Danh mục: Năm B

  • Các bài suy niệm Lễ Chúa Giêsu-Kitô Vua Vũ Trụ Năm B

    Các bài suy niệm Lễ Chúa Giêsu-Kitô Vua Vũ Trụ Năm B

    LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA – B

    Lời Chúa: Đn. 7, 13-14; Kh. 1, 5-8; Ga. 18, 33b-37

    —–

    Mục lục

    1. Ông có phải là vua không? (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Vua Giêsu  (Lm. Thái Nguyên)

    3. Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ (Jorathe Nắng Tím)

    4. Đường đến hạnh phúc (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    5. Chiến sĩ của Đức Kitô (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    6. Giêsu, Đức Vua Tình Yêu (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Vua sự thật  (Lm. Vũ Đình Tường)

    8. Vua yêu thương và vua hòa bình  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    9. Nước của tôi  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    10. Đức Vua Nhân Lành (Trầm Thiên Thu)

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Sống phút hiện tại  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    2. Sống yêu thương trong thế giới dối gian (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Chúa Kitô Vua.  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    4. Chúa Kitô Vua  (Jorathe Nắng Tím)

    5. Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

    6. Vua Vũ Trụ  (Lm. Trần Việt Hùng)

    7. Nước của sự thật  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    8. Suy niệm Chúa Nhật 34 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    9. Vua khiêm nhường và phục vụ  (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

    10. Đức Giêsu là vua ư? (Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn)

    11. Đức Kitô làm vua đời tôi (Lm. Nguyễn Hữu Thy)

    12. Vua Giêsu  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    13. Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    14. Vạn tuế Đức Kitô! (Trầm Thiên Thu)

    15. Giêsu, Đức Vua Tình Yêu  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    16. Vương miện  (Lm. Vũ Đình Tường)

    17. Chúa Giêsu Kitô, Vua tình yêu và sự thật  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    18. Vương quốc tình yêu (Lm. Giuse Nguyễn)

    19. Tôn Chúa Giêsu làm vua của mình  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    20. Song hỉ lâm tâm  (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    21. Chúa Giêsu Kitô – Vua tình yêu  (Lm. Simon Nguyễn Thanh Tú)

    22. Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua_B (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    23. Chúa Kitô Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    24. Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật (Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng)

    25. Vua thật (Lm. Thái Sơn)

    26. Suy niệm và chú giải Lời Chúa – Lễ Chúa Kit ô Vua (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    27. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi (Fx. Đỗ Công Minh)

    28. Ông vua lạ đời  (Lm. JM. Lam Thy, ĐVD)

     

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Chúa Kitô Vua Vũ Trụ (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    2. Làm vua là làm chứng (Gm. Giuse Vũ Duy Thống. Trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

    3. Vua sự thật  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    4. Chúa Giêsu là chân lý  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    5. Chúa Giêsu Kitô là Vua vũ trụ (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    6. Vua chân lý  (Trầm Thiên Thu)

    7. Tôi là Vua (Văn Hào, SDB)

    8. Chân lý  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    9. Vị Vua trên Thập giá  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    10. Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

    11. Nói sự thật  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    12. Vua Tình Yêu (Huệ Minh)

    13. Đức Giêsu Vua hoàn vũ (AM Trần Bình An)

    14. Để nên thành viên trong vương quốc của Vua Giêsu  (Lm. Đan Vinh)

    .

    ÔNG CÓ PHẢI LÀ VUA KHÔNG?

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Ông có phải là vua không? Đó là câu hỏi Philatô đặt ra cho Chúa Giêsu trong một phiên toà xét xử. Ông là Tổng Trấn đại diện cho chính quyền Rôma. Trong vụ việc này, ông là Thẩm phán và Chúa Giêsu là “bị can”. Câu trả lời không dễ. Nếu Đức Giêsu không phải là vua, thì Người cũng chỉ như mọi vĩ nhân đã từng hiện hữu trong lịch sử và đã qua đi. Nếu còn lại thì chỉ là những giáo huấn như di sản cho hậu thế. Nhưng, nếu Người là Vua thì sao? Chấp nhận Người là Vua sẽ làm đảo lộn cả thế giới. Tuyên xưng Người là Vua sẽ làm cho lòng người day dứt khôn nguôi. Bởi lẽ vị Vua ấy sẽ xét xử mỗi người chúng ta, không chỉ vào lúc tận cùng của thời gian, nhưng mỗi giây mỗi phút của cuộc đời.

    Để trả lời câu hỏi này của Philatô, Chúa lại đặt một câu hỏi khác: Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi? Trong các Tin Mừng, ta thấy có những lần Chúa áp dụng hình thức này. Người không khẳng định mà cũng không phủ nhận nội dung câu hỏi được nêu ra, nhưng Người đáp lại bằng một câu hỏi khác. Khi một chàng thanh niên hỏi Chúa: Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được cuộc sống đời đời làm gia nghiệp, Chúa hỏi lại: Sao anh gọi tôi là nhân lành. Khi Phêrô hỏi Chúa: “Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?“, Chúa đáp: “Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc? (Lc 12, 41- 42). Phải chăng Chúa thấy rõ Philatô không thể hiểu đúng chức vị vua của Người, nên Người chỉ tỏ cho ông ta thấy sứ mạng của Người hơn là danh tính hay chức vị. Chúa đã giải thích: Người đến từ thế giới trên cao. Người không làm vua theo nghĩa trần tục, nhưng Người là Vua Chân lý. Điều này, Philatô không thể hiểu. Ông đặt một câu hỏi khác có vẻ không đúng lúc: Chân lý là gì? Vì vậy mà Chúa im lặng không trả lời. Chân lý không thể tóm gọn trong một câu định nghĩa. Chân lý chỉ được đón nhận với một con tim rộng mở và với một tấm lòng hướng thiện chân thành, để rồi, mọi ngôn hành của con người đều nhằm sống theo Chân lý mà mình khám phá và tôn nhận. Sống theo Chân lý tức là nỗ lực cố gắng suốt cả cuộc đời.

    Ngày lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, người tín hữu cùng với Giáo hội tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu thế, Đấng Giải phóng và là Vua. Chúa là Vua không theo cách hiểu của người đời. Vương quốc của Người là vương quốc vĩnh cửu. Vương quốc ấy không giới hạn bằng ranh giới biên cương, nhưng tất cả những ai sống theo Sự thật thì là công dân của vương quốc này. Luật của vương quốc này chỉ vỏn vẹn hai chữ: Yêu Thương, vì khi yêu thương thì đã chu toàn lề luật (Rm 13,10).

    Khi nhắc lại câu hỏi của Philatô: Ông có phải là vua không? Người tín hữu khẳng định niềm xác tín của mình và tuyên xưng Người là Vua vũ trụ. Một khi tôn vinh Người là Vua, thì Bí tích Thanh tẩy đã làm cho người tín hữu trở thành công dân của vương quốc có Chúa Giêsu cai trị. Người công dân có bổn phận phải lắng nghe và tuân giữ những chỉ thị của vua mình, hầu kiến tạo sự hoà bình và làm cho vương quốc ấy thăng tiến.

    Chúa Giêsu đến trần gian để loan báo Nước Trời: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Người cũng dạy chúng ta cầu nguyện cho “Nước Cha trị đến”. Vương quốc của Đức Giêsu đã được khai mở ở trần gian này rồi, nhưng vẫn chưa được thành toàn. Sự thành toàn của vương quốc Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong tương lai, lúc ấy, Con Người sẽ từ mây trời ngự đến, thống trị vinh quang mãi mãi (Bài đọc I). Tác giả sách Khải Huyền (Bài đọc II) nhắc chúng ta: chính Chúa Giêsu, vị Chứng Nhân trung thành, sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế để xét xử con người. Như thế, hình ảnh “Con Người” mà ngôn sứ Đanien đã được chiêm ngưỡng, đã được các Kitô hữu từ thuở ban đầu áp dụng cho Chúa Giêsu. Người là Vua vũ trụ và là Đấng thống trị lòng người bằng tình yêu.

    “Ông có phải là Vua không”? Nhân loại hôm nay đang đặt ra câu hỏi ấy. Là Kitô hữu, chúng ta hãy trả lời và khẳng định: Phải, Chúa là Vua. Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã được Chúa Cha ban cho Người. Người vẫn đang hiện diện giữa chúng ta để yêu thương và dẫn dắt chúng ta trên mỗi bước đường của cuộc sống, nhờ đó mà chúng ta vững một niềm tin, sẽ đạt tới bến bờ của hạnh phúc.

    Về mục lục

    VUA GIÊSU

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Đứng trước tòa, quan tổng trấn hỏi cung Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”. Trước khi trả lời, Đức Giêsu hỏi lại Philatô: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”. Qua câu hỏi này, Đức Giêsu muốn cho ông thấy rõ hơn con người của ông: Ông tự đặt vấn đề hay dân chúng đặt vấn đề cho ông? Ông có lập trường không hay bị dư luận xô đẩy? Ông có tự do hành động không hay do sự thúc ép của đám đông? Ông nghe theo lương tâm hay nghe theo người khác? Ông có can đảm làm theo những gì mình biết không, hay cũng chỉ là kẻ hèn nhát lo bám níu vào chức vụ, quyền hành?

    Philatô chỉ lấp lửng trả lời theo kiểu nghi vấn:“Tôi là người Do thái sao?”. Quả là một câu nói khinh thường và vô trách nhiệm. Và phải chăng đó cũng là lối sống và là cách hành động của ông? Xem ra ông là vị quan rất quyền lực, nhưng thực tế cũng chỉ là tay sai và nô lệ cho quyền thế, cố gắng giữ lấy chiếc ghế chứ không muốn xử trí mọi cái theo sự thật hay lẽ phải. Trước thái độ mập mờ của Philatô, Chúa Giêsu đã thẳng thắn xác định:“Nước tôi không thuộc về thế gian này…”.

    Khi nói“Nước tôi”, Chúa Giêsu không phủ nhận mình là Vua, nhưng không phải là Vua theo kiểu người Do thái và Philatô quan niệm. Ngài là vua theo ý muốn của Thiên Chúa chứ không theo mơ ước của người đời. Rõ ràng là vương quốc của Ngài không nhắm vào mục tiêu chính trị, càng không sử dụng những phương thế trần gian như vũ khí, bạo lực, quân lực… Chúa Giêsu không phải là Đấng Mêsia theo kiểu phàm nhân, lo thực hiện công cuộc giải phóng theo kiểu phàm tục. Thật ra, Philatô biết chỉ vì ghen ghét mà người Do Thái bắt nộp Đức Giêsu. Nhưng rất tiếc, ông biết một đàng nhưng rồi làm một nẻo.

    Tiếp theo đó, Chúa Giêsu còn xác định căn tính và sứ mạng của mình: “là để làm chứng cho sự thật.” vì Nước của Ngài là Nước của sự thật, vì Thiên Chúa, Cha của Ngài là Đấng Chân Thật. Chỉ có sự thật mới giải thoát con người, cho con người được sống trong bình an và hạnh phúc. Tuy nhiên, không mấy ai mà ham sống thành thật? Kẻ thành thật thường thua thiệt, lại bị coi là dại dột. Sự dối trá quỷ quyệt nhiều khi được coi là khôn ngoan. Khi sự thật bị bưng bít thì tất cả đều ra tối tăm và sự gian ác lan tràn. Chính trong ý nghĩa đó mà Chúa Giêsu mạnh dạn tuyên bố trước Philatô:“Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đó cũng là một lời mời gọi xoáy vào tận tâm não của những ai còn chút lương tri, để họ kịp nhận ra chân lý làm người. Thực tế, không mấy ai dám đứng về phía sự thật, vì sợ bị liên lụy, có khi mất cả thanh danh, sự nghiệp. Chính vì sợ như thế mà Philatô đã giao Chúa Giêsu cho binh lính hành hình, và cuối cùng giao cho người Do Thái để tử hình. Quả thật, sự dối trá đưa đến chỗ hủy diệt người công chính.

    Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy dẫy sự dối trá, vì người ta sợ sự thật, sợ nói thật, sợ sống thật. Sự thật không còn là sự thật, mà sự thật là điều gì có lợi cho tôi. Một định nghĩa thật man trá, nên người ta dối trá một cách trắng trợn, trơn tru, không còn chút áy náy, vì thấy lương tâm không bằng lương thực hay lương tháng. Tiếng lương tâm là tiếng Chúa. Khi lương tâm bị băng hoại thì lòng tin vào nhau bị đổ vỡ, người ta sẽ sống trong sự nghi kị, đối phó, mưu mô… trở thành nạn nhân của chính mình và của một xã hội xây dựng trên sự gian tà.

    Mất đi sự thật thì tình yêu chỉ còn là gian dối, chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau để có được những gì mình ham muốn. Không lạ gì mà bạo lực, hận thù, bất công, nghèo đói… ngày càng gia tăng khắp nơi. Thế lực của sự dữ và tội ác như đang thắng thế. Nước Chúa vẫn là điều xa xôi mịt mờ. Tuy nhiên, chúng ta tin vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, những gì không phải là sự thật thì tự nó sẽ tiêu tan, và tình yêu chân chính vẫn là sức hút mãnh liệt, đồng thời là tiếng nói cuối cùng để phân chia đôi bờ thiện ác. Điều quan trọng là chúng ta phải góp phần với Chúa để Phúc Âm hóa gia đình và môi trường xung quanh mình, làm cho tinh thần Giêsu thấm nhập vào mọi cơ cấu xã hội, chuẩn bị cho ngày thành tựu viên mãn trong Đức Kitô, Vua muôn đời.

    Cầu nguyện

    Lạy Cha!
    Phải chăng sau vụ nổ Big-bang,
    vũ trụ từ đó được khai trương,
    để rồi càng ngày càng bành trướng,
    khởi xướng ra muôn vạn hành tinh?

    Phải chăng trái đất từ hạt bụi nhỏ xíu?
    nhưng lại lớn lao và biết bao kỳ diệu,
    là hành tinh được Cha quá thương yêu,
    đến nỗi đã ban xuống Người Con Một,
    sống phận người để cứu chuộc thế nhân,
    và còn mãi dấu chân trên mặt đất.

    Mừng lễ Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ,
    chúng con hướng nhìn về trái đất,
    nơi có gần chín tỷ người đang sống,
    đang dựng xây và phát triển không ngừng,
    nhưng trong đó có biết bao tệ nạn,
    khiến con người phải khốn khổ lầm than.

    Xem ra sự dữ và tội ác đang thắng thế,
    ích kỷ hận thù và bạo lực vẫn gia tăng,
    cuộc sống ngày càng thêm gian trá,
    vì người ta ham vui thú sa đà.

    Xin cho chúng con biết xây dựng thế trần,
    với cả tinh thần của công dân Nước Chúa,
    Nước của yêu thương và hòa bình chân thật,
    nên Kitô hữu phải là chứng nhân bất khuất,
    để đem lại cho trái đất sự an lành,
    để mọi sự được hoàn thành theo ý Chúa.

    Xin cho danh Chúa được rạng ngời,
    cho Nước Chúa càng ngày càng mau tới,
    cho đến khi thành tựu ở quê trời,
    trong Giêsu Vua ngàn đời vinh hiển. Amen.

    Về mục lục

    ĐỨC GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ

    Jorathe Nắng Tím  

    Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa luôn được mô tả và trình bày như một vị vua “mặc oai phong tựa cẩm bào, lấy dũng lực làm cân đai. Ngai vàng kiên cố tự ngàn xưa, thánh chỉ muôn đời bền vững, nơi đền vàng rực rỡ hào quang thánh thiện triền miên qua mọi thời” (Tv 92, 1.2.5).

    Sở dĩ hình ảnh đức vua lẫm liệt, oai hùng là hình ảnh nổi bật trong Kinh Thánh Cựu Ước vì người Do Thái luôn phải đối đầu với các dân tộc có vua, nên Đức Chúa họ tôn thờ phải cao hơn tất cả các vua, phải là “Vua muôn vua ”như ngôn sứ  Đanien đã thị kiến về Đức Giêsu, vua vũ trụ: “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa; có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trnìh diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7, 13-14).

    Bước qua thời Tân Ước, hình ảnh Đức Giêsu vua được trình bày như  “Đấng được xức dầu”,  con vua Đavít, Đấng Thiên Sai mà toàn dân  mong đợi để tái lập vương quốc Ítraen, quy tụ con dân từ khắp nơi, và vương quyền của Ngài vĩnh cửu vì Ngài là Khởi Nguyên và Tận  Cùng  (x. Kh 1, 8)

    Sự khác biệt ở đây, chính là hình ảnh Đức Giêsu vua trong Tân Ước không còn  giữ nguyên bản hình ảnh vua của Cựu Ước khi “Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1, 5-6).

    Sự khác biệt này còn rõ nét qua cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và quan tổng trấn Philatô, người ngồi ghế quan toà xét xử Đức Giêsu, khi “người Do Thái điệu Ngài từ nhà ông Caipha đến dinh tổng trấn” (Ga 18,28). Trả lời câu hỏi của quan Philatô: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”, Đức Giêsu khẳng định sự khác biệt giữa vương quyền của Ngài và vương quyền của các vua chúa thế gian: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36):

    Không thuộc về thế gian, nên tuy là Vua, nhưng vương quốc của Đức Giêsu không cùng bản chất với các vương quốc khác, vì là Vương Quốc của Thiên Chúa.

    Không thuộc về thế gian, vì vương quốc của Thiên Chúa do Thiên Chúa thiết lập với Hiến Chương Nước Trời là con đường Hạnh Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, hiền lành, khiêm nhường, cho người sầu khổ , bất hạnh, bị hàm oan, vu khống, bách hại, cho người khát khao nên người công chính, xây dựng hoà bình và có lòng thương xót. Và hạnh phúc  được Thiên Chúa  hứa ban ấy chính là Nước Trời, Đất Hứa, được Thiên Chúa ủi an, được làm con và  được thấy Thiên Chúa (x. Mt 5,3-12).

    Vì không thuộc về thế gian, nên Nước Thiên Chúa không theo đường lối cai trị của vua chúa, lãnh tụ thế gian “dùng uy mà  thống trị dân, lấy quyền mà cai quản dân, nhưng “ai muốn làm lớn thì phải là người phục vụ, ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ ” vì  đường lối của Vương Quốc Thiên Chúa là yêu thương phục vụ (x. Mt 20,24-28).

    Vì không thuộc về thế gian, nên Nước ấy không chịu bất cứ áp lực nào của thế gian khống chế, nhưng tự do làm chứng Sự Thật, vì Sự Thật đến từ Thiên Chúa,và Đức Giêsu, Vua của vương quốc này chính là “Đường, Sự Thât và Sự Sống” (Ga 14,6), “Con Một đầy tràn ân sủng  và sự thật” (Ga 1,14), Đấng đã công khai xác nhận trước mặt quan Philatô: “Tôi đã sinh ra và đến thế gian với mục đích: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phiá sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

    Vì không thuộc về thế gian, nên những gì Nước ấy tìm kiếm đều thuộc về Thiên Chúa, như “Danh thánh Chúa  ở trên trời được vinh hiển, triều đại Thiên Chúa mau đến, ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 5,9-10), cũng như phần thưởng đợi chờ là hạnh phúc được chiêm ngắm Thiên Chúa, được ở với Ngài, được Nước Trời làm gia nghiệp (x. Mt 5, 3-12).

    Vì không thuộc về thế gian, nên Nước Thiên Chúa không cần binh hùng tướng mạnh, mạng lưới an ninh, hay cơ sở kinh tế, kinh tài, nhưng đón nhận những  tâm hồn nghèo khó để có chỗ cho Thiên Chúa, những tâm hồn trong sạch để được thấy Thiên Chúa, những trái tim bao dung, thương xót  để được Thiên Chúa xót thương cứu độ, những tấm lòng khiêm tốn,  hiền hoà để sống đời công chính và cùng mọi người xây dựng hoà bình (x. Mt 5,3-12).

    Vì không thuộc về thế gian, nên đường lối được coi là khôn ngoan, sức mạnh được coi là bách chiến bách thắng của các nước thế gian không là chọn lựa của Nước Thiên Chúa, bởi Đấng mà Nước Trời rao giảng là “Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.” (1 Cr 1, 23-25).

    Vì thế, những công dân của Nước Trời thường bị  người đời coi là điên dại, khi họ yêu thương cả kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ hàm oan,  vu khống, ngược đãi, bách hại họ (x Mt 5,44); những con dân của Nước Thiên Chúa thường bị nhìn như những người ngu dốt, khờ khạo khi yêu thương, phục vụ người nghèo khó,  yếu đuối, hèn mọn không mang lại bất cứ mối lợi nào cho họ, nếu không phải  là những rắc rối,  phiền phức, rủi ro, nguy hiểm; những thành viên của Vương Quốc Thiên Chúa ở đâu và thời nào cũng bị coi là nhu nhược khi thứ tha vô điều kiện, và quảng đại chia sẻ, sẵn sàng hy sinh nhận về  mình những  thiệt thòi, thua lỗ, vì ích chung và  hạnh phúc của tha nhân (x. Mt 5, 38-42).

    Tóm lại, vì không thuộc về thế gian, nên Vương Quốc của Đức Giêsu có Hiến Chương Nước Trời, có Giới Luật Yêu Thương của Thiên Chúa, có Lãnh Thổ là Đất Hứa đời đời, có Cùng Đích tuyệt đối, có Phần Thưởng vô cùng,  và Tương Lai hằng phúc là chính Thiên Chúa giàu lòng xót thương.

    Vì thế, muốn trở thành công dân của Vương Quốc ấy, người được kêu gọi phải vượt qua rất nhiều rào cản của “vương quốc thế gian” là những tham vọng bá quyền, bá chủ, những sôi sục tìm kiếm quyền lực thống trị, những mưu đồ trục lợi bất công, bất chính  để mặc lấy “niềm hy vọng” thuộc về Vương Quốc  có  Đức Giêsu là Thiên Chúa, và là Vua Tình Yêu, Đấng tự nguyện trở nên tôi tớ, và chết cái chết của  tội nhân để xóa sạch mọi lỗi lầm của con người tội lỗi.

    Và trong Vương Quốc ấy, mọi thần dân đều nhận được ơn Bình An của Đức Giêsu, Vua nhân hậu như lời Ngài phán “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14, 27), Bình An mà thế gian không ban được, vì “Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian” (Ga 14,27), như Vương Quốc của Thầy không thuộc về thế gian này.

    Về mục lục

    ĐƯỜNG ĐẾN HẠNH PHÚC

    Lm. Jos DĐH.

    Công thức của thành công là gì ? Nhà khoa học Einstein đã trả lời: A= x+y+z, trong đó x là công việc, y là trò chơi, còn z là khoá miệng lại, nghĩa là hãy nói ít, làm nhiều. Cho dù khả năng hiểu biết, giai cấp, thời đại, có sự chênh lệch, nhưng mỗi người đều có cơ hội chứng minh cho thiên hạ “tôi đã thành công”. Muốn công danh sự nghiệp tốt đẹp, vạn sự như ý, tỉ sự như mơ, chìa khoá để mở, phải là tình yêu, là công sức tập luyện, vì chưng, tiền nào, khôn ngoan nào, mở được cánh cửa thành công ? Lý thuyết, thực hành, suy tư hoặc thông thái, cùng lắm người ta chỉ có được hạnh phúc tương đối mà thôi. Thứ hạnh phúc thật và bình an thật, quan Philatô thao thức được Đức Giêsu chỉ dẫn: “Ông có phải là vua dân Do-thái không ? Ông đã làm gì ? vậy Ông là Vua ư ?”

    Đức Giêsu là vua vũ trụ, Đức Giêsu là vua tình yêu, lời công bố như thế chỉ có ý nghĩa, khi người ta hiểu vua vũ trụ, vua tình yêu, khác xa vua chúa quan quyền ở trần thế này. Nếu công thành danh toại là mơ ước tự nhiên của con người, hẳn sự thật mất lòng, sẽ là sự tinh tế vừa khôn vừa khéo, cha ông ta cảnh giác con cháu trong cư xử. Biết rút kinh nghiệm, nhớ được lời răn dạy: khôn ngoan đối đáp người ngoài, sẽ thích hợp hơn trong phạm vi chính trị, ngoai giao. Đức Giêsu hỏi Philatô, và còn tiếp tục hỏi chúng ta: “Quan tự ý biết tôi là vua, hay có ai khác nói với quan về tôi” ? Căn bản của thành công, phải là nói hay, làm giỏi, lý lẽ khiến người ta cúi đầu, không phản kháng, phải rõ ràng, chặt chẽ, như xã hội vẫn nói phải là tâm phục khẩu phục.

    Con đường đến thành công, con đường tới hạnh phúc, dài, ngắn, sẽ chẳng ai cân đo xuể, nhưng phải bắt đầu từ bước chân của mình, từ nỗ lực bản thân, cùng với trái tim biết rung động. Đức Giêsu thành công trong việc kêu gọi nhóm 12, không phải bằng uy quyền, nhưng là bằng sức mạnh tình yêu. Đức Giêsu ở bên Philatô không phải để cầu cạnh, phân bua, đấu tranh tư tưởng về quyền lực vật chất và tinh thần. Qua cuộc đối thoại của Philatô, dám chắc mọi người đều được Đức Giêsu khai lòng mở trí, hầu biết thế giới vạn vật này, luôn có Vị Vua tình yêu hiện diện, thôi thúc mọi người đạt tới hạnh phúc thật. Tục ngữ ca dao nói rằng: không ai yêu con bằng cha, không ai yêu con bằng mẹ; mẹ yêu con bằng dòng sữa ngọt, cha yêu con bằng giọt mặn mồ hôi. Đức Giêsu nói với Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Cũng có nghĩa, Nước Chúa là có thật, là sự thật, là vương quốc yêu thương.

    Con đường nào ngắn nhất để đến thành công, sự khôn ngoan nào sẽ đưa ta tới bến bờ hạnh phúc như lời đầy hứa hẹn: con vua thời lại làm vua ? Khái niệm vua chúa quan quyền, thành công vang dội, hiểu sâu biết rộng, trọn vẹn hạnh phúc, dù gì đi nữa cũng đáng để mọi người phấn đấu cho có được niềm vui làm con cháu quan chức. Vâng, thành công hay trưởng thành, không phải là khi ta có được những công to việc lớn, mà là khi ta hiểu được những điều bé nhỏ nơi cuộc sống này. Sự thật tuyệt đối không phải là sống để kiếm tiền, để làm giầu, nhưng sống là để kiếm tìm hạnh phúc. Philatô đủ uy quyền, tự do, ấy vậy mà ông vẫn khao khát gặp Đức Giêsu, muốn khám phá điều giản dị nơi Đức Giêsu, Đấng có sức hút kỳ lạ.

    Đường đến hạnh phúc, có thể mơ hồ đối với Philatô, đứng núi này, trông núi kia, muốn quyền to, chức lớn, lại ao ước có được sự thư thái bình an như Vua Giêsu đang ở trước mặt ông. Đường đến hạnh phúc không thích hợp cho kẻ dùng sức, dùng mưu, đường đến với Đức Giêsu ít là phải thật tình, thật tâm, khi người ta còn lơ mơ về Vị Vua tình yêu. Tiền nhân chúng ta cho rằng: duyên là do người ta biết giữ, mất duyên rồi, cố giữ cũng hoài công. Cơ hội đến hạnh phúc của mỗi người mỗi khác, dù bạn là Philatô, là anh lính chỉ biết thi hành mệnh lệnh, hay chỉ là những phụ nữ thành Giêrusalem, bạn vẫn thấy có sự kỳ lạ giữa vua quyền lực và Vua Giêsu. Đường đến thành công, cơ hội gặt hái hạnh phúc, không dừng lại ở việc giầu nghèo, giai cấp, đúng hơn là ta phải có một lập trường vững chắc để thực hành theo con tim thôi thúc.

    Tất cả mọi người muốn đến với nhau phải có đường đi, vì ta làm gì có cánh để bay ? Tất cả mọi muốn tìm đến hạnh phúc phúc, không thể chỉ đi bằng đôi chân, vì ta còn có con tim và khối óc. Philatô có duyên, có cơ hội, có cả uy quyền để gặp Vua Giêsu, nhưng đường đến hạnh phúc, sẽ mịt mù và sẽ xa lạ, khi người ta để danh vọng địa vị che khuất đường đi và tự do của mình. Thánh nữ Cêcilia để lại cho hậu thế một kinh nghiệm: “quyền uy ở đời giống như quả bong bóng, nó không thể tròn trịa được, nếu không có sự trợ giúp, quyền uy còn nguy hiểm như một vật nhọn, nó có thể làm quả xì bóng bất cứ lúc nào !” Đức Giêsu quả quyết: Tôi đến thế gian này để làm chứng về sự thật, ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Tôi”. Đức Giêsu, Vua tình yêu, Philatô đã được nghe, chúng ta cũng nghe, hãy thật lòng, chúng ta sẽ hiểu, sẽ hạnh phúc trong Thiên Chúa, Đấng giầu lòng xót thương. Amen.

    Về mục lục

    CHIẾN SĨ CỦA ĐỨC KITÔ

    Bông Hồng Nhỏ

    Thầy Giêsu kính mến!

    Hôm nay, khi nghe quan tổng trấn Philatô hỏi Thầy: “Ông có phải là vua dân Dothái không?”, con chờ đợi câu trả lời của Thầy. Trong những lúc Thầy rao giảng, đã bao lần người ta đã muốn tôn Thầy lên làm vua nhưng Thầy đều trốn lên núi một mình. Những lúc ấy, con thấy Thầy đi lên núi cầu nguyện. Trước câu hỏi của quan tổng trấn, Thầy không trả lời ông nhưng hỏi lại: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” (Ga 18, 34). Câu hỏi của Thầy làm cho con bị khựng lại, con vừa ngước mắt lên thì thấy ánh mắt Thầy đang hướng về con. Câu hỏi ấy, Thầy đang dành riêng cho con sao?

    Thầy! Con cảm phục Thầy không chỉ vì những lúc nghe Thầy rao giảng Tin Mừng, cảm phục trước những phép lạ Thầy thực hiện mà hôm nay, con còn cảm phục Thầy hơn nữa vì khí phách hiên ngang của Thầy. Thầy không hề bị xiềng xích trói buộc làm cho sợ hãi hay khiếp đảm nhưng vẫn đứng vững trước mọi biến cố xảy đến cho mình. Thầy hỏi lại quan tổng trấn để nhắc ông ý thức về những gì ông đang nói, những gì ông đang làm với trách nhiệm của mình. Thầy muốn biết quan xét xử dựa vào những lời cáo buộc hay dựa vào chính những lời mà bị cáo- chính Thầy sẽ nói. Ông Philatô trả lời: “Tôi là người Dothái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” (Ga 18, 35). Thầy là người Do thái, Thầy bị chính đồng bào kết án, bị chối bỏ bởi những người mà Thầy đã hết lòng yêu thương.

    Sự thật ấy thật chua xót và cay đắng quá! Thầy hiểu rõ điều đó hơn ai hết. Trước cuộc Thương Khó, Thầy đã nói cùng các môn đệ về nỗi xuyến xao trong lòng. Một người biết trước những gì sẽ xảy đến cho mình, cảm trước nỗi đau đớn và tuyệt vọng và đã đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu mà giờ đây, khi đứng trước tòa án Philatô lại hết sức bình tĩnh như vậy thì quả là một con người phi thường. Sức mạnh ấy Thầy đã kín múc từ chính trong tâm tình cầu nguyện, Thầy sống trong sự hiện diện của Chúa Cha và tràn đầy sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Thầy khẳng khái đáp lại: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18, 36). Thầy bị kết án là tự xưng mình là vua dân Do thái, bị khép vào tội chính trị. Thầy đâu đến để làm vua như cách mà người ta vẫn nghĩ, vẫn mong chờ. Người ta đã kết án Thầy dựa vào những gì mà chính họ đã từng mong chờ hay đã tham vọng. Trước câu nói của Thầy, quan tổng trấn lại hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Thầy đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18, 37). Thầy là vua nhưng là Vua Vũ Trụ. Thầy sẽ cai trị toàn thể vũ trụ bằng quyền năng tình thương. Thầy đến thế gian để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và ban cho họ sự sống mới, sự sống mà chính Thầy sẽ dành lại từ tay tử thần ngay trong chính Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Thầy.

    Thầy! Con từng nghe rất nhiều người nói nhiều điều tốt đẹp về Thầy. Con cũng nghe rất nhiều câu hỏi người ta dành cho Thầy. Có rất nhiều lần, con đến bên Thầy nhưng chỉ lặp lại những điều con nghe người ta nói về Thầy, lặp lại những gì con được học biết về Thầy. Vậy đâu là xác tín của chính bản thân con? Con xin lỗi Thầy vì đã bao lần con đến với Thầy nhưng chưa hiện diện với Thầy. Thầy cho con nhìn thấy chính mình cũng là kẻ đã từng đứng vào hàng ngũ của những người đã mạnh mẽ kết án Thầy. Con kết án Thầy khi Thầy không đáp ứng lời cầu xin của con. Con kết án Thầy khi Thầy không ban cho con điều con mong đợi hay tham vọng. Con cũng kết án Thầy khi con xét đoán anh chị em của con. Con đã không nhìn thấy Thầy hiện diện nơi họ, vì lúc ấy chính con đã không ở trong sự hiện diện của Thầy. Thầy ạ! Con xin lỗi Thầy về những lầm lỗi của con. Bây giờ, con xin Thầy dạy con cầu nguyện. Thầy muốn con làm môn đệ của Thầy phải không? Thầy đã thương con nhiều như thế mà con vẫn vô tâm thì con đáng tội và đáng thương quá. Con muốn theo gương Thầy. Thầy đã cầu nguyện cùng Chúa Cha, và chính tương quan mật thiết ấy mà Thầy được tràn đầy sức mạnh, để có thể thi hành thánh ý Cha trao bằng một tình yêu tự hiến đến cùng.

    Thầy! Nếu con đứng vào hàng ngũ của những chiến sĩ của Đức Kitô, con phải chiến đấu cho Nước của Thầy. Con phải đứng về phía sự thật. Chỉ khi sống theo sự thật, con mới nghe được tiếng của Thầy. Con muốn thuộc về dân của Thầy. Xin Thầy thánh hóa ước nguyện của con và ban Thánh Thần tình yêu trên con, để nhờ lời cầu thay nguyện giúp của Người và nhờ sự dẫn dắt của Người, con biết sống theo sự thật như Thầy mời gọi. Amen.

    Về mục lục

    GIÊSU, ĐỨC VUA TÌNH YÊU

    Thiên San

     Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và tổng trấn Philatô mời gọi chúng ta nhìn về vương quốc của Đức Giêsu, đức vua tình yêu. Quả thực, Ngài là vua nhưng vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này. “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18, 36). Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta biết rằng: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.” Sự thật mà Đức Giêsu muốn nói đến ở đây là gì? Sự thật đó chính là tình yêu cao cả của một Thiên Chúa làm người, từ bỏ địa vị cao sang để mặc lấy thân nô lệ, sống như phàm nhân (x. Pl 2, 6-11). Sự thật ấy chẳng phải là một Thiên Chúa vì yêu đã chấp nhận cái chết nhục nhã trên cây thánh giá để cứu độ muôn người sao? Tất cả những ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng của vua Giêsu.

     “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy” (Ga 18, 38). Dường như Philatô mới chỉ nói được một chút ít về sự thật mà ông nhận thấy: Đức Giêsu vô tội. Đức Giêsu hoàn toàn vô tội. Đó là sự thật. Nhưng còn có một sự thật lớn lao hơn thế nữa mà Philatô đã chưa thể nhận ra: đó là Đức Giêsu hoàn toàn tự nguyện hiến mạng sống mình trên thánh giá để cứu chuộc loài người. Trên thánh giá, Ngài đã chết vì yêu. Nhân loại hôm qua, hôm nay và mai này vẫn còn đó những con người cứng lòng không chịu tin nhận sự thật ấy. Tình yêu của Thiên Chúa qua Đức Giêsu dành hết cho nhân loại. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17).

    Đức Giêsu, vua tình yêu vẫn ngày ngày ở bên chúng ta như lời đã hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người vẫn tiếp tục trao ban tình yêu ấy cho nhân loại, đặc biệt là qua bí tích Thánh Thể. Vua trần gian chỉ trị vì trong một thời gian và dùng quyền mà cai quản, thống trị. Vua Giêsu trao ban tình yêu của mình cho nhân loại, vương quyền và triều đại của Người vô cùng vô tận. Bởi đó, “khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Kitô là Chúa” (Pl 2, 10-11). Vậy chúng ta có đang đón nhận tình yêu của Ngài và sống trong vương quốc của Ngài hay không?

    “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37). Thiết nghĩ đó là cách để chúng ta có thể ở trong vương quốc của Ngài. Tiếng của Thiên Chúa được nói trong sự thật. Sự thật lớn lao nhất đó là Thiên Chúa qua Đức Giêsu đã trao ban hết thảy tình yêu của Ngài cho nhân loại. Chúng ta có thể hiểu, đứng về phía sự thật nghĩa là đón nhận tình yêu của Thiên Chúa đã trao ban, tin nhận Đức Giêsu là Chúa và sống theo mọi giới răn của Người. Khi tin tưởng và đón nhận tình yêu cao cả của vua Giêsu, chúng ta được mời gọi diễn tả, hay nói cách khác là thông chuyển tình yêu ấy đến với mọi người. Đứng về phía sự thật là yêu thương như Đấng là Sự Thật.

    Lạy Chúa! Chúng con cảm tạ Chúa vì tình yêu lớn lao Chúa dành cho chúng con. Xin cho chúng con ngày ngày biết tìm đến ẩn thân bên Đức Vua tình yêu là Chúa Giêsu Kitô, Con Một yêu dấu của Ngài. Xin Chúa giúp chúng con biết sống giới răn yêu thương như Chúa mời gọi. Amen.

    Về mục lục

    VUA SỰ THẬT

    Lm Vũđình Tường

    Một số người thự nhận là vua hay hoàng hậu tình yêu. Đức Kitô không hề nhận danh hiệu vua tình yêu nhưng tình yêu của Ngài trải dài cho toàn thể nhân loại, không trừ bất cứ ai, kể cả kẻ chủ trương giết Ngài, Ngài xin Chúa Cha tha cho họ.
    ‘Lậy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm’ Lc 23,34.
    Theo í nghĩa trên Đức Kitô chính là Vua của thứ tha. Ngài tự nguyện chết thay cho nhân loại. Ngài không phải là vua tình yêu hiểu theo í nghĩa xã hội về yêu thương, Ngài là vua tình yêu bất diệt. Khi xử Ngài, nhiều lần Philatô hỏi về Nước của Ngài. Đức Kitô nói với Philatô, ông không phải lo lắng vì nước của tôi, bởi nước của tôi không thuộc về thế gian này, nhưng là nước hằng sống. Philatô cảm thấy yên tâm và ông thấy không cần phải giết Đức Kitô, nhưng dân Do Thái đòi giết Đức Kitô. Philatô hỏi họ,
    ‘Các ông muốn tôi giết vua các ông sao? Họ đáp ‘Chúng tôi chỉ biết mình vua Caesar’ Gn 19,16.
    Chối bỏ vua nước trời, người ta nhận theo vua trần gian. Philatô cho viết bảng để phía trên thập tự,
    ‘Jesu Nazareth, Vua dân Do Thái’.
    Họ đòi Philatô thay đổi câu trên nhưng Philatô khẳng khác đáp lại họ,
    Những gì ta đã viết ta đã viết’.
    Như thế Đức Kitô chết trên thập tự c ông khai như là Vua Dân Do Thái.
    Đức Kitô sống lại từ cõi chết thiết lập nước hằng sống. Ngài là vua chiến thắng tử thần, sa tan và tội lỗi. Ngài xuống trần gian ban cho nhân loại Bí Tích Thanh Tẩy để trở thành con cái sự sáng. Bí tích này là dấu chỉ người đó thuộc về Đức Kitô, con cái nước trời. Ngài xuống trần gian làm nhịp cầu nối kết, giao hoà giữa Thiên Chúa và nhân loại. Cuộc tử nạn của Ngài, mạo gai trên đầu mang í nghĩa cho những vấn đề gai góc cuộc đời. Thập giá nặng trên vai biểu tượng của những ai vất vả, khổ sở tranh đấu cho công bằng, công lí và bình an. Ngài treo trên thập tự kéo nhân loại gần Thiên Chúa hơn. Máu thánh Ngài đổ ra trong cuộc tử nạn biến máu các thánh tử đạo thành máu thánh vĩnh cửu. Vết thương cạnh sườn, lỗ đinh đóng xuyên chân tay biểu tượng vết thương chung của toàn thể nhân loại. Lời Ngài trả lời Philatô và lời hứa ban nước trời cho người trộm thống hối cho biết Ngài là vua toàn thể vũ trụ.
    Đức Jêsu trả lời ‘Nước tôi không thuộc về thế gian này…. Philatô hỏi: ‘Vậy ông là vua sao? Đức Jêsu đáp: ‘Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi’. Gn 18:33-38
    Nước Đức Kitô không thuộc về thế gian này và Ngài từ chối chiến đấu cho nước trần gian. Vua trần gian đòi hỏi thần dân phục vụ và ngay cả hy sinh mạng sống cho vua. Đức Kitô, Vua Nước Trời đến phục vụ và hy sinh chính mạng sống mình cho môn đệ. Trên thập tự một kẻ cướp thống hối kêu xin Đức Kitô và ngài hứa ban ông nước hằng sống,
    ‘Ông Jêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! Và Người nói với anh ta: ‘Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng’ Lc 23,43.
    Đức Kitô tha tội cho kẻ cướp thống hối, ăn năn, Ngài là Vua tha thứ. Ngài là vua các bí tích trong đạo bởi các bí tích đều có nguồn gốc từ các giáo huấn của Đức Kitô. Đức Kitô còn là Vua sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi’… Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta Jn 1:14; Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
    Thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu Đức Kitô với môn đệ mình khi ông giới thiệu Đức Kitô là ‘Chiên Thiên Chúa’. Thời của Gioan ‘chiên’ được dùng làm lễ vật lễ tế Thiên Chúa. Khi giới thiệu Đức Kitô là ‘Chiên Thiên Chúa’ có lẽ Gioan cách nào đó biết Đức Kitô sẽ bị chết cách thảm thiết. Chính Gioan bị các thượng tế hạch hỏi ai cho phép ông là phép rửa. Gioan đáp,
    ‘Đấng đến sau tôi, quyền thế, cao trọng và tôi không đáng cởi quai dép Ngài. Gn 1,27.
    Dân chúng ca tụng Đức Kitô và coi Ngài là Đấng Messiah. Thượng Tế xử tội danh phạm thượng bằng cách đóng đinh vào thập giá. Với í nghĩa trên ta có thể khẳng định Gioan Tiền Hô tin Đức Kitô sẽ bị đóng đanh trên thập tự. Chính Đức Kitô xác nhận điều Gioan tiên đoán, khi Ngài nói,
    ‘Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môse đã giương cao con rắn trong samạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời’ Gn 3,14
    Đức Kitô là Vua cho những ai bước theo con đường Ngài chỉ dậy. Xin ơn trung thành, phó thác.

    Về mục lục

    VUA YÊU THƯƠNG VÀ VUA HÒA BÌNH

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Năm Phụng Vụ kết thúc với lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, vì chung cuộc của tạo dựng và cứu độ, là muôn loài nhận biết và tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa, nên Giáo hội long trọng cử hành lễ này với niềm vui khôn tả, đồng thời quả quyết rằng Người là Chúa chúng ta, là Vua Tình Yêu, Vua Sự Thật, là Alpha và Ômêga, là khởi nguyên và là cùng đích (x. Kh 1,8).

    Đã từ lâu, trong ngôn ngữ thông thường, người ta đã gán cho Chúa Giêsu Kitô tước hiệu Vua; Người đúng là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa, trổi vượt trên hết mọi loài, thống trị lòng người, Người hiển trị đến muôn đời “quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất; vương quốc của Ngài không khi nào bị phá huỷ” (Đn 7,14). Bởi vương quyền của Người từ Chúa Cha tự muôn đời, chứ không phải do người thế trao cho. Người cũng khẳng định Người là Vua, nhưng là Vua Thiên Sai, đến nhằm mục đích làm chứng cho sự thật. Thần dân của Người là những ai thuộc về sự thật và sẵn sàng vâng nghe Lời Người.

    Chúa Giêsu là vua lòng người, với tình yêu và lòng trìu mến, Người lôi kéo mọi con tim đến với mình. Người là “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận thần tính và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang…” (Ca nhập lễ).

    Lễ Chúa Kitô Vua tương đối mới, nhưng có nền tảng Thánh Kinh và thần học sâu xa. Từ “vua”, được áp dụng cho Chúa Giêsu khởi đi từ “Vua người Do thái”, dẫn đến tước hiệu “Vua của thế giới”, “Chúa của vũ trụ và lịch sử”, vượt qua mọi kỳ vọng của dân Do thái.

    Trọng tâm tiến trình mạc khải về vương quốc của Vua Giêsu, còn tiềm ẩn bí mật về cái chết và sự phục sinh của Người. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã tự ý nộp mình chịu khổ hình và chịu chết trên cây Thánh Giá, một nghịch lý của Vua Giêsu thể hiện thánh ý Chúa Cha trên sự bất tuân của tội lỗi. Chính sự hiến mình làm của lễ đền tội này mà Chúa Giêsu đã trở thành Vua vũ trụ.

    Quyền bính của Chúa Kitô Vua ở đây là gì? Hẳn không phải là quyền bính của các vua trần thế và những kẻ có thế lực; nhưng là quyền năng thiêng liêng có thể ban sự sống thần linh để giải thoát chúng ta khỏi sự dữ, đánh bại sự thống trị của thần chết. Ðây là quyền năng yêu thương, một quyền năng có thể rút từ sự ác ra sự lành, làm cho tâm hồn chai đá ra mềm mỏng, mang lại hòa bình cho những cuộc xung đột, biến tăm tối thành hy vọng. Vương quốc của Chúa Kitô không hề áp đặt bất cứ điều gì và luôn tôn trọng tự do của con người. Khi Philatô hỏi Chúa Giêsu rằng: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?” (Ga 18, 33). Bị hỏi, nhưng với tư cách là Vua, Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi của Philatô, mà Chúa hỏi lại ông: “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?” (Ga 18, 35)

    Khi thi hành sứ mạng công khai, đã có lần đám đông dân chúng muốn tôn Chúa lên làm vua, nhưng Người lại chốn khỏi Vương quốc thế trần, đúng như Chúa nói với Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”(Ga 18, 36). Chúa là Vua không có quân đội, không khí giáp.

    Cung điện Người ở đâu? Thưa, Người ngự trị trong lòng chúng ta. “Vua không có cung điện” nhưng toàn trái đất thuộc về Người. Nhờ Người mà thế giới này được tác tạo. Trước Philatô, kẻ có quyền ra án tử cho Chúa, Chúa khẳng định, “Tôi đến trần gian để làm chứng cho Chân Lý” (Ga 18, 37).

    Vậy chúng ta theo ai: Thiên Chúa hay ma quỷ? Sự thật hay giả dối? Tùy lựa chọn mỗi người. Chọn theo Chúa Kitô không bảo đảm cho chúng ta sự thành công theo những tiêu chuẩn thế gian, nhưng bình an và niềm vui thì chỉ mình Chúa mới có thể mang lại cho chúng ta. Với Chúa, chúng ta có thể xây dựng yêu thương và bình an.

    Chúa là “Vua, của một vương quốc gồm những người tội lỗi!” Chúng ta phải thường xuyên lặp lại: Xin thương đến con là kẻ tội lỗi, để chúng ta nhìn anh em mình với lòng từ bi. Họ cũng là những tội nhân nghèo như chúng ta. Chúa là Vua của những người nghèo! Chúng ta biết tình yêu đầy ân sủng của Thiên Chúa là sự giàu có của chúng ta, chúng ta sẽ không bao giờ thiếu nó. Chúa là “Vua của một vương quốc huynh đệ!” Hãy là những người anh em yêu thương nhau! Trong mắt Chúa Giêsu, Bình an và Tình yêu lan tỏa. Vì vậy, Tin Mừng trình bày Chúa Giêsu, Vua vũ trụ bị kết án, Philatô là kẻ xét xử Người.

    Khi nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Philatô hỏi lại: “Vậy ông là Vua ư?”. Chúa Giêsu đáp: “Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân Lý. Ai thuộc về Chân Lý thì nghe tiếng Tôi”. (Ga 18, 36-37).

    Chúng ta đang ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu, sự dịu dàng, hiền lành và vẻ đẹp trở lại vương quốc này. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, Người đã không đến để xét xử nhân loại, nhưng là để cứu. Người là Đấng công chính duy nhất, thế chỗ cho tội nhân.

    Để phục vụ Đức Giêsu Vua, chúng ta phải chấp nhận làm việc mỗi ngày cho Triều Đại cánh chung đang đến… điều ấy không xảy ra mà không có chiến đấu: Vâng, Vua chúng ta yêu cầu chúng ta cầm sẵn vũ khí trong tay để chiến đấu, chống lại “các thế lực của bóng tối” (Cl 1, 13). Cùng với Người, chúng ta nắm chắc phần thắng (x. Ga 16, 33), nhưng với điều kiện là chúng ta cũng tham gia chiến đấu, chiến đấu hàng ngày với ba thù là ma quỉ, thế gian và xác thịt… vì “những ngày là xấu xa!” (Ep 5, 16) và rằng “cả thế giới nằm dưới sự thống trị của ma quỷ” (1 Ga 5, 19).

    Làm cho Chúa hiển trị, tiên vàn vẫn là làm cho Chúa hiển trị trong lòng chúng ta… khi tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hàng ngày cách cá nhân hay cộng đoàn, chúng ta không xấu hổ! (LG §31). Lời Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói cùng dân chúng ngày 15 tháng 6 năm 1993 vẫn còn vang vọng: “Hãy đi đến các ngả đường, sống đức tin của chúng con với niềm vui vẻ, hãy mang đến cho mọi người Ơn Cứu độ của Đức Kitô, ơn ấy phải thâm nhập vào trong gia đình, trường học, trong các nền văn hóa và đời sống chính trị!”. Đừng sợ phải đi ngược dòng! Làm cho Đức Kitô hiển trị, là trở nên tông đồ lôi kéo nhiều linh hồn về với Chúa là Vua Vương Quốc Yêu Thương và An Bình.

    Về mục lục

    NƯỚC CỦA TÔI

     Lm Giuse Nguyễn Hữu An

     Trước toà án Philatô, Đức Giêsu đã khẳng định: “Tôi sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật”. Sự thật mà Ngài tuyên bố là ý định cứu rỗi của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài đến để cứu độ thế gian”.Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của sự thật và “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi”.

    Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế. Vương quốc trần gian do con người thiết lập bằng sức mạnh, thường đem lại giàu sang và vinh quang. Đức Giêsu từ chối loại vương quốc huy hoàng do Satan đề nghị: Nếu ông quỳ gối thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông mọi vương quốc làm sản nghiệp. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều “dân Do thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi”. Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: “chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêza không?”, Đức Giêsu đáp: “của Xêza hãy trả cho Xêza, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”. Đặc biệt trong phiên toà xét xử, Philatô hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”, Đức Giêsu đã tuyên bố Tôi là Vua, nhưng Ngài xác định: Nước tôi không thuộc về thế gian này”.

    Nước tôi: Chúa Giêsu xác định, Ngài là Vua, vì có một Nước để Ngài thống trị; cho nên Ngài mới nói: Nước tôi, nghĩa là Nước của tôi. Vậy, Nước của tôi là nước nào?

    1. Đó là Nước của Sự Thật

    Nước của trần gian là nước của chính trị. Mà chính trị nào lại không có thủ đoạn và lừa đảo. Nhìn chung, các vua trần gian thì tham lam, ích kỷ, dâm ô. Khi đã chiếm được ngai vàng, họ coi thần dân như bầy tôi, giang sơn đất nước là tài sản riêng của họ: “Thần dân của trẫm. Giang sơn của trẫm”. Nghi ngờ kẻ nào có ý phản loạn thì giết ngay tức khắc và còn tru di cả tam tộc cửu tộc nữa.Nếu muốn đổi triều đại, phải chiến tranh giành giật đẫm máu. Đọc lịch sử Việt Nam, mỗi thay đổi triều vua từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê… toàn là máu và nước mắt. Đến đời Nguyễn Ánh tự xưng là Gia Long hoàng đế, làm vua từ năm 1802, cha truyền con nối kéo dài hơn 100 năm. Năm 1945, vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại thoái vị…

    Nước của Vua Giêsu là Nước sự thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người. Nước sự thật đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêza hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào. Nuớc của Xêza chỉ cai trị thể xác loài người, còn Nước sự thật chiếm trọn lòng người.Thế lực của Xêza là quân đội khí giới nhà tù. Sức mạnh Nước sự thật là niềm tin yêu thương tha thứ. Dù rộng lớn, đế quốc Xêza cũng bị giới hạn, còn Nước sự thật vô biên, được thiết lập mọi nơi. Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng đã và đang chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêza, chỉ còn vương quốc sự thật và niềm tin là tồn tại muôn đời.

    Chính niềm tin tôn giáo dạy chúng ta rằng: mục đích tối thượng của các tôn giáo là hướng con người đến chân thiện mỹ.Qua không gian thời gian,trải qua bể dâu của lịch sử với những thao thức băn khoăn của kiếp người, con người luôn luôn tìm đến niềm tin tôn giáo. Con người tiếp nhận sự sống từ chính nguồn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời.Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Cũng thế, không có Thiên Chúa thì không thể có sự sống.Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người vì Thiên Chúa yêu thương con người.Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài.Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa.Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi con người đều là hình ảnhThiên Chúa. Chỉ xuyên qua niềm tin và tình thương con người mới đến được với Thiên Chúa. Với sức mạnh niềm tin, chúng ta khẳng định rằng: trên vạn nẻo đường của cuộc đời mỗi người, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu Thiên Chúa luôn có mặt để hướng dẫn nâng đỡ chúng ta.Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong Nước sự thật  của Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.

    1. Đó Nước của Tình Yêu

    Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của nước Ngài thiết lập. Đức Kitô là vua, nhưng lại rất khác với các vua trần thế ở chỗ: để cai trị, các vua thế gian dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Ngài yêu thương mọi người, như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (Ga 10,11-16). Luật pháp trong nước của Ngài là sống trong Tình Yêu. Một Tình Yêu trọn vẹn theo chiều dọc là Thiên Chúa. Một Tình Yêu chan hòa theo chiều ngang đối với đồng loại của mình.

    “Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới. Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa nước của Ngài. Đó là nước của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời”. (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt).

    Trong bài đọc 2, Thánh Gioan xác tín: “Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1,5-6). Thánh Phaolô cũng xác định: “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Vua Giêsu đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương mọi người đến nỗi sẵn sàng hiến cả mạng sống.

    Yêu Thương là một mệnh lệnh có tính cách bắt buộc, Chúa Giêsu đã ban bố giới luật yêu thương: “Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau”. Yêu Thương đã trở thành một giới răn quan trọng nhất như là giới răn kính mến Thiên Chúa.

    Tình yêu thương của Chúa Giêsu đã trở nên nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao nhiêu sáng kiến, bao nhiêu tổ chức, bao nhiêu phong trào, bao nhiêu dòng tu chuyên lo dấn thân phục vụ trong yêu thương.

    Tình yêu chi phối mọi sinh hoạt cuộc đời. Con người đau khổ vì không có tình yêu. Chúa là tình yêu. Chỉ những ai biết tìm đến với Ngài, được Ngài thông truyền cho tình yêu, họ mới biết mở mắt để nhận ra được mọi người anh em, như thế mới có thể yêu thương. Bản tính của tình yêu là cho đi điều tốt lành. Ai sống yêu thương thì thuộc về Chúa, là thần dân của Ngài. Nước của Chúa Kitô Vua là nước của tình yêu. Muốn vào nước ấy, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.

    1. Nước của Tôi: Sự Thật và Tình Yêu.

    Nước của Sự Thật: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi”. Đứng về phía sự thật là chấp nhận mạc khải của Chúa Giêsu và coi đó là nguyên tắc của đời sống mình, là để Sự Thật hướng dẫn mình. Sự Thật đó là chính Chúa Giêsu. Nghe tiếng của Chúa là tìm hiểu và sống Lời của Ngài.

    Nước của Tình yêu: “Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ hiến mạng sống cho nhiều người”. Chúa mời gọi những ai theo Ngài phải biết sống vị tha và yêu thương. Trong vương quốc Tình Yêu, Ngài không chấp nhận bạo động, hiềm thù, vì uy quyền được xây dựng trên phục vụ và ai làm lớn phải làm người phục vụ.

    Nước của Ngài không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ. Nước của Ngài không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người. Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc Nước của Ngài.Trong vương quốc này, Chúa Giêsu đã công bố sự thật quan trọng nhất là mọi người biết Thiên Chúa là Người Cha rất yêu thương và tất cả nhân loại là con cái của Người và là anh chị em với nhau, yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương, như là dấu chứng người môn đệ của Ngài.

    Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.

    Lạy Chúa Giêsu là Vua Sự Thật và Tình Yêu, Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã ban chính sự sống mình. Xin Chúa chiếm hết tất cả con người chúng con từ tư tưởng, lời nói, việc làm, để chúng con không còn thuộc về thế giới của bóng tối, của tội lỗi, nhưng thuộc về vương quyền của Chúa, là vương quyền của sự sống và chân lý, của ân sủng và thánh  thiện, của công lý và hoà bình. Amen.

    Về mục lục

    ĐỨC VUA NHÂN LÀNH

    Trầm Thiên Thu

    Xưa cũng như nay, người đứng đầu một quốc gia hoặc lãnh thổ, thậm chí chỉ làm trưởng một địa hạt nhỏ bé, họ thường tỏ ra uy quyền, đôi khi tới mức lạm quyền, để chứng tỏ mình vừa có chức vừa có quyền, và rồi có thể “hành” người khác đủ kiểu. Kiểu hống hách này thấy rất rõ tại Việt Nam, có kẻ chỉ là xã trưởng hoặc ấp trưởng cũng hạch sách dân đủ kiểu. Càng kinh tởm hơn đối với loại “tép riu” sai nha!

    Chắc chắn trên đời này không có vua nào như Đức Vua Giêsu Kitô. Ngài không chỉ là Đầu và Cuối mà còn là Thiên Vương với mọi quyền do Chúa Cha trao cho. Cuối năm là dịp để tín nhân xét mình một cách nghiêm túc hơn, xem mình đã thực sự là tín dân của Ngài hay chưa. Đức tin phải có hành động cụ thể, không thể nói suông. (Gc 2:17 và 26)

    Xưa nay thấy nhiều người có tài nhưng vô đức, cứ tưởng không ai hơn mình, thậm chí coi thường cả Thiên Chúa. Vài chuyện có thật đã xảy ra với những kẻ vô thần, dám “coi trời bằng vung” và đã bị trừng trị. Họ có danh tiếng ở đời nhưng vô phúc đối với Thiên Chúa. Họ là ai?

    1. Ca sĩ John Lennon của ban nhạc The Beatles tại Anh quốc trả lời khi được tạp chí American Magazine phỏng vấn: “Thiên Chúa Giáo sẽ không còn, sẽ biến mất. Tôi không có gì phải tranh cãi về điều đó. Tôi chắc chắn như thế. Ông Giêsu thì được, nhưng những kẻ theo Ông ấy thì quá ngây ngô! Ngày nay, ban nhạc The Beatles chúng tôi nổi tiếng hơn Ông Giêsu.” (1966) Sau khi John Lennon tuyên bố lời trên đây, hắn bị bắn sáu lần. Không biết sau đó hắn có ăn năn hay không, nhưng mọi người biết rõ là The Beatles đã “chết” thực sự.
    2. Nhà thiết kế chiêc tàu Titanic trả lời một ký giả về sự an toàn của con tàu: “Ngay cả Thượng Đế cũng không thể đánh chìm được nó.” Kết quả ra sao thì ai cũng đã biết: Con tàu khổng lồ đó đã vỡ đôi vì chạm vào tảng băng ngầm sáng ngày 15-4-1912 tại Bắc Đại Tây Dương.
    3. Trong một xuất trình diễn, nữ diễn viên điện ảnh Marilyn Monroe được Billy Graham đến thăm. Bill Graham nói rằng Chúa Thánh Thần sai ông đến để nói với cô. Nghe xong, Marilyn Monroe nói: “Tôi không cần Giêsu của ông.” Một tuần sau, người ta thấy xác cô ta nằm bất động tại một chung cư. Một số nghệ sĩ Việt Nam cũng thể hiện việc nhạo báng Thiên Chúa qua lời nói hoặc cách nào đó.
    4. Năm 1954, sau khi chiếm miền Bắc, một toán quân cộng sản vào nhà dòng kín Bùi Chu lục soát. Lúc đó các nữ tu đang chầu Mình Thánh, một tên lớn tiếng la lối: “Chúa của các người ở đâu?” Nữ tu chỉ vào Nhà Tạm trên bàn thờ, tên này lấy súng chĩa thẳng vào Nhà Tạm, bắn vỡ chén thánh và Mình Thánh Chúa đổ ra vương vãi. Bắn xong, hắn vẫn đứng im, tay cầm súng chĩa vào Nhà Tạm như muốn bắn tiếp. Các nữ tu vô cùng đau lòng vì Mình Thánh Chúa bị xúc phạm, nên van xin đừng bắn, nhưng hắn im lặng. Thì ra hắn đã chết đứng từ lâu rồi!
    5. Năm 1963, sau khi TT Ngô Ðình Diệm bị một số tướng tá phản bội lật đổ, một số người ngoại giáo tràn vào Tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên (Huế) đập phá “tàn tích gia đình trị.” Khi thấy bức tượng Thánh Gioan Tẩy Giả, quan thầy của TT Diệm, một thanh niên trèo lên vác búa đập vào mặt mũi bức tượng, nhưng hắn bị trượt chân ngã xuống và chết tại chỗ. Lúc đó có nhiều người chứng kiến sự kiện này.
    6. Bác học Voltaire chống Thiên Chúa và phá Hội Thánh Công Giáo rất quyết liệt. Ông ta vu khống đủ điều, chiêu tập một nhóm lấy tên là “Beelzebub” (quỷ vương Bê-en-dê-bun). Năm 1753, ông tuyên bố: “Hai mươi năm nữa Thiên Chúa về hưu, vì không còn ai phục vụ Ngài.” Đúng hai mươi năm sau, năm 1773, Voltaire chết thê thảm. Lúc sắp chết, ông  thấy những hình ảnh khiến ông run sợ hét lên: “Một bàn tay đang kéo tôi xa Thiên Chúa… Qủy bắt tôi… Tôi trông thấy hỏa ngục.” Ông tru tréo như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà già thường giúp người hấp hối, sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire, ch biết: “Khi ấy tôi ở gần giường của Voltaire đang hấp hối, tôi không muốn nhìn thấy một người vô đạo chết nữa.” Một người khác cũng chứng kiến Voltaire chết và nói: “Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ như Voltaire.”

    Thiên Chúa không nói không có nghĩa là Ngài không biết. Ngài thấu suốt mọi sự nhưng Ngài kiên nhẫn cho người ta nhiều cơ hội sám hối. Người ta vẫn cố chấp chẳng khác gì dân xưa: “Chúa đã cảnh cáo cho họ trở về với Lề Luật của Chúa, nhưng họ đã tỏ ra lì lợm, chẳng chịu vâng theo mệnh lệnh Ngài; họ vi phạm các quyết định Ngài ban để con người tuân theo mà được sống; họ vùng vằng, chẳng ghé vai mang ách, cứng đầu cứng cổ, không chịu để tai nghe.” (Nkm 9:29)

    Thánh Tử Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, tự hữu và hằng sinh, thế nhưng Ngài luôn nhân lành và giàu lòng thương xót, sẵn sàng tha thứ chứ không muốn kết tội ai. Thật lạ lùng, khi Chúa Giêsu đứng trước Philatô, một người đầy uy lực, còn Chúa Giêsu khi đó chỉ là một tội đồ, thế mà Ngài vẫn thản nhiên nói thẳng: “Ông không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ông.” (Ga 19:11)

    Kinh Thánh cho biết một trong các thị kiến ban đêm của ngôn sứ Đanien: “Tôi mải nhìn thì kìa: có ai như Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.” (Ðn 7:13-14)

    Ngắn gọn chỉ có hai câu nhưng súc tích ý nghĩa về Đức Vua Nhân Lành, cũng là Vua Công Lý, Vua Tình Yêu và Chúa Tể Càn Khôn. Nhưng có điều đặc biệt, Đức Vua này có những cái “không” khác hẳn với các vua trần gian: KHÔNG ngai vàng, KHÔNG đăng quang, và KHÔNG quân sĩ. Chắc chắn không vua chúa nào “độc đáo” như Ngài. Thật hạnh phúc khi chúng ta được nhận biết Ngài và tôn thờ Ngài. Đức Vua Giêsu không có gì nhưng có toàn quyền xét xử – đặc biệt là Cuộc Phán Xét.

    Thánh Vịnh gia xác định: “Chúa là Vua hiển trị, Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào, Người lấy dũng lực làm cân đai. Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu không lay chuyển. Ngai vàng Chúa kiên cố tự ngàn xưa: Ngài hiện hữu tự muôn ngàn đời.” (Tv 93:1-2) Vâng, quả nhiên là chúng ta không thể không chia sẻ với người khác khi chúng ta có một Đức Chúa như vậy, ngay cả những vật vô tri cũng chợt nhận biết và rồi chúng không thể im lặng: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm. Ngày qua mách bảo cho ngày tới, đêm này kể lại với đêm kia.” (Tv 19:2-3)

    Thiên Chúa là Đấng siêu việt nên mọi thứ khác bởi Ngài cũng hoàn toàn siêu việt: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững, nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện triền miên qua mọi thời.” (Tv 93:5) Đó là sự thật minh nhiên, vĩnh hằng, không ai có thể chối cãi. Ai chối bỏ là tự lừa dối chính mình. Thiên Chúa luôn quan tâm chăm sóc chu đáo các thụ tạo của Ngài, muốn chúng ta đồng hưởng vinh quang với Ngài đời đời. Tuy nhiên, trước đó thì chúng ta được “thanh luyện” trên thế gian với quyền tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta. Bất cứ ai cũng hoàn toàn được tự do chứ không hề bị ép buộc. Kinh Thánh xác định: “Con người do Thiên Chúa làm nên, vốn đơn sơ ngay thẳng, nhưng chính họ lại đi tìm đủ chuyện rắc rối quanh co.” (Gv 7:29)

    Trong thư gửi bảy Hội Thánh Axia, Thánh Gioan đề cập việc làm chứng về Đức Giêsu Kitô: “Xin Đấng hiện có, đã có và đang đến, xin bảy thần khí hiện diện trước ngai của Người, xin Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy MÁU mình RỬA SẠCH tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. Amen!” (Kh 1:5-6)

    Đức Vua Giêsu Kitô không “hét ra lửa” như các vua chúa trần gian, nhưng Ngài cai trị cả vũ trụ hữu hình và vô hình, nêu gương hy sinh để chứng minh tình yêu đến tận cùng, sẵn sàng tha thứ cho những kẻ thủ ác. Ngài có uy tín hơn bất cứ ai, cụ thể là người ta vẫn trích dẫn giáo huấn của Ngài, và nhiều người vẫn tỉnh giấc mộng đời mà tin nhận Ngài.

    Chúa Giêsu Kitô đến thế gian lần thứ nhất như “con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11:19) và với tư cách là Vua Thương Xót, nhưng Ngài đến thế gian lần thứ hai sẽ như một Thẩm Phán Công Bình và với cương vị là Vua Công Lý. Ngày ấy đang đến rất gần rồi! Thánh Gioan cho biết cách Thiên Vương Giêsu quang lâm: “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! Amen!” (Kh 1:7)

    Động thái đấm ngực là biểu hiện lòng sám hối, nhưng nếu đấm ngực mà không ăn năn thì có đấm mạnh và đấm nhiều cũng chỉ là vô ích. Bất cứ ai biết chuẩn bị đón Ngài bằng cách “đấm ngực chân thành” ở mọi nơi và mọi lúc thì sẽ được Thiên Chúa khoan hồng – thậm chí là tha bổng, cho trắng án. Không ai xa lạ, chính “tướng cướp khét tiếng” Dismas đã nên thánh nhờ được diễm phúc đó, (x. Lc 23:43) đúng như lời Đức Vua Giêsu đã hứa: “Ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài.” (Ga 6:37)

    Mọi điều không thể sẽ thành có thể, nếu chúng ta khiêm nhường sám hối thành tâm, chứ Ngài không cần lễ vật chi cả. (Mt 9:13; Mc 12:7) Thật vậy, Ngài đã xác định rạch ròi: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng.” (Kh 1:8) Tuy nhiên, Thiên Chúa không thiên vị ai, (Gl 2:6; Cv 10:34) và cũng không vị nể ai, (1 Pr 1:17a; Mt 22:16) cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Đó là điều đáng quan ngại. Có Thiên Chúa là có tất cả.

    Rồi người ta cũng phải công nhận Ngài là Vua. Điều đó được chứng tỏ qua trình thuật Ga 18:33b-37. Thánh sử Gioan cho biết: Sau khi bọn thủ ác bắt Chúa Giêsu và điệu Ngài tới cho tổng trấn Philatô luận tội. Lúc ông ta trở vào dinh, cho gọi Chúa Giêsu và hỏi Ngài: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Ngài không trả lời mà thản nhiên hỏi lại: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Ông Philatô nói rằng ông là người Do Thái, mà chính dân chúng và các thượng tế đã nộp Ngài cho ông ta. Rồi ông ta hỏi Chúa Giêsu: “Ông đã làm gì?” Chúa Giêsu trả lời bằng cách lý luận: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.”

    Không biết giả nai hay thực sự không hiểu mà ông Philatô hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Chúa Giêsu vẫn không xác nhận mà lại nói: “Chính ngài nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” Ai cũng thích sự thật, nhưng không dễ “đứng về phía sự thật,” bởi vì SỰ THẬT luôn THẲNG THẮN. Vì thế người ta dễ a dua, hùa theo vì không có lập trường, sợ bị lẻ loi, như người ta nói chơi mà thật: “Ai làm sao, tôi làm vậy; ai làm bậy, tôi làm theo!” Muốn “đứng về phía sự thật” thì người ta phải thực sự có lòng can đảm, quyết tâm thoát khỏi tình trạng nhát đảm.

    Vốn dĩ dễ khiến người ta mếch lòng bởi vì sự thật thường mang tính phũ phàng. Tuy nhiên, sự thật là chân lý, mà chân lý không thể bị bóp méo hoặc bị xuyên tạc, sự thật là chân-lý-thật, không thể là sự-thật-giả-tạo, được ngụy biện hoặc được dàn xếp. Chính chân-lý-thật mới có khả năng kỳ diệu, dạng sự thật mà Chúa Giêsu đề cập và xác định: “Sự thật sẽ giải phóng quý vị.” (Ga 8:32) Đừng cố chấp mà hỏi “sự thật là gì?” như ông Philatô! (Ga 18:38)

    Chính khách Mahatma Gandhi (1869-1948) là nhà lãnh đạo tinh thần của dân Ấn Độ và chủ trương bất bạo động, ông nhận định: “Đức hạnh là nền tảng của mọi thứ và chân lý là bản chất của mọi đức hạnh. Dù bạn có là thiểu số thì chân lý vẫn là chân lý. Công cuộc theo đuổi chân lý không cho phép bạo lực với đối phương. Sai lầm không trở thành chân lý vì lý lẽ của vô số cách tuyên truyền, chân lý cũng không trở thành sai lầm vì không ai thấy nó. Tôn giáo của tôi dựa trên chân lý và bất bạo động, chân lý là Chúa của tôi, bất bạo động là cách để nhận biết Người.” Một câu nói rất thâm thúy, rất phù hợp với đạo làm người và cũng phù hợp với đạo giáo – đặc biệt là Công giáo. Cách sống của ông rất gần với giáo huấn yêu thương của Đức Vua Giêsu Kitô.

    Cầu chúc mọi người được hưởng Bình An và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa (Gl 6:16) và được đầy Ân Sủng của Chúa Giêsu. (Kh 22:21)

    Lạy Đức Vua Giêsu Kitô, Đấng Toàn Năng và Vĩnh Hằng, xin cho chúng con được là thần dân của Ngài, xin tiêu diệt sự dữ Cúm Tàu và ban thêm lòng Tin Cậy Mến cho chúng con; xin định hướng đời chúng con và ban Thần Khí Chúa để chúng con đủ can đảm sống theo mệnh lệnh của Ngài, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại, Đấng hằng sinh và hằng hữu, hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đời đời. Amen.

    Về mục lục

    SỐNG PHÚT HIỆN TẠI

    Lm. Jos. DĐH.

    chí làm quan, có gan làm giầu, không chỉ là lời đẹp ý hay trên phạm vi lý thuyết, dù một số người vẫn chờ đợi vận may, thời cơ, thực ra sống phút hiện tại sẽ phản ánh tính đặc trưng của từng người. Kinh nghiệm ở đời rất thực tế: cuộc đời không có quá nhiều thời gian để chờ đợi ai, hãy dấn thân, hãy hành động, dù ta làm việc nhỏ bé nhất, riêng tư nhất vì gia đình của mình. Xã hội văn minh, người ta có ý thu hẹp khoảng cách giữa giầu nghèo, xua đuổi bất công, mở rộng vòng tay yêu thương đến mọi miền tổ quốc. Điều đó có hay không, sẽ tuỳ thuộc tự do, vì xã hội luôn quan niệm rằng: giầu, tài, ở rừng sâu vẫn có người thăm viếng, nghèo, dốt, ở giữa phố chợ mấy ai biết đến !

    “Ông có phải là Vua dân Do-thái không ?” Thắc mắc, tò mò, hoặc vì muốn biết muốn hiểu, chắc không phải chỉ Philatô, nếu gặp Đức Giêsu, có lẽ chúng ta cũng đặt câu hỏi như thế. Philatô, ông có hiểu vua trần gian và Vua Giêsu hoàn toàn khác nhau không ? Chúng ta hôm nay hiểu Đức Giêsu là Vua Tình Yêu, nhưng sống ơn gọi làm chứng nhân, làm công dân của Vương Quốc Giêsu như thế nào, chính là tự do, là giây phút hiện tại mà mỗi người đang tự minh chứng. Các bạn trẻ hôm nay cho rằng: nếu thiếu mạo hiểm, ít ai có cơ hội toả sáng. Nếu thiếu tự tin, việc gặp gỡ Đức Giêsu cũng chẳng ý nghĩa gì, đám đông dân Do-thái, luật sĩ, biệt phái, Philatô, những đối tượng đó đã từng xem thấy, nghe được nhiều lời lý giải hay, cũng vô ích, dù lời người xưa vẫn nói: trăm nghe không bằng một thấy.

    Giây phút ở bên Đức Giêsu của Philatô được xem như một thủ tục, dù các thánh sử cho biết “quan” từng khao khát gặp nhân vật đặc biệt Giêsu, cũng vì chưa đủ “trân quý” nên Philatô chỉ gặp được Đức Giêsu trong hình ảnh tiều tuỵ, một kẻ thua cuộc. Người ta bỏ lỡ cơ hội, người ta hối tiếc vì có lợi thế mà không biết sử dụng, không đạt tới thành công ! Thời gian không dừng lại chờ Philatô, lịch sử khép lại vì ông có mà không giữ, ông sẽ lại khởi đầu hành trình mới, do tình yêu không phải ai cũng may mắn tìm được, khác nào ông gặp được rồi lại hoang phí “duyên trời”. Bản án “Vua Dân Do-thái” từ môi miệng Philatô hôm đó, từ nhân loại tội lỗi xưa nay, không phải do Philatô ngu ngốc nhầm lẫn, hay do con người quá yếu đuối. Đúng hơn là vì Philatô, vì nhân loại chúng ta ơ hờ với “ơn ban”, lại quá tốt với thứ chẳng xứng đáng với mình.

    Chừng nào bạn còn sống, hãy cẩn thận khi đánh giá người khác theo dáng vẻ bên ngoài. (La Fontaine). Đức Giêsu không lý lẽ dài dòng, Ngài cho Philatô, cho chúng ta hôm nay cơ hội: “ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Philatô không phải là không đủ thời gian để hiểu Vương Quyền Giêsu là gì, ông cũng dư khả năng để chia sẻ cho anh chị em cùng thời về phút giây mà ông gặp Vua Giêsu. Sống ở đời, tài đức, bổng lộc, uy quyền, luôn được xem là thuận lợi, hơn nhau ở chỗ mỗi người biết sử dụng và thích ứng với hoàn cảnh của riêng mình thế nào. Nói Giêsu là Vua Tình Yêu không khó, tin Vua Giêsu sẵn sàng giang tay cho kẻ tội lỗi đóng đinh vào thập giá sẽ khó hơn, và hiểu Vua Giêsu chịu chết vì tội lỗi của mình, lại quan trọng hơn.

    Người xưa nói rằng: thà làm kẻ ăn mày mà được sống, còn hơn là làm hoàng đế mà phải chết. Đúng là không ai đủ tài, đủ đức, đủ sáng suốt, vừa sống nỗi túng thiếu của kẻ nghèo khó, vừa sống quảng đại yêu thương như vị vua dịu hiền yêu nước thương dân. Chẳng ai có thể tìm gặp được con đường dẫn tới vinh quang thật, hạnh phúc thật, mà con đường ấy lại trải đầy hoa hồng. Không ai có thể sống phút giây hiện tại trong tư cách là “tên cướp”, rồi sau đó ảo tưởng thiên hạ đang phong tặng danh hiệu tổ quốc ghi công cho mình. Không ai chối bỏ tình yêu thương của Đấng đã chết và sống lại vì yêu, lại có quyền đòi hỏi phần thưởng ở đời này và đời sau.

    Phút giây hiện tại của Philatô năm xưa là hoảng loạn bất an: “quan nói đúng, Tôi là Vua” ; dù Philatô lúc đó đối diện với Vua dân Do-thái rất tàn tạ, như vị tướng không quân. Ứng với kinh nghiệm của người xưa: cười có nguy cơ bị xem là vô duyên, khóc vẫn bị xem là yếu đuối, nhát sợ sẽ bị chê là “thỏ đế”, anh hùng rơm. Đối diện với đau khổ, với nguy cơ mất mạng, có ai lại không cần đến lời động viên, khích lệ. Đức Giêsu đã cho mỗi người thấy rõ bản chất của Kitô giáo là phải có Chúa, là đủ khôn ngoan để sống giây phút trong đời cách trọn vẹn. Đứng trước “bản án chết”, nhờ tình hiệp thông cầu nguyện, Đức Giêsu đã cho Philatô và cho chúng ta thấy rõ lập trường thế nào là Vua Yêu Thương: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Xin Đức Kitô Vua, tiếp tục ban tình yêu thương, ban ơn thật lòng sám hối tội lỗi, và biết tín thác cậy trông vào Chúa cho chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    SỐNG YÊU THƯƠNG TRONG THẾ GIỚI DỐI GIAN

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Trong một khảo sát được công bố mới đây của nhóm nghiên cứudo Giáo sư Trần Ngọc Thêm chủt rì cho thấy, bệnh giả dối đứng hàng đầu trong 34 tật xấu của người Việt, chiếm đến 81%.

    Có thể thấy nói dối có mặt ở khắp nơi. Nói dối chằng chịt từ dưới lên trên, dọc ngang ngang dọc, trong gia đình, trong công sở, nơi kinh doanh, trong thực thi pháp luật…

    Điều lạ là ai cũng nói dối nhưng ai cũng tỏ ra mình thật thà. Ai cũng biết mười mươi đối phương đang nói dối nhưng ai cũng tỏra hoàn toàn tin cậy.

    Ngayở cấp độ Giáo hội nhiều giáo xứ, nhiều ban ngành cũng chấp nhận và sẵn sàng lừa dối nhau bằng những bản báo cáo mượt mà thành tích, số liệu… nhưng thực tế có phải vậy?

    Một xã hội dối trá làm sao chúng ta có thể hy vọng xây dựng được một xã hội lành mạnh văn minh tình thương. Một xã hội dối trá sẽ cài cắm vào lương tâm con người từ thuở bé những hạt giống xấu của gian dối, lừa gạt. . .và chắc chắn sau này những mầm non ấy lớn lên trở thành những lãnh đạo, họ sẽ gian dối bằng cách ăn bớt giờ làm, đục khoét người dân và báo cáo láo về thành tích, rồi nào là học giả bằng thật, học giả bằng giả, mua bằng cấp, và mua quan bán chức… để leo lên những chức vụ cao hơn.

    Chẳng cần nói đến thế hệ sau mà chỉcần nhìn vào hiện tại chúng ta có thểthâý sự dối trá đang hoành hành khắp nơi.

    Biết bao kỹ sư đã rút ruột công trình hay thiết kế ẩu, thi công ẩu… miễn là có lợi cho mình gần đây nhất là đường cao tốc 34 ngàn tỉ một cơn mưa đã hư.

    Với nghề lương y như từ mẫu là bác sỹ, có người sẵn sàng trục lợi trên tính mạng con người. Là công nhân, họ cũng sẽ có trăm phương ngàn kế để ăn cắp nguyên vật liệu hay thành phẩm của nhà máy.

    Rồi trong kinh doanh, với kiểu làm ăn chụp giật…và lừa đảo đã khiến bao người tan gia bại sản.

    Nếu được nhận định về xã hội hôm nay, chúng ta có thể nói đây làmột xã hội giả dối, con cái lừa dối cha mẹ, người nọ lừa dối người kia, nói một đằng nhưng việc làm lại một nẻo, nói mà không làm.

    Hôm nay lễ Chúa Ky-tô Vua, chúng ta được nghe lại lời xác quyết của Chúa Giê-su đến trần gian là để làm chứng cho sự thật. Chính Ngài đã nói: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Sự thật mà Chúa Giê-su làm chứng chính là giới thiệu cho nhân loại một vương quốc đầy ánh sáng tình thương và chân thành. Một vương quốc không có bệnh thành tích mà chỉ có tinh thần phục vụ một cách vô vị lợi. Một vương quốc mà con người tìm được tiếng nói chung khi biết tôn trọng sự thật và đề cao chân lý.

    Chính Chúa Giê-su đã sống điều đó. Ngài đã sống cuộc đời không tìm hư danh mà chỉ biết sống yêu thương phục vụ mọi phận người lầm than. Ngài cũng không làm để được báo cáo thành tích mà chỉ biết cho đi mà không hề so đo tính toán. Ngài đã sống và bảo vệ chân lý cho dù vì thế mà Ngài bị nhiều thế lực gian tà thù ghét và tìm cách loại trừ. Tuy nhiên, cuối cùng Ngài vẫn toàn thắng. Sự dữ đã bị đẩy lùi. Sự gian dối của ma quỷ đã bị phơi bày. Thiên Chúa đã làm chủ vạn vật và trái đất này.

    Hôm nay, lễ suy tôn Chúa làm Vua, Giáo hội nhắc nhở chúng ta, là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng nước Chúa ở trần gian bằng sự hiệp nhất yêu thương nơi những người con của Chúa có chung một Cha trên trời. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội còn được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Điều đó mời gọi chúng ta phải cùng nhau loại trừ  điều gian dối, chua ngoa và xây dựng một nền công lý và sự thật giữa thế gian còn quá nhiều bất công và gian dối.

    Vâng, cuộc đời hôm nay có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau.Vợchồng chân thành với nhau trong nghĩa tình thuỷ chung. Người trong một đoàn thể, một xứ đạo sống chân thành với nhau hầu loại trừ bệnh thành tích khoe trương. Nhất là trong cuộc sống hằng ngày cần lấy chữ tín làm đầu, luôn sống chân thành trong lời nói , việc làm luôn theo chân lý và sự thật.

    Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết xây dựng Nước Chúa ở trần gian bằng cuộc sống chứng nhân cho tình yêu, cho chân lý và công bình giữa thế giới hôm nay. Amen

    Về mục lục

    .

    CHÚA KITÔ VUA.

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Sách Trung Dung, Tử Tư nhận xét rằng: “Sở dĩ biển cả làm vua các sông ngòi, bởi vì biển ở thấp”. Mầu nhiệm suy tôn Chúa Ki Tô vua được Thánh Phao lô viết: “ Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2, 8 -9). Vương quyền của Chúa là vương quyền của sự vâng phục – khiêm hạ và phục vụ sự sống.

    Mầu nhiệm tự hạ

    Danh xưng Con Thiên Chúa được giới thiệu trong phúc âm Thánh Gioan là một danh xưng vượt trên mọi ý niệm của người Do Thái chờ đợi Đấng Messia. Người vốn dĩ là Thiên Chúa, theo cách tường thuật Chúa Giêsu của Thánh Phao lô, Đâng đã tự hạ vâng phục xuống thế làm người và vâng phục cho đến chết. Mầu nhiệm tự hạ rõ nét nhất khi người ta thấy một Thiên Chúa Toàn Năng được tuyên xưng trong kinh tin kính, lại xuất hiện như một người tử tội.

    Dấu chỉ tự hạ trong vâng phục

    Vâng phục không chỉ là đón nhận những đòi buộc luân lý, nhưng còn là chấp nhận hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Không phải theo cách máy móc như Robot được lập trình mà vâng phục với tất cả tự do của con người, lãnh nhận tất cả khổ đau vì lẽ công chính, đón nhận tất cả với niềm vui vì Nước Trời. Chúa Giêsu vâng phục Chúa Cha như Ngài nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4, 34). Một sự vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá. Vâng phục đối với Chúa Giêsu là trao mọi sự trong tay Cha như là một sự tự hiến: “Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19).

    Vâng Phục – Tự hạ, biểu lộ đức khiêm nhường.

    Đức khiêm nhường là một nhân đức cần thiết trong đời sống của con người muốn nhuận được lòng người. Khiêm nhường cần thiết cho con người để nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa, nhận ra con người thật của mình dù thế nào cũng mang những tính bất toàn. Đức khiêm nhường biểu lộ bằng sự vâng phục, trong sự vâng phục đó, “Chúa đã làm và sẽ làm cho tôi những điều trọng đại” (tham chiếu Lc 1, 49). Chúa Giê su là thầy dạy về khiêm hạ, đến học với Ngài: “ Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 29)

    Vâng phục trong tình yêu

    Chúa Giê su vâng phục Chúa Cha mọi đàng, đó là một vâng phục vì tình yêu. Một tình yêu được diễn tả: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16). Chúa Giê su đã thực hiện yêu thương nhân loại bằng việc đón nhận sự chết trên thập giá để ban lại sự sống mới cho nhân loại. Kinh nghiệm sống cho thấy rằng: “yêu ai, là nói với người đó rằng: em,(anh) sẽ không chết” (G. Marcel) và “tình yêu mới làm cho người ta sống” (M. Blondel).

    Vương quyền tình yêu 

    Có thể lấy hình ảnh người mẹ để diễn ta tình yêu Thiên Chúa một cách dễ hiểu, Hồng y Bruno Forte viết: “Tình yêu phát xuất từ lòng dạ người mẹ là một tình yêu trắc ẩn. Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn nên hằng mong con cái trở về”. Tình yêu làm cho Chúa Giêsu trở nên người phục vụ sự sống. “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8, 17). Một tình yêu của người cha, người mẹ yêu thương con đích thực sẽ hiểu được thế nào là tình yêu phục vụ, cũng để hiểu Lời Chúa: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45)

    Xin Chúa dạy chúng con về vương quyền của Người và biết thực thi vương quyền Chúa muốn nơi chúng con.

    Về mục lục

    .

    CHÚA KITÔ VUA

    Jorathe Nắng Tím

    Thật bẽ bàng, đắng đót khi quan tổng trấn Philatô hỏi Đức Giêsu đang đứng trước mặt ông trong tư thế bị cáo: “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?” (Ga 18,33).  Bị chính đồng hương, đồng bào Do Thái giải giao cho quan tổng trấn như tội phạm, sao lại có thể là vua của dân mình ?  Và còn chua xót, ứ nghẹn hơn khi Philatô lạnh lùng xác nhận : “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi” (Ga18, 35).  Thực vậy, Đức Giêsu đã nhận “triều thiên và vương trượng” Vua trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một tên tội phạm đang chờ lãnh án tử hình, giữa tiếng la hét điên cuồng, khát máu :  “đóng đinh nó vào thập giá !” của đám đông nhẹ dạ bị chăn giắt bởi các thượng tế ma mãnh, gian hùng, mưu lược.

    Vì quyết tâm giết chết Đức Giêsu qua tay chính quyền đế quốc  Rôma, mà họ đã nộp Đức Giêsu cho quan Philatô. Ông này thấy Đức Giêsu vô tội, nên hỏi các thượng tế và đám đông đang gào thét đòi mạng : “Các ngươi tố cáo ông này về tội gì ?”.  Câu hỏi rất tự nhiên, vô tư đáng lẽ phải nhận được câu trả lời  khách quan, chính xác, nào ngờ, người ta đã lái xa trọng tâm của câu hỏi để ngụy biện một cách trơ trẽn, lố bịch, nhưng đầy độc ác : “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30). Thế ra cứ tố cáo ai, là hẳn người ấy phải có tội ; cứ viết thư nặc danh, lên mạng vu khống ai, là người ấy trở thành tội nhân ; cứ trục cổ được người nào ra trước toà án nhân dân, tất người ấy phải là tội phạm. Câu trả lời của các thượng tế làm cho người nghe có cảm tưởng đúng, nhưng thực sự hoàn toàn phi lý vì chỉ là “trò chơi luận lý” lắt léo để buộc tội.

    Dã tâm giết chết Đức Giêsu của các thượng tế và đám đông qúa khích  còn bị lộ tẩy ngay trong câu trả lời của họ với quan Philatô : “Chúng tôi không có quyền xử tử ai” (Ga 18,31), khi ông bảo họ : “Các ông cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người” (Ga 18,31). Bởi muốn Đức Giêsu phải chịu án tử hình, phải bị đóng đinh vào thập giá, chứ không chỉ đánh đòn hay tù giam ít tháng, mà các thượng tế đã lừa Philatô bằng tạo áp lực, xử dụng trò chơi chữ nghiã, nhất là đe dọa ông : “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda. Ai xưng mình là vua thì chống lại Xêda” (Ga 19,12).

    Tuy hèn nhát không dám quyết định tha Đức Giêsu vì sợ sức mạnh của đám đông và để giữ an toàn chiếc ghế tổng trấn, Philatô vẫn tỏ lòng ngưỡng mộ Đức Giêsu và hỏi Ngài một vài câu hỏi xoay quanh câu chuyện vương quyền.

    Đáp lại câu hỏi của Philatô : Ông có phải là vua  dân Do Thái không ? Đức Giêsu đã vắn tắt cho quan tổng trấn biết về vương quyền của Ngài :

    1. Đức Giêsu xác nhận Ngài là Vua :

    Khi trả lời Philatô : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” (Ga 18,34), Đức Giêsu đã gián tiếp xác nhận Ngài là vua, nhưng không là vua dân Do Thái, và nước của Ngài không thuộc về thế gian này (x. Ga 18,36), như nhiều người đã mơ tưởng, gán ghép cho Ngài, vì khao khát được giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma, và tái lập nền độc lập. Cũng chính vì không đáp ứng ước vọng thuần chính trị, mà người Do Thái đã muốn giết chết Ngài, vì cho rằng Ngài đã lừa bịp họ, khi làm họ vỡ mộng.

    Họ vỡ mộng thật, khi họ mong Ngài là Đấng đến giải phóng dân tộc bằng bạo lực, thì Ngài lại rao giảng yêu thương, tha thứ, làm ơn và cầu nguyện cho kẻ thù ; vỡ mộng khi  muốn tôn Ngài làm chủ tịch phong trào phục quốc, giải phóng Israel, thì Ngài lại chủ trương nghèo khó, khiêm nhường, trong sạch,  đi tìm công lý và xây dựng hoà bình (Mt 5, 1-9) ; vỡ mộng khi muốn thần tượng Ngài là lãnh tụ đầy uy lực, thì Ngài lại khiêm tốn qùy xuống rửa chân cho môn đệ ; vỡ mộng khi muốn Ngài làm phép lạ cho quân ngoại bang Rôma tàn rụi, te tua, thì Ngài lại loan báo cuộc tử nạn của chính mình. Vì thế mà người ta phải khử Ngài, chỉ vì không còn chịu đựng nổi giáo lý và đường lối Cứu Thế  khiêm tốn, yêu thương, phục vụ, quên mình, hiến mình của Ngài, bởi hoàn toàn đi ngược điều họ mong đợi.

    1. Đức Giêsu qủa quyết Ngài là Vua của vương quốc Sự Thật :

        Trả lời Philatô, Đức Giêsu nói : “Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

        Như thế, Nước của Đức Giêsu là nước gồm các chứng nhân, bởi Ngài đến làm Vua với duy nhất một mục đích là làm chứng cho sự thật, và người nghe tiếng Ngài, đi theo Ngài, thuộc về Ngài, là công dân của vương quốc Ngài trị vì, mang quốc tịch do Ngài cấp, tất cả đều phải đứng về sự thật. Đứng về sự thật là thao thức mong ước sự thật, khắc khoải muốn có sự thật, tận tụy tìm kiếm sự thật, một lòng yêu mến sự thật, hết mình sống sự thật, tận tình phục vụ sự thật, và can đảm làm chứng sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống.

        Thế ra vương quốc của Đức Giêsu không giống các vương quốc thế gian khác phải có cung điện, triều đình, bầy tôi, quân đội, dân chúng, lãnh thổ, ngân sách… Ngài làm Vua cũng không như các vua trần thế phải có đủ mọi vinh quang, quyền lực, lợi thú, ảnh hưởng. Vua như Đức Giêsu  qủa thực không giống ai, và vương quốc của Ngài thật kỳ lạ !

    a). Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót.

      Sự thật lớn nhất mà Đức Giêsu làm chứng khi đến thế gian chính là lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người : “Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1).

         Người Cha Thiên Chúa, vì yêu thương đã không nỡ đoán phạt con cái yếu đuối, “nhưng nếu ai phạm tội, thì đã có một Đấng Bảo trợ trước mặt Chúa Cha : đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1Ga 2,1) Thiên Chúa làm người. “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1Ga 2,2).

         Cùng với  Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con. “Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa là Cha nhân hậu như Tin Mừng Luca chương 15 đã mô tả :

      Người cha như người chăn chiên vui mừng vác lên vai con chiên bị lạc mất nay tìm thấy. Về đến nhà, ông mời bạn bè, hàng xóm lại ăn mừng (x. Lc 15,4-6) ; “và trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).

    b). Đức Giêsu : Vua của Sự Thật về con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ :

       Ngoài Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, không ai đã cho con người biết sự thật về Thiên Chúa : Thiên Chúa là ai, Ngài muốn gì nơi con người ? Cũng vậy, ngoài Đức Giêsu, không ai có thể nói hết sự thật về con người : tại sao con người hiện hữu, con người sống để làm gì, chết rồi đi đâu ?

       Chỉ một mình Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người mới mặc khải cho chúng ta sự thật về cả Thiên Chúa và con người một cách chính xác, đích thực.

       Sự thật về con người, chính là con người được tạo dựng vì được Thiên Chúa yêu thương, để hạnh phúc ở đời này và đời sau khi ở trong Thiên Chúa, đồng thời  “sống với”, và chia sẻ với anh em đồng loại trong tình yêu.  Điều này có nghiã : chúng ta chỉ có hạnh phúc thật, khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như chính mình (Mt 22,37-39), bởi ai yêu mến thì ở trong Thiên Chúa, và ai ở trong Thiên Chúa, người ấy có tất cả.

        Đàng khác, con người được hạnh phúc vì được Thiên Chúa chăm sóc, nâng niu, bởi vận mạng, sự sống, sự chết của con người đều được đặt trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa : “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em trên trời. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đã đếm cả rồi.Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,29-31).

    c). Đức Giêsu : Vua Sự Thật về cuộc sống đời sau của con người :

        Bí mật làm nhức nhối và làm con người lo sợ, hoang mang hơn tất cả, đó là những bí mật sau cái chết. Chết chấm dứt cuộc sống hôm nay, nhưng mơ hồ cho thấy có một cuộc sống khác, sau cuộc sống này. Chính vì mơ hồ linh cảm có một đời sau, nên con người lo lắng, sợ hãi trước ngưỡng cửa vào đời sau là cái chết, bởi điều làm người ta sợ nhất là rơi vào tình trạng chơi vơi, thấy mình cô đơn lạc lõng giữa một thế giới không thuộc về mình. Cảm giác chơi vơi làm sợ hãi: sợ vì không biết mình sẽ phải làm gì, đi về đâu, nương tựa vào ai, bám víu vào người nào?

         Đức Giêsu đã mặc khải sự thật về đời sau, về những gì sẽ xẩy đến :

    –        “Chúng ta từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em”  (1Ga 3,14).

    –        Thiên Chúa sẽ phán xét mỗi người về  lòng thương xót anh em :

       “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người bên phải rằng : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa rằng : “Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến hỏi han đâu ?” Đức Vua sẽ đáp lại rằng : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất   của Ta đây,  là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).

        Tóm lại, Đức Giêsu đã khẳng định trước mặt quan Philatô : Đích thực Ngài là Vua, nhưng không làm Vua kiểu thế gian, nhưng Vua của Sự Thật. Hiểu theo nghiã : Ngài là Vua tất cả mọi người yêu mến và đi tìm Chân Lý về Thiên Chúa, về Con Người, về vận mệnh tương lai của con người, nên bất kỳ ai đứng về  Chân Lý thì thuộc về Ngài, là công dân của Nước Ngài ; bất cứ người nào khao khát Sự Thật của Thiên Chúa, đấu tranh cho Sự Thật của con người, làm chứng cho Sự Thật của Vương Quốc Nước Trời đều nghe tiếng Ngài, vì chính Ngài là Sự Thật (Ga 14,6).

         Là Sự Thật, Đức Giêsu không là sự thật soi mói, tìm tòi để buộc tội, tống giam của công an chấp pháp ; sự thật “bới lông tìm vết” để trừng phạt, kết tội của chánh án ; sự thật đe doạ, thanh toán của xã hội đen ; sự thật như con ách chủ, lá bài tẩy để khống chế, đánh gục kẻ thù ; sự thật ganh ghét, bạo lực cốt tiêu diệt đối phương, nhưng là Sự Thật của lòng thương xót, Sự Thật được lòng thương xót bao bọc, Sự Thật  được lòng thương xót che chở, Sự Thật được bảo kê bởi Thiên Chúa là Tình Yêu xót thương.

         Là Vua của Sự Thật về Thiên Chúa giầu lòng thương xót ; Vua của Sự Thật về con người luôn được Thiên Chúa xót thương ; Vua của Sự Thật về một Vương Quốc đời sau gồm những người biết chạnh lòng xót thương và chia sẻ cơm bánh, áo quần, thời giờ, tiền bạc, điều kiện sống, và tình yêu thương, huynh đệ với anh em mình, Đức Giêsu thực là Vua muôn vua, Chúa các chúa, bởi vương quốc Sự Thật của Ngài bao trùm toàn thể địa cầu và thiên quốc, bao trùm cả đời này, đời sau, và tất cả mọi người bất phân sắc tộc, trình độ, hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời đều được kêu gọi lắng nghe tiếng nói Sự Thật của Ngài, được mời gọi quây quần chung quanh Ngài, đứng bên Ngài là Vua với duy nhất một điều kiện, một đòi hỏi là tin và sống lòng thương xót như Ngài là Thiên Chúa giầu lòng xót thương.

        Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã không trả lời, khi Philatô gặng hỏi : “Sự thật là gì ?” (Ga 18,38), bởi người ta không thể đón nhận sự thật của lòng thương xót khi tâm hồn đầy gian dối, bất lương, bạo lực ; bởi không cách nào sự thật thương xót có thể được lắng nghe, khi những người Do Thái kia đang cuồng điên kêu gào Philatô dùng bạo lực tàn ác để giết chết Thiên Chúa là Sự Thật ; bởi làm sao sự thật của lòng thương xót có thể  đi vào nhà, cư ngụ trong tâm hồn, khi các thượng tế, lòng đầy gian ác và giả hình, đã từ chối “đội trời chung” với Đấng là Thiên Chúa của Sự Thật xót thương.

    Như thế, không phải ai cũng nhận ra Sự Thật, cũng như không phải ai cũng nhận ra Thiên Chúa, vì chỉ có những người có tâm hồn khao khát Sự Thật của lòng thương xót, mới nghe được tiếng Thiên Chúa giầu lòng xót thương ; chỉ những trái tim biết chạnh lòng trước sự thật về con người cần được thương xót, mới nhận ra Đức Giêsu Kitô, Dung Mạo đích thực và hoàn hảo của Chúa Cha giầu lòng thương xót ; chỉ những cuộc đời dấn thân phục vụ vì lòng thương xót, mới nhận được visa vào Vương Quốc Nước Trời dành sẵn từ thuở tạo thiên lập địa cho những ai có lòng xót thương anh em mình.

    Xin Đức Giêsu Kitô là Vua giầu lòng thương xót đón nhận chúng con làm công dân Vương Quốc Thương Xót của Ngài ngay ở đời này, và được hưởng phần thưởng đời sau trong Nước yêu thương đời đời dành sẵn cho những ai biết chạnh lòng xót thương.

    Về mục lục

    .

    CHÚA GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ

    Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ. Từ ngữ này nghe hơi kỳ lạ. Chúa làm vua không theo quan niệm trần gian vì vua có nghĩa là chính trị và cai quản, điều khiển với quân đội, với bộ máy hành chánh, với uy quyền của người đời. Chúa là vua. Nước Ngài không thuộc về thế gian mà là Vương quốc Nước trời. Do đó từ “ vua “ ở đây có một ý nghĩa đa dạng, phong phú.

    Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, chúng ta được mời chiêm ngắm một vị vua mục tử, vị vua vâng lời, vị vua nhân ái. Đức Giêsu Kitô đến trần gian, chấp nhận sự khó nghèo, sinh ra nơi Hang đá Bêlem, lớn lên ở làng quê Nazarét.Ngài hiền lành, khiêm nhượng, cỡi trên mình lừa tiến vào Giêrusalem, chấp nhận cái chết để cứu rỗi nhân loại. Ngài là vị Vua vâng lời, luôn tỏ lòng hiếu thảo Thiên Chúa Cha, vâng theo ý của Người và vâng lời cha mẹ : Đức Trinh nữ Maria và thánh Giuse. Ngài vâng lời cho đến chết bằng hình phạt nhục nhã là bị đóng đinh trên thập giá như thánh Phaolô đã viết : ” …Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự “ (Philip 2, 8 ).

    Là Vua nhưng Chúa Giêsu luôn tỏ lòng nhân hậu chạnh thương hết mọi người, đặc biệt những kẻ yếu hèn, nghèo túng, cô thân cô thế, những con người tội lỗi, thấp cổ bé họng. Chúa Giêsu là Vua nhưng không dùng quyền lực để cai trị dân, mà dựa trên tình yêu thương, lòng nhân từ. Một vị vua không có quân đội, không có nội các, không có phương tiện để chiến đấu, nhưng chỉ dùng sự yêu thương để lãnh đạo dân chúng. Một vị vua không có lãnh thổ, ghi tên trên bản đồ thế giới nhưng vị vua được nhiều người yêu mến, kính trọng, tôn vinh trong trái tim của chính mình.

    Đức Giêsu là Vua nhưng Vương quốc của Người không thuộc nơi thế giới, nơi trần gian mà Nước Ngài là Nước Thiên Chúa. Nước của Sự thật, của Hòa bình, của Thứ tha như Chúa Giêsu đã trả lời với Philatô : ” Nước tôi không thuộc thế gian này…” ( Ga 18,36 ). Rồi Ngài nói tiếp :” …Tôi đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật.Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi “ ( Ga 18, 37 ). Đức Giêsu là chính Sự thật. Philatô đứng trước mặt Vua Sự thật nhưng ông đã không hiểu gì ! Nước của Đức Giêsu Kitô là nước của Tình Yêu. Ngài nói và đã thực hiện : ” Khi nào tôi được giương cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người đến cùng tôi “ hoặc “ Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình “ ( Ga 15, 13 ). Nơi khác Ngài nói : ” Ta đến để phục vụ, chứ không đến để được phục vụ “ ( Mc 10, 45 ). Chúa Giêsu đã cho nhân loại, cho chúng ta một giới răn mới, đưa nó lên tầm cao mới, chiều sâu mới :” Yêu thương ngay cả kẻ thù “. Vâng, chỉ có ai sống yêu thương mới xứng đáng làm công dân Nước Thiên Chúa.

    Chúa mời gọi chúng ta nhìn lên Chúa, chiêm ngắm Chúa vì Chúa chính là Vua Yêu Thương như thánh Gioan định nghĩa “ Thiên Chúa là Tình Yêu “. Do đó, mỗi khi chúng ta sống bác ái, yêu thương, mỗi lần chúng ta giúp một người đói ăn, người khát uống, mỗi lần chúng ta cho một người rách rưới ăn mặc, mỗi lần chúng ta thăm viếng một kẻ tù tội, cho khách đỗ nhà…Mỗi lần chúng ta tích cực dùng lời nói làm cho người khác hòa thuận, giúp đỡ một người đang gặp giông bão, thử thách để họ vươn lên, vượt thắng, mỗi lần chúng ta nở một nụ cười với tha nhân là chúng ta đang sống trong Vương quốc của Vua Giêsu, Tình Yêu.

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết noi gương bắt chước Chúa, sống yêu thương và yêu như Chúa để khi những người gặp chúng con sẽ nhận ra chúng con là hiện thân của Chúa, Vua Yêu Thương, Khiêm Nhượng và Vâng Phục. Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1. Đức Giêsu Kitô, Vua Vũ trụ có nghìa gì ?
      2. Tại sao lại gọi Chúa Giêsu là Vua Vâng lời ?
      3. Tại sao lại gọi Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu ?
      4. Sự thật theo Chúa Giêsu nói là gì ?
      5. Vua mục tử có nghĩa gì ?

    Về mục lục

    .

    VUA VŨ TRỤ

    Lm. Trần Việt Hùng 

    Phi-la-tô hỏi Chúa rằng:

    Là Vua Do-thái, vinh thăng thế trần.

    Nhân dân, Thượng Tế quần thần,

    Toàn dân Do-thái, trao phần xét suy.

    Quan hỏi: Ông đã làm gì?

    Giê-su đáp lại, cũng tùy quý quan.

    Nước tôi không thuộc thế gian,

    Chốn này trần thế, lan tràn đấu tranh.

    Quyền uy chỗ dứng tranh dành,

    Vua quan chiến đấu, xây thành lập công.

    Tò mò quan hỏi viển vông,

    Ông là Vua hả? Sao không có người.

    Thật, quan nói đúng từng lời.

    Tôi là Vua Cả, cao vời linh thiêng.

    Chứng minh chân lý cao thiên,

    Muốn nghe sự thật, Chúa Chiên gọi mời.

    Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu trả lời: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng cho chân lý. Ai thuộc về chân lý thì nghe tôi. Chân lý là sự thật. Sự thật có một nhưng được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Làm sao chúng ta có thể tìm ra được sự thật chân chính?

    Cũng thế, chúng ta thấy có rất nhiều tôn giáo khác nhau. Vậy đâu là tôn giáo thật? Có các tôn giáo như Do Thái giáo, Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Balamôn, Cao Đài, Chính thống giáo, Tin lành và Công giáo…. Các tôn giáo đều cố gắng đi tìm sự thật, nhưng chỉ có sự thật thì bao la. Chúng ta tin vào Chúa Kitô, Con Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô là Đường, là sự Thật và là Sự Sống.

    Truyện kể về năm anh mù sờ voi. Người thứ nhất sờ tai voi cho rằng con voi to và dẹp như cái quạt. Người thứ hai rờ vào cái vòi thì nói rằng voi thon và dài như cái vòi nước. Người thứ ba sờ chân voi thì nghĩ rằng voi to như cái cột nhà. Anh thứ tư sờ vào đuôi thì nghĩ rằng voi giống cái chổi. Anh thứ năm sờ bụng con voi và cho rằng voi tròn như cái trống. Họ đã bất đồng ý kiến với nhau. Ai cũng có sự thật, nhưng chỉ có một phần sự thật. Mỗi người đều nghĩ rằng họ biết tất cả sự thật.

    Chúng ta học biết về sự thật, nhưng sự thật của chúng ta còn qúa giới hạn. Chúng ta phải đến với Đấng là nguồn của chân lý. Đó là Chúa Kitô. Chúa nói rằng: Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng Tôi. Chúa Kitô đến từ Thiên Chúa Cha. Ngài đến để làm chứng cho sự thật. Phải chăng người ta sợ sự thật. Đúng thế, sự thật không những làm cho người ta mất lòng, mất cả của cải và có khi mất cả mạng sống mình. Thánh Gioan Tẩy Giả, nói sự thật nên đã bị tống giam và bị chặt đầu. Biết bao vị thánh tử đạo đã mất mạng sống, vì dám làm nhân chứng cho sự thật.

    Nhiều người muốn sống xa sự thật vì sự thật làm mất lòng. Họ không muốn mất đi những mối lợi cả về phần xác lẫn phần hồn, họ dần rời xa sự thật. Sự gian dối nẩy sinh để che đậy những bất toàn, thiếu xót và dơ bẩn của con người. Người ta tìm tiêu hủy sự thật như thủ tiêu hay phi tang, để sống trong sự an toàn của giả dối.

    Chỉ có chân lý sẽ dẫn con người ra khỏi bóng tối của lầm lạc. Ánh sáng của Chúa Kitô sẽ giúp chúng ta vượt ra khỏi những gian trá lọc lừa của thế gian. Về bên Chúa, chúng ta hãy đi tìm sự thật, nói sự thật và sống sự thật. Tấm gương sự thật của chúng ta chính là Đức Kitô. Đức Kitô là Vua các Vua. Ngài là Vua của tình yêu. Ngài thí mạng vì tình yêu trong sự thật.

    Về mục lục

    .

    NƯỚC CỦA SỰ THẬT

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Tôn vinh Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội công bố bài Tin Mừng Gioan: Vua Giêsu đang bị trói, bị điệu đến trước mặt quan Philatô và bị đối xử như một tội phạm. Philatô hỏi:Ông là vua sao? Sao lạ vậy? Vua Hêrôđê còn sống sờ sờ đó mà. Vua gì mà chẳng có quân có tướng hộ vệ? Vua gì mà chẳng có vương miện cẩm bào? Trước mặt Philatô, Chúa Giêsu mang chiếc áo loang lỗ máu đào, tả tơi. Phải chăng Philatô nhận ra Chúa có một tác phong uy quyền cao cả một một vị đế vương. Và trong chiều sâu tâm hồn, Philatô thán phục đánh giá cao vị vua này!

    Chúa Giêsu đáp: Chính ngài nói rằng tôi là vua. Rồi Chúa giải thích thêm: Tôi sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật, ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi. “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Như vậy, Chúa xác nhận Ngài là Vua, vì có một nước để Ngài thống trị. Đó là nước của sự thật: Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Chúa; đó là nước của tình yêu: “Người ta sẽ căn cứ vào dấu hiệu này để nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em thương mến nhau.” (Ga 13,35); đó là nước của sự sống: “Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời” (Ga 5,24).

    1. Nước của Sự Thật.

    Nước của Vua Giêsu là nước của sự thật và “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Nhiều lần Đức Giêsu đã khước từ làm vua theo kiểu trần thế. Nước trần gian do con người thiết lập bằng sức mạnh, thường đem lại sự giàu sang và vinh quang. Đức Giêsu từ chối loại nước huy hoàng do Satan đề nghị: Nếu ông quỳ gối thờ lạy tôi, tôi sẽ cho ông mọi nước làm sản nghiệp. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân Do thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, nhưng Ngài trốn lên núi. Khi trả lời cho những kẻ gài bẫy: chúng tôi có phải nộp thuế cho Xêza không? Đức Giêsu đáp: của Xêza hãy trả cho Xêza, của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.

    Nước của Vua Giêsu là nước của sự thật thuộc thế giới niềm tin, thế giới tâm linh trong tâm hồn con người. Nước đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của Xêza hay bất cứ đế quốc nào, chủ nghĩa nào. Nuớc của Xêza chỉ cai trị thể xác loài người, còn nước của Đức Giêsu chiếm trọn lòng người.Thế lực của Xêza là quân đội khí giới nhà tù. Sức mạnh nước của Đức Giêsu là niềm tin yêu thương tha thứ. Dù rộng lớn, đế quốc Xêza cũng bị giới hạn, còn nước của Đức Giêsu vô biên, được thiết lập mọi nơi. Các triều đại phong kiến, các thể chế chính trị cũng đã và đang chấm dứt trong dòng thời gian như đế quốc của Xêza, chỉ còn nước sự thật và niềm tin là tồn tại muôn đời.

    Chúa Giêsu là vị vua của Sự Thật và sứ mạng của Ngài là làm chứng cho sự thật. Là vua sự thật, Chúa đến thế gian để chỉ cho con người về sự thật và dạy cho con người sống sự thật. Vua Giêsu đã chỉ cho con người thấy Thiên Chúa là chân lý và là sự thật. Vua Giêsu còn chỉ cho con người thấy bộ mặt thật gian dối của thế gian, sự xảo trá của ma quỷ và thế lực của bóng tối. Nó đang tìm cách tách con người ra khỏi sự thật và gieo sự gian dối vào trong tâm hồn con người.

    Kitô hữu là thần dân của nước sự thật nên dám nói lên sự thật, dám can đảm sống theo sự thật, dám chết cho sự thật.

    1. Nước của Tình Yêu

    Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của nước Ngài thiết lập. Đức Kitô là vua, nhưng lại rất khác với các vua trần thế ở chỗ : để cai trị, các vua thế gian dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Ngài yêu thương mọi người, mọi con dân của Ngài như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (Ga 10,11-16). Luật pháp trong nước của Ngài là sống trong Tình Yêu. Một Tình Yêu trọn vẹn trong chiều dọc, đối với Đấng dựng nên mình là Thiên Chúa. Một Tình Yêu chan hòa trong chiều ngang đối với đồng loại của mình.

    “Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới. Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa nước của Ngài. Đó là nước của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời”. (ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt).

    Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Vua Giêsu đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người ngay chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thậm chí thách thức Ngài.

    Tình yêu chi phối mọi sinh hoạt cuộc đời. Con người đau khổ vì không có tình yêu. Chúa là tình yêu. Chỉ những ai biết tìm đến với Ngài, được Ngài thông truyền cho tình yêu, họ mới biết mở mắt để nhận ra được mọi người anh em, như thế mới có thể yêu thương. Bản tính của tình yêu là cho đi điều tốt lành. Ai sống yêu thương thì thuộc về Chúa, là thần dân của Ngài. Nước của Chúa Kitô Vua là nước của tình yêu. Muốn vào nước ấy, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.

    1. Nước của Sự Sống

    “Ta là sự sống và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ “(Ga 11, 25-26). Thật là đại tin mừng : “Nơi Ngài là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại. Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng” ( Ga 1,4-5).

    Chúa Giêsu là sự sống lại và là sự sống nên nước của Ngài không còn bóng dáng cái chết. Khi còn ngày rộng tháng dài, Đức Giêsu không xưng vương. Nay cận kề cái chết Ngài mới xưng vương để dạy cho ta biết nước của Ngài “không thuộc thế gian này”. Sự sống trần gian này chẳng đáng giá gì so với sự sống trong Nước Chúa. Vì thế muốn vào được vương quốc của Chúa, phải biết từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống nữa.

    Chúng ta lãnh nhận sự sống từ Thiên Chúa, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể trao ban sự sống ấy. Chúa Cha đã trao cho Chúa Con quyền này, và đặt vào tay Chúa Con, nên Chúa Con là Vua Sự Sống.

    Con người tiếp nhận sự sống từ chính nguồn sống là Thiên Chúa như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời.Thiếu ánh sáng mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Cũng thế, không có Thiên Chúa thì không thể có sự sống.Thiên Chúa thông ban sự sống cho con người vì Thiên Chúa yêu thương con người.Thiên Chúa yêu thương mọi người ngay cả những ai chối bỏ và thù ghét Ngài.Con người là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa.Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay thù địch, mỗi con người đều là hình ảnh Thiên Chúa. Chỉ xuyên qua niềm tin và tình thương con người mới đến được với Thiên Chúa. Sống cho hạnh phúc của tha nhân, đó là sự thật mà mỗi thần dân sống trong nước Vua Giêsu được mời gọi thể hiện mỗi ngày.

    Nhưng ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô và ai thuộc về Đức Kitô thì hãy để Người sống và lớn lên trong cuộc đời mình và chấp nhận để Người biến đổi toàn diện. Đồng thời, chính mình cũng cần nổ lực “làm chứng” sao cho niềm tin luôn luôn vươn lên, mà cũng không quên nhiệt tình tông đồ là làm cho những người lân cận nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nữa.

    Ở Bãi Sau Vũng Tàu, có một tượng Chúa Kitô Vua thật lớn dựng trên triền núi quay mặt ra biển, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân quanh đó kể lại rằng những khi ra khơi, họ vẫn căn cứ vào đó để mà định hướng đi về, và nhiều lần sóng gió họ cũng hướng về đó để mà cầu nguyện xin ơn bình an.

    Giữa trùng dương cuộc sống, Kitô hữu biết rằng Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện như một chuẩn đích để định hướng tin yêu hy vọng. Xin Người cũng làm Vua quy tụ mọi sự trong Nước vĩnh cửu của Người.

    Mừng lễ Chúa Giêsu – Vua Vũ Trụ – Vua Sự Thật -Vua Tình Yêu – Vua Sự Sống, chúng ta hãy để cho Vua Giêsu chiếm trọn tất cả con người mình, từ tư tưởng lời nói cho đến việc làm. Chúng ta không còn thuộc về thế giới của bóng tối và tội lỗi. Chúng ta thuộc về vương quyền của Vua Giêsu là vương quyền của sự sống và sự thật, vương quyền của niềm tin và ân sủng, vương quyền của sự thánh thiện công lý và tình yêu hoà bình (Kinh Tiền Tụng).

    Giêsu, lạy Chúa từ nhân,

    Tâu Vua vinh hiển, thần dân kính mừng!

    Duy Ngài là lẽ cậy trông,

    Là trung tâm điểm của dòng thời gian.

    Quyền uy thống trị vũ hoàn,

    Chúng con tình nguyện làm dân con Ngài.

    (Thánh Thi Kinh sáng lễ Chúa Kitô vua).

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 34 THƯỜNG NIÊN_B

    Giuse Đinh Tất Quý

    Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng Vụ. Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ Chúa Kitô Vua.

    1. Hầu như trong cả cuộc đời của Chúa, ngoài một lần duy nhất Chúa được đối xử như một vị Vua lúc Chúa giáng sinh, khi các nhà đạo sĩ tìm đến bái thờ, còn ngoài ra thì Ngài sống như một người bình thường.

    Thế nhưng vào những ngày cuối cùng trên trần thế cuộc sống của Chúa có thật nhiều đổi thay.

    a/ Lúc vào Thành Giêrusalem một cách long trọng, Ngài để cho dân chúng tung hô Ngài như một ông Vua.

    b/ Rồi trong cuộc đối đầu với Philatô, đại diện cho quyền lực của cả Đế quốc Roma lúc đó, Chúa đã không một chút ngần ngại để xác nhận một sự thật khi Philatô hỏi Chúa: “Ông là Vua sao?” Chúa trả lời một cách dứt khoát, không một chút ngại ngùng: “Quan nói đúng: tôi là Vua”

    c/ Chưa hết trong cuộc xét xử Chúa, khi được bà vợ báo tin cho biết Chúa là người vô tội, Philatô đã muốn tìm cách cứu Chúa Giêsu. Ông đã làm cho Chúa ra tiều tuỵ bằng những trận đòn ông cho lính hành hạ Chúa, rồi ông đưa Chúa ra trình diện với người Do thái: “Đây là Vua các ngươi”. Quả thực là Philatô đã muốn cứu Chúa nhưng sự việc lại không diễn ra như ông mong mỏi.

    d/ Và cuối cùng như chúng ta đã thấy, khi Chúa bị treo ở trên Thập giá, chính Philatô đã truyền viết và gắn một tấm bảng thật lớn để mọi người có thể nhìn thấy trên đầu cây Thập giá của Chúa. Tấm bảng với dòng chữ rất rõ như thế này: “Giêsu Nagiareth, Vua dân Do thái”

    1. Vâng, quả thực Chúa là Vuanhư Chúa đã xác nhận. Thế lực của trần gian cũng xác nhận, nhưng phải hiểu nội dung lời tuyên bố của Chúa và lời tuyên xưng của trần thế như thế nào? Rõ ràng là Chúa là Vua nhưng cuộc sống của Chúa và cách cai trị của Chúa chẳng giống với bất cứ một ông Vua nào trên trần thế này cả.

    a- Nói đến Vua, người ta thường liên tưởng đến một người có uy quyền. Uy quyền đó thường do hai cách: hoặc là tự mình cướp được hay là do người khác ủy cho. Thí dụ như các vua Do thái vào thời của Chúa Giêsu đều là những người đã được các Vua Roma phong cho.

    Với Chúa Giêsu thì không như thế. Trước khi về trời Chúa đã long trọng tuyên bố với các môn đệ của Ngài: “Mọi quyền trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy” (Mt 28,18). Đây là uy quyền tuyệt đối dù cửa hỏa ngục cũng không thắng được.

    b- Tiếp theo khi nói đến Vua thì người ta thường liên tưởng đến một lãnh thổ nơi mà Vua cai trị. Lãnh thổ của một ông vua trên trần thế thường là một không gian có biên giới, có bờ cõi, trong đó thần dân của vua sinh sống.

    Đối với Chúa thì không như thế. Chúa nói thẳng với Philatô“Nước tôi không thuộc về thế gian này” Chúa không muốn uy quyền của Chúa bị đóng khung trong một thứ không gian nhỏ bé ở trên đất này. Vương quốc của Ngài là vương quốc của sự thật, của sự sống, của sự thánh thiện, của công chính, yêu thương và an bìnhVương quốc đó vượt xa mọi thứ vương quốc chóng tàn và mau qua ở dưới trần gian

    c- Khi nghĩ đến một ông vua thường chúng ta cũng còn liên tưởng đến đường lối mà vua thường dùng dể cai trị cũng như những phương thức ông dùng để chinh phục và mở mang bờ cõi cho vương quốc của ông.

    Còn Chúa Giêsu thì không như thế. Ngài không đến để thống trị, nhưng để phục vụ. Chúa nói với  các môn đệ của Ngài: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ” (Mt 20,26-27). Chính Ngài cũng đã làm như thế: “Con người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người “(Mt 20,28). Vào những giờ phút chót trong cuộc đời trần thế của Người, Người đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Và Chúa khuyên các môn đệ cũng hãy bắt chước mà làm như thế (Ga 13,12-18)

    d – Cuối cùng khi nói đến những ông vua, chúng ta còn hay liên tưởng đến một cuộc sống giầu có và sang trọng của họ. Họ thường sống cách ly với mọi người nhất là những người nghèo khổ. Rất ít khi có một vị vua biết sống gần gũi với dân. Trong một cuộc nói truyện với dân, Chúa Giêsu đã đưa ra một nhận xét rất hay. Chúa bảo: “Những kẻ áo quần lộng lẫy, đời sống xa hoa thì ở trong cung điện” (Lc 7,25). Ở trong cung điện, sang trọng và kín cửa cao tường.

    Còn Chúa thì không như thế. Ngài đã từng tuyên bố: “Con chim có tổ, con chồn có hang nhưng con người không có chỗ tựa đầu”. Cả cuộc đời công khai hầu như chỉ là cuộc sống ở ngoài đường. Người ở giữa dân của Người. Không nhà cao cửa rộng. Không lụa là gấm vóc, không cao lương mỹ vị. Người bước những bước đi với dân của Người. Người chia sẻ với dân từng miếng cơm manh áo. Bệnh tật Người chữa cho lành. Què quặt Người làm cho đứng dậy mà đi. Mù loà Người cho được nhìn thấy. Sa đọa Người vực dậy. Tội lỗi Người tìm cách để được trở về đường ngay nẻo chính. Cây lau bị dập Người không nỡ bẻ gẫy. Tim dèn còn khói người không nỡ dập tắt đi. Người làm tất cả những điều đó chỉ vì lòng yêu thương. Người yêu thương dân như yêu thương chính mình. Chẳng có một ông Vua nào trên trần thế này làm được như thế.

    1. Bây giờ đến lượt chúng ta kính thưa anh chị em. Chúng ta phải làm gì để xứng đáng với danh nghĩa là thần dân của Vua Giêsu.

    Trong một cuộc thi hùng biện hồi còn là một học sinh, Lý quang Diệu người đã làm nên những “phép lạ” biến hòn đảo Singapore trở thành một trong những con rồng ở Châu Á, đã nói với các bạn của ông bằng những lời như thế này: “Thưa các bạn, cha mẹ cho chúng ta cuộc sống nhưng chúng ta sống vì mục đích gì?. Câu hỏi đó không phải là dễ đối với nhiều người. Có người trả lời: tôi sống vì tiền của và mong trở thành một thương gia cự phách. Có người vì địa vị quyền uy mà phấn đấu. Mục tiêu cuối cùng của tôi là đại quan. Có người nỗ lực cho những gì mình ưa thích để sau này sẽ là nhà khoa học, nhà văn, nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ v.v.. Tôi không hề hoài nghi là sự lựa chọn của họ có điều gì không thỏa đáng nhưng tôi nghĩ rằng trong lúc bươn chải cho những hoài bão lớn lao đó, họ đã thiếu vắng một linh hồn cao thượng đó là CHÂN LÝ.

    Sau đó ông nại tới Tân Ước dể giúp cho nhưng người nghe biết giá trị chân lý là gì. Ông nói tiếp: “Bạn hãy mở lại chương thứ 18 Phúc Âm thánh Gioan của Kinh Thánh Tân Ước mà xem” Trong chương này Chúa Giêsu Chúa của chúng ta đã nói về chân lý nhưng những người trong cuộc hầu như chẳng ai hiểu được chân lý là gì kể cả con người có quyền uy vào hạng tuyệt dối trên đất nước Do thái lúc đó tức là Philatô, đại diện cho uy quyền của cả một đế quốc rộng lớn bao la. Muốn hiểu được chân lý con người phải có một cái tâm trong sáng, phải có một cái nhìn không bị vẩn đục bởi những giá trị phàm trần.

    Rồi ông dõng dạc nhấn mạnh từng tiếng để kết thức bài diễn thuyết của ông. Ông nói:Dũng cảm đi tim chân lý là thiên chức của con người. Người bạn vĩ đại nhất của chân lý là thời gian. Kẻ thù ác độc nhất của chân lý là thiên kiến và khiêm tốn chính là người tình vĩnh hằng nhất của nó. Các bạn đồng học thân mến! Hãy sống vì chân lý. Trên đường đời muôn dặm hãy luôn tìm đến chân lý, nghiên cứu chân lý và cống hiến cho chân lý”

    Những lời này tự nhiên làm cho tôi liên tưởng đến những lời của Chúa Giêsu: “Chân lý sẽ giải phóng anh em” “Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng của tôi”

    “Trên đường đời muôn dặm hãy luôn tìm đến chân lý, nghiên cứu chân lý và cống hiến cho chân lý. Hãy sống vì chân lý.”

    Và tôi lại nhớ tới một lời dạy khác của Chúa Giêsu. Chúa nói với các môn đệ: “Thầy là đường, là chân lý và là sự sống” Và tôi muốn thay đổi một chút lời kết thúc bài diễn văn của Ông Lý quang Diệu

    “Trên đường đời muôn dặm hãy luôn đi tìm Chúa Giêsu, nghiên cứu những lời dạy của Người và cống hiến cuộc đời làm nhân chứng cho Người. Hãy sống cho Chúa Giêsu và vì Chúa Giêsu” Làm được như thế chúng ta sẽ xứng đáng là thần dân của Người .Amen.

    Về mục lục

    .

    VUA KHIÊM NHƯỜNG VÀ PHỤC VỤ

    Lm. Phêrô Lê văn Chính

    Vào cuối năm Phụng vụ, Giáo hội long trọng mừng lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ. Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm vương quyền của vị Vua vũ trụ, được biểu lộ hàm ẩn nơi khuôn mặt Đức Giêsu Nazarét chịu xét xử trước mặt tòa án Philatô và đóng đinh vào thập giá, nhưng rồi sẽ được biểu lộ cách quyết định sau này trong vinh quang vĩnh cửu vào cuối thời gian của lịch sử nhân loại và vào lúc kết thúc mọi vương quốc trần gian.

    Bài đọc thứ nhất trích từ sách Đaniel chương 7, nói về một giấc mơ của tiên tri Đaniel. Ông được nhìn thấy một Con người đến trong đám mây trước vị Bô Lão và lãnh nhận từ vị Bô lão này quyền năng và vương quyền trên mọi dân tộc và ngôn ngữ. Từ mà tiên tri dùng là “Con người” cũng sẽ là từ mà Chúa Giêsu sẽ dùng nhiều lần để ám chỉ chính người, tức là Con Thiên Chúa vĩnh cửu, nhưng được sinh hạ như một con người ở trần gian để rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa cho mọi người. Từ này xuất hiện lần đầu tiên trong sách tiên tri Đaniel, và “Con người” mầu nhiệm này được mô tả là đến trong đám mây trên trời. Người vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Người là Con Thiên Chúa nên đến trong mây trời và được ban cho mọi quyền năng vinh dự và vương quốc đến muôn ngàn đời và vương quốc của người sẽ không bao giờ qua đi.

    Vương quyền của Chúa Giêsu đã là điều mà các tác giả Tin mừng cũng như thánh Phaolô đã nói tới và cố gắng để chứng minh. Vương quyền của Người cũng đồng thời là vương quyền của Đấng cứu thế, bởi vì những người do thái vốn tin vào lời loan báo của các tiên tri là Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện từ dòng dõi vua Đavít một Đấng cứu thế sẽ giải thoát và cứu độ họ, và Người sẽ là Vua trên các vua. Giờ đây, với việc Chúa Giêsu Nazarét hiện diện, những người do thái không thể đón nhận người như là Đấng cứu thế và là vua của họ, bởi vì Đức Giêsu không hành xử như một nhà vua hay đấng cứu độ trần gian lãnh đạo dân tộc họ để chiến đấu chống quân thù hoặc xâm chiếm các nước hay để xây dựng một vương quốc trần gian hùng mạnh.

    Sách Khải huyền mô tả thời cuối cùng của lịch sử khi Đức Giêsu, con người lại đến trong vinh quang, lúc mà các vương quốc trần gian kết thúc. Sách Khải huyền vang vọng lại thị kiến của tiên tri Đaniel, với hình ảnh Chúa Kitô đến trong đám mây. Người là Đấng đã tạo dựng mọi sự bởi Lời quyền năng của người, giờ đây người cũng sẽ kết thúc mọi sự bởi vì Người là nguyên thủy và cùng đích mọi sự. Nhưng sự kết thúc lịch sử nhân loại cũng là lúc biểu lộ Vương quyền của người, khi mà người sẽ ban tặng sự sống vĩnh cửu cho những kẻ thuộc về người mà người đã đổ máu cứu độ và tẩy sạch mọi tội lỗi của họ. Bài Tin mừng theo thánh Gioan sẽ tường thuật cụ thể việc Đức Giêsu bị xét xử trước tòa án của Philatô, một hình ảnh tượng trưng tiêu biểu của quyền lực trần gian đối diện với Nước Thiên Chúa và vị vua trời vĩnh cửu. Đức Giêsu bị tố cáo là đã xưng mình là vua và Philatô chất vấn xem người có xác nhận những gì mà người do thái tố cáo chăng. Chúa Giêsu đã trả lời cho Philatô và giải thích cho ông về Nước của người, một nước không thuộc về trần gian và không giống như những nước trần gian. Đồng thời Chúa Giêsu còn khẳng định cho Phaolô rằng bất cứ ai nghe lời của người và đón nhận chân lý của người thì thuộc về nước của người: “Quan nói đúng. Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. Quả thực, cuộc đối thoại này cho thấy hai thế giới thực là khác biệt. Thế giới của Philatô và của các thượng tế do thái là thế giới của quyền lực, gian dối, trong khi đó thế giới của Chúa Giêsu là thế giới của chân lý, của tình yêu và sự sống. Quả thực, Đức Giêsu là Vua, nhưng là vua của một vương quốc sự thật, không giống như những vương quốc trần gian, và những gì mà Người muốn ban tặng là vương quốc sự thật này để cho mọi người được chia sẻ hạnh phúc và sự sống của người. Một cách cụ thể, Philatô thực là ngạc nhiên, vì trước mặt ông một người bị bắt, bị tra tấn, không có sức mạnh nào để nương tựa và tự vệ lại có thể làm vua được sao. Ông còn ngạc nhiên hơn nữa khi nghe nói đến vương quốc chân lý, một điều mà Philatô khó có thể tưởng tượng, bởi vì một con người không có gì để tự bảo vệ mạng sống mình trong lúc này khi mà những người khác tố cáo mình bằng bạo lực thì những lời nói của ông phải chăng là hoang tưởng. Philatô thực là bối rối và không muốn bị ràng buộc vào một vụ án mà ông không muốn chịu trách nhiệm.

    Nước của Chúa Giêsu không định vị ở một nơi nào trong thế gian, nhưng lại là một vương quốc chân thật và vững bền hơn hết và dành cho những ai đã bắt đầu tin vào Người, đón nhận Lời của người và thực hành những chân lý Tin mừng mà người rao giảng. Vào cuối năm Phụng vụ, Giáo hội nhắc nhở cho chúng ta thời gian thuộc về Chúa, và thời gian có ý nghĩa vì đó là thời gian được ban tặng cho chúng ta để với hành trình của cuộc đời qua mọi năm tháng, chúng ta càng ngày càng được biến đổi nhiều hơn nhờ ân sủng của Chúa Giêsu ban tặng. Các bài đọc đều mời gọi chúng ta đón nhận vương quyền của Chúa Giêsu để thuộc về vương quốc của người. Bài đọc sách Khải huyền khẳng định tất cả mọi người là những kẻ tin vào Chúa Giêsu thì đều được thuộc về Người và vương quốc của người bởi vì Người yêu thương chúng ta và dùng máu người mà rửa sạch chúng ta khỏi mọi tội lỗi và làm cho chúng ta trở nên vương quốc và tư tế của Thiên Chúa, Cha của người. Và lời khẳng định của Chúa Giêsu trước tòa án Phaolô còn mời gọi hơn nữa tất cả mọi người không trừ ai, để được mời gọi đó nhận vương quyền của người: “Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi”. Chúng ta được mời gọi, qua mọi thăng trầm và vui buồn của cuộc đời, khi đau khổ hoặc thất bại, luôn tin tưởng vào vương quyền của Chúa Giêsu, và cùng với người chúng ta chiến thắng tội lỗi và sự chết bằng đời sống mới đầy tràn quyền năng Thánh Thần của người.

    Về mục lục

    .

    ĐỨC GIÊSU LÀ VUA Ư?

    Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

    “Chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho chân lý. Phàm ai thuộc về chân lý thì nghe được tiếng tôi” (Ga 18:37).

    Không ít người khi mới tìm hiểu về Kitô giáo, hoặc có dịp đọc qua một vài trang sách Phúc Âm, đã vội đưa ra vài nhận xét về Đức Giêsu như sau: Ngài không phải là một chính trị gia xuất chúng và cũng chẳng phải là một thương gia đại tài. Bởi vì những lời Ngài nói, những điều Ngài hứa hẹn không giống với các chính khách hay các nhà buôn thời nay tí nào. Thay vì lôi kéo quần chúng bằng những lời mời gọi hấp dẫn, có tính chất quyến rũ thị hiếu của người ta, để họ sẵn sàng đi theo ủng hộ, thì Đức Giêsu lại nói, “Ai muốn theo Ta, hãy chối bỏ chính mình, hãy vác thập giá mình mà theo” (Mt 16:24). Đã vậy rồi khi có người đi theo, Ngài lại phán thêm những câu mà mới nghe qua đã muốn bất mãn. Chẳng hạn như, “Ai không từ bỏ cha mẹ, anh em, vợ con và ngay cả mạng sống mình thì không xứng đáng làm môn đệ của Ta” (Lc 14:26); hoặc “Ta không đến để đem bình an, nhưng là gươm giáo” (Mt 10:34).

    Thật là khác lạ! Thay vì hứa hẹn một cuộc sống sung túc nhẹ nhàng thoải mái, êm ấm bình an, thay vì cứ hoá bánh ra thật nhiều và hoá thường xuyên để nuôi dân chúng, và như thế thì làm gì mà họ chẳng theo, thậm chí còn ủng hộ, bỏ phiếu bầu mình làm thủ lãnh, chứ đàng này Ngài lại dạy phải chịu đau khổ, phải từ bỏ chính mình, phải nhân nhượng kẻ thù, hay nói cách khác là phải chịu mất mát thiệt thòi. Thế thì làm sao mà lôi kéo dân chúng được!

    Khi suy luận như thế, tất nhiên sẽ có không ít người tin tưởng mình sẽ nắm chắc phần thắng khi đánh cuộc nếu Đức Giêsu mà ra tranh cử, dù thời xưa hay thời nay, thế nào cũng bị loại ngay từ vòng đầu thôi. Nhất là khi họ thấy thân xác của Ngài bị đóng đinh thê thảm trên thập giá, kết thúc cuộc đời không một chút oai phong vinh quang, thì chẳng mấy ai dám khẳng định Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Vua dân Do thái, hay là Chúa của muôn dân. Có chăng chỉ là một sự nhạo báng!

    Ấy thế mà kẻ bị đóng đinh ô nhục trên thập giá giữa những tên trộm cướp, người đã từng bị nhạo báng là vua, là Mêsia, lại thật sự là Đức Kitô, Vua của muôn muôn tỉ tâm hồn.

    Sẽ có người ngạc nhiên nêu vấn đề: Tại sao nghịch lý thế? Do đâu mà một tử tội lại được người ta bước theo đông đảo như vậy? Phải chăng vì người đó chính là chân lý-phải chăng vì người đó đã đến để giải thoát nhân loại bằng chân lý, và nay lại dám hiến mình chịu chết cho chân lý?

    Nhưng “chân lý là gì”? Câu hỏi không cần câu trả lời của Philatô lại là đề tài suy tư của nhiều thế hệ. Chân lý đó chính là Thiên Chúa yêu thương con người. Bất cứ ai tin nhận chân lý này sẽ tìm thấy cho mình một sức sống phong phú, một niềm vui linh thiêng tràn đầy, nhất là sẽ múc được hồng ân cứu thoát, dù rằng người đó có đang quằn quại trong nỗi đau của thân xác như người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu.

    Trong nỗi đau đớn tột cùng trước những hình khổ do quân Roma bày ra, anh trộm lành đã nhận chân con người của Đức Giêsu. Anh Đã bênh vực cho Ngài khi lên tiếng: “Ông này đâu có làm điều gì sai trái” (Lc 23:41). Nói cách khác, anh đã thừa nhận Đức Giêsu đã làm điều đúng. Ngài chỉ làm theo sự thật, đã sống cho chân lý yêu thương con người, và nay ngài chết cũng vì chân lý yêu thương đó.

    Từ chỗ tin nhận và bênh vực sự vô tội của Đức Kitô, anh trộm lành đã khám phá ra vương quyền và thiên tính của Ngài. Kết quả, anh đã lên tiếng khẩn cầu: “Khi nào về Nước, xin Ngài nhớ đến tôi” (Lc 23:42).

    Lạ quá! Làm sao trước một thân xác rã rời với đinh sắt, máu me thế kia mà anh ta có thể cất lên được lời kêu nài như thế là lời thỉnh cầu trước một quốc vương? Làm sao trước hình hài của một kẻ đang chịu đau khổ chẳng thua kém gì anh ta thế kia mà anh lại đem lòng thần phục như đối với một vị vua uy quyền như vậy? Câu trả lời sẽ là: Chân Lý đã gặp gỡ anh và anh đã tin nhận Chân Lý. Đức Kitô gặp anh và anh đã tin phục Ngài. Chính sự tin phục cùng tin nhận này mà ơn cứu độ, phần thưởng của sự sống linh thiêng được trao ban cho anh ngay trong ngày đó.

    Đã có rất nhiều người gặp Đức Giêsu, nhưng không phải tất cả đều nhận ra Ngài là Chân Lý, là Vua của tâm hồn, là Chúa của yêu thương. Philatô đã gặp Đức Giêsu đấy chứ, nhưng lòng ham mê quyền hành đã che khuất chân lý; những người luật sĩ biệt phái đã thấy Đức Giêsu đấy chứ, nhưng những ghen tương đố kị, những mưu cầu ảnh hưởng cá nhân đã làm lu mờ khuôn mặt của chân lý; rất nhiều người trong đám đông dân chúng Do thái về dự lễ Vượt qua ngày xưa đã thấy Đức Giêsu đấy chứ, nhưng chỉ vì thích hùa theo tính bạo động của đám đông, bất chấp chuyện đúng sai, bất chấp kẻ vô tội là Giêsu hay là Baraba. Thế nên, cuối cùng Chân Lý đã bị họ đóng đinh.

    Trong tuần cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội muốn đặc biệt nhắc nhở với mọi người tín hữu về gương mặt của Chúa Giêsu Vua, gương mặt của chân lý yêu thương con người-chân lý duy nhất mang lại hạnh phúc và niềm vui tâm hồn. Thử hỏi chân lý yêu thương đó có ngự trị tâm hồn của tôi chưa? Tôi đã dám bước trên những gì là quyền hành, dù đó là quyền hành của một người cha, người chồng, hay người chủ, tôi có dám vượt thoát những gì là ghen tương đố kị, lợi ích riêng tư, tôi có can đảm chế ngự những bạo động của dục tình hay nóng giận để làm cho hình ảnh của chân lý yêu thương là Vua Giêsu được bừng sáng hơn trong gia đình và cộng đoàn tôi không?

    Xét lại chính mình nhân ngày cuối năm phụng vụ để xác định thái độ tin phục và suy tôn cần có đối với Vua Giêsu, hầu sự bình an và niềm hạnh phúc thiên đàng mà Ngài đã tặng ban cho người trộm lành xưa, cũng chiếm ngự tâm hồn, gia đình, và cộng đoàn chúng ta.

    Về mục lục

    .

    ĐỨC KITÔ LÀM VUA ĐỜI TÔI

    Lm. Nguyễn Hữu Thy

    Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ Đức Kitô-Vua. Người là Đấng thống trị duy nhất toàn thể vũ trụ và thống trị đời chúng ta!

    Nhưng mừng lễ Đức Kitô làm vua cuộc đời chúng ta có nghĩa là chúng ta tin nhận rằng chúng ta hết lòng khâm phục Người và để Người làm chủ trên chúng ta, trên trọn cuộc sống của chúng ta.

    Tuy nhiên, trong thực tế ai làm chủ đời tôi, đời chúng ta? Chỉ một mình Đức Kitô hay còn vua nào khác nữa? Phải chăng ngoài Đức Kitô là Đấng duy nhất làm chủ trên cuộc sống hằng ngày của chúng ta, chứ không còn vua nào khác nữa?

    Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta còn có bao nhiêu vua chúa khác đang chờ đợi tranh dành ngôi vua với Đức Kitô: Nào là “vua thuốc lá”, “vua bia rượu”, “vua cờ bạc”, “vua thể thao”, “vua tivi, vua phim ảnh”, “vua tiền bạc”, v.v… Những ai thiếu khôn ngoan và liều mình để cho các ông vua này cai trị đời họ, thì thật là cả một tai họa khôn lường: Họ hoàn toàn mất hết tự do, trở nên nô lệ cho chúng, để chúng sai khiến, và họ sẽ vâng lời làm bất cứ điều gì chúng muốn, cả đến tư cách, lý trí và tình nghĩa gia đình bạn bè họ cũng sẵn sàng từ bỏ hết, vì để làm thỏa mãn chúng! Đúng vậy, đó là những ông vua độc tài và chỉ muốn nô lệ hóa những kẻ phục tùng chúng. Chúng đòi hỏi các thần dân của chúng những đóng góp rất to lớn về thời giờ và tiền bạc. Chúng hứa mang lại một cuộc sống đầy hoan lạc và vui thú, nhưng rốt cục thường chỉ để lại những cảm giác trống rỗng, chán chường và thất vọng.

    Tôi đã từng gặp nhiều người đã dại dột để cho hầu hết những ông vua như thế lừa gạt và rơi vào tròng nô lệ của chúng. Kết cục, những người đó trở nên thân tàn ma dại, và chẳng những hoàn toàn vô dụng cho gia đình và xã hội mà còn là gánh nặng cho mọi người. Họ trở nên những kẻ sống đời tầm gửi trên mồ hôi, nước mắt và công lao của kẻ khác.

    Các ông vua trần tục đó thường huyênh hoang và cao ngạo. Chúng chỉ luôn tìm cách nhấn sâu và chôn vùi những kẻ chạy theo chúng xuống tận bùn đen hôi thối của tội ác. Chúng ta thử đưa ra một vài thí dụ: chẳng hạn “vua thể thao”: Thể thao thực ra là một điều lành mạnh, nhưng nếu chúng ta mê man đến nỗi sao nhãng bổn phận đối với gia đình, đối với con cái và đối với Thiên Chúa, thì thể thao không còn là một môn tập luyện lành mạnh nữa, nhưng là một tên độc tài thống trị trên ta và biến ta thành nô lệ cho nó. Hay không ai chống đối việc thưởng thức một chén rượu hoặc một ly bia, nhưng nếu cuộc sống mà hoàn toàn lệ thuộc vào chén rượu hay ly bia, đến nỗi thiếu chúng thì mọi việc đều bị đình trệ, không thể tiến xa hơn được nữa, bấy giờ chén rượu và ly bia không còn là những phương tiện “làm vui lòng người”, mà là những ông vua độc tài biến chúng ta thành nô lệ cho chúng. Những kẻ say mê cờ bạc, rượu chè, v.v… sẽ đốt cháy nhân vị và tư cách của mình.

    Làm thế nào để chúng ta có thể bảo vệ được sự tự do và độc lập, nhất là tư cách và nhân phẩm của mình trước những ông vua độc tài đó? Chỉ một cách duy nhất là chúng ta hãy dứt khoát xa tránh chúng. Những ông vua này tuy độc tài và luôn nô lệ hóa con người, nhưng chúng lại không có “khí giới” trong tay để bắt ép được ta làm nô lệ cho chúng. Việc sống cuộc đời tự do và có tư cách, hay làm nô lệ cho chúng là hoàn toàn tùy vào sự quyết định của chúng ta, hoàn toàn tùy vào ý chí của chúng ta.

    Khi nói đến đây tôi lại liên tưởng đến một ông vua khác còn khó tính và độc tài hơn cả trong các ông vua vừa kể trên: đó chính là “cái tôi” của chúng ta. Cái khó để tự giải thoát khỏi sự cai trị của ông vua độc tài này là ở chỗ: Nó không điều khiển chúng ta từ bên ngoài vào, nhưng là ngự trị nội tại trong ta, chiếm giữ và lèo lái cả lý trí và ý muốn của ta. Cuối cùng, những lợi lộc mà ông vua “cái tôi” thu vén là cốt cho chúng ta, để phục vụ chính chúng ta. Chính cái khó nhất là ở chỗ đó: Làm thế nào chúng ta có thể khách quan nhận ra cái lệch lạc, cái sai trái của cái tôi – nghĩa là lòng ích kỷ – của chúng ta?

    Con đường duy nhất là tìm về phục vụ Đức Giêsu Kitô-Vua, vị vua đích thực của vũ trụ và của đời sống chúng ta. Người đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, Người chịu chết để chúng ta được sống. Người là vị vua nhân hậu, chấp nhận thân phận nghèo hèn và vâng lời chịu lụy cho đến chết, chết trên thập giá. Về Đức Kitô-Vua, Tinsley đã viết: “Người đã không bao giờ là Vua và là Đấng Cứu Thế, nếu không chết trên thập giá”. Đức Kitô là vua và nước của Người không thuộc về thế gian này, nhưng lại ở giữa thế gian. Người không hề dùng quyền bính để cai trị, nhưng là để phục vụ. “Phục vụ thay vì cai trị”, bênh vực quyền lợi của kẻ cô thế cô thân, chở che người nghèo đói, trả lại công bằng cho những người đã bị mất quyền sống, v.v… là chương sống và hành động của Kitô-Vua. Người thay thế sự tự hy sinh mình vào chỗ sự tự khẳng định mình. Người không đòi hỏi gì cho mình cả, người chỉ cho đi! Người không tẩy não hay rửa đầu ai hết, Người rửa chân cho mọi người. Những thủ lãnh thế gian bắt thần dân chết thay cho mình, còn Đức Kitô-Vua lại đã chết thay cho thần dân của Người: Đó chính là sự cao cả của Đức Kitô-Vua. Chính những kẻ nhạo báng Người đã nói lên sự thật về Vương Quyền của Người, khi họ mỉa mai: “Nó đã cứu được kẻ khác!” (x. Mt 27,42). Quả vậy, việc cứu giúp kẻ khác: là biểu tượng và là mục đích của Phẩm Hàm Vương Đế và của Vương Quyền Đức Giêsu. Vương Quyền của Đức Giêsu cần đến những con người không chỉ sống và chỉ nghĩ đến chính mình mà thôi, nhưng – cũng như Người – còn biết giúp đỡ và sống cho kẻ khác nữa. Thiên Chúa cần đến tất cả chúng ta!

    Ai chấp nhận và tùng phục Vương quyền êm ái dịu hiền của Đức Giêsu, người đó hoàn toàn tự do trước tứ độ tường, trước mọi mê say tội lỗi. Dĩ nhiên, để phục quyền Đức Kitô-Vua, nghĩa là để bước đi trên con đường của Người, con đường của sự từ bỏ bản thân mình và nhờ thế được sống đời tự do, con người cần phải từ bỏ một đôi thứ – không chỉ những thứ xấu và tai hại, nhưng đôi khi cả những thứ tốt nữa – nếu chúng trở nên chướng ngại vật ngăn cản bước đường đó của chúng ta. Chính đó là con đường đưa dẫn chúng ta vào trong Vương Quốc vô biên giới, một con đường không chỉ hứa mang lại một cuộc sống sung mãn, nhưng còn ban tặng cho ta chính cuộc sống đó nữa. Ai phục vụ Đức Kitô-Vua, người đó tìm được ý nghĩa và mục đích chân thật đời mình!

    Về mục lục

    .

    VUA GIÊSU

    Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Giáo hội long trọng mừng lễ Chúa Kitô vua vũ trụ vào Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, như một lời nhắc nhở chúng ta, Chúa Kitô là chủ của thời gian và không gian. Là nguyên thủy và là cùng đích. Ngài là vua muôn vua là Chúa các chúa. Chúng ta dành một vài phút để chiêm ngắm vị vua Giêsu của chúng ta.

    Đức Giêsu là vua nghèo khó: Vua chúa trần gian thường được sinh ra trong cung điện giàu sang, còn vua Giêsu sinh trong hang lừa máng cỏ nghèo hèn thiếu thốn mọi tiện nghi.

    Vua Chúa trần gian cư ngụ trong những dinh thự sang trọng cao cấp nhất, nhưng vua Giêsu sống trong làng quê Nazarét nào có cái chi hay, Ngài nói: Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có nơi tựa đầu.

    Vua Chúa trần gian ngày ngày trong trang phục cẩm bào lộng lẫy, còn vua Giêsu chẳng có tấm áo che thân, chết trần trụi trên cây thập tự giá. Nói tóm lại, cả cuộc đời của vua Giêsu là sống nghèo: nghèo khi sinh ra, nghèo trong cuộc sống và nghèo cả khi chết. Sinh vô gia cư, tử vô địa táng.

    Đức Giêsu là vua khiêm nhường: Ngài là Đấng quyền năng, làm được mọi sự, nhưng khi nhập thể làm người, Ngài sống như một người tôi tớ phục vụ. Vua chúa trần gian dùng quyền hành thống trị, có kẻ hầu người hạ, còn vua Giêsu của chúng ta hạ mình đến tột cùng. Ngài nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20, 28).

     Vua Giêsu không mời gọi chúng ta học nơi Ngài cách làm phép lạ; học nơi ngài cách chữa bệnh; học nơi Ngài cách giảng dạy, nhưng mời gọi học nơi Ngài một bài học duy nhất đó là: “Hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29).

    Chúa Giêsu là vua tình yêu: Tình yêu bao dung và tha thứ. Có thể nói: tha thứ là đặc tính của tình yêu Giêsu. Ngài tha thứ cho Phêrô sau ba lần chối Ngài; tha thứ cho đám lý hình hành hạ Ngài: “Lạy Cha! Xin tha cho họ, vì họ lầm chẳng biết”(Lc 23,34); tha thứ cho người trộm lành. Và tất cả chúng ta đây là đối tượng của lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa.

    Anh chị em thân mến,

    Nơi tòa án quan Philatô, ông hỏi Đức Giêsu: “Ông có phải là vua không?”. Chúa liền xưng mình: “Tôi là vua, Tôi sinh ra và đến trong thế gian này, là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe tôi” (Ga,18,37).

    Vậy khi chúng ta tôn xưng Đức Giêsu là vua sự thật, thì hãy sống theo Chúa dạy. Điều Chúa dạy nơi điều răn thứ Tám đó là: ” Chớ làm chứng dối, bỏ vạ, cáo gian. Có thì nói có, không thì nói không, đừng thêm điều đặt chuyện là do lòng tà mà ra” (Mt 6,37).

    Xã hội ngày nay có nhiều hình thức gian tà, gian dối, gian manh, gian xảo…. làm chúng ta cũng dễ bị ảnh hưởng. Thế nhưng, là những người con của Vua sự thật, chúng ta nên ý thức sống theo sự thật, sự thật trong lời nói, trong tư tưởng và việc làm, dẫu biết rằng thật thà thường thua thiệt. Nói tóm lại, chúng ta cần sống thật với Chúa, với chính mình và với nhau.

    Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết chọn Chúa làm vua trong cuộc đời của mình. Xin cho chúng ta luôn ý thức rằng: Là con của vua Giêsu, chúng ta được mời gọi sống khiêm tốn trong phục vụ, sống yêu thương và tha thứ. Đồng thời, sống trong chân lý mà vua Giêsu đã làm gương cho chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

    Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng kết thúc năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Điều đó nói lên rằng, Đức Giêsu Kitô, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Chúa Cha trao phó , được Chúa Cha  trao quyền cai trị muôn loài trên trời dưới đất và sẽ kết thúc lịch sử loài người trong vinh quang để mọi sự sẽ được “restaurare in Christo”.

    Trong suốt quãng đường đi truyền giáo, Đức Giêsu chỉ đi rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền cho người ta. Chưa bao giờ Đức Giêsu dám nhận mình là vua, mặc dầu dân chúng hồ hởi tôn vinh Ngài. Nhưng về cuối đời, trong cuộc thương khó, Ngài đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô:”Ngài nói đúng, Tôi là vua”(Ga 18,37), nhưng để tránh ngộ nhận, Ngài nói thêm:”Nhưng nước tôi không thuộc thế gian này”(Ga 18,36).

    Vậy nếu Đức Giêsu không có lấy một tấc đất để cắm dùi thì nước của Ngài ở đâu ? Thần dân của Ngài là ai ? Vương quyền này được thiết lập và thực hiện bằng những phương tiện nào ?

    Nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô, chúng ta có nhiệm vụ phải bảo vệ và làm cho vương quyền của Ngài được mở rộng để tất cả mọi nguời nhận biết Đức Giêsu là vua vũ trụ và hết lòng tin theo Ngài.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

    Bài đọc 1 : Đn 7,13-14.

              Vào thế kỷ thứ 2, đức tin bị đe dọa trầm trọng. Tác giả Sách Thánh muốn khích lệ các người đồng hương của mình vững chí trong cơn thử thách, thì trong một thị kiến, Đaniel nhìn ngắm bốn Con Thú tượng trưng từ biển nhô lên và cập vào đất liền : chúng biểu thị những vương quốc đã liên tiếp nhau đe dọa Israel. Chính lúc đó xuất hiện một khuôn mặt bí ẩn, được mô tả như một Con Người. Lúc đó Đấng Lão thành (tức Thiên Chúa) cũng hiện ra và trao cho Con Người quyền thống trị tất cả loài nguời và thiết lập một vương quyền vĩnh cửu và phổ quát.

              Nhân vật Con Người ấy chính là hình ảnh tiên báo Đấng Messia. Và Đức Giêsu chính là Đấng Messia hoàn thành lời tiên tri ấy.

              +  Bài đọc 2 : Kh 1,5-8.

              Đoạn sách Khải huyền này cũng mô tả Đức Giêsu là Vua. Ngài đã yêu thương chúng ta, đã lấy máu mình mà rửa sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Được phục sinh vì đã làm chứng cho đến chết chương trình của Chúa Cha, Đức Kitô đã trở nên “Thủ lãnh các vương đế trần gian”, nhận đuợc mọi quyền năng để dẫn dắt lịch sử nhân loại. Ngài làm cho chúng ta trở thành vương quốc của Ngài. Vương quốc này chưa hoàn tất. Nhưng  vào thời sau hết, Đức Kitô sẽ hiển trị trong uy quyền, thắng vượt sự dữ và lầm lạc. Ngài là vua hoàn vũ và vĩnh cửu.

              Bài Tin mừng : Ga 18,33b-37.

              Từ truớc tới nay, Đức Giêsu chỉ đi rao giảng Tin nừng về Nước Thiên Chúa, chữa lành mọi tật nguyền cho người ta. Không bao giờ Ngài tự xưng là vua. Ngài còn trốn tránh khi dân chúng tung hô Ngài là vua. Không bao giờ Ngài làm điều gì tỏ ra cạnh tranh với nhà cầm quyền.

              Bị người Do thái tố cáo trước nhà cầm quyền là Ngài muốn làm vua. Philatô hỏi Đức Giêsu:”Vậy ông là vua ư”? Nhân dịp này, Đức Giêsu vừa đáp vừa giải thích cho ông Philatô :

    – Ngài là vua thật, đúng như lời ông nói.

    – Nước Ngài không thuộc thế gian này.

    – Nước Ngài không giống như nước trần gian, không cạnh tranh với quyền lực nào.

    – Nước  Ngài là vương quốc sự thật : sự thật về Thiên Chúa, sự thật về con người, sự thật về mọi loài thọ tạo.

    – Ngài đến làm chứng cho sự thật. Ai yêu sự thật thì thuộc về vương quốc Ngài.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

    I. LỊCH SỬ LỄ CHÚA KITÔ VUA.

              Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan :”Homo homini lupus” : con người là lang sói của con ngươiø. Con người đã trở nên một thú dữ hay tấn công, cắn xé và giết chóc. Lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp. Hai cuộc thế chiến thứ nhất và thứ hai đã cướp đi sinh mạng của gần 50 triệu người, không kể những người bị thương, mất tài sản và thiệt hại vật chất khôn lường.

              Cho nên ngày 12.11.1927, Đức Giáo hoàng Piô XI đã thiết lập lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu cho loài người thôi đừng buông theo thú tính mà cắn xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà gây chiến với nhau.

              Đàng khác, thế giới đang dần rời bỏ Chúa, muốn khai trừ Chúa ra khỏi các tâm hồn, các gia đình, các xã hội, thế giới muốn xây xã hội trên nền tảng thuần túy nhân loại. Trong trường hợp đó, Đức Giáo hoàng muốn công bố những quyền bất khả xâm phạm của  Chúa Kitô : Ngài là vua vũ trụ, vua các thiên thần và loài người.

              Ngoài ra, Đức Giáo hoàng cũng nghĩ rằng cần phải phản ứng lại mấy sự lệch lạc trong quan niệm đạo đức tân thời phát sinh ngay trong Công giáo tiến hành ở một số nơi. Người ta đang có khuynh hướng nhìn nơi Đức Giêsu chỉ là người Anh Cả, người bạn và đối xử với Chúa bằng vai,…là bạn đường, bạn làm việc… Lễ Chúa Kitô Vua nhắc cho người ta rằng : Đức Giêsu còn là Đấng Toàn Năng, Đấng vô cùng vô biên, Vua các vua. Ngài còn là Đấng Hữu, ta có là nhờ Ngài, và bổn phận chính yếu nhất là Thờ Lạy Ngài (Trần văn Khả).

    II. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA.

    1. Đức Giêsu khẳng định.

    Trước toà án, Philatô hỏi Đức Giêsu :”Ôâng có phải là vua dân Do thái không”? Đức Giêsu có thể trả lời là  hay không, tùy theo ý của người hỏi.

    Nếu người Do thái hỏi Ngài câu ấy, thì câu ấy có nghĩa là : ông có phải là Đấng Messia không ? Nhưng khi Philatô hỏi thì câu ấy có ý nghĩa là : ông có phải là kẻ cầm đầu xúi giục dân Do thái phản loạn không ? Theo não trạng của người Do thái, thì Đấng Messia , vị cứu tinh của dân tộc ắt phải là một thủ lãnh của đoàn quân nổi loạn chống lại Rôma để giải phóng dân Do thái khỏi ách thống trị của đế quốc. Nếu Ngài là người nổi loạn chống lại Rôma, thì dân Do thái sẽ theo Ngài. Nhưng họ thấy Ngài không phải là người nổi loạn như ý muốn của họ, mà lại có những ý tưởng lạ đời đi ngược lại tư tưởng truyền thống của chính tôn giáo của họ, nên họ muốn tiêu diệt Ngài. Để làm điều ấy, họ chụp mũ Ngài là người phản loạn, chống lại Rôma.

    Nhưng Philatô nhận ra ngay là : nếu Đức Giêsu là kẻ đứng về phía người Do thái để chống lại Rôma, thì họ đã chẳng nộp Ngài cho ông. Vì thế, câu ông hỏi Đức Giêsu chỉ hỏi cho có lệ, chứ ông đã biết Ngài vô tội, và chỉ vì ghen ghét mà dân chúng nộp Ngài cho ông. Nhưng cũng chính nhờ ông ta  hỏi điều ấy mà chúng ta được mạc khải một chân lý quan trọng : Đức Giêsu chính là Vua như Ngài đã xác nhận :”Tôi được sinh ra là để làm vua”.

    Tuy Đức Giêsu xác định Ngài là vua, nhưng với tước hiệu là vua mà Philatô đang muốn điều tra, ít nhất có ba cách làm “Vua”:

    a) Vua theo nghĩa chính trị, theo kiểu Rôma : người ta thống trị kẻ khác bằng nô lệ hoá họ :”Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”(Trịnh công Sơn).

    b) Vua theo nghĩa Thiên sai, theo kiểu mong đợi của người Do thái : một người thuộc dòng dõi vua Đavít chính thức lên ngôi, và chiến thắng kẻ thù của Israel, của Chúa bằng cách đè bẹp chúng.

    c) Sau hết, Vua theo cách của Đức Giêsu : một vương quyền huyền bí, không ép buộc ai,  không đè bẹp ai như “bạn có muốn theo tôi không”, “Các bạn cũng muốn bỏ đi sao” ? Một vương quyền mà lại để “Vua” bị giao nộp cho kẻ thù mà không chống cự, một tổng thống mà không có “vệ binh” để bảo vệ mình, không cận vệ để bao bọc trước đám dông (Noel Quesson).

    2. Vương quốc của Đức Giêsu.

    a)Nước Ngài không thuộc thế gian này.

    Khi Philatô hỏi Đức Giêsu:”Ông có phải là vua dân Do thái không”? Đức Giêsu trả lời:”Tôi là vua, nhưng không phải của nguời Do thái như ông hiểu vì nước tôi không thuộc thế gian này”(x. Ga 18,33-36).

    Nếu Đức Giêsu không phải là một vua của một nước trần gian, thì nước của Ngài ở đâu ? Ngài là vua của ai ?

    Làm vua có nhiều cách, không nhất thiết cứ phải có đất đai, lãnh thổ, có quân đội, triều đình… mới là vua. Người ta vẫn nói:”vua dầu lửa”, “vua xe hơi”, “vua bóng đá”,v.v… mặc dầu những ông vua này không có quân đội, không cai trị ai . Đức Giêsu không những làm vua hiểu theo nghĩa bóng, mà đích thực Ngài là vua hiểu theo nghĩa đen, nghĩa chính thức của từ “vua”.

    Ngài là vua, vua của cả vũ trụ, của cả trần gian, của cả nhân loại, vì Ngài chính là Ngôi Lời, một trong Ba Ngôi Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài muôn vật trong vũ trụ. Thánh Kinh viết:”Nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành”(Ga 1,3 ; x. 1,10). Ngài là vua của thế giới, nên đến ngày chung thẩm, chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị vua (Mt 25,34).

    Thế gian này có nhiều nước, mỗi nuớc có một ông vua. Nhưng Ngài là vua cả thế gian, cả vũ trụ, nên Ngài là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa.

    Truyện : Nước Ta chỉ có trên thế gian này.

              Ông SELMA  LAGERLOP có viết một câu truyện như sau : Ở thành La mã, trong một đền thờ dâng kính Đức Mẹ, gần đồi Capitole, có một tượng Chúa Hài đồng rất đẹp. Chung quanh vòng hào quang có khắc câu Phúc âm rằng:”NƯỚC TA CHẲNG CÓ TRÊN THẾ GIAN NÀY”(GA 18,38).

              Một hôm, một phụ nữ thượng lưu, người Anh, tới viếng đền thờ, và tượng Chúa Hài đồng đã lọt mắt bà. Bà liền nài nẵng chuộc cho kỳ được. Khổ thay ! Không ai đồng ý cả. Bà ta mới thuê thợ gọt một tượng khác, giống y như tượng Chúa Hài đồng bà đã trông thấy. Rồi một hôm dùng thủ đoạn, đem đổi lấy tượng thật.

              Nhưng không biết là vô tình hay hữu ý, thay vì viết vào vòng hào quang rằng “Nước Ta chẳng có trên thế gian này”, thì bác thợ kia lại viết :”Nước Ta chỉ có trên trần gian này”.

              Ít lâu sau, không hiểu tại sao, tượng thật Chúa Hài đồng bỏ lâu đài của chủ mới, trở về đền thờ cũ lại như xưa.

              Mưu mô bại lộ ra. Người coi đền thờ liền đem tượng giả ném xuống chân đồi Capitole. Người phụ nữ kia, buồn tiếc, đi tìm, gặp được và trở về nước với pho tượng giả, còn nguyên vẹn với vòng hào quang ngạo mạn kia.

              Từ ấy, tượng giả cứ chuyền tay nhau, người này sang người khác, hết thành nọ đến thành kia…

              Một hôm tượng ấy tới thành Paris. Quân Cách mạng mới đem đi biểu diễn qua các đại lộ, và hiệu triệu dân chúng rằng:”Nước Ta chỉ có trên thế gian này. Hãy mau mau phân chia tài sản cho nhau, để mọi người được bình đẳng vui sống. Nước Ta chỉ có trên thế gian này. Chết là sự đổ vỡ vô phương cứu vãn” !(Vũ minh Nghiễm, Vươn, 1966, tr 54-55).

    b) Vương quốc của sự thật.

    Philatô hỏi Ngài :”Thế thì ông là vua sao” ? Ngài đáp ngay:”Đúng thế, chính vì thế mà tôi đã sinh ra và đến trong thế gian này, đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”(Ga 18,37).

    Vương quốc sự thật chính là nước của Ngài. Nước đó hoàn toàn khác biệt với đế quốc của vua César. Nước của César chỉ cai trị thể xác của loài người, còn vương quốc của Ngài chiếm hữu những tấm lòng. Thế lực của César là binh đội, khí giới, thành trì, nhưng sức mạnh của vương quốc của Chúa là những nguyên tắc, tình cảm và tư tưởng. Công dân của đế quốc César chỉ được hưởng an toàn bên ngoài và bảo đảm tài sản vật chất, nhưng phước hạnh trong Nước Chúa là an lạc và vui mừng trong Thánh Thần”(x. Rm 14,17). Dù là rộng lớn, đế quốc Rôma cũng bị giới hạn, nhưng vương quốc của Chúa vô biên và được quyền thiết lập tại mọi nơi. Cũng như hầu hết các nước thuộc về đất, đế quốc Rôma rồi sẽ chấm dứt, còn vương quốc Sự Thật sẽ tồn tại muôn đời.

    c) Vương quốc tình yêu.

    Vương quốc của vua Giêsu là vương quốc của Tình yêu :”Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”(Mc 10,45). Đức Kitô là vua, nhưng Ngài khác với những vua khác ở chỗ : để cai trị, các vua khác dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Thật vậy, Ngài yêu thương mọi nguời, mọi con dân của Ngài như một mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của con chiên (x. Ga 10,11-16). Ngài hành xử như thế vì Ngài là Thiên Chúa, mà “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8). Trong thực tế, Ngài đã hy sinh trên thập giá một cách khổ nhục để cứu nhân loại, là con dân được Thiên Chúa trao cho Ngài quyền cai trị.

    d) Vương quốc của phục vụ.

    Mừng lề Đức Giêsu Kitô , Vua vũ trụ, chúng ta được mời gọi nhìn lên vua của chúng ta. Một vị vua không ngồi trên ngai vàng, nhưng trên thập giá. Một vị vua không cai trị bằng quyền lực, nhưng dựa trên tình yêu thương, phục vụ. Một vị vua không có lãnh thổ, nhưng nằm sâu trong trái tim mọi người. Một vị vua chỉ biết dấn thân phục vụ.

    Truyện : Hoàng tử Alexis.

              Truyện cổ Nga thuật lại rằng : Vào thời Trung cổ, hoàng tử Alexis cũng như bao vua chúa khác sống trong cung điện nguy nga tráng lệ, trong khi dân chúng chung quanh  phải sống trong những khu xóm nghèo nàn tồi tệ. Thế nhưng, Alexis rất hiểu nỗi cơ cực của thần dân và cảm thương họ. Ôâng bỏ ra mỗi ngày một ít thời giờ để thăm họ. Nhưng, dù cố gắng đến đâu, Alexis vẫn không thu  phục được lòng yêu mến của thần dân. Vì thế, sau mỗi lần thăm họ trở về, ông thấy lòng mình buồn rười rượi.

              Ngày kia, có một người lạ mặt đi vào khu xóm, ăn mặc đơn sơ, anh tự xưng là Bác sĩ, anh săn sóc những người già cả, bệnh tật. Đặc biệt Bác sĩ không lấy tiền thù lao, và còn phát thuốc miễn phí cho thần dân.

              Bác sĩ ấy trở thành người của xóm nghèo, được mọi nguời yêu mến kính phục. Ngày ngày, anh dàn xếp những cuộc cãi vã, tranh giành, hoà giải những thù oán, và giúp đỡ họ sống đúng với phẩm giá con nguời.

              Bác sĩ trẻ đó chính là Hoàng tử Alexis, người đã bỏ cung điện giầu sang đến sống với thần dân nghèo khổ và trở nên bạn bè của họ, để yêu thương săn sóc và phục vụ họ.

              Đức Kitô thực sự là một vị  Vua đầy uy quyền. Ngài đã trở nên giống chúng ta, để yêu thương phục vụ chúng ta. Ngài đã phán:”Con người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống cứu chuộc cho nhiều người”.

    1. Chỉ có Đức Giêsu là Vua.

    a) Tuy trước toà án Philatô, Đức Giêsu đã chính thức tuyên bố và xác nhận Ngài là vua, nhưng thực sự danh hiệu Vua ấy đã được tiên báo như tiên tri Daniel đã nhìn thấy “như là ConNgười đến trong đám mây trời… quyền năng vĩnh cửu”(Dn 7,13; và Gioan, cụ già trên đảo Patmos đã được thị kiến :”Đấng là Alpha và Oâmêga là nguyên thủy, là cùng tận, Đấng đang có, đã có và sẽ đến, Đấng là Thiên Chúa”(Kh 1,8)Ngài làm cho chúng thành một vương quốc tư tế, để phụng sự Đức Chúa Cha, là Thiên Chúa và là Cha của Ngài”.

    b) Nhìn ra vua sự thật, vua tình thương, anh trộm lành đã nói :”Ôâng này có làm điều gì satrái đâu” ? Và anh đã cầu nguyện với Ngài:”LạyNgài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Anh chỉ dám xin nhớ, không dám xin cứu, không dám được xin vào nước Ngài vì anh thấy mình quá bất xứng, quá tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu thấy lòng thông cảm khiêm nhường của anh, Ngài đã dịu dàng nói với anh:”Tôi nói thật hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên nước thiên đàng”(Lc 23,41-42).

    c) Cái lý do khiến Đức Giêsu làm vua đã được thánh Phaolô nói rất xác đáng trong  đoạn văn gủi  cho tín hữu Côlôssê:”

    “Ngài là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh. Vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, vật vô hình, dù là thiên toà, hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay uy linh : mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài ! Và Ngài có ưu thắng trên mọi sự, và mọi sự đếu tồn tại trong Ngài. Và Ngài là đầu của thân mình, tức là Hội thánh, Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song ! Vì chưng Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn đậu tại trong Ngài và đã giảng hoà cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ bửu huyết đổ nơi thập giá của Ngài cho mọi vật  dù ở dưới đất hay trên trời”(Cl 1,15-20).

    Truyện : Chỉ có Chúa là Vua

              Lịch sử nước Anh có kể rằng hồi ấy, nước Anh có một ông vua đạo đức tên là Cannut III. Ôâng là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông hay có những quan nịnh thần ton hót. Một hôm trong một buổi triều yết, các nịnh thần tâu:”Thánh Thượng” là vua trên hết các vua, là chúa trên các chúa, có quyền trên mặt đất và biển cả. Nghe vậy nhà vua muốn cho họ một bài học, liền mời tất cả đi ra bờ biển. Đứng trước đại dương, ông tuyên bố:”Ta là vua trên hết các vua, có quyền trên đất liền và trên biển cả. Vậy ta truyền cho sóng biển không được trở tới”. Nhưng nước vẫn dâng lên, sóng vẫn trở tới làm ướt hết áo cẩm bào của vua cũng như triều thần. Nhà vua đi vào trong một thánh đuờng đến trước tượng chuộc tội, lấy chiếc vương miện đội trên đầu Chúa và nói:”Lạy Chúa, chỉ có Chúa là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa”.

                                 (Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa năm B, tr 169).

    III. HÃY TIN THEO ĐỨC KITÔ VUA.

    1. Không đuợc bắt cá hai tay .

    Câu tục ngữ này có ý nói : hai tay đều thò xuống bắt cá, không phải là hai tay định bắt một mà mỗi tay bắt một con cá. Câu này thường để chỉ người mưu một lúc cả hai việc, hy vọng rằng hễ hỏng việc này thì còn việc kia. Vì thế người ta nói :

                                          Thôi đừng bắt cá hai tay,

                                    Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.

                                                    (Ca dao)

              Trong việc tin theo Chúa, Đức Giêsu đã khẳng định”Không ai có thể làm tôi hai chủ vì hoặc ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc gắn bó chủ này mà khinh chủ nọ. Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa tiền tài”(Mt 6,24 ; Lc 16,13). Chúng ta phải dứt khoát trên đường theo Chúa, không thể trung lập được, hoặc chọn Thiên Chúa, hoặc chọn thần Mammon, nếu không thì sẽ mất cả chì lẫn chài. Người xưa đã nói :”Trung thần bất sự nhị quân” : tôi trung không thểà thờ hai vua, vì trong thực tế, câu ngạn ngữ này lúc nào cũng đúng :”Thiên vô nhị nhật, dân vô nhị vương”.

    Truyện : Đức Hồng y Deschamps

              Hồng y Deschamps, Tổng giám mục Mailines, khi còn là thanh niên, đã có ý muốn học hành thật giỏi để đạt được một địa vị cao trong hàng ngũ các quan chức triều đình. Một hôm, Deschamps đã được chứng kiến lễ đăng quang lên ngôi vua cách long trọng của nhà vua Bỉ. Từ cửa sổ của một nhà cao tầng, Deschamps chăm chú theo dõi  diễn tiến của buổi lễ từ đầu đến cuối. Có thể nói đấy là một buổi lễ hội vừa tưng bừng náo nhiệt với cờ xí và biểu ngữ rợp trời, và tiếng trống dồn dập và tiếng kèn đồng thổi lên inh ỏi với hàng vạn người đến tham dự.

              Trọng tâm buổi lễ là nghi thức tấn phong hoàng thái tử lên ngai vàng  kế vị vua cha mới băng hà, với việc đội vương miện và nhận phủ việt. Buổi lễ kết thúc bằng một cuộc diễn hành của hoàng gia cùng với đoàn tùy tùng. Đoàn rước đi  theo hàng đôi kéo dài cả cây số. Sau khi cuộc lễ kết thúc, quảng trường trở lại bầu khí bình lặng như mọi khi. Deschamps tự nhủ mình rằng:”Thế là một ông vua đã qua đi”. Rồi được ơn Chúa kêu gọi. Deschamps đã suy nghĩ nhiều ngày sau đó và cuối cùng đã quyết định như sau :”Tôi không muốn phục vụ cho ông vua sẽ qua đi. Tôi muốn phục vụ ông vua tồn tại mãi mãi là Vua Giêsu”.

              Deschamps đã dứt khoát từ bỏ giấc mơ danh vọng chức quyền thế gian như trước đây anh mơ tưởng, để xin gia nhập vào một dòng khổ tu và khoác vào mình chiếc áo tu sĩ. Sau một thời gian tu học, thầy Deschamps đã đuợc thụ phong Linh mục, rồi sau đó được tấn phong Giám mục và cuối cùng được phong tước vị Hồng y Giáo chủ, trở thành niên tưởng của hàng Giám mục Bỉ.

    1. Làm gì để xây dựng Nước Chúa.

            Nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta đã được trở thành công dân Nước Trời, chúng ta được ở trong một Vương quốc: “Vương quốc vĩnh cửu và vô biên , vương quốc tràn đầy sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an”(Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua) . Đức Kitô cai trị trên những ai chấp nhận chân lý Ngài mạc khải cho : tình yêu của Chúa Cha. Ngài làm người để chiếu toả tình yêu ấy, để con người có thể nhận ra và tiếp nhận, và như thế những ai nhận biết vương quốc và vương quyền của Đức Kitô thì thần phục Ngài là Vua vũ trụ muôn đời.

              Khi chịu phép Rửa tội, các tín hữu đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô.  Chúa Kitô không còn đi đó đây trên mặt đất để dạy dỗ và chữa lành dân chúng như Ngài đã từng làm nữa, Ngài chỉ có thể làm được điều đó thông qua thân thể mầu nhiệm của Ngài . Chúng ta là tay, là chân, là miệng lưỡi, là trái tim của Ngài. Nói khác đi, vương quốc Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã thiết lập khi Ngài còn ở duơng trần này sẽ phải được chính chúng ta bổ túc bằng cuộc sống trần gian của chúng ta. Điều cốt yếu là chúng ta phải theo những giá trị mà Tin mừng Chúa đã đề ra : sống theo lương tâm ngay chính, sống hoà thuận, thương yêu, làm những việc lành… Càng có thêm người sống như thế thì Nước Chúa càng mở rộng; và khi nào tất cả loài người biết sống như thế thì Nước Chúa đã trị đến. Và khi đó là thời thái bình, hạnh phúc.

    Truyện : Pho tượng Chúa Giêsu Vua.

              Trên đỉnh ngọn núi Corovado ở Nam Mỹ, người ta đã dựng một pho tượng Chúa Giêsu vua. Ở xa trông lại, du khách trông như pho tượng chạm trời, vì tượng cao hơn 30 mét. Đứng sừng sững, bao quát cả một vùng bát ngát mênh mông, pho tượng đã làm tăng thêm vẻ đẹp cho kinh thành Rio de Janeiro, thủ đô nước Brasil.

              Bạn thử nghĩ biết bao công phu mới dựng được pho tượng ấy ! Chuyên chở vật liệu từ chân lên đỉnh núi, sườn núi lởm chởm. Nhưng người ta chưa thỏa mãn. Trong không trung đã có tượng Chúa Giêsu Vua, người ta còn muốn dựng một pho tượng ở đáy biển để chứng tỏ vương quyền khắp nơi của Chúa Giêsu

              Tạo hóa hình như cũng chiều lòng người  đã dành cho họ một nơi đẹp đẽ để thực hiện ý tưởng cao qúi ấy.  Ở biển Italia, không xa Napoli, làn nước trong xanh, lăn tăn gợn sóng, chính chỗ đáy biển ấy người ta đã chọn để dựng tượng Chúa Giêsu Vua. Biết bao công lao.

              Có những tầu đánh cá nối đuôi nhau ra đó để tung hoa chào mừng Chúa. Còn những tầu ngầm cũng lượn quanh viếng thăm Chuá. Tuy nước trong đẹp nhưng rêu xanh thường rủ nhau đến bám tượng đá. Nên hằng năm người ta phải tổ chức một cuộc cạo rêu và tắm rửa cho tượng.

    (Ngọc Miện, Phút chiều tà, 1957, tr 83)

    Về mục lục

    .

    VẠN TUẾ ĐỨC KITÔ!

    Trầm Thiên Thu

    Thánh Gioan kể lại thị kiến về cuộc chiến cánh chung thứ nhất: Một con ngựa trắng và người cưỡi ngựa tên là Trung Thành và Chân Thật, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến. Người mang một danh hiệu viết trên áo choàng và trên vế: “Vua các vua, Chúa các chúa” (Kh 19:11 và 16). Trước khi bị hành quyết vì “tội” là linh mục Công giáo, cha Miguel Agustin Pro (1891–1927, Dòng Tên) vẫn hiên ngang hô vang: “Viva Cristo Rey! – Vạn tuế Đức Vua Kitô!”. Tạ ơn Chúa luôn ban cho những tấm gương sáng cho tín nhân soi vào để củng cố đức tin!

    Chân thành thân thưa, Thánh Vịnh gia xác định: “Lạy Thiên Chúa, một lần Ngài phán dạy, con nghe được hai điều, rằng: Ngài nắm quyền uy và giàu lòng nhân hậu; rằng: Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người” (Tv 62:12-13). Đó là điều rạch ròi và chắc chắn, vì Ngài KHÔNG THIÊN VỊ bất cứ ai (Đnl 10:17-18; Hc 35:12; Lc 20:21; Cv 10:34; Rm 2:11; Gl 2:6; Ep 6:9). Chúa Giêsu xác định: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho Người Con MỌI QUYỀN XÉT XỬ” (Ga 5:22).

    QUỐC VƯƠNG ĐỆ NHẤT

    Trong một quốc gia thời quân chủ, quyền tối thượng thuộc về vua. Theo trật tự xã hội, người ta “quy ước” là Quân-Sư-Phụ – thứ nhất là vua, thứ nhì là thầy (người dạy), thứ ba mới là cha mẹ. Vua được tôn xưng là Đức Vua, là Hoàng Đế, là Thánh Thượng, và tất nhiên cũng nắm quyền lực cao nhất – bao hàm cả quyền sinh sát: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Không chỉ vậy, vua còn mệnh danh là Thiên tử – con của Trời, thần dân phải phụng mệnh tối đa, tuân thủ “tối mặt”. Vua bảo chết mà chết mới là trung thần. Đúng là “hết ý” luôn!

    Trong mười hai con giáp, rồng là con vật quý – dù chỉ là con vật do tưởng tượng, nhưng mọi thứ của vua đều được trân trọng là “rồng”: Long nhan, long thể, long bào, long mão, long sàng,…

    Chúng ta biết rằng thời phong kiến theo chế độ “tông pháp” (cha truyền con nối), vua trị vì tới mãn đời. Vua có khi chỉ là một thiếu niên, và sẽ làm vua cho đến chết, gặp phải ác vương thì dân vô cùng khốn khổ. Vua có “quyền” nên thỏa sức “hành” người ta, vì thế vua nào cũng có có “máu ác”, thế mà vẫn được xã hội mặc nhiên chấp nhận, ít có những ông vua đức độ như vua Nghiêu và vua Thuấn của Trung quốc, làm thiên hạ thái bình, hoặc như các vua Trần Nhân Tôn và Lê Thánh Tôn của Việt Nam; qua thời dân chủ thì TT Ngô Đình Diệm là người khiến dân Việt tiếc thương hoài, tưởng nhớ mãi.

    Lịch sử cho thấy rằng minh quân thì hiếm, hôn quân (vua ác) thì nhiều. Trung quốc có Tần Thủy Hoàng, Vạn Lý Trường Thành của ông vua này đã hao tổn bao sinh mạng của dân lành; Việt Nam có vua Lê Long Đĩnh, với “biệt danh” là Ngọa Triều (“ngọa” là nằm, “triều” là triều chính, ông này ăn chơi sa đọa đến nỗi không ngồi được nên phải nằm mỗi khi ngự triều), ông ta còn có thú vui độc ác là “róc mía trên đầu nhà sư” và “mổ bụng các thai phụ để xem thai nhi thế nào”; vua Shah Jahan của Ấn Độ đã xây đền Taj Mahal bằng cẩm thạch (một trong những kỳ quan thế giới) để tưởng nhớ người vợ thứ ba là Mumtaz Mahal, nhưng khi đền này xây xong, ông ra lệnh chặt tay tất cả những người thợ để họ không thể xây ngôi đền khác như vậy. Ác nhân luôn vui thú với sự ác độc của họ, càng nghĩ ra các trò ác thì họ càng thấy vui.

    Việc bách hại Kitô hữu cũng theo quy trình tương tự. Thời xưa, đế quốc La Mã đã từng “làm mưa, làm gió” một thời, biết bao tín hữu bị phanh thây, xẻ thịt! Người Công giáo Việt Nam cũng bị hành hạ suốt ba thời ác vương: Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức. Hàng trăm ngàn tín nhân đã chết không toàn thây để anh dũng minh chứng niềm tin tuyệt đối vào Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh.

    Từ cổ chí kim, luôn có những ác vương trên khắp thế giới. Thế nhưng thần dân vẫn phải tán tụng họ là “hoàng thượng anh minh”. Thậm chí khi muốn tấu trình thì phải “muôn tâu bệ hạ” – tức là tâu với cái bệ rồng của vua ngồi chứ không được tâu thẳng nhà vua, thậm chí còn không được nhìn mặt vua, ai nhìn là phạm tội “khi quân”.

    Ngày nay chỉ còn vài quốc gia theo chính thể quân chủ, nhưng không “thuần túy” như xưa. Người đứng đầu một quốc gia ngày nay gọi là tổng thống, chỉ tại chức theo nhiệm kỳ vài năm. Ngày xưa vua tàn ác minh nhiên, dễ thấy; còn ngày nay, người đứng đầu một nước cũng vẫn có người ác độc, nhưng bằng các động thái khác và “tinh vi” hơn nhiều, rất khó phát hiện. Mà có phát hiện thì cũng chẳng làm gì được, bởi vì phe nào cũng có “vây cánh” cả rồi!

    THIÊN VƯƠNG NGỰ ĐẾN

    Đệ nhất quốc vương hoặc tổng thống cũng chỉ là phàm nhân, nghĩa là vẫn sai lầm và dân vẫn chịu khổ. Vì thế người ta mong chờ Thiên Vương để đòi lại công bình cho họ. Ngôn sứ Đa-ni-en kể: “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện” (Ðn 7:13). Đó là hình ảnh liên quan thời điểm niên tận thế cùng – Ngày Tận Thế, Ngày Cánh Chung. Chính lúc đó mọi người tỏ tường mọi thứ, là lúc yết kiến Thiên Vương, và cũng là lúc phải trình diện Vua Muôn Đời.

    Và rồi lúc đó, “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị”, còn “muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người” (Ðn 7:14a), thậm chí quỷ vương cũng phải tâm phục khẩu phục mà bái lạy Người là Vua các vua, là Chúa các chúa, như Kinh Thánh đã nói: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa” (Gióp 2:1). Đó là đặc quyền, độc nhất vô nhị: “Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Ðn 7:14b).

    Theo thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, Con Người ngự giá mây trời đó chính là Đức Kitô, là Vị Vua hoàn toàn khác thường về mọi thứ: “Chúa là Vua hiển trị, Chúa mặc oai phong tựa cẩm bào, Người lấy dũng lực làm cân đai. Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu không lay chuyển. Ngai vàng Chúa kiên cố tự ngàn xưa: Ngài hiện hữu tự muôn ngàn đời” (Tv 93:1-2). Vì thế, Ngài chính là Đệ nhất Thiên Vương mà chúng ta hằng mong đợi, đồng thời cũng phải tôn thờ và tôn vinh: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài thật là bền vững, nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện triền miên qua mọi thời” (Tv 93:5). Vạn tuế Thiên Vương Kitô!

    Không chỉ có vậy, chúng ta còn phải cầu nguyện: “Xin Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men!” (Kh 1:5-6). Thánh sử Gioan cũng thị kiến “Người ngự đến giữa đám mây” (Kh 1:7a), điều đó cho thấy về Ngày Tận Thế, ngày mà Đức Kitô đến xét xử thế gian, vẫn đang diễn tiến từng ngày. Và rồi “ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! A-men!” (Kh 1:7b). Kẻ lành và kẻ dữ đều diện kiến Ngài, nhưng cuộc sống vĩnh hằng của họ lại hoàn toàn khác nhau: Người lành được làm công dân Nước Trời vĩnh hằng, còn kẻ ác làm đệ tử Luxiphe đời đời.

    Là Thiên Chúa duy nhất, hằng hữu và hằng sống, Ngài xác định: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng” (Kh 1:8). Và mãi mãi Ngài vẫn là thế, vĩnh hằng bất biến: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8).

    THIÊN VƯƠNG THƯƠNG XÓT

    Trình thuật Ga 18:28-37 mô tả một phiên tòa bất công – vì kẻ ác lại kết án tử một người công chính. Hôm đó, ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu tới và hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không trả lời trực tiếp mà đáp lại bằng một câu hỏi: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”. Ông Philatô nói: “Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”. Đức Giêsu trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này”.

    Chúa Giêsu rạch ròi hai lần xác định: “Nước tôi không thuộc thế gian này”. Chắc hẳn tổng trấn Philatô không thể hiểu ý Chúa, thế nên ông ta liền hỏi lại: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu không hề tự nhận là vua, và thản nhiên nói: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Rồi Ngài nói rõ: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Ngài là Người-của-Sự-Thật, là Nhân-Chứng-Chân-Lý, Ngài không đấu tranh cho chính Ngài mà đấu tranh vì công lý và hòa bình của nhân dân, dù người đó sống tốt lành hay tội lỗi. Lòng thương xót của Chúa Giêsu bao la vô tận: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26).

    Nếu nói về Vương Quốc Chân Lý, Ngài là Vua Sự Thật. Tuy là Thiên Vương đệ nhất nhưng Ngài lại luôn động lòng trắc ẩn, như vậy Ngài chính là Đức Vua Thương Xót. Thế mà những kẻ ác lại tự nhận mình là công chính để rồi xét xử Người-Vô-Tội. Thiết nghĩ cũng nên biết điểm “chú thích” này: Tại dinh Cai-pha, một mình Chúa Giêsu phải đối mặt với hội đồng xét xử gồm 71 người – trong đó có 23 Tư tế, 23 Luật sĩ, 23 Kỳ lão, với hai vị chánh và phó chủ tịch. Ôi, thật kinh khủng!

    Đề cập vua chúa thế gian và quyền hành trần tục, có lần Chúa Giêsu đã nói: “Thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân” (Mt 20:25). Người có thế quyền và thế lực hành xử như vậy, bắt người khác quy phục, còn Chúa Giêsu không dùng uy quyền và thế lực để đàn áp người khác, không lạm dụng uy tín và chức vụ để thị uy hoặc bóc lột người khác, mà ngược lại, Ngài phục vụ chứ không bắt người khác phục vụ (x. Mt 20:28; Mc 10:45). Ngài không chỉ là Vua của các vua mà còn là Vua Khiêm Nhường và Nhân Ái.

    Xưa nay và mãi đến tận thế, chắc hẳn chẳng có ông vua nào dám làm như vậy, thậm chí đối với những kẻ nhẫn tâm giết Ngài mà Ngài vẫn bênh vực họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Ngài thật lòng thương xót và thật lòng tha thứ chứ không miễn cưỡng hoặc vì ở thế việt vị.

    Quả thật, Chúa Giêsu là Vị Vua “ngược đời” nhất thế gian, vì Ngài là Vua Trời nhưng đã tự hạ mình xuống thế gian để hòa nhập với thần dân. Chúng ta cũng “ngược đời”, nhưng ngược đời trái chiều với Vua Trời, vì chúng ta chỉ là bụi tro nhơ nhớp và hèn mọn, thế mà chúng ta lại muốn ở “trên mây”, nghĩa là nâng mình lên càng cao càng tốt – tức là kiêu ngạo, hợm mình, ảo tưởng. Nếu vậy thì chúng ta hoàn toàn đi ngược chiều với Đấng mà chúng ta tôn vinh là Thiên Vương, là Chúa Tể Càn Khôn, là Vua Trời Đất, là Vua Vũ Trụ. Hai người chuyển động ngược chiều thì chẳng bao giờ gặp nhau được!

    Hôm nay nhìn lại chính mình, chúng ta học được chút gì ở Vua Giêsu về quyền hành, chức vụ, địa vị, cách phục vụ, sự tha thứ, tình yêu thương, lòng thương xót, cách nói, cách nhìn, cách đối nhân xử thế,…? Nhưng nên nhớ rằng học là một chuyện, và thuộc bài là một chuyện, còn thực hành bài học đó hay không lại là chuyện khác!

    Kính mừng Đức Kitô là Vua Vũ Trụ cũng là lúc kết thúc năm phụng vụ và năm đời thường, đồng thời là lời nhắc nhở về tận thế và sự chết, chúng ta cùng suy tư về ý tưởng độc đáo của tộc trưởng Aupumut – bộ lạc Mohican: “Vào giây phút ra đi, ĐỪNG để trái tim mình ngập tràn nỗi sợ hãi, khóc than, nhưng HÃY cầu nguyện như thể được ban tặng một cuộc đời nữa để sống khác đi, HÃY hát bài ca chào cái chết, và ra đi giống như một người hùng quay trở về cố hương”.

    Lạy Thiên Vương Giêsu Kitô, đầy uy quyền nhưng rất mực khiêm nhường, có quyền ném vào lửa đời đời nhưng đầy tình thương xót, chúng con thành kính phủ phục để thú tội vì chúng con quá tồi tệ. Cúi xin Ngài xót thương và tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con sống đúng theo Ý Ngài muốn, xin Ngài mãi mãi là Vua cai trị cuộc đời chúng con, và ban cho chúng con được hưởng Ơn Cứu Độ muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    GIÊSU, ĐỨC VUA TÌNH YÊU

    Bông Hồng Nhỏ

    Ngày xưa, các vị vua thường vi hành thăm thần dân của mình. Một số vị vua đã cải trang thường dân để sống với họ, để biết tình hình của đất nước. Dân chúng được vua thăm viếng nhưng chẳng ai hay biết.

    Đức Giêsu Kitô, Đấng là vua vũ trụ, là Con Thiên Chúa, đã không cải trang thành thường dân như cách làm của các vua trần thế, nhưng Ngài đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (x. Pl 2,7). Cả cuộc đời Chúa Cứu Thế đã hiến trọn một tình yêu vẹn tuyền và bao la cho những kẻ tội lỗi. Vua Kitô đã tự đồng hóa mình với những con người tội lỗi để tỏ lòng thương xót vô ngần, để nâng họ từ chỗ sa ngã đứng lên, được làm con của Chúa. Chúa Cứu Thế đã đến trần gian để làm chứng cho sự thật, ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Ngài (x. Ga 18,37b). Chúa Kitô là vua vũ trụ, nhưng Chúa đã chọn một kiếp sống nghèo khó để thông chia kiếp người cách gần gũi, sát hơn và sâu hơn. Chúa đã muốn đi sâu vào tận cùng những thống khổ của kiếp người và trao cho họ yêu thương. Tuy nhiên, “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa (Ga 1,11 – 12).

    Đức Giêsu Kitô là vua vũ trụ nhưng khi sống kiếp phàm nhân, Ngài đã chẳng tự xưng vương. Khi bị điệu ra trước tổng trấn Philatô, trong sự náo loạn của dân chúng, sự phẫn nộ của các thượng tế và kinh sư, Đức Giêsu vẫn giữ thái độ rất điềm tĩnh. Tổng trấn hỏi: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Giêsu đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” (Ga 18, 33 – 34). Trước câu hỏi của Đức Giêsu, ta cũng cảm thấy bối rối. Vì sao vậy? Từ trước đến nay, ta đã biết gì về Chúa Giêsu? Hay nói khác hơn, những điều ta biết về Chúa Giêsu có phải là điều ta khám phá từng ngày với lòng yêu mến, vì đã hăng say tưởng nhớ đến Người và hằng noi theo cuộc đời lữ thứ hy sinh của Người; hay điều ta biết về Chúa Giêsu chỉ là điều ta nghe biết? Trong thinh lặng của nội tâm, ta hãy nhìn lại tình yêu ta đã dành cho Chúa Giêsu, Đấng mà ta tôn thờ và yêu mến, Đấng là Đức Vua tình yêu của ta.

    Có bao giờ ta trao nộp Đức Vua của ta cho quân dữ như điều tổng trấn Philatô đã nói: “Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi?” Dân chúng nộp Chúa Giêsu vì họ đã không nhận biết Người là Đấng Mêsia, đã vô ơn trước bao điều tốt đẹp Người làm cho họ. Họ biết rõ những điều Chúa Giêsu đã làm. Cả cuộc đời của Người là phục vụ vì yêu, và sẽ hiến mình vì yêu, và Người yêu họ đến cùng (x. Ga 13,1b). Rất tiếc, dân chúng và các thượng tế không nhìn nhận điều đó. Chúa Giêsu tố cáo những sai trái của các kinh sư và thượng tế, Người thẳng thắn chỉ cho họ biết đâu mới là sự thật. Điều Chúa Giêsu đã sống và rao giảng đi ngược lại với những gì họ đang sống, vì Người là ánh sáng thật đã đến thế gian chiếu soi mọi người (x. Ga 1,9). Đã bao lần ta bưng tai bịt mắt trước lời mời gọi của Chúa và ta vấp ngã. Chính khi ta làm nô lệ cho tội lỗi là ta đang nộp Chúa Giêsu để quân dữ đóng đinh Người và đâm vào trái tim tình yêu của Người. Chúa Giêsu mời gọi ta đứng về phía sự thật, vì chính lúc ta sống cho sự thật là ta đang tuân hành thánh ý Thiên Chúa. Là thần dân của Chúa, ta hãy lắng nghe và tuân giữ thánh ý Người.

    Lạy Chúa Giêsu Kitô yêu mến! Chúa là Vua Tình Yêu. Chúa đã cứu chuộc con bằng chính giá máu châu báu của Chúa và Chúa đã giải thoát con khỏi cảnh nô lệ tội lỗi. Con xin tôn thờ, chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ tình thương Chúa. Xin Chúa chiếu giãi ánh sáng Chúa vào tâm hồn con, cho con nhìn thấy sự thật và lắng nghe tiếng Chúa thúc bách, để mỗi ngày con được nên người công dân tự do của Nước Trời. Amen

    Về mục lục

    .

    VƯƠNG MIỆN

    Lm Vũdình Tường

    Philatô ngồi toà xử và các câu hỏi của ông xoay quanh vấn đề Đức Kitô tự nhận mình là vua hay do đám đông ca tụng Ngài là vua. Sau khi biết rõ Đức Kitô không có í định làm hại đến ngai vàng của ông cũng không chủ trương lật đổ chính phủ bảo hộ Roma do Caesar lãnh đạo, Philatô tuyên bố Đức Kitô vô tội và tha Ngài. Thầy cả thượng phẩm Do Thái không hài lòng về quyết định của Philatô nên họ gây áp lực buộc Philatô kết án người vô tội và bản án đó phải là bản án tử hình. Philatô miễn cưỡng trước áp lực đó nên ông rửa tay tuyên bố vô tội trong việc đổ máu người vô tội.

    Vua quan trần thế coi vương quyền là quyền ăn trên, ngồi cao. Hoàng tộc được ăn, được nói, đứng trên luật lệ vì luật lệ phải phục vụ họ. Hoàng gia ưu tiên hưởng mọi quyền lợi và thần dân có nhiệm vụ hầu hạ, phục tùng hoàng gia. Mọi con dân đều có trách nhiệm tôi tớ cho hoàng gia và coi đó là đặc ân riêng cho hoàng gia. Vua quan trần thế đều mong được như thế. Đức Kitô đưa ra cách nhìn mới về vương quyền. Cách nhìn mới của Ngài, mọi vua quan trần thế lớn nhỏ đều cố tránh. Theo Đức Kitô vương quyền chính đáng là đến để phục vụ. Quan trọng hơn vương quyền không phải chỉ phục vụ mà còn đi chung với hiến dâng mạng sống mình vì mọi người. Đây chính là điều thánh Gioan Tẩy Giả tiên tri khi thánh nhân nói về Đức Kitô:

    Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng đến xoá tội trần gian Jn 1,28.

    Chính Đức Kitô sau này khi nói về vương quyền của Ngài cũng nói thập giá là dấu chỉ của đoàn kết:

    Khi Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta 12:32.

    Không phải sức mạnh của gươm giáo hay vũ khí tân kì mà chính là sức mạnh tình yêu thập giá nối kết con người. Đức Kitô coi sóc nhân loại bằng tình yêu, ban cho họ an bình nội tâm và hướng dẫn họ sống trong sự thật. Điều Đức Kitô trao ban thế gian không thể có để ban tặng

    Thầy để lại bình anh cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy Jn 14,27

    Khi trả lời Philatô:

    Vậy Ông là vua sao c.37? Đức Kitô đáp: Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian với mục đích này: Làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi c.38

    Xác nhận trước mặt Philatô, Đức Kitô tuyên bố Ngài là vua sự thật. Những kẻ tin theo Ngài phải sống trong sự thật, làm chứng cho sự thật. Sự thật là Đức Kitô, Con Một Thiên Chúa, xuống thế gian công bố tình yêu Chúa Cha ban cho nhân loại và ai tin vào Ngài sẽ nhận được ơn cứu rỗi. Trong vương quốc của Ngài con người đối xử với nhau bằng tình yêu, chân lí và sự thật. Công lí được coi trọng bởi công lí đó nhằm mục đích bảo vệ mạng sống con người từ lúc thụ thai cho đến khi sống lại về cùng Thiên Chúa. Mọi người đều mang hình ảnh Chúa và là anh chị em với nhau. Để có thể sống trong tình yêu, chân lí và sự thật người đó phải được tái sinh trong nước Thanh Tẩy và chịu sự hướng dẫn của Thánh Thần Jn 3,3-7.

    Nước Thiên Chúa bắt đầu khi Đức Kitô đội triều thiên mạo gai và treo trên thập tự phía trên đầu cho viết chữ Vua Dân Do Thái. Các Thầy Cả Thượng Phẩm Do Thái cực lực phản đối nhưng Philatô cương quyết giữ điều ông phán quyết.

    Đức Kitô là Vua vũ trụ bởi một mình Ngài đã chiến thắng tội lỗi, ma quỷ và thần chết, chính chúng đại diện cho nước của bóng tối.

    Về mục lục

    .

    CHÚA GIÊSU KITÔ, VUA TÌNH YÊU VÀ SỰ THẬT

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội mừng lễ trọng thể lễ Chúa Kitô Vua, được Đức Giáo Hoàng Pio XI thiết lập vào năm 1925. Qua thánh lễ này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta rằng: Chúa Giêsu Kitô chính là Vua vũ trụ, Vua nhân loại. Người là khởi nguyên và là cùng đích, là Alpha và Ômêga (x. Kh 1,8). Vì thế, chúng ta hiểu ý nghĩa tước hiệu vua và vương quyền của Chúa Giêsu.

    1- Ý nghĩa tước hiệu vua

    Ngày nay tước hiệu vua, Chúa khá xa lạ với con người của thời đại dân chủ. Ngày xưa nó là một tước hiệu quen thuộc và phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Theo quan niệm thông thường, vua là người đứng đầu một quốc gia, một chính thể, lãnh đạo đất nước, người có mọi quyền hành trong tay.

    Theo quan niệm Nho Giáo, vua là thiên tử, con trời, người thay Trời trị dân. Nên vua có mọi quyền hành trong tay, cả quyền quyết định số phận sinh tử của thần dân, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Vua cũng là người được người khác phục vụ và hầu hạ. Nên người ta vẫn nói “sướng như vua.” Trong lịch sử Việt Nam, có nhiều vị vua lạm đã dụng quyền hành và làm cho đất nước, người dân phải điêu đứng như các vua thời Nhà Nguyễn.

    Kinh Thánh Tân Ước mạc khải chúng ta biết: Chúa Giêsu đến trần gian để làm vua, nhưng không theo kiểu vua trần thế và chính trị. Mặc dầu dân Do Thái đã nhiều lần muốn tôn phong Người lên làm vua của họ theo kiểu chính trị, để giải phóng họ và dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc La Mã thời bấy giờ. Nhưng Đức Giêsu đã mạnh mẽ từ chối kiểu làm vua như thế (x. Ga 6,15; Lc 19,38). Người không muốn làm vua theo kiểu trần thế và Người quả quyết rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 20,36). Hơn một lần Đức Giêsu quả quyết với các môn đệ rằng: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em… Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,24). Như thế, vương quốc của Chúa Giêsu không nhắm những tục tiêu chính trị, cũng chẳng sử dụng những phương thế trần gian như bạo lực, quân đội, súng đạn… Nên Người không phải là Đấng Messia theo quan niệm trần thế chỉ đến để thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc. Nhưng người sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.

    2- Chúa Kitô, vua đích thực

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Chúa Giêsu trả lời: “Chính ngài nói tôi là vua.” Trước đó không lâu, Caipha đã hỏi Người cũng một câu hỏi như thế nhưng với một hình thức khác: “Ông có phải là Con Thiên Chúa không?” Chúa Giêsu đã lời một cách chắc chắn rằng: “Vâng, tôi là Con Thiên Chúa.” Theo Tin Mừng Máccô, Chúa Giêsu trả lời câu hỏi này, Người quy chiếu và áp dụng cho chính mình điều mà sách tiên tri Đanien nói về Con Người đến trong đám mây từ các tầng trời và triều đại Người trị vì đến muôn đời (Bài đọc I).

    Theo đó, Chúa Kitô xuất hiện như là vị vua, vị cứu tinh của nhân loại. Người là vị vua không dùng quyền lực hùng mạnh để cai trị nhưng bằng phục vụ khiêm tốn cho chân lý và ơn cứu độ của loài người. Bởi lẽ, Chúa Cha đã giao phó cho Người sứ mạng đến để giải thoát con người khỏi mọi sự nô lệ của tội lỗi và đau khổ. Người đã chịu chết và phục sinh để giải thoát và đưa chúng ta vào vương quốc vĩnh cửu của Người. Như bài đọc II diễn tả: “Đức Giêsu Kitô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Người đã yêu mến chúng ta và đã lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1,5-6).

    Bởi thế, thánh Gioan đã trình bày giờ Chúa Giêsu bước lên thập giá là giờ vinh quang, giờ chiến thắng và tôn vinh. Vì giờ đó mà Người đến, giờ đó là giờ Người lên làm vua. Như thế, theo ý nghĩa này, khi Philatô có ý châm biếm khi viết trên thập giá Chúa chữ “Inri – Giêsu Nadarét là vua dân Do Thái,” ông vô tình đã nói tiên tri về Người. Người là vua không chỉ vua dân Do Thái mà còn là vua hoàn vũ. Người là vua tình yêu và sự thật.

    3- Những công dân của vương triều Người

    Như thế, Chúa Giêsu đến trong thế gian và đã khai mở vương quốc tình yêu và sự thật. Ai đứng về phía sự thật và sống yêu thương thì thuộc về Nước Trời. Ai đón nhận sự thật và tình yêu của Người là thuộc về vương quyền Người. Thật vậy, nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được về công dân Nước Trời, trở thành vương quốc và một dân tộc tư tế để phụng sự Thiên Chúa. Chúng ta thật hạnh phúc vì được làm con dân trong vương quốc Vua Giêsu. Đồng thời chúng ta có sứ mạng phục vụ cho “vương quốc chân lý và sự thật, vương quốc thánh thiện và ân sủng, vương quốc công bình, tình yêu và hòa bình” mà Chúa Kitô đã khai mở được ngự đến, lan rộng khắp nơi, trong lòng mỗi người. Thế giới hôm nay vẫn đang bị thống bị bởi vương quốc ma quỷ, bởi sự gian dối, bất công, chiến tranh và hận thù. Chúng ta được mời gọi đóng góp phần mình để làm vương quốc sự thật và tình yêu của Chúa Kitô được hiện diện trong tâm hồn mỗi người, không phải bằng sức mạnh chính trị, quân sự, nhưng bằng việc phục vụ khiêm tốn của mình đối với tha nhân.

    Để kết thúc bài suy niệm về Chúa Kitô Vua, chúng ta nghe lại câu chuyện sau đây: Lịch sử nước Anh có câu chuyện về vua Canut III có lòng khiêm nhường và đạo đức. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh nhà vua như sau: “Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa. Thánh thượng có toàn quyền cả trên đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!”

    Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm sóng vỗ rì rào, nhà vua đứng trước biển tuyên bố: “Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!” Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát, làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo các quan chức triều đình. Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quỳ gối trước tượng thánh giá Chúa Giêsu, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa Giêsu. Chỉ có Chúa mới là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa. Chỉ có Chúa mới có quyền trên cả đất liền cùng biển khơi. Con chúc tụng ngợi khen Chúa.”

    Xin cho mỗi người Kitô hữu chúng ta luôn có được tâm tình khiêm hạ và niềm xác tín mạnh mẽ vào Chúa Kitô Vua, như vị vua nước Anh này. Amen!

    Về mục lục

    .

    VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU

    Lm. Giuse Nguyễn

    Phanxicô Assisi là một thanh niên giàu có, dòng dõi danh giá, nhưng không hạnh phúc. Anh cảm thấy cuộc đời vẫn còn thiếu một cái gì đó. Ngày nọ anh ra đường và gặp một người cùi lở loét, hôi hám. Có một điều gì đó khiến anh cảm động, dừng chân, tiến đến ôm chầm lấy con người đau khổ ấy. Chính lúc đó, trong vòng tay của Phanxicô không phải là gương mặt của một người cùi ghê sợ, nhưng là gương mặt hạnh phúc của Đức Giêsu. Từ đó, Phanxicô tìm được cái thiếu của đời mình là phục vụ Đức Kitô nơi những người nghèo. Có lẽ cũng vì thế mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chọn Chúa Nhật 33 Thường niên, Chúa Nhật áp cuối năm phụng vụ làm ngày thế giới người nghèo, để liền sau đó là Chúa Nhật Chúa Kitô là Vua. Vinh quang, vương quyền của Đức Kitô ở nơi những con người nghèo khổ. Hôm nay cùng với Giáo Hội chúng ta mừng kính Đức Kitô là vua vũ trụ. Lễ này đã được ĐGH Piô XV thiết lập vào năm 1925 để tôn vinh vương quyền của Đức Kitô như là cùng đích của muôn loài muôn vật. Sự thật đó cho chúng ta ý thức rằng người có quyền tối thượng trên cuộc đời chúng ta không là ai khác, mà là vua Giêsu, và cùng đích cuộc đời chúng ta là được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa. Tuy nhiên vị vua này lãnh đạo chúng ta bằng cách thức nào? và đâu là điều kiện để chúng ta trở thành công dân của vương quốc đó?

    Đức Giêsu không bao giờ chấp nhận làm vua theo cái nhìn của dân chúng, vì vị vua theo cái nhìn của họ mang nhiều yếu tố trần tục và tham vọng chính trị. Chính vì vậy mà Ngài đã từng lẫn trốn khi dân chúng tôn phong Ngài lên làm vua sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Tuy nhiên cũng có lần Ngài chấp nhận để dân chúng tung hô Ngài như một vị vua khi tiến vào Giêrusalem, bởi vì đây là hình ảnh của một vị vua hiền lành ngồi trên lưng lừa con. Hình ảnh đẹp nhất về vua Giêsu không phải là một ông hoàng ngồi trên ngai vàng, nhưng là một tử tội chết trần trụi trên cây thập giá. Từ đó cho chúng ta thấy đường lối lãnh đạo của vua Giêsu là yêu thương và cách thức để điều hành chính là phục vụ.

    Yêu thương:

    Trong suốt khoảng thời gian sống ở trần gian, mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của CG đều thể hiện một tình yêu thương. Yêu thương đến trăn trở vì hạnh phúc của người khác. Yêu thương đến thổn thức rơi lệ vì khổ đau của con người. Yêu thương đến quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ…

    Phục vụ

    …Và Ngài đã phục vụ không biết mỏi mệt. Phục vụ như một đầy tớ. Phục vụ đến quên mình. Và đỉnh cao là phục vụ đến hy sinh thân mình…

    Chính tình yêu thương là đường lối lãnh đạo của vua Giêsu và phục vụ là cách thức thực hiện đường lối đó.

    Là Kitô hữu, chúng ta thuộc quyền của vua Giêsu, chúng ta tự hào vì mình là công dân Nước Chúa. Nếu đã nhìn nhận Chúa là vua và chấp nhận sống trong vương quốc của Chúa (Thực ra đó là ân huệ và vinh dự cho chúng ta) thì chúng ta phải theo đường lối yêu thương và cách thức phục vụ mà vị vua Giêsu đã sống và nêu gương.

    Đường lối lãnh đạo của Đức Giêsu là đường lối yêu thương, thì cung cách sống của chúng ta cũng phải là cung cách yêu thương; Có nghĩa là nơi cuộc sống của chúng ta phải toát lộ ra một sự yêu thương chân thành dành cho mọi người chúng ta gặp gỡ. Sự yêu thương sâu xa nhất của Đức Giêsu là nhìn thấy nơi chúng ta một sự đáng thương vì còn xa cách ân tình Chúa. Hay nói cách khác Ngài khao khát linh hồn của chúng ta. Từ đó, sự yêu thương đúng đắn nhất của con người cũng phải là thao thức làm sao cho người khác được sống xứng đáng là con cái Chúa. Chúng ta phải tội nghiệp cho những anh chị em còn đang xa cách Chúa. Chúng ta phải lo lắng cho những người thân yêu bạn bè của mình đang sống trong tội lỗi sớm quay trở lại với Chúa. Đó là một tình yêu thương đúng đắn và cũng là đường lối của vua Giêsu, muốn cho mọi người được hạnh phúc đích thực.

    Cách thức để thực hiện chương trình yêu thương của vua Giêsu chính là phục vụ. Sự phục vụ của chúng ta không được tính toán và phải hết sức âm thầm, không cho tay trái biết việc tay phải làm. Những việc phục vụ hết sức cụ thể mà mỗi người chúng ta ai cũng làm được: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà… như kinh thương người có 14 mối mà chúng ta vẫn đọc. Động lực để phục vụ theo lời Đức Giêsu  không gì khác hơn là nhìn ra khuôn mặt Đức Giêsu nơi những người và những việc chúng ta phục vụ.

    Một mùa đông lạnh lẽo kia, thánh Martinô đi vào thành phố. Ông gặp một người ăn xin chận lại để xin tiền. Thánh nhân không có tiền, nhưng thấy người hành khất đang run vì lạnh lẽo, ngài vội cởi chiếc áo chiến sĩ sờn rách của mình và cắt một nửa trao cho người hành khất. Đêm đó Martinô nằm mơ thấy Đức Giêsu với các thiên thần hầu cận, và Ngài mặc một nửa chiếc áo chiến sĩ sờn rách. Các thiên thần hỏi tại sao Ngài mặc nửa chiếc áo rách kỳ vậy, và ai đã cho Ngài chiếc áo đó? Đức Giêsu trả lời một cách tự hào: “Của Martinô, tôi tớ Ta cho đó!” Rõ ràng khi chúng ta làm cho người khác là làm cho chính Chúa.

    Tóm lại… kết thúc năm phụng vụ năm nay, một lần nữa Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy đặt lại giá trị: ai đang làm vua trong cuộc đời của mình? Nếu là Đức Giêsu thì chúng ta phải theo đường lối yêu thương và cách thức phục vụ của Ngài, như vậy chúng ta mới xứng đáng là công dân trong Nước Chúa. Khi chúng ta yêu thương phục vụ người khác là chúng ta đang yêu thương phục vụ cho chính Chúa. Chắc chắn Chúa cũng sẽ nói với chúng ta: “Nào những kẻ Cha ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi”.

    Về mục lục

    .

    TÔN CHÚA GIÊSU LÀM VUA CỦA MÌNH

     Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Hôm nay, nhân ngày lễ tôn vinh Chúa Giê-su vua, chúng ta hãy đến bệ kiến Ngài.

    Trước hết, chúng ta hãy tiến vào chiêm ngưỡng hoàng cung của Vua Giê-su. Thật lạ lùng! Nơi đây là một ngọn đồi hoang vu trơ trọi, sặc mùi tử khí, lác đác mấy thập tự giá nằm vương vãi đó đây.

    Tiếp theo, chúng ta hãy tìm đến ngai tòa đức Vua. Đây rồi, ngai tòa của Ngài đây, vì có tấm biển ghi rõ ràng: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Ít-ra-en.” (Ga 19,19).

    Ta hãy chiêm ngưỡng xem vị vua này như thế nào? Ngự ở đâu? Cẩm bào của ngài thế nào? Ngai vàng Ngài ra sao? Thần dân của Ngài gồm những hạng người nào?

    Nơi đây, Vua Giê-su không mặc áo cẩm bào sang trọng đính ngọc dát vàng, nhưng phải chịu cảnh mình trần, thân mình bầm dập, loang lổ vết thương.

    Nơi đây, Vua Giê-su không ngồi chễm chệ trên ngai cao nhưng chịu treo thân trên thập tự giá.

    Hai bên ngai Vua Giê-su không có hai chức quan tả, hữu thừa tướng như ở các cung đình uy nghiêm lộng lẫy, mà là hai tên gian phi cùng chịu treo trên thập tự giá như Ngài.

    Thay vì quân hầu, người ta chỉ thấy đám lính hung hăng, thô bạo. Chúng đứng đó không phải để hầu hạ phục dịch Ngài, nhưng là để lăng nhục, để hành hung, chế giễu nhạo cười Ngài và kết liễu cuộc sống của Ngài.

    Vị vua này thật lạ lùng!

    Thay vì để cho thần dân tung hô chúc tụng, Vua Giê-su chịu nghe những lời nhiếc móc nhạo cười: “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu được mình”, “Nếu ông là vua dân Do-thái thì hãy cứu lấy mình đi!” (Lc 23,35-37).

    Trên ngai cao này, thay vì ban ra những lệnh truyền như vua chúa trần gian, những lệnh truyền bắt dân phải chịu sưu cao thuế nặng để chất thêm vàng bạc vào kho báu của mình, truyền cho nô lệ phải hầu hạ phục dịch mình, truyền cho quan quân phải hy sinh mạng sống, chiến đấu phục vụ cho vương quốc mình…Vua Giê-su chỉ ban ra những lời yêu thương: “Lạy Cha, xin tha thứ tội lỗi cho những người đóng đinh Con…” và hứa ban hạnh phúc thiên đàng cho người bất hạnh cùng chịu treo trên thập tự giá như mình: “Hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng với Tôi.” (Lc 23, 43)

    Cuối cùng, không như vua chúa trần gian, bòn rút công sức, của cải thần dân tận xương tủy, Vua Giê-su hiến trao mạng sống mình cho muôn người được sống đời đời, trút cho nhân loại cả giọt máu cuối cùng trong đáy tim!

    Như thế, dù là Chúa tể trời đất, bá chủ muôn vật muôn loài, Chúa Giê-su đã hạ mình xuống thế làm người, chuốc lấy tủi hổ, đau thương và nộp mình chịu chết để cứu độ muôn dân. “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Ph 2, 9-11).

    Lạy Chúa Giê-su,

    Trên cõi đời này, không ai xứng đáng là vua của chúng con, bởi vì tất cả mọi ông vua đều ươn hèn, yếu đuối và mắc phải đủ mọi thứ lỗi lầm. Chỉ có Chúa mới là vị vua hoàn hảo, vua tốt lành thánh thiện, vua đầy lòng yêu thương, là vua quảng đại bao dung, đã hy sinh chịu chết để ban cho chúng con sự sống đời đời.

    Xin cho chúng con biết tôn Chúa lên làm Vua của mình, biết noi gương Chúa mà hy sinh cho người khác, biết nhận quy luật yêu thương của Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc sống chúng con.

    Về mục lục

    .

    SONG HỈ LÂM TÂM

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

      Phi-la-tô liền hỏi: Ông là vua sao ? Đức Giê-su đáp: chính ngài nói ta là Vua. Tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: Làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37).

      Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Đức Giê-su là Vua. Vậy Đức Giê-su là Vua theo nghĩa nào ? Đức Giê-su là vua dân Do-thái ư ? Không phải. Đức Giê-su là vua như bao vua chúa trần gian sao ? Cũng không phải. Quan Phi-la-tô hỏi Chúa là Vua theo nghĩa chính trị, theo ý nghĩ của con người. Còn theo như câu trả lời của Đức Giê-su, Ngài là vua SỰ THẬT.

      Sự Thật nghĩa là gì ? Sự Thật là Sự Thật thôi chứ là gì nữa. Sự Thật về cái gì ? Sự Thật về Thiên Chúa và con người. Đức Giê-su đến để làm chứng cho Thiên Chúa và con người. Ngài là Vua Sự Thật đó, theo kiểu người ta nói là “vua thép”, “vua dầu lửa” vậy. Không phải ông vua thép là người bằng thép mà là ông là người chuyên môn sản xuất và buôn bán thép. Không ai có thể qua được ông. Ông vua dầu lửa là ông chuyên kinh doanh dầu lửa. Không ai có thể là đối thủ của ông. Đức Giê-su là “vua sự thật”, có nghĩa là Đức Giê-su là người chuyên môn nói về Sự Thật, mà sự thật đó là sự thật về Thiên Chúa và con người. Không ai có thể qua mặt Ngài khi nói về Thiên Chúa và con người. Vì Ngài biết rất rõ về Thiên Chúa và con người hơn ai hết. Ngài là chứng nhân cho Thiên Chúa và con người.

    1. Đức Giê-su là chứng nhân cho Thiên Chúa và loan báo Thiên Chúa cho con người.

    Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con Một của Người thì được sống đời đời” (x. Ga 3,16).

    Thiên Chúa đó là một Thiên Chúa yêu thương, tốt lành và cứu độ con người. Một Thiên Chúa đầy lòng từ bi, thương xót và tha thứ. Điều đó Đức Giê-su đã loan báo khi đến trần gian này. Các sách Tin Mừng đã ghi lại và chứng minh những điều đó. Thiên Chúa đó là Thiên Chúa của con người. Thiên Chúa đó là một người Cha NHÂN LÀNH của hết thảy mọi người.

    Thiên Chúa đó, “Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt; cho mưa xuống trên người công chính cũng kẻ bất lương” (x.Mt 7,45).

    Thiên Chúa đó tốt lành hơn người cha trần thế: “Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời lại không ban những của tốt lành cho những kẻ cầu xin Người sao ?” (x. Mt 7,11).

    Thiên Chúa đó “biết rất rõ anh em cần gì trước khi anh em cầu xin”, nên đừng có lải nhải, nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời (x. Mt 7, 7-8).

    Thiên Chúa đó là một Thiên Chúa công bằng: “Ấy vậy, Cha của Thầy trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (x. Mt 18,35).

    Thiên Chúa đó là một Ông Chủ tốt bụng “Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào sau hết bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền định đoạt những gì là của tôi sao; hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn lại đâm ra ghen tức” (x. Mt 20, 14-15).

    Thiên Chúa đó là một Ông Chủ công minh: “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành. Được giao ít mà anh đã trung thành, tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (x. Mt 15, 21). Nhưng với tên đầy tớ biếng nhác và lắm mồm thì: “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (x. Mt 25, 30).

    Thiên Chúa đó là một người Cha nhân hậu: “Con à, lúc nào con cũng ở với Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống; đã mất mà nay lại tìm thấy” (x. Lc 15, 31-32).

    Thiên Chúa đó hằng lắng nghe những ai kêu cầu Người. “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những người đã tuyển chọn ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ phải chờ đợi mãi. Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ.

    Thế nhưng khi Con Người đến, liệu còn thấy lòng tin trên mặt đất này nữa không?” (x. Lc 18, 7-8).

    Có thể xem đây như là một “lời nói lẩy” của Đức Giê-su hay của Thiên Chúa cũng được. Liệu con người có tin vào một Thiên Chúa như thế không; có thể tin vào Vị Chứng Nhân của Thiên Chúa là Đức Giê-su không? Nếu ta tin thì ta sẽ được sống bình an ở đời này và được sống đời đời ở đời sau trong Nước của Thiên Chúa. “Nước Thiên Chúa sẽ viên mãn trong ngày tận thế” (GLCG, số 1042), Nước đó còn gọi là “Trời mới đất mới” (GLCG, số 1043). Và Đức Giê-su là Vua trong Nước này.

    1. Đức Giê-su làm chứng về con người.

    Con người phải là những tư tế để phụng sự Thiên Chúa. Chính “Đức Giê-su là Vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (x. Kh 1, 5-6).

    Con người chúng ta sẽ phụng sự Thiên Chúa không chỉ sau này trên Thiên Quốc mà ngay từ bây giờ nữa. Vậy ta phải làm gì trong khi chờ đợi “Trời mới đất mới” đây ?

    Theo sách Giáo Lý Công Giáo thì: “Sự trông đợi “Trời mới đất mới” không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà thân thể, gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới. Bởi vậy, tuy phải phân biệt rõ rệt những tiến bộ trần thế với sự mở rộng của Vương Triều Chúa Ki-tô, nhưng những tiến bộ này trở thành quan trọng đối với Nước Thiên Chúa tùy theo mức độ chúng có thể góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người cho tốt đẹp hơn”( GLCG , số 1049).

    Nghĩa là trong khi chờ đợi “Trời mới đất mới”, con người chúng ta phải nỗ lực xây dựng xã hội này sao cho ngày càng tốt đẹp hơn. Vì những sự tốt đẹp đó tiên báo cho Nước Thiên Chúa đó. Và “Bởi vì tất cả những thành quả tuyệt hảo của bản chất và tài năng chúng ta, mà (con người) chúng ta đã tạo nên trên khắp địa cầu, theo mệnh lệnh của Chúa và trong Thánh Thần Người, chúng ta sẽ nhận lại sau này, nhưng chúng đã được thanh luyện khỏi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, khi Chúa Ki-tô trao lại cho Chúa Cha Vương Quốc vĩnh cửu và đại đồng” (GLCG, số 1050).

    Tức là con người chúng ta phải nỗ lực xây dựng xã hội dưới trần gian này theo Lời Chúa dạy và theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Có như thế thì mọi việc ta làm, những cố gắng ta nỗ lực, ta sẽ nhận lại chúng trên thiên đàng sau này.

    Trong Giáo Hội, chúng ta làm những việc này trong việc cử hành gọi là “PHỤNG VỤ”. Phụng vụ nghĩa là “Dân Thiên Chúa tham dự vào công trình của Thiên Chúa” (x. GLCG, số 1069). Vì “Trong mọi trường hợp, Phụng Vụ nhắm đến hai mục tiêu là Phục Vụ Thiên Chúa và con người” (x. GLCG, số 1070).

    “Trong Phụng Vụ, Hội Thánh chúc tụng và tôn thờ Thiên Chúa Cha, nguồn mạch mọi phúc lành trong công trình sáng tạo và cứu độ. Đấng chúc lành cho chúng ta trong Chúa Con và ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, chúng ta trở nên nghĩa tử của Người” ( GLCG, số 1110).

    Đức Giê-su đã đến là làm chứng về Thiên Chúa và con người. Ngài là Vua Sự Thật. Ai muốn sống trong Sự Thật, muốn làm thần dân của Ngài thì nghe tiếng Ngài. Nghĩa là ta cũng phải sống trong Sự Thật và làm chứng về Sự Thật về Thiên Chúa và con người qua cuộc sống hằng ngày của mình. Ta không chỉ cử hành Phụng Vụ ở nhà thờ mà còn trong cuộc sống của ta nữa. Trong nhà Thờ thì ta đọc kinh Phụng Vụ, dâng lễ, đón nhận các bí tích; trong cuộc sống thì ta sống Sự Thật và làm chứng cho Sự Thật.

    Vậy hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta hãy hân hoan mừng lễ Đức Giê-su là Vua Vũ Trụ. Ta hãy tin Ngài là Vua Sự Thật, là Vua trong Nước của Thiên Chúa; là Vua trong “trời mới đất mới”. Đồng thời, ta cũng hãy noi gương Ngài là sống trong sự thật, biết phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người, để ta nên chứng nhân cho Thiên Chúa Tình Yêu ở đời này và nên thần dân của Nước Chúa đời sau.

    Đó gọi là “Song hỉ lâm môn”. Hai niềm vui đến cùng một lúc; hai niềm vui cùng một lúc đến trước cửa nhà ta. Không chỉ thế, mà hai niềm vui cùng đến trong tâm hồn của ta, nên phải gọi là “Song hỉ lâm tâm”. Một là niềm vui ta sống ở đời này; hai là niềm vui được sống ở đời sau. Một là niềm vui được phụng thờ Thiên Chúa; hai là niềm vui được phục vụ con người. Một là niềm vui là thần dân đời này; hai là niềm vui là thần dân của đời sau. Một là ta được sống bình an ở đời này; hai là ta được sống hạnh phúc ở đời sau. Thế thì còn niềm vui, còn hạnh phúc nào bằng nữa !!!!!!!!!!

    Vua Giê-su Ki-tô muôn năm. Vạn tuế…vạn vạn tuế!!!

    Về mục lục

    .

    CHÚA GIÊSU KITÔ – VUA TÌNH YÊU

    Lm. Simon Nguyễn Thanh Tú

    Kính thưa quí ÔBACE thân mến!.
    Trong suốt quãng đường đi rao giảng, Chúa Giêsu chỉ đi rao giảng về Nước Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền cho dân chúng. Chưa bao giờ Chúa Giêsu tự nhận mình là vua, mặc dầu dân chúng hồ hởi tôn vinh Ngài. Nhưng về cuối đời, Ngài đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô: “Ngài nói đúng, Tôi là vua”, nhưng để tránh ngộ nhận, Ngài nói thêm: “Nhưng nước tôi không thuộc thế gian này”. Vậy nước của Ngài ở đâu ? Thần dân của Ngài là ai ? Ngài được nhìn nhận từ khi nào?. Chúng ta hãy nhìn lên trên đỉnh thập giá có chữ INRI, có nghĩa là Giêsu Nazareth Vua Dân Do Thái, chính giây phút chịu đóng đinh mà Chúa Giêsu được tôn vinh là Vua, Ngài là Vua không chỉ cho dân Do Thái mà Ngài còn là Vua của cả vũ trụ.

    Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ hôm nay, chúng ta được mời gọi nhìn lên vị vua của mình. Một vị vua không ngồi trên ngai vàng, nhưng trên thập giá. Một vị vua không cai trị bằng quyền lực, nhưng dựa trên tình yêu thương, phục vụ. Một vị vua không có lãnh thổ, nhưng nằm sâu trong trái tim mọi người. Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của Tình yêu. Ngài được mệnh danh là Vua Tình Yêu. Cho nên chỉ những ai sống yêu thương mới đích thực là thần dân của Ngài. Thế nhưng phải sống như thế nào mới được gọi là sống yêu thương?

    Có một giáo lý viên kia đang dạy đạo cho một người dự tòng. Một hôm, người dự tòng hỏi “Điểm nổi bật hay còn gọi là điểm son của Đạo Công Giáo là gì ?”. Giáo lý viên đáp : “là Yêu Thương”. Người dự tòng là một thanh niên đang ở tuổi yêu đương, nên gật gù tỏ ra rất thấm thía với câu trả lời của giáo lý viên. Nhưng sau một lúc suy nghĩ, anh lại đặt vấn đề : “Yêu thương thì tôi đã nghe nói rất nhiều, và rất nhiều người nói : Những cặp tình nhân luôn miệng nói yêu nhau; những đạo khác, đạo nào cũng dạy người ta sống yêu thương; và ngay cả những tổ chức không có đạo cũng dạy người ta yêu thương nhau”. Rồi anh này đưa ra 2 kết luận hết sức bất ngờ : 1/ Đạo Công giáo chẳng có gì hơn những đạo khác, mà cũng không hơn không có đạo ; 2/ Chẳng cần vào đạo Công giáo mới biết yêu thương”. Và giáo lý viên bí !

    Quí ÔBACE nghĩ sao về đạo yêu thương của chúng ta? Chúng ta phải công nhận rằng người dự tòng trên đã nhận xét rất đúng. Yêu thương là tình cảm cao đẹp nhất trong con tim mọi người. Yêu thương là nhân đức cao trọng nhất trong mọi nhân đức. Vì thế không cần đạo công giáo dạy, không cần Đức Giêsu dạy, mọi người cũng đều biết trân trọng tình cảm và nhân đức yêu thương. Nhưng chẳng lẽ đạo Công giáo của chúng ta không có gì hơn các đạo khác, cũng không có gì hơn các nền luân lý không có đạo sao ? Chẳng lẽ Đức Giêsu từ trời xuống thế làm người mà chẳng dạy gì hay hơn điều mà mọi người đã biết hết rồi sao ?

    Tình thương của người ta có nhiều cấp bực khác nhau : thương một người bạn thì không bằng thương anh em ruột, thương anh em cũng không bằng thương cha mẹ, và thương ai cũng không thể nào bằng thương người tình của mình. Đối với một người có đạo, thì họ nghĩ phải thương yêu Chúa trên hết, kế đó mới là tình thương đối với những người khác. Còn Chúa Giêsu thì dạy phải đặt tình thương người và tình thương Chúa ngang nhau. Nghĩa là ta thương Chúa bao nhiêu thì cũng phải thương người bấy nhiêu. Nói cách khác, ta phải coi người ta như Chúa vậy, và phải thương người ta như thương Chúa vậy. Đó chính là điểm độc đáo thứ nhất của Tình Thương Công Giáo.

    Nhưng thương người là thương ai ? Người Do thái cũng có luật thương người, luật ghi rõ phải thương người thân cận. Theo lối hiểu của người Do thái, thì người thân cận tức là người cùng dân tộc, cùng tín ngưỡng với mình. Còn những kẻ thuộc dân khác, thuộc đạo khác thì không phải là người thân cận nên không buộc phải thương. Còn theo Chúa Giêsu, tình yêu thương không có biên giới. Ta phải thương yêu mọi người, phải coi mọi người đều là kẻ thân cận, như dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu. Người ta thường vẽ ranh giới cho tình thương, người ta thường đặt hàng rào cho tình thương : ai ở trong ranh giới và trong hàng rào đó thì thương hết là thương, còn ai ở ngoài thì là người dưng, người lạ khỏi thèm thương. Đức Giêsu khi phá bỏ mọi hàng rào, mọi biên giới, tức là thêm một điểm độc đáo nữa cho Tình Yêu thương Công giáo.

    Điểm độc đáo thứ ba là “Yêu thương người thân cận như chính mình thì hơn là dâng mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Chúng ta cho người nghèo dù là một ly nước lã, một lon gạo còn hơn là dâng cho Chúa nhiều lễ vật quí giá mà lại không quan tâm đến anh em. Đây là điểm độc đáo thứ 3 của Tình thương Công giáo.

    Kính thưa Quí ÔBACE!
    Mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta là thần dân của nước Thiên Chúa chúng ta phải sống như thế nào để chứng tỏ cho người khác biết chúng ta đang sống trong Vương quốc tình yêu, vương quốc của Vua Giêsu. Để chứng tỏ điều đó chúng ta hãy sống yêu thương, hãy thực hiện 3 điểm độc đáo của Tình yêu Tin Mừng. Có như vậy chúng ta mới xứng đáng sống trong vương quốc tình yêu, mới xứng đáng gọi Chúa Giêsu là Vua. Amen.

    Về mục lục

    .

    LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA_B

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Sống trong hoàn cảnh xã hội xô bồ, con người không nhiều thì ít, bị ảnh hưởng tới sự chọn lựa và phán đoán của mình. Có mấy lần chúng ta dám đứng lên để nói sự thật và làm chứng cho sự thật, khi mà hằng ngày con người vẫn luôn đối diện với học giả, bằng giả, hàng giả. Người ta thường nói: Khôn chết, dại chết, biết thì sống. Người khôn ngoan là người biết lúc nào cần nói sự thật và lúc nào cần im lặng. Không phải cứ sự thật là chúng ta có quyền phát biểu hay phải tỏ lộ. Điều đó nó đi nghịch lại với chân lý sống của Chúa Giêsu, Vua sự thật: “Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”.

    Thưa anh chị em, câu khẳng định của Chúa Giêsu trong phiên tòa được trang Tin Mừng ghi lại là tư tưởng chủ yếu cho ý nghĩa của phụng vụ Lời Chúa hôm nay. Mặc dù Chúa Giêsu thẳng thắn trả lời, “quan nói đúng: tôi là Vua”. Philatô cũng nhận ra rằng vương quyền của Chúa Giêsu không có tính cách chính trị, trần thế nhưng là một trật tự khác. Trật tự ấy chính là thực tại thần linh: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình cho thế gian, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Suốt đời và bằng cả cuộc đời, những hành động, lời rao giảng và các phép lạ đều làm chứng cho sự thật đó và đó là nguyên cớ khiến cho Người phải chết. Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu: Ngoài cuộc đời này còn có một cuộc đời khác. Ngoài thế giới này còn có một thế giới khác. Đó là vương quốc của Chúa. Đó là Nước Trời. “Vương quyền của Người đầy nhân hậu, vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất; vương quốc của Người không khi nào bị phá huỷ”. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Vậy, ai thuộc về vương quyền của Chúa Giêsu ?

    Có câu truyện kể rằng, ngày nọ có một thiếu phụ tay ẵm một thiếu nhi bước vào phòng mạch bác sĩ gia đình. Thưa bác sĩ, xin bác sĩ vui lòng giải quyết khó khăn nầy: đứa nhỏ đây mới chưa đầy một tuổi, và tôi lại mang thai nữa rồi. Bác sĩ giúp tôi làm bất cứ điều gì có thể cất được các của nợ này. Sau một hồi suy nghĩ, bác sĩ trả lời: Nếu bà không muốn có hai đứa con sinh gần nhau như vậy, tốt nhất là giết đứa con bà đang ẵm trong tay, giết đứa trong bụng bà hay giết đứa trong tay bà thì cũng như nhau. Vả lại, nếu giết đứa trong bụng thì lại còn nguy hiểm cho bà nữa. Vừa nói xong, vị bác sĩ vươn tay lấy con dao nhỏ và bảo bà đặt đứa nhỏ lên vế bà, đưa đầu ra phía ông ta. Lúc đó người thiếu phụ tái xanh mặt và thét lên: Đồ sát nhân.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Chỉ vài lời nói, vị bác sĩ đã thuyết phục được người thiếu phụ trẻ hiểu ra rằng việc ông ta đề nghị giết đứa con một tuổi của bà thì cũng chẳng tệ hại hơn lời thỉnh cầu giết đứa bé chưa sinh trong bụng bà. Sự thật, đàng nào cũng là giết người. Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Vua sự thật. Giáo hội mời gọi chúng ta nói sự thật, làm nhân chứng cho sự thật và sống cho sự thật. Sống sự thật là sống trong đường lối của Chúa. Chỉ sự thật có thể giải thoát chúng ta khỏi những lầm lạc của thế gian. Vì, “sự thật sẽ giải phóng các ông”. Xã hội cần tôn trọng sự thật. Hôn nhân cần có sự thật về lòng chung thủy, sự thật về tình cảm và sự thật của kết quả tình yêu chính là con cái. Đây là những mấu chốt xây dựng đời sống hạnh phúc gia đình và xã hội.

    Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết vâng nghe và thực hành Lời Chúa truyền dạy và bước đi trong chân lý của Chúa để chúng ta tìm ra lẽ sống thật, xứng đáng là công dân trong nước Chúa Kitô. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ – VUA SỰ THẬT

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Ước mơ được làm vua, thống lĩnh thiên hạ, cai trị muôn dân, sai khiến mọi người là ước mơ của nhiều người. Mặc dù ngày nay chế độ vua quan không còn nữa, nhưng khát vọng được xưng vương, xưng đế vẫn là cám dỗ triền miên. Ví dụ, những quan chức khi đi công du nước ngoài thèm khát được các nước đó đón tiếp theo nghi thức cấp quốc gia. Đi đến đâu cũng có người bảo vệ, kẻ mở đường, vv… Những người này thèm khát quyền lực chính trị, họ dùng mọi thủ đoạn để đạt được quyền lực như mong muốn. Bên cạnh những thèm khát làm vua theo nghĩa chính trị, còn có những cám dỗ của nhiều hình thức làm vua khác nữa, muốn trở thành kẻ đứng trên nhiều người, được nhiều người biết đến, như vua nhạc rock, vua dầu hỏa, vua gỗ, và các hình thức thi hoa hậu…những người này cảm thấy thỏa mãn mỗi khi xuất hiện trước đám đông được nhiều người ca tụng.
    Hôm nay Tin Mừng thuật lại câu chuyện một vị vua khẳng định: Tôi là vua, trong khi tay chân đang bị trói. Ngài không đội vương miện vàng cũng không khoác áo cẩm bào, nhưng lại đội một vòng gai đang đâm sâu thấu óc, trên mình Ngài là một tấm áo đã thấm máu vì những trận đòn. Trước mặt Ngài không phải là một đoàn dân ủng hộ hay tung hô, mà là đám dân đang la ó đòi giết đi, giết đi, đóng đinh nó vào thập giá. Vị vua đó chính là Vua Giêsu mà hôm nay Giáo Hội tôn kính Ngài với danh hiệu là Vua vũ trụ và Vua sự thật. Chúa Giêsu là Vua vũ trụ không phải bởi tranh giành quyền lực, nhưng cùng với Chúa Cha và Thánh Thần, Ngài chính là Thiên Chúa Đấng tạo dựng nên vũ trụ muôn vật muôn loài. Mọi loài mọi vật nhờ Ngài mà có sự sống và tồn tại. Ngài không dựng nên vũ trụ và con người rồi bỏ nó hoang vu, nhưng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần Ngài còn là một vị Thiên Chúa quan phòng, sắp đặt và điều khiển vũ trụ. Vì ngài là Con Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương và trao cho mọi quyền bính trên trời và dưới đất. Quyền bính này không phải là quyền bính của sức mạnh, vũ khí hay quân đội, mà là quyền bính của tình yêu.
    Bài đọc một kể lại thị kiến của tiên tri Daniel về một Con Người ngự đến từ mây trời. Người được dẫn tới trước mặt một Vị Lão Thành. Vị này trao cho Người mọi danh dự, vinh quang, vương quyền thống trị trên mọi dân mọi nước. Quyền thống trị của Người là vĩnh cửu. Hình ảnh Con Người mà tiên tri Daniel đã thị kiến chính là hình ảnh báo trước về vị Vua Giêsu. Ngài không ngự trên ngai trời để điều khiển vũ trụ, nhưng Ngài đã chấp nhận mang thân phận con người để bước đến với nhân loại, để yêu thương phục vụ và cứu chuộc nhận loại. Sau cùng, Ngài đã chấp nhận cái chết đau đớn trên thập giá để minh chứng tình yêu đến cùng dành cho nhân loại.
    Đáng lẽ con người phạm tội thì sẽ phải chết vì tội của mình, nhưng vua Giêsu đã chấp nhận chết thay cho nhân loại. Trên cây thập giá Ngài còn đón nhận tất cả nhân loại trở nên thần dân và là người nhà của Ngài. Kể từ đây tất cả nhân loại mọi nơi, mọi thời đều mắc nợ Ngài về sự sống. Chúng ta sống là nhờ Ngài đã chết để trả lại sự sống cho chúng ta. Sau cuộc khổ nạn và phục sinh, Chúa Giêsu đã về trời trong vinh quang của một vị Thiên Chúa quyền năng. Vì đã hoàn toàn yêu mến và vâng phục Thiên Chúa Cha và hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại, nên Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Đức Giêsu làm Chúa Tể muôn loài trên trời dưới đất.
    Có thể nói, danh hiệu Vua trời đất, Chúa tể muôn loài phản ánh vinh quang quyền lực của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Danh hiệu Vua sự thật phản ánh lên thái độ và chọn lựa của Ngài trong cách sống và phục vụ. Chúa là Vua sự thật, vì Thiên Chúa không bao giờ lừa dối ai, không bao giờ sai lời, Ngài trung thành với mọi điều Ngài đã hứa. Là vua sự thật vì Ngài là chính Sự Thật và là Đấng dạy cho con người biết sống và hành động theo sự thật.
    Chúa Giêsu là Vua sự thật vì Ngài là Đấng nói sự thật về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng quyền năng phép tắc vô cùng, cả trời đất không thể chứa nổi, vậy mà giờ đây được bày tỏ qua chính con người của Chúa Giêsu. Đức Giêsu là vị Thiên Chúa khiêm nhường và nghèo khó, một Thiên Chúa yêu thương đến trao hiến cả mạng sống. Ngài là Thiên Chúa duy nhất chỉ cho chúng ta con đường để đạt được chân lý và hạnh phúc đời đời. Ma quỷ là cha của sự gian dối, nó hoàn toàn đối nghịch lại với Thiên Chúa là sự thật. Ai sống và hành động gian dối thì thuộc về ma quỷ, còn ai sống và hành động theo sự thật thì thuộc về Thiên Chúa.
    Đoạn Tin Mừng hôm nay gợi lên nhiều hình ảnh tương phản: Philatô, một con người quyền lực của thể chế chính trị trần gian, đang kiêu hãnh, cột trói, đánh đòn và thách thức Vua trời đất. Qua cuộc đối thoại, Chúa Giêsu cho Philatô thấy giữa Ngài và quyền lực trần thế hoàn toàn khác nhau. Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”Chúa Giêsu đã không trả lời trực tiếp nhưng muốn giúp cho Philatô phân định và hiểu chữ vua mà ông ta định hỏi là gì. Chúa Giêsu nói: “Ngài tự ý hỏi tôi hay ngài nghe người khác nói về tôi? Nếu tự ý ngài hỏi, câu hỏi từ trong tâm hồn ngài thì đó là một lời mời gọi ngài nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi người đang đứng trước mặt ngài. Nếu ngài nghe dân chúng nói, thì ngài sẽ không thể hiểu được”.
    Philatô đã không hiểu được câu trả lời của Chúa Giêsu, ông đã chuyển qua một câu hỏi khác, về việc làm của Chúa: “Vậy ông đã làm gì?”Chúa Giêsu đã trả lời về việc làm cũng là sứ mạng của Ngài trong vương quốc của Ngài. Chỉ những ai thuộc vương quốc của Chúa, là con dân của Chúa thì mới có thể nhận ra và hiểu được việc làm và sứ mạng của Vua Giêsu mà thôi: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”.Philatô dường như đã nhận ra một điều gì đó siêu phàm nơi kẻ đang bị buộc tội trước mặt ông. Ông nhận ra một quyền năng nào đó phát xuất ra từ những lời của người đang bị buộc tội. Vì thế ông đã như xin Chúa xác nhận sự hiểu biết của ông qua câu hỏi: “Vậy Ngài là vua sao?”  Chúa Giêsu đã xác nhận theo mức độ hiểu biết của Philatô khi nói với ông: “Chính Ngài nói rằng tôi là vua”.Chúa Giêsu cũng giải thích thêm: “Tôi sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.Chúa Giêsu là vua sự thật vì Ngài dám hết mình bênh vực và bảo vệ cho sự thật và cuối cùng là chết vì sự thật: Sự thật về Thiên chúa là Cha yêu thương; sự thật về Thiên Chúa đã làm người và ở với con người; sự thật về Thiên Chúa dám chấp nhận cả cái chết để cứu chuộc con người. Có lẽ câu trả lời này đã hoàn toàn vượt quá khả năng và thực tế đang diễn ra nơi con người của Philatô. Vì ông đang là người đại diện cho công lý nhưng lại chiều theo sức ép của dân chúng. Ông được nghe biết sự thật về Chúa Giêsu, nhưng lại không dám lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho sự thật. Sau cùng ông đã để mình nghiêng chiều về phía sự dối trá và đã chiều theo sự dối trá bằng việc ra bản án tử hình thập giá cho Vua sự thật.
    Thưa quý OBACE, tôn kính Chúa Giêsu là Vua vũ trụ, Vua sự thật, đồng thời chúng ta phải có trách nhiệm làm cho vương quyền của Chúa, sự thật của Chúa được lan tỏa mọi nơi. Tôn vinh Chúa là Vua vũ trụ, chúng ta tôn vinh Chúa là đấng làm chủ vũ trụ trời đất và cả cuộc đời, gia đình của từng người; tin rằng Chúa là đấng lo liệu xếp đặt quan phòng cho từng người. Tin như thế để chúng ta dám sống trong sự biết ơn, phó thác, cậy trông vào Chúa, sống theo lề luật và sự dẫn dắt của vua Giêsu.
    Con người ngày nay đang làm tổn hại đến vũ trụ; trong xã hội, con người cư xử với nhau bằng sự giả dối, lừa bịp. Là công dân trong vương quốc sự thật của vua Giêsu, chúng ta phải ra sức bênh vực, bảo vệ vũ trụ trái đất và làm chứng cho sự thật. Chúng ta cần phải để cho sự thật của Chúa được lan tỏa, ngấm vào suy nghĩ, lời nói và hành động của mỗi người. Chúng ta cần phải sống thành thật với Chúa và chân thật với mọi người, không giả dối với Chúa và không giả hình đối với anh chị em.
    Xin Chúa giúp mỗi chúng ta luôn tự hào và sống xứng đáng là những người thuộc về vua Giêsu, yêu mến và hành động vì vua Giêsu. Xin cho chúng ta cùng với vua Giêsu, làm cho vương quyền và sự thật của Chúa được lan toả đến với mọi người trên trái đất này. Amen

    Về mục lục

    .

    ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ – VUA SỰ THẬT

    Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng

    Chúa Giêsu có phải là vua thật không? Ngài là vua theo nghĩa nào? bài Tin Mừng trả lời cho chúng ta những câu hỏi đó trong phiên tòa Rô-ma xử án Chúa Giêsu.

    Người xét xử là tổng trấn Phi-la-tô, là ông quan của đế quốc Rô-ma đặt cai trị ở Do thái, vì lúc ấy dân Do thái đang ở dưới quyền đô hộ của người Rô-ma. Bị cáo là Chúa Giêsu, do người Do thái điệu Chúa đến đây để xin Phi-la-tô xét xử.

    Phi-la-tô hỏi Chúa: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”. Để trả lời, Chúa hỏi lại: “Ngài tự ý hỏi điều ấy hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”. Hỏi như vậy là Chúa muốn vạch trần thâm ý của Phi-la-tô. nếu Phi-la-tô tự ý hỏi như vậy tức là Phi-la-tô muốn hỏi: “Anh có phải là tay lãnh tụ chính trị, dám chống lại chính quyền Rô-ma không?. Đối với Phi-la-tô, là vua Do thái chỉ có nghĩa như vậy. Mà nếu như thế thì câu trả lời của Chúa là “không”. Ngài không phải là vua theo nghĩa đó. Còn nếu câu Phi-la-tô hỏi là do các nhà lãnh đạo Do thái nhắc nhở cho, thì có nghĩa là Chúa Giêsu là vị cứu tinh của Do thái như Thiên Chúa đã hứa với dân tộc họ. Nếu như thế thì câu trả lời của Chúa là “có”. Ngài thực sự là vua. Nhưng không phải chỉ là vua của dân Do thái mà còn là vua của mọi người. Nói rõ hơn, Chúa Giêsu là vua tâm linh, là vua lòng mọi người, chứ không phải là vua theo nghĩa thông thường trần gian. Nước của Chúa bao gồm những tâm hồn tin theo Chúa. Vì thế, vương quyền của Chúa có tính cách thiêng liêng chứ không có tính cách trần thế, không dùng phương tiện, sức mạnh, bạo lực của trần gian. Trái lại, phương tiện thực thi vương quyền của Chúa là nhập thể cứu chuộc và rao giảng sự thật. Chính Chúa đã khẳng định với Phi-la-tô: “Tôi là vua, nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.

    Như vậy, chúng ta có thể quả quyết: Chúa Giêsu là vua. Ngài là vua sự thật. Sự thật là gì? Chính Phi-la-tô đã hỏi Chúa điều đó. Chúa không đáp lại bằng lời nói mà bằng chính việc Ngài đang thực hiện trước tổng trấn. Việc đó là thực hiện việc của tình yêu cứu độ. Ngài vô tội, nhưng vì yêu thương nhân loại, đã cam lòng chịu chết để đền tội cho nhân loại. Sự thật là như thế. Đó là tình yêu cứu độ. Đó là sự thật mà Chúa muốn làm chứng và muốn nói tới. Và giờ đây, nhìn chung quanh trong nhà thờ này: các ảnh tượng Chúa, chúng ta cũng thấy sự thật cứu độ là như vậy: Chúa Giêsu trên cây Thánh giá, Chúa Giêsu trong phép Mình Thánh, Chúa Giêsu trong chặng đường thánh giá…Tất cả đều nói lên tình yêu cứu độ.

    Tình yêu ấy đã được ban cho con người, chỉ cần con người đón nhận tình yêu ấy bằng một tâm hồn khiêm tốn, khao khát tình yêu cứu độ. Và bằng tâm hồn mở rộng ra, yêu thương bác ái đối với những người chung quanh. Sự thật cứu độ như vậy, nói thì đơn sơ dễ dàng, nhưng thực hiện thật là phức tạp và khó khăn, đòi hỏi nhiều cố gắng của chúng ta. Bởi vì cuộc sống tất bật, chật vật, đầu tắt mặt tối, đầy lo toan khốn khổ, dễ đẩy chúng ta vào thái độ ích kỷ, nhỏ nhen, thấp hèn. Chúng ta không dễ nhường nhịn nhau, hòa thuận với nhau, mà ngược lại, muốn lấn lướt người, muốn được phần hơn, muốn loại trừ nhau, nhiều khi dùng cả những thủ đoạn độc địa, thô bỉ nữa. Như vậy, chúng ta chưa sống sự thật cứu độ, chưa rao giảng sự thật cứu độ, chưa làm chứng cho sự thật cứu độ. Điều đó có đúng không?

    Chúng ta tôn xưng Chúa Giêsu là vua, thì chúng ta là dân của Ngài. Chúng ta tôn xưng Chúa là vua sự thật, thì chúng ta là dân sự thật của Ngài, chúng ta phải làm sáng tỏ sự thật ấy. Cuộc sống chúng ta có rất nhiều dịp, nhiều lúc phải quyết định chấp nhận hay từ khước, nói có hay không dứt khoát: có thì nói có, không thì nói không. Một khi chúng ta trả lời “có” cho một người, tức là chúng ta trả lời “không” cho người khác. Khi chúng ta trả lời “có” cho Thiên Chúa, là chúng ta trả lời “không” cho ma quỷ cám dỗ. Không thể có trung lập giữa không và có, giữa Chúa và ma quỷ, giữa ánh sáng và bóng tối. Theo Chúa là phải có một quyết định, một lập trường, một triết lý sống thực hành thánh thiện, ngay thẳng, trung thực, chứ đừng ăn không nói có, lật lọng, dối trá, thay trắng đổi đen.

    Nói rõ hơn, chúng ta phải tôn trọng sự thật: phải giữ thành thật trong lời nói, tư tưởng và việc làm. Không được làm chứng dối, thề gian, bỏ vạ, cáo gian, đổ tội cho người khác, vu khống người ta. Không được xét đoán vô căn cứ, kết tội khi chưa đủ bằng chứng, cả khi nói những lời gây thiệt hại danh dự của người khác…cũng đều lỗi phạm sự thật. Can đảm biện hộ cho sự thật khi cần đến và có sự thật buộc chúng ta phải giữ kín.

    Chúng ta hãy nhớ: một người sống trung thực, chân thành, bác ái, yêu thương giữa một xã hội đầy dẫy những lừa lọc, gian dối, ích kỷ, ti tiện…có lẽ sẽ bị đánh giá là một người không giống ai, là một người lội ngược dòng nước cuốn, Nhưng chính việc lội ngược dòng, chính việc sống trung thực, yêu thương lại chính là thánh giá mỗi người cần phải vác hằng ngày. Chúng ta phải trở nên muối đất, trở nên ánh sáng thế gian bằng cuộc sống chứng nhân trung thực cho Chúa Giêsu Kitô.

    Về mục lục

    .

    VUA THẬT

    Lm. Thái Sơn

    Một anh chồng nói với vợ là ra ngoài mua thuốc lá, nhưng lại đến quán bar uống bia, gặp một cô gái váy ngắn. Điều tiếp theo anh ta nhớ được là tỉnh dậy trong căn hộ cô gái lúc ba giờ sáng.

    – Ôi, vợ tôi sẽ giết tôi mất – Anh ta cuống cuồng kêu lên – Nhanh lên, cho tôi một ít bột màu trắng nào!

    Cô gái lấy cho anh ta một ít bột phấn trắng, anh ta liền xoa ngay vào tay rồi vội về nhà. Vừa về đến nhà, vợ anh ta nhảy bổ ra và hỏi: “Anh đã đi đâu suốt đêm thế hả?

    – Anh thú thật với em, anh đã đi quán bar, uống bia rồi về nhà một cô gái xinh đẹp…

    – Đưa tay đây tôi xem nào – Cô vợ quát lên.

    Anh chồng đưa tay đầy bột phấn trắng ra. Cô vợ mắng: “Đồ nói dối mà không biết ngượng. Anh lại đi chơi bowling suốt đêm chứ gì!”…

    Thưa các bạn!

    Phải chăng, “dối trá & thật thà” là một trong những chủ đề được thu hút và chú ý nhất? Có nhiều ý kiến khác nhau.

    Có ý kiến cho rằng, chính vì “thật thà thẳng thắn thường thua thiệt, luồn lách lươn lẹo lại lên lương”. Nên không ít người chọn giả dối. Vậy còn ai dám nói thật?

    Có ý kiến cho rằng, chính khi “thẳng thắn thật thà thường thiếu thốn, lươn lẹo luồn lỏi lại leo lên”. Vì thế không thiếu người chọn dối trá. Vậy còn ai dám chân thành?

    Có ý kiến cho rằng, chính lúc “thật thà thẳng thắn tình tiền tới, lọc lừa luồn lách lại lắng lo”. Cho nên, lựa chọn sự chân thật là phương pháp tốt nhất cho đời mình.

    Có ý kiến cho rằng, chỉ có “thẳng thắn thật thà thì thường tốt, luồn lỏi lừa lọc làm lao lúng”. Vì vậy, bài học làm người chính là sống thật, chứ không phải là sống giả…

    Danh ngôn cuộc sống có dạy: “Sự thật và hoa hồng đều có gai” (David Thoreau). Hay là “Nước quá trong thì không có cá. Người tốt quá thì không ai chơi” (Ca dao)…

    Trước viễn cảnh của xã hội hôm nay, Sĩ Phu Bắc Hà đã đúc kết thành bốn câu thơ: “Nhân phẩm từ đây giảm giá rồi. Chỉ còn lương thực tăng giá thôi. Lương tâm bán rẻ hơn lương thực. Chân lý chân giò một giá thôi!”…

    Thưa các bạn!

    Hơn bao giờ hết, giáo hội, nhà trường và gia đình cần giáo dục cho giới trẻ về sự thật thà, dũng cảm nói không với giả dối. Bên cạnh mỗi cá nhân cần giữ lấy niềm tin về sự trung thực và giá trị của sự thành thật trong cuộc sống.

    Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Có lẽ, cuộc sống còn nhiều người đạo đức giả hay vô đạo đức, nên sự thẳng thắn, trung thực đôi khi bị ngộ nhận hay bị bóp méo.

    Nhiều lần Đức Giêsu được dân chúng tôn làm vua, nhưng Ngài từ chối thẳng thắn, như khi hóa bánh ra nhiều người ăn no nê, hay lúc cưỡi lừa vào thành Giêrusalem giữa tiếng hoan hô, rải cành lá…

    Tuần này, Chúa Nhật 34 Thường Niên B, trong bối cảnh bất tiện, bị tố cáo, bị xét xử trước mặt quan Philatô, Đức Giêsu lại nhận mình là vua, nhưng Ngài khẳng định: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36).

    Thẳng thắn và thật thà hơn nữa, Đức Giêsu đã chỉ ra con đường và chính sách làm vua của Ngài là vua của sự thật, bằng cách “làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

    Thật thà và thẳng thắn mà nói: “Chân lý không thuộc về số đông hay kẻ mạnh, mà thuộc về những người hiểu biết.

    Ước gì, “bạn & tôi” thích sự thật, biết sự thật, hiểu sự thật, nghe sự thật, muốn sự thật và sống sự thật để xứng đáng là con cái sự thật, và là bạn bè với vua sự thật, chính là Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ. Amen

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM VÀ CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – LỄ CHÚA KTIÔ VUA

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Mục đích của Chúa Giê-su khi thành lập Giáo Hội là thiết lập một vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình trên mặt đất. Nhiệm vụ của mỗi Ki-tô hữu phải là nắm men làm dậy lên tình yêu, công lý và hòa bình trong đống bột trần thế. Triều đại Thiên Chúa chỉ có thể trị đến bằng hành động tích cực của mỗi thành viên.

    Đn 7: 13-14

    Trong Bài Đọc I được trích từ sách Đa-ni-en, nhà thị kiến được tham dự vào lễ phong vương của một nhân vật mầu nhiệm, được gọi “Con Người”, lãnh nhận từ Thiên Chúa vương quyền hoàn vũ.

    Kh 1: 5-8

    Bài Đọc II là phần mở đầu sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đây là một bài thánh thi chúc tụng Đức Ki-tô, “Người là Đấng vinh hiển và toàn năng đến muôn thuở muôn đời”.

    Ga 18: 33-37   

    Tin Mừng được trích dẫn từ bài Thương Khó theo Tin Mừng Gioan: Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô. Ngài khẳng định mình là Vua, nhưng Nước Ngài không thuộc thế gian này.

    BÀI ĐỌC I (Đn 7: 13-14)

    Sách Đa-ni-en cốt yếu là một sứ điệp tràn đầy hy vọng. Mục đích của tác giả là an ủi các tín hữu Do thái đang sống trong cảnh bị bách hại dưới thời vua An-ti-ô-khô Ê-phi-pha-nê (175-164 trước Công Nguyên). Tác giả tiên báo kẻ thù của họ sắp bị tiêu diệt và cuối cùng Thiên Chúa sẽ toàn thắng.

    1. Bố cục

    Ngoài phần phụ chương (ch. 13-14), sách Đa-ni-en gồm có hai phần chính:

    – “Phần trình thuật” (ch. 1-6) kể lại tấm gương của thiếu niên Đa-ni-en bị lưu đày ở Ba-by-lon, qua đó, tác giả cho thấy Thiên Chúa phù trợ các tín hữu trung thành với Ngài ngay cả trong những cơn gian nan khốn khó nhất như thế nào.

    – “Phần thị kiến” (ch. 7-12), theo thể loại văn chương khải huyền, trình bày những thị kiến liên quan đến lịch sử dân Ít-ra-en. Chính ở phần thứ hai này mà chúng ta gặp thấy bản văn nổi tiếng mô tả lễ phong vương của “Con Người”. Đức Giê-su đã đồng hóa mình với nhân vật mầu nhiệm này.

    1. Sứ điệp

    Vị ngôn sứ vừa mới trình bày một trong những thị kiến ban đêm, trong đó ông đã thấy xuất hiện từ biển bốn con quái vật, biểu tượng bốn đế quốc thống trị. Những đế quốc này không được nêu tên, xem ra cốt là bốn đế quốc tiếp nối nhau thống trị Ít-ra-en: Ba-by-lon, Ba tư, A-lê-xan-đê đại đế, triều đại của hai dòng họ La-gít và Sê-lơ-sít. Con thú thứ tư gây kinh khiếp nhất, chính là triều đại của dòng họ Sê-lơ-sít là vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê quỷ quyệt, được mô tả bằng những hình tượng huyền hoặc. Bốn đế quốc này đều sụp đổ để nhường chỗ cho Nước Thiên Chúa, được trao ban cho một nhân vật được gọi “Con Người”.

    Trong ngôn ngữ Do thái, danh xưng “con người” viết thường là một thành ngữ Do thái được viết tắt từ cụm từ “con cái của loài người” (“son of Man”) để chỉ “một phàm nhân mỏng dòn yếu đuối” (x. Tv 80: 17; Gr 50: 40; 51: 43). Trong sách Ê-dê-ki-en, danh xưng này xuất hiện đến 93 lần mà tiêu biểu nhất là lệnh truyền của Thiên Chúa được ngỏ với ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Còn ngươi, hỡi con người, hãy nói…” (Ed 7: 2). Qua danh xưng này, ngôn sứ Ê-dê-ki-en muốn nói rằng ông chỉ là một phàm nhân như bao nhiêu con người khác, nhưng Thiên Chúa toàn năng, Đấng cho ông thoáng thấy vinh quang của Ngài, đã trao ban cho ông lời hằng sống của Ngài để ông chuyển giao cho dân Ngài. Vì thế, có một khoảng cách khôn sánh giữa sứ điệp mà ông truyền đạt và con người của ông.

    Tuy nhiên, trong sách Đa-ni-en, thành ngữ “Con Người” được viết hoa là một danh hiệu để chỉ một nhân vật có nguồn gốc thiên giới: “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (7: 13). Theo biểu tượng Kinh Thánh, “mây trời” luôn luôn là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Con Người lãnh nhận “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”, được Đấng Lão Thành, tức là Thiên Chúa hằng sống, trao ban. Trong khi những vương quyền trần thế lần lượt bị tiêu vong, thì vương quyền của Con Người “chẳng hề suy vong” và bao trùm mọi dân mọi nước cũng như toàn thể vũ trụ.

    1. Vương quyền của Con Người

    Toàn bộ chương 7 này cho thấy dung mạo “Con Người” vừa là một cá nhân vừa một tập thể, tương tự như dung mạo “Người Tôi Trung” của I-sai-a đệ nhị. Vả lại, Đức Giê-su đã đồng hóa dung mạo “Người Tôi Trung” và dung mạo “Con Người” vào Ngài. Viễn cảnh vừa cá nhân vừa tập thể này hoàn toàn phù hợp với não trạng Do thái: Con Người là một lãnh tụ điển hình của dân Thiên Chúa, đồng thời cũng là dân Thiên Chúa. Những câu theo sau giải thích rõ điều này: khi con thú thứ tư dứt khoát bị tiêu diệt, Thiên Chúa ban cho dân thánh của Đấng Tối Cao vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả trên mọi dân mọi nước (7: 18, 27).

    Trong tất cả sấm ngôn, phải phân biệt “nghĩa hiện thời” và “nghĩa tương lai”. Nghĩa hiện thời mà tác giả sách Đa-ni-en nhắm đến là loan báo cho đồng bào của ông cuộc giải thoát chắc chắn sắp đến được ban cho họ qua các vị tử đạo vinh hiển của họ. Như vậy, về phương diện tập thể, Con Người là dân Chúa chọn được giải thoát và được tôn vinh. Tuy nhiên, những viễn cảnh cánh chung (nghĩa tương lai) không bao giờ vắng bóng trong các sách khải huyền. Đó là quy luật của thể loại văn chương này. Những biến cố được loan báo hiện thời bao gồm rồi bức tranh vĩ đại của thế giới sắp đến. Sách Khải Huyền của thánh Gioan cũng trình bày nghĩa kép như thế: tôn vinh các thánh tử đạo của thời kỳ bách hại cũng là tôn vinh toàn thể dân Chúa chọn, họ sẽ cử hành cuộc chiến thắng sau cùng của Con Chiên vào ngày tận thế.

    Tiếp sau sách Đa-ni-en, các sách khải huyền Do thái lấy lại danh hiệu “Con Người” và ban danh hiệu này cho một cá nhân rất rõ nét, khi trao ban tước hiệu này cho một Đấng Thiên Sai thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng các sách này nhấn mạnh tính cách siêu việt và mầu nhiệm của nhân vật này, và tính cách này chỉ được bày tỏ vào thời tận thế.

    Khi nhận tước hiệu Con Người về mình, Đức Giê-su đã cá nhân hóa tước hiệu tập thể này vào Ngài. Theo cách thức này, Ngài khẳng định vừa nhân tính vừa thiên tính của Ngài, Ngài thật sự là một con người có nguồn gốc thần linh: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3: 13). Khi Đức Giê-su tuyên bố trước Thượng Hội Đồng Do thái: “Từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26: 64), rõ ràng Ngài ám chỉ đến nhân vật “Con Người” trong sách Đa-ni-en.

    BÀI ĐỌC II (Kh 1: 5-8)

     Sách Khải Huyền thánh Gioan được định vị vào trào lưu văn chương khải huyền Do thái, đặc biệt sách Đa-ni-en. Tác giả sử dụng những từ ngữ và hình ảnh tương tự, nhưng chủ đề thì biến đổi. Những sấm ngôn đã được ứng nghiệm. Đấng Thiên Sai đã đến giữa nhân loại, đã chết và sống lại; Ngài đã vào trong vinh quang của Ngài. Ngay từ đầu đoạn trích này, Đức Giê-su được xưng tụng là “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”.

    Ở những chương đầu tiên, sách Khải Huyền được trình bày như một bức thư được gửi đến cho bảy Hội Thánh miền Tiểu Á. Theo thể loại thư tín của thời đại này, thư thông thường bắt đầu với lời chào được gửi đến người nhận, và cũng như trong các thư của thánh Phao-lô, lời chào này được Ki-tô hóa: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki tô ban cho anh em ân sủng và bình an” (Kh 1: 2). Lời cầu chúc này tập hợp lời chào Hy lạp: “ân sủng”, và lời chào Do thái: “bình an”.

    1. Các danh hiệu của Đức Giê-su Ki-tô

    Danh hiệu đầu tiên của Đức Giê-su Ki-tô được kể ra là “Chứng Nhân trung thành”. Trong thư thứ nhất cũng như trong sách Tin Mừng của mình, thánh ký Gioan nhấn rất mạnh tầm quan trọng của chứng nhân. Thánh Gioan Tẩy Giả là chứng nhân của Đức Ki-tô; thánh Gioan Tông Đồ cũng là chứng nhân về điều mình đã thấy và đã nghe (x. 1Ga 1: 1-4; Ga 19: 35). Ở đây, danh hiệu “Chứng Nhân trung thành” được áp dụng cho Đức Giê-su Ki-tô. Chính Đức Giê-su Ki-tô làm chứng về những gì Ngài đã thấy và đã nghe ở trong cung lòng của Chúa Cha.

    Những danh hiệu: “Chứng Nhân trung thành”, “Trưởng Tử” và “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”, không phải là ngẫu nhiên nhưng rất tương xứng với những danh hiệu của Đấng Mê-si-a (“Đức Ki-tô”) thuộc dòng dõi Đa-vít được mô tả trong Tv 89: 27-28, 38. Với danh hiệu “Trưởng Tử”, thánh Gioan thêm: “trong số những người từ cõi chết chỗi dậy” như thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Cô-lô-sê (Cl 1: 15). Sách Khải Huyền rõ ràng là một bức tranh mô tả vô số những người được tuyển chọn vây quanh Đấng Phục Sinh.

    1. Bài thánh thi

    Đoạn trích này là một “bài thánh thi” mà các nhà chuyên môn gọi “Vinh Tụng Ca” ca ngợi những ân phúc của Đức Giê-su Ki-tô. Bài thánh thi ca ngợi những phẩm chất cao vời của vương quyền Đức Ki-tô: triều đại tình yêu, thời kỳ Đức Vua dâng hiến cho các thần dân của Ngài những thành quả cuộc Tử Nạn và Hy Tế của Ngài và cho họ dự phần vào vương quốc của Ngài. Sau khi đã thánh hiến họ và thanh tẩy họ khỏi vết nhơ tội lỗi, Ngài cho họ trở thành tư tế để tôn vinh Thiên Chúa là Cha của Ngài.

    Vị vua này sẽ tỏ mình ra vào ngày tận thế: “Kìa Người ngự đến giữa đám mây”như Con Người trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en. “Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người”, ám chỉ đến sấm ngôn của Dcr 12: 10: “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu”, nghĩa là Đấng mà người ta long trọng loan báo cuộc Quang Lâm của Ngài là Đấng chịu đóng đinh trên thập giá.

    “Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người”, vì đây là giờ xử án, giờ ăn năn sám hối. Như sách Khải Huyền, Tin Mừng Mát-thêu cũng đặt bên cạnh nhau sự ăn năn sám hối và thị kiến vinh quang: “Bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến”(Mt 24: 30).

    Như sách Đa-ni-en, sách Khải Huyền là một bài thánh ca chứa chan niềm hy vọng vào sự chiến thắng của Thiên Chúa trên các quyền lực của sự ác. Lời tung hô “A-men!…A-men!…” đem lại cho bài thánh thi tạ ơn này sắc thái phụng vụ.

    Bài thánh thi kết thúc với lời công bố của Thiên Chúa. Lời công bố này gồm hai phần: phần thứ nhất: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga”, và phần thứ hai: “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng”. Phần thứ nhất là một biểu thức lập đi lập lại nhiều lần trong sách Khải Huyền: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga” (chữ đầu và chữ cuối trong mẫu tự Hy ngữ) và âm vang lời Thiên Chúa công bố trong Is 44: 6: “Ta là khởi nguyên, Ta là cùng tận; chẳng có thần nào hết, ngoại trừ Ta”. Phần thứ hai được gợi hứng từ lời Đức Chúa công bố cho ông Mô-sê trong sách Xuất Hành: “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3: 14), nhưng được thích ứng vào viễn cảnh ngày tận thế nên được thêm vào ở đây: “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng”. Ở Kh 22: 13, lời công bố này được quy cho chính Đức Ki tô: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Cùng Tận” .

    TIN MỪNG (Ga 18: 33-37)

    Sau khi sống lại, Đức Giê-su sẽ công bố quyền chủ tể hoàn vũ của Ngài; nhưng trong khi thi hành sứ vụ công khai, Ngài đã không ngừng tránh né danh hiệu này vì sợ dân chúng hiểu lầm danh hiệu này theo sắc thái chủ nghĩa dân tộc và chính trị. Còn đối với các môn đệ của Ngài, Ngài chỉ dạy cho họ một mẫu gương phải noi theo, mẫu gương phục vụ như Ngài: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28). Chỉ khi Ngài bị bắt, bị nộp vào tay người đời và bất lực, Ngài mới công bố mình là Vua.

    Trong bài Thương Khó, thánh Gioan dành cho hoạt cảnh Chúa Giê-su bị điệu ra trước quan tổng trấn Phi-la-tô một chỗ quan trọng hơn ba sách Tin Mừng Nhất Lãm. Thánh Gioan đặt ở nơi hoạt cảnh này dấu ấn của riêng mình, ý nghĩa sâu xa, pha lẫn với lời châm biếm nhẹ nhàng, sứ điệp ngẫu nhiên được dùng để nâng đỡ sứ điệp vĩnh hằng. Thánh Gioan là nhà thần học về cuộc Thương Khó.

    1. Đức Giê-su bị điệu ra trước tổng trấn Phi-la-tô

    Bản văn thuật lại cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và tổng trấn Phi-la-tô đưa chúng ta vào trọng tâm của cuộc tranh luận. Các thượng tế tố cáo Đức Giê-su hai tội: “Ông này tự xưng mình là Con Thiên Chúa” và “Ông này tự xưng mình là vua”. Lời tố cáo thứ nhất mới thực sự là lời buộc tội, lời tố cáo thứ hai chỉ là cái cớ ngụy tạo cốt đặt vị tổng trấn Rô-ma và kẻ phá rối trị an đối diện với nhau. Vị tổng trấn không dễ bị mắc lừa; ông hiểu quá rõ mánh lới của các thượng tế, vì thế ông cần phải tra hỏi phạm nhân cho ra lẽ: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”.

    1. “Vua dân Do thái”

    Đối với tổng trấn Rô-ma, đây là một câu hỏi then chốt, vả lại đây là câu hỏi duy nhất thuộc thẩm quyền của ông: tội chính trị. Theo phương sách Chúa Giê-su thường dùng, phương sách này cho phép Ngài giữ thế phản công, thay vì trả lời câu hỏi mà quan tổng trấn đặt ra cho Ngài, Chúa Giê-su hỏi ngược lại ông Phi-la-tô: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”, nghĩa là, “với tư cách quan tổng trấn, ông có những thông tin chính xác về những tham vọng chính trị của tôi, hay lời buộc tội đến từ các thượng tế mà ông chỉ nghe tin đồn?”. Như vậy, Đức Giê-su đặt tổng trấn Phi-la-tô trước trách nhiệm của ông.

    Quan tổng trấn hiểu rõ điều này và ông trả lời với thái độ miệt thị các lãnh đạo Do thái: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”. Qua câu trả lời này, ông Phi-la-tô muốn nói rằng chính ông, với tư cách quan tổng trấn, tiến hành cuộc điều tra, chứ không dựa trên những lời đồn đại. Như chúng ta thấy, cuộc tranh luận được tiến hành không phải bởi quan tòa nhưng bởi kẻ bị cáo. Điều này cho thấy Đức Giê-su vẫn làm chủ tình thế, dù người chất vấn Ngài nắm trong tay quyền sinh sát đối với Ngài.

    Câu hỏi “Ông đã làm gì?” là lời đáp trả cho câu hỏi vặn lại của Đức Giê-su. Đức Giê-su không trả lời thẳng câu hỏi sau cùng này: “Ông đã làm gì?”, nhưng câu hỏi đầu tiên: “Ông có phải là vua dân Do thái không?”; Ngài gợi lên bản chất vương quyền của Ngài: Nước Ngài không thuộc về thế gian này, vì thế, quyền lực Rô-ma chẳng có gì phải bận tâm; và quân đội của Ngài không chiến đấu để bảo vệ Ngài, vì thế, quan tổng trấn chẳng có gì phải lo sợ.

    Quan tổng trấn Phi-la-tô lại hỏi: “Vậy ông là vua sao?”, Đức Giê-su trả lời: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Câu trả lời của Đức Giê-su vừa khẳng định nhưng vừa bỏ lửng, nghĩa là: “Đúng như ông nói, nhưng không theo cách ông nghĩ”.

