Danh mục: Tin Giáo hội
-

Để đào tạo các tu sĩ nam nữ và chủng sinh
“Đào tạo các tu sĩ nam nữ và chủng sinh”. Đây là ý hướng được Đức Phanxicô đề xuất trong tháng 5 và được Mạng lưới Cầu nguyện Thế giới của Đức Thánh Cha phổ biến bằng video trên trang web www.thepopevideo.org và qua ứng dụng Clik To Pray.“Mỗi ơn gọi là một “viên kim cương dạng thô” cần được đánh bóng, gia công, tạo hình trong mọi góc cạnh của nó”. Đức Thánh Cha đã dùng phép ẩn dụ này để giới thiệu chủ đề về đào tạo, không chỉ là học hỏi kiến thức mà còn là một trải nghiệm về cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu.Đoạn phim ngắn mở đầu bằng hình ảnh những thanh niên nam nữ tươi cười chuẩn bị trở thành linh mục và tu sĩ. Họ đắm chìm trong các hoạt động liên đới khác nhau, hoặc được quay trong những khoảnh khắc cầu nguyện chung, học tập, giải trí hoặc khi tham dự Thánh Lễ. Những cảnh quay – được quay tại tổng giáo phận Los Angeles – nhằm mục đích truyền tải vẻ đẹp của ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến.Việc đào tạo là một hành trình liên tục và theo nghĩa này, Đức Thánh Cha nhắc nhở, “một linh mục tốt, một tu sĩ tốt, trước hết phải là một con người được đào tạo, uốn nắn bởi ân sủng của Chúa”. Và họ phải là “những người nhận thức được những giới hạn của mình, sẵn sàng sống đời cầu nguyện, dâng hiến để làm chứng cho Tin Mừng”. Đức Thánh Cha tiếp tục, sự chuẩn bị của họ “phải toàn diện, nó phải phát triển ngay từ chủng viện và tập viện, trong sự tiếp xúc trực tiếp với cuộc sống của người khác. Đây là điều cơ bản”.Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến một khía cạnh rất quan trọng khác: “Việc đào tạo không kết thúc vào một thời điểm cụ thể, nhưng tiếp tục đến trọn đời, qua nhiều năm, làm phong phú con người về mặt trí tuệ, nhân bản, tình cảm, đời sống thiêng liêng”. Cũng thế, «sự chuẩn bị cho đời sống cộng đoàn: đời sống cộng đoàn rất phong phú, ngay cả khi có thể khó khăn. Bởi vì đời sống chung và sống trong cộng đoàn không giống nhau”. Do đó, Đức Thánh cha mời gọi mọi người cầu nguyện để các tu sĩ nam nữ và chủng sinh “phát triển hành trình ơn gọi của họ thông qua việc đào tạo nhân bản, mục vụ, tâm linh và cộng đoàn, dẫn đưa họ trở thành những chứng nhân đáng tin cậy của Tin Mừng”.Đoạn video được quay với sự cộng tác của Tổng Giáo phận Los Angeles, nơi có nhiều chuyên gia khác nhau đang phục vụ Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Thánh Cha để truyền đạt ý cầu nguyện hàng tháng hữu hiệu nhất. Được dịch sang 23 thứ tiếng và được báo chí ở 114 quốc gia đăng tải, video — cũng nhận được sự hỗ trợ từ Hallow, một ứng dụng cầu nguyện ra đời ở Hoa Kỳ — do Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu phối hợp với La Machi và Bộ Truyền thông của Tòa thánh tạo ra và phổ biến.G. Võ Tá Hoànghttps://www.osservatoreromano.va/ -

Những tật xấu và các nhân đức. Bài 15: Lòng dũng cảm
Bài giáo lý về “những tật xấu và các nhân đức” của ĐTC Phanxicô.Bài 15. Lòng dũng cảm.Bài giáo lý hôm nay nói về nhân đức cột trụ thứ ba, đó là lòng dũng cảm. Chúng ta hãy bắt đầu từ diễn tả của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo: “Can đảm là nhân đức luân lý giúp chúng ta kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời. Nó củng cố sự quyết tâm chống lại các cám dỗ và vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý. Đức can đảm giúp chúng ta có khả năng chiến thắng sự sợ hãi, thậm chí cả sự chết, đương đầu với sự thử thách và các cuộc bách hại” (số 1808). Đây là những gì Giáo lý của Hội thánh Công giáo nói về nhân đức dũng cảm.Vì vậy đây là nhân đức hiếu chiến nhất trong số các nhân đức. Nếu nhân đức cột trụ đầu tiên, cụ thể là khôn ngoan, gắn liền với lý trí con người; trong khi công bình tìm thấy nơi cư ngụ của nó trong ý chí thì nhân đức thứ ba dũng cảm này thường được các tác giả kinh viện liên kết với điều mà người xưa gọi là “thèm muốn nộ tính”. Tư tưởng cổ xưa không hình dung được một con người mà không có những đam mê: nếu không người đó chỉ là hòn đá. Và người ta nói rằng đam mê không nhất thiết là cặn bã của tội lỗi. Tuy nhiên họ cần được giáo dục, được hướng dẫn, được thanh tẩy bằng nước của Bí tích Rửa tội, hoặc đúng hơn là bằng lửa của Thánh Thần. Một Kitô hữu không có lòng can đảm, không dồn sức lực vào điều tốt, không gây phiền muộn cho ai là một Kitô hữu vô dụng. Chúng ta hãy suy nghĩ về điều này! Chúa Giêsu không phải là một Thiên Chúa khổ hạnh, không biết đến cảm xúc của con người. Ngược lại, khi đối mặt với cái chết của người bạn là Lazarô Chúa đã bật khóc; và tinh thần say mê của Ngài được thể hiện rõ qua một số diễn đạt chẳng hạn như khi Ngài nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49); và khi đối mặt với việc buôn