Kitô hữu gặp phải khó khăn, họ nhìn lên Thập giá trước hết như một mẫu gương để học sống tinh thần tín trung yêu mến, và sau đó như một điểm tựa mà cậy trông tìm kiếm sức mạnh vượt thắng gian nan. Nếu theo nhãn giới thư Do Thái, Đức Giêsu đã nên hoàn hảo, tức là được tấn phong Thượng tế một lần thay cho tất cả, nhờ trải qua cuộc Khổ nạn và Phục sinh, thì Kitô hữu trong cộng đoàn dân tư tế cũng chỉ nên hoàn hảo nhờ sẵn sàng sống tinh thần hiến dâng với và trong Đức Kitô trên Thánh giá.

Tóm lại, hình thức và điểm nhấn linh đạo có thay đổi tuỳ theo mức độ nhận thức, nhưng cho đến muôn đời, Thập giá với Chúa Giêsu chịu đóng đinh vẫn mãi là cây sự sống rợp bóng trện đời tín hữu, bởi ở đó người ta nhận được ơn cứu độ, và cũng ở đó người ta nhận ra vinh quang mà Thiên Chúa muốn tỏ lộ cho loài người.

+ Gm. Giuse Vũ Duy Thống

Thường huấn 2010

TOÀN NHẬP BA CẤP BẬC CỦA Ý THỨC[1]

Cha Anthony Nguyễn Ngọc Kính – OFM.

 

Với tiêu đề “Ba cấp bậc của ý thức,” chúng tôi muốn nói đến những cách thức khác nhau mà con người hiện diện với chính mình: Từ tình trạng ý thức tối đa đến việc thiếu cảnh giác. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng con người không bao giờ nhận thức đầy đủ bản chất trọn vẹn của mình. Tất cả chúng ta  đều trải qua những biến cố trong quá khứ và hiện nay đang có những nhu cầu thường rất có ý nghĩa, nhưng lại nằm ngoài ý thức. Dầu vậy, những yếu tố đó vẫn là thành phần trong bản ngã chúng ta và vì thế, chúng góp phần định hướng cho hành vi chúng ta hiện nay, cho dù chúng ta không thể chỉ rõ hay mô tả chúng. Phần lớn những điều quan trọng trong bản thân chúng ta đã đi vào lãnh vực mà chúng ta không biết, không thể xác định rõ ràng và không thể dẫn chứng.

A. Định Nghĩa

Sự đối lập giữa hai cực ý thức – vô thức hệ tại mức độ nội quan, nhờ đó chúng ta có thể tiếp cận hay nhận biết hành vi của mình, nghĩa là tùy mức độ mà chúng ta có thể nói một cách chính xác về hoạt động của mình. Chúng ta nhận biết ngay những hoạt động có ý thức; còn các hoạt động vô thức chỉ được biết gián tiếp nhờ suy diễn. Chúng ta chỉ có thể nói là mình bị chi phối bởi vô thức, một khi những lý do hay những động cơ minh nhiên và có ý thức không thể giải thích thoả đáng những cảm xúc, suy nghĩ và hành động của mình. Vì vậy, chúng ta có thể đưa ra những định nghĩa sau đây.

1. Ý thức: Phạm vi mà chúng ta nhận biết mình hay các sự vật như chúng đang hiện diện. Do đó, ý thức bao gồm tất cả những gì hiện diện trước mắt hay có thể đi vào vùng nhận thức của ta.

2. Tiềm thức: Là một vùng bao gồm những kinh nghiệm của đời sống tâm linh mà hiện nay chúng ta không nhận biết và không thể đưa lên vùng ý thức được. Như thế, tiềm thức là tất cả những gì chúng ta không biết được. Tiềm thức gồm có tiền ý thức và vô thức, tuỳ mức độ sâu hay cạn.

a. Tiền ý thức: Bao gồm những nội dung của đời sống tâm linh hiện nay không hiện diện trong ý thức của chúng ta, nhưng có thể được đưa lên vùng ý thức qua các phương tiện thông thường (suy nghĩ, nội quan, xét mình, chiêm niệm…).

b. Vô thức: Gồm những nội dung của đời sống tâm linh mà chúng ta chỉ có thể đưa lên vùng ý thức nhờ các phương pháp chuyên nghiệp (vd. Kỷ thuật trị liệu tâm lý). Chúng ta nhận ra vô thức một cách gián tiếp qua tác động của nó.

  • Hành vi triệu chứng (symptomatic act): Đó là hành vi mà chủ thể thực hiện cách tự động mà không suy nghĩ hay nhận biết.
  • Hành vi lúng túng (disturbed act): Hành vi lúng túng không phải là hành vi triệu chứng, tức là hành vi xuất phát từ vô thức, nhưng là sự giao thoa (interference) giữa một động cơ ý thức và một động cơ vô thức của một tiềm năng lớn.
  • Hành vi ức chế (repressed act): Đó là “tính hay quên chủ động.” Chúng ta quên  một điều gì đó không phải vì kém trí nhớ, mà vì sự ức chế của một lực phản kháng trong vô thức.
  • Thôi miên: Sau khi bị thôi  miên, chủ thể có thể thực hiện các mệnh lệnh mà mình đã tiếp nhận trong khi bị thôi miên, mà không biết mình đang làm gì, bởi vì chủ thể đã bị người thôi miên điều khiển. Người bị thôi miên có thể nhận biết hành vi của mình, nhưng không biết nguyên nhân.
  • Nhận thức tri giác khi mất cảm giác (anaesthetic perception)
  • Đa nhân cách[2]: Đây là một rối loạn lâm sàng khá hiếm. Qua đó bệnh nhân có những phản ứng bất nhất nghiêm trọng như thể có hai cuộc sống khác biệt hay mâu thuẫn với nhau.
  • Nhận thức dưới ngưỡng cảm giác (subliminary perception)
  • Giấc mơ: Freud xem giấc mơ là con đường vương giả để tìm hiểu vô thức, bởi vì khi người ta ngủ thì cơ quan kiểm duyệt nội tâm không hoạt động.

B. Nội Dung của Vô Thức

Mọi người đều biết rằng chúng ta thường hành động vì những lý do mà chúng ta không hiểu và lòng chúng ta cũng ấp ủ những tình cảm, mà nếu chúng ta biết thì cũng không khỏi ngạc nhiên. Tuy nhiên, người ta thường tỏ thái độ tiêu cực đối với vô thức và xem vô thức chẳng khác gì một thùng rác. Những điều cao thượng và xinh đẹp mới có giá trị, còn vô thức thì xấu xa bởi vì vô thức ở nơi sâu kín của lòng người. Thế nhưng, vô thức có thể hữu ích, chắc hẳn là trung dung, không tốt cũng không xấu. Khi xây nhà, nếu chúng ta cần có nơi làm nhà kho hay đặt hệ thống sưởi, thì trong cấu trúc con người cũng như vậy.

Thứ đến, chúng ta cần làm sáng tỏ điều này: Vô thức không chỉ có chức năng là sinh ra xung đột, hậu quả của các chấn thương và các kinh nghiệm khó chịu, nhưng còn là nơi chất chứa những tiềm năng.

Sau nữa, trong vô thức không chỉ có những kinh nghiệm tính dục, nhưng còn có những kinh nghiệm khác. Trên thực tế, chúng ta có thể tìm thấy những kinh nghiệm sau:

1. Những kinh nghiệm hay kỷ niệm bị ức chế, vì chúng gây đau đớn và khó chịu.

2. Những năng lực tinh thần mà chúng ta không sử dụng, bởi vì chúng ta không tin là mình có những năng lực đó, vì không dám sử dụng chúng, vì chúng ta nghĩ những năng lực đó chưa chín mùi hay chẳng quan trọng.

3. Các xung động chưa được toàn nhập hoàn toàn hay bị ức chế, bởi vì chúng gây ra xung đột.

4. Các khuynh hướng thúc đẩy chúng ta hành động hay cách thức chúng ta thường hành động, chúng luôn luôn có tính chất máy móc hơn

Để đối phó với vô thức, không những chúng ta cần nhận ra sự ức chế khiến chúng ta đau đớn, nhưng còn phải giải phóng những đam mê, khả năng sáng tạo và tính bộc phát. Nếu không có những yếu tố đó, cuộc sống chúng ta sẽ trở nên nhạt nhẽo. Muốn được như thế, chúng ta cần phải lớn lên trong tự do.

C. Quy Luật Của Vô Thức

1. Trong Vô Thức Không Có Mâu Thuẫn

Cho dù các yếu tố vô thức mâu thuẫn với nhau, chúng có thể cùng tồn tại mà không đối chọi với nhau. Quy tắc này rất quan trọng trong việc hiểu biết hành vi con người.

a. Ý nghĩa khách quan của một hành vi không đương nhiên tương ứng với ý nghĩa chủ quan mà chủ thể gán cho nó một cách vô thức.

b. Hành vi có thể biểu hiện những khuynh hướng đối nghịch và mẫu thuẫn cùng một lúc.

c. Đối với một người, hành vi trưởng thành có thể mang ý nghĩa tự vệ và công cụ (instrumental).

2. Vô Thức Không Bị Chi Phối Bởi Thời Gian

Các yếu tố vô thức không được sắp xếp trong thời gian cũng không bị biến đổi theo dòng thời gian. Chúng hiện hữu độc lập với thực tại bên ngoài. Chúng ta không thể hy vọng, với thời gian và kinh nghiệm, các yếu tố vô thức sẽ tự động trở thành yếu tố ý thức.

3. Vô Thức Không Quan Tâm Đến Thực Tại, Nhưng Anh Hưởng Trên Thực Tại

Vô thức có lô-gic riêng của mình, khác với lô-gic của thế giới ý thức (tuân theo nguyên tắc không mâu thuẫn).

4. Vô Thức Có Một Sức Năng Động Nhằm Tự Bảo Toàn

Vô thức chống lại việc tự vấn, bởi vì vô thức luôn luôn phản ứng mạnh mẽ nhằm tự bảo toàn. Nếu không phải là nhà tâm lý, chúng ta khó hiểu tại sao con người không muốn cải thiện.

D. Toàn Nhập Ba Cấp Bậc Ý Thức

Luft và Ingham phác hoạ một lược đồ gọi là Cửa Sổ Johari – Johari là tổng hợp các chữ đầu của tên hai tác giả. Cửa sổ Johari có thể giúp chúng ta hiểu các cấp bậc của nhận thức trong hoạt động của tinh thần.

 

Cửa Sổ Johari 

 

Tôi biết Tôi không biết
Người khác biết

Phạm vi công khai

Phạm vi mù tối

Người khác không biết

Phạm vi bí mật

Phạm vi vô thức

 

Bốn hình chữ nhật A,B,C,D tượng trưng cho 4 phạm vi của bản thân:

A. Phạm vi công khai: gồm những điều tôi biết và người khác cũng biết.

B. Phạm vi mù tối: gồm những điều tôi không biết, nhưng người khác biết.

C. Phạm vi bí mật: gồm những điều tôi biết, nhưng người khác không biết.

D. Gồm những điều tôi không biết và cả người khác cũng không biết: Đó là phạm vi tiềm thức, nhất là vô thức và tiền ý thức.

Ví dụ sau đây có thể giúp chúng ta hiểu hoạt động của năng động tâm lý. Một người tự mình, hay nhờ người khác mà nhận biết nhu cầu – một thái độ thống trị:  Chính anh ta nhận thấy có nhu cầu đó và người khác thấy anh ta thường có khuynh hướng áp đặt (phạm vi công khai). Khi anh ta tỏ thái độ áp đặt, người khác thấy rằng anh ta được lắng nghe, người khác xúc động và ngỡ ngàng (khuynh hướng phô trương  trong phạm vi mù tối). Hơn nữa, vì tính gây hấn của mình mà anh ta ngấm ngầm muốn áp đảo người khác (phạm vi bí mật). Mặc dù anh ta không bao giờ tâm sự với ai, anh ta biết lòng mình đang mẫu thuẫn.

Ba khuynh hướng thống trị – phô trương – gây hấn làm cho anh ta trở nên kiêu căng và quá tự tin. Anh ta thống trị và buộc người khác lệ thuộc tâm trạng của anh ta. Tuy nhiên, có lẽ sự cạnh tranh ấu trĩ đó chỉ là hậu quả của một nguyên nhân sâu xa và quan trọng hơn: Nhu cầu sỉ nhục mà anh ta đang tự vệ (phạm vi D). Anh ta kiêu căng bởi vì anh ta thiếu lòng tự trọng, và khi anh ta áp bức người khác, anh ta muốn bù đắp cho giá trị kém cỏi mà mình hằng lo sợ. Trong giáo dục, lãnh vực tiềm thức là nhân tố quyết định. Nếu chúng ta không quan tâm đến lãnh vực đó, chúng ta sẽ không thể giáo dục hiệu quả được. Nếu nhà giáo dục chỉ nhìn thấy phạm vi thứ nhất và chỉ trích ứng sinh vì ứng sinh kiêu căng mà ông cho là tự phụ, ông sẽ làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn: Khi ứng sinh bị khiển trách, anh ta càng cảm thấy bị sỉ nhục và vì thế mà anh ta càng bị thúc ép phải bù đắp cho sự sỉ nhục bằng cách gia tăng sự thống trị. Nếu nhà giáo dục không giúp ứng sinh giải quyết nguyên nhân của cảm xúc bị sỉ nhục, anh ta sẽ tìm những lối thoát mới để tiếp tục lối sống của mình.

Ví dụ sau đây không nói đến hành vi tự vệ, nhưng nói đến sự thoả mãn vô thức (phạm vi D). Một người thường giúp đỡ những người khác (A), được xem là người có lòng nhân ái (B), quan tâm đến việc hợp tác (C), vì thế mà anh ta luôn luôn sẵn sàng. Tuy nhiên, nếu trong phạm vi D có nhu cầu lệ thuộc cảm xúc, thì cấu trúc năng động tâm lý thay đổi. Nguồn gốc thật sự của thái đô sẵn sàng giúp đỡ người khác không phải là lòng nhân ái, nhưng thực ra đó là biểu hiện của nhu cầu được yêu thương và được nhìn nhận. Anh ta hy sinh bản thân, bởi vì trong tiềm thức anh ta có nhu cầu muốn nhận lãnh. Anh ta hiến mình phục vụ tha nhân mà không hề biết rằng anh ta đang ở trong giai đoạn ấu trĩ và đang nỗ lực tìm kiếm bản thân. Do đó, khi lòng nhiệt tình buổi đầu nguôi ngoai, hay sự tận hiến đòi hỏi anh ta phải hy sinh, bấy giờ anh ta sẽ gặp nhiều thử thách trong việc kiên trì.

Qua các ví dụ trên đây, chúng ta có thể thấy vô thức là một thực tại ẩn mình cách tinh vi và cũng là nguyên nhân của những hành vi trái nghịch với cái lô-gic mà chúng ta có ý mong đợi. Dầu sao đi nữa, vô thức cũng không thể biến con người thành con rối bị các sức mạnh vô hình thao túng.

Tới đây, chúng ta đã thấy khi con người phán đoán, lấy quyết định, chọn lựa các giá trị, con người khó tránh khỏi lệch lạc. Những trường hợp như thế quả không  hiếm và cũng không phải là bệnh lý.

 

 

 

 


[1] A. Cencini và A. Manenti, Tâm Lý và Huấn Luyện: Cơ Cấu và Năng Động (Psychology and Formation: Structures and Dynamics) (Bombay: St. Paul Publisher, 1992), Nguyễn ngọc Kính chuyển ngữ, tr. 43-56.

[2] Đa nhân cách: multiple Personality.

Thường huấn 2010

TOÀN NHẬP BA CẤP  BẬC
ĐỜI SỐNG TÂM LINH[1]

 

Cha Anthony Nguyễn Ngọc Kính – OFM.

 

Nếu chúng ta xem xét mình một cách tường tận, chúng ta đi đến kết luận đầu tiên này, đó là con người có thể sống trên ba cấp bậc khác nhau: tâm lý-thể lý, tâm lý-xã hội và lý tính-tinh thần. Ba cấp bậc này thường liên kết chặt chẽ với nhau và có thể nhận diện qua hành vi cụ thể của con người, trong đó cấp bậc này có thể chiếm ưu thế hơn cấp bậc kia.

Thuật ngữ “cấp bậc” muốn nói đến giới hạn của sự hiểu biết và quan tâm của chúng ta, là độ cao từ đó chúng ta quan sát bản thân và thế giới. Khi chúng ta thay đổi cao độ, tầm nhìn chúng ta cũng thay đổi, tương tự như khi chúng ta leo lên các tầng lầu khác nhau. Trên tầng ba, toàn cảnh mà chúng ta nhìn khi ở tầng một được mở rộng hơn, những yếu tố mới được thêm vào và những yếu tố khác thu nhỏ lại, bởi vì các yếu tố đó được sáp nhập vào một tầm nhìn rộng lớn hơn. Ví dụ, ở cấp bậc tâm-thể lý thuần thuý, con người thấy mình có nhu cầu tính dục; nhưng khi ở cấp tâm lý-xã hội, con người cũng thấy mình có nhu cầu chia sẻ với người khác; và khi ở cấp lý tính, tất cả nhu cầu đó lại nhắm đến việc hoàn thành các mục tiêu và mục đích. Khi chúng ta tiếp tục leo lên, các chiều kích trước không bị loại bỏ, nhưng được hội nhập vào một tầm nhìn rộng lớn và có ý nghĩa hơn. Tại mỗi cấp bậc, yếu tố tâm linh luôn luôn hiện diện, nhưng với mức độ và phẩm chất khác nhau.

Bây giờ chúng ta sẽ mô tả ba cấp bậc trong đời sống tâm linh và sau đó nêu lên một vài lãnh vực  để hoà nhập ba cấp bậc với nhau.

A. Mô Tả Các Cấp Bậc

1. Cấp Bậc Tâm-Sinh Lý

Cấp bậc này bao gồm những sinh hoạt tâm linh gắn chặt với tình trạng thể lý khoẻ mạnh hay đau yếu. Việc thoả mãn hay không thoả mãn các nhu cầu thể lý của cơ thể như đói, khát, ngủ, tồn tại và mạnh khoẻ… quyết định tình trạng sức khỏe thể lý.

Nguồn gốc và cùng đích của các sinh hoạt này được biểu hiện qua cảm giác thiếu hụt hay thỏa mãn trên bình diện bản năng. Động cơ chi phối cấp bậc này là sự thoả mãn các nhu cầu ấy. Người ta giải toả sự căng thẳng và thoả mãn ước muốn này bằng những mục tiêu đặc thù, cụ thể và ở bên ngoài con người. Con người cảm thấy toại nguyện khi “chiếm hữu” đối tượng một cách nào đó. Bởi thế, có một chuyển động đi từ chủ thể đến đối tượng và rồi quay về với chủ thể.

Động tác tìm kiếm một đối tượng để thoả mãn là một hành động thủ đắc; nhưng động tác đó khởi sự với một tiến trình sinh học nhất định. Tiến trình đó thúc đẩy người ta tìm kiếm một sự thoả mãn hoàn toàn và ngay tức khắc. Do vậy, hành động đó luôn luôn có tính chất tự động.

Ở cấp bậc này, người ta nhận thức thực tại một cách rời rạc và phiến diện. Thật thế, người ta xem xét thực tại trong tương quan trực tiếp hay gián tiếp với nhu cầu thể lý của mình. Nhận thức đó bị giới hạn trong phạm vi hữu hình, thể lý và hữu ích. Nhận thức đó hoàn toàn chủ quan.

Bên cạnh các nhu cầu khác nhau của thể lý, còn có một nhu cầu cơ bản hơn và được xem như động cơ đích thật thúc đẩy con người tồn tại và bảo toàn bản thân. Nhu cầu này gắn liền với việc diễn giải tổng quát về thực chất của đời sống, có tính vi lợi và cá nhân hơn.

2. Cấp Bậc Tâm Lý- Xã Hội

Cấp bậc này bao gồm những hoạt động của đời sống tâm linh liên kết với nhu cầu phát huy những tương quan xã hội, tức là nhu cầu ‘sống với.’ Là sinh vật mang tính xã hội, con người cảm thấy cần tăng cường tình bạn, cần giúp đỡ và được giúp đỡ và cảm nhận mình là thành viên của cộng đồng nhân loại, v.v…

Các hoạt động tâm linh này không bắt nguồn từ sự thiếu hụt trên bình diện thể lý hay do bản năng. Chúng không tương ứng với chuyển động thể lý, nhưng cũng có thể nhận diện được và để lại dấu vết trong hệ thần kinh.

Động cơ trực tiếp thúc đẩy con người hành động chính là ý thức về sự giới hạn và bất toàn của mình trong tư cách là một ngôi vị. Vì sự giới hạn và bất toàn này, chúng ta cảm thấy cần đến người khác. Đối tượng mang lại sự toại nguyện không phải là những đối tượng cụ thể như trong cấp bậc thứ nhất, vì ở cấp bậc tâm lý-xã hội chúng ta đối phó với những tình huống liên hệ đến con người. Đối tuợng luôn luôn ở ngoài, mà chủ thể không bao giờ có thể đem vào trong cơ thể mình hay chiếm hữu như ở cấp bậc tâm-sinh lý, bởi lẽ người khác không phải là một vật thể.

