Blog Page 2143

Đàng Thánh Giá theo ĐHY Joseph Ratzinger

ĐƯỜNG THÁNH GIÁ THEO ĐHY JOSEPH RATZINGER

 

Trong năm nay, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chỉ định Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin sẽ viết bài suy ngắm chặng Đàng Thánh Giá tại Cổ Trường Colosseum vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh 24.3.2005 Sau đây là toàn văn bài suy ngắm của Đức Hồng Y:

***********

Lời mở đầu:

Chủ đề chính đưa ra Chặng Đàng Thánh Giá xuất hiện ngay vào lời nguyện mở đầu và xuất hiện lần nữa nơi Chặng Thứ Mười Bốn, là những lời của Chúa Giêsu trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá, sau khi vào thành Giêrusalem, để trả lời cho câu hỏi của một số người Hy Lạp muốn tìm Người :”nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24)

Nói lên điều này, Thiên Chúa so sánh quá trình cuộc sống của Người nơi trần thế với sự sống của một hạt lúa, mà chỉ có chết đi mới sinh ra hạt. Người làm sáng tỏ cuộc sống trần thế của người, cái chết của Người và sự phục sinh của người từ quan điểm của Bí Tích Thánh Thể Chí Thánh, tóm lại toàn thể mầu nhiệm của người. Người đã trải qua cái chết của Người như một hành động tự hiến thân. Người là Ngôi Lời Nhập Thể giở đây trở nên lương thực cho chúng ta, của ăn dẫn đến cuộc sống chân thật, đời sống vĩnh cửu. Lời Vĩnh Cửu, quyền lực phát sinh nên sự sống đến từ trời chính là bánh manna thật, bánh được ban tặng cho con người trong đức tin và trong bí tích. Như thế Chặng Đàng Thánh Giá là một con đường dẫn đến trung tâm mầu nhiệm Bí Tích Thánh Thể: lòng đạo đức bình dân và lòng đạo đức á bí tích của Giáo Hội hòa hợp với nhau và trở nên một. Lời nguyện của Chặng Đàng Thánh Giá là một con đường dẫn tới sự hiệp thông tâm linh sâu xa với Chúa Giêsu, nếu thiếu đi điều này, sự rước lễ thật của chúng ta sẽ vẫn còn trống rỗng. Như thế Chặng Đàng Tháng Giá là một con đường “có tính mầu nhiệm”.

Viễn ảnh này tương phản với sự diễn tả hoàn toàn đa cảm tới Chặng Đàng Thánh Giá. Nơi Chặng Thứ Tám khi Chúa nói lên sự nguy hiểm này với phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương cho Người. Chỉ có đa cảm thôi thì không bao giờ đủ. Chặng Đàng Thánh Giá phải là một trường học đức tin, đức tin từ ngay bản chất “hành động qua đức ái” (Gl 5:6). Điều này không nói rằng đa cảm đó không có chỗ đứng thích hợp của nó. Các Nghị Phụ đã coi tâm hồn chai đá là thói hư tật xấu chính của người tà giáo, và họ đã thỉnh cầu tiên tri Ezekiel, là người đã loan báo cho dân Israel lời hứa của Thiên Chúa để cất đi trái tim chai đá của họ và ban cho họ những trái tim bằng thịt (x Ed 11:19). Chặng Đàng Thánh Giá mà chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa chia sẻ những thống khổ của con người, một Thiên Chúa không hững hờ và xa cách, nhưng đến giữa chúng ta, ngay cả cam chịu cái chết trên cây thập tự (x Pl 2:8).

Thiên Chúa chia sẻ sự đau khổ của chúng ta, Thiên Chúa xuống làm người để mang thánh giá của chúng ta, người muốn biến đổi những trái tim chai đá; Người mời gọi chúng ta chia sẻ sự đau khổ của người khác. Người muốn cho chúng ta một “trái tim bằng thịt”, mà nó sẽ không còn vô tình trước sự đau khổ của người khác, nhưng nó có thể cảm xúc dẫn đến tình yêu để hàn gắn và hồi phục. Một lần nữa ở đây, chúng ta trở về với những lời của Chúa Giêsu về hạt lúa, mà chính Người đã nằm xuống như một chân lý căn bản cho đời sống Kitô hữu ”Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12:25, x Mt 16:25, Mc 8:35, Lc 9:24 và câu Lc 17:33: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống”.

Chúng ta cũng nhận thấy rõ ràng ý nghĩa của những lời mà Phúc Âm Nhất Lãm đưa trước lời kết luận sứ điệp của Chúa Kitô: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16:24). Chính Chúa Giêsu đã làm sáng tỏ cho chúng ta “Chặng Đàng Thánh Giá”; Người đã dạy chúng ta cầu nguyện và tuân theo thể nào: Chặng Đàng Thánh Giá là con đường tự chịu thua thiệt, là con đường tình yêu chân thật. Trên con đường này Người đã đi trước chúng ta, trên con đường này Người dạy chúng ta cách cầu nguyện Chặng Đàng Thánh Giá. Một lần nữa chúng ta trở về với hạt lúa, trở về với Bí Tích Thánh Thể Chí Thánh, trong đó những hoa trái của cái chết và Phục Sinh của Chúa Kitô được tiếp tục hiện diện giữa chúng ta. Torng Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu bước đi bên cạnh chúng ta, như Người đã đi cùng với những môn đệ thành Emmau, chính Người bắt đầu lại lần nữa một phần cho lịch sử chúng ta.

 

Lời nguyện khai mạc:

Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen

Lạy Chúa Giêsu Kitô, vì lợi ích cho chúng con mà Chúa đã trở nên hạt lúa gieo vào lòng đất và chết đi, để nó sinh nhiều hoa trái (Ga 12: 24). Chúa mời gọi chúng con theo Chúa trên con đường mà Chúa đã nói với chúng con là “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12:25). Vâng chúng con gắn bó với cuộc đời chúng con và không muốn bỏ rơi nó; chúng con muốn tự giữ lấy cho chính mình. Chúng con muốn giữ chặt nó, không chịu cho đi. Nhưng Chúa đi trước chúng con, Chúa tỏ cho chúng con thấy rằng chỉ bằng cách cho đi cuộc sống chúng con mà chúng con có thể cứu nó. Khi chúng con cùng đi với Chúa theo Chặng Đàng Thánh Giá, Chúa dẫn chúng con dọc chặng đường của hạt lúa, chặng đường sinh sôi nhiều hoa trái tới sự vĩnh cửu. Thánh giá — tự hiến thân – đè nặng trên chúng con. Dọc theo chính Chặng Đàng Thánh Giá của Chúa, Chúa đã mang lấy thánh giá của chúng con. Vì tình yêu thương của Chúa tiếp tục đồng hành với chúng con mọi lúc trong cuộc đời, chúng con đã không gánh vác trong quá khứ cho dù chỉ một khoảng khắc,. Hôm nay chúng con mang thánh giá đó với con và vì con, và kinh ngạc thay Chúa muốn con giống như ông Simon thành Cyrênê, để theo Chúa cùng vác thập giá cho Chúa. Chúa muốn chúng con đi bộ với Chúa và tự hiến cho Chúa trong sự phục vụ cứu rỗi cho thế giới.

Xin ban cho chúng con để chặng Đàng Thánh Cha của chúng con không chỉ là một lòng đạo đức thoáng qua. Xin giúp tất cả chúng con để cùng đồng hành với Chúa không chỉ bằng những tư tưởng cao thượng, nhưng với tất cả tâm hồn chúng con và với tất cả mọi bước đi mỗi ngày trong cuộc đời. Xin giúp chúng con triệt để phát họa ra chặng Đàng Thánh Giá và kiên trì trên con đường của Chúa. Xin giải thoát chúng con khỏi sự sợ hải của Thập Tự, khỏi sự sợ hải của phường nhạo báng, khỏi sự sợ hãi để cuộc đời chúng con thoát khỏi sự níu kéo nếu chúng con cứ khăng khăng bám víu mọi sự đến với chúng con.

Xin giúp chúng con lột trần tất cả những cám dỗ đó mà nó hứa mang lại cuộc sống, mà cuối cùng chỉ mang đến cho chúng con sự hão huyền và giả trá của nó. Xin giúp chúng con đừng chiếm lấy cuộc sống nhưng biết cho đi. Như Chúa đồng hành với chúng con trên chặng đường của hạt lúa; trong sự “mất đi mạng sống chúng con”, xin giúp giúp con biết khám phá ra con đường tình yêu, con đường mang lại cho chúng con sự sống chân thật và sự sống dồi dào. (x Ga 10:10).

 

 

Chặng Đàng Thứ Nhất- Chúa Giêsu bị lên án chết

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27:22-23, 26)

Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp: “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây? ” Mọi người đồng thanh: “Đóng đinh nó vào thập giá! “23 Tổng trấn lại nói: “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác? ” Họ càng la to: “Đóng đinh nó vào thập giá! ” Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá.

Suy Ngắm

Thẩm Phán của thế giới sẽ đến lần nữa để phán xét tất cả chúng ta, đang đứng đó, bị hạ nhục và không bào chữa được trước quan tòa trần tục. Philatô không hoàn toàn là người gian ác. Ông biết rằng người bị kết án là vô tội, và ông tìm một cách để trả tự do cho người. Nhưng tâm hồn ông bị chia xé. Và cuối cùng ông đã để chính địa vị của ông, chính quyền lợi của ông vượt lên trên những gì đúng đắn. Cũng không phải những người đang la hét và đòi Chúa Giêsu phải chết hoàn toàn là gian ác. Trong ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nhiều người trong số họ sẽ cảm thấy “đau đớn trong lòng” (Cv 2:37). Khi ông Phêrô đã nói với họ “Đức Giê-su Na-da-rét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em … anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi.” (Cv 2:22 tt). Nhưng lúc đó họ đã bị nhiễm trong đám đông. Họ la to bởi vì mọi người khác đang la hét, và họ cũng la hét giống như mọi người khác. Và theo lối này, công lý đã bị chà đạp dưới chân bởi những người nhu nhược, hèn nhát và sợ sệt tới mệnh lệnh của giới cầm quyền. Tiếng nói thầm lặng của lương tâm đã bị chìm đắm vì tiếng hò hét của đám đông. Ma quỷ đã thu hút được quyền lực của nó từ sự do dự và quan tâm vì những gì người khác nghĩ tới.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã bị lên án chết vì sợ những gì người khác nghĩ tới đã làm im lặng tiếng nói lương tâm. Suốt giòng lịch sử, người vô tội luôn luôn bị ngược đãi, lên án và bị giết nữa. Đã bao nhiêu lần chúng con đã tự đề đạt một cách thành công cho chân lý, dành thanh danh của chúng con cho công lý? Xin củng cố tiếng nói lương tâm thầm lặng của chúng con, với chính tiếng nói của Chúa trong cuộc đời chúng con. Xin hãy nhìn con như Chúa đã nhìn Phêrô sau khi chối Chúa. Xin cái nhìn của Chúa chiếu rọi vào tâm khảm chúng con và chỉ hướng đi mà chúng con phải theo trong cuộc đời. Trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, Chúa đã khơi dậy những tâm hồn mà họ đã hò hét để Chúa phải chết trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và đã làm họ hoán cải. Bằng cách này Chúa đã cho tất cả mọi người niềm hy vọng. Xin hãy ban cho chúng con hồng ân hoán cải luôn mãi.

 

Chặng Đàng Thứ Hai- Chúa Giêsu vác Thánh Giá

Trích Tin Mừng theo Thánh Matthêu (Mt 27:27-31).

Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái! ” Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

Suy Ngắm

Chúa Giêsu bị lên án như một ông vua lừa đảo, đã bị sỉ nhục, nhưng chính sự sỉ nhục nhất đã để lộ ra sự thật đau thương. Từ những con người vĩ đại trong thế giới này, đã bao lần biểu trưng quyền lực là một sỉ nhục đến chân lý, đến công lý và đến nhân phẩm con người! Đã bao lần những phù hoa và lời nói cao quý của họ chẳng có là gì ngoại trừ phô trương lên những điều giả dối, một sự bắt chước một bổn phận bắt buộc để phục vụ lợi ích chung! Đó là vì Chúa Giêsu đã bị chế nhạo và đội triều thiên đau khổ mà Người là Vua chân chính. Vương trượng Ngài là vương trượng công minh (x Tv 45:7). Hoàng tử công chính trong thế gian này đang chịu đau khổ: Chúa Giêsu là Vua thật, không trị vì bằng bạo hành, nhưng bằng tình yêu chịu đau khổ vì chúng ta và với chúng ta. Người vác lấy Thập Giá, thánh giá chúng ta, gánh nặng của con người, gánh nặng của thế giới. Và rồi Ngưòi đi trước chúng ta và chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến sự sống chân thật.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã sẵn lòng chịu đựng để bị chế nhậo và khinh bỉ. Xin giúp chúng con đừng tự liên kết với những ai coi thường đến người bị khinh khi và đau khổ. Xin giúp chúng con nhận thấy gương mặt của Chúa nơi người hèn mọn và nơi người bị xã hội ruồng bỏ. Ước gì chúng con không bao giờ đánh mất tâm hồn khi đương đầu trước những xúc phạm nó chế giễu sự vâng lời của chúng con tới ý muốn của Chúa trong thế gian này. Chúa đã vác chính cây Thập Giá của Chúa và Chúa yêu cầu chúng con bước theo con đường này (x Mt 10:38). Xin giúp chúng con vác lấy Thập Giá và không xa lánh nó. Ước chi chúng con không bao giờ than phiền hay trở nên thối chí vì những thử thách trong cuộc đời. Xin giúp chúng con dõi bước theo con đường tình yêu trong sự quy phục để tìm thấy niềm vui thật.

 

Chặng Đàng Thứ Ba- Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất

Trích sách Tiên Tri Isaiah (Is 53: 4-6).

Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta,

đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta,

còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,

bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.

Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội,

bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm;

người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an,

đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.

Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu,

lang thang mỗi người một ngả.

Nhưng ĐỨC CHÚA đã đổ trên đầu người

tội lỗi của tất cả chúng ta.

Suy Ngắm

Con người đã ngã xuống và Người tiếp tục ngã xuống: thường Người trở nên một bức hí họa về chính Người, không còn là hình ảnh của Thiên Chúa nữa, nhưng là một sự chế nhạo Đấng Tạo Hoá. Một người trên con đường từ Giêrusalem đến Jericô, đã bị sa vào bọn cướp bị lột áo và để người ấy nửa chết và bị thương bên vệ đường, không phải là hình ảnh con người đặc biệt đó sao? Chúa Giêsu đã ngã dưới cây Thập Giá không chỉ là sự ngã quỵ của con người Giêsu, nhưng đã bị kiệt sức vì chịu đánh đòn. Thật còn có ý nghĩa thâm sâu hơn sự ngã xuống này, như Thánh Phaolô đã nói cho chúng ta trong thư gửi tín hữu Philiphê

“Đức Giê-su Ki-tô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự. (Pl 2:6-8).

Khi Chúa Giêsu ngã xuống dưới sức nặng của cây Thập Giá, ý nghĩa của toàn thể cuộc sống người được nhìn thấy: một sự nhục nhã tự nguyện đã nâng chúng ta lên khỏi vực thẳm lòng kiêu ngạo của chúng ta. Bản tính kiêu ngạo của chúng ta cũng đã tỏ lộ ra: đó là sự kiêu căng làm cho chúng ta muốn thoát ly khỏi Thiên Chúa và làm chúng ta tự cô độc, sự kiêu hãnh làm cho chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể làm chủ chính vận mệnh chúng ta mà không cần đến tình yêu bất diệt của Người. Trong sự nổi loạn này chống lại chân lý, trong mưu mô để là chính ngẫu tượng, là người tạo hóa, là thẩm phán cho riêng mình, chúng ta ngã đâm đầu xuống và xa vào sự tự hủy. Sự khiêm nhu của Chúa Giêsu là sự chế ngự lòng kiêu căng của chúng ta; bằng sự nhục nhã người nâng chúng ta lên. Hãy để cho người nâng chúng ta dậy. Hãy lột trần cảm giác tự mãn của chúngta, hình ảnh không chịu khuất phục một cách sai lầm, và hãy học nơi người là Đấng tự khiêm hạ, để khám phá ra chân lý cao cả nhất bằng cách cúi mình trước Thiên Chúa và trước những anh chị em bị áp bức.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, sức nặng của cây thập giá đã làm Chúa ngã quỵ xuống đất. Sức nặng của tội lỗi chúng con, sức nặng của sự ngạo mạn của chúng con đã làm Chúa gục xuống. Nhưng sự ngã quỵ của Chúa không phải là một bi thương, hay chỉ là sự yếu ớt của con người. Chúa đã đến với chúng con, nhưng vì sự kiêu ngạo mà chúng con đã hạ thấp Chúa. Lòng kiêu hãnh đã làm chúng con nghĩ rằng tự chúng con có thể tạo dựng ra con người, đã biến con người trở thành một thứ hàng hóa, được mua và được bán, được lưu trữ để cung cấp những bộ phận cho sự thử nghiệm. Làm nên điều này, chúng con hy vọng sẽ chinh phục được cái chết bằng chính nỗ lực của chúng con, nhưng rồi trong thực tế, chúng con hoàn toàn làm mất đi phẩm cách nhân phẩm con người. Ôi lạy Chúa xin giúp con, chúng con đã ngã gục. Xin giúp chúng con từ bỏ sự kiêu ngạo hủy hoại của chúng con và học được từ nơi lòng kiêm nhu của Chúa để chúng con trỗi dậy một lần nữa.

 

Chặng Đàng Thứ Bốn- Chúa Giêsu gặp Mẹ Người

Trích Phúc Âm theo Thánh Luca (Lc 2:34- 35, 51).

Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.

Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.

Suy Ngắm

Trên chặng Đàng Thánh Giá của Chúa Giêsu, chúng ta cũng tìm thấy Mẹ Maria, Mẹ của người. Trong đời sống công khai Mẹ đã đứng sang một bên, nhường chỗ cho dòng dõi gia đình mới của Chúa Giêsu, là gia đình của các môn đệ người. Mẹ cũng đã nghe những lời này: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? … Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi (Mt 12: 48-50). Giờ này đây chúng ta nhìn thấy Mẹ của Chúa Giêsu, không chỉ nơi thể lý nhưng nơi tâm hồn của Mẹ nữa. Mẹ Maria đã được nói: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.” (Lc 1:31 tt). Và Mẹ sẽ nghe từ miệng của ông Simon: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2:35). Rồi Mẹ sẽ nhớ lại những lời của các ngôn sứ, những lời như thế này: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. (Is 53:7). Giờ đây tất cả đều xảy ra. Trong tâm hồn Mẹ, Mẹ đã giữ những lời của sứ thần đã nói với Mẹ từ thưở ban đầu: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (Lc 1:30). Các môn đồ bỏ chạy, còn Mẹ đã không lẫn trốn. Mẹ đứng đó, với lòng can đảm của một người Mẹ, với lòng trung thành của một người Mẹ, với đức hạnh của một người Mẹ và với một đức tin không hề nao núng trong giờ đen tối nhất: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1:45). “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? (Lc 18:8). Đúng vậy, trong lúc này đây Chúa Giêsu biết: người sẽ tìm thấy lòng tin: trong giây phút này, đây là lúc an ủi cao độ của người.

Lời Nguyện

Lạy Mẹ Maria rất Thánh, Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ đã trung thành khi các môn đồ trốn chạy. Như khi Mẹ tin đến sứ điệp lạ lùng của các sứ thần, là Mẹ sẽ trở nên Mẹ của Đấng Tối Cao, rồi Mẹ cũng tin đến giờ phút nhục nhã cực độ nhất của người. Bằng cách này, trong giờ phút của Thập Tự Giá, trong giờ phút của đêm đen tối nhất của thế gian, Mẹ đã trở thành Mẹ của những người tin, Mẹ của Giáo Hội. Chúng con kêu cầu Mẹ: xin dạy cho chúng con tin, và ban cho chúng con để đức tin của chúng con sinh hoa trái trong sự phục vụ can đảm, và để đức tin của chúng con là dấu chỉ của một tình yêu sẵn sàng chia sẻ sự đau khổ và cống hiến sự nâng đỡ.

 

Chặng Đàng Thứ Năm- Người Kyrênê giúp Chúa Giêsu vác đỡ cây Thánh Giá

Trích Phúc âm theo Thánh Matthêu ( Mt 27: 32; 16:24)

Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn; chúng bắt ông vác thập giá của Người. Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.

Suy Ngắm

Ông Simon người Kyrênê trên con đường trở về nhà ông từ công sở, khi ông bất chợt gặp thấy đoàn diễu hành buồn sầu của những người bị lên án, đối với ông có lẽ đó là một cảnh tượng thông thường. Quân lính bức hiếp một người lao nhọc này từ vùng nông thôn để vác cây Thập Giá trên chính vai của mình. Ông phải nghĩ tới khó chịu như thế nào khi chợt bắt gặp số phận của những người bị lên án! Ông làm những gì ông phải làm nhưng một cách miễn cưỡng. Đáng chú ý thay, Tác Giả Tin Mừng Maccô không những nói tên của ông mà còn nói đến hai người con của ông nữa, được biết họ là những người Kitô hữu và là thành viên trong cộng đoàn (x Mc 15:21). Từ lúc bất chợt này đức tin được sinh ra. Đi bên cạnh Chúa Giêsu và chia sẻ gánh nặng của cây Thánh Giá, người Kyrênê đến để thấy rằng đó là một hồng ân để được đồng hành với Chúa chịu đóng đinh và giúp đỡ người. Mầu nhiệm của Chúa Giêsu, thầm lặng và chịu đau khổ đã đánh động tâm hồn ông. Chúa Giêsu là Đấng mà một mình tình yêu Thiên Chúa có thể cứu độ tất cả nhân loại, muốn chúng ta chia sẻ Thánh Giá người để chúng ta có thể hoàn tất những gì còn thiếu sót trong sự đau khổ của người (x Cl 1:24). Bất cứ khi nào chúng ta tỏ ra lòng nhân ái đến người đang đau khổ, người bị cưỡng bức và người cô thế, và chia sẻ những nỗi khổ đau của họ, là chúng ta có thể giúp mang cùng cây Thánh Giá đó của Chúa Giêsu. Bằng cách này chúng ta nhận được ơn cứu độ và giúp góp phần đến sự cứu rỗi cho thế giới.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã mở đôi mắt và tâm hồn ông Simon người Kyrênê, và Chúa đã cho ông ân sủng đức tin qua việc chia sẻ vác cây Thánh Giá của Chúa. Xin giúp chúng con biết giúp đỡ những người lân cận thiếu thốn, ngay cả khi điều này quấy rầy đến những dự định và ước muốn của chúng con, bằng cách này để chúng con biết rằng chúng con đang bước đi một mình với Chúa. Xin giúp chúng con cảm kích với niềm vui rằng, khi chúng con chia sẻ trong sự đau khổ của Chúa và những đau khổ của thế giới này, chúng con trở nên những người tôi tớ của sự cứu rỗi và có thể giúp xây dựng Thân Mình của Chúa là Hội Thánh.

 

Chặng Đàng Thứ Sáu- Bà Verônica lau mặt Chúa Giêsu

Trích sách Thánh Vịnh (Tv 27: 8-9)

Nghĩ về Ngài, lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh Nhan.

Lạy CHÚA, con tìm thánh nhan Ngài,

xin Ngài đừng ẩn mặt.

Tôi tớ Ngài đây, xin đừng giận mà ruồng rẫy,

chính Ngài là Đấng phù trợ con.

Xin chớ bỏ rơi, xin đừng xua đuổi,

lạy Thiên Chúa, Đấng cứu độ con.

Suy Ngắm

“Lạy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài, xin Ngài đừng ẩn mặt” (x Tv 27: 8-9). Bà Veronica – Bernice theo truyền thống Hy Lạp, là hiện thân lòng khao khát của tất cả những người nam và người nữ sùng đạo trong Cựu Ước, lòng khao khát của tất cả những người tin để nhìn thấy thánh nhan Thiên Chúa. Trên Đàng Tháng Giá của Chúa Giêsu, mặc dầu thoạt đầu bà đã không làm chi hết ngoại trừ thi hành một cử chỉ ân cần của người phụ nữ: bà đã đưa khăn lau mặt cho Chúa Giêsu. Bà đã không để quân lính hung bạo ngăn cản hay liệt vào trong sự sợ hãi của các môn đồ. Bà là hình ảnh của người phụ nữ tốt lành, đã tỏ ra can đảm do lòng nhân từ và không để tâm hồn bà bị giao động giữa sự hỗn loạn và mất tinh thần. Thiên Chúa đã đưa ra Bài Giảng trên Núi “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5:8). Đầu tiên, bà Veronica chỉ trông thấy một gương mặt bị đọa đầy và đầy thương đau. Thế rồi cử chỉ yêu thương của bà đã được ghi ấn hình ảnh thật của Chúa Giêsu nơi tâm hồn bà: trên gương mặt con người của Chúa bị chảy máu và bầm tím, bà đã nhìn thấy thánh nhan của Thiên Chúa và lòng nhân ái của người, đồng hành với chúng ta ngay cả khi chúng ta buồn phiền sâu thẳm nhất. Chỉ với tâm hồn mà chúng ta có thể nhìn thấy Chúa Giêsu. Chỉ có tình yêu thanh tẩy chúng ta và cho chúng ta khả năng để nhìn thấy được. Chỉ có tình yêu có thể cho phép chúng ta nhận ra Thiên Chúa chính là tình yêu.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con trái tim biết thao thức, tâm hồn biết tìm kiếm thánh nhan Chúa. Xin giữ gìn con khỏi sự mù quáng của con tim chỉ nhìn thấy dáng vẻ bề ngoài. Xin ban cho chúng con tính hồn nhiên và lòng thanh khiết để chúng con có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa trong thế gian. Khi chúng con không thể hoàn tất những việc trọng đại, xin ban cho chúng con lòng can đảm nhờ lòng khiêm nhu và thiện hão. Xin khắc ghi gương mặt của Chúa trên trái tim con. Ước gì chúng con gặp gỡ Chúa trên dòng đời và tỏ ra hình ảnh của Chúa cho thế giới.

 

Chặng Đàng Thứ Bảy- Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai.

Trích sách Ai Ca (Ac 3: 1-2, 9, 16)

Tôi là người đã sống cảnh lầm than

dưới làn roi giận dữ của Người.

Người dẫn tôi, bắt tôi lần bước,

trong tối tăm, không ánh sáng soi đường.

Người lấy đá hộc chận đường tôi,

xóa lối đi khiến tôi phải lạc hướng.

Răng tôi, Người bắt nhai đá sỏi,

xác tôi, Người vùi dập dưới đống tro.

Suy Ngắm

Theo truyền thống Chúa Giêsu đã ngã xuống ba lần dưới sức nặng của cây Thánh Giá, gợi lên sự sa ngã của Adam là tình trạng sa ngã của nhân loại, và gợi lên mầu nhiệm của chính Chúa Giêsu dự phần trong sự sa ngã của chúng ta. Qua suốt giòng lịch sữ, sự sa ngã của con người tiếp tục mang theo những hình thức mới. Trong Thư Thứ Nhất, Thánh Gioan nói đến dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của. Dựa vào màn phông trụy lạc trong thời đại của chính ngài, Thánh nhân đã làm sáng tỏ sự sa ngã của con người và nhân loại, với tất cả những sự thái quá và sự suy đồi của nó. Thế nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ đến thời gian gần đầy, tinh thần Kitô Giáo đã mọc lên sự ngao ngán đức tin, đã bỏ rơi Thiên Chúa thế nào: Những hệ tư tưởng lớn, và cuộc sống vô vị của những người không còn tin đến bất kỳ sự gì, là những người một cách đơn thuần sống phiêu giạt theo cuộc sống, đã lập nên một tà giáo mới và tồi tệ hơn, trong sự lèo lái của nó muốn cách xa Thiên Chúa chỉ một lần và mãi mãi, đã kết cục gạt bỏ con người. Và như thế con người dập vùi dưới đống tro. Thiên Chúa đã nhiều lần và nhiều lần nữa mang lấy gánh nặng và sự sa ngã này, để gặp gỡ chúng ta. Người đăm chiêu nhìn chúng ta, người đánh động tâm hồn chúng ta; người ngã quỵ xuống để nâng đỡ chúng ta dậy.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã chịu đựng tất cả những gánh nặng của chúng con và Chúa tiếp tục gánh vác chúng con. Ách của chúng con đã làm Chúa quỵ xuống. Xin hãy đỡ nâng chúng con lên vì chính chúng con không thể tự nâng mình lên khỏi đống tro tàn. Xin giải thoát chúng con khỏi những gông cùm xác thịt. Xin ban cho chúng con trái tim bằng thịt thay vào trái tim chai đá, xin ban cho chúng con một con tim biết nhận diện. Xin diệt trừ sức mạnh của hệ tư duy, để tất cả mọi người có thể nhận thấy rằng chúng là phường dối trá. Xin cho chúng con vượt qua được bức tường chủ nghĩa duy vật. Xin làm cho chúng con nhận thức đến sự hiện diện của Chúa. Xin giữ gìn con sống điềm đạm và cảnh tỉnh, để có thể chống cự quyền lực của ma quỷ. Xin giúp chúng con nhận ra được những nhu cầu tâm linh và thiếu thốn của người khác và ban cho họ sự giúp đỡ khi họ cần đến. Xin nâng chúng con trỗi dậy, để chúng con nâng người khác lên. Xin ban cho chúng con niềm hy vọng trong mọi lúc đen tối nhất, để chúng con mang lại niềm hy vọng của Chúa cho thế giới.

 

 

Chặng Đàng Thứ Tám- Chúa Giêsu yên ủi phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương người

Trích Phúc Âm theo Thánh Luca (Lc 23: 28-31)

Đức Giê-su quay lại phía các bà mà nói: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: “Phúc thay đàn bà hiếm hoi, người không sinh không đẻ, kẻ không cho bú mớm! “3 Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: Đổ xuống chúng tôi đi!, và với gò nổng: Phủ lấp chúng tôi đi! Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao? “

Suy Ngắm

Khi nghe Chúa Giêsu than trách phụ nữ thành Giêrusalem đi theo và khóc thương cho người ắt phải làm chúng ta suy tư. Làm sao chúng ta hiểu được những lời của người? Những lời không phải nói trực tiếp đến một lòng đạo đức vốn hoàn toàn có tính đa cảm, mà con người đã thất bại đến sự hoán cải và đời sống đức tin sao? Thật là không tận dụng để than khóc sự đau khổ của thế giới này trong khi cuộc sống chúng ta vẫn tiếp diễn bình thường. Và như thế Thiên Chúa đã cảnh cáo chúng ta đến sự nguy hiểm mà chúng ta đang gặp phải. Người đã chỉ cho chúng ta thấy cả hai sự nghiêm trọng của tội lỗi và sự nghiêm trọng của phán xét. Mặc dầu với tất cả những sự bày tỏ kinh hoàng trước sự dữ và sự đau khổ của người vô tội, phải chăng chúng ta đã được chuẩn bị chu đáo để coi thường sự huyền bí của sự dữ? Chúng ta đã chấp nhận chỉ có lòng nhân từ và tình yêu của Thiên Chúa và Chúa Giêsu và thầm lặng bỏ qua lời phán đoán chăng? Chúng ta nói “Làm sao Thiên Chúa lại quá lo lắng đến những yếu đuối của chúng ta?” “Chúng ta chỉ là con người!”. Vâng khi chúng ta chiêm ngắm sự đau khổ của Chúa Con, chúng ta nhìn thấy rõ ràng hơn sự nghiêm trọng của tội lỗi và thật sự cần thiết thế nào để hoàn toàn chuộc lỗi nếu chúng ta vượt qua được. Trước hình ảnh đau khổ của Thiên Chúa, sự ác không thể được tầm thường hoá. Ngài nói với cả chúng ta nữa: “Đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình … Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?”

Lời Nguyện

Lạy Chúa, những người phụ nữ khóc thương mà Chúa nói với họ về lòng hoán cải và Ngày Phán Xét, khi tất cả chúng con đến trước thánh nhan Chúa: Trước mặt Chúa là vị Thẩm Phám của thế giới. Chúa gọi chúng con bỏ lại sau lưng sự coi thường của điều ác, mà nó xoa dịu lương tâm và để chúng con vẫn tiếp tục theo con đường cũ. Chúa chỉ cho chúng con sự nghiêm trọng đến bổn phận của chúng con, sự nguy hiểm của con người tội lỗi và không thể biện minh được trong ngày Phán Xét. Xin ban cho chúng con không phải chỉ hồn nhiên bước bên cạnh Chúa mà không cống hiến sự gì ngoại trừ nói lên những lời động lòng trắc ẩn. Xin hoán cải chúng con và ban cho chúng con đời sống mới. xin ban cho chúng con cuối cùng chúng con không chỉ là cây héo khô, nhưng là những nhành cây sống trong Chúa, vì Chúa là cây nho thật, để sinh hoa trái cho đời sống vĩnh cửu (x Ga 15: 1-10)

 

Chặng Đàng Thứ Chín- Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ ba.

Trích sách Ai Ca (Ac 3:27-32)

Cũng là một điều hay cho người nào

phải mang ách từ khi còn trẻ.

Khi chính Chúa bắt nó phải mang,

nó hãy cứ ngồi im lặng một mình,

cứ đặt miệng nó trong bụi đất

– may ra còn chút hy vọng nào chăng –

nó cứ đưa má cho kẻ tát,

chuốc lấy cho mình đầy nỗi nhuốc nhơ.