bán trong đền thờ, Ngài đã phản ứng một cách mạnh mẽ (xem Mt 21,12-13). Chúa Giêsu có niềm say mê.Nhưng bây giờ chúng ta hãy tìm kiếm một mô tả hiện sinh về nhân đức rất quan trọng này, nó giúp chúng ta sinh hoa trái trong cuộc sống. Người xưa – cả các triết gia Hy Lạp lẫn các nhà thần học Kitô giáo – đã nhận ra một xu hướng kép trong nhân đức dũng cảm, một thụ động và một chủ động.Trước hết là hướng vào bên trong chúng ta. Có những kẻ thù nội tại mà chúng ta cần phải đánh bại, chúng mang tên lo lắng, thống khổ, sợ hãi, lỗi lỗi: tất cả các thế lực khuấy động trong chúng ta và một vài trong số đó khiến chúng ta tê liệt. Biết bao chiến binh chịu thua trước khi họ bắt đầu thử thánh. Bởi vì họ không nhận ra những nội thù này. Sự dũng cảm trước hết là một chiến thắng chống lại chính mình. Phần lớn những nỗi sợ hãi nảy sinh trong chúng ta đều là hư ảo, không có gì là hiện thực. Tốt hơn hết hãy cầu xin Chúa Thánh Thần và đối diện với mọi sự với lòng dũng mạnh: giải quyết từng vấn đề, tùy theo khả năng của mình, nhưng không phải một mình. Thiên Chúa sẽ ở cùng chúng ta nếu chúng ta phó thác cho Ngài và chân thành tìm kiếm điều thiện. Trong mọi hoàn cảnh chúng ta có thể cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngài như khiên che, thuẫn đỡ cho chúng ta.Tiếp theo là động tác thứ hai của nhân đức dũng mạnh, lần này mang tính tích cực hơn. Ngoài những thử thách bên trong còn có những kẻ thù bên ngoài, đó là những thử thách của cuộc sống, nào là những bức bách, khó khăn mà chúng ta không ngờ tới và chúng làm cho chúng ta kinh ngạc. Thật vậy, chúng ta có thể cố gắng dự đoán điều gì sẽ xảy ra cho mình, nhưng thực tế phần lớn chúng được hình thành từ những sự kiện không thể lường trước được và ở vùng biển này, con thuyền của chúng ta đôi khi bị sóng đánh chìm. Lúc đó lòng dũng cảm khiến chúng ta trở thành những thủy thủ có khả năng chịu đựng, không sợ hãi hay nản lòng.Dũng cảm là một nhân đức căn bản vì nó nghiêm túc đối phó với sự dữ trên thế giới. Một số người giả vờ như nó không tồn tại, rằng mọi thứ đều ổn, rằng ý chí con người đôi khi không mù quáng, rằng trong lịch sử những thế lực đen tối mang đến cái chết không hề giãy giụa. Nhưng chỉ cần lướt qua một cuốn sách về lịch sử, và thậm chí là cả báo chí, để khám phá ra những hành động tàn độc mà chúng ta một phần là nạn nhân và một phần là nhân vật chính: chiến tranh, bạo lực, nô lệ, áp bức người nghèo, những vết thương chưa lành và đang rỉ máu. Nhân đức dũng cảm khiến chúng ta phản ứng và hét lên một tiếng “không”, một tiếng “không” khô khốc với tất cả những điều này. Ở thế giới phương Tây thoải mái của chúng ta, nơi mà mọi thứ có chút mờ nhạt, đã biến con đường dẫn đến sự hoàn thiện thành một sự phát triển hữu cơ đơn giản, không cần phải đấu tranh vì mọi thứ dường như giống nhau, đôi khi chúng ta cảm thấy một nỗi luyến tiếc nghiêm túc về các nhà tiên tri. Nhưng những người không đàng hoàng, biết nhìn xa trông rộng thì rất hiếm. Cần có một ai đó có thể kéo chúng ta khỏi nơi êm đềm mà chúng ta đã an cư và giúp chúng ta kiên quyết lặp lại lời “không” với sự dữ và với mọi thứ dẫn đến sự thờ ơ. Nói “Không” với cái ác và “không” với sự thờ ơ; Nói “có” để bước đi, đến con đường thúc đẩy chúng ta tiến bộ, và vì điều này chúng ta cần phải chiến đấu.Và do đó, chúng ta hãy tái khám phá lòng dũng cảm của Chúa Giêsu trong Tin Mừng, và chúng ta hãy học điều đó từ chứng từ của các vị thánh.G. Võ Tá Hoàng -

Những tật xấu và các nhân đức. Bài 14: Đức công bình
Bài giáo lý về những tật xấu và các nhân đức của ĐGH PhanxicôBài 14: Đức công bìnhAnh chị em thân mếnChúng ta đến với nhân đức thứ hai trong số các nhân đức cột trụ: Hôm nay chúng ta nói về đức công bình, là nhân đức có tính xã hội tuyệt vời. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo định nghĩa nó là : “nhân đức luân lý cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận” (số 1807). Đây là công bình. Khi nói đến công bình người ta thường trích dẫn phương châm tiêu biểu: “unicuique suum” tức là “trả lại những gì là của họ”. Đó là nhân đức của lề luật, tìm cách điều chỉnh mối tương quan với người khác bằng sự công bằng.Sự công bằng được thể hiện một cách phúng dụ bằng cáng cân, bởi vì nó nhằm mục đích “cân bằng thu chi ” giữa con người, đặc biệt là khi có nguy cơ bị bị bóp méo bởi sự thiếu cân đối. Mục tiêu của nó là để mọi người trong một xã hội được đối xử theo phẩm giá của mình. Nhưng các nhà hiền triết cổ xưa đã dạy để đạt được điều này cũng cần có những thái độ đạo đức khác khác nữa, chẳng hạn như lòng nhân từ, tôn trọng, lòng biết ơn, sự ân cần, trung thực: những đức tính này góp phần vào sự hòa hợp tốt đẹp của con người. Công bình là một đức tính cho sự chung sống tốt đẹp của con người.