Danh mục: Tin Giáo hội
-

Hình ảnh thánh lễ phong chân phước cho ĐGH Gioan Phaolô II
😛 Hình ảnh thánh lễ phong chân phước cho ĐGH Gioan Phaolô II
Bài Giảng Của ĐTC Bênêđictô XVI Trong Thánh Lễ Phong Chân Phước Đức Gioan Phaolô II
Quảng Trường Thánh Phêrô, Chúa Nhật 01.5.2011
Anh Chị Em thân mến,
Cách đây sáu năm chúng ta tập trung tại Quảng Trường này để cử hành lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Niềm đau của chúng ta vì mất ngài thật sâu sắc, và càng lớn hơn nữa, đó là tâm tình tri ơn vô bờ của chúng ta bao trùm cả thành Rôma và toàn thế giới: niềm tri ơn ấy, cách nào đó, chính là hoa quả từ toàn thể cuộc đời vị tiền nhiệm của tôi, cách riêng từ chứng tá đau khổ của ngài. Ngay lúc đó chúng ta đã cảm nhận hương thơm thánh thiện của ngài, và bằng nhiều cách Dân Chúa đã bày tỏ niềm tôn kính ngài. Vì vậy, với tất cả sự tôn trọng các chuẩn mực về phong thánh của Giáo Hội, tôi đã mong muốn tiến trình phong Chân Phước cho ngài được xúc tiến nhanh chóng một cách hợp tình hợp lý. Và hôm nay, ngày mong đợi đã đến; ngày này đến nhanh bởi vì đây là điều đẹp lòng Chúa: Gioan Phaolô II được chúc phúc!
Tôi muốn gửi lời chào thân ái đến tất cả anh chị em từ khắp thế giới tập trung về đây thật đông đảo trong biến cố vui mừng này – các Hồng Y, các Thượng Phụ của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, các anh em Giám Mục và Linh Mục, các Phái Đoàn, các Đại Sứ và các giới chức thẩm quyền dân sự, các nam nữ Tu Sĩ và Giáo Dân. Tôi cũng gửi lời chào đến tất cả anh chị em tham dự sự kiện này qua các làn sóng phát thanh và truyền hình.
Hôm nay là Chúa Nhật thứ hai Mùa Phục Sinh, ngày mà Chân Phước Gioan Phaolô II đã đặt là Chúa Nhật của Lòng Chúa Thương Xót. Ngày hôm nay được chọn cho cử hành này của chúng ta bởi vì, do Thánh ý Chúa quan phòng, vị tiền nhiệm của tôi đã qua đời vào hôm áp lễ này. Hôm nay cũng là ngày đầu tháng Năm, tháng kính Đức Maria, và Phụng Vụ kính nhớ Thánh Giuse Lao Công. Tất cả những yếu tố này làm phong phú cho lời cầu nguyện của chúng ta, chúng giúp chúng ta trong cuộc hành hương qua không gian và thời gian; nhưng trên thiên quốc một cử hành rất khác đang diễn ra giữa các Thiên Thần và các Thánh! Dù vậy, chỉ duy nhất một Thiên Chúa thôi, và cũng chỉ một Chúa Kitô thôi, Đấng là cầu nối đất với trời. Trong khoảnh khắc này, chúng ta cảm thấy gần gũi hơn bao giờ việc chia sẻ trong Phụng Vụ thiên quốc.
“Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,29). Chúa Giêsu công bố mối phúc này trong Tin Mừng hôm nay: mối phúc của đức tin! Với chúng ta, thật là một ấn tượng đặc biệt bởi vì chúng ta qui tụ về đây để cử hành một cuộc tôn phong Chân Phước, và càng hơn thế nữa, vì hôm nay người được công bố rằng có phúc ấy là một Giáo Hoàng, một người kế vị Thánh Phêrô, một người được kêu gọi để củng cố anh chị em mình trong đức tin. Đức Gioan Phaolô II được chúc phúc vì đức tin của ngài, một đức tin mạnh mẽ, quảng đại và tông truyền. Chúng ta liên tưởng ngay đến một mối phúc khác: “Simon, con Giôna, anh thật có phúc. Vì không phải xác thịt, mà là chính Cha trên trời đã mạc khải những điều này cho anh” (Mt 16,17). Cha trên trời của chúng ta đã mạc khải điều gì cho Simon? Đó là: Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống. Nhờ đức tin này, Simon trở thành Phêrô, thành tảng đá để Chúa Giêsu xây dựng Hội Thánh của Ngài trên đó. Mối phúc vĩnh cửu của Đức Gioan Phaolô II, mà hôm nay Hội Thánh hân hoan công bố, được chất chứa trọn vẹn trong những lời này của Chúa Giêsu: “Simon, anh thật có phúc” và “Phúc cho những ai không thấy mà tin!” Đó là mối phúc của đức tin, mà Đức Gioan Phaolô II cũng đã lãnh nhận như món quà do Thiên Chúa Cha ban tặng để xây dựng Hội Thánh của Đức Kitô.
