Blog Page 2145

Giới thiệu Tông huấn Lời Chúa – Verbum Domini

Giới thiệu Tông huấn Lời Chúa – Verbum Domini

T2, 04/04/2011 – 10:08

WGPSG — Vào ngày 02/4/2011, tại Trung tâm Mục vụ TGP, số 6 bis Tôn Đức Thắng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban Kinh Thánh trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam và Trung tâm Mục vụ TGP. TPHCM phối hợp tổ chức chương trình giới thiệu Tông huấn LỜI CHÚA (VERBUM DOMINI) của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI.

Thành phần tham dự:

– Đức cha Phêrô Nguyễn văn Khảm – Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận TPHCM – Chủ tịch Ủy ban Truyền Thông trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam – Giám đốc Trung tâm Mục vụ TPHCM.

– Đức cha Giuse Võ Đức Minh – Giám mục Giáo phận Nha Trang – Chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

– Quý linh mục, tu sĩ nam nữ, đại diện Hội đồng Mục vụ, các Ban ngành đoàn thể, và các Giới thuộc Tổng Giáo phận TPHCM.

– Linh mục FX Vũ Phan Long, OFM – Giám tỉnh Dòng Phanxicô – Tổng thư ký Ủy ban Kinh Thánh trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, là người hướng dẫn chương trình.

Giới thiệu TH Lời Chúa (Verbum Domini) (P1)

Xin”click” lên hình để xem các hình trong album này

Chương trình:

1- Đức cha Phêrô khai mạc. Ngài trình bày khái quát: Kể từ sau Công Đồng Vatican II, cứ 4 năm một lần, Tòa Thánh tổ chức Thượng Hội đồng Giám mục thế giới, quy tụ các Đan viện, các Hội đồng Giám mục trên toàn thế giới để cùng nhau cầu nguyện, suy tư, trao đổi về một chủ đề cần thiết trong đời sống cụ thể, kết thúc là một Tông huấn do chính các Đức Giáo hoàng ban hành. Ngài còn giới thiệu các thành phần tham dự một cách dí dỏm, tạo bầu không khí vui tươi trước khi vào chương trình chính.

2- Đức cha Giuse trình bày: Thượng Hội đồng Giám mục thế giới về Lời Chúa và Tông huấn VERBUM DOMINI. Ngài cho biết về sự ra đời của Tông huấn: Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, qua Thượng Hội đồng Giám mục thế giới lần thứ 12, họp tại Rôma từ ngày 5 đến 26/10/2008 với chủ đề “Lời Thiên Chúa trong đời sống và sứ mạng của Hội Thánh”. Ngài đã tiếp thu Sứ điệp Thượng Hội đồng Giám mục thế giới và 55 đề nghị của các nghị phụ. Đức Giáo hoàng tổng kết tất cả những điều đó để viết ra Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục thế giới về Lời Chúa (VERBUM DOMINI). Đức Giáo hoàng đặt mình trong tư cách là người tôi tớ của Lời Chúa, người môn đệ của Lời Chúa, người phục vụ cho Lời, cùng với anh em của mình để lắng nghe về Lời, suy niệm về Lời, chia sẻ về Lời và công bố về Lời. Ngài nhắm hai mục đích: Lời Chúa trở nên nguồn mạch đổi mới cho Giáo hội, đồng thời Lời Chúa là tâm điểm cho mọi hoạt động của Giáo hội.

Đức cha còn nói nhiều về Lời Chúa: Lời Chúa đời đời bền vững, Lời Chúa là Lời hằng sống, Lời Chúa chính là Đức Giêsu Nazarét, đó là Tin Mừng được loan báo cho anh em. Trong Tông huấn này có câu: “Phải tôn kính Lời Chúa như là Mình Máu Thánh Chúa, vì đó là Chúa Giêsu. Lời Chúa không phải giữ nguyên cho mình, mà phải mang đến cho mọi người”.