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng công bình là điều cơ bản cho việc sống hòa bình trong xã hội như thế nào: một thế giới không có luật tôn trọng quyền lợi sẽ là một thế giới không thể sống được, nó giống như một khu rừng hoang dã. Không có công lý, không có hòa bình. Thực ra, nếu công lý không được tôn trọng, sẽ phát sinh các xung đột. Thiếu công lý, đồng nghĩa với việc chấp nhận luật lệ áp đặt của kẻ mạnh trên kẻ yếu, và điều này không đúng.Nhưng công lý là một đức tính hoạt động cả ở quy mô lớn lẫn nhỏ: nó không chỉ áp dụng trong các phòng xử án, mà còn liên quan đến đạo đức làm nổi bật cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nó thiết lập các mối quan hệ chân thành với người khác: thực thi giới luật của Tin mừng, theo đó, lời nói của một người Kitô hữu phải là: “Có thì nói có”, “Không thì nói không”; thêm lời bịa đặt là của Ma quỷ” (Mt 5,37). Một nửa sự thật, những luận chứng tinh vi muốn lừa dối người khác, sự dè dặt giấu giếm những ý định thực sự, không phải là thái độ phù hợp với công lý. Người công bình là người trung thực, đơn giản và ngay thẳng, không đeo mặt nạ, anh ta thể hiện những gì mình có, ăn nói chân thành. Trên môi miệng người đó thường có từ “cảm ơn”: anh biết rằng, dù chúng ta cố gắng để tỏ ra quảng đại đến đâu, chúng ta vẫn luôn mắc nợ người khác. Nếu chúng ta yêu, cũng là vì chúng ta đã được yêu trước.Trong truyền thống, có thể tìm thấy rất nhiều mô tả về người công bình. Chúng ta hãy xem xét một số người. Người công bình có sự tôn trọng luật pháp và tuân thủ chúng, họ hiểu rằng chúng tạo thành một hàng rào bảo vệ những yếu đuối khỏi sự kiêu căng của quyền lực. Người công bình không chỉ quan tâm đến hạnh phúc cá nhân của mình, mà muốn điều đó cho toàn bộ xã hội. Vì vậy, anh ta không bị cám dỗ về việc chỉ nghĩ đến bản thân mình và chăm lo cho công việc cá nhân của mình, dù có hợp lý, như thể chúng là điều duy nhất tồn tại trên thế giới. Đức công bình cho thấy rõ ràng – và đặt sự cần thiết trong lòng – rằng hạnh phúc thực sự không thể có cho tôi nếu không có cả hạnh phúc của tất cả mọi người.Do đó, người công bình luôn theo sát hành vi của mình, để không gây thiệt hại cho người khác: nếu anh ấy sai, anh ấy xin lỗi. Người công bình luôn xin lỗi. Trong một số trường hợp, anh ấy thậm chí hy sinh cả lợi ích cá nhân để cộng đoàn tùy nghi sử dụng nó. Người ấy mong muốn một xã hội trật tự, nơi mà những người đứng đầu mang lại uy tín cho chức vụ, chứ không phải các chức vụ đem lại uy tín cho con người. Người ấy ghét sự gửi gắm và không thương mại ưu đãi. Người ấy yêu thích trách nhiệm và là một ví dụ trong việc sống và thúc đẩy tính hợp pháp. Thực ra, đó là con đường của công bình, thuốc chống giải độc đối với tham nhũng: cho thấy việc giáo dục con người, đặc biệt là giới trẻ, trong nền văn hóa hợp pháp là quan trọng như thế nào! Đó là cách để ngăn chặn căn bệnh ung thư tham nhũng và tiêu diệt tội phạm, bứng từ gốc rễ.Ngoài ra, người công bình tránh xa những hành vi có hại như vu khống, làm chứng dối, gian lận, cho vay nặng lãi, sỉ nhục, và không trung thực. Người công bình giữ lời hứa, trả lại những gì đã vay mượn, thừa nhận mức lương đúng đắn cho mọi lao công – một người không thừa nhận mức lương xứng hợp cho các lao công, không phải là người công bằng, mà là người bất công – cẩn thận tránh nói những lời phê phán vô căn cứ đối với người khác, bảo vệ danh thơm tiếng tốt của người khác.Không ai trong chúng ta biết liệu thế giới của chúng ta, những người công bình còn nhiều hay hiếm như những viên ngọc quý. Tuy nhiên họ là những người lôi kéo ơn sủng và phúc lành cho bản thân cũng như cho thế giới mà họ đang sống. Họ không phải là những kẻ thua cuộc so với những người “tài giỏi và mưu trí”, vì như Kinh Thánh nói: “Người theo đuổi công chính và nhân nghĩa,sẽ được sống lâu và vinh dự” (Châm ngôn 21,21). Những người ngay chính không phải là những nhà luân lý mặc bộ áo của người giám thị, mà là người ngay thẳng “đói khát sự công chính” (Mt 5,6), những người ấp ủ trong lòng mong muốn về một tình huynh đệ phổ quát. Và tất cả chúng ta đều có nhu cầu rất lớn cho giấc mơ này, đặc biệt là ngày nay. Chúng ta cần phải là những con người ngay chính, và điều đó sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc.G. Võ Tá Hoàng -

Bộ Giáo lý Đức tin liệt kê “những vi phạm nghiêm trọng” đối với phẩm giá con người
VATICAN NEWS – Tuyên ngôn Dignitas infinita của Bộ Giáo lý Đức tin đòi hỏi 5 năm làm việc, và bao gồm huấn quyền của giáo hoàng trong thập niên qua: từ cuộc chiến chống nghèo đói, từ bạo lực chống lại người di cư đến bạo lực đối với nữ giới; từ phá thai đến mang thai hộ và an tử; từ lý thuyết về giống đến bạo lực kỹ thuật số.
