Blog Page 2144

Dòng đời

DÒNG ĐỜI

1. Dòng Nước

Dòng đời nổi trôi ví tựa như dạt bèo trên dòng sông. Dòng sông luôn chảy và nước thủy triều vẫn cứ lên xuống đều hòa. Dòng sông bắt nguồn từ trên triền núi cao chảy dần xuống thấp vào dòng suối ra dòng sông rồi từ từ thoát ra biển cả. Dòng nước tinh tuyền khởi đi từ thượng nguồn chảy xuống thấm sâu vào lòng đất. Nước lạnh âm thầm thấm nhập trong đất để nuôi sống mọi loài thảo mộc phát triển sinh hoa kết trái. Nước còn là nguồn tươi mát giải khát cho mọi loài động vật và con người. Nước rửa sạch mọi nhơ nhớp, nhày nhụa và bẩn thỉu mà mọi loài đã sa thải. Sau cùng, dòng nước kéo theo tất cả những vẩn đục, rác rến và đồ phế thải trở về đại dương để thanh luyện. Nếu dòng nước ngưng đọng, nước sẽ bị tù túng trở nên tanh hôi và ô nhiễm.

Dòng đời của mỗi người cũng năm chìm bảy nổi. Sinh ra là đã mang kiếp phận con người. Có những trẻ em sinh ra ở đời đã được ấp ủ vỗ về trong bầu khí yêu thương của gia đình. Có những trẻ sinh ra trong bọc điều sung sướng có mẹ, có cha và có anh chị em. Có những mảnh đời mới bước vào cuộc sống đã mang thân phận tôi đòi, nô lệ. Có những trẻ sơ sinh mồ côi oa oa tiếng khóc chào đời. Có những bé thơ sinh ra trong cô đơn bị mẹ cha chối từ ghét bỏ như của nợ. Cũng có những em sinh ra trong lầm than vất vả và khổ cực trăm bề. Người ta thường gọi tất cả đó là số mệnh. Mỗi người có một vận mệnh khác nhau cũng như mười hai bến nước, có đục có trong. Số mệnh đời người như cánh bè dạt trôi và không ai biết chung cục đời mình sẽ ra sao. Ngay cả anh chị em cùng trong một gia đình cũng đã có nhiều cuộc sống khác nhau. Mỗi người một phận. Chúng ta không thể ngồi đó để so sánh hơn thiệt. Đã mang một kiếp sống là mang theo một định mệnh. Định mệnh nổi trôi như cánh bèo trên dòng nước.

2. Phận Người

Chúng ta có thể suy tư để nhận biết về cuộc đời như trăm hoa đua nở. Càng suy chúng ta càng thấy mỗi cuộc đời là một mầu nhiệm. Mỗi đời người là một công trình sáng tạo tuyệt vời của Thiên Chúa. Chúng ta không thể so sánh mà chỉ chấp nhận như một món qùa vô giá. Nhìn vũ trụ bao la, tự hỏi chúng ta là ai? Chúng ta đã làm được gì để lãnh nhận một cuộc sống qúa kỳ diệu. Chúng ta cùng hiện hữu với muôn vật trong thời gian và không gian. Chúng ta được nhìn ngắm và thưởng ngoạn tất cả những khoảng không và những vận hành trong vũ trụ. Mỗi người chúng ta đang lữ hành trong một không gian vô tận. Linh hồn linh thiêng gắn kết với thân xác giới hạn đang mở ra với một vũ trụ bao la. Chúng ta được hòa nhập với vũ trụ trong mọi chuyển động.

