Danh mục: Tin Giáo hội

  • Hãy trung thành với niềm xác tín đức tin của mình

    Hãy trung thành với niềm xác tín đức tin của mình

    Đây là thông điệp trọng tâm của Đức Thánh Cha trong cuộc đối thoại trực tuyến với các sinh viên trong sáng kiến “Xây dựng những nhịp cầu xuyên Châu Á Thái Bình Dương” do Đại học Loyola Chicago cùng với Ủy ban Giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh tổ chức.
    Trong số những người tham dự cuộc gặp gỡ là sinh viên theo học nhiều chuyên ngành từ Đại học Ateneo de Manila, (Manila, Philippines); Đại học Công giáo Australia (Brisbane, Australia); Đại học Công giáo Phụ Nhân (Đài Bắc, Đài Loan); Đại học Sogang (Seoul, Hàn Quốc); Đại học Sophia (Tokyo, Nhật Bản); Đại học Sanata Dharma (Yogyakarta, Indonesia). Các sinh viên cũng đến từ Singapore, Đông Timor, Papua New Guinea, những quốc gia mà Đức Thánh Cha sẽ viếng thăm vào tháng 9.
    Các nhóm sinh viên đã được giới thiệu với Đức Thánh Cha và đưa ra những suy tư, và sau đó Đức Thánh Cha đã đưa ra những lời khuyên, sự quan tâm và đề xuất của ngài.
    “Nhờ người khác giúp đỡ khi bị tổn thương”
    Nói chuyện với nhóm đầu tiên về cảm giác thuộc về xã hội, và sự “thuộc về” của chúng ta nâng cao cảm giác an toàn và phẩm giá con người của chúng ta như thế nào. Đức Thánh Cha lưu ý rằng tất cả những yếu tố này “cứu chúng ta khỏi tình trạng dễ bị tổn thương, bởi vì giới trẻ ngày nay rất dễ bị tổn thương. Chúng ta phải luôn bảo vệ cảm giác thuộc về này để tránh bị tổn thương”. Ngài nói: “Hãy nhìn vào nơi bạn dễ bị tổn thương nhất và nhờ ai đó giúp đỡ”.
    Ngài cũng thảo luận về sức khỏe tâm thần, sự phân biệt đối xử, sự kỳ thị và căn tính, đồng thời kêu gọi làm chứng tá. Ngài nói: “Hãy tập trung vào việc có căn tính riêng của bạn”, đồng thời khuyến khích tất cả những người có mặt luôn hợp tác với nhau và luôn đoàn kết. Ngài lên án mọi sự kỳ thị coi thường phẩm giá con người.
    “Không được quên sự vĩ đại của phụ nữ”
    Đức Thánh Cha than thở rằng phụ nữ đôi khi bị coi là công dân hạng hai và nhắc nhở rằng điều này không đúng. Ngài nói: “Không được quên sự vĩ đại của phụ nữ. Phụ nữ giỏi hơn nam giới về tầm nhìn sâu sắc và khả năng xây dựng cộng đồng”, và khen ngợi những phẩm chất và năng lực đặc biệt chỉ có ở phụ nữ.
    “Không bao giờ loại trừ người khác”
    Ngài gọi các sinh viên thể hiện sự gần gũi và tình yêu thương với người khác, và không bao giờ loại trừ. Nhắc lại lời của một sinh viên nói về giới tính cũng như đề cập đến tỷ lệ HIV cao ở Philippines, ngài nói: “Chúng ta phải đảm bảo rằng dịch vụ chăm sóc sức khỏe được chuẩn bị để điều trị và giúp đỡ tất cả mọi người, không loại trừ”.
    Giáo dục hiệu quả: “Trái tim, khối óc và đôi tay”
    Đức Thánh Cha cũng thảo luận về nền giáo dục hiệu quả, điều mà theo quan điểm của ngài, đòi hỏi “giáo dục” và điều phối “trái tim, khối óc và đôi tay” của chúng ta. Theo ngài, đây là cách chúng ta nên giáo dục giới trẻ và lưu ý rằng không bao giờ được quên động lực này.
    “Hãy luôn xác tín về niềm tin của chính mình”
    Đức Thánh Cha cũng thừa nhận rằng việc tham gia và “thuộc về” xã hội có thể gặp nhiều thách thức đối với các Kitô hữu trẻ. Trước thực tế này, ngài kêu gọi họ hãy bám chặt vào đức tin của mình và giữ cho tâm hồn họ luôn kết nối với lời cầu nguyện. Điều này sẽ giúp ích trong vấn đề này và giúp họ luôn gắn kết với người khác một cách hiệu quả hơn.
    Sau đó Đức Thánh Cha đề cập đến thực tế là trong một số trường hợp, người trẻ bị chế nhạo hoặc bị thách thức vì đức tin của họ. Ngài đưa ra lời khuyên: “Hãy luôn xác tín về niềm tin của chính mình”, đồng thời cảnh báo không nên trở nên cô lập, điều mà theo ngài có thể dẫn đến những thói quen và vấn đề xấu. Vì thế, ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của việc được giáo dục về đức tin và trở thành những Kitô hữu đích thực và “thực sự”.
    Đức Thánh Cha nhận xét rằng các Kitô hữu đã bị bách hại ngay từ đầu và hiện tượng này không có gì mới. “Mặc dù có thể có một sự cám dỗ có một Kitô giáo nửa vời và nguội lạnh,” nhưng chúng ta không thể nhượng bộ nó. Đúng hơn, ngài kêu gọi, “chúng ta phải vững vàng và phải sống một kiểu tử đạo, theo nghĩa này”.
    Căn bệnh ý thức hệ
    Cuối cùng, Đức Thánh Cha kêu gọi nâng cao nhận thức hơn về những bi kịch trong quá khứ, rút ra những bài học cho tương lai và nỗ lực hướng tới hòa bình. Ngài nói: “Ý thức hệ là một căn bệnh”, đồng thời kêu gọi tất cả mọi người xây dựng sự hòa hợp và thúc đẩy đối thoại với các nền văn hóa khác.
    Ngài đề nghị “Nói không với chiến tranh,” và kêu gọi hòa bình. Ngài giải thích: “Trong một thế giới tuyệt vọng, chúng ta phải kêu gọi sống các giá trị của mình”.
    Đức Thánh Cha Phanxicô kết thúc bằng việc cảm ơn các sinh viên vì những suy tư của họ, nói rằng họ đã giúp ngài hiểu họ, đặc biệt là khi ngài chuẩn bị cho chuyến tông du đến khu vực của họ vào đầu tháng 9.
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 20: Đức ái