Ba chương đầu tiên của tài liệu đặt nền tảng cho những khẳng định trong chương thứ tư, chương dành bàn về “một số vi phạm nghiêm trọng đối với phẩm giá con người”: Tuyên ngôn “Dignitas infinita” (Phẩm giá vô hạn) của Bộ Giáo lý Đức tin là một tài liệu kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn phổ quát về nhân quyền, và tái khẳng định “tính chất không thể tránh khỏi của khái niệm phẩm giá của nhân vị trong nền nhân học Kitô giáo”. Điểm mới mẻ chính của tài liệu, vốn là thành quả của 5 năm làm việc, là việc đưa vào một số chủ đề chính của huấn quyền giáo hoàng gần đây bên cạnh các chủ đề về đạo đức sinh học. Chiến tranh, thảm kịch về nghèo đói và di cư, cách khai thác con người, là một phần trong danh sách “không đầy đủ” về các vi phạm nhân phẩm mà văn kiện mới đề xuất, cũng như việc phá thai, an tử và mang thai hộ. Do đó, tài liệu mới góp phần vượt quá sự chẽ đôi hiện có giữa những người chỉ tập trung vào việc bảo vệ sự sống của trẻ em hoặc người sắp chết, phủ nhận bất kỳ cuộc tấn công nào khác vào phẩm giá con người, và ngược lại, những người chỉ tập trung vào việc bảo vệ người nghèo và người di cư, quên rằng sự sống phải được bảo vệ từ khi thụ thai cho đến khi kết thúc tự nhiên của nó.
Các nguyên tắc nền tảng
Ba phần đầu tiên của Tuyên ngôn trình bày các nguyên tắc nền tảng. “Giáo hội, dưới ánh sáng Mặc khải, tái khẳng định và xác nhận một cách không dè dặt” “phẩm giá hữu thể của nhân vị, được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa và được cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô”. Một “phẩm giá bất khả tước bỏ” tương ứng với “bản tính con người độc lập với bất kỳ sự thay đổi văn hóa nào”, đó là “một món quà được nhận” và do đó hiện diện chẳng hạn nơi “một đứa trẻ chưa chào đời”, “một người vô thức”, “một người già đang hấp hối”. “Giáo hội công bố phẩm giá bình đẳng của mọi người, bất kể điều kiện sống và phẩm chất của họ,” và Giáo hội làm như vậy trên cơ sở mặc khải Thánh Kinh : người nữ và người nam được tạo dựng là hình ảnh của Thiên Chúa; Chúa Kitô nhập thể “đã xác nhận phẩm giá của thân xác và linh hồn” và khi lên trời, “đã mặc khải cho chúng ta rằng khía cạnh cao cả nhất của phẩm giá con người được tìm thấy nơi ơn gọi hiệp thông với Thiên Chúa của con người”.
Phẩm giá của mọi nhân vị
Tài liệu nêu bật sự hiểu lầm được thể hiện qua quan điểm của những người thích thuật ngữ “phẩm giá nhân vị” (dignité personnelle ) hơn là cách diễn đạt “phẩm giá con người” (dignité humaine), “bởi vì qua nhân vị, họ chỉ hiểu một “hữu thể có khả năng lý luận””. Do đó, họ khẳng định rằng “vì vậy, đứa trẻ chưa sinh ra sẽ không có phẩm giá nhân vị, cũng như người già không có khả năng tự chủ hoặc người bị thiểu năng trí tuệ. Ngược lại, Giáo hội nhấn mạnh sự kiện rằng phẩm giá của mọi nhân vị vẫn tồn tại trong mọi hoàn cảnh, chính vì nó mang tính nội tại”. Hơn nữa, Tuyên ngôn viết: “Khái niệm phẩm giá con người đôi khi cũng bị lạm dụng để biện minh cho việc nhân rộng một cách tùy tiện các quyền mới, […] như thể khả năng bày tỏ và thực hiện mỗi sở thích cá nhân hoặc mỗi ước muốn chủ quan phải được đảm bảo”.
Danh sách các vi phạm
Tiếp đến, Tuyên ngôn đưa ra danh sách “một số trong rất nhiều vi phạm nghiêm trọng đến phẩm giá con người”, tức là mọi thứ trái ngược với chính sự sống, chẳng hạn như bất kỳ loại giết người, diệt chủng, phá thai, an tử và thậm chí cả cố ý tự sát; nhưng còn “bất cứ điều gì cấu thành sự vi phạm đến tính toàn vẹn của nhân vị, chẳng hạn như cắt xẻo, tra tấn về thể xác hoặc tinh thần, những cưỡng bức về tâm lý”. Và cuối cùng, “tất cả những gì xúc phạm phẩm giá con người, chẳng hạn như những điều kiện sống dưới nhân bản, bỏ tù tùy tiện, đưa đi đày, nô lệ, mại dâm, buôn bán phụ nữ và giới trẻ; hoặc những điều kiện làm việc xuống cấp biến người lao động thành công cụ kiếm lợi thuần túy, mà không quan tâm đến nhân cách tự do và trách nhiệm của họ”. Hình phạt tử hình cũng được trích dẫn: nó “vi phạm phẩm giá của mọi người, bất khả tước bỏ trong mọi hoàn cảnh”.