Con người thủ đắc một phương pháp thỏa đáng là lặp đi lặp lại những hành động tỏ ra hữu hiệu trong việc đạt tới mục tiêu. Ngay cả trên cấp bậc này, cách vận hành cũng mang ít nhiều tính chất tất định (determinism). Đó là một sự tất định tương đối, chứ không hoàn toàn tuyệt đối như trong cấp bậc 1. Sự tất định này có tính xã hội, qua đó con người bị thúc bách phải đi tìm một loại tương quan nhất định làm cho mình được thoả mãn, hay khi đứng trước những tác nhân kích thích, sự tất định đó làm nẩy sinh nơi con người một sự đáp ứng ít nhiều tự động.

Về phương diện nhận thức đối với thực tế, chủ thể chú ý và bị thu hút không phải vì đối tượng có những cấu tố hay giá trị nội tại của một ngôi vị, mà vì chủ thể xem đối tượng như một chức năng tạo nên tương giao tích cực. Tầm nhìn về thực tại tuy còn phiến diện và một chiều, nhưng cũng giả thiết là chủ thể đã có một khả năng nhất định trong việc diễn giải nhận thức mà mình đã trải nghiệm. Nhờ tầm nhìn đó, người ta có thể mở rộng nhận thức của mình, kể cả những chức năng khác và tiềm năng của con người. Điều đó muốn nói rằng mọi người đều cảm thấy (‘lương tri’) các mối tương giao liên vị là nền tảng của việc sống chung, ít nữa  như một thiên hướng muốn nhận biết công ích.

Ngay trong cấp bậc này, ngoài nhu cầu cần có người khác và tương giao, chúng ta có thể nhận ra một điều gì đó cơ bản hơn: Đó là nhu cầu mở rộng và thể hiện bản thân thông qua người khác. Theo Nuttin, đó là cách biểu lộ bản chất tinh thần của con người; con người là một hữu thể hiện hữu trong tương quan lệ thuộc với người khác.

3. Cấp bậc Lý Tính – Tinh Thần

Cấp bậc này bao gồm những hoạt động tinh thần liên kết với nhu cầu muốn biết sự thật và khả năng của con người trong việc hiểu biết bản chất sự vật, nhờ việc suy diễn từ các dữ kiện khả giác. Nhờ khả năng này, chúng ta khác biệt với mọi sinh vật khác và có khả năng hiểu biết yếu tính của các sự vật, nghĩa là nhờ khả năng trừu tượng hoá mà chúng ta biết được yếu tính của sự vật từ các dữ kiện khả giác. Khi quan sát các dữ kiện, con người có thể rút ra những nguyên tắc tổng quát, tức là những khái niệm và quy luật trừu tượng chi phối và giải thích các dữ kiện khả giác. Khả năng này là ‘tinh thần’ con người, một thực tại tương phản với vật chất, không thể đo lường, không thể phân chia, vượt trên không gian và thời gian. Nhờ khả năng này, con người có thể định nghĩa những khái niệm, biết được các sự vật trừu tượng, phán đoán  và siêu vượt cái ‘ở đây và bây giờ’ để khẳng định và theo đuổi các giá trị tinh thần.

Động cơ nền tảng của hoạt động trí óc không hệ tại sự khiếm khuyết của các mô hay ý thức về sự bất toàn, nhưng nằm trong ước nuốn-nhu cầu muốn biết và giải quyết các vấn đề cơ bản như biết mình, chỗ đứng của mình trong thế giới, ý nghĩa cuộc sống và sự chết… Đồng thời, ước muốn-nhu cầu đó được hỗ trợ nhờ khả năng sử dụng-hoạt động của mình (instrumental-functional capacity) để nắm bắt  ít là một phần, sự thật của các sự vật. Đàng khác, ước muốn-nhu cầu đó còn được duy trì khi con người nhận thấy bị lôi cuốn hướng về sự thật, một sự lôi cuốn vượt xa ước muốn đơn thuần và chủ quan, và chỉ cho thấy ơn gọi của mọi người là tìm kiếm sự thật.

Đối tượng thoả mãn khát vọng hiểu biết của con người được trình bày bằng những hạn từ hoàn toàn khác biệt với hai cấp kia (cho dù không loại bỏ chúng), cả về khía cạnh đặc trưng hay cụ thể (không phải là vật chất như hai cấp trên) và mối quan hệ giữa chủ thể với đối tượng thoả mãn khát vọng của chủ thể. Con người không thể chiếm hữu đối tượng như ở cấp bậc thứ nhất (vd. thực phẩm) và cũng không thể giải thích và phát biểu tuỳ tiện theo nhu cầu của mình như trong cấp bậc thứ hai (vd. kết bạn để khỏi cảm thấy cô đơn). Trong cấp bậc lý tính – tinh thần, đối tượng cũng trở nên thành phần của con người và căn tính của mình, bởi vì đối tượng đáp ứng nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người. Đàng khác, trên cấp bậc này con người không lặp đi lặp lại những hành động theo một kế hoạch đã học được nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Một đàng, con người không bao giờ hoàn toàn toại nguyện trong việc tìm kiếm chân lý như Frankl đã nói: “Con người không thể trả lời cho câu hỏi về ý nghĩa tuyệt đối.” Đàng khác, mỗi người có một cách tìm kiếm chân lý đôc đáo của mình, người này không giống người kia và trong mức độ nào đó, ngay trong mỗi người thì cách thức tìm kiếm chân lý cũng thay đổi.

Sự mãn nguyện hay thỏa mãn trên cấp bậc này thì phức tạp và cũng ít máy móc hơn hai cấp bậc kia.  Sự mãn nguyện phát sinh từ chính việc tìm kiếm chân lý và từ sự tương hợp giữa bản thân mình và sự thật, rõ ràng là sự tương hợp đó không bao giờ trọn vẹn được.

Cách thức vận hành ở cấp bậc này cũng rất khác biệt với hai cấp bậc kia và rất đặc trưng của ‘con người.’ Thật thế, trên cấp bậc này con người có khả năng không tán thành những đòi hỏi tức thời của bản năng và xã hội, và vượt lên trên sự tất định kèm theo những đòi hỏi đó. Khi con người sử dụng những khả năng thượng đẳng, con người có thể nhận biết bản chất của sự vật  và mối liên hệ nhân quả. Con người có thể nắm bắt ý nghĩa của đối tượng và những tình huống thường đem lại thoả mãn cho hai cấp bậc trên đây, bằng cách vượt trên chức năng thoả mãn đơn thuần của chúng và tháp nhập vào một bối cảnh tổng quát và khách quan hơn.

Bằng cách đó, con người ta kiến tạo một quan hệ mới với môi trường chung quanh, đó một mối quan hệ tôn trọng tự do: Con người tôn trọng các sự vật và tự do đối với sự vật. Con người tôn trọng sự vật, bởi vì con người có khả năng ‘biết’ sự vật như đã nói ở trên, đó là những nguyên tắc và quy luật tổng quát gắn liền với bản chất của chính sự vật. Nhờ hiểu biết thực tại mà con người có thái độ trân trọng đối với các sự vật và con người. Thật vậy, khi con người nhận thấy ý nghĩa của sự vật, con người không thể sử dụng chúng vì lợi ích riêng của mình (cấp bậc 1 và 2), đồng thời đặt mình trong tư thế tự do đối với chúng. Hành động như thế là hoàn toàn hợp lý; bởi vì khi tôi không còn nhìn các sự vật theo tiêu chuẩn có lợi hay không có lợi cho tôi, bấy giờ tôi được giải thoát không còn bị lệ thuộc vào chúng, hay ít nữa là không còn bị chi phối bởi sự tất định có thể khiến tôi làm nô lệ cho chúng. Có thể nói nếu chúng ta có khả năng gọi đúng tên của sự vật,  thì đó là dấu hiệu và nguồn mạch của tự do. Sự tự do này là nền tảng cho những sự tự do khác.

Chúng ta hãy kể ra đây một vài ví dụ. Chẳng hạn khi một người biết ‘giải mã’ các sự vật một cách chính xác, ông có thể mở rộng quỹ đạo kiến thức của mình, không phải về mặt số lượng nhưng về mặt phẩm chất. Nhờ khả năng trừu tượng hoá, ông không chỉ có khả năng khái niệm hóa các sự vật hữu hình, nhưng còn hiểu biết những điều trừu tượng như khái niệm nhân đức, thiện hảo và công lý. Tất cả những khái niệm đó thì không đo lường được về mặt không gian và thời gian (cấp 1), nhưng mang lại cho ông một sự giải  thích thỏa đáng và khôn ngoan vượt trên tiêu chuẩn lợi ích cá nhân, sự mãn nguyện trong tương quan xã hội và công bình giao hoán (cấp 2).

Một hệ quả khác là khả năng hiểu biết và sử dụng biểu tượng và ngôn ngữ biểu tượng. Khả năng đó không chỉ thể hiện sự nhận thức sâu sắc về thực tại và tự do đối với thực tại, mà còn là phương tiện hợp lý để truyền đạt kiến thức một cách hữu hiệu hơn, để thiết lập mối quan hệ và so sánh hợp lý, và để có được những kiến thức mới và thâm sâu hơn. Tất cả những điều này hoàn toàn vượt trên lối nhận thức rời rạc trong hai cấp bậc trước.

Cuối cùng, con người càng có óc sáng tạo, thì càng dễ tách rời khỏi sự thúc bách hoàn toàn tất định của những phản xạ khả giác (cấp  1) hay các nhu cầu xã hội có tính tất định tương đối (cấp  2).

Qua những ví dụ trên đây, chúng ta đủ thấy rằng khuynh hướng thật sự, vốn là nguồn gốc của mọi hành vi, nằm tại cấp bậc lý tính – tinh thần. Khuynh hướng đó không chỉ là một bản năng tự bảo toàn nhờ nhu cầu ‘tiêu thụ,’ cũng không phải là một thúc bách thể hiện mình qua trung gian người khác, nhưng là một khuynh hướng siêu việt (self-transcendence). Mọi hoạt động trên cấp  bậc này vượt qua ranh giới của sự kiện xảy ra ngay trước mắt  và hữu hình: Chúng là những hoạt động ‘tinh thần.’ Như thế, các hoạt động đó được thực hiện bởi “bản ngã tinh thần” có khả năng siêu việt nhân tính và những hoàn cảnh ghi dấu bởi những giới hạn, để hướng tới tha nhân với thái độ vị tha và quên mình, hay khám phá được ý nghĩa và giá trị làm cho đời sống mình trở nên chân thực. Frankl tìm thấy bản chất của con người trong sự siêu việt ấy: “Làm người  chủ yếu là hướng về một đối tượng siêu việt chúng ta, ở bên ngoài và bên trên chúng ta. Nghĩa là chúng ta hướng tới một điều gì hay một người nào đó: Một mục tiêu phải đạt tới hay một người mà ta phải gặp và yêu mến. Vì thế, con người là chính mình trong mức độ vượt qua chính mình và quên mình.”

Một lần nữa, chúng ta buộc phải quay lại vấn đề tự do:  Chính khi chúng ta xem xét khả năng siêu việt của con người mà chúng ta mới có thể hiểu tự do phát xuất từ đâu và làm cách nào để có tự do. Chỉ khi nào con người tái khẳng định và nỗ lực chinh phục bản thân mà con người mới có thể kiểm chứng là mình có tự do thắng vượt mọi sự tất định, một sự tự do ít nhiều bị che dấu. Bởi đó, chỉ khi nào con người có tự do để tự siêu việt, con người mới có thể nghe được tiếng gọi, khám phá những chiều kích mới của đời sống và quyết định đáp lời. Khi con người đáp lời, con người trở thành một tác nhân luân lý và nhận thấy mình có trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chưa muốn bàn đến những vấn đề liên hệ đến luân lý và mối liên hệ mật thiết giữa tự siêu việt  – tự do – trách nhiệm, mà chỉ muốn lưu ý rằng cấp bậc thứ 3 là cấu tố nền tảng của đời sống tâm linh và là điều kiện mà con người không thể tránh được.

B. Đẳng Cấp của Tiến Trình Toàn Nhập[2]

Mọi hoạt động của đời sống tâm linh thường chứa đựng và bộc lộ ba cấp bậc. Mặc dầu ba cấp bậc đó thể hiện trong những mức độ khác nhau, nhưng “trong thực chất thì gắn kết với nhau trong hành vi cụ thể của con người.” Chúng ta cũng đã thấy rằng cấp bậc  lý tính-tinh thần là cấp bậc đặc trưng dành riêng cho con người, trong khi cấp bậc 1 và một phần cấp bậc 2 thuộc về thú vật. Do đó, giữa các cấp bậc có một đẳng cấp tự nhiên mà chúng ta phải tôn trọng, trong khi vẫn phải xem xét các thuộc tính, các chức năng và quy luật mà chúng ta không thể giản lược như Nuttin đã lưu ý. Tuy nhiên, trật tự các cấp bậc còn tuỳ thuộc sự tự do của con người, khi con người quyết định đặt toàn thể đời sống tâm linh dưới sự hướng dẫn của cấp bậc nào và con người đứng ở cấp bậc nào để giải thích về mình và thế giới. Cấp bậc lý tính-tinh thần vốn chiếm chỗ đứng ưu tiên, nhưng trên thực tế, nếu người ta sắp xếp cấp bậc lý tính-tinh thần ở một vị trí nhằm phục vụ hai cấp bậc kia và tuỳ thuộc hai cấp bậc kia, bấy giờ  trật tự các cấp bậc bị đảo lộn. Căn tính mỗi người cũng tuỳ thuộc đẳng cấp những cấp bậc của mình: Căn tính mỗi người thì tương ứng với cấp bậc ưu tiên mà người ta dành cho nó.

Nói một cách chính xác hơn, nếu con người không có tự do để xác lập thứ tự ba cấp bậc, bấy giờ con người bị thúc ép phải đi theo một lối sống bị chi phối bởi sự xếp đặt ngẫu nhiên giữa ba cấp bậc. Ba cấp bậc ấy được xếp đặt dưới sức ép của các nhu cầu hơn là sự tự do chọn lựa. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, không ai có thể bỏ qua những đòi hỏi và những yếu tố riêng của mỗi cấp bậc. Bởi đó, sự trưởng thành đích thật nằm ở chỗ này: Làm sao người độc thân có thể sử dụng thân xác để mở rộng tương quan và sử dụng khả năng tư duy để toàn nhập những chiều kích khác nhau nơi bản thân mình? Chúng ta có thể nói ngay rằng người ta cần phải hội nhập các chiều kích một cách hài hoà, không thiên lệch cũng không loại trừ và có một điểm quy chiếu rõ ràng để làm cho toàn thể đời sống có trật tự và ý nghĩa.

Thật thế, sự trưởng thành và toàn nhập không phải là hiện tượng tự phát, nhưng là một tiến trình qua đó người ta nỗ lực thiết lập một sự quân bình giữa những chiều kích và khám phá căn tính của mình, luôn ghi nhớ tính chất phức tạp của con người.

1. Quân bình Ngoại Giới và Nội Giới: Nguyên Tắc Toàn Diện

Sự quân bình này là một đòi hỏi cơ bản, bởi vì ba cấp bậc đều cùng hiện diện trong mỗi hành vi của chúng ta. Có một điều gì đó thể hiện nơi hành vi con người, bởi vì con người là một thực thể duy nhất bao gồm các chiều kích thể lý, tương quan và lý tính, và biểu lộ bản chất phức hợp của mình qua mỗi hành động.

Trước hết, đó là sự hài hoà ngoại giới, tức là mối tương quan giữa ba cấp bậc. Mọi biểu hiện của đời sống tâm linh không chỉ biểu lộ bản chất phức hợp của con người, nhưng còn cho chúng ta thấy rằng chúng ta chỉ có thể đạt được sự hài hoà ngoại giới khi tiềm năng của các cấp bậc cùng hiện diện và bổ túc cho nhau. Ví dụ, chúng ta không thể suy tư hay quyết tâm hành động, nếu thân xác không được nghỉ ngơi đầy đủ và những nhu cầu cơ bản nhất định của thân xác chưa được đáp ứng. Lại nữa, tư tưởng và sự quyết chí không chỉ tuỳ thuộc tình trạng sức khoẻ nội tâm (mạnh khoẻ hay ốm yếu) mà còn tùy thuộc mối tương quan xã hội tích cực (hay tiêu cực) của chúng ta. Đàng khác, cách sống của chúng ta trên cấp bậc lý tính-tinh thần cũng chi phối tình trạng thể lý và tương quan xã hội xã của chúng ta, theo một cách khác và tinh tế hơn. Chẳng hạn sau khi chúng ta đã giải quyết những vấn đề cơ bản hay đem lại ý nghĩa cho đời sống, chúng ta được bình an trong tâm hồn. Mỗi ngày chúng ta đều nhận thấy cấp bậc này tác động lên cấp bậc kia.

Chúng ta cũng có thể kết luận như thế, nếu chúng ta xem xét sự tương thuộc chức năng[3] giữa cấp bậc này với cấp bậc khác. Nếu chúng ta muốn suy tư  hay làm việc trí thức cho hiệu quả, thì không những chúng ta cần đến hai cấp bậc kia, mà còn cần một bộ não có cơ cấu sinh học lành mạnh và hoạt động tốt, nhờ đó trí tuệ có thể suy tư, ký ức có thể ghi nhớ và lời nói có thể diễn tả tư tưởng và thi hành chức năng của mình trong xã hội. Đó là những quy luật tự nhiên.

Chúng ta cũng cần có một sự quân bình nội giới, tức là sự hài hoà giữa những yếu tố trong mỗi cấp bậc. Mỗi cấp bậc có những đòi hỏi và đặc tính thiết yếu mà chúng ta cần phải tôn trọng. Đó là nguyên tắc toàn diện (totality), nhờ đó mà nội giới được quân bình.

Chúng ta hãy quan sát những hiện tượng xảy ra trên cấp bậc sinh lý. Chủ thể có thể nhận biết tác nhân kích thích (đói, buồn ngủ, v.v…) khi có sự phối hợp giữa các tế bào, các mô, các phản ứng hoá học và cảm nhận của cơ quan nội tạng. Cao điểm của tiến trình nhận thức là chủ thể nhờ giác quan mà biết được tác nhân kích thích  và đáp lại cách tương ứng. Cơ thể con người được tổ chức một cách tỉ mỉ (như khoa sinh học cho biết) và tổ chức đó tuân theo tiêu chuẩn là sự ổn định và năng động của toàn cơ thể con người và thiết lập một sự quân bình giữa sự khoẻ mạnh của mỗi thành phần và sự khoẻ mạnh chung của toàn cơ thể. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong trường hợp “cấp cứu”: Chẳng hạn khi một bộ phận của cơ thể bị tổn thương hay bị nhiễm trùng, thì những bộ phận khác liền cứu viện ngay tức khắc, bằng cách tăng cường hoạt động để sản sinh nhiều tế bào và nội tiết tố hơn, nhằm khâu lại vết thương hay chữa trị bộ phận bị nhiễm trùng. Tóm lại, cơ thể chúng ta có một hệ thống quy luật bẩm sinh nhằm làm cho cơ thể được mạnh khoẻ tối ưu và vì lợi ích của toàn cơ thể. Hệ thống quy luật đó cũng phối hợp các bộ phận với nhau và “bắt buộc” các bộ phận phải hoạt động vì mục tiêu chung và “từ bỏ” mục tiêu riêng của mình.

Nguyên tắc toàn diện vốn bắt nguồn từ cơ thể con người và là một nguyên tắc rất quan trọng, bởi vì nó cho thấy chính thiên nhiên đã cho thân xác chúng ta một cách thức hiện hữu. Vì thế, chúng ta cũng có thể nhận thấy nguyên tắc toàn diện ở các cấp bậc khác, dĩ nhiên là theo một cách thức khác. Trong bất cứ trường hợp nào, thì nguyên tắc toàn diện vẫn là điều kiện để thiết lập sự quân bình ngoại giới.