Tôi được sinh ra vào ngày giờ và năm tháng đó. Khoảng thời gian và không gian của sự vận hành có những dấu khắc ghi như năm đó có động đất, có núi lửa phun, có sóng thần, có bão tuyết và có nắng hạn… Khoảng thời gian quá khứ đã in ghi trong cuộc sống sẽ không bao giờ thay đổi. Mọi biến cố xảy ra sẽ đi vào đời đời cùng với thời gian chúng ta hiện hữu. Vũ trụ và thế giới vẫn tiếp tục vòng xoay dù có sự hiện hữu của chúng ta trên trái đất này hay không. Chúng ta chẳng có ảnh hưởng gì đối với việc vận hành của vũ trụ, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy như mình đang chia phần nhỏ bé trong sự lưu chuyển này. Sự có mặt của chúng ta trong vũ trụ càn khôn là một sự hiện hữu trường tồn. Chúng ta hiện hữu và qua đi cùng với thời gian và không gian.

3. Định Mệnh

Định mệnh của mỗi sinh linh đều ẩn chứa một mầu nhiệm. Mầu nhiệm của sự sống và sự chết. Có người kéo dài cuộc sống trên 100 năm, có những cuộc sống vỏn vẹn có một giờ hay một ngày. Dòng đời ngược xuôi, xuôi ngược. Có những người có cuộc sống an nhàn tự tại và thảnh thơi. Có những nguời bon chen, bận rộn và làm việc quần quật suốt ngày. Có những cuộc sống trên nhung lụa, tiền rừng bạc bể và của cải đầy dư. Có những kẻ phải bôn ba vất vả, giãi dầu nắng mưa và tần tảo ngược xuôi kiếm sống từng ngày. Có những người khổ đau, bệnh hoạn tật nguyền và cơ cùng đói khổ. Có những cuộc đời tự do thoải mái và du hành khắp nơi. Có những cuộc sống bị giam hãm đọa đầy trong quản thúc tù tội. Theo kinh nghiệm chung của người đời thì không ai sướng mãi và cũng không ai khổ mãi. Cùng tắc biến, biến tắc thông. Có khi cuộc sống sung mãn dư tràn vật chất nhưng tinh thần lại cô đơn, buồn tẻ. Có khi đời người đói khổ cơ bần nhưng tâm hồn lại thanh thoát nhẹ nhàng. Có khi bị tù đầy giam hãm nhưng tinh thần lại an bình và thư thái. Người đời thường nói: Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Khổ đau tôi luyện ý chí sắt đá và kiên tâm nhẫn nại.

Dòng đời vẫn cứ trôi cũng như thời gian qua đi như thoáng mây. Trôi theo dòng đời là sống ngụp lặn trong thời gian. Cuộc đời năm chìm bảy nổi, chín cái lênh đênh. Ai trong chúng ta cũng nghiệm thấy sự sống là sự nối kết kéo dài trong thời gian và không gian. Bước vào cuộc đời nếu may mắn thì thông dòng bến giọt. Đầu xuôi thì đuôi lọt. Một khi đã lỡ chuyến tầu, kéo theo nhiều sự lầm lỡ. Cái lỡ này kéo theo cái lỡ khác, làm cho cuộc đời giang dở nửa vời. Tiến thoái lưỡng nan. Bỏ thì thương, vương thì tội. Bám cái cũ, với cái mới cũng chẳng thành. Bởi vậy, người ta mới nói: Lỡ rồi, xảy một li, đi một dặm.

4. Cuộc Đời

Có biết bao nhiêu cuộc đời là có bấy nhiêu câu truyện tình riêng lẻ. Mỗi một hành trình cuộc sống đều mang một mầu sắc riêng biệt. Không có cuộc đời nào giống ai cuộc đời nào. Mỗi người đều có niềm vui và nỗi buồn chia sẻ trong cuộc sống. Đôi khi chính người trong cuộc lại không khổ đau và lo lắng bằng người ngoài cuộc. Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Như cha mẹ lo lắng đêm ngày cho con cái, trong khi con cái thì cứ nhởn nhơ và phây phây vui sống. Nước mắt luôn chảy xuống. Nên mỗi người cũng cần cảm thông, xót thương cho chính thân phận mình và đi cho trọn con đường. Cuộc đời kết thúc như những dòng nước tuôn chảy ra biển cả, sẽ được nước biển ướp mặn, thanh tẩy và bốc hơi biến đổi thành một vòng sinh mới. Thân xác con người chúng ta sẽ trở về tro bụi tan biến trong lòng đất nhưng linh hồn được tinh luyện trở về linh thiêng nguồn cội.

