Danh mục: Tin Giáo hội

  • Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích tội “ngoại tình mục vụ” của các giám mục

    Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích tội “ngoại tình mục vụ” của các giám mục

    Diễn từ của Đức Thánh Cha Phanxicô với các thành viên Thượng Hội đồng Giáo hội Công giáo Armenia
    (ZENIT News / Vatican City, 28.02.2024). – Sáng thứ Tư, ngày 28 tháng 2, trước buổi tiếp kiến ​​chung tại hội trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến ​​riêng các thành viên Thượng Hội đồng Giám mục thuộc Giáo hội Cilicia của người Armenia, một Giáo hội Công giáo Đông phương hiệp thông với Đức Giáo hoàng. Do tình trạng sức khỏe, Đức ông Filippo Ciampanelli đã đọc bài phát biểu thay cho Đức Thánh cha. Dưới đây là diễn văn của Đức Thánh cha xoay quanh ba điểm chính: ngoại tình mục vụ mà các giám mục có thể rơi vào, cầu nguyện thật nhiều và chăm sóc mục vụ ơn gọi.
    Anh em thân mến,
    Rất vui khi được chào đón anh em đến Rôma viếng mộ các Tông đồ Phêrô và Phaolô nhân dịp lễ thánh Gregory thành Narek, Tiến sĩ Hội thánh. Với tư cách là Giám mục, kế nhiệm các Tông đồ, chúng ta có trách nhiệm đồng hành cùng Dân thánh của Chúa hướng về Chúa Giêsu, là Thiên Chúa và là người bạn của nhân loại, Đấng chăn chiên nhân lành của chúng ta. Vì lý do này, vào ngày thụ phong giám mục, chúng ta đã cam kết gìn giữ đức tin, củng cố niềm hy vọng và truyền bá lòng bác ái của Chúa Kitô.
    Anh em thân mến, một trong những trách nhiệm lớn lao của Thượng Hội đồng là trao cho Giáo hội của anh em những Giám mục của ngày mai. Tôi khuyên anh em hãy lựa chọn họ một cách cẩn thận, để họ tận tâm với đàn chiên, trung thành với việc chăm sóc mục vụ và không bị thúc đẩy bởi tham vọng cá nhân. Không nên lựa chọn họ dựa trên ý tưởng hoặc sự ưa thích của chúng ta, và phải hết sức thận trọng đối với những người “có cái mũi kinh doanh” hoặc những người “luôn có cặp táp trong tay”, khiến giáo dân của họ mồ côi.
    Một Giám mục coi giáo phận của mình như bàn đạp để đến một vị trí khác “danh thế” hơn mà quên rằng mình đã kết hôn với Giáo hội và có nguy cơ, cho phép tôi sử dụng cách diễn đạt này, sẽ phạm tội “ngoại tình mục vụ”. Điều tương tự cũng xảy ra khi một người lãng phí thời gian, mưu đồ tìm kiếm công việc mới hoặc để thăng tiến. Các giám mục không phải được mua ở chợ; chính Chúa Kitô đã chọn họ làm người kế vị các Tông đồ và làm Mục tử cho đàn chiên của Người.
    Trong một thế giới đầy cô lập và cô đơn, chúng ta phải đoan chắc rằng những người được giao phó cho chúng ta chăm sóc đều cảm nhận được sự gần gũi của người Mục Tử Nhân Lành, sự quan tâm phụ tử của chúng ta, vẻ đẹp của tình huynh đệ và lòng thương xót của Thiên Chúa. Con cái của dân tộc thân yêu của anh em cần sự gần gũi của các Giám mục của họ. Tôi biết rằng họ đang ly tán khắp thế giới với số lượng rất lớn và đôi khi ở những vùng lãnh thổ rộng lớn, rất khó để đến thăm viếng họ. Tuy nhiên, Giáo hội là một người mẹ yêu thương và Giáo hội không thể không tìm kiếm mọi phương tiện để có thể tiếp cận họ và đem đến cho họ tình yêu của Thiên Chúa theo truyền thống giáo hội của họ. Đây không phải là vấn đề về các cơ cấu, vốn chỉ là phương tiện hỗ trợ việc truyền bá Phúc âm, nhưng trên hết là vấn đề bác ái mục vụ, tìm kiếm và phát huy điều thiện theo quan điểm Tin Mừng và tinh thần cởi mở : ở đây tôi cũng nghĩ đến tầm quan trọng của việc hợp tác chặt chẽ hơn nữa với Giáo hội Tông đồ Armenia.