3- Linh mục FX Vũ Phan Long, OFM – Giám tỉnh Dòng Phanxicô – Tổng thư ký Ủy ban Kinh Thánh trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam – giới thiệu tổng quát về nội dung Tông huấn VERBUM DOMINI – Lectio divina:

Tông huấn VERBUM DOMINI là bản văn được Giáo hội tha thiết chờ đợi. Khi ban hành, Tông huấn sẽ giúp cho toàn thể Hội Thánh những nguyên tắc, hướng dẫn đọc Kinh Thánh một cách sâu sắc hơn, rút ra nhiều bài học bổ ích hơn, năng động hơn cho đời sống Kitô hữu của chúng ta. Đây là tài liệu Đức Giáo hoàng cho chúng ta một điển hình về cách đọc và giải thích Kinh Thánh. Ngài dùng để dạy Giáo hội những nẻo đường cụ thể để dấn thân.

Nội dung Tông Huấn:

Phần mở: Đặt Verbum Domini liên hệ với Hiến chế Tín lý Dei Verbum.

Phần 1- Lời Thiên Chúa: Nói đến vị “Thiên Chúa lên tiếng nói”, nói đến “lời con người đáp trả vị Thiên Chúa đang lên tiếng”, đề cập đến “việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo hội”.

Phần 2 – Lời Chúa trong Hội Thánh, nơi đặc trưng cho Lời Chúa.

Phần 3 – Lời Chúa cho thế giới.

Phần kết: Điểm nhấn Đức Giáo hoàng đã chọn là “Niềm vui”. Nguồn mạch của mọi niềm vui, chính là Đức Kitô. Quan hệ mật thiết giữa Lời Thiên Chúa và niềm vui được biểu lộ hiển nhiên nơi Mẹ Thiên Chúa: “Mẹ ngôi Lời và Mẹ niềm vui”.

Linh mục FX Vũ Phan Long tiếp tục giới thiệu:

– Cầu nguyện bằng Kinh Thánh. Để đương đầu với cám dỗ, chúng ta hãy đọc Kinh Thánh trong tư thế cầu nguyện, trong tâm tình yêu mến Kinh Thánh để thấy Chúa nói với chính mình.
– Đọc Kinh Thánh là hoạt động: Đọc, suy gẫm, cầu nguyện, chiêm niệm và hành động.
– Đọc nơi và lúc thích hợp.
– Cầu khẩn Chúa Thánh Thần.

4- Họp chung và trả lời thắc mắc:

Nhiều anh chị em, trong đó có một số tân tòng, chia sẻ những phương pháp đọc Kinh Thánh của mình, nói lên những lợi ích nhờ đọc Kinh Thánh, những khó khăn trong việc hoạt động rao giảng Lời Chúa. Đức cha Giuse, quý cha chủ sự đã giải đáp các thắc mắc của mọi người.

5- Linh mục Inhaxiô Hồ Thông – giáo sư Đại Chủng viện Giáo phận Nha Trang – giới thiệu về Hội nhập Văn hóa. Cha nói lên những ưu điểm của mô hình Hội nhập Văn hóa. Những giới hạn của mô hình Hội nhập Văn hóa: Mỗi mô hình đóng vai trò của nó trong mỗi hoàn cảnh lịch sử, sức mạnh của giải phóng Tin Mừng, hội nhập văn hóa không đồng nhất với sự đồng hóa, hội nhập văn hóa cùng tính duy nhất và phổ quát của Giáo hội.

Cha giới thiệu tiếp về Đối Thoại Liên Tôn, là cách thế thực hành mô hình Hội nhập Văn hóa. Cha nói về cuộc đối thoại giữa người với người, giữa những tín hữu thuộc vào những truyền thống tôn giáo khác nhau, giữa Kitô giáo với các tôn giáo khác.

Đúng 15 giờ 45, Đức cha Giuse Võ Đức Minh – Giám mục Giáo phận Nha Trang chủ tế và các linh mục tham dự hội nghị cùng dâng Thánh lễ ngày Chúa nhật thứ IV Mùa Chay tại hội trường với gần 500 người tham dự.