Đâu ai thấu tỏ lòng người khác đang dự định gì và nghĩ gì. Sự thể hiện bên ngoài chỉ là một phần mười của cuộc sống, ví như những tảng băng chìm dưới nước chín phần. Cuộc đời dào dạt nổi trôi, va qua chạm lại và lênh đênh thăng trầm bến đục bến trong. Có người cả đời luôn may mắn thành công trong mọi sự như học hành, sự nghiệp, tình duyên và gia đạo. Cha mẹ hiền lành đạo đức, con cháu hiếu thảo. Đúng là cha mẹ hiền lành để đức cho con. Theo thuyết nhân qủa, cây tốt thì sinh trái tốt. Trái lại, có những người lận đận suốt đời. Cái nghèo lại mắc cái eo. Họ bị bước hụt, luôn luôn là người tới sau. Có người phó mặc cho số phận để rồi nắm lấy thất bại, nghèo khó, chán nản và buông xuôi. Dẫn đến bần cùng sinh đạo tặc. Bỏ buông cuộc đời trôi xuôi theo dòng nước. Thuyền không lái biết trôi về đâu. Cha mẹ mà mất hướng thì con cái sẽ lãnh đủ. Người ta thường nói: Cha nào con đấy. Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Cuộc đời có những hệ lụy riêng: Gieo gió thì gặt bão.

5. Lý Tưởng

Cuộc đời nào cũng cần có lý tưởng, có hướng đi và có cùng đích. Thuyền nào cũng cần có bánh lái, tuy dù bánh lái nhỏ bé nhưng sẽ hướng tầu đi về bến. Chúng ta hân hoan bước vào dòng đời được gia đình và xã hội đón nhận. Mỗi người có một thẻ căn cước riêng để xác định như là một thành viên trong đại gia đình nhân loại. Mỗi người đều có dấu ấn riêng tư để phân biệt với người khác. Cuộc sống được tiếp nối qua những thế hệ trẻ. Trẻ thì lúc nào cũng tươi mát và đầy nhựa sống. Thế hệ trẻ của ngày hôm nay là tương lai của xã hội ngày mai. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia trong sinh hoạt xã hội. Theo luật đào thải, tre già măng mọc. Thế hệ cha chú rồi cũng sẽ qua đi, tháng năm không đợi chờ ai cả. Thời gian vẫn cứ trôi, tuổi đời mỗi ngày chồng chất. Con người sẽ già nua và ai nấy lần lượt đi về cõi vĩnh hằng.

Ai cũng phải làm giầu cho cuộc đời mình. Càng học biết thì càng hiện hữu nhiều hơn. Cuộc đời dài vắn không qúa quan trọng. Quan trọng nhất là làm sao chúng ta sống có ý nghĩa và nên người hữu ích. Chúng ta đã lãnh nhận muôn vàn thành quả từ người khác, nên chúng ta cũng có bổn phận góp phần làm thăng tiến con người và xã hội. Chúng ta không nên hoang phí thời gian của cuộc sống vào những giá trị phù vân giả trá. Làm giầu cho cuộc sống là hãy tìm kiếm những giá trị đích thực để tiến thân. Mục đích chính của cuộc đời là giúp nhau nhận biết Đấng đã yêu thuơng tác tạo muôn loài. Lý tưởng của chúng ta là cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp để ngày sau cùng chung hưởng hạnh phúc đời đời.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York

 

Tại sao? Tại sao?

TẠI SAO? TẠI SAO?