    1. Sự thật

    Đức Giê-su tiếp tục tranh luận khi mô tả bản chất vương quyền của Ngài: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Một lần nữa, Đức Giê-su đặt tổng trấn Phi-la-tô trước trách nhiệm của ông: ông đứng về sự thật hay đồng lõa với sự dối trá. Bấy giờ, quan tổng trấn biết rõ các vị thượng tế bịa đặt lời tố cáo; vì thế ông đứng về phía sự thật. Quả thật, tổng trấn Phi-la-tô sắp công bố đến ba lần Đức Giê-su vô tội trước đám đông (Ga 18: 38; 19: 4, 6). Thánh Lu-ca còn xác định thêm nữa: “Bây giờ ông Phi-la-tô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại mà nói: ‘Các ngươi nộp người này cho ta, vì cho là tay khích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người này có tội gì, như các ngươi tố cáo” (Lc 23: 13-14). Vì thế ông tìm mọi cách để tha bổng Chúa Giê-su, nhưng ông đành bất lực trước những áp lực từ phía giai cấp lãnh đạo Do thái.

    “Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19: 7). Đây mới thật là tội danh dẫn Ngài đến cái chết. Ông Phi-la-tô không đủ can đảm đi cho đến cùng lời chứng của mình, nói lên tiếng lương tâm ngay thẳng của mình. Vấn đề trung thành với sự thật được đặt ra và được đặt ra rất kịch tính.

    1. Sứ điệp vĩnh hằng

    Bên kia sứ điệp bất ngờ của Đức Giê-su với tổng trấn Phi-la-tô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”, thánh ký nghĩ đến tất cả các Ki-tô hữu mà giáo huấn này được gửi đến họ. Đức Giê-su đã đến mặc khải cho con người sự thật đến từ Thiên Chúa; Ngài đã làm chứng sự thật này cho đến cả mạng sống mình, Ngài đã đồng hóa mình với sự thật. Tất cả những ai đón nhận, sống và chết cho sự thật này được liên kết với Ngài. Đức Giê-su không nói “Ai sở hữu sự thật”, nhưng “ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đức Giê-su đã công bố Xa-tan là cha của sự dối trá, trong khi sự thật là một phần liên kết với Thiên Chúa và mở rộng cánh cửa Nước Thiên Chúa.

    Về mục lục

    .

    AI ĐỨNG VỀ SỰ THẬT THÌ NGHE TIẾNG TÔI

       Fx Đỗ Công Minh

          Sống trong thời đại hôm nay, không ít lần chúng con nghe nói nơi này, nơi khác có người tự xưng mình là vua, là chủ tịch, tổng thống. . . hay có những người cùng phe nhóm với nhau, họp nhau tôn vinh một người làm lãnh tụ, rồi từ trong  phe lại phong cho nhau làm chức này, chức kia trong bộ máy tự lập ra. Cũng có người làm những việc khác người rồi tự xưng là vua, như vua hề, vua ăn thịt, vua đánh bài, vua lừa, vua bịp. . . tựu trung là muốn có quyền lực hơn người, muốn thống trị  người khác, hay tranh đua để có địa vị trong xã hội. Bài Tin Mừng hôm nay  chúng con  chứng kiến quan Tổng trấn PhilaTô tra hỏi  Đức Giêsu :”Ông có phải là Vua dân Do Thái không ?”. Khi thấy Người nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ tôi đã chiến đấu không  để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra nước tôi không thuộc chốn này “.PhilaTô nghe đến “ Nước của Chúa Giêsu “ dù là không thuộc về thế gian này, nhưng vì e sợ những người đứng đầu một tổ chức chống lại hòang đế, tức là chống lại ông, nên cũng  buộc phải vu cho Chúa tội dám nhận là Vua, với lời kết tội:”Vậy ông là vua sao ?”. Đức Kitô không phủ nhận điều đó, nhưng Người  khéo léo : ” Chính Ngài nói rằng tôi làVua. Nhưng tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này,làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đến đây thì đã rõ, dù Philatô có chạy theo những tố giác của người Do Thái, nhưng hẳn là ông cũng ngộ ra được một điều:  Ông Giêsu không phải như những vị vua trần thế. Ông vua mà lại không có binh lính dưới quyền, không có vũ khí bảo vệ. Ông vua không có lãnh địa, dinh cơ, không ngai vàng cung điện. Ông vua mà nước không thuộc chốn này chỉ có thể là Vua. . . ảo. Quả thật,  Đức Giêsu, vị Vua của những lời răn dạy. Vua tình yêu, Vua của sự thật, Vua của công lý. Ai chấp nhận đứng về sự thật thì theo Người. Người đã không xưng mình là Vua, nhưng chính những  con người đơn sơ, bé nhỏ, nghèo hèn, yếu đuối, tội lỗi nhận mình là thần dân của vương quốc nước trời, tôn vinh Người. Đường lối cai trị của Người là hiền lành, khiêm nhường. Người đến với con dân nước Người không để được hầu hạ, mà chính là để hầu hạ mọi người, để  nâng con người lên địa vị như Người, là con Thiên Chúa.

            Lạy Chúa,

      Đã có một thời  chúng con ngộ nhận Chúa là Vua thống trị thế giới này về mặt quyền bính trần gian, nên có lúc những người con Chúa đòi mọi người chưa tin vào Chúa phải khuất phục, khiếp đảm. Chính trong thâm tâm, chúng con cũng từng nghĩ Chúa phải là vua trên các vị vua trần thế, nên đã khiến những người con của Chúa tự cho là hơn người khác, tài giỏi hơn, thánh thiện hơn, đạo đức hơn và có quyền coi khinh, coi rẻ anh em mình. Hiểu như thế là không nhận ra được Đức Giêsu, vị Vua của tình yêu thương, vị Vua của lòng thương xót. Vị Vua dám đổ máu mình ra chết thay cho con người. Vị Vua từ bỏ địa vị là Thiên Chúa để trở thành một con người, hầu cứu con người thóat mọi tội lỗi, khổ đau, bất hòa, chia rẽ, tranh giành, xảo quyệt để tiến đến sự bình an, đạt đến công lý, yêu thương và sự thật.

             Xin cho con luôn biết tôn nhận Chúa là Vua của tâm hồn con, gia đình con. Hầu từ nơi con, gia đình con sẽ tràn ngập tình yêu thương, tiến đến xây dựng khu xóm, địa phương nơi con sinh sống, làm ăn; đến đất nước và cả thế giới này, dần dần thành một vương quốc của Tình yêu thương cho đến ngày Chúa đến . AMEN.

    Về mục lục

    .

    ÔNG VUA LẠ ĐỜI

    JM. Lam Thy

    Cũng đã hơn một lần kẻ viết bài này chia sẻ về thói đời chỉ ham chuộng cái vỏ bên ngoài mà quên mất những câu tục ngữ cổ nhân cảnh giác:  “Xanh vỏ đỏ lòng”, “Tốt mã dẻ cùi”, “Thùng rỗng kêu to”. Tiêu biểu cho quan niệm trên là hình ảnh những ông vua thời phong kiến được coi trọng ví như con rồng: Thân thể của vua đựơc gọi là mình rồng (“long thể”), mặt là mặt rồng (“long nhan”), râu là râu rồng (“long tu”), nơi vua ở là điện rồng (“long điện”:), áo vua mặc là áo rồng (“long bào”), ghế vua ngồi là ghế rồng (“long ỷ”), giường vua nằm là giường rồng (“long sàng”), xe vua đi là xe rồng (“long xa”), đến khi vua chết thì phải tìm mạch rồng (“long mạch”) mà táng xác và bắt cả nước phải để tang (quốc tang). Chưa hết, vì là rồng nên chỗ vua ngồi tại triều đình phải là một cái ghế được chạm khắc hình rồng và sơn son thếp vàng choáng lộn, gọi là ngai vàng (“bảo toạ”). Khiếp! Cái gì cũng rồng hết trơn, chỉ khác một điều, ấy là rồng thì phun nước, mà vua thì hét ra lửa, mửa ra khói.

    Dông dài đôi điều về những ông vua thời phong kiến cho vui và có cái cớ để dẫn nhập. Nay xin nghiêm chỉnh vào đề: Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXIV/TN-B – Ga 18, 33b-37) trình thuật về một ông vua thật kỳ lạ (vua không có ngai vàng, áo rồng, ghế rồng, giường rồng, thậm chí không có cả điện rồng để họp triều đình). Đó chính là một người xuất thân trong một gia đình lao động nghèo ở một làng quê nghèo và hẻo lánh; là con của một ông thợ mộc trầm lặng và một bà nội trợ hiền lành. Cách ăn mặc thì xuềnh xoàng, tụ họp môn đệ (kiểu như họp triều đình) để giảng dạy khi thì trên một bãi cỏ, lúc thì ven đường đi, bên bờ giếng, trên triền núi, nếu có tụ họp trong nhà thì lại là nhà của một bệnh nhân hay một người nghèo kiết xác. Khi di chuyển thì đa phần là lội bộ hơn là cưỡi ngựa hoặc đi xe, đến khi chết thì bị nhục hình chết treo trên thập giá và được môn đệ táng trong hang đá. Thế đấy! Như vậy mà gọi được là vua sao? Chuyện khó tin nhưng lại có thật 100%: Vị vua ấy chẳng ai khác hơn là Vua Giê-su Ki-tô vậy.

    Hoá cho nên, nếu chỉ căn cứ vào bộ vó bên ngoài thì không thể đánh giá đúng chất lượng được. “Xanh vỏ đỏ lòng”, “Tốt mã dẻ cùi”, cũng là lẽ thường tình thế sự. Thực ra, cũng không phải tất cả những ông vua phong kiến (kể cả những ông vua hiện đại: Thủ tướng, Tổng thống, Chủ tịch nước v.v…) đều xấu xa, đáng lên án. Cũng có nhiều những ông vua thương dân như con, biết “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người” (“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” – Khổng Tử – “Luận Ngữ”), rất xứng đáng là những bậc minh quân trị vì dân nước.

    Với Đức Giê-su thì chính vì Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật (điều này không phải chỉ do Người tự xưng – đến nỗi đã bị nhóm Pha-ri-sêu cho là phạm thượng – mà còn được chính Thiên Chúa Cha phán bảo khi Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan, khi Người biến hình trên núi, đồng thời Chúa Thánh Thần còn linh hứng, mạc khải cho các Thánh sử, các vị tiên tri, ngôn sứ nữa). Người đã sinh ra tại một địa điểm nhất định, trong một thời điểm lịch sử cố định. Người chính là “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình.” (Cl 1, 15-16). Ngày sinh của Người đã được cả thế giới chọn làm ngày mở đầu cho bộ lịch Công nguyên, là cái mốc để tình ngược thời gian về quá khứ (thời thượng cổ, thời tối cố); đồng thời vươn tới tương lai cho đến thiên thu vạn đại.

    Người là Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ, muôn loài, như vậy Người là chủ muôn loài, chủ vũ trụ (Vua vũ trụ) cũng là lẽ đương nhiên. Đó là xét về mặt danh nghĩa, nhưng còn mặt thực chất của vấn đề, và cũng là điều quan trọng nhất, ấy là Người đã vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Không cần nói đến những phép lạ, những linh hứng, mạc khải, mà chỉ cần suy niệm vào chính cuộc đời trần thế của Người (từ cách sống, cách giảng dạy, cách chữa trị bệnh nhân, đến chính việc hy sinh cả tính mạng mình vì yêu thương loài người tội lỗi), cũng đủ để xác tín Người chính là Vua – VUA TÌNH YÊU. Và chính điều này một lần nữa khẳng định Đức Giê-su Ki-tô thật sự là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa, Người chính là VUA VŨ TRỤ vậy.

    Ngày 11/12/1925, Đức Giáo hoàng Pi-ô XI thiết lập lễ kính trọng thể CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ VUA, với lời nhắc nhở cộng đồng dân Chúa rằng: Chúa Giê-su Ki-tô, Con của Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, chính Người là Vua vũ trụ, Vua muôn loài. Người không những là Vua của từng cá nhân, từng gia đình mà còn là Vua của tất cả mọi loài, mọi người, mọi dân tộc, là Vua trên hết các vua ở trần gian này. Vương quyền của Người chi phối toàn thể vũ trụ, mặc dù vương quyền ấy là linh thiêng, vĩnh cửu, không lệ thuộc vào không gian, thời gian hữu hạn, không thuộc về thế gian (“Đức Giê-su trả lời: ‘Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này’. Ông Phi-la-tô liền hỏi: ‘Vậy ông là vua sao?’  Đức Giê-su đáp: ‘Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi’ .” – Ga 18, 36-37).

    Lịch sử cứu độ đã khẳng  định Đức Giê-su Ki-tô là Vua không theo nghĩa chính trị hẹp hòi của trần thế, với những ưu thế tuyệt đỉnh về vật chất trong một quốc gia, như những vua chúa gian trần. Sau đó, tại CĐ Va-ti-ca-nô II, khi canh tân Phụng vụ, Giáo Hội đưa thêm vào một ý nghĩa mới: “ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ, VUA VŨ TRỤ” (Giáo Hội thừa nhận đặc tính vũ trụ và cánh chung được thể hiện cụ thể và đầy đủ nhất nơi mầu nhiệm Giê-su Ki-tô, vì thế nên Lễ này được đặt vào đúng vị trí của nó: Chúa nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ, thay vì như trước đó, Đức Pi-ô XI để vào CN trước ngày Lễ Các Thánh 01/11).

    Không bút mực nào có thể kể hoặc ghi lại cho hết được những điều mà Đức Vua Giê-su đã nói, đã dạy và đã làm, thật đúng như lời Gio-an Thánh sử: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 24-25). Rõ ràng Vua Giê-su là một vị Vua không ngai vàng, nhưng Vương Quốc của Người được xây dựng và hoàn thành trong sự chết và phục sinh để cứu độ nhân loại. Vương Quốc của Người bao trùm lên tất cả muôn loài (“cả trên trời đưới đất và trong nơi âm phủ”). Vương Quốc của Người chính là Vương Quốc Tình Yêu vậy.

    Ôi! Xin cho con không đui mù trước những thảm cảnh nơi trần thế, xin cho con khỏi câm điếc trước những bất công đày đoạ con người, và nhất là xin cho con được mở rộng trái tim hèn yếu của con, hằng ngày kín múc Tình Yêu chan chứa nơi Ngài, để con biết đến với anh em của con bằng cách san sẻ nguồn Tình Yêu vô tận đó. Ôi, lạy Đức Vua Tình Yêu! Xin cho con luôn được sống trong cuộc sống “vui với người vui và khóc với kẻ u sầu”.

    Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Ki-tô là người Con mà Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.” (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ).

    Về mục lục

    .

     

    CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Cách đây hơn hai ngàn năm, một bị cáo bó buộc phải đứng trước công đường của một vị quan tổng trấn. Hai người gặp nhau lần đầu, mặc dù đã nghe nói về nhau. Philatô, người tượng trưng cho quyền lực trần thế, Đức Giêsu, người đại diện cho quyền bính trên cao. Cuộc gặp gỡ này vừa là một vụ án, vừa là một vở kịch. Người sát hạch cũng là người bị hỏi, bên bị cáo cũng là người thẩm vấn. Dưới cái nhìn của tác giả Tin Mừng thứ tư, sự đổi vai giữa hai nhân vật mang đầy ý nghĩa.
     
    “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Một câu hỏi kỳ lạ, thậm chí vô duyên. Có lẽ nào người hiện diện trước mặt ông là một vị vua mà lại không được ông, một vị tổng trấn uy quyền, biết đến? Có lẽ nào một vị vua lại trong bộ dạng tiều tuỵ, bầm dập vì đòn như thế? Những điều đó cho thấy Đức Giêsu không phải là một vị vua theo quan niệm thế gian. Vương quốc của Người không phải ở thế gian này, như chính Người đã tuyên bố.
     
    Hai ngàn năm đã qua sau vụ án, hôm nay vẫn có những người đang đặt câu hỏi mang tính thách thức như Philatô về vương quốc của Chúa, nhưng ngược lại, vẫn có biết bao người đang kiếm tìm vương quốc ấy, và cũng có vô số tín hữu sẵn sàng đổ máu đào vì vương quốc kỳ diệu này.
     
    “Vậy ông là vua sao?” Lại một lần nữa, Philatô buông một câu hỏi vô nghĩa. Trước câu hỏi này, Đức Giêsu cũng không đưa ra một câu trả lời trực tiếp. Người nói: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Tiếp đó, Người minh định rõ ràng chức năng vương hoàng của Người, đó là chức năng làm chứng cho sự thật. Vậy là đã rõ, vương quốc của Chúa là vương quốc của sự thật, mà sự thật thì không bị xiềng xích. Sự thật cũng như trái tim, không bị chi phối bởi sắc tộc, ngôn ngữ hay thế mạnh quân sự. Sự thật đã và đang đem lại chiến thắng cho con người.
     
    “Nước tôi không thuộc chốn này”. Đức Giêsu nhấn mạnh hai lần điều này. Người không muốn để cho Philatô hiểu về chức vương hoàng của Người theo kiểu thế gian. Không chỉ Philatô, mà suốt bề dầy của lịch sử, những ai muốn quan niệm hoặc trình bày tước vị “Vua” của Đức Giêsu theo kiểu trần thế đều bị thất bại. Đã có thời trong khá nhiều người, kể cả một số vị lãnh đạo, mang quan niệm sai lầm về sức mạnh của Giáo Hội, khi họ cho rằng Giáo Hội mạnh mẽ nhờ thế lực trần gian hoặc do sức mạnh của đồng tiền. Quan điểm ấy đã chuốc lấy những bài học chua cay. Đức Giêsu tuyên bố chức năng vương hoàng của Người vào lúc Người bị điệu ra trước pháp đình. Qua đó, người muốn khẳng định rõ: Người làm vua để phục vụ và trao gửi yêu thương. Sau bao thế kỷ, Giáo Hội cũng đã ngộ ra rằng sức mạnh của Giáo Hội không đến từ quyền lực trần thế, mà là đến từ Đấng chịu đóng đinh. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi, mặc dù phải đối diện với biết bao khó khăn do thù nghịch đến từ phía người Do Thái và nhà cầm quyền La Mã, nhưng vẫn tăng trưởng, vì họ tìm được sức mạnh nơi Đấng đã chịu đóng đinh trên thập giá, đã chịu chết và đã Phục Sinh.
     
    Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, Phụng vụ muốn nhắc cho chúng ta về khái niệm “vương quyền” của Đức Giêsu. Vương quốc của Người đã được khởi đầu ở trần gian này rồi, như lời rao giảng của Chúa khi khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Tuy thế, vương quốc của Chúa vẫn chưa được thực hiện, mà sẽ thành toàn vào thời điểm Chúa muốn. Sự thành toàn của vương quốc Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong tương lai, lúc ấy, Con Người sẽ từ mây trời ngự đến, thống trị vinh quang mãi mãi (Bài đọc I). Tác giả sách Khải Huyền (Bài đọc II) nhắc chúng ta: chính Chúa Giêsu, vị Chứng Nhân trung thành, sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế để xét xử con người. Như thế, hình ảnh “Con Người” mà ngôn sứ Đanien đã được chiêm ngưỡng, đã được các Kitô hữu từ thuở ban đầu áp dụng cho Chúa Giêsu. Người là Vua vũ trụ và là Đấng thống trị lòng người bằng tình yêu.
     
    Năm phụng vụ chấm dứt với Chúa nhật hôm nay. Đây là dịp chúng ta cũng được mời gọi suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Là con dân của Nước Chúa, người tín hữu phải nỗ lực thực thi tình bác ái và xây đắp an bình, vì Nước Chúa là nước của bình an, nhân ái, chan hòa tình Chúa tình người. Khi cố gắng thực thi lời Chúa dạy là chúng ta làm cho vương quốc của Chúa mau trị đến.
     
    Tuyên xưng Chúa là Vua, chúng ta cũng muốn thuộc trọn về Người. Tấm “hộ chiếu” của vương quốc vĩnh cửu chính là đức tin vững vàng, đức cậy trung tín và đức mến thiết tha. Chúa sẽ nhận ra chúng ta, qua việc thiện chí sống và thực thi những nhân đức này.

    Về mục lục

    .

    LÀM VUA LÀ LÀM CHỨNG

    Gm. Giuse Vũ Duy Thống

    Không còn nữa hình ảnh của những vì vua oai phong lẫm liệt như trong chế độ quân chủ ngày nào, nhưng thay vào đó là một lớp những nhà vua mới lên ngôi thần tượng, không ngai vàng mà nhiều khi cũng đầy uy lực: vua dầu hoả, vua xe hơi, vua trò chơi, vua bóng đá. Mỗi thời có những kiểu đăng quang riêng, và mỗi lĩnh vực cũng có những nhà vua riêng của mình.

    Thuật ngữ “Vua” xem ra đã có nhiều biến thể. Phổ cập hơn nhưng cũng mong manh hơn, thời sự hơn và cũng đời thường hơn. Trong bối cảnh đó, lễ Chúa Kitô Vua lại trở về, vừa khép lại năm Phụng Vụ cũ vừa mở sang năm Phụng Vụ mới. Phải chăng đây cũng chỉ là một lễ đăng quang tương tự như các nhà vua trần thế? Hay là một lễ của niềm tin yêu hy vọng vào Chúa Kitô – Đấng làm Vua bằng cách làm chứng, hiến thân đến cùng trong tình yêu để mở ra triều đại cứu độ?

    1) Chúa Kitô không làm Vua như những vua trần thế.

    Có lẽ khi tự ý cho treo tấm bảng “Giêsu Nagiarét Vua dân Do Thái” lên đầu Thập giá, Philatô đã không nghĩ đến điều gì khác ngoài lợi thế chính trị cho ông, bất kể phải chơi khăm những người Do thái, nhưng có một điều ông không bao giờ nghĩ tới, mà điều đó lại thật quan trọng trong lợi thế đức tin của người Công giáo, đó là tấm bảng kia trong ý định của Thiên Chúa lại là một tuyên xưng không thể xoá nhoà.

    Chúa Kitô không chỉ làm Vua một thời, mà là Vua vĩnh cửu. Dù trong đời sống công khai, có lần Người đã nặng lời quở trách Phêrô khi ông này chỉ muốn thấy nơi Người hình ảnh của một Đấng Messia dễ dãi đồng nghĩa với vị vua phàm trần, và Người cũng đã từng trốn chạy khỏi đám đông cuồng nhiệt khi họ muốn bắt Người làm vua sau phép lạ hoá bánh nhiều. Nhưng, trước mặt Philatô, Người đã công khai tuyên bố mình là Vua, để rồi trên Thập giá, chính lúc tưởng rằng chết đi, Người cho thấy mình còn sống mãi, và chính khi tưởng rằng bị huỷ diệt, Người cho thấy mình vẫn muôn thuở tồn tại. Thời gian là đại lượng dành cho những vị vua trần thế, còn Người vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.

    Chúa Kitô không chỉ làm Vua dân Do thái mà là Vua phổ quát. Với cái chết của Người trên Thập giá trong tư cách Đấng Cứu Thế, một dân mới đã được khai sinh không phải giới hạn trong một vùng lãnh thổ địa lý mà đã mang lấy tầm vóc của cả thế giới vũ hoàn. Trong máu của Người, giao ước mới phổ quát đã hình thành vượt trên giao ước cũ vốn giới hạn nơi dân Do thái. Và trong công cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, những gì cũ phải qua đi để nhường chỗ cho một triều đại mới vượt trên tất cả.

    Người là Vua phổ quát vì Nước Người chẳng thuộc trật tự trần thế. Người là Vua vũ trụ bởi chính Người là Thủ Lãnh sẽ quy tụ mọi sự về một mối: “Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta”.

    Và nếu theo nhãn giới của bài đọc thứ nhất và thứ hai với hình ảnh của “Đấng đến giữa mây trời” thì vương quyền của Chúa Kitô đã khác xa một trời một vực so với các vương quyền trần thế khác. Vương quyền trần thế dẫu có lan tràn khắp mặt đất cũng vẫn có thể đo lường được, còn vương quyền của Chúa Kitô vì vượt trên tất cả nên cũng vô phương dò thấu. Người là Vua muôn Vua.

    Không phải vô tình mà phiên toà lễ Vượt Qua đã đặt Chúa Giêsu đối diện với Philatô, mà chính trong tư thế đối diện cộng với những đối chất qua lại đã làm nổi bật lên cái nghịch lý mầu nhiệm của Giờ Tử Nạn. Vào chính lúc quyền bính thế gian xem ra thắng thế còn quyền bính trời cao dường như hạ bệ, thì Chúa Giêsu đã tuyên bố mình là Vua. Lời tuyên bố như thế lẽ ra đẩy Philatô vào thế đối thủ, nhưng – Chúa Giêsu đã nhanh chóng khẳng định Nước Người chẳng thuộc trật tự chính trị thế gian, nên Tổng trấn Rôma dầu quyền uy là thế vẫn chỉ là chiếc bóng mờ nhạt đứng đó trong vai trò của một đối chứng hơn là một đối thủ để làm nổi bật lên dung mạo của Chúa Giêsu – Vua muôn Vua. Hơn nữa, bởi Philatô là một người ngoại nên tầm vóc của lời tuyên bố kia đã vượt xa giới hạn đạo giáo để trở thành phổ quát cho cả muôn người. Và hệ luỵ là quyền bính Philatô bởi thuộc về thế gian nên cũng qua đi với thế gian, còn vương quyền Chúa Kitô vẫn tồn tại mãi bởi thuộc về trật tự tâm linh để không gì có thể đặt giới hạn cho Người. Người là Vua vĩnh cửu.

    2) Chúa Kitô làm Vua bằng cách làm chứng.

    Dẫu vào Giờ Tử Nạn, Chúa Giêsu mới tuyên bố mình là Vua để khởi đầu cho một triều đại mới trong “sự thật và sự sống, thánh thiện và ân sủng, công chính, yêu thương và an bình” (Kinh Tiền Tụng), nhưng thực ra đó chỉ là đỉnh cao của một đời lựa chọn và là điểm đến của một quá trình thực thi sứ mệnh làm chứng cho sự thật: “Tôi sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”. Nếu sự thật là chính Thiên Chúa, là thực tại thần linh, là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình” như một kiểu nói của thánh Gioan hoặc là ơn cứu độ, thì trót cuộc đời của Chúa Giêsu là một công cuộc liên lỉ minh chứng.

    Qua Nhập Thể, Người đã mang lấy bộ mặt đớn hèn của cả nhân loại. Qua Tử Nạn, Người đã nhận vào mình thân phận loài người tội lỗi. Qua Thập giá, Người đã sẵn sàng chấp nhận cái chết để cứu độ toàn thế giới. Và đỉnh cao Phục Sinh tôn vinh chỉ có được khi Người đã trải qua nẻo đường Thương Khó đến cùng trong số phận của “Người Tôi Tớ đau khổ”.

    Rõ ràng là nơi Đức Kitô, làm Vua có nghĩa là làm chứng và làm chứng không chỉ bằng lời mà bằng chính cuộc đời của Người, trải dài từ Nhập Thể qua Tử Nạn cho đến Phục Sinh. Nói cách khác, làm chứng cho sự thật cũng là sống và chết cho sự thật ấy, và làm chứng cho hiện thân của Thiên Chúa ở giữa thế gian cũng chính là sống và chết để cho hiện thân tình thương được triển nở cách hiện thực sống động và viên thành.

    Thảo nào vương quốc và vương quyền của Chúa Kitô thật khác lạ. Chẳng cần đến lực lượng để mà thiết lập, chẳng cần đến vũ lực để mà cai trị, cũng chẳng cần đến quân sự để mà bảo tồn. Như vậy, điều mà mọi vị vua trần thế mong ước là trải dài vương quốc trong không gian và thời gian, thì chỉ duy Chúa Kitô mới thực hiện được, không phải bằng vũ trang mà là bằng một tình thương không mệt mỏi hiến thân làm chứng cho sự thật. Và đó là phương thế duy nhất để thiết lập một Vương quốc phổ quát và vĩnh cửu.

    Trong ý hướng ấy, bài đọc thứ hai là một tiến trình mạch lạc không thể đảo ngược: chỉ khi nào sống trọn vai trò chứng nhân trung thành, Đức Kitô mới nên Trưởng Tử kẻ chết và làm Vua muôn vua.

    3) Ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô.

    Đức Kitô, Người làm Vua như thế đó. Nên mục đích của Thánh lễ hôm nay đối với mọi kẻ tin là: “tôn vương” Chúa Kitô trong cuộc sống của mình.

    Thực ra thì cử hành lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối năm Phụng Vụ cũng nói lên niềm tin vào vương quyền Chúa Kitô như tinh thần của Thông điệp Quas Primas mà Đức Piô XI đã ban hành ngày 11 tháng 12 năm 1925, nhưng niềm tin vốn là một sự sống, nên chỉ khi thể hiện niềm tin bằng cuộc sống, tín hữu mới có thể an lòng là thần dân trong Vương quốc của Đức Kitô.

    Không thể nhận mình là dân của Vua Kitô trong khi cuộc sống cá nhân và gia đình lại nghiêng theo lối sống thế tục làm vẩn đục vũ trụ quan Kitô giáo, dần dà xa rời Giáo Hội và có nguy cơ chối bỏ vương quyền Chúa Kitô mà không hay biết.

    Cũng không thể nhận mình ở trong Vương Quốc của Đức Kitô mà hằng ngày một cách nào đó mình vẫn dửng dưng với sự hiện diện của Người trong cuộc sống con người như coi thường nhân phẩm, khinh rẻ người nghèo… càng không thể nhận mình sống trong Vương Quốc Đức Kitô khi mà cuộc sống chung riêng vẫn gây ra những oán thù, ghen ghét, gian tham, bất công, gương xấu, tội lỗi…

    Càng không thể nhận mình thuộc về vương quyền của Đức Kitô khi mình chưa thực sự hiến thân một cách nào đó để thể hiện tinh thần chứng nhân. Đức Kitô đã lấy cái chết để làm chứng, Kitô hữu cũng phải đi vào lối sống hy sinh mới có thể trở thành chứng nhân cho đức tin được. Đừng quên, chứng nhân có nghĩa là tử đạo và sống đạo một cách anh hùng cũng chính là chứng nhân.

    Nhưng ai thuộc về sự thật thì nghe Đức Kitô và ai thuộc về Đức Kitô thì hãy để Người sống và lớn lên trong cuộc đời mình và chấp nhận để Người biến đổi toàn diện. Đồng thời, chính mình cũng cần nỗ lực “làm chứng” sao cho niềm tin luôn luôn vươn lên, mà cũng không quên nhiệt tình tông đồ là làm cho những người lân cận nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nữa. Như thế là tin vào vương quyền Chúa Kitô, là “tôn vương” Chúa Kitô trong cuộc sống của mình và cũng là cùng với mọi người tích cực hoạt động cho công cuộc truyền giáo nhằm “quy tụ mọi sự trong Chúa Kitô”.

    Ở Bãi Sau Vũng Tàu, có một tượng Chúa Kitô Vua thật lớn dựng trên triền núi quay mặt ra biển, đôi tay giang rộng như ôm lấy cả trùng dương. Ngư dân quanh đó kể lại rằng những khi ra khơi, họ vẫn căn cứ vào đó để mà định hướng đi về, và nhiều lần sóng gió họ cũng hướng về đó để mà cầu nguyện xin ơn bình an.

    Giữa trùng dương cuộc sống, Kitô hữu biết rằng Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện như một chuẩn đích để định hướng tin yêu hy vọng. Xin Người cũng làm Vua quy tụ mọi sự trong Vương Quốc vĩnh cửu của Người.

    Lạy Chúa Kitô, cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng con lặp lại niềm tin của mình vào Vương Quyền của Chúa. Xin chúc lành cho những ước nguyện chúng con dâng lên, để khi quyết tâm xa lìa tội lỗi và sống thánh thiện, chúng con được trở nên chứng nhân cho Chúa giữa lòng xã hội. Chúa là Đấng hằng sống hằng trị muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    VUA SỰ THẬT

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Chúa Giêsu thật là ngược đời. Khi làm phép lạ cho bánh hoá ra nhiều, dân chúng hân hoan phấn khởi, muốn tôn Ngài làm vua thì Ngài không muốn. Ngài phản đối bằng cách trốn đi. Cũng như hôm vinh quang vào thành Giêrusalem, dân chúng hân hoan, cởi áo lót đường, cầm cành lá phất phơ đón chào. Hôm ấy mà Chúa xưng vương thì quá thuận lợi. Thế mà Chúa phản đối bằng cách cỡi con lừa bé nhỏ, yếu ớt. Còn hôm nay, phận tội đồ đứng trước mặt quan án, bị dân chúng khinh khi chối bỏ, thân tàn ma dại, chẳng còn hình tượng con người nữa, thì Ngài lại hiên ngang xưng mình là vua. Chẳng phải vô tình, nhưng là cố ý. Hôm nay, đối diện với cái chết, đối diện với quyền lực và đối diện với sự hận thù, Chúa Giêsu muốn xưng vương trong hoàn cảnh này để làm chứng cho sự thật.

    Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là có một vương quốc khác, vượt xa mọi vương quốc trần gian. Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Đức Giêsu muốn cho ta hiểu: Ngoài cuộc đời này còn có một cuộc đời khác. Ngoài thế giới này còn có một thế giới khác. Đó là vương quốc của Chúa. Đó là Nước Trời. Vương quốc ấy là vương quốc sự sống vì sẽ không còn bóng dáng cái chết. Khi còn ngày rộng tháng dài, Đức Giêsu không xưng vương. Nay cận kề cái chết Ngài mới xưng vương để dạy cho ta biết vương quốc của Ngài “không thuộc thế gian này”. Sự sống trần gian này chẳng đáng giá gì so với sự sống trong Nước Chúa. Vì thế muốn vào được vương quốc của Chúa, phải biết từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống nữa.

    Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là quyền năng của Chúa là trên hết. Khi một mình yếu đuối nhưng vẫn hiên ngang đối diện với Philatô tượng trưng cho quyền lực của đế quốc La mã bao trùm thiên hạ, Đức Giêsu muốn cho ta hiểu rằng Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi quyền năng như Ngài đã trả lời Philatô: “Ông có quyền không bởi tự mình mà có, nhưng từ thành công ban cho”. Thánh nữ Xêxilia cũng nói: “Quyền uy ở đời giống như quả bong bóng. Nó không triển nở ở tự nó. Nó không tự mình tròn trịa được. Phải nhờ đến không khí. Nhưng chỉ một mũi kim cũng làm nó xẹp xuống”. Quyền uy trần gian mau tàn. Chỉ có quyền năng của Thiên Chúa mới bền vững. Chính vì thế Đức Giêsu không xưng vương khi tràn đầy uy tín, khi được dân chúng ngưỡng mộ. Vì nếu Ngài xưng vương khi được dân chúng tung hô vạn tuế, khi làm những việc kỳ lạ lớn lao, khi tràn đầy uy tín, thì vương quyền ấy chẳng hơn gì vương quyền của vua chúa trần gian khác. Nhưng hôm nay, khi mất hết mọi uy tín, không còn ai tung hô ủng hộ, Đức Giêsu xưng vương để cho ta thấy Ngài siêu thoát mọi quyền lực và vinh quang theo thói thế gian. Ngài chỉ trông cậy vào quyền năng của Thiên Chúa. Vì thế những ai muốn vào vương quyền của Ngài phải biết coi thường mọi vinh quang quyền thế ở trần gian.

    Sự thật mà Đức Giêsu làm chứng đó là tình thương chiến thắng thù hận. Khi một mình đối diện với những ghen ghét thù hận của đám đông, Đức Giêsu muốn dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trên trần gian. Vì yêu thương mà Ngài đã xuống trần gian. Ngài đã yêu thương cho đến chết vì yêu. Đó là tình yêu lớn lao nhất như lời Ngài nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu”. Dù những thù hận vây bọc, nhưng Đức Giêsu vẫn yêu thương. Hôm nay đơn thân độc mã trong vòng vây của hận thù, Đức Giêsu vẫn xưng vương để cho ta thấy: tình yêu thương đã chiến thắng. Hận thù đem lại chết chóc, chỉ có tình yêu thương mới cứu được thế giới.

    Đức Giêsu đã chiến thắng. Ngài là Đấng đầu tiên từ trong kẻ chết sống lại. Với chiến thắng, Đức Giêsu mở cửa vương quốc của Ngài. Đó là vương quốc của Sự Thật. Chỉ những ai thuộc về sự thật mới được vào. Và những ai thuộc về sự thật phải biết chiến thắng sự giả trá. Sự giả trá đó là sự chết, đó là những vinh hoa phú quý trần gian và đó là lòng thù hận ghen ghét. Hiểu biết sự thật, đập tan sự dối trá, ta mới tiến vào Nước Sự Sống theo bước Đức Giêsu Kitô. Với chiến thắng Ngài thật sự là Đường dẫn đến Sự Thật và Sự Sống muôn đời.

    Lạy Đức Giêsu là Vua của chúng con, xin cho chúng con được làm dân của Chúa, được thuộc về Nước Chúa, nước đầy tràn Sự Thật và Sự Sống, nước công chính và tình yêu muôn đời.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1- Chúa Giêsu cho biết gì về vương quốc của Chúa?

    2- Chúa Giêsu cho biết gì về quyền năng của Chúa?

    3- Chúa Giêsu cho biết gì về cuộc chiến giữa tình thương và thù hận?

    4- Muốn sống trong vương quốc của Chúa, ta phải làm gì?

    Về mục lục

    .

    CHÚA GIÊSU LÀ CHÂN LÝ

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Con người ngày nay thường sai lầm khi « thả mồi bắt bóng ». Họ thiếu trân trọng những gì mình đang có để rồi chạy theo những cái ngoài tầm tay. Có người bỏ vợ con để chay theo những cuộc tình bất chính. Có người ngược đãi cha mẹ vợ con lại mất thì giờ lấy lòng người dưng. . .
    Tôi từng thấy có một người đàn ông thích bồ bịch lăng nhăng. Anh ta cứ sống với hết phụ nữ này đến phụ nữ khác, nay đã xế chiều thì không ai chứa chấp và phải về sống với mẹ đẻ. Đứa con gái đã lớn, cũng sắp lập gia đình. Một lần cháu buột miệng bảo: “Mẹ ơi, bố mình thật khổ, có nhiều vợ mà cuối cùng chẳng có nhà để ở”. Đấy là kết cục của những người nhẫn tâm chối bỏ vợ con mình, chỉ biết nghĩ đến dục vọng bản thân.
    Có một người vợ trẻ nói với tôi chị đang quen với một người đàn ông đã có vợ. Anh ta rất tốt với chị đến nỗi chị chỉ muốn bỏ chồng theo anh ta. Tôi nói rằng : nếu chị đang sống yên ổn hạnh phúc với gia đình thì nên chấm dứt quan hệ với người ấy và đừng tự chuốc lấy phiền phức vào mình khi « thả mồi bắt bóng ». Đôi khi trong cuộc đời ai cũng có những lúc « đứng núi này trong núi kia » nhưng chưa chắc « cỏ ở đồi bên ấy xanh hơn ».
    Quả thực con người ngày nay rất khó tìm giá trị thực của cuộc sống. Cuộc sống luôn thả những con mồi khiến ta cứ lao theo con mồi mà đâu biết rằng đó chỉ là ảo ảnh, là giả dối, là hạnh phúc mau qua. Có biết bao người như say máu chạy theo danh lợi thú trần gian nhưng rồi họ không bao giờ toại nguyện với những cái mình đang có. Có cả những người dùng thủ đoạn bất chính để bắt bóng phù hoa nhưng chỉ thấy những ngổn ngang đau khổ dằn vặt lương tâm.
    Cuộc sống là đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc không ở những con mồi danh vọng, quyền lực, tiền tài, dục vọng. Hạnh phúc hệ tại ở chân lý, ở sự thật. Khi ta sống theo lẽ phải, theo sự thật lương tâm thì ta mới có niềm vui nội tại tâm hồn.
    Hôm nay, Chúa Giê-su bảo con đường tìm hạnh phúc của Ngài là yêu thương phục vụ. Chính cuộc sống Ngài mới là Đường, là Chân Lý để chúng ta noi theo. Cuộc đời Ngài luôn sống vì tha nhân. Ngài luôn tìm kiếm niềm vui trong phục vụ. Ngài sống để trao ban. Trao ban đến giọt máu cuối cùng.
    Cuộc sống của Ngài đã cho chúng ta hiểu hơn về giá trị cuộc sống. Con người chỉ có giá trị với xã hội và gia đình khi biết sống yêu thương và phục vụ. Càng phục vụ giá trị người phục vụ không mất đi mà xem ra lại càng tăng thêm. Chính Chúa Giê-su còn quả quyết : Ngài làm vua nhưng không ở trên ngai cho người khác phục vụ mà Ngài sẵn lòng cúi mình phục vụ hết mọi phận người.
    Cuộc sống đã cho ta rất nhiều cơ hội để phục vụ. Phục vụ để mang lại niềm vui hạnh phúc cho gia đình. Phục vụ mang lại cho xứ đạo ngày một phát triển. Phục vụ cho dân tộc mỗi ngày một thịnh vượng hơn. Phục vụ chứ không đòi người khác phục vụ sẽ giúp ta không nhẫn tâm thiếu trách nhiệm với gia đình để đi tìm niềm vui cho bản thân. Phục vụ vô vị lợi sẽ giúp ta biết từ bỏ hạnh phúc của riêng mình để sống có trách nhiệm với tha nhân.
    Xin Chúa giúp chúng ta biết nâng cao giá trị cuộc sống bằng đời sống hy sinh phục vụ. Sống cho tha nhân hơn là đòi hỏi nơi tha nhân. Biết sống như ai đó nói rằng : bạn đừng nghĩ người khác đã làm gì cho bạn, nhưng bạn hãy nghĩ bạn đã làm gì cho tha nhân. Chính lối sống ấy sẽ giúp ta biết dấn thân một cách quảng đại để xây dựng hạnh phúc cho gia đình và xã hội.
    Ước gì chúng ta cũng trở nên một nhân chứng cho chân lý khi biết sống hết mình vì tha nhân. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA GIÊSU KITÔ LÀ VUA VŨ TRỤ

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Ngày lễ tuyên thệ nhậm chức của tổng thống Hoa Kỳ là một đại lễ, cũng là một biến cố lịch sử của quốc gia, được nhiều người theo dõi. Trong ngày đó, sau những lời tuyên thệ nói lên tự do, quyết tâm và lòng trung thành tuyệt đối với tổ quốc, tổng thống có một bài phát biểu hết sức quan trọng để ngỏ lời với toàn thể quốc dân, cũng như nói lên những quan tâm và mục tiêu mà ông sẽ theo đuổi. Có lẽ chỉ có cuộc nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ là cuộc lễ được thế giới quan tâm nhiều nhất, vì tổng thống Hoa Kỳ là người có ảnh hương lớn nhất trên thế giới. Mặc dù là một quốc gia dân chủ, tổng thống không phải là vua, nhưng ông lại là một trong những người quyền lực nhất thế giới không khác gì một vị vua ngày xưa.

    Hôm nay, Kinh Thánh cũng kể về một ngày lễ đăng quang của một vị vua trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Vị vua này dõng dạc tuyên bố: Tôi là Vua, trong khi hai tay đang bị trói, thân hình đã bị bầm giập vì những trận đòn. Đó chính là Vua Giêsu mà chúng ta tôn vinh Ngài là Vua Vũ Trụ. Trong ngày Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là vua, thì trước mặt Ngài không phải là cử tri ủng hộ, mà là một đám dân đang điên cuồng gào thét đòi giết Ngài. Bên cạnh Ngài không phải là những vị quan cận thần, mà là Philatô, kẻ đang hạch hỏi Ngài, và những đám lính hung tợn đã đánh đập Ngài. “Bài diễn văn” nói lên mục tiêu của Ngài không phải là những hứa hẹn về đường lối chính trị, kinh tế, nhưng là làm chứng cho Sự Thật. Trong khi đó, người Do Thái la hét phản đối vì họ không chấp nhận Chúa là vua của họ.

    Chúa Giêsu không phải vị vua quyền lực theo kiểu thế gian, nhưng Ngài là Vua vũ trụ. Ngài là vua vì chính Ngài là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên vũ trụ và muôn loài muôn vật. Ngài đã dựng nên vũ trụ từ hư vô, Ngài còn tiếp tục quan phòng và điều khiển vũ trụ theo một trật tự lạ lùng kỳ diệu. Ngài nắm giữ giềng mối sự sống của hết mọi vật mọi loài, Ngài “buông tay” ra, mọi vật sẽ trở về hư không. Chính vì thế, Ngài là Vua và muôn vật cùng cả vũ trụ này hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài.

    Nếu như một vị vua trần gian là người có công đem lại tự do và hạnh phúc cho dân tộc và xây dựng nên quốc gia, thì Vua Giêsu cũng thế. Khi cả nhân loại và vũ trụ chìm ngập trong đau khổ của tội lỗi và sự chết, Hoàng Tử Giêsu đã vâng lời Thiên Chúa Cha đến trần gian. Ngài loan báo cho nhân loại Tin Mừng giải thoát, Ngài cũng loan báo cho mọi người biết họ được Thiên Chúa là Cha yêu thương, và mỗi người phải sống tình con thảo với Thiên Chúa. Hoàng Tử Giêsu đã miệt mài xây dựng và mời gọi tất cả mọi người gia nhập vương quốc Nước Trời, trở thành công dân của Nước ấy. Ngài chỉ cho mọi người biết sống đúng với tư cách là công dân Nước Trời qua việc thực thi các điều luật của Tin Mừng và Hiến chương Nước Trời. Ngài đã cứu thế giới bằng cách chấp nhận cái chết trên thập giá và đã sống lại để tiêu diệt sự chết và quyền lực của ma quỷ, đem lại cho con người sự tự do của con cái Thiên Chúa. Sau khi phục sinh, Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài và đặt Ngài làm đầu và làm trưởng tử của mọi loài mọi vật.

    Từ xưa đến nay, các vua chúa và chính quyền dân sự vẫn cứ sợ Chúa Giêsu tranh giành quyền lực của họ. Họ sợ Nước Trời làm ảnh hưởng đến quyền lực của họ, nhưng Chúa Giêsu không màng đến quyền lực thế gian, vương quốc của Thiên Chúa không bị giới hạn nơi con người trần thế. Tin Mừng Gioan cho thấy, đứng trước quyền lực của thế gian, lúc bị trói chặt tay, Chúa Giêsu đã khẳng định với Philatô : Nước tôi không thuộc về thế gian này. Chúa Giêsu còn giải thích cho thắc mắc của Philatô, khi ông hỏi Chúa : Vậy ông là vua sao ? Chúa đã trả lời : Như chính ông đã nói, tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này là : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.

    Chúa Giêsu là Vua sự thật, Vua công lý. Ngài đã nói lên sứ mạng của Ngài là làm chứng cho sự thật. Sự thật về một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng và hết mực yêu thương con người. Ngài không bao giờ có thể bỏ rơi, ruồng rẫy con người mà Ngài đã dựng nên. Vua Giêsu loan báo về một sự thật là : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Người Con ấy thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời. Người nói cho nhân loại biết về một Thiên Chúa luôn tìm kiếm con người, cho dù con người chống lại Ngài, lẩn trốn Ngài. Chúa Giêsu còn nói cho biết sự thật về tình trạng của con người đang bị tội lỗi, ma quỷ và dục vọng trói buộc. Con người đã để cho sự kiêu ngạo, của cải và quyền lực thế gian làm chủ, khiến họ trở nên mù loà và câm điếc trước lời mời gọi của Chúa. Chắc chắn Philatô sẽ không thể hiểu được và vì ông không thuộc về sự thật, nên không thể nghe được sự thật. Chỉ ai đứng về phía sự thật mới có thể nghe được lời của Vua Giêsu mà thôi.

    Tôn vinh Chúa Giêsu là Vua vũ trụ là tôn Ngài làm chủ và làm Chúa trên cuộc đời mỗi người và trên toàn thể vũ trụ, đồng thời quyết tâm sống xứng đáng là công dân trong Nước của Ngài. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều tín hữu đã không còn để cho Ngài làm chủ cuộc đời mình, khi họ muốn tự mình quyết định cho tương lai mà không cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Họ muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống và công việc khi họ không bao giờ nghĩ đến Chúa trong ngày, không đọc kinh cầu nguyện. Thánh lễ mỗi ngày là cơ hội để mỗi người bày tỏ lòng thần phục của mình với Vua Giêsu, nhưng có nhiều người lười biếng, từ chối hoặc không muốn đến với Ngài.

    Có nhiều người, nhiều gia đình đã đặt tiền bạc, công việc, quyền lợi và cả các thần minh dân ngoại làm vua, làm chúa của mình. Họ dễ dàng quỳ gối, cúi đầu trước sức mạnh của các thứ vua vật chất mà bỏ qua giới răn lề luật của Vua Giêsu. Có nhiều người ngại ngần khi phải tỏ ra mình là công dân của Nước Trời, là thần dân của Vua Giêsu. Vì thế, họ không dám mạnh dạn sống làm chứng về sự thật. Là công dân của vương quốc sự thật, thần dân của Vua công lý nhưng nhiều người vẫn sống trong gian dối, gian dối với chính lương tâm của mình và gian dối với người khác.

    Chúng ta đang sống trong một xã hội có quá nhiều sự gian dối, mỗi Kitô hữu sẽ phải là người đứng về phía sự thật, xây dựng một cuộc sống công bằng, yêu thương, bác ái. Hãy làm chúng về sự thật là Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài muốn chúng ta sống trọn tình con thảo với Ngài. Làm chứng về Vua Giêsu là Đấng Cứu độ duy nhất, vì chỉ nhờ Ngài, chúng ta mới được giải thoát, được sống hạnh phúc. Hãy làm cho sự thật ấy được làn tỏa đến mọi ngõ ngách của cuộc sống. Hãy để cho sự thật đó chi phối toàn bộ đời sống và hoạt động của chúng ta và lan truyền đến với anh em chung quanh.

    Nếu như chúng ta tự hào mình là người Việt Nam, thì cũng vậy, là Kitô hữu, công dân của Nước Trời, chúng ta hãy tự hào mình là công dân của Nước Chúa, là những người thuộc về Vua Giêsu. Hãy để cho vua Giêsu làm chủ cuộc đời, làm chủ gia đình và cả cuộc đời của mỗi chúng ta. Các vua chúa và thần tượng của thế gian sẽ có ngày xụp đổ, vì thế, đừng bao giờ để cho một thứ thần linh nào hoặc sức mạnh quyền lực nào khác làm chủ và sai kiến cuộc đời chúng ta.

    Xin Chúa Giêsu làm Vua luôn mãi ngự trị trong tâm hồn, trong gia đình và trong cộng đoàn chúng ta và hướng dẫn chúng ta luôn sống xứng đáng làm thần dân của Ngài. Amen.

    Về mục lục

    .

    VUA CHÂN LÝ

    Trầm Thiên Thu

    Danh nhân Mahatma Gandhi (1869-1948), chính khách chủ trương bất bạo động và nhà lãnh đạo tinh thần của dân Ấn Độ, nhận định: “Đc hnh là nn tng ca mi th và chân lý là bn cht ca mi đc hnh. Một câu nói rất thâm thúy, rất phù hợp với đạo làm người và cũng phù hợp với đạo giáo – đặc biệt là Công giáo.

    Ông Gandhi còn xác định rạch ròi và chi tiết hơn: “Dù bn có là thiu s thì chân lý vn là chân lý. Công cuc theo đui chân lý không cho phép bo lc vi đi phương. Sai lm không tr thành chân lý vì lý l ca vô s cách tuyên truyn, chân lý cũng không tr thành sai lm vì không ai thy nó. Tôn giáo ca tôi da trên chân lý và bt bo đng, chân lý là Chúa ca tôi, bt bo đng là cách đ nhn biết Người. Cách sống của ông rất gần với giáo huấn yêu thương của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng ta.

    Thế mà, khi xét xử Chúa Giêsu, ông Philatô đã hỏi Ngài: “S tht là gì? (Ga 18:38). Ông ta thực sự không biết hay là cố ý giả nai? Chúng ta có bao giờ “đặt vấn đề” như ông Philatô? Có đấy, nhưng với kiểu cách “tinh vi” hơn! Người Việt nói là “giả nai” hoặc “ngây thơ cụ”.

    Theo chế độ quân chủ, vua là người có quyền tối thượng, cho sống thì được sống, bắt chết thì phải chết, thế mới là trung thần: “Quân x thn t, thn bt t bt trung. Mọi thần dân đều vui nhận mọi mệnh lệnh của nhà vua, vì được nhận chiếu chỉ của vua là niềm hãnh diện, và người ta còn gọi chiếu chỉ là “thánh chỉ”, tất nhiên không loại trừ mệnh lệnh bắt phải chết.

    Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, tự hữu và hằng sinh, vua chúa trần gian chỉ là “hạt bụi” dưới chân Ngài mà thôi. Thế nhưng Ngài lại giàu lòng thương xót, thích tha thứ chứ không thích kết án ai. Thật lạ, khi Chúa Giêsu đứng trước Philatô, một người đầy uy lực, còn Chúa Giêsu khi đó chỉ như một tội đồ, thế mà Ngài vẫn thản nhiên nói thẳng với tổng trấn đó: “Ông không có quyn gì đi vi tôi, nếu Tri chng ban cho ông (Ga 19:11).

    Trình thuật Ðn 7:13-14 cho biết một trong những thị kiến ban đêm của ngôn sứ Đa-ni-en: “Tôi mi nhìn thì kìa: có ai như Con Người đang ng giá mây tri mà đến. Người tiến li gn bên Đng Lão Thành và được dn đưa ti trình din. Đng Lão Thành trao cho Người quyn thng tr, vinh quang và vương v; muôn người thuc mi dân tc, quc gia và ngôn ng đu phi phng s Người. Quyn thng tr ca Người là quyn vĩnh cu, không bao gi mai mt; vương quc ca Người s chng h suy vong.

    Chỉ có hai câu, ngắn gọn nhưng súc tích nói rõ về Vua Chân Lý, cũng là Hoàng Tử Bình An, Vua Công Lý, Vua Tình Yêu, Chúa Tể Càn Khôn. Nhưng có điều đặc biệt, Vị Vua này là Hoàng-Đế-ba-không: KHÔNG đăng quang, KHÔNG ngai vàng, và KHÔNG được tiền hô hậu ủng. Chắc chắn không một vị vua chúa nào “độc đáo” như Ngài và cũng không có uy quyền như Ngài. Thật hạnh phúc khi chúng ta được nhận biết Ngài và tôn thờ Ngài!

    Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh xác định: “Chúa là Vua hin tr, Chúa mc oai phong ta cm bào, Người ly dũng lc làm cân đai. Chúa thiết lp đa cu, đa cu không lay chuyn. Ngai vàng Chúa kiên c t ngàn xưa: Ngài hin hu t muôn ngàn đi (Tv 93:1-2). Vâng, quả nhiên là chúng ta không thể không chia sẻ với người khác khi chúng ta có một Đức Chúa như vậy, ngay cả những vật vô tri cũng chợt nhận biết và rồi chúng không thể im lặng: “Tri xanh tường thut vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo vic tay Người làm. Ngày qua mách bo cho ngày ti, đêm này k li vi đêm kia (Tv 19:2-3).

    Thiên Chúa là Đấng siêu việt nên mọi thứ khác bởi Ngài cũng hoàn toàn siêu việt: “Ly Chúa, thánh ch Ngài tht là bn vng, nơi đn vàng rc lên toàn thánh thin trin miên qua mi thi (Tv 93:5). Đó là một sự thật minh nhiên, vĩnh hằng, không ai có thể chối cãi. Nếu có ai chối bỏ thì chỉ là tự lừa dối chính họ mà thôi.

    Thiên Chúa quan tâm chăm sóc các thụ tạo của Ngài rất chu đáo, Ngài muốn chúng ta đồng hưởng vinh quang với Ngài đời đời. Tuy nhiên, trước đó thì chúng ta được “thanh luyện” trên thế gian với quyền tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta. Vâng, chúng ta được hoàn toàn tự do chứ hề không bị ép buộc.

    Thánh Gioan viết thư gửi bảy Hội Thánh Axia và đề cập việc làm chứng nhân của Đức Giêsu Kitô: “Xin Đng hin có, đã cóđang đến, xin by thn khí hin din trước ngai ca Người, xin Đc Giêsu Kitô là v Chng Nhân trung thành, là Trưởng T trong s nhng người t cõi chết chi dy, là Th Lãnh mi vương đế trn gian, ban cho anh em ân sng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và ly MÁU mình RA SCH ti li chúng ta, làm cho chúng ta tr thành vương quc và hàng tư tế đ phng s Thiên Chúa là Cha ca Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyn đến muôn thu muôn đi. Amen! (Kh 1:5-6). Thiên Vương Giêsu Kitô không “hét ra lửa” như các vua chúa trần gian, nhưng Ngài lại có uy tín hơn bất cứ ai. Ngài trị vì cả vũ trụ hữu hình và vô hình, nhưng Ngài lại làm gương là hy sinh vì tình yêu đến tận cùng, đến chết.

    Lần thứ nhất Chúa Giêsu Kitô đến thế gian như “con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11:19) và với tư cách là Vua Thương Xót, nhưng Ngài đến thế gian lần thứ hai như một Thẩm Phán Công Bình và với cương vị là Vua Công Lý. Ngày ấy đang đến rất gần rồi!

    Thánh Gioan cho biết cách Thiên Vương Giêsu quang lâm: “Kìa, Người ng đến gia đám mây. Ai ny s thy Người, c nhng k đã đâm Người. Mi dân trên mt đt s đm ngc than khóc khi thy Người. Đúng thế! Amen!” (Kh 1:7). Đấm ngực là biểu hiện lòng sám hối, nhưng nếu đấm ngực mà không ăn năn thì có đấm mạnh đến nỗi đau tức ngực cũng chỉ là vô ích. Biết chuẩn bị đón Ngài bằng cách “đấm ngực chân thành” ở mọi nơi và mọi lúc thì chúng ta sẽ được Thiên Chúa khoan hồng, thậm chí là tha bổng, cho trắng án. Không ai xa lạ, chính “tướng cướp khét tiếng” Dismas đã nên thánh nhờ được diễm phúc đó (x. Lc 23:43), đúng như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Ai đến vi tôi, tôi s không loi ra ngoài” (Ga 6:37).

    Thiên Chúa là tất cả, mọi điều không thể sẽ hóa thành có thể, chỉ cần chúng ta thành tâm mà khiêm nhường sám hối, chứ Ngài không cần lễ vật chi cả (). Thật vậy, Ngài đã xác định rạch ròi: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đng hin có, đã có và đang đến, là Đng Toàn Năng (Kh 1:8). Nhưng đừng quên điều này: “Thiên Chúa không thiên v ai (Gl 2:6; Cv 10:34) và cũng không v n ai (1 Pr 1:17a; Mt 22:16), cứ theo công việc mỗi người mà xét xử.

    Trình thuật Ga 18:33b-37 cho thấy cảnh người ta phải công nhận Ngài là Vua, một Vị-Vua-ba-không.

    Sau khi bọn thủ ác bắt Chúa Giêsu và điệu Ngài tới cho tổng trấn Philatô luận tội. Lúc ông ta trở vào dinh, cho gọi Chúa Giêsu và hỏi Ngài: “Ông có phi là vua dân Do-thái không?. Ngài không trả lời mà thản nhiên hỏi lại: “Ngài t ý nói điu y, hay nhng người khác đã nói vi ngài v tôi?. Ông Philatô nói rằng ông là người Do-thái, mà chính dân chúng và các thượng tế đã nộp Ngài cho ông ta. Rồi ông ta hỏi Chúa Giêsu: “Ông đã làm gì?”. Chúa Giêsu không trả lời thẳng mà trình bày lý luận: “Nước tôi không thuc v thế gian này. Nếu Nước tôi thuc v thế gian này, thuc h ca tôi đã chiến đu không đ tôi b np cho người Do-thái. Nhưng tht ra Nước tôi không thuc chn này.

    Có lẽ ông Philatô gần giống như “vịt nghe sấm”, chưa hiểu hết ý của Chúa Giêsu nên ông ta phải hỏi lại: “Vy ông là vua sao?. Chúa Giêsu vẫn không xác nhận mà lại nói: “Chính ngài nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhm mc đích này: làm chng cho s tht. Ai đng v phía s tht thì nghe tiếng tôi. Ai cũng thích sự thật, nhưng không dễ “đứng về phía sự thật”. Tại sao? Vì SỰ THẬT luôn THẲNG THẮN. Thế nên người ta dễ a dua, vì không có lập trường, sợ bị “lẻ loi”, như người ta vẫn nói đùa mà thật: “Ai làm sao, tôi làm vy; ai làm by, tôi làm theo!. Phải thực sự can đảm mới có thể dám “đứng về phía sự thật”.

    Sự thật vốn dĩ dễ khiến người ta mất lòng vì sự thật thường mang tính phũ phàng. Tuy nhiên, sự thật là chân lý, mà chân lý không thể bị bóp méo hoặc bị xuyên tạc, nhưng chân lý đó phải thực sự là sự thật – tức là chân-lý-thật, chứ không thể là sự thật giả tạo, được ngụy biện hoặc được dàn xếp. Chính chân-lý-thật mới có khả năng kỳ diệu, dạng sự thật mà Chúa Giêsu đã đề cập và xác định: “S tht s gii phóng quý v (Ga 8:32).

    Ước gì không một ai trong chúng ta “ngây thơ cụ” như ông Philatô đã hỏi Chúa Giêsu: “S tht là gì? (Ga 18:38).

    Mừng kính lễ Thiên Vương Giêsu Kitô là dịp để chúng ta xét mình một cách nghiêm túc hơn, xem mình đã thực sự là tín dân của Ngài hay chưa. Và xin được kể vài chuyện có thật đã xảy ra với những kẻ vô thần, dám coi thường Thiên Chúa:

    1. John Lennon, ca sĩ của ban nhạc nổi tiếng The Beatles của Anh quốc. Trong lúc được tạp chí American Magazine phỏng vấn, John Lennon nói:“Thiên Chúa Giáo s không còn, s biến mt. Tôi không có gì phi tranh cãi v điu đó. Tôi chăc chn như thế. Ông Giêsu thì được, nhưng nhng k theo Ông thì quá ngây ngô! (Ý muốn nói là bị Ông Giêsu lừa gạt).Ngày nay, chúng tôi, ban nhạc The Beatles ni tiếng hơn Ông Giêsu(1966). Sau khi John Lennon tuyên bố lời trên đây, hn b bn sáu ln. Không biết sau đó hắn có ăn năn hay không, nhưng mọi người biết rõ là The Beatles đã “chết”.
    2. Một nhà báo hỏi người thiết lập chiêc tàu Titanic về sự an toàn của chiếc tàu, hắn nói:“Ngay c Thượng Đế cũng không th đánh chìm được nó”. Kết quả ra sao, mọi người đã biết rõ: V đôi vì tng băng ngm vào sáng ngày 15-4-1912 tại Bắc Đại Tây Dương!
    3. Marilyn Monroe, diễn viên điện ảnh. Trong một xuất trình diễn, cô được Billy Graham đến thăm. Bill Graham nói rằng Chúa Thánh Thần sai ông đến để nói với cô. Nghe xong, Marilyn Monroe nói:“Tôi không cn Giêsu ca ông. Một tuần sau, người ta thy xác Marilyn chết cô đơn trong mt chung cư.
    4. Năm 1954, sau khi chiếm miền Bắc, một toán công an cộng sản vào nhà dòng kín Bùi Chu lục soát. Khi đến Nhà Nguyện, lúc các nữ tu đang chầu Mình Thánh, một tên cộng sản lớn tiếng la lối: “Chúa ca các người đâu?. Nữ tu chỉ Nhà Tạm trên bàn thờ, tên này lấy súng mang trên người nhắm Nhà Tạm. Hắn bắn vỡ chén thánh và Mình Thánh Chúa đổ ra vương vãi. Bắn xong, hắn vẫn đứng yên, chĩa súng vào Nhà Tạm như muốn bắn tiếp. Các nữ tu vô cùng đau lòng vì Mình Thánh Chúa bị xúc phạm, nên quỳ xuống, van xin anh đừng bắn nữa, nhưng khi chạm đến anh, các nữ tu mới biết linh hồn hắn đã lià khỏi xác từ lúc nào rồi: Hn chết đng!
    5. Năm 1963, sau khi Tổng thống Ngô Ðình Diệm bị một số tướng tá phản bội lật đổ, một số người bên lương tràn vào Tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên (Huế), đập phá “tàn tích gia đình trị”. Khi thấy bức tượng Thánh Gioan Tẩy Giả, quan thầy của Tổng thống Diệm, một thanh niên trèo lên vác búa đập vỡ mặt mũi bức tượng, nhưng hắn b trt chân ngã xung và chết ngay lp tc. Sự kiện này xảy ra trước mắt nhiều người chứng kiến.
    6. Voltaire là bác học nhưng lại chống Thiên Chúa và phá Hội Thánh Công Giáo rất quyết liệt. Không một lời gian dối và vu oan nào mà ông tởm gớm. Ông chiêu tập một nhóm lấy tên là “Beelzebub” (Bê-en-dê-bun, tên của tướng quỷ). Năm 1753, ông đã lên án Thiên Chúa: “Hai mươi năm na Thiên Chúa v hưu, vì không còn ai phc v Ngài. Đúng hai mươi năm sau, năm 1773, Voltaire tt th vì chết thê thm. Ông đã thấy những hình ảnh làm ông run sợ và hét lên: “Mt bàn tay đang kéo tôi xa Thiên Chúa… Qy bt tôi… Tôi trông thy ha ngc. Ông tru tréo như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà già thường giúp người hấp hối, sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire, đã nói: “Khi y tôi gn giường ca Voltaire đang hp hi, tôi không mun nhìn thy mt người vô đo chết na. Một người khác chứng kiến cái chết của Voltaire cũng nói: “Nếu quỷ có th chết được, cũng không chết d như Voltaire.

    Ly Thiên Chúa, xin thêm lòng Tin Cy Mến cho con, vì con yếu đui lm. Xin đng đ sóng đi cun trôi con theo hướng vô đnh. Xin Thn Khí Chúa đnh hướng tâm linh đ con tin nhn Đc Giêsu Kitô là Vua cai tr đi con mà vui nhn mi mnh lnh ca Ngài Đng cu đ nhân loi, Đng hng sinh và hng hu, hin tr cùng vi Chúa Cha, và hip nht vi Chúa Thánh Thn đến muôn thu muôn đi. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÔI LÀ VUA

    Văn Hào

    Chế độ quân chủ tại Việt Nam với một ông vua cai trị đất nước kéo dài hàng chục thế kỷ đã thực sự cáo chung vào năm 1945, sau khi vị vua cuối cùng là Bảo Đại bị truất phế. Ngày nay ý niệm về một thể chế quân chủ đã hoàn toàn trở nên xa lạ đối với con người ngày hôm nay. Trên thế giới chỉ còn vài quốc gia như Anh quốc, Thái Lan, Nhật Bản… vẫn duy trì chiếc ghế của nữ hoàng hay hoàng thân, nhưng chỉ là sắc nét văn hóa theo truyền thống, còn thực quyền thì không có. Thể chế dân chủ được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Con người ngày càng văn minh càng thích sống bình đẳng, không ai muốn người khác đè đầu đè cổ mình. Cũng chẳng ai thích sống trong một chế độ mà quyền hành chỉ tập trung nơi một cá nhân, thậm chí vị lãnh đạo ấy nắm trong tay cả quyền sinh sát giống như các vua chúa ngày xưa.

    Như vậy mừng lễ Chúa Kitô làm Vua liệu có gây ra dị ứng nơi tâm thức của con người thời đại ngày hôm nay hay không, đặc biệt nơi giới trẻ? Đức Giêsu có thực sự là Vua hay đây chỉ là một lối nói cường điệu hóa giống như chúng ta suy tôn lãnh tụ một cách hình thức? Còn nếu Ngài đích thực là Vua, Ngài có bóp nghẹt tự do và nhân quyền của chúng ta hay không?

    Các bài đọc Lời Chúa trong phụng vụ hôm nay sẽ gợi mở cho chúng ta câu trả lời.

    Ông có phải là vua không?

    Hai ngàn năm trước Philatô đã nêu ra câu hỏi này khi Đức Giêsu bị điệu đến trước mặt ông như một tên tội phạm. Bài Tin mừng trong phụng vụ hôm nay thuật lại mẩu đối thoại này. Philatô dồn dập đặt ra nhiều nghi vấn, khi đối diện trước một con người đã từng được dân chúng tung hô là ‘Con Vua Đavit’, đã từng được dân chúng nể phục như một ngôn sứ vì đã làm nhiều điều lạ lùng không giải thích được. Philatô càng ngạc nhiên hơn bởi lẽ, một ông vua phải có dáng vẻ oai phong và hiển hách, nhưng đây chỉ là một con người rất bình thường, trong tay không có một tấc sắt để tự bảo vệ, không có một chú lính quèn để hộ tống. Ông mở to con mắt nhìn vào Đức Giêsu với sự kinh ngạc. Nếu ở vào vị trí của Philatô chắc hẳn chúng ta cũng sẽ đặt nghi vấn giống như vậy. Tuy nhiên khi đối diện với Philatô, Đức Giêsu đã không cần che dấu căn tính của mình. Ngài trả lời: “ Chính ông nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đức Giêsu khẳng định Ngài chính là Vua, và Ngài đến trong trần gian để khai mở Vương quốc của chân lý. Những thần dân của Ngài sẽ nghe tiếng Ngài vì họ là những công dân của Vương quốc sự thật. Philatô không hiểu và hỏi lại: “ Sự thật là gì?” Ông chắc chắn không hiểu nổi vì ông đâu có phải là thần dân của vương quốc ấy, vương quốc chân lý mà Đức Giêsu đã khai sáng (Ga 18, 33-38).

    Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu nói khá nhiều về ‘sự thật’. Ngài mặc khải tiệm tiến về Vương quốc mà chính Ngài sẽ khai mở. Khi nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, Đức Giêsu đã vén mở một nền phụng tự mới trong Vương quốc ấy: “ Thiên Chúa là Thần khí và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần khí và sự thật” (Ga 4, 24). Cũng vậy trong bữa tiệc ly để giã từ các môn sinh, Chúa Giêsu đã nói với Tôma: “ Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6 ). Đức Giêsu sẽ ra đi, tiến nhận cái chết và khai lập vương quốc của chân lý. Đồng thời Ngài cũng chính là sự thật, là con đường dẫn đưa chúng ta đi vào vương quốc ấy để chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Đối diện trước Philatô, Chúa đã khẳng quyết căn tính của Ngài, nhưng chắc chắn Philatô không hiểu nổi vì ông ta không ở trong quỹ đạo Nước Trời. “Nước tôi không thuộc thế gian này”(c 36). Tuy nhiên, chính Philatô đã cho treo một tấm bảng đóng trên Thập giá với hàng chữ :‘Giêsu Nazareth, vua Israel’. Có lẽ đây không phải là một sự tình cờ, song Thiên Chúa đã định liệu và sử dụng một ông quan ngoại giáo để công bố cho cả thế giới biết Đức Giêsu chính là Vua đích thật. Tuy nhiên chúng ta cần suy tư sâu xa hơn để tìm hiểu xem, trong vương quốc sự thật ấy, Chúa đã hành xử vương quyền như thế nào?

    Đức Giêsu quả là một vị Vua rất khác người, chẳng giống ai. Vương miện của Ngài là một vòng gai thấm máu đầy nhục nhã. Cẩm bào Ngài khoác chỉ là một tấm thân trần trụi bị treo thân vào khổ giá như một tên tử tội. Ngai vàng cao sang của Ngài là chỗ chuyên để hành quyết những tên cướp đáng sợ. Ngài đã đi xuống tận đáy bùn đen của xã hội loài người, bị đầy đọa, bị chửi rủa, bị khinh miệt và cuối cùng bị giết chết. Vương quốc Nước Trời mà Ngài nói tới là một Vương quốc đảo lộn mọi bậc thang giá trị mà con người vẫn thường đặt định. Sống trong Vương quốc đó, ‘ ai làm lớn nhất phải trở nên người bé nhất’ . Chính Ngài là một vị Vua cai trị theo một cung cách khác thường, đó là “ Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban sự sống cho nhiều người” (Mc 10,45).

    Philatô không hiểu là phải, bởi vì ông chưa làm ‘thẻ chứng minh nhân dân’ để trở thành công dân của một vương quốc xem ra có vẻ quái chiêu và nghịch thường đến như vậy. Nói tắt một lời, Vương quốc mà Chúa Giêsu thiết lập chính là Vương quốc của tình yêu. Đó không phải là một quốc gia hùng mạnh về quân sự, về dầu hỏa, về đôla hay về khí tài. Vương quốc của Đức Giêsu là Vương quốc tình yêu. Chỉ sống trong tình yêu chúng ta mới có được thẻ ID, thẻ căn cước để vào Nước Trời, nước của Ngài.

    Vương quốc của tình yêu

    Trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các học trò. Ngài nói với họ: “ Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Việc rửa chân cho khách đến nhà là công việc của những tôi tớ, thường là những tên nô lệ được ông chủ mua về. Người nô lệ không có một quyền hành nào hết và họ phải làm mọi công việc theo ý chủ. Đức Giêsu là Chúa là Thầy, là Vua Chúa hay là bậc Tôn sư của các môn đệ. Nhưng Ngài đã khiêm tốn hạ mình xuống để phục vụ như một tôi tớ hèn mọn. Vì thế trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu nói đi nói lại cho các học trò về khuôn mẫu của tình yêu. “ Không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15, 13). Tình yêu chính là bộ luật dân sự, là hiến pháp căn bản của Vương quốc Nước Trời. Tình yêu cũng chính là tên gọi của Thiên Chúa, hay nói cách khác tình yêu là chính Vương hiệu của Đức Kitô.

    Ngày 11/11/1951 trong một bài diễn từ, Đức Thánh Cha Piô 12 đã kể lại một giai thoại. Có một phụ nữ kia rất đạo đức, nhưng sức khỏe quá yếu ớt. Cô ta bị chứng sưng màng phổi và rất khó thở. Lâu lâu căn bệnh tái phát làm cô rất đau đớn. Nhưng cuối cùng cô cũng lập gia đình, mang thai và chờ ngày sinh nở. Bất hạnh bất ngờ ập đến. Căn bệnh năm xưa tái phát trầm trọng. Các bác sĩ đề nghị phải hủy bỏ thai nhi để bảo toàn tính mạng cho người mẹ. Người chồng cũng đồng ý như thế. Cô đã cầu nguyện trong nhiều ngày và kiên quyết từ chối lời đề nghị của bác sĩ. Cô nói trong nước mắt: “ Tôi không thể giết con của tôi. Con tôi phải sống, cho dù tính mạng tôi có ra sao đi nữa”. Cô ta chấp nhận tình huống xấu nhất có thể xảy ra và phó thác hoàn toàn cho Chúa. Cuối cùng cô đã sinh được một bé gái kháu khỉnh, nhưng sau đó sức khỏe của cô ngày càng suy kiệt. Hai tháng sau, người phụ nữ tắt thở, trên tay vẫn ôm chặt lấy đứa con mà cô ta hết lòng thương mến. Hơn hai mươi năm trôi qua, người ta thấy một nữ tu trẻ rất xinh đẹp đang ân cần chăm sóc cho các cháu bé mô côi trong một trại tế bần. Vòng tay thân thương và cặp mắt long lanh của vị nữ tu sáng rực lên nét yêu thương mà chị đã được truyền thụ lại từ chính người mẹ của mình. Đó là người phụ nữ năm xưa đã chấp nhận hy sinh tính mạng để cho con bà được sống. Người mẹ can đảm này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong Chân phước, bởi vì bà đã thực sự đi vào Vương quốc tình yêu theo dấu chân của Đức Giêsu. Chính Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 đã nói: “ Một đất nước nào, một chế độ nào cho phép con người sát hại lẫn nhau, thì đất nước đó, chế độ đó đang đi tới hủy diệt”. Đó là một đất nước đi ngược lại hiến pháp của Vương quốc Đức Giêsu. Sống trong Vương quốc này, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘nền văn minh của tình thương’. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng nói: “ Một người mẹ nhẫn tâm giết chết con của mình, thì không còn một thứ tội ác nào mà họ không dám làm”. Biết bao tội ác nhan nhản đang xảy ra trong xã hội hôm nay vì người ta đang dần đánh mất đi thẻ ID (identity card) để chứng minh mình là công dân Nước Trời.

    Kết luận

    Một nhà tâm lý học đã nói: “ Trong tình yêu, con người rất dễ trở thành người điên.” Điều đó rất đúng nếu chúng ta ngắm nhìn Thập giá Đức Giêsu và Vương quốc của Ngài. Hêrôđê đã mặc cho Chúa chiếc áo đỏ để chế diễu Ngài như một ông vua nửa điên nửa khùng. Khi chịu đóng đanh trên Thập giá, chiếc áo đỏ của Chúa đã bị lột ra, nhưng sự điên rồ vẫn còn rất đậm nét. Cũng trên Thập giá điên rồ ấy, Đức Giêsu khai mở Vương quốc sự thật, đó là Vương quốc của tình yêu. Càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chúng ta càng trở nên thần dân của Vương quốc cao cả này. Lúc bấy giờ “ Ai nấy sẽ thấy Người, kể cả những kẻ đã đâm người. Kìa Người ngự đến giữa đám mây” (Kh 1, 7).

    Về mục lục

    .

    CHÂN LÝ

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Tiên tri Đaniel đã ngắm nhìn thị kiến về vương quốc vĩnh cửu. Vị Bô Lão ban cho Con Người quyền năng, vinh dự và vương quốc. Mọi dân tộc sẽ qui tụ về để phụng sự Ngài. Đây là thị kiến về ngày cánh chung. Không ai biết được ngày giờ kết cùng của thế giới. Khi chúng ta có mặt ở đời, mọi sự đã có đó và luôn chuyển động. Con người được thông dự sự sống với muôn loài và muôn vật. Con người là loài cao quí được Thiên Chúa ban cho có hồn có xác. Xác hồn kết hợp để hoàn thành sứ mệnh được trao ban.Chúng ta hiện hữu trên trần gian một khoảnh khắc thời gian rồi lại trở về cát bụi. Tuy cuộc đời của chúng ta ngắn ngủi phù du, thân xác sẽ tan biến nhưng linh hồn sẽ hiện hữu đến muôn đời. Mọi sinh hoạt trong cuộc lữ hành trần thế sẽ dẫn bước chúng ta về chung hưởng hạnh phúc bên Đấng quyền năng trong vương quốc của Ngài.

    Sách Khải Huyền của thánh Gioan cũng diễn tả về hình ảnh của ngày cánh chung. Chúa Giêsu Kitô là thủ lãnh của các vua, Vua các vua và là Đấng yêu thương đã hiến mình rửa sạch tội lỗi của chúng ta. Ngài là trưởng tử những kẻ đã an giấc, đã sống lại và đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha: Ngài là Thiên Chúa, Đấng đang có, đã có và sẽ đến. Chúng ta đặt niềm tin vào những lời mạc khải của Con Thiên Chúa. Con người chúng ta bị giới hạn mọi mặt và tâm trí không hiểu thấu những sự cao siêu. Ngay trong vũ trụ vật chất hiện hữu chung quanh, con người cũng chỉ mới khám phá một chút ven bìa giới hạn của một số nhỏ hành tinh. Tâm trí và giác quan của con người đắm chìm thưởng ngắm vũ trụ bao la để nhận ra sự cao siêu vô lường của Tạo Hóa. Chúng ta chẳng biết đâu là bến bờ. Thánh Gioan đã diễn tả về sự vô thủy vô chung của vũ trụ qua Đấng Toàn Năng phán: Ta là Alpha và Ômêga, là nguyên thủy và cứu cánh (Kh 1, 8).

    Kinh Thánh mạc khải giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của vũ trụ và sự sống. Với những suy tư tìm tòi của con người qua mọi thời đại, nhân loại vẫn còn lần mò trong đêm tối của vô minh. Những suy tư triết học, thần học và khoa học chỉ trả lời một cách rất khiêm tốn về sự hiện hữu của vũ trụ và muôn loài. Có nhiều giả thuyết tìm cách giải thích sự có mặt của vũ trụ theo thuyết Tiến hóa, Ngẫu nhiên hoặc Tự nhiên hình thành. Các khoa học không thể giải đáp một cách thỏa đáng cho những khao khát của tri thức con người muốn tìm hiểu về cội nguồn. Trí khôn của con người không vượt qua được biên giới của sự hiện hữu và chung cục. Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta về nguồn gốc và cứu cánh của vũ trụ và con người. Đây là một chân lý cao siêu mà Chúa Giêsu đã làm chứng.

    Đứng trước tòa án của Philatô, Chúa Giêsu đã phát biểu một cách công khai: Tôi sinh ra và đến trong thế gian nầy là chỉ để làm chứng cho Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tôi (Ga 18, 37). Lời của Chúa Giêsu là thần trí và là sự sống. Ngài đến thế gian để làm chứng cho chân lý. Chân lý là sự thật. Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống. Sự thật nằm trong tâm thiện. Lời sự thật là không quanh co, giả dối, lừa lọc, dối trá hay gian manh. Đôi khi nói sự thật thì mất lòng nhưng chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc bất công. Chúa Giêsu nói rằng ai thuộc về chân lý thì nghe lời Ngài dạy. Chúng ta đã nhận lãnh Bí tích Rửa Tội để trở nên chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Chúng ta thuộc về Chúa, như thế chúng ta cũng thuộc về chân lý. Thuộc về chân lý thì phải suy nghĩ sự thật, phát biểu sự thật và hành động trong sự thật.

    Chúa Giêsu nhìn sự thật trong tận đáy tâm hồn mỗi người. Con người thì thích phô trương và xuất hiện bên ngoài để kéo chú ý của người khác. Giống như các mặt hàng cần quảng cáo ra thị trường, các tiếp viên đã tô điểm bên ngoài, làm đẹp, chào hàng hấp dẫn để kéo lôi khách hàng. Cũng giống như các chính trị gia đã không ngại dùng mọi thủ đọan để hứa hẹn, tô bóng và khuyến dụ các cử tri dồn phiếu. Giữa sự xuất hiện bên ngoài và sự thật có một khoảng cách xa. Có những người rất khôn khéo trong lời nói và thuyết phục đã kéo lôi được nhiều thành viên. Sự dối trá ẩn nấp trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Chúng ta cần sống trung thực qua ý tưởng, lời nói và việc làm: Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ (Mt 5, 37). Nhớ điều răn thứ 8 là chớ làm chứng dối.

    Có một số cụm từ tiếng Anh mà người nói dối hay dùng: Never, khi bị ai bắt gặp đang nhìn một cái gì không tốt và bị chất vấn, người đó liền chối ngay là không bao giờ. That man/woman’, dùng chữ đó để diễn tả một sự xa cách với người đó. ‘I would never do something like that’ tôi không bao giờ làm những việc như thế. Yes, ma’ma, nếu một người nào không có lý do, tự dưng nói mama với bạn, hãy cẩn thận. By the way, người nói dối dùng chữ này để người khác chú ý hơn tới điều họ sẽ nói sau. ‘I know you think I’m lying, but…Tôi biết bạn nghĩ rằng tôi đang nói dối, nhưng…Why would I do that?’What kind of person do you think I am? Tự bào chữa bằng cách hỏi tại sao tôi làm thế? Bạn nghĩ tôi là loại người nào? Người nói dối quanh qua, quẩn lại cũng chỉ là tránh né vấn đề nói sự thật.

    Mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm về cách đối xử trong thế thái nhân tình. Người đời nói: Một sự bất tín vạn sự không tin. Trong dụ ngôn những yến bạc rút ra cho chúng ta một bài học về sự tín trung và chân thật: Ông chủ nói với người ấy: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh (Mt 25, 23). Sự chân thành là một đức tính tốt cần tu luyện mỗi ngày. Người ta nói rằng khôn ba năm dại một giờ, đôi khi vì sự sa ngã bất trung dại dột trong chốc lát mà mất cả chì lẫn chài. Đặc biệt trong đời sống gia đình, vợ chồng cần trung tín và thành thật với nhau trong mối tương giao. Chúng ta biết rằng mọi việc làm dối trá trong bóng tối rồi cũng sẽ có ngày được phơi bày ra ánh sáng.

    Mang danh là Kitô hữu, chúng ta là nhân chứng cho sự thật. Sự thật bắt nguồn từ Thiên Chúa. Ngôi Ba Thiên Chúa là Thần Chân Lý. Chúa Giêsu đã hứa cùng các môn đệ: Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14, 26). Sự thật thì rất đơn sơ, rõ ràng, trong sáng và có tính thuyết phục. Sự thật không cần đối chất. Ai ở trong Chúa thì yêu mến sự thật. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi những phiền muộn và lo lắng. Sống sự thật là sống trong an lạc và hạnh phúc. Chúng ta có thể tìm kiếm chân lý qua cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa Giêsu Kitô: Ai thuộc về Chân lý thì nghe tôi. Đáp lời hỏi của Philatô: Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao? ” Đức Giêsu đáp: “Quan nói đúng: Tôi là Vua (Ga 18, 37). Chúa Giêsu chính là Vua vũ trụ, Vua muôn vua.

    Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến để khai mở tâm trí chúng con, để chúng con biết suy tưởng sự thật, loan truyền sự thật và sống sự thật. Xin cho chúng con tìm đến sự thật tuyệt đối nơi thập giá Chúa Kitô. Từ thánh giá Chúa, chúng con sẽ được múc tận nguồn ơn tha thứ và lòng thương xót.

    Về mục lục

    .

    VỊ VUA TRÊN THẬP GIÁ

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An 

    Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.

    Chúa Giêsu đăng quang làm Vua khi bị đóng đinh trên Thập giá. Giây phút Chúa được tuyên xưng là Vua chính là khi bị treo trên Thập giá, đầu gục xuống. Thật lạ lùng! Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, Vị Vua Bị Đóng Đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng: “ Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43). Người trộm bên hữu đã nhận ra vị vua tình yêu, nên anh đã xin với Ngài nhớ đến anh khi vào vương quốc của Ngài.Anh đã tuyên xưng vị vua tình yêu chiến thắng.Tình yêu đã chiến thắng mọi trở ngại: từ những lời thách thức của những người đòi một vị vua uy quyền đến cái chết khổ đau. Trên Thập giá, Vua Giêsu đã mang lấy tất cả tội lỗi nhân loại, gánh chịu mọi khổ đau, nhục nhã. Chính tình yêu chiến thắng của Vua Giêsu đã cứu chuộc nhân loại, đã nối kết con người lại với Thiên Chúa như thánh Phaolô đã xác quyết : “Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã giao hòa với mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời“(Cl 1,20).          

    Trong tất cả những gì đã viết về Chúa Kitô, có lời nào bi đát hơn lời của Thánh Gioan ở lời tựa sách Tin Mừng: “Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận” (Ga 1,11). Bêlem không có chỗ cho Ngài sinh hạ, Nadarét không có chỗ cho Ngài sinh sống, Giêrusalem không có chỗ cho Ngài chết.

    Bốn mươi ngày sau khi Ngài sinh hạ, cụ già Simêon đã nói với Mẹ Maria : “Ngài sẽ là dấu gợi lên chống đối”(Lc 2,34). Đó là một kiểu nói khác chứng thực điều Thánh Gioan đã nói. Chưa được hai tuổi, Ngài đã bị binh lính Hêrôđê lùng sục để sát hại. Suốt những năm tháng rao giảng Tin Mừng, Ngài cũng bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị kết án loại trừ và bị đóng đinh khổ giá.

    Chúa Giêsu Kitô đã chọn Thập giá làm phương thế thực hiện Ơn Cứu Rỗi. Thập giá được tạo nên do hai thanh gỗ, một nằm và một đứng. Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự hận thù ghen ghét của thế gian; thanh đứng tượng trưng cho tình yêu và sự sống vươn cao. Hai thanh bắc ngang nhau tượng trưng cho sự tương phản giữa sự sống và sự chết; giữa vui và buồn; cười và khóc; hận thù và thứ tha; ghen ghét và yêu thương; giữa ý muốn của con người và ý muốn của Thiên Chúa. Đặt thanh sự sống và tình yêu lên thanh sự chết và oán thù là cách duy nhất để làm nên một thập giá.

    Chúa Kitô lên Ngôi Vua vũ trụ trên Thập giá để thiết lập vương quyền Nước Thiên Chúa.

    Nói đến vua, chúng ta thường nghĩ đến con người uy quyền, đầu đội vương miện, mình mặc cẩm bào, ngồi trên ngai vàng xét xử trăm họ.Ngày nay, người ta còn nói đến vua xe hơi, vua bóng đá, vua dầu lửa, vua vi tính… Đó là những thần tượng giàu có, sang trọng của con người thời đại. Chúa Giêsu là vua không phải theo kiểu trần thế, vương quyền của Ngài không theo kiểu chính trị. Chúa Giêsu là vua sự thật, vua tình yêu, vua niềm tin.Vương quyền Chúa Giêsu là vương quyền yêu thương, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.

    Bài Tin Mừng đưa chúng ta về với Chúa Giêsu trên Thập giá.Vị Vua bị lăng nhục, các thủ lãnh thế gian cười nhạo, lính tráng chế diễu, một trong hai kẻ gian phi cũng tranh thủ nhục mạ. Những lời chế diễu cũng là những thách thức và cám dỗ gay gắt. Chẳng lúc nào Chúa làm Vua rõ ràng bằng lúc này. Tấm bảng trên Thập giá ghi bằng tiếng Hípri, Latinh và Hylạp chữ INRI – Jesus Nazarenus Rex Judaeorum – Giêsu Nadarét là Vua dân Do Thái. 

    Nhưng kiểu làm Vua của Ngài thật khác thường : không có vương miện mà chỉ có vòng gai, không có cẩm bào mà chỉ có trần trụi nhơ nhuốc, không có câu tán tụng mà chỉ có lời nhạo báng khinh chê. Bị treo trên Thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc rất ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ của Satan buổi đầu: “Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình.Hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40). Chỉ cần xuống khỏi Thập giá là chinh phục được mọi người, từ giới lãnh đạo đến những người chưa tin.Chỉ cần xuống khỏi Thập giá là có ngay được một thành công rực rỡ. Nhưng Đức Giêsu đã không xuống khỏi Thập giá. Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến. Chính vì Ngài là Con của Chúa Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi Thập giá, như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.

    Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục. Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.

    Mừng Lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, người Kitô hữu muốn khước từ những thần tượng trần thế, muốn để Ngài làm vua của lòng mình.Người Kitô hữu muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực của cuộc sống: văn chương, khoa học nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội …để xây đắp hoà bình và tình thương cho trần thế.

    Vương quốc Chúa Giêsu không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ, vương quốc ấy không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người. Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc vương quốc của Ngài.

    Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố : “Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.

    Qua hơn 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu làm cột mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công nguyên thì nói như Thánh Gioan Phaolô II : “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.

    Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cử chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành : “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta”.

    Mỗi người tự xét mình xem Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân chưa? Ngài đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa?

    Lạy Chúa Giêsu, Vua Tình yêu, Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã ban chính sự sống mình, xin Chúa chiếm trọn con người chúng con từ tư tưởng, lời nói đến việc làm, để chúng con không còn thuộc về thế giới của bóng tối, của tội lỗi, nhưng thuộc về vương quyền của Chúa, là vương quyền của sự sống và chân lý, của ân sủng và thánh thiện, của công lý và hoà bình. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU  KITÔ VUA_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Hôm nay cùng với Giáo hội, chúng ta hân hoan mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua. Chúng ta nhận biết trong suốt thời gian sống ở trần thế này, Chúa Giêsu chỉ rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ và chữa lành mọi bệnh tật tâm hồn và thể xác. Chưa bao giờ Chúa Giêsu nhận mình hay tự xưng mình là vua, mặc dầu dân chúng đôi khi muốn tôn vinh Ngài làm vua. Nhưng về cuối đời và trong cuộc thương khó, Chúa đã công khai xác nhận vương quyền của Ngài trước mặt quan Philatô như trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe. Chúa khẳng định “Ngài nói đúng, Tôi là vua.” Nhưng để tránh ngộ nhận, Chúa nói thêm “Nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này.”

    Sau khi đã hoàn thành sứ vụ và trở về Vương Quốc, Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su Ki-tô đã được Chúa Cha trao quyền cai trị muôn loài trên trời, dưới đất. Và trong ngày tận thế, kết thúc lịch sử loài người, Ngài sẽ đến trong vinh quang để qui tụ mọi sự, mọi loài về với Ngài. Chúng ta nhận biết, Vua Giê-su Ki-tô của chúng ta không giống như những vị vua trong lịch sử nhân loại. Chúa không cưỡng ép hay bắt buộc một ai phải trở thành công dân hay phục vụ Ngài. Chúa chỉ kêu mời mọi người gia nhập, mong ước mọi người yêu mến Ngài và chân thành sống chân lý “mến Chúa yêu người” của Ngài mà thôi. Chúng ta biết quyền lực của tất cả vua chúa, tổng thống, thủ tướng và chủ tịch có giới hạn và tạm thời ở trần gian này mà thôi. Nhưng chân lý và quyền lực của Chúa Giê-su Ki-tô Vua thì vĩnh cửu và tồn tại đến muôn muôn đời.  

    Ông bà anh chị em thân mến. Khi chịu Bí tích Thánh tẩy, chúng ta đã trở thành công dân và chia sẻ vào vương quyền của Chúa Giê-su Kitô. Chính vì vậy cho nên, là những công dân trong Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã thiết lập ở trần gian này, chúng ta có bổn phận và trách nhiệm tiếp tục xây dựng, trở thành những chứng nhân bằng cách sống giáo huấn Chúa dạy trong Tin mừng, cũng như thờ phượng, trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô, và làm sáng danh Chúa.

    Trung thành và làm sáng danh Chúa, đó cũng là lý do tại sao cha ông của chúng ta là các thánh Tử đạo đã can đảm, cương quyết và vui mừng chịu những sự đau đớn thể xác, lấy máu đào và cái chết của mình để minh chứng Chúa Giê-su Ki-tô là Vua trên hết các vua. Thật vậy, “tử đạo” có nghĩa là “làm chứng và làm sáng danh.” Như vậy việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người, sẵn sàng hy sinh bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, tiền bạc, vật chất và sự sống chết đi để làm chứng cho đức tin, cho Tin mừng và làm sáng danh Chúa Giê-su Ki-tô Vua. Bây giờ, các ngài đang đang thực sự hưởng vinh phúc trong vương quốc của Chúa. Máu tử vì đạo của các ngài là phân bón và là những dòng nước tưới vào hạt giống đức tin của con dân Việt, và đã phát sinh lên một cây Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Chúa Kitô đã nói, “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

    Để làm chứng và sáng danh Chúa, các thánh tử đạo Việt Nam, cha ông chúng ta, đã phải có những quyết định và chọn lựa can đảm để trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô. Có khi thật khó khăn, nhưng có khi rất đơn giản như bước qua Thánh giá hay không bước qua. Bước qua thì có ngay vinh hoa phú quí, danh vọng và tiền bạc, nếu không bước qua thì lập tức lãnh lấy những cực hình và cái chết. Đứng trước Thánh giá Chúa Giê-su, có người đã bước qua, nhưng cũng có nhiều người can đảm không bước qua, và cũng có người bị khiêng qua thập giá.   Có người đã bước qua, nhưng sau lại hối hận, ăn năn quay trở về với Chúa, đó là trường hợp của ba vị thánh Phan Viết Huy người làng Hạ Linh; Bùi Đức Thể quê làng Kiên Trung, và Đinh Đạt sinh tại Phú Nhai.
    Quyết định và chọn lựa này của các thánh tử đạo bày tỏ thái độ cương quyết của chính bản thân các ngài đối với Vua Giêsu Ki-tô.   Các ngài đã can đảm chọn Chúa và để làm sáng danh Chúa, thay vì chọn cái tôi to lớn, hay chọn danh vọng và vật chất tiền bạc. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá Chúa Ki-tô tôi kính thờ, tôi bước qua sao được.” Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đã bày tỏ chọn lựa của mình một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá, “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!” Đây thật là một quyết định, một sự chọn lựa hùng hồn của lòng tin mạnh mẽ và chắc chắn vào Chúa Giê-su Ki-tô, Vua trên hết các Vua, Chúa trên hết các Chúa.
    Ông bà anh chị em thân mến. Mừng lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua và các thánh Tử đạo tại Việt Nam, một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta, là con cháu của các ngài, suy xét lại cuộc sống đức tin của chúng ta ngày hôm nay như thế nào. Chúng ta hãy tự hỏi chính mình, “Tôi đang chọn Chúa hay tôi đang chọn tôi?” “Tôi đang làm vinh danh Chúa hay tôi đang vinh danh chính tôi?” Và nếu tôi thực sự chọn Chúa Giê-su Vua như các Thánh Tử Đạo cha ông tổ tiên, thì tôi phải làm gì, và sẽ sống như thế nào, để trung thành với Chúa và chứng minh cho lựa chọn, quyết định của mình?

    Chúng ta biết, cuộc sống và quyết định của chúng ta hôm nay, nhất là trong quốc gia và xã hội tự do này, không đòi chúng ta phải chịu nhiều đau khổ hay đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng cũng không kém phần khó khăn và thử thách. Hôm nay, tất cả chúng ta đang đứng trước, đối diện với những sự lôi cuốn của tiền tài vật chất, trước sự cám dỗ của đời sống ích kỷ cá nhân, tự cao và lười biếng. Vậy chúng ta phải sống như thế nào để trung thành sống lời Chúa dạy, để vinh danh, để làm sáng danh Chúa, và để xây dựng Nước Thiên Chúa?  

    Ông bà anh chị em thân mến. Cùng với tất cả mọi người sống trong quốc gia Hòa Kỳ này, tuần này chúng ta mừng lễ Tạ ơn. Chúng ta có nhiều lý do và nhiều người để tạ ơn. Nhưng là những người có đức tin, công dân của Nước Thiên Chúa, và là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, trong ngày kính Chúa Giê-su Ki-tô Vua hôm nay, chúng ta ý thức rằng chúng ta phải có một cuộc sống cảm tạ, tri ân, vì thật ra, tạ ơn là trung tâm đời sống đức tin của người Ki-tô giáo.

    Xin Thiên Chúa, qua lời cầu bầu của các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, giúp chúng ta có cuộc sống chứng nhân trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô Vua, luôn sống cảm tạ tri ân bằng sự hy sinh và lòng quảng đại, và có những quyết định và chọn lựa sáng suốt trong cuộc sống, để “Cây Đức Tin” của mỗi người chúng ta luôn có sức sống, sinh ra những hoa quả hữu ích để lại cho con cháu đời này, để chúng ta cùng được chung hưởng vinh phúc Vương Quốc của Chúa đời sau, với các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cha ông của chúng ta.

    Về mục lục

    .

     

    NÓI SỰ THẬT

    Lm. Jos. DĐH

    Biết nói sự thật, dám sống sự thật, nhất định phải là một quá trình tập luyện, vì theo qui luật : học ăn học nói học mở, luôn là nhu cầu cần thiết cho việc ăn nói, học tập và ứng xử của con người. Từ xa xưa, các bậc tiền nhân của chúng ta đã biết xây dựng những câu ca dao tục ngữ để dạy dỗ con cháu, thật đáng nể phục : những người tính nết thật thà, đi đâu cũng được người ta tin dùng; một lời nói ngay, bằng ăn chay cả tháng. Chẳng biết có ích, có hay như thế nào về việc nói thật, sống thật, chắc chắn cha ông chúng ta phải có trải qua kinh nghiệm nên các ngài mới quả quyết : ăn chay nói thật, mọi tật mọi lành.

    Nói sự thật, làm chứng cho sự thật, không hề đơn giản, khi mà xã hội có những nghi ngờ như : thật thà thường thua thiệt; sự thật mất lòng, dù biết rằng kinh tế chính trị và đạo làm người có khác nhau. Rõ ràng giáo dục ở gia đình, ở học đường, không ai lại dạy sự gian dối, nói ngoa nói khoác, nhưng quanh ta, “quả đắng”, “quả chua cay”, vẫn đang gây nên sự trì trệ xã hội. Suy gẫm một chút, có thể chúng ta sẽ thấy lý thuyết và thực hành xa nhau lắm, rất cần những mẫu gương “dám nói, dám làm”; biết vui, biết cười, biết chia sẻ chân lý tình yêu thương mà chúng ta đang thừa hưởng.

    Đức Kitô Vua vũ trụ có ảnh hưởng gì tới xã hội hay không, hẳn còn tùy thuộc nơi mỗi người tín hữu chúng ta. Mến Chúa yêu người, không thể dừng lại trong nhà thờ, sự tinh túy của tri thức, của vẻ đẹp, rất cần được biểu lộ bằng hành động. Xã hội thời nào mà chẳng có giới trí thức, giới bình dân, có người tốt, người chưa tốt; và dù là đối tượng nào họ cũng hiểu câu ca dao : nói lời thì giữ lấy lời, đừng như ong bướm đậu rồi lại bay. Cha ông chúng ta khuyên dạy con cháu : học khôn học đến chết, học nết học đến già.

    Chúa Giêsu hôm nay thì thẳng thắn với Philatô : “quan nói đúng đó, Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này để làm chứng cho Sự thật, ai thuộc về Sự thật thì nghe tiếng Tôi”. Cuộc đối thoại với Philatô chưa dài, nhưng không hề ngắn, đủ để các học trò, và các thế hệ những người tin Đức Kitô, hiểu biết Sự thật là gì, như thế nào là sống chứng nhân, như thế nào là Vua Tình Yêu.

    Ngàyhôm nay, tin tức thời sự vẫn thu hút và ích lợi cho các nhà chính trị; điếu thuốc thơm, ly rượu mạnh, chỉ hấp dẫn người nghiện; còn tình yêu và cách sống đẹp, luôn là viên thuốc bổ cho mọi tầng lớp xã hội. Khi Philatô hỏi “Ông có phải là vua dân Do-thái không” ? hẳn Philatô nghĩ đến vương quyền chính trị; lúc Chúa Giêsu trả lời, quan nói đúng, Tôi là Vua, thì Chúa muốn tỏ bày Ngài là Vua Tình yêu, Vua Cứu Thế. Uy quyền trần gian mau qua chóng tàn như câu thành ngữ : quan nhất thời, dân vạn đại, nhưng đâu phải ai cũng thắng vượt được những ham hố bổng lộc ?

    Quan niệm chung chung ở đời : được làm vua, thua làm giặc; dù tài giỏi tới đâu, nhưng nếu cách sống của ta bất nhân bất nghĩa, người ta cũng chỉ nhìn thấy “cái tật”, làm sao đáng được gọi là tài giỏi nữa ! Khi nói tới thành công, chúng ta vẫn cho rằng họ phải là người có tài, có đức, biết nói thật thì cũng biết sống sự thật, và có đạt được thành quả cao, cũng không phải là điều khó hiểu.

    Chúa Giêsu hôm nay trước quan Philatô, Ngài cũng chỉ là “kẻ thua trận”, đang đợi phán quyết của vương quốc trần gian; cho dù Philatô đã nghe, đã hiểu Chúa Giêsu nói : “Nước Tôi không thuộc về thế gian này”. Chúa Giêsu thành công không phải là làm cho Philatô hoảng sợ vì chức vị “Vua” dân Do-thái; thực ra, Vương Quyền của “Sự thật” từ đó được minh chứng cách trọn vẹn hơn.

    Để cho Philatô và cho người thời đại hôm nay biết Ngài là Vua, Đức Giêsu nói lên sự thật, sống sự thật : “ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng Tôi”. Khi đối diện với bản án chết, với mưu mô quyền lực thế trần, Chúa Giêsu đã cho nhân loại biết đâu là Vua Tình Yêu, và như thế nào là làm chứng cho Sự thật. Nước Thiên Chúa không có “xe tăng đạn pháo”, không có hận thù chia rẽ, vì vậy mà Nước Chúa chỉ có tình yêu, có những tâm hồn chân thật, có những chứng nhân của Sự thật mà thôi.

    Người đời ai cũng có kinh nghiệm : một lần bất tín, vạn lần không tin. Biết Thiên Chúa là Tình Yêu, tuyên xưng Đức Giêsu là Vua Tình Yêu, người ta phải sống Đức mến yêu, mới đáng gọi là thần dân của Vua Giêsu. Ca dao có câu : vàng thời thử lửa, thử than, chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Ở đời người ta khéo mồm miệng đỡ chân tay, nhưng là con dân của Vương quốc tình yêu, chúng ta phải sống thật, phải có lòng tin yêu chân thật. Hy vọng mỗi chúng ta không ngại nói lên sự thật, chúng tôi là học trò của Vua Tình Yêu, chúng tôi đang sống ơn gọi làm chứng nhân cho “Sự thật”. Amen.

    Về mục lục

    .

    VUA TÌNH YÊU

    Huệ Minh

    Ta không sống ở chế độ phong kiến để ta được nhìn thấy vua ! Thật sự ra dù ta có sống trong chế độ phong kiến đi chăng nữa ta cũng chẳng thể nào gặp được vua. Đơn giản là chỉ có những vị trong triều đình cao cấp may ra mới có thể nhìn thấy mặt vua mà thôi.

    Xem trong phim ảnh, ta thấy kiệu vua khi vua vi hành nhưng cũng không thể nào nhìn thấy mặt vua. Trong khi vua vi hành, ai nào đó dại dột ngước mắt nhìn vua sẽ bị tru di tam tộc.

    Và, đâu đó dù không thấy, không biết, không gặp nhưng ta vẫn nghe nói về quyền lực của nhà vua. Nói hơi quá, vua muốn cho ai sống thì người đó sống, còn nếu như vua muốn ai chết thì người đó phải chết. Và như thế, ta thấy được vua không công bằng và có khi sống sai với sự thật và không dám đối diện với sự thật.

    Chúa Giêsu đến trong trần gian với tư cách là vua nhưng không phải là vua của trần gian mà là vua vĩnh cửu, vua vĩnh hằng.

    Thật sự như thế, ta thấy trải qua bao thế hệ và bao nhiêu đời, vương quyền của con người dù mạnh thế đến đâu đi chăng nữa nhưng rồi cũng sẽ mất theo thời gian. Đơn giản và dễ hiểu đó là cuộc đời của những vị vua trần gian, vương quyền của họ chỉ có ngần có hạn mà thôi.

    Vua muôn vua, chúa các chúa mới chính là vua thật bởi lẽ Ngài có quyền trên muôn loài muôn vật và muôn người.

    Nhìn vào cuộc đời của vị vua vĩnh cửu này, nét mà ta thấy rõ nhất đó chính là  tình yêu. Chính vì tình yêu, bởi tình yêu và do tình yêu mà vua Giêsu đã đến trong trần gian này. Không chỉ nói nhưng vua Giêsu đã minh chứng cuộc đời, tình yêu của mình bằng chính việc hiến thân mình, hiến thân tình yêu cho nhân loại trong yêu thương và phục vụ.

    Không có tình yêu nào cao cả cho bằng chết cho người mình yêu ! Thật thế, ai đã yêu thương như Chúa.

    Cũng vì yêu thương, Ngài đã chịu chết ngay cả khi chúng ta ngay khi chúng ta là tội nhân như tâm tình của thánh Phaolô tông đồ.

    Bằng cái chết, Chúa đã chứng minh một cách hùng hồn, là một đỉnh cao tuyệt vời của tình yêu như lời Ngài nói: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

    Vì yêu thương, Ngài đã tự khiêm tự hạ và tự bỏ mình đi, hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Ngài đã hiến thân như người mục tử hy sinh tính mạng để bảo vệ cho đoàn chiên.

    Ngài cảm thông thân phận yếu đuối của chúng ta nên không nghiêm khắc kết án. Ngay cả người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Ngài nhân từ dạy chúng ta: Hãy nghiêm khắc với bản thân và rộng rãi với người khác. Không bới lông tìm vết, không nguyền rủa chửi bới. Hãy yêu thương kẻ thù và tha thứ cho nhau mãi mãi. Ngài đề cao phục vụ và kêu gọi chúng ta phục vụ, vì thế Ngài nói: Ta không đến để được phục vụ, nhưng đến để phụv vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Ngài muốn chúng ta noi gương bắt chước Ngài, cũng sống tình bác ái yêu thương và phục vụ.

    Và để cho việc yêu thương không chỉ là một lời khuyên tuỳ ý, nhưng là một mệnh lệnh có tính cách bắt buộc, Ngài đã ban bố giới luật yêu thương: Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. Và tình yêu thương đã trở thành một giới răn quan trọng nhất như là lòng kính mến Thiên Chúa.

    Hơn thế nữa, Ngài đòi buộc : “Cứ dấu này người ta nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau”.

    Tình yêu thương của Chúa Giêsu đã trở nên nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao nhiêu sáng kiến, bao nhiêu tổ chức, bao nhiêu phong trào, bao nhiêu dòng tu chuyên lo việc yêu thương phục vụ. Chúng ta thử thưởng tượng xem: Thế giới này sẽ ra sao, nếu đã không có những người, những phong trào, những tổ chức, những dòng tu như thế. Nhân vật hiện nay đang được cả thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh đó là Mẹ Têrêsa Calcutta. Vì sao? Vì Mẹ đã noi gương Đức Kitô và thực hành lời Ngài dạy, đó là đem tình thương đến cho những người nghèo khổ và bất hạnh.

    Quả thực, trong lịch sử nhân loại, không có một nhân vật nào giàu lòng nhân từ thương xót như  Đức Kitô. Thật lạ lùng vì mặc dù là Đấng Tối Cao, Ngài vẫn tự nguyện làm người tôi tớ, phục vụ chúng ta. Và còn lạ lùng hơn nữa vì mặc dù Ngài không cần ai, song Ngài lại muốn cần đến chúng ta và tình yêu của chúng ta. Và sau hết, điều lạ lùng hơn cả vì mặc dù là Thiên Chúa, Ngài lại khao khát trở nên bạn hữu của chúng ta và chờ mong chúng ta tiếp nhận Ngài qua những kẻ khổ đau và bất hạnh.

    Yêu là trao ban và trao ban đến cùng. Tình yêu, đó là món quà quí nhất của Thiên Chúa đã trao tặng con người. Từ nay, để sống đích thực là người, con người cần phải dốc cạn con tim mình để yêu thương và trao ban cho đồng loại. Chúa Giêsu đã lấy tình yêu thương và phục vụ làm quyền bính cai trị. Ngài đã trở nên gương mẫu đích thực cho các nhà lãnh đạo, cho các người cầm quyền. Ai biết yêu thương và phục vụ như Ngài thì mới được tham dự vào vương quyền của Ngài trong Nước của Ngài, vì “Phục vụ là cai trị” vậy.

    Ngày hôm nay, cơ hội để ta làm sổ tổng kết cuộc đời của ta trong suốt năm qua. Tổng kết sổ  ở cuối năm Phụng Vụ không phải là tổng kết năm nay ta có bao nhiều tiền, ta thu nhập được bao nhiêu và ta tích lũy được bao nhiêu ? Cuối năm Phụng Vụ, ta cộng sổ một năm qua xem ta yêu thương như thế nào trong tư cách là người môn đệ của Chúa.

    Vẫn là lời mời gọi tự do mà Thiên Chúa mời ta đáp trả nhất là về tình yêu. Khi và chỉ khi ta sống yêu thương đích thực thì khi ấy vua Giêsu mới là vua của đời ta và vương quốc của tình yêu mới là vương quốc của đời ta.

    Về mục lục

    .

    ĐỨC GIÊSU VUA HOÀN VŨ

    AM Trần Bình An

    Elvis Aron Presley ( 1935 – 1977 ) được gọi là Vua nhạc rock and roll, thường được tôn vinh Ông Vua nhạc rock, là một ca sĩ và diễn viên người Mỹ. Tạp chí Rolling Stone từng viết “Elvis chính là rock ‘n roll” và phần lớn tác phẩm của Elvis là hoàn hảo. Trong suốt sự nghiệp ca hát của mình kéo dài đến 2 thập kỷ, Elvis Presley đã lập và phá vỡ những kỷ lục về lượng khán giả đến xem trình diễn, cũng như lượng đĩa nhạc được tiêu thụ.

    Là một trong những tên tuổi nổi tiếng của làng nhạc, Presley sống một cuộc đời xa hoa, phú quý. Nhưng hiếm ai biết, tuổi thơ của anh rất thiếu thốn. Cậu bé Elvis sinh ngày 8/1/1935 trong một mái lều xiêu vẹo ở Tupelo, Mississippi.  Dù nghèo khó, thường phải ăn chỉ có độc bánh mì, nhưng bù lại, gia đình chăm sóc Elvis Presley khá quy củ và cẩn thận. Cho đến tận năm 15 tuổi, bà mẹ vẫn phải đưa cậu đến trường, để ngăn không cho lũ trẻ chọc ghẹo con bà. Đến sinh nhật 11 tuổi, Elvis lần đầu tiên được tiếp xúc với nhạc cụ, đó là một cây guitare. Ban đầu, cậu tỏ vẻ hơi hậm hực vì cậu thèm được có một chiếc xe đạp mới, hay một khẩu súng, nhưng dần già, Presley bị cây đàn cuốn hút đến quên cả ăn ngủ.

    Chỉ vài năm sau, trên các sân khấu  bắt đầu xuất hiện một anh chàng khá điển trai, biểu diễn hết mình, với những cú lắc hông dữ dội, đầy gợi cảm. Lần đầu tiên được các thiếu nữ ở dưới khán đài reo hò, la hét, Elvis đã băn khoăn hỏi ông bầu: “Liệu tôi có làm gì sai không mà bị mọi người la dữ như vậy?” để rồi nhận được câu trả lời: “Dù anh có làm gì đi nữa, thì tốt hơn cả là trở lại sân khấu ngay lập tức và tua lại màn trình diễn đó đi!” Đến năm 20 tuổi, Elvis kiếm được hợp đồng ghi âm  đầu tiên, trị giá chỉ có 30.000 USD, nhưng một năm sau, anh đã làm cả thế giới  phải ngỡ ngàng, khi giành liên tiếp ngôi vị quán quân ở các bảng xếp hạng và nhanh chóng trở thành triệu phú. Trong thời gian ở Đức, Elvis làm quen với cô nàng Priscilla Beaulieu và sau 8 năm tìm hiểu, họ quyết định đi đến hôn nhân. Lấy vợ, anh trở nên “ngoan ngoãn” hơn hẳn, và sau một lần tuyên truyền về tác hại của ma tuý, Elvis đã được Tổng thống Mỹ Nixon trao tặng huân chương đặc biệt. Tuy nhiên, đang trong thời kỳ đỉnh cao sự nghiệp thì Elvis bị bắt đi lính, và chàng thanh niên này đã tỏ ra mình là một kẻ văn võ song toàn. Không chỉ giành tiếng vang trong lĩnh vực nghệ thuật, anh còn được các đồng đội vị nể khi đoạt được đai đen Karatê.

    Sau khi đi quân dịch, Presley lại trở về ánh đèn sân khấu. Năm 1973, show hoà nhạc đặc biệt Elvis: Aloha From Hawaii, được phát sóng trực tiếp trên 40 quốc gia, đã thu hút trên 1 tỷ người xem, thậm chí còn nhiều hơn cả chương trình cuộc thám hiểm đầu tiên lên mặt trăng. Nhưng sau sự kiện này, sức khoẻ của Elvis tụt dốc không phanh. Cuộc hôn nhân tan vỡ càng làm ông Vua nhạc rock and roll lún sâu vào vũng lầy đen tối. Gần như không đêm nào mà anh không phải dùng đến thuốc ngủ. Đến ngày 16/8/1977, ngôi sao sáng đã tắt hẳn trên bầu trời âm nhạc, để lại bao nỗi thương tiếc cho fan hâm mộ. ( Wikipedia )

    Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Kitô Vua. Vị Minh Quân Giêsu vô cùng vĩ đại, cao sang và trường cửu, không ồn ào, hào nhoáng, phô trương, cũng chẳng phù phiếm như Vua Rock kia. Vì Người là Đức Vua Tình Yêu, Đức Vua Công Chính, Đức Vua Bình An. “Nhờ Người, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” ( Ga 1, 3 – 4 )   

    “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Quan Tổng trấn Philatô mỉa mai hỏi Đức Giêsu. Người không nhận cũng chẳng chối, mà hỏi lại điều đó do ai nói ra, rồi giải thích cặn kẽ. “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng mà nước tôi không thuộc chốn này.” Nước Chúa thật kỳ lạ, hoàn toàn trái ngược với thế gian, nhưng vẫn hiện diện và tồn tại.

    Đức Vua Tình Yêu

    “Thiên Chúa là Tình Yêu.” Thánh Gioan đã long trọng khẳng định trong Thư thứ nhất. ( 1Ga 4, 16 ) Bởi vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến ban Con Một mình, để ai tin vào Con thì không phải chết song được sự sống đời đời.” ( Ga 3, 16 ) Đức Giêsu đã hoàn toàn vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, thể hiện công khai Tình Yêu qua cuộc đời rao giảng Tin Mừng. Vì yêu thương nhân loại, Người mặc lấy thân xác phàm nhân, nghèo khó, cơ hàn, tầm thường, để gần gũi, an ủi, vỗ về, dẫn dắt mọi người đến sự sống vĩnh cửu. Người chính là ánh sáng, soi chiếu vào chốn tăm tối, tội lỗi, để cứu thoát con người khỏi lầm lạc, chết chóc.“Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm.” ( Ga 12, 46 )

    Nhân ái, khiêm nhu, hiền hậu, khoan dung, tha thứ, Đức Vua Giêsu luôn mãi yêu thương mọi người, nhất là những ai lạc bầy, lẻ đàn, như người thu thuế, phụ nữ hư hỏng, những kẻ bệnh tật, nghèo khổ, bị xã hội loại trừ phân biệt…“Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian.” ( Ga 12, 47 )

    Đức Vua Giêsu đã hiến tế chính thân mình để minh chứng cho Tình Yêu vô biên của Người với nhân loại. “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình.” ( Ga 15, 13 ).

    Đức Vua Công Chính

    “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật.” ( Ga 18, 36-37 ) Đức Giêsu khéo léo xác nhận chức vụ cao cả, vĩ đại của Người, là làm chứng cho sự thật, cho sự công chính giữa thế gian, đang bị chìm đắm, mê muội trong sự giả dối, gian tà, lưu manh, háo danh, háo lợi. Người đem Tin Mừng đến hạ bệ, giải thoát, xua đuổi, những ngẫu tượng, những tà thần ra khỏi tâm hồn con người. “Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái.” ( Cl 1, 13 ) Tiếc thay, không phải ai cũng sẵn sàng mở lòng đón nhận Đức Vua Công Chính.“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.”( Ga 1, 11 )

    Chỉ duy nhất Đức Vua Giêsu mới có thể dẫn dắt con người đến nguồn sống vĩnh cứu. Bởi vì Người chính là chánh đạo, là ánh sáng cứu độ: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” ( Ga 14, 6 )

    Đức Vua Bình An

    “Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.” ( Mt 11, 28 – 30 ) Trong một thế giới ồn ào, xô bồ, thực dụng, chụp giựt cơ hội làm giàu, tranh nhau chức quyền, con người điên đảo, quay cuồng, chạy theo gía trị vật chất, phàm tục, làm sao có bình an trong tâm hồn? Phước thay, Đức Giêsu đã kịp thời đem lại bình an cho nhân loại. “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” ( Lc 2, 14 )

    Sự bình an đích thực không thể bỗng dưng mà có, nếu không nhờ Đức Vua Giêsu chịu hy sinh, hiến tế trên đồi Golgotha. “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” ( Cl 1, 20 )

    Đức Vua Bình An luôn thân thương mời gọi con người gia nhập vào Nước Chúa, sống theo đường lối của Người, theo chân lý của Người, tuân thủ theo Bát Phúc, thì mới được hưởng phúc an bình và niềm vui. “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” ( Rm 14, 17 )

    “Con nắm vững một đường lối tông đồ: “Thí mạng vì anh em.” Vì không có tình yêu nào lớn lao hơn. Con hao mòn từng giây phút và sẵn sàng tiêu hao, để chinh phục anh em về với Chúa.”( Đường Hy Vọng, số 981 )

    Lạy Chúa Giêsu, Vua trên hết các vua, nhưng không thống trị, mà yêu thương phục vụ, không chỉ thị ra lệnh, mà chỉ khuyên nhủ, ủi an, không gay gắt kết án, mà chỉ ra tay cứu giúp, không trừ khử, mà luôn đi tìm kẻ lạc đường trở về. Xin Người dạy cho chúng con sống trung thành với Tin Mừng, để xứng đáng làm công dân Nước Trời.

    Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa mà vô cùng khiêm hạ, hiền hậu, từ bi, nhân ái, xin Mẹ giúp chúng con cải tà quy chánh, một lòng một dạ tuân giữ Hiến Chương Nước Trời, để được Đức Vua Giêsu thương yêu mãi. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỂ NÊN THÀNH VIÊN TRONG VƯƠNG QUỐC CỦA VUA GIÊSU

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Ga 18,33-37

    (33) Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?” (34) Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về Tôi?”. (35) Ông Phi-la-tô trả lời: “Tôi là người Do thái sao? Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?” (36) Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này”. (37) Ông Phi-la-tô liền hỏi: “Vậy ông là Vua sao?” Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là Vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: Đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.

    1. Ý CHÍNH: Trước tòa án của quan Tổng Trấn Phi-la-tô, Đức Giê-su đã cho ông biết về Vương Quốc của Người. Vương Quốc ấy thiêng liêng và không thuộc về thế gian, không có quân đội và không biên giới. Đức Giê-su cũng khẳng định Người là Vua, nhưng là vị Vua Thiên Sai, đến để làm chứng cho sự thật. Thần dân của Người là những ai sẵn sàng tin theo sự thật của Người.
    2. CHÚ THÍCH:

    – C 33-34: + Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su: Đức Giê-su đã bị dân quân Đền thờ bắt tại vườn Cây Dầu vào đêm thứ Năm sau bữa tiệc ly Vượt Qua mừng trước. Sau khi bị bắt Đức Giê-su đã bị tòa án tôn giáo xét xử và bị thương tế Cai-pha kết án tử hình(x Ga 18,19-24). Tuy nhiên vì các đầu mục Do thái đã bị người Rôma truất quyền kết án tử hình (x. Ga 18,31), nên sáng hôm sau, họ đã giải Đức Giê-su đến dinh quan Phi-la-tô để yêu cầu ông này kết án tử hình cho Đức Giê-su. Họ đứng ngòai sân chứ không vào trong nhà để tránh bị ô uế theo Luật, mà ai vi phạm sẽ không được ăn mừng lễ Vượt Qua (x Ga 18,28b). Quan Phi-la-tô đã phải ra ngòai hành lang để gặp họ. Sau khi biết rõ ý họ muốn, Phi-la-tô đã vào trong phòng thẩm vấn Đức Giê-su + “Ông có phải là Vua dân Do thái không?”: Người Do thái đã tố cáo gian cho Đức Giê-su tội phạm chính trị là xưng mình là Vua dân Do thái, để yêu cầu quan Phi-la-tô quy tội phản lọan và kết án tử hình cho Người. Do đó Phi-la-tô  tra vấn Người về việc này. + “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”: Đức Giê-su không trực tiếp trả lời câu hỏi của Phi-la-tô, nhưng Người gợi ý để ông tự xét lời tố cáo đó có cơ sở không hay chỉ là sự vu cáo bịa đặt?

    C 35: + Tôi là người Do thái sao?: Phi-la-tô cho biết ông không quan tâm đến những vấn đề tôn giáo, vì ông không phải là người Do thái! + Chính dân của ông và các thương tế đã nộp ông cho tôi. ông đã làm gì?: Phi-la-tô cho biết dân chúng và các đầu mục Do thái đã tố cáo như thế để yêu cầu ông xét xử. Ông hỏi Đức Giê-su đã làm gì chống lại họ để đến nỗi bị họ tố cáo như vậy?

    C 36: + “Nước tôi không thuộc về thế gian này”: Đức Giê-su không chối điều họ tố cáo, nhưng Người xác định mình không phải là ông vua trần tục. Vì Nước của Người không thuộc về thế gian này. + “nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho dân Do thái”: Lời này cho thấy sự khác biệt giữa vương quốc thế gian và Vương Quốc của Thiên Chúa. Khác về tinh thần cai trị (x. Mt 20,24-28), về hiến pháp (x. Mt 5,1-12), về điều kiện gia nhập (x. Mt 7,21), về sự vững bền (x. Mt 25,46), về tương quan giữa vua với dân (x Ga 13,12-15).

    C 37: + “Vậy ông là vua ư?”: Đặt câu hỏi này, Phi-la-tô chỉ tò mò muốn biết thêm về chức vị vua thiêng liêng trong Nước Trời của Đức Giê-su, chứ ông không nghĩ Người là vua thế tục. Phi-la-tô biết rõ Đức Giê-su không làm loạn, vì Người không có quân đội để tự vệ khi bị người Do thái vây bắt. + “Chính ngài nói: tôi là vua”: Đức Giê-su xác nhận Người là Vua. nhưng là Vua Tình Yêu, Vua Mục Tử: Người hiểu biết từng con chiên (x. Ga 10,14), nuôi dưỡng đàn chiên (x. Ga 10,3), đi tìm chiên lạc (x. Ga 10,16), bảo vệ đàn chiên và sẵn sàng hy sinh tính mạng cho đàn chiên (x. Ga 10,11.15). Tóm lại, Người đến “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10). + “Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật”: Sứ mệnh của Đức Giê-su là đến để làm chứng cho sự thật. ** làm chứng theo tiếng Hy Lạp nghĩa là tử đạo. Đức Giê-su làm chứng cho sự thật bằng việc đổ máu ra vì yêu nhân loại đến cùng ** Sự thật không có nghĩa là không gian dối, nhưng chính là Tin Mừng Nước Trời mà Người loan báo. Sự Thật ấy cũng là mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, đã được biểu lộ qua cuộc đời, lời rao giảng và nhất là trong biến cố Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su. + Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”: Đức Giê-su đến không những để cứu độ dân Do thái là dân được Thiên Chúa ưu tuyển, mà Người còn đến cứu mọi dân nước tin vào Tin Mừng của Người và gia nhập vào Nước Trời là Hội Thánh hôm nay và là Thiên Đàng mai sau.

    1. CÂU HỎI:

    1)Tại sao các đầu mục Do Thái lại giải Đức Giê-su đến tòa án của quan Phi-la-tô?

    2) Tại sao người Do thái không vào trong nhà làm cho quan Phi-la-tô phải đi ra ngòai hành lang để tiếp họ đứng dưới sân?

    3) Đức Giê-su cho Phi-la-tô biết Nước Trời do Người thiết lập có những đặc tính nào khác với nước thế gian?

    4) Khi hỏi Đức Giê-su: “Ông là Vua ư?”, Phi-la-tô có tin những lời các đầu mục Do thái tố cáo Đức Giê-su không?

    5) Đức Giê-su nhận mình là Vua nhưng chức vị này có những phẩm chất nào?

    6) Đức Giê-su đến để “Làm chứng cho Sự Thật” nào và làm chứng bằng cách nào?

    7) Ngòai dân Do thái ra, Đức Giê-su còn đến cứu độ những ai?

    .

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: “Tôi là Vua” (Ga 18,37):
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) THẺ CĂN CƯỚC TRONG VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU CỦA VUA GIÊSU:

    Ngày 11/11/1951 trong một bài diễn từ, Đức Thánh Cha Piô 12 đã kể lại một giai thoại. Có một phụ nữ kia rất đạo đức, nhưng sức khỏe quá yếu ớt. Cô ta bị chứng sưng màng phổi và rất khó thở. Lâu lâu căn bệnh tái phát làm cô rất đau đớn. Nhưng cuối cùng cô cũng lập gia đình, mang thai và chờ ngày sinh nở. Bất hạnh bất ngờ ập đến. Căn bệnh năm xưa tái phát trầm trọng. Các bác sĩ đề nghị phải hủy bỏ thai nhi để bảo toàn tính mạng cho người mẹ. Người chồng cũng đồng ý như thế. Cô đã cầu nguyện trong nhiều ngày và kiên quyết từ chối lời đề nghị của bác sĩ. Cô nói trong nước mắt: “ Tôi không thể giết con của tôi. Con tôi phải sống, cho dù tính mạng tôi có ra sao đi nữa”. Cô ta chấp nhận tình huống xấu nhất có thể xảy ra và phó thác hoàn toàn cho Chúa. Cuối cùng cô đã sinh được một bé gái kháu khỉnh, nhưng sau đó sức khỏe của cô ngày càng suy kiệt. Hai tháng sau, người phụ nữ tắt thở, trên tay vẫn ôm chặt lấy đứa con mà cô ta hết lòng thương mến.

    Hơn hai mươi năm trôi qua, người ta thấy một nữ tu trẻ rất xinh đẹp đang ân cần chăm sóc cho các cháu bé mô côi trong một trại tế bần. Vòng tay thân thương và cặp mắt long lanh của vị nữ tu sáng rực lên nét yêu thương mà chị đã được truyền thụ lại từ chính người mẹ của mình. Đó là  người phụ nữ năm xưa đã chấp nhận hy sinh tính mạng để cho con bà được sống. Người mẹ can đảm này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong Chân phước, bởi vì bà đã thực sự đi vào Vương quốc tình yêu theo dấu chân của Đức Giêsu. Chính Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 đã nói: “ Một đất nước nào, một chế độ nào cho phép con người sát hại lẫn nhau, thì đất nước đó, chế độ đó đang đi tới hủy diệt”. Đó là một đất nước đi ngược lại hiến pháp của Vương quốc Giêsu. Sống trong Vương quốc này, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘nền văn minh của tình thương’. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng nói: “ Một người mẹ nhẫn tâm giết chết con của mình, thì không còn một thứ tội ác nào mà họ không dám làm”. Biết bao tội ác nhan nhản đang xảy ra trong xã hội hôm nay vì người ta đang dần đánh mất đi thẻ ID (identity card) để chứng minh mình là công dân Nước Trời.

    2) CHỈ ĐỨC GIÊSU MỚI LÀ VUA TRÊN HẾT CÁC VUA, CHÚA TRÊN HẾT CÁC CHÚA:

    Lịch sử nước Anh có câu chuyện về một ông vua có lòng khiêm nhường và đạo đức tên là KÊ-NẮT Đệ Tam (CANUT III). Là vua của một cường quốc, nên chung quanh ông ta lúc nào cũng có những nịnh thần nói lời ca tụng, tâng bốc. Một hôm, trong một buổi triều yết, các nịnh thần đã nịnh hót nhà vua như sau: “Muôn tâu thánh thượng! Thánh thượng là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa”.-“Thánh thượng có toàn quyền cả trong đất liền cũng như ngòai biển cả bao la!”

    Nghe vậy, nhà vua muốn dạy cho quần thần một bài học, nên đã mời tất cả quan chức triều đình cùng đi du lịch đến một bãi biển dành riêng cho hoàng gia. Khi mọi người đều theo sau nhà vua xuống bãi tắm đang có các cơn sóng vỗ rì rào, nhà vua liền tuyên bố: “Hỡi biển cả kia. Nhiều người nói ta là vua trên hết các vua, là chúa trên hết các chúa, có quyền trên đất liền và trên biển khơi. Vậy hỡi biển cả hãy nghe đây: Ta truyền cho sóng biển không được tràn tới nữa!”. Nhưng dù nhà vua đã ra lệnh, mà nước biển vẫn cứ từng đợt thi nhau đổ tới tấp lên bãi cát làm ướt cả áo cẩm bào của nhà vua cùng quần áo quan chức triều đình! Sau đó nhà vua dẫn quần thần đến một nhà nguyện gần đó. Vua quì gối trước tượng Thánh giá Chúa Giê-su, lấy ra chiếc vương miện bằng vàng đội lên đầu Chúa và cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa Giê-su. Chỉ có Chúa mới là “Vua trên hết các vua”, là “Chúa trên hết các chúa”. Chỉ có Chúa mới “có quyền trên cả đất liền cũng như biển khơi” Con xin ngợi khen Chúa. AL-LÊ-LU-IA!”.

    1. THẢO LUẬN:

    1) Mỗi tín hữu chúng ta cần làm gì để Chúa Giê-su làm Vua gia đình mình?

    2) Chúng ta cần làm gì để có thẻ căn cước trong Vương Quốc của Vua Giêsu ?

    1. SUY NIỆM:

    Ngày nay quân chủ hầu như đã trở nên xa lạ đối với nhân loại. Trên thế giới hiện nay chỉ còn một ít nước Âu Á như: Anh quốc, Tây Ban Nha, Bỉ, Hòa Lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia… vẫn duy trì chiếc ghế của vua chúa hay nữ hoàng, nhưng chỉ mang tính tượng trưng theo truyền thống chứ không có thực quyền. Thay vào đó, chế đọ dân chủ đã được hầu hết các quốc gia áp dụng. Con người càng văn minh lại càng muốn sống bình đẳng và không muốn kẻ khác đè đầu đè cổ mình. Như vậy Hội Thánh mừng lễ Chúa Kitô làm Vua liệu có gây ra dị ứng nơi tâm thức của con người ngày nay, đặc biệt nơi giới trẻ hay không? Đức Giêsu có thực sự là Vua hay không và ta phải làm gì để được vào Nước Trời của Vua Giêsu ?

    1) Đức Giêsu thực sự là Vua Mục Tử:

    Qua bài Tin mừng hôm nay, Philatô đã đặt ra nhiều câu hỏi về điều mà các người đầu mục Do thái tố cáo: “Ông có phải là Vua dân Do thái không?”. Người đã trả lời ông ta: “ Chính ông nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Qua đó, Đức Giêsu đã khẳng định Người chính là Vua, và đến thế gian để thiết lập một Vương quốc sự thật.  Philatô không hiểu nên hỏi lại: “Sự thật là gì?” . Sở dĩ ông không hiểu sự thật của Chúa vì ông không phải là thần dân của vương quốc Sự Thật mà Người thiết lập (x. Ga 18, 33-38).

    2) Vương quốc của Đức Giêsu là “Vương quốc Sự thật”:

    Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu đã nói khá nhiều về Vương quốc Sự Thật mà chính Người sẽ khai mở. Khi nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, Đức Giêsu đã vén mở một phần về Vương quốc sự thật ấy: “ Thiên Chúa là Thần khí và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần khí và sự thật” (Ga 4, 24). Cũng vậy trong bữa tiệc ly để giã từ các môn đệ, Đức Giêsu đã khẳng định: “ Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Người đến để chúng ta là thần dân của Người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Người cũng cho Philatô biết về nước Trời của Người: “Nước tôi không thuộc thế gian này”(c 36). Tuy nhiên, chính Philatô sau đó đã cho treo một tấm bảng gắn trên đầu cây Thập giá với hàng chữ: “Giêsu Nazareth, vua dân Do thái”. Qua đó ông đã chính thức công bố sự thật này là: Đức Giêsu là Vua của dân Do Thái và là Vua của toàn thể Vũ trụ.

    3) Điều kiện để được vào Nước Trời là sống giới răn yêu thương cụ thể:

    Vua Giêsu đã đảo lộn mọi bậc thang giá trị của con người khi cho biết trong Nước Trời: “Ai muốn làm lớn nhất thì phải trở nên người bé nhất” noi gương Người, Đấng “đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban sự sống cho nhiều người” (Mc 10,45).

    Vương quốc mà Chúa Giêsu thiết lập là Vương quốc của tình yêu, và chỉ những ai sống tình yêu thương mới đủ điều kiện gia nhập vào Nước ấy như Người sẽ nói với người lành trong ngày phán xét: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm” (Mt 25,34-36). “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

    Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã cho biết tình yêu đích thực là thái độ sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình: “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15, 13). Tình yêu của Chúa còn là khiêm hạ phục vụ tha nhân, noi gương Đức Giêsu đã quì xuống rửa chân cho môn đồ. Sau đó Người dạy họ: “ Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Đức Giêsu cũng đề ra Hiến Pháp của Nước Trời là Bản Hiến chương Nước Trời hay Tám Mối Phúc Thật, trong đó, Người đòi hỏi điều kiện để được gia nhập Nước Trời như sau: Phải sống khiêm hạ và đơn giản, ứng xử hiền lành, chịu đau khổ bệnh tật, ước ao nên trọn lành, có lòng thương xót người khác, có tâm hồn thanh sạch, luôn gây thuận hòa với tha nhân, sẵn sàng chịu bách hại vì đức tin…

    4) Sống theo Chúa là làm chứng cho Sự Thật và sống yêu thương phục vụ:

    1. a) Kitô hữu là những người chọn bước theo chân Đức Giêsu Kitô, đi trên con đường của Ngài, là con đường sự thật. Vậy chúng ta phải làm gì để làm chứng cho sự thật, nhất là trong bối cảnh hôm nay, khi sự giả dối ngày càng chiếm ưu thế. Trước hết, phải sống đúng sự thật,theo sự mách bảo của Chúa Thánh Thần qua tiếng lương tâm. Vì có lẽ chưa bao giờ sự tha hóa trong cung cách làm ăn buôn bán của người Việt nam chúng ta lại bị xuống cấp như hôm nay. Chưa bao giờ vì mưu sinh, muốn làm giàu mau lẹ mà người ta đã dùng mọi thủ đoạn, bỏ qua lòng đạo đức, tiếng lương tâm, để buôn bán hàng gian hàng giả gây nguy hại cho sức khỏe của đồng bào của mình: Ra đường thì dễ bị cán phải đinh do “đinh tặc” rải có thể bị té ngã chết người, dắt xe đi vá thì bị “chặt” với giá “cắt cổ”. Khi đổ xăng thì không chỉ bị gian lận số lượng mà còn gặp phải nạn xăng dổm gây cháy xe. Ra chợ thì mua phải thực phẩm pha chế các thuốc có thể gây ung thư; không ít quán ăn làm ra thực phẩm thiếu vệ sinh để bán cho thực khách, nhiều người chết vì uống nhầm rượu dỏm hay áo ngực của phụ nữ nhập từ Trung Quốc có chứa chất độc nguy hại gây ung thư da cho người tiêu dùng…
    2. b) Ngoài ra chúng ta phải biết dùng lời nói chân thật, khiêm tốn và khoan dung nhân hậu để đem lại sự an vui thuận hòa, để yêu thương và tha thứ, để bênh vực và che chở, để quan tâm nâng đỡ và khích lệ, đồng thời sẵn sàng để cho người khác trổi vượt hơn mình thì tâm hồn chúng ta mới thực sự nên cao đẹp và an bình. Hãy năng đọc hay hát bài Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô, rồi quyết tâm thực hành để nên chứng nhân hữu hiệu cho Chúa hôm nay.
    3. NGUYỆN CẦU

    LẠY CHÚA GIÊ-SU: Ngày nay các bạn trẻ thường hay chọn cho mình một thần tượng để tôn sùng và bắt chước: Người thì mê vua bóng đá Pê-lê; Có người lại chạy theo vua nhạc Rốc Mai-côn Giắc-sân (michael jackson). Có những cô gái cố trang điểm, ăn mặc giống như cô ca sĩ này, hay người mẫu nọ… còn chúng con là môn đệ của Chúa, chúng con có Chúa là vị thần tượng ưu việt duy nhất. Ước chi chúng con nói được như thánh Phao-lô: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1,21)- Từ nay “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).

    – Lạy Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương Chúa là Vua của sự thật. Xin cho chúng con biết yêu sự thật và nói thật để mưu ích cho tha nhân, (nhưng không phải mọi sự thật đều nên nói ra). Xin cho chúng con tránh những lời dối trá lừa đảo. Trong giao tiếp xã hội, xin cho chúng con tránh thái độ đạo đức giả của các người Pha-ri-sêu và kinh sư đã bị Chúa nặng lời quở trách (x. Mt 23,13-36). Trong quan hệ làm ăn buôn bán, xin giúp chúng con biết buôn ngay bán thật, không nói rước nói thách, không làm hàng gian hàng giả, không cư xử bất công lường gạt người nhẹ dạ dễ tin. Xin Chúa giúp chúng con luôn trung thực trong lời nói việc làm, để xứng đáng là công dân trong Nước Trời của Vua Giê-su, Đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Xin cho chúng con trở thành khí cụ bình an của Chúa để đưa nhiều người về làm con Chúa trong đại gia đình Hội Thánh.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Chúa Nhật 33 Thường Niên Năm B_B

    Các bài suy niệm lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Chúa Nhật 33 Thường Niên Năm B_B

    Mục lục

    1. Tương lai cuộc đời (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Chết vì yêu  (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Ngày cùng tận  (Lm. Thái Nguyên)

    4. Ngày tận thế  (Jorathe Nắng Tím)

    5. Làm chứng là gì?  (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

    6. Để Thầy đến bên con (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Lời Thầy sẽ chẳng qua(Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    8. Dấu chấm hết  (Trầm Thiên Thu)

    9. Khóc than  (Lm. Vũ Đình Tường)

     

    LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

    Năm 2018

    Mục lục

    2. Tử đạo thời công nghệ 4.0 (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Chứng nhân  (Jorathe Nắng Tím)

    4. Cuộc bách hại đạo hôm nay (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    5. Chọn Đấng Chịu Đóng Đinh (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Hy sinh mạng sống đến cùng vì đức tin (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

    7. Tin theo Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    8. Ngày ấy  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    9. Thuộc về Thiên Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    10. Suy niệm chú giải Lời Chúa  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    11. Chứng nhân Kitô giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    12. Chết yêu  (Lm. Thái Sơn)

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Chứng nhân tình yêu  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    2. Con người thích thỏa hiệp  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    4. Những đấng bậc anh hùng  (Lm Giuse Phạm Thanh Liêm)

    5. Sức mạnh niềm tin tôn giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Bị bách hại vì sống công chính  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    7. Làm chứng cho Tình yêu  (Văn Hào, SDB)

    8. Sống là chết (Lm.Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    9. Ai liều mất sự sống mình vì Tôi (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc)

    10. Chết vì yêu (Huệ Minh)

    11. Tử đạo giữa đời thường (Dã Quỳ)

    12. Dũng cảm làm chứng cho Chúa hôm nay (Lm. Đan Vinh)

     

    CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Đn 12,1-3; Dt 10,11-14.18; Mc 13,24-32

    Mục lục

    1. Bên kia sự chết  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Quê trời  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    3. Kiên định  (Trầm Thiên Thu)

    4. “Cánh chung” là mối đe dọa hay niềm hy vọng vĩ đại? (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    5. Chúa Nhật 33 Thường niên_B (Lm. Antôn)

    6. Sẵn sàng đón Chúa lại đến  (Lm. Đan Vinh)

    7. Ngày cùng tận của thế giới (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    8. Ngự trên giá mây trời  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    9. Nước Chúa (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    10. Làm chứng cho Chúa (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    11. Khủng hoảng (Trầm Thiên Thu)

    12. Chuẩn bị ngày Chúa đến (Lm. Phêrô Nguyễn văn Hương)

    13. Hiện thực  (Lm. Vũ Đình Tường)

    14. Ngày giờ Chúa đến đã gần kề (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    15. Ngày thẩm định chung cuộc (JM. Lam Thy, ĐVD)

    16. Người hiền sĩ là người cầu nguyện (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

     

    TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Sống trên đời, ai cũng mong có một tương lai tốt lành. Tương lai mà người tín hữu kỳ vọng không giống như mọi người không có đức tin mong đợi. Bởi lẽ, theo quan niệm trần gian, tương lai là những kỳ vọng thành đạt trong sự nghiệp hay học vấn, hoặc giàu có sung sướng về vật chất. Người Kitô hữu cũng cố gắng để có được một điều kiện sống hạnh phúc phong lưu. Tuy vậy, tương lai và hạnh phúc vĩnh cửu của họ là Nước Trời. Giữa cuộc sống này phủ đầy bóng tối, nhiều thử thách gian nan và dối gian lừa lọc, nhưng những tối tăm gian khổ ấy cũng có lúc kết thúc. Vương quốc mà chúng ta chờ đợi, đó là hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài. Hướng về tương lai vĩnh cửu, đó là mối ưu tiên hàng đầu của người tin Chúa.

    Với lối hành văn theo thể loại được gọi là “Khải huyền”, tác giả sách Đanien đã diễn tả lúc tận cùng của thời gian, chúng ta vẫn gọi là ngày tận thế. Lúc ấy, Thiên Chúa sẽ can thiệp và làm cho những người đã chết được sống lại. Sự can thiệp của Tổng lãnh Thiên Thần Micae như một cuộc tổng điều tra dân số. Những ai được ghi trong “Sổ hằng sống” sẽ được hưởng hạnh phúc ngàn thu, những ai không có tên trong đó sẽ phải trầm luân muôn kiếp.

    Giống như tác giả sách Đanien, thánh sử Mác-cô đã sử dụng lối văn Khải huyền để diễn tả ngày cánh chung. Vào thời đó, các thiên thể tinh tú sẽ mất hết khả năng chiếu sáng và sẽ rơi xuống đất. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú được các dân xung quanh thờ như những vị thần. Vào thời Thiên Chúa xuất hiện, các vị thần ấy sẽ bị đánh bại.

    Có thể những tiên báo trên đây bị người thời nay coi là chuyện tầm phào. Người ta nói rằng, từ xưa đến nay, rất nhiều lần có lời đồn thổi về ngày tận thế, nhưng rốt cuộc thì ngày tận thế không đến. Lời Chúa muốn cảnh tỉnh chúng ta khi quả quyết: thế gian này chẳng thể tồn tại mãi. Sẽ có ngày cuộc đời này kết thúc, dù chúng ta không biết khi nào và như thế nào. Những hình ảnh được nêu trong sách Đanien và Tin mừng Thánh Mác-cô chỉ là những biểu tượng để giúp cho các độc giả cách chúng ta mấy ngàn năm dễ hiểu.

    Nếu người ta có thể phủ nhận ngày tận thế, thì không ai có thể phủ nhận sự chết. Dù sang hay hèn, dù văn minh hay lạc hậu, ai cũng phải đến ngày kết thúc cuộc đời. Biết bao lần chúng ta đã chia tay những người thân, qua đó chúng ta càng cảm nhận sự mỏng giòn của thân phận con người. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: giờ chết là tận thế đối với cá nhân mỗi người. Lúc đó họ sẽ phải trả lời Chúa về những việc mình đã làm khi còn sống trên dương gian. Chúa dựng nên con người có hồn và xác. Thân xác có thể bị mục nát trong lòng đất, nhưng linh hồn bất tử. Mỗi người phải mang trách nhiệm về những gì mình đã làm. Thời gian, sức khoẻ, gia đình, bạn bè, nghề nghiệp và những ưu đãi khác đều là những “vốn” Chúa ban để sinh lợi. Trên trần gian, có người tốt kẻ xấu, lúc tận thế, cũng có người hưởng vinh quang, kẻ bị trầm luân muôn kiếp. Ngôn sứ Đanien đã nhìn thấy “những người thông minh sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ khuyên dạy sự công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời”. Niềm tin vào đời sau chính là tôn vinh phẩm giá con người. Niềm tin này cũng khích lệ chúng ta, như một lời hứa hẹn rằng, nếu chúng ta sống tốt ở đời này thì sẽ được hưởng vinh quang bất diệt đời sau.

    Tin vào đời sau, đó không phải là sự ru ngủ như có người thiếu thành kiến với Giáo Hội đã suy diễn. Chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta: ai tin vào Người thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai tin vào Người sẽ được sống muôn đời. Tác giả thư Hípri nói với chúng ta: nếu chúng ta có hy vọng được hưởng sự sống đời là nhờ hy tế của Đức Giêsu dâng trên thập giá. Người là Thượng tế, đã dâng chính máu mình để chuộc tội cho nhân loại. Những ai tin vào Người sẽ được tha thứ tội lỗi và được hưởng hạnh phúc vô biên.

    Vào lúc năm cùng tháng tận, mỗi chúng ta hãy suy nghĩ về lúc kết thúc của cuộc đời. Hai chữ “tận thế” gợi cho chúng ta nỗi sợ hãi và bi quan chán nản, nhưng hai chữ “tương lai” lại giúp chúng ta bừng lên niềm hy vọng. Người vô thần cho rằng mỗi ngày sống là đang tiến dần tới nấm mộ; người tin Chúa lại cho rằng mỗi ngày sống là một nấc thang đưa họ đến với Đấng Tối cao. Quả vậy, khi đối diện với sự chết, người Kitô hữu nhìn nhận, đó là cuộc gặp gỡ với Chúa. Đó cũng là sự biến đổi từ thân phận phải chết sang cuộc sống đời đời.

    Về mục lục

    CHẾT VÌ YÊU

    Lm. Jos DĐH.

    Lỳ và liều, đó là những đối tượng nguy hiểm, nên tránh xa họ, kẻo phải liên luỵ, hoặc cảnh giác một chút cũng không thừa. Bậc anh hùng thời nào cũng có: anh hùng thật, anh hùng dỏm, anh hùng xa lộ, anh hùng say xỉn, anh hùng liều chết vì chán đời … Kinh nghiệm của tiền nhân nói rằng: ngu mà tỏ ra nguy hiểm, thì không gì phải đáng sợ, đáng sợ hơn cả là những kẻ nguy hiểm, mà tỏ ra ngu. Xã hội luôn ghi nhận những lời hay ý đẹp của bậc khôn ngoan, đề cao tinh thần yêu dân yêu nước, biết ơn công đức các ngài với danh xưng “anh hùng dân tộc”. Đi sâu vào các tương quan, mọi người sẽ khám phá ra một sự thật, ai trong chúng ta cũng có nét đáng yêu, không phải đáng sợ để rồi né tránh.

    Các thánh tử đạo Việt Nam chết vì yêu, ai hiểu tích cực một chút thì nói các ngài khờ, mạnh hơn lại nói, kẻ khùng điên, mới dám chết vì muốn được nên giống Đấng treo trên thập giá. Trải qua muôn thế hệ, người kitô hữu ca tụng tiền nhân chúng ta chết vì yêu, là cùng với Đức Kitô xây dựng một chân lý đức tin cho con cháu. Một chân lý được diễn tả: “nếu hạt lúa rơi vào lòng đất mà không thối đi, nó chỉ trơ trọi một mình; nếu hạt lúa thối đi, nó sẽ trổ sinh nhiều bông hạt”. Để minh chứng tại sao chết vì yêu, cha ông ta phải chịu nhiều cực hình khác nhau, những tên lý hình, họ đều công nhận các ngài không sợ chết, không sợ khổ đau. Người kitô hữu thì nói nhờ tin yêu Chúa, nhờ sức mạnh của tình yêu Chúa, các ngài không sợ máu chảy đầu rơi.

    Chết vì yêu, có thể bị xem là “cuồng si” với những ai thực dụng, yêu mình, yêu vật chất, địa vị, hoặc chủ trương ở đời này, còn sống là còn tất cả, bảo toàn được mạng sống mình là trên hết. Chết vì yêu, một minh chứng đức tin sáng đẹp và rõ ràng, Đức Giêsu đã tỏ ra cho các học trò, cho muôn dân thiên hạ biết: Thiên Chúa là tình yêu. Hành trình bước theo Đức Giêsu, không phải tìm đến một vương quốc máu me, chết chóc. Tin theo Đức Giêsu, một sự tự do chọn lựa sống giới luật mến Chúa yêu người: “ai phụng sự Thầy, hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phụng sự Thầy cũng sẽ ở đó. Ai yêu mến Thầy, Cha Thầy cũng yêu mến người đó”. Cha ông chúng ta có đủ ý thức: chết vì đức tin, chết vì yêu, không phải là kẻ ngu ngốc hay nguy hiểm, hành động vì yêu, chính là con đường ngắn nhất để đạt tới hạnh phúc đời đời.

    Cứ theo suy nghĩ tự nhiên: điếc không sợ súng, cùi không sợ lở, chỉ những ai mình đồng da sắt mới không sợ đòn vọt, không sợ bị thiêu đốt. Suy xét tích cực hơn, chỉ những ai chết vì yêu, chết vì bảo vệ đức tin kitô giáo, mới thực sự gọi là bậc anh hùng, và đúng với đẳng cấp khôn ngoan, biết chọn lựa hạnh phúc nước trời cách nhanh lẹ nhất. Vấn đề đặt ra, tại sao có bách hại người theo Đức Kitô, tại sao Con Thiên Chúa đã đổ máu cứu độ nhân loại, vậy mà biết bao các chứng nhân vẫn đang chết vì yêu ? Vâng, quy luật tự nhiên hay siêu nhiên đều nói lên một sự thật: muốn được phải mất, muốn làm giầu phải chuyên chăm, đầu tư công sức. Muốn được cứu độ, ngoài việc tin Đức Giêsu, sống giới luật yêu thương, ta phải sống thánh ý Chúa cách trọn vẹn hơn.

    Chết vì yêu, sống vì yêu, sẽ không ăn nhập gì với những ai chỉ biết Chúa trên môi miệng lý thuyết, khua chiêng gõ trống. Công suất của âm thanh tốt, người nghe sẽ rõ hơn, và không xảy ra tình trạng: trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, nói một đàng, làm một nẻo. Cây trái đơm bông, sinh nhiều quả ngọt, trái thơm, phải qua giai đoạn vun trồng, chăm sóc, cắt tỉa. Người có đức tin vững chắc, sẽ tồn tại trước những sự xấu đe doạ, người có tình yêu thật, sẽ đủ quảng đại yêu thương tha thứ, và biết sống thánh ý Chúa cách chuẩn mực nhất. Cha ông chúng ta chịu bách hại vì tin yêu Đức Kitô, các ngài không ngu dại, khùng điên, hay vì thiếu tính anh hùng. Đúng hơn vì yêu, vì ý thức hạt lúa có thôi đi, mới trổ sinh bông hạt. Để vượt qua được khổ đau, cực hình, tiền nhân chúng ta đã có lòng mến Chúa, yêu người, đủ nồng ấm yêu thương, hạt giống đức tin sẽ trổ sinh công đức cho thế hệ con cháu.

    Xưa, có một ông nhà giầu lên tỉnh, ông ta cho một anh giúp việc đi theo, khi đã hoàn tất cuộc thăm viếng vị quan lớn trong thành. Lúc trở về, ông ta cằn nhằn, sao mày đi đằng sau tao, giống như tao là tù nhân của mày vậy ? Tên giúp việc không dám nói lời nào, liền đi trước ông chủ. Đi được một đoạn, ông nhà giầu lại gắt lên, mày để tao đi sau mày, có khác gì tao là tên hầu của mày hả ? Tên giúp việc im lặng và đi bên cạnh ông chủ. Đi một quãng nữa, ông nhà giầu lại quát, hoá ra mày ngang hàng với tao à, mày là bạn tao bao giờ thế ? Tên giúp việc lúc này chỉ biết khóc và gào lên: thưa ông, thế con phải đi thế nào ạ ?

    Sống ở đời này, mọi người đều biết đến một chân lý: khôn chết, dại chết, biết mới sống. Đức Giêsu nói đến một sự thật: “ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ tìm lại được sự sống đời đời”. Ngài không thích chúng ta lỳ, hay liều, Ngài mong chúng ta khôn ngoan, biết mình là ai, biết mình cần ơn Chúa, và biết hướng tìm về hạnh phúc thật. Đức Giêsu biết sự giới hạn của con người, ai chẳng sợ đau khổ, ai chẳng sợ chết, duy chỉ những ai biết tín thác vào tình yêu Chúa, người đó mới hiểu, tử vì đạo là một diễm phúc, chẳng phải ai cũng cơ hội đó. Amen.

    Về mục lục

    NGÀY CÙNG TẬN

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Hôm nay là Chúa Nhật áp chót của năm Phụng vụ, nên Giáo hội  chọn đọc bài Tin Mừng nói về ngày cùng tận. Ngày ấy sẽ đến như thế nào? Bài Tin Mừng hôm nay mô tả rằng: “Khi ấy mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các tinh tú bầu trời bị lay chuyển”. Những hình ảnh ấy khiến cho chúng ta thấy sẽ có một ngày thật khủng khiếp. Nhìn vào những biến cố trong thời hiện đại, phải chăng thế giới này sẽ tận diệt bằng một cuộc chiến tranh nguyên tử hay vũ khí hạt nhân? Chúng ta biết đây là đoạn Tin Mừng viết theo văn thể Khải Huyền, trong đó những hình ảnh không quan trọng, chỉ là phương tiện để diễn tả một ý tưởng, vì thế cần nhận ra tư tưởng nòng cốt hơn là miên man trong những tình tiết.

    Thực ra, những hình ảnh được dùng trong bài Tin Mừng này cũng không phải do Chúa Giêsu đưa ra, nhưng Ngài lấy lại những hình ảnh mà các ngôn sứ quen dùng để nói về ngày cùng tận. Chẳng hạn như một đoạn trong sách Isaia diễn tả ngày ấy như sau:“Ánh sáng ban ngày của ngươi không còn là mặt trời nữa, và ban đêm, ngươi chẳng cần đến ánh trăng soi: Đức Chúa sẽ là ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi ngươi, ánh quang huy của ngươi là Thiên Chúa ngươi thờ”. (Is 60, 19). Các ngôn sứ và cả Đức Giêsu đều không quan tâm ngày cùng tận sẽ xảy ra thế nào, mà chỉ quan tâm đến điều quan trọng nhất là ngày ấy Chúa sẽ đến, sẽ hiển trị đời đời: là một ngày khủng khiếp đối với những kẻ tội lỗi, nhưng là ngày ngập tràn ánh sáng vinh quang, ngày hân hoan vui mừng cho những người công chính ở trước Thiên Nhan Chúa. Người ta vẫn suy đoán về ngày tận thế, nhưng ngày ấy vượt tầm trí của con người, chỉ có một mình Chúa Cha biết mà thôi.

    Có ngày khởi đầu thì đương nhiên có ngày kết thúc. Ngày kết thúc có thể xem ra như tai nạn hay như hậu quả của một sự hủy diệt nhau, nhưng chúng ta tin ngày ấy nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Đó là một ngày mà Thiên Chúa làm nên một thế giới mới cho nhân loại. Nơi đó, công bằng sẽ ngự trị, hạnh phúc sẽ ngập tràn, và niềm vui sẽ trọn vẹn cho những ai “bền đỗ đến cùng”. Với cái nhìn đầy tin tưởng, Seneca – một nhà tư tưởng lớn của La-mã – đã nói: “Ngày mà bạn cho là cùng tận của mọi sự, lại là ngày khởi đầu của vĩnh cửu”.

    Chúng ta không biết ngày nào Chúa sẽ đến trong vinh quang, nhưng chúng ta biết chắc, để được vào vương quốc ấy, trước tiên bản thân mỗi người phải xét lại chính mình trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và vũ trụ vạn vật, để tiến tới một sự hòa hợp sâu xa hơn. Điều này đòi chúng ta xếp đặt lại cuộc sống mình cho phù hợp với đường hướng và ý muốn của Thiên chúa, đồng thời tích cực dấn thân trong việc xây dựng một gia đình nhân loại đầy tình yêu thương, để  công lý và hòa bình có thể triển nở khắp nơi trên thế giới.

    Cha Mark Link viết: “Khi Chúa đến, Người không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Người sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao”. Vì tình yêu là ngôn ngữ và là chất liệu của đời sống trên Thiên đàng, nên chỉ những ai có trái tim đong đầy yêu thương mới được bước vào. Chính lòng từ bi nhân hậu là tấm thẻ căn cước không thể thiếu của những công dân Nước Trời.

    Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới không ổn định, hết cơn khủng hoảng này đến cơn khủng hoảng khác; bạo lực, xung đột và chiến tranh tàn sát liên hồi dưới mọi hình thức; thực tế 2 năm nay là cơn đại dịch liên tục hoành hành trên thế giới, khiến con người không ngừng lo âu và sợ hãi, hết sức cần một cái gì đó vững chắc để dựa vào. Nhưng rồi chẳng có gì vững chắc trong cuộc đời này, người ta chỉ có thể dựa vào một mình Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống, Đấng đã hứa với chúng ta qua Đức Giêsu: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đi”. Chúng ta hoàn toàn an tâm vì biết rằng mọi sự đều nằm trong bàn tay Chúa. Ngài đã có chương trình và dự định riêng cho mỗi người chúng ta từ muôn thuở, nên ta cứ sống theo Lời Ngài, vững tâm theo đường lối Ngài. Sống thuộc về Chúa hôm nay, chắc chắn chúng ta sẽ được thuộc về Chúa mai ngày và mãi mãi.

    Cầu nguyện

    Lạy Cha!
    Con tin rằng rồi sẽ tới một ngày,
    thế giới này sẽ không tồn tại nữa,
    tất cả sẽ qua đi chẳng còn gì,
    bởi vì tất cả chỉ là tạm bợ,
    do duyên cơ hay duyên nợ tác thành,
    như phương tiện thi hành thánh ý Cha.

    Chẳng ai biết điều gì sẽ xảy ra,
    giống như ngày Giêrusalem bị tàn phá,
    Chúa cho biết mọi người phải tránh xa,
    nhưng rồi dân chúng vẫn lơ là,
    và đúng là tới ngày tan tác cả,
    vì đã không nhận ra Chúa viếng thăm.

    Con tin có ngày tận cùng thế giới,
    trước khi Chúa ngự đến trên mây trời,
    sẽ có nhiều điềm thiêng và dấu lạ,
    khắp trên đất liền và ngoài biển cả,
    dân chúng xôn xao vì trời cao chuyển động,
    ai cũng hoang mang và lo sợ phập phồng.

    Nhưng chúng con không hoảng hốt lo âu,
    vì đó là giây phút khởi đầu Chúa sắp đến,
    con cần phải đứng thẳng ngẩng đầu lên,
    để gặp Đấng mà suốt đời con trông đợi,
    trong niềm vui và vinh hiển rạng ngời.

    Ngày tận thế chẳng biết bao giờ tới,
    nhưng chắc có ngày Chúa đến với con,
    xin cho con đừng ham mê thế sự,
    nhưng sẵn sàng buông bỏ chẳng vấn vương,
    để ngẩng đầu đón nhận Chúa tình thương,
    là cùng đích đời con cõi thiên đường. Amen.

    Về mục lục

    NGÀY TẬN THẾ

    Jorathe Nắng Tím

    Không biết bao nhiêu lần chúng ta đã nghe “tận thế sắp đến”, lại có những lần chúng ta được người này người nọ báo chính xác như “đinh đóng cột” ngày giờ tận thế, nhưng rồi vẫn chưa thấy ngày tận thế đâu, và chúng ta lại tiếp tục hồi hộp đợi chờ ngày kinh khủng ấy, ngày mà ngôn sứ Đanien gọi là “thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ” (Đn 12,1), và Tin Mừng Máccô  mô tả “ngày đó sẽ là những ngày gian nan đến mức từ lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa tạo thành vạn vật cho đến bây giờ chưa khi nào xảy ra và sẽ không còn xảy ra như vậy nữa” (Mc 13,19). “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13, 24-25).

    Thực ra, không chỉ có chúng ta lo lắng, thắc mắc hỏi Chúa: “Khi nào thì ngày tận thế xảy đến?”, các Tông Đồ cũng đã nêu lên câu hỏi định mệnh này, như “lúc Đức Giêsu ngồi trên núi Ôliu, đối diện với Đền Thờ, các ông Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê hỏi riêng Người: “Xin Thầy nói cho chúng con biết bao giờ các sự việc ấy sẽ xảy ra, và khi tất cả sắp đến hồi chung cục, thì có điềm gì báo trước?” (Mc 13,3-4).

    Sau hàng loạt những cảnh báo nào là  “Hãy coi chừng kẻo bị người ta lường gạt”, “sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy”, nào là  sẽ có giặc giã, chiến tranh, động đất, đói kém ở nhiều nơi, kể cả những truy lùng, bắt bớ, khổ hình sẽ đổ trên anh em và cảnh “cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết” (x. Mc 13,5-12), Đức Giêsu căn dặn các môn đệ của Ngài một số  điều quan trọng:

    1. Đừng khiếp sợ

    Ngài dặn các môn đệ: “Đừng khiếp sợ. Những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục” (Mc 13,7), và Đức Giêsu đã cho các môn đệ hiểu tại sao “đừng khiếp sợ”.

    Đừng khiếp sợ, vì điều Chúa muốn các môn đệ Ngài phải làm ngay lúc này, và ở đây là Loan Báo Tin Mừng, chứ không  phải việc  lo lắng về ngày tận thế, như Đức Giêsu đã  khẳng định sau những  cảnh báo về  ngày gian nan: “Nhưng trước tiên, Tin Mừng phải được loan báo cho mọi dân tộc” (Mc 13,10), còn “về ngày hay  giờ ấy thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32).

    Vì loan báo Tin Mừng, nên Tin Mừng sẽ bảo đảm chắc chắn:  người loan báo Tin Mừng sẽ được vui mừng đứng trong hàng ngũ những người được Thiên Chúa “tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13,27) khi “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mac 13,26).

    Đừng khiếp sợ vì “những kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mc 13,13). Bền chí nhờ tin vào Lời Hứa, tin vào ơn Thánh Thần, tin Thiên Chúa “là Đấng con tôn thờ, và bên Ngài con ẩn náu”, vì ngoài Chúa ra, không đâu là hạnh phúc” (Tv 15,1- 2). Đó là sự bền chí của những kẻ đặt hết niềm tin vào Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót được Chúa Cha sai đến thế gian để xóa tội và cứu sống muôn người.

    2.“Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi ” (Mc 13,29)

    “Con Người” là Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng ở giữa con người, và đang đứng ngay ngoài cửa nhà mỗi người, khi mùa xuân Cứu Rỗi trở về với cây lá “xanh tươi và đâm chồi nảy lộc” (Mc 13,28).

    Như thế, Đức Giêsu không “đến gần, ở ngay ngoài cửa” để  truy lùng, bắt bớ, trừng phạt chúng ta, nhưng Ngài đến giữa mùa xuân rực rỡ Hồng Ân Cứu Độ ngay cửa nhà để gặp chúng ta, như lời Kinh Thánh: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3, 20).

    Được Chúa đến nhà dùng bữa, và được  cùng  bàn với  Chúa, hỏi còn hạnh phúc nào lớn hơn?

    Tất nhiên, chúng ta không tránh khỏi nỗi lo phải sống mỗi ngày như ngày cuối cùng của cuộc đời, sống mỗi ngày như tận thế có thể xảy đến.

    Vì biết chúng ta lo, Đức Giêsu đã trấn an chúng ta khi hứa: “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20); vì biết chúng ta sợ, Ngài bảo đảm: ở gần, ngay trước cửa nhà, để yêu thương, gìn giữ, cứu chữa chúng ta, dù mỗi ngày chúng ta sống là thời gian phải chiến đấu, mỗi bước mới trên hành trình cuộc đời chúng ta đi là mạo hiểm giữa bao thách đố, rủi ro, và mỗi khoảnh khắc sinh hoạt là dấn thân vượt qua rất nhiều nguy hiểm, trái ý nghịch lòng.

    Xin Chúa thương ban cho chúng con niềm hy vọng vào Lời Hứa và Lời Chúa căn dặn, để chúng con biết sống từng giây phút hiện tại với lòng trông cậy, phó thác tuyệt đối vào Chúa và luôn tỉnh thức.

    Sống trông cậy bằng bình an thi hành sứ vụ Loan Báo Tin Mừng; sống phó thác bằng luôn khao khát Chúa đến và ở lại trong tâm hồn; sống tỉnh thức bằng liên lỷ cầu nguyện như các thánh Tông Đồ “tề tựu ở một nơi” (Cv 2,1) và cùng nhau cầu nguyện khi Chúa Thánh Thần lấy hình lưỡi lửa “đậu xuống  từng người một” (x. Cv 2,2-3), để khi Đức Giêsu trở lại, chúng con được diễm phúc nghênh đón Ngài như người tình hạnh phúc trong Diễm Ca: “Tôi ngủ, nhưng lòng tôi chợt thức; có tiếng người yêu tôi gõ cửa: “Mở cửa cho anh vào, hỡi em gái, người bạn tình của anh, hỡi bồ câu, ôi mười phân vẹn mười.” (Dc 6,2).

    Về mục lục

    LÀM CHỨNG LÀ GÌ?

    Lm. Jos Tạ duy Tuyền

    Người ta cho rằng: Ngày nay trên thế giới hình thành một quốc gia mới gọi là quốc gia không gian mạng. Người ta ước tính quốc gia này có khoảng Ba tỷ người – khoảng 40% dân số thế giới – đang sử dụng mạng xã hội. Ở quốc gia này mọi cư dân có thể dùng mạng xã hội là nơi giãi bày mọi thứ vui buồn, hạnh phúc hay đau khổ. Họ có thể giao thương buôn bán. Họ có thể bàn chuyện trong nhà, bàn chuyện trong nước hay thế giới. Ở quốc gia này cũng đầy rãy những  thông tin gây stress bởi người ta cũng tự do để chửi, để kết án hoặc dẫn dư luận đi theo xu hướng xấu về tự do tình dục, tự do phá thai. . .

    Ngày đầu tôi ghi danh vào quốc gia này là do một người bạn giới thiệu nói rằng vô đây mình được tự do, muốn nói gì thì nói, được tự do bày tỏ quan điểm của mình, và quan yếu là được kết nối với bạn bè ở khăp nơi? Nhưng rồi thời gian gần đây đã không còn như vậy. Người ta đã chính trị hóa quốc gia này nên nó không còn trung lập. Vì đồng tiền nên người điều khiển quốc gia này đã bao che cho cái xấu và có khi đồng lõa ngăn chặn sự thật. Ở quốc gia này kẻ có tiền vẫn là kẻ mạnh. Muốn chửi ai thì chửi. Muốn kết án ai thì kẻ đó phải chết. Kẻ có quyền vẫn dùng quyền để loại trừ người bất đồng chính kiến bằng hacker, bằng khủng bố đe dọa.

    Có lần tôi đã rút khỏi quốc gia này nhưng nhiều người nói rằng cha rời đi thì những người hâm mộ cha buồn chết. Ở trang nhà facebook của cha có nhiều cái để học từ Lời Chúa, đến lời khuyên của tiền nhân, từ vui cười giải trí đến học hỏi giá trị làm người . .. Đa số cư dân ở đây chủ yếu là khoe khoang:  khoe hột xoàn, khoe ăn uống, nhà cửa, quần áo , xe cộ . .. Nhất là cha cũng là một trong số ít những người đã dám nói lên cái sai của xã hội và dẫn chúng con đi theo trend của điều Thiên Chúa muốn.

    Quả thực với một quốc gia không gian mạng có tới hơn 3 tỉ người và riêng ở Việt Nam người nào sinh ra cũng có một Visa trong quốc gia này. (những người mẹ trẻ thì lập Facebook cho con để gửi vào đó những hình ảnh theo năm tháng của con, và con cái cũng lập cho cha mẹ già một nick để đọc tin ..). Ước tính ở Việt Nam có trên 60 triệu cư dân là thành viên của quốc gia này. Thế mà, chỉ có một số rất ít dám nói sự thật, dám bảo vệ sự thật và dám làm chứng cho tin mừng trên trang nhà của mình thì thật là thiếu sót.

    “Làm chứng” là một từ được dùng rất phổ biến trong “văn chương nhà đạo”. Làm chứng là một lời mời gọi, cũng là một lệnh truyền của Đấng Phục sinh: “Anh em sẽ là chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem” (Cv 1,8). Các môn đệ đã sớm ý thức được sứ mạng làm chứng được Chúa trao phó. Họ đã sẵn sàng lấy chính mạng sống mình bảo đảm cho lời chứng ấy. Các môn đệ biết Ðức Kitô, đi theo Ngài, học tập với Ngài, tin yêu Ngài, không thể không làm chứng về Ngài cho người khác.

    Thế nhưng hôm nay chúng ta thấy nhiều người vẫn im lặng trước bất công, hay sai trái. Có khi còn hùa theo đám đông để kết án loại trừ một ai đó có suy nghĩ khác với mình. Và rất nhiều cư dân là người Công giáo nhưng không dám trang trí cho ngôi nhà mình một tấm hình hay một biểu tượng của người môn đệ Chúa, nên càng có ít người đã công khai giới thiệu Chúa qua trang nhà của mình, thì làm sao kiếm được người dám sống và làm chứng cho Chúa?

    Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử đạo tại Việt Nam. Chúng ta tự hào vì cha ông chúng ta đã dám làm chứng vì tin mừng. Vì “Tử đạo” nghĩa là “làm chứng”. Vậy thì việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, gia đình để chết đi làm chứng điều gì?

    Thưa, đó chính là sự “Trung thành tôn thờ Thiên Chúa” cho dù có thiệt thòi về kinh tế, kể cả mạng sống. Nói không với tôn giáo sẽ được sống và được vinh hoa phú quý.  Thế nhưng, các ngài thà chết chứ không chối Chúa và còn vui mừng vì phần thưởng lớn lao ở trên trời, như thánh Đaminh Hạnh đã nói: “Kẻ trung thành với Chúa, khi chết sẽ được lên thiên đàng”. Cho dẫu vì niềm tin của mình mà bị bách hại hành hạ nhưng các ngài vẫn vui tươi như thánh Nguyễn Huy Mỹ đã từ đau khổ mà viết thánh thơ:

    «Vai mang bốn điệp tai thêm ấm

    Xổng xểnh ba vòng cổ lại thanh”.

    Lạy các thánh Tử đạo Việt Nam, là cha ông chúng con. Xin cho chúng con biết tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, biết noi gương các ngài để thể hiện niềm tin trung kiên của mình trước những cám dỗ lợi lộc của thế gian. Xin giúp chúng con biết thể hiện niềm tin của mình qua đời sống thánh thiện, bác ái yêu thương, và ngay cả trên các trang mạng chúng con cũng thể hiện đức ái để không hùa theo đám đông kết án người vô tôi, không lan truyền những xu hướng tục hóa, và biết tận dụng mạng xã hội để làm chứng cho tin mừng để nhờ đó sẽ tái tạo môi trường không gian mạng là một môi trường sạch, một môi trường thấm đượm tin mừng và đầy yêu thương. Amen

    Về mục lục

    ĐỂ THẦY ĐẾN BÊN CON

    Bông hồng nhỏ

    Thầy kính mến!

    Thầy đã hỏi con: “Sao dạo gần đây sao con lo lắng và bồn chồn thế?” Thầy hiểu con lắm, chỉ nhìn ánh mắt và nét mặt của con thôi là Thầy cũng biết con đang như thế nào, đang vui hay đang có tâm sự. Và Thầy luôn là người đến bên con, lặng lẽ lắng nghe tất cả những niềm vui nỗi buồn của con. Thầy biết rõ lòng con nhưng vẫn lên tiếng hỏi thăm con, để con luôn biết rằng: Dù quanh con, mọi sự đang đổi thay, thì Thầy vẫn có đó, bên con và yêu thương con. Thầy! Con cám ơn Thầy nhiều lắm!

    Hôm nay, Thầy đã báo trước cho các môn đệ về ngày Con Người quang lâm. Thầy nói về những cơn gian nan, sau những cơn gian nan ấy thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển (x.Mc 13, 24-25). Chỉ mới tưởng tượng đến cảnh trời đất sẽ ra tối tăm, con đã thấy sợ hãi. Con rùng mình vì những gì đang diễn ra trong trí tưởng tượng. Lời Thầy kéo con về với thực tại: “Bấy giờ, thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13, 26-27). Nếu trời đất ra tối tăm thì sự xuất hiện của Con Người trong ánh vinh quang sẽ mang lại ánh sáng huy hoàng cho cả vũ trụ. Vì ngày ấy không cần đến ánh sáng của mặt trời hay các tinh tú nhưng chính ánh sáng của Con Người sẽ chiếu soi tất cả.

    Thầy! Sao Thầy lại nhìn con? Con đang nghĩ đến những lúc cuộc đời mình ra tối tăm, vì con lầm đường lạc hướng. Con đã rất sợ hãi và tuyệt vọng vì không tìm thấy lối đi. Con khóc lóc và cầu cứu nhưng dường như chẳng ai nghe được tiếng kêu yếu ớt của con. Trong nội tâm của con có một cuộc chiến đấu rất quyết liệt: Con phải chọn giữa việc can đảm đứng lên tìm kiếm con đường để ra khỏi bóng tối hay đành ở lại lịm chết trong tội lỗi. Trong đau khổ và tuyệt vọng vì không tìm được người nào có thể giúp con thoát khỏi đau khổ, con đã kêu lên cùng Thầy. Dù tiếng kêu của con vô cùng yếu ớt, Thầy vẫn nghe thấy, vì Thầy đã đưa mắt dõi nhìn con từ trước. Thầy biết con đi lạc đường, Thầy lên tiếng gọi con nhưng con đã không thể nghe thấy. Đó là do sự yếu đuối của con. Khi con thấy mình hoàn toàn bất lực, hoàn toàn tối tăm thì Thầy đã cúi xuống bên con. Ánh sáng của Thầy chiếu vào góc tối của lòng con, cho con nhìn thấy những yếu đuối của mình. Thầy đã chạm vào từng nỗi đau và chữa lành từng vết thương một. Mắt con chỉ hé mở được chút ít nhưng cũng đủ để nhìn thấy vết thương trên tay, trên chân và trên cạnh sườn Thầy. Lạ lùng quá! Chính lúc con nhìn thấy vết thương của Thầy, con thấy cả nỗi đau của con nơi chính thân thể của Thầy. Con đã từng nghĩ, nỗi đau của con chỉ mình con chịu, nhưng giờ đây con hiểu rằng Thầy đã mang lấy nỗi đớn đau của con ngay trên thân thể mình. Thầy đã đau nỗi đau của con và giờ Thầy đã chữa lành con.

    Thầy! Xin Thầy cứ nói tiếp đi ạ. Thầy nhìn mọi người một lượt và ánh mắt Thầy nhìn con như truyền thêm sức mạnh và sự can đảm. Con chăm chú nghe Thầy. Con nghe từng lời của Thầy và dừng lại thật lâu ở lời này: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13, 31). Con nhận ra một điều Thầy ạ, rằng cuộc sống của con đã trải qua nhiều biến cố, những mất mát và cả những niềm vui, hạnh phúc, tất cả đều trở thành kỷ niệm. Mỗi con người, mỗi câu chuyện đến trong đời con đều giúp con lớn lên. Con không sống với quá khứ và cũng không nắm lấy tương lai nhưng con đang sống trong hiện tại. Thầy đã luôn bên con, không phải như một kỷ niệm đẹp mà con cất giữ để một lúc nào đó mang ra nhìn ngắm nhưng Thầy chính là hiện tại, là sự sống, là sự chữa lành, là tình yêu đang lớn dần trong con.

    Thầy kính mến! Con đang có những băn khoăn và lo lắng. Con lo nếu Thầy gọi con về với Thầy ngay lúc này thì con chưa sẵn sàng, con chưa thánh thiện như mình muốn. Nhưng, “Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. Bao giờ con mới đủ thánh thiện để sẵn sàng về với Chúa?

    Sao Thầy lại nhìn con mà cười? Bà góa nghèo đã chỉ bỏ vào thùng tiền dâng cúng hai đồng tiền kẽm nhưng lại được Thầy cảm mến và khen ngợi, vì Thầy thấy tận đáy lòng mỗi người. Thầy chỉ nhận tình yêu thôi. Nếu con thánh thiện theo ý riêng con thì đâu còn chỗ cho Thầy nữa. Thầy ơi! Nếu con không được đẹp lòng Thầy thì tội nghiệp lắm. Thầy dạy con bước từng bước để theo Thầy nhé. Thầy đang đứng trước cửa và gõ. Có lúc vì yếu nhược mà con không nghe thấy, có lúc con nghe thấy nhưng không đủ sức để dậy mở cửa Thầy ạ. Cửa không cài chốt đâu, Thầy cứ đẩy cửa mà vào nhé.

    Về mục lục

    LỜI THẦY SẼ CHẲNG QUA

    Thiên San

    Con người dùng “lời”, tức là ngôn ngữ để diễn đạt điều mình suy tưởng và để giao tiếp. Đối với những người không thể nói được, họ dùng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với người khác. Còn Thiên Chúa, Người dùng Lời để sáng tạo muôn loài muôn vật. Người cũng dùng Lời để mạc khải cho con người biết về chính mình. Vì chính Lời là Thiên Chúa. Chương 1 sách Sáng thế kể lại cho chúng ta về việc Thiên Chúa đã dùng Lời để thực hiện công trình sáng tạo. Thánh Gioan còn cho chúng ta thấy rằng: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” (Ga1, 3-4). Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu mặc khải cho ta về sự hiện hữu của Lời khi nói: “Dù trời đất này qua đi nhưng những lời Thầy nói sẽ không qua đi” (Mc 13, 31).

    Đức Giêsu dùng lời để mặc khải cho chúng ta về ngày Con Người sẽ ngự đến trên đám mây với đầy quyền năng và vinh quang. Ngày ấy chắc chắn sẽ đến nhưng đến vào lúc nào thì không ai có thể biết, ngoại trừ Chúa Cha. Tuy không thể biết chắc chắn vào lúc nào, giờ nào nhưng Đức Giêsu cho chúng ta một cái nhìn khách quan qua bài học từ cây vả. Khi nhìn thấy cây vả đâm chồi nẩy lộc thì chúng ta biết chắc là mùa hè sắp đến. Cũng vậy, chúng ta thấy: “Trong những ngày ấy, sau cảnh khốn cực, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao sẽ từ trời rơi xuống và các sức mạnh trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người ngự đến trên đám mây với đầy quyền năng và vinh quang. Và bấy giờ Người sẽ sai các thiên thần của Người đi quy tụ những kẻ đã được tuyển chọn từ khắp bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13, 24-27). Khi thấy những điều đó xảy ra, chúng ta hãy biết là Người đã đến gần, và ở ngay ngoài cửa rồi (x. Mc 13, 29).

    Đức Giêsu chính là ánh sáng thật cho nhân loại. Ngày Người ngự đến trong vinh quang, ánh sáng của mặt trời mặt trăng, các ngôi sao sẽ nhường chỗ cho Ánh Sáng thật. Vì trong ngày ấy, nhân loại không còn cần đến ánh sáng của thụ tạo vì đã có Ánh Sáng thật chiếu soi. Ngày ấy, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn sẽ được quy tụ về từ khắp bốn phương. Chúng ta là đoàn người lữ hành đang tiến về quê hương vĩnh cửu. Các anh chị em đã qua đời đang chờ ngày được quy tụ trước nhan Đức Chúa. Vậy chúng ta được mời gọi điều gì đang khi mong chờ ngày ấy? Để mai sau được cùng với mọi kẻ được Thiên Thiên Chúa tuyển chọn diện kiến Thánh Nhan, chúng ta sống trong niềm tin tưởng vào môt ngày mai tươi sáng.

    Quả thực, trời đất có qua đi nhưng những lời của Đức Giêsu vẫn còn mãi. Người chính là Lời hằng sống. Lời mời gọi chúng ta sống niềm hy vọng về sự phục sinh vinh hiển. Sách Đanien có viết: “Trong thời kỳ ấy dân ngươi, hễ ai đã có ghi tên trong sách, sẽ được cứu thoát. Nhiều kẻ an giấc trong bụi đất sẽ chỗi dậy; có người sẽ được hưởng phúc trường sinh, có kẻ phải tủi nhục muôn đời.” (Đn 12, 1-2). Trong tháng cầu hồn, chúng ta được mời gọi sống Lời của Con Thiên Chúa cách cụ thể hơn. Con Người đã đứng ngay ngoài cửa, chúng ta cần thay đổi cách sống, hoán cải mỗi ngày để tình yêu của Đức Kitô hiện diện trong cuộc đời của chúng ta và hướng dẫn chúng ta trong mọi chọn lựa. Tất cả những ai để cho Lời hướng dẫn và bước đi đúng như vậy ắt sẽ được hưởng vinh quang với Người. Chúng ta cũng hãy sống tinh thần hiệp thông giữa Giáo hội lữ hành và Giáo hội thanh luyện để cầu nguyện cho anh chị em đã ra đi trước chúng ta. Đồng thời, chúng ta nài xin sự chuyển cầu của các thánh trên trời (Giáo hội thiên quốc) để lời nguyện cầu của ta được Thiên Chúa thương đón nhận. Hơn hết, chúng ta hãy để tâm lắng nghe và thực hành lời Chúa dạy hầu tạo cho mình có được thái độ sẵn sàng đón chờ ngày Chúa đến trong vinh quang.

    Về mục lục

    DẤU CHẤM HẾT

    Trầm Thiên Thu

    Một đoạn văn có nhiều câu, kết thúc mỗi câu là một dấu chấm, và có câu khác nối tiếp. Bài viết có bao nhiêu câu thì có bấy nhiêu dấu chấm. Kết thúc bài viết cũng là một dấu chấm nhưng đó là Dấu Chấm Hết.

    Không có gì vĩnh tồn. Tất cả sẽ qua đi, kể cả những gì người ta coi là trường tồn. Thời gian sẽ kết thúc mọi thứ. Thế giới này sẽ không còn vào một ngày nào đó, chúng ta gọi thời điểm đó là tận thế – “dấu chấm hết” của thế giới này. Cái chết là “dấu chấm hết” của một đời người – tận thế riêng của một người, theo nghĩa trần gian. Thật ra hoàn toàn khác hẳn, bởi vì dù là người hữu thần hay vô thần thì cái chết vẫn là “ngưỡng” chuyển sang thế giới khác – Thiên Đàng hay Hỏa Ngục.

    Người ta nói: “Sống khôn, chết thiêng.” Câu nói của người đời mà vẫn phù hợp với tôn giáo. Sống sao, chết vậy. Chúng ta gọi là chết lành hoặc chết dữ. Rõ ràng cuộc sống đời này liên quan cuộc sống đời sau. Phúc Âm cho biết mấy điều quan trọng: [1] Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; (Mc 16:16) [2] Ai tin Chúa Giêsu sẽ được sống muôn đời; (Ga 3:16) [3] Ai đi theo Đường Giêsu sẽ dẫn tới sự sống lại; (Ga 11:1-44) [4] Ai tin Chúa Giêsu sẽ không đi trong bóng tối; (Ga 12:46) [5] Ai lãnh nhận Thánh Thể sẽ được trường sinh. (Ga 6:32-58)

    Đó mới là nhận biết, cố gắng sống theo sự nhận biết đó hay không thì lại là vấn đề khác. Nghĩa là phải giữ vững lập trường, không dao động trong mọi tình huống: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, thì tôi vẫn vững như kiềng ba chân.” (Ca dao) Nhưng đó là điều không dễ thể hiện. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 10:22; Mc 13:13) Khó lắm, nhưng làm được thì mới đáng thưởng.

    Đức tính rất quan trọng trong cuộc sống là kiên định, kiên tâm, kiên trì, kiên nhẫn, kiên cường hoặc kiên quyết. Nhà giáo dục William Arthur Ward (1921-1994, Hoa Kỳ, tác giả cuốn “Fountains of Faith” – Suối Nguồn Niềm Tin) nhận định: “Sự kiên nhẫn của ngày hôm nay có thể biến sự nản lòng của ngày hôm qua thành khám phá của ngày mai. Mục đích của ngày hôm nay có thể biến thất bại của ngày hôm qua thành quyết tâm của ngày mai.” Tính kiên trì là loại “bùa hộ mạng” mà người ta luôn phải có, không được rời nó ra dù chỉ một lúc. Cuộc sống luôn cần tự nhủ “an tâm tin cậy Chúa, vững lòng, không sợ hãi chi.” (Tv 112:7-8) Dù đời hay đạo vẫn cần tính kiên định: không liếc nhìn, không nói hùa theo, không nghe điều vớ vẩn, không nhìn cái vô bổ, không suy diễn,…

    Mỗi người có một cuộc đời, với cách sống riêng và thời gian được quản lý riêng. Tuy nhiên, chúng ta lo cũng không xong, tránh cũng chẳng được, cụ thể như đại dịch Cúm Tàu. Do đó, cứ vui vẻ chấp nhận cho thanh thản, không chấp nhận thì chỉ tự dày vò mình mà thôi. Cuộc đời đã lắm khổ rồi, đừng tự làm khổ mình hoặc làm khổ nhau nữa! “Điều gì đến sẽ đến – What will be will be – Que sera sera.” Câu này có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực. Tùy người. Là tiêu cực nếu người đó sống bất cần, là tích cực nếu người đó biết chấp nhận thực tế, đặc biệt là tín thác vào Chúa và sống theo ý Ngài.

    Ai cũng biết rằng chẳng có gì trường tồn trên cõi đời này, cứng như đá mà nước chảy cũng mài mòn nó. Cuối năm là dịp tài nhận thức về Ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu Kitô, lúc thế gian này “chấm hết.” Không ai biết mình có được diễm phúc chứng kiến thời khắc đó hay không, nhưng chắc chắn ai cũng chứng kiến ngày tận thế của cuộc đời mình, lúc chúng ta phải trả lại tất cả cho thế gian.

    Nói tới sự chết, chúng ta nhớ tới thần đồng âm nhạc Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791). Ông đã linh cảm khi soạn tuyệt phẩm REQUIEM: “Tôi e rằng tôi đang viết một bài cầu hồn cho chính mình.” Trong thư gởi cho người cha, Mozart cho biết: “Con không bao giờ đi ngủ mà không nghĩ rằng có thể con không còn thấy ngày mai nữa. Sự chết là mục đích thực sự của cuộc đời chúng ta. Từ vài năm nay, con đã quen với người bạn tuyệt vời đó của con người. Hình ảnh người bạn đó không làm con sợ mà con thấy người bạn đó hiền lành và cởi mở.” Thật tuyệt vời và khôn ngoan khi ông biết chuẩn bị cho cái chết của mình, đáng để chúng ta noi theo.

    Đối với những người không có niềm tin tôn giáo, chết là chấm hết mọi sự – như “chó chết hết chuyện” vậy thôi. Nhưng đối với các tín nhân, những người tin vào Đức Kitô, chết không là chấm hết, mà là chấm câu hoặc chấm xuống dòng, là giai đoạn quá độ, là buổi giao mùa, là khởi đầu sự sống mới và vĩnh viễn. Như vậy thì chết là hên chứ không xui chút nào, như Thánh Phaolô nói “chết là một mối lợi.” (Pl 1:21)

    Cuộc sống luôn cam go như chiến trường, Chúa Giêsu nói: “Ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối.” (Mc 9:49) Kinh Thánh cho biết: “Thời đó, Tổng lãnh Sứ thần Micae sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ THOÁT NẠN, nghĩa là tất cả NHỮNG AI ĐƯỢC GHI TÊN TRONG CUỐN SÁCH CỦA THIÊN CHÚA.” (Ðn 12:1) Đó là nói về sự sống lại của những người đã chết. Chết là để sống lại, như vậy chết không là hết, không là điều tuyệt vọng, nghĩa là chết mà đầy hy vọng.

    Về sự sống lại và sự thưởng phạt, Kinh Thánh nói rõ: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để HƯỞNG PHÚC TRƯỜNG SINH, kẻ thì để CHỊU Ô NHỤC và BỊ GHÊ TỞM MUÔN ĐỜI. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao.” (Ðn 12:2-3) Ngày nay sống thế nào thì ngày mai sẽ “phản ánh” như vậy, sống tốt thì được thưởng, sống ác thì bị phạt. Gọi là “thưởng – phạt” theo cách hiểu của phàm nhân mà thôi, chứ thật ra đó là sự công bằng, là điều tất yếu, là CÔNG LÝ CỦA THIÊN CHÚA.

    Chính điều đó cũng là tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Quả thật, ai có được Ngài thì vô cùng diễm phúc, như Thánh Vịnh gia tâm sự: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.” (Tv 16:5) Tâm niệm như vậy nên Thánh Vịnh gia luôn ghi nhớ: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:8-11)

    Có Chúa là có tất cả, ngay trong lúc cứ tưởng là “dấu chấm hết” nhưng chỉ là “dấu chấm xuống dòng” để bắt đầu niềm hy vọng hướng tới cuộc sống mới. Điều này được minh chứng qua câu chuyện Tổ phụ Ápraham vâng lời Thiên Chúa mà hiến tế chính con trai độc nhất của ông. (x. St 22:1-18) Đức tin làm cho ông nên công chính.

    Quy trình sinh – tử đó vô cùng kỳ diệu, nhưng không dễ thực hiện. Sống để rồi chết, chết để rồi sống. Nhưng quy trình đó không là “vòng luân hồi” như người ta tưởng. Ai thực hiện được như vậy thì thật là phúc đức, và xứng đáng được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Tuy nhiên, lời hứa nào cũng có điều kiện: “Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống.” (Kh 2:10c)

    Chính Chúa Giêsu cũng đã trải qua “cuộc sinh – tử” để làm hy lễ cứu độ nhân loại. Hy lễ của Ngài tuyệt đối hữu hiệu, chỉ một lần là trọn vẹn vĩnh viễn. Thánh Phaolô cho biết: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà NHỮNG LỄ TẾ ĐÓ CHẲNG BAO GIỜ XÓA BỎ ĐƯỢC TỘI LỖI. Còn Đức Kitô, sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Người đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời. Và từ khi đó, Người chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân. Quả thật, NGƯỜI CHỈ DÂNG HIẾN LỄ MỘT LẦN MÀ VĨNH VIỄN LÀM CHO NHỮNG KẺ NGƯỜI ĐÃ THÁNH HÓA ĐƯỢC NÊN HOÀN HẢO.” (Dt 10:11-14) Và ông kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì không cần dâng lễ đền tội nữa.” (Dt 10:18)

    Trình thuật Tin Mừng có hai phần nhưng liên quan với nhau: [1] Con Người Quang Lâm (Mc 13:24-27 ≈ Mt 24:29-31; Lc 21:25-28) và [2] Dụ Ngôn Cây Vả (Mc 13:28-32 ≈ Mt 24:32-36; Lc 21:29-33)

    Không phải là tin đồn mà chính Chúa Giêsu cho biết rằng vào những ngày đó – tức là thời cuối cùng, thời cánh chung, có nhiều gian nan, và rồi MẶT TRỜ SẼ RA TỐI TĂM, MẶT TRĂNG KHÔNG CÒN CHIẾU SÁNG, CÁC NGÔI SAO TỪ TRỜI SA XUỐNG, VÀ CÁC QUYỀN LỰC TRÊN TRỜI BỊ LAY CHUYỂN. Lúc đó người ta sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Ngài sẽ sai các thiên sứ đi, và Ngài sẽ tập họp những kẻ được tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. Đó là những hình ảnh vừa đáng sợ vừa đáng mừng, tùy “cách nhìn” của mỗi người.

    Rồi Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế là cây vả để nói về cuộc sống của loài người. Ngài nói: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là CON NGƯỜI ĐÃ ĐẾN GẦN, ở ngay ngoài cửa rồi.” Nhớ rằng đừng tin ai, đừng nghe ai, chỉ tin lời Chúa Giêsu: “Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng NHỮNG LỜI THẦY NÓI SẼ CHẲNG QUA ĐÂU. Còn về ngày hay giờ đó thì KHÔNG AI BIẾT ĐƯỢC, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, CHỈ CÓ CHÚA CHA BIẾT MÀ THÔI.” Đó là điều chắc chắn. Chớ nhẹ dạ cả tin mà nghe lời đồn vớ vẩn của bất cứ ai. Khôn chết, dại chết, biết mới sống!

    Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng NGÀY CỦA CHÚA GẦN ĐẾN, anh em ĐỪNG VỘI ĐỂ CHO TINH THẦN DAO ĐỘNG, cũng đừng hoảng sợ. ĐỪNG ĐỂ AI LỪA DỐI ANH EM BẤT CỨ CÁCH NÀO.” (2 Tx 2:2-3) Ông nói đó là “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành.” (2 Tx 2:7)

    Thánh Phaolô cũng nhắc nhở về việc xuất hiện của tên bịp bợm: “Tên gian ác xuất hiện là do tác động của Satan, có kèm theo ĐỦ THỨ PHÉP MẦU, DẤU LẠ, ĐIỀM THIÊNG, và ĐỦ MỌI MƯU GIAN CHƯỚC DỐI, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu độ.” (2 Tx 2:9-10) Như vậy, “tất cả những kẻ KHÔNG TIN SỰ THẬT nhưng ƯA THÍCH SỰ GIAN ÁC thì sẽ BỊ KẾT ÁN.” (2 Tx 2:12) Có lần chính Chúa Giêsu cũng đã quan ngại mà đặt vấn đề: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8) Một câu hỏi thực sự rất đáng quan ngại!

    Là tín nhân, mỗi chúng ta hãy tâm nguyện theo lời Chúa Giêsu dạy Thánh nữ Faustina: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!” Đừng hoang mang, chớ lo lắng, cố gắng tập trung vào Chúa và sống đức ái qua đức tin. Chuyện gì đến sẽ đến, sợ hay lo thì cũng chẳng thay đổi được gì. Chỉ có Chúa mới có thể biến đổi mọi sự.

    Lạy Thiên Chúa, Ngài là Đầu và là Cuối, xin giúp chúng con an tâm sống trọn kiếp người theo Thánh Ý Ngài, luôn vững lòng tin yêu, không dao động trong mọi hoàn cảnh, kiên trì đến phút cuối đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    KHÓC THAN

    Lm Vũđình Tường

    Lần đầu Đức Kitô xuống trần gian qua hình ảnh một em nhỏ sanh trong thầm lặng, nơi hoang địa, ở máng cỏ. Sứ Thần Thiên Chúa được sai đi làm công việc chuẩn bị ông Juse và bà Maria cho việc Con Thiên Chúa xuống trần.

    Lần thứ hai Đức Kitô xuống thế không âm thầm như lần trước. Ngài đến với thế giới như Chúa tể môn loài, muôn vật. Toàn thể vũ trụ trên trời, dưới đất, run rẩy, phủ phục trước tôn nhan Thiên Chúa. Mặt trời, mặt trăng mất hết ánh sáng huy hoàng. Các vì sao không luân chuyển theo qui luật như trước. Mây trời tụ lại làm bệ cho Thiên Chúa ngự trị. Đức Kitô xuống thế lần thứ hai hoàn tất hành trình mọi tạo vật Chúa dựng nên. Mọi tạo vật Chúa dựng nên sẽ trở về tình trạng nguyên thuỷ của chúng. Trình thuật Sáng Thế Kí ghi nhận, vũ trụ lúc khởi đầu hoàn toàn là một vùng tối, rối loạn, hỗn độn. Ngày Đức kitô xuống thế lần thứ hai, chúng trở về tình trạng hỗn mang nguyên thuỷ lúc ban đầu. Trời cũ, đất cũ qua đi; trời mới đất mới dành riêng cho những ai thuộc về Đức Kitô Phục Sinh.

    Mặt trời, mặt trăng mất ánh sáng, tinh tú lay chuyển, hỗn loạn xảy ra, chúng không tự huỷ diệt, nhưng không tránh khỏi diệt vong bởi Thiên Chúa không tiếp tục ban cho chúng sự sống. Nhân loại chứng kiến vũ trụ thay đổi trong lo lắng, sợ hãi. Đây là lần đầu và cũng là lần cuối. Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ, khi thấy những dấu hiệu khác thường trên trời, dưới đất chính là ngày tàn, vũ trụ sắp kết thúc. Ngoài Thiên Chúa ra, nhân loại không một ai biết được ngày giờ sự việc đó xảy đến. Bởi không biết khi nào nên cần sống trong tinh thần chuẩn bị, tinh thần sẵn sàng.

    Đức Kitô xuống thế lần thứ hai xác định một sự thật không thể chối bỏ. Thiên Chúa là Chúa tể toàn thể vũ trụ. Tất cả mọi sự được đổi mới trong Đức Kitô Phục Sinh. Việc đổi mới bắt đầu từ lúc Ngài sống lại từ cõi chết, nhưng trọn vẹn, hoàn tất, hoàn hảo, ngày Đức Kitô xuống thế lần thứ hai. Vì thế Giáo Hội tuyên xưng trời mới đất mới. Trời cũ, đất cũ qua đi, nhường bước cho trời mới đất mới trong Đức Kitô Phục Sinh. Trời mới đất mới là cuộc sống tràn đầy yêu thương, không còn nước mắt, đau thương, nhưng tràn đầy hạnh phúc, sự thật và công chính. Chúng ta gọi nơi đó là Thiên Đàng.

    Tình thương Đức Kitô ban cho Kitô hữu khi Ngài kêu gọi chuẩn bị, sẵn sàng. Không ai có thể đứng vững trước khủng hoảng đất trời. Mọi người đều lo sợ, khiếp đảm, kinh hồn, nhưng Kitô hữu lo âu trong hy vọng, bởi ân sủng Chúa ban cho tâm trí họ để họ đứng vững trong giờ phút cuối cùng. Ân sủng Chúa giúp họ nhớ lại lời Đức Kitô phán bảo
    ‘Thầy bảo thật anh em:… Trời đất sẽ qua đi, những lời Thầy nói chẳng qua đâu’ Mc 13,30

    Trong những ngày đó, Kitô hữu hãy nhắc nhở nhau điều Đức Kitô hứa,
    ‘Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’ Mt 28,20

    Những ai chọn sống theo í riêng mình, hãy nhìn vào dấu chỉ kinh khủng trên, nhận biết cái nhỏ bé, hạn hẹp của mình để thay đổi. Những ai từng tin vũ trụ này tự xảy ra, không có Đấng nào dựng nên chúng, hãy tỉnh thức, khiêm nhường chấp nhận bị chính sự khôn ngoan, trí óc, lừa gạt. Tỉnh dậy đi. Nếu cố chấp sẽ sống trong lo âu, sợ hãi muôn đời, vạn kiếp. Ngay tại thời buổi đó vẫn có kẻ cố tình, ngoan cố, lừa gạt chính mình và lừa gạt người khác. Đức Kitô nhắc Kitô hữu hãy cẩn trọng đừng để bị lừa gạt bởi tiên tri giả. Ngài nói,

    ‘Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: ‘Chính ta đây’, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người’ Mc 13:5-6

    Những ai cố tình từ chối tin vào lời Đức kitô sẽ muôn đời đau khổ. Kitô hữu xin ơn tin tưởng, phó thác đời mình cho Đức Kitô. Xin sức mạnh Lời Chúa luôn ngự trong tâm hồn và ban niềm tin, hy vọng được đón nhận vào trời mới, đất mới Đức Kitô hứa ban.

    Về mục lục

     

    TỬ ĐẠO THỜI CÔNG NGHỆ 4.0

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    ĐứcThánh Cha Phanxico đã từng nói: “Một Giáo hội không có các vị tử đạo là một Giáo hội không có Chúa Giêsu”. Đức Thánh Cha cũngmời gọi cầu nguyện “cho các vị tử đạo của chúng ta đang đau khổ rất nhiều,” “cho các Giáo hội không được tự do để diễn tả chính mình”: “họ chính là niềm hy vọng của chúng ta.” Ngài nhắc lại lời của giáophụ Tertullienxưa đã viết: “Máu của các vị tử đạo, là hạt giống của các Kitô hữu.” Thếnên, Đức thánh Cha cám ơn Chúa đã hiện diện với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các anh chị em đang chịubách hại bằng nhiều cách.

    Quả thực, ngày nay vẫn còn đó những cuộc bách hại bằng khủng bố đánh bom nhà thờ, và sát hại các linh mục tu sĩ, vẫn còn đó những cuộc cấm đoán biểu lộ niềm tin như giáo hội hầm trú Trung Quốc,haytại các nước đang phát triển mà Đức Thánh Cha đãnói: “Tôi không thể quên chứng tá của Linh mục và nữ tu ở nhà thờ chánh tòa Tirana: năm này qua năm khác ở trong tù, bị lao động khổ sai, hạ nhục,”, đối với họ nhân quyền không tồn tại.

    Ngày hôm nay còn có một hình thức bách hại mới mà Giáo hội Việt Nam cũng đang phải đối diện. Đó chính là sự bách hại bởi truyền thông xã hội. Chúng ta cũng thấy nhiều linh mục, Giám mục đã trở thành “các vị tử đạo” bởi truyền thông xã hội khi các ngài mạnh dạn lên tiếng nói cho sự thật và bảo vệ công lý.Cónhững linh mục giúp cho dân mình khởi kiện sự tàn phá môi trường của Fomasa liền bị quy chụp bởi nhiều tội danh chẳng liên quan đến việc đòi lại công lý. Có những giám mục chỉ nói lên tiếng nói của sự thật liền bị truyền thông cắt xén, bóp méo và tìm cách loại trừ. Có những Giám mục bảo vệ công lý thì bị quy chụp  là xem thường pháp luật, bị các thế lực thù địch xúi giục, bao che tội phạm… mà trong nhiều hệ thống báo chí, đài phát thanh và truyền hình đãtừng đăng tải. . .

    Cónhững linh mục còn bị những truyền thông giấu mặt mà người ta hay nói là đội quân DLV luôn chửi bẩn, nói bậy khi các linh mục này dám lên tiếng nói kêu gọi tôn trọng sự sống và phẩm giá con người. Đội quân DLV đa số là thành phần thất học, chỉ cần tiền nên không biết lý lẽ, phải trái . . . và sẵn sàng lao vào người ngay chính rủa xả và dừơng như họ luôn coi các lãnh đạo tôn giáo  như kẻ thù và là mục tiêu của thách thức chế diễu, lăng mạ . . .

    Thời nào cũng có những cuộc bách hại, nhưng Giáo hội lại càng cần những chứng nhân trong những cuộc bách hại như thế. Vì càng bị bách hại người tín hữu càng được tôi luyện mình nên tốt hơn, và là dịp thuận lợi để làm chứng cho niềm tin của mình.

    Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người ta sống ảo nhiều hơn sống thực. Thế giới ảo phải chăng chính  là môi trường cần thiết để chứng tá tin mừng được ghi dấu nơi ấy?  Thế giới ảo phải chăng là lời mời gọi cuộc cách mạng tin mừng hãy dùng chính thế giới ảo ấy lan truyền tin mừng của Chúa đến cho mọi người? Đây cũng là một thế giới công bằng và cộng đồng mạng là những người thực thi công lý. Bởi vì rất nhiều những án oan, nhưng bất công đã được cộng đồng mạng đồng tâm chia sẻ và đòi lại công bằng đã thành công.

    Tại sao người Công giáo chúng ta còn ngần ngại tuyên xưng niềm tin bằng việc loan tải những sứ điệp đầy yêu thương của Chúa đến cho mọi người? Tại sao chúng ta không tận dụng truyền thông để đẩy lùi sự dữ ra khỏi xã hội loài người? Phải chăng còn rất ít người dám tuyên xưng niềm tin? Phải chăng chúng ta đã cố tình bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tìm an toàn cho bản thân?

    Cha ông chúng ta dám đổ máu đào để bảo vệ đức tin và làm chứng cho tin mừng trong điều kiện đầy khó khăn và gian khổ. Máu của các ngài đã đổ ra để bảo vệ và truyền lại đức tin cho con cháu là chúng ta. Chắc chắn các thánh TĐVN cũng mong muốn con cháu mình phải tiếp tục bảo vệ đức tin trong thế giới hiện đại. Nhất là trong truyền thông giáo hội đang bị xuyên tạc và khủng bố, nên rất cần người tín hữu công khai bảo vệ niềm tin của mình. Như cuối năm 2017 người ta dựng nên một Đạo thánh Đức Chúa Trời với một phong trào rầm rộ cả nước Việt Nam, rõ ràng đây là một âm mưu nhằm xuyên tạc tín lý giáo hội Công giáo, và khủng bố niềm tin nơi giáo dân. Rồi người ta lăng mạ các linh mục tu sĩ trong hình dạng ma quái ghê sợ trong ngày halloween, người ta cho biểu diễn game showvới hình nữ tu ăn mặc hở hang . . .  Thế giới truyền thông cũng tiềm ẩn rất nhiều sự dữ nên cần người tín hữu phải mạnh dạn lên tiếng bênh vực công lý và đẩy lùi sự dữ cho dầu có chịu nhiều lăng nhục hay bách hại. . .

    Chắc chắn khi chúng ta dám làm chứng cho sự thật, dầu ở môi trường nào cũng là đối kháng lại với thế gian nên sẽ gặp những chống đối, quy chụp, bách hại, . . . Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình vì “phần thưởng chúng ta rất lớn trên quê trời, vì Chúa Giê-su đã từng nói :phàm ai tuyên “xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa”(Lc 12,8)

    Nguyện xin các thánh TĐVN giúp sức để chúng ta can đảm tiếp nối các tiền nhân dám làm chứng cho tin mừng, cho công lý và sự thật giữa thế giới văn mình nhưng thiếu tình yêu hôm nay. Amen

    Về mục lục

    .

    CHỨNG NHÂN

    Jorathe Nắng Tím  

        Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm chứng về một người nào là thuyết phục người nghe tin điều mình nói về sự việc ấy, về con người ấy là thật, là đúng. Và để thuyết phục người nghe, người làm chứng có khi phải lấy chính mạng sống mình để minh chứng, và bảo đảm điều mình nói. Các thánh Tử Đạo là những người làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, vì yêu con người đã xuống thế làm người thật, đã chết để cứu độ nhân loại, và đã sống lại để mọi người được sống. Các ngài còn làm chứng  Giáo Hội Đức Giêsu  lập ra là Đạo thật, Đạo yêu thương, con đường đưa toàn thể nhân loại  về yêu thương.

        Cũng chính vì làm chứng  Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài, mà các chứng nhân của Thiên Chúa gặp nhiều chống đối giữa anh em mình, bởi thế gian không đón nhận « Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và soi chiếu mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận » (Ga 1,9-11).

         Thế gian không nhận Đức Giêsu là  Ngôi Lời của Thiên Chúa,  chỉ vì thế gian « không nhận biết và chẳng chịu đón nhận ».  Lý do thật đơn giản và vô tình !

         Vì thế gian không nhận biết, mà chứng nhân phải làm chứng để thế gian nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ duy nhất; vì thế gian chẳng chịu đón nhận, mà chứng nhân phải thuyết phục bằng chứng cớ đời sống,  với chứng từ có giá trị để thế gian đón nhân Đức Giêsu là Đấng đã chuộc lại quyền làm con Thiên Chúa và  ban sự sống đời đời cho mọi người bằng sự chết và phục sinh của Ngài.

       Được sai đến với các dân tộc, ở mọi thời để  làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Thiên Chúa làm người, đã chết như con người và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, các chứng nhân nhận một sứ vụ thánh thiêng, nhưng không thiếu cam go, thử thách, đe dọa giữa lòng thế giới muôn hình vạn trạng. Đức Giêsu đã không giấu diếm các môn đệ sự thật nguy hiểm về thế gian, nơi các vị sẽ phải đến làm chứng về Ngài :

      «  Thầy sai anh em vào thế gian, như chiên đi giữa bầy sói” (Mt 10,16). “ Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).

         Không những chứng nhân bị thế gian ghét, vì  thuộc về Thiên Chúa, nhưng còn bị thế gian bách hại:

       « Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy “ (Lc 21,12-13).

        Tệ hơn thế nữa, các vị còn bị chính người nhà, bạn hữu, thân thuộc của mình truy lùng, ghét bỏ, ruồng rẫy : « Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con, và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét » (Lc 21,16-17).

        Qủa thật, con đường trước mặt của chứng nhận là con đường đầy chông gai, cạm bẫy và hứa hẹn tù đầy, đổ máu, mất mạng. Con đường chứng nhân phải đi làm chứng không đẹp như mơ, không huy hoàng, hoành tráng, không thênh thang như đường về làng ngày « vinh quy bái tổ ».

         Những đe dọa, hiểm nguy do lòng « ganh ghét vô cớ » của thế gian thì vô số kể (Ga 15,25). Vô cớ nghiã là chẳng có lý do gì, chẳng có nguyên nhân nào hợp lý . Vô cớ đến độ :  « Thế gian ghét Thầy, thì cũng ghét Cha Thầy » (Ga 15, 23), và tất nhiên « ghét cả anh em » (Ga 15,18), mặc dù thế gian đã thấy những việc tốt lành Thầy đã làm cho họ (x. Ga 15,24).

        Trước bao nhiêu gian truân, thử thách giăng mắc, đe dọa,  làm  sao các chứng nhân đã  có thể mạnh dạn lên đường và kiên cường làm chứng ?

       Thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã thay mặt các chứng nhân trả lời: « Vì Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi » (2Cr 5,14), và sở dĩ chúng tôi đứng vững là  « do quyền năng phi thường của Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi », nên « chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt », bởi «  chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi » (2Cr 4,7-10).

        Thực vậy, các chứng nhân của Đức Giêsu từ giáo đoàn đầu tiên Giêrusalem đến tận cùng thời gian được tình yêu Đức Kitô thúc bách đã lên đường làm chứng Tin Mừng với những căn dặn của Đức Giêsu như hành trang không thể thiếu giữa thế gian luôn thù ghét.

    1. Thầy để lại Bình An cho anh em, Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy, Bình An mà thế gian không ban được. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27).

         a. Bình An là dấu chỉ Thiên Chúa ở với người được sai đi:

    « Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em » (Ga 14,20).

    Chính Đức Giêsu đã bộc lộ ý muốn ở với người được sai đi  trong lời cầu  xin với Chúa Cha : Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con « (Ga 17,24).

         b. Bình An là sức mạnh của Chúa Thánh Thần liên lỉ hoạt động nơi người làm chứng:

    « Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và trong anh em “ (Ga 14,16-17).

    Có Chúa Thánh Thần, chứng nhân sẽ không  sợ hãi, hay lo nghĩ phải bào chữa, biện bạch thế nào trước mặt quan quân và những kẻ chống đối, nhưng Thánh Thần sẽ chỉ bảo phải nói gì, « khiến tất cả địch thù không tài nào chống chọi hay cãi lại được » (Mc 21,15).

         c. Bình An là bảo chứng quyền năng Thiên Chúa nơi người được sai đi làm chứng:

    « Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó cón làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con (Ga 14,12-13).

       Như thế, người làm chứng Đức Giêsu tiên vàn phải nhận  từ Đức Giêsu, Đấng sai họ, Bình An của Ngài. Không có Bình An của Đức Giêsu, không  chứng nhân nào có thể làm chứng chính xác, đầy đủ về Đức Giêsu ; không mang Bình An của Đấng đã chết và Sống Lại, người làm chứng sẽ không thể  làm chứng bằng « loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại », là sứ điệp Tin Mừng mà người được sai đi phải làm chứng.

        Bình An của Đức Giêsu, vì thế, sẽ không thể thiếu trong tâm hồn chứng nhân, bởi chỉ với Bình An của Đức Giêsu sống lại, chứng nhân mới có thể kiên cường đi đến cùng hành trình làm chứng của mình  giữa phong ba bão táp của thế gian.

    1. « Thầy truyền cho anh em điều răn của Thầy: « Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em » (Ga 15,12) :

         Nếu Bình An của Đức Giêsu là bửu bối không thể thiếu trên đường làm chứng, thì giới răn « Anh em hãy yêu thương nhau » là chià khóa để lời chứng của chứng nhân có giá trị và thuyết phục.

          Đức Giêsu hơn ai hết biết rõ nguy cơ và sức công phá kinh khủng của hận thù, ghen ghét, bạo lực. Cũng chính vì muốn tiêu diệt hận thù, bẻ tan ghen ghét, đẩy lui bạo lực trong thế giới, mà Ngài đã đến để ban Bình An, Yêu Thương, nên  sẽ không có lý do những người thuộc về Ngài lại không yêu thương nhau ; không có thể những chứng nhân làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hiến mạng sống vì yêu nhân loại đến cùng lại xa lạ với tình huynh đệ ; và sẽ hoàn toàn vô ích, nếu không nói là nguy hiểm, nếu người làm chứngTin Mừng là Lòng Thương Xót lại bôi nhọ, vu khống, hiềm khích, đấu đá, ăn thua đủ với nhau.

         Không chỉ Đức Giêsu hay những người thuộc về Giáo Hội, mà tất cả mọi người, bất kể họ là ai, đều « dị ứng », kinh ngạc, sợ hãi trước cảnh môn đệ cùng sư phụ ẩu đả, lên án, cắn xé nhau. Thực vậy, sẽ không còn chứng nhân, nếu không có đức ái ; không còn lời chứng, nếu ganh ghét, hận thù thống trị ; không còn người được sai đi, nếu đường đi không còn là đường lên núi Bát Phúc, nhưng sẽ chỉ còn lại những « người chứng nói dối », « lời chứng mâu thuẫn, phi lý, không thuyết phục », và danh xưng « người làm chứng  qủa cảm, hào hùng » bắt buộc phải đổi lại thành « người phản chứng lố bịch, dị hợm ».

         « Yêu thương nhau » không còn là đồ phụ tùng,  chuyện nhỏ, phụ thuộc, nhưng là chính yếu, dấu chỉ duy nhất của môn đệ Đức Giêsu,  của người được sai đi làm chứng, nên không yêu thương nhau,  căn cước tính của người làm chứng tự động biến mất trước mặt Thiên Chúa, và dưới mắt con người, bởi cả Thiên Chúa và con người đều không thể chấp nhận người chứng của Tình Yêu lại không biết yêu thương.

        Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông , chúng con không chỉ cảm phục các Đấng đã can đảm chấp nhận chịu đánh đòn, bá đao, voi dầy , chém đầu, thiêu sống, chết rũ tù, nhưng trên hết, chúng con ngưỡng mộ lòng yêu mến nơi các Đấng. Các Đấng đã yêu mến Thiên Chúa và được Tình Yêu Đức Kitô thúc bách, khi Bình An lên đường làm chứng, Bình An đổ máu làm chứng, Bình An dâng hiến mạng sống làm chứng. Với Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các Đấng đã không than thở, trách móc, hận thù  vua quan, dân tộc, đồng bào đã làm khổ, bách hại, giết chết mình, nhưng luôn Bình An tha thứ, Bình An hoà giải, Bình An  cầu xin ơn phúc cho quê hương, dân tộc, vì các Đấng  luôn ở trong Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối và nguồn Bình An viên mãn. Bên cạnh đó là đời sống bác ái, huynh đệ, phục vụ của các Đấng  đã đánh động, cảm hóa anh em đồng bào, để Danh Đức Giêsu ngày càng được vinh hiển trên quê hương, và trong lòng người dân Việt.

        Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông cũng là dịp chúng con ý thức ơn gọi và sứ vụ làm chứng  của mình, để luôn biết rằng hành trình làm chứng « Đức Giêsu chịu đóng đinh » luôn là đường Thánh Giá, và bất kể ở thời nào, người làm chứng vẫn được mời gọi vác Thánh Giá và chết với Đức Giêsu cho anh em mình.

        Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con các Thánh Tử Đạo là cha ông anh dũng  trong huyết thống và Đức Tin.  Cúi xin các Thánh ban cho chúng con biết đón nhận Bình An của Đức Giêsu và sống điều răn « Yêu Thương nhau » trên hành trình Làm Chứng, như các thánh Cha Ông Tử Đạo  đã  làm chứng bằng chính  đời sống  và mạng sống  mình.

    Về mục lục

    .

    CUỘC BÁCH HẠI ĐẠO HÔM NAY

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Việc bách hại đạo không phải chỉ là việc của ngày xưa nhưng thời nào thì những người con Chúa cũng bị thôi thúc, bị lôi kéo, bị ép buộc bỏ đạo.

    Hôm xưa, các thánh tử đạo tại Việt Nam đã bị vua quan bắt bớ, xiềng xích, tống giam vào tù ngục… buộc phải bỏ đạo. Dầu vậy, các ngài vẫn kiên trung, anh dũng chấp nhận tù đày, chết chóc chứ không bỏ đạo, không bỏ Chúa.

    Chúng ta hôm nay cũng bị những quyền lực mạnh mẽ thúc đẩy từ bên trong, xô đẩy chúng ta chối bỏ Đạo yêu thương.

    Trước hết, cần nhớ rằng Đạo Chúa là Đạo yêu thương.

    Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa.

    Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là điều luật quan trọng nhất, là quy luật trung tâm của mọi lề luật, như Thánh Phao-lô dạy: “Ai yêu thương là chu toàn mọi điều luật dạy” (Rô-ma 13,9-10).

    Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì mục tiêu hàng đầu của Đạo Chúa là xây dựng thế giới này trở thành thế giới yêu thương, huynh đệ, mọi người yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà.

    Và hơn hết, Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì chỉ có ai có lòng yêu thương mới là con cái Chúa, là môn đệ Chúa; Ai không yêu thương thì tự loại trừ mình ra khỏi hàng ngũ những người môn đệ Chúa, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu thương nhau” (Gioan 13,35).

    Như chúng ta vừa đề cập trên đây, hiện nay có nhiều quyền lực hết sức mãnh liệt lôi cuốn, xô đẩy chúng ta từ bỏ Đạo yêu thương. Vậy đó là những quyền lực nào?

    Đó là những sức mạnh nằm ngay trong lòng ta, thống trị tâm hồn và cuộc sống của ta, hằng thôi thúc ta bỏ Đạo yêu thương: Chủ yếu là lòng tham, lòng giận ghét, hạn thù, ích kỷ, vô cảm vô tâm…

    1. Lòng tham: Lòng tham đang thống trị tâm hồn rất nhiều người. Lòng tham xui khiến người ta làm nhiều điều gian ác, bất công, làm thiệt hại cho bao người để thu lợi về cho mình.

    Một trường hợp cụ thể đang xảy ra và rất nóng bỏng, đó là việc nhiều người sản xuất các loại thực phẩm độc hại, những loại thực phẩm bẩn, có nhiều độc tố tiềm ẩn, gây hại cho đồng bào mình, cho dân tộc mình… gây ra bệnh hoạn cho vô số người, để cho người ta chết dần chết mòn vì bệnh tật, nhất là bệnh ung thư… miễn sao mình thu lợi thật nhiều cho bản thân là được, còn ai chết mặc ai.

    Ai giết người bằng những cách thế như vậy là trắng trợn từ bỏ Đạo yêu thương.

    1. Lòng giận ghét, oán thù: Lòng giận ghét sôi sục trong lòng ta, xui khiến ta chửi mắng, đánh đập, gây ra nhiều buồn khổ, đau thương cho người khác…

    Khi ta để cho lòng giận ghét oán thù xui khiến mình xúc phạm người khác, chà đạp danh dự, nhân phẩm của người khác… là ta chối bỏ Đạo yêu thương.

    1. Lòng ích kỷ: Ích kỷ có cội rễ sâu xa trong lòng người. Nó thống trị người ta, xui khiến người ta chỉ nghĩ đến mình, đến gia đình con cái mình thôi; ai đói mặc ai, ai rét mặc ai, ai đau bệnh khốn khổ mặc ai…

    Khi ta không thương xót, không cứu giúp người hoạn nạn, đau khổ… là ta đã từ bỏ điều cốt lõi của Đạo yêu thương…

    Ngoài ra, còn rất nhiều quyền lực khác, tuy vô hình, nhưng có sức mạnh lớn lao, đã hoặc đang xâm chiếm tâm hồn ta, làm chủ cuộc sống ta, luôn tìm cách lôi kéo, xô đẩy ta ra khỏi Đạo yêu thương của Chúa.

    Đây là những cơn bách hại lâu dài và sẽ còn tiếp tục kéo dài suốt cả cuộc đời, nếu ta không chiến đấu chống lại chúng, chúng ta phải thua trận và trở thành người bỏ Đạo lúc nào không hay biết.

    Hậu quả tai hại mà người bỏ Đạo yêu thương phải gánh lấy, là đến ngày phán xét, người ấy sẽ bị Chúa Giê-su lên án: “Hỡi quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì ngươi không có lòng yêu thương (Mt 25, 34. 41).

    Lạy các thánh tử đạo Việt Nam,

    Các ngài thà chết chứ không thà dẫm đạp lên Thập tự giá và không chối bỏ đạo Chúa, thì xin cầu bầu cho chúng con hôm nay, can đảm chấp nhận thua thiệt và đau khổ chứ không vì tham lam, ghen ghét, oán thù, ích kỷ… mà chà đạp lên tình người, lên danh dự, nhân phẩm của người khác, vì làm như thế là chúng con đã chối bỏ Đạo yêu thương và phải mang lấy án phạt đời đời.

    Về mục lục

    .

    CHỌN ĐẤNG CHỊU ĐÓNG ĐINH

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Năm 1837, vua Minh Mạng triệu tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh về kinh và trao cho 40 cây Thánh Giá, rồi ra lệnh phải áp dụng gắt gao chiếu chỉ cấm đạo. Từ đó, tổng đốc Khanh trở thành “Hùm xám Nam định”.

    40 cây Thánh Giá trở thành dụng cụ để thử thách niềm tin của người tín hữu. Người có đạo khi bị bắt, buộc phải “quá khoá” phải bước qua Thánh Giá. Nếu bước qua sẽ được sống, được trả lại tất cả những gì đã mất, và còn được tặng thêm phú qúi vinh hoa. Không bước qua phải bị tù đày, gông cùm đòn vọt và mất cả mạng sống.

    Thánh Giá chính là cột mốc để phân định giữa sống và chết, giữa Thiên Chúa và thế gian. Khi đối diện với Đấng Chịu Đóng Đinh, người tín hữu luôn phải thực hiện một sự chọn lựa có tính quyết định.Chỉ cần một bước chân thôi là mọi sự thay đổi. Đã có người bước qua, và cũng có người không.

    Có người bị khiêng qua thánh giá nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa.

    Đứng trước thập giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng.Giây phút đứng trước thập giá là giây phút quan trọng.Quyết định không bước qua thập giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất…

    Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa dứt khoát : theo Đức Kitô hay theo vua quan? Theo Đức Kitô là vác thập giá, sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các Ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Kitô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các Ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu tử đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Các Ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết : “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” (Mt 10,32). (x.Thiên Hùng Sử trang 4).

    Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong đó, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các đợt bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh.Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp 400 ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức.Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người Công Giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo…Như thế, con số Tử Đạo phải tính lên đến 300 ngàn người trong vòng 300 năm. Nếu tính theo tỷ lệ, 100 năm thì có 100 ngàn Vị Tử Đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo!

    Thánh Giá luôn là điểm hẹn tình yêu,là nơi gặp gỡ của những người sống cho tình yêu và chết cho tình yêu. Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng Chịu Đóng Đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui. Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá.

    Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn. Ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống. Ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời. Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, bởi lẽ “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

    Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá. Đây là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí. Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ. Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ.

    Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

    Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

    Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh Giá, Thánh Thể không có ý nghĩa. Không có Thánh Thể, Thánh Giá chỉ là thất bại.Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.

    Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhờ sức mạnh của Thánh Thể nên đã chọn Thánh Giá cách tuyệt đối và quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Là con cháu của các Ngài, xin cho chúng con luôn khôn ngoan trong những chọn lựa của đời sống hàng ngày. Amen.

    Về mục lục

    .

    HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG VÌ ĐỨC TIN

    Lm. Phêrô Lê văn Chính

              Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngàI có 96 vị người Việt nam và 21 vị thừa sai Nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất. Con số 117 vị tử đạo chỉ là con số nhỏ của hơn 100 000 vị tử đạo tại Việt nam trong gần 300 năm dưới thời những vua quan Triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19. Thực không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Trong số các vị tử đạo, chúng ta phải kể đến những giám mục, linh mục, tu sĩ nước ngoài và cả các vị Việt nam, ngoài ra còn phải kể đến số đông những người giáo dân thuộc đủ mọi thành phần, từ những người như trùm họ, chánh trương cho đến những giáo dân, những người trong hàng ngủ quan triều đình hay binh lính.

              Những tâm tình của các thánh tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người biết coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khóat thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644, với sự chứng kiến của cha Đắc Lộ. Cái chết của thầy Anrê là một cái chết can đảm, thầy bị lính dùng đòng đâm ba nhát thấu ngực, nhưng vẫn chưa chết. Sau đó lính dùng mã tấu chém vào cổ đến hai nhát, đầu mới lìa khỏi cổ. Cha Đắc Lộ, dòng tên đã gói chiếc đầu của thầy giữ lại cẩn thận, và liệm xác thầy để gửi về Macau cất giữ như một báu vật của vị thánh tử đạo. Phần 117 vị thánh tử đạo, bắt đầu là hai vị tử đạo đầu tiên vào năm 1745 tại Thăng Long miền Bắc, đó là hai cha thừa sai dòng Đaminh là các cha Phanxicô Tế và Matthêu Dậu. Vị tử đạo cuối cùng là thánh Phêrô Đa, một giáo dân làm nghề thợ mộc, chịu tử đạo ở Qua Linh. miền Bắc năm 1862. Vào năm 1862, cuộc bách hại bùng lên ở miền Nam, hai nơi bị bách hại dữ dội là Biên Hòa và Bà Rịa với số người bị thiêu sống lên tới 846 vị.

              Các vị tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái  chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn. Thánh Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”. Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như thánh Micae Hồ đình Hy, hơn ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, nhưng ngài đã không vì chút danh lợi trần gian mà chối bỏ đức tin, quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết. Trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn một lòng khẳng khái cương trực, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí bổng lộc của triều đình vì muốn trung thành và nên giống Chúa Kitô: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”

              Có những vị rất trẻ tuổi như chủng sinh Tôma Thiện, tuy trẻ tuổi nhưng đã bắt đầu cảm nếm niềm vui của phúc tử đạo, và đã có những chọn lựa rất can đảm và sáng suốt. Quan lớn, vì thấy thầy còn quá trẻ và khôi ngô tuấn tú, nên đã đưa ra những lời dụ dỗ và hứa hẹn nhiều phần thưởng thế gian, nhưng Tôma Thiện vẫn cương quyết một lòng, không chút sờn lòng trước những cám dỗ đường mật, thầy thẳng thắn trả lời với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo… Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế”. Có những vị linh mục truyền giáo cũng rất trẻ tuổi, vừa mới được bề trên sai đến và đặt chân đến nước Việt nam xa lạ thì bị bắt như cha thánh Theôphan Vena. Khi bị bắt và xét xử, quan chỉ xin ngài bước qua thập giá thì được tha bổng. Nhưng bước qua thập giá dù là một hành vi rất nhẹ nhàng để được bảo vệ mạng sống thì ngài đã cương quyết từ chối tất cả mọi mưu mô khôn khéo của vua quan. Thánh Thêôphan Vena đã cương quyết trả lời: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Có những trường hợp lương tâm tế nhị và nan giải khi vua quan kết tội các ngài là theo Tây và phản bội lại tổ quốc, nhưng các ngài đã chân thành giải thích biện phân cách mạch lạc cho mọi người biết các ngài không hề phản bội tổ quốc, cũng như không hề phản bội lại vua gì cả mà các ngài luôn nhìn thấy sự thẳng thắn trong lòng tin trung kiên của mình. Các ngài vẫn một lòng trung thành với tổ quốc khi các ngài yêu mến phụng sự Thiên Chúa là Cha cao cả trên trời. Không hề bao giờ có thể vì trung thành với trung phụ là vua trần thế mà phản bội lại với Thượng phụ là Cha trên trời: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”. Ngay cả có những vị là lính của triều đình như thánh Trần văn Trung, ngài phân biệt rất rõ bổn phận vâng phục triều đình trong những điều đúng đắn như chiến đấu chống quân thù và bổn phận vâng phục tuyệt đối với Thiên Chúa mà ngài hằng yêu mến : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.

              Mừng lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam chúng ta tự hào là con cháu các vị tử đạo. Chúng ta vui vì các bậc tổ tiên của mình đã sống thực là xứng đáng và đã kéo nhiều ơn lành của Thiên Chúa cho các con cháu. Thiên Chúa chúc phúc cho các con cháu là chúng ta vì biết bao công đức của tổ tiên ông bà chúng ta là các vị thánh tử đạo trung kiên bất khuất. Ngay cả dù không chết ở pháp trường, các ngài cũng đã sống một đời sống xứng đáng theo những mối phúc của Tin mừng. Ngày nay chúng ta không phải đối diện với cái chết tử đạo, nhưng  là con cháu các vị tử đạo, chúng ta muốn tiếp bước và được mời gọi tiếp bước các bậc tổ tiên ông bà của chúng ta trong đời sống chọn lựa trung tín với Thiên Chúa của mình. Việc tử đạo của chúng ta ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.

    Về mục lục

    .

    TIN THEO GIÊSU

    Lm. Jos. DĐH.

    Cuộc sống cho ta thấy một sự thật: nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ ; muốn chia sẻ tình yêu thương cho gia đình, người thân, còn thấy khó, mở cửa lòng mình ra với anh chị em xa lạ, bao giờ chẳng là điều phức tạp hơn ? Dù người ta mạnh miệng xó bếp hay nhút nhát nơi công đường, chưa ai xếp đối tượng như thế là anh hùng. Dù đi gần hay đi xa, ai cũng phải cất bước mới tới đích, muốn gặt may mắn, nhất định phải gieo duyên lành. Tính bất ngờ khó hiểu, hàng ngày vẫn đang cho ta thấy sự phong phú đáng nể: có những thứ tình cảm được gọi là tình yêu, có những thứ nước được gọi là rượu mạnh. Hoàn cảnh xã hội xưa kia và hôm nay tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều được tự do chọn lựa bước trên con đường dẫn tới hạnh phúc.

    Sống nghề “ruộng nương”, mọi người đều hiểu quy luật: “hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối đi mới sinh bông hạt”. Tất cả những ai là kitô hữu, đều được mời gọi sống niềm tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Tiền nhân chúng ta trải qua cuộc bách hại đức tin dài hơn ba thế kỷ, các ngài dâng mạng sống mình, kết hiệp với tình yêu Giêsu như hạt giống thối đi, chết đi, luôn thao thức được trổ sinh hương hoa cho thế hệ con cháu. Đồng ý rằng, đường đời thênh thang, lối ngang lối rẽ không phải là ít, nhưng đường đưa tới sự sống thật, hạnh phúc thật, nhất định phải ở trong tình yêu Giêsu, ở nơi Ngài mới có nở hoa kết trái.

    Nước mắt chảy xuôi, hay máu chảy về tim, đó là quy luật muôn đời, còn tình yêu lại không có quy tắc ngược xuôi, cha ông chúng ta đã làm sống động truyền thống tin yêu nơi Đức Giêsu, tưới máu đào trên khắp quê hương. Tin theo Giêsu không chỉ có vì dấu thánh giá, đọc kinh nhiều lần trong ngày, cũng không phải là đi hàng ngang hàng dọc cho thiên hạ thấy hình thập giá, hoặc liều mình liều mạng hầu được gọi là gan dạ lì đòn. Tin theo Đức Giêsu là tin giáo huấn của Ngài là sự thật, và bằng tình yêu, tự do, mỗi người ý thức sống ơn gọi của mình: “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng ở đó”. Theo Đức Giêsu vì yêu, vì tin, là khi chúng ta cảm nhận được sức mạnh Thiên Chúa đang ở trong con người giới hạn của mình, và sống đức tin chính là chúng ta sẽ được biến đổi nên giống Chúa.

    Với lối diễn tả về tình yêu đôi lứa rất chân thật: chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha anh hiền. Chẳng tham nhà ngói xinh xinh, tham vì một nỗi anh xinh miệng cười. Các đấng bậc muốn nói đến sự khôn ngoan cần thiết nơi con người hệ tại ở tâm tính, ở nét đẹp sâu thẳm trong cõi lòng. Bằng một phong cách sống tin yêu, tiền nhân chúng ta theo Đức Giêsu không phải hướng tới bổng lộc, hay được vinh quang ở đời này, nhưng là được sống mãi trong yêu thương, hạnh phúc trước ơn gọi nên giống Chúa vẹn toàn. Tin theo Đức Giêsu để xác tín hơn: dù máu chảy đầu rơi, cũng không làm ta sờn lòng nản chí, dù tài cao trí rộng hơn người, ta cũng vui vẻ khiêm tốn sống hài hoà với mọi người.

    Sống niềm tin kitô giáo hôm nay không còn giới hạn bởi “ngăn sông cấm chợ”, ấy vậy mà nỗi ưu tư giáo dục con cái của bậc làm cha mẹ không phải là đã bình tâm. Xã hội không ban tặng danh hiệu anh hùng liệt sĩ cho tất cả những ai tài giỏi đức độ, bao lâu chưa xác minh được tính chất cao đẹp mà họ đã dũng cảm hy sinh. Giáo hội không “phong thánh” cho tất cả những ai hàng ngày có mặt ở nhà thờ, để lại nhiều tài sản vật chất tiền của, nếu chưa thấy được tính chuẩn mực mà con đường tin theo Chúa của họ là gì ! “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời”. Sống chết vì yêu, khác với sống chết vì buồn chán thất vọng, sống chết vì đức tin kitô giáo, khác với sống chết vì phạm pháp mà xã hội xử tử.

    Đường đời dài rộng, cơ hội gặt hái hạnh phúc, ai cũng giống nhau, có hay không, được hay mất, tuỳ tự do mỗi người đã sống và đang sống như thế nào ? Những người khoẻ mạnh, sống thọ, chưa chắc là do họ thông thái, hay lắm mưu nhiều kế. Người nghèo khổ, không có tiếng nói trong xã hội, chết yểu, cũng chẳng phải do họ ngu ngốc hay lạc hướng lạc đường. Điều quan trọng là mỗi chúng ta có thấy tình yêu, bình an, khi đi tới điểm đích của sống chết hay không ? Cha ông chúng ta cũng không phải là mình đồng da sắt, các ngài chết vì già bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chết vì tình yêu Đức Kitô, cũng là một nhắc nhớ mỗi người đã tin theo Đức Giêsu như thế nào ? May mắn khi chúng ta có cha mẹ tài đức, các ngài sẽ dạy cho con cháu biết thưa chuyện với Chúa, biết nói về Chúa cho anh chị em. Hạnh phúc biết bao khi tin theo Đức Giêsu, chúng ta sẽ rõ hơn Ngài là Vị Thầy chuẩn mực, biết minh hoạ, truyền cảm hứng cho ta sống thánh ý của Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu. Amen.

    Về mục lục

    .

    NGÀY ẤY

    Anna Cỏ May

    Thời gian cứ thấm thoát trôi đi. Cuộc sống của mỗi người cũng dần thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, những đám ruộng được cày bởi những con trâu, con bò. Ngày nay, thay vì những con trâu, con bò là những chiếc máy cày chạy nhanh, giúp mọi người đỡ vất vả hơn. Thời trước, trẻ em đâu biết điện thoại, laptop là gì? Ngày nay, trẻ em có thể qua chiếc điên thoại thông minh biết được cả thế giới. Cuộc sống con người được nâng cao và mọi thứ có thể đạt được trong tầm tay. Thế nhưng, thời đại lỹ thuật số là thời đại có giới hạn, không có cái gì là bền vững. Tất cả đều hư vô. Chỉ duy nhất một điều không bao giờ thay đổi là lời yêu thương của Chúa Giê-su.

    Những ai sống lời yêu thương của Chúa thì đến ngày sau hết sẽ được thoát khỏi việc xét xử (x.Gc 2,13). Ngày sau hết không ai biết trước được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (x.Mc 13,32). Vậy, dấu hiệu nào để nhận ra ngày ấy?

    Trong Tin Mừng Mác cô, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ về ngày quang lâm của Ngài rằng: “Trong những ngày ấy, sau cơn gian nan lớn lao, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng. Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển” (Mc 13,24-25). Ngày ấy, tất cả mọi thứ trên trái đất không hiện hữu nữa. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ xuất hiện đầy quyền năng, vinh quang ngự trong đám mây mà đến xét xử kẻ lành người dữ (x.Mc 13,26). Lúc ấy, những lời Thiên Chúa nói tới là sự yêu thương và bác ái của con người với nhau mà thôi. Thế ai sẽ là người tốt lành, là người sẽ hưởng hạnh phúc trên Nước Trời? Thật không ai biết rõ ai đáng được hạnh phúc trên Nước Trời ngoại trừ chính Thiên Chúa và bản thân mỗi người. Cuộc sống trần gian là thời gian, là cơ hội cho mỗi người mua lấy hạnh phúc Nước Trời. Trong các vị Tử Đạo, có những người mang thân phận là thị vệ, là Giáo dân, là quân lính,…nhưng vẫn trung thành với Chúa trong tất cả mọi nghịch cảnh, dù là gông cùm, bá đao, xử giảo,… các vị đã từ giã gia đình và động viên những người thân hãy vững tin vào Chúa luôn. Đi tới đâu, ở đâu, lúc nào, các vị đều đem niềm tin đến cho mọi người. Nhất là những giây phút đứng trước bản án, các vị vẫn luôn xác tín niềm tin vào Chúa. Thánh Phaolô Tống Viết Bường là thị vệ đã nói với quan lớn rằng: “Quan lớn có lòng thương thì tôi đội ơn quan lớn nhưng xin quan lớn để tôi được giữ trọn chữ trung với Đức Chúa Trời là Thiên Chúa tôi thờ”.

    Ngày nay, tuy không có cuộc bách đạo hiên ngang, nhưng có những cuộc chiến âm thầm làm cho niềm tin của mọi người nơi Thiên Chúa bị lung lay. Mọi người dễ rời vào niềm tin ở sức mình hơn mà thiếu niềm tin vào Thiên Chúa quyền năng. Từ đó, mọi người bị lôi cuốn vào cuộc sống tinh thần thế gian. Cuộc sống theo tinh thần thế gian là cuộc sống vị kỷ, hưởng thụ, mặc kệ người khác, không còn biết ai ngoài chính mình,… Ngoài ra, mỗi người dễ có suy nghĩ rằng tự do là một cuộc sống không có bó buộc dưới một quyền bính của ai. Và từ đó khiến cho mọi người sống cuộc sống dễ dãi, chìm ngập trong bóng tối mà không biết lối thoát ra để rồi phải chịu xét xử trước mặt Thiên Chúa trong ngày Chúa quang lâm. Còn Thiên Chúa, Ngài đâu có đòi hỏi mỗi người điều gì khác ngoài việc kính sợ Đức Chúa, đi theo đường lối của Ngài, yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa hết lòng hết dạ (x.Đnl 10,12) và yêu người thân cận như chính mình.

    Lạy Chúa, như lời Ngài đã nói: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”. Xin cho mỗi người chúng con biết phân định cuộc sống đích thực bền vững khi và chỉ khi thực hiện điều Chúa dạy. Xin cho chúng con luôn chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để khi Chúa đến hân hoan bước theo Chúa về hưởng phúc cùng với các Thánh trên Nước Trời. Amen.

    Về mục lục

    .

    THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

    Bông hồng nhỏ

    Cuộc sống con người cần những tương quan. Ai cũng thuộc về một nơi nào đó, và ở đấy họ tìm thấy vị trí của mình, tìm thấy hạnh phúc cho cuộc đời. Niềm hạnh phúc nhất của con người là khi họ biết mình được thuộc trọn về Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương.

    Thầy Giê-su đã nói về cuộc tuyển chọn đặc biệt trong ngày Con Người quang lâm. Khi những điềm lạ xảy ra: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển, bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (x.Mc 13,24-26). Ai sẽ được Người tuyển chọn? Thầy Giê-su đã từng tuyển chọn các môn đệ, đặc biệt là Thầy tuyển chọn các Tông đồ không theo tiêu chuẩn của người đời nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa, để các ông trở thành những trợ tá đắc lực, trở thành những chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Nhưng trong ngày Con Người quang lâm, Thiên Chúa sẽ tuyển chọn những ai đã can đảm sống và làm chứng cho Chúa. Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa vẫn cho mưa xuống trên cả người công chính lẫn người bất chính và Ngài kiên nhẫn chờ đợi họ đón nhận lòng thương xót của Ngài. Đón nhận tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc ta sẵn sàng yêu thương người thân cận (x.Lc 10,29-37). Nếu ta thật sự yêu Chúa, gắn bó với Chúa và đặt trọn niềm hy vọng nơi Chúa thì chính Chúa sẽ dẫn đưa ta vào chung hưởng hạnh phúc với Chúa ở đời sau, mà ngay ở đời này ta đã có sự an bình trong tâm hồn. Như đứa con thơ chạy đến bên cha hiền và níu chặt lấy tay cha, cha sẽ dắt nó đi và khi nó mệt mỏi, cha sẽ bế nó trên tay hay cõng nó trên lưng, Thiên Chúa cũng yêu ta rất cụ thể như thế. Bởi vì đứa con biết nó là con yêu của cha và nó thuộc về cha. Ở bên cha, đứa con chẳng phải sợ gì. Thiên Chúa còn hơn thế nữa. Ngài đã cứu chuộc ta bằng chính giá máu châu báu của Con yêu dấu và chẳng muốn một ai phải hư mất (x.Ga 17,120. Ta được sinh ra là để thuộc về Thiên Chúa, được ở trong Thiên Chúa, được nên một như lời cầu nguyện của Thầy Giê-su: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (x.Ga 17,20-21). Như vậy, ta không chỉ được cứu độ một mình nhưng cùng với anh chị em mình. Nghĩa là ơn gọi nên thánh vừa dành riêng cho mỗi người và mỗi người lại giúp nhau nên thánh bằng lời cầu nguyện và gương sáng.

    Lạy Chúa! Cảm tạ Chúa đã cho con biết con được Chúa yêu. Chúa lại ban cho con những tấm gương sáng ngời là các Thánh Tử Đạo, đặc biệt là các Thánh Tử Đạo Việt Nam để nhờ lời chuyển cầu và gương sáng của các ngài, con vững lòng trông cậy Chúa. Xin cho con nhớ rằng “mọi sự sẽ qua đi nhưng Thiên Chúa còn mãi” như lời Thánh Têrêsa Avila đã nhắn nhủ. Chính Chúa cũng hằng dạy dỗ con, nuôi dưỡng con luôn. Xin cho Đức tin của con nên hành động cụ thể để cho Danh Chúa được cả sáng. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA

    Lm. Inhaxiô Hồ Thông

    Kn 3: 1-9

    “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa tôi luyện như vàng trong lò lửa và “thấy họ xứng đáng với Ngài”. Họ là những người làm chứng cho lòng tin ở Chúa. Lòng tin ấy sẽ “rực sáng như tia lửa bén nhanh giữa rừng sậy”.

    1Cr 1: 17-25

    Giáo Hội Việt Nam hôm nay hân hoan mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong hàng ngũ các ngài, ngoài các vị là giám mục, linh mục, đa số là giáo dân. Các ngài không phải là những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng các ngài là những chứng nhân cho “Đức Ki-tô bị đóng đinh vào Thập Giá”. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn các ngài, những người mà thế gian coi như điên rồ, được hưởng phúc trên Nước Trời.

    Mt 10: 17-22

    Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã lần lượt bị điệu đến quan quyền để làm chứng cho đức tin. Đa số các ngài là những dân quê hiền lành chất phát, nhưng ơn Chúa đã giúp các ngài đối diện với vua quan, đã dạy các ngài phải nói gì, và cuối cùng các ngài đã bền vững trong lòng tin vào Chúa, nên gương sáng cho cháu con hôm nay. Quả thật, như lời của thánh Âu-gút-tin: “Trên mảnh đất đã gieo nhiều hạt giống đẫm máu, mảnh đất đó càng phát sinh nhiều vị tử đạo, và rồi hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng của Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng là chứng nhân cho Chúa Ki-tô hơn là lúc còn bình sinh. Ngày nay các ngài vẫn còn đang nói, vẫn còn đang giảng thuyết. Miệng lưỡi tuy im bặt, nhưng bao nhiêu sự việc còn vang dội sâu xa”.

    BÀI ĐỌC I (Kn 3: 1-9)

    Những khẳng định của sách Khôn Ngoan đánh dấu một khúc quanh quan trọng về cuộc sống mai sau của con người. Chúng kết thúc thời gian dài các nhà tư tưởng Do thái do dự về số phận của những người công chính ở bên kia nấm mồ. Vấn đề thưởng phạt thường được nêu lên suốt nhiều thế kỷ mà không có giải pháp thỏa đáng nào.

    1. Quan niệm Cựu Ước về sự sống lại

    Trong lịch sử dài này, tư tưởng chiếm ưu thế đó là “nhân quả”: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặp bảo” ngay trong cuộc đời tại thế. Người công chính vui hưởng những hoa quả công đức của mình như phúc, lộc, thọ, trong khi bọn ác nhân không sớm thì muộn sẽ phải đón nhận những tai ương hoạn nạn: lưới trời lồng lộng, không ai có thể thoát được. Quan niệm về thưởng phạt ngay từ cõi đờinàyphát xuất từ một niềm tin quá bi quan và yếm thế về cuộc sống mai hậu. Tất cả mọi người, dù thiện hay ác, khi từ giã cõi đời này đều cùng chung một số phận, bị giam cầm trong cõi Âm Ty, ở đó không còn gì ngoài bóng tối âm u.

    Nhưng kinh nghiệm thường ngày: “những đều trong thấy mà đau đớn lòng”, cực lực phản bác viễn cảnh thưởng phạt ngay từ cuộc đời trần thế này. Sách Gióp (khoảng thế kỷ thứ 6-5 Tcn) xao xuyến nêu lên vấn đề “họa vô đơn chí” giáng xuống trên người công chính. Quả thật, các ngôn sứ đã tuyên xưng rằng số phận của người công chính khác với bọn ác nhân ở bên kia nấm mồ. Các thánh vịnh gia công bố rằng người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc vinh hiển trước Nhan Thiên Chúa muôn đời (Tv 16, 17, 49, 73).

    Tiếp đó, niềm tin vào kẻ chết sống lại vào ngày chung thẩm xuất hiện. Vào thời vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại dân Do thái thật khủng khiếp, những người tử đạo chết trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một cuộc sống mai hậu (2Mcb 7: 1-38).

    Tác giả sách Khôn Ngoan còn đi xa hơn nữa. Ông thấy niềm tin của người Hy lạp vào sự bất tử của linh hồn như một sự củng cố cho niềm hy vọng vào sự sống lại mai hậu của dân Do thái, dù vẫn còn tiềm tàng hay rụt rè. Nhưng ông cũng nhận ra rằng tư tường Hy lạp này không hoàn toàn tương xứng với tư tưởng Kinh Thánh. Quả thật, người Hy lạp đề cao linh hồn đến mức xem thường thân xác được ví như một thứ hình hài tạm bợ, đáng khinh bĩ, mãi mãi sẽ bị vứt bỏ sau khi chết.

    1. Quan niệm sai lầm về con người

    Trong đoạn văn trước đó (ch. 2), tác giả sách Khôn Ngoan đã phản bác quan niệm duy vật sai lầm về con người: sinh ra là một sự ngẫu nhiên, sống chỉ là cho qua ngày đoạn tháng. Khi hơi thở biến mất, cuộc sống tan biến như mây khói; tư tưởng như ngọn lửa bên trong vụt tắt, thân xác chỉ còn tro bụi. Theo quan niệm duy vật này, không có chỗ nào được dành cho Đấng Tạo Hóa và Quan Phòng của Ngài.

    Sách Khôn Ngoan được viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên ở A-lê-xan-ri-a cho những đồng bào của mình, họ đang bị những sức hấp dẫn của nền văn minh ngoại giáo chung quanh cám dỗ. Số lượng người bội giáo (tác giả gọi “quân vô đạo”) đáng lo ngại. Theo tác giả, uy thế của triết học và các tôn giáo khác, dù hệ thống học thuyết có mê hoặc lòng người đến đâu đi nữa, cũng không thể nào biết được sự hiện hữu của một Thiên Chúa ngôi vị, Đấng có một kế hoạch riêng biệt cho con người và là một Thiên Chúa tình yêu. Đối lập với quan niệm vô tri và duy vật nầy, tác giả mô tả quan niệm đích thật về con người mà Thiên Chúa đã mặc khải.

    1. Quan niệm đích thật về con người

    Ở trung tâm tiến trình lập luận của mình, tác giả đã đặt Mặc Khải thiết yếu nhất liên quan đến con người: “Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (2: 23) như chúng ta đọc thấy trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra con người theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài” (St 1: 26). Vì thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử. Từ đó, tác giả khai triển những viễn cảnh vinh quang đang chờ đợi những người đức hạnh vẹn toàn, sống một đời thánh thiện: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa; họ đang hưởng an bình”.

    Tất cả những khai triển này mang đậm nét Kinh Thánh, đặc biệt được gợi hứng từ các chương đầu tiên của sách Sáng Thế, không liên hệ gì đến triết học nhị nguyên của Platon. Lập luận chủ yếu của tác giả căn cứ trên Mặc Khải. “Linh hồn” mà tác giả nói đến ở đây không là linh hồn bất tử ở trong một thân xác hủy hoại theo Nhị Nguyên triết thuyết Hy lạp, nhưng là nephesh, “sinh khí của Thiên Chúa” (St 2: 7).

    Từ nay, vấn đề sự chết và đau khổ được soi sáng. Cái chết không còn là án phạt nữa nhưng là ngưỡng cửa bước vào cõi trường sinh bất tử. Đau khổ là một sự thử thách như “lửa thử vàng, gian nan thử đức” nhằm tôi luyện cuộc đời của các tôi trung của Thiên Chúa thành “của lễ toàn thiêu” .

    1. Vinh quang chung cục

    “Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy”. “Thiên Chúa viếng thăm” là diễn ngữ kinh thánh, tức là một sự can thiệp chứa chan ân tình của Thiên Chúa như trong những lời trăn trối sau cùng của tổ phụ Giu-se cho các anh em mình: “Thế nào Thiên Chúa cũng viếng thăm anh em” (St 50: 24), nghĩa là Ngài sẽ ban cho anh em muôn vàn ân phúc của Ngài. Tác giả sách Khôn Ngoan nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung. Những người công chính sẽ rực sáng vinh quang, Thiên Chúa sẽ đặt họ “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, nghĩa là đức hạnh của người công chính sẽ chiến thắng ác tâm quỷ quyệt của quân vô đạo. Chính trong chiều hướng này mà thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nào anh em chẳng biết rằng dân thánh sẽ xét xử thế gian sao?” (1Cr 6: 2) và sách Khải Huyền viết:“Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân” (Kh 2: 26). Đức Giê-su sẽ sử dụng diễn ngữ tương tự để xác định vị thế các môn đệ Ngài trong Nước Trời: “Khi Con Người ngự trên ngai vinh hiển của Ngài, các anh cũng vậy, những người đã theo Thầy, ngự trên mười hai ngai tòa để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”.

    1. Thiên Chúa là tình yêu, ân phúc và từ tâm

    Niềm hy vọng lớn laonàyđược đặt để vào tình yêu, ân phúc và từ tâm của Thiên Chúa. Chính ở nơi tình yêu, ân phúc và từ tâmnàymà những người công chính sống. “Những ai trông cậy vào Chúa sẽ am tường sự thật, và những ai trung thành thì được Chúa yêu thương và cho ở gần Người, vì Người ban ân huệ, và thương xót những ai được Người tuyển chọn”. Lời kết thúc của Bài Đọc Inàyđược viết trước các sách Tin Mừng một thế kỷ, loan báo sứ điệp rất gần với sứ điệp Tin Mừng. Có một tiến trình liên tục từ Mặc Khải Cựu Ước đến Mặc Khải Tân Ước.

    BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 17-25)

    Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô vào Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, được cấu trúc rất chặc chẽ. Tuy nhiên, cần phải đặt nó vào trong văn mạch để hiểu rõ hơn tư tưởng của thánh nhân.

    Xin nhắc lại ngắn gọn: cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ nhau về các vị rao giảng của họ, tạo nên các bè phái ở giữa họ. Cực lực chống lại việc chia năm xẻ bảy nầy, thánh Phao-lô lớn tiếng chỉ trích cách hành xửnàykhông phù hợp với tinh thần Tin Mừng.

    1. Sự khôn ngoan của thế gian (1: 17-21)

    Đáp lại những kẻ tự phụ mình “thông thái”, thánh nhân nhắc nhở rằng ngài đã rao giảng cho họ không phải bằng lời lẽ khôn khéo, nhưng sự điên rồ của thập giá trái với đòi hỏi điềm thiêng dấu lạ của người Do thái và tìm kiếm lẽ khôn ngoan của người Hy lạp.

    Dân Do thái chờ đợi một Đấng Mê-si-a thực hiện những điềm thiêng dấu lạ, một Đấng Mê-si-a quyền năng và chiến thắng. Dân Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, tức là một cuộc sống quân bình, mực thước và điều độ, không có nó không một xã hội nào có thể bền vững được. Đó là điều mà tất cả mọi hệ thống triết học đều đề cao.

    Hai quan niệm, Do thái và Hy lạp, rất khác biệt nhau, nhưng không có quan niệm nào phù hợp với hình ảnh Thập Giá được.

    Trong hoạt động truyền giáo của mình, thánh Phao-lô đã gặp phải hai chướng ngại này. Biết bao người Do thái đã không thể chấp nhận Đấng Mê-si-a chịu khổ nhục trên thập giá. Ở An-ti-ô-ki-a, ở Thê-xa-lô-ni-ca và những nơi khác, thánh Phao-lô đã bị những người Do tháinàybách hại.

    Còn đối với dân Hy lạp và sự khôn ngoan của họ, thánh Phao-lô đã chạm trán với họ ở A-thê-na. Thánh nhân cố gắng thuyết phục họ nhưng vô ích. Họ mong chờ những bài diễn từ lời hay ý đẹp, trong khi thánh nhân rao giảng một con người thập toàn bị đóng đinh trên thập giá. Quả thật, bản văn cho thấy rằng việc rao giảng Thập Giá khó lòng mà thuyết phục con người. Đối với người Hy lạp, ưu phẩm hàng đầu của một vị thần chính là Mỹ, vì thế Đấng chịu đóng đinh không ra hình tượng con người không thể nào sánh ví với hình ảnh của một vị thần linh.

    1. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1: 22-25)

    Nhưng Thập Giá không là một bài diễn từ lời hay ý đẹp, nhưng là một sự kiện, một sự kiện lạ thường, ở đó ẩn dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa, hoàn toàn khác với những kỳ vọng của con người.

    Trong thư thứ nhất gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, một trong những bài học lớn lao đó là: “dạy mầu nhiệm đau khổ như một yếu tố cốt yếu của Tin Mừng”. Chung chung, thần học của thánh Phao-lô không bao giờ tách rời biến cố Tử Nạn ra khỏi mầu nhiệm Phục Sinh. Tuy nhiên, đây là trường hợp ngoại lệ và có chủ đích. Đối mặt với sự tự mãn của con người, thánh nhân nhấn mạnh hình ảnh độc nhất về “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.

    TIN MỪNG (Mt 10: 17-22)

    Mặc dù đoạn Tin Mừng dành cho ngày đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trích từ Mt 10: 17-22, nhưng để hiểu sâu xa đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ đặt nó vào trong toàn bộ phân đoạn của nó, nghĩa là từ 10: 17-25. Đây là phân đoạn thứ hai về những huấn thị bách hại (10: 17-25) được phân biệt rõ nét với phân đoạn thứ nhất về những huấn thị truyền giáo (10: 1-16).

    Phân đoạn thứ nhất nêu bật chủ đề uy quyền hay quyền năng phi thường mà Đức Giê-su ban cho những ai mà Ngài sai đi loan báo Nước Trời. Trong phân đoạn nầy, không có bất kỳ ám chỉ chính xác nào về đau khổ. Thật ra, đoạn văn 10: 13b-16 ám chỉ đến việc người đời có thể không tiếp đón các môn đệ (10: 13b-15) và cảnh báo rồi những hiểm nguy đang rình rập chờ đón họ: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói” (10: 16). Tuy nhiên, những đối kháng này vẫn mơ hồ và một bầu khí chiến thắng xem ra phải ngự trị trên hoạt động truyền giáo.

    Khởi đi từ 10: 17, những huấn thị được đặt trên một dấu nhấn hoàn toàn khác: những cuộc bách hại sắp đến. Các môn đệ không chỉ bị thù ghét, nhưng những thử thách sắp tới của họ được mô tả một cách chính xác đến nỗi chúng ta có thể định vị môi trường của chúng nữa. Chúng ta có thể phân chia phân đoạn thứ hainàythành: cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-20), cuộc bách hại trong gia đình (10: 21-22), thái độ cần phải có trong hoàn cảnh bách hại (10: 23) và phần kết luận (10: 24-25) cho toàn bộ phân đoạn thứ hai này (10: 17-25).

    1. Cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-21):

    Phần mở đầu của câu 17: “Hãy coi chừng người đời” lập lại chủ đề về sự cẩn trọng của câu 16 nhưng với những thuật ngữ hoàn toàn khác. Động từ “coi chừng” mặc lấy hai nét nghĩa: hoặc bác bỏ, từ chối điều gì đó (như 7: 15; 16: 6) hay đề phòng cảnh giác trong hoàn cảnh khó khăn nào đó (như 6: 1). Văn mạch nhấn mạnh đến nét nghĩa thứ hai: Đức Giê-su không khuyên các môn đệ của Ngài nên trốn chạy khỏi “người đời” nhưng trong những gặp gỡ của họ với người đời, nên giữ mình khỏi mọi ảo tưởng. Họ đừng quên rằng Thầy của họ đã bị những người đời này tìm cách khai trừ, loại bỏ. Phần tiếp theo của câu 17 cho thấy rằng “người đời” này không ai khác là người Do thái: “Họ sẽ nộp anh em cho các hội đường và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ”.

    Tuy nhiên, câu 18 cho thấy bối cảnh của cuộc bách hại có thể vừa ở trong xứ Pa-lét-tin nhưng cũng vừa ở bên ngoài xứ Pa-lét-tin. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, các Ki tô hữu đừng quên rằng những cách hành xử đầy bạo lực này có một ‎ ý nghĩa, đó là dịp là cơ hội “làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết” về Đức Ki-tô và Nước Thiên Chúa. Lời chứng này nêu bật tính chất vừa công chúng vừa chính trị nữa. Các vua chúa và dân chúng có dịp nghe nói về Đức Giê-su và Nước Trời.

    Câu 19-20 là lời hứa của Đức Giê-su cho các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Chính vì làm chứng cho Thầy mình mà họ không cần lo nghĩ phải nói gì, vì trong giờ đó Thiên Chúa sẽ ban cho họ Thần Khí để giúp họ như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê: “Chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói gì” (Xh 4: 12).

    Câu 20: “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em”, mới nhìn thoáng qua, khiến nghĩ đến một sự gợi hứng máy móc loại bỏ tất cả sự dự phần của chứng nhân. Nhưng không phải như thế; trái lại hai cụm từ “anh em” và “trong anh em” nhấn mạnh rằng ân huệ này được ban cho các chứng nhân không như những khí cụ thụ động nhưng còn ở trong họ và bởi họ nữa.

    1. Cuộc bách hại ngay trong gia đình (10: 21-22)

    Song đối với 10: 17-20 ở trên, các câu 10: 21-22 bao gồm một lời cảnh báo về cuộc bách hại và một lời hứa. Câu 21 cảnh báo rằng ngay cả những người thân thuộc trong gia đình cũng sẽ tố cáo họ vì họ dám chấp nhận cái chết để tin vào Đức Giê-su. Còn câu 22 đề cập đến việc họ sẽ bị mọi người thù ghét vì Ngài nhưng hứa rằng những ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ.

    1. Thái độ phải có trong hoàn cảnh bách hại (23)

    Câu 23 diễn tả thái độ phải có trong hoàn cảnh bị bách hại. Người Ki tô hữu không phải đưa thân mình ra cho những kẻ bách hại mình, nhưng “khi người ta bách hại anh em trong thành nầy, thì hãy trốn chạy sang thành khác”, bởi vì nếu thành này xua đuổi họ đi thì có thành khác để loan báo Tin Mừng. Như vậy, sứ mạng loan báo Tin Mừng vẫn phải là bổn phận cho đến cùng.

    1. Phần kết luận (10: 24-25)

    Hai câu 24-25 là phần kết luận của phân đoạn này. Các môn đệ của Đức Giê-su không mong đợi một vận mệnh nào khác ngoài vận mệnh của Thầy mình, Đấng bị khinh bỉ, bị ruồng bỏ, bị khai trừ và cuối cùng bị án tử trên thập giá. Thầy và trò, chủ và tớ được đặt vào trong cùng một số phận: “Trò được như Thầy, tớ được như chủ”. Tuy nhiên, diễn ngữ này không giới thiệu một sự so sánh nhưng là căn tính về vận mệnh trần thế giữa Thầy và trò. Nếu cả hai đều chia sẽ cùng một vận mệnh: đau khổ, bị bách hại và bị án tử, điều đó không muốn nói rằng Thầy khai mở cho môn đệ của mình sống lại cuộc mạo hiểm mà chính Thầy đã kinh qua. Cả hai giống nhau trong những diễn biến bên ngoài nhưng lại khác nhau trong ý nghĩa và tầm mức. Đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ của Đấng ở nơi Ngài Nước Thiên Chúa đã đến gần (10: 7) trong khi đau khổ của người môn đệ là đau khổ của một chứng nhân về Nước Thiên Chúa này (10: 18).

    Về mục lục

    .

    CHỨNG NHÂN KITÔ GIÁO

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Hằng năm cứ vào dịp đại lễ kính nhớ Tổ tiên ông bà Tử Đạo Việt Nam, đoàn tín hữu, con dân đất Việt lại thêm một lần được củng cố niềm tin. Ít ra, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Để sống xứng danh là cháu con các anh hùng tử đạo, Kitô hữu Việt Nam cần hiên ngang, anh dũng một cách nào đó trong niềm tin, trong cách sống đạo của mình. Trong tâm tình ấy, xin phác họa đôi nét về chân dung các Thánh Tử đạo Việt Nam như là những chứng nhân Kitô giáo.

    1. Chứng từ khả tín của các chứng nhân:

    Xin được gọi các Ngài bằng nghĩa gốc của từ “tử đạo” là “chứng nhân” (martyr). Thiết tưởng cần trở về với nghĩa gốc là chứng nhân hơn là tử đạo, cho dù hai từ tử đạo đã quá phổ biến trong cách dùng. Bởi vì hai từ tử đạo có vẻ như đang bị méo mó ý nghĩa một cách nào đó khi mà vô tuyến truyền hình tường thuật những người ôm bom tự sát để giết hại nhiều người, trong đó có cả thường dân vô tội, và họ cũng tự cho là tử vì đạo. Hơn nữa một thánh tử đạo trong tôn giáo này chưa chắc được kính trọng bởi người của tôn giáo khác cho bằng các thánh hiển tu hay các thánh xả thân vì tình yêu đồng loại.

    Nói đến chứng nhân là nói đến những người dùng chính cuộc sống của mình, dùng cả sự sống và sự chết của mình để làm chứng cho một lý tưởng cao đẹp như nền hòa bình của nhân loại hay sự độc lập tự do của dân tộc…hoặc cho một niềm tin tôn giáo. Khi có ai, có một tập thể hiến dâng cả cuộc sống, hiến dâng cả mạng sống để làm chứng về một chân lý nào đó thì chứng từ ấy có tính khả tín nghĩa là chân lý có tính thuyết phục và đáng tin theo. Tuy nhiên mức độ khả tín của các chứng từ còn tùy thuộc vào cách thế làm chứng của các chứng nhân.

    Nếu xét về hình thức chịu cực hình cho đến chết như bị “rũ tù” (bị tra tấn và giam tù cho đến chết), “xữ giảo” (bị thắt cổ cho chết),”xữ trảm” (bị chém đầu), “lăng trì” (bị ném cho voi chà đạp, xé xác), bị thiếu sống hay chịu xử “bá đao” (bị róc từng mãnh thịt cho đến chết), thì các bậc cha ông chúng ta tuy có bị khổ hình ghê rợn, thế nhưng các anh hùng dân tộc nhiều khi cũng đã can đảm đón nhận các cực hình tương tự không kém. Tuy nhiên qua cuộc sống, nhất là sự hiến dâng mạng sống của các chứng nhân Kitô giáo, của cha ông anh hùng hy sinh vì đức tin, chúng ta nhận ra mức độ trỗi vượt của tính thuyết phục nơi cách làm chứng của các Ngài.

    Nét trỗi vượt và cũng là nét khác biệt nơi chứng từ của cha ông chúng ta đó là cách thế đón nhận khổ hình. Không một ai tự mình quyên sinh và nhất là khi bị khổ hình, không một ai căm phẩn, hận thù hay hô đả đảo những người bắt bớ, giết hại mình. Các ngài khoan thai, an bình, có khi tỏ vẻ hân hoan và cầu nguyện cho cả người giết hại mình đến độ nhiều “đao phủ” đã phải thành khẩn xin tha thứ trước khi hành hình các Ngài. Một thái độ làm chứng nhân khó thấy, hiếm thấy và có thể nói là không thấy có nơi các anh hùng dân tộc khi chịu cực hình, chịu chết vì lý tưởng. Và đây chính là nét khả tín tuyệt vời của nhứng chứng nhân bỏ mình vì “danh Đức Kitô”.

    2. Một chân lý đức tin nền tảng mà các chứng nhân Kitô giáo làm chứng:

    Chân lý đức tin Kitô giáo thì nhều, nhưng có thể nói một chân lý nền tảng mà tổ tiên ta đã anh dũng làm chứng đó là: Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất, ta phải tôn thờ và yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ta, vì ngoài Người ra thì không có đấng nào khác. (x.Dnl 6,4-7; Mc 12,28-34).

    Tôn thờ một ai đó, một Đấng nào đó là nói lên sự thần phục, sự lệ thuộc của mình với Đấng ấy, với người ấy. Một trong những hình thức biểu lộ sự thần phục hay thờ phượng đó là sự phủ phục. Ta phủ phục trước một Đấng nào đó là ta nhìn nhận những gì ta đang là, ta đang có đều do Đấng ấy ban tặng. Kitô hữu chỉ dâng tâm tình thần phục, phượng thờ này lên một mình Thiên Chúa mà thôi. Và dĩ nhiên tâm tình, thái độ ấy kéo theo hệ quả tất yếu là xem các loài khác như mặt trời, mặt trăng, sông núi…chỉ là loài thọ tạo do Chúa dựng nên. Ngay cả loài thọ tạo cao trọng nhất trong các loài hữu hình là loài người thì dù là kẻ quyền thế, nhiều tiền, cao đức, trọng vị…cũng chỉ là loài phàm hèn không hơn không kém. Có thể có người, có vị đáng trọng, đáng kính vì tài đức cao dầy, nhưng không phải là người để ta phải lệ thuộc hay thần phục, nghĩa là bày tỏ sự tôn thờ.

    Sự thường một ai đó, khi đã ở ngôi cao, khi đã nắm trong tay quyền lớn thì rất dễ bị cám dỗ muốn tuyệt đối hóa uy quyền của mình. Và một trong những cách thế để tuyệt đối hóa quyền lực và danh phận của mình thi phải tự phong thần, phong thánh cho mình bằng cách này cách khác. Các vua chúa ngày xưa đã từng tự xưng là thiên tử (con trời) và thế là bắt mọi người thần phục mình cách tuyệt đối. Nếu sống và hành xử như “con của trời” thì vẫn tốt, đằng này họ lại hành xử như là những “ông trời con”. Xưa vua Nabunôcônôdo của đế quốc Ba Tư đã cho tạc tượng mình để bắt thần dân thờ lạy. Và nay vẫn có người, có tập thể muốn kẻ khác lệ thuộc mình bằng việc “thần thánh” hóa bản thân hay luật pháp hóa cái thể chế, cái tổ chức, cơ cấu của mình.

    Ngày nay người ta khi đã có quyền, có thế cũng có thể bắt kẻ khác suy tôn mình, suy tôn tập thể của mình…là muôn năm, là bất diệt… Và thế là hễ có ai không chịu thần phục, không chịu lệ thuộc thì tức khắc sẽ bị bắt bớ, đàn áp, thậm chí là loại trừ. Vác thập giá là thân phận của Kitô hữu mọi thời, mọi nơi. Tuy nhiên đó cũng là niềm vinh dự cho đoàn con cái Chúa. Vì đó là cách thế tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất hùng hồn và rõ nét.

    3. Chuyện xưa và chuyện nay:

    Có thể nói là rất hiếm người phủ nhận sự hiện hữu của Đấng Tối Cao, Đấng Sáng Tạo đất trời. Các vua chúa xưa bách hại Kitô hữu có thể vì do một vài hiểu lầm nào đó về cách sống đạo, cung cách thờ kính ông bà tổ tiên của Kitô hữu, nhưng thường ẩn đằng sau đó là có lý do thực tiển khác: cái uy quyền cai trị của mình bị ảnh hưởng. Các lãnh đạo địa phương như các quan hàng tỉnh, huyện, xã thì ít vương cái lý do này. Tuy nhiên các vị này lại lợi dụng lệnh trên để “làm tiền”. Đọc hạnh các thánh tử đạo Việt Nam chúng ta thấy chuyện bắt rồi đòi tiền chuộc như là chuyện cơm bữa. Phải chăng chuyện xưa vẫn là chuyện luôn có tính thời sự như hôm nay và trong tương lai? Đã là Kitô hữu thì phải làm chứng nhân và vác thập giá là chuyện như đương nhiên của những ai muốn theo Chúa Kitô đến cùng.

    Về mục lục

    .

    CHẾT YÊU

    Lm. Thái Sơn

    Gần đây, đám trẻ choai choai sồn sồn, quần mặc chỗ rách chỗ lành, tóc nhuộm nửa đỏ nửa xanh… đã khao tin các kiểu chết. Bần đạo góp nhặt được và xin chia sẻ với các bạn nhé.

    Chết vì “riệu” là cái chết “sành điệu”.
    Chết vì “yêu” là cái chết “liêu xiêu”.
    Chết vì “gái” là chết rất “thoải mái”.
    Chết vì “tình” là cái chết bất “thình lình”.
    Chết vì “lười” là cái chết rất “buồn cười”.
    Chết vì “học” là cái chết rất “vàng ngọc”.
    Chết vì “sầu” là cái chết rất “ngầu”.
    Chết vì “ghen” là cái chết “nhỏ nhen”.
    Chết vì “chơi” là cái chết “thảnh thơi”.
    Chết vì “bệnh” là cái chết “bực mình”.
    Chết vì “hận” là cái chết “lận đận”.

    Chết vì “nợ” là cái chết “đáng sợ”…

    Thưa các bạn!

    Chết là chuyện bình thường và đương nhiên sẽ xảy đến với bất kỳ ai. Có sinh ra thì có chết đi, không ai chối cãi hay tránh né được.

    Chết thế nào, chết ra sao, chết vì lý tưởng nào, chết vì mục đích nào?… Chết mà vẫn sướng (sướng chết), chứ không phải tức mà chết (tức chết)…

    Chết sao cho có ý nghĩa, đúng mục đích, và trong thương mến: “Khi ta sinh ra, mọi người cười còn ta thì khóc. Khi ta chết đi rồi, mọi người khóc còn ta thì cười!”.

    Chết vì những chuyện “không nên”, “không phải”, “không đáng”… là những cái chết “hư không” thì không nên chết, không phải chết, không đáng chết…

    Bài đọc 2, lễ các thánh Tử Đạo, thánh Phaolô dạy, chỉ có kết hợp với tình yêu Chúa mà thôi: “Dù sự chết hay sự sống cũng không tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa” (Rm 8,38-39).

    Trong Tin Mừng Chúa Nhật 33 Thường Niên B, Đức Giêsu nói với các môn đệ về ngày “quang lâm” của Người (Mc 13,24).

    Phải chăng, ngày quang lâm là ngày Chúa đến phán xét mỗi người, và cũng là ngày chết của từng người? Ngày và giờ đó thì không ai biết được (Mc 13,32).

    Thưa các bạn!

    Nếu không biết “ngày & giờ” Chúa đến, thì tốt nhất nên thức tỉnh chuẩn bị, như canh giữ nhà cửa luôn luôn, không để kẻ trộm đào ngạch khoét vách chui vào lấy đồ.

    Nhà cửa có lẽ là tâm hồn và cõi lòng của “bạn & tôi”, cần được canh giữ và trong tư thế chuẩn bị hay thái độ sẵn sàng, như đèn có dầu đầy đủ, hầu thắp sáng lên để đón chàng rể đến bất cứ lúc nào…

    Có thể nói, “nhà cửa & dầu đèn” của các thánh Tử Đạo Việt Nam luôn luôn sẵn sàng, bất cứ “ngày & giờ” nào Chúa mời gọi, để ra đi & làm chứng cho Chúa, bằng chính mạng sống của mình.

    Xác tín, chết vì yêu Chúa là cái chết mang lại sự sống, sự sống chân thật, sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời… “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

    Ước gì, “bạn & tôi” biết noi gương các thánh Tử Đạo, không tham sống sợ chết, chẳng ngại “ngày & giờ” nào, cách chết nào, kiểu chết nào… vẫn can đảm chết vì yêu Chúa. Nếu chết vì yêu Chúa, thì sẽ được Chúa yêu. Tạm gọi là “chết yêu”, không phải là cái chết “liêu xiêu”, mà là của lễ “toàn thiêu” dâng lên Thiên Chúa. Amen

    Về mục lục

    .

     

     

    CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Thánh lễ hôm nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam.

    Có điều máu lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa vì phát xuất từ tình yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi lòng kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những dòng máu làm chứng cho tình yêu.

    Tình yêu Thiên Chúa.

    Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.

    Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa. Thánh Hồ đình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả vì tình yêu Chúa.

    Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi bình an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).

    Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí. Đáp lại tình yêu của Đức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng tình yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).

    Tình yêu cuộc sống.

    Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lý tưởng, như tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.

    Tình yêu nhân loại.

    Cái chết của các ngài minh chứng một tình yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà còn yêu mến gia đình. Hãy nhìn cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. Tình yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lý hình. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của mình. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ lòng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lý hình.

    Tình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa nên rộng rãi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó (Fulton Sheen).

    Động lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là tình yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho tình yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta không có hy vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi gương các thánh Việt Nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho tình yêu, ta vẫn có thể sống cho tình yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không mong ta chết vì đạo mà mong ta hãy sống vì đạo.

    Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Amen.

    Về mục lục

    .

    CON NGƯỜI THÍCH THỎA HIỆP

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Cuộc sống con người luôn đầy rẫy sự thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong giao tế, trong chính trị, trong làm ăn. Thỏa hiệp đòi hỏi sự nhượng bộ, sự nhân nhượng, nhường bước. Sự thỏa hiệp đòi hỏi phải từ bỏ một phần quan điểm của mình để nhượng bộ cho đối phương. Cách riêng, trong đời sống luân lý thì không có sự thỏa hiệp. Con người không bao giờ được thỏa hiệp với sự dữ, nghĩa là không bao giờ thỏa hiệp với Satan và bộ hạ của nó. Thỏa hiệp với ma quỷ là con người tự làm cho mình ra nô lệ tội lội.