Kết thúc ngày hội thảo, mọi người hân hoan ra về với tinh thần lắng nghe, vâng phục và sống Lời Chúa.

Tập viện: mùa xuân của đời dâng hiến

TẬP VIỆN
GIAI ĐOẠN QUAN TRỌNG
CỦA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

“Đời sống Thánh hiến là ân huệ Thần linh mà Giáo Hội đã nhận lãnh từ Chúa của mình và luôn luôn gìn giữ nhờ ơn Người” (GH 43).

Cùng với lòng khao khát lấy tình yêu đáp lại tình yêu của Chúa, muốn làm nên đời sống Thánh hiến, người tu sĩ cần được và phải trải qua một quá trình huấn luyện lâu dài, liên tục. Và Tập viện chính là thời gian quan trọng nhất trong hành trình huấn luyện ấy. Đối với Dòng Mến Thánh Giá, tầm quan trọng của giai đoạn Tập viện cũng được thể hiện phần nào qua mục đích đào tạo và được nêu tại điều 85 trong Hiến Chương của Dòng Mến Thánh Giá.

Bên cạnh đó, giai đoạn Tập viện cũng mang lại nhiều vai trò quan trọng khác cùng nhiều dấu ấn khó phai mà mỗi người cảm nếm được trong kinh nghiệm về tình yêu cá vị Thiên Chúa dành tặng riêng cho từng người. Tình yêu ấy vừa rất đỗi nhiệm mầu, cao sâu lại vừa rất cụ thể, gần gũi, ngang qua môi trường ta sống, phận vụ ta thi hành và đặc biệt qua những người có trách nhiệm, có ảnh hưởng lớn trên cuộc đời ta.

Đối với chúng con – những Tập Sinh của Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức, chúng con đã được Dì Tổng Phụ Trách, Dì Phó Tổng Phụ Trách, Quý Dì trong Ban Tổng Cố Vấn, Quý Dì Giáo, Quý Bà, Quý Dì và Quý Chị Em trong Hội Dòng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi bên ngoài cùng với tình yêu thương, sự hướng dẫn nhiệt tình, sự động viên, khích lệ và cả việc sửa dạy, đặc biệt Hội Dòng đã tạo cho chúng con một môi trường thuận lợi với thời gian cần thiết để chúng con được “lên núi” với Chúa, được “ở lại” với Người trong đời sống cầu nguyện. Trải qua những năm tháng trong môi trường Tập Viện, chúng con đã cảm nhận cách sâu xa từ nơi Thiên Chúa một tình yêu bất biến và vô điều kiện, để từ đó chúng con có thể điều chỉnh thứ tình yêu hay đổi thay và ích kỷ nơi chính bản thân mình mà đi tới chân trời “yêu thương như Thầy đã yêu”.

Người ta vẫn gọi “Tập viện là mùa xuân của đời dâng hiến”. Quả thực, mùa xuân rất đẹp, hiền hòa, thi vị, nhẹ nhàng mà còn chứa đựng trong nó một nội lực phi thường: xuân mang niềm vui mới, xuân giao hòa trời đất, xuân khiến chim chóc cất tiếng hòa ca, xuân khiến lòng người rộn rã, …

Mùa xuân là vậy, nhưng có ai dám nghĩ đến một mùa xuân đẹp hơn thế chăng? Chắc hẳn là có và có rất nhiều người. Xuân Tập viện – một mùa xuân thường âm thầm, lặng lẽ nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc tạo mối tương giao mật thiết giữa con người với Thiên Chúa.