    Anh em thân mến, trong Mùa Chay thánh này, chúng ta được mời gọi chiêm ngưỡng thập giá và xây dựng trên nền tảng là Chúa Kitô, Đấng chữa lành vết thương của chúng ta bằng sự tha thứ và yêu thương. Chúng ta được kêu gọi cầu thay cho tất cả mọi người, bằng tâm trí và tinh thần. Giống như Thánh Gregory thành Narek, người đã cầu nguyện: Lạy Chúa, “xin nhớ đến… những người trong nhân loại là kẻ thù của chúng con, nhưng vì họ, xin ban cho họ sự tha thứ và lòng thương xót”. Với tầm nhìn xa mang tính tiên tri, ngài nói thêm: “Xin đừng tiêu diệt những kẻ ngoạm hàm con, mà hãy biến đổi chúng! Xin hãy xua đuổi những hành vi xấu xa phàm tục và gieo trồng những điều tốt đẹp trong con và trong họ” (Book of Lamentations, LXXXIII).
    Thưa các anh em, cùng với các linh mục, phó tế, những người sống đời thánh hiến và tất cả các tín hữu trong Giáo hội của anh em, anh em có một trách nhiệm lớn lao. Thánh Gregory the Illuminator đã mang ánh sáng của Chúa Kitô đến cho người dân Armenia, những người đầu tiên chào đón ánh sáng đó vào lịch sử của họ. Do đó, anh em là những chứng nhân và có thể nói là “con đầu lòng” của ánh sáng đó, là bình minh được kêu gọi để chiếu rọi những tia sáng tiên tri Kitô giáo trong một thế giới thường thích bóng tối của hận thù, chia rẽ, bạo lực và báo thù. Anh em có thể nhắc nhở tôi rằng Giáo hội của anh em con số dân không được mấy. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng Thiên Chúa thích làm những điều kỳ diệu với những người nhỏ bé. Theo nghĩa này, xin hãy quan tâm đến những người bé mọn và người nghèo, bằng cách nêu gương đời sống Tin Mừng, rời xa khỏi sự hào hoa của giàu sang và kiêu ngạo của quyền lực, bằng cách chào đón những người tị nạn và hỗ trợ những người sống tản mác như anh chị em và con cái mình.
    Tôi muốn chia sẻ với các anh em một điều khác mà tôi thấy là một ưu tiên: hãy cầu nguyện nhiều, ít ra là duy trì nhãn giới nội tâm giúp anh em có thể làm việc trong sự hài hòa khi biện phân được những ưu tiên của Tin Mừng, những ưu tiên thiết thân của Chúa. Ngạn ngữ Latin cổ có câu: “Hãy giữ gìn trật tự và trật tự sẽ bảo vệ bạn”. Hãy cẩn thận để Thượng hội đồng của anh em được chuẩn bị tốt; các vấn đề được nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá sáng suốt; và các quyết định đó, luôn luôn và chỉ nhằm đến lợi ích của các linh hồn, được áp dụng và thử nghiệm một cách thận trọng, nhất quán và khả thể, trên hết đảm bảo sự minh bạch hoàn toàn, cả trong lĩnh vực tài chính. Luật pháp phải được biết đến và áp dụng không phải vì tinh thần luật pháp mà bởi vì chúng là công cụ của giáo hội cho phép ngay cả những người không có chức quyền khiếu nại lên Giáo hội với các quyền được quy định rõ ràng và đầy đủ, và không thấy mình bị chi phối bởi kẻ có quyền lực.