Vì quả thật, Đức Chúa chẳng bỏ rơi mãi mãi:

có làm khổ, Người cũng xót thương,

vì Người vốn từ bi cao cả;

Suy Ngắm

Ngã xuống đất lần thứ ba có thể nói cho chúng ta điều gì? Chúng ta đã suy xét đến sự sa ngã con người một cách chung, và sự sa ngã của nhiều người Kitô hữu xa rời Đức Kitô và đi vào chủ nghĩa trần tục vô thần. Chúng ta có nên không nghĩ đến Chúa Kitô đã chịu đau khổ trong chính Giáo Hội của người biết chừng nào không? Đã bao lần Sự Hiện Diện của người trong Bí Tích Thánh bị lạm dụng, đã bao lần chúng ta đến với một tâm hồn trống rỗng và gian ác! Đã bao lần chúng ta chỉ cử hành một mình mà không nhận thức đến người đang hiện diện ở đó. Đã bao lần Lời Chúa bị xuyên tạc và bị lăng mạ! Đức tin tầm thường nào đã hiện diện đằng sau quá nhiều học thuyết, quá nhiều những lời nói hão huyền! Đã có bao nhiêu rác rưởi nằm trong Giáo Hội và ngay cả những người trong thiên chức linh mục, lẽ ra phải hoàn toàn thuộc về người! Bao nhiêu sự kiêu căng, bao nhiêu điều tự phụ! Sự tôn kính không đáng kể nào mà chúng ta đã dành cho Bí Tích Hòa Giải, nơi mà người đang đợi chờ chúng ta, người sẵn sàng nâng đỡ chúng ta lên bất cứ khi nào chúng ta sa ngã!. Tất cả điều này hiện diện trong cuộc Thương Khó của người. Sự phản bội của các môn đồ, rước Mình và Máu Chúa không xứng đáng, chắc chắn là sự đau khổ cực độ nhất mà Đấng Cứu Chuộc cam chịu; nó đâm thấu con tim của người. Chúng ta chỉ có thể kêu cầu đến người từ đáy lòng của chúng ta: Kyrie eleison- Lạy Chúa xin thương xót chúng con (x Mt 8: 25)

Lời Nguyện

Lạy Chúa, Giáo Hội của Chúa thường giống như một con thuyền sắp đắm chìm, một con thuyền bị đắm nước mọi bề. Trên cánh đồng của Chúa, Chúng con nhìn thấy nhiều cỏ dại hơn là lúa. Quần áo và gương mặt của Giáo Hội Chúa bị dơ bẩn đã làm chúng con hoang mang. Vâng chính chúng con đã làm nhơ bẩn! Đó là chúng con đã phản bội Chúa bao lần, qua tất cả những lời nói kiêu căng và những hành xử trang trọng. Xin thương xót trên Giáo Hội của Chúa; trong Giáo Hội nữa, Adam tiếp tục sa ngã. Khi chúng con sa ngã, chúng con đã thực sự kéo lê Chúa và Satan cười cợt vì nó hy vọng Chúa sẽ không thể trỗi dầy từ sự sa ngã đó; nó hy vọng Giáo Hội bị sa xuống trong sự xa ngã, Chúa sẽ bị liệt và bị áp chế. Nhưng Chúa sẽ trỗi dậy một lần nữa. Chúa đứng đó, Chúa đứng lên và Chúa có thể nâng chúng con lên. Xin cứu và thánh hóa Giáo Hội của chúa. Xin cứu thoát và thánh hóa tất cả chúng con.

 

Chặng Đàng Thứ Mười- Chúa Giêsu bị lột áo

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27: 33-36)

Khi đến nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau. Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.

Suy Ngắm

Chúa Giêsu bị lột áo. Quần áo cho một con người địa vị xã hội, nó cho người chỗ đứng trong xã hội, nó làm cho người là một ai đó. Lột trần công khai có nghĩa là Chúa Giêsu chẳng còn là gì, người chỉ là một người bị xã hội bỏ rơi, bị tất cả miệt thị. Lúc bị lột trần công khai nhắc nhở cho chúng ta đến sự trục xuất khỏi vườn địa đàng: Ánh quang của Thiên Chúa đã biến mất đi khỏi con người, là Đấng giờ này đây bị trần truồng và bộc trần, không có quần áo và bị xấu hổ. Và như thế Chúa Giêsu một lần nữa nhận lấy điều kiện con người sa ngã. Bị lột áo, người nhắc chúng ta rằng tất cả chúng ta đã mất đi “bộ áo đầu tiên” đó là ánh quang của Thiên Chúa. Dưới chân Thập Giá, quân lính bắt thăm chia nhau vật sở hữu nhỏ mọn, đó là áo xống. Tác giả phúc âm đã diễn tả khung cảnh với những lời được rút từ Thánh Vịnh 22:19 (Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn); như thế thánh vịnh nói với chúng ta giống như Chúa Giêsu đã nói với các môn đồ trên con đường Emmau: để mọi sự được ứng nghiệm “theo như Kinh Thánh”. Không có gì là trùng hợp ngẫu nhiên; mọi sự xảy ra chứa đựng theo Lời Chúa và theo chương trình của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đi qua tất cả mọi giai đoạn và mọi bước đi của con người sa ngã khỏi ân sủng, đúng mỗi bước đi đó với tất cả những sự cay đắng, trở nên một bước tiến cho sự cứu độ chúng ta: đó là thế nào mà người mang về con chiên bị lạc. Chúng ta đừng quên điều đó mà Thánh Gioan đã nói đến sự bắt thăm áo xống của Chúa Giêsu, “chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới” (Ga 19:23). Chúng ta có thể xem điều này có liên quan đến áo của vị Thượng Tế, đó là “chiếc áo từ một mảnh duy nhất” không có đường khâu (Fl, Josephus, a III, 161). Đối với người, Đấng bị Đóng Đinh là Thượng Tế thật.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã bị lột áo, bị phơi trần xấu hổ, bị gạt ra ngoài xã hội. Chúa tự chuốc lấy sự xấu hổ của Adam, và Chúa đã chữa lành. Chúa cũng tự chuốc lấy những đau khổ và những nhu cầu thiếu thốn của người nghèo, những người bị xã hội gạt bỏ trong thế giới chúng con. Và trong đường lối hiển nhiên này Chúa đã làm trọn những lời của các ngôn sư. Chúa đã làm cho chúng con nhân ra thế nào, Chúa Cha đã gìn giữ Chúa, gìn giữ chúng con và toàn thế giới trong bàn tay của người. Xin ban cho chúng con lòng kính trọng sâu xa đến con người trong mọi giai đoạn và trong mọi tình huống, nơi đó chúng con gặp gỡ người. Xin khoác áo cho chúng con trong ánh sáng ân sủng của Chúa.

 

Chặng Đàng Thứ Mười Một- Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thập Giá.

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27: 37-42)Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội viết rằng: “Người này là Giê-su, vua dân Do-thái.” Cùng bị đóng đinh với Người, có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào! ” Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền!

Suy Ngắm Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thập Giá. Bức khăn liệm Turin đã cho chúng ta khái niệm đến sự tàn nhẫn không thể tin nổi của thủ tục này. Chúa Giêsu đã không uống rượu pha mật đắng đưa lên cho người: người nhất định tự chuốc lấy tất cả những đau thương của Sự Đóng Đinh. Toàn thân người bị tra tấn, những lời trong Thánh Vịnh đã nói: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải,con bị đời mắng chửi dể duôi (Tv 22:7). “Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới … Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta (Tv 53:3b,4b). Chúng ta hãy dừng lại trước hình ảnh đau thương này, trước sự đau khổ của Con Thiên Chúa. Chúng ta hãy ngước nhìn lên người vào những lúc tự phụ và ăn chơi trụy lạc, để học để tôn trọng những giới hạn và nhìn thấy được sự nông cạn của tất cả những của cải chỉ hoàn toàn vật chất. Hãy ngước nhìn lên ngời vào những lúc chịu thử thách và khổ tâm, và nhận ra rằng lúc đó là lúc chúng ta gần gũi với Thiên Chúa nhất. Hãy cố gắng nhìn xem gương mặt người nơi con người mà chúng ta coi khinh. Một ý nghĩ khác đến trong tâm trí là khi chúng ta đứng trước Thiên Chúa bị lên án, là Đấng đã không dùng quyền lực để xuống khỏi cây Thập Giá, nhưng cam chịu sự đau khổ của nó cho đến cùng. Thánh Ignatiô thành Antiochia, một tù nhân bì xiềng xích vì đức tin nơi Thiên Chúa, đã ca ngợi Tín Hữu Kitô tại Smuma vì đức tin không chuyển lay của họ: ngài nó họ là những người chịu đóng đinh với xác và máu vào Thập Giá của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô (1,1). Chúng ta hãy tự đóng đinh với ngài, chống trả cơn cám dỗ để tránh xa, hay chống trả không liên kết với những người khác chế nhạo người.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã tự chịu đóng đinh vào Thập giá, chấp nhận sự dã man khủng khiếp của sự đau khổ này, hủy hoại thân xác và phẩm giá của chúa. Chúa đã tự để cho đóng đinh mau lẹ, Chúa đã không tìm cách trốn thoát hay làm giảm đi sự đau khổ của Chúa. Ước gi chúng con không bao giờ trốn chạy khỏi những gì chúng con được kêu gọi để làm. Xin giúp chúng con được trung tín với Chúa. Xin giúp chúng con lột trần sự tự do giả dối mà nó làm chúng con xa cách Chúa. Xin giúp chúng con chấp nhận sự tự do “ràng buộc” của Chúa và “kết lại” keo sơn với Chúa, để chúng con khám phá ra sự tự do đích thật.

 

Chặng Đàng Thứ Mười Hai- Chúa Giêsu sinh thì trên Thập Giá.

Trích Phúc Âm theo Thánh Gioan (Ga 19: 19-20)

Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.”Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp.

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27:45-50, 54)

Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? ” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Ê-li-a! ” Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không! “Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”

Suy Ngắm

Bằng tiếng Hy Lạp và Latin là 2 ngôn ngữ quốc tế lúc bấy giờ, và tiếng Hipri là ngôn ngữ Con Người Chọn, một tấm biển trên Thập Giá Chúa Giêsu, chỉ cho thấy người đó là ai: Là Vua dân Do Thái, người Con Vua Đa Vít được hứa hẹn. Philatô, quan tòa bất công, tự trở thành một ngôn sứ bị coi thường. Vương quyền của Chúa Giêsu được công bố cho toàn thế giới. Chính Chúa Giêsu đã không nhận chức tước “Messiah”, bởi vì nó sẽ đưa ra một sự hiểu lầm, theo tư tưởng quyền lực và giải thoát của con người. Rồi giờ đây tước hiệu vẫn còn công khai được trưng trên Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh. Người thật sự là vua của thế gìới. Giờ này Người đã thật sự “được nâng lên”. Khi chìm xuống dưới vực thẳm sâu Ngài trổi vượt lên đến tột đỉnh. Bây giờ người hoàn tất một cách triệt để giới răn yêu thương, ngài đã hoàn toàn tự hiến và giờ này đây bằng cách này người là sự mặc khải của Thiên Chúa thật, Thiên Chúa là tình yêu. Giờ này chúng ta biết Thiên Chúa là ai. Giờ này chúng ta biết vương quyền thật sự là gì. Chúa Giêsu đã cầu nguyện theo lời Thánh Vịnh 22, bắt đầu bằng những lời “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? (22:2). Ngài mang cho mình tất cả sự đau khổ của dân Israel, tất cả sự đau khổ của nhân loại, bi kịch đen tối của Thiên Chúa, và người làm cho Thiên Chúa hiện diện trong mọi chốn nơi nơi mà dường như người bị đánh bại và vắng bóng. Thập Giá Chúa Giêsu là một biến cố hoàn vũ. Thế giới bị đen tối, khi Con Thiên Chúa bi ruồng bỏ cho đến chết. Trái đất rung động. Và trên Thập Giá, Giáo Hội giữa những người lương dân chào đời. Viên đội trưởng Roma hiểu biết điều này và nhận thức ra rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Từ trên Thánh Giá, lại một lần nữa người đã chiến thắng.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu Kitô, trong giờ phút sinh thì của Chúa, mặt trời đã u ám. Chúa lại bị đóng đinh trên Thập Giá lần nữa. Trong giờ phút hiện tại của lịch sử, chúng con đang sống trong bóng tối của Thiên Chúa. Qua sự đau khổ cực độ của Chúa và sự độc ác của con người, dung mạo của Chúa, gương mặt của Chúa dường như bị che khuất, không còn nhận diện được. Và rồi, trên Thập Giá, Chúa đã tự tỏ mình ra. Chúa được tán dương, hoàn toàn là đấng chịu đau khổ và yêu thương. Từ trên Thập Giá trên cao, Chúa đã chiến thắng. Xin giúp chúng con nhận ra khuôn mặt của trong giờ phút đen tôi và khổ đau này. Xin giúp chúng con tin tưởng vào Chúa và bước theo Chúa trong giờ phút đen tối và cùng cực. Xin tỏ mình ra cho thế giới lần nữa trong giây phút này. Xin bộc lộ cho chúng con sự cứu chuộc của Chúa.

 

Chặng Đàng Thứ Mười Ba- Chúa Giêsu được tháo đanh xuống mà phó cho Mẹ Người

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27: 54- 55)

Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” Ở đó, cũng có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê để giúp đỡ Người.

Suy Ngắm Chúa Giêsu sinh thì. Từ con tim người bị mũi đòng của quân lính Roma đâm thâu qua, máu và nước chảy ra: một hình ảnh nhiệm mầu của dòng suối các bí tích, Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể, theo đó Giáo Hội không ngừng tái sinh từ tâm hồn cởi mở của Thiên Chúa. Đôi chân của người bị gãy, giống như hai người cũng chịu đóng đinh với người. Như thế người mặc khải người là con chiên Vượt Qua thật, không một ống xương nào bị dập (.. ) Và giờ đây, cuối cùng của sự đau khổ của người, đối với tất cả tâm can con người bị mất tinh thần và đối với tất cả quyền thế hận thù và hèn nhát, thật tỏ tường cho thấy người không cô đơn một mình. Ở đó có những người trung tín còn lại với người. Dưới chân Thập Giá còn đứng đó là Đức Maria Mẹ người, người chị họ của Mẹ bà Mary Mađalen và tông đồ người yêu mến. Một người phú hộ, ông Giôxếp tại Arimathea cũng xuất hiện tại hiện trường: một người giàu sang có khả năng chui qua lỗ kim, vì Thiên Chúa đã ban ân sủng cho ông. Ông táng xác Chúa Giêsu trong chính ngôi mộ dành sẵn cho ông tại khu vườn. Trong cuộc táng xác Chúa Giêsu, nghĩa địa trở thành một khu vườn, khu vườn nơi mà Adam đã bị trục xuất khi ông từ bỏ cuộc sống viên mãn, từ bỏ Đấng Tạo Hóa. Khu mộ nơi khu vườn biểu tượng lên giấc ngủ của cái chết sẽ kết liễu. Một thành viên trong Thượng Hội Đồng Roma cũng đi theo là ông Nicodêmô, người đã đước Chúa Giêsu loan báo mầu nhiệm tái sinh bằng nước và Thánh Thần. Ngay cả trong Thượng Hội Đồng Roma đã tuyên án tử cho người, ở đó còn có một người tin, còn có một ai đó biết và nhận ra Chuá Giêsu sau khi người sinh thì. Trong giờ phúc khóc thương thống thiết, đen tối và tuyệt vọng này, ánh sáng niềm hy vọng được hiện lên một cách huyền diệu. Thiên Chúa bị đánh đòn là Thiên Chúa của sự sống đang đến gần. Ngay cả trong đêm tối sự chết, Thiên Chúa vẫn còn là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta. Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô, gia đình mới của người, bắt đầu tỏ hiện.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã đi vào bóng tối sự chết. Nhưng thân xác Chúa được trao về cho những bàn tay nhân từ và được liệm trong tấm vải gai trắng (x Mt 27:59). Đức tin không hoàn toàn mất biến, mặt trời không hoàn toàn đi vào buổi hoàng hôn. Đã bao lần Chúa xuất hiện như đang ngủ? Thật dễ để chúng con chồn bước và tự thầm rằng: “Thiên Chúa đã chết”. Trong giờ phút đen tối, xin giúp chúng con biết rằng Chúa vẫn còn ở đó. Xin đừng bỏ rơi khi chúng con bị cám dỗ mất tâm hồn. Xin giúp chúng con đừng để Chúa cô đơn một mình. Xin ban cho chúng con lòng trung tín để chịu đựng trong những lúc hoang mang và xin ban cho chúng con lòng trung tín để có một tình yêu sẵn sàng ôm ấp Chúa trong lúc Chúa hoàn toàn bất động, như Mẹ của Chúa là Đấng đã ôm Chúa vào lòng một lần nữa. Xin giúp chúng con, là người giàu có và kẻ cơ bần, là người ngu dốt và người có học, biết nhìn ra ngoài sự sợ hãi và thành kiến của chúng con, và biết cống hiến khả năng chúng con cho Chúa, biết cống hiến tâm hồn và thời gian của chúng con, để chuẩn bị khu vườn Phục Sinh.

 

Chặng Đàng Thứ Mười Bốn- Chúa Giêsu được mai táng trong mồ.

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27: 59-61)

Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ.

Suy Ngắm

Chúa Giêsu bị ruồng bỏ và ngược đãi, đã được mai táng một cách tôn kính trong ngôi mộ mới. Nicôdêm mang một trăm cân mộc duợc trộn với trầm hương mà nó tỏ một mùi thơm quý báu. Trong sự tự hiến của Chúa Con, là Đấng được xức dầu ở Bethany, chúng ta xem thấy một “sự quá mức” gợi lên lòng nhân hậu và tình yêu thương quá đỗi của Thiên Chúa. Thiên Chúa tự hiến một cách nhưng không. Nếu đo lường của Thiên Chúa là quá mực dồi dào, thì đối với chúng ta về phần mình chẳng đáng là gì đối với Thiên Chúa. Đây là chính giáo huấn của Chúa Giêsu trong Bài Giảng trên Núi (Mt 5:50). Nhưng chúng ta cũng nhớ đến lời của Thánh Phaolô, ngài đã nói rằng Thiên Chúa “dùng chúng tôi mà làm cho sự nhận biết Đức Ki-tô, như hương thơm, lan toả khắp nơi. Vì chúng tôi là hương thơm của Đức Ki-tô dâng kính Thiên Chúa” (2 Cr 2:14-15). Giữa tình trạng suy đồi của hệ tư duy, đức tin chúng ta lần nữa cần đến hương thơm để mang chúng ta trở về con đường sống. Vào chính lúc mai táng người. Những lời của Chúa Giêsu đã được ứng nghiệm: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24). Chúa Giêsu là hạt lúa đã chết đi. Từ hạt lúa bất động nó làm nên bánh mì lớn gấp nhiều lần mà nó sẽ kéo dài cho tới tận cùng thế giới. Chúa Giêsu là bánh hằng sống có thể đáp ứng một cách dư thừa đến sự đói khát của tất cả nhân loại và có thể cung thần lương thẳm sâu nhất. Qua Thập Giá và Phục Sinh của người, Ngôi Lời Vĩnh Cữu của Thiên Chúa trở nên thịt và bánh cho chúng ta. Mầu nhiệm Bí Tích Thánh Thể đã chiếu dõi ra trong sự mai táng của Chúa Giêsu.