Nghèo đói, chiến tranh và nạn buôn người
Trước tiên, có “thảm kịch nghèo đói”, “một trong những bất công lớn nhất của thế giới đương đại”. Tiếp đến là chiến tranh, “một thảm kịch phủ nhận phẩm giá con người” và “luôn luôn là một ‘thất bại của nhân loại’”, đến mức “ngày nay rất khó để bảo vệ các tiêu chí hợp lý, chín mùi vào những thời điểm khác, để nói về một khả năng “chiến tranh chính đáng“”. Tài liệu tiếp tục với “công việc của những người di cư”, những người mà “cuộc sống của họ đang gặp nguy hiểm vì họ không còn phương tiện để lập gia đình, làm việc hoặc nuôi sống bản thân”. Sau đó, văn bản tập trung vào “nạn buôn người”, vốn mang “các chiều kích bi thảm” và được định nghĩa là “một hoạt động hèn hạ, một nỗi xấu hổ đối với các xã hội tự cho mình là văn minh của chúng ta”, mời gọi “những kẻ bóc lột và khách hàng” kiểm điểm lương tâm một cách nghiêm túc. Cũng thế, tài liệu kêu gọi chống lại các hiện tượng như “buôn bán nội tạng và mô người”, “khai thác tình dục trẻ em“, “lao động nô lệ – bao gồm cả mại dâm“, “buôn bán ma túy và vũ khí“, “khủng bố” và “tội phạm quốc tế có tổ chức“. Nó cũng đề cập đến “ nạn lạm dụng tình dục”, để lại “những vết sẹo sâu trong lòng những người phải chịu đựng nó”. Đây là “những đau khổ có thể kéo dài suốt đời và không có sự ăn năn nào có thể chữa lành được”. Văn kiện tiếp tục với sự phân biệt kỳ thị đối với phụ nữ và bạo lực đối với họ, trong số đó nó trích dẫn “việc ép buộc phá thai, ảnh hưởng đến cả mẹ và con, rất thường để thỏa mãn sự ích kỷ của đàn ông” và “việc thực hành chế độ đa thê”. Nó lên án hành vi “tiêu diệt phụ nữ”.
Phá thai và mang thai hộ
Tiếp đến, việc lên án việc phá thai là rất rõ ràng: “Trong số tất cả các tội ác mà con người có thể thực hiện chống lại sự sống, việc phá thai chủ ý cho thấy những đặc điểm khiến nó trở nên đặc biệt nghiêm trọng và đáng bị lên án” và tài liệu nhắc lại rằng “việc bảo vệ sự sống chưa sinh ra có liên hệ mật thiết với việc bảo vệ mọi quyền con người”. Văn kiện cũng mạnh mẽ nói không với việc mang thai hộ, “qua đó đứa trẻ, vô cùng có phẩm giá lại trở thành một đồ vật đơn giản”, một thực hành “làm tổn hại nghiêm trọng đến phẩm giá của phụ nữ và trẻ em…, dựa trên việc khai thác hoàn cảnh túng thiếu vật chất của người mẹ”. “Đứa trẻ luôn là một món quà và không bao giờ là đối tượng của một hợp đồng.” Danh sách cũng đề cập đến việc an tử và trợ tử, được một số luật định nghĩa một cách khó hiểu là “quyền được chết trong phẩm giá”, đồng thời nhắc lại rằng “đau khổ không làm cho người bệnh mất đi phẩm giá nội tại và bất khả tước bỏ của chính họ.” Tiếp đến, gợi lên tầm quan trọng của việc chăm sóc giảm nhẹ và việc tránh “bất kỳ bám riết điều trị hoặc bất kỳ sự can thiệp không cân xứng nào”, văn bản nhắc lại rằng “sự sống là một quyền, chứ không phải cái chết, cái chết phải được đón nhận chứ không phải được ban cho”. Những vi phạm nghiêm trọng về nhân phẩm cũng bao gồm việc coi những người bị suy giảm khả năng vận động là những người “bị loại bỏ”.
Lý thuyết về giống
Sau khi tái khẳng định rằng cần phải tránh “bất kỳ dấu hiệu phân biệt kỳ thị bất công nào và đặc biệt là mọi hình thức gây hấn và bạo lực” đối với các nhân vị đồng tính, văn bản mô tả là “trái với phẩm giá con người” sự kiện là ở một số nơi người ta “bị cầm tù, tra tấn và thậm chí bị tước đoạt những điều tốt đẹp trong cuộc sống chỉ vì xu hướng tính dục của họ”. Tài liệu chỉ trích lý thuyết về giống, “rất nguy hiểm vì nó xóa bỏ những khác biệt trong tham vọng làm cho tất cả mọi người đều bình đẳng”. Giáo hội nhắc nhở rằng “sự sống con người, trong tất cả các thành phần cảu nó, thể chất và tinh thần, là một món quà của Thiên Chúa, phải được đón nhận với lòng biết ơn và phục vụ sự thiện. Muốn tự quyết, theo đòi hỏi của lý thuyết về giống… không có nghĩa gì khác hơn là nhượng bộ trước sự cám dỗ lâu đời của con người tự coi mình là Thiên Chúa.” Lý thuyết về giống “tìm cách phủ nhận sự khác biệt lớn nhất có thể có giữa các sinh vật: sự khác biệt về giới tính”. Do đó, “tất cả những mưu toan nhằm che giấu việc quy chiếu đến sự khác biệt giới tính bất khả loại bỏ giữa nam và nữ phải bị bác bỏ”. Nhận xét về việc thay đổi giới tính cũng mang tính tiêu cực, bởi vì nó “có nguy cơ, nói chung, đe dọa phẩm giá độc nhất mà một người đã nhận được từ thời điểm thụ thai”, mặc dù “điều này không loại trừ khả năng một người có những bất thường về bộ phận sinh dục vốn đã rõ ràng khi sinh ra hoặc phát triển sau này, chọn nhận hỗ trợ y tế để giải quyết những bất thường này.”