    Một tư tưởng nữa tôi muốn bộc bạch và trao phó cho anh em liên quan đến việc chăm sóc mục vụ cho ơn gọi. Trong thế giới tục hóa của chúng ta ngày nay, các chủng sinh và những người được đào tạo trong đời sống tu trì, hơn bao giờ hết, cần phải đặt nền tảng vững chắc trên đời sống Kitô giáo thực sự, tránh xa mọi “thái độ vương giả”. Cũng vậy, các linh mục, đặc biệt là các linh mục trẻ, cần cảm thấy gần gũi với các Giám mục của mình, những người thúc đẩy sự hiệp thông huynh đệ, để họ không nản lòng trước những khó khăn mà thay vào đó mỗi ngày trở nên ngoan ngoãn trước sự sáng tạo của Chúa Thánh Thần, bằng cách phục vụ Dân Chúa với niềm vui phát sinh từ đức ái, chứ không phải với thái độ cứng cỏi, vô cảm của bọn quan liêu. Trong mọi việc, chúng ta hãy nuôi dưỡng niềm hy vọng: dù cho lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, chúng ta hãy trông cậy vào Chúa, Đấng làm nên những điều kỳ diệu nơi những ai tin tưởng vào Người.
    Anh em thân mến,
    Cuối cùng, không làm sao mà không nghĩ đến Armenia, không chỉ bằng lời nói và trên hết bằng lời cầu nguyện của chúng ta, cách riêng cho tất cả những người đang chạy trốn khỏi Nagorno-Karabakh và cho nhiều gia đình đang phải di tản tìm nơi ẩn náu. Bao nhiêu cuộc chiến là bấy nhiêu đau khổ. Chiến tranh thế giới thứ nhất tưởng là lần cuối cùng, dẫn đến việc thành lập Hội Quốc Liên[1], “tiền thân” của Liên Hợp Quốc, với niềm tin rằng điều này sẽ đủ để gìn giữ món quà hòa bình. Tuy nhiên, kể từ đó, chúng ta đã chứng kiến ​​biết bao cuộc xung đột và thảm sát, luôn bi thảm và vô nghĩa. Tôi thường nài nỉ: “thôi đủ rồi!” Tất cả chúng ta hãy cất lên tiếng kêu vì hòa bình, để nó có thể chạm đến những con tim, thậm chí cả những con tim không bị ảnh hưởng bởi nỗi đau khổ của người nghèo và người thấp hèn. Và trên hết chúng ta hãy cầu nguyện. Tôi cầu nguyện cho anh em và cho Armenia và tôi xin anh em hãy cầu nguyện cho tôi! Tôi cám ơn sự hiện diện và thừa tác vụ của anh em.
    Trước khi ban phép lành, tôi muốn đọc lời cầu nguyện của Thánh Nerses. Tôi xin anh em cùng cầu nguyện với tôi, chờ đợi ngày mà, nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ có thể tôn vinh Ngài trên cùng một bàn thờ với anh chị em của chúng ta trong Giáo hội Tông truyền Armenia: “Lạy Chúa toàn năng, xin thương xót tất cả những ai tin vào Chúa; những người thân của con và những người xa lạ với con; tất cả những người con biết và chưa biết; người sống lẫn kẻ chết; Xin cũng tha thứ cho kẻ thù của con, những người ghét con, tha thứ cho những tội họ đã phạm chống lại con và giải thoát họ khỏi ác ý mà họ gây ra cho con, để họ trở nên xứng đáng với lòng thương xót của Chúa. Xin thương xót các thụ tạo của Chúa và thương xót con, một kẻ muôn phần tội lỗi” (I Confess with Faith, The 24 Prayers, XXIII).
    ———————————
    [1] {ND} : Hội Quốc Liên (liên minh các quốc gia được thành lập năm 1920 để gìn giữ hoà bình thế giới và tăng cường hợp tác. Sau này Hội được thay bằng Liên Hiệp Quốc – thành lập năm 1946. Chủ tịch đầu tiên của Hội Quốc Liên là Woodrow Wilson sau Thế Chiến I, và Hoa Kỳ không bao giờ tham gia hội này. Từ thập kỷ 30, hội dần dần không còn ảnh hưởng nữa.)
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 11: Hành động nhân đức