Thời gian Tập viện là đỉnh cao cho cuộc gặp gỡ Đức Kitô. Từ cuộc gặp gỡ ấy, nguồn sức mạnh thiêng liêng được tạo ra và mỗi ngày một triển nở hơn qua đời sống cầu nguyện, hầu giúp chúng con có thêm nghị lực mà vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, nhất là trong công việc Tông đồ hôm nay và cả ở tương lai nữa. Cũng thế, năng lực siêu phàm trong đời sống cầu nguyện còn có sức biến chuyển những đau khổ của phận người vốn mang nguy cơ hủy hoại bản thân và tha nhân trở nên mảnh đất phì nhiêu của lòng tin tưởng bao la và lòng mến thiết tha. Giai đoạn Tập viện không chỉ là khoảng thời gian mà các môn đệ Đức Kitô (Tập sinh) được chiêm ngưỡng “vinh quang sáng lạng của Thầy trên núi Tabor” nhưng còn là hành trình xuống núi. Ở đó, họ còn được gặp gỡ Đức Kitô với nhiều khuôn mặt khác nhau khi sống với chị em, với mọi người, khi tập sống ý nghĩa Ba Lời Khấn.

Chính khi đi trên lộ trình thiêng liêng này, nhờ ơn Chúa giúp và công lao vun trồng, uốn nắn mà Hội Dòng đã không ngừng vun đắp cho ơn gọi chúng con, cùng với sự trợ giúp của nhiều người và sự cố gắng không ngừng của bản thân, ước mong sao ơn gọi chúng con sẽ mọc lên xanh tươi cả trên những mảnh đất khô cằn sỏi đá và trổ sinh hoa trái dồi dào cho Giáo Hội, xã hội hôm nay, ngày mai.

Với kinh nghiệm còn non trẻ và với sự yếu đuối của bản thân, chúng con chưa thể nào hiểu và cảm cho thấu những giá trị cao quý về mọi mặt mà giai đoạn Tập viện đã mang lại, chỉ xin được cố gắng luôn mãi trong mọi phút giây của đời sống chúng con.

Các Tập sinh năm thứ nhất

Các Tập sinh năm thứ hai

Trên hết mọi sự, chúng con xin muôn vàn cảm tạ và ca ngợi Chúa vì “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Cũng trong dòng cảm nghiệm này, chúng con xin ghi ơn sâu sắc đến Quý Dì Bề Trên, Quý Bà, Quý Dì trong Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức đã không ngừng dìu dắt chúng con trên những chặng đường mới của ơn gọi Mến Thánh Giá. Kính xin Quý Bà, Quý Dì và mọi người nhận nơi chúng con tâm tình tri ân sâu nặng để tiếp tục đồng hành và cầu nguyện nhiều cho chúng con, giúp chúng con bước đi vững vàng trong ơn gọi Thánh hiến.

Tập viện Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức

Damb’ri – Bảo Lộc

 

Giám sư Tập viện                                                 Phụ tá Tập viện                               Phụ trách Bác ái Xã hội

Sr. Maria Nguyễn Thị Huyền Thanh               Sr. Maria Trần Thị Ly Băng                   Sr. Anna Nguyễn Thị Thơm



 

“Hãy đến mà xem” Damb’ri vùng đất tình yêu

DAMB’RI VÙNG ĐẤT TÌNH YÊU

“Nadarét có gì hay, …

Hãy đến mà xem!”

(Ga 1, 45-46)

“Hãy đến mà xem” đó là một lời mời gọi của Philipphê ngỏ cùng ông Nathanaen để đến gặp Đức Giêsu. Hôm nay, cũng lời mời gọi ấy “Hãy đến mà xem” Cộng Đoàn Damb’ri thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức có gì hay chăng?

Giữa vùng đồi núi bạt ngàn với nền đất đỏ Bazan. Cộng Đoàn Damb’ri của chúng con không cách xa Giáo xứ Bảo Lộc là mấy (khoảng 20 km). Giữa vùng rừng núi này, có một căn nhà xem ra tương đối lớn hơn mọi ngôi nhà xung quanh, nhưng không kiêu sa mà cũng chẳng lộng lẫy, lại mang màu nâu của đất và được bao phủ bởi không gian toàn màu xanh của cây và lá cà-phê.

Cộng Đoàn Damb’ri hiện nay đang là môi trường huấn luyện các ứng sinh trong giai đoạn Tập Viện – một giai đoạn quan trọng nhất trong hành trình huấn luyện và cũng là nền tảng vững chắc cho mỗi ứng sinh trong hành trình sống ơn gọi Thánh hiến.