    Adam – Eva đã tự tìm đến cái chết khi thỏa hiệp với ma quỷ. Thỏa hiệp luôn là thất bại trong cay đắng. Thỏa hiệp là tự tìm đến cái chết thay vì được sống trong tự do. Biết bao người đã thỏa hiệp để bắt tay làm ăn bất chính, để làm ngơ trước sự xấu hoành hành. Họ có tiền, có quyền nhưng không bao giờ có niềm vui tâm hồn bình an.

    Tuy nhiên, cuộc đời vẫn còn đó những con người từ chối thỏa hiệp. Họ là những con người thà nghèo đói để được bình an tâm hồn hơn là kiếm tiền bằng việc phi nhân thất đức mà lòng chẳng chút bình an. Họ chấp nhận vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua chúa trần gian, cho dù phải tù đầy, gian truân khốn khó. Họ chấp nhận đánh mất mùa xuân hạn hẹp trần gian để đổi lấy mùa xuân bất diệt thiên đàng.

    Hôm nay chúng ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam. Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình. Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân. Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian. Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh. Lằn ranh đó chính là cây thập giá. Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian. Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng. Đôi khi còn được hưởng chức tước vua ban. Nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo. Không vì ham sống sợ chết mà chà đạp lên thập giá. Các ngài cam lòng chịu đòn roi, chịu án tử hình như cơ hội để lãnh phúc triều thiên vinh quang. Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: “Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy”. Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Ðức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng”.

    Là con cháu các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì có các vị tiền nhân đã dám chết để minh chứng niềm tin. Đây là gương sáng mà các ngài để lại cho hậu thế. Hãy sống trung thành với Chúa, với Giáo hội. Hãy can đảm từ chối mọi thỏa hiệp bất chính. Nhưng xem ra cuộc đời vẫn còn đó những con người vì chút bổng lộc trần gian đã bỏ đạo, đã chống đối đạo. Vẫn còn đó những con người vì miếng cơm manh áo đã chẳng giữ đạo hay chỉ giữ một cách hời hợt. Họ giữ đạo hình thức đôi khi có cũng như không. Vẫn còn đó những con người vì tiền mà bán mình, bán con để kiếm đồng tiền bất chính. Họ thà rằng lỗi luật Chúa còn hơn là bỏ lỡ cơ hội lấy tiền, lấy bạc. Vẫn còn đó những con người bỏ Chúa chứ không bỏ tiền, bỏ Chúa chứ không bỏ tình, bỏ Giáo Hội chứ không bỏ danh vọng trần gian.  

    Lạy các thánh TDVN là cha ông của chúng con, xưa các ngài đã dùng máu đào để bảo vệ đức tin xin gìn giữ chúng con luôn trung kiên theo Chúa, dám khước từ danh lợi thú trần gian để nên chứng nhân cho Nước Trời trong cuộc sống hôm nay.

    Về mục lục

    .

    CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 

    Ngày xưa, khi nhắc đến các Thánh tử đạo, nhất là các vị tử đạo Việt nam, chúng ta thường hình dung đến những cực hình ghê sợ mà người ta nghĩ ra để hành hạ các ngài. Các cực hình dã man ấy không những không làm lung lạc đức tin của các ngài, mà còn khiến các ngài càng mạnh mẽ hơn trong việc đón nhận và tuyên xưng đức tin. Ngày nay, những cái chết vì đức tin như vậy vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức tử đạo mới. Hằng năm trên thế giới vẫn có hàng ngàn người đang phải chịu khốn khổ, bị kỳ thị vì đức tin của mình. Nhiều người đã phải bỏ quê hương để đi tìm một chỗ nương thân an toàn, ví dụ như tại Irăc và Sirya trong năm vừa qua. Nhà nước IS đã tuyên bố bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe được thì bị xử bắn. Vì thế, trong năm qua, có đến hàng trăm Kitô hữu đã bị giết tại Sirya chỉ vì họ nhận mình là Kitô hữu. Cũng giống như thế, tại quốc gia Bắc Hàn, các Kitô hữu phải sống một cuộc sống hết sức khó khăn, bị o ép và khủng bố, có thể bị tù đày, bị giết chết bất cứ lúc nào. Tại quốc gia này, cuốn Kinh Thánh trở thành cuốn sách bị cấm. Ai đọc hoặc giữ cuốn Kinh Thánh trong người, có thể bị tử hình.
    Tại Việt Nam, kể từ những ngày đầu tiên khi Tin Mừng được gieo vãi trên quê hương đất nước cho đến nay, người Kitô hữu dường như liên tục bị bách hại về niềm tin của mình. Tổ tiên của chúng ta, các vị tử đạo Việt Nam, đã đón nhận đức tin trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như thế. Các ngài đã phải chọn lựa và quyết định cho mình một niềm tin, một nếp sống khác với những người đồng hương lúc đó. Trong khi những người khác hoàn toàn sống theo tâm tình tôn giáo dân gian, sống một cuộc sống thoải mái dễ dãi, thì tổ tiên chúng ta đã chấp nhận đi vào con đường của Tin Mừng. Các ngài đi theo con đường hẹp, chấp nhận tuân theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, từ chối các thần linh của dân ngoại. Các ngài mặc dù có chọn lựa riêng cho mình, sống giới răn riêng của Tin Mừng, nhưng các Ngài không sống tách biệt khỏi các người đồng hương, trái lại, các ngài đã sống đến cùng giới răn yêu thương, bác ái đối với những người khác. Có những thời kỳ chính quyền đã coi các tín hữu như công dân hạng hai, họ khắc trên mặt người Công giáo chữ “tả đạo” để dễ dàng phân biệt đối xử. Cha ông của chúng ta vẫn không hề thù oán, không phản kháng, không báo thù, các ngài vẫn tận tình sống tình yêu thương chan hoà với hết mọi người, khiến những người dân ngoại đã gọi họ là “những người theo đạo yêu nhau”.
    Các vị tử đạo đã sống đúng như lời sách Khôn Ngoan đã nói : Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa, không một cực hình nào có thể động tới được các ngài…Trước mắt người đời, chúng tưởng như các ngài đã chết, nhưng thực ra các ngài vẫn đang sống… Người đời nghĩ rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng các ngài vẫn chứa chan hy vọng. Ba trăm năm đầu tiên là quãng thời gian hết sức khó khăn đối với các tín hữu, thế nhưng, dường như những cơn đàn áp càng khốc liệt, thì Tin Mừng lại càng được loan truyền và con số những người tin theo Chúa lại càng gia tăng. Các ngài bị hành hạ nhưng các ngài vẫn hy vọng vào phần thưởng Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa.
    Bước sang thế kỷ 20 – 21, tình hình bắt bớ, giết hại những tín hữu có phần lắng xuống, nhưng không phải đã được tự do hoàn toàn. Người Kitô hữu Việt Nam lại trải qua một hình thức tử đạo khác. Họ vẫn phải cố gắng sống và thể hiện niềm tin của mình trong một môi trường xã hội mới. Nhiều nơi, các tín hữu vẫn bị o ép giới hạn cách này cách khác. Nhiều người đã bị tù tội chỉ vì mang danh là người Kitô hữu, vì nhiệt tâm phục vụ. Nhiều tín hữu đã chết trong tù hoặc nơi rừng sâu nước độc, chỉ vì muốn sống đến cùng đòi hỏi của Tin Mừng. Bên cạnh những người mạnh dạn tuyên xưng đức tin và hết mình bảo vệ quyền được sống và thể hiện đức tin của mình, thì cũng có những người đã chấp nhận thỏa hiệp với cơn bách hại của quyền lợi và danh vọng. Trong số đó, không thiếu những người vì quyền lợi, địa vị xã hội, sẵn sàng che giấu đức tin của mình, không dám nhận mình là người có đạo. Những người này còn muốn thể hiện ra bên ngoài như thể là mình chưa từng biết Chúa Giêsu. Họ công khai từ chối Chúa Giêsu và Tin Mừng, từ chối nếp sống của người tín hữu ; họ xấu hổ vì Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
    Bước vào thời kỳ văn minh hiện đại hôm nay, ở một số nơi, các tín hữu Kitô vẫn đang bị bách hại bởi các nhóm khủng bố, các nhà cầm quyền; còn người Kitô hữu Việt Nam lại phải đương đầu với cơn bách hại khác. Cuộc bách hại này có lẽ không đến từ những áp lực bên ngoài, nhưng là một cuộc chiến liên tục bên trong mỗi người để chọn cho mình một cách sống. Ngày xưa, cha ông chúng ta đã chấp nhận cái chết đổ máu để giữ đạo; ngày nay, chúng ta cũng đang phải từng ngày rỉ máu vì chọn lựa sống đạo. Chúng ta chọn để sống theo Đức Kitô, có nghĩa là chọn sống giống như Ngài, sống nghèo khó và quảng đại phục vụ, sống yêu thương và tha thứ.
    Ngày nay, trong khi con người đề cao tự do một cách thái quá thì người Kitô hữu lại chấp nhận khép mình vào trong khuôn thước của Tin Mừng. Chúng ta được mời gọi sống sự tự do của con cái Chúa, tức là thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất, dục vọng để vươn lên sống đúng với tư cách là con Thiên Chúa, những người đã được cứu chuộc. Xã hội ngày nay tìm mọi cách để thoả mãn mọi nhu cầu của con người, thì người tín hữu lại chấp nhận một cuộc sống tiết chế, làm chủ bản thân, bắt mình phải quy hướng về Thiên Chúa và thần phục Ngài.
    Giàu có, sung túc đang là mục tiêu của nhiều người, nó cũng biến con người trở nên tàn ác với nhau để giành được mục tiêu đó. Người Kitô hữu không thể đứng bên ngoài dòng chảy này. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi không thể để mình sống và đối xử với nhau theo bản năng của con thú, nhưng đối xử bằng tình bác ái và tình yêu thương. Con người khi đã đạt được sự giàu có thì dễ dẫn đến cuộc sống phô trương hưởng thụ, còn người tín hữu được mời gọi sống siêu thoát, tức là sống tinh thần nghèo khó khiêm nhường, phó thác cuộc đời, công viêc, tài sản cho Chúa và sử dụng của cải theo ý Chúa. Cuộc sống khi giàu có dễ biến căn nhà của chúng ta trở thành kín cổng cao tường, làm cho con người trở nên to bụng nhưng tay chân ngắn lại, trở nên khép kín và lạnh lùng đối với nhau. Người Kitô hữu được mời gọi mở rộng cửa nhà và mở rộng đôi tay để có thể bước đến với anh em, để chia sẻ và phục vụ họ.
    Cuộc tử đạo của chúng ta hôm nay là liên tục sống tình yêu thương và tha thứ. Có lẽ vì vậy mà Giáo hội đang hoàn thiện hồ sơ để tôn phong Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fancis Nguyễn Văn Thuận, lên bậc Chân phước Tử đạo cho dù Ngài không trực tiếp chết vì đạo. Giáo hội đã nhìn thấy gương sống yêu thương và tha thứ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như cuộc tử đạo liên tục. Trong thánh lễ an táng ngài, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II và cả giáo triều lúc đó đã mặc phẩm phục màu đỏ thay cho màu tím truyền thống. Trong quan tài của Đức Hồng Y, người ta đã đặt vào đó một tấm bia bằng đồng ghi tóm tắt lịch sử cuộc đời của ngài. Việc làm này cho thấy sự kính trọng mà giáo triều đã dành cho ngài như truyền thống Giáo hội vẫn làm cho các vị tử đạo.
    Đức hồng Y Fancis đã tử đạo bằng đời sống yêu thương và tha thứ cho những kẻ bách hại ngài. Sau hàng chục năm tù tội bất công, bị biệt giam như một con chó, vậy mà không bao giờ ngài kêu than oán trách. Trái lại, ngài luôn cầu nguyện cho những kẻ giam giữ mình. Trong các tác phẩm để lại, cũng như các cuộc nói chuyện, ngài kể về những năm tháng tù đầy như là những năm tháng ngài được tĩnh tâm, được sống thân mật với Chúa và làm việc mục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngài tuyệt đối không dùng một lời lẽ cay cú hay thù oán, nhưng thay vào đó là một tâm hồn bình an, thanh thản đón nhận ý Chúa.
    Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, chúng ta cũng sẽ phải trải qua những cuộc tử đạo hiện đại và trở thành những vị tử đạo hiện đại. Chúng ta sẽ không chết vì gươm giáo hoặc đạn bắn, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận chết, chấp nhận thiệt thòi vì Tin Mừng, vì sống đến cùng của lời mời gọi của Chúa : Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo Ta… Ai liều mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Chúng ta cũng sẽ phải hết mình để chu toàn vuông tròn giới răn lề luật của Chúa và Hội Thánh, không thoả hiệp cũng không giảm thiểu.
    Chúng ta sẽ phải tử đạo bằng đổ mồ hôi và nước mắt trong gia đình để bảo vệ sự vĩnh viễn của hôn nhân và để xây dựng một gia đình Công Giáo đúng nghĩa. Trước sự tấn công của các trào lưu xã hội trên các gia đình, chúng ta sẽ phải là những chiến sĩ chấp nhận hy sinh, không ngại thương tích để bảo vệ hạnh phúc và phẩm giá cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Trước sức ép của cuộc sống vật chất, chúng ta vừa phải lao vào cuộc sống để tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho con cái, nhưng cũng phải chấp nhận rướm máu vì giữ giới luật công bằng, yêu thương và bác ái.
    Các bạn trẻ cũng phải tử đạo liên tục để sống đúng với ơn gọi là một người trẻ Công Giáo trong xã hội biến chuyển này. Chúng ta sẽ phải đổ máu để bảo vệ sự tinh tuyền của linh hồn và thân xác khỏi cơn bão của hưởng thụ ích kỷ, phim ảnh sách báo và lối sống buông theo dục vọng. Chúng ta vẫn phải sống, phải bước đi với mọi người trong xã hội, nhưng vẫn phải chiến đấu để khỏi đánh mất mình và mục đích cuộc đời trong dòng chảy của xã hội hôm nay.
    Như thế, cuộc tử đạo ngày nay xem ra không kém phần khốc liệt như cuộc tử đạo ngày xưa của các vị tiền nhân. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Maria và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, giúp chúng ta là con cháu của các ngài, biết sống khí tiết anh hùng của các Tiền Nhân, dám sống cho tới cùng lý tưởng của Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Amen.

    Về mục lục

    .

    NHỮNG ĐẤNG BẬC ANH HÙNG

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Không kể 117 vị tử đạo tại Việt Nam được phong thánh năm 1988 và Anrê Phú Yên được phong chân phước năm 1999, còn hơn một trăm ngàn vị đã anh dũng dâng hiến đời mình, chấp nhận cái chết để làm chứng lòng trung thành và gắn bó với Đức Yêsu, Đấng yêu thương con người dầu phải chết.

    Họ là ai?

    Họ là những người cha người mẹ, họ là những người con, họ là những người chồng người vợ, họ là thanh niên thanh nữ, là tráng niên, là bô lão, là chủng sinh, là binh sĩ, là quan là dân, là dì phước là linh mục. Họ là những bậc tiền bối của dân con Việt Nam hiện nay. Họ là những người “dường như” không sợ chết. Họ chấp nhận gông cùm tra tấn, chấp nhận đòn vọt, đói khát, nắng mưa, bệnh tật, và sẵn sàng chấp nhận cái chết.

    Họ là ai? Phải chăng họ là những người điên nên không sợ chết? Phải chăng họ là những người không còn biết trách nhiệm làm chồng làm cha làm con làm mẹ làm vợ làm dâu? Phải chăng họ không biết trách nhiệm với vợ dại con thơ? Phải chăng họ không còn ý thức bổn phận làm con phải sống để báo hiếu cha mẹ già yếu cần nương nhờ nơi họ? Phải chăng họ không còn rung động trước tình cảm bao người thân dành cho họ, mà “ngoan cố” không chịu bỏ đạo để phải chết?

    Không! Họ là những người cha người chồng người vợ, vô cùng thương con thương vợ thương chồng. Họ là những người con rất có hiếu và rất ao ước được sống để phụng dưỡng báo hiếu cha già mẹ yếu. Họ là những người thông minh có thể làm quan, là những “anh hùng” sẵn sàng hiến mạng cho quê hương tổ quốc. Họ là những người bình thường chứ không phải là những người điên, họ rất nặng “tình người” chứ không phải là những người “vô cảm”. Họ chết vì người ta muốn giết họ, chứ không phải tự họ muốn chết; tuy vậy họ sẵn sàng đón nhận cái chết chứ không thể chối bỏ Thiên Chúa.

    Tại sao họ kiên cường và anh dũng như vậy?

    Họ là những người rất bình thường, nhưng Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu nơi những con người yếu đuối mỏng manh.

    Ai không sợ chết? Ai không sợ đòn vọt, tù đầy, gông cùm xiềng xích? Nhưng những bậc tử đạo “dường như” không sợ, vì có một giá trị nào đó cao hơn, một cái gì đó quý hơn mà cho dù tình yêu gia đình, cha mẹ, vợ con, và ngay cả mạng sống cũng không đánh đổi được. Với họ, Thiên Chúa là nhất, Thiên Chúa trên tất cả, trên tình yêu gia đình, trên tương quan ruột thịt, và trên cả mạng sống mình.

    Qua các bậc anh hùng tử đạo, người ta đọc thấy không phải “con người” anh hùng, nhưng chính “Thiên Chúa” đang thực hiện những điều kỳ diệu nơi những con người đơn sơ mong manh chất phác, làm họ như những “bức tường bằng sắt, như những bức vách bằng đồng” và kiên vững không gì khuất phục được. Người ta có thể hủy diệt mạng sống các ngài, có thể giết các ngài, có thể nghiền nát xương thịt các ngài, nhưng không thể bắt các ngài làm theo ý họ. Thiên Chúa vô hình đang hiện diện qua thực tại hữu hình. Thiên Chúa hiện diện đó, rất rõ, dù người ta không nhìn thấy Ngài bằng mắt trần.

    Sống cho đúng là con cháu của những bậc anh hùng

    Chúng ta là con dân đất Việt, là con cháu của các đấng bậc anh hùng. Phải sống sao để “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Xin cho chúng ta có tình yêu đối với Thiên Chúa, đối với Đức Yêsu, và sẵn sàng hy sinh tất cả vì Thiên Chúa.

    Ngày nay người ta không còn nhiều dịp để “tử đạo” như ngày xưa, nhưng ngày nay người ta vẫn còn phải chọn giữa Thiên Chúa và tiền bạc danh vọng chức quyền; người ta vẫn phải chọn ưu tiên tương quan với Chúa trên những tương quan khác v.v..Ngày xưa phải đổ máu để sống đúng, để làm chứng; ngày nay không còn dịp đổ máu thể lý, nhưng để sống đúng như những người con của Thiên Chúa, người ta vẫn phải đổ máu “vô hình”, vẫn phải hy sinh, phải chết “chính con người của mình” thì mới có thể sống trọn vẹn cho Thiên Chúa được.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

    (Nên hát “Đây bài ca ngàn trùng” trước khi chia sẻ)

    1. “Ngày nay tử đạo không đổ máu”, bạn hiểu sao về câu này?
    2. Với bạn, đâu là khó khăn nhất của đời sống kitô-hữu (đòi bạn phải hy sinh)?
    3. Bạn biết gì về các thánh hoặc chân phước tử đạo Việt Nam? (Kể tiểu sử một vị, hoặc điểm nào đó mà bạn thán phục của một trong các vị mà bạn biết).

    Về mục lục

    .

    SỨC MẠNH NIỀM TIN TÔN GIÁO

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc,với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.

    Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người. Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo (Lm Nguyễn Quý Thiện).

    Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào. Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

    1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

    Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo. Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin. Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân. Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang rất lạnh lẽo. Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây. Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người. Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối. Gia sản của Giáo Hội là đây.Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ. Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

    Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

    Trải qua 300 năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

    Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc. Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man. Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ,  thiêu sống, phân thây ra từng mảnh…các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ. Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

    Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

    -Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình. Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội. Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ. Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết. Họ cột chân tay ngài vào cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa. Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835. Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi. Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích”.

    -Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

    -Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

    Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin. Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

    Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm Trọng Khảm. Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

    Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

    Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn. Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

    Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô. Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

    1. Những thách đố Đức Tin thời nay.

    Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.

    Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

    –   Vô thần duy vật

    Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật. Đây một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực. Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội. Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa. Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền. Của cải và quyền lực lên ngôi. Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền. Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền. Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ… Tiền bạc qủa là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những gía trị, biến chất con người. Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

    –   Gian dối và lừa lọc lên ngôi

    Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn. Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm. Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

    Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

    Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

    Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

    Chân lý chân giò một giá thôi.”

    Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt! Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

    –   Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

    Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ. Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán. Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế. Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ! Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác. Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé. Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người. Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

    Chủ trương duy tương đối

    Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối. Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa. Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân. Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm nay; lamhong.org).

    Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

    1. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

    Mỗi ngày sống là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).

    Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy : Cần phải tăng cường việc cử hành Đức Tin. Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố. Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng. Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn. Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích. Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

    Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng. Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người. Nhờ sức mạnh đức tin tôn giáo, các Thánh Tử Đạo khi bị bắt, bị kết án nên đã không chối đạo, không bước qua Thánh giá. Các Ngài đã bị hành hạ, bị kết án tử hình bằng nhiều hình thức hung bạo dã man nhưng các Ngài không bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi.Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các Ngài chùn bước. Nhục hình không làm cho các Ngài ngã qụi. Thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các Ngài đổ ra như những hạt giống gieo vào lòng đất đã trổ sinh một Giáo hội Việt Nam phong phú như hôm nay.

    Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng. Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các Ngài. Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay. “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

    Về mục lục

    .

    BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Bài Tin Mừng được chọn để đọc trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo được trích từ bài giảng trên núi chương 05 Phúc Âm Mát-thêu, mà chúng ta vẫn quen gọi là ‘Tám Mối Phúc’; mối phúc cuối cùng trong danh sách đó là: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ’. Trong sách Tin Mừng Lu-ca chương 06, dù chỉ đề cập tới có 04 mối phúc, nhưng mối phúc sau chót cũng vẫn nói tới cùng một điều này là: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:22) Phải chăng đó là lý do tại sao các Ki-tô hữu từ thời xa xưa đã dành cho các vị anh hùng tử đạo một sự mừng kính đặc biệt trân trọng; họ gán cho các ngài danh hiệu cao quý là Chứng Nhân Tin Mừng (Martyrs). Ngày nay trong tư cách con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo, chúng ta muốn thực sự tìm hiểu các vị tử đạo nói chung, và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nói riêng, đã là các chứng nhân Tin Mừng như thế nào? Ta cần biết: khi tiến ra pháp trường để bị trảm quyết các ngài đã thật sự trung kiên bảo vệ điều gì; và ở điểm nào các ngài thực sự liên quan tới người Công Giáo Việt Nam chúng ta đang sống trong xã hội hôm nay?

    Trong tiếng Việt, chữ ‘đạo’ thường được chúng ta sử dụng để nói tới một đạo giáo, một tôn giáo, như Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Lão, Đạo Ông Bà, Đạo Thiên Chúa… Thế nhưng theo nguyên ngữ hán-nôm, ‘đạo’ là con đường, là lẽ sống, là học thuyết… dẫn tới mục đích tối hậu của cuộc sống, chẳng hạn đạo Khổng, đạo hiếu, đạo làm người. Đức Giê-su đã tự giới thiệu mình “là đường, là sự thật và là sự sống”; nếu nói theo từ vựng hán nôm Người sẽ phải tuyên bố: Người chính là ‘đạo, chân, sinh’. Vậy thì, trong cả phúc âm Mát-thêu lẫn Lu-ca, khi đề cập tới mối phúc chót này, Đức Giê-su chắc chắn không hề có ý muốn tuyên bố ‘phúc thay’ những ai dám chết cho một đạo giáo hay tôn giáo, nhất là hiểu dưới khía cạnh cơ cấu tổ chức của tôn giáo đó. Điều mà Đức Giê-su muốn biểu dương là: tất cả mọi hình thức ‘bị bách hại’, ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ đều là ‘phúc’ vì một yếu tố duy nhất, đó là ‘vì sống công chính’, hay rõ hơn: ‘vì Con Người’.

    Tới đây tôi gợi nhớ lại tư tưởng bài suy niệm về đoạn Tin Mừng Lc 18:9-14 của Chúa Nhật XXX thường niên năm C: ‘Đối với Đức Giê-su, ai mới là công chính?’ Nếu đã có một nền công chính của Cựu Ước tóm gọn trong luật Mô-sê để bẩy anh em nhà Ma-ca-bê, vị bô lão Ê-lê-a-da, và Gio-an Tiền Hô vì trung thành với nó, đã buộc phải gánh lấy cái chết…; ‘các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế’, thì riêng với Ki-tô hữu sẽ có một thứ công chính mới được chính Đức Giê-su công bố. Nói đúng ra: chính Người là hiện thân của nền công chính đó, sự công chính của Thiên Chúa từ nhân, công chính của tình yêu tha thứ và cứu độ. Ai đón nhận và sống Tin Mừng này, tức là ‘Vì Con Người’ như Người khảng định, để rồi ‘bị bách hại’ hay chịu thua thiệt dưới bất cứ hình thức nào, đều là những người được Đức Giê-su biểu dương; những ai bị giết chết vì nền công chính mới này thì phải được chính Đức Ki-tô và toàn Nhiệm Thể Người tuyên phong ‘chứng nhân’ (martyr). Chính vì thế mà Hội Thánh ngay từ buổi sơ khai và qua mọi thời đại, đã có thói quen phong thánh cho các vị anh hùng ‘tử vì đạo’; qua việc đó Giáo Hội muốn tuyên bố rằng: các anh chị em tín hữu này là chứng nhân cho Tin Mừng tình yêu vì đã dám chấp nhận thua thiệt lớn hơn hết là mất cả mạng sống mình. Với việc phong thánh như thế Giáo Hội đồng thời cũng muốn khảng định bất cứ thua thiệt nào các Ki-tô hữu phải hứng chịu trong cuộc sống thường ngày vì ‘sống công chính mới’ đều có giá trị vô song và đáng biểu dương.

    Suy nghĩ như thế tôi mới thấy rằng: có một liên hệ mật thiết giữa các chứng nhân ‘tử vì đạo’ với mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Các ngài không phải là những trường hợp biệt lệ để các tín hữu có ‘may mắn’ được sống trong thời đại an bình nhìn vào mà thán phục mà ca ngợi, mà mơ ước rằng: nếu chẳng may lâm vào cơn cấm cách, mình cũng sẽ trung thành như các ngài. Đức Giê-su đã chẳng gọi tất cả mọi Ki-tô hữu là ‘ánh sáng’, là ‘muối men’ của trần gian, là chứng nhân Tin Mừng là gì? Có thể Người hàm ý: chứng nhân tích cực rao giảng Tin Mừng thì ít, nhưng chứng nhân vì buộc phải chấp nhận các thua thiệt, khó khăn vì nền công chính Tin Mừng trong đời sống thường ngày thì nhiều. Vì thế thật là chí lý: các ‘Thánh Tử Đạo’ được coi như tấm gương, như cột sống của Ki-tô hữu qua mọi thời đại, thời buổi bị bắt bớ thử thách cũng như khi được sống an bình sung túc.

    Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì Giáo Hội Việt Nam đã có hàng trăm ngàn các chứng nhân Tin Mừng như thế, trong số đó 117 vị đã được toàn Nhiệm Thể Đức Ki-tô phong thánh. Vấn đề được đặt ra là: phải chăng các ngài đơn thuần chỉ tạo nên nơi chúng ta một niềm kiêu hãnh mang tính lịch sử, hay đã trở thành cột sống, thành cơ bắp thúc đẩy chúng ta sống công chính Tin Mừng cách cụ thể trong đời sống thường ngày? Thua thiệt vì Tin Mừng thì thời đại nào cũng có, kể cả trong các xã hội được coi là phồn vinh dễ dãi và tự do; thế thì các ‘Thánh Tử Đạo Việt Nam’ đóng góp được gì cho người Công Giáo Việt Nam chúng ta trong xã hội được cho là ‘dễ dãi thuận lợi’ hơn hôm nay? Phải chăng chỉ là một khích lệ trung kiên nào đó sẵn sàng chiến đấu chống lại mọi thế lực thù nghịch khi cần, hay để kiên trì ‘sống công chính’ khi ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ ngay trong đời sống xã hội thường ngày?

    Ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay sẽ không mấy ý nghĩa, nếu mỗi người không tìm ra được câu trả lời cho vấn nạn này!

    Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các ngài đã chịu bách hại vì dám chấp nhận ‘sống công chính’ để phải chấp nhận những từ bỏ tới độ anh hùng. Nếu Hội Thánh đã tuyên phong cái chết anh hùng của các ngài thì đồng thời cũng tuyên phong vô vàn những tủi hổ, thiệt thòi của biết bao tín hữu anh hùng vô danh khác. Tất cả các điều này không nằm ngoài mục đích thôi thúc mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng con sẵn sàng hơn trong việc, cùng với Đức Ki-tô thập giá tha thứ và yêu thương ngay giữa lòng xã hội hôm nay, chấp nhận mọi thử thách gian nan. Xin các ngài tiếp tục trở nên chứng nhân Tin Mừng cho chúng con về một tình yêu tha thứ tuyệt đối. A-men.

    Về mục lục

    .

    LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU

    Văn Hào

    Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “ Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng :“ Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”. Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.

    Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian

    Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22 ). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 hiển thánh và một chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị; Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông) có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị; Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 – 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách thoáng chung lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.”(sanguis martyrorum semen christianorum est)

    Ý nghĩa của việc tử đạo

    Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.

    Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, nhưng làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.

    Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay

    Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín vừa qua. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây ?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.

    Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “ Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi”(Mc 8,34).

    Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.

    Kết luận

    Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “ Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.

    Về mục lục

    .

    SỐNG LÀ CHẾT

    Lm. Jos. DĐH

    Tục ngữ có câu : chết vinh hơn sống nhục, nếu lập lại câu đó trên môi miệng, không khó đối với con người ở mọi lứa tuổi. Sống, chết, xưa nay ai mà chẳng coi đó là qui luật, còn chết anh hùng hay sống hèn nhát, thì tùy tự do chọn lựa của mỗi cá nhân. Đồng ý rằng chết già cũng gọi là chết, chết trẻ cũng gọi là chết, tuy không có kinh nghiệm nhưng ai chẳng sợ chết ! Thực ra, sống là chết, hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, thì sống xa hoa hay sống nhiệm nhặt rồi cũng chết. Sống mỗi năm, mỗi tháng mỗi ngày, ai cũng phải già đi, phải tiến tới cái chết theo qui luật : sinh lão bệnh tử.

    Con người tự nhiên, ai cũng ngại nói tới chết, có chăng nghĩ tới sự chết là dịp tốt để người ta sống nghiêm túc, sống để không phải hối tiếc khi nhắm mắt xuôi tay. Với người tin Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô, nếu được phúc chết vì bảo vệ đức tin gọi là tử đạo, vinh dự đó quá lớn, nên khổ đau thập giá không hề nhẹ. Khi không đặt tình yêu nơi Thầy Giêsu, người ta sẽ cho rằng Ông Giêsu thật vớ vẩn, tại sao Ông lại nói : “ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời” ?

    Làm sao chúng ta có thể tìm ra những người không sợ chết, không sợ đau khổ ? nếu không có niềm tin Kitô giáo, sẽ không có chuyện bảo vệ hay trân trọng truyền thống đức tin cho hậu thế. Và mãi mãi, chúng ta không thể hiểu, vì sao lại có những con người bất thường, dám từ chối bổng lộc, mạng sống, để nhận lấy cái chết vì tình yêu Đức Kitô. Sống đức tin Kitô giáo đâu phải tự tìm lấy cái chết như con “thiêu thân”. Cũng không phải là tìm cách ẩn náu để bảo toàn mạng sống, mà là theo Chúa Kitô, sẵn lòng trở nên mục nát như hạt lúa gieo vào lòng đất.

    Nếu không có tin yêu, hay thiếu ơn Chúa, cha ông ta đã chối bỏ Đức Kitô, các ngài sẽ nói, chúng tôi đâu có dại khờ đến độ chấp nhận bản án chết, vừa đau khổ thân xác vừa uổng phí cuộc đời ? Có thể cảnh máu chảy đầu rơi vẫn đáng sợ đối với con người mọi thời đại, nhất là tội nhân. Tuy nhiên, người vô tội, người có tình yêu thương, người có Đức Kitô, hẳn sẽ không sợ, vì ở trong Đức Kitô mọi người là “bất tử”. Niềm tin và tình yêu đã ghi dấu Đức Kitô trong tâm hồn người Kitô hữu, sống chứng nhân Tin mừng và sống đức yêu thương chính là ơn gọi nên giống Chúa Kitô.

    Khi đưa ra lý chứng về hạt lúa được gieo vào lòng đất, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một qui luật về “được, mất”, về một sự tự do : yêu hoặc ghét, mà mỗi chúng ta đang chọn lựa. Thực tế, ai trong chúng ta cũng muốn mình thành công, hạnh phúc, nên ước mơ, lời nói, người ta đều giống nhau, duy có việc làm là khác nhau. Nếu người Kitô hữu chỉ tìm sống cho cái tôi ích kỷ của mình, hẳn người ấy đang mất đi tình hiệp thông của Đức Kitô, sẽ chết vì cô đơn, vì thiếu tình yêu thương.

    Người Kitô hữu chúng ta dành tháng 11 hàng năm để hiệp thông cầu nguyện cho người đã khuất. Xã hội hôm nay dành chúa nhật tuần thứ ba của tháng 11 để cầu nguyện, tưởng nhớ đến những người chết vì tai nạn giao thông. Thật ra thì, dù tin hay không, người sống cũng vẫn nhớ tới người chết, và kẻ chết có biết hay không, người sống vẫn bày tỏ hoa nến nhang đèn như câu tục ngữ : sống khôn chết thiêng. Là con cháu của các thánh tử đạo, hẳn chúng ta có quyền tự hào về tính anh hùng của các ngài trước sự chết, có thể lịch sử giai đoạn đó khác với chúng ta hôm nay, nhưng sống niềm tin vẫn là ơn gọi căn bản của người Kitô hữu chúng ta.

    Sống là chết, liệu có mâu thuẫn đối với chúng ta không ? Sống lười biếng, sống hưởng thụ có phải là đang tiến tới cái chết thật phí phạm không ? Người xưa nói rằng : anh hùng chỉ chết một lần, kẻ hèn nhát lại chết vô số lần. (Shakespeare). Cái chết anh hùng là cái chết khôn ngoan, vì niềm tin, vì tình yêu Đức Kitô, đúng hơn họ không chết mà là đang sống. Ngày hôm nay, người đời vẫn kính phục những vị anh hùng, dám hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước quê hương. Và đến mọi thế hệ, không ai lại kính trọng người hèn nhát, người chỉ lo tìm hưởng thụ cho lợi ích cá nhân.

    Khi mạng sống bị đe dọa, bằng bất cứ giá nào, người ta cũng tìm cách để khỏi chết và bảo toàn được mạng sống của mình. Người không có niềm tin cho rằng sống chết là do số mệnh; kẻ bi quan nói rằng, đằng nào cũng chết, vì thế hãy hưởng thụ, kiêng khem tử tế rồi cũng đem chôn. Kitô giáo chúng ta tin rằng : Thiên Chúa là chủ sự sống; Chúa Giêsu thì nói : “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó”. Tin theo Chúa, dù không phải chết tử đạo như cha ông chúng ta, nhưng mỗi người đều được trở nên giống Đức Kitô, nghĩa là phải chết đi trong tính hư nết xấu của mình. Là con cháu, không phải chúng ta chỉ ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hay uống nước nhớ nguồn, mà mỗi người phải ý thức di sản đức tin chúng ta đang có là do tiền nhân đã sống, đã chết vì yêu Chúa, yêu hậu thế chúng ta hôm nay. Nhớ đến các ngài, cũng là lời nhắc nhớ sống đức tin, và hiệp thông với các ngài tiếp tục sống đức yêu thương. Amen.

    Về mục lục

    .

    AI LIỀU MẤT SỰ SỐNG MÌNH VÌ TÔI

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

    Cùng với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ này, chúng ta mừng kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Năm. Cụ thể, có tất cả 96 vị thánh tử đạo: 37 thánh tử đạo linh mục và 59 thánh tử đạo giáo dân, nam và nữ. Các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.

    Như chúng ta vừa nghe, đa số các thánh tử đạo là giáo dân nam và nữ. Vậy chúng ta hãy cầu xin cho Giáo Hội và nhất là cho tất cả các Ki-tô hữu, là chính chúng ta, có được niềm xác tín tuyệt đối nơi tình yêu muôn ngàn đời bền vững của Thiên Chúa dành cho chúng ta, bất chấp mọi sự, theo gương của các thánh tử đạo. Như lời thánh Phao-lô nói:

    Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

    1. “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”

    Hôm nay, trong Thánh Lễ này, Đức Giê-su mời gọi một lần nữa với từng người trong chúng ta một cách đặc biệt. Một cách đặc biệt, đó là bởi vì, chúng ta là nòi giống, là con cháu, là hoa trái của máu các vị thánh Tử Đạo, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống và làm chứng cho Tin Mừng đến mức độ anh hùng, theo gương của các Thánh Tử Đạo của chúng ta.
    Tuy nhiên, tất cả chúng ta, sống ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì, đều cảm thấy lời mời gọi này của Đức Giê-su thật khó hiểu: tại sao lại phải từ bỏ chính mình? Tại sao lại phải vác thập giá hằng ngày? Và không chỉ khó hiểu, nhưng còn khó sống nữa. Khó hiểu và khó sống, nhất là trong bối cảnh của thời đại chúng ta; bởi lẽ, thời này, người ta, và có khi là chính chúng ta nữa, ưa chuộng và tìm cách tôn vinh bản thân mình, hơn là từ bỏ chính mình, ưa chuộng và tìm cách hưởng thụ những lạc thú, hơn là vác thập giá của mình hằng ngày vì lòng mến Đức Ki-tô và để đi theo Đức Ki-tô.
    Nhưng kinh nghiệm sống của các Thánh Tử Đạo, của các bậc cha anh, của cha mẹ chúng ta, và của chính chúng ta nữa, cho thấy rằng lời gọi này của Đức Giê-su chỉ có thể hiểu được và sống được trong tương quan giao ước mà thôi, giao ước của chúng ta với Chúa và giao ước của chúng ta với nhau. Giao Ước hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau, đó là hôn phối, lời khấn, cam kết, tuyên hứa, hay đơn giản là bổn phận hay tình bạn. Trong khi đó, con người thời nay, lại không thích sống theo giao ước, nhưng chuộng sống theo cảm xúc, vui thì ở, còn buồn thì đi, thì đoạn tuyệt.
    Thật vậy, để sống với nhau và sống cho nhau, trong gia đình hay trong cộng đoàn tu trì theo giao ước, chúng ta luôn phải ra khỏi mình để hướng về người khác, phải quên đi chính mình để lo cho người khác, phải mang vào mình những khó khăn và khổ đau, phải trung thành với nhau và với ơn gọi khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn, khi thấy nhau dễ thương cũng như lúc thấy nhau khó thương.
    Cách sống này có vẻ khắc khổ, sầu bi, đầy vất vả và đau khổ, nhưng nếu được sống bằng tình yêu, sự trung tín, lòng mến, tình thương, tình bạn, thì một cách sống như thế sẽ biến thành niềm vui và hạnh phúc sâu xa và bền vững. Như thánh Au-gus-ti-nô nói, trong tình yêu thì không có đau khổ; và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.

    1. “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”

    Nhưng lời của Đức Giê-su còn đi xa hơn nữa: “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa, và chúng ta có thể tự do ưng thuận hay không. Nhưng hậu quả rất là nghiêm trọng và không thể đảo ngược được, đó là mất đi sự sống hay cứu được sự sống mãi mãi. Sự sống của chúng ta, dù có cố giữ lấy hay cho đi, thì rốt cục cũng sẽ qua đi. Và Đức Giê-su mời gọi chúng ta lựa chọn con đường cho đi vì Chúa và theo gương của Chúa, để có thể nhận lại sự sống.

    Cho đi sự sống để nhận lại sự sống, điều này vừa khó hiểu và vừa vừa khó sống. Tuy nhiên, đó lại là qui luật muôn đời của chính sự sống và ai trong chúng ta cũng biết và thậm chí có kinh nghiệm về qui luật này của sự sống.

    – Đó là hạt lúa mì, vốn phải chịu chôn vùi và nát tan, để nẩy mầm, lớn lên và trổ sinh nhiều hạt khác.

    – Đó là sự cho đi chính bản thân mình của cha mẹ, để sự sống được lưu truyền nơi những người con. Điều này đặc biệt đúng nơi những người mẹ: người mẹ phải cho đi chính máu thịt, chính sự sống của mình khi cưu mang sự sống mới, là đứa con; và nhất là khi có những người mẹ, phải hy sinh sự sống của mình để sinh con.

    – Đó là đời dâng hiến, là sự hy sinh cuộc đời của các linh mục, tu sĩ nam nữ, để chính Thiên Chúa làm phát sinh ra hoa trái sự sống gấp trăm nơi nhiều người.

    1. Qui luật muôn đời của sự sống

    Để cho sự sống được tiếp tục, được sinh sôi, để phục vụ cho sự sống, phải chia sẻ, trao ban, cho đi và hi sinh chính sự sống của mình. Đó chính là qui luật muôn đời của sự sống. Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa cũng không đi con đường lạ lùng nào khác ngoài con đường muôn đời của sự sống, nghĩa là con đường của hạt lúa mì: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều…, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”; và Ngài vẫn trao ban sự sống của mình cho chúng ta hằng ngày trong Thánh Lễ, dù chúng ta có như thế nào.

    Như thế, lời của Đức Giêsu không chỉ là một thách đố tận cùng, nhưng còn là Tin Mừng tận cùng; vì Ngài hứa với chúng ta rằng con đường của hạt lúa mì, qui luật muôn đời của sự sống, chính là con đường đạt tới sự sống mới, phong phú và viên mãn, con đường nhận lại sự sống từ chính Nguồn Sự Sống là Thiên Chúa hằng sống.

    * * *

    Và đó cũng là niềm xác tín của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mà chúng ta mừng kính hôm này. “

    Ai liều mất mạng sống mình vì tôi,
    thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
    Đó hiển nhiên là lời hứa ban lại sự sống ở đời sau. Nhưng sức mạnh và niềm vui của Sự Sống mới mai sau, đã được chúng ta cảm nghiệm một cách vừa cụ thể vừa sâu xa ngay hôm nay rồi, và ngay trong hành vi cho đi vì lòng mến Đức Ki-tô.

    Về mục lục

    .

    CHẾT VÌ YÊU

    Huệ Minh

    “Lửa thử vàng, gian nan thử sức !” Ông bà ta vẫn thường nói như thế trong cuộc sống thực tại. Đó thực tại trong cuộc sống và đúng với thực tại của cuộc sống. Còn đó, bên cạnh thực tại của đời sống con người chính là đời sống, sức sống của niềm tin. Để chứng minh niềm tin của mình, có khi người ta không phải chỉ minh chứng bằng lời nhưng có khi còn phải trả bằng một cái giá rất đắc đó chính là máu của mình, là mạng sống của mình nữa.

    Trang sách Maccabêô quyển thứ hai khá quen thuộc với người Kitô hữu chúng ta, nhất là khi chúng ta kính nhớ đến các anh hùng tử đạo. Câu chuyện trong sách thuật chuyện một người đáng kính, từ chối không ăn thịt heo cho dù phải chết. Ông được nhiều người quý mến nên đổi thịt heo thành thịt mà luật cho phép ăn, rồi đề nghị ông giả vờ ăn thịt heo để thoát chết. Êlêazarô từ chối mánh khóe để được sống này, vì khi làm như vậy gây gương xấu cho thế hệ tương lai. Thế hệ trẻ đâu biết đó không phải là thịt heo, nên tưởng rằng Êlêazarô tham sống sợ chết mà vi phạm luật Chúa.

    Thái độ sống của Êlêazarô rất trong sáng, rất tự do ngay cả đối với cái chết. Ông cũng là người cho thấy tình yêu và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Nơi con người mỏng dòn, Thiên Chúa đã và đang làm những điều tuyệt vời.

    Và, ta thấy không chỉ mình Êlêazarô mà còn nhiều nữa những người đã minh chứng niềm tin và tình yêu của mình với Thiên Chúa.

    Có lẽ, vị tử đạo anh hùng nhất trong lịch sử Kitô giáo có lẽ là Đức Giêsu. Đức Giêsu đã minh chứng tình yêu, niềm tin của mình với Cha bằng cái chết và cái chết nhục hình trên thập giá.

    Máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá đã nảy sinh thêm nhiều hạt giống tử đạo khác nữa. Người được phúc tử đạo tiên khởi sau cái chết của Chúa Giêsu đó chính là anh chàng Stêphanô. Trong việc đổ máu của người vô tội này, có sự góp công của chàng trai trẻ là Phaolô.

    Ta lại đi tiếp và ta thấy sau khi ngộ ra được Đấng Cứu Độ trần gian, chính Phaolô đã quay trở lại và đã hy sinh cả cuộc đời mình để minh chứng cho tình yêu Giêsu.

    Và dần dần, dòng máu tử đạo cứ lan tràn để rồi hạt mầm của đức tin đã nảy nở khắp thế gian.

    Hạt giống đức tin cũng đã được đưa vào đất nước Việt Nam. Và rồi, sự dữ, sức mạnh của thế gian muốn bóp nghẹt hạt giống đức tin để rồi có nhiều cuộc bách hại về đức tin. Thế nhưng, ta lại thấy các bậc cha ông của chúng ta đã can đảm chấp nhận chết để minh chứng cho niềm tin và tình yêu vào Thiên  Chúa.

    Cái chết của các ngài, làm rạng danh gia tộc, giúp cho những người con người chồng người vợ nhìn lên tấm gương của những bậc cha anh thân yêu mà phấn đấu sống cho nên người và nên người con ngoan của Chúa. Các thánh tử đạo là những người ảnh hưởng rất lớn trên thế hệ tương lai mà nhiều người không thấy rõ điều này, khi cho rằng các ngài chết thì đâu có dạy dỗ hoặc ảnh hưởng gì được trên ai. Nơi các anh hùng tử đạo, lời dạy không bằng ngôn từ nhưng bằng chính cuộc sống. Và chúng ta biết, lời bằng hành động hay cuộc sống thì có sức thuyết phục hơn lời nói nhiều.

    Niềm tin vào Chúa, đặc biệt ta thấy mãnh liệt nơi cuộc đời của Thánh Phaolô. Tâm tình của Thánh Phaolô trong trang thư của Ngài gửi tín hữu Roma ta thấy quá tuyệt vời. Dòng thư ấy cho ta thấy xác tín của thánh Phaolô. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức GiIêsu. Bằng cớ cho thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đó là Ngài đã ban chính Con Một Ngài cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài cho chúng ta, thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa?

    Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Không phải vì chúng ta yêu Thiên Chúa đến độ không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa giữ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Nếu chính Thiên Chúa giữ, thì ai giựt chúng ta ra khỏi tay Thiên Chúa được? Nếu chỉ là bản thân con người ghì chặt Thiên Chúa, thì người mạnh hơn có thể giựt họ ra được, nhưng đây chính Thiên Chúa giữ. “Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Yêsu Kitô”. Không ai, cho dù đó là thiên thần hay quỷ dữ, bất cứ quyền lực nào cũng không thể làm điều này, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng mạnh.

    Vì tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, nên tôi vững dạ an tâm, nên tôi ung dung thư thái bất chấp tất cả. “Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, chính là Chúa”. “Đức Chúa là ánh sáng và Đấng cứu độ tôi, tôi còn sợ chi ai, tôi còn kinh khiếp chi ai”! Chính Thiên Chúa làm cho các thánh tử đạo trung thành với Ngài, cho dù “kiếm sắc, đầu rơi, gươm đao, xá gì”. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự nơi chúng ta.

    Và, ta vẫn nghe đâu đó phảng phất trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức gIêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho tình yêu, các anh hùng tử đạo đã luôn chết cho chính mình trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của mình.

    “Được lời lãi cả thế gian, mà phải mất mạng sống mình, thì ích gì?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn thì ích lợi gì? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho tình yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.

    Lời mời gọi tử đạo vẫn còn vang vọng trên cuộc đời, trong cuộc đời của chúng ta. Không còn đổ máu đào như xưa nhưng chúng ta đổ máu cho những hy sinh, cho những từ bỏ của chúng ta để minh chứng tình yêu, niềm tin của chúng ta vào Chúa.

    Nói như Thánh Phaolô : “Không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” xem ra rất dễ nhưng để sống tâm tình cũng như xác tín đó hoàn toàn không dễ. Ta lại chạy đến để xin Chúa thêm ơn cho ta để ngày mỗi ngày ta sống gần Chúa hơn, bám vào Chúa hơn, theo sát Chúa hơn để rồi tình yêu của ta và Chúa ngày mỗi ngày gắn kết hơn. Có như thế, ta mới mong được hưởng triều thiên tử đạo như các bậc tiền nhân của chúng ta.

    Về mục lục

    .

    TỬ ĐẠO GIỮA ĐỜI THƯỜNG

    Dã Quỳ

    Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, một thời đại mà người ta cạnh tranh nhau quyền cao chức trọng ở mọi lãnh vực, một xã hội mà quyền lợi cá nhân, hưởng thụ và  sở hữu được ưa chuộng. Hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta “Từ bỏ chính mình, liều mất mạng sống…” để theo Chúa, điều này nghe ra thật phi lý và ngược đời! Thế nhưng, sẽ thật có lý và hợp với đời của một Kitô hữu vì đó là điều kiện tiên quyết để bước theo Chúa. Lời Chúa và mẫu gương của chính Chúa đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, và của các Thánh Tử Đạo Việt Nam sẽ là một bảo đảm minh chứng cho chúng ta.

    Đường Trần Gian – Đường Thập Giá.

    Cuộc đời được ví như một hành trình. Hành trình  này chẳng thẳng ngay và không hề nhẹ nhàng êm ái. Lớn hay nhỏ đang sống trong trần gian, chúng ta đều cảm nhận trần gian đầy đau khổ và nước mắt, chẳng thế mà nhạc sĩ nào đó đã viết” Đường nhân gian đày ải chông gai, ai chưa qua chưa phải là người!” Giàu cũng khổ mà nghèo thì khốn khổ hơn! Tiền bạc, chức vị cũng không làm cho người ta hạnh phúc  và cũng không mua được bình an. Đau khổ như là một  thập giá gắn liền với đời người dù người đó có là môn đệ Chúa Kitô hay không.  Thập giá đến với mỗi người mỗi cách khác nhau. Thập giá ấy có thể là từ trong những bất toàn của bản thân, trong bệnh tật, trong khó khăn của cuộc sống. Thập giá cũng có thể là từ những nghịch cảnh  thông thường của cuộc đời…

        Với người Kitô hữu, chúng ta sẽ gặp thập giá trong cuộc đời khi sống trung thành với giáo huấn của Chúa và Hội Thánh. Thập giá đến khi ta sống ngay thẳng trong buôn bán, thật thà và công bằng trong kinh doanh hay trong giao tiếp. Người ta có thể cho là ta điên rồ, ngược đời hay ngu xuẩn thậm chí bị loại trừ. Thập giá đến với ta trong những chọn lựa từ bỏ mình để yêu thương đón nhận tha nhân ngay cả khi họ vu oan, ghen ghét, làm hại ta…Và thập giá cũng sẽ được ta đón nhận khi ta biết cố gắng sống theo Lời Chúa dạy, biết sửa mình, ăn năn sám hối về những tính hư, nết xấu và tội lỗi của ta để xứng đáng là con cái Chúa.

    Đường Thập Giá – Đường Tử Đạo.

    Khi thập giá đến, chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta sẵn sàng đón nhận hay dễ dàng để ôm lấy. Đã là thập giá, thường ta luôn cảm thấy nặng nề, khó vác. Đôi khi ta không dám nghĩ tới và muốn tránh bởi không ai thích đau khổ, thất bại, bị loại trừ, nghịch cảnh, thất vọng chán nản…Và hơn thế nữa, Satan cũng tìm đủ cách lôi chúng ta xa thập giá, vì nó không muốn ta đi vào con đường của Chúa.

        Lời Chúa tha thiết mời gọi ta:” Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ chính mình, không đơn giản chút nào! Từ những cái rất nhỏ trong cuộc sống: người mắng ta một câu, ta muốn đáp lại hai, ba câu. Nhưng từ bỏ mình là bỏ qua, là chấp nhận lời nói không tốt đó và đáp lại bằng lời yêu thương, lời hòa giải. Khó lắm, nó đau ở trong lòng và như nuốt cục phèn vậy, nhưng nếu ta làm được, ta sẽ cảm nhận ngọt ngào trong tâm hồn. Từ bỏ mình trong những chọn lựa theo Tin Mừng, sống yêu thương, tha thứ sẽ như là những cuộc tử đạo âm ỉ từng ngày chứ không chỉ một lần. Trong cuộc sống với những bôn ba cho cơm áo gạo tiền, nhiều khi đặt ta trước những chọn lựa theo công bằng, bác ái đòi ta phải hy sinh mối lợi, mất miếng ăn để chu toàn luật Chúa. Ta sẽ đau lắm và dằn vặt nhưng  với ơn Chúa, ta chọn lựa tử đạo khi mất lợi danh và có khi mất cả mạng sống. Tôi nghĩ đến một người đàn ông Công Giáo, đã làm việc thật tốt trong một công ty sản xuất. Thế rồi, vì sống ngay thật, không theo những mánh khóe gian dối với đồng nghiệp nên anh đã lãnh nhận hậu quả là bị hại chết ngay trong chuyến công tác xa, sau bữa ăn cùng nhóm đồng nghiệp ấy. Ta có thể đi vào đường tử đạo khi sống trung thành với Chúa Kitô để bảo vệ sự sống, như một chị y tá nọ sau nhiều năm học tập, chị được chọn vào làm trong một bệnh viện lớn. Thế nhưng, ngay ngày thứ hai đi làm, người ta yêu cầu chị tham gia vào ca phá thai. Chị từ chối, lập tức người ta sa thải chị. Chị mất việc mà chị đã tốn nhiều công sức tiền của để có được. Chị đã vác  thập giá cùng với Chúa Kitô! Để chọn lựa vác thập giá hàng ngày, chọn lựa tử đạo suốt đời, ta không thể thực hiện với sức riêng nhưng phải cậy nhờ ơn Thánh và nếu ta tin tưởng cậy dựa vào Chúa, Ngài sẽ luôn giúp ta vì: ” Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách”(1Cr 1,4).

    Đường Tử Đạo – Đường Tới Vinh Quang.

    Ngày nay, trên quê hương chúng ta ít có những cuộc cấm hay bách hại đạo như xưa cha ông ta đã trải qua. Nhưng lại xuất hiện nhiều hơn những dịp thử thách về đức tin tinh vi mà nếu không tỉnh thức, ý thức và có một tâm hồn bén nhạy thì ta sẽ dễ đi vào việc chối đạo, phản đạo và bỏ Chúa qua chính cách sống, lời nói và việc làm của ta. Các Thánh Tử đạo Cha ông chúng ta đã kiên trung thực thi Lời Chúa dạy:” Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 24). Các ngài yêu Chúa hơn yêu mạng sống mình như lời nói và máu đổ ra của Thánh Phaolo Khoan  “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa và Chúa Cả Trời đất, con xin dâng mạng sống cho Ngài”. Có vị thánh đã từ bỏ chức quyền để giữ vững đức tin và linh hồn như thánh Hồ Đình Hy là quan lớn, thánh Phạm Trọng Tả là chánh tổng nhưng các Ngài chọn Chúa hơn là địa vị ở trần gian. Các ngài chọn gia nghiệp Nước Trời hơn là sản nghiệp trần thế nay còn mai mất“Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”(Thánh Phêrô Truật). Các ngài không dẫm lên Thập giá Chúa Kitô nhưng anh dũng bước đi trên đường Thập giá vì các ngài  xác tín chỉ qua Thập giá mới tới Vinh quang và cuối đường, chính Chúa Kitô đón các ngài vào hưởng vinh quang hạnh phúc với Người trong Nước Trời, như sách Khôn Ngoan nói:”Người đời nghĩ rằng họ bị trừng phạt, nhưng họ vẫn chan chứa niềm hy vọng được trường sinh bất tử. Và Đức Chúa sẽ là vua của họ đến muôn đời”(Kn 3,4.8)

    Trải qua suốt ba thế kỷ bách hại, đã có cả trăm ngàn anh em Kitô hữu chết vì đạo. Gương chứng nhân Đức Tin và lòng hy sinh mạng sống vì Chúa Kit-tô và vì Tin Mừng của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cha ông ta, sẽ là mẫu gương và niềm hãnh diện lôi cuốn chúng ta can trường sống chứng nhân giữa đời thường và dám chọn sống, chết vì đạo. Từ dòng máu anh hùng của cha ông, từ những khổ đau, những đắng cay của các ngài, ta có được hạt giống đức tin hôm nay. Vậy thập giá là một phần quan trọng của đời Kitô hữu và chính Chúa Giê-su đã không khước từ thập giá vì đường thập giá-đường tử đạo mới là đường dẫn tới vinh phúc: “…Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người…”(Pl 2,6-11). Lao nhọc, đau khổ, nghịch cảnh, hy sinh, chiến đấu và tử đạo…cần thiết để trở thành một phần của đời người môn đệ Chúa Kitô. Ước gì khi sống giữa đời, mỗi Kitô hữu chúng ta cũng tin tưởng thưa lên như thánh Phaolô “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy…Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta”(Rm 8,35-37). Để rồi chúng ta dám sống vì Chúa, chọn lựa theo Chúa, trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh và can trường chết vì Chúa trong những dịp tử đạo giữa đời thường. Vì ” Ai liều mất mạng sống vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”(Mc 8,35).

    Nguyện xin Thần Khí Chúa ban ơn khôn ngoan và sức mạnh giúp chúng con biết chọn lựa sống vì Chúa, vì Tin Mừng. Và xin dạy chúng con biết yêu thập giá là dấu chỉ của chiến thắng, của vâng phục, của tình yêu và của con đường dẫn đến ơn cứu độ. Amen.

    Về mục lục

    .

    DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

    Lm. Đan Vinh

    1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
    2. CÂU CHUYỆN: CUỘC TỬ ĐẠO CỦA THÁNH ANRÊ TRẦN AN DŨNG LẠC

    TRẦN AN DŨNG LẠC sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây, cậu được một Thầy giảng nhận làm con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Anrê. Sau đó cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy Anrê Dũng được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi mới có 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh mục, cha Anrê được sai đi giúp xứ. Ở đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày ăn chay theo luật định, Cha còn tự nguyện giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày thứ Sáu thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như vậy, nên cha đã gây được thiện cảm của những người chung quanh và thành công trên bước đường tông đồ: Qua cha, nhiều tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và nhiều người lương đã tin theo Chúa và xin gia nhập đạo Công giáo.

    Trong thời gian đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua Minh Mạng, cha Anrê Dũng đã phải trốn lánh nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc. Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông khi đang xưng tội với cha Phêrô Thi. Hai cha bị quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được thả. Rồi sau đó cha lại bị đám quân lính khác bắt mang về huyện giam chung với cha Phêrô Thi và cả hai được áp giải về Hà Nội.

    Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét và bắt phải bước qua Thánh Giá để bày tỏ ý định bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ lại hèn nhát chối bỏ Chúa!”. Trước sự bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi về Kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài lại cho các bạn tù hoặc lính canh.

    Ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh xử trảm của nhà vua. Rồi các ngài bị điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút, rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận sự. Đức Thánh Cha Lêô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng Chân Phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã suy tôn hai ngài lên bậc hiển thánh.

    1. THẢO LUẬN:

    1) Tại sao đạo Công giáo thường hay bị người đời thù ghét bách hại?

    2) Tử đạo là sẵn sàng hy sinh chịu chết để làm chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Vậy các tín hữu chúng ta sẽ phải dũng cảm làm chứng cho Chúa thế nào trong xã hội Việt Nam hôm nay ?

    1. SUY NIỆM:

    1) SỐ LIỆU CÁC ANH HÙNG TỬ ĐẠO VIỆT NAM: Ngay từ thời Giáo Hội Sơ Khai, các tín hữu đã phải chịu chung số phận với Thầy Giê-su là bị cấm cách, bắt bớ và giết hại. Thời nào và nơi nào đạo được truyền tới cũng đều có các vị anh hùng tử đạo. Tại Việt Nam, theo sử liệu, đạo Chúa đã được truyền giảng từ thế kỷ thứ 16. Và suốt thời gian gần 300 năm sau đó, luôn bị đàn áp bách hại với những cảnh đầu rơi máu chảy! Sau Hội Thánh Rô-ma thì có lẽ Hội Thánh Việt Nam đã dâng cho Chúa được nhiều thánh tử đạo hơn cả! Người ta ước tính có tới hằng trăm ngàn người Công giáo đã bị giết hại vì đức tin dưới các triều đại nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và bị các phong trào Cần Vương Văn Thân đàn áp bách hại. Trong số đó, 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong lên bậc hiển thánh và được mừng chung trong niên lịch toàn thể Hội Thánh. Trong số này có: 8 Giám mục, 50 Linh mục, 16 Thầy giảng, 1 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Các ngài đã chịu nhiều cực hình như: 79 vị bị trảm quyết (chém đầu): 16 vị bị xử giảo (treo cổ); 8 vị bị chết rũ rù do đói khát bệnh tật khi bị giam trong ngục; 6 vị bị thiêu sinh (chết thiêu trong hỏa lò).

    2) LÝ DO CÁC NGÀI BỊ VUA QUAN BÁCH HẠI:

    Các thánh Tử Đạo bị vua quan và dân chúng thời đó thù ghét đàn áp giết hại không phải vì các ngài là những kẻ xấu làm điều gian ác, nhưng chỉ vì các ngài đã tin vào danh Đức Giê-su và đã dũng cảm tuyên xưng đức tin ấy, thể hiện qua thái độ bất khuất, không chịu bước qua thập giá theo lệnh vua quan, hầu ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thóat” (Mt 10,22).

    Đàng khác, vua quan và dân chúng thù ghét và ra tay bách hại các tín hữu là do hiểu lầm về giáo lý của đạo khi cho rằng theo đạo là vọng ngọai, là bất hiếu vì phải bỏ việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đang khi thực ra không phải như vậy: điều răn thứ tư trong mười điều răn của đạo Chúa đã truyền dạy: con cái phải “thảo kính cha mẹ” và người tín hữu vừa phải chu tòan bổn phận thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất lại vừa phải tôn kính và tưởng nhớ cầu nguyện và tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời.

    Nhưng lý do chính yếu khiến vua quan và các phong trào Cần Vương Văn Thân thời đó thù ghét bách hại các tín hữu là do tự ái dân tộc và hiểu lầm về lòng yêu nước của các tín hữu: Họ sợ người theo đạo sẽ bị các thừa sai ngọai quốc xúi giục làm lọan, trong khi các vị thừa sai ngọai quốc đã dám bỏ quê hương và từ giã người thân đến vùng đất xa xôi và chấp nhận hy sinh ngay cả mạng sống là do đức tin và lòng mến Chúa thôi thúc. Các ngài chỉ muốn chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng của Đức Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,19-20); “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b). Và quả thật, lịch sử đã ghi nhận: các thánh Tử Đạo Việt Nam đã bị vua quan kết án chỉ vì đức tin mà thôi chứ không do tội phản lọan theo giặc làm loạn chống phá triều đình.

    3) SỐNG CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG:

    Bí quyết khiến các anh hùng Tử Đạo vượt qua gian nan thử thách là do các ngài biết “sống sự sống của Chúa Giê-su trong thân xác yếu hèn của mình”. Đức Giê-su đã hứa sẽ ban Thánh Thần giúp các môn đệ phải nói gì và nói thế nào khi bị điệu ra trước quan quyền (x Mt 10,19-20). Để được như vậy, các ngải đã phải mỗi ngày “chết đi cho bản thân”, và sống trong ơn nghĩa của Đức Giê-su.

    Ngày nay có lẽ chúng ta không có cơ hội làm chứng cho Chúa như các thánh Tử Đạo cha ông, nhưng chúng ta vẫn có thể trở thành chứng nhân của Chúa ngay giữa cuộc sống đời thường hằng ngày trong gia đình và ngoài xã hội:

    – Để có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đức tin khi cần, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải quyết tâm sống đức công bình bác ái trong các giao tiếp với hàng xóm và làm ăn buôn bán nơi phố chợ.

    – Để có thể dũng cảm làm chứng cho Chúa trước mặt người đời khi có dịp, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người chồng người vợ tốt lành, luôn chu tòan trách nhiệm lo cho gia đình, là những người con cháu có lòng hiếu thảo đối với các bậc tiền nhân ông bà;

    – Để sau này có thể trở thành công dân của Nước Trời, thì ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người công dân tốt, sẵn sàng chu tòan nghĩa vụ đối với quê hương và trở thành khí cụ bình an của Chúa bằng cách sống theo tinh thần của Kinh Hòa Bình… Nhờ đó chúng ta sẽ gây được thiện cảm đối với đồng bào lương dân cùng khu xóm với chúng ta.

    1. LỜI CẦU:

    – Lạy Chúa, xưa Chúa đã dạy các môn đệ rằng: “Anh em sống giữa thế gian, nhưng không được theo thói thế gian”. Xin cho chúng con đừng bao giờ bỏ Chúa để chạy theo cám dỗ của thế gian, ma quỉ và chiều theo các đam mê xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh”, để chúng con luôn xứng đáng là con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt người đời: Biết nở nụ cười khi tiếp xúc, sẵn sàng cởi mở đi bước trước để làm quen với những người mới gặp, mở miệng an ủi những ai đang gặp tai nạn rủi ro; biết khiêm hạ phục vụ tha nhân, đặc biệt phục vụ những người đau khổ bất hạnh đang cần được cảm thông trợ giúp.

    – Hát chung Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… “

    X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

    .

     

     

    BÊN KIA SỰ CHẾT

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Vào mỗi dịp cuối năm, Phụng vụ lại mời gọi chúng ta suy niệm về thân phận con người. Trong tháng Mười Một dương lịch, chúng ta thường đến viếng mộ người thân. Giữa “thành phố thinh lặng” của những người đã nằm xuống, các ngôi mộ lớn nhỏ nằm cạnh nhau. Đến viếng mộ để tưởng nhớ người ra đi, đồng thời cũng là để suy tư về hậu vận con người. Dù sang hay hèn, dù trí thức hay bình dân, dù hạnh phúc hay đau khổ, cuộc sống đời này đều kết thúc ở nấm mộ. Tuy vậy, người Công giáo tin rằng, nấm mộ không phải là điểm đến cuối cùng của con người. Đó chỉ là nơi dừng chân trong khi chờ đợi được sống lại. Ngôn sứ Đanien đã được thấy viễn tượng này trong một thị kiến. Vào lúc tận cùng của thời gian, mọi người đã chết đều được sống lại. Người thì sống lại để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì sống lại để chịu trầm luân vĩnh viễn. Bên kia sự chết vẫn có sự sống!
     
    Niềm tin vào đời sau giúp chúng ta cố gắng sống tốt ở đời này. Tin vào Thiên Chúa là Đấng sẽ phán xét kẻ dữ người lành sẽ giúp ta hy vọng và kiên nhẫn vươn lên để  không vấp ngã trên đường đời. Người tín hữu tin có đời sau, khi họ kết thúc hành trình dương thế. Chết không phải là hết, mà chỉ là kết thúc một giai đoạn của cuộc sống. Chết là sự biến đổi, là cánh cửa mở ra để người công chính tiến vào sự sống đời đời. Luôn suy nghĩ đến phúc tội, sẽ giúp con người dễ hoàn lương hơn. Các thánh là những người tin chắc có sự sống đời sau, và họ đã làm mọi sự để đạt được sự sống ấy, như phần thưởng Chúa dọn sẵn cho những ai mến yêu và trung tín với Ngài.
     
    Sống giữa thế gian, con người dễ bị cám dỗ dao động. Họ bị lôi kéo để chọn lạc thú tiền tài và lợi lộc trước mắt. Họ lập luận rằng: cuộc đời chẳng có bao nhiêu, không ăn chơi hưởng lạc thì cuộc đời uổng phí! Có biết bao người chọn hưởng thụ làm lẽ sống, nên đã phải gánh chịu hậu quả thê thảm. Cuộc đời họ tan nát tiêu điều và trở thành gánh nặng cho người thân.
     
    Chúa Giêsu đã khuyên nhủ chúng ta hãy kiên nhẫn và vững vàng, kể cả trong lúc biến động và thậm chí là ngày tận thế. Thánh Mác-cô đã dùng lối hành văn “Khải huyền” để diễn tả ngày tận thế, với hình ảnh những thiên thể từ trên cao sa xuống, vũ bão cuồng phong làm cho con người hoảng loạn. Những ai tin cậy yêu mến Chúa thì không sợ hãi bất cứ biến cố nào, vì họ tin vào quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa. Điều quan trọng là họ phải cậy trông và tin tưởng phó thác vào Chúa, luôn trong tình trạng “tỉnh thức” để rồi bất cứ Chúa đến giờ nào, họ cũng xứng đáng ra đón Chúa và được Ngài cho hưởng hạnh phúc Thiên đàng.
     
    Những bận rộn lo toan của cuộc sống thường nhật dễ làm cho chúng ta quên đời sau. Tuy vậy, nếu sống là đang đi trong một cuộc lữ hành, thì chúng phải biết đích điểm của cuộc lữ hành đó là gì. Người khôn ngoan biết thận trọng lo liệu để không đi lệch hướng; kẻ dại dột cứ nhắm mắt đi dù chẳng biết đâu là đích điểm. Chúa Giêsu là Đấng dẫn đường cho chúng ta. Người là vị Thày dạy chúng ta tiến bước để chúng ta không bị lạc. Tác giả thư Do Thái nói về chức tư tế của Chúa Giêsu, Đấng đã hiến mình cho Thiên Chúa để mang ơn cứu độ cho trần gian (Bài đọc II). Cái chết của Người trên thập giá đã xoá bản án nguyên tội cho loài người. Người đã ra khỏi mộ tối, sống lại quang vinh, như một lời đoan chắc với chúng ta rằng, nếu chúng ta tin vào Người, chúng ta sẽ được sống lại với Người. Đó là lý do tại sao trên mỗi phần mộ của người Kitô hữu đều có biểu tượng thánh giá, như một lời tuyên xưng vững vàng vào màu nhiệm phục sinh, đồng thời cũng là một lời cầu nguyện cho người đã an nghỉ.
     
    Bên kia sự chết là sự sống. Cửa của những nấm mồ sẽ được mở tung vào ngày tận thế. Đó là niềm xác tín của chúng ta. Có nhiều người băn khoan mất tiền mất của để được dự đoán hậu vận tương lai, đường đời dài ngắn, sau đó chuốc vào thân nỗi sợ hãi bất hạnh. Khi nào là tận thế, đó không phải là điều bận tâm tìm kiếm của chúng ta. Một người sống tốt lành trước mặt Chúa và nhân hậu đối với anh chị em mình, chắc chắn sẽ được Chúa thương ban phần thưởng trong cuộc sống vĩnh viễn.

    Về mục lục

    .

     

    QUÊ TRỜI

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Có 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra có một số nhỏ các quốc gia độc lập như nước Vatican, Taiwan và Kosovo không là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nói đúng hơn là có tất cả 196 nước trên thế giới. Có những Nước lớn, đất rộng người đông như Trung Hoa có trên 1 tỷ 341 triệu người, Ấn Độ có trên 1 tỷ 210 triệu và Hoa Kỳ có trên 314 triệu người. Tổng số dân trên thế giới khoảng trên 7 tỷ. Có những quốc gia nhỏ xíu như Nước Vatican rộng (0.2 square miles) với dân số 770 dân và Nước Monaco (0.7 square miles) có 32 ngàn dân. Số dân tăng dần mỗi năm. Số người qua đời ít hơn số trẻ sơ sinh. Dòng dõi này nối tiếp dòng dõi kia hướng đến cùng đích. Bước vào thế kỷ thứ 21, nhờ khoa học kỹ thuật siêu vượt, con người đã mở rộng tầm kiến thức và tạo mối liên hệ tới mọi quốc gia. Sự truyền thông đa chiều đã nối kết con người xích lại gần nhau hơn.

    Sống trên trần gian là cuộc lữ hành đi về quê thật. Có biết bao con đường mở ra giúp dẫn đưa con người đi đến cùng đích. Con người mọi thời đã suy tư giác ngộ ra nhiều thứ đạo, nhiều tôn giáo và nhiều cách thế để đạt mục đích. Có 20 tôn giáo chính thức, đang là chỗ cậy dựa tinh thần cho nhiều người: Kitô giáo đông nhất có trên 2 tỷ tín đồ, Hồi Giáo khoảng trên 1 tỷ 570 triệu, Hinduism có khoảng 950 triệu, Buddhism (Phật giáo) số thống kê không chính xác (350-1,600 triệu tín đồ)…Ngoài ra còn rất nhiều các nhóm tôn giáo khác nhau. Tất cả các tôn giáo cùng đi tìm ý nghĩa và cùng đích cho cuộc sống hôm nay và ngày mai. Đa số các tôn giáo đều tin có cuộc sống hạnh phúc mai hậu nơi thiên đàng, niết bàn, cõi tây phương cực lạc, quê trời, cõi trời và  nơi trường sinh bất tử.

    Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta những dấu chỉ về ngày cánh chung. Nước Trời khởi đi từ trần thế và kết thúc trên quê trời. Chúa Giêsu chỉ dậy: Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần (Mc 13, 28). Chúa quan phòng cho chúng ta thấy những dấu chỉ của thời gian, không gian và vạn vật muôn loài. Mọi thứ đều có khởi đầu và có ngày cùng tận. Mọi loài thụ tạo được phát triển trong thời gian, đừng mong có những bước nhảy vọt. Cuộc sống của con người cũng như thiên nhiên cần phát triển theo những chặng đường rất tự nhiên, từ trẻ tới già, từ non nớt tới sự chín mùi, từ ngây thơ tới tuổi trưởng thành và từ khởi sinh đến cùng đích. Chúng ta được mời gọi bước tới trên con đường trọn lành để chiếm hữu quê thật.

    Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm đối diện với những người tốt, kẻ xấu. Mỗi người đều có cơ hội thay đổi để nên tốt lành hơn. Sự thật ở đời, chúng ta khó tìm được một người hoàn toàn tốt hay một người toàn xấu. Trong tâm con người, có phần tốt và chút thói xấu lẫn lộn. Nghèo cùng tâm trí và không biết gieo duyên lành sẽ dễ bị cuốn lôi theo dòng chảy. Đôi khi vì qúa chủ quan, chúng ta không nhận ra những thói hư tật xấu của mình. Mỗi người cần xét mình và biết mình để tìm cách sửa sai và thăng tiến mỗi ngày.

    Trong thế giới ngày nay, xuất hiện rất nhiều tôn giáo dẫn đường cuộc sống. Mỗi tôn giáo với những linh đạo riêng có thể giúp các tín đồ của mình tu thân và tu tâm để thoát vòng loạn ly. Đời sống con người hiện đại đang dần bị tục hóa. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hưởng thụ và tương đối đang bủa vây và kéo chìm con người trở về với bản năng hưởng thụ. Qua truyền thông nối mạng, hình như các tệ nạn và gương xấu đang tràn lan một cách mạnh mẽ như sóng triều. Sức mạnh của sự thỏa mãn vật chất mạnh hơn các lý tưởng tinh tuyền của tôn giáo. Nhiều người tìm kiếm thỏa mãn những đòi hỏi vật thể và vui hưởng cuộc sống trong hiện tại, thay vì hướng đến cuộc sống hạnh phúc tương lai. Chúng ta cần thức tỉnh cả trong ý tưởng, tâm linh và thân xác để nhận diện ý nghĩa thật của cuộc sống.

    Nhiều bạn trẻ thả trôi cuộc đời lênh đênh không có đích điểm. Thật đáng thương cho kiếp phận con người. Hằng ngày tôi gặp gỡ nhiều người trẻ tự thắt nút cuộc đời qua những biến cố xảy ra. Đang trong tuổi đẹp trăng tròn, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu tìm hưởng thụ tính dục, rồi sớm có con, không hôn nhân, không gia đình, thay bạn đổi bồ như thay áo. Qua năm tháng, những nút thắt cuộc đời đan kết chất chồng lên nhau như mối tơ vò. Nhìn một người mẹ trẻ có ba đứa con với hai hoặc ba người bạn tình. Tương lai tại thế của các bạn trẻ này thật mờ mịt khó đường giải quyết. Xảy một ly đi một dặm, làm lại cuộc đời thế nào bây giờ. Làm sao chúng ta có thể nói với họ về tương lai của ngày sau? Các bạn trẻ tự giới hạn viễn tượng sống để giải quyết vấn đề hiện tại với nhiều điều nan giải. Cứ thế cuộc đời bị luẩn cuẩn trong mạng lưới ràng buộc, cả nể cho nên sự dở dang.

    Ngày cánh chung sẽ đến giống như dấu chỉ của cây vả xanh tươi, chúng ta biết mùa hè sắp đến. Mỗi người chúng ta nên nhìn dấu chỉ của thời đại để chuẩn bị cho đời sống mai hậu. Chúng ta biết rằng một việc tốt dù nhỏ cũng có thể sinh ra hoa trái tốt lành. Chúng ta phải gieo nhân tốt mới có thể sinh qủa tốt được. Giữa ngã ba cuộc đời, chúng ta phải biết chọn lựa và từ bỏ. Chọn lựa con đường dẫn đến hạnh phúc và an lạc. Từ bỏ đi những bận vướng của cuộc sống. Cuộc đời có nhiều vương vấn nên cần có thái độ dứt khoát. Ai cũng có thể làm lại cuộc đời. Không khi nào trễ, nếu chúng ta biết bắt đầu lại. Chấp nhận thực tại, chúng ta tháo cởi từng những nút thắt để cuộc sống tâm linh được thanh thản và an vui. Những việc làm tốt nho nhỏ hằng ngày sẽ lớn dần và đâm bông kết trái.

    Chúa Giêsu biết thân phận yếu đuối mỏng dòn và tội lỗi của con người, nên Ngài đã dâng hiến lễ đền tội để giao hòa. Thơ gởi tín hữu Do-thái viết: Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hoá được nên hoàn hảo (Dt 10, 14). Dù con người có sa phạm, lầm lạc và tội lỗi, Chúa vẫn có cách dẫn đưa họ trở về như mẫu gương của thánh Augustinô. Nếu chúng ta chỉ hối tiếc về sự sa ngã lầm lạc thì chưa đủ. Muốn làm lại cuộc đời, chúng ta cần thành tâm nhận lỗi, rồi hối lỗi, thật lòng sửa lỗi, chuộc lỗi, xin tha lỗi và tu luyện tâm tánh. Đây là một sự thách đố quyết tâm đổi đời. Hãy chạy đến với lòng Chúa thương xót xin ơn tha thứ. Chúa sẽ tẩy sạch tâm hồn, đổi mới trái tim yêu thương và thánh hóa trở nên con người mới trong ân sủng.

    Niềm tin vào Thiên Chúa là niềm hy vọng viên mãn. Tiên tri Đaniel đã có thị kiến về ngày thế mạt: Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (Dn 12, 2). Chúng ta không thể coi thường những chỉ thị, huấn lệnh và lời giảng dạy trong Giáo Hội. Niềm tin tôn giáo là cửa ngõ dẫn chúng ta vào Nước Trời. Chúng ta cần phải đi, phải bước tới và thực hành những điều Chúa truyền dạy. Nước Trời mở cửa đón nhận tất cả mọi người, nhưng chỉ những kẻ kiên trì phấn đấu đến cùng mới đáng hưởng phần phúc thiên đàng. Chúng ta không biết được ngày giờ Chúa đến, nên luôn phải sẵn sàng: Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13, 32).

    Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho Nước Cha trị đến và ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin cho chúng con biết lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày để ngày sau được chung hưởng hạnh phúc đời đời.

    Về mục lục

    .

    KIÊN ĐỊNH

    Trầm Thiên Thu

    Giữ vững lập trường là không dao động trong mọi tình huống, như ca dao nói: “Dù ai nói ng nói nghiêng, thì tôi vn vng như king ba chân”. Tuy nhiên, đó lại là điều không dễ thể hiện. Chúa Giêsu cũng đã căn dặn: “K nào bn chí đến cùng, k y s được cu thoát” (Mt 10:22; Mc 13:13).

    Kiên định, kiên tâm, kiên chí, kiên cường hoặc kiên nhẫn là đức tính rất quan trọng trong cuộc sống. Nhà giáo dục William Arthur Ward (1921-1994, người Mỹ, tác giả cuốn Fountains of Faith – Suối nguồn Niềm tin), nhận định: “S kiên nhn ca ngày hôm nay có th biến s nn lòng ca ngày hôm qua thành khám phá ca ngày mai. Mc đích ca ngày hôm nay có th biến tht bi ca ngày hôm qua thành quyết tâm ca ngày mai”. Tính kiên trì là loại “bùa hộ mạng” mà người ta luôn cần phải đem theo mình, không được rời nó ra, dù chỉ trong thoáng chốc. Đời hoặc đạo cũng đều cần kiên định, nghĩa là luôn tự nhủ “an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng, không sợ hãi chi” (Tv 112:7-8).

    Người ta nói: “Điu gì đến s đến – What will be will – Que sera sera”. Câu này có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực. Là tiêu cực nếu chúng ta thuộc loại người bất cần, là tích cực nếu chúng ta thuộc loại người biết chấp nhận thực tế – với người có niềm tin vào Thiên Chúa, đó là Thánh Ý Chúa. Thật vậy, chúng ta lo cũng không xong, tránh cũng chẳng được, thế thì cứ vui vẻ chấp nhận cho thanh thản, không chấp nhận thì chỉ tự dày vò mình mà thôi. Cuộc đời đã lắm khổ rồi, sao lại muốn làm khổ mình thêm?

    Những ngày cuối năm Phụng Vụ, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về Ngày Quang Lâm của Đức Giêsu Kitô, tức là Ngày Tận Thế. Tuy nhiên, không biết chúng ta có được chứng kiến thời khắc đó hay không, nhưng có điều chắc chắn là ngày tận thế của cuộc đời mình – tức là ngày chúng ta nhắm mắt, xuôi tay, và trả lại tất cả cho thế gian!

    Sự chết liên quan tận thế. Tận thế liên quan sự chết. Nói tới sự chết khiến chúng ta liên tưởng tới thiên tài âm nhạc Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791). Khi soạn tuyệt phẩm REQUIEM, ông đã linh cảm: “Tôi e rng tôi đang viết mt bài cu hn cho chính mình”. Trong thư gởi cho người cha, Mozart cho biết: “Con không bao gi đi ng mà không nghĩ rng có th con không còn thy ngày mai na. S chết là mc đích thc s ca cuc đi chúng ta. T vài năm nay, con đã quen vi người bn tuyt vi đó ca con người. Hình nh người bn đó không làm con s mà con thy người bn đó hin lành và ci m. Ước gì chúng ta cũng biết tâm niệm như vậy!

    Với người không có niềm tin, chết là hết – như “chó chết hết chuyện” vậy. Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức Kitô, chết không là hết, mà chết là “ngưỡng quá độ ”, là “buổi giao mùa”, là khởi đầu sự sống mới. Chết là hên chứ không xui chút nào cả.

    Kinh Thánh cho biết: “Thi đó, Tng lãnh S thn Micae s đng lên. Người là v ch huy ti cao, là đng vn thường che ch dân ngươi. Đó s là thi ngt nghèo chưa tng thy, t khi có các dân cho đến bây gi. Thi đó, dân ngươi s thoát nn, nghĩa là tt c nhng ai được ghi tên trong cun sách ca Thiên Chúa” (Ðn 12:1). Đó là nói về sự sống lại của những người đã chết. Chết là để sống lại, như vậy chết không là hết, không là điều tuyệt vọng, nghĩa là chết mà đầy hy vọng.

    Sách Đa-ni-el nói rõ về sự sống lại và sự thưởng phạt: “Trong s nhng k an ngh trong bi đt, nhiu người s tri dy: người thì đ hưởng phúc trường sinh, k thì đ chu ô nhcb ghê tm muôn đi. Các hin sĩ s chói li như bu tri rc r, nhng ai làm cho người người nên công chính s chiếu sáng muôn đi như nhng vì sao” (Ðn 12:2-3). Ngày nay sống thế nào thì ngày mai sẽ “phản ánh” như vậy, sống tốt thì được thưởng, sống ác thì bị phạt. Gọi là “thưởng – phạt” theo cách hiểu của phàm nhân mà thôi, chứ thật ra đó là sự công bằng, là điều tất yếu, là công lý ca Thiên Chúa.

    Công lý đó cũng chính là tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Có được Ngài thì thật là hạnh phúc. Tác giả Thánh Vịnh tâm sự: “Ly Chúa, Chúa là phn sn nghip con được hưởng, là chén phúc lc dành cho con; s mng con, chính Ngài nm gi” (Tv 16:5).

    Tâm niệm như vậy nên tác giả Thánh Vịnh luôn ghi nhớ: “Con luôn nh có Ngài trước mt, được Ngài bên, chng nao núng bao gi. Vì thế, tâm hn con mng r, và lòng d hân hoan, thân xác con cũng ngh ngơi an toàn. Vì Chúa chng đành b mc con trong cõi âm ty, không đ k hiếu trung này hư nát trong phn m. Chúa s dy con biết đường v cõi sng: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn tr, bên Ngài, hoan lc chng h vơi! (Tv 16:8-11). Có Chúa là có tất cả, ngay trong lúc cứ tưởng là “dấu chấm hết” nhưng chỉ là “dấu chấm xuống dòng” để bắt đầu niềm hy vọng mới. Điều này được minh chứng qua câu chuyện Tổ phụ Áp-ra-ham vâng lời Thiên Chúa mà hiến tế chính con trai độc nhất của ông (x. St 22:1-18).

    Sống để rồi chết, chết để rồi sống. Quy trình sinh – tử đó không là “vòng luân hồi” như người ta tưởng. Quy trình sinh – tử đó vô cùng kỳ diệu, nhưng không dễ thực hiện. Ai thực hiện được như vậy thì thật hạnh phúc, và xứng đáng được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Tuy nhiên, lời hứa nào cũng có điều kiện: “Hãy trung thành cho đến chết, và Ta s ban cho ngươi triu thiên s sng” (Kh 2:10c).

    Chúa Giêsu đã tiên phong trải qua “vòng sinh – tử” đó để làm hy lễ cứu độ nhân loại. Hy lễ của Ngài hữu hiệu, chỉ một lần là trọn vẹn vĩnh viễn. Thánh Phaolô nói: “V tư tế nào cũng phi đng trong Đn Th lo vic phng t mi ngày và dâng đi dâng li cũng ngn y th l tế; mà nhng l tế đó chng bao gi xoá b được ti li. Còn Đc Kitô, sau khi dâng l tế duy nht đ đn ti cho nhân loi, Người đã lên ng bên hu Thiên Chúa đến muôn đi. Và t khi đó, Người ch đi ngày các k thù b đt làm b dưới chân. Qu tht, Người ch dâng hiến l mt ln mà vĩnh vin làm cho nhng k Người đã thánh hoá được nên hoàn ho” (Dt 10:11-14).

    Và rồi Thánh Phaolô kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha ti thì không cn dâng l đn ti na” (Dt 10:18).

    Tin Mừng hôm nay có hai phần: [1] Con Người Quang Lâm (Mc 13:24-27 – tương đương Mt 24:29-31 và Lc 21:25-28), và [2] Dụ Ngôn Cây Vả (Mc 13:28-32 – tương đương Mt 24:32-36; Lc 21:29-33).

    Chúa Giêsu cho biết rằng vào những ngày đó – tức là thời cuối cùng, thời tận thế, và sau cơn gian nan ấy, mt tri s ra ti tăm, mt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao t tri sa xung, và các quyn lc trên tri b lay chuyn. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. Những hình ảnh vừa đáng sợ vừa đáng mừng, tùy “cách nhìn” của mỗi người. Chúa Giêsu nói thật, không nói đùa bao giờ đâu!

    Sau đó, Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế là cây vả để nói về cuộc sống của chúng ta. Ngài chân thành nói: “Anh em c ly thí d cây v mà hc hi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chi ny lc, anh em biết là mùa hè đã đến gn. Cũng vy, khi thy nhng điu đó xy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gn, ngay ngoài ca ri”.

    Đừng tin ai, đừng nghe ai, cứ ghi nhớ lời Chúa Giêsu đã nói: “Thy bo tht anh em: thế h này s chng qua đi, trước khi mi điu y xy ra. Tri đt s qua đi, nhưng nhng li Thy nói s chng qua đâu. Còn v ngày hay gi đó thì không ai biết được, ngay c các thiên s trên tri hay người Con cũng không, ch có Chúa Cha biết mà thôi. Chắc chắn như vậy!

    Với tâm thức đó, Thánh Phaolô đã căn dặn: “Nếu có ai bo rng chúng tôi đã được thn khí mc khi, hoc đã nói, đã viết thư qu quyết rng ngày ca Chúa gn đến, anh em đng vi đ cho tinh thn dao đng, cũng đng hong s. Đng đ ai la di anh em bt c cách nào (2 Tx 2:2-3). Và ông gọi đó là “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7), đồng thời nhắc nhở về việc xuất hiện của tên bịp bợm: “Tên gian ác xut hin là do tác đng ca Satan, có kèm theo đ th phép mu, du l, đim thiêng, và đ mi mưu gian chước di, nhm hi nhng k phi hư mt, vì đã không đón nhn lòng yêu mến chân lý đ được cu đ (2 Tx 2:9-10). Như vậy, “tất cả những kẻ không tin s tht nhưng ưa thích s gian ác thì sẽ b kết án” (2 Tx 2:12).

    Có lần chính Chúa Giêsu cũng đã quan ngại mà đặt vấn đề: “Khi Con Người ng đến, liu Người còn thy lòng tin trên mt đt na chăng?” (Lc 18:8). Một câu hỏi đáng quan ngại thật đấy! Câu này cũng nhắc nhở chúng ta đừng hoang mang, chớ lo lắng, hãy cố gắng tập trung vào Chúa và sống đức ái qua đức tin. Chuyện gì đến sẽ đến, sợ hay lo thì cũng chẳng thay đổi được gì cả. Cứ tâm nguyện theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ly Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”.

    Thánh Phaolô đã đề cập tầm quan trọng của đức kiên nhẫn: “Nếu ta kiên tâm chu đng, ta s cùng hin tr vi Người” (2 Tm 2:12). Đây là lời đáng tin cậy.

    Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết tnh thc và sn sàng mi nơi và mi lúc. Xin giúp con vng tin vào li Đc Kitô Giêsu đ không dao đng trong bt c hoàn cnh nào. Xin thương giúp mi người cũng vng lòng tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót đến hơi th cui cùng. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

    Về mục lục

    .

    “CÁNH CHUNG” LÀ MỐI ĐE DỌA

    HAY NIỀM HY VỌNG VĨ ĐẠI?

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Đã từ lâu, mỗi khi đề cập tới phán xét hay ngày tận thế, tôi luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi này! Trong dịp ghé thăm một tòa giám mục nọ, tôi được chỉ cho thấy một tòa nhà rộng lớn đang được xây dựng ngay trong khuôn viên; vị giám mục giới thiệu với tôi, đó là ‘tòa nhà cánh chung’ hay nôm na gọi là ‘bốn sự sau hết’. Trong ngôi nhà đó, ngài cho dựng lên ‘như thật’ các cảnh tượng phán xét, thiên đàng, hỏa ngục v.v. Trả lời thắc mắc của tôi là tại sao phải tốn phí bao nhiêu tiền của để xây dựng một công trình như thế, vị giám mục trịnh trọng giải thích: “Đó là bài giáo lý căn bản nhất; giáo dân cần phải được răn đe để tránh phạm tội!” Tôi không rõ: đó có phải là mục đích mà cả ba cuốn Tin Mừng Nhất Lãm dành trọn cả chương (Mt 24, Mc 13, Lc 21) để mô tả khá chi tiết ngày thế tận và cuộc đại phán xét đó không? Nếu quả đúng là để răn đe, để cảnh cáo, thì cho dầu có đạt được mục đích giúp cho một số người làm lành lánh dữ đi nữa, tôi vẫn không khỏi thắc mắc: các sách đó có đáng được gọi là “TIN MỪNG” hay không?

    Đề tài ‘thế tận’ này bao giờ cũng được các sách Tin Mừng bắt đầu bằng việc: các tông đồ là những người Do Thái thắc mắc về viễn tượng đền thánh Giê-ru-xa-lem bị tàn phá. Đây là vấn đề người Do Thái nào cũng quan tâm vì đã được các tiên tri đề cập tới nhiều (Is 66:8; Ed 38; Gr 4; Dcr 14), và thường qua đó đưa ra lời cảnh báo về ‘ngày phán xét’ mà các ngôn sứ gọi là ‘ngày của Đức Chúa’ (Am 5:18; Xp 1:14). Các sự kiện này được mô tả bằng một văn phong khó hiểu hầu gợi được sự quan tâm của quần chúng, nhằm chuẩn bị họ tỉnh thức sẵn sàng cho cuộc khai mạc vĩ đại của ‘triều đại Thiên Chúa đến trần gian’. Bất cứ người Do thái nào cũng sẽ rất ấn tượng về quyền năng của Thiên Chúa, qua các hiện tượng ‘kinh khủng’ xảy đến khi Ngài xuất hiện (quang lâm), các hiện tượng ném vũ trụ vào một cuộc khủng hoảng toàn diện đầy kinh hãi: “Mặt trời ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống…”

    Tuy nhiên, tương phản với cái viễn tượng đầy khiếp sợ mà người Do Thái đã quá quen thuộc, Đức Giê-su lại đưa ra một hình ảnh hoàn toàn trái ngược: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả… Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy… anh em biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. Suy nghĩ cho kỹ ta mới thấy: hình ảnh cây vả đâm chồi nảy lộc vào đầu xuân đầy sức sống đối nghịch với dáng chết chóc của cành khô trơ trụi trong những ngày đông giá. Quang lâm hay ngày phán xét mà Đức Giê-su trình bày, mặc dù khởi đi từ các hình ảnh Cựu Ước đầy kinh hãi, lại hàm chứa một nội dung tràn trề hy vọng; ngày đó sẽ không gây sợ hãi hay trốn chạy, nhưng sẽ là mừng vui và hy vọng: “anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (Lc 21:28). Điều đáng lưu ý là: Luca đã đề cập tới hình ảnh cây vả đâm chồi nẩy lộc ngay sau lời khích lệ trên (xem Lc 21:28-30).

    “Lúc đó Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”. Quả thực, thế tận sẽ là ngày Đức Chúa quang lâm…, ngày Người tuyển chọn…, ngày Người tập hợp! Những kẻ được Người ‘tuyển chọn’ chắc hẳn không thể là những kẻ tự cho mình là xứng đáng, đơn giản vì chẳng có ai xứng đáng trước mặt Thẩm Phán quang minh, nhưng phải là những ai đã hiểu mình được cứu độ cách nhưng không, đã biết tới lòng nhân từ vô hạn lượng của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su, và đã từng đón rước lòng nhân từ ‘đến gần, ở ngay ngoài cửa’. Con số những người này có thể là nhiều lắm: kể từ A-đam E-va ‘từ đầu mặt đất’, qua hết các thế hệ kế tiếp…, và mãi cho tới những người ở ‘cuối chân trời’. Phải, tất cả những người đó, cho dầu bất xứng và tội lỗi, nhưng bằng cách này hay cách khác, đã biết đón nhận ơn cứu độ của xót thương và thứ tha, họ sẽ đứng thẳng và ngẩng đầu lên vào giờ phút kinh hoàng, khi mà mọi kẻ khác, kể cả các bậc thánh hiền và công chính nhất, đều phải cúi gầm mặt run sợ. Phải chăng: đó mới chính là giờ phút cao điểm của Tin Mừng cứu độ?

    Thiết tưởng đối với tất cả những ai tin tưởng và tín thác vào lòng từ nhân của Thiên Chúa mà Đức Ki-tô đã mạc khải bằng chính cái chết của Người, thì ngày cánh chung ấy sẽ không bao giờ có thể là ‘dies irae, dies illa’ – ngày đó, ngày thịnh nộ, nhưng phải là ‘dies spei, dies illa’ – ngày đó, ngày hy vọng tràn trề. Mong rằng mọi Ki-tô hữu chúng ta trước hết, và nhiều người khác nữa, sẽ thuộc số những kẻ ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’, vì chúng ta đã chẳng không ngừng cử hành việc ‘Con Người đã đến gần, đã ở ngay ngoài cửa’, nhất là khi cử hành Hy Lễ Thập Giá trên bàn thờ ‘mong đợi Người lại đến’ là gì!

    Lạy Đấng Phán Xét chí công, con muốn được liệt vào số những người ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’ trong ngày phán xét, không phải vì con tốt lành thánh thiện hơn ai, nhưng trong tư cách Ki-tô hữu con đã từng tin vào tình yêu cứu độ của Ngài. Xin cho ngày cánh chung sẽ trở nên ngày hiển linh Tin Mừng cứu độ cho con và cho toàn thể nhân loại, và là ngày vĩ đại của niềm hy vọng và cậy trông hoàn vũ. A-men.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Chiều hôm Thứ Sáu vừa qua, các hãng thông tấn như radio, internet, đặc biệt là các đài truyền hình lớn như CNN hay Fox News đột nhiên ngưng các chương trình thông thường, để loan tin và trực tiếp truyền hình về vụ khủng bố xảy ra tại thành phố Paris tại Pháp quốc, làm nhiều người thiệt mạng. Chủ đích của các hãng truyền thông là cho khán thính giả biết những sự kiện đang xảy ra, và cảnh giác chúng ta chú ý và đề phòng, nhất là những sự khủng bố giết người của người Hồi giáo quá khích. Chúng ta biết khủng bố có thể xảy ra bất cứ lúc nào và nơi nào, kể cả trong quốc gia Hoa kỳ này, vì quân khủng bố Hồi giáo quá khích đang hiện diện và trà trộn trong tất cả các thành phố.

    Trong những tuần cuối của năm phụng vụ, Giáo hội, qua những bài Kinh thánh Lời Chúa, muốn nhắc nhở và cảnh báo chúng ta, là những Ki-tô hữu, đến một sự kiện sẽ xảy ra liên quan đến đời sống hiện tại, nhất là đến đời sống vĩnh cửu ngày sau, để chúng ta chú ý, nhìn vào đời sống và chuẩn bị một cách tốt đẹp theo thánh ý Chúa dạy, cũng như sống trong an bình, vui mừng và hy vọng.  Sự kiện sẽ xảy ra là Ngày Tận Thế, mà theo như lời Chúa, sẽ đến bất cứ lúc nào mà chúng ta không biết.

    Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Đa-ni-êu nói cho chúng ta biết về thời cùng tận, và liệt kê những điều sau đây sẽ xảy ra. Thứ nhất thời điểm đó Tổng Lãnh Sứ Thần Michael sẽ được Thiên Chúa sai đến để che chở cho dân trong thời kỳ khốn khổ sau hết. Thứ hai đây là thời kỳ khốn khổ chưa từng thấy trong lịch sử loài người, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Và sau cùng, những ai có tên trong Sách của Thiên Chúa sẽ được thoát nạn, được giải thoát và được ban thưởng phúc trường sinh. Sách này chỉ có Con Chiên, ám chỉ Chúa Giê-su Ki-tô Chiên Thiên Chúa, đã bị giết nhưng vẫn đang sống, mới có thẩm quyền để mở mà thôi. Vào lúc đó mọi người sẽ chỗi dậy và phải chịu phán xét về việc làm của mình. Người công chính và trung thành sẽ được ban thưởng phúc trường sinh. Những người tội lỗi sẽ “chịu tủi nhục muôn đời.”

    Trong bài đọc 2, tác giả Thư Do-thái cho chúng ta biết về ơn sủng Hiến Lễ của Chúa Giê-su Kitô trên thập giá. Tuy Hiến Lễ này chỉ xảy ra một lần, nhưng có sức mạnh tẩy trừ mọi tội lỗi của con người mọi thời đại, và làm cho con người được trở nên tinh tuyền thánh thiện mỗi ngày một hơn. Hiến Lễ của Chúa Giêsu trên đồi Golgotha, được ban cho Giáo hội qua Bí-tích Rửa Tội để tẩy sạch tội lỗi con người, qua Bí-tích Giao Hòa để ban ơn tha thứ, và sau cùng Hiến Lễ của Chúa Giê-su Kitô được thể hiện qua Bí Tích Thánh Thể, ban ơn thánh cho con người chúng ta trong giai đoạn hiện tại.

    Bài Tin mừng hôm nay làm cho tôi nghĩ đến bài Tin mừng của thánh Luca Thứ Sáu hôm qua, khi những người Pha-ri-sêu đến hỏi Chúa Giêsu “Khi nào Nước Thiên Chúa đến và khi nào Thiên Chúa sẽ ngự đến?” Chúa Giê-su đã cho họ biết Thiên Chúa đang hiện diện ở giữa họ, và Người đưa ra một dấu hiệu Chúa đến trong ngày tận thế một cách thình lình như chớp sáng lòe bầu trời giữa sự vô lo của con người trần thế. Sau đó, Chúa đã đưa ra 2 sự kiện điển hình để minh chứng. Sự kiện thứ nhất về những người sống trong thời ông Nô-e. Thời đó người ta đang sống trong phồn thịnh, ăn chơi phè phỡn, tội lỗi thả dàn. Họ chỉ lo về vật chất, không nghĩ và để ý gì về đời sống tinh thần và lo cho linh hồn của họ nữa. Họ cũng không nghe, bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo của các ngôn sứ. Trong khi đó một mình ông Nô-e nghe lời Chúa bảo, lo lắng đi đóng tàu để tránh đại hồng thủy. Họ tiếp tục sống phè phỡn, ăn chơi, lo kiếm tiền thật nhiều và hưởng thụ, nghĩa là chỉ lo tới vật chất. Nhưng giữa lúc phồn thịnh và ăn chơi thì lụt đại hồng thủy xảy đến, cuốn trôi tất cả, tiêu hủy tất cả.   Thiên Chúa đến và đến gọi chúng ta bất ngờ. Ngày tận thế và ngày Chúa trở lại với loài người cũng bất ngờ như vậy.

    Sự kiện thứ 2 mà Chúa đề cập đến xảy ra thời ông Lót, cả thành phố Sô-đô-ma đang phồn thịnh, thịnh vượng, ăn chơi thả dàn, xây cất, mua bán, nghĩa là tất cả đang sống trong một cuộc sống hưởng thụ bình thản, nhưng là một loại bình thản giả tạo trong tội lỗi và lầm lạc. Giữa lúc như thế thì lửa bởi trời đổ xuống thiêu hủy tất cả, chỉ một mình ông Lót thoát chết. Còn bà Lót thì hóa thành tượng muối vì đã quay đầu nhìn lại thương tiếc, ham đống của cải bỏ lại, thay vì cứu lấy chính bản thân mình.

    Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả những sự kiện trên đây mãi mãi vẫn là một bài học nhắc nhở chúng ta. Thiên Chúa đến và đến gọi chúng ta bất ngờ. Ngày Chúa trở lại phán xét nhân loại cũng bất ngờ như vậy. Cũng như mỗi người không biết khi nào mình chết, thì cả nhân loại cũng không biết khi nào Chúa trở lại. Tất cả đều bất ngờ. Nhưng vì yêu thương, Chúa đã dùng lời của Người để dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta không bị lâm vào cảnh bất ngờ như những người bị thiệt mạng trong cuộc khủng bố ở Paris. Tin Mừng thánh Gioan quả quyết rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Vì thế, nếu chúng ta muốn được cứu thoát khỏi cảnh “tủi nhục muôn đời” thì chúng ta phải tin vào Chúa Giêsu Ki-tô Con của Thiên Chúa, và sống giáo huấn của Chúa dạy.

    Chúng ta hãy nhớ cuộc sống ở trần gian là một cuộc lữ hành, là một cuộc hành trình về nhà Cha trên Trời. Chúng ta đang sống giữa trần gian như một bông hoa sớm nở, trưa héo, chiều tàn, nghĩa là, cuộc đời chúng ta ngắn ngủi và mong manh. Hơn nữa, giờ chết của chúng ta cũng như ngày tận thế, chúng ta hoàn toàn không biết. Vì thế là những Kitô hữu, chúng hãy lắng nghe Lời Chúa báo trước, và sống thế nào để đừng bao giờ sự chết đến với chúng ta trong tình trạng đáng tiếc và đáng hội hận. Trái lại, chúng ta sống như thế nào để làm sáng danh Chúa và để kết thúc cuộc đời một cách tốt đẹp. Xin Chúa giúp chúng ta nhận những sự kiện chung quanh, để chúng ta chú ý đến cuộc sống đức tin, luôn trung thành với Chúa, và sửa soạn cho ơn cứu rỗi, cũng như đời sống vĩnh cửu của chính mình. Hôm nay chúng ta còn thời giờ để sửa soạn và giúp người khác được, nhưng đến ngày và thời điểm sau cùng đó, chúng ta sẽ không còn thời giờ và cơ hội. Chúng ta phải luôn ý thức rằng, Chúa không muốn chúng ta sống trong lo âu, sợ hãi, nhưng muốn chúng ta sống trong bình an, tin tưởng và hy vọng.

    Về mục lục

    .

     

    SẴN SÀNG ĐÓN CHÚA LẠI ĐẾN

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 13,24-32

    (24) Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, (25) Các ngôi sao từ trời sa xuống, và quyền lực trên trời bị lay chuyển. (26) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (27) Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. (28) Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. khi cành nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. (29) Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. (30) Thầy bảo thật anh em: Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. (31) Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. (32) Còn về ngày hay giờ thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Người Con cũng không. Chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.

    1. Ý CHÍNH:

    Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong diễn từ về “Cuộc quang lâm của Đức Giêsu” (x. Mc 13,1-37). Bằng những hình ảnh tượng trưng về sự sụp đổ của Đền Thờ kèm theo những điềm báo trước, Đức Giêsu nhắc nhở các tín hữu về “Ngày của Chúa” tức là ngày tận thế. Khi đó sẽ có những cơn bách hại xảy ra, trời đất cũ sẽ bị rung chuyển và biến đổi thành “Trời Mới Đất Mới” (x Kh 21,1), trước khi Con Người đến trong đám mây.

    1. CHÚ THÍCH:

    – C 24-25: + Trong những ngày đó: Ngày nói đây là ngày Đền Thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ bị tàn phá bình địa. + sau cơn gian nan ấy: Cơn gian nan như một điềm báo trước về Ngày Tận Thế. + Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, các quyền lực trên trời bị lay chuyển: Những hình ảnh trong các sách Cựu Ước này nói về “Ngày của Đức Giavê”. Ở đây các hình ảnh này nhằm đề cao sự uy nghiêm của Đức Kitô trong Ngày Tận Thế: bấy giờ các tầng trời sẽ bị rung chuyển, công trình sáng tạo xưa kia sẽ biến mất và một Trời Đất Mới sẽ xuất hiện.

    – C 26-27: + Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến: Con Người là hình ảnh một nhân vật trong sách Đanien, trổi vượt hơn hình ảnh “Đấng Mê-si-a Con Vua Đavít”. Ngài đến trong đám mây trời, tiến lên trước toà Thiên Chúa và nhận lãnh một vương quyền phổ quát (x Đn 7,13). Trong các sách Tin Mừng, Đức Giêsu đã xưng mình là Con Người tới 70 lần (x. Mt 8,20; Ga 3,13…): Người tự xưng là Con Người với 2 ý nghĩa. Một là Người Tôi Tớ của Đức Giavê: “Tôi, Người Tôi Tớ bị loại bỏ, bị giết chết nhưng sẽ được tôn vinh và sẽ cứu độ muôn người” (x. Mc 8,31). Hai là Chúa Con, được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Tv 110,1) và đến ngày tận thế, sẽ lại đến (x. Đn 7,13). + “Đến trong đám mây”: Mây không phải là một phương tiện di chuyển, nhưng chỉ là một biểu tượng về sự hiện diện của Thiên Chúa (x. Xh 13,21; Mt 17,5) + Người sẽ sai các thiên sứ đi và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời: Từ khắp nơi, Đấng Kitô sẽ ra lệnh cho các thiên thần qui tụ tất cả những người lành thánh được tuyển chọn tập trung lại.

    – C 28-29: + Lấy thí dụ cây vả… khi thấy những điều đó xảy ra: Các ngôn sứ thường dùng hình ảnh mùa hè và mùa gặt để diễn tả ngày cánh chung hay ngày tận thế. Ở đây Đức Giêsu dùng hình ảnh cây vả báo trước mùa hè sắp tới, để ám chỉ về ngày cùng tận của Đền Thờ Giêrusalem là hình ảnh tiên báo về ngày tận thế (x Mc 13,4-19).

    – C 30-31: + Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra: Việc tàn phá Đền Thờ Giêrusalem xảy ra vào năm 70, là thời điểm những ai nghe lời Đức Giêsu giảng vẫn còn sống và chứng kiến những điều Người tiên báo được ứng nghiệm. + Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu: Vũ trụ vật chất sẽ có ngày tan biến (x Is 24,19.23), nhưng Lời Đức Giêsu sẽ luôn tồn tại nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

    – C 32: + Về Ngày Giờ đó: câu này nói về ngày tận thế sẽ xảy ra. + chỉ có Chúa Cha biết mà thôi: Ngày Giờ cánh chung hay tận thế thuộc quyền Chúa Cha định liệu. Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa (x. Pl 2,6), với tư cách là Ngôi Lời, đồng bản tính vơi Chúa Cha nên dĩ nhiên Người biết mọi sự giống như Chúa Cha. Nhưng với tư cách là Đấng Thiên Sai (x. Pl 2,8), Người “nên giống chúng ta mọi đàng chỉ trừ không có tội” (x. Gl 4,4), nên Người không biết được Ngày Giờ ấy, hầu mọi người phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng chuẩn bị cho ngày ấy (x. Mc 13,33).

    1. CÂU HỎI:

    1) Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã tự xưng là “Con Người” mấy lần? Đức Giêsu muốn mặc khải mình là ai khi tự xưng mình là Con Người?

    2) “Con Người ngự trong đám mây mà đến”: Phải chăng đám mây là phương tiện Đức Giêsu dùng để di chưyển?

    3) Đức Giêsu có biết rõ ngày cùng tận của thế giới là ngày nào không? Tại sao?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến (Mc 14,26).
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) DỌN MÌNH CHẾT LÀNH:

    Khi Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII ngã bệnh nặng, các bác sĩ không nói gì về bệnh tình của ngài, nhưng ngài biết mình khó sống thêm nên thường nói với những người chung quanh: “Tôi đã sắp sẵn hành trang”. Đến ngày cuối cùng khi giờ chết sắp đến, thư ký riêng tới bên giường hôn tay Đức Giáo Hoàng và hỏi thăm xem ngài cảm thấy trong mình thế nào. Đức Gioan trả lời: – Cha thấy dễ chịu và an bình trong tay Chúa, nhưng cũng hơi lo.

    Vị thư ký nói: – Cha không phải lo. Nhưng chúng con đang lo đây. Chúng con mới nói chuyện với các bác sĩ…

    Đức Giáo Hoàng ngắt lời hỏi: – Họ nói với con thế nào?

    Vị linh mục nghẹn ngào nói: – Thưa Đức Thánh Cha, con phải nói sự thật: Hôm nay là ngày của Chúa. Hôm nay Cha về Thiên đàng.

    Nói xong, vị thư ký quỳ xuống bên giường ôm mặt khóc. Đức Giáo Hoàng âu yếm xoa đầu vị thư ký và ôn tồn nói:

    – Mọi khi con can đảm lắm, sao giờ mềm yếu vậy? Con vừa cho ta nghe những lời hay đẹp nhất mà một vị linh mục có thể nói: Hôm nay Cha sẽ về Thiên đàng.

    Phải có một niềm tin vững mạnh, người ta mới có thể bình thản như vậy lúc từ giã cõi đời.

    2) TRÁNH NGHE NHỮNG TIN ĐỒN NHẢM VỀ NGÀY TẬN THẾ:

    Vào cuối năm 1992, hàng chục ngàn tín đồ của một giáo phái tại Hàn quốc đã tụ tập nhau trong hơn 150 nhà thờ để đón chờ ngày tận thế, đón Đức Giêsu tái lâm trong vinh quang để phán xét chung. Theo những người lãnh đạo của giáo phái này thì chính xác ngày tận thế là vào lúc nửa đêm ngày 28/10/1992. Các tín đồ của giáo phái trương lên biểu ngữ: ”Chúng ta sẽ gặp nhau trên trời”. Đồng thời hàng ngàn cảnh sát Hàn quốc cũng được đặt trong tình trạng báo động cao trên toàn quốc để phòng ngừa một cuộc tự sát tập thể, nếu ngày tận thế không xẩy ra. Bởi vì, rất nhiều người do quá tin tưởng đã bán hết nhà cửa và phát tán mọi tài sản gia đình… để chuẩn bị cho ngày tận thế này. Nhưng cuối cùng ngày tận thế đã không xẩy ra, nên sau đó giáo phái này đã tự giải thể.

    Đây chỉ là một trong nhiều tiên báo không chính xác về ngày tận thế trên thế giới. Sở dĩ người ta đóan sai là do đã hiểu lời Chúa cách lệch lạc và không đúng theo ý Chúa Giêsu dạy. Đối với các tín hữu chúng ta: nhân dịp cuối năm phụng vụ, Hội Thánh muốn nhắc nhở chúng ta ý thức về ngày tận thế chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng không xác định cụ thể ngày giờ. Việc đề cập đến ngày này nhằm giúp chúng ta canh tân đời sống và tích cực chuẩn bị cho ngày Chúa đến viếng thăm trong giờ chết của mỗi người.

    1. THẢO LUẬN: 

    1)Bạn hiểu thế nào về ngày tận thế?

    2)Chết là gì? 

    3)Bạn làm gì để chuẩn bị đón Chúa đến trong giờ chết mỗi người và ngày tận thế chung tòan nhân lọai?

    1. SUY NIỆM:

    1) Ngày tận thế chắc chắn sẽ đến:

    Tin mừng Máccô hôm nay nói về ngày tận thế: Hôm ấy các môn đồ chỉ cho Đức Giêsu thấy cảnh huy hoàng của Ðền Thờ khi được ánh sáng mặt trời chiếu vào! Nhưng Đức Giêsu đã tiên báo cảnh ấy có ngày sẽ không còn nữa và Đền Thờ sẽ bị phá hủy không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào, vì dân Giêrusalem đã từ chối đón nhận ngày Thiên Chúa đến viếng thăm.

    Ðức Giêsu đã dùng những hình ảnh về thời kỳ chiến tranh, cũng như các công thức về thời cánh chung trong các sách ngôn sứ để diễn tả cảnh tàn phá của Giêrusalem. Từ đó, Người đề cập đến ngày cùng tận của thế giới. Nhưng lời của Đức Giêsu được các thánh sử ghi lại sau khi Ðền Thờ đã bị sụp đổ và Hội Thánh bị bách hại khắp nơi. Qua Lời Chúa hôm nay, Máccô muốn trình bày các điều sau: Một là các hiện tượng trời đất như mặt trời tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú sa xuống và các thiên thể lay chuyển… là điềm báo Chúa đến trong ngày tận thế. Hai là mặt trời tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú sa xuống… cho thấy vũ trụ này sẽ quay trở lại lúc khởi nguyên hỗn mang khi chưa có ánh sáng. Và như thế, ngày tận thế là lúc vũ trụ sẽ biến mất để cho “trời mới và đất mới” xuất hiện. Ba là người ta sẽ thấy “Con Người đến trong đám mây”. Con Người chính là Ðức Giêsu Cứu thế. Hình ảnh mây trời nhấn mạnh tính cách “hiển linh” của việc Người đến. Và như vậy “ngày của Chúa” sẽ trở thành ngày của Thiên Chúa đến “trong” và “nhờ” Con Người là Đức Giêsu. Bốn là Vua Kitô sẽ sai các thiên thần đi khắp cùng mặt đất thâu họp những kẻ được chọn lại, để đưa họ vào hưởng vinh quang của Người trên trời.

    2) khi nào điều ấy xảy ra?

    Đây là thắc mắc của mọi thế hệ loài người. Theo Tin mừng Máccô: Ðức Giêsu dạy các môn đệ phải tiên liệu: Khi thấy các điềm kia xảy ra, thì hãy biết rằng “Con Người đã đến gần bên cửa” (x Mc 13: 28-29).

    Các điềm báo về ngày tận thế như: Mùa hè ám chỉ thời kỳ tận thế, các chi tiết khác như: Ðền thờ bị tàn phá, chiến tranh lọan lạc, các Kitô giả xuất hiện, niềm tin trở nên nguội lạnh, các tầng trời bị lay chuyển v.v… cho thấy tính không bền vững của vũ trụ vật chất.

    Nghe lời Chúa hôm nay, nhiều người đã lầm tưởng ngày tận thế sắp đến. Nhưng ngay sau đó Đức Giêsu đã khẳng định: “Về ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được… cả Con Người nữa, trừ phi là Chúa Cha” (Mc 13,32).

    Thực ra, với bản tính Thiên Chúa, Đức Giêsu ngang hàng với Chúa Cha, nên cũng biết rõ ngày tận thế. Nhưng với bản tính lòai người thì cũng như chúng ta, Người không biết rõ đó là ngày nào.

    3) Chúng ta phải làm gì?

    Không nên hỏang sợ nhưng hãy hy vọng chờ đón Chúa đến:

    Đức Giêsu báo trước sẽ có ngày tận thế, nhưng lại dạy môn đệ không nên hoảng sợ. Người đến để phán xét mọi người, nhưng “đối với những ai mong đợi trong yêu mến ngày Chúa lại đến” (2 Tm 4,8), thì Người sẽ là Đấng Cứu Độ và là vinh quang của họ : ”Người sẽ sai các thiên thần đi quy tụ từ bốn phương trời, những người được tuyển chọn”. Giáo hội bị bắt bớ nhưng cũng được an ủi vì “sẽ thấy vinh quang của Đức Giêsu Kitô” (Tt 2,13). Đứng trước các tin đồn về ngày tận thế, thái độ đúng đắn nhất của các môn đệ là: ”tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, trong niềm mong chờ, vì Chúa sẽ đến bất ngờ như Người đã nói: ”Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).

    – Chuẩn bị cho giờ chết của mỗi người và ngày tận thế chung tòan nhân lọai:

    Người Kitô hữu chỉ có thể “đứng vững trước mặt Con Người” khi biết thanh luyện tội lỗi, tránh xa sự dữ và các thói hư, nhất là thói ích kỷ, tham lam…, và góp phần xây dựng một thế giới mới yêu thương, trong đó mọi người luôn quan tâm, cảm thông và chia sẻ phục vụ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cho gia đình, cộng đòan và môi trường sống ngày một tốt đẹp hơn.

    – Cần ý thức tính tập thể của ơn cứu độ:

    Đường về trời không dành riêng cho từng người, nhưng là con đường chung cho hết mọi người. Trong ngày phán xét, Đức Kitô sẽ tái lâm xét xử nhân lọai dựa trên tiêu chuẩn thực thi bác ái chia sẻ và phục vụ tha nhân. Ai sống trong yêu thương, người đó sẽ được sống lại và hưởng hạnh phúc trường sinh, còn kẻ “ghét anh em chính là kẻ sát nhân” (1 Ga 3,15) cũng sống lại để chịu hình phạt “khóc lóc và nghiến răng” (x Mt 25,31-46). Còn “Ai làm cho người ta nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao”(Đn 12,3).

    – Maranatha: Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến:

    Các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai đã mong ước ngày trở lại của Chúa qua lời cầu nguyện: “Maranatha – Lay Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20). Trong Thánh lễ, sau khi truyền phép, các tín hữu chúng ta cũng dâng lời xin: ”Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. Mỗi tín hữu chúng ta cần năng hồi tâm sám hối và tích cực chuẩn bị cho ngày Chúa đến bằng việc làm các việc bác ái chia sẻ phục vụ cho tha nhân nhằm “Làm vinh danh cho Thiên Chúa và vì phần rỗi các linh hồn”, kèm theo một lời nguyện như sau: “Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến“.

    1. LỜI CẦU:

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một quả tim mới và một thần trí mới để chúng con sẵn sàng góp phần xây dựng Hội Thánh và phục vụ Chúa trong mọi người chung quanh ngay từ hôm nay. Xin cho chúng con sẵn lòng chấp nhận các đau khổ trái ý xảy đến để thành tâm sám hối tội lỗi, khử trừ thói hư và tích cực góp phần làm cho gia đình, cộng đòan, xã hội… trở nên công bình yêu thương và bình an hoan lạc hơn, hầu đón chờ Chúa sẽ tái lâm và biến trần gian trở thành một “Trời Mới Đất Mới” vào ngày tận thế.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

    Đ)XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

    NGÀY CÙNG TẬN CỦA THẾ GIỚI

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Con người sinh ra để làm gì ? Lúc nào con người chết ? Bao giờ là ngày cùng cận của thế giới ? Vâng, những vấn nạn này đã được nhiều người đặt ra từ xưa đến giờ! Nhưng tất cả đều không giải đáp được những vấn nạn này ! Tại sao và tại sao ? Tin Mừng của thánh Máccô, hôm nay  Chúa Giêsu quả quyết :” Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên Sứ trên trời hay người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi “ ( Mc 13, 32 ).

    Vâng, các nhà bác học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra biết bao giả thiết, đưa ra biết bao cuộc thí nghiệm, cuối cùng tất cả đều bó tay. Con người không thể tìm được giải đáp cho giờ chết, ngày chết và ngày tận thế, ngày cuối cùng của thế giới này ! Đã có nhiều tin đồn về ngày tận thế của nhiều giáo phái.Đã có nhiều lời đe dọa của những tiên tri giả, của những đạo giáo, phe nhóm quá khích cho rằng ngày tận thế sắp đến :” Hãy ăn chơi, đừng làm gì nữa “. Chúng ta đừng nhẹ dạ tin theo những lời đồn thổi, dọa nạt nhảm nhí đó ! Thánh Augustinô đã nói cách dứt khoát :” Đức Giêsu không cho ta biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người “. Nên, chúng ta hãy ý thức thân phận mỏng giòn của ta:” Chúng ta rất yếu đuối, mong manh như cậy sậy phớt phơ trước gió, như bong bóng sà phòng trước bầu trời rộng “. Do đó, thái độ của chúng ta là tỉnh thức và cầu nguyện, sẵn sàng chờ đón Chúa đến một cách bất ngờ, đột xuất. Đức Thánh Cha Phanxicô nhiều lần cũng đã đề cập tới ngày tận thế. Đức Giáo hoàng Phanxicô nói:” Khi cảm thấy cấp thiết phải kiểm tra lá số tử vi của mình, bạn hãy chuyển ánh mắt vào Chúa Giêsu”.Ngài giải thích :” Sẽ có một ngày mà ta đối diện với Thiên Chúa “. Ngài nói rằng điều quan trọng không phải là biết khi nào hoặc làm thế nào thời cánh chung sẽ đến, nhưng tốt hơn là ‘ chính chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng ‘. Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh :” Chúa Giêsu chính là “ điểm đến của cuộc lữ hành trên đường dương thế của chúng ta “, nhưng Người cũng là sự hiện diện liên lỉ trong cuộc sống của chúng ta “…

    “ Chúa nhắc chúng ta là mọi thứ rồi cũng qua đi.Chỉ Lời Người mới là ánh sáng soi dẫn vững chắc cho hành trình của chúng ta “.

    Loài người và chúng ta không biết ngày nào Chúa gọi chúng ta, không biết ngày nào Người đến trong vinh quang, nhưng có một điều chắc chắn để được vào Vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình. Chúng ta phải nỗ lực kiến tạo hòa bình,khát khao tìm kiếm nước Thiên Chúa vì nước của Ngài là nước tình yêu.Nên, chí có những ai biết sống đức ái, biết sống ngôn ngữ tình yêu mới được vào nước của Ngài.

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sống Lời của Người để chính ánh sáng Lời của Chúa sẽ soi đường chỉ lối cho chúng con đi.Xin cho chúng con biết sống yêu thương để những người gặp chúng con cũng nhận ra Chúa đang hiện diện trong chúng con.Xin cho chúng con biết tác tạo hòa bình vì chỉ có những ai yêu chuộng hòa bình mới được nhìn xem Thiên Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt sáng đức tin để chúng con nhận ra Chúa nơi anh em đồng loại.Xin cho chúng con đôi tai để chúng nghe được lời yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con miệng lưỡi để chúng con biết nói lời yêu thương của Chúa. Amen.

     

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

    1.Ngày tận thế là ngày nào ?

    2.Ai nắm giữ bí mật của ngày tận thế ?

    3.Chúa Giêsu có mạc khải ngày tận thế không ?

    4.Chắc có ngày tận thế không ?

    5.Ngôn ngữ của Thiên đàng là ngôn ngữ nào ?

    Về mục lục

    .

    NGỰ TRÊN GIÁ MÂY TRỜI

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Ngày Chúa quang lâm là ngày không còn mặt trời, mặt trăng, chính Chúa là ánh sáng muôn ngàn đời soi chiếu. Ngày ấy cũng bắt đầu từ hôm nay và cũng chờ đợi ngày sau hết. Sẵn sàng là thái độ khôn ngoan để sống bình an và hạnh phúc.

    Ngự trên đám mây.

    Thông thường đám mây xuất hiện  báo hiệu sự hiện diện của Thiên Chúa. Lúc thần hiện trên núi Sinai (Xh 19, 16). Khi thì từ đám mấy có tiếng của Thiên Chúa phán (Mt 17, 5).

    Mây mang mưa tới, đó là dấu chỉ của mùa sản sinh, mùa sinh ơn phúc trong ngày Chúa ngự đến. Các tầng mây báo hiệu dồi dào ân phúc của Thiên Chúa. Những ngày còn lữ hành đám mây che nắng dẫn đường (Xh 40, 36 38). Sự hiện diện của Thiên Chúa bảo đảm cho cuộc xuất hành cũng là hành trình trần thế được Người thương giữ gìn.

    Đám mây còn báo hiệu của ngày biến đổi, do quyền năng Thiên Chúa thực hiện. Những người được lựa chọn vào Nước Chúa, họ sẽ được biến đổi hoàn toàn trong ngày Chúa ngự đến. Như ngày Chúa biến hình trên núi đám mây bao phủ (Mt 17, 1 – 8). Trong những ngày hiện tại sống trên trần gian, con người cũng được biến đổi nhờ được kết hiệp trong Chúa Kitô. Và cũng nhờ Chúa Thánh Thần phủ bóng ân sủng làm cho con người được biến đổi, như ngày truyền tin cho Mẹ maria cho thấy việc đó (Lc1, 35)

    Ánh sáng không bao giờ lịm tắt (Exsultet)

    “Ánh sáng ban ngày của ngươi không còn là mặt trời nữa, và ban đêm, ngươi chẳng cần đến ánh trăng soi: Chúa sẽ là ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi ngươi, ánh quang huy của ngươi là Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is 60, 19)

    Ánh sáng chân lý xua tan mọi sai lầm và nghi ngờ. Chỉ còn xác tín vào điều chân thật một cách chắc chắn. Ngày của Chúa xóa tan hết những u mê tâm trí, Đấng làm cho con người sáng suốt nhận ra Người hiện diện “Ngài quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng.” (Tv 36, 10)

    Thánh Gioan giới thiệu về ánh sáng ban sự sống “ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” (Ga 1, 4). Sự sáng Chúa Giê su nói chính là Ngài, bao lâu còn sống trên dương gian này còn cần đến ánh sáng và cũng là đón nhận chính Ngài: “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” (Ga 9, 4 -5)

    Ánh sáng và bóng tối, hướng theo chủ đề luân lý, là con cái sự sáng và bóng tối luôn chen lẫn vào, nếu thiếu hay không có ánh sáng. Một thế gian luôn thù nghịch với Thiên Chúa, nên khi có Chúa ở cùng bóng tối thế gian không thể làm gì được, “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8, 12)

    Ánh sáng muôn ngàn đời là chính Chúa sẽ trị vì. Là con cái sự sáng hãy tỉnh thức và cầu nguyện để chính Chúa luôn là ánh sáng soi đường dẫn đến sự sống. Ngày của Con Người sẽ đến và những người theo ánh sáng của Chúa sẽ cùng theo Người vào tham dự vào sự sống đời đời.

    Về mục lục

    .

    NƯỚC CHÚA

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Dụ ngôn Nước Chúa kể rằng:
    Người gieo giống tốt, ruộng bằng phì nhiêu.
    Chăm nom săn sóc sáng chiều,
    Trong khi đêm ngủ, ra chiêu phá vùng.
    Kẻ thù gieo vãi cỏ lùng,
    Chen vào phá hoại, rục tùng phí công.
    Cỏ lùng giữa lúa mênh mông,
    Lúa thơm kết hạt, trổ bông cỏ lùng.
    Bằng lòng đầy tớ đi cùng,
    Ra đồng nhổ cỏ, đem nung đốt lò.
    Chủ rằng đợi đó đừng lo,
    Tới mùa thợ gặt, thu kho lúa vàng.
    Cỏ lùng gom lại bó ngang,
    Đốt đi từng bó, dễ dàng hủy tiêu.
    Con người tốt xấu bao nhiêu,
    Tới ngày phán xét, thiên triều thẳng ngay.

    Nước Trời dưới thế bao gồm cả người tốt lẫn kẻ xấu. Mọi người cùng chung sống với nhau. Giống như cỏ lùng được gieo vào giữa ruộng lúa. Cả hai cứ tiếp tục mọc lên cho đến khi sinh bông hạt. Tới mùa thu hoạch, ông chủ sẽ thu góp cỏ lùng lại và đem đốt đi. Hình ảnh Nước Trời nơi trần gian cũng tương tự như thế. Nước Trời còn gọi là Hội Thánh, không phải tất cả mọi người trong Hội là thánh cả đâu. Chúng ta tuyên xưng Giáo Hội thánh thiện là vì có Chúa Kitô là đầu nhiệm thể, Ngài chính là Đấng Thánh.

    Chúa mời gọi mọi người gia nhập vào Nước Chúa. Nước Chúa bao gồm cả người thánh thiện lẫn các tội nhân. Cuộc lữ hành trần thế là một cuộc tôi luyện. Không ai sinh ra đã là thánh. Chúng ta phải trở nên thánh mỗi ngày. Chúa ban đủ ơn và tạo điều kiện cho mỗi người được nên tốt lành và thánh thiện. Chúa không ép buộc nhưng Chúa mời gọi chúng ta hãy nên trọn lành như Cha chúng ta ở trên trời.

    Truyện kể có một ông chủ giầu có đến thăm một làng quê nghèo. Ông muốn chia xẻ tài sản cho người nghèo để giúp họ có vốn làm ăn. Nhiều người nghe thế, vội vã đến xin giúp đỡ. Họ nghĩ ông chủ qúa tốt bụng và độ lượng. Nhưng có một số người khác tính toán kỹ hơn tự hỏi: Tại sao ông ta rộng lượng như thế? Chắc ông ta có ý đồ lợi dụng điều gì đây? Họ đã chối từ sự giúp đỡ. Ông chủ ra đi, những người nhận phần vốn đã sinh hoa lợi và làm lại cuộc đời. Còn những người cố hữu trong tư tưởng nghi ngờ. Họ vẫn chịu cảnh nghèo nàn và vất vả hằng ngày.

    Chúa là Cha nhân hậu và quảng đại vô cùng. Chúa đã trao ban cho chúng ta biết bao hồng ân. Chúng ta được sinh ra làm người và rồi được sinh lại làm con của Chúa. Chúng ta được gia nhập vào Nước Chúa và có quyền làm con Chúa. Chúa trao ban cho chúng ta có khả năng, có trí khôn và có linh hồn. Chúng ta phải làm gì để đáp lại lòng yêu thương vô bờ của Chúa. Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta nghĩ rằng tất cả những gì chúng ta có, đều là do công lao khó nhọc của chúng ta.

    Nước Trời như hạt giống gieo xuống sinh nhiều hoa trái. Hạt giống mà chúng ta đã lãnh nhận cho dù có nhỏ bé đều là ân sủng được trao ban. Không có gì nhưng không hay tự nhiên mà có. Tất cả đều là hồng ân của Chúa. Chúng ta đã nhận lãnh hạt giống ân sủng, chúng ta có bổn phận làm sinh hoa kết trái yêu thương.

    Về mục lục

    .

    LÀM CHỨNG CHO CHÚA

    Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Trang Tin mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu báo cho các môn đệ biết trước tương lai các ông sẽ bị các vua chúa quan quyền bắt bớ, đánh đập, hành hạ sỉ nhục. Thế nhưng, tất cả những đau khổ đó Đức Giêsu sẽ trải qua trước. Chẳng hạn như Chúa nói: “Các con hãy coi chừng người đời, họ sẽ bắt nộp các con cho các hội đồng, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ” (Mt 10, 17).

    Người Do thái đã bắt nộp Đức Giêsu cho hội đồng, người đứng đầu hội đồng là thượng tế Caipha năm ấy. Ông đã nói một câu ám chỉ về cái chết của Đức Giêsu: “Thà một người chết thay cho dân được nhờ”. Sau đó, họ điệu Đức Giêsu đến quan Philatô xét xử, quan trao cho lý hình đánh đập Đức Giêsu tả tơi đến nổi chẳng còn hình tượng người ta nữa.

    Tiếp đến: “Các con sẽ bị điệu ra trước mặt vua Chúa quan quyền để làm chứng cho họ….” (Mt 10, 18). Đức Giêsu đã bị các thượng tế điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Trước mặt quan Philatô, Ngài đã làm chứng: “Tôi là vua, Tôi đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe Tôi” (Ga 18,37).

    Rồi Chúa nói tiếp: “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh…..vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đổ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ” (Mt 10, 21-22).

    Chính Đức Giêsu đã  bị Giuđa dùng nụ hôn là dấu chỉ của tình yêu, trở thành nụ hôn phản bội, nộp Thầy mình với giá 30 đồng bạc. Cho nên, khi chúng ta nhìn vào cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta mới biết thế nào là tử đạo.

    Anh chị em thân mến,

    Theo sử liệu để lại, thì Giáo Hội Việt Nam có khoảng 130.000 tín hữu can đảm đổ máu ra làm chứng cho Chúa Kitô trên quê hương đất nước chúng ta. Trong số đó có 118 vị đã được thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh ngày 19/6/1988, mà năm nay, Giáo hội Việt nam mừng năm thánh tròn 30 năm.

    Thế thì, do động lực nào mà các vị tử đạo dám đổ máu mình ra như thế?. Thưa, chính là tình yêu. Tình yêu này khởi đi từ Đức Kitô, khi Ngài nói: “Các con hãy yêu thương kẻ thù, hãy cầu nguyện cho những kẻ làm hại mình, hãy tha thứ cho những kẻ bắt bớ mình, và chúc phúc cho những kẻ làm khổ mình” (Mt 6,44).

    Tình yêu ấy được thể hiện khi Đức Giêsu cầu nguyện trên cây thánh giá “Lạy Cha, xin Cha cho họ vì họ lầm chẳng biết” (Lc 23,34). Có thể nói đây là lời cầu nguyện hay nhất, khi Đức Giêsu nói lời tha thứ cho những kẻ hành hạ mình cho đến chết.

    Noi theo gương Đức Kitô, các vị tử đạo đã sẵn sàng tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình. Nhờ Chúa ban ơn trợ giúp, những con người vốn mỏng dòn yếu đuối đã trở nên can đảm phi thường. Chính khi các ngài chịu trăm bề đau khổ, các ngài làm chứng cho đạo Chúa là đạo của tình thương và tha thứ.

    Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, đến nổi đã hiến ban Con Một của Ngài cho thế gian. Ngay cả khi thế gian loại trừ Con của mình, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương. Cả khi thế gian đóng đinh người Con của mình vào cây thập giá, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ.

    Để làm chứng cho đạo yêu thương, nên các vị tử đạo đã yêu thương dân tộc Việt nam hơn ai hết. Các Ngài xác tín rằng: nhờ Tin mừng của Chúa mà đất nước này được tốt đẹp hơn. Tình Chúa tình người ắp đầy bình an hạnh phúc. Và vì thế, các ngài đã chấp nhận hiến dâng mạng sống không chỉ vì lòng yêu mến Đức Kitô mà cả vì lòng yêu mến quê hương đất nước này nữa. Cho nên, dù vua Chúa quan quyền có hành hạ các ngài cho đến chết, các Ngài vẫn một lòng yêu thương tha thứ.

    Thật vậy, chỉ vì tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian treo trên thánh giá, mà thánh Matthêu Gẫm can đảm không bước qua Thánh giá. Ngài trả lời với ông quan tỉnh rằng: “Thánh giá tôi tôn thờ, tôi giẫm lên sao được?”.

    Chỉ vì tin có sự sống lại ở đời sau, tin có hạnh phúc Nước trời, mà thánh Mỹ vui lòng chịu trăm bề đau khổ, để bước theo chân Chúa đến cùng. Ngài nói với quan tổng đốc rằng: “Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ đạo này bao giờ”.

    Ngày nay, Giáo Hội cần có những người dám sống, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời. Cuộc sống làm chứng cho Chúa ngày nay là một hình thức tử đạo tuy không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống, nhưng đòi chúng ta làm chứng cho Chúa về đạo yêu thương của mình.

     Cuộc sống tử đạo ngày nay không vua chúa quan quyền nào bắt bớ hành hạ chúng ta cho đến chết, nhưng đòi chúng ta biết can đảm chết đi cho những đam mê tật xấu. Và vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta sẵn sàng bao dung, tha thứ và cầu chuyện cho những người xúc phạm đến chúng ta.

    Anh chị em thân mến,

    Giáo hội Việt nam tưới thắm không biết bao nhiêu máu của các thánh tử đạo, đó là các bậc tiền nhân đi trước chúng ta. Các ngài đã dầy công vun xới để cho hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước, mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng.

    Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta chung lời tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội có những hạt giống đức tin, được gieo vãi trên quê hương Việt Nam. Tạ ơn Chúa, vì đức tin chúng ta được lớn lên trong dòng máu tử đạo của các chứng nhân tình thương.

    Chúng ta hết lòng ngưỡng mộ, vì các Ngài đã anh dũng trong đức tin, kiên trì trong đức cậy và bền đỗ trong đức mến dưới bất cứ hình khổ nào.

    Khi cử hành lễ các thánh tử đạo Việt nam, là cơ hội chúng ta nhớ về quá khứ để tỏ lòng tri ân, vì cha ông tổ tiên để lại cho chúng ta một gia sản cao quí đó là đức tin vững mạnh vào Chúa.

    Đồng thời, mừng lễ hôm nay, hướng về tương lai, noi gương các thánh tử đạo, chúng ta tiếp tục sống làm chứng cho Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương, vui lòng đón nhận những đau khổ dưới bất cứ hình thức nào, để danh Chúa được rạng rỡ vinh quang.

    Ước gì ngọn lửa đức tin mà các bậc tiền nhân đã thắp lên bằng cái chết đẫm máu, để làm chứng cho Chúa, sẽ được bừng sáng lên mãi trên tổ quốc Việt Nam thân yêu này. Nhờ đó làm cho công cuộc loan báo Tin mừng sinh nhiều hoa trái hơn nữa. Amen

    Về mục lục

    .

    KHỦNG HOẢNG

    Trầm Thiên Thu

    Đời thế tạm sẽ vào hồi kết thúc

    Cõi trường sinh rồi đến lúc khởi đầu

    Đời sống xã hội luôn có nhiều dạng khủng hoảng: kinh tế, văn hóa, xã hội, tài chính, chính trị, tâm lý, hôn nhân, gia đình,… Lĩnh vực nào cũng có thể bị khủng hoảng – kể cả tôn giáo.

    Nhưng có một dạng khủng hoảng đáng quan ngại nhất liên quan thời gian: Tận Thế. Thời gian vừa chậm vừa nhanh, tùy cảm xúc mỗi người, nhưng người ta vẫn cảm thấy “thời gian thấm thoát”. Thật vậy, mới ngày nào bắt đầu một năm mà nay đã vào cuối năm – cả năm đời và năm phụng vụ. Thời gian vào giai đoạn cuối. Thời điểm cuối gợi nhiều suy tư. Có nhiều cái cuối, đặc biệt nhất là cuối đời và cuối thời – Công giáo gọi là Thời Cánh Chung. Chúng ta đang ở trong thời này.

    Có lẽ hai từ “tận thế” chẳng ai muốn nhắc tới hoặc nghe người khác đề cập, bởi vì nó khiến người ta e ngại hoặc không vui. Tuy nhiên, tận thế chắc chắn vẫn sẽ đến – có thể là niềm mong chờ của người này, nhưng có thể lại là nỗi sợ hãi của người khác. Sự thật đúng là phũ phàng quá!

    Nhưng sự thật mãi mãi là sự thật, bởi vì Thiên Chúa là Sự Thật. Thời gian là của Chúa, nhưng Ngài ban cho mỗi người được quyền quản lý quỹ thời gian riêng mình. Ngôn sứ Daniel nói: “Thời đó, Micael sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là THỜI NGẶT NGHÈO CHƯA TỪNG THẤY, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ thoát nạn, nghĩa là tất cả những ai ĐƯỢC GHI TÊN trong cuốn sách của Thiên Chúa” (Ðn 12:1a). Đó là những lời tiên báo về ngày tận cùng của thế gian, đặc biệt ông cho biết đó là “thời ngặt nghèo nhất”, chắc chắn rất đáng quan ngại, thậm chí là sợ hãi, nhưng lại không hề đáng sợ đối với những người thuộc về Thiên Chúa, vì họ có tên trong sách của Chúa – nghĩa là họ sẽ được tai qua nạn khỏi.

    Có thể vẫn có gì đó khó hiểu đối với một số người, thế nên ngôn sứ Daniel đã giải thích: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy”. Những người “an nghỉ trong bụi đất” là những người chết, vậy mà họ “trỗi dậy” – tức là hồi sinh, sống lại. Rõ ràng đó là ngày tận thế, ngày chung thẩm. Nhưng số phận mỗi người lại không giống nhau: “Người thì để HƯỞNG phúc trường sinh, kẻ thì để CHỊU ô nhục và BỊ ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Ðn 12:1b-2). Cùng một ngày, cùng được sống lại, nhưng có kẻ thấy hốt hoảng sợ hãi và có người thấy vui mừng hớn hở.

    Như đại diện những người thuộc về Chúa, Thánh Vịnh gia thân thưa: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ” (Tv 16:5). Tất cả đều là của Chúa, nhưng Ngài trao quyền quản lý cho chúng ta. Nếu nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta hoàn toàn an tâm: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16:8-9). Ôi, thế thì hạnh phúc biết bao!

    Cái gì cũng có hệ lụy tất yếu, có kết quả thì ắt có nguyên nhân, có kết thúc ắt có khởi đầu, có sau thì phải có trước, có cuối thì cũng phải có đầu. Về nguyên nhân, Thánh Vịnh gia xác định: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16:10), đồng thời hoàn toàn khiêm nhường và tín thác vào Chúa: “Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:11). Chắc hẳn phàm nhân không đủ ngôn từ để diễn tả niềm hoan lạc được cận kề bên Thiên Chúa – Đấng là Đầu và là Cuối (Kh 1:17), là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 22:13).

    Nói về việc tế lễ, phụng vụ, Thánh Phaolô cho biết: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10:11). Tế lễ là bổn phận và trách nhiệm hằng ngày của các tư tế, không chỉ dâng lễ đền tội cho mình mà còn dâng thay người khác, nhưng dù dâng bao nhiêu lần vẫn không bao giờ đủ mức độ hoàn hảo. Nhưng có một tư tế chỉ cần dâng một lần cũng đủ, đó là Đức Kitô: “Sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Ngài đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời” (Dt 10:12). Chính Ngài và chỉ có Ngài là Đấng cứu độ nhân loại.

    Thật vậy, bởi vì Đức Kitô là Thiên Chúa, là Thượng tế, là Đấng cao cả hơn mọi loài: “Từ khi đó, Ngài chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân” (Dt 10:13), và “Ngài chỉ dâng hiến lễ MỘT LẦN, mà VĨNH VIỄN làm cho những kẻ Ngài đã thánh hoá được NÊN HOÀN HẢO” (Dt 10:14). Dù là ai và là gì thì tất cả chúng ta vẫn chỉ là những tội nhân, không hơn không kém. Nhưng chúng ta diễm phúc được cứu độ, chiếc áo tội lỗi của chúng ta được “giặt sạch” bằng chính Bửu Huyết của Đức Kitô. Thánh Phaolô vừa giải thích vừa kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì đâu cần lễ đền tội nữa” (Dt 10:18).

    Có mở thì cũng có kết, có khai sinh thì cũng có khai tử, có thuở tạo thiên lập địa thì cũng có lúc niên tận thế cùng. Đề cập ngày Con Người quang lâm, Chúa Giêsu cho biết các dấu chỉ: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13:24-25). Thế là giờ G đã đến. Đó là lúc “thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13:26). Và cũng chính lúc đó, “Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13:27). Thật lạ, ai cũng phải trình diện, Satan cũng chẳng thoát, điều này đã được thông báo từ ngàn xưa: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa” (Gióp 2:1).

    Nếu chú ý, chúng ta có thể đoán biết điều gì xảy ra khi thấy những sự việc tiếp diễn hằng ngày. Ngày tận thế cũng có những dấu chỉ khả dĩ nhận biết, Đức Kitô dùng hình ảnh thực tế hơn để mọi người đều có thể hiểu: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mc 13:28-29). Cuối cùng, Ngài quả quyết: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13:30-31). Tức là rất chắc chắn xảy ra ngày tận thế, không hề là chuyện đùa hoặc bịa đặt chi cả!

    Thế nhưng hình như loài người vẫn bán tín bán nghi. Bằng chứng là đã từng có nhiều tin đồn về ngày nọ hay tháng kia là thời điểm tận thế, về chuyện “tối ba ngày, ba đêm”,… Vì vậy, người ta lo tích lũy vật chất (nến, dầu, mì gói,…) để “đối phó”. Chao ôi! Thật là ấu trĩ, nhảm nhí và dị đoan, chứng tỏ họ chẳng biết hoặc chẳng tin điều Chúa Giêsu đã nói. Mơ hồ hay cứng lòng? Chính Chúa Giêsu đã nghiêm túc minh định: “Về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, CHỈ CÓ CHÚA CHA BIẾT MÀ THÔI” (Mc 13:32). Tỉnh cơn mộng ảo đi, đừng ngủ gà ngủ gật nữa!

    Tại sao người ta vẫn bịa đặt và phát tán những tin đồn nhảm nhí? Càng tệ hại hơn là vẫn có những người nhẹ dạ cả tin khi nghe những lời “tiên tri dỏm” ấy. Chúa Giêsu còn chưa biết thì làm sao những con người phàm phu tục tử đầy tội lỗi như chúng ta lại biết trước? Không lo sống tốt mà cứ lo chuyện nhảm hết trên trời lại dưới đất là sao? Quá vô lý vì đức tin ấu trĩ và không thèm tin lời Chúa nói. Khôn hay Khốn?

    Về Ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu, Cựu Ước và Tân Ước nói giống nhau:

    1. MẶT TRỜI SẼ TRỞ NÊN TỐI TĂM, MẶT TRĂNG HOÁ THÀNH MÁU, trước khi NGÀY của ĐỨC CHÚA xuất hiện, ngày vĩ đại, kinh hoàng. (Ge 3:31)
    2. Ngay sau những ngày gian nan ấy, MẶT TRỜI SẼ RA TỐI TĂM, MẶT TRĂNG KHÔNG CÒN CHIẾU SÁNG, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia. (Mt 24:29-31; Mc 13:24-27; Lc 21:25-28)

    Rất rõ ràng, rất rạch ròi. Nhưng có những “cái không” rất cần lưu ý: KHÔNG tin nhảm nhí, KHÔNG dị đoan, KHÔNG mê tín, KHÔNG nghe những kẻ bịa chuyện, có thể họ chỉ là những kẻ phá đạo, là tay sai của ma quỷ, chứ họ chẳng “đạo đức” gì đâu. ĐỪNG nhẹ dạ cả tin kẻo đức tin bị rung rinh, lung lay, thậm chí còn có thể bị “bật gốc” luôn đấy!

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con chuyên cần tìm hiểu và vững tin vào Lời Chúa, hoàn toàn tín thác vào Con Chúa để có thể đứng vững cho đến lúc Đức Kitô tái lâm. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, và đừng để chúng con bị khủng hoảng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHUẨN BỊ NGÀY CHÚA ĐẾN

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Tôi còn nhớ vào năm 1994 cha quản xứ của tôi đọc một bài báo nói về ngày tận thế vào ngày 5/5 năm đó, và sẽ có tối 3 ngày 3 đêm, nên cha kêu gọi mọi người phải mua đủ nến và mang đến nhà thờ để cha làm phép. Nhưng đợi đến ngày đó, không có gì xảy ra.

    Sau đó, có tin đồn tận thế sẽ xảy ra vào năm 2000, nhưng cũng không xảy ra. Gần đây, một tờ báo cho rằng ngày tận thế được xác định theo lịch của người Maya rơi vào ngày 15/5/2015. Những lời đồn đoán này đã gây hoang mang cho biết bao người. Ở Brazil, cảnh sát phải đối phó với nguy cơ tự tử tập thể khi chờ ngày tận thế. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở tin đồn.

    Sự kiện này cho thấy rằng con người thời nào cũng muốn biết những gì sẽ xảy ra tương lai: Có ngày tận thế không? Số phận của chúng ta sẽ ra sao trong và sau ngày đó? Chúng ta tìm được câu trả lời cho những vấn nạn đó từ phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

    1. Thế giới và thế hệ này sẽ qua đi

    Trước hết, Lời Chúa hôm nay mạc khải cho chúng ta biết rằng: thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Thế giới này không vĩnh cữu qua sự quả quyết của Chúa Giêsu: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13,30). Đồng thời Chúa Giêsu loan báo về ngày quang lâm của Người. “Ngày quang lâm” trong tiếng Hy lạp là parusia. Có nghĩa là sự trở lại trần gian lần thứ hai của Chúa Giêsu vào ngày thế mạt.

    Nếu lần thứ nhất Chúa Kitô đến với nhân loại trong sự khiêm tốn và thấp hèn của người tôi tớ, thì lần thứ hai Chúa ngự đến trong vinh quang và quyền năng của vị thẩm phán. Người là vị thẩm phán chí công đến để xét xử nhân loại. Người sẽ xét xử chúng ta dựa trên công lý và tình yêu, theo những gì mà chúng ta đã sống trên thế gian.

    Bấy giờ số phận của những người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời, sẽ được chiếu tỏa như những vị sao. Còn những người tội lỗi thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (x. Đn 12,3).

    Vì thế, “ngày quang lâm” sẽ trở thành ngày của sợ hãi, thất vọng đối với những người tội lỗi vì án phạt đời đời. Nhưng đó là ngày của hy vọng và cứu độ đối với những người công chính; ngày Thiên Chúa hoàn tất cách viên mãn chương trình cứu độ con người; đó là “trời mới đất mới” (Kh 21:1), thời đại của công lý, hạnh phúc và tình yêu ngự trị mãi mãi (x. 2 Cr 5,17).

    2. Thời gian và những dấu chỉ cánh chung

    Như thế, điều chắc chắn là thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Nhưng xảy ra lúc nào? Tin Mừng hôm nay khẳng định: “Về ngày giờ đó thì không ai biết được ngay cả Thiên sứ trên trời, và Người Con cũng không thể biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32). Thánh Augustinô còn xác quyết: “Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha”.

    Tuy nhiên, trong Tin Mừng Máccô, Chúa Giêsu loan báo về những dấu chỉ xảy ra để báo trước về ngày đó: 1) Những ngôn sứ giả, những Mêsia giả sẽ phỉnh gạt nhiều người (Mc 13,5-6); 2) Những cuộc bách hại chống lại các môn đệ của Đức Giêsu (Mc 13,9-13); 3) Những tai ương, chiến tranh, động đất, đói kém và những hiện tượng lạ lùng xảy ra (Mc 13,7-8).

    Trong khi đó, Tin Mừng Mátthêu chương 24 cho biết thêm 4 dấu chỉ của ngày tận thế, đó là: 1) Tin Mừng về Nước Thiên Chúa được loan báo cho hết mọi người (Mt 24,14); 2) Xuất hiện những tiên tri giả và phản Kitô; 3) Người Do thái trở lại tin nhận Chúa Kitô. 4) Thiên tai xảy ra. Đó là những dấu chỉ tiên báo về ngày thế mạt.

    3. Thái độ của chúng ta hôm nay

    Như vậy, Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu biết về biến cố cánh chung và ý nghĩa của ngày quang lâm để chúng ta khi sống trong hiện tại nhưng luôn hướng về tương lai, luôn nhớ đến sự phán xét chung, và phần thưởng cũng như hình phạt đời đời cho mỗi người.

    Trước sự chắc chắn và bất ngờ của cái chết, của việc Chúa quang lâm, chúng ta được mời gọi phải tỉnh thức và sẵn sàng: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44; Lc 12,40). Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng ấy phải được thể hiện một cách thực tế bằng một đời sống phục vụ và yêu thương tha nhân. Bởi lẽ, vào ngày xế chiều, Thiên Chúa sẽ phát xét chúng ta dựa vào lòng bác ái của chúng ta đối với tha nhân (x. Mt 25,31-46).

    Xin Chúa thức tỉnh tâm hồn chúng ta, để mỗi người biết cải biến mỗi ngày, nhận ra Chúa nơi những dấu chỉ thời đại và nơi anh chị em. Nhờ đó, khi ngày của Chúa đến, chúng con vẫn luôn bình an và hy vọng, vì biết rằng Người sẽ mang lại những gì tốt lành cho những ai yêu mến và phó thác nơi Người. Amen!

    Về mục lục

    .

    HIỆN THỰC

    Lm Vũdình Tường

    Mừng lễ kính Đức Kitô xuống thế lần thứ hai nhắc nhở cho Kitô hữu nhớ món quà hằng sống Đức Kitô hứa ban cho những ai trung tín trong đức tin. Món quà hiện thực này Đức Kitô hứa ban khi Kitô hữu hoàn thành viên mãn cuộc lữ hành trần thế. Hoàn thành viên mãn khi Kitô hữu sống trung thành với đức tin, giữ trọn lời hứa khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Món quà hằng sống có được không phải do sự khôn ngoan hay cố gắng của con người mà chính là kết quả của đời sống yêu Thiên Chúa, mến tha nhân và thiết tha với lời Đức Kitô giảng dậy. Thánh Mark cho biết món quà hằng sống được trao ban nhưng khi nào được lãnh nhận là điều không ai biết. Bởi không biết ngày giờ được trao ban nên Kitô hữu cần chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đón nhận. Thái độ đón nhận rất khác nhau nơi tâm hồn con người. Có người chuẩn bị hàng ngày đợi đến khi gọi thì đáp lại ngay. Kẻ khác thì lơ là, lúc sốt sắng, lúc thờ ơ. Họ cần thay đổi lối sống, thái độ sống đón nhận Lời Chúa với tất cả tâm tình, nếu không sẽ gặp rắc rối khi giờ chết ập đến. Kẻ khác đã không đón nhận còn chối bỏ món quà hằng sống. Bởi từ chối đón nhận quà hằng sống nên khi thời gian đến họ sống trong kinh hoàng, sợ hãi. Từ chối tin vào lời Đức Kitô khi gặp khốn khó không có nơi nương tựa, đau khổ. Khi biết sự khôn ngoan của con người bị giới hạn, con người không thể giúp hơn được nữa, lúc đó họ không còn lối thoát và sợ hãi xâm chiếm tâm hồn họ, đau khổ đè nén tâm can họ. Thất vọng ào tới tấn công tinh thần. Đau khổ, bất hạnh ào đến tứ phía. Họ phải trả giá rất đắt cho việc từ chối niềm tin. Tin vào Đức Kitô mất rất ít, lợi rất nhiều. Mất vì phải từ bỏ í riêng, mất vì phải tiêu diệt cái tôi. Lợi đầu tiên và quan trọng nhất chính là ơn cứu độ. Khi giờ chết đến có nơi nương tựa, không phải ra đi trong cô đơn nhưng có Đức Kitô đồng hành đó là điều lợi thứ hai. Đến giờ phán xét tránh được sợ hãi ngàn trùng vì có Chúa ở cùng ta, ai hãm hại được. Đó là điều lợi thứ ba. Được mọi người yêu mến khi còn sống đó là điều lợi thứ tư. Hàng năm có cả tháng cầu nguyện cho các linh hồn đó là điều lợi thứ năm. Quan trọng hơn cả là không phải sống mồ côi nhưng có Thiên Chúa là Cha hằng sống, yêu thương, bao bọc.

    Bởi không biết ngày giờ phán xét nên Kitô hữu sống tinh thần chuẩn bị đón chào ngày Chúa đến và sống trong hy vọng. Đức Kitô còn cho biết trước khi ngày Chúa xuất hiện sẽ có dấu chỉ, làm rung chuyển tấm lòng con người và cả vũ trụ rên xiết. Cùng dấu chỉ nhưng điều đó gây kinh hoàng cho người không có niềm tin, cũng dấu chỉ đó lại mang lại an ủi, niềm hy vọng cho Kitô hữu vì họ nhận biết ngày giờ Đức Kitô đến đón họ vào thiên quốc. Sợ hãi, kinh hoàng thường đi chung với thần dữ vì thế có thể coi đây là sự vùng vẫy cuối cùng của thần dữ trước khi chúng buông tay đầu hàng để chui vào ngục tối của chúng. Đức Kitô sai thiên thần đón nhận kẻ trung tín trong đức tin và chân thành trong bác ái. Sợ hãi, lo lắng biến mất và Kitô hữu sống trong hào quang chiến thắng huy hoàng của Đức Kitô. Thánh Mark nhắc nhở chúng ta mỗi ngày luôn nhớ đến ơn hằng sống và coi đó là ưu tiên hàng đầu trong ngày. Kitô hữu sống trong hiện tại nhưng hướng về tương lai bởi món quà hằng sống được trao ban nhưng chưa lãnh nhận.

    Kitô hữu tin vào sự chết thân xác và sự chết tâm linh. Người ta không thể chứng minh được tình yêu nhưng nhìn vào kết quả tình cảm con người dành cho nhau để nhận biết tình yêu. Qua hành động bác ái, yêu thương và sự hiện hữu của chính mình mà ta nhận biết tình yêu Chúa. Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa tạo dựng nên ta và cuối đời ta thuộc về Chúa bởi Ngài hứa không bỏ chúng ta mồ côi. Kẻ không tin vào Thiên Chúa không có câu trả lời đích thực về đời người. Với họ chết là hết, ngay cả câu trả lời này họ cũng bán tín, bán nghi, không hoàn toàn tin là sự thật.

    Về mục lục

    .

    NGÀY GIỜ CHÚA ĐẾN ĐÃ GẦN KỀ

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

          Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy thì mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển.  Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi và sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển  chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.

          Anh em hãy coi cây vả mà tìm hiểu. Khi cành nó trổ lá thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi những điều đó xẩy ra anh em biết là Người đã đến gần, ngay tại cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: Thế hệ này sẽ chẳng qua đi trước khi mọi điều ấy xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đi đâu.

         Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hoặc người Con. Chỉ có Thiên Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13:24-32).

                                                                                      ***

    Câu chuyện trên lấy từ chương 13 Tin Mừng Marco (Mc 13: 24-32) là chương khó nhất và được coi là một tiên đoán về ngày tận thế.

          Chương này còn gọi là “Tiểu Khải Huyền”.  Như Daniel 7-12 và sách Khải Huyền, trọng điểm của chương này là một thế giới bị truy nã. Chúng ta nên để ý đến ý nghĩa của câu chuyện, không phải thời gian câu chuyện xẩy ra.

          Chúa Giesu tiên đoán đền thờ bị phá hủy (Mc 13:2) đã gây hoang mang khiến 4 môn đệ Phero, Giacobe, Gioan và Anre coi là chuyện riêng của Người với thời gian và dấu chỉ cho biết những chuyện xẩy ra vào ngày tận cùng (Mc 13:3-4). Để cho rõ ràng, Chúa đã giảng cho các ông một bài về thời cánh chung trước khi Chúa chịu chết. Đây là những chỉ dẫn, khuyên bảo các ông và Giáo Hội phải tin tưởng và vâng lời khi bị xã hội, người đời kết án, mang ra tòa buộc tội, vu oan và hành hạ. Anh em đừng sợ phải nói gì, làm gì. Chúa Thánh Thần sẽ an ủi và nói thay cho anh em (Mc 13:5-13).

           Dấu chỉ là sự xuất hiện những ghê tởm khốc hại của quyền lực La Mã đã xúc phạm đền thánh (Mc 13:14; Dn 9:27). Những biến động đó ở Jerusalem khiến chúng ta tin và hy vong vào Chúa hơn là nghe theo những tiên tri giả để bảo vệ thị trấn (Mc 13:14-23). Thiên Chúa chỉ can thiệp sau khi mọi hủy hoại (Mc 13:24-27) xẩy ra trước ngày tận cùng của thế hệ Kito giáo đầu tiên (Mc 13:28-31).

          Không ai ngoài Cha Ta biết chắc ngày đó (Mc 13:32), cho nên phải tỉnh thức (Mc 13:33-37). Luca cho thấy ngày đó sẽ xẩy ra cho đến “thời tận cùng của dân ngoại” (Lc 21:24). Coi thêm Mathieu 24:1-25,46.

    CON NGƯỜI

          Bài Tin Mừng hôm này dựa vào hai thực tế: Chính chúa Giesu sẽ hoàn thành những lời trong Cựu Ước nói về ngày tận cùng và các môn đệ không lo lắng để ý đến ngày giờ chính xác chúa Giesu giáng lâm lần thứ hai. Câu 26 cho biết chúa Giesu từ trời xuống trong uy quyền vinh quang.

          Giống như Con Người trong Daniel, chúa Giesu trong Marco sẽ trở lại và tụ họp những người được Chúa chọn “từ bốn phương, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”(Mc 13:27).Chúa đã không vẽ ra một tương lại sáng ngời cho các môn đệ. Người nói về thời đại lúc bấy giờ, lúc những độc giả đầu tiên của Marco sống và chính chúng ta hiện nay. Chúa nói trước về chiến tranh, động đất, đói kém… ám chỉ “ khởi đầu của những tiếng nổ tan tành, pangs”: những biến cố dấu chỉ đau khổ gần kề của thời đại mới sẽ bùng nổ mà quyền lực cổ xưa đã phấn đấu để nó không xẩy ra.

          Chúa Giesu diễn tả cho những người lúc bấy giờ tất cả mọi sự mà chúng ta ngày nay cũng hoảng sợ: nào là chiến tranh tàn phá, truy nã, chết chóc, nào là đau khổ khốn cùng…Chúa dùng những tiên đoán đó làm nền tảng cho hy vọng của chúng ta. Chúa khuyến khích chúng ta cậy trông vào Người! Thiết nghĩ tất cả  Kito hữu chúng ta đều cảm thấy an lòng vì Lời Chúa nói: “Khi thấy những điều đó xẩy ra, anh em biết là Người đã đến gần, ở ngay trước ngưỡng cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi những điều đó xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời thầy sẽ chẳng qua đi đâu.” (Mc 13:29-31)

    NHỮNG THỬ THÁCH THỜI CÁNH CHUNG

           Những thử thách thời cánh chung sẽ ở nhiều dạng thức. Trước tiên là phản bội. Chúa Giesu đã bị “bội phản”, bị “nộp” cho kẻ thù, kẻ tội lỗi để thử thách. Những người đọc Marco sẽ bị phản bội, bị giải giao cho công tố viên, bị đánh đập trong nhà hội rồi bị gọi ra tòa làm chứng trước các vua quan. Họ sẽ bị bội phản và bị kêt án tử hình không phải do kẻ thù mà do chính cha mẹ, con cái, anh em họ hàng và bạn bè!

          Thứ đến, những Kito giả, tiên tri giả sẽ xuất hiện để “lừa phỉnh, khiến người ta đi lạc đường” Chúng hứa hẹn sẽ giải phóng, biểu diễn nhiều trò ảo thuật làm mờ mắt mọi người để họ không còn tin vào Chúa Giesu nữa.

          Thứ ba, những thử thách hoặc cám dỗ sẽ xẩy ra cả với những người đang vui hưởng cảnh hòa bình tương đối và vững bền. Chúa Giesu nói về loại thử thách sau cùng này trong câu chuyện dụ ngôn kết thúc chương 13 của Marco nói về một người đi du hành xa nhà, trao cho gia nhân coi sóc mọi sự, dặn phải “tỉnh thức trông nom”. Gia nhân đã gặp nguy khốn vì ngủ quên. Còn trong Mathieu (Mt 13:22) thì chúng bị cảnh giàu sang làm mờ mắt và thế gian dụ dỗ, đã ước mơ những điều mà Chúa Giesu đã cảnh cáo không được làm như trường hợp hạt giống  rơi vào bụi gai có mọc mầm đấy nhưng bị nghẹt thở không phát triển được.

          Tin Mừng Marco cho biết chúng ta là những kẻ theo Chúa Giesu sẽ bị thử thách. Thử thách bởi đau khổ, tai ương hoặc bởi danh-quyền-lợi cám dỗ dẫn đi lầm đường lạc lối. Ho bị thử thách bởi những mơ ước, ham muốn xác thịt, danh, quyền, tiền. Bất cứ hình thức cám dỗ nào Marco đều nhắc nhở chúng ta phải cẩn thận, tỉnh thức và cầu nguyện, vì nếu không, chúng ta sẽ sa ngã, không sẵn sàng đủ để đón chào ông chủ, Thầy chúng ta, và không thể tự biện hộ trước mặt Chúa ngày Chúa đến.

         Khi bị thử thách thì đừng sợ, vì chúa Giesu đã thay đổi trắc nghiệm hoàn toàn. Sức chịu đựng của chúa Giesu rất bền bỉ, chúa đã tự hiến làm của lễ hy sinh toàn hảo cho Thiên Chúa, do đó việc tế lễ trong đền thờ Jerusalem bị hủy bỏ. Từ bấy giờ về sau những “của lễ” thích hợp của những người công chính sẽ là những lời cầu nguyện của những cộng đồng tín hữu khi họ tụ họp lại với nhau, không phải là những của lễ dâng trong đền thánh như hồi xưa nữa. Chính của lễ hy sinh của chúa Giesu đã đủ để hòa giải mọi tội lỗi của loài người. Vì vậy, những ai theo chúa Giesu thì được “cứu thoát” khỏi hình phạt của Thiên Chúa. Họ có thể tin rằng họ đã được cứu rỗi.

     CỘNG ĐỒNG CẦU NGUYỆN CHUNG

          Marco cho biết sau khi đền thờ bị phá hủy, cộng đồng những người cầu nguyện sẽ là “nhà cầu nguyện cho mọi quốc gia”, là tân đền thờ được chúa Giesu thiết lập. Cầu nguyện riêng / cá nhân sẽ là dấu hiệu của tân cộng đồng này, là đền thờ được xây bằng những đá tảng sống động. Nhưng làm sao Marco và những độc giả của Marco có thể hiểu được ý niệm về “lời cầu nguyện riêng này”? Làm sao chúng ta có thể đọc kinh cầu nguyện theo phương cách đó và hậu quả của lời cầu như vậy sẽ là gì? Chúa Giesu đã hứa là cầu nguyện với lòng tin tưởng mãnh liệt, không hồ nghi thì sẽ được đáp ứng.

          Trong lúc đen tối và sầu thảm ở vưởn Gethsemane, chúa Giesu đã thành khẩn xin Thiên Chúa cứu Người thoát khỏi cơn hấp hối đau khổ này. Biết Thiên Chúa Cha có thể cứu giúp, nhưng chúa Giesu vẫn  chấp nhận và tuân theo ý của Thiên Chúa Cha. Sức chịu đựng của chúa Giesu, suy nghĩ và cương quyết theo chủ đích của mình vì ý muốn của Thiên Chúa Cha sẽ là khải hoàn vinh quang trong vườn ở chân núi Cây Dầu. Đối với Marco, lời cầu trong vườn Gethsimane chính là mẫu mực cho “các môn đệ cầu nguyện khi bị thử thách.”

    TRẮC NGHIỆM THỬ THÁCH

          Những biến cố to lớn ghê gớm nào trong đời đã làm lung lay chúng ta? Những thử thách hàng ngày của chúng ta như thế nào? Chúng ta có cảm nghiệm gì về những chối bỏ hay đau khổ, chết chóc hoặc mất mát đã khiến chúng ta buông suôi trước Lời Hằng Sống đã một lần chúng ta chấp nhận? Chúng ta có quá lo lắng để ý đến tiền bạc, thành bại trong công việc và cuộc sống không? Có quá băn khoăn về sức khỏe, việc làm, gia đình và tình bạn bè đến độ quên cả Lời Chúa không? Chúng ta có để cho những giận hờn, lo buồn hay dục vọng ngăn cản chúng ta bước theo Chúa không? Chúng ta có giữ lại được điều gì vui tươi trong cuộc sống của chúng ta không?

    Tin Mừng Marco cho thấy khi bị thử thách, chúng ta không phải lặp lại sự trung thành của chúa Giesu  bằng sức mạnh mong manh của chúng ta. Chúng ta không phải đối diện với những thử thách của ma quỉ không có quyền hạn như Thiên Chúa. Chúa Giesu thành Nazareth đã thay đổi vĩnh viễn tình trạng của chúng ta rồi. Marco đã viết Tin Mừng để ủy quyền cho những ai tin thì cầu nguyện. Mỗi cá nhân trong cộng đồng Kito hữu đều được ủy quyền để cầu nguyện riêng mà không thể bị trật đường vì sợ hãi, lo lắng, bị truy nã hoặc vì những quyền lực giả dối khi sống ở trần gian. Chúa Giesu đã cứu chuộc tội lỗi loài người và phá hủy những quyền lực cố tình ngăn cách loài người khỏi Thiên Chúa. Do đó tất cả mọi sự đều khả thi khi chúng ta đến với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện.

    NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ

          Chúng ta đừng bao giờ để mất hình ảnh vĩ đại về lịch sử ơn cứu độ khi chúng ta đối diện với những thất bại, gian nan bi thảm trong cuộc sống hàng ngày. Là Kito hữu mỗi ngày chúng ta đều được kêu gọi chống lại những kẻ thù của hy vọng và ưu sầu buồn thảm luôn luôn bám lấy chúng ta. Nỗi ưu sầu tập thể có thể dễ dàng trở thành hoảng sợ quá độ giữa bất cứ một khủng khoảng nào.

    Do đó bám chặt vào Lời Chúa là điều rất quan trọng để có thể phác họa một cuộc sống theo Lời và sống với Lời. Từ đó, chúng ta có thể thực hiện những lời tiên tri Daniel (Dn 12:1-3) trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta: “Những kẻ khôn ngoan sẽ sáng chói như ánh sáng bầu trời, và những kẻ dẫn đưa nhiều người về đường công chính sẽ nên như những vì tinh tú tồn tại đến muôn ngàn đời.”

         Do đó bám chặt vào Lời Chúa là điều rất quan trọng.

    Về mục lục

    .

    NGÀY THẨM ĐỊNH CHUNG CUỘC

    JM, Lam Thy

    Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXIII/TN-B – Mc 13, 24-32) là một trích đoạn “Bài giảng về ngày cánh chung” của Đức Giê-su Ki-tô. Ngày cánh chung (tận thế) đã được tiên báo từ Cựu Ước: “Thời đó, sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao.” (Đn 12, 1-3).

    Nếu đọc hết cả “Bài giảng về ngày cánh chung” thì sẽ thấy ngày cuối cùng của trần thế thật là khủng khiếp: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây!”, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Khi anh em nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã, thì đừng khiếp sợ. Những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có động đất ở nhiều nơi, sẽ có những cơn đói kém. Những sự việc ấy là khởi đầu các cơn đau đớn. Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng và các hội đường; anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết… Anh em sẽ nộp nhau cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét.” (Mc 13, 5-13). “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.” (Lc 21, 25-26).

    Ngày cuối cùng của trần thế là như vậy đó! Và chỉ nghĩ tới thôi cũng đã thấy sợ hãi khôn cùng, chẳng hiểu khi đối diện với sự thật thì sẽ ra sao? Điều đáng lo ngại nhất là thế giới ngày nay đã diễn ra giống như lời tiên báo của Đức Ki-tô, thậm chí còn tệ hại hơn nữa là khác. Sự sa đọa và tội lỗi của nhân loại ngày càng gia tăng. Con người dường như ngày càng mất đi cảm thức về tội lỗi. Người ta chỉ biết quan tâm chạy theo những quyến rũ của vật chất, của quyền lực danh vọng, của thú vui xác thịt… Con người trở nên ích kỷ hơn bao giờ hết. Các tôn giáo có khuynh hướng chỉ chú tâm đến những lễ nghi hay hình thức bên ngoài mà quên đi tinh thần phải có ở bên trong.

    Vì thế, khả năng soi sáng và hướng dẫn thế giới của các tôn giáo không mấy hữu hiệu. Giới tăng lữ, tu sĩ bị tục hóa đến nỗi nhiều người chỉ coi tác vụ của mình như một nghề nghiệp sinh nhai. Ấy là chưa kể những “Ki-tô, ngôn sứ, tiên tri giả” nhan nhản khắp nơi. Đó là những điều khiến Đức Giê-su đã đoán trước và lo ngại cho thế giới này: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Đó mới thật sự là nỗi lo sợ của những kẻ thức giả và nói chung là của những người còn tin vào một cõi sống có thực dành cho con người sau ngày tận thế (kẻ lành hưởng phúc, kẻ dữ chịu án phạt đời đời).

    Tham sinh uý tử (tham sống sợ chết) là bản chất con người, chuyện đó không có gì đáng trách. Tuy nhiên, chỉ cần đọc tiếp đoạn Tin Mừng trích dẫn trên thì sẽ thấy “sau cơn mưa, trời lại sáng”, sau lúc tối tăm ngặt nghèo là sự chói rạng của bầu trời hy vọng: “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.” (Mt 24, 29-31). Đấng Cứu Độ sẽ tái quang lâm và khi đó chính là lúc cả một bầu trời hy vọng sẽ đến với những kẻ TIN và kiên trì với niềm tin của mình mà vượt qua mọi gian nan, thử thách.

    Điều cần thiết là trong những ngày cuối cùng ấy, phải cảnh giác cao độ, kẻo mắc mưu gian của những kẻ “phản Ki-tô” hoặc “Ki-tô giả” (“Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mạc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào.” – 2Tx 2, 3). Ấy cũng bởi vì không ít người xưng mình là “con cái”, là “tôi tớ” của Thiên Chúa là Đấng Chân Thật, nhưng lại tin nghe và hùa theo những chuyên gia “lộng giả thành chân” (lấy giả làm thật), tránh né sự thật, đánh bóng, tô hồng cho sự giả trá để biến nó thành “sự thật” với mục đích lôi cuốn những người trẻ lòng non dạ… Họ chính là những kẻ đã bị ngôn sứ I-sai-a vạch trần mưu gian: “Khốn thay những kẻ lấy dây gian tà kéo lầm lỗi, và dùng thừng kéo xe mà lôi theo tội ác… Khốn thay những kẻ bảo cái tốt là xấu, cái xấu là tốt, những kẻ biến tối thành sáng, sáng thành tối, biến cay đắng thành ngọt ngào, ngọt ngào thành cay đắng.” (Is 5, 18-20).

    Như vậy thì thái độ ứng xử cần có của Ki-tô hữu phải là tỉnh thức và chờ đợi, hay nói cách khác là hãy nhìn lại mình để thấy được mình đã sống như thế nào và tận dụng ngày cuối cùng của cuộc đời ra sao, để sẵn sàng đón nhận ngày phải đến và sẽ đến – ngày “chung thẩm” cuộc sống trần ai. Thánh Phao-lô đã gửi tín hữu Ê-phê-sô những lời khuyên chí tình chí nghĩa: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep, 15-16). Vâng, “biết tận dụng thời buổi hiện tại” và hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng: Yêu thương gia đình và những người thân cận như thể không còn dịp để yêu thương nữa. Cuối cùng, hãy cầu nguyện như thể mình cầu nguyện lần cuối.

    Tóm lại, bất cứ một sự gì trên đời có khởi đầu thì cũng có kết thúc, không có bất cứ một sự gì là miên viễn bất tử cả. Là con người thì ai cũng biết chắc chắn 100% rằng mình sẽ chết. Mà cũng vì thế nên con người cứ mò mẫm tin vào thầy nọ thuốc kia mà đi tìm thần dược trường sinh bất tử. Từ khi con người nhờ hồng ân Thiên Chúa ban, hiện diện trên trái đất này cho tới ngày nay, chưa một ai chứng minh được rằng mình thoát khỏi sự chết, thoát khỏi sự trở về với cát bụi. Con người biết chắc mình đã “sinh ký” (sống gởi) thì sẽ “tử quy” (thác về); nhưng khổ một nỗi là chẳng ai biết chắc được về ngày giờ chết của mình. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, không ai ngờ trước được. Ngày cánh chung cũng vậy (“Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả Người Con cũng không, chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.” (Mt 24, 36). Vì thế, cần phải chuẩn bị thật chu đáo ngày diện kiến Ông Chủ để được Người phán dạy: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt 25, 23).

    Thật là phù hợp khi Hội Đồng Giám Mục ấn định ngày bế mạc Năm Thánh “Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam” vào ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đúng vào Chúa nhật XXXIII mà các bài Kinh Thánh đều tập trung trình thuật ngày cánh chung vũ trụ. Xin toàn bộ Ki-tô hữu Việt Nam nhiệt tình hưởng ứng lời mời gọi của Hội Đồng Giám Mục trong Thư Công bố Năm Thánh (số 2): ”Năm Thánh 2018 mời gọi mọi tín hữu chiêm ngắm và học hỏi gương sống đức tin của các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Việc học hỏi này vừa giúp chúng ta hiểu biết hơn về lịch sử Hội Thánh và các Thánh Tử Đạo, vùa thúc đẩy chúng ta noi theo gương sống của các ngài. Chúng tôi khuyến khích các giáo xứ, dòng tu cũng như các đoàn thể, tổ chức những buổi thuyết trình và thảo luận về các Thánh Tử Đạo, để giúp mọi người hiểu biết, yêu mến và noi gương các ngài.”

    Ôi! Lạy Chúa! Con ao ước ngày “thẩm định chung cuộc” phải là ngày hạnh phúc nhất của con. Con muốn chuẩn bị bằng cách: ngày nào hay giờ nào con cũng sống như thể ngày đó hay giờ đó là ngày hay giờ cuối cùng cuộc đời trần thế của con, để “biết tận dụng thời buổi hiện tại” như lời dạy của Thánh Phao-lô. Hy vọng với cách đó, con sẽ luôn luôn sẵn sàng trở về với Chúa bất cứ giây phút nào. Ôi! Lạy Chúa! Xin thương xót con, xin giúp con sống thật sự tinh thần chuẩn bị sẵn sàng đó, để “Khi Chúa thương gọi con về, Hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô, con thật vinh phúc.” (Kim Long – “Ngày về” – TCCĐ). Amen.

    Về mục lục

    .

    NGƯỜI HIỀN SĨ LÀ NGƯỜI CẦU NGUYỆN

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

      “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì dể hưởng phúc thường sinh; kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời” (Dn 12,2).

      Điều đang nói ở đây là quang cảnh của ngày tận thế. Ngày mà “Thiên hạ sẽ thấy con Người đầy quyền năng và vinh quang ngừ trên đám mây mà đến” (x.Mc 13,26). Đây gọi là “cuộc phán xét chung”. Khi đó mọi người chết sẽ sống lại, nhưng số phận lại chia làm hai hướng khác nhau. Người thì hưởng phúc trường sinh, tức là được vào thiên đàng. Kẻ thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời, nghĩa là vào hỏa ngục. Ta hãy xem giáo lý của Giáo Hội nói gì và hai nơi này.

      Về thiên đàng. “Thiên đàng là cuộc sống viên mãn, vì được hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi; với Đức Trinh nữ Ma-ri-a, với các thiên thần và các thánh. Thiên đàng là mục đích tối hậu và là sự thực hiện các nguyện vọng sâu xa nhất của con người; là tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo và chung cuộc” (GLCG, số 1024).

      Quả thật, ““chúng ta không đủ khả năng hiểu biết và trình bày mầu nhiệm hiệp thông vinh phúc với Thiên Chúa và tất cả những người ở trong Đức Ki-tô. Khi nói về mầu nhiệm này, Thánh Kinh dùng những hình ảnh như sự sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu mới trong Nước Trời, Nhà Cha, Thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc.Thiên đàng là “Điều mắt chẳng hề thấy; điều tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ đến, đó là điều Thiên Chúa dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” (x. 1Cor 2,9)”” (GLCG, số 1027).

      Đúng vậy, thiên đàng chẳng một ai đã thấy, đã nghe hay nghĩ tới, chỉ một mình Đức Giê-su, từ trên đó xuống và nói cho chúng ta biết mà thôi. Con người ta, đâu có biết gì về thiên đàng, cứ nghĩ thiên đàng cũng như thế gian này, có điều khác là không phải đau khổ, không phải cực nhọc, không phải vất vả thôi. Cũng lấy vợ gả chồng, cũng sinh sống như ta đang sống. Không, đó chỉ là thiên đàng của con người, chứ không phải là thiên đàng của Thiên Chúa.

      Thiên đàng của Thiên Chúa, chỉ sau khi chết ta mới biết và ngày tận thế ta mới sống. Đó là nơi lòng chúng ta không hề nghĩ tới. Thế mới hấp dẫn chứ. Nếu biết rồi còn chi là hấp dẫn nữa. Trong cuộc sống, có những điều ta không dám mơ, không dám ước, thế mà lại được khi đó ta mới cảm được, đó là hạnh phúc biết chừng nào.

      Làm sao ta lại có được một người yêu thương ta như thế. Ta có làm gì đâu; ta giỏi dang hay đẹp đẽ gì. Thế mà có người lại yêu thương ta đến “chết mê chết mệt”; yêu thương ta “tít thò lò”. Có bao giờ ta dám nghĩ thế đâu, thế mà ta lại được. Đúng là ngoài sức tưởng tượng của ta, hạnh phúc biết chừng nào !!!!!!!!!

      Ta con nhà nghèo, ngoại ngữ chẳng biết mô tê gì; cũng chẳng có “danh gì với núi sông”, thế mà lại được chọn đi nước ngoài. Rồi học mãi, học hoài chẳng nói được, cả 5 năm trời chứ đâu có ít. Và một ngày đẹp trời nào đó, tự dưng, ta nói được ào ào như gió, không cần nghĩ, không cần suy, cứ thế mà nó tuôn ra. Ôi, lạy Chúa, không có hạnh phúc nào bằng !!!!!!!!!!!!!

      Lại nữa, ở Việt Nam thì cà tịch cà tang chiếc mô-bi-lét, chiếc cup 50; chiếc 67; có bao giờ nghĩ mình lái xe hơi. Rồi cũng phải học, cũng phải tập, thi tới thì hoài cũng đậu. Đã hơn 10 năm rồi, khi lái xe hơi đi chỗ này chỗ kia, cứ chạy tưng tưng, trong lòng vẫn cảm thấy sung sướng làm sao ấy!!!!!!!!!!!!

      Rồi ước muốn đi tu, nhưng cha xứ không cho giấy giới thiệu; cũng cứ đi; quá tuổi không vào chủng viện được, thì đi Dòng. “Dòng kín” không được thì sang “Dòng hở”. Ai đời, khấn trọn đời rồi, lại được chọn cho đi truyền giáo nước ngoài; lại cho luôn. Thế là thuộc về giáo phận, được truyền chức, trở thành Linh Mục Triều.Chạy lòng vòng, thế mà cũng tới đích mình muốn. Thật không còn hạnh phúc nào bằng !!!!!!!!

      Thế đấy, ngay đời sống trên trần gian này, ta còn cảm được hạnh phúc, khi những gì mình không dám mơ, không dám ước mà có được. Thế thì, hạnh phúc thiên đàng, ta cũng không dám mơ, không dám ước, mà được vào thì hạnh phúc biết chừng nào !!!!!!!

      Nói không mơ, không ước thì cũng không đúng, vì ai cũng muốn, cũng ao ước sau khi chết được vào thiên đàng. Nhưng đa số, người ta chỉ ươc mơ xuông, chỉ có lòng ước ao thôi mà không cố gắng làm gì để được vào thiên đàng. Ta cũng ước, cũng mơ và cố gắng bao có thể để được vào thiên đàng, nhưng trên thiên đàng hạnh phúc thế nào thì ta chưa biết, đến khi vào được đó thì ta sẽ biết hạnh phúc thiên đàng là gì. Lúc đó mới hạnh phúc làm sao !!!!!!!

      Còn về hỏa ngục? “Hội Thánh dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời. Ngay sau chết, linh hồn kẻ mắc tội trọng sẽ xuống hỏa ngục chịu cực hình “lửa đời đời”. Vì chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm được sự sống và hạnh phúc hằng khao khát, nên cực hình chính của hỏa ngục là đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa” (GLCG, số 1035).

      “Những điều Thánh Kinh xác quyết và Hội Thánh dạy về hỏa ngục, là lời mời gọi con người phải có trách nhiệm sử dụng tự do để đạt tới hạnh phúc đời đời; đồng thời thúc giục ta ăn năn hối cải”(GLCG, số 1036).

      Nghe đến hỏa ngục ai cũng sợ và chẳng ai muốn xuống cả. Thế nhưng lại không ra sức để mình khỏi xuống đó. Thế mới chết chứ ! Sợ thì sợ nhưng không ngán; chẳng muốn xuống nhưng lại cứ đi vào. Thiên Chúa chẳng tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục cả; Ngài chỉ muốn cho mọi người được vào thiên đàng thôi.

      Vậy ta phải làm gì để được vào thiên đàng đây ?

      Trong sách tiên tri Đa-ni-en có viết: “Các Hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ; nhưng ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Dn 12,3).

      Người Hiền sĩ, không phải là những Ngôi Sao minh tinh Bàn Bạc, những Ngôi Sao ca nhạc, sân khấu hay nhưng danh thủ thể thao mà là người “tỉnh thức”. Họ “tỉnh thức và cầu nguyện luôn để có thể đứng vững trước mặt Con Người” (x. Lc 21,36). Nói cách khác người Hiền Sĩ là người cầu nguyện. Cầu nguyện để làm chi ? Cầu nguyện để lãnh nhận ơn sủng của Thiên Chúa. Lãnh nhận ân sủng để làm gì ? Để ta được cứu độ.

    Thánh Phao-lô nói về ân sủng này như sau: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ đem ơn cứu độ đến cho con người. Ân sủng đó dạy ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta xuất hiện vinh quang” (x.Tt 2,11-13).

    Vì muốn từ bỏ được lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức thì phải cần có ơn Chúa ta mới làm và sống được. Nên ta phải cầu nguyện luôn, để “hũ ân sủng” của ta không bao giờ cạn, ta mới có đủ sức và dư sức để “qua cầu”. Người mà sống chừng mực, công chính và đạo đức sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ trong Nước Trời. Nghĩa là được vào Thiên đàng.

    Người Hiền sĩ đó không chỉ lo cho mình mà còn làm cho nhiều người khác được hạnh phúc, được nên công chính nữa cơ. “Họ luôn sẵn sàng làm điều thiện; không chửi bới ai; không hiếu chiến nhưng hiền hòa, luôn tỏ lòng từ bi với mọi người” (x.Tt 3,1-2). Họ đã không làm thì thôi, đã làm thì luôn làm điều tốt, điều thiện cho người khác; đem lại niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân. Họ không ganh đua với người khác, họ chỉ lo chu toàn bổn phận của mình thôi. Có bị chơi xấu, nghĩ sai hay bị khinh khi họ cũng không trả thù, không thèm để ý tới làm chi, cứ để đó cho Chúa xét xử. Họ chẳng cần ai biết đến hay có ai khen lao cả, có Chúa biết là đủ rồi.

    Người sống như thế sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao trong nước Cha của họ, tức là trong Nước Trời; trong thiên đàng.

    Quả thật, người tràn đầy ân sủng Chúa và cố gắng sống tốt lành và thánh thiện thì khi chết về với Chúa, ta sẽ được vào thiên đàng và ngày sau hết, ta được phục sinh, cả xác lẫn hồn ta được vào thiên đàng để hưởng phúc trường sinh với Chúa và các thánh.

    Vậy ta hãy chọn Thiên Đàng là mục tiêu của ta, để đang khi sống ở đời này ta biết chuẩn bị, biết dùng mọi cơ hội có được trong cuộc sống, bằng cách luôn tỉnh thức và cầu nguyện. Với ơn Chúa, ta sẽ cố gắng hết sức mình để ta nên người Hiền Sĩ, nên người công chính, thánh thiện; đồng thời, cũng giúp cho người khác nên thánh nên thiện nữa. Chắc chắn ta sẽ được vào thiên đàng. Ta đừng có loi ngoi, láu cá mà nên kẻ “lòi sỉ”, coi chừng xuống hỏa ngục như chơi đó.

    Về mục lục

    .

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 32 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 32 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: 1V. 17, 10-16; Dt. 9, 24-28; Mc. 12, 38-44

    ———

    Mục lục

    1. Niềm vui khi trao tặng (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Đại dịch và từ thiện (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

    3. Miếng bánh, chút nước và đồng tiền của bà góa (Jorahte Nắng Tím)

    4. Dâng hết  (Lm. Thái Nguyên)

    5. Ít hay nhiều  (Lm. Jos DĐH. Gp.Xuân Lộc)

    6. Ai cũng có hai đồng tiền kẽm  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Của lễ mọn hèn  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    8. Giá trị thật  (Lm. Vũ Đình Tường)

    9. Lòng tin và sự chân thành (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    10. Cái nhỏ chứng tỏ cái to (Trầm Thiên Thu)

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Cần có một tấm lòng (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Ảnh hưởng mạng xã hội hôm nay  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Đồng tiền bà góa  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    4. Đồng tiền của bà góa (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    5. Tại tâm  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    6. Dâng cho Chúa với tấm lòng biết ơn  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    7. Lòng quảng đại  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    8. Của ít lòng nhiều (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    9. Chuyện ít – nhiều  (Trầm Thiên Thu)

    10. Suy niệm Chúa Nhật 32 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    11. Nghèo mà hạnh phúc (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    12. Hiến dâng tình yêu (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    13. Ở đời quí nhất tấm lòng  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    14. Sống đức ái vẹn toàn (Lm. Jos. DĐH.Gp. Xuân Lộc)

    15. Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    16. Chúa Nhật 32 Thường niên_B  (Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Đức)

    17. Hũ ân sủng không vơi, vò đức tin không cạn  (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    18. Bác ái (Lm. Vũ Đình Tường)

    19. Niềm tin của hai bà góa phụ  (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    20. Suy niệm chú giải Tin Mừng – Chúa Nhật 32 TN_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    21. Kinh sư và bà góa (Jorathe Nắng Tím)

    22. Tấm lòng bà góa  (JM. Lam Thy, ĐVD)

    23. Chúa Nhật 32 Thường niên_B.  (Lm. Antôn)

    24. Tấm lòng  (Lm. Giuse Nguyễn)

    25. Quảng đại  (Lm. Thái Sơn)

     

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Của cho và cách cho (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Ánh mắt Thiên Chúa  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt) 

    3. Cho bằng tấm lòng  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Hai đồng ân phúc (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    5. Đồng kẽm đồng xu của tôi đâu?  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    6. Nhỏ mà to  (Trầm Thiên Thu) 

    7. Một số tiền nhỏ nhưng tấm lòng thật lớn  (Văn Hào, SDB)

    8. Quảng đại và tự do (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)

    9. Chúa Nhật 32 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

    10. Tất cả những gì bà có (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

    11. Hai bà góa  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    12. Tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    13. Sẻ chia tận tình  (Huệ Minh)

    14. Đạo đức giả và quảng đại thật  (Lm. Pet. Lê Thanh Phục, CSsR) 

    15. Để “của cho” nên lễ dâng đẹp lòng Chúa  (Lm. Đan Vinh – HHTM)

    16. Bà góa nghèo (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ)

    17. Lòng quảng đại và tín thác không giới hạn  (Dã Quỳ) 

    18. Tình góa  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

     

    NIỀM VUI KHI TRAO TẶNG

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Thời nào cũng thế, người ta có thói quen nhận xét và đánh giá một người ở sự giàu có phong lưu, thể hiện qua phong cách chưng diện và đồ dùng. Cũng vậy, trong thời đại hôm nay, khi mà nhiều người lấy kim ngân làm thước đo cho mọi giá trị, những nhận định về một người lại càng lầm lẫn hơn. Người ta chú trọng đến sự giàu có bề ngoài mà ít để ý đến giá trị đích thực của một con người. Lời Chúa hôm nay muốn giúp chúng ta nhìn rõ hơn, để rồi trong mối tương quan thường ngày, chúng ta trân trọng những giá trị cao cả, mà lại ở dưới một vỏ bọc xem ra là rất bình dị đơn sơ.

    Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Elia, một người thời Chúa Giêsu. Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành. Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ goá bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9). Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng. Goá bụa đã là điều đau khổ và bất hạnh, người đàn bà goá trong Tin Mừng còn được diễn tả là người nghèo. Cái nghèo của bà được thể hiện qua cách bà len lén đến gần hòm tiền công đức của Đền Thờ. Cái nghèo cũng thể hiện qua số tiền mà bà đã bỏ vào đó, chỉ có hai đồng tiền kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma. Tuy vậy, theo cái nhìn của Chúa Giêsu, số tiền nhỏ mọn bà này dâng, lại là số tiền có giá trị lớn hơn cả. Chúa Giêsu đã giải thích: vì bà này đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào hòm tiền công đức tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Chúng ta chú ý tới câu nhấn mạnh của Chúa ở chữ “tất cả” mà chúng ta vừa nghe. Người đời vẫn nói: của cho không bằng cách cho. Với hai đồng kẽm, người đàn bà goá nghèo đã dâng vào Đền thờ cả tấm lòng, kèm theo đức thờ phượng và tâm tình yêu mến.

    Các nhân vật được nêu trong Bài đọc I và bài Tin Mừng thuộc hai thái cực đối lập, khi xét theo địa vị xã hội. Một bên là những người biệt phái và những kinh sư, bên kia là những người đàn bà goá bụa nghèo khổ. Biệt phái và kinh sư là những người uyên bác về trí tuệ, hoàn hảo trong tư cách thể hiện; những bà goá mang thân phận hẩm hiu, vừa nghèo về tiền bạc, lại không có chỗ trong các buổi hội họp và sinh hoạt cộng đồng. Ấy vậy mà những người uyên bác lại bị Chúa trách mắng nghiêm khắc, và những người goá bụa bị mọi người quên lãng thì lại được Chúa khen. Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người goá bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế. Ngài là chỗ dựa cho họ. Các ngôn sứ và các tác giả thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán. Người phụ nữ quê ở Sarépta đã quảng đại với ngôn sứ Elia, đến nỗi chỉ còn một chút bột cuối cùng cũng dành cho vị ngôn sứ. Lòng quảng đại của bà đã được Chúa thưởng công tức khắc. Khi nhắc lại cách công đức của bà góa nghèo, Chúa Giêsu khẳng định: cùng với tặng vật, người cho cần có một tấm lòng. Người muốn chúng ta nhìn nhận một người không dựa vào những gì là bề ngoài, nhưng nơi tấm lòng của họ. Trong cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng thế, có những trái tim nhân hậu, những tấm lòng quả cảm và những nhân cách cao thượng được ẩn giấu nơi những bề ngoài đơn sơ chất phác và khiêm tốn bình dân. Mọi người đều đáng tôn trọng quý mến, vì trước mặt Chúa, hết thảy đều bình đẳng. Mọi người đều được dựng nên giống hình ảnh của Chúa. Ai cũng được mời gọi sống thánh thiện, và sống thánh thiện tức là nên giống Chúa, vì Chúa là Đấng Chí thánh và là nguồn mạch của sự thánh thiện.

    Lời Chúa hôm nay vừa lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc, vừa nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện. Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh. Chúa dạy chúng ta: cho thì có phúc hơn nhận. Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn. Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi. Niềm vui của những tấm lòng rộng rãi sẽ luôn tồn tại và được nhân lên mãi.

    Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế. Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại. Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an. Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.

    Kính thưa anh chị em, chúng ta đã bước sang tháng Mười một dương lịch, là tháng cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Thiên Chúa là Đấng Chí thánh. Con người muốn đến gần Chúa thì phải được thanh tẩy khỏi những gì bất xứng. Những ai khi kết thúc cuộc đời trần thế, mà còn vương vấn tội nhơ, thì cần được thanh tẩy. Luyện ngục cũng là bằng chứng về lòng thương xót của Chúa. Ngài không nỡ trừng phạt các tội nhân, nhưng thanh tẩy họ để họ nên tinh tuyền, xứng đáng vào hưởng hạnh phúc vinh quang của Ngài. Cầu nguyện cho những người đã khuất, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra sự mong manh của kiếp người. Dù sang trọng giàu có hay nghèo hèn lận đận, cuộc sống cũng chỉ như một hơi thở thoáng qua, như một đoá hoa vô thường. Con người chỉ sống một lần. Nếu cuộc sống là một cuộc hành trình, thì hành trình nào cũng có đích điểm, tức là có hồi kết thúc. Cầu nguyện và suy tư bên mộ những người thân, mỗi chúng ta hãy lắng nghe lời nhắn nhủ của những người đã khuất bóng. Cuộc đời của họ có biết bao điều muốn nói với chúng ta. Tiền nhân đã dạy: “Hổ chết để lại da, người ta chết để lại tiếng”. Có những người sau cuộc sống trần gian, tên tuổi của họ được lưu mãi đến thiên thu. Có những người khi sống độc ác gian hùng, tên họ cũng được nhắc lại, nhưng như một nỗi kinh hoàng ám ảnh. Người tín hữu Công giáo tin rằng, những ai sống ngay chính thánh thiện, danh thơm của họ không chỉ lưu lại cho hậu thế, mà còn được Thiên Chúa khắc ghi vào sổ Sự Sống. Tháng Mười một vừa là tháng thể hiện lòng hiếu thảo tri ân, cũng là lúc chúng ta suy tư về ý nghĩa cuộc đời. Thông điệp của những nấm mộ, là lời mời gọi sống thánh thiện chân thành, trân quý mọi giá trị của cuộc sống và luôn sẵn sàng cho cuộc lên đường về với Vĩnh Cửu.

    Một tác giả đã viết:

    Khi một người chết đi, anh ta nắm trong tay chỉ những gì mình đã cho đi khi còn sống. When a man dies he clutches in his hands only that which he has given away during his life time (Sưu tầm).

    Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn nhớ: kiếp sống con người chỉ như làn gió thoảng qua. Duy chỉ những đức hạnh và những việc thiện hảo là vĩnh cửu vững bền. Xin cho chúng con luôn biết cậy dựa vào Chúa là lý tưởng và cùng đích của cuộc đời, để chúng con chiến thắng những cám dỗ, vượt qua mọi rào cản và trọn đời theo Chúa. Amen.

    Về mục lục

    ĐẠI DỊCH VÀ TỪ THIỆN

    Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

    Trong đại dịch lần thứ tư này, chúng ta chúng ta không thể quên ơn những con người đã hy sinh giúp đỡ những nạn nhân bởi cúm Tàu?

    Đó những bác sĩ, các nhân viên y tế, các tình nguyện viên, cảnh sát và quân đội đã hy sinh rời xa gia đình để phục vụ tuyến đầu đầy căng thẳng và mệt mỏi.

    Đó là những tấm lòng quảng đại của những gia đình khá giả đã bao bọc cho những hoàn cảnh khó khăn. Đặc biệt các thiện nguyện viên luôn miệt mài kiếm rau, kiếm thực phẩm cung cấp cho các khu phong tỏa mà chẳng ngại gian nan.

    Tuy nhiên, vẫn còn đó những người có chức, có quyền lại lợi dụng để ăn chặn, hay ăn hối lộ ngay trong nỗi đau của toàn dân. Họ là người nói thật hay nhưng làm thì chẳng thấy được việc gì?

    Thế nên, mới có chuyện vui kể rằng:

    Có một cô vợ suốt 4 tháng cứ mì tôm, rồi lại cơm rau luộc đạm bạc nên thở dài:

    –       Chả biết ăn cái gì nữa? chứ cứ ăn uống kiểu này chán quá, mà ngồi ăn không thì tiền núi cũng hết.

    –       Thằng con góp ý: Chỉ có …’ăn hối lộ’ là không chết! mà có tiền thì muốn cái gì cũng có.

    –       Anh chồng bảo rằng: nghe nói trong đại dịch này nhiều người giầu lên nhờ “ăn chặn” của người nghèo. …

    Ở đời luôn có hai cách sống của những kẻ có quyền, có chức. Có người làm quan thì toàn tâm lo cho dân. Có người làm quan chỉ để hưởng thụ và vun quén cho giầu có thêm. Có người dấn thân quảng đại. Có người thì tính toán chi ly. Có lợi thì làm. Có rủi thì trốn.

    Bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta thấy cung cách của hai thành phần địa vị khác nhau và tấm lòng cũng khác nhau. Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng lại tham lam chỉ tìm cách lấy của chung thành của riêng. Họ là những người có chức, có quyền nhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.

    Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giầu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.

    Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.

    Cuộc sống con người chỉ có giá trị khi biết quảng đại cho đi, khi biết sống có ích cho tha nhân. Người tín hữu còn cần phải có một tấm lòng quảng đại để yêu thương và chia sẻ đến mọi phận người. Tấm lòng thì của ít lòng nhiều vẫn quý hơn tiền nhiều mà khoe khoang. Tấm lòng thì chân thành cho đi mà không so đo tính toán thiệt hơn.

    Xin Chúa giúp chúng ta có một tấm lòng chân thành để sống với tha nhân như bà goá giầu lòng quảng đại chân thành. Nhưng đừng bao giờ hèn hạ ăn chặn của người nghèo kẻo phải trả lẽ công bằng trước mặt Chúa ở đời sau. Amen.

    Về mục lục

    MIẾNG BÁNH, CHÚT NƯỚC

    VÀ ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA

    Jorathe Nắng Tím

    Hàng loạt những thuộc từ người ta thường gán cho các bà goá như nghèo, khổ, một mình lầm lũi, thui thủi, không vị thế xã hội, không ô dù, thế lực chống lưng, vô danh tiểu tốt thì mọi thời đều giống nhau, và hình ảnh bà góa được làm nổi bật qua các bài đọc của chúa nhật này.

    1. Hình ảnh nghèo khó của bà góa:

    Cựu Ước nói đến bà góa rất nghèo ở Xarépta mà ngôn sứ Êlia đã gặp và xin bánh, nước: “Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống”, và “cho tôi miếng bánh nữa” (1V 17,10-11). Nhưng vì nghèo, bà chỉ có thể đi lấy nước cho ngôn sứ, còn bánh thì bà không có: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi” (1 V 17,12).

    Thật không còn gì thê thảm và bi thương hơn hoàn cảnh  “không còn gì để sống” của mẹ con bà goá giữa thời hạn hán, đến nỗi chính miệng bà đã phải thốt lên trước mặt ngôn sứ:  “Chúng tôi sẽ ăn rồi chết” (1V 17,12), như thể “nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò” sẽ là bữa ăn sau cùng của đời bà và con bà.

    Còn bà goá trong Tin Mừng Máccô cũng là bà góa rất nghèo có mặt giữa đám đông đang bỏ tiền dâng cúng Đền Thờ. Bên cạnh “lắm người giầu bỏ thật nhiều tiền” (Mc 12,41), bà góa nghèo “đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm” chẳng đáng giá là bao, nhưng đó là “tất cả  tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” như chính  lời Đức Giêsu (Mc 12 ,44).

    Cả hai bà goá, một của thời Cựu Ước, một của thời Tân Ước, cũng là của mọi thời, là những người rất nghèo, sống một đời túng thiếu, từng ngày, từng bữa đói no.

    1. Tấm lòng qủang đại của người nghèo:

    Tấm lòng của hai bà goá được kể trong Sách Các Vua  và Tin Mừng Máccô thật cao đẹp, quảng đại.  Cao đẹp vì sẵn sàng cho đi ngay cả phần thiết yếu nhất còn lại của mình và con mình như bà goá thành Xarépta đã lấy bột và dầu làm bánh cho ngôn sứ Êlia ăn trước, rồi sau đó mới làm cho bà và con bà (x. 1V 17,13). Còn bà goá ở Đền Thờ Giêrusalem thì đã dâng cho Thiên Chúa  “tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12,44).

    Tấm lòng của hai bà góa nghèo còn là tấm lòng qủang đại, khi cho đi một cách đơn sơ, dễ dàng; dâng tặng một cách hào sảng, hồn nhiên, mà không cầu kỳ, khó khăn, so đo, tính toán, yêu sách, điều kiện.

    Thực vậy, người nghèo, tuy nghèo vật chất, tiền của, nhưng tấm lòng không nghèo, không keo, và trong thực tế,  người nghèo là người rộng lòng chia sẻ,  sẵn lòng thi ân và trái tim người nghèo luôn bén  nhậy với những thiếu thốn, khó khăn, cơ cùng của người khác. Chẳng thế mà Đức Giêsu đã lên tiếng khen ngợi: “bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12,43).

    1. Thiên Chúa làm giàu người nghèo :

    Không cần quảng diễn thêm, chúng ta cũng thấy Đức Giêsu đã  tỏ ra rất trân trọng bà góa có tấm lòng cao đẹp và quảng đại  trong Tin Mừng Máccô. Ngài tuyên dương tấm lòng cao cả của bà, ca ngợi hành động quảng đại của bà, và lấy bà như mẫu gương cho các môn đệ của Ngài x. Mc 12,43).

    Ngôn sứ Êlia thì qủa quyết ơn huệ của Thiên Chúa sẽ “làm giàu” và nuôi nấng  người đàn bá góa bụa và con cái trong suốt thời gian “chẳng có mưa, có sương, và suối cạn khô”, vì bà  đã rộng lòng nhường cơm bánh  của mình và con mình  cho “người của Thiên Chúa” khi ông tuyên sấm: “Đức Chúa, Thiên Chúa của Ítraen phán thế này: “Hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.” (1 V 17,14).

    Vâng, hình ảnh hai bà goá đã quảng đại cho đi tất cả những gì mình có là hình ảnh của Đức Giêsu: Thượng Tế và Hy Lễ  trên Thánh Giá (x. Dt 9,25-26). Chính Ngài đã hiến dâng tất cả những gì thuộc về mình, là mình để xóa tội và trở  nên lương thực nuôi sống nhân loại.

    Ngồi trong Đền Thờ hôm xưa “quan sát đám đông”, hôm nay ở trong Giáo Hội, Đức Giêsu cũng đang ngồi nhìn nhìn đám đông đến với Ngài, để “ban lương thực cho kẻ đói ăn…., cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên …, và  nâng đỡ cô nhi qủa phụ” (Tv 145,7.8.9), vì Ngài là Đấng giữ lòng trung tín với những ai  trông cậy Ngài, và quảng đại ban ơn lộc đầy dư, để họ được “sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

    Về mục lục

    DÂNG HẾT

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Bài Phúc Âm mở đầu bằng việc Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ phải coi chừng lối sống giả hình của nhóm kinh sư. Họ lợi dụng sắc phục bên ngoài để được người ta kính nể; làm ra vẻ đạo mạo để được kính phục; tỏ ra đạo đức để được kính tôn; đọc kinh cầu nguyện lâu giờ để được kính yêu, và cũng là mưu mô để nuốt gia tài các bà góa. Con người thời nào cũng hay đeo mặt nạ với nhau, ngoài việc tìm kiếm lợi lộc và danh giá thì còn muốn tạo hào quang cho mình. Cách chung, người ta muốn sống hơn những gì mình có, muốn thể hiện hơn những gì mình là: cố làm cho mình trẻ đẹp hơn nhờ trang điểm; cố cho người khác thấy mình tài giỏi hơn nhờ ăn nói; cố tạo cho mình cái dáng vẻ quí phái, trí thức, đạo đức, để thu phục tình cảm của mọi người.

    Điều éo le là những người Đức Giêsu cảnh giác không phải là nhóm dân thường mà lại là thành phần lãnh đạo tôn giáo, lợi dụng chức sắc để tìm danh lợi cho bản thân. Thật ra đạo giáo nào cũng không tránh được những loại người này, nhưng đặc biệt thời Đức Giêsu, tình trạng tôn giáo đã bị tha hóa và xuống cấp trầm trọng, con người đã đánh mất tấm lòng, chỉ còn lại luật lệ và hình thức bên ngoài, như có lần Chúa Giêsu đã nhắc lại lời ngôn sứ Isaia:“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8).

    Đi ngược với sự tham lam và giả hình của các kinh sư là hình ảnh một bà góa nghèo, nhưng rộng lượng và đơn sơ chân thành. Đức Giêsu thấy bà rón rén đến bỏ một phần tư xu vào thùng tiền của Đền thờ. Số tiền quá ít ỏi chẳng đáng gì, nhưng Ngài gọi các môn đệ lại và cho họ biết “bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” vì đó là “tất cả những gì bà có để sống”. Trước mặt Chúa, cái nhỏ nhất lại thành cái lớn nhất, cái người ta coi là tầm thường lại trở nên phi thường.

    Chúng ta thường dựa vào cái bề ngoài để đánh giá đúng-sai hay tốt-xấu, mà ít khi xét đến cái giá trị cốt lõi bên trong; dựa vào số lượng công việc hay thành tích mà ít khi xét đến chất lượng hay chiều sâu của vấn đề. Bản thân ta cũng thế, xem ra vẫn bị xáo trộn trước những lời khen chê. Thích khen và sợ chê khiến ta dễ trở nên nô lệ cho dư luận, cứ phải chịu tác động của người khác, không có tự do để hành động. Các nhà tâm lý và tu đức thường khuyên ta: Hãy trở về với mình và hãy là chính mình, đừng để lòng mình xu hướng theo thiên hạ và chạy theo những thứ phụ thuộc bên ngoài. Hãy tập nhận diện mình dưới cái nhìn của Chúa, vì dưới lăng kính của Ngài, mọi sự đều sáng tỏ. Điều quan trọng là xem mình có chân thành và quảng đại không? Có dám dâng cho Chúa nhiều hơn không? Dám dâng hết không?

    Thế nhưng câu chuyện bà góa nghèo bị đặt vấn đề: phải chăng cứ sống thiếu thốn nghèo nàn để được Chúa khen thưởng? Phải chăng bỏ cả những nhu cầu thiết yếu để được vào nước Trời? Điều chắc chắn là Tin Mừng không bao giờ đề cao sự bần cùng. Đức Giêsu đến để con người được sống và sống dồi dào. Ơn cứu độ cũng không chỉ là “phần hồn” nhưng toàn vẹn, đồng thời bắt đầu chớm nở ngay tại thế chứ không phải giấc mơ xa xôi. Tuy nhiên, với tâm hồn yêu mến, người ta muốn dâng hiến cách quảng đại, không chỉ dâng nhiều hơn mà còn là nhiều nhất. Tất cả và trọn vẹn, chính là điều Thiên Chúa muốn nơi con người. Yêu Ngài bằng tất cả trái tim và tất cả sức lực của mình, đó là lệnh truyền của Thiên Chúa dẫn đến sự sống muôn đời (Lc 10, 27).

    Thật ra, sự nghèo túng tự nó không đem lại hạnh phúc cho ai, nhưng hạnh phúc là vì người nghèo biết vui lòng đón nhận hoàn cảnh hiện tại, bình an sống cuộc đời thanh bạch mà không ham hố lợi lộc, và điều quan trọng là biết chờ đợi mọi sự nơi Chúa. Họ không xây dựng đời mình trên vật chất hay chiếm hữu, nhưng trên tình yêu, để sẵn sàng cho đi và dâng hiến. Họ mới thật là những người khôn ngoan (Lc 1, 49). Với lời khen ngợi hành động của bà góa nghèo, phải chăng Chúa Giêsu muốn cổ võ một lối sống siêu thoát, đồng thời muốn thiết lập một xã hội công chính và nền văn minh tình thương, nhờ biết cho đi và chia sẻ. Và qua đó, Ngài muốn thay đổi cái nhìn của chúng ta về giá trị nhân sinh, để hướng tới một sự sống mới trong Nước Trời.

    Cầu nguyện

    Lạy Chúa!
    Suy niệm Lời Chúa khiến con nhớ,
    chuyện người hành khất đi từng nhà,
    chợt thấy xe Vua óng ánh đến từ xa.
    lòng thầm nhủ Đức Vua sắp đi qua,
    thế là hy vọng trong anh bừng sáng dậy,
    kiếp nghèo không còn nữa kể từ đây.

    Anh đang chờ Vua bước xuống xe,
    ban phát cho anh nhiều vàng bạc,
    để đời anh chấm dứt cảnh lang thang.

    Thấy Vua đi tới mỉm cười,
    lòng anh vui sướng như người trên mây,
    thế nhưng Ngài lại chìa tay,
    hỏi xem anh có gì chăng cho Ngài?

    Quá sửng sờ khiến lòng anh bối rối,
    ai có ngờ Ngài lại đến xin mình,
    thôi thì chỉ có hạt lúa đây,
    anh đành phải lấy để dâng tặng Ngài,
    Vua lên xe xa khuất trên đường dài,
    anh lại lang thang miệt mài y như cũ.

    Thế rồi khi chiều về dốc túi ra,
    bất ngờ lại thấy một điều lạ,
    giữa những hạt lúa có hạt vàng lấp lánh,
    anh lặng người trong cảm xúc xuyến xao,
    lệ rưng rưng anh nghẹn ngào tự bảo:
    phải chi tôi dâng trao cho Ngài hết,
    để chẳng còn gì cho bản thân,
    thì giờ đây đã vui sướng vô ngần.

    Lạy Chúa, đã bao lần con lưỡng lự,
    muốn cho đi nhưng rồi lại muốn giữ.
    Ước chi con hoàn toàn buông xả,
    để Chúa là tất cả của đời con. Amen.

    Về mục lục

    ÍT HAY NHIỀU

    Lm. Jos DĐH.

    Con người tồn tại trên thế giới này không phải vì giầu có, chính xác là được yêu thương. To khoẻ béo bền, gầy gò ốm yếu, mưu trí hơn người hay ít học kém tài, vẫn không ảnh hưởng đến ước muốn bình an, niềm vui, hạnh phúc của ta. Kinh nghiệm cho thấy, đeo nhiều vòng vàng lên con lừa, nó vẫn mãi chỉ là con lừa. Con người giới hạn, có ăn cao lương mỹ vị, vận toàn gấm lụa đắt tiền, cũng chẳng ai gọi bạn là vua chúa bụt thần. Lắm tiền nhiều của, nghèo hèn túng thiếu, hoặc quyền cao chức trọng, tầm thường vô duyên, cũng không ảnh hưởng đến việc thành “chánh quả” của kiếp người. Trong thế giới ăn nhậu, họ biện minh: nam vô tửu như cờ vô phong, một lít ít hơn một xị. Khi đề cao cách sống đơn giản không cầu kỳ, các đấng bậc cho rằng: đội cũng vào chợ, gánh cũng vào chợ. Trong tinh thần bác ái phục vụ, cha ông chúng ta thì căn dặn con cháu: của cho không bằng cách cho.

    Ít hay nhiều, không phải chỉ là mối bận tâm về số lượng, đúng hơn, mọi người vẫn lưu ý đến nét đẹp của việc làm, hoặc chất lượng vững chắc của thành công. Ít hay nhiều nét đẹp của tinh thần, đang tô vẽ và làm sáng tỏ truyền thống tin yêu, dù gia đình hoàn cảnh có phần khác nhau. Câu chuyện gia đình, giáo dục và phát triển tình hiệp nhất yêu thương, tất cả đang phản ánh sự liên đới rất cụ thể trong bình an và niềm vui. Ít hay nhiều gì, cũng đang khơi dạy trách nhiệm phải xây dựng gia đình hạnh phúc. Dù bạn có yêu nhiều đến mấy, nhưng thiếu hành động, tình yêu ấy làm sao không phai nhạt ? Đức Giêsu cảnh giác đám đông đừng để gương xấu: ăn trên ngồi trốc, lộng lẫy hình thức, phô trương việc đạo đức, làm tổn thương sự thuỷ chung cao đẹp vốn có nơi tâm hồn.

    Hành động của niềm tin không tính bằng số lượng ít hay nhiều, đúng hơn là có cao hoặc thấp, chỉ hai đồng tiền: “bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn ai hết”. Hành động bác ai không phải là việc của người giầu, mến Chúa yêu người, đâu phải là sứ mạng của bậc cao niên, xây dựng tâm hồn sạch đẹp chẳng phải của nỗ lực cá nhân, ít nhiều cũng là sự thật: không thầy đố mày làm nên. Đức Giêsu cho các học trò và đám đông hôm đó thấy được giá trị thật của niềm tin: “tất cả những người kia đã bỏ của dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”. Đức Giêsu không lên án người giầu, không có ý chê các luật sĩ thiếu đạo đức, nhưng Ngài ghét bỏ và kịch liệt phản đối hành động xấu xa của từng cá nhân. Đức Giêsu không nhầm lẫn ¼ đồng xu to lớn hơn khác thường, không khen bà cụ đẹp lão, nhưng tán dương hành động cao đẹp của bà cụ không hề nhỏ bé.

    Xây dựng tâm hồn mới không phải là bổn phận của người thánh thiện, xây dựng và phát huy niềm tin phải là của đại gia đình kitô giáo, dù hoàn cảnh lịch sử địa lý không giống nhau. Việc sống đức tin không phải là đếm ngày tính tháng, lập trường vững chắc ở chỗ: một khi ai đó yêu bạn thực lòng, họ sẽ không ngần ngại bày tỏ cho cả thế giới cảm nhận được hành động yêu thương của họ. Đến nhà thờ hàng ngày, hàng tuần, nghe lời Chúa, suy gẫm lời Chúa, sống đời sống các bí tích, sống ảo hay sống thực, vẫn là cơ hội để mỗi người minh chứng niềm tin của mình đúng và chuẩn nhất. Tiền nhân chúng ta quả là sâu sắc khi nói: người ăn thì còn, con ăn thì hết, tiền của nhiều hay ít không phải là là vấn đề chính, quan trọng ở chỗ mỗi người sử dụng đúng, đẹp, ra sao.

    Có đông các luật sĩ biệt phái, có nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ, có đông người đến nhà thờ, có dồi dào tiền giỏ, tiền thùng, không hề xấu, ở đời người ta biết nói: tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xanh vỏ đỏ lòng, với Thiên Chúa, hành động đức tin mới là điều trọng tâm. Đức Giêsu không phê phán cái đẹp hình thức, xem thường số tiền dư thừa của người giầu, Ngài vẫn trân trọng giá trị truyền thống: con lợn có béo thì lòng mới ngon. Thiên Chúa thấu biết hành động của con người, giá trị cao đẹp tuỳ thuộc ở tấm lòng được thể hiện nơi cuộc sống. Một nghĩa cử đẹp, một việc làm có chất, một tình yêu chân thật, mới trở nên cao sâu trong đức tin và đức ái kitô giáo, dù xã hội tự nhiên có quan niệm gia đình lý tưởng là gia đình trong đó các thành viên phải vừa tài vừa đức.

    Một xã hội văn minh hiện đại là một xã hội giầu tình người, một gia đình hạnh phúc là một gia đình mà các thành viên thể hiện được sự hoà thuận yêu thương. Nhiều hay ít tâm hồn thanh sạch, ít hay nhiều tấm lòng bác ái yêu thương, đủ hay thiếu, dư hay thừa, tất cả chỉ có ý nghĩa, khi mỗi người biết hành động trong tình yêu thương với Đấng Kitô. Ngụ ngôn Thỏ và Rùa chạy đua về đích, ít nhiều vẫn đẹp cho hành trình của người tín hữu chúng ta. Thỏ chạy nhanh, Rùa nhẫn nại, về tới đích mới quan trọng chứ đâu phải trước hay sau. Kẻ giầu, người nghèo, người quảng đại, kẻ keo kiệt, người chức quyền, kẻ thường dân, xung quanh chúng ta quả là phong phú, hành động đẹp, tinh thần phục vụ cao, nỗ lực và liên đới trách nhiệm trong tình yêu Đức Kitô, đó chính là đích đến của niềm tin chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    AI CŨNG CÓ HAI ĐỒNG TIỀN KẼM

    Bông hồng nhỏ

    Hôm nay, trong lúc giảng dạy, Thầy Giêsu đã lên án lối sống đạo đức giả của các kinh sư và khuyên các môn đệ phải coi chừng lối sống ấy. Sau đó, Người ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng trong Đền Thờ, quan sát xem người ta bỏ tiền vào thùng. Người dừng lại trước một bà góa nghèo, cảm mến vì tấm lòng quảng đại của bà. Bà đã dâng hai đồng kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma. Đó là cả tài sản bà có, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Người dạy cho các môn đệ hiểu được đâu là điều cốt lõi của lòng yêu mến Chúa.

    Nghe Thầy Giêsu khiển trách các kinh sư, ta tự hỏi: Ta có đang mải mê tự tạo cho mình một cái vỏ bên ngoài thật đẹp mà quên chăm sóc cho tâm hồn mình không? Phải chăng, từ trước tới nay, ta cũng đã chỉ ưa thích vẻ bên ngoài, phô diễn cho người khác nhìn thấy sự thánh thiện đạo đức của mình. Ta khao khát sống thánh thiện và đạo đức, chăm chú đọc kinh cầu nguyện mà đôi lần lại ngần ngại giúp đỡ người anh chị em đang cần đến mình. Ta đã mong muốn yêu mến Chúa thật nhiều và cố gắng giữ luật nhưng lại bỏ qua lòng bác ái với người khác, dù đó là một việc làm nhỏ bé: giúp người chị em đang phải khiêng đồ nặng, cầm hộ chai nước cho một người già yếu, mở cửa sổ khi vào lớp học, … Có bao việc làm nhỏ mọn khác mà ta có thể làm mà ta đã không làm chỉ vì ta chưa biết sống cho người khác. Thật may mắn cho ta vì ta được nghe Lời Chúa, được nhìn lại bản thân để thấy mình rõ hơn, để thấy rằng mình không thánh thiện như mình tưởng, thấy rằng mình còn nhiều giới hạn lắm. Tin Mừng kể rằng, có một người thông luật hỏi Chúa Giêsu điều răn nào trọng nhất, và ai là người thân cận của ông. Người đã cho ông biết điều răn trọng nhất là mến Chúa, điều răn thứ hai là yêu người. Có một ý nghĩ rất mới thoáng đến trong tâm trí ta và làm cho ta phải xấu hổ. Quả là, từ trước đến nay, ta cũng chỉ quan tâm xem ai là người thân cận của mình. Khi ta quy về mình, ta đã chỉ mong chờ sự cho đi từ người khác, hay muốn người khác nhận tấm lòng của ta. Ta không nghĩ rằng mình phải trở thành người thân cận của người khác. Nghĩa là ta phải khiêm tốn đón nhận tấm lòng của người khác khi họ ngỏ lời muốn giúp đỡ ta, muốn lắng nghe ta, muốn trò chuyện với ta, dù họ thật khác ta, dù họ không phải là người ta quý mến. Ta có thấy mình cần đến sự hiện diện của những người bên cạnh ta không? Sự hiện diện của họ là một món quà mà Chúa gửi đến cho ta. Chỉ khi ta phải sống trong tình cảnh phải cách ly vì dịch bệnh ta mới hiểu được nỗi khát khao sống cùng người khác là thế nào, muốn được làm điều gì đó cho những người khác. Ta khát khao được ở bên trò chuyện, muốn nhận lấy những cử chỉ quan tâm dù nhỏ bé của họ. Học cách cho đi và học cách đón nhận là hai bài học mà ta phải học và rèn luyện cả đời, làm sao để cho những cử chỉ, lời nói, suy nghĩ của ta đều xuất phát từ tấm lòng chân thành chứ không dừng lại ở hình thức bên ngoài.

    Bà góa nghèo đã dâng hai đồng kẽm và việc làm của bà rất đẹp lòng Chúa. Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại để nói cho họ biết về tấm gương dâng hiến của bà. Người cũng cho họ thấy: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12, 4). Điều đó có nghĩa là bà đã phó thác cuộc đời của mình cho Thiên Chúa, bà dâng hết những gì mình có, dâng Chúa cả tình trạng túng quẫn của mình, cả cái sự nghèo khó của mình mà không than thân trách phận, không sợ xấu hổ, không sợ người khác chê bai, chỉ trỏ. Chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã chia sẻ, khi đến với Chúa, có những lúc chị cũng không có gì để dâng Chúa và chị dâng Chúa cả cái không có gì đó. Hai đồng tiền kẽm của ta là gì? Đó chẳng phải là tấm lòng đơn sơ chân thành khi đến với Chúa sao. Đó chẳng phải là sự phó thác, tin yêu: dâng Chúa những buồn đau, những lo lắng, những thử thách, thành công hay thất bại, dâng Chúa trọn con người mình. Đặt mình thường xuyên trước mặt Chúa, ta sẽ được Người dẫn đi qua đêm tối của cuộc đời, vì vẫn còn đó một ngọn đèn luôn luôn cháy sáng trong tâm hồn ta. Vẫn còn đó “hai đồng tiền kẽm” là tất cả cuộc sống của ta để dâng Chúa trọn cả trái tim.

    Lạy Chúa! Chúa cao cả và giàu sang vô cùng. Cảm tạ Chúa đã luôn đón nhận con, dầu cho con đã từng thờ ơ và vô tâm với anh chị em con đang khi con nghĩ mình yêu Chúa. Ngay khi Chúa làm cho con nhận ra tình trạng của mình, con liền chạy đến với Chúa và được Chúa thứ tha và xót thương. Chúa hằng dạy dỗ con từng điều nhỏ nhặt nhất, dạy con cả trong những vấp ngã, trong những lần con lạc xa Ngài. Lạy Chúa! Chúa vui lòng nhận lấy “hai đồng tiền kẽm” của con, xin Chúa cũng dạy con biết nhận lấy hai đồng tiễn kẽm từ tấm lòng của người khác, và không ngần ngại hay xấu hổ khi bản thân chỉ có “hai đồng tiền kẽm” để trao cho họ; vì biết rằng điều con trao gửi là cả trái tim. Amen.

    Về mục lục

    CỦA LỄ MỌN HÈN

    Thiên San

     Đức Giêsu ngồi dối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ và quan sát người ta bỏ tiền vào thùng. Nhiều người nối đuôi nhau đến bỏ tiền vào thùng. Họ có biết rằng có một người đang quan sát họ? Những người giàu có bỏ vào đó nhiều tiền. Tiếng leng keng của các đồng tiền rớt xuống va vào nhau nghe rất vui tai. Trong số đó, có một bà góa nghèo cũng tiến đến, bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Thấy vậy, Đức Giêsu gọi các môn đệ lại mà rằng; “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12, 43). Lạ thay, của lễ mọn hèn của bà góa nghèo đã được Con Thiên Chúa nhìn nhận và trân quý.

    Ngày nay, nhiều người rộng rãi, có lòng đóng góp cho việc chung, cho nhà thờ. Có người cho đi nhiều nhưng họ lại không muốn mọi người biết đến. Đó là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, Đức Giêsu cho chúng ta một cái nhìn thật khác lạ: Giá trị của việc cho đi không tính bằng số lượng nhưng bằng tấm lòng khao khát muốn cho đi. Hai đồng kẽm bé nhỏ của bà góa nghèo thì lớn hơn tất cả số tiền những người giàu có bỏ vào. Vì bà ấy đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì có thể nuôi sống bà (x. Mc 12, 44). Nếu là bà góa, chúng ta có đủ khiêm tốn, can đảm để bỏ vào thùng số tiền ít ỏi của mình? Hay chúng ta sợ người khác chê cười, sợ bị đánh giá. Đối với Thiên Chúa, nhiều ít không phải là vấn đề nhưng quan trọng là ở tấm lòng. Người biết rõ lòng mỗi người.

    Những người nghèo, các bà góa là những những người được Đức Giêsu quan tâm cách đặc biệt. Người nhìn đến họ, chân nhận và yêu thương họ. Bằng chứng là Người đã lên tiếng bênh vực các bà góa, Người cảnh cáo thái độ hống hách của các kinh sư đã nuốt hết tài sản của các bà. Người nhìn đến hai đồng kẽm nhỏ bé của bà góa nghèo và coi nó là của lễ lớn lao. Noi gương Người, chúng ta được mời gọi dành sự quan tâm đặc biệt đến những người nghèo khổ trong xã hội. Đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi đặt cái nhìn của mình trong Thiên Chúa. Nghĩa là, chúng ta cần biết chân nhận, quý trọng sự hiện diện, đóng góp nhỏ bé của những anh chị em nghèo khổ. Hơn nữa, nếu chúng ta biết bỏ qua cái nhìn, sự đánh giá của người đời để dâng lên Chúa tất cả những gì chúng ta có, dù nó nhỏ bé nhưng với tất cả tấm lòng thì Thiên Chúa sẽ rất vui vì điều đó.

    Lạy Chúa! Chúng con biết rằng, lời ca tụng, những đóng góp của chúng con không thêm gì cho Chúa nhưng chính việc chúng con cảm tạ Chúa và đóng góp với hết tấm lòng sẽ đem lại ơn lành lớn lao cho chúng con. Chúng con tin rằng, Chúa không nhìn hay đánh giá như người đời. Tấm lòng của Chúa rộng lớn bao la, sẵn sàng đón nhận của lễ mọn hèn chúng con dâng. Tin tưởng như thế chúng con hân hoan, vui sướng đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng Nước Chúa. Xin cho chúng con biết quan tâm, đón nhận và giúp đỡ nhau trong đời sống đặc biệt là quan tâm đsặc biệt đến những người nghèo khổ. Amen.

    Về mục lục

    GIÁ TRỊ THẬT

    Lm Vũđình Tường

    Hai dụ ngôn nhắc đến hai giai cấp xã hội của thế kỉ đầu tiên. Giai cấp giầu có, trưởng giả, Kinh Sư và giai cấp nghèo của bà goá, là nạn nhân của giới Kinh Sư. Cả hai dụ ngôn liên quan đến của cải và cách dùng của cải. Nhóm Kinh Sư đây không phải là nhóm lãnh đạo thường mà là lãnh đạo Đền Thờ. Bà goá không chỉ thuộc phận nghèo hèn, mà còn là người đàn bà goá bụa. Xã hội thế kỉ đầu giới nghèo đã nghèo, thành goá bụa còn nghèo hơn. Bà goá dù là một mình nhưng bà đại diện cho giới nghèo khổ trong xã hội. Xã hội nào giới nghèo cũng nhiều hơn giới lãnh đạo và trưởng giả. Ngày nay công nhân lao động chân tay đông hơn công nhân trí thức làm việc bằng trí óc.
    Khác biệt giữa giới lãnh đạo và công nhân thật rõ nét. Đức Kitô chê trách, cảnh tỉnh môn đệ ngài về giới lãnh đạo Đền Thờ. Ngài nhắn nhủ các ông,
    ‘Anh em phải coi chừng những ông Kinh Sư ưa dạo quanh, xúng xính trong áo thụng, thích được chào hỏi nơi công cộng’ Mc 12,38
    Đối với bà goá nghèo, Đức Kitô khen bà trước mặt các môn đệ. Giới Kinh Sư ham của cải, thích tích trữ của cải làm của riêng. Bà goá cũng gom góp, tích trữ của cải, không làm của riêng nhưng để cho đi, dâng hiến cho Đền Thờ. Theo tinh thần bài học tuần trước, bà goá yêu mến Thiên Chúa hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn. Bà yêu mến Thiên Chúa với tất cả tấm lòng. Dâng hiến của cải cho Đền Thờ tâm hồn bà rộn lên niềm vui. Bà không bị lệ thuộc vào vật chất.
    Yêu mến chân thành không giới hạn. Đức Kitô nói với môn đệ về bà như sau,
    ‘Mọi người đều rút từ tiền dư, bạc thừa mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình’ Mc 12:44
    Đức Kitô dậy môn đệ, tình yêu bà dành cho Đền Thờ Thiên Chúa không phải đo bằng của cải vật chất, nhưng đo bằng tấm lòng chân thành bà dành cho Đền Thờ. Đức Kitô nhìn thấu con tim bà, con tim chan hoà lòng yêu mến Thiên Chúa. Chúng ta không biết bà nghĩ gì, nhưng có thể đoán trong tâm bà, bà tin tưởng những gì bà hiện có đều do Chúa ban. Vì thế bà rất vui dâng cúng tất cả những gì bà có cho Đền Thờ. Trao dâng cho Đền Thờ tất cả những gì có để nuôi sống mình là dấu chỉ hoàn toàn, tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng.
    Bởi vì bà cho tất cả những gì bà có để nuôi sống mình, vì thế nhiều học giả cho rằng đây là hành động bác ái thiếu khôn ngoan. Giải thích theo chiều hướng đó xem ra có vẻ quá giới hạn. Ngày nay chúng ta hiểu tiền bạc cách rộng rãi hơn. Tất cả những gì làm ra tiền, hoặc không tốn tiền, đều được coi là của cải. Trong đó bao gồm cả thời gian, trả lương theo giờ, tài năng, kiến thức, hiểu biết, khôn ngoan và ngay cả sức khoẻ. Tất cả đều làm ra tiền. Ngoài ra còn kể thêm tinh thần. Có được một tâm hồn thanh thản, con tim bình an, giấc ngủ ngon trong đêm là những ‘của cải’ tinh thần vô giá bởi không gì mua được chúng.
    Không biết bà goá có nguồn của cải vật chất, tinh thần nào. Chỉ biết bà nghèo. Bà dành dụm được ít tiền để tự nuôi thân. Rất có thể bà có những người bạn chân thành sẵn sàng hỗ trợ bà trong cơn túng thiếu. Không giống như một số Kinh sư sống trong ảo vọng, mong được người ta ca tụng, tán dương. Thiếu những thứ đó họ thiếu vui. Bà goá, trái lại sống một cách chân tình, chân thành với chính mình và với tha nhân. Niềm vui của bà đến từ cho đi, từ dâng cúng; trong khi niềm vui của một số Kinh Sư đến từ bên ngoài, từ lời ca tụng của tha nhân. Chính vì tìm nguồn vui nơi tha nhân mà giá trị thực sự của con người họ bị che khuất, giá trị trình diễn lộ ra qua cách trang phục.
    Đền Thờ lộng lẫy. Người Do Thái hết lời ca tụng. Đức Kitô nói với các môn đệ, Đền Thờ đó cũng có ngày qua đi. Quả thật, bốn mươi năm sau, Đền Thờ bị phá tan hoang. Điều này cho biết không gì trên thế giới này, dù lớn, cao sang, vĩ đại đến đâu cũng có ngày qua đi. Chỉ có một điều tồn tại đó chính là tình yêu ta dành cho Chúa bởi chính Chúa làm cho tình yêu đó bền vững muôn đời.
    Cuộc sống của ta lệ thuộc vào công ăn việc làm và sức khoẻ. Luôn nhớ cả công việc lẫn sức khoẻ đều rất bếp bênh. Công ti làm ăn thua lỗ, phá sản, côn nhân mất việc. Tai nạn xảy ra, sức khoẻ đi đong. Tuổi già kéo đến vừa sinh tật, vừa sinh bệnh. Hệ thống kinh tế hoàn cầu lúc tiến, phát triển, khi co cụm, thụt lùi. Đầu tư trọn đời vào tài chánh, kinh tế, của cải vật chất, khi chúng ra đi còn lại gì, ngoài nước mắt và nuối tiếc. Người ta thích đầu tư trọn đời mình vào của cải vật chất bởi xã hội trọng giới giầu, khinh giới nghèo. Đức Kitô cảnh tỉnh môn đệ, giá trị thực của con người không phải do lắm của, nhiều tiền mà chính là con tim chân thành, yêu mến. Bạn xét mình xem, mình chọn sống theo cung cách nào? Cung cách của Kinh Sư hay cung cách của bà goá.

    Về mục lục

    LÒNG TIN VÀ SỰ CHÂN THÀNH

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Cấu trúc ba bài đọc Lời Chúa hôm nay là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt về lòng tin và sự chân thành.
    Bài đọc 1 trích sách Các Vua kể chuyện bà goá thành Xarêpta. Thời ngôn sứ Êlia, khi Thiên Chúa làm hạn hán trên đất nước Do thái để phạt vua tôi của nước này, ngôn sứ Êlia được lệnh Chúa tạm lánh sang xứ Sarepta. Êlia xin bánh, dù bà goá không đủ bột làm bánh cho hai mẹ con nhưng với lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa nên đã chân thành dâng chút bột và dầu ít ỏi làm bánh nuôi ngôn sứ. Chúa đã trả công bội hậu cho bà thoát cảnh đói khổ “hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Thiên Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất”.
    Nơi bài đọc hai, tác giả thư Do thái trình bày một điều căn bản trong đức tin Kitô giáo “Đức Kitô đã tự hiến chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người”, điều chỉ có sự thành tín của Thiên Chúa mới thực hiện được.
    Bài Tin mừng kể lại chuyện Đức Giêsu biểu dương tấm lòng thành của bà goá nghèo dù bà chỉ dâng hai đồng tiền kẽm.
    Đức Giêsu thảnh thơi ngồi quan sát xem đám đông bỏ tiền vào thùng tiền dâng cúng ra sao. Người thấy một cảnh đối chọi thật chát chúa: có những người giàu bỏ thật nhiều tiền (thấy tay họ cầm và tiếng tiền kêu leng keng trong thùng!”), lại cũng có “một bà góa nghèo, đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma”. Phản ứng của Đức Giêsu thật đặc biệt: “Người liền gọi các môn đệ lại mà nói”. Lần trước “Người ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói” (Mc 9,35) là để sửa dạy các ông vì khi đi dọc đường các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn nhất, trong khi các ông không dám hỏi lại về những lời Người loan báo trong Cuộc Thương Khó. Hôm nay Người ngồi sẵn đó, Người gọi các môn đệ lại, chỉ cho các ông thấy bà góa nghèo này và nói. Tại sao hình ảnh bà góa này dâng cúng hai đồng kẽm, đáng giá một phần tư đồng xu Rôma, lại kéo sự chú ý của Người như thế? Nghe kỹ lời bình luận của Người: “Mọi người đều rút từ tiền bạc dư thừa của họ mà bỏ vào đó; còn bà góa này thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có thể nuôi sống bản thân mình”. Những người khác bỏ nhiều tiền vào thùng, nhưng rút từ tiền bạc dư thừa, chứ không phải tất cả tiền dư bạc thừa, nên tuy bỏ nhiều nhưng chưa đụng tới đời sống của họ. Còn bà góa này rút từ cái túng thiếu của mình, bỏ vào đó “tất cả tài sản, tất cả những gì bà có thể nuôi sống mình”. Số tiền này chỉ đủ mua bánh mì ăn một bữa.
    Trong cuộc hỏi đáp với ông kinh sư, Người vừa đọc lại điều răn thứ nhất. Bây giờ Người bắt gặp bà goá nghèo này đang thực hành điều răn ấy triệt để. Điều răn bảo “yêu mến bằng tất cả trái tim, tất cả mạng sống và tất cả những gì người có”. Bà góa này túng thiếu, không có dư thừa, bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có thể nuôi sống mình, thế là bà đã yêu mến bằng tất cả những gì mình có, bằng cả mạng sống. Có yêu bằng tất cả trái tim hay không thì làm sao kiểm chứng được. Nhưng yêu mến bằng tất cả những gì mình có và bằng cả mạng sống thì chứng minh được, như bà góa này vừa làm. Đã yêu mến như thế thì chắc chắn là yêu bằng cả trái tim rồi.(x.Tĩnh tâm với sách Tin mừng Maccô, Lm Giuse Nguyễn Công Đoan).
    Bà góa đã dâng cúng với tất cả tấm lòng thành, với niềm tin và bằng lòng mến nồng nàn đối với Thiên Chúa. Bà dâng cúng hai đồng tiền kẽm, tuy nhỏ nhất nhưng đó là tất cả những gì thiết yếu cho cuộc sống của bà, như thế bà đã dâng cả mạng sống. Nhìn cung cách dâng cúng của bà, Đức Giêsu đã khen: “Bà góa nghèo khó này đã bỏ vào hòm tiền nhiều hơn mọi người”.
    Chiêm ngắm hai thái độ, hai hành động của bà goá trong Cựu Ước và Tân Ước, họ có chung một điểm đó là tấm lòng chân thành khi cho đi và tâm hồn hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Kết quả là họ không mất gì cả mà được tất cả. Bà goá ở Xarépta được một hủ bột không cạn và bình dầu không vơi. Bà goá nghèo trong Tin Mừng tuy không biết kết quả sau này thế nào nhưng việc làm của bà lại đẹp lòng Thiên Chúa, như vậy đã đủ đối với một con người tin tưởng phó thác vào Chúa.
    Đây là sứ điệp Lời Chúa gởi đến chúng ta hôm nay: Con hãy sống và hành động chân thành, nhiệt tâm và tin tưởng. Nếu con giúp đỡ ai, con hãy giúp đỡ cách thành tâm và hết lòng, theo khả năng con có thể. Nếu dâng cúng tiền của hay bất cứ điều gì cho Thiên Chúa và Giáo Hội, con hãy dâng cúng theo khả năng của con, nhưng phải dâng một cách thành tâm. Bởi vì trước mặt Thiên Chúa, của lễ cũng như số lượng của lễ hoàn toàn không quan trọng. Chính tâm tình con thảo và tấm lòng tin tưởng của con mới là điều Thiên Chúa muốn. Ðối với của lễ dâng cúng, không phải lễ vật và trị giá của nó, mà chính là sự chân thành và lòng tin của con mới là điều quan trọng và đáng kể.
    Đối với Thiên Chúa, lễ vật dâng tiến không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, mà là với cả tấm lòng. Cách cho quý hơn của cho. Của cho kèm theo tấm lòng là của cho quý hóa nhất.
    Yêu mến thì phải cho. Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho. Và cho chính cái mình quý nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất. Bà góa đã cho nhiều nhất vì đã cho cả tấm lòng.Xét về số lượng khách quan thì số tiền một phần tư xu so với năm, ba chục ngàn hoặc từng mấy trăm ngàn hay một triệu thì thật mỉa mai, thật tức cười. Nhưng với Chúa Giêsu hai đồng tiền nhỏ của người phụ nữ vô danh lại nhiều hơn hết. Điều có nghĩa là những công việc đạo đức và từ thiện, bác ái hơn nhau ở động lực và lý do hay mục đích chứ không phải ở số lượng. Giá trị của việc dâng cúng, việc bác ái không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh. Mẹ thánh Têrêsa Calcutta nói: “Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”. Thiên Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Ai không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng. Chính lúc cho đi là lúc lãnh nhận.
    Khi khen tặng bà góa nghèo, có vẻ như Chúa muốn nói rằng “Hãy nhìn, đây là một mẫu gương của một người nghèo chân thành cho đi tất cả những gì bà có vì lợi ích chung”. Đóng góp vào việc xây dựng Giáo xứ là bổn phận của mọi tín hữu. Đối với Giáo Hội, người Kitô hữu có bổn phận sống bác ái, chia sẻ và góp sức xây dựng nhà Chúa, giáo họ, giáo xứ ngày càng khởi sắc, ngày càng đi lên, ngày càng tốt đẹp. Nói thì dễ, thực hiện nhiều khi cũng có những lấn cấn, khó nói, khó làm. Trong vai trò lãnh đạo giáo xứ, tôi muốn biểu dương những công việc và hy sinh của mọi thành viên. Họ là những vị hội đồng giáo xứ, những bà mẹ mỗi chiều 3 giờ đến nhà thờ đọc kinh lòng thương xót, những ca viên, giáo lý viên, các chú lễ sinh, nhóm quét nhà thờ, người giật chuông, ông bà cao niên đọc kinh sáng tối. Những hội viên caritas, hội giúp đỡ kẻ liệt, các giới các đoàn thể… Họ là những người phục vụ theo khả năng của mình. Không có họ, giáo xứ không sinh hoạt sống động. Những đóng góp của họ dù là tiền bạc, dù là công sức đều có giá trị trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội. Rồi còn có các bà goá, những người bệnh hoạn tật nguyền, những người lao động chân tay hay trí óc. Tất cả đều cống hiến để xây dựng Giáo xứ. Chắc chắn Chúa cũng nhìn đến công lao của mỗi người và cũng khen thưởng như khen thưởng bà goá: “Thầy bảo thật anh em, người này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.
    Có lẽ tài sản quý giá nhất chúng ta có là thời giờ của mình. Đôi lúc cho đi tiền của lại là điều dễ thực hiện hơn; cái khó là cho đi thời giờ, tài năng và khả năng của mình. Hãy biết cho đi. Thương yêu là cho đi. Càng cho nhiều là dấu càng yêu thương nhiều. Không chỉ cho đi những gì là vật chất mà còn những gì là tinh thần như một nụ cười, một cái nhìn thiện cảm, một lời nói vui vẻ hiền hòa, những lời an ủi chân thành…mà còn cho đi lời cầu nguyện trong đời sống siêu nhiên.
    Trong tháng 11 này, chúng ta tưởng nhớ những người đã qua đời. Họ đang yên nghĩ, họ cần điều gì nhất? Họ cần đến lòng thương xót Chúa. Họ cần chúng ta nhớ đến họ bằng tình yêu thương của trái tim. Họ muốn chúng ta đừng quên họ nhưng hãy nhớ đến họ bằng kinh nguyện và thánh lễ.
    Họ đã bước vào cõi thinh lặng ngàn thu. Họ chỉ cần chúng ta nhớ đến và cầu nguyện. Họ muốn chúng ta cho họ những bông hoa tưởng nhớ, những nụ hoa cầu nguyện, những mật hoa bác ái, những hương hoa hy sinh.
    Người Công Giáo được khuyến khích thực hiện những điều thiết thực, như xin Lễ, dự Lễ, đọc kinh cầu nguyện, làm việc lành phúc đức… để chuyển cầu cho những người đã ra đi mà còn đang vướng mắc một vài trở ngại nào đó khiến họ chưa hoàn toàn chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Thiên Chúa. “Cầu nguyện cho người chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý tưởng lành thánh” (2 Mcb 12, 46; GH, 50). Khi cầu nguyện cho họ, chúng ta không chỉ giúp họ, mà còn làm cho lời họ chuyển cầu cho chúng ta hiệu quả hơn” (GLCG, số 958). Những việc lành phúc đức cho chúng ta một cảm giác hạnh phúc và ý nghĩa bởi vì thân nhân của chúng ta đã và sẽ còn được tưởng nhớ đến mãi.
    Trên giường hấp hối, mẹ Monica đã nhắn nhủ con trai Augustinô: “Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh”.
    Tháng 11, tháng cuối năm phụng vụ. Tại các nghĩa trang, người tín hữu thường đến thắp nhang, cắm cành hoa tươi, đọc kinh cầu nguyện trước phần mộ người đã qua đời. Người còn sống cầu nguyện cho người đã chết. Người đã an giấc ngàn thu nhắn nhủ người đang sống về lý lẽ cuối cùng của cuộc sống làm người. Bầu khí phụng vụ tháng 11 hướng về cùng đích của cuộc sống làm người. Đó chính là Cánh Chung.
    Trong suốt tháng các linh hồn này, hãy chân thành và tin tưởng dâng mọi ý nguyện và những hy sinh của chúng ta để cầu nguyện cho người thân và mọi người quá cố. Ước gì những lời cầu nguyện và hy sinh ấy cũng nuôi dưỡng và củng cố niềm hy vọng của chúng ta vào cuộc sống mai hậu, và nhờ đó mang lại ý nghĩa cho cuộc sống hàng ngày.

    Về mục lục

    CÁI NHỎ CHỨNG TỎ CÁI TO

    Trầm Thiên Thu

    Có lần đề cập sự lo lắng và tin tưởng, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Việc nhỏ nhất mà anh em còn làm không được, thì anh em lo lắng về những việc khác làm gì?” (Lc 12:26) Và khi nói về việc trung tín trong cách sử dụng tiền của, Ngài nói: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.” (Lc 16:10)

    Người ta coi thường cái lỗ thủng nhỏ nhưng bất ngờ con thuyền bị đắm. Kiến tha lâu cũng đầy tổ, đó là vấn đề tích cực. Miệng ăn núi lở, đó là vấn đề tiêu cực. Những cái nhỏ có vẻ chẳng đáng gì nhưng lại rất quan trọng. Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ đại, ít mà dồi dào, bình thường mà rất khác thường.

    Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều công sức để phân định xem một ly nước “BỊ cạn một nửa” hay “ĐƯỢC đầy một nửa.” Bị hay Được cũng là dạng thụ động, ngoại ngữ chỉ có thể diễn tả một kiểu, còn Việt ngữ có thể diễn tả hai cách – cái tốt gọi là Được, cái xấu gọi là Bị.

    Cách suy nghĩ cũng khác nhau về cách nhìn vấn đề. Người bi quan thấy ly nước BỊ CẠN MỘT NỬA và họ LO SỢ nước sẽ tiếp tục cạn, người lạc quan thấy ly nước ĐƯỢC ĐẦY MỘT NỬA và họ HY VỌNG nước sẽ được đổ thêm cho đầy hơn. Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà qua đó, chúng ta nhìn mọi sự xảy ra. Cái ly trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái ly trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn.

    Vấn đề nhỏ – to cũng “dính líu” con người. Trong xã hội, người ta tự phân chia đa cấp – người trọng, kẻ khinh. Ngày xưa, một dạng bị coi thường là người góa bụa. Góa là tình trạng của một người đã lập gia đình nhưng chết vợ hoặc chết chồng, nhưng người ta thường có ý nói về phụ nữ: Bà góa, góa phụ, quả phụ hoặc sương phụ. Góa phụ và quả phụ đều là phụ nữ chết chồng – có thể có con hoặc không, và có khác một chút xíu: Quả phụ là người còn trẻ, góa phụ là người đã luống tuổi. Kể cũng lạ, “gà trống nuôi con” thì người ta thấy thương cảm, còn “gà mái nuôi con” thì người ta lại thấy… bình thường! Loại phụ nữ góa bụa thường bị xã hội coi thường, xưa cũng như nay, vì vậy mà họ cũng thường cảm thấy cô độc và tự ti mặc cảm. Thế nhưng Chúa Giêsu lại chú ý và đề cao “giai cấp” khốn khổ này.

    Thân phận không ảnh hưởng cách sống. Thật vậy, trình thuật 1 V 17:10-16 kể về một bà góa tốt bụng đã nuôi ngôn sứ Êlia.

    Ngày đó, sau một thời gian hạn hán, Đức Chúa bảo ông Êlia đi Xarépta thuộc Siđôn, và ở lại đấy, rồi sẽ có một bà góa ở đó nuôi ông. Thế là ông đi ngay. Vừa đến cổng thành, ông thấy có một bà góa đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và xin nước uống. Bà ấy liền đi lấy nước cho ông, rồi ông bảo bà cho ông xin miếng bánh. Bà lấy danh Thiên Chúa mà thề rằng bà không có bánh, chỉ còn nắm bột và chút dầu trong vò, bà đi lượm vài thanh củi về nhà nấu nướng cho mẹ con bà ăn bữa cuối rồi chờ chết. Ông Êlia bảo bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói, nhưng trước tiên hãy làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn trước, sau đó làm cho mẹ con bà. Ông nói rằng Thiên Chúa đã hứa hũ bột sẽ không vơi và vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Ngài đổ mưa xuống trên mặt đất.

    Không chú đắn đo, bà góa làm theo lời ông Êlia. Bà góa này thực sự đạo đức. Cả mẹ con bà và ông Êlia có đủ ăn lâu ngày, vì hũ bột không hề vơi và vò dầu chẳng hề cạn, đúng như lời Đức Chúa đã hứa. Phép lạ nhãn tiền.

    Chắc chắn chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm như vậy, bởi vì duy nhất một mình Ngài là Tạo Hóa chứ chẳng có thần linh nào khác. Người Việt chúng ta, kể cả những người không tin vào Thiên Chúa, thường cầu xin khi trời nắng lâu ngày: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm.” Cuộc sống cho thấy rằng El Niño hay La Niña thì chúng ta cũng đều khổ sở, vì khô quá hoặc ướt quá cũng bất thường, bất ổn!

    Theo tiếng Tây Ban Nha, El Niño nghĩa là “bé trai,” có ý nói đến Chúa Hài Đồng. Trung bình cứ 3-10 năm, ngư dân vùng biển ở Peru lại thấy nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đó là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kỳ và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như lớn. Người ta gọi đó là hiện tượng El Niño để đánh dấu thời điểm nó xuất phát gần dịp Giáng Sinh. Còn La Niña nghĩa là “bé gái,” hiện tượng này trái ngược với El Niño. La Niña thường bắt đầu hình thành từ tháng Ba đến tháng Sáu hằng năm, ảnh hưởng mạnh nhất vào cuối năm cho tới tháng Hai năm sau. La Niña xảy ra ngay sau khi hiện tượng El Niño kết thúc. El Niño là hiện tượng nước biển tăng độ nóng, La Niña là hiện tượng nước biển tăng độ lạnh – còn gọi là El Viejo hoặc Anti-El Niño.

    Thiên Chúa nhân hậu nhưng cũng công bằng. (x. 1 Pr 1:17; Rm 2:2; Kh 19:11) Thánh Vịnh gia cho biết: “Thiên Chúa xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính.” (Tv 146:7-8) Ngài giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người, không phân biệt và không thiên vị ai, đặc biệt xót thương những người bị xã hội ruồng bỏ: “Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Sion hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.” (Tv 146:9-10)

    Chúa Giêsu đã tự hạ đến tột cùng và yêu thương chúng ta đến cùng, yêu thương đến muôn đời. Thánh Phaolô minh chứng: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng NGƯỜI ĐÃ VÀO CHÍNH CÕI TRỜI, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa CHUYỂN CẦU CHO CHÚNG TA. Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh.” (Dt 9:24-25) Hy lễ của Đức Giêsu Kitô chỉ một mà trọn vẹn tất cả, nhưng Ngài vẫn chấp nhận tiếp tục chịu đau khổ vì chúng ta. Thật kỳ diệu vô cùng!

    Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần để TIÊU DIỆT TỘI LỖI bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là PHẢI CHẾT MỘT LẦN, rồi sau đó CHỊU PHÁN XÉT. Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để CỨU ĐỘ NHỮNG AI TRÔNG ĐỢI NGƯỜI.” (Dt 9:26-28)

    Có sự trùng hợp thú vị: Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Cuối năm như lời nhắc nhở mỗi chúng ta về đoạn cuối cuộc đời của mình – không chỉ đối với người già mà cả người trẻ. Sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuộc đời cũng sẽ hết và chắc chắn chúng ta sẽ chết. Chuyện nhỏ hay to, bình thường hay đặc biệt? Chết rồi còn gì chăng? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ những gì chúng ta trao tặng thì còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức và công phúc, đặc biệt là đức ái, vì đức ái còn mãi mãi: “Lúc hiến thân là lúc nhận lãnh, lúc quên mình là lúc gặp lại chính mình.” (Thánh Phanxicô Assisi)

    Trình thuật Mc 12:41-44 (≈ Lc 21:1-4) nói về việc dâng cúng của bà góa nghèo, tức là đề cập việc trao tặng, biếu hoặc cho. Điều này cho thấy rằng động từ “cho” là động từ quan trọng lắm: “CHO thì có Phúc hơn là NHẬN.” (Cv 20:35) Thật vậy, “hãy làm mọi sự vì Đức Ái.” (1 Cr 16:14)

    Một hôm, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một BÀ GÓA NGHÈO đến bỏ vào đó HAI ĐỒNG TIỀN KẼM – trị giá 1/4 đồng xu Rôma. Đồng kẽm (số ít: lepton, số nhiều: lepta) là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất thời La Mã. Khi lưu hành ở Palestine, 1 lepton trị giá khoảng 6 phút làm công theo lương trung bình mỗi ngày. Thực tế rất đời thường, nhưng Đức Giêsu dùng sự thật này để dạy bài học vô giá: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng NHIỀU HƠN AI HẾT. Quả vậy, mọi người đều rút từ TIỀN DƯ BẠC THỪA của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, TẤT CẢ NHỮNG GÌ BÀ CÓ để nuôi sống mình.” Bà góa nghèo bị người ta khinh miệt nhưng bà lại là “thầy dạy” của chúng ta về cách làm việc từ thiện.

    Chúa Giêsu đề cao bà góa với ngụ ý chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo là những kẻ đạo đức giả, họ dâng cúng chỉ để người khác chú ý và được tôn trọng. Ngài có chỉ trích chúng ta? Liệu chúng ta có cảm thấy thanh thản?

    Dâng cúng là điều cần thiết, rất tốt. Điều răn thứ năm của Giáo Hội có đề cập. Tuy nhiên, những gì chúng ta gọi là “việc thiện” hoặc “việc đạo đức” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Có lẽ chúng ta cần cảnh giác mà đặt vấn đề, kẻo “chưa rối đạo mà lại rối việc đạo!”

    Thế nào là nhỏ hay to? Ông A dâng cúng bạc tỷ thì nhận bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài chục triệu thì nhận bằng ân nhân bậc I, II hoặc III, anh C dâng cúng vài triệu thì nhận bằng ân nhân bình thường, còn chị D không ai chú ý vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ. Sợ người ta nhìn thấy nên chị rất ngại!

    Lạy Thiên Chúa cảnh báo chính trực, xin giúp chúng con sống thật và hành động đúng, xin để đừng để chúng con “ra vẻ” để được người khác chú ý, xin tận diệt mọi thứ xấu xa trong chúng con, dù chỉ là ý nghĩ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

     

    CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Trong ngôn ngữ “nhà Đạo”, câu nói “Đồng tiền của bà goá” đã trở thành thông dụng, ám chỉ những điều rất nhỏ mọn và đơn sơ nhưng được thực hiện với thiện ý và tấm lòng chân thành.

    Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Elia, một người thời Chúa Giêsu. Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành. Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ goá bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9). Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng. Vậy mà Lời Chúa hôm nay lại muốn khẳng định với chúng ta: họ là những người đáng tôn trọng, bởi họ đã có những nghĩa cử đẹp. Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người goá bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế. Ngài là chỗ dựa cho họ. Các ngôn sứ và các tác giả Thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán.

    Người phụ nữ thời ngôn sứ Elia, nghèo đến mức chỉ còn một chút bột và chút dầu trong bình, nhưng cũng sẵn sàng làm cho vị ngôn sứ tấm bánh. Tấm bánh mà bà tặng cho vị ngôn sứ là tất cả những gì bà có, là niềm hy vọng cuối cùng của hai mẹ con bà. Vậy mà bà hy sinh tất cả. Sự hy sinh của bà đã được ghi nhận và thưởng công ngay lập tức. Từ đó, hũ bột của bà không vơi và bình dầu của bà không cạn cho đến khi mưa xuống trên xứ sở. Đó chính là sự thưởng công “nhãn tiền” mà bà được hưởng, do lòng rộng rãi của bà đối vị ngôn sứ.

    Người phụ nữ thứ hai được nhắc đến trong Tin Mừng cũng là người đàn bà goá nghèo. Bà công đức vào Đền thờ chỉ vẻn vẹn hai đồng tiền kẽm, là số tiền rất nhỏ so với giá trị tài chính đương thời, nhưng Chúa Giêsu khẳng định: bà đã dâng cúng tất cả mình có với lòng quảng đại và như thế có nghĩa bà bỏ nhiều hơn những người giàu có. Tác giả Tin Mừng cũng nhắc đến sự tương phản trong thái độ và y phục của những người cùng bước vào Đền thờ hôm ấy: trước hết là những kinh sư súng sính trong bộ áo thụng để phô trương và biểu diễn, rồi đến những người giàu có vênh vang khoe sự giàu sang. Bên cạnh họ, người đàn bà goá khiêm hạ, chỉ công đức được một chút tiền bạc. Tấm lòng của bà đã được ghi nhận, của cho không bằng cách cho. Khi nhắc lại cách công đức của bà góa nghèo, Chúa Giê-su khẳng định: cùng với tặng vật, người cho cần có một tấm lòng.

    Lời Chúa hôm nay muốn lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc. Thông thường, chúng ta hay quan sát và đánh giá theo những dáng vẻ bên ngoài. Tuy vậy, con người phải được tôn trọng trước hết là vì nhân phẩm của họ, rồi đến tư cách đạo đức và tấm lòng chân thành của họ đối với những người xung quanh. Sự thận trọng trong nhận định sẽ giúp ta tránh mọi sai lầm đáng tiếc, và tránh những thiệt hại cho những người có liên quan. “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, súng sính trong bộ áo thụng…, họ thích ngồi chỗ nhất trong đám tiệc… nuốt hết tài sản của các bà góa”. Những lời cảnh báo này nhắc chúng ta phải nhìn lại chính mình, để rồi chúng ta có cách hành xử cho đúng đắn.

    Lời Chúa cũng nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện. Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh. Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn. Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi.

    Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế. Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại. Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an. Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.

    “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng” – Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã diễn tả điều này trong một nhạc phẩm nổi tiếng. Quả vậy, không có tấm lòng, mọi sự đều trở nên vô nghĩa, hay nói theo Thánh Phao-lô, thiếu đức ái, những gì ta làm, dù lớn lao và hoành tráng đến mấy, cũng chỉ giống như thanh la não bạt, vang dội mà rỗng tuếch.

    Khi một người chết đi, anh ta nắm trong tay chỉ những gì mình đã cho đi khi còn sống. When a man dies he clutches in his hands only that which he has given away during his lifetime (Sưu tầm).

    Về mục lục

    .

    ẢNH HƯỞNG MẠNG XÃ HỘI HÔM NAY

    Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

    Ngàyhôm nay rất nhiều người sống không thể thiếu mạng xã hội. Đây là cách mà con người thời đại tiếp cận với xã hội và nhất là những vấn đề nóng của xã hội. Tuy nhiên, với bản tính của con người  thích soi xétchuyện người khác và thích thỏi phồng những tin nóng, thì mạngxã hội nhiều khi trở thành một “pháp trường” nơi đám đông mặc nhiên thể hiện sự tàn nhẫn. Họ ném đá những người họ không thích, bất kể đúng sai. Họ cười nhạo kẻ khác biệt mình không một giây suy nghĩ. Họ soi mói đời sống riêng tư, thậm chí thích thú trước nỗi khổ của người khác. Họ coi thế giới ảo như một trò chơi, phủi tay tắt máy là câu chuyện kết thúc. Nhưng mạng xã hội không phải là trò chơi. Hậu quả của những việc tưởng như vô bổ trên mạng tàn khốc hơn nhiều.Nó đã cướp đi rất nhiều sinh mạng chỉ vì con người thích xét đoán người khác.

    Mới đây thôi, một em gái ở Đồng Nai tự vẫn khi bị người yêu đăng clip nhạy cảm lên mạng. Gia đình chạy đến hết chỗ này nơi khác để cứu em, nhưng vô vọng. Cô bé mới 16 tuổi, không thể chống đỡ áp lực từ cơn bão mạng. Kẻ đăng clip đã gián tiếp giết em và cả những người lan truyền nó nữa.

    Cũng có những trường hợp chỉ là vô tình trong lúc làm việc có những cử chỉ thái độ thiếu nghiêm túc liền bị ném đá tập thể một cách không thương tiếc như trường hợp của mộtbác sĩ Bệnh viện đa khoa Lâm Thao, Phú Thọ. Trong lúc khám cho bệnh nhân, anh gác một chân lên giường bệnh. Một chiếc smartphone giơ lên, hình ảnh được tung lên mạng.

    Cộng đồng phẫn nộ về y đức của anh, đòi phải xử lý thật nghiêm. Anh bị miễn nhiệm và sau đó thì tự nguyện xin từ chức. Sự việc diễn ra quá nhanh, khiến tôi cứ băn khoăn mãi. Chẳng lẽ một cái chân đặt sai tư thế lại là vi phạm nghiêm trọng đến vậy?

    Tôi không cho rằng, việc bác sĩ đặt chân lên giường bệnh là đúng, nhưng cái tôi cần biết hơn: anh chăm sóc người bệnh ra sao, hoàn thành công việc như thế nào, . . .Tiếc thay, nhiều người chỉ phán xét quanh cái chân để nhầm chỗ.

    Hôm nay Chúa Giê-su dạy cho chúng ta cách đánh giá về một con người. Tư cách của họ và tấm lòng của họ không dựa trên thế giá. Không dựa trên cách ăn mặc đi đứng. Điều quan yếu là nhìn vào hành động của họ. Cách sống của họ sẽ thể hiện tấm lòng của họ chứ không phải chỉ nói hay là làm giỏi.

    Bài Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu cũng đưa ra hai nhận định khác nhau về hai loại người. Nhận định thứ nhất về nhóm biệt phái, đại diện cho thành phần có chức có quyền. Nhận định thứ hai về bà goá nghèo, đại diện cho những con người thấp hèn, nghèo đói. Cả hai đều lên đền thờ với hai thái độ khác nhau. Bà goá nghèo khiêm tốn. Nhóm biệt phái giầu có lại kiêu căng. Bà goá nghèo dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Người biệt phái chỉ có lòng tự cao tự đại.

    Nhóm biệt phái là những công chức đền thờ nhưng lạitham lam chỉtìmcách lấycủa chung thành của riêng. Họ là những người cóchức, có quyềnnhưng lòng họ chất chứa đầy sự kiêu căng, vụ lợi đến nỗi không còn lòng quảng đại để cho đi.

    Bà goá nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giầu tấm lòng. Bà thành kính lên đền thờ với thái độ khiêm tốn thẳm sâu trước nơi cực thánh của Chúa. Bà đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa, dù chỉ là một đồng xu nhỏ bé.

    Chúa đã khen ngợi tấm lòng bà goá. Một tấm lòng chân thành và quảng đại. Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Kẻ không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng.

    Thếnên đánh giá hay xét đoán một con người đừng chỉ nhìn vào một phút sơ hở của họ để rồi vội kết án họ xấu xa. Nhất là trong thời đại thông tin công nghệ 4.0 thì một lời kết án thiếu chân thực của chúng ta sẽ giết chết một con người, hay ít ra cũng huỷ hoại nhân cách một con người, một khi lời đó được lan tải trên mạng xã hội. Và nhất là một sự chia sẻ thiếu hiểu biết của chúng ta sẽ gây nên những cơn bão đau khổ cho một con người.

    Đạo Công giáo là đạo yêu thương. Tình yêu thương mới gọi chúng ta chỉ nói và làm những điều gì có lợi cho tha nhân. Đừng cố tình đẩy anh em vào đau khổ. Hãy sống nhân đạo với nhau thi châm ngôn:”điều gì anh em muốn người khác làm cho mình thì hãy làm cho anh em như vậy”.

    Xin Chúa giúp chúng ta có một tấm lòng chân thành để sống với tha nhân như bà goá giầu lòng quảng đại chân thành. Và xin cho chúng ta cũng có tấm lòng nhân hậu để đừng xét đoán anh em một cách thiếu suy nghĩ, nhưng luôn lấy lòng từ bi để nói tốt, nghĩ tốt cho anh em. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỒNG TIỀN BÀ GÓA

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Đồng tiền giá trị nhiều hay ít giá trị tùy vào thời điểm nó thực hiện giao dịch có tính tạm thời hay vĩnh cửu. Đồng tiền sử dụng khôn ngoan là đồng tiền mua lấy Nước Trời (Lc 16, 9). Ít hay nhiều tiền mới mua được Nước Trời không quan trọng, tùy theo cách mỗi người đầu tư.

    Giây phút lấy tiền ra khỏi túi.

    Lúc quyết định thực hiện đầu tư là lúc đưa tay vào túi quyết định nhiều hay ít. Việc lấy từ túi tiền ra để bỏ vào thùng là lúc cho biết mình là ai, ít hay nhiều cho thấy một thái độ cần thiết về Nước Trời hay chỉ là một kênh đầu tư phòng hờ rủi ro.

    Con số nhỏ dùng như một kênh đầu tư trong nhiều khoản đầu tư khác, người ta đầu tư vào kênh Nước Trời để có cửa thoát thân. Cách đầu tư này là cách mang tính phòng hờ, sống đạo theo cách đối phó hơn là dấn thân.

    Với tấm lòng hảo tâm, quảng đại, giá trị đồng tiền có một giá trị tùy thuộc vào tấm lòng. Từ lúc quyết định đến lúc lấy từ túi tiền ra là thời gian đo lường lòng hảo tâm. Người đóng góp biết được tấm lòng mình rộng hẹp ra sao, có thể tự lượng định được.

    Đóng góp theo tấm lòng tạ ơn, vì Chúa đã ban cho nhiều và đóng góp phần nào để tạ ơn. Cũng thế, quyết định ít hay nhiều theo phần hoa lợi thu được về. Tiền của đóng góp nhiều hay ít là thước đo của lòng mến. Chúa nói “kẻ yêu mến nhiều vì được tha nhiều” (Lc 7, 47)

    Bà góa được khen bỏ nhiều nhất.

    Vét sạch túi để cho như người đàn bà góa, thật là hiếm họa trong cuộc sống, ngoại trừ số ít người trước khi chết trăn trối tài sản mình cho nhà thờ hay cho giáo hội.

    Còn sống vẫn còn cần tiền đề phòng. Tuy nhiên, thái độ thế nào về tiền của mà mình đang năm giữ mới mang tính quyết định cuối cùng. Vậy Chúa mới bảo dùng tiền của cách khôn ngoan mua lấy bạn bè và nước trời.

    Một cách khôn ngoan, người Do Thái dạy “Điều gì không thuộc về bạn mà bạn cứ giữ lấy như của riêng bạn mãi mãi, thật sự là nguy hiểm, của cải là một thứ đó”.

    Người làm chủ túi tiền mình cách khôn ngoan, họ biết đồng tiền dẫn mình tới đâu? Mang lại một hạnh phúc thật chứ không phải thứ hạnh phúc nhất thời, đánh bóng mình, hay hủy hoại chính mình.

    Người khôn ngoan biết nhìn bao quát, đời này và đời sau, thật và giả, cám dỗ và buông thả. Điều người khôn ngoan biết dùng tiền của để mua lấy bạn hữu, là người biết sống tử tế, công bằng và liêm khiết, bác ái và yêu thương. Thế giới chung quanh họ sống là một thế giới thanh thản, an bình, vui tươi. Theo cách Chúa dạy: “Trước tiên tìm sự công chính và Nước Trời” (Mt 6, 33)

    Tiền của mua được đời sống vĩnh cửu là đồng tiền khôn ngoan nhất. Như đồng tiền bà góa, như đồng tiên mua lấy bạn hữu, mua lấy tình thân, mua lấy nhân nghĩa và mua được Nước Trời.

    Xin Chúa giúp chúng con biết dùng tiền của cho phải lẽ.

    Về mục lục

    .

    ĐỒNG TIỀN CỦA BÀ GÓA

    Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Câu chuyện đồng bạc của bà góa nghèo mà Tin mừng của thánh Máccô thuật lại Chúa Nhật hôm nay đã gây cảm xúc và ấn tượng cho rất nhiều người ở nhiều thế hệ. Bà góa đã bỏ vào thùng đền thờ tất cả những gì mình có để nuôi sống bản thân ( Mc 12,44 ). Điều đặc biệt bà góa nghèo đã làm cho nhiều người cảm kích, xúc động và thán phục, đó là bà đã hy sinh cả chính mạng sống của mình để dâng cho Chúa cái gia tài, món quà quý giá nhất bà dành dụm để nuôi thân. Đây là điều đáng trân trọng, đáng ghi nhớ. Bởi vì, thường người ta vẫn chỉ dâng cúng một phần nào đó mà thôi số tiền mình đang có. Hay có lúc người ta chỉ dâng cúng của dư thừa…

    Đức Giêsu khi đi rao giảng cùng các môn đệ đã dựa trên mọi hoàn cảnh, mọi tình huống xẩy ra, diễn ra xung quanh để dạy con người, để giáo dục con người và để nói lên một chân lý nào đó. Vì thế, Ngài đã tiếp xúc với mọi lớp người, mọi hạng người, Ngài không loại trừ bất cứ ai và luôn đem lại cho con người niềm hy vọng, sự hạnh phúc vv…Hôm nay, ngồi trước mặt tiền Đền Thờ, Chúa Giêsu đã quan sát những người bỏ tiền vào hòm đựng tiền, dâng cúng cho Đền Thờ, Ngài đã thấy rất nhiều người đi qua và dừng lại bỏ tiền.Tuy nhiên, Chúa đã đánh giá, khen ngợi người đàn bà góa, Ngài nói :” Thầy nói thật với các con: Trong những ngưởi đã bỏ tiền vào hòm,bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết “ ( Mc 12,43 ).

    Đức Giêsu đã cho chúng ta hiểu sâu xa thế nào là dâng cúng ! Ngài thấy thực sự có rất nhiều người bỏ tiền, tuy nhiên họ bỏ tiền nhưng vẫn còn dư dật. Có nhiều người bỏ tiền nhưng muốn cho người khác thấy, cho người khác biết mình bỏ nhiều vv…Họ dâng cúng vì khoe khoang của cải, vì vênh vang, tự cao, tự đắc. Chúa muốn con người, chúng ta đừng bắt chước ngườu Pharisêu, bọn Biệt phái giả hình, kiêu ngạo, khoe khoang, khoác lác. Ngài nói rằng làm phước tay phải, đừng cho tay trái biết, Ngài dạy chúng ta bài học khiêm tốn,ý hướng ngay lành :” Còn ngươi khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc ngươi bố thí được kín đáo. Và Cha của ngươi, Đấng thấu suốt những gì kín đáo,sẽ trả công cho ngươi “ ( Mt 6,3-4 ) hoặc “ Khi ăn chay hãy xức thuốc thơm trên đầu vv và vv…”. Chúa Giêsu nhắc nhở con người, nhắc nhớ chúng ta đừng ham danh, lợi dụng địa vị, chức quyền để trục lợi vật chất. Người ta cho người khác, cho Chúa của dư dật, còn bà góa nghèo cho Chúa của nuôi thân…

    Chúa Giêsu mời gọi nhân loại, con người và chúng ta hãy biết chia sẻ, làm giầu tâm hồn, bản thân bằng chính sự cho đi sức khỏe, tài năng, tiền của đối với những người nghèo khổ, những người bất hạnh vì chính lòng quảng đại, sự chân thành chia sẻ của chúng ta sẽ làm cho những người khác được hạnh phúc. Vâng, người ta chỉ cho đi cái mình có.Cái cho đi không chỉ giá trị ở món quà đắt tiền, hay món quà có giá trị, mà cái giá trị nằm ở tấm lòng cao quý cho đi của chúng ta.

    Lạy Chúa Giêsu, Chúa thấu suốt cõi lòng của mỗi người chúng con. Chúa khen ngợi bà góa nghèo đã dâng cúng số tiền nhỏ nhoi so sánh với những người giầu, nhưng đó lại là của mưu sinh, nuôi sống bản thân của bà. Xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng con, để chúng con biết cho đi mà không tính toán vì chính khi hiến thân là khi được vui sống, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Chúa Giêsu bắt gặp người đàn bà góa nghèo này ở đâu ?
    2.Tại sao lại bỏ tiền trong hòm tiền của Đền Thờ ?
    3.Đền Thờ này tên gì ?
    4.Chúa Giêsu đánh giá bà góa nghèo này thế nào ?
    5.Thái độ chúng ta phải có khi dâng cúng ?

    Về mục lục

    .

    TẠI TÂM

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng 

    Coi chừng Luật Sĩ giả hình,

    Bên ngoài áo thụng, tâm linh hẹp hòi.

    Công trường ưa được đua đòi,

    Hội đường ghế nhất, gương soi mắt trần.

    Kinh dài giả bộ lắm vần,

    Gia tài nuốt hết, chia phần thù lao.

    Chúa ngồi đối diện lối vào,

    Bỏ tiền cúng hiến, đồng hào cắc xu.

    Người giầu dâng cúng đền bù,

    Có người bà góa, vài xu bỏ thùng.

    Chúa vời môn đệ đến cùng,

    Hãy xem, bà góa, bao dung tấm lòng.

    Bà còn túng thiếu ăn đong,

    Dám cho tất cả, sạch trong túi tiền.

    Chắt chiu mong mỏi cửa thiền,

    Tinh thần nghèo khó, cõi thiên tìm về.  

    Luật sĩ là những người có học thức và thông hiểu luật lệ. Họ có quyền giải thích và thêm bớt các chi tiết của bộ luật. Hôm nay Chúa cảnh cáo: Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Có lẽ họ nói một đường, làm một nẻo hoặc nói mà không thực hành, nên Chúa đã trách cứ họ. Họ ưa được người ta chào hỏi và thích xuất hiện giữa đám đông. Họ mong muốn tìm chút vinh hoa cho đời tạm này. Chúa Giêsu tố cáo họ là chỉ thích tỏ lộ ra bên ngoài cái không có trong tâm hồn.

    Các luật sĩ là những kẻ kế thừa lãnh đạo dân chúng. Họ được dân chúng kính trọng và được xem là những người đạo đức. Họ đã cố gắng chu toàn các chi tiết luật lệ do chính họ suy diễn ra hơn là giữ chính luật. Họ lạm dụng sự tin tưởng và qúy mến của dân chúng để tìm mối lợi cho chính mình. Chúa Giêsu đã vạch trần những sự giả dối của họ.

    Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy nghe những lời các luật sĩ giảng dạy, nhưng đừng bắt chước họ vì họ nói mà không làm. Đọc tới đây chúng ta cũng thấy giật mình vì như chính Chúa đang nói với chúng ta. Nhiều lần chúng ta cũng đã khuyên dạy người này người kia làm điều này, thực hiện điều nọ, nhưng chính chúng ta lại không làm được. Nhất là những người có trách nhiệm giảng dạy như giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và các thầy dạy hay các bậc phụ huynh, chúng ta phải cố gắng không ngừng sống những gì mình giảng dạy. Thực tế cuộc sống, chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta là những con người yếu đuối hay sa ngã phạm tội. Chúng ta còn khoảng cách rất xa với lý tưởng. Như thánh Phaolô dạy: Điều tốt tôi muốn tôi không làm. Điều xấu tôi không muốn, nhưng tôi cứ làm. Chúng ta chỉ có một Thầy dạy tuyệt hảo đó là Chúa Giêsu Kitô.