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 11: Hành động nhân đức

    Bài giáo lý của Đức Thánh Cha Phanxicô về những tật xấu và các nhân đức. 
    Bài 11: Hành động nhân đức
     

    Vatican Media

    Anh chị em thân mến!
    Sau khi kết thúc phần tổng quan về các tật xấu, đến lúc chúng ta nhìn sang bức tranh phản chiếu, đối lập với kinh nghiệm về sự dữ. Tâm hồn con người có thể chiều theo những đam mê xấu xa, có thể nghe theo những cám dỗ có hại được ngụy trang dưới lớp vỏ thuyết phục, nhưng nó cũng có thể chống lại tất cả những điều này. Dù điều này có mệt mỏi thế nào đi chăng nữa, con người vẫn được tạo ra để làm điều tốt, thực hiện điều tốt thực sự và con người thậm chí rèn luyện nghệ thuật này, khiến một số khuynh hướng sẽ trở nên thường trực trong con người chúng ta. Suy tư quanh khả năng tuyệt vời này của chúng ta tạo thành một chương cổ điển của triết học đạo đức: chương về nhân đức.
    Các triết gia người Rôma gọi nó là virtus, các triết gia Hy Lạp gọi là aretè. Thuật ngữ Latinh trước hết nhấn mạnh rằng người nhân đức là người mạnh mẽ, can đảm có khả năng kỷ luật và khổ hạnh. Vì vậy, việc thực hành các nhân đức là thành quả của một quá trình nảy mầm lâu dài, đòi hỏi nổ lực và thậm chí là đau khổ. Từ aretè trong tiếng Hy Lạp biểu thị điều gì đó vượt trội, điều gì đó nổi bật, khơi dậy sự ngưỡng mộ. Vì vậy, người có nhân đức là người không bị biến dạng do xuyên tạc mà trung thành với ơn gọi của mình và nhận thức đầy đủ về chính mình.
    Chúng ta sẽ lạc lối nếu nghĩ rằng các vị thánh là những ngoại lệ của nhân loại: một nhóm nhỏ hạn chế sống vượt quá giới hạn của loài người chúng ta cách vô địch. Tuy nhiên, các vị thánh, theo quan điểm mà chúng ta vừa giới thiệu về các nhân đức, là những người trở thành chính mình một cách trọn vẹn, hoàn thành ơn gọi của riêng mình. Một thế giới thật sự hạnh phúc nếu trong đó công lý, sự tôn trọng và lòng nhân hậu trao đổi cho nhau, tinh thần rộng mở và hy vọng là những điều bình thường được chia sẻ chứ không phải là điều bất thường hiếm gặp! Đây là lý do tại sao chương về hoạt động nhân đức, trong thời gian đầy bi kịch này của chúng ta, nơi chúng ta thường phải đối mặt với những điều tồi tệ nhất của nhân loại, cần được mọi người tái khám phá và thực hành. Trong một thế giới méo mó, chúng ta phải nhớ đến hình dáng mà chúng ta đã được tạo dựng, hình ảnh của Chúa đã in sâu trong chúng ta mãi mãi.