Lời Nguyện

Lạy Chúa Giêsu Kitô, trong sự mai táng của Chúa, Chúa đã cất đi cái chết của hạt lúa. Chúa đã trở nên hạt lúa bất động mà nó cung cấp hoa trái dồi dào cho mọi thời đạo và vô cùng tận. Từ ngôi mồ chiếu dõi ra cho mọi thế hệ sự hứa hẹn của hạt lúa mà nó sẽ cho bánh manna thật. Bánh Hằng Sống mà Chúa cống hiến chính Chúa cho chúng con. Ngôi Lời vĩnh cửu, qua sự nhập thể và cái chết đã trở nên Ngôi Lời gần gũi với chúng con: chúa đặt chính Chúa vào đôi tay và tâm lòng chúng con, để Lời Chúa có thể triển nơ/ trong chúng con và mang hoa trái. Qua cái chết của hạt lúa mà Chúa ban chính Chúa cho chúng con, để cả chúng con nữa dám liều mạng sống để đi kiếm tìm, để chúng con nữa có thể tin tưởng vào sự hứa hẹn của hạt lúa. Xin giúp chúng con lớn lên trong tình yêu và trong sự tôn kính mầu nhiệm Bí Tích Thánh Thể — dành cho Chúa là Bánh bởi trời, nguồn mạch sự sống. Xin giúp chúng con trở nên “hương thơm” của Chúa và cho thế giới biết đến dấu vết huyền nhiệm của cuộc đời Chúa. Giống như hạt lúa mọc lên từ đất, mọc cành và trổ bông, Chúa không thể bị đóng kín trong mồ: ngôi mồ trống bởi vì Chúa Cha “đã không bỏ mặc Chúa trong cõi âm ty và thân xác Chúa không phải hư nát” (x Cv 2:31; Tv 16:10). Không, Chúa đã không thấy sự hư nát. Chúa đã trỗi dậy, và đã dành một chỗ cho thân xác biến dạnh của chúng con trong tận tâm lòng của Chúa. Xin giúp chúng con hoan hỉ trong niềm hy vọng này và hân hoan mang nó đến cho thế giới. Xin giúp chúng con trở nên những chứng nhân Chúa Phục Sinh.

NGUỒN : VietCatholic

Suy niệm Đàng Thánh Giá của ĐTC Gioan Phaolô Đệ Nhị

SUY NIỆM ĐƯỜNG THÁNH GIÁ
của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
(trong Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 21/4 Năm Thánh 2000)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển dịch
(L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 10/5/2000, trang 6-9)

 

DẪN NHẬP VÀ KHAI NGUYỆN:

“Ai muốn theo Thày hãy bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo Thày” (Mt 16:24).

Tối Thứ Sáu Tuần Thánh.

Hai mươi thế kỷ qua Giáo Hội vẫn tụ họp nhau vào buổi tối như thế này để tưởng nhớ và làm sống lại các biến cố của giai đoạn cuối cùng trong cuộc hành trình trần thế của Con Thiên Chúa.

Năm nay, một lần nữa, Giáo Hội ở Rôma lại tụ họp nhau tại Hí Viện Trường này để theo chân Chúa Giêsu, Đấng “lên đường vác thập giá trên vai đến nơi gọi là sọ trường, tiếng Do Thái kêu là Gôngôta” (Jn 19:17).

Chúng ta đến đây là vì chúng ta thâm tín rằng, Đường Thánh Giá của Con Thiên Chúa không phải chỉ là một cuộc hành trình đi đến nơi hành quyết. Chúng ta tin rằng, hết mọi bước chân của Chúa Kitô bị án tử, hết mọi hành động và hết mọi lời nói, cũng như hết mọi sự được thành phần tham dự vào thảm kịch tang thương này cảm thấy và tỏ ra, đều tiếp tục nói với chúng ta. Trong cả việc chịu khổ đau và tử nạn của mình, Đức Kitô cũng tỏ ra cho chúng ta thấy sự thật về Thiên Chúa và về con người.

Trong Năm Mừng Kỷ Niệm này, chúng ta muốn chú tâm đến tất cả ý nghĩa của biến cố này, để những gì đã xẩy ra có thể lên tiếng nói với tâm trí chúng ta bằng một quyền lực mới mẻ, và trở nên nguồn mạch ân sủng cho việc chúng ta thực sự tham phần vào biến cố ấy.

Chia sẻ nghĩa là tham phần. Vậy việc tham phần vào thập giá của Chúa Kitô nghĩa là gì?

Nghĩa là, trong Chúa Thánh Thần, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu chất chứa nơi thập giá của Chúa Kitô. Nghĩa là, theo chiều hướng của tình yêu này, chúng ta chấp nhận thập giá riêng của mình. Nghĩa là, một lần nữa, chúng ta hãy vác thập giá của mình, để rồi, được tăng cường bởi tình yêu ấy, chúng ta tiếp tục cuộc hành trình của mình…

Chúng ta hãy thực hiện hành trình suốt cả đời sống, theo gương của Đấng “đã bất chấp nhục nhã chịu đựng thập giá và đã ngự bên hữu ngai tòa của Thiên Chúa” (Heb 12:2).

“Ai muốn theo Thày hãy bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo Thày” (Mt 16:24).

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin hãy tràn đầy lòng chúng con ánh sáng của Thần Linh Chúa, để theo chân Chúa trên đoạn hành trình cuối cùng của Chúa, chúng con có thể nhận ra giá ơn cứu chuộc của chúng con, hầu trở nên xứng đáng tham phần vào hoa trái của cuộc Chúa khổ nạn, tử giá và phục sinh.

Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

1- CHÚA GIÊSU BỊ LÊN ÁN TỬ

“Ngươi có phải là Vua dân Do Thái không?” (Jn 18:33)

“Vương quốc của Tôi không thuộc về thế gian này; nếu vương quốc của Tôi thuộc về thế gian này thì các thuộc hạ của Tôi đã chiến đấu để Tôi không lọt vào tay các người Do Thái; thế nhưng vương quốc của Tôi lại không thuộc về thế gian này” (Jn 18:36).

Philatô nói cùng Người: “Thế thì ngươi là vua chứ gì?”

Chúa Giêsu trả lời: “Quan đã nói rằng Tôi là vua. Vì lý do này mà Tôi đã được sinh ra, và cũng vì thế mà Tôi đã đến thế gian để làm chứng cho chân lý. Ai sống bởi chân lý thì sẽ nghe thấy tiếng Tôi”.

Philatô đáp lại: “Chân lý là gì?”

Tới đây, nhà cầm quyền Rôma thấy không cần hỏi Người thêm điều gì nữa. Ông ra với dân Do Thái mà nói với họ rằng: “Ta chẳng thấy người này có tội ác nào hết” (xem Jn 18:37-38).

Thảm trạng của Philatô nằm ở ngay trong vấn nạn: Chân lý là gì?

Đây không phải là vấn nạn triết lý về bản chất của chân lý mà là vấn nạn hiện hữu về mối liên hệ giữa ông ta và chân lý. Đó là một nỗ lực tẩu thoát cho khỏi tiếng nói của lương tâm đang thôi thúc ông nhìn nhận chân lý và theo chân lý. Khi người ta không chịu để chân lý hướng dẫn thì cuối cùng họ cũng đành lên án tử cho cả người vô tội.

Thành phần tố cáo nhận thấy yếu điểm này nơi Philatô nên đã lấn tới. Họ đòi phải đóng đanh cho chết mới thôi. Những cố gắng nửa vời của Philatô cũng không giải quyết được gì cả. Hình phạt dữ tợn của cuộc hành hạ giáng xuống trên Kẻ Bị Cáo vẫn chưa đủ. Khi nhà cầm quyền mang Chúa Giêsu bị hành hạ và đội mạo gai ra trước đám dân chúng, ông dường như muốn tìm những lời lẽ nào đó theo ông nghĩ có thể xoa dịu bớt tình trạng khăng khăng của đám loạn dân.

Chỉ vào Chúa Giêsu ông nói: “Ecce homo!”. Này là người!

Thế nhưng, câu đáp lại là: “Đóng đanh hắn vào thập giá, đóng đanh hắn vào thập giá!”.

Bấy giờ Philatô cố gắng vớt vát: “Các ngươi hãy cứ mang hắn đi mà đóng đanh vào thập giá, vì ta chẳng thấy hắn có tội ác nào cả” (Jn 19:5-7).

Ông càng tin rằng Kẻ Bị Cáo vô tội, nhưng điều này vẫn không đủ để ông ngả về phía người bị cáo. Thành phần tố cáo đã vận dụng đến lập luận cuối cùng của mình: “Nếu ông thả người này ra thì ông không phải là người của Cêsa; ai tự cho mình là vua tức là tự mình chống lại Cêsa” (Jn 19:12).

Rõ ràng đây chỉ là lời đe dọa. Nhận thấy nguy hiểm, cuối cùng Philatô đành chịu thua và tuyên án. Tuy nhiên, ông đã không quên thực hiện cử chỉ rửa tay tỏ vẻ khinh bỉ: “Ta vô tội về máu của người này; các người hãy chịu trách nhiệm lấy!” (Mt 27:24). Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng Cứu Chuộc thế gian, đã bị lên án tử thập giá là như thế.

Trải qua các thế kỷ, việc chối bỏ chân lý vẫn gây ra khổ đau và chết chóc. Chính người vô tội phải trả giá cho thái độ giả hình của con người ta. Tình trạng nửa vời chẳng bao giờ trọn vẹn. Việc rửa tay cũng không xong nữa. Trách nhiệm về việc đổ máu người lành vẫn còn đó.

Đó là lý do tại sao Chúa Kitô đã tha thiết cầu nguyện cho các môn đệ của mình sống trong mọi thời đại là Lạy Cha, “xin hãy thánh hóa họ trong chân lý; lời của Cha là chân lý” (Jn 17:17).

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã chấp nhận một phán quyết bất công. Xin hãy ban cho chúng con cũng như cho tất cả mọi con người nam nữ trong thời đại chúng con đây ơn trung thành với chân lý. Xin đừng để cho gánh nặng trách nhiệm về những khổ đau của kẻ vô tội đè xuống trên chúng con và trên những người đến sau chúng con.

Ôi Chúa Giêsu, Vị Thẩm Phán chân chính, nguyện Chúa được vinh dự và vinh quang muôn đời. Amen.

 

2- CHÚA GIÊSU VÁC CÂY THẬP GIÁ

Thập giá. Khí cụ của một cái chết ô nhục.

Kết án tử giá cho một công dân Rôma là một điều bất hợp pháp, vì nó quá ư là hèn hạ. Lúc Chúa Giêsu Nazarét vác cây thập giá lên Canvê là giây phút đánh dấu khúc quanh lịch sử của cây thập tự. Là biểu hiệu của một cái chết ô nhục dành cho tầng lớp thấp kém nhất, cây thập giá đã trở nên một chiếc chìa khóa. Từ đó trở đi, nhờ chiếc chìa khóa này, con người mới mở được cánh cửa của mầu nhiệm sâu thẳm nhất nơi Thiên Chúa. Qua việc Chúa Kitô chấp nhận cây thập giá, khí cụ tự hủy mình ra như không của Người, con người mới nhận thấy rằng Thiên Chúa là tình yêu.

Tình yêu vô giới hạn, ở chỗ: “Thiên Chúa đã quá yêu thế gian đến ban Người Con duy nhất của mình, để ai tin vào Con thì không phải chết nhưng được sự sống đời đời” (Jn 3:16).

Chân lý về Thiên Chúa này được mạc khải nơi cây thập giá. Chân lý này còn có thể tỏ ra bằng một đường lối nào khác hay chăng? Cũng có thể lắm. Thế nhưng, Thiên Chúa đã chọn cây thập giá. Chúa Cha đã chọn cây thập giá cho Con mình, và Con Ngài đã gánh trên vai, vác lên Núi Canvê và hiến sự sống mình trên cây thập giá ấy. “Đau khổ ở nơi cây thập giá, ơn cứu độ ở nơi cây thập giá, bài học yêu thương ở nơi cây thập giá. Ôi Thiên Chúa, ai mà hiểu được Ngài thì họ sẽ không còn mong ước gì hơn, không còn tìm kiếm gì nữa” (Thánh Ca Balan Mùa Chay).

Thập giá là dấu hiệu yêu thương vô giới hạn!

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chấp nhận cây thập giá nơi tay con người để làm cho nó trở thành dấu hiệu cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa đối với loài người, xin ban cho chúng con cũng như cho tất cả mọi con người nam nữ trong thời đại chúng con đây ơn biết tin tưởng vào tình yêu vô cùng này. Chớ gì chúng con trở thành những chứng nhân đích thực của Ơn Cứu Chuộc bằng việc truyền lại cho tân thiên niên kỷ dấu hiệu của cây thập giá.

Ôi Chúa Giêsu, Vị Thượng Tế và là Vật Hy Tế, nguyện Chúa được chúc tụng và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

3- CHÚA GIÊSU NGÃ LẦN THỨ NHẤT

“Thiên Chúa đã đặt lên Người các tội lỗi của tất cả chúng ta” (xem Is 53:6).

“Tất cả chúng ta như chiên hoang lạc; chúng ta đã lang thang mỗi người một ngả; song Chúa đã đặt lên Người lầm lỗi của tất cả mọi người chúng ta” (Is 53:6).

Chúa Giêsu ngã xuống đất dưới cây thập tự giá. Điều này xẩy ra ba lần trên “đoạn đường đau thương” tương đối ngắn. Tình trạng kiệt sức đã khiến Người ngã xuống. Thân xác của Người vấy máu bởi cuộc hành hình, đầu Người đội triều thiên gai. Tất cả những điều này làm cho Người yếu đi. Do đó Người đã ngã xuống và sức nặng của cây thập giá đè Người xuống mặt đất.

Chúng ta phải nhớ lại những lời của vị Tiên Tri đã thấy trước được việc ngã này từ nhiều thế kỷ trước. Như chính mắt mình thấy được việc ngã này, thấy được Người Tôi Tớ Chúa nằm trên mặt đất dưới sức nặng của cây thập giá, vị tiên tri đã nói cho chúng ta biết lý do thực sự khiến Người ngã xuống. Lý do đó là thế này: “Thiên Chúa đã đặt lên Người các tội lỗi của tất cả chúng ta”. Chính tội lỗi của chúng ta đã đè bẹp Đấng thần linh Bị Kết Án xuống đất. Chính tội lỗi của chúng ta làm nên sức nặng của cây thập giá Người vác trên vai. Chính tội lỗi của chúng ta làm cho Người ngã xuống đất.

Chúa Kitô chỗi dậy một cách khó khăn để lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Những người lính kèm theo Người thôi thúc Người đi bằng những lời quát tháo và đánh đập. Một lúc sau, cuộc tiến hành lại được tiếp tục.

Chúa Giêsu ngã xuống đất và lại chỗi dậy đứng lên.

Bằng cách này, Đấng Cứu Chuộc thế gian muốn âm thầm nói với tất cả mọi người sa ngã. Người khuyến dụ họ hãy lại chỗi dậy đứng lên. “Chính Người đã mang lấy tội lỗi của chúng ta nơi thân xác của Người trên cây thập giá, để chúng ta không còn sống cho tội lỗi nữa mà là sống chính trực – chúng ta đã được chữa lành bởi các thương tích của Người” (xem 1Pt 2:24).

*******

Ôi Chúa Kitô, vì Chúa đã ngã xuống dưới sức nặng của tội lỗi của chúng con và đã chỗi dậy cho chúng con được công chính, chúng con cầu xin Chúa hãy giúp chúng con cũng như tất cả mọi người nam nữ trong thời đại của chúng con đây biết lại đứng lên và tiếp tục cuộc hành trình. Xin Chúa ban cho chúng con sức mạnh của Thần Linh để cùng Chúa vác thập giá yếu hèn của chúng con.

Ôi Chúa Giêsu đã bị đè bẹp bởi sức nặng của lầm lỗi chúng con, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

4- CHÚA GIÊSU GẶP MẸ CỦA MÌNH

“Xin Maria đừng sợ, vì người đã được ơn nghĩa trước mặt Chúa. Và này người sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai mà người sẽ đặt tên là Giêsu. Ngài sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao; Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngôi báu của Đavít tổ phụ Ngài, và Ngài sẽ cai trị nhà Giacóp đến muôn đời; vương quốc của Ngài sẽ vô tận” (Lk 1:30-33).

Mẹ Maria đã ghi nhớ những lời này. Mẹ thường âm thầm nhớ lại những lời ấy trong lòng mình. Khi Mẹ gặp Con Mẹ trên con đường thập giá thì có thể chính những lời này lại hiện lên một cách đặc biệt mãnh liệt trong tâm trí của Mẹ. “Ngài sẽ cai trị… Vương quốc của Ngài sẽ vô tận”, vị thiên sứ đã nói như thế. Giờ đây, khi thấy Con mình, bị kết án tử, vác cây thập giá mà Ngài sẽ bị chết trên đó, Mẹ có thể hoàn toàn theo cách thế loài người tự hỏi mình: Thế thì những lời ấy sẽ được nên trọn sao đây? Ngài sẽ cai trị Nhà Đavít ở chỗ nào? Làm sao vương quốc của Ngài có thể sẽ vô tận? Nói theo kiểu loài người thì đây là những vấn nạn hợp tình hợp lý. Thế nhưng, Mẹ Maria vẫn nhớ rằng, khi Mẹ vừa nghe sứ điệp của Thiên Thần, Mẹ đã thân thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa. Tôi xin vâng như lời ngài truyền” (Lk 1:38). Giờ đây, Mẹ thấy rằng lời của Mẹ đã được nên trọn như lời của cây thập giá. Vì là một người mẹ, Maria đã hết sức khổ đau. Thế nhưng, bấy giờ Mẹ đã đáp lại như Mẹ đã thân thưa ngày xưa vào lúc Truyền Tin: “Tôi xin vâng như lời ngài truyền”. Như thế, với tư cách là một người mẹ, Mẹ đã ôm lấy cây thập giá cùng với Đấng Thần Linh Bị Lên Án. Trên con đường thập giá, Mẹ Maria chứng tỏ cho thấy mình là Mẹ của Đấng Cứu Chuộc thế gian.