    Giả như khi chúng ta đi khám bác sĩ. Bác sĩ khuyên chúng ta hãy bỏ hút thuốc. Hút thuốc sẽ có hại cho sức khỏe và dễ bị ung thư phổi. Trong khi đó bác sĩ vẫn phì phèo điếu thuốc. Hỏi rằng chúng ta có phải nghe lời ông bác sĩ không? Các Bác sĩ dựa vào những khám phá của khoa học và hậu qủa sẽ xảy ra. Chính bác sĩ không thực hành được. Chúng ta không vì thế mà không nghe lời khuyên của bác sĩ.

    Thực hành những lời khuyên đúng, sẽ có ích lợi cho chúng ta. Các vị bề trên giảng dạy đúng đường lối của Chúa, chúng ta có bổn phận lắng nghe, tuân giữ và thực hành. Chúa sẽ nhìn thấu tận tâm can của con người. Chúa Giêsu đã quan sát và biết được đáy lòng của người đàn bà góa, cho dù bà chỉ bỏ có hai đồng tiền vào hòm. Chúa khen bà thật tâm đã bỏ tất cả những gì bà có. Chúng ta sẽ lãnh nhận phần thưởng nếu chúng ta thực hành các điều Chúa dạy với cả tấm lòng thành.

    Về mục lục

    .

    DÂNG CHO CHÚA VỚI TẤM LÒNG BIẾT ƠN

    Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

    Cuộc sống tại Việt Nam có nhiều điều nghịch lý: Người đi đường có thể đứng hàng giờ để xem một tai nạn hoặc một cuộc đánh lộn xảy ra, rất nhiều người quay film, nhưng không có ai ra tay giúp nạn nhân hoặc can ngăn cuộc đánh lộn. Người ta dễ dàng đãi bạn bè ăn nhậu, nhưng lại tiếc khi biếu bố mẹ già tấm bánn. Người ta có thể la cà tại quán cà phê, quán nhậu mấy tiếng đồng hồ không sốt ruột, nhưng tham dự thánh lễ chừng 50 phút họ kêu lễ lâu. Người ta bỏ ra vài trăm ngàn hay bạc triệu cho một bữa nhậu, cho đó là rẻ, còn khi bỏ tờ năm mươi ngàn vào thùng nhà thờ thì thấy quá lớn.

    Hôm nay, Lời Chúa chỉ cho chúng ta biết việc dâng cúng như thế nào là đẹp lòng Chúa. Hai câu chuyện trong bài đọc một và bài Tin Mừng có những điểm giống nhau. Bài đọc một kể câu chuyện bà góa nghèo thành Sarepta quảng đại dâng tặng cho người của Thiên Chúa cả phần lương thực cần thiết nuôi sống mẹ con bà. Lúc đó, hạn hán xảy ra trong khắp đất Israel, mùa màng thất bại, dân chúng rơi vào cảnh đói kém. Trên đường vào thành Sarepta, tiên tri Êlia thấy có một bà góa nghèo đang nhặt củi. Ông xin bà cho ông chút nước và một chút bánh để ăn cho đỡ đói. Người đàn bà này dù cũng đang trong hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo, bà thưa thật với Êlia: “Thưa ông, tôi chỉ còn một nắm bột và một chút dầu chỉ đủ cho mẹ con tôi ăn một bữa rồi chết thôi”.Dù biết hoàn cảnh bà như vậy, nhưng vị tiên tri vẫn yêu cầu bà cứ làm và trước hết đem cho ông bánh và nước, còn phần bà, Chúa sẽ làm cho hũ bột không cạn và bình dầu không vơi. Bà góa này đã tin vào lời của ông Êlia và làm như ông chỉ dạy. Thiên Chúa đã trả lại cho bà theo như sự tin tưởng và lòng quảng đại của bà. Thiên Chúa đã nuôi sống mẹ con bà đúng như lời vị tiên tri đã nói: “hũ bột không cạn và bình dầu không vơi”.

    Người đàn bà Sarepta này đã dám cho đi phần ăn cuối cùng của mẹ con bà, bà dám cho đi cả những gì bà đang rất cần cho cuộc sống. Bà không quan tâm cũng không tính toán cho tương lai của mẹ con bà vì bà tin vào lời Êlia và nhận ra Thiên Chúa ở nơi con người đang ngửa tay xin bà chút nước và miếng bánh. Bà cũng tin rằng, bà cứ quảng đại với người khác, Thiên Chúa sẽ quảng đại với bà; bà cứu giúp người khác, Thiên Chúa sẽ cứu giúp mẹ con bà. Vì nghĩ và tin như thế bà đã  đón rước Êlia về nhà và Thiên Chúa đã nuôi sống gia đình bà, bà đã cho đi và Thiên Chúa đã trả lại cho bà vượt quá sự mong đợi của bà.

    Nếu như câu chuyện bà góa Sarepta muốn nói đến việc quảng đại đối với người khác, thì câu chuyện Tin Mừng Marcô hôm nay thuật lại sự quảng đại của một bà góa đối với nhà Chúa. Việc dâng cúng cho Thiên Chúa cho thần linh là việc làm luôn có trong các tôn giáo. Trong các tôn giáo khác, khi dâng cúng cho thần linh, các tín đồ dâng cúng để làm cho thần linh bớt giận, để lấy lòng thần linh. Nhiều người khi dâng cúng còn mang tâm trạng của người đời, vì họ coi việc dâng cúng như để đút lót, hối lộ cho thần linh theo kiểu “tốt lễ, dễ kêu”. Nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải vậy.

    Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên tất cả mọi loài mọi vật và là đấng quan phòng chăm lo cho tất cả mọi vật, mọi loài và từng người. Mọi sự đều thuộc về Chúa, đều là của Chúa, Thiên Chúa là đấng đầy tràn và không thiếu thốn điều gì. Như thế, việc người tín hữu dâng cúng hay dâng tặng lại cho Thiên Chúa, cho nhà của Chúa không phải là việc bố thí cho Chúa, cũng không phải là dịp để kể lể ghi công ghi sổ nợ cho Thiên Chúa, mà phải là một thái độ chân thành, dâng lên Thiên Chúa với tâm tình biết ơn.

    Bà góa nghèo trong Tin Mừng đã làm với tâm tình như thế, bà được Chúa Giêsu khen và còn lấy để làm gương cho các tông đồ. Lúc đó, Chúa Giêsu và các môn đệ ngồi quan sát đám đông bỏ tiền vào thùng. Có những người giàu có bỏ vào đó số tiền khá lớn, Chúa Giêsu không khen những người này, vì thái độ và cách thức của họ khi dâng cúng làm giảm bớt giá trị của lễ họ dâng cúng. Những người biệt phái và những người giàu trong câu chuyện khi dâng cúng họ đặt nặng hình thức bên ngoài để cho mọi người phải biết, phải thấy việc họ làm. Khi dâng cúng vào đền thờ, họ thiếu một thái độ quan trọng, đó là lòng biết ơn về tất cả những gì Chúa đã ban cho họ. Trái lại, họ bỏ tiền vào đền thờ như thể họ là người bố thí cho đền thờ, bố thí cho Thiên Chúa, mua chuộc Thiên Chúa. Khi đóng góp vào nhà thờ với thái độ huênh hoang như thế, thực ra họ đang đi mua lời khen từ nhừ những người chung quanh hơn là vì lòng yêu mến Thiên Chúa.

    Có một bà góa nghèo, chẳng ai quan tâm đến bà vì dáng vẻ khắc khổ bên ngoài của bà. Hơn nữa, trong xã hội Do Thái lúc đó, bà góa là tầng lớp thấp kém trong xã hội, những người lệ thuộc và phải đón nhận sự trợ giúp của cộng đồng. Bà góa này lặng lẽ bước đến bên thùng tiền, móc hết trong ruột tượng của mình được hai đồng kẽm, tương đương một phần tư xu. Bà bỏ vào thùng để dâng cho Chúa, rồi lặng lẽ biến mất vào đám đông. Thế nhưng, trong mắt của Chúa Giêsu, bà không hề bị biến mất, trái lại bà còn được nêu lên như một tấm gương cho các môn đệ của Chúa. Hai đồng kẽm chẳng đáng là gì so với người giàu, nhưng lại là một món tiền lớn, là cả một gia tài của bà góa nghèo. Bà không tiếc gì đối với Chúa vì bà tin rằng cuộc sống của bà và mọi sự của bà đều là của Thiên Chúa, do Thiên chúa ban cho bà, nuôi sống bà. Vì thế, bà sẵn sàng dâng lại cho Chúa của tích góp ít ỏi của mình với lòng chân thành biết ơn Thiên Chúa. Bà đang phải sống nhờ người khác giúp đỡ, nhưng bà còn tin mạnh mẽ rằng, chính Thiên Chúa đang nuôi sống bà mỗi ngày qua những người quảng đại. Vì thế, bà cũng không cần phải tính toán gì với Chúa, vì tất cả những gì bà tích góp được cũng là của Chúa ban.

    Trước mặt Thiên Chúa việc dâng nhiều hay dâng ít không quan trọng cho bằng việc dâng lên Chúa với tâm tình nào. Chúa Giêsu đã khen bà góa và còn kể bà là người đã bỏ vào thùng nhiều nhất. Vì các người khác dâng cúng những của dư thừa, nhưng bà góa này còn dâng cho Chúa cả tương lai và cuộc sống của bà cho Chúa, bà dâng cho Chúa tất cả những gì cần thiết để nuôi sống bản thân.

    Ngày nay trong các giáo xứ có rất nhiều người quảng đại với công việc chung của nhà Chúa, sẵn sàng hy sinh bớt những chi tiêu của nhà mình để dành điều tốt nhất cho nhà Chúa. Cũng có rất nhiều người có tấm lòng rộng mở bằng việc chia sẻ với các anh chị em khó khăn. Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay vẫn muốn chúng ta mỗi khi dâng tặng cho Chúa hoặc chia sẻ với anh em túng nghèo, chúng ta cần có một ý hướng ngay lành, có mục tiêu trong sáng và nhất là luôn mang trong mình tâm tình tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta dâng tặng lại cho Chúa hoặc chia sẻ với anh em vì tin rằng mọi sự chúng ta có, ta được là do Thiên Chúa ban. Vì vậy, việc dâng cúng cho Thiên Chúa là ta lấy chính của Chúa đã ban để dâng lại cho Chúa với lòng biết ơn chân thành. Cũng vậy, chúng ta chia sẻ với anh em vì tin rằng Chúa yêu thương chúng ta nhiều, cho chúng ta có cơ hội và khả năng nhiều hơn các anh chị em khác. Vì vậy, việc chia sẻ cũng là việc làm tri ân Thiên Chúa và lòng thành của mình nghĩ tới anh chị em.

    Nhưng điều sâu xa hơn Chúa muốn nơi chúng ta là dám sống phó thác, tin tưởng vào Chúa, dám đặt trọn đời sống ta trong tay Chúa. Dù Chúa ban cho chúng ta có của dư dật hoặc túng thiếu, một khi ta dám quảng đại với Thiên Chúa và với anh em, thì Thiên Chúa không quên việc chúng ta làm và Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của chúng ta. Cần gạt bỏ khỏi mình lối sống hình thức, giả tạo với Chúa và phô trương với mọi người, mà không có sự chân thật bên trong. Cũng cần cảnh giác với các phong trào từ thiện như là dịp để đánh bóng tên tuổi của mình hay của nhóm mình mà thiếu đức bác ái thật sự. Vì bác ái Kitô giáo không chỉ là việc bố thí, cho đi những của dư thừa, cũng không phải là công tác từ thiện xã hội, mà là sự chia sẻ ngay cả những cái mình đang cần đang dùng. Việc dâng tặng cho Chúa và giúp đỡ anh em là vì nhận ra Chúa là chủ mọi loài và anh em là hình ảnh của Thiên Chúa.

    Xin Chúa giúp chúng ta theo gương bà góa trong Tin Mừng hôm nay dám sống quảng đại với Chúa và anh em, phó thác hoàn toàn cuộc sống hiện tại và tương lai cho Chúa trong mọi hoàn cảnh. Amen.

    Về mục lục

    .

    LÒNG QUẢNG ĐẠI

    Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cao tấm lòng quảng đại của hai bà goá nghèo. Bà góa thời Cựu ước, tiên tri Êlia gặp ở cửa thành Sarephta. Bà đã hi sinh cho vị tiên tri một chiếc bánh nhỏ. Còn bà góa thời Tân ước, Đức Giêsu gặp ở cửa đền thờ Giêrusalem, Bà dâng cúng đồng tiền nhỏ vào Đền thờ.

    Thế thì, do đâu mà hai bà goá này được đề cao trong Thánh kinh?. Một chiếc bánh nhỏ thì có thấm tháp gì đâu! Một đồng xu nhỏ chẳng có giá trị là mấy! Thế nhưng, hai bà được đề cao là do lòng quảng đại biết cho đi. Bởi vì, chiếc bánh nhỏ mà bà goá cho vị tiên tri, là cả sự sống còn lại của mẹ con bà. Đồng xu nhỏ của bà goá nghèo dâng vào Đền thờ là cả tài sản của bà.

    Bài đọc I ghi lại: Khi ấy, cả xứ Sarephta gặp nạn đói lớn, do hạn hán mất mùa, nên lương thực cạn kiệt. Bà goá nghèo chỉ còn một nhúm bột và một chút dầu ăn. Bà đi kiếm củi về nhà làm một chiếc bánh nhỏ cho hai mẹ con ăn lần cuối rồi nằm chờ chết.

    Thế mà, khi tiên tri Êlia ngỏ lời xin bà chiếc bánh ấy, chiếc bánh trong hoàn cảnh lúc này thật cần thiết cho sự sống biết bao, vậy mà bà sẵn sàng nhường phần cho vị tiên tri. Chính việc chia sẻ tấm bánh trong lúc đói kém như vậy, đã làm nổi bậc lên tấm lòng quảng đại biết cho đi, nhưng rồi Chúa không thua lòng quảng đại, đã bù đắp cho bà hủ bột sẽ không vơi và bình dầu sẽ không cạn.

    Chúng ta biết nền tảng của Đạo Chúa là yêu thương: Kính mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân như Chúa yêu. Mà đặc tính của yêu thương là trao ban, là hi sinh. Thương ít thì cho ít, thương nhiều thì cho nhiều.

    Và của cho không bằng cách cho. Của nhiều mà lòng ít thì không quý bằng của ít lòng nhiều. Và của cho quý nhất chính cái mình đang cần thiết. Như bà goá xứ Sarephta, chỉ còn chiếc bánh cuối cùng dành cho hai mẹ con bà, nhưng vì yêu thương bà sẵn sàng cho đi hết. Và bà goá ở Giêrusalem cũng thế, dù chỉ dâng trong đền thờ một đồng xu nhỏ, nhưng đó là cả gia tài của bà.

    Từ việc Đức Giêsu quan sát bà góa nghèo dâng tiền trong đền thờ, cho chúng ta thấy Chúa quan tâm tới những người bé nhỏ, nghèo hèn.

     Tin Mừng ghi lại: Có lắm người giầu có dâng cúng nhiều tiền trong đền thờ, vậy mà Chúa chẳng để ý, mà chỉ quan tâm đến một người nghèo hèn nhất. Quả thật, Chúa như người mục tử nhân lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc bé nhỏ. Như người phụ nữ đốt đèn tìm cho bằng được một đồng tiền nhỏ bị đánh rơi.

    Biết bao người giầu sang Chúa không nhìn, mà chỉ nhìn người phụ nữ nghèo nàn, gầy còm rách rưới.

    Biết bao người dâng cúng những đồng tiền lớn trong đền thờ mà Chúa chẳng khen, mà chỉ khen một người phụ nữ nghèo, dù chỉ dâng hai đồng xu nhỏ.

    Lời khen ấy Chúa nói rõ với các môn đệ: “Trong những người bỏ tiền vào hòm, chỉ có bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết, vì bà đã dâng hiết những gì mình có”.

    Thì ra, Chúa đánh giá không dựa theo số lượng nhưng theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. Một tấm lòng quảng đại biết cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống mình.

    Anh chị em thân mến,

    Mỗi lần tham dự Thánh lễ, là chúng ta đi dâng của lễ cho Chúa. Bởi vì, vị linh mục chủ tế mời gọi “Anh chị em hãy cầu nguyện để lễ vật của tôi và của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận”. Như vậy, anh chị em dâng lễ vật gì cho Chúa?.

    Các tín hữu thời sơ khai mỗi lần đi dâng lễ họ đều mang của lễ dâng cho Chúa. Ai có thứ gì thì mang dâng cho Chúa thứ đó. Chắc chắn, Chúa không đòi chúng ta nhiều, nhưng đòi hết những gì chúng ta có để dâng cho Ngài.

    Anh chị em thử nghĩ xem, mỗi ngày có 24 giờ. Mỗi tuần có 168 giờ, nhưng thử hỏi chúng ta dành cho Chúa, dành cho việc sống đạo được bao nhiêu giờ?.

    Trong khi đó điều răn thứ Ba Chúa dạy: Giữ ngày Chúa Nhật, ấy thế mà, có những người làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm Chúa nhật.

    Thậm thí, dành cho Chúa một giờ đi tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật, nhưng có người lại đi trễ về sớm, chưa kể lo ra chia trí khi ít khi nhiều, khi nào cũng có.

    Lẽ ra, tất cả những gì chúng ta có đều là của Chúa, thì xin dâng lại cho Chúa, để tùy Chúa sử dụng theo thánh ý Ngài. Thế nhưng, thực tế đôi khi chúng ta còn tính toán với Chúa nhiều lắm.

    Ước gì mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ, với tất cả ý thức, chúng ta dâng của lễ tấm lòng lên cho Chúa. Dâng bánh rượu là hoa màu ruộng đất và công lao khó nhọc, để Chúa biến thành Mình và Máu thánh Chúa cho chúng ta.

    Dâng những vui buồn, những thành công thất bại, dâng cả những tội lỗi, dâng những người đau khổ, bệnh tật, dâng cả thế giới và các linh hồn trong luyện ngục, để rồi Chúa sẽ ban lại ơn bình an theo như lòng chúng ta ước nguyện.

    Noi gương hai bà góa nghèo được đề cao trong Thánh kinh. Xin Chúa thương giúp chúng ta biết sống quảng đại với Chúa, và quảng đại với nhau, như Chúa đã không ngừng quảng đại với chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    CỦA ÍT LÒNG NHIỀU

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

    Người đời thường hành động theo phương châm :”Đẹp đẽ khoe ra, xấu xa che lại” (Tục ngữ). Ai cũng muốn cho mình được người ta ca tụng, không muốn bị người ta chê cười, nên tìm cách ếm nhẹm những cái xấu  mà chỉ phô ra những cái tốt của mình. Luật sĩ là những người chỉ thích khoe những cái tốt đẹp của mình để lòe thiên hạ, nhưng những cái họ khoe ra không có thực mà chỉ là ảo, nghĩa là họ giả hình giả bộ  cốt lấy tiếng khen của mọi người.

    Vì thế trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đưa ra hai khuôn mặt tiêu biểu : luật sĩ và bà góa để nói lên cái tương phản của hai loại người : giả dối và thành thực. Luật sĩ dâng cúng cho Đền thờ không vì lòng mến Chúa mà cốt tìm tiếng khen, còn bà góa đã dâng cúng  với tất cả tấm lòng thành, với lòng mến yêu nồng nàn đối với Chúa. Bà đã âm thầm dâng cúng tất cả những gì thiết yếu đối với bà, kể cả mạng sống, mà không cần ai biết đến. Nhìn cung cách dâng cúng của  bà, Đức Giêsu đã khen :”Bà này đã dâng cúng nhiều hơn hết mọi người”.

    Thiên Chúa không xét giá trị theo của dâng cúng nhưng xét theo tấm lòng của người dâng cúng.  Người ta thường nói :”Cách cho quí hơn của cho”. Người ta có thể cho một cách miễn cưỡng, hay cho vì bổn phận bó buộc hay cho vì lòng hảo tâm, vì lòng thương mến.  Bà góa này đã cho đi một cách tự nguyện, quảng đại, thơm thảo, bất vụ lợi… nên việc dâng cúng của bà được đánh giá cao. Bà góa này đã dâng cúng với cung cách tốt đẹp đó, nên đã được Đức Giêsu  khen là bà đã dâng cúng nhiều hơn hết mọi người vì bà là người  có “của ít lòng nhiều”.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

              Bài đọc 1 : 1V 17,10-16

    Khi tiên tri Êâlia phải lánh nạn để tránh cơn giận của hoàng hậu Jézabel, ông cảm thấy mệt nhọc và kiệt sức. Ôâng xin bà góa làng Serepta cho trú nhờ và xin cho ăn một chút bánh hiếm hoi của bà. Bà sẵn sàng làm bánh cho ông ăn và Chúa đã thưởng công do lòng quảng đại của bà :”Hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất”.

              Bài đọc 2 : Dt 9,24-28

              So sánh chức tư tế Do thái giáo và chức Thượng Tế của Đức Giêsu, tác giả thư Do thái làm nổi bật sự siêu việt của lễ tế do Đức Giêsu dâng hiến hoàn hảo và đời đời.

    1. Trong tư tế là Con Thiên Chúa làm người, Ngài là Ngôi Lời nhập thể. Hiến tế mà Ngài dâng trên đồi Calvê có một giá trị vô cùng và tuyệt đối.
    1. Từ khi phục sinh và lên trời, Ngài còn tiếp tục hiến dâng lễ vật này, tiến dâng mãi mãi để tôn vinh Chúa Cha và không ngừng nguyện cầu ơn phúc cho nhân loại.

              Bài Tin mừng : Mc 12,38-44

    Hình ảnh trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai đối chọi : luật sĩ và bà góa. Bề ngoài có vẻ như không ăn khớp, nhưng thực tế bổ túc cho nhau.

              1 Người luật sĩ chỉ có cái vỏ bề ngoài, trong lòng thì rỗng tuếch : kiêu căng, tham lam, khoe khoang, giả hình.

              2 Bà góa thì khiêm nhường, âm thầm, thành thật, nghèo tiền nhưng giầu lòng.

    Đức Giêsu coi đây là hình ảnh đẹp  nên “gọi môn đệ đến” chỉ cho thấy và khuyên các ông hãy noi gương bà góa đó.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

    Tục ngữ Việt nam dùng câu “Vật khinh hình trọng” có ý nói đến con người là quí trọng, còn của cải thì coi thường. Con người có giá trị hơn của cải.

    Cũng có câu khác ý nghĩa tương tự :”Thèm lòng chẳng ai thèm thịt” hoặc :”Vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy”, đều có ý nói : người ta đến giỗ tết hiếu hỷ vì quan hệ tình cảm chứ không phải cốt để ăn uống.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai hình ảnh trái ngược. Bà góa đã sống theo phương châm “vật khinh hình trọng” nghĩa là bà đã dâng cúng cho Chúa với “của ít lòng nhiều” hay “của một đồng công một nén” (Tục ngữ) : của dâng cúng của bà thì tít, nhưng tâm tình thì dạt dào.

    Ngược lại, các luật sĩ lại sống trái ngược với phương châm trên mà họ đã đổi lại thành “vật trọng hình khinh”, họ chỉ chú trọng đến số lượng mà quên đi chất lượng hay phẩm chất, điều mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi người dâng cúng. Họ chỉ thích sống theo cái vỏ bề ngoài mà trong lòng thì trống rỗng. Trước mặt Chúa họ đúng là những người sống theo tiêu chẩn “Thùng rỗng kêu to”, mà kiểu sống đó đã bị Đức Giêsu chỉ trích.

    I. HAI KHUÔN MẶT ĐIỂN HÌNH.

    1. Khuôn mặt người luật sĩ.

    Các luật sĩ là những người chuyên nghiên cứu Thánh Kinh và pháp luật. Họ giải thích Thánh Kinh cho người khác và làm cố vấn pháp luật cho dân chúng. Họ là bậc thầy thuộc giới thượng lưu nên được người ta kính trọng. Nhưng Đức Giêsu lại chỉ trích miệt thị họ vì họ là những người kiêu căng và giả hình giả bộ.

    Những người này làm việc đạo đức chỉ vì cầu danh, cầu lợi, cầu địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ chỉ để cầu được kính trọng chào hỏi, cầu ngồi chỗ danh dự nhất, cầu kiếm được nhiều tiền của biếu tặng, lợi dụng chức quyền  để nuốt trửng tài sản của các bà góa…  Họ hoàn toàn có mục đích xấu, vụ lợi, ích kỷ, kiêu căng. Xét theo giá rị đạo đức họ bị Đức Giêsu xếp vào hạng xấu : “Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.

    1. Khuôn mặt hai bà góa.

    Phụng vụ hôm nay đề cập tới hạng người mà dư luận thương hại hay coi thường là các bà góa. Họ là những người giữa đường đứt gánh, một mình gánh vác giang sơn nhà chồng. Vì không có sự bao bọc của người chồng, người góa phụ  chỉ còn nhờ vào tài sản của chính mình, không ai giúp đỡ. Bởi vì họ có gì đâu ? Của cải chồng họ để lại thuộc về trưởng nam. Có thể trước đó họ đã gửi gắm ở đâu được một chút của nào đó. Hay tài sản riêng họ  có trước khi về nhà chồng, họ đã gửi nơi các luật sĩ mà họ tưởng là những người đạo đức nâng đỡ họ.  Ai ngờ bọn này lại lợi dụng và dã tâm ngốn cả nhà cửa của họ.

    Theo Thánh Kinh các bà góa được liệt vào số những người nghèo khổ nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24,17-22).

    a) Bà góa thành Serepta.

    Sách Các Vua hôm nay kể lại truyện có một bà góa ở Serepta đang đi kiếm củi. Tiên tri Êlia thấy bà đội một cái bình dầu trên đầu thì tưởng bà ta đi múc nước. Nhưng không, đó là một cái vò đựng một chút bột còn sót lại.  Bà đi kiếm mấy thanh củi rồi về nướng làm bánh cho con trai ăn và mình ăn rồi cũng chết. Sống trong nạn đói cùng cực như vậy, mà theo lời yêu cầu của Êlia, bà vẫn sẵn sàng hy sinh nhường cho nhà tiên tri ăn, dù không biết ông là ai. Chính vì lòng hy sinh bác ái tột độ đó, Thiên Chúa đã làm phép lạ cho hũ bột không vơi, vò dầu không cạn để cứu sống bà, con bà và tiên tri Êlia nữa.

    Bà góa này không những tỏ ra rất nhân đạo, nhưng nhất là còn tin ở lời vị tiên tri và tin vào Lời Chúa. Chính niềm tin này khiến bà dám làm bánh cho nhà tiên tri ăn trước. Bà như quên và như bỏ mạng sống của mẹ con bà vì tin lời nhà tiên tri.  Và Chúa đã thưởng công lòng tin này, khiến câu chuyện về bà hôm nay đáng được dùng để dẫn nhập vào bài Tin mừng.

    b) Bà góa trong Tin mừng.

    Đức Giêsu cùng với các môn đệ sau khi giảng dạy cho dân chúng trong Đền thờ, liền sau đó Thầy trò đi ra ngoài quan sát dân chúng dâng cúng tiền để giúp cho Đền thờ, chính tại đây, Đức Giêsu đã giáo huấn các môn đệ về ý nghĩa và giá trị của việc dâng cúng.

    Khung cảnh của Tin mừng hôm nay nằm rất gần kho bạc vốn được dùng để chứa các đồ dâng cúng (x. 2V12,10). Các thùng tiền dâng cúng được thiết kế theo hình dáng cái loa kèn và được đặt rất nhiều trong sân dành cho phụ nữ. Chính vì đặt trong địa thế như vậy, tạo điều kiện thuận lợi  cho giới quan sát là chính các luật sĩ và tay chân lân cận. Đức Giêsu cùng các môn đệ dễ dàng quan sát những thùng tiền cũng như những người bỏ tiền dâng cúng.

    Trong dòng người tấp nập bỏ tiền dâng cúng Đền thờ, Đức Giêsu đặc biệt chú ý đến  người đàn bà góa nghèo nàn. Bà đã âm thầm bỏ vào hai đồng tiền kẽm với giá trị chỉ bằng một phần tư đồng bạc Rôma. Bởi dân Do thái thời Đức Giêsu bị thống trị bởi đế quốc Rôma. Chính vì thế, người dân phải sử dụng đồng tiền Rôma trên đó có mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma. Đây là loại tiền bằng bạc, một đồng cân nặng 3,8 g và tương đương với 0,875  quan vàng. Thấy được như thế, chúng ta mới thấy rằng đồng tiền mà bà góa trong Tin mừng dâng cúng  vốn giá trị chẳng đáng là gì , nhưng đối với Đức Giêsu , Ngài đã khen :”Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”(Mc  12,43).

    II. BÀI HỌC TỪ HAI BÀ GÓA

    1. Giá trị việc dâng cúng.

    Tại sao Đức Giêsu lại nói với các môn đệ:”Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa này đã bỏ nhiều hơn hết”  ? Lý do để Đức Giêsu khen thật rõ ràng : đó là số tiền mà dòng người kia tấp nập bỏ vào thùng tiền dâng cúng Đền thờ là những đồng tiền dư thừa. Số tiền mà họ bỏ vào dâng cúng không làm  hụt đi tài sản và thanh thế của họ mà còn tô thêm uy danh cho kẻ lắm bạc nhiều tiền. Còn bà góa, trái lại, bà đã rút ra từ cái túng thiếu, cái nghèo đói của mình, từ giá trị của hai đồng tiền kẽm chính là tài sản duy nhất nuôi sống mình để dâng cúng vào Đền thờ.

    Như vậy, giá trị của việc dâng cúng không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.

    Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng  do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh.

    Chính vì vậy mà chân phước Têrêsa Calcutta nói :”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.

    Truyện : Bà Oseola Mc Carthy

    Báo New York Times đưa tin bà Oseola Mc Carthy : Biểu tượng “Lòng từ thiện” của nước Mỹ, vừa qua đời ngày 03/10/1999 ở tuổi 91.

    Vào một ngày của tháng 7/95, ông hiệu trưởng đại học phía bắc Missisipi đã vô cùng ngạc nhiên, khi có một phụ nữ xa lạ tên Oseola Mc Carthy xin được tặng 150.000 đôla làm quỹ học bổng cho các sinh viên nghèo của trường, mà không cần được ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Nhà trường còn sửng sốt hơn khi biết người phụ nữ ấy làm nghề giặt ủi, và số tiền kia là tiền dành dụm cả một đời người.

    Ngay khi biết câu chuyện bà Mc Carthy tặng tất cả tiền bạc mình có làm quỹ học bổng cho trường, ông tỷ phú Ted Turner, trùm ngành kinh doanh cáp truyền hình Mỹ, đã tuyên bố góp thêm một tỷ đôla cho quỹ. Ông nói :”Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình  cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đôla”(Thiên Phúc).

    1. Có ba cách cho.

    Người ta nói rằng có ba cách cho : người cho một cách bất đắc dĩ, người cho vì bổn phận và người cho với tâm tình yêu thương.

    Người cho một cách bất đắc dĩ thì nói :”Tôi bực mình vì phải cho…” . Người cho vì bổn phận thì nói :”Tôi buộc phải cho…”. Còn người cho vì tình thương thì nói :”Tôi muốn cho…”

    Nói cách khác, kẻ cho một cách bất đắc dĩ thì cho một cách miễn cưỡng, bực mình vì phải cho.  Kẻ cho vì bổn phận thì cũng cho một cách miễn cưỡng nhưng lòng nặng trĩu vì bị bổn phận trói buộc. Còn người cho vì tình thương thì tự ý cho và cho thật lòng.

    Câu chuyện bà góa trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ tuyệt hảo về sự trao tặng với tâm tình yêu thương trìu mến. Bà cho đi mà không phải vì bị ép buộc hay vì bổn phận thúc đẩy, nhưng với tất cả tấm lòng.

    Truyện : Nhường phòng cho khách

    Cách đây khá lâu, một đêm kia, có đôi vợ chồng mới cưới đi về một vùng quê xa xôi thì bị mắc phải cơn mưa rào dữ dội. Không thể đi xa hơn nữa, họ liền rời khỏi xe và đi bộ về hướng một căn nhà có thắp ngọn đèn lù mù. Khi họ bước vào nhà thì gặp đôi vợ chồng già tay cầm đèn dầu tiến ra cửa. Người thanh niên trình bầy tình trạng khó khăn, đoạn yêu cầu :”Quí ngài có thể cho chúng tôi trú ngụ đến sáng được không ? Nằm trên sàn nhà hay trên ghế bành cũng được”.

    Ngay lúc đó có vài hạt cơm dính trên mái tóc người thiếu phụ mới đến rơi xuống sàn nhà. Đôi vợ chồng chủ nhà  liếc thấy liền đưa mắt nhìn nhau thông cảm. Bà chủ nhà lên tiếng :”Được chứ, các cháu ! Chúng tôi vừa có được một căn phòng trống. Nào hãy ra thu xếp đồ đạc trong xe khi chồng tôi và tôi dọn dẹp căn phòng  cho tươm tất một chút”.

    Sáng hôm sau, đôi tân hôn thức dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy hai vợ chồng già, họ lặng lẽ mặc quần áo, đoạn họ đặt tờ 10 đôla lên chiếc tủ, rồi nhón chân đi xuống cầu thang. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ nhìn thấy  đôi vợ chồng già đang nằm ngủ trên những chiếc ghế dựa.  Té ra cặp vợ chồng già này đã nhường cho đôi tân hôn căn phòng ngủ duy nhất của họ. Chàng thanh niên và cô vợ nén lại vài phút, đoạn anh ta nhón chân quay lên cầu thang và đặt thêm 5 đôla nữa lên chiếc tủ (Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật năm B, tr.78).

    1. Cho với tấm lòng chân thành.

    Qua nội dung ba bài đọc Thánh lễ hôm nay, chúng ta thấy giáo huấn của Đức Giêsu gồm ba điểm chính :

    a)    Thương thì phải cho, vì yêu là cho đi.

    b)    Của cho không bằng tấm lòng người cho.

    c)    Chỉ chính cái mình quí nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất.

    Ở đây chúng ta chú trọng vào tấm lòng của người cho. Các luật sĩ dâng cúng cho Chúa nhiều thật, nhưng với những ý đồ không tốt. Họ dâng cúng chỉ là để khoe khoang, chứ không với tấm lòng chân thành để dâng kính Chúa vì lòng mến Chúa.  Kiểu dâng cúng như thế cũng đi ngược với tâm lý người Việt nam :”Người ta thèm lòng chứ đâu thèm thịt”(Tục ngữ).

    Người Việt nam cũng đề cao giá trị đạo đức chân chính bằng những câu châm ngôn như :

                       “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”

              Hoặc :

                       “Cái nết đánh chết cái đẹp’

    Gỗ là giá trị chân chính, nước sơn mầu mè bên ngoài là phụ thuộc. Tính nết là giá trị cốt cách của con người, còn vẻ đẹp duyên dáng bên ngoài là phụ thuộc, chóng phai, chóng tàn. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, người ta bị hấp dẫn về mẫu mã, quảng cáo, tuyên truyền, hơn là phẩm chất tốt của vật dụng.

    Truyện : Người buôn cam

    Ngày xưa, ở Hàng châu có một người đi buôn cam. Anh ta khéo để dành cam lâu ngày mà không ủng. Lâu ngày mà vỏ vẫn đỏ hồng, trông tốt đẹp như vàng ngọc.

    Đem ra chợ bán, thiên hạ tranh nhau mua. Ai thấy cam như vậy mà không thèm ? Cơ tôi cũng mua một quả. Đem về nhà bóc ra, thì ôi, hơi thối xông lên mặt, múi thì xác xơ như bông nát. Tôi liền ra chợ lại, tìm gặp người bán cam trách móc :

    – Anh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi tân khách, hay là chỉ để làm cho choáng mắt bên ngoài, đánh lừa thiên hạ ? Tệ thật ! Anh giả dối lắm.

    Người buôn cam mỉm cười nói :

    – Tôi làm nghề này đã lâu lắm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán thì người ta mua. Chẳng ai nói năng gì cả. Chỉ có ông là kêu ca thôi. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng phải riêng gì một mình tôi. Oâng thật không nghĩ cho đến nơi. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng, trông ra dáng quan võ lắm. Kỳ thực họ có giỏi được như Ngô Khởi, Tô Tẫn không ? Người đội mũ cao, đóng đai dài, trông ra dáng quan văn lắm. Kỳ thực họ có giỏi được như Cao Dao, Y Doãn không ? Giặc nổi lên không biết dẹp, dân khổ không biết cứu. Quan lại tham nhũng không biết trừng trị. Pháp hộ hỏng không biết sửa đổi.  Ngồi không ăn lương, chẳng biết xấu hổ… Thế mà lúc ra ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của lạ, oai vệ hách dịch vô cùng!…

    Đó, bề ngoài họ chẳng như vàng ngọc, mà bên trong lại chẳng hôi thối, và xác xơ, như bông nát là gì ? Sao ông không chịu xet những hạng người như thế, mà lại đi xét quả cam tôi “?

    Câu chuyện buôn cam trên đây nói lên thực trạng mai mỉa của xã hội ngày nay. Đức Kitô đã nhiều lần lên án gắt gao bọn mũ cao áo dài thể ấy :

    Hỡi những kẻ giả hình,

              Các ngươi không khác chi những nấm mồ bôi vôi

              Vỏ ngoài thì xem xinh xắn lắm,

              Nhưng bên trong là thây ma và mọi thứ xú uế.

              Bên ngoài các ngươi có vẻ công chính đối với ngươi ta

              Nhưng bên trong  thì đầy giả dối và vô đạo”

                       (Mt 23,27-28)

    Cụ Nguyễn Khuyến thì gọi họ là nộm, hữu danh vô thực :

    Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe

    Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.

    III. BIẾT LẤY GÌ DÂNG CHÚA BÂY GIỜ ?

    Mỗi khi đọc câu Thánh vịnh :

    Tôi biết lấy gì dâng lại cho Chúa

                  Để đền đáp những gì Ngài ban tặng cho tôi.

                 Tô xin nâng chén hồng ân cứu độ

                 Và kêu cầu danh thánh Chúa.

    Chúng ta cảm thấy lòng dạt dào lòng tri ân đối với Chúa vì muôn hồng ân Chúa đã ban tặng cho ta. Nhìn trời, nhìn trăng sao, nhìn đất, nhìn hoa lá cỏ cây… tất cả đều nói lên tình thương yêu của Chúa đối với chúng ta, trong việc tạo dựng mọi sự vật cho chúng ta một cách dồi dào :

                       Chúng tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó,

                       Chúng tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương,

                        Chúng tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả một bờ biển,

                       Chúng tôi xin một lá cỏ, thì Ngài cho cả một bồn,

                       Chúng tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả Thịt Máu Ngài.

                                          (Mark Link)

    Trước tình thương bao la của Chúa, chúng ta không bao giờ được trở nên những kẻ vô ơn. Chúng ta phải đáp lại tình thương đó bằng những của hiến dâng xứng đáng được Chúa chấp nhận. Của dâng Chúa phải là những của lễ thơm thảo nhất, thân thiết nhất mà chúng ta dành cho tha nhân.

    Văn hào Louis Veuillot khi chết, có để lại một bao thơ dầy cộm với mấy hàng chữ ghi :”Tiền nhịn hút thuốc trong các mùa Chay để giúp cho người nghèo” .

    Tư tưởng của Chúa, cách phán đoán và đánh giá sự vật cũng như con người của Ngài không phải là của chúng ta. Ngài thấu suốt tận thẳm sâu tâm hồn. Chúa không nhìn theo dáng vẻ bên ngoài đâu.

    Thường người ta thích hình thức hơn là thực chất, thích tự đề cao giá trị thực sự. Trái lại, Thiên Chúa không nhìn diện mạo, y phục, không nhìn vật chất nhưng nhìn vào tâm hồn. Thánh Kinh đã không nói rằng “Người thấu suốt tâm can sao” ? Không thể đánh lừa Ngài được đâu. Vàng quí không phải là thứ vàng giới thiệu trên tay, nhưng là thứ vàng hiện diện trong tâm hồn. : vàng ròng của tình yêu.

    Chúng ta hãy theo gương bà góa trong Tin mừng, hãy biết cho đi, cho đi tất cả. Với hai đồng tiền kẽm, bà góa đã cho đi tất cả, trao phó tất cả mạng sống cho Thiên Chúa vì bà tin rằng  Đấng bà tin theo không bao giờ để bà thiệt thòi. Vâng, khi chúng ta cho đi chính là lúc chúng ta nhận lãnh và nhận lãnh càng dồi dào những hồng ân của Thiên Chúa. Một thi sĩ đã gợi cho chúng ta những ý tưởng rất hay :

                                 Quà tặng đẹp nhất

                                 Cho kẻ thù,  chính là sự tha thứ

                                 Cho bạn bè, là sự trung thành

                                 Cho các em bé, là những gương sáng

                                 Cho một người cha, là lòng tôn kính

                                 Cho một bà me,ï là trái tim ta

                                 Và cho người lân cận, là đôi tay ta.

                                    (Cảm hứng do Francis Balfour)

    Về mục lục

    .

    CHUYỆN ÍT – NHIỀU

    Trầm Thiên Thu

    Giàu hoặc nghèo đều sinh ra tay trắng

    Sướng hay khổ cũng chết vẫn trắng tay

    Đó là chân lý bất biến muôn thuở mà ai cũng biết. Sinh ra và lớn lên, cuộc sống mỗi người đều khác nhau về mọi phương diện, nhưng giống nhau về cái khoản “tay không” lúc đến (sinh) và lúc đi (chết), dù cả đời vốn liếng NHIỀU hay ÍT.

    Thật “thú vị” với cách nói của người Việt: Giàu sang và nghèo hèn. Ai “giàu” thì thường cũng được coi là “sang”, còn ai “nghèo” thì thường bị coi là “hèn”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có khi “giàu” mà không “sang”, hoặc “nghèo” mà không “hèn”. Điều đó còn tùy nhân cách của người đó. Thể thụ động ĐƯỢC hoặc BỊ của Việt ngữ rất độc đáo – “được” dùng cho cái tốt, “bị” dùng cho cái không tốt, ngoại ngữ không thể lột tả hết tình trạng thụ động như Việt ngữ.

    Chắc hẳn không ai muốn nghèo, và càng chắc chắn hơn là chẳng ai muốn hèn. Cũng vậy, ai cũng muốn mình giàu và sang. Nhưng người chịu cảnh “đời hèn” khác hẳn với người “sống hèn”. Người nghèo bị coi là hèn, nhưng có thể người đó không hề sống hèn; còn người giàu luôn được coi là sang, nhưng chưa hẳn đã “sống sang” mà thậm chí còn “sống hèn”. Đó mới là chuyện đáng nói!

    Trong cuộc sống đời thường, người ta thường khôi hài thực tế: “Đi xe khỏe hơn đi bộ, đi bộ ngộ hơn đi xe”. Nhưng thật ra chưa chắc ai hơn ai! Tiền nhân cũng đã phân tích và xác định rõ ràng, như một dạng cảnh báo mà thực tế đã chứng minh:

    Chớ thấy áo rách mà cười

    Những giống gà nòi lông nó lơ thơ

    Đề cập động tác “đi” là ngụ ý phải sử dụng đôi chân – theo nghĩa đen. Tuy nhiên, theo nghĩa bóng thì người ta không chỉ “đi” bằng đôi chân mà còn phải “đi” bằng cái đầu. Hơn thua nhau là “cách đi” – nhanh hay chậm không thành vấn đề mà là không “bán đồ nhi phế”, quyết tâm kiên trì tới cùng.

    Trình thuật 1 V 17:10-16 cho biết một “sự lạ” về chuyện ít – nhiều khá thú vị thế này…

    Vào một ngày nọ, ông Êlia đi Xarépta. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và nói: “Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống” (1 V 17:10). Bà ấy liền đi lấy nước. Ông gọi bà và nói: “Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa!” (1 V 17:11). Bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết” (1 V 17:12). Nhưng ông Êlia liền nói: “Bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói. Nhưng trước tiên, bà hãy lấy những thứ đó mà làm cho tôi một chiếc bánh nhỏ, và đem ra cho tôi, rồi sau đó bà sẽ làm cho bà và con bà” (1 V 17:13). Rồi ông nhắc lại lời hứa của Thiên Chúa: “Hũ bột sẽ KHÔNG VƠI, vò dầu sẽ CHẲNG CẠN, cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất” (1 V 17:14).

    Không hề đắn đo hoặc so hơn tính thiệt, bà góa liền làm theo lời ông Êlia nói. Điều đó chứng tỏ bà ấy có lòng tin mạnh mẽ, vì bà ấy tin ông Êlia nói thật, đặc biệt là bà ấy vững tin vào lời Chúa hứa. Và phép lạ đã xảy ra đúng như vậy: Bà ấy cùng với ông Êlia và con bà có đủ ăn lâu ngày. Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, y như lời Đức Chúa đã dùng ông Êlia mà tuyên phán. Quả thật, bà góa này nghèo khổ nhưng vẫn “sống sang”, vẫn quên mình, trọn lòng yêu thương và bác ái vô điều kiện.

    Cách bác ái của bà góa lá cấp độ yêu thương cao nhất, như vậy mới thực sự là bác ái. Bình thường thì chúng ta chỉ ở mức BỐ THÍ (cho để tránh bị quấy rầy) hoặc CÔNG BẰNG (dư thì cho, thậm chí là cho đồ thừa). Còn BÁC ÁI là CHO CÁI MÀ MÌNH VẪN CẦN, yêu thương vô điều kiện – vì người chứ không vì mình. Người nào thực sự sống đức bác ái mới đúng là thánh nhân. Quả thật, không hề đơn giản như chúng ta tưởng hoặc suy luận!

    Đấng yêu thương là Thiên Chúa, luôn chạnh lòng thương xót, động lòng trắc ẩn, và chính Ngài cũng là nguồn sống: “Ngài là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn” (Tv 146:7a). Thật vậy, cũng chính Ngài “giải phóng những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà, cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, yêu chuộng những người công chính, phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân” (Tv 146:7b-9). Thiên Chúa yêu quý và tôn trọng những người nghèo khổ và hèn mọn, không thích “quen thân” với những người giàu có và sang trọng. Còn chúng ta? Có thể trả lời ngay và dám trả lời thật?

    Đó là tình yêu của Thiên Chúa, và Con-Tim-Yêu của Chúa Giêsu như thế đấy – chúng ta gọi Trái-Tim-Yêu đó là Thánh Tâm, là Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì chính Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót (Ep 2:4), là Đấng “nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở và hiển trị ngàn đời” (Tv 146:10). Thiên Chúa cao sang là thế, uy quyền là thế, giàu có là thế, nhưng Ngài lại chỉ thân thiện với những người bị xã hội xa lánh, ruồng bỏ. Ai sống như Ngài mới đích thực là đệ tử của Ngài, nếu không thì chỉ là giả hình, lẻo mép. Sự thật có thể làm “mất lòng” như thế đấy!

    Mạnh mẽ minh định, Thánh Phaolô nói: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Ngài đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9:24). Ngài vào đó không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh. Thế nhưng “Ngài đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành” (Dt 9:26a). Hai dạng ít – nhiều khác nhau.

    Và rồi Thánh Phaolô cho biết thêm: “Vào kỳ kết thúc thời gian, Ngài đã xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình” (Dt 9:26b). Con Thiên Chúa đã chịu chết để cho phàm nhân chúng ta biết thân phận mình cũng phải chết, chết cho tội lỗi: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9:27). Chính Đức Kitô đã “tự hiến tế chỉ một lần để xoá bỏ tội lỗi muôn người” (Dt 9:28a). Và Ngài sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này “không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Ngài” (Dt 9:28b).

    Vậy ai là người trông đợi Đức Kitô giáng lâm? Đó là các tín nhân – những người tín thác vào Chúa. Ai tín thác vào Chúa thì phải sống đức tin, ai muốn sống đức tin thì phải yêu thương tha nhân. Tuy nhiên, yêu tha nhân không phải là chỉ yêu thương người cùng phe với mình, người giàu sang, người có địa vị, người có quyền thế,… mà PHẢI thành tâm yêu thương những người khốn cùng trong xã hội, kể cả kẻ thù: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5:44), “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em,28 hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:27-28). Yêu không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động cụ thể. Đó là cách thể hiện đức tin, là thực hành Lòng Chúa Thương Xót, và cũng là thực hành Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo.

    Ngày xưa, trong một lần giảng dạy, Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ƯA dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, THÍCH được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ƯA chiếm ghế danh dự trong hội đường, THÍCH ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ NUỐT hết tài sản của các bà goá, lại còn LÀM BỘ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12:38-40). Các chữ “Ưa – Thích – Nuốt” đáng quan ngại biết bao! Đọc lời trực ngôn này của Chúa Giêsu, có lẽ chúng ta nghĩ Ngài nói người khác chứ mình không hề liên quan. Nếu thế thì “lầm to”, bởi vì Ngài nói thẳng với mỗi chúng ta chứ chẳng trừ ai ráo trọi. Có thể chúng ta không tỏ vẻ vênh vang ra mặt, nhưng chúng ta có cách thể hiện “ta đây” một cách rất tinh vi, rất khó có thể nhận ra. Và rồi nếu có bị người khác phát hiện thì lại biện hộ với đủ lý do và rất đúng quy trình.

    Có thể mỗi nước, mỗi vùng, mỗi miền, mỗi dân tộc khác nhau về văn hóa và phong cách, nhưng hẳn là vẫn có “nét” nào đó tương tự. Tại Việt Nam, người xưa thường mặc khăn đóng và áo dài, nhất là những người có chức có quyền, nhưng họ có hai loại áo dài: Một loại có vạt trước ngắn (vạt sau dài), một loại có vạt sau ngắn (vạt trước dài). Áo gì kỳ vậy, và để làm gì với loại áo “đặc biệt” đó?

    Người xưa cũng mưu mô đáo để đấy, vạt nào dài và vạt nào ngắn đều có đặc dụng của nó. Khi đứng trước vua chúa hoặc ông quan lớn hơn mình, họ mặc áo-dài-có-vạt-trước-ngắn và vạt-sau-dài. Nghĩa là họ phải khom lưng, phải qụy lụy, chịu “lép vế”, chịu luồn cúi,… cần có vạt trước ngắn để không vướng víu, vạt sau dài để che chắn “khu nhạy cảm”. Nhưng khi đứng trước đám dân đen, họ mặc áo-dài-có-vạt-sau-ngắn và vạt-trước-dài. Nghĩa là họ ưỡn ngực, cao ngạo, vênh vang, hống hách, truyền lệnh, thị uy, hét ra lửa,… cần có vạt trước dài để che chắn và vạt sau ngắn để không vướng víu.

    Và chính mỗi chúng ta cũng thường “sử dụng” hai loại áo ấy để… “đối phó” – nói văn hoa là “tùy cơ ứng biến”. Nhưng những loại “áo đặc biệt” đó ngày nay là loại “siêu trang phục”, khó phát hiện vạt nào dài và vạt nào ngắn!

    Kinh Thánh cho biết rằng, một hôm Đức Giêsu vào Đền Thờ và ngồi đối diện với thùng tiền (hòm tiền, giỏ tiền) dâng cúng cho Đền Thờ. Ngài quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó thế nào. Có lắm người giàu bỏ thật NHIỀU TIỀN, họ ngó quanh rồi hãnh diện “giơ cao, thả mạnh”. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma, bà lúi cúi đến gần thùng tiền rồi bước đi nhanh, sợ người khác nhìn thấy, bởi vì bà… ngại lắm, thậm chí bà còn “sợ” bị người ta phát hiện mình bỏ ÍT TIỀN vô cái thùng to đùng kia.

    [Xin được mở cái ngoặc bé xíu: Theo Hy ngữ, đồng tiền kẽm gọi là “lepton” (số ít, “lepta” là số nhiều). HAI đồng kẽm có giá trị bằng MỘT quadrans, tương đương 1/4 đồng xu Rôma – đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của đế quốc Rôma thời đó. Khi tiền đó được lưu hành ở Palestine, một lepton trị giá khoảng “sáu phút làm công” theo mức lương trung bình mỗi ngày].

    Chúa Giêsu quan sát thấy “phong cách” của mỗi người khác nhau, Ngài liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng NHIỀU hơn ai hết” (Mc 12:43). Quá “sốc”! Quá khó nghe! Thế nhưng lại hoàn toàn đúng, vì “mọi người đều rút từ TIỀN DƯ BẠC THỪA của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, TẤT CẢ NHỮNG GÌ BÀ CÓ để nuôi sống mình” (Mc 12:44). Có lẽ vóc dáng của bà không cao lớn nhưnh tấm lòng của bà to lớn quá!

    Có thể có những người trong chúng ta vẫn ảo tưởng khi đi làm từ thiện hoặc làm những việc mà chúng ta gọi là “việc bác ái” hoặc “việc tông đồ”, cho rằng như vậy là “oai” lắm, nhưng đôi khi lại chỉ là “chiếc áo tàng hình”. Lời Chúa hôm nay khiến chúng ta phải tự minh định lại động lực thúc đẩy mình hành động. Xét để Sửa là tốt!

    Trên website CWN (ngày 29-10-2012) có đăng một tin ngắn về việc TGM Socrates Villegas, TGP Lingayen-Dagupan (Philippines), viết thư gởi các linh mục thuộc giáo phận của ngài, trong đó ngài nhấn mạnh: “Chư huynh linh mục thân mến, CÁC BÍ TÍCH KHÔNG ĐƯỢC CỬ HÀNH ĐỂ LẤY TIỀN. Thương mại hóa sự thánh thiêng là BUÔN THẦN BÁN THÁNH (practice of simony). ĐÓ LÀ TỘI LỖI”. Một giám mục cương quyết như vậy mới đúng là chủ chăn đích thực của Thiên Chúa, chỉ vì lợi ích cho chính Thiên Chúa và nhân dân của Ngài. Tin tức đã cũ nhưng ý tưởng vẫn luôn mới nguyên!

    Quả thật, đó là một trong những điều khiến chúng ta phải “giật mình” mà phải “tự xét mình” một cách nghiêm túc hơn, trước khi Đức Kitô đến thế gian lần thứ hai để xét xử – vì lúc đó không thể chấn chỉnh chi được nữa!

    Lạy Thiên Chúa muôn trùng cao cả, con thành tâm xin lỗi Chúa, xin giúp con biết noi gương Con Chúa là sẵn sàng chia sẻ mọi nỗi đau của những con người hèn mọn hằng ngày ở xung quanh con, bằng cách mở rộng tấm lòng và mở rộng đôi tay, tất cả chỉ để vinh danh Chúa chứ không vì tiếng tăm riêng đời này, để cứu các linh hồn, và để đền tội riêng của con ngay ở đời này. Ngài ở đâu thì xin cho con cũng được ở đấy. Xin cậy nhờ công nghiệp của Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy có hai hình ảnh cực kỳ đối chọi với nhau.

    – Hình ảnh đầu tiên là hình ảnh về những người luật sĩ: Họ rất cao sang, vinh dự với áo thụng, với chức quyền, được người ta bái chào, được ngồi những chỗ nhất. Cứ bề ngoài mà xét thì xem ra họ là những người rất đạo đức, rất tốt. Có lẽ có nhiều người cũng mong có được cuộc sống như vậy.

    – Hình ảnh thứ hai là hình ảnh một bà góa: Bà rất nghèo. Vì nghèo cho nên chẳng được ai để ý tới. Bà cũng chẳng có áo thụng, thứ áo dài quét đất, có tua, mặc vào để nhắc nhớ mình là tuyển dân của Thiên Chúa. Vì nghèo cho nên cũng chẳng có bao giờ bà có được một chỗ tốt nơi công cộng, chẳng được ai để ý đến mà chào hỏi. Thông thường thì có lẽ chẳng mấy ai mong muốn phải sống nghèo như thế.

    – Bây giờ chúng ta xem cách nhìn của Chúa. Chúa thấy gì qua những hình ảnh đó. Rõ ràng là cái nhìn của Chúa không giống với cái nhìn thông thường của con người. Những người luật sĩ  rất cao sang, vinh dự với áo thụng, chức quyền, được người ta bái chào, được ngồi những chỗ nhất…người ta thì thấy như thế là sang, là đẹp….còn Chúa thì Chúa lại thấy đó chỉ là cái vỏ bên ngoài, nhưng ẩn sâu dưới cái vỏ đó là một tâm hồn kiêu căng, tham lam, ức hiếp kẻ yếu đuối. Có lần Chúa bảo “họ giống như mồ mả, bên ngoài thì quét vôi trắng toát rất đẹp nhưng bên trong toàn là mùi xú uế bẩn thỉu”

    Ngược lại người đàn bà góa bụa nghèo khó…bên ngoài chẳng bằng ai, không có gì để lôi cuốn, để hấp dẫn. Và thông thường thì có lẽ cũng chẳng có mấy ai ưa chuộng cuộc sống như thế. Thế nhưng đối với Chúa thì lại khác. Bà góa ấy tuy nghèo tiền nhưng lại rất giàu lòng. Bà dám làm những việc mà ít ai dám làm: dâng cho Chúa cả sự sống của bà. Chúa Giêsu khen ngợi cuộc sống đó. Đối với Chúa đó là cuộc sống rất đẹp. Chính vì nó đẹp cho nên Chúa mới gọi các môn đệ lại và bảo họ phải noi gương.

    BÀI HỌC

    Qua câu chuyện của bà góa nghèo Chúa muốn dạy chúng ta điều gì? Có rất nhiều bài học chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện đầy ấn tượng này, nhưng ở đây tôi chỉ xin gợi lên mấy điều tôi tưởng là rất cần cho chúng ta..

    Trước hết câu chuyện này nhắc nhở chúng ta về bổn phận đối với Chúa và Giáo Hội. Bà góa rất nghèo nhưng bà đã ý thức được bổn phận của mình đối với Chúa, với cộng đoàn. Bà đã sãn sàng hy sinh, hy sinh cả sự sống của mình để giúp Giáo Hội.

    Ông Sam Jones một nhà truyền giáo rất nổi tiếng, một lần kia gặp một tín hữu lúc nào cũng than van về những khoản ông phải đóng góp.

    – Thưa ngài, tôi phải đóng góp cho Hội Thánh nhiều quá.

    – Bao nhiêu?

    – 5 USD một năm.

    – Thế ông theo Chúa bao lâu rồi?

    – Đã 4 năm.

    – Trước khi theo Chúa ông làm gì?

    – Tôi nghiện rượu.

    – Mỗi năm ông uống hết bao nhiêu tiền?

    – Chừng 250USD

    – Khi ấy ông có ruộng đất gì không?

    – Tôi mướn đất cày bừa với một con bò

    – Bây giờ ông có gì không?

    – Tôi có một khu ruộng và một đôi ngựa cày.

    – Trước kia ông cho ma quỉ mỗi năm 250USD để được cày trên một thửa ruộng đi thuê muớn với một con bò. Nay Đức Chúa Trời đã cứu ông, ông chỉ dâng cho Ngài 5USD một năm để được cày ruộng của mình với một đôi ngựa. Vậy mà ông còn kêu là nặng nề ư? Ông là người bội bạc từ đỉnh đầu cho đến bàn chân!

    Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng như vậy. Chúng ta nhận được từ Chúa và Giáo Hội quá nhiều nhưng thử hỏi có khi nào chúng ta nghĩ tới bổn phận chúng ta phải xây dựng Giáo Hội bằng những hy sinh của chúng ta không?

    Cách dâng cúng đẹp lòng Chúa.

    Thứ đến: Chuyện bà góa làm tôi phải giật mình. Trong câu chuyện này, Chúa Giêsu đã dạy một điều rất lạ mà rất hay: có khi nhiều mà là ít, có khi ít mà là nhiều. Nhiều người dâng những số tiền rất lớn. Xem ra là rất nhiều nhưng Chúa lại bảo là ít vì họ dâng những cái dư thừa. Ngược lại một bà góa, bà chỉ bỏ vào hai đồng tiền nhỏ. Đó là đồng gọi là lepton, nghĩa đen là một đồng mỏng, là đồng tiền có giá trị nhỏ nhất trong các đồng tiền. Thế nhưng Chúa Giêsu lại nói phần đóng góp đó là nhiều hơn tất cả mọi người khác, và Chúa cắt nghĩa: vì những người khác bỏ vào đó số tiền họ đã dành dụm được khá dễ dàng và vẫn còn giữ lại khá nhiều, trong khi bà góa nghèo này đã bỏ vào tất cả những gì bà có. Nhiều đối với Chúa không phải ở số lượng bỏ ra mà là ở tấm lòng và sự hy sinh của người dâng hiến.

    Ngày xưa, lâu lắm rồi, một ông vua ở Ấn Độ, mời Đức Phật vào cung làm lễ. Hôm ấy vua cho đốt rất nhiều đèn dầu trong cung nhất là dọc theo hành lang từ cung vua đến cung Phật ở. Lúc đó có một bà góa nghèo khó cũng muốn dâng lên Đức Phật ngọn một ngọn đèn dầu, nhưng không làm sao có tiền để mua. Bí quá Bà phải đi ăn xin suốt một ngày ròng, khắp kinh đô…mãi đến tối mới được hai đồng. Bà dùng hai đồng đó…. tất tả ra phố mua dầu, đốt một đĩa đèn dâng lên Phật. Bà khấn: “Nếu đời sau con được thành đạo, thì xin ngọn đèn này được sáng suốt đêm mà không tắt”.

    Sáng hôm sau, khi một nhà sư lên cung Phật đi tắt đèn thì thấy mọi ngọn đèn của vua đã tắt tự bao giờ, riêng dĩa đèn của bà ăn xin vẫn tỏa sáng ngời ngợi, không làm cách nào tắt được. Nhà sư thấy sự lạ, lên thưa với Đức Phật. Người bảo: “Bà cụ tâm thành tu thân tích đức, về kiếp sau sẽ trở thành Phật Như Lai”.

    Vua nghe chuyện, hỏi một vị quan trong triều, tại sao vua cúng đèn nhiều như sao sa vậy mà chẳng được như bà lão chỉ dâng có một ngọn đèn? Quan đáp: “Bởi vì bà của ít lòng nhiều, bà dâng có một dĩa đèn, nhưng tấm lòng bà thành kính thiết tha”.

    Câu truyện tình tiết xem ra có hơi khác nhưng nội dung sao mà giống với truyện của bà góa quá. Xem ra đạo nào cũng thế. Chân lý chỉ có một.

    Lạy Chúa Giêsu,
    khi đến với nhau,
    chúng con thường mang những mặt nạ.
    Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
    Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
    dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.

    Khi đến với Chúa,
    chúng con cũng thường mang mặt nạ.
    Có những hành vi đạo đức bên ngoài
    để che giấu cái trống rỗng bên trong.
    Có những lời kinh đọc trên môi,
    nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
    và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.

    Lạy Chúa Giêsu,
    chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
    tự ru ngủ và đánh lừa mình,
    mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.

    Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
    đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
    để chúng con thôi đánh lừa nhau,
    đánh lừa Chúa và chính mình.
    Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,
    để chúng con được lớn lên trong bình an.

    Về mục lục

    .

    NGHÈO MÀ HẠNH PHÚC

    Anna Cỏ May

    Được sống trong nhà cao cửa rộng, đầu đủ mọi tiện nghi, có một công việc thuận lợi là điều ai cũng mong ước. Nhưng liệu đó có phải là hạnh phúc thật không? Hạnh phúc không chỉ đến từ việc lãnh nhận hay sở hữu nhưng hạnh phúc còn đến từ sự chia sẻ, trao ban.

    Hôm nay, Tin Mừng theo Thánh sử Mác cô đã cho chúng ta một hình ảnh tuyệt đẹp về sự dâng hiến tất cả cho Thiên Chúa của một người nghèo. Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Ngài thấy có lắm người giàu có bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, giá trị một phần tư đồng tiền Rôma (x.Mc 12, 41-42). Ngài đã thấy nhiều người cùng chung một hành động là bỏ tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Thế nhưng giá trị đồng tiền lại khác nhau. Những người giàu có bỏ vào số tiền dư thừa nhưng bà goá nghèo chỉ bỏ một đồng tiền nhưng lại là cả một gia tài đối với bà. Bà bỏ đồng tiền của mình một cách không chần chừ và với niềm tin tưởng phó thác vào tình yêu Thiên Chúa. Bà không có ai chăm sóc, phải tự nuôi sống mình, phải tiết kiệm dành dụm nên bà đã dùng tiền đó để chuẩn bị cho cuộc sống đời sau. Bà biết mình không còn sống được bao lâu ở trần gian, chỉ còn hy vọng là sống hạnh phúc trên Nước Trời. Bởi vậy, Chúa Giê-su nói với các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì nuôi thân” (Mc 12, 43-44).

    Ngày nay, có nhiều kiểu người giàu. Người giàu trong sự chắt chiu và tiết kiệm; có người giàu nhờ sự bất chính trong làm ăn nhưng cũng có người giàu trong sự công chính. Có rất nhiều người giàu biết chia sẻ tinh thần Phúc Âm, là yêu người thân cận như chính mình (x.Mc 12, 31). Song, cũng có người chia sẻ với mọi người vì hư danh giữa đời. Vậy người giàu nào sẽ vào Nước Trời? Ngược lại người giàu có là những người nghèo. Có người nghèo vật chất lẫn tinh thần nhưng có người nghèo vật chất nhưng lại quảng đại bao dung với người nghèo và cần nhu cầu hơn mình. Cái nghèo vật chất không đáng sợ cho bằng cái nghèo Nước Trời. Bà goá nghèo đã đón nhận cái nghèo và sự cô đơn ở trần gian nhưng bên trong tâm hồn bà lại là một sự giàu có Nước Trời. Trong Tám mối phúc, Chúa Giê-su đã nói: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Bà goá nghèo đã hưởng trọn mối phúc chúc lành của Chúa Giê-su.

    Lạy Chúa, cuộc sống khác biệt giữa người giàu và người nghèo luôn tiếp diễn. Hạnh phúc ảo và hạnh phúc thật vẫn còn đó. Xin cho mỗi người chúng con biết đón nhận cuộc sống hiện tại của mình. Dù nghèo hay giàu, xin cho chúng con cũng biết tin tưởng, phó thác và thực thi tinh thần Phúc Âm là mến Chúa yêu người. Amen.

    Về mục lục

    .

    HIẾN DÂNG TÌNH YÊU

    Bông hồng nhỏ

    Người ăn xin bước tập tễnh trên con đường bụi mù mịt, tay cầm cái nón lá, lấy chút gió mát giữa trưa hè nóng nực. Người thanh niên vai mang balô đạp xe qua. Thấy ông, anh dừng xe lại, mở balô như muốn tìm kiếm thứ gì. Người ăn xin như chờ một vận may.

    • Thưa ông. Cháu chỉ có chai nước này, ông uống cho mát ạ.

    Nói rồi anh nở nụ cười dễ mến, nhìn ông. Ông đưa tay đón lấy, rồi mở nước uống vài ngụm.

    • Cám ơn cậu! Cậu đã cho tôi thứ tôi cần nhất lúc này.

    Giá trị của lòng bác ái không hệ tại ở vật chất được trao ban nhưng hệ tại ở tình yêu được trao tặng.

    Trong âm thanh rộn ràng của những đồng tiền dâng cúng bỏ vào hòm, bước chân rộn rã của những người vào Đền Thờ, Thầy Giê-su chọn một chỗ ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Ở đây, Thầy lặng lẽ quan sát cách người ta bỏ tiền vào thùng. Trong đám đông, có một người rất đặc biệt, đó là một bà goá nghèo. Bà này bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, giá trị một phần tư đồng xu Rôma (x.Mc 12, 42). Thầy gọi các môn đệ lại gần để xem, dạy các ông biết đâu là lòng yêu mến Thiên Chúa thật sự. Các kinh sư luôn cầu nguyện lâu giờ, nắm rõ Lề Luật nhưng họ lại sống xa rời Thiên Chúa. Họ đã không yêu mến Thiên Chúa thật tâm. Bởi vậy, Thầy Giê-su đã lên án họ và dạy các môn đệ của mình phải coi chừng lối sống ấy. Còn bà goá nghèo tuy chỉ bỏ vào hai đồng tiền kẽm để dâng lên Thiên Chúa nhưng lại được Thầy Giê-su khen ngợi và lấy làm gương cho các môn đệ. Điều quan trọng không phải là số tiền ta đã dâng cúng nhiều hay ít, công trạng ta lập được ra sao nhưng điều cần thiết nhất và quan trọng nhất là ở lòng mến Chúa. Nếu ta dâng cúng thật nhiều tiền, bố thí thật nhiều tiền để cho người khác biết, chỉ ham hư danh thì tất cả những điều ta làm đó chẳng là gì cả, vì ta đã chẳng có lòng mến Chúa và yêu người thật sự. Thế nhưng, trong hoàn cảnh túng thiếu của mình, ta vẫn quảng đại dâng lên Thiên Chúa với lòng yêu mến chân thành thì Thiên Chúa đã chúc phúc cho ta. Ai biết phó thác nơi Thiên Chúa quan phòng, tin tưởng vào Chúa thì sẽ tìm được hạnh phúc trong chính tâm hồn mình.

    Bà goá nghèo đã bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Trong cái nghèo của mình, bà có thể giữ cho mình chút tiền ít ỏi ấy để sống qua ngày. Thiên Chúa biết rõ tình trạng của bà và Ngài sẽ chẳng trách tội. Nhưng chính lòng quảng đại của bà, niềm phó thác trọn vẹn cả cuộc sống và sự sống của mình nơi bà đã trở thành của lễ tuyệt đẹp dâng lên Thiên Chúa. Bà nghèo thật nhưng bà rất giàu tình yêu. Ta có giàu tình yêu Chúa như bà goá nghèo không? Ta có dâng tất cả tài sản, tất cả cuộc sống, và dâng cả sự sống mình cho Thiên Chúa?

    Lạy Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu! Cảm tạ Chúa đã cho con diễm phúc được làm con của Chúa, được sống trong tình yêu quan phòng của Chúa. Phận làm con, con phải thờ phượng và kính mến Chúa trên hết mọi sự. Xin cho con biết yêu mến đời sống cầu nguyện, khao khát làm đẹp lòng Chúa và nhất là, xin cho đời sống của con được thống nhất. Xin cho con nhớ rằng chính lúc con yêu thương anh chị em mình là lúc con đang thờ phượng Chúa và làm vinh danh Chúa. Con xin hiến dâng chính mình con cho Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    Ở ĐỜI QUÍ NHẤT TẤM LÒNG

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Ai cũng biết dâng cúng là sẻ chia, là cho đi một phần những gì mình có. Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại lời Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ : “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35), nhưng để trở thành phúc nhân, cầu phải cho đúng cách mới mong có cái kết hậu thì không phải ai cũng biết và thực hành.

    Người xưa cũng khái quát được vấn đề bằng câu “Của cho không bằng cách cho”. Quả thật, trước khi cho đi ta phải nghĩ đến “của cho” và “cách cho”. “Của cho” xét cho cùng không quan trọng bằng “cách cho”. Cho thế nào để nói lên tấm lòng chân thành của mình và nhất là làm cho người nhận cảm thấy vui lòng. Đặc biệt đối với Chúa, tấm lòng chân thành dâng hiến luôn được Chúa coi trọng: “Ta muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ”.

    Cho đi là quý nhưng không phải cho suông mà cho với cả tấm lòng. Một cuộc đời biết cho đi là một cuộc đời hạnh phúc. Hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào mức độ và cách thức chúng ta trao ban cho tha nhân những gì mình có. Sống vì và sống cho người khác là cách làm tăng trưởng nhân cách và phẩm giá của mỗi người. Cho đi là cả một nghệ thuật mà chúng ta cần phải trau dồi cho bản thân mỗi ngày. Thế nhưng, cho đi cái gì và cho như thế nào lại là một vấn nạn. Học biết cho đi đã khó, nhưng học biết cách thức cho đi lại càng khó khăn gấp bội.

    Bà goá ở Xarepta có vẻ miễn cưỡng phải cho, bà ngập ngừng, lúng túng trước lời xin của Êlia, hoàn cảnh khốn khổ của bà làm cho bà khó làm phúc. Nhưng rồi cuối cùng bà cũng dám cho đi cái phần để nuôi sống mẹ con bà với tấm lòng tin tưởng phó thác và đầy tôn trọng đối với người xin bà. Còn bà goá nghèo được Tin mừng nhắc đến hôm nay có một thái độ rất anh hùng. Chúa Giêsu đã đề cao bà như một gương mẫu cho chúng ta về cách cho đi mà không tính toán, để các môn đệ cũng như chúng ta ngày hôm nay noi gương bắt chước học đòi.

    Câu hỏi được đặt ra : Các bà góa nghèo đã dâng gì và dâng như thế nào ?

    Tin Mừng theo thánh Marcô thuật lại cho chúng ta câu chuyện diễn ra trong Đền thờ Giêrusalem nơi dân chúng bỏ tiền dâng cúng. Có nhiều người giàu bỏ bao nhiêu đồng tiền, song có một góa phụ nghèo, chỉ bỏ hai đồng xu nhỏ. Chúa Giêsu quan sát kỹ lưỡng người đàn bà ấy và Người lưu ý các môn đệ về sự tương phản trong cảnh tượng này. Chúa Giêsu nói, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn ai hết, bà tuy thật túng thiếu, nhưng đã bỏ vào thùng tiền tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Còn những người khác rút từ túi mình tiền dư bạc thừa của họ mà dâng cúng. Vậy là thước đo không phải là số lượng nhưng là với cả tấm lòng thành. Đây không phải là vấn đề ví tiền, nhưng là con tim, là tấm lòng. Có sự khác biệt giữa ví tiền và con tim.

    Những người giàu có khoa trương cho đi những điều dư thừa, trong khi bà góa, kín đáo và khiêm tốn, do sự nghèo khó cùng cực của bà, lẽ ra bà có thể chỉ cúng một đồng cho Đền thờ và một đồng kia giữ lại cho mình. Nhưng bà không muốn kiểu sống nửa với, nghĩa là dâng cho Thiên Chúa nửa chừng; bà dâng tất cả. Vì thế, Chúa Giêsu nói, bà đã cho nhiều hơn tất cả những người khác. Trong sự nghèo khó của mình, bà hiểu rằng, có Chúa là có tất cả; bà cảm thấy được Chúa hoàn toàn yêu thương và đáp lại bà yêu Chúa trọn vẹn. Gương của bà già ấy mới đẹp làm sao!

    Kinh nghiệm cho thấy có những khi chúng ta cho đi, nhưng người khác lại không đón nhận, hoặc có lúc người ta đón nhận nhưng chỉ đón lấy trong sự ép buộc chứ không mấy vui vẻ. Thành thực mà nói, nhiều khi ta trao tặng mà người kia không đón nhận, có lẽ không phải vì món quà không có giá trị, nhưng vì cách thức chúng ta cho đi có vấn đề. Chúng ta hãy cho đi bằng tất cả tấm lòng và hãy học cách cho đi như chính Đức Giêsu đã cho đi.

    Nhìn lại trong dòng lịch sử, không có ai có cách cho đi đẹp cho bằng Đức Giêsu. Người đã cho đi tất cả kể cả mạng sống của mình chỉ vì yêu thương nhân loại. Sự trao hiến của Người là một sự cho đi đến tận cùng, một sự cho đi không tính toán. Người không những cho đi chính mình mà còn dạy cho nhân loại chúng ta biết nghệ thuật của sự cho đi. Có thể nói, cả cuộc đời Đức Giêsu là một lời giáo huấn liên tục về sự cho đi và cách thức cho đi.

    Như thế, kim chỉ nam của sự cho đi chính là sự chân thành phát xuất từ một con tim biết cảm thông và yêu thương. Một khi chúng ta biết cho đi bằng cả tấm lòng thì chắc chắn món quà của chúng ta sẽ được người khác đón nhận với tất cả lòng biết ơn và lòng cảm mến. Nghệ thuật cho đi là bài học chúng ta cần trau dồi mỗi ngày hầu có thể hoàn thiện bản thân và đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho tha nhân.

    Xin Chúa giúp cho chúng ta hiểu rõ giá trị của sự cho đi với tấm lòng quảng đại theo gương Chúa. Hãy quảng đại đối với Chúa và mọi người để được hưởng tấm lòng quảng đại của Chúa dành cho chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    SỐNG ĐỨC ÁI VẸN TOÀN

    Lm. Jos. DĐH.

    Trong ứng xử hàng ngày, ít nhiều chúng ta cũng chịu ảnh hưởng bởi quan niệm khá chủ quan: đàn bà rậm tóc thì sang, đàn ông rậm tóc chỉ toan nặng đầu ; khô chân gân mặt, đắt tiền cũng mua ; chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy. Xã hội từ xa xưa vẫn kính trọng người tài đức, vị nể các đại gia, sợ kẻ quyền thế, chính sự tương đối về hình thức, nội dung, hay giá trị của “phẩm và lượng”, vẫn đầy nguy cơ làm sai lệch đi tính chuẩn mực khách quan. Hình dáng diện mạo, bằng cấp trình độ, phong cách sống, hoặc mục đích hướng tới, cũng chỉ là nét đẹp bên ngoài so với sự xinh đẹp an bình trong tâm mỗi người. Thật giả lẫn lộn, tốt xấu, không dễ kiểm chứng, cũng vì vậy mà bậc sinh thành thường nhắc con cháu lưu ý đến thời gian: thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người có nhân.

    Bầu khí đến trường của học sinh sinh viên có phải là đến lĩnh hội kiến thức, hay chỉ là đến cho hết ngày hết tháng hết năm ? Khởi đầu ngày mới, ai cũng có quyền mơ ước thành công, niềm vui, hạnh phúc, điều đó sẽ tuỳ vào cách sống, ý chí quyết tâm của mỗi người. Hàng ngày, hàng tuần, người kitô hữu chúng ta đến nhà thờ cầu nguyện, xin ơn, tạ ơn, nhưng đâu phải là không có tình trạng đến vì thói quen, đến với Chúa, gặp Chúa hay không, vấn đề lại phức tạp hơn nhiều ! Trước khi nói tới việc sống đức ái, Chúa Giêsu cảnh giác đám đông về tính chất thật giả, cái đẹp bắt mắt, đáng sợ: ăn mặc diêm dúa, phung phí tài sản công, phóng khoáng trong suy nghĩ, ưa chuộng hình thức bề ngoài.

    Xã hội thời nào cũng kêu gọi tấm lòng vàng, đề cao chữ tình chữ nghĩa, hãy chung sức chung lòng xoá đói giảm nghèo, sống công bình, chống tham nhũng, chủ trương dân giầu nước mạnh, loại bỏ những phần tử tiêu cực, thích an nhàn, thụ hưởng,.. Nối tiếp truyền thống: giầu tình giầu nghĩa mới cho là giầu, Chúa Giêsu chỉ dẫn các môn đệ sống niềm tin cụ thể rõ ràng, sống yêu thương như bà goá nghèo. Phép tính “cộng trừ”, mọi người đều thuần thục từ khi có trí khôn, còn phép tính về “đức ái, đức độ”, giầu tình, giầu nghĩa”, Chúa Giêsu mời gọi con người hãy “học và hành” theo tinh thần của bà goá. Của cho không bằng cách cho, lời chào cao hơn mâm cỗ, chúng ta đã nghe, còn “tấm lòng” vĩ đại của bà goá lớn hơn mọi giá trị vật chất tiền bạc, hẳn chúng ta chỉ rõ khi Chúa Giêsu khai thông.

    Kinh nghiệm của người xưa cho rằng: thừa tiền thì đem mà cho, đừng đi xem bói đem lo vào mình. Còn các triết gia lại quả quyết: lòng tốt là một vòng tuần hoàn, khi trao ban, nó sẽ trở về với bạn, khi gieo hạt giống lương thiện, nó sẽ cho hoa thơm trái ngọt. Chúa Giêsu không đóng khung lòng tốt, không văn hoa mỹ từ, trau chuốt câu cú vần điệu, Ngài cho thấy tấm lòng vàng khởi đi từ việc biết sống trọn vẹn đức ái. Tính cao đẹp của người goá phụ nghèo không phải vì bà có hai đồng tiền giá trị hơn người, mà do cách sử dụng số tiền đó trọn vẹn với cả trái tim của bà. Chúa Giêsu không khiển trách người ta công đức ít hay nhiều, không khen hai đồng xu, Ngài khích lệ mọi người đừng ngại sống đức ái chân thật với anh chị em của mình.

    Đường đông phố vui mà sao vẫn buồn, tài cao đức lớn, sẻ chia tiền của nhiều như các đại gia, cho đi không tiếc như các luật sĩ biệt phái, thế mà Chúa không động lòng ! Trong khi nỗi cô đơn của một goá phụ, với hai xu bé nhỏ tưởng không thuyết phục được ai, ấy vậy mà Chúa rất vui, Ngài lý giải cho thấy tấm lòng của goá phụ đó thật sống động. “Thầy nói thật với các con: trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết”. Điều hết sức ngạc nhiên là người lắm tiền nhiều của, người ăn mặc sang trọng, người đọc kinh cầu nguyện nhiều giờ, Chúa không khen, Ngài lại chú ý đến người phụ nữ nghèo hèn, chỉ với số tiền nhỏ bé, bà goá đã cho đi với cả tấm lòng thành.

    Sống đức ái vẹn toàn, sống tinh thần người môn đệ Đức Kitô, sống trọn vẹn ơn gọi làm công dân nước Chúa, thật là khó, làm sao ta có thể hoàn thành sứ mạng bằng khả năng công sức của mình ? Sống đức ái là sống hết tình, hết mình, sống như chỉ có hôm nay là ngày cuối, sống bằng niềm tin được chia sẻ của người goá phụ: thương nhau nước đục cũng trong, ghét nhau nước chảy giữa dòng cũng dơ !  Giầu nghèo, tốt xấu, vui buồn lẫn lộn, kẻ thánh thiện người tội lỗi, chúng ta phân biệt, nhìn thấy, xã hội con người cần chúng ta chia sẻ, hành động cứu giúp các anh chị em có hoàn cảnh đáng thương. Chúa cần chúng ta có tấm lòng, cần mỗi chúng ta luôn sống tình nghĩa, cũng là sống đạo làm người, sống đạo làm con Chúa cách trọn vẹn với một tình yêu cụ thể chân thành. Amen.

    Về mục lục

    .

    LÀM VIỆC NHỎ VỚI MỘT TÌNH YÊU LỚN

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ. Ngài thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân.

    Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác, vì tuy họ bỏ nhiều tiền nhưng không nhiều tình yêu.

    Giá trị của một món quà

    Đối với Chúa Giê-su, giá trị của món quà không tuỳ vào giá mua của món quà đó nhưng tuỳ vào mức độ yêu thương mà người cho đặt vào trong món quà. Giá trị của một món quà có thể tăng lên nhiều lần nếu món quà đó được trao ban với tấm lòng yêu thương và trân trọng.

    Nếu có ai đó nài xin ta một số tiền mà ta chẳng muốn cho, nhưng vì người ấy cứ nài nỉ mãi khiến ta bực mình nên cuối cùng, để tống cổ người đó đi, ta đem cả cọc tiền lớn, bực bội ném cho người ấy và nói: “Tiền đây! Lải nhải hoài!” Chắc chắn người kia, dù nghèo thiếu đến mức nào đi nữa, sẽ quay mặt bỏ đi, mang theo một mối căm hờn.

    Trái lại, khi đứa con nhỏ trong nhà muốn mừng kỷ niệm hôn phối ba mẹ mà chẳng có gì để dâng, em lặn lội vào rừng ngắt một bông hoa dại nhỏ bé, đem về dâng lên ba mẹ với tất cả tình yêu thương. Chắc chắn ba mẹ em rất cảm động vì cảm nhận được nhiều yêu thương chứa đựng trong món quà bé nhỏ nầy.

    Điều làm đẹp lòng Thiên Chúa không phải là dâng cho Ngài nhiều món quà lớn nhưng là dâng tình yêu lớn. Dâng cho Thiên Chúa những món quà lớn hay những thành quả lớn lao vĩ đại mà thiếu vắng tình yêu, thì lễ vật đó sẽ trở thành trống rỗng và chẳng có giá trị gì.

    Thánh Phao-lô tông đồ, trong thư gửi tín hữu Cô-rinh-tô, từng khẳng định cách mạnh mẽ điều nầy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (I Cr 13, 1-3).

    Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn

    Mẹ thánh Tê-rê-xa Calcutta cảm nhận sâu sắc bài học trên đây của Thánh Phao-lô nên mẹ không chủ trương làm những công việc to lớn, nhưng thường xuyên làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Mẹ còn nói: “Chúng ta không thể làm những việc lớn lao, nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ với tình yêu lớn lao.”

    Trong bức thư gửi cho đấng đáng kính là cố Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận, mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công việc ta làm, nhưng là mức độ yêu thương mà ta đặt vào trong mỗi công việc.”

    Thế nên, khi tiếp xúc với bất cứ ai, mẹ Tê-rê-xa đem hết lòng yêu thương người ấy như thể đó là người mà mẹ yêu thương nhất đời.

    Cảm hứng từ bức thư trên đây của mẹ Tê-rê-xa Calcutta, đấng đáng kính Fx Nguyễn Văn Thuận quyết tâm “thực hiện từng công việc nhỏ bé hằng ngày, từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với tình yêu lớn” và biến những phút sống hiện tại thành những giây phút đẹp nhất cuộc đời, như ngài viết: “Tôi quyết sống từng giây phút hiện tại và đong đầy tình thương vào đó” và ngài quyết định: “Tôi sẽ nắm lấy những cơ hội đến với tôi mỗi ngày, để làm những việc bình thường một cách phi thường” (Trích: “Năm chiếc bánh và hai con cá”).

    Lạy Chúa Giê-su,

    Chúng con tài hèn sức yếu nên không thể làm được những việc lớn lao phi thường, tuy nhiên chúng con có thể làm cho Chúa vui lòng nếu chúng con biết làm những việc nhỏ với tình yêu lớn.

    Xin giúp chúng con chú tâm thực hành những việc nhỏ như chăm sóc, thăm hỏi nhau và làm những việc bổn phận hằng ngày… với một tình yêu lớn; nhờ đó, cuộc đời chúng con sẽ trở thành của lễ thánh thiện tỏa ngát hương thơm dâng lên ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Phêrô Nguyễn Ngọc Đức

                Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
    Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch nhưng lại thuận, thuận nhưng lại nghịch, nhỏ mà lại lớn, ít mà dồi dào… Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều thời gian công sức để phân định xem, đó là ví dụ Một ly nước là “bị cạn một nửa” hay là “được đầy một nửa”. Cũng một ly nước, đối với người bi quan thì cho rằng: ly nước bị cạn một nửa và họ lo sợ ly nước đó sẽ tiếp tục cạn thêm; trong khi đó, người lạc quan thì cho rằng: Ly nước được đầy một nửa và họ còn hy vọng ly nước đó sẽ được đổ thêm cho đầy tràn hơn. Cái chuyện ly nước trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy hay trong con mắt của người lạc quan thì ly nước ấy sẽ không bao giờ bị cạn đi dù vẫn là một ly nước, điều này để cho thấy rằng: Quan điểm hay cái thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta, qua đó, nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra chung quanh. Thông thường thì người ta nhìn nhận theo những gì mà người khác cho nó là…, hoặc nhìn nhận chỉ theo cái óc cá nhân của mình mà thôi. Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu lại chỉ cho chúng ta một cách nhìn mới, một cách nhận định mới, một cách đánh giá mới, mặc dù nói là mới nhưng nó cũng đã cũ, cũ đến nỗi không còn ai quan tâm đến và đã quên lãng nó.

    Trước hết, Chúa Giêsu đã nhìn những người biệt phái và kinh sư. Các biệt phái và kinh sư là những giới thượng lưu trong dân và họ rất có uy tín trước mặt dân chúng. Thế nhưng Chúa Giêsu đã nhìn và đã thấy. Ngài thấy cái sự giả tạo, cái phù phiếm lừa bịp của họ. Ngài thấy cái Giàu của giới thượng lưu này nhưng họ đã Sống Hèn. Sống Hèn vì cái thói đạo đức giả kia. Sống Hèn vì họ luôn khoe khoang và đầy tham vọng. Những lời cầu nguyện lê thê kia cũng là cách để che đậy tội lỗi của họ và để phỉnh lừa dân chúng mà thôi. Họ sống hèn vì nơi họ đầy sự bất công, bóp chẹt, và ngốn tất cả những gì mà những bà goá nghèo nàn có được.

    Và Chúa Giêsu lại nhìn. Ngài nhìn gì? Ngài nhìn thiên hạ bỏ tiền dâng cúng vào hòm. Ngài thấy gì? Ngài thấy một bà goá nghèo đã bỏ vào hòm tiền ấy chỉ có hai đồng xu, đó là tất cả số tiền có được để chi tiêu cho một ngày sống của kẻ nghèo khó, già nua, goá buạ. Có thể ai cũng thấy bà goá này đã bỏ hai đồng xu, một số tiền dâng cúng “quá bèo”, quá ít, và có thể họ đã khinh bỉ bà. Nhưng Chúa Giêsu đã nhìn và đã thấy. Thấy kẻ giàu có cho đi “cái sự dư thừa” của họ. Ngài thấy người goá phụ bần cùng, lại cho chính cái mình đang cần đến nhất. Bà đã cho đi, cho những đồng tiền ít oi để nuôi sống bà, thì cũng có nghĩa là bà đã cho đi cả sự sống của mình, cho đi chính bản thân mình. Bà đã cho đi tất cả để rồi bà sẽ nhận lại được tất cả.

    Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
    Chắc hẳn rằng Lời Chúa hôm nay đã đụng đến sự thật nơi con người chúng ta. Chúng ta đừng tưởng rằng Chúa chỉ lên án những luật sĩ, biệt phái giả hình kia mà thôi còn tôi thì không. Không! Ngài đã chẳng nói thẳng với mỗi người chúng ta đó sao? Có thể chúng ta không có vẻ vênh vang ra mặt, nhưng tự thẳm sâu con người chúng ta lại đầy sự kiêu căng, ta đây. Nó tồn tại một cách tinh vi mà bên ngoài khó có thể nhận ra được. Còn về chuyện bà goá nghèo được Chúa khen, chắc có lẽ chúng ta cũng vui vì nghĩ rằng Chúa cũng khen mình vì những công việc như  từ thiện hoặc những công việc mà chúng ta gọi là “việc bác ái”, cho rằng như vậy là “oai” lắm, nhưng hãy coi chừng có thể đó cũng chỉ là một chiếc áo tàng hình để che lấp cái ý không tốt của ta mà thôi. Nếu thực sự chúng ta không biết cho đi, cho đi cả tấm lòng, cho đi cả sự yêu thương, cho đi cả con người mình, thì những việc làm kia cũng chỉ là một sự giả tạo mà thôi.

    Và ước gì qua Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta cũng hãy biết nhìn xuyên qua lăng kính cá nhân ích kỷ của mình để mình sẽ thấy: thấy cái giả – cái thật, thấy cái Giàu – cái Nghèo, thấy cái Sang và cái Hèn nơi bản thân mình và nơi tha nhân. Để qua đó chúng ta hoán cải và sửa đổi chính mình, để mình trở nên là mình trong sự thật và trong sự giàu sang đích thực trước mặt Thiên Chúa và trước mặt con người. Amen.

    Về mục lục

    .

    HŨ ÂN SỦNG KHÔNG VƠI, VÒ ĐỨC TIN KHÔNG CẠN

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

      “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét”  (Dt 9,27)

      Phận con người là phải chết một lần. Điều đó cũng có nghĩa là ta cũng chỉ sống có một lần trên trần gian này. Con người ta, nhất là bên Đạo Phật, người ta tin có luân hồi, tin có kiếp trước, kiếp sau, nhưng người công giáo chúng ta, theo lời Chúa dạy, chúng ta chỉ sống có một lần, chết một lần; sau đó là chịu phán xét.

      Sau khi phán xét, một là ta được lên thiên đàng hưởng phúc đời đời, nếu ta sống tốt lành và thánh thiện; hai la ta phải xuống hỏa ngục đời đời kiếp kiếp, nếu ta sống gian ác và xấu xa. Điều đó xảy ra vào ngày sau hết. Lúc này không có luyện tội nữa. Đó gọi là phán xét chung.

      “Phán xét chung sẽ diễn ra khi Đức Ki-tô quang lâm. Chỉ có Chúa Cha mới biết ngày giờ; chỉ một mình Người quyết định khi nào sự kiện này sẽ xảy ra. Người quyết chung thẩm về toàn bộ lịch sử. Bấy giờ chúng ta sẽ thông hiểu ý nghĩa tối hậu của toàn bộ công trình sáng tạo, mầu nhiệm cứu độ và những con đường kỳ diệu Thiên Chúa quan phòng đã dẫn dắt mọi sự đến cùng đích tối hậu của chúng. Phán xét chung cho ta thấy Chúa công chính sẽ chiến thắng mọi bất chính của thụ tạo và tình yêu của Người mạnh hơn sự chết” (GLCG, số 1040).

      Cuộc phán xét chung này là một Sứ Điệp, gởi đến con người chúng ta. “Sứ điệp về phán xét chung mời gọi con người sám hối, trong khi Thiên Chúa còn cho “thời gian thi ân, thời gian cứu độ” (x. 2Cor 6,2). Sứ điệp này nhắc nhở chúng ta kính sợ Thiên Chúa, khuyến khích ta dấn thân cho sự công chính của Nước Trời; loan báo “niềm hy vọng hồng phúc” (x. Tt 2,13); ngày Đức Giê-su ngự đến “để được tôn vinh giữa dân thánh của Người và được ngưỡng mộ giữa mọi kẻ đã tin” (GLCG, số 1041).

      Bây giờ, khi chưa đến ngày sau hết, nếu ta chết, xác thì đem chôn hay hỏa táng, sẽ trở về cát bụi; còn linh hồn ta sẽ trở về với Chúa, để chịu phán xét. Đây gọi là phán xét riêng.

      Ta hãy xem giáo lý của Giáo Hội dạy thế nào về sự chết: “Chết là kết thúc cuộc lữ hành trần thế; kết thúc thời gian Thiên Chúa thi ân và thương xót, để con người sống cuộc đời trần thế này theo ý Chúa và quyết định số phận tối hậu của mình. Khi chấm dứt “cuộc đời trần thế duy nhất này”, chúng ta sẽ không trở lại với những cuộc sống trần thế khác. “Con người chỉ chết một lần” (Dt 9,27); không “đầu thai” sau khi chết”. (GLCG, số 1013)

      Theo đó, ta chỉ sống có một lần và chết một lần; không có “đầu thai” sống kiếp thứ hai, cho nên còn được sống ngày nào trên trần gian này ta phải cố gắng hết sức mình; đừng chần chừ, đừng lẫn nữa, đừng phí thời gian ân sủng Chúa ban khi còn sống. Hãy ra sức làm việc lành và nên thánh để chuẩn bị cho ta cuộc sống mai hậu, cuộc sống đời đời của mình. Có thể nói, đời ta chỉ có một lần, một lần sống và một lần chết. Cái “một lần” nó quan trọng làm sao !!!!!!! Một lần là đi đooong hay một lần là hạnh phúc mãi mãi, ta phải chuẩn bị và quyết định cho chính mình.

       Ta sống trên đời này, giỏi lắm cũng 100 năm gì đó, rồi ai cũng phải chết. Phận con người là phải chết, không có “lý sự” gì cả; không có sao, không có giăng, không có “on đơ” chỉ cả. Khi chết, chưa phải là hết, ta còn chịu phán xét nữa cơ. “Ngay khi lìa khỏi xác, linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời, tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Đức Ki-tô; linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện; hoặc được phúc trên trời, hoặc sa địa ngục vĩnh viễn” (GLCG số 1022).

      Linh hồn phải trải qua một cuộc thanh luyện trong luyện ngục. Luyện ngục, nơi được gọi là cuộc thanh luyện cuối cùng; vì khi sống trên trần gian này, ta cũng đã được thanh luyện rồi. Ta được thanh luyện qua những khó khăn, qua những vất vả, qua những gian nan; qua những vu khống, qua những khinh khi, qua những bệnh tật, qua những thất bại; qua những thua thiệt,…Nếu ta biết dùng những cơ hội đó để thanh luyện con người của mình. Ta mà biết lợi dụng những cơ hội đó càng nhiều bao nhiêu, thì ta sẽ càng ít ở trong luyện ngục bấy nhiêu.

      “Những người chết trong ân nghĩa Chúa nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phúc thiên đàng” (GLCG, số 1030).

      Ở nơi luyện ngục, hình phạt cũng chẳng kém nơi hỏa ngục. Có khác chăng là nơi luyện ngục có ngày ta được ra; còn trong hỏa ngục thì đời đời kiếp kiếp. Ta cứ tưởng tượng luyện ngục như một nhà tù. Mà ở tù thì có sung sướng bao giờ.Nơi đây, ta không tự mình làm gì để cứu độ cho chính mình nữa: ta không cầu nguyện được; ta không dâng lễ được, vì còn thân xác, còn miệng lưỡi, còn tay chân đâu nữa mà đến nhà thờ, mà đọc kinh hay lần hạt gì nữa. Hoàn toàn trông chờ nơi người thân, nơi gia đình, nơi Giáo Hội. Bởi đó, trong tháng 11 hay mỗi ngày, ta hãy để ý mà cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ, anh chị em hay những ân nhân của ta đã qua đời, để các ngài được hưởng lòng thương xót của Chúa, mà sớm được về quê Trời.

      Những người đang ở trong luyện ngục là những người không có gì để đáp lễ. Ta mà cầu nguyện giúp cho họ thì ta mới là người có phúc. Có phúc đây, không phải là họ sẽ đáp lễ cho ta, mà chính Chúa sẽ đáp lễ, sẽ ban phần thưởng cho ta khi kẻ chết sống lại (x. Lc 14,13-14)

      Nghĩ đến điều này, ta cũng phải tự lo cho chính mình khi còn đang có cơ hội sống trên trần gian này. Ta còn có cơ hội đi dâng lễ; ta còn có cơ hội đọc kinh, lần hạt,….Ta hãy tận dụng tất cả. Nếu ta tận dụng được 90 hay 99%, thì ta sẽ chỉ ở trong luyện ngục mà đền có 10 hay 1% thôi. Ta mà ỷ y, đã có gia đình; đã có Giáo Hội cầu cho rồi, nên chỉ cố gắng 1 hay 10% thôi, thì ta sẽ ở trong luyện ngục mà đền đến 90 hay 99% thì cũng hơi mệt đấy.

     Đành rằng có người khác cầu, nhưng đâu phải cầu bao nhiêu là ta lãnh được hết bấy nhiêu đâu. Chúa ban cho ta được chút này hay chút đó, ta không có quyền đòi hỏi gì cả. Cũng như đâu phải người nhà đem cho tù nhân bao nhiêu là họ được hưởng hết bấy nhiêu đâu; cai tù cho bao nhiêu là tốt bấy nhiêu mà. Bởi đó mà ta phải ra sức chuẩn bị cho mình càng nhiều bao nhiêu càng chắc ăn, càng tốt bấy nhiêu, phải không bạn !

    Nếu chúng ta là những người tín hữu Ki-tô, mà không được vào Nước Trời thì tiếc lắm thay !!!!!!!

    Là Tu Sĩ mà không được vào thiên đàng thì tiếc biết mấy !!!!!!!!!!!

    Là Linh Mục mà không được vào Nước Chúa thì tiếc lắm lắm !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

    Do đó, ngay từ bây giờ, dù là ai ta cũng phải cố gắng, làm sao cho “hũ bột ân sủng của ta không vơi; vò dầu đức tin của ta không cạn”. Ta phải cầu nguyện.

    Không phải cứ đọc kinh, lần hạt, dâng lễ là đương nhiên ta sẽ lên thiên đàng thẳng cẳng. Ta đọc kinh, ta dâng lễ, ta lần hạt là để ta nhận được nhiều ân sủng của Chúa và làm cho đức tin của ta thêm mạnh mẽ, để với ơn Chúa, cùng với đức tin, chúng ta sống tốt lành và làm những việc thiện. Làm sao cho đến khi ta nhắm mắt lìa đời mà hũ bột ơn Chúa của ta không vơi; vò dầu đức tin của ta không cạn thì phúc cho ta biết mấy !

    Đức Ki-tô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xóa bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xóa bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người”(Dt 9,28).

    Chúng ta là những người trông đợi Chúa để được cứu dộ, nên ta phải siêng năng cầu nguyện, đọc kinh, dâng lễ, để hũ bột ân sủng của ta không vơi; vò dầu đức tin của ta không cạn. Với đức tin và ân sủng Chúa ban, ta sẽ dần dần nên thánh nên thiện, để sau khi chết, ta chỉ chịu thanh luyện thời gian ngắn trong luyện ngục, sau đó được lên thiên đàng và ngày sau hết, ta được phục sinh thì cả xác lẫn hồn của ta được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa trên thiên đàng.

    Đó không là ước mơ; đó không là mục tiêu tối hậu của ta sao ! Bởi đó ngay từ bây giờ, ta hãy quyết định và chuẩn bị để làm cho ước mơ đó thành sự thật nơi cuộc sống và nơi con người của ta.

    Về mục lục

    .

    BÁC ÁI

    Lm Vũdình Tường

    Khi nói về việc bác ái, làm phúc bố thí chúng ta thường nghĩ về người nghèo cần bữa cơm ấm bụng, cần áo che thân. Điều này rất đúng. Về phương diện vật chất, không có gì sai. Miếng cơm, manh áo thoả mãn nhu cầu vật chất, không thoả mãn nhu cầu tinh thần và tâm linh. Xã hội hiện nay có người cần ai đó lắng nghe tâm sự của họ. Như thế họ cần thời gian của bạn. Người khác cần có người ngồi bên để họ cảm thấy bớt cô đơn. Như thế họ cần sự hiện diện của bạn. Người khác nữa thất bại trong thương trường, học vấn, tìm công ăn việc làm, họ chán nản, cần hỗ trợ tinh thần của bạn để họ tiến lên. Kẻ khác nữa mất tinh thần, chán sống. Như thế họ cần đến sức sống của bạn. Người khác nữa cần được đối xử công minh. Như thế họ cần tiếng nói công lí của bạn. Người khác nữa cần được đối xử tử tế như thế họ cần đến lòng khoan dung của bạn. Người khác nữa cần giúp bỏ được tật xấu nghiện ngập như thế họ cần đến sự cảm thông của bạn. Đừng ép họ uống thêm li rượu, dù là rượu mời, tránh cơ hội dẫn đến xì ke, ma tuý. Như thế bác ái bao trùm nhiều lãnh vực trong cuộc sống. Có người lâu ngày không đến nhà thờ, gặp lại họ, dù bạn thành tâm cũng nên tránh hỏi hay nói những câu làm cho họ cảm thấy áy náy. Họ đứng chỗ đông người nhưng cảm thấy lạc lõng, họ cần bạn là người tạo cho họ gây lại mối liên hệ với cộng đoàn.

    Hôm nay Kinh thánh nhắc đến hai goá phụ, một đói, một nghèo. Cả hai đều nghèo về vật chất và cả hai đều rộng lượng, giầu tinh thần, giầu bác ái. Lối sống và hành động của hai bà hoàn toàn trái ngược với lối sống đài các, xa hoa của nhà lãnh đạo tôn giáo, người có chức, có quyền, có thế trong dân thời đó. Họ chú trọng đến việc quan trọng hoá chính mình qua cách ăn mặc; đối với xã hội họ đòi hỏi được coi trọng và nơi công cộng mong được trọng vọng. Hành động của họ chứng tỏ họ nghèo về tinh thần. Họ dùng vật chất, hào nhoáng bề ngoài mong khoả lấp cái nghèo khó tinh thần bên trong. Hai bà goá hành động khác hẳn. Phúc âm không nhắc đến tên của các bà và do đó chúng ta có thể hiểu dụ ngôn này áp dụng cho tất cả những ai sống tinh thần nghèo khó vì nước trời.

    Bà thứ nhất tạm gọi là bà đói, bà đi kiếm củi về nấu bữa cháo cuối cùng cho con ăn trước khi chết, bởi hạn hán dài hạn và nhà không còn gì để ăn. Trên đường về bà gặp người ăn xin. Người này đòi bà nấu cho ông ăn trước rồi sau đó mới đến lượt gia đình bà. Điều ông đòi hỏi có vẻ hơi quá đáng nhưng ngạc nhiên thay bà chấp thuận điều ông yêu cầu. Có lẽ bà thông cảm cái đói khát của người khách lạ như chính gia đình bà đang trải qua. Dầu gì đây cũng là bữa ăn cuối cùng, no hơn một chút, hay đói hơn một chút cũng vậy thôi. Bà vẫn biết xã hội bà không đòi hỏi goá phụ nghèo phải giúp đỡ người khác nhưng bà giúp vì sâu thẳm trong tim bà có lòng nhân ái, muốn giúp đỡ người khác trong khả năng của mình. Quan trọng hơn hết bà coi việc bác ái chính là chia sẻ quà tặng Chúa ban. Tất cả những gì bà có đều là của Chúa ban và bà trao tặng cho người khác để làm Sáng Danh Chúa. Người khách lạ ăn một mình, không ăn chung với gia đình bà cho biết người đó là khách, không phải là thành viên của gia đình. Bà đâu ngờ hành động bác ái cuối cùng trong đời lại trở thành hành động cứu sống cả gia đình trong cơn nguy khốn. Thiên Chúa ban ân sủng của Ngài cho mỗi người một kiểu, một cách. Bà chỉ nhận ra điều đó sau khi đã thi ân và nhận biết thùng bột trong nhà không bao giờ cạn, chai dầu ăn trong tủ không bao giờ vơi cho đến khi mưa thuận, gió hoà. c.16.

    Bà đói trong sách Các Vua chương 17 và bà goá nghèo trong Phúc Âm, người dâng cúng hai đồng xu vào nhà thờ, cùng chung quan niệm về cuộc sống, chung cung cách hành động. Bác ái và yêu thương phát xuất tự tấm lòng. Đức Kitô đã khen bà goá bỏ hai đồng xu vào tiền công quỹ bởi bà cho đi đồng xu bà cần. Có người cho nhiều của hơn nhưng cho đi đồng tiền tiết kiệm, tiền để dành chi tiêu vào việc không tên; còn bà goá cho đi đồng xu dùng để mua cơm bánh nuôi thân. Điều này cho biết cung cách và động lực dẫn đến việc thực thi bác ái rất quan trọng. Bác ái xuất phát tự tim là điều Đức Kitô trông đợi môn đệ Ngài thực hiện với tha nhân. Xin ơn khiêm nhường và thật thà trong lòng.

    Về mục lục

    .

    NIỀM TIN CỦA HAI BÀ GÓA PHỤ

    Bác sĩ Ng Tiến Cảnh

    Bà Góa Phụ ở Zarephath (1V 17: 10-16)

    *Ông đã chỗi dậy và đi Zarephath. Ông đến cửa thành thì ở đó có một góa phụ đang mót củi. Ông gọi bà ấy và nói: “ Xin bà cho tôi ít nước trong bình để tôi uống”. Khi bà đi lấy nước thì ông lại kêu bà và nói: “Xin bà cho tôi một mẩu bánh!” Bà nói: “Lạy Thiên Chúa hằng sống, Chúa của ngài, tôi chẳng còn gì cả ngoài nắm bột trong vò và ít dầu trong chóe. Nay tôi đi mót vài que củi về để nấu thức ăn cho tôi và con tôi ăn rồi chết!” Elijah bèn nói với bà: “Đừng sợ, cứ đi và làm như lời bà nói. Nhưng trước hết hãy làm một cái bánh nhỏ và đem ra cho tôi, rồi sau đó hãy làm cho bà và con bà.  Vì Thiên Chúa, Chúa của Israel đã phán thế này:

    Vò bột không vơi,

    Chóe dầu không vợi,

    Cho đến ngày Thiên Chúa ban mưa trên mặt đất

    *Thế là bà đã làm theo lời Elijah, và bà đã có đủ ăn cho bà, cho Elijah và cả nhà suốt cả năm. Quả thực vò bột không vơi, chóe dầu không vợi, đúng như lời Thiên Chúa đã phán qua Elijah.

    Đồng xu của người góa phụ nghèo (Mc 12: 41-44)

    *41 Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dân cúng đền thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền cúng ra sao. Có nhiều người giàu có bỏ thật nhiều tiền. 42Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng bạc Roma.43Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà góa phụ nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. 44Thực vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà bỏ vào đó, còn bà này thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó; bà đã bỏ tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”.

                                    *********

        Câu chuyện trong sách Các Vua (1V 17:10-16) và bài Tin Mừng Mac cô (Mc 12: 38-44) cho chúng ta thấy sự can đảm, lòng đại lượng và niềm tin của hai bà góa phụ.

        Hành động của các bà buộc chúng ta phải tự xét mình và hiểu cảnh đói khổ của những người nghèo túng để có thái độ quảng đại thích ứng. Từ đó chúng ta áp dụng vào cuộc sống chúng ta qua  tông thư Bác Ái Trong Sự Thật của Biển Đức XVI.

    NIỀM TIN CỦA ELIJAH

        Khi đọc Elijah và Elisha trong Sách Các Vua 1 và 2, chúng ta không thể bỏ qua chuyện bà góa ở Zarephath. Câu chuyện Elijah và người đệ tử là Elisha đã cố gắng làm cho dân Israel nhận biết và yêu mến Lời Chúa !

        Theo đoạn sách Các Vua (1V 17:8-16) Thiên Chúa tiếp tục thử thách Elijah. Bài đọc Sách Các Vua hôm nay bắt đầu với câu 10, nhưng cần phải đọc từ câu 8 để hiểu trọn vẹn ý nghĩa của câu chuyện. Câu 8 nói: “Bấy giờ Giavê / Thiên Chúa đến với ông và nói:…”Nhưng Elijah vẫn không đứng dậy đi cho đến khi nhận được sứ điệp của Chúa. Đối với chúng ta, chúng ta cần biết Chúa và lắng nghe lời Chúa trước khi thi hành sứ vụ.

        Đoạn Chúa nói với Elijah hãy đi Zarephath (c.9) là một phần đất của Sidon. Câu 9 gồm 3 mệnh lệnh: “Hãy chỗi dậy”, “Hãy đi” và “Hãy ở đó”. Thiên Chúa đã thử Elijah qua 3 mệnh lệnh trên bằng những đức tính Tin, Cậy, Vâng Lời, Sẵn Sàng và Cam Kết. Khi Thiên Chúa truyền cho Elijah “chỗi dậy” không phải chỉ có hành động chỗi dậy thể xác mà cả tinh thần nữa. Đối với Elijah, vâng lời Chúa là kết qủa thức tỉnh của chính tâm hồn ông.

        Mệnh lệnh thứ hai: Hãy đi Zarephath, là một cuộc du hành cam go, nhọc nhằn và nguy hiểm. Zarephath là một địa danh khô cằn, lại nằm trong đất Sidon thuộc Nữ Hoàng Jezebel rất ác độc. Elijah đến đó không phải để nghỉ ngơi thư dãn!

        Mệnh lệnh thứ ba: “Hãy ở đó” là một thách đố lớn đối với sự cam kết, lòng tin cậy và tầm nhìn của ông, là người đang tìm cách phục vụ Thiên Chúa. Lương thực của Elijah sẽ do một góa phụ nghèo và tuyệt vọng cung cấp. Bà đang phải đối đầu với nạn đói trong một nước dân ngoại là dân Sodon lúc đó đang kình chống Chúa của Israel.

        Ân nhân của Elijah lúc đó không phải là người giàu sang, có nhà cao cửa rộng để có thể chia sẻ đầy đủ cho ông nơi ăn chốn ở ngon lành; trái lại bà quá nghèo phải đi kiếm củi ở cổng thành về nấu thức ăn vì nghèo không có dầu để đốt.

        Thiên Chúa đã ra lệnh cho những con quạ đem thức ăn đến cho Elijah trong sa mạc (1V17:1-7) thì nay lại ra lệnh cho bà góa phụ nuôi ông. Tại Zarephath, người góa phụ nghèp đó đã nghe theo lời chỉ dẫn của Elijah như lời Chúa truyền. Bà ta biết rõ quyền năng của Thiên Chúa nên cả hai mẹ con bà và Elijah đã có đủ thức ăn để sống.

     BÀ GÓA PHỤ VÀ TIÊN TRI ELIJAH

        Bà quả phụ nghèo lại quảng đại và tốt lành cùng với sự trung thành của Elijah nên Thiên Chúa đã làm cho niềm tin của ông thêm vững mạnh, khuyến khích khả năng mục vụ của ông, dùng ông để an ủi người goá phụ và con trai của bà. Với chúng ta, Thiên Chúa sẽ giúp vượt thắng mọi yếu đuối, thất bại và lo âu sợ hãi. Thiên Chúa đã cho chúng ta quá mức tưởng tượng.

    CHỈ CÓ HAI XU THÔI !

        Một bà quả phụ nghèo nữa trong Tin Mừng Mac Cô (Mc 12:38-44) cũng cho chúng ta một bài học. Chúa Giêsu đã ca tụng của lễ của bà và xác định giá trị của lễ đó rất rõ ràng. Nó không ở số lượng mà ở tấm lòng mình muốn dâng cho Chúa. Bà bỏ một xu vào rổ tiền thì túi bà trống rỗng chẳng còn gì nữa. Bà đã lấy tất cả gia sản, tất cả lòng bà mà hiến cho Chúa. Người giàu có, dù họ cho Chúa nhiều gấp trăm nghìn lần bà này nhưng họ vẫn còn dư thừa ở nhà, trong túi. Tiền họ cho Chúa chỉ là bạc lẻ. So sánh hai trường hợp này thì một xu của bà góa bằng cả ngàn đồng của người giàu có, vì một xu đó là giá mạng sống của cả gia đình bà.

        Chúa Giêsu ca tụng người đàn bà này có quá đáng không? Chúa có tiểu thuyết hóa người nghèo không? Ít ai dám mơ ước vươn lên thành triệu phú từ sự khốn cùng, nghèo khổ, vô gia cư vô nghề nghiệp. Chẳng có ai vui sướng vì sống nhờ vào trợ cấp chính phủ, an sinh xã hội; cũng chẳng có ai cảm thấy hạnh phúc đi lục thùng rác và hãnh diện là mình không có tiền trả tiền điện nước hàng tháng, tiền thuê nhà đang bấp bênh sắp bị đuổi trong những tháng ngày mùa đông giá lạnh?

        Người đàn bà trong Tin Mừng nghèo vì là góa phụ. Bà hoàn toàn phụ thuộc vào chồng, nay chồng đã mất. Thảm kịch chính của bà là mất người nương tựa để sống. Bà phải sống nhờ vào lòng quảng đại của thân nhân và cộng đồng.

        Hai xu của người góa phụ là tất cả gia sản của bà. Bà chẳng hy vọng gì vươn lên  thành giàu sang phú quí, tiền dư bạc thừa. Cuộc sống của bà thật bấp bênh. Bà nghèo tiền nhưng lại giầu niềm tin vào lòng Chúa thương xót. Bà hoàn toàn tin tưởng vào ân sủng của Thiên Chúa.

        Chúa Giesu ca tụng bà góa phụ nghèo nhưng Chúa không kết án người giầu có. Ngài chỉ nói “họ khó có thể vào được nước thiên đàng” (Mc 10:23). Vấn đề quan trọng không ở chỗ họ có bao nhiêu tiền để trong ngân hàng hoặc của chìm của nổi ở đâu đó mà ở chỗ họ dành được gì cho đời sau.

        Họ có giúp đỡ những người nghèo khổ, có làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn không? Có nuôi ăn những người đói, giúp áo quần cho người trần chuồng, có cung cấp nơi ăn chốn ở cho người vô gia cư không? Có dùng tiền của mình có để xây đắp văn hóa sự sống không? Cuộc sống của chúng ta có quay cuồng chung quanh tiền bạc hay dựa vào Thiên Chúa là đấng có thể làm cho chúng ta trở nên giàu có? Chúng ta có sống như những chủ nhân ông hay sử sự như người quản gia? (Mt18:23-35).

        Người góa phụ quyết định bỏ một xu vào rổ tiền là sạch túi, nhưng bà vẫn tin tưởng vào Chúa, vào sự giúp đỡ của tha nhân. Gương sáng của bà là tuyệt đối tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa: Bà Yêu Chúa và Chúa thương mến bà. Bà là quản gia không phải là chủ nhân cái gia sản thanh bần của bà. Người góa phụ nghèo này đã dạy chúng ta biết phụ thuộc vào Thiên Chúa.

    THAY LỜI KẾT: BÁC ÁI TRONG SỰ THẬT

     Chúng tôi dùng bốn đoạn ngắn gọn của tông thư Bác Aí Trong Sự Thật / Caritas in Veritate của Biển Đức XVI làm kết luận cho bài suy niệm Tin Mừng hôm nay.

    1- “Việc tìm kiếm tình yêu và sự thật đã được Chúa Giêsu Kitô làm cho trở nên tinh khiết và hết vẻ nghèo nàn mà loài người chúng ta đã tạo ra, và Ngài tỏ cho chúng ta biết một cách trọn vẹn mối tình tiên khởi và kế hoạch để có một đời sống thực mà Thiên Chúa đã sửa soạn cho chúng ta. Trong Chúa Kitô, bác ái trong sự thật đã trở thành Khuôn Mặt Con Người của Ngài, kêu gọi chúng ta phải yêu thương những người anh chị em huynh đệ của chúng ta trong sự thật của kế hoạch của Người. Thực vậy, Người chính là Sự Thật (Ga 14:6).”

    23-“Một sự kiện đơn thuần phát sinh ra từ vấn đề thụt lùi kinh tế, mặc dù tự nócó tính tích cực, cũng không thể giải quyết được những vấn đề phức tạp về tiến bộ của loài người, ngay cả ở những quốc gia phát triển tiền tiến, những quốc gia đã có nền kinh tế phát triển rồi hay những quốc gia còn nghèo đói đang khốn khổ không phải do sự bóc lột cổ điển, nhưng vì những hậu quả tiêu cực về phát triển do tính bất thường và thiếu cân bằng của nó.”

    42-“ Từ lâu người ta thường nghĩ rằng dân nghèo thì phải dậm chân tại chỗ ở một thời kỳ cố định nào đó về phát triển, và vui vẻ chấp nhận sự trợ giúp từ thiện của các quốc gia phát triển. Đức Phaolo VI đã cực lực chống đối ý nghĩ đó trong tông thư Sự Phát Triển Muôn dân / Populorum Progressio. “ Ngày nay những tài nguyên vật chất có sẵn để cứu giúp những dân tộc nghèo khổ đó khỏi cảnh khó nghèo đang có tiềm năng to lớn hơn xưa, nhưng phần lớn lại nằm trong tay của những dân tộc ở những quốc gia phát triển, là những người được hưởng lợi nhiều hơn nhờ sự giải phóng biến đổi về vốn và lao công. Do đó những hình thức thịnh vượng đang lan tràn trên toàn thê giới không thể bị kìm hãm lại bởi những kế hoạch có tính cục bộ của những kẻ chỉ muốn bảo vệ phe nhóm hay để phục vụ cho lợi ích riêng tư.”

    75-“Trong khi những người nghèo trên thế giới vẫn tiếp tục gõ cửa nhà những người giầu có, thì thế giới giàu sang lại không biết lắng nghe những tiếng gõ cửa ấy, bởi vì lương tâm họ không còn phân biệt được thế nào là con người. Thiên Chúa đã tỏ lộ cho con người tự biết mình. Lý trí và niềm tin cùng làm việc với nhau để chứng minh cho chúng ta biết cái gì là tốt nếu chúng ta muốn được biết nó. Theo luật tự nhiên thì lý trí sáng tạo sẽ chiếu rọi trước, để chúng ta nhận ra vẻ cao cả vĩ đại của chúng ta, đồng thời cũng cho biết cả cái cùng khổ của con người đến độ chúng ta không còn nhận ra được tiếng gọi của sự thật luân lý.”

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI TIN MỪNG – CHÚA NHẬT 32 TN_B

    Lm. Inhaxiô Hồ Thông

    1V 17: 10-16

    Bài Đọc I thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa ngoại giáo xứ Xa-rếp-ta, bà cho vị ngôn sứ Ê-li-a tất cả phần còn lại của mình trong thời kỳ đói kém để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa.

    Dt 9: 24-28

    Đoạn trích thư gởi tín hữu Do thái ca ngợi việc Đức Giê-su đã tận hiến một lần cho tất cả để vĩnh viễn tiêu hủy tội lỗi và thánh hóa những ai tin vào Ngài.

    Mc 12: 38-44

    Tin Mừng thuật lại tấm lòng quảng đại của một bà góa nghèo khổ, bà cho tất cả những gì mình có. Xét về lượng, hai đồng xu dâng cúng của bà thật là khiêm tốn, nhưng về phẩm, của dâng này chất chứa biết bao lòng yêu mến và niềm tin của bà đối với Chúa.

    BÀI ĐỌC I (1V 17: 10-16)

    Trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước, hai cuốn sách Các Vua chứa đựng một số lượng lớn những giai thoại ngoạn mục; tập truyện về ngôn sứ Ê-li-a và ngôn sứ Ê-li-sa minh họa rõ nét nhất điều này. Được lưu truyền lâu dài trong dân gian trước khi được biên soạn, những chuyện tích này được thêu dệt thành những chuyện sử thi.

    Cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến xứ Xa-rép-ta minh chứng về tấm lòng quảng đại của những người nghèo và chuẩn bị cho câu chuyện Tin Mừng về tấm lòng quảng đại của một bà góa. Hơn nữa, hoàn cảnh, nơi chốn, các nhân vật đem lại cho câu chuyện một tầm mức tôn giáo.

    Hoàn cảnh của ngôn sứ Ê-li-a

    Ngôn sứ Ê-li-a sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên, trong vương quốc miền Bắc, dưới triều đại vua A-kháp (874-853 tCn). Ông thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình trong một hoàn cảnh rất gian nan. Vua A-kháp cưới công chúa I-da-ven ngoại giáo. Bà hoàng hậu này rất sùng đạo thờ thần Ba-an nên tìm mọi cách loại bỏ việc phụng thờ Đức Chúa trong vương quốc Ít-ra-en, trong khi vị ngôn sứ ra sức bảo vệ việc phụng thờ Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en.

    Ngôn sứ Ê-li-a tuyên sấm trước vua A-kháp một cơn hạn hán sẽ giáng xuống xứ sở vì tội thờ ngẫu tượng. Cơn hạn hán này sẽ kéo dài trong suốt ba năm. Ngôn sứ Ê-li-a rời miền Sa-ma-ri, nơi không dung thứ ông vì lòng oán hận của hoàng hậu I-da-ven đối với ông; ông đến tá túc ở phía bắc sông Gio-đan, bên con suối vẫn còn nước chảy. Nhưng khi con suối này cạn khô, ngôn sứ Ê-li-a ra đi tìm một nơi lánh nạn khác. Ông đi về miền duyên hải Phê-ni-xi ngoại giáo và đến làng Xa-rếp-ta, cách địa hạt Xi-đôn khoảng mười lăm cây số về phía đông và ở lại đó.

    Cuộc gặp gỡ của vị ngôn sứ với một bà góa xứ Xa-rếp-ta

    Một bà góa xứ Xa-rếp-ta nhận ra người khách lạ xin bà một chút nước và miếng bánh là một người Do thái, vì thế bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh”.

    Được định vị vào trong bối cảnh sứ vụ của ngôn sứ Ê-li-a, tình tiết này mang đến một lời chứng đáng chú ý khác về những người khiêm hạ mà các ngôn sứ Cựu Ước luôn luôn nói đến. Nhưng ngoài ra, tình tiết này nêu bật sự tương phản giữa thái độ của một bà góa nghèo ngoại giáo xứ Xa-rếp-ta, bà bày tỏ trọn niềm tin tưởng vào Đức Chúa khi phó thác vào lời hứa của vị ngôn sứ của Ngài, với cách hành xử của một người phụ nữ ngoại đạo khác, hoàng hậu I-da-ven, bà này dùng quyền lực và sự giàu có của mình để lôi kéo dân Chúa sa vào tội bội giáo. Bà góa ngoại giáo xứ Xa-rếp-ta sẽ được trích dẫn trong Tin Mừng như báo trước cuộc hoán cải của lương dân (Lc 4: 25-26).

    Mặt khác, được định vị vào trong khung cảnh của cuộc khủng hoảng tôn giáo khắp vương quốc Ít-ra-en, cuộc mạo hiểm của ngôn sứ Ê-li-a đến xứ Xa-rép-ta cung cấp cho vị ngôn sứ một dịp chứng tỏ rằng chính Đức Chúa – chứ không phải thần Ba-an – là Đấng phân phát đích thật những của cải trần gian. Chính Ngài ban cho những ai tin tưởng phó thác vào Ngài, ngay cả vào lúc túng thiếu.

    BÀI ĐỌC II (Dt 9: 24-28)

    Tác giả thư gởi tín hữu Do thái tiếp tục chứng minh chức tư tế của Đức Ki-tô cao trọng hơn bội phần chức tư tế của vị Thượng Tế Cựu Ước. Tác giả định vị viễn cảnh trên hai bình diện: bình diện “trên trời”: Đức Ki-tô vinh quang là Đấng Trung Gian bên cạnh Chúa Cha, và bình diện “dưới thế”: chức vụ trung gian đòi hỏi Đức Ki-tô phải vượt qua cuộc Tử Nạn.  Như trước đây, tác giả sử dụng những so sánh của mình, mặc nhiên hay minh nhiên – nghi lễ Đền Tội ở đó vị thượng tế Cựu Ước dâng hy lễ lên Thiên Chúa để cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho mình và toàn thể cộng đoàn con cái Ít-ra-en vì đã trót phạm trong năm qua.

    Chức vụ cao trọng của Vị Thượng Tế Tân Ước

    Vào ngày đại lễ Đền Tội, để lời chuyển cầu của mình có thể thấu đến Thiên Chúa chừng nào có thể, vị thượng tế Cựu Ước vào tận nơi cực thánh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, “do bàn tay người phàm làm ra”; trong khi Đức Ki-tô “đã vào chính cõi trời”. Vị thượng tế Cựu Ước không thể đến tận nơi Thiên Chúa ngự, nhưng chỉ đến chỗ mà xưa kia đặt Hòm Bia Giao Ước, biểu tượng nơi ở cõi thế của Đức Chúa; trong khi Đức Ki-tô “đứng trước mặt Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta”.

    Phẩm chất cao trọng của Hy Lễ Tân Ước

    Vị thượng tế Cựu Ước dâng máu của tế vật chứ không phải máu của chính mình, trong khi Đức Ki-tô dâng máu của chính mình. Thế mà người ta có thể dâng hiến mạng sống mình chỉ một lần. Vì thế, hiến lễ tự nguyện và tự hiến của Đức Giê-su có một hiệu quả dứt khoát. Những hy lễ được vị thượng tế Cựu Ước hằng năm dâng lên để xin ơn tha thứ tội lỗi, trong khi hy lễ của Đức Giê-su có giá trị cho mọi thời và mọi thế hệ.

    Một thế giới mới không bóng dáng tội lỗi

    Việc Đức Ki-tô nhập thể đã đặt Ngài vào trong mối liên đới với các tội nhân, nhằm tiêu diệt tội lỗi, như sấm ngôn về người tôi trung của Đức Chúa “đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53: 12). Việc Đức Ki-tô xuất hiện vào Ngày Quang Lâm sẽ không còn bất kỳ liên hệ nào với tội lỗi. Đức Ki-tô sẽ phục hồi một thế giới không bóng dáng của sự chết và tội lỗi. Ngài sẽ cứu độ những ai trông cậy vào Ngài.

    TIN MỪNG (Mc 12: 38-44)

    Mới đây, những người Biệt Phái đã ca ngợi nhân cách của Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa” (Mc 12: 14). Tiếc thay họ đã sử dụng lời ngợi ca này để gày bẫy Đức Giê-su, nhưng lời ca ngợi này càng minh chứng đây là nhân cách thường hằng của Ngài mà đoạn Tin Mừng hôm nay bày tỏ rõ nét nhất.

    Khi đặt hai lời dạy của Chúa Giê-su bên cạnh nhau: tránh xa thói giả hình của người Biệt Phái (12: 38-40) và noi gương cách sống đạo của một bà góa (12: 41-44), thánh Mác-cô muốn nêu bật sự tương phản giữa cách sống đạo của các kinh sư, tiêu biểu cho thành phần trí thức có quyền thế và địa vị, với thái độ khiêm hạ và quảng đại của một bà góa, đại diện cho thành phần hèn mọn nhất.

    Tránh xa thói giả hình của những kinh sư (12: 38-40):

    Các kinh sư là những người học rộng biết nhiều về Kinh Thánh và về truyền thống các tiền nhân, vì thế họ là những nhà chú giải có thẩm quyền. Nhưng vì tự hào và tự phụ về kiến thức của mình, họ tự hình thành nên một giai cấp tách biệt quần chúng. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su thẳng thắn vạch mặt chỉ tên họ và phác họa chân dung của họ với vài nét tiêu biểu mang tính châm biếm: “Những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa thích chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cổ nhất trong đám tiệc”.

    Nhưng lời tố cáo nghiêm khắc nhất mà Ngài gởi đến các kinh sư chính là: “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa”. Bản văn không nói cho chúng biết làm thế nào những kinh sư nuốt hết tài sản của các bà góa. Phải chăng họ đã khai thác sự nhẹ dạ cả tin của những người hiền lành chất phát mà thu góp tiền của cho riêng mình? Hay họ lợi dụng uy tín của những người giải thích lề luật có thẩm quyền mà giải thích lề luật theo chiều hướng có lợi cho mình? Hoặc với tư cách những nhà thông luật, họ biết rất rõ luật Mô-sê lên án nghiêm khắc những ai ức hiếp mẹ góa con côi và hứa cơn thịnh nộ của Đức Chúa (Xh 22: 21), nhưng lại nhắm mắt làm ngơ trước thực trạng bất công của những kẻ có thế có quyền hà hiếp bóc lột những người thấp cổ bé miệng? Chúng ta không biết chính xác, nhưng quả thật, ngôn sứ I-sai-a đã nghiêm khắc tố cáo thái độ này rồi: “Khốn thay những kẻ đặt ra các luật lệ bất công, những kẻ viết nên các chỉ thị áp bức, để cản người yếu hèn hưởng công lý, tước đoạt quyền lợi người nghèo trong dân tôi, để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10: 1-2).

    Về đời sống tôn giáo, “họ còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ”. Việc đọc kinh cầu nguyện lâu giờ là một nhu cầu tâm linh tất yếu của bất cứ tín hữu đạo hạnh nào; nhưng điều đáng nói ở đây chính là “họ làm bộ” chứ không thực tâm, chỉ cốt phô trương nếp sống đạo hạnh của mình trước mặt người đời. Quả thật, họ cầu nguyện tại những nơi và theo những cách để ai cũng phải thấy rằng họ là những người đạo hạnh. Ngay từ bài diễn từ trên núi của Ngài, Đức Giê-su đã lên án nghiêm khắc thói đạo đức giả này rồi: “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy” (Mt 6: 5).

    Đức Giê-su kết thúc những lời lên án thói giả hình của kinh sư như sau: “Cho nên, họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” mà Ngài đã khai triển trong phần kết thúc dụ ngôn “Người đầy tớ trung thành đợi chủ trở về”: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều… Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều, và được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12: 47-48).

    Lời kết án của Đức Giê-su xem ra quá cứng rắn, nếu không muốn nói vơ đũa cả nắm, bởi vì ngay trước đoạn Tin Mừng này, thánh Mác-cô kể cho chúng ta một người kinh sư thành tâm thiện chí tìm kiếm Nước Thiên Chúa đến nổi Đức Giê-su đã khen: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (12: 34). Dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận tính lịch sử của đoạn Tin Mừng này, chính vì sự xung đột giữa Đức Giê-su và những giai cấp lãnh đạo Do thái đã dẫn đến cuộc Tử Nạn của Ngài. Nhưng đoạn Tin Mừng này khó thoát khỏi ảnh hưởng của những cuộc khẩu chiến giữa Giáo Hội tiên khởi và Hội Đường Do thái khi Tin Mừng được biên soạn.

    Tuy nhiên, khi đoạn Tin Mừng được công bố trong cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi, nó mang tính thời sự và vẫn tiếp tục mang tính thời sự xuyên suốt lịch sử của Giáo Hội tại thế. Việc Đức Giê-su lên án nghiêm khắc thói giả hình của các kinh sư là những lời nhắc nhở cho các môn đệ của Ngài. Đến phiên mình, các môn đệ của Ngài sẽ là những người có nguy cơ đi lại lối mòn xưa cũ của những người kinh sư này, tự hào tự phụ vì đã được sống mật thiết với Thầy, đã nhận được trực tiếp lời giáo huấn của Thầy, nên đòi hỏi được hưởng những đặc quyền đặc lợi trong các cộng đoàn Ki-tô hữu. Các môn đệ của Đức Giê-su phải tránh xa đừng để mình rơi vào những thói giả hình của các kinh sư này bằng cách noi gương cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đại của một bà góa nghèo. Sứ vụ của họ phải là phục vụ một cách khiêm tốn và vô vị lợi… Đây là bài học mà các môn đệ của Đức Giê-su sẽ không bao giờ được quên.

    Noi gương cách sống đạo của một bà góa (12: 41-44):

    Xét về hình thức, thánh Mác-cô đã nối kết rất khéo hai lời dạy khác nhau của Đức Giê-su vào cùng một đơn vị. Lời dạy về các kinh sư đóng lại với việc lên án “nuốt hết tài sản của các bà góa”, thì cũng chính “một bà góa” mở ra lời dạy thứ hai. Xét về nội dung, việc liên kết hai lời dạy thành một đem lại một bài học nhớ đời. Các môn đệ phải tránh xa cách sống đạo giả hình của các kinh sư, những người đại diện hàng lãnh đạo của dân Chúa chọn; trái lại cách sống đạo đơn sơ, chân thành và quảng đại của một bà góa, đại diện hạng người rốt hết, lại trở nên mẫu gương cho các môn đệ Ngài noi theo.

    Khi cùng với các môn đệ đang ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng, Đức Giê-su quan sát thấy nhiều người giàu có đến dâng cúng những món tiền lớn, nhưng Ngài chỉ để ý đến một bà góa nghèo đến dâng cúng hai đồng xu. Theo Kinh Thánh, các bà góa được liệt vào số những người nghèo nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24: 17-22). Số tiền bà bỏ vào thùng dâng cúng chẳng đáng là bao so với những món tiền lớn của những người giàu có. Nhưng Chúa Giê-su không đánh giá của dâng cúng dựa trên số lượng mà trên chất lượng. Ngài muốn các môn đệ của Ngài phải ghi khắc điều này: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút ra từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”. Của dâng cúng của bà góa này, xét về số lượng, chẳng có nghĩa lý gì, nhưng xét về chất lượng, lại chất nặng đức tin, đức cậy và đức mến của bà, vì bà đã đặt mọi ngày sắp đến của mình vào tình yêu quan phòng của Chúa.

    Dung mạo của bà góa này là dung mạo sau cùng xuất hiện trong sứ vụ công khai của Đức Giê-su. Giáo huấn của Ngài đã bắt đầu với “Phúc cho những người nghèo khó” và kết thúc với lời ca ngợi một người nghèo khó biết cho tất cả những gì mình có để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa và để Thiên Chúa trở nên tất cả cho cuộc đời mình.

    Về mục lục

    .

    KINH SƯ VÀ BÀ GÓA

    Jorathe Nắng Tím     

    Có thể nói : hai nhân vật, đúng hơn là hai tầng lớp trong xã hội được Đức Giêsu nêu lên và làm nổi bật trong đọan Tin Mừng Máccô 13,38- 44 mà Giáo Hội chọn cho Chúa Nhật 32 hôm nay là Kinh Sư và Bà Góa. Chúng ta cùng chia sẻ và suy niệm điều Đức Giêsu muốn nói với chúng ta qua hai nhân vật này.

    Chúng ta thừa biết : Kinh Sư là những người lãnh đạo trong xã hội tôn giáo thời Đức Giêsu. Gọi là xã hội tôn giáo, vì xã hội Do Thái được hướng dẫn và điều hành bởi tôn giáo Do Thái và Luật Môsê ảnh hưởng sâu đậm trong mọi lãnh vực sinh hoạt của người Do Thái. Do Thái giáo không chỉ bao trùm xã hội Do Thái ở thời Đức Giêsu, mà ngay hôm nay, tôn giáo ở quốc gia Do Thái cũng vẫn giữ vai trò trọng yếu và có tầm ảnh hưởng rất sâu rộng. Nói một cách dễ hiểu hơn : tâm thức của người Do Thái là tâm thức tôn giáo, và tâm thức này mang yếu tố quyết định mọi sinh hoạt xã hội, chính trị.

    Chính trong xã hội tôn giáo này, những người lãnh đạo tôn giáo giữ vai trò rất quan trọng và có nhiều quyền quyết định trên đời sống người khác. Ở vào vị thế ngất ngưởng quyền lực, tất nhiên họ được mọi người, kể cả những người không ưa thích, kính phục phải nể sợ, trọng vọng, phục dịch.

    Hình ảnh về Kinh Sư trong Tin Mừng thì không thiếu, nhưng hầu hết đều là những hình ảnh tiêu cực như trong Tin Mừng Mátthêu chương 23 : Họ nói mà không làm, dậy người khác mà không giữ (x. Mt 23,2-3); “họ bó gánh nặng mà chất lên vai người ta, mà chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào ; họ làm việc cốt để thiên hạ thấy” (Mt 23,4- 5) ; họ diêm dúa, khoe khoang : “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài ; họ ưa ngồi chỗ cao nhất trong đám tiệc, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Thầy” (Mt 23, 5-7). “Khốn cho các ngươi, hỡi các Kinh Sư và Pharisêu giả hình ! Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào !” (Mt 23,13) “Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù qúang !” (Mt 23,16) “Các ngươi lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà” (Mt 23,24). “Các ngươi rửa sạch bên ngoài chén diã, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ” (Mt 23, 25); “bên ngoài  thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác !”(Mt 23, 28), “các ngươi đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ” (Mt 23, 31).

    Tin Mừng Máccô hôm nay sau khi chấm phá vài nét về Kinh Sư như : “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi…, chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc” (Mc 13,38-39), đã đặt trọng tâm vào việc các Kinh Sư chiếm đoạt tài sản của những ngườI được xem là nhỏ bé, yếu đuối, nghèo khổ nhất trong xã hội, đó là các bà goá.

    Câu 40 của đọan Tin Mừng đã nặng lời vạch trần và lên án việc làm bất công, bất chính của Kinh Sư : “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người  ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12,40).

    Câu 40  được tiếp nối như lời giải thích mức độ nặng nề của việc chiếm đoạt tài sản cỏn con, ít ỏi của người nghèo khổ, bằng vẽ lên chân dung của bà góa nghèo và tấm lòng quảng đại của bà: “Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ… Có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, giá trị một phần tư đồng xu Rôma. Đức Giêsu liền gọi các môn đệ và nói : Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Qủa vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi mình”. (Mc 12, 41-44).

    Đức Giêsu đã xác định rất rõ : bà góa nghèo, vì có những bà góa giầu, do thừa hưởng tài sản của chồng đã qua đời. Bà góa nghèo này đại diện cho giai cấp thấp hèn trong xã hội của bất cứ thời nào và ở đâu. Goá bụa là thân phận đáng buồn của phụ nữ, khi mất chồng, bởi mất chồng thì nương tựa vào ai, đơn thân đơn chiếc, tự mình xoay sở để tồn tại. Cảnh góa bụa còn kéo theo nhiều phức tạp, khó khăn, khốn khổ trong gia đình cũng như ngoài xã hội và số phận của người goá bụa thường vất vả, hẩm hiu, mà cảnh nghèo là điều làm họ tội nghiệp hơn cả.

    Đức Giêsu đã can đảm nói cho mọi người biết có những Kinh Sư giả hình: “nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh lâu giờ” (Mc 12,40). Vạch trần sự thật không mấy tốt đẹp của giai cấp lãnh đạo ở thời nào và ở đâu cũng là một liều lĩnh dễ mất mạng. Ở đây Đức Giêsu đã chấp nhận tất cả rủi ro có thể đến với Ngài, để cảnh báo các môn đệ và đám đông đi theo Ngài cơn cám dỗ của tham lam của cải và thói giả hình trong việc thờ phượng :

    1. Thói tham lam của cải:

    Lòng tham của con người thì không đáy, nên bất cứ ai, ở bất cứ địa vị, vai trò nào đều bị cám dỗ làm giầu. Và khi cơn cám dỗ làm giầu nổi sóng, thì người ta không còn biết ai là người có thể rút tiả tiền bạc, và ai là người phải chừa ra, không nên lợi dụng. Bằng chứng là Kinh Sư trong Tin Mừng Máccô hôm nay, tuy là người có của, có danh, được cơ chế lo ăn lo mặc, và mọi người trọng vọng, nể sợ, nhưng vẫn tìm nuốt tài sản của những bà goá nghèo kiết xác, túng bấn mạt rệp. Họ không thương hại cả những người nghèo không còn gì để sống, những bà goá nghèo đơn thân, cơ cực với hiện tại bấp bênh, và tương lai  mù mịt.

    Hình ảnh người nắm giữ quyền lực tận thượng tầng của cơ chế  nhẫn tâm vơ vét, chiếm đoạt đến đồng tiền cuối cùng ki cóp để sống qua ngày của người nghèo “tận số” ít nhiều cũng làm sôi lên trong chúng ta cảm xúc giận dữ trước bất công. Cũng chính những bất công này phá hoại tất cả mọi tương quan giữa người với người và tạo nên cảnh hỗn loạn dẫn đến tình trạng bành trướng đến chóng mặt của bạo lực trong xã hội loài người.

    Cùng với việc cảnh báo thói tham lam của cải, và tội chiếm đoạt tài sản của người nghèo nơi Kinh Sư, Đức Giêsu đã tuyên dương lòng quảng đại của người đàn bà goá bụa nghèo khó. Với Ngài, bà goá nghèo đã cho nhiều hơn tất cả mọi người, vì bà đã cho chính bản thân mình.

    Cho đi là việc làm khó, vì đòi quên mình, hiến mình, như bà goá nghèo đã quên cái túng thiếu cùng cực của mình, mà dâng vào Đền Thờ hai đồng tiền kẽm bé nhỏ, “nhưng là tất cả tài sản và tất cả những gì bà có để nuôi  sống mình” (Mc 12,44). Đức Giêsu cũng muốn nói lên một sự thật trong đời sống, đó là người nghèo thường quảng đại hơn người giầu. Họ dễ cho đi, vì dễ quên mình, bởi không bị  của cải, tiền bạc trói buộc, bao vây.

    1. Thói giả hình trong phụng tự :

    Đức Giêsu nhiều lần trong Tin Mừng đã tỏ ra ngao ngán thói giả hình. Tin Mừng hôm nay cũng nhắc đến nỗi ngao ngán ấy, nhưng đi xa hơn, khi Ngài cứng rắn lên án thói giả hình trong việc thờ phượng : “Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ” (Mc 12, 40).

    Qủa thực, giai cấp Kinh Sư đã bị Đức Giêsu nhiều lần nặng lời lên án và hầu như lần nào Đức Giêsu cũng nhấn mạnh thói giả hình của họ. Theo Ngài, giả hình sẽ làm con người xa Thiên Chúa và xa anh em mình, bởi tương quan từ đó sẽ hoàn toàn xây trên gian dối, khi không còn gì là thật, là đúng, là chính xác. Và một khi tương quan không thật, người ta không thể tiếp tục giao lưu, liên đới với nhau, vì  bất cứ gian dối nào cũng sẽ dẫn đến đổ vỡ, tai họa.

    Ở đây, điều làm Đức Giêsu bực bội và lên án, đó là Kinh Sư đã giả hình ngay  khi làm việc thờ phượng Thiên Chúa, trá hình ngay trước mặt Thiên Chúa là Đấng thông biết mọi sự và thấu suốt mọi cõi lòng. Người giả hình quên rằng Thiên Chúa không có mặt nơi gian dối, cũng như không hiện diện trong tâm hồn kẻ  giả hình, vì Thiên Chúa là Sự Thật và gian dối thuộc về ma qủy.

    Chia sẻ Tin Mừng với tâm hồn cởi mở để đón nhận ý Chúa và ơn Chúa,  công việc đầu tiên chúng ta phải làm là nhìn mình trong nhân vật Chúa cảnh cáo, như Kinh Sư ở đây, để biết mình còn nhiều yếu đuối, ngạo mạn, gian tham, bất công, bất chính ; còn nặng trí trá giả hình, đóng kịch, hoá trang ngay trong khi phụng sự Chúa, để thay đổi tư duy, và cải thiện lối sống. Đừng quên rằng : Đức Giêsu lên án Kinh Sư giả hình cũng là trách móc chúng ta chưa đủ chân thành với Chúa và anh em, nên việc chúng ta phải làm là can đảm soi mình trong gương “người khác” để khiêm tốn sửa đổi, khẩn khoản lòng xót thương, và nài xin ơn thứ tha, hơn là dựa hơi Đức Giêsu ném đá người khác ; diễn dịch lời quở trách của Đức Giêsu để miệt thị, khinh bỉ anh em ; đồng hoá các Đấng Bậc trong Giáo Hội với Kinh Sư để soi mói, bôi bác, coi thường, bất hợp tác.

    Với tâm tình của người có tội cần lòng thương xót và ơn tha thứ, chúng ta cầu nguyện cho nhau, cho mọi thành phần Dân Chúa ý thức và sống Yêu Thương – Hiệp Thông – Tương Trợ như các chi thể của một Thân Thể duy nhất.

    Về mục lục

    .

    TẤM LÒNG BÀ GÓA

    JM. Lam Thy

    Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cao 2 bà goá: Một bà trong bài Sách Thánh (Bài đọc 1 – 1V 17, 10-16), một bà trong bài Tin Mừng (Mc 12, 38-44). Câu chuyện bà goá xứ Sa-rép-ta giúp đỡ ngôn sứ Ê-li-a có nhiều điểm rất đáng suy gẫm: Khi nghe ngôn sứ Ê-li-a xin nước, bà đã mau mắn lấy nước cho ngài, nhưng khi ngài xin bánh, thì bà nói: “Có ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết.” (1V 17, 12). Bà đã sống trong cảnh lầm than cùng cực, chỉ còn một chút dầu, một chút bột để làm bánh cho 2 mẹ con ăn bữa cuối cùng rồi chờ chết. Cứ tưởng bà trả lời như vậy, thì bà sẽ không nhường chút bột và dầu ấy cho ngôn sứ, nhưng thật lạ lùng, bà lại sẵn sàng nhịn ăn mà nhường chút lương thực cuối cùng ấy cho “người của Đức Chúa” là ngôn sứ Ê-li-a.

    Tới bài Tin Mừng (Mc 12, 38-44), Thánh sử Mac-cô trình thuật việc Đức Giê-su lên án các kinh sư giả hình chỉ thích phô trương bộ vó bên ngoài, huênh hoang nơi lỗ miệng, còn trong lòng thì rỗng tuếch (Mc 12, 38-40). Tiếp liền theo đó là câu chuyện một bà goá nghèo bỏ vào thùng tiền quyên góp cho nhà thờ 2 đồng tiền kẽm là tất cả tài sản của bà. Có một điều rất thú vị là khi nhìn vào đám người kinh sư Pha-ri-sêu “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc” lại là những người “nuốt hết tài sản của các bà goá”. Thế đấy!

    Để có được bộ vó bảnh choẹ, đám người chỉ thích ăn trên ngồi trước “nói mà không làm” lại đi bóc lột tận xương tuỷ các bà goá. Trong khi đó thì một bà goá nghèo đã “rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.” Chỉ trong một đoạn văn ngắn, Thánh Mac-cô trình thuật Lời dạy của Đức Giê-su nêu bật hai hình ảnh trái ngược: Một bên là  hình ảnh đám kinh sư chỉ chú trọng phô trương hình thức sang trọng oai vệ bề ngoài, chỉ thích “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy” nhưng “họ nói mà không làm” (Mt 23, 2-3), vì thực chất họ chỉ là thứ “thùng rỗng kêu to”. Còn một bên là thái độ đạo đức đích thực nơi người góa phụ. Bà đã bỏ nhiều hơn ai hết, vì mọi người lấy tiền của dư thừa bỏ vào, còn bà thì lấy tất cả của độ thân mà dâng cúng.

    Chuyện bà goà chân thành giản dị dùng hết số tiền mình có dâng cúng vào đền thờ hoặc như bà goá Sa-rep-ta dùng ngay bữa ăn cuối cùng của 2 mẹ con để đãi “người của Đức Chúa”, còn mình thì sẵn sàng nhịn đói chờ chết, khác xa – nếu không muốn nói là đối nghịch hẳn – với hạng người xúng xính trong bộ vó sặc sỡ, lòe loẹt. Chẳng cần đi sâu vào nhận xét hành động bộc lộ nội tâm, cứ nhìn cái vẻ bề ngoài đơn sơ chất phác của các bà goá, so với cái vỏ hào nhoáng kênh kiệu của đám kinh sư, cũng đã thấy được bản chất của giai cấp mà họ là đại diện. Mấu chốt vấn đề chính là ở sự chân thành và lòng tin tưởng hay nói cách khác là tình yêu. Chỉ vì tình yêu mà hai bà goá sẵn sàng dâng hiến đến đồng tiền, nắm bột cuối cùng của đời mình. Cũng vì thiếu tình yêu nên đám kinh sư “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 4), sẵn sàng “nuốt hết tài sản của các bà goá”  (Mc 12, 40).

    Nói đến Tình yêu là nói đến “cho” và “nhận”. “Cho” và “nhận” là 2 khái niệm tương phản về mặt ý nghĩa, hành động, nhưng lại đồng nhất về mục đích: Tình Yêu – Tình yêu nhận về (eros) và Tình yêu cho đi (agape). Tình yêu nhận về là tình yêu chiếm hữu (amor concupiscentiæ), vị kỷ (vì mình), thường giới hạn ở giới tính (tình yêu nam nữ); Tình yêu cho đi là tình yêu vị tha (vì người – amor benevolentiæ), là tình yêu mở rộng đến không còn giới hạn (bác ái), và như thế chính là đích điểm tột cùng của tình yêu: Thiên Chúa Tình Yêu (“Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối và là nguồn mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. Eros vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với agape.” – Tđ “Thiên Chúa là Tình Yêu”, số 1).

    Thiên Chúa luôn “cho đi” một cách nhưng không, Người không hề đòi sự đáp trả; nhưng với con nguời thì có khác: cho đi nhưng cũng muốn nhận về nhiều hơn. Cứ nhìn xem cảnh cứu trợ nạn nhân thiên tai (bão lụt, động đất…), nạn nhân chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật…, cũng thấy không ít cảnh “cho” mà vẫn muốn “nhận” về hoặc một lời tri ân, hoặc một tấm bằng khen, một sự nổi tiếng, thậm chí có nhiều khi còn “cho tay mặt, bắt tay trái”, hoặc của cho là của bá tính nhưng lại nhận là của mình (“mượn đầu heo nấu cháo”) rồi thì xà xẻo, đục khoét, rút ruột… đủ kiểu. Rất thích “cho” nhưng là cho những của dư thừa, hoặc “mượn đầu heo nấu cháo”, cốt để khoe sự giàu sang, tính tình hào phóng, thương người. Song song với kiểu cho như vậy thì lại muốn “nhận” về đủ thứ lợi lộc, như vậy thì chẳng phải là “cho tay mặt bắt tay trái” đó sao? Nếu chẳng vậy thì Đức Ki-tô đã không dạy: “Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo”  (Mt 6, 3-4). Như vậy, cho hay nhận chỉ là những hành vi được thực hiện bởi một động lực nhắm đến một mục đích nào đó. Hành vi ấy có thể xuất phát từ động lực nội tâm với mục đích thực thi Lời Chúa (“Tốt hơn hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giớ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.” – Lc 11,41), nhưng cũng có thể xuất phát từ một động lực ngoại tại (ham chuộng hư danh, tham vọng quyền thế…), hoặc nhắm đến một mục đích khác (tranh bá đồ vương về chính trị, tranh quyền đoạt lợi về kinh tế…).

    Suy cho cùng, thì con người chỉ là một thụ tạo đi từ “không” đến “không” (từ tro bụi lại trở về với bụi tro). Sự hiện diện của con người trên trái đất chính là nhờ vào Tình Yêu Thiên Chúa ban tặng. Vì thế, con người cần phải ý thức đến ngay chính thân xác mình cũng chỉ là món quà Tình Yêu do Thiên Chúa ban tặng. Thân xác ấy có tồn tại trên thế gian này nhiều lắm cũng chỉ là “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười” (Cao Bá Quát) mà thôi. Cái thân xác ấy chỉ là phù du, vậy thì những danh vọng tạo được hoặc những của cải vật chất do chính thân xác ấy làm ra, thì cũng chỉ là những hư danh, những ảo ảnh, những thứ phù phiếm chóng qua mà thôi. Nhận chân được vấn đề, con người sẽ thấy được là mình đã “nhận về” từ Thiên Chúa tất cả (từ con người đến cuộc sống trần thế của mình) và mình phải có bổn phận đáp trả. Thiên Chúa không đòi hỏi sự đáp trả, vậy thì con người đáp trả bằng cách nào đây? Đó chính là “Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” (Mt 10, 8).

    Chính 2 bà goá trong các bài đọc hôm nay đã làm như vậy. Và như thế, 2 bà tuy không đọc vanh vách Thánh Kinh, nói thao thao Lề luật như các kinh sư luật sĩ Pha-ri-sêu, nhưng đã sống Lời Chúa một cách sinh động hơn ai hết. Nói đến sống Lời Chúa thì không gì bằng đến với hiện thân Lời Chúa mặc xác phàm: Ngôi Lời nhập thể. Bài Đọc II (Dt 9, 24-28) trong Thánh  lễ hôm nay đã nói rất rõ: Ngôi Lời Giê-su Ki-tô đã “lấy máu mình lập Giao Ước mới” (“Bởi vậy, Người là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa.”  – Dt 9, 15). Vì lòng thương yêu, Người đã đến trần gian lần thứ nhất thực hiện Giao Ước Mới bằng cách lấy chính Máu Thịt mình làm của Lễ Hy Sinh để cứu chuộc nhân loại, và “Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” (Dt 9, 28).

    Thánh Phao-lô đã rất chí lý khi đem chính bản thân đặt vào những giả thiết về tất cả mọi hành vi của con người – đặc biệt là hành động “cho” (bố thí) – khi thực hiện mà thiếu tình yêu thì cũng chẳng ích lợi gì (“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẵng ích gì cho tôi.” – 1Cr 13, 3). Cuối cùng, Thánh nhân khẳng định: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” (1Cr 13, 13). Để được nên như người bạn trung thành tuyệt đối của Đức Ki-tô (Ki-tô hữu), thì mọi Ki-tô hữu hãy nhìn lại mình xem khi bố thí mình có “cho tay phải biết việc tay trái làm”, có “cho tay mặt bắt tay trái”, có thích “nhận về” hơn là “cho đi” hay không? Đồng thời cầu xin Chúa ban cho một đức tin vững mạnh, một lòng mến chân thành, để sống và hành động trong mọi việc, ở mọi nơi, trong mọi lúc, với tất cả tấm lòng “mến Chúa yêu người”, chớ không phải để được đề cao, để được ghi tên, khắc tuổi trên bảng vàng, bia đá cho người đời ca tụng.

    Lời khuyên cuối cùng và thiết thực nhất dành cho kẻ viết bài này, xin được chia sẻ với anh em xa gần, đó là: “Đừng xoè tay ra nhận, rồi nắm lại khi phải cho đi” (Hc 4, 31), mà “hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch” (Lc 11, 41). Ấy cũng bởi vì chính Ngôi Lời đã dạy: “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20, 35) và Người đã thực hiện bằng Hy tế Thập giá trên đồi Can-vê. Ước được như vậy.

    Ôi! Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin đẩy xa những gì cản bước tiến chúng con, trên đường về với Chúa, để một khi xác hồn thanh thản, chúng con được hoàn toàn tự do thực hiện ý Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Antôn

    Có câu chuyện về một người đàn bà sinh năm 1774 tại thành phố New York. Người đàn bà này có tên là Elizabeth Bayley. Năm 19 tuổi bà kết hôn với một thương gia tên là William Seton, cho nên bà có tên là Elizabeth Seton.Hai vợ chồng đạo Tin lành và có tất cả 5 người con. Sau đó, người chồng bị chứng bệnh lao phổi. Bác sĩ khuyên vợ chồng qua sống ở nước Ý, hy vọng khí hậu ấm ở đây sẽ giúp bệnh lao của ông thuyên giảm. Nhưng bệnh tình của ông càng ngày càng trầm trọng hơn và qua đời 2 năm sau đó. Nhờ sự quảng đại giúp đỡ của một gia đình người Ý Công giáo, bà và người con gái trở về Hoa kỳ. Sự quảng đại của gia đình người Ý này là động lực thúc đẩy bà Elizabeth tìn hiểu đạo Công giáo. Hai năm sau đó bà và các con được rửa tội theo đạo Công giáo. Sự gia nhập đạo Công giáo của bà và các con làm cho thân nhân và bạn bè xửng sốt, tức giận và từ bỏ bà.

    Không nản chí, bà đã đi dạy học để nuôi 5 đứa con.  Và để tóm tắt, sau khi các con trưởng thành và lập gia đình, bà đã trở thành một nữ tu và là vị sáng lập chi nhánh dòng Các Nữ Tì Bác Ái ở Hoa Kỳ. Và chính dòng này đã khởi đầu cho hệ thống trường học Công giáo mà chúng ta thấy hiện nay. Có lần bà đã tâm sự rằng, “Tôi chỉ muốn tránh sự bon chen của xã hội, trong một cuộc sống đơn giản để cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa đã muốn tôi làm việc khác, do đó tôi phải vâng theo thánh ý Chúa hơn là ý tôi.”  Trong suốt thời gian này, bà đã hy sinh và cố gắng phát triển và củng cố đời sống của dòng, cũng như đặt một nền tảng vững chắc cho hệ thống giáo dục Công giáo.  Bà Elizabeth Seton qua đời năm 46 tuổi và được Đức giáo hoàng Phao-lô Đệ lục phong thánh ngày 4 tháng 9 năm 1975. Vị thánh đầu tiên của Giáo hội Công giáo Hoa kỳ.

    Bà Elizabeth Seton khi còn sống chỉ là một goá phụ đơn sơ, nhưng đã dâng hiến tất cả những gì có trong cuộc đời của mình cho Thiên Chúa, trở thành một con người phi thường lạ lùng, trở thành một khí cụ của Chúa, và là một món quà quí giá của Giáo hội, góp phần vào việc xây dựng Giáo hội và làm sáng danh Chúa. Như bà Elizabeth Seton, 2 người đàn bà góa trong những bài Kinh thánh hôm nay, đã hy sinh dâng hiến tất cả những gì mình có cho Chúa, với tấm lòng chân thành, vui mừng và yêu mến, và đã được Chúa trả công bội hậu. Cả ba bà góa đã dâng cho Chúa những gì cần thiết cho cuộc sống chứ không phải sự dư thừa.

    Bài đọc 1 cho chúng ta biết, tiên tri Êlia bị đói khát trong lúc trốn tránh sự thù nghịch đã gặp bà góa ở xứ Sa-rep-ta và được bà cứu giúp.  Bà góa này đã dùng tất cả số bột bà còn lại để nuôi sống bà và đứa con trong cơn khốn khó, làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn. Và Chúa đã trả công bội hậu cho bà và đứa con trai duy nhất thoát cảnh hạn hán đói khổ.

    Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta biết câu truyện Chúa Giêsu gặp một bà góa trong đền Thờ Giêrusalem.  Bà đã dâng cúng vào đền thờ hai đồng kẽm là tất cả tài sản và là số tiền vừa đủ để nuôi sống bà.  Bài Tin mừng cho chúng ta biết Chúa đã vinh danh và khen bà dâng cúng nhiều hơn những người giàu có khác.
    Chúng ta thường nghe nói của cho không bằng tấm lòng người cho.  Cho những gì cần thiết với  tấm lòng quảng đại, chân thành yêu thương và vui mừng, thì còn quý trọng hơn.  Hai bà góa còn được vinh danh vì lòng yêu mến đối với người của Chúa và nhà Chúa, như những sự hy sinh quảng đại đóng góp và dâng cúng của chúng ta ngày nay.  Hay nói một cách khác, các bà được đề cao nhờ lòng mến Chúa và yêu người, thành tâm để thánh ý và kế hoạch của Chúa được thể hiện một cách thực tế trong cuộc sống con người trần gian.  Chính lòng yêu mến chân thành đã làm cho lòng quảng đại của hai bà góa có giá trị to lớn trước mặt Thiên Chúa.

    Như chúng ta đã từng nghe có 3 mẫu người cho. Mẫu người thứ nhất là những người giúp, cho hay đóng góp với thái độ khó chịu và bực tức.  Mẫu người thứ hai cho, giúp hay đóng góp một cách miễn cưỡng vì bổn phận, và mẫu người thứ ba đóng góp với thái độ hy sinh, vui mừng và quảng đại vì ý thức những gì có là do Chúa ban, cho nên muốn có đời sống tạ ơn và làm sáng danh Chúa.

    Nhìn vào cuộc sống hôm nay và trong xã hội này, chúng ta ai cũng hiểu biết rằng tiền bạc rất cần thiết cho cuộc sống. Nên tiền bạc tự nó không xấu, rất hữu ích và giúp cuộc sống có giá trị.  Tiền bạc trở nên tốt hay xấu là do mục đích con người xử dụng nó.  Nếu xử dụng vào những việc xấu thì sẽ đem lại sự xấu cho chính mình, gây tai hại cho gia đình và xã hội.  Nhưng nếu được dùng vào những công việc tốt và bác ái thì đem lại những lợi ích cho chính mình, cho người khác, và nếu dùng vào việc thiêng liêng làm sáng danh Chúa như đóng góp, dâng cúng cho việc bác ái, cho việc xây dựng nhà thờ, thì tôi tin chắc chắn sẽ làm đẹp lòng Chúa và sẽ được Chúa trả công.

    Vì yêu thương và muốn cứu độ chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Con Một Người là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người.  Và vì yêu thương con người tội lỗi chúng ta, Chúa Giê-su đã hiến dâng tất cả cuộc đời của Người trên thập giá như là một hy lễ để cho chúng ta được sống. Và cũng chính Chúa Giê-su, còn dâng chính Thân Thể Người cho chúng ta trên bàn thờ, như là của ăn nuôi sống linh hồn và bảo đảm cuộc sống vĩnh cửu cho chúng ta. Và cũng vì lòng nhân từ và quảng đại, Chúa ban cho chúng ta rất nhiều ơn lành hồn xác hơn lòng chúng ta mong ước.  Xin Chúa giúp chúng ta biết noi gương 2 bà goá trong Kinh thánh lời Chúa hôm nay có tấm lòng bác ái và quảng đại giúp đỡ, cho đi, đóng góp và dâng cúng với tấm lòng hy sinh và vui mừng, vào những việc đẹp lòng Chúa và làm sáng danh Người. Chúng ta tin Chúa sẽ trả công bội hậu cho chúng ta.

    Về mục lục

    .

    TẤM LÒNG

    Lm. Giuse Nguyễn

    Nhớ lại năm đi thử tại Họ đạo vùng quê, lúc đó cha sở đang xây nhà thờ nên có lần tôi được cùng với cha đi xin tiền ở một Giáo xứ lớn vùng Sài Gòn. Sau Thánh lễ, chúng tôi chia nhau ra đứng tại các cửa ra vào nhà thờ và cổng nhà thờ để nhận tiền của những ai muốn dâng xây dựng nhà thờ. Khi đứng xin tiền, có hai hình ảnh làm cho tôi phải suy nghĩ. Hình ảnh thứ nhất là của những người cho quá nhiều. Lúc đó đối với tôi, 500 ngàn là lớn lắm! Vậy mà có người móc trong túi ra 2 tờ năm trăm, có người 4 tờ, thậm chí có người 10 tờ. Lúc đó tôi bị choáng ngợp vì người ta quá giàu. Hình ảnh thứ hai là của những người cho ít ỏi. Có người cho 10 ngàn, có người cho 20 ngàn, có người cho 100 ngàn rồi lấy lại 50. Chính những người cho những đồng tiền ít ỏi này khiến tôi suy nghĩ: “Có 10 ngàn, 20 ngàn mà cũng bỏ vào, gặp mình là mình không bỏ đâu, người ta cười chết!” Vậy mới thấy được tấm lòng của người ta, có bao nhiêu cho bấy nhiêu, không sợ người khác chê cười. Có một hình ảnh mà cho tới bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được. Đó là một ông già bán cà rem, quảy cái thùng tới trước cửa nhà thờ, dừng lại xin tôi một tờ bướm. Sau khi xem xong nội dung của tờ bướm, ông ta bỏ thùng cà rem xuống, móc cái bọc trong túi quần ra, đếm, vuốt những đồng tiền lẻ nhàu nát rồi đến nói với tôi: “Quê tui ở Vị Thanh, gần nhà thờ này nè! Thấy dưới quê mình lên xin tiền xây nhà thờ mà tui không có nhiều. Thôi từ sáng tới giờ bán được bao nhiêu tui gởi hết, coi như tui gởi tấm lòng về quê vậy!” Thực sự là tôi nói tiếng cám ơn không nỗi, vì “tấm lòng” của ông quá nặng. Tôi không biết chính xác ông bỏ bao nhiêu, nhưng có lẽ chỉ vài chục ngàn, một thùng cà rem của ông. Thế mới thấy, thời nào cũng vậy, tấm lòng mới là thứ quý giá, mới đánh động người khác, và cũng là thứ có giá trị nhất. Phụng vụ lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta thấy rõ điều đó.

    I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

    1. Bài Đọc I: 1V 17, 10-16

    Hình ảnh bà góa thành Sarepta cho chúng ta thấy bà là người ngoại giáo, nhưng có tấm lòng quảng đại còn hơn những người Do Thái giáo thời bấy giờ nữa. Nghĩ cũng lạ, một người không quen, gặp mình ngoài cổng thành, kêu mình đi lấy nước cho người ta uống, vậy mà cũng đi. Hơn thế nữa, cho uống nước rồi, còn xin ăn bánh. Trời đất ơi, được voi đòi tiên! Vậy mà bà góa này không hề khó chịu, vẫn đối xử với ông ta một cách hòa nhã. Đó là tấm lòng của bà góa. Kế đến, bà đã cho tiên tri Êlia không phải những thứ dư thừa, mà cho chiếc bánh cuối cùng để nuôi sống hai mẹ con bà: “Ông ơi, ông hiểu dùm mẹ con tôi, chúng tôi chỉ còn có một chút bột và một chút dầu, đủ để làm cái bánh ăn trước khi chết để khỏi thành con ma đói.” Vậy mà nghe lời của tiên tri, bà đã làm cho ông ăn chiếc bánh cuối cùng đó. Cuối cùng, sở dĩ bà làm như thế là vì bà tin tưởng, phó thác vào Thiên Chúa của ông Êlia.

    2. Tin Mừng: Mc 12, 41-44

    Qua việc dâng cúng để xây cất đền thờ, Maccô đưa ra cho chúng ta hai hình ảnh đối lập nhau dưới sự chứng kiến của Đức Giêsu. Hình ảnh thứ nhất là của những người giàu có dâng cúng rất nhiều tiền. Hình ảnh thứ hai là của bà góa nghèo khổ, bỏ vào thùng chỉ có hai đồng tiền kẽm, loại tiền có mệnh giá thấp nhất thời bấy giờ. Nếu tính ra tiền của người Rôma thì chỉ có một phần tư xu thôi. Nhưng dưới cái nhìn của Chúa thì: “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn hết”. Tại sao vậy? Thưa vì dù những người kia bỏ nhiều, nhưng là “tiền dư bạc thừa của họ”. Còn bà góa này dù bỏ ít, nhưng “lại là tất cả những gì bà có”.

    Như vậy phụng vụ lời Chúa hôm nay không phải nhằm đề cao bà góa, vì thời nào cũng vậy, đều có bà góa tốt và bà góa xấu. Nhưng Kinh Thánh muốn dùng hình ảnh bà góa vì bà góa là một trong những đối tượng bị đối xử phân biệt trong xã hội thời bấy giờ. Và nhìn chung bà góa thì thiệt thòi hơn những người khác. Điều sâu xa mà Lời Chúa muốn gởi đến chúng ta ngày là: Muốn của lễ được đẹp lòng Chúa, thì phải là của lễ do lòng hy sinh. Kế đến, hình ảnh của hai bà góa này cũng cho chúng ta thấy được sự dâng hiến trọn vẹn, dâng hiến tất cả những gì mình có. Khi chúng ta dâng của lễ hy sinh với tất cả những gì mình có, thì đó chính là tấm lòng của chúng ta.

    II. TẤM LÒNG

    1. Sự hy sinh:

    Rõ ràng vấn đề không phải nằm ở số tiền dâng cúng, mà ở cái giá người dâng cúng phải trả. Không phải là tầm cỡ của lễ vật, mà là sự hy sinh của người dâng cúng. Lòng hào hiệp của chúng ta là ở chỗ dâng hiến mà chính mình phải chịu thiệt thòi, mất mát. Dĩ nhiên việc dâng lễ vật ở đây không chỉ là vật chất, mà còn cả cuộc đời chúng ta phải là lễ vật dâng lên Thiên Chúa. Vì vậy giá trị cuộc đời của chúng ta không hệ tại ở chỗ chúng ta làm gì cho Chúa, làm ít hay làm nhiều, làm những chuyện nhỏ nhặt hay những chuyện lớn lao, mà ở chỗ chúng ta hy sinh đến mức nào.

    Hai bà góa trong Phụng vụ lời Chúa hôm nay đều thể hiện rõ sự hy sinh, mất mát khi dâng hiến cho Thiên Chúa. Gương của những vị thánh, mỗi người một việc, dù là những việc lớn lao cho cả Giáo hội như  chân thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, hay những việc bác ái phi thường của mẹ Têrêxa Calcutta, hoặc chỉ âm thầm như chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, nhưng tất cả đều chung một giá trị ở sự hy sinh, quên mình cho Chúa. Chính Đức Giêsu khi đến trần gian này cũng đã “Hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”… Tất cả đều trở thành của lễ đẹp lòng dâng lên Thiên Chúa Cha.

    Hành trình đức tin của chúng ta cũng đòi hỏi sự hy sinh gian khổ. Người giàu có sự hy sinh của người giàu. Người nghèo có sự hy sinh của người nghèo. Linh mục, tu sĩ có sự hy sinh của linh mục, tu sĩ. Giáo dân có sự hy sinh của giáo dân. Hy sinh cho gia đình, cho vợ chồng, con cái. Hy sinh cho họ đạo, cho đoàn chiên… Mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả đều là sự hy sinh. Sáng sớm, tôi thức dậy đi lễ, trong khi tôi có quyền ngủ tiếp, đó là sự hy sinh. Ra làm cỏ ngoài đất thánh, nắng nôi, cực khổ, kiến cắn, vắt đeo, trong khi tôi có quyền ngồi đánh bài sướng muốn chết, đó là sự hy sinh. Bạn bè rủ đi nhậu, nhưng thôi, tôi đi làm việc Giáo xứ, đó là sự hy sinh. Một linh mục, một tu sĩ không thể được lòng hết tất cả mọi người: nhưng mỗi người đều có sự âm thầm hy sinh phục vụ trong khả năng và điều kiện Chúa cho… Tất cả sự hy sinh đó làm cho lễ vật cuộc đời chúng ta có ý nghĩa trước mặt Chúa. Bởi vì lễ vật đòi hỏi phải có sự hy sinh, đổ máu.

    1. Dâng hiến trọn vẹn:

    Kế đến khi dâng lễ vật, chúng ta phải dâng hiến trọn vẹn. Bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay có thể giữ lại một đồng tiền, dù nó chẳng là bao, nhưng dù sao nó cũng còn một chút gì cho mình. Thế nhưng bà đã dâng hết tất cả những gì bà có. Đức Giêsu đã đổ đến giọt máu và nước cuối cùng cho nhân loại chúng ta. Ngài đã dâng hiến trọn vẹn… Điều tệ hại là chúng ta vẫn còn giữ lại một chút gì đó khi dâng hiến cho Thiên Chúa. Chính “một chút” đó đã làm cho lễ vật của chúng ta chưa trọn vẹn.

    Một chút này có khi là sự ươn lười. Chúng ta muốn đọc kinh, đi lễ lắm và có quyết tâm đàng hoàng, nhưng đến giờ bỗng nhiên lười biếng, nên thôi ở nhà. Rõ ràng chúng ta đã dâng cho Chúa nhưng chưa dâng tất cả. Một chút này có khi là sự tiếc nuối. Muốn bỏ bài bạc rượu chè lắm nên đã đi xưng tội và đã quyết tâm bỏ, nhưng khi có người rủ rê, lôi kéo, chúng ta lại cảm thấy tiếc nuối  và thế là trở lại con đường cũ…

    Chúng ta có thể cảm nhận được rất rõ, dù cho mình không có gì, nhưng khi dâng tất cả cho Chúa, Ngài sẽ dùng để làm nhiều việc vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Ngược lại, nhiều khi chỉ vì những cái tiếc nuối nho nhỏ mà làm cho chúng ta không được trọn lành.

    Tóm lại, phụng vụ lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy hình ảnh của hai bà góa đã làm đẹp lòng Chúa do hai bà đã dâng lên Thiên Chúa tấm lòng của mình. Tấm lòng đó được thể hiện bởi sự hy sinh và dâng hiến trọn vẹn. Từ đó mời gọi chúng ta cũng hãy biết sống hết lòng trong hành trình đức tin của mình, khi chúng ta chấp nhận hy sinh, gian khổ, chấp nhận cho đi tất cả.

    Xin ơn Chúa giúp qua lời cầu bầu của Mẹ Maria, thánh cả Giuse cho mỗi người chúng con biết sống thật lòng với Chúa, để nhờ đó dâng cho Chúa trọn vẹn cả tấm lòng của chúng con. Tấm lòng này nhiều khi chỉ là những mồ hôi, nước mắt; những cố gắng đến mỏi mòn trong đời sống đức tin, nhưng dù như thế nào chúng con vẫn không nản lòng mà vẫn tiếp tục dâng hiến trọn vẹn cho Chúa.

    Về mục lục

    .

    QUẢNG ĐẠI

    Lm. Thái Sơn

    Chuyện vui kể rằng, có hai sinh viên người Liên Xô và Trung Quốc chung phòng, do không hợp tính nên rất ghét nhau. Hàng ngày, anh Liên Xô lén ‘tè’ vào chăn của anh Trung Quốc.

    Anh Trung Quốc vẫn tỏ vẻ như không có chuyện gì xảy ra và lặng lẽ mang chăn đi giặt. Sự việc cứ tiếp diễn, cho đến một hôm anh Liên Xô đang uống trà vui vẻ nói với anh Trung Quốc:

    Bạn thật là quảng đại. Tôi thật sự ân hận về việc đã ‘tè’ vào chăn của bạn. Tôi xin lỗi bạn và hứa từ nay không làm vậy nữa”.
    Anh Trung Quốc thản nhiên trả lời: “Vậy thì hàng ngày, tôi sẽ không ‘tè’ vào ấm trà của bạn nữa”.

    Thưa các bạn!

    Người ta thường nói: Thâm như Trung Quốc.​ Thiết tưởng, biết nó đâm mình còn có thể đỡ được, nó mà đâm trộm ai mà đỡ nổi.

    Phải chăng, ngày nay hiếm có người bao dung, rộng lượng, hay quảng đại với nhau? Sống không tranh chấp, chẳng đố kỵ được sử sách lưu danh, người người kính trọng.

    Lời Chúa tuần 32 Thường Niên B nói đến người phụ nữ vừa góa lại nghèo, thế nhưng có lòng quảng đại, dám cho đi những gì mình có, dám chia sẻ với kẻ nghèo hơn mình…

    Với lòng quảng đại của bà góa nghèo Xarepta, có thể nói “bột đức tin” và “dầu đức ái” mà bà đã chia sẻ cho tiên tri Elia và đã mang lại thứ “bánh thơm tho”, “bánh bồi bổ”, “bánh dinh dưỡng” nhất.

    Với lòng quảng đại của bà góa nghèo trong Tin Mừng, có thể nói bằng cả tấm lòng chân thật, dù số lượng rất ít, nhưng chất lượng rất nhiều, dâng cúng rộng lượng, không so đo tính toán nhỏ to…

    Có thể nói, lòng quảng đại là khởi đầu của những điều hết sức kỳ diệu và dẫn đến công việc lớn lao… với đồng xu nhỏ nhưng có tình yêu lớn đã đạt được kết quả mỹ mãn, đáng mọi người ca ngợi…

    Bằng chứng, Đức Giêsu đã chỉ cho các môn đệ biết: “Thầy bảo thật anh em, bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng tiền nhiều hơn ai hết” (Mc 12,43).

    Thưa các bạn!

    Khi có “đức tin & đức mến”, người ta dễ dàng chia sẻ, trao ban và nâng đỡ nhau, với tinh thần “lá lành đùm lá rách, lá rách đùm lá nát”. Ai đó đã xác quyết:

    Khi tin, tôi sẽ dám gởi trao.

    Khi tôi chân thành, tuyệt vọng sẽ dừng bước.

    Khi tôi yêu mến, sẽ dám cho đi chính bản thân.

    Phận người thật mỏng manh và con người thật yếu đuối, nếu chỉ dựa vào riêng khả năng của mình. Đức tin & lòng mến sẽ là “đôi chân” đứng vững trước sóng gió của cuộc đời.

    Thật vậy, nếu không có đức tin vững vàng và lòng mến tha thiết, thì “bạn & tôi” sẽ đi vào con đường lầm lạc, lựa chọn khó khăn, như mẩu chuyện vui dưới đây để kết luận.

    Thầy giáo hỏi học sinh: “Nếu thấy một túi đạo đức và một túi tiền ở đường thì em nhặt túi nào?

    Trò không suy nghĩ, trả lời luôn: “Thưa thầy, em nhặt túi tiền”.

    Thầy liền nói: “Nếu như là thầy thì thầy sẽ nhặt túi đạo đức. Vậy vì sao em lại nhặt túi tiền?”.

    Trò vội đáp: “Thì em nghĩ ai thiếu gì thì nhặt thứ ấy!”…

    Xin Chúa ban ơn “đức tin & đức ái” chân thật để “bạn & tôi” chọn lựa và chung sống bao dung và quảng đại hơn. Amen

    Về mục lục

    .

     

    CỦA CHO VÀ CÁCH CHO

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ goá bụa. Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Êlia, một người thời Chúa Giêsu. Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành. Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ goá bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9). Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng. Vậy mà Lời Chúa hôm nay lại muốn khẳng định với chúng ta: Họ là những người đáng tôn trọng, bởi họ đã có những nghĩa cử đẹp. Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người goá bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế. Ngài là chỗ dựa cho họ. Các ngôn sứ và các tác giả Thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán.
     
    Người phụ nữ thời ngôn sứ Êlia, nghèo đến mức chỉ còn một chút bột và chút dầu trong bình, nhưng cũng sẵn sàng quảng đại làm cho vị ngôn sứ tấm bánh. Tấm bánh mà bà tặng cho vị ngôn sứ là tất cả những gì bà có, là niềm hy vọng cuối cùng của hai mẹ con bà. Vậy mà bà sẵn sàng hy sinh tất cả. Sự hy sinh của bà đã được ghi nhận và thưởng công ngay lập tức. Từ đó, hũ bột của bà không vơi và bình dầu của bà không cạn cho đến khi mưa xuống trên xứ sở.

    Người phụ nữ thứ hai được nhắc đến trong Tin Mừng cũng là người đàn bà goá nghèo. Bà công đức vào Đền thờ chỉ vẻn vẹn hai đồng tiền kẽm, là số tiền rất nhỏ so với giá trị tài chính, nhưng Chúa Giêsu khẳng định: Bà đã dâng cúng tất cả mình có với lòng quảng đại và như thế có nghĩa bà bỏ nhiều hơn những người giàu có. Tác giả Tin Mừng cũng nhắc đến sự tương phản trong thái độ và y phục của những người cùng bước vào Đền thờ hôm ấy: trước hết là những kinh sư súng sính trong bộ áo thụng để phô trương và biểu diễn, rồi đến những người giàu có vênh vang khoe của. Bên cạnh họ, người đàn bà goá khiêm hạ, chỉ công đức được một chút tiền bạc. Tấm lòng của bà đã được ghi nhận, của cho không bằng cách cho.
     
    Lời Chúa hôm nay muốn lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc. Thông thường, chúng ta hay quan sát và đánh giá theo những dáng vẻ bên ngoài. Tuy vậy, con người phải được tôn trọng trước hết là vì nhân phẩm của họ, rồi đến tư cách đạo đức và tấm lòng chân thành của họ đối với những người xung quanh. Sự thận trọng trong nhận định sẽ giúp ta tránh mọi sai lầm đáng tiếc, và tránh những thiệt hại cho những người có liên quan.
     
    Lời Chúa cũng nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện. Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh. Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn. Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi.
     
    Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế. Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại. Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an. Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.

    Về mục lục

    .

    ÁNH MẮT THIÊN CHÚA

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt.

    Người làm sao chiêm bao làm vậy. Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra trong ánh mắt thế ấy. Hôm nay, Chúa Giêsu ngồi trước cửa đền thờ Giêrusalem quan sát những người bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ. Người đã thấy. Và đã phán đoán. Qua cách quan sát và phán đoán ta có thể thấy được tâm hồn của Người.

    Chúa quan tâm tới những người bé nhỏ. Hàng hàng lớp lớp người tiến đến dâng cúng. Tin Mừng thuật lại: “Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma”. Thật lạ lùng. Biết bao nhiêu người Chúa chẳng quan tâm, chỉ quan tâm tới một người bé nhỏ nhất. Chúa chỉ quan tâm tới một người nghèo nhất. Một bà góa. Bà góa này chắc chắn phải gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nhưng Chúa đã chú ý đến bà. Người ta bảo tìm gì gặp nấy. Chúa yêu thương những người bé nhỏ, nên quan tâm tới người bé nhỏ và chỉ nhìn thấy những người bé nhỏ. Ánh mắt quan tâm nên nhìn thấy rõ, dù người đó bé nhỏ, lạc giữa đám đông. Ánh mắt yêu thương nên thấy người đó thật đẹp dù ăn mặc rất đơn sơ, hình dáng rất tiều tụy. Quả thật trái tim Chúa nhân hiền như người mục tử tốt lành, bỏ chín mươi chín con chiên béo tốt để đi tìm một con chiên lạc còm cõi. Như người phụ nữ đốt đèn tìm một đồng tiền nhỏ bé rơi trong góc nhà.

    Chúa nhìn bên trong tâm hồn. Biết bao người giàu sang béo tốt quần là áo lụa, nhưng Chúa không nhìn. Chúa chỉ nhìn người phụ nữ nghèo nàn, gầy gò, rách rưới. Biết bao người dâng cúng tiền rừng bạc biển mà Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen người phụ nữ bỏ vào thùng tiền hai đồng xu nhỏ. Không những khen mà Chúa còn cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác. Thì ra Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. Chúa cho biết tại sao Chúa khen bà: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Chúa đã nhìn thấu tâm hồn của bà. Một tâm hồn thiết tha yêu mến Chúa và với công việc nhà Chúa. Chúa đã thấy tấm lòng của bà. Một tấm lòng quảng đại dám cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình.

    Lời Chúa hôm nay vừa cảnh tỉnh tôi vừa dạy dỗ tôi về cách sống đạo và về cách nhìn người.

    Về cách nhìn người, Chúa dạy tôi đừng chạy theo những người giàu sang phú quý quyền cao chức trọng, nhưng hãy biết chú ý tới những người bé nhỏ nghèo hèn trong xã hội. Đừng xét đoán người theo hình dáng bề ngoài, theo y phục hay theo tiền của. Hãy biết nhìn bên trong tâm hồn con người. Có những người có địa vị cao nhưng tâm hồn lại thấp hèn. Có những người nghèo hèn nhưng tâm hồn rất cao thượng. Có những người giàu có nhưng rất bủn xỉn. Có những người nghèo khó nhưng rất quảng đại.

    Vì thế trong đời sống đạo, Chúa dạy tôi đừng giả hình vì Chúa nhìn thấu rõ tâm hồn. Tôi có thể lừa dối người khác, nhưng không thể lừa dối Chúa. Đừng khoe khoang kiêu ngạo vì Chúa chỉ yêu thích tâm hồn bé nhỏ khiêm nhường. Đừng tìm chỗ đứng trong xã hội, trước mặt người đời, nhưng hãy tìm chỗ đứng trong lòng Thiên Chúa.

    Lạy Chúa, xin dạy con biết noi gương bà góa nghèo, biết sống đơn sơ chân thật, nhưng luôn quảng đại với Chúa và với anh em. Amen.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1- Trong Phúc Âm ta thấy Chúa quan tâm tới những người nào?

    2- Chúa đánh giá người ta theo hình dáng bên ngoài hay tâm tình bên trong?

    3- Vì sao Chúa khen bà goá dù bà bỏ rất ít tiền vào nhà thờ?

    4- Bản thân tôi rút được bài học gì qua bài Tin Mừng hôm nay?

    Về mục lục

    .

    CHO BẰNG TẤM LÒNG

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Khi ở miền quê tôi rât thích hình ảnh một bà cụ khệ nệ ôm nải chuối đến biếu cha. Đó là hình ảnh bà ôm cả tấm lòng dành cho cha. Rất đáng quý, rất đáng trân trọng. Nói là ôm cả tấm lòng vì khi gia đình có cây chuối ra hoa, ra buồng, họ đã nghĩ đến để dành cho ai. Khi ra bẹ chuối họ cũng nghĩ phải chọn bẹ chuối nào dành cho cha. Và rồi nâng niu nải chuối ngon nhất để mang biếu cha, đó là ôm trọn một tấm lòng chân thành thật quý giá!

    Hình ảnh ấy khiến tôi cũng nhớ tới một bà cụ rất đơn sơ. Ngày tết bà ra chúc tuổi tôi. Bà nói: Nhà con có cây xoài ra trái. Con để dành trái xoài to nhất để mang tết cha. Thế mà đến ngày 28 tết trộm nó hái mất rồi! Con chẳng còn gì để biếu cha. Nghe cũng vui nên tôi nói với bà cụ: Bà đã dành cho cha cả tấm lòng rồi. Xin cám ơn bà.

    Quả thực, người ta nói “của cho không bằng cách cho”. Giá trị của món quà không nằm ở giá trị đồng tiền mà quan yếu là ở tấm lòng dành cho nhau. Những người cần công việc họ biếu quà cho cấp trên hàng triệu nhưng không có tấm lòng. Quà họ biếu có toan tính lợi nhuận. Quà của họ không có tình yêu.

    Quà tặng chỉ có giá trị khi nó mang cả tấm lòng yêu mến tri ân. Đó mới là món quà vô giá. Món quà nồng thắm tình yêu. Món quà không dựa trên giá trị đồng tiền mà hệ tại ở tấm lòng. Thế nên, đừng bao giờ nghĩ mình có thật nhiều tiền mới giúp cha giúp mẹ, mới mua quà bánh cho ông bà.  . . Đừng cầu mong trúng số mới làm việc bác ái, mới đóng góp xây dựng giáo xứ . . .

    Nếu như vậy, có lẽ chúng ta sẽ khó có cơ hội giúp đỡ tha nhân. Hãy thi ân trong khả năng của mình. Hãy làm việc thiện khi có cơ hội, đừng đợi chờ những chuyện ngoài tầm tay. Chúng ta không nên hứa hẹn hay chờ đợi ngày mai, mà ngay hôm nay hãy làm những việc tầm thường như: giúp một người già qua đường, lượm một cây đinh sét vương vãi trên đường, thăm viếng kẻ yếu đau . . .

    Thiên Chúa sẽ nhìn tấm lòng chúng ta như Chúa đã nhìn thấy tấm lòng thành của Abel. Ngài đã vui nhận lễ vật của Abel, vì Ngài thấy ở đó có lòng thành tri ân. Thiên Chúa đã khinh dể lễ vật của Cain vì lễ dâng của ông không có lòng thành. Vì Ngài là Đấng thấu suốt tâm can. Ngài sẽ chúc phúc cho những lễ vật đơn hèn nhưng gói trọn tình yêu.

    Hôm nay trong đền thờ khi mà nhiều người bỏ tiền dâng cúng, Chúa Giê-su chỉ nhìn thấy nơi bà góa tấm lòng thành. Bà bỏ tiền ít nhưng nồng ép vào đó cả tấm lòng thành. Bà không giầu của cải nhưng bà giầu tấm lòng. Bà biết tất cả là của Chúa ban, thế nên phải dâng lại cho Chúa là lẽ thường tình. Lễ vật của bà không giầu tiền bạc nhưng lại rộng lượng tấm lòng.

    Xin cho chúng ta hiểu rằng tất cả là của Chúa. Cuộc sống của chúng ta là do Chúa ban. Hãy dâng tặng cho Chúa trong những công việc chung của Giáo hội, nhất là chia sẻ cho những người bất hạnh cơ hàn. Xin đừng đóng cửa lòng mình trong ích kỷ tham lam. Amen

    Về mục lục

    .

    HAI ĐỒNG ÂN PHÚC

    Lm. Jos. DĐH

    Từ xa xưa, ăn ngon mặc đẹp vẫn được coi là “cái thú” của giai cấp giầu có địa vị, họ cần hiểu biết ăn diện thế nào cho đúng phong cách để không ai xem thường. Rất có thể vì quan niệm xem mặt đặt tên, khiến cho việc ăn mặc bị lạm dụng, ăn thì thích ngồi chỗ nhất, mặc phải kiểu cách, khác người, ra đường thì muốn được người ta chào hỏi, kính trọng. Cũng từ việc ăn mặc, thói đạo đức giả, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều sinh hoạt cộng đồng, nơi hội đường và đền thờ, tính tham lam ích kỷ làm mất đi sự linh thánh.

    Vào hôm đó, Chúa Giêsu quan sát thấy rất nhiều người bỏ tiền vào hòm công đức ở hội đường, hẳn không phải vì họ dâng cúng ít tiền, nhưng là vì Chúa phát hiện ra việc làm của họ không có tình yêu. Như một sự vô tư có mặt ở hội đường năm ấy, Chúa Giêsu nhận ra tấm lòng của bà góa nghèo, chỉ với 2 đồng tiền nhỏ bé, Ngài đã cho các môn đệ biết là bà đã bỏ vào hòm công đức nhiều hơn cả. Nhận xét ấy, ân phúc đó, cho thấy : Thiên Chúa biết rõ tấm lòng của từng người, Ngài muốn tình yêu chớ không cần hy lễ,

    Hai đồng ân phúc của bà góa nghèo, chắc chắn đang tác động đến việc sống đạo của con người, 2 đồng tiền nhỏ đó vẫn an ủi những ai đang nghèo khổ, vẫn thức tỉnh người giầu về cách sử dụng tiền của cách hữu ích nhất. Lý do Chúa Giêsu quan tâm đến 2 đồng “tiền còm” của bà góa, vì bà đã dâng trọn cả tình yêu gói ghém trong gia sản mà bà dâng cúng. Thật trong lòng mới quí, giả trong tim mới đáng sợ; câu thành ngữ ấy nhiều người chúng ta đã nghe và đã cảm nhận về cách cư xử ở đời này.

    Đánh giá về phẩm về lượng, về tính thật giả, tình nhẹ hay tình nặng…., chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Nhưng người xưa luôn có những lời khuyên xác đáng : đừng ăn quá miệng, đừng diện quá trán; hoặc lương thiện là đồng tiền duy nhất có thể hỗ trợ ta đi khắp thế giới. Cụ Nguyễn Du cũng khích lệ hậu thế chúng ta : thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Hãy trải lòng mình với tha nhân, như thế ta sẽ thấy cuộc sống giá trị hơn. Để lưu ý đám đông về “chữ tâm”, Chúa Giêsu cho thấy biết bao người giầu tiền lắm của, nhưng họ công đức, chia sẻ những thứ dư thừa, có của mà không có lòng, có làm phúc bố thí mà thiếu tình, thiếu nghĩa cũng như không.

    Khi đưa ra lối sống giả dối, tính cách phô trương hình thức, Chúa Giêsu không có ý nhằm hạ nhục người giầu có chức quyền, đúng hơn Chúa cảnh tỉnh để chúng ta hãy sống thật với lòng mình : tự khiêm người ta càng phục, tự khoe người ta càng khinh. Ngày hôm nay, nhiều người cho rằng : khối óc là phương tiện để suy tư, muốn giầu, muốn thành đạt, phải có chí, có tâm, biết sử dụng chất xám cách hài hòa. Một số lại chủ trương : cứ tà tà, cái gì thái quá cũng hư bột hư đường, hay có đức mặc sức mà ăn, nghĩa là có đạo, có đức, ta sẽ có tất cả. Hãy tùy hoàn cảnh, ta hãy mạnh dạn đặt tình yêu vào hành động chân thực của mình.

    Lên tiếng về cách sống đạo của đám đông Do-thái, Chúa Giêsu cũng không có ý lên án người giầu, hay khen người nghèo, mà Chúa để cao tấm lòng, dù có phần hơi trừu tượng, nhưng từ 2 đồng tiền nhỏ bé, Chúa đã cho thấy nét cao đẹp của tâm hồn bà góa. Mẫu thuẫn ở đời chúng ta thường gặp : có những người xét thấy họ nghèo hèn thật, nhưng cách cư xử và sự cho đi không tính toán, để rồi không ai nghĩ là họ nghèo. Có những người nhà to cửa rộng, trình độ học thức cao, nhưng chẳng ai muốn tiếp xúc, vào họ sống như một người nghèo và cô đơn chẳng có bạn bè thân thiết.

    Dâng cúng tiền của nhiều ít vào hòm công đức, không phải là chuyện mới lạ đối với người Kitô hữu, có khác hơn là ta có ý thức đặt tấm lòng, đặt tình yêu vào các việc làm phúc đức không ? Tại hội đường năm xưa, Chúa Giêsu đề cao tấm lòng của bà góa nghèo với 2 đồng tiền “ân phúc”, tại cuộc sống hoặc nơi tâm hồn của chúng ta Chúa đang nhìn rất rõ về tương quan yêu thương của mỗi người. Hôm nay Chúa không hiện diện cách hữu hình để khen thưởng việc dâng cúng của ta, cũng không ai để “camera” ghi nhận lại việc bác ái tông đồ của cuộc đời ta, nhưng Chúa vẫn thấy và ghi nhận “ân phúc” cho từng người ta.

    Hai đồng bạc “nhỏ bé” của bà góa nghèo sẽ còn được nhắc mãi cho đến khi thế giới hiện tượng này không còn nữa. Lòng quảng đại và đức ái của từng người Kitô hữu chúng ta chia sẻ hôm nay, hẳn còn được tồn tại muôn đời, dù ta có nhắm mắt xuôi tay, Chúa vẫn nhớ. Bà góa nghèo tiền của, nhưng lòng không nghèo, bà góa có thể thiếu tiền nhưng không thiếu tình. Chúng ta ở đây, hẳn ai cũng tài giỏi, giầu có địa vị hơn bà góa năm xưa, ai trong chúng ta cũng có thể cho đi một chút tiền, chia sẻ một chút tình, làm nhiều việc bác ái tông đồ ở mọi hoàn cảnh, điều đáng nói là ta có thực tâm để sống lời mời gọi của Chúa không ? Chúa chẳng đòi hỏi ta phải chiến thắng, nhưng Chúa cần ta trung thực, Chúa không bắt buộc ta thành công, nhưng Chúa muốn ta hãy nỗ lực hết mình. Hy vọng tấm lòng yêu mến và tinh thần xây dựng gia đình giáo hội của chúng ta, sẽ tiếp tục được Chúa chúc phúc, ghi nhận. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỒNG KẼM ĐỒNG XU CỦA TÔI ĐÂU?

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Trong những ngày cuối niên lịch phụng vụ, khi mà Hội Thánh muốn mọi Ki-tô hữu suy niệm nhiều về các chân lý thời sau hết (tứ chung), chúng ta được mời gọi hướng tư tưởng về ngày ‘phán xét’, khi mỗi người đều phải ‘đứng trước mặt vị thẩm phán chí công’. Để chuẩn bị cho ngày đó, vấn nạn sẽ là: vị Thẩm Phán sẽ dùng tiêu chuẩn nào để phán xét tôi, cái ‘chí công’ của Ngài sẽ ra sao? Trình thuật Mác-cô hôm nay về ‘đồng xu đồng kẽm của bà góa’ được đặt ngay trước bài giảng dài về cánh chung trong chương 13, chắc hẳn phải soi chiếu một điều gì đó vào các vấn nạn trên. Mong rằng nó sẽ mang lại một giải đáp đầy an ủi mang tính Tin Mừng thật sự cho cái viễn tượng phán xét, thường vẫn tạo nên bao hãi hùng kinh khiếp.

    Thẩm Phán chí công sẽ xét xử theo tiêu chuẩn nào? Người ta vẫn thường dạy rằng Thiên Chúa phán xét mỗi người theo công tội họ đã làm trong cuộc sống: nếu là người lương thiện ngay lành, tôi sẽ được thưởng, còn nếu làm điều dữ điều trái, tôi sẽ bị luận phạt muôn đời muôn kiếp. Căn cứ theo tiêu chuẩn này, tôi sẽ là người hoàn toàn trách nhiệm và chủ động về thưởng phạt; ơn thánh Chúa nếu có, cũng chỉ đóng vai trò trợ giúp. Tuy nhiên Giáo lý Công giáo lại dạy rằng, ơn cứu độ của Đức Ki-tô là cần thiết (essential) cho hết thảy mọi người, vì mọi người đều phạm tội. Nếu quả thật như thế, thì quan niệm phán xét trên có cái gì đó không ổn! Không một ai, cho dầu có cố gắng tu luyện tới đâu đi nữa, có thể ra trước tòa phán xét ‘xúng xính trong bộ áo thụng… đáng chiếm ghế danh dự’ vì đinh ninh rằng khi còn sống mình đã thu tích đủ ‘công nghiệp’ để đáng được thưởng công. Trước mặt vị Thẩm phán chí thánh chí công đó, mọi người đều chỉ là: ‘đầy tớ vô dụng’ (Lc 17:10). Thế nhưng may mắn thay trong ngày phán xét, vị Thẩm Phán lại cũng chính là Giê-su đang “ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho đền thờ… quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao”. Người sẽ không khen thưởng những kẻ bỏ thật nhiều tiền vào thùng, nhưng lại đề cao ‘một bà góa nghèo’, vì bà đã dâng cúng vào đền thờ ‘hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu’ mà bà đã ‘rút ra từ cái túng thiếu của mình’. Như thế để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày ra trước vị Thẩm Phán chí công, tôi rất cần biết cái ‘rút ra từ cái túng thiếu của mình’ đó có nghĩa là gì? Làm thế nào để Ngài cũng sẽ gọi các thần thánh lại, chỉ vào tôi và nói: “tên nghèo nàn đốn mạt này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”!

    ‘Đồng tiền kẽm… rút ra từ cái túng thiếu’ chắc chắn không phải là: các việc lành phúc đức tôi đã làm được trong đời, các thành công hoành tráng để có thể xứng đáng được ‘người ta chào hỏi’ tung hô trên thiên quốc; đó phải mãi mãi vẫn là những gì vô giá trị như đồng kẽm, đồng xu trước mặt người đời, nhưng lại vô cùng quí hóa trước mặt Thiên Chúa từ nhân. Phải chăng đó là: những cố gắng, những nỗ lực vươn lên khỏi sự thấp hèn yếu đuối tột cùng của mình… nhưng đã thất bại, vẫn hoàn toàn sụp đổ chẳng đi tới đâu. Sẽ chẳng bao giờ có ai trong đời, ngay cả chính tôi, đánh giá cao những điều đó, nếu không có cặp mắt ‘quan sát’ vô cùng chí công nhưng rất mực nhân hậu của Đức Ki-tô từ nhân. Có thể như phần đa mọi người, tôi phải thừa nhận: bất chấp những nỗ lực cố gắng, đời mình thành đạt không nhiều, nhưng thất bại thì lắm; “Điều tôi muốn thì tôi không làm, còn điều tôi ghét thì tôi cứ làm’ (Rm 7:15). Rất nhiều khi tôi thấy mặc cảm và thất vọng vô cùng về các yếu đuối, sa ngã mình vướng mắc. May mắn thay, trong niềm tin vào Thiên Chúa từ nhân, suy đi nghĩ lại, tôi còn thấy: đời mình – và rất có thể nhiều mảnh đời khác cũng thế – không thiếu những đồng kẽm đồng xu của các nỗ lực vô vọng này; vì tuy được tạo dựng ‘nhân chi sơ tính bản thiện’, và mang trong người ‘hình ảnh của Thiên Chúa’, kiếp sống ô trọc nào mà không tránh khỏi các bất toàn yếu đuối? Do đó điều quan trọng nhất trong đời chưa hẳn là tránh được tội lỗi, nhưng là làm sao tranh thủ được cặp mắt ‘quan sát’ đầy từ tâm ấy, cặp mắt từng nhận ra giá trị của ‘đồng kẽm’ nơi bà góa, đồng xu nơi Phê-rô, nhưng lại không tìm thấy nơi các Biệt phái, thượng tế. Chỉ có thế thôi, và ngày phán xét sẽ đâu còn gì đáng sợ nữa!

    Mẹ Tê-rê-xa Kơn-ka-ta hay lặp lại câu nói sau đây: “Chúa không muốn nhìn thấy bao nhiêu việc bác ái tôi đã làm, nhưng ngài muốn nhìn thấy bao nhiêu bác ái tôi đã nỗ lực đem vào các công việc của tôi”. Hình như Lời Chúa hôm nay cũng nhắc lại cùng một chân lý đó: Chúa không phán xét tôi căn cứ vào những gì tôi đạt được, nhưng cặp mắt nhân ái của Người muốn tìm thấy nơi tôi những đồng kẽm nhỏ nhoi của nỗ lực vươn lên thầm kín trong mọi tình huống cuộc đời. “Còn bà này thì rút ra từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản” hẳn mang nội dung rất an ủi đó chăng?

    Nếu quả là như thế thì, cho những người yếu đuối và tội lỗi như tôi, Tin Mừng đích thực là đây: Tim Mừng có khả năng làm cho đứa con hoang đàng hay tên cướp bị tử hình trên thập giá thay vì hãi sợ, sẽ ra trước vị Thẩm Phán ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu rỗi’ (Lc 21:28).

    “Hãy tạ ơn Chúa vì ngài nhân lành, vì tình thương của ngài bền vững muôn năm!” Lạy Chúa, con muốn cất lời ca ngợi lòng thương xót hải hà của Chúa, khi sống và nhất là trong giờ chết. Lòng thương xót đó cho phép con không mặc cảm trước những yếu đuối thiếu sót của mình, hơn nữa còn có khả năng biến chúng thành nguồn an ủi và hy vọng cho đến muôn đời. Xin cho con đừng bao giờ xa rời cặp mắt yêu thương đó, bây giờ và trong giờ lâm tử. A-men.

    Về mục lục

    .

    NHỎ MÀ TO

    Trầm Thiên Thu

    Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ đại, ít mà dồi dào, thấp mà ai cũng phải ngước nhìn,…

    Thật vậy, toán học trên Nước Trời hoàn toàn khác với toán học ở thế gian, cách tính của Chúa Giêsu trái ngược với cách tính của chúng ta. Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều công sức để phân định xem một ly nước “BỊ cạn một nửa” hay “ĐƯỢC đầy một nửa”.

    Đối với người bi quan, ly nước b cn mt na và họ lo s ly đó sẽ tiếp tục cạn nữa. Đối với người lạc quan, ly nước được đy mt na và họ hy vng ly đó sẽ được đổ thêm cho đầy hơn. Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh.  Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn.

    Góa là tình trạng của một người đã lập gia đình nhưng chết vợ hoặc chết chồng – góa bụa. Nhưng người ta thường nói về phụ nữ: Bà góa, góa phụ, quả phụ. Góa phụ và quả phụ đều là phụ nữ chết chồng – có thể có con hoặc không, và có khác một chút xíu: Quả phụ là người còn trẻ, Góa phụ là người đã luống tuổi. Kể cũng lạ, “gà trống nuôi con” thì người ta thấy thương cảm, còn “gà mái nuôi con” thì người ta lại thấy… bình thường! Loại phụ nữ góa bụa thường bị xã hội coi thường, xưa cũng như nay, vì vậy mà họ cũng thường cảm thấy cô độc và tự ti mặc cảm. Thế nhưng hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa lại đề cao con người khốn khổ này.

    Trình thuật 1 V 17:10-16 kể về một bà góa tốt bụng đã nuôi ngôn sứ Ê-li-a.

    Sau một thời gian hạn hán, Đức Chúa bảo ông Ê-li-a đi Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, và ở lại đấy, rồi sẽ có một bà goá ở đó nuôi ông. Thế là ông đi ngay. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và xin nước uống. Bà ấy liền đi lấy nước cho ông uống, xong rồi ông bảo bà cho ông xin miếng bánh. Bà lấy danh Thiên Chúa mà thề thật lòng là bà không có bánh, chỉ còn nắm bột và chút dầu trong vò, bà đi lượm vài thanh củi về nhà nấu nướng cho mẹ con bà ăn bữa cuối rồi chờ chết. Ông Ê-li-a bảo bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói, nhưng trước tiên bà phải làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn trước, rồi sau đó bà sẽ làm cho mẹ con bà. Ông cho biết rằng Thiên Chúa đã hứa là hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Ngài đổ mưa xuống trên mặt đất.

    Bà góa đã và làm như ông Ê-li-a nói. Thế là mẹ con bà và ông Ê-li-a có đủ ăn lâu ngày vì hũ bột không vơi và vò dầu chẳng cạn đúng như lời Đức Chúa đã hứa.

    Chỉ có Thiên Chúa làm được như vậy, vì Ngài là Tạo Hóa duy nhất, chẳng có thần thánh nào khác. Người Việt chúng ta, kể cả những người không tin vào Thiên Chúa, thường cầu xin khi trời nắng lâu ngày: “Ly Tri mưa xung, ly nước tôi ung, ly rung tôi cày, ly đy bát cơm. Quả thật, El Niño hay La Niña thì chúng ta cũng đều phải chịu khổ (1), vì khô quá hoặc ướt quá cũng “mệt mỏi” lắm!

    Có những hiện tượng bất thường, chúng ta gọi đó là thiên tai, nhưng thực ra chỉ là nhân tai. Vì chính chúng ta phá hại môi trường nên mới có những hiện tượng bất thường, chứ Thiên Chúa tạo dựng thiên nhiên tốt đẹp lắm. Ngài có thể ngăn chặn, nhưng Ngài cho phép điều xấu xảy ra vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta, và cũng là để chúng ta chịu khổ mà “sáng mắt” ra.

    Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài rất nhân hậu nhưng cũng rất công bằng (x. 1 Pr 1:17; Rm 2:2; Kh 19:11). Tác giả Thánh Vịnh nói: “Thiên Chúa x công minh cho người b áp bc, ban lương thc cho k đói ăn. Chúa gii phóng nhng ai tù ti, Chúa m mt cho k mù loà. Chúa cho k b dìm xung đng thng lên, Chúa yêu chung nhng người công chính” (Tv 146:7-8). Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người, không phân biệt ai, dù quen hay lạ, đặc biệt là xót thương những người bị xã hội ruồng bỏ: “Chúa phù tr nhng khách ngoi kiu, Người nâng đ cô nhi qu ph, nhưng phá v mưu đ bn ác nhân. Chúa nm gi vương quyn muôn muôn thu, Sion hi, Chúa Tri ngươi hin tr ngàn đi” (Tv 146:9-10).

    Con Thiên Chúa đã hạ mình đến tột cùng và yêu thương chúng ta đến cùng, không chỉ ngày qua hoặc ngày nay, mà cả ngày mai và muôn thuở muôn đời. Thánh Phaolô minh chứng điều đó: “Đc Kitô đã chng vào mt cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh y ch là hình bóng ca cung thánh tht. Nhưng Người đã vào chính cõi tri, đ gi đây ra đng trước mt Thiên Chúa chuyn cu cho chúng ta. Người vào đó, không phi đ dâng chính mình làm ca l nhiu ln, như v thượng tế mi năm phi đem theo máu ca loài khác mà vào cung thánh” (Dt 9:24-25). Trên cả tuyệt vời, hy lễ của Đức Giêsu Kitô chỉ một mà nên trọn vẹn tất cả, nhưng Ngài vẫn chấp nhận tiếp tục chịu đau khổ vì chúng ta.

    Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Người đã phi chu kh hình nhiu ln, t khi thế gii được to thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thi gian, Người đã xut hin ch mt ln đ tiêu dit ti li bng vic hiến tế chính mình. Phn con người là phi chết mt ln, ri sau đó chu phán xét. Cũng vy, Đc Kitô đã t hiến tế ch mt ln, đ xoá b ti li muôn người. Người s xut hin ln th hai, nhưng ln này không phi đ xoá b ti li, mà đ cu đ nhng ai trông đi Người” (Dt 9:26-28).

    Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Một sự trùng hợp thú vị. Cuối năm cũng là dịp nhắc nhở mọi người về đoạn cuối cuộc đời của mình. Cuối năm nghĩa là sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuối đời nghĩa là chúng ta sắp chết và cũng chắc chắn sẽ chết. Chuyện nhỏ mà to, chuyện bình thường mà đặc biệt. Chết rồi còn lại gì? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ có những gì chúng ta trao tặng sẽ còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức, mà nhân đức quan trọng nhất là đức ái, đơn giản là những gì chúng ta CHO người khác. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Lúc hiến thân là lúc nhn lãnh, lúc quên mình là lúc gp li bn thân”. Đức ái vô cùng kỳ diệu, và còn mãi muôn đời!

    Trình thuật Mc 12:41-44 (tương đương Lc 21:1-4) nói về việc dâng cúng của bà goá nghèo, tức là đề cập việc trao tặng, biếu hoặc cho. Điều này cho thấy rằng động từ “cho” là động từ quan trọng lắm: “CHO thì có Phúc hơn là NHN” (Cv 20:35). Thật vậy, “hãy làm mọi sự vì Đức Ái” (1 Cr 16:14).

    Một hôm, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu b tht nhiu tin, cũng có mt bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đng tin km, trị giá một phần tư đồng xu Rôma (2). Thực tế rất đời thường, nhưng Đức Giêsu dùng sự thật này để dạy các môn đệ một bài học quý: “Thy bo tht anh em: bà goá nghèo này đã b vào thùng nhiu hơn ai hết. Qu vy, mi người đu rút t tin dư bc tha ca h mà đem b vào đó; còn bà này rút t cái túng thiếu ca mình mà b vào đó tt c tài sn, tt c nhng gì bà có đ nuôi sng mình.

    Thánh Luca cũng cho biết tương tự: “Bà goá nghèo này đã b vào nhiu hơn ai hết. Qu vy, tt c nhng người kia đu rút t tin dư bc tha ca h mà b vào dâng cúng; còn bà này rút t cái túng thiếu ca mình mà b vào đó tt c nhng gì bà có đ nuôi sng mình” (Lc 21:3-4). Bà góa nghèo bị người ta khinh miệt nhưng lại là “thầy dạy” của chúng ta về cách làm việc từ thiện.

    Qua câu chuyện thực tế này, Chúa Giêsu chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo đã đo đc gi trong cách dâng cúng công đức của mình nhm tìm kiếm s tôn trng t người dân. Ngài chỉ trích người khác chứ Ngài có chỉ trích chúng ta? Bóp trán hoặc vắt tay lên trán mà suy nghĩ, liệu chúng ta có thấy lòng mình thanh thản?

    Ông A dâng cúng bạc tỷ thì có bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài chục triệu thì có bằng ân nhân bậc I, II, III,… anh C dâng cúng vài triệu thì có bằng ân nhân bình thường, còn chị D không ai thèm cưới nhếch mép với chị vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ, chị sợ người ta nhìn thấy! Cái nào NHỎ, cái nào TO?

    Việc dâng cúng là cần thiết, rất tốt, nhưng những gì chúng ta gọi là “việc thiện” hoặc “việc đạo đức” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Có thể chúng ta cũng rất cần cảnh giác mà đặt vấn đề: “Chưa ri đo nhưng ri vic đo!”.

    Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết sng tht vi chính mình, biết mình và biết người, đ đng se sua hoc “ra cái v” vi người khác. Xin dit tr trong con mi ý nghĩ xu xa, ích k. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

    —–

    (1) Theo tiếng Tây Ban Nha, El Niño (eo ni-nhô) nghĩa là “bé trai”, có ý nói đến Chúa Giêsu Hài đng. C trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng bin ti Peru phát hin ra nước bin m dn lên vào mùa đông, khong vài tun trước L Giáng Sinh. Đây chính là mt nghch lý, nhưng nó vn tn ti có chu kì và kéo theo hin tượng hơi nước bin bc lên nhiu hơn, to ra nhng cơn mưa như thác đ. Và ngư dân đã gi hin tượng này là El Niño đ đánh du thi đim xut phát ca nó là gn Giáng Sinh. El Niño là hin tượng nước bin nóng lên.

    Theo tiếng Tây Ban Nha, La Niña (la ni-nha) nghĩa là “bé gái”, là hin tượng trái ngược li vi hin tượng El Niño. Hin tượng La Niña thường bt đu hình thành t tháng Ba đến tháng Sáu hng năm, và gây nh hưởng mnh nht vào cui năm cho ti tháng Hai năm sau. La Niña xy ra ngay sau khi hin tượng El Niño kết thúc. La Niña là hin tượng nước bin lnh lên. La Niña còn được gi là El Viejo hoc Anti-El Niño.

    (2) Giá tr 2 đng km (Hy ng, s ít: lepton, s nhiu: lepta) là 1 quadrans, ch bng 1/4 đng xu. Đng km là đơn v tin t nh nht thi La Mã. Khi lưu hành Palestine, 1 lepton tr giá khong 6 phút làm công theo lương trung bình mi ngày.

    Về mục lục

    .

    MỘT SỐ TIỀN NHỎ NHƯNG TẤM LÒNG THẬT LỚN

    Văn Hào

    Nhà văn Anderson Đan mạch đã viết một câu truyện kể lại sự kiện xảy ra trong chính cuộc đời của ông. Câu truyện vắn tắt như sau: “ Vào một buổi tối mùa thu, ông đi dạo phố một mình tại thủ đô Copenhague. Ông bỗng nghe một giọng nói yếu ớt từ đằng sau vọng lại: “ Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm.” Nhà văn quay lại, chợt nhận ra một đứa bé gái, gương mặt xanh xao, quần áo nhầu nát bẩn thỉu. “Chú ơi mua hộ cháu bao diêm, cả ngày cháu chưa bán được một xu nào.” Giọng cô bé thật buồn. Nó bùi ngùi kể lại hoàn cảnh đáng thương của nó. Mẹ chết sớm, con bé phải ở với một người cha nghiện ngập và khá cọc cằn, nhưng nó rất thương bố nó. Nó cố lê lết khắp nơi để bán diêm, kiếm chút tiền mang về cho bố những bữa ăn ngon. Anderson xúc động cho con bé ít tiền. Đứa bé sáng rực đôi mắt và thầm nghĩ nó sẽ mua về cho bố tối nay một ổ bánh mì thật ngon. “ Chú ơi sao chú tốt với cháu thế? Chú tên gì, và chú làm nghề gì ?” – Chú tên Anderson, và chú làm nghề này. Nhà văn lấy tay vẽ vào khoảng không hình một cái bút, ám chỉ ông là nhà văn. Đứa bé vẫn không hiểu tưởng ông làm nghề bán bút giống như nó đi bán diêm vậy. Anderson hẹn với đứa bé đầu năm tới, ông sẽ trở lại và cho nó một món quà, còn bây giờ ông phải đi xa.

    Nhiều tháng trôi qua, Anderson quên mất lời hứa của mình. Một bữa nọ, tình cờ ông trở lại Copenhague và chợt nhớ tới đứa bé, mua cho nó một chiếc áo ấm, và đi tìm nó. Người chủ tiệm bên đường nói cho ông biết rằng con bé đã chết rồi. Ngày đầu năm, người ta thấy đứa bé nằm chết cóng bên đường không biết từ lúc nào. Nó nằm chết giữa một đống bao diêm, trong đó có một bao đã hết nhẵn. Có lẽ nó đốt diêm để sưởi cho bớt lạnh. Có điều, là khi nó chết, khuôn mặt vẫn còn hồng hào và dường như nó đang mỉm cười chờ đợi một cái gì đó.

    Anderson đứng chết lặng. Người chủ tiệm nói tiếp, “ Khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi áo của nó rơi ra một vật gì giống như chiếc quản bút làm bằng những que diêm. Chắc nó làm để tặng ai đó, vì trên quản bút có viết hàng chữ ‘tặng chú Anderson’.

    Câu chuyện cảm động trên không phải là một câu chuyện hư cấu, nhưng là một kỷ niệm buồn trong chính cuộc đời của nhà văn. Câu chuyện này cũng giống như giai thoại về người đàn bà góa nghèo khổ mà thánh Marcô thuật lại trong Tin mừng hôm nay. Cô bé bán diêm và người đàn bà góa khá giống nhau. Giống nhau ở chỗ cả hai đều là những con người rất nghèo, bị xã hội bỏ rơi. Giống nhau cũng ở chỗ cả hai là những con người rất quảng đại, biết cho đi những gì mình có. Nhưng điểm giống nhau căn bản, vì họ là những con người tuy nghèo về vật chất, nhưng lại rất giàu về lòng nhân ái.

    Thân phận bà góa: người nghèo của Giavê

    Trong bài đọc một, tác giả sách Các Vua quyển thứ nhất cũng thuật lại giai thoại về một bà góa nghèo thành Sarepta. Người phụ nữ này đã trao tặng ngôn sứ Elia tất cả phần lương thực ít ỏi còn sót lại trong nhà. Lòng quảng đại đó đã được Thiên Chúa đền đáp: Hũ bột của bà không bao giờ vơi và bình dầu không bao giờ cạn. Vị tiên tri còn thực hiện phép lạ cứu sống đứa con trai của bà. Trong xã hội Do Thái khi xưa, những phụ nữ góa chồng bị xã hội gạt ra bên ngoài. Họ không có một quyền lợi gì về mặt xã hội. Nhưng ngay từ thời Môise, vị thủ lãnh đã ban hành lề luật là không được làm hại cô nhi, quả phụ (Đệ nhị luật 27, 19 ). Các ngôn sứ thường gọi các bà góa là những người nghèo của Giavê (anawim), tức là những con người được Thiên Chúa chúc phúc. Đặc biệt đến thời Chúa Giêsu, Ngài luôn lên tiếng bênh vực các bà góa, là những người thấp cổ bé họng trong xã hội. Hình ảnh của người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay là một minh dẫn cụ thể. Ngay cả người phụ nữ Samari, một người đàn bà ngoại giáo đã góa chồng và sống lang chạ với 5 người đàn ông khác, Chúa cũng không kết án và coi khinh chị. Ngược lại, Chúa kết án gay gắt thái độ giả hình của các đầu mục Do thái, làm ra vẻ đạo đức để moi hết tiền bạc của các bà góa ( Lc 20, 47; 7, 11 ). Chúa cho đứa con trai bà góa thành Naim sống lại cũng để diễn bày lòng thương cảm với những người đàn bà bị bỏ rơi trong xã hội thời bấy giờ (Lc 7,11-17). Ngôn sứ Anna, một phụ nữ góa chồng ngày đêm cư ngụ và phục vụ đền thánh, cũng là một hình ảnh nổi bật về mẫu người luôn được Thiên Chúa yêu thương và chúc lành.

    Người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay được Đức Giêsu đề cao như một mẫu gương. Bà rất nghèo nhưng lại giàu lòng quảng đại. Điểm son nơi người phụ nữ này không phải là những danh giá xã hội hoặc sự giàu sang phú quý bên ngoài, nhưng chính là tấm lòng nơi bà. Chúa nói với các môn đệ “ Thầy bảo thật anh em, bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” ( Mc 12, 43 ).

    Chẳng ai cho không cái gì

    Người ta vẫn thường nói thế. Trong đời sống xã hội hiện nay, hầu như chẳng có ai cho không hoặc biếu không cái gì. Khi trao tặng một phần quà, ngay cả những món quà từ thiện, chúng ta dễ ngầm đặt ra điều kiện, ít nhất là để khoe khoang sự quảng đại của mình cho người khác thấy. Tính ích kỷ và keo kiệt là một nết xấu ai cũng có. Mỗi khi làm công tác từ thiện, nhiều cá nhân cũng như những tổ chức xã hội thường hay bày biện những hình thức rầm rộ, nào cờ xí, nào nghi thức, nào chụp hình đăng báo….Điều này vẫn xảy ra ngay cả nơi các tổ chức tôn giáo. Dâng cúng nhà thờ một bức tượng, một cái ghế đá… cũng phải được rao tên tuổi, phải được phát bằng ân nhân, khi chết giáo xứ phải xin lễ cầu nguyện để trả nghĩa v..v. Điều này không có gì đáng nói, nếu người cho không ngỏ ý mà người nhận tự nguyện biểu tỏ sự biết ơn. Nhưng, nhiều khi thói quen đó trở thành một căn bệnh chỉ nhằm để khoe khoang. Một vị linh mục khi đến tham dự lễ khánh thành tháp chuông tại một nhà thờ nọ, lúc nghe rao tên tuổi vị ân nhân đã khôi hài pha chút mỉa mai nói rằng: Chuông nhà thờ kêu rất sang và rất hay. Nó kêu “ Kiêu căng, kiêu căng” thay vì kính koong kính koong như các chuông nhà thờ khác. Chúng ta hãy từ từ đọc kỹ lại bài Tin mừng hôm nay để suy nghiệm điều này. Đức Giêsu trước khi quan sát người ta bỏ tiền vào hòm dâng cúng, đã cảnh báo các môn đệ: “ Anh em phải coi chừng những kinh sư ưa đi dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ thích chiếm chỗ nhất trong hội đường, thích ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc” (Mc 12, 38 ). Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu cũng đưa ra huấn dụ căn bản để giúp chúng ta nên hoàn thiện. Một trong những huấn dụ đó, là “ Khi anh em bố thí đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6, 3 ), tức là đừng khoe khoang, khua chiêng gõ mõ để đề cao cái tôi kiêu ngạo của mình.

    Sự khoe khoang đi đôi với tính keo kiệt, tức là cho đi với điều kiện. Điều kiện là phải được công bố tên tuổi cho bàn dân thiên hạ được biết. Điều kiện là phải được nể trọng như một vị ân nhân. Song chúng ta rất dễ quên rằng, mọi sự chúng ta đang sử dụng đều là ân huệ của Thiên Chúa. Thiên Chúa là chủ còn chúng ta chỉ là người quản lý. Chúng ta hãy nhìn vào gương mẫu của người đàn bà góa hôm nay. Chúa đề cao lòng quảng đại của bà, chứ Ngài không ca ngợi những người giầu có hoặc cánh Pharisiêu đã bỏ ra những số tiền kếch xù thừa thãi chỉ để phô trương. Người Pharisiêu khoe với Chúa: “ Con ăn chay mỗi tuần 2 lần, con dâng cúng 1 phần mười tài sản của con”. Khi kể dụ ngôn này, chúng ta đều biết Chúa đã kết luận như thế nào.

    Đức Giêsu, mẫu gương tuyệt hảo về lòng quảng đại

    Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt các tu sỹ tự nguyện sống nghèo như lời khấn đã cam kết với Chúa. Người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay cũng nghèo xác nghèo xơ. Gia sản duy nhất bà sở đắc chỉ là 2 đồng xu cỏn con. Nhưng, nói một cách sâu xa hơn, mẫu gương tuyệt hảo về tinh thần nghèo khó mà chúng ta phải học hỏi và sao chép, không ở đâu khác mà chính từ nơi Đức Giêsu. Không ai nghèo như Ngài và cũng không ai quảng đại bằng Ngài. Trong thư thứ 2 gửi giáo đoàn Côrinthô, thánh Phaolô đã viết: “ Đức Giêsu Kitô vốn giàu sang phú quý nhưng đã trở nên nghèo khó để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em nên giàu có” ( 2Cr 8, 9 ). Ngài tự nguyện sống kiếp con người, sinh ra trần trụi không nơi trú thân. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu”. Cao điểm của sự nghèo khó nơi Ngài, là Ngài đã bị phơi thây chết trần trụi trên thập giá. Đôi tay Ngài dang rộng, không tích lũy bất cứ một thứ của cải nào. Nhưng cũng chính đôi tay ấy đã trao ban tất cả, ngay cả đến mạng sống để hiển thị điều mà Ngài đã nói với các học trò trong bữa tiệc ly: “ Không có tình yêu nào cao cả cho bằng mối tình của người hiến dâng sự sống cho bạn hữu”(Ga 15,13).

    Hôm nay Chúa nêu ra mẫu gương về lòng quảng đại của một người đàn bà góa nghèo khổ. Đồng thời, Ngài cũng mời gọi chúng ta tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi Thập giá để trải nghiệm lòng quảng đại vô bờ bến mà chính Ngài đã diễn bày.

    Đây là sứ điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn khải thị. Một vị thánh đã nói: “ Không ai trong chúng ta nghèo đến mức độ không có gì để mà cho”. Chúa chẳng thèm để ý tới những món tiền kếch xù mà những người giàu có đã dâng cúng vào đền thờ, nhưng Ngài nhắc các học trò mẫu gương của một phụ nữ nghèo. Bà ta nghèo mạt rệp, chỉ có 2 xu, nhưng đã trao dâng tất cả. Một số tiền quá nhỏ, nhưng tấm lòng thật lớn.

    Chúng ta nhớ lại trình thuật Chúa làm phép lạ nuôi sống năm ngàn người ăn no. Một đứa bé trao cho Chúa 5 cái bánh và 2 con cá, chẳng đáng giá bao nhiêu. Nhưng Đức Giêsu đã trọng thị đón nhận sự quảng đại của nó, và từ đó phép lạ đã xảy ra. Thiên Chúa không bao giờ lượng giá con người qua những hình thức và số lượng bên ngoài. Ngài biết rõ tâm can từng người. Đồng thời Ngài cũng không bao giờ thua kém lòng quảng đại của chúng ta.

    Kết luận

    Có một giai thoại trong cuộc đời thánh Phanxicô Assisi đã được nhà văn Nikos Kazantzakis viết thành tiểu thuyết. Sau khi Phanxicô đã cho đi tất cả của cải của mình, phân phát cho người nghèo, Ngài bắt đầu đi lang thang khất thực. Vị thánh vừa đi vừa hát. Một anh bạn cũ rất thân quen gặp lại Ngài đã rất ngỡ ngàng và hỏi: “Này Phanxicô, đôi giày đắt tiền, chiếc đồng hồ quý giá, quần áo sang trọng của anh đâu rồi?”. Phanxicô trả lời: “ Tất cả những thứ đó là của ma quỷ, tôi đã trả lại cho nó hết cả rồi.” Người bạn hỏi tiếp: “ Anh từ đâu lang thang đến đây và anh đang định đi đâu thế? – “Tôi đến từ một nơi rất xa và tôi cũng đang đi về nơi xa xăm ấy”. Người bạn lắc đầu không hiểu và hỏi tiếp: “ Thế tại sao anh vừa đi vừa hát nghêu ngao như một thằng điên?” – “Tôi hát để khỏi bị lạc đường.”

    Là người đi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng rất dễ lạc đường, nếu để cho của cải bủa vây. Điều quan trọng nhất là chúng ta dám bứt phá, dám phá đổ pháo đài ích kỷ của mình để biết quảng đại cho đi như người đàn bà góa trong bài Tin mừng hôm nay.

    Về mục lục

    .

    QUẢNG ĐẠI VÀ TỰ DO

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Người nghèo thường quảng đại và sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người khác. Họ tự do với bạc tiền danh lợi, nên có thể tin vào con người và sẵn sàng yêu thương phục vụ hơn.

    Hãy coi chừng

    Chúa Yêsu nói với mọi người: “hãy coi chừng” những ông kinh sư, họ thích mặc áo thụng xúng xính khác người, thích được chào hỏi, thích ngồi chỗ nhất, nhưng lại “nuốt” hết tài sản của các bà góa, lại còn giả bộ đọc kinh lâu giờ.

    Không phải chỉ những ông kinh sư thời Đức Yêsu thích rồi làm như vậy, mà con người ngày nay cũng vậy nữa: cũng tham của người, ham danh hám lợi, và hay giả bộ “đạo đức”. Nếu đạo đức thật, mà người ta thấy thì cũng tốt vì làm gương sáng; còn nếu không đạo đức mà lại làm như thể đạo đức, là giả hình. Hãy coi chừng.

    Nếu ai thích khen, người đó có thể bị điều khiển bằng lời khen; nếu ai tham của, người đó có thể bị mua chuộc bằng tiền của. Người đó đang bị nô lệ, bị sai khiến bởi tiền bạc danh vọng chức quyền. Người đó tưởng họ đang tự do, nhưng thực sự họ đang nô lệ và bị điều khiển mà họ không biết. Hãy coi chừng.

    Nếu bạn không nô lệ những điều đó, thì hạnh phúc biết bao!

    Người nghèo quảng đại

    Tiên tri Elia trên đường lánh nạn đã được Chúa truyền đến sống nhờ một bà goá nghèo. Cũng có thể nói bà goá nghèo và con bà sống nhờ tiên tri, vì chính nhờ tiên tri mà hũ bột không cạn và hũ dầu không vơi. Đúng hơn Thiên Chúa thương cả tiên tri lẫn bà goá nghèo nên đã nuôi sống tất cả.

    Bà goá chỉ còn một nhúm bột và một chút dầu, lượm củi làm cái bánh cuối cùng để “ăn rồi chết”, thế mà bà vẫn tin lời tiên tri, làm cho ông một cái bánh trước khi làm cho con bà và chính bà. Cách hành xử của bà goá này rất đẹp. Tôi có đơn sơ tin người và sẵn sàng giúp người như bà goá nghèo này không? Thiên Chúa  qúa tuyệt.

    Bà goá trong Tin Mừng được Đức Yêsu khen là quảng đại, dám dâng cúng tất cả những gì mình có. Có người nói rằng: “vì bà goá chỉ có mấy xu nên dễ dàng để dâng cúng tất cả, còn nếu bà goá này thật giầu thì chắc bà chẳng dám bỏ tất cả đâu”! Cũng có thể như vậy, nhưng “những người quảng đại” thường nghèo; có lẽ họ “hay cho” nên mới không giầu. Bà goá đó không giầu được vì bà luôn cho tất cả, dù khi bà có hai xu hay có nhiều hơn hai xu, có lẽ chưa khi nào bà giữ cho mình được mười đồng vì bà vẫn cho những gì bà có. Thiên Chúa cũng cho con người tất cả, ngay cả điều qúy nhất là Chúa Con và Thánh Thần.

    Những người “ham tiền” thường ky cóp và không bỏ ra ngay cả một xu!

    Người nghèo dễ tự do để chọn theo Thiên Chúa hơn

    Có mấy người hiểu được hạnh phúc của người nghèo? Có mấy người hiểu được người nghèo tự do đến mức nào? Trong cuộc sống, bao nhiêu quyết định bị chi phối bởi sợ người này hay không dám làm mất lòng người kia, sợ người khác hiểu lầm mình, sợ người khác không còn đánh giá mình cao nữa, sợ người khác biết sự thật về mình. Vì sợ nên không được tự do.

    Xin Chúa cho con nghèo, để con không còn gì để phải sợ, để con chỉ còn biết sống theo Chúa theo sự thật, để chỉ bị tình yêu thương chi phối mà thôi.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

    1. Xin bạn kể nỗi sướng điều khổ của người giầu?
    2. Xin bạn liệt kê điều cực và cái hay của người nghèo?
    3. Bạn thường bị nô lệ bởi điều gì nhất khi quyết định? Làm sao để quyết định tự do?

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy ngày nay vì ảnh hưởng của xã hội và vật chất, nhiều người sợ hy sinh vì nó ảnh hưởng đến thể xác, ý muốn, và thời gian hưởng thụ của họ, và họ nghĩ rằng, hy sinh sẽ bị thiệt thòi vật chất và nhiều phương diện trong cuộc sống. Nhưng nếu mọi người đều sợ và sống ích kỷ làm sao cộng đoàn, xã hội và thế giới này có thể tồn tại, đứng vững, đừng nói tới việc thăng tiến cá nhân và gia đình. Nếu chúng ta thu hẹp cái nhìn vào khía cạnh tình yêu hạnh phúc vợ chồng gia đình mà thôi, chúng ta có thể nhận thấy, tình yêu hạnh phúc vợ chồng gia đình thực sự đòi vợ chồng phải hy sinh trọn vẹn cuộc sống, hy sinh tất cả những gì mình có, tâm hồn và thể xác của cuộc sống, chứ không phải chỉ hy sinh thể xác hay cuộc sống bên ngoài mà thôi. Và sự hy sinh cao cả nhất một người có thể làm được là hy sinh chính mạng sống của mình.

    Ngoài ra, chúng ta cũng nhận thấy trong xã hội, con người chúng ta có thể đánh giá người khác qua sự trưng diện bên ngoài. Hay chúng ta có thể đánh giá một hành động, hay một việc làm qua những số lượng hình thức bên ngoài. Nhưng đối với Thiên Chúa, chúng ta biết Chúa đánh giá theo tâm lòng, theo tâm tình bên trong. Chúa biết rõ, Chúa nhìn thấy rõ bên ngoài cũng như bên trong con người chúng ta. Chúa biết rõ đức tin và tình yêu của chúng ta dành cho Chúa và tha nhân như thế nào. Chúa biết rõ tâm tình hay thái độ của mỗi một sự hy sinh, mỗi một hành động đạo đức như đọc kinh, cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, hay mỗi một công việc bác ái quảng đại chúng ta làm cho Chúa và cho người khác với động lực gì.

    Các bài đọc lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy ý nghĩa, giá trị của những sự hy sinh cho tha nhân và cho Chúa của các tâm hồn cao quí, cho dù phải hy sinh mạng sống mình. Và qua đó, Chúa dạy chúng ta bài học rất thực tế về hình thức bề ngoài và tâm tình chân thật bên trong của một việc làm, cũng như kết quả của việc đó. Bài Đọc I, cho chúng ta thấy sự hy sinh cao quí của bà góa thành Sa-rep-tha cho tha nhân. Bà can đảm hy sinh nắm bột và chút dầu còn lại sau cùng để làm bánh cho tiên tri Ê-li-a và hai mẹ con. Bà biết ăn xong là hai mẹ con sẽ chết vì đói. Bài đọc 1 cũng cho chúng ta biết kết quả của niềm tin của bà vào lời ngôn sứ, và sự hy sinh của bà là: hai mẹ con có bánh ăn muôn đời. Có những lúc Thiên Chúa thử thách, nhưng Chúa luôn trả công cho những người có niềm tin vững chắc nơi Ngài, và biểu lộ tâm tình yêu mến tha nhân qua hành động chân thành, qua sự hy sinh cao quí.

    Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô khẳng định và cho chúng ta biết nhờ sự hy sinh vô cùng cao quí của Chúa Giê-su Kitô đã hy sinh đổ máu trên Thánh Giá, con người nhân loại chúng ta được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi và được sống muôn đời. Vì vâng lời thánh ý Chúa Cha, và vì trong trái tim của Chúa Giê-su chất đầy tình yêu thương cho con người nhân loại tội lỗi, Chúa đã hy sinh chịu những đau khổ và chứng tỏ tình yêu của Chúa qua cái chết trên Thánh giá, để vinh danh Chúa Cha và để cho chúng ta cũng được sống lại vinh quang với Ngài.

    Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu quan sát những người bỏ tiền dâng cúng trong đền thờ. Ngài thấy có nhiều người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân, để sống. Bà góa này tuy dâng cúng ít nhưng lại hy sinh rất nhiều, và hy sinh chính mạng sống mình, vì bà đã dâng “tất cả những gì mình có để nuôi sống.”

    Có một câu chuyện về một cặp vợ chồng về quê thăm họ hàng trong ngày nghỉ lễ. Họ lái xe được một quãng đường thì trời đổ mưa tầm tã và xe thình lình bị hư dọc đường. Đêm đã khuya và lạnh mà họ thì lại không quen thuộc đường lối. Sau khi đã hết mưa, họ bèn bỏ xe, đi bộ đến gõ cửa một căn nhà gần đó có ánh đèn hắt ra. Khi họ bước vào thì gặp hai ông bà già. Trước lời xin trú ngụ qua đêm của cặp vợ chồng, hai ông bà đã vui vẻ nói: Được lắm, chúng tôi có sẵn một căn phòng trống. Sáng hôm sau, cặp vợ chồng dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, người vợ để một số tiền lên bàn, rồi rón rén mở cửa bước ra. Và họ thực sự bỡ ngỡ khi nhìn thấy hai ông bà già đang co ro nằm ngủ trên sàn nhà ngoài phòng khách. Thì ra hai ông bà già này đã nhường chỗ cho cặp vợ chồng trẻ. Còn mình thì phải nằm ngủ dưới đất. Câu truyện này giúp cho chúng ta hiểu và thấy ý nghĩa cao quí của việc hy sinh, cũng như tâm tình yêu thương của 2 bà góa trong bài đọc 1 và trong Tin mừng, đã cho đi tất cả những gì mình có.      

    Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy hai khía cạnh, hai mặt của 1 việc làm, của một hành động đạo đức và quảng đại. đó là: hình thức bề ngoài và tâm tình bên trong. Nhưng mặt nào trọng hơn? Theo Chúa Giê-su thì mặt tâm tình trọng hơn mặt hình thức, vì vậy, Chúa đã gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy việc làm và thái độ của bà goá, và nói “Thầy nói thật với các con: trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa. Còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống.”  

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy mặc dù Chúa Giê-su coi trọng tâm tình hơn hình thức nhưng Chúa không loại trừ hình thức. Chúng ta thấy tuy hình thức không quan trọng bằng tâm tình, nhưng nó cũng rất cần. / Chính hình thức biểu lộ tâm tình và nuôi dưỡng tâm tình. Thí dự như những lời nói, những nụ cười biểu lộ cho người ta biết rằng mình yêu thương người ta, và cũng những lời nói nụ cười đó làm cho tình yêu hạnh phúc giữa vợ chồng người ngày càng lớn lên, thắm thiết hơn. Không có hình thức thì tâm tình sẽ dần dần héo khô, chết dần mòn đi. Hình thức phải đi đôi với tấm lòng bên trong, cũng như niềm tin được biểu lộ qua hành động. Niềm tin không có hành động là niềm tin chết. Chúng ta có thể nhận ra bà goá trong Tin Mừng không phải chỉ có lòng đạo đức và bác ái bên trong, mà bà còn biểu lộ qua việc đến đền thờ, để thờ phượng Chúa, và còn dâng cúng tiền, tuy nhỏ mọn, cho nhà Chúa.

    Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin một cách chắc chắn Chúa thấu suốt tận đáy lòng mỗi người: chân thực hay giả dối, hình thức bên ngoài hay tâm tình bên trong, động lực và thái độ của chúng ta. Chúa khen ngợi bà góa nghèo hy sinh dâng hiến tất cả những gì mình có. Xin Chúa dạy chúng ta biết hy sinh, làm những việc đạo đức và bác ái với tất cả tấm lòng chân thành và tình yêu mến Chúa và tha nhân, để những việc chúng ta làm sinh ích lợi thiêng liêng cho chúng ta và tha nhân, và cũng làm sáng danh Chúa.

    Về mục lục

    .

    TẤT CẢ NHỮNG GÌ BÀ CÓ

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Suy Niệm

    Bài Tin Mừng hôm nay đặt bên nhau hai hình ảnh trái ngược. Một bên là các kinh sư, một bên là một bà góa. Chúng ta được mời gọi nhìn cách hành xử bên ngoài của họ, từ đó thấy được thái độ nội tâm của mỗi bên.

    Các kinh sư thuộc về giới lãnh đạo cấp cao của Do thái giáo. Trong một xã hội được chi phối toàn diện bởi Luật Môsê, thì những người giỏi Luật như các kinh sư đóng vai trò rất quan trọng. Họ có nhiều uy tín và ảnh hưởng trên đời sống tinh thần của dân. Chính vì thế không lạ gì nếu có một số kinh sư đã vấp ngã. Một người vừa có tri thức, vừa có quyền lực, dễ bị vấp vào thói háo danh. Đức Giêsu nêu lên một vài nét chấm phá về họ. Trong hội đường, nơi công cộng hay đám tiệc, họ thích mặc áo thụng, thích được chào, thích chỗ cao. Nói chung, họ thích mình trở nên trung tâm chú ý của người khác. Hiểu biết của họ về Lời Chúa sau bao năm học tập lại trở nên phương tiện để họ tìm vinh danh cho mình thay vì cho Chúa. Tệ hơn nữa, họ lại mang bộ mặt đạo đức khi giả vờ đọc kinh dài. Với uy tín và sự giả hình khéo léo, họ nuốt chửng nhà của các bà góa.

    Ngược với hình ảnh của một vị kinh sư cao trọng, quyền uy là chuyện một bà góa nghèo bỏ tiền vào hòm dâng cúng. Đức Giêsu cố ý ngồi gần để quan sát người giàu kẻ nghèo bỏ tiền. Ngài muốn dạy các môn đệ một bài học lớn khi gọi họ lại và khẳng định rằng bà góa này đã bỏ nhiều hơn mọi người khác, mặc dù bà chỉ bỏ vào thùng số tiền rất nhỏ. Nhưng cái rất nhỏ này lại là tất cả những gì bà có, tất cả của nuôi thân. Hẳn các môn đệ ngỡ ngàng vì cách đánh giá ấy của Thầy, cũng là cách đánh giá con người của Thiên Chúa. Ngài đánh giá theo tấm lòng, chứ không theo lễ vật. Ngài không mãn nguyện với của dư thừa, nhưng Ngài đòi tất cả. Tất cả của bà góa là hai đồng kẽm, thuộc đơn vị tiền tệ thấp nhất. Hóa ra người túng thiếu cũng có thể dâng chính cái nghèo của mình.

    Một kinh sư có học thức, có vai vế và bề ngoài có vẻ đạo đức khác với bà góa cô thân cô thế và túng nghèo, ở chỗ ông quay vào mình, loay hoay với tiếng tăm và lợi nhuận của mình. Còn bà thì quay về phía Thiên Chúa, với thái độ quảng đại, tin tưởng, phó thác và liều lĩnh. Chúng ta ai cũng có hai đồng kẽm. Đừng mặc cảm khi phải bỏ đồng tiền nhỏ nhoi vào hòm tiền, nếu quả thực chúng ta chỉ có hai đồng kẽm.

    Cầu nguyện:

    Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa.

    Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.

    Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, mọi trả thù ti tiện.

    Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,

    không một biến cố nào làm xáo trộn,

    không một đam mê nào khuấy động hồn con.

    Xin cho con đừng quá vui khi thành công, cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.

    Xin cho quả tim con đủ lớn để yêu người con không ưa.

    Xin cho vòng tay con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét con.

    Về mục lục

    .

    HAI BÀ GÓA

     Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cao hai bà goá. Một bà trong bài Tin Mừng một bà trong bài Sách Các Vua. Chúa Giêsu gặp bà góa trong sân Đền Thờ Giêrusalem. Tiên tri Êlia gặp bà góa ở xứ Serepta. Một bà đã dâng vào thùng tiền Đền thờ hai đồng kẽm và một bà đã cho tiên tri Êlia một chiếc bánh nhỏ.

    Thời ngôn sứ Êlia, khi Thiên Chúa làm hạn hán trên đất nước Do Thái để phạt vua tôi của nước này, ngôn sứ Êlia được lệnh Chúa tạm lánh sang xứ Sarepta. Ở đó ngôn sứ đã gặp một phụ nữ đầy lòng tin cậy vào lời hứa của Chúa. Bà đã dâng chút bột và dầu ít ỏi làm bánh nuôi ngôn sứ. Lương thực còn lại để nuôi sống gia đình, bà đã giúp Êlia. Chúa đã trả công bội hậu cho bà và đứa con trai duy nhất thoát cảnh đói khổ. Một bà góa thời Chúa Giêsu. Gầy gò bé nhỏ, ăn mặc rất đơn sơ. Nghèo nàn nhưng bà đem tất cả số tiền mình có, hai đồng tiền kẽm là những gì bà có để nuôi sống mình. Bà dâng vào đền thờ giữa đám đông nhiều người bỏ nhiều tiền vào hòm tiền. Chúa đã khen bà là bỏ nhiều, dâng cúng nhiều hơn những người giàu khác.

    Hai bà góa có một đặc điểm giống nhau. Đó là họ đã dâng cả những gì cần thiết nhất cho cuộc sống của mình và gia đình. Bà góa tại Sarepta dâng nắm bột chút dầu cuối cùng. Bà góa tại đền thờ dâng những đồng tiền cần thiết nhất của mình. Hai bà góa được đề cao có phải vì quà tặng mà họ đã cho không? Hiển nhiên là không. Hai đồng kẽm thì có đáng là bao. Một chiếc bánh nhỏ thì có thấm tháp gì! Thánh Kinh đề cao họ là vì quà tặng ấy tuy nhỏ mọn mà gói ghém cả tấm lòng người dâng. Đồng kẽm của bà goá bỏ vào thùng tiền Đền thờ là cả một tấm lòng của một bà già nghèo, là cả tài sản của bà. Chiếc bánh nhỏ của bà goá xứ Sarepte là cả một cuộc sống của hai mẹ con trong lúc sắp chết đói. 

    Của cho không bằng tấm lòng người cho. Cho của mình dư thừa thì chẳng quý gì. Cho cái mình đang cần mới là quý. Và cho cái mình vừa cần vừa tiếc mới là quý nhất. 

    Của cho không bằng tấm lòng người cho. Của nhiều mà lòng ít thì không quý cho bằng của ít mà lòng nhiều. Hai bà góa được đề cao là vì lòng yêu mến đối với người của Chúa và đối với nhà của Chúa. Họ được đề cao nhờ lòng yêu mến Chúa. Chính lòng yêu mến đã làm cho những hành động của hai bà góa có được một giá trị to lớn trước mặt Chúa. Và chính Chúa đã lên tiếng ca ngợi các bà. Chúa khen bà góa đã cho nhiều hơn tất cả những người khác đã bỏ tiền vào thùng hôm đó. Vì những người kia đã cho cái mà họ dư thừa, còn bà goá này cho tất cả tài sản của bà. 

    Biết bao người giàu có quý phái sang trọng bỏ tiền vào đền thờ, nhưng Chúa chẳng khen. Chúa chỉ khen bà góa và cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Bà goá bỏ tiền ít hơn mọi người, nhưng dưới mắt Chúa Giêsu, bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì bà đã bỏ tất cả. Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. 

    Lối đánh giá của Chúa Giêsu đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về người khác. Có khi chúng ta ca ngợi một người chỉ vì người ấy đã có những đóng góp lớn lao, đã đem lại những kết quả cụ thể, rõ ràng. Có khi chúng ta chê một người vì người đó kém cỏi, thiếu năng lực. Tiếng khen chê của ta thường dựa trên hiệu quả bề ngoài, và ít đụng đến phần nội tâm sâu thẳm. Lối đánh giá của Chúa Giêsu cũng đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về chính mình.Tôi xao xuyến khi bị chê, tự mãn khi được khen. Tôi quá trọng dư luận đến nỗi trở nên nô lệ cho dư luận. Thật ra tôi cần đánh giá mình dựa trên cái nhìn của Chúa. Chúa thấy tôi thế nào thì tôi là thế ấy. Điều quan trọng khiến tôi bận tâm đó là tôi có dâng tất cả bản thân cho Chúa không, chẳng giữ lại gì cho mình, dù chỉ một xu nhỏ. Cần rất nhiều liều lĩnh khi bỏ nốt đồng xu cuối cùng để thực sự trở nên người tín thác trọn vẹn vào Chúa. (Mana).

    Việc từ thiện, việc đạo đức, nếu không có lòng yêu mến thì chỉ là phương tiện tìm danh giá và tìm lợi nhuận. Hạng người như thế ở thời đại nào và ở đâu cũng có với những cách thức khác nhau. Họ là tỷ phú hay triệu phú, họ bỏ ra một vài triệu để đóng góp vào công việc từ thiện hay xây cất những công trình công cộng với động lực chính là mua tiếng tăm.

    Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, mà là với cả tấm lòng. Cách cho quý hơn của cho. Của cho kèm theo tấm lòng là của cho quý hóa nhất. Yêu mến thì phải cho. Nhưng của cho không bằng tấm lòng người cho. Và cho chính cái mình quý nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất. Bà góa đã cho nhiều nhất vì đã cho cả tấm lòng. Xét về số lượng khách quan thì số tiền một phần tư xu so với năm, ba chục ngàn hoặc từng mấy trăm ngàn hay một triệu thì thật mỉa mai, thật tức cười. Nhưng với Chúa Giêsu hai đồng tiền nhỏ của người phụ nữ vô danh lại nhiều hơn hết. Điều có nghĩa là những công việc đạo đức và từ thiện, bác ái hơn nhau ở động lực và lý do hay mục đích chứ không phải ở số lượng. Giá trị của việc dâng cúng, việc bác ái không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh.MẹTêrêsa Calcutta nói: ”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.Thiên Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Ai không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng. Chính lúc cho đi là lúc lãnh nhận. Câu chuyện “Một ly sữa” như một chứng từ minh họa cho chân lý ấy.

    Trước đây, có một cậu bé nghèo bán hàng rong để kiếm tiền đi học. Một hôm cậu không có được một đồng bạc dính túi mà bụng thì đói.

    Cậu quyết định sẽ đến xin ăn tại căn nhà gần đó. Tuy nhiên, khi một cô gái trong nhà ra mở cửa thì cậu ngại quá nên thay vì xin ăn, cậu xin một ly nước lã! Cô gái nhìn thấy dáng vẻ của cậu thì biết rằng cậu đang đói, nên đem cho cậu một ly sữa lớn. Cậu uống chậm rãi, rồi hỏi: “Tôi phải trả bao nhiêu tiền?” Cô gái cười nhẹ và trả lời: “Cậu chẳng phải trả gì cả. Mẹ chúng tôi dạy rằng không bao giờ nhận tiền công khi làm một hành vi tử tế!” Cậu bé nói: “Vậy thế thì…tôi hết lòng cám ơn cô.”

    Khi cậu rời ngôi nhà ấy thì chẳng những cậu cảm thấy thân thể mình khỏe mạnh hơn, mà lòng tin vào Thiên Chúa và con người cũng tăng mạnh thêm lên. Cậu từng nghĩ rằng cuộc đời mình khổ cực quá nên nhiều lần có ý muốn bỏ học.

    Nhiều năm sau, cô gái ấy trở thành một phụ nữ và mắc bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ gần như bó tay. Cuối cùng họ gửi cô đến một thành phố lớn để mong tìm những chuyên viên chữa trị căn bệnh lạ của cô. Bác sĩ Howard Kelly được mời đến để chẩn bệnh. Khi nghe nói đến tên thành phố cũ của mình, mắt ông ánh lên một cách lạ lùng. Ông đứng dậy ngay để xuống phòng khám. Trong chiếc áo trắng của bác sĩ, ông đến gặp và nhận ra cô ngay. Ông trở về phòng khám và quyết tâm chữa cứu người phụ nữ ấy cho bằng được. Kể từ ngày hôm đó, ông nghiên cứu và theo dõi kỹ tình trạng sức khoẻ của cô. Sau những ngày cam go, căn bệnh đã thua cuộc.

    Bác sĩ yêu cầu phòng tài chánh chuyển hoá đơn tính tiền viện phí của cô để cho ông phê trước. Ông nhìn vào tờ hóa đơn, rồi ghi vài chữ bên lề trước khi gửi đến cho cô. Cô rất sợ phải mở tờ hóa đơn ấy ra, vì cô biết rằng cô sẽ trả món nợ ấy suốt cả đời mình. Cuối cùng, cô cũng phải nhìn xuống hoá đơn và dừng lại để ý đến hàng chữ bên lề. Cô đọc thấy: “Đã thanh toán đầy đủ bằng một ly sữa!” Ký tên: Bác sĩ Howard Kelly. 

    Mắt cô đẫm lệ vì vui mừng và từ trái tim ngập tràn hạnh phúc vươn lên lời nguyện cầu: “Tạ ơn Chúa! Chính Tình Yêu của Chúa đã lan truyền sang quả tim và bàn tay của con người.”

    Cậu bé ngày xưa được tặng một ly sữa trong cơn đói đã trở thành Tiến Sĩ y khoa Howard Kelly, ông đã từng là một bác sĩ lỗi lạc tài ba. Năm 1895 chính ông là người sáng lập Johns Hopkins Division of Gynecologic Oncology (Phân khoa Ung Thư Phụ Sản) tại Đại Học Johns Hopkins, trường Đại Học đầu tiên của Hoa Kỳ dành cho việc nghiên cứu y khoa, được thiết lập năm 1876, tại Baltimore, Maryland.

    Bạn, có bao giờ trong cơn đói bạn đã nhận được một hành vi tử tế, và bạn đã đền đáp thế nào với cuộc đời và con người đã tử tế với bạn? Hoặc bạn đã và sẽ làm gì cho một ai đó trong nỗi đói khát tinh thần hay vật chất của một người thân thương hoặc tha nhân Chúa đang gửi đến trong đời?

    Về mục lục

    .

     

    TIN VÀO SỰ QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Truyện kể rằng, có một em bé siêng năng học giáo lý và tham dự thánh lễ mỗi ngày. Cha sở gọi em vào nhà xứ để thưởng kẹo cho em. Khi ngài mở ngăn kéo ra với nhiều loại kẹo thơm ngon, em bé đã rất thích. Cha sở nói với em : Cha thưởng cho con một bốc bánh kẹo, con thích loại nào thì cứ lấy. Dù đang rất thèm, nhưng em vẫn chần chừ không lấy. Cha sở hỏi : Con có thích kẹo không ? Em bé trả lời : Thưa cha, con rất thích. Vậy sao con không lấy đi ? Em bé trả lời : Con muốn cha lấy cho con. Cha ngạc nhiên hỏi lại : Tại sao vậy ? Em bé trả lời : Vì tay cha to hơn.
    Câu chuyện có vẻ vui, vì em bé đã thấy rằng, bàn tay của cha sở to hơn sẽ lấy cho em nhiều kẹo hơn là em tự lấy. Câu chuyện này cũng giúp chúng ta suy ra rằng : Bàn tay của Thiên Chúa thì to hơn bàn tay của con người và sự quảng đại của Thiên Chúa thì vô cùng lớn hơn sự quảng đại của con người, chỉ có điều chúng ta có tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa hay không mà thôi.
    Sách các vua kể lại câu chuyện về lòng quảng đại của bà goá thành Sarepta thời tiên tri Elia. Lúc ấy, cả đất nước rơi vào cảnh hạn hán. Tiên tri Elia chạy trốn sự truy sát của hoàng hậu Zezabel vì ông bị cho là người gây ra hạn hán. Ông đến Sarepta và thấy một bà goá đang nhặt củi. Ông mở lời xin bà : Bà làm ơn cho tôi xin một chút nước và làm ơn đem thêm cho tôi một miếng bánh. Lời yêu cầu của ông rất đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh hạn hán đói kém, thì việc xin một bình nước và một miếng bánh là xin cả một bữa ăn. Đối với bà goá nghèo này, một bữa ăn đối với gia đình bà quả là rất quý. Bà góa đã thú thật với vị tiên tri về hoàn cảnh đói khổ của mình: Thưa thật với ông, tôi không có sẵn bánh ; tôi chỉ còn một nắm bột và một chút dầu, chỉ đủ làm một cái bánh cho hai mẹ con tôi ăn rồi chết.
    Vị tiên tri đã đặt bà goá này vào thế phải chọn lựa : hoặc là vị khách, hoặc là mạng sống con mình. Tiên tri trấn an : Bà đừng sợ, bà cứ lấy những thứ đó làm cho tôi một cái bánh nhỏ và đem ra đây, rồi sau đó sẽ làm cho bà và con bà. Vị tiên tri còn hứa : Thiên Chúa của Israel phán thế này : Hũ bột sẽ không cạn, bình dầu sẽ không vơi, cho đến ngày Chúa cho mưa rơi trên mặt đất. Trước lời yêu cầu của vị khách lạ, bà đã tin vào lời của ông và cũng tin vào lời hứa của Thiên Chúa Israel. Bà đã về và làm như vị tiên tri dạy. Thiên Chúa đã thực hiện phép lạ làm cho bình dầu của bà không cạn, hũ bột không vơi. Thiên Chúa đã đáp lại lòng tin và sự quảng đại của bà, đã cứu sống mẹ con bà qua cơn đói kém vì bà đã quảng đại với người của Thiên Chúa.
    Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của con người. Ngài yêu thích những con người rộng tay rộng lòng với Ngài, tin tưởng và dám phó thác cuộc đời cho sự quan phòng của Ngài. Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu cảnh báo đám đông, đừng để mình rơi vào lối sống phô trương của người luật sĩ và biệt phái. Những người này chỉ chuộng hình thức bên ngoài, phô trương áo mão và phô trương công trạng của mình. Tất cả những việc họ làm đều muốn để cho người đời khen ngợi hơn là vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Họ làm phúc bố thí là để người đời ca tụng, ghi tên ghi tuổi vào bảng vàng bia đá.
    Chúa Giêsu đã không muốn lối sống như vậy. Ngài muốn mỗi người đến với Chúa bằng cả tấm lòng tin tưởng, phó thác, cậy trông. Vì thế, khi nhìn thấy nhiều người giàu có bỏ nhiều tiền vào đền thờ, Chúa Giêsu không nói gì, nhưng khi thấy một bà goá bỏ vào hòm tiền chỉ hai đồng kẽm, Chúa cho rằng bà đã bỏ vào đó nhiều hơn hết. Chúa giải thích : Những người khác bỏ tiền vào đền thờ, họ mong tìm lại được sự ca ngợi. Họ bỏ vào đó những của dư thừa, hoặc những đồng tiền lời bất chính. Còn bà goá này bỏ vào hòm chỉ hai đồng kẽm, nhưng cùng với hai đồng kẽm, bà đã bỏ vào đó cả lòng tin tưởng, yêu mến và tương lai, cuộc sống của bà.
    Trong xã hội Do Thái, phụ nữ góa bụa không có địa vị, không tài sản đất đai, họ hoàn toàn sống lệ thuộc vào con cháu của mình, nên hầu hết họ là những người nghèo, đáng thương. Tuy nhiên, trong cái nghèo đói thường xuyên như thế, bà goá trong câu chuyện hôm nay vẫn lặng lẽ bước đến bên hòm tiền, bà không quan tâm đến cuộc sống của bà sẽ ra sao, bà bỏ vào đó cả sự hy sinh, tiết kiệm của bà. Bà bỏ vào thùng cả sự tin tưởng rằng, tương lai của bà, cuộc sống của bà đã có Thiên Chúa lo liệu. Hai đồng xu kẽm đối với người giàu có lẽ không đáng là gì, nhưng đối với bà goá này, hai đồng xu kẽm là cả gia tài sự nghiệp, là cuộc sống ngày mai của bà, bà dành trọn cho Thiên Chúa.
    Chúa Giêsu khen bà goá vì tấm lòng quảng đại và sự tin tưởng phó thác của bà. Bà không hề so đo tính toán thiệt hơn với Thiên Chúa, bà cũng không đặt bất cứ điều kiện nào với Thiên Chúa. Bà tin một cách đơn sơ chân thành rằng : bà quảng đại với Thiên Chúa thì Thiên Chúa cũng sẽ quảng đại với bà ; và tất cả những gì bà đang có cũng đều là của Thiên Chúa ban cho, giờ đây, bà dâng tặng lại cho Ngài.
    Thiên Chúa là Đấng vô cùng yêu thương và quảng đại với con người. Ngài đã dựng nên vũ trụ này tốt đẹp và trao tặng nó cho con người. Ngài còn ban cho con người có khả năng trí tuệ và sức lực để làm ra lương thực và của cải nuôi sống bản thân và những người chung quanh. Ngài không hề tính toán thiệt hơn với con người. Ngài đã trao tặng người Con Một duy nhất là Đức Giêsu Kitô cho nhân loại. Đến Con Một yêu dấu, mà Thiên Chúa còn ban tặng cho thế gian, thì Thiên Chúa không còn gì mà Ngài không ban cho chúng ta, chỉ có điều là chúng ta có tin vào sự quảng đại của Thiên Chúa hay không mà thôi.
    Thưa OBACE, con người thường chỉ biết nghĩ đến bản thân và hẹp hòi với người khác, nên họ cũng hay nghĩ về Thiên Chúa như thế. Con người không dám sống quảng đại, không dám mở rộng đôi tay, vì họ nghĩ rằng những gì họ có được là do khả năng và sự tài giỏi của họ làm ra, mà quên rằng, nếu Thiên Chúa không ban, họ sẽ không thể có được. Con người thường tham lam thu vén cho bản thân, gia đình vì họ nghĩ rằng của cải tiền bạc sẽ là chỗ dựa an toàn cho họ.
    Thế nhưng, bên cạnh đó, vẫn có những người giống như các bà góa Sarepta hoặc như bà goá trong Tin Mừng, hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Nhiều người trong họ hết sức quảng đại với Thiên Chúa, với Giáo hội và với anh em. Nhiều người cuộc sống hết sức bấp bênh, thiếu trước hụt sau, nhưng họ vẫn có một tấm lòng rộng rãi. Dù chỉ là những đồng tiền nhỏ họ dâng tặng cho Chúa hoặc chia sẻ với mọi người nhưng đó lại là cả tấm lòng chân thành của họ cùng với sự hy sinh, mồ hôi, lao công của mình để trao tặng cho anh em.
    Với cuộc sống đa phần còn khó khăn của nhiều người, Chúa vẫn mời gọi chúng ta luôn tin tưởng vào sự quảng đại của Thiên Chúa, dám phó thác cuộc đời cho sự quan phòng của Ngài, để biết sống quảng đại với Chúa và với anh chị em. Đừng bao giờ nại vào những khó khăn để khép lòng lại với Thiên Chúa và anh chị em. Vì một khi chúng ta khép lòng lại trước Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ không thể đổ thêm gì vào lòng chúng ta được.
    Xã hội ngày nay làm cho con người giàu có, sung túc hơn, nhưng dường như tấm lòng lại nhỏ hẹp hơn. Người đời lấy tiêu chuẩn vật chất, giàu sang để đánh giá nhau. Lối sống ích kỷ khiến nhiều người chỉ biết nghĩ đến bản thân và gia đình. Trước những cám dỗ thu vén tiền bạc của cải, người tín hữu được mời gọi sống quảng đại với Thiên Chúa và rộng lòng với anh em.
    Không ai giàu đến nỗi không thiếu thứ gì, cũng không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng. Hãy trao cho nhau sự quảng đại tha thứ, hãy sống với nhau đừng tính toán chi ly nhỏ hẹp, nhưng rộng lòng, rộng lượng với nhau. Hãy trao cho nhau mỗi ngày một nụ cười yêu thương, hãy tặng cho nhau những cái nhìn thông cảm, vì có thể từ một nụ cười, từ một cái nhìn như thế, cũng đủ để tăng sức mạnh cho anh chị em mình chỗi dậy. Amen.

    Về mục lục

    .

     

    SẺ CHIA TẬN TÌNH

    Huệ Minh

    Từ những ngày còn bé, đi học giáo lý, tôi được nghe kể câu chuyện “hũ dầu không cạn, bình dầu không vơi” được trích trong sách các Vua quyển thứ I.

    Hôm nay, tôi được nghe lại câu chuyện hấp dẫn này : Trong những ngày ấy, tiên tri Êlia chỗi dậy lên đường đi Sarephta. Khi ông đến trước cửa thành, ông thấy một quả phụ đang lượm củi; ông gọi bà và nói với bà rằng: “Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống”. Ðương lúc bà đi lấy nước, ông gọi lại mà nói: “Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh”.

    Bà thưa: “Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng giám: Tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi”.

    Êlia trả lời bà rằng: “Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Israel truyền rằng: ‘Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất’”.

    Bà đi làm theo lời ông Êlia; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.

    Nghe câu chuyện này và rồi dường như câu chuyện này trở thành câu chuyện nằm lòng trong đời bởi đơn giản tính nhân văn của câu chuyện. Rất dễ hiểu và bình dân, chẳng cần chú giải Thánh Kinh, Thần Học hay Triết Học để ai ai cũng thấy đó là câu chuyện kể về sự quảng đại hay nói cách khác tấm lòng sẻ chia của bà quá thành Sarephta. Chính lòng của bà đã được bù đắp cho bà bằng bình dầu không cạn và hũ bột không vơi.

    Câu chuyện sẻ chia của bà góa nghèo ngày hôm nay ta lại bắt gặp trong câu chuyện của Thánh Máccô . Thánh Máccô tính ra cũng nhiều chuyện khi soi Chúa Giêsu vì Chúa Giêsu lại ngồi ngay cái hòm tiền và lại soi bà góa. Chúa Giêsu soi bà góa còn thánh Máccô thì soi Chúa Giêsu.

    Qua cách soi của mình, Chúa Giêsu bắt gặp hình ảnh hết sức dễ thương của bà góa khi Ngài ngồi đối diện với hòm tiền. Vì sou nên thấy dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền.

    Đang soi như thế thì chợt thấy có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu.

    Soi xong rồi thôi, không chịu, soi xong rồi Chúa Giêsu liền gọi các môn đệ và bảo: “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình”.

    Một bài học của sự sẻ chia trong cuộc sống. Tưởng chừng đơn giản nhưng nó rất quan trọng bởi lẽ con người vẫn mang trong mình cái bản tính của khư khư, của ky cóp. của tích lũy.

    Nhớ lại những ngày xưa tháng cũ thật dễ thương và nhớ đến những ngày xưa đó ta lại nhận ra tình Chúa, tình người với nhau.

    Những năm tháng sống thời bao cấp, ta thấy dễ thương quá ! Có khi là nồi khoai mì luộc đó được chia luôn cho cả hàng xóm vì lẽ nhà cạnh bên cũng khổ, cũng đói. Rồi nhớ ngày xưa hay cúp nước, nhà nào được nguồn nước mạnh chảy vào hồ thì lại sẻ chia cho nhà cạnh bên bị thiếu nước. Những hình ảnh của sự sẻ chia đó vẫn còn mãi trong tâm trí tôi cho đến ngày hôm nay.

    Còn ngày hôm nay, khi nhìn lại thực tại của cuộc sống, dường như có cái gì đó man mác buồn. Buồn bởi lẽ ngày hôm nay con người ta ích kỷ hơn, con người ta khép kín hơn, con người ta vun vén hơn.

    Ngày nay, ta không phủ nhận cuộc sống tốt hơn, giàu hơn, sang hơn, đẹp hơn nhưng rồi con người ta lại ích kỷ hơn. Sự sẻ chia, dù ở thời nào đi chăng nữa vẫn là lời mời gọi, vẫn là lời thách thức của mỗi người chúng ta.

    Nói như thế không phải là không còn những tấm lòng quảng đại, những tâm hồn sẻ chia. Thi thoảng đi ngang qua các bệnh viện vào giờ ăn sáng, trưa, chiều … thấp thoáng ta vẫn thấy những hàng dài được xếp để chờ lãnh phần ăn từ thiện có khi là cháo, có khi là cơm và cũng có khi là hộp sữa, cái bánh … Tất cả đó cũng là tấm lòng của những người thơm thảo chia sẻ cho người khác.

    Lần nọ, trên chuyến xe về Sài Gòn, ngồi cạnh bên một chàng trai còn rất trẻ và được anh tâm sự tấm lòng của nhóm anh về sự sẻ chia. Anh nói rằng ngoài giờ đi làm, bạn bè của anh quy tụ lại với nhau để nấu cơm vào ngày 1 và 15 mỗi tháng để chia sẻ với người nghèo. Còn đến dịp Tết và Trung Thu thì nhóm của anh tìm đến những vùng sâu, vùng xa và nghèo để sẻ chia với các em nghèo.

    Thế đó, vẫn còn và còn nhiều người, nhiều nhóm quảng đại chia sẻ cho người khác.

    Ngày nay, Chúa Giêsu hẳn nhiên không còn ngồi trước hòm tiền để soi sự sẻ chia của ta như Chúa đã từng soi bà góa trong Tin Mừng. Thế nhưng, trong thầm kín, trong sâu thẳm của lòng tin, Chúa lại nhìn lòng của mỗi người chúng ta. Xin cho chúng ta biết bắt chước như bà góa nghèo để chia sẻ cho người khác như Chúa mời gọi. Hơn nữa, khi ta chia sẻ cho người khác nghĩa là ta được nhận niềm vui gấp đôi thậm chí gấp 3 từ sự sẻ chia của ta. Xin Chúa thêm ơn cho ta để ta vượt qua con người nhỏ nhen ích kỷ của ta mà biết chia sẻ với anh chị em đồng loại. 

    Về mục lục

    .

    ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ QUẢNG ĐẠI THẬT

    Lm. Pet. Lê Thanh Phục

    Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, thấu suốt lòng dạ con người, thấu suốt mọi đường đi nước bước của chúng ta. Con người có thể qua mặt nhau, nhưng không thể qua mặt Chúa. Lời Chúa của Chúa nhật hôm nay nói lên điều đó: đâu là lòng đạo đức giả và đâu là lòng quảng đại thật.

    Hai đối tượng được Chúa Giê-su đối chiếu hôm nay là kinh sư và bà góa. Kinh sư là những người chuyên diễn tả mệnh lệnh và thánh chỉ của Chúa liên quan đến dân Israel, họ có tư cách giải thích luật Thiên Chúa và phê phán những ai không giữ luật. Là những người thuộc nhóm đứng đầu dân, họ đụng chạm đến việc thánh thiêng, ăn mặc những trang phục tôn giáo dành riêng cho họ. Thế nhưng họ dùng sứ mạng đó để phô trương phẩm giá của mình qua cách xúng xính trong những bộ áo thụng, thích được người chào ở những nơi công cộng, thích ngồi ghế danh dự trong các cử hành tôn giáo và tại những bữa tiệc. Hình ảnh trái ngược với họ là bà góa nghèo, xem ra chẳng có giá trị gì đối với mọi người, một người không còn sự bao bọc che chở của người chồng, không được luật quan tâm bảo vệ, bé nhỏ, bần cùng, không ai chú ý. Thế nhưng tấm lòng của bà thật tuyệt vời. Chúa cho chúng ta thấy rõ tận sâu thẳm của cõi lòng của họ.

    Những người kinh sư chạy theo thói chuộng hư vinh: thích khoe quần áo, thích được chào kính ở những nơi công cộng, thích ngồi chỗ danh dự. Điều đáng lên án hơn là việc bóc lột tài sản của các bà góa và thói đạo đức giả. Họ lợi dụng lòng quảng đại của các bà góa. Lẽ ra các bà góa là những đối tượng được lưu tâm đặc biệt (Đnl 10,18tt; Tv 68,6; Hc 35, 14tt), giúp đỡ các bà góa là một việc thiện hàng đầu (Đnl 14,28tt; 24,17-22; G 29,13; Gc 1,27), bởi họ là những người dễ bị tổn thương nhất, không được hưởng gia sản từ chồng (Ds 27,9-11; 1V 17,8-15; 2V 4,1-7). Bóc lột các bà góa là một tội đặc biệt ghê tởm trước mắt nhà làm luật và các ngôn sứ (Xh 22,21tt; Đnl 27,19; Is 1,23-10,2; Gr 7,6). Ngoài ra, họ làm bộ cầu nguyện lâu giờ để tỏ ra là người đạo đức. Họ che giấu bộ mặt xấu xa của mình dưới mặt nạ đạo đức. Quả thế, từ thói chuộng hư vinh dẫn họ đến thói đạo đức giả, thói đạo đức giả giúp họ dễ dàng ngốn hết tài sản của các bà góa. Họ đã lợi dụng tôn giáo như một phương tiện để đạt được vinh hoa phú quý, chủ yếu dựa trên xương máu của các bà góa là những kẻ không người bảo vệ. Họ đã đi đến tột đỉnh của việc xấu xa nhất. Và đó là điều Chúa Giê-su lên án. 
        
    Trái lại, hình ảnh bà góa nghèo giữa những người giàu có đến dâng cúng trong Đền thờ càng làm nổi bật sự nhỏ bé, bần cùng của bà. Bà đến với Chúa bằng cả tấm lòng của mình. Bà dâng cúng tất cả những gì bà có, dù hai đồng kẽm của bà chẳng có giá trị gì đối với mọi người. Bà là người môn đệ đích thực mà Chúa muốn: từ bỏ tất cả mọi sự, bán tất cả của cải mình có.

    Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy đặt mình trước mặt Chúa, hãy để Lời Chúa hôm nay soi dọi cõi lòng mình, để lên án lối sống của mình.

    Chắc chắn ai trong chúng ta đều có bóng dáng của người kinh sư. Chúng ta không ít lần sử dụng dáng vẻ bên ngoài lộng lẫy, đặc biệt dáng vẻ đạo đức thánh thiện, nhằm che lấp những xấu xa bên trong con người mình, hầu tìm hư danh và trục lợi từ người khác, cách riêng những người nghèo và những người thấp cổ bé họng.
    Thói chạy theo hư danh, ham muốn của cải luôn bám sát con người. Con người luôn bị cám dỗ chạy theo và tìm kiếm những thứ đó. Tệ hại hơn là khi chúng ta dựa vào tôn giáo để trục lợi của cải và hư danh. Là những ki-tô hữu, những người con cái của Chúa, Chúa cấm chúng ta làm tôi hai chủ, Chúa muốn chúng ta ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính trước, hoặc như thánh Phao-lô mời gọi: hướng lòng lên những gì thuộc thượng giới (Cl 3,2), bởi vì “được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì” (Mt 16,26). 

    Chúa Giê-su đến thế gian để cứu độ nhân loại. Ngài kêu gọi con người tội lỗi ăn năn sám hối để đón nhận Tin mừng, để mở lòng ra với Chúa, để đặt mình trong thái độ sẵn sàng đón nhận những phúc lành và ơn cứu độ của Chúa.

    Chúng ta được mời gọi ra sức cộng tác với ơn Chúa để thanh luyện con người của mình, đặt mình trong chiều hướng quay về với Chúa, tẩy trừ thói chuộng hư danh và trục lợi của cải vật chất, đến với Chúa bằng tấm lòng thành, đóng góp cho nhà Chúa tùy theo khả năng, hầu mỗi ngày chúng ta thanh thản bước theo làm môn đệ Chúa, xứng danh là ki-tô hữu hơn, xứng danh là con cái Chúa hơn, xứng với tình yêu và lòng mong đợi của Chúa hơn.

    Về mục lục

    .

    ĐỂ “CỦA CHO” NÊN LỄ DÂNG ĐẸP LÒNG CHÚA

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1.TIN MỪNG: Mc 12,38-44

    (38) Trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. (39) Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. (40) Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”. (41) Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào hòm đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. (42) Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma. (43) Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. (44) Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó. Còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống.

    2.Ý CHÍNH: Bài Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần tương ứng với hai hạng người tiêu biểu trong đạo Do thái là giới kinh sư và giới bà góa nghèo như sau: Trước hết, Đức Giê-su khiển trách thói đạo đức giả của các kinh sư Do thái, biểu lộ qua 4 thói xấu như: ăn mặc đài các, tìm kiếm hư danh, tranh giành địa vị, đạo đức vụ lợi. Sau đó, Người đề cao lòng đạo đức của một bà góa nghèo, biểu lộ qua việc dâng cúng tiền bạc vào Đền Thờ. Tuy số tiền bà dâng không bao nhiêu, nhưng nhờ có lòng hy sinh, nên bà đã được Đức Giê-su đánh giá là đã bỏ vào thùng nhiều hơn mọi người.

    3.CHÚ THÍCH:

    – C 38: + “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư”: Đức Giê-su cảnh giác dân chúng coi chừng kẻo bị lây nhiễm các thói xấu của các kinh sư hay luật sĩ. + xúng xính trong bộ áo thụng: Áo thụng là loại áo choàng dài chấm đất mà các tư tế thường xử dụng khi làm việc tế tự. Người Do thái thường tỏ lòng tôn kính đối với các tư tế. Các kinh sư cũng thích mặc loại áo này để tỏ ra mình có lòng đạo đức và cũng mong được dân chúng kính trọng như vậy. Đây là thói xấu kiêu ngạo, tự cao tự đại (x. Mt 23,5). + thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng: Người Do thái hay chào hỏi các kinh sư, là những người giải thích Kinh Thánh tại các hội đường vào ngày Sa-bát. Danh hiệu “ráp-bi” có nghĩa là “đại nhân của tôi”, được dùng để xưng hô khi nói chuyện với các kinh sư. Vì muốn được chào hỏi tôn kính, nên các ông thích đi đi lại lại ở nơi có nhiều người để được thiên hạ bái chào. Đây là thói xấu ham mê danh vọng.