    Nhưng chúng ta có thể định nghĩa khái niệm về nhân đức như thế nào? Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đưa ra cho chúng ta một định nghĩa chính xác và súc tích: “Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện” (GLCG 1803). Do đó, nó không phải là một điều tốt ngẫu hứng và có chút tình cờ, từ trên trời rơi xuống cách rời rạc. Lịch sử cho chúng ta biết rằng ngay cả những tên tội phạm, trong một khoảnh khắc sáng suốt, cũng đã làm được việc tốt; chắc chắn những hành động này đã được viết trong cuốn “sách của Chúa”, nhưng nhân đức lại là một điều khác. Đó là một điều tốt phát sinh từ sự trưởng thành tiệm tiến của con người cho đến khi nó trở thành một đặc tính bên trong. Nhân đức là một thói quen của tự do. Nếu chúng ta được tự do trong mọi hành động và mỗi khi được mời gọi lựa chọn giữa thiện và ác thì nhân đức chính là điều giúp chúng ta có thói quen hướng tới sự lựa chọn đúng đắn.
    Nếu nhân đức là một món quà đẹp đẽ như vậy thì ngay lập tức nảy sinh một câu hỏi: làm sao có thể có được nó? Câu trả lời cho câu hỏi này không đơn giản, nó phức tạp.
    Đối với người Kitô hữu, sự trợ giúp đầu tiên là ân sủng của Thiên Chúa. Thực ra nhờ Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta là những người đã được rửa tội, Ngài hoạt động trong tâm hồn chúng ta để dẫn đưa chúng ta đến đời sống nhân đức. Nhiều Kitô hữu đã đạt được sự thánh thiện qua nước mắt, khi nhận ra rằng họ không thể khắc phục được một số điểm yếu của mình! Nhưng họ trải nghiệm rằng Chúa đã hoàn thành công việc tốt đẹp đó mà đối với họ chỉ là một bản phác thảo. Ân sủng luôn đi trước cam kết đạo đức của chúng ta.
    Hơn nữa, chúng ta không bao giờ được quên bài học rất phong phú đã đến với chúng ta từ sự khôn ngoan của người xưa dạy chúng ta biết rằng nhân đức sẽ phát triển và có thể trau dồi được. Và để điều này xảy ra, ơn đầu tiên cần cầu xin Chúa Thánh Thần là sự khôn ngoan. Con người không phải là một lãnh thổ tự do để chinh phục những thú vui, cảm xúc, bản năng, đam mê mà không thể làm bất cứ điều gì để chống lại những thế lực này, có khi hỗn loạn, đang chế ngự trong ta. Món quà vô giá mà chúng ta sở hữu đó là sự cởi mở, đó là sự khôn ngoan biết rút kinh nghiệm từ những sai lầm để hướng tới cuộc sống tốt đẹp. Sau đó, cần có thiện chí: khả năng lựa chọn điều tốt, rèn luyện bản thân bằng cách thực hành khổ hạnh, tránh thái quá.
    Anh chị em thân mến, đây là cách chúng ta bắt đầu hành trình nhân đức, trong vũ trụ thanh bình này, một vũ trụ có vẻ đầy thử thách nhưng có tính quyết định đối với hạnh phúc của chúng ta.
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 10: Tính kiêu ngạo

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 10: Tính kiêu ngạo

    Bài giáo lý của Đức Thánh cha Phanxicô về những tật xấu và các nhân đức.
    Bài 10: Tính kiêu ngạo
    Vatican Media