Còn gì hạnh phúc hơn cho mỗi Tập Sinh được Thiên Chúa hết mực yêu thương, thể hiện qua sự nâng đỡ của Hội Dòng khi tạo cho một không gian thật tĩnh lặng và rất riêng tư để mỗi Tập Sinh dễ dàng đi vào trong sa mạc nội tâm, tìm gặp Giêsu trong chiêm ngắm và nguyện cầu.

Tập Viện

Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức

Damb’ri, Bảo Lộc

Địa chỉ : Thôn 13, xã Dambri, thị xã Bảo Lộc

Điện thoại : 063.3763351

 

 

Đức Cha Antôn-Giám Mục Giáo Phận Đà Lạt ghé thăm Tập viện

THẮM ĐƯỢM TÌNH CHA – CON

Một ngày đẹp trời cuối tháng 3 năm 2011 (27/03/2011), khi lất phất những hạt mưa, những cơn gió rít lên từng hồi, các Tập sinh đang trong bầu khí tĩnh tâm cuối tháng thì nhận được một tin trọng đại “Đức Cha Antôn – Giám Mục Giáo Phận Đà Lạt ghé thăm gia đình Tập viện Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức. Đây là lần đầu tiên chị em chúng con được đón nhận sự vinh dự này. Hạnh phúc biết bao khi chúng con được đón tiếp Đức Cha cùng sự hiện diện của Cha Giuse Nguyễn Hữu Duyên – Hạt Trưởng Hạt Bảo Lộc và Cha Gioan Nguyễn Anh Tuấn – Phụ Trách Bác ái Xã hội của Giáo Phận Đà Lạt.

Chúng con run lên vì vui sướng, chứ không còn phải vì cái giá lạnh của thời tiết nữa. Sự hiện diện của Đức Cha cùng Quý Cha đã làm ấm lại lòng mỗi chị em chúng con. Ngôi Nhà Nguyện nhỏ bé giờ đây thật thân thương, đầm ấm làm cho Cha con xích lại gần nhau hơn trước Thánh Thể nhiệm mầu. Hơn bao giờ hết, tôi thấy vị Mục Tử – người Cha chung của Giáo Phận Đà Lạt thật gần gũi biết bao.

Thời gian Đức Cha ở lại cùng chúng con tuy thật ngắn ngủi nhưng sao thắm đượm lòng người. Những lời huấn dụ của Đức Cha mới dồi dào ý nghĩa lắm thay. Ngài đã tiếp thêm một phần động lực cho chúng con để chúng con không ngừng phấn đấu vươn lên, để mỗi ngày chúng con can đảm lên đường cùng Giêsu.

Với đề tài chia sẻ “Xin vâng trong mọi hoàn cảnh theo gương Mẹ Maria” của Đức Cha, chúng con tự tin hơn để đón nhận Thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh sống; càng ở nơi xa xôi, hẻo lánh, “xa cách thế gian”, chúng con lại càng dễ nhận biết sự hiện diện của Chúa. Những lời Đức Cha dạy đã tăng thêm cảm giác ngọt ngào của những giây phút:

“Đưa con lên núi lên đồi

Riêng con với Chúa, ta ngồi mà nhìn nhau”

(Ân Đức)

“Chúng con xin tạ ơn Chúa vì tất cả là hồng ân. Những giọt mưa hôm nay có lẽ không phải là vô tình, nhưng đó là những giọt mưa hồng ân. Thật hạnh phúc biết bao, thật “ngọt ngào lắm thay, Cha con hạnh phúc sum vầy bên nhau”.

Xin tạ ơn Chúa đã đưa chúng con lên núi để gần Chúa hơn.

Chúng con xin cám ơn Quý Bề Trên cùng Quý Dì trong Hội Dòng đã tạo điều kiện, đã không ngừng động viên, cầu nguyện cho chúng con trong những ngày tháng ở “vùng núi Damb’ri” này.