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Ba ngày sau thảm hoạ động đất ở Nhật Bản, tôi nhận được lá thư điện tử của một người giáo dân Việt Nam sinh sống tại đó với mấy dòng chia sẻ sau đây làm tôi suy nghĩ: “…Đứa con gái của con học bên Mỹ gọi điện về khóc sướt mướt; nó nói nó không tin Chúa, nó không đi nhà thờ nữa; tại sao Chúa không cứu vớt mà lại để cho thảm hoạ này xảy ra như vậy? Con chẳng khuyên nó được. Thôi, thì giờ nó đang bị sốc nên cứ để cho nó suy nghĩ như thế, rồi từ từ nó sẽ nghĩ lại, Bố nhỉ?”
Cách cư xử của bà mẹ rất khôn ngoan. Lúc này phải là lúc tỏ lòng yêu thương, cảm thông hơn là dạy bảo nhất là la mắng con. Tôi cũng tin rằng phản ứng của cháu gái là tự nhiên nghĩa là bộc phát trong một nỗi xúc động quá mãnh liệt thôi, và rồi đây cháu sẽ tìm lại được sự bình an và niềm tín thác vào Thiên Chúa mà lâu nay cháu vẫn có. Chắc trước vụ động đất và sóng thần khủng khiếp này nhiều người khác trong cuộc và thậm chí ngoài cuộc cũng đã nêu câu hỏi như cháu: Tại sao Chúa không ra tay cứu giúp, nghĩa là ngăn chặn không để cho tai hoạ xảy ra? Thắc mắc này có thể cho thấy một điều là: dù tin hay không tin, người ta vẫn nghĩ rằng một Đấng là Thiên Chúa thì phải là Đấng toàn năng và nhân từ đối với con người. Mà đã là toàn năng và từ bi thì Ngài không thể để cho một thiên tai như thế xảy ra khiến con người phải khốn khổ và phải chết một cách vô lý. Vậy là sao? Thắc mắc này là một thử thách thật sự, có thể làm lay chuyển đức tin của bao người Kitô hữu, không loại trừ có kẻ đã thất vọng và chối bỏ Chúa vĩnh viễn. Còn đối với người vô thần thì đây là bằng chứng Thiên Chúa chỉ do con người tưởng tượng ra chứ làm sao mà có được, vì rõ ràng “ngài” chẳng làm chi được cho con người?
Tôi nghĩ vấn nạn mà cháu gái người Nhật gốc Việt nêu lên là “rất thật” và rất “người”, — ý tôi muốn nói là chắc hẳn nó gắn liền vào bản tính con người một cách nào đó. Con người từ bao giờ vẫn nêu những câu hỏi căn bản: Tại sao đau khổ? Tại sao chết? Cuộc đời có ý nghĩa gì không?… Và các tôn giáo là những cách trả lời khác nhau cho những thắc mắc đó. Những người có lòng tin thường có tâm lý chờ đợi nơi Đấng linh thiêng một sự che chở phù hộ riêng khi gặp gian nan thử thách, thậm chí nhiều khi họ còn cảm thấy mình có quyền chờ đợi sự can thiệp đặc biệt của Đấng mình tôn thờ…Tâm tình đó là tự nhiên. Và cả khi vì lòng tin tưởng và hy vọng của mình không được thần linh đáp ứng theo ý mình mà sinh ra phàn nàn trách móc, thì đó vẫn là chuyện bình thường, miễn là không đi xa hơn đến chỗ chối bỏ đức tin. Cũng không khác chi người Việt Nam tin Trời nên hễ gặp khó khăn nào, như nghèo đói, bệnh tật, thất bại trong nghề nghiệp, trong tình duyên, trong học hành, hay tai nạn rủi ro, là có phản ứng tự nhiên “kêu trời” hoặc “trách trời”: Trời ơi Trời ở không cân, Kẻ ăn không hết, người lần không ra. Hoặc: Lá vàng thì ở trên cây, Lá xanh rụng xuống, Trời hay chăng Trời? Hoặc: Bắc thang lên hỏi Ông Trời, Sao không bố thí cho tôi tí chồng? (Ca dao).
Có một điều tôi thấy hơi lạ, là khi mọi chuyện xuôi chảy thuận lợi hoặc khi gặp điều may mắn thì ít ai nghĩ tới Ông Trời hoặc Thiên Chúa nhưng hễ gặp thử thách (kể cả do chính mình gây ra) là ngay lập tức trách Trời, trách Chúa. Ngày xưa thánh Âu-tinh đã nhận xét: Thiên hạ thường dựa vào sự hiện diện của điều xấu, sự ác để kết luận là không có Thiên Chúa, nhưng ngài đặt câu hỏi ngược lại: Nếu không có Thiên Chúa thì bạn giải thích thế nào sự hiện diện của sự lành, điều thiện nhan nhản khắp nơi và ngay trong bản thân bạn?
Trên đây tôi đã nhìn phản ứng của cháu gái Nhật-Việt như một việc bình thường, nhưng thật ra tôi biết cháu nêu một vấn đề lớn và không dễ trả lời: tại sao Thiên Chúa không ngăn cản các thiên tai có thể gây tai hoạ cho con người?
Thiên tai là những tai họa do thiên nhiên gây ra. Nhưng thiên tai thật ra chỉ là những hiện tượng tự nhiên, những hoạt động bình thường của thiên nhiên theo quy luật mà thôi, chẳng qua vì không may mà có tác động xấu tới con người ở một mức rộng lớn nên ta mới gọi đó là thiên tai. Những hoạt động theo quy luật của thiên nhiên thì cứ liên miên xảy ra, hằng giây hằng phút trong vũ trụ bao la và trên trái đất ta ở, chúng to hay nhỏ, lợi hay hại, bình thường hay bất thường…, đó là đánh giá của con người, không phải chuyện của thiên nhiên trời đất; nếu muốn nói thiên nhiên mù quáng không đếm xỉa chi tới con người chúng ta cả — thì vẫn rất đúng. Nhưng biết sao được, không lẽ thiên nhiên cứ phải làm theo ý của ta sao?