    Anh chị em thân mến,
    Trong hành trình các bài giáo lý về những tật xấu và các nhân đức, hôm nay chúng ta nói đến tật xấu cuối cùng: tính kiêu ngạo. Người Hy Lạp cổ đại đã định nghĩa nó bằng một từ, có thể dịch là “huy hoàng thái quá”. Thực vậy kiêu ngạo là tự đề cao mình, tự phụ, phù phiếm. Từ này cũng xuất hiện trong loạt các tật xấu mà Chúa Giêsu liệt kê để giải thích rằng sự ác luôn phát xuất từ tâm hồn con người (x. Mc 7, 22). Người kiêu ngạo là người nghĩ rằng mình giỏi hơn nhiều so với thực tế, là người háo hức muốn được thừa nhận mình hơn người khác, luôn muốn thấy công lao của mình được công nhận và khinh thường người khác, coi họ thấp kém hơn.
    Từ diễn tả đầu tiên này, chúng ta thấy thói kiêu ngạo rất gần với tính tự dương tự đắc mà chúng ta đã trình bày trong bài trước. Tuy nhiên, nếu kiêu ngạo là căn bệnh của bản ngã con người, nó vẫn là một căn bệnh trẻ con khi so sánh với khả năng tàn phá mà kiêu ngạo có thể gây ra. Khi phân tích sự điên rồ của con người, các tu sĩ cổ đại đã nhận ra một trật tự nhất định trong chuỗi các điều xấu: bắt đầu từ những tội ghê tởm nhất, chẳng hạn như háu ăn cho đến những quái vật đáng lo ngại nhất. Trong tất cả các tật xấu thì kiêu ngạo là nữ hoàng vĩ đại. Không phải ngẫu nhiên mà trong Thần khúc, Dante đặt nó ngay vào tầng luyện ngục đầu tiên: người nhượng bộ tật xấu này đều ở xa Chúa, và việc sửa đổi tật xấu này đòi hỏi thời gian và nhiều công sức hơn bất kỳ cuộc chiến nào khác mà người Kitô hữu được kêu gọi.
    Thực ra, bên trong sự ác này ẩn chứa tội lỗi căn bản, là tuyên bố muốn giống như Thiên Chúa. Tội của nguyên tổ chúng ta được kể trong sách sáng thế, xét cho cùng đó là tội kiêu ngạo. Tên cám dỗ nói: “Ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên giống như Thiên Chúa” (St 3,5). Các tác giả về linh đạo chú trọng vào việc mô tả những hậu quả của tính kiêu ngạo trong cuộc sống hàng ngày, để minh họa cách nó hủy hoại các mối quan hệ giữa con người với con người, để nêu bật cái ác này đầu độc tình huynh đệ mà lẽ ra phải hợp nhất con người như thế nào.
    Sau đây là danh sách dài các triệu chứng cho thấy một người đang sa vào thói kiêu ngạo. Đó là một tội ác với biểu hiện thể lý rõ ràng: kiêu ngạo là một người tự phụ, “cứng cổ”, tức là cái cổ không cúi xuống được. Đó là một người có xu hướng xét đoán khinh người: tự dưng anh ta đưa ra những câu nói không thể thay đổi đối với những người khác, những người mà đối với anh ta dường như là những người kém cỏi và không có khả năng bào chữa. Trong sự kiêu ngạo của mình, chúng ta quên rằng trong Tin mừng Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta rất ít điều luật đạo đức, nhưng Ngài tỏ ra không khoan nhượng đối với một trong số điều luật đó : đừng bao giờ phán xét. Bạn nhận ra rằng mình đang đối mặt với một người kiêu ngạo khi đưa ra một lời chỉ trích nhẹ nhàng mang tính xây dựng hoặc một nhận xét hoàn toàn vô hại, anh ta phản ứng một cách quá đáng, như thể ai đó đã làm hại sự uy nghi của anh: anh ta nổi cơn thịnh nộ, la hét, cắt đứt mối quan hệ với người khác một cách bực bội.
    Không có nhiều cách để ta có thể làm được với một người mắc bệnh kiêu ngạo. Không thể nói chuyện với họ, càng không thể sửa sai họ, để rồi vào một ngày họ không còn hiện diện với chính mình nữa. Bạn chỉ cần kiên nhẫn với người đó, vì đến một ngày nào đó tòa nhà của họ sẽ sụp đổ. Tục ngữ Ý có câu: “Kiêu ngạo đi bằng ngựa và trở về bằng đôi chân”. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu phải đối mặt với nhiều người kiêu ngạo, và Ngài thường vạch trần tật xấu này ngay cả với những người giấu rất kín. Thánh Phêrô tự hào khoe trương lòng trung thành của mình: “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã” (x Mt 26,33). Thế nhưng, Phêrô sớm trải nghiệm như những người khác, ông quá sợ hãi khi đối mặt với cái chết và ông không tưởng tượng được nó có thể quá gần đến như vậy. Và rồi Phêrô thứ hai, người không ngước cằm lên mà rơi những giọt lệ mặn chát, sẽ được Chúa Giêsu chữa lành và cuối cùng cũng đủ sức mang gánh nặng của Giáo hội. Trước đây Phêrô đã tỏ ra khoe khoang mà lẽ ra không cần phải phô trương, thay vào đó, giờ đây ngài là một môn đệ trung thành, như trong dụ ngôn, ông chủ có thể giao phó việc “quản lý mọi tài sản của ông” (Lc 12,44).
    Ơn cứu rỗi đến từ sự khiêm nhường, phương thuốc thực sự cho mọi hành vi kiêu ngạo. Trong bài Magnificat, Đức Maria ca ngợi Thiên Chúa, Đấng bằng quyền năng của mình xua trừ những kẻ kiêu căng với những ý nghĩ bệnh hoạn của tâm hồn họ. Việc cướp đoạt bất cứ điều gì từ Chúa là vô ích, như nhưng kẻ kiêu ngạo hy vọng thực hiện, bởi vì suy cho cùng thì Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta mọi thứ. Vì thế, Tông đồ Giacôbê, trước cộng đoàn của mình bị tổn thương bởi những cuộc đấu tranh nội bộ bắt nguồn từ lòng kiêu ngạo, ngài viết: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân sủng cho kẻ khiêm nhường” (Gc 4,6)…
    Vì thế, anh chị em thân mến, chúng ta hãy tận dụng Mùa Chay này để chiến đấu chống lại tính kiêu ngạo của mình.
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 9: Ghen tị và kiêu ngạo