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 20: Đức ái

    Bài giáo lý của ĐTC Phanxicô về những tật xấu và các nhân đức
    Bài 20: Đức ái
    Anh chị em thân mến
    Hôm nay chúng ta sẽ nói về nhân đức đối thần thứ ba, đức ái. Hai nhân đức khác là đức tin và đức cậy: hôm nay chúng ta nói về nhân đức thứ ba: đức ái. Đây là đỉnh cao của toàn bộ hành trình mà chúng ta đã thực hiện qua những bài giáo lý về các nhân đức. Khi nghĩ đến đức ái, ngay lập tức lòng trí mở rộng hướng đến những lời được linh hứng của Thánh Phaolô trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô. Kết thúc bài thánh thi tuyệt vời đó, Thánh Phaolô trích dẫn bộ ba nhân đức đối thần và ngài thốt lên: “Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13).
    Thánh Phaolô ngỏ những lời này với một cộng đoàn chưa hoàn hảo lắm trong tình yêu huynh đệ: các Kitô hữu ở Côrintô thường hay cãi vã, có những chia rẽ nội bộ, có những người cho rằng mình luôn đúng nên không lắng nghe người khác, coi họ thấp kém hơn mình. Với những người như vậy, Thánh Phaolô nhắc nhở rằng kiến thức khiến người ta kiêu căng, trong khi yêu thương thì xây dựng (xem 1Cor 8,1). Sau đó, Thánh Tông đồ ghi lại một vụ bê bối thậm chí xảy ra vào thời điểm cộng đoàn Kitô giáo đang hiệp nhất cao độ, đó là “bữa tiệc của Chúa”, bữa cử hành Thánh Thể: ngay cả ở đó cũng có sự chia rẽ, và có người lợi dụng để ăn uống, loại trừ những người không có gì (x. 1Cr 11, 18-22). Đứng trước điều này, Thánh Phaolô đưa ra một nhận định chính xác: “Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa” (c. 20), anh em thực hiện một nghi lễ khác, nghi lễ ngoại giáo, không phải là bữa ăn của Chúa.
    Có lẽ trong cộng đoàn Côrintô không ai nghĩ rằng mình đã phạm tội và những lời nặng nề đó của Thánh Tông Đồ nghe có vẻ hơi khó hiểu đối với họ. Có lẽ mọi người đều tin rằng họ là người tốt, và nếu được hỏi về tình yêu, họ sẽ trả lời rằng tình yêu chắc chắn có giá trị rất quan trọng đối với họ, cũng như tình bạn và gia đình. Ngay cả trong thời đại ngày nay, tình yêu vẫn ở trên môi miệng của mọi người, nó ở trên môi của những “người có tầm ảnh hưởng” và trong điệp khúc của nhiều bài ca. Vâng, người ta nói rất nhiều về tình yêu, nhưng tình yêu là gì?
    “Nhưng còn tình yêu kia thì sao?”, dường như Thánh Phaolô hỏi các Kitô hữu của mình ở Côrintô. Không phải tình yêu lên cao mà là tình yêu đi xuống; không phải là những gì mình nhận được mà là những gì mình cho đi; không phải những gì tỏ hiện, mà là những gì ẩn giấu. Thánh Phaolô lo lắng rằng ở Côrintô – cũng như thời đại chúng ta ngày nay – có sự lẫn lộn và thực sự không có dấu vết nào của đức ái, nhân đức chỉ đến từ Thiên Chúa. Và dù bằng lời nói, mọi người đều khẳng định rằng mình là người tốt, yêu thương gia đình và bạn bè, nhưng thực ra họ biết rất ít về tình yêu của Thiên Chúa.
    Những người Kitô giáo cổ đại sử dụng một số từ tiếng Hy Lạp để định nghĩa tình yêu. Cuối cùng, từ “agape” xuất hiện mà chúng ta thường dịch là “yêu”. Bởi vì trong thực tế, các Kitô hữu có khả năng yêu thương tất cả mọi người trên thế giới: họ cũng yêu nhau, ít nhiều như mọi người khác. Họ cũng trải nghiệm được lòng nhân hậu trong tình bạn. Họ cũng đã sống tình yêu đất nước và tình yêu phổ quát dành cho toàn thể nhân loại. Nhưng có một tình yêu vĩ đại hơn, tình yêu đến từ Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa, khiến chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa, trở thành bạn hữu của Ngài, nó cho phép chúng ta yêu người lân cận như Thiên Chúa yêu họ, với ước muốn chia sẻ tình bạn với Ngài. Tình yêu này, nhờ Chúa Kitô, đẩy chúng ta đến nơi mà chúng ta không thể đến: đó là tình yêu dành cho người nghèo, cho những điều không đáng yêu, cho những người không ưa thích và vô ơn với chúng ta. Đó là tình yêu dành cho những thứ mà không ai yêu; ngay cả đối với kẻ thù. Đây là “đối thần”, nó đến từ Thiên Chúa, là công việc của Chúa Thánh Thần trong chúng ta.
    Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế.” (Lc 6,32-33). Và Ngài kết luận: “Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.” (câu 35). Anh chị em hãy nhớ điều này: “hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả”.
    Với những lời trên, tình yêu được mạc khải như một nhân đức đối thần và mang tên là đức ái. Yêu thương là bác ái. Chúng ta nhận ra ngay rằng đó là một tình yêu khó thực hiện, thực sự không thể thực hiện được nếu không sống trong Thiên Chúa. Bản chất con người khiến chúng ta yêu mến cách tự phát những gì tốt đẹp. Nhân danh lý tưởng hay tình cảm lớn lao, chúng ta cũng có thể quảng đại và thực hiện những hành động anh hùng. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa vượt xa những tiêu chuẩn này. Tình yêu Kitô giáo ôm lấy những người không thể yêu thương, mang lại sự tha thứ – tha thứ thật khó biết bao! cần bao nhiêu yêu thương để tha thứ! –, tình yêu Kitô giáo chúc lành cho những người nguyền rủa, trong khi chúng ta có thói quen khi bị xúc phạm hoặc nguyền rủa, chúng ta sẽ đáp lại bằng một sự xúc phạm khác, bằng lời nguyền rủa khác. Đó là một tình yêu dũng cảm đến mức gần như không thể thực hiện được, nhưng đó là điều duy nhất còn lại trong chúng ta. Tình yêu là “cánh cửa hẹp” để bước vào Vương quốc của Thiên Chúa. Bởi vì vào lúc xế chiều của cuộc đời, chúng ta sẽ không bị phán xét về tình yêu mơ hồ, chúng ta sẽ bị phán xét về chính lòng bác ái, về tình yêu cụ thể mà chúng ta đã có. Và Chúa Giêsu nói với chúng ta điều này, thật tuyệt vời: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40). Đây là điều tuyệt diệu, cái vĩ đại của tình yêu. Hãy tiến lên và hãy can đảm!
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 19. Đức cậy