Như vậy, trên cấp bậc tâm lý-xã hội, chúng ta cũng cần có sự quân bình nội giới tương tự như thế, đó là hoa quả của tình trạng cân đối giữa tinh thần cá nhân và ý thức thuộc về nhóm. Trên cấp bậc này, chúng ta cũng nhận thấy các yếu tố có khuynh hướng giữ cân bằng theo nguyên tắc toàn diện, cho dù các yếu tố đó không vận hành một cách bộc phát như trong cấp bậc 1 (trên thực tế thì vẫn có một sự căng thẳng nhất định). Nhờ khuynh hướng đặc trưng đó và nhờ ý thức về sự bất toàn của mình cũng như sự thu hút của người khác, con người được thúc đẩy phải ra khỏi mình để trao ban, đón nhận, sống với nhau, tìm thấy mình qua tha nhân và ý thức mình là thành phần của toàn thể. Mỗi người đều mang trong mình khát vọng đó, và nếu không có khát vọng đó thì không có xã hội và cũng không có con người. Lại nữa, khi năng lực “xã hội” thúc dục con người phá vỡ ranh giới của mình mà không trở nên xa lạ với tha nhân, năng lực đó cũng tuân theo tiêu chuẩn toàn diện, tức là sự ổn định và năng động của toàn thể xã hội. Thật vậy, người trưởng thành thì sống hài hoà và không có xung đột giữa ý thức cá vị tính của mình và ý thức thuộc về nhóm. Trong khi họ ý thức mình là thành phần của toàn thể nhóm, họ không cảm thấy cá vị tính mình bị xem nhẹ hay xúc phạm. Mặt khác, tuy họ thấy mình là một cá thể độc đáo, nhưng họ không cảm thấy bị cô lập. Họ biết phải làm gì để là chính mình và để thiết lập tương giao với người khác. Trong khi họ cảm thấy mình là thành phần tích cực và có trách nhiệm của một toàn thể, họ góp phần xây dựng toàn thể và làm cho toàn thể trở nên nguồn mạch thiện hảo cho mọi người. Đó là một quy luật tự nhiên mà chúng ta dễ nhận thấy trong hoàn cảnh cụ thể. Vì quy luật đó mà con người có thể hoạt động vì công ích, và nếu cần thì có thể dẹp bỏ lợi ích riêng tư để phục vụ lợi ích của mọi người, nhất là trong những hoàn cảnh đặc biệt. Họ thực hiện quy luật đó một cách quân bình tương tự như sự cân đối trong cơ thể con người. Nguyên tắc toàn diện luôn luôn là điều kiện để có sự quân bình nội giới bên trong mỗi cấp bậc và giữa các cấp bậc với nhau.

Nếu chúng ta tiếp tục xem xét cấp bậc lý tính-tinh thần, chúng ta cũng nhận thấy một mối quan hệ như thế. Tuy nhiên, mối quan hệ này có lẽ căng thẳng hơn và ít tính bộc phát hơn hai cấp bậc kia: Đó tương quan giữa bản ngã và sự thật. Một mặt, tôi ước muốn và có nhu cầu biết mình và chỗ đứng của mình trong cuộc sống, mặt khác tôi phải đối diện với sự thật siêu việt tôi và bao trùm toàn thể thực tại. Đó là một nhu cầu mà con người không thể loại bỏ và thúc bách con người (mọi người chứ không chỉ các triết gia) đi tìm sự thật. Từ đó mà phát sinh mối quan hệ giữa sự thật của tôi và sự thật tự tại, và vì thế mà có vấn đề. Tuy nhiên, chính nguyên tắc toàn diện lại chỉ cho chúng ta thấy con đường “tự nhiên” để biến sự căng thẳng thành cơ hội sinh hoa trái và sự quân bình. Nguyên tắc toàn diện cũng cho tôi nhận thấy chân lý toàn diện là một thực tại làm tôi say mê hoàn toàn, thúc dục tôi phát huy tối đa khả năng tư duy và thúc đẩy tôi vượt lên chính mình. Đó là cách đi tìm sự thật. Nói một cách cụ thể, tôi ý thức mình là một con người đang đi tìm sự thật, chứ không làm ra vẻ là mình đã đạt tới mục tiêu hay đã biết hết mọi sự. Tôi nhận biết các giới hạn tự nhiên của mình và vì thế tôi không xem trực giác của mình là tuyệt đối, nhưng sẵn sàng đón nhận sự đóng góp của người khác hay ít nữa là chấp nhận một sự đối đầu biện chứng với người khác. Nếu chúng ta đi tìm sự thật theo cách thức đó, bấy giờ chúng ta sẽ cởi mở trí óc và nhạy bén trong nhận thức trực giác, để không biến một phần sự thật thành những quy luật chung. Cuối cùng, đó cũng là những đặc tính cơ bản mà khoa học tri thức đòi hỏi như những điều kiện tiên quyết, nếu chúng ta muốn hiểu biết một cách chắc chắn…

Tóm lại, dù đứng trên cấp bậc nào của đời sống tâm linh, chúng ta đều có thể nhận thấy nguyên tắc toàn diện và khả năng siêu việt hiện diện trong các cấp bậc khác nhau. Trong mỗi cấp bậc, chúng ta đều được thúc đẩy để “vượt lên.”

Cấp bậc 1: Vượt lên sự mạnh khoẻ thể lý của mỗi thành phần.

Cấp bậc 2: Vượt lên sự hạnh phúc của tôi.

Cấp bậc 3: Vượt lên nhận thức của tôi về chân lý.

Ngoài ra, chúng ta cần lưu ý rằng tiêu chuẩn toàn diện hay năng lực siêu việt là một nguyên tắc tự nhiên. Tuy nhiên, nếu nguyên tắc đó xuất phát từ cấp bậc 1, thì đương nhiên là nó sẽ vận hành kém hiệu năng và con người phải vận dụng tự do và trách nhiệm để can thiệp mạnh mẽ hơn.

2. Định Nghĩa Bản Thân Và Các Cấp Bậc

Tuỳ ưu thế của mỗi cấp bậc (tâm-thể lý, tâm lý-xã hội hay lý tính-tinh thần) trong đời sống tâm linh mà con người sẽ có một hình ảnh bản thân nhất định. Nếu chúng ta thường sống ở một cấp bậc nào đó, chúng ta sẽ gắn bó mật thiết với nội dung tương ứng của cấp bậc ấy. Như thế, nếu chúng ta dành ưu tiên cho cấp bậc tâm-thể lý, chúng ta sẽ gắn bó mật thiết với thân xác và những đặc điểm bên ngoài của thân xác như thể hình và vẻ đẹp mà chúng ta nhận thấy trước mắt. Vì thế, chúng ta sẽ quan tâm quá mức đến sức khỏe và vẻ đẹp, sự cường tráng và sự trẻ trung của thân xác. Chúng ta khó chấp bất cứ khiếm khuyết nào về mặt thẩm mỹ, bệnh tật hay tình trạng suy yếu mà cơ thể không sao tránh được. Nếu chúng ta dành ưu tiên cho cấp bậc tâm lý-xã hội, chúng ta sẽ xác định căn tính của mình dựa trên những năng khiếu và tài năng của chúng ta: Trí thông minh, sự hoà đồng, tính quyết đoán khi làm việc và nhân đức. Cuối cùng, nếu chúng ta dành ưu  tiên cho cấp bậc lý tính-tinh thần, chúng ta sẽ vượt lên những lợi ích trước mắt và khả năng tinh thần của mình, để định nghĩa bản thân dựa trên dự phóng đời sống mà chúng ta tự do chọn lựa. Thiết lập dự phóng đời sống và thực hiện dự phóng cho đến cùng, đó là nguồn mạch của lòng tự trọng.[4]

Nếu chúng ta muốn thiết lập một đẳng cấp giữa các cấp bậc, thì rõ ràng là cấp bậc 3 phải đảm nhận chức năng hướng dẫn và tham chiếu. Chức năng này quả là điều cần thiết, nếu chúng ta muốn cho mọi hành động trở nên “nhân bản,” tính chất tự động của cơ thể và khuynh hướng xã hội được phối hợp và ăn khớp với nhau để con người được hạnh phúc toàn diện, bởi vì con người không hiện hữu chỉ vì  thân xác hay vì tương quan.

Qua kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta thấy rằng con người không thể viên thành, nếu con người chỉ biết đáp lại những tác nhân kích thích cơ thể của mình hay trôi nổi trong xã hội như một xác chết. Chúng ta có thể hành động như thế,  nếu chúng ta đặt những hoạt động đó trong một dự phóng khả thi. Nghĩa là chúng ta cần có là một khung định hướng hoạt động như một mắt xích liên kết những cấp bậc khác nhau và quan tâm đến bản tính con người. Nhờ tiêu chuẩn toàn diện, chúng ta làm cho mỗi cấp bậc có được sự quân bình nội giới và những cấp bậc khác lệ thuộc cấp bậc thứ ba. Điều đó có nghĩa là sự thiện của mỗi cấp bậc phải phục vụ sự thiện toàn diện của con người. Như vậy, chúng ta áp dụng nguyên tắc toàn diện không chỉ theo chiều ngang (để mỗi cấp bậc có thể vận hành tốt), mà còn theo chiều dọc, để quy hướng mọi cấp bậc về một mục tiêu, đó là sự thiện toàn diện của con người chứ không phải là sự thiện riêng của  mỗi cấp bậc…

Một lần nữa, chúng ta lại thấy rằng nếu một sự thiện nằm ngoài tầm nhìn toàn diện của con người, nó sẽ bất khả thi và chống lại chính con người.

Tôi tưởng rằng chỉ khi nào chúng ta tham chiếu dự phóng toàn diện (cấp bậc thứ 3), bấy giờ chúng ta mới có thể khám phá bản chất đích thật của con người và rút ra được sự thiện có thể làm cho chúng ta thoả mãn “hoàn toàn.” Khi chúng ta định nghĩa bản thân trên cấp bậc lý tính-tinh thần, chúng ta không có ý loại bỏ hai cấp bậc kia, nhưng sử dụng những đòi hỏi của hai cấp bậc đó như phương tiện để theo đuổi  những mục tiêu đưa đến sự thiện toàn diện. Nhờ đó, chúng ta sẽ thiết lập được một tương quan mới với mình và thực tại, đặt nền tảng trên sự tôn trọng, tự do và sáng tạo. Chẳng hạn, trong khi chúng ta tôn trọng các nhu cầu thể lý,  các đặc tính tâm lý và các yêu cầu của xã hội, chúng ta hoàn toàn tự do chứ không bị bó buộc phải theo đuổi những sự thiện đó bằng mọi giá và xem chúng là sự thiện lớn nhất. Đàng khác, chúng ta sử dụng óc sáng tạo để giải thích những sự thiện đó sao cho phù hợp vói sự thiện toàn diện của mình.[5]

 

 

 

 

 


[1] A. Cencini và A. Manenti, Tâm Lý và Huấn Luyện: Cơ Cấu và Năng Động (Psychology and Formation: Structures and Dynamics) (Bombay: St. Paul Publisher, 1992), Nguyễn ngọc Kính chuyển ngữ, tr. 20-40.

[2] Toàn nhập (integration): Hội nhập ba cấp bậc với nhau trong một tổng thể duy nhất và hài hòa (ND).

[3] Tương thuộc chức năng: functional  interdependence.

[4] Muốn đào sâu đề tài này, xin xem A. Cencini, You shall love the Lord your God: Psychology of Encountering God, St. Paul Publications. Bombay 1988. pp. 16-72.

[5] Để hiểu ba lời khấn nghèo khó, khiết tịnh và tuân phục dưới ánh sáng của ba cấp bậc của đời sống tâm linh, xem J. Ridick, Treasures in Earthen Vessels: the vows. St. Paul Publications Bombay 1986.

Thường huấn 2010

NỘI DUNG CỦA BẢN NGÃ  (EGO)[1]:
NHU CẦU, THÁI ĐỘ và GIÁ TRỊ[2]
Như chúng ta đã thấy, con người hoạt động trên ba cấp bậc của đời sống tâm linh và ý thức, và về cơ bản thì con người bị thúc đẩy bởi cảm xúc và / hay lý trí.  Bây giờ chúng ta cần đi xa hơn để quan sát con người “từ bên trong,” nghĩa là tìm hiểu những yếu tố đã làm nên hậu cảnh của lối sống và cách thức con người lấy quyết định.
Hai câu hỏi:
1) Khi chúng ta hành động, điều gì lôi cuốn hay thúc đẩy chúng ta? Đâu là những năng lực thúc đẩy chúng ta? Đó là những câu hỏi liên quan đến “cái gì” hay nội dung của bản ngã;
2) Khi chúng ta hành động, tại sao chúng bị lôi cuốn hay thúc đẩy bởi những nội dung này chứ không phải những nội dung khác? Đó là câu hỏi liên quan đến “tại sao” hay cấu trúc của bản ngã.
A. Các Nhu cầu
1. Định Nghĩa
Nhu cầu là xu hướng bẩm sinh hướng tới hành động. Nhu cầu bắt nguồn từ sự thiếu hụt trong cơ thể hay bắt nguồn từ những tiềm năng tự nhiên của con người, những tiềm năng đó có xu hướng thể hiện ra bên ngoài.
a. Trước hết, nhu cầu là xu hướng đưa tới hành động.
Điều đó có nghĩa các xu hướng chứa đựng năng lực tâm linh; nếu không có năng lực đó, chúng ta sẽ không thể suy tư hay thực hiện bất cứ cử chỉ nào. Bởi đó, các nhu cầu thì vô cùng quý báu: Mỗi người đều không ngớt múc nguồn năng lực để yêu thương, để biết, để thiết lập những tương giao, để vượt qua những khó khăn, v.v… Quả là vô lý và bất khả thi, nếu chúng ta muốn loại bỏ mọi nhu cầu và xem các nhu cầu tương phản với lý tưởng, bởi vì chúng ta cảm thấy các nhu cầu như một điều không cao thượng cho lắm. Làm như thế tức là chúng ta muốn yêu thương mà không cần có năng lực. Hành vi yêu thương Thiên Chúa hay hành vi cưỡng bức tha nhân đều phát xuất từ cùng một nguồn năng lực, cho dù người ta hiểu và sử dụng năng lực đó vào những mục đích khác nhau.
Nhu cầu chỉ là một xu hướng. Nhu cầu tự thân thì không đủ để tạo ra hành động.[3] Do vậy, nhu cầu không phải là tác nhân quyết định của một hành vi hay định hướng cụ thể cho hành vi. Nhu cầu cũng không phải là một “bảng chỉ đường,” mà chỉ là một “định hướng ưu tiên.” Vì nhu cầu yêu thương, chúng ta thích những tương giao thân thiện hơn những tương giao tiêu cực. Tuy nhiên,  nhu cầu yêu thương không ấn định chúng ta phải tiếp xúc với tha nhân như thế nào và cũng không bao hàm những cách thức cụ thể để biểu lộ tình yêu. Định hướng cơ bản thì bẩm sinh và chúng ta còn phải học kỹ năng trong việc thoả mãn các nhu cầu. Như vậy, nhu cầu có khả năng thích nghi rất lớn: Bởi vì nhu cầu không phải là một bảng dẫn đường, nên nhu cầu có thể biểu lộ bằng rất nhiều cách thức và có thể được nhào nặn nhờ các tình huống, qua việc tập luyện và quá trình nhận thức (ước muốn lý tính). Nói cách khác, hành vi con người không bị định đoạt bởi các nhu cầu của mình một cách tất yếu và tự động: Giữa nhu cầu và hành động có một khoảng cách chi phối bởi sự quyết định của con người.
b. Nhu cầu bắt nguồn từ sự thiếu hụt của cơ thể hay phát sinh từ tiềm năng tự nhiên của con người
Câu này muốn khẳng định rằng các nhu cầu được kích hoạt bởi hoàn cảnh, bởi sự thiếu hụt về mặt thể lý hay bởi thiên hướng bẩm sinh trong bản tính con người. Chúng ta có thể nói một cách khác như sau:
1) Chúng ta không thể giản lược nhu cầu với bản năng, bởi vì bản năng bắt nguồn từ chức năng sinh học và điều khiển bởi mô hình “giải  toả căng thẳng” tự động như Freud chủ trương.[4]
2) Chúng ta cũng không thể cho rằng, bên cạnh các nhu cầu sinh lý “sơ đẳng,” thì chỉ có các nhu cầu xã hội hay nhu cầu “thượng đẳng” mà chúng ta “học được” qua  môi trường xã hội hay qua các tiến trình xã hội hoá ngẫu nhiên, qua cơ chế “tăng cường quan hệ xã hội” như chủ trương của thuyết hành vi và tân thuyết hành vi, nhất là những tác giả McClelland, Dollard và Miller.
3) Có những nhu cầu bẩm sinh gắn liền với bản tính con người và có tính phổ quát.
4) Có những nhu cầu liên quan đến mỗi cấp bậc của đời sống tâm linh (thể lý, xã hội, lý tính) với những đặc tính và đòi hỏi tương ứng. Bởi đó, chúng ta không thể giản lược các nhu cầu với một động lực cơ bản mà thôi, như thể chúng chỉ là biến thể của động lực đó, và như thế, đời sống tâm linh mới có thể phong thú hơn (vượt trên những đòi hỏi, khi đứng trên một quan điểm khác).[5]
2. Các Loại Nhu Cầu
Phần lớn các nhà tâm lý học hiện đại đều có khuynh hướng nới rộng khái niệm nhu cầu sang phạm vi lý tính – tinh thần: “Tâm lý học hiện đại  đều nói đến khuynh hướng của con người bình thường là liên tục phá vỡ sự quân bình – điều bình[6] để đạt tới những mục tiêu mới trên cấp bậc cao hơn, bằng cách chấp nhận những rủi ro và bất trắc khiến cho sự quân bình bị gián đoạn tạm thời. Khi những động cơ thúc đẩy vận hành trên bình diện nhận thức và giá trị, thì trọng tâm chi phối mọi hoạt động chính là nguyên lý mở rộng.”
Tóm lại, trên bình diện lý tính – tinh thần, chúng ta có những nhu cầu quan trọng sau đây:
  • Trên cấp bậc thuần lý: Đó là nhu cầu biết mình và môi trường chung quanh, cần một căn tính tích cực, sự an toàn, thể hiện bản thân, sáng tạo.
  • Trên cấp bậc tinh thần: Đó là nhu cầu tìm ý nghĩa, làm cho cuộc sống có “mục đích,” tìm kiếm ý nghĩa tối hậu của thực tại, thiết lập dự phóng tổng quát cho cuộc sống và hướng tới tuyệt đối.
  • Trên cấp bậc tâm lý – xã hội: Đó  là những nhu cầu trên bình diện nhóm nói chung. Đó là nhu cầu được nhóm trân trọng, nhu cầu kết bạn, khám phá môi trường và được môi trường khích lệ, có khả năng tương tác hiệu quả với thực tại.
Sau khi so sánh và phân tích cặn kẽ danh sách những nhu cầu mà các nhà tâm lý đề nghị, Murray đã nhấn mạnh một số nhu cầu quan trọng hơn trong lãnh vực tâm lý và lý tính – tinh thần. Những nhu cầu đó có thể  được xem là thành phần phổ biến trong bản tính con người. Dưới đây là định nghĩa của những nhu cầu ấy.
Bảng III. Định nghĩa các nhu cầu

Hạ mình: Chấp nhận thua kém. Chịu thua. Cam chịu số phận. Tùng phục sức mạnh ngoại giới cách thụ động. Than trách và xem thường bản thân. Sợ làm điều mình có khả năng làm được.

Thủ đắc: Thực hiện những việc có ý nghĩa. Thủ đắc điều gì đó cho mình. Không đắm mình trong những chuyện vô bổ. Xây dựng, sáng tạo và tương tác hiệu quả với môi trường; có khả năng.

Sáp nhập: Lôi kéo người khác đến với mình, thích cộng tác hay trao đổi với một đồng minh. Hợp tác, trao đổi ý kiến. Gắn bó và trung thành với bạn.

Gây hấn: Trả thù vì bị xúc phạm. Tấn công, làm tổn thương hay giết người khác. Phản đối và chống đối. Xúc phạm, hạ giá hay chế giễu người khác. Nói xấu người khác. Có đầu óc chống đối.

Tự lập: Thích tự do và tự điều khiển đời mình cách tích cực. Chống áp bức. Tránh né hay loại bỏ công việc do cấp trên áp đặt. Độc lập và tự do hành động theo chuẩn mực của mình. Chống lại sự kiềm chế và áp đặt.

Thay đổi (sự mới mẻ): Thay đổi môi trường, hoàn cảnh, công việc. Tránh thói quen và lặp đi lặp lại.

Tùng phục (chiều theo ý người khác): Cảm phục và ủng hộ bề trên. Ca ngợi, tôn vinh, tán dương bề trên. Đi theo một mẫu gương.

Thống trị: Chi phối hay điều khiển người khác bằng cách đề nghị, thuyết phục, truyền lệnh. Can ngăn, cản trở hay cấm đoán, thuyết phục,
đề nghị. Chỉ dạy, thông tin, giải thích, diễn giải, dạy dỗ, tổ chức.

Phô trương: Gây ấn tượng. Muốn được thấy và được lắng nghe. Tạo phấn khích, ngạc nhiên, dụ dỗ, căm phẫn, âm mưu hay cám dỗ người khác.

Lẫn tránh thiệt hại: Tránh thất bại, tổn thương thể lý, bệnh tật và sự chết. Thích sống trong những môi trường quen thuộc và có quy cũ. Tránh né tình huống nguy hiểm. Đắn đo cân nhắc. Giữ sự căng thẳng ở mức tối thiểu.