“Hỡi tất cả quí vị là những người qua đường, hãy trông nhìn mà xem còn có đớn đau nào như đau đớn như tôi phải chịu hay chăng” (Lam 1:12). Chính Người Mẹ Đau Thương, Người Tôi Tớ vâng phục cho tới cùng, Người Mẹ của Đấng Cứu Chuộc thế gian, đã nói lên như thế.

*******

Ôi Maria, Mẹ đã bước đi trên con đường thập giá với Con Mẹ, tấm lòng từ mẫu của Mẹ tuy bị sầu thương xâu xé, nhưng vẫn luôn luôn nhớ đến lời xin vâng của Mẹ và hoàn toàn tin tưởng rằng Đấng không có gì lại không làm được vẫn có thể hoàn tất lời hứa của Ngài, xin khẩn cầu cho chúng con và cho các thế hệ tương lai ơn biết qui thuận tình yêu Thiên Chúa. Xin Mẹ hộ giúp chúng con, để khi đối diện với khổ đau, ruồng bỏ và thử thách, cho dù có kéo dài và trầm trọng đến đâu đi nữa, chúng con cũng không bao giờ nghi ngờ tình yêu của Ngài.

Nguyện Chúa Giêsu, Con Mẹ, được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

5- ÔNG SIMON VÁC THẬP GIÁ ĐỠ CHÚA GIÊSU

Họ bắt ông Simon (x Mk 15:21).

Những người lính Rôma làm điều này là vì sợ rằng nếu bị kiệt sức, Con Người Bị Kết Án sẽ không thể nào vác nổi cây thập giá lên đến Golgotha. Như thế thì họ không thi hành được bản án tử giá.

Họ tìm kiếm một người để vác đỡ cây thập giá. Họ thấy được Simong. Họ bắt ông ghé vai vác lấy gánh nặng. Chúng ta có thể cho rằng Simong chống cự không muốn làm điều này. Vác thập giá với một can phạm được coi là một hành động phạm đến nhân phẩm của một con người tự do. Mặc dù không muốn, Simong cũng vác lấy cây thập giá đỡ Chúa Giêsu.

Trong bản thánh ca Mùa Chay chúng ta đã nghe thấy những lời: “Dưới gánh nặng của cây thập giá, Chúa Giêsu tiếp nhận một người thành Cyrênê”. Những lời này giúp chúng ta thấy được một cái nhìn hoàn toàn mới, đó là Đấng Bị Kết Án là vị một cách nào đó đã làm cho cây thập giá của mình “trở thành một món quà tặng”. Ngài đã chẳng phán hay sao: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thày thì không xứng đáng với Thày” (Mt 10:38)?

Simong đã nhận được một món quà tặng. Ông đã trở nên “xứng đáng” với món quà tặng này. Những gì dân chúng cho là xúc phạm đến phẩm giá của ông, thì theo quan điểm cứu chuộc, lại ban cho ông một phẩm giá mới. Bằng một đường lối chuyên biệt, Con Thiên Chúa đã làm cho ông trở thành một người được thông phần vào công cuộc cứu độ của Ngài.

Simong có nhận ra điều này chăng? Thánh ký Marcô đã cho thấy Simong người Cyrênê là “cha của Alexander va của Rufus” (15:21). Nếu những người con của Simong người Cyrênê được cộng đồng Kitô hữu tiên khởi nhận biết thì có thể cho rằng cả Simong nữa, trong khi vác thập giá, đã tin vào Chúa Kitô. Từ việc bị ép buộc, ông đã tự nguyện chấp nhận, như thể ông đã bị xúc động sâu xa bởi những lời: “Ai không vác thập giá mình cùng Thày thì không xứng với Thày”.

Bằng việc vác lấy cây thập giá, Simong đã nhận biết Phúc Âm thập giá.

Từ đó, Phúc Âm này đã nói với nhiều người, với vô số nhân vật Cyrênê, được kêu gọi trong giòng lịch sử để vác thập giá với Chúa Giêsu.

*******

Ôi Chúa Kitô, Chúa đã ban cho Simong người Cyrênê vinh dự được vác lấy cây thập giá của Chúa. Xin hãy tiếp nhận cả chúng con nữa dưới gánh nặng của thập giá Chúa, tiếp nhận tất cả mọi con người nam nữ và ban cho hết mọi người ơn sẵn sàng phục vụ. Xin Chúa đừng để chúng con quay lưng với những ai đang bị đè bẹp bởi thập giá bệnh hoạn, cô đơn, đói khát hay bất công. Trong khi chúng con vác lấy gánh nặng của nhau, xin Chúa cũng giúp chúng con biết trở nên những chứng nhân cho Phúc Âm thập giá và trở nên những chứng nhân cho Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

6- BÀ VÊRÔNICA LAU MẶT CHÚA GIÊSU

Vêrônica không có trong các sách Phúc Âm. Tên của bà không được nói tới trong số những tên của các người phụ nữ khác đi theo Chúa Giêsu. Bởi thế, danh xưng này có thể chỉ về việc làm của người phụ nữ ấy mà thôi. Thật vậy, theo truyền thống, trên đường lên Canvê, có một người phụ nữ đã xô đẩy những người lính đi kèm theo Chúa Giêsu ra để tiến đến lau mồ hôi máu trên khuôn mặt Chúa bằng tấm khăn chùm đầu của mình. Khuôn mặt đã được in trên tấm khăn chùm đầu này là một phản ảnh trung thực, một “ảnh tượng chân dung”. Đây có thể là lý do có cái tên Vêrônica. Nếu là thế thì một tên gọi gợi nhớ đến những gì người phụ nữ này làm là một tên gọi có chất chứa một sự thật sâu xa nhất về người nữ ấy. Chúa Giêsu một hôm đã đẩy lui lời bình phẩm của những quan sát nhân, khi Ngài bênh chữa cho một người nữ tội lỗi, người nữ đã đổ dầu thơm lên chân Ngài và lau khô bằng tóc của cô. Với những kẻ phản đối việc cô làm, Ngài đã đáp lại là: “Tại sao quí vị lại bận tâm về người phụ nữ này như thế? Vì cô đã thực hiện một việc làm tốt đẹp cho Tôi… Bằng việc đổ dầu thơm này trên thân thể của Tôi là cô đã làm để sửa soạn cho việc mai táng Tôi vậy” (Mt 26:10,12). Những lời này cũng có thể áp dụng vào trường hợp của bà Vêrônica.

Như thế, chúng ta đã thấy được ý nghĩa sâu xa của biến cố này. Đấng Cứu Chuộc thế gian đã tặng cho Vêrônica hình ảnh dung nhan đích thực của Ngài.

Tấm khăn chùm đầu có in dung nhan của Chúa Kitô đã trở thành một sứ điệp cho chúng ta. Sứ điệp đó như thể nói lên rằng: Đây là cách thức mà mọi tác động thiện hảo, mọi cử chỉ yêu thương chân thực đối với tha nhân, đã làm rõ nét hơn hình ảnh của Đấng Cứu Chuộc thế gian nơi con người tác hành như thế.

Những tác động yêu thương sẽ không qua đi. Mọi tác động thiện hảo, thông cảm, phục vụ đều để lại nơi cõi lòng con người một dấu ấn không thể nhạt phai, và làm cho chúng ta càng giống như Đấng “đã tự hủy mình, mặc lấy thân phận tôi đòi” (Phil 2:7). Đó là những gì làm nên căn tính của chúng ta và ban cho chúng ta một tên gọi đích thực.

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã chấp nhận cử chỉ yêu thương vô tư của một người phụ nữ, và để đáp lại, Chúa đã muốn các thế hệ về sau phải nhớ đến bà bằng tên gọi lên dung nhan của Chúa. Xin Chúa hãy ban cho các việc làm của chúng con, cũng như các việc làm của tất cả những ai đến sau chúng con, biến chúng con nên giống như Chúa và lưu lại trên thế gian phản ảnh của tình yêu thương vô cùng của Chúa.

Ôi Chúa Giêsu là ánh quang rạng ngời của vinh hiển Chúa Cha, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

7- CHÚA GIÊSU NGÃ LẦN THỨ HAI

“Tôi là sâu bọ đất chứ không phải là người; bị người ta nhạo báng và bị dân chúng khinh khi” (Ps 22:6). Những lời Thánh Vịnh này hiện lên trong tâm trí chúng ta khi chúng ta thấy Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai dưới cây thập tự giá.

Ở đây, Đấng Bị Kết Án ngã nằm xuống trên bụi đất. Ngài bị đè bẹp dưới sức nặng của cây thập tự giá Ngài vác. Sức lực của Ngài càng ngày càng mòn mỏi. Thế nhưng, với hết sức cố gắng, Ngài lại chỗi dậy tiếp tục tiến bước.

Đối với tội nhân chúng ta thì lần ngã thứ hai này có ý nghĩa gì? Hơn cả lần ngã thứ nhất, lần này như thể thôi thúc chúng ta hãy chỗi dậy đứng lên, hãy chỗi dậy đứng lên một lần nữa trên con đường thập giá của chúng ta.

Cyprian Norwid đã viết: “Đừng để thập giá của Đấng Cứu Thế theo sau chúng ta, song hãy vác thập giá của chúng ta theo Chúa Kitô”. Một câu nói ngắn ngủi song chuyên chở đầy những sự thật. Nó nói lên cho thấy Kitô Giáo là một tôn giáo của thập giá ra sao.

Qua 2000 năm, Phúc Âm thập giá đã nói với con người. Qua 20 thế kỷ, Chúa Kitô gặp gỡ những ai ngã gục bằng việc ngã rồi chỗi dậy của Ngài.

Hai thiên niên kỷ vừa rồi, nhiều con người đã biết được rằng, việc ngã gục không có nghĩa là tận cùng của đường đi nước bước. Trong việc gặp gỡ Đấng Cứu Thế, họ đã nghe thấy những lời tái bảo đảm của Ngài: “Ơn Ta đủ cho con; vì quyền năng của Ta được trọn vẹn nơi nỗi hèn yếu” (2Cor 12:9). Được an ủi, họ lại chỗi dậy để mang đến cho thế giới lời hy vọng phát xuất từ thập giá. Hôm nay đây, vượt qua ngưỡng cửa của một tân thiên niên mới, chúng ta được kêu gọi để đi sâu hơn nữa vào ý nghĩa của cuộc gặp gỡ này. Thế hệ của chúng ta phải truyền lại cho các thế kỷ tương lai tin mừng là chúng ta đã được tái nâng dậy trong Chúa Kitô.

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa ngã gục dưới sức nặng của tội lỗi loài người và Chúa đã chỗi dậy để gánh vác nó mà hủy bỏ nó đi. Xin cho chúng con là những con người nam nữ yếu hèn sức mạnh để vác lấy thập giá hằng ngày, cũng như để chỗi dậy sau khi sa ngã, nhờ đó, chúng con có thể mang lại cho thế hệ sau này Phúc Âm quyền năng cứu độ của Chúa.

Ôi Chúa Giêsu là sức nâng đỡ của chúng con khi chúng con yếu đuối, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

8- CHÚA GIÊSU NÓI VỚI CÁC PHỤ NỮ THÀNH GIÊRUSALEM

“Hỡi các nử tử thành Giêrusalem, chớ có khóc thương Ta, một hãy khóc thương các người và con cháu các người. Vì này đây sẽ có những ngày người ta nói rằng ‘Chúc tụng cho kẻ son sẻ, cho lòng dạ không hề cưu mang, và cho vú không hề cho bú!’ Bấy giờ họ sẽ bắt đầu nói với những ngọn núi rằng, ‘Hãy đổ xuống trên chúng tôi đi’, cũng như nói với các ngọn đồi rằng: ‘Hãy vây bọc chúng tôi đi’. Vì nếu gỗ tươi người ta còn như thế thì cây khô sẽ như thế nào?” (Lk 23:28-31).

Đây là những lời Chúa Giêsu nói với các người phụ nữ thành Giêrusalem đang khóc thương Đấng Bị Kết Án.

“Chớ có khóc thương Ta, một hãy khóc thương các người và con cháu các người”. Thực sự có lúc cũng khó lòng mà hiểu được ý nghĩa của những lời này. Chúng chất chứa một lời tiên tri chẳng mấy chốc sẽ nên trọn.

Trước đó ít lâu, Chúa Giêsu đã khóc thương thành Giêrusalem, tiên báo về số phận kinh hoàng đang chờ đợi xẩy đến cho thành này. Giờ đây, hình như Ngài muốn ám chỉ đến số phận đó một lần nữa: “Hãy khóc thương con cháu các người…”.

Các người hãy khóc thương, vì những người này, tức là chính con cháu của các người, sẽ là những chứng nhân nhìn thấy và tham dự vào cuộc tàn phá của thành Giêrusalem, một Giêrusalem “đã không nhận biết thời điểm mình được viếng thăm” (x Lk 19:44).

Khi chúng ta theo Chúa Kitô trên con đường thập giá, nếu lòng chúng ta được đánh động bởi nỗi khổ đau của Ngài, chúng ta sẽ không thể nào quên được lời khuyến dụ ấy. “Vì nếu gỗ tươi người ta còn như thế thì cây khô sẽ ra như thế nào?”. Đối với thế hệ của chúng ta, một thế hệ vừa bỏ lại sau lưng một thiên niên kỷ, thay vì khóc thương Chúa Kitô tử giá, thì đây là lúc chúng ta nhận biết “thời gian chúng ta được viếng thăm”. Hừng đông của một cuộc phục sinh đang chiếu sáng. “Này đây là lúc thuận lợi, này đây là ngày cứu độ” (2Cor 6:2).

Chúa Kitô muốn ngỏ với mỗi một người trong chúng ta những lời trong Sách Khải Huyền này: “Này Ta đứng ở cửa mà gõ; ai nghe thấy tiếng của Ta mà mở cửa, Ta sẽ vào với họ và ăn uống với họ, rồi họ ở với Ta. Ai chiến thắng, Ta sẽ đặt họ ngồi trên ngai với Ta, như chính Ta đã chiến thắng và đã ngồi trên ngai với Cha của Ta” (3:20-21).

*******

Ôi Chúa Kitô, Chúa đã đến thế gian này để viếng thăm tất cả những ai trông đợi ơn cứu độ. Xin ban cho thế hệ của chúng con biết nhận ra thời của mình được thăm viếng và thông phần vào các hoa trái cứu chuộc của Chúa. Xin đừng để cho chúng con phải than khóc về việc chúng con và những con người nam nữ của tân thế kỷ này ruồng bỏ bàn tay Chúa Cha nhân hậu của chúng con.

Ôi Chúa Giêsu được hạ sinh bởi Nữ Tử Đồng Trinh Sion, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

9- CHÚA GIÊSU NGÃ LẦN THỨ BA

Một lần nữa, Chúa Kitô lại ngã xuống đất dưới sức nặng của cây thập giá. Đám đông dân chúng nhìn thấy thì nghĩ thầm không biết Ngài còn đủ sức để chỗi dậy nữa chăng.

Thánh Phaolô viết: “Mặc dầu thân phận là Thiên Chúa, Ngài cũng không tự coi mình cứ phải ngang hàng với Thiên Chúa mới được, song Ngài đã tự hủy ra như không, mặc lấy thân phận tôi đòi, sinh ra theo hình ảnh con người. Để rồi, với thân phận con người, Ngài đã tự hạ vâng lời cho đến chết, dù chết trên thập giá” (Phil 2:6-8). Lần ngã thứ ba như thể nói lên điều ấy, nói lên việc tự hủy mình của Con Thiên Chúa, việc Ngài tự hạ dưới cây thập tự giá. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ rằng Ngài đã đến không phải để được hầu hạ mà là để hầu hạ (x Mt 20:28).

Trên Căn Thượng Lầu, khi cúi mình xuống đất để rửa chân cho họ, thực sự là Ngài muốn sửa soạn cho các vị việc Ngài hạ mình ấy. Khi ngã xuống đất lần thứ ba trên con đường thập giá, Ngài đã kêu lên một lần nữa cho chúng ta nghe thấy mầu nhiệm của chính bản thân Ngài. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng Ngài! Con Người Bị Kết Án này, bị đè bẹp xuống đất dưới sức nặng của cây thập tự giá, bấy giờ đã gần tới nơi hành xử, muốn nói với chúng ta rằng: “Thày là đường, là sự thật và là sự sống” (Jn 14:6). “Ai theo Tôi sẽ không đi trong tăm tối, song sẽ có ánh sáng sự sống” (Jn 8:12).

Chúng ta đừng thất kinh khi nhìn thấy một con người bị kết án, con người bị kiệt sức ngã xuống đất dưới cây thập giá. Ánh sáng sự sống ẩn nấp bên trong dấu hiệu bề ngoài của sự chết ấy đang le lói.