Chúng con xin cám ơn sự hiện diện của Đức Cha cùng Quý Cha trong Giáo phận Đà Lạt luôn đồng hành với chúng con  qua lời cầu nguyện  và luôn khích lệ chúng con thêm can đảm dấn bước theo Thầy Giêsu trong Linh đạo Mến Thánh Giá.

Chúng con cũng xin cám ơn Quý vị thân nhân, ân nhân xa gần, không ngừng nâng đỡ chúng con về mọi phương diện vật chất cũng như tinh thần.

Nguyện xin ân sủng và tình yêu Thiên Chúa luôn ở cùng Quý Vị, với những ai đã từng một lần đặt chân lên mảnh đất Damb’ri, những ai đã và đang từng mong ước được đến thăm gia đình Tập viện Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức và cả những ai chưa một lần biết đến vùng đất có tên gọi Damb’ri này”.

Tập Viện

Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức

Damb’ri, Bảo Lộc

 

 

Đừng vô cảm

ĐỪNG VÔ CẢM

ĐGM. GB Bùi Tuần

Vô cảm là một tiêu cực tồi tệ trong đạo đức. Vô cảm thuộc về cái tâm. Cái tâm thuộc về tâm linh, nhưng được diễn tả ở trái tim, nên hay gọi là trái tim cho dễ hiểu.

Người vô cảm là người có trái tim chai cứng.

Hậu quả của vô cảm trong đạo đức là rất nghiêm trọng. Xin đưa ra vài cảnh báo của Chúa được ghi trong Phúc Âm.

1. Hậu quả khủng khiếp của vô cảm trong đạo đức

Về vô cảm trước những khổ đau của người khác, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn ông phú hộ và người ăn mày Ladarô. Ông phú hộ hưởng cuộc đời sung sướng. Người nghèo khó Ladarô thì ngồi ăn xin ở cổng nhà ông phú hộ. Ladarô vừa nghèo, vừa bệnh tật. Ông phú hộ không thể không biết người ăn mày đó ngày đêm ở cổng nhà ông. Nhưng ông vô cảm. Sau cùng, người nghèo khó Ladarô chết. Ông được đưa lên thiên đàng. Ít lâu sau, ông phú hộ cũng chết. Ông bị ném xuống hoả ngục. Hình phạt rất khủng khiếp. Đâu có ngờ!

Về vô cảm đối với tình yêu Chúa, Chúa Giêsu đã nói về thành Giêrusalem: “Giêrusalem, Giêrusalem, đã bao  lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. Thì này, nhà của các ngươi sẽ bỏ mặc cho các ngươi” (Lc 13,34).

Lần khác, Chúa Giêsu nhìn Giêrusalem mà khóc. Người nói: “Sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,44). Hình phạt rất nặng nề. Đâu có ngờ!

Về vô cảm trước sự không theo ý Chúa, Chúa Giêsu nói rõ: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23). Họ bị kết án, vì họ đã nhân danh Chúa mà làm những việc lành để tìm lợi riêng, chứ không thực sự để làm sáng danh Chúa. Án phạt thực đau đớn. Đâu có ngờ!

Nguy cơ của vô cảm sẽ tăng lên, khi nó phát triển theo hướng phạm thêm tội lỗi.

2. Phát triển phức tạp của vô cảm

Người vô cảm trước tiếng gọi của bổn phận mến Chúa yêu người, lại hay che giấu lỗi lầm của mình bằng lối sống đạo đức giả.

Phúc Âm nói về họ như những người thích vẻ đạo đức bề ngoài. Họ giữ luật kiêng việc ngày Sabat, không ngồi chung bàn với những người tội lỗi, rửa tay trước khi ăn. Họ tỏ ra bén nhạy, hăng say và tỉ mỉ với những hình thức đạo đức như thế. Mục đích chính là gây uy tín.

Lối sống đạo đức bề ngoài đó dễ lây lan. Đông người trở thành nhóm. Nhiều nhóm làm nên giai cấp. Khi giai cấp có quyền lợi riêng và luật lệ riêng, nó sẽ trở thành cơ chế. Cơ chế như thế là một quyền lực. Nó lèo lái, hướng dẫn dư luận, nhiều khi áp đảo.