Bạo lực kỹ thuật số
Danh sách này được hoàn thành bởi “bạo lực kỹ thuật số” và đề cập đến “các hình thức bạo lực mới” “lan truyền qua các phương tiện truyền thông xã hội“, chẳng hạn như quấy rối trên mạng và “phổ biến nội dung khiêu dâm và khai thác con người vì mục đích tình dục hoặc cờ bạc” trên internet.
Tuyên ngôn kết thúc bằng cách yêu cầu “việc tôn trọng phẩm giá nhân vị, trong mọi hoàn cảnh, phải được đặt ở trung tâm của sự dấn thân vì công ích và của bất kỳ hệ thống pháp luật nào”.
_____________________
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn: xuanbichvietnam.net) -

Những tật xấu và các nhân đức. Bài 13: Sự kiên nhẫn
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha Phanxicô về “những tật xấu và các nhân đức”.Bài 13: Sự kiên nhẫnAnh chị em thân mếnBuổi tiếp kiến hôm nay đã được lên kế hoạch là ở quảng trường, nhưng do trời mưa nên được chuyển vào trong này. Đúng là hơi san sát một chút, nhưng ít ra là chúng ta không bị mắc mưa. Cám ơn vì sự kiên nhẫn của anh chị em.Chúa Nhật tuần trước chúng ta đã nghe trình thuật về Cuộc Khổ Nạn của Chúa. Trước sự đau khổ phải chịu, Chúa Giêsu đáp lại bằng một nhân đức, mặc dù không nằm trong số những nhân đức truyền thống, nhưng rất quan trọng, đó là đức kiên nhẫn. Nó liên quan đến sự chịu đựng những gì mình phải chịu đựng: không phải tình cờ mà sự kiên nhẫn có cùng gốc rễ với niềm say mê. Và chính trong Cuộc Khổ Nạn làm trổ sinh sự kiên nhẫn của Chúa Kitô, Đấng hiền lành và ôn hòa chấp nhận bị bắt, bị đánh đập và bị kết án bất công; trước mặt Philatô, Ngài không phản bác; chịu đựng những lời lăng mạ, khạc nhổ và đánh đập của quân lính; mang vác gánh nặng của thập giá; Ngài tha thứ cho những kẻ đóng đinh Ngài gỗ thập tự; Ngài không đáp lại những lời khiêu khích, nhưng tỏ lòng thương xót. Đây là sự kiên nhẫn của Chúa Giêsu, tất cả những điều này cho chúng ta biết rằng sự kiên nhẫn của Chúa Giêsu không phải là kiên nhẫn để chống lại đau khổ, nhưng là hoa trái của một tình yêu lớn lao hơn.Thánh Tông đồ Phaolô, trong bài ca được gọi là “Bài ca bác ái” (xem 1 Cr 13,4-7), đã liên kết chặt chẽ tình yêu và sự kiên nhẫn. Thực ra, khi mô tả phẩm chất đầu tiên của đức ái, ngài dùng một từ được dịch là “cao thượng”, “kiên nhẫn”. Đức ái là cao thượng, là kiên nhẫn. Nó diễn tả một khái niệm đáng ngạc nhiên, thường được nhắc lại trong Kinh Thánh: Thiên Chúa, trước sự bất trung của chúng ta, tỏ ra là Đấng “chậm giận” (xem Xh 34,6; xem Ds 14,18): thay vì trút sự kinh tởm của mình lên điều ác và tội lỗi của con người, Ngài đã biểu lộ sự cao cả, sẵn sàng bắt đầu lại mọi lúc với sự kiên nhẫn vô hạn. Đối với Thánh Phaolô, đây là đặc điểm đầu tiên của tình yêu Thiên Chúa, đề ra sự tha thứ khi đối mặt với tội lỗi. Nhưng không chỉ vậy: đó là đặc điểm đầu tiên của mọi tình yêu vĩ đại, biết đáp trả sự dữ bằng điều thiện, không thu mình trong giận dữ và tuyệt vọng, nhưng kiên trì và tái khởi động. Sự kiên nhẫn bắt đầu lại. Vì vậy, gốc rễ của sự kiên nhẫn là tình yêu, như Thánh Augustinô đã nói: “Người nào càng có sức mạnh để chịu đựng mọi sự dữ thì tình yêu Thiên Chúa nơi người ấy càng lớn” ( De Patientia , XVII).Do đó mọi người có thể nói rằng không có lời chứng nào tốt hơn về tình yêu của Chúa Giêsu cho bằng gặp gỡ một Kitô hữu kiên nhẫn. Nhưng chúng ta cũng hãy nghĩ đến bao nhiêu người cha, người mẹ, công nhân, bác sĩ và y tá, bệnh nhân, những người mỗi ngày kín đáo, làm đẹp thế giới bằng sự kiên nhẫn thánh thiện! Như Kinh thánh đã viết, “người chậm giận tốt hơn sức mạnh của một anh hùng” ( Pr 16,32). Tuy nhiên, thành thật mà nói: chúng ta thường thiếu kiên nhẫn. Trong cuộc sống hàng ngày, tất cả chúng ta đều mất kiên nhẫn. Chúng ta cần nó như một loại “vitamin thiết yếu” để tiến về phía trước, nhưng theo bản năng, chúng ta lại thiếu kiên nhẫn và lấy ác báo ác: thật khó để giữ bình tĩnh, kiềm chế bản năng, kiềm chế những phản ứng xấu, xoa dịu những cãi vã, những mâu thuẫn trong gia đình, tại nơi làm việc hoặc trong cộng đoàn kitô hữu. Câu trả lời đến ngay lập tức, chúng ta không thể kiên nhẫn được.Tuy nhiên, anh chị em hãy nhớ rằng kiên nhẫn không chỉ là điều cần thiết mà còn là một ơn gọi : nếu Chúa Kitô