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, qua việc Chúa hạ mình dưới cây thập tự giá, Chúa đã tỏ cho thế gian biết cái giá cứu chuộc của việc hạ mình này. Xin ban cho những con người nam nữ của thiên niên kỷ thứ ba được ánh sáng đức tin, để khi họ nhận ra Chúa nơi Người Tôi Tớ Thương Đau của Thiên Chúa và của con người, họ được can đảm, nhờ thập giá và việc tự hủy bỏ bản thân mình, tiến bước trên cùng một con đường dẫn đến sự sống không cùng.

Ôi Chúa Giêsu là sức nâng đỡ của chúng con khi chúng con yếu đuối, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

10- CHÚA GIÊSU BỊ LỘT TRẦN VÀ CHO UỐNG DẤM CHUA MẬT ĐẮNG

“Ngài chỉ nếm chứ không uống” (Mt 7:34). Ngài không muốn được mê dịu đi trong một tình trạng ý thức của Ngài bị lờ đờ trong cuộc thống khổ.
Ngài muốn hoàn toàn ý thức được việc Ngài chịu khổ trên cây thập giá để hoàn thành sứ vụ Ngài đã lãnh nhận từ Chúa Cha.

Đó không phải là những gì các người lính phụ trách cuộc hành quyết quen làm. Vì phải đóng đanh người bị kết án vào thập giá nên họ cố gắng làm sao cho các giác quan và ý thức của người ấy trở nên lờ đờ. Thế nhưng, điều này không thể xẩy ra nơi trường hợp của Đức Kitô. Chúa Giêsu biết rằng cái chết trên thập giá của Ngài phải là một hy tế đền tội. Đó là lý do tại sao Ngài muốn giữ mình tỉnh táo cho đến cùng. Mất ý thức thì Ngài không thể nào hoàn toàn tự do chấp nhận được trọn vẹn mức độ khổ đau.

Đấy, để hiến dâng lễ vật hy sinh của Tân Ước, Ngài cần phải được treo lên thập giá.

Ngài là vị Tư Tế. Bằng máu của mình, Ngài cần phải vào nơi trú ngự trường sinh, khi hoàn tất việc cứu chuộc thế gian (x Heb 9:12).

Lương tâm và tự do là hai yếu tố chính yếu làm nên trọn vẹn tác hành của con người.

Thế gian có nhiều cách thế để làm suy yếu đi ý muốn và làm mờ tối mất lương tâm. Cần phải cẩn thận bảo vệ chúng khỏi mọi tấn công. Ngay cả nỗ lực hợp pháp để kiềm chế khổ đau cũng phải luôn luôn thực hiện xứng với phẩm vị của con người.

Nếu muốn giữ được giá trị đích thực của sự sống và sự chết, chúng ta cần phải hiểu sâu xa hy tế của Chúa Kitô, và nếu chúng ta cần kiên vững chúng ta phải liên kết mình với hy tế đó.

*******

Lạy Chúa Giêsu là Đấng hoàn toàn tự hiến trong việc chấp nhận cái chết trên thập giá vì phần rỗi của chúng con, xin ban cho chúng con cũng như cho tất cả mọi người trên thế gian được thông phần vào hy tế của Chúa trên thập giá, để những gì chúng con là và những gì chúng con làm luôn trở thành một chia sẻ tự do và ý thức với công cuộc cứu độ của Chúa.

Ôi Chúa Giêsu là Tư Tế và là Tế Vật, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

11- CHÚA GIÊSU BỊ ĐÓNG ĐANH VÀO THẬP GIÁ

“Chúng đâm thủng tay chân tôi; tôi có thể đếm được từng đốt xương tôi” (Ps 21:17-18). Những lời tiên tri này đã được nên trọn. Cuộc hành quyết bắt đầu. Các kẻ hành quyết nện những cú búa trên gỗ của cây thập giá làm nát cả tay chân của Đấng Bị Kết Án. Những đanh nhọn cắm sâu vào hai cổ tay của Ngài. Những đanh nhọn ấy sẽ giữ con người bị kết án treo lơ lửng giữa những cực hình khôn xiết của cơn thống khổ. Chúa Kitô đã chịu khổ ngoài sức tưởng tượng, nơi thân xác của Ngài cũng như nơi tâm thần hết sức nhậy cảm của Ngài.

Cùng bị đóng đanh với Ngài là hai người tử tội thực sự, một người ở bên phải Ngài và một người ở bên trái Ngài. Vậy là nên trọn lời tiên tri: “Ngài đã bị liệt vào số những kẻ phạm nhân” (Is 53:12).

Khi những người hành quyết dựng cây thập tự giá lên là lúc cơn thống khổ bắt đầu kéo dài ba tiếng đồng hồ. Cả lời này nữa cũng được nên trọn: “Khi Tôi bị treo lên khỏi đất, Tôi sẽ kéo tất cả mọi người lên cùng Tôi” (Jn 12:32).

Cái gì “kéo” chúng ta lên cùng Đấng Bị Kết Án trong cơn thống khổ trên cây thập giá? Chắc là cảnh tượng đầy những khổ đau ấy đã đánh động tấm lòng thương hại của chúng ta. Nhưng lòng thương hại ấy vẫn chưa đủ để dẫn chúng ta đến chỗ gắn bó chính đời sống của mình với Đấng bị treo trên thập giá.

Làm thế nào mà, cảnh tượng xúc động ấy, từ thế hệ này đến thế hệ kia, đã lôi kéo được muôn vàn con người đã lấy thập giá làm ấn tín cho đức tin của mình? Làm thế nào mà biết bao con người nam nữ, qua các thế kỷ, đã sống và hiến cuộc sống mình khi nhìn lên dấu chỉ này?

Từ cây thập giá, Chúa Kitô đã lôi kéo chúng ta bằng quyền năng của tình yêu, một Tình Yêu thần linh, tình yêu không tiếc nuối trong việc ban tặng bản thân mình; một Tình Yêu vô tận, tình yêu cân bằng sức nặng của thân thể Chúa Kitô trên cây thập giá được dựng nên từ mặt đất với sức nặng của tội lỗi ban đầu; một Tình Yêu vô tận, tình yêu hoàn toàn làm tràn đầy tất cả mọi hụt hẫng yêu thương và khiến con người một lần nữa lại tìm thấy chỗ trú ẩn nơi cánh tay của Chúa Cha nhân hậu.

Xin Chúa Kitô bị treo cao trên cây thập giá kéo cả chúng ta là những con người nam nữ của một tân thiên niên kỷ lên nữa! Trong bóng thập giá, chúng ta hãy “bước đi trong yêu thương, như Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta và hiến bản thân mình vì chúng ta như một hiến vật và hy tế thơm tho dâng lên Thiên Chúa” (Eph 5:2).

*******

Ôi Chúa Kitô bị treo lên cao, Ôi Tình Yêu tử giá, xin hãy làm cho cõi lòng chúng con tràn đầy tình yêu của Chúa, để chúng con thấy được nơi thập giá của Chúa dấu chỉ ơn cứu chuộc của chúng con, và nhờ được các thương tích của Chúa lôi kéo, chúng con có thể sống chết với Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị với Chúa Cha cùng với Thần Linh bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.

 

12- CHÚA GIÊSU CHẾT TRÊN CÂY THẬP GIÁ

“Lạy Cha, xin hãy tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lk 23:34). Vào lúc cao điểm của cuộc khổ nạn của mình, Chúa Kitô cũng không quên con người, nhất là những ai trực tiếp nhúng tay vào việc hành khổ Ngài. Chúa Giêsu biết rằng con người cần yêu thương hơn bất cứ cái gì khác; họ cần lòng xót thương mà ngay lúc ấy được tuôn đổ xuống trên thế gian.

“Thật vậy, Tôi cho anh biết, hôm nay đây anh sẽ được ở cùng Tôi trên Thiên Đàng” (Lk 23:43). Đó là cách Chúa Giêsu đáp lại lời kêu xin của một người tử tội bị treo ở bên tay phải Ngài: “Hỡi Ngài Giêsu, xin hãy nhớ đến tôi khi Ngài vào vương quốc của Ngài” (Lk 23:42). Lời hứa hẹn cho một sự sống mới. Đó là hoa trái đầu tiên của cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và của cái chết sắp xẩy ra cho Ngài. Một lời hy vọng cho con người.

Mẹ Maria đứng dưới chân cây thập giá, bên cạnh Mẹ là môn đệ Gioan Thánh Ký. Chúa Giêsu nói với Mẹ mình rằng: “Hỡi bà, đó là con của bà!”, rồi nói cùng người môn đệ: “Người Mẹ của con đó!” (Jn 19:26-27).

“Và từ lúc ấy người môn đệ mang Mẹ về nhà mình” (Jn 19:27). Đó là lời trăn trối của Ngài cho những người thân yêu nhất của lòng mình. Lời Ngài di chúc cho Giáo Hội. Ước vọng của Chúa Giêsu khi chết đó là tình yêu thương từ mẫu của Mẹ Maria phải bao gồm tất cả mọi người Ngài hiến mạng sống của Ngài cho, tức là toàn thể nhân loại. Ngay sau đó, Chúa Giêsu kêu lên: “Tôi khát” (Jn 19:28). Lời này nói lên cho thấy cái nóng rùng rợn làm tiêu hao cả thân thể của Ngài. Đó là lời nói duy nhất trực tiếp liên quan đến nỗi khổ đau về thể lý của Ngài.

Đoạn Chúa Giêsu nói thêm: “Chúa Trời Con ơi, Chúa Trời Con ơi, tại sao Chúa lại bỏ rơi Con?” (Mt 27:46; x Ps 22:2). Những lời Thánh Vịnh này là lời cầu nguyện của Ngài. Cho dù nói lên một giọng điệu như vậy, những lời ấy cũng tỏ ra cho thấy việc Ngài kết hiệp sâu xa với Chúa Cha. Vào những giây phút cuối cùng của cuộc sống của mình trên trái đất, Chúa Giêsu đã nghĩ đến Chúa Cha. Từ lúc ấy trở đi, chỉ có cuộc trao đổi giữa Người Con hấp hối với Người Cha chấp nhận hy sinh yêu thương của Con mình.

Tới giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lên: “Đã hoàn tất!” (Jn 19:30). Công cuộc cứu chuộc bấy giờ đã nên trọn. Sứ vụ mà Ngài thực hiện khi đến thế gian đã đạt được mục đích của nó.

Phần còn lại thuộc về Chúa Cha: “Lạy Cha, Con xin phó thần trí Con trong tay Cha” (Lk 23:46). Nói thế rồi, Ngài thở hơi cuối cùng. “Bức màn ngăn trong đền thờ bị xé ra làm đôi…” (Mt 27:51). Phần “Chí Thánh” của đền thờ Giêrusalem được mở ra vào lúc Vị Tư Tế của Tân Ước và Vĩnh Ước tiến vào.

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, vào lúc thống khổ của mình, Chúa đã không xa lìa số phận của con người, và với hơi thở cuối cùng của Chúa, Chúa đã ký thác cho tình thương của Chúa Cha các con người nam nữ của hết mọi thời, cùng với tất cả mọi yếu hèn và tội lỗi của họ. Xin Chúa hãy làm cho chúng con và các thế hệ sau này tràn đầy Thần Linh yêu thương của Chúa, để việc chúng con khô khan lạnh lùng không làm hư đi nơi chúng con các hoa trái tử nạn của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu tử giá là khôn ngoan và là quyền năng của Thiên Chúa, nguyện Chúa được kính tôn và hiển vinh muôn đời. Amen.

 

13- CHÚA GIÊSU ĐƯỢC HẠ XÁC XUỐNG KHỎI THẬP GIÁ VÀ TRAO CHO MẸ CỦA NGƯỜI

Họ đã đặt thân xác vô hồn của Người Con trong vòng tay của Mẹ Ngài. Các Phúc Âm không nói gì về cảm giác của Mẹ lúc ấy cả. Bằng việc im lặng của mình, các vị Thánh Ký như muốn tỏ ra tôn trọng nỗi sầu bi của Mẹ, những cảm giác của Mẹ và những hoài niệm của Mẹ. Hay các vị chỉ biết tỏ ra cho thấy cái bất lực của mình trong việc diễn tả những điều ấy ra. Việc tôn sùng qua các thế kỷ mới là những gì còn giữ lại hình ảnh “Sầu Bi” û, mới gợi cho Kitô hữu nhớ lại hình ảnh sầu thương nhất nơi mối liên hệ yêu thương không thể phai mờ, mối yêu thương được nẩy nở nơi tấm lòng của Người Mẹ vào ngày Truyền Tin và được chín mùi khi Mẹ đợi chờ hạ sinh Người Con thần linh.

Tình yêu đó được bộc lộ nơi hang Bêlem và được thử nếm trong việc hiến dâng trong đền thờ. Tình yêu này càng sâu đậm hơn khi Mẹ Maria giữ suy trong lòng tất cả những gì xẩy ra (x Lk 2:51). Giờ đây mối liên hệ yêu thương thâm sâu này cần phải được biến đổi thành mối hiệp nhất vượt trên biên giới giữa sự sống và sự chết.

Và như thế, trải qua các thế kỷ: con người sẽ thinh lặng trước tượng Mẹ Sầu Bi của Michelangelo; họ sẽ quì trước bức ảnh Mẹ yêu thương sầu bi trong Nhà Thờ dòng Phanxicô ở Krakow, trước Người Mẹ Bảy Sự Thương Khó, quan thày của Slovakia; họ tôn kính Đức Mẹ Những Niềm Đau ở vô số các đền thờ khắp nơi trên thế giới. Nhờ đó, họ học biết yêu thương gian khó mà không tránh né khổ đau, song tin tưởng phó mình cho lòng nhân ái của Thiên Chúa, Đấng làm được tất cả mọi sự (x Lk 1:37).

*******

Salve, Regina, Mater misericordiae; vita dulcedo et spes nostra, salve. Ad te clamamus… illos tuos misericordes oculos ad nos converte. Et Iesum, benedictum fructum ventris tui, nobis post hoc exilium ostende.

Xin Mẹ cầu cho chúng con ơn đức tin, đức cậy và đức mến, để như Mẹ, chúng con có thể vững vàng đứng dưới chân thập giá cho đến hơi thở cuối cùng.

Chúng con xin tôn kính và tôn vinh Chúa Giêsu là Con của Mẹ và là Đấng Cứu Thế của chúng con, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen.

 

14- CHÚA GIÊSU ĐƯỢC MAI TÁNG TRONG MỒ

“Ngài bị đóng đanh, chịu chết và được mai táng…”. Thân xác vô hồn của Chúa Kitô được táng trong một ngôi mồ. Thế nhưng, tảng đá của ngôi mộ không phải là ấn tín cuối cùng đóng trên công việc làm của Ngài. Lời nói cuối cùng không thuộc về sự gian trá, hận ghét và bạo lực. Lời nói cuối cùng phải được phát ngôn từ Tình Yêu, một tình yêu mạnh hơn sự chết.

“Nếu hạt lúa miến rơi xuống đất không chết đi thì nó vẫn còn nguyên như vậy; song một khi bị mục nát đi nó mới sinh nhiều hoa trái” (Jn 12:24). Ngôi mộ là giai đoạn cuối cùng của việc Chúa Kitô chết đi, kết thúc cả cuộc sống trần gian của Ngài; nó là một dấu hiệu nói lên việc hy sinh cao cả của Ngài cho chúng ta và phần rỗi của chúng ta.

Chẳng bao lâu ngôi mộ này sẽ trở thành lời công bố tiên khởi để chúc tụng và tôn vinh Con Thiên Chúa trong vinh quang của Chúa Cha.

“Ngài bị đóng đanh, chịu chết và được mai táng, … ngày thứ ba Ngài sống lại từ trong kẻ chết”.

Khi thân xác vô hồn của Chúa Giêsu được mai táng trong một ngôi mộ ở dưới chân đồi Golgotha là lúc Giáo Hội bắt đầu ở vào ngày vọng Thứ Bảy Tuần Thánh. Trong thẳm cung của lòng mình, Mẹ Maria giữ suy cuộc khổ nạn của Con Mẹ; các người phụ nữ hẹn gặp nhau vào buổi sáng sau Ngày Hưu Lễ để xức dầu thơm cho thân thể của Chúa Kitô; các môn đệ thì âm thầm tụ họp nhau lại trên Căn Thượng Lầu đợi cho qua Ngày Hưu Lễ.

Ngày vọng canh thức này được chấm dứt ở cuộc gặp lại ngôi mộ, một ngôi mộ trống của Đấng Cứu Thế. Bấy giờ ngôi mộ, một nhân chứng thầm lặng của cuộc phục sinh, mới lên tiếng. Tảng đá đã được đẩy lui, bên trong rỗng không, những khăn vải nằm trên nền, đó là những gì Thánh Gioan đã thấy khi ngài cùng Thánh Phêrô đến mồ: “Ông đã thấy và đã tin” (Jn 20:8). Cùng với thánh nhân Giáo Hội cũng tin như thế, để rồi từ lúc ấy, Giáo Hội không bao giờ thôi loan truyền cho thế giới sự thật nền tảng cho đức tin của Giáo Hội ấy: “Chúa Kitô đã sống lại từ trong kẻ chết là hoa trái đầu mùa cho những ai đang thiếp ngủ” (1Cor 15:20).

Ngôi mộ trống là dấu hiệu chiến thắng tối hậu của sự chân thật trên sự giả dối, của sự thiện hảo trên sự gian ác, của tình thương trên tội lỗi, của sự sống trên sự chết. Ngôi mộ trống là dấu hiệu hy vọng “không lừa dối” (Rm 5:5). “Niềm hy vọng (của chúng ta) đầy những bất tử tính” (x Wis 3:4).

*******

Lạy Chúa Giêsu Kitô, bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần, Chúa đã được Chúa Cha đưa từ tối tăm của sự chết đến ánh sáng của sự sống mới trong vinh quang. Xin làm cho dấu hiệu của ngôi mộ trống có thể lên tiếng nói với chúng con cũng như với các thế hệ sau này, và làm cho nó trở nên một mạch suối đức tin sống động, đức mến bao dung và đức cậy kiên cường.