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 19. Đức cậy

    Bài giáo lý của Đức Thánh cha Phanxicô về những tật xấu và các nhân đức.
     
    Bài 19. Đức cậy
     

     

    Anh chị em thân mến!
    Trong bài giáo lý cuối cùng chúng ta bắt đầu suy tư về các nhân đức đối thần. Đó là: đức tin, đức cậy và đức mến. Lần trước chúng ta suy tư về đức tin, hôm nay là về đức cậy.
    “Đức cậy là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là vinh phúc của chúng ta, khi đặt lòng tin tưởng của chúng ta vào các lời hứa của Đức Kitô và cậy dựa vào sự trợ giúp của ân sủng của Chúa Thánh Thần, chứ không vào sức mạnh của chúng ta” (GLCG 1817). Những lời trên khẳng định rằng đức cậy là câu trả lời dành cho tâm hồn của chúng ta, khi nảy sinh trong chúng ta câu hỏi tuyệt đối: “Điều gì sẽ xảy ra cho tôi? Đích điểm của tôi là ở đâu? Số phận của thế giới sẽ ra sao?
    Tất cả chúng ta đều nhận ra rằng trả lời tiêu cực cho những câu hỏi này sẽ tạo ra nỗi buồn. Nếu hành trình cuộc đời không có ý nghĩa gì, nếu khởi đầu và kết thúc là hư vô thì chúng ta tự hỏi tại sao chúng ta phải bước đi: từ đây nảy sinh ra sự tuyệt vọng của con người, cảm giác về sự vô dụng của mọi thứ. Và nhiều người có thể nổi loạn: tôi đã nỗ lực sống đạo đức, khôn ngoan, công bình, mạnh mẽ, tiết độ. Tôi cũng từng là một người có đức tin… Cuộc chiến đấu của tôi có ích gì nếu mọi chuyện kết thúc ở đây?. Nếu không có đức cậy thì mọi nhân đức khác có nguy cơ vụn vỡ và trở thành tro bụi. Nếu không tồn tại ngày mai đáng tin cậy, không có chân trời tươi sáng, chúng ta sẽ chỉ kết luận rằng đức hạnh là một nỗ lực vô ích. Trong Thông điệp Spe salvi, Đức Bênêđictô XVI nói: “Chỉ khi tương lai được bảo đảm như một thực tại tích cực thì lúc đó hiện tại trở nên có thể sống được” (Spe Salvi, 2).
    Người Kitô hữu có niềm hy vọng không phải do công trạng của riêng mình. Nếu họ tin vào tương lai là bởi vì Chúa Kitô đã chết và sống lại và ban Thánh Thần của Người cho chúng ta. “Ơn cứu chuộc được ban cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đã được trao cho hy vọng – một niềm hy vọng đáng tin cậy, qua đó, chúng ta có thể đối diện với thực tại của chúng ta” (ibid., 1). Theo nghĩa này, một lần nữa, chúng ta nói rằng đức cậy là một nhân đức đối thần: nó không xuất phát từ chúng ta, nó không phải là sự cố chấp để tự thuyết phục mình, nhưng nó là một món quà đến trực tiếp từ Thiên Chúa.
    Tông đồ Phaolô trình bày logic mới về kinh nghiệm Kitô giáo cho nhiều Kitô hữu nghi ngờ, những người chưa được tái sinh hoàn toàn để trông cậy: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1Cor 15,17-19). Như thể Phaolô đang nói rằng: nếu bạn tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô, chắc chắn rằng bạn sẽ không thất bại và không chết đời đời. Nhưng nếu bạn không tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô, thì mọi thứ sẽ trở nên trống rỗng, kể cả lời rao giảng của các Tông đồ.