Đại thi hào Ấn Độ Tagore có lần nhận định rằng con người ta rất mâu thuẫn khi đòi hỏi thiên nhiên phải hoạt động theo theo ý của họ (mà đòi hỏi thiên nhiên là gián tiếp đòi hỏi Thượng Đế), ông nêu ví dụ: một bà mẹ tập đi cho đứa con nhỏ của mình sẽ vô cùng hạnh phúc khi thấy con bước đi được những bước đầu tiên trong đời, và được vậy tất nhiên là nền nhà phải cứng vững (như bình thường là thế), nhưng khi con té ngã bà lại trách tại sao nền nhà không mềm như tấm nệm cho con mình khỏi đau? Nền nhà không thể khi cứng khi mềm liên hồi theo ý ta được. Đòi Thiên Chúa dùng quyền phép mình chế ngự thiên nhiên trong mọi trường hợp Ngài biết là sẽ gây tai hoạ cho con cái Ngài thì cũng gần như thế. Bạn thử nghĩ xem: giả sử Ngài liên tục can thiệp vào hoạt động của thiên nhiên theo ý con người thì hậu quả sẽ ra sao? Đơn giản là thiên nhiên sẽ không thể tồn tại và do đó con người cũng vậy.
Chúa đã dựng nên thiên nhiên vạn vật cùng với các quy luật chi phối chúng – chúng ta gọi là định luật tự nhiên. Ngài cai quản chúng qua các định luật ấy. Nhờ các định luật đó mà mọi vật mọi loài tồn tại và phát triển. Nhưng người công giáo biết thêm nữa rằng Chúa cũng đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, có trí khôn và tự do và “đặt làm chủ mọi thọ tạo trên trái đất, để cai quản và sử dụng chúng” (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 12. xem sách Sáng Thế, 1, 20.-28). Như thế, Thiên Chúa cũng chia sẻ cho họ một phần quyền sáng tạo của Ngài. Quả thực, nhờ không ngừng hiểu biết được các định luật tự nhiên, con người vừa có thể sử dụng thiên nhiên cho lợi ích của mình, vừa hạn chế được các tác hại của thiên nhiên và góp phần hoàn thiện trái đất nơi họ sinh sống. Nhưng cũng hiển nhiên là chính con cũng người phá hoại công trình tạo thành của Chúa khi lạm dụng quyền làm chủ của mình vượt quá ý muốn của Chúa Tạo Hoá, nhất là từ vài thế kỷ nay, với tiến bộ phi thường của khoa học kỹ thuật, con người đã hành xử như một bạo chúa, tự cho mình quyền muốn làm gì với thiên nhiên cũng được, không ngừng can thiệp sâu vào thiên nhiên đến độ phá hủy sự thăng bằng của môi trường tự nhiên, và hậu quả là biết bao đe doạ và thảm hoạ con người phái hứng chịu. Ngày nay nhiều thiên tai thật ra là nhân tai, như những trận lũ lụt ngày càng nhiều và dữ dội hơn tại miền Trung nước ta chẳng hạn. Ngày hôm nay, nhiều công trình của con người quay lại chống con người.
Đau khổ và sự chết là vấn nạn muôn thuở của con người. Công đồng Vaticanô II dạy: “Nếu thiếu căn bản là Thiên Chúa và thiếu niềm hy vọng vào đời sống vĩnh cữu thì phẩm giá con người sẽ bị tổn thương cách trầm trọng như thường thấy ngày nay, và những bí ẩn về sự sống, sự chết, về tội lỗi và đau khổ vẫn không giải đáp được, như thế con người nhiều khi rơi vào tuyệt vọng.” (Hiến chế đã dẫn, số 21). Giáo Hội xác tín rằng “nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, bí ẩn về đau khổ và sự chết được sáng tỏ, bí ẩn đó đè bẹp chúng ta nếu chúng ta không biết đến Phúc Âm. Chúa Kitô đã sống lại nhờ sự chết của mình. Người đã huỷ diệt sự chết và Người đã ban cho ta dồi dào sự sống…” (nt, số 22).
Tuy đã có lời giải đáp, nhưng người tin Chúa không vì thế mà hết lo âu, sợ hãi khi đối diện với đau khổ và sự chết. Và nếu trong những lúc ấy, họ có thốt lên: Chúa đâu rồi? Chúa bỏ con sao?, thì cũng tự nhiên, không có gì sai lỗi, bởi vì chính Chúa Giêsu cũng đã cảm thấy “hãi hùng xao xuyến” (Mc 14,33) và “mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất” trước khi đi chịu nạn (Lc 22,44); rồi trên thập giá, trong đau khổ tột cùng Ngài còn kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Đó là phản ứng của con người tự nhiên, nhưng mau chóng lòng tin tưởng của người con nơi Ngài đã vượt lên trên tất cả. Trước lúc tắt thở, Ngài đã thưa với Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Thánh Giá là tột đỉnh hy sinh của Tình yêu Thiên Chúa