Ôi Chúa Giêsu là Đấng hiện diện tràn đầy trong lịch sử thế giới một cách ẩn kín và vinh thắng, nguyện Chúa được kính tôn và vinh hiển muôn đời. Amen.

Kiếp người

KIẾP NGƯỜI

Đường đi của con người

Làm nên vòng luẩn quẩn

Tựa hồ hình con rắn

Ngậm đuôi mình loay hoay.

 

Sinh ra trong đời này

Với thân hình trần trụi

Rồi chân mòn gối mỏi

Lại trần trụi ra đi.

 

Cứ tuân theo định kỳ

Lớn lên trên mặt đất

Rồi dần dần lịm tắt

Trở về đất nát tan.

 

Mở rộng dần giác quan

Như cửa ban mai mở

Rồi như từng cánh cửa

Đóng lại lúc chiều hôm.

 

Thu góp vào trí khôn

Mọi khoa văn triết lí

Rồi mỗi ngày một tí

Quên dần, rồi quên luôn.

 

Ngày càng cường tráng hơn

Đôi chân nên vững chắc

Rồi dần dần co thắt

Nên mòn mỏi yếu mềm.

 

Cứ ngày một lớn them

Đôi tay càng khéo léo

Rồi lại dần mềm yếu

Tay vụng về buông xuôi.

 

Ngày thêm nói những lời

Hoạt bát và phong phú

Rồi nghèo nàn ngôn ngữ

Lúng túng lầm lẫn hoài.

 

Ngày nào đó trong đời

Con người ta biết nói

Rồi một ngày sẽ tới

Con người nín lặng thôi.

 

Ngày nào đó trong nôi

Mẹ đến bồng cho bú

Rồi đến ngày ủ rũ

Trên giường để người thăm.

 

Ngày mở mắt đăm đăm

Quan sát nhìn thế giới

Rồi ngày kia vẫy gọi

Nhắm mắt đến ngàn thu.

 

Sinh ra là bé thơ

Hít khí thiêng trời đất

Đến ngày ngừng hô hấp

Cái chết đến thình lình.

 

Xương thịt được thành hình

Trong cung lòng thân mẫu

Rồi tan dần về đất

Thành cát bụi tiêu ma.

 

Để rồi được sinh ra

Trong thời gian vĩnh cửu

Trong người Cha Hằng Hữu

Đấng có tự khởi đầu.

Mọi sự lại bắt đầu

Từ một hữu thể mới.

Mùa Chay 2011

Sưu tầm

 

 

 

 

 

Giuđa ơi ông là ai vậy!?

Điểm qua khuôn mặt của mười hai môn đệ đầu tiên của đức Giêsu, có lẽ nhân vật khơi nhiều lý thú cho tôi không ai hơn chính là Giuđa.  Trong Thánh Kinh, mỗi lần nhắc đến tên Giuđa Iscariôt, tác giả không những đặt cái tên Giuđa ở cuối cùng trong danh sách mười hai mà còn kèm theo cái đuôi ‘kẻ phản bội’, Giuđa kẻ phản bội. 

Thơ – Mẹ Sầu Bi

“Hỡi Bà,.. đây là con Bà”
Và từ đó con là con của Mẹ.
Và từ đó trải qua bao thế hệ.
Mẹ dạy con biết nghèo khó ,khiêm cung
Biết xót thương và phải biết cảm thông.
Biết chia sẻ và thật lòng tha thứ.

Thiên Chúa mời gọi chúng ta lớn lên thế nào: Sáu Giai Đoạn Phát Triển Đức Tin

Thiên Chúa mời gọi chúng ta lớn lên thế nào: Sáu Giai Đoạn Phát Triển Đức Tin

LM Richard J. Sweeney

Với một vẻ quan tâm ra mặt và sự lo âu rung động lộ ra trong giọng nói, Frank nhìn vào người bạn 42 tuổi ngồi đối diện. Anh chưa gặp lại Tom trong bảy năm qua. Sau hai giờ đồng hồ nói chuyện anh cố tìm đúng từ ngữ để nói: “Tom, tôi không biết phải nói thế nào, và cũng không muốn làm bạn đau lòng … nhưng bạn đã thay đổi! bạn không còn là cùng một người mà tôi biết trước đây. Có vẻ bạn không còn tin những điều ngày xưa bạn đã tin!”. Tom bình tĩnh trả lời: “Phải, cám ơn bạn. Tôi cho đó là một lời khen. Và tôi hy vọng là tôi tiếp tục thay đổi cùng lớn lên trong điều tôi tin suốt đời.”

Frank và Tom tiêu biểu cho hai quan niệm rất khác nhau về tuổi trưởng thành và ĐứcTin. Theo quan điểm của Frank, niềm tin tôn giáo phải bất di dịch và không xáo trộn. Theo Tom thì niềm tin cũng giống như tất cả mọi bình diện của đời sống người trưởng thành là luôn tiến hóa.

Đức Tin của chúng ta có được thay đổi trong đời sống trưởng thành của mình không? Hầu hết người trưởng thành thời nay trả lời là “Có”. Theo thăm dò của cơ quan Gallup năm 1985 thì 65% người trưởng thành tin rằng niềm tin của một người phải thay đổi trong cuộc đời như thân xác và trí khôn người ta thay đổi. Đây chắc chắn là quan niệm của đa số các vị linh hướng và cố vấn ngày nay. Nhưng còn có một vài vấn đề chưa được giải quyết. Niềm tin thay đổi thế nào? Làm sao chúng ta biết rằng mình mất Đức Tin hay thực sự đang lớn lên trong Đức Tin? Niềm tin mà chúng ta học và thực hành khi còn trẻ có đủ để giúp chúng ta đương đầu với những thách đố mà chúng ta gặp sau này trong cuộc đời không? Những giai đoạn thông thường nhất mà hầu hết chúng ta có thể phải trải qua là gì? Những dấu chỉ của Đức Tin trưởng thành là những gì?

Nguồn Gốc của Đức Tin

Chúng ta có thể bắt đầu tìm kiếm vài câu trả lời cho những vấn nạn này bằng cách nhìn nhận rằng, trước hết, Đức Tin theo nghĩa rộng nhất là cách chúng ta hiểu Thiên Chúa và các hoạt động của Thiên Chúa trong đời sống con người. Cũng như sự hiểu biết của chúng ta về chính mình, xã hội và thế giới của chúng ta không tránh được những thay đổi khi chúng ta tiếp tục sống trên đời, thì sự hiểu biết của chúng ta về sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc đời con người cũng có thể thay đổi. Đức Tin không lớn lên trong chân không nhưng lớn lên từ vườn ương cây của kinh nghiệm cuộc đời chúng ta.

Nó có thể được hình thành bởi đủ loại kinh nghiệm cá nhân: bởi tình yêu và sự sửa dạy của cha mẹ, của giáo huấn mà chúng ta nhận được từ nhà trường hay nhà thờ, từ những lời cầu nguyện được Thiên Chúa nhận lời hay không nhận lời, từ những niềm vui bất ngờ hay những thất bại quặn lòng, từ những cuộc thảo luận và những bất đồng ý kiến với bạn bè hay đồng nghiệp.

Và kinh nghiệm, hơn hết những điều khác, thường báo hiệu một sự chuyển hướng hay thay đổi về Đức Tin là kinh nghiệm về xung khắc (va chạm) hay bối rối. Xung khắc có thể xảy ra vì một lời cầu nguyện không được trả lời rõ ràng, hay vì vỡ mộng đối với một khuôn mặt quyền thế được kính trọng, hoặc bởi một cuộc hôn nhân hay tình bạn chí thân bị đổ vỡ, hoặc bởi gặp một người mà niềm tin và giá trị của họ xem ra quá khác biệt với chúng ta. Trong mỗi trường hợp, giây phút xung khắc và bối rối thách đố chúng ta để xét lại một quan điểm trước kia về Thiên Chúa.

Chúng ta không nhạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu có lần bảo những người theo Người: “Các con tưởng Thầy đến để thiết lập hòa bình trên thế gian? Trái lại: Thầy đến để tạo xung đột và chia rẽ” (Lc 12:51). Xung đột và bối rối thường là con đường dẫn đến một Đức Tin đầy đủ hơn. Những kinh nghiệm như thế có thể cho chúng ta biết rằng Đức Tin trước kia của chúng ta chưa đủ để đương đầu với những bình diện mới của cuộc đời. Rằng Đức Tin trước đây phải được điều chỉnh lại, như Đức Tin quá dựa vào Lề Luật của Thánh Phaolô trước khi trở lại từ đạo Do Thái bị xung khắc với và được điều chỉnh bởi cuộc gặp gỡ các Kitô đầu tiên.

Cũng thế, sự thiếu khả năng của niềm tin trước đây của chúng ta giúp chúng ta đối phó hay hiểu ý nghĩa của một vài kinh nghiệm trong đời có thể báo hiệu cho chúng ta rằng cần phải thay đổi niềm tin. Tôi nhớ lại chuyện một người cha trong một gia đình mà đức tin của ông thay đổi hầu như hoàn toàn sau khi đứa con trai của ông bị tai nạn xe hơi. Ông đã hỏi đi hỏi lại: “Làm sao mà Thiên Chúa lại để điều này xảy ra?” Việc không nhận được câu trả lời ngay làm cho ông nhận ra Thiên Chúa hiện diện trên thế gian như thế nào. Hoặc, có một học sinh Công Giáo ở trung học đệ nhị cấp đã theo học một trường đại học Tin Lành nhỏ và bỗng nhiên thấy rằng mình không có câu trả lời cho các câu hỏi mà các bạn cùng ở nội trú đưa ra. Các câu trả lời cũ xem ra không thuyết phục được ai – ngay cả chính em! Nhờ tìm kiếm sâu xa hơn và thắc mắc đưa em đến một trình độ Đức Tin mới hơn.

Các nhà nghiên cứu được hướng dẫn bởi công trình quan trọng của Giáo Sư James Fowler của Đại Học Emory đã bỏ ra gần 20 năm để phỏng vấn về đời sống Đức Tin của nhiều người cả nam lẫn nữ. Gần đây họ đã xác định được ít ra là sáu giai đoạn khác nhau về Đức Tin mà người ta dường như tỏ ra. Trong mỗi trường hợp, việc tiến đến giai đoạn sau xảy ra khi một kinh nghiệm nào đó trong cuộc đời mời gọi một người đi đến một sự hiểu biết mới về Thiên Chúa. Giai đoạn mới của Đức Tin này truyền vào đời sống một sự hiểu biết đầy đủ hơn và giúp người ấy có những quyết định có trách nhiệm hơn và thật sự bác ái hơn.

Giờ đây chúng ta sẵn sàng xem xét kỹ hơn về những giai đoạn của Đức Tin này. Chúng ta sẽ chú tâm đến những điểm đáng lưu ý nhất của mỗi giai đoạn cũng như những loại kinh nghiệm thường báo hiệu việc di chuyển sang một giai đoạn mới của Đức Tin. Xin nhớ rằng chúng ta thực sự không nhìn vào một “bản đồ” cung cấp cho chúng ta những chi tiết về con đường thẳng nhất và chắc chắn nhất để kết hợp với Thiên Chúa. Đây thực ra chỉ là sự diễn tả những “dấu chỉ đường” mà nhiều người đã gặp trên cuộc hành trình Đức Tin của họ. Biết tìm dấu chỉ đường nào có thể giúp bạn chuẩn bị cho những đoạn đường khó khăn hơn của cuộc hành trình và có thể hướng dẫn bạn đi qua một vài khúc quănh bất ngờ của cuộc đời.  Nhận ra một vài mốc hay bảng chỉ cây số  trên đường có thể đảm bảo rằng bạn đang tiến bước trên hướng đi mà bạn muốn đi. Và việc nhận ra có những giai đoạn khác nhau của cuộc hành trình có thể giúp bạn hiểu, tôn trọng và giúp đỡ những người đồng hành với bạn.

1. Đức Tin Tưởng Tượng

Đức Tin của một em bè thường thì rất giàu tưởng tượng cho đến khi em lên bảy tuổi. Trí óc các em đầy những hình ảnh về Thiên Chúa, về thế giới và những gì sau đó, nhưng những hình ảnh này đôi khi trái ngược nhau. Thiên Chúa có thể là hình ảnh một ông (nội hay ông ngoại) luôn yêu thương, luôn hiện diện ở đâu đó trên trời, hay có thể là một người cha hay người mẹ quá đòi hỏi dường như không thể làm hài lòng được. Ở giai đoạn này, Đức Tin của một em bé thường thì “lành mạnh” nếu đầu óc các em chứa đầy những hình ảnh tích cực, là những hình ảnh của một thế giới như một nơi thân mật và đón chào các em, và Thiên Chúa như một phụ huynh yêu thương và đáng tin cậy. Điều này đúng cho khi nói về một em bé năm tuổi cho rằng “Thiên Chúa có thể đi vòng quanh thế giới trong một ngày. Và Ngài cũng có thể làm điều xấu cho em!” Nhưng không hiển nhiên lắm khi một em khác nói: “Quỷ đi lên từ lỗ nẻ và bắt em khi em làm điều xấu!”

Những hình ảnh về Thiên Chúa có thể làm cho một em bé sợ hãi, cảm thấy tội lỗi và lo lắng là những điều thật sự nguy hiểm cho Đức Tin ở giai đoạn này. Có một số hình ảnh tàn hại về Thiên Chúa và thế giới có thể tiếp tục ám ảnh các em khi trưởng thành và tạo cho các em một Đức Tin có một khuôn quá tỉ mỉ, lo lắng và bi quan. Nhưng, khi đứa trẻ đạt đến “tuổi biết lý luận” khoảng bảy tuổi, ước ao muốn biết các sự việc thật sự ra sao làm giảm việc các em chỉ lệ thuộc vào trí tưởng tượng. Bây giờ một em bé muốn biết nhiều hơn về thế giới thật sự ra sao và sự vật được sắp đặt thích hợp với nhau thế nào. Đứa trẻ sẵn sàng cho thế giới của những câu truyện và một giai đoạn mới của Đức Tin.

2. Đức Tin Từ Chương

Các trẻ em trong những năm đầu đi học thường rất thích nghe truyện. Cho nên không mấy ngạc nhiên việc học những câu truyện về tôn giáo trong một gia đình hay một nhóm ở nhà thờ cung cấp cho các trẻ em ở tuổi này một hinh ảnh về Thiên Chúa rõ ràng và kiên định hơn. Đặc biệt là các câu truyện về Thánh Kinh vẫn là phương pháp thích hợp cho việc giáo dục về tôn giáo. Tuy nhiên, đối với trẻ em ở tuổi này tất cả mọi câu truyện trong Thánh Kinh đều được hiểu cách từ chương. Thí dụ, câu truyện ông Ađam và bà Evà, ông Noe và trận Đại Hồng Thủy, ông Môsê và Mười Điều Răn, Chúa Giêsu chịu đóng đanh và Thánh Phaolô trở lại tất cả đều được đọc như nhau – như là có thật về cả văn chương lẫn lịch sử. Trong khi Đức Tin từ chương thích hợp với trẻ em ở giai đoạn này, những người lớn mà Đức Tin vẫn còn từ chương trong cuộc đời sau đó đôi khi có thể tỏ ra chống trí thức hoặc không đồng ý với những ý nghĩa sâu xa hơn của Thánh Kinh và của chính đời sống.

Điểm chính yếu về đức tin từ chương là một quan điểm về Thiên Chúa như Đấng thưởng những điều lành và phạt những điều dữ. Người ta cho rằng Thiên Chúa hành động như một phụ huynh yêu và khen chúng ta khi chúng ta ngoan, nhưng cũng sửa trị chúng ta khi chúng ta sai lỗi. Như thế Đức Tin đưa đến việc thương lượng với Thiên Chúa: “Nếu tôi làm điều Thiên Chúa mong muốn tôi làm, tôi có thể trông cậy rằng Ngài sẽ giúp tôi để trả lại”. Tôi nhớ khi còn học tiểu học tôi thường hứa đọc thêm mười kinh Lạy Cha và Kính Mừng nếu Thiên Chúa giúp tôi làm được bài thi hay thắng một trận baseball. Và thường thì được! Thiên Chúa giữ lời! Nhưng dần dần tôi nhận ra tôi không thể luôn luôn đoán được việc của Thiên Chúa và Ngài không đáng tin cậy như tôi nghĩ. Sự đổ vỡ của quan niệm quá từ chương coi Thiên Chúa là vị trọng tài tối cao của hạnh phúc và khốn khổ đưa chúng ta đến một sự hiểu biết mới về Thiên Chúa và một giai đoạn mới của Đức Tin.

Nhưng vẫn có những người lớn sống hầu hết cuộc đời họ bằng một Đức Tin từ chương. Cách đây mấy năm, có một khoa học gia thông thái đã về hưu làm cho tôi ngạc nhiên với ý kiến: “Về phần Đức Tin, tôi thà giữ những gì tôi học được ở lớp ba”. Thật vậy, ông vẫn tiếp tục coi Thiên Chúa như một quan tòa ban phát sự may mắn hay sự rủi ro tùy theo cách cư xử của mỗi người. Nhưng Đức Tin này tỏ ra quá chênh lệch với đời sống của một khoa học gia. Ông ta tiếp tục trách mình vì việc không may xảy ra cho một đứa con trai nghiện rượu và một đứa con gái bị trục trặc về tình cảm. Chắc ông phải làm điều gì sai! Nếu không thì tại sao Thiên Chúa lại để việc ấy xảy ra? Một Đức Tin mọc rễ quá sâu trong việc thương lượng với Thiên Chúa thường hiếm khi tỏ ra đủ để giải quyết những phức tạp của đời sống người lớn.