    – C 39-40: + chiếm ghế danh dự trong hội đường: Tại mỗi hội đường Do thái đều có một chiếc ghế danh dự đặt trước tủ đựng kinh sách. Đối diện với cộng đoàn là chỗ dành cho những bậc vị vọng. Ai ngồi ở đây thì không bị che khuất và mọi người trong hội đường có thể nhìn thấy họ. Các kinh sư vốn tự cao nên thích ngồi ở hàng ghế danh dự này. Đây là thói xấu ham mê chức quyền. + thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc: Tại đám tiệc của người Do thái, vị trí chỗ ngồi được xếp đặt rõ ràng. Chỗ danh dự nhất là ở bên phải gia chủ. Chỗ thứ hai là bên trái, và tiếp tục như vậy từ phải sang trái chung quanh bàn ăn. Người ta dễ dàng nhận ra thứ bậc của người khách, căn cứ vào chỗ ngồi được gia chủ sắp xếp cho họ trong bữa tiệc. + nuốt hết tài sản của các bà góa: Các bà góa thường thiếu hiểu biết, nhẹ dạ nên được xếp vào hạng người cần được quan tâm giúp đỡ (x. Đnl 24,17.19). Mỗi khi bị bắt nạt chèn ép, các bà góa thường cậy nhờ các kinh sư bênh vực. Đây là cơ hội thuận tiện để một số phần tử xấu trong hàng ngũ kinh sư lợi dụng làm tiền, bằng cách chỉ vẽ Lề luật và hứa cầu nguyện cho. + làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ: Việc các kinh sư và người biệt phái hay cầu nguyện dài dòng thì ai cũng rõ. Người ta bảo rằng: Những bài cầu nguyện ấy không nhằm dâng lên Thiên Chúa tâm tình yêu mến mà chỉ nhằm phô trương công đức trước mặt người đời. Do đó, họ cố tình cầu nguyện tại ngã ba đường, nơi mà người ta dễ thấy mà ca tụng lòng đạo đức của họ. + họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn: Luật Môsê coi việc xử tệ với các người cô thế cô thân, trong đó có các bà góa là một trọng tội và sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc (x. Xh 22,21-23). Đức Giê-su cho biết: Những hành vi này của các kinh sư chỉ là hình thức đạo đức giả và vụ lợi, nên họ sẽ bị kết án nghiêm khắc trong ngày tận thế.

    C 41-42: + Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao: Giữa sân dành cho dân ngoại và sân dành cho phụ nữ là cửa Đẹp. Đức Giê-su đã đến ngồi tại đó sau khi đã tranh luận trong sân dành cho dân ngoại và tại hành lang Đền Thờ. Trong sân dành cho phụ nữ có đặt mười ba thùng đựng tiền của dân chúng tự nguyện đóng góp, dùng để làm bánh tế lễ, mua dầu đèn và các chi phí khác.+ bà góa nghèo: Một thân phận đáng thương vì bị cô thế cô thân không nơi nương tựa, nhất là còn nghèo tiền bạc vật chất. + hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma: Đây là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất, ám chỉ sự nghèo khó cùng cực của bà này. Sở dĩ tác giả chú thích hai đồng tiền kẽm trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma là nhằm giúp các độc giả La-Hy thời bấy giờ dễ hiểu hơn. Ở đây Mác-cô muốn nhấn mạnh đến sự tương phản giữa hai số tiền dâng cúng của hạng người giàu và kẻ nghèo hèn.

    C 43-44: + Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết: Nhiều hơn ai hết là theo cách đánh giá của Đức Giê-su khi xét theo tỷ lệ giữa số tiền bà dâng cúng với tài sản của bà. Bà đã dâng ngay cả những cái cần cho cuợc sống hằng ngày, giống như lời Đức Chúa nói với ngôn sứ Sa-mu-en khi ra lệnh cho ông xức dầu phong Đa-vít lên làm vua thay thế vua Sa-un: “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 15,7). + mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa: Của dư thừa ám chỉ sự dâng cúng kém giá trị, vì “của nhiều lòng ít”. + còn bà này thì rút từ cái túng thiếu của mình: Bà “của ít lòng nhiều”: Tuy tiền dâng ít nhưng kèm hy sinh bản thân nên đã tăng giá trị lên nhiều lần.

    1. CÂU HỎI:

    1) Đức Giê-su đã quở trách bọn kinh sư và biệt phái về các thói xấu nào?

    2) Người đánh giá thế nào về hai đồng tiền kẽm mà bà góa nghèo đã dâng trong Đền thờ? Tại sao?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Thầy bảo thật anh em: “Bà góa nghèo đã bỏ thùng nhiều hơn ai hết”(Mc 12,43).
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) LÀM VIỆC BÁC ÁI ĐỂ TÌM HƯ DANH:

    Một bà nọ là thành viên của một hội đoàn đạo đức chuyên đi làm công tác bác ái xã hội. Một hôm, bà nhận được giấy mời đến dự buổi họp mặt bất thường để quyên góp giúp đồng bào bị thiên tai lũ lụt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Bà dự tính kỳ họp này sẽ tình nguyện đóng góp số tiền một triệu đồng. Nhưng trong buổi họp, khi thấy có nhiều Hội viên khác cũng đóng góp số tiền một triệu ngang bằng với mình, bà muốn tỏ ra quảng đại hơn người, nên khi tới phiên, bà đã ghi vào sổ vàng cứu trợ số tiền hai triệu đồng. Rồi thay vì rút bao thư chứa hai triệu, thì bà lại rút nhầm bao thư trong đó có số tiền hai trăm USD tương đương năm triệu đồng mà bà định mang đi mừng đám cưới con trai của bà bạn thân đã từng giúp đỡ bà rất nhiều ngay sau buổi họp mặt hôm đó. Khi phát hiện ra đã đưa lộn phong bì, bà muốn đến bàn thu ngân xin lại số tiền đã góp dư kia, nhưng lại sợ bị mất thể diện trước mặt người khác. Cuối cùng bà đành chịu vậy, nhưng tự trách mình đã bất cẩn không kiểm tra phong bì trước khi nộp cho thủ quỹ. Nhiều ngày sau đó bà vẫn luôn cảm thấy tiếc về số tiền đã lỡ ủng hộ thêm ngoài dự tính kia.

    2) GÃ BÁN THỊT VÀ LÃO ĂN MÀY:

    Kho tàng cổ tích Ảrập có câu chuyện vui như sau: Một gã bán thịt nướng kia rất keo kiệt và khó tính. Một hôm một lão ăn mày từ nơi khác đến ngồi ăn xin bên cạnh quán thịt nướng của gã. Lão ăn mày đói bụng nhìn những miếng thịt nướng trên vỉ sắt đang bốc khói, chỉ biết hít thật sâu để đón nhận mùi thịt thơm bay vào mũi và liên tục nuốt nước miếng vì không có tiền mua thịt. Cuối cùng lão nghĩ ra một kế hay: lão ta móc trong bị ra một miếng bánh mì khô mua từ ban sáng, lẳng lặng đến gần lò than hơ miếng bánh trên vỉ thịt, với hy vọng khói thịt bốc lên sẽ ám vào miếng bánh. Sau đó, lão ta vui vẻ ăn hết miếng bánh đã được ám khói. Coinf gã bán thịt đang ngồi trong quán thấy vậy liền chạy ra túm lấy áo lão ăn mày đòi phải trả tiền. Bấy giờ  lão ăn mày liền nói: “Lão đâu có lấy thịt nướng nào của anh. Khói thịt bay lên đâu phải là thịt”. Gã bán thịt hét lớn: “Khói từ thịt đang nướng bay ra là thuộc về miếng thịt, nên lão ăn bánh có ám khói thịt bay lên cũng phải trả tiền”. Hai người cự cãi không ai nhường ai. Cuối cùng họ đưa nhau ra toà yêu cầu được quan tòa cứu xét. Quan tòa liền truyền cho lão ăn mày lấy ra một đồng tiền cắc ném mạnh xuống nền nhà phát ra một tiếng “keng”. Rồi quan toà phán quyết cho hai người như sau: “Lão ăn mày được quyền hưởng khói bay ra từ miếng thịt, còn anh bán thịt sẽ hưởng tiếng “keng” phát ra từ  đồng tiền của lão ăn mày”.

    1. THẢO LUẬN:

    Trong những ngày này mỗi người chúng ta có thể chia sẻ những gì cụ thể trong tầm tay của mình cho những người nghèo đói bất hạnh và bị bỏ rơi để làm vui lòng Chúa?

    1. SUY NIỆM:

    1) Ý chính của bài Tin Mừng hôm nay:

    Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã lên ái thái độ giả dối của Pharisêu và Người đã dạy các môn đệ phải quảng đại cho đi, noi gương một bà góa nghèo đã dâng hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rô-ma, là số tiền nhỏ bé bà dùng để nuôi bản thân mình trong ngày một ngày. Bà đã được Đức Giêsu đánh giá cao việc dâng cúng quảng đại này: “Thầy bảo thật anh em: bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó. Còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống” (Mc 12,43b-44).

    Câu chuyện cổ tích Ả rập về anh hàng thịt nướng keo kiệt đói xử không tốt đối với kẻ nghèo nói trên cũng vẫn hay xảy ra trong xã hội hôm nay: Nhiều lần chúng ta đã cư xử với người khác cách keo kiệt tương tự. Việt Nam chúng ta có một câu chuyện vui về một ông bố keo kiệt và tham ăn như sau: Một hôm sau một đêm thức trắng đánh dậm bắt được một giỏ mươi con cá, anh ta về ngồi bên bếp than nướng cá để làm mồi nhậu lai rai một mình. Đứa con trai nhỏ 4 tuổi ngửi thấy mùi thơm của cá liền khóc lóc đòi được ăn cá. Bà mẹ liền dỗ dành cậu con yêu: “Con hãy nín đi để mẹ coi xem có con cá nào nhỏ, mẹ sẽ xin bố cho con ăn nhé!”. Ông bố nghe vậy liền đáp: “Cho cái gì? Không có con cá nào nhỏ cả, con nào cũng to bằng nhau hết !”. Cũng vậy, nhiều lần chúng ta thường né tránh để khỏi giúp đỡ tha nhân bằng câu nói: “Hãy đợi đấy! Khi nào làm ăn khá hơn, tôi sẽ chia sẻ giúp đỡ cho anh”. Nhưng sự chờ đợi ấy sẽ kéo dài mòn mỏi không biết phải chờ đến bao giờ. Người ta có thể nêu ra cả ngàn lý do để biện minh cho thái độ vô cảm, thiếu yêu thương, không muốn giúp đỡ tha nhân của mình.

    2) Giá trị của một hành động bác ái từ thiện hệ tại chỗ nào ?

    Một việc lành của chúng ta chỉ thực sự tốt khi nó được thực hiện với lòng yêu thương. Câu chuyện về người đàn bà ủng hộ đồng bào bị lũ lụt nói trên: Ban đầu bà đã có quyết định tốt khi dự định bỏ thùng ủng hộ một triệu đồng. Nhưng khi thấy nhiều người khác cũng bỏ vào thùng một triệu như vậy, thì bà liền đã tăng số tiền ủng hộ lên gấp đôi để tỏ ra mình quảng đại hơn người khác. Sau đó việc lỡ rút nhầm bao thơ 200 đôla Mỹ tương đương năm triệu đồng bỏ vào thùng là việc ngoài ý muốn của bà, thể hiện qua việc bà tiếc nuối muốn đòi lại số tiền dư ra kia, nhưng rồi cũng do thói sĩ diện hão, cuối cùng bà đành phải chấp nhận số tiền bỏ thùng lớn gấp nhiều lần. Số tiền bà góp này cũng không có giá trị bao nhiêu về thiêng liêng khi ra trước tòa Chúa phán xét sau này vì không phát xuất từ tình yêu tha nhân.

    3) Về ba loại người cho và bậc thang giá trị của ba cách cho:

    + Một là người cho cách bất đắc dĩ: Do muốn tránh bị quấy rầy, nên dù có cho mà trong lòng người cho vẫn thấy bực bội. Loại người này thường phân trần với bạn bè: “Mình ghét hắn ta, nhưng đành phải “thí” cho hắn ít tiền còm cho xong, để hắn mau biến đi khuất mắt!”.

    + Hai là người cho để xong việc bổn phận: Loại người cho này dù đã cho đi mà vẫn không thấy vui. Họ thường nói với bạn bè: “Mình bị rơi vào hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan” : “Bỏ thì thương mà vương thì tội!” Thôi thì đành giúp đỡ hắn cho xong của nợ ! ”.

    + Ba là cho vì yêu thương: Do tự nguyện cho người nghèo nên trong lòng người cho sẽ  cảm thấy vui vẻ. Trường hợp người được cho vì một lý do nào đó không nhận, thì người cho sẽ thấy buồn trong lòng. Loại người cho này thường hay nói với những người đau khổ  bất hạnh: “Tôi có thể giúp gì được cho bạn?” hoặc: “Tôi sẵn sàng chia sẻ những khó khăn bạn đang gặp phải”. Cách cho thứ ba do này mới đẹp lòng Chúa và chúng ta cần thực hiện mỗi ngày, để của lễ chúng ta dâng sẽ bay lên trước tôn nhan Thiên Chúa và mang lại hạnh phúc cho chúng ta.

    4) Thực tập lối sống quảng đại sẵn sàng cho đi noi gương Chúa Cha:

    Thiên Chúa là Cha chúng ta đã biểu lộ tình yêu quảng đại để nêu gương cho chúng ta:

    + Chúng ta chỉ cần một bông hoa, mà Người lại ban cho cả cánh rừng.

    + Chúng ta chỉ xin vài ngụm nước, mà Người lại ban cả dòng suối.

    + Chúng ta chỉ cần vài hạt cát, mà Người lại cho cả bãi biển rộng dài.

    + Chúng ta chỉ xin ban lương thực hàng ngày, mà Người còn cho cả Thân Mình Bửu Huyết của Người.

    Chúa Giêsu phán: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Mỗi ngày chúng ta nên thực hiện một số việc quảng đại như PHĂNGSÍT BANPHUA (Francis Balfour) đã liệt kê một số việc cụ thể người tín hữu chúng ta nên thực hiện như sau:

    + “Món quà đẹp nhất tặng cho kẻ thù ghét ta là lòng khoan dung tha thứ,

    + Quà tặng cho bạn bè là thái độ luôn trung tín và chân thành,

    + Quà cho các em nhỏ là gương sáng bác ái và khiêm nhường phục vụ,

    + Quà tặng cho người cha trong gia đình là thái độ tôn kính vâng lời người dạy,

    + Quà cho bà mẹ là trái tim cháy lửa yêu thương và sẵn sàng chia sẻ các việc nội trợ,

    + Và cuối cùng, quà cho mọi người chung quanh là nụ cười thân thiện kèm theo cái bắt tay thân ái, một lời khen thành thật, cùng thái độ quan tâm lắng nghe và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ noi gương Đức Giê-su”.

    1. NGUYỆN CẦU

    – Lạy Chúa Giê-su. Cách đánh giá của Chúa trong Tin Mừng hôm nay khác hẳn cách nhìn nhận sự việc của chúng con. Vì “Loài người thì nhìn mặt, còn Chúa lại nhìn lòng!” (1 Sm 16,7). Chúa khen bà góa nghèo đã bỏ tiền dâng cúng nhiều hơn ai hết. Dù số tiền của bà nhỏ bé, nhưng bà “đã dâng tất cả những gì mình có để nuôi sống mình” do lòng mến Chúa thôi thúc, nên hành động ấy đã được Chúa đánh giá cao hơn người khác: “Bà đã bỏ thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12,43). Về phần chúng con: Nhiều khi chúng con dễ nản lòng không muốn làm việc tốt, khi việc chúng con làm không được mấy người biết đến và khen ngợi… Xin Chúa thanh luyện ý hướng các việc lành của chúng con. Chúng con tin rằng: “Hữu xạ tự nhiên hương” (x. Mt 6,1-4), nếu công việc chúng con làm thực sự tốt thì sớm muộn cũng sẽ được người đời nhận biết và ca ngợi tình yêu của Thiên Chúa là Cha chúng con (x. Mt 5,14-16).

    – Hát bài Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân…” để xin Chúa giúp ta kiến tạo hòa bình bằng việc hăng say phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.

    X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

     

    BÀ GÓA NGHÈO

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

    1. Bệnh sống theo vẻ bề ngoài

    Đức Giê-su mời gọi mọi người và nhất là mời gọi các môn đệ của Người, trong đó có chúng ta hôm nay, đừng sống theo cách sống của các ông kinh sư:

    Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ.

    (c. 38-40)

    Lời của Đức Giê-su chứa đựng hai lời cảnh báo đụng chạm sâu xa đến cách sống của chúng ta trong tương quan với người khác và với chính Chúa. Trước hết, đó là sự không tương hợp giữa việc đọc kinh cầu nguyện và tương quan của chúng ta với các “bà góa”. “Bà góa” là bà góa thực sự, và ở mọi nơi và mọi thời, đều có các bà gòa; nhưng “bà góa” còn là biểu tượng nói về tất cả những người nhỏ bé, giới hạn, kém may mắn, ít khả năng, nghèo khó, bị bỏ rơi, cô đơn, không có địa vị. Đức Giê-su đặc biệt quan tâm đến các bà góa, chẳng hạn bà góa nghèo trong bài Tin Mừng của chúng ta, “bà góa” hiểu theo cả hai nghĩa. Chắc chắn là vì, Mẹ của Người cũng là một bà góa!

    Lời cảnh báo thứ hai, là thái độ tìm kiếm và cảm thấy thích thú với những lời tôn vinh của người khác ngang qua lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất. Đó không phải là vì lễ phục, sự chào hỏi, ghế danh dự và cỗ nhất là xấu, nhưng là thái độ tìm kiếm bằng mọi giá và cảm thấy vui thích trong những điều này; và mọi người chúng ta đều có kinh nghiệm, cách sống này là mảnh đất mầu mở của những điều thuộc về ma quỉ: ham muốn, ghen tị, ganh đua, loại trừ, thậm chí bạo lực…

    Tóm lại, các kinh sư là những người, không chỉ sống theo vẻ bề ngoài, nhưng còn đi tìm và thích thú với vẻ bề ngoài. Và ngang qua việc vạch rõ lối cụ thể của một nhóm người, Đức Giê-su mời gọi chúng ta nhìn lại chính bản thân mình, để nhận ra rằng, sống theo vẻ bề ngoài ở trong mọi lãnh vực, ở mọi nơi và ở mọi cấp độ, là một căn bệnh phổ biến và nan y của mọi người, trong đó có chính bản thân chúng ta.

     2. Chữa lành bệnh sống theo vẻ bề ngoài

    Trong “Bài Giảng Trên Núi,” Đức Giêsu mời gọi chúng ta đừng sống theo vẻ bề ngoài, nhưng sống theo sự thật trong tương quan với chính Thiên Chúa là Cha chúng ta, nhất là khi bố thí, cầu nguyện và ăn chay. Đó là ba việc đạo đức căn bản trong đời sống đức tin; và chúng ta có thể mở rộng ra tất cả những việc đạo đức khác, và nhất là mở rộng ra cung cách sống căn tính Kitô hữu hay căn tính tu sĩ của chúng ta. Thực vậy, Đức Giê-su nói:

    Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm,để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

    Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh

    Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm,18 để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

    (Mt 6, 1-18)

    Thay vì phô trương, Đức Giêsu mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức một cách kín đáo. Không phải để thi thố hay nâng cấp đức khiêm nhường, nhưng để trở nên giống Cha của mình là Thiên Chúa, Đấng hiện diện nơi kín đáo và hành động một cách kín đáo. Trong những lời chúng ta vừa trích dẫn, Đức Giêsu dùng tới sáu lần từ “kín đáo”, trong đó 5 lần được dùng để nói về Thiên Chúa Cha: Cha của anh hiện diện nơi kín đáo; Cha của anh thấy trong kín đáo. Như thế, Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu, là “Đấng kín đáo” và Ngài mời gọi chúng ta cũng trở nên “những người con kín đáo” như Cha của mình. Kín đáo là một đặc nét của nữ tính; vì thế, phụ nữ dễ trở nên giống Thiên Chúa, Cha của chúng ta hơn!

    Chúng ta cứ nghiệm lại mà xem: Thiên Chúa hiện diện và hành động kín đáo biết bao trong sáng tạo, trong lịch sử loài người, nơi cuộc đời chúng ta và nhất là nơi Thập Giá của Đức Giêsu. Chúng ta phải có ngũ quan biết chiêm ngắm, mới có thể nhận ra Thiên Chúa hiện diện, lên tiếng và hành động.

    Đức Giêsu không chỉ chữa bệnh sống theo vẻ bề ngoài của loài người của chúng ta, bằng lời nói, nhưng bằng chính cách sống của Người nữa; như Ngài nói về mình: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng sự sống của mình”. Và phương thuốc tận cùng của Ngài là Thập Giá, nơi đó, vẻ bề ngoài của Ngài không còn là gì nữa: thân xác, danh dự, sự nghiệp, sự sống… Nhưng chính lúc đó Căn Tính đích thật của Ngài lại rạng ngời nhất. Như con rắn đồng xưa, ai nhìn lên Đấng bị đâm thâu, thì sẽ được chữa lành (x. Ds 21, 4-9 và Ga 3, 14-15).

     3. Hình ảnh « Bà Góa Nghèo »

    Chúng ta hãy cùng với Đức Giê-su « ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ », và « quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao ». Như thế, thùng tiền hẳn phải đặt ở nơi mà mọi người có thể quan sát được, để cho việc trở nên công khai và minh bạch hơn. Tuy nhiên, như tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm, vị trí thùng tiền được đặt ở nơi công cộng cũng là dịp để người ta phô trương và ganh đua ; và điều này vừa có lợi cho bên nhận cũng như bên cho. Ngày nay, người ta vẫn còn làm những điều tương tự, như công bố danh sách ân nhân với số tiền cụ thể, phát giấy chứng ân nhân với sự phân biệt đẳng cấp khác nhau, tùy theo số tiền dâng cúng. Giống như bằng cấp đại học có phân biệt thứ hạng !

    Đức Giê-su nhìn thấy những người giàu bỏ tiền của họ vào thùng tiền ; và ngài cũng thấy một bà góa túng thiếu bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, tương đương với 2 đồng tiền kim loại màu trắng 500 vào những năm 2000 của chúng ta. Các nhà chú giải cho rằng câu chuyện này minh họa cho lời trách của Đức Giê-su, là các luật sĩ tước đoạt hết tài sản của các bà góa, là cơ cấu tôn giáo thời đó đã bắt người ta đóng góp quá sức, đến độ một bà góa không còn gì để sống ! Tuy nhiên, những gì Đức Giê-su nói sau đó, sẽ đi theo một hướng khác hẳn.

    Loài người chúng ta, trong vấn đề dâng cúng và cả trong những vấn đề khác nữa, chẳng hạn trong vấn đề lượng giá học tập (không chỉ văn hóa, và cả giáo lý, linh đạo và thần học) và công việc, chỉ chú trọng đến thành tích nhiều ít, cao thấp, to nhỏ, nghĩa là vẻ bề ngoài của sự việc. Nhưng Đức Giê-su nhìn sự việc theo một chiều kích khác, vừa đúng, vừa sâu và vừa đánh động lòng của chúng ta : « bà góa đã bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình ».

    • Lời của Đức Giê-su an ủi chúng ta biết bao, vì tất cả chúng ta đều nhỏ bé, nghèo nàn, giới hạn, như bà góa ; và Chúa chỉ cần tấm lòng của chúng ta thôi.
    • Lời của Ngài cũng chất vấn chúng ta nữa : phải chăng chúng ta sống và xét đoán theo chỉ theo vẻ bề ngoài.
    • Và Lời của ngài mời gọi chúng ta : « Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả ». Xét về số lượng hay nội dung, « tất cả » của chúng ta thì quá nhỏ bé và ít ỏi so với « tất cả » của Chúa ; như xét về tình yêu của trái tim, thì TẤT CẢ = TẤT CẢ, hai bên đều trao ban trọn vẹn như nhau !

    Xin cho chúng ta cũng biết bỏ « vào đó » tất cả những gì cần cho sự sống của chúng ta. « Vào đó », là vào ơn gọi và sứ vụ của cả cuộc đời chúng ta ; « vào đó », là vào những gì chúng ta được mời sống hằng ngày ; « vào đó », là vào những gì chúng ta cảm thấy phải sống, phải làm, phải thay đổi, phải hoán cải… trong Chúa và để ca tụng Chúa ; « vào đó » là… (chúng ta có thể nhận ra thêm tùy theo tương quan của chúng ta với Chúa).

    Và chỉ khi chúng ta cảm nhận được « muôn ngàn đời tình thương của Chúa » (x. Tv 136), chúng ta mới có thể cho đi như thế được. Và quả thực như thế, Thiên Chúa đã sống đến tận cùng tâm tình của « Bà Góa Nghèo », nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh trên Thánh Giá.

    Về mục lục

    .

    LÒNG QUẢNG ĐẠI VÀ TÍN THÁC KHÔNG GIỚI HẠN

    Dã Quỳ

    Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về hai hình ảnh đối lập: các ông kinh sư và bà góa nghèo. Từ hai hình hình ảnh này, Chúa Giê-su căn dặn ta hãy coi chừng sự giả hình, ưa chiếm hữu danh lợi của các kinh sư và dạy ta quảng đại trao dâng như bà góa nghèo. Lòng quảng đại của bà chứng tỏ một niềm tín thác vào Thiên Chúa, Đấng quan phòng đời bà. Thế nhưng giữa một thế giới mà trong đó con người đang tranh giành nhau những vị trí cao nhất ở mọi lãnh vực và hơn thua nhau về địa vị, tài sản…Liệu bài học về Lòng quảng đại tín thác của Chúa đưa ra có lỗi thời không?

    Người Việt Nam chúng ta vốn quan niệm:”Một miếng giữa đàng hơn một sàng xó bếp“. Quan niệm ấy cho chúng ta hai suy nghĩ vừa tích cực lẫn tiêu cực. Chiều tích cực là cho thấy sự trọng vọng của mọi người dành cho những người có chức quyền và địa vị trong xã hội ở mọi thời. Sự vinh quang này cũng có thể là động lực giúp cho nhiều người cố gắng vươn lên trong khả năng của mình sao cho bằng người khác. Tuy nhiên mặt trái của sự vinh quang thế gian ấy cũng có thể làm cho chính đương sự nhiễm thói kiêu ngạo, dương dương tự đắc, ưa thích danh vọng  và coi mọi người không ra gì.

    Nhưng sông có khúc, người có lúc. Khi có chức có quyền thì phải sống làm sao để khi hết quyền hết chức người ta vẫn kính trọng, quí mến. Cách riêng với những người đang nắm chức vụ trong Giáo Hội, trong các đoàn thể, cộng đoàn… Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ Coi Chừng các ông kinh sư, nhưng có lẽ Chúa cũng thấy trước những cám dỗ mà có thể các đồ đệ của Ngài cũng dễ mắc phải đó là ” Ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự, chỗ nhất…” Và còn tệ hơn: “Chiếm tài sản của các bà góa, làm bộ đọc kinh lâu giờ“. Giáo Hội trong mọi thời đều dễ rơi vào cơn cám dỗ kinh khủng của uy thế, của những độc quyền, những ” bộ áo thụng” và của những chức vị phô trương…của những giả hình, bất công và làm méo mó khuôn mặt của Hội Thánh Chúa.

    Thực ra chức vị và quyền hành không phải là một cái gì tội lỗi, đáng sợ hay xấu xa. Vì những người được Chúa yêu thương tuyển chọn, có khả năng, khôn ngoan, nhiệt thành và được tập thể tín nhiệm trao phó trọng trách để phục vụ Chúa và cộng đoàn. Như thế càng phải ý thức cách triệt để như lời sách Huấn Ca nhắn nhủ: ” Càng làm lớn con phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Chúa“.(Hc 3,18) Chúa Giê-su căn dặn và mong muốn tất cả chúng ta sống theo Lời và gương của Người đã sống là quảng đại hiến thân phục vụ Chúa và tha nhân: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Vì Con Người đến…là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người“.(Mc 10,43.45) Chúa muốn ta thay đổi cách sống và thói quen. Linh mục cũng như giáo dân…không đặc quyền, đặc lợi. Một Giáo Hội nghèo và trần trụi, sống trong sự giản dị theo Tin Mừng…không để bị lôi cuốn trong xa hoa, tráng lệ của thế gian.

    Một sự tương phản giữa những kinh sư sùng đạo đã ” Nuốt hết tài sản của các bà góa“…và bà góa nghèo này, người đã “rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống“.

    Chúa Giêsu đã khâm phục bà bởi vì bà đã bỏ vào thùng tiền dâng cúng “Tất cả những gì bà có để sống“. Sự nghèo khó: đó là tình trạng của người không có những gì cần để sống. Bà góa này đang ở trong tình trạng đó. Bà đã rút từ trong sự túng thiếu của mình, dâng cúng cho Đền Thờ. Hai đồng tiền nhỏ là tài sản duy nhất của bà. Hai đồng tiền nhỏ ấy là cơ nghiệp  gắn liền với bà, nó sẽ là cơm ăn thuốc uống của bà và là sự sống của bà. Hai đồng tiền nhỏ ấy là cả một tài sản của thân phận nghèo nàn của bà. Thế mà, không luyến tiếc, bà đã quảng đại dâng cho Thiên Chúa tất cả. Dâng tất cả tài sản nhỏ bé của mình, bà như dâng lên Thiên Chúa tất cả sự sống. Bà phó dâng hiện tại và tương lai trong tay Chúa Quan Phòng. Đời bà thuộc về Chúa, sự sống của bà là của Chúa. Lòng quảng đại ấy biểu lộ một Niềm Tin Tín Thác mãnh liệt vào Thiên Chúa là Chủ sự sống.

    Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại để giới thiệu cho các ông một mẫu gương cho đi tận tình. Và Chúa cũng mời gọi tôi là con cái Chúa, học gương bà góa, cũng hãy dâng hiến cho Thiên Chúa những gì mình có, vì tất cả những gì tôi có đều do bởi Chúa, như lời Thánh Phao-lô nhắc: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh” ( 1Cr 4,7).

    Hình ảnh bà góa dâng tất cả những gì bà có để sống gợi cho tôi bao suy nghĩ và tự vấn. Tôi đã sẵn sàng dâng tâm hồn tôi để trở thành đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị hay chưa? Tôi có dấn thân dâng lên Thiên Chúa cuộc đời tôi để phục vụ cho Tin Mừng và hăng say rao giảng Nước Chúa không? Và tôi đã quảng đại dâng những tài sản vật chất của mình để phục vụ Chúa, xây dựng Giáo Hội và chia sẻ với anh em túng thiếu chưa? Tôi nhận thấy mình kém xa bà góa nghèo, mặc dù tôi không nghèo như bà. Nhiều khi tôi đắn đo tính toán với cả Thiên Chúa và anh chị em mình mà chưa biết quảng đại hiến trao, chưa thật tin tưởng vào bàn tay quan phòng của Chúa và không thật sự tín thác vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nói tới bà góa nghèo, tôi nghĩ đến Mẹ Chân Phước Têrêsa Calcutta. Mẹ thật nhỏ bé, nghèo nàn. Mẹ đến Ấn Độ chỉ với hai bàn tay trắng. Tài sản của Mẹ là một trái tim đầy ắp tình yêu phục vụ người nghèo, nhất là những người vô gia cư nằm hấp hối bên lề đường. Mẹ đã quảng đại trao dâng cho Thiên Chúa tất cả và một lòng tín thác vào Chúa để yêu thương phục vụ tha nhân. Đời sống và nghĩa cử yêu thương của Mẹ được cả thế giới biết đến và khâm phục. Và đã gợi hứng cho nhiều người tiếp tục quảng đại dâng hai đồng tiền nhỏ của mình cho Chúa và tha nhân. Vì trong thế giới của chúng ta, còn đó sự chênh lệch về mức sống giữa người với người, giữa nước này với nước kia. Và còn đó biết bao anh chị em nghèo khổ quanh ta cần lắm lòng quảng đại sẻ chia tinh thần và vật chất.

    Một đức tin đầy  đức ái và lòng quảng đại sẽ là mẫu sống cho ta. Ta đừng ngại nói ngôn ngữ của lòng quảng đại và đừng sợ tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Chúa Kitô, Đấng đã hiến dâng chính mạng sống mình vì lòng tín thác vào Chúa Cha là khuôn mẫu cho chúng ta. Sự nhiệt tâm và quảng đại của chúng ta được xây nền trên nền quảng đại của Chúa Giêsu- Một Thiên Chúa giàu sang nhưng đã trở nên nghèo để cho ta được giàu có, như lời Thánh Phao-lô  nói với giáo đoàn Cô-rin-tô để khuyến khích họ chia sẻ: ” Quả thật, anh em đã biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.”(2Cr 8,9)

    Nguyện xin Chúa Giê-su chia sẻ cho ta lòng quảng đại của Người và ban ơn giúp ta tín thác để rồi ta dám quảng đại với Thiên Chúa và với anh em. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÌNH GÓA

    Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa 

    Phải thú nhận rằng có hậu ý khi đặt tựa đề cho bài viết là “tình góa”. Dĩ nhiên ít nhiều cũng có ngụ ý “tiếp thị”. Đã là góa bụa mà còn tình tứ gì nữa! Đã nói đến tình thì ít ai nói đến cảnh góa bụa. Sự đời, người ta thường tránh những điều xúi quẩy. Thế nhưng nhiều hình ảnh người góa bụa lại được Thánh Kinh không chỉ tô hồng mà còn xác nhận là một trong những đối tượng được Thiên Chúa ưu ái và bảo vệ cách đặc biệt bằng những luật lệ cụ thể trong Cựu Ước (x.Xh 22,21; Ed 22,7). Đến thời Tân Ước, chính Chúa Giêsu cũng đã ưu ái bà góa thành Naim có đứa con trai duy nhất bị chết, nên dù không được khẩn xin, Người vẫn ra tay uy quyền cho cậu ta sống lại (x.Lc 7,11-17).

    Trong ba bài đọc Thánh Kinh của Chúa nhật XXXII TN B thì bài đọc thứ nhất trích sách các Vua và bài Tin mừng tường thuật và ca tụng nghĩa cử cao đẹp của bà góa thành Xarépta và bà góa tại Giêrusalem. Cả hai đều là những bà góa nghèo nhưng sẵn sàng hiến dâng “phần nuôi sống” mình, cũng là chính sự sống của mình cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Thầm hiểu ngụ ý của Hội Thánh khi cho trích đọc các bài Thánh Kinh trong Chúa nhật này, chúng ta cùng xét suy đôi điều qua cái tâm, cái lòng và cuộc sống của người góa bụa.

    1. Một mối tình thủy chung: Trước hết cần phân biệt người góa bụa với các bà mẹ đơn thân. Hẳn nhiên có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan hình thành tình trạng hay kiểu sống của những bà mẹ đơn thân. Chúng ta không thể tiên thiên “đánh giá – xếp hạng” cho tình trạng sống này vì hình như mỗi hoàn cảnh đều mỗi vẻ khác nhau với nhiều nguyên nhân khác nhau. Thế nhưng phải nhìn nhận rằng đây là tình trạng “không bình thường” theo lẽ tự nhiên mặc dù đã từng có khi, có nơi trở thành một phong trào, một kiểu cách chọn lựa của nhiều phụ nữ thời hiện đại. Trái lại tình cảnh của người góa bụa dù là đàn ông hay đàn bà là chuyện thường tình của kiếp nhân sinh. Đã thề non hẹn biển trong duyên vợ chồng thì luôn mong được song hành cho đến khi đầu bạc răng long. Mong thì vẫn mong, nhưng được chết cùng ngày là điều thật hy hữu. Chuyện tái giá hay đi bước nữa khi người phối ngẫu đã qua đời là chuyện chẳng có gì sai trái, dù phía nữ giới có thể bị dị nghị cách nào đó, đặc biệt trong nhiều xã hội trước đây vốn đề cao đạo “tam tòng – tứ đức”. Dù xưa hay nay thì người ta vẫn trân trọng những mẫu đời “thờ chồng, nuôi con” hoặc tín trung với người bạn quá cố mà nguyện làm cảnh gà trống nuôi con. Chúng ta đừng quên đây là một trong những tiêu chí để chọn người vào hàng Giám Quản hay bậc trợ tá của Giáo Hội thời sơ khai (x.1Tim 3,1-13).

    Thủy chung với người bạn đời đang còn sống quả là một nỗ lực bền bỉ không chỉ trong tình yêu mà cả trong sự tiết chế. Chuyện “chả – nem” không riêng gì là chuyện của thời hôm nay mà đã có từ xưa, chỉ khác một điều là mức độ phổ biến, cho dù ai cũng thấy sự sai trái của nó và những hậu quả xấu xa mà nó di hại cho gia đình, cho con cái và cho cả xã hội. Chính vì thế, việc chung thủy với người bạn đời đã khuất càng được trân trọng gấp bội khi tự nguyện từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình vì yêu thương và muốn tín trung trọn vẹn với chỉ một người.

    1. Một tình yêu trao hiến đến cùng: Các nhà tâm lý cũng như các nhà đạo đức vốn đồng thuận với nhau về khái niệm yêu thương là một quá trình trao ban và đón nhận nhau. Yêu thương cách đích thực là tự nguyện trao ban điều tốt, điều tốt nhất của mình cho người mình yêu cách vô điều kiện và không tính toán, đồng thời cũng sẵn sàng đón nhận người mình yêu với tất những gì người ấy “là và có” một cách quảng đại, không so đo. Người ta thấy rõ hai động thái này trong đời hôn nhân. Đức Bênêđíctô XVI đã gọi đó là Eros và Agapê, hai chiều kích của tình yêu này xem ra phản ánh Tình Yêu Thiên Chúa cách rõ nét nhất (TĐ Thiên Chúa là Tình Yêu số 2). Với thời gian, qua các hình thức “mại dâm thánh” cùng với sự ích kỷ hưởng thụ của con người theo sự cám dỗ thần dữ thì chiều kích Eros (đón nhận) đã bị biến dạng, tha hóa. Từ đó chiều kích trao hiến (Agapê) đóng vai trò chủ yếu trong việc biểu lộ tình yêu đích thực.

    Với người góa bụa thì cái chiều kích đón nhận xem ra vẫn còn đó qua người con. Nhưng nó sẽ vơi dần theo thời gian khi đứa con đến lúc phải lìa cha mẹ mà luyến ái với người bạn đời (x.Mc 10,7). Cuộc đời của người góa bụa là một chuỗi trao ban, hiến dâng không ngơi nghỉ và ngày càng đến cùng. Chỉ còn chút bột và chút dầu để ăn bữa cuối cùng với đứa con, thế mà bà góa thành Xarépta đã không ngại ngần dâng trao cho ngôn sứ Êlia (x.1 V 17,7-16). Chúa Giêsu đã ngợi khen lòng quảng đại của một bà góa tại đền thờ Giêrusalem khi đã không ngại ngần dâng cúng vào Đền Thờ “ tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân bà” ( Mc 12,44; Lc 21,4 ).

    1. Một tâm hồn nghèo khó thực sự: Lời tung hô tin mừng trong Chúa Nhật này, Giáo Hội cho trích câu tin mừng của thánh Matthêu: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người góa bụa là một trong những người nghèo của Thiên Chúa, được Người ưu ái chăm sóc và bảo vệ. Xin đừng quên số người góa bụa trong các xã hội trước đây thì phụ nữ chiếm tuyệt đại đa số. Vì thế khi nói đến người góa bụa là người ta nghĩ ngay đến các bà góa. Một mình nuôi con mà bôn ba cuộc sống thì khó bì được với người ta vẹn đủa cả đôi, nhất là khi sinh kế thời bấy giờ dựa vào sức lao động của cơ bắp là chủ yếu. Do dó người ta không lạ gì khi hạn từ “góa” thường đi đôi với hạn từ “nghèo”. Những người góa bụa, cách riêng các phụ nữ góa chồng không chỉ nghèo về vật chất, của cải, bạc tiền mà họ còn nghèo khó cả về mặt tinh thần. Ngay cả trong thời kỳ gọi là hoàng kim của Giáo hội là thời Giáo hội sơ khai, khi mà những người trong tôn giáo mới này “không ai lấy sự gì làm của riêng, mọi sự đều là của chung” (x.Cvtđ 2,44; 4,32) thế mà các bà góa vẫn đã từng bị đối xử thiếu công bằng, bị bỏ quên (x.Cvtđ  6,1).

    Hồng ân Nước Trời là một ân ban trọng đại và nhưng không của Thiên Chúa. Không một ai có thể tự mình chiếm hữu ân ban ấy dựa vào khả năng và công trạng của mình. Chúa Giêsu đã mặc nhiên nói đến chân lý này khi khẳng định rằng người giàu có khó vào Nước Trời, khó hơn cả con lạc đà chui qua lỗ kim. Những gì mà người giàu  cho rằng có thể mua được bằng tiền bạc thì chắc chắn không phải là Nước Trời (x.Lc 18,24-27). Một tâm hồn nghèo khó thực sự thì sẽ có được sự tự do với các thực tại đời này để rồi biết gắn bó mật thiết với Thiên Chúa trong niềm tin. Và họ đã biết mở lòng để đón nhận Nước Trời như là ân ban.

    Qua một vài nghĩ suy về “tình góa”, không gì hơn, chỉ thầm mong số phận những người góa bụa được xã hội cũng như Giáo hội quan tâm chăm sóc bằng sự trân trọng như những người nghèo của Thiên Chúa, những con người rực sáng trong tình yêu thủy chung, tình yêu dâng hiến đến cùng.  Có thể nói không sợ sai lầm rằng cuộc đời của nhiều người góa bụa là một dẫn chứng cụ thể, giúp chúng ta biết thế nào là yêu, thế nào là tin.

    Về mục lục

    .

     

     

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Đnl 6, 2-6;  Dt 7, 23-28;  Mc 12, 28b-34

    ——-

    Mục lục

    1. .Mến Chúa yêu người (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Giới luật và Bí tích (Jorathe Nắng Tím)

    3. Điều răn trọng nhất (Lm. Thái Nguyên)

    4. Đừng đẩy Chúa vào một góc trong trái tim (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.TĐ)

    5. Điều cốt lõi  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    6. Mến Chúa yêu người- (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    7. Tóm về hai điều này mà nhớ (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    8. Chúa duy nhất, Luật bất biến  (Trầm Thiên Thu)

    9. Yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa  (Giuse Hoàng Thanh Phong, SJ)

    10. Hết cả trí khôn  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    11. Điều răn mới  (Lm. Vũ Đình Tường)

    12. Yêu mến  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    13. Mùa nào cũng yêu (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    14. “Mình với ta” tuy hai mà một (Lm. Giuse Trương Đình Hiền)

    15. Sống giới răn yêu thương  (Lm. Ngọc Dũng, SDB)

    16. Chỉ một đô-la (Lm. JB Nguyễn Minh Hùng)

     

    Mục lục

    1. Lời nói và việc làm (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Luật tối thượng  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Sống yêu thương giữa thế giới hận thù (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Luyện lòng nhân  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    5. Mến Chúa yêu người (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    6. Thể hiện tình yêu đối với Thiên Chúa qua việc phục vụ tha nhân (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    7. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

    8. Yêu thương  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    9. Suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    10. Tin mừng Chúa Nhật 31 (Jorathe Nắng Tím)

    11. Việc làm của đức tin là đức ái  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    12. Thực hành mến Chúa yêu người trong cuộc sống (Lm. Đan Vinh)

    13. Giới răn mến Chúa yêu người  (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    14. Mến Chúa yêu người. (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    15. Đạo yêu thương  (PM. Cao Huy Hoàng)

    16. Giới răn hàng đầu (JM. Lam Thy, ĐVD)

    17. Tình yêu Chúa (Lm. Vũ Đình Tường)

    18. Điệu lý yêu thương (Trầm Thiên Thu)

    19. Sống tốt sống đẹp  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    20. Giới răn trọng nhất  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    21. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 31 TN_B  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    22. Mến Chúa yêu người có dễ không? (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    23. Điều răn đứng hàng đầu trong Nước Thiên Chúa (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

    24. Quán quân (Lm. Thái Sơn)

    25. Mến Chúa yêu người, giới răn quan trọng nhất (Lm. Phê rô Nguyễn Văn Hương)

    26. Chúa Nhật 31 Thường Niên_B (Lm. Antôn)

    .

    .MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Khi nói đến giới răn hay huấn lệnh là nói đến sự bó buộc. Quả vậy, một huấn lệnh thường mang nội dung yêu cầu phải làm hoặc cấm làm một điều gì đó. Như thế, phải chăng kính mến Chúa là một điều buộc? Nếu coi việc kính mến Chúa là một điều buộc, thì chẳng còn phải là một tình yêu tự nguyện, mà khi không xuất phát từ tự nguyện, thì chẳng còn phải là tình yêu, hay có chăng thì đó chỉ là tình yêu gượng ép.

    Bài đọc thứ nhất (sách Đệ nhị Luật) và bài Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay nói với chúng ta về các huấn lệnh. Trong số các huấn lệnh của Thiên Chúa thời Cựu ước, ông Môisen đã nhấn mạnh tới một lệnh truyền căn bản: “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái, cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài”. Những lời trên đây thực ra không phải là một điều áp đặt. Đây là những lời đề nghị hay một lời mời gọi, kèm theo lời hứa cho một tương lai tốt lành. Người tin Chúa không bị ép buộc, nhưng khôn ngoan suy nghĩ để lựa chọn và quyết định: nếu yêu mến Chúa và tôn kính Ngài, thì họ sẽ được Chúa chúc lành cho trong mọi ngày của đời sống dương thế, được trường thọ và hạnh phúc. Tác giả Thánh vịnh 17 (Phần Đáp ca) cũng diễn tả lý do yêu mến Chúa, là vì Ngài là sơn động cho ta trú ẩn. Ngài là đá tảng, là chiến luỹ và là vị cứu tinh đối với những ai cậy trông phó thác nơi Ngài.

    Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em”. Qua những lời này, ông Môisen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật. Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng mép, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6). Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau. Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn. Đối với người Kitô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

    Thực ra mến Chúa yêu người không phải là hai giới răn tách biệt, nhưng là một giới răn duy nhất, như hai mặt của một tấm huy chương. Lòng mến Chúa phải được chứng minh bằng việc yêu người. Tình mến mọi người phải được dựa trên nền tảng lòng mến Chúa, vì đó là lòng mến vô vị lợi, không dựa trên những tiêu chuẩn trần gian, không phân biệt và không biên giới. Thánh Gioan đã khẳng định với chúng ta: ai nói mến Chúa mà không thực hành đức thương yêu với tha nhân thì là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người nhìn thấy mà họ không thương yêu, thì làm sao họ mến Đấng mà họ không nhìn thấy?  (x. 1 Ga 4,20).

    Người tín hữu có một mẫu gương về lòng mến hoàn hảo, đó là Đức Giêsu Kitô. Người là vị tư tế thánh thiện, vô tội tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời. Trên cây thập giá Đức Giêsu đã minh chứng tình mến đối với Chúa Cha và tình mến đối với nhân loại. Tác giả thư gửi tín hữu Hípri đã chứng minh Chúa Giêsu là vị tư tế tối cao. Ngày hôm nay, vị Tư tế đó vẫn đang chuyển cầu cho chúng ta (Bài đọc II).

     “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng”. Đây là lời kinh mà những người Do Thái đạo đức phải tụng mỗi ngày, để rồi lời ấy vang lên trong mọi giây phút của cuộc sống. Lời ấy cũng là động lực chi phối mọi lời nói, hành vi và ý tưởng của những ai muốn tuân giữ lề luật. Đây cũng là câu Lời Chúa được chọn để đọc trong giờ Kinh Phụng vụ vào tối thứ Bảy hằng tuần. Xin cho lời kinh ấy luôn vang vọng trong tâm trí và cuộc đời chúng ta, để khởi đi từ lòng mến Chúa, chúng ta sẽ thực thi đức yêu người.

    Hôm nay là ngày vọng lễ Các Thánh. Các thánh là những người mến Chúa yêu người. Các ngài đã trải qua nhiều gian nan thử thách, nhưng vẫn một lòng tín trung. Có nhiều vị thà hy sinh mạng sống còn hơn là bỏ Đạo. Có nhiều vị chấp nhận một cuộc sống trầm lặng trong suy tư cầu nguyện. Có nhiều vị thánh đã trải qua một cuộc sống rất đơn sơ bình dị, như một người cha, một người mẹ trong gia đình, một công dân của xã hội, một người phong lưu hoặc một người nghèo khó. Tất cả các thánh đều có một điểm chung: đó là lòng mến Chúa yêu người. Thánh Phaolô đã khẳng định: Ai yêu thương, thì đã chu toàn lề luật (Rm 13,8b). Nên thánh chính là thực thi giới răn mến Chúa yêu người.

    Lạy Chúa là nguồn mạch sự thánh thiện, xin che chở nâng đỡ chúng con trong hành trình cuộc đời, cũng là hành trình nên thánh. Amen.

    Về mục lục

    GIỚI LUẬT VÀ BÍ TÍCH

    Jorathe Nắng Tím

    Khi sai các môn đệ đi truyền giáo, Đức Giêsu không chỉ ban một lệnh truyền mang tính luân lý khi phán: Dạy bảo họ  “tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền” nhưng còn ban chính mình như Bí Tích Tình Yêu khi dặn dò: “Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần…  Và Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19.20).

    Lệnh truyền Đức Giêsu ban là “Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”, và “yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12,29.30).

    Thánh Gioan quảng diễn giới luật yêu thương này trong thư của Ngài: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa”, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. Vậy “ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 20.21).

    Nhưng nếu dừng lại ở phạm trù giới luật, thì Tình Yêu sẽ chỉ là đòi hỏi của luân lý, và thuần túy là nghĩa vụ của con người tự nhiên, như chúng ta thường nói: “làm người thì phải ăn ngay ở lành”. Và vì là đòi hỏi nền tảng của con người tự nhiên, nên các tôn giáo đều có chung đòi hỏi tín đồ, giáo hữu phải sống giới luật “làm người ngay lành, lương thiện”. Đây là lý do đã dẫn đến kết luận : đạo nào cũng như đạo nào, vì tất cả đều dậy ăn ngay ở lành.

    Đức Giêsu đã truyền dạy giới luật tình yêu, nhưng giới luật Ngài ban không bắt nguồn từ bản tính con người, nhưng từ Ngài; không lớn lên nhờ có gắng sống tốt của con người, nhưng nhờ sức sống của chính Ngài. Và để thực hiện điều này, nghiã là “nâng tầm” giới luật lên hàng bí tích, nâng đòi hỏi luân lý lên hàng siêu nhiên, nâng việc làm tự nhiên lên hàng thánh thiêng, Đức Giêsu đã sai các môn đệ “đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28, 19).

    Làm phép rửa cho muôn dân là làm cho muôn dân đi vào đời sống bí tích, nghĩa là làm cho mọi người đi vào hiệp thông, hiệp nhất với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, như Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân – Lumen Gentium của Công Đồng Vaticanô II đã khẳng định về yếu tính của Giáo Hội: “Giáo Hội ở trong Đức Kitô như bí tích hoặc dấu chí và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể” (LG 1) – Bản dịch Việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X).

    Tại sao Phép Rửa như bí tích của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và với nhân loại?

    Thưa, vì Bí Tích Rửa Tội ban cho chúng ta ơn trở nên con Thiên Chúa. Được rửa tội trong Đức Giêsu, tức là “được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Giêsu”. Và được dìm vào nước thanh tẩy chính là “được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đuợc sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6, 3-4). Đời sống mới ấy là  đời sống làm con Thiên Chúa, nên khi chịu phép rửa,  Chúa Cha cũng  nói với mỗi người chúng ta như đã nói với Đức Giêsu, khi Ngài chịu phép rửa ở sông Giođan: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22).

    Bí tích Rửa Tội như thế đã làm cho chúng ta trở nên con Thiên Chúa, mà đã là con thì yêu mến, hiếu thảo với Cha không còn là bổn phận nhưng là niềm hạnh phúc, nỗi khát khao.

    Bí tích Rửa Tội không chỉ làm cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, nhưng cùng lúc cho chúng ta trở nên anh em với mọi người. Đây là điểm chúng ta dễ lãng quên, vì không mấy quan tâm, trong khi lại là điều Đức Giêsu không ngừng nhấn mạnh và nhắc nhở trong Tin Mừng. Do đó, tình yêu dành cho Thiên Chúa sẽ chỉ có giá trị và ý nghĩa nếu chúng ta cũng yêu thương anh chị em mình, như hạnh phúc chúng ta khao khát tìm kiếm, mà không như một lề luật nặng nề, trói buộc.

    Như kinh sư trong Tin Mừng hôm nay đã được Đức Giêsu  khuyến khích: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu” (Mc 12,34),  xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để yêu mến Chúa và yêu mến mọi người, mà hành động yêu mến cao quý, đẹp lòng Chúa hơn cả chính là “dâng lễ tế hy sinh, trước là đền tội của mình”, để tỏ lòng yêu mến Chúa, và “sau là để đền thay cho người khác” (Dt 7,27), để thực hiện ước muốn yêu thương, phục vụ tha nhân như Chúa dạy.

    Về mục lục

    ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Đức Giêsu đã tóm Luật Môsê trong động từ yêu mến. Trước tiên là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực, vì Ngài là căn cội và cùng đích của đời sống con người. Tình yêu không thể nài ép mà là nhận ra và đáp trả. Chính sự đáp trả này làm cho con người là người, là con cái của Thiên Chúa và là anh em với nhau. Vì vậy, điều răn đứng đầu gắn liền với điều răn thứ hai:“Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”. Chính trong Chúa, ta nhận ra phẩm giá đích thực của một con người, dù đó là một thai nhi, một phạm nhân hay người mất trí. Chỉ trong Chúa, ta mới yêu thương đến cùng, vì nhận ra mỗi người là hình ảnh của Ðức Kitô đang sống.

    Có một người kia sau khi ăn chay 70 tuần, thì xin Chúa cho mình hiểu ý nghĩa vài câu trong Kinh Thánh, nhưng Chúa không trả lời. Cuối cùng, người đó phải tìm đến với người anh em để xin giải thích. Khi người đó lên đường, Chúa gửi một thiên thần xuống nhắn nhủ rằng:“Bảy mươi tuần ăn chay của con cũng không làm cho con đến gần Chúa. Nhưng bây giờ con có lòng khiêm tốn đến với người anh em, nên ta được Chúa gởi đến để nói cho con ý nghĩa các lời thánh”.

    Nhân danh lòng tin vào Chúa mà không mở lòng mình ra với tha nhân, phải chăng là một thứ kiêu ngạo thiêng liêng? Đó không phải là tin vào Chúa mà là tin vào sự thánh thiện của mình. Tiếng nói của Chúa trong ta không phải là tiếng nói duy nhất của Ngài, mà Ngài còn nói với ta qua sự khôn ngoan và nhãn quan thiêng liêng của người khác. Ta cần mở lòng ra để đón nhận những tư duy mới, các khả năng mới như một cách thức của Lời Chúa. Khép kín với bất cứ một cái gì, hay bất cứ ai, là khép kín khả năng có thể tái sinh chính mình.

    Luật thánh Bênêđictô dạy, khi có ai gõ cửa thì phải nói: “Benedicite”, có nghĩa sâu xa rằng: cảm tạ Chúa vì có người đến làm phong phú lương tri của con, chỉ dẫn con cách suy nghĩ, cách sống, và làm cho con vượt ra khỏi thế giới chật hẹp của mình. Mỗi ngày ta cần mở lòng để đón tiếp một kinh nghiệm mới, một tư duy mới, một cái gì đó nơi người khác để khai sáng trí não mình.

    Cũng có một giai thoại khác kể rằng, đêm nọ xuyên qua cửa sổ, một tu sĩ già bỗng nhìn thấy thiên thần đang ngồi ghi tên những ai yêu mến Chúa vào cuốn sách vàng. Ông hỏi thử xem có tên mình không. Thiên thần giở ra nhưng không thấy. Ông nài nỉ thiên thần: “Xin Ngài ghi tên tôi là người lúc nào cũng yêu mến tha nhân”. Thiên thần cũng chiều ý ông, thế là tên ông được ghi vào sổ vàng. Tối hôm sau, giữa ánh trăng sáng, thiên thần lại hiện ra và mở cuốn sổ vàng cho vị tu sĩ xem. Lần này, ông thấy tên của mình dẫn đầu trong danh sách những người yêu mến Chúa. Sau khi vị tu sĩ già qua đời, các anh em trong tu viện xem lại nhật ký của ông, thấy câu đầu tiên là câu trích dẫn từ thư 1Ga 4, 20: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. Tiếp theo, ông ghi chú như sau: “Tôi đi tìm kiếm linh hồn tôi, nhưng tôi không thấy. Tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vượt khỏi tầm tay tôi. Tôi đi tìm người anh em tôi, tôi đã gặp Chúa và linh hồn tôi”.

    Ta không thể gặp gỡ và yêu mến Thiên Chúa trong tâm tưởng hay trong ước muốn, mà là nơi chính tha nhân, nơi những hành động cụ thể trong những tương quan hằng ngày. Thiên Chúa và tha nhân hòa hợp làm một trong cõi lòng ta. Ta yêu tha nhân trong Chúa, và yêu Chúa nơi tha nhân. Cầu nguyện là đặt mình trong Chúa để có thể yêu tha nhân như chính mình. Tình yêu với Thiên Chúa đưa ta vào cuộc sống với anh em. Tình yêu thương anh em đòi ta chìm sâu trong Thiên Chúa, để kín múc nguồn sinh lực hầu tiếp tục hiến trao. Cuối cùng tình yêu ấy lại quay trở về với Thiên Chúa như cùng đích tối hậu của nó, và như vậy phát sinh sự “hợp nhất” toàn hảo, mà Đức Kitô đã ao ước thực hiện giữa Thiên Chúa với chính Ngài và các kẻ tin (Ga 17, 21). Đẹp biết bao vương quốc của Thiên Chúa, nơi chỉ có tình yêu chiếu rạng ngời, dành cho tất cả những ai đã một đời phấn đấu để hiến dâng.

    Cầu nguyện

    Lạy Chúa Giêsu!
    Yêu Chúa lúc bình thường thì không khó,
    nhưng yêu khi đời sóng gió thì không dễ,
    nhất là khi gặp khốn khó ê chề,
    khi sa cơ thất thế trở về tay không.

    Nhưng con vẫn cứ cậy trông và hy vọng,
    vì tin Chúa hằng khơi sâu mở rộng,
    bằng ân ban và sự sống của Ngài.

    Yêu mến Chúa xem ra là điều dễ,
    vì dù sao Ngài cũng vẫn là tình yêu,
    yêu tha nhân như chính mình mới khó,
    nhất là khi bị phủ nhận khinh chê,
    khi bị xử bất công, loại trừ và thay thế,
    đó là những lúc con đau buồn vô kể,
    nỗi thù hằn như khống chế tim con.

    Nhưng khi bình tâm suy nghĩ lại,
    con thấy những tổn thương cũng rất cần,
    để con có kinh nghiệm sống tình thân,
    vì nhiều lần con cũng xử vô nhân.

    Tình yêu luôn mang tính hỗ tương,
    cả trong đau thương và hạnh phúc,
    nên yêu thương mà không chịu đau thương,
    thì cuộc đời con quả là ảo tưởng.

    Chúa đã sống tất cả mọi tình trường,
    muốn cho con nhìn ngắm để noi gương,
    trong an vui khiêm nhường mà tiến bước,
    vì đời con là nhân chứng của tình thương.

    Xin cho con sống con người mới,
    bằng tình yêu mà Chúa đã gọi mời,
    để bừng lên ánh sáng ở mọi nơi,
    là tình yêu hợp nhất đến muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    ĐỪNG ĐẨY CHÚA VÀO MỘT GÓC TRONG TRÁI TIM

    Bông hồng nhỏ

    Để vào được Nước Thiên Chúa, chúng ta cần phải làm gì? Hôm nay, Thầy Giêsu dạy chúng ta cần phải sống hai điều cốt yếu, đó là sống hai điều răn đứng đầu: Mến Chúa và yêu người. Khi có một người kinh sư lên tiếng hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12, 29), Người đã dõng dạc tuyên bố: “Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12,30-31). Người kinh sư đã tấm tắc khen điều Thầy dạy thật hay và chí lý. Người bảo ông ta: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12, 34).

    Trên một chuyến xe, một nhà thơ hỏi các anh chị em đi cùng: “Theo các bạn, để tốt nghiệp trường của Thầy Giêsu, chúng ta cần đạt mấy điểm? Mỗi người trả lời theo cách hiểu của mình. Bấy giờ, nhà thơ trả lời: “Chúng ta chỉ cần đạt hai điểm thôi, đó là mến Chúa và yêu người”. Cả xe bỗng rơi vào thinh lặng trước câu trả lời của nhà thơ. Có lẽ ai cũng đang trở về lòng mình, lắng nghe tiếng vọng của trái tim.

    Từ tấm bé, ta đã được học kinh Mười Điều Răn, và Mười Điều Răn ấy tóm về hai điều này là mến Chúa và yêu người. Ta đọc lời kinh đọc trên môi miệng hằng ngày, tâm trí hiểu điều Chúa dạy nhưng nhìn thật sâu vào lòng, ta nhận ra mình chưa yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn; chưa yêu người thân cận như chính mình. Sống lời Chúa là một thách đố, bởi Lời Chúa luôn đặt ta trong những chọn lựa: chọn chấp nhận bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Chúa hay chọn chiều theo ý muốn của bản thân; nghĩa là chọn đi trên con đường hẹp dẫn đến sự sống hay chọn đi trên con đường thênh thang, đường đưa tới chỗ diệt vong. Mỗi lần chọn bước đi trên đường hẹp, ta thấy mình được lớn lên trong tình yêu, trái tim của ta được triển nở và mở rộng hơn để đến với người khác. Mỗi lần ta vượt qua được một chướng ngại, bỏ đi được một rào cản trong suy nghĩ, thay đổi cách hành xử với người khác, ta đã biết dùng tình yêu thương để đến với họ. Thế nhưng, cũng không ít lần, ta không yêu người khác như Chúa mời gọi, bởi vì ta chưa để Chúa làm chủ đời sống và con người mình. Thánh nữ Têrêsa Giêsu đã từng nói rằng, ta không thể chắc chắn việc mình yêu Chúa nhưng ta có thể biết chắc mình có yêu anh chị em hay không. Thánh Gioan Tông đồ cũng khẳng định rằng, ai nói mình yêu mến Chúa mà không yêu thương người anh chị em bên cạnh mình, đó là kẻ nói dối. Hiểu lời Chúa dạy là một hồng ân Chúa ban, ta hãy xin ơn biết sống lời Chúa dạy trong từng ngày. Bởi, việc sống lời kinh ấy cần phải được diễn tả từ trong suy nghĩ đến hành động. Nếu ta luôn để cho lời của Chúa vang lên trong lòng, ta sẽ nuôi dưỡng ước muốn sống lời của Chúa. Khi ta suy nghĩ tích cực về người khác, ta sẽ dễ yêu thương họ hơn. Khi tâm trí ta luôn quy hướng về Chúa, ta sẽ sống trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, Người sẽ ban ơn trợ lực giúp ta có đủ sức mạnh để sống yêu thương.

    Mỗi lần tham dự thánh lễ, ta được đón Chúa Giêsu Thánh Thể ngự vào lòng, ta mang Chúa đến với những người khác, ta trở nên một món quà tuyệt vời cho người khác, vì món quà ấy là chính Chúa Giêsu đang sống trong ta. Hãy nhìn lại nhé, lần đầu được rước lễ, ta đã làm gì? Ta đã rất hạnh phúc và bằng sự đơn sơ, ta trở về nhà với ý nghĩ tôi đang mang theo Chúa Giêsu trong lòng. Gặp ai ta cũng thấy họ thật dễ thương, ta cố gắng sống thật hiếu thảo, thật dễ thương với tất cả mọi người. Nhìn ai, ta cũng thấy nụ cười của Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu đang ở cùng ta. Người làm cho ánh mắt ta nên trong sáng hơn, để ta sống với mọi người bằng cả trái tim. Thời gian dần trôi, tâm trí ta đã dành chỗ cho nhiều điều khác ngoài Chúa: học vấn, của cải, danh vọng, … Cái tôi của ta cũng được nuôi lớn tự bao giờ! Ta cũng đón rước Chúa nhưng dường như ta loay hoay bận tâm đến chính bản thân ta thật nhiều và quên mất Chúa đã ở trong ta. Đức Thánh cha Phanxicô đã từng nói trong một bài giảng của mình rằng: chúng ta đã đẩy Chúa vào một góc của trái tim. Thật đúng như thế, đã bao lần ta đã đẩy Chúa vào một góc của trái tim và chỉ sống điều mình muốn và rồi ta đau đớn. Cuộc sống của ta không phải để sống theo bản năng là làm điều mình muốn và muốn điều tốt nhất cho mình theo lẽ tự nhiên nhưng là dành điều tốt nhất cho Chúa, chỗ duy nhất cho Chúa: “Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” Hãy quay lại con đường hẹp, trở về với Chúa để thấy mình cần Chúa biết bao. Sống Lời Chúa thật khó nếu như ta không đủ khiêm tốn bỏ mình để trở về bên Chúa, nhưng bằng sự khiêm tốn và với sức mạnh tình yêu của Chúa, mọi sự ta làm trong tình yêu lại trở nên thật đơn giản.

    Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã yêu con và không ngừng dạy con biết sống mến Chúa và yêu người. Chúa đã chỉ cho con thấy tình trạng tội lỗi của mình. Chúa vẫn yêu con, dù con đã bao lần đẩy Chúa vào một góc của trái tim và quên lãng Chúa. Xin Chúa thứ tha và xót thương con, cùng khơi lên trong con ngọn lửa yêu mến Chúa và giúp con sống lời Chúa dạy. Amen.

    Về mục lục

    ĐIỀU CỐT LÕI

    Thiên San

    “Điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây, hỡi Itraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.” (Mc 12, 29-31). Đó là câu trả lời của Đức Giêsu dành cho ông kinh sư cũng như cho mỗi người chúng ta. Hai điều răn ấy làm nên điều cốt lõi của đạo Chúa – đạo yêu thương.

    Muôn vàn lề luật được đặt ra nhằm phục vụ lợi ích, hạnh phúc cho con người. Có những lề luật giúp con người hướng đến Thiên Chúa, cũng có những lề luật giúp con người hướng đến tha nhân, đến chính mình và đến tạo vật, môi trường. Trong muôn vàn lề luật ấy, có một thứ luật được gọi là cốt lõi, là tâm điểm, là điều quan trọng nhất: mến Chúa yêu người. Thật vậy, luật được đặt ra là để cho con người, nhắm đến con người. Trong điều răn mến Chúa, con người được mời gọi dành cho Thiên Chúa một chỗ đứng quan trọng nhất, cao cả nhất trong cuộc đời mình đến độ ta phải yêu mến Người hết lòng, hết cả linh hồn, trí khôn, và sức lực của ta. Thực ra, Thiên Chúa không cần đến lời ca tụng của chúng ta nhưng chính việc yêu mến, tôn thờ, ca tụng của ta mang lại ích lớn lao cho chúng ta như lời kinh tiền tụng trong Thánh lễ có nói.

    Đức Giêsu không dừng lại ở chính mình nhưng Ngài còn mời gọi chúng ta hãy yêu thương tha nhân như chính mình. Đây là điều răn không kém phần quan trọng. Có thể nói, điều răn này là cửa ngõ giúp chúng ta tiến vào tương quan với Thiên Chúa cách cụ thể và sâu sắc hơn. Như thánh Gioan Tông đồ đã từng khẳng định: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4, 20). Lại nữa, vì mỗi người là hình ảnh sống động của Thiên Chúa. Khi yêu mến tha nhân là ta đang yêu mến Thiên Chúa. Đức Giêsu mời gọi chúng ta “yêu người thân cận như chính mình”. “Như chính mình” nghĩ là yêu mình thế nào thì yêu tha nhân làm vậy. Nhưng có một bài toán tương đối khó đó là chúng ta phải biết yêu thương mình đúng cách để có thể yêu thương tha nhân đúng cách.

    Để giải quyết bài toán “yêu tha nhân như chính mình”, chúng ta hãy hướng tình yêu của mình về Thiên Chúa. Nghĩa là ta yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa dạy và nhất là yêu thương nhau như chính Chúa đã yêu thương chúng ta. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34 ). Chỉ khi nào thực sự cảm nhận, đụng chạm đến tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, thấy Ngài yêu ta như thế nào thì ta mới có thể họa lại cách yêu của Chúa. Khi yêu mến Thiên Chúa, chúng ta học được cách để yêu thương chính mình và yêu thương tha nhân. Bởi đó, không thể nói yêu mến Thiên Chúa mà lại không yêu mến tha nhân. Mến Chúa yêu người luôn đi đôi, không tách rời. Đó là hai bàn chân của ta trong cuộc đời. Để bước đi trọn vẹn trên đường đời, ta cần cả hai chân, nhấc từng chân một, chân này làm điểm tựa cho chân kia. “Chân mến Chúa” và “chân yêu người” giúp ta nên con cái Chúa. Nếu muốn bước đi, chúng ta hãy sống hai giới răn trọng nhất này. Đó là điều cốt lõi của đạo Chúa – đạo yêu thương.

    Về mục lục

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI-

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Người Do thái có 613 điều luật ghi trong sách Luật Do thái, trong đó 365 điều luật cấm và 248 điều luật truyền làm, chưa kể các điều luật phụ nữa. Vị tiến sĩ luật này đã biết các điều trên được chia thành hai vế trọng luật và khinh luật. Phạm khinh luật thì chịu phạt đền tội, nhưng phạm trọng luật như giết người, thờ tà thần, gian dâm… thì bị tử hình. Vì là tiến sĩ luật, hiển nhiên ông biết rõ mỗi nhóm thích giữ một điều luật và cho rằng điều ấy đối với họ là quan trọng hơn cả, có thể Chúa Giêsu đưa ra điều này trọng đối với nhóm này nhưng lại thường đối với nhóm kia, đó là lý do ông đặt ra câu hỏi với Chúa Giêsu hòng nắm chắc phần thắng về mình: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất ?”

    1. Hai Điều răn

    Thật không dễ để trả lời. Nếu Chúa trả lời điều này trọng, điều luật kia không trọng thì thế nào Người cũng bị qui lỗi  là về phe nhóm này, chống nhóm kia, và như vậy Người sẽ mắc bẫy của họ.

    Chúa Giêsu là Thiên Chúa thấu hiểu lòng người, nhưng Chúa vẫn trả lời. Chúng ta cũng cám ơn vị tiến sĩ luật này đã hỏi thử Chúa để chúng ta có được chỉ dẫn rõ ràng, xác thực về thứ tự các giới răn.

    Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” (Mc 12). Câu luật này trích trong sách Đệ nhị luật 6,5 có đổi một chút, thay vì “hết sức” thì Chúa nói là “hết trí khôn”. Song cốt yếu không có gì đổi.

    Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: “ Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi” (Mt 22, 39). Luật này trích ở sách Lêvi 19,18 có khác ở chỗ thay vì yêu kẻ khác thì yêu đồng loại: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình”.

    2. Ba đối tượng yêu thương

    Chúa Giêsu kết luận: “Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó” (Mt 22, 38). Điều răn thì có: thứ nhất mến Chúa, thứ hai yêu người, nhưng gồm ba đối tượng yêu thương: Thiên Chúa, kẻ khác và bản thân.

    Đối tượng thứ nhất là Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất” (Mt 22, 37-38).

    Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta nhiều điều, bởi “yêu mến là chu toàn cả Lề luật” (Rm 13, 10). Nhưng tình yêu có hai vế: Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương kẻ khác… Khi dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa, Chúa đòi hỏi chúng ta phải yêu hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Còn yêu thương kẻ khác, Chúa Giêsu không bảo ta phải yêu hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn; nhưng “yêu kẻ khác như chính mình. Tại sao vậy? Vì Thiên Chúa “là dũng lực, là Đá Tảng, chiến luỹ, cứu tinh, là sơn động, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù chúng ta “ (x. Tv 17, 2-3), nên chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa không những hết, mà còn trên hết mọi sự, hơn cả chính mình, vì theo lời Chúa Giêsu thì: “Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất” (Mt 22, 38).

    Đối tượng thứ hai là “kẻ khác” Chúa phán: “Giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi” (Mt 22, 39).

    Theo quan niệm của Người Do thái lúc bấy giờ thì “tha nhân” là những người đồng chủng, đồng hương, đồng xứ (x. Lv 19, 18).  Còn “kẻ khác” được hiểu là hết mọi người, (x. Mt 25, 40). Khi Chúa Giêsu bảo người thông luật “hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi“, Người có ý dạy phải thương yêu mọi người chứ không giới hạn trong những người đồng hương với nhau (Mt 25, 40), không những thế mà lại còn phải yêu thương cả địch thù nữa (Mt 5, 43), và yêu như thế nào? “Yêu như chính mình ngươi”.

    Chúa có truyền dạy chúng ta yêu chính mình không? Thưa: Thiên Chúa xét thấy không cần buộc con người phải yêu chính mình, vì không ai ghét mình bao giờ. Nhưng cũng có nhiều người tự đánh mất mình khi yêu mến sự ác. Chúa dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết lòng, Người truyền cho chúng ta giới luật phải yêu chính mình. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng muốn yêu mình. Thiên Chúa là Tình Yêu, chúng ta là kẻ có tình yêu. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dành cho chúng ta một tình yêu khác với chúng ta nghĩ. Tình yêu ấy nuôi dưỡng và củng cố các mối quan hệ của tình yêu chúng ta dành cho bản thân và kẻ khác. Trong thực tế, chúng ta phải yêu bản thân mình trong tình yêu Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, và chúng ta có thể bước vào trong tình yêu. Vậy, hãy yêu mến Thiên Chúa hết mình, thì trong Thiên Chúa chúng ta sẽ tìm được chính mình, và tránh được nguy cơ tự đánh mất mình. Nên, theo nguyên tắc, ta yêu kẻ khác như chính mình, yêu Thiên Chúa hết mình và yêu chính mình.

    3. Yêu kẻ khác như chính mình

    Khi truyền dạy “Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình”, Chúa Giêsu như đặt một tấm gương để tự chúng ta soi xem mình có yêu “kẻ khác” hay không? Chúa Giêsu xem tình yêu ” kẻ khác ” như “mệnh lệnh của Người,” mệnh lệnh tóm tắt toàn thể lề luật. “Đây là mệnh lệnh của Thầy, là anh em hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15, 12). Nhiều người có khi đồng hóa toàn thể Kitô giáo với luật yêu người.

    Chúng ta cố gắng đi xa hơn một chút bề mặt của sự việc. Khi nói về tình yêu kẻ khác, người ta nghĩ ngay tới những “việc làm” như bác ái, hay “phải làm” cho kẻ khác như: cho họ ăn, uống, thăm viếng họ, nói tóm tắt là giúp đỡ kẻ khác. Nhưng đó là kết quả của tình yêu, chứ chưa phải là tình yêu. Lòng từ tâm tới trước sự làm phúc. Trước khi làm phúc, người ta phải muốn làm phúc.

    Thánh Phaolô nói rõ: Đức bác ái phải là “không giả vờ,” tức là, phải chân thật, nghĩa đen, “không giả hình,” (Rm 12, 9); người ta phải yêu “với một con tim trong sạch” (1 Pr 1, 22). Trên thực tế, người ta có thể làm việc bác ái và bố thí vì nhiều lý do không dính líu gì với tình yêu: tô điểm chính mình, để ra vẻ là một người làm điều thiện, được lên thiên đàng, và có khi để trấn an một lương tâm xấu.

    “Như chính mình” Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh người được yêu đồng hóa với người yêu, vì vậy, phải yêu thương kẻ khác bằng chính tình yêu đối với bản thân, nhưng tiên vàn phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Amen.

    Về mục lục

    TÓM VỀ HAI ĐIỀU NÀY MÀ NHỚ

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Kinh Mười Điều Răn có câu kết: “Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: Trước kính mến một Thiên Chúa trên hết mọi sự; Sau lại yêu người như mình ta vậy.Amen“.

    Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc trao đổi giữa nhóm tiến sĩ luật và Chúa Giêsu về hai điều răn trong Cựu Ước như sau:

    Khi một người thông luật hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?”. Chúa Giêsu trả lời: “Giới răn quan trọng nhất chính là: Thiên Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn ấy”. Ông kinh sư hoàn toàn đồng ý với Người và còn thêm lời bình: “Đó là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Chúa Giêsu được một lần sảng khoái vì gặp một ông kinh sư thân thiện với mình, Người khích lệ: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”. Tại sao lại không còn xa? Bởi vì, Nước Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu đang ở trước mặt ông!

    Chúa Giêsu kết hợp hai điều răn trong Cựu Ước (Đnl 6,4-5 và Lv 19,18) thành một điều răn duy nhất là Yêu Thương. Chúa Giêsu đã nối kết giới răn mến Chúa trong kinh Shema ở sách Đệ nhị luật với giới răn yêu thương người thân cận trong sách Lêvi.Cái độc đáo trong câu trả lời của Chúa Giêsu chính là sự liên kết chặt chẽ hai giới luật này với nhau.

    “Mến Chúa, yêu người” là nét độc đáo nhất của Kitô giáo. Hai giới luật tạo thành một toàn thể bất khả phân ly và là hai nguyên lý nền tảng của tất cả đạo đức học. Tin Mừng của Chúa Giêsu muốn loan truyền đến mọi người là tình yêu thương. Khi công bố giới luật yêu thương, Chúa Giêsu cũng nêu gương thực hiện giới luật ấy để chúng ta thấy sáng lên tình yêu cứu độ và gặp được những điểm nhấn mà bắt chước thực hành.

    1. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.

    Thiên Chúa là chủ tể trời đất. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống và là cùng đích của muôn loài muôn vật.

    Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả con cái. Cho nên người tín hữu yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Thiên Chúa là quan trọng nhất của con người.

    Thực tế ở đời có rất nhiều điều quan trọng, tuỳ ở hoàn cảnh và tuỳ ở từng người. Nhưng nếu điều gì cũng quan trọng nhất thì cuối cùng chẳng có gì là nhất cả, mọi sự đều tương đối. Mọi sự đều tương đối, nhưng mọi sự đều quan trọng, kể cả niềm tin tôn giáo, kể cả Chúa. Đó là não trạng của con người thời nay, là cám dỗ của thời đại.

    Người tin Chúa và theo Chúa, cũng có người nghĩ như vậy: tiền quan trọng, mà Chúa cũng quan trọng. Có những người khá hơn, trên lý thuyết vẫn cho Chúa là quan trọng nhất, nhưng trong thực tế có những lúc tiền bạc, tình yêu và thành công ở đời cũng quan trọng như Chúa.

    Nhiều người nghĩ rằng ở thế gian này không có gì là duy nhất, kể cả những điều loài người thường cho là cao quý như là chân thiện mỹ chẳng hạn. Có những điều đối với người này là chân lý, đối với người kia lại là sai lầm; đối với người này là tốt, đối người kia là không; đối với một số người là đẹp, đối với những người khác là xấu. Không có gì tuyệt đối ở trần gian. Cám dỗ tương đối hoá mọi sự là cám dỗ lớn nhất của thời đại chúng ta. Cám dỗ này rất nguy hiểm. Dễ sa ngã vì con người không muốn bị ràng buộc và hướng chiều về hưởng thụ.

    Thế gian không có gì là duy nhất, không có gì là tuyệt đối.

    Thiên Chúa là Siêu Việt, là Vĩnh Hằng. Mọi sự đều qua đi. Chỉ có Chúa mới là quan trọng nhất, chỉ có Chúa mới là Tuyệt Đối. Do đó chúng ta được mời gọi yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực của mình.

    Chúa Giêsu đã lập lại lời kêu gọi đó, khi trả lời cho người thông luật muốn hỏi trong các giới răn điều nào quan trọng nhất. Yêu mến Thiên Chúa là điều quan trọng nhất.

    1. Yêu tha nhân như chính mình.

    Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.Thánh Gioan quả quyết: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là một kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng mà họ không thấy” (1Ga 4,20); “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn ở trong bóng tối”(1Ga 2,9).

    Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

    Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.

    Lề luật của Chúa cô đọng trong một thái độ là yêu mến.Giữ luật mà quên yêu mến có thể dẫn đến óc nệ luật.Giữ luật phải trở nên phương thế để bày tỏ tình yêu. Vì “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

    1. Việc làm của Đức tinlà Đức ái.

    Thánh Giacôbê nói một câu bất hủ: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). “Việc làm” mà Thánh Tông Đồ nói đến là thực hành bác ái. Thánh Phaolô ca ngợi đức mến: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13,1).

    Đức tin và Đức mến liên hệ mật thiết với nhau.

    Đức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Đức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình thương của chúng ta. “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40) : những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. Đó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc sống. Được đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, trong đó có công lý cư ngụ” (2 Pr 3,13 ; x. Kh 21,1). (x.Porta Fidei, Số 14).

    Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN nói về mối liên hệ đức tin và đức mến: Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Số 7).

    Dưới ánh sáng Lời Chúa Giêsu, tình yêu là mực thước đức tin, và đức tin là linh hồn của tình yêu. Chúng ta không còn có thể tách biệt đời sống tôn giáo ra khỏi việc phục vụ anh em, những người anh em cụ thể mà chúng ta gặp. Chúng ta không còn có thể tách biệt kinh nguyện, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong các bí tích, khỏi sự lắng nghe tha nhân, gần gũi cuộc sống của họ, nhất là những vết thương của họ.

    Luật mới của Chúa Giêsu chính là mức độ hoàn hảo nhất của Mười Điều Răn. Đoạn cuối của kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai nầy mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.”

    Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con: mến Chúa yêu người là điều răn quan trọng nhất, xin cho con biết sống và liên lỉ thực hành giới răn này trong đời sống thường ngày của con.

    Về mục lục

    CHÚA DUY NHẤT, LUẬT BẤT BIẾN

    Trầm Thiên Thu

    Thiên Chúa là Đấng duy nhất (Đnl 6:4; Nkm 9:6; Xh 20:3; Đnl 5:7; Đnl 32:39; Gđt 8:20; Kn 12:13; Is 43:10; Is 45:6; Is 46:9; Đn 3:28-29; Đn 14:41; Hs 13:4) và là Đấng Cứu Độ duy nhất: “Chính Ta, chính Ta đây là Đức Chúa, ngoài Ta ra, chẳng có ai cứu độ.” (Is 43:11) Muôn đời Ngài vẫn là Ngài. (Is 43:13) Vì thế, luật yêu thương của Ngài cũng bất biến và vĩnh tồn.

    Sau khi bất tuân và phạm tội, gây xáo trộn, con người bị đuổi ra khỏi Địa Đàng, thế nên bắt đầu cần có luật để duy trì trật tự trần gian. Chưa hết, gia đình cũng rắc rối khi Cain giết chính em ruột của mình là Abel vì ghen thét. Do đó, luật càng cần thiết hơn, cần thiết ngay từ trong gia đình nhỏ bé.

    Nhà có gia phong, nước có quốc pháp, tu viện có tu luật. Có nhiều loại luật – cả đạo và đời, ngay trong một nhóm nhỏ, thậm chí chỉ hai người, cũng vẫn có những quy ước nhất định để tránh lạm dụng vì tùy tiện hoặc tùy hứng. Trong mọi mối quan hệ, muốn hợp tác lâu dài với nhau, người ta phải tôn trọng hợp đồng với nhau – dù đó là thỏa thuận bằng miệng hoặc hợp đồng bằng văn bản.

    Xét theo luật học, luật pháp được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế. Thường thì luật pháp được thực thi thông qua hệ thống tòa án. Trong đó, quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Cách thực thi luật pháp được coi là hệ thống pháp lý, thường phát triển trên cơ sở tập quán của mỗi quốc gia.

    Luật có ở khắp nơi, mọi lĩnh vực, với nhiều mức độ: kinh tế, kinh doanh, chính trị, xã hội, môi trường, giao thông (đường thủy, đường bộ, đường hàng không) học tập, hôn nhân,… Nhưng tất cả các loại luật đều phải dựa trên Thiên Luật. Chỉ có Luật Chúa là Đệ Nhất Thánh Luật, là luật quan trọng nhất, dựa trên nền tảng yêu thương: mến Chúa và yêu người.

    Thật ngán ngẩm với luật hội đường Do Thái ngày xưa. Có tới 613 điều khoản, bao gồm 365 điều CẤM làm và 248 điều PHẢI làm. Nếu chia đều một năm thì mỗi ngày có một khoản luật cấm. Điều cấm làm nhiều hơn điều phải làm, mà “cấm làm” với “phải làm” cũng đâu khác gì nhau. Mệt mỏi thật!

    Ông Môsê nhận lệnh của Thiên Chúa và truyền cho dân chúng: “Đây là mệnh lệnh, là những thánh chỉ và quyết định mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền phải dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành trong đất anh em sắp sang chiếm hữu. Như vậy anh em cũng như con cháu anh em sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em MỌI NGÀY TRONG SUỐT CUỘC ĐỜI, tuân giữ tất cả những CHỈ THỊ và MỆNH LỆNH của Người mà tôi truyền cho anh em và anh em sẽ được sống lâu.” (Ðnl 6:1-2) Chỉ thị và mệnh lệnh là điều phải tuân giữ, xã hội trần gian còn như vậy, huống chi huấn lệnh của Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta phải ưu tiên số một, không sợ khi phải chọn lựa, chấp nhận bỏ luật đời.

    Giữ Luật Chúa là điều tuyệt đối phải làm, không phải vì miễn cưỡng mà vì yêu mến, và có lợi cho chính chúng ta. Thánh Catarina Genoa (1447-1510) cho biết: “Thiên Chúa Toàn Năng tinh khiết đến nỗi nếu người ta ý thức được dấu vết của sự bất toàn và cũng hiểu rằng luyện ngục được ấn định để loại bỏ sự khiếm khuyết đó, thì linh hồn vào nơi thanh tẩy này vui mừng đón nhận Lòng Thương Xót cao cả của Thiên Chúa. Nỗi đau khổ tồi tệ nhất của các linh hồn nơi luyện ngục là đã phạm tội chống lại Sự Tốt Lành của Thiên Chúa và CHƯA HOÀN THIỆN ở đời này.” Tình trạng bất toàn vì “chưa hoàn thiện” là chưa giữ trọn Luật Chúa. Điều đó chứng tỏ rằng giữ trọn Luật Chúa là điều vô cùng cần thiết và thực sự hữu ích cho người giữ luật.

    Chắc chắn rất khó giữ luật, khó thì khổ, nhưng khó mà giữ được mới đáng công. Thật vậy, Thiên Chúa không “đày đọa” ai, vì Ngài hứa ban những điều bất ngờ mà chúng ta không biết: “Hỡi Israel, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em Nghe đây, hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA DUY NHẤT. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức anh em Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em PHẢI ghi tạc vào lòng.” (Ðnl 6:3-6)

    Chính lời hứa của Thiên Chúa nhắc nhở một điều quan trọng liên quan đức tin: Chỉ có MỘT Thiên Chúa duy nhất mà thôi. (Đnl 6:4; Mc 12:29) Ngoài Ngài, không có bất cứ một vị thần nào khác đáng để chúng ta tin kính và tôn thờ. Đó là điều chắc chắn.

    Thiên Chúa duy nhất mà chúng ta tôn thờ chỉ là MỘT nhưng có BA NGÔI. Ngài là Đấng nhân hậu, vô thủy và vô chung, Ngài có nụ cười hiền hậu chứ không nhăn nhó khó chịu. Vì thế, Thánh Vịnh gia đã luôn tôn thờ và kính mến Ngài tuyệt đối: “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con; lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ.” (Tv 18:2-3) Không thể kiềm chế niềm hạnh phúc đó, Thánh Vịnh gia đã xác nhận và muốn chia sẻ với mỗi chúng ta: “Tôi kêu cầu Chúa là Đấng xứng muôn lời ngợi khen, và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.” (Tv 18:4) Lời xác nhận này giúp củng cố đức tin của chúng ta, những kẻ hậu sinh hèn yếu.

    Không thể im lặng, Thánh Vịnh gia tiếp tục tuyên xưng: “Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi, là Thượng Đế giúp tôi rửa sạch hận thù, bắt chư dân quy phục quyền tôi. Lạy Chúa, Ngài giải thoát con khỏi thù địch cho thắng cả đối phương, cứu khỏi người tàn bạo. Vì thế giữa muôn dân, con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa. Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập.” (Tv 18:47-51ab) Thiên Chúa là “đèn trời soi xét,” (Tv 4:2) Ngài “biết thừa mọi bí ẩn tâm can,” (Tv 44:22) và Ngài biết ai chân thật hay lọc lừa. Ngài thấu suốt mọi sự.

    Chính Chúa Giêsu đã xác định: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4b) Ước gì mỗi chúng ta đều có thể thanh thản thân thưa: “Lạy Chúa, xin dò xét và thử thách con, tâm can này, xin đem thử lửa.” (Tv 26:2) Đó là điều không dễ thực hiện, cần phải thực sự can đảm và dứt khoát, cùng với tình mến chân thành. Luật Chúa là Lời Chúa, là Ý Chúa, là lương thực của các Kitô hữu.

    Kinh Thánh cho biết rằng Thiên Chúa không thích tế phẩm và lễ vật, Ngài cũng chẳng đòi lễ toàn thiêu và lễ xá tội. (Tv 40:7) Ngài muốn chúng ta tuân giữ luật Ngài truyền, nghĩa là vâng lời Ngài. Ngài mở tai chúng ta để chúng ta lắng nghe Ngài, và Ngài muốn chúng ta mau mắn thân thưa: “Này con xin đến!” (Tv 40:8) Ước gì chúng ta luôn chân thành nói với Ngài: “Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con!” (Tv 40:9) Giữ Luật Chúa thì có lợi, không giữ thì thiệt thòi. Ngài không bắt ép, mà là sự công bằng.

    Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta dù chúng ta bất xứng, Ngài yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân kia mà, nghĩa là chúng ta còn dơ bẩn chứ đâu phải đã “tắm rửa” cho bớt hôi thối. (x. Rm 5:8) Đó là bằng chứng minh nhiên về lòng thương xót của Thiên Chúa.

    Thánh Phaolô cho biết: “Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ mãi chức vụ đó. Còn Đức Giêsu, chính vì Người hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại mãi mãi. Do đó, Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ.” (Dt 7:23-25) Nếu chúng ta yêu ai đó mà không được đáp lại, thậm chí bị phản bội và bị gièm pha, chắc chắn chúng ta nói họ là dại dột, ngu xuẩn, si tình hoặc lụy tình. Thế mà Thiên Chúa là người yêu cuồng si những kẻ phản bội Ngài. Quả thật, chúng ta quá đáng, có trái tim bằng sắt nung chứ không chỉ là gỗ hoặc đá.

    Bởi vì chúng ta bất xứng đến nỗi không thể tự đền tội, mà phải nhờ đến Vị Thượng Tế Thập Toàn là Đức Kitô Giêsu, Con Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Phải, đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến: một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời. Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để ĐỀN TỘI CỦA MÌNH, sau là để ĐỀN THAY CHO DÂN; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời.” (Dt 7:26-28)

    Điều răn đứng hàng đầu là điều răn quan trọng nhất, được nói tới trong trình thuật Mc 12:28b-34 (≈ Mt 23:34-40; Lc 10:25-28) và cũng đề cập “MỘT Thiên Chúa duy nhất” như Cựu Ước đã nói.

    Thánh sử Máccô cho biết rằng có một kinh sư đã nghe nhóm Sađốc tranh luận với Đức Giêsu. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông kinh sư đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Ông kinh sư này ra vẻ thế thôi chứ không hề tâm phục khẩu phục. Kinh sư là ai? Đó là chuyên gia nghiên cứu, khai triển, dạy dỗ và áp dụng luật Cựu Ước. Nhưng khi áp dụng luật thì giá trị của lời dạy được coi trọng hơn chính văn bản luật. Vì thế mà họ hống hách và gây nhiều rắc rối, nhất là khi họ gặp Chúa Giêsu.

    Họ hỏi không do lòng thành mà chỉ muốn gài bẫy Chúa Giêsu mà thôi. Ngài không nói điều nào trọng nhất, mà Ngài điềm nhiên trả lời bằng một mệnh lệnh: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA DUY NHẤT. Ngươi PHẢI yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Đó là luật hai-trong-một, một điều to và một điều lớn, điều nào cũng quan trọng. Thật kỳ diệu và độc đáo!

    Sau khi nghe Đức Giêsu nói vậy, ông kinh sư thực sự tâm đắc, tâm phục và khẩu phục, và ông nói: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là ĐẤNG DUY NHẤT, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.”

    Phục thiện là bắt đầu khôn ngoan. Biết mình sai là bắt đầu sáng mắt. Ngược lại, kẻ cố chấp sẽ mù vĩnh viễn. Còn hơn thế nữa, bởi vì “đứa ngu đần tuy sống mà tệ hơn là chết.” (Hc 22:11) Chúa Giêsu thấy ông kinh sư trả lời khôn ngoan nên Ngài nói: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Tất cả im lặng, không ai dám chất vấn Ngài hoặc nói ra nói vào lời nào nữa. Trứng không thể chọi với đá!

    Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin ban cho chúng con ơn khôn ngoan, thông minh, sáng suốt phân định vấn đề, và biết  ưu tiên việc tuân giữ luật Ngài. Xin thanh tẩy và đổi mới chúng con theo đúng Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    YÊU MẾN VÀ PHỤNG THỜ THIÊN CHÚA

    Giuse Hoàng Thanh Phong

    Kính thưa quý ông bà và anh chị em, các bài đọc trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay dường như nhắc nhớ mỗi người chúng ta về đời sống phụng thờ Thiên Chúa của mình. Lòng yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa là cách diễn tả rõ nét nhất lòng tin của mỗi người chúng ta.

    Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất”

    Đoạn trích trong sách Đệ Nhị Luật mà chúng ta nghe trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, chứa đựng kho tàng quan trọng bậc nhất, mà bất cứ người tin theo đạo Do-thái nào, cũng không bao giờ được quên: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en ! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em.  (Đnl 6,4-5). Thật vậy, chân lý ‘Thiên Chúa duy nhất’ là nền tảng căn cốt nhất của đạo Do-thái. Lời nhắn nhủ này được gọi là Shema, là lời kinh mà tất cả những ai theo đạo Do-thái phải thuộc nằm lòng ngay từ thuở nhỏ. Họ thường lập lại lời kinh này nhiều lần trong ngày để nhắc nhớ bản thân về chân lý ‘Thiên Chúa duy nhất’, cũng như bổn phận phải yêu mến và phụng sự Thiên Chúa.

    Để trả lời cho một người trong nhóm kinh sư về câu hỏi ‘điều răn nào quan trọng nhất’, Chúa Giê-su cũng đã dùng chính lời Kinh Thánh trên để trả lời. Thế nên, lời nhắc nhớ về ‘Thiên Chúa duy nhất’ không chỉ dành cho người theo đạo Do-thái, nhưng còn dành cho mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Điều này làm cho chúng ta xác tín rằng, không phải ai khác, hay thần nào khác, nhưng chính Thiên Chúa duy nhất đã vì yêu thương mà đã tác sinh muôn vật muôn loài. Cũng chính Thiên Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta biết về kế hoạch cứu độ, hầu mang lại niềm hy vọng cho chúng ta được tham dự vào đời sống vĩnh cửu. Cũng chính vì lòng yêu thương quảng đại của vị Thiên Chúa duy nhất ấy, mà chúng ta vẫn được sống, được hoạt động, được hạnh phúc trong cuộc sống này.

    Lời nhắc nhớ chúng ta về ‘Thiên Chúa duy nhất’ đồng thời khơi dậy trong tâm hồn chúng ta tâm tình yêu mến Người: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,5). Cần biết rằng, Thiên Chúa là Đấng toàn hảo tự tại, nên lòng yêu mến của chúng ta sẽ chẳng khiến cho Thiên Chúa thêm hoàn hảo thêm chút nào. Đúng hơn, chúng ta tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa trước hết vì những điều thiện hảo mà Thiên Chúa vẫn hằng ban cho chúng ta. Chúng ta diễn tả lòng yêu mến Thiên Chúa với hết cả tâm hồn vì tình yêu vô điều kiện mà Người đã tặng ban cho mỗi người trong chúng ta. Thiên Chúa mong ước chúng ta yêu mến Thiên Chúa không phải vì bản thân Người, nhưng vì chính mỗi người chúng ta. Đúng hơn, chúng ta sẽ chỉ được sống và hạnh phúc khi chúng ta ở với Thiên Chúa mà thôi, vì duy chỉ có Người là nguồn sống duy nhất cho muôn vật muôn loài.

    Trong Linh Thao, Thánh Inhaxio Loyola đã cụ thể hóa lời nhắn nhủ này trong ‘Nguyên Lý Và Nền Tảng’:“Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình. Mọi loài khác dưới đất cũng được tạo dựng cho con người, để giúp họ đạt tới cùng đích Đấng Tạo Hóa đặt cho họ. Bởi thế người ta chỉ được sử dụng tạo vật theo mức độ chúng giúp đạt tới cứu cánh và phải gạt bỏ khi chúng làm cản trở….” (Linh Thao, số 23)

    Nguyên lý và Nền Tảng trên đây giúp cho chúng ta thấy mục đích của đời sống con người là để “ngợi khen, tôn kính, và phụng sự Thiên Chúa”. Thế nên, việc sắp đặt trật tự trong đời sống chúng ta thật quan trọng biết bao: Thiên Chúa phải là trước hết và trên hết mọi loài thụ tạo. Khi chúng ta đảo lộn trật tự này, chẳng hạn khi đặt bản thân mình hay các thụ tạo khác lên hàng đầu, chúng ta đang đặt lòng tin của mình ở sai chỗ.

    Trong cuộc sống hôm nay, có lẽ chúng ta ít đề cập đến các ngoại thần cho bằng những ‘vị thần’ do chính chúng ta tạo ra. Mỗi người trong chúng ta thử dành ra ít giây phút tĩnh lặng để xem Thiên Chúa đang có vị trí nào trong cuộc đời của mình. Thiên Chúa có phải là quan trọng nhất đối với tôi lúc này hay chăng? Nếu Thiên Chúa không còn ở vị trí số một trong tâm hồn tôi thì ‘vị thần’ nào đã được đặt vào vị trí ấy của Thiên Chúa?

    Cần biết rằng, dù chúng ta đang chẳng ưu tiên vị trí quan trọng nhất cho Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, Thiên Chúa vẫn không ngừng yêu thương chúng ta cách vô điều kiện. Thiên Chúa vẫn mong ước chúng ta biết sắp đặt lại trật tự cuộc sống của mình, chẳng phải vì ích lợi gì cho Ngài, cho bằng vì phần rỗi của chính chúng ta. Đúng hơn, chỉ nơi Thiên Chúa duy nhất, chúng ta mới được hiện hữu và hạnh phúc viên mãn mà thôi.

    Yêu mến và phụng  thờ Thiên Chúa

    Kính thưa quý ông bà và anh chị em, niềm tin của chúng ta nơi Thiên Chúa duy nhất có thể được diễn tả bằng nhiều cách thế khác nhau, nhưng sống động nhất vẫn là trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội. Bài trích thư gửi tín hữu Híp-ri cho chúng ta biết về vai trò duy nhất của vị tư tế hằng hữu là Đức Kitô, trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội. Vị thượng tế hằng hữu có vai trò chuyển cầu cho chúng ta tới Thiên Chúa, vì tự bản thân mỗi người chúng ta chẳng thể trực tiếp đến với Người (Hr 7,25). Vì vậy, Đức Giêsu Kitô vẫn hằng hiện diện cách sống động trong mọi cử hành phụng vụ của Giáo Hội, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Khi chúng ta nghe công bố Tin Mừng thì chúng ta thực sự đang lắng nghe Lời của Chúa Giêsu đang nói với chúng ta. Khi vị linh mục truyền phép thì bánh và rượu nhờ quyền năng của Chúa Thần, đã trở nên Mình và Máu thánh Đức Giêsu Kitô, trở nên thần lương nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đức Giêsu cũng chính là người sai chúng ta ra đi loan báo Tin mừng khi buổi cử hành phụng vụ kết thúc.

    Thế nên, việc tham dự vào đời sống phụng vụ của Giáo Hội, đòi hỏi chúng ta tham dự với lòng sốt sáng kính tin của mình. Qua đời sống phụng vụ, chúng ta đang diễn tả đức tin của mình nơi Thiên Chúa, cụ thể qua việc: xám hối lỗi lầm, ca tụng Thiên Chúa, tuyên xưng đức tin, lãnh nhận ơn lành… Thế nên, chúng ta không phải đến ‘xem thánh lễ’ cho xong bổn phận mà Giáo Hội đòi buộc. Đúng hơn, chúng ta được mời gọi để tham dự thánh lễ và cùng hiệp dâng của lễ là đời sống của mình, kết hiệp với của lễ duy nhất của Đức Giêsu xưa kia trên thập giá, mà dâng lên Thiên Chúa Cha (Hr 7,27).

    Thực ra, khi chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta đồng thời cũng đã được lãnh nhận chức vụ tư tế phổ quát. Điều này có nghĩa, cuộc đời mỗi người chúng ta đã được thánh hiến để trở nên của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa. Thế nên, chẳng có của lễ nào đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng của lễ sống động là đời sống của mỗi người. Qua vị tư tế hằng hữu là Đức Giêsu Kitô, chúng ta hãy mạnh dạn dâng lên Thiên Chúa mọi vui buồn của cuộc sống này. Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương chúng ta vô điều kiện chắc chắn sẽ nhậm lời nguyện xin, cũng như đón nhận của lễ mà chúng ta dâng tiến lên Người. Ngoài việc yêu mến phụng thờ Thiên Chúa duy nhất, Chúa Giêsu đưa ra một điều răn khác không thể tách rời, đó là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12,31). Chẳng có của lễ nào đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng việc chúng ta yêu mến và hiến dâng đời sống của mình cho Thiên Chúa và mở lòng đón nhận tha nhân.

    Thế nên, cuộc đời của mỗi người chúng ta có thể được hiểu như một cử hành phụng vụ hay một thánh lễ kéo dài. Cuộc đời chúng ta vì vậy là một chuỗi những diễn tả lòng tin của chúng ta nơi Thiên Chúa duy nhất. Lòng tin ấy được diễn tả cách cụ thể bằng cả đời sống của mình, như của lễ toàn thiêu, được hiệp với lễ hy sinh của Đức Giêsu mà dâng lên Thiên Chúa. Amen!

    Về mục lục

    HẾT CẢ TRÍ KHÔN

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Mến Chúa và yêu người là một điệp khúc quá quen thuộc với Kitô hữu. Từ em bé đã qua tuổi “xưng tội rước lễ lần đầu” đến các cụ già mà chưa lẩn trí thì đều nằm lòng câu kết trong kinh Mười điều răn Đức Chúa Trời: “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy – Amen”. Là người con cái Chúa trong Giáo Hội Công Giáo, có thể khẳng định rằng, hiếm có ai tự nhận mình không yêu mến Thiên Chúa. Dù minh nhiên hay mặc nhiên, chúng ta đều xác nhận rằng mình phải yêu mến Thiên Chúa. Tuy nhiên mức độ của lòng yêu mến ấy đến đâu cũng như cái cách thức yêu mến ấy có đúng hay không thì cần phải xem xét.

    Trước câu hỏi của vị luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã lấy lại đoạn sách Đệ Nhị Luật đồng thời có thêm một chút để trả lời: “Nghe đây, hỡi Israel! Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất! Người phải yêu mến Đức Chúa, Chúa các ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi…” (x.Mc 12,28-34; x.Đnl 6,2-6). Xin mạn bàn về yếu tố Chúa Giêsu thêm đó là “hết trí khôn”, cụm từ không có trong sách Đệ Nhị Luật.

    Trí khôn là một trong hai cơ năng của linh hồn mà Thiên Chúa tặng ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài thụ tạo hữu hình. Đã là người thì ai cũng chân nhận rằng nhờ trí khôn mà con người trỗi vượt các loài vật bậc thấp. Chuyện tích về bác nông phu mưu trí đánh thắng con hỗ là một ví dụ. Cũng là làm việc nhưng nhờ trí khôn, con người ý thức mình làm việc gì với động cơ và mục đích gì. Chính vì thế cung cách làm việc của con người mỗi ngày mỗi mới, phát triển và hoàn thiện không ngừng. Trong khi đó loài vật vì thiếu khả năng này nên cách hoạt động của chúng hầu như không đổi thay mà nếu có thì cũng rất nhỏ và qua một thời gian rất dài chịu điều kiện hóa bởi các yếu tố của giới tự nhiên mà thôi.

    Khi thêm vào yếu tố “trí khôn” chắc hẳn Chúa Giêsu không chỉ đề cập đến một nét cao quý của con người mà còn lưu ý đến cung cách “giữ đạo”, “sống đức tin” của dân Chúa xưa và chúng ta mọi thời, mọi nơi. Chúa Giêsu đã từng nhiều lần hữu ý vi phạm luật sạch nhơ và luật ngày hưu lễ của Do Thái giáo thời bấy giờ. Người cố tình làm như vậy, vì người ta đã giữ luật cách máy móc, vụ hình thức mà quên mất mục đích và ý nghĩa của luật. Chẳng hạn luật sạch nhơ có ra là để dân Chúa biết giữ gìn tâm hồn trong sáng và làm thanh sạch cõi lòng khỏi các vết nhơ của tội lỗi, khỏi những tham lam và đam mê bất chính. Do đó cách thế giữ luật phải chú trọng đến tâm hồn hơn là quá tỉ mỉ, chi li với những nghi thức bên ngoài như rửa chén bát, rửa chân tay… Muốn tâm hồn được thanh sạch là phải loại khỏi tâm trí những ý định bất chính, xấu xa và Người đan cử một số điều như: “Tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”(Mc 7,21). Bên cạnh đó để làm cho tâm hồn mình trinh trong thì Người dạy phải sống đức ái qua việc liên đới chia sẻ với tha nhân: “Hãy đem những cái bên trong ra mà phân phát thì mọi sự sẽ nên thanh sạch cho các ngươi (Lc 11,41).

    Với trí khôn thì khi thực hiện các hành vi đạo đức của tôn giáo, chúng ta phải biết rõ hành vi ấy là gì (What?) Vì sao phải thực hiện điều ấy là làm việc ấy để nhằm mục đích gì (Why?). Và rồi chúng ta sẽ biết làm việc ấy như thế nào (How?), ở đâu và trong hoàn cảnh nào (Where? When?). Khi một số biệt phái trách cứ rằng các môn đệ mình không ăn chay thì Chúa Giêsu nhân đó đã dạy họ phải sống đạo với cả trí khôn. Trước hết hãy ý thức ăn chay nghĩa là gì và vì sao ăn chay để rồi biết cách ăn chay đúng đẹp thánh ý Thiên Chúa. Ăn chay là một hình thức sám hối, thú nhận tội lỗi, nhất là tội nghiêm trọng.

    Xưa vua quan dân thành Ninivê đã dùng sự ăn chay để bày tỏ sự ăn năn sám hối về tội lỗi tày trời họ đã phạm khiến Chúa đe phạt hủy diệt cả thành. Trong khi đó nhiều lãnh đạo Do Thái giáo thời Chúa Giêsu không chỉ lầm mà còn giảng dạy sai lạc. Họ lầm tường rằng ăn chay là một trong những cách thế thu tích công đức trước mặt thiên hạ và cả trước mặt Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng kể câu chuyện có người biệt phái vào đền thờ ngửa mặt kể lễ công trạng ăn chay với cả Thiên Chúa. Để khẳng định điều này thì Người nói rõ: “Không lẽ thực khách hay các phù rể có thể ăn chay khi tân lang đang còn ở với họ. Khi nào tân lang bị đem đì thì bấy giờ họ mới ăn chay” (x.Lc 5,33-39). Khi đang còn ở với Thầy Giêsu thì cách nào đó các tông đồ đang còn ở trong ân sủng. Khi phạm trọng tội là lúc chúng ta xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình và lúc đó mới thực sự cần phải ăn chay.

    Không dám hồ đồ nhưng có vẻ đến hôm nay còn không ít Kitô hữu từ giáo dân đến tu sĩ, giáo sĩ vẫn sống đạo một cách máy móc, nếu không muốn nói là thiếu ý thức đúng và đủ những gì mình thực hành. Vừa qua Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ra lệnh Kitô Hữu Công Giáo ăn chay một ngày (22/10) và mời gọi đoàn tính hữu sống mùa dịch bệnh trong tinh thần chay tịnh. Nếu không được hướng dẫn thì đoàn tín hữu dễ lầm tưởng rằng vì nhân loại tội lỗi nên bị dịch bệnh, khiến cho một số người hiểu lầm như nhiều người Do Thái thời Chúa Giêsu. Và cũng có thể có nhiều người nghĩ rằng ăn chay hãm mình hy sinh như lễ vật dâng lên Thiên Chúa hầu mong Người đoái thương khử trừ dịch bệnh. Thế mà đã gần hai năm nay biết bao lễ vật hy sinh trên khắp thế giới cùng với lời cầu nguyện dâng lên mà như chưa thấu đến Đấng Toàn Năng. Tình cảnh này có thể làm cớ cho nhiều người hoài nghi và than thở như cố nhạc sĩ họ Trịnh là “Chúa đã bỏ loài người. Phật đã bỏ loài người…”.

    Chuyện chay tịnh, hãm mình, hy sinh thì ai ai cũng mến phục. Tuy nhiên việc sống khắc khổ, kiêng khem trong tình cảnh mà người dân, nhất là người nghèo, người đang thiếu thốn lương thực cần phải có đủ sức đề kháng để chống dịch thì xem ra cần được giải thích và hướng dẫn cho thấu tình đạt lý dưới ánh sáng đức tin. Truyền thống là tốt. Thế nhưng nhiều khi nó cũng có thể kìm giữ chúng ta trong lối mòn của thứ rượu cũ. Rượu mới phải đổ vào bầu da mới, nhưng người ta lại thích rượu cũ và giữ mãi cái bầu cũ hơn. Đức Phanxicô đã từng cảnh giác về kiểu biện bạch để khỏi canh tân, đổi mới đó là: “xưa đã là như vậy rồi”. Với cả trí khôn thì việc sống đức tin đòi hỏi chúng ta phải trưởng thành mỗi ngày. Chắc hẳn có đó nhiều cơ chế, luật lệ và hình thức sống đạo trong Giáo hội cần đổi thay khi đoàn con cái Chúa biết sử dụng trí năng để sống đức tin cách ý thức trong tình liên đới và tinh thần trách nhiệm.

    Về mục lục

    ĐIỀU RĂN MỚI

    Lm Vũđình Tường

    Một Kinh Sư hỏi Đức Kitô,
    ‘Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều nào quan trọng hơn cả’ Mc 12,28.

    Ông ta hỏi Đức Kitô vì vấn đề này nhóm Kinh Sư từ lâu tranh luận với nhau, và không đồng nhất điều răn nào quan trọng hơn cả. Đức Kitô tóm gọn tất cả các điều răn dậy trong sách Dân Số 6:4-5 và sách Lêvi 19:18 trong một câu vắn gọn, đó là ‘Mến Chúa và yêu tha nhân’. Nhóm Kinh sư giải thích luật bằng cách theo sát từng câu, từng chữ; trong khi Đức Kitô chú trọng đến bản chất, tinh thần của luật lệ. Ngài nói với họ,

    ‘Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình’ Mc 12: 30-31

    Quan hệ tình cảm con người dành cho nhau rất đơn giản và cũng rất phức tạp. Đơn giản, nhẹ nhàng khi tình cảm đầy tràn thân thiện. Phức tạp khi tình thân biến mất, cãi cọ, tranh biện, ăn thua đủ liên tục xảy ra. Trong trường hợp này, thay vì dùng tình cảm, cảm xúc của con tim, con người đối xử với nhau bằng lí trí, lí luận, tranh biện, hơn thiệt, phải trái. Đức Kitô dậy để giải quyết vấn đề cách nhẹ nhàng, cần đối xử với nhau như chính Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ai cũng có kinh nghiệm đuợc Thiên Chúa yêu thương, tha thứ. Hãy dùng kinh nghiệm trên để giải quyết mọi tranh chấp, bất hoà. Yêu Thiên Chúa, mến những gì Thiên Chúa tạo dựng là giữ trọn luật yêu thương. Yêu tha nhân như chính Thiên Chúa yêu chúng ta là điều luôn đúng trong mọi trường hợp. Đặt Thiên Chúa là trọng tâm trong đời; mọi lời nói, hành động phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa chính là làm Sáng Danh Chúa trong cuộc sống của ta.

    Nhóm Kinh sư trước đây vẫn nghĩ sát tế lễ vật dâng Thiên Chúa là quan trọng hơn cả. Đức Kitô dậy dâng hiến toàn thể con người cho Thiên Chúa quan trọng hơn. Giáo huấn trên đưa cho anh cái nhìn mới. Anh rất thán phục điều Đức Kitô phán dậy. Đức Kitô nói với anh,

    ‘Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu’. Mc. 12: 35.
    Phúc Âm thuật lại, sau đó không còn ai dám hỏi Ngài nữa. Người ta không dám hỏi nữa có lẽ họ sợ biết sự thật về chính mình. Bởi càng hỏi, càng để lộ ra cái thiếu sót, thiếu hiểu biết về tình yêu Thiên Chúa. Như thế họ sẽ bị mất uy tín trong việc giảng dậy. Đức Kitô nói vị Kinh Sư đến gần Nước Thiên Chúa, nhưng chưa thuộc về Đức Kitô. Ông đến gần Ngài hơn hết trong số bạn cùng ngành.

    Kinh Sư là nhóm kịch liệt chống đối Đức Kitô. Họ chất vấn Ngài ai cho phép Ngài trừ quỉ. Họ đặt vấn đề Ngài ngồi cùng bàn ăn với kẻ tội lỗi. Họ trách môn đệ ngài ăn mà không rửa tay. Họ kết án Ngài chữa bệnh trong ngày hưu lễ. Vì thái độ chống đối đó mà hầu hết học giả Kinh Thánh cho là vị Kinh Sư khâm phục ơn khôn ngoan nơi Đức Kitô nhưng không thành tâm yêu mến, tin theo Ngài. Giải thích như trên có nghĩ là vị Kinh Sư này cũng như những vị khác. Trong khi những vị khác đến chất vấn, gài bãy, tìm cách bắt bẻ. Thực tế cho thấy, vị Kinh Sư này hành xử rất khác. Ông đến hỏi Đức Kitô, vừa thán phục vừa ca tụng Ngài. Ông thành tâm trong việc đến gần Đức Kitô. Rất có thể đây là bước đầu, đặt nền tảng cho bước tiếp theo.

    Có kiến thức về Kinh Thánh và tin Kinh Thánh là hai sự việc hoàn toàn khác biệt. Dùng Kinh Thánh để biện hộ cho hành động, lời nói, mong thắng thế khi bàn thảo, lí luận, không sinh ích gì cho đức tin. Rất có thể người đó không có niềm tin, dùng Kinh Thánh cho lợi ích cá nhân. Tìm hiểu để hiểu biết thêm về Kinh Thánh với mục đích tăng niềm tin, thực thi đúng điều Kinh Thánh hướng dẫn là điều quan trọng. Như thế mới đúng là sống đời sống đức tin.

    Đức Kitô kêu gọi Kitô hữu dâng hiến trọn vẹn, toàn thể con người cho Thiên Chúa, không phải chỉ một phần mà toàn phần: Khối óc, con tim, linh hồn, trí khôn và toàn thể sức lực. Như thế mới là dâng hiến trọn vẹn.

    Về mục lục

    YÊU MẾN

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Thiên Chúa là tình yêu: Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4, 8). Yêu là cốt lõi của cuộc sống. Vì tình yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ muôn loài. Tình yêu của Đấng Tạo Hóa được thông ban tới mọi loại thụ tạo. Mỗi loài thụ tạo đều có dấu ấn của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa. Con người có linh hồn, trí khôn, tự do và tình yêu. Mọi sinh vật đều chìm đắm trong biển tình liên đới với nhau. Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ là Đấng Vô Hình, chúng ta có thể nhận biết Người qua muôn hình vạn trạng của vũ trụ vạn vật và con người. Người là Thiên Chúa hằng hiện hữu và là Chúa của kẻ sống.

    Những chỉ thị và huấn lệnh được tóm kết trong Mười Điều Răn và mười điều này thu gọn thành hai điều quan trọng là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người. Như thế, tất cả luật lệ và các giới răn đều xoay quanh chữ ‘Yêu’. Yêu là ái, bác ái, đức ái, nhân ái và tâm ái. Yêu là nền tảng của mọi sinh hoạt. Yêu phát khởi từ tâm. Tâm thiện làm thăng hoa cuộc đời nên cao thượng và thành tựu.

    Chúng ta có thể suy về trái tim yêu thương qua bốn điều: Từ, Bi, Hỉ và Xả. Tâm từ là lòng thương xót. Thương tất cả mọi loài. Thương yêu không chỉ những người trong gia đình mà tình yêu lan trải ra mọi người chung quanh. Yêu cả người ân, kẻ oán. Yêu cả người gây thù dù chuốc oán. Tâm bi là xót thương trước những khổ đau của người khác. Biết cảm thông và xoa dịu những nỗi đau và sầu khổ của tha nhân. Tâm hỉ là vui vẻ trước sự hạnh phúc và thành công của người khác. Biết chung vui và chúc mừng những thành đạt và sự may mắn của người. Người có tâm hỉ thì không ích kỷ, hạn hẹp, ghen tương và đố kỵ. Tâm xả là không luyến ái hay chấp nhất. Giữ thái độ thanh thản và an vui tự tại trong tâm hồn. Từ bi hỉ xả sẽ giúp cho tình yêu tha nhân được triển nở và hoan lạc.

    Trong bài phúc âm, Chúa Giêsu lập lại hai giới răn nồng cốt của đạo: Yêu Chúa và yêu người. Thiên Chúa hiện diện nhưng con người không thể diện kiến và đụng chạm bằng giác quan trần tục. Để biểu hiện tình yêu, Chúa mở một cửa ngõ để chúng ta cùng cảm thông: Yêu tha nhân như chính mình. Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại được gắn liền với nhau như đồng tiền hai mặt. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta yêu mến Thiên Chúa mà ghét đồng loại. Vì mỗi con người được tác tạo đều mang hình ảnh của Thiên Chúa. Yêu người cũng như yêu chính mình.

    Thánh Marcô so sánh tình yêu cao quí hơn của lễ dâng. Đối với chúng ta, yêu người thân cận như chính mình là một đòi hỏi quá khó. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng thấy tình yêu có mức độ. Trong cuộc sống dân gian, trái tim yêu thương được diễn tả theo hình trôn ốc, từ trong cốt lõi ra ngoài. Yêu vợ chồng, con cái, gia đình, họ hàng thân tộc, đồng môn, bạn bè, người thân, kẻ nghĩa, yêu người cùng nhóm hội, cùng chí hướng, cùng tôn giáo, yêu đồng bào cùng quê hương xứ sở và yêu đồng loại… Chúng ta có thể cảm nhận thế nào là tình yêu khi chúng ta xa vắng, tam biệt, ly biệt hay vĩnh biệt người mình yêu. Càng yêu nhiều càng nhớ thương nhiều. Chỉ có những tâm hồn đại ái biết quên mình mới có thể yêu người thân cận như chính mình một cách vô điều kiện.

    Trong thơ gởi tín hữu Do-thái, tác giả đã diễn tả hình ảnh hiến tế của Chúa Giêsu linh mục thượng phẩm. Ngài đã dâng hy lễ đền tội cho dân bằng chính sự sống của mình. Tình yêu dâng hiến trọn vẹn để đền tội thay cho dân. Các linh mục thay mặt Chúa dâng lễ tế hy sinh là một việc cử hành thánh thiện, nhưng có nhiều khi bị lợi dụng và lạm dụng. Có nhiều linh mục đã cử hành thánh lễ rất nghiêm trang sốt sáng, nhưng cũng có linh mục cử hành theo thói quen chỉ để chu toàn bổn phận hoặc vì thọ ơn trả nghĩa cho ai đó tại tư gia. Linh mục không chịu đau khổ và không đổ máu, vậy mà đôi khi còn nóng nảy và bực bội chỉ vì vài sơ xót nho nhỏ trong khi cử hành. Các linh mục hãy hòa trộn tình yêu trong việc cử hành thánh lễ để sinh ích lợi cho mình, cho mọi người và cho các linh hồn đang chờ mong ân phúc.

    Đức mến là nòng cốt. Mọi sự trên trần gian sẽ qua đi, chỉ có tình yêu tồn tại mãi. Xin cho chúng con biết chia sẻ và sống dấn thân trong tình yêu. Để khi mãn cuộc đời dưới thế, chúng con sẽ được hưởng nếm tình yêu dịu ngọt của Chúa, vì Chúa là tình yêu.

    Về mục lục

    MÙA NÀO CŨNG YÊU

    Lm. Jos DĐH.

    Dù có ăn khoẻ mấy, bạn cũng chỉ ăn tới mức no bụng. Khôn hay khờ, địa vị hay bần cùng, bạn vẫn tuân theo quy luật, sinh tử. Bốn mùa xuân hạ thu đông, tự bản chất đã phảng phất tính lãng mạn đầy yêu thương của tháng năm, dù điều kiện, phong cách, địa vị, mỗi người mỗi khác. Nói đến yêu và thương, thật dễ nghe, ngay cả lão gia đến trẻ nhỏ, gợi lên hai từ ghét và thù, đúng là chẳng ai hào hứng làm chi ! Đại đa số chúng ta rất chuẩn khi nói ăn để sống, có chăng hành động của ta mơ hồ đến độ không còn biết mình sống ở đời này để làm gì ? Không ai khôn tới mức bất cần đến thầy dạy, chẳng ai ngớ ngẩn để mặc thời gian trôi qua, rồi thở ngắn than dài tại sao mình phận bạc duyên đen ? Không ngừng học hỏi là hành vi giúp ta ngộ ra mình được yêu ngay từ thuở nhỏ, là nguồn gốc của đức hạnh thúc giục ta nói lời yêu thương.

    Thời tiết bốn mùa nồng ấm đáng yêu khác nhau, được cao sang quyền quý hay vô duyên bất tài, có phải bạn vẫn muốn trải lòng cho mọi đối tượng, tôi luôn cần được mọi người mến yêu ? “Thưa Thầy, trong giới luật, đâu là điều quan trọng nhất” ? Điều muốn biết của người luật sĩ vô tình hay cố ý thử tài Đức Giêsu, đúng là có chút tự nhiên vương vấn nơi tâm tư mỗi người từ khi có trí khôn. Đức Giêsu không từ chối, không lòng vòng, trước thao thức của ông tiến sĩ luật, của tâm tư mỗi người, Ngài đã cho thấy hai từ mến – yêu không thể tách nhau. Thời khắc nào người ta cũng có nhu cầu ăn ngon ngủ yên, bình an hạnh phúc, được yêu để biết yêu, quan trọng ở chỗ yêu người và mến Chúa sao cho đúng, đẹp. Là đừng mến Chúa yêu người trên môi miệng, lý thuyết.

    Mùa nào cũng yêu, mùa nào cũng say, là quá cường điệu trong tình yêu đôi lứa, nhưng sẽ không thừa, không dư, nếu ta hiểu và sống tinh thần người môn đệ Đức Giêsu: mến Chúa yêu người. Mùa nào cũng yêu, ngày nào cũng yêu, tuổi nào cũng yêu, sẽ không bao giờ là sai, là trệch, khi chúng ta tin Đức Giêsu là Thầy là Chúa, và tất cả mọi người có cùng Một Cha trên trời. Đức Phật dạy các học trò: hãy sống tốt, sống đẹp, đừng quan tâm đến người khác nghĩ về mình. Đức Giêsu trả lời cho những ai ưu tư đến cụm từ đâu là hạnh phúc: “hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn; hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi”. Trọng tâm của đời người không phải chỉ là tiền, mà còn phải có tình. Hạnh phúc ở đời người, không phải là tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình, đúng, đủ, phải có mến Chúa yêu người.

    Nhạc sĩ Phạm Duy đã thổi hồn vào nhạc phẩm “Phượng Yêu”, đã làm ngây ngất biết bao con tim đang rạo rực “vì yêu”. Yêu người, yêu Phượng, yêu hoa đầu mùa, yêu mầu rực rỡ, yêu em mù loà, yêu bằng tiếng nói đơn sơ. … Yêu người, yêu có một lần thôi, xin yêu dù gian dối, xin yêu tôi, dẫu nghi ngờ, trong bơ vơ còn nhiều, thì đâu chối bỏ tình yêu. Người tiến sĩ luật trong tin mừng hôm nay, quả đã “thấm đậm” khi được Đức Giêsu gói gọn giới luật bởi cụm từ “mến Chúa yêu người”. Kinh nghiệm của các bậc khôn ngoan, chỉ rằng: ăn có thể ăn nửa bữa, ngủ có thể lúc nửa đêm, nhưng không ai có thể đi nửa đường chân lý, yêu bằng nửa con tim. (Ngạn ngữ Anh). Người luật sĩ đã hiểu phần nào trong tình Chúa phải có tình người, mới trọn vẹn đúng, đủ, đẹp. Đức Giêsu vô cùng hạnh phúc, khi bộc lộ niềm vui: “anh không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”.

    Mùa nào cũng yêu, tình nào chẳng là tình đẹp, yêu mến tha nhân cũng là lời gọi mến yêu đồng loại, là điều quan trọng trước giới luật yêu thương mà Thiên Chúa đặt để vào tâm tư mỗi người nhân thế. Thiên hướng của người nghệ sĩ là đưa ánh sáng vào trái tim con người. Đức Giêsu là mặt trời công chính đã soi chiếu vào thế gian, song Ngài chính là Vị Thầy thuốc tài giỏi, chữa khỏi tật bệnh mọi tâm hồn, đủ khả năng định hướng cho từng người đạt tới đỉnh cao yêu thương. Mến Chúa yêu người là căn bản trong toàn thể lề luật, Đức Giêsu cô đọng lại giúp tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài, chỉ cần sống trọn vẹn với Chúa và tha nhân: mùa nào cũng yêu, người nào cũng dễ mến, dễ thương.

    Dù nắng hay mưa, mùa đông hay mùa xuân, tình yêu vẫn cứ đong đầy kỷ niệm. Già hay trẻ, thông thái hay chậm hiểu, vẫn được yêu thương, nếu biết chọn sống theo nhịp đập rất linh thiêng của trái tim mình. Cả một quá trình dài, người tiến sĩ luật mới gặp được Vị Thầy mà anh hết sức nể phục, anh sung sướng nhận ra “đích đến thành công” của đời người trong bốn chữ: mến Chúa – yêu người. Thấy người luật sĩ khôn ngoan trước sự thông sáng của mình, Đức Giêsu tỏ cho anh biết: “anh không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”. Quả thực, điều tốt nhất, tuyệt vời nhất, trên thế giới này không thể nhìn hay nghe, mà phải cảm nhận bằng trái tim. (Helen Keller). Đức Giêsu ghi nhận thế nào là mến Chúa yêu người của người thông luật, của mỗi chúng ta, nhạy cảm hơn một chút, Ngài sẽ kiểm đếm hành vi yêu thương của nhân loại bằng lòng thương xót của Thiên Chúa nhân từ. Amen.

    Về mục lục

    “MÌNH VỚI TA” TUY HAI MÀ MỘT

    Lm. Giuse Trương Đình Hiền

    Bình thường thì ít thấy; nhưng mỗi khi “hữu sự” thì Người Việt Nam chúng ta cũng thuộc “dân tộc có hạng” trong thể hiện “nghĩa tình huynh đệ”, chia sẻ bác ái; hay gọi nôm na là “văn hóa bí bầu” hay “văn minh lá lành đùm lá rách” ! Trong thời cao điểm đại dịch vừa qua, hay trong biết bao cơn bão lũ thiên tai xé nát thôn làng khắp miền đất nước, nhất là Miền Trung dấu yêu, người ta dễ dàng nhận ra những chứng minh hùng hồn và cụ thể cái “văn hóa ứng xử” đặc biệt trên, một “loại hình văn hóa, văn minh” mà người ta đang lo lắng sẽ dần bị mai một, khan hiếm bởi sự lên ngôi của “chủ nghĩa cá nhân”, của “văn minh ích kỷ”, của “văn hóa vô cảm”

    Hèn chi, đã là người Việt Nam, lớn bé trẻ già, giàu sang trí thức hay mạt rệp cùng đinh, ai mà không thuộc câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; hay câu tục ngữ mang âm hưởng của lời Sách Thánh Lêvi trong tín ngưỡng Do Thái: “Thương người như thể thương thân” = “Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.” (Lv 19,18).

    Thật ra, đối với phần đông người Do Thái, ít ra cho tới thời Chúa Giêsu cách đây 2000 năm, câu Sách Thánh Lêvi trên chỉ là “điều răn thứ hai”, “điều luật phụ”, mà có thể họ ít lưu tâm và dấn thân thể hiện. Với họ, điều răn quan trọng nhất phải là lời của sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn người” (Đnl 6,5)Theo truyền thống tín ngưỡng của họ, họ đã chép nguyên đoạn sách Đệ Nhị Luật (6,4-6) làm thành Kinh SHEMA để đeo trên trán, nơi cườm tay, trước cửa nhà… để nhắc nhớ niềm tin kính và việc phượng thờ Chúa mọi phút giây trong đời sống của họ: “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng” (Bđ 1). Vâng, đối với tâm thức tín ngưỡng của họ: nội dung cốt lõi của việc thể hiện niềm tin chính là quy chiếu và thực hiện giới răn nầy: Mến Chúa bằng lễ lạc, phụng tự, luật lệ… sao cho nghiêm túc, và bất cần đến những nỗi đắng cay, lầm than của anh em đồng loại xung quanh.

    Khi thoáng thấy cách ứng xử “khá bất thường” của Thầy Giêsu, và cũng có thể, để dằn mặt và “trắc nghiệm bản lãnh đức tin” của anh chàng thợ mộc đến từ Nadarét, như Tin Mừng hôm nay vừa kể, những người Biệt phái muốn Chúa Giêsu bày tỏ thái độ có “mến Chúa trên hết mọi sự” như họ không; và họ đã dàn dựng một màn phỏng vấn: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất?”. Ngoài dự đoán của họ dành cho một kẻ “hạ tiện” dốt nát Lề Luật, Chúa Giêsu, như một người đạo đức bình thường trong truyền thống đức tin của cha ông, đã trả lời đúng phóc bằng chính câu Lời Chúa của sách Đệ Nhị Luật: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”.

    Và câu chuyện đã mang họ đi xa hơn điều họ mong đợi ! Ngài đã “móc” lại một điều luật được ghi trong một sách Thánh Kinh khác, sách Lêvi, mà có lẽ, những ông biệt phái, những thầy ký lục ít khi đọc đến hoặc xem thường, như chính cách sống của họ đã “bỏ rơi hay xem thường con người”“Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.” (Lv 19,18). Và có lẽ câu phán quyết “xanh rờn” tiếp liền sau đó đã làm họ ngỡ ngàng và chưng hửng: “Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”. Vâng “Hai” chứ không chỉ có “một”; hay nói cách khác, hai khoản luật trên quy về cùng một đích điểm duy nhất, một giới răn duy nhất: YÊU MẾN.

    Như vậy đã quá rõ ràng, với lập trường sống đạo và quan niệm đức tin của Chúa Giêsu, trong giới răn “mến Chúa trên hết mọi sự” phải bao hàm “yêu thương anh em như chính mình”; và bằng chính cuộc sống và cả cái chết của đời mình, Tin Mừng đã thuyết minh cụ thể lập trường và quan niệm đó của Ngài:
    – Chen chân giữa đám dân đen để cùng họ lội xuống dòng sông Giođan cho ông Gioan làm phép rửa, chọn kẻ thu thuế làm môn sinh và ăn uống với họ…, một điều xem ra quá xa vời và lố lăng đối với những người “Biệt Phái”, những kẻ vẫn tự hào là những người “mến Chúa trên hết mọi sự”.
    – Đụng chạm, đón tiếp những người cùi hủi đáng thương, để người phụ nữ tội lỗi hôn chân, xức dầu; chữa các bệnh nhân trong ngày Sabat, ăn uống mà chẳng cần rửa tay… những việc bác ái yêu thương mà những người tự xưng mình vỗ ngực tự xưng là “công chính” sẽ kết án là gương mù, gương xấu.
    – Tỏ thái độ cảm thông và kính trọng người phụ nữ ngoại tình bị bắt tại trận để cuối cùng trao ban một phán quyết đầy nhân ái yêu thương: “Phần Ta, Ta cũng không kết án chị đâu”; hay nói với người bất toại bằng lời mang tính thẩm quyền của Thiên Chúa “Tội con đã được tha”… những hành động và lời nói mà những người vẫn tự hào về niềm tin “trung thành với Thập Điều Sinai” sẽ kết án là phá luật cha ông, là ngược dòng truyền thống, là “lộng ngôn phạm thượng”…
    – Sẵn sàng quỳ xuống rửa chân cho các môn sinh để dạy họ bài học cụ thể yêu thương phục vụ, một hành vi xem ra không thích hợp chút nào đối với tác phong ăn trên ngồi trước của các vị tư tế đương thời, những người luôn miệng giảng rao về luật “mến Chúa trên hết mọi sự”
    – Và sau cùng, Ngài đã sẵn sàng chịu chết giữa hai tên trộm cướp để hoàn thành lời chứng cuối cùng: chết vì yêu thương anh em chính là của lễ đẹp nhất để tôn vinh và yêu mến Thiên Chúa; và chính đây lại là kết quả của một bản án mà những người Do Thái có chức quyền và sùng đạo đã nhân danh luật “mến Chúa” mà kết án Ngài: “Nó đã nói lộng ngôn !”

    Và xem ra sứ điệp về giới răn “Mến Chúa Yêu người” mà Lời Chúa hôm nay khơi gợi lại là câu chuyện miên viễn của loài người chúng ta; câu chuyện xoay quanh mối tương quan giữa con người với Thượng Đế và con người với nhau. Và lịch sử nhân loại luôn minh chứng rằng: hai mối tương quan nầy luôn đan quyện, khăng khít với nhau và tác dụng hổ tương gần như tuyệt đối: phủ nhận Thiên Chúa thì cũng đánh mất con người; cuồng tín với Thượng Đế hay đặt con người lên bệ thờ đều dẫn đến đại họa. Chúng ta biết đó, sau chủ trương “giết chết Thượng Đế của Nietzch” là những cuộc đại chiến kinh hoàng giết chết hàng bao nhiêu triệu người; cũng vậy, sau chủ trương “vô thần” để con người không còn nô lệ cho “thuốc phiện tôn giáo” của Marx-Engel-Lenin-Mao Trạch Đông-Stalin-Polpốt…, con người trở nên đao phủ để chém giết nhau không thương tiếc ! Cũng vậy, đức tin cuồng tín với Đấng Alah đã khiến những chiến binh IS Hồi Giáo cực đoan trở thành “máu lạnh” sẵn sàng “đánh bom tự sát” mặc kệ những người dân vô tội phải chết chóc đau thương. Trong khi đó, với trào lưu “nhân bản cực đoan” (Humanisme) đang dẫn dắt nhân loại tới con đường tự do phóng túng, phá bỏ những giềng mối luân lý nền tảng mà Thiên Chúa đã thiết lập để tự tung tự tác thỏa mãn những dục vọng đớn hèn…

    Sứ điệp Lời Chúa hôm nay muốn trình bày cho chúng ta một Tin Mừng trọn hảo để thể hiện niềm tin qua chân dung và lời dạy của chính Đức Kitô, “một vị Thượng tế thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời”(Bđ 2); nhưng cũng là một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,17-18). Vì là “Người Con vẹn toàn của Thiên Chúa” nên Đức Kitô đã trở thành “Người Anh Cả của muôn vạn người em” !

    Là môn sinh của Đức Kitô, những con người như linh mục Maximilien Kolbe, như Mẹ Têrêsa Calcutta hay bao nhiêu vị Đại thánh khác trong lịch sử hai ngàn năm của Giáo Hội…, để có được sức mạnh và lòng can đảm yêu thương con người đến cùng, đã phải nhờ đến sự đắm chìm cầu nguyện kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa.

    Vâng, bao lâu còn ngưỡng vọng lên trời, bấy lâu còn trung thành với trái đất ! Đó lài hai điều bất khả phả phân ly: MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI; hay nói một cách dí dỏm: “mình với ta” tuy hai mà một; một TÌNH YÊU, một ĐỨC MẾN. Amen.

    Về mục lục

    SỐNG GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG

    Lm. Ngọc Dũng

    Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta trung tâm của niềm tin Do Thái Giáo, đó là Shema Israel. Một cách cụ thể, Môsê nhắc nhở con cái Israel phải có thái độ nào trước Thiên Chúa: “Anh em cũng như con cháu anh em sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày trong suốt cuộc đời, tuân giữ tất cả những chỉ thị và mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh em, và anh em sẽ được sống lâu” (Đnl 6:2). Môsê nói những lời này cho những người Israel đã chứng kiến kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện khi đưa họ ra khỏi cảnh nô lệ bên Ai Cập. Để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, con cái Israel phải có lòng kính sợ Ngài và tuân giữ các mệnh lệnh của Ngài. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta đến tâm tình cần phải có khi nhìn lại cuộc sống của mình với những ơn lành Thiên Chúa đã thực hiện trên cuộc đời chúng ta. Đi trong đường lối của Thiên Chúa mang lại sự sống muôn đời và được hưởng niềm vui trong đất hứa. Bên cạnh đó, Môsê còn nhắc nhở dân Israel về niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, bên cạnh Ngài không có thần nào khác: “Nghe đây, hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6:4). Những lời này khẳng định vị trí tối thượng và duy nhất của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là Đấng duy nhất được tôn thờ, nên con cái Israel “hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6:5). Là Đấng tối thượng duy nhất nên Đức Chúa phải được yêu mến trên hết mọi sự và với trọn con người của chúng ta. Chúng ta đã ghi lòng tạc dạ điều này như Môsê đã nhắc nhở con cái Israel chưa? – “Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ” (Đnl 6:6).

    Đề tài về sự khác biệt giữa chức vụ thượng tế của Chúa Giêsu và các thượng tế khác được tác giả thư Do Thái tiếp tục trong bài đọc 2 ngày hôm nay: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình, và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:27-28). Theo tác giả thư Do Thái, Chúa Giêsu là mẫu gương thánh thiện và thập toàn cho chúng ta. Ngài không phạm tội như các thượng tế phàm nhân, nhưng Ngài chấp nhận hiến thân mình làm của lễ đền tội cho mọi người. Con chúng ta thì sao? Chúng ta có đủ can đảm để hiến thân làm của lễ đền tội cho những người làm chúng ta đau khổ, những người xúc phạm chúng ta không? Những ai nói “xin lỗi” sau khi phạm lỗi là những người sống theo bổn phận và đức công bằng. Những người nói “xin lỗi” khi người khác xúc phạm đến mình vì không muốn đánh mất mối tương quan đã được xây dựng là những người sống theo tình yêu và con tim của Chúa.

    Bài Tin Mừng hôm nay tiếp tục khẳng định vị trí cao trọng của tình yêu trung thành và vô điều kiện qua việc Chúa Giêsu cho biết tình yêu là điều răn đứng đầu. Bài Tin Mừng nói lên cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với một kinh sư. Đây chính là cuộc tranh luận thứ tư của Chúa Giêsu với các kinh sư. Tuy nhiên, thái độ chân thành và khao khát học hỏi của vị kinh sư biến sự kiện đó thành một cuộc trao đổi để học hỏi hơn là một cuộc tranh luận như thường xảy ra giữa Chúa Giêsu và các kinh sư. Chúng ta thấy có một sự tương đồng và hợp lý trong bài Tin Mừng. Chúng ta có thể chia bài Tin Mừng ra làm hai phần: phần 1 (Mc 12:28b-31) là câu hỏi thưa – đáp giữa vị kinh sư và Chúa Giêsu, phần 2 (Mc 12:32-34) là phần nhận định hay phản ứng của vị kinh sư và Chúa Giêsu trên câu trả lời của người kia.

    Phần 1 là câu hỏi-đáp về sự cao trọng của điều răn yêu thương: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?” (Mc 12:28b). Chúa Giêsu trích Đnl 6:4-5 để trả lời cho câu hỏi trên: “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” Câu này đứng vị trí đầu tiên trong ba bản văn Kinh Thánh mà người Do Thái phải đọc hai lần mỗi ngày. Điều răn yêu Chúa có nguồn gốc trong chính bản chất của Ngài như là Thiên Chúa duy nhất. Bốn danh từ “lòng, linh hồn, trí khôn và sức lực” không ám chỉ những phần khác nhau của con người, những nói lên tính toàn bộ của con người. Nói cách khác, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa với trọn con người của chúng ta. Chúng ta có đang yêu Chúa với trọn con người của chúng ta không hay tình yêu của chúng ta đã bị phân mảnh cho những tạo vật khác? Chúa Giêsu không dừng lại ở việc yêu Chúa, Ngài thêm vào tình yêu dành cho người thân cận: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:31). Tuy nhiên, chúng ta cần cẩn trọng trong việc đồng hoá hoặc gắn hai điều răn này với nhau. Hai điều răn được nối kết với từ “yêu” và chúng được đặt song song với nhau chính là “hành động mang tính thần học” của chính Chúa Giêsu. Khi phân tích câu trả lời của Chúa Giêsu từ khía cạnh Kitô học, chúng ta nhận ra nét đặc biệt sau: Trong câu trả lời của Ngài, Chúa Giêsu không chỉ nói đến vị trí tối thượng của tình yêu dành cho Thiên Chúa, của Shema Israel, nhưng Ngài còn khẳng định vị trí cao trọng của tình yêu dành cho người khác. Hai điều răn này đi với nhau không thể tách rời. Điều này xảy ra vì sự nhập thể của Ngài. Nói cách khác, qua mầu nhiệm nhập thể, Chúa Giêsu đã mang tình yêu dành cho Thiên Chúa và cho con người lại với nhau trong Ngôi Vị của Ngài: Ngài là Thiên Chúa thật [tình yêu dành cho Thiên Chúa] và là người thật [tình yêu dành cho người thân cận]. Chỉ có trong Chúa Giêsu, hai giới răn yêu Chúa và yêu người trở nên một. Ngài đã mang trời hoà giải với đất, giới hạn với vô hạn, tương đối với tuyệt đối, thời gian với vĩnh cửu. Như vậy, chỉ trong Chúa Giêsu chúng ta mới có thể yêu Chúa và yêu người khác cách trọn vẹn.

    Phần thứ hai trình bày cho chúng ta sự nhận định của vị kinh sư về câu trả lời của Chúa Giêsu và sau đó là nhận định của Chúa Giêsu về nhận định của vị kinh sư. Trong nhận định của mình, vị kinh sư đồng ý với những gì Chúa Giêsu trình bày mà không tỏ thái độ chống đối bằng cách nhắc lại những gì Chúa Giêsu nói. Nhưng như Chúa Giêsu thêm giới răn yêu người thân cận vào giới răn yêu Chúa, vị kinh sư cũng thêm “hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Lc 12:33). Lời này của vị kinh sư vọng lại lời của Ngôn sứ Hôsê (6:6) và lời trong sách Samuen quyển thứ nhất (15:22). Trong câu trả lời của vị kinh sư, chúng ta nhận ra nguyên lý nằm sau mọi lễ toàn thiêu và hy lễ là tình yêu dành cho Thiên Chúa và người thân cận. Có phải tình yêu Thiên Chúa và người thân cận là động lực thúc đẩy tất cả những lời nói và việc làm của chúng ta không?

    Đứng trước câu trả lời khôn ngoan của vị kinh sư, Chúa Giêsu “khen” ông ta và khẳng định rằng: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12:34). Câu nói của Chúa Giêsu không mang tính “tương lai,” nhưng là hiện tại. Nước Thiên Chúa là một thực tại mà vị kinh sư đang đứng rất gần, ngay bên cạnh. Chính tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân sẽ chuẩn bị cho ông đón nhận Nước Thiên Chúa. Đây cũng chính là điều Chúa Giêsu nhắc nhở mỗi người chúng ta: chúng ta chỉ có thể vào Nước Thiên Chúa khi tình yêu dành cho Chúa và cho tha nhân là động lực duy nhất của đời sống chúng ta.

    Về mục lục

    CHỈ MỘT ĐÔ-LA

    Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

    Hôm nay Chúa Giêsu không chỉ dạy ta về lòng yêu mến đối vời Thiên Chúa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”, mà còn đòi phải yêu thương đồng loại: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”.

    1. Về tình yêu đối với Thiên Chúa, Câu trả lời của Chúa Giêsu không mới, bởi đây là giới răn trong kinh Shema mà một người Do Thái đạo đức phải đọc hai lần sáng tối mỗi ngày để cầu nguyện (x.Đnl 4, 5-9).

    Tuy nhiên, ở đây, Chúa Giêsu lấy lại lề luật Cựu Ước vừa để tái khẳng định điều chính yếu vừa để kiện toàn lề luật. Vì khi lặp đi lặp lại từ “hết” nhiều lần, Chúa đòi từng người phải yêu mến Thiên Chúa bằng trọn vẹn con người mình, trọn vẹn cả thân xác và trọn vẹn linh hồn mình.

    Đúng hơn, tình yêu dành cho Thiên Chúa đòi sự dấn thân toàn bộ con người: Cả con tim, tâm hồn và tư tưởng. Nghĩa là tình yêu đó không chỉ trên bình diện lý trí, hay tình cảm, nhưng còn bao gồm cả thân xác, sức lực, các giác quan, đam mê, thậm chí chính sự sống và mạng sống của con người.

    Đàng khác, từ “hết” đặt trước những cơ quan cao quý được xem là thượng đẳng của con người: cõi lòng, linh hồn, trí khôn, sức lực còn muốn nói rằng, tình yêu dành cho Thiên Chúa khiến con người phải từ chối mọi ngẫu tượng: tiền bạc, tính dục, quyền lực, tư lợi và danh vọng… Bởi chỉ có Thiên Chúa là Chúa mọi sự, trên tất cả mọi sự.

    Thiên Chúa là Cha yêu thương. Nơi Ngài, tình yêu luôn tràn đầy, luôn trao ban, luôn sẵn sàng nên chốn yên bình để ta tìm về. Bởi Thiên Chúa yêu ta trước, Ngài muốn ta đáp lại tình yêu của Ngài bằng chính tình yêu của ta, không phải để Thiên Chúa thêm gì, nhưng là để ta được chiếm ngự chính sự sống và hạnh phúc viên mãn nơi lòng Chúa êm ái và dịu ngọt.

    Nhưng chỉ yêu một mình Chúa thôi chưa đủ. Chúa đòi ta phải cụ thể tình yêu mà ta dành cho Chúa bằng cách yêu thương anh chị em. Không phải yêu anh chị em bằng lời nói suông chung chung, nhưng phải yêu họ như yêu chính bản thân ta vậy.

    2. Thực hành tình yêu anh chị em, là thể hiện tình yêu của ta dành cho Chúa. Nói cách khác, ta yêu Chúa nơi anh chị em. Trao dâng tình yêu của mình dành cho anh chị em là cách ta chứng minh cụ thể lòng yêu mến Chúa. BỞI YÊU CHÚA THÌ PHẢI YÊU ANH CHỊ EM. YÊU ANH CHỊ EM LÀ BIỂU HIỆN CỦA LÒNG YÊU MẾN CHÚA.

    Câu chuyện sau đây giúp ta hiểu và sống tình yêu đối với anh chị em, qua đó, thể hiện lòng yêu mến dành cho Thiên Chúa. Câu chuyện như sau:

    Trong túi một cậu bé chỉ còn đúng một đô-la. Cậu đến cửa hàng bên đường hỏi: “Thưa bác, bác có bán Thượng Đế không ạ?”. Người chủ cửa hàng không nói gì, lo ngại cậu bé quấy rối nên mời cậu ra khỏi cửa hàng.

    Trời lại sắp tối, cậu bé lần lượt đi hết cửa hàng này đến cửa hàng khác. Cuối cùng, nơi cửa hàng thứ 29, cậu được người chủ tiếp đón nhiệt tình. Đó là một ông lão hơn 60 tuổi, tóc bạc phơ, gương mặt hiền từ. Ông lấy làm lạ vì cậu bé không ra dáng một đứa bé hư hỏng, quậy phá, đồng thời cũng tò mò về “món hàng Thượng Đế” mà cậu muốn mua, nên hỏi lại: “Hãy nói cho ông biết, cháu mua Thượng Đế để làm gì?”.

    Cậu khẽ khóc rồi nói: “Cháu là Tony. Cha mẹ cháu mất từ khi cháu còn rất bé. Chú Leo của cháu nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến giờ. Chú của cháu là công nhân xây dựng. Mới đây, chú ngã từ trên cao xuống và đang hôn mê. Cháu nghe được lời của một trong các bác sĩ nói, chỉ có Thượng Đế mới cứu được chú của cháu. Như vậy Thượng Đế chắc phải là một thứ vô cùng kỳ diệu nên cháu muốn mua về để cho chú của cháu ăn. Cháu rất mong chú Leo của cháu nhanh chóng khỏi bệnh ạ!”.
    Ông lão đỏ hoe mắt hỏi: “Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?”.
    Cậu bé nhanh nhảu đáp: “Cháu có một đô-la ạ!”.
    Ông lão vội nói: “Thật may! Giá của Thượng Đế đúng một đô-la cháu ạ!”.
    Nói xong, ông vào lấy một chai nước có nhãn hiệu “Nụ hôn của Thượng Đế” và đưa cho Tony. Ông nói: “Cầm lấy đi cháu! Chú của cháu uống hết chai này là sẽ khỏi bệnh!”.
    Tony vô cùng mừng rỡ, ôm chai nước vào ngực tức tốc chạy nhanh về bệnh viện. Vừa bước vào phòng bệnh, cậu vui vẻ la to: “Chú ơi! Cháu đem Thượng Đế đến rồi đây! Chú sẽ chóng khỏe lại thôi!”.
    Vài ngày sau, một nhóm chuyên gia y học trình độ cao nhất đã đến bệnh viện tiến hành hội chẩn cho chú Leo của cậu bé Tony.
    Họ sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới để chữa bệnh. Cuối cùng, điều kỳ diệu đã xảy ra, chú Leo của cậu bé hoàn toàn hồi phục. Ngày chú của Tony ra viện, nhìn số tiền viện phí quá lớn ghi trên hóa đơn, anh như suýt ngất xỉu.
    Nhưng bệnh viện cho chú của Tony biết: “Mấy hôm trước, có ông lão đến thanh toán hết tiền viện phí cho anh. Ông là một tỷ phú. Trước đây, ông làm chủ tịch một tập đoàn đa quốc gia nhưng bây giờ đã về nghỉ ngơi và ẩn cư bằng cách mở một cửa hàng tạp hóa bán qua ngày. Nhóm chuyên gia y học kia cũng là do ông lão bỏ ra một số tiền lớn để mời đến chữa trị cho anh”.
    Sau khi nghe xong câu chuyện, Leo cảm kích vô cùng. Anh mang ơn ông lão vì chính ông đã hoàn lại cho anh sự sống. Lập tức anh cùng cháu trai của mình đến tạ ơn ông.
    Nhưng ông lão lại chỉ vào Tony, khẽ nói: “Trước hết, tất cả chúng ta đều phải cám ơn Thượng Đế. Ngài ban cho anh cháu Tony. Chính tình yêu đơn sơ nhưng cháy bỏng của cháu đã kéo Thượng Đế vào cuộc, và Ngài đã trao quyền năng, lòng xót thương của Ngài trên sự sống của anh và cuộc đời chúng ta.
    Kế đến, chúng ta cám ơn cháu Tony. Chính sự hiền lành và tình cảm dạt dào của cháu đã khiến tất cả những ai nghe biết đều phải mềm lòng trước nỗi đau của đồng loại.

    Chúng ta cám ơn những người đã được Thượng Đế dùng như dụng cụ của Ngài để cứu sống anh.

    Chúng ta cám ơn nhau, vì mỗi chúng ta đều cần đến nhau. Tôi tặng anh chút tiền trong khối tài sản của mình, nhưng anh đã cho tôi niềm vui trọn đời. Vì từ nay, chỉ cần nhìn thấy anh hạnh phúc bên cháu Tony nhỏ bé là tôi hạnh phúc vô cùng. Chắc chắn sẽ không còn nỗi buồn nào xâm chiếm tâm hồn tôi.

    Tôi cám ơn anh. Căn bệnh của anh càng lúc càng khiến tôi tin mãnh liệt vào Thượng Đế. Nơi cái chết mà anh trải qua và sự sống kỳ diệu của anh hôm nay là bằng chứng của tình yêu mà Thượng Đế ưu ái dành cho chúng ta.

    Cuối cùng, tôi tin rằng, trong cuộc sống này, NẾU TÌNH NGƯỜI ĐỦ LỚN, thì dù chỉ một đô-la, vẫn đủ sức cứu sống một con người, anh ạ…”.

    Về mục lục

     

    LỜI NÓI VÀ VIỆC LÀM

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Có người đã nhận định một cách khôi hài: từ miệng đến bàn tay, khoảng cách không bao xa, mà phải mất nhiều thời gian đến thế! Cũng từ miệng đến bàn tay, chẳng bao xa, mà lời nói đã phôi phai nhạt nhòa. Điều đó có nghĩa, việc làm cụ thể phù hợp với lời nói thật khó biết bao. Người ta thường nhắc đến những mỹ từ, những công thức văn chương, như những câu thuộc lòng, nhưng ít khi người ta chú trọng đến việc thực hiện những ngôn từ ấy trong cuộc sống cá nhân của mình. Trung tín và làm theo những gì đã nói, quả thật là một điều thật khó khăn. Lời Chúa hôm nay muốn chúng ta suy tư về điều này, đồng thời nhắc ta hãy cố gắng làm cho lời nói đi đôi với việc làm.

    Lâu nay, trong quan niệm truyền thống, các ngành nghề như bác sĩ, giáo viên luôn được tôn trọng, vì họ là những người làm việc theo lương tâm nhà nghề. Tuy vậy, nhiều sự kiện xảy ra gần đây cho thấy, những người mang danh hiệu cao quý này cũng đánh mất niềm tin, có nghĩa là lời nói của họ không đi đôi với việc làm. Đáng buồn hơn nữa, giữa những cộng đoàn đức tin hoặc những người lãnh đạo tinh thần của các cộng đoàn, việc làm của họ cũng không phản ánh trung thực như những gì họ thường tuyên xưng. Đó chính là một rào cản lớn cho sự phát triển của Giáo Hội và cho công cuộc truyền giáo. Làm sao mà chứng từ của chúng ta có tính khả tín, khi giữa cộng đoàn đức tin còn nhiều tranh chấp, chia rẽ, khi lối sống của chúng ta hoàn toàn đi ngược với những gì chúng ta nói và rao truyền?

    “Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em”. Qua những lời này, ông Môi-sen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật. Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng mép, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6). Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau. Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn. Đối với người Ki-tô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

    Mến Chúa hết lòng và yêu tha nhân như chính mình. Có thể nói, hai vế của giới luật này bao gồm lý thuyết và thực hành. Bởi lẽ, yêu mến Chúa chỉ được thể hiện qua những công thức hoặc qua những lời cầu nguyện tôn vinh, còn yêu tha nhân thì phải được thực hành bằng những việc làm cụ thể. Nói mến Chúa xem ra không khó, nhưng yêu người thực sự là vô cùng khó khăn. Những ai chỉ khẳng định mình mến Chúa, mà trong thực tế, không thực hiện đức yêu người, xem ra họ chỉ dừng lại ở lời nói, mà chưa thể hiện qua việc làm.

    Trước câu hỏi của ông kinh sư: “Đâu là giới răn hàng đầu?”, Chúa Giê-su muốn nhắc lại giới răn quan trọng của Cựu ước, là giới răn mến Chúa yêu người. Theo nội dung Tin Mừng, dường như Chúa Giê-su muốn kết hợp hai giới răn này thành một, khi Người gọi vế thứ nhất là “điều răn đứng hàng đầu, và sau đó Người tuyên bố: “Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều đó”. Như thế, giáo huấn của Chúa thâm sâu hơn giáo huấn của Cựu ước. Lời kinh được ghi trong sách Đệ nhị luật (Bài đọc I) được gọi là “Shema Israel – Nghe đây, Israel” được coi như kinh Lạy Cha của các Ki-tô hữu hôm nay. Đó là lời kêu gọi hãy mến Chúa một cách trọn vẹn. Giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ dừng lại ở tâm tình mến Chúa, mặc dù đó là tình mến “hết lòng, hết dạ, hết sức”, nhưng thúc đẩy mọi người chứng tỏ tình mến ấy qua những hành động cụ thể với những con người bằng xương bằng thịt đang sống xung quanh.

    “Ông không còn xa nước Thiên Chúa bao nhiêu!”. Đây vừa là lời tán thưởng, và cũng là lời cảnh báo. Chúng ta không biết rõ ông kinh sư có thực thi những gì Chúa dạy, hay ông chỉ học thuộc lòng như một cái máy. Tác giả Mác-cô kết luận: “Không ai dám chất vấn Người nữa”. Đây là cách diễn tả rất độc đáo của Thánh Mác-cô, vì dưới ngòi bút của tác giả, lời giảng dạy của Chúa Giê-su luôn có sức thuyết phục ngay cả những đối phương của Người, vì Người là vị Ngôn sứ cao cả và uy quyền.

    Lời nói phải đi đôi với việc làm, mến Chúa phải được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân. Đó là thông điệp quan trọng mà Lời Chúa muốn nhắn gửi chúng ta. Thành tâm đón nhận và chuyên cần thực thi Lời Chúa sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc trong tâm hồn, và hân hoan tin tưởng hướng về đời sau.

    Về mục lục

    .

    LUẬT TỐI THƯỢNG

    Tgm. Ngô Quang Kiệt

    Không có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái. Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật. Họ giữ luật cặn kẽ chi li. Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ. Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay. Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường. Hôm nay, nhân một thắc mắc rất hợp lý, Chúa Giêsu đã giải thích cho họ những điểm then chốt trong lề luật. Đó là:

    Thiên Chúa là độc nhất vô song. Đây là một chân lý nhưng nhiều khi bị lãng quên. Thiên Chúa là chủ tể muôn loài. Ngài là Đấng duy nhất cao cả. Không ai có thể sánh bằng. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống của muôn loài muôn vật. Ngài là mục đích của muôn loài muôn vật. Vũ trụ chỉ tồn tại trong Ngài. Vì thế ta phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

    Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Tuy nhiên Chúa là chúa tể mọi loài. Quyền uy vô song tuyệt đối. Nhưng Ngài là Thiên Chúa rất mực yêu thương. Ngài ban cho ta sự sống. Ngài nhận ta làm con của Ngài. Ngài cai quản vũ trụ không bằng quyền uy nhưng bằng tình thương. Ngài là người cha luôn yêu thương con cái. Ngài mong muốn ta đáp lại bằng tình yêu mến Ngài. Yêu mến Thiên Chúa không những là điều công bằng và hợp tình hợp lý, mà còn đem lại cho ta sự sống và hạnh phúc. Xa lìa Thiên Chúa đưa ta đến diệt vong vì mất sự sống và mất hạnh phúc. Nhưng con người yếu hèn, lại bị ma quỉ cám dỗ, nên thường lãng quên Thiên Chúa, coi thường Thiên Chúa và phản bội tình yêu của Ngài.

    Yêu tha nhân như chính mình. Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.

    Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng tình yêu là quan trọng nhất. Tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật. Như câu kết của kinh Mười điều răn: Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: Trước kính mến một Thiên Chúa trên hết mọi sự. Sau lại yêu người như mình ta vậy.

    Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật. Như lời Chúa mời gọi: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”.

    Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn giúp ta xây dựng một thế giới mới chan chứa tình người. Thế giới còn chiến tranh, xã hội còn nhiều bất công vì con người chưa tuân giữ luật Chúa. Nếu mọi người biết yêu mến Chúa và yêu mến nhau, thế giới sẽ tươi đẹp, cuộc sống sẽ hạnh phúc.

    Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1) Yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Bạn có thấy điều này là hợp tình hợp lý không?

    2) Tại sao ta phải yêu mến tha nhân?

    3) Bạn hãy tưởng tượng ra một thế giới trong đó mọi người giữ luật yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân. Bạn thấy thế giới đó thế nào?

    Về mục lục

    .

    SỐNG YÊU THƯƠNG GIỮA THẾ GIỚI HẬN THÙ

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Hàng ngày đọc tin tức ta sẽ thấy chán ngán thế sự mà thốt lên như Nguyễn Du đã từng than rằng:

    “Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

    Vâng”, mạng xã hội chúng ta sẽ thấy gì?

    Tôi đã thấy mộtbác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.

    Tôi cũng thấy những nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt, những sinh viên ra trường phải trao thân mới có việc làm. Tôi còn thấy bộ trưởng gíao dục mặc nhiên cho phép sinh viên bán dân 3 lần, nếu lần thứ tư mới bị đuổi học!

    Tôi còn thấy những bảo mẫu đánh trẻ không chút nương tay. Những nghịch tử bất hiếu ra tay độc ác với đấng sinh thành.

    Tôi không chỉ thấy một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc,màcả người vợ ân ái lại chặt chồng thành nhiều khúc vất vương vãi trên đường.

    Tôi thấy người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp… Còn rất nhiều tin.

    Đây là những hình ảnh đáng buồn của con người Việt Nam hôm nay.  Sự hoà khí, hoà hợp giữa con người với nhau đang mất dần mà thay vào đó là bạo động, là tranh chấp, thù hận. . . Ngày nay, người ta có thể đánh nhau, thậm chí giết người vì những nguyên nhân nhỏ nhặt. Chuyện đi đường va chạm giao thông, va chạm không xin lỗi, nhìn đểu, nói lớn tiếng, nặng lời,…đều dẫn đến ẩu đảgây thương tích cho nhau.

    Không chỉ bạo lực trong sinhhoạt thường ngày mà ngay cả những nơi thánh thiêng của lễ hội Chùa chiền vẫn có những thảm án đẫm máu bởichen lấn, giành giựt . . . như ở Đền Trần hay Đền Gióng  , . . .

    Các chuyên gia tội phạm cho rằng đây là hệ lụy của sự vô cảm, thái độ sống ích kỷ, chỉ biết mình, tâm lý chụp giật, tôn thờ vật chất, sống thực dụng… dẫn đến thái độ sống thơ ơ trước nỗi đau đồng loại, vô cảm trước việc làm sai trái xảy ra hàng ngày.

    Xã hội là vậy nhưng còn người Công giáo thì sao? Liệu chúng ta có thể sống làm chứng cho tình yêu như Thiên Chúa mời gọi hay không?

    Trong những dịp bác ái cứu trợ tôi thấy người Công giáo ít ra không vô cảm với khổ đau của tha nhân. Ai cũng rộng lòng của ít lòng nhiều cùng chia sẻ với những người bị thiên tai. Tôi cũng thấy rất nhiều những cá nhân tự nguyện dấn thân để đem tình thương đến cho người nghèo, người tâm thần, người bất hạnh qua những chén cơm, chén cháo đầy tình nghĩa. Tôi cũng thấy nhiều giáo xứ, nhiều đoàn hội bao bọc cho một cô nhi viện hay một nhà dưỡng lão dành cho người vô gia cư.

    Đây là nét đẹp của người Công giáo. Đây là điểm son mà chúng ta cần phát huy hơn nữa. Vi chưng “người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau”.

    Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta là người ky-tô hữu phải biết sống yêu thương. Yêu thương là lẽ sống của người tín hữu. Yêu thương cũng là nét đẹp của người tín hữu. Yêu thương là trở nên giống Thầy Giê-su. Vì Thầy đã từng làm gương về một đời sống yêu thương.

    Cuộc đời Chúa Giê-su luôn yêu thương. Ngài yêu thương nhân loại nên luôn xả thân cứu người. Từng hơi thở. Từng bước chân của Ngài luôn là những nhịp cầuyêu thương. Ngài đã trở nên khuôn mẫu cho mọi tình yêu, vì “không có tình yêu nào cao quý hơn, tình yêu dám thí mạng vì bạn hữu”.

    Hôm nay Chúa bảo người biệt phái: “ông không còn xa Nước Trời bao nhiêu”. Từ ngữ không còn xa như muốn nói tình trạng của ông hiểubiết luật nhưng chưa thực sự sống yêu thương. Ông hiểu luật. Ông biết luật mến Chúa yêu người. Nhưng cái biết còn phải đi đến thực hành mới vào được Nước Trời.

    Là người ky-tô hữu Chúa cũng bảo “không phải ai nói lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời đâu”. Điều quan yếu là thực hành những điều Chúa dạy mới được ở bên Chúa trong Nước Trời.

    Ước gì chúng ta hãy noigương ThầyGiê-su để trở thành con người đẹp, con người có nhân cách, có nghĩa khí trước mặt mọi người. Xin cho chúng ta được vào Nước Trời khi sống những điều mình tin bằng việc mang ra thực hành lời Chúa dạy. Amen

    Về mục lục

    .

    LUYỆN LÒNG NHÂN

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Lòng nhân ái liên quan đến lòng mến Chúa, như là thước đo của lòng mến. Nhân ái là một thành phần quan trọng của con người vốn có và có thể mất đi nếu không chuyên lo bồi dưỡng và thực luyện. Chúa Giê su dạy: Mến Chúa hết lòng hết sức và tha nhân cũng yêu mến như vậy. Luyện lòng nhân ái thế nào như Chúa muốn?

    Nuôi dưỡng tâm tình tạ ơn từ buổi sớm:

    Lòng nhân không ở bên ngoài mà ở bên trong tâm hồn của chính mình. Thế nên, nuôi dưỡng lòng nhân trước tiên là nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng cách nhìn ra những hồng ân Chúa ban. Tạ ơn vì một ngày mới, một sự sống mới của ngày bắt đầu, những bạn bè, những công việc, biết bao điều tốt lành Chúa ban. Nuôi dưỡng là bơm vào tâm hồn mình những điều tích cực để sống ngày vui tươi. Chúa Giê su cũng đã thực hiện như thế mỗi buổi sớm lên núi cầu nguyện và dâng lên tâm tình tạ ơn: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Mt 11, 25)

    Nuôi dưỡng tâm hồn cảm thông.

    “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9, 36). Ai trong chúng ta đều cần có sự cảm thông, vì mỗi người đều có những nỗi niềm riêng và cả những lúc bồng bột trong lời nói, việc làm làm phiền lòng người khác. Lắm lúc chẳng hiểu về chính mình tại sao lại như thế! Cảm thông là một điều cần thiết tạo nên tính hiệp thông, cùng nhau chia sẻ niềm vui nỗi buồn, san sẻ những lo âu, buồn phiền, giúp nhau sống tốt hơn qua những thăng trầm.

    Thực hành cảm thông

    Cảm thông xuất phát từ lòng nhân ái và từ trong lòng sẽ xuất hiện cần làm gì cho người khác vơi bớt đau khổ. Trong nhiều trường hợp, Chúa Giêsu chữa người què, cho người mù được thấy, chữa những tâm hồn tan nát bằng lòng thương xót… Chính lòng nhân sẽ chỉ làm gì tốt nhất, từ lời nói, việc làm. Khi thực hành lòng nhân, chính mình sẽ thấy nhu cầu chung của mọi người, dù giàu sang hay thấp hèn là đi tìm hạnh phúc và hạnh phúc chỉ tìm thấy được khi sống niềm vui với người khác.

    Tình yêu cao quý là tình yêu chết cho người mình yêu, mang lấy thập giá cuộc đời của nhau. “Thật vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe; nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1Pt 2, 21 – 24)

    Nguyên Tắc Vàng

    “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12)

    Một điều rất đơn giản trong cuộc sống tương quan, thế nhưng cũng đã bao lần làm cho những người khác điều không thích cho mình. Có nhiều nguyên nhân:

    Biết nghĩ cho mình mà không biết nghĩ cho người. Biết tốt cho mình mà không biết tốt cho người… Chung quy cũng vì cái tôi ích kỷ mà đánh mất người khác trong trái tim mình. Bao nhiêu điều sống phiền lòng anh chị em cũng vì cái tôi ích kỷ.

    Để sống như Chúa dạy, đôi khi làm ơn mắc oán, đôi khi bị hiểu lầm, hoặc mình hiểu lầm người khác…

    Nuôi dưỡng đức ái.

    Bằng những thực hành cụ thể, Thánh Phaolô phác họa con đường đức ái: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1 Cor 13, 4 – 7)

    Dành buổi tối kiểm lại đời sống.

    Những gì đã làm được và chưa làm được. “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26). Quyết tâm hơn mỗi ngày “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48)

    Xin Chúa dạy chúng con có lòng thương cảm như Chúa, biết đem ra thực hành Lời Chúa mỗi ngày và sửa lại những lỗi lầm với anh chi em mà chúng con đã vấp phạm.

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Đạo Công giáo có mười giới răn. Những giới răn này do ông Môsê nhận từ  Thiên Chúa trên núi Sinai, để dạy dỗ dân chúng sống theo luật Chúa. Do Thái giáo khi xưa cũng dựa trên Thập giới để răn bảo dân chúng sống theo đường lối của Chúa. Tuy nhiên, qua nhiều thế hệ, họ đã chú giải thêm thành 613 điều luật.Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm không được làm. Họ không đồng ý với nhau được điều răn nào là điều răn trọng nhất, nên hôm nay mới có câu chuyện một luật sĩ đến hỏi Chúa Giêsu :” Trong các giới răn, điều nào trọng nhất ? “.

    Vâng, người luật sĩ là người rất thông luật trong Đạo Do Thái, tuy nhiên đứng trước nhiều luật lệ khuyên làm và cấm làm. người  luật sĩ này cũng phân vân không biết đâu là điều luật quan trọng và đâu là điều con người phải hết sức trân trọng, giữ gìn. Chúa Giêsu đã không trả lời úp mở với người này. Ngài nói ngay:”Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi.Còn giới răn thứ hai : Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi “ ( Mc 12,30-31 ). Chúa Giêsu trích dẫn đoạn văn Shema của dân Ít-ra-en : Sách Đệ Nhị Luật đoạn 6,4-5 :” Nghe đây hỡi Ít-ra-en …”. Đây chính là đoạn văn tóm kết tất cả nội dung và giáo huấn quan trọng trong Sách Luật :” Mến Chúa và Yêu người”. Thực vậy, Đức Giêsu đã nâng giới răn yêu người ngang tầm với mến Chúa. Ngài đã đưa luật yêu người lên tầm cao mới, chiều sâu mới nghĩa là “Nếu ai nói mến Chúa mà không yêu người, đó là người nói láo như thánh Gioan đã quả quyết dứt khoát, mãnh liệt :” Nếu ai nói : “ Tôi yêu mến Chúa “ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không thấy “ ( 1Ga 4, 20 ).

    Thiên Chúa không hiện ra như đã trực tiếp ở với các môn đệ khi xưa để dạy dỗ, uốn nắn các ngài và minh chứng cho các ngài Lòng Thương Xót của Ngài. Ngài dạy các môn đệ thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất và yêu mến tha nhân như chính mình. Ngày nay, Chúa cho chúng ta sống bên cạnh những người xung quanh, họ là hiện thân của Chúa. Chính vì thế, khi chúng ta giúp đỡ,chia sẻ và yêu thương họ là chúng ta cũng đang yêu thương Chúa.Thiên Chúa thật rộng lượng bởi vì qua Đức Giêsu, Ngài đã đồng hóa minh với người đói, người khát, người rách rưới, người nghèo, người tù tội vv…và mỗi lần chúng ta giúp đỡ một trong những người này là gchúng ta đang giúp chính Chúa.

    Chúng ta dành cho Chúa những tình cảm sâu xa,trái tim tinh tuyền của mỗi người chúng ta bởi vì Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, chậm bất bình và hết mực yêu thương. Đàng khác với những cử chỉ chân thành, một nụ cười, một lời nói dịu dàng, yêu thương, chúng ta có thể sưởi ấm tâm hồn của những người đang gặp thử thách, những tâm hồn băng giá cuộc đời. Lúc đó, chúng ta sẽ ra khỏi sự giới hạn của tình yêu bình thường của con người, để vươn cao tới tình yêu Thiên Chúa. Bởi vì, thước đo của tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng là thước đo tình yêu của chúng ta đối với nhau.  Yêu như Chúa yêu :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ).

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con cảm nghiệm sâu xa lời nói của thánh Augustinô :” Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo.Tình yêu có đôi mắt để thấy nỗi bất hạnh và thiếu thốn.Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở và nỗi buồn phiền của tha nhân”.Xin cho chúng con luôn xác tín : Chúng con chỉ thực sự mến

    Chúa khi chúng con hết lòng yêu mến tha nhân.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Người luật sĩ Do Thai đã hỏi Chúa Giêsu điều gì ?

    2.Chúa Giêsu đã đáp lại làm sao ?

    3.Tại sao nói mến Chúa mà không yêu anh em là người nói dối ?

    4.Thánh Gioan đã nói sao về việc này ?

    5.Tại sao không yêu thương nhau, chúng ta không thể mến Chúa ?

    Về mục lục

    .

    THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA

    QUA VIỆC PHỤC VỤ THA NHÂN

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Trong đạo Do-Thái, từ “Mười Điều Răn” Đức Chúa Trời ban cho ông Mô-sê trên núi Xi-nai, các thầy Ráp-bi diễn giải thêm thắt thành 613 điều khoản, trong đó có 248 điều buộc và 365 điều cấm.

    Khi có người thông luật đến hỏi xem điều răn nào trọng nhất trong số 613 khoản luật ấy, Chúa Giê-su trả lời ngay: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi (Đnl 6,5); Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Lv 19,18). Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mác-cô 12, 29-31)

    Chúa Giê-su nhập hai giới răn thành một

    Điều răn mến Chúa được ghi trong sách Đệ Nhị Luật, điều răn yêu người được chép ở sách Lê-vi, thuộc về hai bộ sách khác nhau đã được Chúa Giê-su liên kết thành một điều răn duy nhất là mến Chúa yêu người.

    Thế nhưng, có nhiều tín hữu vẫn xem việc mến Chúa và yêu người là hai điều riêng biệt, chẳng liên hệ gì đến nhau. Người ta tưởng có thể hết lòng tôn kính phụng thờ Thiên Chúa nhưng đồng thời vẫn ghét bỏ, bạc đãi con người.

    Chúa Giê-su phá bỏ quan điểm sai lầm đó khi nối kết giới răn mến Chúa và yêu người thành một và Người nhấn mạnh rằng chính khi yêu người cũng là lúc mến Chúa và tình yêu đối với Thiên Chúa phải được thể hiện qua tình yêu thương anh chị em chung quanh và những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa.

    Tại sao lại như thế?

    Thiên Chúa và con người chỉ là một

    Khi Sao-lê bắt bớ các tín hữu đầu tiên theo Chúa Giê-su, ông bị Chúa Giê-su quật ngã trên đường Đa-mát và Người lên tiếng quở trách: “Sao-lê! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?”

    Thực ra, lúc bấy giờ, Sao-lê chỉ lùng bắt các tín hữu của Chúa Giê-su thôi, còn Chúa Giê-su thì đã phục sinh và lên trời rồi thì làm sao có thể bắt bớ Người được. Vậy mà Chúa Giê-su không hạch ông: “Tại sao ngươi bắt bớ các tín hữu của Ta”, mà lại nói: “Tại sao ngươi bắt bớ Ta” (Cv 9, 4).

    Sở dĩ Chúa nói như vậy là vì các ki-tô hữu là hiện thân của Chúa, là những chi thể trong thân mình Người, nên ai bắt bớ họ là bắt bớ Chúa.

    Đặc biệt qua dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su dạy cho ta biết Người đồng hóa mình với những anh chị em chung quanh khi phán rằng: “Những gì các ngươi đã làm cho các anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta” và “những gì các ngươi đã không làm cho các anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã không làm cho chính Ta”. (Mt 25, 40.45)

    Dựa vào lời dạy trên đây của Chúa Giê-su, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, qua sứ điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” cũng xác nhận rằng Thiên Chúa và con người chỉ là một. Ngài viết:

    “Chúa Giê-su đồng hóa mình với những người cùng quẫn, những người đói khát, những khách lạ, những kẻ trần truồng, đau yếu và những người đang trong vòng lao lý. Người phán: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25:40) Như thế, mến Chúa và yêu người đã trở thành một: Trong những người anh em bé nhỏ nhất, chúng ta tìm thấy chính Chúa Giêsu… (sđd số 15)

    Việc phụng thờ Thiên Chúa phải đi đôi với việc phục vụ con người.

    Phát xuất từ sự thật Thiên Chúa đồng hóa với con người và những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa Giê-su, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI dạy rằng việc phụng thờ Thiên Chúa phải đi đôi với việc phục vụ con người, không được phép xao lãng một trong  hai. Ngài viết: chúng ta “không thể tách rời tình yêu mến Thiên Chúa và tha nhân vì cả hai chỉ là một giới răn duy nhất.” (sđd số 18)

    Qua số 22 trong sứ điệp nầy, Ngài viết tiếp:

    Vì thế, “tình yêu đối với các quả phụ, kẻ mồ côi, người bị tù đày, người bệnh tật và người túng thiếu dưới mọi hình thức, thì cũng thiết yếu đối với Hội Thánh như là cử hành các bí tích và rao giảng Tin Mừng. Hội Thánh không thể lơ là việc phục vụ bác ái cũng như không thể lơ là việc ban các bí tích và rao giảng Lời Chúa.” (sđd số 22)

    Lạy Chúa Giê-su,

    Chúa tự đồng hóa mình với con người và mỗi người thật sự là một phần thân thể của Chúa là một sự thật lớn lao cao cả trước mắt mọi người; thế mà tiếc thay, không mấy ai nhìn thấy, không mấy người nhận ra; mà vì không nhận ra sự thật cao cả nầy nên con người liên tục gây ra vô vàn đau thương, bất hạnh cho nhau trên cõi đời nầy.

    Xin ban Thánh Thần Chúa cho chúng con và cho toàn thể nhân loại, để Người khai mở tâm hồn mọi người nhận ra sự thật vĩ đại nầy; nhờ đó, nhân loại sẽ luôn được sống trong hòa bình và yêu thương.

    Về mục lục

    .

    TÌNH YÊU LÀ SỰ HOÀN THIỆN CỦA CON NGƯỜI

    Lm. GB. Trần Văn Hào

    Một nữ văn sĩ đã viết: “Cuộc đời con người vốn trống trải như một quán trọ. Không ai trên cõi đời này có thể sống mà không yêu một người nào hay yêu một cái gì. Bao giờ trái tim còn rung lên những nhịp đập, bao giờ đôi mắt còn nhìn thấy mặt trời mọc, mặt trời lặn bên kia đồi, bao giờ còn khoảng cách mênh mông của những vì tinh tú trên bầu trời cao, con người còn phải yêu để sống”.

    Tư tưởng của nhà văn ngụ ý nói rằng tình yêu là một nhu cầu thiêng liêng và cao quý của kiếp sống hiện sinh nơi mỗi người chúng ta. Chỉ có gỗ đá và thú vật mới không biết rung cảm và yêu thương, còn đã là người, chúng ta cần phải yêu để có thể tồn tại. Đó là quy luật thiết yếu mà Thiên Chúa đã đặt để nơi cuộc sống mọi người.

    Nhưng thật trớ trêu, người ta đã và đang lợi dụng cũng như bóp méo ý niệm thân quen này. Có những tình yêu đáng lẽ rất trong sáng, lại bị đánh đổi bằng chút ít tiền bạc. Có những tình yêu thoi thóp nơi những trái tim chỉ biết đợi, biết chờ mà không bao giờ được đáp trả. Có những bạn trẻ lao đầu vào những cuộc tình quái gở, vội trao ban những gì quý giá nhất của đời con gái để suốt đời phải ôm một nỗi sầu mênh mang. Có những con người điên điên khùng khùng rao bán tình yêu chỉ với vài ba chỉ vàng, hoặc dùng vốn tự có để đổi lấy một mảnh tình rách. Biết bao phũ phàng và xót xa vẫn đang xảy ra đặc biệt nơi các bạn trẻ, khi họ muốn vươn tới một tình yêu trong sáng nhưng không thể nào có được. Ai cũng biết và cảm thấu sự cao quý của tình yêu, nhưng tình yêu thực sự là gì?

    Các bài đọc Lời Chúa hôm nay vạch dẫn cho ta câu giải đáp. Những môn đệ của Đức Giêsu phải thâm tín rằng không thể có một tình yêu chân chính nếu không quy tập về chính Thiên Chúa, bởi lý do giản đơn như thánh Gioan tông đồ đã xác quyết: “Thiên Chúa là tình yêu”. Nói cách khác, Thiên Chúa vốn tự bản chất là Tình yêu, đã thiết định một lề luật căn bản nơi nội tâm mỗi người, đó là luật yêu thương. Càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, con người càng trở nên hoàn hảo, và trở nên giống Thiên Chúa.

    Giới răn quan trọng nhất

    Mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và vị kinh sư mà Tin mừng hôm nay thuật lại xoay quanh chủ đề ‘Đâu là giới răn quan trọng nhất’. Chủ đề này đã được Đức Giêsu lập đi lập lại khá nhiều lần, ví dụ qua bài giảng trên núi, hoặc khi Ngài nói chuyện với chàng thanh niên muốn nên trọn lành, và đặc biệt trong diễn từ Chúa nói với các học trò trước khi đi thụ nạn. Quả thật, Đức Giêsu đến trần gian không phải để sáng lập một tôn giáo, nhưng để công bố cho chúng ta một Tin mừng, đó là tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Ngài chính là bí tích biểu thị tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một Ngài” (Ga 3, 16). Đức Giêsu chính là nhịp cầu nối kết con người với Thiên Chúa, đồng thời cái chết của Ngài trên Thập giá chính là câu định nghĩa hoàn hảo nhất về tình yêu Thiên Chúa dành trao cho ta. Tình yêu mà Ngài nói tới không phải là những biểu hiện tình cảm ngốc nghếch mà rất nhiều bạn trẻ thường hay nghĩ tưởng. Chúa nói với các môn sinh “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúng ta phải học, phải hiểu và phải sao chép lại chính tình yêu mà Đức Giêsu đã diễn bày.

    Tình yêu mà Chúa Giêsu khai mở và giải thích cho vị kinh sư khi ông ta đến hỏi Ngài gồm hai chiều kích: đối nhân và đối thần, tức yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại. Thực sự đây là hai cách diễn bày, nhưng tình yêu chỉ là một thực tại duy nhất. Thánh Giacôbê đã viết: “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà giận ghét anh em, đó là người nói dối” Cụ thể, chúng ta không thể nào mở miệng thưa với Chúa: “Lạy Chúa con yêu mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự”, mà lại không thể nở một nụ cười thân thiện với người hàng xóm bên cạnh. Chúng ta vẫn mở miệng đọc kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ mắc nợ chúng con”, nhưng lắm khi chúng ta vẫn ôm nơi mình biết bao dao găm và lựu đạn khi đến nhà thờ cầu nguyện với Chúa. Những lời cầu nguyện như thế rất giả dối, nhằm đánh lừa Thiên Chúa và rốt cục chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch.

    Tình yêu là sự hoàn thiện của con người.

    Thánh Phanxicô Salê, tiến sĩ về đức ái, đã viết: “ Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người. Đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”. Vì thế, càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chúng ta càng vươn đạt đến sự hoàn thiện theo lời mời gọi của Chúa Giêsu: “ Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em trên trời là Đấng trọn lành.” Hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã đến trần gian để khải thị cho ta Tin mừng về lòng yêu thương của Thiên Chúa. Khi nói chuyện với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã vén mở cho ông điều này. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Nhiều nhà chú giải cho rằng đây là câu tóm kết toàn bộ sách Tin mừng, diễn tả sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu. Ngài đi vào trần gian để loan báo cho ta về tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu là tột đỉnh diễn bày tình yêu tuyệt vời này. Trong 3 năm rao giảng, Đức Giêsu đã thiết lập một ngôi trường, ngôi trường đó mang tên Trường học Tình yêu. Ngài quy tập những người học trò để truyền thụ cho họ một môn học duy nhất, đó cũng chính là môn học về tình yêu. Trong bữa tiệc vượt qua cuối cùng trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu để lại cho các môn sinh bản di chúc tối hậu: “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”; “Cứ dấu này người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em hãy yêu thương nhau.”

    Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai, cho dù người đó hiện như thế nào. Một đứa con đi hoang vẫn được vòng tay cha nó ôm đón khi nó trở về. Một cô gái điếm vẫn có thể bình thản ngồi tâm sự sát kề bên Chúa và hôn lên đôi chân thánh thiện của Ngài. Thậm chí một tên cướp khét tiếng, với một quá khứ đan kín tội ác vẫn có thể là một vị đại thánh, được chính Đức Giêsu mở cửa Thiên Đàng đón đưa vào. Tình yêu Thiên Chúa luôn là một mầu nhiệm khó hiểu, là một nghịch lý vĩ đại và tình yêu ấy trở thành khuôn mẫu nội tâm để tất cả chúng ta noi theo.

    Yêu như Chúa yêu

    Các bài đọc Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta những giáo huấn căn bản về tình yêu. Tình yêu mà Đức Giêsu mời gọi không mang dáng vẻ lãng mạn và ủy mị như nhiều bạn trẻ thường hay mơ nghĩ. Chúa Giêsu đã sống tận căn mầu nhiệm tình yêu và Ngài mời gọi các học trò hãy sao chép lại tình yêu ấy. “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Cái chết trên Thập giá là câu định nghĩa tuyệt vời nhất về tình yêu mà Đức Giêsu diễn bày, đồng thời Ngài mời gọi chúng ta dần dần tiến sâu vào quỹ đạo yêu thương độc đáo này.

    Thánh Gioan Tông đồ là chuyên gia về tình yêu. Khi tự giới thiệu về mình, vị tông đồ đã không theo kiểu cách thế gian. Ngài không khoe khoang chức vụ hay học vị của mình như người đời vẫn hay làm, ví dụ: ông Nguyễn Văn A, Tổng giám đốc, Tiến sĩ này, thạc sỹ nọ v..v. Thánh Gioan chỉ nói đơn giản về bản thân mình là ‘Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến’. Trong bữa tiệc ly, Gioan đã tựa đầu vào ngực Chúa, lắng nghe những nhịp đập từ con tim thổn thức của người Thầy quý mến. Đứng dưới chân Thập giá cùng với Đức Maria, Gioan cũng chứng kiến trái tim Chúa mở toang, vọt trào cho đến giọt nước và giọt máu cuối cùng, biểu tượng tình yêu dạt dào như một dòng chảy bất tận. Cảm nghiệm được tình yêu sâu xa này, nên trong Tin Mừng thứ tư và đặc biệt trong cả 3 lá thư Ngài viết, Thánh Gioan hầu như chỉ nói đi nói lại một chủ đề duy nhất, đó là tình yêu “ Hãy yêu như Thầy đã yêu.” Trong bài đọc thứ hai của phụng vụ hôm nay, tác giả thư Do Thái cũng nhắc đến hiến tế Thập giá của Đức Giêsu, như là nguyên mẫu cho tình yêu mà chúng ta được mời gọi sao chép lại.

    Kết luận

    Để kết luận, tôi xin trích dẫn một câu chuyện ngắn của tác giả Trường Long. “Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái hỏi mẹ nó: Sao mẹ lại đuổi bố? Mẹ trả lời “Tại bố hư.” Để đứa bé khỏi vặn vẹo lôi thôi, Người mẹ mua cho nó một cái bánh. Đứa anh từ đâu phóng tới chộp cái bánh bỏ vào miệng. Con bé khóc ré lên bắt đền. Mẹ nó dỗ: “Anh này hư quá, nín đi con, bỏ qua cho anh một lần”. Đứa bé phụng phịu: “Thế sao mẹ không bỏ qua cho bố? Bà mẹ trẻ nhìn xa xăm rồi thở dài: “Ừ, thì ra mẹ cũng hư.”

    Chúng ta cũng dễ thường hay ‘hư’ như thế vì đã không sống triệt để mầu nhiệm tình yêu, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Tình yêu đó đòi hỏi chúng ta phải biết sẵn sàng cho đi và biết quảng đại tha thứ cho nhau. Chúng ta hãy lập lại tâm tình trong kinh Lạy Cha mà chính Chúa Giêsu đã dạy: “Xin Cha tha cho chúng con, như chúng con cũng tha….”. Chúng ta cũng nhớ lại lời dạy của Thánh Augustinô: “Bạn hãy yêu mến đi, rồi bạn muốn làm gì thì làm (Ama et fac quod vis).

    Về mục lục

    .

    YÊU THƯƠNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Các thầy Luật Sĩ hỏi rằng:
    Điều nào trọng nhất, giới răn luật truyền.
    Hỡi Is-ra-él nghe khuyên,
    Hãy yêu Thiên Chúa, tinh tuyền trí khôn.
    Hết lòng, hết sức linh hồn,
    Giới răn tiếp nối, kính tôn mọi người.
    Yêu thương như chính mình ngươi,
    Hai điều trọng nhất, gọi mời thực thi.
    Thưa Thầy, đúng lẽ ai bì,
    Ba Ngôi duy nhất, từ bi vô ngần.
    Mến yêu Thiên Chúa, tha nhân,
    Thì hơn lễ vật, ân cần dâng lên.
    Toàn thiêu hy lễ trong đền,
    Quan tâm nghi thức, để trên bàn thờ.
    Lòng thành tâm thiện mong chờ,
    Thương yêu bác ái, đơn sơ chân thành.

    Giới răn trọng nhất chính là: Yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh chị em như chính mình. Hai giới răn gồm tóm tất cả điều luật Chúa truyền. Chúng ta có thể nói chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết lòng, nhưng khó mà yêu anh chị em. Thiên Chúa vô hình làm sao chúng ta có thể đo lường được tình yêu của chúng ta dành cho Chúa. Nếu chúng ta nói chúng ta yêu Chúa mà ghét anh em mình, chúng ta là những kẻ nói dối.

    Anh chị em là những người ngay bên mà chúng ta không yêu thương được, thì làm sao chúng ta có thể yêu thương Đấng mà chúng ta không thấy và không cảm được. Chúa mời gọi chúng ta không những yêu thương anh chị em mà còn yêu cả kẻ thù. Yêu anh chị em không dễ đâu, vì ngay cả những người trong gia đình đôi khi còn khó thương.

    Yêu tha nhân bao gồm mọi thành phần và không phân biệt. Không chỉ yêu những người chúng ta quen biết hay giầu sang phú qúi hoặc có danh vọng. Yêu mọi người không trừ một ai. Chúa đã yêu thương nhân loại. Chúa yêu thương chúng ta trước. Ngài hạ thân làm người cũng chỉ vì yêu. Chúa đã yêu đến nỗi đã hy sinh mạng sống vì người yêu. Một tình yêu vô điều kiện. Chỉ có tình yêu mới có thể làm những việc vĩ đại như thế. Đôi khi người ta nói yêu như điên rồ.

    Tại sao mẹ Têrêxa và các Nữ tử Bác Ái dám ôm những kẻ cùi hủi, bệnh hoạn, vết thương hôi thối vào trong lòng ? Các Dì đã nhìn thấy gì nơi những người hấp hối, nếu không phải là hình ảnh của Chúa Kitô. Làm sao các Dì dám động sờ vào vết thương lở loét hôi thối và bẩn thỉu đó? Tình yêu của Chúa phủ trùm tất cả.

    Tình yêu dẫn chúng ta đến việc hy sinh và phục vụ tha nhân. Chúa ẩn náu nơi những kẻ nghèo hèn và nơi những mảnh đời bất hạnh. Mỗi lần chúng ta bày tỏ tình yêu thương với họ là chúng ta đang bày tỏ tình yêu thương chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đồng hóa chính mình với những kẻ bần cùng nhất. Phục vụ tha nhân là phục vụ chính Chúa

    Yêu Chúa, yêu người sẽ hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh. Lạy Chúa, chúng con yêu mến Chúa. Xin cho chúng con biết chia xẻ tình yêu Chúa nơi anh chị em chúng con.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Kính thưa anh chị em,

    Bài Tin Mừng hôm nay chúng ta đã nghe đi nghe lại nhiều lần. Những gì Chúa muốn nói với chúng ta qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta cũng dư biết. Ở đây tôi chỉ xin được đưa ra một vài nhận định để rồi sau đó chúng ta cố rút ra một vài bài học thực tế cho chúng ta.

    1. Trước hết là vấn đề được đặt ra với Chúa hôm nay.

    Đây là vấn đề vốn được bàn cãi rất nhiều trong giới Rabbit Do thái.

    Vào thời của Chúa Giêsu thì Luật được coi là chính thức gồm 613 điều trong đó có 248 điều buộc phải làm và 365 điều cấm không được làm.

    Vấn đề mà người luật sĩ đặt ra với Chúa hôm nay không phải là vấn đề con số nhưng là giá trị. Trong số những khoản luật đó, khoản nào là quan trọng nhất?

    Để trả lời, Chúa Giêsu đã trưng ra hai điều luật tương đối được nhiều người cho là quan trọng. Điều thứ nhất như sau:

    “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Giavê Chúa chúng ta là Thiên Chúa độc nhất

    Đây là điều mà người Do thái coi là hết sức quan trọng. Chính vì thế mà

    + họ phải được đọc câu này lên mỗi khi khởi sự giờ thờ phượng trong nhà hội,

    + những người Do thái ngoan đạo còn ghép câu này lại trong các thẻ bài bằng da rồi đeo trên trán và trên cườm tay để đọc mỗi khi cầu nguyện

    + Rồi còn được chép lên một tấm bảng đặt vào trong một hộp nhỏ hình trụ gọi là Mezuzah để treo lên trước cửa nhà cũng như trên cửa các phòng trong nhà, để nhắc cho người ta nhớ đến Chúa lúc đi ra cũng như đi vào.

    Khi Chúa Giêsu trích dẫn câu này và coi như một điều răn quan trọng, thì ai cũng thấy điều đó là quá đúng rồi, không còn phải bàn cãi chi nữa.

    Tiếp đến Chúa trưng ra một câu thứ hai. Câu này được trích từ sách Lêvi 19,18.”Hãy yêu thương người lân cận như chính mình” Trong câu này, Chúa Giêsu có sửa đổi lại một chút. Sách Lêvi xác định rất rõ kẻ lân cận là người Do thái, chứ không bao giờ bao hàm cả những người ngoại bang, là kẻ mà dân Do thái được phép thù ghét. Còn Chúa khi trích dẫn câu này thì Ngài không xác định, cũng không giới hạn đối tượng của nó. Như vậy Ngài đã lấy một điều luật cũ rồi đổ vào đó một ý nghĩa mới.

    Và sau đây mới là điều hoàn toàn mới: Chúa ghép chung hai điều răn này lại với nhau. Trước đó chưa hề có một rabbit nào dám làm như vậy. Với việc ghép chung lại như thế, Chúa muốn xác định một cách dứt khoát đạo của Chúa là đạo Tình yêu: Yêu Chúa và yêu người. Và Ngài cũng ngụ ý dạy rằng phương pháp duy nhất để người ta chứng minh được mình yêu mến Thiên Chúa  yêu thương người khác.

    Ông kinh sư hôm nay quả là một người rất thông minh. Ông nắm bắt được ý của Chúa một cách rất nhanh. Ông cũng là người biết tôn trọng sự thật, dám công khai nhìn nhận những điều Chúa dạy là đúng là phải trước mặt mọi người.

    1. Nội dung câu chuyện đơn sơ như vậy, nhưng nó cho chúng ta thấy cốt lõi đạo của Chúa nằm ở chỗ nào: Nằm trong hai tiếng yêu thương.

    Thánh Gioan Tông đồ viết: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu. (1Ga 1, 7- 8).

    Albert Camus một nhà văn lớn của Pháp tuy không có cảm tình gì mấy với Chúa Giêsu nhưng ông cũng đã nói một cách rất chân thành: “Nếu tôi phải viết một cuốn sách về luân lý, thì cuốn sách ấy sẽ dài 100 trang, mà 99 trang để trống, trên trang cuối cùng, tôi sẽ viết: tôi chỉ  biết có một nghĩa vụ, và nghĩa vụ đó là yêu thương.”

    Pascal cũng đã từng nói: “Tất cả những gì không dẫn đến yêu thương đều là giả tạo.”

    Léon Bloy Bạn sống như thế nào đối với người bạn thân của bạn mỗi ngày: kính trọng hay khinh khi? Nào bạn không biết rằng Đức Kitô ở giữa mọi người, Ngài đảm nhiệm tất cả, gánh chịu tất cả, đau khổ vì tất cả. Bởi thế, xúc phạm đến một người là xúc phạm đến Ngài, hạ nhục một người là hạ nhục chính Ngài, nguyền rủa một người là nguyền rủa chính Ngài, giết hại một người là giết hại chính Ngài.”

    Mục tiêu của toàn bộ Kinh thánh cũng chính là lòng bác ái yêu thương.

    Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô viết: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, trừ phi là tình mến, vì kẻ yêu người là chu toàn lề luật.”

    Chúa Giêsu đã đến không phải là để hủy bỏ lề luật và các tiên tri, mà là để kiện toàn. Và Ngài kiện toàn lề luật bằng cách qui mọi giới răn và lệnh truyền vào giới răn: mến Chúa yêu người. Luân lý Kitô-giáo do đó không phải là một hệ thống gồm những điều phải làm và những điều không được làm, mà thiết yếu là con đường dẫn đến sự sống và hạnh phúc thật.

    1. Không có tình yêu cuộc sống sẽ không còn ý nghĩa nhưng sống yêu thương điều đó mới đẹp làm sao!

    Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:

    – Bằng vào dấu chỉ nào người khác nhận ra các con là người Công giáo?

    Không có tiếng trả lời. Rõ ràng không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự tòng một câu trả lời đúng. Bất chợt một ứng viên trả lời:

    – Đó là “Tình yêu”.

    Hãy nhớ lại lời của Chúa Giêsu: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con thương yêu nhau”.

    Tại đất nước Bangladesh, một trong những nước nghèo nhất thế giới, có một người đàn ông nọ đi bộ về nhà sau một ngày làm việc cực nhọc tại xưởng thợ.

    Vì quá mệt mỏi, ông dừng lại ngồi nghỉ dưới bóng cây ven đường và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khuôn mặt tiều tụy của ông khiến người đi đường tưởng ông là một người hành khất kiệt sức và ngất xỉu. Và người ta chạnh lòng thương, ai đi qua cũng bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu.

    Khi thức giấc người công nhân già hết sức ngạc nhiên thấy chiếc mũ cũ kỹ của mình đầy những đồng xu. Số tiền đếm được còn nhiều hơn một ngày công thợ của ông. Ông mỉm cười tự nghĩ mình đã là một người hành khất bất đắc dĩ.

    Trên đường về nhà, ông nhìn thấy nhiều người ăn mày đui mù tàn tật, ông lặng lẽ chia đều cho họ số tiền vừa mới nhận được. Và hơn ai hết, người công nhân nghèo ấy hiểu được: được nhận lãnh và được chia sẻ cũng đều là một niềm hạnh phúc không gì có thể sánh bằng.

    Lạy Chúa,

    xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin

    để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,

    nơi khuôn mặt khốn khổ

    của tất cả những người bị thử thách,

    những kẻ đói không chỉ vì thiếu của ăn,

    nhưng vì thiếu Lời Chúa;

    những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,

    nhưng còn vì thiếu sự bình an, sự thật,

    công bằng và tình thương;

    những kẻ vô gia cư,

    không chỉ tìm kiếm một mái nhà,

    nhưng còn tìm trái tim hiểu biết, yêu thương; những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,

    không chỉ trong thân xác,

    nhưng cả trong tinh thần,

    bằng cách thực thi lời hy vọng này:

    “ Điều các con làm cho

    người bé mọn nhất trong anh em

    là các con làm cho chính Ta”.

                                             Mẹ Têrêxa Calcutta

    Về mục lục

    .

    TIN MỪNG CHÚA NHẬT 31

    Jorathe Nắng Tím

    Do Thái giáo là đạo có rất nhiều lề luật, nhiều đến độ đi đâu, ở đâu, tín đồ cũng bị luật xâm xoi, xét nét; làm gì cũng bị luật trói buộc, đe loi, ngăm nghe trừng phạt. Người Do Thái giáo nói về luật như thực thể thần thiêng và chu chắm giữ từng đòi hỏi rất chi tiết của mọi điều luật. Chính vì tinh thần vị luật và trong bầu khí nặng nề, ngột ngạt vị luật này, câu hỏi đã được đặt ra cho Đức Giêsu hôm nay trong Tin Mừng Máccô : “Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?” (Mc 12, 28).

    Nhiều người đã muốn hỏi Đức Giêsu câu hỏi này, vì tận thâm tâm, tất cả đều mong đợi một cải cách để đời sống đạo nhẹ nhàng, dễ thở hơn; để gánh lề luật từ nay sẽ bớt trì nặng đôi vai, nên khi  nghe viên ký lục đặt câu hỏi, ai nấy đều vui mừng, thở phào nhẹ nhõm.

    Trả lời trước đám đông, Đức Giêsu đã rất vắn gọn trình bầy  Luật mới của Ngài:  “Giới răn thứ nhất là : Hãy lắng tai nghe, hỡi Israel, Chúa Thiên Chúa của chúng ta là  Chúa độc nhất và ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết trí khôn ngươi và hết cả sức lực ngươi. Thứ đến là ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình. Hẳn không có giới răn nào khác lớn hơn các điều ấy”  (Mc 12, 29-31).

    Đức Giêsu đã chính thức công bố đạo mới của Ngài là Đạo yêu thương : Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất và thương mến anh em đồng loại như chính mình.

    1. Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất:

    Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng độc nhất, là Đấng Cứu Độ độc nhất, là Đấng Quan Phòng độc nhất luôn gìn giữ, chăm nom các thụ tạo của Ngài, trong số đó, con người là thụ tạo được Thiên Chúa dấu yêu đặc biệt.

    Tính độc nhất nơi Thiên Chúa nói lên Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tất cả chúng ta đến từ Ngài, thuộc về Ngài, quy chiếu về Ngài, và sẽ trở lại với Ngài. “Thuộc về Thiên Chúa” là căn tính và  hạnh phúc của con người. Thuộc về một Đấng toàn năng, chúng ta còn sợ ai, sợ gì ? Thuộc về một Đấng yêu thương, chúng ta còn lo lắng chi, xao xuyến  nỗi gì ? Thuộc về một Đấng nắm toàn quyền sinh tử của mọi thụ tạo, chúng ta còn băn khoăn, hoang mang gì trước tương lai ?

    Sở dĩ chúng ta chưa “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa, chưa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Chúa; chưa  yêu mến Chúa hết mình, yêu mến Chúa bằng cả đời sống, yêu mến Chúa bằng hết con người, là vì chúng ta chưa xác tín: Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.

    Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng tạo dựng độc nhất, nên chúng ta vẫn chờ ở đâu đó một sức mạnh dự phòng, để giúp chúng ta, nếu Thiên Chúa chơi không đẹp , khi không nghe lời ta cầu xin. Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng cứu độ độc nhất, nên chúng ta vẫn giấu giếm ở ngõ ngách nào đó trong cuộc sống một hình bóng thần linh khác với Thiên Chúa độc nhất, để hy vọng được cứu mạng, nếu chẳng may Thiên Chúa nổi giận bỏ rơi ta. Vì không dám đặt để trọn vẹn niềm tin nơi Thiên Chúa là Tình Yêu độc nhất tuyệt đối, nên phiá sau con tim, ta vẫn giữ những dáng dấp khác Thiên Chúa, với chút hy vọng sẽ được ủi an, vỗ về ngày Chúa nổi cơn lôi đình xua đuổi ta xa khỏi mặt Ngài.

    Tóm lại, trong tương quan với Thiên Chúa, ta vẫn muốn đi nước đôi, vừa thân thiết với Thiên Chúa độc nhất, vừa thân thiện với những đối tượng không thân thiết, thân thiện với Thiên Chúa. Và tâm hồn ta sẽ ở trong tình trạng bị giằng co, căng thẳng, mâu thuẫn, cho đến khi ta thực sự và quyết tâm thuộc trọn về Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.

    Như thế, điều kiện để có thể yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực, nghiã là yêu một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất của đời ta từng giây phút của cuộc sống, yêu Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói, việc làm , yêu Thiên Chúa mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, tình huống, thì tiên vàn chúng ta phải xác tín Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  tuyên xưng:  ngoài Ngài ra, không còn một thiên chúa nào khác.

    1. Thương mến anh em đồng loại như chính mình:

    Giới răn thứ hai chỉ là mặt sau của giới răn thứ nhất: Yêu mến Thiên Chúa, bởi một khi đã “toàn tâm toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa độc nhất rồi, chúng ta sẽ tự động nhận ra hạnh phúc được thương mến anh em đồng loại như mình, bởi chính tình yêu Thiên Chúa thúc bách, lôi cuốn, hướng dẫn chúng ta đến với anh em, đi vào trái tim người khác bằng chính con đường tình yêu của Chúa.

    Như chúng ta biết, định luật tự nhiên và căn bản của tình yêu là thông ban hạnh phúc của mình cho người khác, do căn tính của tình yêu là : ước mơ và làm cho người khác được hạnh phúc. Vì thế, khi đã thuộc trọn về Thiên Chúa là Tình Yêu rồi, khi đã hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Thiên Chúa rồi, chúng ta không thể không thương mến anh em mình, bởi Tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa thúc bách chúng ta trao ban hạnh phúc mình đang có trong tình yêu với Thiên Chúa cho mọi người chung quanh, bởi mọi người đều là đối tượng của một Tình Yêu độc nhất tuyệt đối là Thiên Chúa.

    Kinh nghiệm còn cho chúng ta thấy: tình yêu rất năng động  và không bao giờ chịu ngưng nghỉ. Chẳng thế mà khi đã thực sự yêu ai, ta yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu bất chấp mọi chống đối, rào cản, hoàn cảnh khó khăn. Tình yêu dâng hiến cho Thiên Chúa cũng vậy, sẽ không nằm yên hưởng thụ, không đóng cửa gài then, nhưng bung ra xa, mở rộng mãi, phóng  tới những đối tượng mới, những đối tượng không chỉ của tình yêu trong ta, mà còn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa . Nói cách khác, khi đã yêu Thiên Chúa rồi, ta không thể không yêu anh em đồng loại, vì lúc đó, ta không còn yêu anh em bằng tình yêu nhỏ bé, bất toàn của mình, nhưng bằng tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, Đấng sẽ  dìu ta đến gặp tha nhân, bởi Ngài cũng yêu thương họ như yêu thương chúng ta.

    Hơn thế nữa, khi yêu ai, ta muốn họ hạnh phúc, bằng  làm vui lòng họ, nên ta sẽ qúy người họ yêu, thương người họ mến. Vì thế, sẽ không ngạc nhiên khi người yêu mến Thiên Chúa sẽ mến thương anh em mình, bởi đó là ý muốn của Thiên Chúa, bởi đó là điều làm vui lòng Thiên Chúa hơn cả. Sở dĩ Ngài muốn chúng ta yêu anh em đồng loại như chính mình, vì Ngài đã tạo dựng mọi người,  yêu thương mọi người, muốn cứu độ  mọi người, trao ban hạnh phúc cho mọi người , bằng cớ là Ngài đã chết cho mọi người được sống, cũng như làm mưa nắng trên cả người lành, kẻ dữ, không loại bỏ, ruồng rẫy một ai.

    Vâng, Đức Giêsu đã đến trong thế giới, không  để loan báo khơi khơi một sứ điệp, và lập ra một tôn giáo mới với  giáo lý và lề luật nặng nề, gò bó;  nhưng vạch rõ con đường Tình Yêu  Chúa đã đến với con người và  hành trình Tình Yêu con người đến với Thiên Chúa. Trên con đường tình này, Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau cách sống động, cụ thể, trong mọi sinh hoạt của đời sống con người.

    Tóm lại, Thiên Chúa của Kitô giáo không  xa vời, huyền hoặc  nhưng  ở giữa con người để yêu thương. Tình yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu không còn là tình yêu chỉ để súyt xoa chiêm ngưỡng, nhưng là tình yêu  hiện diện, chia sẻ cứu sống về phiá Thiên Chúa, đồng thời về phiá con người, tình yêu ấy  làm rạo rực  tim người, làm phấn khởi đời người, và mang về hạnh phúc cho con người biết yêu mến Thiên Chúa và mến thương anh em mình.

    Tin Mừng là Lời Thiên Chúa, và Lời Thiên Chúa là chân lý vĩnh cửu, nên chúng ta sẽ không còn thắc mắc như những người Do Thái xưa : Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?  Bởi chỉ có một giới răn duy nhất dành cho những người đi theo Đức Giêsu, đó là yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  thể hiện tình yêu ấy bằng làm theo ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, ý muốn vừa đẹp lòng Ngài, vừa đem lại hạnh phúc đời đời cho chúng ta là thương yêu anh em như chính  mình.

    Về mục lục

    .

    VIỆC LÀM CỦA ĐỨC TIN LÀ ĐỨC ÁI

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Trong Do Thái giáo có tất cả 613 điều luật. Học thuộc những điều luật này đã là khó, nói chi đến việc cắt nghĩa cho chính xác và tuân thủ vẹn toàn. Vì thế trong đầu óc một tín hữu Do Thái giáo luôn thấp thoáng câu hỏi: Luật nào là quan trọng nhất?

    Không có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái. Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật. Họ giữ luật cặn kẽ chi li. Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ. Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay.Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường.

    Ðạo Do Thái dựa trên 10 điều răn. Trải qua các thế hệ, họ chú giải thêm thành 613 luật. Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm làm. Họ không đồng ý với nhau về điều luật nào trọng nhất, nên trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, có một luật sĩ đã đến hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?”. Chúa Giêsu, trích dẫn sách Đệ nhị luật, đáp: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và tâm trí của ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất”. Chúa Giêsu nói thêm điều mà vị tiến sĩ Luật không hỏi: “Giới răn thứ hai giống như giới răn thứ nhất: ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình”. Cả giới răn thứ hai này Chúa Giêsu không sáng chế ra, nhưng ngài lấy lại từ sách Lêvi. Sự mới mẻ của Ngài hệ tại đặt hai giới răn này chung với nhau – mến Chúa và yêu người – qua đó Ngài tỏ lộ rằng hai giới răn ấy không thể tách biệt, nhưng bổ túc cho nhau. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã bình giải rất hay về vấn đề này trong Thông điệp “Thiên Chúa là tình yêu”.

    Cũng đặt vấn nạn về điều răn lớn nhất, nhưng Tin Mừng Luca cho ta một câu hỏi lý thú và sâu sắc: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10,25). Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy điều răn quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất trong toàn bộ cuộc sống con người là điều răn yêu thương: yêu thương Thiên Chúa trước hết và trên hết, rồi đến yêu thương người lân cận như Chúa Giêsu đã yêu thương ta. Yêu mến Chúa nên yêu thương người lân cận, và yêu thương người lân cận chứng tỏ ta có lòng yêu mến Chúa. Chính lòng yêu thương Chúa và tha nhân ấy làm ta trở nên giống Chúa, được chia sẻ phẩm chất của Ngài, nghĩa là có sự sống đời đời như Ngài.

    Chúa Giêsu đã nâng luật yêu người ngang với luật mến Chúa. Ngài đã kết hợp thành một luật duy nhất: “Mến Chúa yêu người”.

    1. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.

    Thiên Chúa là chủ tể trời đất. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống và là cùng đích của muôn loài muôn vật.

    Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả con cái. Cho nên người tín hữu yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Thiên Chúa là quan trọng nhất của con người.

    Thực tế ở đời có rất nhiều điều quan trọng, tuỳ ở hoàn cảnh và tuỳ ở từng người. Nhưng nếu điều gì cũng quan trọng nhất thì cuối cùng chẳng có gì là nhất cả, mọi sự đều tương đối. Mọi sự đều tương đối, nhưng mọi sự đều quan trọng, kể cả niềm tin tôn giáo, kể cả Chúa. Đó là não trạng của con người thời nay, là cám dỗ của thời đại.
    Người tin Chúa và theo Chúa, cũng có người nghĩ như vậy: tiền quan trọng, mà Chúa cũng quan trọng. Có những người khá hơn, trên lý thuyết vẫn cho Chúa là quan trọng nhất, nhưng trong thực tế có những lúc tiền bạc, tình yêu và thành công ở đời cũng quan trọng như Chúa.

    Nhiều người nghĩ rằng ở thế gian này không có gì là duy nhất, kể cả những điều loài người thường cho là cao quý như là chân thiện mỹ chẳng hạn. Có những điều đối với người này là chân lý, đối với người kia lại là sai lầm; đối với người này là tốt, đối người kia là không; đối với một số người là đẹp, đối với những người khác là xấu. Không có gì tuyệt đối ở trần gian. Cám dỗ tương đối hoá mọi sự là cám dỗ lớn nhất của thời đại chúng ta. Cám dỗ này rất nguy hiểm. Dễ sa ngã vì con người không muốn bị ràng buộc và hướng chiều về hưởng thụ.

    Thế gian không có gì là duy nhất, không có gì là tuyệt đối.

    Thiên Chúa là Siêu Việt, là Vĩnh Hằng. Mọi sự đều qua đi. Chỉ có Chúa mới là quan trọng nhất, chỉ có Chúa mới là Tuyệt Đối. Do đó chúng ta được mời gọi yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực của mình.

    Chúa Giêsu đã lập lại lời kêu gọi đó, khi trả lời cho người thông luật muốn hỏi trong các giới răn điều nào quan trọng nhất. Yêu mến Thiên Chúa là điều quan trọng nhất.

    2. Yêu tha nhân như chính mình.

    Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.Thánh Gioan quả quyết: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là một kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng mà họ không thấy” (1Ga 4,20); “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn ở trong bóng tối”(1Ga 2,9).

    Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

    Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.

    Lề luật của Chúa cô đọng trong một thái độ là yêu mến.Giữ luật mà quên yêu mến có thể dẫn đến óc nệ luật.Giữ luật phải trở nên phương thế để bày tỏ tình yêu. Vì “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

    3. Việc làm của Đức tin là Đức ái.

    Thánh Giacôbê nói một câu bất hủ: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). “Việc làm” mà Thánh Tông Đồ nói đến là thực hành bác ái. Thánh Phaolô ca ngợi đức mến: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13,1).

    Đức tin và Đức mến liên hệ mật thiết với nhau.

    Trong Tông thư “Cánh Cửa Đức Tin”, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viết: Năm Đức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác ái. Thánh Phaolô nhắc nhở : “Vì vậy giờ đây còn lại ba điều là đức tin, đức cậy và đức mến. Nhưng lớn hơn cả là đức mến” (1Cr 13,13). Và Thánh Giacôbê Tông Đồ, với những lời càng mạnh hơn nữa, luôn thúc đẩy các tín hữu Kitô, quả quyết rằng : “Hỡi anh chị em, nếu một người nói mình có đức tin mà lại không có việc làm thì ích gì ? Đức tin ấy có thể cứu họ được không ? Nếu một người anh em, chị em, không có y phục và lương thực hằng ngày và một người trong anh chị em nói : “Hãy đi bình an, hãy sưởi ấm và ăn no” nhưng lại không cho họ những gì cần thiết cho thân thể họ, thì hỏi có ích gì ? Đức tin cũng vậy, nếu không có việc làm đi kèm, thì tự nó là đức tin chết. Trái lại một người có thể nói : “Anh có đức tin và tôi có việc làm; hãy tỏ cho tôi đức tin không có việc làm của anh, và tôi, qua việc làm tôi chứng tỏ cho anh đức tin của tôi” (Gc 2,14-18).

    Đức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Đức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô.

    Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình thương của chúng ta. “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40) : những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. Đó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc sống. Được đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, trong đó có công lý cư ngụ” (2 Pr 3,13 ; x. Kh 21,1). (Porta Fidei, Số 14).

    Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN nói về mối liên hệ đức tin và đức mến: Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công Giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Số 7).

    Dưới ánh sáng Lời Chúa Giêsu, tình yêu là mực thước đức tin, và đức tin là linh hồn của tình yêu. Chúng ta không còn có thể tách biệt đời sống tôn giáo ra khỏi việc phục vụ anh em, những người anh em cụ thể mà chúng ta gặp. Chúng ta không còn có thể tách biệt kinh nguyện, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong các bí tích, khỏi sự lắng nghe tha nhân, gần gũi cuộc sống của họ, nhất là những vết thương của họ.

    Luật mới của Chúa Giêsu chính là mức độ hoàn hảo nhất của Mười Điều Răn. Đoạn cuối của kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai nầy mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.”

    Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con: mến Chúa yêu người là điều răn quan trọng nhất, xin cho con biết sống và liên lỉ thực hành giới răn này trong đời sống thường ngày của con.

    Về mục lục

    .

    THỰC HÀNH MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI TRONG CUỘC SỐNG

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG:  Mc 12, 28b-34

    (28b) Khi ấy, có người trong nhóm kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (29) Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”.(32) Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm. Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Ngòai Người ra không có Đấng nào khác. (33) Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ tòan thiêu và hy lễ. (34) Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

    2. Ý CHÍNH:

    Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu trả lời của Đức Giê-su cho vị kinh sư Do Thái khi ông chất vấn Người về điều răn nào là quan  trọng nhất trong tòan bộ Luật pháp Mô-sê. Người đã nêu ra hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như yêu chính mình. Ông kinh sư cũng nhất trí như vậy và còn cho rằng hai điều này có giá trị hơn mọi của lễ tòan thiêu và hy lễ dâng lên Đức Chúa tại đền thờ.

    3. CHÚ THÍCH:

    -C 28b-30: +Có người trong nhóm kinh sư: Kinh sư hay Luật sĩ là những nhà chuyên môn về Thánh kinh vì nghiên cứu Thánh kinh kỹ lưỡng và lâu dài. Số ít trong nhóm kinh sư là tư tế, nhưng phần lớn là thường dân ủng hộ lập trường của nhóm Pha-ri-sêu. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Các kinh sư là người giải thích và áp dụng Luật Mô-sê vào đời sống của dân chúng. Các kinh sư cùng với thượng tế và kỳ mục là ba thành phần trong Thượng hội đồng Do thái tại Giê-ra-sa-lem (x. Cv 23,6). +trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?: Trong Tin Mừng Mát-thêu viết cho Kitô hữu gốc Do Thái, câu hỏi là “điều răn nào lớn nhất ?” (Mt 22,35). Còn ở đây Tin Mừng Mác-cô viết cho Kitô hữu gốc lương dân, đã sửa lại câu hỏi theo nghĩa ưu tiên:”điều răn đứng đầu?. Thực ra các nhà kinh sư thời đó thường tranh cãi để tìm ra trong số 613 điều răn trong Thánh Kinh, gồm 248 điều buộc và 365 điều cấm, đâu là điều luật quan trọng nhất. Cho tới lúc ấy các kinh sư vẫn chưa thống nhất ý kiến. Ông kinh sư tin Đức Giê-su là “Đấng rao giảng có uy quyền” sẽ cho câu trả lời chính xác. +Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.: Đức Giê-su đã trích khỏan Luật Mô-sê được những người Do Thái đọc mỗi ngày 2 lần (Đnl 6,5). +“Nguơi phải yêu mến Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết  sức lực ngươi”: Thiên Chúa là chủ tể muôn loài, là Đấng duy nhất cao cả. Chính Ngài đã dựng nên muôn vật, là nguồn sự sống và là cùng đích mọi loài. Vũ trụ chỉ tồn tại được nhờ Ngài và trong Ngài. Vì thế người ta có bổn phận phải biết ơn và yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

    -C 31-33: +Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình: Người Do Thái vẫn mang nặng khuynh hướng bài ngọai theo Luật Mô-sê: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù” (Mt 5,43). Ở đây Đức Giê-su thêm “Điều răn thứ hai trích trong Luật Mô-sê (Lv 19,18): Tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người thân cận là bản tóm lược mười điều răn ghi khắc trên hai bia đá là “mến Chúa và yêu người”. +Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Ngòai Người ra không có Đấng nào khác: Vị kinh sư biểu lộ thái độ đồng ý với quan điểm của Đức Giê-su và nhắc lại câu trả lời của Người để nhấn mạnh tính duy nhất của Thiên Chúa (Đnl 4,35; Xh 8,6; Is 45,21), Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân có liên hệ mật thiết với nhau. +Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình: Ông kinh sư nhắc lại khía cạnh tri thức của tình yêu. + là điều quý hơn mọi lễ tòan thiêu và hy lễ: Khi nhận định như vậy, ông kinh sư không phủ nhận nghi lễ phụng tự tại Đền Thờ, mà cho thấy nghi lễ phụng tự bị hạ thấp giá trị so với việc thực thi lòng mến Chúa và yêu tha nhân.

    -C 34: +Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu: Ông kinh sư đã hiểu biết và đánh giá đúng điều răn quan trọng trong Luật Mô-sê. Điều này cho thấy ông đã suy nghĩ giống Đức Giê-su và có khả năng trở thành thành viên trong Nước Thiên Chúa do Người sắp thiết lập (x. 10,13-16).

    1. CÂU HỎI:

    1) Kinh sư hay luật sĩ là ai? Phân biệt với người Pha-ri-sêu thế nào?

    2) Luật Mô-sê gồm bao nhiêu điều khỏan buộc và cấm? Tại sao ông kinh sư lại hỏi Đức Giê-su về điều luật nào quan trọng và đứng đầu trong bộ Luật Mô-sê?

    3) Đức Giê-su đã trả lời cho ông kinh sư khỏan luật quan trọng nhất thế nào? Ngừơi Do thái mỗi ngày phải đọc lại khỏan luật này mấy lần?

    4) Đức Giê-su cũng cho biết điều luật thứ hai cũng quan trọng không kém là khỏan luật nào? Hai điều luật này tóm lược Mười điều răn do ai trao cho ông Mô-sê và được ghi khắc trên hai tấm bia đá?

    5)Thái độ của ông kinh sư trước câu trả lời của Đức Giê-su thế nào?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”(Mc 12,29-31).
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) LÀM SAO CÓ THỂ YÊU CHÚA ĐƯỢC KHI CHƯA GẶP CHƯA THẤY CHÚA?

    Một người mẹ nói với cô con gái nhỏ về tình yêu Thiên Chúa. Cô bé tỏ ra bối rối thưa với mẹ: “Mẹ ơi, làm sao con có thể yêu Chúa được? Con chưa bao giờ gặp Người”. Ít ngày sau, cô bé nhận được một món quà gửi qua đường bưu điện, trong đó có một con búp-bê có thể chớp mắt rất đẹp. Bên cạnh có tấm cart Noel ghi hàng chữ: “Chúc mừng Giáng Sinh vui vẻ. Tặng Maria thân yêu con búp bê, Dì Rosa”. Bé Maria chưa bao giờ gặp dì Rosa vì sống cách nhau hàng ngàn cây số. Khi bé Maria ôm con búp bê vào lòng, em nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, con yêu dì Rosa quá! Dì đã cho con búp bê rất dễ thương này”  Bấy giờ mẹ bé Maria hỏi rằng: “Làm sao con có thể yêu dì Rosa khi chưa bao giờ gặp dì ?”. Maria liền trả lời: “Con biết, nhưng con yêu dì, vì dì đã gởi cho con con búo bê này”.

    2) THƯƠNG NGƯỜI, NHƯNG LẠI SỢ NGƯỜI:

    Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ lâu đời, trên bia mộ có khắc dòng chữ như sau: “Tôi thương người, nhưng lại khiếp sợ người”. Đây là câu nói của Hy Thanh, người nằm trong ngôi mộ. Câu chuyện như sau: thời bấy giờ, Hy Thanh học cách tìm mạch nước ngầm nơi một ông thầy giỏi nghề. Bạn bè nói với anh rằng: “Dưới đất lúc nào mà chẳng có nước. Mày học làm chi cái nghề vô tích sự ấy”. Cha mẹ anh em trong nhà cũng mắng anh: “Nếu mày cứ muốn học nghề đó thì ra khỏi nhà và đừng bao giờ vác mặt về nhà này nữa!” Hy Thanh đành phải bỏ nhà ra đi. Ban ngày anh vừa đi học vừa kiếm chỗ làm phu khuân vác để kiếm ăn. Tối đến xin vào ngủ trong nhà chùa. Anh cứ kiên trì theo học nghề tìm mạch nước ngầm ấy nhiều năm. Hai mươi năm sau, gặp lúc trời hạn hán, các giếng trong làng đều khô cạn hết. Nhiều người bị chết khát vì không kiếm đâu ra nước uống. Bấy giờ, người ta mới chợt nhớ đến Hy Thanh và cử người đến yêu cầu anh tìm mạch nước giúp dân làng. Hy Thanh đã sớm tìm ra mạch nước ngầm và khơi được nguồn nước chảy ra lênh láng. Dân các nơi khác nghe tin kéo đến xin nước uống râ71t đông. Họ vui mừng ca tụng về tài năng xuất chúng của anh. Nhưng rồi có kẻ do khát lâu ngày, đã uống quá nhiều nước bị ngã ra chết. Thế là nhiều người thay vì tỏ lòng biết ơn lại quay ra chửi bới mạt sát Hy Thanh thậm tệ. Lũ người nhà của kẻ bị chết còn hè nhau xông vào đánh đập anh đến chết. Trước khi nhắm mắt lìa đời, Hy Thanh thều thào nói: “Tôi thương người, nhưng lại sợ người”.

    1. SUY NIỆM:

    Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu Đức Giê-su trả lời cho ông kinh sư Do Thái khi ông chất vấn Người về điều răn nào là quan  trọng nhất trong Luật pháp Mô-sê. Người đã nêu ra hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa yêu người. Ông kinh sư cũng nhất trí như vậy và còn cho rằng hai điều này có giá trị hơn mọi của lễ tòan thiêu và hy lễ dâng tiến Đức Chúa trong Đền thờ.

    1) MẾN CHÚA HẾT LÒNG VÀ YÊU THA NHÂN NHƯ YÊU MÌNH:

    Ai trong chúng ta cũng đều ý thức về hai bổn phận đối với Thiên Chúa và tha nhân.  Tin mừng hôm nay đã ghi lại lời Đức Giê-su dạy hai điều răn trọng nhất là “mến Chúa hết lòng hết sức và yêu thương tha nhân như yêu mình”. Hai điều răn này tóm lược tòan thể bộ Luật Tô-ra của Mô-sê. Tuy nhiên Đức Giê-su còn nhấn mạnh điều răn thương người chính là điều kiện để biểu lộ lòng mến Chúa và xứng đáng được Chúa vui nhận lễ vật như sau: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Thế nhưng, cụ thể chúng ta phải yêu thương anh em thế nào?

    2) KỶ SỞ BẤT DỤC, VẬT THI Ư NHÂN:

    – Truyền thống Do Thái có câu chuyện như sau: Ngày kia một người tìm đến với thầy SA-MAI, thuộc phái giải thích luật một cách nghiêm khắc và cho biết mình có ý định tìm kiếm chân lý. Ông hỏi: “Thầy có thể dạy tôi tóm lược tất cả các lề luật trong thời gian tôi đứng trên một chân. Vì tôi không thể ở lại Giê-ru-sa-lem lâu được”. Nghe nói thế, thầy Sa-mai nổi giận và truyền đuổi ông ra khỏi nhà mình. Không mất niềm hy vọng, ông ta tìm đến với thầy GIL-LEN, một người vừa thông thái, vừa cởi mở lại vừa phóng khoáng. Trước cùng một câu hỏi được đưa ra, thầy Gil-len đã trả lời ngay:  “Đừng làm cho người khác điều anh không muốn họ làm cho anh. Đó là cái cốt lõi của lề luật. Tất cả những thứ khác, chỉ là để giải thích cho giới luật này mà thôi”.

    – Trong Cưu Ước, Tô-bi-a cha đã khuyên Tô-bi-a con như sau: “Điều con không thích thì đừng làm cho người khác” (Tb 4,15a). Điều không thích còn bao hàm các việc cụ thể như: không nói xấu, không ganh tỵ, không trộm cắp và rất nhiều những điều khác nữa. Nhờ đó cuộc sống của chúng ta sẽ được an vui hạnh phúc. Đức Khổng Tử cũng khuyên đồ đệ tương tự: “Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Còn trong Tân Ước Đức Giê-su dạy các môn đệ thực hành yêu thương theo hướng tích cực: ”Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12).

    3) THỰC HÀNH ĐIỀU RĂN YÊU NGƯỜI CỤ THỂ:

    Yêu thương không chỉ bằng lời nói suông, hay bằng tình cảm nhất thời chóng qua, nhưng bằng các việc cụ thể như kinh Thương Người có mười bốn mối, trong đó thương xác bảy mối và thương linh hồn bảy mối. Thánh Gia-cô-bê cũng đòi các tín hữu phải yêu thương cụ thể như sau: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2, 15-16). “Nhờ hành động mà con người nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin” (Gc 2,24).

    4) YÊU THƯƠNG CỤ THỂ THEO LINH ĐẠO CỦA MẸ TÊ-RÊ-SA CAN-QUÝT-TA:

    Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã dạy các nữ tu thực hành yêu thương tha nhân cụ thể như sau:

    Hãy bắt đầu yêu thương các người thân trong gia đình: “Tôi luôn luôn nói rằng, tình yêu phải khởi sự từ gia đình trước đã, rồi sau đó mới đến thành phố hay đô thị. Yêu thương những người ở xa chúng ta thì dễ, nhưng yêu thương những người sống với chúng ta hay ở ngay bên cạnh chúng ta thì lại không dễ chút nào.”

    Đừng xét đoán hay nói xấu tha nhân: “Nếu bạn xét đoán, bạn sẽ không còn giờ để yêu họ”.

    Hãy quảng đại cho đi: “Bạn phải cho đi những gì làm bạn bị thiệt thòi. Như thế, không chỉ cho đi những gì dư thừa, nhưng cho cả những gì bạn không thể sống nếu không có nó, những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế, món quà của bạn trở thành lễ hy sinh, có giá trị trước mặt Chúa”.

    4. THẢO LUẬN:

    Để thực hành lối sống yêu thương cụ thể nói trên, bạn cần tập sống tình mến Chúa yêu người theo phương cách nào hữu hiệu nhất?

    1. LỜI CẦU: Phục vụ trong yêu thương:

    Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn sống phục vụ trong yêu thương:

    Nơi cộng đoàn, biết tâm đầu ý hợp.

    Trong gia đình, biết mặn mà dễ thương.

    Ngoài xã hội, biết đối xử tốt và thương xót.

    Với mọi người, biết nhân nhượng và tôn kính nhau.

    Khi làm việc, biết siêng năng và tận tình.

    Trong mọi sự, biết tha thứ, chịu đựng và tin tưởng.

    Ở mọi nơi, luôn chiếu tỏa lòng Chúa hiền hậu và khiêm nhường.

    Trước cám dỗ, luôn chiến thắng để bền đỗ trong ơn thánh.

    Nhờ đó, chúng con trở nên tông đồ được Chúa sai đi,

    Mà làm chứng về Chúa cho mọi ngươi.- AMEN.

    (Lời cầu của Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta).

    Về mục lục

    .

    GIỚI RĂN MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

    Khi nói tới điều răn mến Chúa yêu người thì ai cũng cho là một đề tài quá quen và cũ kỹ rồi, nhưng nếu biết cầu nguyện, suy gẫm, tìm hiểu và nghiên cứu thì đây là một đề tài phong phú, nó sẽ gợi mở ra một chân trời rộng rãi và còn nhiều điều mới lạ. Hầu hết chúng ta mới học thuộc lòng điều răn ấy chứ chưa hiểu hết nội dung, nên chưa thực hành đầy đủ  điều răn ấy.

    Cốt yếu của đạo Công giáo của chúng ta là Đức ái “Mến Chúa yêu người” vì Đức Giêsu đã khẳng định : “Ngoài ra không còn điều răn nào khác quan trọng hơn hai điều răn đó” (Mc 12,31).

    Thánh Phaolô nói :”Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”(1Cr 13,13). Thánh Tông Đồ còn khẳng định thêm :”Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người… được ơn nói tiên tri… đem hết gia tài ra bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi”(1Cr 13,1-3). Thế mới biết tầm quan trọng của Đức Ái.

     Điểm đặc biệt trong đạo chúng ta là Đức Giêsu đã nâng giới răn yêu người lên ngang tầm với giới răn mến Chúa và gắn liền hai giới răn đó chặt chẽ với nhau đến nỗi mến Chúa mà không yêu người thì chưa giữ trọn luật Chúa, và ngược lại cũng vậy. Hôm nay chúng ta suy niệm về luật mến Chúa yêu người nhưng chúng ta chú trọng hơn đến luật yêu người để thúc giục chúng ta thi hành luật Chúa cho đầy đủ.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

              + Bài đọc 1 : Đnl 6,2-6

    Ông Maisen nhắc nhở cho dân Do thái phải thi hành luật cao trọng nhất là :”Kính mến Thiên Chúa hết lòng hết sức”. Lòng yêu mến Chúa trong Đệ nhị luật truyền dạy bao hàm trong sự trung thành thờ phượng Thiên Chúa và tuân giữ các giáo huấn của Ngài.

    Dân Do thái tuân giữ giới răn này qua bao thế hệ. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Cựu ước còn thiếu sót vì chỉ chú trọng tới việc yêu mến Giavê, Thiên Chúa duy nhất, mà chưa nói đến việc yêu thương tha nhân.

    Sự thiếu sót này sẽ được Đức Giêsu bổ túc trong bài Tin mừng hôm nay.

              + Bài đọc 2 : Dt 7,23-28

     Thư gửi tín hữu Do thái ca ngợi chức Tư Tế của Đức Giêsu. Chứùc Tư tế của Đức Giêsu Kitô ưu việt trên chức tư tế của dòng họ Lêvi. Nếu so sánh hai chức tư tế ấy chúng ta sẽ thấy :

    – Chức tư tế của Do thái chỉ có một đời người, khi chết thì hết; còn chức Thượng Tế của Đức Giêsu thì vĩnh viễn.

    – Các tư tế Do thái là những người phàm, vướng mắc nhiều tội lỗi; còn Đức Giêsu là vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn.

    – Các tư tế Do thái phải dâng lễ nhiều lần; còn Đức Giêsu chỉ dâng lễ đền tội một lần là đủ.

              + Bài Tin mừng : Mc 12,28b-34

    Một luật sĩ đến hỏi thử Đức Giêsu xem giới răn nào trọng nhất. Câu hỏi xem ra bình thường nhưng là câu hỏi hóc búa. Lý do vì trong 613 khoản luật không nói đến điều răn nào trọng nhất, tùy theo ý chủ quan của mỗi luật sĩ, thích điều răn nào thì cho là điều răn ấy trọng nhất.

    Nhưng Đức Giêsu đã nối kết hai khoản luật ở Đệ nhị luật và ở sách Lêvi trả lời rõ ràng cho luật sĩ  đó là hãy yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và thương yêu tha nhân như chính mình.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

    Hai giới răn trọng nhất

    I. GIỚI RĂN MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

    1. Giới răn trong Cựu ước.

    Ông Maisen là nhà lập quốc và lập pháp đã truyền lại cho dân Do thái mười điều răn của Thiên Chúa. Qua bao thế hệ người ta vẫn trung thành giữ các điều răn ấy.

    Hằng ngày người Do thái sốt sắng cầu nguyện với kinh Shema tựa như kinh Lạy Cha của chúng ta. Trong đó có câu :”Hãy nghe, hỡi Israel, Giavê Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa độc nhất. Ngươi sẽ yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi. Các lời ta truyền cho ngươi hôm nay hãy ở nơi lòng ngươi, ngươi sẽ lặp lại cho con cái ngươi”.

    Đó là một kinh tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, hết thảy mọi người đều phải tận lực yêu mến Ngài. Tuy mọi người tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa độc nhất nhưng chưa đồng ý với nhau trong một rừng luật như vậy, giới răn nào là quan trọng nhất. Đức Giêsu sẽ trả lời cho họ trong Tân ước.

    Nhân dịp này chúng ta cũng nên tìm hiểu xem thế nào là sách Đệ nhị luật hay Thứ luật.  Ôâng Maisen đã ra luật cho dân nhưng còn tổng quát và ngắn gọn, sau này luật được diễn dịch rồi  tổng hợp thành bộ luật Thorab. Sách Đệ nhị luật không thành hình trong một ngày và do một tác giả nào. Nó cũng không phải là tác phẩm trong thời Maisen. Nó lấy lại luật Maisen, suy đi nghĩ lại và cùng với lịch sử của dân Chúa. Có thể hàng tư tế đã là nguồn gốc của sách này. Thế nên nó được gọi là Đệ nhị luật hay Thứ luật, tức là luật đến sau luật trước, luật bổ khuyết và diễn giải luật pháp Sinai.

    1. Giới răn trong Tân ước.

    Trong thời Đức Giêsu, các luật sĩ là những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh và luật pháp. Chắc chắn họ phải thông hiểu rành rẽ về Kinh Thánh vì đó là lãnh vực chuyên môn của họ. Thế mà có một luật sĩ nêu ra cho Đức Giêsu một câu hỏi kể cũng hơi lạ !

    Nhưng thực ra, vào thời ấy, các luật sĩ đều sôi nổi tranh luận xem giới răn này hay giới răn nọ quan trọng hơn. Họ đã liệt kê ra một rừng giới răn, cả một cánh rừng mù mịt đối với người Do thái. Như vậy, luật Do thái có 613 khoản luật, chia ra 248 việc phải làm và 365 việc không được làm.  Xét về sự quan trọng, người ta lại chia các điều luật đó ra nhiều hạng : khinh giới và trọng giới, đại giới và tiểu giới.  Nhưng các người biệt phái lại không đồng ý với nhau về giới răn nào trọng nhất.  Vì thế, người luật sĩ mới đến dò xem Chúa cho biết điều răn nào là trọng nhất.

     Đức Giêsu đã trả lời cho ông bằng cách đọc lại những lời đầu tiên của kinh cầu nguyện Do thái. Đó là kinh Shema “Hỡi Isrel, hãy lắng nghe” trích trong Đệ nhị luật 6,4-5 :”Hỡi Israel, hãy nghe đây : Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”.

    Nhưng Đức Giêsu không ngừng ở đây, Ngài liên kết giới răn thứ nhất với giới răn thứ hai là phải yêu mến anh em :”Còn đây là giới răn thứ hai : ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi”(Lv 19,18-34).

    Trong văn chương Do thái thời ấy, người ta thường thấy  thủ pháp nối kết như thế. Nhưng ở đây Đức Giêsu quả là bậc thầy tuyệt diệu : Ngài nối kết tình yêu Thiên Chúa với tình yêu anh em, và hợp thành một giới răn duy nhất. Để nêu lên tính duy nhất căn bản đó, Marcô đã không ngần ngại dùng lẫn lộn số ít với số nhiều :”Không có giới răn nào quan trọng hơn những giới răn đó”(J. Hervieux)

    * Hãy yêu tha nhân.   Tha nhân là ai ? Trong Cựu ước chỉ có nghĩa là người gần gũi với người Do thái về huyết thống và chủng tộc.  Nhưng “tha nhân”  mà Đức Giêsu dùng ở đây có ý hiểu về hết mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, người nghĩa thiết hay kẻ thù.

    * Như chính mình ngươi.   Không có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì ngươi làm cho ngươi, nhưng đúng hơn là phải đối xử với kẻ khác cùng một “tình yêu” như ngươi đã xử với ngươi.  Đó là một nét độc đáo của tình yêu Kitô giáo, thứ tình yêu đạp đổ mọi hàng rào ngăn cách chủng tộc, mầu da, vượt lên trên óc phân biệt quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi hiềm khích hay những thành kiến cá nhân hoặc cổ truyền.

    II. NÓI VỀ HAI GIỚI RĂN ĐÓ

    1. Liên hệ giữa hai giới răn.

    Điều mới lạ mà Đức Giêsu làm là ghép chung hai giới răn này lại với nhau. Từ trước cho đến thời Đức Giêsu chưa có ai nhập chung hai giới răn ấy thành một.  Yêu Chúa và yêu tha nhân, hai tình yêu ấy như hai anh em sinh đôi dính liền nhau. Khi tìm được người này, chúng ta sẽ gặp được người kia. Và khi không tìm được người này chúng ta cũng chẳng gặp được người kia.

    Nhưng cần phải phân biệt rõ hai giới răn này. Người ta thường có khuynh hướng hợp nhất hai giới răn này làm một, như thể “yêu Thiên Chúa là đủ” hay “yêu thương anh em” cũng đủ. Giới răn thứ hai không thể thay thế cho giới răn thứ nhất được. Hai giới răn này chỉ là hợp nhất và song hành thôi, chứ giới răn thứ hai không đồng nhất với giới răn thứ nhất được.

    Nếu so sánh tình yêu đối với Chúa và anh em thì có nhiều người tưởng rằng yêu mến Thiên Chúa dễ hơn yêu thương anh em. Bởi vì theo họ, anh em là những con người đầy giới hạn, đầy khuyết điểm, trờ trờ trước mắt, nên dễ làm cho chúng ta khó chịu. Còn Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn tốt lành, chẳng có gì không đáng yêu. Thiên Chúa ở xa không đụng chạm, còn anh em ở gần thì đụng chạm hoài. Thiên Chúa dễ để cho mình “hối lộ”, cứ dâng lễ, cầu kinh rồi Ngài xí xóa mọi chuyện.

    Cũng không phải yêu anh em dễ hơn yêu Chúa, nhưng yêu thương anh em là việc cụ thể nhất mà Thiên Chúa chờ đợi ở nơi chúng ta. Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ lời Ngài. Không yêu thương anh em là không giữ lời Thiên Chúa, tức là không yêu mến Thiên Chúa. Rút cục, hai điều khó như nhau, vì không thể thiếu một trong hai, không thể tách rời để chỉ giữ một trong hai (Phạm văn Phượng).

    1. Tình yêu và hành động.

    Nếu thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có hành động là đức tin chết”, thì chúng ta cũng có thể nói :”Tình yêu không được thể hiện bằng hành động là thứ tình yêu giả dối, chỉ có trên đầu môi chót lưỡi như người ta nói :

    Thương thương nhớ nhớ thương thương,

    Nước kia muốn chảy mà mương không đào

    a) Mến yêu Chúa.

    Muốn mến yêu Chúa, chúng ta có muôn vàn cách để yêu mến Ngài nhưng những cách biểu lộ ấy có tính cách chủ quan, mỗi người một cách, nhưng theo Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại điều kiện tiên quyết để biết ai là người mến Chúa, đó là thực thi Lời Chúa, sống theo giới răn của Chúa. Chúng ta hãy nghe những  lời Chúa dạy :

     “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các điều răn của Thầy… Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy, mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy… Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”(Ga 14,15-21.23).

    b) Yêu tha nhân.

    Muốn yêu tha nhân cho xứng đáng, hãy sống theo khuôn vàng thước ngọc này :”Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy”(Mt 7,12). Hay nói ngắn gọn hơn :”Ngươi hãy yêu thân cận ngươi như chính mình”(Mc 12,30). Yêu mình thế nào, thì phải yêu người như vậy. Tất nhiên mình luôn luôn muốn cho mình được những điều tốt lành, hạnh phúc và lợi ích. Không ai muốn mình bị xấu xa, khổ cực, tai họa; vậy yêu người thì cũng phải làm như vậy cho người.

    Có lần một người mới gia nhập Do thái giáo yêu cầu thầy Hillel dạy ông ta toàn thể thông điệp của luật pháp trong thời gian ông ta có thể đứng trên một chân.  Câu trả lời của thầy Hillel là “Điều gì ngươi ghét thì đừng làm cho người khác. Đó là trọn vẹn luật pháp, phần còn lại là nhằm giải thích, hãy đi và học lấy”.

    Ngay bên  Đông phương, trước Đức Giêsu, Đức Khổng Tử đã để lại một câu nói để đời:”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”: điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Sau này ngài cũng nói một câu khác tương tự nhưng với khía cạnh tích cực :”Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”. Tư tưởng của ngài cũng giống như ở trên.

    c) Tình yêu tha nhân bắt đầu từ đâu ?

    Tình yêu tha nhân phải bắt đầu từ gần đến xa. Nhưng bi đát thay, việc yêu thương tha nhân của chúng ta thường lại gặp thất bại từ đầu ngay trong chính gia đình chúng ta. Không yêu các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ không thể nào yêu thương những người khác được. Và ngược lại cũng thế. Khi yêu thương các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ yêu thương được những người khác nữa.

    Chúng ta hãy đặt một câu hỏi cho mình : Chúng ta đã dành tình thương  cho những người trong gia đình mình thế nào ? Nếu chúng ta trả lời là “chưa mặn mà lắm” thì có lẽ tình yêu ta dành cho láng giềng cũng chẳng thể khá hơn. Và nếu chúng ta chẳng yêu tha nhân, chẳng yêu láng giềng mặn nồng thì chúng ta cũng không thể  yêu mến Chúa nồng nạn được. Ngược lại, nếu chúng ta yêu quí mọi người trong gia đình mình, chúng ta mới có thể yêu quí người hàng xóm, và một khi yêu được người hàng xóm, thì chúng ta cũng dễ dàng yêu mến Thiên Chúa.

    Trong ý nghĩa đó, Thomas Merton đã nói :”Không yêu thương và nhân từ với kẻ khác, thì tình yêu của chúng ta dành cho Đức Kitô chỉ là tưởng tượng”.

    1. Thành quả của hai giới răn đó.

    Nhờ hai tình yêu đó mà con người có thể tìm lại được chính mình. Các tác giả  tu đức nói rằng lệnh truyền của Đức Giêsu đòi buộc chúng ta yêu tha nhân và lệnh truyền của Ngài đòi buộc chúng ta yêu mến Chúa. Hai lệnh truyền đó tương quan mật thiết với nhau đến nỗi nếu chúng ta  không thương yêu anh em mình thì chẳng bao lâu chúng ta cũng chẳng còn  yêu mến Thiên Chúa nữa. Có một câu châm ngôn rất phổ biến diễn tả chân lý ấy thật sống động như sau :

    Nơi nào không có tình yêu, ta hãy gieo tình yêu và ta sẽ gặt được tình yêu,

    Nơi nào không có tình yêu, ta hãy đặt tình yêu vào đấy và ta sẽ tìm thấy tình yêu.

    Tôi đi tìm Chúa nhưng tôi không gặp được Ngài,

    Tôi đi tìm linh hồn tôi nhưng linh hồn trốn né tôi,

    Tôi đi tìm người láng giềng, và tôi gặp được cả ba.

    Chúng ta có thể quả quyết : Bí quyết để gặp được Thiên Chúa và gặp được chính mình là tìm gặp và yêu thương người lân cận của mình.

    III. THỰC HÀNH GIỚI RĂN CHÚA.

    Chúng ta không còn thắc mắc gì nữa. Lệnh truyền của Chúa thật rõ ràng. Phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng đồng thời  cũng phải thương yêu anh em như chính mình.  Yêu anh em như mình là chuyện khó vì anh em là những con người cụ thể với biết bao những khuyết điểm, dễ va chạm, nhiều khi tha nhân bị coi như kẻ thù của ta.

    Nhìn rõ thực tế đó nên thánh Gioan Tông đồ đã viết :”Nếu anh em cụ thể mà không yêu được thì làm sao có thể yêu  mến Chúa được”(1Ga 4,20)..

    Theo lời thánh Giêrônimô khi Thánh Tông Đồ về già, ngài nguyên giảng về bác ái :”Các con thân mến, các con hãy yêu thương nhau”. Giáo hữu thưa với thánh nhân :”Sao cha giảng điều ấy hoài” ? Thánh Tông Đồ đã trả lời :”Vì đó là điều luật Chúa dạy, và nếu thi hành được  duy một điều đó là đủ rồi”.

    Đức Giêsu đã phán :”Các con muốn được người ta  làm cho các con thế nào thì các con hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6,31). Ngài còn phán thêm :”Hãy cho đi thì các con sẽ được người ta cho lại. Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc đầy tràn tóe ra mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào thì cũng sẽ đong trả bằng đấu ấy”.

    Napoléon tuyên bố không thèm thân với ai, thì ông đã chết đơn độc trong đảo Sainte Hélène

    Hitler, con hùm xám Đức quốc xã, chủ trương dùng bạo lực thì đã chết trong khói lửa đúng theo lời Thánh Kinh “cái ác giết ác nhân”(Tv 33,22).

    Trở lại với bài Tin mừng hôm nay, nghe Đức Giêsu trả lời, vị luật sĩ rất tâm đắc với ý kiến rất khôn ngoan của Ngài và diễn tả tâm tình thiện cảm và xác tín của ông đối với tuyên phán của Đức Giêsu về giới răn trọng nhất :”Mến Chúa và yêu người thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và lễ vật hy sinh”. Việc mến Chúa yêu người có giá trị làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn những lễ hiến dâng có tính cách hy lễ và vật chất.

    Lời phát biểu của vị luật sĩ phát xuất từ sách 1 Samuel 15,22 (bản văn này kêu gọi sự vâng lời).  Lời ấy được lấy lại trong Ôâsê 6,6 (Ta thích lòng nhân từ chứ không thích lễ tế). Người ta có thể nhận biết trong lời đó sự quở trách mà Thiên Chúa, qua các tiên tri, đã ngỏ với dân Ngài : dân chỉ thực hiện những nghi thức nhưng kèm theo bóc lột và những bất công.

    Truyện : Bỏ tội thiếu tình thương

    Thứ tội mà chúng ta phạm nhiều nhất là tội không yêu thương. Tuy nhiên chúng ta lại không coi đó là tội, vì chúng ta vẫn nghĩ  cái gì làm hại đến người khác mới là tội.

    Một người kia bán một chiếc xe “dỏm” cho một người khách lạ. Một hôm anh vừa đi nhà thờ xưng tội ra thì gặp một người bạn. Người bạn nói :”Chắc là anh có kể cho Cha giải tội nghe chuyện anh bán chiếc xe dỏm” ? Anh đáp lại :”Tôi chỉ xưng các tội thôi. Còn chuyện buôn bán thì có ăn thua gì tới ông cha đó” ?

    Một nguy hiểm lớn cho tín hữu thường đi nhà thờ là không thấy sự liên hệ giữa điều họ làm ở nhà thờ ngày Chúa nhật với điều họ làm trong tương quan với người khác vào những ngày trong tuần. Nhiều người xét mình theo đủ mọi điều răn nhưng không hề xét tới những tội thiếu sót; thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu ngay thẳng trong việc làm ăn, thiếu tôn trọng những người sống chung với mình… Đối với những người đó, đạo và đời hoàn toàn tách biệt nhau (Theo Flor McCarthy).

    Mở đầu sách giáo lý Tân Định có một câu hỏi rất hay : Hỏi :”Ta sống ở đời này để làm gì” ? Thưa: “Ta sống ở đời này để nhận biết thờ phượng, kính mến Đức Chúa Trời là Cha chúng ta  và yêu thương mọi người như anh em, cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho ngày sau được hạnh phúc đời đời”.

    Như vậy, cuộc đời con người là phải mến Chúa và yêu người thì mới mong được hưởng hạnh phúc đời đời.  Chính vì thế nữ tu Rosalie mới nói :”Nước Thiên đàng không dành cho những người cằn cỗi yêu thương”.

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

    Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Dân Do thái được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn giữa bao dân tộc khác. Ngoài việc thiết lập Giao ước, Thiên Chúa còn ban cho họ Mười Điều Răn được khắc trong hai Bia Đá, qua đại diện ông Môisê trên núi Sinai. Đó là luật căn bản, nhưng với thời gian, trải qua nhiều thế hệ, giới lãnh đạo Do thái đã giải thích thêm thành 613 điều, chia ra 248 điều tích cực phải làm, và 365 điều cấm làm. Khi đặt ra nhiều luật lệ như thế, thì họ không biết điều nào quan trọng hơn cả.

    Chính vì thế, có một nhà luật sĩ tìm đến hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, trong các giới răn, giới răn nào trọng nhất?”. Đức Giêsu đưa ra hai điều: một trong sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Đnl 6,5). Và một trong sách Lêvi: “Ngươi hãy yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Đó là hai điều căn bản, quan trọng nhất , thật rõ ràng và đầy đủ. Chỗ khác Chúa nói: toàn bộ Thánh kinh và các lời ngôn sứ đều qui tóm lại hai điều đó là: Mến Chúa yêu người thôi.

    Mến Chúa và yêu người tuy không đồng hạng nhưng phải đồng hành với nhau một cách khắng khít. Thánh Gioan tông đồ nói rằng: nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét tha nhân là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người cùng chung sống mà chúng ta không yêu thương, thì làm sao yêu mến Đấng vô hình được .

    Thật vậy, Đức Chúa Trời ban 10 điều răn, nhưng chỉ dành 3 giới đầu trong việc thờ phượng kính mến Chúa, còn lại 7 giới răn sau, Chúa dành cho việc đối xử với tha nhân. Như vậy, Chúa coi việc đối xử với tha nhân là thước đo lòng yêu mến Chúa. Thế thì, tại sao ta phải thương yêu tha nhân? Thưa vì :

    Tha nhân là hình ảnh của Chúa (St 1, 26). Ta yêu Chúa thì phải yêu những gì thuộc về Chúa.

    Tha nhân là chi thể của Chúa. Nói theo tư tưởng của thánh Phaolô về mầu nhiệm hiệp thông. Chúa Giêsu là đầu nhiệm thể, còn tất cả chúng ta là chi thể của nhau (1Cr 6,15).

    Tha nhân là giá máu cứu chuộc của Đức Kitô. Đức Kitô đã trả giá rất cao để cứu độ từng người chúng ta, nên chúng ta cũng phải biết kính trọng tha nhân.

    Tha nhân là đền thờ Chúa Thánh Thần. Ngày chúng ta lãnh Bí tích rửa tội, đã trở nên đền thờ Chúa Ba Ngôi ngự trị, vậy ta phải tôn kính đền thờ sống động này (1Cr 6, 19).

    Ấy thế mà thưa anh chị em, thế giới càng văn minh thì dường như phần đông nhân loại trái tim lại hẹp hòi ích kỷ hơn, do chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ. Vì thế, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận định: “Đó là nền văn minh của sự chết “.

    Mặc dầu thế giới văn minh, nhưng vẫn còn rất nhiều nơi thiếu thốn lương thực. Đức Chúa Trời tạo dựng nên vũ trụ này tốt đẹp và ban cho con người trí óc thông minh. Thế mà tại sao vẫn còn tình trạng thiếu thốn đói khát như vậy?. Thưa bởi vì con người thiếu tình liên đới quan tâm đến nhau.

    Phần lớn của cải được cất giữ trong ngân hàng, trong két sắt, tủ áo của những nhà tỉ phú, của những đại gia kếch sù.

    Người ta bỏ ra hàng bao nhiêu tiền của để đầu tư vào những vũ khí tối tân, những thiết bị y tế, nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống con người, nhưng trong khi đó người ta sẵn sàng giết chết những đứa con ngay từ trong dạ mẹ.

    Người ta bỏ bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu tiền bạc, thời giờ đi du lịch nước này nước nọ chơi được, nhưng lại khó lòng dành ra một chút thời giờ đi thăm viếng những người đau yếu, bệnh tật, những người neo đơn bị con cháu bỏ rơi trong những khu ổ chuột ngay trong làng xóm ngỏ chúng ta.

     Có khi người ta không chết vì chén cơm manh áo, nhưng người ta chết vì đói lòng thương xót, đói tình người, đói sự quan tâm chia sẻ với nhau. Cho nên, thế giới ngày nay con người rất cần những tấm lòng yêu thương, đồng cảm, chia cơm xẻ áo cho nhau.

    Xin anh chị em nhớ cho rằng: Ngày nhắm mắt lìa đời, khi đối diện trước mặt Thiên Chúa là người Cha nhân lành. Chúa không hỏi chúng ta mỗi ngày con đi mấy lễ, con vào mấy hội đoàn, con đọc mỗi ngày bao nhiều kinh…. Nhưng chỉ hỏi một điều duy nhất là con có yêu mến Ta không?. Mà thước đo lòng yêu mến Chúa được căn cứ vào đức bác ái đối với tha nhân mà thôi.

    Cầu mong cho mỗi chúng ta, ngày sau hết được nghe những lời Chúa mời gọi: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh lấy phần gia nghiệp là sự sống đời đời mà Cha Ta đã dành sẵn cho các ngươi, vì xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta bệnh tật các ngươi viếng thăm… hãy vào hưởng sự vui mừng hạnh phúc với Ta”(Mt 25, 34-35). Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐẠO YÊU THƯƠNG

    PM. Cao Huy Hoàng

    Nhớ lại, chiều ngày 23-11-2009, Tại Sở Kiện, trong dịp khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, tôi đặc biệt tâm đắc lời phát biểu bằng cung giọng miền Nam rất đơn sơ chân chất của Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn, chủ tịch Ủy Ban Năm Thánh Toàn Quốc: “Người Công giáo Việt Nam hãy viết lại định nghĩa Đạo Công Giáo vào trong cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và cộng đoàn nơi chúng ta sống. Ước mong sử sách sẽ ghi nhận lại định nghĩa này vào trong văn hóa và tiềm thức của mỗi người: Đạo Công giáo – Đạo Yêu Thương, người Công giáo là người luôn ý thức rằng Chúa yêu thương mình và do đó ý thức được bổn phận phải yêu thương tất cả mọi người”.

    Có thể có nhiều triết gia, nhà thần học, nhà ngôn ngữ học, hoặc những người thông thái cho rằng câu nói tầm thường ấy có gì mà đáng tâm đắc. Nhưng với tôi, tâm đắc chính chỗ tầm thường ấy, giản dị ấy mà chất chứa cả một mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

    Có người cho rằng việc yêu thương nhau là chuyện hẳn nhiên như “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”  hoặc “thương người như thể thương thân”, “máu chảy ruột mềm” … theo cách văn hóa của người Việt vốn có từ ngàn xưa trong cái xã hội đình làng, lũy tre, bờ xe, bến nước…

    Nét đẹp văn hóa ấy ở đâu ra? Tự nhiên mà có hay là có cùng thời với Tiếng Việt, cùng thời với việc loan báoTin Mừng cho người Việt bằng Tiếng Việt? Thiết nghĩ, câu trả lời dành cho các nhà sử học.

    Phần chúng ta, có thể hiểu rằng, Tin Mừng đến quê hương này là đã có ngay luật điều căn bản cho người công giáo:

     “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

    Những người công giáo đầu tiên trên đất nước nầy đã sống và giữ luật điều quan trọng ấy đến nỗi người lương có thể nhận thấy và chúc tụng: Đạo Công Giáo chính là Đạo Yêu Thương.

    Bởi cách thể hiện tình yêu thương của người công giáo không giống như của người chưa thấm nhập Tin Mừng. Người công giáo yêu thương người vì kính mến Chúa. Người chưa phải công giáo thì yêu thương người để được người khác yêu thương lại, để tạo một tương quan thuận lợi trong cuộc sống. Vì kính mến Chúa, vì lề luật tích cực của Chúa trở thành một bổn phận của lẽ công bằng: yêu người vì Chúa đã yêu ta, yêu người như Chúa đã yêu ta, cho nên, người công giáo yêu thương cả người thân, kẻ sơ, cả người giàu có lẫn kẻ nghèo khó, cả người thương lẫn kẻ ghét, cả người tôn trọng tự do tín ngưỡng lẫn người bức bách cấm cách, bắt bỏ tù, tra tấn, ngục hình chém giết dã man…Nếu không phải yêu người như Chúa dạy, hẳn là người Công Giáo đã nổi loạn lên rồi, thay vì âm thầm chấp nhận làm chứng cho Đức Tin vào sự sống lại và cầu nguyện cho người dám đưa chân đạp mũi nhọn biết đàng ăn ăn trở lại.

    Nhìn lại Đạo Yêu Thương của những người Công Giáo Việt Nam đi trước chúng ta, là cha ông chúng ta, hẳn mỗi chúng ta phải đặt lại cách sống đúng với Tin Mừng như Chúa muốn, như cha ông ta đã nêu.

    Đạo Yêu Thương bắt đầu nơi các gia đình: vì yêu Chúa, kính sợ lề luật của Thiên Chúa, cha mẹ sốt sắng thờ phượng Chúa qua các giờ kinh chung tối sáng, giờ cầu nguyện chung trong gia đình, nhắc nhớ nhau đời sống bí tích, đời sống giáo hội. Nhờ đó, kín múc ân sủng của Thiên Chúa mà trung thành với nhau trong tình yêu hôn nhân để làm gương sáng cho con bằng một tình yêu tận hiến. Gương sáng Đạo Yêu Thương của gia đình này sẽ là ngọn đèn soi cho gia đình kia, tạo nên một xóm làng sống Đạo Yêu Thương, không kể là lương hay giáo.

    Đạo Yêu Thương từ gia đình đến Giáo Xứ. Uy tín của Chúa Giê-su mỗi ngày mỗi lớn lao, được mọi người tôn kính khi họ nhìn thấy cộng đoàn giáo xứ sống chan hòa yêu thương từ mục tử đến đoàn chiên, từ những người giúp việc giáo xứ đến những người nghèo khổ nhất. Không có gì đau khổ cho Chúa Giê-su bằng việc chính những người có Đạo Yêu Thương lại không yêu thương nhau, không đoàn kết với nhau, lại còn hơn thua nhau, ganh tị với nhau, tố cáo lẫn nhau, và tồi tệ hơn nữa là tranh giành nhau có chức có quyền hơn là tranh giành nhau mà phục vụ mọi người.

    Đạo Yêu Thương của Cộng Đoàn Giáo Hội Địa Phương, cấp Giáo Phận, hẳn là bằng chứng hùng hồn nhất của Giáo Hội Chúa Ki-tô Toàn Cầu. Nếu các Giáo Xứ chân thành nêu gương đời sống yêu thương, hẳn là Giáo Hội Địa Phương của Chúa Giê-su đang có một sức mạnh thẩm thấu thế giới này, cho dẫu là thế giới của những kẻ không muốn tin vào Thiên Chúa. Sự Hiệp Nhất, Nên Một trong Chúa Ki-tô nguồn mạch Tình Yêu, nguồn mạch Sự Sống, không cho phép các Ki-tô Hữu, các cộng đoàn Giáo Xứ tách lìa nhau cách tự trị, nhưng ngược lại, luôn tương trợ nhau trong đời sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

    Dường như Ông Môi-sê cũng đang nói với các gia đình, các giáo xứ, các giáo phận, với tất cả chúng ta “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài”. (x.Đnl 6, 2-6)

    Và Chúa Giê-su đang nhắc lại:

    “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. (Mc 12, 29-31)

    Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết sống Đạo Yêu Thương để dạy cho con cháu, hậu duệ bằng gương sống “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

    Về mục lục

    .

    GIỚI RĂN HÀNG ĐẦU

    JM. Lam Thy

    Trong Thánh lễ sáng Thứ Năm (23/3/2018), Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã nói về Tình Yêu Thiên Chúa: “Tình yêu của Thiên Chúa thì giống như tình yêu của một người mẹ. Ngài không bao giờ lãng quên chúng ta. Không bao giờ. Ngài trung thành với giao ước của Ngài. Điều này mang lại cho chúng ta sự an toàn và ngay cả trong những thời khắc khó khăn thì chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng Ngài đã không lãng quên chúng ta.” (nguồn: Đài Vatican).

    Tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại đã lên tới tuyệt đỉnh: Vì tình yêu, Người đã dựng nên loài người có nam có nữ; cũng vì tình yêu, Người đã ban cả Con Một làm giá chuộc muôn người. Và chính Con Một Thiên Chúa – Đức Giê-su Ki-tô – luôn luôn dạy: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.” (Mt 7, 12); “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12); “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 15).

    Quả thật tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người là vô cùng vô tận. Ngay khi dựng nên vũ trụ, Đấng Sáng Tạo đã vì tình yêu bao la (tình bác ái) mà dựng nên con người theo hình ảnh Người, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất (St 1, 28). Tuy vậy, nhưng Thiên Chúa vẫn không quên con người là vật thụ tạo (được dựng nên), để tồn tại và phát triển thì vẫn rất cần đến một thứ tình yêu giới tính (tình ái), và vì thế nên “Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.” Và rồi Thiên Chúa phán với con người có nam có nữ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1, 27-28).

    Trong Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã lý giải rất rõ ràng về Tình Yêu Thiên Chúa. Luận điểm của ĐGH đã đi từ Cựu Ước tới Tân Ước theo “nhãn quan tôn giáo” (thần học – triết lý siêu nhiên) để nhận định và lý giải Tình Yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Tuy nhiên, ĐGH vẫn không quên “nhãn quan triết học” (triết lý nhân sinh), khi ngài viết: “Chiều kích triết học đáng nêu ra trong hình ảnh Thánh Kinh này, và tầm quan trọng từ quan điểm lịch sử các tôn giáo, là một mặt chúng ta thấy mình đứng trước một hình ảnh rất siêu hình của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối và là nguồn mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng Thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. “Eros” (tình ái) vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với “agape” (bác ái).” (Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu “Deus Caritas Est”, số 19).

    Thời Cựu Ước, Luật Mô-sê đuợc ban bố cho dân thi hành có tới 613 điều (trong đó có 365 điều xấu cấm làm và 248 điều tốt dạy phải làm). Tuy nhiên, giới luật của Thiên Chúa được ghi trên bia đá và trao cho ngôn sứ Mô-sê trên núi Si-nai (Xh 20, 1-21) chỉ có 10 điều, trong đó bao gồm 3 điều về yêu mến Thiên Chúa và 7 điều còn lại là yêu thương đồng loại. Như vậy, rút gọn lại, chỉ còn 2 điều cơ bản: Mến Chúa + yêu người. Và để tìm ra 2 giới luật căn bản này thì lại thấy ở 2 sách khác nhau trong Cựu Ước: Điều răn đầu trong sách Đệ nhị luật: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng, hết dạ, hết sức của anh (em)”  (Đnl 6, 5); điều răn sau trong sách Lê-vi: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19, 18). Đến thời Tân Ước thì chính Đức Giê-su Ki-tô – hiện thân của Thiên Chúa Tình Yêu – giảng dạy: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mc 12, 29-31).

    Tuy rằng Đức Ki-tô vẫn nói đó là 2 điều răn, nhưng thực chất giới răn này chỉ có một nội dung duy nhất là “Tình Yêu” được thể hiện bằng 2 chiều kích: Mến Chúa + yêu người. Hai chiều kích đó vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau, đan quyện vào nhau, không thể tách rời. Thật vậy, không thể yêu Thiên Chúa cách đích thực mà không yêu tha nhân, và ngược lại, không thể yêu tha nhân mà lại không yêu Thiên Chúa được. Vì thế ngay sau Lời dạy của Đức Ki-tô, thì chính kẻ đã thắc mắc – một kinh sư – cũng phải thốt lên: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” (Mc 12, 32-33); và được Thầy Chí Thánh chúc  phúc: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12, 34).

    Thánh Gio-an đã xác quyết: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4, 20). Và thánh Phao-lô cũng đã viết: “Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5, 14); “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô” (Gl 6,2). Ấy là chưa kể chính Đức Ki-tô trong lời dạy về ngày cánh chung cũng khẳng định: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Muốn yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và sức lực, thì phải yêu tha nhân như yêu chính mình. Và chỉ có yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình mới thực sự là yêu mến Thiên Chúa.

    Ôi! Lạy Chúa! Chúa đã dựng nên con, đã ban cho con một tấm lòng, một trí khôn biết phân biệt thiện ác, biết yêu và ghét, và nhất là đã ban cho con sự tự do tuyệt đối, để con có thể tự quyết định cuộc đời của mình bằng cách lựa chọn một con đường. Con đã sai lầm trong lựa chọn để chỉ biết yêu mình trên hết, co mình vào cái vỏ ốc “ích kỷ” đến độ có thể “hại nhân” (“ích kỷ hại nhân”: lợi mình hại người). Cúi xin Chúa đoái thương, ban cho con một tâm hồn quảng đại, một tấm lòng bao dung độ lượng; xin cho con biết yêu người như yêu chính mình, biết coi tất cả mọi người (kể cả những người thù ghét con) đều là anh em một nhà (“tứ hải giai huynh đệ”), cùng con một Cha trên trời. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÌNH YÊU CHÚA

    Lm Vũdình Tường

    Nhờ có tình yêu Chúa ban mà chúng ta có thể sống trọn vẹn hạnh phúc, tạo được mối giây liên kết mật thiết với Chúa, với tạo vật và với tha nhân. Tình yêu con người thường ích kỉ và có điều kiện. Chúng ta yêu mến thân nhân, thân thuộc và thân hữu và những ai yêu mến ta. Ngoài những người đó ra người khác ta hoặc không có cảm tình hoặc làm ngơ, coi như họ không tồn tại. Tình yêu Chúa giúp ta nhìn thấy Đức Kitô trong mọi người và như thế yêu mến Đức Kitô một cách chân thành là yêu mến tất cả mọi người, không phân biệt ai. Chính sự phân biệt này khiến người Kinh Sư gặp khó khăn làm thế nào để yêu tất cả, nên ông đến hỏi Đức Kitô

    Điều răn nào quan trọng hơn cả c.28

    Ông hỏi thế bởi phong tục của ông hướng dẫn là có những điều răn tối quan trọng và có những điều cấm kị vì thế họ chia lề luật ra thành nhóm bắt buộc phải tuân thủ và nhóm cần thực hành trong cuộc sống. Điều này gây tranh cãi trong lịch sử dân tộc và đưa ra nhiều giải thích, luật buộc khác nhau. Người Kinh Sư mất nhiều giờ nghiên cứu, tìm hiểu và ông không đồng thuận với những khác biệt kia vì thế ông đến gặp Đức Kitô xin sự khôn ngoan nơi Ngài.

    Sau khi nghe Đức Kitô giảng giải ông hiểu rõ điều các tiên tri dậy, điều ông từng nghiên cứu nhưng không hiểu thấu đáo, nay được Đức Kitô khai sáng.

    Điều Ta muốn là tình yêu chứ không phải hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là của lễ toàn thiêu Hs 6,6
    Chúa yêu mến công bình, nhân nghĩa và tâm hồn khiêm nhường Mk 6,6-8

    Đức Kitô nói với người Kinh Sư

    Đức Chúa,Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình c.32

    Đức Kitô đã dùng những điều dậy trong Cựu Ước để giải thích cho người Kinh Sư hiểu rõ hơn về giáo huấn của Chúa. Câu trả lời của Đức Kitô tóm tắt tinh thần giáo huấn của sách Deuteronomy 6,4-5 và sách Levi 19,18. Trong đó hướng dẫn yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân luôn đi chung với nhau. Điều này không thể tách biệt. Tình yêu phải thể hiện qua hành động cụ thể. Chính hành động cụ thể biến tình yêu thành hiện thực. Không ai chứng minh được tình yêu nhưng qua hành động cụ thể con người có thể cảm nhận, nhận biết hành động yêu thương. Nếu chỉ yêu mến người khác bằng cảm nghiệm thì tình yêu đó vừa mông lung vừa trống rỗng bởi nó không có hành động giúp đỡ kèm theo. Yêu người khác bằng hành động cụ thể như giúp đỡ, che chở, bảo bọc trong khả năng của mình chính là làm cho tình yêu Chúa trong ta trở nên thực tế hơn với người cần ta giúp đỡ.

    Điều Đức Kitô hướng dẫn người Kinh Sư là giải thích mới mẻ, thực tế và mang tính cách đổi mới. Thời đó người ta tin việc hiến tế súc vật là dấu chỉ lòng yêu mến thần thánh vì thế người ta không thể nào hiểu được làm thế nào không hiến tế súc vật mà có thể lòng yêu mến. Điều này hiện nay vẫn còn xảy ra qua hình thức dâng cúng gia súc, đốt vàng mã. Đức Kitô dậy Ngài muốn tình yêu chứ không phải hy lễ. Ngài muốn nhân nghĩa và khiêm nhường. Chính nhữn giáo huấn mới mẻ này làm cho người Kinh Sư kinh ngạc và nhận ra giáo lí mới của Đức Kitô. Mặc dù rất khâm phục giáo lí và sự khôn ngoan của Đức Kitô nhưng không thấy bằng chứng nào cho biết người Kinh Sư trở thành môn đệ Đức Kitô. Kính trọng và thán phục chỉ là bước đầu dẫn đến tin theo. Để có thể dấn thân, tin theo cần con tim yêu mến chân thành. Chính tình yêu chân thành phát xuất tự tim thúc đẩy chúng ta bước theo Đức Kitô. Tin theo được thể hiện bằng hành động phục vụ Giáo Hội Chúa và phục vụ tha nhân. Thiếu dấn thân phục vụ chỉ là tin nửa vời.

    Về mục lục

    .

    ĐIỆU LÝ YÊU THƯƠNG

    Trầm Thiên Thu

    Điệu lý là thể loại âm nhạc liên quan quê hương – gọi là dân ca. Các điệu lý có khi rất đơn giản nhưng luôn có sức hút kỳ lạ. Tuy nhiên, trong tất cả các điệu lý hẳn là chẳng có điệu lý nào hấp dẫn và cần thiết bằng Điệu Lý Yêu Thương – đặc biệt là trong lĩnh vực tâm linh.

    MẾN CHÚA và YÊU NGƯỜI là toát yếu của Thập Giới – tóm lược Thánh Luật của Thiên Chúa. Chỉ có hai điều và bốn chữ (theo Việt ngữ), nhưng có thể rút gọn thành Yêu Thương (hai chữ), và cũng có thể cô đọng thành Yêu (một chữ) – gọi là Luật Yêu. Nghe chừng rất đơn giản, và cũng quá quen thuộc, thế mà sao khó thể hiện quá chừng. Vâng, “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

    Có một sự trùng hợp rất kỳ lạ: Luật Chúa gồm hai điều – liên quan chiều dọc (mến Chúa) và chiều ngang (yêu người), Thập Giá cũng gồm hai nhánh – nhánh dọc (hướng tới Thiên Chúa) và nhánh ngang (hướng tới tha nhân). Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai KHÔNG yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì KHÔNG THỂ yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Rất thực tế. Yêu thì phải thật, chứ không thể yêu ảo. Thánh nhân tái xác định: “Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4:21). Rất hợp lý, rất lô-gích.

    Chính Chúa Giêsu đã từng nói đến việc “mến Chúa, yêu người”, và nói thẳng ra là Ngài đang trách mỗi chúng ta, trách thật và rất thẳng thắn: “Dân này tôn kính Ta BẰNG MÔI BẰNG MIỆNG, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng VÔ ÍCH, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là GIỚI LUẬT PHÀM NHÂN” (Mt 15:8-9; Mc 7:6-7). Cũng liên quan “luật yêu”, một lần khác Chúa Giêsu xác định: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21). Ôi, nghe mà “nhột” quá chừng, chắc hẳn ai cũng thấy giật mình vì ai cũng thấy mình… “có tật”!

    Chúa có cách nói nghe chừng “nhẹ nhàng” thế mà “nặng nề” lắm, giản dị mà phức tạp, nhẹ như “xoa” mà “đau” thấm thía! Khi nói đến “luật” thì luôn liên quan “quyền”, nói đến “quyền” thì thường liên quan sự “cạnh tranh”. Thường là thế, vì cái quyền (hành) luôn gây phiền (toái)!

    Kinh Thánh cho biết rằng Vua Đariô (người Mê-đi, lên ngôi vua năm 62 tuổi) quyết định đặt trên vương quốc của ông 120 thống đốc để họ cai trị toàn vương quốc dưới quyền 3 tể tướng (tương đương “thủ tướng” ngày nay), trong đó có ông Đanien. Họ phải phúc trình mọi việc cho 3 vị này để nhà vua khỏi bị thiệt hại. Ông Đanien vượt hẳn các tể tướng và thống đốc, nhờ có một THẦN KHÍ SIÊU PHÀM, nên vua có ý định đặt ông đứng đầu cả vương quốc. Do đó, các tể tướng và thống đốc cố tìm cách BẮT LỖI ông Đanien về việc triều chính. Bới lông tìm vết, bới bèo ra bọ. Vì ghen ghét mà con người thường nhỏ nhen và hèn hạ như thế đấy.

    Tương tự, người Việt có câu: “Con gà tức nhau tiếng gáy”. Con gà như thế thì con người cũng vậy, ai “gáy” hay thì người khác thường cảm thấy “ngứa” tai và “xốn” mắt. Chúa Giêsu bị ghét và bị giết chết nhục nhã cũng chỉ vì Ngài là “cái gai” trong cách nhìn của người khác. Những người ghen ghét cũng chẳng ai xa lạ vì đó là chính những người thân thiết nhất của mình, như Chúa Giêsu đã nói thẳng: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6:4 ≈ Mt 13:57; Lc 4:24; Ga 4:44). Quá phũ phàng! Đời là thế! Thật vậy, CHỈ CÓ NGƯỜI GIỎI MỚI KHẢ DĨ CÔNG NHẬN TÀI NĂNG CỦA NGƯỜI GIỎI. Thật đáng sợ, bởi vì “người ta có thể phạm tội chỉ vì một mẩu bánh” (Cn 28:21).

    Không ưa dưa cũng có giòi. Ngu dốt thì bị khinh, thông minh thì bị ghét. Quái gở thật! Ông Đanien bị ghét chỉ vì ông “trổi vượt” hơn người khác, âu cũng là lẽ thường. Ngày xưa, trung thần Chu Văn An đã “điểm mặt” 7 nịnh thần nên bị họ triệt tới cùng. Xưa đã vậy, nay cũng thế thôi. NGƯỜI ĐỜI “KÈN CỰA” NHAU ĐÃ ĐÀNH, NGƯỜI THEO ĐẠO CHÚA CŨNG CHẲNG HƠN GÌ, thậm chí người thời nay còn tinh vi hơn nhiều. Vậy làm sao có thể truyền giáo?

    Họ ghét thì rất ghét, nhưng họ đã không thể tìm được một cái cớ nào hoặc một sai sót nào để bắt lỗi, vì ông Đanien vốn là người trung tín; họ đã không tìm được điều gì sơ suất hay thiếu sót nơi ông. Do đó, những người ấy mới cùng nhau bày mưu lập kế: “Chúng ta sẽ chẳng tìm được một cớ nào để bắt lỗi tên Đanien này đâu, trừ phi tìm lý do tôn giáo để hại y” (Ðnl 6:6). Ác nhân quá thâm độc, thật đáng sợ tà tâm!

    Ngày nay, con người cũng vẫn đã và đang lăn vào “vết xe cũ”, nhưng theo cách thức tân kỳ hơn, kỹ xảo hơn, vậy mà vẫn “hãnh diện” về cái mưu thâm kế độc của mình, rồi biện hộ là “đúng quy trình”. Có lẽ vì thế mà Thiên Chúa soi sáng cho Giáo Hội biết phải khuyến khích việc Tân Phúc Âm hóa, xem xét lại đức tin của chính mình trước rồi mới nói chuyện liên quan người khác. Cứ ảo tưởng và ảo giác thì không thể thay đổi được gì. Nguy hiểm lắm!

    Rõ ràng ông Đanien là hiện thân của những người “ăn ngay ở lành”, sống nghiêm túc. Dù hoàn cảnh có thế nào, những con người ấy vẫn một lòng kiên cường tín thác vào Thiên Chúa: “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con” (Tv 18:2). Họ luôn tin yêu và không ngừng tin cậy Thiên Chúa: “Lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ” (Tv 18:4). Chắc chắn rằng “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Gl 3:11).