Theo Phúc Âm, chính giai cấp đạo đức giả đã kích động đám đông đổi lòng đối với Chúa Giêsu. Họ đưa đám đông đến sự vô cảm tột độ, đó là hiệp thông hiệp nhất với họ trong quyết tâm loại trừ Chúa Giêsu bằng cái án chết rất mực bất công. Mấy ngày trước, đám đông còn hoan hô đón rước Chúa Giêsu. Thế mà bây giờ họ quay ra phỉ báng, nhạo cười, nhục mạ và xin giết Người. Lúc hấp hối, trên thánh giá, Chúa kêu khát. Họ cho chút giấm chua thay vì nước. Chứng tỏ sự vô cảm của họ đã đưa họ tới sự thù ghét triệt để một cách man rợ kinh hoàng.

Vô cảm là một sức mạnh phá hoại đạo đức vừa tinh vi, vừa thô bạo. Nhất là khi nó đã trở thành nếp sống bình thường. Thời xưa là thế, thời nay cũng vậy.

3. Vô cảm lớn nhất

Kinh Thánh coi sự không ăn năn sám hối trước những cảnh báo là một vô cảm rất lớn. Trong ăn năn sám hối, điều quan trọng cần thực hiện là đổi mới cái tâm.

Thánh vương Đavít cầu nguyện: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một quả tim trong trắng” (Tv 51,12).

Nơi tiên tri Giêrêmia, Chúa phán: “Ta sẽ ghi luật Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ viết luật đó trên trái tim chúng” (Gr 31,33).

Nơi tiên tri Êdêkien, Chúa phán: “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt Thần Khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá, và ban cho chúng một trái tim bằng thịt” (Ed 11,19).

Tất nhiên, trái tim nói đây phải được hiểu là một trái tim thẳm sâu, tức cái tâm, thuộc tâm linh.

Chính trái tim sâu thẳm ấy được Kinh Thánh gọi là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chính tại đó, Chúa đến gặp ta, ta gặp gỡ Chúa. Chính tại đó, Chúa ở lại với ta. Chính tại đó, Chúa ban cho ta lửa tình yêu và ánh sáng chân lý. Chính tại đó, ta sẽ có những lựa chọn, những hướng đi, những quyết định, nhờ Lời Chúa dẫn đưa.

Khi nghe lời Chúa Giêsu phán: “Tôi hy sinh mạng sống tôi cho đoàn chiên” (Ga 10,15), nếu tôi cảm thấy xúc động trong trái tim, thì xúc động đó là vang vọng từ cái tâm sâu thẳm của tâm linh. Xúc động đó là rất tư riêng.

Khi suy gẫm lời Chúa Giêsu nói: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con” (Ga 15,12), nếu tôi cảm thấy xao xuyến trong lòng, thì xao xuyến đó là rung động từ cái tâm sâu thẳm của tâm linh. Rung động đó thúc giục tôi gần gũi và chia sẻ.

Chính vì trái tim sâu thẳm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống đạo đức, nên sám hối cần phải đổi mới nó. Nếu không, sám hối sẽ chỉ là hình thức. Vô cảm sẽ vẫn còn vô cảm.

Tình hình hiện nay có nhiều dấu hiệu không lành. Có nhiều tiếng báo động. Nhưng trong lãnh vực phần rỗi, trái tim nhạy bén sẽ là cơ quan báo động cần thiết nhất. Nếu chẳng may, nó đã vô cảm, thì phần rỗi sẽ ra sao?

Riêng tôi, cho dù có thể đôi khi còn vô cảm trong một số lãnh vực, nhưng không bao giờ vô cảm trước lời Chúa phán sau đây: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay không thương đứa con mình mang nặng đẻ đau. Cho dù họ có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên con bao giờ” (Is 49, 15). Tôi tin vào tình yêu thương xót Chúa. Niềm tin ấy đã cứu tôi.