3. Đức Tin theo Nhóm

Bởi vì theo tự nhiên hầu hết người trẻ thường đánh giá cao tầm quan trọng của tình bạn, nên các em thường coi Thiên Chúa như một Đấng đối xử với các em như một đồng bạn đáng tin cậy. Đồng thời các người trẻ thường có khuynh hướng bắt chước những vị anh hùng mà các em kính phục hoặc những khuôn mặt quyền thế đáng kính. Tầm quan trọng mỗi ngày một gia tăng của các đồng bạn và những vị anh hùng cùng những khuôn mặt có quyền thế đáng quý làm cho Đức Tin trong những năm niên thiếu hay những năm đầu tiên của tuổi trưởng thành rất bị nhóm ảnh hưởng.

Kết quả là một đặc điểm chính của Đức Tin ở giai đoạn này, là nó được hình thành phần lớn bởi những mong muốn, giá trị và những sự hiểu biết của những nhóm quan trọng mà chúng ta thuộc về. Nhóm quan trọng có thể là gia đình, cộng đồng giáo xứ, nhóm bạn bè hay đồng nghiệp. Việc đồng hóa nhiều với một nhóm thường làm cho chúng ta ý thức hơn về những trách nhiệm của cộng đồng. Một người trẻ đã diễn tả khá hay về Đức Tin ở giai đoạn này như sau: “Đức Tin của tôi đã luôn luôn giúp tôi đi đúng đường trong cuộc đời và nhắc nhở cho tôi điều Thiên Chúa mong mỏi nơi tôi”.

Một đặc điểm nữa của Đức Tin ở giai đoạn này là nó vẫn chưa bị các em thắc mắc. Tin tưởng vào quyền bính và sự đáng tin cậy của nhóm làm cho các em không thắc mắc gì cả. Điển hình là lời phát biểu dưới đây trong một cuộc phỏng vấn về Đức Tin: “Cha tôi là một người Công Giáo tốt, đi Lễ hằng ngày, giữ Mười Điều Răn và nói tôi cùng anh tôi cũng làm như thế…. Ông nói rằng mỗi khi chúng tôi thắc mắc phải hành động ra sao, chúng tôi cứ theo đúng giáo huấn của Hội Thánh. Thắc mắc chỉ làm cho chúng tôi gặp khó khăn”.  Trong khi Đức Tin theo nhóm cho chúng ta một sự rõ ràng và kiên định, nó cũng có nguy cơ làm cho người ta không muốn gánh lấy trách nhiệm cá nhân. Đến cực đoan, nó đưa đến một niềm tin mù quáng trong việc bảo vệ nhóm của mình. “Đúng hay sai cũng là quê hương tôi!” “Hội Thánh của tôi là Hội Thánh chân chính!”  Đồng thời cách hành đạo bởi vì “mọi người khác đều làm như thế” cuối cùng trở thành máy móc và không hồn.

Đối với nhiều người trưởng thành, một số kinh nghiệm nào đó sớm hay muộn cũng buộc người ta phải thắc mắc về niềm tin trước kia. Có thể là kinh nghiệm nhìn thấy những ý kiến trái ngược hay xung khắc giữa các vị thầy dạy về tôn giáo, các linh mục hay các giám mục. Hoặc vì không thể chấp nhận hay hiểu một số giáo huấn của Hội Thánh hoặc một sự thay đổi trong cách thực hành của Hội Thánh. Công Đồng Vatican II đã gây ra nhiều thắc mắc cho rất nhiều người Công Giáo. Thắc mắc kiểu này, dù rắc rối cách mấy đi nữa, thường là dấu chỉ của việc phát sinh ra một giai đoạn mới và thách đố hơn về Đức Tin.

4. Đức Tin Cá Nhân

Theo thăm dò của cơ quan Gallup nhắc đến ở trên, ba phần tư người trưởng thành ở Hoa Kỳ bây giờ tin rằng niềm tin được thêm mạnh nhờ thắc mắc về những điều đã tin trước đây. Rõ ràng là nhiều người trưởng thành đang ý thức rằng việc giữ một số niềm tin nào đó hay làm một số thực hành tôn giáo chỉ “vì cha mẹ tôi đã làm, hay thầy cô tôi đã dạy, hoặc các đấng có thẩm quyền trong Hội Thánh bảo tôi phải làm thế, hay những người khác đều làm như thế” là điều không đủ. Một ước muốn chịu trách nhiệm về những điều tôi tin và giá trị mà tôi sống là dấu chỉ một Đức Tin cá nhân (nhưng không riêng tư!) ít lệ thuộc vào những mong ước của nhóm. Sự hiểu biết của tôi về Thiên Chúa giờ đây được uốn nắn nhiều hơn bởi kinh nghiệm của đời sống cá nhân của tôi. Những niềm tin trước kia bây giờ được phân tích và có thể phải thay đổi, canh tân, đào sâu, hoặc nếu thấy sai lầm, thì phải loại bỏ.

Việc chuyển sang một Đức Tin cá nhân “của tôi” này thường hiếm khi xảy ra mà không có một sự căng thẳng hay tranh đấu quan trọng. Thánh Têrêxa thành Avila đã tìm thấy cuộc hành trình riêng của bà từ một Đức Tin theo tập quán qua một Đức Tin có tính cách cá nhân hơn là một kinh nghiệm đau thương. Để diễn tả kinh nghiệm này bà đã viết, “Đôi khi tôi đã bị sự xáo trộn của ý tưởng này đè nén cách khủng khiếp”. Bà đã ghi nhận cách khôn ngoan rằng khi ấy sự hiện diện của những nghi ngờ và thắc mắc có thể đưa người ta đến chỗ cảm thấy rằng mình mất Đức Tin.

Thường thì điều ngược lại cũng đúng. Thiên Chúa có thể hướng dẫn họ tìm hiểu ý nghĩa của niềm tin trước kia của họ. Như trường hợp của một phụ nữ 43 tuổi nói rằng cách đây bốn năm bà thường đi xưng tội ít ra là hai tuần một lần. Bà biết rằng điều đó trở thành một thông lệ đối với bà, nhưng bà không dám bỏ xưng tội vì sợ có điều chẳng lành sẽ xảy ra cho bà. Nhưng nhờ sự lớn mạnh của lòng biết ơn Thiên Chúa vì tình yêu không ngừng Ngài dành cho bà và sẵn sàng tha thứ cho bà, bà đã có can đảm thay đổi thói quen này, Kết quả là như bà nói: “Bây giờ tôi ít đi xưng tội thường xuyên hơn, nhưng dường như việc việc xưng tội có ý nghĩa nhiều hơn đối với tôi”.

Đối với một số người sự chuyển đổi sang Đức Tin cá nhân có nghĩa là họ phải sẵn lòng chịu đựng sự đau khổ phải làm những gì không vừa lòng bạn bè, các phần tử trong gia đình và những nhà lãnh đạo Hội Thánh. Đối với một sinh viên đại học nó có nghĩa là phải chịu bạn bè chế nhạo vì chọn làm theo giá trị Kitô giáo trước những việc thực hành về tính dục của các bạn cùng nội trú trong đại học. Đối với những phụ nữ Công Giáo trẻ nó có nghĩa là mở rộng ý thức của cô về các giáo hội Kitô giáo khác bằng cách tham gia những buổi phụng tự của Tin Lành một thời gian – trong khi làm cho cha mẹ cô lo âu. Đối với những người khác, nó đưa đến tiến trình đau thương trong việc thấy mình không thể chấp nhận một giáo huấn nào đó của Hội Thánh.

Những quyết định như thế có thể là cần thiết nếu người ta muốn phát huy một lương tâm trưởng thành và lãnh nhận trách nhiệm đối với những giá trị mà họ chọn để đi theo. Cách sống đầy Đức Tin giờ đây có nghĩa là chấp nhận rằng ngay cả những luật lệ, phong tục, và hướng dẫn hữu dụng nhất đôi khi cũng giới hạn khả năng của họ trong việc chỉ cho người ta một cách cư xử tốt nhất. Lệ thuộc vào Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương và chúc phúc cho chúng ta bằng hồng ân lý trí con người giờ đây giúp người ta có thể hành động càng ngày càng theo những phán đoán và quyết định ngay thẳng nhất của mình. Tuy nhiên vẫn còn những người tiếp tục đi tìm những câu trả lời cho những vấn nạn phức tạp hơn của cuộc đời thường đưa đến việc khám phá ra một nguồn mạch của sự khôn ngoan đôi khi nằm ngoài cả lý lẽ cá nhân.

5. Đức Tin Thần Bí

Đừng để từ “thần bí” làm bạn trì hoãn. Nó chỉ có nghĩa là hiệp thông với Thiên Chúa. Tiêu chuẩn của giai đoạn đầy đủ này của một Đức Tin trưởng thành không là gì khác hơn một kinh nghiệm mà các nhà thần bí Kitô giáo thường diễn tả – là cảm nghiệm rằng Thiên Chúa đang ngự trong chúng ta. Thánh Phaolô làm chứng cho Đức Tin thần bí này khi ngài nói, “Đời sống mà giờ đây tôi sống không phài của tôi; mà Đức Kitô sống trong tôi” (Galatians 2:20). Ngài mời người khác đến Đức Tin bằng cách nhắc nhở cho họ, “Anh em đang sống trong tinh thần vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (Romans 8:9). Đối với hầu hết mọi người ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong lòng này được bắt đầu bằng một ao ước hay một ước muốn mãnh liệt thành một người hoàn hảo hay sống một cuộc đời càng có ý nghĩa càng tốt.

Thomas Merton, tác giả dòng Trappist, đã diễn tả ao ước này bằng những lời sau, “Khi tôi đã tìm thấy con người thật của tôi, tôi đã tìm thấy Thiên Chúa”. Sự khao khát trong lòng để là tất cả những gì mà Thiên Chúa mời gọi người ta thành, dẫn con người ở giai đoạn này đến việc lắng nghe một cách chăm chú hơn những tư tưởng, những cảm giác và những ước muốn sâu xa nhất của mình. Họ bắt đầu nghe theo lời nhắc nhở của Thánh Phaolô rằng Thiên Chúa thường nói với chúng ta qua “những tiếng rên siết trong lòng mà không thể diễn tả bằng lời” (Romans 8:26). Một nữ tu ở tuổi ngũ tuần nhận thức được cái nhìn này của Đức Tin khi chị nói, “Tôi tin rằng bằng cách lắng nghe phần sâu thẳm nhất của tôi thì hoàn toàn giống như nghe Thiên Chúa. Ở điểm đó, chúng tôi là một”.

Ở giai đoạn này ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa ở nội tâm đưa người ta đến việc trở nên ý thức hơn rằng Thiên Chúa cũng ngự trong tha nhân. Kết quả là người ta bắt đầu xem những người với những niềm tin, màu da và chủng tộc khác nhau như anh chị em với nhau. Điển hình là một vị thất tuần đã nói, “Tôi đã học kính trọng bất cứ ai. Tôi có thể ngồi xuống nói chuyện với một người Hồi Giáo hay Do Thái hoặc Ả rập hay bất cứ ai, và nếu họ bắt đầu nói về tôn giáo theo cách của họ, tôi có thể thực sự hoàn toàn thích hợp trí khôn của tôi với của họ, xem trí khôn họ đi về đâu, và hiểu những tư tưởng của họ”. Đối thoại liên tôn giờ đây không còn là một đe dọa mà là một dịp cho những hiểu biết mới. Việc nhận ra tình huynh đệ hay tình tỉ muội của mỗi người cũng làm cho người ta thêm dấn thân trong việc xây dựng hạnh phúc cho tất cả nhân loại.

Chẳng mấy ngạc nhiên khi Đức Tin thần bí có ảnh hưởng mạnh đối với liên hệ của một người với những cơ sở tôn giáo. Ý thức cao về quyền tuyệt đối của Chúa Thánh Thần làm cho người ta ít lệ thuộc hơn vào quyền bính có giới hạn của những nhóm ngưới. Nhửng người trưởng thanh sống một Đức Tin thần bí chân chính khám phá ra một trác1h nhiệm mới để thách đố và cố gắng làm cho chính các cơ chế (giáo hội, chính quyền, các nhóm dân sự) mà họ là phần tử được nên tốt hơn. Tuy nhiên, đôi khi họ cũng khám phá ra rằng họ có thể cần ngay cả một mức độ Đức Tin cao hơn để sống theo những lý tưởng của họ.

6. Đức Tin Hy Sinh

Thỉnh thoảng lịch sử cung cấp cho chúng ta những gương sáng củă những người đẵ đồng cảm quá sức với hạnh phúc của tha nhân và đã dân thân cho những giá trị của chân lý và công lý đến nỗi có khả năng yêu thương vô vị lợi vượt xa hầu hết chúng ta. Chúa Giêsu, ông Ganđi, bà Dorothy Day, TGM Oscar Romero là những gương Đức Tin hy sinh này. Những người như thế biểu lộ một quyết tâm tận gốc và không thay đổi để thực thi Thánh Ý Thiên Chúa mà không nhượng bộ vì quan tâm đến địa vị hay an toàn cá nhân. Trong vài trường hợp lòng sẵn sàng hy sinh mạng sống cho tha nhân đã đưa đến tử vì đạo. Đối với những người ít nổi danh hơn, nó đưa đến một sự hiến thân liên tục để giúp tha nhân lớn lên và thăng tiến xã hội nói chung.

Vở kịch được nhiều người ưa thích của Robert Bolt, Một Người của Mọi Mùa (A Man of All Seasons) trình bày cuộc đời chính trị và cái chết của Thánh Thomas More và miêu tả rất đúng những đặc điểm của một Đức Tin Hy Sinh chân chính. Thánh Thomas More chống lại việc Vua henry VIII tự nhận là thủ lãnh cũa Giáo Hội ở nước Anh và bày tỏ Đức Tin đã làm ngài hứng khởi bằng những lời cuối cùng thời danh, “Tôi chết như một tôi tớ tốt của nhà Vua, nhưng trước hết như một tôi tớ của Thiên Chúa”. Đối với một người có Đức Tin như thế, nhờ làm theo Thánh Ý Thiên Chúa, được phân biệt cách cẩn thận, thì không còn gì để nhượng bộ. Quyết tâm theo những giá trị của chân lý, công lý và đức ái của một người trở nên hoàn toàn hy sinh.

Đức Tin nào đúng cho bạn?

Vậy bạn hay tôi phải có giai đoạn hay mức độ Đức Tin nào? Chúng ta có nên tìm cách đạt được mức độ “cao nhất không”? Tất cả chúng ta có nên hy vọng đạt đến Đức Tin hoàn toàn hy sinh không?  Chắc chắn rằng tất cả chúng ta đều có khuynh hướng coi đó là một lý tưởng. Nhưng có ai dám cả gan bảo bạn rằng bạn phải ở gai đoạn nào của cuộc hành trình của bạn? Nhất địng rằng bạn phải đạt được mức độ hoàn toàn trưởng thành ngay bây giờ chẳng khác gì cố gắng nắm một nụ hoa mà kéo lên để nó nở hoa hoàn toàn. Một cố gắng như thế phải là tàn bạo và thiếu xây dựng. Và nó coi thường chân lý là mọi sự đều có mùa của nó.

Đức Tin vẫn luôn luôn là quà tặng của Thiên Chúa. Cái mức chính xác mà chúng ta được Thiên Chúa mời gọi đi đến phần lớn tùy thuộc vào những kinh nghiệm của cuộc đời chúng ta. Thiên Chúa yêu thương chúng ta ở mỗi bước phát triển của chúng ta, phê chuẩn chúng ta ở mức độ mà chúng ta đang đứng và khi đúng thời sẽ mời chúng ta đến đời sống đầy đủ hơn. Lời mời gọi này có thể đến dưới hình thức không bằng lòng cách dai dẳng với cách stống của chúng ta hoặc qua những sự đè nén không ngừng của những hồ nghi và thắc mắc. Nó có thể được nói lên trong khi chúng ta tìm kiếm những giải pháp tồt đẹp hơn cho những khó khăn trong cuộc đời.

Khi mà chúng ta ý thức hơn rằng Đức Tin phát triển từng bước, chúng ta cũng đi đến những kết luận cụ thể. Thí dụ chúng ta có thể cần phải học kiên nhẫn và nhìn nhận rằng có những điều ngoài tầm kiểm soát của chúng ta: nó có thể chỉ cần thời gian, hay thử đi thử lại, để đi tử giai đoạn này đến giai đoạn khác. Chúng ta cần phải tin tưởng rằng Thiên Chúa ở trong tiến trình lớn lên trong Đức Tin của chúng ta, là một tiến trình thường thì kh mấy bằng phẳng. Cho nên việc chúng ta có thể cảm thấy xung đột, sợ hãi và nghi ngờ hay đương đầu với những câu hỏi hóc búa là điều bình thường. Điều này còn có thể là dấu hiệu báo cho chúng ta phải tìm đến người khác để được giúp đỡ hay hướng dẫn, và đó đã là dấu chỉ của sự tăng trưởng.

Sau cùng, tiến trình từng giai đoạn của Đức Tin dạy chúng ta rằng thay đổi không phải là điều xấu. Đó là chất liệu của đời sống con người, là ý nghĩa của hoán cải, là con đường của Nước Chúa đang đến – giống như hạt cải bé nhỏ, theo mức độ dần dần trở thành một cây lớn. Việc sẵn sàng đón nhận sự thay đổi, đón nhận lời mời gọi liên tục của Chúa Thánh Thần, có thể là hồng ân của Thiên Chúa mà chúng ta cần nhất.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