THÁNH GIÁ LÀ TỘT ĐỈNH HY SINH CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

Tôi xuất thân từ một gia đình Công Giáo trung lưu rất đạo đức. Cha Mẹ thông truyền Đức Tin cho tôi và tôi tin tưởng nơi THIÊN CHÚA. Nhưng THIÊN CHÚA trong tuổi trẻ là Đấng xa xôi, ngự mãi trên Trời Cao và không có liên hệ tình cảm gì với con cái loài người, sống cảnh lầm than khốn khổ nơi trần gian.

Từ khi lập gia đình và có con cái, tôi dần dần bỏ quên THIÊN CHÚA. Cuộc sống hằng ngày chỉ gồm toàn lo lắng bận rộn với của cải vật chất: làm sao cho có nhiều sung túc và tiện nghi. Về phương diện tôn giáo: tôi nguội lạnh và dửng dưng đối với THIÊN CHÚA, hay ít ra, thỉnh thoảng tôi nghĩ đến Ngài nhưng với tâm tình sợ hãi chứ không trìu mến hiếu thảo của đứa con ngoan dành cho CHA mình. Tôi gần như không cầu nguyện bao giờ. Vì bổn phận, tôi giữ thói quen đi lễ Chúa Nhật. Nhưng khi có lý do nào đó, tôi vịn ngay vào để bỏ lễ. Lúc các con còn nhỏ, tôi cũng lấy cớ để khỏi tham dự Thánh Lễ. Thỉnh thoảng tôi rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU, vì thói quen hơn vì lòng mến.

THIÊN CHÚA nhẫn nhục chờ đợi tôi. Ngài chờ cơ hội thuận tiện để gõ cửa lòng tôi. Và biến cố quan trọng xảy ra vào ngày 4-3-1979. Hôm đó là Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay. Vợ chồng tôi được mời dùng bữa trưa nơi gia đình bạn. Ăn xong, chúng tôi ngồi nơi phòng phòng khách chuyện trò giải trí. Và câu chuyện dẫn đến việc bàn luận về THIÊN CHÚA. Sau đó, vợ chồng tôi từ giã gia đình bạn ra về. Tôi còn nhớ như in những gì xảy ra trong tâm hồn tôi vào buổi chiều Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay năm đó. Khi tôi bước lên xe và ngồi xuống cạnh chồng tôi, đột nhiên trong lòng tôi trào dâng lòng mến dào dạt đối với THIÊN CHÚA. THIÊN CHÚA mà tôi vẫn tin và nghĩ rằng Ngài thật xa xôi, cao vời, bỗng chốc trở nên thật gần gũi, và tôi như vừa gặp thấy Ngài. Bằng cách nào và tại sao, thì tôi không biết phải giải thích như thế nào. Tôi chỉ biết nói rằng chính lúc đó tôi cảm thấy như có luồng ánh sáng chiếu dọi vào tâm hồn và một luồng sức nóng đi thẳng vào tim. Tôi cảm thấy tràn trề hạnh phúc. Và kể từ giây phút ấy, trọn tâm tư tôi hướng về THIÊN CHÚA và không bao giờ lìa xa Ngài.

THIÊN CHÚA lại bắt đầu hiện diện trong cuộc đời tôi, hay nói đúng hơn, tôi lại bắt đầu cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Từ đó tôi đặc biệt suy gẫm và sống mầu nhiệm Thương Khó Đức Chúa GIÊSU KITÔ và suy niệm về tầm quan trọng của Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ trong cuộc đời tín hữu Công Giáo. Từ từ, trong kinh nguyện và suy ngắm, Đức Chúa GIÊSU KITÔ giúp tôi hiểu rằng:

– Phúc Âm là mạc khải của Tình Yêu. Thánh Giá là tột đỉnh hy sinh của Tình Yêu. Phúc Âm là Giáo Huấn còn Thánh Giá là Hành Động. Phúc Âm là Lời Nói còn Thánh Giá là Thi Hành. Phúc Âm giúp tín hữu hiểu và yêu mến Hành Động của Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Phúc Âm đưa tín hữu đi sâu vào mầu nhiệm ơn cứu chuộc. Theo sát giáo huấn của Phúc Âm tức là bước theo con đường khổ nạn của Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Thánh Giá xuất hiện nơi cuối con đường mang ánh sáng. Trở về với mầu nhiệm Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ tức là thực hành, sống các giáo huấn của Phúc Âm trong mọi chiều kích thuần túy: tinh thần khiêm tốn, phó thác, tuân phục, tin tưởng, yêu thương, bác ái, dâng hiến và trao ban.

Đây là con đường nhỏ bé nhưng chắc chắn nhất mà bất cứ tín hữu Công Giáo nào cũng có thể thi hành được.

Ngày nay nhiều tín hữu Công Giáo rất sợ phải nói, và nhất là, rất sợ phải chấp nhận Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Satan gieo lòng tín hữu tâm tình khiếp sợ đối với Thánh Giá, khiến các tín hữu chỉ nhìn thấy khía cạnh tiêu cực của Thánh Giá mà quên rằng Thánh Giá là biểu hiệu của Tình Yêu: Tình Yêu của THIÊN CHÚA đối với con người và tình yêu của con người đối với THIÊN CHÚA.

Thánh Giá trở nên nhẹ nhàng đối với những tâm hồn tràn đầy tình mến THIÊN CHÚA. Nếu không có tình mến, Thánh Giá trở thành nặng nề, đôi khi không thể nào vác được. Chính lòng yêu mến làm cho Thánh Giá và cuộc đời của con người mang ý nghĩa và trao ban hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. THIÊN CHÚA luôn hiện diện, chỉ cần con người biết lắng nghe tiếng Ngài mời gọi và trở về với Tình Yêu của Ngài.

Chứng từ của bà Lucie tín hữu Công Giáo Pháp.

… Đứng gần Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ có Thân Mẫu Người, Chị của Thân Mẫu, bà Maria vợ ông Clopas, cùng với bà Maria Magdala. Khi thấy Thân Mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Chúa GIÊSU nói với Thân Mẫu rằng: ”Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đ: ”Đây là Mẹ của con”. Kể từ giờ đó, ngưi môn đớc Bà về nhà mình. Sau đó, Đức Chúa GIÊSU biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ”Tôi Khát!” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên ming Người. Nhắp xong, Đức Chúa GIÊSU nói: ”Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (Gioan 19,25-30).

(”STELLA MARIS”, mensuel d’informations religieuses, 11/1991, trang 1-3)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Together We Make A Brighter Day!

NHAT HONG SCHOOL

In 1995, the sisters of the Thu Duc Congregation of Lovers of the Holy Cross met several blind children who live as beggars, did not have a place to stay and had no education. The sisters approached a School for the Blind but there were no place available as the school was full. After a long discussion, the sisters decided to set up the Nhat Hong Home for the Blind in Thi Nghe, Binh Thanh District, Saigon, to provide food and shelter for blind children, and also provide career training for them with basket weaving program.

Later, the sisters recognized that blind children need not only food and accommodation but also education, and started to send blind children to the Nguyen Dinh Chieu School for the Blind to attend day classes then come back to the Home in the evening. The sisters also attended training courses to get knowledge and skills to be able to work with the blind.

In 1999, after a very careful preparation, Nhat Hong started to send its children to be integrated into ordinary schools and provided support to both students and class teachers. Day by day, the Inclusive Education program showed its success and brought a lot of benefit to children with vision impairment.

In 2000, the Blind Vietnamese Children Foundation started to support partly food and necessaries for the children, so Nhat Hong extended its service to receive more children with vision impairment.

From 2001, with the support from Dark and Light Foundation in 5 years, the Early Intervention and Multiple Impaired Education programs were started and the Inclusive Education program was developed rapidly in Saigon and also in Da Lat, Lam Dong province.

In 2002, to respond to the need of children with vision impairment and mental retardation, Nhat Hong set up the Long Thanh Career Training sub-centre to develop simple hand-craft and agriculture careers such as pig raising, rabbit raising, and planting.

In 2005, there were more children with vision impairment, especially those from minority ethics groups, who needed care and education, so the Suoi Mo and Vi Thuy Home for the Blind were set up.

In 2006, when the first 3 students graduated from high school enrolled to colleges and Universities, Nhat Hong started the Higher Education program to support these students, and later more students joining into the program.

In 2007, in Tam Ha, Thu Duc District, Nhat Hong had a new Centre that was built with financial support and in partnership with the Christoffel Blindenmission (CBM) to be a resource centre to provide services to children and young persons with vision impairment and also to provide human and material resources for its 5 sub-centers and other agencies.

In 2010, to address the needs of babies and young children with vision impairment in the North, Nhat Hong started an Early intervention program in Bac Ninh province and Soc Son district – Hanoi, to support young children with vision impairments and their families.

Nhat Hong wishes to continue to write another page in its history, to develop its services and bring a better life to children and young persons with vision impairment in Vietnam.

To view more of our activities, please visit our website at http://www.happysuncenter.org