    Trong con mắt của người đời, họ là những kẻ bị lép vế, bị thua thiệt, bị khinh miệt, bị ghen ghét, bị xa tránh, bị trù dập, nhưng họ vẫn âm thầm tin tưởng cầu nguyện và nương tựa vào Chúa. Họ không ngần ngại xác định: “Chúa cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, Ngài đặt tôi đứng vững trên đỉnh núi” (Tv 18:46). Ngay trong gian truân, họ vẫn hiên ngang tuyên tín: “Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Ngài là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi” (Tv 18:47). Đúng như Thánh Vịnh gia đã chia sẻ kinh nghiệm: “Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Ngài đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng mà Ngài đã xức dầu tấn phong, là Đa-vít cùng dòng dõi đến muôn đời” (Tv 18:51). Đích thực là người của Chúa mới đáng tin, chứ “đừng mong gì nhiều nơi những người quyền thế của thế gian này – vì hầu hết họ đều bỏ mặc những người nghèo khó trong cảnh bần hàn, họ vừa hèn hạ vừa thiếu quảng đại, giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu than của những người yếu đuối và bất lực” (Chân phước Placid Riccardi, 1844-1915).

    Vừa phân tích vừa xác định, Thánh Phaolô cho biết: “Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ mãi chức vụ đó. Còn Đức Giêsu, chính vì Ngài hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Ngài tồn tại mãi mãi. Do đó, Ngài có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Ngài mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Ngài hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7:23-25). Đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến, với các đặc tính cần thiết: “Một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (Dt 7:23-26).

    Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái có những điều xem chừng không ăn nhập gì, vì nói tới chức tư tế, nói tới thừa tác vụ. Thế nhưng lại vẫn “ăn nhập” lắm đấy. Tại sao? Tư tế là những người có trách nhiệm củng cố đức tin cho giáo đoàn. Cây càng cao, gió càng lay. Tất nhiên thôi! Vì thế, Chúa Giêsu đã hỏi ngư phủ Phêrô không chỉ một lần mà ba lần: “Anh có mến Thầy HƠN các anh em này không?” (Ga 21:15). Và đó cũng là câu hỏi hằng ngày Chúa Giêsu vẫn đặt ra cho mỗi chúng ta. Mỗi người có cách trả lời khác nhau, nhưng đó là điều kiện Chúa đòi hỏi từng người phải thật lòng trả lời và nghiêm túc thực hiện, để chứng tỏ đức tin của chính mình – và cũng chia sẻ niềm tin đó cho tha nhân.

    Chắc hẳn là rất dễ đọc: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Thế nhưng vấn đề không chỉ là “thuộc lòng” và “đọc như vẹt”, mà là thể hiện lời tuyên tín đó một cách sống động bằng hành động cụ thể. Ôi chao, chẳng hề dễ dàng chút nào!

    Như để giải thích, Thánh Phaolô nói: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Ngài, Ngài đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:27-28).

    Chính Đức Kitô đã hiến tế, chúng ta không thể làm khác – nghĩa là cũng phải hiến tế. Chúa Giêsu đã hóa thành “tấm bánh” để nuôi sống chúng ta, thế thì chúng ta cũng phải CẦM LẤY, TẠ ƠN, BẺ RA và TRAO TẶNG chính Tấm-Bánh-Cuộc-Đời-Mình cho tha nhân, nhất là đối với những con người bé mọn, yếu đuối, nghèo khổ, lạc loài, cô độc,…

    Một hôm, có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xađốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12:28). Đức Giêsu ôn tồn: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi PHẢI yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi PHẢI yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:29-31). Hai điều răn quan trọng nhất với hai động từ PHẢI mạnh mẽ và dứt khoát – không thể không thi hành.

    Nghe Đức Giêsu nói vậy, ông kinh sư thấy “đã tai” nên liền nói với Ngài: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là ĐẤNG DUY NHẤT, ngoài Ngài ra KHÔNG CÓ ĐẤNG NÀO KHÁC. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12:32-33). Chắc hẳn chúng ta cũng mang tâm trạng như ông kinh sư này, cũng thấy rất thú vị và hợp lý, nhưng NGHE và CHẤP NHẬN là một chuyện, còn THỰC HIỆN lại là chuyện khác. “Khoảng cách” đó vừa gần vừa xa, vừa hẹp vừa rộng. Trách nhiệm mỗi chúng ta là “lấp đầy” khoảng cách đó.

    Có lẽ Chúa Giêsu cũng ngạc nhiên khi thấy ông kinh sư trả lời khôn ngoan như vậy, và Ngài xác nhận: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12:34). Quả thật, không khó gì khi nói “mến Chúa” và “yêu người”. Chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi. Nhưng vấn đề quyết định cuối cùng phải là THỰC HÀNH điều mình nói để chứng tỏ ĐỨC TIN một cách cụ thể. Tại sao? Bởi vì “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:26). Nói được – đó chỉ là “chuyện nhỏ”. Làm được – đó mới là “chuyện lớn”, và là điều cần thiết mà Thiên Chúa muốn thấy nơi mỗi chúng ta.

    Lạy Thiên Chúa toàn năng chí thánh, thật hạnh phúc khi chúng con được nhận biết và tin vào Ngài nhờ Đức Kitô mặc khải, xin cảm tạ Ngài và xin giúp chúng con sống đức tin qua từng động thái hằng ngày, xin giúp chúng con biết chạnh lòng thương trước nỗi đau của tha nhân và dân tộc, nhất là những con người nhỏ bé và yếu đuối vì bất công xã hội. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    SỐNG TỐT SỐNG ĐẸP

    Lm. Jos. DĐH.

    Tiền nhân chúng ta có nhiều suy tư hết sức khúc triết: vàng thời thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Đúng, muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học. Không thể có chuyện sinh ra là làm thầy thiên hạ, là được quyền giám sát, ra lệnh. Không phải hết tất cả mọi người dám tự hào về sự sáng suốt của mình, cũng như chẳng ai lại vô duyên đến độ tự vạch áo cho người xem lưng. Cuộc sống ồn ào, nhiều người lạc quan cho rằng, đó là sự hỗn loạn cần thiết cho sự phát triển. Tâm lý bất ổn, ít nhiều cũng gây đến phiền phức cho cách ứng xử nơi gia đình, người thân. Thao thức chung, hạnh phúc cụ thể là người ta tìm được một nơi cư ngụ mà ở đó người người ý thức sống tốt, sống đẹp, xem nhau như anh chị em và có nghĩa vụ nâng đỡ nhau.

    Trải qua nhiều vướng mắc cho việc chọn lựa, một Luật sĩ đến gặp Đức Giêsu để trình bày về thao thức của ông: “trong giới răn, điều nào trọng nhất” ? Và chúng ta cũng có quyền đặt vấn đề, có phải vì muốn hiểu biết để các ông sống tốt, sống đẹp, trước bổn phận làm cha, làm chồng, làm một chức sắc lo cho các tín đồ, hay vì ông hỏi cho vui ? Sự cầu tiến hay mưu mô tính toán vụ lợi trước ưu tiên 1, ưu tiên 2, thường không có kết quả đối với những tâm hồn thiếu quảng đại. Bậc làm cha mẹ, bình thường sẽ không dạy dỗ con cháu: sống ở đời này là để ăn, để hưởng thụ. Những người làm con sẽ chẳng ai đặt vấn đề: cần phải sống đức thảo hiếu bao lâu thì công bằng với các ngài.

    “Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và người hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết linh hồn, hết sức ngươi”. Lời nhắc nhớ đó không có gì mới lạ, cũng chẳng phải là một tổng hợp số lý thuyết được rút gọn, so với niềm tin Thiên Chúa của dân tộc Israel. Sống tốt với cha mẹ, sống đẹp trong các tương quan với Chúa và tha nhân, không thể được công nhận nếu con tim, khối óc của chúng ta hẹp hòi, tính toán. Kẻ “yêu cha, ghét mẹ”, không ai gọi là con thảo con hiếu. Người đã từng đầu tư tiền của xây chùa, xây nhà thờ, nhưng luôn khép kín, đóng cửa lòng với anh chị em đói nghèo ở xung quanh, ai dám trao tặng cho họ danh hiệu: đây là người có lòng từ bi nhân hậu ?

    “Còn đây là giới răn thứ hai: ngươi hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi”. Đức Giêsu đã nối kết mọi liên hệ bằng tình yêu thương, Ngài gián tiếp phủ nhận các lý do: “mắt thịt xác phàm” không nhìn thấy Chúa ở đâu làm sao yêu mến, tư tưởng phàm nhân, ai có thể hiểu Chúa đang hiện nơi anh chị em mình mà yêu với mến ! Sống tốt sống đẹp, mến Chúa yêu người, sẽ không trừu tượng lý thuyết, khi hàng ngày chúng ta có thời giờ suy xét giữa lời nói việc làm của chúng ta đang mẫu thuẫn hay phù hợp ? Cách nói của xã hội hôm nay là cha mẹ hãy “truyền cảm hứng” cho con cháu, thầy cô hãy “truyền lửa” cho học trò, nhưng thực tế nhất vẫn là “gương sáng về đức ái” phải được gia đình, nhà trường quan tâm, ý thức sống.

    Ca dao có câu: chim khôn cốt ở tiếng hót, người khôn cân nhắc nói cười đúng nơi. Khả năng, điều kiện hoàn cảnh mỗi người mỗi thời rất khác nhau, nhưng nơi mỗi người: nét đậm, nét mờ, thành hay bại, đều tuỳ thuộc vào tự do và ý chí quyết tâm sống của họ. Một người có tư duy ổn định, biết mình là ai, họ sẽ đủ tự tin để sống đẹp, sống đúng, với điều kiện của họ mà không thế lực nào có thể làm lung lay lập trường sống của họ. Ít nhiều gì chúng ta cũng đã nghe lời người xưa day: ai ơi giữ chí cho bền, dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai. Chúa Giêsu qua cuộc đối thoại với người Luật sĩ, Ngài cũng lưu ý đến sự cần thiết của lập trường sống mến yêu: “ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”.

    Mến Chúa yêu người, sống tốt sống đẹp, sẽ không cũ xưa, nhất định không phải chỉ thích hợp cho một số đối tượng cấp cao: hàng giáo sĩ, tu sĩ, hay giới tri thức, đại gia. Giới luật yêu thương, đối nhân xử thế đúng, đẹp, đã có nơi tâm hồn mỗi người, đó là hạt giống đức tin Thiên Chúa đã gieo trồng, nay Đức Giêsu vẫn đang là chuẩn mực, làm sống động chân lý đức tin đó trổ sinh bông hạt. Nếu thầy thuốc ý thức mình là người chữa bệnh, thì bệnh nhân lại luôn cần thầy thuốc giỏi, biết lắng nghe, biết nhiệt tình quan tâm đến nhu cầu sống đúng, sống đẹp, sống hết tình với niềm tin của cộng đồng xã hội. Mến Chúa yêu người, sống đúng sống đẹp, không phải chỉ là lời mời gọi của chúa nhật 31 hôm nay ; phần thưởng nước trời rộng lớn, nhưng cơ hội, thời gian, không chờ đợi ai bao giờ cả. Không nên nói ra những lời khó nghe khi tâm trạng bạn không tốt, đừng hành động khi “trí lòng” bạn mách bảo điều đó là do ghen ghét, ngược với đức ái Thiên Chúa dạy. Xin tình Chúa yêu thương, chúc lành cho tất cả nhân loại chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Dân tộc Israel được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn làm dân riêng của Ngài. Thiên Chúa giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ nhà Ai cập, dẫn đưa họ vào hoang địa đến núi Sinai gần chóp đỉnh của một bán đảo, một nơi vắng vẻ và kinh hoàng. Chính nơi đây đã diễn ra một biến cố, một sự kiện làm nên tính tôn giáo, hơn nữa nó là trung tâm của lịch sử cứu độ mà muôn đời dân Israel phải ghi nhớ, đó là Giao Ước Sinai. Thiên Chúa đã ký kết với họ một giao ước do Môsê làm trung gian. Giao ước này được ký kết vào khoảng thế kỷ 13 trước công nguyên có nội dung như sau: Thiên Chúa là Đấng nhận Israel làm dân riêng của Ngài và luôn yêu thương phù trợ họ; Israel nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất họ phải tôn thờ. Chính trong bối cảnh đó, ông Môsê kêu gọi họ: các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Ngài để được sống lâu, được hạnh phúc trong miền đất chảy sữa và mật.

    Thưa anh chị em, trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu nhắc lại một lần nữa tính ưu việt của lề luật khi trả lời người Luật sĩ: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng; ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình”. Đó là giới răn quan trọng nhất làm nền tảng cho cuộc sống tôn giáo đã được ghi chép cẩn thẩn với 613 khoản luật Do thái, và Chúa Giêsu  xác định: “không giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. Nói cách khác, yêu mến là giới răn lớn nhất: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến đồng loại. Cựu ước cũng đã đòi hỏi dân chúng yêu thương đồng loại. Nay Chúa Giêsu tái xác nhận. Điều này không có gì mới. Tính mới mẻ của giáo huấn Chúa Giêsu chính là nối kết hai giới răn đó nên một luật lớn nhất, một giới răn duy nhất nhờ tình yêu không chỉ bằng lời nói suông, nhưng bằng hành động thực sự. Đây là một kết luận tuy đơn sơ nhưng rất sắc bén của thánh Gioan: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”. Một tình yêu chân thật đối với Thiên Chúa thôi thúc chúng ta đem hết tài năng và của cải mà phục vụ người khác.

    Có một câu chuyện kể rằng, người con gái của Karl Marx có lần tâm sự với người  bạn: “Tôi lớn lên mà không hề biết bất cứ tôn giáo nào. Tôi cũng không tin tưởng Thiên Chúa. Thế rồi tình cờ tôi đọc một quyển sách trong đó có lời kinh khác lạ. Tôi đọc hết lời kinh ấy và tự nhủ: nếu quả thật Thiên Chúa của lời kinh đó hiện hữu, tôi nghĩ rằng tôi có thể tin Ngài được”. Người bạn hỏi cho biết đó là lời kinh nào. Người con gái của Karl Marx mới từ từ đọc lại Kinh Lạy Cha.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Tình cha con và tình anh em được Chúa Giêsu mặc khải qua Kinh Lạy Cha. Hãy sống với Cha trong tình phó thác, với anh em trong tình bác ái. Tình yêu Thiên Chúa và tha nhân này còn được Chúa Giêsu đẩy xa hơn nữa: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Chúa Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em”. Chính trong khung cảnh này mà tính mới mẻ của giáo huấn Chúa Giêsu đạt tới đỉnh cao: “như Thầy đã yêu mến anh em, anh em cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà mọi người nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau”. Tựu trung, tình yêu làm cho chúng ta nên giống Chúa Kitô: yêu mến Thiên Chúa thì phải yêu mến tha nhân và muốn yêu mến tha nhân thì cũng phải tôn thờ Thiên Chúa.

    Nguyện xin Chúa xin giúp chúng ta biết yêu mến Chúa bằng chính cuộc sống thương yêu chia sẻ của chúng ta đến với anh chị em đồng loại, để chúng ta luôn thi hành lệnh Chúa truyền cách trọn hảo trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 31 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXI năm B này thắp sáng luật yêu thương: Cựu Ước mặc khải cho chúng ta “Mến Chúa”, trong khi Tân Ước mặc khải cho chúng ta “Mến Chúa và yêu người”.

    Đnl 6: 2-6

    Bài Đọc I, trích từ sách Đệ Nhị Luật, chứa đựng lời tuyên tín nổi tiếng của Ít-ra-en:“Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”.

    Dt 7: 23-28

    Thư gởi tín hữu Do thái khẳng định chức tư tế của Đức Ki-tô cao vời khôn ví hơn chức tư tế của Cựu Ước.

    Mc 12: 28-34

    Tin Mừng tường thuật cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su với một kinh sư trong đó Đức Giê-su hiệp nhất “Mến Chúa” với “yêu người”.

    BÀI ĐỌC I (Đnl 6: 2-6)

    Bản văn này, đỉnh cao sứ điệp của sách Đệ Nhị Luật, giải thích giới răn thứ nhất của Thập Giới, được đặt trên môi miệng của ông Mô-sê.

    1. Mến Chúa đối với Ít-ra-en:

    Đức Chúa của Ít-ra-en là Thiên Chúa duy nhất mà con người không chỉ kính sợ nhưng còn phải yêu mến hết lòng hết dạ và hết sức nữa. Đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa đã bảy tỏ cho dân Ngài, mỗi người phải trọn tình vẹn nghĩa với Thiên Chúa của mình.

    Dân Chúa chọn đã hiểu sự mới mẽ tận mức của giới răn này đem lại cho tôn giáo của họ một tính chất đặc thù. Họ đã tuyên xưng giới răn này và đặt giới răn này vào trung tâm của kinh nguyện được gọi kinh Shê-ma (“Nghe đây”), mà suốt nhiều thế kỷ qua những tín hữu đạo hạnh của Ít-ra-en thường ngày đọc vào ban sáng và ban chiều. Vào thời đó, lời tuyên tín này được tôn kính đến mức người ta ghi trên những mảnh vải và cuộn vào hộp kinh để mang trên cánh tay hay trên trán. “Mến Chúa” phải được bày tỏ qua thái độ “kính sợ Chúa”, tuân giữ các giới răn của Ngài và bận lòng thông truyền đức tin.

    1. Kính sợ Chúa và tuân giữ các giới răn của Ngài:

    Kiểu nói Kinh Thánh: “Kinh sợ Chúa”, không có nghĩa sự sợ hãi; đây là thái độ tôn kính đầy niềm tin, khi ý thức về sự cao cả của Thiên Chúa. Tuân giữ các giới răn là bổn phận xuất phát từ Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Sách Đệ Nhị Luật được trình bày như bài giáo lý về Giao Ước. Để đáp trả sự trung thành của Thiên Chúa đối với những lời hứa của Ngài, dân Ít-ra-en phải trung thành với Thập Giới, nền tảng của Giao Ước. Thiên Chúa đã hứa cho dân du mục này một miền đất trong đó họ sẽ được an cư lạc nghiệp và trở thành một quốc gia vĩ đại. Thay vì sa mạc khô cằn nắng cháy, Thiên Chúa đã hứa cho họ “một miền đất tràn đầy sữa và mật ong” với điều kiện là tuân giữ các giới răn của Ngài.

    1. Thông truyền đức tin:

    Tầm quan trọng của việc giáo dục tôn giáo trong gia đình là lời kêu gọi khẩn thiết của tác giả sách Đệ Nhị Luật. Lời kêu gọi này được lập đi lập lại nhiều lần (Đnl 4: 9; 6: 20; 32: 7). Tác phẩm của ông là lời cảnh giác thường hằng coi chừng những nguy hiểm của môi trường ngoại giáo chung quanh. Việc gìn giữ các truyền thống và bận lòng thông truyền đức tin thuộc vào những đòi hỏi căn bản tất yếu đối với sự tồn vong của dân Ít-ra-en.

    Sách Đệ Nhị Luật thấm đẫm tính nhân bản cũng như tính siêu việt. Thiên Chúa mà sách trình bày là một Thiên Chúa gần gũi với dân Ngài, dân mà Ngài bày tỏ lòng trìu mến và xót thương. Sách Đên Nhị Luật mang dấu ấn giáo huấn của các ngôn sứ lớn như A-mốt, Hô-sê, I-sai-a, đồng thời sách chuẩn bị sứ điệp của Tin Mừng.

    BÀI ĐỌC II (Dt 7: 23-28)

    Sau khi đã chứng minh Đức Ki-tô đã sở hữu những phẩm trật tư tế – liên đới với loài người và được Thiên Chúa đặt làm tư tế – tác giả sẽ cho thấy những nét khác biệt giữa chức tư tế của Đức Ki-tô và chức tư tế của Cựu Ước. Tác giả nhắm đến tác vụ trung gian của Đức Ki-tô phục sinh.

    1. Đức Ki-tô là Thượng Tế đời đời:

    Đức Ki-tô là Thượng Tế đời đời; Ngài là Đấng trung gian hoàn hảo vì “Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến gần Thiên Chúa”. Vị thượng tế Do thái mỗi năm một lần bước vào nơi cực thánh để cầu bầu cho dân vào ngày lễ Xá Tội, còn Đức Giê-su, “thật ra, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ”.

    1. Đức Ki-tô là Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn:

    Đức Ki-tô là Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn. Nếu trong cuộc sống tại thế, Ngài đã tự mình liên đới với những người tội lỗi, từ nay Ngài “được nâng cao vượt các tầng trời”, nghĩa là dự phần vào tính siêu việt của chính Thiên Chúa. Trái lại, các tư tế theo luật Mô-sê, những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, phải dâng lễ tế hy sinh, “trước là để đền tội của mình, sau là để đền tội thay cho dân”.

    1. Đức Giê-su được đặt làm tư tế với lời thề:

    Cuối cùng, một lần nữa tác giả trích dẫn Tv 110 để nhấn mạnh phẩm trật tư tế đặc biệt của Đức Ki-tô: Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Thượng Tế với lời thề, còn các tư tế theo luật Mô-sê thì không có lời thề. Quả thật, Thánh Vịnh nói: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê”. Bản văn này đã đến sau này, nghĩa là sau ông Mô-sê, hàm chứa một giai đoạn cao cả trong Mặc Khai và loan báo một mức độ hoàn hảo, mà Đức Giê-su thực hiện với tư cách là Con Thiên Chúa. Tác giả ngỏ lời cách tinh tế với các Ki-tô hữu gốc Do thái trong số họ chắc chắn có những tư tế của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.

    TIN MỪNG (Mc 12: 28-34)

    Thánh Mác-cô cũng như thánh Mát-thêu đặt cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một kinh sư này vào những ngày Đức Giê-su giảng dạy tại Giê-ru-sa-lem. Cuộc đối thoại này liên quan đến điều răn nào là quan trọng nhất trong số 613 giới luật Cựu Ước (365 điều cấm và 248 điều buộc), một đề tài thường được đặt ra cho các kinh sư Do thái. Câu trả lời của Đức Giê-su phối hợp hai câu trích dẫn Cựu Ước: Đnl 6: 4-5 và Lv 19: 18, quả thật nhấn mạnh tính chính thống lời dạy của Ngài như một kinh sư Do thái và minh chứng Ngài đi cho đến tận ngọn nguồn của sự việc. Cuộc đối thoại này quan trọng không chỉ vì sự độc đáo của nó mà còn vì điểm nhấn của nó trên những tư thế nội tâm.

    Bản văn này có thể chia làm bốn phần được cấu trúc theo hình thức “đối xứng xen kẻ” như sau:

    A – Vị kinh sư hỏi (12: 28).

           B – Đức Giê-su trả lời (12: 29-31).

    A’ – Vị kinh sư bình phẩm (12: 32-33).

           B’-Đức Giê-su khen ngợi (12: 34).

    A – Vị kinh sư hỏi (12: 28):

    1. “Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giê-su và những người thuộc nhóm Xa-đốc tranh luận với nhau”: Câu này được dùng để nối kết cuộc tranh luận trước đó với cuộc đối thoại theo sau. Ông kinh sư này là một trong những người chứng kiến cuộc tranh luận của Đức Giê-su với nhóm Xa-đốc về kẻ chết sống lại.

     “Thấy Đức Giê-su đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi”: Khi thấy Đức Giê-su đối đáp với nhóm Xa-đốc về cuộc sống mai hậu cách khúc chiết, mạch lạc dựa trên nền tảng Kinh Thánh, vì thế ông chân thành muốn hỏi Đức Giê-su để mong gặp thấy một giải đáp. Thái độ thành tâm thiện chí muốn hiểu biết của ông khiến cuộc nói chuyện thành một cuộc học hỏi chân thành và cởi mở hơn là một cuộc tranh luận (khác với Mt 22: 35 và Lc 10: 25).

     “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?”: Vị kinh sư nêu câu hỏi nầy không có bất kỳ ác ý nào. Câu hỏi của ông thật sự phản ảnh nỗi bận lòng của trường phái kinh sư vào thuở đó.

    Các kinh sư đều xem lề luật là ý muốn của Thiên Chúa, vì thế, thực thi lề luật chính là trung thành với Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Tuy nhiên, có hai khuynh hướng. Một khuynh hướng tìm cách cách mở rộng lề luật cách vô hạn định ra thành muôn vàn điều luật và quy tắc để làm thế nào lề luật có thể được thực thi trong mọi cảnh huống cuộc sống của dân Chúa chọn. Còn khuynh hướng thứ hai thì cố tìm cách thu gọn lề luật vào trong một câu cô động cái tinh thần cốt yếu của lề luật.

    Thật ra, cả hai khuynh hướng: mở rộng cũng như thu gọn lề luật, vẫn thường hằng hiện diện trong những cuộc tranh luận giữa các kinh sư với nhau. Có những người tin trong luật có những vấn đề nặng nhẹ khác nhau, có nhiều nguyên tắc đáng xem là quan trọng hơn mà người ta phải lãnh hội và thi hành trước nhất. Nhưng có nhiều người khác cực lực chống lại, họ chủ trương rằng một nguyên tắc nhỏ nhặt cũng có tính bắt buộc y như một nguyên tắc quan trọng nhất, vì thế cố phân biệt chỗ khác nhau tương đối giữa chúng, là điều vô cùng nguy hiểm.

    Khi hỏi Đức Giê-su như thế, vị kinh sư chân thành muốn biết trong số 613 điều luật Cựu Ước (gồm 365 điều cấm và 248 điều buộc) điều răn nào Thiên Chúa muốn chúng ta phải làm trước và làm cách triệt để.

    B – Đức Giê-su trả lời (12: 29-31)

    1. “Điều răn đứng hàng đầu là: ‘Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất…’”: Đức Giê-su trích dẫn Đnl 6: 4-5, đây là bản văn đầu tiên trong số ba bản văn (Đnl 6: 4-9; 11: 13-21; Ds 15: 37-41) đã trở thành kinh“Shê-ma”(“Nghe đây”) được xem như kinh “Tin Kính” của Do thái giáo và được những người Do thái mộ đạo đọc mỗi ngày hai lần. Giới răn mến Chúa phát xuất từ bản tính của Người là Thiên Chúa duy nhất. Bổn phận mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” không nhằm quy chiếu đến những phần riêng biệt của con người, nhưng nhấn mạnh rằng toàn thể con người phải yêu mến Chúa tận mức, một cách tuyệt đối. Kinh Shê-ma được chép lại trên một tấm vải nhỏ cuộn vào một hộp nhỏ bằng da mà người Do thái ngoan đạo đeo trên trán và trên cườm tay khi cầu nguyện như nhắc nhở tín điều của tôn giáo mình.
    2. “Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”: Dù chỉ được hỏi một điều răn, Đức Giê-su nói thêm điều răn thứ hai khi trích dẫn Lv 19: 18b (x. Rm 13: 9; Gl 5: 14; Gc 2: 8). Khi trích dẫn câu này, Chúa Giê-su sửa đổi một điểm. Trong nguyên văn,“người thân cận”được giới hạn chỉ trong vòng người Do thái chứ không bao gồm dân ngoại như câu mở đầu của huấn lệnh này cho thấy: “Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi” (Lv 19: 18a). Nhưng trong câu trích dẫn của Chúa Giê-su, yêu “người thân cận” phải bao gồm với hết mọi người và đạt tới mức độ cao nhất như yêu chính mình: “thương người như thể thương thân”, vì theo lẽ tự nhiên, ai nấy đều quý trọng, yêu thương bản thân hơn người khác.

    Giáo Huấn của Đức Giê-su mang tính mới mẽ khi Người ghép chung hai điều răn“Mến Chúa” và “Yêu người” vào với nhau. Trước đó, chưa có một kinh sư nào làm như vậy. Trong bản văn của thánh Mát-thêu, điều răn “Yêu người” đồng nhất với điều răn “Mến Chúa”: “Còn điều răn thứ hai cũng giống như điều răn ấy” (Mt 22: 39); còn trong bản văn của thánh Mác-cô, hai điều răn “Mến Chúa” và “Yêu người”được đặt bên cạnh để chuẩn bị cho việc lượng giá chúng ngang bằng giá trị:“Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12: 31). Trong Tân Ước, lời giải thích về “Mến Chúa” và “Yêu người” của thánh Gioan là hay nhất:“Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy’” (1Ga 4: 20).

    A’ – Vị kinh sư bình phẩm (12: 32-33):

    1. “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng”: Vị kinh sư này tán đồng câu trả lời của Đức Giê-su và bình phẩm câu trả lời của Người mà không có bất kỳ hậu ý nào về sự thù ghét hay châm biếm. Thật ra, vị kinh sư chỉ lập lại hai câu Kinh Thánh Chúa Giê-su đã trích dẫn, với từ ngữ có vẻ sát với thực tế hơn.

     “Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác”: Trước hết, ông nhấn mạnh thêm khía cạnh độc tôn của Thiên Chúa.

    1. “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu mến người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”: Rồi, ông kết luận rằng“mến Chúa và yêu người”phải được coi trọng hơn mọi hy lễ. Lời này của vị kinh sư khiến chúng ta liên tưởng đến Hs 6: 6 và 1Sm 15: 22.

    Khi nhận định như vậy, vị kinh sư không cố ý khẳng định rằng nền phụng tự Đền Thờ đã bị hủy bỏ, nhưng đã trở nên tương đối hóa đi rất nhiều. Thật ra, trong Cựu Ước đã có những tư tưởng chuẩn bị cho việc phê phán nền phụng tự Đền Thờ như thế (1Sm 15: 22; Tv 51: 20t; 40: 7; Cn 21: 3), đặc biệt với các ngôn sứ như ngôn sứ Hô-sê: “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được người nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” (Hs 6: 6; x. Is 1: 11-17).

    Vì thế, không cần phải giải thích lời của ông như lên án nền phụng tự Đền Thờ. Trong trật tự của ông, mến Chúa và yêu người là những nguyên tắc hàng đầu của nền phụng tự Đền Thờ, là linh hồn của mọi hy lễ dâng tiến Thiên Chúa. Nhưng điều đáng nói ở đây, một nhà thần học Do thái đã nhận định như thế tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nghĩa là ngay tại nơi dâng hy lễ.

    B’ – Đức Giê-su khen ngợi (12: 34):

    1. “Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy”: Trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giê-su thường có cái nhìn về giai cấp lãnh đạo Do thái rất tiêu cực, nhưng ở đây Người nhận định câu trả lời của vị kinh sư này rất tích cực.

     “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”: Còn hơn tương lai, ở đây Nước Thiên Chúa đang ở trong tầm tay và xem ra có một chiều kích không gian. Việc ông hiểu đúng điều gì là quan trọng trong lề luật Cựu Ước đặt ông gần với Nước Thiên Chúa đang đến và chuẩn bị ông đón nhận nước đó một cách thích đáng (x. 10: 13-16).Ẩn sau những hỏi đáp này, chính là cuộc đối thoại sâu xa giữa Chúa Giê-su với một người kinh sư chân thành cởi mở đặc biệt, mà không hề có một hậu ý nào.

     “Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa”: Câu này chuẩn bị cho câu chuyện tiếp theo sau, trong đó Đức Giê-su chất vấn các kinh sư về chân tính của Đấng Mê-si-a.

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI CÓ DỄ KHÔNG?

    Lm.Jos Đỗ Đức Trí

     Nhiều người cho rằng xã hội tiêu thụ, hưởng thụ ngày nay được cộng thêm với chủ nghĩa duy vật vô thần đang hủy hoại trầm trọng tâm hồn con người. Đời sống đạo của nhiều người chỉ còn là hình thức, họ tính toán với Chúa trong việc dâng lễ, cầu nguyện, dâng cúng như tính toán làm ăn. Nhiều người chỉ đến với Chúa mỗi khi cần giống như đi xin giấy tờ vậy. Trong xã hội Việt Nam: Lòng tốt của con người bị lợi dụng, lừa dối, khiến cho nhiều người không dám tốt với người khác. Trong công việc nhiều người vì lợi nhuận, sẵn sàng đầu độc người tiêu dùng bằng các loại hóa chất. Trong cuộc sống thường ngày người ta dễ dàng cư xử với nhau bằng bạo lực, côn đồ, ăn nói với nhau bằng những lời thô tục. Tình trạng này xảy ra hầu hết nơi mọi lứa tuổi, từ người lớn đến học sinh, trẻ em, từ dân thường cho đến quan chức. Trầm trọng hơn nữa là con người đánh mất niềm tin vào nhau, sống với nhau bằng sự ngờ vực; các thành viên trong gia đình cư xử với nhau không bằng tình yêu mà thay vào đó là bằng tiền… vv.

    Vào những ngày cuối năm, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại hai giới răn quan trọng nhất của Chúa: Mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người như chính mình, để chúng ta có dịp rà soát lại đời sống của ta với Chúa và cách cư xử của ta với anh chị em. Mến Chúa – Yêu người là hai giới răn chúng ta đã thuộc lòng. Tuy nhiên, từ việc thuộc lòng đi đến việc thực hiện vẫn là một khoảng cách thật xa. Mến Chúa, yêu người có dễ không?

    Phải mến Chúa như thế nào? Đã nói đến tình yêu thì không bao giờ có giới hạn, vì thế việc yêu mến Chúa sẽ không bao giờ có tận cùng. Tin Mừng kể lại: “Một thầy thông luật đến hỏi Chúa Giêsu: Thưa Thầy, trong các điều răn, điều nào đứng hàng đầu?”Là một người thông luật, chắc chắn người này thông thạo các giới răn và lề luật. Sau một thời gian, Mười Điều răn của Chúa đã bị các thầy thông luật và biệt phái giải thích và thêm quá nhiều chi tiết, khiến cho nhiều người không biết đâu là điều chính yếu. Hơn nữa, vì chỉ lo giữ luật để khỏi vi phạm luật, nên người Do thái đã giữ luật theo hình thức bên ngoài mà không có tâm tình yêu mến bên trong. Vì vậy, đời sống đạo của họ trở thành như một cái máy được lập trình, như một con rô-bốt vô hồn. Do đó, khi trả lời cho người thông luật, Chúa Giêsu khẳng định: “Nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức mình người”.

    Với câu trả lời này, Chúa Giêsu cho thấy giới răn yêu mến Thiên Chúa là giới răn quan trọng nhất, và Ngài còn cho thấy phải yêu mếu Chúa như thế nào cho tương xứng. Chúa Giêsu trả lời thầy thông luật bằng việc trích lời kinh Shema trong sách Đệ Nhị Luật chúng ta nghe trong bài đọc một, để đưa ông về với thuở ban đầu thời ông Môsê. Lúc đó, dân vừa được giải thoát ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, ông Môsê đòi họ phải yêu mến Thiên Chúa với lòng biết ơn. Môsê cũng cho dân Israel thấy, họ yêu mến, biết ơn Thiên Chúa thì sẽ được trường thọ, hạnh phúc và được vào đất hứa.

    Yêu mến với lòng biết ơn, không phải là một cảm xúc nhất thời, hoặc theo hứng, mà phải là trọn vẹn cả con người với hết khả năng, sức lực, trí tuệ và tình cảm. Đòi hỏi đó được diễn tả qua kiểu nói: “Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức mình”.Việc yêu Chúa vừa là một đòi hỏi của Chúa vừa là thái độ đáp trả của con người với Thiên Chúa; của một người biết mình được yêu đối với đấng yêu mình, là ân nhân cứu mạng. Yêu hết lòng, hết linh hồn, là dành trọn vẹn cho Chúa tất cả trái tim, đặt Chúa vào vị trí thứ nhất trên tất cả tiền bạc, công việc, kể cả gia đình, không so đo tính toán thiệt hơn với Chúa. Yêu Chúa hết trí khôn và hết sức mình là dành cho Chúa hết mọi khả năng sức lực, mọi toan tính. Yêu hết lòng là yêu với một sự tự nguyện tự do và ý thức, tự giác đón nhận và thực hành những gì Chúa muốn vì biết mình được Chúa yêu. Khi dám yêu và dành trọn vẹn cho Chúa, Chúa không lấy đi những gì của chúng ta, nhưng trái lại Chúa thánh hóa, biến đổi và ban tặng lại cho chúng ta bằng tình yêu thương và phúc lành của Chúa. Tuy nhiên, nơi nhiều người lòng yêu mến Chúa đã vơi cạn, chỉ còn là một bổn phận bắt buộc. Vì thế họ đến với Chúa cho qua lần để đánh lừa lương tâm. Họ sống đạo chỉ theo thói quen hoặc hình thức bên ngoài mà không có tâm tình thảo hiếu biết ơn.

    Cùng với đòi hỏi dành ưu tiên tuyệt đối cho Chúa, Chúa Giêsu còn chỉ cho người thông luật điều răn thứ hai: “Ngươi hãy yêu mến anh em như chính mình ngươi”.Ai cũng yêu mến bản thân, không ai ghét bản thân mình bao giờ. Ai cũng mong mình đạt được những điều tốt nhất, thoải mái nhất, ai cũng muốn mình hạnh phúc. Chúa muốn chúng ta cũng phải yêu người khác như vậy. Mỗi khi chúng ta làm gì sai, chúng ta thường tìm cách biện hộ cho bản thân, dễ thông cảm tha thứ cho mình, nhưng ta lại quá khắt khe, thiếu bao dung thông cảm với anh chị em. Trong cuộc sống, ai cũng muốn mình được nhìn nhận và tôn trọng, thế nhưng nhiều khi chúng ta đã không tôn trọng anh chị em, nhiều người còn sẵn sàng dìm anh chị em mình xuống để mình được leo cao trong bậc thang xã hội.

    Thư Do Thái cho thấy, Chúa Giêsu chu toàn cách vuông tròn hai giới răn này và còn chu toàn một cách trọn vẹn, tuyệt vời, trở nên gương mẫu cho chúng ta. Vì yêu mến và vâng phục hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa, Chúa Giêsu mang phẩm vị của một Thượng tế, chu toàn việc thờ phượng tế tự Thiên Chúa. Trong vai trò là Thượng tế, Chúa Giêsu đã hiến tế chính thân mình làm của lễ đẹp lòng Thiên Chúa và đem lại ơn cứu độ vĩnh viễn cho toàn thể nhân loại. Khi còn sống ở trần gian, mang thân xác con người, Chúa Giêsu đã hết lòng yêu thương và phục vụ nhân loại tội lỗi, như những người anh em ruột thịt. Ngài ôm lấy những người đau khổ vào lòng, chữa lành bệnh tật thể xác và tâm hồn con người; cảm thông và an ủi những người đau khổ, những người bị xã hội loại trừ, không một người nào bị rơi ra ngoài sự quan tâm và tình yêu thương của Chúa.

    Chúa Giêsu khi tóm gọn giới răn lề luật của Thiên Chúa vào hai điều Mến Chúa – Yêu người, Ngài muốn mỗi người chúng ta học nơi Ngài để biết yêu mến, tôn thờ Thiên Chúa cho phải đạo làm con và yêu mến, phục vụ anh chị em cho trọn tình vẹn nghĩa. Mỗi người được mời gọi làm mới lại tương quan của mình đối với Chúa. Chúa muốn chúng ta yêu Chúa một cách cụ thể từ trong tâm hồn được thể hiện ra bên ngoài. Cho dù xã hội có nhiều lôi kéo, cho dù cuộc sống thường ngày trong gia đình, trong công việc có nhiều thứ chúng ta phải quan tâm, thế nhưng, giữa những sự lôi kéo và các mối bận tâm ấy, chúng ta vẫn phải dành cho Chúa chỗ ưu tiên trước hết và trên hết. Hãy để cho mình bận tâm vào việc chu toàn trước tiên bổn phận làm con cái của Chúa với lòng thảo hiếu, tôn kính và biết ơn. Cần phải bận tâm, lo lắng cho mình và các thành viên trong gia đình có được một đời sống đạo đức trưởng thành, một đức tin vững chắc. Trong mọi hoàn cảnh dám đặt Chúa và đời sống đức tin là quan trọng nhất.

    Đồng thời chúng ta cũng phải chu toàn giới răn yêu thương đối với anh chị em. Chúng ta cần bắt đầu sống và thực hành yêu thương từ trong gia đình; dành sự kính trọng, thảo hiếu, biết ơn đối với cha mẹ, chăm sóc an ủi các ngài khi đau yếu, tuổi già. Cha mẹ, vợ chồng cần làm mới lại tình yêu thương với nhau, có thể sau thời gian sống chung tình nghĩa đã bị mai một, phai nhạt. Có nhiều người vợ đang bị hắt hủi ghẻ lạnh trong gia đình, có nhiều người chồng đang bị coi thường, ghét bỏ, họ đang cần được sự thăm hỏi quan tâm nhiều hơn. Hãy thể hiện giới răn yêu thương với con cái, những đứa ngoan và cả những đứa ngỗ nghịch. Nhờ việc cảm nhận được tình yêu, chúng sẽ được biến đổi. Điều khó, là thực hiện giới răn yêu thương đối với xóm giềng và những người chung quanh. Như đã nói ở trên, xã hội đang làm cho nhiều người mất đi sự nhạy bén của trái tim, khiến họ không còn biết nghĩ điều tốt, nói điều tốt và làm điều tốt cho anh chị em, mà chỉ biết nghĩ đến bản thân. Nhiều khi chúng ta vô tình hay cố ý gieo điều ác, điều xấu, điều gian dối cho người khác, mà lương tâm không chút áy náy.

    Xin Chúa cho chúng ta không chỉ thuộc, mà còn biết thực hiện hai giới răn mến Chúa và yêu người này mỗi ngày trong đời sống, để mọi người nhìn vào những việc làm yêu thương của ta, biết ta thuộc về Chúa Kitô. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐIỀU RĂN ĐỨNG HÀNG ĐẦU TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA

    Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

    Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Đnl 6:2-6;  Dt 7:23-28;  Mc 12:28-34)

              Cứ mỗi lần nghe bài Tin Mừng hôm nay, câu hỏi đến trong đầu óc tôi vẫn là tại sao Chúa Giê-su lại bảo ông kinh sư rằng ông ta không còn xa Nước Thiên Chúa đâu.  Câu truyện bắt đầu từ việc ông hỏi Chúa điều răn nào đứng hàng đầu trong mọi điều răn.  Trả lời ông, Chúa Giê-su không chỉ kể ra một “điều răn đứng hàng đầu”, mà Người còn kể ra thêm một điều răn khác cũng đứng hàng đầu!  Ông kinh sư không phản đối câu trả lời của Chúa, trái lại ông hoàn toàn đồng ý với Chúa.  Hơn thế nữa, ông còn giải thích thêm lý do tại sao cả hai giới răn mến Chúa và yêu tha nhân lại chiếm vị trí hàng đầu:  bởi vì hai giới răn này “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”.  Đây là cách hiểu hoàn toàn đi ngược lại với lối suy nghĩ và thực hành của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư.  Như thế, ông đã bước ra khỏi thế giới của nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư, để đón nhận lối suy nghĩ của Chúa Giê-su.  Nói khác đi, ông bắt đầu bước vào Nước Thiên Chúa do Chúa Giê-su rao giảng và thiết lập!

              Chúng ta hãy trở lại với câu chuyện Tin Mừng để hiểu diễn tiến thay đổi lối suy nghĩ của ông kinh sư.  Trước hết là câu hỏi của ông: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Khi hỏi “điều răn nào”, tức là chỉ có một điều răn thôi, ông vẫn theo cách suy nghĩ của các kinh sư là chủ trương rằng chỉ có điều răn mến Chúa mới là điều răn đứng hàng đầu.  Chúa Giê-su đồng ý với ông về vị trí “đứng hàng đầu” của điều răn này, như chúng ta đọc thấy trong bài đọc 1 về vị trí của điều răn ấy. Tuy nhiên Chúa đã làm cho ông quá bất ngờ khi Người kể thêm một điều răn hàng đầu nữa, là điều răn yêu thương tha nhân;  cuối cùng Người kết luận:  Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó. Đối với Chúa Giê-su, không có điều răn “đứng hàng đầu”, mà chỉ có những điều răn “quan trọng nhất”. Nếu Chúa Giê-su làm cho ông kinh sư phải ngạc nhiên thì đến lượt ông lại làm cho Chúa Giê-su vô cùng bỡ ngỡ khi ông trích dẫn Kinh Thánh để giải thích tại sao hai điều răn ấy là quan trọng nhất:  vì chúng quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ. Đây là điều cả hai người, Chúa và ông kinh sư, đồng quan điểm với nhau.  Như chúng ta biết, nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư quá câu nệ Lề Luật đến độ coi thường cả việc thực thi bác ái và yêu thương.  Dụ ngôn Chúa Giê-su kể về người Sa-ma-ri nhân hậu cho thấy điều ấy.  Vì muốn giữ luật thanh tẩy, thầy tư tế và thầy Lê-vi không muốn dừng lại cứu giúp người bị cướp đánh và bỏ nằm bên lề đường.  Cả hai người đã quý trọng việc dâng lễ toàn thiêu và hy lễ hơn cả việc băng bó vết thương cho người bị nạn.  Đối với họ, phải lên thẳng Giê-ru-sa-lem để dâng lễ tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa là “điều răn đứng hàng đầu”, còn việc tỏ lòng yêu thương tha nhân bằng cách dừng lại cứu giúp người khác chỉ là hàng thứ yếu.  Nhưng ông kinh sư này khác hẳn với những kinh sư khác.  Nếu ông là người trên đường lên Giê-ru-sa-lem gặp người bị nạn thì chắc chắn ông sẽ dừng lại giống như người Sa-ma-ri nhân hậu và sẽ làm cùng những điều người này làm rồi!  Đây cũng là điều Chúa Giê-su đã từng giảng dạy và hôm nay Người xác nhận lại một lần nữa:  mến Thiên Chúa và yêu tha nhân là hai điều không thể tách rời, có tầm quan trọng như nhau và cùng “đứng hàng đầu” như nhau.

              Chúa Giê-su đã chu toàn cả hai điều răn đứng hàng đầu này như thế nào?  Người là Con Một được Chúa Cha sai xuống trần gian để cứu độ nhân loại. Giả như Chúa Giê-su hành động theo lối suy nghĩ của nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư, thì Người sẽ coi việc yêu mến Chúa Cha là “hàng đầu”, còn việc cứu nhân loại là “hàng thứ”. Nhưng không phải vậy đâu, vì Người yêu thương chúng ta giống như Người yêu mến Chúa Cha.  Chính vì yêu thương chúng ta, Người đã chấp nhận làm “một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời”, chịu chết trên thập giá để “đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa” (bài đọc 2). Với Chúa Giê-su, vâng lời Chúa Cha vì yêu mến Người và chịu chết để cứu chuộc nhân loại đều là những hành vi quan trọng, là hai “điều răn đứng hàng đầu”!  Người đã lấy hai điều răn này để đặt nền móng cho Nước Thiên Chúa mà Người rao giảng và thiết lập vậy.

    Sống sứ điệp Lời Chúa

              Chúa Giê-su là gương mẫu sống hai điều răn quan trọng nhất mến Chúa yêu người. Chính vì thế, thánh Phao-lô, vị tông đồ của Chúa và cũng là người rất am hiểu mầu nhiệm Chúa Ki-tô, đã cầu xin cho chúng ta và mời gọi chúng ta hãy mang lấy những tâm tình của Chúa Ki-tô, hoặc hãy trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô. Lời cầu nguyện của ngài là: “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Ki-tô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa” (Ê-phê-xô 3:17-19).

              Ước chi lời cầu nguyện này cũng là lời khích lệ chúng ta hãy tiến sâu hơn mãi vào trong Nước Thiên Chúa, mang lấy não trạng của Vua Giê-su mà yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh chị em “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực” chúng ta.

    Về mục lục

    .

    QUÁN QUÂN

    Lm. Thái Sơn

    Gần đây, trên các báo thế giới, các khoa học gia phát hiện điều gì mới mẻ nhất?

    Đầu tiên, người Nhật đăng tin: “Họ đã đào sâu 100m xuống lòng đất và phát hiện sợi cáp đồng 1000 năm tuổi, chứng tỏ 1000 năm trước người Nhật đã xài điện thoại để bàn ???!!!”.

    Vài ngày sau, người Mỹ lại đăng: “Họ đã đào sâu 200m xuống lòng đất và phát hiện sợi cáp quang 2000 năm tuổi, chứng tỏ 2000 năm trước người Mỹ đã xài truyền hình cáp !!!???”.

    Chỉ sau đó một ngày, người Việt Nam cũng đăng tin: “Họ đã đào sâu 500m xuống lòng đất và chẳng phát hiện ra gì cả, nhưng tuyên bố 5000 năm trước Việt Nam đã xài mạng wifi!!!”.

    Một mẩu chuyện khác hấp dẫn hơn.

    Có ba người: Pháp, Anh và Việt ngồi nói về công nghệ của nước mình, ai cũng cho rằng công nghệ của mình là chuẩn nhất thế giới.

    Người Pháp nói: “Ở nước tôi có thể làm đường ray xe lửa chạy dưới đáy biển”. Người Anh liền nói: “Dưới đáy biển gồ ghề thế sao làm đường ray được”. Người Pháp trả lời: “Sai số 20cm”.

    Đến lượt người Anh nói: “Nước tôi có thể làm đường ray xe lửa trên mặt trăng”. Người Pháp cãi: “Trên mặt trăng gồ ghề thế sao làm đường ray được”. Người Anh liền nói: “Sai số 20cm”.

    Người Việt ngồi im lặng nãy giờ nghe hai người kia nói vậy liền lên tiếng: “Như vậy thì nhằm nhò gì, ở nước tôi người phụ nữ có thể sinh con bằng lỗ rốn”.

    Hai người kia nghe vậy thật ngỡ ngàng và ngạc nhiên vội kêu lên: “Sao lại sinh con bằng lỗ rốn được”. Người Việt tủm tỉm và nói rằng: “Sai số 20cm”.

    Thưa các bạn!

    Phải chăng, hạng nhất, số một, number one, đứng đầu, hảo hạng, vô địch hay quán quân là mơ ước của từng người, hay dân tộc mình?

    Thiết tưởng, để đạt được thành tích cao nhất và nhận giải quán quân, đòi hỏi “bạn & tôi” phải nỗ lực, cố gắng, trau dồi, học hỏi, không ngừng luyện tập và cọ sát.

    Tin Mừng Chúa Nhật 31 thường Niên B, Đức Giêsu cũng yêu cầu ông kinh sư về điều răn quan trọng nhất, với bốn chữ “hết”: hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực.

    Điều răn thứ nhất đó là yêu mến Đức Chúa và điều răn thứ hai là yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn hai điều răn đó (Mc 12,30-31).

    Có lẽ, “mến Chúa” thì dễ hơn “yêu người”. Vì Chúa thì vô hình, vô hạn, không thấy được, không sờ tới… còn người thì hữu hình, giới hạn, xem thấy, chạm được, lại yếu đuối, mỏng giòn, tội lỗi…

    Có thể nói, tuân giữ những điều răn Chúa dạy, được xem là mến Chúa. Như thánh Gioan tông đồ đã xác định bằng chứng việc yêu Chúa là giữ các giới răn của Ngài (x. 1Ga 5,3).

    Chân thật mà nói, yêu người mà mình thích thì đơn giản, còn yêu người mà mình ghét, hoặc yêu người mà ghét mình thì quả là khó khăn và nhiêu khê vô cùng.

    Thưa các bạn!

    Người Hoa đã dùng hình ảnh “quỷ & chó” để diễn tả sự phức tạp này. Họ cho rằng: “Vẽ quỷ thì dễ, vẽ chó thì khó”.

    Thật vậy, quỷ thì khó thấy hoặc chẳng thấy, nên vẽ sao cũng được, chẳng ai trách là vẽ không giống quỷ; còn chó ai cũng biết, nếu vẽ không đẹp sẽ bị chê là xấu.

    Nếu dùng từ Hán – Việt để nói lên mức độ “mến Chúa” và “yêu người”, thì gói gọn trong bốn chữ “toàn”. Đó là “toàn tâm, toàn linh, toàn ý, toàn lực”. Xem ra, “toàn” và “hết” là hai lãnh vực chỉ dành cho Thiên Chúa thôi.

    Thiết nghĩ, nếu không có ơn Chúa, không có sức sống của Chúa, và không có quyền năng của Chúa…, thì con người chẳng làm được gì, mà chỉ xem “mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” quý hơn tình yêu.

    Ước gì, chỉ có tình yêu là động lực cao nhất sẽ giúp “bạn & tôi” xích lại gần nhau và không còn xa Nước Thiên Chúa nữa. Amen

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI, GIỚI RĂN QUAN TRỌNG NHẤT

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Trong luật Môsê, có rất nhiều điều luật, trong 613 điều luật, có 248 điều buộc làm và có 365 điều cấm làm. Giữa một “rừng luật” như thế, nhiều lúc người ta không biết điều răn nào là quan trọng nhất. Đây là lý do tại sao người thông luật đến hỏi Chúa Giêsu: “Trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?”

    Để hiểu được bối cảnh bài Tin Mừng, trước hết chúng ta cần biết rằng vào thời Chúa Giêsu, trong Do Thái giáo, có hai khuynh hướng đối nghịch nhau. Một khuynh hướng muốn nhân rộng các khoản luật và quy định tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống. Khuynh hướng khác lại muốn rút ra từ “đống luật” điều chính yếu và quan trọng mà Thiên Chúa muốn hơn là quá chú trọng đến các chi tiết luật và những điều thứ yếu. Người thông luật này thuộc khuynh hướng thứ hai.
    Chúa Giêsu dùng cơ hội này để cống hiến một sự mới mẻ khi tóm tắt mọi lề luật vào trong hai giới răn: “Mến Chúa, yêu người, như là cốt lõi của lề luật.”

    1- Mến Chúa, giới răn quan trọng nhất

    Trước hết, Chúa Giêsu trả lời câu hỏi của người thông luật: “Nghe đây, hỡi Ítraen, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc 12,29-30).

    Đối với người Do Thái, câu trả lời này không có gì mới mẻ cả, bởi lẽ, những điều này được nói ở trong Cựu Ước mà họ rất quen thuộc. Cụ thể, trong sách Đệ Nhị Luật mà bài đọc I trích dẫn nói về giới răn này: “Nghe đây, hỡi Ítraen! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4). Ở đây, Chúa Giêsu vừa kế thừa vừa kiện toàn luật Cựu Ước khi nhắc lại điều quan trọng và chính yếu của lề luật.

    Vậy thì “người phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” có nghĩa là gì?

    Trong Mátthêu, từ có từ “hết” được lặp lại ba lần, còn trong Máccô, từ “hết” được lặp lại bốn lần để nhấn mạnh rằng con người phải yêu mến Thiên Chúa với toàn vẹn và trọn vẹn con người mình. Nghĩa là yêu mến Thiên Chúa đòi hỏi một sự dấn thân toàn bộ và trọn vẹn con người: cả con tim, tâm hồn, lý trí và cả thể lý chúng ta. Đây là giới răn quan trọng nhất. Điều này có nghĩa Thiên Chúa phải ở chỗ quan trọng nhất, vị trí số một trong cuộc đời tôi. Vì thế, mọi chọn lựa, suy nghĩ, tâm tư tình cảm và hành động của tôi phải được chi phối từ hệ giá trị này.

    Như thế, Chúa Giêsu muốn thiết lập lại tương quan nền tảng thứ nhất của con người với Thiên Chúa. Theo đó, con người hiện hữu nhờ Thiên Chúa. Con người được tạo dựng để yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa. Con người chỉ tìm được ý nghĩa và hạnh phúc cuộc sống khi sống kết hợp và yêu mến Người. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu gọi đó là điều răn quan trọng nhất.

    2- Yêu người, giới răn thứ hai

    Kitô giáo không phải là một tôn giáo “duy thiên” hay “duy linh” mà là một tôn giáo nhập thể và nhập thế. Con người không chỉ có tương quan chiều dọc với Thiên Chúa, nhưng còn có tương quan chiều ngang với tha nhân. Con người sống là sống bởi, sống với, sống vì tha nhân.

    Chúa Giêsu tóm tắt đạo lý này trong giới răn thứ hai: “Người phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác trọng hơn các điều răn đó” (Mc 12,31). Đây chính là sự mới mẻ mà Chúa Giêsu mang đến. Người tóm tắt mọi lề luật vào trong hai giới răn. Người liên kết giới răn thứ nhất với giới răn thứ hai lại với nhau. Theo Chúa, người ta không thể đối lập Thiên Chúa với con người, cũng không thể đối lập con người với Thiên Chúa. Cũng không có sự mâu thuẫn giữa hai tình yêu. Yêu mến Thiên Chúa thì phải yêu thương tha nhân. Yêu thương tha nhân là bằng chứng yêu mến Thiên Chúa, và hơn thế nữa, yêu thương tha nhân là yêu mến Thiên Chúa (x. Mt 25,45; 1 Ga 4,20). Và mọi tội chống lại con người là chống lại Thiên Chúa.

    Nhưng chúng ta cần phải phân tích giới răn thứ hai với cụm từ “yêu người thân cận như chính mình.” Ở đây, chúng ta để ý chữ “như chính mình” làm tiêu chuẩn đo lường cho tình yêu đối với tha nhân. Theo tiêu chuẩn này, nơi khác Chúa Giêsu nói: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Bởi lẽ, ai cũng mong muốn và làm điều tốt, điều lành cho mình; không ai muốn làm những điều xấu cho mình (trừ người điên)… Chẳng hạn, không ai trong chúng ta lại muốn mình đau khổ, thất bại và gặp tai họa, nhưng ai cũng muốn mình được bình an, thành công và hạnh phúc; ai cũng muốn được người khác tôn trọng, đối xử công bằng và quý mến mình. Từ đó, chúng ta hãy mong muốn và làm cho người khác những điều tương tự như thế.

    Như vậy, yêu mến Thiên Chúa hướng chúng ta tới việc yêu mến tha nhân như chính mình và ai yêu thương là chu toàn lề luật.

    3- Những mẫu gương mến Chúa yêu người

    Tuy nhiên, mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người như chính mình là hai điều rất khó khăn. Để thực thi điều đó, chúng ta cần ơn Chúa giúp. Vì với ơn Chúa giúp, mọi sự đều có thể. Chúng ta còn phải cố gắng không ngừng để vượt lên những rào cản là tính ích kỷ, kiêu ngạo và quy ngã. Vì thế, nhiều lúc chúng ta cảm thấy mến Chúa thì dễ hơn yêu người; nhiều lúc mến Chúa và yêu người là điều không thể. Khó khăn lắm!

    Chúng ta tìm thấy những mẫu gương sáng chói soi sáng và giúp chúng ta sống. Xin kể ra đây một số gương mặt nổi bật.

    Trước hết, phải kể đến mẫu gương Chúa Giêsu. Người đã sống trọn lý tưởng mến Chúa và yêu người một cách hoàn hảo. Người hoàn toàn vâng phục Chúa Cha và đã hiến thân chịu chết vì loài người. Người không chỉ yêu những kẻ yêu thương mình, mà còn yêu thương cả những kẻ thù địch với mình.

    Thứ đến là mẫu gương của cha Maximilianô Maria Kolbe, ngài là một sĩ dòng Phanxicô, người Ba Lan. Ngài bị bắt và bị nhốt ở trại trại tập trung Auschwitz của Đức Quốc Xã. Cuối tháng 7 năm 1941, có ba tù nhân trốn khỏi trại, khiến phó chỉ huy trại bắt 10 người đàn ông chết thay bằng cách bỏ đói trong hầm ngầm để răn đe việc trốn trại. Một trong những người bị chọn có Franciszek Gajowniczek, anh này kêu lên: “Tôi còn vợ tôi! con tôi nữa!” Kolbe động lòng thương và tình nguyện chết thay cho anh này. Đó là nghĩa cử thể hiện cách tuyệt hảo về lòng mến Chúa và yêu người.

    Mẫu gương cuối cùng có thể kể ra đây đó là Mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ là một nữ tu người gốc Albani, nhưng vì được thúc đẩy bởi tình yêu Chúa và lý tưởng phục vụ tha nhân, Mẹ đã sang Ấn Độ để hiến trọn cuộc đời phục vụ người nghèo, đặc biệt là người bất hạnh nhất. Mẹ đã lập dòng Thừa Sai Bác Ái để cùng với các nữ tu chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối ở Ấn Độ và nay khắp nơi trên thế giới đều có sự hiện diện của dòng này. Sứ mạng của Mẹ và dòng này là phục vụ Chúa trong người nghèo. Mẹ đã được cả thế giới biết đến với lòng kính trọng như là biểu tượng của lòng bác ái Kitô giáo đương thời. Mẹ đã sống trọn vẹn hai giới răn mến Chúa và yêu người cách tuyệt hảo noi gương Chúa Giêsu.

    Và trong lịch sử Giáo Hội, có rất nhiều vị thánh khác, nhiều con người và các tổ chức, dòng tu đã dân thân phục vụ con người theo tinh thần của Phúc Âm. Đó chính là những mẫu gương sáng chói của việc thực thi giới răn mến Chúa yêu người.

    Noi gương các ngài, chúng ta được mời gọi sống triệt để hơn hai giới răn quan trọng và chính yếu này trong đời sống hằng ngày, là mến Chúa và yêu người. Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người thân cận, thì đó là bằng chứng chúng ta đang sống theo giáo huấn của Chúa Giêsu. Nhưng ngược lại, nếu chúng ta chỉ chọn một trong hai, hoặc đối lập chúng, thì chúng ta đã quên điều chính yếu mà Chúa Giêsu hôm nay giới thiệu và nối kết, vì mến Chúa và yêu người là cốt lõi của Kitô giáo chúng ta. Amen!

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Tin mừng cho chúng ta biết có nhiều cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với những người chống đối thù nghịch với Ngài.  Cuộc tranh luận trong bài Tin mừng hôm nay do nhóm kinh sư, luật sĩ đặt ra về điều luật nào trong Kinh thánh quan trọng nhất.  Chủ đích của nhóm luật sĩ này không phải để học hỏi hay trao đổi, mà họ muốn gài bẫy để kết án Chúa Giêsu. Và cũng nhờ cuộc tranh luận này mà Chúa đã mạc khải cho chúng ta một chân lý.  Chúa Giêsu đã tóm tắt tất cả luật cũ vào một giới răn, đó là giới răn: Mến Chúa Yêu Người.

    Có một giáo lý viên đang dạy giáo lý cho một người dự tòng. Một hôm, người dự tòng hỏi: “Cốt lõi, điểm đặc biệt nhất của Ðạo Công Giáo là gì?”  Giáo lý viên đáp: “Là Yêu Thương.”  Người dự tòng là một thanh niên, nghĩa là đang ở tuổi yêu đương, nên gật gù tỏ ra rất thấm thía với câu trả lời của giáo lý viên. Nhưng sau một lúc suy nghĩ, anh lại đặt vấn đề: “Yêu thương thì tôi đã nghe nói rất nhiều, và rất nhiều người nói.  Những cặp tình nhân luôn miệng nói yêu nhau, những đạo khác, đạo nào cũng dạy người ta sống yêu thương, và ngay cả những tổ chức không có đạo cũng dạy người ta yêu thương nhau.”  Rồi anh này đưa ra 2 kết luận hết sức bất ngờ.  Thứ nhất, đạo Công giáo chẳng có gì hơn những đạo khác, mà cũng không hơn không có đạo.  Thứ hai, chẳng cần vào đạo Công giáo mới biết yêu thương.”  Thế là giáo lý viên bí!

    Chúng ta phải công nhận rằng người dự tòng trên đã nhận xét rất đúng. Yêu thương là tình cảm cao đẹp nhất trong con tim, trong tâm hồn của mọi người. Vì thế không cần đạo Công giáo dạy, không cần Chúa Giêsu dạy, mọi người cũng đều biết và trân trọng tình cảm yêu thương.  Nhưng câu hỏi là: chẳng lẽ đạo Công giáo của chúng ta không có gì hơn các đạo khác sao?  Chẳng lẽ Chúa Giêsu từ trời xuống thế làm người mà chẳng dạy gì hay hơn điều mà mọi người đã biết hết rồi sao?  Vì thế chúng ta phải tìm hiểu kỹ lại bài Tin Mừng hôm nay mới được.

    Trước hết, tình thương của con người có nhiều cấp bực khác nhau. Thương một người bạn hay hàng xóm thì không bằng thương anh chị em ruột. Thương anh chị em cũng không bằng thương cha mẹ, và thương ai cũng không thể nào bằng thương người tình của mình. Thương mình chứ không thể nào thương kẻ thù.  Và thứ hai, đối với một người có đạo thì họ nghĩ phải yêu Chúa trên hết, kế đó mới yêu thương những người khác.  Còn Chúa Giêsu thì dạy phải mến Chúa yêu người đồng hành và khắng khít với nhau.  Phải đặt yêu người và mến Chúa ngang nhau.  Có nghĩa là không thể mến Chúa mà lại thù ghét anh chị em hay ngược lại.  Nghĩa là chúng ta mến Chúa bao nhiêu thì cũng phải thương người bấy nhiêu. Nói cách khác, chúng ta phải coi người khác như Chúa vậy, và phải thương người khác như yêu mến Chúa. Ðó chính là điểm độc đáo của giới răn Yêu Thương Công Giáo.

    Thành thật mà nói thì yêu Chúa dễ hơn.  Vì sao?  Vì Chúa dễ yêu lắm, ai cũng có thể nói yêu Chúa được. Thế nhưng chúng ta hãy thành tâm tự hỏi: Chúng ta có chân thành yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức chúng ta không?   Chúng ta có thể cho mình là yêu mến Chúa nhưng nhiều khi chỉ yêu ngoài môi miệng, hay bằng đọc dăm ba câu kinh, hay đến nhà thờ xem lễ một tuần một lần nhưng tâm trí thì lại để ở đâu đó. Yêu Chúa rất dễ vì Chúa chẳng phản ứng gì cả với thái độ yêu bề ngoài của chúng ta.

    Còn yêu người thì sao?  Chắc chắn là khó hơn và chúng ta cũng đã nghe nhiều về vấn đề này, nhưng có thể nói chẳng bao giờ nghe đủ. Vì thế ở đây tôi xin được chia sẻ một vài điều.  Điều thứ nhất, yêu người là một giới luật, một mệnh lệnh của Chúa, không phải là một đề nghị hay một lời kêu gọi. Và cũng là thước hay tiêu chuẩn thực tế để đo lường và đánh giá tình yêu của chúng ta đối với Chúa.  Nghĩa là nếu chúng ta nói chúng ta yêu Chúa mà chúng ta sống ích kỷ, thu hẹp, sống không công bằng, gian dối hay lừa dối người khác, bất kể người đó là ai, thì chúng ta là người nói dối. Thánh Gioan khẳng định rằng: “Nếu ai nói tôi yêu mến Chúa mà lại ghét anh chị em mình, người ấy là kẻ nói dối.”

    Điều thứ nhì, yêu người không phải chỉ là yêu thương theo tình cảm, có nghĩa là chỉ yêu thương những người thương mến chúng ta, còn đối với những người khác thì không. Nếu chúng ta chỉ yêu thương những người yêu thương chúng ta đó là chuyện bình thường và thường tình vì ai cũng làm điều đó, không cần phải đề cập tới và không có gì để nói.  Yêu người theo giới luật của Chúa là yêu thương cả những người không có liên hệ gì với chúng ta, kể cả người thù ghét, làm hại chúng ta.  Điều thứ ba, yêu người không phải chỉ ngoài môi miệng mà bằng hành động cụ thể như sẵn sàng, hy sinh, có lòng bác ái, quảng đại giúp đỡ bằng việc làm tinh thần hay vật chất. Và điều sau hết rất quan trọng mà chúng ta phải ghi nhớ: tới ngày phán xét, chúng ta sẽ bị phán xét thưởng phạt về giới răn yêu thương: yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn và linh hồn và yêu thương người khác như chính mình.

    Đạo của Chúa và của chúng ta là đạo tình yêu, vì chính Thiên Chúa là tình yêu.  Vì thế, Ngài mời gọi tất cả mọi người sống trong tình yêu của Ngài.  Ngài đã hy sinh con yêu dấu của Ngài để tỏ lòng yêu thương chúng ta những người không xứng đáng, những người tội lỗi, vô điều kiện và ban cho chúng ta ơn cứu độ và sự sống vĩnh cửu đời sau. Chúa Giê-su vì yêu thương đã chịu chết trên thập giá cho chúng ta, và Chúa còn hiện diện trong Bí tích Thánh Thể để trở thành của ăn nuôi linh hồn chúng ta.  Khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể chính là kính nhớ đến tình yêu cao cả của Chúa cho chúng ta.  Như vậy, nếu sống giới răn Yêu Thương của Chúa thì sẽ trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa.

    Xin cho tình yêu của Chúa trong Thánh lễ chúng ta dâng, không kết thúc tại nhà thờ nhưng kéo dài trong cuộc sống. Tình yêu Chúa được nhận lãnh ở nhà thờ phải được tỏa lan đến từng gia đình, đến cộng đoàn và đến những người sống chung quanh chúng ta.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 30 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 30 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52

    ——-

    Mục lục

    1. Xin thương xót tôi (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    2. Con đường vui  (Jorathe Nắng Tím)

    3. Câu hỏi của Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    4. Một lệnh truyền  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    5. Quyền van xin  (Trầm Thiên Thu)

    6. Sáng mắt, sáng cuộc đời (Lm. Nguyễn Xuân Trường)

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Xin cho con được thấy  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Gặp được Chúa sẽ có niềm vui  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    3. Người hành  khất mù Báctimê  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    4. Nhìn và thấy được  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    5. Tin Mừng Chúa Nhật 30 Thường niên_B  (Jorathe Nắng Tím)

    6. Muốn tôi làm gì?  (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    7. Khát khao được sáng (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    8. Đấng Cứu Thế chữa lành bệnh tật của chúng ta  (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

    9. Mắt đức tin  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    10. Suy niệm Chúa Nhật 30 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    11. Thị lực  (Trầm Thiên Thu)

    12. Chúa Nhật 30 Thường niên_B (Giuse Vũ Trọng Nghĩa, SSS)

    13. Ai mới là kẻ mù lòa  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    14. Mù lòa  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    15. Có mắt cũng như mù  (JM. Lam Thy, ĐVD)

    16. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh  (Fx. Đỗ Công Minh)

    17. Đến với Chúa (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    18. Xin cho con được thấy.  (Lm. Simon Trân Văn Đức)

    19. Hai mặt  (Lm. Vũ Đình Tường)

    20. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    21. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 30 TN_B  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    22. Sáng niềm tin  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    23. Xin cho con nhìn đượcc  (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    24. Chúa Giêsu, Đấng khai sáng  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    25. Chúa Nhật 30 Thường niên_B. (Lm. Antôn)

    26. Bi đát  (Lm. Thái Sơn)

     

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Ánh sáng đức tin  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Chúa chữa anh mù Bactimê (Gm. Phêrô Nguyễn Khảm)

    3. Tới nguồn sự sáng  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    4. “Tầm nhìn” là gì? (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền) 

    5. Lòng thương  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ)

    6. Khi cầu nguyện ta phải xin gì trước hết  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    7. Người mù thành Giêrrikhô (Lm. Văn Hào)

    8. Hòa điệu xót thương  (Trầm Thiên Thu) 

    9. Đôi mắt của chị Nữ tu (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    10. Chúa Nhật 30 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

    11. Mù loà (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    12. Thấy và không thấy được  Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    13. Cần được yêu thương (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc) 

    14. Xin cho con sáng mắt để được sáng lòng mà đi theo Chúa  (Lm. Đan Vinh)

    15. Xin thương xót con  (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)

    16. Lòng tin của anh đã cứu anh  Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ)

    17. Ôi lạy Chúa xin mở cho con đôi mắt (Huệ Minh) 

    .

    XIN THƯƠNG XÓT TÔI

    Lm. Jos DĐH.

    Trên mạng xã hội, người ta kể câu chuyện vắn gọn, không kém phần sâu sắc như sau: một ông đại gia tới thăm anh bạn nhà giầu nhất vùng. Vừa bước vào cổng, con chó sủa ầm ĩ vụt nhanh về phía ông đại gia, ông ta vô cùng hoảng sợ trước sự can thiệp kịp thời của ông chủ nhà giầu. Ông nhà giầu trấn an người bạn bằng một câu thành ngữ quen thuộc: chó sủa là chó không cắn, hãy an tâm ông bạn quý của tôi. Nhưng ở đâu đó có tiếng nói rõ to: không phải tất cả mọi chú chó đều hiểu, và nhớ câu thành ngữ đó đâu ạ. Thật tình mà nói, người sống có tình có nghĩa, đi đến đâu cũng có bạn hiền. Con chó khôn ở chỗ biết nghe theo sự điều khiển của chủ, nhưng không có nghĩa là không biết tấn công kẻ xấu. Ông nhà giầu có thể sẽ không còn bạn đến thăm, nếu tình trạng chó nhà ông làm khách hoảng sợ. Không biết bạn là người tốt, hay xấu, nhưng nếu đi trong đêm tối, bạn không thể ngăn cản chó đừng sủa.

    Không ai nghĩ truyền giáo là sứ mạng của các linh mục tu sĩ tài giỏi, cũng chẳng ai nói truyền giáo là bổn phận, của các đại gia giầu có. Tất cả những ai ý thức mình là kitô hữu, đều có thể nghe, hiểu, biết, và sống ơn gọi của mình cách đúng và đẹp nhất. Nhà giầu hay nhà nghèo, mắt tinh tai thính, mắt kém tai lùng bùng, đều có thể gặp nguy hiểm, nếu họ lầm tưởng, tôi tự đi đến thành công bằng thực lực của tôi. Người mù ngồi ăn xin ở vệ đường, tưởng không có gì để nói, vậy mà anh đã trở thành công, chỉ đơn giản, khi anh mở miệng nói lời “xin thương xót tôi”, hỡi Thầy Giêsu. Cứ tưởng truyền giáo là của các đấng có chuyên môn, cứ tưởng tuyên xưng Đức Giêsu là con vua Đavít, phải phát xuất từ hành động đẹp nơi các luật sĩ biệt phái ? Nhưng lạ thay, từ môi miệng anh mù, từ các hoạt động bác ái âm thầm ở khắp đó đây.

    Cứ bình thường, kẻ đói khát, cần được ăn uống, người ăn xin, muốn được tiền, được gạo, người đau khổ tinh thần, cần được an ủi, cảm thông, kẻ túng thiếu vật chất tiền của, họ cần sức khoẻ, việc làm ổn định. Anh Bartimê ngồi ăn xin ở vệ đường, mù loà mà anh ta nghe được, hiểu được, Đấng sắp đi qua chỗ anh là Ông Giêsu con vua Đavít, thật lạ lùng. Anh Bartimê không xin tiền, không xin thực phẩm, cũng không xin địa vị, anh ta xin được sáng mắt, đúng hơn, là xin Ông Giêsu cho anh được tình yêu thương của Chúa. Khách quan mà nói, anh Bartimê có trăm ngàn nỗi khổ đau vì đôi mắt không nhìn thấy, nhưng anh vẫn đủ nghị lực để sống và trình bày với Đấng anh tin yêu.

    Tục ngữ có câu: cú xấu mà cú lắm lông, có phải ý muốn nói rằng, đừng khinh thường ai cả, vì mỗi người đều có những điểm tốt. Cha ông ta thì nói: xanh vỏ đỏ lòng. Người trẻ thì dùng từ ngữ đặc thù hơn: nhỏ mà có võ. Các vị đạo đức lại nói, đôi mắt anh Bartimê không nhìn thấy, ấy vậy, trí lòng anh ta thì sáng hơn bình thường. Chúng ta có thể tự tin, nhưng đừng tự cao tự đại. Chúng ta khoẻ mạnh, tiếng tốt hơn anh Bartimê, thiết thực hơn một chút, chúng ta có tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa quyền năng bằng lời nói việc làm không ? Nếu anh Bartimê sinh ra trong tối tăm mù mịt, không phải do lỗi của anh, tuy nhiên, ở bên Thầy Giêsu quyền năng, anh không biết mở trí, mở lòng, thân thưa với Thầy: xin cho con được xem thấy, quả là thiếu sót.

    Hãy chân thành và mạnh dạn lên: sự táo bạo làm tăng thêm can đảm, do dự lại kéo dài sợ hãi. Đức Giêsu chữa được các dị tật, thay đổi được đường đi nước bước của ta, như Ngài đã biến đổi biết bao tâm hồn tội lỗi trở nên xứng hợp với tình yêu của Thiên Chúa. Anh mù không nhìn thấy, thế mà trí lòng anh sáng lạ kỳ, trong khi đó nhiều người học cao hiểu rộng, nhìn mà không thấy, biết nhưng biết không đúng về tình yêu của Thầy Giêsu. Trong niềm tin có cả khiêm tốn cần thiết, chúng ta đủ khả năng để tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa, đủ sự nhạy bén để mở miệng xin lòng thương xót của Chúa. Vâng, Đức Giêsu đã hỏi anh Bartimê, Ngài cũng sẽ hỏi chúng ta: các bạn muốn Tôi làm gì cho các bạn ? Bệnh nhân gặp Thầy thuốc giỏi, quả là hạnh phúc, Thầy thuốc thấy “tội nhân” thật lòng thật tình sám hối, Thầy sẽ vui biết bao …

    Nếu chỉ nói: lạy Đức Giêsu, xin thương xót con, hẳn không khó tí nào, nếu truyền giáo là mang tiền của dư thừa, cho những nơi đói nghèo, có lẽ chỉ các đại gia mới truyền giáo được. Khó khăn của người kitô hữu hôm nay không phải là tìm kiếm thầy thuốc tài giỏi, trở ngại lớn của các hoạt động truyền giáo là người ta cậy dựa vào khả năng của mình, hơn là cậy trông vào Chúa. Đối tượng mà Đức Giêsu hằng quan tâm xưa nay: dù tội lỗi hay thánh thiện, cuộc sống sung túc hay hoàn cảnh hẩm hiu, Thiên Chúa vẫn muốn ta tự trả lời: bạn muốn tôi làm gì cho bạn ? Chúng ta không mù loà thể lý, nhưng không vì thế mà ta bỏ qua cơ hội tuyên xưng niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể gọi là sáng mắt, sáng tâm hồn, khi biết khiêm tốn để tình yêu Chúa, biến đổi ta nên cùng một nhịp đập yêu thương. Amen.

    Về mục lục

    CON ĐƯỜNG VUI

    Jorathe Nắng Tím   

    Nhiều người lầm tưởng: con đường đến với Chúa, đi với Chúa là con đường sầu thảm, buồn thương, nặng lo âu, phiền não.

    Tin Mừng hôm nay làm chứng ngược lại: con đường ấy là con đường vui, con đường tràn đầy niềm hoan lạc, phấn khởi, vì là đường của Thiên Chúa, và trên đường có Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ cùng đi với con người.

    Là đường của Thiên Chúa đưa dân Người “trở về” từ miền đất lưu đầy, như ngôn sứ Giêrêmia đã tuyên sấm: “Ta quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo. Chúng trở về nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Ítraen, Ta là một người Cha” (Gr 31,8-9).

    Là đường có Thiên Chúa, như đoàn tù nhân Xion trên đường trở về cứ tưởng mình “như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng”. Họ như người “nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, reo vui  hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125, 1-2. 5-6).

    Là đường Đức Giêsu đã bước đi: con đường Thánh Giá đau khổ và chết chóc đã dẫn đến buổi sáng Phục Sinh khải hoàn khi Sự Sống chiến thắng thần chết, và Thập Giá chiến thắng địa ngục; con đường khiêm hạ, vâng phục của Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng đã không tự gán cho mình vinh quang, vinh dự, cũng không tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Chúa Cha,“Đấng đã nói với Ngài: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Dt 5, 6).

    Con đường của Thiên Chúa, có những bước chân cứu độ của  Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người  cũng là con đường Thiên Chúa mời gọi con người bước đi với Ngài, con đường con người tìm gặp Thiên Chúa, và Thiên Chúa đến gặp con người.

    Trên con đường ấy, có “người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Batimê, con ông Timê” nài xin lòng thương xót của Đức Giêsu khi anh lớn tiếng kêu van Ngài, bất chấp “nhiều người qúat nạt, bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi!” (Mc 10, 46. 48); trên con đường ấy, anh mù Batimê, khi nghe Đức Giêsu gọi đã “vất bỏ áo choàng, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu” (Mc 10, 50); trên con đường ấy, anh mù đã xin Đức Giêsu cho mình được thấy, khi Ngài hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10, 51); và cũng chính trên con đường ấy, Đức Giêsu cho anh được nhìn thấy, khi nói với anh: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10, 52).

    Thực vậy, con đường người môn đệ được mời gọi bước đi với Đức Giêsu là con đường vui vì chất ngất lòng thương xót và nguồn ơn cứu độ, trên đó Thiên Chúa biểu lộ tình Cha toàn năng và nhân hậu đối với con người.

    Đường ấy vui, vì là đường tín thác, trên đó chúng ta như anh Batimê, người ăn xin mù loà  phấn khởi trong niềm hy vọng được thương xót đã mạnh dạn đến gần Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ để xin Ngài cho  sáng mắt.

    Đường ấy vui vì là  đường sứ vụ,  trên đó, Đức Giêsu sai chúng ta lên đường loan   báo cho muôn dân Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương họ”, bằng làm chứng: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui” (Tv 125,3), như Ngài đã sai anh mù  Batimê: “Anh hãy đi!” và làm chứng cho mọi người: “Lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10, 62).

    Và tuyệt vời trên cả tuyệt vời, vui trên mọi niềm vui, vì đường ấy là đường chúng ta được Đức Giêsu kêu gọi đi theo Ngài như anh mù, sau khi được nhìn thấy đã “đi theo Người trên con đường Người đi ” (Mc 10, 52).

    Về mục lục

    CÂU HỎI CỦA CHÚA

    Bông hồng nhỏ

    Hôm nay, Thầy Giêsu cùng với các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Thầy trò ra khỏi thành thì có cả một đám đông cùng đi theo. Trong đám đông ồn ào ấy, có ai nhìn thấy một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường không? Họ là những người sống trong thành chắc hẳn phải biết anh mù Bartimê này. Họ biết anh nhưng chẳng ai quan tâm đến anh, không ai muốn biết anh cần gì. Chỉ có Thầy Giêsu để ý đến anh, nghe tiếng kêu của anh và muốn biết anh cần gì.

    Đám đông vừa đi vừa bàn tán với nhau về Thầy Giêsu, vì thế, anh mù cũng nghe thấy. “Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10, 47). Anh đã nghe biết về Thầy, về những phép lạ Thầy đã làm, về cách Thầy yêu thương những người như anh. Đám đông đi theo Thầy, bị lôi cuốn bởi lời giảng dạy và các việc Thầy làm nhưng họ chưa để cho Thầy chạm vào cõi lòng mình. Vì thế, họ hờ hững với một người mù như anh Bartimê, trong khi Thầy Giêsu dừng chân để tìm kiếm anh. Chẳng ai quan tâm anh mù tội nghiệp Bartimê ấy. Cuộc đời đã đẩy anh vào lề đường làm kiếp ăn xin. Nghe anh kêu gào cầu cứu, nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10, 48). Anh mù lòa, không nhìn thấy nét mặt giận dữ của những người trách mắng anh nhưng anh hiểu những gì họ diễn tả qua giọng nói, qua sự quát nạt. Nhưng anh tin vào Đấng mà anh gửi gắm niềm hy vọng, gửi gắm số phận và cuộc đời, vì thế anh dám chống lại cả một đám đông đang bắt nạt mình, dám vượt qua nỗi sợ hãi và mặc cảm, vượt qua khỏi cái lề đường mà anh đã bị đẩy vào để tìm kiếm Chúa. Anh đã dám sống khác với đám đông, không phải vì anh bị mù nhưng vì anh dám nói lên điều con tim thúc đẩy, dám kêu gào để cầu xin Đấng sẽ ban cho anh điều anh khao khát.

     Thầy Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10,49). Nghe lời yêu cầu của Thầy, người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” (Mc 10, 49). Phải chăng, chỉ đến khi nghe được mong muốn của Thầy, người ta mới biết sự hiện diện của anh mù, mới tỏ lòng quan tâm anh, mới trao cho anh sự tử tế. Nghe lời Người gọi, anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Thầy Giêsu gọi anh, vì Người thực sự quan tâm đến điều anh mong muốn: Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Chúa biết rõ điều anh đang cần nhưng vẫn muốn anh nói lên niềm tin tưởng của mình. Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” (Mc 10, 51-52). Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. Bao năm ngồi bên vệ đường ăn xin, anh đã nhận của bố thí từ đủ hạng người: có kẻ ném cho anh mấy đồng xu vì thương hại, có người đặt vào tay anh mẩu bánh vì lòng cảm thương, và cũng có kẻ cho anh những đồng dư bạc thừa vì muốn tỏ ra mình là người tốt, … Chỉ đến hôm nay, khi nghe được tiếng gọi của Thầy, cuộc đời anh mới được đổi khác. Anh không còn phải bám trụ vào lề đường đầy rác rưởi và bụi bặm, không còn phải chịu nắng nôi thiêu đốt hay những cơn mưa chợt đến. Anh sẽ đi trên đôi chân của mình, không phải là những bước chân mò mẫm, quờ quạng nhưng là những bước chân vững vàng trong ánh sáng của đôi mắt, và hơn thế nữa, anh bước đi trong hân hoan khi đi theo Người trên con đường Người đi.

    Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã cho con nhận ra tình thương yêu của Chúa dành cho con. Con như người mù lòa ngồi ăn xin bên vệ đường, từng bước đi trong đêm tối của đức tin. Con đã tìm kiếm tình thương nơi những người đã bước qua cuộc đời con. Cuộc đời dạy con nhiều bài học về giá trị của cuộc sống, nhưng chỉ đến khi được Chúa chạm vào cõi lòng mình, con mới nhận thấy khuôn mặt tràn đầy tình yêu của Chúa nơi những người anh chị em con. Chỉ đến khi con dám bỏ lại đằng sau tấm áo choàng là những an toàn con đã cậy dựa để chạy đến với Chúa, lắng nghe câu hỏi của Chúa và đáp lại bằng cả lòng khao khát, con mới nhận ra được đâu là điều Chúa muốn dành cho con. Từ nay, con xin cất bước theo Chúa để làm môn đệ, xin Chúa lấy tình thương mà dạy dỗ con theo như ý Người muốn. Amen.

    Về mục lục

    MỘT LỆNH TRUYỀN

    Thiên San

    Là Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng có sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đó là lệnh truyền Đức Giêsu đã ban cho chúng ta, khởi đi từ các Tông đồ đầu tiên. Trước khi lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha, Đức Giêsu đã ban cho các Tông đồ lệnh truyền này: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).

    Chúng ta biết rằng, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta được tha tội nguyên tổ và mọi tội riêng ta phạm trước khi rửa tội, cùng mọi hình phạt do tội gây ra; được sinh lại vào đời sống mới, trở thành con cái Thiên Chúa; được gia nhập vào Hội Thánh là thân thể Chúa Kitô; được ghi vào trong linh hồn một dấu ấn thiêng liêng vĩnh viễn, để dự phần vào chức tư tế của Chúa Kitô. Vậy chúng ta hãy cùng nhau đến với muôn dân, để họ cũng được trở thành môn đệ của Người. Để họ cũng được hưởng các đặc ân kể trên. Nhưng chúng ta đến với muôn dân bằng cách nào?

    Tin mừng thánh Mátthêu kể lại, Đức Giêsu đã từng cảnh cáo các Pharisêu về thái độ sống của họ khi nói: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình ! Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo ; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người” (Mt 23, 15). Sở dĩ Đức Giêsu lên án những người Pharisêu như thế là vì họ sống giả hình, lời giảng dạy không đi đôi với việc làm. Chúng ta được mời gọi rút chân ra khỏi “vũng lầy” của các kinh sư. Mỗi người sẽ là một lời rao giảng chân thật, sống động về sự hiện diện của Thiên Chúa khi chúng ta biết thống nhất giữa hành động và lời rao giảng. Chỉ cần người khác nhìn thấy chúng ta có một đời sống bác ái, yêu thương cụ thể cũng đủ để dẫn họ đến với Thiên Chúa.

    Hiến Chương của các Hội dòng Mến Thánh Giá có viết: “Hình thức tông đồ căn bản nhất của chị em là sống đời thánh hiến trong cộng đoàn” (HC 71). Nếu như hình thức tông đồ căn bản nhất của các nữ tu Mến Thánh Giá là sống đời thánh hiến trong cộng đoàn thì hình thức tông đồ căn bản của các linh mục, tu sĩ hay giáo dân là gì? Thiết nghĩ, mỗi chúng ta có một ơn gọi và bậc sống riêng, mỗi người hãy dùng chính ơn gọi và bậc sống của mình để có thể thực thi lệnh truyền của Chúa. Người sống bậc vợ chồng hãy sống hòa thuận, thương yêu nhau, cùng nhau chăm sóc, dạy dỗ con cái. Người sống tu trì hãy sống theo tinh thần và đặc sủng của Dòng… Chung quy lại, chúng ta đều được mời gọi cùng nhau sống giới răn yêu thương mà Thầy Giêsu đã dạy, yêu như Thầy yêu.

    Lệnh truyền của Thầy Giêsu là anh em hãy ra đi, làm cho họ trở thành môn đệ, dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em (x. Mt 28, ). Sau khi ra đi, làm phép rửa cho họ, chúng ta cần lưu ý đến việc dạy bảo họ tuân giữ mọi giới răn. Bởi nếu chúng ta cố gắng thuyết phục ai đó theo đạo và khi họ đã theo rồi, chúng ta lại không hướng dẫn họ cẩn thận thì họ sẽ bị rơi vào hỏa ngục như lời Thầy Giêsu đã nói với các kinh sư. Đọc các thư của thánh Phaolô tông đồ, chúng ta thấy rõ hành trình rao giảng Tin Mừng của ngài. Ngài là mẫu gương và là người thầy cho chúng ta trong việc rao giảng Tin Mừng. Khi đến một vùng đất mới, ngài mạnh dạn rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu và thiết lập các cộng đoàn tín hữu. Sau khi thiết lập các cộng đoàn và ngay cả khi đang ở trong cảnh tù đầy, ngài vẫn thao thức, lo lắng cho những người con tinh thần của ngài. Quả thực, không chỉ trở lại thăm hỏi các cộng đoàn mình đã thiết lập, ngài còn viết thư thăm hỏi, khích lệ, dạy dỗ họ về Tin Mừng Đức Kitô.

    Mỗi ngày sống mở ra là một ngày để chúng ta thực thi lệnh truyền của Thầy Giêsu. Chúng ta hãy cùng nhau lên đường để mở mang và xây dựng nước Chúa để không chỉ chúng ta mà ngày càng có thêm nhiều người tin yêu Chúa. Hãy cùng nhau sống lệnh truyền ấy như lời Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng kêu gọi trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng là “đi ra vùng ngoại biên”. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta có lửa nhiệt huyết, tin yêu để hăng say trên cánh đồng truyền giáo. Cách đặc biệt, chúng ta cũng nhớ đến các nhà truyền giáo đang gặp khó khăn, thử thách. Xin Chúa đồng hành cùng mỗi ngời chúng ta.

    Về mục lục

    QUYỀN VAN XIN

    Trầm Thiên Thu

    Thiên Chúa yêu thương con người và ban cho nhiều loại quyền. Trước tiên là quyền sống – quyền làm người, gọi là nhân quyền. Trong đó mặc nhiên có những hệ lụy khác là nhân vị và nhân phẩm.

    Ngài Thomas Jefferson (1743-1826) là tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1801-1809, khi đó ông mới 38 tuổi. Ông không chỉ là chính khách mà còn là nhà ngoại giao, kiến trúc sư, luật sư, nhạc sĩ, triết gia, đặc biệt là cha đẻ của bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ – United States Declaration of Independence.

    Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, ông đề cập BA QUYỀN CƠ BẢN KHÔNG THỂ BỊ TƯỚC ĐOẠT của con người là Quyền Sống, Quyền Tự Do và Quyền Sở Hữu. Trong bản tuyên ngôn, quyền sở hữu gọi là “quyền được mưu cầu hạnh phúc.” Bản tuyên ngôn này được cả thế giới phỏng theo, thậm chí có kẻ còn mạo nhận là của mình. Ngài Thomas Jefferson xác định: “Nếu pháp luật bất công, người ta không chỉ phải bất tuân mà còn bắt buộc phải làm như vậy. Khi chính phủ sợ người dân, khi đó có tự do; khi người dân sợ chính phủ, khi đó có bạo quyền.” Như vậy không là phản động mà là thi hành quyền sống làm người chân chính và lương thiện đúng nghĩa.

    Mọi thứ đều bởi Thiên Chúa: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” (Ga 3:27) Về quyền hành, Thánh Phaolô xác nhận: “Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập.” (Rm 13:1) Có quyền không phải để áp bức, đàn áp, đè nén người khác, mà là để yêu thương và nâng đỡ người khác. Biết tôn trọng Quyền Sống của người khác là biết thương xót họ – Mối Phúc thứ năm trong Bát Phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5:7)

    Về quyền van xin, thần học gia vĩ đại là Thánh TS Tôma Aquinô cho biết: “Chúng ta không có quyền đòi hỏi, nhưng phải nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bền đỗ.” Ngài cho biết phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình là “nhận ra những ai là người phải tránh.” Đúng như tiền nhân minh định: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào.”

    Được quyền van xin cũng có nghĩa là có quyền tự do: “Từ nguyên thuỷ, chính Chúa đã làm nên con người, và để nó tự quyết định lấy.” (Hc 15:14) Sự tự do cần thiết và tốt cho con người, nhưng chính quyền tự do vẫn có thể tác hại con người, tùy người ta tự do làm điều tốt hay xấu. Sự tự do dễ dẫn tới thói kiêu căng, ngạo mạn. Ông bà Nguyên Tổ đã “dạy” chúng ta về điều đó. Ngược lại, ông Gióp cũng có quyền tự do, nhưng ông không phạm tội và trung tín với Thiên Chúa mặc dù ông chịu đau khổ đến tận cùng. (x. G 1:1-22; G 33:9; G 34:5-6)

    Công tâm mà nói, chúng ta rất vui vì được Thiên Chúa ban quyền tự do và cầu xin Ngài. Ngôn sứ Giêrêmia loan báo: “Đức Chúa phán thế này: Reo vui lên mừng Giacóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân! Nào loan tin, ca ngợi và công bố: ĐỨC CHÚA ĐÃ CỨU DÂN NGƯỜI, số còn sót lại của Israel! Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo.” (Gr 31:7-8) Hành động của Thiên Chúa vô cùng kỳ diệu, hành động phát xuất từ lòng thương xót vô biên của Ngài. Điều này không là chế độ “xin – cho” kiểu ban phát, mà là hành động của sự động lòng trắc ẩn, cũng không phải là lòng thương hại mà là tình thương xót vô điều kiện mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Đầu óc “bã đậu” của chúng ta không thể nào suy thấu!

    Trong thời gian đại dịch Cúm Tàu Cộng như sóng thần dâng cao, chắc hẳn mỗi chúng ta thực sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự tự do sau thời gian bị phong tỏa, cách ly, giãn cách. Đó cũng là bài học cho con người về việc lạm dụng quyền tự do, khiến chúng ta phải trả giá quá đắt về quyền sống. Loại coronavirus độc ác hơn các loại virus khác, vì nó “đánh” thẳng vào phổi – trung tâm sự sống. Thật tang thương vì hàng chục ngàn người mất quyền sống – chết oan nghiệt. Rồi hàng ngàn trẻ em phải mồ côi, bơ vơ giữa chợ đời.

    Liên quan tự do, những ai đã từng bị tù rồi mới biết thế nào là hạnh phúc khi được ra tù, được trả lại quyền tự do. Niềm vui đó khó tả vì nó quá lớn lao. Dân Israel đã từng có cảm giác kỳ lạ đó, họ thực sự vui sướng đến nỗi phải bật khóc. Ngôn sứ Giêrêmia nói tiên tri: “Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Israel, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Épraim chính là con trưởng.” (Gr 31:9) Và tất nhiên, điều tiên báo đó cũng đã được ứng nghiệm chính xác.

    Thánh Vịnh gia mô tả cảnh tượng kỳ diệu đó: “Khi Chúa dẫn tù nhân Sion trở về, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng. Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán: Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” (Tv 126:1-2) Chắc chắn không ai có thể trì hoãn niềm vui sướng như vậy, thế nên chính họ hân hoan thốt lên: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.” (Tv 126:3) Và Thánh Vịnh gia cầu xin: “Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về, như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam. Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng.” (Tv 126:4-6)

    Luật công bằng có vẻ giống như luật nhân quả vậy: Ai cười rồi sẽ khóc, ai sướng trước sẽ khổ sau. Ngược lại, ai khóc trước sẽ cười sau, ai vất vả rồi sẽ được hưởng kết quả. Một trong Bát Phúc cũng đề cập vấn đề này: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.” (Mt 5:5) Thiên Chúa là Đấng chí minh, chí công, chí thiện, chí thánh!

    Còn chúng ta là phàm nhân yếu đuối, đầy tội lỗi, hứa lắm quên nhiều, cứ hối rồi phạm, đứng rồi lại ngã. Cứ thế và cứ thế,… Chu kỳ của chúng ta là những chuỗi ngày tháng sám hối và đền tội. Tuy nhiên, vì bất xứng nên Thiên Chúa tuyển chọn một số người thay chúng ta dâng của lễ đền tội. Người đó được chọn không phải vì xứng đáng, mà vì Thiên Chúa muốn hành động theo kế hoạch thương xót của Ngài. Thánh Phaolô cho biết: “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người PHẢI dâng lễ đền tội cho dân thế nào thì cũng PHẢI dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy.” (Dt 5:1-5) Thiên Chúa quá nhân hậu.

    Rất rõ ràng với lời giải thích của Thánh Phaolô: “Không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông Aharon đã được gọi. Cũng vậy, không phải Đức Kitô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: ‘Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con,’ như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác:Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê’.” (Dt 5:4-6) Được CHỌN thì cũng NHẬN trọng trách, vì không phải được chọn để ung dung sung sướng, tìm an nhàn cá nhân mà “vô tư” bỏ quên tha nhân, mà phải quên mình, dấn thân, hy sinh vì người khác. Đó là hệ lụy tất yếu về trọng trách.

    Cách đây vài năm, trong một buổi tiếp kiến chung ngày thứ Tư, ĐGH Phanxicô nhắc nhở giáo sĩ phải cố gắng tránh xa cám dỗ để có thể trở nên mục tử hữu hiệu, và phải bảo vệ đàn chiên khỏi nguy hiểm. ĐGH Phanxicô dùng từ ngữ mạnh mẽ, ví von thực tế, thậm chí có thể gây “sốc” với một số người: “Nếu chúng ta ĐI VỚI NGƯỜI GIÀU, là chúng ta đang ĐI VỀ PHÍA HƯ VÔ, chúng ta sẽ trở thành CHÓ SÓI, chứ không phải người chăn chiên. Ngài cũng thúc giục tín hữu Công giáo cầu nguyện cho giám mục và linh mục.”

    Thật Thà thì Thẳng Thắn, Giả Dối thì Cong Queo. Ngày xưa chính Chúa Giêsu đã thẳng thắn cảnh báo mà không sợ đụng chạm bất cứ ai: “Hãy coi chừng các NGÔN SỨ GIẢ, họ ĐỘI LỐT CHIÊN mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là SÓI DỮ THAM MỒI. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai làm gì có nho mà hái? Trên cây găng làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu.” (Mt 7:15-17; Lc 6:43-45) Ngài cảnh báo để thức tỉnh những người “tai to, mặt lớn” – đại diện.

    Chuyện anh mù Batimê ở Giêrikhô là vấn đề có liên quan quyền của con người, đực đề cập trong trình thuật Mc 10:46-52 (≈ Mt 20:29-34; Lc 18:35-43).

    Khi Chúa Giêsu và các môn đệ cùng với một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường tên là Batimê. Vừa nghe nói đến Đức Giêsu Nadarét, anh ta liều kêu to: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Có thể anh đã quá khổ sở vì bị mù lòa, cuộc đời như bóng đêm dày đặc, nên anh khao khát được thoát khỏi cảnh tối tăm, nhưng anh không “cầu may” theo kiểu “vái tứ phương,” mà chắc chắn anh thực sự có lòng tin mạnh mẽ vào Chúa Giêsu. Chỉ nghe người khác nói về Ngài chứ anh không biết gì khác, vậy mà anh đã thực sự tin, không chút mơ hồ hoặc nghi ngờ.

    Nghe anh kêu réo om sòm, dai như đỉa đói, nhiều người đã quát nạt bắt anh im, nhưng anh càng kêu lớn tiếng với điệp khúc van xin: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Có thể những người quát nạt anh là những người xấu bụng, không hề biết thương xót khi thấy người khác đau khổ. Đã không thương thì thôi, họ lại còn đâm bị thóc, chọc bị gạo. Chảnh chọe quá chừng!

    Mặc kệ người ta. Anh vẫn vững tin và kiên trì van xin. Mắt anh mù nhưng hồn anh sáng. Còn chúng ta, mắt không chỉ sáng mà còn có thể đẹp nữa, thế mà hồn có thể lại đang mù lòa. Đã vậy thì chớ, đôi khi chúng ta cầu xin mà cứ như “ra lệnh” cho Chúa vậy. Thật thế, van hoài xin mãi không được thì nản lòng, bỏ cuộc, chứng tỏ đức tin chúng ta quá hời hợt, nông cạn. Đó là ích kỷ chứ không là cầu nguyện hoặc cầu xin.

    Chúa Giêsu đứng lại và bảo gọi anh lại, vì Ngài không thể làm ngơ khi nghe lời van xin chân thành của anh. Có người ta gọi anh và động viên: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Và chỉ chờ thế thôi, anh liền vất áo choàng, đứng dậy và đến gần Đức Giêsu. Ngài hỏi anh muốn Ngài làm gì cho anh thì anh nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Ngài nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Ngay lập tức, anh nhìn thấy được và đi theo Ngài trên con đường Ngài đi. Anh mù XIN và ĐƯỢC, Chúa Giêsu LẮNG NGHE và ĐÁP LẠI. Ngài và anh Ba-ti-mê đã cùng chung nhịp đập yêu thương. Chính đức tin của anh đã chạm vào Thánh Tâm thương xót của Đấng chữa lành. Thật tuyệt vời!

    Bản chất Thiên Chúa là tình yêu. Ai càng yếu, Ngài càng thương. Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa thấy họ truân chuyên ngàn nỗi, nghe thấy lời cầu cứu van xin.” (Tv 106:44) Thiên Chúa là Đấng chạnh lòng thương xót và cũng động lòng trắc ẩn, chắc chắn Ngài luôn lắng nghe chúng ta van xin.

    Lạy Thiên Chúa nhân hậu, xin chữa lành con mắt đức tin của chúng con để, xin ngăn chặn mọi bụi bặm trần tục bay vào mắt chúng con, để chúng con luôn sáng mắt nhận ra Ngài hiện hữu trong thiên nhiên, trong tha nhân, và trong mọi biến cố cuộc đời này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    SÁNG MẮT, SÁNG CUỘC ĐỜI

    Lm. Nguyễn Xuân Trường

    Các cụ thường bảo “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay.” Thế nên, đời buồn lắm khi mắt bị mù không nhìn thấy. Và đời vui biết bao khi được chữa lành sáng mắt, sáng cuộc đời.

    1. Sáng mắt. Phúc Âm kể chuyện anh Ba-ti-mê bị mù phải ngồi ăn xin bên vệ đường. Khổ thật. Khi chúng ta mới bị đau mắt hay bị mất điện tối mù một chút thôi đã thấy khổ sở rồi, đằng này anh mù suốt đời mắt chẳng thấy gì, ngày này qua ngày khác chỉ thấy cả vũ trụ là một màu đen tối. Khổ ơi là khổ. May thay, Chúa Giêsu đã tới dủ lòng thương chữa lành cho anh sáng mắt, anh thấy đời tươi sáng.

    2. Sáng cuộc đời. Nếu Chúa Giêsu chỉ chữa cho anh mù được sáng mắt thì Ngài cũng giống như một bác sĩ mà thôi. Nhưng Chúa là Đấng cứu độ, nên Tin Mừng ở chỗ: Chúa đã biến đổi cuộc đời, chứ không chỉ chữa lành 1 căn bệnh. Từ thân phận là một kẻ mù lòa ngồi lê lết bên vệ đường xin ăn, nay anh đã đứng phắt dậy và lập tức trở thành người môn đệ bước theo Chúa trên con đường Chúa đi.

    Chúa đã làm cho anh mù sáng mắt, sáng cả cuộc đời, khiến anh phơi phới niềm vui. Và lời Đáp ca như muốn bật lên lời anh mù muốn nói: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.”

    Xin mượn lời Thánh Thi của Giờ kinh Phụng vụ như lời nguyện cầu của mỗi chúng ta dâng lên Chúa:

    Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt
    Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi,
    Con mù lòa, bên vệ đường hành khất,
    Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài. – Amen.

    Về mục lục

    XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Ai trong chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được những thiệt thòi của người mù. Họ không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Họ cũng không cảm nhận được niềm vui nỗi buồn nơi khuôn mặt những người thân. Thế giới đối với họ là đêm tối trường kỳ. Tin Mừng hôm nay nói đến một người mù đứng ăn xin tại cổng thành Giêricô. Trong lúc Chúa Giêsu và các môn đệ từ trong thành đi ra, Người đã trông thấy, và, trước lời van xin của anh, Chúa đã chữa lành, cho anh được nhìn thấy như bao người khác.

    “Xin cho tôi được thấy!”. Đó là lời van xin của anh mù, đang ngồi ăn xin bên vệ đường, lối vào thành Giêricô. Khát vọng của anh mù là được nhìn thấy. Bởi lẽ, mù con mắt là sự thiệt thòi rất lớn, như người ta thường nói: giàu hai con mắt, khó hai bàn tay. Đôi mắt được sánh như gia tài, giúp cho con người trở nên giàu có và thịnh vượng. Trước câu hỏi của Chúa Giêsu: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”, anh mù lập tức thưa: “Thưa Thày, xin cho tôi được thấy!”. Đây là nỗi khát vọng anh ôm ấp trong lòng, nay được cơ hội để diễn tả với hy vọng mãnh liệt sẽ được nhìn thấy như bao người khác trong cuộc đời.

    “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Mặc dù bị người ta ngăn cản, anh mù không nản lòng và vẫn hăng hái tiến về phía trước. Việc lao về phía trước đối với một người mù, là chấp nhận nguy hiểm, vì anh không nhìn thấy gì. Lời kêu van này, vừa diễn đạt quyền năng của vị ngôn sứ đang đi ngang qua, vừa gửi gắm niềm tín thác, chắc chắn vị ngôn sứ ấy sẽ chữa cho mình được lành. Lời van xin ấy đã đến tai Chúa, và mặc dù đám đông ồn ào vây quanh, Người vẫn gọi anh và chữa anh lành.

    Trong hành trình cuộc đời, mỗi người chúng ta cũng giống như anh mù đang đứng bên cổng thành Giêricô. Bởi lẽ chúng ta – dù có con mắt sáng – cũng chỉ nhìn thấy một phần những gì đang tồn tại, kể cả những vật hữu hình. Cả một thế giới vô hình mênh mông trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta không có khả năng cảm nhận. Vì vậy, mỗi người cần khát vọng tiến cao tiến xa hơn trong lãnh vực siêu hình thiêng liêng. Tùy theo quan niệm văn hóa và tôn giáo mà định nghĩa lãnh vực thiêng liêng này là gì. Đối với người tin Chúa, mỗi ngày sống trên trần gian phải là những bước tiến tới gần Chúa hơn để gặp Ngài, vì đích điểm của cuộc đời là cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa, mặt đối mặt, không còn như trong gương. Trong cuộc sống trần gian, chúng ta chỉ cảm nhận Chúa một cách tương đối, mờ nhạt và phiến diện.

    “Xin cho con được thấy!”. Xung quanh ta còn biết bao điều ta không có khả năng thấy, hoặc cố tình không thấy. Đó có thể là những kỳ công của Chúa, qua đó, Chúa tỏ bày vinh quang của Ngài và chứng minh Ngài đang hiện diện. Đó cũng có thể là những người nghèo nàn bất hạnh đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Con người trong xã hội hiện đại ngày càng vô cảm với tha nhân, vì thế, đây đó, vẫn còn những người bị bỏ rơi quên lãng. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô đã viết: “Những ai chỉ tin vào những gì mình thấy bằng con mắt thể lý, thì họ vẫn là những người mù

    “Xin cho con được thấy!”. Đó là lời cầu xin của chúng ta để nhận ra tình thương của Ngài đang ấp ủ đồng hành chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế. Ngôn sứ Giêrêmia diễn tả niềm vui lớn lao, như một tiếng thét vui mừng trước những điều kỳ diệu Thiên Chúa sẽ thực hiện vì yêu thương dân Ngài. Ông loan báo cuộc hồi hương của dân Israen, sau những năm tháng lưu đầy đau khổ nhục nhằn. Thiên Chúa sẽ giải phòng dân Ngài. Người Do Thái sẽ được về với quê cha đất tổ. Trong số đó, có cả những người đui mù, què quặt và bệnh tật. Trong quan niệm thông thường, những người này bị khinh bỉ và coi thường, không được kể đến trong các buổi hội họp. Nay họ cũng được Chúa yêu thương. Họ sẽ không bị bỏ rơi và quên lãng nơi đất khách quê người vào lúc Thiên Chúa giải phóng dân Ngài. Ngài là Đấng giàu lòng thương xót.

    Thiên Chúa không dừng lại ở việc chúc lành, ban ơn che chở dân Ngài. Ngài còn sai Con của Ngài là Đức Giêsu đến trần gian để ở với chúng ta. Tác giả thư Do Thái đã diễn tả vị Thượng tế siêu phàm, đã mặc lấy thân phận tôi tớ của chúng ta. Vị tư tế này, không giống như các tư tế của Cựu ước. Người đã dâng chính mình làm của lễ trên thập giá để đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại mọi thời mọi nơi. Ngày hôm nay, qua Giáo Hội, Người vẫn tiếp tục dâng hy tế để giao hòa thế gian với Thiên Chúa và giao hòa con người với nhau, xây đắp tình huynh đệ giữa gia đình nhân loại.

    “Xin cho con được thấy!” Xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta để chiêm ngưỡng những kỳ công Ngài đang thực hiện hằng ngày xung quanh chúng ta, và để nhận ra mỗi người đang cùng chung sống là một quà tặng do chính Chúa ban. Amen.

    “Đời người giống như việc đi đường vậy, một bên là gian khổ, một bên là cảnh đẹp. Ánh mắt bạn phóng được đến đâu, đó chính là cảnh giới của cuộc đời bạn. Nếu thường xuyên nhìn thấy những người ưu tú hơn mình, điều đó cho thấy bạn đang trên đường lên dốc; Còn nếu thường xuyên nhìn thấy những người không bằng mình, điều đó cho thấy bạn đang xuống dốc và người khác đang phải cố gắng để lên dốc. Thay vì oán thán, thà thay đổi cách nghĩ, mọi chuyện sẽ bớt nặng nề đi rất nhiều!” (Sưu tầm)

    Về mục lục

    .

    GẶP ĐƯỢC CHÚA SẼ CÓ NIỀM VUI

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Dõi theo hành trình lên Giêrusalem của Chúa Giêsu, với những làm phép lạ Chúa làm, lời Chúa dạy, người môn đệ được dạy về phẩm chất tông đồ. Cùng với các môn đệ Chúa Giêsu tiếp tục hành trình lên về Giêrusalem. Nếu dọc đường có chàng thanh niên đến quỳ gối xin Chúa chỉ cho biết việc phải làm để được sống đời đời (x. Mc 10, 17), thì giữa các môn đệ cũng có sự năn nỉ nài van cho được ngồi ‘bên tả’ hay ‘bên hữu’ Chúa (x. Mc 10, 35-45).

    Hôm nay vẫn trong hành trình trước khi vào thành thánh, có chàng thanh niên mù loà con ông Timê tên là Bartimê kêu xin gặp Chúa để được sáng mắt (x. Mc 10, 46-52). Thật lý thú và kỳ diệu biết bao cho những ai khát mong tìm gặp Chúa, họ sẽ rạng rỡ mừng vui, vì có được điều họ tha thiết nài xin.

    Chúa là niềm vui của Israel

    Khi dân Israel bị bắt đi lưu đày ở Babylon trở về, người trung thành với Chúa chỉ còn là số ít, họ quá yếu đuối, nghèo nàn và dễ bị tổn thương, đến nỗi không có phương tiện trở về, từ phương Bắc không thể tự giải thoát. Họ là những kẻ trở về để xây dựng đất nước : “trong chúng có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ”. Bàn tay xây dựng lại Israel là những kẻ đui mù, chứ không phải các thanh niên cường tráng! Làm thế nào họ có được khả năng xây dựng lại quốc gia? Thanh niên, người khoẻ mạnh đã bị đế quốc tiêu diệt trong các lao động khổ sai. Họ phải cáng đáng công việc xây dựng lại quê hương.

    Trong lúc cùng đường bế tắc như thế Giêrêmia tuyên sấm : Đây Chúa phán: Hỡi Giacóp, hãy hân hoan vui mừng! ” (Gr 31, 7). Không thể vui mừng sao được khi mình đang đui mù, què quăt, mang thai nay có được Thiên Chúa toàn năng trợ giúp dẫn dắt trở về : “Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây” (Gr 31, 8). Theo Dianne Bergant: “Phụ nữ mang thai và các bà mẹ tuy yếu ớt, dễ bị tổn thương nhưng cũng là biểu tượng của phong phú và hy vọng. Họ nắm giữ tương lai trong bản thân mình. Khi họ rời bỏ chốn lưu đày về đất hứa, họ mang theo khả năng sinh sản và khởi sự một tương lai mới”.

    Đúng là người công chính, đạo đức thực thi công bình, bác ái, sống thánh thiện siêu nhiên, mặc cho thế giới này sa đoạ đến đâu, mặc cho gièm pha độc ác của kẻ giả hình, những vẫn khao khát tìm gặp và cậy dựa vào Chúa, người ấy sẽ có được niềm vui lớn lao. Anh mù thành Giêricô, tên là Bartimê trong Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng.

    Chúa Giêsu là niềm vui của anh Bartimê

    Chúng ta chiêm ngắm một anh chàng mù, nghèo khổ, gặp được hạnh phúc thật nhờ Chúa Giêsu. Anh thiếu hai điều : cái nhìn thể lý và khả năng tìm kiếm công ăn việc làm để kiếm sống, nên buộc anh phải đi ăn xin. Anh cần sự giúp đỡ và anh ngồi bên vệ đường lối vào thành Giêricô, nơi có nhiều người qua lại.

    May mắn cho anh, một hôm chính Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một số người khác đã đi ngang qua đó. Chắc chắn anh mù đã từng nghe nói về Chúa Giêsu, là Đấng đã làm nhiều phép lạ, Đấng ấy đang đến gần anh ta, chớp thời cơ, anh kêu lên : “Hỡi Con vua Davít, xin thương xót tôi!” (Mc 10, 47). Đối với những người đang đi theo Chúa thì tiếng kêu của anh mù thật khó chịu, họ ích kỷ, không chịu thấu hiểu hoàn cảnh của anh. Nhưng lời kêu xin lớn tiếng của anh chứng tỏ anh khao khát gặp Chúa lắm. Lời ấy vang tới tai Chúa và động đến tâm hồn Chúa Giêsu. Người muốn đáp ứng lời van xin của anh mù ăn mày này, nên truyền gọi anh đến đến và chữa lành anh ta.

    Lập tức anh mù được đối diện với Con vua Đavít. Giây phút quyết định là sự khát khao gặp gỡ cá nhân, trực tiếp, giữa Chúa với người đang đau khổ. Hai người đối diện nhau : Thiên Chúa với ý muốn chữa lành và con người với ước ao được chữa lành. Hai sự tự do và hai ý chí đều huớng về một điểm. Cuộc đối thoại bắt đầu kẻ hỏi người thưa, “Chúa Giêsu nói với anh: ” Anh muốn Ta làm gì cho anh? “Người mù đáp : “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy” Chúa ra lệnh: “Con hãy đi! Ðức Tin con đã cứu chữa con!” (Mc 10,51) Lập tức Chúa Giêsu cho anh thấy, anh hết sức vui mừng và đi theo Chúa.

    Chúa là nguồn vui của chúng ta

    Niềm vui của Thiên Chúa, niềm vui của con người. Theo Phúc âm kể tiếp như sau : Bước vào ánh sáng, anh mù Bartimê bắt đầu theo Chúa khắp nơi! Ðiều này có nghĩa là anh mù trở thành môn đệ Chúa và theo Người lên Giêrusalem, để cùng với Chúa tham dự vào mầu nhiệm cao cả của ơn cứu rỗi.

    Cái nhìn thể lý thật quan trọng, cái nhìn từ bên trong của Thiên Chúa. Thánh Clêmentê Alexandria nói, “Chúng ta hãy chấm dứt việc lơ là sự thật, hãy ra khỏi bóng tối và sự vô minh, như một áng mây, hãy ra khỏi đám mây che lấp chúng ta để chiêm ngưỡng Thiên Chúa thật”.

    Chúng ta thường hay than phiền và nói rằng, tôi không biết cầu nguyện. Hãy noi gương anh chàng Bartimê mù trong Tin Mừng : Anh không ngần ngại kêu lên cùng Chúa Giêsu tất cả những gì anh ta cần. Phải chăng chúng ta thiếu đức tin? Nếu thiếu, hãy thưa cùng Chúa : “Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con”. Phải chăng chúng ta có người thân bằng hay trong gia đình có người bỏ bê việc sống đạo ? Vậy, hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho họ được nhìn thấy”. Liệu đức tin có quan trọng như vậy không? Nếu chúng ta so sánh cái nhìn thế lý, chúng ta sẽ nói gì đây?

    Ðức Tin là cuộc hành trình của sự soi sáng: đức tin khởi sự từ thái độ khiêm tốn nhìn nhận mình cần đến ơn cứu rỗi và đạt đến cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô, Ðấng là nguồn vui và là ơn cứu độ. Tình trạng của anh mù thật là buồn, nhưng nhiều người còn chưa tin vào Chúa còn buồn hơn. Chúng ta hãy nói với họ : Thầy gọi anh và hỏi anh cần gì, Chúa Giêsu sẽ đáp trả bạn cách hào phóng.

    Lạy Mẹ Maria, xin dẫn chúng con đến gặp Chúa, để chúng con được no thỏa niềm vui ân tình của Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    NGƯỜI HÀNH KHẤT MÙ BÁCTIMÊ

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Câu chuyện người hành khất bị mù từ thuở bình sinh tên Báctimê mà Tin mừng của thánh Máccô thuật lại trong Chúa nhật 30 năm B hôm nay, đã gây xúc động và cảm phục cho rất nhiều người qua nhiều thế hệ vì Lòng Thương Xót và quyền năng tuyệt đối của Chúa đối với nhân loại, đối với con người…Báctimê đã không xin giầu sang, danh vọng, địa vị, anh ta chỉ xin Chúa :” Lạy Thầy, xin cho con được sáng “ ( Mc 10,52 ).

    Vâng, mù là một điều thiệt thòi lớn cho người bị mắc bệnh. Họ không nhìn thấy vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, tinh tú. Họ không thấy được cây cối, biển, núi, sông ngòi, suối khe vv…Họ không thấy được cha mẹ, anh chị em, bạn bè, những người thân thương. Họ không chỉ khổ nơi thân xác mà còn khổ trong tâm hồn.Một cách nào đó họ bị mặc cảm vì lệ thuộc người khác, bị coi là sống bên lề xã hội. Bài Tin mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu chữa người mù Báctimê. Vì bị mù từ lúc mới sinh, anh lớn lên làm nghề hành khất để độ thân. Mù nên anh ngồi yên một chỗ bên vệ đường, ngày này qua tháng nọ, đợi xem có ai đi qua ngang đó, để anh còn cất giọng xin…Một hôm, nghe biết Đức Giêsu đi ngang qua đó, vì mù nên không thể thấy được Ngài, tuy nhiên anh đã nghe nhiều người nói với anh về Đức Giêsu,và thật đây là cơ hội ngàn vàng, do đó, khi Đức Giêsu đi ngang qua, anh khẩn thiết kêu van:” Hỡi ông Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con “ ( Mc 10, 47 ).Rất nhiều người lúc đó đã quở mắng và bảo anh câm miệng.Thay vì nắm tay anh mù dẫn tới Chúa Giêsu, họ đã túm cổ lôi anh ra xa Chúa Giêsu. Chỉ có một người giúp đỡ anh ta. Người đó là chính Đức Giêsu. Khi nghe tiếng la mắng anh mù. Chúa Giêsu đã dừng lại, truyền cho người ta dẫn anh mù đến với Người. Chỉ lúc đó, dân chúng mới thay đổi thái độ.Chỉ lúc đó, họ mới chịu giúp đỡ anh ta.

    “ Lạy Thầy xin cho được sáng “ ( Mc 10, 51 ). Khuôn mặt đầu tiên anh mù được thấy là Đức Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã thắp sáng cho anh, cho cuộc đời bất hạnh, cuộc đời như tuyệt vọng của anh. Người phán :” Đức tin của anh đã chữa anh “ ( Mc 10, 52 ).

    Đúng thật anh Báctimê đã bị mù đôi mắt thể xác, nhưng anh lại có con mắt đức tin, vì anh đã nhận ra Đấng cứu Thế khi gọi Chúa là “Con vua Đavít “.  Báctimê tuy mù đôi mắt nhưng anh lại có đôi mắt tâm hồn, anh tin Chúa là Đấng uy quyền tuyệt đối, chỉ mình Người mới có thể chữa lành đôi mắt của anh.

    Với đôi mắt đức tin, tin tuyệt đối vào Đức Giêsu, anh đã không sợ sẹt dù bị người ta ngăn cản, la mắng, càng cấm, anh càng la to, kêu van. Càng ngăn cản, anh đã quăng cả cái áo choàng dùng che ấm cuộc đời, ngồi ăn xin ở vệ đường để từ bỏ kiếp ăn xin, thân phận mù lòa, quyết bước vào một cuộc đời mới, tới miền ánh sáng, tới chỗ vinh quang của tình yêu mà Chúa Giêsu, Con vua Đavít đã tặng ban cho anh.

    Bài Tin mừng của thánh Máccô khuyên nhủ chúng ta tự vấn lương tâm xem đã có biết bao người hành khất mù như anh Báctimê muốn gặp Đức Giêsu mà chúng ta cố tình cản ngăn không cho họ tới gặp Đức Giêsu? Đã có lần nào chúng ta gặp một người mù xin giúp đỡ mà chúng ta làm ngơ không giúp họ ? Chúng ta có xác tín mạnh mẽ :” Thiên Chúa dựng nên chúng ta để chúng ta làm việc thiện và mang niêm vui đến cho người khác hay không  ? “.Mù lòa thể xác thì ai cũng thấy, nhưng mù lòa tâm hồn khó lòng chúng ta mới có thể nhận ra.

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đôi mắt đức tin để chúng con luôn luôn tín thác nơi Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt tâm hồn để chúng con nhận ra quyền năng vô biên của Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt trinh trong để chúng con thấy Chúa và nhận ra anh em.Thấy Chúa là thấy tất cả vì “ Chỉ trong ánh sáng của Chúa, chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng “. Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1. Tại sao người hành khất Báctimê lại phải ngồi bên vệ đường ?

    2. Làm sao anh Báctimê lại biết Đức Giêsu đi ngang qua đó ?

    3. Dân chúng đã làm gì đối với Báctimê ?

    4. Tại sao dân chúng lại thay đổi thái độ và giúp đỡ anh ?

    5. Chúa Giêsu đã làm gì cho anh Báctimê ?

    Về mục lục

    .

    NHÌN VÀ THẤY ĐƯỢC

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Cuộc đời biết bao nhiêu lần nhìn mà không thấy, hoặc thấy mà không chịu nhìn. Đầy những trớ trêu, nhưng đấy là cái trớ trêu của lòng người đấy ích kỷ, gian tham, kiêu căng. Những nỗi đau từ dân oan, những nỗi thống khổ của người dân nghèo, những món nợ bi ai, thống khổ, có nhìn mà không thấy hoặc có thấy mà không chịu nhìn. “Làng tôi quanh co, quanh co, quanh co” (lời bài hát Bà tôi). Xin Chúa mở cho đôi mắt để họ thấy nỗi thống khổ của dân oan, những người nghèo cô thế, cô thân, những phận người bi ai, thấp hèn, những mùa màng đang bị đố bỏ…

    Người mù có tên Ba ti mê

    Sau đoạn Tin Mừng Chúa kêu gọi các nhà lãnh đạo hãy: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10, 44), Tin Mừng liền đưa câu chuyện người mù thành Giê ri cô. Không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện người mù được đưa ra vào lúc này, nhưng muốn nhấn mạnh đến những người lãnh đạo cần có con mắt để nhìn, để thấy, để hiểu, để làm vơi đi những đau khổ của những người dân nghèo.

    Những người dân nghèo ở đây, họ có tên, có tuổi, có địa chỉ rõ rệt trên đường phố. Nghĩa là họ có danh tính, họ không có nhà hoặc bị cướp mất nhà, hoặc vì nghèo đói phải tha hương… Họ có tên tuổi, nhưng họ thiếu những ngày tươi sáng. Họ sống trong tăm tối của thân phận.

    Chính vì họ có danh tính nên những người nghèo không phải là những người bỏ đi. Những người lãnh đạo không tên tuổi, là những tập thể lãnh đạo, những người có quyền hành, là những người đang cầm cân nảy mực, là một khối đông không thể gọi hết danh xưng, là những người đang chịu trách nhiệm trước những người nghèo tên tuổi kia, cần được mở đôi mắt để nhìn và để thấy, để hành động.

    Nhà lãnh đạo cần được mở tai để mở tấm lòng.

    Cần một lời cầu xin của kẻ có mắt nhìn mà không thấy, thấy mà không chịu nhìn. Như người mù thành Giê ri cô, đã được nghe chân lý, sự thiện, được nghe những điều lẽ phải. Những con người đang mù, câm, điếc trước nỗi khổ của người khác, họ cần được nghe những nỗi thống khổ của người dân, cần nghe những tiếng nói từ lương tâm ngay thẳng. Đôi khi, những tiếng ồn ào của những yến tiệc, của những nhạc khí, những lời xu nịnh, những bản giao hưởng từ nhà hát lớn, những tiếng thét gào lòng tham, át đi tiếng lương tâm mách bảo, để lòng chai, dạ cứng, bị câm điếc trước lẽ phải và hành động theo những bản năng thấp hèn.

    Tiếng kêu người nghèo thấu đến tai Chúa.

    Sứ Điệp của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhân Ngày Quốc Tế Vì Người Nghèo, 18 -11 – 2018 nhắc lại điều đó. Trong bài giảng lễ sáng Thứ Năm (19/05) tại Nguyện Đường Santa Marta, Đức Giáo Hoàng nói : “Khi của cải được tạo nên bởi việc khai thác con người, bởi những người giàu có này khai khác người khác, họ lợi dụng sức lao động của con người, và những người nghèo này trở thành nô lệ. Chúng ta suy nghĩ ở đây và bây giờ, điều tương tự đang diễn ra, trên khắp thế giới”. Không thể mù, câm, điếc mãi được vì tiếng kêu người nghèo thấu đến tai Thiên Chúa mà những người đang truc lợi trên họ phải chịu trách nhiệm.

    Là ai và cần làm gì ?

    Ba ti mê là những ai? “Trong thời đại hôm nay cũng đang có biết bao nhiêu là những con đường dẫn tới những hình thức thiếu an toàn! Đó là việc thiếu thốn những phương tiện căn bản của kiếp sống, việc bị loại trừ khi người ta không còn đủ khả năng hay đủ sức để làm việc nữa, và những hình thức nô lệ xã hội khác nhau, bất chấp những tiến bộ mà nhân loại đã đạt được… Trong thời đại hôm nay cũng vẫn đang có biết bao nhiêu là những người nghèo ngồi bên vệ đường như Bác-ti-mê, và tìm kiếm một sự cảm thông cho hoàn cảnh của mình! Biết bao nhiêu là con người đang tự hỏi, tại sao mình lại rơi vào đáy vực thẳm này, và làm thế nào để có thế thoát ra được khỏi đó! Họ mong chờ một ai đó sẽ đến gần họ và nói với họ: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy!” (Mc 10,49). (Sứ điệp ngày quốc tế vì người nghèo, ngày 18 -11 – 2018).

    “Trước những người nghèo, vấn đề không nằm ở chỗ coi sự can thiệp là điều ưu tiên, đúng hơn, chúng ta có thể nhìn nhận một cách khiêm tốn rằng, Chúa Thánh Thần chính là Đấng khơi lên những hành động mà chúng nên trở thành những dấu chỉ cho câu trả lời và cho sự gần gũi của Thiên Chúa. Ngay sau khi chúng ta tìm ra được một cách thức để gần gũi với những người nghèo, thì chúng ta sẽ biết rằng, quyền ưu tiên thuộc về Đấng đã mở cặp mắt và con tim của chúng ta ra cho sự hoán cải. Người nghèo không cần tới sự háo danh, nhưng cần tới Đức Ái biết ẩn mình và quên đi những điều tốt đẹp mình đã làm. Những nhân vật chính thực sự chính là Thiên Chúa và những người nghèo. Ai đặt mình vào trong sự phục vụ, người ấy sẽ trở thành khí cụ trong đôi tay của Thiên Chúa để làm cho sự hiện diện và ơn cứu độ của Ngài được nhận biết.” (Sứ điệp ngày quốc tế vì người nghèo, ngày 18 -11 – 2018).

    Xin mở đôi mắt: “Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm! Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân“ (Is 58, 6-7). Hành động theo cách đó sẽ tạo điều kiện để tội lỗi được thứ tha (1Pr 4, 8), và tạo điều kiện để công lý được hoạt động, cũng như để Thiên Chúa trả lời và nói: “Này, Ta đây!“ (Is 58,9), khi chúng ta kêu cầu lên Ngài.” (Sứ điệp ngày quốc tế vì người nghèo, ngày 18 -11 – 2018).

    Về mục lục

    .

    TIN MỪNG CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

    Jorathe Nắng Tím

    Trình thuật người mù thành Giêricô rất gần gũi hành trình đi tìm Thiên Chúa của mỗi người chúng ta. Đó là hành trình có nhiều giai đọan, nhiều chông gai, nhiều cản trở, nên đòi nhiều cố gắng, hy sinh, nhưng trước hết vẫn là lòng tín thác, trông cậy và trên hết vẫn là trái tim hay “chạnh lòng”  của Thiên Chúa giầu lòng xót thương.

    1. Lời cầu xin thương xót:

    Hành trình tìm gặp gỡ  Đức Giêsu của người hành khất  mù tên Bartimê bắt đầu bằng lời cầu : “ Xin thương xót  con !”

    Anh mù Bartimê chắc tiếng to và già hàm lắm, nên mới bị nhiều người quát tháo bảo im đi (Mc 10, 48), vì anh không mệt mỏi kêu gào : “Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con ! ”. Tiếng kêu của anh đã làm nhiều người nhức óc, sốt ruột, khó chịu, bực bội. Họ bực anh làm át tiếng họ; họ khó chịu vì anh cắt ngang câu chuyện giữa họ và Đức Giêsu; họ sốt ruột vì cái giọng bi ai, thảm thiết, não nề của anh.  Nhưng hầu hết đều nhức óc, nhức đầu bởi tiếng kêu của anh mù này đã không can dự gì đến đời họ, khi họ mặc nhiên đồng ý với nhau: đã trót  mù rồi thì mù luôn đến chết cũng có sao đâu. Chẳng thế mà nhiều người đã  ngăn cản không cho anh đến gần Đức Giêsu đang khi anh rát họng nài xin lòng thương xót và quờ qụang, mò mẫm lại gần Đấng mà anh nghĩ sẽ chạnh lòng thương và cho anh được sáng mắt.

    Đường đến Thiên Chúa của ta có thể cũng đã bị ngăn cản cách này cách khác bởi nhiều người,  và cũng có thể chính ta đã quát tháo bảo im đi nhiều người đang tha thiết van xin lòng từ bi của Thiên Chúa. Nhưng bên cạnh những người quát tháo, nạt nộ, cấm cản ta đến với Chúa, khóc  với Chúa, kêu cầu Chúa, vẫn có những người đồng hành với ta trên đường tìm gặp Chúa đang thì thầm, nhắc nhở, động viên: “ Hãy vững lòng ! Dậy đi ! Ngài gọi anh đó ”(Mac 10, 49).

    Đám đông cùng đi có lòng tốt ấy chính là Giáo Hội, là đoàn thể những người cùng đi theo Đức Giêsu và làm chứng Đức Giêsu cho mọi người. Chúng ta hãy tin vào Giáo Hội, tin vào mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo Hội để đừng bao giờ thất vọng nghĩ mình đơn  độc trên đường tìm gặp Chúa.

    1. Đáp trả của Thiên Chúa:

    Đám đông hôm ấy đã đơn sơ nghĩ rằng: Đức Giêsu không chú ý, quan tâm gì đến tiếng kêu “xin thương xót” của người mù hành khất, và tất cả đã ngỡ ngàng khi “Ngài đứng lại và nói : “Gọi người ấy cho tôi! ” (Mc 10, 49). “Người ấy” tức người hành khất mù nãy giờ không ngớt kêu la : “Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con! ”.

    Sự đáp trả của Thiên Chúa chính là gặp được chính Ngài là Nguồn Sống đích thực, Bình An viên mãn và ơn Cứu Độ đời đời. Người mù từ lâu khao khát được gặp Ngài, nay anh không chỉ được gặp, mà còn được chiêm ngưỡng dung  nhan thánh thiện, nhân từ của Ngài, khi Ngài mở mắt cho anh được thấy. Anh thấy Thiên Chúa trong Đức Giêsu và  hạnh phúc ngất ngây, khôn tả đã khiến anh “vất áo choàng một bên, nhẩy chồm dậy mà đến cùng Đức Giêsu” (Mc 10,54).

    Như thế, Thiên Chúa luôn cần  thiện chí và cố gắng của chúng ta như bước  chân thứ nhất trên hành trình đến gặp Ngài. Người mù đã làm bước chân thứ nhất khi khao khát gặp Ngài biểu lộ qua tiếng kêu thống thiết : “Xin thương xót con ! ”. Anh đã kêu nhiều lần, rất nhiều lần, kêu to đến rát cổ, lạc giọng; kêu lớn đến độ làm phiền đám đông  và bị nhiều người đe loi, cấm cản. Nhưng khi bước chân thứ nhất của người mù hoàn thành, thì chính Đức Giêsu đi về phiá anh, bước tới tìm anh và lên tiếng gọi anh đến gần Ngài.

    Tuyệt vời thay hành trình của con người đi tìm Thiên Chúa bỗng chốc trở thành hành trình của Thiên Chúa đến với con người. Đức Giêsu đã tìm đến người mù khi bất ngờ đứng lại, gọi anh, nói với anh: “Con muốn Ta làm gì cho con ?” (Mc 10,51), rồi bảo anh : “Hãy đi, lòng tin của con đã cứu con” (Mc 10,52). Chỉ trong một vài phút ngắn ngủi, Ngài đã đi hết những bước chân dài còn lại trên hành trình của người mù đi gặp Ngài; chỉ một khoảnh khắc rất vắn vỏi Ngài đã làm thỏa mãn tất cả  ước mơ  và đáp trả trọn vẹn lời cầu xin của anh mù, khi cho anh được sáng mắt, được  thấy Ngài và được “theo Ngài  lên đường” (Mc 10,52).

    Qủa thực, Thiên Chúa không bỏ ngoài tai lời cầu xin của bất cứ ai, dù là những lời cầu xin đơn sơ, thô kệch,mộc mạc, kể cả nhức đầu, nhức óc, vì Ngài là Cha nhân hậu luôn thương xót con cái mình. Chân lý này cho phép chúng ta tín thác tuyệt đối ở Thiên Chúa khi cầu nguyện, dù lắm lúc tưởng  Chúa ngủ quên hay đã chết  thật rồi.

    Lậy Chúa, xin cho chúng con đức tin của anh Bartimê, người hành khất mù loà  thành Giêricô năm xưa, và giúp chúng con noi gương anh trên đường đi tìm Chúa, bởi ít nhiều chúng con đã cảm thấy thích giọng anh với điệp khúc cầu nguyện bất hủ : “ Lậy Chúa, xin thương xót con ! ”; thích cái lì của anh khi bất chấp đám đông “quát tháo bảo im đi” cứ kêu to hơn nữa;  thích phản ứng tràn đầy niềm vui phục sinh của anh khi “vất áo, nhảy chồm dậy mà đến với Đức Giêsu”; và điều chúng con thích nhất ở anh, chính là anh đã “theo Đức Giêsu lên đường”, sau khi được Ngài chữa lành đôi  mắt.

    Về mục lục

    .

    MUỐN TÔI LÀM GÌ?

    Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Trên hành trình lên Giêrusalem lần cuối, Đức Giêsu có dịp đi ngang qua thành Giêrikhô, một thành phố lớn, đông đảo kẻ qua người lại. Khi vừa ra khỏi cổng thành, thì có một người mù tên là Ba-ti-mê ngồi ăn xin bên vệ đường lớn tiếng kêu xin: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”.

    Theo truyền thống thánh kinh Cựu Ước, tước hiệu “Con vua Đavít” là tước hiệu chỉ tên Đấng Thiên sai. Sang thời Tân Ước cũng vậy, dân Do thái  dùng tước hiệu này để ca tụng, khi Đức Giêsu vào thành Giêrusalem “Hoan hô, Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến” (Mt 21,9).

    Vậy khi anh mù kêu xin Chúa bằng tước hiệu “Con vua Đavít”, nghĩa là anh nhận ra đúng sứ mạng của Đức Giêsu, Đấng Mêsia, Đấng mà tổ tiên người Do thái hằng đợi trông. Anh mù này đã tin Đức Giêsu là Đấng cứu thế. Đấng quyền năng làm được mọi sự sẽ chữa lành cho anh.

    Thật lạ lùng thay! Người khiếm thị này chưa bao giờ nghe biết Đức Giêsu, thế mà hôm nay khi nghe Đức Giêsu đi ngang qua, thì anh lập tức kêu xin: “Lạy Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”.

     Trong khi đó các môn đệ và dân chúng đã từng nghe lời Chúa giảng, từng thấy phép lạ Chúa làm, ấy thế mà dường như vẫn còn mù mờ chưa nhận đúng ra sứ mạng của Đức Giêsu.

    Anh Ba-ti-mê tuy mù con mắt thể lý, nhưng ánh mắt lòng tin đã giúp anh thấy được sứ mạng của Đấng Thiên sai, khi Ngài đến: Sẽ loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn, mở mắt cho người mù được sáng, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.

    Vì thế, Anh mù không xin Chúa tha tội cho anh, cũng chẳng xin cơm áo gạo tiền như thường ngày, mà chỉ xin một điều duy nhất đó là: “Xin Chúa dủ lòng thương”. Anh tin nên anh xin, nên Chúa đã chữa lành cho anh, đúng như lời Chúa nói: “Đức tin của anh đã cứu chữa anh”.

    Anh chị em thân mến,

    Lời Chúa năm xưa nói với anh mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”. Hỏi một bệnh nhân muốn gì trong lúc này quả là một câu hỏi xem ra thừa thãi, nhưng kỳ thực đây là một mặc khải, làm nổi bậc lên tấm lòng thương xót của Thiên Chúa. Có nghĩa là bản tính của Thiên Chúa là tình thương. Tình thương tha thứ, tình thương muốn cứu giúp và chữa lành.

    Ngày hôm nay, Chúa cũng muốn ngỏ lời với mỗi người chúng ta: “Con muốn Cha làm gì cho con?”. Nếu chúng ta cảm nhận được lời này, chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc, vì Chúa rất gần gũi và rất mực yêu thương chúng ta.

    Trong đời sống chung, đời sống gia đình và xã hội. Chúng ta cũng nên nói lời này với nhau, giữa vợ chồng và con cái. Hay giữa những mối tương quan “Anh muốn tôi làm gì cho anh? Chị muốn tôi làm gì cho chị?.

     Thế nhưng, Chúa nói: “Những gì các con muốn người khác làm cho mình, thì mình hãy làm cho người khác trước đi” (Mt 7,12).

    Bởi lẽ, ai cũng muốn người khác giúp đỡ mình. Ai cũng muốn người khác tôn trọng và yêu mến, cảm thông và chia sẻ, tha thứ và cầu nguyện cho mình. Thì  mình hãy làm những điều đó cho người khác trước đi.

    Nếu chúng ta mặc lấy tâm tình như đã có trong Đức Giêsu Kitô, thì chúng ta sẽ làm  những điều tốt đẹp đó cho nhau, như Chúa đã làm cho chúng ta.

    Thánh Phanxicô đã dạy: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Để con dọi ánh sáng vào noi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.

    Lời kinh này không chỉ là lời cầu nguyện, nhưng còn diễn tả đời sống chứng nhân của người tín hữu Kitô. Có nghĩa là, không những chúng ta đem yêu thương vào nơi oán thù, nhưng còn phải dọi ánh sáng vào nơi tối tăm nữa.

    Xin Chúa thương mở đôi mắt đức tin, để chúng ta thấy được Đức Giêsu, là Đấng cứu độ duy nhất. Vì chúng ta như người hành khất mù lòa bên vệ đường.

    Xin Chúa thương chữa lành con mắt mù lòa ích kỷ, để chúng ta nhìn thấy dung nhan Ngài nơi mỗi tha nhân, đặc biệt những người nghèo khổ ăn xin nơi đầu đường xó chợ.

    Xin đừng để chúng ta vô cảm trước sự bất hạnh của anh em đồng loại, nhưng biết chạnh lòng thương muốn cứu giúp, bằng đôi tay nâng đỡ, với trái tim rộng mở, và nói những lời xây dựng yêu thương, để mang lại ánh sáng tình thương của Chúa, đến cho những người còn ở trong bóng tối sự chết. Amen.

    Về mục lục

    .

    KHÁT KHAO ĐƯỢC SÁNG

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Rất nhiều người may mắn không bị mù loà, nhưng hầu như ai cũng có lúc bị mù quáng.  Người mù quáng có thể thấy rõ những sai phạm của người khác nhưng mù tối về những lầm lỗi của mình, nên người ta thường nói: “Việc người thì sáng, việc mình thì quáng.”

    Bệnh mù quáng nghiêm trọng của Vua Đa-vít

    Đa-vít là vị vua khôn ngoan, dũng cảm và đức độ; thế nhưng nhà vua cũng có lúc bị mù quáng nghiêm trọng. Dù đã có nhiều thê thiếp nhưng vua lại mê đắm bà Bát-sa-bê là vợ của U-ri-a và sau đó lại mượn tay quân thù giết chết U-ri-a ngoài mặt trận, để rồi chính thức cưới lấy bà Bát-sa-bê làm vợ.

    Thế là cùng một lúc vua đã phạm hai tội ác tầy đình: tội ngoại tình và tội giết người. Ấy thế mà vì mù quáng, vua vẫn ung dung như không có gì xảy ra.

    Sau đó, Thiên Chúa sai ngôn sứ Na-tan đến cảnh tỉnh nhà vua. Vị ngôn sứ tâu vua rằng: Trong thành kia, có một người giàu có đến cả ngàn dê cừu. Trong khi đó, bên cạnh nhà ông ta có một ông lão nghèo khó và cô độc, chỉ có một con chiên nhỏ làm bạn cho vui tuổi già. Ông lão thương con chiên đó như con gái của ông. Ông cho chiên ăn trên tay và cho ở trong nhà.

    Thế rồi khi người giàu có khách, ông ta không chịu bắt chiên mình thiết tiệc; trái lại, cho tôi tớ qua nhà ông lão nghèo khổ bắt con chiên độc nhất của ông nầy làm thịt đãi khách.

    Nghe đến đây, vua Đa-vít bừng bừng nổi giận. Vua muốn trừng trị tức khắc tên bất lương đó. Nhà vua phán: “Nó đáng chết vì tội ác nó đã phạm. Nó phải bồi thường gấp bốn thiệt hại mà nó đã gây ra.”

    Bấy giờ ngôn sứ Na-tan mới tỏ cho vua biết tên bất lương đó chính là nhà vua: vua đã có nhiều vợ con, thê thiếp lại đang tâm sát hại U-ri-a và cướp lấy vợ ông ta!

    Bấy giờ vua Đa-vít mới bừng sáng mắt, thấy rõ tội ác của mình nên đã ăn năn thống thiết. (II Samuel 11, 1-12,12)

    Bất kỳ ở thời đại nào, xã hội nào cũng có đầy dẫy những con người mù quáng.

    Nhiều người mù tối lương tri, không nhận thấy mình đang bị lòng tham lam thống trị và xui khiến họ làm đủ mọi thủ đoạn đê hèn, bất chấp luân thường đạo lý, sẵn sàng giết hại người khác, làm cho người ta khuynh gia bại sản… miễn sao thu được nhiều lợi lộc cho mình.

    Nhiều người để cho ích kỷ, kiêu căng, giận hờn, ganh tỵ, cố chấp, chia rẽ, bè phái… bén rễ sâu trong tâm hồn mình mà không tự biết, nên trở thành nô lệ cho những thói xấu này, để chúng chi phối mọi hoạt động của mình, mà không thể tự giải thoát mình khỏi sự thống trị của những thế lực đen tối này.

    Chỉ đến khi thấu biết sự thiệt hại lớn lao do cảnh mù quáng gây ra, người ta mới cố gắng thoát khỏi sự thống trị nó.

    Khao khát được khỏi mù quáng

    Người mù trong Tin Mừng hôm nay (Mc 10, 46-52) có lòng khao khát thoát cảnh mù loà cách mãnh liệt. Khi nghe biết có Chúa Giê-su đi ngang qua, anh liền cất tiếng kêu to: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin hãy thương xót tôi.” Dù người qua kẻ lại quát mắng anh im đi nhưng không gì có thể dập tắt được ngọn lửa khao khát bừng lên mãnh liệt trong lòng, nên anh càng la to hơn: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin hãy thương xót tôi!”

    Thế rồi, khi được biết Chúa Giê-su cho vời mình đến, anh vui mừng đến độ vứt cả áo choàng, vứt cả bị, gậy để đến với Chúa Giê-su. Chúa Giê-su hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mau mắn thưa ngay: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy.”

    Cầu được ước thấy, ánh sáng đã bừng lên cho anh. Anh thấy được Đức Giê-su, thấy mọi người chung quanh, thấy thế giới rực rỡ muôn màu.

    Muốn được chữa lành bệnh mù quáng, chúng ta phải có lòng khao khát mãnh liệt được sáng như anh mù Ba-ti-mê. Lòng khao khát đó sẽ thúc đẩy chúng ta đến với Đức Giê-su là Ánh Sáng đích thật và Ánh Sáng của Ngài sẽ xoá tan sự mù quáng đang vây phủ lòng trí chúng ta. Nhờ đó, chúng ta sẽ thoát khỏi nhiều sai lầm tai hại.

    Lạy Chúa Giê-su là Ánh Sáng thế gian,

    Người mù quáng sinh hoạt giữa đời cũng giống như tài xế chạy xe giữa đêm đen mà không có đèn chiếu sáng, chắc chắn sẽ gặp phải nhiều nguy hại xảy đến bất ngờ. Nguyện xin ánh sáng của Chúa soi dẫn cho chúng con thấy được nẻo chính đường ngay.

    Hôm xưa Chúa đã từng mở mắt cho những kẻ mù loà được xem thấy thì nay xin Chúa xót thương giải thoát chúng con khỏi tình trạng mù quáng khiến chúng con sống trong mê muội, sai lầm.

    Về mục lục

    .

    ĐẤNG CỨU THẾ CHỮA LÀNH BỆNH TẬT CỦA CHÚNG TA

    Lm. Phêrô Lê văn Chính

              Mù lòa là một bất hạnh lớn trong cuộc đời. Do bởi tận nguyền, người mù không có đủ khả năng để phát triển bình thường và đầy đủ như những người khác. Câu chuyện của Tin mừng hôm nay nói đến người mù tên là Bartimê vốn ngồi ăn xin ở vệ đường. Dù phải chịu đựng một thân phận thấp kém hơn những người khác, sống nhờ vào lòng thương xót của bá tánh, nhưng người mù này đã có một sự hiểu biết hơn những người khác và trở nên như một nhân chứng của việc con người gặp gỡ Đấng cứu thế. Khi Đức Giêsu đi ra khỏi thành Giêrikhô cùng với các môn đệ và một đám đông dân chúng, người mù này đã lớn tiếng cầu xin Đức Giêsu chữa lành cho anh. Anh có một sự nhạy bén lạ thường vào một thời điểm quyết định là lúc Đức Giêsu đi qua nơi anh đang ngồi ăn xin ở vệ đường. Tin mừng nói rõ là anh đã kêu lên: “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lời cầu xin của anh diễn tả thân phận đau khổ của anh cùng với lòng tin tưởng mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Trong thân phận mù lòa, anh không bị chôn chặt vào định mệnh khắc nghiệt oan trái của mình, nhưng đã biết vươn lên để có thể kêu xin lòng thương xót của Đức Giêsu. Điều đáng ngạc nhiên là tuy không có đầy đủ mọi điều kiện như những người bình thường khác, anh lại có sự hiểu biết chính xác về Đức Giêsu, anh gọi người là “Con vua Đavít”. Theo truyền thống Thánh kinh, Đấng cứu thế dân tộc do thái đang mong đợi là người con thuộc dòng tộc Đavít, chúng ta hãy nhớ lại lời tiên tri Nathan nói với vua Đavít trong sách 2 Samuel 7,14. Khi vua Đavít đã an vị, ông ở trong nhà làm bằng gỗ bá hương, ông nhớ lại hòm bia Thiên Chúa vẫn còn ở trong lều tạm, nên đã quyết định muốn xây dựng cho Chúa một căn nhà. Vì thế, Thiên Chúa đã sai tiên tri Nathan đến nói với vua Đavít: Không phải nhà vua sẽ xây dựng cho Chúa một căn nhà, nhưng chính Chúa sẽ xây dựng cho nhà vua một căn nhà. Căn nhà chính là triều đại của nhà Đavít được trường tồn, và qua đó Thiên Chúa cũng hứa ban một vị vua cứu thế xuất thân từ dòng tộc Đavít.

              Câu chuyện Tin mừng còn cho chúng ta biết thêm chi tiết là trong khi đám đông đi theo Đức Giêsu tìm cách để làm cho người mù phải câm miệng thì anh lại càng kêu to hơn. Người mù là hạng người bị loại trừ, bị gạt ra bên lề cuộc sống xã hội, nên đám đông đi theo Đức Giêsu thấy rằng không nên để cho anh cản đường Đức Giêsu. Nhưng thái độ ngăn cản của đám đông không làm cho người nản chí, anh càng kêu to hơn: “Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lời cầu xin thống thiết này sau cùng đã đến với Đức Giêsu, người dừng lại và truyền cho anh đến với người. Thái độ của Đức Giêsu thật khác thái độ của đám đông, người lắng nghe lời cầu xin của người mù, người động lòng trắc ẩn, người để người mù đến với mình và hỏi thăm anh cần gì. Thái độ của người mù thực đáng kinh ngạc và ý nghĩa khi được Chúa Giêsu cho phép anh đến với người, anh trỗi dậy, vất bỏ chiếc áo choàng anh vẫn mang trên mình và đến với Đức Giêsu. Thái độ của anh rõ ràng và dứt khoát. Theo Thánh kinh, chiếc áo choàng thực là ý nghĩa. Đây là vật bất ly thân của con người, là tài sản của người nghèo đồng thời nó cũng mặc ý nghĩa như là nhân cách của con người. Cử chỉ anh vất bỏ chiếc áo để chạy đến với Đức Giêsu muốn nói từ đây anh bỏ lại thân phận mù lòa bị loại trừ của mình để vui mừng đến với Đức Giêsu là Đấng mời gọi anh và ban tặng cho anh quà tặng cứu độ của Đấng cứu thế. Anh không chỉ đi mà là chạy và nhảy đến với Chúa Giêsu. Bước nhảy của anh là bước nhảy reo vui của người tin tưởng xác tín vào quyền năng chữa lành của Đấng cứu thế Con vua Đavít mà anh chờ đợi và tin tưởng. Một con người mà bệnh tật và những loại trừ của xã hội không thể nào ngăn cản anh cố gắng vượt qua hố ngăn cách. Đức Giêsu đã hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”. Câu hỏi của Đức Giêsu có thể gây ngạc nhiên, bởi vì chắc hẳn người đã biết anh mù này muốn xin người chữa cho anh được thấy. Thế nhưng, người vẫn luôn tôn trọng và chờ đợi sự tự do của anh. Chúa Giêsu muốn anh nói lên lời cầu xin của mình mặc dù người vốn biết điều người mù muốn xin với người. Người mù đã thẳng thắn và chân thành nói lên lời cầu xin của mình: xin cho tôi được thấy. Và Đức Giêsu đã nói với anh: “Hãy đi, đức tin của con đã chữa con”. Ơn chữa lành của Đức Giêsu đối với người mù không chỉ dừng lại ở việc chữa trị bệnh tật thế lý, mà còn xa hơn nữa, đây là ơn cứu độ để cứu chữa con người toàn vẹn. Người mù không chỉ xin để được sáng mắt, mà điều quan trọng hơn là anh đã tin vào người, anh đã gặp và trở nên môn đệ của người và đi theo người.

              Câu chuyện người mù cho thấy thân phận bi đát của con người. Không những người mù mà tất cả mọi người đều đang ở trong tình trạng cần đến Thiên Chúa cứu độ giải thoát. Thân phận của dân Chúa phải ly hương, sống đau khổ nơi đất khách, làm thân nô lệ là những hình ảnh của một thân phận bi đát hơn nữa của con người là nô lệ tội lỗi và sự chết. Tiên tri Giêrêmia tiên báo giờ Thiên Chúa cứu độ sẽ đến để an ủi và giải thoát dân người để họ được đoàn tụ trong tình thương yêu chăm sóc và hạnh phúc của Thiên Chúa là Cha của mình. Thư Do thái trình bày cho chúng ta Đức Giêsu là vị thượng tế thông cảm và hay thương xót, bởi vì chính người cũng yếu đuối tư bề. Người vừa dâng lễ đền tội thay cho dân, người cũng dâng lễ cho chính mình. Người là vị thượng tế được tuyển chọn vì người chính là Con một của Chúa Cha đời đời. Như người mù trong câu chuyện, mỗi người cần mạnh mẽ khẩn cầu Chúa Giêsu thương xót thân phận của mình, cần nhận thấy tình trạng đau khổ bi đát của mình để van xin lòng thương xót của Đấng cứu thế chữa lành bệnh tật và tội lỗi của mình để được chữa lành và tiến bước trên con đường theo Chúa Giêsu.

    Về mục lục

    .

    MẮT ĐỨC TIN

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    1. “Đôi mắt xanh của chị Nữ Tu”

    Trong cuốn sách “Những người lữ hành trên đường hy vọng”, Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận kể câu chuyện “Đôi mắt xanh của chị Nữ Tu” thật cảm động.

    Trên khắp các nước, thế chiến đã bùng nổ. Quân phát xít chiếm cứ khắp nơi. Một viên tướng Phát xít đến một nhà dòng kia, yêu cầu kêu Mẹ Bề trên cho ông ta gặp… Khi vừa dốc cạn ly nước từ tay Mẹ Bề trên, viên tướng Phát xít lập tức vào đề:

    – Xin bà cho tôi gặp chị Maria. Bà Bề trên bấm chuôn gọi chị ấy ra. Ông tướng vui vẻ hẳn lên và nói cách sổ sàng: “Tôi yêu cầu bà trao ngay cho tôi chị này, tôi say mê chị”.

    Hai mẹ con nhìn nhau lúng túng. Chị Maria vội đỡ lời: “Tôi là một nữ tu tầm thường, nào có gì để ông say mê. Xin ông tìm ở ngoài thế gian, lắm người nhan sắc lộng lẫy…”.

    – Không! Không! Tôi yêu chị vì chị có đôi mắt xanh tuyệt đẹp. Tôi say mê quá!

    – Không! Xin lỗi ông, không bao giờ tôi chấp nhận điều ấy.

    – Nếu chị không chấp nhận, nội ngày mai, tôi sẽ ra lệnh tiêu diệt cả Nhà Dòng này!

    Một bầu khí thinh lặng ghê rợn ập xuống phòng khách. Ông tướng đứng lên và bảo: “Tôi cho một đêm suy nghĩ, sáng mai tôi sẽ trở lại. Phải trả lời dứt khoát, nếu không tôi sẽ…”.

    Ngày hôm ấy, cả Nhà Dòng thiết tha cầu nguyệt sốt sắng hơn. Thâu đêm chị không thể nào chợp mắt: “Chẳng lẽ vì mình mà cả nhà phải bị tiêu diệt? Không, không thể được! hay tôi phải bỏ Nhà Dòng, bỏ Tình yêu Chúa Kitô, bỏ đức trinh khiết? Không, không bao giờ như thế!”.

    Sáng hôm sau, khi chị em còn nguyện kinh, ông tướng Phát xít đã có mặt ở phòng khách, đôi mắt hau háu, nôn nóng, sốt ruột.

    Từ đầu hành lang, Chị Maria đang tiến lại, nhưng… bên cạnh lại cómột người khác dẫn đi, tay chị cầm một cái dĩa. Viên tướng há hốc mồm, trố mắt kinh ngạc. Chị đã bước vào phòng khách, nhưng ông vẫn không ngớt ngẩn ngơ. Chị Maria khuôn mặt đầy máu me, đang sờ soạt đặt cái dĩa trên mặt bàn và nhỏ nhẹ trình bày: “Thưa ông, vì ông say mê cặp mắt của tôi… nên tôi xin sẵn sàng biếu ông cặp mắt ấy… trên dĩa này. Còn thân xác tôi, đời tôi, tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa”.

    Viên tướng Phát xít vừa bàng hoàng kinh ngạc vừa cảm phục. Ông xấu hổ đứng dậy bỏ ra về và không đá động gì đến Nhà Dòng nữa. (trang 175-177).

    Nữ tu Maria hy sinh đôi mắt xanh tuyệt đẹp để “dọi ánh sáng vào nơi tối tăm” của cõi lòng viên tướng, nhờ vậy ông ta được sáng đôi mắt và nhìn thấy sự cao quý của một tâm hồn thanh khiết.

    1. Đôi mắt mù

    Đọc câu chuyện, liên tưởng đến chuyện vua Đavít được tiên tri Natan “mở mắt”. Dù đã có nhiều thê thiếp, nhưng vua lại chiếm đoạt bà Bátsabê là vợ của Uria và sau đó lại mượn tay quân thù giết chết chồng bà để chính thức cưới lấy Bátsabê làm vợ. Thế là vua đã phạm hai tội ác tày đình: ngoại tình và giết người. Vậy mà vua vẫn ung dung như không có gì xảy ta. Sau đó, Thiên Chúa sai tiên tri Natan đến cảnh tỉnh nhà vua. Tiên tri nói với vua: Trong thành kia, có một người giàu có đến cả ngàn dê cừu. Trong khi đó, bên cạnh nhà ông ta có một ông lão nghèo khó và cô độc, chỉ có một con chiên nhỏ làm bạn cho vui tuổi già. Ông lão thương con chiên đó như con gái của ông. Ông cho chiên ăn trên tay và cho ở trong nhà. Thế rồi khi người giàu có khách, ông ta không chịu bắt chiên mình làm tiệc, trái lại, cho tôi tớ qua nhà ông lão nghèo khổ bắt con chiên độc nhất của ông nầy làm thịt đãi khách. Nghe đến đây, vua Đavít bừng bừng nổi giận. Vua muốn trừng trị tức khắc tên bất lương đó. Nhà vua phán: “Nó đáng chết vì tội ác nó đã phạm. Nó phải bồi thường gấp bốn thiệt hại nó đã gây ra.”. Bấy giờ tiên tri Natan mới tỏ cho vua biết tên bất lương đó chính là nhà vua và Chúa sẽ trừng phạt vua vì tội ác đã gây ra.Vua Đavít bừng sáng mắt ra, thấy rõ tội ác của mình nên đã ăn năn thống thiết. (II Samuel 11,1-12,12).

    Câu chuyện cũng gợi nhớ về đôi mắt mù của Nguyên Tổ trong sách Sáng Thế: “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu ! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon… mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn… Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng” (St 3, 4-7).

    Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua 3 tiến trình:

    –   Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra.

    –   Evà nhìn trái táo và thấy sướng mắt.

    –   Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.

    Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt đức tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy. Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.

    Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: “mắt cả hai người đã mở ra”. Không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. “Mắt hai người đã mở ra”. Câu Thánh kinh thật ngắn ngũi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại. Ađam – Evà đã mở mắt, nhưng họ lẫn trốn không dám nhìn Thiên Chúa. Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau. Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù loà chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế. (x.Nước mắt và hạnh phúc, trg 69-71, Lm Nguyễn Tầm Thường).

    1. Mắt đức tin

    Chúa Kitô đã đến chữa lành sự mù loà ấy, hàn gắn lại vết thương thưở sa ngã của Nguyên Tổ. Khi liên kết phép lạ Chúa Giêsu chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù loà của Nguyên Tổ, ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian.

    Mù từ thưở mới sinh” là mù từ xa xưa, thưở địa đàng. Chúa Kitô đã mang ánh sáng cho thế gian. Ngài ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức Tin.

    Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng đức tin. Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù. Chúa đã mở mắt đức tin để anh ta tin vào Chúa. Anh ta tin vào lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Silôác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pharisiêu đang tra vấn, khủng bố anh: Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giêsu lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Silôác. Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy. Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì. Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giêsu và được hỏi: “Anh có tin Con Người không ?” thì anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Chúa Giêsu tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh liền đáp: “Lạy Thầy, tôi tin.” Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.

    Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giêsu trao ban ánh sáng đức tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt. Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin.

    Phép lạ chữa người mù thưở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Chúa Giêsu là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù loà của nhân loại với điều kiện: Tin vào Ngài.

    Chúa Giêsu cũng chữa nhiều người mù loà tâm hồn. Ngài mở mắt cho Giakêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi (Lc 9, 1-10). Ngài mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm (Lc 7, 36-50). Ngài mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương (Lc 23, 32-43)…

    Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân. Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ. Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại. Chỉ có ánh sáng của Đức Kitô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng tình yêu, mỗi người mới xoá tan những điểm tối đó. Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là ánh sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Kitô. Ðôi mắt đức tin giúp chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa và yêu mọi người, mọi sự trong Chúa và yêu như Chúa đã yêu.Nhiều Thánh vịnh giúp chúng ta tập nhìn cuộc đời và con người bằng đôi mắt tin yêu, như Thánh vịnh 104, các Thánh vịnh Job 38-39.

    Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt thì đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin. Bartimê tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Chúa Giêsu là Ðấng Messia “Con Vua Ðavít“. Anh kêu xin : “Rabbuni, xin cho tôi được thấy“, và Chúa Giê-su trả lời : “Hãy đi ! Niềm tin của con đã cứu chữa con“. Bartimê được thấy và anh theo Chúa Giêsu trên con đường của Người ; khi thấy được, anh cùng hành hương lên Giêrusalem (x. Đức Giêsu thành Nazareth phần II, trg 13). Bartimê thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy Chúa là con vua Đavít, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng.

    Muốn trong trắng, con phải hy sinh; cành huệ trắng tinh, cành mai thơm tho, cành đào xinh đẹp, vì nó đâm rễ sâu vào lòng đất, vì nó cầm cự với mưa bão, vì nó chịu đựng những bàn tay cắt tỉa” (ĐHV 431). Lạy Chúa Giêsu, xin cho con có đôi mắt với thị giác và thị lực tốt; để con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt; để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên; để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.

    Và lạy Chúa, Chúa chỉ ban sự trong trắng cho linh hồn khiêm nhường. Con cầu xin hàng ngày với tâm hồn đơn sơ chân thành, thực sự nhìn nhận sự yếu đuối của con” (ĐHV 427); xin cho con được thấy bản thân con với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu làm phép lạ chữa cho một người mù.

    A. Hoàn cảnh của người mù:

    Người mù trong bài Tin Mừng hôm nay có tên là Bartimê: Con của Timê. Như vậy người ta chỉ biết anh là con của Timê chứ người ta không biết tên thật của anh là gì.

    Hoàn cảnh nghèo đã khiến anh phải sống bằng nghề ăn xin. Nói một cách văn chương thì ta bảo là khất thực.

    Tin Mừng không cho chúng ta biết anh ta bị mù từ bao giờ nhưng xác định thật rõ chỗ anh ta chọn để hành nghề của mình. Đó là vệ đường, chỗ có nhiều người qua lại. Chọn cho mình một chỗ để ngồi khất thực bên vệ đường nơi có nhiều người qua lại là một chọn lựa có một ý đồ rõ rệt: Tỷ lệ những người mà anh ta hy vọng sẽ giúp đỡ anh sẽ cao hơn.

    Tin Mừng không cho chúng ta biết làm sao mà anh đã biết Chúa thế nhưng chúng ta có thể phỏng đoán rằng anh ta đã được người ta nói cho anh về nhân vật đặc biệt này.

    Hôm đó anh đang ngồi ở vệ đường để khất thực như thường lệ, một công việc được lặp đi lặp lại… nhiều khi đến nhàm chán, thì bỗng dưng như có một cái gì khác thường sắp sửa xẩy ra: những người qua lại có vẻ nhiều hơn. Có lẽ có ai đó đã báo cho anh ta biết về việc Chúa Giêsu sắp đi ngang qua cho nên ngay khi Chúa còn cách xa, anh đã kêu thật lớn tiếng: “Lạy ông Giêsu con Vua Đavid, xin thương xót tôi”.

    Nhiều người cùng đi với Chúa Giêsu đã nghe thấy những lời đó. Đáng lý ra thì họ phải thương anh, tìm cách cho anh được tiếp cận với Chúa. Thế nhưng không hiểu lý do gì mà không những họ không giúp đỡ mà ngược lại họ còn ngăn cấm anh nữa.

    Bất chấp sự ngăn cấm của mọi người anh càng la to hơn và sự việc này đã đến tai Chúa. Chúa dừng lại và cho gọi anh tới. Thái độ của Chúa khác hẳn với thái độ của nhiều người và lập tức thái độ của những người đi theo Chúa cũng thay đổi theo. Bây giờ không còn phải là những lời ngăn cấm mà là những lời đầy an ủi: “Hãy an tâm đứng dậy. Ngài cho gọi anh”.

    Thật là cơ hội ngàn vàng đã tới. Quá vui sướng và tràn trề hy vọng, anh vứt bỏ chiếc áo choàng cũ kỹ anh vẫn mang trên mình để được nhẹ nhàng đến với Chúa.

    Bây giờ Chúa đã đối diện với anh nhưng anh chưa nhận ra Người. Người thừa biết anh muốn gì thế nhưng để cho anh cảm thấy anh đang được gần Chúa, Chúa đã sử dụng ngôn ngữ có âm thanh để giúp anh nhận ra Ngài. Ngài hỏi anh:

    “Anh muốn Tôi làm gì cho anh?”

    Không cần phải suy nghĩ anh thưa ngay: “Lạy Thầy, xin cho con được xem thấy”. Cách anh sử dụng để xưng hô với Chúa “Rabboni: Lạy Thầy” là cách biểu lộ lòng kính trọng.

    Và bằng một cử chỉ và thái độ đầy tình yêu thương Chúa nói với anh:

    “Được đức tin của anh đã cứu anh”.

    B. Bài học

    Điều mà anh mù trong bài Tin Mừng hôm nay xin với Chúa cũng chính là điều mà mỗi người chúng ta cần xin: Xin cho con thấy được.

    Thấy là một sinh hoạt tâm lý rất quan trọng trong sinh hoạt tri thức của con người. Chúa đã gọi “con mắt là cửa linh hồn”. Chúng ta cũng vẫn thường nói: “Trăm nghe không bằng mắt thấy”.

    Mù không phải là không có mắt nhưng cặp mắt không còn khả năng thị giác. Người mù xin với Chúa: Xin cho con thấy được có nghĩa là xin Chúa phục hồi lại khả năng thị giác cho anh: (Restore my sigth). Không có khả năng thị giác người ta sẽ bị thiếu xót rất nhiều trong nhận thức. Thiếu sự nhận thức, con người sẽ dễ bị rơi vào tình trạng sai lầm.

    Nói tới đây tôi nhớ tới một giai thoại có liên hệ đến một nhà bác học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 này. Đó là nhà bác học Albert Einstein.

    Một hôm có một sinh viên không hiểu được thuyết “Tương đối” của ông cho nên mạnh miệng xin ông cắt nghĩa cho. Thay vì trả lời theo kiểu một bài học thì ông lại trả lời bằng một câu chuyện. Ông bảo: “Một hôm tôi đi đường, tôi gặp một người mù, tôi hỏi anh ta: Anh có muốn uống một ly sữa không?”

    Người mù hỏi lại tôi:

    – Sữa là gì?

     Tôi cắt nghĩa:

    – Sữa là một thứ nước trăng trắng.

    Người mù hỏi lại:

    – Nước thì tôi biết nhưng trắng là thế nào?

    – Trắng là cái mầu giống như lông con ngỗng.

    – Lông thì tôi biết rồi nhưng con ngỗng là con như thế nào?

    – Ngỗng là một loại chim có cái cổ dài và cong được.

    – Cái cổ thì tôi biết nhưng cong là gì?

    Nhà bác học Einstein liền nắm cánh tay của người mù dang thẳng ra và bảo:

    – Thế này gọi là ngay. Rồi ông bẻ cánh tay lại và bảo: Thế này thì gọi là cong.

    Vừa nói đến đây thì người mù vui sướng như đã khám phá ra được một chân lý bí mật… Anh ta nói với nhà bác học:

    – Bây giờ thì tôi hiểu rồi… Sữa là cái cánh tay cong lại giống cái cổ của con ngỗng.

    Chúng ta có mắt. Mắt chúng ta sáng. Từ chỗ chúng ta thấy đến chỗ nhận biết, con đường chẳng có bao xa. Nhưng vấn đề là trong cuộc sống chúng ta có thực sự thấy được tất cả hay không?

    “Lạy Chúa xin cho con thấy được”.

    Lời cầu xin xem ra có vẻ rất đơn sơ, nhưng xét cho thấu tình đạt lý thì chẳng phải là một điều dễ. Tại sao? Tại vì tầm nhìn của cặp mắt chúng ta quá bị hạn chế.

    Một tác giả Ấn Độ có kể câu truyện ngụ ngôn được Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghi lại trong tác Phẩm “Cái cười của thánh nhân” như sau :

    Có một người kia sinh ra đã bị mù. Sống trong một căn phòng nhưng bởi không thấy gì cả, nên anh phủ nhận tất cả những gì người chung quanh quả quyết là có: “Tôi không tin vì tôi không thấy’”

    Một vị lương y đem lòng thương hại đi tìm một thứ linh dược trên dẫy Hy-mã-lạp-sơn về chữa anh ta lành bệnh. Anh ta sung sướng tự phụ bảo:

    – Giờ đây tôi thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.

    Nhưng có kẻ nói với anh:

    – Bạn ơi, bạn chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này. Như thế thì có là bao. Ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, còn biết bao vẻ đẹp lộng lẫy và màu sắc mà bạn chưa thấy.

    Nhưng anh ta không tin.

    – Làm gì có được những cái đó: tôi chưa thấy những cái đó, những gì có thể thấy được tôi đã thấy tất cả rồi.

    Một y sĩ khác liền leo lên tận núi cao, được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác đem về giúp cho anh ta có được cặp mắt nhìn xa hơn những vật chung quanh căn phòng. Bấy giờ thì anh ta thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú. Mừng quá! Rồi lòng tự phụ dâng lên, anh thốt lên:

    – Trước đây tôi không thấy, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin. Như thế bây giờ chẳng còn cái gì mà tôi không thấy không biết, đâu còn ai hơn tôi được.

    Nhưng có một hiền giả có cặp mắt thần nói với ánh ta:

    – Cậu ơi. Cậu vừa hết mù nhưng cậu vẫn còn chưa biết gì cả. Tại sao lại quá tự phụ như thế. Cũng như khi cậu ở trong căn phòng. Tầm con mắt cậu không vượt khỏi bốn bức tường, cậu không tin có vật gì ngoài căn phòng của cậu. Giờ đây tầm mắt cậu vượt khỏi bốn bức tường và thấy được nhiều vật xa hơn. Nhưng với chừng mực của tầm mắt và lỗ tai, cậu làm gì biết được những vật ngoài ngàn dặm mà tai mắt cậu không làm sao nghe được, thấy được. Cậu có thấy được những nguyên nhân cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu không? Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống, còn biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không thể kể như cát sông Hằng. Tại sao cậu dám tự phụ rằng tôi đã thấy cả, tôi biết cả? Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng và lấy sáng làm tối.

    Lạy Chúa xin cho chúng con thấy được. Mãi mãi chúng ta phải xin như thế.

    Thấy những gì? Thấy những điều Chúa muốn cho chúng ta thấy để chúng ta được biết bước đi dưới sự dẫn dắt của Chúa, thấy được tình thương của Người để chúng ta cảm nghiệm được niềm vui khi được làm con cái của Người. Hạnh phúc hay bất hạnh ở trong cuộc sống tùy thuộc rất nhiều vào sự việc này. Thấy được tình thương của Chúa chúng ta sẽ có hạnh phúc. Không thấy được tình thương của Chúa chúng ta sẽ bất hạnh. Amen.

    Về mục lục

    .

    THỊ LỰC

    Trầm Thiên Thu

    Thị lực liên quan con mắt. Con mắt là một cơ phận nhỏ nhưng quan trọng. Người Việt nhận xét: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Nữ diễn viên Audrey Hepburn (1929-1993, người Anh) có cách nhận định khác: “Mắt đẹp là đôi mắt nhìn thấy nét đẹp từ người khác. Đôi môi xinh là đôi môi chỉ nói lời hay ý đẹp, với đôi chân vững chắc luôn dạo bước trong khu rừng của kiến thức”. Văn sĩ Nikos Kazantzakis (1883-1957, người Hy Lạp) nói: “Khi chúng ta không thể thay đổi thực tế, chúng ta hãy thay đổi cái nhìn của chính chúng ta về thực tế đó”.

    Tác giả sách Giảng Viên xác định: “Tôi nhận ra rằng mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi. KHÔNG có gì để THÊM, CHẲNG có gì để BỚT. Thiên Chúa đã hành động như thế để phàm nhân BIẾT KÍNH SỢ NGƯỜI” (Gv 3:14). Tương tự, các cơ phận trên thân thể con người cũng chẳng phần nào thừa hoặc thiếu, dù đó là… “ruột thừa”. Thiếu phần nào thì khổ lắm, thừa phần nào cũng mệt lắm, chỉ hoạt động kém một chút là thấy “oải” lắm rồi.

    Người ta ví von: “Con mắt là cửa sổ tâm hồn”. Thật chí lý, bởi vì khi nhìn vào mắt người đối diện, người ta có thể “thấy” được những thứ trong tâm hồn người đó. Ánh mắt cũng có một “dòng điện” đặc trưng, người nào “yếu” sẽ chuyển ánh mắt nhìn sang hướng khác – nghĩa là “yếu vía” hơn người kia. Vì thế mà cũng là ánh mắt nhưng có nhiều cách nhìn khác nhau: Nhìn thẳng, nhìn xiên, nhìn ngang, nhìn dọc, nhìn lấm lét, nhìn trộm, nhìn kín đáo, nhìn lộ liễu, nhìn thán phục, nhìn khinh bỉ, nhìn chân thật, nhìn đểu cáng, nhìn thô lỗ, nhìn hiền từ,… Ôi, cũng vẫn chỉ là con mắt nhưng cách nhìn lại đa dạng quá chừng!

    Và cũng chỉ với một vấn đề, một sự vật hoặc một con người, thế mà mỗi người lại có cách nhìn hoàn toàn khác nhau. Cố NS Trịnh Công Sơn có cách nhìn thế này: “Còn hai con mắt, khóc người một con. Còn hai con mắt, một con khóc người” (Con Mắt Còn Lại), và ông còn diễn tả con mắt bằng nhiều kiểu: “Những con mắt tình nhân, Nuôi ta biết nồng nàn, Những con mắt thù hận, Cho ta đời lạnh căm. Những mắt biếc cỏ non, Xanh cây trái địa đàng, Những con mắt bạc tình, Cháy tan ngày thần tiên. Những con mắt trần gian, Xin nguôi vết nhục nhằn, Những con mắt muộn phiền, Xin cấy lại niềm tin, Những con mắt quầng thâm, Xin tươi sáng một lần…” (Những Con Mắt Trần Gian).

    Theo quan niệm của người Đông phương cổ đại, người ta còn có “con mắt thứ ba” – gọi là “thiên nhãn” (*). Với người có niềm tin tôn giáo nói chung, và với người Công giáo nói riêng, còn có “con mắt đức tin” – một loại “thiên nhãn” đặc biệt. Quả thật, chỉ với con mắt mà cũng có thiên hình vạn trạng. Về tâm linh, con mắt đức tin thực sự quan trọng lắm!

    Chúa Giêsu nói: “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng” (Mt 6:22). Cuộc đời chúng ta “tối” hay “sáng” là bởi con mắt. Cách nhìn của con mắt có thể khiến lòng tham trỗi dậy. Lòng tham có thể ẩn núp tinh vi: Cho không lấy, thấy không xin, kín thì rình, hở thì rinh. Chưa có “cơ hội” chưa biết ai thật thà hay tham lam. Có những tài xế taxi phát hiện khách bỏ quên trên xe vài chục triệu mà vẫn trả lại khổ chủ, đó mới là người trong sạch – sạch từ ánh mắt. Sách Huấn Ca xác định: “Bạc tiền khiến cho bao người sa ngã, thế nào cũng đưa họ đến hư vong. Nó là cái bẫy cho ai say mê nó, hết mọi kẻ ngu si sẽ sa vào” (Hc 31:6-7). Ai cũng cần tiền, nhưng tiền không là tất cả, cần mức nào và có “nặng lòng” với nó hay không lại là chuyện khác. Tiền bạc chỉ là phương tiện chứ không là mục đích. Người Pháp phân biệt rạch ròi: “Tiền là ĐẦY TỚ TỐT nhưng là ÔNG CHỦ XẤU”. Hãy làm chủ nó, đừng lệ thuộc nó!

    Giàu hay Nghèo có thể là Phúc hay Tội còn tùy ở mỗi người, chưa chắc giàu là có tội và nghèo là có phúc. Sách Huấn Ca nói: “Phúc thay ai giàu có mà vô tội, không chạy theo của cải, tiền tài” (Hc 31:6). Đó là “mối phúc lạ” và đó mới là vấn đề. Đừng tưởng nghèo thì được chúc phúc. Nghèo mà lòng không sạch thì cũng vô ích: Nghèo KHÔNG sạch, rách KHÔNG thơm! Nghèo mà vẫn tham thì không thể vô tội, và tất nhiên không thể biện hộ. Quả thật, không hề đơn giản! Đừng nói hay, đừng nói trước mà bước không qua, có cơ hội tham mà không tham đó mới là thực sự trong sạch. Người đó (dù giàu hay nghèo) được khen là có phúc, vì trong dân, người đó khiến cho bao người phải tâm phục khẩu phục qua cách sống. Phải tự thẳng thắn và khó với chính mình, đó mới là nghiêm túc thực sự.

    Những người có tâm hồn trong sạch như vậy chắc hẳn là người sống trong ơn nghĩa của Thiên Chúa, dù trong nghèo khổ hoặc cơ cực thì họ vẫn một lòng tín trung với Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, họ vẫn vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng. Thấy vậy, ngay cả dân ngoại cũng không thể lặng im: “Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” (Tv 126:2). Quả thật, việc Chúa làm thật vĩ đại và vô song. Và chính con người đó thấy mình chan chứa một niềm vui – vui vì sống thanh thản trong Ơn Thánh của Thiên Chúa. Tuyệt!

    Người ta thường ví von rằng “đời là bể khổ”. Kinh nghiệm sống cho chúng ta biết như vậy. Không ai lại không khổ. Khổ nhiều cách. Khổ nhiều mức. Sinh ra là bắt đầu khổ. Đôi khi có người còn khổ chồng chất, khổ tới chết vẫn không được một ngày sung sướng. Nhưng vấn đề là ở lòng kiên trung trong niềm tin vào Thiên Chúa ngay trong những nỗi cơ cực nhất, chắc chắn Chúa sẽ thương: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng” (Tv 126:5). Muốn tín trung thì phải dùng đến con mắt đức tin và với thị lực tâm linh mạnh mẽ, tầm nhìn xa rộng. Có như vậy mới khả dĩ giữ vững đức tin trong lúc khốn khổ cùng cực, chắc chắn chẳng ai bằng Thánh Gióp. Trước mặt Satan, Thiên Chúa xác nhận bốn điểm son nơi Thánh Gióp: “Thật chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người VẸN TOÀN và NGAY THẲNG, KÍNH SỢ THIÊN CHÚA và LÁNH XA ĐIỀU ÁC!” (G 1:8).

    Tin là chấp nhận hoặc từ chối. Bài học đức tin đơn giản mà phức tạp. Thầy dạy đức tin là Đại sư phụ Giêsu. Chúng ta có đức tin là nhờ Ngài. Vì thế, chúng ta sống đức tin là minh chứng cho Thiên Chúa, không được giữ đức tin đó cho riêng mình mà phải truyền đức tin sang cho người khác. Đó là một nhiệm vụ chung. Truyền đức tin sang người khác cũng là một cách truyền giáo mới trong thế giới ngày nay, vì người ta càng ngày càng không muốn sống đức tin nữa! Thánh nữ Bernadette nói: “Đối với người tin thì không cần giải thích, đối với người không tin thì giải thích cũng vô ích”.

    Thông truyền đức tin là nhiệm vụ chung của các tín nhân Kitô giáo, nhưng những người được tuyển trạch để lãnh nhận chức tư tế thừa tác thì trách nhiệm càng nặng nề hơn. Thánh Phaolô cho biết: “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội” (Dt 5:1). Đúng vậy, trước khi làm tư tế thì vẫn phải làm con người, với mọi thứ của một con người bình thường. Người đó phải “có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy” (Dt 5:2-3). Và vì thế, “không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron đã được gọi” (Dt 5:4).

    Thế nhưng trong thực tế lại khác, đúng như người Việt thường nói: “Cờ đến tay ai người đó phất”. Câu nói giản dị và nhẹ nhàng nhưng vô cùng thâm thúy! Nhưng thật buồn bởi vì có khi người ta sống ngược với lời Đức Kitô: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Thực hành đúng ý Chúa phải nỗ lực rất nhiều, không thể cứ tà tà mà được!

    Rõ ràng và rạch ròi, Thánh Phaolô cho biết: “Không phải Đức Kitô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5:5-6). Đức Kitô còn chưa tự xưng mình là “ông kia, ông nọ” thì huống gì chúng ta, những phàm nhân đầy tội lỗi, bất trác, bất túc, và yếu đuối lắm.

    Và rồi một hôm, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Thầy trò cùng một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường – tên anh ta là Batimê, con ông Timê. Vừa nghe nói có Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10:47). Thấy vậy, nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10:48). Con mắt thể lý của anh ta mù lòa, nhưng con mắt tâm linh của anh ta lại rất sáng, bởi vì anh nhận ra người mà anh ta kêu xin là Con vua Đavít.

    Qua đó, chúng ta thấy có hai thái cực rõ ràng: Những người quát nạt Batimê là những người NGĂN CẢN người khác đến với Chúa Giêsu, còn anh mù Batimê đại diện cho những người TIN TƯỞNG mãnh liệt. Có nhiều khi chúng ta cũng đã từng ngăn cản người khác đến với Chúa bằng nhiều cách, dù không nói trực tiếp. Chẳng hạn, khi chúng ta mỉa mai hoặc chê bai khiến người ta ngại đến với Chúa. Chúng ta phải học tập anh Batimê trong việc tín thác vào Chúa, như ca dao Việt Nam nói: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, Lòng tôi vẫn vững như kiềng ba chân”. Và “chiếc kiềng” đó là: Thỉnh cầu, Tín thác, Thực hành. (Để dễ nhớ, có thể gọi tắt là 3T).

    Tiếng kêu cứu của Batimê gào to khiến Đức Giêsu chạnh lòng thương, Ngài đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10:49a). Người ta gọi anh và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Ngài gọi anh đấy!” (Mc 10:49b). Nghe nói vậy, anh ta quá phấn khởi nên liền vất áo choàng, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Ngài hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10:51a). Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” (Mc 10:51b). Ngài nói: “Anh hãy đi, LÒNG TIN của anh đã CỨU anh!” (Mc 10:52). Chính Chúa Giêsu đã xác định đức tin vô cùng quan trọng!

    Sự việc diễn ra rất mau chóng và nhanh gọn. Điều đáng lưu ý là Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh đến LÒNG TIN, nghĩa là “đức tin quan trọng hơn phép lạ” vì “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Gl 3:11), nhưng người ta lại thường “khoái” phép lạ hơn tầm nhìn của đức tin. Nếu vậy, đó là chứng “kém thị lực tâm linh” hoặc “mù đức tin”. Kém thị lực hoặc mù tâm linh nguy hiểm hơn chứng mù thể lý. Bởi vì không hiểu rõ, không biết nhiều hay không chịu hiểu? Đó là điều cần tự suy xét về cách tin và mức độ tin vào Chúa Giêsu, như Ngài đã từng nói: “Quý vị tin thế nào thì được như vậy” (Mt 9:29).

    Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, xin chữa lành chứng bệnh về con mắt tâm linh nơi chúng con, xin củng cố đức tin cho chúng con để chúng con vững tin trong mọi hoàn cảnh, xin gia tăng thị lực đức tin để chúng con nhận biết Thánh Ý Ngài và sẵn sàng chia sẻ nỗi đời với mọi người. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

     (*) Hình ảnh con mắt thứ ba được thể hiện trên trán của các vị thần trong các tác phẩm điêu khắc cổ đại ở các đền chùa Phật giáo. Người ta tin rằng, con mắt nhìn thấu mọi điều đã được Thượng đế ban tặng cho các vị thần để họ có những năng lực siêu phàm nhìn thấu những vật vô hình. Theo đạo Cao Đài, người tu hành khi đạt được “đạo pháp” sẽ có thêm con mắt thứ ba – gọi là “huệ nhãn”, có thể nhìn thấu cõi vô hình. Trong Yoga, việc luyện tập Marantha để có được một vài năng lực tâm linh thần bí như khai sáng được “con mắt thứ ba” mà người khác không có.

    Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, đó là “thần nhãn”, có thể thấy những gì mà người trần mắt thịt vẫn nhìn mà không thể thấy được. Nhiều giả thuyết khác cho rằng, ngày xưa Adam và Eva đã phạm “thiên luật” nên tuyến yên (pituitary) và tuyến hạch (pineal, hình trái thông) nằ  ở khoảng giữa hai con mắt đã dần bị hạn chế khả năng nhìn nhận ánh sáng.

    Theo một số nghiên cứu khoa học, thông thường mỗi sinh vật đều có một “con mắt thứ ba” nằm ở trung tâm não, gọi là “tuyến tùng”. Nó cảm nhận giống như một con mắt vì tuyến tùng phản ứng lại với những thay đổi của ánh sáng. Mới đây người ta khám phá thấy mắt thường cũng có thể sản xuất được chất melatonin, làm cho tuyến tùng càng ít quan trọng hơn.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

    Giuse Vũ Trọng Nghĩa

    Tin mừng hôm nay, Thánh Máccô đã miêu tả cho chúng ta một đôi mắt “người mù ngồi ăn xin bên vệ đường”. Cái hay trong cách trình thuật của Máccô nằm ở chỗ, tuy người hành khất bị mù nhưng cái mù ấy vẫn chưa phải là một chấm hết, chưa phải là một vận mệnh chung cuộc cho cuộc đời của anh. Mà từ đây, một ánh sáng mới lại bừng lên trong đêm tối khi người mù bắt gặp được Đấng đầy ánh sáng “Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo Tôi sẽ không phải đi trong bóng tối nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”.

    Người hành khất này biết chắc rằng, tự sức mình, anh không thể làm gì cho anh cả. Vì thế khi nghe tin Đức Giêsu Nazaret đi ngang qua nơi anh đang ngồi ăn xin, anh đặt hết lòng tin tưởng và phó thác vào Người. Đó chính là phép lạ xảy ra cho đôi mắt tâm linh của anh trước khi một phép lạ xảy ra cho đôi mắt thể lý. Quả thế, trước đó vì mù nên anh không nhìn thấy, nhưng anh nghe được tiếng của Người. Anh là người thính tai trước tiếng gọi của Đấng Cứu Thế và đặt hết mọi hy vọng vào Người, vì anh biết chắc rằng chỉ có một mình Đức Giêsu mới có thể giải thoát anh khỏi bóng đêm đen tối của sự mù loà, chỉ một mình Đức Giêsu là ánh sáng chân thật có thể chữa lành và làm sáng đôi mắt mù loà của anh. Đôi mắt người hành khất này bị mù, nhưng đôi mắt tâm hồn của anh lại lành lặn, trong sáng và đầy lòng tin.

    Như thế cách mô tả của Máccô về đôi mắt tuy có khác với nhiều người, nhưng qua đó thánh nhân dạy cho chúng ta phải biết ý thức về thân phận của mình; vì chỉ khi nào ta nhìn nhận tình trạng đui mù tâm linh của ta thì lúc đó Chúa mới có thể chữa lành cho ta được. “Lạy Thầy, xin cho con được thấy”. Đó là lời cầu xin hằng ngày của mỗi người chúng ta, vì sẽ có những lúc chúng ta không thấy, hoặc cố ý không muốn thấy. Mù loà thể xác, ai cũng nhìn ra được nhưng mù loà tâm hồn, con tim thì không dễ nhận ra. Nên chúng ta hãy xin Chúa xoá cảnh mù loà nơi thể xác và tâm hồn chúng ta. Vì chỉ có “trong ánh sáng của Chúa, chúng con mới nhìn thấy ánh sáng”.

    Chúng ta tin rằng, Đức Giêsu không những chữa lành đôi mắt thể xác cho người hành khất Báctimê mà Người còn mở rộng đôi mắt tâm hồn cho anh nữa, để anh có thể nhìn thấy ánh sáng chân lý trường cửu. Quả thế, Báctimê không chỉ nhìn thấy được người, cây cối, mọi vật, nhưng còn hơn thế nữa: qua các sự vật trước mắt, anh đã nhìn thấy được mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng hằng dìu dắt những ai thiện tâm bước theo Người, làm môn đệ Người. Trước kia, Báctimê là một người hoàn toàn lặn lội trong bóng đêm mù loà, trong sự cô đơn buồn tủi, nhưng nay đã nhận ra một ý nghĩa mới cho đời mình, và đã khám phá ra một tương lai mới.

    Sau khi nhận biết ánh sáng qua việc chũa lành của Đức Giêsu, anh mù Báctimê đã trở nên một mẫu môn đệ lý tưởng. Điều gì đã khiến anh được đề cao như thế? Anh chỉ làm có hai điều, và hai điều này là đủ để trở nên người môn đệ đích thật của Chúa Giêsu. Hai điều đó là: anh bỏ hết mọi sự, ngay cả chiếc áo choàng là tài sản quý giá nhất của một kẻ ăn xin bên vệ đường, để đến với Thầy, và điều thứ hai là đi theo Thầy trên con đường Người đi. Anh từ bỏ mọi sự để đến với Chúa và theo Chúa trên con đường của Chúa, chứ không phải theo Chúa trên con đường riêng của mình.

    Cầu nguyện:

    Lạy chúa! Chúa đã không ngần ngại đến với chúng con, với ước mong chúng con được bình an, hạnh phúc, để chúng con được trở nên môn đệ của Chúa với lòng hiền hậu và khiêm nhường. Xin cho chúng con biết đưa Chúa vào cuộc đời mình, dám thay đổi bản thân để hoàn thiện hơn, và được làm bạn với Chúa.

    Xin cho đôi mắt tâm hồn chúng con được sáng, để chúng con thấy Chúa là tất cả gia nghiệp của đời mình, thấy anh chị em thật dễ mến dễ thương, và thấy mình còn nhỏ bé trong vòng tay yêu thương của Chúa. Amen

    Về mục lục

    .

    AI MỚI LÀ KẺ MÙ LÒA

    Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

    Có thể nói,chưa bao giờ “phong trào” xây dựng cơ sở vật chất lại nở rộ như hiện nay. Các giáo xứ, các dòng tu thi nhau xây dựng. Các trung tâm mục vụ, trung tâm hành hương cũng mọc ra như nấm với những quy mô hoành tránh và hiện đại.

    Theo lý thì việc xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh là đúng. Nhưng theo tình thì chúng ta thấy chưa ổn cho lắm? Liệu có cần không khi xây dựng cả hàng ngàn tỉ ở giữa những mảnh đời nghèo đói đang bữa no bữa đói? Liệu có quá vô tâm khi vẫn gửi những bì thư xin tiền đến những gia đình túng thiếu chồng ốm vợ đau hay không? Liệu đó có phải là vấn đề đẹp lòng dân hay chỉ là ý thích của cha hay của lãnh đạo. Có giáo dân nói rằng: xứ con nghèo lắm mà cha lại thích xây dựng, chúng con góp ý cha từ từ rồi xây nhưng cha bảo tiền của tôi chứ tôi có lấy tiền quý vị đâu? Không biết cha lấy tiền ở đâu mà phung phí?

    Chúa Giê-su khi rao giảng tin mừng thì Ngài cũng luôn nhắm tới phục vụ nhu cầu cuộc sống con người. Ai đói Ngài cho ăn. Ai bệnh hoạn Ngài chữa trị. Ai cô đơn bất hạnh Ngài an vủi vỗ về. Suốt cuộc đời rao giảng Tin mừng Ngài chưa xây một Hội đường nào! Ngài cũng không ủy thác cho các môn đệ sứ vụ xây dựng những cơ sở vật chất. Ngài chỉ ủy thác chăm sóc người nghèo là tìm cách nâng cao đời sống cho họ, vì “anh em luôn có người nghèo bên cạnh”.

    Mới đây khi mà HĐND thành phố Saigon vừa thông qua quyết định lấy đất của dân để xây dựng nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm, có người đã hét lên rằng chỉ có HÁT TRÊN NHỮNG XÁC NGƯỜI !

    Và facebook đó viết tiếp: Khi cái nhà hát đó mọc lên trên nền đất của nhân dân hôm qua. Có người chết tức, có người sống không bằng chết. Có những giọt nước mắt đoạn trường, những thân phận rách nát chưa thấy ánh sáng.

    Trong một bầu oán khí ngút trời như vậy, thành phố kiên quyết làm nhà hát giao hưởng là nhảy múa trên nước mắt của nhân dân. Là hoan ca trên những xác người !”

    Bài Phúc âm hôm nay nói về anh mù ngồi bên vệ đường tên là Bartime. Vì đôi mắy mù lòa, nên anh ta đành ở bên lề cuộc sống, anh ngồi bên lề đường, không thể hòa cùng mọi người để có những bước chân thong dong trên đường. Anh ta còn phải trông chờ vào những của bố thí dư thừa để nuôi sống bản thân. Anh cũng muốn hòa vàodòng đời trong những nhộn nhịp củacuộc sống, nhưng con mắt mù lòa khiến anh tách ra khỏi đám đông nhân loại.

    Nếu những lãnh đạo cả đời lẫn đạo chỉ nhìn thấy công trình vĩ đại của mình mà không nhìn thấy số đông người nghèo là những vị ấy cũng tự mình tách ra khỏi đám đông nhân loại. Ở xã hội nào cũng thế, người nghèo vẫn là số đông, thế nên, các nhà lãnh đạo cần phải nhìn đến số đông nhân loại đang cần gì và mình có thể làm gì cho họ?Đừng chỉ nhìn vào nhu cầu của số ít người giầu có, quyền thế mà tách ra khỏi số đông nhân loại!

    Nhưng tiếcthay,vì nhiều người trong chúng ta muốn ngồi bên lề cuộc sống để hưởng thụ, bất chấp những tiếng xôn xao của cuộc đời, bất chấp những bước chân của sự thật, bất chấp lời mời gọi đứng lên của Thiên Chúa. Chúng ta cố bám lấy chiếc áo choàng của sự ích kỷ để tìm tư lợi bản thân, để không thể bước chân trên con đường yêu thương cùngđồng hànhvới người nghèo khó.Nhiều lãnh đạo đã ngồi bên lề cuộc đời người nghèo nên không thấy nỗi khổ hằn lên trên khuôn mặt luôn già trước tuổi, và xanh xao vì thiếu ăn.Chúng ta vẫn mở mắt nhìn nhưng không thấy gì, vì chỉ thấy chiếc áo choàng của bản thân và những lợi lộc dư thừa đang chứa trong đó. Nếu như thế thì chính chúng ta là những con người mù lòa cần phải để Chúa chữa lành!

    Vâng, lạy Chúa, chính con đang chờ một phép lạ thay đổi cái nhìn của con. Con đã mù lòa khi không nhìn thấy những mảnh đời khổ đau. Con muốn giũ bỏ cái áo choàng là tham vọng tìm vinh quang cho bản thân khi cố xây dựng cơ sở  trên nỗi đau của đồng loại, cốlàm những công trình hoành tráng trên sự nuối tiếc của người nghèo, vì giá mà số tiền ấy lạc quyên cho những ngôi nhà tình thương thì đã mang lại mái ấm cho biết bao gia đình! Như người mù thànhGiêricô, xin cho con bước ra ánh sáng để nhìn thấy sốđông nhân loại đang lầm than. Và con bắt đầu biết cảm nhận mọi sự thăng tiến của nhân loại đều phải bắt đầu từ con người chứ không phải cơ sở vật chất vô hồn. Amen

    Về mục lục

    .

    MÙ LÒA

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Người mù dong duổi mỗi ngày,
    Vệ đường hành khất, đắng cay cuộc đời.
    Đoán nghe Chúa sắp tới nơi,
    Vội vàng cất tiếng, xin Người xót thương
    Bar-ti-mê đứng bên đường,
    Thành tâm nhận biết, tựa nương bên Ngài.
    Con vua Đa-vít thiên sai,
    Chữa lành mắt sáng, con nài Chúa ban.
    Vững tâm đứng dậy kêu van,
    Áo choàng anh liệng, ngập tràn tin yêu.
    Xin Thầy thương xót con nhiều,
    Cho con được thấy, cao siêu tình Ngài.
    Con mù từ thuở tượng thai,
    Ban cho ánh sáng, mở khai xác hồn.
    Tạ ơn Chúa Tể càn khôn,
    Mắt con mở sáng, linh hồn tinh thông.

    Con người có các giác quan để thông tri với thế giới bên ngoài. Bất cứ một khuyết tật nào trong thân thể cũng làm cho con người bị khổ đau. Có nhiều thắc mắc chúng ta khó trả lời. Hỏi rằng: Tại sao Chúa lại để cho người này mù lòa, người kia câm điếc hay bất toại? Nếu chỉ nhìn vào cuộc sống tự nhiên, chúng ta không tìm được câu trả lời thích đáng. Chính vì thế, nhiều người cảm thấy bất hạnh. Chúa Giêsu đã đến như một nguồn ánh sáng làm cho chúng ta nhận biết được giá trị của những bất toàn trong đời sống.

    Phúc âm hôm nay tả cảnh Chúa chữa lành cho người mù ăn xin vệ đường. Anh mù đến van xin Chúa rằng: Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy. Chúa Giêsu đáp: Được, đức tin của anh đã chữa anh. Anh đã được thấy và thấy rõ hơn cả những người nghĩ mình có mắt sáng. Biết bao người có mắt sáng chung quanh anh. Họ trông thấy Chúa nhưng họ không nhìn biết Chúa. Họ đâu có nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Họ đâu có tin Chúa có quyền phép vô cùng. Anh mù đặt niềm tin tưởng nơi Chúa, Đấng có thể chữa anh. Chúa đã chữa mắt thể xác và cả mắt tinh thần cho anh.

    Chúng ta có mắt sáng nhưng không phải chúng ta nhìn thấy mọi sự. Có nhiều điều xảy ra chung quanh mà chúng ta không thấy. Đôi khi mắt chúng ta bị che khuất bởi sự ích kỷ, lòng hẹp hòi, ghen tương, lòng hận thù, chúng ta không nhận ra được sự tốt lành nơi người khác. Chúng ta có những điểm mù trong cuộc sống. Điểm mù của con mắt tinh thần làm chúng ta không nhận ra nhân phẩm xứng đáng của anh chị em.

    Truyện kể người ta thấy một em bé gái mù lòa, mặt mày hốc hác, quần áo rách rưới đứng co ro ở một góc đường để xin ăn. Cô bé trông bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, ốm o bệnh hoạn. Lúc ấy, một ông ăn mặc sang trọng lái xe ngang qua đó trông thấy cô bé nhưng ông chẳng thèm nhìn đến lần thứ hai. Khi lái xe về đến nhà, thoải mái trong căn hộ ấm cúng với vợ con. Trước mâm cơm thịnh soạn, hình ảnh cô bé bỗng hiện ra rõ rệt trong đầu ông. Ông thở dài và phàn nàn cùng Chúa: Tại sao Chúa để cho những hoàn cảnh đáng thương như thế xảy ra trên cõi đời này? Hình ảnh cô bé cứ ám ảnh ông, không chịu được sự dằn vặt nên ông trách Chúa: Chúa phép tắc vô cùng, tại sao Chúa không làm cái gì để giúp cô bé nghèo khổ đáng thương ấy. Lúc ấy, tự thâm tâm ông nghe tiếng Chúa phán cùng ông rằng: Ta đã làm rồi chứ sao lại không. Điều này Ta dành cho con đó. Ta đã dựng nên con mà.

    Lạy Chúa, xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con quan chiêm những kỳ công của Chúa. Xin cho con mắt đức tin của chúng con mở sáng để chúng con nhìn được hình ảnh Chúa nơi anh chị em của chúng con.

    Về mục lục

    .

    CÓ MẮT CŨNG NHƯ MÙ

    JM. Lam Thy 

    Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXX.TN-B – Mc 10, 46-52) trình thuật phép lạ Đức Giê-su chữa lành một người mù ở Giê-ri-khô. Anh tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. Thánh sử Mac-cô ghi nhận phép lạ chữa lành cho anh mù Ba-ti-mê tiếp liền với những câu chuyện được Đức Giê-su Ki-tô báo trước cho các môn đệ về cuộc Thương Khó của Người. Tại sao lại thế? Chuyện cũng đơn giản: Qua những tiên báo ấy, Chúa Giê-su muốn các môn đệ nhận biết Người là Đấng Mê-si-a đến thế gian để chịu chết chuộc tội cho nhân loại. Tuy nhiên, tham vọng đã khiến cho các môn đệ không muốn chấp nhận một Đấng Ki-tô chịu thân phận ô nhục như vậy. Quả thực họ có mắt mà không thấy! Ngược lại, anh mù bẩm sinh Ba-ti-mê tuy không thấy Chúa Giê-su bằng con mắt bình thường, nhưng lại thấy Chúa qua con mắt đức tin, để rồi anh tuyên xưng: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”

    Có một điều rất đáng lưu ý là khi anh kêu to lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” thì liền bị đám người Pha-ri-sêu quát nạt, bảo anh ta im đi. Đám người Pha-ri-sêu này là ai mà hống hách vậy? Họ chính là nhóm người cùng với nhóm Xa-đốc bị thánh Gio-an Tẩy giả gọi là “rắn độc” (“Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” – Mt 3, 7). Họ sợ Đức Giê-su có thêm cơ hội làm phép lạ khiến Người nổi tiếng và có ảnh hưởng trên dân chúng nhiều hơn. Họ muốn độc quyền chiếm lĩnh cảm tình của cộng đồng. Hành động đó nào có khác chi nòi rắn độc!

    Đáng lẽ đám người Pha-ri-sêu này (cùng với nhóm Xa-đốc) phải hiểu được rằng họ “là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính vị ấy cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên vị ấy phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy.” (Dt 5, 1-3). Tuy nhiên đám người Pha-ri-sêu đã không làm thế – không muốn Đức Giê-su có ảnh hưởng trong xã hội vì lời giảng dạy và những phép lạ của Người – mà còn muốn truyền nọc độc từ nơi họ sang người khác. Gọi họ là rắn độc là quá đúng.

    Trước những con rắn độc ấy, đáng lẽ anh mù phải sợ, vì họ có quyền thế về tôn giáo. Họ có thể – nói theo kiểu hiện đại – “dứt phép thông công” anh ngay lập tức, khiến anh bị cô lập giữa những người đồng đạo và đời anh đã khốn khổ sẽ càng thêm khốn khổ. Nhưng anh đã không sợ hãi và càng kêu lớn tiếng hơn: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” Sự can đảm ấy của anh đã được Đức Giê-su chúc lành: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Và thế là “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.” Viết tới đây, kẻ viết bài này chợt nhớ tới một lần khác, Đức Giê-su chữa lành cho một người mù bẩm sinh (Ga 9, 1-41):

    Cũng lại là đám người Pha-ri-sêu tra vấn, vặn hỏi bệnh nhân (kể cả cha mẹ anh ta nữa) đủ điều, và cuối cùng trục xuất anh ra khỏi hội đường (“dứt phép thông công” đấy!). Nghe tin ấy, Đức Giê-su gặp lại anh mù, Người hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh hỏi lại: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?” Đức Giê-su trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Anh nói: “Thưa Ngài, tôi tin”. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người” (Ga 9, 35-38). Căn cứ trên sự kiện hiển nhiên đó, Đức Ki-tô khẳng định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9, 39). Lời nói này “chạm nọc” đám người Pha-ri-sêu, khiến họ “có tật thì giật mình”, liền ngớ người ra và hỏi lại: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” khiến “Đức Giê-su bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9, 40-41).

    Rõ ràng Đức Ki-tô muốn cho đám người Pha-ri-sêu biết rằng nếu phạm tội vì không biết đó là tội – phạm tội do vô tình (vì bị mù, không xem thấy) thì không cấu thành tội; còn nếu đã biết đó là tội, đã dám tư xưng là “chúng tôi thấy”, mà còn cố ý phạm, thì mới thực sự là có tội. Như thế thì cũng chẳng khác nào nói: Anh mù vì tin mà được sáng mắt, nhưng nhóm người Pha-ri-sêu mắt vẫn sáng, nhưng không tin, nên cũng chẳng khác kẻ đui mù. “Thấy mà không thấy – không thấy mà thấy”, đó là một nghịch lý trong cuộc sống, nhưng lại là “chuyện thường ngày ở huỵện”. Trường hợp thánh Phao-lô với biến cố Đa-mát là một minh hoạ sống động: Khi còn sáng mắt (thể lý) nhưng vì nhiễm phải giáo lý sai lầm của Pha-ri-sêu nên Sao-lô cũng chẳng khác chi người mù (mù nội tâm). Đến khi bị ánh sáng chói loà làm mù mắt (mù thể lý) ở Đa-mát thì lại là lúc được sáng mắt sáng lòng (tâm linh). Cuối cùng, cả mù thể lý lẫn mù nội tâm đều được chữa lành và trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất Phao-lô.

    Thật là thú vị! Những người “sáng mắt” thuộc Kinh Thánh làu làu, từng đứng trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy, lúc nào cũng huênh hoang “chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê”, thì lại không biết gì về Con Người đã được ông Mô-sê (nhờ được Thiên Chúa mạc khải) tiên báo (“Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” – Ga 9, 28-29). Trong khi đó, một anh mù từ lúc mới sinh (chắc chắn không được học hành và giả thử có được học thì cũng chẳng tới đâu) lại biết về Thiên Chúa còn hơn cả đám người sáng mắt (“Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” – Ga 9, 30-33). Chẳng cần lý luận đanh thép, lý thuyết sâu xa, mà chỉ căn cứ vào thực tế (anh được chữa khỏi bệnh mù), mà anh mù đã khiến đám Pha-ri-sêu lâm vào thế bí, phát khùng (“Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” – Ga 9, 34), và đành giở chiêu quyền lực trục xuất anh khỏi hội đường! Thế đấy! Như vậy thì ai sáng, ai mù thực sự đây?

    Chung quy thì cũng chỉ vì vấn đề cốt tuỷ: đức tin. Anh mù được chữa lành bởi anh tin vào Con Người; mà cũng không phải chỉ riêng anh, tất cả những người bệnh hoạn, tật nguyền đến với Đức Ki-tô đều được chữa lành vì “Đức tin của con đã chữa lành con” (Mc 5, 34). Còn đám người Pha-ri-sêu thì mù vẫn hoàn mù, bởi họ không tin vào Con Nguời, mà chỉ tin vào những giáo lý sai lầm như thánh Phao-lô trước biến cố Đa-mát vậy. Nói đi nói lại không gì bằng mượn chính ngay lời người mắc bệnh “mù nội tâm“  và được chữa lành, để minh hoạ: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!”  (Ep 5, 8-14).

    Ôi! Lạy Chúa! Cảnh người mù kêu cầu Chúa chữa lành, bị bọn người Pha-ri-sêu quát nạt, tra vấn vặn hỏi đủ điều, vẫn hằng xảy ra trong thế giới hôm nay. Là những người theo Chúa, nhưng chúng con vẫn còn mê ngủ, vẫn luôn “cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối” (Ep 5, 11), mà chẳng thấy được ánh sáng của Lời Chúa. Chúng con chẳng muốn quan tâm tới những người nghèo khổ, bệnh tật, những kẻ bị áp bức bất công, mà chỉ thích bắt chước những người Pha-ri-sêu chú trọng đến những hình thức hào nhoáng bên ngoài (những cái áo loè loẹt, những bộ vó sặc sỡ…), và nhất là bo bo thủ cựu với những quan niệm hủ hoá lỗi thời… Phải chăng chúng con thiếu đức tin và nghèo tình thương? Và cũng chính vì thế mà chúng con mắt vẫn sáng, tai vẫn thính, miệng vẫn nói năng lưu loát, nhưng lại thực sự là những kẻ đui mù câm điếc tâm linh.

    Ôi! “Lạy Chúa, Chúa muốn cho mọi người nhận biết Chúa chính là lẽ sống của mình, và Chúa không hề bỏ rơi con cái Chúa. Xin ban cho các anh chị em yếu đau bệnh tật và đang gặp hoạn nạn có thêm nghị lực để phấn đấu. Giữa cơn đau khổ, xin cho họ nghiệm thấy rằng có Chúa luôn luôn ở kề bên, nhờ những anh chị em hết tình nâng đỡ và nhờ niềm trông cậy họ đặt nơi Đức Ki-tô. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.” (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho bệnh nhân).

    Về mục lục

    .

    LÒNG TIN CỦA ANH ĐÃ CỨU CHỮA ANH

          Fx Đỗ Công Minh

              Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Maccô kể lại việc Chúa chữa cho một người mù được sáng mắt. Người ăn mày  bên vệ đường. Anh chưa từng nhìn thấy Chúa, chưa có dịp nào được gặp Người, nhưng cũng đã từng nghe biết về Người, Đấng đã từng làm phép lạ chữa lành cho những ai biết kêu cầu, tin tưởng vào Người. Anh nghe nói Đức Giêsu Na- Gia- Rét đang di chuyển trên  đường ra khỏi thành Giê-Ri-Cô, anh lớn tiếng kêu :”  Lạy Ông Giêsu, con vua ĐaVít, xin dủ lòng thương tôi” . Nhưng những người  bên cạnh anh quát nạt anh. Họ có thể là những người biết Đức Kitô nhưng ngăn cản anh đến với Người vì mong muốn được Người ưu ái, càng ít càng tốt, một thái độ theo Chúa vụ lợi. Cũng có thể họ là những người không tin Chúa  nên không muốn có thêm một người chạy đến với Người. Anh mù Bartimê không những không im theo lời những người chung quanh dọa dẫm, quát nạt mà còn lớn tiếng :”Lạy con vua Đa Vít, xin dủ lòng thương tôi “. Đức Kitô từ xa  vẫn nhận ra lời kêu cầu của anh. Người gọi anh đến. Mừng quá khi nghe có người nào đó nói:” Cứ yên tâm, đứng dậy. Người gọi anh đấy “. Thật thế, anh đã đứng ngay dậy, vứt bỏ tấm áo chòang, chạy đến cùng Chúa. Một thái độ thật dứt khóat khi được Chúa gọi . Khi được hỏi : ” Anh muốn tôi làm gì cho anh ?” , người hành khất mù  thưa :” Xin cho tôi  nhìn thấy được “. Chúa đã chữa cho anh. Người nói “ Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh “. Và anh bước đi theo Người trên con đường Người đi .

            Những người đi bên cạnh Chúa hôm ấy hẳn phải rất ngạc nhiên, thậm chí bực tức xen lẫn sợ hãi. Bởi trước đó họ không tin Người có quyền năng như thế. Họ ganh ghét, đố kỵ vì họ không thể nào tin rằng một người ở cùng quê Na-Gia-Rét  với họ, lại có thể làm những việc lạ lùng như vậy. Đối với những người lãnh đạo trong dân Do Thái thì họ sợ mất ảnh hưởng. Họ sợ dân chúng không còn chấp nhận họ, vì chính cuộc sống bê bối của họ. Họ còn sợ Đức Kitô đến không chỉ chữa lành bệnh tật thể xác mà còn làm cho mọi người khác được mở mắt, mở tai, mở trí, mở lòng về phương diện tâm linh, trí hiểu. Khi đó mọi người sẽ nhận ra những điều tiêu cực, tội lỗi, những điều  xấu xa họ đã từng làm. Không còn kiêng nể, tuân phục họ.

          Con đã từng nghe đọan Tin Mừng này, và trong trao đổi, học hỏi, có lúc con đã lên án những kẻ ngăn cản anh mù đến với Chúa là cứng lòng, là vị lề luật, là kém lòng tin.  Không như anh mù, chưa từng gặp Chúa, nhưng vẫn tin và mong ước được Người chữa lành,  anh tin như thế nên đã mạnh dạn “Xin cho tôi nhìn thấy được “. Nhìn lại mình, con cũng nhận ra, con cũng không  có được lòng tin như anh mù. Bản thân con cũng lại đã từng có lúc ngăn cản anh chị em con đến với Chúa, bằng cuộc sống thiếu gương mẫu trong đời sống đạo. Những lần rủ rê nhau thay vì đến nhà Chúa để đón nhận Lời Người, lại lao vào những thú vui trần thế. Có những lần, thay vì tham gia các sinh họat đạo đức, học hỏi Lời Chúa hay làm việc từ thiện bác ái lại phung phí thời gian vào những việc vô bổ. Trong gia đình, không nhắc nhở khuyến khích con cái đi đến với Chúa qua việc dâng Thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích. Không biết hy sinh thời giờ để theo Chúa.

           Lạy Chúa,

          Xin cho con, khi nhận ra thiếu sót của mình, con phải thay đổi đời sống đạo, nhờ đó con nhận ra lòng  nhân từ của Chúa, nhận ra con đường Chúa đi hầu con được kết hiệp với Chúa. Chắc chắn khi ấy, nếu con kêu cầu, Chúa sẽ nhận lời chữa lành bệnh tật thân xác lẫn linh hồn con. Chúa sẽ mở mắt, mở tai, mở trí, mở lòng cho con, hầu con xứng đáng bước theo chân Người trên cuộc đời trần gian này . AMEN .

    Về mục lục

    .

    ĐẾN VỚI CHÚA

    Bông hồng nhỏ

    Hai anh bạn khiếm thị ngồi trò chuyện vui vẻ. Một anh hớn hở khoe:

    • Tớ mới quen nhỏ kia dễ thương lắm.
    • Đẹp nữa?
    • Ừ, đẹp.
    • Sao cậu biết?
    • Nghe giọng nói dịu dàng của nhỏ là tớ biết.

    Người khiếm thị cảm nhận bằng đôi tay và thính giác của họ rất tốt.

    Hôm nay, anh mù Bartimê vẫn ngồi ăn xin bên vệ đường ngoài thành Giêrikhô như mọi ngày. Từ lâu anh đã nghe danh tiếng của Thầy Giê-su và những khao khát mong mỏi được gặp. Bởi thế, vừa nghe nói Đức Giê-su Nadarét đang đi qua, anh liền kêu lên rằng: “Lạy ông Giê-su, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10,47). Tiếng kêu của anh không át được tiếng đám đông ồn ào. Nghe anh kêu, đám đông chẳng động lòng thương giúp đỡ lại còn quát nạt bắt anh im đi. Càng bị cấm cản, khao khát trong anh càng mãnh liệt, anh tin rằng chỉ có Thầy Giê-su mới cho anh nhìn thấy ánh sáng, vì thế anh càng kêu lớn tiếng hơn. Đám đông thờ ơ với nỗi bất hạnh của anh nhưng Thầy Giê-su thì lưu tâm đến anh. Thầy nghe anh kêu xin tha thiết, Thầy hiểu khát khao cháy bỏng trong anh. Và Thầy đáp lại khát mong của con người đáng thương này. Thầy Giê-su đã đứng lại và nói với đám đông: “Gọi anh ta lại đây!” (Mc 10,49). Thầy đã để cho đám đông gọi anh. Đó có phải là những người mới đây thôi đã quát nạt, ngăn cản anh đến với Thầymà nay lại đến với anh mù mà bảo: “Cứ yên tâm đứng dậy, Thầy gọi anh đấy!”. Ở đây ta thấy có một sự thay đổi và đón nhận. Nếu như hằng ngày ta nhìn thấy anh mù cầm gậy mò mẫm trên con đường để đi ăn xin, hẳn ta sẽ phải hết sức kinh ngạc trước phản ứng của anh khi Thầy gọi và “Anh liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su” (Mc 10,50). Có bao giờ ta dứt khoát vứt bỏ tất cả những gì ta có để đến với Chúa? Khi nghe Tình Yêu gọi mời tha thiết, ta có đứng phắt dậy, rời bỏ lề đường quen thuộc để đến cùng Chúa?

    Thầy Giê-su gọi anh mù đến với Thầy. Anh đã đến với Thầy và để cho Thầy thấy tất cả những bất toàn, yếu đuối nơi mình. Anh làm cho Thầy rung động với tất cả con tim. Tâm hồn Thầy cảm thấu nỗi đau, sự bất hạnh mà anh đã gánh chịu suốt bao nhiêu năm qua. Thầy hiểu anh cần điều gì nhưng vẫn hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” (x.Mc 10,51). Nỗi khát khao vỡ òa thành lời cầu xin tha thiết. Thầy Giê-su đã chữa lành cho anh không chỉ bằng tình thương và quyền năng mà còn vì lòng tin mãnh liệt nơi anh. Đám đông đã không nhận ra một con người đáng thương đang ở giữa họ nhưng trái tim của Thầy Giê-su đã yêu thương anh từ rất lâu rồi. Thầy đã cho anh được sáng mắt lại còn cho anh đi theo. Có ai hạnh phúc hơn anh? Bây giờ, anh càng xác tín hơn niềm tin vào Thầy Giê-su và “đi theo Người trên con đường Người đi”.

    Lạy Chúa Giê-su yêu mến! Con xin đến với Chúa với tất cả những yếu đuối và bất toàn nơi con: mù lòa, câm điếc, bại tay,… Con để cho Chúa nhìn thấy con đáng thương mà không ngại ngùng xấu hổ. Bởi con tin vào trái tim đầy thương cảm của Chúa, ánh mắt yêu thương của Chúa nhìn con, đón nhận con và chữa lành con. Xin Chúa giúp con sau khi được Chúa xót thương cũng biết yêu thương anh chị em mình, để từng ngày con vui say trên con đường theo Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY

    Lm. Simon Trần Văn Đức

    Kính thưa ông bà và anh chị em,

    Sự bất hạnh đáng thương của con người chính là mù lòa. Bởi mù, nên họ không thể nhìn thấy những vẻ đẹp của thiên nhiên, nhất là vẻ đẹp của những người thân yêu… Thế nhưng, cái đáng thương hơn mù lòa thể xác đó là cái mù lòa nơi tâm hồn. Người mù tâm hồn là họ mù nhưng họ không chấp nhận mình mù. Họ vẫn bước đi trong vùng tối của tội lỗi, của nhưng đam mê thể xác mà không nhận ra cái sai trái của mình để mà sửa đổi. Họ vẫn cố chấp sống theo quan điểm của mình để rồi gây nên biết bao nhiêu là đau khổ cho những người chung quanh.

    Thực tế cho thấy, trong các vụ án trộm cắp, lường gạt, đâm chém, hiếp đáp, ngoại tình,… chúng ta có thấy thủ phạm là người mù không? Trong số những dân chơi cuồng quay nơi các vũ trường nghiện ngập ma tuý, thuốc lắc, hàng “đá”, chúng ta có bắt gặp bóng dáng những người khiếm thị nào không? Trước vành móng ngựa xét xử các quan tham ô, có lẽ chúng ta cũng khó mà tìm được một bị cáo nào là kẻ mù loà ở đấy; có chăng chỉ toàn là những người có cả hai mắt sáng tỏ!!! Vậy thì ai “bất hạnh” hơn ai đây? Người mù hay người sáng?

    Hôm nay, Thánh sử Marcô thuật lại cho chúng ta thấy một người mù tên là Bartimê đang ngồi ăn xin bên vệ đường thành Giêricô. Không biết anh có thuộc nhóm “Hội Người Mù” hay không! Song thiết tưởng anh là một con người chân thành khiêm tốn. Anh biết rõ thân phận của mình, nên anh sống bằng những gì kiếm được từ lòng hảo tâm của người khác. Mặc dù nghèo phải đi ăn xin, nhưng cuộc đời của anh thanh thoát an lành. Anh sống vô tư giản dị, không bon chen giành giật, không tính toán hơn thua, không đua đòi ăn diện. Anh cũng không vợ nọ con kia, không rượu bia các thứ. Có lẽ anh cũng chưa bao giờ phạm vào những tội “đội sổ” của con người thời đại hôm nay: buôn gian bán lận, trốn thuế, tham ô, móc ngoặc, hối lộ, hay rút ruột các công trình xây dựng… Suốt cuộc đời của anh, chắc hẳn anh cũng chưa hề lường gạt, bóc lột hay hãm hại ai. Tắt một lời, anh sống hoàn toàn ngay chính từ bên trong ra bên ngoài.

    Hơn thế nữa, trong khi rất nhiều người sáng đôi mắt thể lý, lại mù loà trước ánh sáng vô hình, ánh sáng niềm tin. Vì thiếu ánh sáng niềm tin nên cả đám đông dân chúng đi theo Chúa Giêsu suốt cuộc hành trình đời mình mà không nhận ra Chúa Giêsu là ai. Chỉ có anh mù Bartimê lại “thấy tỏ tường” Chúa Giêsu là ai. Bởi anh biết, cho nên khi anh van xin Chúa không phải danh xưng “Giêsu Nazareth”, mà dùng danh xưng “Con Vua Đavít” – một danh xưng mà cả dân Do Thái đều hiểu đó là tước hiệu Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế. Đám đông càng ngăn cản thì anh càng can đảm kêu to hơn: “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót tôi”, anh tin chắc rằng chỉ có Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế mới phục hồi sự sáng mắt cho anh. Do đó, khi được Chúa Giêsu hỏi anh muốn xin gì, anh không xin Chúa Giêsu cho anh đúng mấy tờ vé số, cũng không xin Chúa Giêsu cho anh bố thí, như anh đã từng nói với những người qua lại, mà anh xin Chúa Giêsu cho anh được thấy, tức là được sáng mắt. Nếu anh không tin Chúa Giêsu là Đấng có thể mở được mắt cho nguời mù bẩm sinh, thì anh đã không xin Ngài điều này.

    Dẫu biết rằng, anh chưa một lần được gặp gỡ hay diện kiến Đức Kitô; chưa một lần được trực tiếp nghe những lời Ngài giảng dạy, cũng chưa một lần được diễm phúc chứng kiến các phép lạ Ngài đã làm; anh chỉ mới được nghe người ta bàn tán nói về con người của Giêsu; thế mà anh đã tin. Anh tin một cách mãnh liệt. Và nhờ niềm tin đó, anh đã gặp được hiện thân lòng nhân hậu của Thiên Chúa, hiện thân của những mối phúc thật “Phúc cho những ai không thấy mà tin“. Cũng vì lẽ đó mà anh được phục hồi sự sáng mắt thể lý, quan trọng hơn là cặp mắt đức tin nơi anh vốn đã sáng nay sáng tỏ hơn. Điều đã được Chúa Giêsu khẳng định: “Đức tin của anh đã chữa anh”.

    Kính thưa ông bà và anh chị em,

    Chúng ta điều có đôi mắt thể lý sáng, đó là hồng ân Chúa ban cho chúng ta nên chúng ta phải biết quý trọng và cảm tạ Chúa. Thế nhưng, nhìn lại cuộc đời của mình, chúng ta thấy hổ thẹn trước anh mù Bartimê,đôi mắt tâm hồn của chúng ta nhiều khi trở nên mù lòa thực sự.

    Vì mù lòa mà nhiều người trong chúng ta, nhất là các bạn trẻ đã chạy theo xu hướng sai lầm của thời đại, quá tự do về giới tính, quan hệ nam nữ cách bừa bãi dẫn đến hủy hoại tâm hồn và thể xác.

    Vì mù lòa mà nhiều người đam mê rượu chè, ham thích đỏ đen đã hủy hoại thanh danh không chỉ cho bản thân mình, mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình, bạn bè.

    Vì mù lòa một chút bổng lộc ở thế gian, mà nhiều người đã bán mình làm tôi cho ma quỷ, trở thành một Giuđa bán Chúa và làm hại tha nhân.

    Vì mù lòa cố chấp mà nhiều người sống bất khoan nhượng với gia đình, với sớm làng gây ra biết bao nhiêu là chia rẽ….

    Xem ra anh mù Bartimê thật có phúc vì anh ý thức được sự mù lòa của mình. Anh đã vượt qua mọi trở ngại để chạy đến nương nhờ lòng thương xót của Chúa. Ước gì mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ, với hành vi đấm ngực ăn năn đích thực, chứ không phải là máy móc, vụ hình thức mà là sự nhức nhối của con tim đầy nuối tiếc về sự mù lòa tâm linh của mình dẫn đến biết bao điều sai quấy, gây lo âu bất an cho tâm hồn, và gây đau khổ cho gia đình.

    Ước gì chúng ta luôn khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của mình để cần Chúa chỉ đường dẫn lối, và chữa lành khỏi những u mê của cõi lòng, để chúng ta luôn hân hoan bước đi trong ánh sáng Tin Mừng, của chân thiện mỹ, của nẻo chính đường ngay. Ước gì cặp mắt của tâm hồn chúng ta luôn đủ sáng để nhận ra đâu là thiện, là ác, để luôn hành động đúng theo lương tri của một con người. Amen.

    Về mục lục

    .

    HAI MẶT

    Lm Vũdình Tường

    Cuộc sống thường có hai mặt, phải và trái. Điều này không có nghĩa là phải trái luôn trái nghịch nhau. Trong nhiều trường hợp phải trái bổ túc nhau làm cho sự kiện hoặc vật thể trở nên trọn vẹn hơn. Hai mặt phải trái của lá cây, hai mặt phải trái của xấp vải, hai mặt phải trái của tờ giấy. Phúc Âm hôm nay đưa ra nhiều hình ảnh phải trái xem ra có vẻ trái nghịch nhau. Cảnh trái nghịch rõ nhất là ánh sáng và bóng tối, hình ảnh người mù ngồi vệ đường và hình ảnh người sáng mắt theo Đức Kitô, hình ảnh đám đông ngăn cản anh đến gặp Đức Kitô và hình ảnh một mình anh cô đơn giữa đám đông ồn ào. Hình ảnh đám đông coi thường anh và hình ảnh Đức Kitô tỏ lòng xót thương anh. Đa số chúng ta thích chọn theo í kiến của đa số, í kiến của đám đông và bị ảnh hưởng đám đông lôi kéo. Người mù chọn đứng riêng bởi anh biết rõ anh muốn gì. Anh chọn theo thiểu số, thực ra một mình anh một í và điều đó khiến anh tách biệt khỏi đám đông. Đám đông dùng sức mạnh đa số lấn át anh, cấm anh lên tiếng. Anh đã không im tiếng, trái lại, anh còn la to hơn trước. Bị xã hội chê cười, chối bỏ và anh đã sống cảnh đó trong bao năm. Anh nhất quyết gặp Đức Kitô để có đời sống mới tốt lành hơn. Anh biết đám đông không giúp anh, mình anh không đủ khả năng thay đổi kiếp sống đoạ đầy nên anh quyết tâm gặp Đức Kitô xin Ngài giúp. Nghe người ta ồn ào nói về Đức Kitô, anh biết Ngài sắp đi ngang qua và anh lên tiếng nài van: ‘Lậy Đức Kitô, con Vua Đavít, xin thương đến con’ c.47.

    Chúng ta không biết bởi đâu anh mù biết Đức Kitô thuộc dòng dõi vua Đavít nhưng vương hiệu hoàng tộc đó đóng vai trò quan trọng vào cuối đời của Đức Kitô. Đám đông đón Ngài vào thành thánh Jerusalem như một quân vương thắng trận trở về. Philatô đối chất Đức Kitô là Vua dân Do Thái và tấm bảng ghi phía trên đầu thập tự ‘Vua Dân Do Thái’. Chúng ta cũng không rõ từ đâu anh mù nhận biết danh tánh Đức Kitô và tin chắc Đức Kitô có thể làm cho anh sáng mắt. Có lẽ anh nghe người ta nói nhiều về Đức Kitô và lòng anh ao ước được gặp Ngài và mong Ngài chữa mắt cho. Anh bị mù mắt, mù thể lí nhưng tâm linh anh không mù, mắt tâm linh anh sáng, nhận biết Đức Kitô, con vua Đavít, tâm anh tỏ bởi anh nhận biết sự thật. Xã hội coi khinh anh nhưng không thể cấm anh đến gặp Đức Kitô, nghe tiếng anh kêu gào Đức Kitô lên tiếng cứu anh. Đám đông trước là rào cản cấm anh lên tiếng, giờ họ lại hỗ trợ khuyến khích anh. Nghe tiếng Đức Kitô mời gọi anh vui mừng nhảy như sáo đến gặp Ngài. ‘Anh muốn ta làm gì cho anh?’ Đức Kitô hỏi thế. Anh biết rõ điều anh cần, anh xin cho được sáng mắt. Lời xin thật rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc. Có người xin được quyền thế, kẻ xin được giầu sang, kẻ xin được chức tước. Anh xin rất thực tế. Xin được sáng mắt và Đức Kitô đã thoả mãn lòng anh mong ước. Hành động vất áo choàng là dấu chỉ từ nay anh sống cuộc sống mới, trong sáng, thanh tao, không còn lệ thuộc vào chiếc áo choàng che nắng, chắn mưa nhưng anh có Đức Kitô dẫn đường, có bầu trời trong xanh bao bọc và đồng hành với môn đệ Đức Kitô. Đức Kitô trên đường vào thành thánh và cũng nơi đây Ngài trải qua đau khổ, cứu độ nhân trần. Người mù giờ sáng mắt chứng kiến những đau khổ Đức Kitô trải qua vì Ngài đến ban hy vọng, ủi an, xoá tan bóng tối. Chính anh cảm nhận điều đó trong đời và tiếp tục chứng kiến lòng nhân từ Đức Kitô qua đau khổ Ngài tự nguyện lãnh nhận.

    Chúng ta tự xét mình xem mình là người dẫn người khác đến Đức Kitô hay là rào cản ngăn người khác đến nhận ơn lành Chúa.

    Về mục lục

    .

    LÒNG TIN CỦA ANH ĐÃ CỨU CHỮA ANH.

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Các đề tài liên quan đến các khuyết tật như câm, điếc, mù lòa… xem ra dễ trình bày và hình như cấu trúc xưa nay ít đổi thay. Trước hết đề cập đến các nổi khổ đau của những người mang khuyết tật về thể lý.

    Nào là chuyện câm thì không thể, đúng hơn là rất khó giao tiếp với tha nhân, rồi chuyện mù thì không được diễm phúc nhìn thấy ánh sáng mặt trời, không thấy được vẻ đẹp của hạt sương long lanh trên cành hoa, không thấy được khuôn mặt của người đối diện, vân vân và vân vân. Rồi sau đó lại triển khai nổi khốn khổ của những người mắc các khuyết tật tinh thần hay tâm linh như chuyện có mắt mà như mù, có tai mà chẳng biết nghe hay không thèm nghe…và dĩ nhiên sẽ kéo theo những mối nguy hại cho bản thân họ hay cho xã hội.

    Trong văn thơ có thể loại được gọi là “huề vốn” nghĩa là có nói cũng không thêm gì. Một ví dụ: “Đứng bên này sông thấy bờ bên kia sông. Bơi qua bờ bên kia thì thấy bờ sông bên này. Bơi ra giữa sông, hụp đầu xuống thì không thấy bờ sông nào.” Đã là người thì không một ai đành cam chịu cảnh mù lòa khi còn khả năng làm sáng đôi mắt. Cũng chẳng một ai thấy dễ chịu khi đang sáng mắt mà bị chê trách là đui mù. Xin cũng được dùng kiểu nói “huề vốn” để vào thẳng vấn đề, đúng hơn là để luận bàn đôi điều về điều gọi là “thấy”. Ai là người đang bị mù? Thưa đó là những người không thấy.

    Đó là những ai không thấy người anh chị em mình đang túng cực, nghèo khổ mong kiếm cho được ba chục ngàn mỗi ngày để sinh sống, chưa kể nếu có người thân phải cưu mang. Đó là những ai không thấy người anh chị em của mình đang bị bóc lột sức lao công do bởi những người lắm tiền, nhiều quyền trong xã hội. Đó là những ai không thấy anh chị em của mình đang bị đối xử bất công do bởi những người nắm quyền bất nhân hay do bởi các luật lệ bất minh. Đó là những ai không thấy nền giáo dục nước nhà đang loay hoay trong ngõ cụt vì những cơ chế phi lý, lạc hậu, lỗi thời…Đó là những ai không thấy con thuyền của một vài Giáo Hội địa phương xem ra đang vất vả lướt sóng không nguyên chỉ vì bão tố thế gian mà còn có thể vì quá nặng nề với các “lễ hội” bên ngoài, để rồi dù không phải là xao lãng, nhưng chưa xem trọng nghĩa vụ sống yêu thương, làm chứng cho sự thật, bảo vệ công lý, loan truyền Tin mừng… Đó là…

    Thế nhưng căn cứ vào đâu để xác định rằng ai đó đã và đang không thấy? “Phản ứng hay hiệu ứng” là một trong những biểu hiện cho biết là ai đó đang còn thấy. Với người hấp hối hay người gặp một sự cố nặng về thể lý thì người ta thường lấy đèn soi vào mắt hay một kiểu cách vẩy ngón tay sát mắt nạn nhân để xem phản ứng đôi mắt của họ. Khi thấy được vẻ đẹp một cánh hoa, hay một quang cảnh kỳ lạ thì người ta không thể không có phản ứng cho dù có thể mỗi người một cách khác nhau. Một cái thấy được gọi là thấy, khi và chỉ khi đối tượng được thấy gây được một hiệu ứng nào đó nơi người thấy nó. Cũng thế, chúng ta chỉ có thể gọi là thấy, khi những điều đập vào mắt chúng ta làm phát sinh trong chúng ta những tâm tình như vui, buồn, hoan hỷ, giận dữ, đồng cảm, đồng thuận hay bất bình, phẫn nộ…

    Nếu làm thống kê thì con số người không thấy có lẽ là rất ít. Dù không thể đòi hỏi cách tuyệt đối, nhưng thử hỏi trong số những người được gọi là có thấy thì được bao nhiêu phần trăm là thấy đúng sự vật hiện tượng, thấy đúng bản chất của đối tượng như nó là? Mỗi khi đã thấy rõ, thấy đúng thì người ta sẽ dễ có phản ứng chính xác, hợp lý và cả hợp tình. Một nguy hiểm và cũng là vấn đề cần đặt ra, đó là chúng ta chỉ thấy cách phiếm diện, một chiều mà cứ tưởng rằng mình thấy đúng, thấy rõ. Vì thế các phản ứng của chúng ta nhiều khi vừa thiếu chính xác, lại vừa thiếu lý, thiếu tình. Dĩ nhiên với phận phàm hèn, không một ai dám to gan cho rằng mình có thể thấy đúng, chính xác cách hoàn toàn. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta có thể lơ là việc tìm cách để thấy các sự vật, hiện tượng ngày một đúng đắn và chính xác hơn, vì đây là một tiền đề không thể thiếu để có được những phản ứng hợp lý, hợp tình.

    “Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Câu nói của Chúa Giêsu với anh mù Bactimê trong ngữ cảnh bài Tin mừng đề cập trực tiếp đến thái độ cậy trông của anh Bactimê vào tình yêu và quyền năng của Người. Và thái độ cậy trông ấy được thể hiện bằng việc anh ta cương quyết gặp Chúa Giêsu bất chấp mọi trở ngại. Tuy nhiên câu nói ấy cũng cho chúng ta chiếc chìa khóa giải quyết vấn nạn thấy. Để có thể thấy và thấy đúng thì cần có lòng tin. Chúng ta dễ đồng thuận với nhau về sự thật này nếu chấp nhận rằng tin là nhìn với cái nhìn của Thiên Chúa. Thế nhưng lại phải tự hỏi với nhau rằng khi nào thì chúng ta đang nhìn với cái nhìn của Thiên Chúa? Quả thật, để tìm được câu trả lời khả dĩ có tính thuyết phục thì không mấy dễ. Tuy nhiên, là Kitô hữu, chúng ta biết rằng những ai ở trong ân sủng, tức là có sự kết hiệp mật thiết với Chúa thì sẽ biết cách nhìn như Chúa nhìn. Trong vấn đề này, các nhà tu đức chỉ dạy chúng ta kế sách tuyệt với đó là hãy chuyên chăm cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, nếu Chúa ở trong hoàn cảnh này của con, Chúa sẽ thấy sự kiện, vấn đề này ra sao?”. Qua đời sống câu nguyện, nỗ lực kết hiệp với Chúa thì ta sẽ biết nhìn như Chúa nhìn.

    Một kinh nghiệm dân gian có thể nói là khá chính xác: “Con chim sắp chết hót tiếng bi ai. Con người sắp chết nói lời lẽ phải”. Để nói được lời lẽ phải, thì người cận kề với cõi đời sau hẳn đã thấy được chân tướng các sự vật hiện tượng cách nào đó. Tin Mừng cho ta hay trong cuộc đời công khai rao giảng, Chúa Giêsu luôn hướng về cái giờ của Người, đó là giờ mà Người sẽ bỏ thế gian này mà về cùng Cha bằng cái chết trên thập giá. Và đây chính là một trong những chìa khóa giúp Chúa Giêsu nhìn thấy các sự vật hiện tượng theo cái nhìn của Cha trên trời, để rồi có được những cách thế phản ứng thuận ý Cha, đẹp lòng Cha (x.Mt 3,17; Mc 1,11).

    Vì sao còn có những phản ứng chưa thấu lý và đạt tình nơi Kitô hữu, giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ? Một trong những nguyên nhân đó là vì ta chưa thấy đúng sự vật hiện tượng. Vì sao ta chưa thấy đúng sự vật hiện tượng? Vì ta chưa biết nhìn như Chúa nhìn. Chưa biết nhìn như Chúa nhìn, ngoài những lý do khách quan thì rất có thể vì ta chưa thực sự gắn bó thiết thân với Chúa và cũng ít nghĩ đến cái giờ ta rời bỏ thế gian.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 30 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXX này có chung một chủ đề: tấm lòng của Thiên Chúa đối với nỗi khốn cùng của nhân loại.

    Gr 31: 7-9

    Bài Đọc I được trích từ sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Vị ngôn sứ ca ngợi tấm lòng ưu ái của Đức Chúa. Ngài đã bày tỏ tấm lòng phụ tử đối với những người lưu đày khi đích thân dẫn đưa họ trở về quê cha đất tổ.

    Dt 5: 1-6

    Thư gởi tín hữu Do thái so sánh Đức Giê-su với vị thượng tế Cựu Ước. Đức Giê-su là vị Thượng Tế Tân Ước thập toàn biết cảm thông những yếu đuối của con người.

    Mc 10: 46-52

    Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su đã lắng nghe lời khẩn cầu đầy lòng tin của anh mù thành Giê-ri-cô và đã đáp trả ước nguyện của anh.

    BÀI ĐỌC I (Gr 31: 7-9)

    Bản văn nầy được trích từ chương 31 sách Giê-rê-mi-a. Chương 31 nầy liên kết với chương 30 trước đó để hình thành nên một đơn vị. Đây là một trong những bản văn cảm động nhất mà vị ngôn sứ viết để ca ngợi tấm lòng phụ tử của Thiên Chúa.

    1. Bối cảnh:

    Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem vào khoảng những năm 626-587 trước Công Nguyên. Ông đã chứng kiến những năm tháng bi thương của đồng bào ông dưới gót dày xâm lược của đế quốc Ba-by-lon, nào cảnh nước mất nhà tan, cảnh thành thánh đổ nát và cảnh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem hoang phế. Đây là thảm họa mà ông có sứ mạng báo trước, nhưng đồng bào ông đã để ngoài tai những lời cảnh báo của ông.

    Trước khi những biến cố bi thảm nầy xảy đến, ông đã trải qua một thời kỳ hạnh phúc dưới triều đại của vua Giô-si-gia-hu (522-509 tCn.). Chính vào thời kỳ nầy mà bản văn hân hoan nầy được viết, chủ yếu liên quan đến những dân cư Ga-li-lê và Sa-ma-ri. Vào thế kỷ trước đó, hai miền này đã bị đế quốc Át-sua xâm chiếm và một phần dân cư đã bị dẫn đi lưu đày. Ấy vậy, đế quốc Át-sua trở nên suy yếu và không còn đủ sức bành trướng. Nhờ đó, vua Giô-si-gia-hu mới có thể thực hiện công cuộc canh tân cải tổ toàn diện của mình trên toàn cõi đất nước.

    1. Niềm ước mơ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a:

    Ngôn sứ Giê-rê-mi-a tràn đầy hy vọng. Phải chăng giờ phục hưng Ít-ra-en và thống nhất dân Thiên Chúa đã điểm? Ông mơ ước, ít ra một sấm ngôn bày tỏ niềm mơ ước này được gặp thấy ở chương 30-31. Cùng chung nhịp với tấm lòng của Thiên Chúa, vị ngôn sứ phác họa niềm cảm xúc của Đức Chúa trước cảnh khốn cùng của con cái Ngài (30: 1-11). Chắc chắn Ngài đã trừng trị họ vì những lỗi phạm của họ (30: 11, 15), nhưng Ngài không bao giờ ngừng yêu thương họ “bằng mối tình muôn thuở” (31: 3). Và Giê-rê-mi-a hình dung Đức Chúa kêu mời muôn dân: “Reo lên mừng Gia-cóp, hãy hoan hô dân tộc đứng đầu chư dân!”. Ít-ra-en được gọi “dân tộc đứng đầu chư dân”, vì dân này đã được Thiên Chúa tuyển chọn, tách riêng ra giữa muôn dân và được Ngài rất mực yêu thương.

    “Nào loan tin, ca ngợi và công bố: Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn lại của Ít-ra-en”“Số còn lại của Ít-ra-en” là những người đã kinh qua gian khổ của cuộc lưu đày, họ sẽ là chất xúc tác đối với toàn dân Chúa chọn. Cũng danh xưng nầy sẽ được dùng để gọi những người lưu đày ở Ba-by-lon vào thế kỷ sau đó.

    1. Ngày trở về:

    “Nầy Ta đưa chúng từ phương Bắc trở về”: Đây là cách nói kinh điển để chỉ ách thống trị của ngoại bang, dù đế quốc Át-sua hay đế quốc Ba-by-lon. “Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng”. Ngay cả những kẻ yếu nhược nhất, thông thường không thể tự mình trở về, Đức Chúa sẽ an ủi và nâng đỡ để không một ai vấp ngã trên đường, vì Đức Chúa là Người Cha tận tình săn sóc: “Vì đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng”. Tên “Ép-ra-im” được dùng để chỉ toàn bộ các chi tộc phương Bắc và tước hiệu “con trưởng” để chỉ đứa con rất mực yêu dấu.

    Niềm ước mơ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không được thực hiện. Đế quốc Ba-by-lon đã thay thế đế quốc Át-sua. Dân Ít-ra-en phải chịu cảnh đời nô dịch này thay thế cảnh đời nô dịch khác. Vì thế, những viễn cảnh tươi đẹp mà vị ngôn sứ phác họa chỉ được ứng nghiệm sáu mươi năm sau thời kỳ lưu đày Ba-by-lon. Chính từ những viễn cảnh tươi đẹp này sẽ được ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ của thời lưu đày Ba-by-lon, lấy lại và khai triển những đề tài chứa chan hy vọng cho những người lưu đày Ba-by-lon. Tuy nhiên, trong trực giác sâu xa của mình, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không bị đánh lừa. Khi mô tả tấm lòng phụ tử của Thiên Chúa: cảm thương thân phận con cái của Ngài, nhân loại vừa tội lỗi vừa đau khổ, vị ngôn sứ đã đem lại cho niềm ước mơ của mình một tầm mức mà chính ông không thể ngờ được, một tầm mức Mê-si-a.

    BÀI ĐỌC II (Dt 5: 1-6)

    Trọng tâm của Thư gởi tín hữu Do thái là sứ vụ của Đức Ki-tô, vị Thượng Tế thập toàn và trổi vượt vô vàn so với vị Thượng Tế Cựu Ước.

    Hai khía cạnh chủ yếu tiêu biểu chức tư tế: một mặt, vị Thượng Tế nào cũng là người được chọn trong số phàm nhân; mặt khác, ông là người của Thiên Chúa, người trung gian giữa con người và Thiên Chúa. Dưới ánh sáng của hai khía cạnh nầy, tác giả đối chiếu tấm lòng biết cảm thông với con người yếu đuối và tội lỗi giữa vị thượng tế Cựu Ước và Đức Ki tô, vị thượng tế Tân Ước.

    1. Vị thượng tế Cựu Ước:

    Tác giả nhấn mạnh những phẩm chất phàm nhân của vị thượng tế Cựu Ước: là một con người như bao nhiêu người khác, ông chia sẻ những yếu đuối của con người; ông lại càng cảm thông hơn nữa với những tội lỗi của họ bởi vì chính ông cũng là một tội nhân: “Mà vì yếu đuối, nên ông phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy”. Không ai có thể tự phong cho mình là người của Thiên Chúa, nhưng phải lãnh nhận chức vị nầy từ chính Thiên Chúa. Thật ra, chức thượng tế Cựu Ước là một chức vụ cha truyền con nối. Thiên Chúa đã chọn ông A-ha-ron một lần cho tất cả, bao gồm hậu duệ của ông (Xh 28: 1 và Lv 18: 1-13).

    1. Đức Ki tô, vị Thượng Tế Tân Ước:

    Tác giả sẽ đối lập vị Thượng Tế biết cảm thông của Cựu Ước với Đức Ki tô, vị Thượng Tế biết cảm thương của Tân Ước. Ông tiến hành theo trật tự đảo ngược khi bắt đầu gợi lên lễ tấn phong của Đức Ki-tô với hai đặc tính biệt phân: trước hết, Đức Ki-tô là một vị Thượng Tế có phẩm chất khôn sánh, vì Ngài là Con Thiên Chúa; thứ nữa, Đức Ki-tô là vị Thượng Tế không theo phẩm trật A-ha-ron, nhưng theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.

    Khi bắt đầu gợi lên tính siêu việt của chức tư tế Đức Ki-tô, tác giả thư gởi tín hữu Do thái lưu ý rằng Đức Ki-tô là vị Thượng Tế biết cảm thông tuyệt vời vì Ngài là Đấng Trung Gian trực tiếp lòng xót thương của Thiên Chúa. Chức tư tế độc nhất vô nhị của Đức Ki-tô diễn tả một chuyển động từ trên xuống: tấm lòng Phụ Tử của Thiên Chúa đối với con người.

    Quả thật, chính từ sáng kiến của Chúa Cha mà Chúa Con nhận được lễ tấn phong của mình. Tác giả trích dẫn Tv 2 để làm chứng: “Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con”. Thánh Vịnh nầy là một trong những Thánh Vịnh phong vương. Thời quân chủ Đa-vít, vào ngày lễ phong vương, vị tân vương được công bố là Thiên Tử. Tước hiệu Thiên Tử của vị tân vương là biểu tượng, còn tước hiệu Thiên Tử của Đức Ki-tô mới là đích thực. Tước hiệu Thiên Tử của Chúa Giê-su không chỉ hàm chứa biến cố Nhập Thể (“Cha đã sinh ra con”) nhưng còn tính cách vương đế của Ngài. Đức Ki-tô vừa là vương đế vừa là thượng tế, như vậy làm trọn niềm ước mơ Mê-si-a.

    1. Vị Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê:

    Đức Giê-su không thuộc chi tộc Lê-vi, vì thế, Ngài không thể tự nhận mình là thượng tế theo luật Mô-sê. Chức tư tế của Ngài thuộc phẩm trật khác, phẩm trật Men-ki-xê-đê. Men-ki-xê-đê là một nhân vật huyền nhiệm mà sách Sáng Thế nói về ông (14: 18-20). Ông vừa là “vua thành Sa-lem” (thành Giê-ru-sa-lem tương lai) vừa là “tư tế của Thiên Chúa Tối Cao”. Chính ông đã chúc phúc cho ông Áp-ra-ham và đại diện vị tổ phụ, tiến dâng bánh và rượu lên Thiên Chúa. Còn ông Áp-ra-ham thì biếu tặng cho “con người của Thiên Chúa” nầy một phần mười chiến lợi phẩm của mình.

    Truyền thống đối lập chức thượng tế A-ha-ron với chức thượng tế Men-ki-xê-đê. Chức thượng tế Men-ki-xê-đê thì không giới hạn, không lai lịch, muôn đời, có nguồn gốc thiên giới. Chính ở nơi mẫu thức chức thượng tế Men-ki-xê-đê nầy mà Tv 110 quy chiếu đến: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Tv 110: 4). Thánh Vịnh này, cũng là một Thánh Vịnh phong vương, loan báo vị thượng tế lý tưởng trong tương lai, vì thế, Thánh Vịnh nầy cũng mang một cung giọng Mê-si-a. Những sấm ngôn nầy được ứng nghiệm nơi Đức Ki-tô, Ngài là vị Thượng Tế biết cảm thông với những yếu đuối và tội lỗi của con người và Ngài là Đấng Trung Gian muôn đời bên cạnh Chúa Cha.

    TIN MỪNG (Mc 10: 46-52)

    Việc chữa lành anh mù thành Giê-ri-cô được cả ba sách Tin Mừng nhất lãm thuật lại (tại Mát-thêu, có đến hai người mù được chữa lành). Câu chuyện nầy có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi vì nó đóng chức năng như bản lề giữa lời loan báo thứ ba về cuộc Thương Khó và cuộc khải hoàn của Đức Giê-su vào thành thánh Giê-ru-sa-lem.

    1. Bối cảnh:

    Chúa Giê-su rời thung lũng sông Gio-đan và trực chỉ tiến về thành thánh Giê-ru-sa-lem, băng qua thành Giê-ri-cô. Chính ở thành Giê-ri-cô nầy mà vào thời điểm lễ Vượt Qua những người hành hương từ khắp nơi quy tụ lại trước khi cùng nhau lên thành thánh Giê-ru-sa-lem, cách đó khoảng hai mươi sáu cây số. Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài cùng với đám đông đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Vì thế, việc thánh ký ghi nhận “Đức Giê-su cùng với đám đông dân chúng ra khỏi thành Giê-ri-cô” phù hợp với khung cảnh của khách hành hương trước đại lễ Vượt Qua.

    1. Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và anh mù thành Giê-ri-cô:

    Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và anh mù thành Giê-ri-cô được mô tả rất sinh động và ngoạn mục. Mọi người đang lũ lượt kéo nhau đi trong khi anh ngồi mà lại ngồi một mình bên vệ đường. Tư thế này diễn tả cảnh ngộ của anh, anh hoàn toàn bị gạt ra ngoài cuộc sống, bị khai trừ khỏi cộng đoàn đang nhộn nhịp lên đường lên Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua. Tuy nhiên, anh không cam chịu số phận bị khai trừ của mình. Anh lắng nghe dư luận quần chúng, nhờ đó biết rằng Đức Giê-su đang đi qua đây; vì thế, lòng anh tràn đầy hy vọng. Chắc chắn anh đã nghe nói về việc ông Giê-su Na-da-rét nầy đã mở mắt cho nhiều người mù. Vì thế, anh kêu to và bạo dạn gọi Đức Giê-su là “Con vua Đa-vít”, tước hiệu của Đấng Mê-si-a mà dân chúng từ lâu mong đợi (2Sm 7: 1-17). Nhiều người quát nạt bảo anh im đi. Đám đông trở nên chướng ngại ngăn cản anh đến với Đức Giê-su. Nhưng mặc kệ, không chịu thua cuộc, anh mù lại càng kêu gào hơn nữa át cả những lời quát tháo ngăm đe của đám đông để làm thế nào lời kêu cứu của anh đến được với Đức Giê-su.

    Đức Giê-su cứ để mặc anh mù kêu to tước hiệu Mê-si-a mà không đòi buộc anh phải im lặng như trước đây nữa. Thời kỳ nầy đã qua, thời Ngài đã cố giữ mầu nhiệm chung quanh con người của Ngài để tránh những giải thích sai lạc về sứ vụ Mê-si-a của Ngài. Giờ đây, Ngài đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường mặc khải tuyệt mức sứ vụ Mê-si-a của Ngài ở nơi biến cố Tử Nạn và Phục Sinh. Giờ của sự thật đã điểm. Chẳng bao lâu nữa dân thành Giê-ru-sa-lem sẽ tung hô Ngài dưới tước hiệu nầy.

    1. Đức tin của anh mù thành Giê-ri-cô:

    Đức Giê-su không thể nào làm ngơ trước những tiếng kêu đầy niềm tin của anh mù thành Giê-ri-cô nầy được, vì thế, Ngài dừng bước và ra lệnh: “Gọi anh ta lại đây!”. Một lần nữa, Đức Giê-su biểu lộ cho thấy Ngài muốn liên lụy đến những kẻ mà người ta khăng khăng muốn khai trừ, loại bỏ. Đám đông tức khắc thay đổi thái độ từ ác cảm sang thiện cảm khi khuyến khích anh mù: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!”.

    Khi được Đức Giê-su gọi, “anh mù liền vất áo choàng lại”. Trong Kinh Thánh, y phục không chỉ để che thân nhưng nhất là tượng trưng cho nhân cách người mặc nó. Khi “vất áo choàng”, anh vất thân phận bị khai trừ của mình. “Áo choàng” cũng là của cải duy nhất mà người nghèo có (Xh 22: 25-26); đối với anh hành khuất mù này, áo choàng còn là phương tiện sinh sống, bởi vì người mù thường trải chiếc áo choàng ra trước mình để đón nhận của bố thí. Khi vất áo choàng, anh đã bỏ tất cả những gì anh có mà đến với Đức Giê-su. Đây đúng là lời đáp trả mà Đức Giê-su đã mong đợi nhưng không gặp thấy ở nơi chàng thanh niên giàu có. Anh “đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giê-su” trong khi mắt vẫn mù, thì đúng là thái độ của đức tin.

    Khi diện đối diện với anh mù, Ngài hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Dĩ nhiên, Đức Giê-su biết rõ ước muốn của anh, nhưng Ngài luôn luôn tôn trọng sự tự do của những người đến gặp Ngài, vì thế Ngài muốn anh phải tự mình nói lên ước nguyện của mình: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Tác giả sách “Hạt Giống Nẩy Mầm” viết: “Đây cũng là lời cầu xin của các tín hữu trong cộng đồng của Mác-cô. Họ đang sống trong một thời kỳ bị bách hại, nghi kỵ và khinh miệt. Họ không biết phải sống như thế nào. Họ xin Chúa cho họ thấy con đường mà họ phải sống và đi theo Người. Một phần nào đó, tôi cũng không biết phải sống như thế nào trong hoàn cảnh hiện tại của tôi. Tôi hãy mượn lời anh Ba-ti-mê để cầu xin với Chúa: ‘Lạy Chúa, xin cho con được thấy’”.

    1. Anh mù đón nhận nhiều hơn điều anh mong chờ:

     “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!”. Lời của Đức Giê-su mặc lấy một chiều kích sâu xa bất ngờ đối với anh mù cũng như đối với đám đông vây quanh. Lệnh truyền “Anh hãy đi” hàm chứa một sứ mạng. Thay vì “lòng tin của anh đã chữa lành anh”, Đức Giê-su lại nói với anh: “lòng tin của anh đã cứu anh!”, nghĩa là, nhờ đức tin, Đức Giê-su không chỉ cứu chữa anh khỏi đôi mắt mù lòa của thể xác, mà còn ban cho anh ơn cứu độ mà Ngài đem đến nữa.  Như vậy, anh mù không chỉ được sáng mắt mà còn sáng cả cõi lòng trước sứ điệp Tin Mừng.

    Câu chuyện kết thúc với lời đáp trả tích cực của anh: “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi”. Con đường mà Đức Giê-su đi là con đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường dẫn Đức Giê-su đến cuộc Tử Nạn và Phục Sinh. Đó cũng là con đường mà anh mù Ba-ti-mê vừa được sáng mắt đi theo Ngài để được dự phần vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Như vậy, câu chuyện kết thúc với việc ghi nhận rằng anh mù Ba-ti-mê được sáng mắt trở thành người môn đệ lý tưởng của Ngài, và chắc chắn vì lý do đó mà tên anh vẫn được truyền trong ký ức của các Ki-tô hữu tiên khởi.

    Như vậy, câu chuyện anh mù thành Giê-ri-cô là dịp làm chứng về một đức tin năng động và kiên vững tương phản với tâm trí u mê mù tối của các Tông Đồ trước ba lần loan báo cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Thầy. Câu chuyện nầy cũng đã đánh dấu việc vén mở bí mật Mê-si-a, chuẩn bị cho việc dân chúng hân hoan đón tiếp Ngài vào thành thánh Giê-ru-sa-lem. Một lần nữa, chúng ta thấy nghệ thuật kể chuyện bậc thầy của thánh Mác-cô. Trong bốn tác giả Tin Mừng, thánh Mác-cô là người kể chuyện với nhiều chi tiết sinh động nhất và phong phú nhất.

    Về mục lục

    .

    SÁNG NIỀM TIN

    Lm. Jos. DĐH.

    Cầu được ước thấy, xin một cho mười, xin vật chất, cho cả tinh thần, xin được yêu thương, cho cả hạnh phúc, thoáng nghe, không khác gì chuyện giả tưởng. Khuynh hướng tự nhiên, nghe chuyện tiếu lâm, chuyện phiếm, người ta dễ vui cười hơn chuyện bi ai. Thực tế lại cho thấy nếu tâm trạng thoải mái, gia đình bình an, hạnh phúc, là người ta vui, và có thể tự tin cười nhỏ cười to được rồi. Không phải đợi đến lúc đói lả, người ta mới cần ăn, cần uống. Chẳng ai áp đặt phải có đèn cao áp, có mặt trời toả rạng, mới xua tan được bóng đêm sợ hãi. Tương quan giữa cha mẹ con cái, không ai quy định phải có bao nhiều tài sản, mới cần báo đáp ơn nghĩa cha mẹ, hay phải trung thành phụng dưỡng mấy năm mới được gọi là con thảo con hiếu.

    Cổ nhân có câu: người đã biết nuôi chí thì không nghĩ tới hình. Một trong những nét đẹp của lòng nhân ái là tự do sống lý thật tình ngay, ý thức mình phải chung tay góp sức xây dựng gia đình giầu mạnh. Người mù tên Bartimê đã minh chứng anh không hề ở trong tăm tối mù mịt, dù ngày ngày ngồi bên vệ đường chờ của bố thí nuôi thân, anh vẫn đủ sáng suốt tuyên xưng Đức Giêsu là con vua Đavít, Đấng thiên hạ hằng trông đợi. Cũng như biết bao người bình thường khác, chúng ta hôm nay đang ước mơ hay đang tìm kiếm hạnh phúc ? Lúc này Đức Giêsu xuất hiện, chúng ta sẽ xin ơn thông sáng, xin lòng thương xót, hay chúng ta chưa nghĩ ra nhu cầu cần thiết để xin ?

    Tiền nhân chúng ta gợi lên một lý lẽ vô cùng khúc triết: Trời nào có phụ ai đâu, hay làm thì giầu, có chí thì nên. Niềm tin là một động lực giúp người ta sống giây phút hiện tại, chuẩn bị bước tiếp những bước kế tiếp ở tương lai. Niềm tin chính là sức mạnh nội tại, khai thông mọi bế tắc, hoà hợp giữa lý và tình trong tương quan tin yêu. Tại thành Giêricô năm xưa, cơ hội cho dân thành, cho từng hoàn cảnh, nhưng niềm vui rõ nhất, phép lạ đặc biệt nhất, cũng là niềm tin sáng rõ nhất nơi anh mù Bartimê, được Đức Giêsu thực hiện. Ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn điện, là thứ ánh sáng phổ thông, nhằm giúp người ta bước đi không sợ vấp té. Thứ ánh sáng kỳ diệu và cần thiết mà nơi anh mù Bartimê, Đức Giêsu đã khai mở, đã cho chúng ta biết chính Ngài là sự sáng niềm tin ban ơn cứu độ.

    Sở hữu được ánh sáng ban ngày, ban đêm, cảm nhận được nhiều khuôn mặt xinh đẹp, thấu biết được người tài trí, giầu sang, chức quyền, cả người xưa và người hôm nay vẫn chưa thể coi đó là hạnh phúc thật ! Ánh sáng tự nhiên là thứ ánh sáng giúp người ta phân biệt đẹp xấu, cũ mới, dơ bẩn, sạch sẽ. Ánh sáng niềm tin chất chứa sự bình an tâm hồn, giúp ta cảm nhận mình được yêu, thôi thúc ta biết thực thi đức ái, và hướng ta tới hạnh phúc thật trong Thiên Chúa là Cha giầu lòng thương xót. Đối tượng của Đức Giêsu tại trần thế này không phải là người mù, người què, câm điếc hay kẻ nghèo đói, Ngài chiếu sáng niềm tin cho cả thành phần thông thái, tội lỗi, đạo đức. Mỗi người cần nghiêm túc nhận biết mình là ai, đang cần gì, chính nhờ ánh sáng niềm tin, chúng ta mới đủ mạnh dạn thưa: “hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót con”.

    Danh hoạ Leonardo da Vinci có câu: khi tâm hồn không hợp tác với đôi tay, không thể có nghệ thuật. Khi người kitô hữu không sống niềm tin, việc mến Chúa yêu người và đến nhà thờ cũng chỉ là lý thuyết, giả tạo. Nếu chỉ lập lại lời thưa: “xin Thầy cho con được sáng”, nhiều người sẽ nói tôi đã thưa, tôi đã xin điều đó từ khi còn trẻ. Đức Giêsu không hỏi anh mù có thật lòng muốn được sáng, hay muốn được tiền của, Ngài đã nói cho đám đông hôm đó cùng nghe: “được, đức tin của anh đã cứu chữa anh”. Nói theo ngôn từ hôm nay, anh Bartimê được “cả chì lẫn chài”, dù anh ta chỉ mơ ước được xem thấy, Đức Giêsu đã cho anh ta sáng cả niềm tin, và anh ta đã sống tin yêu theo Ngài làm môn đệ.

    Câu hỏi và câu trả lời giữa Chúa Giêsu và anh Bartimê không có gì phức tạp, nhu cầu được xem thấy của bệnh nhân và khả năng chữa trị của thầy thuốc, theo công bằng là tiền trao cháo múc, hoặc ăn có mời làm có khiến. Tình yêu và ơn cứu độ là sứ mạng Chúa Giêsu mời gọi tất cả cùng hiệp thông, nhận lãnh ; nén bạc, hoàn cảnh, mỗi người tuy khác nhau, phần vinh phúc có Chúa làm gia nghiệp sẽ không thay đổi. Người ta không thể trồng cây ở nơi thiếu ánh sáng, thì cũng chẳng ai nuôi dạy trẻ chỉ một chút ít nhiệt tình. Ánh sáng mở mắt người mù tối là nhu cầu thiết thực, thì sự sáng niềm tin là điều kiện không thể thiếu giúp ta tự giác trở nên nhỏ bé, biết thân thưa: “lạy Đức Giêsu Kitô xin thương xót con”. Đức Giêsu vẫn đang hỏi từng người chúng ta: “anh muốn Tôi làm gì cho anh” ? Ngài cần chúng ta minh chứng bằng ánh sáng của niềm tin, cho dù ta không câm điếc thể lý, niềm tin chúng ta vẫn cần lớn lên và rạng rỡ trong tình mến yêu cậy trông. Amen.

    Về mục lục

    .

    XIN CHO CON NHÌN ĐƯỢC

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

    Chuyện chúa Giêsu chữa sáng mắt người mù thành Bethsaida (Mc 8:22-26), và người ăn mày Bartimaeus (Mc 10:46-52) trên đường rời Jericho là những chuyện quá rõ ràng ở thời Giáo Hội sơ khai ai cũng biết. Nhưng trong Giáo Hội ngày nay, câu chuyện lại có những ý nghĩa đặc biệt khác.

    Mù bẩm sinh hay vì bệnh tật, chấn thương không cần chữa trị mà người bệnh vẫn có lại được thị giác, nhìn được sự vật một cách bình thường thì đúng là phép lạ, y khoa hiện đại không thể hiểu nổi.

     THEO CHÚA ĐI VÀO JERUSALEM ĐẾN TẬN CHÂN THÁNH GIÁ

    Tên người ăn mày mù được chúa Giesu chữa lành mắt (Mc 10:46-52) thực ra không phải là Bartimaeus, mà chỉ là ám hiệu anh ta là “con trai  ông Timaeus”. Câu chuyện Bartimaeus là trọng điểm Tin Mừng Mac cô (Mc 8:22-10:52). Chúa Giêsu bắt đầu hành động ở thành Bethsaida và chữa sáng mắt một người mù khác (Mc 8:22-26). Cả hai chuyện này cho thấy phép lạ chúa làm, không chỉ liên quan đến việc phục hồi thị giác  mà còn nói lên lý tưởng cao cả của người môn đệ. Bartimaeus đến không phải chỉ để nhìn và tin vào chúa Giêsu, nhưng còn “đi theo Người trên đường về Jerusalem,….đến tận chân Thập Giá(Mc 10:52).

    Câu chuyên Mac Cô kể cũng tương tự như chuyện hai người mù trong Tin Mừng Mathiêu (Mt.20:29-34) và Luca (Lc 18:35-43) lúc chúa Giêsu vào thành Jericho, nhưng hai thánh sử  này không nêu tên của người mù.

    Qua câu chuyện Mac cô kể, ta thấy Chúa Giêsu đã làm một cuộc hành trình dài và gian khổ từ Bắc Galilée đổ xuống thung lũng phì nhiêu của sa mạc rồi lại trèo lên vùng đồi núi hiểm trở Judea để vào Jerusalem.

     TIN THÌ SẼ ĐƯỢC

    Khi Chúa Giêsu vừa ra khỏi Jericho, Bartimaeus nghe thấy tiếng xôn xao của đám đông, thì cảm thấy cơ may của mình đã gần. Anh quyết không để mất cơ hội hiếm có này! Từ  lề đường, anh kêu lớn tiếng: “Lạy thầy Giêsu, con Vua David, xin thương đến tôi !” Một vài người đang vây quanh Chúa lúc đó cảm thấy bực mình, vì tên ăn mày dơ dáy đã quấy rầy thầy mình, bèn quát anh ta, biểu ‘câm miệng lại’.

    Tên ăn mày này đã quấy rầy, làm bực mình gì nhỉ?  Bartimaeus đơn giản chỉ muốn mọi người hiểu là anh ta có quyền được nhìn thấy Chúa và tham gia vào cảnh chung vui cùng Chúa. Nếu những người trong đám đông đó đã nghe tiếng đồn về quyền năng làm phép lạ của Chúa thì tại sao họ lại không tử tế với tên ăn mày kém may mắn này là đem hắn lại với Chúa để Chúa chữa lành mắt cho hắn?

    Cuối cùng Bartimaeus đã được toại nguyện. Khi nghe thấy lời kêu cầu của tên ăn mày, chúa Giêsu đã không từ chối lời cầu của anh, phá vòng vây các môn đệ và gọi người ăn mày, thì anh ta liền vất bỏ áo ngoài, bước lại gần Chúa.

    – Anh muốn tôi làm gì cho anh? Chúa hỏi người ăn mày mù.

    – Thưa Thầy, xin Thầy cho tôi được nhìn thấy. Anh ta trả lời.

    Ngay lúc đó anh ta liền nhìn thấy được mọi sự. Cái nhìn của anh lúc này không phải chỉ bằng con mắt trần, nhưng với tất cả tâm hồn. Đây là điều rất quan trọng. Dù Bartimaeus mù, không nhìn thấy nhiều điều, nhưng nay anh đã thấy và đã biết chúa Giêsu là ai. Việc “Nhìn biết chúa Giêsu là ai” chính là chủ đích của niềm tin. Nó dẫn chúng ta đến với Chúa và trở thành tín hữu, môn đệ của Chúa. Kết thúc câu chuyện, Bartimaeus -sau khi có lại thị giác- đã lên đường theo Chúa Giêsu. Thánh Mac cô chỉ kể lại là anh ta theo Chúa đi vào Jerusalem, nhưng chúng ta có thể hiểu chắc chắn là Bartimaeus đã theo Chúa tới tận chân Thánh Giá.

     Ý NGHĨA NGỤ NGÔN NGƯỜI MÙ: THẤY VÀ TIN

    Cảm thông  nỗi cô đơn của những kẻ bị người đời hất hủi chính là đặc thù của công tác mục vụ của chúa Giêsu. Những câu chuyện về phép lạ, chữa lành bệnh được kể lại trong Phúc Âm không đơn giản chỉ là lật ngược lại một bất toàn về thể xác. Trong câu chuyện “người mù nhìn được”, chúng ta thấy có một liên đới rõ ràng giữa hai tác động “Nhìn Thấy và Tin”.  Phép lạ Chúa làm đã giúp người được khỏi bệnh tăng niềm tin của mình hơn cả mức độ lành bệnh thể xác.

    Các môn đệ của Chúa đã không có được một viễn kiến đúng mức. Chúng ta cũng vậy. Qua những câu chuyện ngụ ngôn người mù, chúng ta mới thấy chúng ta thiếu sót  trong việc tìm hiểu ý nghĩa những đau khổ mà chúng ta phải chịu. Chúng ta nhìn nhưng như mù không còn khả năng nhận thức sự việc một cách chính xác, giống như  nhìn cánh rừng mà không để ý đến cây để hiểu rằng chính cây đã làm nên cánh rừng. Đây chỉ là một cách phân tích đơn giản mà thôi. Sâu xa hơn là chúng ta coi tật mù của chúng ta là tất nhiên, và không cần tìm hiểu gì hơn nữa. Tính kiêu căng, tự cao tự đại chính là nguồn gốc của mọi mù lòa. Chúng ta cần có phép lạ để điều chỉnh lại nhãn quan của chúng ta.

    Vậy thì, những khía cạnh nào của Giáo Hội, của xã hội và của vền văn hóa  trong thời đại chúng ta hiện nay cần phải điều chỉnh, sửa đổi và canh tân? Đâu là điểm mù lòa của chúng ta? Đâu là những bất toàn chính yếu của những cái nhìn thiển cận và  xa vời? Chúng ta có ưa độc thoại hơn là đối thoại, thích phản đối hơn học hỏi nơi người khác dù họ đối nghịch hoặc bất đồng với  ta? Chúng ta có thích tẩy chay hơn là tham gia vào những sinh hoạt ở chung quanh ta không?  Chúng ta có thường xuyên bực bội, tức giận, ngoan cố và hẹp hòi như hiện nay không? Chúng ta có thường nói chẳng ai có nhận xét, phán đoán và xác định  bằng chúng ta? Chỉ có ta là đúng!

    Chúng ta có hành sử như những người đã ngăn cản tên ăn mày không cho hắn gặp Chúa không? Vì ngạo mạn, hỗn xược, độc tài, thích chỉ trích của chúng ta, chúng ta có dám đem bạn bè, đồng nghiệp và những người chúng ta không ưa hay ghét bỏ đến trước mặt Chúa không? Tại sao chúng ta không làm được như vậy, khi chúng ta biết đời chúng ta sẽ thế nào nếu không có Chúa Kitô ?

     LỜI KẾT: HÀN GẮN, SỬA ĐỔI VÀ CÁCH NHÌN

    Lấy một thí dụ, phá thai là một vết thương trầm trọng nhất, ảnh hưởng không những cá nhân người phụ nữ / người mẹ và gia đình họ là nguồn cung cấp nơi trú ngụ cho thai nhi, mà còn ảnh hưởng đến cả một xã hội và nền văn hóa họ đang sống, bởi vì chính người dân  là những người tạo dựng  nên xã hội và bảo vệ  xã hội. Đức thánh cha Biển Đức XVI, dịp khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế giới tại Sydney, Úc Châu ngày 17-7-2008 đã nói về việc bảo vệ sự sống như sau:

    “…Và vì vậy, chúng ta cần phải suy nghĩ xem những người nghèo và người già, người di dân và những người không có tiếng nói, họ đứng ở vị thế nào trong xã hội chúng ta.  Phải chăng là những bạo động trong gia đình đang hành hạ những người vợ, người mẹ và con cái ? Phải chăng bụng người mẹ là vùng không gian thánh nhưng đầy kinh dị của con người đã trở thành nơi bạo hành ghê gớm nhất, không giấy mực nào diễn tả hết được?”

    Giáo Huấn Công Giáo đã dạy: “con người và nhân phẩm là thánh thiêng không ai có quyền xâm phạm”. Chúng ta phải có cái nhìn hoàn hảo về điều mà chúng ta phải cố gắng làm hàng ngày nếu chúng ta tuyên nhận chúng ta là người “Phò Sự Sống”.

    Chống đối phá thai và rút ống thở cũng như chúng ta không được thờ ơ trước cảnh thống khổ của người nghèo, cảnh bạo động và bất công trong xã hội. Chúng ta phải nhìn tổng quát vấn đề rồi phân tích, không thể hời hợt và khiếm diện được.

    Phò sự sống là chống lại bất cứ cái gì đi ngược lại sự sống con người, như giết người, ám sát, hủy giệt sự sống, phá thai, rút ống thở hoặc tự hủy hoại mình…Chúng ta thẳng thắn chống lại bất cứ cái gì gọi là vi phạm phẩm giá con người như phá hủy một phần thân thể, làm tổn thương/hành hạ thể xác hoặc tinh thần, cố tình tuyên truyền ảnh hưởng ý muốn của người khác, bất cứ cái gì xúc phạm đến nhân phẩm, chẳng hạn như  điều kiện sống dưới tiêu chuẩn, bắt bớ giam cầm người trái phép, trục xuất người, bắt làm nô lệ, làm gái mãi dâm, buôn người, buôn đàn bà trẻ nít, và những điều kiện làm việc ô nhục trong đó con người chỉ là dụng cụ sản xuất, không phải là con người tự do và có trách nhiệm. Tất cả những điều đó và còn nhiều hơn nữa đang hủy hoại sự sống và đầu độc xã hội loài người.

    Đức Hồng Y Tổng Giám mục Boston Sean O’Malley mới đây đã viết: “Khả năng thay đổi lòng người của chúng ta và giúp cho họ hiểu biết phẩm giá mạng sống con người từ lúc mới thụ thai cho đến lúc chết có liên hệ trực tiếp đến khả năng thăng tiến tình yêu và hiệp nhất trong Giáo Hội, bởi vì việc tuyên xưng Sự Thật của chúng ta bị cản trở khi mà chúng ta chia rẽ và đánh phá lẫn nhau.”

    Phò sự sống là một trong những phương cách biểu lộ xâu đậm nhất của Bí Tích Thanh Tẩy: Chúng ta dám đứng lên vì chúng ta là con cái sự sáng, chúng ta có lòng bác ái, lại khiêm nhường và đầy xác tín, dám nói sự thật một cách mạnh mẽ và  cương quyết trước cường quyền mà không bao giờ để mất niềm vui và hy vọng.

    Phò sự sống không phải là hoạt động vì đảng phái chính trị hay một khía cạnh đặc biệt nào đó của một trào lưu. Nó là bổn phận của tất cả mọi người, dù ở bên tả, hay bên hữu hoặc trung lập. Nếu chúng ta phò sự sống, chúng ta phải tham gia tích cực vào nền văn hóa sự sống ở chung quanh ta, không nên coi thường và chê bai nó. Chúng ta nhìn tha nhân như Chúa Giêsu nhìn và, chúng ta phải yêu mến sự sống của mọi người, ngay cả sự sống của những người đối nghịch với ta.

    Khi chúng ta ý thức được những vấn đề làm cho ta bị mù quáng, không nhận biết ra Chúa, đồng thời làm tê liệt khả năng hành động hữu hiệu của chúng ta, thì hãy cầu khẩn Chúa xin Người chữa lành chúng ta !  -“Lạy Chúa, xin cho con  được nhìn thấy.”  Và, khi thị giác của chúng ta đã được điều chỉnh, chúng ta hãy đứng dậy và vui vẻ bước theo Chúa trên bước đường hướng về Vương Quốc Nước Trời.

    KINH CẦU CHO ĐƯỢC SÁNG MẮT

    Origen (185-253) NTC chuyển ngữ.

     

    Lạy Chúa Giêsu,

    Xin hãy chạm mắt tôi tớ Chúa,

    Như Chúa đụng mắt người mù.

    Chúng con sẽ thấy tỏ rõ…

      … mọi sự hữu hình và vô hình.

    Xin Chúa hãy mở rộng mắt tôi tớ Chúa,

    Để chúng con ngắm nhìn…

    …Không phải thực tế bây giờ,

    Nhưng là ơn phúc Chúa ban sắp tới.