kiên nhẫn thì người Kitô hữu được mời gọi sống kiên nhẫn. Và điều này đòi hỏi chúng ta phải đi ngược với tâm lý phổ biến ngày nay, trong đó sự vội vàng và “mọi thứ ngay bây giờ” chiếm ưu thế; ở đó, thay vì đợi cho các tình huống chín muồi, mọi người lại bức xúc, mong muốn họ thay đổi ngay lập tức. Chúng ta đừng quên rằng sự vội vàng và thiếu kiên nhẫn là kẻ thù của đời sống thiêng liêng. Tại sao vậy? Thiên Chúa là tình yêu, và những ai yêu thương thì không mệt mỏi, không nóng nảy, không đưa ra tối hậu thư. Thiên Chúa kiên nhẫn. Thiên Chúa biết chờ đợi. Chúng ta hãy nghĩ đến câu chuyện về Người Cha nhân hậu, ông chờ đợi đứa con trai của mình đã bỏ nhà ra đi: ông kiên nhẫn chịu đựng, chỉ nóng lòng ôm lấy người con ngay khi thấy nó trở về (x. Lc 15,21); hoặc chúng ta hãy nghĩ đến dụ ngôn lúa mì và cỏ lùng, với Thiên Chúa, Ngài không vội vàng diệt trừ sự ác trước thời điểm của nó, để không bị mất mát gì (x. Mt 13,29-30). Sự kiên nhẫn khiến chúng ta cứu được mọi thứ.Nhưng thưa anh chị em, làm thế nào để gia tăng lòng kiên nhẫn ? Vì như Thánh Phaolô dạy chúng ta, đó là hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Gal 5,22), nên nó phải được cầu xin với chính Thánh Thần của Chúa Kitô. Ngài sẽ ban cho chúng ta sức mạnh hiền hòa của sự kiên nhẫn – kiên nhẫn là một sức mạnh hiền hòa – bởi vì “đặc tính của nhân đức Kitô giáo là không chỉ làm điều thiện mà còn có khả năng chịu đựng điều ác” (Thánh Augustinô, Discourses , 46,13). Đặc biệt trong những ngày này, thật tốt cho chúng ta khi chiêm ngưỡng Thánh Giá để thấm nhuần sự kiên nhẫn của Ngài. Cũng là một bài tập hay đó là đem đến cho Chúa những những người khó chịu nhất, bằng cách xin ơn biết thực thi đối với họ lòng thương xót mà mọi người đến nhưng lại bị coi thường: kiên nhẫn chịu đựng những người hay khó chịu. Và nó không dễ dàng. Hãy thử nghĩ xem liệu chúng ta có làm được điều này hay không: kiên nhẫn chịu đựng những người khó chịu. Bắt đầu bằng việc yêu cầu chúng ta nhìn họ với lòng trắc ẩn, với cái nhìn của Thiên Chúa, biết cách phân biệt khuôn mặt của họ với lỗi lầm của họ. Chúng ta có thói quen liệt kê mọi người theo những sai lầm mà họ mắc phải. Không, điều này không tốt. Chúng ta hãy tìm kiếm con người vì khuôn mặt của họ, của họ chứ không phải vì những sai lầm của họ!Cuối cùng, để trau dồi tính kiên nhẫn, một nhân đức mang lại hơi thở cuộc sống, tốt nhất là anh chị em hãy mở rộng tầm nhìn của mình. Chẳng hạn, bằng cách không thu hẹp phạm vi thế giới vào những rắc rối của chúng ta, như bắt chước Chúa Kitô mời gọi chúng ta làm : “Do đó, điều cần thiết là bạn phải nhớ đến những đau khổ nghiêm trọng nhất của người khác, để học cách chịu đựng những đau khổ nhỏ bé của chính mình”. Hãy nhớ rằng “không có điều gì, dù nhỏ đến đâu, miễn là nó được chịu đựng vì tình yêu Thiên Chúa, bị trôi đi mà không được Thiên Chúa khen thưởng” (III, 19). Và một lần nữa, khi chúng ta cảm thấy bị kìm kẹp trong thử thách, như Gióp dạy, thật tuyệt vời khi biết mở lòng mình cho niềm hy vọng vào sự mới mẻ của Thiên Chúa, với niềm tin tưởng chắc chắn rằng Ngài sẽ không làm cho những kỳ vọng của chúng ta trở nên thất vọng. Kiên nhẫn là biết nhẫn chịu cái ác.Và ở đây hôm nay, trong buổi tiếp kiến này, có hai người, hai người cha: một người Israel và một người Ả Rập. Cả hai đều mất con gái của mình trong cuộc chiến này và cả hai là bạn. Họ không nhìn vào sự thù địch của chiến tranh mà nhìn vào tình bạn của hai người đàn ông thương mến nhau và đã trải qua cùng một sự đau khổ. Chúng ta hãy nghĩ đến chứng tá tuyệt đẹp này của hai người đã phải chịu đau khổ vì cuộc chiến ở Thánh Địa thông qua những đứa con của họ. Anh em thân mến, cảm ơn vì lời chứng của anh em!G. Võ Tá Hoàng -

Những tật xấu và các nhân đức. Bài 12: Sự khôn ngoan
Bài giáo lý về “những tật xấu và các nhân đức” của Đức Thánh Cha PhanxicôBài 12: Sự khôn ngoan.jpeg)
Vaticanmedia Anh chị em thân mến!Bài giáo lý hôm nay nói về nhân đức khôn ngoan. Khôn ngoan cùng với công bình, dũng cảm và tiết độ, hình thành nên những nhân đức được gọi là cột trụ, vốn không phải độc quyền của người Kitô hữu, nhưng thuộc về di sản của sự khôn ngoan cổ xưa, đặc biệt là của các triết gia Hy Lạp. Vì vậy, một trong những chủ đề thú vị nhất trong công cuộc gặp gỡ và hội nhập văn hóa chính là vấn đề về các nhân đức.Trong các tác phẩm thời Trung cổ, việc trình bày các nhân đức không đơn giản là một bảng liệt kê về những phẩm chất tích cực của tâm hồn. Trở lại với các tác giả cổ điển dưới ánh sáng mạc khải Kitô giáo, các nhà thần học đã hình dung đến bộ bảy nhân đức – ba nhân đức đối thần và bốn nhân đức trụ – như một loại cơ thể sống, nơi đó mỗi nhân đức có một không gian hài hòa để chiếm giữ. Có những nhân đức chính yếu và những nhân đức phụ, như trụ, cột, đầu trụ. Vậy đó, có lẽ không có gì thể hiện ý tưởng về sự hài hòa giữa con người và khát vọng không ngừng hướng tới điều tốt đẹp cho bằng ngôi thánh đường thời Trung cổ.Vì vậy, chúng ta bắt đầu từ sự khôn ngoan. Đó không phải là đức tính của người sợ hãi, luôn do dự về hành động cần phải làm. Không, đây là một cách giải thích sai lầm. Nó thậm chí không đơn thuần là sự thận trọng. Đặt sự thận trọng lên hàng đầu có nghĩa là hành động của con người nằm trong tay sự hiểu biết và tự do của họ. Người khôn ngoan là người sáng tạo: biết lý luận, đánh giá, cố gắng hiểu sự phức tạp của thực tại và không để mình bị choáng ngợp bởi những cảm xúc, lười biếng, áp lực hay ảo tưởng.Trong một thế giới bị thống trị bởi vẻ bề ngoài, bởi những suy nghĩ hời hợt, bởi sự tầm thường của cả thiện và ác, bài học cổ xưa về sự khôn ngoan xứng đáng được phục hồi.Theo chân Aristotle, Thánh Tôma gọi nó là “recta ratio agibilium”. Đó là khả năng điều khiển các hành động để hướng chúng tới điều tốt đẹp, vì lý do này mà nó có biệt danh là “người đánh xe của các nhân đức”. Khôn ngoan là người có khả năng lựa chọn: cuộc sống luôn dễ dàng chỉ ở trong sách vở, nhưng giữa sóng gió của cuộc sống đời thường lại là một điều gì đó hoàn toàn khác, chúng ta thường bất an và không biết phải đi đường nào. Người khôn ngoan không lựa chọn cách ngẫu nhiên: trước hết họ biết mình muốn gì, sau đó họ cân nhắc các tình huống, tìm kiếm lời khuyên, với tầm nhìn rộng và sự tự do nội tâm, họ biết chọn con đường nào để đi. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể mắc sai lầm, suy cho cùng chúng ta vẫn luôn là con người, nhưng ít ra chúng ta tránh được những thất bại lớn. Thật không may, trong mọi môi trường đều có những người có xu hướng gạt bỏ vấn đề bằng những trò đùa bợt cỡn hoặc luôn gây tranh cãi. Mặt khác, sự khôn ngoan là phẩm chất của những người được kêu gọi để chỉ huy: họ biết rằng việc quản lý là điều khó khăn, có nhiều quan điểm và họ phải cố gắng hòa hợp chúng, là phải làm điều tốt không phải cho một số người mà là cho tất cả.Sự khôn ngoan cũng dạy rằng, như người ta nói, “điều tốt nhất là kẻ thù của điều tốt”. Thật vậy, quá nhiệt tình, trong một số trường hợp có thể dẫn đến thảm họa: nó có thể phá hỏng một công trình vốn cần phải thực hiện từ từ; nó có thể tạo ra xung đột và hiểu lầm, thậm chí nó có thể gây ra bạo lực.Người khôn ngoan biết cách lưu giữ ký ức về quá khứ không phải vì họ sợ tương lai mà vì biết rằng truyền thống là di sản của sự thông thái. Cuộc sống được tạo ra từ những chồng chéo liên tục của những thứ cũ và mới, và thật không tốt khi luôn nghĩ rằng thế giới bắt đầu từ chúng ta, rằng chúng ta phải đối mặt với những vấn đề ngay từ đầu. Và người khôn ngoan cũng có tầm nhìn xa. Một khi bạn đã quyết định được mục tiêu cần hướng tới, bạn phải tìm mọi cách để đạt được mục tiêu đó.Nhiều đoạn Tin Mừng giúp chúng ta rèn luyện được sự khôn ngoan. Ví dụ: người khôn ngoan xây nhà trên đá còn người khờ dại xây nhà trên cát (xem Mt 7,24-27). Những cô trinh nữ khôn ngoan mang dầu cho đèn của họ và những người khờ dại không mang dầu (xem Mt 25,1-13). Đời sống Kitô hữu là sự kết hợp giữa sự đơn giản và khôn ngoan. Khi chuẩn bị cho các môn đệ của mình sứ mạng truyền giáo, Chúa Giêsu khuyên dạy: “Này đây Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói; vậy hãy khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10,16), như muốn nói rằng Thiên Chúa không chỉ muốn chúng ta nên thánh, Ngài còn muốn chúng ta là những vị thánh thông minh, vì nếu không khôn ngoan thì rất dễ đi sai đường!G. Võ Tá Hoàng