    Đức cậy là một nhân đức mà chúng ta thường thiếu: trong hoài niệm tồi tệ, trong nỗi u sầu của chúng ta, khi chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc của quá khứ đã bị chôn vùi mãi mãi. Chúng ta phạm tội chống lại đức cậy khi chúng ta chùn bước trước tội lỗi của mình và quên rằng Thiên Chúa là Đấng xót thương và cao cả hơn tấm lòng chúng ta. Anh chị em đừng quên điều này: Thiên Chúa tha thứ mọi sự, Thiên Chúa luôn tha thứ. Chúng ta mới là người mệt mỏi khi cầu xin sự tha thứ. Nhưng chúng ta đừng quên sự thật này: Thiên Chúa tha thứ tất cả, Thiên Chúa luôn tha thứ. Chúng ta phạm tội đi ngược lại với niềm trông cậy khi chúng ta chán nản vì tội lỗi của mình; chúng ta phạm tội đi ngược lại với đức cậy khi để mùa thu xóa bỏ mùa xuân trong lòng chúng ta; khi tình yêu của Thiên Chúa không còn là ngọn lửa vĩnh cửu và chúng ta không đủ can đảm để đưa ra những quyết định dấn thân suốt đời.
    Thế giới ngày nay đang rất cần nhân đức Kitô giáo này! Thế giới cần niềm cậy trông cũng như cần sự kiên nhẫn, một nhân đức đi đôi với đức cậy. Những người kiên nhẫn là những người thợ dệt điều tốt. Họ bền tâm khao khát hòa bình, ngay cả khi một số người trong đó đang vội vã, muốn mọi thứ và ngay lập tức, sự kiên nhẫn vẫn có khả năng chờ đợi. Ngay cả khi nhiều người xung quanh không chịu nỗi sự vỡ mộng, những người được thúc đẩy bởi niềm trông cậy và kiên nhẫn vẫn có thể vượt qua những đêm đen tối nhất. Trông cậy và kiên nhẫn đi cùng nhau.
    Đức cậy là nhân đức của những người có tâm hồn trẻ trung; và ở đây tuổi tác không thành vấn đề. Bởi vì cũng có những người già với đôi mắt sáng ngời, họ sống không ngừng hướng về tương lai. Chúng ta hãy nghĩ đến hai vị cao niên của Tin Mừng, Simeon và Anna: họ không bao giờ mệt mỏi chờ đợi và nhìn thấy chặng đường cuối cùng của cuộc đời họ được chúc phúc nhờ cuộc gặp gỡ với Đấng Mêsia, là Chúa Giêsu, được cha mẹ Ngài đưa vào Đền Thờ. Thật là một ơn phúc nếu tất cả chúng ta đều được như vậy! Nếu sau một chặng đường dài, đặt bao bị và cây gậy xuống, lòng chúng ta tràn ngập niềm vui chưa từng có và chúng ta cũng có thể kêu lên: “Lạy Chúa, xin để cho tôi tớ Chúa được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ, Chúa đã dành sẵn cho muôn dân, đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel dân Ngài” (Lc 2,29-32).
    Anh chị em thân mến! Chúng ta hãy bước tới và xin ơn biết cậy trông, cậy trông với lòng kiên nhẫn. Hãy luôn hướng tới cuộc gặp gỡ dứt khoát đó; Hãy luôn nghĩ rằng Chúa ở gần chúng ta, rằng cái chết sẽ không bao giờ chiến thắng được! Chúng ta hãy bước tới và cầu xin Chúa ban cho chúng ta đức cậy cao cả này, kèm theo sự kiên nhẫn.
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 18: Đức tin

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 18: Đức tin

    Bài giáo lý của Đức Thánh Cha Phanxicô về những tật xấu và các nhân đức. 
    Bài 18: Đức tin
     