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 9: Ghen tị và kiêu ngạo

    Bài giáo lý hàng tuần của Đức Thánh cha Phanxicô về những tật xấu và các nhân đức.
     
    Bài 9: Ghen tị và kiêu ngạo
    Vatican Media
    Anh chị em thân mến
    Hôm nay chúng ta xem xét hai tật xấu chết người mà chúng ta thấy trong các bản liệt kê lớn mà truyền thống tâm linh đã để lại cho chúng ta: ghen tị và kiêu ngạo.
    Chúng ta bắt đầu với ghen tị. Nếu đọc trong Kinh thánh (x. St 4), chúng ta thấy dường như nó là một tật xấu lâu đời nhất: lòng căm thù của Cain đối với Abel bùng lên khi anh ta nhận ra rằng những hy sinh của em mình đều đẹp lòng Chúa. Cain là con đầu lòng của Adam và Eva, là người đã hưởng phần gia tài đáng kể của cha mình. Tuy nhiên, chỉ cần một chút thành công của người em mình là Abel cũng khiến cho Cain trở nên buồn rầu. Vẻ mặt của người ghen tị luôn buồn rầu: ánh mắt cúi xuống, có vẻ anh ta liên tục thăm dò mặt đất, nhưng thực ra anh không thấy gì cả, bởi vì tâm trí của anh bị che lấp bởi những tư tưởng xấu xa. Ghen tị, nếu không được kiểm soát, nó dẫn đến sự căm ghét người khác. Abel bị giết bởi tay Cain, kẻ không chịu đựng nổi hạnh phúc của em mình.
    Ghen tị là một tội ác được nghiên cứu không chỉ trong môi trường kitô giáo: nó đã thu hút sự chú ý của các triết gia và các học giả thuộc mọi nền văn hóa. Về cơ bản, có một mối tương quan giữa yêu và ghét. Bạn muốn sự ác cho người khác, nhưng bạn đang thầm muốn giống như người đó. Tha nhân là sự tỏ mình của điều mà chúng ta muốn sẽ trở thành, và thực tế thì chúng ta không phải như vậy. Sự may mắn của người khác dường như là sự bất công đối với chúng ta: chắc chắn – chúng ta nghĩ – mình xứng đáng nhận được những thành quả hoặc vận may tốt đẹp hơn người đó.
    Căn nguyên của tật xấu này chính là ý niệm sai lầm về Thiên Chúa: chúng ta không chấp nhận rằng Thiên Chúa có “phép toán” của Ngài và nó khác với chúng ta. Ví dụ, trong dụ ngôn của Chúa Giêsu và những người thợ được ông chủ gọi đi làm vườn nho cho ông vào những giờ khác nhau trong ngày. Những người đến trước tin rằng họ được trả lương cao hơn những người đến sau cùng. Nhưng ông chủ trả lương cho tất cả mọi người như nhau và ông nói: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20, 15). Chúng ta muốn áp đặt cái luận lý ích kỷ của mình lên Thiên Chúa, trái lại luận lý của Thiên Chúa là tình yêu. Những của cải mà Chúa ban cho chúng ta được dùng để chia sẻ. Đó là lý do tại sao thánh Phaolô khích lệ các Kitô hữu: “Anh em hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12, 10). Đây là phương thuốc cho sự ghen tị!
    Chúng ta chuyển sang tật xấu thứ hai mà chúng ta xem xét hôm nay: kiêu ngạo. Nó song hành với con quỷ ghen tỵ, và cả hai tật xấu này đều tiêu biểu cho người đang khát vọng trở thành trung tâm của thế giới, tự do bóc lột mọi thứ và mọi người, đối tượng của mọi lời khen ngợi và yêu mến. Kiêu ngạo là thổi phồng lòng tự trọng và vô căn cứ. Người kiêu căng sở hữu một “cái tôi” cồng kềnh: không có sự đồng cảm và không nhận rằng trên thế giới này ngoài mình ra còn có người khác nữa. Các mối quan hệ của người đó luôn mang tính công cụ, được đánh dấu bởi sự áp bức người khác. Con người của anh ta, những chiến công, thành công của anh ta phải được cho mọi người thấy: mãi mãi anh luôn là kẻ ăn mày sự chú ý. Và nếu đôi khi những phẩm chất của anh ta không được thừa nhận tức thì anh ta trở nên giận dữ. Những người khác thật bất công, họ không hiểu, không xứng tầm. Evagrius Ponticus, trong một bài viết của mình đã mô tả câu chuyện cay đắng của một số tu sĩ bị trừng phạt vì kiêu căng. Chuyện xảy ra là sau những thành công đầu tiên trong đời sống thiêng liêng, vị đó cảm thấy mình đã đến đích, và rồi anh lao vào thế giới để nhận được lời khen ngợi. Nhưng anh ta không hiểu rằng anh chỉ mới bắt đầu lộ trình thiêng liêng, và cơn cám dỗ rình rập sớm khiến anh ta sa ngã.
    Để chữa lành kẻ kiêu ngạo, các bậc thầy tâm linh không đưa ra nhiều phương thuốc. Bởi vì, xét cho cùng chứng kiêu ngạo tự nó có phương thuốc để chữa trị: những lời khen ngợi mà kẻ kiêu căng hy vọng gặt hái được trên thế gian sớm sẽ quay lưng lại với anh ta. Và biết bao nhiêu người bị lừa phỉnh bởi hình ảnh sai lầm về bản thân, sau đó đã rơi vào những lỗi lầm mà họ sớm sẽ xấu hổ.
    Hướng dẫn hay nhất để thắng vượt thói kiêu căng có thể tìm thấy nơi chứng từ của thánh Phaolô. Vị Tông đồ luôn phải đối mặt với một khuyết điểm mà ngài không bao giờ có thể khắc phục được. Ba lần cầu xin Chúa giải cứu ngài khỏi đau khổ ấy, nhưng cuối cùng Chúa Giêsu đã trả lời: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”. Từ ngày đó Phaolô được thả tự do. Và kết luận của ngài cũng phải là của chúng ta : “Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi” (2 Cor 12:9).
    G. Võ Tá Hoàng
  • Vatican cảnh báo các linh mục về việc sửa đổi công thức các bí tích