    Xin Chúa hãy mở mắt tâm hồn tôi tớ Chúa

    Để chúng con chiêm ngưỡng Chúa…

    Trong Chúa Thánh Linh,

    Qua Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa

    Đầy quyền năng và vinh hiển muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA GIÊSU, ĐẤNG KHAI SÁNG

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Người ta thường nói “đôi mắt” là cửa sổ của tâm hồn. Nếu chúng ta nhìn đời bằng đôi mắt màu hồng thì tràn đầy hạnh phúc, bằng ngược lại thì trước mắt ta là cả một bầu trời đen tối. Theo một thống kê đầu năm 2018, ước tính vào năm 2020 thế giới sẽ có khoảng 11,2 triệu người có đôi mắt mù loà do bệnh. Mù đôi mắt nói lên tình trạng khổ cực, mù đôi mắt là một bất hạnh. Bên cạnh cái đáng thương của sự mù loà thể xác còn có cái đáng thương của sự mù loà tâm hồn. Cái đáng thương của mù loà tâm hồn là họ mù nhưng không chấp nhận mình mù. Và đây là một thứ mù về mặt tâm linh mà trang Tin Mừng hôm nay đề cập tới.

    Thưa anh chị em, trong quan niệm của người Do thái thời bấy giờ, bệnh tật và mù loà là hậu quả của tội. Quan niệm này đã xua đuổi người mù ra ngoài lề xã hội. Chính vì thế,  khát vọng thâm sâu của anh mù Bartimê được bộc lộ ngay trong lời cầu xin của anh: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Anh không xin tiền, không xin bánh, nhưng xin sáng mắt để được thấy. Anh xác tín rằng, mù mắt đưa con người vào tình trạng đau khổ tột cùng không chỉ dừng lại trên thân xác nhưng còn xoáy sâu vào trong tâm hồn. Chúa Giêsu, Đấng khai sáng cho anh. Người nói: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người để từ nay anh trở thành một con người được tôn trọng giữa cộng đoàn, và hơn thế nữa anh còn nhìn ra con đường phải đi, công việc phải làm và có thể trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Còn một thứ mù loà khác đáng thương hơn mà Chúa Giêsu đã có lần mắng các môn đệ: “Các ngươi có mắt mà cũng như mù”. Đây là tai họa của trí năng, của tâm hồn: thứ mù loà này làm cho con người nhìn thấy cái rơm, cái rác của người khác, còn cái xà trong mắt mình lại không thấy. Những người bị mù loà thể xác còn có hy vọng chữa trị được, họ thường được người khác yêu thương, giúp đỡ. Còn những người mù tâm hồn, họ mù nhưng không chấp nhận mình mù, không những khó chữa mà hậu quả của nó là huỷ diệt chính mình và bị người khác tránh xa ghét bỏ.

    Có một câu chuyện kể rằng, một anh mù đi thăm một người bạn. Đã lâu không gặp nên đôi bạn hàn huyên mãi quên cả thời gian. Khi trời tối mịt thì anh mù mới cáo từ ra về. Anh bạn bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh cái đèn, trời tối quá rồi”. Anh mù nghĩ là bạn muốn đùa nên trả lời: “Anh muốn đùa hả? Tôi mù thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”. Anh bạn vội vàng xin lỗi nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh, ý tôi là anh nên cầm cái đèn để người ta sẽ thấy sáng và không đụng phải anh”. Anh mù nghe nói có lý liền vui vẻ hiên ngang xách đèn ra về. Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều đụng phải, làm anh mù ngã xuống vệ đường. Quá tức giận, anh lồm cồm ngồi dậy chửi: “Đồ đui, người ta cầm cái đèn sáng thế này mà không thấy hả?”. Người kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui, đèn tắt mẹ từ lúc nào mà còn chửi người ta”.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Câu chuyện trên cho thấy thân phận bi đát của người mù. Mù thể xác đã thế, mù tâm hồn còn đáng thương hơn. Ngày nay trước những khám phá kỳ diệu của khoa học kỹ thuật, con người hiện đại lại đang bị mù tối trong tâm hồn vì kiêu căng, tự mãn, không chấp nhận sự hiện hữu của Chúa. Nhưng hãy nhớ rằng: khoa học càng khám phá ra những điều kỳ diệu lại càng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa trong vũ trụ, vạn vật. Vì thế, chúng ta hãy bắt chước anh mù Bartimê đặt niềm tin vào Chúa và vào lòng thương xót của Người. Xin Người khai sáng và mở mắt tâm hồn chúng ta, để chúng ta bước đi trong ánh sáng tình yêu và bình an của Người.

    “Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt. Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi. Con mù lòa, bên vệ đường hành khất. Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài”. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Antôn

    Phải nói rằng trong chuyến hành hương Đất thánh vừa qua, tôi đã nhớ đến và cầu nguyện cho tất cả mọi người, mọi gia đình trong giáo xứ. Tôi cám ơn Chúa đã cho tôi có cơ hội đến viếng thăm nơi Chúa đã sinh ra, sống, chết và sống lại, và Giáo triều Rô-ma. Cuộc hành hương này làm cho đức tin của tôi vững mạnh thêm. Cuộc hành hương Đất thánh có 2 phần.  Phần thứ nhất ở khu vực Giê-ru-sa-lem và tôi có dịp viếng thăm và dâng Thánh lễ ở những nơi như hang động nơi Chúa sinh ra, nơi Chúa chịu thương khó và chết cho nhân loại.  Tôi có dịp đi đàng Thánh giá trên con đường năm xưa mà chính Chúa đã vác thập giá trên con đường dốc đến đồi Can vê để chịu chết. Như chúng ta đã biết, Chúa đã bị đánh đòn và ngã xuống đất nhiều lần vì đau đớn và khó nhọc. Ngày nay, họ đã xây và lót gạch, nhưng vào thời xưa đây là con đường sỏi đá. Thật sự tôi cảm nghiệm được vì yêu thương và muốn cứu rỗi chúng ta, cho nên Chúa đã hy sinh vác thập giá là tội lỗi của nhân loại chúng ta. Tôi được đến thăm nơi Chúa thương khóc dân thành Giê-ru-sa-lem vì cứng đầu và từ chối ân sủng của Chúa đem đến, nơi Tông đồ Phê-rô đã chối Chúa ba lần, cũng như nơi Chúa đã thiết lập Bí tích Thánh thể và Chức Thánh, và sau đó chiêm ngưỡng con đường Chúa đã bị lôi đi đến dinh Cai-pha và Hê-rô-đê. Rồi tôi được đến tắm tại Biển Chết.

    Phần thứ hai tại Đất Thánh, tôi được viếng thăm Na-za-rét nơi Chúa được sống trong tình yêu thương của Thánh Cả Giu-se và Mẹ Maria, cũng như hội trường nơi Chúa thường đến để thờ phương và giảng dạy.  Trong những ngày kế tiếp, tôi đi thăm biển hồ Tiberia nơi Chúa sống với các Tông đồ và làm nhiều phép lạ, cũng như đến hang động Chúa đã cầu nguyện.  Tiếp đến, tôi đi thăm viếng đề thờ Thánh Giu-se, dâng giáo xứ và mọi gia đình lên cho Thánh Cả để Ngài gìn giữ che chở như Ngài đã gìn giữ che chở Đức Maria và Chúa Giê-su.  Tôi đã đến thăm nơi Chúa làm phép lạ đầu tiên hóa nước thành rượu để giúp cho đôi tân hôn qua khỏi sự khó khăn, và cũng nơi đây tôi cầu nguyện xin Chúa ban ơn lành cho các gia đình trong giáo xứ luôn yêu thương, hòa thuận và trung thành với giao ước hôn nhân.

    Sau đó, tôi đáp máy bay đến thăm Giáo đô Rô-ma nơi có rất nhiều nhà thờ, trong đó có nhà thờ của Đấng đáng kính Hồng y Phan-xi-cô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.  Chúng ta biết, tại Rô-ma này có rất nhiều dấu tích của những vị thánh, những người như chúng ta, đã sống Lời Chúa và làm chứng cho Chúa.  Nhiều người đã chịu bắt bớ, giam cầm, hành hạ cho đến chết vì Chúa Ki-tô.  Vì thế, đã sinh ra hoa trái tốt là những người tin vào Chúa, những người có lòng bác ái và quảng đại.  Họ đã giúp Giáo hội xây những nhà thờ to lớn và kiên cố để thờ phượng, nhất là làm sáng danh Chúa, và để lại những bằng chứng về lòng xác tín của họ cho chúng ta ngày nay.  Và cũng nơi đây, tôi cảm nghiệm được lòng yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội của họ, và lòng hy sinh, bác ái và quảng đại, cũng như công sức và lòng hy sinh phục vụ của họ.

    Đây là vài dòng vắn tắt kể lại cho ông bà anh chị em về cuộc hành hương Đất Thánh và Giáo đô của Giáo hội Công giáo chúng ta, với niềm hy vọng nhỏ nhoi là tăng thêm lòng xác tín của chúng ta vào Chúa, để chúng ta can đảm sống Lời Chúa dạy và có lòng bác ái, quảng đại như những tín hữu xưa.  Họ đã trở thành những chứng nhân anh dũng cho chúng ta ngày nay noi theo.

    Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết về phép lạ Chúa chữa người mù Ba-ti-mê tại Giê-ri-cô.  Thật đáng tiếc vì tôi không được viếng thăm nơi này trong cuộc hành hương.  Bình thường thì chúng ta ít để ý tới sự quan trọng và cần thiết của đôi mắt, nhưng khi bị đau mắt hay mờ mắt chúng ta mới thấy sự cần thiết to lớn của đôi mắt. Anh Bartimê là một thanh niên bị mù, bị xã hội ruồng bỏ và ngồi ăn xin ở cổng thành Giêricô. Anh ao ước được nhìn thấy. Thế nhưng năm tháng đi qua, không ai có thể giúp anh được, anh phải lang thang đi xin ăn để sống qua ngày.

    Hôm nay nghe biết Chúa Giêsu đi qua, anh mạnh dạn kêu xin Chúa cứu chữa, người ta cấm anh, anh càng kêu lớn hơn. Anh đã nghe được từ những người chung quanh quyền năng của Chúa và anh tin Chúa sẽ cứu chữa anh. / Hôm nay, anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, anh chỉ ao ước một điều là xin Chúa chữa anh được nhìn thấy.  Cho nên, khi nghe được tiếng Chúa gọi, anh đã vội vã chạy đến Chúa.  Lời kêu xin và thái độ của anh chứng tỏ lòng tin sâu xa và mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa, và chính vì niền tin này Chúa Giêsu đã cứu chữa anh, và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa.

    Còn chúng ta ngày nay thì sao?  Không có người nào hiện diện trong nhà thờ này mù lòa thể xác, thế nhưng chúng ta hãy thành tâm tự hỏi có bị mù về tinh thần không?  Trong xã hội hôm nay có rất nhiều cám dỗ lôi cuốn có thể làm cho chúng ta mù, hay có mắt mà không nhìn thấy như cờ bạc, rượu chè, gian lam, ích kỷ, tự cao, lười biếng, cứng lòng, và những điều này có sức tàn phá cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đoàn.  Do đó, muốn được chữa lành, phải mau mắn, như người mù trong bài Tin mừng, chạy đến Chúa Giêsu kêu cầu Người thương cứu chữa.  Chúng ta tin Chúa Giêsu muốn giúp và chữa lành cho chúng ta như Chúa đã giúp người mù. Không ai có thể cứu giúp chúng ta, ngoại trừ Chúa Giêsu.

    Có một câu chuyện về người đàn ông cứng lòng và rất khó tính, luôn phê bình, chỉ trích người khác.  Vì ích kỷ, ông không bao giờ giúp đỡ hay quảng đại, và vì tự cao, cho nên ông không bao giờ nhìn thấy điều gì tốt nơi người khác, nhất là những người không đồng ý hay làm theo ý của ông. Bất cứ họ làm một việc gì kể cả việc tốt, thì ông cũng phải cố tìm cho ra một lý do để chỉ trích, phê bình, hay cố tìm một khía cạnh, một nguyên do để chống đối. Ông thường khinh thường và hay bắt lỗi những ý kiến, những công việc của người khác, và tệ hơn nữa còn thường hay rỉ tai nói xấu người khác. Thế rồi một ngày kia, được người vợ thúc đẩy dự buổi tĩnh tâm, và được nghe linh mục cắt nghĩa về đoạn Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho một người mù bẩm sinh, ông bỗng sực tỉnh và nhận thấy rằng tâm hồn mình đã thực sự bị mù loà vì đã không nhận ra được những cái tốt đẹp, không nhận ra được những công việc tốt lành, không nhận ra được tấm lòng của những người khác, và ông đã không sống trong ân sủng của Chúa.

    Xin Chúa ban cho chúng ta sự can đảm và niềm tin của người mù, thành tâm và nhất quyết tìm đến Chúa để Người hoàn lại ánh sáng, hoàn lại hạnh phúc, hòa thuận cho cá nhân, gia đình và ban cho mọi người trong giáo xứ chúng ta tình yêu thương hiệp nhất, để chúng ta trở thành những nhân chứng của Chúa, có tấm lòng hy sinh, bác ái và quảng đại chân thật xây dựng giáo xứ và làm sáng danh Chúa.  Đó là Tin mừng chứa đựng trong Lời Chúa mà chúng cử hành hôm nay.

    Về mục lục

    .

    BI ĐÁT

    Lm. Thái Sơn

    Thiết tưởng, diễn tả sự đau thương, buồn khổ, phũ phàng…, có xu hướng tiêu cực. Chuyện vui kể rằng:

    Việt Nam và Lào là hai nước anh em, thế nhưng một sự thật bi đát là: Cái gì tệ nhất ở Việt Nam cũng gán cho cái mác Lào. Xin đơn cử một vài ví dụ:

    Đôi dép mang xấu nhất là đôi dép Lào. Bệnh thì có bệnh lang ben, hắc Lào. Thứ thuốc hút gớm nhất cũng là thuốc Lào. Cơn gió khắc nghiệt nhất cũng gọi là gió Lào…

    Có một người Lào sang Việt Nam làm việc, trong chuyến công tác tại “Hà Lội”. Tại trạm dừng xe buýt, người Hà Lội kia phát hiện là đôi dép mình không cánh mà bay. Ông ta la lên: “Thằng lào, thằng lào lấy dép tao?”.

    Thưa các bạn!

    Lời Chúa Chúa Nhật 30 Thường Niên B mô tả một nhân vật với hoàn cảnh thật bi đát, đó là người ăn xin mù bên vệ đường thành Giêrikhô.

    Như diều gặp gió, chỉ nghe nói Đức Giêsu đi ngang qua đây, người ăn xin mù liền kêu lên: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi” (Mc 10,47).

    Dân gian có câu: “Khó hai bàn tay, giàu đôi con mắt”. Thật vậy, đôi mắt quý giá và quan trọng vô cùng đối với cuộc sống con người ở mọi thời đại và mọi nơi mọi lúc.

    Đối với người khiếm thị cuộc sống của họ thật sự khó khăn, thiệt thòi và bi đát. Đến nỗi tác giả Lâm Bình đã ngậm ngùi và xót xa khi diễn tả bài thơ “HOA TÂM”:

    Sinh ra con vốn thua người
    Nhìn đời chỉ với trái tim dẫn đường
    Quanh con là bốn bức tường
    Cuộc đời thong thả giọt vương giọt sầu.

    Những ngày cha mẹ buồn rầu
    Thuốc thang cũng cạn ruột đau thắt hầu
    Con đành câm lặng chôn sâu
    Nỗi buồn thăm thẳm mưa Ngâu chờ thời.

    Thưa các bạn!

    Thế nhưng, rất nhiều người trong số người mù đã không chịu khuất phục trước số phận, mà vẫn vươn lên làm chủ cuộc sống của mình, trở thành người có ích cho Giáo Hội hay xã hội.

    Người mù ăn xin đã “vươn lên” bất chấp mọi rào cản, như bị đám đông quát nạt bảo anh ta im đi, và khi Chúa gọi anh thì anh liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu.

    Áo choàng” đối với người ăn xin là tài sản quan trọng nhất, ban ngày làm áo che thân, ban đêm làm mềm đắp, vậy mà “vất đi” nói lên niềm tin vững chắc vào Thầy Giêsu sẽ cho cái mới tốt hơn.

    Đứng phắt dậy” đối với người khiếm thị quả là hiếm có, diễn tả hành vi mau chóng, lanh lẹ và gấp gáp. Tin tưởng sẽ tìm thấy lối đi trong sáng và yên vui nơi Đức Giêsu, vốn là đường, là sự thật, và là sự sống.

    Vua Đavít đã mờ mắt với bà Batseva, và được tiên tri Nathan mở mắt cho ông, để rồi vua Đavít thật bi đát ca khen: “Chúa làm cho ngọn đèn của con sáng tỏ, Ngài soi chiếu vào đời con tăm tối mịt mù” (Tv 18,29).

    Dù là mù thể lý hay mù tâm trí, xin cho “bạn & tôi” biết “vươn lên” tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa, mạnh mẽ vất bỏ “áo choàng” của những gì làm cản trở đến với Chúa, và can đảm “đứng phắt dậy” thoát khỏi con đường tội lỗi, nhất là cái nhìn của đôi mắt khiến con sa ngã, đi vào lối tối tăm mù mịt và bi đát. Amen.

    Về mục lục

    .

    .

    ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Sống trên trần gian, mỗi chúng ta đang là những người mò mẫm đi tìm Chân lý. Cuộc tìm kiếm này kéo dài liên lỉ suốt đời. Để đạt được Chân lý, cần phải nhờ Đức tin soi sáng dẫn đường. Nếu không có ánh sáng Đức tin, chúng ta khó nhận ra đâu là con đường giúp ta đạt được đích điểm của cuộc đời. Thiếu Đức tin, cuộc sống này sẽ trở thành tối tăm, vô nghĩa.
     
    Anh Bartimê, người thanh niên mù ở thành Giêricô đại diện cho những người đang đi tìm kiếm Chân lý. Dù khiếm thị về thể lý, anh lại tỏ ra sáng suốt khi nhận định người đang đi ngang qua là Đấng có thể giúp anh nhìn thấy: “Hỡi ông Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Anh đã kêu cầu Đức Giêsu với tước hiệu “con vua Đavít”, là tước hiệu được các ngôn sứ  loan báo và muôn dân mong đợi. Đây vừa là lời van xin, vừa là lời cầu nguyện với tâm tình tín thác cậy trông. Người mù thành Giêricô nài xin lòng thương xót của Chúa, vì anh chắc chắn Chúa Giêsu có quyền năng chữa lành và ban cho anh những điều anh đang mong đợi. Là một người ăn xin, hôm nay, khi gặp Đức Giêsu, anh không cầu xin tiền bạc như mọi ngày, mà cầu xin được sáng mắt.
     
    Cuộc tìm kiến Chân lý của anh Timê gặp nhiều khó khăn cản trở. Một trong những cản trở đó là đám đông. Anh muốn đến với Chúa, nhưng dư luận quần chúng ngăn cản. Họ nghĩ rằng, người thanh niên mù này không xứng đáng đến gần Chúa. Ước vọng đến với Chúa có nguy cơ bị bóp nghẹt và nhấn chìm bởi đám đông. Anh bị đám đông coi thường vì thân phận của anh là một người mù ăn xin. Dư luận đám đông cũng rất đa chiều và bất ổn định. Họ vừa ngăn cản anh đến với Chúa, nhưng vừa nghe lời Chúa gọi anh mù, họ lại động viên anh hãy vững tin, vì Người gọi anh. Để đến được với Chúa, chúng ta phải thận trọng tỉnh táo trước những trào lưu khác nhau của môi trường xung quanh. Anh Bartimê đã vượt lên những rào cản của đám đông và cuối cùng, anh đã đạt được những điều anh xin. Không chỉ được chữa lành về thể xác, anh còn được cảm hóa và trở thành môn đệ của Chúa Giêsu và đi theo Người.
     
    Chúa Giêsu đến trần gian để đem ơn cứu độ cho loài người. Ơn cứu độ này được diễn tả như sự khai sáng tâm hồn để chiêm ngưỡng vinh quang vĩnh cửu của Thiên Chúa. Ngôn sứ Giêrêmia diễn tả ơn cứu độ bằng hình cảnh một cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ lầm than và trở về cố hương. Trên con đường trở về này, mọi người đều tưng bừng ca hát và nhảy múa để tôn vinh Thiên Chúa và thể hiện niềm vui. Họ gồm đủ các thành phần, kể cả những người bị bỏ rơi và khinh thường trong xã hội (Bài đọc I). Tâm tình vui mừng vì được giải phóng, phải là tâm tình của mỗi tín hữu chúng ta, mặc dù đang phải trải qua nhiều mất mát, gian truân của gánh nặng cuộc đời. Thiên Chúa quyền năng đang hiện diện giữa chúng ta. Ngài là nguồn mạch hạnh phúc và bình an. Lòng tín thác vào Chúa sẽ đem lại cho chúng ta niềm hân hoan phấn khởi.
     
    Cuộc sống trần gian là một cuộc kiếm tìm Chân Lý. Mỗi ngày sống ở đời giúp ta gần Chúa hơn. Tuy vậy, nếu thiếu kiên định, chúng ta sẽ bị dao động bởi đám đông cuộc đời, giống như cây sậy phất phơ trước gió, nghiêng ngả trước những dư luận và tin đồn, chao đảo niềm tin.
     
    Xung quanh chúng ta, có nhiều anh Bartimê đang mù lòa thể lý và tâm linh, rất cần được chúng ta nâng đỡ và chỉ cho biết con đường kiếm tìm Chân lý. Mỗi Kitô hữu đều có bổn phận nói về Chúa cho những ai đang đi tìm kiếm Ngài.
     
    Xin Chúa mở con mắt tâm hồn chúng ta, để nhờ đó, chúng ta nhận ra sự hiện diện yêu thương của Ngài giữa cuộc đời. Xin Ngài ban cho chúng ta ánh sáng Đức tin. Amen.

    Về mục lục

     

    CHÚA CHỮA ANH MÙ BACTIMÊ

    Gm. Phêrô Nguyễn Khảm

    Trong bài hát Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô Assisi, chúng ta hát lên: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục…” Chúng ta lại hát tiếp: “Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu”.

    Lời kinh này không chỉ là một lời cầu nguyện mà còn là một lời kinh diễn tả lối sống đích thực của mỗi người Kitô hữu. Như vậy bổn phận của mình không phải chỉ là đem yêu thương vào nơi oán thù mà còn phải dọi ánh sáng vào nơi tối tăm.

    Có một câu chuyện kể như thế này:

    Một anh mù đi thăm một người bạn. Đã lâu không gặp nên đôi bạn hàn huyên mãi quên cả thời gian. Khi trời tối mịt thì anh mù mới cáo từ ra về. Anh bạn bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh cái đèn, trời tối quá rồi”. Anh mù nghĩ là bạn muốn đùa nên trả lời: “Anh muốn đùa hả? Tôi mù thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”. Anh bạn vội vàng xin lỗi nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh, ý tôi là anh nên cầm cái đèn để người ta sẽ thấy sáng và không đụng phải anh”. Anh mù nghe nói có lý liền vui vẻ hiên ngang xách đèn ra về. Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều đụng phải, làm anh mù ngã xuống vệ đường. Quá tức giận, anh lồm cồm ngồi dậy chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm cái đèn sáng như thế này mà không thấy hả?”. Người kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui, đèn tắt mẹ từ lúc nào mà còn chửi người ta”.

    Coi chừng chúng ta lại rơi vào tình trạng như thế. Nếu mình rơi vào tình trạng đấy thì rất nguy hiểm. Làm sao có thể dọi ánh sáng vào nơi tối tăm khi mà chúng ta không có ánh sáng, hoặc ánh sáng chúng ta đã bị tắt ngấm từ lâu.

    Đặt câu hỏi như thế thì chúng ta thấy anh mù Bactimê sẽ trở thành gần gũi với mình hơn. Anh ta không còn là khuôn mặt xa lạ của 20 thế kỷ trước, mà giờ đọc lại mình có cảm tưởng như là đọc truyện cổ tích. Anh ta giờ trở thành một khuôn mặt mời gọi mình suy nghĩ về vấn đề của chính cuộc đời mình.

    Ngày nay người ta nói đến mù chữ, vài năm nay lại thêm mù vi tính. Một thứ mù về mặt trí tuệ. Phúc Âm kể cũng có lần Chúa Giêsu mắng các môn đệ: “Các ngươi có mắt mà cũng như mù”. Và đây là một thứ mù về mặt tâm linh.

    Khi kể câu chuyện này tôi không nhắm đến mù thân xác, vì thời đó có rất nhiều người mù, nhưng Chúa Giêsu không chữa cho tất cả. Ngài chỉ chữa cho một số người mang tính biểu tượng. Cũng không phải thánh Maccô nói đến mù chữ, vì chúng ta không nghe kể Chúa Giêsu mở lớp tình thương để dạy học. Như vậy chắc chắn là thánh Macco nhấn mạnh mù về mặt tâm linh, mù về mặt tinh thần. Ta có thể hiểu như thế nào về tình trạng mù này?

    Có một câu chuyện kể về các người mù rủ nhau đi xem voi. Xem xong thì cùng nhau ngồi lại bàn tán, mô tả xem con voi nó giống như cái gì?

    Anh sờ được cái chân thì dõng dạc tuyên bố: con voi nó giống như cái cột nhà.

    Anh khác thì oang oang: con voi nó giống như cái quạt. Vì anh này rờ được ngay cái tai của nó.

    Còn các anh sờ cái bụng, cái vòi. Ta không biết họ sẽ mô tả con voi giống như cái gì.

    Suy nghĩ kỹ chuyện này thì thấy cũng thấm thía lắm. Tôi muốn chia sẻ với anh chị em là: chúng ta có thể rơi vào tình trạng mù về mặt tinh thần, có nghĩa là ta không nhìn thấy được chân lý toàn diện về cuộc sống. Ta chỉ nhìn thấy chân lý phiến diện như anh mù mô tả con voi “nó giống như cái cột nhà”, như thế là rất phiến diện.

    Từ 30 năm về trước, một nhà xã hội học Mỹ… đã lên tiếng về con người thời đại. Ông gọi: “Con người một chiều kích”. Tôi thấy nhận xét ấy vẫn đúng cho đến ngày nay và chắc có lẽ càng ngày sẽ càng đúng hơn.

    Cuộc sống con người chúng ta được đan kết bằng nhiều chiều kích. Có một chiều kích hướng thượng, mình gọi là chiều dọc trong mối quan hệ với Thiên Chúa. Có một chiều kích ngang nữa, trong quan hệ bình đẳng yêu thương đối với mọi người, và có một chiều quan hệ đối với thế giới vật chất.

    Càng ngày con người ta càng quên mất cái chiều hướng thượng, quên mất mối quan hệ hàng ngang với anh em trong tình yêu thương, mà chỉ quan tâm đến quan hệ tình bạn với thế giới vật chất.

    “Con người một chiều kích”. Chúng mình không khám phá, không sống được cái chân lý toàn diện về cuộc sống của con người. Nguyên nhân nào có thể dẫn đến tình trạng đó.

    Trở lại với hoàn cảnh của những anh em khiếm thị. Hầu hết đều bị mù từ lúc mới sinh. Có một số do tai nạn sau này. Nếu hiểu mù là mình không thấy sự vật thì cũng có lúc mình cũng không nhìn thấy mặc dù mắt mình vẫn sáng. Chẳng hạn như có sự cố cúp điện hay lúc mình bị đau mắt phải lấy khăn che mắt cho đỡ chói, đỡ nhức. Những hình ảnh ấy khiến tôi nghĩ đến tình trạng mù về mặt tinh thần. Nếu bảo về tinh thần mù lòa từ lúc mới sinh thì không thể tin được.

    Tất cả mọi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa, vì thế Thiên Chúa đều ban tặng cho mọi người khả năng nhận biết chân lý.

    Ta có thể rơi vào tình trạng mù tâm linh là do nguyên nhân thứ 2, thứ 3. Nghĩa là mình thiếu ánh sáng. Do những hoàn cảnh và những môi trường sống.

    Hiểu như vậy, ta thấy rằng hầu hết chúng ta đều là những người mù đáng thương về mặt tâm linh. Vì vậy, chúng ta hãy khiêm tốn chạy đến với Chúa để người chữa trị. Người sẽ giúp chúng ta nhìn thấy chân lý toàn vẹn. Người sẽ giúp chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Cha của chúng ta và mọi người là anh em của ta. Người sẽ giúp ta nhận ra con đường tiến về nhà Cha trên Trời. Con đường đó là con đường Chúa Giêsu đã đi và đã tới đích. Và đó cũng là con đường hẹp, con đường ngược dốc, con đường thập giá nhưng là con đường dẫn đến sự sống vinh quang và vĩnh cửu. Amen.

    Về mục lục

    .

    TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Người mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Cảnh tượng này cho ta thấy đời anh bị bao phủ bởi nhiều thứ bóng tối.

    Trước hết là bóng tối thể lý. Không có đôi mắt, đời anh chìm trong tăm tối. Không biết thế nào là ánh sáng. Không biết thế nào là cảnh thiên nhiên. Không nhìn được khuôn mặt của những người thân. Không tự mình làm gì được. Không tự mình sinh sống được. Chẳng biết có ánh sáng ban ngày. Đời anh chìm ngập một bóng đêm. Bóng đêm dày đặc không một chút ánh sáng. Bóng đêm triền miên không bao giờ chấm dứt. Tất cả là một màu đen. Thế giới màu đen. Quần áo anh mặc màu đen. Khuôn mặt mọi người đều màu đen. Cơm anh ăn hằng ngày cũng màu đen. Một màu đen muôn thủơ.

    Kế đến là bóng tối xã hội. Vì tàn tật anh trở thành người dư thừa trong xã hội. Anh bị loại trừ khỏi xã hội. Chỉ còn ngồi bên vệ đường mà ăn xin. Như cây cỏ mọc bên đường thôi. Thậm chí khi Chúa đến, mọi người nô nức đón Chúa. Còn anh chỉ kêu lên thôi cũng đã bị người ta cấm đoán, đe nẹt rồi. Anh không có quyền gì hết. Vì anh chỉ là thân phận sống nhờ ở đậu.

    Sau cùng là bóng tối tâm lý. Cuộc đời anh không có lối thoát. Anh bị kết án suốt đời chịu giam cầm trong bóng tối. Làm sao thoát ra được khi anh không thể tự mình làm gì. Khi mọi người kể cả những người thân ruồng bỏ anh. Khi xã hội gạt anh ra bên lề cuộc sống.

    Nhưng Đức Kitô đem đến cho anh ánh sáng ngập tràn.

    Người chiếu vào đời anh ánh sáng hy vọng. Tuy chưa được gặp Chúa, nhưng chỉ nghe những lời Chúa giảng, những việc Chúa làm anh đã tràn trề hy vọng. Chúa có thể giải thoát anh khỏi định mệnh tăm tối vây bọc cuộc đời anh. Người có thể đưa anh tới miền ánh sáng. Tương lai anh sẽ thay đổi. Cuộc đời anh sẽ tươi sáng. Anh tràn ngập niềm hy vọng. Niềm hy vọng trở thành ánh sáng chiếu soi cuộc đời anh.

    Người chiếu vào đời anh ánh sáng đức tin. Tuy chưa gặp Chúa nhưng anh đã hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Không tin sao được vì chỉ có Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu anh khỏi bóng tối. Vì thế thoạt nghe tiếng Chúa anh đã kêu van lớn tiếng xưng tụng Người là Con Vua Đavít nghĩa là Đấng Cứu Thế. Có lẽ những người đi đón Chúa hôm ấy đều có đôi mắt sáng. Nhưng không ai có ánh sáng đức tin. Vì không ai tin Chúa là Đấng Cứu Thế. Trừ anh mù. Mắt anh mù nhưng đức tin của anh sáng. Nên anh là người duy nhất lớn tiếng tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Thế. Niềm tin của anh thật mãnh liệt. Dù bị mọi người chung quanh ngăn cản, niềm tin ấy không những không bị suy yếu mà còn càng trở nên mạnh mẽ hơn. Bị mọi người đe dọa, cấm cản, niềm tin của anh càng vững vàng không gì có thể lay chuyển được, nên anh càng kêu to hơn.

    Người đã chiếu vào đời anh ánh sáng tình yêu. Chúa là tình yêu. Chúa không nghe bằng tai nhưng nghe bằng trái tim. Vì thế giữa đám đông hỗn độn của thành Giêricô phồn hoa, Chúa vẫn nghe được tiếng kêu van của một người con bé nhỏ ngồi bên vệ đường. Không những Chúa nghe thấy tiếng lòng khốn khổ của anh mà Chúa còn ưu ái gọi anh đến. Thật là một cử chỉ ưu ái quá sức tưởng tượng. Giữa đám đông trong một thành phố phồn hoa, Chúa chẳng gọi ai trừ ra người mù ngồi bên vệ đường. Chúa chẳng chờ đợi ai trừ ra chờ đợi người con nhỏ bé tội nghiệp bị bỏ rơi nhất thành phố đến với Chúa. Đời anh chưa được ai yêu thương như thế. Đời anh chưa được ai quan tâm như thế. Đời anh chưa được ai mời gọi như thế. Đời anh chưa được ai chờ đợi như thế. Và Chúa còn hỏi anh muốn gì. Đời anh chưa được ai âu yếm như thế. Tình yêu Chúa làm cho đời anh bừng sáng. Anh tìm thấy tất cả ý nghĩa cuộc đời khi gặp được Chúa.

    Chúa đem ánh sáng đến cho anh. Chúa là tất cả đời anh. Anh không cần gì khác nữa. Anh vất bỏ cả áo choàng là tài sản duy nhất. Vì anh đã khám phá ra kho tàng quý giá nhất đời. Anh đứng phắt dậy mà đến với Chúa vì tuy mắt chưa nhìn thấy mà lòng anh sáng như sao băng. Và nhất là anh đi theo Chúa cho đến cùng vì Chúa chính là ánh sáng cho đời anh. Chúa sẽ dẫn đường anh đi. Đi đến sự thật và đến sự sống.

    Đời sống tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin vào Chúa. Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa. Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa. Hãy tin tưởng vào Chúa. Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi. Hãy hy vọng vào Chúa. Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời. Hãy yêu mến Chúa. Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi. Hãy noi gương anh mù thành Giêricô bỏ tất cả mà theo Chúa. Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1) Hãy kể ra những thứ bóng tối trong đời anh mù thành Giêricô.

    2) Hãy kể ra những thứ ánh sáng Chúa đã chiếu vào đời anh

    3) Tại sao anh mù sau khi hết mù đã đi theo Chúa?

    4) Bạn có bị bóng tối nào bao phủ đời bạn không?

    5) Bạn có tìm thấy Chúa là ánh sáng cho đời bạn không?

    Về mục lục

    .

    “TẦM NHÌN” LÀ GÌ?

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Ngày nay, người ta hay nói đến hai chữ “tầm nhìn”. “Tầm nhìn” hình như nó đã trở thành mốt của những người thích ăn to nói lớn, muốn chứng tỏ mình là người nhìn xa trông rộng.

    Thực ra, người xưa cũng đã có khái niệm về hai chữ tầm nhìn, nhưng dùng đơn giản là từ “lo xa”. Một người nông dân biết dự trữ lương thực cho tháng ba ngày tám, biết dành tiền tới tháng 9 để cho con cái đến trường, biết tiết kiệm phòng lúc ốm đau, biết lo chuyện cưới vợ gả chồng cho con cái sau này… chính là người biết lo xa mà ngày nay gọi là có tầm nhìn.

    Không lo xa thì nước tới chân chạy chẳng kịp. Người biết lo xa là người khôn ngoan. Người biết nhìn xa trông rộng là người không bao giờ thất bại. Nhưng lo xa hay tầm nhìn đôi khi cũng sai lầm, cũng thất bại. Biết lo xa, hay có tầm nhìn đúng phải là người có lý trí sáng suốt, có mưu lược khôn ngoan thì mới định liệu trước sự việc. Điều nào cần làm và điều nào không nên làm.

    Cuộc đời con người thành công hay thất bại đều dựa trên “tầm nhìn” đúng hay sai. Điều quan yếu phải có tầm nhìn trong sáng để không bị tham sân si làm mờ con mắt. Đừng thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại liền sau. Nhiều người làm ăn gian dối thì có lợi trước mắt nhưng công việc lại chẳng bền lâu. Nhiều người chỉ biết nghĩ cho mình nên chẳng có bạn bè trợ giúp khi gặp hoạn nạn. Con người cần phải có cái nhìn đắc nhân tâm để sống có ích cho cuộc đời.

    Chúa Giê-su luôn có tầm nhìn vì ích lợi của con người. Cuộc đời Ngài luôn nhìn thấy nhu cầu khốn khổ của tha nhân để chạnh lòng thương xót và làm xoa dịu nỗi đau cho con người. Phúc âm nhiều lần nhắc đến 2 từ “Ngài nhìn” thấy và chạnh lòng thương. Từ cái nhìn chạnh lòng đầy thương cảm ấy mà Ngài đã làm tất cả để xoa dịu nỗi đau cho những ai mà Ngài gặp gỡ trên đường.

    Bài phúc âm hôm nay tường thuật về việc làm đầy tình thương của Chúa Giê-su. Ngài chạnh lòng thương và ban lại ánh sáng cho đôi mắt mù lòa của người thanh niên tên là Bartime. Chúa đã nhìn thấy thiện chí của anh, hay có thể nói Chúa đã nhìn thấy đức tin của anh, nên Chúa đã chữa khỏi bệnh mù lòa cho anh. Từ nay anh có thể thấy mọi sự, nhất là anh thấy cả quyền năng của một vì Thiên Chúa luôn động lòng trắc ẩn con người.

    Con người mù lòa thể xác thì khổ cho bản thân, nhưng mù lòa tâm hồn thì gây thiệt thòi không chỉ cho bản thân mà còn cho tha nhân. Lãnh đạo mà mù quáng thì làm nghèo đất nước. Cha mẹ không lo xa thì con cái lầm than. Bản thân thiếu tầm nhìn thì không có tương lai.

    Thế nên, chúng ta cần xin Chúa ban cho chúng ta ánh sáng của chân lý, của sự thiện để chúng ta sống với cái nhìn trong sáng, chân thật về cuộc đời. Ước gì cặp mắt của tâm hồn chúng ta luôn đủ sáng để nhận ra đâu là thiện, là ác, để luôn hành động đúng theo lương tri của một con người. Amen.

    Về mục lục

    .

    LÒNG THƯƠNG

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Nỗi khổ của con người

    Anh mù ngồi bên vệ đường, ăn xin, sống nhờ lòng thương của con người. Nếu ai đã từng bị sống trong tăm tối hay quan sát người mù, sẽ thấy bị mù cực khổ như thế nào! Phải ăn xin cũng là một nỗi khổ, và hơn nữa phải tùy thuộc người khác trong nhiều lãnh vực: đi lại và những nhu cầu tối thiểu của con người. Hiểu được như vậy, sẽ dễ dàng cảm thông tiếng kêu của anh mù hơn: “Lạy Con Vua Đavit, xin thương xót tôi”.

    Không phải chỉ có bệnh mù về thể lý, nhưng còn có mù về thiêng liêng nữa. Mù thể lý ngăn cản người ta thấy những gì là vật chất, còn mù thiêng liêng ngăn cản người ta thấy sự thật. Mù làm khổ mình và khổ cả người khác nữa.

    Được sáng, thật hạnh phúc dường bao!

    Đức Giêsu thương cảm trước nỗi khổ của con người

     Những người đang hiện diện ở đó đòi người mù im lặng, nhưng anh ta lại càng la to hơn. Tại sao những người ở đó đòi anh mù im lặng? Có thể họ nghĩ tiếng kêu của anh mù vô ích, vì chẳng ích lợi gì? Đức Giêsu làm gì có tiền mà bố thí cho anh mù! Và hơn nữa, làm sao Đức Giêsu có thể chữa cho anh mù thấy được? Có lẽ không phải họ không thương anh mù cho bằng họ nghĩ Đức Giêsu chẳng giúp gì được cho anh mù. Anh ta nên im đi thì tốt hơn.

    Dù bị ngăn cản và phản đối, anh mù vẫn la, và càng la to hơn. Anh ta hy vọng tiếng kêu của anh ta tới tai Đức Giêsu và được Ngài thương xót: “Lạy Con Vua Đavit, xin thương xót tôi”. Anh ta là người tin vào Đức Giêsu, chờ đợi và hy vọng nơi Đức Giêsu hơn bất cứ ai trong trường hợp này. Và tiếng kêu của anh ta đã lọt vào tai Đức Giêsu, và Ngài đã bị “đáng động” bởi tiếng kêu này. Đức Giêsu rung động trước nỗi khổ của con người.

    Thiên Chúa vẫn thương cảm trước nỗi khổ của con người. Ngày xưa dân Do Thái khi bị nô lệ cực khổ bên Ai-cập, họ đã kêu lên Thiên Chúa, và Ngài đã thương giải phóng họ khỏi Ai-cập. “Những ai vất vả và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ bổ sức cho” (Mt.11, 28): Đức Giêsu cũng luôn thương cảm trước nỗi khổ của con người.

    Tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, và kêu cầu Ngài, Ngài sẽ đáp cứu.

    Hãy thương cảm trước nỗi khổ của con người như Đức Giêsu

    Thương cảm trước nỗi khổ của con người, là nét đặc trưng của Thiên Chúa. Thiên Chúa cũng muốn con người thương cảm trước nỗi khổ của anh em mình như Ngài. Người đầy tớ “không biết thương xót” anh em mình, sẽ không được thương xót (Mt.18, 23-35).

    Rung động trước nỗi khổ của anh em mình, là trở nên người hơn, trở nên con Thiên Chúa hơn. Ước gì con người biết thương cảm và yêu thương người khác trong hoàn cảnh khốn khổ của họ. Ngay cả khi không có gì để cho, hoặc có rất nhiều điều để cho người khác, thì tình yêu thương vẫn là món qùa qúy nhất.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

    1. Bạn đã rung động trước nỗi khổ của con người chưa? Xin bạn chia sẻ kinh nghiệm.
    2. Điểm nào đáng động bạn nhất khi nghe đọc đoạn Tin Mừng Mc.10, 46-52 trên?
    3. Đức Giêsu đã bao giờ chữa bệnh mù cho bạn chưa? (Đức Giêsu có giúp bạn thấy rõ một điều gì mà trước đó bạn bị nô lệ bao giờ chưa? Nếu có xin chia sẻ.)

    Về mục lục

    .

    KHI CẦU NGUYỆN TA PHẢI XIN GÌ TRƯỚC HẾT

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Anh chàng mù Ba-ti-mê ngồi bên vệ đường thành Giê-ri-cô đã xin Đức Giê-su điều gì, câu hỏi thật ngớ ngẩn! Vì rõ ràng anh ta xin được sáng mắt chứ còn điều gì nữa: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”! Thế nhưng ta cũng nên lưu ý: trước cả khi mở miệng xin được nhìn thấy, anh đã khẩn khoản kêu xin một điều khác còn quan trọng hơn nhiều: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vit, xin rủ lòng thương tôi!” Được nhìn thấy là ngọn, là kết quả của được xót thương là gốc, là nguyên nhân!; chỉ vì tranh thủ được lòng trắc ẩn của thầy Giê-su mà anh mù mới đạt được điều anh hằng mơ ước là được nhìn thấy. Vì cho tới lúc đó, anh thực sự chưa biết nhiều về ông thầy Giê-su đang đi qua; thiên hạ đồn rằng: ông rất đáng kính và hay làm phép lạ, tuy nhiên, cho dầu có là bậc thầy đáng kính tới mấy, nhưng nếu ông không đoái hoài, không xót thương mình thì cũng kể bằng không! Anh chưa hề có bất cứ một bằng chứng nào về đức độ từ nhân của thầy; nếu Ngài không rủ thương thì mọi sự đâu vẫn hoàn đó, và ước vọng cháy bỏng của anh sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực; chính vì lẽ đó mà anh kêu gào cho bằng được lòng thương xót, bất chấp nhiều người “quát nạt bảo anh im đi”.

    Tin vào tình yêu thương của Thiên Chúa là điều căn bản nhất của niềm tin Ki-tô hữu, chứ không phải tin vào sự hiện hữu của Ngài (điều này không may đã trở thành nỗi ám ảnh trước trào lưu vô thần của một số người). Biết bao lần chúng ta được Giáo Hội dạy cho biết: Thiên Chúa yêu thương nhân loại nói chung, yêu từng người nói riêng vô ngần; Người yêu từ ngàn xưa, yêu bất chấp các yếu đuối tội lỗi của con người. Về phần mình, Ki-tô hữu có trong tay bằng chứng không thể chối cãi về tình yêu tuyệt đối đó: cái chết Thập Giá của Đức Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa. Lý thuyết là như thế, nhưng ta vẫn cần tra vấn mình như sau: Ki-tô hữu chúng ta thường có thái độ nào trong cầu nguyện?

    Nhiều người xưng mình là Ki-tô hữu, nhưng lại thường xuyên hoài nghi, ngờ vực tình yêu nhân ái vô bờ bến của Thiên Chúa! Điều này đôi khi được diễn tả qua việc bề ngoài xem ra rất ư là đạo đức: họ cầu khẩn van xin Đức Mẹ và các Thánh cầu bầu cho, với hậu ý là: chưa chắc Chúa đã thật sự hết lòng xót thương mình. Tiến trình cầu nguyện của nhiều ‘người có đạo’ thông thường vẫn theo trình tự như sau: tới trước mặt Chúa qua trung gian một vị quan thầy quyền thế nào đó, nếu dọn trước được một số lễ vật lót đường thì càng tốt, hay ít nhất cũng sửa sang lại trong ngoài sao cho xứng đáng hơn, rồi khẩn khoản trình bày chi tiết điều mình muốn xin… Trong trình tự này, ít có ai dành thời giờ để gợi nhớ cho mình điều Đức Giê-su đã từng khảng định: “Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước cả khi anh em cầu xin” (Mt 6:8). Nói cách khác, nếu có một tiền đề nào cần phải làm trước khi quì gối cầu nguyện thì đó chính là: xin được con gia tăng tin tưởng tín thác vào Thiên Chúa nhân ái và hay xót thương! Hãy dành cho việc này nhiều thời giờ và nỗ lực hơn để chính mình xác tín, rồi loan báo cho mọi người biết về lòng nhân lành và hay thương xót của Chúa Cha; nhất là khi những gì đang xảy ra quanh ta hầu như muốn bịt miệng không cho phép ta gào lên điều đó! Nói cách khác, noi gương chàng Ba-ti-mê mù lòa, hãy can đảm và kiên định kêu gào cho bằng được điều căn bản nhất của niềm tin chúng ta: ‘Xin cho con thấu hiểu và xác tín được lòng Chúa từ nhân, bất chấp những tang thương đang tràn ngập quanh con’.

    Trong cùng triền tư tưởng đó, lời cầu xin “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được…” sẽ còn mang một nội dung khác nữa: xin cho được thấy, được nhận ra ‘lòng nhân lành của Chúa’ trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong những biến cố rất là phi lý và bất công, nơi mà ta không thể nhận thấy bất cứ một biểu hiện nào của từ nhân và yêu thương.

    Sau hết câu nói của Đức Giê-su “lòng tin của anh đã cứu anh” cũng hé cho thấy niềm tin đó hệ tại điều gì: tin Đức Giê-su là mạc khải về Chúa Cha từ nhân, và tin Thiên Chúa hay xót thương đứng đàng sau mọi biến cố cuộc đời. Tin đây phải hiểu là tin tưởng phó thác; cầu nguyện với lòng tin tưởng như thế thật có sức mạnh biết bao!

    Lạy Chúa Thánh Thần, xin dạy con biết cầu nguyện trong Người, vì con “không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp bằng những tiếng rên siết khôn tả! Và Thiên Chúa, đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8:26-27). Vâng! Con xin Người biến mọi lời cầu nguyện của con thành diễn đạt một niềm tín thác tuyệt đối vào Chúa Cha từ nhân và hay xót thương. Xin cho con mãi duy trì được thái độ này, bất chấp mọi nghịch cảnh có thể xảy đến. A-men.

    Về mục lục

    .

    NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ

    Lm. Văn Hào

    Năm 1945, khi cuộc chiến thế giới kết thúc, những người lính trẻ từ chiến trường phương xa lần lượt trở về cố hương. Tại nhà ga Verona bên Ý, một đám người đang tụ tập để nóng lòng chờ mong những cuộc hội ngộ. Giữa đám đông, có một bà cụ đứng đó một mình. Bà cũng đang ngong ngóng đợi chờ người con thân yêu sau nhiều năm tháng biền biệt đi xa. Lúc đoàn tầu cập bến, người ta thấy có một chàng thanh niên mù cũng đang quờ quạng kiếm tìm một ai đó. Cuối cùng người lính mù cũng lần mò tìm được người mẹ thân yêu, đang đứng co ro ngóng đợi. Chàng trai ôm chầm lấy bà cụ òa khóc nức nở và nói: “ Mẹ ơi, đôi mắt con đã bị mù hoàn toàn rồi. Con không còn thấy gì nữa, nhưng con đã tìm thấy mẹ bằng trái tim của con”. Người mù thành Giêrikhô mà bài Tin mừng hôm nay thuật lại cũng đã tìm đến với Đức Giêsu không phải bằng đôi mắt của thân xác, nhưng với đôi mắt của cõi lòng.

    Giêrikhô, chặng đường tiến vào đất hứa

    Giêrikhô được mệnh danh là thành phố mặt trăng, nơi tôn thờ một vị thần của đêm đen. Trong thuật ngữ thánh kinh, Giêrikhô còn là biểu tượng của cuộc hành trình sa mạc tiến vào đất hứa. Ngày xưa, Giôsuê đã đánh chiếm Giêrikhô để mở đường đưa dân Do Thái đi vào miền đất mà Đức Chúa Giavê đã hứa ban. Đức Giêsu chữa lành anh chàng mù thành Giêrikhô hôm nay cũng diễn bày quyền năng và lòng thương xót của Ngài trước khi đi thụ nạn, khai mở cho chúng ta một vùng đất hứa mới, đó là ơn cứu độ và ánh sáng vĩnh cửu. Ngài sẽ đẩy lùi bóng tối tội lỗi của đêm đen để đưa dẫn chúng ta tiến vào bình minh của một ngày mới, đó là ngày ‘Thiên Chúa viếng thăm dân Người’. Đức Giêsu là nguồn sáng vĩnh hằng. Ngài đến để giải cứu chúng ta thoát khỏi sự mù lòa trong tội lỗi và sự chết. Đây là sứ điệp mà trình thuật phép lạ hôm nay gợi mở.

    Sau những lần được loan báo về viễn ảnh Thập giá cùng với những bài học về sự từ bỏ và về tinh thần khiêm tốn phục vụ, các học trò của Đức Giêsu dường như vẫn chưa hiểu. Con mắt đức tin của họ vẫn còn đóng khép lại khi đối diện trước Thập giá và cái chết. Chúa Giêsu hôm nay muốn khải thị sâu xa hơn về chân dung cứu thế của Ngài qua việc chữa lành anh mù. Ngài muốn vạch dẫn con đường rộng mở để các môn sinh có thể trở nên những môn đệ Ngài cách đích thực và tiếp tục dấn bước theo Ngài.

    Bóng tối và sự mù lòa

    Có một bài thơ được khắc trên ngôi mộ của một người mù xấu số. Bài thơ viết như sau : “Đôi mắt tôi mù lòa tựa đêm đen. Thế giới ánh sáng đã vĩnh viễn khép lại. Chung quanh tôi chỉ còn bóng tối đầy kinh khiếp. Tôi như một phế nhân bị vất bỏ hoàn toàn. Hằng ngày tôi chẳng còn làm được gì, ngoài việc ngồi xếp chân trên đất với đôi tay giang rộng để van nài sự bố thí của những người qua lại. Cuộc sống tôi như một chuỗi đêm đen bất tận. Thật khốn khổ thân tôi.” Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã từng có dịp đến thăm những mảnh đời bất hạnh tại các mái ấm dành cho người khiếm thị, như mái ấm Nhật Hồng ở Thủ Đức, mái ấm Thiên Ân ở quận Bình Tân… Thế giới của người mù là cả một thế giới huyền bí, nhưng đầy ắp bi thương và xót xa. Thầy Nguyễn Quốc Phong là một cựu tu sĩ dòng Don Bosco cũng bị mù từ năm ba mươi tuổi và đã lập mái ấm Thiên Ân để đồng cảm với những con người cùng cảnh ngộ. Thầy chia sẻ: “Tôi bị tai nạn và trở nên mù lòa hoàn toàn, giữa tuổi xuân đang hừng hực sức sống. Tôi đã từng rơi vào tuyệt vọng chán chường và khá nhiều lần bị cám dỗ toan tính tự tử. Nhưng giữa đêm đen kinh hoàng, tôi đã nghe được tiếng Chúa gọi, giống như Ngài đã gọi anh mù năm xưa ở Giêrikhô. Hằng ngày, tôi vẫn lập đi lập lại lời thánh thi giờ kinh tối để diễn bày niềm tin vào Chúa: ‘Khi ánh sáng chìm vào đêm tối, lời kinh dâng tiến Chúa càn khôn’. Thầy đã mở mái ấm Thiên Ân để sẻ chia bất hạnh với những con người sống trong nghiệt ngã giống như Thầy. Quả thật, sự mù lòa luôn gắn liền với bóng tối và sự khốn cùng.

    Đó là sự mù lòa thể lý. Nhưng còn nhiều dạng thức mù lòa khác còn khiếp sợ hơn rất nhiều. Chúa Giêsu từng cảnh báo: “ Người mù mà dắt người mù sao được, cả hai sẽ rơi xuống hố” (Mt 15, 14), hoặc “Hãy lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi, để ngươi thấy rõ, mới có thể thấy cái rác trong mắt người anh em ” (Mt 7, 3-4 ). Đây là những dạng mù lòa thiêng liêng mà chúng ta dễ thường hay mắc phải.

    Có một anh chàng bị mù từ nhỏ. Mắt anh không thấy gì. Người ta kể cho anh những chuyện xảy ra ở trong xóm hay ngoài phố, anh không tin vì anh không thấy. Một vị lương y thương tình chữa cho anh. Anh dần dần thấy được lờ mờ những cảnh vật chung quanh, thấy con đường làng nho nhỏ trước mắt, thấy được cánh đồng bát ngát xa xa. Người ta nói với anh còn nhiều cảnh tượng hùng vĩ khác, còn có cả những rặng núi trùng trùng cao ngất, còn có cả biển rộng mênh mông xa tít chân trời… anh vẫn nhất định không tin, vì anh chưa thấy. Vị lương y buồn bã và thở dài nói với anh: “Này anh bạn, con mắt thân xác anh đang từ từ mở ra, nhưng con mắt tâm hồn của anh vẫn còn khép chặt lại, do sự kiêu ngạo và cố chấp nơi anh.”

    Đây là dạng thức mù lòa của những người biệt phái năm xưa mà Chúa nói khá nhiều lần khi Ngài gọi họ là ‘những kẻ dẫn đường mù quáng’ (Mt 23, 16; 17; 19; 24). Sự mù quáng tăm tối nơi đầu óc họ chính là con đẻ của tính kiêu ngạo, luôn coi mình là nhất, luôn lấy mình làm thước đo để định giá người khác. Tính phê bình chỉ trích và hay kết án người này người nọ, nhất là qua những xì xầm to nhỏ chẳng khác gì thái độ của năm chàng mù đi xem voi mà chắc hẳn chúng ta đều biết. Đức Thánh Cha Phanxicô từng nói trong đại hội tu sỹ trẻ thế giới tháng Chín vừa qua rằng, việc chỉ trích và xầm xì (gossip) như thế chẳng khác gì khủng bố, khi người ta đang âm thầm thả những trái bom để tàn phá danh dự lẫn nhau. Người Pharisiêu ngày xưa cũng hay làm thế. Anh chàng biệt phái lên đền thờ cầu nguyện chỉ để khoe những thành tích đạo đức cá nhân mình và chê bai mọi người: “Lạy Chúa, con không như người thu thuế tội lỗi kia, con ăn chay mỗi tuần hai lần, con đóng góp một phần mười huê lợi của con…” Sự mù lòa được thể hiện rất rõ nơi thói kiêu ngạo và thích kết án tha nhân giống như vậy. Có lần một phóng viên trên máy bay hỏi Đức Thánh Cha về quan điểm của Ngài đối với những người đồng tính, Ngài trả lời rất khôn ngoan: “Tôi là ai mà dám phán xét họ”. Mù lòa tâm linh chính là tự đóng khung mình trong pháo đài kiêu ngạo để phán xét mọi người. Thiên hạ vẫn thường nói “Điếc hay ngóng, ngọng hay nói. Người dốt lại thích khoe chữ”. Càng nói nhiều khoe khoang nhiều, càng lộ cái dốt của mình ra cho người ta thấy. Tính kiêu ngạo và sự mù lòa tâm hồn đi đôi với nhau.

    Cần được chữa lành

    Chúng ta hãy học thái độ của anh chàng mù trong bài Tin mừng hôm nay. Tiến trình được chữa lành nơi anh gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là anh ý thức sự mù lòa nơi bản thân. Anh chàng đã cảm nhận rất sâu thân phận bi thương của mình nên đã nhiều lần gào thét thật to giữa đám đông: “Lạy ông Giêsu, xin thương xót tôi – Kyrie eleison”. Cũng vậy, chúng ta cần phải ý thức về tình trạng tội lỗi và sự mù lòa nơi tâm hồn chúng ta. Người mù hôm nay đã kiên nhẫn la to lên khá nhiều lần đến độ dân chúng bực bội và quát nạt bảo anh ta câm mồm lại. Nhưng không, lời kêu cứu đó được lặp đi lặp lại và đã chạm đến cõi lòng của Đức Giêsu. Nỗi bất hạnh lớn nhất của người mù là mình bị mù nhưng cứ tưởng người khác cũng mù giống như mình. Cần phải biết và ý thức sâu xa sự mù lòa nơi chính bản thân chúng ta. Giai đoạn thứ hai, Chúa Giêsu gọi anh ta lại. Anh đã đứng lên và vất bỏ áo choàng anh đang mặc. Đây là một hình tượng tuyệt đẹp nói lên quyết tâm của chúng ta trong cuộc hành trình đức tin, một thái độ cương quyết dứt bỏ quá khứ tội lỗi. Chúng ta sẽ không được chữa lành nếu chúng ta vẫn còn đeo bám vào những gì cũ kỹ, như chiếc áo choàng của anh mù năm xưa, làm cản che tầm nhìn chúng ta hướng về Đức Giêsu. Giai đoạn cuối cùng là anh mù đã đến với Chúa và mở lòng ra với Ngài: “Thưa Thầy, xin cho tôi được nhìn thấy.” Chúa Giêsu đã chạm đến anh và chữa lành cho anh. Đây là mô thức cho cuộc hành trình đức tin của chúng ta đến với Đức Giêsu. Chúng ta nghe tiếng Ngài gọi. Chúng ta hãy can đảm đứng dậy vứt bỏ đi tấm áo choàng sờn cũ. Chúng ta mạnh dạn đi đến để tiếp cận Ngài, để gặp gỡ Ngài. Ngài sẽ sờ chạm đến và chữa lành cho chúng ta.

    Kết luận: Sự ghê sợ của gương mù

    Trong một buổi hội thảo về gia đình, vị linh mục nọ đã chia sẻ một kinh nghiệm quý báu. Ngài nói với cử tọa rằng Ngài được mời đi xức dầu cho một em bé ở cô nhi viện. Sau khi lãnh nhận bí tích, em đã tâm sự với Ngài như sau: “Thưa Cha, xin Cha gửi tới mẹ con những lời trăn trối sau cùng của con. Con không nguyền rủa mẹ con cho dù con chỉ có một người mẹ trác táng và hư hỏng. Con cũng không biết bố con là ai. Con ra đời chỉ là kết quả những phút giây truy hoan tội lỗi của mẹ con với một người đàn ông nào đó. Mẹ con thay tình nhân như thay áo. Bà đã gượng gạo nuôi con đến khi con được 8 tuổi và vất con vào đây như một cục nợ. Những năm tháng ở với mẹ, con chỉ thấy nơi bà một con người độc ác, ích kỷ, thích ăn chơi và hưởng thụ, luôn nói những lời đay nghiến, nhiều khi còn muốn con chết quách đi cho xong. Giờ đây con sống cô đơn ở cô nhi viện. Con không oán trách bà ấy, cũng không nguyền rủa cha con. Con chỉ tiếc là con không có được những người cha người mẹ tốt lành và có được một mái ấm gia đình đơn sơ như bao đứa trẻ khác”.

    Đứa bé thều thào trong sự nghẹn ngào đau xót. Vị linh mục nhìn thấy những giọt nước mắt vọt trào từ đôi mắt đẫm lệ của đứa trẻ thơ, và vài giọt máu từ từ bắt đầu rỉ ra. Thằng bé lịm chết dần, mang theo bao nỗi xót xa còn vương đọng nơi tâm hồn của một đứa bé thơ vô tội nhưng cuộc đời đầy ắp những bất hạnh.

    Cả hội trường thổn thức và xúc động lắng nghe. Vị linh mục kết luận: “Hỡi các bậc làm cha làm mẹ, mỗi ngày quý vị hãy quỳ gối xuống trước mặt Chúa để sám hối và thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin Chúa trợ giúp để chúng con đừng bao giờ trở nên gương mù cho con cái mình.”

    Ai làm cớ cho một người bé mọn đây phải sa ngã, thà cột cối đá vào cổ nó mà xô xuống biển còn hơn”. Mù lòa thân xác đã là ghê sợ, nhưng trở nên gương mù cho người khác phạm tội còn kinh tởm hơn rất nhiều. Chúa Giêsu đã mạnh mẽ nói như thế. Ước gì lời Chúa hôm nay lay động con tim mọi người, nhất là những người làm cha làm mẹ trong các gia đình, để chúng ta đừng bao giờ trở thành người mù dẫn đường cho những người mù khác, đặc biệt cho con cái chúng ta.

    Về mục lục

    .

    HÒA ĐIỆU XÓT THƯƠNG

    Trầm Thiên Thu

    Trong âm nhạc có những giai điệu đẹp khiến lòng người mê say. Điệu thức là hệ thống âm thanh kết hợp với nhau theo một quy luật nhất định, trong đó có âm thanh ổn định và không ổn định, âm thanh ổn định nhất gọi là chủ âm. Có hai loại điệu thức: điệu thức trưởng và điệu thức thứ, với “màu sắc” khác nhau. Chỉ bảy nốt, nhưng liên kết khéo léo sẽ có giai điệu đẹp, điều này tùy vào tài năng âm nhạc của nhạc sĩ.

    Như đã nói, có những giai điệu đẹp, nghe hoài không chán; ngược lại, có những giai điệu không muốn nghe lại lần thứ hai. Giai điệu có thể đẹp hơn nếu được hòa âm khéo léo, tính tế.

    Tuy nhiên, giai điệu đẹp nhất và tuyệt vời nhất chắc chắn chỉ có giai điệu yêu thương, giai điệu của lòng thương xót. Giai điệu đó sẽ đẹp hơn khi nó trở nên hòa điệu, và nó còn là Mối Phúc thứ năm trong Bát Phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương ” (Mt 5:7).

    Ngôn sứ Giêrêmia loan báo: “Đức Chúa phán thế này: Reo vui lên mừng Gia-cóp, hãy hoan hô dân đứng đầu chư dân! Nào loan tin, ca ngợi và công bố: Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn sót lại của Israel! Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ: tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo” (Gr 31:7-8). Hành động của Thiên Chúa vô cùng kỳ diệu, hành động phát xuất từ lòng thương xót vô biên của Ngài. Điều này không là chế độ “xin – cho”, mà là hành động của sự động lòng trắc ẩn, cũng không phải là lòng thương hại mà là tình thương xót vô điều kiện mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Đầu óc “bã đậu” của chúng ta không thể nào suy thấu!

    Ai có đi tù rồi mới biết thế nào là hạnh phúc khi được ra tù, được trả tự do. Niềm vui đó khó tả vì nó quá lớn lao. Dân Israel cũng không thoát khỏi cảm giác kỳ lạ đó, họ sung sướng đến nỗi phải bật khóc. Ngôn sứ Giêrêmia nói trước: “Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng, dẫn đưa tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã. Vì đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng” (Gr 31:9). Và tất nhiên, điều tiên báo đó đã được ứng nghiệm chính xác.

    Tác giả Thánh Vịnh cũng mô tả cảnh tượng kỳ diệu đó: “Khi Chúa dẫn tù nhân Sion trở về, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng. Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán: “Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” (Tv 126:1-2). Chắc chắn không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó được, thế nên chính họ đã hân hoan thốt lên: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui” (Tv 126:3)

    Tác giả Thánh Vịnh cầu xin: “Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về, như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam. Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:4-6). Giống như “luật nhân quả” vậy, ai cười rồi sẽ khóc, ai sướng trước sẽ khổ sau. Ngược lại, ai khóc trước sẽ cười sau, ai vất vả rồi sẽ được hưởng kết quả. Một trong Bát Phúc cũng đề cập vấn đề này: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5). Vâng, Thiên Chúa là Đấng chí thánh, chí minh và chí công!

    Còn chúng ta là phàm nhân đầy tội lỗi vì quá yếu đuối, hứa rồi quên, hối rồi phạm, đứng rồi lại ngã. Cứ thế, cứ thế,… Chu kỳ của chúng ta là những chuỗi sám hối và đền tội. Tuy nhiên, vì bất xứng nên Thiên Chúa tuyển chọn một số người thay chúng ta dâng của lễ đền tội. Người đó được chọn không phải vì xứng đáng, mà vì Thiên Chúa muốn hành động theo kế hoạch thương xót của Ngài. Thánh Phaolô nói chi tiết: “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy” (Dt 5:1-5).

    Thánh Phaolô giải thích rõ ràng: “Không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron đã được gọi. Cũng vậy, không phải Đức Kitô đã tự tôn mình làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như lời Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5:4-6). Được CHỌN thì cũng được TRAO trọng trách, vì không phải được chọn để ung dung tự tại, tìm sự an nhàn cá nhân mà “vô tư” bỏ quên những người khác, nhưng phải quên mình, dấn thân, hy sinh vì những người khác. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!

    Với tinh thần đó, trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ Tư theo thông lệ vào ngày 15-5-2013, ĐGH Phanxicô đã nhắc nhở các giáo sĩ mục phải cẩn thận tránh xa cám dỗ để có thể trở nên mục tử hữu hiệu, và phải bảo vệ đàn chiên khỏi nguy hiểm. Sử dụng từ ngữ rất “mạnh”, ví von thực tế, thậm chí có thể gây “sốc” với một số người, ĐGH Phanxicô nói: “Nếu chúng ta đi với người giàu, là chúng ta đang đi về phía hư vô, chúng ta sẽ trở thành chó sói, chứ không phải người chăn chiên. Ngài cũng thúc giục tín hữu Công giáo cầu nguyện cho giám mục và linh mục”.

    Phải vậy thôi, bởi vì ngày xưa chính Chúa Giêsu đã thẳng thắn cảnh báo mà không sợ “đụng chạm” bất cứ ai: “Hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai làm gì có nho mà hái? Trên cây găng làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7:15-17; Lc 6:43-45). Ngài cảnh báo để thức tỉnh những người “tai to, mặt lớn” (đại diện mà!), và đặc biệt là để thương xót những “con chiên”, không muốn chúng bị sập bẫy của lũ sói hoặc cáo!

    Trình thuật Mc 10:46-52 (Mt 20:29-34; Lc 18:35-43) nói về anh mù Ba-ti-mê ở Giê-ri-khô, liên quan hệ lụy thương xót với Đức Kitô.

    Hôm đó, Chúa Giêsu và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Thầy với trò và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”. Có thể vì anh ta quá khổ sở vì mù lào, cuộc đời chỉ là đêm đen dày đặc, nên anh ta muốn thoát khỏi cảnh khổ đó, nhưng không phải anh ta “cầu may” theo kiểu “có bệnh thì vái tứ phương”, mà chắc chắn anh ta thực sự có lòng tin thật lớn đối với Chúa Giêsu. Anh ta chỉ nghe người khác nói về Ngài chứ anh ta có biết gì đâu. Vậy mà anh đã tin, tin thật, không chút hồ nghi.

    Thấy anh ta la lối om sòm, kêu gào nhức tai quá, nhiều người đã quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng với điệp khúc van xin: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”. Những người quát nạt anh ta chỉ là những người chảnh, xấu bụng, không hề biết chạnh lòng thương trước cảnh khổ của người khác. Họ đã không thương anh ta thì thôi, lại còn đâm bị thóc, chọc bị gạo. Quá chảnh!

    Nhưng mặc kệ, anh ta vẫn tin tưởng và van nài. Anh ta mù mắt mà sáng hồn, kiên trì cầu nguyện. Còn chúng ta, tuy mắt sáng (và còn đẹp nữa), thế mà lại mù hồn. Đã vậy thì chớ, đôi khi chúng ta cầu nguyện mà như “ra lệnh” cho Chúa vậy. Thật thế, cầu xin mãi không được thì nản lòng, bỏ cuộc, chứng tỏ đức tin chúng ta quá mong manh. Cầu nguyện kiểu như vậy chỉ là ích kỷ!

    Nghe tiếng cầu xin chân thành, Chúa Giêsu đứng lại và bảo gọi anh ta lại. Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!”. Chỉ chờ có thế thôi, anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Ngài hỏi anh muốn Ngài làm gì cho anh. Anh ta nói ngay: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Ngài nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!”. Thế là ngay lập tức, anh ta nhìn thấy được và đi theo Ngài trên con đường Ngài đi. Anh ta XIN và ĐƯỢC, Chúa Giêsu LẮNG NGHE và ĐÁP LẠI. Chúa Giêsu và anh mù Ba-ti-mê đã cùng hòa điệu thương xót. Thật tuyệt vời biết bao!

    Mỗi người trong chúng ta đều là một nốt trong bản tổng phổ thương xót. Một nốt nhỏ đó không là gì, nhưng thiếu nốt đó thì không thể hòa điệu trọn vẹn. Tương tự, mỗi nhạc công trong một dàn nhạc cũng chẳng là gì nếu tách riêng, nhưng họ vẫn thực sự quan trọng khi hoàn tất nhiệm vụ của mình trong dàn nhạc. Cuộc sống thật kỳ lạ, có những điều bé nhỏ, xem chừng quá đỗi bình thường, nhưng chính những điều bé nhỏ đó lại chứng tỏ một tình yêu thương lớn lao.

    Lạy Thiên Chúa, xin mở mắt đức tin cho con để con nhìn thấy Ngài trong tha nhân, nhất là những con người hèn mọn và đau khổ. Xin giúp con biết thể hiện lòng thương xót để con làm trọn bổn phận của một nốt nhỏ trong bài Trường Ca Yêu Thương của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐÔI MẮT CỦA CHỊ NỮ TU

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Trong cuốn sách “Những người lữ hành trên đường hy vọng”, Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận kể câu chuyện “Đôi mắt xanh của chị Nữ Tu” thật cảm động.

    Trên khắp các nước, thế chiến đã bùng nổ. Quân phát xít chiếm cứ khắp nơi. Một viên tướng Phát xít đến một nhà dòng kia, yêu cầu kêu Mẹ Bề trên cho ông ta gặp… Khi vừa dốc cạn ly nước từ tay Mẹ Bề trên, viên tướng Phát xít lập tức vào đề:

    – Xin bà cho tôi gặp chị Maria.

    Bà Bề trên bấm chuông gọi chị ấy ra. Ông tướng vui vẻ hẳn lên và nói cách sổ sàng: “Tôi yêu cầu bà trao ngay cho tôi chị này, tôi say mê chị”.

    Hai mẹ con nhìn nhau lúng túng. Chị Maria vội đỡ lời: “Tôi là một nữ tu tầm thường, nào có gì để ông say mê. Xin ông tìm ở ngoài thế gian, lắm người nhan sắc lộng lẫy…”.

    – Không! Không! Tôi yêu chị vì chị có đôi mắt xanh tuyệt đẹp. Tôi say mê quá!

    – Không! Xin lỗi ông, không bao giờ tôi chấp nhận điều ấy.

    – Nếu chị không chấp nhận, nội ngày mai, tôi sẽ ra lệnh tiêu diệt cả Nhà Dòng này!

    Một bầu khí thinh lặng ghê rợn ập xuống phòng khách. Ông tướng đứng lên và bảo: “Tôi cho một đêm suy nghĩ, sáng mai tôi sẽ trở lại. Phải trả lời dứt khoát, nếu không tôi sẽ…”.

    Ngày hôm ấy, cả Nhà Dòng thiết tha cầu nguyệt sốt sắng hơn. Thâu đêm chị không thể nào chợp mắt: “Chẳng lẽ vì mình mà cả nhà phải bị tiêu diệt? Không, không thể được! Hay tôi phải bỏ Nhà Dòng, bỏ Tình yêu Chúa Kitô, bỏ đức trinh khiết? Không, không bao giờ như thế!”.

    Sáng hôm sau, khi chị em còn nguyện kinh, ông tướng Phát xít đã có mặt ở phòng khách, đôi mắt hau háu, nôn nóng, sốt ruột.

    Từ đầu hành lang, Chị Maria đang tiến lại, nhưng… bên cạnh lại có một người khác dẫn đi, tay chị cầm một cái dĩa. Viên tướng há hốc mồm, trố mắt kinh ngạc. Chị đã bước vào phòng khách, nhưng ông vẫn không ngớt ngẩn ngơ. Chị Maria khuôn mặt đầy máu me, đang sờ soạt đặt cái dĩa trên mặt bàn và nhỏ nhẹ trình bày: “Thưa ông, vì ông say mê cặp mắt của tôi… nên tôi xin sẵn sàng biếu ông cặp mắt ấy… trên dĩa này. Còn thân xác tôi, đời tôi, tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa”.

    Viên tướng Phát xít vừa bàng hoàng kinh ngạc vừa cảm phục. Ông xấu hổ đứng dậy bỏ ra về và không đá động gì đến Nhà Dòng nữa. (trang 175-177).

    Nữ tu Maria hy sinh đôi mắt xanh tuyệt đẹp để “dọi ánh sáng vào nơi tối tăm” của cõi lòng viên tướng, nhờ vậy ông ta được sáng đôi mắt và nhìn thấy sự cao quý của một tâm hồn thanh khiết.

    Đọc câu chuyện, liên tưởng đến chuyện vua Đavít được tiên tri Natan “mở mắt”. Dù đã có nhiều thê thiếp, nhưng vua lại chiếm đoạt bà Bátsabê là vợ của Uria và sau đó lại mượn tay quân thù giết chết chồng bà để chính thức cưới lấy Bátsabê làm vợ. Thế là vua đã phạm hai tội ác tày đình: ngoại tình và giết người. Vậy mà vua vẫn ung dung như không có gì xảy ta. Sau đó, Thiên Chúa sai tiên tri Natan đến cảnh tỉnh nhà vua. Tiên tri nói với vua: Trong thành kia, có một người giàu có đến cả ngàn dê cừu. Trong khi đó, bên cạnh nhà ông ta có một ông lão nghèo khó và cô độc, chỉ có một con chiên nhỏ làm bạn cho vui tuổi già. Ông lão thương con chiên đó như con gái của ông. Ông cho chiên ăn trên tay và cho ở trong nhà. Thế rồi khi người giàu có khách, ông ta không chịu bắt chiên mình làm tiệc, trái lại, cho tôi tớ qua nhà ông lão nghèo khổ bắt con chiên độc nhất của ông nầy làm thịt đãi khách. Nghe đến đây, vua Đavít bừng bừng nổi giận. Vua muốn trừng trị tức khắc tên bất lương đó. Nhà vua phán: “Nó đáng chết vì tội ác nó đã phạm. Nó phải bồi thường gấp bốn thiệt hại nó đã gây ra.” Bấy giờ tiên tri Natan mới tỏ cho vua biết tên bất lương đó chính là nhà vua và Chúa sẽ trừng phạt vua vì tội ác đã gây ra. Vua Đavít bừng sáng mắt ra, thấy rõ tội ác của mình nên đã ăn năn thống thiết. (II Samuel 11,1-12,12).

    Câu chuyện cũng gợi nhớ về đôi mắt mù của Nguyên Tổ trong sách Sáng Thế: “Rắn đã nói với người đàn bà: chẳng chết chóc gì đâu ! Quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu. Và người đàn bà đã nhìn; quả là cây ăn phải ngon… mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy để được tinh khôn. Và bà đã ăn… Và mắt cả hai người đã mở ra. Và chúng biết là chúng trần truồng” (St 3, 4-7).

    Đoạn Thánh Kinh nói về lịch sử sa ngã của loài người đã đề cập đến đôi mắt qua 3 tiến trình:

    – Rắn hứa là mắt hai ông bà sẽ mở ra.

    – Evà nhìn trái táo và thấy sướng mắt.

    – Mắt hai người mở ra và thấy mình trần truồng.

    Rắn hứa là mắt hai người sẽ mở ra để nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa, nhưng mắt đức tin đã nhắm lại nên không nhìn thấy điều mình muốn thấy. Họ không thấy mùa hoa nở rộ, những đồi cỏ bình yên, những dãi nắng hiền, những dòng suối êm ả. “Mà nhìn thì đã sướng mắt”, cái nhìn ấy phải là đắm đuối, bằng cái nhìn đam mê đó, tội lỗi, khổ đau và sự chết đã vào trần thế.

    Lời hứa của con rắn đã hiệu nghiệm: “mắt cả hai người đã mở ra”. Không phải mở ra để nhìn thấy vẻ đẹp mà nhìn thấy mình trần truồng. “Mắt hai người đã mở ra”. Câu Thánh kinh thật ngắn ngũi diễn tả cách tinh tế sự đau thương: mở ra cũng là lúc đóng lại. Ađam – Evà đã mở mắt, nhưng họ lẫn trốn không dám nhìn Thiên Chúa. Cả hai đã mở mắt nhưng để tìm lá che thân, không dám nhìn nhau. Khởi đầu lịch sử nhân loại là đôi mắt mù và sự mù loà chảy dọc theo thời gian mang tối tăm vào trong trần thế. (x.Nước mắt và hạnh phúc, trg 69-71, Lm Nguyễn Tầm Thường).

    Chúa Kitô đã đến chữa lành sự mù loà ấy, hàn gắn lại vết thương thưở sa ngã của Nguyên Tổ. Khi liên kết phép lạ Chúa Giêsu chữa người mù từ thưở mới sinh với sự mù loà của Nguyên Tổ, ta mới thấy ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trong thế gian.

    “Mù từ thuở mới sinh” là mù từ xa xưa, thuở địa đàng. Chúa Kitô đã mang ánh sáng cho thế gian. Ngài ban cho nhân loại đôi mắt mới: Mắt Đức Tin.

    Từ tiến trình đến ánh sáng tự nhiên, người mù có một hành trình tiếp cận ánh sáng đức tin. Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt thể lý và mắt tâm hồn của người mù. Chúa đã mở mắt đức tin để anh ta tin vào Chúa. Anh ta tin vào lời Chúa là đi rửa mắt ở hồ Silôác và đã công khai nói lên sự thật ca ngợi Chúa trước mặt những người Pharisiêu đang tra vấn, khủng bố anh: Chính tôi đây đã được người mà thiên hạ gọi là Giêsu lấy bùn xức mắt tôi và bảo tôi hãy đi rửa ở hồ Silôác. Tôi đã đi, đã rửa và đã trông thấy. Lòng bắt đầu rộng mở nên anh ta nhận ra: Nếu người đó không phải bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì. Bởi đó, khi gặp lại Chúa Giêsu và được hỏi: “Anh có tin Con Người không ?” thì anh đáp lại ngay: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Chúa Giêsu tỏ mình ra cho anh: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây”. Anh liền đáp: “Lạy Thầy, tôi tin.” Bước nhảy của niềm tin được kết tinh nơi thái độ quỳ xuống bái lạy.

    Qua việc chữa lành đôi mắt thể lý, Chúa Giêsu trao ban ánh sáng đức tin cho đôi mắt tâm hồn. Thoát khỏi bóng tối triền miên của cuộc đời, bát ngát một bầu trời mới khi anh được sáng đôi mắt. Lớn lao hơn nữa là tâm hồn anh thênh thang chứa chan lòng mến, anh đã quỳ bái lạy với tất cả lòng tin.

    Phép lạ chữa người mù thuở mới sinh là một dấu chỉ minh chứng: Chúa Giêsu là sự sáng thế gian, đã chữa lành sự mù loà của nhân loại với điều kiện: Tin vào Ngài. Chúa

    Giêsu cũng chữa nhiều người mù loà tâm hồn. Ngài mở mắt cho Giakêu thấy được sự nguy hiểm của tiền tài đối với phần rỗi (Lc 9, 1-10). Ngài mở mắt cho người đàn bà ngoại tình, giúp chị từ bỏ quá khứ lỗi lầm (Lc 7, 36-50). Ngài mở mắt cho người trộm lành giúp nhận ra lòng Chúa xót thương (Lc 23, 32-43)…

    Mỗi người chúng ta có lẽ không hoàn toàn mù tối tâm hồn, nhưng có những điểm tối mà ta thấy được. Chẳng hạn như những đam mê, tham vọng, hận thù, ghen ghét, kiêu căng, có thể làm ta mù tối không nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân. Có một số người chỉ nhìn thấy điểm tối của người khác, chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, những khuyết điểm mà không nhận ra những gì là xinh đẹp, những gì là cao quý, thánh thiện nơi họ. Cứ tiếp tục xét mình, ta sẽ thấy có nhiều điểm tối, sự mù tối của tâm hồn rất nguy hại. Chỉ có ánh sáng của Đức Kitô soi chiếu, chỉ có cái nhìn của Đấng tình yêu, mỗi người mới xoá tan những điểm tối đó. Chỉ có sự cầu nguyện và tin tưởng vào Đấng là ánh sáng thế gian, chúng ta mới có thể xua đuổi bóng tối ra khỏi tâm hồn và nhìn mọi sự trong ánh sáng Tin Mừng Đức Kitô. Ðôi mắt đức tin giúp chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa và yêu mọi người, mọi sự trong Chúa và yêu như Chúa đã yêu.Nhiều Thánh vịnh giúp chúng ta tập nhìn cuộc đời và con người bằng đôi mắt tin yêu, như Thánh vịnh 104, các Thánh vịnh Job 38-39.

    Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt thì đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin. Bartimê tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Chúa Giêsu là Ðấng Messia “Con Vua Ðavít”. Anh kêu xin : “Rabbuni, xin cho tôi được thấy”, và Chúa Giê-su trả lời : “Hãy đi ! Niềm tin của con đã cứu chữa con”. Bartimê được thấy và anh theo Chúa Giêsu trên con đường của Người ; khi thấy được, anh cùng hành hương lên Giêrusalem (x. Đức Giêsu thành Nazareth phần II, trg 13). Bartimê thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy Chúa là con vua Đavít, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng.

    “Muốn trong trắng, con phải hy sinh; cành huệ trắng tinh, cành mai thơm tho, cành đào xinh đẹp, vì nó đâm rễ sâu vào lòng đất, vì nó cầm cự với mưa bão, vì nó chịu đựng những bàn tay cắt tỉa” (ĐHV 431). Lạy Chúa Giêsu, xin cho con có đôi mắt với thị giác và thị lực tốt; để con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt; để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên; để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.

    Và lạy Chúa, “Chúa chỉ ban sự trong trắng cho linh hồn khiêm nhường. Con cầu xin hàng ngày với tâm hồn đơn sơ chân thành, thực sự nhìn nhận sự yếu đuối của con” (ĐHV 427); xin cho con được thấy bản thân con với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Thiên Chúa yêu thương con người chúng ta và mong muốn chúng ta luôn sống bình an, vui mừng, hạnh phúc và trong ân sủng của Chúa mãi mãi. Nhưng chúng ta thành tâm thú nhận rằng nhiều khi chúng ta mù quáng chạy theo những cám dỗ của vật chất, thú vui thế gian, sống trong sự lầm lạc, tội lỗi theo ý của chính con người chúng ta. Để đưa con người chúng ta quay trở về, hay để mở con mắt tâm hồn chúng ta, Chúa muốn chúng ta hãy thành tâm lắng nghe lời kêu mời của Chúa, nhận ra sự bất an và đau khổ mà chúng ta tự tạo cho mình, thành tâm đến với Chúa để được Chúa chữa lành. Các Bài Đọc lời Chúa hôm nay biểu lộ quyền năng, và tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người chúng ta, qua những trường hợp và hoàn cảnh khác nhau, để chúng ta nhận được ơn sủng và chữa lành của Chúa.

    Trong Bài Đọc I, khi dân Do thái mù quáng sống trong lầm lạc, và không chịu nghe lời các ngôn sứ dạy bảo, quay trở về sống trong tình yêu và ân sủng của Chúa, họ đã bị ngoại bang xâm lăng và giày xéo. Kết quả là dân Do thái đã bị mất nước và bị đưa đi lưu đày nô lệ. Nhưng tình yêu thương của Thiên Chúa không bao giờ cạn cho dân Do thái, dân riêng của Chúa, cho dù họ phản bội và tội lỗi đến đâu, Chúa đã sai các ngôn sứ tới để khuyên bảo và kêu gọi họ giữ vững niềm tin và trông cậy, và Ngài sẽ giải thoát, đưa họ về quê hương làm lại cuộc đời. Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin một cách vững chắc vào tình yêu thương và lòng nhân từ của Chúa cũng sẽ không bao giờ cạn cho chúng ta, dù chúng ta sống trong hoàn cảnh và tình trạng nào.

    Trong bài đọc 2, chúng ta thấy tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ qua việc Ngài chọn và gởi các thượng tế đến để làm trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Các thượng tế thay Thiên Chúa lo lắng và chăm sóc phần hồn cho dân qua mọi thời đại. Nhưng vị Thượng Tế cao cả nhất là chính Người Con Một của Ngài, là Chúa Giê-su Ki-tô đã xuống thế làm người, và sứ mạng của Chúa Giê-su Ki-tô là mang ánh sáng và tình yêu thương của Thiên Chúa Cha đến cho con người trần gian chúng ta đang sống trong tội lỗi và tối tăm. Và qua Người Con Một này, Thiên Chúa muốn con người chúng ta đón nhận tình yêu của Chúa, để sống trong an mạnh, vui mừng và hạnh phúc hồn và xác.    

    Trong bài Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giê-su Kitô đã chữa lành cho một người mù thành Giê-ri-cô. Với một niềm tin mạnh mẽ, anh mạnh dạn vượt qua mọi trở ngại, đến xin Chúa chữa lành cho anh được thấy. Tin mừng còn cho chúng ta biết anh bị mù chứ không điếc, cho nên anh đã được nghe người ta nói về Chúa Giêsu và quyền năng của Ngài, và anh có lòng tin mạnh mẽ Ngài là Đấng có thể cứu chữa anh. Chúng ta thấy anh đã không chút ngần ngại và biết nắm lấy cơ hội để lên tiếng cầu xin với Chúa: “Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi!”

    Ông bà anh chị em thân mến. Qua câu chuyện chữa lành sự đui mù thể xác, Chúa Giê-su cũng muốn chứng tỏ cho chúng ta biết Ngài cũng có thể chữa lành sự đui mù tâm hồn.

    Có một câu chuyện về người đàn ông cứng lòng và rất khó tính, luôn phê bình, chỉ trích người khác. Vì ích kỷ, ông không bao giờ giúp đỡ hay quảng đại, và vì tự cao, cho nên ông không bao giờ nhìn thấy điều gì tốt nơi người khác, nhất là những người không đồng ý hay làm theo ý của ông. Bất cứ họ làm một việc gì kể cả việc tốt, thì ông cũng phải cố tìm cho ra một lý do để chỉ trích, phê bình, hay cố tìm một khía cạnh, một nguyên do để chống đối. Ông thường đưa ra những lý lẽ: Người đó phải có ý đồ đen tối hay dấu diếm gì, hay được cái gì lợi trong đó. Và ông thường khinh thường và hay bắt lỗi những ý kiến, những công việc của người khác, và tệ hơn nữa còn thường hay rỉ tai nói xấu người khác.

    Thế rồi một ngày kia, được người vợ thúc đẩy dự buổi tĩnh tâm, và được nghe linh mục cắt nghĩa về đoạn Tim Mừng kể lại câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho một người mù bẩm sinh, ông bỗng sực tỉnh và nhận thấy rằng tâm hồn mình đã thực sự bị mù loà vì đã không nhận ra được những cái tốt đẹp, không nhận ra được những công việc tốt lành, không nhận ra được tấm lòng của những người khác, và ông không sống trong ân sủng của Chúa.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chính sự đui mù tâm hồn này còn tác hại chúng ta hơn cả sự đui mù thể xác, vì sự đui mù tâm hồn này ngăn cản chúng ta không nhìn thấy sự thật, không nhìn thấy chân lý, không nhìn thấy những điều tốt đẹp của những người chung quanh, và không nhận ra tình yêu, ơn sủng của Chúa. Tật đui mù này lại thường hay lây lan. Chính vì thế là những Ki-tô hữu, mỗi người chúng ta phải không ngừng tự hỏi: “Tôi có bị đui mù về tâm hồn hay không?” Nếu có, thì chúng ta hãy thành khẩn kêu cầu Chúa cứu chữa chúng ta như người đui mù trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Chúng ta nhận thấy người mù có một sự ao ước, khát vọng mãnh liệt và mong chờ được đối diện với Chúa để được Chúa chữa lành. Sự khát vọng này đã giúp anh vượt qua mọi trở ngại để được gặp Ngài. Chúng ta cũng tự hỏi “Chúng ta có một sự ao ước, một khát vọng mãnh liệt được gặp Chúa Giêsu như anh không?” “Chúng ta có sẵn sàng vượt mọi trở ngại trong cuộc sống để được đối diện và gặp Chúa không?”

    Qua cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và anh mù, chúng ta cũng còn thấy được quyết tâm và niềm tin vững mạnh của anh. Anh không muốn bất cứ sự gì ngăn cản anh trong việc đến với Chúa. Khi Chúa Giêsu đứng lại và nói với người ta gọi anh mù đến. Phản ứng của anh mù ra sao? Chúng ta thấy phản ứng của anh rất rõ ràng và quyết liệt: “Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu.” Và khi nghe Chúa Giêsu hỏi: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Anh mù đáp không một chút do dự và mạnh mẽ thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy.” Tức khắc, anh nhìn thấy được, cũng như nhìn thấy con đường Chúa đang đi, và cũng từ lúc đó, anh quyết định đi theo con đường Chúa đi.

    Chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta nhìn thấy được con đường Chúa đi, và nhất là thấy được tình yêu thương bao la của Chúa cho chúng ta, để chúng ta có một niềm tin vững chắc vào Chúa, và can đảm đi theo con đường con đường Chúa chỉ bào, để chúng ta trở thành ánh sáng Chúa Ki-tô, dẫn dắt người khác đến với Chúa, và luôn sống trong an mạnh, hạnh phúc và trong ân sủng tình yêu thương của Chúa.

    Về mục lục

    .

    MÙ LÒA

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Có nhiều thắc mắc chúng ta khó trả lời. Tại sao Chúa lại để cho người này, người kia mù lòa, câm điếc hay bất toại? Nếu chỉ nhìn vào cuộc sống tự nhiên, chúng ta không tìm được câu trả lời thích đáng. Chính vì thế, nhiều người cảm thấy bất hạnh. Chúa Giêsu đã đến như một nguồn ánh sáng làm cho chúng ta nhận biết được giá trị của những bất toàn trong đời sống.

    Phúc âm hôm nay tả cảnh Chúa chữa lành cho người mù ăn xin vệ đường. Anh mù đến van xin Chúa rằng: Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy. Chúa Giêsu đáp: Được, đức tin của anh đã chữa anh. Anh đã được thấy và thấy rõ hơn cả những người nghĩ mình có mắt sáng. Biết bao người có mắt sáng chung quanh anh. Họ trông thấy Chúa nhưng họ không nhìn biết Chúa. Họ đâu có nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Họ đâu có tin Chúa có quyền phép vô cùng. Anh mù đặt niềm tin tưởng nơi Chúa, Đấng có thể chữa anh. Chúa đã chữa mắt thể xác và cả mắt tinh thần cho anh.

    Chúng ta có mắt sáng nhưng không phải chúng ta nhìn thấy mọi sự. Có nhiều điều xảy ra chung quanh mà chúng ta không thấy. Đôi khi mắt chúng ta bị che khuất bởi sự ích kỷ, lòng hẹp hòi, sự ghen tương, lòng hận thù, chúng ta không nhận ra được sự tốt lành nơi người khác. Chúng ta có những điểm mù trong cuộc sống. Điểm mù của con mắt tinh thần làm chúng ta không nhận ra nhân phẩm xứng đáng của anh chị em.

    Truyện kể người ta thấy một em bé gái mù lòa, mặt mày hốc hác, quần áo rách rưới đứng co ro ở một góc đường để xin ăn. Cô bé trông bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, ốm o bệnh hoạn. Lúc ấy, một ông ăn mặc sang trọng lái xe ngang qua đó trông thấy cô bé nhưng ông chẳng thèm nhìn đến lần thứ hai. Khi lái xe về đến nhà, thoải mái trong căn hộ ấm cúng với vợ con. Trước mâm cơm thịnh soạn, hình ảnh cô bé bỗng hiện ra rõ rệt trong đầu ông. Ông thở dài và phàn nàn cùng Chúa: Tại sao Chúa để cho những hoàn cảnh đáng thương như thế xảy ra trên cõi đời này?  Hình ảnh cô bé cứ ám ảnh ông, không chịu được sự dằn vặt ông trách Chúa: Chúa phép tắc vô cùng, tại sao Chúa không làm cái gì để giúp cô bé nghèo khổ đáng thương ấy. Lúc ấy, tự thâm tâm ông nghe tiếng Chúa phán cùng ông rằng: Ta đã làm rồi chứ sao lại không.  Điều này  Ta dành cho con đó. Ta đã dựng nên con mà.

    Lạy Chúa, xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con quan chiêm những kỳ công của Chúa. Xin cho con mắt đức tin của chúng con mở sáng để chúng con nhìn được hình ảnh Chúa nơi anh chị em của chúng con.

    Về mục lục

    .

     

    THẤY VÀ KHÔNG THẤY ĐƯỢC

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Hôm thứ bảy, ngày 3/10/2015, trước ngày khai mạc Thương Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, Toà thánh đã sa thải một Đức Ông người Balan tên Charamsa, là nhân viên trong Bộ Giáo Lý Đức Tin. Ông đã công khai nhận mình chung sống với một người bạn trai đồng tính. Ông tổ chức họp báo lên tiếng chống đối quan điểm của Giáo hội về vấn đề đồng tính, đồng thời gây sức ép lên Thượng Hội Đồng đang họp bàn về gia đình. Sự việc một linh mục phá giới vẫn thường xảy ra, tuy nhiên sự kiện linh mục Charamsa lại được báo chí thế giới và Việt nam khai thác triệt để. Các báo chí đã chạy những tựa bài giật gân để đánh lạc hướng sự kiện kiểu như: “linh mục bị cắt chức vì đồng tính”. Giáo hội chưa bao giờ kỳ thị người đồng tính, nhưng luôn thông cảm và tìm ra đường hướng mục vụ để giúp đỡ họ sống tốt, sống thánh ngay trong tình trạng của mình.

    Sự thật của việc Toà thánh sa thải vị linh mục Chamasa không phải vì quan điểm của ông, cũng không phải vì ông đồng tính, nhưng là vì ông đã vi phạm lời hứa sống độc thân khiết tịnh, ông hãnh diện giới thiệu bạn tình của mình với báo chí. Ông lớn tiếng cáo buộc Vatican “dối trá” nhưng thực ra chính ông là kẻ dối trá. Ông đã không sống theo lời cam kết khi thụ phong linh mục, ông vừa muốn nổi danh trong giáo hội, vừa muốn sống như một người ngoài Công giáo, vừa muốn là linh mục lại vừa muốn có bạn tình. Vì thế ông đã biến mình trở thành con cờ của truyền thông.

    Sống trong một xã hội thật giả lẫn lộn cùng với truyền thông vô lương tâm, thiếu trách nhiệm, nhiều người như bị lạc lối, bị hoang mang, chúng ta cần tỉnh táo sáng suốt để nhìn thấy sự thật.

    Bài Tin Mừng hôm nay kể lại câu chuyện khi Chúa Giêsu đi ngang qua thành Giêricô, thì có một người mù tên là Bartimê đến xin với Chúa Giêsu: Lậy Thầy, xin cho tôi được nhìn thấy. Câu chuyện trên mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, Giêricô là một thành phố được nhắc đến như một chốn tối tăm tội ác, là hang ổ của gian dối và tội phạm. Chúa Giêsu là ánh sáng, là chân lý và sự thật đã đi ngang qua nơi ấy để đem ánh sáng đến cho vùng này.

    Anh mù ngồi bên vệ đường là hình ảnh của những con người bị mù thể xác và bị mù tối cả trong tâm hồn. Tình trạng của anh hết sức tồi tệ: rách rưới bẩn thỉu, ngồi ăn xin bên vệ đường, nhưng dường như không ai quan tâm. Khi nghe biết Đức Giêsu Nazareth đi ngang qua, anh đã kêu lên: Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi. Lời kêu xin này cho thấy con mắt đức tin của anh đã bắt đầu hé mở. Anh gọi Đức Giêsu là con vua Đavít, tức là anh đã tin Ngài chính là Đấng các tổ phụ các tiên tri đã loan báo, là Đấng cứu thế. Đức tin của anh vừa hé mở thì đã bị bóng tối của những người chung quanh lấn lướt. Họ quát nạt anh, cấm không cho anh nói, nhưng anh vẫn kiên trì kêu to hơn: Lạy con vua Đavít xin dủ lòng thương tôi.

    Dù những người khác cố tình dập tắt đức tin của anh, nhưng Đức Giêsu đã nhìn thấy anh, ánh sáng của tình thương và ơn cứu độ đã dừng lại trên anh. Chúa Giêsu đã đứng lại và truyền gọi anh đến với Ngài. Anh vất chiếc áo choàng, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Vất lại đàng sau chiếc áo choàng, có nghĩa là anh đã chấp nhận vứt bỏ lại đang sau quá khứ mù tối của mình, vứt bỏ chiếc áo hôi hám bẩn thỉu là con người cũ để bước đến với Chúa Giêsu là ánh sáng và chân lý.

    Mặc dù biết được sự thiện chí, sự khao khát trong tâm hồn của anh, nhưng Chúa Giêsu vẫn muốn để anh phải công khai nói lên ước nguyện của mình, khi Ngài hỏi: Anh muốn tôi làm gì cho anh? Người mù đáp lại: Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được. Anh không xin được thấy một cách chung chung, nhưng anh xin cho tôi thấy được, và Chúa đã cho anh được thấy. Anh thấy Chúa Giêsu và anh tin vào quyền năng của Ngài. Chúa đã mở mắt thể lý để anh có thể thấy mọi vật mọi loài, nhưng quan trong hơn, Chúa đã mở mắt tâm hồn để anh nhận biết Ngài không chỉ là con vua Đavít mà còn là chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã ban lại cho anh không chỉ ánh sáng cho đôi mắt, nhưng Ngài còn cho anh ánh sáng chân lý đức tin. Tác giả kết luận câu chuyên bằng lời nhận xét: Anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

    Con đường Chúa Giêsu đi là con đường sự thật và chân lý: Thầy là đường là sự thật và là sự sống. Anh Bartimê đã bước theo con đường và giáo huấn của Ngài là bước theo sự thật và sống theo cách sống của Ngài, trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Con đường Chúa Giêsu đi là con đường lên Gierusalem để hoàn tất thánh ý của Thiên Chúa Cha muốn. Thiên Chúa muốn Ngài yêu thương tới cùng, phục vụ cho tới cùng và đón nhận thập giá với tình yêu mến và vâng phục Chúa Cha trọn vẹn, để quy tụ và đưa mọi người về với Thiên Chúa.

    Tiên tri Giêrêmia trong bài đọc một đã nói trước về niềm vui hân hoan khi Đấng Cứu thế con vua Đavít sẽ đến, nay đã ứng nghiệm. Ngài là đấng quy tụ mọi kẻ tản mác trở về, đem lại niềm vui hân hoan cho họ. Ngài sẽ cứu họ khỏi cảnh tối tăm cùng cực của nô lệ và giải thoát họ khỏi sự ràng buộc bởi đau khổ bệnh tật xác hồn: Ngày ấy kẻ đui mù què quặt, kẻ mang thai, người ở cữ đều được Thiên Chúa quy tụ về, Ngài sẽ dẫn họ trên đường ngay nẻo chính họ sẽ không còn bị vấp ngã nữa.

    Ngày hôm nay chúng ta đang sống trong thời đại của ánh sáng văn minh, sự tiến bộ của khoa học, nhưng có rất nhiều người vẫn đang bị mù loà. Không chỉ mù mắt, mà người ta còn nói đến nhiều tình trạng mù khác: mù chữ, mù thông tin. Nhưng điều đáng nói hơn là mù chân lý, mù sự thật và mù tối trong đức tin. Noi gương anh Bartimê, chúng ta đến với Chúa Giêsu để xin Ngài: Lậy Thầy, xin cho con thấy được.

    Xin, để thấy được con người thật của mình- Vì nhiều người ngày này đang sống với cái mặt nạ tốt đẹp bên ngoài, nhưng bộ mặt thật thì lem luốc. Họ hào nhoáng rộng rãi vui vẻ với bạn bè nhưng lại hẹp hòi với cha mẹ, vợ con trong gia đình. Xã hội ngày nay trọng hình thức thì cũng đồng thời tạo ra những con người sống hình thức bên ngoài nhưng giả dối bên trong. Nhận ra con người thật của mình để biết mình đang đi con đường nào, đúng hay sai, để cùng với ơn Chúa mỗi người tự điểu chỉnh bản thân cho đúng hướng hơn.

    Xin thấy được tình trạng của gia đình mình, thấy những nhu cầu của các thành viên trong gia đình. Nhiều người vì bận rộn với cuộc sống với cơm áo gạo tiền, khiến họ bỏ rơi việc chăm sóc cho các thành viên của gia đình. Nhiều gia đình đang bị bóng tối của bạo lực, của bất trung bao trùm khiến cho gia đình không tìm thấy niềm vui và hạnh phúc. Nhiều bậc cha mẹ đã để gia đình mình sống trong bóng tối của gian dối, qua những kiểu làm ăn thiếu lương thiện.

    Noi gương anh Bartimê, xin Chúa mở mắt để mỗi người nhận ra sự hiện diện và quyền năng của Chúa trong cuộc đời. Thiên Chúa vẫn hiện diện và chờ đợi chúng ta mở cửa lòng để cho Ngài bước vào. Ngài vẫn kề bên mỗi người để giúp chúng ta giải gỡ những khó khăn và giúp chúng ta thành công. Vì thế đừng bao giờ tỏ ra vô ơn trước ân huệ của Thiên Chúa.

    Sống trong một xã hội bị ảnh hưởng bởi truyền thông xấu, bị tuyên truyền nhồi nhét sai lạc, gian dối, khiến cho nhiều người lầm lẫn, hồ nghi về chân lý đức tin, về giáo hội của mình. Xin cho chúng ta có một đôi mắt thật sáng để nhìn thấy sự thật và dám lên tiếng bênh vực cho sự thật. Xin mở mắt đức tin để chúng ta nhận ra chân lý và giáo huấn của Chúa, giúp chúng ta biết dùng Lời Chúa và giáo huấn của Ngài để đánh giá mọi sư việc xảy đến trong xã hội cũng như cho bản thân.

    Tiền bạc của cải và sự ích kỷ cũng đang làm cho nhiều người trong chúng ta trở nên mù loà, khiến nhiều người không còn nhìn thấy sự hiện diện và những nhu cầu của anh em đang cần chúng ta giúp đỡ. Xin Chúa mở mắt để chúng ta có thể nhìn thấy những nỗi thống khổ của anh em để biết chia sẻ và trao tặng. Xin đừng bao giờ để chúng ta mù loà làm ngơ trước nỗi bất hạnh của họ.

    Sau cùng xin Chúa mở mắt tất cả chúng ta để chúng ta luôn bước đi trong ánh sáng của Lời Chúa và bước đi theo Chúa trên con đường thập giá, nhờ đó chúng ta có thể trở nên môn đệ đích thật của Chúa Giêsu. Amen.

    Về mục lục

    .

    CẦN ĐƯỢC YÊU THƯƠNG

    Lm. Jos. DĐH

    Truyện dân gian “Mù xem voi”, miêu tả 5 ông mù đi xem voi thật đáng thương. Ông mù nào cũng muốn khẳng định khả năng tiên đoán của mình ! Dù mắt không sáng, mỗi ông thầy bói ấy, nhất quyết giữ lập trường của mình về hình ảnh chú voi, vì thế mà đã xảy ra xung đột cãi vã, đánh nhau…. Truyện “mù xem voi” gợi lên giá trị sâu sắc về việc đánh giá sự vật, hiện tượng, không nên chủ quan, cứng ngắc. Tính sâu sắc của ngụ ngôn còn cho thấy : con người luôn giới hạn, cần được yêu thương hơn là oán trách, mọi người hãy đón nhận nhau, giúp nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề hơn là độc tài, bảo thủ ý kiến riêng của mình.

    Sáng mắt mà sống như mù lòa, không nhìn thấy gì nhưng lại cho mọi người cảm nhận “anh ta” thật sáng suốt, đúng là nghịch lý mà Tin mừng hôm nay nói tới. Sống trên đời, ai cũng vận dụng đôi tai để nghe, đôi mắt để nhìn, nhằm giúp tâm trí phân biệt tốt xấu, phải trái. Nhờ nghe, nhìn, hiểu, người ta phát hiện ra ai cũng cần được yêu thương. Giữa đám đông đầy xáo trộn, nhiều người sáng mắt nhưng họ chỉ nhận biết Đức Giêsu là Vị Thầy thỉnh thoảng làm phép lạ. Anh mù Bartimê tuy không có lợi thế nhìn, nhưng nhờ nghe, anh ta tin, và anh tuyên xưng “Đức Giêsu là Con Vua Đavit” !

    Người xưa nói rằng : người ta bà con vì tình vì nghĩa, không ai bà con vì tiền vì bạc. Trong khi ai cũng muốn bà con với Thầy Giêsu, chẳng thấy ai bà con tình nghĩa gì với người mù bên vệ đường, còn có nhiều người la mắng “hãy im đi”. Kinh nghiệm cho thấy : già cần sức khỏe, trẻ cần kiến thức, đói nghèo cần cơm bánh để sống, anh mù Bartimê cần được sáng mắt, chứ không tiền của. Thực tế thì hôm nay ai trong chúng ta đây cũng là bà con của Chúa Giêsu rồi. Chúng ta đầy tình nghĩa, đầy tình yêu thương, mỗi chúng ta còn đang thiếu một thứ, có thể là hạnh phúc, là bình an, là Nước Thiên Chúa.

    Thiên Chúa là tình yêu, Đức Giêsu đến trần gian để thực thi sứ mạng yêu thương cứu độ, Ngài muốn là bà con, là anh chị em với mọi người không phân biệt sang hèn, đau ốm khỏe mạnh, tội lỗi thánh thiện. Đám đông dân chúng ở Giêricô hôm nay không thể hiện được mơ ước họ đang cần Đức Giêsu đáp ứng điều gì ! cũng trong những con người tội nghiệp ấy, anh mù là đại diện kẻ cần được yêu thương kêu xin Chúa ban cho ơn được sáng, được thấy.

    Ngày hôm nay, có thể người ta từng cười châm biếm những ông mù diễn tả hình thù con voi, từng coi thường đám đông Do-thái cản đường cản lối anh mù Bartinê ! Thực ra, mù không nhìn thấy là đau khổ, mắt tinh tai thính mà không thấy, không biết, Đức Giêsu là ai có gì là phúc đâu ? Nhưng để thế hệ sau không cười, không khinh thường chúng ta là những kẻ “mờ mờ ảo ảo”, trước hết mỗi chúng ta phải chứng minh được con người ai cũng cần được tình yêu thương. Dù không mù lòa câm điếc, không ích kỷ hồ đồ với anh chị em sống bên cạnh mình, không giả điếc làm ngơ trước sự hiện diện của tình yêu, Ngài cũng không thể chấp nhận ta lấp lửng với hạnh phúc chân thật được rộng rãi ban.

    Hiện tại Đức Giêsu không vào thành Giêricô, nhưng môn đệ của Ngài vẫn vào thành, vào từng giáo xứ, từng gia đình, từng tâm hồn. Đức Giêsu không thích chúng ta ngốc nghếch kiểu “hỏi sư mượn lược, vào chùa xin thịt chó” ! Đức Giêsu hôm nay chúng ta có thể gặp ở mọi nơi, điều đáng quan tâm là ta có nghe, có biết, có nhìn thấy Chúa Giêsu vẫn là Thầy là Chúa, như anh mù Bartimê tuyên xưng không ? Đúng hơn, Đức Giêsu vẫn đang hỏi từng người chúng ta : “anh muốn Ta làm gì cho anh” ? Vì Ngài biết, tuy ta không mù, không điếc, không câm, nhưng ta vẫn cần được chăm sóc yêu thương!

    Triết lý cuộc đời vẫn gợi lên nhiều bài học : bạn có thể tìm được sức mạnh ngay cả trong những khiếm khuyết của bạn. Anh mù Bartimê đã khiến đám đông bừng tỉnh, khi mắt tâm hồn anh không hề mù tối, tai anh ta thính đến độ biết Đức Giêsu là ai, miệng anh ta hoàn toàn tự do tuyên xưng niềm tin của mình. Có một ước mơ gặp Đức Giêsu không khó, giữ được mơ ước Đức Giêsu sẽ chữa lành cho những khiếm khuyết của ta, và quyết tâm thực hiện mơ ước của mình như anh mù Bartimê quan trọng hơn nhiều.

    Thành ngữ có câu : khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giầu nghèo ba mươi tết mới hay. Mỗi chúng ta nên chứng minh cho mọi người biết mình là con cái Chúa, không thể sống mà thiếu tình yêu thương, không thể im lặng khi tai mắt và tâm hồn ta hoàn hảo không khiếm khuyết. Anh mù được sáng mắt không phải vì anh ta giầu, hay gặp may, mà chính là do anh ta biết thưa với Đức Giêsu điều cần thưa : “hỡi Ông Giêsu Con Vua Đa-vít, xin thương xót tôi”. Và Chúa đã trả lời cho anh bằng một ngôn ngữ cụ thể : “được, đức tin của anh đã cứu chữa anh”. Các bạn hãy cùng tôi gặp Đức Giêsu, hãy thể hiện niềm tin, hãy thực hành khao khát của mình đi, Ngài sẵn lòng đáp ứng điều ta kêu cầu đó. Amen.

    Về mục lục

    .

    XIN CHO CON SÁNG MẮT

    ĐỂ ĐƯỢC SÁNG LÒNG MÀ ĐI THEO CHÚA

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 10,46-52

    (46) Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêricô. khi Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giêricô, thì có một người hành khất mù, tên là Báctimê, con ông Timê, đang ngồi ở vệ đường. (47) Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (48) Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi. Nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. (49) Đức Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm đứng dậy, Người gọi anh đấy!” (50) Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy, mà đến gần Đức Giêsu. (51) Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. (52) Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

    1. Ý CHÍNH:

    Trên bước đường đi về Giêrusalem để chịu tử nạn và phục sinh, thì tại thành Giêricô, Đức Giêsu đã chữa cho một người mù tên là Báctimê, đang ngồi ăn xin bên vệ đường, vì anh đã tin cậy nơi Người. Qua phép lạ mở mắt người mù này, Người muốn mở mắt đức tin cho các môn đệ, để họ thấy được ý nghĩa cao cả của sứ mạng cứu thế mà Người sắp thực hiện tại Giêrusalem là: “Qua đau khổ thập giá để vào trong vinh quang phục sinh”.

    1. CHÚ THÍCH:

    – C 46: + thành Giêricô: Giêricô có nghĩa là “mặt trăng”, một thành ở thung lũng sông Gio-đan, cách biển Chết 5 cây số và cách Giêrusalem khoảng 25 cây số. Thời Xuất hành, Giêricô là thành đầu tiên mà con cháu Gia-cóp, dưới sự lãnh đạo của Giosuê tiến chiếm được (x. Gs 5,13tt). Dụ ngôn người Samari tốt lành cũng nhắc đến đoạn đường từ Giêrusalem xuống Giêricô (x. Lc 10,30). + có một người hành khất mù: Hành khất là người ăn xin. Đây là một người đói khổ về vật chất, đang cần được giúp đỡ. Anh ta còn bị mù, tượng trưng cho người đang đi trong tăm tối vì chưa nhận biết và tin Đức Giêsu. Có thể Đức Giêsu chữa một lúc hai người mù (x Mt 20,30), nhưng ở đây Máccô chỉ ghi lại một người và nêu rõ tên là Báctimê. + ở vệ đường: đồng nghĩa với “đầu đường xó chợ”, nói lên hoàn cảnh bơ vơ không nơi nương tựa của ngươi mù. anh ta tượng trưng cho số phận đau khổ của “Người nghèo của Đức Giavê”, đối tượng được Đức Giêsu ưu tiên mời gia nhập vào Nước Trời của Người.    

    C 47-48: + Đức Giêsu Nadarét: Giêsu nghĩa là “Giavê cứu độ”. trong Thánh Kinh có một số người cũng tên là Giêsu (x.Hc 50,27; Lc 3,29; Cl 4,11). Để phân biệt, người ta thường thêm tên quê hương vào sau tên gọi. Giêsu nói đây chính là Đức Giêsu quê làng Nadarét. + Con Vua Đavít: Anh mù gọi Đức Giêsu kèm tước hiệu “Con Vua Đavít” cho thấy nhiều người Do thái đã tin Đức Giêsu là “Đấng Thiên Sai”, nhưng họ lại đang mong đợi một Đấng Thiên Sai trần thế, đến giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma (x. Mt 22,42; Ga 7,42). + “Xin dủ lòng thương tôi”: Lời cầu xin này nói lên sự khiêm hạ và lòng tin mạnh mẽ của anh mù vào quyền năng Đức Giêsu. Anh trông cậy Người sẽ làm cho anh được sáng mắt như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm về sứ mệnh của Đấng Thiên Sai: “Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò…” (Is 35,5-6). + Nhiều người quát nạt bảo anh im đi: Một số người ở gần anh mù tỏ vẻ bực tức trước việc anh ta kêu la lớn tiếng. Họ bắt anh mù phải im lặng để họ nghe được lời Đức Giêsu lúc đó đang vừa đi đường vừa giảng dạy. + Nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con Vua Đavít! Xin dủ lòng thương tôi”: Vì tin vào tình thương và quyền năng của Đức Giêsu Thiên Sai, nên anh mù bất chấp mọi rào cản: Người ta càng cấm, thì anh lại càng kêu la thống thiết hơn: “Lạy Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.

    C 49-50: + Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy! Người gọi anh đấy”: Thái độ của đám đông đối với anh mù đã thay đổi: Từ khinh thường nạt nộ đến tôn trọng và nhỏ nhẹ hơn với anh. + Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu: Áo choàng là một vật thiết thân đối với khách bộ hành và người ăn xin. Nó thường được dùng làm dù che cơn nắng gắt ban ngày và làm mền đắp cho ấm ban đêm. Vậy mà khi nghe nói “Người gọi anh đấy”, anh ta liền vất áo choàng lại, đứng bật dậy mà chạy mau về phía Đức Giêsu, như thể anh đã được sáng mắt rồi vậy.

    C 51-52: + “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”: Dù đã biết rõ anh mù muốn xin gì rồi, nhưng Đức Giêsu vẫn tạo cơ hội để anh ta biểu lộ đức tin. + “Xin cho tôi nhìn thấy được”: Anh mù không xin tiền bạc hay đồ ăn thức uống như mọi khi, mà chỉ xin được sáng mắt, được nhìn thấy mọi sự như bao người khác. + “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh”: Điều kiện để được Đức Giêsu cứu chữa là phải có đức tin, như khi Người chữa lành cho hai người mù (x. Mt 9,29), chữa người phong cùi (x. Lc 17,9)… + Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi: Anh mù chỉ xin được sáng mắt thể xác, nhưng Đức Giêsu lại ban cho anh được sáng cả mắt linh hồn, để anh có đức tin trọn vẹn, nhìn thấy được con đường Người sắp đi và can đảm bước theo Người lên Giêrusalem, trải qua mầu nhiệm “qua đau khổ vào vinh quang” để sau này được hưởng ơn cứu độ muôn đời.

    1. CÂU HỎI:

    1- Thành Giêricô là thành nào? Sách Xuất hành đề cập tới tên thành này trong trường hợp nào? Đức Giêsu cũng nói tới tên thành này trong dụ ngôn nào?

    2- Số người mù được Đức Giêsu chữa lành trong 2 Tin Mừng Matthêu và Máccô có giống nhau không? Tại sao?

    3- “ngồi ở vệ đường” nói lên hòan cảnh của người mù này ra sao?

    4- Tên gọi Giêsu nghĩa là gì? Tại sao Đức Giêsu được người mù gọi là Giêsu Nadarét?

    5- Qua việc kêu cầu Đức Giêsu với danh hiệu “Con Vua Đavít”, người mù biểu lộ đức tin thế nào về Người? Còn dân Do Thái lại đang trông mong một Đấng Thiên Sai theo nghĩa nào?

    6-Lời kêu xin của người mù cho thấy đức tin của anh vào Đức Giêsu ra sao?

    7- Tại sao dân chúng lại cấm anh mù kêu lớn tiếng? Lý do nào khiến anh mù càng kêu la thống thiết hơn?

    8- Anh mù đã phản ứng thế nào với chiếc áo chòang thiết thân khi nghe biết Đức Giêsu đang gọi anh đến với Người?

    9- Tại sao Đức Giêsu lại hỏi anh mù muốn được Người làm gì dù đã nghe rõ lời kêu xin của anh?

    10- Trong Tin Mừng, Đức Giêsu luôn đòi người ta phải có điều kiện gì để được Người làm phép lạ? 11-Ngòai việc được sáng mắt thể xác, anh mù còn được Người ban ơn gì về linh hồn?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng bật dậy mà đến gần Đức Giêsu (Mc 10,50):
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) TÌM THẤY MẸ NHỜ CON MẮT TÌNH YÊU:

    Vào một buổi chiều năm 1945, tại nhà ga Verona nước Italia, có khá đông dân chúng đang tập trung tại sân ga và náo nức chờ đón một số binh lính là người thân của họ trở về từ các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Lúc đó, một người lính trẻ bị mù hai mắt cũng đang lần mò từng bước trên sân ga. Khi tiến gần đến chỗ một phụ nữ lớn tuổi đang đứng chung với mấy người thân trong gia đình, đột nhiên anh lính mù dừng lại rồi kêu to lên: “Mẹ!”, và rồi hai mẹ con đã ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Một lúc sau, khi phát hiện ra cặp mắt của con trai đã bị mù hòan tòan, bà mẹ liền hỏi: “Con ơi, mắt con đã bị mù như thế mà sao lúc nãy con lại nhìn thấy mẹ giữa bao nhiêu người khác và kêu lên vậy?”. Anh lính trẻ liền đáp: “Thưa mẹ, tuy mắt con không thể nhìn thấy mặt mẹ như trước đây, nhưng chính trái tim đã mách bảo con là mẹ cũng đang có mặt tại đây và đang chờ đón con. Khi từ trên xe lửa bước xuống sân ga, con cứ đi theo sự mách bảo của trái tim và đến lúc con linh cảm chắc chắn mẹ đang ở rất gần bên con, thì tự nhiên con buột miệng la to lên “Mẹ!” và quả thật con đã gặp lại được mẹ như mẹ đã thấy đó”.

    2) AI MỚI LÀ NGƯỜI BỊ MÙ ?

    Một anh mù kia đến nhà bạn chơi. Lâu rồi không gặp nên hai người nói chuyện mãi đến quên cả thời gian. Khi trời tối mịt thì anh mù mới từ giã bạn ra về. Thấy đường làng tối thui, người bạn liền bảo anh mù: “Này anh bạn, hãy để tôi thắp cho anh một cây đèn dầu, vì bên ngoài trời đã tối quá rồi”. Anh mù nghĩ bạn muốn trêu đùa nên trả lời: “Anh nói gì vậy? Tôi bị mù thì có cầm đèn sáng trên tay hay không đâu có khác gì nhau?”. Anh bạn kia liền nói: “Ý tôi là anh nên cầm cái đèn cháy sáng để người khác nhìn thấy ánh đèn sẽ tránh không đụng vào bạn”. Anh mù nghe ra liền cám ơn bạn và vui vẻ cầm đèn ra về. Nhưng mới đi được một đoạn thì bỗng anh mù bị một người đi ngược chiều đụng phải và bị té. Quá tức giận, anh lồm cồm bò dậy và chửi đổng: “Mù hay sao mà không thấy cây đèn ta cầm trên tay?”. Người kia liền đáp lại: “Mi mới thật là kẻ mù ! Đèn trên tay mi đã tắt lâu rồi mà sao còn dám mắng ta ?”.

    1. THẢO LUẬN:

    1)Làm thế nào để nhận ra ý Chúa trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta?

    2)Khi gặp phải tai nạn hay một điều rủi ro trái ý, bạn cần làm gì để theo đúng con đường “Qua đau khổ vào trong vinh quang” của Đức Giêsu?

    1. SUY NIỆM:

    1) Anh mù gặp Chúa đã được sáng mắt và được sáng lòng: 

    – Tin mừng hôm nay ghi nhận câu chuyện về người mù thành Giêricô đã chạy đến với Đức Giêsu không nhờ con mắt thể xác nhưng nhờ con mắt đức tin của anh. Tuy mắt anh không nhìn thấy Đức Giêsu, nhưng chính con mắt đức tin đã mách bảo và dẫn đường để anh chạy đến với Người. Trước đó anh đã nghe đồn Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai và anh đã ao ước gặp Người để xin Người chữa anh khỏi bị mù. Vì thế khi nghe thấy một đám đông đang tiến đến gần chỗ anh đang ngồi ăn xin bên vệ đường và anh nghe tiếng của một ráp-bi đang vừa đi đường vừa giảng, thì anh liền dò hỏi người chung quanh. Khi biết vị tôn sư kia chinh là Đức Giêsu Nadarét, là người mà anh đã nghe biết và mong sớm được gặp mặt.

    – Bấy giờ anh mù liền kêu to: “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Dù bị nhiều người đi trước cấm nói to, nhưng anh mù lại càng la to hơn với hy vọng được Đức Giêsu nghe thấy. Quả thật Đức Giêsu đã nghe thấy tiếng kêu cứu của anh và Người cho gọi anh đến gặp Người. Nghe vậy anh mù liền quăng chiếc áo choàng đang khoác trên mình lại, để nhảy chồm dậy chạy mau đến gặp Người như trước đó anh chưa hề bị mù. Sau khi nghe biết lòng tin và lòng mong ước của anh, Đức Giêsu liền tuyên bố: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!”.

    – Lập tức anh mù đã được sáng mắt để thấy được đường đi, mà anh còn được sáng lòng để tin Đức Giêsu và tình nguyện theo Người lên Giêrusalem để cùng Người đi con đường “qua đau khổ thập giá vào vinh quang phục sinh”.

    2) Xin Chúa mở mắt đức tin cho chúng ta:

    – Chúa Giêsu đã chữa lành bệnh mù thể xác, và Người cũng chữa lành bệnh mù tâm linh. Chính sự mù tối tâm linh này còn tác hại hơn bệnh mù thể xác. Nó biểu hiện ra bằng thái độ  không chấp nhận sự thật của đức Tin, không nhận ra tình thương và những sự thiện hảo nơi người khác. Vậy mỗi người chúng ta cần tự hỏi mình vào buổi tối trước khi đi ngủ: Hiện giờ tôi có bị bệnh mù tối tâm linh nói trên hay không? Nếu có, hãy xin Chúa chữa lành như người mù trong Tin Mừng hôm nay bằng lời cầu như sau: “Lạy Chúa. Xin hãy mở mắt linh hồn con ra để con biết nghĩ đến người khác và biết cảm thông để chia sẻ tình yêu thương phục vụ cho họ”.

    – Trong gia đình, vợ chồng cần sáng mắt tâm linh khi biết quan tâm cảm thông với nhau và động viên nhau chu toàn nhiệm vụ lo cho gia đình được hòa hợp hạnh phúc…

    – Trong khi giao tiếp xã hội, mỗi người chúng ta thay vì chỉ nhìn thấy khuyết điểm lầm lỗi của kẻ khác, chúng ta hãy quan tầm tìm ra mặt tốt của họ. Cần ý thức rằng: Dù là một kẻ xấu xa phạm tội cướp của giết người không gớm tay thì trong lòng họ vẫn còn ít nhất 5 phần trăm tốt. Điều quan trọng là chúng ta phải khám phá ra và nhân rộng những điều tốt này để giúp họ loại trừ dần 95 phần trăm điều xấu tội lỗi kia. Bởi đó, cùng với anh mù trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội và ban cho con được sáng mắt đức tin để con nhận biết Chúa đang hiện thân trong anh chị em con và giúp họ ngày càng nên tốt giống Chúa hơn”.

    3) Đừng ngăn cản lương dân và những người tội lỗi đến với Chúa:

    – Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy thái độ không tốt của những người đang đi trước Đức Giêsu, khi nghe anh mù la to: “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” thì họ đã quát nạt bắt anh phải im lặng. Khi lời kêu cầu của anh mù đã được Đức Giêsu nghe và truyền dẫn anh đến gặp thì những người kia mới dịu giọng và giúp đỡ anh gặp được Người. Những người này đã trở thành rào cản anh mù đến với Đức Giêsu. Họ giống như những đầu mục Do thái đã bị Đức Giêsu quở trách: “Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi đóng cửa nước trời không cho người ta vào: vì các ngươi không vào, mà kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào” (Mt 23,13).

    – Còn chúng ta cũng trở thành rào cản đáng trách, khi chúng ta ngăn chặn anh em tội nhân đến với Chúa bằng những câu nói nghi kỵ và khinh dể tội nhân… Chẳng hạn: Khi thấy một người đã từng nghiện rượu, cờ bạc, hút sách, trộm cắp giờ muốn hoàn lương… Lẽ ra phải khích lệ thì chúng ta lại nghi ngờ và nói những lời không tin họ thành tâm đến với Chúa.

    – Ngoài ra, các tín hữu chúng ta còn gián tiếp ngăn cản người lương đến với Chúa khi sống bê tha tội lỗi hơn người lương, khiến nhiều người đang muốn theo đạo bị khựng lại khi họ chứng kiến sự gian tham, ăn ở bất công độc ác và hà hiếp bóc lột người dưới, hoặc khi thấy có vị mục tử bị đưa ra tòa xét xử vì những tội ác xấu xa… Bấy giờ chúng ta đã trở thành người phản chứng, thành rào cản khiến cho anh em lương dân khó lòng tin theo Chúa.

    4) Cần làm gì để đi theo Chúa noi gương người mù hôm nay ? : 

    – Mỗi ngày chúng ta hãy xin Chúa mở mắt linh hồn để nhìn thấy Chúa đang hiện diện trong những kỳ công Người đã làm trong vũ trụ thiên nhiên, nơi bản thân ta và nơi tha nhân… rồi dâng lời ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa.

    – Mỗi khi gặp tình huống khó giải quyết, không biết phải chọn đi đường nào, chúng ta hãy xin Chúa Giêsu mở mắt đức tin bằng việc lắng nghe Lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, tìm hiểu ý Chúa muốn và mau mắn xin vâng theo ý Chúa. Khi gặp rủi ro thất bại, chúng ta hãy tín thác cậy trông vào Chúa quan phòng và sẵn sàng chấp nhận đi con đường “Qua đau khổ vào trong vinh quang” noi gương người mù trong Tin Mừng hôm nay đã làm.

    – Trong mọi giây phút cuộc đời, chúng ta hãy luôn biết khiêm tốn chạy đến xin Chúa Giêsu mở con mắt đức tin để thấy được sự thật toàn vẹn. Bấy giờ Người sẽ chỉ cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa là Cha và nhận ra mọi người đều là anh chị em con một Cha chung trên trời là Thiên Chúa. Người sẽ dẫn đường cho chúng ta về trời qua con đường hẹp, leo dốc nhiều gai chông sỏi đá, vác thập giá hằng ngày, con đường yêu thương hy sinh phục vụ: cùng chết với Chúa Giêsu để cùng được phục sinh với Người sau này.

    1. NGUYỆN CẦU:

    Lạy Chúa Giêsu. Xin cho con nhìn thấy Chúa đang hiện diện trong lòng con, để con biết năng đến tâm sự với Chúa. Xin cũng mở mắt đức tin giúp con nhìn thấy Chúa đang hiện diện trong thiên nhiên, để con dâng lời ngợi khen Chúa. Xin cho con nhìn thấy Chúa đang hiện diện trong thánh lễ và nơi Nhà Tạm để con năng đến nghe Lời Chúa dạy và được kết hiệp mật thiết với Chúa nhờ việc rước lễ và biết chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho tha nhân. Xin cho con sáng mắt đức tin để nhìn thấy Chúa đang hiện thân nơi những người nghèo hèn, khuyết tật hay đang bị bỏ rơi và tuyệt vọng… để con động viên an ủi và ân cần phục vụ họ như phục vụ chính Chúa, hầu con nên chứng nhân cho tình thương của Chúa giữa lòng xã hội Việt Nam hôm nay.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

    XIN THƯƠNG XÓT CON

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Suy Niệm

    Con mắt là một bộ phận hết sức mong manh,
    dễ bị tổn thương, dễ bị nhiễm trùng,
    nhất là trong điều kiện vệ sinh ngày xưa.
    Chúng ta không rõ nguyên nhân khiến anh Báctimê bị mù,
    chỉ biết anh không mù từ lúc lọt lòng mẹ.
    Anh đã từng được thưởng thức ánh nắng ban mai
    hay nhìn ngắm những người thân yêu, bè bạn.
    Bây giờ chỉ có bóng tối triền miên.
    Anh Báctimê sống bằng nghề hành khất,
    ngồi ăn xin bên vệ đường, sống bên lề xã hội.
    Danh tiếng của Ðức Giêsu Nadarét, anh đã được nghe nhiều.
    Ngài có thể làm người mù bẩm sinh sáng mắt.
    Anh tin vào Ngài, thầm mong có ngày được gặp.

    Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc hạnh ngộ ấy.
    Rất tình cờ, Ðức Giêsu đi ngang qua đời anh.
    Anh mù lòa, ngồi đó như chỉ chờ giây phút này.
    Khi nghe biết là Ðức Giêsu cùng với đám đông đi qua,
    anh thấy cơ may đã đến.
    Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu,
    tiếng kêu thống thiết bi ai của một người đau khổ,
    nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng.
    “Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin thương xót tôi!”
    Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một cầu cứu.
    Nhiều người muốn bịt miệng anh,
    nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa.
    Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều.
    Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu.
    Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh,
    vì Ngài cũng chưa rõ anh đang ở đâu.
    Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng
    vất bỏ cái áo choàng vướng víu,
    nhẩy cẩng lên mà đến với Ðức Giêsu.
    Anh đi như một người đã sáng mắt,
    bởi thực ra mắt của lòng anh đã sáng rồi.
    Khi được khỏi, lòng tin của anh thêm mạnh mẽ hơn.
    Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng.
    Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu.

    “Xin thương xót tôi. Xin cho tôi nhìn thấy lại.”
    Ðây có phải là tiếng kêu của tôi không?
    Khả năng thấy là một khả năng mỏng dòn.
    Ta có thể thấy điều này mà không thấy điều kia.
    Tôi có thể lúc thấy lúc không, hay cố ý không muốn thấy.
    Lắm khi tôi không đủ sức để ra khỏi sự mù lòa của mình.
    Tôi có kêu gào với Chúa để xin được ơn thấy lại không?
    Một người mù chữ, dù đã được xóa mù, vẫn có thể mù lại.
    Chính vì thế tôi cứ phải xin cho mình được thấy luôn.
    Thấy mình bé nhỏ, thấy Chúa bao la, thấy anh em dễ mến.
    Thấy là đi vào một con đường dài hun hút.
    Chúng ta phải được Chúa xóa mù suốt đời.
    Chỉ trong ánh sáng của Chúa, tôi mới nhìn thấy ánh sáng.

    Cầu Nguyện

    Như người mù ngồi bên vệ đường
    xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

    Xin cho con được thấy bản thân
    với những yếu đuối và khuyết điểm,
    những giả hình và che đậy.

    Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con
    cả những khi con không cảm nghiệm được.

    Xin cho con thực sự muốn thấy,
    thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa
    chiếu dãi vào bóng tối của con.

    Như người mù ngồi bên vệ đường
    xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

    Về mục lục

    .

    LÒNG TIN CỦA ANH ĐÃ CỨU ANH

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

    Bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô trong Thánh Lễ Chúa Nhật XXX Thường Niên, năm B hôm nay kể lại cho chúng ta câu chuyện người mù ăn xin được sáng mắt. Trước hết, chúng ta được mời gọi tạ ơn Chúa, vì đã ban cho chúng ta đôi mắt sáng, và cùng cầu xin Chúa cho đôi mắt của chúng ta, nhờ lòng tin, không chỉ nhìn mọi sự như những sự vật « tự nhiên », chẳng hạn thế giới sáng tạo, hay chỉ nhìn mọi sự có trong cuộc sống như những sự vật để hưởng thụ tùy thích, nhưng còn như những dấu chỉ nói cho chúng ta về những kì công của Thiên Chúa, về sự hiện diện của Thiên Chúa, về tình yêu và lòng thương xót của Chúa, như lời Thánh Vịnh diễn tả :

    Chỉ có Người làm nên những kỳ công vĩ đại,
    muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

    (Tv 136, 4)

    1. Một người mù đang ngồi ăn xin

    Bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô tương đối ngắn, nhưng lại có nhiều chi tiết về lí lịch và hoàn cảnh của người mù ăn xin :

    • Anh tên là Ba-ti-mê
    • Anh là con ông Ti-mê.
    • Anh ngồi bên vệ đường, gần thành Giê-ri-cô

    Người mù ăn xin ở bên vệ đường, gần thành Giê-ri-cô có một tên riêng, anh có cha có mẹ, anh thuộc về một gia đình. Như thế, nỗi bất hạnh và khốn khổ của anh liên quan đến nhiều người, nhất là của những người thân yêu. Và chúng ta có thể nói, nỗi bất hạnh và khốn khổ của anh cũng là nỗi bất hạnh và khốn khổ của những người thân nữa, bởi vì cuộc sống của chúng ta tất yếu có sự liên đới.

    Nơi phép lạ chữa lành dành cho anh mù Ba-ti-mê, chúng ta hãy nhận ra, để cho mình được đánh động và được cuốn hút bởi sự liên đới của Thiên Chúa dành cho loài người bệnh tật và đau khổ, trong đó có chính chúng ta và những người thân yêu của chúng ta, nơi trong Đức Giê-su Ki-tô và nhất là nơi Đức Ki-tô Chịu Đóng Đinh.

    * * *

    Bài Tin Mừng còn nêu bật lên lòng khao khát được sáng mắt, và chắc chắn đó cũng là lòng khao khát của bất cứ người mù nào trong cuộc đời này. Và cùng với lòng khao khát, là lòng tin, lòng tin nơi Đức Giê-su, là Đấng có thể làm cho anh sáng mắt, vì Người là Ánh Sáng, là Đường Đi và là Sự Sống, như sau này anh sẽ nhận ra Chân Lý toàn vẹn về Người.

    • Khi nghe nói, Đức Giê-su đang đi tới, anh kêu lên: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”
    • Và anh càng kêu lớn tiếng bất chấp bị người ta quát nạt bảo im đi: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!”
    • Lòng khao của anh đã làm cho Đức Giê-su chạnh lòng: “Gọi anh ta lại đây!” và cũng làm cho nhiều người cảm thương: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Anh liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến với Đức Giê-su. Và khi nghe Người hỏi đích thân: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.

    Anh mù Ba-ti-mê đã trở nên sáng mắt, nhờ lời sau đây của Đức Giê-su: « Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ». Về phương diện thể lí, đây là một biến cố lạ lùng, gây ấn tượng. Nhưng lời của Đức Giê-su mời gọi chúng ta vượt qua sự lạ lùng thể lí ở bên ngoài, để hiểu và cảm nếm ơn chữa lành của Chúa ở mức độ đức tin và ơn cứu độ. Xin Chúa Thánh Thần cũng khơi dậy nơi chúng ta lòng khao khát được chữa lành và lòng tin mạnh mẽ nơi Ngôi Vị của Đức Giê-su và thưa với Người :

    Lạy Chúa, xin dủ lòng thương con ! Lạy Chúa, xin cho con thấy được !

    1. Ơn gọi của đôi mắt

    Sáng mắt là điều quan trọng, nhưng để sống bình an và hạnh phúc với người khác, và nhất là với những người thân yêu và với Chúa, anh còn phải sáng lòng nữa, để nhìn ra nhận ra ân huệ, tình bạn và tình yêu của người khác và của Chúa, nhận ra sự hiện diện của người khác và của Chúa. Bởi vì, chúng ta sống không chỉ bằng những vẻ đẹp bên ngoài, nhưng còn bằng sự hiện diện của nhau, bằng vẻ đẹp của tâm hồn, bằng vẻ đẹp và những điều cao quí đến từ Thiên Chúa nữa và của chính Chúa nữa. Sáng mắt rồi, nhưng đôi mắt sáng của anh Ba-ti-mê có đi tìm Chân, Thiện, Mỹ là chính Chúa hay không, hay lại đi tìm những điều gì khác chóng qua, gian dối, sự dữ, sự xấu, làm cho mình trở nên mù quáng. Hơn nữa, con người đâu có nhìn thấy mãi, vì anh mù được sáng mắt trở lại, một ngày kia, mắt anh sẽ khép lại mãi mãi. Và đôi mắt của chúng ta cũng sẽ như thế. Bằng chứng là, từ tuổi trung niên trở đi, mắt chúng ta không còn sáng như xưa !

    Ngoài ra, anh mù Ba-ti-mê được Chúa chữa cho sáng mắt, nhưng đâu phải để đứng đó mà nhìn, nhưng còn phải bước đi nữa, còn phải lựa chọn đường đi nữa. Và anh sẽ phải lựa chọn và bước đi trên con đường nào : con đường của Chúa dẫn đến sự sống hay những con đường khác, dẫn đến đau khổ cho mình và cho người khác, và cuối cùng là sự chết đời đời ?

    Đức Giê-su nói với anh : « Anh hãy đi. Lòng tin của anh đã cứu anh ». Như thế, lòng tin làm cho anh thấy được và bước đi, không phải chi thấy được mọi sự như những sự vật để thụ hưởng hay loại bỏ, nhưng như là quà tặng, là kỉ niệm nói lên sự hiện diện của ai đó, là ơn huệ của Thiên Chúa, là dấu chỉ nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa. Lòng tin làm cho anh thấy được, không phải chỉ thấy được những con người ở vẻ bề ngoài và như đối tượng để thỏa mãn nhu cầu của lòng ham muốn, nhưng như là những ngôi vị tự do, như là hình ảnh của Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, là anh chị em của mình, có lòng ước ao, có ơn gọi riêng, có quá khứ và những vấn đề riêng, có hành trình riêng cần tôn trọng. Và lòng tin làm cho anh thấy được, không phải chỉ thấy sự thật trần trụi ở bình diện hành vi, nhưng còn nhìn ra sự thật về ngôi vị, sự thật về một con người bất hạnh đang đau khổ. Bởi vì, đôi mắt của chúng ta được dựng nên, có ơn gọi không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng là nhận ra những thực tại vô hình.

    1. Đi theo Đức Ki-tô

    Chính vì thế mà, ngay sau khi được chữa lành, nhìn thấy được, anh Ba-ti-mê liền đi theo Đức Giê-su:

    Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

    (c. 52)

    Điều này cho thấy, đức tin không chỉ làm cho anh nhận được chữa lành đôi mắt, để thấy sự vật, nhưng còn làm cho anh « thấy được » những điều vô hình ; vì nhờ đức tin, anh nhận ra Đức Ki-tô là ánh sáng, là đường, là sự thật và là sự sống, là ơn cứu độ.

    Và ở bình diện này, mọi người chúng ta được mời gọi đón nhận ngay hôm nay hiệu quả chữa lành và cứu độ của đức tin : nhờ tin vào tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Ki-tô, và nhất là nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh, chúng ta được giải thoát khỏi sự nghi ngờ tình thương và lòng bao dung của Thiên Chúa, mặc cảm tội lỗi, gây chết chóc và hay bị ma quỉ lợi dụng để nhận chìm chúng ta trong bóng tối của tuyệt vọng.

    * * *

    Xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta, để lòng chúng ta cũng được chữa lành bởi Lời Chúa, khỏi những sự nghi ngờ, ray rứt, và khỏi bệnh mù quáng, không nhận ra Chúa là ánh sáng, và là đường dẫn đến sự sống, không nhận ra anh em, chị em của mình là hình ảnh của Thiên Chúa, là người thân của Đức Ki-tô, là người anh chị em của mình trong Gia Đình Mới, nơi đó chúng ta đã được ơn sinh ra, lớn lên và được ban ơn kêu gọi dâng hiến cuộc đời để xây dựng.

    Về mục lục

    .

    ÔI LẠY CHÚA XIN MỞ CHO CON ĐÔI MẮT

    Huệ Minh

    Vài ngày trước đây, thức giấc là mắt trái mở không lên vì ướt và ghèn ! Khó chịu vô cùng và hỏi thăm bác sĩ quen về mắt để bác sĩ cho thuốc nhỏ đỡ vì chưa có dịp về thành phố. Có công có việc gì mới đi để kèm theo chứ chẳng lẽ con mắt đau một tí là chạy về. Chạy đi chạy về vừa mệt vừa tốn tiền xe nữa.

    Con mắt có vẻ thốn và khó chịu vô cùng. Có lẽ, cảm nghiệm này không phải của riêng người bệnh này nhưng là cảm nghiệm của những ai đã hơn một lần đau mắt.

    Đau mắt thôi đã thấy khó chịu như vậy mà nếu như khi ta khiếm thị, ta không nhìn thấy đường, không nhìn thấy vật thể trước mặt ta nữa thì khó chịu biết bao.

    Mẹ cho đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên

    Trời cho em con mắt màu đen để thương để nhớ để ghen để hờn

    Đôi mắt em là cửa sổ tâm hồn,  là bài ca hay nhất, là tuyệt tác của thiên thu.

    Con mắt chính là cửa sổ tâm hồn, là cửa sổ để thu tất cả những hình ảnh, những cảnh vật vào tâm hồn con người. Và vì thế, con mắt phải nói đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể của con người. Con mắt đui mù quả là khiếm khuyết lớn cũng như làm cho con người bị giới hạn và thiệt thòi nhiều.

    Ngày hôm nay, ta bắt gặp hình ảnh anh chàng mù thành Giêricô con ông Timê tên là Bartimê. Anh ta mù nhưng may mắn là anh còn nghe được. Vì mù, chẳng biết làm gì và cũng chẳng làm gì nên chỉ còn cách duy nhất là ăn xin. Đang ngồi ăn xin nhưng anh nghe biết đó là  Chúa Giêsu Nadarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”.

    Thấy anh kêu như vậy và vì anh là người khuyết tật nên người ta ăn hiếp anh và ta bắt gặp nhiều người mắng anh bảo im đi. Trước thái độ
    của những người sáng mắt ngăn cản, anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua
    Đavít, xin thương xót tôi”.

    Hẳn nhiên là lời kêu của anh đã đến tai Chúa Giêsu, không chỉ tai mà còn đập vào mắt Chúa Giêsu hình ảnh của một con người khuyết tật để rồi Chúa Giêsu không đi nữa mà đã dừng lại và truyền mọi người gọi anh đến. Đơn giản, Chúa Giêsu nói với anh : “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”.

    Nghe Chúa Giêsu nói và anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu.

    Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Được, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

    Quá tuyệt vời ! Anh mù đã thấy và đã đi theo Ngài.

    Dừng lại một chút vì ta choáng. Ta phải đưa ta trở về với thực tại Tin Mừng ngày hôm đó ta mới cảm nhận được sức mạnh của Lời Chúa, của phép lạ mà Chúa Giêsu làm.

    Quá sức tưởng tượng với niềm tin của anh chàng Bartimê.

    Và, ta cũng có dịp nhìn lại niềm tin của ta.

    Niềm tin của ta dường như nó sao sao í ! Và nhất là khi ta đủ hai con mắt sáng và rất sáng nữa. Giản đơn là Chúa ban cho ta đôi mắt sáng đó nhưng ta có cảm nhận được đó là quà tặng, là ơn của Chúa đâu. Nếu có thì ta đã cảm nhận và cảm tạ chứ đâu có ai oán là sao Chúa để cho con thế này thế kia ? Chúa cho sáng mắt, đó phải chăng là một hồng ân, một quà tặng quá lớn của Chúa không ?

    Sáng con mắt nhưng mù tâm hồn. Chính vì mù tâm hồn nên đâu có nhìn thấy được ơn Chúa.

    Bài hát mà Cha Bạch Văn Lộc khi còn sống rất thích hát và mời mọi người cùng hát. Khi đó, còn bé, nghe thì nghe, hát thì hát đó nhưng
    cũng chưa hiểu tâm tình của Cha cố Henry :

    Lạy Chúa, xin mở mắt con

    Biết nhìn kỳ công của Ngài

    Trời xanh, tinh tú long lanh

    Hoa ngàn cùng muôn muông thú

    Ðồi kia ai đắp nên non

    Sông dài, trùng dương mênh mông

    Biết rằng Ngài đã thương con

    Thế mà con đâu có hay!

    EPHATA Hãy mở! Mở ra!

    EPHATA Hãy mở ra!

    EPHATA, EPHATA

    Ta phải xin Chúa mở con mắt ta để ta thấy kỳ công của Chúa, kỳ diệu của Chúa ít là ngay bên đời ta thôi.

    Thử nhìn lại đi, cách đây 10 năm, 20 năm, 30 năm … cuộc sống của ta như thế nào ? Ngày nay ta có nhiều lắm đó chứ ! Nhìn lên ta không bằng ai nhưng khi nhìn xuống ta lại chợt thấy có nhiều người không may mắn như mình.

    Ở gần Mẹ, mỗi tuần lại được nhìn thấy những lời khấn, những lời xin của con cái Mẹ từ khắp nơi về lại thấy có điều gì đó man mác buồn.
    Mẹ ơi ! Xin Mẹ cho con được ơn, được tiền để trả nợ Mẹ ơi ! Chồng của con vướng vào ma túy, xin Mẹ cho anh ơn hoán cải.Mẹ ơi ! Con của con mê chơi game, xin Mẹ cho con của con đừng mê game nữa.  Mẹ ơi ! Mẹ ơi …

    Nhìn lại mình, dĩ nhiên vẫn còn đó những chứng bệnh như rối loạn tiền đình, như viêm tai … nhưng, vẫn may mắn là còn tiền và có tiền để đi khám và chữa bệnh. Cũng như may mắn hơn nữa là có người này người kia là nhân viên ở các bệnh viện thấy khờ khờ từ quê lên tỉnh nên chỉ vẽ, hướng dẫn cho để khỏi bị la. Vào bệnh viện, dễ bị người này người kia ăn hiếp vì khờ khạo lắm vì nhà quê lên tỉnh.

    Nhìn lại thì thấy sao Chúa thương mình và không xin cho mình hết bệnh mà xin cho mình đủ sức để gánh bệnh và gánh bệnh cho biết với người ta.

    Nói đến đây lại nhớ có vài lần vào bệnh viện, người quen dù biết mình bận rộn, dù cũng thương và lo cho mình đó nhưng lại bảo là cứ chờ để cho biết người người nghèo !

    Hay ! Đúng ! Có khi phải chờ, phải đợi như thế mới có cái cảm của người nghèo chứ không thì không có cơ hội để cảm cái khó khăn của người nghèo khi vào bệnh viện.

    Và cũng vui là có lần vào viện, tưởng là được khám ngay nhưng không, bị vịn lại vì huyết áp cao quá. Nhân viên bảo là nhiều khi được thương chưa hẳn là tốt, mấy em nó đưa đi vội vội và lên cầu thang nên huyết áp cao mà cái huyết áp này là huyết áp giả nên rất khó để khám bệnh.

    Thế đó, phải chờ, phải đợi để có cái cảm với người nghèo, người khác.

    Đời ta, ta may mắn, ta hạnh phúc hơn nhiều người nhưng đôi mắt của ta vẫn không thấy, vẫn chưa thấy. Ngày nào mang nỗi đau tôi mới hổi nỗi đau là gì, ngày nào trong khát khô tôi mới hiểu phận người ăn xin, chỉ cần một ly nước thôi, chỉ cần bát cơm vơi …

    Ta còn may mắn, ta con hạnh phúc hơn nhiều người nhưng con mắt đức tin của ta khép lại, mù quáng vì ta chạy theo vất, của thế gian và phù hoa. Khi ta để cho tiền của, quyền lực, danh vọng lâp đầy lòng ta, lấp đầy mắt ta thì khi đó ta không còn thấy Chúa nữa. Và khi đó, ta lại
    thủ thỉ, thỏ thẻ với Chúa :

    Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt,

    Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi.

    Con mù lòa, bên vệ đường hành khất,

    Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 29 Thường Niên Năm B – Khánh nhật Truyền giáo

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 29 Thường Niên Năm B – Khánh nhật Truyền giáo

    Mục lục

    1. Đấng chữa lành (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Khôn hay khờ  (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Chết đến nơi rồi  (Lm. Thái Nguyên)

    4. Niềm trông đợi của người môn đệ (Jorathe Nắng Tím)

    5. Hãy cúi xuống phục vụ (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

    6. Lãnh đạo như Chúa Giêsu(Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ)

    7. Lừng danh  (Lm. Vũ Đình Tường)

    8. Chỗ đứng của người  môn đệ  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    9. Thuật lãnh đạo  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    10. Vấn đề phục vụ  (Trầm Thiên Thu)

    11. Hy tế  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    12. Chuyện hai anh em nhà Dêbêđê (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Người trẻ và sứ vụ loan báo Tin mừng  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Chúa sai tôi đi  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Truyền giáo nhờ quyền năng Chúa  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Phục vụ trong yêu thương (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    5. Giá chuộc tình yêu (Lm. Hoàng Kim Toan)

    6. Cùng người trẻ loan báo Tin mừng  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    7. Giới trẻ dấn thân truyền giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    8. Truyền giáo hay rao giảng Tin mừng  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    9. Danh vọng  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    10. Suy niệm Chúa Nhật 29 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    11. Vị đắng cuộc đời  (Trầm Thiên Thu)

    12. Quyền hành để phục vụ (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

    13. Muốn làm lớn, phải phục vụ như đầy tớ  (Lm. Trần Bình Trọng)

    14. Đưa người anh em lưu lạc về nhà Cha (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    15. Ngôn sứ hay tiên tri? (JM. Lam Thy, ĐVD)

    16. Muốn làm đầu phải hầu thiên hạ  (Lm. Đan Vinh)

    17. Có Chúa ở cùng  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    18. Khánh nhật truyền giáo  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    19. Chúa Nhật truyền giáo (Lm. Gioakim Nguyễn Đức Vinh)

    20. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 29 Thường niên_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    21. Làm đầy tớ  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    22. Chúng ta hãy đem Tin mừng cho hết mọi người (Lm. Giuse Nguyễn)

    23. Khánh nhật truyền giáo.  (Jorathe Nắng Tím)

    24. Họa – Phúc  (Lm. Thái Sơn)

     

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Hiến mình vì yêu thương  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Hãy loan báo Tin mừng  (Tgm. Ngô Quang Kiệt)

    3. Tinh thần truyền giáo  (Gm. Giuse Vũ Duy Thống, Gp. Phan Thiết)

    4. Tin mừng cho người ngoại biên  (Gm. GB. Bùi Tuần)

    5. Truyền giáo bằng cách sống  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    6. Nhớ Thầy (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    7. Cầu nguyện và giúp đỡ công việc truyền giáo  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    8. Mơ ước Thiên đàng hay chiêm ngắm Đức Kitô Thập giá (Lm.Gioan Nguyễn V.Ty)

    9. Chúa Nhật 29 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

    10. Chuyện phục vụ  (Trầm Thiên Thu)

    11. Khánh nhật truyền giáo  (Lm. GB. Văn Hào)

    12. Tinh thần truyền giáo-  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    13. Loan báo Tin mừng trong xã hội hôm nay  (Lm. Đan Vinh – HHTM)

    .

    ĐẤNG CHỮA LÀNH

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

     (Ngày Giáo Hội Việt Nam cầu xin cho đại dịch chấm dứt – 17/10/2021)

    Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều mạc khải cho chúng ta thấy dung mạo của Thiên Chúa là Đấng Chữa Lành. Có những người được Chúa chữa lành sau một thời bị trừng phạt do tội lỗi của họ, như trường hợp bà Myriam là em gái của ông Môisen (x Dân số 12,1-1). Có trường hợp Chúa chữa lành sau một thời gian dài bị thử thách đến mức đau khổ cùng cực, như trường hợp ông Gióp. Thiên Chúa chữa lành những cá nhân. Ngài cũng chữa lành cả một tập thể, như trường hợp người Do Thái trong hành trình sa mạc bị rắn lửa cắn (Ds 21,4-19). Đức Giêsu là dung mạo lòng thương xót của Chúa Cha. Người đã đến trần gian như một vị Lang Y chữa lành con người về tinh thần cũng như thể xác. Các tác giả Phúc Âm đều trình bày với chúng ta về việc Chúa Giêsu chữa bệnh. Người chữa đủ mọi chứng bệnh mà người dân đem đến. Người cũng đến những nơi bệnh nhân tập trung như bên bờ hồ, ở đó có người đã bệnh 38 năm được Chúa chữa (x. Ga 5,1-16) Người phá mọi rào cản thành kiến để gặp những người cùi và chữa cho họ lành, đồng thời giúp họ hoà nhập cuộc sống bình thường, xứng với phẩm giá con người. Người cũng tiếp xúc và lắng nghe nỗi lòng của những cô gái làng chơi, những người thu thuế, để quy phục nhân tâm và giúp họ chỗi dậy khỏi vũng bùn tội lỗi. Cùng với việc loan báo Tin Mừng giải thoát, Chúa Giêsu chữa lành những thương tổn hồn xác, giúp họ tìm được niềm vui và an bình.

    Chúa nhật 17-10 năm nay, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã kêu gọi toàn thể mọi tín hữu cầu nguyện cho đại dịch Covid-19 mau chấm dứt. Đã gần 2 năm, kể từ khi đại dịch bùng phát ở Vũ Hán (Trung Quốc), con virus nhỏ bé đến nỗi mắt thường không thể thấy, đã làm cho cả thế giới điêu đứng hoang mang. Đại dịch này đã nhanh chóng lan rộng trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, cướp đi sinh mạng của gần sáu triệu người. Tại Việt Nam chúng ta, đã có trên 20 ngàn người chết vì Covid-19 (theo thống kê đầu tháng 10-2021). Không thể kể hết những hệ luỵ tiêu cực do dịch bệnh gây ra, trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, gia đình và cả tôn giáo. Trước sự tàn phá của đại dịch, nhiều người đã đặt ra những vấn nạn. Có người cho rằng đây là hình phạt của Thượng Đế. Người khác lại dựa vào những đau khổ hiện tại để phủ nhận Thiên Chúa. Họ cho rằng, nếu Thiên Chúa hiện hữu thì Ngài phải xót thương nhân loại cùng khổ. Không lẽ Ngài dửng dưng trước nỗi thống khổ của con người. Không chỉ lương dân, mà một số tín hữu cũng băn khoăn khi chứng kiến và gánh chịu hậu quả của đại dịch.

    Trước hết, chúng ta khẳng định, đại dịch và những sự dữ không phải là hình phạt của Thiên Chúa. Bản chất của Chúa là tốt lành và thánh thiện. Nếu Ngài trừng phạt con người, thì hành động của Ngài sẽ trái nghịch với bản chất. Sự dữ là do con người gây nên, ví dụ: tai nạn giao thông do bia rượu hoặc bất tuân luật lệ giao thông; tàn phá thiên nhiên gây bão lụt và tác hại đến môi trường; lòng tham và giận dữ gây nên tội trộm cắp giết người. Cũng có khi sự dữ không do con người mà đến từ những hiện tượng thiên nhiên như động đất, sóng thần.

    Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót. Đức tin Công giáo khẳng định với chúng ta điều đó. Nhưng nếu chữa lành là một ưu phẩm của Thiên Chúa, thì đó không phải là ưu phẩm duy nhất của Ngài. Nói cách khác, Ngài không phải là một lang y hay một bác sĩ chuyên chữa bệnh. Nhiệm vụ chính của lang y và bác sĩ là chữa bệnh. Nếu lang y và bác sĩ nào không chữa được bệnh thì uy tín của họ sẽ bị giảm dần và có thể mất đi. Thiên Chúa là Đấng Chữa Lành tâm hồn và thể xác, nhưng Ngài cũng là Đấng Cứu Độ, Đấng giải phóng con người khỏi ách giam cầm của quyền lực sự ác và dẫn đưa con người đến sự thánh thiện hoàn hảo. Giáo Hội tiếp nối sứ vụ của Chúa Giêsu, chữa lành con người qua Bí tích Xức Dầu bệnh nhân. Hiệu quả của Bí tích này là xin Chúa chữa lành những tổn thương linh hồn và thân xác, để họ thêm sức mạnh và khỏi bệnh, và nếu đã đến lúc họ kết thúc cuộc sống dương thế, thì được vững vàng cậy trông và ra đi trong an vui thanh thản.

    Hơn nữa, vẫn biết rằng xin ơn chữa lành là một phần của lời cầu nguyện Kitô giáo, nhưng mục đích của đời sống Kitô hữu không phải để được chữa lành mà thôi. Vì nếu như vậy, thì những ai tin Chúa sẽ không bao giờ phải chết. Ông Lagiarô được Chúa cho sống lại, nhưng rồi ông cũng phải chết. Chàng thanh niên con duy nhất của bà goá thành Na-im cũng vậy (x. Lc 7,11-17). Khi một người lâm bệnh, bản thân đương sự và người thân cầu nguyện với Chúa, để, nếu Ngài muốn, thì Ngài chữa lành. Tuy vậy, con người đã có ngày khởi đầu cuộc sống ở trần gian, thì cũng có ngày phải ra khỏi trần gian này. Đau khổ và sự chết gắn liền với thân phận của con người. Vì vậy, người ta gọi cuộc đời này là “cõi tạm”, là “hành trình dương thế”. Dựa vào giáo huấn của Chúa Giêsu, Giáo Hội Công giáo dạy rằng: cái chết là một sự biết chuyển, là một cuộc khởi hành mới, vì “chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời”.  Như thế, mục đích của đời sống Kitô hữu còn là để được cứu độ. Thiên Chúa là Đấng Cứu độ và Ngài cứu chúng ta với tất cả con người chúng ta. Thiên Chúa cứu chữa con người cách triệt để chứ không chỉ giải quyết những tình huống nhất thời mà thôi. Đôi khi sự dữ lại là dịp để chúng ta rút ra những bài học cần thiết để nên tốt hơn.

    Đã gần 2 năm, Đức Thánh Cha và cả Giáo Hội Công giáo cầu nguyện cho đại dịch chấm dứt. Đặc biệt, tại quảng trường Thánh Phêrô, vào buổi chiều ngày thứ Sáu, 27-3-2020, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cầu nguyện trong một khung cảnh trầm buồn sâu lắng và hết sức cảm động, xin Chúa thương xót nhân loại. Dù đã cầu nguyện hết sức, dịch bệnh vẫn lan rộng. Trước hiện tượng này, nhiều người đặt câu hỏi: phải chăng Chúa không nhận lời chúng ta cầu nguyện và như thế thì cầu nguyện là vô ích. Chúng ta tìm thấy câu trả lời trong bài huấn từ của Đức Thánh Cha trong buổi cầu nguyện vừa nêu: Nhân loại đang đi trên một chiếc thuyền, giống như các môn đệ đi trên chiếc thuyền ở biển hồ Galilê. Sóng gió bão táp nổi lên làm mọi người lo sợ. Chính lúc đó, Chúa Giêsu đang tựa gối mà ngủ. Các môn đệ trách Chúa: chúng ta chết đến nơi rồi, Thày chẳng lo gì sao? (x. Mc 4,35-41). Trước sự dữ do đại dịch gây ra, cũng có người trách Chúa như vậy. Chúa đã quở các môn đệ: sao kém lòng tin! và Người đã ra lệnh cho bão táp phải dừng. Chúa có chương trình của Ngài. Ngài hành động theo ý Ngài muốn, vào lúc Ngài muốn và với phương pháp Ngài muốn. Lịch sử đã chứng minh điều ấy. Vì vậy, lời cầu nguyện không bao giờ vô ích. Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho” (Lc 11,9). Chúng ta hãy xin Chúa đoái thương nhân loại khổ đau, hãy tìm sự công chính và gõ cửa lòng thương xót của Chúa.

    Đại dịch gây nên nhiều đau khổ cho cá nhân cũng như cho cộng đoàn. Đại dịch cũng là lúc chúng ta chứng kiến những nghĩa cử bác ái chia sẻ tuyệt vời! không phân biệt tôn giáo, vùng miền, tình nghĩa đồng bào đã vượt lên trên tất cả. Giữa đau thương của đại dịch, chúng ta được nghe những “câu chuyện cổ tích” của thời đại. Với lăng kính Đức tin, người tín hữu còn nhìn thấy ở đó chính là những phép lạ Chúa làm qua những tấm lòng nhân ái của người Việt Nam đối với đồng bào.

    Hôm nay, tại tất cả nhà thờ ở Việt Nam, chúng ta đều dâng thánh lễ cầu nguyện, chúng ta tin rằng lời cầu xin tha thiết của chúng ta sẽ chạm đến trời cao, và quê hương của chúng ta sẽ sớm trở lại an bình, trẻ em lại được đi học, công nhân được đến xưởng, người nông dân tiếp tục ra đồng, niềm vui và hạnh phúc sẽ trở lại với chúng ta.

    Về mục lục

    KHÔN HAY KHỜ

    Lm. Jos DĐH.

    Không cần phải nhiều kiến thức, chúng ta vẫn hiểu: ăn trên ngồi trốc, là câu thành ngữ nói đến kẻ quyền thế, đối tượng mà xã hội thường né tránh, vì sợ, vì ngại va chạm, lỡ lời có thể: không phải đầu cũng phải tai. Dù không có ý khinh khi người nghèo kẻ khờ, xã hội vẫn xem họ thấp kém, cũng vì danh dự nên mới có câu: làm người có thể nghèo, có thể xấu, có thể hôi, bẩn, hay bất tài, nhưng tuyệt đối không được hèn. Cũng trong cách nói đó: khôn chẳng có tiền, khôn ấy dại; dại có uy quyền, ấy dại khôn ! Con người tự nhiên là mơ ước giầu sang địa vị, túng nghèo, hèn hạ, dẫn đến buồn chán, là sự thật. Dù chỉ bình thường, cha ông ta vẫn biết khuyên con cháu: mọi cố gắng sẽ được đáp đền, hãy chuyên chăm học học tập, để xây dựng tương lai mang tên mình.

    “Thưa Thầy, xin cho hai anh em con, một đứa ngồi bên hữu một đứa ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”. Có phải vừa khôn vừa lanh, nên hai anh em họ đã biết “thủ thỉ”, xin Thầy hai vị trí đặc biệt trong nước trời ? Chắc không phải vì trâu chậm uống nước đục, không phải vì khờ hay chậm, 10 anh học trò kia để vụt mất ước mơ chỗ nhất cho nhì khi Thầy được vinh quang ? Thực ra, mang thân phận người đầy giới hạn, 12 vị chài lưới năm xưa, đã phản ánh đúng thực chất là các ông khôn theo đường lối thế gian, các ông khờ do chưa có khái niệm gì về hạnh phúc thật trong nước Chúa. Qua 21 thế kỷ rồi, người tín hữu chúng ta vẫn đang “nhỏ to” với Thầy Giêsu: xin cho con học giỏi, xin cho con được trúng vé số, xin gia đình con làm ăn phát đạt … Đức Giêsu đang nhắc lại điều quan trọng: các ngươi có uống chén Thầy sắp uống, có chịu phép rửa Thầy sắp chịu không ?

    Khôn là biết theo Thầy, khôn là biết hiệp thông với chén Thầy uống, liên đới với phép rửa Thầy sắp chịu, và trở nên khờ dại trước những ảo ảnh thế gian, đó là điều căn bản, khi người tín hữu muốn ở bên Thầy Giêsu trong nước của Ngài. Khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương, dại là chỉ lo tìm danh lợi thú ở đời này, khôn là biết cậy trông vào sức mạnh của Thầy Giêsu. Khôn là biết trở nên nhỏ bé trước anh chị em mình, dại là tìm thoả mãn dục vọng, bắt người khác hầu hạ mình. Đức Khổng Tử dạy các học trò: người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người. Là học trò Đức Giêsu, chúng ta không những phải biết tự lo cho mình, ngoài ra còn có bổn phận phải giúp đỡ anh chị em xung quanh mình. Vì chưng, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hy sinh mạng sống mình”.

    Khôn ăn người, dại người ăn. Khôn làm cột cái, dại làm cột con.  Khuynh hướng tự nhiên, ai cũng muốn khôn, muốn giầu sang chức trọng, ví như quy luật ngầm, kẻ nghèo hèn phải phục vụ hầu hạ giai cấp thượng lưu. Tìm kiếm vị trí trong xã hội, người ta cũng muốn có luôn chỗ nhất chỗ nhì trong Nước Chúa. Người ta xin làm lớn, xin chức quyền ở đời này, đời sau hy vọng vẫn có kẻ hầu hạ mình. Đức Giêsu đã thẳng thắn với Giacôbê và Gioan: “các ngươi không biết điều các ngươi xin…”. Vâng, ở đời người ta vẫn nói: hơn nhau tấm áo manh quần, thả ra bóc trần ai cũng như ai. (ca dao). Ở trong tình liên đới hiệp thông với Đức Giêsu, người tín hữu kitô chắc chắn phải được thấm nhuần giáo huấn yêu thương và phục vụ.

    Khôn hay khờ, giỏi hay dại, thông thái hay hèn kém, tất cả đều dừng lại khi nhắm mắt xuôi tay, giầu nghèo, cùng đinh hay quý tộc, cũng phôi phai theo thời gian. Ngồi bên tả bên hữu, có vị trí nhất nhì khi Thầy được vinh quang, Đức Giêsu không coi đó là vấn đề chính, hãy uống chén đắng, hãy chịu phép rửa với Thầy, đó là điều cần thiết. Theo Thầy Giêsu làm môn đệ, một quá trình vừa học vừa hành, dù là gia trưởng hiền mẫu, là tu sĩ, giáo sĩ, ai cũng có cơ hội để thông phần cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô. Ở đời này, ta có thể chậm hay khờ, có thể nghèo hoặc đen đủi xấu xí, chẳng phải do thân phận bọt bèo mà Chúa quên, Chúa không cho hưởng hạnh phúc đời đời. Phần thưởng cao quý ở thiên quốc, không hệ tại nhà giầu hay con quan, mà tuỳ thuộc cách sống của mỗi người.

    Khôn hay khờ, ngồi ghế nhất hay ghế nhì, đúng là vinh dự cho bản thân, gia đình, dòng tộc, nơi cuộc sống này. Đội cũng vào chợ, gánh cũng vào chợ, có chức quyền, hoặc chỉ là dân đen, đều được mời gọi theo Đức Giêsu đi hết hành trình đời người, khi ta uống chén Thầy uống, chịu phép rửa Thầy chịu. Nhân loại sẽ không lý giải được, tại sao có người giầu ăn không hết, có người lần chẳng ra ? Tại sao có kẻ khôn người khờ, tại sao có kẻ tài giỏi, sung túc, nhưng họ không hạnh phúc ? Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta: uống chén Thầy uống, chịu phép rửa Thầy chịu, chính là chiếc chìa khoá mở ra những nút thắt ở đời. Khôn hay khờ, ở bên tả bên hữu trong nước trời, đều cao quý, nhưng tin theo Chúa phải sống thánh ý Chúa, giầu sang, tài giỏi, chức quyền là để phục vụ, là để thực thi đức ái kitô. Xin tình yêu Chúa ở mãi trong ơn gọi và nén bạc của từng người trong chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    CHẾT ĐẾN NƠI RỒI

    Ngày Toàn Quốc cầu nguyện xin Ơn Chữa lành : Mc 4,35-41

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Trong lễ này, Giáo Hội đặt bài Tin Mừng kể lại trận cuồng phong nổi lên, khi Chúa Giêsu và các Tông đồ đang trên thuyền đi qua “bờ bên kia”. Trước cơn sóng dữ ập vào thuyền, các Tông đồ hoang mang, sợ hãi, các ông hốt hoảng chạy đến đánh thức và kêu cứu Thầy. “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” Có gì đáng sợ bằng đứng trước cái chết, nó cho ta một cảm giác kinh hoàng. Lời kêu cứu của các tông đồ xem ra cũng là lời trách móc, có vẻ như Thầy quá vô tư hững hờ trước mạng sống của các đồ đệ. Nhưng có lẽ cần phải như thế để các ông nhận ra sự yếu đuối và bất lực của con người mình.

    Ðức Giêsu đã thức dậy, ra lệnh cho gió và biển: “Câm đi! Im đi!”. Thế là sóng yên biển lặng như tờ. Lúc đó, Đức Giêsu mới trách lại các ông: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”. Nếu có lòng tin thì đâu có cuống cuồng như vậy. Có Thầy mà cũng như không. Mặc dù các ông đã từng chứng kiến những phép lạ lớn lao Thầy làm, nhưng hôm nay các ông mới thực sự kinh ngạc và thốt lên: “người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”. Nhìn các Tông đồ đối mặt với trận cuồng phong, ta thấy được phần nào về thế giới, về thái độ của con người khi đối diện với bão tố của cuộc đời.

    Thế giới mà nhiều người ảo tưởng là vĩnh cửu dường như sắp sa chìm trong biển cả của sự dữ. Chỉ cần nhìn lại một năm rưỡi nay (từ 2020), ta đã thấy nhiều thảm họa xảy ra: trước tiên là cuộc cháy rừng ở Úc, hơn 10 triệu ha bị phá hủy; khoảng 1.400 ngôi nhà ở bang New South Wales bị thiêu rụi. Tiếp đến là trận “lụt hồng thủy” 40 ngày đêm ở Trung Quốc nhấn chìm hàng trăm ngàn ngôi nhà, khiến cho hàng ngàn người chết, đó là chưa kể đến lũ lụt ở các tỉnh miền Trung Việt Nam làm chết hàng trăm người, và cuộc chiến tàn sát nhau vì màu da sắc tộc trên nước Mỹ. Vượt lên trên các thảm họa kia là thảm họa Covid 19. Cơn đại dịch này làm cho thế giới kinh hoàng, làm tê liệt nền kinh tế và các hoạt động xã hội. Số người chết vì Covid 19 tính tới thời điểm này đã lên đến 10 triệu người ([1]). Thảm họa này làm cho con người điên đảo, cạn kiệt niềm hy vọng vào một thế giới tươi sáng.

    Có nhiều người nghĩ đây đúng là cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Nó làm cho nhà nhà, người người phải chia ly, kẻ ở người đi không một lời trăn trối. Bao gia đình tan tác, bao người thân chết không thấy xác, bao thương đau về tinh thần và đói khát về thể xác; thời gian héo hắt phai tàn, và không gian im lìm chìm vào hoang vắng; nhà thờ và chùa chiền không bóng người. Mỗi ngày ở Việt Nam có hàng ngàn người phải cách ly, họ đang phải chiến đấu để giành giật lấy từng hơi thở, không biết ngày mai mình còn có mặt ở trên đời nữa không,… Tất cả mọi người đều rơi vào hoang mang, sợ hãi, thậm chí bị stress, và rồi những khó khăn lại nối tiếp như thất nghiệp, nghèo đói, không nơi nương tựa… Bao người tự hỏi: liệu Thiên Chúa có hay không? Nếu có thì Ngài ở đâu trong biến cố này? Ngài có nghe thấy tiếng con cái đang ngày đêm kêu cầu lòng thương xót của Ngài không? Có khi chúng ta cũng trách Chúa như các Tông đồ xưa: Chúng con chết đến nơi rồi mà Chúa không ra tay cứu chữa! Ngài còn chờ gì nữa đây?

    Nếu cứ loay hoay tìm câu trả lời cho những vấn nạn đó thì không bao giờ thỏa đáng, nhưng nếu ta nhớ lại câu chuyện Ladarô trong Tin Mừng Gioan, thì ta sẽ có được tia sáng đầy hy vọng về cách hành động của Thiên Chúa. Mặc dù Chúa Giêsu rất yêu quí Ladarô nhưng Ngài không đến cứu ngay, mà để chết rồi mới đến cứu. Điều này cho ta thấy “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa cứu thoát cho bằng một Thiên Chúa cứu chuộc. Ngài không can thiệp để cứu ta khỏi nhục nhã, đau khổ và chết chóc, nhưng Ngài cứu chuộc ta khi ta đã qua nhục nhã, đau khổ và phải chết cách nào đó” (Ronald Rolheiser). Thật không dễ để hiểu được điều này nếu thiếu cảm nghiệm dưới ánh sáng đức tin.

    Tuy nhiên, câu chuyện Chúa ngủ trên chiếc thuyền đang bị bão bùng năm xưa vẫn còn nguyên giá trị. Ngài vẫn ở đó, vẫn bên cạnh các Tông đồ, nhưng lo sợ đã làm các ông quên mất sự hiện diện của Chúa. Lúc này cũng vậy, Chúa đang ở đây, đang đau niềm đau của con người, đang khổ nổi khổ của nhân loại. Nhưng vì quá hoảng sợ, ta không còn nhận ra Chúa. Ngài vẫn ở bên chúng ta, “cho dù người mẹ có quên đứa con của mình, phần Ta, Ta sẽ không quên ngươi” (Is 49,15).

    Thập giá là điều tất yếu của cuộc sống con người. Đau khổ cũng là lẽ tất nhiên trong thân phận làm người. Chúng ta không thể trốn chạy hay đổ lỗi cho Thiên Chúa, mà trái lại, thực tế lại thường là hậu quả của tội lỗi loài người. Mỗi người đều phải vác thập giá của mình, và những đau khổ chúng ta đang chịu lúc này đều liên hệ với những những đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá. Chúa đảm nhận tất cả những đau khổ ấy để thánh hóa mọi người chúng ta. Ta đừng ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối, nhưng hãy thắp lên một ngọn lửa của niềm tin và hy vọng; cần vác đỡ thập giá cho nhau. Được như vậy, thập giá sẽ trở nên Thánh giá, vì nó được đón nhận từ trái tim chúng ta trong sự kết hiệp với trái tim Chúa Giêsu, Đấng đã đổ máu để cứu chuộc chúng ta.

    Virus Corona làm cho nhiều người khiếp sợ, nhưng có một loại virus đáng sợ hơn, đó là virus của lòng kiêu căng, ích kỷ, tham lam, hận thù, ghen ghét, nhất là chủ nghĩa bá quyền đang bành trướng dưới nhiều hình thức. Con người đã có lúc tự mãn nghĩ rằng “mình làm được mọi sự” nhưng qua biến cố đại dịch này, con người mới biết mình là ai? Làm được cái gì? Quả thật, nếu không có Chúa, thiếu Chúa, vắng Chúa, thế giới sẽ trở thành “ngôi nhà ma”, và biển cả của sự dữ là mồ chôn tất cả. Hãy nhìn mọi sự dưới cái nhìn đức tin để thấy Chúa đang hành động, và hành động cụ thể qua những con người đầy thiện chí, đầy nhiệt tình, đang xả thân cho anh em đồng loại ở mọi góc độ của cuộc sống hôm nay. Ta đừng hoang mang, sợ hãi nhưng “mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em” (1Pr 5,7). Cuộc sống của thế giới giờ đây có nhiều thay đổi, có thể mọi người phải tiếp tục sống chung với lũ, nhưng dù trong hoàn cảnh nào “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8,28).

    Ước gì nạn Covid không làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa bị “phong tỏa” bằng những suy nghĩ tiêu cực, bi quan, nhưng mở rộng tâm hồn ta để tiếp nhận ánh sáng, tình yêu và ân sủng, mà Thánh Thần Chúa đang tiếp tục tuôn đổ xuống cho những kẻ tin.

    Cầu nguyện

    Lạy Chúa!
    Cuộc đời như biển cả mênh mông,
    có những khi đầy sóng gió chập chùng,
    với dịch bệnh, tai ương và nghèo túng,
    biết bao người phải lâm cảnh khốn cùng,
    chúng con thấy hoang mang và nao núng,
    lại thấy Chúa như xa cách muôn trùng.

    Cuộc sống với đau khổ không thể tránh,
    bao lần con ưu phiền và than trách,
    nhưng thử thách lại là phương cách,
    Chúa muốn tôi luyện đời sống con,
    qua những đau thương thêm vững vàng,
    qua những nguy nàn thêm tin cậy.

    Thử thách như cơ hội triển nở,
    giúp con khai mở những tiềm năng,
    để con khai sáng cuộc đời mình,
    theo như chương trình tình yêu Chúa.

    Thử thách như thập giá hằng ngày,
    cho con biết luôn kề vai vác lấy,
    trong an vui và hy vọng tràn đầy,
    vì thấy mình được nên giống Chúa hơn.

    Trong thử thách con thấy mình chới với,
    nhưng tin rằng Chúa có mặt ở mọi nơi,
    luôn yêu thương và hành động kịp thời,
    không để đời con phải chơi vơi,

    Thuyền đời con chẳng bao giờ êm ả,
    chỉ êm ả khi về tới bến quê,
    chỉ mong sao con giữ vẹn lời thề,
    biết sống đức tin giữa cuộc đời trần thế,
    Xin cảm tạ và tôn vinh danh Chúa,
    trong gian nan thử thách của đời con. Amen.

    [1]https://zingnews.vn/so-ca-tu-vong-thuc-te-vi-covid-19-tren-toan-cau-la-bao-nhieu-post1254231.html (24.08.2021)

    Về mục lục

    NIỀM TRÔNG ĐỢI CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ

    Jorathe Nắng Tím

    Đi theo Chúa, ắt phải trông đợi ở Chúa điều gì. Tin Mừng Máccô kể lại điều mong đợi của hai môn đệ Giacôbê và Gioan. Cả hai đều là con của ông bà Dêbêđê: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”. Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” Các ông thưa: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10,35-36).

    Thực ra, đây không chỉ là câu hỏi của riêng hai anh em nhà Dêbêđê,  nhưng là câu hỏi bấy lâu hằng nung nấu tâm can nhiều môn đệ khác, nhưng hầu hết đã không dám nói ra, vì sợ bị anh em ganh ghét, và ngại bị Thầy nghĩ mình là kẻ háo danh, ham quyền.

    Tuy thế, khi đã mạnh dạn bộc lộ ước mơ làm quan trong vương quốc của Đức Giêsu, Thầy mình rồi, thì hai ông đã không chút ngượng ngùng, do dự, nhưng dũng cảm bảo vệ đến cùng mơ ước của mình, khi trả lời Đức Giêsu : “Thưa được”, khi Ngài hỏi lại các ông: “Các anh không biết các anh xin gì. Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” (Mc 10, 38-39).

    Thực ra, tất cả mọi người, trong đó có cả chúng ta, ở bước đầu đi theo Đức Giêsu đều nghĩ mình sẽ được nhiều, rất nhiều, trong đó có vinh quang, nên sau một thời gian làm môn đệ, câu hỏi quen thuộc được đặt ra chính là câu hỏi của Phêrô đã đại diện anh em Nhóm Mười Hai thưa với Đức Giêsu: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (Mt 19,27).

    Trả lời các môn đệ, cũng là trả lời chúng ta. Trước hết, Đức Giêsu đã không phủ nhận việc “ngồi bên trái, bên phải trong vương quốc của Ngài”, nhưng khẳng định : Việc đó thuộc quyền Chúa Cha, và Chúa Cha “đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được” (Mc 10,40).

    Nói như thế Đức Giêsu gián tiếp cho các môn đệ biết: để được Chúa Cha cất nhắc, các ông phải có đủ điều kiện, và điều kiện đó là:

    1/ Trở nên tôi tớ phục vụ:

    Không như “quan lộ” của thế gian, con đường tiến thân trong Nước Trời đi theo một nguyên tắc hoàn toàn khác: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10,43-45).

    Phục vụ như người tôi tớ trung tín, dù chịu muôn vàn thử thách của Giavê mà ngôn sứ Isaia đã mô tả: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ”, và “vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của ta sẽ làm cho muôn người nên công chính” (Is 53,10.11).

    2/ Trở nên Của Lễ chuộc tội:

    Không chỉ trở nên tôi tớ phục vụ, người môn đệ còn phải trở nên “Của Lễ”, khi “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45), như Đức Giêsu vừa là Thượng Tế, vừa là Của Lễ đền tội cho nhân loại trên Thánh Giá, mà thánh Phaolô đã vẽ lên chân dung của Ngài: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4, 15-16).

    Quả thực, khi đi theo Đức Giêsu, người môn đệ tuy biết chắc sẽ nhận được phần thưởng lớn lao trên trời (x. Mt 5,12), biết chắc tên mình đã được ghi trên trời (x. Lc 10,20), biết chắc “sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (M 19,29), nhưng không khỏi băn khoăn trước đòi hỏi: “Hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà đi theo” (Lc 9,23);  không khỏi lo âu khi bị đặt trước sự dữ, đau khổ, và sự chết, bởi ngay cả Đức Giêsu cũng đã không nói gì nhiều về đau khổ và cái chết là giới hạn bi thương của con người, ngoài mở ra  cánh cửa đi vào Mầu Nhiệm Phục Sinh  bằng chính con đường khổ nạn, và cái chết tức tưởi, câm lặng của Ngài trên Thánh Giá.

    Vâng, hơn lúc nào hết, giữa đại dịch Covid, giữa những thử thách của đời sống  và gọng kìm của sự dữ đang bao vây, xiết chặt, đẩy con người vào cô đơn, bế tắc. Những nỗi đau thiếu thốn vật chất, nỗi khổ cô đơn, cô độc, nỗi lo chết vì lây nhiễm dịch bệnh đang thử thách đức tin của chúng ta, và đức tin ấy sẽ chỉ được tôi luyện, củng cố, nếu chúng ta dám tin rằng: chúng ta đang chung phần đau khổ với Đức Giêsu, và Đức Giêsu đang chia sẻ đau khổ với chúng ta. Ngài là Thiên Chúa ở với con người, và có mặt giữa con người cho đến tận thế, không một giây phút rời bỏ con người.

    Xác tín như thế, chúng ta sẽ được cùng Ngài đi vào Mầu Nhiệm Phục Sinh với Ngài, qua cánh cửa của đau khổ và sự chết là “giá chuộc muôn người ”, giá xóa bỏ tội lỗi và cứu độ chúng ta.

    Về mục lục

    HÃY CÚI XUỐNG PHỤC VỤ

    Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

    Dịch bệnh- phong tỏa là những từ ngữ ám ảnh và sợ hãi nhất của người Miền Nam lúc này. Dịch đến ai, thì người đó phải đi cách ly chịu trăm ngàn khó khăn, rồi ngay cả những người trong gia đình và cả khu xóm lại bị phong tỏa, rào chắn đến nỗi “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, sống thiếu thốn và đầy lo âu sợ hãi.

    Có những nơi bị phong tỏa kéo dài 3-4 tháng trời! Cuộc sống hoàn toàn sống nhờ và chờ sự bố thí. Nhưng chính trong hoàn cảnh khó khăn của thời thế lại tạo anh hùng. Anh hùng ở đây là những người hùng đã chẳng quản ngại gian nan, hiểm nguy để dấn thân làm thiện nguyện cứu giúp đồng bào mình. Rất nhiều những hình ảnh đẹp nơi các thiện nguyện viên nhiệt thành đi kiếm rau, kiếm gạo, kiếm mì tôm để tiếp tế cho anh em mình đang trong vùng phong tỏa. Rất nhiều những thiện nguyện viên cúi xuống chăm sóc cho các bệnh nhân f0 đang thoi thóp với mớ hỗn động của dây thở oxy . ..

    Họ chẳng màng đến danh vọng, quyền lợi. Họ chỉ làm vì một điều duy nhất là theo bản năng thấy người ta đói thì cho ăn, ai nỡ để anh em mình đói khổ?  Họ thuộc đủ mọi thành phần. Cócác linh mục, tu sĩ, giáo dân, người khác đạo thiện nguyện, với nhiều hình thức: Giúp bệnh nhânvà những người bị phong tỏa, họ quyên góp cung cấp lương thực, thuốc men, bình oxy…

    Nếu được hỏi về động cơ để dấn thân thì ai cũng nói là vì Chúa, vì Giáo hội mà dấn thân nên chẳng nề gian nan vất vả, hiểm nguy.  Có nhiều các bạn trẻ đã can đảm xông pha vào tâm dịch dầu biết rõ rủi ro, hiểm nguy, và đã không ít người cũng đã bị lây nhiễm bệnh sau ít ngày xông pha.

    Đây là điều mà Chúa Giê-su luôn mời gọi những người môn đệ là phải sống phục vụ trong yêu thương và khiêm hạ. Dầu phải hy sinh, phải nằm gai nếm mật mà Chúa bảo đó chính là “chén đắng” vẫn can trường đón nhận: “Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu”. Vì chưng “ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”.

    Đời người ky-tô hữu phải trở nên dấu chỉ cho tình yêu thương mới xứng danh là môn đệ Chúa. Tình yêu thương không dừng lại ở sự xót thương những mảnh đời bất hạnh mà còn phải làm điều gì đó để xoa dịu nỗi đau cho anh em. Cuộc đời người ky-tô hữu không có yêu thương thì cũng như cây khô héo mà Chúa bảo sẽ mang chất thành củi khô mà đốt. Như muối đã lạt quăng ra đường cho đời dẫm nát. . .

    Hôm nay Giáo hội Việt Nam cùng chung một tâm tình là cầu nguyện xin ơn Chúa chữa lành cho nhân loại, và mời gọi từng người tín hữu cũng hãy làm điều gì đó giúp cho anh em đang khổ đau. Giáo Hội Việt Nam đang mời gọi mọi người tín hữu hãy cùng hát lên tâm tình đầy yêu thương như cha Kim Long đã từng viết:  “ Xin hãy thương yêu nhau, vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu . Để tình yêu bừng cháy tiên diệt sự chết. Tình yêu bền vững, tháng năm chẳng tàn phai. Vì tình yêu là chính giới luật của Chúa, tình yêu tuyệt đối. Chính Chúa là tình yêu.

    Thiên Chúa có thể chữa lành dịch bệnh nhưng Ngài lại rất cần con người cúi xuống băng bó cho nhau. Xin chúng ta luôn là cây lúc chịu nát tan để cánh đồng lúa của Giáo Hội luôn nặng trĩu hạt yêu thương và hy sinh. Amen

    Về mục lục

    LÃNH ĐẠO NHƯ CHÚA GIÊSU

    Giuse Phạm Đình Ngọc

    Phải khiêm tốn nhìn nhận rằng trong mỗi người chúng ta, đâu đó cũng ước muốn có địa vị thật cao trong xã hội. Mình phải làm sao để dưới một người, trên vạn người mới gọi là thành công. Tiếc là hấp lực ấy đã khiến nhiều người lao vào tìm kiếm và tranh dành như con thiêu thân. Hậu quả là chính họ và nhiều người khác bị tổn hại vì sự cao ngạo và cách lãnh đạo hà khắc của họ.

    Thực ra vấn đề trên đây không mới. Trong Tin Mừng[1], không ít lần chúng ta thấy các môn đệ xin cho mình được nổi tiếng với Đức Giêsu. Suốt ba năm rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã chiếm được cảm tình của dân chúng. Không ít người tung hô và muốn Đức Giêsu lên làm vua của họ, nghĩa là trở thành người lãnh đạo. Là các môn đệ thân tín với Đức Giêsu, các ông phần nào cũng được thừa hưởng “hào quang” này. Bởi thế mà trong Tin Mừng Chúa Nhật 29 hôm nay, chúng ta hiểu được tại sao hai muôn đệ là Giacôbê và Gioan lại xin với Đức Giêsu cho mỗi người một bên, khi Đức Giêsu vinh thắng. Có lẽ vì ý hướng không ngay lành trong lời xin này của hai ông, nên Đức Giêsu mới trách rằng: “Các anh không biết các anh xin gì!” (Mc 10,36). Nếu có mặt trong lúc này, chúng ta cũng thấy hai ông chỉ muốn ngồi mát ăn bát vàng. Hai ông chỉ muốn đi thẳng đến giai đoạn phục sinh mà bỏ qua con đường đau khổ.

    Tôi tin ai cũng biết đi theo Đức Giêsu là có ngày được hưởng vinh quang, được vào Nước Trời. Tiếc là trước đó, Đức Giêsu luôn đòi mỗi người phải trải qua con đường thập giá, phải uống chén đắng mà cuộc đời mang lại cho người môn đệ. Nhiều lúc tôi và bạn cũng hăng hái xin uống, như hai môn đệ trong câu chuyện này: “Thưa thầy, chúng con sẵn sàng uống.” (x. Mc 10,39). Nhưng trên thực tế lại khác hoàn toàn. Gặp gian nan thử thách, nhất là đối diện với cái chết, thử hỏi mấy ai dám một lòng tín trung với Thiên Chúa. Điều thú vị là ai bước với Đức Giêsu trong đau khổ, thì cũng được ở với Người trong vinh quang. Đó vừa là lời hứa bảo đảm của Thiên Chúa, nhưng cũng là thách đố cho mỗi người chúng ta.

    Dẫu sao chúng ta thử lắng nghe, nhìn vào nhóm môn đệ lúc này, điều gì đang xảy ra? Số là hai môn đệ kia xin mỗi người một bên thầy Giêsu, những người còn lại đâm ra tức tối. Lòng ganh tị của họ là nguyên nhân gây ra chia rẽ. Đành rằng một nhóm phải có người lãnh đạo, nhưng nếu hai môn đệ này được ngồi bên tả, bên hữu thầy Giêsu, trong hoàn cảnh này, tự nhiên những thành viên khác bị xem thường, trở nên những người bị trị. Vì suy diễn như thế, nên họ mới tranh cãi xem ai là người lớn nhất trong nhóm.

    Đang hăng máu tranh dành địa vị, Đức Giêsu cho các ông một bài học về thế nào là người lãnh đạo theo đúng ý Chúa. Đức Giêsu xác nhận rằng các thủ lãnh thế gian thường bị rơi vào vòng xoáy quyền lực này (Mc 10,42). Họ sẵn sàng đấu đá, tranh dành để vươn lên chức cao nhất bao nhiêu có thể. Trên đó, họ lấy quyền mà cai trị dân. Đó là chuyện của chính trị, của xã hội từ cổ chí kim, hiện tại cũng thế. Nhìn tới nhìn lui thử tìm được mấy nhà lãnh đạo dân sự vì nước vì dân? Thay vào đó, người làm lớn theo phong cách của thầy Giêsu phải là:

    – Làm người phục vụ: Theo cách hiểu của Công giáo, người phục vụ tốt là người hết lòng theo một lý tưởng cao cả nào đó. Ở đây Đức Giêsu muốn các ông phải hạ mình, cúi xuống rửa chân cho nhau (Ga 13, 1-15). Để phục vụ tốt, người ta phải chú trọng đến tình yêu như là động cơ thúc đẩy mọi ý hướng và hành động của họ hướng đến người khác. Trong tâm thế này, người phục vụ hẳn nhiên không tìm sự nổi tiếng, lời tung hô, nhưng trong sự khiêm tốn, như một người thợ được đặt làm việc trong vườn nho của Thiên Chúa.

    – Làm người đầy tớ: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” (Mc 10,44) Đây là một nghịch lý mà không phải người lãnh đạo nào cũng dám chấp nhận. Bởi đầy tớ là người vô danh tiểu tốt, làm những việc tầm thường, không đáng để người đời tán dương ca tụng. Điều này hợp lý, nhưng với Thiên Chúa lại hoàn toàn khác. Khi phục vụ bằng cái tâm, với nhiều tình yêu, người đầy tớ của Thiên Chúa biết mình chỉ là công cụ trong tay Ngài. Nếu Thiên Chúa dùng họ trong công việc gì, thì họ sẵn lòng quảng đại để đáp lời xin vâng[2]. Trong sự vâng phục này, tuy họ phục vụ trong cương vị là người đầy tớ, nhưng người đời sẽ nhận ra họ là chứng tá của Thiên Chúa[3]. Nhờ vậy, qua người đầy tớ này, danh Thiên Chúa được cả sáng, và dĩ nhiên, người này cũng chung phần vinh quang với Chúa. Bởi thế mà suốt dòng lịch sử của Giáo hội, chúng ta thấy biết bao vị Giáo hoàng, các vị thánh thực sự là đầy tớ trung thành của Thiên Chúa và con người. Tình yêu của họ cảm hóa được tha nhân, cung cách phục vụ của họ chiếm được lòng dân. Họ là những anh hùng, là nhà lãnh đạo tài đức, bởi họ đã thuộc lòng bài học của thầy Giêsu dành cho những ai muốn lãnh đạo theo Ngài.

    – Hiến mạng vì anh em: Nhà lãnh đạo là người đứng mũi chịu sào. Họ phải là người mục tử sống chết vì đoàn chiên. Chúng ta còn nhớ mẹ Têrêsa thành Calcutta, một phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng cả đời xả thân phục vụ những con người khốn cùng. Mẹ không tử đạo theo nghĩa đen[4], nhưng mẹ đã trao hiến thời gian, sức lực, ước mơ và tình yêu cho công cuộc loan báo tin mừng nơi những người nghèo. Phải chăng vì phong cách lãnh đạo này mà mẹ đã trở nên “vị thánh, người hùng và là người lãnh đạo” không chỉ trong lòng chúng ta, nhưng còn cho rất nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới[5]. Lý do: Mẹ không dùng vũ lực để đáp trả bạo lực, nhưng dùng tình yêu, hiến thân để cảm hóa lòng người.

    Các bạn trẻ thân mến,

    Những lời chia sẻ trên đây tôi muốn dành tặng cho các bạn và cho chính tôi. Chúng ta đang học tập để trở nên nhà lãnh đạo. Trước là lãnh đạo trong gia đình, sau là Giáo xứ, Giáo hội và xã hội. Hãy mạnh dạn học với thầy Giêsu để trở nên nhà lãnh đạo tài đức. Xin đừng quen ra lệnh, hoặc chỉ trỏ quát tháo. Hãy khiêm hạ phục vụ anh em như người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa. Gương lành và đời sống thánh thiện sẽ là bằng chứng để cảm hóa mọi người. Rồi khi có địa vị và quyền lãnh đạo trong tay, tinh thần phục vụ sẽ chi phối cho bạn biết cách giúp người khác thăng tiến trên con đường sự thật và tình yêu.

    Chắc đến lúc chúng ta phải nghĩ khác: thay vì lãnh đạo theo kiểu “quyền lực cứng”, hãy bắt chước Đức Giêsu, hướng dẫn người khác bằng việc lành phúc đức, bằng tinh thần của người phục vụ vì Thiên Chúa và vì anh em đồng loại (quyền lực mềm). Được như thế, chắc rằng chúng ta sẽ có cơ hội làm lớn!

     

    [1] Mt 20,20-23; Lc 22,24-27; Mc 10,35-45

    [2] “Ðối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.” (x. Lc 17,7-10)

    [3] Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nhắn với mỗi người chúng ta, với các nhà lãnh đạo Công giáo: “Con người hôm nay cần chứng nhân hơn thầy dạy” (x.Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, 41).

    [4] Tử vì đạo là làm chứng cho đức tin, làm chứng cho Đức Kitô bằng cái chết của chính mình. Chẳng hạn ở Việt Nam, chúng ta có 117 vị thánh tử đạo.

    [5] Ngày 6/9/1997, Mẹ Têrêsa qua đời ở tuổi 87 tại Calcutta. Chính phủ Ấn Độ đã tổ chức lễ quốc tang trọng thể cho Mẹ với sự có mặt của hơn 400 chính khách quan trọng của hơn 20 nước, trong đó có 3 nữ hoàng và 3 tổng thống.

    Về mục lục

    LỪNG DANH

    Lm Vũđình Tường

    Đức Kitô dậy môn đệ lối sống mới. Lối sống mới khác biệt rất nhiều so với lối sống cũ. Cuộc sống hiện tại thay đổi ít, lối sống thay đổi nhiều. Trưởng thành trong lối sống mới, cuộc sống còn thay đổi nhiều hơn nữa. Trong thời kì chuyển tiếp này môn đệ Đức Kitô thường lúng túng, khi xử thế theo lối cũ, lúc lại xử thế theo lối mới. Khác biệt chính do cách làm việc khác nhau giữa khối óc và con tim. Lối cũ hướng dẫn bởi khối óc. Khối óc hành xử cách cứng rắn, sắt thép, tính toán hơn thiệt trước khi đưa ra hành động. Lối sống mới nghe tiếng nói của tim. Sống tình cảm, theo nhịp rung của con tim để hành xử. Đối xử, giúp đỡ anh em ít hay nhiều đều lệ thuộc vào mức rung động, cảm nhận, bén nhậy của con tim. Thiên Chúa đối xử với tha nhân bằng con tim Ngài. Môn đệ Đức Kitô rất thích lối sống mới, sống tình cảm. Tuy nhiên các ông cần thời gian để học hỏi, làm quen với lối sống tình cảm.
    Lẫn lộn giữa mới và cũ. Có lần trên đường đi Capernaum các ông tranh biện ai là người khá nhất, xứng đáng trở thành thủ lãnh, lãnh đạo nhóm. Về nhà, Đức Kitô hướng dẫn các ông. Phong cách trong lối sống mới, lãnh đạo chính là khiêm nhường phục vụ.
    ‘Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người Mc 9,35.
    Được Đức Kitô chọn làm tông đồ là một đặc ân lớn. Giacôbê và Gioan vẫn ước mong được hơn anh em. Học từ kinh nghiệm lần trước, các ông không tranh cãi ai lớn, ai nhỏ nữa. Lần này hai anh em trực tiếp gặp Đức Kitô xin Ngài ban cho điều các ông mong đợi.
    ‘Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang Mc 10,37
    Ba lần Đức Kitô tiên đoán Ngài sẽ bị bắt, chịu đóng đanh, chết và sau ba ngày sống lại. Môn đệ Đức Kitô tin vào sự thông minh, tài trí, cách thoát hiểm siêu quần của Thầy. Các ông tin Thầy luôn có cách tự giải thoát khỏi mọi tai họa. Không ai có thể ám hại được Thầy. Môn đệ tin điều Đức Kitô tiên đoán về cái chết của Ngài sẽ không xảy ra. Nếu tin điều đó thực sự xảy ra, các ông không xin được ngồi bên tả, bên hữu Đức Kitô. Mười môn đệ kia ghen tức khi nghe điều hai anh em Giacôbe và Gioan xin vì các ông không tin Đức Kitô sẽ chết. Trường hợp các ông tin Đức Kitô chết, ba ngày sau sẽ sống lại, các ông đã không chán nản, chạy trốn sau khi Đức Kitô bị bắt. Điều các ông ghen tức cho biết sống theo tiếng gọi của con tim quả chưa bén rễ sâu trong tâm hồn các ông. Đức Kitô không khiển trách các ông nhưng hướng dẫn thêm cho các ông. Ngài nói với các ông hy sinh, tận hiến là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Chính Ngài tự chọn đi con đường đó để đến với Chúa cha. Chính Đức Kitô tự chọn thì việc Ngài để cho bị bắt, đóng đinh, sống lại là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Vì thế Ngài mới xác nhận Ngài đến để hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn dân.
    ‘Ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người. Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người’. Mc 10,45
    Môn đệ Đức Kitô cũng học từ Thầy Chí Thánh. Các ông cũng tự nguyện hy sinh, chấp nhận đau khổ, vui lòng hiến thân với mục đích duy nhất là làm Vinh Danh Thiên Chúa. Thiên Chúa được vinh danh không phải vì hy sinh, đau khổ của môn đệ, mà chính là lòng yêu mến, lòng tín trung môn đệ dành cho Thiên Chúa mạnh hơn cả đau khổ và sự chết.
    Đức Kitô không ban cho hai anh em điều họ xin, nhưng ban cho chén Ngài sắp chịu, cũng như phép rửa Ngài sắp lãnh nhận. Hai anh em đồng í nhưng không hiểu rõ đó là chén gì và phép rửa đó ra sao. Đức Kitô sống lại từ chõi chết cho biết: Cái ác thắng nhất thời, sự thiện thắng muôn đời. Đi theo con đường Đức Kitô hướng dẫn chính là chọn thua để thắng, chọn hy sinh, đau khổ để được vinh quang. Chọn chết nhất thời để sống muôn đời.
    Ba lần Đức Kitô nói về cái chết của Ngài. Ba lần đồng nghĩa với nhiều lần. Trong trường hợp Đức Kitô, ba lần còn có nghĩa là điều đó chắc chắn xảy ra. Kẻ chống đối Đức Kitô hành xử bằng lí chí, bằng phán đoán của khối óc. Họ tin là sức mạnh của họ có thể triệt tiêu lối sống tình cảm Đức Kitô rao giảng. Đúng thế hành động ác độc gây đau khổ có khả năng phá hoại thân xác con người, nhưng không thể xác định ác độc lay chuyển nội tâm, thay đổi tâm tính nạn nhân. Lòng xót thương gây thiện cảm, hoán cải. Đây chính là đường lối Chúa.
    Roi đòn làm rách nát thân thể Đức Kitô. Thập giá tàn phá hình tượng Ngài, lưỡi đòng đâm thấu tim. Trong khi đó tâm tư Ngài dành cho Chúa Cha không lay chuyển. Tình yêu Ngài dành cho muôn dân trong sáng hơn. Ngài chết trong thinh lặng làm người sĩ quan lãnh đạo quân lính hành hình đấm ngực ăn năn vì hành động tàn bạo, hối lỗi vì lời nói tục tĩu, thô lỗ. Bạo lực đã thua. Khiêm nhu đã thắng.
    Tình yêu chân chính luôn đi chung với hy sinh. Đức Kitô trở thành vĩ đại cho muôn dân. Môn đệ Đức Kitô chọn đi con đường đó để làm Vinh Danh Chúa. Đức Kitô chết như người nô lệ vô danh. Ba ngày sau, Ngài sống lại, Danh Ngài vang lừng cho toàn thể nhân loại. Kitô hữu sống là sống cho Đức Kitô và chết là chết trong Đức Kitô để được chia sẻ vinh quang Danh Ngài.

    Về mục lục

    CHỖ ĐỨNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ

    Bông hồng nhỏ

    Hôm nay, hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu để xin Người một ân huệ. Họ muốn được ngồi một người bên hữu, một người bên tả Thầy khi Thầy được vinh quang. Nghe vậy, cả mười môn đệ khác đều tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Thầy Giêsu đã gọi tất cả các ông lại mà dạy cho biết người làm đầu phải là người hầu hạ và trở nên đầy tớ mọi người.

    “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”. Chúa Giêsu đã lắng nghe hai ông cầu xin. Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” Họ mạnh dạn cầu xin: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10, 37). Các ông ước muốn quyền lực, danh vọng và giàu sang. Các ông nuôi hy vọng Thầy sẽ làm vua. Các ông theo Thầy bấy lâu cũng vì những mộng ước ấy. Thế nhưng, đó không phải là mục đích của Người khi đến trần gian. Trước lời cầu xin đầy táo bạo và đầy toan tính của hai ông, Thầy Giêsu không trách mắng hai ông, không nổi giận với hai ông nhưng chỉ thốt lên: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10, 38). Trước câu hỏi của Thầy, hai ông mau mắn đáp lại: “Thưa được”. Các ông còn chưa hiểu chén của Thầy là chén đắng Cha trao, phép rửa mà Thầy sẽ chịu chính là hiến tế chính mình trên cây thập giá. Người hứa với các ông: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì người ấy mới được” (Mc 10, 39-40). Người đã muốn các ông được chung phần với mình.

    Trong thời đại hôm nay, có rất nhiều Kitô hữu cũng đã chạy đến với Chúa và thưa lên cùng một cách thế như vậy. Mỗi người đều xin Chúa thực hiện cho mình điều mình muốn, dù nhiều khi chính họ không hiểu mình đang xin gì. Họ ít bận bân đến việc đâu mới là điều Chúa muốn họ làm, hay đâu mới là điều làm đẹp lòng Chúa. Chúa thấu biết mỗi người cần gì trước khi họ cầu xin, Người sẽ ban cho mỗi người mỗi cách.

    Mười môn đệ kia có nuôi hy vọng giống hai anh em này không? Các ông tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Các ông đang bước đi cùng Thầy nhưng chưa cùng chí hướng với Thầy. Về phần mình, Thầy Giêsu biết rõ con đường Thương Khó mà mình sắp bước vào, biết rõ phép rửa mà Người sẽ thực hiện bằng việc hiến tế chính mình. Người khao khát đến cháy bỏng mong cho được hoàn tất phép rửa ấy, để dâng lên Thiên Chúa Cha hy lễ tình yêu. Đã hai lần Người thẳng thắn loan báo cho các môn đệ về cuộc Thương Khó và Phục Sinh nhưng các môn đệ không hiểu, không chia sẻ được tâm tư của Thầy. Các ông sợ hãi nhưng mỗi người cũng bận tâm cưu mang trong mình những toan tính về địa vị và quyền lực. Các ông tranh cãi nhau để dành chỗ nhất, các ông tức tối với nhau, không còn một lòng một chí như trước nữa. Người hiểu rõ các ông đầy những giới hạn như thế nhưng Người vẫn một lòng yêu thương các ông. Đức Giêsu đã gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10, 42-44). Chính Người đã đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (x.Mc 10,45). Đó mới là chỗ đứng của người môn đệ, là tâm tình và ước muốn mà người môn đệ cần cưu mang.

    Lạy Chúa Giêsu! Đã bao lần con khẩn thiết dâng lời cầu nguyện, nhưng cũng bấy nhiêu lần con đã chỉ xin Chúa làm điều con muốn. Con xin lỗi Chúa về cách hành xử của mình. Con cũng tạ ơn Chúa vì tình thương mà Chúa dành cho con. Chúa đã sửa dạy con, nâng đỡ con. Người không quay mặt làm ngơ khi con lỗi lầm nhưng rộng tình tha thứ. “Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, xưa Chúa đã làm cho mạch nước tuôn trào từ tảng đá để nuôi dân được no thỏa khỏi cơn khát. Xin Chúa cũng ban cho con dòng lệ ăn năn sám hối chảy ra từ trái tim khô cằn, chai cứng của con, cho con biết đón nhận tình thương và ơn tha thứ của Chúa”.  Để khi được Chúa xót thương, con cũng biết dùng tình thương mà đối xử với anh chị em con. Amen.

    Về mục lục

    THUẬT LÃNH ĐẠO

    Thiên San

    Tin Mừng hôm nay kể lại cho chúng ta về việc hai anh em Giacôbê và Gioan đến xin Thầy Giêsu cho họ được ngồi bên tả và bên hữu Thầy, khi Thầy đợc vinh quang. Đức Giêsu trả lời: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10, 38). Các ông trả lời: “Thưa được” (Mc 10,39). Đức Giêsu dạy rằng, phép rửa và chén Ngài sắp chịu, sắp uống các ông cũng sẽ được chung phần, còn việc ngồi bên hữu hay tả thì Ngài không có quyền cho, Chúa Cha đã định cho ai thì kẻ ấy được. Mười môn đệ kia nghe thấy vậy đâm ra tức tối với các ông. Bấy giờ, Đức Giê su mới dạy các ông về thuật lãnh đạo.

    Theo Thầy bấy lâu, các môn đệ chưa hiểu được sứ mạng thật sự của Thầy mình. Các ông mơ tưởng về một tương lai với quyền bính của thế gian. Bởi đó, các ông mới đến “xí chỗ” trước. Đức Giêsu nói thẳng cho các ông biết là các ông không biết mình đang xin gì. Quả thực, nếu các ông thật sự biết chén và phép rửa của Thầy sắp chịu thì chắc hẳn các ông đã không dám xin Thầy điều đó. Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Tôi Trung của Thiên Chúa. Ngài đến thế gian, sống giữa nhân loại tội lỗi nhưng không phạm tội. Ngài là vị Thượng Tế, là Đấng cảm thương với những yếu hèn của ta (x. Dt 4, 15). Ngài là vị tôi trung, nếm mùi đau khổ để làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của muôn người (x. Is 53,11). Sau khi Đức Giêsu hoàn tất sứ mạng, phục sinh vinh hiển, các tông đồ lần lượt được cùng uống chén với Thầy.

    Trong khi các môn đệ khác đang tức tối với hai anh em nhà Giacôbê thì Đức Giêsu mới gọi các ông lại, ôn tồn chỉ bảo. “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người (Mc 10, 42-44). Đức Giêsu không chỉ nói không không. Chính Ngài đã trở nên người phục vụ giữa mọi người. Người đã nói rõ: “Vì Con Người đến không phải để người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mc 10, 45). Quả thực, những ai đi theo Thầy Giêsu đều học được bài học về việc lãnh đạo mà Thầy đã dạy. Họ phải là những người phục vụ, là đầy tớ giữa mọi người. Người phục vụ luôn chủ động chăm lo cho mọi người. Họ không dùng uy quyền để thống trị hay điều khiển người khác. Những người lãnh đạo theo tinh thần của Đức Kitô phải là những người biết dùng tình thương để phục vụ.

    Sự khác biệt giữa cách lãnh đạo của Đức Kitô và những người theo tinh thần thế gian là một thách đố lớn. Trong khi người đời tìm kiếm quyền lực, danh vọng và “ghế ngồi” thì người môn đệ Đức Kitô được mời gọi tìm cho mình một chỗ rốt hết, là người phục vụ, là đầy tớ của mọi người. Bao lâu ta còn muốn dùng quyền lực để điều khiển và chi phối kẻ khác thì bấy lâu ta chưa thấm được bài học của Thầy Giêsu. Bao lâu ta muốn người khác phục vụ mình thì bấy lâu ta chưa thể là nhà lãnh đạo đích thực. Ngời lãnh đạo theo gương Đức Giêsu phải là người biết họa lại cuộc sống của Thầy, phải chấp nhận nhỏ bé và rốt hết. Nếu ai cũng trở nên nhỏ bé, coi người khác hơn mình thì cuộc sống sẽ bớt đi sự tranh giành cắn xén lẫn nhau. Đổi lại, cuộc sống là sự yêu thương ngập tràn. Đó là cách lãnh đạo Đức Giêsu đã thực hiện.

    Về mục lục

    VẤN ĐỀ PHỤC VỤ

    Trầm Thiên Thu

    Tương tự nhiều vấn đề “tế nhị” khác, Phục Vụ là vấn đề muôn thuở. Phục Vụ đối lập với Hưởng Thụ. Cả hai đều có vần Ụ nên cả hai đều khó thực hiện, vì cái gì bị “đắp ụ” đều gây rắc rối, và ai cũng thích mình là ông CỤ chứ không khoái là thằng CU. Cả chữ Phục Vụ và Hưởng Thụ đều quan trọng ở dạng động từ hơn là danh từ, nghĩa là phải hành động cụ thể chứ không nói suông. Vì Chúa Giêsu truyền lệnh: “Hãy phục vụ, đừng hưởng thụ.” (Mc 9:35)

    Ý Chúa hoàn toàn khác hẳn ý phàm nhân. Người ta muốn làm lớn thì Ngài bảo phải làm nhỏ, người ta thích khoác lác thì Ngài cấm khoe khoang, người ta ưa an nhàn thì Ngài bắt phải làm việc, người ta khoái vơ vét vào thì Ngài bảo phải chia sẻ. Cứ thế và cứ thế: Phục vụ.

    Nhưng phục vụ là thế nào? Phục vụ là giúp đỡ mọi người – có thể đó là những việc PHẢI LÀM theo bổn phận, theo trách nhiệm, hoặc có thể là việc MUỐN LÀM vì tự ý, tình nguyện. Tinh thần phục vụ không làm cho người ta thấp kém mà làm cho người ta nên cao quý, vì phục vụ là dâng hiến chính con người bé nhỏ của mình cho Thiên Chúa, Đấng tối cao tuyệt đối. Phục vụ người khác là phục vụ Thiên Chúa – phục vụ Ngài qua tha nhân. Đó là điều thực sự khó!

    Trong xã hội loài người, hằng ngày các công ty, siêu thị, cửa hàng hoặc quán xá luôn có những đợt tuyển nhân viên phục vụ. Công việc của người phục vụ rất bình thường, đôi khi bị coi là tầm thường, nhưng thật ra lại rất cần thiết. Có thể nói rằng không có họ thì các sinh hoạt xã hội khó tồn tại. Không có các công nhân thì giám đốc chỉ bó tay, và xã hội sẽ không có sản phẩm để tiêu thụ. Cách phân biệt “cao – thấp” là do quan niệm của những người thiển cận, nông cạn – tương tự dạng “thiểu não” mà thôi. Chỉ có người xấu chứ không có nghề xấu, cũng không có nghề nào hơn nghề nào.

    Thật vậy, tiền nhân nhận xét chí lý: “Nhất sĩ, nhì nông; hết gạo chạy rông… nhất nông, nhì sĩ.” Ảnh hưởng “cao – thấp” là do quan niệm xưa: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Kẻ sĩ được coi là “dân ngon lành.” Thế nhưng hết gạo ăn thì “ngon” cái nỗi gì? Ai hơn, ai kém? Liệu còn sức để vênh cái mặt lên? Còn trong gia đình, ai to hay nhỏ mà phân biệt việc giặt giũ, đi chợ, nấu ăn, rửa chén, quét nhà,…?

    Trong cuộc sống, mọi người đều phục vụ lẫn nhau, dù là trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc bằng cách nào đó. Đừng tưởng tôi tớ mới phải phục vụ chủ nhân, mà chính chủ nhân cũng phải phục vụ tôi tớ bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có nhân viên mới phải phục vụ giám đốc, mà chính giám đốc cũng phải phục vụ nhân viên bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có đệ tử mới phải phục vụ sư phụ, mà chính sư phụ cũng phải phục vụ đệ tử bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có giáo dân mới phải phục vụ linh mục quản xứ, mà chính linh mục cũng phải phục vụ giáo dân bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có bề dưới mới phải phục vụ bề trên, mà chính bề trên cũng phải phục vụ bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có người nhỏ mới phải phục vụ người lớn, mà chính người lớn cũng phải phục vụ người nhỏ bằng cách nào đó; v.v…

    Rất nhiều mối quan hệ trong xã hội, mọi mối quan hệ đều liên đới với nhau. Vợ chồng đối với nhau, cha mẹ và con cái đối với nhau, anh chị em đối với nhau, bạn bè đối với nhau,… nói chung là con người đối với con người. Chúa Giêsu đã có nguyên tắc sống: “Ai làm đầu phải hầu thiên hạ.” (x. Mt 20:25-28; Mc 10:40-45) Đó là luật.

    Kinh Thánh cho biết rằng, sau khi được Chúa Giêsu chữa khỏi chứng sốt nặng, nhạc mẫu của ông Phêrô liền chỗi dậy PHỤC VỤ Người. (x. Mc 1:29-31; Lc 4:38-39) Chính Chúa Giêsu đã từng minh định: “Thầy sống giữa anh em như MỘT NGƯỜI PHỤC VỤ.” (Lc 22:27) Quả thật, ngay tại Bữa Tiệc Ly, trước khi bị bắt, chính Chúa Giêsu đã đích thân hạ mình bằng cách quỳ xuống mà rửa chân cho các môn đệ, Ngài muốn làm gương và dạy về tầm quan trọng của sự phục vụ (x. Ga 13:3-20) cho mọi người, nhất là những ai muốn trở nên hoàn thiện.

    Vấn đề phục vụ có liên quan thái độ “chảnh” – vì phục vụ trái ngược với kiêu căng. Người ta thường thích “sai” người ta làm cái này, việc nọ, và phải như thế mới oai. Chỉ là ảo tưởng và ngu xuẩn, vì đi ngược lại đường lối của Chúa mà lại dám hãnh diện. Một hành động mà hai tội: khinh người và kiêu ngạo. Việc phục vụ rất bình thường mà lại quá nhiêu khê. Phục vụ là dấn thân, rất cần phải khiêm nhường thật lòng mới có thể phục vụ hết mình. Nếu không thì thêm tội chứ chẳng thấy phúc đâu!

    Thật lạ, vấn đề phục vụ còn liên quan nịnh bợ, tâng bốc, ranh mãnh, mưu thâm kế độc. Cứ thấy “ông to, bà lớn” thì họ tìm mọi cách đưa đón, đâm thọt, đãi bôi, gièm pha,… cốt để tỏ ra mình có uy, tìm mọi cách “bợ trên, đạp dưới.” Lũ sai nha bất nhân đó chỉ là “cáo mượn oai hổ,” chứng tỏ đầu óc kém cỏi, ngu dốt với cái đầu rỗng tuếch. Họ chỉ trích người khác mà lại tự thú sự ngu xuẩn xấu xa của chính mình, ngu dại mà cứ tưởng mình giỏi giang.

    Thời nay có những người rất dị hợm, không muốn phục vụ mà chỉ muốn hưởng thụ. Việc nhỏ không làm vì chê là nhỏ nhặt, việc lớn cũng không thể làm vì không đủ năng lực. Tiến sĩ, giáo sư, giảng viên,… nhưng lại chưa học hết trung học phổ thông. Tục ngữ Đức có câu nói thú vị: “Người ta bắt thỏ rừng bằng chó săn, bắt đàn bà bằng bạc tiền, và bắt kẻ ngu si bằng lời khen dối trá.” Mắc bẫy mà cứ tưởng mình hay. Thật kinh khiếp!

    Từ ngàn xưa, ngôn sứ Isaia cho biết: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu.” (Is 53:10) Nghe chừng rất lạ, vì có vẻ rất… “ngược đời,” nhưng như vậy mà lại không như thế. Nghịch mà thuận, gọi là nghịch-lý-thuận.

    Rất đơn giản với lý do vừa mặc nhiên vừa minh nhiên: “Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.” (Is 53:11) Bất cứ ai chân thành theo Chúa sẽ được tha thứ tội lỗi, được “giải án, tuyên công,” được công chính hóa, vì chính Thiên Chúa “bù lỗ” cho họ. Ôi, hạnh phúc vô cùng!

    Thật diễm phúc khi chúng ta nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, (Xh 20:3; Xh 34:14; Đnl 4:35; Đnl 4:39; Đnl 5:7; Đnl 6:4; Đnl 32:39; Nkm 9:6; Gđt 8:20; Kn 12:13; Is 43:10-13; Is 44:8; Is 45:5-6; Is 46:9; Đn 3:28-29; Đn 14:41; Hs 13:4; Mc 12:29; Ga 5:44; Ga 17:3; 1 Cr 8:4; 1 Tm 2:5; Gl 3:20) giàu lòng thương xót, (Ep 2:4) công minh chính trực, (Dcr 9:9b; Hc 5:3; Br 2:6; Br 2:9; Đn 9:14; Tv 7:18; Tv 9:9; Tv 11:7; Tv 25:8; Tv 67:5; Tv 146:7) không thiên vị bất cứ ai. (1 Pr 1:17; Gl 2:6; Cv 10:34) Đặc biệt là mọi lời Ngài nói đều nên trọn: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất.” (Tv 33:4-5)

    Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật, còn mọi người đều giả dối. (Rm 3:4) Thiên Chúa tốt lành tuyệt đối, Ngài “không thể bị cám dỗ làm điều xấu và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.” (Gc 1:13) Thánh Vịnh gia đã minh chứng: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi NGƯỜI LUÔN CHE CHỞ PHÙ TRÌ.” (Tv 33:18-20) Lòng thương xót và lòng trắc ẩn vĩnh viễn có nơi Thiên Chúa, vì Ngài là Tình yêu. (1 Ga 4:8 và 16)

    Phàm nhân chúng ta có biết yêu thương cũng bởi nhờ Ngài, bắt nguồn từ Nguồn Yêu Thương của Ngài. Thiếu tình yêu, chắc chắn con người sẽ chết sớm, thậm chí chết ngay khi còn thở. Vì thế, chúng ta phải biết không ngừng cầu xin Ngài: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.” (Tv 33:22) Thiên Chúa hiện diện nơi những con người thật, sinh động bằng xương bằng thịt.

    Có yêu thương thì mới sẵn sàng phục vụ, không yêu thương thì người ta không muốn phục vụ – dù có thể họ vẫn biết cách phục vụ. Nhưng để có thể phục vụ, người ta phải biết yêu thương; để có thể yêu thương, người ta phải biết lắng nghe nhau, đặc biệt là lắng nghe Thiên Chúa. Ước gì mọi người đều biết sẵn sàng và mau mắn như cậu Samuel ngày xưa: “Lạy Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” (1 Sm 3:9) Cuộc sống là thực tại, không là chiêm bao hay mộng ảo.

    Thật vậy, Chúa Giêsu là vị Thượng Tế biết cảm thương, luôn chạnh lòng thương xót người khác, luôn động lòng trắc ẩn trước những con người khốn khổ. Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin.” (Dt 4:14) Tuyên tín là điều cần thiết, nhưng lại không đơn giản, vì đơn giản và cụ thể như việc làm dấu Thánh Giá mà nhiều người vẫn e ngại, nhất là khi có người khác tôn giáo hoặc ở nơi công cộng. Họ lý luận bằng cách phát âm là “làm dấu” thành “làm giấu.” Chúa Giêsu nói: “Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10:32-33) Đó là phương trình công bằng.

    Thánh Phaolô dùng phủ định cách để làm nổi bật sự xác định: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.” (Dt 4:15-16) Không đến với Lòng Chúa Thương Xót không chỉ là dại dột mà là ngu xuẩn. Tuy nhiên, nếu ảo tưởng thì chúng ta chỉ “lợi dụng” Lòng Chúa Thương Xót mà thôi, bởi vì TIN mình được Chúa thương thì KHÔNG LÀ KIÊU NGẠO, nhưng TƯỞNG mình được Chúa thương thì lại LÀ KIÊU NGẠO!

    Người ta kiêu ngạo vì ảo tưởng, vì ảo tưởng nên không yêu thương – mà yêu thương rất thực tế, cần hành động cụ thể. Do đó, không yêu thương thì không thể phục vụ. Sự phục vụ đối lập với quyền hành, địa vị, chức tước, vì người có chức quyền không muốn phục vụ, chỉ muốn “chỉ dạy” và muốn được phục vụ. Chúng ta khó phục vụ bởi vì chúng ta ÍCH KỶ, Ỷ LẠI, NGẠI KHÓ, SỢ HÈN, QUEN “CHẢNH.” Thánh Tiến sĩ Thần bí Têrêsa Avila nhận xét: “Chúng ta quá tự ái, quá vận dụng tài trí trần gian để khoe khoang mình, đó là SỰ DỐI TRÁ to lớn và NGÔNG CUỒNG, các thánh nhân không như thế.”

    Trình thuật Mc 10:35-45 là câu chuyện đầy kịch tính về vấn đề phục vụ – lúc cũng là thời sự nóng bỏng. Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và “lấy lòng” Ngài bằng cách rào trước đón sau: “Thưa Thầy, chúng con MUỐN THẦY THỰC HIỆN cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” Ngài hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” Họ không ngần ngại vào thẳng vấn đề: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.”

    Chúa Giêsu trách mắng họ và nói thẳng: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” Họ có vẻ “vô tư” khi trả lời Ngài: “Thưa được.” Đức Giêsu bảo: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy thì THẦY KHÔNG CÓ QUYỀN CHO, nhưng Thiên Chúa đã CHUẨN BỊ CHO AI thì kẻ ấy mới được.” Lời Chúa Giêsu luôn gây sốc cho nhiều người, khiến họ thực sự thấy “ngại” lắm. Đó cũng là tâm trạng của mỗi tín nhân thời nay vậy.

    Nghe vậy, mười môn đệ kia ĐÂM RA TỨC TỐI với ông Giacôbê và ông Gioan. Bản tính ghen tỵ trong con người luôn muốn chỗi dậy, sẵn sàng vùng lên bất cứ lúc nào, nhất là khi cảm thấy mình “lép vế” hơn người khác. Ghen tỵ vì tự ái, vì “cái tôi” luôn ích kỷ, không muốn thua thiệt. Tính ghen tỵ có ở mọi nơi và trong mọi người, dễ nhận ra trong các cộng đoàn – cả xã hội và tôn giáo. Trong các giáo xứ, đoàn thể, cộng đoàn tu trì, nhóm từ thiện, thậm chí ngay trong gia đình, chúng ta vẫn thấy có tính ghen tỵ – với các mức độ khác nhau. Con gà còn tức nhau vì tiếng gáy kia mà! Tự ái và ghen tỵ là “chướng ngại vật” khiến chúng ta khó “từ bỏ mình” theo ý của Chúa Giêsu.

    Chúa Giêsu biết các đệ tử đang hậm hực với nhau vì muốn tranh giành quyền hành, Ngài gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” Rõ ràng quá, không có gì khó hiểu, nói ngắn gọn là “ai muốn làm đầu phải hầu người khác.”

    Sao “ngược đời” vậy? Chúa Giêsu minh chứng cụ thể: “Con Người đến KHÔNG PHẢI ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI TA PHỤC VỤ, nhưng là ĐỂ PHỤC VỤ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10:45) Chúng ta không thể viện cớ với bất cứ lý do gì để tự biện hộ nữa. Thật vậy, cứ “xem quả thì biết cây.” (Mt 12:33; Lc 6:44) Rất rõ ràng.

    Lúc này, và hơn bao giờ hết, thiết tưởng chúng ta phải suy tư và cố gắng nhiều, đồng thời chân thành cầu nguyện như Thánh Phanxicô Assisi: “Lạy Chúa, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.” Lời cầu này mệnh danh là Kinh Hòa Bình vì đậm chất phục vụ theo Ý Chúa – phụng sự Chúa TRONG mọi người. Quả thật, đúng như lời Chúa Giêsu đã xác định khi “phân loại” Chiên và Dê: “Mỗi lần các ngươi LÀM cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã LÀM cho chính Ta, mỗi lần các ngươi KHÔNG LÀM cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta là các ngươi đã KHÔNG LÀM cho chính Ta.” (x. Mt 25:31-46)

    “Hãy tỏ lòng nhân hậu, nhiệt thành, và hãy bước theo chân lý của Chúa, Ðấng đã làm tôi tớ mọi người.” Đó là lời nhắn nhủ của Thánh Pôlycarpô (+155), giám mục tử đạo. Vâng, lỗi tại tôi mọi đàng!

    Lạy Thiên Chúa, xin ban thêm can đảm thu mình lại để Ngài lớn lên. Con chỉ là kẻ vô dụng bất tài, nhưng vì Tôn Danh Ngài, xin biến con thành khí cụ của Ngài. Xin cho con thấy Ngài trong tha nhân, và họ cũng thấy Ngài con. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    HY TẾ

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

    Khi bước vào trong nhà thờ Công Giáo, chúng ta sẽ nhìn thấy hình ảnh đau thương của Chúa Giêsu Kitô chết treo trên thánh giá nơi cung thánh. Thân mình Chúa trần trụi, đầu đội mạo gai, hai chân hai tay bị đóng đinh vào thánh giá, cạnh sườn bị đâm thủng, mình mẩy dính đầy máu và chết trong tư thế gục đầu xuống. Cái chết của Chúa thật bi thương. Những người tin vào Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế đã kính thờ bái lạy và ghi dấu thánh giá trên mình. Chúa đã hiến thân mình làm hy tế để giao hòa nhân loại với Chúa Cha. Của lễ hiến tế là chính thân xác của Chúa Giêsu. Chúa Kitô đã chết trên thánh giá và đã sống lại vinh hiển đang ngự bên hữu Chúa Cha. Nhiều người không biết và không tin vào Chúa Kitô, họ không thể hiểu tại sao người Công Giáo lại tôn thờ một Đấng, bị xem như là tội nhân của đế quốc Rôma đã phải xử tội tử hình.

    Tiên tri Isaia đã tiên báo về Đấng sẽ đến, người tôi tớ trung tín và công chính sẽ chịu khổ hình để gánh tội trần gian. Làm người ai cũng muốn sống an vui và hạnh phúc, chẳng mấy ai muốn đời mình bị đau khổ. Thực ra chỉ có đau khổ mới hóa giải được khổ đau. Nếu chúng ta không gặp đau khổ, chúng ta không biết thế nào là vui sướng hạnh phúc. Nếu chúng ta không có đau đớn bệnh hoạn, chúng ta không biết mình đang an khang khỏe mạnh. Người tôi tớ công chính đã lãnh chịu mọi thống khổ ở đời để biến đổi nó thành hoa trái tốt lành của ơn cứu độ.

    Người Tôi Trung của tiên tri Isaia là hình ảnh của Đấng được Xức Dầu, Chúa Giêsu Kitô. Ngài đã chấp nhận thân phận con người yếu đuối, ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã chọn con đường thánh giá để giao hòa. Con đường Chúa đi là con đường ngược chiều, có nhiều đau thương và chông gai. Thơ Do-thái gọi Ngài là Thượng Tế để gắn kết với hy tế mà chính Ngài đã hiến dâng. Hy lễ đền tội cho nhân loại hiến dâng lên Thiên Chúa Cha một lần là đủ.

    Câu chuyện trong bài Phúc âm rất tuyệt vời. Thánh Maccô rằng hai anh em ông Giacôbê và Gioan đến gần Chúa và thưa: Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy. Sự khẩn cầu của hai ông cũng giống như sự cầu xin hằng ngày của mỗi người chúng ta. Mở lời cầu xin, nếu nhận được ơn ngay, thì dễ dàng quá. Ai cũng có thể cầu xin được. Không trải qua đắng cay thử thách, chúng ta không thể đạt được triều thiên vinh quang. Chúa Giêsu đã thẳng thắn trả lời cho hai ông và các tông đồ về cách sống đạo. Muốn được hưởng vinh quang, các ngài phải uống chén đắng mà Chúa sắp uống. Có nghĩa là phải sống, phải tu luyện, phải phấn đấu trường kỳ và phải chịu mọi thử thách gian nan trong niềm tin.

    Chúa Giêsu đã uống chén đắng qua tất cả những khổ đau mà Ngài phải chịu. Chúa bị người đời ruồng bỏ, chống đối, tẩy chay, khinh dể, nhạo báng, đánh đập, xô đẩy, khạc nhổ, la hét, phản bội, chối từ, đóng đinh và chết trên thập giá. Chúa chấp nhận tất cả như người tôi tớ trung tín để cảm thông mọi nỗi cơ cực của con người. Hai tông đồ Gioan và Giacôbê đã đi trọn con đường theo Chúa. Tông đồ Giâcobê là người đầu tiên trong mười hai tông đồ đã đổ máu đào làm nhân chứng cho Chúa Giêsu đã chết và sống lại. Thánh Gioan đã một đời rao giảng về tình yêu của Chúa và tín trung cho đến giây phút cuối cùng.

    Tin vào Chúa là bước theo con đường Chúa đã đi. Chúng ta không thể đi theo con đường tắt để đạt vinh quang. Con đường vắn gọn, thư thái nhẹ nhàng chỉ là bánh vẽ và ảo tưởng. Muốn hành đạo tốt, chúng ta phải bước xuống. Sống đạo phải khởi đi từ trái tim yêu thương. Chúa Giêsu đã trải nghiệm kiếp người trong khiêm hạ phục vụ. Chúa là Thầy và là Chúa đã quỳ xuống, lấy nước rửa và lau chân cho các môn đệ. Chúa đã không loại trừ một ai, cho dù Chúa biết có những đôi bàn chân không xứng đáng. Chúa đã hạ mình xuống tận cùng để lãnh nhận công việc của người tôi tớ. Từ đáy vực thẳm thấp hèn, Chúa đã nâng con người lên làm bạn hữu và được đồng thừa tự vinh quang trong Nước Chúa.

    Chúa Giêsu đã mở con đường phục vụ trong khiêm hạ. Một lời mời gọi phục vụ chân tình đối với tất cả các phẩm trật trong Giáo hội. Đặc biệt trong các giờ phụng vụ thánh lễ và các nghi lễ, linh mục và các thừa tác viên có những trách nhiệm và bổn phận riêng phải chu toàn. Chúng ta hãy ý thức tôn trọng lẫn nhau, đừng dẫm chân lên nhau, đừng lớn tiếng phàn nàn, đừng tỏ thái độ cau có và xúc phạm danh dự của nhau. Chúng ta cùng đến để phục vụ cộng đoàn, chứ không phải được phục vụ.

    Lạy Chúa, con đường Chúa đã đi xưa là con đường khổ giá, khiêm tốn và phục vụ, xin cho chúng con biết dõi theo lối gót của Chúa để cùng xả thân hy sinh phục vụ tha nhân.

    Về mục lục

    CHUYỆN HAI ANH EM NHÀ DÊBÊĐÊ

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Hôm 7/10/2021, Thủ Tướng gửi công điện hoả tốc yêu cầu các tỉnh thành hợp tác tạo điều kiện cho những ai muốn có thể trở về quê an toàn, bình an trong mùa dịch này! Xem các hình ảnh, clip người dân chở nhau về quê trên những chiếc xe hai bánh, có khi còn là xe đạp hay đi bộ nữa, với quãng đường hàng trăm, có khi hàng ngàn cây số, mà thương dân mình quá! Và tôi ngạc nhiên: tại sao tình hình như vậy mà các vị lãnh đạo phải chờ đến thủ tướng ra lệnh mới làm. Làm lãnh đạo phải dự đoán được làn sóng dân trở về quê lần này, vì trước đó ít lâu đã có lần dân muốn về quê mà không được phép, nên lần này phải chuẩn bị cho việc này chứ, tại sao lại chặn dân lại như vậy?!

    Ngoài tài năng, còn cần đến tấm lòng nữa mới làm lãnh đạo được! Mà phần tấm lòng này lại rất cần, nếu không, tài năng kia chỉ được sử dụng nhằm tìm lợi ích cá nhân, phe nhóm thôi!

    Ngày 11.10, Giáo hội mừng lễ Thánh Giáo Hoàng Gioan 23, tôi nhớ ngay đến tên mà người ta đặt cho ngài “người cha tốt bụng” (buon papa). Ngài là con người rất bình dị và gần gũi với người bình dân, ngay cả khi là giám mục, Hồng Y và giáo hoàng nữa! Tấm lòng mục tử khiến ngài trở nên liều lĩnh, dấn thân giải quyết những vấn đề khó khăn của Giáo Hội khi làm sứ thần, nhất là liều lĩnh khi mở công đồng Vaticanô II, đưa đến những chuyển biến vô cùng quan trọng cho Giáo Hội trong cách hiện diện và trong sứ mạng với trần thế. Sự liều lĩnh này khởi đi từ cảm nhận của người cha tốt bụng: không muốn Giáo Hội sống trong sự đối đầu với xã hội trần thế! ( Lm Giuse Nguyễn Trọng Sơn, suy niệm Lễ Thánh Giáo Hoàng Gioan 23, ngày 11.10.)

    Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy bài học “làm lớn”, “làm đầu” cho các Tông Đồ: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”. Đây là nẻo đường duy nhất đưa tới uy tín và sự cao cả thật sự. Phục vụ là tiêu chuẩn giúp đánh giá sự cao cả và thành công đích thực. Ai là người tôi tớ của mọi người, ai phục vụ nhằm mưu ích cho kẻ khác, với trọn tâm hồn, với tất cả sức lực, người ấy thật sự là người đứng đầu mọi người.

    Đọc kỹ câu chuyện Tin Mừng, ta thấy hai anh em nhà Dêbêdê có vẻ như thấy mình được “cưng” cách riêng nên dám đến nói nhỏ với Đức Giêsu, và xin Người “ừ” trước rồi mới nói ra điều mình xin: “Thưa Thầy, chúng con xin Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”. Người cũng có vẻ gật đầu trước: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?”. Họ nói rõ điều họ muốn. Có vẻ như họ nghĩ phen này lên Giêrusalem là Thầy lên làm vua đây. Đến phiên Đức Giêsu cũng đòi họ “vâng” trước: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nỗi chén Thầy sắp uống không, hay chịu được Phép Rửa mà Thầy sắp chịu không?”. Các ông không biết mình xin gì và cũng chẳng hiểu “chén Thầy sắp uống”, “Phép Rửa Thầy sắp chịu” là gì, nhưng hiểu rằng hễ chịu điều kiện ấy thì sẽ được như ý, nên trả lời ngay: “Thưa được”. Điều kiện thì Người cho ngay: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu”. Còn điều họ xin thì sao?. “Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”.

    Thế là hai anh em chưng hửng! Nhưng không hiểu sao mười ông kia cũng biết chuyện hai anh em “đi cửa hậu” và phản ứng: “Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Sự hục hặc giữa các ông làm sao qua mắt Đức Giêsu được. Người dùng dịp này dạy dỗ các ông: Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Vẫn là chuyện các ông tranh dành địa vị với nhau. Lần trước thì Người đem một em bé làm mẫu. Lần này Người phân biệt cung cách của các môn đệ với cung cách của người đời. Môn đệ thì phải theo gương Thầy chứ đừng theo kiểu người đời. (Lm Giuse Nguyễn Công Đoan, Tĩnh tâm với sách Tin Mừng Maccô.)

    Rõ ràng, sự ganh đua quyền thế gay gắt đến nỗi làm các môn đệ từ một “Nhóm Mười Hai” lại chia thành phe cánh: “mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó”. Họ ganh tỵ, xét cho cùng, họ cũng đầy cao vọng. Họ cũng cao vọng bằng hai anh em nhưng họ không đủ can đảm để xin như anh em nhà Dêbêdê. Như một bậc thầy cao thượng và một nhà giáo dục khôn ngoan, Đức Giêsu vẫn bình tâm. Người đón nhận sự im lặng vô tâm của Nhóm Mười Hai. Người ân cần lắng nghe lời thỉnh cầu. Người cho họ biết rằng, những chỗ danh dự trên trời không dành cho những kẻ bè phái, nịnh hót, xin xỏ, nhưng dành cho những người xứng đáng. Người thẳng thắn đặt anh em nhà Dêbêdê trực diện với vấn đề và trực tiếp chất vấn các ông: “Các con không biết các con xin gì! Các con có uống nỗi chén Thầy sắp uống không?”. Người đưa ra xác quyết nhưng lại mở ngỏ cho lời đáp trả bằng cách ‘kéo Chúa Cha vào cuộc’: “Chén của Thầy, các người sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được”.Và nhất là, Người qui tụ các môn đệ trở lại vào nhóm, bên cạnh Người để có những lời rỉ tai, những lời của con tim thổ lộ với con tim: “Anh em biết… Giữa anh em thì không được như vậy…”. Chúa Giêsu dạy các ông lối hành xử của Người: muốn làm lớn thì phải làm tôi tớ phục vụ mọi người. Chọn con đường cứu chuộc bằng thập giá, Người đã muốn sống tinh thần phục vụ.

    Chúa Giêsu thanh luyện các môn đệ không chỉ bằng thái độ và lời nói, mà còn bằng chính đời sống gương sáng của Người. Sự đối lập giữa “làm đầy tớ” và “làm đầu” đòi hỏi một sự hoán cải trọn vẹn. Các môn đệ muốn làm đầu, Chúa Giêsu bảo: muốn làm đầu phải làm tôi tớ phục vụ mọi người. Đây là việc phục vụ của người hiến dâng bản thân, luôn quan tâm đến tha nhân vì yêu thương.

    “Ai muốn làm lớn”, “Ai muốn làm đầu”, Chúa Giêsu không nói: “Ai được đặt làm lớn; ai được đặt làm đầu”, nhưng nói đến ý muốn, và ý muốn này đang có nơi các môn đệ và cũng đang có nơi tất cả chúng ta. Chính Chúa đã nói ý muốn của mình: “Con Người đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Tác giả thư Do Thái triển khai việc làm đầy tớ qua hình ảnh vị Thượng Tế biết “cảm thương” nỗi yếu hèn của nhân loại (x.Dt 4,13). Ngôn sứ Isaia lại tiên báo việc làm đầy tớ bằng hình ảnh người tôi tớ trung thành chịu đau khổ để gánh lấy hậu quả tội lỗi con người (x.Is 53,10-11).Vì thế, phục vụ và hiến dâng cũng phải là lẽ sống của người môn đệ. Phục vụ và hiến dâng cũng phải là lẽ sống của những ai theo chân Chúa. Phục vụ là giúp đỡ, là làm đầy tớ, là bạn đồng hành chăm lo người khác và quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của họ.Trong gia đình, ông bà cha mẹ phục vụ con cháu, anh chị em phục vụ lẫn nhau, con cháu phụng dưỡng ông bà cha mẹ. Ngoài xã hội, mỗi người là một thành phần đóng góp công sức phục vụ nhân quần xã hội. Trong Hội thánh, trong cộng đoàn lớn nhỏ, mỗi người là một chi thể sống và làm việc vì lợi ích cho tập thể.Vậy thì ai cũng là một người phục vụ. Nhưng để trở thành người phục vụ tốt, gương mẫu, xứng đáng cần hội đủ một số đức tính căn bản như khiêm tốn, quảng đại, tế nhị, tận tâm và hy sinh quên mình.

    Lịch sử cho thấy rằng những người “làm đầu” ngoài xã hội cũng như trong giáo hội, nếu xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn hay đã từng kinh qua nhiều gian khổ thì thường dễ “làm đầy tớ” cách thực sự và đúng nghĩa hơn. Quả thật, để thực sự làm đầy tớ, tiên vàn cần phải có sự đồng cảm, đồng thân, chung phận một cách nào đó. Chúa Kitô đã nêu gương cho chúng ta khi “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…” (Pl 2,6-11).

    Xã hội có ngày càng công bằng, văn minh, thịnh vượng hay không, Giáo hội có ngày càng tinh tuyền, thánh thiện hay không, chắc hẳn phụ thuộc rất nhiều vào việc những người đứng đầu có thực sự sống tôn chỉ “làm đầy tớ nhân dân”, “làm tôi tớ của đàn chiên” hay không. Mong sao tôn chỉ ấy không dừng lại ở khẩu hiệu hay ở các bài phát biểu hùng hồn, nhưng được hiện thực hóa bằng việc làm và thái độ sống của những người làm đầu. Ngoài việc các đầy tớ phải hiến dâng mạng sống vì chủ, thì có thể nói một trong những tiêu chí để thẩm định các vai vế chủ – tớ có chính hiệu không, thì hãy xem các ông chủ tức là người dân, các con chiên, có được phép và được quyền mạnh dạn mở miệng nói lên suy nghĩ, nhận định của mình hay trình bày các nhu cầu chính đáng của mình trước các vị “đầy tớ” hay không, và dĩ nhiên không thể thiếu sự chân thành lắng nghe của các vị này. (Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa, suy niệm Chúa nhật 29 TN B: Làm đầy tớ.)

    Chúng ta theo Chúa, chỉ mong được ban một chỗ thật gần bên Chúa. Bên phải bên trái là sát bên Thầy. Mà Chúa đồng hóa mình với người tôi tớ, người bé nhỏ, người hèn mọn, cho nên càng là người tôi tớ, càng phục vụ, càng được ở gần Thầy.

    Mẹ thánh Têrêxa Calcutta đã nói: “Hoa quả của đức tin là tình yêu, hoa quả của tình yêu là phục vụ và hoa quả của phục vụ là bình an”. Một tình yêu đích thực sẽ luôn làm nảy sinh sức sống mãnh liệt giúp cho việc phục vụ đạt tới cùng đích cuối cùng.

    Về mục lục

     

    NGƯỜI TRẺ VÀ SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Trong những ngày này, Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới đang diễn ra tại Rôma, từ ngày 3 đến 28-10-2018, với sự hiện diện của Đức Thánh Cha Phanxicô. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một Thượng Hội đồng được triệu tập với đối tượng quan tâm là người trẻ trong Giáo Hội. Chủ đề của Thượng Hội đồng là: “Người trẻ, Đức tin và Phân định ơn gọi”. Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, mỗi người sống trên thế gian đều có một sứ mạng. Trách nhiệm của họ là nhận ra sứ mạng của mình để chu toàn sứ mạng ấy. Sứ mạng ấy cũng là một ơn gọi. Giáo Hội muốn giúp cho người trẻ hôm nay tìm thấy ơn gọi của mình trong cuộc sống, để rồi phát triển ơn gọi ấy, đem lại những điều tốt đẹp cho bản thân cũng như cho xã hội.

    Thượng Hội đồng là dịp để những người lãnh đạo Giáo Hội lắng nghe tiếng nói của người trẻ, với bao ưu tư và trăn trở trong cuộc sống hiện tại. Khi triệu tập một Thượng Hội đồng với đề tài liên quan đến người trẻ, Đức Thánh Cha khẳng định mối quan tâm đến người trẻ, vì họ là tương lai của Giáo Hội.

    Theo thông lệ, hằng năm vào ngày Chúa nhật Truyền giáo, Đức Thánh Cha công bố một sứ điệp. Năm nay, nội dung của Sứ điệp là lời nhắn nhủ dành cho người trẻ trong Giáo Hội, xoay quanh đề tài truyền giáo của người trẻ. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng được thuyết trình và thảo luận trong Thượng Hội đồng. Trong Sứ điệp, Đức Thánh Cha mời gọi các bạn trẻ hãy nhiệt thành cộng tác trong sứ vụ truyền giáo, vì đây là sứ mạng do Bí tích Thánh tẩy ủy thác. Ngài phân tích những “vùng ngoại vi” cụ thể trong xã hội hôm nay. “Ngoại vi” không còn là ý niệm về không gian như chúng ta vẫn hiểu, nhưng đó là “tình trạng con người cần Đức Kitô nhưng vẫn thờ ơ với đức tin hay tỏ ra chán ghét đời sống sung mãn trong Thiên Chúa. Mọi sự nghèo khó vật chất và thiêng liêng, mọi hình thức kỳ thị chống lại anh chị em chúng ta, luôn luôn là hậu quả của việc từ chối Thiên Chúa và tình yêu của Ngài”.  Theo lời Đức Thánh Cha, xung quanh chúng ta còn biết bao những “ngoại vi” cần đến sự hiện diện của các Kitô hữu. Sự hiện diện của chúng ta phải phản sánh sứ điệp của Tin Mừng, tức là giãi bày lòng nhân ái bao dung và khiêm nhường thành thật. Một hiện tượng xã hội hôm nay là “thế giới kỹ thuật số”. Những thành tựu của lãnh vực này đem lại nhiều tiện lợi không thể phủ nhận, nhưng cũng có nguy cơ làm cho bạn trẻ sống khép kín, trầm cảm, cô đơn và trở thành những con nghiện. Tình trạng này được đề cập trong phiên họp của Thượng Hội đồng ngày 11-10 vừa qua. Tiến sĩ Ruffini nói rằng mặc dù thế giới kỹ thuật số là một phát triển lớn lao và giúp cho việc trao đổi thông tin thuận lợi hơn, nhưng nó cũng có những ranh giới. Mối nguy của sự thao túng và nền văn hóa bạo lực là rất thực tế trong cả hình ảnh và bài viết. Giáo Hội phải giúp đưa tính nhân văn trở lại với thế giới kỹ thuật số. Đức Tổng giám mục Bruno Forte của giáo phận Chieti-Vasto, Italia, nói rằng Thượng Hội đồng nhìn nhận có rất nhiều người trẻ cô đơn, không xây dựng các mối tương quan có thực, nhưng lại đi tìm những tương quan trên mạng internet. Thượng Hội đồng đã suy nghĩ làm sao để Giáo Hội đến được với những người trẻ ấy; họ đang ngồi một mình trong bóng tối trước chiếc máy tính đe dọa sẽ nuốt chửng họ” (Trích từ bản tin của HĐGM).

    Trong Sứ điệp nhân ngày Truyền giáo, Đức Thánh Cha cũng khen ngợi nhiều bạn trẻ trong Giáo Hội đã và đang âm thầm góp phần vào công cuộc loan báo Tin Mừng qua những nghĩa cử bác ái. Chúng ta vui mừng vì tại Việt Nam, đông đảo các bạn trẻ tham gia các hội đoàn đạo đức hoặc các sinh hoạt từ thiện. Tuy vậy, nhiều nơi, các bạn trẻ còn thờ ơ với những hoạt động này. Nhiều bạn trẻ xa quê, không ý thức bổn phận giữ ngày Chúa nhật và các thực hành đạo đức, nên đời sống đức tin của họ bị mai một. Một trong những mối ưu tư lớn nhất của Giáo Hội là những bạn trẻ Công giáo kết hôn với người không cùng tôn giáo, chúng ta vẫn gọi là hôn nhân khác đạo. Phía bên Công giáo, vốn dĩ đời sống Đạo đã phai nhạt, có nguy cơ mất đức tin trong những trường hợp này.

    Tôi là giáo dân và là một người vô danh trong Giáo Hội, làm sao tôi có thể truyền giáo? Nhiều bạn trẻ trong chúng ta đặt ra câu hỏi đó. Đức Thánh Cha khẳng định: “Không ai quá nghèo đến độ không thể cho cái họ có, nhưng trước tiên và trên hết là trao ban chính bản thân họ. Cha muốn lặp lại những lời khích lệ mà Cha đã nói cho giới trẻ ở Chilê: “Đừng bao giờ nghĩ rằng không ai cần các con. Nhiều người cần các con. Hãy nghĩ đến điều đó. Mỗi người trong các con hãy tự nhủ trong lòng: nhiều người cần đến tôi”.

    Xin nhắc lại lời dặn dò của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân ngày Giới trẻ Thế giới tại Rio de Janerio năm 2013: “Hôm nay, việc loan báo Tin Mừng cũng được trao phó cho các bạn, để nó có thể vang lên với sức mạnh tươi mới. Giáo Hội cần các bạn, cần lòng nhiệt thành, sáng tạo, niềm vui đặc trưng của các bạn… Các bạn có biết đâu là dụng cụ tốt nhất cho việc Phúc Âm hóa người trẻ? Đó là một người trẻ khác. Đây là con đường mở ra ra cho tất các các bạn đi theo”.

    Chúng ta cầu nguyện cho Thượng Hội đồng đem lại những hiệu quả thiêng liêng cho mọi thành phần Dân Chúa, nhất là nơi những người trẻ. Trong ngày cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới, mỗi chúng ta cũng hãy nghe lại lệnh truyền của Đức Giêsu phục sinh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Hai mươi thế kỷ đã qua, lệnh truyền này vẫn mang tính thời sự và vẫn thúc bách chúng ta. Những ai có lòng yêu mến Đức Giêsu, phải làm theo lệnh truyền của Người. Đó cũng là bằng chứng cụ thể cho lòng yêu mến ấy và nhất là cho đức tin mà chúng ta vẫn tuyên xưng.

    Về mục lục

    .

    CHÚA SAI TÔI ĐI

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

    Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.

    Giáo dân tham gia vào việc truyền giáo bằng cách nào?

    – Trước hết phải ý thức sự cấp thiết của việc truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng. Biết bao anh em đang chờ đợi được nghe Lời Chúa. Biết bao anh em đang tìm kiếm Chúa. Biết bao tâm hồn đang mở cửa đón Chúa. Ta phải mau mắn để khỏi lở mất cơ hội.

    – Thứ đến ta phải cầu nguyện. Sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo phát xuất từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gươngThánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín. Thế mà nhờ lời cầu nguyện, Thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Lời Chúa.

    – Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.

    – Sau cùng, truyền giáo là đem bình an đến cho mọi người. Niềm bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với những người chung quanh. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.

    Như thế việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác

    Như thế mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.

    Hôm nay, Chúa đang than thở với mọi người chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Chúng ta hãy bắt chước tiên tri Isaia thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con đi”.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

    1) Bạn có thấy việc truyền giáo là cấp thiết không?

    2) Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công trong vùng này, người tông đồ cần có những đức tính nào?

    3) Bạn có bao giờ cầu nguyện cho việc truyền giáo, cho người làm việc truyền giáo, cho những người chưa biết Chúa ở chung quanh bạn không? Bạn đã bao giờ tham gia vào việc truyền giáo trong Giáo xứ, trong Giáo phận chưa?

    Về mục lục

    .

    TRUYỀN GIÁO NHỜ QUYỀN NĂNG CHÚA

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Truyền giáo là lẽ sống của Giáo Hội. Giáo hội không truyền giáo là Giáo hội đã đánh mất căn tính của mình và cũng đánh mất niềm vui của sứ vụ.

    Năm xưa Chúa Giê-su đã tuyển chọn 12 tông đổ để huấn luyện thành người truyền giáo và Ngài đã ra lệnh cho các ông “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin mừng”. Ngài còn chọn thêm 72 môn đệ để thêm những cánh tay, những đôi chân ra đi đến với muôn dân.

    Phúc âm kể rằng sau khi các ngài ra đi nhân danh Chúa để chữa lành bệnh tât, xua trừ ma quỷ và loan báo về Nước Thiên Chúa, các ngài đã vui mừng trở về kể với Thầy Giê-su về thành quả họ đã làm được. Chúa Giê-sua đã cùng các ngài tạ ơn Chúa Chavà qua đó Chúa cũng nói với các ngài đừng chỉ vui mừng vì thành quả mình làm được nhờ nhân danh Chúa mà hãy cảm tạ vì qua những việc làm đó “tên các con được ghi trên trời”.

    Hôm nay nhân ngày truyền giáo liệu rằng chúng ta đã có thành tích nào để kể với Chúa. Suốt năm qua chúng ta đã nhân danh Chúa để làm gì? Công việc chúng ta khiđến với anh em chúng ta đã xua trừ sự dữra khỏi môi trường hay chỉ an phận thủ thường? Chúng ta đã có chương trình phục vụ bệnh nhân để chữa lành cho họ, hay cũng theo chủ trương “mackeno””của thói đời?  Chúngta đã thực sự dám dấn thân để bảo vệ công lý vànâng đỡ kẻ yếu đuốihay chỉ bàn họp trên bàn giấy mà không đem ra thực hành?

    Xemra từng người chúng ta phải đấm ngực tạ lỗi với Chúa rất nhiều. Nhìn lại những sinh hoạt của các giáo xứ và giáo phận dường như chưa có một công việc truyền giáo cụ thể nào để giới thiệu về tình yêu và lòng thương xót Chúa giữamuôn dân. Dân oan rất nhiều nhưng không thấy mục tử lên tiếng! Xã hội đầy thị phi bất công nhưng không thấy mấy ai dám dấn thân để đẩy lùi sự dữ!

    Nhìn lại những sinh hoạt truyền giáo trong Giáo Phận chúng ta chỉ thấy những buổi tọa đạm, những báo cáo thành tích nhưng xa rời với thực tế. Bởi vì thực tế có mấy linh mục tu sĩ đã dành thời giờ để đến với lương dân? Đôi khi còn có những tông đồ của Chúa xa rời đàn chiên Chúa trao và cũng xa rời những con chiên không thuộc ràn mình? Có mấy ai đã thực sự sống dấn thân vì người nghèo và cho người nghèo đến quên bản thân? Giáo phận Xuân Lộc đã đào tạo hàng ngàn tác viên Tin mừng nhưng có mấy ai thực sự mong muốn tìm hiểu để trở thành nhà truyền giáo hay chỉ là đến học vì bổn phận mà bề trên bắt đi? Và sau khóa học thì mọi sự trở thành bình thường như mọi ngày? Cũngcó một vài nguời gọi là truyền giáo pa nô nhưng cũng chỉ là những công chức ăn lương hàng tháng và đi dạo cho qua ngày! Xem ra sự đào tạo này cũng chỉ mong cho các tác viên ấy sống tốt là quý rồi và không trông mong với kiến thức lượm lặt mươi ngày có thể đủ hành trang ra đi loan báo Tin mừng!

    Chúa Giê-su khi sai các tông đồ môn đệ ra đi truyền giáo là Ngài ủy thác những công việc cụ thể. Người tông đồ truyền giáo không phải là những người chỉ nói thật hay để mị dân mà quan yếu là những hành vi cụ thể như: xua trừ sự dữ, xoa dịu nỗi đaubệnh tật, nghèo đói của đồng loại. . . Người tông đồ truyền giáo sống Tin mừng là tin mừng của yêu thương qua tấm lòng quan tâm chia sẻ với mọi phận người, nhất là những kẻ bé mọn mà Chúa gửi tới để ta bảo vệ chăm sóc.

    Những năm gần đây chúng ta thấy có một hiện tượng rất lạ là nhiều người trên khắp miền đất nước kể cả lương giáo hayđến cầu nguyện Lòng Thương Xót với cha Trần Đình Long. Nhiều người nói rằng mình được ơn này ơn kia là do đến với cha Long lòng thương xót, và chính cha Trần Đình Long cũng để những người được ơn công khai nói lên ơn lành mình đã nhận được từ Lòng Thương Xót Chúa. Những buổi cầu nguyện Lòng thương Xót Chúa với những chứng nhân, cho tôi thấy những ai đến nơi đây cũng vui mừng như các môn đệ quay quần bên Chúa để kể với Chúa là những ơn lành họ được đều là nhờ vào Danh Thánh Lòng Thương Xót Chúa.

    Thực hư của những chứng nhân chúng ta không dám phán xét, nhưng đối với Chúa Giê-su thì “không ai nhân danh Thầy mà trừ quỷ mà lại đi nói xấu Thầy”. Ở đây,ý Chúa muốn nói rằng nếu ai nhân danh Chúa thì họ có thể làm nhiều chuyện phi thường dù họ không là môn đệ Chúa, dù họ không phải là thánh nhân, nhưng Lòng Thương xót Chúa vẫn thi thố qua những con người hèn mọn ấy.

    Như vậy, việc truyền giáo chỉ thành công khi chúng ta nhân danh Chúa mà làm. Chúa không đòi chúng ta bằng cấp tiến sĩ hay thạc sĩ, Chúa cũng không đòi chúng ta là thánh nhân, Chúa chỉ mời gọi hết thảy mọi người tùy khả năng hoàn cảnh mình để đến với anh em đểgiới thiệu về một Thiên Chúa gẫn gũi đầy yêu thương.

    Xin Chúa giúp chúng ta biết truyền giáo khởi đi từ việc nhỏ nhất trong đời thường bằng việc nêu gương sáng cho tha nhân trong bổn phận và trong việc bác ái dấn thân xây dựng thế giới ngày một tốt đẹp hơn. Amen

    Về mục lục

    .

    PHỤC VỤ TRONG YÊU THƯƠNG

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Sống ở đời ai cũng ước mong có địa vị, mong được người khác đề cao và trong tay có nhiều đầy tớ, có nhiều thuộc hạ. Tuy nhiên, cách Chúa Giêsu dạy các môn đệ và con người lại khác,Ngài nói:”  Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều người “ ( Mc 10, 10 ). Đây là lệnh truyền của Chúa Giêsu cho tất cà mọi tín hữu.

    Phục vụ đối với Chúa là điều cao cả nhất bởi vì tiếng phục vụ ở đây là làm người đầy tớ. Chúa Giêsu nói “ con người đến để hầu hạ chứ không phải được hầu hạ “.  Chúa là Thiên Chúa nhưng Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài làm gương cho các môn đệ. Chúa muốn dạy các môn đệ :” lãnh đạo chính là đầy tớ của các đầy tớ “ . Các Đức Thánh Cha bao giờ cũng ghi ở  cuối các bài huấn dụ, thông điệp vv…là tôi tớ của các tôi tớ. Đó là sự khiêm nhượng theo gương Đức Kitô. Các môn đệ một cách nào đó, cứ tưởng Chúa là vua đến khôi phục nước Israen, và như thế, các Ngài được chia chác chức vụ trong Vương Quốc Chúa khôi phục lại. Mẹ của Giacôbê và Gioan đã xin cho hai con của bà, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả của Chúa trong Vương Quốc của Ngài…Thực tế, cho tới giờ phút này và ngay lúc này, các môn đệ và ngay cả bà mẹ của Gioan và Giacôbê vẫn không hiểu rằng Nước của Chúa không thuộc thế gian này, nghĩa là Ngài đã không đăng quang lên ngôi theo cung cách các vua quan thế trần để cai trị, để thống lãnh con người, mà Ngài đã bước lên thập giá để hiến dâng mạng sống làm giá chuộc loài người, con người, để yêu thương nhân loại, yêu thương cho đến cùng. Chúa Giêsu đã đề cập đến cái chết của Ngài lần này là lần thứ ba để các môn đệ hiểu con đường của Chúa là con đường vinh quang thập giá. Con đường này đòi hỏi các môn đệ phải hy sinh, can đảm, quảng đại, dấn thân. Con đường của Chúa là con đường phục vụ, con đường quả cảm hiến bản thân để cứu chuộc nhân loại. Các môn đệ cần phải được thanh luyện, nghĩa là phải có Chúa Thánh Thần mới có thể nhận ra con đường mà Ngài muốn các môn đệ đi. Chết là định luật tất yếu của con người. Chúa Giêsu nhập thể làm người, nên Ngài cũng không nằm ngoài định luật ấy. Do vậy, khi loan báo về cái chết, Chúa Giêsu muốn nối kết nó với sứ mệnh của mình. Sứ mệnh của Chúa chỉ thực sự được hoàn thành bằng cái chết. Bọn Pharisêu, Kinh sư, Tư tế đã ghen ghét Ngài, chống báng và giết chết Ngài chỉ vì lời nói, việc làm, và cuộc sống của Ngài đã tố cáo sự gian các, bất chính, tự mãn của họ.Giáo Hội mời gọi mọi Kitô hữu hãy noi gương bắt chước Chúa : phục vụ và hiến dâng mạng sống của mình vì tha nhân. Gia đình là cái nôi để tỏa sáng sự thương yêu, bác ái và từ nơi gia đình yêu thương, bác ái sẽ lan tỏa ra nhiều người xung quanh, đặc biệt tỏa sáng nơi những người nghèo, bệnh tật, cô đơn vv…Thực tế, nếu chúng ta chưa nên giống Chúa được thì chúng ta cũng hãy cố gắng giống như Đức Cha Jean Cassaigne ở giữa người cùi, phục vụ và chết chôn giữa họ, chúng ta hãy bắt chước bác sĩ phụ sản người Congo lo cho hàng 1000 trường hợp các cô gái bị hãm hiếp và đấu tranh cho nhân phẩm của họ. Chúng ta hãy sống hết mình, âm thầm phục vụ những người thân yêu, những người Chúa trao phú cho mình trong gia đình và những người sống xung quanh chúng ta. Cha sở họ Ars bên Pháp đã tàn tạ, già trước tuổi vì phục vụ không biết mệt mỏi ngày đêm cho phần rỗi các linh hồn và Ngài đã ra đi về với Chúa vì kiệt quệ, phục vụ các con chiên và các linh hồn với con tim rộng mở, hết sức quảng đại. Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã hết mình phục vụ cho người nghèo, cho những người hấp hối, nên Chúa đã tôn vinh Mẹ.

     Con người chỉ hơn nhau khi người ta biết sống quảng đại, biết chia sẻ và biết cho đi.

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim quảng đại để chúng con biết phục vụ người khác mà không hề so đo, tính toán.Amen,

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1. Con đường Chúa muốn chúng ta đi là con đường nào ?

    2. Tại sao Chúa nói người lãnh đạo là người phục vụ ?

    3. Tại sao các Đức Giáo Hoàng luôn ký dưới các Tông Huấn, Thông điệp, Tự sắc , Văn kiện là “ tôi tớ của mọi tôi tớ ?”.

    4. Chúa đã làm gương gì cho nhân loại hiểu Ngài là Đấng phục vụ ?

    5. Tại sao Chúa  nói :” Đến để hầu hạ chứ không để được hầu hạ ?

    Về mục lục

    .

    GIÁ CHUỘC TÌNH YÊU

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan.

    Giá chuộc không chỉ đo bằng vật chất, tiền chuộc mà giá trị nhất ở chính mạng sống. Tình yêu làm giá chuộc cho muôn người, đó là một tình yêu ra khỏi chính mình, một tình yêu không ngừng trao tặng cho người mình yêu trải dài trong thời gian. Tình yêu giá chuộc đó có nhiều người chết cho con cái, chết cho bạn bè thân hữu…Một tình yêu trở nên giá chuộc cho muôn người, không chỉ cho một hoặc vài mà cho tất cả nhân loại, chỉ có duy nhất tình yêu của Thiên Chúa.

    Tình yêu ra khỏi chính mình.

    Khi yêu thương, ít nhất là cần có hai và tình yêu ấy cần có cả hai ra khỏi chính mình để gặp gỡ người mình yêu. M. Blondel nói rằng: “chính tình yêu làm cho hiện hữu” vì biết mình đang yêu và được yêu. Còn nhớ bao nhiêu người trẻ đi tìm cái chết bởi vì thấy thiếu tình yêu, mất đi ý nghĩa hiện diện ở cuộc đời.

    Tình yêu làm cho sống và sống có ý nghĩa, tình yêu làm thành niềm vui, sáng tạo. Tình yêu cần có một đòi hỏi thật sự ra khỏi chính mình, hiệp thông, chung số phận với con người mình yêu, đi chung con đường người mình yêu cho đến tận cùng của sự sống và chết.

    Một tình yêu đích thật luôn gánh vác mọi buồn vui, hạnh phúc, đau khổ, thanh xuân đến già nua, mạnh khỏe cũng như đau yếu. Tình yêu vô vị lợi, quảng đại, sẵn sàng tha thứ, yêu thương và đón nhận tất cả. Một tình yêu như Chúa dạy: “Hết lòng, hết sức, hết trí khôn” (Mc 12, 32). Một tình yêu như thế không dễ, thường thấy ở nơi tình yêu cha mẹ dành cho con cái. Tình yêu với cộng đồng lớn hơn lại đòi hỏi nhiều người hơn, bắt nguồn từ mỗi người. Một tình yêu cộng đồng nhỏ xây dựng hiệp nhất, gặp gỡ, chia sẻ, hy sinh, đón nhận, tha thứ, bỏ ích kỷ, chiếm hữu, lớn lên trong một cộng đồng lớn hơn, đa dạng hơn và phong phú hơn.

    Nỗi khổ tình yêu

    Tình yêu và nỗi khổ thường đi chung với nhau như hai mặt đồng tiền. Hy sinh, đón nhận đau khổ là những khía cạnh làm tình yêu dễ chịu thất bại. Có những nguyên nhân thất bại của tình yệu:

    Sở hữu, chiếm hữu. Tình yêu như người ta nói “trao trái tim cho nhau, chứ đừng nắm giữ tim nhau”. Một sự trao nhận, tình yêu cần có tôn trọng nhau, không xét đoán, không coi mình là trung tâm, tiêu chuẩn để đánh giá. Cũng không phải là tình yêu bao che cho nhau trong lỗi phạm. Tình yêu cần có sự chữa lành, giữ cho nhau phẩm giá… Tình yêu không chiếm hữu, không lấy vật chất làm giá trị để nắm giữ tình yêu. Tình yêu mời gọi việc làm hơn là lời nói suông…

    Vô ơn: Bội bạc trong tình yêu là không nhận ra nhau là món quà vô giá của nhau. Tìm nhau, gặp nhau, như một vật sở hữu, nhàm chán và bỏ đi. Mỗi người là một tặng vật vô giá của tình yêu. Không do ngẫu nhiên mà do từ bản chất “muốn yêu và được yêu”. Lời cám ơn xuất phát từ cõi lòng của người yêu nói với người mình yêu. Lời cám ơn ấy là nhận ra nhau, cần có nhau, cùng nhau chia sẻ, làm gia tăng giá trị cuộc đời của nhau và làm phát sinh hoa trái cho nhiều người.

    Chối bỏ: Không có đau khổ nào bằng đau khổ của tình yêu bị chối bỏ. Dĩ nhiên không phải là một tình yêu cuồng si bị chối bỏ mà một tình yêu chân chính bị chối bỏ. Cách nói của người thời nay thường là “say nắng” một người khác, làm tình yêu bao năm gắn kết với người mình yêu bị chối bỏ.  Tình yêu ngã rẽ bao giờ cũng là một tình yêu gây nên nhiều đau khổ, cho người mình yệu, cho các con của mình, cho người thân, bạn hữu…

    Tình yêu giá chuộc.

    Tình yêu giá chuộc cho một người hay vài người hay nhiều người cũng là tình yêu đáng ghi nhận.Bởi tình yêu đó, có cha mẹ đã hy sinh tất cả cho con cái mình. Có người hy sinh cho cộng đồng, cho quê hương đất nước. Một tình yêu hy sinh mạng sống mình đổi lấy an bình, hòa bình. Đó là một tình yêu để cho cuộc đời thấy ý nghĩa bình yên, hạnh phúc.

    Một tình yêu chết cho mọi người lại là một tình yêu không thuộc về con người nhân thế này. Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi thời gian, trên mọi loài, Đấng là Tình yêu Tuyệt Đối: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3, 16 – 17). Tình yêu nên giá chuộc cho muôn người là tình yêu vâng phục của Chúa Con, Ngôi Hai Thiên Chúa, xuống thế làm người, mang lấy tất cả con người nhân loại, chỉ trừ tội lỗi và chịu chết thay cho tội lỗi nhân loại chúng ta.

    Một tình yêu tuyệt đối mới có thể làm giá chuộc cho muôn người mà thôi. Con người chúng ta chỉ xin một phần nào có thể để làm cho gia đình, cộng đồng nhỏ thấy niềm vui và hạnh phúc khi mình tham dự và sống với nhau là khá rồi.

    Xin Chúa giúp chúng con.

    Về mục lục

    .

    CÙNG NGƯỜI TRẺ LOAN BÁO TIN MỪNG

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Tháng 10 tháng Mân Côi, cũng là tháng truyền giáo, Giáo hội ngoài khám phá lại vẻ đẹp của lời Kinh này, khuyến khích con cái mình siêng năng đọc kinh Mân Côi, Giáo hội còn mời gọi chúng ta dấn thân cho việc truyền giáo.

    Nhưng Chúa nhật truyền giáo để làm gì ?

    Để nhắc lại rằng bản chất của Giáo hội là truyền giáo ; mục đích đầu tiên của Giáo hội khi được Chúa Giêsu thiết lập là truyền giáo.

    Ai phải truyền giáo?

    Là chi thể của Hội Thánh, tất cả những người đã chịu phép rửa tội phải thi hành nhiệm vụ truyền giáo. Điều này không có ý nói họ phải đi thật xa. Những nơi nào có họ, họ phải truyền giáo. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói :  “Không ai được ngưng nghỉ việc này, vì là bổn phẩn khẩn thiết của ngày hôm nay”. Với lại, chính Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta : “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảngTin Mừng cho mọi tạo vật” (Mc 16, 15). Thánh Phaolô kêu lên : “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9, 16).

    Giáo hội tự bản chất là truyền giáo.

    Nếu như Isaia con trai Amót được thị kiến: “Các dân nước sẽ đổ xô về núi Chúa… trong ngày sau hết” (x. Is 2, 1-5). Thánh Phaolô cho người con tình thần của mình biết: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi” (x.1 Tm 2, 4 – 6). Cả bốn sách Tin Mừng đều nêu bật ý nghĩa của việc truyền giáo, nội dung sứ vụ mà Chúa Giêsu trao cho Giáo hộichứng tỏ bản chất của Giáo Hội là truyền giáo. Chính Chúa Giêsu Phục sinh đã nói với các tông đồ nơi Phòng Tiệc Ly : “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). Đến lượt Chúa Con cũng sai Giáo Hội ra đi cho đến tận cùng trái đất. Ðây là sứ điệp duy nhất phát xuất từ Thiên Chúa gửi đến hết mọi người ngõ hầu họ được cứu chuộc và trở nên con cái Thiên Chúa.

    Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: Sứ vụ truyền giáo là “bổn phận của toàn thể Giáo hội”, vốn “tự bản chất là thừa sai” (Ad gentes, 2). Trích dẫn lời Đức Phaolô VI, ngài tiếp: “Giáo Hội hiện hữu để truyền giáo, để giảng thuyết và giáo huấn, để làm máng chuyển quà tặng của các ân sủng, để hoà giải các tội nhân với Thiên Chúa, để trường tồn hy lễ của Chúa Kitô trong Thánh Lễ, đó là việc tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Người.”

    Ðức Bác Ái là linh hồn của sứ mạng truyền giáo.

    Thánh Phaolô viết : “Tình Yêu Chúa Kitô thôi thúc tôi” (2 Cr 5, 14). Đức Kitô thúc bách những người đã chịu phép Rửa tội nam phụ cũng như lão ấu, kể cả người đau yếu lẫn người nghèo, khi đã đón nhận tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, có sứ mạng rao giảng và mang tình yêu cho hết mọi người, bằng lời nói và chứng tá cụ thể của Đức Ái. Truyền giáo là gì nếu không phải là loan báo Tin Mừng về tình yêu của Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã làm. Ngài không những đã hăng say loan báo tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người, Ngài còn hy sinh mạng sống để làm chứng cho tình yêu đó. Hơn thế nữa, Ngài mạc khải và nhập thể tình yêu đó nơi chính bản thân mình. Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa. Nơi Ngài, tình yêu chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa trở thành Tin Mừng Phục Sinh, Niềm Hy vọng cho toàn thế giới.

    Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói : “Sứ mạng của Giáo Hội kéo dài sứ mạng của Chúa Kitô. Giáo Hội không ngừng rao giảng cho thế giới Tình Phụ Tử của Thiên Chúa, bằng việc rao giảng và bằng chứng tá của những con cái mình…nhờ việc thực hành mệnh lệnh tình thương đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em”. Ngài cũng khuyến khích mọi thành phần trong Giáo hội can đảm khởi hành “mùa truyền giáo mới”, vì “Giáo Hội cần đến với con người… công việc cao cả nhất là công việc rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô”, ngài kêu gọi: “Anh chị em đừng sợ: hãy mở toang mọi cửa để tiếp đón Chúa Kitô”(Huấn Đức ngày 22 tháng 10/2000, tại Roma).

    Cử hành ngày Thế giới Truyền giáo năm nay diễn ra trong bối cảnh THĐGM tại Rôma bàn về giới trẻ, nên Đức Thánh Cha Phanxicô chọn chủ đề “Cùng với người trẻ, chúng ta mang Tin Mừng cho tất cả mọi người”.

    Ngài nhắc đến sứ mạng làm chứng và rao giảng Chúa Kitô mà mỗi Kitô hữu nhận lãnh khi chịu phép rửa tội. Ngài viết : “Sứ mạng thông truyền đức tin, trọng tâm sứ mạng của Giáo Hội, diễn ra qua sự ‘hay lây’ của tình thương, trong đó niềm vui và sự phấn khởi biểu lộ ý nghĩa được tìm lại và sự sung mãn của cuộc sống. Sự loan truyền đức tin bằng sự thu hút đòi chúng ta phải có con tim cởi mở, được tình yêu làm nở rộng”.

    Nhắc đến lời Chúa dạy các môn đệ hãy mang Tin Mừng đến tận cùng trái đất, Đức Thánh Cha cắt nghĩa : “Những môi trường con người, văn hóa và tôn giáo vẫn còn xa lạ với Tin Mừng của Chúa Giêsu và sự hiện diện bí tích của Giáo hội chính là những khu ngoại ô tột cùng”, những bờ cõi của trái đất: mà các môn đệ thừa sai được gửi đến từ Chúa Giêsu Phục Sinh, với niềm xác tín có Chúa luôn ở cùng (Mt 28,20; Cv 1,8). Ơn gọi truyền giáo cho dân ngoại hệ tại điều đó.

    Ngài giải thích thêm rằng “Khu vực ngoại ô tiêu điều nhất của nhân loại đang cần Chúa Kitô chính là sự dửng dưng đối với đức tin hoặc thậm chí đó là sự oán ghét chống lại đời sống sung mãn trong Chúa. Mỗi sự nghèo nàn về vật chất và tinh thần, mỗi sự kỳ thị chống lại các anh chị em luôn luôn là hậu quả của sự từ chối Thiên Chúa và tình thương của Ngài”.

    Ngỏ lời với các bạn trẻ Đức Thánh Cha viết : “Các bạn trẻ thân mến, tận cùng trái đất, đối với các bạn ngày nay, thật là tương đối và luôn dễ dàng lướt trong đó, đó là thế giới tiềm thể, kỹ thuật số, các mạng xã hội đang tràn ngập và xuyên qua chúng ta, xóa bỏ mọi khoảng cách, thu hẹp những khác biệt. Dường như tất cả ở trong tầm tay, tất cả đều gần kề. Nhưng nếu không có ơn can dự của cuộc sống chúng ta trong đó, thì dù có vô số các tiếp xúc, chúng ta sẽ không bao giờ đi sâu vào một cuộc sống hiệp thông thực sự. Sứ mạng truyền giáo cho đến tận bờ cõi trái đất đòi phải có sự hiến thân trong ơn gọi được Chúa ban cho chúng ta, Đấng đã đặt chúng ta trên trái đất này (x. Lc 9,23-25). Tôi dám nói rằng, đối vơi một người trẻ muốn theo Chúa Kitô, điều thiết yếu là tìm kiếm và gắn bó với ơn gọi của mình”.

    Lạy Mẹ Maria, Ngôi Sao truyền giáo, xin cầu thay nguyện giúp chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    GIỚI TRẺ DẤN THÂN TRUYỀN GIÁO

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Chủ đề Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay là “Cùng với người trẻ, chúng ta mang Tin Mừng cho tất cả mọi người”. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi giới trẻ dấn thân trong sứ mạng mang Tin Mừng cho tất cả mọi người, cho đến “tận cùng trái đất”.

    Đức Thánh Cha nói rằng, mỗi người chúng ta được mời gọi để phản ánh một sự thật là “tôi là một nhà truyền giáo nơi thế gian này”, đó là lý do chúng ta đang ở đây trong thế giới này. “Mỗi người, nam và nữ là một nhà truyền giáo. Để được thu hút và để được sai đi là hai động thái” của trái tim “vì triển vọng tương lai của chúng ta cũng như định hướng cho cuộc đời của chúng ta”.

    Truyền giáo là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, khởi nguồn từ Thiên Chúa. Qua mọi can dự vào lịch sử loài người, Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm tất cả “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”.