    Anh chị em thân mến
    Hôm nay tôi muốn nói về đức tin. Cùng với đức ái và đức cậy, nhân đức này được gọi là nhân đức “đối thần”. Có ba nhân đức đối thần: đức tin, đức cậy và đức mến. Tại sao gọi là đối thần? Bởi vì chúng chỉ có thể sống được nhờ hồng ân của Thiên Chúa. Ba nhân đức đối thần là những hồng ân cao cả mà Thiên Chúa ban cho khả năng đạo đức của chúng ta. Không có chúng, có thể chúng ta khôn ngoan, công bình, mạnh mẽ và tiết độ, nhưng chúng ta sẽ không có đôi mắt nhìn được ngay cả trong bóng tối; chúng ta sẽ không có trái tim yêu thương ngay cả khi nó không được yêu; chúng ta sẽ không có niềm hy vọng dám chống lại mọi hy vọng.
    Đức tin là gì? Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo giải thích cho chúng ta rằng đức tin là hành vi qua đó con người tự do phó mình cho Thiên Chúa (số 1814). Trong đức tin này, Ápraham trở thành người cha vĩ đại. Khi chấp nhận rời bỏ mảnh đất của tổ tiên để hướng tới vùng đất mà Chúa đã chỉ cho, có lẽ ông bị coi là kẻ điên rồ: tại sao lại bỏ cái đã biết cho cái chưa biết, cái chắc chắn cho cái bất toàn? Nhưng tại sao ông lại làm vậy? Ông bị điên rồi ư? Nhưng Abraham ra đi như thể ông đã nhìn thấy điều vô hình. Đây là những gì Kinh thánh nói về Ápraham: “Ông ra đi như thể xem thấy Đấng vô hình”. Điều này thật tuyệt vời. Và chính Đấng vô hình này sẽ khiến ông lên núi cùng với con trai của mình là Isaac, đứa con duy nhất của lời hứa, người chỉ được tha để không bị hiến tế vào giây phút cuối cùng. Nhờ đức tin này, Ápraham trở thành cha của một dòng tộc đông đúc. Đức tin đã làm cho ông sinh hoa trái.
    Môsê là người có đức tin, đã đón nhận tiếng Chúa ngay cả khi có nhiều ngờ vực có thể làm ông lay động, ông vẫn tiếp tục kiên định và tin tưởng vào Thiên Chúa, thậm chí còn bảo vệ những người kém đức tin.
    Đức Trinh Nữ Maria là một người nữ có đức tin, khi nhận được lời loan báo của sứ thần, điều mà nhiều người có thể coi là quá khắt khe và mạo hiểm, đã trả lời: “Này, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38). Và với con tim tràn đầy đức tin, với con tim tràn đầy tin tưởng vào Thiên Chúa, Đức Maria dấn thân trên con đường mà Mẹ không hề biết đường cũng như không hề biết nguy hiểm.
    Đức tin là nhân đức làm nên người Kitô hữu. Bởi vì là Kitô hữu trước hết không phải là chấp nhận một nền văn hóa với những giá trị đi kèm với nó, nhưng làm Kitô hữu là đón nhận và gìn giữ một mối dây, mối dây liên kết với Thiên Chúa: tôi và Thiên Chúa; con người tôi và khuôn mặt đáng yêu của Chúa Giêsu. Mối liên kết này làm nên người kitô hữu chúng ta.
    Liên quan đến đức tin, nảy ra trong đầu tôi một đoạn trong Tin Mừng. Các môn đệ của Chúa Giêsu đang sang bờ bên kia và bất ngờ cuồng phong nổi lên. Họ nghĩ rằng họ có thể vượt qua bằng sức mạnh của đôi tay, bằng kinh nghiệm, nhưng con thuyền bắt đầu đầy nước và họ hoảng sợ (xem Mc 4,35-41). Tin mừng cho biết, họ không nhận ra rằng họ đã có giải pháp ngay trước mắt: Chúa Giêsu ở trên thuyền với họ, giữa cơn bão, và Chúa Giêsu đang ngủ. Cuối cùng, khi họ đánh thức Người dậy, vừa sợ hãi vừa tức giận vì Người để họ sợ đến chết, Chúa Giêsu trách họ: “Sao anh em lại sợ? Anh em vẫn chưa có lòng tin sao?” (Mc 4,40).
    Vậy thì đây là kẻ thù lớn nhất của đức tin: nó không phải là trí thông minh, không phải là lý trí, như, than ôi, một số người tiếp tục lặp đi lặp lại một cách ám ảnh, nhưng kẻ thù lớn nhất của đức tin là sợ hãi. Vì lý do này, đức tin là món quà đầu tiên được đón nhận vào trong đời sống Kitô hữu: một món quà phải được đón nhận và cầu xin hàng ngày, để bên trong chúng ta được đổi mới. Rõ ràng đây là một món quà nhỏ nhưng lại rất cần thiết. Khi cha mẹ đưa chúng ta đến giếng rửa tội, sau khi tuyên bố tên mà họ đã chọn cho chúng ta, họ được vị linh mục thẩm vấn: “Anh chị em xin gì nơi Hội thánh Chúa?”. Và cha mẹ đã trả lời: xin “Đức tin, phép rửa!”.
    Đối với các bậc cha mẹ Kitô giáo, ý thức được ân sủng đã được ban cho mình, cũng là ý thức được món quà họ cần xin cho con mình: đức tin. Với đức tin, các bậc cha mẹ biết rằng ngay cả giữa những thử thách của cuộc sống, con mình sẽ không đắm chìm trong sợ hãi. Vâng, kẻ thù là sự sợ hãi. Họ cũng biết rằng khi đứa trẻ không còn cha mẹ ở trần gian này thì nó vẫn còn có Thiên Chúa Cha ở trên trời, Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi nó. Tình yêu của chúng ta thật mong manh và chỉ có tình yêu của Chúa mới chiến thắng được cái chết.
    Tất nhiên, như vị Thánh Tông đồ nói, không phải ai cũng có đức tin (xem 2 Tx 3,2), và ngay cả chúng ta, những người có đức tin, cũng thường nhận ra rằng mình chỉ có một chút đức tin thôi. Chúa Giêsu thường khiển trách chúng ta, như Người đã làm với các môn đệ, là “những kẻ kém tin”. Nhưng đó là món quà hạnh phúc nhất, đức tính duy nhất mà chúng ta được phép ghen tị. Bởi vì những ai có đức tin đều có sức mạnh không chỉ của con người; thực ra, đức tin “kích hoạt” ân sủng trong chúng ta và mở lòng trí cho mầu nhiệm của Thiên Chúa. Như Chúa Giêsu đã từng nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17,6). Vì thế, cũng như các môn đệ chúng ta hãy lặp lại với Người: Lạy Chúa, xin gia tăng niềm tin cho chúng con! (xem Lc 17,5) Đó là một lời cầu nguyện hay! Anh chị em chúng ta cùng nhau đọc câu đó được không? “Lạy Chúa, xin gia tăng niềm tin cho chúng con”. Vâng! Xin cảm ơn.
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 17: Đời sống ân sủng theo Thánh Thần

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 17: Đời sống ân sủng theo Thánh Thần

    Bài giáo lý của Đức Thánh Cha về những tật xấu và các nhân đức. 
    Bài 17: Đời sống ân sủng theo Thánh Thần
     

    Anh chị em thân mến!
    Trong những tuần gần đây, chúng ta đã suy gẫm về các nhân đức cột trụ: khôn ngoan, công bình, dũng cảm và tiết độ. Đó là bốn đức tính cốt yếu. Như tôi đã nhấn mạnh nhiều lần, bốn đức tính này thuộc về sự khôn ngoan rất cổ xưa, thậm chí có trước cả Kitô giáo. Ngay cả trước Chúa Kitô, lòng trung thực được rao giảng như một nghĩa vụ dân sự, sự khôn ngoan như một quy luật hành động, lòng can đảm như một thành phần cơ bản cho một cuộc sống hướng tới điều thiện, sự tiết chế như một biện pháp cần thiết để tránh không bị lôi kéo bởi những thái quá. Di sản rất cổ xưa này, di sản của nhân loại, đã không bị Kitô giáo thay thế, nhưng được xác định rõ ràng, được đánh giá, thanh lọc và hội nhập vào đức tin.
    Vì vậy, trong tâm hồn của mỗi người đều có khả năng tìm kiếm điều thiện. Chúa Thánh Thần được ban để những ai đón nhận Người có thể biện phân rõ ràng điều thiện và điều ác, có sức mạnh để gắn bó với điều thiện bằng cách tránh điều ác, và khi làm như vậy họ đạt được sự phát triển bản thân trọn vẹn.
    Nhưng trong lộ trình mà tất cả chúng ta đang thực hiện hướng tới đời sống thiện hảo, vốn thuộc về số mệnh của mỗi người – số mệnh của mỗi người là sự viên mãn, là sự sống tràn đầy -, người Kitô hữu được hưởng sự trợ giúp đặc biệt từ Chúa Thánh Thần, Thánh Thần của Chúa Giêsu. Đời sống thiện hảo được thực hiện cùng với ân sủng của ba nhân đức khác, thuần túy Kitô giáo, thường được nói đến trong các tác phẩm của Tân Ước. Những thái độ nền tảng này, biểu thị đặc tính đời sống của người Kitô hữu, là ba nhân đức mà bây giờ chúng ta sẽ nói đến: đức tin, đức cậy và đức mến. [Anh chị em chúng ta cùng nói lớn: đức tin, đức cậy, đức mến]. Các tác giả Kitô giáo đã sớm gọi chúng là những nhân đức “đối thần”, vì chúng được tiếp nhận và được sống trong mối tương quan với Thiên Chúa, để phân biệt chúng với bốn nhân đức còn lại được gọi là “cột trụ”, vì chúng tạo nên “bản lề” của một cuộc sống tươi đẹp. Ba nhân đức đối thần này chúng ta được lãnh nhận nơi Bí tích Rửa tội và chúng đến từ Chúa Thánh Thần. Do đó, cả hai loại, nhân đức đối thần và các nhân đức cột trụ, kết hợp với nhau trong các suy tư có hệ thống, đã tạo nên bảy điều tuyệt diệu, thường đối lại với danh sách bảy mối tội đầu. Do đó, Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo định nghĩa hành động của các nhân đức đối thần rằng: “Chúng định hình và mang lại sự sống cho tất cả các nhân đức luân lý. Các nhân đức này được Thiên Chúa phú bẩm trong linh hồn của các tín hữu, giúp họ có khả năng hành động như con cái của Ngài và đáng hưởng sự sống vĩnh cửu. Các nhân đức đối thần là bảo chứng cho sự hiện diện và hành động của Chúa Thánh Thần trong các năng lực của con người” ( GLCG 1813 ).
    Trong khi các nhân đức căn bản có nguy cơ tạo ra những người nam nữ anh hùng trong việc làm điều tốt, nhưng nhìn chung là cô độc, cô lập, thì hồng ân lớn lao của các nhân đức đối thần là sự hiện hữu sống động trong Chúa Thánh Thần. Người Kitô hữu không bao giờ cô đơn. Họ làm điều tốt không phải bằng nỗ lực lớn lao của sự dấn thân cá nhân, mà bởi vì, với tư cách là một môn đệ khiêm nhường, họ bước theo Thầy Giêsu, lên đường tiến về phía trước. Người Kitô hữu có các nhân đức đối thần làm thuốc giải độc tuyệt vời cho sự tự mãn. Biết bao người không thể chê trách được về mặt đạo đức lại có nguy cơ trở thành những người tự phụ và kiêu ngạo trong mắt những người họ quen biết! Đó là một mối nguy hiểm mà Tin Mừng cảnh báo chúng ta, khi Chúa Giêsu khuyên các môn đệ của Người: “Anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10). Kiêu ngạo là một chất độc, nó là một chất độc cực mạnh: chỉ một giọt thôi cũng đủ hủy hoại cả một cuộc đời được đánh dấu bằng sự thiện lành. Một người có thể đã làm cả núi việc thiện, có thể được ghi nhận và khen thưởng, nhưng nếu làm tất cả những điều đó chỉ vì bản thân, để đề cao bản thân thì liệu người đó có còn được coi là người có đạo đức không? KHÔNG!
    Điều thiện không chỉ là mục đích mà còn là cách thức. Điều thiện cần rất nhiều sự thận trọng, cần nhiều tử tế. Trên hết, làm điều tốt cần phải loại bỏ diện mạo đôi khi quá cồng kềnh đó là cái tôi của chúng ta. Khi cái “tôi” của chúng ta đặt ở trung tâm của mọi thứ thì mọi thứ sẽ bị hủy hoại. Nếu mọi hành động chúng ta thực hiện trong cuộc sống để cho bản thân mình thì liệu động lực này có thực sự quan trọng đến vậy không? Cái “tôi” tội nghiệp chiếm hữu mọi thứ và từ đó sinh ra kiêu ngạo.
    Để sửa chữa tất cả những tình huống đôi khi trở nên đáng thương này, các nhân đức đối thần sẽ giúp ích rất nhiều, đặc biệt trong những lúc sa ngã, bởi vì ngay cả những người có ý hướng ngay lành đôi khi cũng sa ngã. Tất cả chúng ta đều sa ngã trong cuộc sống vì tất cả chúng ta đều là tội nhân. Cũng như những người thực hành nhân đức hàng ngày đôi khi cũng mắc sai lầm – trong cuộc sống ai cũng mắc sai lầm -: trí khôn không phải lúc nào cũng sáng suốt, ý chí không phải lúc nào cũng vững vàng, đam mê không phải lúc nào cũng được kiềm chế, lòng dũng cảm không phải lúc nào cũng vượt qua được nỗi sợ hãi. Nhưng nếu chúng ta mở lòng cho Chúa Thánh Thần, để Ngài phục hồi các nhân đức đối thần trong chúng ta: khi đó, nếu lỡ mất niềm tin, Thiên Chúa sẽ mở cửa đức tin cho chúng ta; nếu chúng ta nản lòng, Thiên Chúa đánh thức niềm hy vọng trong chúng ta; và nếu con tim chúng ta chai đá, Thiên Chúa sẽ làm dịu nó bằng tình yêu của Ngài.
    G. Võ Tá Hoàng
  • Những tật xấu và các nhân đức. Bài 16: Tiết độ

    Những tật xấu và các nhân đức. Bài 16: Tiết độ

    Giáo lý về “Những tật xấu và các nhân đức” của Đức Thánh cha Phanxicô
    Bài 16: Tiết độ

    Anh chị em thân mến!
    Hôm nay tôi sẽ đề cập đến nhân đức thứ tư và cũng là nhân đức cột trụ cuối cùng. Với ba nhân đức kia, nhân đức này cùng chia sẻ một lịch sử lâu đời và không chỉ thuộc về người Kitô hữu. Đối với người Hy Lạp, việc thực hành các nhân đức hướng đến mục tiêu là được hạnh phúc. Triết gia Aristole đã viết một chuyên luận quan trọng về đạo đức gửi cho con trai của ông là Nicomaco, dạy về nghệ thuật sống. Tại sao tất cả chúng ta đều tìm kiếm hạnh phúc nhưng rất ít người đạt được nó? Đây là câu hỏi. Để trả lời cho câu hỏi này, Aristole đề cập đến chủ đề các đức tính, trong đó enkráteia, tức là tiết độ, có một vị trí quan trọng. Thuật ngữ Hy Lạp có nghĩa đen là “quyền lực đối với chính mình”. Tiết độ là một sức mạnh đối với chính mình. Do đó, đức tính này là khả năng tự chủ, là nghệ thuật không để mình bị cuốn vào những cảm xúc nổi loạn, mang lại trật tự cho cái mà Manzoni gọi là “mớ hỗn độn của trái tim con người”.
    Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo nói với chúng ta rằng “Tiết độ là nhân đức luân lý giúp chúng ta điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui và giữ sự chừng mực trong việc sử dụng các của cải trần thế. Nó giúp ý chí làm chủ các bản năng và kiềm chế các ham muốn trong những giới hạn của sự lương thiện. Người tiết độ quy hướng các thèm muốn giác quan của mình về điều thiện, giữ được sự cẩn trọng lành mạnh, và không chiều theo sức mạnh của mình mà bước theo các dục vọng của trái tim mình” (GLCG 1809).
    Vì vậy, như người Ý nói, tiết độ là đức tính đúng mực. Trong mọi tình huống, đức tính ấy cư xử bằng sự khôn ngoan, bởi vì những người luôn hành động thiếu động lực hoặc bồng bột cuối cùng đều không đáng tin cậy. Những người thiếu tiết độ thì không đáng tin cậy. Trong một thế giới mà có nhiều người tự hào rằng họ nói những gì họ nghĩ, người tiết độ thích nghĩ những gì họ nói. Bạn có hiểu được sự khác biệt ở đây không? Đừng nói những gì tôi nghĩ đến, xin đừng, mà hãy nghĩ về những gì tôi phải nói. Đừng đưa ra những lời hứa suông mà hãy đưa ra những cam kết trong chừng mực ta có thể thực hiện được.
    Ngay cả với những thú vui, người tiết độ cũng hành động với sự suy xét. Dòng chảy tự do của những bốc đồng và phóng túng hoàn toàn dành cho thú vui rốt cuộc lại quay lưng chống lại chính chúng ta, đẩy chúng ta rơi vào trạng thái buồn chán. Biết bao người muốn trải nghiệm mọi thứ cách tham lam lại nhận thấy mình mất đi mùi vị với mọi thứ! Tốt hơn hết bạn nên tìm biện pháp phù hợp: chẳng hạn, để đánh giá một loại rượu ngon, uống từng ngụm nhỏ sẽ tốt hơn là nuốt trọn một ngụm. Tất cả chúng ta đều biết điều này.
    Người tiết độ biết cân nhắc và định liệu từng lời cẩn thận. Họ suy nghĩ trước khi nói. Người ấy không cho phép mình tức giận làm hỏng các mối quan hệ và tình bạn mà sau đó vất vả lắm mới có thể xây dựng lại được. Đặc biệt là trong cuộc sống gia đình, nơi mà những ngăn cản thường giảm bớt, tất cả chúng ta đều có nguy cơ không kiểm soát được những căng thẳng, khó chịu và tức giận. Có lúc phải nói và có lúc im lặng, nhưng cả hai đều cần phải điều chỉnh đúng mực. Và điều này áp dụng cho nhiều thứ, chẳng hạn như ở bên người khác và ở một mình.
    Nếu người tiết độ biết kiểm soát tính hay nóng nảy của mình, điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ luôn nhìn thấy họ với khuôn mặt bình tĩnh và tươi cười. Thực ra, đôi khi cần phải phẫn nộ, nhưng phải luôn đúng cách. Đó là những từ: đúng mức, đúng cách. Một lời trách móc đôi khi còn tốt hơn so với im lặng chua chát và thù oán. Người tiết độ biết rằng không có gì bất tiện hơn việc sửa lỗi người khác, nhưng người ấy cũng biết rằng điều đó là cần thiết: ​​nếu không người đó sẽ buông thả cho cái ác. Trong một số trường hợp nhất định, người tiết độ cố gắng giữ các thái cực cùng nhau: anh ấy khẳng định những nguyên tắc tuyệt đối, khẳng định những giá trị không thể đàm phán, nhưng cũng biết cách hiểu mọi người và thể hiện sự đồng cảm với họ.
    Do đó, món quà của người tiết độ là sự cân bằng, một phẩm chất quý giá nhưng cũng hiếm có. Trên thực tế, mọi thứ trong thế giới đều đẩy chúng ta đến thái quá. Thay vào đó, sự tiết độ phù hợp tốt với những thái độ Phúc âm như nhỏ bé, thận trọng, kín đáo, nhu mì. Những người tiết độ đánh giá cao sự quý trọng của người khác, nhưng không coi đó là tiêu chuẩn duy nhất cho mọi hành động và mọi lời nói. Họ nhạy cảm, biết khóc và không xấu hổ về điều đó nhưng họ không cảm thấy có lỗi với bản thân. Bị đánh bại, người ấy lại đứng dậy; Khi chiến thắng, người ấy có thể trở lại cuộc sống kín đáo thường ngày của mình. Người ấy không tìm kiếm những tràng pháo tay, nhưng biết mình cần người khác.
    Anh chị em thân mến! Không phải việc tiết độ sẽ khiến cho anh chị em u ám và buồn bã. Thật ra, nó làm cho chúng ta tận hưởng những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống: ngồi bàn ăn cùng nhau, sự dịu dàng của tình bạn, tâm sự với những người khôn ngoan, sự kinh ngạc trước vẻ đẹp của tạo hóa. Hạnh phúc có chừng mực là niềm vui nảy nở trong lòng những người biết nhận ra và trân trọng với những điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta món quà này: món quà trưởng thành, trưởng thành về tuổi tác, trưởng thành về tình cảm, trưởng thành về mặt xã hội. Món quà của sự tiết độ.
    G. Võ Tá Hoàng