Tránh bị phê bình hay thất bại (phòng thủ): Rời xa những tình huống gây lúng túng và tránh né những hoàn cảnh có thể khiến mình xem thường bản thân: Sự khinh miệt, chế nhạo hay dửng dưng của người khác, tự trách. Không bao giờ chấp nhận sai lầm của mình. Biện hộ cho đến cùng. Nhất trí thụ động. Che đậy và tự vệ mà không có nguyên nhân.

Nuôi dưỡng: Thông cảm và đáp ứng nhu cầu của người yếu ớt, tàn tật, mệt nhọc, thiếu kinh nghiệm, ốm yếu, thất bại, bị xỉ nhục, cô đơn, thất vọng, đau ốm, tinh thần bối rối. Giúp đỡ kẻ gặp nguy hiểm, cung cấp thức ăn, giúp đỡ, nâng đỡ, an ủi, săn sóc, chữa trị. Một khuynh hướng vị tha bẩm sinh muốn giúp đỡ người khác.

Trật tự : Tổ chức và sắp đặt công việc một cách có ý nghĩa. Thiết lập hệ thống quy chiếu. Làm cho sự vật có ý nghĩa và chấp nhận bản chất của sự vật. Thường tự hỏi liệu việc mình làm hay muốn làm có triển vọng hay có giá trị gì không. Cân nhắc hậu quả của hành động. Không chỉ biết sự vật, mà còn biết sắp đặt mọi sự vào đúng vị trí và gán cho chúng một ý nghĩa.

Giải trí: Vui đùa mà chẳng có mục đích gì. Tìm thú vui hay phương thế thư giãn. Thích cười đùa và bông đùa, mơ mộng ban ngày.

Phản tác dụng (counteraction): Kiên trì khắc phục khó khăn, sự thất vọng, những điều nhục nhã hay tình huống gây lúng túng, bằng cách chống lại khuynh hướng tránh né, từ nhiệm hay rút lui khỏi tình huống có thể đưa đến những hậu quả trên đây.

Lòng tự trọng: Muốn có một căn tính thật sự vững bền và tích cực. Nhận biết phẩm chất của mình. Vui thích vì mình và việc mình làm. Việc biết mình được đặt trong một khung có hệ thống và thống nhất. Hội nhập các khía cạnh tiêu cực.

Thoả mãn tính dục: Sử dụng người khác như phương tiện tìm khoái lạc. Lôi kéo, chiếm hữu và bỏ rơi. Nhìn người khác như một thể xác, chứ không phải là con người tâm linh.

Nhìn nhận (quan tâm): Muốn được nhìn nhận, trân trọng, yêu mến, kính trọng và quan tâm. Giữ mình không để bị xem thường. Giữ gìn danh thơm tiếng tốt.

Thành công: Muốn thành công khi làm những việc khó khăn. Phát huy tiềm năng, phát triển bản thân, cố gắng trổi vượt hơn người khác bao nhiêu có thể bằng cách thể hiện các tài năng.

Trợ giúp: Bày tỏ thiện cảm trong việc trợ giúp đồng minh. Muốn được chăm sóc, nâng đỡ, hỗ trợ, bao bọc, bảo vệ, yêu thương, khuyên bảo, hướng dẫn, nuông chiều, tha thứ, an ủi. Muốn gần người tận tình bảo hộ.

Hiểu biết: Thoả mãn tính hiếu kỳ, thích khám phá, đặt câu hỏi. Thu lượm thông tin từ cảm nhận sơ đẳng đến trừu tượng và những lý luận cao sâu hơn. Quan sát, lắng nghe, sờ mó đồ vật, và giải thích lập trường của mình đối với thực tại.

Qua danh sách trên, bạn có thể nhận thấy nội dung của các  nhu cầu có thể tương phản với nhau. Một lần nữa, chúng ta đối diện với sự phức tạp và mâu thuẫn của con người.

3. Kinh Nghiệm về Các Nhu Cầu
Đến đây, chúng ta có thể tìm hiểu một vài yếu tố nhằm giải thích tại sao nhu cầu này lại trổi vượt nhu cầu kia.
a. Trước hết, sự trổi vượt của một nhu cầu là do nhu cầu đó chịu một sức ép mạnh hơn các nhu cầu khác. Rõ ràng là không phải mọi người đều có kinh nghiệm như nhau về các nhu cầu; và ngay cả trong chính bản thân mỗi người, các nhu cầu cũng không tạo nên một sự thúc ép ngang nhau.
b. Một yếu tố khác liên quan mật thiết đến sức ép của nhu cầu là mối tương quan giữa nhu cầu và lòng tự trọng.
c. Cuối cùng, điều rất hệ trọng là chủ thể có ý thức về nhu cầu của mình hay không. Nếu anh ta hiểu và nhìn nhận nhu cầu của mình cùng với sự lẫn tránh tinh vi, bấy giờ anh ta biết rõ cảm xúc của mình và nguyên nhân của các thúc bách nhất định. Trong trường hợp đó, anh ta có thể chọn một lập trường và quyết định một cách có trách nhiệm. Trái lại, nếu nhu cầu đó ẩn khuất trong vô thức, anh ta sẽ không thể hiểu điều gì đang xảy ra trong lòng. Anh ta có thể nhận biết sự thúc bách và hậu quả của nó, nhưng không thể biết được nguyên nhân, thậm chí anh ta biện minh cho sự thúc bách đó (“Tôi muốn hy sinh bản thân để phục vụ  tha nhân,” nhưng thực chất là để phô trương). Do đó, anh ta ít có khả năng kiểm soát nhu cầu của mình, và vì nhu cầu đó ẩn khuất trong vô thức, nên đời sống của anh ta có thể bị xáo trộn mà anh không biết tại sao.
Như chúng ta đã thấy, nhu cầu tự nó không phải là yếu tố quyết định của hành động. Để cho một nhu cầu được cụ thể hoá bằng hành động, thì còn có sự góp phần của những yếu tố khác.
B. Thái Độ
“Thái độ là một thiên hướng của tinh thần và não bộ trong việc đáp lại tác nhân kích thích. Thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệm và điều khiển hành vi.” Đó là định nghĩa của Allport. Ngoài ra, ít nhất còn có hai định nghĩa khác có thể giúp chúng ta hiểu bản chất của thái độ rõ hơn. Thứ nhất là định nghĩa của Katz: “Thái độ là thiên hướng của chủ thể trong việc đánh giá các biểu tượng, đồ vật hay các khía cạnh của thế giới cách thuận lợi hay không thuận lợi.” Thứ hai là định nghĩa của Rokeach: “Thái độ là một hệ thống niềm tin tương đối bền vững đối với một đối tượng hay một hoàn cảnh, và thúc đẩy chủ thể đáp lại đối tượng hay hoàn cảnh với một sự ưu tiên nhất định.”
Có một số yếu tố chung mà chúng ta cần lưu ý:
1. Cả ba tác giả đều coi thái độ như một thiên hướng trong việc đáp lại đối tượng. Do đó, thái độ là một yếu tố  đi trước hành động (hiểu là động tác bên ngoài); một cách nào đó, thái độ đi trước dọn đường và đưa đến hành động, đồng thời góp phần làm cho hành động có một mục đích và một cách ứng xử, nhưng không bao giờ lẫn lộn với hành động.
2. Ba định nghĩa trên, theo những cách thức khác nhau và bổ túc cho nhau, đều nhấn mạnh những cấu tố của thái độ: Nhận thức, cảm tính và ý muốn.
  • Cấu tố nhận thức ám chỉ cách thức chủ thể nhận biết đối tượng của thái độ, liên quan đến khái niệm. Theo nghĩa đó, thái độ là một quan điểm
  • Cấu tố cảm tính cho thấy chủ thể cảm thấy bị thu hút hay gớm ghét đối tượng của thái độ. Cấu tố này là “yếu tố nòng cốt” của thái độ.
  • Cấu tố ý muốn (thúc bách hành động) cho thấy xu hướng của chủ thể khi cư xử với đối tượng.
3. Anh hưởng của thái độ đối với hành vi không chỉ mang tính chất hướng dẫn, nhưng còn có tính năng động.
4. Mặc dầu chúng ta đang dừng lại ở phạm vi định nghĩa, chúng ta hãy tìm hiểu vai trò đặc biệt của “thái độ” so với những khái niệm khác liên quan đến hành vi.
Thái độ khác với nhu cầu: Nhu cầu là xu hướng bẩm sinh, trong khi thái độ là một xu hướng thủ đắc nhờ kinh nghiệm. Vì thế, nhu cầu có tính phổ quát, còn thái độ có tính chất đặc trưng và cá biệt.
Thói quen là một thái độ thường đưa đến hành động và luôn luôn được biểu lộ bằng một cách thức như nhau.
Quan điểm chỉ là cấu tố nhận thức mà thôi, trong khi thái độ còn bao gồm cả cấu tố cảm tính và ý muốn. Chúng ta có thể thay đổi quan điểm dễ dàng, bằng cách thay đổi yếu tố nhận thức; còn thái độ thì chống lại việc thay đổi, vì cấu tố cảm tính không dễ bị thay đổi vì những sự kiện hay thông tin mới.
Đặc điểm ám chỉ khả năng đáp lại tác nhân kích thích (những kiểu hành động thông thường), còn thái độ chỉ biểu lộ một xu hướng đáp lại tác nhân kích thích.
Tóm lại, thái độ thì linh động hơn thói quen và khó thấy hơn thói quen, hướng đến các đối tượng xã hội có đặc điểm nhân cách, ít tính chất toàn diện hơn hệ thống giá trị, có khả năng điều khiển hơn quan điểm, độc đáo hơn là toàn bộ các động cơ.
1. Chức Năng Của Thái Độ
Vì thái độ không trực tiếp đồng hoá với hành động, cho nên thái độ không chỉ có một lối diễn giải mà thôi (hành vi có ý nghĩa gì). Mọi thái độ đều có hai mặt: Phát biểu và không phát biểu, biểu lộ và không biểu lộ. Khi đối diện với một thái độ, trước hết chúng ta phải tìm hiểu lý do của thái độ đó. “Tại sao tôi tỏ thái độ ân cần tử tế? Tại sao tôi chống đối? Tại sao tôi giữ lập trường?…” Chúng ta có thể đưa ra những trả lời khác nhau, bởi vì thái độ có những chức năng khác nhau.
Chúng ta hãy xem các trường hợp sau đây:
– Thái độ sẵn sàng giúp đỡ tha nhân có thể biểu lộ đức tính hiến thân, nhưng cũng có thể là phương tiện để thoả mãn nhu cầu phô trương.
– Đứng về phe đối lập có thể là vì yêu mến sự thật, nhưng cũng có thể là phương tiện để giải tỏa sự gây hấn và gây chú ý.
– Tôn trọng ý kiến người khác có thể biểu lộ sự cởi mở, nhưng cũng có thể phát xuất từ mặc cảm tự ty, không cho người ta bộc lộ bản thân một cách thoải mái.
Những động cơ thấp kém này thường là vô thức mà chúng ta không nhận ra.
– Người ta có thể chân thành hy sinh bản thân để phục vụ tha nhân mà không hề biết rằng anh ta chỉ dừng lại ở giai đoạn ấu trĩ nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Khi lòng nhiệt thành ban đầu phai nhạt, sự quan tâm phục vụ cũng nhạt nhòa.
– Người ta có thể phụng sự chân lý mà không biết rằng mình đang ở trong giai đoạn phủ nhận. Anh ta chỉ cảm thấy có giá trị khi chống đối. Vì thế, nếu phải hy sinh bản thân, anh sẽ kháng cự.
– Người ta có thể nghĩ mình có tinh thần dân chủ, nhưng thật ra anh ta không đủ can đảm theo đuổi lý tưởng của mình và không có khả năng biện minh cho chọn lựa của mình.
Tuy vậy, trên thực tế thì các chức năng khác nhau cùng hiện diện trong một thái độ. Chúng ta hãy khảo sát riêng từng chức năng để hiểu rõ hơn.
a. Chức Năng Vi Lợi:
Người ta giữ một thái độ khi thái độ đó có lợi cho mình. Mối lợi đó có thể trực tiếp hay gián tiếp, nhằm tìm kiếm phần thưởng (mối lợi) hay tránh sự trừng phạt (mối nguy).
Mối lợi đó liên kết với các nhu cầu của chủ thể, nhưng chủ thể không nhận thấy sự liên kết giữa mối lợi đó với nhu cầu của mình. Chức năng này cho thấy rằng chúng ta đều có khuynh hướng làm gia tăng phần thưởng và giảm thiểu sự trừng phạt của thế giới bên ngoài. Đứa trẻ tỏ thái độ tích cực với những đối tượng làm nó hài lòng và tỏ thái độ tiêu cực với những đối tượng không làm cho nó vừa lòng. Tóm lại, chức năng vị lợi nhằm:
a. Giành lấy phần thưởng, hay
b. Tránh điều đáng ghét.
b. Chức Năng Tự Vệ
Nếu chức năng vị lợi cho phép chúng ta thiết lập tương giao hài hoà với người khác, thì chức năng tự vệ cho phép chúng ta quan hệ hài hoà với mình. Thích ứng với người khác đã là việc khó; nhưng thích ứng với bản thân lại là việc hệ trọng hơn, nhất là khi chúng ta trải nghiệm những thúc bách mà chúng ta không thể chấp nhận được. Trong khi chức năng vị lợi giúp chúng ta tránh khỏi bị xã hội trừng phạt, thì chức năng tự vệ giúp chúng ta thoát khỏi những mối đe doạ từ bên trong: Chúng ta tỏ thái độ với mục đích giữ lòng tự trọng, bảo vệ lòng tự trọng khỏi những đe doạ mà chúng ta nhận thấy một cách ý thức hoặc vô thức.  Thái độ tự vệ cản trở chúng ta nhận biết sự thật của mình. Ở đây, nhu cầu cơ bản là bảo vệ hình ảnh của mình bằng mọi giá.
Với chức năng tự vệ, người ta có xu hướng che đậy sự ấu trĩ mà người ta không muốn chấp nhận bằng những hành động hoàn toàn trái ngược. Đó là trường hợp người lệ thuộc cảm xúc, anh ta hăng say làm những việc hy sinh để che đậy nhu cầu muốn được yêu thương.
c. Chức Năng Diễn Đạt Giá Trị
Ngoài chức năng vị lợi và tự vệ, thái độ còn cung cấp phương tiện để có một cuộc sống tốt hơn và diễn đạt những giá trị mà chúng ta tin là mục tiêu của đời sống.
Với thái độ diễn đạt giá trị, chủ thể hành động vì  tin, chứ không nhắm mục đích vị lợi hay tự vệ.
d. Chức Năng Hiểu Biết
Đó là khi chúng ta tỏ thái độ nhằm đạt được một sự hiểu biết toàn nhập về mình và thế giới (thường được đơn giản hoá). Mọi người đều cần một khung quy chiếu để hiểu thực tại. Do đó, thái độ hiểu biết, chủ yếu là thái độ của trí tuệ, là yếu tố cấu thành các phạm trù và những điều khái quát, nhờ đó chúng ta đơn giản hoá sự phức tạp của thế giới và đưa ra một mô hình (tức là những nét khái quát của nhận thức và hành vi) để đáp lại thực tại cách thích hợp.
2. Sự Hình Thành Các Thái Độ
Theo McGuire thì thái độ được cấu thành bởi nhiều  nhân tố:
  • Nhân tố thể lý: Các thái độ liên quan đến tuổi tác, sự mạnh khoẻ hay bệnh tật.
  • Nhân tố xã hội: Tác động của những người xung quanh, những hình thức giao tiếp bằng lời và không lời, quảng cáo, văn hoá nhóm, thể chế, v.v…
  • Kinh nghiệm trực tiếp của chủ thể: Cách nhận thức thực tại, ký ức cảm xúc, hy vọng về tương lai, các chấn thương, các giai đoạn quan trọng trong sự phát triển…. Có một vô thức cảm xúc (emotional unconscious) chịu trách nhiệm chính về việc hình thành các thái độ cảm xúc hay cấu tố cảm xúc của thái độ.
E. Các Giá Trị
Bây giờ chúng ta đề cập thuộc tính thứ ba của nhân cách: Đó là các giá trị. Giá trị khác với nhu cầu, bởi vì giá trị thì không “thúc bách,” nhưng “lôi cuốn” con người hành động.
1. Định Nghĩa:
Giá trị là lý tưởng bền vững và trừu tượng liên quan đến lối sống hiện nay cũng như mục tiêu cuối cùng của cuộc sống.
Qua định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy hai loại giá trị:
  • Giá trị tối hậu (terminal) liên quan đến cùng đích cuối cùng của cuộc đời mà con người muốn đạt đến
  • Giá trị  công cụ (instrumental) liên quan đến những cách thức hành động cần thiết, nếu chúng ta muốn đạt đến cùng đích cuối cùng. Đó là hai đòi hỏi mà chúng ta không thể từ chối (nỗi đau của khủng hoảng căn tính). Mỗi người phải quyết định về đời mình: Tôi muốn trở nên loại người nào? Làm thế nào để trở nên như thế? Tôi chọn những mục tiêu nào để thực hiện và chọn những tiêu chí nào để hành động?
Hai loại giá trị trên đây nằm trong một hệ thống các giá trị, trong đó giá trị tối hậu nằm (hay phải nằm) ở chóp đỉnh và giá trị công cụ thì lệ thuộc giá trị tối hậu. Giá trị tối hậu là giá trị tự thân, còn giá trị công cụ chỉ là phương tiện. Ví dụ, đức nghèo tự nó không có ý nghĩa gì trong đời sống Kitô hữu; nhưng là phương tiện để đạt được mục tiêu là bước theo Đức Kitô, điều này mới có ý nghĩa.
2. Các Cấu Tố
Giống như thái độ, giá trị cũng có các yếu tố nhận thức, cảm tính và ý muốn. Yếu tố nhận thức thì quá hiển nhiên: Để đối tượng trở nên một giá trị, trước hết chúng ta phải nhận biết đối tượng đó. Khi chúng ta có một giá trị, chúng ta phải biết cách hành động đúng và biết rõ mục đích cuối cùng mà ta nhắm tới. Tuy nhiên, biết mà thôi thì chưa đủ; chúng ta cần có yếu tố cảm tính, bởi vì chúng ta phải cảm nghiệm giá trị như nguồn mạch của năng lực và tác nhân kích thích hoạt động. Đàng khác, chúng ta cần có yếu tố ý muốn để giá trị có thể trở nên nguồn năng lực: Giá trị không chỉ là đối tượng để chiêm ngưỡng, nhưng phải được cụ thể hoá bằng hành động.
3. Giá Trị và Thái Độ
Giá trị là xu hướng tổng quát chứa đựng nhiều tiềm năng để biến thành hành động, còn thái độ liên quan đến các hoạt động và các hình thức hoạt động đặc thù hơn. Vì thế, người trưởng thành có thể có nhiều thái độ, nhưng thường chỉ có một vài giá trị chính yếu.
Giá trị là mục tiêu cuối cùng của cuộc sống; thái độ là phương tiện để biến giá trị thành hành động.
4. Giá Trị và Nhu Cầu
Nhu cầu thì bẩm sinh, còn giá trị là hoa trái của một chọn lựa tự do và có trách nhiệm mà chúng ta tiếp thu hay khám phá được bằng cách này hay bằng cách khác.
Nhu cầu chỉ nhắm đến khía cạnh vụ lợi mà đối tượng mang lại (“cho tôi”); trái lại, giá trị giúp chúng ta  nhận biết sự thật và giá trị nội tại của thực tại (“giá trị tự thân”).
Như thế, các nhu cầu chuyển động trong phạm vi nội tại, còn gía trị chuyển động trong phạm vi siêu việt. Giá trị là một khái niệm siêu việt, bởi vì giá trị bắt rễ từ tính khách quan của hữu thể, chứ không dựa trên sự đánh giá chủ quan của cá nhân.[7]
5. Giá Trị và Quy Tắc
Có ba điểm  khác biệt giữa giá trị và quy tắc:
a. Trước hết, giá trị nói đến quan điểm về cuộc sống, còn quy tắc nói đến cách sống. Do đó, quy tắc chỉ là dụng cụ chứ không bao giờ cùng đích.
b. Giá trị thì siêu việt các tình huống cụ thể, còn quy tắc là quy định cụ thể trong khi hành động (hay không được hành động), trong một tình huống rõ ràng.
c. Giá trị có tính chất cá nhân và nội giới, hình thành bởi xác tín, còn quy tắc có tính ngoại giới và dựa trên sự đồng thuận.
6. Các Loại Giá trị
Theo Frankl, có thể nêu ra ba hình thức diễn tả của giá trị, tương ứng với các chức năng. Ba loại giá trị sau đây có thể làm cho cuộc sống có ý nghĩa:
a. Giá trị sáng tạo là những gì chúng ta đóng góp cho đời bằng cách phát huy những quà tặng và tài năng.  Chính khả năng sáng tạo mang lại giá trị cho cuộc sống, chứ chúng ta không buộc phải làm những chuyện vĩ đại thì cuộc sống mới có giá trị.
b. Giá trị thực nghiệm là những điều chúng ta nhận được từ cuộc sống, như khả năng trải nghiệm thực tại cách tích cực (ví dụ vẻ đẹp thiên nhiên, công trình nghệ thuật, một thời điểm đầy ý nghĩa nào đó…). Sự thiện và vẻ đẹp hiện diện trong cuộc sống mỗi người; khả năng thưởng thức sự thiện và vẻ đẹp mang lại cho đời sống giá trị thực nghiệm; khả năng đó làm cho đời sống chúng ta nên phong phú và giúp chúng ta hoà hợp với cuộc sống.
c. Giá trị thái độ[8] ám chỉ thái độ tổng quát của chúng ta đối với cuộc sống, nhất là lập trường của chúng ta khi đứng trước một thực tại bất biến của cuộc sống (số phận). Nói cách khác, đó là khả năng mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, chấp nhận cuộc sống “cách tự do,” ngay cả những hoàn cảnh bi đát không thể tránh như bệnh tật, hay những hoàn cảnh hữu hạn (thể lý, tâm lý và luân lý) vốn là một phần trong cuộc sống con người.
7. Các Chức Năng của Giá Trị
Giá trị có công dụng gì? Tại sao chúng ta theo đuổi các giá trị? Những gì chúng ta đã nói về 4 chức năng của thái độ cũng áp dụng cho giá trị.[9] Chúng ta có thể theo đuổi một giá trị vì mục đích vị lợi hay để bảo vệ hình ảnh bản thân, bởi lẽ các giá trị tự bản chất thì đúng và có khả năng lý giải thực tại. Tuy vậy, các giá trị có hai chức năng đặc trưng.
– Cung cấp căn tính cho chủ thể.
– Làm nhân tố thúc đẩy toàn thể đời sống tâm linh.
8. Đi Tìm Các Giá Trị
Chúng ta không thể sống nếu không có các gía trị, hay nói cách khác, đời sống chúng ta không thể trung lập. Thật vậy, trong thâm cung lương tâm hay trong mầu nhiệm vô thức, mọi người đều có những lý tưởng, một triết lý sống hay một “tôn giáo” riêng cho mình. Nếu ai nghĩ rằng chẳng gì có ý nghĩa,  thì anh ta được tự do “chơi theo luật chơi của mình,” thậm chí đó chính là một ý thức hệ, là tiêu chuẩn hành động và “biểu tượng của sự bất tử” mà anh ta chọn” (dù không nói ra).[10] Vì lẽ đó, tâm lý học xem các giá trị là một cấu tố tự nhiên và điểm quy chiếu cơ bản của đời sống tâm linh. Tâm lý học còn đi đến chỗ tuyên bố rằng “những hành động của chúng ta, trong tư cách là những người trưởng thành, tác giả của những quyết định và là con người, được nối kết với nhau nhờ các giá trị làm trung gian,” và “mọi quyết định đều bao hàm một sự phán đoán mặc nhiên về các giá trị.” Bất kể các giá trị đó là gì đi nữa, thì đó cũng là những gía trị mà chúng ta tiếp thu qua môi trường văn hoá; tuy nhiên chúng ta cần đánh giá lại các giá trị, vì giá trị là một cấu tố thiết yếu của tinh thần con người.
9. Tính Khách Quan Của Các Giá Trị
Không phải bất cứ giá trị nào mà chúng ta khao khát cũng có thể thoả mãn nhu cầu tự nhiên trong việc tìm kiếm ý nghĩa, nhưng chỉ các giá trị tôn trọng đặc tính riêng của việc tìm kiếm đó, tức là xu hướng tiệm tiến nhắm đến việc siêu việt. Tâm lý học không có nhiệm vụ chỉ rõ và xác lập các giá trị, nhưng có thể khẳng định là cần phải có các giá trị khách quan, bởi vì chỉ các giá trị đó mới thích hợp và thoả mãn xu hướng tâm linh.
10. Tự Do Liên Quan Đến Giá Trị
Các giá trị được giới thiệu với con người như những mệnh lệnh, nhưng không có tính cưỡng bức. Các giá trị cần được thể hiện,  nhưng vẫn để cho con người tự do thực hiện hay không thực hiện. Như  vậy, các giá trị thi hành một loại chức năng bó buôc, nhưng sự bó buộc này vẫn để con người tự do.
11. Giá trị và Nguồn Mạch Tôn Giáo (Religious Source)
Vấn đề giá trị tối hậu chắc chắn đòi buộc con người phải đối diện với  vấn đề tôn giáo. Tự chất vấn về ý nghĩa của đời sống tức là đặt câu hỏi về nguồn gốc và số phận của con người, về việc con người lệ thuộc một nguồn mạch căn bản. Vấn đề ở đây là: Nguồn mạch nào? Nói chính xác hơn, đó là câu hỏi “ Thiên Chúa nào đây?”  Hay nói theo ngôn ngữ Kinh Thánh, nguồn mạch đó là Thiên Chúa hay ngẫu tượng?[11] Nói cách khác, đời sống con người không thể trung lập dưới quan điểm tôn giáo, bởi vì không ai hiện hữu mà không có vấn đề tôn giáo.
Nguồn mạch tôn giáo dường như đáp ứng những đòi hỏi mà khoa tâm lý nêu ra như chúng ta đã thấy trên đây.
Nguồn mạch tôn giáo tôn trọng xu hướng tự siêu việt của con người, cả chiều ngang lẫn chiều dọc, và khuyến khích xu hướng đó – thúc đẩy một cách nào đó, mà với những lý tưởng thấp kém hơn, người ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Sau hết, nguồn mạch tôn giáo quan hệ rất mật thiết với chiều kích luân lý. Nguồn mạch tôn giáo không phải là một thực tại hoàn toàn trừu tượng hay lý thuyết, nhưng là sinh lực của đời sống là nơi mà con người lấy quyết định.
Hơn nữa, nguồn mạch tôn giáo không phải là điều chung chung, nhưng cho chúng ta khả năng đánh giá tư cách đạo đức của mình.
Chúng ta có thể kết luận: Dưới quan điểm của khoa tâm lý học, việc chọn theo một tôn giáo là hoàn toàn hợp lý. Việc chọn lựa đó hoàn toàn hợp lý vì tính khách quan và siêu việt của tôn giáo, vì tôn giáo tôn trọng con người và những đòi hỏi của con người, đồng thời có khả năng trả lời cho những vấn đề trọng yếu của con người.
TIẾN TRÌNH QUYẾT ĐỊNH:
ƯỚC MUỐN CẢM TÍNH VÀ ƯỚC MUỐN LÝ TÍNH[12]
Con người có cảm xúc và lý trí, và khi con người lấy quyết định thì những yếu tố của cảm xúc và lý trí tương tác với nhau.
Trước khi chúng ta quyết định hành động, thì trong nội tâm có một diễn biến: Chúng ta thấy, nhớ lại quá khứ, chờ đợi kết quả, chúng ta đánh giá, lượng giá lại và quyết định.
Trước khi hành động, chúng ta cần có kinh nghiệm, đánh giá và phê phán. Tiến trình quyết định luôn luôn bắt đầu với một “ước muốn cảm tính,” và có thể kèm theo “một ước muốn lý tính.” Sự tiếp cận đầu tiên với thực tại luôn luôn tạo nên cảm xúc. Khi một sự vật đụng chạm và thu hút tâm trí chúng ta, trước tiên chúng ta cảm nhận, sau đó mới lý luận. Do đó, có một sự tương tác giữa cảm xúc và lý trí. Chúng ta có thể xác định hai loại tiến trình làm cơ sở cho việc quyết định:
Ước muốn cảm tính: Đó là sự đánh giá đối tượng ngay tức khắc, dựa trên tiêu chuẩn “tôi thích / tôi không thích.” Ở đây, tiến trình hoạt động trên cấp bậc tâm-sinh lý và tâm lý-xã hội. Đó là tiến trình của cảm xúc, tuân theo tiêu chuẩn sở thích: Chủ  thể đánh giá và hành động theo những tiêu chuẩn chỉ liên kết với “nơi đây và lúc này.” Đối tượng được đánh giá là đáng ưa hay đáng ghét vào một thời điểm và nơi chốn nhất định, bởi vì chủ thể sử dụng trực giác để nhận biết đối tượng có thể thoả mãn nhu cầu của mình hay không. Nếu đánh giá đối tượng là đáng yêu, người ta bị thúc bách hướng về đối tượng. Nếu đánh giá là đáng ghét, người ta có xu hướng lẫn tránh đối tượng.
Ước muốn lý tính: Đây là sự đánh giá thứ phát và có suy nghĩ, dựa trên tiêu chuẩn “có lợi / không có lợi cho tôi.” Trong trường hợp này, tiến trình hoạt động trên cấp bậc lý tính. Ơ đây, chúng ta không đánh giá đối tượng dựa trên sự thích thú tức thời của cảm xúc, mà dựa trên các giá trị và mục tiêu mà chúng ta đã đề ra. Lý trí tuân theo tiêu chuẩn phổ quát và không mâu thuẫn: Lý trí tìm hiểu, tương tác và đánh giá đối tượng dưới ánh sáng của các giá trị trừu tượng.
Ước muốn cảm tính và ước muốn lý tính
Ước muốn  cảm tính 

Tri giác nhận thức -> ký ức cảm xúc -> tưởng tượng về tương lai ->  đánh giá theo trực giác -> cảm xúc -> (thúc bách hành động)
Ước muốn  lý tính
Phán đoán có suy nghĩ và phê phán tiến trình ước muốn cảm tính -> cảm xúc tiêu biểu của con người -> (hành động chín chắn)
A. Ước Muốn Cảm Tính
1. Tri Giác Nhận Thức
Trước khi hành động, chúng ta cần nhận thức đối tượng một cách nào đó, thậm chí không phải lúc nào cũng chính xác. Chúng ta có thể nói tri giác nhận thức nắm bắt chính sự vật, không lệ thuộc bất cứ phản ứng cảm xúc nào của chủ thể. Đó là sự hiểu biết đơn thuần về một đối tượng (yếu tố nhận thức).
2. Đánh Giá Bằng Trực Giác
Chúng ta chưa bước lên cấp bậc suy nghĩ, mà chỉ dừng ở chức năng cảm nhận và thống nhất. Việc đánh giá này tiếp nối và hoàn thành việc tri giác nhận thức, đánh giá mối quan hệ giữa đối tượng và chủ thể. Đây chưa phải là một sự đánh giá có kiểm chứng như phán đoán, nhưng chỉ là một sự lôi cuốn – ghê tởm đối với đối tượng hay tình huống.
3. Cảm Xúc
Khi tôi đánh giá một sự vật là tốt / xấu, tôi liền có xu hướng đến gần hay tránh xa sự vật đó. Như thế là có một chuỗi  hành động nối tiếp nhau: Tri giác nhận thức – đánh giá theo trực giác – cảm xúc. Cảm xúc là xu hướng đến gần đối tượng mà trực giác đánh giá là tốt, hay tránh xa đối tượng mà trực giác đánh giá là xấu (yếu tố ý chí).
Chúng ta có thể nói cảm xúc là một hình thức hiểu biết: Chúng ta quan sát tình huống với con mắt thích / không thích.
B. Ước Muốn Lý Tính
Người ta thường hành động theo khuynh hướng mang lại cho mình sự thích thú, trừ phi lý trí ra tay can thiệp. Đó là một tiến trình thẩm tra nhằm sàng lọc những kết quả đã gặt hái được.
Con người khác loài vật, bởi vì loài vật hoàn toàn bị điều khiển bởi bản năng sinh học và đáp ứng theo khuôn mẫu có sẵn. Ngoài ước muốn cảm tính, con người còn có một cách thức đáp ứng đặc trưng, có khả năng đưa ra những phán đoán có suy nghĩ.
1. Đánh Giá Có Suy Nghĩ
Khi con voi dùng chân kiểm tra mặt đất, nó phán đoán theo giác quan. Khi nhà vật lý thử nghiệm các giả thuyết, ông phán đoán bằng lý trí. Sự đánh giá thứ nhất giới hạn trong việc tìm kiếm các dữ liệu do cảm giác cung cấp và nối kết chúng với từng đối tượng. Trái lại, sự đánh giá thứ hai dựa trên việc lý giải các dữ liệu và từ đó rút ra một vài điều tổng quát (cấp bậc 3 của đời sống tâm linh).[13] Sự đánh giá bằng trực giác không được kiểm chứng một cách có ý thức, mà chỉ là xu hướng có thiện cảm / không thiện cảm với một sự vật làm cho ta thích thú / không thích thú. Trái lại, sự đánh giá lý tính thì có ý thức và đối tượng mà chủ thể đánh giá là toàn thể quá trình phán đoán theo bản năng, được duyệt lại dưới ánh sáng của tiêu chuẩn “có lợi / không có lợi cho tôi.” Đây là một tiêu chuẩn mà chúng ta không được hiểu theo nghĩa vụ lợi, mà là đánh giá đối tượng trong tương quan với việc thực hiện các giá trị và mục tiêu mà chủ thể đã chọn: Điều làm tôi thích thú lúc này đây có hữu ích cho tôi không? (Đó là một câu hỏi mà chúng ta thường không đặt ra, bởi vì nó làm chúng ta bối rối).
Do vậy, ước muốn lý tính thì có khả năng siêu việt tình huống và các lợi ích tức thời của giây phút hiện tại, để đánh giá các dữ kiện dưới một tiêu chuẩn phổ quát  hơn (nguyên tắc toàn diện). Tiêu chuẩn tốt / xấu-đối-với-tôi, mà tôi dùng để đánh giá, không có cùng một ý nghĩa đối với ước muốn  cảm tính và ước muốn lý tính. Đối với ước muốn cảm tính, chủ thể cảm thấy đối tượng làm cho mình hài lòng / không hài lòng, chấp nhận được / không chấp nhận được. Đối với ước muốn lý tính, chủ thể chọn lựa không chỉ dựa trên sự thu hút của đối tượng, mà còn dựa trên sự thích đáng của đối tượng đối với chủ thể hay có hại cho chủ thể, cho dù chủ thể cảm thấy đối tượng đáng yêu. Tiêu chuẩn “có lợi cho tôi” vượt lên trên lợi ích phiến diện của cái tức thời. Hành vi ý chí không chỉ là một khuynh hướng đi đến hành động nhờ sự phán đoán trực quan, nhưng cũng đòi chủ thể phải lấy một quyết định có suy nghĩ trước khi hành động.
2. Cảm Xúc
Sự đánh giá có suy nghĩ làm phát sinh một cảm xúc (khuynh hướng muốn hành động), cảm xúc này có bản chất lý tính. Đó là một loại cảm xúc mà thú vật không có. Chủ thể cảm nghiệm một sự bình an và tự do nội tâm sau khi nhận thấy mình đã làm điều tốt và mình là tạo vật có lý trí và tự do. Trong trường hợp chủ thể không làm điều tốt, bấy giờ chủ thể cảm thấy có tội; đó là một cảm xúc lành mạnh và có suy nghĩ.
C. Các Biến Tố (Variable) Trung Gian
Do đó, việc quyết định diễn tiến như sau: Tri giác nhận thức – đánh giá bằng trực giác – cảm xúc có xu hướng đi đến hành động – đánh giá có suy nghĩ – xu hướng đi đến hành động. Tuy nhiên, quá trình quyết định không đơn giản như thế. Mỗi quyết định đều được tháp nhập với sự phát triển của con người và đặt trong bối cảnh hiện nay của toàn thể nhân cách. Hôm nay chịu ảnh hưởng của quá khứ (ký ức) và tương lai (hy vọng).
Tiến trình quyết định còn bị chi phối bởi những biến tố mà chúng ta sẽ khảo sát dưới đây.
1. Ký ức
Chất liệu chủ yếu giúp chúng ta suy tư và lý luận là ký ức. Ký ức là kho lưu trữ thông tin, nhờ đó mà chúng ta có thể hồi tưởng những sự kiện đã qua. Nhờ ký ức mà chúng ta có thể sử dụng khái niệm thời gian, khi chúng ta dựa vào quá khứ mà xem xét hiện tại và dự báo tương lai.
Mỗi tình huống mới làm chúng ta nhớ lại những tình huống tương tự chúng ta đã trải nghiệm trong quá khứ và những tác động của chúng đối với chúng ta. Nhớ lại tức là đưa ra một vài chỉ dẫn mà chúng ta đã học được trong việc đối phó với các tình huống trong quá khứ, để có thể áp dụng cho tình huống hiện nay. Có nhiều loại lý ức:
a. Ký Ức Phục Hồi (re-integrating)
Sử dụng một phần các dấu hiệu hiện tại để dựng lại một kinh nghiệm cũ. Hôm nay có một điều gì đó khiến chúng ta “nhớ lại” một giai đoạn trong quá khứ. Chúng ta không chỉ dựng lại nội dung của giai đoạn đó, mà cả mối liên hệ với thời gian và không gian.
b. Nhận Ra (recognition)
Đó là một cảm giác quen thuộc khi chúng ta nhận ra điều mà chúng ta đã thấy trước đây.
c. Hồi Tưởng (recalling)
Đó là duy trì một hoạt động mà chúng ta đã học trong quá khứ và hôm nay chúng ta có thể lặp lại.
d. Học Lại (re-learning)
Nếu chúng ta học lại một điều quen thuộc, chúng ta có thể thuộc nhanh hơn điều hoàn toàn mới.
e. Ký Ức Cảm Xúc (affective memory)
Một khi chúng ta đã trải nghiệm một cảm xúc nào đó, thì chúng ta dễ cảm nghiệm lại cảm xúc đó. Điều đó giúp ích cho việc quyết định. Vì thế, chúng ta sẽ tập trung vào loại ký ức này. Khi chúng ta đánh giá một tình huống hiện nay, chúng ta cũng nhớ lại những điều đã xảy ra trong tình huống tương tự, những điều đã tác động trên chúng ta và chúng ta đã đối phó với chúng như thế nào. Rồi chúng ta hình dung ra những điều hiện nay đang tác động trên chúng ta và chúng ta xem xét (theo bản năng hay bằng lý trí)  liệu chúng có gây thiệt hại cho chúng ta hay không. Do đó, ký ức cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá và diễn giải mọi sự chung quanh chúng ta. Nhờ ký ức cảm xúc mà phản ứng cảm xúc trong quá khứ trở nên sắc bén hơn. Bởi thế, khi người ta trải qua một tình huống tương tự như trong quá khứ, người ta dễ có những phản ứng cảm xúc mà mình đã trải qua trong hoàn cảnh ấy.
(1) Ký ức cảm  xúc bắt nguồn từ đâu?
Mọi kinh nghiệm mà chúng ta đã trải qua đều để lại dấu ấn cảm xúc trong tâm trí mà chúng ta không đương nhiên ý thức. Chúng ta có thể quên diễn biến, thời gian và nơi chốn của kinh nghiệm đó, nhưng cảm xúc kèm theo kinh nghiệm đó thì vẫn tồn tại trong chúng ta. Trong quá khứ, có thể là chúng ta chỉ có một kinh nghiệm đầy cảm xúc hay nhiều kinh nghiệm hoàn toàn vô nghĩa, nhưng nói chung thì những kinh nghiệm đó đã để lại cảm xúc hài lòng hay không hài lòng. Dấu ấn cảm xúc đó không biến mất: Người già đãng trí có thể quên quá khứ, nhưng không quên những cảm xúc mà mình đã trải nghiệm trong quá khứ. Ký ức cảm xúc thường được gọi là ký ức của con voi. Nó là một đĩa ghi âm lưu trữ lịch sử cảm xúc của mỗi người. Người ta có thể quên các sự kiện nhưng không quên cảm xúc kèm theo các sự kiện. Ký ức cảm xúc nằm trong vô thức và sẵn sàng đâm chồi khi gặp hoàn cảnh tương tự.
(2) Ký ức cảm xúc vận hành như thế nào?
Ký ức cảm xúc tuân theo nguyên tắc đồng dạng thật hay đồng dạng biểu tượng. Nếu chúng ta buồn hay vui vì một nguyên nhân nào đó trong quá khứ, thì khi nguyên nhân đó tái xuất hiện, nó cũng sẽ làm cho chúng ta có cảm xúc tương tự như trong quá khứ. Nếu một đứa trẻ đã bị phỏng ngón tay vì cây nến, thì mỗi khi nhìn thấy cây nến, nó sẽ có cảm xúc “lo âu đề phòng.” Nếu tôi tương quan thân mật với những nhân vật quan trọng trong quá khứ, tôi cũng dễ giao tiếp thanh thản với những nhân vật quan trọng hiện nay. Sự đồng dạng giữa quá khứ – hiện tại chỉ xảy ra trên bình diện chủ quan: Trong trường hợp đó, giữa quá khứ và hiện tại có một quan hệ biểu tượng, thường có tính chất vô thức và do các nhu cầu mâu thuẫn gây ra. Vì lẽ đó, chủ thể nối kết hoàn cảnh hiện tại và những cảm xúc quá khứ một cách không tương ứng
(3) Ký ức cảm xúc  ảnh hưởng trên nhận thức
Như vậy, khi xảy ra một tình huống mới, tình huống đó sẽ mang theo một cảm xúc “tiên thiên” không do tình huống đó gây nên, nhưng do cách chúng ta nhận thức về tình huống đó. Cũng vì thế mà việc đánh giá của chúng ta không thay đổi: Chúng ta có khuynh hướng đánh giá một đối tượng như mình đã đánh giá, cho dù đối tượng đã thay đổi hay có thêm những thông tin mới. Chẳng hạn, kinh nghiệm ghen tị sẽ khiến tôi nghi ngờ người khác, mặc cho họ nỗ lực hết sức để đáng được tôi tin tưởng.
(4) Ký ức tình cảm hoạt động trong vô thức
Cảm xúc trong quá khứ không xuất hiện như một ký ức, nhưng như một cảm xúc mà chúng ta trải nghiệm trong giây phút hiện tại, nơi đây và lúc này, một cảm xúc nảy sinh từ tình huống hiện tại. Cảm xúc tồn tại trong ký ức thì vượt ngoài thời gian và chúng ta hoàn toàn không hề biết rằng sự đánh giá hiện nay của chúng ta có thể là một sự đánh giá đã có trước (pre-evaluation), mà ký ức cảm xúc trong quá khứ ra lệnh cho chúng ta. Sự thường thì nhờ thông tin mới mà chúng ta điều chỉnh lại cách đánh giá, nhưng ký ức cảm xúc chính là nguyên nhân cản trở chúng ta điều chỉnh cách đánh giá của mình. Quả khó khăn khi phải điều chỉnh một kinh nghiệm.
(5) Cuối cùng, ký ức cảm xúc thì tổng quát hoá
Khi chúng ta có cảm tình với một đối tượng, thì trong vô thức, tình cảm đó được tổng quát hoá cho mọi đối tượng cùng loại. Một đứa trẻ bị chó cắn thì có xu hướng sợ mọi loại chó, từ chó lớn đến chó con, kể cả những con vật giống như chó. Nếu một người suýt chết đuối vì lật ca-nô, ông sẽ thận trọng với mọi loại thuyền bè.
2. Tưởng Tượng về Tương Lai
Ký ức trong quá khứ không phải là cơ sở duy nhất để chúng ta đánh giá các đối tượng. Nếu thế thì phản ứng của chúng ta trước một tình huống sẽ rập khuôn, lặp lại như đúc phản ứng mà chúng ta đã có trước đây. Chúng ta nhớ lại, nhưng chúng ta cũng tiên đoán tương lai. Chúng ta hình dung những điều có thể xảy đến nay  mai và đánh giá những hậu quả có thể xảy ra.
3. Thái Độ Cảm Xúc
Đó là tâm trạng thường xuyên của chủ thể trong việc đáp lại một đối tượng, tạo nên bởi sự lắng đọng tiệm tiếm của những cảm xúc. Mọi loại cảm xúc đều có thể trở thành nguồn gốc của thái độ cảm xúc. Dần dần, người ta sẽ đối phó với những tình huống mới bằng một thái độ đã được ấn định trước, với nhãn quan của người cảm thấy được yêu thương, ghét bỏ, thấp kém, hơn người, có uy quyền, có khả năng hay thất bại… Bất cứ điều gì người ta quyết định thực hiện, thái độ cảm xúc sẽ sai khiến người ta đánh giá ngay lập tức và khơi gợi một cảm xúc đặc thù khi thực hiện nhiệm vụ.
4. Thái Độ Của Trí Tuệ
Ước muốn lý tính cũng đi theo một quy trình tương tự. Ngay khi sự phán đoán theo bản năng tạo ra một thái độ cảm xúc, thì sự phán đoán có suy nghĩ cũng dựa trên tiêu chuẩn “có lợi / không có lợi cho tôi” để tạo nên một thái độ của trí tuệ, đó là thói quen phán đoán có suy nghĩ. Bởi đó, khi chúng ta dựa trên các giá trị để suy tư, sự suy tư đó cũng để lại dấu vết trong ký ức cảm xúc. Nhờ ký ức cảm xúc đó, chúng ta có thói quen phán đoán có suy nghĩ (nhân đức).
Thái độ của trí tuệ không đương nhiên phát xuất từ các cảm xúc, cho dẫu cảm xúc có thể góp phần vào việc hình thành và duy trì những thái độ của trí tuệ. Thái độ của trí tuệ bắt nguồn từ những xác tín và sự đánh giá chín chắn dựa trên những luận cứ lý tính, những luận cứ này vượt xa sự suy xét đơn thuần về hoàn cảnh hiện tại. Chúng ta duy trì thái độ của trí tuệ, bởi vì chúng ta xác tín rằng thái độ đó quả đúng đắn. Sự xác tín cũng được hỗ trợ nhờ cảm xúc, nhưng không phát sinh từ cảm xúc.
Mục tiêu của huấn luyện là tạo điều kiện giúp ứng sinh phát huy thái độ của trí tuệ, thái độ này không lệ thuộc sự ưng thuận thuần thuý về mặt cảm xúc.
5. Thói Quen
Thái độ, xét như một thiên hướng trong việc đáp lại các đối tượng, tự nó không đưa đến hành động. Trái lại, thói quen là thiên hướng đưa tới hành động. Người bẽn lẽn có thể bộc lộ thái độ sợ hãi, nhưng nếu anh ta hành động bất chấp sự sợ hãi, bấy giờ thái độ sợ hãi không phát triển thành thói quen, nhưng vẫn chỉ là một thái độ. Tuy nhiên, nếu anh ta nhượng bộ trước sự bẽn lẽn, bấy giờ anh ta có thói quen thoái lui khỏi xã hội. Thái độ trở thành thói quen, khi thái độ biến thành hành động.
Người ta có thể phát huy những thói quen dựa trên tiêu chuẩn “tôi thích,” và những thói quen dựa trên tiêu chuẩn “có lợi cho tôi.”
Một thói quen đã hình thành thì khó có thể loại bỏ, nhất là khi thói quen đó liên kết với cảm xúc.
D. Xung Khắc Giữa Các Khuynh Hướng Đáng Ao Ước
Ước muốn cảm tính thì đưa đến hành động, trừ phi chủ thể đánh giá lại ước muốn cảm tính của mình và phát huy những xu hướng khác hay ngược lại ước muốn cảm tính.
Trong trường hợp đó sẽ xuất hiện một sự xung khắc và tương phản giữa hai xu hướng mà chủ thể đều mong muốn. Hai xu hướng ấy phát xuất từ những nguồn gốc khác nhau. Tiêu chuẩn “tôi thích” thúc đẩy tôi đi theo hướng này, còn tiêu chuẩn “có lợi cho tôi” thúc đẩy tôi đi theo hướng khác. Vậy đâu là quyết định cuối cùng?
Những xu hướng mạnh nhất không hẳn sẽ định đoạt hành động mà chúng ta sẽ thực hiện. Chúng ta có thể hành động ngược lại với những ước muốn đầy cảm xúc và quyết định thực hiện những điều thoạt tiên ít lôi cuốn, nhưng về lâu về dài thì có lợi hơn. Nếu sự phán đoán của chúng ta đi ngược lại sự đánh giá theo bản năng và chiếm ưu thế, bấy giờ sẽ không còn xung khắc giữa hai xu hướng nữa, cho dù chúng ta vẫn khó thực hiện điều chúng ta đã quyết định bởi vì cảm xúc trái nghịch vẫn còn thu hút chúng ta.
Như vậy, xu hướng lôi cuốn chúng ta hơn không đương nhiên sẽ thắng thế. Chúng ta có thể chọn theo xu hướng ít lôi cuốn hơn, nhưng có lợi hơn.
Thậm chí con người cũng có thể nói ‘không’ dứt khoát với các quyền cơ bản như quyền tư hữu, quyền tự quyết và quyền có gia đình, và chọn lựa sự nghèo khó, tuân phục và khiết tịnh bằng cách đi ngược lại sự thúc bách của cảm xúc. Chính vì con người có hai khả năng khi lấy quyết định, cho nên con người có thể đánh giá chín chắn cảm xúc của mình và đặt cảm xúc mình trong tương quan với các giá trị, để có thể quyết định: Hành động theo các nhu cầu hay hành động theo các lý tưởng của mình, khi các nhu cầu không ăn khớp với các lý tưởng. Những chọn lựa của con người có khả năng kích hoạt những cảm xúc đặc trưng của con người.
Điều chúng tôi muốn khẳng định là con người có khả năng hành động theo ý chí. Con người không buộc phải phản ứng ngay với trò chơi cảm xúc; con người có thể kiểm soát bản thân và do đó mà trở nên một tác nhân luân lý. Chúng ta chỉ có thể phán đoán và đi theo một lập trường, khi chúng ta được giải thoát khỏi những ràng buộc tâm  sinh lý và tâm lý xã hội.
Để có thể từ bỏ, chúng ta phải toàn nhập cảm tính và lý tính. Toàn nhập là đặt cảm tính lệ thuộc  lý tính (chứ không loại trừ cảm tính).
Như chúng ta đã thấy, cái lô-gic của cảm tính thì tuân theo tiêu chuẩn cá biệt. Nhờ ước muốn lý tính, chúng ta có thể hòa nhập tiêu chuẩn cá biệt với tiêu chuẩn phổ quát và bất mâu thuẫn của lô-gic lý tính. Những vấn đề trên cấp bậc cảm tính chỉ có thể được giải quyết trọn vẹn trên cấp bậc lý tính. Lý tính không phủ nhận cũng chẳng huỷ bỏ cảm tính, nhưng nâng cảm tính lên một cấp bậc cao hơn nhằm tìm lối thoát cho những mâu thuẫn của cảm tính.
Cha Anthony Nguyễn Ngọc Kính – OFM.