    Sứ mạng truyền giáo đã được trao phó cho Giáo Hội. Khi lập Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu cho thấy ý định trao phó sứ mạng truyền giáo cho Giáo Hội sau này (x. Mc 3,13). Trước khi rời các Tông đồ để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã trực tiếp ban mệnh lệnh truyền giáo cho các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21), “Anh em hãy đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).

    Chính các Tông đồ và những cộng sự của các ngài đã thừa hành mệnh lệnh này một cách xuất sắc. Trải qua bao khó khăn dọc dài lịch sử, các ngài đã đem Tin Mừng Phục Sinh tới nhiều miền và cho nhiều tâm hồn. Hơn hai ngàn năm qua, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, các thế hệ tông đồ truyền giáo đã nối tiếp nhau mang Tin Mừng đi khắp địa cầu. Như vậy, truyền giáo xuất phát từ Thiên Chúa, qua Đức Kitô sứ mạng này đã được trao cho Giáo Hội, nhờ Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trung thành và nhiệt thành chu toàn sứ mạng cho đến ngày tận thế.Thực thi sứ mạng truyền giáo là chia sẻ cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, yêu thương đến cùng, yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu. Truyền giáo là làm chứng cho Chúa Kitô bằng đời sống.

    1. Nội dung truyền giáo

    Nội dung truyền giáo có 4 công việc quan trọng.

    1. Truyền giáo là Rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Rao giảng là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Truyền giáo là “loan báo Tin mừng”.
    2. Truyền giáo là “thiết lập cộng đoàn các môn đệ”, cộng đoàn những người tin vào Chúa Kitô, cộng đoàn này chính là Giáo Hội. Chúa Giêsu nói rõ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”.
    3. Truyền giáo là “cử hành Phụng vụ và các Bí tích”. Chúa Giêsu cũng nói rõ: “làm phép rửa cho họ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Các Bí tích thuộc về Nhiệm cục Cứu độ của thời đại Tân Ước, được Chúa Giêsu thiết lập, để qua đó ban ơn cứu độ cho con người.
    1. Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu

    Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội thời nào và ở đâu cũng bắt đầu từ mẫu gương Chúa Giêsu.

    Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu.

    Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó.Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi kitô hữu.Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo.Yêu người ngoại, yêu người tội lỗi, yêu người nghèo và người bệnh tật như thế là truyền giáo theo gương Chúa Giêsu.

    Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mình sống và làm việc. Đời sống của giáo dân là phương tiện truyền giáo hữu hiệu hàng đầu. Muốn truyền giáo, giáo dân phải có lòng đạo nhất định. Việc tái truyền giáo giúp tẩy xóa hay giảm bớt những cách sống phản Tin Mừng nơi người đã có đức tin. Thực tế, chẳng ai lại đi theo một cái Đạo mà ngay cả tín đồ cũng không thực hành Đạo. Cũng chẳng ai có thể cho người khác cái mà mình không có. Tái truyền giáo sẽ giúp giáo dân đong đầy hành trang là những giá trị Tin Mừng cho cuộc sống, thay cho những lối sống buông thả và thiếu cố gắng xưa nay. Muốn giới thiệu Chúa cho người chưa biết Chúa, người giáo dân phải thấm nhuần đạo lý, sống trong thế thượng phong về luân lý, về đức bác ái và sự công bằng. Như thế, từng cá nhân, từng nhóm và cộng đoàn, mới dấn thân vào việc truyền giáo. “Mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình… Như Công đồng Vaticanô II nói: Giáo dân phải hợp tác vào công cuộc truyền giáo của Hội Thánh; là những chứng nhân và đồng thời là những công cụ sống động, họ chia sẻ sứ mạng cứu rỗi của Hội Thánh” (Ad Gentes, 41)”.

    1. Giới trẻ dấn thân truyền giáo

    Trong Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới Năm 2018, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ các bạn trẻ hãy đi ra: “Các bạn trẻ thân mến, đừng để cho tính năng động của tuổi trẻ bị dập tắt trong bóng tối của một căn phòng khép kín trong đó cửa sổ duy nhất thông ra thế giới bên ngoài là máy tính và điện thoại thông minh. Hãy mở rộng cánh cửa của cuộc sống các bạn! Cầu xin cho thời gian và không gian của các bạn tràn ngập những mối quan hệ có ý nghĩa, những người thực, là những người các bạn chia sẻ kinh nghiệm thực và cụ thể của bạn về cuộc sống hàng ngày”.

    Đức Thánh Cha hy vọng nhiều vào giới trẻ. Ngài nói: “Người trẻ là niềm hy vọng của sứ vụ truyền giáo. Con Người của Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng mà Người công bố tiếp tục thu hút nhiều người trẻ. Họ tìm cách hiến thân phục vụ nhân loại với lòng can đảm và nhiệt tâm. Có nhiều người trẻ đang cung cấp sự đoàn kết của họ chống lại các sự dữ của thế gian và tham gia các hình thức khác nhau của đấu tranh và hoạt động tình nguyện…. Đẹp thay khi thấy rằng các người trẻ đang là ‘những người rao giảng ngoài đường’, vui sướng đem Chúa Giêsu ra mọi nẻo đường, mọi quảng trường của thành phố, đến mọi ngóc ngách của trái đất!”.

    Trong Sứ Điệp Truyền Giáo Năm 2018, Ngài mời gọi: “Các bạn trẻ thân mến, tận cùng trái đất, đối với các bạn ngày nay, thật là tương đối và luôn dễ dàng lướt trong đó, đó là thế giới tiềm thể, kỹ thuật số, các mạng xã hội đang tràn ngập và xuyên qua chúng ta, xóa bỏ mọi khoảng cách, thu hẹp những khác biệt. Dường như tất cả ở trong tầm tay, tất cả đều gần kề. Nhưng nếu không có ơn can dự của cuộc sống chúng ta trong đó, thì dù có vô số các tiếp xúc, chúng ta sẽ không bao giờ đi sâu vào một cuộc sống hiệp thông thực sự. Sứ mạng truyền giáo cho đến tận bờ cõi trái đất đòi phải có sự hiến thân trong ơn gọi được Chúa ban cho chúng ta, Đấng đã đặt chúng ta trên trái đất này (x.Lc 9,23-25). Tôi dám nói rằng, đối với một người trẻ muốn theo Chúa Kitô, điều thiết yếu là tìm kiếm và gắn bó với ơn gọi của mình”.

    Trọng tâm của sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội là sự lây lan của tình yêu, nơi đó niềm vui và lòng nhiệt thành được diễn tả bằng ý nghĩa mới khám phá và đầy đủ trong đời sống. Việc lan truyền của đức tin qua “sự thu hút” đòi hỏi những con tim biết cởi mở và biết đưa vòng tay ôm rộng vì tình yêu. (x.Sứ điệp Truyền giáo 2018). Như mọi người khác, người Công giáo cũng đang hiện diện tại mọi môi trường xã hội hôm nay. Chúng ta cũng làm ăn sinh sống trong mọi lĩnh vực: kinh doanh, sản xuất, buôn bán… với mọi hoàn cảnh từ thương gia đến kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, công nhân viên. Cũng làm việc, cũng mưu sinh, nhưng chúng ta làm việc với tinh thần khác: tinh thần công bình bác ái và phục vụ hy sinh.

    Cuộc đời thật cần gương sáng. Gương sáng để đẩy lùi điều xấu. Gương sáng giúp cho xã hội bớt cái xấu và giúp cho cái tốt, cái thiện phát triển mạnh hơn. Gương sáng ở nơi gia đình sẽ giúp cho mọi thành viên sống tốt hơn. Gương sáng nơi học đường sẽ giúp cho nhà trường rạng rỡ hơn. Gương sáng giữa bạn bè sẽ giúp nhau thăng tiến. Gương sáng ở nơi môi trường sống sẽ đẩy lùi những tệ nạn, những trào lưu văn hóa xấu.

    Hôm nay là ngày cầu nguyện cho việc truyền giáo, thiết tưởng chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo hội có nhiều gương sáng sống đạo, hơn là những người giảng thuyết mà thiếu gương sáng giữa đời.

    Xin Chúa cho mỗi người chúng ta, đặc biệt là người trẻ, luôn ý thức được sứ mạng truyền giáo bằng chứng tá của mình, để ra sức sống tinh thần cầu nguyện hy sinh, yêu thương hiệp nhất, đồng thời nỗ lực xây dựng một cuộc sống tốt đạo đẹp đời hầu cho danh Chúa được ngày một cả sáng hơn. Amen.

    Về mục lục

    .

    TRUYỀN GIÁO HAY RAO GIẢNG TIN MỪNG

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Dầu đã được trực tiếp tham gia vào công tác ‘truyền giáo’ trong thời gian 02 năm tại Mongolia, nhưng khi được nhiều bạn gửi ‘mail’ khuyến khích viết bài suy niệm nhân Khánh Nhật Truyền Giáo, tôi vẫn cảm thấy ngại ngùng. Lý do là vì suy nghĩ của tôi sau thời gian ‘truyền giáo’ trở về đã bị thay đổi nhiều quá; tôi cảm thấy lạc lõng và cô đơn trong suy tư, cũng như hụt hẫng trong truyền đạt về đề tài này. Cuối cùng thì sáng nay trong thánh lễ, sau khi lắng nghe lời chia sẻ của các tập sinh, tôi đã quyết định viết, nhưng không phải cho ai khác mà là viết cho chính mình đấy thôi.

    Tôi nhớ là: năm 2003, sau khi kết thúc nhiệm kỳ giám tỉnh cuối cùng, tôi vẫn chưa có một định hướng rõ rệt nào cho tương lai phục vụ của mình. Vì Bề Trên trung ương rộng phép cho tôi được hưởng một năm bồi dưỡng tại bất cứ đâu…, nên tôi đã quyết định xin có một năm trau dồi thêm kiến thức về tu đức, và học hỏi về các tôn giáo thế giới tại đại học Berkeley – California (Hoa Kỳ); chính trong thời gian này mà tôi đã đi tới quyết định xin bề trên cho phép đi truyền giáo tại Mongolia (Mông Cổ), nơi mà tôi đã lui tới nhiều lần trong thời gian, với tư cách giám tỉnh, thành lập các cơ sở truyền giáo cho anh em tỉnh dòng Don Bosco Việt Nam. Hơn nữa, trước khi lên đường đi Mongolia, tôi còn được tham dự một khóa học ba tháng chuyên đề về truyền giáo học tại đại học Universitá Pontificia Salesiana – Roma; ấy thế mà khi thực sự tới và làm việc trực tiếp tại một nơi truyền giáo ‘Ad Gentes’ thứ thiệt như Mongolia, cái kinh nghiệm ‘truyền giáo’ tuy còn rất nông cạn và bé nhỏ mà tôi đã thủ đắc được trong thời gian ngằn ngủi này đã đủ để làm đảo lộn (upside down) mọi suy nghĩ trước đó của tôi về lãnh vực này.

    Trước hết, tôi thấy mình dị ứng ghê gớm với cái từ ‘truyền giáo’ thông dụng, vì thấy nó quá mập mời dễ gây hiểu lầm. Nếu truyền giáo hàm ý làm cho một người ‘không có đạo’ được rửa tội để gia nhập đạo Công giáo theo nghĩa ‘cải đạo’ (proselytism), thì rõ ràng là ta đã hiểu sai ẩn ý của Đức Ki-tô mất rồi. May mắn thay nội dung này đã chính thức bị Công Đồng Va-ti-can II phế bỏ! ‘Missio’ phải được hiểu là sứ vụ được sai đi (‘thừa sai’) để ‘rao giảng Tin Mừng’ (evangelisare), có nghĩa là để loan báo Tin Mừng cứu độ, để loan truyền tình yêu thương xót của Thiên Chúa đã từng được Đức Ki-tô Giê-su thực hiện trong cuộc sống của Người, đặc biệt qua cái chết Thập Giá. Quan niệm cho rằng: ai đó phải gia nhập đạo, phải được rửa tội, thì mới được hưởng nhờ lòng nhân ái cứu độ của Thiên Chúa là một sai lầm lớn. Lòng thương xót và ơn cứu độ đã được Chúa ban cho hết thảy mọi người cách vô điều kiện (xem thư Rô-ma chương 5). Như thế ‘Loan báo Tin Mừng’ không làm gì khác hơn là mở mắt cho người ta nhận biết rằng họ đã được hưởng ơn cứu độ và lòng thương xót, nhờ vào sự chết và phục sinh của Đức Ki-tô Giê-su;  và một khi họ đã tin nhận điều đó, ta mời gọi họ gia nhập cộng đoàn tín hữu để cùng chúng ta dâng lời cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa về hồng ân vĩ đại đó.

    Một suy nghĩ khác mà tôi cảm thấy rất ‘dội’ đó là: nếu không có ai đi truyền giáo thì các dân ngoại sẽ mất linh hồn hết…, rằng nhà truyền giáo là những người mang ơn cứu độ tới cho kẻ ngoại…, rằng ơn cứu độ lệ thuộc vào một lối sống được xây dựng trên nền ‘luân lý Ki-tô giáo’ mà ta sẽ mở mắt cho họ biết, để rồi, nhờ nắm giữ cặn kẽ các qui định, luật lệ đó, họ sẽ được vào hưởng nước thiên đàng. Thiết tưởng: khi Đức Ki-tô sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, Người đâu có ám chỉ điều này: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Ngay câu nói: ‘Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” đâu có nghĩa là, chính phép rửa sẽ ban ơn cứu độ! Nhìn vào chính Đức Giê-su ta sẽ thấy: Tin Mừng của lòng thương xót cứu độ vẫn có thể được rao giảng và mời gọi ngay cả một người nữ Sa-ma-ri đang sống chung chạ sau năm đời chồng. Khi còn ở Mongolia, cha sở nhà thờ chính tòa Ulaanbataar, một nhà truyền giáo người Ca-mơ-run, xin tôi dạy giáo lý cho một nhóm sinh viên. Ngài muốn tôi dạy theo chương trình giáo lý tân tòng mà ngài đã soạn sẵn, khởi đầu bằng nội dung thập giới của Chúa và lục giới của Hội Thánh… Ngài căn dặn: đó là các điều kiện tiên quyết để gia nhập đạo hầu được rỗi linh hồn… Tôi đã quyết định không áp dụng chương trình đó, xác tín rằng ‘truyền giáo’ tiên quyết phải là rao giảng Tin Mừng, mà Tin Mừng chính là cho mọi người nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ toàn thể nhân loại. Tôi dọn một chương trình riêng, trong đó tôi phân tích cho các sinh viên Mongolia hiểu ra rằng: Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô yêu thương họ, không như các thần linh đạo Shaman của người du mục, luôn gieo rắc sợ hãi kinh hoàng khắp nơi. Thế đấy, cái kinh nghiệm rất cụ thể của tôi về sự khác biệt quá lớn giữa ‘truyền giáo’ và ‘loan báo Tin Mừng’ đại loại là như thế.

    Từ cái kinh nghiệm ‘thừa sai’ còn rất thô thiển tại Mongolia tôi đã học được một bài học cơ bản: Thiên Chúa, không biết từ thuở nào, đã yêu mến và cứu chuộc các người Mông Cổ du mục sinh sống trên vùng thảo nguyên lạnh giá mênh mông tại Trung Á. Cuộc sống du mục nay đây mai đó của họ, với văn hóa và các truyền thống từ bao đời, cho dầu có nhiều điểm khác biệt với nền ‘luân lý Ki-tô giáo’ mang tính định canh định cư của lịch sử, vẫn không hề tách họ ra khỏi lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã và đang chủ động thực hiện nơi họ nhờ Đức Ki-tô Giê-su. Công việc của một ‘thừa sai’ như tôi đích thị phải là rao giảng Tin Mừng, là loan báo cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ trong chính lối sống và văn hóa của họ…, đồng thời mời gọi họ tin vào Đức Ki-tô Giê-su Cứu Chúa…, mời gọi họ lãnh nhận phép thánh tẩy… và gia nhập vào Hội Thánh là cộng đoàn những người nhận biết Thiên Chúa từ ái và yêu thương để không ngừng cất cao lời cảm tạ. Và cũng từ đó tôi nghiệm ra một điều còn quan trọng hơn nữa là: một ‘người loan báo Tin Mừng’ trước hết phải chính mình có cảm nghiệm sâu sắc về lòng thương xót cứu độ của Chúa. Cảm nghiệm này chính là nền tảng của việc được sai đi, là sức mạnh trong khiêm tốn phục vụ, là hy vọng không hề suy chuyển trước các khác biệt và thách đố, và là chương trình và hành động trong sứ vụ thừa sai.

    Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con được tham gia chút ít vào chương trình cứu độ đầy yêu thương của Chúa đối với dân tộc Mongolia. Cảm tạ Chúa đã mở lòng cho con nhận biết Chúa yêu thương họ vô cùng, trước cả khi con được sai tới với họ để nói cho họ biết điều đó. Qua tâm tình tri ân này, xin cho con tiếp tục không ngừng khao khát tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, và tìm cách làm chứng cũng như loan truyền điều đó cho mọi người con gặp gỡ và tiếp xúc hàng ngày. Con coi đó chính là công việc ‘truyền giáo = thừa sai’ Chúa đang dành cho con lúc này và trong điều kiện sống này. A-men 

    Về mục lục

    .

    DANH VỌNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Môn đồ yêu dấu nài van,
    Hai ông hai chỗ, sẻ san quyền hành.
    Vinh quang tỏa sáng danh thành,
    Xin điều không biết, sẽ dành cho nhau.
    Ngồi bên tả hữu trước sau,
    Phải qua phép rửa, khổ đau chất chồng.
    Uống phần chén đắng được không?
    Chén Thầy sắp uống, mặn nồng sầu thương.
    Các con vững bước can trường,
    Dõi theo lối bước, trên đường Thầy đi.
    Việc ngồi phải trái là chi,
    Cha Thầy quyết định, thực thi công bình.
    Tông đồ theo Chúa bực mình,
    Đua chen ganh tị, bất bình nhỏ nhen.
    Các con ánh sáng muối men,
    Hiến thân phục vụ, sang hèn xá chi.

    Ai muốn làm lớn thì hãy phục vụ mọi người. Qua câu truyện của hai anh em Gioan và Giacôbê xin được ngồi bên tả, bên hữu Chúa. Lời cầu xin chân thành nhưng đầy tham vọng. Chúa đã dạy cho chúng ta một bài học về sự khiêm nhường và phục vụ. Những điều Chúa dậy đi ngược lại với quan niệm người đời. Đối với người đời, ai làm lớn thì có quyền sai khiến và được cung phụng. Ai làm hạ cấp thì phải hầu hạ và phục vụ.

    Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhưng hạ mình mang thân phận mỏng dòn như chúng ta. Qua sự khiêm hạ, Chúa đã đến với mọi người. Chúa lấy tình yêu chữa lành các vết thương lòng. Trước khi chịu khổ hình, Chúa đã qùy xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây là một sáng kiến hoàn toàn mới lạ. Xưa nay chỉ có đầy tớ mới rửa chân cho chủ. Một thái độ khiêm nhu sâu thẳm.

    Trong Giáo Hội, quyền bính được trao ban không phải cho kẻ ham muốn kiếm tìm. Giáo Hội chọn và trao cho những người có thiện chí và có khả năng phục vụ trong các chức bậc của Giáo Hội. Giáo Hội không có vận động tranh dành tìm hậu thuẫn, gây ảnh hưởng nhưng dựa vào sự phán đoán khách quan và dựa vào đời sống đạo hạnh để chọn lựa. Vì chức vị càng cao thì trách nhiệm càng nặng nề. Những ai có địa vị trong Nước Chúa, thì họ phải phục vụ chứ không hưởng thụ.

    Chúng ta đến với tha nhân, không phải tìm danh vọng nhưng là để phục vụ tha nhân. Phục vụ tha nhân với niềm vui ơn cứu độ. Truyện kể mẹ Têrêxa mỗi ngày trước khi sai các Dì đi thăm viếng, mẹ ban phép lành. Có ngày kia, nhìn thấy một chị mặt mày ủ rũ. Mẹ đã giữ chị ấy lại ở nhà. Chị hỏi: vì sao? Mẹ nói: Người ta đã đau khổ và chán nản, nếu nhìn thấy người chị em đến với mình mặt mày khổ sở, chỉ làm cho họ khổ thêm.

    Chúa mời gọi chúng ta đến để phục vụ anh chị em. Mỗi người trong một chức bậc và hoàn cảnh khác nhau. Các bề trên thường khuyên dạy các anh chị em khi ra đi làm nhân chứng, có ba điều cần thiết là hãy khoan dung, độ lượng và nhân từ. Ba điều này sẽ thắng được tâm hồn kẻ khác.

    Được phục vụ là một hạnh phúc tuyệt vời. Hạnh phúc của niềm vui cho đi. Đây là niềm vui của tâm hồn, không ai có thể lấy mất. Thánh Gioan và Giacôbê đã hiểu được sứ mệnh phục vụ. Các ngài đã hiến trọn cuộc đời theo Chúa, hiến thân vì Chúa và phục vụ tha nhân. Xin Chúa ban thêm sức mạnh để chúng con ra đi phục vụ anh chị em trong niềm vui ơn cứu rỗi.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Anh chị em thân mến,

    Hôm nay là ngày Chúa Nhật Quốc Tế Truyền Giáo, một trong những ngày quan trọng trong chu kỳ phụng vụ trong năm, quan trọng vì mối tương quan giữa ngày lễ này với Chúa Kitô, với Giáo Hội và với mọi Kitô hữu. Để nhận thức đúng mức tầm quan trọng của Ngày Quốc Tế Truyền Giáo, chúng ta phải đặt mình trong cái nhìn, trong tư tưởng và tâm tình của Chúa Kitô. Vì như lời Người đã nói với ông Simon Phêrô: “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16.17)

    Vì thế, dưới ánh sáng của Chúa Cha, chúng ta hãy suy niệm về sứ vụ truyền giáo.

    I. LÝ DO PHẢI TRUYỀN GIÁO

    *  Chúa Cha đã sai Tôi (Ga 12.49)

    Chúa Giêsu vẫn tự xưng mình là người được Chúa Cha sai. Hàng chục lần, Người đã sử dụng danh xưng này. Người “được sai đi để loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,43), “để cứu độ trần gian” (x. Ga 3,17), “để hoàn thành những việc Chúa Cha giao phó” (x. Ga 5.36). Người là tông đồ, là thừa sai, là nhà truyền giáo của Chúa Cha. Tông đồ có nghĩa là được sai đi; và suốt đời, Người đã làm công việc này. Từ ngày nhờ Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, Người đã mang niềm vui đến thăm gia đình bà Elisabeth (x. Lc 1,44) cho đến mệnh lệnh cuối cùng của Người trước khi về trời (x. Mt 28,19), tất cả cuộc đời của Người đều hướng về việc truyền giáo. Theo các thánh sử, thì Người đã đi khắp miền Galilê (x. Mc 1,39), Jêrusalem, Samaria, Tyro và Sidon (Mt 15,21) và cả miền Thập Tỉnh (Mc 5,20). Người đã đi khắp các thành thị và làng mạc. Người đã rao giảng cho dân chúng ở miền duyên hải, trên núi đồi, trong các hội đường và cả những nơi hoang địa. Người đã nói: “Thầy ra đi cốt để rao giảng Tin Mừng” (Mc 1,39). Tông huấn loan Tin Mừng của Đức Phaolô VI đã viết: “Chính Chúa Giêsu, Tin Mừng của Thiên Chúa là nhà truyền giáo đầu tiên và vĩ đại nhất. Ngài đã rao giảng đến cùng: nghĩa là đến mức hoàn hảo, đến hy sinh cả cuộc sống dương thế của Ngài” (số 6). Truyền giáo là sứ vụ hàng đầu của Chúa Giêsu, đấng được Chúa Cha sai.

    * Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con (Ga 20,21)

    Được sai đi loan Tin Mừng, Chúa Giêsu đã sai lại các môn đệ. Người đã thiết lập một Giáo Hội tông truyền, tức là được xây dựng trên nền tảng những người được sai đi (tông đồ) để loan Tin Mừng (truyền giáo) cho mọi người. Mệnh lệnh truyền giáo của người đều được 4 thánh sử ghi lại

    “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy” (Mt 28,19).

    “Hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).

    “Hãy rao giảng cho muôn dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24,47).

    “Như Cha đã sai Thầy đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21).

    Chúa Giêsu đã tuyển chọn và đào tạo các môn đệ, để họ “ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,14).

    Tông huấn loan Tin Mừng viết: “Rao giảng Tin Mừng là ân huệ và ơn gọi của Giáo Hội, là chân tính sâu xa nhất của Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu để rao giảng Tin Mừng” (số 14).

    Công đồng Vaticanô II cũng đã dạy như vậy: “Tự bản tính, Giáo Hội luôn hành phải truyền giáo” (TG 2). Vì thế, chỉ có Giáo Hội truyền giáo mới là Giáo Hội đích thực của Chúa Kitô.

    Bởi vậy không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn.

    * Mệnh lệnh truyền giáo cũng là di chúc của Chúa Giêsu trước khi về trời, là “hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mt 16,15). Mệnh lệnh này liên quan đến mọi tín hữu – vì như Công đồng Vaticanô II đã dạy: “Ơn gọi làm kitô hữu tự bản chất là ơn gọi làm tông đồ” (TĐ số 20).

    Nhưng làm rao đi được khắp tứ phương thiên hạ – hay đến tận cùng trái đất (Mt 28,19). Chúng ta không đi được, nhưng có người đi thay cho chúng ta. Là người Á châu, chúng ta không trực tiếp truyền giáo được cho Phi châu. Nhưng là chi thể trong một Thân Thể Chúa Kitô, chúng ta vẫn có thể làm được: bằng lời cầu nguyện, sự hy sinh, đời sống chứng tá và sự dâng hiến cho việc truyền giáo những của lễ thiêng thiêng và vật chất.

    II. PHẦN CHÚNG TA.

    1. Chúng ta sẽ truyền giáo trước tiên bằng cầu nguyện.

    Têrêsa Hài Đồng Giêsu nay là Bổn mạng các xứ truyền giáo. Người không đặt chân đến một nơi truyền giáo nào; cũng chẳng được đào tạo một lớp tông đồ nào để sai đi. Nhưng người chia sẻ tâm tình cứu thế của Chúa. Người cầu nguyện hy sinh cho việc truyền giáo. Người kêu gọi khuyến khích các tâm hồn tông đồ. Người sống như thể đang ra đi, đang rao giảng, đang chịu đau khổ, đang rửa tội cho lương dân. Giáo hội đặt người làm Bổn mạng các xứ truyền giáo để toàn thể Dân Chúa thấy phải tha thiết với việc truyền giáo như thế đó.

    1. Bằng những hy sinh đóng góp cho việc truyền giáo. Hằng năm các Đức Thánh Cha vẫn nhắc nhớ cho chúng ta điều đó. Ở Việt Nam chúng ta thì xem ra vấn đề đề này còn rất yếu. Các nước Tây Phương họ ý thức rất rõ về vấn đề này.
    2. Ngoài những lời cầu nguyện ra ngày hôm nay người nói rất nhiều đến đời sống chứng tá.

    + Một nhóm bạn trẻ từ nhiều quốc gia đang bàn thảo về cách làm cho Tin Mừng Chúa được lan rộng. Họ nói về sự tuyên truyền, về tài liệu và những cách phổ biến Tin Mừng trong thế kỷ XX này.

    Một cô gái Phi Châu nói:

    – Khi muốn truyền đạo cho một làng của chúng tôi, chúng tôi không cho họ sách. Chúng tôi gửi một gia đình Kitô giáo tốt đến sống trong làng. Và họ sẽ làm cho mọi người thành Kitô hữu.

    + Một buổi chiều năm 1953, các ký giả và một số nhân viên chính phải phủ Hoa Kỳ tập trung ở một nhà ga xe lửa tại Chicago để chào đón người được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1953 trở về.

    Người vừa xuống khỏi xe lửa là một người đàn ông cao lớn, tóc quăn, có một chòm râu mép dài. Các máy ảnh chớp liên hồi. Các nhân vật cao cấp của thành phố giang rộng tay đón chào vị thượng khách.

    Người được giải Nobel hòa bình cám ơn mọi người rồi rồi đưa mắt nhìn về một một chỗ xa xa ở trên sân ga. Ông xin kiếu vài phút để đi thẳng về hướng đó. Mọi người tưởng ông để quên hành lý nào đó. Ông băng qua đám đông, trực chỉ đến một người đàn bà da đen lớn tuổi đang khệ nệ với hai va ly nặng trên tay. Ông đưa tay xách cả hai va ly, rồi đưa người đàn bà ra một chiếc xe buýt gần đó. Khi giúp người đàn bà lên xe xong, ông không quên chúc bà thượng lộ bình an. Quay lại với đám đông, ông xin lỗi vì đã bắt mọi người chờ đợi.

    Người được giải thưởng hòa bình năm 1953 ấy không ai khác hơn là bác sĩ Albert Schweitzer, nhà truyền giáo nổi tiếng đã hy sinh cả cuộc đời cho người nghèo tại Phi Châu.

    Chứng kiến cử chỉ của ông, một người thuộc ủy ban tổ chức đón tiếp ông hôm đó nói với các ký giả: “Đây là lần đầu tiên tôi thấy được một bài giảng biết đi”

    + Một thương gia giàu có  xin nhập đạo. Khi được hỏi lý do, ông đáp:

    – Nhờ gương một công nhân của tôi. Đôi lúc tôi nổi nóng, quát mắng, nhưng anh không hề tỏ ra giận ghét tôi, dù tôi biết anh rất đau khổ. Có khi tôi đối xử thô bạo với anh, anh không bao giờ thốt lên nửa lời. Thái độ của anh làm tôi, dù là cấp trên, đem lòng cảm phục. Sự thực, anh chẳng bao giờ nói với tôi về đạo, nhưng đời sống đạo của anh đã chinh phục tôi. Giờ tôi không còn nghi ngờ gì nữa và tôi hy vọng Chúa Giêsu Kitô sẽ ban cho tôi sự sống đời đời.

    Lạy Chúa Giêsu xin biến chúng con thành những người đi loan báo Tin Mừng cho Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    VỊ ĐẮNG CUỘC ĐỜI

    Trầm Thiên Thu

    Đau khổ thế trần đầy khắp chốn

    Phúc vinhTthiên quốc chỉ một nơi

    Cuộc đời có nhiều mùi vị. Theo nghĩa bóng, không ai thích vi cay đắng, chua chát,… mà ai cũng thích ngọt bùi. Còn theo nghĩa đen, ai cũng ưa vị cay nồng, đắng chát,… Mà cũng lạ, những gia vị cay đắng lại tốt cho sức khỏe hơn so với vị ngọt ngào. Hảo ngọt là chết chắc – dù nghĩa đen hay nghĩa bóng. Phải chăng đó là một dạng tự mâu thuẫn của con người?

    Kể ra cũng khó có thể xác định, nhưng chắc chắn không ai muốn “chạm trán” với đau khổ – nghĩa là ai cũng tìm mọi cách và bằng mọi giá để tránh né đau khổ, thế nhưng hầu như ngày nào chúng ta cũng phải đối mặt với đau khổ, dù ít hay nhiều, với đủ dạng và đủ mức độ khác nhau. Càng tránh khổ càng khổ thêm, càng diệt khổ càng tăng khổ. Vô ích mà thôi! Tại sao? Bởi vì “ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:34).

    Có lần chính Chúa Giêsu đã từng tỏ cho các môn đệ biết rõ rằng “Ngài PHẢI đi Giêrusalem, PHẢI chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi BỊ GIẾT CHẾT, và ngày thứ ba sẽ SỐNG LẠI” (Mt 16:21). Một câu ngắn mà có tới 2 từ PHẢI và 1 từ BỊ, cả hai đều ở thể thụ động. Não lòng quá! Đau khổ luôn có hệ lụy gần gũi với nước mắt, loại chất lỏng đặc biệt mang vị mặn đặc trưng khác hẳn với các vị mẳn khác.

    Tuy nhiên, kinh nghiệm sống cho thấy rằng đau khổ như “phần cứng” được cài đặt mặc định trong mỗi con người, thậm chí còn như một chương trình “đóng băng” (DeepFreeze) về lĩnh vực máy vi tính, và người ta không thể thay đổi theo ý mình được. Thật vậy, đau khổ như một phần tất yếu của cuộc sống, không đau khổ cũng hóa “buồn tẻ” lắm, có đau khổ thì mới phải cố gắng, cố gắng khiến người ta vươn lên – tức là tự đổi mới chính mình. Chí lý lắm đấy chứ!

    Chắc hẳn là thế. Này nhé, một đứa trẻ chưa hề nếm mùi đau khổ, thế mà vừa sinh ra đã bật tiếng khóc để chào đời. Vui sao lại khóc? Đứa trẻ nào không khóc là có vấn đề, cha mẹ lo sốt vó lên ngay. Như vậy, mặc nhiên người ta đã chấp nhận sự đau khổ là phần tất yếu. Người đời chia sẻ kinh nghiệm: “Đời là bể khổ”. Kinh Thánh đặt vấn đề: “Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả nó phải chịu dưới ánh mặt trời? Phải, đối với con người ấy, TRỌN CUỘC ĐỜI CHỈ LÀ ĐAU KHỔ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Điều ấy cũng chỉ là phù vân!” (Gv 2:22-23). Thật thê thảm!

    1. VÌ KHỔ MÀ ĐAU

    Việt ngữ thường ghép hai chữ Khổ và Đau thành Khổ Đau hoặc Đau Khổ – đảo qua đảo lại mà chẳng thấy khác chi ráo trọi. Đúng là khổ thật! Trình thuật Is 53:10-11 là một phần của bài thứ tư trong số các Bài Ca Người Tôi Trung: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu”. Tình trạng thê thảm là “bị nghiền nát”, nhưng lại là để “được vĩnh tồn”. Thật lạ lùng và ngược đời quá! Đối với phàm nhân, tình trạng đó thật đáng sợ vì quá chua chát và cay đắng, có thể không còn nước mắt để than khóc nữa. Người Tôi Trung đó chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Và thật kỳ diệu, ngôn sứ Isaia giải thích: “Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. Ôi, lòng thương xót của Thiên Chúa bao la vô tận, chúng ta không thể nào hiểu được!

    Nhìn thấy người ta đau khổ mà rợn cả người rồi chứ nói chi chính mình phải chịu. Đau khổ nào cũng cay đắng, đắng đến tê lòng, thế nhưng đau khổ vẫn có vị ngọt bùi kỳ lạ. Thật diệu kỳ mầu nhiệm của sự đau khổ. Trong thực tế cuộc sống, khi chịu đau khổ vì tình yêu, có người gọi nỗi đau khổ đó là “thú đau thương”, là “nỗi đau dịu êm”. Vậy đó, đau thương mà vẫn thú vị, đau khổ mà vẫn dịu êm. Còn nước mắt lại được ví von là “giọt nước mắt ngà”. Thế mới lạ, thế mới cao thượng. Người đời con khả dĩ nhận thức như vậy huống chi những người tin nhận Đức Kitô là Thiên Chúa! Ai có khả năng cảm nhận được như vậy chính là người đã vượt lên trên nỗi đau khổ, đi xuyên qua nỗi đau khổ. Chắc chắn không ai có thể tránh đau khổ, nhưng muốn tránh đau khổ thì chỉ còn cách chiến thắng nó và làm chủ nó. Đó là cách độc đáo để tự “vượt qua số phận”. Vị đắng chợt hóa ngọt ngào.

    Những người chấp nhận đau khổ là những người can đảm, họ can đảm nên không hề than thân trách phận, không so đo với những người may mắn khác, chắc hẳn người đó phải có chiều sâu tâm linh, luôn sống trong niềm tín thác vào Thiên Chúa quan phòng. Thật vậy, Thánh Vịnh gia bày tỏ: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (Tv 33:4). Nói được như vậy là xác định Thiên Chúa là ai và biết rõ Ngài như thế nào: “Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Tv 33:9). Chúng ta không thể nào hiểu hết tình yêu Chúa, cũng không thể cân-đo-đong-đếm Lòng Chúa Thương Xót, vì tình yêu thương hoặc lòng trắc ẩn ấy vẫn triền miên hết ngày dài lại đêm thâu, suốt từ thuở hồng hoang trải dài từ đời nọ tới đời kia (x. Lc 1:50). Thật vậy, “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sbn 16:34; 1 Sbn 16:41; 2 Sbn 5:13; 2 Sbn 7:3; 2 Sbn 7:6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4, 29; Tv 136:1-26).

    Tiếp tục minh định về Đấng-Xót-Thương, Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn” (Tv 33:18-20). Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng ngay cả khi chúng ta quên Ngài mà Ngài vẫn luôn nhớ đến chúng ta, thậm chí cả khi chúng ta hoàn toàn đối nghịch với Ngài mà Ngài vẫn miệt mài tìm chúng ta để đưa về hưởng an bình nơi “đồng cỏ xanh rì bên suối ngọt lành” (x. Tv 23). Vô tri bất mộ, “tri” rồi thì không thể không “mộ”. Ai đã nếm thử Chúa ngọt ngào thế nào rồi thì không thể giữ riêng cho mình, mà tự lòng mình sẽ thôi thúc chia sẻ với người khác về Ngài: “Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Ngài luôn che chở phù trì” (Tv 33:20), đồng thời tin tưởng và vui mừng cầu nguyện liên lỉ: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22).

    Và như vậy, cho tới lúc đó thì sự đau khổ không còn vị đắng cay nữa mà lại hóa vị ngọt ngào và êm dịu. Nghĩa là người ta có thể cảm nhận sâu sắc thế nào là “thú đau thương”, là “nỗi đau dịu êm” hoặc “giọt nước mắt ngà”. Quả là điều kỳ diệu, là mầu nhiệm về sự đau khổ.

    Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin” (Dt 4:14). Niềm tin luôn quan trọng trong cuộc sống đời thường, đức tin càng quan trọng gấp bội trong đời sống Kitô hữu, nhất là chúng ta đang sống trong Thời Cánh Chung, đồng thời còn phải lưu ý trách nhiệm chung là truyền giáo và tái truyền giáo.

    Thánh Vịnh gia nói: “Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời” (Tv 118:9). Thật vậy, Chân phước LM Placid Riccardi (OSB, 1844-1915) cũng khuyên: “Đừng mong gì nhiều nơi những người quyền thế của thế gian này – vì hầu hết họ đều bỏ mặc những người nghèo khó trong cảnh bần hàn, họ vừa hèn hạ vừa thiếu quảng đại, giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu than của những người yếu đuối và bất lực”.

    Vừa giải thích vừa khuyến khích, Thánh Phaolô cho biết: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã CHỊU THỬ THÁCH về MỌI PHƯƠNG DIỆN cũng như ta, nhưng KHÔNG PHẠM TỘI. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Faustina: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa lớn hơn cả tội lỗi của cả nhân loại” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 1485). Quả thật, nếu Lòng Chúa Thương Xót không lớn lao hơn mọi thứ xấu xa tồi tệ nhất trên đời này thì chúng ta chết ngay lập tức. Tại sao? Không khí là bằng chứng sống động về Lòng Chúa Thương Xót: Nếu không khí chỉ loãng hơn một chút hoặc đậm đặc hơn một chút, chúng ta đủ chết ngắc rồi chứ đừng nói chi đến thiếu không khí. Chỉ cần minh chứng đơn giản về không khí thôi, chúng ta cũng đủ để phải không ngừng tạ ơn Chúa rồi, đừng nói chi đến những thứ khác. Vì thế, “Tôi tin tưởng vào Thiên Chúa và ca tụng lời Người” (Tv 56:5 và 11).

    1. VÌ ĐAU MÀ KHỔ

    Người ta thường nói: “Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ, vậy thà chịu khổ hơn chịu lỗ”. Nhưng phải xác định được mình CẦN gì, MUỐN gì và LÀM gì. Yêu thì khổ, khổ thì đau. Ai cũng được quyền tự do chọn lựa và quyết định.

    Trình thuật Mc 10:35-45 nói về chuyện “chạy chọt” chức vụ của hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan. Họ thưa với Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”. Rào trước đón sau, rất đúng “bài bản”, thậm chí còn như “ra điều kiện” với Chúa vậy. Tương tự, chúng ta cũng thường xuyên có cách “cầu xin” như vậy. Chúa Giêsu hỏi họ: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” (Mc 10:36). Họ khoái chí thưa ngay, không hề ngại ngùng chi cả: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”. Rất thẳng thắn, rất thực tế, rất rõ ràng. Nhưng đó là cách cầu nguyện vị kỷ và tìm tư lợi. Hai con trai ông Dêbêđê chắc mẩm Sư Phụ rất “ngon”, nổi tiếng như cồn, quyền phép vô song, uy tín quá chừng luôn, chắc chắn Sư Phụ sẽ lên ngôi báu trị vì thiên hạ, làm cận thần của Thầy mình thì còn gì oai hơn chứ? Thật là trên cả tuyệt vời! Nếu là chúng ta, có thể chúng ta không muốn làm cận thần như họ, vì như vậy vẫn “bèo” lắm, mà có thể chúng ta muốn làm phó nguyên soái hoặc thủ tướng, chí ít cũng phải xin làm bộ trưởng. Xin cho ra xin mới bõ công!

    Thế nhưng Đức Giêsu thẳng thắn nói luôn: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10:38). Chén này không phải là chén mật hoặc chén sữa, cũng chẳng phải là chén cà-phê, dĩ nhiên không phải là chén mật ngọt, mà là chén mật đắng; phép rửa này không rửa bằng nước mà rửa bằng máu tươi. Có lẽ các ông không hiểu ý Chúa nên mạnh dạn đáp: “Thưa được” (Mc 10:39a). Nếu thế thì quá ngon. Rất OK!

    Rất điềm đạm và thản nhiên, Chúa Giêsu ôn tồn: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy thì Thầy KHÔNG có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”. Vế thứ hai trong câu nói của Chúa Giêsu thật đáng lưu ý. Nghe Thầy trò họ đối thoại, mười môn đệ kia cảm thấy “nóng gáy” nên tỏ vẻ tức tối với anh em Giacôbê và Gioan. Đó cũng chính là động thái của chúng ta ngày nay, cũng ghen ăn tức ở chứ chẳng hơn gì họ ngày xưa, thậm chí còn kèn cựa nhau rất tinh vi theo dạng công nghệ “bốn chấm” ngày nay.

    Sau đó, Chúa Giêsu gọi các đệ tử lại và nói: “Anh em biết rằng những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn LÀM LỚN giữa anh em thì phải LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ anh em; ai muốn LÀM ĐẦU anh em thì phải LÀM ĐẦY TỚ mọi người”. Và Ngài dẫn chứng: “Vì Con Người đến KHÔNG PHẢI ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI TA PHỤC VỤ, nhưng là để PHỤC VỤ, và HIẾN MẠNG SỐNG làm giá chuộc muôn người”. Có thể tóm lại một câu ngắn gọn có vần điệu thế này cho dễ nhớ: “Làm đầu PHẢI hầu thiên hạ”.

    Xưa cũng như nay, đối với con người, vấn đề phục vụ là chuyện rất tế nhị, dễ “chạm” vào “phần mềm nhạy cảm” của bất kỳ ai – dù đời hay đạo. Nhưng Lời Chúa quá rõ ràng, không bóng gió, không văn hoa, không tránh né. Tuy nhiên, trong sinh hoạt thường nhật, cái mà người ta nói là phục vụ người khác thì thực chất có thể lại chỉ là cung cách “phục vụ có điều kiện”. Rất đáng quan ngại!

    Phục vụ là động từ, nghĩa là phải hành động cụ thể, chứ không là danh từ suông hoặc một mỹ từ để “trang trí” theo chức vụ, tất nhiên liên quan đau khổ. Hầu như mọi thứ đều liên đới với nhau, nối kết như mạng nhện vậy – không trực tiếp thì gián tiếp. Trên một tấm bảng đồng, người ta thấy khắc những dòng chữ tuyệt vời này:

    Lạy Chúa, con cầu xin được Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Ngài lại làm cho con ra YẾU ĐUỐI để biết VÂNG LỜI và KHIÊM HẠ.

    Con cầu xin có Sức Khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Ngài lại cho con chịu TÀN TẬT để chỉ làm NHỮNG VIỆC NHỎ TỐT LÀNH.

    Con cầu xin được Giàu Sang để sống sung sướng thoải mái, Ngài lại cho con NGHÈO NÀN để học biết thế nào là KHÔN NGOAN.

    Con cầu xin có Uy Quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con THẤP HÈN để con biết CẦN NGÀI.

    Con cầu xin có Tất Cả để tận hưởng cuộc đời, Ngài lại cho con CẢ CUỘC ĐỜI để TẬN HƯỞNG MỌI SỰ.

    Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn, nhưng những điều con đáng phải mơ ước mà con không hề biết cầu xin, thế mà Ngài vẫn ban cho con THẬT DƯ ĐẦY từ lâu.

    Lạy Chúa, hóa ra con lại là người hơn hết trên đời này, bởi con đã nhận được VÔ VÀN ÂN PHÚC của Ngài. Con xin lỗi Ngài, xin tha tội cho con!

    Ôi chao! Toàn là những thứ trái ngược nhau. Tuy nhiên, qua đó chúng ta khả dĩ nhận thấy rằng đau khổ không là điều đáng nguyền rủa, mà ngược lại, đau khổ lại là điều đáng mơ ước, vì đó là “thánh giá Chúa trao” – như người ta thường nói với những người chịu đau khổ. Vui chịu đau khổ là sống đức tin, là bước qua cửa hẹp (Mt 7:13-14; Lc 13:24), là vác thập giá theo Chúa (Mt 10:38; Lc 14:27), là từ bỏ chính mình (Mt 10:39; Lc 14:33). Hợp lý lắm!

    Chúa Giêsu đã chịu đau khổ tới mức tột cùng, với nhân tính thì Ngài cũng vô cùng đau đớn. Thiết tưởng rằng mỗi chúng ta đều phải nghiêm túc xem lại đức tin của chính mình: “Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10:32-33).

    Cuộc sống hầu như luôn TRÁI Ý chứ KHÔNG NHƯ Ý của mình, thế nên Chúa Giêsu mới bảo “vác thập giá” mà theo Ngài. Nhiều vị thánh đã có những lúc phải sống trong vùng tăm tối của linh hồn, nhưng các ngài vẫn một lòng trung tín. Đấng đáng kính Charles de Foucauld nói: “Đôi khi Thiên Chúa để chúng ta chìm trong tăm tối đến độ bầu trời của chúng ta không có một vì sao chiếu sáng. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta sống trên trần gian để chịu đau khổ, trong khi vẫn bước theo Đấng Cứu Độ dịu hiền trên con đường tăm tối và chông gai. Chúng ta là những người lữ hành và những người xa lạ trên trần gian. Những người lữ hành ngủ trong những túp lều và nhiều lúc phải băng qua hoang mạc, nhưng khi nghĩ đến quê nhà là họ quên hết mọi sự khác”.

    Lạy Thiên Chúa, chúng con thật là vô tích sự mà vẫn “chảnh”, xin biến đổi chúng con. Xin ban thêm đức can đảm và đức khôn ngoan để chúng con sống đức tin, không ngừng tuyên xưng Danh Thánh Ngài mọi nơi và mọi lúc, xin giúp chúng con biết dùng ánh mắt đức tin để nhận biết Thánh Ý Ngài trong mọi nghịch cảnh ở đời này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    QUYỀN HÀNH ĐỂ PHỤC VỤ

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Có chức có quyền là điều nhiều người mong ước, vì người có chức có quyền thường thống trị người khác và bắt người khác phục vụ mình; tuy nhiên theo Đức Giêsu, người lớn nhất phải là người phục vụ người khác, phải là người “nô lệ” người khác.

    Chức quyền: điều nhiều người mong ước

    Tiền của địa vị, giầu sang chức quyền, là những điều người đời vẫn tìm kiếm. Người có tiền của, có thể dùng tiền của để mua gần như được tất cả; người có chức quyền được người khác phục vụ, vì những người này có thể cho người ta điều họ mong muốn. Có những người có chức có quyền được hối lộ để họ cho người ta được quyền này quyền nọ, phép này phép kia, hầu những người này có thể làm được nhiều tiền hơn. Người có chức quyền thường được người ta trọng vọng, ăn trên ngồi trước. Có lẽ đó là những lý do nhiều người thích có chức vị quyền hành.

    Các tông đồ khi theo Đức Giêsu cũng còn có tham vọng tương tự. Họ có ao ước lớn muốn giải phóng Israel khỏi ách thống trị của người Roma, nhưng cũng ao ước có chức có quyền. Điều này được thấy khi hai anh em Giacôbê và Gioan xin cho được ngồi bên tả bên hữu thầy khi thầy được vinh quang. Các tông đồ khác tức giận khi biết hai ông xin điều đó; sở dĩ vậy vì các ông cũng ao ước cùng một điều. Gioan và Giacôbê quá khôn nên muốn “qua mặt” các ông.

    Đức Giêsu sẵn sàng cho hai môn đệ thân yêu được chia sẻ chén đắng và phép rửa của Ngài, nhưng còn việc ngồi bên tả bên hữu thì lại không thuộc quyền Ngài. Cái nhìn của Đức Giêsu về quyền hành chức vị khác người đời quan niệm rất nhiều. Với người đời, những người có chức có quyền được người khác phục vụ; còn đối với Đức Giêsu và cả những người theo Đức Giêsu, những người muốn làm lớn nhất giữa anh em mình, thì phải làm người phục vụ anh em, phải là tôi tớ anh em, phải là người “tùy thuộc” anh em để mưu lợi ích cho anh em mình.

    Ai muốn làm lớn nhất phải là nô lệ của tất cả

    Quyền hành đối với những người theo Đức Giêsu, không được dùng để trục lợi riêng cho mình như người đời thường làm, nhưng phải dùng để xây dựng, để làm tốt cho cộng đoàn. Với những thẩm quyền trong Giáo Hội, chẳng hạn như các cha xứ hoặc nơi những bề trên của các hội dòng, quyền bính là để phục vụ những thành viên trong giáo xứ hoặc cộng đoàn. Ai dùng quyền hành để bắt người khác phục vụ mình, là không sống theo lời dạy của Đức Giêsu, là không sống theo Đức Giêsu, và không là môn đệ đích thực của Ngài.

    Trong Giáo Hội, có nhiều giáo xứ mà các tín hữu trong giáo xứ không phục tùng cha xứ, cũng có tu sĩ không phục tùng bề trên vì cho rằng bề trên không cai quản như người đại diện Thiên Chúa mà xử sự theo ý riêng của mình. Một người sống theo Đức Giêsu có lẽ cũng không buộc người khác phải vâng phục mình. Con người chỉ phải vâng phục Thiên Chúa thôi, và chỉ không vâng phục Thiên Chúa mới là tội thôi, còn con người với nhau, mình có khá gì hơn người khác mà đòi người ta tùng phục mình! Thiên Chúa đâu phải của riêng ai. Thiên Chúa đâu có thiên tư tây vị. Đâu phải chỉ mình có Thánh Thần còn người khác không có Thánh Thần! Đâu phải chỉ có những người có địa vị hoặc chức thánh mới có Thánh Thần! Đâu phải các tín hữu không có Thánh Thần! Kéo Thánh Thần về mình và “không cho” Thánh Thần hiện diện với người khác, là tội “ngăn cản” Thiên Chúa (mà đâu có ngăn cản được Thiên Chúa!).

    “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga.20, 23). Quyền này được ban để tha tội; còn nếu người đó không có tội thì quyền này đâu được ban để buộc tội người ta. “Ai nghe các con, là nghe Ta” (), nhưng điều này đâu có nghĩa: ai không nghe các con là không nghe Ta. Khi những người có trách nhiệm ở trên tòa giảng dạy dỗ nhân danh Thiên Chúa, thì phải vâng phục họ, nhưng đừng bắt chước việc họ làm (Mt.23, 2-3). Tuy nhiên, nếu có một vị nào đã không dùng quyền hành để phục vụ dân Chúa, thì cũng không vì vậy mà phải liên minh chống lại họ. Hơn nữa, có chắc là họ dùng quyền hành để phục vụ họ không? Sao mình dám làm quan tòa mà phán xét họ. Thiên Chúa là Đấng thông biết tất cả, biết cả những gì kín ẩn, sẽ là Đấng phán xét chí công. Còn con người, có chắc gì những điều tôi biết về người đó là đúng, có chắc gì những gì tôi biết về người đó không nằm trong một “âm mưu” của một con người nào đó?

    Phục vụ giúp người ta triển nở và hạnh phúc

    Có lẽ những ai bận tâm về quyền hành nhiều, cũng là người thích quyền hành. Phải chăng nên là đừng bận tâm về quyền hành, hoặc nên tự do với quyền hành? Hãy phục vụ theo gương Đức Giêsu, phục vụ những con người cụ thể, làm tất cả những gì mình có thể làm được. Ai muốn có quyền để phục vụ, cứ để họ dùng quyền mà phục vụ. Những người không có quyền, cứ phục vụ như những người không có quyền. Cứ vâng phục lẽ phải, sẵn sàng vâng phục tất cả mọi người, cứ coi mình như nhỏ bé nhất để phục vụ, như vậy là theo gương Đức Giêsu. Bận tâm về những điều thuộc quyền bính làm gì! Đòi hỏi người khác phải làm điều này điều kia để làm gì! Tại sao họ lại phải làm theo ý tôi? Đâu phải chỉ những điều tôi cho là đúng mới là đúng!

    Quyền hành không quan trọng bằng phục vụ. Nếu chọn giữa chức quyền địa vị và việc phục vụ, thiết tưởng tôi sẽ chọn việc phục vụ, vì phục vụ làm mình lại gần con người, làm mình có “trọng lượng thật” hơn, làm mình có công phúc hơn, làm mình triển nở và hạnh phúc hơn. Quyền hành địa vị so với việc phục vụ, là như tiếng thanh la vang dội, như phù vân giả tạo, như hình bóng so với cái thực. “Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và làm giá cứu chuộc nhiều người”.

    Tạ ơn Đức Giêsu, Ngài đã dạy con đường hạnh phúc đích thực cho con người. Phục vụ, là điều làm cho con người triển nở và hạnh phúc. Không có con đường nào tuyệt vời hơn con đường Đức Giêsu đã đi. Đức Giêsu đã tự hủy để phục vụ, để dạy con người bước đi theo Ngài; và một khi theo Ngài, con người sẽ tìm được bình an, triển nở, và hạnh phúc đích thực.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ

    Địa vị chức quyền đem lại gì cho bạn? Nó có giúp bạn triển nở hơn không? Tại sao?

    Bạn có nghĩ: phục vụ làm bạn triển nở và hạnh phúc hơn không? Tại sao?

    Làm sao để một người hiểu rằng: phục vụ làm cho người phục vụ triển nở và hạnh phúc thật sự?

    Về mục lục

    .

    MUỐN LÀM LỚN, PHẢI PHỤC VỤ NHƯ ĐẦY TỚ

    Lm Trần Bình Trọng

    Tham vọng chung của loài người là muốn có được một chỗ đứng trong bậc thang xã hội. Vì thế mà hai tông đồ Giacôbê và Gioan toan ngỏ ý xin Thầy mình một ân huệ là được ngồi: một người bên tả và một người bên hữu trong vinh quang của nước Chúa. Nghe lỏm được ý đồ của họ, các môn đệ khác bèn tức tối với hai ông này (Mc 10:41). Xét theo công trạng, thì hai ông Giacôbê và Gioan chưa có làm được gì đáng kể. Nói kiểu bình dân, các ông chưa có điểm với Chúa Giêsu và với các tông đồ khác, nên việc xin ngồi bên tả và bên hữu chi là việc muốn ăn mảnh.

    Ðến đây, Chúa liền thách thức hai ông: Các con có uống nổi chén mà Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không? (Mc 10:38). Thời cổ xưa tại đất Do thái, việc uống cùng một chén với ai, có nghĩa là muốn tham phần vào vận mệnh của người đó: hoặc may hay rủi. Vậy thì vận mệnh của Chúa cứu thế là gì? Vận mệnh của Chúa là việc Người tự nguyện chấp nhận khổ hình thập giá để làm giá cứu chuộc nhân loại. Như vậy lời Chúa có nghĩa là lời thách đố xem hai ông có muốn trả giá cả để được ngồi bên tả và bên hữu Chúa không, nghĩa là xem các ông có muốn chịu khổ hình với Chúa và vì Chúa không? Chúa nhận lời quả quyết chấp nhận bách hại và chịu đau khổ của hai ông. Tuy nhiên ghế danh dự mà hai ông xin là tuỳ thuộc vào sự quyết định của Chúa Cha.

    Trong những lần giảng dạy, Chúa Giêsu hứa sẽ thiết lập một vương quốc vĩnh cửu, nhưng Người sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết trước khi hoàn thành theo như lời tiên báo trong sách Isaia: Thiên Chúa đã muốn người tôi trung phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn (Is 53:10). Và như vậy thì Đức Giêsu đồng hoá với người tôi tớ đau khổ của Ðức Giavê trong lời tiên tri Isaia. Nỗi đau khổ mang lại sự cứu độ còn được thánh Phaolô đề cập đến trong thư gửi tín hữu Do thái (Dt 4:16).

    Phúc âm hôm nay ghi lại Chúa Giêsu chặn đứng tham vọng cá nhân của ông Giacôbê và Gioan bằng cách dạy họ: Ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người (Mc 10:44), nghĩa là phục vụ mọi người. Các tông đồ muốn phần thưởng cho những cố gắng của họ. Chúa bảo họ trong Nước Chúa thì có sự khác biệt. Nước Chúa không phải là nơi để người ta tâng bốc cái tôi. Trong nước Chúa, tất cả những ai muốn có ảnh hưởng, địa vị thì phải làm đầy tớ người khác, nghĩa là phục vụ người khác. Nếu để các ông nuôi tham vọng cá nhân, có thể trở nên mối nguy hại cho Giáo hội mà Chúa sẽ thiết lập sau này.

    Chúa dạy các tông đồ như vậy để cho những người kế vị và những người cộng sự hiểu biết đường lối Phúc âm hầu tránh việc lợi dụng chức tước, tránh việc kéo bè phái mà gây ảnh hưởng cá nhân ngay cả trong việc đạo. Như vậy khi hiểu được bản chất của Nước Chúa, các tông đồ sẽ là người cuối cùng tìm kiếm địa vị và danh dự. Các tông đồ nhận thức được rằng, họ sẽ có địa vị trong Nước Chúa, cũng như trong Giáo hội của Chúa. Tuy nhiên Chúa bảo họ không được dùng quyền để bá chủ và áp đặt, mà phải dùng quyền để phục vụ như Chúa đã phục vụ: Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mc 45).

    Có nhiều việc phục vụ khác nhau. Trong quá khứ, có những việc phục vụ do đầy tớ và nô lệ thực hiện. Vào thời cổ xưa tại đất Do thái, khi khách vào nhà ai, thì việc của đầy tớ là đem nước để rửa chân cho khách. Chân đi dép trên đất cát giữa trời nóng nực mà được dội nước vào chân thì khách cảm thấy khoan khoái biết bao. Trong bữa Tiệc ly Chúa Giêsu đã làm công việc của người nô lệ, lấy nước rửa chân cho các tông đồ vì yêu thương. Và Chúa dặn các ông phải rửa chân lẫn cho nhau, nghĩa là phục vụ lẫn nhau.

    Phục vụ cũng được thực hiện do người làm công hoặc tình nguyện. Việc phục vụ được coi là việc nhân đạo nếu được phát xuất tự chủ nghĩa nhân bản. Việc phục vụ được coi là việc bác ái nếu được làm vì yêu mến. Việc phục vụ có đượm tình yêu mến là điểm thiết yếu của đạo Kitô giáo. Phục vụ người khác vì yêu mến là một nhân đức mà mỗi người Kitô hữu cần thực hành. Khi phục vụ vì tình yêu mến Chúa thúc đẩy, công việc phục vụ sẽ trở nên nhẹ nhàng và người làm việc phục vụ mới cảm thấy vui được. Có những người khi không có việc gì làm, thì buồn chán, sinh bệnh. Khi làm việc phục vụ giúp đỡ tha nhân, họ tìm được ý nghĩa của cuộc sống, lại lên tinh thần, rồi được khỏi bệnh. Và đó là ý nghĩa của tình yêu biến đổi. Thánh Âu-tinh đã nhận ra tình yêu biến đổi khi viết: Ðâu có yêu, đấy không còn khổ, mà giả như có khổ đi nữa, người ta sẽ chấp nhận cái khổ vì yêu.

    Nếu muốn phục vụ, người ta sẽ tìm thấy rất nhiều việc để làm trong nhà thờ như quét dọn nhà thờ, hốt lá khô, nhặt rác rưởi xung quanh nhà thờ, lau bụi ghế ngồi, xếp sách hát lại vào hộc ghế, và nhiều việc để làm trong cộng đồng, làng xóm, phố phường như tình nguyện giúp việc từ thiện, bác ái, việc xã hội và việc nhân đạo.

    Là người công dân và người Kitô hữu, người tín hữu cần học để coi việc phục vụ trong gia đình, trong giáo xứ và trong xã hội như là phương thế để hoàn thành ơn gọi làm người Kitô giáo.

    Lời cầu nguyện xin cho được ơn biết sống tinh thần phục vụ:

    Lạy Chúa Giêsu!
    Chúa đến thế gian dạy các môn đệ
    bài học phục vụ trong yêu thương.
    Xin dạy con biết làm việc phục vụ vì yêu mến Chúa
    và nhận ra hình ảnh Chúa
    nơi nguời anh chị em mà con phục vụ
    nhất là những người nghèo đói, bệnh tật
    đau khổ và bất hạnh. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐƯA NGƯỜI ANH EM LƯU LẠC VỀ NHÀ CHA

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Tôi biết Tuấn là đứa bé côi cút ngày đêm lang thang phiêu bạt trên đường phố. Tuấn chưa hề biết cha mẹ mình là ai, vì Tuấn bị lạc mất gia đình trong thời chiến tranh loạn lạc. Nỗi khao khát lớn nhất trong đời Tuấn là được gặp lại mẹ cha, được chung sống dưới một mái nhà đầm ấm với cha mẹ và anh chị em ruột thịt của mình.

    Đồng thời, tôi cũng biết cha mẹ Tuấn là người rất giàu có, cao sang, đầy quyền lực và rất giàu lòng yêu thương. Tôi vẫn biết cha mẹ Tuấn ngày đêm trông ngóng tin con, đau đáu, khắc khoải chờ mong con trở về đoàn tụ với gia đình.

    Thế mà tôi không chịu hé miệng nói cho Tuấn biết sự thật này. Tôi cứ để mặc Tuấn lang thang vất vưởng trên đường đời, để mặc cho cha mẹ Tuấn ngày đêm thổn thức vì đứa con lưu lạc… thì thử hỏi: Tôi là hạng người thế nào? Có ai vô tâm, vô cảm như tôi không? Tôi có đáng bị lên án không?

    Thưa cộng đoàn,

    Hôm nay, trong số 95 triệu người trên quê hương đất nước Việt Nam, có hơn 85 triệu người có chung thân phận như Tuấn. Những anh chị em này chưa nhận biết mình có một Người Cha rất cao sang, tốt lành, nhân hậu… là Thiên Chúa, chưa biết mình có một quê hương tuyệt vời là thiên đàng sắm sẵn cho họ vui hưởng mai sau; chưa biết mọi người chung quanh là anh chị em ruột thịt của mình…

    Trong khi đó, chúng ta là những người được diễm phúc sống kề cận bên Cha, được Cha ấp ủ bằng tình phụ tử ngọt ngào, được Cha dưỡng nuôi bằng những lời khôn ngoan do Chúa Giê-su mang từ trời xuống, được Chúa Thánh Thần là Thầy khôn ngoan soi đường dẫn lối, được Đức Maria là Mẹ hiền bao bọc chở che bằng tình mẫu tử thiêng liêng trìu mến, được đón nhận vô vàn ân sủng qua các Bí tích…

    Vậy mà chúng ta vẫn bình chân như vại, chúng ta vẫn câm lặng, không chịu loan báo cho những người anh chị em lưu lạc của mình biết họ có Chúa là Người Cha rất đỗi tuyệt vời, để họ nhận biết Cha, trở về với Cha và đoàn tụ dưới mái nhà của Thiên Chúa là Cha, và được chung hưởng muôn vàn phúc lộc của người con trong nhà như chúng ta.

    Nếu chúng ta cứ mãi câm lặng như thế, thì chúng ta là hạng người như thế nào? Có đáng gọi là con của Cha trên trời nữa hay không?

    Lời thôi thúc mời gọi của Cha

    Rất nhiều lần, lời Cha qua miệng Chúa Giê-su vang dội trong tâm hồn chúng ta: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá (Lc 5,4)”; “Các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần… Mt 28,19)”; “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy các con hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về…” (Lc 10,2)…. Nhưng những lời thôi thúc mời gọi đó vẫn chưa lay động con tim vô cảm của chúng ta, vẫn chưa khơi lên được ngọn lửa truyền giáo đã tắt ngúm trong tâm hồn chúng ta, mà chỉ như làn gió thoảng qua rồi im bặt.

    Hôm xưa, sau khi Ca-in giết chết đứa em vô tội của mình, có tiếng Chúa từ trời vọng xuống hạch tội Ca-in: “Ca-in, em ngươi đâu?”

    Ca-in vô cảm trả lời: “Tôi đâu phải là người canh giữ em tôi!” (St 4,9).

    Nếu hôm nay Chúa hỏi mỗi người chúng ta:

    – “Con có biết lòng Cha ray rứt đau khổ ngày đêm vì có hơn 85 triệu đồng bào Việt Nam chưa hề biết Ta là Cha thật của họ không?”. Câu đáp sẽ là: “Mặc Chúa, con chẳng quan tâm.”

    – “Con có biết hiện nay có hơn 85 triệu đồng bào Việt Nam, là anh chị em ruột thịt của con, đang cần con nói cho họ biết họ có Cha trên trời hết lòng yêu thương họ và họ đang cần được con dẫn về đoàn tụ trong nhà Cha không?”. Câu đáp cũng sẽ là: “Mặc họ, con không cần biết đến ai!”

    Lạy Chúa Giê-su,

    Trong gia đình, người anh không làm theo lời cha truyền dạy phải lên đường đi tìm em là người con bất hiếu; Người chị không chỉ cho đứa em lưu lạc biết mặt cha và đưa em về đoàn tụ trong gia đình là người chị bất nhân.

    Hôm nay, có đông đảo anh chị em chúng con chưa biết Chúa là Cha, còn lưu lạc xa nhà là Hội thánh, đang chơi vơi giữa biển đời như thuyền không bến vì không được Lời Chúa như hải đăng soi dẫn và còn chịu băng giá trong tâm hồn vì chưa được tình Cha sưởi ấm…

    Xin cho chúng con luôn quan tâm đến những anh chị em này và tìm mọi cách đưa họ về với Cha.

    Về mục lục

    .

    NGÔN SỨ HAY TIÊN TRI?

    JM. Lam Thy

    Nói tới truyền giáo là nói tới những người được sai đi loan báo Tin Mừng: Ngôn sứ. Những người được sai đi gọi là “sứ giả”, Tin Mừng là Lời Chúa mà “lời” là “ngôn ngữ”; tổng hợp lại (“sứ giả” + “ngôn ngữ”) thành một từ ghép: “ngôn sứ”. Ngôn sứ mang ý nghĩa: Người được sai đi loan báo Lời Chúa (Tin Mừng). Trong khi đó, Lời Chúa là Lời dạy cho biết chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa bao gồm những sự việc đã xảy ra (quá khứ), đang xảy ra (hiện tại), đồng thời cả những sự kiện sẽ xảy ra (tương lai). Nói cụ thể thì “ngôn sứ” chính là người phát ngôn (phát ngôn nhân, phát ngôn viên) của Thiên Chúa.

    Trước đây thường gọi những ngôn sứ” là “tiên tri”. Về mặt ngôn ngữ, tiên tri chỉ có nghĩa là “biết trước”, vậy khi nói “tiên tri Isaia” thì chỉ có nghĩa: một người có tên là Isaia là người biết trước những sự việc sẽ xảy ra. Như vậy thì chưa đúng với vai trò và sứ vụ của Isaia, vì thế lại cần phải hiểu ngầm (ngụ ý) ông Isaia là người loan báo Lời Chúa. Do đó, theo thiển ý của kẻ viết bài này, dùng từ “ngôn sứ” để dịch chữ “Prophet” (có gốc từ chữ Hi-lạp “Aprophetes”) là chính xác hơn.

    Ca dao Việt Nam có câu “Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, ngụ ý khuyên răn anh em trong nhà có cùng một huyết thống, cùng một cha mẹ sinh ra, phải thương yêu đùm bọc nhau, đừng nên tranh giành hơn kém rồi sinh ra cảnh “nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn”. Lời khuyên răn ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, mà còn mở rộng ra cả nước. Sự tích bà Âu Cơ đẻ 100 trứng nở ra 100 con, 50 con ở với mẹ trên núi, 50 con theo cha (Lạc Long Quân) xuống biển, cho thấy quan điểm toàn thể dân tộc Việt Nam đều chung một gốc là “con Rồng, cháu Tiên”. Vì thế, nên phải biết “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tuy vậy, nhưng vẫn xảy ra không ít cảnh “huynh đệ tương tàn”, “gà nhà bôi mặt đá nhau” (tiếm ngôi, cướp ngôi nhau, triều đình này hạ bệ triều đình kia, loạn 12 sứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh, cõng rắn cắn gà nhà v.v… và v.v…).

    Xã hội loài người không chỉ có cảnh anh em tàn sát lẫn nhau, mà còn hơn thế nữa, xảy ra cảnh “phụ tử tương tàn” nữa kia. Ngay từ thời Cựu Ước đã có chuyện “tranh bá đồ vương” giữa cha con với nhau xảy ra ngay trong hoàng cung một triều đại danh tiếng: Đó là vua Đa-vít và hoàng tử Ap-sa-lôm. Trong những người con của vua Đa-vit, thì Ap-sa-lôm là một người đẹp trai, tài giỏi, được vua cha yêu mến, nhưng chính Ap-sa-lôm đã muốn tranh giành địa vị của cha, rồi tự phong mình làm vua ở Khép-rôn. Cuộc khởi loạn này đã làm cho vua Đa-vít và cả triều đình phải chạy trốn khỏi thành Giê-ru-sa-lem, và Ap-sa-lôm đã tiến chiếm kinh thành; nhưng sau này đã bị đại tướng của vua Đa-vit là Giô-áp đánh bại và bị giết chết tại khu rừng gần Ep-ra-im. Cuộc chiến tranh “phụ tử tương tàn” này đã khiến cho 20 ngàn quân lính bị thiệt mạng! (xc. 2Sm, Chương15 – 18).

    Quả thực từ cái tham vọng của người này nảy sinh ra cái ghen tức của người khác, đã làm cho loài người xung đột, gây hấn với nhau, để rồi thì khủng bố, chiến tranh bùng nổ khắp mọi nơi. Ôi chao! Tham vọng “tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương” vẫn là vấn đề muôn thủa của con người. Và cái “miếng đỉnh chung”, cái “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp” luôn luôn và mãi mãi là cái hấp lực khó lòng từ chối, dứt bỏ. Ngay đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải sống bác ái và khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn được “một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” (Bài Tin Mừng CN.XXIX/TN-B – Mc 10, 35-45).

    Tin tưởng khi Thầy mình được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu Người, thì chẳng phải đó là muốn được ngồi “cỗ nhất”, được hưởng “miếng đinh chung” bảnh nhất là ”Tả hữu Thừa tướng” đó sao? Không phải chỉ có 2 môn đệ này thôi đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối (“Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an.” – Mc 10, 41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn, và “chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh” xảy ra cũng là điều tất nhiên (“Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau.” – Gc 4, 1-3).

    Đức Giê-su quá hiểu tâm lý của con người ai cũng muốn mình có địa vị và được kính nể hơn người khác, ai cũng muốn làm ông chủ để được kẻ hầu người hạ và nếu có ai đó được hơn mình thì ngay lập tức ganh tị, thù hằn nhau. Vì thế, khi thấy Gio-an và Gia-cô-bê xin được ngồi “cỗ nhất”, Đức Ki-tô nói thẳng: “Các anh không biết các anh xin gì!”, rồi đặt câu hỏi: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10, 38). Cứ tưởng chén của Đức Giê-su sắp uống là chén rượu mừng vinh thăng và phép rửa Người sắp chịu cũng kiểu như phép rửa mà thánh Gio-an Tẩy Giả thực hiện trên sông Gio-đan, nên các Tông đồ mau mắn trả lời: “Thưa được”. Thực ra, ở vào trường hợp đó, ít ai có thể ngờ được Đức Giê-su nói chén Người sắp uống là chén đắng, là chén “ĐỨC CHÚA đã muốn Người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu Người hiến thân làm lễ vật đền tội, Người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ Người, ý muốn của ĐỨC CHÚA sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, Người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, Người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. ” (Is 53, 10-11).

    Đó chính là chén “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.” (Mc 10, 33-34). Đồng thời cũng là chén mà Tông đồ Phê-rô cầu xin Chúa Cha cho Thầy khỏi phải uống để rồi được Thầy gọi là “Xa-tan!” (Mc 8, 31-33). Ngay cả đến chính người Thầy đã nói về chén đắng ấy, với bản tình loài người cũng kinh sợ mà thốt lên cùng Chúa Cha: “Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con.” Tuy nhiên, ngay lập tức, bản tính Thiên Chúa đã trỗi dậy, và Người nói tiếp: “Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn.” (Mc 14, 36). Thật không thể ngờ chén đắng ấy lại cũng chính là phép rửa thanh tẩy tội lỗi loài người để được sống lại từ cõi chết như Đức Giê-su đã sống lại. Chỉ đến khi biến cố Thương Khó và Phục Sinh xảy ra, mọi người mới hiểu được hết ý nghĩa sâu xa Lời Thầy Chí Thánh nói về Chén Đắng và Phép Rửa mà Người phải chịu để đền vì tội lỗi nhân loại.

    Trước đây, vì chưa hiểu được ý nghĩa thâm thúy của Lời Chúa, nên các Tông đồ mới mạnh miệng nói là mình uống được chén mà Thầy sắp uống, nhưng tới lúc Thầy bắt đầu uống thì “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26,56). Chỉ đến khi các môn đệ được chịu phép rửa “trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3, 11) trong ngày Lễ Ngũ Tuần, thì các ngài mới thật sự dũng cảm uống chén đắng ấy, và hiên ngang chịu phép rửa như Thầy mình đã tiên liệu: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10, 39). Chính nhờ vậy mà Giáo hội và nói chung là toàn thể nhân loại được vui hưởng vinh quang Phục Sinh cho đến muôn ngàn đời.

    Trải dài theo lịch sử Giáo hội, biết bao nhiêu thế hệ, biết bao nhiêu Ki-tô hữu đã uống chén đắng ấy. Chỉ riêng Giáo hội Việt Nam trong quá trình 5 thế kỷ truyền giáo, đã có tới 130.000 Ki-tô hữu anh dũng uống chén đắng. Chén đắng trong quá khứ do những thế lực thù địch hữu hình đưa tới cho sứ vụ truyền giáo, nó lại càng đắng hơn trong hiện tại và tương lai, vì thế lực thù địch ngày nay đã trở nên vô hình vô ảnh. Cũng vẫn những mũi giáo, lưỡi gươm, viên đạn xuyên phá khủng khiếp ấy, nhưng ngày nay tất cả chúng đều được bọc đường, một lớp đường hào nhoáng ngọt lịm. Chỉ đến khi chúng lọt vào thân thể và công phá mãnh liệt, lúc đó mới “à” lên một tiếng muộn màng!

    Cho nên, công cuộc truyền giáo hiện nay đòi hỏi người Ki-tô hữu phải có một động lực dấn thân trong vai trò Ngôn sứ, đó chính là: “Động lực của việc dấn thân loan báo Tin Mừng của họ là do xác tín rằng những người Ki-tô hữu không được run sợ trước thế gian, mà đúng hơn phải mạnh dạn chia sẻ kho tàng chân lý đã được giao phó cho mình. Cũng vậy, người Ki-tô hữu ngày nay, đang khi cởi mở với các thực tại hiện thời và tán đồng tất cả những gì tốt lành trong xã hội, phải có can đảm mời gọi mọi người nam và nữ hoán cải tận căn, cuộc hoán cải gắn liền với việc gặp gỡ Đức Ki-tô và khởi đầu một cuộc sống mới trong ân sủng.” (Diễn văn của ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI trong “Cuộc gặp gỡ đại kết” tại Tòa TGM Praha – CH Séc – ngày 27/9/2009).

    Trong Sứ điệp Truyền Giáo 2017 (số 6), Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Việc truyền giáo của Hội Thánh được sinh động bởi một linh đạo của việc liên tục lên đường. Chúng ta được thách thức “ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng ‘ngoại vi’ đang cần ánh sáng Tin Mừng” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng “Evangelii Gaudium”, số 20). Sứ mạng của Hội Thánh thúc đẩy chúng ta liên tục lữ hành qua các sa mạc khác nhau của cuộc đời, qua các trải nghiệm khác nhau của sự đói khát sự thật và công lý. Việc truyền giáo khơi dậy một cảm giác bị đoạ đày triền miên, làm chúng ta ý thức rằng, trong cơn khát cái vô hạn, chúng ta là những kẻ lưu đày đang tiến về quê nhà cuối cùng của mình, đang đứng lơ lửng giữa cái “đã có” và cái “chưa có” của Nước Trời.”

    Muốn cho công cuộc Truyền giáo đạt hiệu quả thì phải cần có thật nhiều những ngôn sứ, đúng như lời dạy của ĐGH Phan-xi-cô: “Hội Thánh cần có các ngôn sứ. Tôi nói cách mạnh mẽ hơn rằng: Hội Thánh cần tất cả chúng ta làm ngôn sứ. Ở đây, ngôn sứ không có nghĩa là nhà bình luận, nhà phê bình, không phải thế. Ngôn sứ có nghĩa khác thế. Một nhà phê bình thì luôn nhận xét theo kiểu: “Không, điều này không tốt, điều kia không hiệu quả, điều nọ không phù hợp… điều ấy phải như thế này mới đúng…”. Người như thế thì không phải là ngôn sứ. Vị ngôn sứ là người biết cầu nguyện, biết nhìn lên Thiên Chúa, biết nhìn tới người dân, biết cảm thấy đau khổ khi dân lầm lỗi, biết khóc thương dân chúng, có khả năng thương khóc trước những tội lỗi của dân chúng, và cũng biết cách nói sự thật cho dân biết. Nguyện xin cho Giáo hội luôn có sự hiện diện phục vụ của các ngôn sứ, để dân Chúa tiếp tục tiến bước.” (xc. “Đức Giáo hoàng nói về NGÔN SỨ” – nguồn: Đài Vatican).

    Tóm lại, mọi Ki-tô hữu cần – rất cần – nhìn lại quá khứ, nhìn lại mình để thấy được hiện tại những kẻ thù địch là vô hình vô ảnh, với những chiêu thức vô cùng tinh vi xảo quyệt nhằm ngăn chặn, chống phá công cuộc truyền giáo của Giáo hội, “những viên đạn bọc đường” luôn luôn là tột cùng nguy hiểm. Nhìn lại mình để “không được run sợ trước thế gian, mà đúng hơn phải mạnh dạn chia sẻ kho tàng chân lý đã được giao phó cho mình” (ibid). Nhìn lại mình để tôi luyện đức tin, trui rèn ý chí, không chùn bước trước mọi thử thách, sẵn sàng “tham gia vào sứ mạng của Chúa Ki-tô”, sẵn sàng nhận lãnh chức vụ “ngôn sứ” lên đường thi hành sứ vụ truyền giáo mà Thiên Chúa và Giáo hội đã trao phó. Hãy sống xứng đáng với vai trò “ngôn sứ” như ĐGH Phan-xi-cô mong muốn trong lời dẫn trên. Ước được như vậy.

    Ôi! Lạy Chúa! Cánh đồng truyền giáo hiện nay trên thế giới cũng như tại quê hương chúng con quả là lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” (Mt 9, 37). Cúi xin Chúa ban Thánh Thần Chân Lý cho chúng con, để chúng con đủ can đảm bước ra khỏi “cái tôi vị kỷ”, “cái tôi chỉ ham tranh danh đoạt lợi”, để chúng con có đủ dũng khí đối diện với mọi thử thách, luôn sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, ngõ hầu trở nên những “thợ gặt” đúng như lòng Chúa mong đợi. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    MUỐN LÀM ĐẦU PHẢI HẦU THIÊN HẠ

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 10,35-45

    (35) Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”. (36) Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì? ” (37) Các ông thưa: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”. (38) Đức Giê-su bảo: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”. (39) Các ông đáp: “Thưa được”. Đức Giê-su bảo: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. (40) Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”. (41) Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. (42) Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. (43) Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; (44) Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. (45) Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

    1. Ý CHÍNH:

    Sau khi Đức Giê-su loan báo lần thứ ba về cuộc Thương Khó Người sắp trải qua, các môn đệ xem ra vẫn không hiểu và không muốn chấp nhận con đường đó.  Các ông vẫn đinh ninh rằng Thầy các ông sắp lên Giê-ru-sa-lem để làm Vua Mê-si-a và các ông đã tranh giành nhau vị trí quan trọng trong Nước Thiên Chúa mà Người sắp thiết lập (Mc 9,33-34; 10,35-40); Đức Giê-su đã nhắc nhở các môn đệ về bổn phận của người làm đầu là phải hầu thiên hạ và nên tôi tớ phục vụ mọi người (9,33; 10,41-45).

    1. CHÚ THÍCH:

    -C 35-38: +Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an: Gia-cô-bê và Gio-an là con ông Giêbêđê và bà Salomê và là anh em bà con của Đức Giê-su.. Hai ông thuộc Nhòm 12 Tông đồ, được Đức Giê-su kêu gọi đầu tiên và đã mau mắn bỏ thuyền và từ giã cha già mà đi theo Người (x Mt 4,21-22). Hai ông nhiệt thành bảo vệ Đức Giê-su và được Người gọi là “con cái của sấm chớp”. +Chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin: Tin Mừng Mát-thêu thay lời xin của hai anh em bằng lời xin của bà mẹ. Có người cho rằng Mát-thêu muốn làm giảm tính tiêu cực của hai anh em qua việc đổ lỗi cho bà mẹ!

    -C 37-38: +Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang: Hai ông nghĩ Thầy sắp vào trong vinh quang là lên làm Vua Thiên Sai, nên xin hai chỗ vinh dự nhất là được ngồi hai bên tả hữu. +Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?: Hai ông đã không hiểu được ý nghĩa thực sự và kết cục là cái chết đau thương đang chờ đón Thầy tại Giê-ru-sa-lem, nên Đức Giê-su đã nhắc cho các ông về điều ấy.

    -C 39-40: +”Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu: Đức Giê-su hứa cho các ông được chia sẻ trọn vẹn thân phận của Người. “Chén Thầy sắp uống” tượng trưng cho những đau khổ, “phép rửa Thầy sắp chịu” ám chỉ việc Người sẽ bị dìm trong lòng đất khi chết và được an táng trong mồ. Nhưng ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Lời tiên báo này đã được ứng nghiệm khi Gia-cô-bê là vị Tông đồ đầu tiên chịu tử vì đạo vào n ăm 42 do vua Hêrôđê An-ti-pa, như sách Tông Ðồ Công Vụ đã cho biết như sau: “Cùng thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay bắt bớ và làm khổ mấy người trong Giáo Hội, vua đã truyền chém ông Gia-cô-bê, anh của ông Gio-an” (Cv 12,2). Còn Tông đồ Gio-an thì bị đi đày một thời gian trên đảo Pát-mốt thời hòang đế Do-mi-ti-en. Người đã bị bỏ vào vạc dầu sôi nhưng được Chúa cứu thóat. Ngài qua đời tại Ephêsô (Tiểu Á) dưới thời hòang đế Tra-jan sau năm 98. +Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được:  “Chuẩn bị cho ai” ám chỉ là do ý muốn của Chúa Cha, chứ không phải sự tiền định.

    -C 41-42: +Mười môn đệ kia đâm ra tức tối: Các ông tức tối vì chính các ông cũng muốn được ngồi chỗ nhất trong Nước Thầy sắp thiết lập. +Những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân: Đức Giê-su giáo huấn môn đệ về quyền lãnh đạo: Quyền bính xã hội thường mang tính áp chế do tham vọng ca nhân muốn được ăn trên ngồi trước.

    -C 43-45: +Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em: Đức Giê-su phân biệt quyền bính trong Nước Trời hay Cộng đòan Hội Thánh mà Người sắp thiết lập. +Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người: Người đòi môn đệ và các mục tử lãnh đạo Cộng đòan phải noi gương Người để sống khiêm hạ và sẵn sàng phục vụ người dưới. +Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ: Đức Giê-su thường tự xưng mình là Con Người. Người luôn nêu gương khiêm hạ phục vụ và đòi môn đệ cũng phải học tập sống như vậy. +và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người: Giá chuộc ở đây thường là số tiền bỏ ra để mua sự giải thoát cho một tù nhân, hoặc để chuộc lại một người đang làm nô lệ. Tuy Đức Giê-su không bỏ tiền ra chuộc ai cả, nhưng Người chấp nhận trải qua cuộc tử nạn và phục sinh theo thánh ý Chúa Cha giống như giá chuộc để đền tội thay và giải thóat mọi người khỏi án chết muôn đời.

    1. CÂU HỎI:

    1) Hai môn đệ Gia-cô-bê và Gio-an là ai?

    2) Hai môn đệ Gia-cô-bê và Gio-an xin Đức Giê-su điều gì?

    3) Chén Thầy sắp uống và phép rửa Thầy sắp chịu ám chỉ biến cố gì? 3)Bạn biết gì về cuộc tử đạo của Tông đồ Gia-cô-bê?

    4) Tông đồ Gio-an đã uống chén khổ nạn do Chúa trao cho thế nào?

    5) Chúa Cha “chuẩn bị cho ai” nghĩa là gì? 6)Tại sao mười môn đệ kia lại tức tối với hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an?

    7) Đức Giê-su giáo huấn các ông về quyền lãnh đạo trong Nước Thiên Chúa thế nào?

    8) Người muốn các môn đệ và các mục tử sau này phải noi gương Người ra sao? 9)”Giá chuộc muôn người” nghĩa là gì?

    II.  SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”(Mc 10,45).
    2. CÂU CHUYỆN: GƯƠNG HY SINH PHỤC VỤ CỦA ĐÔI TÂN HÔN:

    Một câu chuyện phục vụ Mẹ TÊ-RÊ-SA CAN-QUÝT-TA hay kể lại như sau:

    “Vào năm 1982, một hôm có đôi thanh niên nan nữ tới nhà chúng tôi tại Can-quýt-ta đến trao tặng một món tiền lớn giúp bữa ăn cho người nghèo. Thấy họ còn quá trẻ, tôi tò mò hỏi: “Do đâu mà hai con có món tiền lớn vậy?” Họ trả lời: “Chúng con vừa tổ chức lễ cưới được hai ngày nay. Trước lễ cưới, chúng con bàn nhau sẽ thuê áo cưới thay vì đi may, cũng không liên hoan linh đình, mà dùng khoản tiền ấy trao tặng cho những người kém may mắn. Vì chúng con yêu nhau và muốn có một kỷ niệm đẹp nhân ngày cưới nhau”.

    Ðể biết rõ thêm, mẹ Têrêsa hỏi: “Tại sao chúng con quyết định táo bạo như thế? Chúng con không sợ việc làm như vậy sẽ làm cha mẹ và họ hàng buồn lòng hay sao?” Hai bạn trẻ ấy trả lời: “Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống bằng một sự hy sinh mà cả hai đều cùng nhau thực hiện”.

    Mẹ Tê-rê-sa kết luận: “Thật là tuyệt vời khi nghĩ đến một tình yêu cao quí như vậy. Tôi luôn cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho những người trẻ ơn thánh và sức mạnh, để trong ngày thành hôn, họ có thể trao cho nhau trái tim trong sạch, trái tim trinh khiết, thân xác trong trắng… là món quà lớn lao của tình yêu nhau”.

    1. SUY NIỆM:

    1) Con người ai cũng muốn được ngồi vào chỗ nhất :

    Hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đã không ngần ngại xin Đức Giê-su cho ngồi hai bên tả hữu Thầy, là hai chỗ tốt nhất khi Thầy lên làm Vua Mê-si-a. Mười môn đệ kia nghe vậy rất bực mình. Điều này cho thấy họ cũng muốn ngồi chỗ ấy.

    Thực ra, tự bản chất, mỗi chúng ta đều muốn được “ăn trên ngồi trước”. Xã hội cũng tôn vinh những người địa vị cao, khuyến khích những ngừơi đoạt giải nhất trong các cuộc thi, hoan hô các nhà vô địch “khỏe nhất, nhanh nhất, xa nhất” như trong các Đại Hội Thể Thao Ô-lym-pic…

    2) Đức Giê-su “đến để phục vụ hơn là được phục vụ”:

    Khi đi giảng đạo, Đức Giê-su luôn nêu gương khiêm hạ phục vụ tha nhân: Người đã làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế như: “Cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Lc 7,22; Is 35,5-6; 42,7). Để cứu độ chúng ta, Người chấp nhận hy sinh chịu chết trên thập giá, hầu chứng tỏ một tình yêu tột đỉnh (x Ga 15,13). Người cũng nói với các môn đệ rằng: “Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”(Mc 10.45). Trong bữa tiệc ly Người đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ và sau đó đã dạy các ông bài học yêu thương phục vụ lẫn nhau như sau: “Anh em gọi Thầy là “Thầy” là “Chúa”. Điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là “Thầy” là “Chúa”. Vậy nếu Thầy là “Chúa” là “Thầy”, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-15).

    3) Chúng ta phải làm gì?

    -Bác sĩ TOM DOLLY đã nói như sau: “Không ai quá nghèo đến độ không có một cái gì đó để trao tặng cho người khác”. Dù là người bất tài, xấu xí hay bệnh tật đến đâu, không ai trong họ là người hòan tòan vô dụng”.

    -Ở bất cứ đâu và trong bất cứ hòan cảnh nào mỗi người chúng ta đều có thể yêu thương và phục vụ tha nhân: Là người bán hàng: chúng ta có thể nói với khách hàng rằmg: “Tôi có thể giúp gì được cho bạn?”. Là bác sĩ hay y tá bệnh viện, chúng ta có thể ân cần phục vụ bệnh nhân; Là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, chúng ta có thể phục vụ người nghèo, bệnh tật và bị bỏ rơi noi gương Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta. Vấn đề là chúng ta có sẵn sàng mở rộng con tim để đón nhận và yêu thương phục vụ tha nhân như chính Đức Giê-su hay không?

    -Buổi tối mỗi người hãy dành một phút xét mình trong giờ kinh tối gia đình: “Hôm nay tôi đã làm gì để phục vụ tha nhân? Như: Nở nụ cười thân thiện với người mới gặp; Trao cái nhìn yêu thương cho một người ăn xin; Lắng nghe cảm thông với một người đang lo âu; Nói một lời an ủi người chán nản …Mỗi lời nói, cử chỉ, việc làm kèm theo tình thương sẽ là món quà quý phục vụ tha nhân.

    1. THẢO LUẬN:

    1) Bạn cần làm gì để tránh thói ham mê danh vọng chức quyền thế gian?

    2)Tuần này bạn sẽ làm gì để thực tập khiêm hạ phục vụ?

    1. LỜI CẦU:

    Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã hạ mình như đầy tớ phục vụ môn đệ và tình nguyện chịu chết đền tội thay cho chúng con. Xin giúp chúng con hiểu được tình yêu vô biên của Chúa và noi gương Chúa yêu thương phục vụ mọi người.  Xin cho chúng con biết năng nghĩ đến người bên cạnh và phục vụ họ như phục vụ chính Chúa để xứng đáng thành môn đệ thực sự của Chúa.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

    CÓ CHÚA Ở CÙNG

    Lm. Jos. DĐH.

    Hầu hết các thông tin quan trọng, kinh nghiệm quý báu, hoặc kiến thức khoa học xã hội, muốn truyền lại cho con cháu, người ta đều cần phải có chút nghệ thuật, dù tình yêu thương dành cho hậu thế luôn lai láng. Mơ ước thụ hưởng, nghĩ tới được làm con quan, giầu sang phú quý, hoặc được kẻ trên người dưới nể trọng, hoàn toàn phù hợp với lý lẽ tự nhiên. Vì thao thức được vinh dự, người ta phấn đấu để có danh phận, xả thân vì quê hương đất nước, với hy vọng được đứng vào hàng ngũ các anh hùng dân tộc, cũng vì thế họ có một sức mạnh khá đặc biệt để lướt thắng cả nguy hiểm sợ hãi. Đồng ý rằng, tiến thân vì mục đích riêng tư, hành động vì tình sâu nghĩa nặng, gia đình vẫn ghi nhận, tổ quốc hằng nhớ ơn, nghiêm túc mà nói, đó cũng chỉ là hạnh phúc thế gian ban tặng.

    Tinh thần yêu mến, bản chất truyền giáo, đối với người kitô hữu có phải là lời mời gọi tự giác, hay chỉ là tiếng “phèng la” âm vang một chút rồi mặc kệ ? Ơn làm con Chúa và Hội thánh có phải là một vinh dự, chúng ta có dám nhìn lại mình để thấy Thiên Chúa yêu thương, và chúng ta đang sống vì mục đích gì không ? Con người đúng là giới hạn đầy mâu thuẫn, tiền nhân chúng ta đã từng chia sẻ: ốc chẳng mang nổi mình ốc, lại còn phải mang cọc cho rêu ! Sống yêu mến, loan truyền niềm vui ơn cứu độ cho thân nhân, cho anh chị em xóm ngõ, trước hết phải bằng gương sáng, bằng sự hiểu biết và sự năng động của mỗi người, rồi kết tiếp là bằng niềm tin, quyền năng, phép lạ, Chúa sẽ thực hiện.

    Sau khi hoàn tất sứ mạng tại trần gian, Chúa Giêsu căn dặn các học trò, hãy loan truyền về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và Ngài hứa với các ông: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Có Chúa ở cùng, có dấu hiệu của tình yêu, là có sự sống và quyền năng bao phủ trên kẻ tin yêu, mến Ngài. Có Chúa ở cùng các tông đồ, có Chúa ở cùng các gia đình, ở cùng mọi tâm hồn, không phải sẽ hết đau khổ, hết nguy nan sợ hãi, mà đúng hơn là những ai sống tin tưởng cậy trông, người ấy không bao giờ “cô đơn”. Có Chúa ở cùng, là có đau khổ thập giá, và có sức mạnh đỡ nâng, có tình yêu bất tử đi đến cùng tận bến bờ hạnh phúc.

    Người tín hữu hôm nay có nhiều điều kiện thuận lợi, có sự linh thánh chảy tràn trong tin yêu, có bề dày kinh nghiệm của tiền nhân để lại cách sống đạo, giữ đạo, hầu phát huy truyền thống xây dựng đức tin và đức ái. Xã hội cũng cho thấy sự cao quý nơi tình người: sống trong bể ngọc kim cương, không bằng sống giữa tình thương bạn bè. Nếu thiếu vắng đức yêu thương, không đủ sự liên đới hiệp thông giữa tình Chúa tình người, ai dám bước theo Đức Giêsu, ai dám tự hào cho mình có gương sáng đạo đức cho gia đình, lối xóm ? Chúa làm được mọi sự, biết rõ tâm tính từng học trò của Ngài, nhưng Chúa vẫn gọi mời các môn đệ, và chúng ta hôm nay tiếp tục làm chứng nhân Tin mừng, cộng tác xây dựng Nước Chúa tại trần gian, tất cả là hồng ân, là tình yêu.

    Công bằng mà nói, được cha mẹ yêu thương, con cháu phải có nghĩa vụ sống yêu thương, chu toàn phận vụ mình như một quy luật trước gia đình xã hội. Cứ công bằng mà nói, được lãnh nhận dồi dào nguồn ơn bí tích, người kitô hữu không thể ngồi im, thụ hưởng, cần phải chia sẻ, sống ơn ban, sống tinh thần tông đồ, phản ánh đức tin kitô giáo. Khuôn vàng thước ngọc mà các đấng bậc nhắn gởi: hãy trung thực khi nghèo khó, giản dị khi giầu có, lịch sự khi có uy quyền, và im lặng khi giận dữ. Người có Chúa ở cùng, là người luôn ý thức sống tinh thần: có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ ; có ơn Chúa ban, và sẽ chia sẻ ơn ban cho anh chị em mình. Các môn đệ hôm xưa có Chúa ở cùng, các ông đã hoàn tất được sứ mạng Chúa trao phó, đâu ai nghi ngờ là các ông đã biết sống kết hiệp với ơn Chúa.

    Người có Chúa ở cùng là người khôn ngoan, biết cậy dựa vào tình yêu và sức mạnh của Chúa, họ sẽ thấy rõ ràng hơn thế nào là phép lạ theo cùng. Chúng ta hôm nay sẽ có Chúa cùng hành động, vì mỗi kitô hữu chính là hạt giống đức tin trổ sinh bông hạt do giá Máu cứu độ của Đấng đã chết vì yêu. Người xưa có nhiều kinh nghiệm rất đáng để chúng ta suy xét về cách sống của mình: ở không là mẹ các tật xấu, hay nhàn cư vi bất thiện. Người kitô hữu không thể ngồi yên chờ thời, không thể thủ thân thủ thế với nén bạc chúng ta đã nhận lãnh, dù là ơn vật chất hay tinh thần. Người có Chúa ở cùng, không phải là người “lỳ hay liều”, họ sẽ không chờ đợi “là thánh”, hoặc hoàn toàn “nên giống Chúa”, họ đủ khôn ngoan để ơn gọi truyền giáo như sứ mệnh vô cùng cấp bách Chúa mời gọi. Amen.

    Về mục lục

    .

    KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Hằng năm, Giáo Hội dành trọn một Chúa nhật trong tháng mười để cử hành ngày Khánh Nhật Truyền Giáo. Không phải chỉ có ngày hôm nay là ngày truyền giáo, mà bản chất và sứ mạng của Giáo hội là Loan Báo Tin Mừng. Việc cử hành này là dịp để mọi thành phần trong Giáo Hội nhìn lại công cuộc loan báo Tin Mừng, đồng thời nhắc cho mỗi người không ngừng thực hiện sứ mạng này mỗi ngày trong cuộc sống của mình. Cử hành ngày Khánh Nhật Truyền Giáo năm nay, trùng với dịp Giáo Hội Việt Nam mừng kỷ niệm ba mươi năm ngày Giáo Hội tôn vinh các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Đây là dịp rất tốt để chúng ta nhìn lại công cuộc Loan Báo Tin Mừng, gương sống đạo của cha ông, các bậc tiền nhân và trách nhiệm của chúng ta ngày nay.

    Việt Nam hiện nay dân số hơn 90 triệu, trong đó có hơn 7 triệu tín hữu, chiếm tỷ lệ khoảng 8% dân số. Như thế có nghĩa là người Công Giáo vẫn là một thiểu số rất nhỏ so với toàn dân Việt Nam. Tin Mừng của Chúa đã được các vị thừa sai đầu tiên đem đến mảnh đất Việt nam này từ thế kỷ 16 tại làng Ninh Cường thuộc giáo phận Bùi Chu ngày nay. Lúc đó, tổ tiên cha ông chúng ta đã sẵn sàng đón nhận một tôn giáo mới, một nếp sống mới với một tâm hồn chân thành. Mặc dù lúc đó các ngài chưa hiểu nhiều về giáo lý, nhưng qua đời sống yêu thương gắn bó với nhau, họ khiến cho nhiều người ngoại nhận ra Chúa Giêsu và tin theo. Những người lương dân ngạc nhiên vì thấy những người Công Giáo gắn bó với nhau, yêu thương nhau, họ đặt tên cho những người có đạo lúc bấy giờ là: Những người theo đạo thương nhau. Tình yêu thương có sức lan tỏa khiến cho những người tin vào Chúa Giêsu đã gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên nhiều năm trở lại đây, các thống kê cho thấy, số người Công Giáo gia tăng không đáng kể, chỉ dừng lại ở tỷ lệ 7-8% dân số. Con số những người theo đạo vì thấy gương sống của người tín hữu dường như ít hơn những người theo đạo vì lý do hôn phối. Phải chăng chúng ta đã dậm chân tại chỗ trong việc loan báo Tin Mừng? Phải chăng chúng ta đã không sống và thể hiện tình yêu thương đủ và có sức lay động tâm hồn người khác, dẫn họ đến việc tin theo Chúa? Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho việc trì trệ này:

    1/ Nhiều người không cảm thấy tự hào mình là người Công Giáo, sống tự ti mặc cảm. Nhiều người Công Giáo bước vào các môi trường xã hội như nhà trường, công ty, thấy mình có đạo như lẻ loi. Một thời gian dài những người Công Giáo bị nghi kỵ, trù dập và bị coi như công dân hạng hai, khiến cho nhiều người rơi vào tự ti mặc cảm. Hơn thế nữa, do chính sách tuyên truyền của chính quyền, khiến cho nhiều người dân ngoại nhìn những người công giáo như những kẻ phản quốc, bất hiếu, cần phải đề phòng. Trong xã hội có một sự phân biệt đối xử một cách rõ ràng, khiến cho nhiều người Công Giáo cảm thấy mình bị loại trừ không được chấp nhận. Nhiều người vì sợ hãi hoặc vì muốn tìm kiếm địa vị xã hội, muốn tiến thân, nên không ngần ngại nhận mình là người không tôn giáo. Một khi mang tâm trạng tự ti mặc cảm như thế, thì không thể làm chứng cho Chúa được. Cha ông chúng ta ngày xưa cũng bị nghi kỵ như thế, nhưng các ngài đã phá vỡ mặc cảm này và khẳng định cho mọi người thấy chính Tin Mừng và Chúa Kitô đã dạy chúng ta một nếp sống thật tốt, đã huấn luyện chúng ta nên những con người hoàn thiện, đáng tin.

    2/ Lý do thứ hai khiến cho đạo Công Giáo không trở nên hấp dẫn thu hút được nhiều người khác là vì các Kitô hữu sống đạo một cách hời hợt không có sức sống. Nhiều người sống đạo chỉ như một thói quen; có sự chênh lệch giữa giáo lý và đời sống thực tế. Nhiều người có đạo sống không tốt hơn những người ngoại, nhiều khi còn trở thành gương xấu, khiến người ngoại không muốn tìm hiểu đạo. Đời sống các gia đình Công Giáo không có gì khác hơn các gia đình khác, còn nhiều những cãi vã, chửi bới, bạo hành. Không chỉ trong đời sống cá nhân, mà trong đời sống cộng đoàn giáo xứ cũng không có gương sáng. Nhiều giáo xứ rềnh rang những cuộc rước sách, kèn trống, lễ lạc bên ngoài mà không quan tâm đến đời sống bác ái chia sẻ trong cộng đoàn. Nhiều nơi quan tâm đến bề nổi và những hình thức phô trương mà bỏ qua việc xây dựng chiều sâu và đời sống đức tin. Vì sống đạo theo lối mòn như thế, làm mất đi sức sống và nhiệt tâm loan báo Tin Mừng.

    3/ Lý do sâu xa hơn khiến cho việc loan báo Tin Mừng không phát triển là do nhiều người Kitô hữu không có Chúa, không biết Chúa, và không gặp Chúa bao giờ. Mang danh là Kitô hữu, là người có Chúa Kitô, tuy nhiên cuộc sống của nhiều người đã không chỉ cho người khác nhận ra sự hiện diện của Chúa trong lời nói, hành động và cuộc sống của họ. Nhiều Kitô hữu đã bỏ qua, hoặc coi nhẹ việc đón rước Chúa vào trong tâm hồn và để cho Chúa biến đổi cuộc sống mình. Nhiều người sống đạo nhưng không lãnh nhận Bí Tích, không chuyên chăm trong việc dâng lễ thờ phượng Chúa.

    Nhiều người xưng mình là Kitô hữu, nhưng họ lại không biết gì về Chúa Kitô hoặc biết về Ngài một cách hết sức sơ sài. Sở dĩ họ không biết về Chúa Kitô vì họ bỏ qua việc nghe, đọc và suy gẫm Kinh Thánh. Vì chỉ nhờ Kinh Thánh chúng ta mới có thể biết về Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài mà thôi. Mang danh là người Công giáo, nhưng nhiều tín hữu không biết về giáo lý của đạo Công Giáo, vì thế mỗi lần phải giải thích cho anh chị em lương dân, họ tỏ ra hết sức lúng túng và nói không xác tín.

    Sở dĩ chúng ta không thể nói về Chúa Kitô cho người khác một cách mạnh dạn, tự hào và tự tin, là vì nhiều người chưa bao giờ gặp được Chúa Giêsu. Chúng ta tin Chúa, theo Chúa, nhưng quan trọng hơn chúng ta phải gặp được Chúa, thì cuộc đời chúng ta mới có thể biến đổi và hạnh phúc. Chúng ta có thể gặp được Chúa qua những giờ phút cầu nguyện, sống riêng tư thân tình với Chúa, lắng nghe tiếng Chúa nói qua từng biến cố của cuộc sống. Chúng ta có thể gặp được Chúa qua việc thường xuyên suy gẫm Kinh Thánh, tham dự Thánh lễ và rước lễ cách sốt sắng. Chỉ khi chúng ta có kinh nghiệm gặp gỡ tiếp xúc với Thiên Chúa, chúng ta mới có thể nói về Chúa cho người khác cách mạnh dạn, tự tin, và khi đó, lời nói của chúng ta mới đáng tin được.

    Cử hành ngày Khánh Nhật Truyền Giáo hôm nay, chúng ta phải thực tâm nhìn lại bản thân, lối sống của mình và của cộng đoàn để nhận ra những thiếu sót và những cản trở khiến cho Tin Mừng của Chúa bị chựng lại không lan tỏa đến với đồng bào chung quanh. Chúng ta cùng thành tâm xin lỗi Chúa và quyết tâm điều chỉnh lại, từ suy nghĩ đến hành động của mỗi cá nhân và cả cộng đoàn, cùng thúc đẩy nhau sống  loan báo Chúa Kitô cho mọi người.

    Chúng ta có thể bắt đầu nói về chúa cho gia đình bên cạnh qua việc sống thân thiết, quan tâm chia sẻ, và cầu nguyện cho họ. Đoạn Tin Mừng hôm nay chỉ cho chúng ta những cách giới thiệu Chúa Kitô cho anh chị em.

    – Chúng ta nói về Chúa bằng cách sống và bước theo Chúa không phải để tìm kiếm vật chất, địa vị, chỗ cao chỗ thấp, mà là dám chia sẻ cùng một sứ mạng với Chúa, cùng uống một chén và cùng chịu một phép rửa với Chúa. Nói cách khác, Chúa mời các môn đệ của Chúa phải nên giống Chúa hoàn toàn, cùng mang lấy trái tim và đôi tay của Chúa, cùng suy nghĩ, cùng hành động để cùng với Chúa chạnh thương và chia sẻ. Sống và thực hành như thế, mọi người sẽ nhận ra Chúa Kitô trong chúng ta.

    – Chúa muốn trong cộng đoàn, trong gia đình phải gạt bỏ sự ghen tỵ tức tối nhau; cùng nhau xây dựng gia đình và cộng đoàn thành một cộng đoàn yêu thương và phục vụ: “Thủ lãnh thế gian thì dùng quyền mà thống trị, người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy. Ai muốn làm đầu thì phải làm người phục vụ và là đầy tớ mọi người”.Như thế có nghĩa là mỗi người dám bỏ ý riêng, quyền lời riêng, để biết nghĩ đến ích chung và quyền lợi chung, nghĩ đến lợi ích của anh em mình trước. Mỗi người khi dám cúi xuống phục vụ anh chị em một cách chân thành, không tính toán thiệt hơn, đó là cách để mọi người chung quanh nhận ra Chúa nơi sự phục vụ của chúng ta.

    Chung quanh chúng ta còn rất nhiều người chưa biết Chúa Giêsu và Tin Mừng. Chúng ta không thể làm ngơ, trái lại mỗi người phải cảm thấy mình bị thôi thúc, đòi buộc phải làm gì đó cho họ biết Thiên Chúa là Cha và biết Đức Giêsu là Đấng Cứu độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

    Lm. Gioakim Nguyễn Đức Vinh

    Mỗi lần Chúa Giêsu loan báo về cuộc Thương Khó và Tử Nạn sắp đến của mình, các môn đệ của Ngài luôn luôn tránh né, mà các ông chỉ nghĩ đến những vấn đề về quyền hành, chức tước, bổng lộc, vinh hoa, phú qúy.

    Thật thế, sau lời loan báo lần thứ nhất, thánh Phêrô tìm cách ngăn cản Chúa Giêsu và Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy từ bỏ chính mình để theo Ngài (x.Mc 8, 31-9,1).

    Rồi đến lần thứ hai, các môn đệ bày tỏ một thái độ hoàn toàn hững hờ đối với những lời bi thảm của Chúa Giêsu mà lúc này các môn đệ chỉ tranh nhau đặc quyền đặc lợi giữa họ. Lúc đó, Chúa Giêsu đã mạnh mẽ đòi hỏi họ phải tự hạ mình và phục vụ mọi người.

    Và lần thứ ba, trên đường tiến về Giêrusalem, một lần nữa Đức Giêsu loan báo cho các môn đệ cuộc khổ nạn của Ngài phải chịu ở Giêrusalem (x.Mc 8,31; 9,31), để các ông cảm thông, chia sẻ. Thay vì cảm thông và chia sẻ thì hai anh em ruột Giacôbê và Gioan đã tự tin đến mức mà họ bộc phát qua lời cầu xin ngồi bên tả hữu nước Chúa (x.Mc 10, 35-38), nhưng họ hoàn toàn không hiểu những gì Chúa Giêsu đã nói.

    Giacôbê, Gioan và các môn đệ khác tưởng đâu Chúa Giêsu sẽ ra đi làm vua thống trị, thì ít ra họ sẽ được những chức tước, hay được một ghế nào đó trong nước Chúa. Nghĩa là khi Chúa Giêsu thành công trong việc đánh đuổi người La mã ra khỏi Palestina, tái lập Vương quốc Israel. Vì trước đó, Chúa Giêsu đã hứa là họ sẽ được ngồi trên ngai xét xử mười hai chi tộc Israel.

    Với các môn đệ, cuộc thử thách mà Chúa Giêsu nói đến sẽ chóng qua. Vì họ tin rằng với quyền năng trong tay Chúa Giêsu, Ngài sẽ vượt qua tất cả và Ngài sẽ chiến thắng. Bởi chính các môn đệ đã chứng kiến biết bao cuộc thử thánh đối với Chúa Giêsu, nhưng Ngài đã vượt qua. Hơn nữa, các môn đệ đã chứng kiến lòng thương xót và nhân lành của Chúa Giêsu khi phục sinh con gái ông Gia-ia (x.Mc 5,37) và vinh quang của Ngài khi biến hình (x.Mc 9,1-12). Và rất có thể, hai biến cố đó đã khiến cho các ông tự tin và mạnh dạn đến xin Chúa Giêsu điều mình mơ ước bấy lâu nay.

    Như vậy, lòng ao ước và khát khao của các môn đệ đi theo Chúa Giêsu bấy lâu nay nhưng chưa có dịp thuận tiện để nói, mà chỉ có hai anh em Giacôbê và Gioan đầy tự tin mới dám nói ra. Điều này cho thấy, các môn đệ gắn bó với cái nhìn hoàn toàn trần tục về đấng Mêsia.

    Chúa Giêsu đã biết rõ tâm lý tự nhiên của các môn đệ, cũng như hai môn đệ Giacôbê và Gioan nên Chúa không quở mắng hai ông, mà Ngài chỉ phê bình các ông ngây thơ quá không biết điều mình xin. Nhân đây Chúa Giêsu dạy họ rằng: “Các con không biết rõ điều các con xin!”. Rồi Chúa Giêsu nhấn mạnh việc phải làm, điều sắp phải chịu mà các môn đệ phải chia sẻ với Chúa bằng câu hỏi: các con có thể uống chén Thầy phải uống và chịu thanh tẩy thứ thanh tẩy Thầy sắp phải chịu không? Giacôbê và Gioan lúc này đồng loạt thưa: Thưa vâng. Chúa chấp nhận lời ưng thuận của hai ông, nhưng lại nói rõ không phải vì thế mà được phúc lộc bên tả bên hữu, vì quyền bính và phúc lộc là ân huệ Chúa Cha định đặt cho ai thì người ấy mới được.

    Và Chúa Giêsu xác định quyền bính, chức vụ trong Nước Chúa khác hẳn quan niệm trần gian vì quyền bính và địa vị ở trần gian là để cai trị dân, hống hách, bắt nạt người dưới, còn quyền bính, địa vị trong Nước Chúa là để phục vụ giúp đỡ mọi người. Chính Chúa Giêsu dạy người ta bằng gương của mình, lấy công việc của mình chỉ dạy cho người ta bắt chước. Chúa không dạy suông, nói suông. Vì thế, Ngài nói: con Người không đến để được người ta hầu hạ, nhưng là để hầu hạ và thí mạng sống mình làm giá chuộc thay cho nhiều người. Chính đời sống và cuộc tử nạn chịu chết của Chúa Giêsu đã chứng minh cho lời nói của Ngài.

    Cho nên, từ đời sống gương mẫu của Chúa, Chúa dạy các môn đệ: trong các ông, ai muốn làm lớn thì hãy làm đầy tớ các ông, và ai muốn cầm đầu thì hãy làm nô lệ cho mọi người. Đầy tớ làm theo ý chủ nhưng còn có công, có tự do, nô lệ thì hoàn toàn thuộc quyền của chủ sử dụng cách vô điều kiện. Muốn làm lớn thì làm đầy tớ, muốn làm đầu thì làm nô lệ, tất cả đều nằm trong ý tưởng phục vụ chứ không phải để cai trị.

    Hôm nay, Chúa Nhật 29 Thường Niên B cũng là Chúa Nhật Truyền Giáo, hưởng ứng lời kêu gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”(x.Mc16, 15). Ý thức được điều đó, Giáo hội hơn hai ngàn năm qua vẫn không ngừng vâng lệnh Chúa truyền để “Ra Đi, quên mình và phục vụ những con người vất vưởng lầm than đói khổ”, ngõ hầu đem hình ảnh nhân từ thương xót và Tin Mừng Cứu Độ cho muôn dân.

    Như vậy, sứ mệnh mà Chúa đã mời gọi “Hãy Ra Đi” vẫn luôn mãi là một lời thúc bách, khiến cho mỗi người Kitô hữu vốn tự bản chất là một nhà truyền giáo (AG 35) không thể không thao thức với sứ mạng truyền giáo của mình, như cảm nghiệm của Thánh Phaolô: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!”.

    Mặc lấy tâm tình năm thánh 400 năm Tin mừng đến với Giáo phận Qui nhơn chúng ta, và mặc lấy tâm tình năm thánh Kính Các Thánh Tử ĐạoViệt Nam. Người kitô hữu ý thức mình là con cái của Chúa, là con cháu của các thánh tử đạo, mỗi chúng ta hãy ra đi để rao giảng Tin mừng tình yêu của Chúa, để muôn dân nhận biết Chúa là Cha và cho muôn dân sống trong tình Cha, cho muôn dân sống trong ân tình Ngài qua cách sống và thể hiện niềm tin của người kitô hữu.

    Ước mong rằng Tin Mừng cứu rỗi của Chúa Kitô, nhờ vào sự cộng tác nhiệt thành của mỗi người, mỗi thành phần dân Chúa mà Tin mừng không ngừng được lớn mạnh và tình yêu thương mà Chúa Kitô đã đem đến cho nhân loại, cho thế giới này sẽ được phát triển và hiện diện với hết mọi người và với mọi hoàn cảnh sống của cuộc đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA –

    CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Mỗi người Ki-tô hữu phải là nhà truyền giáo, vì đó là bản chất của Giáo Hội. Khi nói về công việc truyền giáo, chúng ta thường nghĩ ngay đến việc loan báo Tin Mừng. Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay xác định cho chúng ta nội dung của việc loan báo Tin Mừng được cô động ở nơi lời phát biểu của Đức Giê-su: “Con Người không đến để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

    Nếu công việc truyền giáo được định nghĩa theo truyền thống Đông Phương “kể cho nhau nghe cuộc đời của Đức Ki-tô”, thì mỗi người Ki-tô hữu phải kể về cuộc đời của Đức Giê-su cho anh chị em mình không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc sống của mình, nghĩa là, tự đặt mình vào trong tình liên đới với những anh chị em chung quanh mình, biến cuộc đời mình thành cuộc đời phục vụ và những đau khổ của mình thành giá cứu chuộc muôn người. Đó là lời loan báo Tin Mừng cụ thể nhất, sống động nhất và hữu hiệu nhất.

    Trong tuyến phát triển của Tin Mừng Mác-cô, chúng ta theo Đức Giê-su trên đường lên Giê-ru-sa-lem, ở đó cái chết đang chờ đợi Ngài. Viễn cảnh Thương Khó ở trung tâm của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay; hai trong số ba bài đọc: Bài Đọc I và Bài Đọc II, được mượn từ Phụng Vụ Lời Chúa Thứ Sáu Tuần Thánh.

    Is 53: 10-11

    Trong Bài Đọc I trích từ bài ca Người Tôi Trung chịu đau khổ, những khốn khổ và cái chết của Người Tôi Trung đã được Thiên Chúa chấp thuận như hiến lễ xóa tội, nhờ đó muôn người nên công chính.

    Dt 4: 14-16

    Trong Bài Đọc II trích từ thư gửi tín hữu Do thái, tác giả minh chứng Đức Giê-su là vị Thượng Tế đầy lòng cảm thương, Ngài đã tự đặt mình liên đới với nhân loại, cho đến mức chịu đau khổ và chịu chết để đưa con người đến bên lờng Chúa xót thương.

    Mc 10: 35-45

    Trong Tin Mừng, Đức Giê-su trả lời cho những tham vọng của hai anh em nhà Dê-bê-đê và cho tất các môn đệ của Ngài nữa, bằng cách phác họa chân dung người tôi tớ lý tưởng, biến cuộc đời mình thành đời phục vụ và những đau khổ của mình thành giá chuộc cho muôn người.

    BÀI ĐỌC I (Is 53: 10-11)

    Đoạn văn này được trích từ bài ca thứ tư về Người Tôi Trung đau khổ trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (ch. 40-55). Bài ca này mô tả số phận Người Tôi Trung mầu nhiệm của Đức Chúa: chịu đau khổ và bị giết chết, đoạn được tôn vinh, số phận tương tự với số phận của Đức Giê-su. Thân phận Người Tôi Trung này loan báo thân phận của Chúa Giê-su.

    1. Hy lễ của cuộc đời đau khổ(Is 53: 10)

    Người thuật chuyện, chắc chắn chính là vị ngôn sứ, hoàn tất những suy niệm của mình về số phận đau thương của Người Tôi Trung qua lời nguyện mà ông ngỏ lời với Đức Chúa:

    “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ.

    Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội,

    người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn,

    và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu” (Is 53: 10).

    “Kẻ nối dõi” chắc chắn có cùng một ý nghĩa như trong nhiều đoạn văn Cựu Ước, tức là hậu duệ của tổ phụ Áp-ra-ham, chính xác hơn, đông đảo những người tín hữu được hưởng nhờ việc Người Tôi Trung hiến thân mình làm của lễ đền tội. Người “sẽ được trường tồn” (cũng như: “Người sẽ nhìn thấy ánh sáng”) có thể ám chỉ đến “sự sống lại”.

    1. Câu trả lời của Đức Chúa(Is 53: 11)

    Lúc đó, Đức Chúa trả lời cho vị ngôn sứ bằng cách hứa ban một số phận vinh quang cho Người Tôi Trung của Ngài, vì những đau khổ mà ông đã phải hứng chịu, và nhờ ông gánh lấy tội lỗi của muôn dân mà họ được nên công chính và thánh thiện. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su sẽ tự đồng hóa mình với “người tôi tớ”, “Ngài đến để phục vụ” và Ngài sẽ lặp lại bằng những từ ngữ tương tự: “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

    BÀI ĐỌC II (Dt 4: 14-16)

    Bài Đọc II tiếp tục trích thư gửi tín hữu Do thái. Trong đoạn trích trước, tác giả nhân cách hóa Lời Chúa: Lời Chúa thấu suốt lòng trí của chúng ta, xét xử tận cõi thâm sâu qua tiếng lương tâm mỗi người. Trong đoạn trích hôm nay, tác giả đem đến một viễn cảnh trấn an: Đức Ki-tô là Đấng chuyển cầu lý tưởng của chúng ta, vì Ngài “thông cảm được những nỗi yếu hèn của chúng ta; vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như chúng ta, nhưng không phạm tội”. Ngài là vị Thượng Tế tuyệt vời; Ngài đã không đơn giản băng qua Đền Thờ Giê-ru-sa-lem để đi vào nơi Cực Thánh – như vị Thượng Tế Cựu Ước – nhưng đã băng qua các tầng trời để tiến đến ngai Thiên Chúa và dẫn đưa chúng ta theo Ngài đến tận nơi Thiên Chúa ngự. Vì thế, chính nhờ Ngài mà chúng ta nhận được muôn vàn ân sủng.

    Lời chuyển cầu đầy quyền năng của Đức Ki-tô bắt nguồn từ những đau khổ mà Ngài đã chấp nhận hứng chịu khi mặc lấy thân phận con người. Bản văn âm vang Bài Đọc I và loan báo bài học mà Đức Giê-su sẽ đưa ra cho các môn đệ Ngài trong Tin Mừng hôm nay.

    TIN MỪNG (Mc 10: 35-45)

    Cuộc vận động của hai anh em nhà Dê-bê-đê, Gia-cô-bê và Gioan, được thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu thuật lại (thánh Mát-thêu quy cuộc vận động này cho bà mẹ của họ). Cả hai thánh ký đều đặt tình tiết này ngay liền sau lời loan báo thứ ba của Đức Giê-su về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Lời loan báo thứ ba này có nhiều chi tiết chính xác hơn hai lần loan báo trước; Đức Giê-su kể ra: Ngài sẽ phải chịu những lời nhạo báng, nhục mạ, đánh đòn và bị giết chết. Thánh ký đã không ghi nhận bất kỳ phản ứng nào của các môn đệ, ngoài việc họ im lặng, vì không hiểu và chắc chắn cũng sợ hãi nữa. Quả thật, trước khi thuật lại Chúa Giê-su loan báo lần thứ ba cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, Thánh Mác-cô viết: “Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi” (Mc 10: 32).

    1. Phản ứng của các môn đệ

    Cứ mỗi lần Đức Giê-su loan báo cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của mình, các môn đệ của Ngài luôn luôn tìm cách xua đuổi khỏi tâm trí của mình những hình ảnh đau thương mà chỉ nghĩ đến quyền hành, chức tước, bổng lộc. Sau lời loan báo thứ nhất, ông Phê-rô tìm cách ngăn cản Ngài và Chúa Giê-su yêu cầu các bạn hữu Ngài hãy từ bỏ chính mình để theo Ngài (8: 31-9: 1). Sau lời loan báo thứ hai, họ bày tỏ một thái độ dửng dưng, vô cảm đối với những lời bi thảm của Thầy mà chỉ tranh nhau về những đặc quyền đặc lợi giữa họ; lúc đó, Chúa Giê-su đòi hỏi họ phải tự hạ mình “làm người phục vụ mọi người” (9: 30-37). Sau lời loan báo thứ ba này, sự tương phản cũng không kém dữ dội: hai trong số họ có tham vọng riêng của mình.

    1. Hai anh em nhà Dê-bê-đê

    Hai ông Gia-cô-bê và Gioan là những người thợ được gọi vào giờ thứ nhất: hai ông đã là đối tượng được Đức Giê-su ưu ái một cách đặc biệt: Ngài cho hai ông cùng với ông Phê-rô chứng kiến cuộc phục sinh bé gái ông Gia-ia; Ngài cho hai ông cùng với Thánh Phê-rô chiêm ngưỡng cuộc Biến Hình của Ngài trên núi cao; chỉ hai ông cùng Thánh Phê-rô và Thánh An-rê, hỏi riêng Ngài khi nào thì Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá và những điềm báo nào về thời chung cuộc (Mc 13: 3); cuối cùng, chỉ hai anh em này cùng với Thánh Phê-rô sẽ chứng kiến cơn xao xuyến tận mức của Chúa Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-ni.

    Chắc chắn hai người con của ông Dê-bê-đê đã được hưởng mối thân tình gần gũi với Đức Giê-su hơn các môn đệ khác; họ mong muốn được tiếp tục tình thân này trong Nước Chúa và chiếm những chỗ ưu tiên bên cạnh Thầy mình. Quả thật, đầy tham vọng, họ sẵn sàng chịu đựng tất cả để đạt cho bằng được những chỗ ưu tiên này; nhưng dù thế nào, lòng yêu mến của họ và sự ngây thơ của họ khiến chúng ta cảm động. Giả như họ biết rằng hai chỗ mà họ cầu xin sẽ là hai chỗ của hai tên cướp bị đóng đinh bên cạnh Thầy mình, liệu họ có thỉnh cầu không?

    1. Được chia sẻ cùng số phận với Ngài

    Đức Giê-su hứa với hai anh em ông Gia-cô-bê và ông Gioan, họ sẽ được dự phần vào vận mệnh đau khổ của Ngài: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu”. “Chén” để uống là hình ảnh Kinh Thánh được dùng để tượng trưng những đau khổ phải chịu (Tv 75: 9; Is 51: 17-22;…). Diễn ngữ “uống cạn chén” đồng nghĩa với việc phải chịu thử thách cho đến tận cùng. Vào những giờ phút xao xuyến tận mức trong vườn Ghết-xê-ma-ni, chính Đức Giê-su sẽ nài xin Cha Ngài: “Xin cất chén này xa con” (14: 36).

    Còn về phép rửa mà Ngài sắp chịu, đó là những giờ phút cam go, những giờ phút Ngài sắp phải bị dìm mình vào trong những cơn sóng đau khổ và cái chết bi thảm. Ngài sẽ chuẩn bị cho hai anh em những bách hại và phúc tử đạo; nhưng Ngài từ chối lời thỉnh nguyện của họ là được ngồi bên hữu bên tả của Ngài, bởi vì đó không thuộc thẩm quyền của Ngài; vai trò của Ngài thì khác: “Con Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con Người, mà được cứu độ” (Ga 3: 17). Các môn đệ chỉ có một cách hành xử phải theo: phó thác vào bàn tay của Chúa Cha.

    1. Lý tưởng phục vụ

    Lời thỉnh cầu của hai anh em nhà Dê-bê-đê đã dấy lên một làn sóng tranh dành quyền cao chức trọng giữa các môn đệ, vốn đã tiềm tàng từ lâu trong lòng họ, nhưng chưa có cơ hội để bộc phát. Đức Giê-su đã hiểu rõ rằng các ông còn nghĩ đến một vương quốc trần thế mà họ tin triều đại này sắp đến gần. Với một sự kiên nhẫn vô tận để không gây thất vọng cho họ, Ngài lấy lại giáo huấn của Ngài về việc thay đổi tận căn những giá trị theo quan niệm trần thế. Giáo Hội của Ngài không được bắt chước những xã hội trần thế. Nếu những kẻ quyền cao chức trọng trong xã hội trần thế được hưởng những đặc quyền đặc lợi, được ăn trên ngồi trước, được kẻ hầu người hạ, thì trong Giáo Hội của Ngài “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em”.

    Để làm cho rõ nghĩa lý tưởng “phục vụ” này, Đức Giê-su còn bổ túc thêm: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”. Trong bất kỳ xã hội nào, đầy tớ là hạng người thấp kém nhất và ai cũng biết người đầy tớ phải làm những gì rồi. Hơn nữa, việc phục vụ không chỉ dừng lại trong vòng anh em của mình, hay cho một tiểu số nào, mà phải trải rộng cho hết “mọi người”.

    Như vậy, bài học thật sống động cụ thể, nhưng còn trở nên sống động và cụ thể hơn nữa khi được rút ra từ chính cuộc đời của Đức Giê-su: “Con Người không đến để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Những từ ngữ này được mượn ở nơi cuộc đời của Người Tôi Trung chịu đau khổ mà ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã phác họa trong Bài Đọc I. Chúa Giê-su sẽ trao ban mạng sống mình “làm giá cứu chuộc”, nghĩa là Ngài sẽ phải trả giá rất đắt cho tội lỗi của nhân loại, không trừ một ai hết.

    Về mục lục

    .

    LÀM ĐẦY TỚ

    Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Đọc Tin Mừng, ta thấy dường như duy chỉ có trường hợp hai anh em nhà Giêbêđê (hay chính người mẹ của hai ông này) đến xin Chúa Giêsu cho xí phần tả hữu khi Chúa được vinh quang, theo mộng tưởng của hai vị là Chúa sẽ làm vua. Dù rằng mười vị còn lại có biết chuyện này, vì các vị đã tức tối ra mặt, nhưng không thấy vị nào mon men đến xin xỏ Thầy một chức vị nào đó cho sau này. Có thể đây là một lý do: Điều xin thì chưa chắc được nhưng điều không xin thì lại phải bị gánh chịu. “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống, phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”(Mc 10,39-40).

    Phen này đúng là thua to, hai vị nhà Giêbêđê im hơi lặng tiếng đủ nói lên tâm trạng của các vị. Thực ra không phải hai vị mà cả nhóm Mười Hai đã lầm. Cái lầm căn bản của cả nhóm đó là mong sẽ được có chức vị cao trọng ngoài xã hội, và dĩ nhiên sẽ được hưởng vinh hoa phú quý khi đi theo Thầy Giêsu. Vị tôn sư người Nagiarét đủ đầy quyền năng trong lời nói lẫn hành động hẳn phải là Đấng Thiên Sai, nếu không thì cũng là một đại ngôn sứ. Với uy quyền cả thể như thế, chắc chắn Người sẽ giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ ngoại bang và sẽ được phong làm vua. Ngay cả trước khi Chúa về trời thì các ngài cũng còn hỏi: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?” (Cvtđ 1,6).

    Cả nhóm Mười Hai lầm thì cũng dễ hiểu vì các ngài chưa được nghe lời khẳng định của Thầy trước mặt Philatô rằng Người là vua nhưng nước Người không thuộc về thế gian này (x.Ga 18,33-38). Nơi con người, song hành với tính xã hội thì có đó bản năng thống trị. Ở giữa một tập thể, người ta có khuynh hướng tìm cách làm đầu kẻ khác. Dẫu sao đi nữa, làm đầu con tôm cũng hơn là làm đuôi con rồng. Dù lớn hay bé, khi đã được làm đầu thì không chỉ sẽ được kính trọng mà còn được cung phụng. Vì thế, chúng ta không mấy ngạc nhiên khi thấy đây là một chủ đề thường xuyên trở thành nguyên cớ tranh luận giữa tập thể nhóm Mười Hai.

    “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em, ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10,44). Lời khẳng định của Chúa Giêsu là một mệnh lệnh. Cả nhóm Mười Hai hôm ấy và cả chúng ta hôm nay, chẳng ai chối cãi hay biện bạch. Thế nhưng, thực tế minh chứng cho thấy chúng ta vẫn còn đặt để mệnh lệnh ấy trên giấy cách nào đó. Không riêng gì người theo Chúa, quý vị nắm trọng trách ngoài xã hội cũng khẳng định rằng chính quyền là đầy tớ nhân dân. Thế mà chuyện đầy tớ ăn trên ngồi trước, còn các ông chủ thì khép nép tìm các hạt cơm thừa; đầy tớ thì chễm chệ ghế salon nệm dày, sở hữu nhà cao cửa rộng còn ông chủ lại vất vưởng trong các căn chòi ọp ẹp…đã trở thành “chuyện tử tế” của một thời và hình như là của nhiều thời, nhiều nơi.

    Có thể có nhiều lý do để biện minh về việc các ngài đầy tớ sở hữu cũng như sử dụng các phương tiện sang trọng. Các vị ấy cần có phương tiện thích ứng để làm đầy tớ tốt hơn, hữu hiệu hơn. Các vị ấy không chỉ cần có tác phong tương xứng, mà còn cần có những cái bên ngoài như y phục, đồ dùng, phương tiện đi lại…cách nào đó cho phù hợp với vai vế hay chức vụ đảm nhận mà thôi (noblesse oblige). Đây không phải là lời biện minh, nhưng là lời giải thích khá hữu lý và hợp tình. Thế thì đâu là dấu chỉ một người làm đầu đang thực sự làm đầy tớ?

    Chúa Giêsu đã minh nhiên cho chúng ta một dấu chỉ bằng chính cuộc sống, cung cách hành động của Người: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Có thể nói việc hiến dâng mạng sống làm giá chuộc cho muôn người là bằng chứng của việc làm đầy tớ. Tác giả thư Do Thái triển khai việc làm đầy tớ qua hình ảnh vị Thượng Tế biết “cảm thương” nỗi yếu hèn của nhân loại (x.Dt 4,13). Ngôn sứ Isaia lại tiên báo việc làm đầy tớ bằng hình ảnh người tôi tớ trung thành chịu đau khổ để gánh lấy hậu quả tội lỗi con người (x.Is 53,10-11).

    Số người được làm đầu con rồng trong Giáo Hội hay ngoài xã hội quả là không nhiều, nhưng số người làm đầu con tôm, tôm to, tôm vừa, tôm bé hay các loại tép thì đếm không xuể. Có một vài người thuộc quyền của chúng ta, dưới quyền của chúng ta, trong trách vụ của chúng ta thì chúng ta đang được đặt làm đầu. Đó là đàn chiên chúng ta đang chăn dắt, đó là con cái mà ta đã sinh thành, đó là nhóm học sinh ta đang dạy dỗ, đó là những người cô thân, bé phận ngoài xã hội hay trong Giáo Hội, đó là những người yếu đuối, tội lỗi đang cần chúng ta nâng đỡ, dìu dắt, chỉ lối, dẫn đường…Như thế, có thể nói hầu hết chúng ta đã được đặt làm đầu. Đã làm đầu thì phải làm đầy tớ.

    Lịch sử cho thấy rằng những người “làm đầu” ngoài xã hội cũng như trong giáo hội, nếu xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn hay đã từng kinh qua nhiều gian khổ thì thường dễ “làm đầy tớ” cách thực sự và đúng nghĩa hơn. Quả thật, để thực sự làm đầy tớ, tiên vàn cần phải có sự đồng cảm, đồng thân, chung phận một cách nào đó. Chúa Kitô đã nêu gương cho chúng ta khi “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…” (Pl 2,6-11).

    Xã hội có ngày càng công bằng, văn minh, thịnh vượng hay không, Giáo hội có ngày càng tinh tuyền, thánh thiện hay không, chắc hẳn phụ thuộc rất nhiều vào việc những người đứng đầu có thực sự sống tôn chỉ “làm đầy tớ nhân dân”, “làm tôi tớ của đàn chiên” hay không. Mong sao tôn chỉ ấy không dừng lại ở khẩu hiệu hay ở các bài phát biểu hùng hồn, nhưng được hiện thực hóa bằng việc làm và thái độ sống của những người làm đầu. Ngoài việc các đầy tớ phải hiến dâng mạng sống vì chủ, thì có thể nói một trong những tiêu chí để thẩm định các vai vế chủ – tớ có chính hiệu không, thì hãy xem các ông chủ tức là người dân, các con chiên, có được phép và được quyền mạnh dạn mở miệng nói lên suy nghĩ, nhận định của mình hay trình bày các nhu cầu chính đáng của mình trước các vị “đầy tớ” hay không, và dĩ nhiên không thể thiếu sự chân thành lắng nghe của các vị này.

    Về mục lục

    .

    CHÚNG TA HÃY ĐEM TIN MỪNG CHO HẾT MỌI NGƯỜI

    Lm. Giuse Nguyễn

    Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ như thế với các bạn trẻ trong Sứ Điệp Truyền Giáo 2018. Lý do Đức Thánh Cha nói riêng với các bạn trẻ trong sứ điệp truyền giáo năm nay là vì Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới đang nhóm họp tại Rôma từ 03-28/10 với chủ đề: “Giới trẻ, đức tin và việc phân định ơn gọi”. Tuy nhiên, không chỉ nói riêng với giới trẻ, mà Ngài còn khẳng định: “Trong khi nói với các con, Cha cũng nói với hết mọi Kitô Hữu đang sống hành trình đời mình trong Giáo Hội trong vai trò là con cái của Thiên Chúa”. Như vậy Đức Thánh Cha nói với hết mọi người chúng ta trong ngày truyền giáo năm nay là: “CHÚNG TA HÃY ĐEM TIN MỪNG CHO HẾT MỌI NGƯỜI”.

    1. Cuộc đời là một sứ mạng

    Đức Giêsu Phục Sinh đã trao sứ mạng cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19a). Và quả thật, các ngài đã đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Các ngài đã dùng nhiều cách thức khác nhau để loan báo Tin Mừng Phục Sinh, thời đó chủ yếu là lời rao giảng. Nhưng quan trọng nhất là các ngài đã dùng chính mạng sống của mình để làm chứng về Đức Giêsu đã chết và sống lại. Thế cho nên các môn đệ đã làm cho cuộc đời của mình nên ý nghĩa khi chu toàn sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục Sinh.

    Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã nói trong sứ điệp Truyền giáo của Ngài: “Mỗi người nam nữ là một sứ mạng; đó là lý do cho cuộc sống của chúng ta trên mặt đất này”. Ngài nói chung về sứ mạng làm người, và dĩ nhiên muốn nói riêng về sứ mạng làm Kitô hữu. Nhạc sĩ Phong Vũ đã sáng tác bài hát: Xin Cho Đời Tôi được bắt đầu bằng câu: “Đã làm người mỗi người đều có một lần sinh ra một lần chết đi nên đừng uổng phí hay không có gì cho anh em mình”. Làm người thì phải sống có ích cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội; tránh trở nên gánh nặng cho người khác bởi những đam mê, tật xấu và sự hờ hững của mình. Làm Kitô hữu thì phải sống cho ra người con cái Chúa vì nó sẽ đem đến sự sống vĩnh cửu cho chính bản thân mình. Hơn thế nữa khi chúng ta sống đạo tốt còn ảnh hưởng đến gia đình, con cái, người thân và mọi người chúng ta gặp gỡ.

    Tuy nhiên nhiều Kitô hữu đã không ý thức mình là Kitô hữu nên không quan tâm gì đến chuyện sống đạo, hoặc sống đạo đơn giản chỉ là việc đi lễ ngày Chúa Nhật, ngoài ra không cầu nguyện, không lãnh nhận các Bí tích, không thực thi tình bác ái theo lời Chúa dạy… Sống đạo là đi vào mối tương quan với Thiên Chúa là Cha yêu thương. Vì vậy đạo không phải là hình thức, là một mớ lề luật phải giữ, nhưng phải cảm nhận thực sự Thiên Chúa đang ở bên cạnh cuộc đời mình. Con người chúng ta có nhiều lý tưởng, nhiều đam mê, nhiều khả năng, nhiều năng lực để thực hiện ước mơ… Trong tất cả những điều đó, hãy dành ưu tiên số một cho Thiên Chúa là bạn đang thực hiện một sứ mạng lớn nhất cho cuộc đời mình.

    Giáo hội vừa có thêm 8 vị tân hiển thánh vào Chúa Nhật, 14/10/2018. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau: Giáo hoàng, Tổng Giám mục, Linh mục, tu sĩ và giáo dân. Trong tiểu sử không thấy vị nào đi truyền giáo, nhưng đều có một nét chung là họ sống hết mình cho sứ mạng của mình, mà sứ mạng đó được phát xuất bởi niềm tin vào Thiên Chúa.

    1. Thông truyền niềm tin đến tận cùng trái đất

    Sứ mạng mà Đấng Phục Sinh trao cho các môn đệ của Ngài là: “… Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều mà Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19b). Những điều Đức Giêsu dạy cho các môn đệ cũng chính là sứ điệp chính yếu về Thiên Chúa là Cha, Đấng giàu lòng thương xót, từ đó hãy sống tình con thảo với Ngài qua những điều Ngài chỉ dạy. Sống được như thế là đang thông truyền niềm tin cho người khác.

    Đức Thánh Cha nhắn nhủ với các bạn trẻ: “Sự thông truyền niềm tin này diễn ra bởi sự lây nhiễm của tình yêu, nơi mà niềm vui và lòng nhiệt thành trở thành một sự thể hiện của một ý nghĩa và sự tròn đầy mới được phát hiện trong cuộc sống”. Vì thế trước hết, Kitô hữu phải có niềm vui trong đời sống của mình. Vui vì được làm con Chúa, được sống trong gia đình Hội thánh, được thực thi sứ mạng bác ái yêu thương. Do đó dù trong bất cứ cảnh ngộ nào, chúng ta cũng không được quá buồn phiền, lo lắng làm mất đi niềm vui thánh thiện của mình, vì chúng ta tin tưởng rằng có Thiên Chúa quan phòng cho ta mọi sự… Kế đến là lòng nhiệt thành. Kitô thực sự phải có lòng nhiệt thành, hăng say với việc đạo và việc chung trong cộng đoàn. Chính lòng nhiệt thành mà tân hiển thánh Oscar Romero được Đức Thánh Cha tuyên thánh vào Chúa Nhật tuần trước đã hết lòng bênh vực người nghèo đến nỗi đã bị chính quyền loại trừ và  bắn chết Ngài đi đang dâng lễ trong một nhà thương. Cũng chính lòng nhiệt thành vì Giáo hội mà nhiều người đã bỏ sức lực, thời gian, tài sản vì việc chung của Giáo hội.

    Như vậy trong sứ điệp truyền giáo năm nay, Đức Thánh Cha không hề đề cập đến việc loan báo Tin mừng cho những người chưa biết Chúa, mà Ngài nhắm đến những bạn trẻ và mọi Kitô hữu để nhắc nhở họ trước hết hãy sống cho sứ mạng cao cả mà mình đã được lãnh nhận bằng niềm vui là lòng nhiệt thành, nghĩa là Ngài muốn nói đến việc truyền giáo bằng chính đời sống, vì cũng theo lời của vị tân hiển thánh là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI: “Người thời nay cần những chứng nhân hơn thầy dạy, và nếu có cần thầy dạy thì cũng vì họ đã là chứng nhân”.

    Chúng ta hãy sốt sắng cầu nguyện với Đức Mẹ là người nữ truyền giáo đầu tiên cho mỗi người chúng ta ý thức lại sứ mạng là Kitô hữu để sống trọn vẹn cho sứ mạng đó bằng niềm vui và lòng nhiệt thành giống Đức Mẹ ngày xưa đã mạnh dạn lên đường trong niềm vui ơn cứu độ.

    Về mục lục

    .

    KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO.

    Jorathe Nắng Tím

    Tin Mừng Chúa Nhật Truyền Giáo chia thành hai phần với nội dung hoàn toàn trái ngược : phần nhất từ câu 35 đến câu 41 là câu chuyện hai tông đồ Gioan và Giacôbê quấn quýt, bám chặt Đức Giêsu để chạy chức, chạy quyền với lời van xin tha thiết : “Xin cho chúng con được ngồi, một người bên hữu, một người bên tả trong vinh quang của Thầy”, và phần hai từ câu 41 đến 45 với giáo huấn của Đức Giêsu : Ai muốn làm lớn thì hãy trở nên tôi tớ, vì “Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc tội thay cho nhiều người” (Mc 10,45).

    1. Sống đạo là truyền giáo :

    Truyền giáo là căn tính của Giáo Hội, nên không có Giáo Hội, nếu không có Truyền Giáo, vì căn tính và sứ vụ của Giáo Hội là : “Hãy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu thanh tẩy thì sẽ được cứu rỗi …” (Mc 15,15-16).

    Một cách cụ thể, truyền giáo là “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”, điều mà mọi tín hữu đều long trọng xướng lên ở phút cao điểm của thánh lễ. Đây chính là lẽ sống, đường sống, và sinh hoạt của đời người Kitô hữu. Họ sống đạo khi loan truyền Đức Giêsu chịu đóng đinh, chết và sống lại. Họ trở thành người có Đạo một cách thiết thực, sống động và chính danh khi loan báo cho mọi người Thiên Chúa vì yêu thương con người đã làm người, chết cho con người và sống lại để con người được sống. Sống đạo và truyền đạo là một, vì chung một mục đích, chung một hoạt động. Vì thế sẽ không có tín hữu sống đạo mà không truyền giáo, cũng như không có nhà truyền giáo nào bị coi là không sống đạo.

    Từ chối bổn phận truyền giáo là không sống đạo ; phủ nhận trách nhiệm loan báo Đức Giêsu cho mọi người chung quanh là mặc nhiên chối đạo ; bỏ quên sứ mệnh “được sai đi” khi chịu bí tích thánh tẩy là đào ngũ, bởi loan báo Đức Giêsu, tuyên xưng Đức Giêsu, giới thiệu Đức Giêsu, dẫn người ta đến gặp Đức Giêsu, tạo điều kiện để Đức Giêsu ngự đến trong nhà người khác, chuẩn bị mảnh đất tâm hồn tha nhân để hạt giống Tin Mừng của Đức Giêsu được mọc lên tươi tốt là căn tính, điều kiện không thể thiếu để trở thành người có đạo, người sống đạo, người có Đức Giêsu.

    Như thế, người Kitô hữu trước hết phải được sứ mệnh truyền giáo cuốn hút, bằng xác tín mãnh liệt : mình được sai đi qua bí tích Thánh tẩy. Có tin rằng mình được Thiên Chúa sai đi qua Giáo Hội, chúng ta mới tự tin và hăng hái lên đường truyền giáo. Sở dĩ nhiều người công giáo đã không tha thiết với sứ vụ truyền giáo là vì não trạng : truyền giáo là việc của các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chứ không phải việc của “con chiên, giáo dân”. Chính não trạng này, cộng thêm não trạng “giáo sĩ trị” đã làm hoang mang và chùn chân người giáo dân trong sứ vụ truyền giáo của mình.

    Nhờ được sứ vụ truyền giáo cuốn hút, chúng ta sẽ nhận ra trách nhiệm của mình với thế giới, với mọi người chung quanh : trách nhiệm loan báo Tin Mừng để mọi người được hạnh phúc như chúng ta.

    Chính trong trách nhiệm làm cho thế giới được hạnh phúc nhờ lãnh nhận Tin Mừng của Đức Giêsu, chúng ta nhận được niềm vui đích thực của Tin Mừng, niềm vui mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai đi theo Ngài để làm chứng Thiên Chúa yêu thương và cứu độ mọi người.

    2. Truyền giáo là Phục Vụ :

    Có lẽ, anh chị cũng như tôi, chúng ta đã có lần suy nghĩ và tự hỏi : Vẫn biết truyền giáo là loan báo Đức Giêsu làm người, đã chết và sống lại ; truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người cho mọi người, mọi nơi, mọi thời, nhưng cụ thể, chúng ta bắt đầu truyền giáo từ đâu, từ công việc nào ?

    Quả thực, câu hỏi rất quan trọng và ít nhiều đã làm chúng ta băn khoăn. Trong Tin Mừng của ngày Truyền Giáo hôm nay, Đức Giêsu trả lời chúng ta rất rõ ràng, chính xác : Truyền giáo là Phục Vụ mọi người như tôi tớ.

    Hai tông đồ Giacôbê và Gioan đã năn nỉ hai chỗ quan trọng trong vương quốc của Đức Giêsu, và cả hai đã nhận được câu trả lời : “Các ngươi biết : các kẻ được coi là thủ lĩnh các dân tộc thì làm chúa trên họ, và những người làm lớn thì bắt người khác phục quyền mình. Nhưng các ngươi thì không như thế ! Ai muốn làm lớn trong các ngươi thì hãy hầu hạ các ngươi, và ai muốn làm đầu các ngươi thì hãy làm tôi tớ mọi người” (Mc 10,42-44).

    Đức Giêsu đã không ngần ngại làm vỡ mộng “quan lớn” của hai tông đồ, bằng đưa ra một đường lối hoàn toàn trái ngược : phục vụ mọi người như đầy tớ. Làm môn đệ, tông đồ, chứng nhân, người được sai đi loan báo Tin Mừng của Ngài sẽ không cai trị ai, không bắt ai phục dịch, hầu hạ mình, càng không đàn áp, khống chế, bóc lột ai vì tư lợi, nhưng tự nguyện trở nên tôi tớ để phục vụ mọi người. Từ đây, tông đồ không còn nuôi giấc mộng bá quyền, cai trị, nhưng chỉ còn một thách đố trước mắt là qùy xuống rửa chân cho mọi người như tôi tớ ; nhà truyền giáo không còn lên đường với não trạng “kẻ cả, người trên” bố thí Tin Mừng, nhưng là loan báo Tin Mừng bằng phục vụ mọi người như người anh em hèn mọn ; người được chọn lãnh đạo trong Giáo Hội cũng không còn tơ vương làm vua làm chúa, nhưng biết mình được chọn để trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đấng đến trong thế gian để “phục vụ chứ không phải để được phục vụ, đến để hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhiều người”.

    Đức Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc truyền giáo : Phục Vụ ; đã chỉ cho chúng ta một phương án truyền giáo : Phục Vụ ; đã dậy chúng ta một bài học truyền giáo : Phục Vụ bằng quả quyết sứ mệnh của Ngài là Phục Vụ : “Con Người không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10,45).

    Không còn gì chính xác hơn lời qủa quyết này, vì nếu sứ vụ cuả Đức Giêsu, Đấng đến trong thế giới để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa được thực hiện bằng Phục Vụ mọi người, bằng qùy xuống rửa chân môn đệ mình như đầy tớ, thì những người khác được Ngài sai đi tiếp nối sứ vụ loan báo Tin Mừng sẽ không thể làm khác, nghiã là không thể né tránh đòi hỏi Phục Vụ, không thể khước từ lời mời gọi Phục Vụ, không thể khấu trừ điều kiện Phục Vụ. Trái lại, không phục vụ sẽ không thể loan truyền Đức Giêsu chịu chết cho ai, không phục vụ sẽ không có cách tuyên xưng Đức Giêsu sống lại cho người nào, không phục vụ sẽ vô phương làm chứng Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, chết cho con người vì yêu thương con người.

    Phục Vụ từ nay không còn là việc làm có cũng được, không có cũng chẳng sao, nhưng là điều kiện mang tính quyết định thành bại trong đời sống đạo, cũng như trong công cuộc truyền giáo. Thiếu phục vụ, không ai tin lời chứng của chứng nhân ; không phục vụ, tiếng nói của nhà truyền giáo không thuyết phục ; bỏ quên phục vụ, dung mạo đích thực của Đức Giêsu sẽ không chỉ bị bóp méo, bôi nhọ, xấu xí, dị hợm, mà còn biến dạng thành kinh tởm, đe doạ, đáng ghét trên môi miệng người được sai đi.

    Ước gì Lời Chúa đang mời gọi chúng ta lên đường truyền giáo bằng cúi xuống phục vụ mọi người như tôi tớ, loan báo Nước Thiên Chúa bằng qùy xuống rửa chân cho anh em như đầy tớ hèn mọn, giới thiệu Đức Giêsu là Tình Yêu thương xót và Tin Mừng Cứu Độ bằng hiến mạng sống cho hạnh phúc của anh em được thực hiện ngay hôm nay bằng một việc làm cụ thể : phục vụ một người gần nhất đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.

    Về mục lục

    .

    HỌA – PHÚC

    Lm. Thái Sơn

    Bần đạo có ông anh họ, cũng thuộc hàng ‘lờ mờ, long mồm, lở móng’ đã sưu tầm được mẩu chuyện vui, với nhan đề “TOẠC VÁY”, xin phép được mạo muội chia sẻ:

    + NHẬT BẢN. Tại phi trường Tokyo đông nườm nượp, một anh chàng chẳng may chạm vào làm toạc váy của một cô gái Nhật. Anh ta chưa kịp nói lời xin lỗi, thì cô gái đã cúi rạp người nhỏ nhẹ nói:

    – Xin lỗi đã làm phiền anh, chỉ vì phẩm chất chiếc váy này tệ quá.

    + MỸ QUỐC. Tại trung tâm Times Square tấp nập người đi lại, một anh chàng Mỹ vô tình làm toạc váy của một em tóc vàng. Chàng này chưa kịp mở miệng thanh minh, thì cô gái đã rút ngay tấm danh thiếp và nói:

    – Đây là số phone luật sư của tôi, ông ta sẽ tìm anh để tính việc quấy rối tình dục này, hẹn gặp nhau tại toà án.

    + PHÁP QUỐC. Dưới chân tháp Eiffel, một chàng lãng tử Pháp không may làm toạc chiếc mini skirt của một cô nàng Pháp. Chàng chưa kịp nói gì thì cô nàng đã cười hic hic, sau đó ghé vào tai chàng và nói:

    – Nếu anh không ngại, thì tặng em một bông hồng để xin lỗi đi…

    + THÁI LAN. Trên bãi biển Phu Ket, một anh chàng Thái vô tình làm toạc chiếc váy ngắn của một cô gái. Chàng trai chưa kịp nói gì thì cô gái đã cười nói:

    – Chưa kịp ngã giá mà đã đòi xem hàng rồi hả anh?

    + TRUNG QUỐC. Trước tượng đài giải phóng Trùng Khánh, một anh Tầu chẳng may làm toạc váy ngắn của một cô gái Hoa. Anh này chưa kịp mở miệng xin lỗi, thì đã nghe tát bốp một cái bên tai. Cô gái túm chặt lấy cổ anh, mồm thì rít lên:

    – Mày to gan nhỉ, dám chọc tới bà mày à? Đi gặp 110 thằng công an cùng tao ngay…

    + VIỆT NAM. Tại chợ Đồng Xuân, chàng thư sinh chẳng may làm toạc chiếc váy ngắn của một em gái Hà Thành. Chàng này chưa kịp xin lỗi thì nàng đã hét lên:

    – Mẹ Tiên Sư Bố cả lò nhà mày, mắt mũi để đâu hả thằng nỡm kia? Bà tát cho mày một cái, mặt lật sau lưng, đít gập vào cổ, cằm bổ làm đôi, răng môi lẫn lộn, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu ăn guốc…

    Thưa các bạn!

    Phải chăng, tảng đá mà bạn ném ra, người bị nó làm cho vấp té sẽ luôn là chính bản thân bạn? Thiết tưởng, nếu bạn nói lời cay nghiệt, sau cùng cũng sẽ tự mình rước lấy nhục nhã mà thôi.

    Mừng Lễ Truyền Giáo, nhắc nhở “bạn & tôi” lời mời gọi truyền giáo hay rao giảng Tin Mừng là một mệnh lệnh của Chúa, cũng là sứ mạng của mỗi Kitô. Nếu không, “phúc” chẳng thấy đâu, mà “họa” sẽ đến gõ cửa nhà “bạn & tôi”.

    Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1Cr 9,16).

    Rao giảng Tin Mừng như thế nào? Có lẽ, “bạn & tôi” cần thay đổi tư duy và cách sống để rao giảng Lời Chúa giữa cuộc đời này, hầu có thể đổi “họa” thành “phúc”.

    Cần thay đổi đời sống bằng cách “cầu nguyện” nhiều hơn. Là người, không ai có thể làm thay đổi tâm hồn một con người, nếu không có ân sủng của Thiên Chúa.

    Cần thay đổi đời sống bằng cách “làm chứng” cho Chúa trong mọi hoàn cảnh sống. Nói ít làm nhiều, nhìn ít nghe nhiều, tính ít mần nhiều, dối ít thật nhiều…

    Cần thay đổi đời sống bằng cách “dâng hiến” thời gian, sức lực, tài năng, ước muốn, tiền của, và bản thân cho Thiên Chúa, Giáo Hội, cộng đoàn, gia đình, anh chị em…

    Sau cùng, biết tin tưởng nơi Chúa, vì “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1Cr 3,6). Cụ thể, “trồng” và “tưới” hạt giống Lời Chúa là nhiệm vụ của “bạn & tôi”, còn cho “hoa trái” tùy thuộc vào Chúa.

    Thưa các bạn!

    Nếu chỉ vì một hành vi sơ ý, mà lấy “cái tôi” to tổ chảng, rồi kéo cả đạo binh, họ hàng, dòng giống người khác ra, từ tổ tiên, ông bà, phụ mẫu đến con cái, cháu chắt chửi cho sướng cái “mõm”, thì còn gì là “phúc” nữa.

    Xin cho tất cả cái “họa” như gặp khó khăn, vất vả, cực nhọc, khổ đau…sẽ biến thành cái “phúc” cho “bạn & tôi”. Hơn nữa, Hà Thành sẽ trở nên Thành Đô của Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Amen

    Về mục lục

    .

     

    HIẾN MÌNH VÌ YÊU THƯƠNG

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Một tác giả đã viết: hạnh phúc lớn lao nhất mà ta đạt được, đó là khi làm cho người khác được hạnh phúc. Quả vậy, khi chúng ta quảng đại dấn thân để đem lại niềm vui cho một người nào, thì chính chúng ta đạt được niềm hạnh phúc lớn lao cho chính mình. Chúa Giêsu đã dạy: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13). Chúa đã làm gương cho chúng ta khi vui lòng chấp nhận cái chết trên thập giá vì yêu thương con người.
     
    Chúa Giêsu đóng đinh là trung tâm đời sống của Giáo Hội. Luật Phụng vụ quy định, khi dâng thánh lễ luôn phải có tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đặt ở vị trí mọi người dễ thấy cạnh bàn thờ. Sự hy sinh hiến mình của Chúa Giêsu là nguồn gợi hứng và là linh hồn cho mọi hoạt động của đời sống Kitô hữu. Thánh Phaolô đã khẳng định, niềm vinh dự của ngài chính là Đức Giêsu chịu đóng đinh. Chính nơi thập giá, thánh nhân đã kín múc sức mạnh, sự can đảm và niềm vui, mặc dù phải đối diện với bao gian nan thử thách trong sứ mạng tông đồ.
     
    Lời Chúa hôm nay diễn tả Đức Giêsu dưới khía cạnh của một người Tôi tớ Chúa chịu khổ nạn vì yêu thương con người. Ngôn sứ Isaia đã thương cảm trước hình ảnh của Đấng bị hành hạ, là nạn nhân của bạo lực và ghen ghét. Tuy vậy, nếu vị Tôi tớ Chúa chấp nhận những khổ đau, là để cho con người được hạnh phúc trường tồn. Một hậu duệ thiêng liêng sẽ được phát sinh từ thương tích của Ngài.
     
    Truyền thống Kitô giáo đã nhận ra nơi người Tôi tớ đau khổ của Chúa mà Isaia loan báo là hình ảnh tiên báo Chúa Giêsu. Con Thiên Chúa đã mang trên mình mọi tội lỗi của muôn dân. Người chịu đóng đinh trên thập giá như một tội nhân, mặc dù người Do Thái không tìm được lý do gì để kết án. Cái chết của Chúa là sự tự hiến, vì yêu thương đến cùng. Chúa Giêsu khẳng định, Người đến thế gian không để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống vì yêu thương con người. Chúa Giêsu là Mục tử, lãnh đạo bằng tình yêu thương phục vụ, khác với những nhà lãnh đạo trần thế, là những người lãnh đạo bằng quyền lực và thủ đoạn.
     
    Suốt bề dày lịch sử, có nhiều cái nhìn lệch lạc về sứ mang của Chúa Giêsu. Điều đó không có gì lạ, bởi lẽ ngay những môn đệ của Chúa cũng hiểu lầm như vậy. Giacôbê và Gioan là hai anh em đã có một thời gian theo Chúa làm môn đệ Người, vậy mà các ông vẫn mang quan niệm trần tục về sứ mạng thiên sai của Đức Giêsu. Không riêng gì hai anh em này, mà cả mười môn đệ còn lại cũng có tâm trạng như thế. Các ông bực tức và xầm xì với nhau trước việc Giacôbê và Gioan xin ngồi bên tả và bên hữu Chúa. Các ông tỏ ra là những người đầy tham vọng và ghen tương ngày cả với những người anh em mình.
     
    Chúng ta đừng vội trách móc hoặc phê phán các môn đệ. Bởi lẽ chính chúng ta cũng có lối sống Đức tin theo kiểu trần thế, ưa thích những gì hào nhoáng bên ngoài. Qua cách sống của nhiều người tín hữu, hình ảnh của Chúa Giêsu và của Giáo Hội bị biến dạng và mang tính thế tục. Thật vậy, khi người tin Chúa nói một đàng lại làm một nẻo, họ sẽ gây nhiều ngộ nhận về đời sống Đức tin. Nhiều anh chị em lương dân có thành kiến với người có Đạo, bởi họ không sống những điều họ tuyên xưng.
     
    Đức Giêsu kêu gọi những ai muốn làm môn đệ của Chúa thì phải dấn thân sống tinh thần phục vụ như Người. “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thày, là anh em thương yêu nhau” (Ga 13,35). Giới răn yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa, là con đường giúp chúng ta đạt được Nước Trời.

    Về mục lục

    .

    HÃY LOAN BÁO TIN MỪNG

    Tgm. Ngô Quang Kiệt

    Một đạo sĩ hỏi các đệ tử: Các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện, khi nào ánh sáng tới và bóng tối lui đi không? Các đệ tử thi nhau trả lời: Thưa thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện là khi từ xa nhìn một đoàn vật người ta có thể phân biệt được con nào là con bò và con nào là con trâu không? Thày lắc đầu: Không phải. Đệ tử khác trả lời: Thưa thày có phải ánh sáng tới và bóng tối lui là khi từ xa nhìn vào vườn cây, người ta có thể phân biệt được cây nào là cây xoài cây nào là cây mít không? Thày vẫn lắc đầu: Không phải. Thấy không ai trả lời được, thày mới giải nghĩa: Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nào ta nhìn vào mặt người xa lạ và nhận ra đó là anh em mình.

    Thật là khó hiểu. Tuy trên đời ta thấy có nhiều thứ ánh sáng. Có ánh sáng mặt trăng mặt trời. Có ánh sáng đèn dầu, đèn điện. Có những ánh sáng như tia X, tia hồng ngoại. Nhưng tất cả những ánh sáng đó chỉ giúp ta nhìn rõ sự vật. Không thấy có thứ ánh sáng nào soi vào mặt người xa lạ mà biến người ấy thành người thân của mình.

    Mẹ Têrêxa dường như đã tìm ra thứ ánh sáng ấy.

    Mẹ Têrêxa là một nữ tu người Anbani, được sai đến phục vụ người nghèo tại Ấn độ. Đến Ấn độ, thấy người nghèo khổ quá tội nghiệp. Biết bao người hấp hối ngoài lề đường. Chết rồi xác bị quẳng vào đống rác như xác thú vật. Biết bao trẻ thơ bị bỏ rơi. Biết bao gia đình chui rúc trong các căn nhà ổ chuột. Biết bao người đói khát không đủ cơm ăn áo mặc. Mẹ lăn xả vào phục vụ người nghèo.

    Một hôm Mẹ đi thăm một ông già cô đơn trong căn lều tồi tàn. Bước vào lều Mẹ động lòng thương cảm. Vì tất cả đồ đạc chỉ là một mớ giẻ rách. Căn lều bụi bặm bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng. Và nhất là ông già thu mình lại không muốn giao tiếp với ai. Mẹ chào hỏi ông cũng không buồn trả lời. Mẹ xin phép dọn dẹp căn lều ông cũng làm thinh. Đang khi dọn dẹp, Mẹ thấy trong góc lều có một cây đèn dầu bụi bám đen đủi. Sau khi lau chùi, Mẹ kêu lên: Ô, cây đèn đẹp quá. Ông già nói: Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi ngày cưới. Từ khi bà ấy chết, tôi không bao giờ đốt đèn nữa. Thấy ông đã cởi mở, Mẹ Têrêxa đề nghị: Thế ông có bằng lòng cho các chị nữ tu mỗi ngày đến thăm và đốt đèn cho ông không? Ông đồng ý. Từ đó mỗi buổi chiều, các chị tới thăm ông, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với ông. Ngọn đèn ấm áp trong căn lều ấm cúng. Ông trở nên vui vẻ hơn. Ông đã đi thăm mọi người. Mọi người đến thăm ông. Cuộc đời ông vui tươi trở lại.

    Trước kia cuộc đời ông tăm tối không phải vì ông không thắp đèn. Nhưng vì ngọn đèn trong trái tim ông đã tắt. Trái tim khép kín nên ông mất niềm tin vào con người, vào cuộc sống. Ông nhìn mọi người như thù địch. Từ ngày các nữ tu đến đốt đèn đời ông vui lên, sáng lên. Đời ông sáng lên không phải vì có ngọn đèn dầu hoả soi sáng. Nhưng vì trái tim ông bừng sáng. Ngọn đèn tâm hồn ông rạng rỡ. Tâm hồn ông cởi mở và ông nhìn thấy mọi người là anh em. Thứ ánh sáng ấy ta thấy trong Phúc Âm. Khi người Samaritano nhân hậu cúi xuống săn sóc, băng bó vết thương cho người bị nạn bên đường. Hai người nhìn nhau. Một làn ánh sáng loé lên. Và họ nhận ra nhau là anh em.

    Cứ như thế Mẹ Têrêxa miệt mài phục vụ người nghèo. Lập những trung tâm đón tiếp những người hấp hối, săn sóc để họ được chết, được chôn cất như một con người. Nuôi trẻ mồ côi. Xây bệnh viện. Xây trường học. Công việc càng ngày càng mở rộng. Số người theo Mẹ ngày càng đông và Mẹ đã lập dòng Nữ tử Thừa sai Bác ái chuyên phục vụ người nghèo. Hiện nay nhà dòng đã có mặt trên 132 quốc gia. Mẹ được thế giới biết tiếng. Mẹ được nhiều giải thưởng trong đó có giải Nobel Hoà bình. Năm 1997, khi Mẹ qua đời, 80 nguyên thủ quốc gia, trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Bill Cliton và phu nhân tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến dự đám tang. Và nước Ấn độ, đa số dân theo Ấn độ giáo, vốn không ưa đạo Công giáo, đã chôn cất Mẹ theo nghi thức quốc táng. Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn Mẹ về trời.

    Mẹ Têrêxa là một nhà truyền giáo thành công của thế kỷ 20. Vì Mẹ đã biết thắp lên ngọn đèn soi trong đêm tối. Giữa đêm tối vật chất hưởng thụ, Mẹ đã thắp lên ngọn đèn siêu nhiên của thiên đàng. Giữa đêm tối rụt rè nghi kỵ Mẹ đã thắp lên ngọn đèn cởi mở tin yêu. Giữa đêm tối lạnh lẽo cô đơn. Mẹ đã thắp lên một ngọn đèn ấm áp tình người. Trái tim Mẹ là một ngọn đèn sáng. Ánh sáng ấy toả lan tới muôn người làm cho mọi người nhận biết khuôn mặt hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô và làm cho mọi người nhìn nhau là anh em.

    Vào thời Cộng sản còn mạnh và còn chống đối Công giáo kịch liệt. Mẹ Têrêxa vẫn có thể lập nhà ở Nga, ở Cuba và cả ở Việt Nam. Với tấm lòng bác ái, Mẹ đã chiếu toả ánh sáng Tin Mừng khắp thế giới.

    Hôm nay Giáo Hội cầu nguyện cho việc truyền giáo. Hôm nay Giáo Hội mời gọi chúng ta góp phần vào việc truyền giáo. Không gì bằng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, thắp lên ngọn lửa tin yêu trong lòng mình, đem ngọn lửa yêu thương phục vụ soi sáng khắp nơi. Thế giới sẽ bừng sáng và mọi người sẽ nhìn nhận nhau là anh em.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1- Nhờ đâu Mẹ Têrêxa đến được cả những nước Cộng sản?

    2- Nhờ đâu việc truyền giáo của Mẹ Têrêxa thành công tốt đẹp?

    3- Đời sống bạn là ánh sáng hay là bóng tối cho những người chung quanh?

    4- Bạn quyết tâm làm gì để loan báo Tin Mừng cho mọi người?

    Về mục lục

    .

    TINH THẦN TRUYỀN GIÁO

    Gm. Vũ Duy Thống

    “Không biết khi Con Người đến, liệu còn gặp thấy niềm tin trên mặt đất nữa không?”. Trang Tin Mừng hôm nay được kết thúc như thế.

    Có thể đó là câu hỏi một thoáng bâng khuâng Chúa Giêsu thốt lên cho riêng mình Người. Cũng có thể đó là câu hỏi dự báo một tình huống không vui Chúa Giêsu cảnh giác cho các môn đệ. Có khi câu hỏi đó đợi chờ một lời đáp tích cực mở ra cho lối sống đức tin lạc quan. Và biết đâu, câu hỏi đó lại chẳng tố giác một thực trạng tiêu cực đang dần dà bào mòn niềm tin tôn giáo?

    Nhưng đặt trong bối cảnh của Chúa Nhật cầu cho việc truyền giáo, theo tinh thần của các bài đọc, câu hỏi ấy đã ẩn chứa một lời giải đáp. Đó là: để lòng tin còn mãi trên mặt đất, mọi thành phần của Dân Chúa cần phải sống tinh thần truyền giáo.

    1) Tinh thần truyền giáo ấy được nuôi dưỡng bằng sự dung hòa giữa cầu nguyện và hoạt động.

    Nói đến truyền giáo người ta thường nghĩ là phải dấn thân làm việc truyền giáo, và ai càng làm được nhiều, người ấy lại càng được xem là nhà truyền giáo lớn. Thực ra, quan niệm ấy cũng đúng, nhưng không đủ, bởi dù không phủ nhận những kết quả lớn lao trong lịch sử Giáo Hội do hoạt động truyền giáo mang lại, nhưng bao giờ cũng thế, bên trong những hoạt động ấy còn là cả một tinh thần cầu nguyện tích cực của bản thân các nhà truyền giáo cũng như của mọi thành phần Dân Chúa.

    Thiếu cầu nguyện, hoạt động sẽ không kết quả, hoặc sẽ lái kết quả sang một hướng khác có nguy cơ “sáng danh tôi, tối Danh Chúa”. Vắng cầu nguyện, hoạt động có thể trở thành nguy hại, nó đồng nghĩa với náo động nếu không muốn nói là khua động ầm ĩ hoặc khuấy động ồn ào. Quên cầu nguyện, hoạt động chỉ là hời hợt mang tính phong trào bùng lên đó nhưng rồi cũng lịm tắt đó. Bạo phát bạo tàn, mau xộp mau xẹp! Bỏ cầu nguyện, hoạt động coi chừng chỉ còn là một việc cá nhân, dẫu bỏ ra nhiều công sức, nhưng vẫn không phải là hoạt động của Hội Thánh vốn luôn được nuôi dưỡng phong phú bởi nguồn ơn Chúa Thánh Thần.

    Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động truyền giáo. Nó đem đến cho những hoạt động một sức sống kín múc tận nguồn sứ mạng.

    Bài đọc thứ nhất kể lại một hình ảnh sống động cho thấy mối tương liên không thể tách rời giữa việc Môsê giơ tay cầu nguyện và việc Giosuê đánh bại quân Amalếch. Khi Môsê hạ tay xuống, sức mạnh của ông Giosuê không còn nữa, nhưng khi ông giơ tay lên, phần thắng đã nghiêng về phía Giosuê. Chiến thắng ấy không riêng của Môsê hay riêng của Giosuê, mà là của Môsê cùng với Giosuê, là dung hòa của cầu nguyện và hoạt động, là tổng hợp của ơn thánh Chúa và nỗ lực con người.

    Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã được mừng kính vào đầu tháng mười này cũng là một hình ảnh khác minh họa cho sự dung hòa giữa cầu nguyện và hoạt động truyền giáo. Chín năm khuôn mình trong nhà kín Lisieux, chưa hề làm việc truyền giáo bên ngoài, thế nhưng chỉ bằng hy sinh cầu nguyện cho các vị thừa sai và cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, thánh nữ đã được Giáo Hội đặt làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê một đời bươn chải giảng giải đạo Chúa đến tận miền xa Châu Á.

    Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo, nên có thể nói được rằng không bao giờ Giáo Hội thôi truyền giáo. Bốn phần năm dân số địa cầu chưa biết Chúa, nên Giáo Hội phải truyền giáo đã đành, nhưng ngay cả một phần năm đã biết Chúa, Giáo Hội cũng phải tái truyền giáo nữa. Xem như thế, truyền giáo vừa là sứ mạng, vừa là số mạng, tức là sự sống còn của Giáo Hội. Và tinh thần truyền giáo ấy một khi được hun đúc đều đặn bằng cầu nguyện và hoạt động, ta có quyền hy vọng khi Chúa Kitô đến, Người vẫn thấy niềm tin trên mặt đất.

    2) Tinh thần truyền giáo ấy được thể hiện khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện.

    Được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện dung hòa với hoạt động cây truyền giáo nhất định sẽ vươn lên, nhưng không thể không biết đến yếu tố thời tiết, mưa thuận gió hòa, hoặc nắng hạn mưa giông. “Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”, đó là kinh nghiệm trồng cây. Song một cây lành như cây truyền giáo phải biết chứng minh bằng phẩm chất của mình. Nói khác đi, tinh thần truyền giáo cũng phải được chứng minh bằng chí bền sứ mạng, nghĩa là vừa kiên tâm thực hiện những điều tốt, vừa kiên gan chịu đựng ngay cả những điều xấu nữa (thánh Augustinô), phải bền chí khi thuận tiện cũng như khi không thuận tiện.

    Khi thuận tiện là khi chí bền truyền giáo giúp ta tỉnh táo đừng để mất mình trong hoạt động đến nỗi quên đi cầu nguyện, giúp ta phân biệt rõ ràng đâu là đóng góp nhỏ nhoi của mình và đâu là ơn ban vô cùng to lớn của Thiên Chúa, và còn mãi giúp ta không chạy theo những thành công trước mắt để sau này khỏi phải trả giá đắng cay trắng tay thất vọng. Trong một chừng mực nào đó, biết đâu lối sống của ông thẩm phán bạo ngược “chẳng kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì” trong bài Phúc Âm lại chẳng có vài tương đồng với quan niệm háo thắng hoặc đắc thắng của cách truyền giáo thời Trung cổ, vốn xem Kitô giới như một xã hội lý tưởng, nên cố mà đưa người ta vào bằng chinh phục (truyền giáo) hoặc gắng mà ép người ta về bằng cả chinh phạt nữa (thập tự chinh)?

    Xem ra kiên tâm thực hiện những điều tốt trong truyền giáo vào thời thuận tiện cũng không ít vấn đề.

    Khi không thuận tiện là khi chí bền truyền giáo không chỉ giúp ta chịu đựng những khắc nghiệt thường xuyên, mà còn giúp ta biết tận dụng hoàn cảnh để mà thanh luyện tâm hồn. Nếu những hoạt động phải chấp nhận giới hạn ngoài ý muốn, thì chí bền như một mạch điện tự động “kiểm soát lợi suất” sẽ bù lại những giới hạn ấy bằng một thao thức phong phú của lời nguyện cầu. Và nếu như hoàn cảnh cụ thể không cho phép có một hoạt động bên ngoài nào nữa, thì vẫn còn đó mênh mông một phương tiện truyền giáo bằng gương sáng tình mến, bằng chứng tá đức tin và bằng cách sống tốt đẹp đời Kitô của mình.

    Điều đáng sợ không phải là hoàn cảnh khắc nghiệt, mà là chính mình không đủ chí bền mà vượt qua những khắc nghiệt ấy. Trong ý tưởng này, có lẽ rất thích hợp khi đặt hình ảnh người đàn bà góa bụa của bài Phúc Âm, nhiều lần đến quấy rầy ông thẩm phán mong được minh xét minh định minh oan, ở đây như một cổ võ sống động cho chí kiên bền.

    Và dầu hoàn cảnh thuận tiện hay không (bài đọc thứ hai), chí truyền giáo thiết tưởng cũng là biểu tỏ của niềm hy vọng, là tình mến khởi đi từ một đức tin sống động vào Thiên Chúa là Cha nhân ái luôn muốn sự tốt lành trong ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Được như thế, chắc chắn khi Chúa Kitô trở lại vẫn thấy niềm tin còn trên mặt đất trong chí bền của Giáo Hội là thân mình Người.

    Ước mong rằng suy nghĩ trên sẽ trở nên ý lực cho cuộc sống và trở nên ý nguyện trong Ngày Thế Giới Truyền Giáo hôm nay.

    Về mục lục

    .

    TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGOẠI BIÊN

    Gm. Gioan B. Bùi Tuần

    Thuở còn nhỏ, tôi đã sớm nhận thấy sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo.

    Lớn lên, tôi cảm được sâu sắc cảnh nghèo. Nghèo thì hèn. Nghèo thì khổ. Cái Nghèo, cái Hèn, cái Khổ dính vào nhau khăng khít. Đồng thời, tôi cũng nhìn được cảnh giàu. Giàu thì sang. Giàu thì có. Cái Giàu, cái Sang, cái Co đồng hành ung dung.

    Khi đi qua nhiều nơi, ở lại nhiều nước, tôi lại thấy giàu nghèo làm thành những giai cấp. Giàu là giai cấp cao. Nghèo thuộc giai cấp thếp. Cấp cao, cấp thấp đều có nhiều bậc. Đôi khi, người nghèo khổ bậc dưới không thể và cũng không dám nhìn người giàu sang ở bậc trên. Vì khoảng cách quá xa về địa lý, nhất là về tâm lý.

    Trung tâm và ngoại biên.

    Để đơn giản hoá tình trạng chênh lệch giữa giàu và nghèo, tôi tạm chọn cho mình một hình ảnh gợi ý. Hình ảnh đó là Trung tâm và Ngoại biên.

    Trung tâm có thể áp dụng về nhiều mặt. Như trung tâm kinh tế, trung tâm văn hoá, trung tâm chính trị, trung tâm tôn giáo. Những ai được ở trong hoặc gần những trung tâm đó thường được coi là những người hưởng nhiều may mắn về phát triển, về danh dự, về cuộc sống.

    Ngoại biên cũng được hiểu về nhiều lãnh vực như trên. Những ai ở ngoại biên kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo thường phải chịu nhiều mất mát, thua thiệt, kém cỏi.

    Trung tâm và ngoại biên không hẳn chỉ là địa lý, mà còn là tâm lý và pháp lý.

    Thời Chúa Giêsu giáng thế, theo truyền thống lâu đời, thì Giêrusalem là trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế, còn đền thờ là trung tâm tôn giáo. Đền thờ này cũng toạ lạc tại Giêrusalem.

    Giêrusalem là nơi tập trung những người có địa vị, nắm quyền lực, sống trong phẩm trật và được ưu đãi.

    Đền thờ là nơi thờ phượng của người có đạo. Gian trên dành cho các chức sắc. Gian giữa dành cho các đàn ông Do Thái. Gian cuối dành cho phụ nữ và trẻ con. Ngoài hè dành cho các người ngoại giáo, các kẻ tội lỗi và những ai tàn tật.

    Chúa Giêsu đi về ngoại biên.

    Trong một tình hình như thế, Thiên Chúa có những lựa chọn lạ lùng.

    Thực vậy, Chúa Giêsu xuất hiện ở Galilêa. Xứ này là vùng biên, xa trung tâm Giêrusalem.

    Người sinh ra trong một gia đình làm nghề mộc, thuộc dạng nghèo.

    Như vậy, Người mang thân phận kẻ nghèo để chia sẻ với thế giới những người ngoại biên.

    Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người ưu tiên để ý đến những người nghèo, người người tội lỗi và những người cùng khổ. Người áp dụng vào chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói:

    “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,17-20).

    Người cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).

    Người muốn dạy cho mọi người thấy: Trước mặt Chúa không có vấn đề ưu đãi cho trung tâm và bỏ quên hoặc loại trừ những ngoại biên. Người nói rõ ràng với người phụ nữ ngoại giáo xứ Samaria:

    “Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4,21-24).

    Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi những người ngoại biên, Người đến với họ, Người chia sẻ những nỗi đau của họ, Người được kể như người ngoại biên. Người cho họ thấy Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người.

    Người hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thánh giá, mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Người đã nói trước khi tự nạp mình chịu chết: “Lạy Cha, giờ đã đến. Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17,1).

    Người muốn các môn đệ Người cũng hãy theo gương Người, mà đem Tin Mừng đến cho người nghèo khổ như vậy. Muốn được thế, các ngài cần đón nhận sẵn tình thương cứu độ của Người. Để đón nhận, các môn đệ phải rất khiêm nhường trong phục vụ. Gương phục vụ khiêm nhường sau cùng Nguời trối lại là chính Người quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Sau đó, Người truyền dạy: “Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con » (Ga 13,15).

    Phục vụ rất khiêm nhường là một cách tốt nhất để mở cửa lòng, đón nhận lửa tình yêu của Chúa, một thứ lửa đầy ánh sáng chân lý và yêu thương. Nhờ đó, môn đệ Chúa có thể ra đi ngoại biên, đem Tin Mừng cho mọi người, ưu tiên cho những người nghèo khổ.

    Vui buồn về thực tế truyền giáo.

    Đem mấy tư tưởng Phúc Âm trên đây chiếu dọi vào thực tế truyền giáo tại địa phương, tôi thấy có những điều đáng mừng và có những điểm đáng lo ngại.

    Những điểm đáng mừng là từng triệu những người nghèo khổ vẫn đón chờ Tin Mừng, và vẫn sẵn sàng đón nhận Tin Mừng. Nhiều nơi, nhiều người đã gặp được Tin Mừng, nhờ gặp được những người môn đệ Chúa đến với họ, thương cảm đời họ, phục vụ họ một cách khiêm nhường, và dấn thân hy sinh vì họ. Các môn đệ như thế thuộc mọi thành phần, trong đó các nữ tu và giáo dân giữ một vai trò quan trọng.

    Những điểm đáng buồn là ở nhiều nơi còn thiếu gương sáng về truyền giáo.

    Trên đường đời, không thiếu trường hợp, người có đạo chúng ta thuộc đủ cấp bậc, đã xử sự lạnh lùng với người ngoại biên. Thái độ của ta cũng giống thái độ thầy tư tế và Lêvi xưa trước nạn nhân nằm quằn quại bên vệ đường. Mặc người ngoại Samaria lo cho người ngoại biên (Mt 12,41-44). Ta cứ an tâm đi về đền thờ là trung tâm.

    Trong cuộc sống, không thiếu trường hợp, người có đạo chúng ta thuộc đủ cấp bậc, cũng đã xua đuổi người ngoại biên, không cho họ đến gần Chúa. Giống như các môn đệ Chúa xưa đã muốn xua đuổi người đàn bà xứ Canaan. Khi bà cứ lẽo đẽo sát lại bên Chúa Giêsu, để xin Người chữa con bà bị quỉ ám (Mt 15,21-28). Ta bảo vệ Chúa là trung tâm bằng cách loại trừ ngoại biên, tức những ai ta coi là bất xứng.

    Trong những công việc chung, không thiếu trường hợp người có đạo chúng ta thuộc đủ cấp bậc, cũng đã đánh giá thấp người ngoại biên. Không giống cách Chúa Giêsu xưa đã đánh giá rất cao người đàn bà goá nghèo, đã dâng cúng vào đền thờ chỉ một đồng xu (Mt 12,41-44). Ta tôn vinh con người theo tiêu chuẩn tiền bạc và địa vị, như thể tiền bạc và địa vị là giá trị của trung tâm đạo.

    Hiện nay, Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đang được đề cao như một gương mẫu rao giảng Tin Mừng cho người ngoại biên. Mẹ không làm việc gì khác ngoài đi theo đường lối mà Chúa Giêsu đã đi trước. Điều đáng ngợi khen nhất nơi Mẹ là Mẹ làm, chứ không chỉ nói. Với những việc làm yêu thương cụ thể, Mẹ là một người mẹ âm thầm hy sinh, trước khi là thánh vinh quang.

    Khi tôn vinh Mẹ Têrêsa, Toà Thánh muốn tôn vinh một tinh thần truyền giáo sáng ngời, một phương cách truyền giáo khôn ngoan, đã rất hữu hiệu, đã gây được nhiều thiện cảm ở các xã hội và tôn giáo đa dạng, tại Ấn Độ nói riêng và Á châu nói chung.

    Qua đời sống của mình, Mẹ Têrêsa Calcutta đã giới thiệu dung mạo một Hội Thánh dễ thương, dễ mến. Một Hội Thánh dịu dàng, khiêm tốn phục vụ, đầy tình xót thương, luôn đi tìm những người nghèo khổ, tội lỗi, bị loại trừ, sống trong bế tắc, để đưa họ vào tình Chúa bao la.

    Ước gì mọi người truyền giáo chúng ta cũng theo gương Mẹ, để bất cứ ai, nhất là các người ngoại biên, đón nhận được hy vọng là Tin Mừng nơi Chúa là Cha giàu lòng thương xót.

    Về mục lục

    .

    TRUYỀN GIÁO BẰNG CÁCH SỐNG

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Cách chung con người ngày hôm nay thường nóng vội, hấp tấp, làm đại. Nghịch lý ở chỗ thích hoành tránh nhưng lại đòi phải nhanh, phải gọn. Họ chỉ thích làm những chuyện lớn mà bỏ qua chuyện nhỏ. Họ luôn xem việc nhỏ là tầm thường mà quên rằng việc lớn là do tích tiểu thành đại. Không kiên nhẫn trong việc nhỏ thế nên, họ cũng bỏ lỡ cơ hội làm những chuyện lớn lao.

    Điển hình là xã hội hôm nay không có những công trình thế kỷ mà chỉ có những kiến thiết hợp thời, model nhưng mau qua. Về sự học dường như học sinh không thể ngồi yên để thuộc một câu thơ hay một bài lịch sử mà chỉ học trên net, trên Iphone . . .

    Người ta kể rằng: Thời Đông hán có một thiếu niên tên Trần Phiên. Hắn cho mình bất phàm nên chỉ làm chuyện lớn mà thôi. Một hôm người bạn tới thăm thấy nhà hắn bẩn thỉu liền nói:  Nho tử sao không quét nhà để tiếp đón khách?

    Trần Phiên trả lời: Đại trượng phu xử thế. Nên quét thiên hạ sao lo một nhà?

    Người bạn đáp lại: Một nhà không quét, sao có thể quét thiên hạ.

    Trần Phiên ngộ ra không nói được lời nào.

    Xem ra muốn xây dựng giang sơn thì phải xây dựng từ gia đình mình. Muốn làm những điều cống hiến cho đời thì phải rèn luyện mình thành người tốt. Phải khởi đi từ việc nhỏ mới mong làm chuyện đại sự to tát hơn. Muốn canh tân xã hội phải có một kế sách lâu dài và phải khởi đi từ những việc nhỏ nhất mới mong thành đại sự.

    Phải chăng Giáo hội hôm nay cũng bị cuốn vào trào lưu thích hoành tráng, rầm rộ? Thích phô trương đánh trống hơn là sống đạo mến yêu? Các lễ nghi, lễ hội thật nhiều nhưng điều đó không quan trọng bằng việc ra đi đến với người nghèo, người già yếu, bệnh tật  . . .?

     Giáo hội luôn nói mình có sứ mạng truyền giáo và mời gọi các tín hữu tham gia vào công cuộc truyền giáo, nhưng xem ra chẳng có kết quả, bởi vì ai cũng muốn làm việc lớn nhưng những việc bình thường là canh tân đời sống bản thân, là sống công bình bác ái, là phục vụ yêu thương khởi đi từ gia đình lại bị xem thường.

    Thực vậy, làm sao có thể truyền giáo khi chưa tề gia để mang lại cho gia đạo êm ấm thuận hòa?

    Làm sao có thể truyền giáo khi bản thân còn nhiều tính hư nết xấu, đôi khi còn trở thành gương mù gương xấu cho tha nhân?

    Truyền giáo không phải là một lễ hội để đánh trống khua chiêng. Truyền giáo là đem đạo vào đời qua muôn nẻo đường trần thế. Thế nên, truyền giáo đòi hỏi từng người phải biết sống trở thành nhân chứng cho Chúa, phải mang tin mừng thẩm thấu vào trong trái tim và trao tặng cho anh em, cho bạn bè. Truyền giáo phải như chút muối làm cho thế gian nồng thắm tin mừng. Truyền giáo phải như chút men làm cho Tin mừng hòa  vào thế gian.

    Trong bài hát  “Một chút” thôi của Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống dường như cũng nói những điều thật đơn giản ấy.

    Một chút những viên đá nhỏ hợƿ thành ngọn núi lớn

    Một chút những bước chân đi xɑ về muôn lối

    Một chút những ƿhút ủi ɑn dịu xoɑ ngàn nỗi sầu

    Ϲhỉ một chút ƙhởi đầu tương lɑi sẽ đẹƿ màu

    ĐK – Một chút trong đời chỉ một chút chút xíu thôi

    Ɲhiều chút chút bé nhỏ mà làm cho đời thêm mới

    Một chút trong đời trở thành một chút thật tuуệt vời.

    Ϲhắt chiu từng chút ấу cho đời nàу thêm sáng tươi.

    Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, ước gì chúng ta hãy từng chút một chắt chiu những việc làm tốt để sáng danh Chúa, có như vậy chúng ta mới gom thành một làn sóng yêu thương mang tin mừng lan tỏa khắp nơi. Xin Chúa giúp chúng ta biết truyền giáo khởi đi từ việc nhỏ nhất trong đời thường bằng việc nêu gương sáng cho tha nhân trong bổn phận và trong việc bác ái dấn thân xây dựng thế giới ngày một tốt đẹp hơn.

    Về mục lục

    .

    NHỚ THẦY

    Lm. Jos. DĐH

    Sống trên cõi đời, thiết tưởng ai cũng đã từng khắc khoải nhớ thương : nhớ người yêu, nhớ đấng bậc đã khuất, nhớ tình thầy trò, nhớ bạn thân đã đi xa, hoặc là nhớ những kỷ niệm tuổi thơ…. Chữ tình càng cao thì nỗi nhớ càng da diết, chữ hiếu càng lớn, nỗi buồn vắng cha thiếu mẹ càng sâu ! Khổng Tử xưa kia cũng nhắc nhớ các học trò của ông : nên ôn lại những gì đã học để biết thêm điều mới, đừng phụ ơn những người thầy đã từng dắt ta bước, dìu ta đi, nếu sống như thế, bạn sẽ sớm trở thành bậc thầy thiên hạ.

    Vì thương yêu, các thánh hiền từng khắc ghi vào tâm trí học trò của mình nhiều điều thực tế, sống trên đời : không có gì nghèo cho bằng không có tài, không có gì khổ cho bằng không có đức, không có gì hèn cho bằng không có chí ! Đức Giêsu trước khi về trời, Ngài không chỉ dạy các môn đệ thêm điều gì, ngoài trao ban một sứ mạng : “hãy loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo, ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu độ”. Nhóm 12 tông đồ là những người theo sát Thầy, từng ăn uống, từng có dịp đi thực tập truyền giáo, các ông đầy ắp kỷ niệm, nên trăn trở nhớ Thầy chắc chắn phải có trong tâm trí của các ông.

    Ở đời, người ta nhớ nhau không phải là ngồi ôn lại một vài kỷ niệm sâu sắc, nhưng là thực hiện công việc mà người thân của họ đã từng làm. Nhớ nhau không phải là nuối tiếc về cách hành xử thiếu nghĩa tình, thiếu bổn phận và tấm lòng bao dung tha thứ. Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, chúng ta được mời gọi để nhớ đến Thầy Giêsu, nhớ đến tình yêu thương của Ngài dành cho nhân loại, nhớ tới hoạt động và giáo huấn của Một Thiên Chúa làm Người. Đặc biệt hơn là nhắc nhớ mỗi chúng ta về tương quan hiện tại của mình với Thầy Giêsu và anh chị em của mình trong tình huynh đệ ra sao ?

    Ngày hôm nay, mỗi lần nói tới truyền giáo, Đấng bản quyền, các nhà chuyên môn, thường đưa ra một vài con số thống kê, hoặc nhắc nhớ mỗi người hãy quảng đại, hãy đóng góp vật chất và lời cầu nguyện…. Đôi khi còn đưa ra những dự phóng, kế hoạch, phương pháp truyền giáo thế nào để mang lại hiệu quả nhất. Nếu như số học trò được gọi chọn, được huấn luyện và sai đi thực tập việc tông đồ, các ông không nhớ được nhiều, thì cũng nhớ được căn tính của người môn đệ là biết sống mến yêu. Có thể kết quả của việc truyền giáo, không tùy thuộc vào sự khôn khéo hay khả năng truyền đạt của con người, mà bằng niềm tin : “có Chúa hoạt động cùng các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép là kèm theo”.

    Nhớ Thầy, nhớ tình yêu thương của Thầy, cũng là nhớ tới việc sống mến yêu như Thầy, đó có phải là thực thi mệnh lệnh truyền giáo chưa ? Nhớ, yêu, và sống, sẽ không phải là lý thuyết, là khuôn mẫu có sẵn, nhưng là tính chất phong phú cho từng khả năng, ơn gọi khác nhau khi sống cầu nguyện, hoạt động trong Đức Kitô là Thầy. Nhớ mình là người bình thường, người tin Chúa, thuộc về Chúa. Nhớ mình phải là mình, căn bản là biết sống mến yêu, hoàn toàn không phải là làm được nhiều hay làm được ít cho Chúa. Nhớ mình từng bước, từng bước, sẽ là thánh, nên có thể sai lầm, do đó cần khiêm tốn và hãy sống tình huynh đệ chặt chẽ hơn.

    Nhớ Thầy để mỗi người hãy ý thức mình đang là học trò của Thầy Giêsu. Nhớ Thầy để ta cùng cảm thông, hiệp thông với trăn trở của Thầy Giêsu, sống và chia sẻ cho cánh đồng truyền giáo với Thầy. Nhớ Thầy để ta thêm tin tưởng, Thầy đang đồng hành và củng cố niềm tin cho hoạt động tông đồ cùng ta. Nhớ Thầy để không một thế lực nào có thể lôi kéo ta ra khỏi tình yêu của Thầy Giêsu, Thầy là duy nhất, là lẽ sống của ta. Nhớ Thầy còn là khao khát nên trọn lành, nên giống Thầy Giêsu, cho dù ta vẫn đầy thiếu sót lỗi lầm.

    Tục ngữ có câu : xem người biết nết, xem bếp biết nết đàn bà. Có thể chúng ta cũng nên nói : nhìn thành quả, hiểu người chăm sóc giáo dục, nhìn việc sống đạo, biết ta có yêu mến Chúa Giêsu chưa. Biết tính nết hay biết mến Chúa yêu người, có thể không liên quan trực tiếp đến truyền giáo, nhưng đó là ơn ban giúp ta nhận ra mình : tình trạng khô cứng hay đang sống ích kỷ, cầu an, chờ thời. Mặt trời ló rạng rồi khuất lấp, trăng tròn rồi lại trăng khuyết, đó là chân lý. Thầy Giêsu yêu các học trò, các học trò yêu Hội Thánh của Thầy thiết lập, và mỗi người Kitô hữu đều có liên hệ với Đức Giêsu và Đại gia đình Hội Thánh khi biết sống yêu thương.

    Truyền giáo là bản chất của Hội Thánh, mỗi chúng ta đã được học biết từ thuở nhỏ. Truyền giáo không phải là công việc của các nhà chuyên môn, cũng không phải do phát xuất từ cảm tính nhất thế nhì thân. Đúng hơn, truyền giáo là ơn ban của Chúa qua từng người chúng ta biết sống mến yêu, sống nén bạc mà mỗi người đang có. Sứ mạng yêu thương của Thầy Giêsu từng giây phút vẫn đang chảy tràn vào giáo hội, vào tâm hồn của người môn đệ theo Chúa. Nhớ Thầy, nhớ đến mệnh lệnh truyền giáo của Thầy, cũng là bổn phận trách nhiệm sống yêu thương đã trao ban cho ta. Nhớ Thầy, yêu Thầy và sống giáo huấn của Thầy Giêsu, nhất định phải là là công việc truyền giáo mà Đức Giêsu đang thực hiện chương trình cứu độ nơi con người thời đại chúng ta hôm nay. Amen.

    Về mục lục

    .

    CẦU NGUYỆN VÀ
    GIÚP ĐỠ CÔNG VIỆC TRUYỀN GIÁO

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Do những hiểu lầm và những nghi kỵ đã xảy ra trong quá khứ, người Công giáo Việt Nam đã trải qua những giai đoạn hết sức khó khăn ngay trên đất nước của mình. Về mặt công dân, có một thời các sinh hoạt tôn giáo bị giới hạn chỉ còn trong nhà thờ, con em người Công giáo không được theo học một số trường. Trong cái nhìn của anh chị em lương dân, những người Công giáo bị coi như những người ngoại lai, những kẻ bất hiếu. Tuy nhiên, dường như trong hoàn cảnh khó khăn như thế, đời sống của người tín hữu có phần sốt sắng hơn, họ không chú trọng những hình thức bên ngoài, mà tập trung xây dựng đời sống nội tâm nhiều hơn. Cũng trong thời kỳ khó khăn bách hại thì dường như con số những người tin vào Chúa và gia nhập đạo nhiều hơn.

    Ngày nay, đời sống đạo có phần thoải mái dễ dàng hơn, người Công giáo lại bị rơi vào lối sống đạo chuộng hình thức bên ngoài, thiếu đời sống nội tâm, thiếu nhiệt tâm sống làm chứng cho niềm vui của Tin Mừng. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống luân lý của nhiều tín hữu trở nên lỏng lẻo hơn và có xu hướng chạy theo lối sống dễ dãi, buông thả. Trước hoàn cảnh xã hội và tôn giáo thay đổi nhanh chóng như thế, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã kêu gọi toàn thể cộng đồng dân Chúa, trong năm sắp tới 2016, cùng nhau thực hiện chủ đề : Tân Phúc Âm hoá đời sống xã hội.

    Tân Phúc Âm hoá không có nghĩa là rao truyền một Phúc Âm, một Tin Mừng nào khác, mà là làm mới lại cách sống, cách loan báo và thực thi Tin Mừng của mỗi tín hữu chúng ta. Trong thư mục vụ, các Đức Giám mục đã giải thích : Tân Phúc Âm hóa đời sống xã hội chính là sống, chia sẻ, loan báo và làm chứng cho lòng thương xót ngay trong đời sống xã hội. Trước những dấu hiệu đáng ngại trong xã hội ngày nay : gian dối, vô cảm, bất công, ma tuý, bạo lực, phá thai, tự tử…, mỗi người Công giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống. Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống.

    Chúng ta đang chứng kiến tội ác và bạo lực ngày càng gia tăng trong xã hội. Có những người cho đó là hệ quả của nền giáo dục thiếu lòng nhân ái và bao dung, biến con người thành cỗ máy khô cứng không có trái tim. Có người cho rằng, do sự bất lực của những người có trách nhiệm điều hành trong xã hội, do tác động từ film ảnh sách báo, từ lối sống trọng tiền bạc của cải hơn con người, đã dẫn đến tình trạng tội ác và bạo lực như thế. Ngoài những lý do trên, người tín hữu cũng cần nhận trách nhiệm của mình đối với những vấn đề xã hội, vì chính chúng ta chưa nhiệt tâm dấn thân đem Tin Mừng của Chúa Kitô vào trong xã hội này, chưa thực sự sống tình yêu thương phục vụ và sự thứ tha của Chúa Giêsu đã dạy, chưa làm cho Tin Mừng lan toả trong đời sống xã hội.

    Người tín hữu không thể thụ động đứng nhìn hoặc chỉ trích, nhưng chính mỗi người cần bắt tay làm biến đổi môi trường xã hội hôm nay theo chiều hướng của Tin Mừng. Đức Thánh Cha và các Đức Giám mục mời gọi chúng ta không chỉ là người đón nhận lòng thương xót của Chúa, mà còn phải là người đem lòng thương xót của Chúa đến cho anh em qua sự chia sẻ cụ thể và lòng bao dung mỗi người dành cho nhau, vì Thiên Chúa sẽ xét xử mỗi người theo tình yêu và lòng bao dung mà chúng ta đối xử với nhau. Chúng ta còn được mời gọi không thụ động đứng bên lề xã hội, nhưng trái lại, chúng ta cần tham gia một cách tích cực vào trong các hoạt động, các lãnh vực của xã hội, từ chính trị đến kinh tế, đến văn hoá giáo dục. Để từ đây, mỗi người đem niềm vui và ánh sáng Tin Mừng vào trong các lãnh vực, môi trường mình sống và làm việc để cho Tin Mừng biến đổi lãnh vực, môi trường đó.

    Gần đây, các nhà lãnh đạo chính quyền đánh giá cao và công nhận sự đóng góp tích cực của giới Công giáo vào trong đời sống xã hội, đặc biệt trong lãnh vực bác ái và xây dựng đời sống dân cư. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những con số, những lời khen đó thì chưa đủ, chúng ta cần đem niềm vui và hy vọng của Tin Mừng vào trong môi trường xã hội, giúp cho mọi người khi tiếp xúc với người Công giáo, họ cảm nhận được niềm vui và hy vọng trong cuộc sống.

    Chúng ta sống đạo không phải ở trên mây, nhưng là đem niềm vui và giáo huấn của Tin Mừng vào trong môi trường cụ thể của Việt nam hôm nay. Cũng trong Thư chung 2015 của Hội Đồng Giám Mục đã chỉ cho chúng ta một số việc, trong đó nhấn mạnh đến việc tôn trọng và chăm sóc môi trường sống. Hãy tìm mọi cách để làm cho trái đất và mọi loài trong đó thêm tốt đẹp, đứng huỷ hoại chúng, đứng tàn sát chúng. Với người Công giáo, Đức Giáo Hoàng kêu gọi phải hoán cải, nghĩa là thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cách sống trong tương quan với môi trường thiên nhiên. Chính Thiên Chúa đã trao cho con người trách nhiệm trông coi trái đất (x. St 1,28). Do đó, chúng ta không được tàn phá hoặc sử dụng để trục lợi, nhưng phải chăm sóc và gìn giữ cho thế hệ hiện nay và cả tương lai. Từ đó, chúng ta được thúc đẩy thay đổi cách sống, biết tôn trọng thiên nhiên, chăm sóc môi trường sống. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày như tiết kiệm nước và năng lượng, giữ vệ sinh chung trong khu xóm. Các giáo xứ sẽ phải trở thành những mẫu gương trong việc giữ gìn và bảo vệ môi sinh.

    Cùng với việc tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên là việc tôn trọng mạng sống của mình và của người khác khi tham gia giao thông. Vấn đề tai nạn giao thông đang là vấn đề gây lo lắng bất an cho nhiều người mỗi khi tham gia giao thông. Mỗi Kitô hữu được mời gọi ý thức và hết sức tôn trọng luật giao thông, cư xử bác ái, nhường nhịn nhau khi lái xe và nhất là cần tôn trọng mạng sống mình và người khác, vì chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, là món quà Chúa gửi cho mỗi gia đình. Đừng để vì sự cẩu thả của mình mà gây tổn thương đau khổ cho bản thân, gia đình và cho người khác.

    Một việc làm không thể thiếu trong việc đem niền vui và giáo huấn của Tin Mừng đến cho người khác là việc cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Thông thường trong cầu nguyện, chúng ta chỉ xin cho những nhu cầu trước mắt, xin cho bản thân giống như hai anh em ông Giacôbê và Gioan hôm nay : Xin cho hai anh em con được một người ngồi bên phải, một người ngồi bên trái Thầy trong ngày Thầy được vinh quang. Hai ông theo Chúa trong hành trình truyền giáo, các ông không cầu xin cho sứ mạng truyền giáo, trái lại, các ông xin nhữg điều hết sức trần tục – được một chỗ ngồi để hưởng thụ. Chúa Giêsu đã không chấp nhận lời cầu xin của hai ông, nhưng Ngài hướng các ông đến sứ mạng của Ngài, đó là sứ mạng cứu độ muôn dân. Chúa muốn tất cả chúng ta phải là những người cùng với Chúa thực thi đến cùng sứ mạng này : Cùng uống một chén, cùng chịu một phép rửa với Chúa.

    Việc cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo có nghĩa là cầu nguyện để mỗi người có được cùng một kháo khát với Chúa Giêsu, Đấng đem lửa vào thế gian và ước mong lửa ấy bừng cháy lên. Cầu nguyện để mỗi người được biến đổi từ trong tâm hồn đến đời sống, để không còn tìm kiếm vinh quang chức quyền theo kiểu thế gian, trái lại, tìm và thực thi ý Chúa. Cầu nguyện để mỗi người có thể học theo gương Chúa Giêsu, dám trở nên người tôi tớ phục vụ anh chị em. Nhiều người ngoại giáo không bị đánh động bởi những bài giảng hùng hồn, cũng không được biến đổi bởi những con số thành tích hoặc đền đài, nhưng họ được đánh động và tin theo Chúa nhờ gương sống hiền lành, khiêm nhường và phục vụ của các Kitô hữu.

    Chuyến viếng thăm Cuba và Hoa kỳ của Đức Thánh Cha Fancis vừa qua được đánh giá là rất thành công, không chỉ bởi những bài diễn văn quan trọng, nhưng là chính gương sống hiền lành, khiêm nhường, nghèo khó của Ngài. Người dân Mỹ đã phải nhìn nhận rằng : Đức Thánh Cha đã đem đến cho chúng tôi sứ điệp và gương sống tình yêu thương và phục vụ. Đó là điều mà chúng tôi đang cần và đang thiếu.

    Xin Chúa cho mỗi người luôn ý thức mình là cộng tác viên của Chúa, đem Tin Mừng tình yêu và hy vọng đến cho mọi người qua chính đời sống phục vụ của mỗi chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    MƠ ƯỚC THIÊN ĐÀNG

    HAY CHIÊM NGẮM ĐỨC KITÔ THẬP GIÁ

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    ”Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”; thiết tưởng theo tư duy tự nhiên, thì lời khẩn cầu của hai anh em nhà Dê-bê-dê rất chính đáng. Phải chăng rất nhiều người chúng ta cũng đã từng có những ước muốn ‘chính đáng’ tương tự; chúng ta đã chẳng mơ ước được một chỗ cao sang trên thiên đàng, được giầu công nghiệp trước mặt Chúa, được phần thưởng trọng hậu là gì? Các môn đệ khác, chứ không cứ gì hai anh em, cũng đã không ít lần bàn cãi về chuyện đó, xem: “ai sẽ là người lớn nhất trong nước trời”. Trước thao thức của các ông, hình như Đức Giê-su muốn nhắc nhở rằng: công nghiệp hay chỗ cao trên thiên đàng là việc dành riêng cho Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”, môn đệ chân chính không nên quan tâm tới. Nếu hiểu đúng ý Đức Giê-su, thì điều duy nhất cần quan tâm trong việc sống Tin Mừng sẽ chỉ là theo sát Đức Ki-tô Thập Giá, và theo cho tới cùng, là “Uống chén thầy sắp uống, chịu phép rửa thầy sắp chịu”.

    Trước hết, Ki-tô hữu chúng ta cần biết rõ: ‘chén của Thầy, phép rửa của Thầy’ là gì; trên đường tiến về Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đã nhiều lần cảnh báo các môn đệ về cuộc thương khó và phục sinh sắp xảy ra (xem Mc 10:32-34), tuy nhiên bài học này lúc đó hình như các ông không kham nổi, đơn giản là vì các ông không thể hình dung nó sẽ ra sao? Ki-tô hữu chúng ta ngày nay thì không lạ lẫm gì về diễn biến Thập Giá, khi Đức Giê-su (Lời Thiên Chúa) tự hiến để phục vụ lợi ích thiết thực của con người nhân loại tội lỗi. Thập Giá là bằng chứng thuyết phục rằng: Người đến không phải để luận phạt theo lẽ công bình, mà để hiến mình cứu độ, qua đó chỉ cho mọi người thấy một Chúa Cha vô cùng nhân ái; chính vì vậy mà, trước cuộc thương khó, Người đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, một biểu tượng của hạ mình phục vụ để thanh tẩy và tha thứ (xem Ga 13). Qua hành động này, Đức Giê-su chắc hẳn không nhằm dạy các môn đệ mình một ‘chiến thuật’ để chinh phục và cai trị thiên hạ, như Lão tử – nhà hiền triết Trung Hoa đã từng vịnh rằng: ”Sông, biển để làm gì, để cai trị trăm ngàn thung lũng? Nó đặt mình nằm dưới tất cả và vì thế nó cai trị hàng trăm thung lũng. Nếu thánh hiền muốn làm đầu dân tộc hãy học nói năng cho khiêm tốn. Nếu muốn lãnh đạo dân hãy đặt mình vào chỗ rốt hết”; Những lời khôn ngoan thật đấy, nhưng đâu phải là Tin Mừng!

    Môn đệ là những người ‘theo Đức Ki-tô’, vì thế họ có thể tự hào: “Thầy coi, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo thầy” (Mc 10:28). Nhưng họ cũng cần hiểu rằng: từ bỏ là để đi con đường Thầy đi, và đó là con đường phục vụ, phục vụ tới độ tự hủy, tới độ hiến cả mạng sống mình; “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Điều khó chấp nhận nhất chính là: sự vĩ đại của Thiên Chúa mà lại đồng hóa với việc cúi xuống phục vụ người thấp hèn. Thầy Giê-su đã làm gương và dạy môn đệ làm theo: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người”. Phải mất một thời gian dài nữa, các ông mới hiểu được điều này; phải đợi tới khi được Thấn Khí tác động, các ông mới dứt khoát “trở nên mọi sự cho hết mọi người…”

    Ki-tô hữu chúng ta cũng vậy thôi! Quyết định theo Chúa đấy, nhưng bài học quên mình phục vụ thì mãi vẫn chưa thuộc. Lý do là vì, chúng ta mơ ước quá nhiều về thiên đàng, còn chiêm ngắm Thập Giá thì lại quá ít. Duy nhất Thầy Giê-su mới là đường, là chân lý, và là sự sống! Do đó thiên đàng không phải là cùng đích, nhất là cái thứ thiên đàng mà ta vẫn thường vẽ ra trong đầu. Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân ái và xót thương, thì thiên đàng phải là nơi chan hòa nhân ái; bên hữu hay bên tả của Thiên Chúa nhân ái trên thiên đàng đó sẽ chỉ dành cho những ai có lòng thương xót mà thôi; “Phúc thay những ai xót thương, vì họ sẽ đươc Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7).

    Nếu vậy, lạy Cha nhân ái, xin cho con được ngồi bên hữu Cha; không phải vì con đạo đức thánh thiện hơn người, nhưng chỉ vì con nhận biết Cha hằng xót thương những con người yếu hèn, nên sẽ yếu mến sự hèn kém của con. Đặc biệt, thể theo lời mời gọi của Cha, con sẽ quyết tâm chia sẻ lòng thương xót đó cho mọi người, đặc biệt cho các tội nhân thấp kém. A-men.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Như chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng hôm nay, khi hai người con ông Dêbêđê, và cũng là những người trong nhóm môn đệ đi theo Chúa Giê-su, là Gioan và Giacôbê, đến xin Chúa cho mình được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa, nghĩa là những người có địa vị, danh vọng và uy quyền trên những người khác, và chúng ta cũng được biết, khi 10 môn đệ khác tỏ thái độ bực tức và ganh tị với hai người con ông Dêbêđê, vì họ cũng muốn có địa vị, danh vọng và uy quyền, Chúa Giê-su đã từ chối, và nhân đó Người dạy các môn đệ và chúng ta bài học về đời sống hy sinh phục vụ.  

    Chúng ta thấy Chúa Giêsu đã từ chối vì 2 lý do. Lý do thứ nhất là trong các tổ chức chính trị, hành chánh và xã hội, những người lãnh đạo đều thích và dùng mọi phương cách để có uy quyền, chức vụ trên người khác. Nhưng trong các cơ cấu tổ chức mà họ lãnh đạo người dưới quyền không được hạnh phúc gì cả, trái lại còn phải đau khổ. Lý do thứ hai là trong tổ chức mà Chúa Giê-su thành lập, tức là Giáo Hội, không có người trên kẻ dưới, không có người lớn kẻ nhỏ, mà tất cả đều bình đẳng với nhau vì tất cả đều là anh em với nhau, cùng là con của một Cha trên trời. Cho nên mọi người đều có bổn phận, trách nhiệm và giúp nhau để làm theo ý Cha trên trời, và làm danh Cha cả sáng. Bởi vậy trong Giáo Hội, địa vị và quyền bính được trao không phải cho kẻ ham muốn kiếm tìm nó, mà trao cho những người nào có thiện chí và hy sinh phục vụ.

    Có một câu chuyện ngụ ngôn được kể như sau. Một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm đi dạo ở công trường trước một nhà thờ. Nó nhìn lên tháp nhà thờ thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nên ganh ghét. Đồng hồ nhỏ nói: “Anh tưởng là anh ngon lắm hả. Thực ra cái mặt anh to quá khổ chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay thì dài thượt coi chẳng đẹp gì cả. Giọng nói thì khàn khàn.” Chiếc đồng hồ lớn chỉ mỉm cười và nói: “Hãy lên đây.” Chiếc đồng hồ nhỏ leo lên. Khi đứng bên chiếc đồng hồ lớn nhìn xuống thì nó mới hoảng sợ. Thì ra ở trên cao này nguy hiểm quá té xuống tan xác như chơi. Rồi lúc nào cũng bị bao nhiêu cắp mắt nhìn lên, và lại còn cô đơn nữa. Khi đó chiếc đồng hồ lớn khều nó nói: “Ở dưới có người muốn biết giờ kìa. Em đưa mặt ra cho họ xem đi.” Chiếc đồng hồ nhỏ đáp: “Không được, từ đây xuống dưới xa quá mà mặt em nhỏ quá ở dưới xem không thấy đâu.” “Vậy thì em nói giờ cho họ nghe đi.” “Cũng không được, vì tiếng em nhỏ quá.” Khi đó chiếc đồng hồ lớn mới ôn tồn giải thích: “Đó em thấy chưa. Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh cũng không thể làm việc của em. Mỗi người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để phục vụ cho người ta thôi. Từ này về sau mình đừng chỉ trích và ganh ghét nhau nữa nhé.”

    Ông bà anh chị em thân mến. Câu chuyện rất ý nhị và nói lên được ý nghĩa bài học Chúa Giê-su dạy chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay. Mỗi người Ki-tô hữu chúng ta có bổn phận, trách nhiệm và cũng có một ơn gọi để phục vụ người khác. Kẻ ở địa vị cao thì phải phục vụ nhiều hơn. Và ở địa vị cao thì càng gặp khó khăn nhiều hơn, có khi còn cô đơn hơn nữa. Bởi vậy, khi hai người con ông Dêbêđê xin địa vị, Chúa Giêsu đã hỏi: “Chúng con có uống nổi chén đắng không?”

    Chúng ta nhận thấy phục vụ và đau khổ là hai đường rầy của đường xe lửa. Ở đâu có phục vụ, ở đó có đau khổ. Phục vụ luôn đi kèm với chén đắng, tức là những hy sinh và đau khổ vì 3 lý do sau đây.

    Thứ nhất, phục vụ luôn đi đôi với đau khổ, vì chúng ta không thể phục vụ, không thể giúp đỡ người khác, mà chúng ta không phải hy sinh cách nọ cách kia, lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, về thời giờ, khả năng hay tài chánh. Lý do thứ hai phục vụ luôn đi đôi với hy sinh và đau khổ bởi vì Thiên Chúa luôn kêu mời những ai có những sự đau khổ hãy đặt sự đau khổ của mình trong sự phục vụ người khác. Thiên Chúa kêu mời họ dùng sự đau khổ của chính mình để hy sinh phục vụ người khác về mặt tinh thần. Hay nói một cách khác, Chúa kêu mời họ hãy dùng sự đau khổ của mình để kết hợp với sự đau khổ của Chúa Giê-su. Và lý do thứ ba, phục vụ luôn đi đôi với hy sinh và đau khổ, mà chúng ta thường không để ý, không chú ý tới là: hy sinh phục vụ lấy bớt đi những sự đau khổ của kẻ khác. Đó chính là đường lối mà chính Chúa Giê-su đã phục vụ anh chị em đau khổ của Người. Vì thế mà Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, nói với các môn đệ rằng “Con người cũng không đến để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.”

    Ông bà anh chị em thân mến. Vậy thì, là những Ki-tô hữu, chúng ta phải xây dựng một tinh thần hy sinh phục vụ người khác, và cách riêng, những người cùng trong một cộng đoàn giáo xứ người Việt chúng ta sống trong thành phố Tulsa này, như thế nào? Trước hết, chúng ta phải chú ý đến một điều ngăn cản chúng ta xây dựng một tinh thần hy sinh phục vụ người khác, đó là sự chia rẽ và lạnh cảm. Hay nói một cách khác, chúng ta muốn người khác chú ý đến, phục vụ chúng ta, nhưng chúng ta muốn sống ích kỷ, riêng rẽ cá nhân, không muốn chú ý đến những người chung quanh, hay trong cùng một cộng đoàn giáo xứ, và không hy sinh phục vụ ai hay tham gia vào một điều gì trong giáo xứ. Thứ nhất, chúng ta cố gắng tạo một tinh thần hy sinh phục vụ người khác như của Chúa Giê-su, bằng cách duy trì một đời sống cộng đoàn hiệp nhất, và chú ý đến những khó khăn, những điều cần thiết trong đời sống của người khác, thay vì chú ý đến đời sống của chính mình. Và thứ hai, chúng ta xây dựng một tinh thần hy sinh phục vụ người khác bằng lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện giúp chúng ta ý thức đến những khó khăn và đau khổ của người khác hơn bất cứ một phương cách nào khác.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta cùng cầu xin Chúa trong lời kinh của thánh Phan-xi-cô. Lạy Chúa từ nhân, xin cho chúng con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng chúng con như khí cụ bình an của Chúa. Ðể chúng con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Ðể chúng con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu. Lạy Chúa xin hãy dạy chúng con: Tìm an ủi người hơn được người ủi an. Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết. Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

    Về mục lục

    .

    CHUYỆN PHỤC VỤ

    Trầm Thiên Thu

    Phục vụ là giúp đỡ người khác, có thể đó là vic phi làm theo bổn phận, theo trách nhiệm, hoặc có thể là vic mun làm vì tự nguyện. Tinh thần phục vụ làm cho chúng ta nên cao quí, vì phục vụ là dâng hiến chính con người bé nhỏ của chúng ta cho Thiên Chúa, Đấng tối cao tuyệt đối.

    Hàng ngày, các công ty, các cửa hàng, các quán ăn hoặc giải khát,… luôn có những đợt tuyển nhân viên phục vụ. Công việc của người phục vụ rất bình thường, đôi khi bị coi làm tầm thường, nhưng thực ra lại rất cần thiết. Có thể nói rằng không có họ thì các sinh hoạt xã hội khó tồn tại. Không có các công nhân thì giám đốc chỉ bó tay, và xã hội sẽ không có sản phẩm để tiêu thụ. Cách phân biệt “cao – thấp” là do quan niệm của những người thiển cận, nông cạn – cũng là một dạng “thiểu não” đấy. Chỉ có người xấu chứ không có nghề xấu, cũng không có nghề nào hơn nghề nào. Tiền nhân nói: “Nht sĩ, nhì nông; hết go chy rông… nht nông, nhì sĩ”. Ảnh hưởng “” là do quan niệm xưa: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Kẻ sĩ được coi là “dân ngon”. Nhưng hết gạo ăn thì “ngon” cái nỗi gì? Ai hơn ai đây?

    Ai cũng phục vụ lẫn nhau, dù là trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc bằng cách nào đó. Đừng tưởng tôi tớ mới phải phục vụ chủ nhân, mà chính chủ nhân cũng phải phục vụ tôi tớ bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có nhân viên mới phải phục vụ giám đốc, mà chính giám đốc cũng phải phục vụ nhân viên bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có đệ tử mới phải phục vụ sư phụ, mà chính sư phụ cũng phải phục vụ đệ tử bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có giáo dân mới phải phục vụ linh mục quản xứ, mà chính linh mục cũng phải phục vụ giáo dân bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có bề dưới mới phải phục vụ bề trên, mà chính bề trên cũng phải phục vụ bằng cách nào đó; đừng tưởng chỉ có người nhỏ mới phải phục vụ người lớn, mà chính người lớn cũng phải phục vụ người nhỏ bằng cách nào đó;… Rất nhiều mối quan hệ trong xã hội, mọi mối quan hệ đều liên đới với nhau. Vợ chồng đối với nhau, cha mẹ và con cái đối với nhau, anh chị em đối với nhau, bạn bè đối với nhau,… nói chung là con người đối với con người. Chúa Giêsu đã có quy luật sống: “Ai làm đu phi hu thiên h” (x. Mt 20:25-28; Mc 10:40-45).

    Sau khi được Chúa Giêsu chữa khỏi chứng sốt nặng, nhạc mẫu của ông Phêrô liền chỗi dậy phc v Người (x. Mc 1:29-31; Lc 4:38-39). Và rồi chính Chúa Giêsu đã minh định: “Thy sng gia anh em như mt người phc v” (Lc 22:27). Quả thật, ngay tại Bữa Tiệc Ly, trước khi Chúa Giêsu bị bắt, chính Ngài đã đích thân hạ mình bằng cách quỳ xuống mà rửa chân cho các môn đệ, Ngài muốn làm gương và dạy chúng ta về tầm quan trọng của sự phục vụ (x. Ga 13:3-20).

    Chuyện phục vụ cũng liên quan thái độ “chảnh”. Người ta thường thích “sai” người ta làm cái này, việc nọ, và cứ tưởng thế là oai lắm. Ảo tưởng quá, dại dột quá, vì đi ngược lại đường lối của Chúa mà lại dám “hãnh diện”, thế mới chết chứ! Phục vụ là việc bình thường mà lại nhiêu khê. Phục vụ là dấn thân, cũng rất cần phải khiêm nhường mới có thể phục vụ. Không dễ chút nào!

    Phục vụ còn liên quan nịnh bợ, tâng bốc, ranh mãnh. Cứ thấy “ông to, bà lớn” thì họ tìm mọi cách để “đưa đón” và “đẩy đưa”, đãi bôi, tâng bốc,… cốt để tỏ ra mình “oai”, tìm mọi cách “nịnh trên, đạp dưới”. Thật ra họ chỉ là “cáo mượn oai hổ”, chứng tỏ đầu óc kém cỏi, ngu dốt với cái đầu rỗng tuếch. Họ tự thú với người khác rằng “ông ơi, tôi ở bụi này”, ngu dại mà cứ tưởng mình giỏi giang. Kinh khủng thật! Tục ngữ Đức có câu nói thú vị: “Người ta bt th rng bng chó săn, bt đàn bà bng bc tin, và bt k ngu si bng li khen di trá”.

    Ngôn sứ Isaia cho biết: “Đc Chúa đã mun người phi b nghin nát vì đau kh. Nếu người hiến thân làm l vt đn ti, người s được thy k ni dõi, s được trường tn, và nh người, ý mun ca Đc Chúa s thành tu“” (Is 53:10). Nghe chừng rất lạ, vì có vẻ rất… “ngược đời”, bình dân gọi là “trái khoáy”. Thế nhưng như vậy mà lại không phải như thế. Nghịch mà thuận, gọi là nghịch-lý-thuận.

    Lý do vừa mặc nhiên vừa minh nhiên: “Nh ni thng kh ca mình, người s nhìn thy ánh sáng và được mãn nguyn. Vì đã nếm mùi đau kh, người công chính, tôi trung ca Ta, s làm cho muôn người nên công chính và s gánh ly ti li ca h” (Is 53:11). Ai chân thành theo Chúa sẽ được tha thứ tội lỗi, được “trắng án” và được công chính hóa – tức là được “giải án, tuyên công”, vì chính Thiên Chúa “bù lỗ” cho họ. Thật hạnh phúc biết bao!

    Thiên Chúa công minh và chính trực. Ngài giàu lòng thương xót (Ep 2:4), nhưng Ngài lại thẳng thắn, không thiên vị bất cứ ai (1 Pr 1:17; Gl 2:6; Cv 10:34). Mọi lời Ngài nói đều nên trọn: “Li Chúa phán qu là ngay thng, mi vic Chúa làm đu đáng cy tin. Chúa yêu thích điu công minh chính trc, tình thương Chúa chan hoà mt đt” (Tv 33:4-5).

    Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật, còn mi người đu gi di (Rm 3:4). Thiên Chúa tốt lành tuyệt đối, Ngài “không thể bị cám dỗ làm điều xấu và chính Ngài cũng không cám dỗ ai” (Gc 1:13). Tác giả Thánh Vịnh đã minh chứng: “Chúa đ mt trông nom người kính s Chúa, k trông cy vào lòng Chúa yêu thương, hu cu h khi tay thn chết và nuôi sng trong bui cơ hàn. Tâm hn chúng tôi đi trông Chúa, bi Người luôn che ch phù trì” (Tv 33:18-20).

    Thiên Chúa là Tình yêu (1 Ga 4:8 và 16), là lòng thương xót, là lòng trắc ẩn. Chúng ta có biết yêu thương thì cũng là nhờ Ngài, bắt nguồn từ Nguồn Yêu Thương của Ngài. Thiếu tình yêu, chắc chắn con người sẽ chết sớm. Vì thế, chúng ta phải biết không ngừng cầu xin Ngài: “Xin đ tình thương xung chúng con, ly Chúa, như chúng con hng trông cy nơi Ngài (Tv 33:22).

    Yêu thương là phục vụ, không yêu thương thì người ta không muốn phục vụ – dù có thể họ vẫn biết cách phục vụ. Nhưng để có thể phục vụ, người ta phải biết yêu thương; để có thể yêu thương, người ta phải biết lắng nghe nhau, đặc biệt là lắng nghe Thiên Chúa. Ước gì mọi người đều biết sẵn sàng và mau mắn như cậu Samuel ngày xưa: “Ly Chúa, xin Ngài phán, vì tôi t Ngài đang lng nghe” (1 Sm 3:9).

    Chúa Giêsu là vị Thượng Tế biết cảm thương, luôn chạnh lòng thương xót người khác, luôn động lòng trắc ẩn trước những con người khốn khổ. Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta có mt v Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tng tri, là Đc Giêsu, Con Thiên Chúa. Vy chúng ta hãy gi vng li tuyên xưng đc tin” (Dt 4:14). Tuyên tín là điều cần thiết, nhưng lại không đơn giản, vì đơn giản như việc làm Dấu Thánh Giá mà nhiều người vẫn “e ngại”, nhất là khi có người khác tôn giáo hoặc ở nơi công cộng. Họ lý luận bằng cách phát âm là “làm dấu” nhưng thực ra là “làm giấu” đó mà!

    Thánh Phaolô nói rõ ràng, dùng phủ định cách để làm nổi bật sự xác định: “V Thượng Tế ca chúng ta không phi là Đng không biết cm thương nhng ni yếu hèn ca ta, vì Người đã chu th thách v mi phương din cũng như ta, nhưng không phm ti. Bi thế, ta hãy mnh dn tiến li gn ngai Thiên Chúa là ngun ân sng, đ được xót thương và lãnh ơn tr giúp mi khi cn” (Dt 4:15-16). Không đến với Lòng Chúa Thương Xót không chỉ là dại dột mà phải nói là ngu xuẩn. Tuy nhiên, nếu ảo tưởng thì chúng ta chỉ “lợi dụng” Lòng Chúa Thương Xót mà thôi. TIN mình được Chúa thương thì không là kiêu ngo, nhưng TƯỞNG mình được Chúa thương thì li là kiêu ngo!

    Kiêu ngạo là ảo tưởng. Vì ảo tưởng mà không yêu thương – mà yêu thương thì rất thực tế, vì cần hành động cụ thể. Do đó, không yêu thương thì không thể phục vụ. Phục vụ đối lập với quyền hành, địa vị, chức tước, vì người có chức quyền không muốn phục vụ, chỉ muốn “chỉ dạy” và muốn được phục vụ. Tại sao chúng ta khó phục vụ? Bi vì chúng ta ích k, li, ngi khó, s hèn, quen “chnh”. Thánh nữ Têrêsa Avila (1515-1582), Tiến sĩ Thần bí, nhận xét: “Chúng ta quá t ái, quá vn dng tài trí trn gian đ khoe khoang mình, đó là s di trá to ln và ngông cung, các thánh nhân không như thế.

    Chuyện phục vụ có “dính líu” tới chức quyền. Trình thuật Mc 10:35-45 là câu chuyện đầy kịch tính về vấn đề này, hầu như lúc nào cũng là vấn đề “thời sự nóng”.

    Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và “lấy lòng” Ngài bằng cách rào trước đón sau: “Thưa Thy, chúng con mun Thy thc hin cho chúng con điu chúng con sp xin đây”. Ngài hỏi: “Các anh mun Thy thc hin cho các anh điu gì?”. Họ không ngần ngại vào thẳng vấn đề: “Xin cho hai anh em chúng con, mt người được ngi bên hu, mt người được ngi bên t Thy, khi Thy được vinh quang”.

    Đức Giêsu trách mắng họ và Ngài cũng nói thẳng: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có ung ni chén Thy sp ung, hay chu được phép ra Thy sp chu không?”. Họ có vẻ “vô tư” khi trả lời Ngài: “Thưa được”. Đức Giêsu bảo: “Chén Thy sp ung, anh em cũng s ung; phép ra Thy sp chu, anh em cũng s chu. Còn vic ngi bên hu hay bên t Thy thì Thy không có quyn cho, nhưng Thiên Chúa đã chun b cho ai thì k y mi được”. Nghe lời này, có lẽ họ cảm thấy… “ngại” lắm đấy. Và đó cũng là “tâm trạng” của chúng ta ngày nay!

    Sau khi nghe hai anh em nhà Dêbêđê nói vậy, mười môn đệ kia đâm ra tc ti với ông Giacôbê và ông Gioan. Bản tính ghen tỵ trong con người luôn muốn trỗi dậy, sẵn sàng vùng lên bất cứ lúc nào, nhất là khi cảm thấy mình “lép vế” hơn người khác. Ghen tỵ vì tự ái. Tính ghen tỵ có ở mọi nơi và trong mọi người. Tính ghen tỵ dễ thấy trong các cộng động – cả xã hội và tôn giáo. Trong các giáo xứ, đoàn thể, cộng đoàn tu trì, nhóm từ thiện, thậm chí ngay trong gia đình, chúng ta vẫn thấy có tính ghen tỵ – với các mức độ khác nhau. Con gà còn tức nhau vì tiếng gáy kia mà! Tự ái và ghen tỵ là “chướng ngại vật” khiến chúng ta khó “từ bỏ mình” theo ý của Chúa Giêsu.

    Chúa Giêsu biết các đệ tử đang hậm hực với nhau vì muốn tranh giành quyền hành, Ngài gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: nhng người được coi là th lãnh các dân thì dùng uy mà thng tr dân, nhng người làm ln thì ly quyn mà cai qun dân. Nhưng gia anh em thì không được như vy: ai mun làm ln gia anh em thì phi làm người phc v anh em; ai mun làm đu anh em thì phi làm đy t mi người”. Rõ ràng quá, không có gì khó hiểu, nói ngắn gọn là “ai muốn làm đầu phải hầu người khác”.

    Tại sao lại “ngược đời” vậy chứ? Chúa Giêsu đã minh chứng cụ thể: “Con Người đến không phi đ được người ta phc v, nhưng là đ phc v, và hiến mng sng làm giá chuc muôn người” (Mc 10:45). Chúng ta không thể viện cớ với bất cứ lý do gì để tự biện hộ nữa. Thật vậy, cứ “xem quả thì biết cây” (Mt 12:33; Lc 6:44).

    Trong dịp viếng thăm đất nước Hoa Kỳ (cuối tháng 9-2015), ĐGH Phanxicô đã vấp bậc cầu thang và lảo đảo khi lên máy bay (*). Trong lúc đó, gió còn thổi khăn choàng vai phủ lên đầu, và không có ai đi kế bên ngài. Khi ngài lên tới cửa máy bay, có người muốn xách cp giùm nhưng ngài t chi. Gương khiêm nhường và phục vụ rốt rõ nét. Đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Con Người đến KHÔNG phi đ ĐƯỢC người ta phc v, nhưng là đ PHC V và HIN DÂNG mng sng làm giá chuc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Khi ăn uống, ĐGH Phanxicô hòa mình vào với mọi người, thân thiện và gần gũi, không thích ngồi “chỗ danh dự”, không muốn đi ăn với người sang trọng mà thích đi ăn với người vô gia cư.

    Còn chúng ta, nhất là những “người lớn”? Thực tế, có nhiều người chưa “lớn” đã chảnh lắm! Trả lời với Chúa Giêsu thế nào đây? Ai “dám” noi gương ĐGH Phanxicô? Có lẽ người ta gãi đầu, ậm ừ, lần lữa, và… hậu xét!

    Hôm nay, ngay bây giờ, và hơn bao giờ hết, có lẽ chúng ta phải suy tư nhiều và cố gắng chân thành cầu nguyện theo gương Thánh Phanxicô Assisi: “Ly Chúa, xin cho con biết mến yêu và phng s Chúa trong mi người”. Lời cầu này mệnh danh là Kinh Hòa Bình vì đậm chất phục vụ theo Ý Chúa – phụng sự Chúa TRONG mọi người. Quả thật, đúng như lời Chúa Giêsu đã xác định khi “phân loại” Chiên và Dê: “Mi ln các ngươi LÀM [giúp đ] cho mt trong nhng anh em bé nh nht ca Ta đây, là các ngươi đã LÀM cho chính Ta, mi ln các ngươi KHÔNG LÀM [giúp đ] cho mt trong nhng anh em bé nh nht ca Ta là các ngươi đã KHÔNG LÀM cho chính Ta (x. Mt 25:31-46).

    Vâng, hãy nghe Thánh Pôlycarpô (+155, giám mục tử đạo) nhắn nhủ: “Hãy t lòng nhân hu, nhit thành, và hãy bước theo chân lý ca Chúa, Ðng đã làm tôi t mi người”.

    Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết nhn din chính mình đ đ sc trit h “cái tôi” trong con. Ht-bi-con không đáng gì mà đã làm bn mt Ngài, con ch là k vô dng vì bt tài, nhưng vì Tôn Danh Ngài, xin biến con thành khí c bình an và yêu thương, đ bt c ai gp con cũng gp được Ngài, và xin cho con cũng gp Ngài nơi nhng người con gp. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

    (*) Xin xem đon video này: https://www.youtube.com/watch?v=kxKU9v5aorA

    Về mục lục

    .

    KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

    Lm. G.B. Văn Hào

    Trong cuộc tông du tại Hoa Kỳ vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự Thánh lễ ngày 23 tháng Chín năm 2015 tại Đền Thánh Đức Mẹ Vô nhiễm ở Washington DC để tuyên thánh cho Cha Junipero Serra, một vị thừa sai dòng Phanxicô gốc Tây Ban Nha. Vị Thánh đã đến Châu Mỹ làm việc cho thổ dân da đỏ và đã đón nhận cái chết tử đạo để minh chứng đức tin. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhắc lại câu châm ngôn của vị thánh, đó là “Hãy luôn tiến lên phía trước để rao giảng Tin mừng”. Đức Thánh Cha cũng gợi lại tư tưởng mà Ngài đã viết trong tông huấn ‘Niềm vui của Tin mừng’ (Gaudium Evangelii): “ Từ sâu tận tâm hồn, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy ra đi. Đừng ở lỳ một chỗ để an hưởng một cuộc sống nhàn hạ. Đức Giêsu nói với các Tông đồ: Hãy đi rao giảng. Niềm vui Tin mừng là điều chúng ta phải trải nghiệm cách cụ thể. Chúng ta không có niềm vui đó nếu chúng ta không biết xả thân và trao ban”. Đây cũng là sứ điệp Giáo hội gửi trao đến chúng ta trong ngày Chúa nhật truyền giáo hôm nay.

    Truyền giáo là lên đường.

    Trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô, Thánh Phaolô đã nói đến bốn phần vụ trong Giáo hội để xây dựng nhiệm thể Đức Kitô, đó là: làm tông đồ, làm ngôn sứ, làm người loan báo Tin mừng, làm người coi sóc và dạy dỗ (Eph 4, 11). Trong bốn chức năng đó, trở thành người loan báo Tin mừng đòi hỏi sự hi sinh và dấn thân hơn cả, bởi vì người đó phải ra đi và lên đường. Người đi rao giảng Tin mừng phải rời bỏ tất cả: từ gia đình, quê hương, đến nơi ăn chốn ở và mọi dính bén khác. Căn gốc của sự ra đi chính là từ bỏ chính mình. Khi sai các học trò đi thực tập truyền giáo, Chúa Giêsu chỉ trang bị cho các ông một món hành trang duy nhất, đó là ‘năng quyền trừ quỷ và chữa lành các bệnh tật’, ngoài ra không tiền bạc, không bao bị, không mặc hai áo, không giầy dép..( Lc 9,3). Vì vậy truyền giáo trước hết là phải sẵn sàng lên đường và ra đi đến mọi ngõ ngách của thế giới, đặc biệt đến những vùng ven (peripheries) như lời Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi. Cuộc ra đi như vậy đòi hỏi phải chấp nhận phiêu lưu cách mạo hiểm, và cao điểm của cuộc hành trình liều lĩnh đó là chấp nhận cái chết như Đức Kitô trên Thập giá. Khi phong Thánh cho Cha Serra cuối tháng Chín vừa qua, Đức Thánh Cha đã nhắc lại đôi nét về sự ra đi của Ngài. Vị Thánh đã quảng đại từ khước địa vị danh giá là ghế giáo sư đại học ở Tây Ban Nha để lên đường sang Tân thế giới, phục vụ cho Tin mừng và ơn cứu độ. Cuộc mạo hiểm của Ngài đã phải trả giá, nhưng là cái giá của vinh thắng. Vừa khi mới đặt chân đến Mexicô, chân của Ngài đã bị sưng tấy vì dị ứng và đau đớn tột cùng, giống như bị ung thư hay bị nhện rừng cắn. Cao điểm của cuộc phiêu lưu này là Ngài đã bị giết chết, để bảo vệ các thổ dân. Một thi sỹ đã viết: “ Ra đi là chết trong lòng một ít”. Nhưng sự ra đi trong hành trình truyền giáo là sao chép lại tận căn chính cái chết của Đức Giêsu, vị truyền giáo đầu tiên, và cũng là nguyên mẫu cho chúng ta trong việc thực thi sứ mệnh rao giảng Tin mừng.

    Đức Giêsu, nguyên mẫu của ơn gọi truyền giáo.

    Năm mươi năm trước, Công đồng Vaticanô 2 đã ban hành sắc lệnh về truyền giáo ‘Ad Gentes’. Ngay từ chương đầu tiên của giáo huấn này, Giáo hội mời gọi chúng ta nhìn về Đức Kitô như là nguyên mẫu cho sứ vụ truyền giáo. Công đồng đưa dẫn nhiều trích đoạn kinh thánh để cho chúng ta thấy Đức Kitô là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian hầu thực hiện sứ mạng cứu thế ( Col 1, 13; Cv 10, 38; 2C 8, 9..). Vì vậy khi nhìn vào Đức Giêsu, chúng ta có thể nghiệm ra rằng, 2000 năm trước Ngài đã đi vào trần thế không phải để sáng lập một tôn giáo, cũng như không phải để quảng bá một học thuyết chính trị. Ngài đến chỉ với sứ mạng duy nhất là công bố cho chúng ta một Tin mừng, đó là Tin mừng về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người. Đức Giêsu đã lập đi lập lại sứ điệp này trong suốt ba năm rao giảng công khai, và cái chết của Ngài trên Thập giá chính là đỉnh điểm của lời công bố Tin mừng vĩ đại ấy. Vì vậy, để sống tinh thần truyền giáo, chúng ta phải học nơi Thập giá Đức Giêsu. Ngài chính là vị truyền giáo đầu tiên, và là mẫu gương trọn hảo cho tất cả chúng ta (trích Tông huấn Evangelii Nuntiandi số 7). Trong các đợt xuất phát truyền giáo, các hội dòng thường trao cho các vị thừa sai Thánh giá truyền giáo cũng với hướng đích này.

    Truyền giáo là bản chất của Giáo hội

    Trong các phiên họp khoáng đại của công đồng chung Vaticanô 2, Đức Thánh Cha Phaolô đệ lục có nêu ra một câu hỏi rất giản đơn cho các nghị phụ: “ Ta sống ở đời này để làm gì?” Đây cũng là câu hỏi đầu tiên trong các sách giáo lý căn bản mà chúng ta đều biết cũng như đã thuộc lòng câu trả lời, đó là:‘Ta sống ở đời này để nhận biết và kính mến Chúa, cho ngày sau được hưởng hạnh phúc đời đời’. Các nghị phụ cũng trả lời như thế. Nhưng Đức Thánh Cha nói rằng câu trả lời còn thiếu. Ngài cắt nghĩa: “ Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Chúa, cho ngày sau được cứu rỗi, nhưng chúng ta cũng sống ở trần gian này còn để giúp người khác yêu mến và nhận biết Thiên Chúa, để họ cũng được ơn cứu độ như chúng ta”. Cha Thomas Merton, một tu sỹ dòng Trappist ở Hoa Kỳ có viết một tác phẩm tựa đề: ‘Không ai là một hòn đảo’. Tư tưởng của Ngài rất thâm thúy, và trong dịp viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua, khi đọc diễn văn tại lưỡng viện quốc hội, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng gợi nhắc khuôn mặt tiêu biểu này. Cha Thomas Merton lý luận rằng, không ai trong chúng ta có thể sống cô lẻ một mình như một ốc đảo. Khi sống hiệp thông trong Hội thánh, chúng ta liên đới với anh chị em mình trong sự thánh thiện cũng như cả trong tội lỗi. Vì vậy không ai trong chúng ta sẽ lên thiên đàng một mình hoặc cũng không ai xuống hỏa ngục một mình. Chúng ta nên thánh bằng cách giúp người khác nên thánh, và đây cũng là ý nghĩa của sứ mệnh truyền giáo. Sứ mệnh này thuộc bản chất của Giáo hội, gắn liền với Giáo hội và cũng là bổn phận của mọi Kitô hữu. Trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đã chuyển giao sứ mạng cứu thế cho Giáo hội bằng mệnh lệnh: “ Anh em hãy đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân” (Mc 16,15). ‘Cho muôn dân’ tức “ ad gentes”, cũng chính là tựa đề của sắc lệnh về truyền giáo mà công đồng Vaticanô 2 đã để lại cho chúng ta.

    Chứng nhân hơn là thầy dạy

    Trong một sứ điệp ngày truyền giáo, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 cũng viết: “ Truyền giáo là thước đo đức tin của mọi tín hữu”. Lời khẳng định này cũng tương hợp với giáo huấn của Thánh Giacôbê tông đồ khi Ngài viết: “ Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Việc làm đó được thực hiện rõ nét nhất qua sứ vụ truyền giáo. Rao giảng Tin mừng là một bổn phận của những ai thuộc về Đức Kitô và được Chúa mời gọi trở nên môn đệ Ngài. Thánh Phaolô xác tín mạnh mẽ bổn phận ấy nên Ngài nói: “ Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”(1Cr 9,16). Nhưng, cách thái rao giảng Tin mừng để đạt hiệu quả mới là điều quan trọng mà chúng ta cần phải lưu tâm.

    Có lần, một số các vị truyền giáo đang làm việc ở Ấn Độ đến gặp ông Mahatma Gandhi và hỏi ông bí quyết làm sao để có thể truyền giáo cho người dân Hindu ở đây. Ông Gandhi mời gọi các vị truyền giáo hãy suy nghiệm bí quyết từ cánh hoa hồng. Người ta thích hoa hồng không phải chỉ vì vẻ đẹp bên ngoài mà còn vì mùi hương quyến rũ từ bên trong tỏa ra. Ông kết luận, muốn truyền giáo thành công, phải học bí quyết ấy, tức là rao giảng không phải bằng lý thuyết xuông nhưng bằng gương sáng cụ thể của cuộc sống. Điều ông ta nói tới cũng giống như giáo huấn của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 khi Ngài diễn tả: “ Ngày nay, Giáo hội cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy.”

    Kết luận: Chứng tá Tin mừng

    Sau biến cố 30 tháng 04 năm 1975, một cán bộ nhà nước thuộc dạng cao cấp có hỏi một anh em tu sĩ dòng Tên ở Thủ Đức: “ Các anh là những người theo tôn giáo, chắc các anh rất sợ chúng tôi là những người vô thần?”. Vị tu sĩ đó bình thản trả lời: “Vâng thưa ông, chúng tôi rất sợ những người vô thần. Nhưng nếu các ông là những người vô thần thực sự và sống đúng với lý tưởng của các ông, thì chẳng có gì đáng sợ cả. Xin chúc mừng các ông nếu các ông thật sự cảm thấy hạnh phúc trong sự xác tín lý tưởng của mình. Nhưng ngược lại, chúng tôi rất sợ những người vô thần trong thực hành. Họ mang danh là Kitô hữu, nhưng lại sống như những người vô thần thực sự và còn tệ hơn cả những con người công khai chối bỏ Thiên Chúa. Bởi vì, cuộc sống của họ đang tàn phá Giáo hội, làm lung lạc đức tin người khác và làm cho Giáo hội của chúng tôi ngày càng suy yếu.”

    Nếp sống vô thần trong thực hành như thế chính là một lối sống phản chứng tá. Thay vì rao giảng Tin mừng, thì cuộc sống như vậy lại cản che và bóp chết hạt giống Lời Chúa trong những sỏi đá và gai góc nơi chính tâm hồn của họ. Trong ngày khánh nhật truyền giáo hôm nay, chúng ta hãy nhìn lại cuộc sống chính mình để duyệt xét xem chúng ta đã thực thi bổn phận quan trọng ấy như thế nào.

    Về mục lục

    .

    TINH THẦN TRUYỀN GIÁO-

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Truyền giáo là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, khởi nguồn từ Thiên Chúa. Qua mọi can dự vào lịch sử loài người, Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm tất cả “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”.

    Sứ mạng truyền giáo đã được trao phó cho Giáo Hội. Khi lập Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu cho thấy ý định trao phó sứ mạng truyền giáo cho Giáo Hội sau này (x. Mc 3,13). Trước khi rời các Tông đồ để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã trực tiếp ban mệnh lệnh truyền giáo cho các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21), “Anh em hãy đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).

    Chính các Tông đồ và những cộng sự của các ngài đã thừa hành mệnh lệnh này một cách xuất sắc. Trải qua bao khó khăn dọc dài lịch sử, các ngài đã đem Tin Mừng Phục Sinh tới nhiều miền và cho nhiều tâm hồn. Hơn hai ngàn năm qua, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, các thế hệ tông đồ truyền giáo đã nối tiếp nhau mang Tin Mừng đi khắp địa cầu.

    Như vậy, truyền giáo xuất phát từ Thiên Chúa, qua Đức Kitô sứ mạng này đã được trao cho Giáo Hội, nhờ Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trung thành và nhiệt thành chu toàn sứ mạng cho đến ngày tận thế.

    Thực thi sứ mạng truyền giáo là chia sẻ cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, yêu thương đến cùng, yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu. Truyền giáo là làm chứng cho Chúa Kitô bằng đời sống.

    1. Nội dung truyền giáo

    Trước khi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu ban lệnh truyền; “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Lời Chúa nói với các môn đệ về nội dung truyền giáo có 4 công việc quan trọng.

    1. Truyền giáo là Rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Rao giảng là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Truyền giáo là “loan báo Tin mừng”.
    2. Truyền giáo là “thiết lập cộng đoàn các môn đệ”, cộng đoàn những người tin vào Chúa Kitô, cộng đoàn này chính là Giáo Hội. Chúa Giêsu nói rõ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”.
    3. Truyền giáo là “cử hành Phụng vụ và các Bí tích”. Chúa Giêsu cũng nói rõ: “làm phép rửa cho họ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Các Bí tích thuộc về Nhiệm cục Cứu độ của thời đại Tân Ước, được Chúa Giêsu thiết lập, để qua đó ban ơn cứu độ cho con người.
    4. Truyền giáo là dạy Giáo lý, là Huấn giáo. Chúa Giêsu đã căn dặn: “Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Mục tiêu của Huấn giáo là dạy cho người ta biết Chúa, tin Chúa và yêu Chúa, giúp cho người Kitô hữu có thể gặp gỡ Chúa, tiếp xúc với Chúa trong đời sống cầu nguyện, cũng như trong đời sống thực tế hằng ngày.

    2. Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu

    “Đức Giêsu Kitô là lý tưởng trung tâm của truyền giáo, và lý tưởng này đòi hỏi sự hiến mình hoàn toàn cho việc rao giảng Tin Mừng” (Sứ điệp TG 2015). Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội thời nào và ở đâu cũng bắt đầu từ mẫu gương Chúa Giêsu.

    Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu.

    Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó. Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi kitô hữu. Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo. Yêu người ngoại, yêu người tội lỗi, yêu người nghèo và người bệnh tật như thế là truyền giáo theo gương Chúa Giêsu.

    Trong sứ điệp Truyền Giáo 2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đặt câu hỏi và trả lời: “Ai là những người đầu tiên phải được nghe loan báo sứ điệp Tin Mừng? Câu trả lời rất rõ ràng và được gặp rất thường xuyên trong Tin Mừng, đó là: những người nghèo, những người bé mọn và những người bệnh tật, những người thường bị khinh dể hay bị bỏ quên, những người không có gì để đền đáp chúng ta (x. Lc 14,13-14). Ưu tiên rao giảng Tin Mừng cho những người hèn mọn nhất giữa chúng ta là dấu chỉ của Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu đem đến: “Có một dây liên kết không thể phân ly giữa đức tin của chúng ta và người nghèo” (Evangelii Gaudium, 48). 

    3. Tinh thần truyền giáo và nhiệt huyết tông đồ.

    Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, khi còn là Giám Mục giáo phận Nha Trang, đã viết chỉ dẫn về truyền giáo như sau: “Những nỗ lực hoạt động, cầu nguyện sẽ không mang lại kết quả nếu chúng ta không được hướng dẫn bằng một tinh thần mới, một bầu nhiệt huyết tông đồ. Bất cứ lúc nào tiếp xúc với lương dân, với một bầu nhiệt huyết tông đồ, anh chị em hãy luôn luôn nhớ rằng: Tinh thần truyền giáo không phải là óc chinh phục mà là lòng yêu thương. Tinh thần truyền giáo không phải là óc cai trị, mà là tinh thần phục vụ mọi người. Tinh thần truyền giáo không phải là đạo binh thánh giá, dùng vũ lực để đánh ngã, nhưng là tinh thần chứng nhân, lấy đời sống mà làm chứng tích. Tinh thần truyền giáo không phải là óc tự cao tự đại, nhưng là thái độ đối thoại, là tinh thần trao đổi và tôn trọng các tôn giáo khác. Tinh thần truyền giáo không phải là mãnh lực của tiền tài, quyền thế mà là tinh thần tương trợ. Tinh thần truyền giáo không phải là thủ đoạn chiến lược, nhưng là tấm lòng chân thành đơn sơ. Tinh thần truyền giáo không bao giờ chán nản, vì trở ngại, vì vô ơn, vì phản bội, vì thất bại, ngược lại luôn luôn tin cậy vào ơn Chúa và nhẫn nại”. (Gm. Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, Thư luân lưu: Sứ mạng Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta, lễ Thánh Têrêxa năm 1970. Trích trong tập Hôm qua, hôm nay, ngày mai, Thời điểm 1996, tr. 102-103).

    Sắc lệnh Ad Gentes đề cao tầm quan trọng của chứng tá đời sống trong việc truyền giáo: “Tất cả các Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải dùng chứng tá và gương mẫu đời sống để thể hiện con người mới của họ đã đón nhận qua bí tích Thanh tẩy, đồng thời biểu dương sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã cũng cố họ qua bí tích Thêm sức, để những người chung quanh nhìn thấy các việc họ làm mà ngợi khen Chúa Cha” (số 11).

    Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mình sống và làm việc. Đời sống của giáo dân là phương tiện truyền giáo hữu hiệu hàng đầu. Muốn truyền giáo, giáo dân phải có lòng đạo nhất định. Việc tái truyền giáo giúp tẩy xóa hay giảm bớt những cách sống phản Tin Mừng nơi người đã có đức tin. Thực tế, chẳng ai lại đi theo một cái Đạo mà ngay cả tín đồ cũng không thực hành Đạo. Cũng chẳng ai có thể cho người khác cái mà mình không có. Tái truyền giáo sẽ giúp giáo dân đong đầy hành trang là những giá trị Tin Mừng cho cuộc sống, thay cho những lối sống buông thả và thiếu cố gắng xưa nay. Muốn giới thiệu Chúa cho người chưa biết Chúa, người giáo dân phải thấm nhuần đạo lý, sống trong thế thượng phong về luân lý, về đức bác ái và sự công bằng. Như thế, từng cá nhân, từng nhóm và cộng đoàn, mới dấn thân vào việc truyền giáo. Đức Phanxicô viết trong Sứ điệp truyền giáo năm nay rằng “Mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình… Như Công đồng Vaticanô II nói: Giáo dân phải hợp tác vào công cuộc truyền giáo của Hội Thánh; là những chứng nhân và đồng thời là những công cụ sống động, họ chia sẻ sứ mạng cứu rỗi của Hội Thánh” (Ad Gentes, 41)”. 

    Thực thi sứ vụ truyền giáo trong Năm Tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ và đời sống cộng đoàn thánh hiến bằng cách:

    – Mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình. Một cách đặc biệt, những người nam người nữ thánh hiến được mời gọi lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần, Đấng kêu gọi họ đi ra các vùng ngoại biên, đến với những người chưa được nghe rao giảng Tin Mừng… Người truyền giáo đích thực thì say mê Tin Mừng. Tin Mừng là nguồn mạch niềm vui, sự giải phóng và cứu độ cho mọi người. Hội Thánh ý thức được hồng ân này, vì thế Hội Thánh không ngừng công bố cho mọi người “điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, và chúng tôi đã tận mắt chứng kiến” (1Ga 1,1). Sứ mạng các tôi tớ của Lời – các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân– là giúp cho mọi người, không trừ một ai, được đi vào mối quan hệ với Đức Kitô. (Sứ điệp Truyền giáo 2015).

    • Đặc biệt đối với những người sống đời thánh hiến, qua lời khấn sống đời nghèo khó, họ chọn theo Đức Kitô trong sự ưu ái của Ngài đối với người nghèo, theo cách mà Ngài tự đồng hoá mình với người nghèo: sống giống như người nghèo giữa những bất trắc của đời sống hằng ngày và từ khước mọi đòi hỏi về quyền lực, để đem đến cho họ chứng tá về niềm vui của Tin Mừng và một dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa. (Sứ điệp TG).
    • Mỗi Giáo xứ khởi động phong trào: mỗi thành viên phải làm sao giúp cho một người khác theo đạo.
    • Mỗi giáo dân nên kết thân với một Lương dân. Mỗi gia đình kết thân với một gia đình bên Lương. Kết thân để cầu nguyện, nâng đỡ nhau.
    • Các hội đoàn đi tìm người tội lỗi và người nghèo trong địa phương của mình. Nên có một danh sách cụ thể. Sau đó sẽ cùng nhau thăm viếng, an ủi và giúp đỡ.

    Chúa Thánh Thần hướng dẫn và quyết định thành tựu của việc truyền giáo. Nhưng nỗ lực của mọi thành phần Dân Chúa trong việc truyền giáo cũng là yếu tố làm nên sự thành công. Ước mong Khánh Nhật Truyền Giáo là ngày mang đến cho chúng ta nhiều niềm vui Tin Mừng qua những thành quả, và cũng giúp chúng ta có thêm động lực để dấn thân cho việc loan báo Tin Mừng.

    Về mục lục

    .

    LOAN BÁO TIN MỪNG
    TRONG XÃ HỘI HÔM NAY

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 16,15-20

    (15) Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi lòai thọ tạo. (16) Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ. Còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. (17) Đây là những dấu lạ sẽ di theo những ai có lòng tin: Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. (18) Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhầm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe. (19) Nói xong Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. (20) Còn các Tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng họat động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

    1. Ý CHÍNH:

    Trước khi về trời, Đức Giêsu đã truyền cho các môn đệ tiếp tục sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Trời khắp thế gian. ai tin và chịu phép rửa thì sẽ nên dưỡng tử của Thiên Chúa và được hưởng ơn cứu độ. còn kẻ không tin là tự loại mình ra khỏi Nước Trời và sẽ bị kết án. Cuối cùng Đức Giêsu còn hứa ban cho các ông quyền làm nhiều phép lạ. Các môn đệ đã vâng lời Thầy đi khắp nơi loan Tin Mừng.

    1. CHÚ THÍCH:

    C 15-16: + Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ: Trong thời gian 3 năm rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu chỉ được sai đến cùng các con chiên lạc của nhà Ít-ra-en. nhưng sau khi phục sinh, Người lại trao cho các Tông đồ sứ mạng phổ quát đến với muôn dân + Loan báo Tin Mừng: theo Hy ngữ, Tin Mừng ( Euaggelion) là một “Tin Vui, Tin Mừng”. Có thể hiểu Tin Mừng Đức Giêsu theo hai nghĩa: Một là chính “Tin Mừng được Đức Giêsu công bố”. Hai là “Tin Mừng về Đức Giêsu”, Đấng ban ơn cứu độ nhờ mầu nhiệm chết và sống lại của Người. + cho mọi loài thọ tạo: Nghĩa là mọi dân mọi nước (x. Mt 28,19), Chúa sẽ biến đổi mọi tạo vật nên “Trời Mới Đất Mới” vào ngày tận thế (x. Kh 21,1). + Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ: Tin là mở lòng đón nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa. Chịu phép rửa là nhận ơn tha tội và ơn tái sinh để nên người mới, dưỡng tử của Thiên Chúa để được sống đời đời.+ còn ai không tin thì sẽ bị kết án: Thực ra, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ (x Ga 3,17). Nhưng kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Họ giống như cành nho bị tách lìa khỏi thân cây là Đức Giêsu, nên sẽ bị khô héo và bị quăng vào lửa đời đời (x. Ga 15,5-6). + Còn những người không tin Đức Giêsu nhưng không do lỗi của họ thì có được ơn cứu độ không?: Những ai tuy không biết Đức Ki-tô, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành, thì Chúa sẽ lo liệu cho họ có đủ phương tiện cần thiết để được rỗi linh hồn. Chỉ những kẻ cố tình làm tay sai cho ma quỷ, làm điều gian ác và không chịu hồi tâm thì chắc chắn sẽ phải xuống hỏa ngục. Vì hỏa ngục được lập ra “dành cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (Mt 25,41).

    C 17-18: + Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Ngay trong thời gian giảng đạo, khi sai các Tông đồ đi thực tập truyền giáo, Đức Giêsu đã ban cho các ông quyền trên các thần ô uế để các ông xua trừ chúng và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền trong dân (x. Mt 10,1-5). Giờ đây trước khi về trời, Đức Giêsu lại trao quyền làm các dấu lạ cho các ông. + Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe: Khi viết Tin Mừng (khoảng năm 65), thánh Mác-cô đã nghe biết các phép lạ do các Tông đồ thực hiện. Chẳng hạn: vào lễ Ngũ Tuần, các ông đã được đầy ơn Thánh Thần, bắt đầu nói các thứ tiếng khác lạ (x. Cv 2,4). Thánh Thần cũng ngự xuống trên gia đình Co-nê-li-ô và cho họ nói các thứ tiếng lạ (x. Cv 10,44-46). Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân nhờ bàn tay các Tông đồ (x. Cv 5,12). Ông Phê-rô đặt tay trên bệnh nhân hoặc chỉ cần bóng của ông phớt qua đã đủ để họ được lành bệnh, và thần ô uế cũng phải xuất ra (x. Cv 5,15-16). còn Tông đồ Phao-lô thì chữa lành một người bị bại chân tại Ly-tra (x. Cv 14,8-10) ; Tại đảo Man-ta, Phao-lô đã bị rắn độc bám vào tay cắn mà không hề hấn gì (x. Cv 28,1-6); Ông cũng đã cầu nguyện và đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân (x. Cv 28,8-9); Ngay cả chiếc áo ông mặc qua cũng có năng lực làm cho cơn bệnh biến đi và tà thần phải xuất ra (x. Cv 19,11; 20,9-12).

    C 19-20: + Chúa Giêsu được rước lên trời: Như Ê-li-a thời Cựu Ước đã “lên trời trong cơn gió lốc”(2 V 2,11), thì thân xác Đức Giêsu cũng được rước lên trời trên các tầng mây, và từ nay Người không còn lệ thuộc vào không gian thời gian như khi còn sống nữa. + và ngự bên hữu Thiên Chúa: Đức Giêsu đã được Chúa Cha tôn vinh, được vào trong vinh quang của Chúa Cha, với quyền cai trị vũ trụ (x. Mt 28,18; Ep 1,21-22). + ra đi rao giảng khắp nơi: các Tông đồ đã vâng lời Chúa Giêsu, đi rao giảng Tin mừng, làm chứng cho Đức Giêsu tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 1,8). + có Chúa cùng hoạt động với các ông…: Từ đây, Chúa Ki-tô sẽ luôn hiện diện trong Hội thánh (x Mt 28,20). Người ban Thánh Thần để Hội thánh tha tội cho người ta giống như Người (x Ga 20,21-22). Người cũng hứa ban cho Hội thánh làm được những việc lớn lao hơn Người nữa, đó là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc với quyền năng Thánh Thần (x Ga 14,12).

    1. CÂU HỎI:

    1) Mầu nhiệm Phục sinh có tầm quan trọng thế nào đối với sứ mệnh được sai đi? Các Tông đồ được Đức Giêsu sai đến với những ai?

    2) Tin Mừng Đức Giêsu có những ý nghĩa nào?

    3) Phải có những điều kiện nào để được hưởng ơn cứu độ của Đức Giêsu?

    4) Những ai chắc chắn sẽ bị sa vào hỏa ngục? Những người chưa có đức Tin, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành có được hưởng ơn cứu độ không?

    5) Trong thời gian giảng đạo, khi sai môn đệ đi thực tập truyền giáo, Đức Giêsu đã ban cho các ông những quyền nào?

    6) Trước khi về trời, Đức Giêsu trao sứ mệnh loan Tin mừng cho các Tông đồ kèm theo những dấu lạ nào?

    7) Lời Chúa phán về các dấu lạ kèm theo Lời rao giảng của các Tông đồ đã ứng nghiệm thế nào vào thời Giáo Hội sơ khai?

    8) Thời Cựu Ước, Ngôn sứ nào được rước lên trời? Thời Tân Ước hai nhân vật nào cũng được lên trời? Chúa Giêsu thăng thiên khác với việc mông triệu của Đức Maria thế nào?

    9) Người lương dân luôn ăn ngay ở lành mà chết, có được hưởng ơn cứu độ của Chúa Giêsu ban cho không?

    10) So sánh Lời Chúa Giêsu truyền cho các Tông đồ trước khi lên trời là “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…”(x Mt 28,19) và “Hãy nên chứng nhân của Thầy…” (x Cv 1,8) giống và khác nhau thế nào?

    11) Sau khi lên trời, Chúa Giêsu còn hiện diện trong Hội thánh nữa không?

    12) Từ đây, Chúa Thánh Thần được ban cho Hội thánh với sứ mạng gì?

    .

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
    2. CÂU CHUYỆN: VIÊN NHẠC SĨ VÀ CHIẾC VĨ CẦM QUÍ GIÁ

    PHÍT KÂY-DƠ-LÊ (fritz kreisler) (1875-1962) là một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng khắp thế giới. Ông đã tạo được một tài sản đồ sộ nhờ các buổi hòa nhạc và soạn nhạc, nhưng lại hào phóng cho đi gần hết những của cải kiếm được. Do đó, trong một chuyến đi lưu diễn, ông phát hiện ra một cây vĩ cầm rất đẹp và âm thanh của nó nghe thật tuyệt vời, nhưng ông lại không có đủ tiền để mua ngay. Sau một thời gian để dành, khi ông mang tiền đến mua thì cây vĩ cầm kia đã được bán cho một nhà sưu tầm nhạc cụ. Phít theo địa chỉ tìm đến chủ nhân mới của cây vĩ cầm để xin được mua lại. Nhà sưu tầm lúc đầu không muốn bán, vì theo ông ta cây đàn này là một bảo vật quí giá. Phít cảm thấy chán nản thất vọng. Tuy nhiên trước khi ra về, ông nảy ra sáng kiến và nói với người chủ mới của cây đàn như sau: “Tôi xin phép được chơi một bài trước khi cây đàn này bị rơi vào cỏi thinh lặng”. Được chủ nhân đồng ý, viên nhạc sĩ tài ba này đã làm cho ông chủ cây đàn vô cùng xúc động khi nghe được tiếng đàn du dương réo rắt của nó qua bàn tay tài hoa của ông, đến nỗi ông ta đã phải thốt lên: “Này Kây-dơ-lê ơi! Tôi không có quyền giữ cây đàn này. Nó thuộc về ông. Ông hãy đem nó đi khắp thế giới, để thiên hạ được thưởng thức âm thanh tuyệt vời của nó”.

    3.THẢO LUẬN:

    1) Thánh Têrêxa nhỏ đã được tôn phong làm tiến sĩ Hội thánh. Bạn nghĩ gì về kiểu truyền giáo bằng cầu nguyện và hy sinh của chị? Bây giờ có hợp thời không ?

    2) Mẹ Têrêxa hiến đời mình cho người cùng khổ, bệnh tật, không phân biệt tôn giáo, màu da… Bạn nghĩ gì về kiểu truyền giáo này? Nó có đánh động trái tim con người hôm nay không ?

    3) Trong xã hội hôm nay, chúng ta cần rao giảng Tin Mừng cho anh em lương dân bằng cách nào để đạt hiệu quả nhất ?

    1. SUY NIỆM:

    1) Tại sao phải truyền giáo? :

    Có người lên tiếng chỉ trích công việc truyền giáo của Hội thánh Công giáo cho lương dân. Theo họ: “Đạo nào cũng tốt vì đạo nào cũng dạy người ta phải ăn ngay ở lành và đều bắt nguồn từ Trời, nên cần chi phải rao giảng về đạo Công giáo cho ngừoi ta? Tốt hơn là cứ khuyên họ hãy sống thật tốt theo đúng tôn chỉ của đạo giáo mà họ đang theo”. Thực ra, nếu xét về mặt luân lý tự nhiên thì xem ra mọi tôn giáo đều tốt và đều dạy người ta hướng thượng, ăn ngay ở lành, giữ đức công bình và sống từ bi nhân ái. Nhưng về mặt tín lý, giáo lý của các đạo giáo chỉ là thứ chân lý chủ quan, có nhiều sai lạc và làm méo mó đi hình ảnh của Thiên Chúa. Do đó, các tôn giáo nói chung không thể có giá trị ngang nhau cả về tín lý và luân lý. Ta có thể ví chân lý của các tôn giáo nói chung giống như ánh sáng lờ mờ của cây đèn dầu, và còn sai lầm khi tôn thờ những con người hay thú vật để được phù trợ ban ơn… Còn chân lý của đạo Công giáo do phát xuất từ Đức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người như Người đã nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. … Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6). Đạo Công giáo ví như ánh sáng chói chan của mặt trời chính ngọ, giúp các tín hữu nhận biết, tôn thờ yêu mến một Thiên Chúa tòan năng chân thật, nhờ đó, họ sẽ nhận được hạnh phúc và sự sống đời đời như công đồng Vaticanô II đã dạy: “Tất cả những gì tốt lành chân thật trong các tôn giáo chỉ có giá trị như để chuẩn bị cho họ lãnh nhận Tin Mừng, và như một hồng ân mà Đấng soi sáng mọi người ban cho, để cuối cùng họ sẽ được sống đời đời” (LG số 16).

    Để qui tụ tất cả con cái loài người đã bị tội lỗi làm cho tản mác và đi lạc đường, Thiên Chúa muốn tập họp toàn thể loài người trong Hội thánh của Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài. Hội thánh là nơi loài người tìm thấy Thiên Chúa và sẽ được hưởng ơn cứu độ. Hội thánh là thế giới đã được hòa giải, là con tàu giúp vượt đại dương trần gian nhờ cơn gió mạnh là Thánh Thần, với cánh buồm là thánh giá Đức Ki-tô. Hội thánh cũng được ví như con tàu duy nhất của tổ phụ Nô-e giúp loài người thoát khỏi cơn đại hồng thủy (x. 1 Pr 3,20-21).

    2) Sứ vụ truyền giáo của Hội thánh bắt nguồn từ đâu? :

    Đức Giêsu đã trao sứ vụ truyền giáo cho các môn đệ trước khi lên trời “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20). Người cũng dạy môn đệ hãy làm chứng nhân cho Người: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samaria  và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

    Như vậy sứ mạng loan Tin Mừng là một bổn phận phải làm chứ không phải là một việc tuỳ sở thích như lời thánh Phaolô: “Đối với tôi rao giảng Tin mừng không phải là lý do để tự hào, nhưng là một sự cần thiết buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng.” (1 Cr 9,16). Công việc truyền giáo đòi hỏi nhiều kiên trì dù có gặp thất bại, dù thân xác đã bị mệt mỏi rã rời và cả khi gặp những trắc trở như lời thánh Phaolô: “Hãy rao giảng Lời Chúa. Hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2Tim 4,2). Nhờ ơn Thánh Thần của Chúa Phục Sinh trao ban, Hội thánh thời sơ khai đã hăng hái chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời đi khắp thế gian. Các Tông đồ nhờ ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần, đã theo lối sống đơn giản vị tha, quảng đại chia sẻ và khiêm tốn phục vụ tha nhân, nhất là phục vụ những người bất hạnh để giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế cho mọi dân mọi nước, để ai tin và chịu phép rửa tội sẽ được gia nhập Nước Trời để được hưởng ơn cứu độ là sự sống vĩnh hằng đời này và đời sau. Còn những kẻ cố chấp không tin vào Đức Giêsu là đã tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ do Người mang đến.

    3) Truyền giáo cụ thể là truyền điều gì? :

    Truyền giáo không phải chỉ là rao giảng một số chân lý về Chúa, nhưng là truyền đức tin mà chính mình đã có được sau khi đã gặp gỡ thân tình với Chúa cho người chưa biết Chúa để họ cũng tin yêu Chúa như mình, giống như cách thức ông Anrê đã làm sau khi tin nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai. Ông đã giới thiệu Người cho người em của mình là Simon Phêrô (x. Ga 1,40-42). Hoặc như ông Philipphê sau khi gặp và tin Đức Giêsu đã dẫn bạn là Nathanaen đến gặp Người (x. Ga 1,45-51). Truyền giáo bằng cách truyền đức tin yêu Chúa sẽ có sức lay động lòng  người khác hơn là chỉ cố gắng trình bày giáo lý công giáo cho người chưa tin.

    Để chu toàn sứ mạng thông truyền đức tin cho người khác, trước hết chúng ta cần phải củng cố đức tin của mình vào Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, bằng việc năng đọc và suy niệm Lời Chúa hằng ngày dưới ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần và cầu xin Chúa gia tăng đức tin cậy mến cho mình, trước khi “đi bước trước” làm quen người chưa nhận biết Chúa, theo cách Đức Giêsu đã làm bên bờ giếng Giacóp: Người đã mở lời xin nước uống để làm quen với người phụ nữ Samari, rồi sau đó từng bước trình bày cho chị về thứ Nước Hằng Sống được ban cho những ai tin vào Người (x. Ga 4,7-10). Rồi sau khi đã tin Đức Giêsu, chị ta đã về làng loan báo Đức Giêsu cho dân làng biết và đã dẫn họ ra bờ giếng để gặp Đức Giêsu (x Ga 4,25-30).

    4) Phải truyền giáo bằng cách nào cho hữu hiệu? :

    Ngày nay mỗi tín hữu do bí tích rửa tội và thêm sức đã lãnh nhận, cũng có sứ vụ góp phần với Hội thánh để loan báo Tin Mừng Nước Trời cho những người chưa tin bằng một số phương cách như sau:

    – Bằng việc “tân phúc âm hóa” đời sống mỗi người và mỗi gia đình tín hữu:

    Truyền giáo là làm chứng cho Chúa. Để làm chứng cho Chúa, trước hết chúng ta phải hiểu biết Chúa và tin yêu Chúa. Một người không tin Chúa hoặc chỉ có đức tin nông cạn thì không thể “nói về Chúa” cách hữu hiệu được. Tiếp đến, người làm chứng phải có một cuộc sống tốt lành thì lời chứng mới đáng tin và mới có sức thuyết phục được người khác tin theo. Thực vậy, một người nói về Chúa mà không sống những điều mình nói thì không thể làm cho người nghe tin được, có khi họ lại còn diễn giải sai lạc về giáo lý của Hội thánh nữa. Trong Thư Chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam gần đây có kêu gọi các thành phần Dân Chúa, nhất là các linh mục, hãy nhiệt thành cộng tác để đổi mới phương cách loan báo Tin Mừng cho phù hợp với thời đại hiện nay, nhờ đó, hy vọng sẽ đem lại cho Hội thánh Việt Nam một mùa lúa chín dồi dào. Nói cụ thể, các vị chủ chăn muốn mỗi người tín hữu công giáo hãy dành ra thời giờ và tâm huyết cho việc “Phúc-Âm-hóa gia đình”, tức là liệu sao cho việc học giáo lý hôn nhân được nghiêm túc hơn, và tổ chức thường xuyên giờ Kinh Tối gia đình canh tân để thêm phần suy niệm Lời Chúa. Những việc làm đó sẽ giúp củng cố tình yêu giữa các thành viên trong gia đình và giúp giáo dục Đức tin ngày một tốt hơn cho các thế hệ tương lai.

    – Bằng cuộc sống chan hòa tình thương giữa cộng đoàn:

    Chính đời sống yêu mến nhau giữa các tín hữu thời Hội thánh sơ khai đã khiến toàn dân thương mến (Cv 2,47a), thì đời sống hiệp nhất yêu thương của các xứ đạo hôm nay cũng sẽ trở thành một cộng đoàn được người lương nhìn bằng ánh mắt thiện cảm. Đó cũng là phương cách để ca tụng Chúa và giúp “càng ngày càng có nhiều người gia nhập Hội thánh” (Cv 2, 47b). Thế nên, tinh thần truyền giáo mời gọi chúng ta hãy quan tâm giúp đỡ nhau không chỉ về tinh thần mà còn cả vật chất nữa, không chỉ trong nội bộ công giáo mà còn cả với anh em lương dân chung quanh. Đồng thời sự yêu thương này cũng gồm cả xóa bỏ những hận thù ganh ghét giữa các thành viên trong cộng đoàn, mỗi người cần sẵn sàng đón nhận nhau trong tình bác ái huynh đệ, “dĩ hòa vi quý”, nâng đỡ đùm bọc nhau để biến giáo xứ trở thành một cộng đoàn chan hòa yêu thương, chia sẻ và cảm thông. Đó chính là dấu chỉ của người môn đệ đích thực của Đức Giêsu và nên chứng nhân của Tin mừng giữa lòng xã hội Việt Nam hôm nay.

    – Bằng việc “đi bước trước” đến với anh em lương dân:

    Cụ thể, trong những ngày này, mỗi người tín hữu sẽ noi gương Mẹ Têrêxa để kết thân với một người lương, coi họ như anh chị em trong gia đình ruột thịt để quan tâm giúp đỡ họ. Mỗi gia đình công giáo sẽ kết thân với một gia đình lương dân, sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi: Khi có kỵ giỗ, cưới xin hay lễ lạc, hai bên hãy mời nhau đến hiệp thông để thắt chặt mối giây thân ái và nhờ đó, Tin Mừng sẽ ngày một lan truyền như ánh nến lễ đêm Vọng Phục Sinh được truyền từ tay người này sang tay người khác.

    – Bằng việc chia sẻ ngọn lửa yêu thương cách cụ thể:

    Mẹ Têrêxa Calcutta đã nêu gương truyền giáo bằng việc chia sẻ ngọn lửa yêu thương cụ thể. Mẹ không rao giảng bằng lời nói, nhưng bằng tâm tình yêu mến kèm theo cử chỉ thân thương đối với những người nghèo đói bệnh tật và bị bỏ rơi. Mẹ cũng không chủ trương yêu thương cách chung chung, nhưng là yêu thương từng con người cụ thể gặp được trong cuộc sống. Mẹ nói: “Đối với chúng tôi, điều quan trọng là yêu thương từng người một. Để thương yêu một người thì trước tiên phải đến gần người ấy… Tôi chủ trương một người đến với một người vì mỗi người đều là hiện thân của Đức Kitô… Người đó phải là con người duy nhất trên thế gian trong giây phút đó.” Với tâm tình nầy, Mẹ Têrêxa đã thu phục nhân tâm của nhiều người trên thế giới. Cũng bằng phương thức nầy, Giáo hội công giáo Hàn Quốc đã gia tăng gấp đôi số tín hữu chỉ trong mười năm!

    1. NGUYỆN CẦU:

    Lạy Chúa Giêsu. Hôm nay là ngày thế giới truyền giáo. Xin giúp chúng con trở nên chứng nhân giúp người khác nhận biết và tin yêu Chúa bằng lời nói việc làm của chúng con: Giữa một thế giới chỉ biết chạy theo các tiện nghi để hưởng thụ, xin cho chúng con biết chấp nhận cuộc sống đơn sơ trong cách ăn ở và tiêu dùng của cải vật chất. Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo, xin cho chúng con tránh thói tham lam, chỉ lo thu tích cho mình, nhưng biết quảng đại chia sẻ cho người bất hạnh. Giữa một thế giới khinh thường người nghèo, xin cho chúng con biết quí trọng phẩm giá của mọi người. Giữa một thế giới bị mất phương hướng, xin cho chúng con giúp họ nhận biết tin yêu Chúa và phục vụ tha nhân, hầu tìm thấy ý nghĩa cuộc đời.          

    – Lạy Chúa Giêsu, Tình Yêu của con, nếu Hội thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì hẳn Hội thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất và cao quý nhất  tà trái tim, một trái tim bừng cháy tình yêu. Chính tình yêu làm cho Hội thánh hoạt động. Nếu trái tim Hội thánh vắng bóng tình yêu, thì các Tông đồ sẽ ngừng rao giảng, các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu mình… Lạy Chúa Giêsu, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là tình yêu. Con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội thánh: nơi Trái Tim Hội thánh, con sẽ là tình yêu, và như thế con sẽ là tất cả, vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con, mọi ước mơ của con được thực hiện (Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu).

    X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.-

    Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục