Dòng đời
DÒNG ĐỜI
1. Dòng Nước
Dòng đời nổi trôi ví tựa như dạt bèo trên dòng sông. Dòng sông luôn chảy và nước thủy triều vẫn cứ lên xuống đều hòa. Dòng sông bắt nguồn từ trên triền núi cao chảy dần xuống thấp vào dòng suối ra dòng sông rồi từ từ thoát ra biển cả. Dòng nước tinh tuyền khởi đi từ thượng nguồn chảy xuống thấm sâu vào lòng đất. Nước lạnh âm thầm thấm nhập trong đất để nuôi sống mọi loài thảo mộc phát triển sinh hoa kết trái. Nước còn là nguồn tươi mát giải khát cho mọi loài động vật và con người. Nước rửa sạch mọi nhơ nhớp, nhày nhụa và bẩn thỉu mà mọi loài đã sa thải. Sau cùng, dòng nước kéo theo tất cả những vẩn đục, rác rến và đồ phế thải trở về đại dương để thanh luyện. Nếu dòng nước ngưng đọng, nước sẽ bị tù túng trở nên tanh hôi và ô nhiễm.
Dòng đời của mỗi người cũng năm chìm bảy nổi. Sinh ra là đã mang kiếp phận con người. Có những trẻ em sinh ra ở đời đã được ấp ủ vỗ về trong bầu khí yêu thương của gia đình. Có những trẻ sinh ra trong bọc điều sung sướng có mẹ, có cha và có anh chị em. Có những mảnh đời mới bước vào cuộc sống đã mang thân phận tôi đòi, nô lệ. Có những trẻ sơ sinh mồ côi oa oa tiếng khóc chào đời. Có những bé thơ sinh ra trong cô đơn bị mẹ cha chối từ ghét bỏ như của nợ. Cũng có những em sinh ra trong lầm than vất vả và khổ cực trăm bề. Người ta thường gọi tất cả đó là số mệnh. Mỗi người có một vận mệnh khác nhau cũng như mười hai bến nước, có đục có trong. Số mệnh đời người như cánh bè dạt trôi và không ai biết chung cục đời mình sẽ ra sao. Ngay cả anh chị em cùng trong một gia đình cũng đã có nhiều cuộc sống khác nhau. Mỗi người một phận. Chúng ta không thể ngồi đó để so sánh hơn thiệt. Đã mang một kiếp sống là mang theo một định mệnh. Định mệnh nổi trôi như cánh bèo trên dòng nước.
2. Phận Người
Chúng ta có thể suy tư để nhận biết về cuộc đời như trăm hoa đua nở. Càng suy chúng ta càng thấy mỗi cuộc đời là một mầu nhiệm. Mỗi đời người là một công trình sáng tạo tuyệt vời của Thiên Chúa. Chúng ta không thể so sánh mà chỉ chấp nhận như một món qùa vô giá. Nhìn vũ trụ bao la, tự hỏi chúng ta là ai? Chúng ta đã làm được gì để lãnh nhận một cuộc sống qúa kỳ diệu. Chúng ta cùng hiện hữu với muôn vật trong thời gian và không gian. Chúng ta được nhìn ngắm và thưởng ngoạn tất cả những khoảng không và những vận hành trong vũ trụ. Mỗi người chúng ta đang lữ hành trong một không gian vô tận. Linh hồn linh thiêng gắn kết với thân xác giới hạn đang mở ra với một vũ trụ bao la. Chúng ta được hòa nhập với vũ trụ trong mọi chuyển động.
Tôi được sinh ra vào ngày giờ và năm tháng đó. Khoảng thời gian và không gian của sự vận hành có những dấu khắc ghi như năm đó có động đất, có núi lửa phun, có sóng thần, có bão tuyết và có nắng hạn… Khoảng thời gian quá khứ đã in ghi trong cuộc sống sẽ không bao giờ thay đổi. Mọi biến cố xảy ra sẽ đi vào đời đời cùng với thời gian chúng ta hiện hữu. Vũ trụ và thế giới vẫn tiếp tục vòng xoay dù có sự hiện hữu của chúng ta trên trái đất này hay không. Chúng ta chẳng có ảnh hưởng gì đối với việc vận hành của vũ trụ, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy như mình đang chia phần nhỏ bé trong sự lưu chuyển này. Sự có mặt của chúng ta trong vũ trụ càn khôn là một sự hiện hữu trường tồn. Chúng ta hiện hữu và qua đi cùng với thời gian và không gian.
3. Định Mệnh
Định mệnh của mỗi sinh linh đều ẩn chứa một mầu nhiệm. Mầu nhiệm của sự sống và sự chết. Có người kéo dài cuộc sống trên 100 năm, có những cuộc sống vỏn vẹn có một giờ hay một ngày. Dòng đời ngược xuôi, xuôi ngược. Có những người có cuộc sống an nhàn tự tại và thảnh thơi. Có những nguời bon chen, bận rộn và làm việc quần quật suốt ngày. Có những cuộc sống trên nhung lụa, tiền rừng bạc bể và của cải đầy dư. Có những kẻ phải bôn ba vất vả, giãi dầu nắng mưa và tần tảo ngược xuôi kiếm sống từng ngày. Có những người khổ đau, bệnh hoạn tật nguyền và cơ cùng đói khổ. Có những cuộc đời tự do thoải mái và du hành khắp nơi. Có những cuộc sống bị giam hãm đọa đầy trong quản thúc tù tội. Theo kinh nghiệm chung của người đời thì không ai sướng mãi và cũng không ai khổ mãi. Cùng tắc biến, biến tắc thông. Có khi cuộc sống sung mãn dư tràn vật chất nhưng tinh thần lại cô đơn, buồn tẻ. Có khi đời người đói khổ cơ bần nhưng tâm hồn lại thanh thoát nhẹ nhàng. Có khi bị tù đầy giam hãm nhưng tinh thần lại an bình và thư thái. Người đời thường nói: Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Khổ đau tôi luyện ý chí sắt đá và kiên tâm nhẫn nại.
Dòng đời vẫn cứ trôi cũng như thời gian qua đi như thoáng mây. Trôi theo dòng đời là sống ngụp lặn trong thời gian. Cuộc đời năm chìm bảy nổi, chín cái lênh đênh. Ai trong chúng ta cũng nghiệm thấy sự sống là sự nối kết kéo dài trong thời gian và không gian. Bước vào cuộc đời nếu may mắn thì thông dòng bến giọt. Đầu xuôi thì đuôi lọt. Một khi đã lỡ chuyến tầu, kéo theo nhiều sự lầm lỡ. Cái lỡ này kéo theo cái lỡ khác, làm cho cuộc đời giang dở nửa vời. Tiến thoái lưỡng nan. Bỏ thì thương, vương thì tội. Bám cái cũ, với cái mới cũng chẳng thành. Bởi vậy, người ta mới nói: Lỡ rồi, xảy một li, đi một dặm.
4. Cuộc Đời
Có biết bao nhiêu cuộc đời là có bấy nhiêu câu truyện tình riêng lẻ. Mỗi một hành trình cuộc sống đều mang một mầu sắc riêng biệt. Không có cuộc đời nào giống ai cuộc đời nào. Mỗi người đều có niềm vui và nỗi buồn chia sẻ trong cuộc sống. Đôi khi chính người trong cuộc lại không khổ đau và lo lắng bằng người ngoài cuộc. Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Như cha mẹ lo lắng đêm ngày cho con cái, trong khi con cái thì cứ nhởn nhơ và phây phây vui sống. Nước mắt luôn chảy xuống. Nên mỗi người cũng cần cảm thông, xót thương cho chính thân phận mình và đi cho trọn con đường. Cuộc đời kết thúc như những dòng nước tuôn chảy ra biển cả, sẽ được nước biển ướp mặn, thanh tẩy và bốc hơi biến đổi thành một vòng sinh mới. Thân xác con người chúng ta sẽ trở về tro bụi tan biến trong lòng đất nhưng linh hồn được tinh luyện trở về linh thiêng nguồn cội.
Đâu ai thấu tỏ lòng người khác đang dự định gì và nghĩ gì. Sự thể hiện bên ngoài chỉ là một phần mười của cuộc sống, ví như những tảng băng chìm dưới nước chín phần. Cuộc đời dào dạt nổi trôi, va qua chạm lại và lênh đênh thăng trầm bến đục bến trong. Có người cả đời luôn may mắn thành công trong mọi sự như học hành, sự nghiệp, tình duyên và gia đạo. Cha mẹ hiền lành đạo đức, con cháu hiếu thảo. Đúng là cha mẹ hiền lành để đức cho con. Theo thuyết nhân qủa, cây tốt thì sinh trái tốt. Trái lại, có những người lận đận suốt đời. Cái nghèo lại mắc cái eo. Họ bị bước hụt, luôn luôn là người tới sau. Có người phó mặc cho số phận để rồi nắm lấy thất bại, nghèo khó, chán nản và buông xuôi. Dẫn đến bần cùng sinh đạo tặc. Bỏ buông cuộc đời trôi xuôi theo dòng nước. Thuyền không lái biết trôi về đâu. Cha mẹ mà mất hướng thì con cái sẽ lãnh đủ. Người ta thường nói: Cha nào con đấy. Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Cuộc đời có những hệ lụy riêng: Gieo gió thì gặt bão.
5. Lý Tưởng
Cuộc đời nào cũng cần có lý tưởng, có hướng đi và có cùng đích. Thuyền nào cũng cần có bánh lái, tuy dù bánh lái nhỏ bé nhưng sẽ hướng tầu đi về bến. Chúng ta hân hoan bước vào dòng đời được gia đình và xã hội đón nhận. Mỗi người có một thẻ căn cước riêng để xác định như là một thành viên trong đại gia đình nhân loại. Mỗi người đều có dấu ấn riêng tư để phân biệt với người khác. Cuộc sống được tiếp nối qua những thế hệ trẻ. Trẻ thì lúc nào cũng tươi mát và đầy nhựa sống. Thế hệ trẻ của ngày hôm nay là tương lai của xã hội ngày mai. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia trong sinh hoạt xã hội. Theo luật đào thải, tre già măng mọc. Thế hệ cha chú rồi cũng sẽ qua đi, tháng năm không đợi chờ ai cả. Thời gian vẫn cứ trôi, tuổi đời mỗi ngày chồng chất. Con người sẽ già nua và ai nấy lần lượt đi về cõi vĩnh hằng.
Ai cũng phải làm giầu cho cuộc đời mình. Càng học biết thì càng hiện hữu nhiều hơn. Cuộc đời dài vắn không qúa quan trọng. Quan trọng nhất là làm sao chúng ta sống có ý nghĩa và nên người hữu ích. Chúng ta đã lãnh nhận muôn vàn thành quả từ người khác, nên chúng ta cũng có bổn phận góp phần làm thăng tiến con người và xã hội. Chúng ta không nên hoang phí thời gian của cuộc sống vào những giá trị phù vân giả trá. Làm giầu cho cuộc sống là hãy tìm kiếm những giá trị đích thực để tiến thân. Mục đích chính của cuộc đời là giúp nhau nhận biết Đấng đã yêu thuơng tác tạo muôn loài. Lý tưởng của chúng ta là cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp để ngày sau cùng chung hưởng hạnh phúc đời đời.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York
Tại sao? Tại sao?
TẠI SAO? TẠI SAO?
Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
Ba ngày sau thảm hoạ động đất ở Nhật Bản, tôi nhận được lá thư điện tử của một người giáo dân Việt Nam sinh sống tại đó với mấy dòng chia sẻ sau đây làm tôi suy nghĩ: “…Đứa con gái của con học bên Mỹ gọi điện về khóc sướt mướt; nó nói nó không tin Chúa, nó không đi nhà thờ nữa; tại sao Chúa không cứu vớt mà lại để cho thảm hoạ này xảy ra như vậy? Con chẳng khuyên nó được. Thôi, thì giờ nó đang bị sốc nên cứ để cho nó suy nghĩ như thế, rồi từ từ nó sẽ nghĩ lại, Bố nhỉ?”Thánh Giá là tột đỉnh hy sinh của Tình yêu Thiên Chúa
THÁNH GIÁ LÀ TỘT ĐỈNH HY SINH CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Tôi xuất thân từ một gia đình Công Giáo trung lưu rất đạo đức. Cha Mẹ thông truyền Đức Tin cho tôi và tôi tin tưởng nơi THIÊN CHÚA. Nhưng THIÊN CHÚA trong tuổi trẻ là Đấng xa xôi, ngự mãi trên Trời Cao và không có liên hệ tình cảm gì với con cái loài người, sống cảnh lầm than khốn khổ nơi trần gian.
Từ khi lập gia đình và có con cái, tôi dần dần bỏ quên THIÊN CHÚA. Cuộc sống hằng ngày chỉ gồm toàn lo lắng bận rộn với của cải vật chất: làm sao cho có nhiều sung túc và tiện nghi. Về phương diện tôn giáo: tôi nguội lạnh và dửng dưng đối với THIÊN CHÚA, hay ít ra, thỉnh thoảng tôi nghĩ đến Ngài nhưng với tâm tình sợ hãi chứ không trìu mến hiếu thảo của đứa con ngoan dành cho CHA mình. Tôi gần như không cầu nguyện bao giờ. Vì bổn phận, tôi giữ thói quen đi lễ Chúa Nhật. Nhưng khi có lý do nào đó, tôi vịn ngay vào để bỏ lễ. Lúc các con còn nhỏ, tôi cũng lấy cớ để khỏi tham dự Thánh Lễ. Thỉnh thoảng tôi rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU, vì thói quen hơn vì lòng mến.
THIÊN CHÚA nhẫn nhục chờ đợi tôi. Ngài chờ cơ hội thuận tiện để gõ cửa lòng tôi. Và biến cố quan trọng xảy ra vào ngày 4-3-1979. Hôm đó là Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay. Vợ chồng tôi được mời dùng bữa trưa nơi gia đình bạn. Ăn xong, chúng tôi ngồi nơi phòng phòng khách chuyện trò giải trí. Và câu chuyện dẫn đến việc bàn luận về THIÊN CHÚA. Sau đó, vợ chồng tôi từ giã gia đình bạn ra về. Tôi còn nhớ như in những gì xảy ra trong tâm hồn tôi vào buổi chiều Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay năm đó. Khi tôi bước lên xe và ngồi xuống cạnh chồng tôi, đột nhiên trong lòng tôi trào dâng lòng mến dào dạt đối với THIÊN CHÚA. THIÊN CHÚA mà tôi vẫn tin và nghĩ rằng Ngài thật xa xôi, cao vời, bỗng chốc trở nên thật gần gũi, và tôi như vừa gặp thấy Ngài. Bằng cách nào và tại sao, thì tôi không biết phải giải thích như thế nào. Tôi chỉ biết nói rằng chính lúc đó tôi cảm thấy như có luồng ánh sáng chiếu dọi vào tâm hồn và một luồng sức nóng đi thẳng vào tim. Tôi cảm thấy tràn trề hạnh phúc. Và kể từ giây phút ấy, trọn tâm tư tôi hướng về THIÊN CHÚA và không bao giờ lìa xa Ngài.
THIÊN CHÚA lại bắt đầu hiện diện trong cuộc đời tôi, hay nói đúng hơn, tôi lại bắt đầu cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Từ đó tôi đặc biệt suy gẫm và sống mầu nhiệm Thương Khó Đức Chúa GIÊSU KITÔ và suy niệm về tầm quan trọng của Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ trong cuộc đời tín hữu Công Giáo. Từ từ, trong kinh nguyện và suy ngắm, Đức Chúa GIÊSU KITÔ giúp tôi hiểu rằng:
– Phúc Âm là mạc khải của Tình Yêu. Thánh Giá là tột đỉnh hy sinh của Tình Yêu. Phúc Âm là Giáo Huấn còn Thánh Giá là Hành Động. Phúc Âm là Lời Nói còn Thánh Giá là Thi Hành. Phúc Âm giúp tín hữu hiểu và yêu mến Hành Động của Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Phúc Âm đưa tín hữu đi sâu vào mầu nhiệm ơn cứu chuộc. Theo sát giáo huấn của Phúc Âm tức là bước theo con đường khổ nạn của Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Thánh Giá xuất hiện nơi cuối con đường mang ánh sáng. Trở về với mầu nhiệm Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ tức là thực hành, sống các giáo huấn của Phúc Âm trong mọi chiều kích thuần túy: tinh thần khiêm tốn, phó thác, tuân phục, tin tưởng, yêu thương, bác ái, dâng hiến và trao ban.
Đây là con đường nhỏ bé nhưng chắc chắn nhất mà bất cứ tín hữu Công Giáo nào cũng có thể thi hành được.
Ngày nay nhiều tín hữu Công Giáo rất sợ phải nói, và nhất là, rất sợ phải chấp nhận Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Satan gieo lòng tín hữu tâm tình khiếp sợ đối với Thánh Giá, khiến các tín hữu chỉ nhìn thấy khía cạnh tiêu cực của Thánh Giá mà quên rằng Thánh Giá là biểu hiệu của Tình Yêu: Tình Yêu của THIÊN CHÚA đối với con người và tình yêu của con người đối với THIÊN CHÚA.
Thánh Giá trở nên nhẹ nhàng đối với những tâm hồn tràn đầy tình mến THIÊN CHÚA. Nếu không có tình mến, Thánh Giá trở thành nặng nề, đôi khi không thể nào vác được. Chính lòng yêu mến làm cho Thánh Giá và cuộc đời của con người mang ý nghĩa và trao ban hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. THIÊN CHÚA luôn hiện diện, chỉ cần con người biết lắng nghe tiếng Ngài mời gọi và trở về với Tình Yêu của Ngài.
Chứng từ của bà Lucie tín hữu Công Giáo Pháp.
… Đứng gần Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ có Thân Mẫu Người, Chị của Thân Mẫu, bà Maria vợ ông Clopas, cùng với bà Maria Magdala. Khi thấy Thân Mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Chúa GIÊSU nói với Thân Mẫu rằng: ”Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: ”Đây là Mẹ của con”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước Bà về nhà mình. Sau đó, Đức Chúa GIÊSU biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: ”Tôi Khát!” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Chúa GIÊSU nói: ”Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (Gioan 19,25-30).
(”STELLA MARIS”, mensuel d’informations religieuses, 11/1991, trang 1-3)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Together We Make A Brighter Day!
NHAT HONG SCHOOL
In 1995, the sisters of the Thu Duc Congregation of Lovers of the Holy Cross met several blind children who live as beggars, did not have a place to stay and had no education. The sisters approached a School for the Blind but there were no place available as the school was full. After a long discussion, the sisters decided to set up the Nhat Hong Home for the Blind in Thi Nghe, Binh Thanh District, Saigon, to provide food and shelter for blind children, and also provide career training for them with basket weaving program.
Later, the sisters recognized that blind children need not only food and accommodation but also education, and started to send blind children to the Nguyen Dinh Chieu School for the Blind to attend day classes then come back to the Home in the evening. The sisters also attended training courses to get knowledge and skills to be able to work with the blind.
In 1999, after a very careful preparation, Nhat Hong started to send its children to be integrated into ordinary schools and provided support to both students and class teachers. Day by day, the Inclusive Education program showed its success and brought a lot of benefit to children with vision impairment.
In 2000, the Blind Vietnamese Children Foundation started to support partly food and necessaries for the children, so Nhat Hong extended its service to receive more children with vision impairment.
From 2001, with the support from Dark and Light Foundation in 5 years, the Early Intervention and Multiple Impaired Education programs were started and the Inclusive Education program was developed rapidly in Saigon and also in Da Lat, Lam Dong province.
In 2002, to respond to the need of children with vision impairment and mental retardation, Nhat Hong set up the Long Thanh Career Training sub-centre to develop simple hand-craft and agriculture careers such as pig raising, rabbit raising, and planting.
In 2005, there were more children with vision impairment, especially those from minority ethics groups, who needed care and education, so the Suoi Mo and Vi Thuy Home for the Blind were set up.
In 2006, when the first 3 students graduated from high school enrolled to colleges and Universities, Nhat Hong started the Higher Education program to support these students, and later more students joining into the program.
In 2007, in Tam Ha, Thu Duc District, Nhat Hong had a new Centre that was built with financial support and in partnership with the Christoffel Blindenmission (CBM) to be a resource centre to provide services to children and young persons with vision impairment and also to provide human and material resources for its 5 sub-centers and other agencies.
In 2010, to address the needs of babies and young children with vision impairment in the North, Nhat Hong started an Early intervention program in Bac Ninh province and Soc Son district – Hanoi, to support young children with vision impairments and their families.
Nhat Hong wishes to continue to write another page in its history, to develop its services and bring a better life to children and young persons with vision impairment in Vietnam.
To view more of our activities, please visit our website at http://www.happysuncenter.org