    Vatican cảnh báo các linh mục về việc sửa đổi công thức các bí tích

    Ruslan Lytvyn | Shutterstock
    I.Media
     
    Giáo hội hoan nghênh sự sáng tạo trong công việc mục vụ, nhưng không được động đến nội dung và hình thức của các bí tích.
    Trong một bản ghi chú có tựa đề Gestis Verbisque – “Bằng cử chỉ và lời nói” – được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn và công bố vào ngày 3 tháng 2 năm 2024, Bộ Giáo lý Đức tin nhắc nhở các linh mục rằng họ không thể tự ý thay đổi phụng vụ, vì điều này có thể làm cho bí tích trở nên “vô hiệu”.
    Tòa thánh khẳng định rằng bất kỳ sự sáng tạo nào trong lời nói hoặc hình thức của các bí tích “luôn luôn là một hành vi bất hợp pháp nghiêm trọng và đáng chịu hình phạt cảnh cáo”.
    Khi trình bày bản ghi chú dài 10 trang này, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, Đức Hồng Y Víctor Manuel Fernández, giải thích rằng các thành viên của Bộ đã nhất trí phê chuẩn tài liệu tại phiên họp khoáng đại của họ vào ngày 25 tháng 1.
    Đức Hồng Y Fernández cho biết, bản ghi chú này nhằm mục đích đáp lại “sự gia tăng” các tình huống liên quan đến “những sửa đổi nghiêm trọng” đối với phụng vụ khiến một số bí tích trở nên “vô hiệu”, buộc nghi thức phải được thực hiện lại.
    Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin đề cập cụ thể đến bí tích rửa tội trong đó các linh mục đã sửa đổi công thức đã được thiết lập, chẳng hạn như tuyên bố: “Cha rửa con nhân danh Đấng Tạo Hóa…”, hoặc “Nhân danh cha và mẹ … chúng tôi rửa tội cho con”.
    Vào ngày 6 tháng 8 năm 2020, đứng đầu Thánh Bộ khi đó là Đức Hồng Y Luis Ladaria Ferrer, đã công bố phán quyết về tính vô hiệu của các lễ rửa tội được cử hành với bất kỳ sự thay đổi nào trong công thức.
    Về sau này, các linh mục, “những người được rửa tội bằng những công thức theo kiểu này, đã đau đớn khám phá ra sự vô hiệu của việc truyền chức và các bí tích mà họ đã cử hành”, Đức Hồng Y Fernández nói.
    Nhắc nhở các thừa tác viên chống lại “cám dỗ cảm thấy mình là chủ nhân của Giáo hội” hoặc “mong muốn thao túng”, Bộ Giáo Lý Đức Tin khẳng định rằng “việc sửa đổi hình thức hoặc nội dung của một bí tích luôn là hành vi bất hợp pháp nghiêm trọng và đáng phải chịu phạt cảnh cáo”.
    Đức Hồng Y Fernández giải thích rằng “trong khi ở các lĩnh vực hoạt động mục vụ khác của Giáo hội, có rất nhiều chỗ cho sự sáng tạo” thì trong lĩnh vực cử hành bí tích, thay vào đó, lại biến thành “ý chí thao túng”.
    Thẩm quyền của Giáo hội
    Tài liệu gồm 29 đoạn nhắc nhở rằng việc hệ thống hóa phụng vụ là đặc quyền của các cơ quan có thẩm quyền của Giáo hội và không thể phụ thuộc vào sáng kiến ​​cá nhân. Khi đề xuất sự phát triển thần học về bản chất của các bí tích, Rôma kiềm chế không áp dụng “chữ đỏ cứng nhắc”, nhưng không dành chỗ cho “óc sáng tạo” hay “sáng tạo thoải mái”.
    Bản ghi chú thừa nhận, trong khi phụng vụ có thể chấp nhận sự “thích nghi”, tùy thuộc vào nền văn hóa nơi nó diễn ra, tuy nhiên, nó vẫn là “một kỷ luật cần được tôn trọng”.
    Các linh mục được kêu gọi bảo vệ “các yếu tố thiết yếu của các bí tích” trong “sự trung thành hoàn toàn với các nghi thức đã được quy định”, để đảm bảo “tính hiệu lực” và “sự hiệp nhất” của Giáo hội.
    G. Võ Tá Hoàng
  • Xin dạy chúng con cầu nguyện

    Xin dạy chúng con cầu nguyện

    Xin dạy chúng con cầu nguyện: là tiêu đề của tập tài liệu trợ giúp được Bộ Truyền giáo chuẩn bị nhân dịp Năm Cầu nguyện, được Đức Thánh Cha Phanxicô công bố để chuẩn bị cho Năm Thánh 2025.
    Tài liệu này có sẵn và bạn có thể tải xuống miễn phí ở phiên bản kỹ thuật số trên trang web www.iubilaeum2025.va. Cuốn sách nhỏ, lấy cảm hứng từ huấn quyền của Đức Thánh Cha, mục đích trở thành lời mời gia tăng việc cầu nguyện như một cuộc đối thoại cá nhân với Thiên Chúa, để dẫn đến việc suy tư về đức tin của mình, về sự dấn thân trong thế giới ngày nay, trong những môi trường khác nhau mà chúng ta được mời gọi sống. Tài liệu này nhằm mục đích đưa ra những suy tư, chỉ dẫn và lời khuyên để sống trọn vẹn hơn cuộc đối thoại với Chúa, trong mối quan hệ với người khác. Bằng cách này, cầu nguyện trở thành “la bàn” để định hướng cuộc lữ hành sẽ dẫn đến việc đi qua Cánh Cửa Thánh Năm Thánh.
    Tài liệu trợ giúp này bao gồm các phần dành riêng cho việc cầu nguyện trong các cộng đồng giáo xứ và gia đình, những phần khác dành riêng cho giới trẻ, các cộng đoàn tu viện, cho việc dạy giáo lý và tĩnh tâm. Văn bản này có thể được tải xuống bằng tiếng Ý trên trang web Năm Thánh.
    Các phiên bản bằng tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh và Ba Lan cũng sẽ sớm được phổ biến.
    Sáng kiến ​​này là một phần trong chuỗi các công cụ và trợ giúp hữu ích mà Bộ đã cung cấp để đồng hành cùng các cộng đoàn Kitô giáo và mỗi một tín hữu trong quá trình chuẩn bị cho Năm Thánh.
    G. Võ Tá Hoàng