[1] Trong tập sách này, “ego” dịch là “bản ngã,” đôi khi dịch là “cái tôi” như từ đồng nghĩa. “Self” sẽ dịch là “cái tôi” hay “bản thân” (Chú thích của người dịch).
[2] A. Cencini và A. Manenti, Tâm Lý và Huấn Luyện: Cơ Cấu và Năng Động (Psychology and Formation: Structures and Dynamics) (Bombay: St. Paul Publisher, 1992), Nguyễn ngọc Kính chuyển ngữ, tr. 77-136.
[3] M.B. Arnold, Cảm Xúc và Nhân Cách (Emotion and Personality), (New York: Columbia University Press, 1960), pp. 78-89.
[4] Freud định nghĩa sự thúc bách là “đại diện của tác nhân kích thích bắt nguồn từ thân xác và vươn tới tinh thần” (S. Freud, Metapsicologta. Pulsionie loro destini, in Opere, o.c.. VIII. p. 17).  Nó tự động hướng tới việc ngăn chận việc phí phạm năng lực do căng thẳng và sự khó chịu gây ra “ (S. Freud. Precisazioni. in Opere, o.c.. VI. pp. 453-460).
Vì nó là một xu hướng, cho nên chúng tôi thích gọi nó là nhu cầu, chứ không gọi là sự thúc bách hay bản năng.
[5] Loevinger cho rằng “thuyết nhất nguyên thúc bách là một sai lầm về hữu thể học, kể cả phân tâm học của Freud” (J. Loevinger, Ego­-development: conceptions and theories, San Francisco-Washington-London, 1976).
[6] Điều bình-quân bình (homeostatic-equilibrium): Nguyên nghĩa Hy Lạp có nghĩa ‘tương tự, đứng yên.’Nó ám chỉ cơ thể con người được được chỉnh để tái lập trình trạng quân bình ban đầu (ND).
[7] Về tương quan giữa khái niệm giá trị và khái niệm hữu thể, chúng tôi thấy quan điểm của Lonergan rất sáng tỏ. Khi nhận định về thánh Tôma, ông khẳng định tính khách quan của sự thật thì không phụ thuộc chủ ý của chủ thể, nhưng chỉ ở trong chủ thể về mặt bản thể học, veritas, formaliter est in solo jud icto. Về phương diện chủ ý, sự thật khách quan vượt trên chủ thể, nhưng chủ thể có thể đạt được sự  thật khách quan, bởi vì chủ thể có khả năng tự siêu việt cách chủ ý.” (B.J.F. Lonergan. A second collection: Papers by B.J.F. Lonergan, cd. W.J.F. Ryan, B.J. Tyrrell. Longman & Todd. London 1974. p. 3). Khi nói giá trị chuyển động trong phạm vi siêu việt, chúng tôi muốn nói rằng chỉ khi nào chủ thể có khả năng tự siêu việt, bấy giờ chủ thể mới có thể đạt giá trị và đến gần sự thật.
[8] Giá trị thái độ: attitudinal values.
[9] Xem phần I, chương 4,C.
[10] E. Becker. Il Rifluto della morte, Pauline. Roma 1982. Theo ông, “biểu tượng của bất tử” (symbols of immortality) phát sinh từ việc con người cần phải xem điều gì đó như một giá trị tuyệt đối, bảo đảm cho mình được hạnh phúc hôm nay và mai sau. Đó là một thứ thần tượng giúp xoa dịu sự căng thẳng giữa dục vọng và hạn chế, và đi đến chỗ bóp méo thực tại, nếu điều thiện  đó hữu hạn hay tương đối (Vd. Tiền bạc, tính dục, ý thức hệ, thành công, tôn sùng cá nhân, v.v…).
[11] Trong Kinh Thánh, ngẫu tượng tượng trưng cho những nỗ lực của con người nhằm thao túng thần thánh. Đó là sản phẩm của con người. Con người có một quyền lực nhất định trên thần thánh và đón nhận những gì mà con người không thể tự đáp ứng được  (x. Kn. 13.15-19: 15.16-19).
[12] A. Cencini và A. Manenti, Tâm Lý và Huấn Luyện: Cơ Cấu và Năng Động (Psychology and Formation: Structures and Dynamics) (Bombay: St. Paul Publisher, 1992), Nguyễn ngọc Kính chuyển ngữ, tr. 61-74.
[13] Theo B. Lonergan, kinh nghiệm đi trước khả năng hiểu biết, phán đoán và quyết định. Kinh nghiệm thì ở trên cấp bậc cảm xúc, còn khả năng hiểu biết, phán đoán và quyết định thì ở trên cấp bậc lý tính.

Thường huấn 2010

MỀM DẺO ĐỂ ĐƯỢC HUẤN LUYỆN


Ngoài những yếu tố cấu thành kế hoạch huấn luyện từ phía tổ chức,

bài sau đây giới thiệu những điều kiện nhờ đó ta có thể nói được là

“người trẻ đang được huấn luyện,” nói cách khác, là

xét đến cách mạch lạc hình thức đáp trả về phía người được gọi.

 

Quả thực, huấn luyện không phải là một hành trình từ một phía, cũng không phải là thứ việc chỉ cần làm một lần. Cũng không có nghĩa là sự áp đặt ít nhiều điều tế nhị hoặc là một liên hệ giữa người với người mà trong đó một người tích cực và người kia thụ động.

Mặt khác, không thể phủ nhận khả năng là một số người trẻ của chúng ta chỉ trải qua tiến trình huấn luyện một cách hình thức. Thực vậy, sẽ không thực tế khi nghĩ rằng tất cả các tập sinh hoặc những khấn sinh của chúng ta là đang được huấn luyện. Lịch sử cho chúng ta thấy rằng một số đã trải qua suốt các giai đoạn của tiến trình huấn luyện mà không hề bị đụng chạm, họ vượt qua cách khéo léo những thách đố và các đề xuất, không chỉ cho phép họ rất ít xây xát với bất cứ sự can thiệp huấn luyện nào, nhưng lại cho thấy một tình trạng không nao núng như một vận động viên điền kinh thế giới, đôi khi họ còn được nhận xét cách chân thành của người huấn luyện, là người thanh thản và ổn định về cá tính. Đối với những ứng sinh này thì không có huấn luyện khởi đầu và cũng sẽ không có huấn luyện thường xuyên.

Không đề cập tới những trường hợp cá biệt, chúng ta nói rằng, nơi mỗi người trẻ, cùng với ước muốn chân thành dâng hiến, thì vẫn còn một khu vực u tối không cho phép ánh sáng thâm nhập vào, tính tình cứng cỏi và thói quen thâm căn cố đế gây nên sự đối kháng đối với những đề xuất của huấn luyện, làm tê liệt sức sống nơi người trẻ mà không cần biết là họ muốn hay có nhận thức về điều đó hay không. Và từ đó, chắc chắn là không có được sự sẵn sàng để cho chính mình được giáo dục, huấn luyện và đồng hành.

 

1. Từ đơn sơ (docilitas) tới  mềm dẻo (docibilitas)

Vào một thời mà sự sẵn sàng này được gọi là sự đơn sơ (docilitas), một từ có một giá trị tích cực. Thực ra, nó nói lên một thái độ nền tảng về lòng tin đối với người khác nhưng cũng có rủi ro là thái độ phong thánh cho một sự nhu nhược – thụ động nào đó. Tôi (tác giả) thích dùng một từ khác, mềm dẻo (docibilitas), mà xem ra diễn tả tốt hơn ý tưởng của một tiến trình huấn luyện mà trong đó chủ thể đóng vai trò tích cực và đặt ứng sinh trong một điều kiện “học để học” (learn to learn). Nói khác, là sống trong trạng thái huấn luyện thường xuyên. Chúng ta lưu tâm đến ba lãnh vực: cái tôi hiện tại (actual self), cái tôi lý tưởng (ideal self) và cái tôi tương quan (relational self) liên hệ với ba phương pháp sư phạm là giáo dục (education), huấn luyện (formation) và đồng hành (accompaniment). Các điều này không hoàn toàn mới lạ, nhưng chúng ta sẽ dùng những yếu tố chính xác cần được nhấn mạnh ở đây.

a) Sự thật của cái tôi hiện tại

Tiến trình huấn luyện bắt đầu từ giây phút mà ứng sinh nhận thức về thực tại con người của mình, cách riêng, các khía cạnh mạnh, yếu, tự do và không hoàn toàn tự do, từ nơi đó họ có thể đáp lại lời mời gọi với một tiếng “vâng” quảng đại, và từ nơi đó họ còn vẫn một con đường dài để tới với dự phóng của Thiên Chúa.

Điều quan trọng hơn hết là ứng sinh biết rõ được những vùng trung tâm không kiên định, nghĩa là nơi đó họ thực sự bị tổn thương và biết là không dễ kiểm soát được. Họ cần hiểu biết cái nguyên do gốc rễ của sự không kiên định đó, thường là khó thấy được ngay, vì chức năng động lực tâm lý (psychodynamic = chức năng đóng vai trò cân bằng tâm lý hoặc là nhu cầu mà người ta đáp trả và thỏa mãn) và những hậu quả trong mối tương quan với những người khác, với Chúa và với chính mình, trong đời sống cộng đoàn và tông đồ, hiện tại và tương lai. Cuối cùng và trên hết, ứng sinh sẽ phải chọn ra một số cách thức thực hành để ngày càng ít lệ thuộc với điều không kiên định đó.

Ở giai đoạn này, tiến trình giáo dục là một hành động hướng tới sự thật. Đó là, như chúng ta biết, mục tiêu của tính năng động sư phạm của giáo dục: e-ducere, lôi ra, kéo ra sự thật đang ẩn dấu trong chủ thể, nhờ đó ứng sinh có thể biết được chính mình và nhận thức chính mình rõ ràng hơn theo những khả năng, không chỉ do đơn sơ chủ quan, nhưng là sự thật khách quan, không chỉ là các khía cạnh ý thức mà cả những điều vô thức nữa.

Khi một người không biết chính mình và chưa khám phá ra phần yếu và ít tự do nơi mình, và cách thức để ra khỏi đó, thì họ vẫn còn ở trong tình trạng tiền – giáo dục, cho dù ứng sinh bày tỏ một vài điều thích hợp cơ bản để đảm nhận hành trình này. Nếu không, thì người ta chỉ làm mất thì giờ của mình và của người khác.

b) Sự tự do của cái tôi lý tưởng

Ở mức độ này huấn luyện đem lại hiệu quả nếu như, trước tiên chủ thể biết nơi bản thân mình, các mặt mạnh hơn và kiên định hơn mà họ có thể sử dụng để hướng tới mục tiêu là trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

Nhưng điều kiện chính yếu đem lại sự thích hợp trong huấn luyện là người trẻ nhân biết chính căn tính của mình trong con người của Đức Kitô và có được tâm tình của Ngài. Từ đây, ứng sinh bắt đầu cảm nghiệm sự quyến rủ của một ơn gọi như thế.

Vì khi người ta không cảm thấy cách tự do được lôi cuốn bởi vẻ đẹp của Đức Kitô  và vẻ đẹp được nên giống như Ngài, thì đừng nói tới chuyện huấn luyện. Thực vậy, mục đích của huấn luyện là đề nghị một kiểu mẫu, một “hình thể” sẽ tạo thành căn tính mới cho người được thánh hiến, và đương sự phải cảm nhận được điều này. Nếu hình thể đó là tâm tình của ĐK, thì có nghĩa là huấn luyện một người tới sự tự do để cho chính mình được vẻ đẹp nhiệm mầu của Người Con lôi cuốn và để vẻ đẹp đó trở thành chính mình.

Khi không có “nhiễm sắc thể nhiệm mầu” (mystical chromosome) thì người ta vẫn chưa ở trong tình trạng được huấn luyện, nhưng là một con người lệ thuộc, thực hiện những mệnh lệnh và không chút đam mê.

c) Cởi mở với cái tôi tương quan

Cuối cùng, rõ ràng là không có cái gọi là tự huấn luyện, người trẻ chỉ có thể nói được là họ đang được huấn luyện khi họ chấp nhận được đồng hành với một người anh em/chị em lớn tuổi hơn. Đây là điều kiện cơ bản của sự phát triển cái tôi trong tương quan. Nói khác, sự từ bỏ dần dần những rào cản mà mỗi người dựng nên quanh họ, như là cơ cấu phòng thủ ngăn cản người ta khỏi giao tiếp cởi mở và phó chính mình cho kẻ khác.

Thực vậy, huấn luyện là một hiện tượng về mối tương quan và do đó, hàm ý một sự giải thoát trước Thiên Chúa, Người là đấng đầu tiên, là sự thật, là Cha và là Thầy duy nhất, và trước người huấn luyện là người anh/chị được mời gọi làm trung gian cho hành động khuôn đúc thiêng liêng này, mặc dù họ bất toàn: chính do điều này mà người trẻ phải học phó mình cho kẻ khác với một hành động phát xuất từ đức tin, bằng cách chia sẻ với họ hành trình và để cho chính mình được họ xem xét kỹ càng.

Nhưng mềm dẻo (docibilitas) cũng có nghĩa là sự sẵn sàng đi vào trong cuộc gặp gỡ với thực tại và với những người khác nói chung, để tiếp tục học hỏi từ cuộc sống và từ mỗi người. Từ đó huấn luyện trở nên như một “thói quen” đồng hành với con người, và luôn làm cho họ trẻ trung.

Ai đã học để học (và cho phép mình được huấn luyện ) sẽ tiếp tục học hỏi từ nơi mỗi người và cho toàn cuộc sống của mình. Trái lại, người nào đã không “học” trong giai đoạn huấn luyện khởi đầu sẽ không bao giờ học điều gì nơi người khác và từ cuộc sống.

Nhưng làm sao một người có thể nhận biết rằng họ không mềm dẻo để cho mình được huấn luyện?

 

2. Từ Sợ hãi đến Cứng cỏi (Non Docibilitas)

Chúng ta đã nói tới sự phân biệt không chỉ giữa cá nhân này với cá nhân kia, giữa người có một hệ số cao mềm dẻo để được huấn luyện và người khác không có, nhưng điều này diễn ra nơi cùng một người. Mỗi người trong chúng ta “dễ dạy, mềm dẻo” ở một số mặt của nhân cách và “cứng cỏi” ở những mặt khác.

Sâu xa, sự cứng cỏi phát xuất từ sự sợ hãi chính mình, và từ điều mà mình tìm thấy trong chính mình, sợ người khác và sợ các mối tương quan liên vị, đặc biệt là sợ Thiên Chúa và Lời của Ngài và điều mà Thiên Chúa có thể đòi hỏi hoặc ban tặng.

Chúng ta đề cập tới những nét nổi bật của việc không mềm dẻo trong giáo dục, theo ba hướng đã được nhìn nhận ngày nay.

a) Đánh mất chính mình

Có người trong tiến trình huấn luyện hình như đã đánh mất sự gặp gỡ với chính mình. Người ta nói rằng họ không biết chính mình hay chỉ biết bề ngoài của mình. Có thể họ đã không được thúc đẩy đi xa hơn, ở một mức độ sâu hơn trong việc phân tích các động lực và các ý hướng là những điều không xuất hiện rõ ràng ngay tức thời và có thể là vô thức.

Mẫu người này lẫn lộn sự thật với đơn sơ và nghĩ rằng các nhận thức chủ quan theo cảm giác là đủ. Hậu quả là họ sống xa với chính mình, và rời xa sự thật về mình. Họ không biết rõ đâu là vùng yếu nhất trong nhân cách của họ hoặc là họ bằng lòng với một bản tóm tắt của bản phân tích. Ví dụ như khi họ đi xưng tội, họ luôn lặp lại cùng một điều, và sau một thời gian, họ không còn cảm thấy cần đi xưng tội hoặc xin linh hướng nữa.

Từ quan điểm này, đây là mẫu người “không bao giờ bị khủng hoảng.” Hoặc nếu họ thực sự được thúc đẩy khám phá những “quái thần” trong họ, họ sẽ nói rằng họ không thể làm gì và rằng họ lầm lẫn trong sự chọn lựa của họ: trong bất cứ trường hợp nào thì họ đều không cho thấy một sự mềm dẻo cần thiết để thực hiện một cuộc hoán cải. Không phải vì họ minh nhiên loại trừ điều này mà vì họ bỏ qua việc gặp gỡ với cái tôi chân thật nhất của mình, họ đã loại trừ chính mình khỏi những động lực (“tại sao và thay đổi để làm gì”) và do đó, loại trừ mình khỏi nguồn năng lực quý giá.

Đôi khi mẫu người này thực sự giống như người không quyết định được, không thực sự biết điều mình muốn; giả tạo trong tương quan, không thể yêu thương, xem ra an toàn về mình, nhưng trong thực tế rất mềm yếu. Họ là con chiên lạc. Họ không để cho chính mình được tìm thấy, cũng không muốn được ở trong tay người chăn chiên; do đó, họ không để cho chính mình được sửa đổi hoặc hiểu thế nào là nhân từ.

Nếu giáo dục khởi sự với việc nhận thức giới hạn của chính mình, thì đối với mẫu người này, điều đó không bao giờ bắt đầu và sẽ trở thành chuyện hão huyền.

b) Cái tôi quay cuồng

Cái “tôi bị đánh mất” vì thiếu một khởi đầu trong tiến trình huấn luyện còn “cái tôi quay cuồng” vì thiếu một điểm tới, hoặc điểm tới không rõ ràng.

Quay cuồng không vì thiếu mềm dẻo, nhưng vì sự hiện diện của một số trở ngại, trong đời sống, làm cho họ cách quảng với sự lôi cuốn thực sự, là điều mà họ cần cảm nhận như là cái tôi lý tưởng của họ. Đặc biệt hơn, mục tiêu chính là nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô và với tình cảm của Ngài, đã không được cảm nhận như là căn tính mới đang thay chỗ cái căn tính cũ; cái mới và cái cũ vẫn chung sống với nhau, cách này hay cách khác trong một căn tính đôi (double identity): cái chính thức thì trừu tượng và ít được liên hệ, và cái cũ tuy ẩn dấu, lại được nuôi dưỡng và nuông chiều cách kín đáo, thu hút năng lực và sự quan tâm, làm cho đương sự xa rời với điều sẽ là mối quan tâm hàng đầu của đời sống thánh hiến.

Do đó, rõ ràng là chúng ta có những người trẻ không muốn được trở nên trẻ trung: họ lạnh lùng, cứng cõi, và nhiều thứ khác, biếng nhác trong học tập và kinh nguyện…tầm thường, sơ sài và không có khả năng nhiệt tình với những gì là tốt đẹp, bối rối và vụng về khi được yêu cầu làm chứng  cho niềm tin và ơn gọi (họ chỉ bắt chước và lặp lại những gì của người khác). Họ không hình dung được sự thật và tự do lớn lao như thế nào trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, Chúa của sự Sống. Họ sẽ là những người trẻ không có được tự do để từ bỏ chính mình, hi sinh chính mình cho người khác, nhưng bị thúc ép từ bên trong để tự phát triển chính mình cách ảo tưởng.

Hậu quả sẽ là một sự khép kín rõ ràng đối với tiến trình huấn luyện và với ân sủng để cho chính mình được thu hút bởi cái đẹp của Người Con, vì huấn luyện diễn ra vào lúc mà sự thật và tự do gặp nhau để cho phép ánh lửa thu hút của Chúa Kitô tỏa ra.

Nhưng ở đây không có gì được tỏa ra và ngược lại với sức thu hút là sự quay cuồng của một sự mâu thuẫn và một căn tính tan nát. Thay vì tự do để cho chính mình được thu hút bởi vẻ đẹp của Chúa Kitô thì lại duy trì một cái tôi xa rời trọng tâm và sự thật. Đi tìm chính mình mà không bao giờ gặp được.

c) Cái tôi cứng cỏi

Ngược lại với cái tôi tương quan là cái tôi bị khép kín trong chính mình, lo sợ cởi mở tâm hồn và càng lo sợ phó mình cho người khác.

Những kinh nghiệm về các tương quan không lành mạnh và bị tổn thương trong quá khứ có thể đã tạo nên sự lo sợ này, để lại trong tâm hồn ý nghĩ cho rằng tốt hơn là bảo vệ chính mình khỏi người khác và ngay cả Chúa nữa.

Ngày nay, trong bầu khí chung của sự bất ổn tình cảm, (điều đang làm yếu đi ngay cả đời sống gia đình), không hiếm những người trẻ tìm sự an toàn bằng cách tự vệ. Họ hình như phải bảo vệ chính họ, và họ phải mệt mỏi rất nhiều khi để cho mình được người khác đồng hành và cởi mở chính mình cho người khác. Không nhất thiết họ là người hay hờn dỗi và không thể tiếp xúc. Lắm khi họ xem ra là những người có tương quan tốt nhưng thực tế họ không tin vào ai cả.

Bộ giáp cứng cỏi đó được mặc dưới nhiều hình thức. Mẫu người bình lặng, đơn độc luôn thấy mọi sự đều xuôi chảy nhưng lại không hiểu sự cần thiết được đồng hành. Mẫu người hoàn hảo, đạo đức cách lầm lạc, là người chỉ muốn cởi mở với một người hướng dẫn hoàn hảo (điều mà họ thường đi tìm ở nơi khác). Mẫu người lẫn tránh, nhút nhát, hơi giống mafia một chút, họ trốn tránh vì sợ một cuộc đối đầu. Mẫu người lữ hành, loại lanh lợi, có nhiều bạn tâm tình để trao đổi các khía cạnh của cuộc sống nhưng họ không bày tỏ hoàn toàn cho một người nào. Mẫu người không thể thấm nhập, tính cách cứng cõi, họ đến với buổi gặp gỡ vì họ phải đến nhưng không để cho mình được đào sâu bên trong và họ chống lại mọi nỗ lực như thế. Mẫu người không xao xuyến, ngược lại họ có vẻ như được làm bằng cao su. Một cách lý thuyết, họ để cho mình được xem xét kỹ lưỡng. Họ cũng đồng ý với các nhận định về họ nhưng họ hoàn trả mọi thứ cho người nhận xét mà không mảy may đụng chạm, giống như trái tim họ được làm bằng nhựa dẻo.

Rõ ràng với các mẫu người này thì không thể có huấn luyện là điều mà tự bản chất được đặt nền trên sự thỏa thuận tin tưởng lẫn nhau. Một hàng rào tự vệ nào đó đã có thể ngăn cản ngay cả mối tương quan thiêng liêng, trong những trường hợp như thế,  làm cho mối tương quan này nghèo nàn và vô nghĩa, hoặc đóng kín tâm trí của đương sự trước khơi gợi của Lời và của sự Sống.

Thực vậy, những người có tính cách này không để cho họ được đụng chạm tới và được huấn luyện bởi thực tại và bởi người khác, vì bộ giáp tự vệ cứng ngắc kia làm cho họ hoàn toàn chai lì, giống như thầy Lê-vi, hình tượng của sự cứng cỏi (non docibilitas), thấy người đi đường bị cướp hành hung bất tỉnh mà  vẫn tránh sang bên đi thẳng.

Chúng ta có thể kết luận bằng cách nói rằng hệ số của sự mềm dẻo (docibilitas) và của sự cứng cỏi (non docibilitas), là do sự đối kháng giữa thái độ của cái tôi hiện tại, cái tôi lý tưởng, và cái tôi tương quan với sự khơi gợi của giáo dục, huấn luyện và đồng hành.

 

Peter Khoan ofm

Dịch trong Amadeo Cencini,

The Sentiments of the Son, trg 199-207.

Thường huấn 2010

 

VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA NGƯỜI HUẤN LUYỆN


Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khoan. OFM

 

Ba trung gian huấn luyện trong đời thánh hiến là : người huấn luyện, cộng đoàn huấn luyện và môi trường huấn luyện. Bài này đề cập cập đến trung gian thứ nhất: người huấn luyện.

 

1. Thiên Chúa Ba Ngôi: Nhà huấn luyện duy nhất

Nhắc đến từ trung gian để nói rằng chủ thể đầu tiên hay tác giả của việc huấn luyện không phải là ba nhân tố được nói ở trên, nhưng là Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Đấng “khuôn đúc” nơi người trẻ “hình ảnh” (tâm tình) của  Chúa Con qua tác động của Chúa Thánh Thần.

Sự can thiệp thần linh thế này thường qua trung gian con người, theo một cách thức quen thuộc trong hành động cứu độ: Thiên Chúa thích đến với người này qua trung gian của người kia, dưới nhiều cách thức và phương tiện luôn yếu đuối và giới hạn, thấp kém so với mục tiêu được xác định, và “vô dụng” như chính Chúa Yêsu nói. Đó chính là cái lô-gích của việc nhập thể, nơi một con người nghèo hay chết được mời gọi diễn tả  mầu nhiệm thần linh. Đó là định luật thiêng liêng về sự trung gian của con người.

Mặt khác, Thiên Chúa không để cho bất cứ ai thiếu điều cần thiết để được ơn cứu độ và trong trường hợp chúng ta, để thực hiện dự phóng ơn gọi. Do vậy, ngay từ đầu hành trình huấn luyện, điều cần là làm sáng tỏ quan niệm này. Đó là ý nghĩa thần học của việc trung gian, để giúp người trẻ hiểu rõ, một mặt, tầm quan trọng và không thể thay thế của việc trung gian, và mặt khác, để giảm thiểu một số chờ đợi không thực tế và mang tính hoàn hảo về vai trò trung gian này.

Thực vậy, một đàng chúng ta có những người trẻ thường “tự làm trung gian cho mình” , ngay cả ở lãnh vực thiêng liêng. Họ cảm thấy không cần bất cứ một trung gian nào để biết ý Chúa. Họ từ chối điều này khi họ cho đó là điều quá đòi hỏi hoặc họ lại quá đòi hỏi theo cảm nhận thiêng liêng của riêng họ, rằng họ không thể được hạnh phúc với những trung gian bình thường hay “tại chỗ”. Cần phải xác định rõ điều này và cũng không đợi cho tới nhà tập hay sau đó mới bàn tới. Người trẻ phải được cho biết và hiểu rất sớm ý nghĩa của huấn luyện là gì và giúp họ thoát khỏi những điều hàm hồ nói trên.

Việc trung gian trong huấn luyện tự bản chất là không hoàn hảo. Thiên Chúa thường can thiệp với những khí cụ bình thường. Chấp nhận cái lô-gích này có nghĩa là để cho mình được Thiên Chúa huấn luyện trong mọi giây phút cuộc đời.

Cái lô-gích này cũng quan trọng đối với người huấn luyện. Họ đừng bao giờ quên mình chỉ là một trung gian. Họ đừng tự chất thêm gánh nặng cho mình với những trách nhiệm quá mức và nên sống thanh thản với thực tế là họ chỉ là một đầy tớ đang chu toàn phận vụ. Người huấn luyện không phải là nhà vô địch có thể vác trên vai toàn bộ thế giới. Như Gioan Tiền hô, ông loan báo một Đấng khác, ông đã không lôi cuốn người khác về với mình. Ông sửa soạn tâm hồn để người nghe nhận biết Đấng phải đến như thế nào nhưng không thay chỗ của Đấng ấy.

 

2. Người Huấn Luyện là “Nhà Trồng Trọt Trực Tiếp

Đây là một định luật thiêng liêng rõ ràng, theo nghĩa là nó phù hợp với cách thức của Thiên Chúa, nhưng điều này cũng là một yêu cầu được các khoa học về con người nhấn mạnh ngày nay, và hơn thế là cảm nhận của những người trẻ trong thời gian huấn luyện được nói lên  trong Hội Nghị Quốc Tế 1997:

“Chúng tôi không từ chối sự phong phú mà môn thần học đem cho chúng tôi. Mỗi ngày từ nơi giảng đường, thật nhiều nội dung được cống hiến cho chúng tôi. Điều mà chúng tôi thiếu là những trung gian. Chúng tôi thiếu những con người có thể giúp chúng tôi chuyển những giáo thuyết vào trong cuộc sống thường ngày.”

Chúng ta đã được nghe nhiều người huấn luyện nhấn mạnh là ngày nay người trẻ của chúng ta được học các nội dung tốt nhất tại trường lớp (thần học, kinh thánh, nhân học, triết học…) nhưng đã có bao nhiêu điều từ các giáo trình ấy trở thành trung gian mang tính huấn luyện? Làm thế nào để các giáo trình ấy không đơn thuần là những nội dung học để làm bài thi?

Tuy nhiên, vấn đề không phải chỉ là giáo trình ở trường lớp mà còn liên quan đến việc huấn luyện cũng như người huấn luyện. Người huấn luyện được kêu gọi chăm lo công việc đặc biệt này trong mối tương quan trực tiếp cá nhân với người trẻ trong giai đoạn huấn luyện. Họ thực sự là những nhà “trồng tỉa trực tiếp” trong vườn nho của Chúa.

Ba khía cạnh cần được nhấn mạnh trong công tác trung gian: giáo dục, huấn luyện và đồng hành.

a.       Giáo dục

Việc trung gian đầu tiên là giáo dục theo nghĩa của e-ducere là kéo ra, đào lên hoặc đem ra sự thật nơi con người, những gì làm nên con người hiện tại, ở bình diện ý thức và vô thức, với lịch sử đời mình và những vết thương, các khả năng và những yếu kém, vì con người có khả năng biết chính mình và làm cho các năng lực của mình đạt tới độ viên mãn nhất. Do đó, đây là một sự can thiệp trực tiếp vào cái tôi hiện tại (actual self) của một con người.

Đây là cách giáo dục đặc trưng của Chúa Cha – Đấng Tạo Dựng, đã làm nên muôn vật từ hỗn mang và hư không, để thiết lập trật tự và đem lại sự sống. Chúa Cha còn là mẫu mực của tiến trình sư phạm này khi Người giáo dục dân Người, đem họ ra khỏi vòng nô lệ Ai Cập, nối kết với họ không chỉ bằng những sợi dây của lòng nhân lành và dịu hiền, nhưng còn trách cứ và sửa dạy họ như người cha đối với con cái, để cuối cùng đem họ vào đất hứa (Đnl 1,31; 6,21; 9,26…).

Giáo dục luôn có nghĩa là thông dự vào hành động sáng tạo và xây dựng của Thiên Chúa. Công việc này đòi hỏi thời gian. Nó phát sinh từ một tình yêu mạnh mẽ và dịu hiền cũng như đòi hỏi tính kiên nhẫn vô hạn và lòng nhân ái. Nhà giáo dục giống như người nông dân, ông chờ đợi và tôn trọng những tác động của thiên nhiên, nhưng cũng cần năng lực, thứ năng lực mà người ta thường sử dụng lúc mệt mỏi khi làm việc trên ruộng đồng, nó mạnh hơn thứ năng lực của sự từ chối về phía những người thích  trì trệ, muốn lệ thuộc hơn là can đảm khám phá và khẳng định căn tính của mình.

Công tác trung gian như thế đòi hỏi một số việc, hoàn toàn không đơn giản và tự động mà trên hết, là việc chuẩn bị về phiá người huấn luyện.

  • Trước tiên, người huấn luyện phải biết chính mình, và cách riêng, những mặt yếu nhấtkém tự do nhất nơi nhân cách của mình, để tránh phóng chiếu những điều này lên người thụ huấn và gây tác hại cho họ.
  • Người huấn luyện cần biết làm thế nào để biện phân nơi người khác sự hiện diện của những xung đột và những điều chưa trưởng thành. Do đó sẽ thiếu sót nếu chỉ quan sát tính cách bên ngoài, và cũng không đủ nếu chỉ ngồi đợi người khác nói cho biết vấn đề của họ (hầu hết người trẻ của chúng ta không rõ các xung đột sâu xa của họ), cũng không bằng lòng với những gì người trẻ phải nói về họ (điều chân thành nhất chưa hẳn là sự thật). Một người huấn luyện thực thụ là người biết nhận thức, bên kia cách xử sự và thói quen của một người, thái độ của họ, hơn nữa là những khuynh hướng hành động hay là cách sống (ví dụ: cách phản ứng của một người khi họ bị xúc phạm), sau đó xem xét tới các tình cảm, để nhận diện điều họ nghĩ trong nhiều tình huống khác nhau (ví dụ: tha thứ thôi thì chưa đủ, họ phải thấy điều họ cảm nghĩ bên trong về người khác); sau cùng tìm biết những động lực, để hiểu cái gốc rễ đưa tới cảm nghĩ và hành động như thế của họ, của một số quyết định, gồm cả việc chọn lựa ơn gọi (do tình yêu Chúa hay là những đối tượng khác? Sự phó thác mình vào tay Thiên Chúa hay là lý do ấp ủ riêng hoặc là những thứ sợ hãi khác?…) Các việc này nhằm khám phá điều có thể được gọi là sự bất ổn (hay là điều chưa trưởng thành). Khi những điều chưa trưởng thành vẫn ở bình diện vô thức thì nó sẽ được đặt vào vị trí trung tâm của lòng trí, và từ đó hủy diệt nhiều năng lực của con người. Nhà giáo dục cần biết làm thế nào nhận ra những điều đó càng sớm càng tốt, can thiệp ngay, đừng để mất thời gian và năng lực. Phải biết ngăn ngừa vấn đề để nó không trở thành mạn tính và vô phương cứu chữa.
  • Những điều trên sẽ không mấy hữu ích nếu người huấn luyện không có khả năng giúp ứng sinh khám phá điều chưa trưởng thành của chính họ, cái gốc rễ và những hậu quả của nó. Công việc chính xác của người trung gian là hướng dẫn người trẻ tự tìm biết được điều chưa trưởng thành nơi mình, bằng một phương pháp[i] nhờ đó mà họ học cách tìm biết mình và giải mã được tình trạng của tâm trí mình, không tự lừa dối nhưng biết được từ đâu vấn đề nảy sinh. Tự do của con người bắt đầu từ đây.
    • Cuối cùng, nhà giáo dục phải biết cách  giúp người khác giải quyết các khó khăn của họ. Giải quyết không phải là xóa bỏ một lần cho tất cả mọi điều chưa trưởng thành (điều này không bao giờ có thể), cũng không có tham vọng thấy hết được mọi dấu hiệu bất ổn hay sự lôi cuốn, nhưng là có một thái độ khác, trước những điều chưa trưởng thành của mình (hoặc là sự kiện làm cho không trưởng thành), với nhiều nhận thức và trách nhiệm hơn, ít lệ thuộc hơn và ít lặp lại điều bất ổn. Nhà giáo dục không áp đặt trên người trẻ những mục tiêu không thể thực hiện được ở bình diện tâm lý cũng như không lừa gạt họ bằng những lời hứa hàm hồ ở bình diện thiêng liêng; nhưng động viên người trẻ nhìn nhận yếu đuối của mình trước mặt Chúa, một cách giúp gặp gỡ và trải nghiệm lòng nhân từ của Chúa, vượt qua và loại bỏ những lý do cho rằng mình có công trạng trước mặt Chúa. Bằng cách nhận diện và chấp nhận sự yếu ớt của mình, họ cũng sẽ hiểu và chấp nhận cái yêu đuối của kẻ khác.

Do đó, ở giai đoạn này, giáo dục có nghĩa là khai mở, giúp người thụ huấn nhận biết mình và chấp nhận kẻ khác; điều này có nghĩa là đi từ sự chân thành đến sự thật, từ việc đọc lại cách chủ quan những cảm giác tới sự khám phá khách quan những thực tại thầm kín của mình và từ một sự nhìn nhận đơn giản cảm nghĩ của mình tới một bước can đảm đạt đến và nhận diện các động lực. Đây là lối giáo dục theo cách cầu nguyện “trong tinh thần và chân lý” (Ga 4,24): trong khi cầu nguyện, như là một nơi chốn lý tưởng, nơi mà sự thật của chính mình vang lên trước sự thật của Thiên Chúa, nơi mà người tin có thể nghe và nói “toàn sự thật” với Chúa (như người phụ nữ bị bệnh xuất huyết khi đụng tới áo của Chúa thì biết mình bị phát hiện), và thấy mình được đón nhận, tới lượt mình có thể mở lòng đón nhận người khác, và toàn bộ sự thật của mình.

 

b.      Huấn luyện

Giáo dục không thôi thì chưa đủ. Con người cần được huấn luyện, bằng cách giới thiệu cho người trẻ một mô hình cụ thể, như là một cách hiện diện mới (hoặc như một cái “khuôn”), làm nên căn tính mới của người được thánh hiến. Đó là cái tôi lý tưởng (ideal self) của họ, điều mà họ được mời gọi trở thành.

Theo một số người, khoa sư phạm trong các dòng tu trong những năm gần đây tập trung nhiều vào việc giáo dục[ii] hơn là huấn luyện. Người ta đơn thuần lưu ý mỗi người nhiệm vụ tìm biết mình để là mình, tự thực hiện chính mình, khẳng định chính mình, để cho mình hơn kẻ khác mà không có gì hướng tới khát vọng cõi vô biên.

Trái lại một mô hình đích thực có thể truyền đạt cho người trẻ một hướng đi mới và cụ thể, bằng cách đòi hỏi họ phát huy tới mức cao nhất các năng lực của họ. Một mô hình như thế cũng sẽ lôi cuốn họ vì đó chính là nguồn sự thật của họ, trong khi đưa ra cho họ một hành trình hoán cải để đạt tới tự do (mặc dầu phải trả giá).

Như vậy, nếu giáo dục là tìm kiếm sự thật về mặt nhân bản, thì huấn luyện đòi hỏi một sự cống hiến chính mình tới mức cao nhất, và vì thế, mục tiêu của huấn luyện là cho biết điều mà một người thực sự có khả năng đạt tới. Trong bất cứ trường hợp nào, một hành động huấn luyện đích thực đều có tác dụng bùng nổ: đó là một điều mới lạ thường gây ngạc nhiên và đôi khi làm cho sợ hãi, nó tạo nên những ước mong và lo lắng, mang theo căng thẳng và ngay cả khích động, nó đòi hỏi con người thay đổi thói quen và lối sống cũ, và đẩy họ tới những chân trời chưa từng nghĩ tới trước đây; nó mở cửa vào một đời sống mới nhưng lại khơi lên nơi con người sự phản kháng và tự vệ. Nếu giáo dục là chuẩn bị đất thì huấn luyện là đặt vào đó sức sống của hạt giống, như là sức mạnh không thể kềm chế và mang tính sứ điệp của đời sống mới; hạt giống rơi vào đất, chết đi và sinh hoa trái.

Nếu giáo dục là công việc của Chúa Cha thì huấn luyện xem ra là hoạt động của chính Chúa Con. Thực vậy, mô hình tiêu biểu của đời thánh hiến là “tâm tình của Chúa Con”. Ai xứng đáng hơn Chúa Kitô có thể điều khiển việc huấn luyện trí lòng những người trẻ được thánh hiến?

Thật quan trọng việc người trẻ tạo lập mối tương quan với Chúa Kitô, vị Giám sư đích thực của đời sống họ. Người là Đường, là sự Thật và là sự Sống, là Đấng có thể chuyển đổi và “trồng” trong trái tim họ tâm tình của Người và làm cho họ rung cảm với tình yêu của Người cũng như đem lại cho họ nỗi đam mê đối với sức lan tỏa của vương quốc… Nếu Đức Kitô và tâm tình của Người là đối tượng cuối cùng của việc huấn luyện thì chỉ Người, ông thợ gốm được ngôn sứ Yêrêmia nói tới, có thể làm việc với đất sét với một lòng kiên gan bền chí vô hạn: chà gọt, đánh bóng, hoàn chỉnh và tô điểm…cho đến khi trở thành sản phẩm theo yêu cầu của  mình (Gr 18,4) “Lạy Đức Chúa, Ngài là Cha chúng con, chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con.” (Is 64,7)

Nếu Chúa Kitô là nhà huấn luyện bậc nhất, chúng ta hãy xem vài khía cạnh mà người huấn luyện trung gian có thể can thiệp. Tự bản chất, việc trung gian làm nổi bật đối tượng (Chúa Kitô) và chủ thể (người trẻ).

  • Người huấn luyện giúp người trẻ đào sâu Chân-Thiện-Mỹ của Đức Kitô và tâm tình của Người như là giá trị tối cao của đời sống họ. Hai điều kiện không thể thiếu trong công việc này: Trước tiên, người huấn luyện phải thực sự say đắm vẻ đẹp của Chúa Kitô. Có thể nói rằng điều họ đề nghị cho kẻ khác, thì họ đã trải nghiệm như là nguồn của sự tròn đầy và toại nguyện. Nếu họ tìm sự mãn nguyện nơi các tạo vật, ngay cả trong ước muốn, họ không nên là người huấn luyện. Thứ đến, người huấn luyện có khả năng chia sẻ với người khác niềm hạnh phúc thuộc về Thiên Chúa. Dù người huấn luyện có đạo đức cá nhân, sống khổ chế, nếu họ không trải nghiệm các ân phúc và sự thanh thản nơi sự chọn lựa cuộc sống của họ, nếu họ không cảm nghiệm được niềm hân hoan thì họ không nên giữ vai trò huấn luyện. Nếu huấn luyện là một nghệ thuật thì người huấn luyện là một nghệ nhân, được “nghệ nhân Ngôi Lời”[iii] thu hút để loan truyền và làm cho vẻ đẹp lan tỏa.
  • Người huấn luyện làm cho người trẻ tăng trưởng bằng sự “lây nhiễm”. Người huấn luyện giúp người trẻ nhận biết căn tính của mình trong Đức Kitô. Chân-Thiện-Mỹ của Đức Kitô trở thành chân-thiện-mỹ nơi chủ thể noi theo Người. Tâm tình của Đức Kitô ngày càng trở nên tâm tình của người trẻ. Đây là điểm quyết định của toàn bộ tiến trình huấn luyện, đòi hỏi người huấn luyện khả năng của một người thợ lành nghề để can thiệp với sự tế nhị và khôn ngoan vào toàn bộ sức mạnh tâm lý: vào trái tim để yêu say đắm Thiên Chúa, vào tâm trí để chiêm ngắm Thiên Chúa, vào ý chí để họ ao ước điều Thiên Chúa ao ước. Như vậy, việc huấn luyện hình thành sự tự do: sự tự do để cho chính mình được Con Thiên Chúa soi tỏ và tâm tình của Người lôi cuốn. Đạt tới ranh giới của sự huyền nhiệm, con người để cho chính mình được Thánh Thần Thiên Chúa đúc khuôn trong sự tự do từ bỏ. Người huấn luyện tác động trên các cuộc gặp gỡ này nhưng họ là người trung gian và náo hoạt trong mức độ chính họ gần gủi mật thiết với huyền nhiệm và khổ chế[iv]. Họ biết cách làm thế nào để đem vào người khác những tâm tình mà chính họ đã đón nhận và sống nơi mình.

c. Đồng hành

Nhà giáo dục – đồng hành mà chúng ta nói tới là người lớn tuổi hơn, già dặn kinh nghiệm sống và đời tu, cùng sống bên cạnh những người trẻ để chia sẻ với họ một phần của hành trình và cuộc sống, giúp họ nhận biết rõ hơn chính mình và ân huệ mà đã ban cho họ nhờ đó họ có thể đáp trả cách tự do và với trách nhiệm. Chiều kích của cái tôi được nói tới ở đây là cái tôi trong tương quan (the self in relation).

Đồng hành là hình thức mà Chúa Yêsu đã thực hiện trên đường Emmau. Đó là hình tượng của việc đồng hành trong đức tin. Nhưng, trên hết đồng hành là phương pháp của Chúa Thánh Thần, “vị khách ngọt ngào của tâm hồn”, bạn đồng hành của chúng ta trong Thiên Chúa, Đấng uốn nắn mỗi chúng ta theo hình ảnh của Đức Kitô.

“Chúa Thánh Thần hiện diện nơi mọi người nam và nữ, để hướng dẫn họ biện phân căn tính riêng của họ là những người tín hữu, để khuôn đúc họ phù hợp hoàn toàn với kiểu mẫu của tình yêu Thiên Chúa. Là Thánh Thần thánh hóa, Người tái tạo “dấu ấn thần linh” nơi mỗi con người vì Người là Đấng sáng tạo kiên nhẫn của tâm hồn chúng ta và là Đấng “an ủi tuyệt vời.”

Do đó, điều cơ bản là người trẻ cảm nhận được Chúa Thánh Thần là người bạn trung tín, Người sẽ dẫn họ tới sự thật toàn vẹn và sự khôn ngoan của trái tim, Người cử xử như là một người dẫn đường thân thiện để làm cho người trẻ trở thành chứng nhân của Chúa Yêsu.

Sự nhận biết và nếm cảm Chúa Thánh Thần trong đời sống sẽ làm cho người trẻ hoàn toàn sẵn sàng để cho mình được đồng hành bởi một người anh/chị lớn tuổi hơn mà không đòi hỏi họ phải hoàn hảo. Tin vào Chúa Thánh Thần thì cũng tin vào những trung gian của Người. Ai đã học cách phó mình trong tay Chúa Thánh Thần thì không sợ hãi chia sẻ đời mình, phó thác mình vào tay những người chia sẻ công việc của Chúa Thánh Thần. Do đó, tin tưởng, từ bỏ, quên mình trở thành những ưu điểm tiêu biểu và hoa trái của sự can thiệp mang tính sư phạm này.

Ở bình diện ơn gọi, nếu giáo dục đòi hỏi đào lên sự thật chủ quan, huấn luyện một cách nào đó, tạo nên một sự kích thích nơi chủ thể, thì đồng hành là tập trung toàn bộ con người, tâm, trí và ý chí, để đáp lại tiếng gọi của Thánh Thần. Trở lại với cách làm của nhà nông, sau khi sửa soạn đất (giáo dục) và gieo giống tốt (huấn luyện), đồng hành là tất cả sự chăm sóc mà người nông dân dành cho cây trồng non nớt đang trong tiến trình lớn lên; ông luôn ở gần, xem nó đâm chồi nảy lộc. Sự hiện diện của ông bảo vệ và tăng cường sự phát triển của cây.

Ba đặc tính cơ bản của việc đồng hành:

  • Một sự chia sẻ đời sống thực sự

Để quan sát tính cách và từ đó biết được thái độ, tình cảm cũng như động lực, điều không thể thiếu là người huấn luyện phải ở gần với người được đồng hành cách kiên trì và chăm chú. Đời sống chung hằng ngày là nguồn thông tin tốt nhất để biết một người. Để có thể ghi nhận một số tín hiệu của tính cách như là cách phản ứng, sự thông cảm, ác cảm, cảm xúc, sự chán nản, những thói quen, tính hài hước, thái độ không khoan dung, tính hay quên, sự bẳn gắt, nét kỳ quặc…cho phép ta có được bức tranh khá đầy đủ và do đó có thể dễ dàng nhân diện cách chung trạng thái và những điều bất ổn chính yếu.

  • Điều kiện thứ hai là khả năng – việc chuẩn bị về phía người giáo dục – huấn luyện, nếu họ muốn thực sự đồng hành anh/chị/ em trên con đường của Chúa Thánh Thần thì họ phải kết hợp các kinh nghiệm thiêng liêng với sự am hiểu về những định luật phát triển tâm lý. Các điều này sẽ cho phép người huấn luyện không chỉ giúp người trẻ trong các khó khăn của họ, nhưng còn nắm được sự thật về họ, ở bình diện ý thức hay vô thức, để đề nghị giải pháp cho các vấn đề của họ và giúp họ biết để cho mình, vượt qua thái độ đối kháng và sợ hãi để được Chúa Thánh Thần tác động. Một khả năng như thế chỉ có thể là hoa trái của một tiến trình huấn luyện đều đặn và có hệ thống dành cho người huấn luyện. Đây không phải là khả năng của nhà tâm lý học, nhưng là của con người thiêng liêng, được hiểu theo nghĩa thông thường, đem ứng dụng khoa học về con người để sửa soạn con người đón nhận Chúa Thánh Thần.
  • Cuối cùng chúng ta xem xét ý nghĩa truyền thống của từ đồng hành, do từ La tinh thời trung cổ “cum-pane”, có nghĩa là “người có chung lương thực” (the one who has his bread in common). Đồng hành một người muốn dâng hiến đời sống cho TC không đơn giản là hướng dẫn thiêng liêng hay soạn bài dạy họ, hoặc thiết lập những mối tương quan một chiều với họ, nhưng là cùng với họ thực hiệncử hành những kinh nghiệm, luôn luôn mới và trọn vẹn vì đây là kinh nghiệm về Thiên Chúa, đã khởi sự giữa hai người và đang tiếp tục hướng tới Người. Đồng hành có nghĩa sâu xa là chia sẻ, và chia sẻ một điều có tính sống còn giống như “lương thực cho cuộc hành trình” – đó chính là đức tin, ký ức về TC, kinh nghiệm của phấn đấu, của sự tìm kiếm và về tình yêu TC. Người huấn luyện không nhất thiết phải bày tỏ chính mình cách thân mật như thể mối tương quan trong việc đồng hành chỉ là một hình thức bạn bè, nhưng người huấn luyện phải nhìn nhận mối liên hệ cá nhân không thể tránh trong cuộc hành trình này, để chấp nhận gần gủi với người đang đồng hành với mình, để chia sẻ với họ những gì mà người huấn luyện đã trải nghiệm như là điều quan trọng để gặp Thiên Chúa và để cho chính mình được Thiên Chúa yêu mến. Một người huấn luyện không bao giờ có nhiều sức thuyết phục cho bằng khi họ tuyên xưng lòng tin của mình. Họ không chỉ củng cố lòng tin của kẻ khác, nhưng cùng đi vào một hành trình để có được những trải nghiệm mới và để cho chính mình được huấn luyện. Anh em (chị em) già trẻ cả hai cùng được Thánh thần của TC, nhà huấn luyện duy nhất đồng hành. Việc đồng hành không phải là tình bạn đơn thuần nhưng là tình bạn trong CTT.

Có thể nói rằng trong khi đồng hành với người trẻ trên con đường của CTT, người huấn luyện tiếp tục thực hành việc thường huấn của mình.

Dưới đây là tổng hợp ba phương pháp sư phạm với những đặc tính cơ bản

GIÁO DỤC HUẤN LUYỆN ĐỒNG HÀNH
Chúa Ba Ngôi CHA CON THÁNH THẦN
 

Khoa

Sư Phạm

Đặc Trưng

Tìm sự thật của chính mình vì con người có thể phát huy tới mức tối đa các năng lực của mình Khơi gợi thực hiện một dự phóng siêu việt như là cách thức và quy tắc của đời sống Tập họp tâm-trí-ý chí, toàn bộ con người và hướng dẫn họ trên con đường nhận thức – trải nghiệm – khôn ngoan
Vị trí 

của Cái Tôi

Cái Tôi Hiện tại Cái Tôi Lý tưởng Cái Tôi Tương quan
 

 

Hình Tượng Kinh Thánh

Chúa Cha – Đấng Tạo Dựng làm nên mọi sự từ hư vô; Người đã đem Ít-ra-en ra khỏi Ai Cập và giáo dục họ trong sa mạc Sự tự hủy của Chúa Con; như người thợ gốm, Chúa Con khuôn đúc tâm tình của Người trong tâm hồn những người được thánh hiến Chúa Thánh Thần, người hướng đạo và là bạn giúp nhận ra Chúa Yêsu khi Người giải thích Kinh thánh và bẻ bánh.
Hành Trình  

Sư Phạm

Từ Chân thành tới sự Thật Từ sự Thật tới Tự do Từ Tự do tới Trao- ban-Chính-mình
 

 

 

Phương Cách Giáo Dục

Người hướng dẫn biết chính mình, và vượt qua những bất ổn nơi mình, để giúp người trẻ cùng đi trên một con đường. Đề nghị của Đức Kitô và về Chân-Thiện-Mỹ khách quan của Người, để khơi gợi nơi tâm-trí-ý chí người trẻ một sự kết hợp mật thiết Chia sẻ trong một thời gian liên tục hành trình và đời sống với người trẻ, nhất là những gì liên quan đến lòng tin và ân huệ của Thánh thần, cùng với việc sử dụng khả năng của chính mình

 



[i] Sẽ trình bày trong một bài khác. (Người dịch)

[ii] Điều này đúng với môi trường của tác giả ở Châu Âu; ở Việt Nam, giáo dục theo cách thức nói trong bài cũng chưa được ứng dụng nhiều. (Người dịch)

[iii] Grêgôriô Nadian,  Bài giảng 8,8: PG xxxv, p. 797.

[iv] Khổ chế là cách diễn tả tự nhiên và không thể thiếu của kinh nghiệm về Thiên Chúa.

Một sự chiêm ngưỡng liên lĩ về mầu nhiệm Thiên Chúa, qua đó người thánh hiến nhận biết cả dáng vẻ bề ngoài và thân phận của mình, xác định những điều cần để làm cho mình phù hợp với Thiên Chúa, bằng cách để cho Thiên Chúa khuôn đúc thái độ, lời nói, ý nghĩ và ước muốn của mình. Đó chính là khổ chế. (Amedeo Cencini, Tâm Tình Người Con, Một Hành Trình Huấn Luyện trongĐời Tu…ibid., trg 175.)