Chúng ta lại liên tưởng đến một mối phúc khác, mối phúc xuất hiện trước mọi mối phúc khác trong Tin Mừng . Đó là mối phúc của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu Thế. Vừa mới thụ thai Chúa Giêsu, Đức Maria nghe những lời này của Thánh Êlisabét: “Phúc cho em là kẻ đã tin rằng Lời Chúa phán với em sẽ được thực hiện” (Lc 1,45). Mối phúc đức tin nhận kiểu mẫu của nó nơi Đức Maria, và tất cả chúng ta vui mừng vì cuộc tôn phong Chân Phước Đức Gioan Phaolô II diễn ra trong ngày hôm nay, ngày đầu tháng Đức Mẹ, dưới cái nhìn từ mẫu của Đấng đã qua đức tin của mình mà nâng đỡ đức tin của các Tông Đồ và vẫn không ngừng nâng đỡ đức tin của những người kế vị các Tông Đồ, nhất là những người được kêu gọi kế nhiệm Thánh Phêrô. Đức Maria không xuất hiện trong các trình thuật Phục Sinh, nhưng người thật sự có mặt ở đó, một sự hiện diện liên lỉ, kín đáo: Người là người Mẹ mà Chúa Giêsu đã ủy trao cho mỗi môn đệ và cho toàn cộng đoàn. Cách riêng, chúng ta có thể thấy Thánh Gioan và Thánh Luca ghi lại sự hiện diện từ mẫu và đầy năng lực của Đức Maria trong các bản văn đi trước Bài Tin Mừng và Bài Đọc thứ Nhất trong Thánh Lễ hôm nay. Trong trình thuật về cái chết của Chúa Giêsu, Đức Maria hiện diện dưới chân Thánh Giá (Ga 19,25), và ở phần đầu Sách Công Vụ Các Tông Đồ, Người được nhìn thấy giữa các môn đệ đang qui tụ để cầu nguyện trong Căn Gác Thượng (Cv 1,14).
Bài Đọc thứ Hai hôm nay cũng nói với chúng ta về đức tin. Chính Thánh Phêrô, đầy nhiệt tâm thiêng liêng, đã chỉ ra cho những người mới lãnh nhận Phép Rửa lý do của niềm hy vọng và niềm vui của họ. Tôi thấy thú vị nhận ra rằng trong đoạn văn này, ở đầu Thư Thứ Nhất của ngài, Phêrô đã không dùng ngôn ngữ huấn dụ; thay vào đó, ngài nêu một sự kiện. Ngài viết: “Anh em vui mừng”, và ngài thêm: “anh em yêu mến Ngài, và tuy anh em không thấy ngài bây giờ, anh em vẫn tin vào Ngài và vui mừng với niềm vui khôn tả, vì anh em đang nhận lãnh hoa quả của đức tin anh em, là ơn cứu độ linh hồn anh em” (1Pr 1,6.8-9).
Tất cả những động từ này đều ở trực thuyết cách, bởi vì một thực tại mới đã đến trong sự Phục Sinh của Đức Kitô, một thực tại được đức tin mở ra đón nhận. “Đây là điều Chúa đang thực hiện” – như lời Thánh Vịnh (118,23), và: “thật kỳ diệu trước mắt chúng ta”, trước đôi mắt đức tin của chúng ta.
Anh Chị Em thân mến, hôm nay đôi mắt chúng ta, trong ánh sáng chan hòa của Chúa Kitô Phục Sinh, hướng nhìn về hình ảnh dấu yêu và đáng kính của Đức Gioan Phaolô II. Hôm nay tên của ngài được nối vào danh sách của những người mà ngài đã phong Thánh hoặc phong Chân Phước trong suốt hai mươi bảy năm ngài làm giáo hoàng, qua đó ngài mạnh mẽ nhấn mạnh ơn gọi phổ quát của mọi người đạt tới chóp đỉnh đời Kitô hữu, đạt tới sự thánh thiện, như giáo huấn của Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế về Giáo Hội. Tất cả chúng ta, là thành viên của Dân Thiên Chúa – Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế, Giáo Dân, nam nữ Tu Sĩ – chúng ta đang hành hương về quê hương thiên quốc nơi Đức Trinh Nữ Maria đã đi trước chúng ta, chúng ta được gắn kết, như Mẹ đã gắn kết một cách độc đáo và hoàn hảo, vào mầu nhiệm Đức Kitô và Hội Thánh. Karol Wojtyla đã tham dự Công Đồng Vatican II, đầu tiên trong tư cách Giám Mục phụ tá, rồi trong tư cách Tổng Giám Mục của Kraków. Ngài đã hoàn toàn ý thức rằng quyết định của Công Đồng dành chương cuối cùng của Hiến Chế về Hội Thánh cho Đức Maria có nghĩa rằng Mẹ Đấng Cứu Thế được biểu dương như hình ảnh và kiểu mẫu của sự thánh thiện cho mọi Kitô hữu và cho toàn Giáo Hội. Đây là tầm nhìn thần học mà Chân Phước Gioan Phaolô II đã khám phá khi còn là một thanh niên, và ngài đã tiếp tục duy trì và đào sâu cho đến suốt đời. Một tầm nhìn được diễn tả qua hình ảnh Thánh Kinh Đức Kitô chịu đóng đinh, với Đức Maria, Mẹ Ngài, đứng bên cạnh. Hình ảnh này từ Tin Mừng theo Thánh Gioan (19,25-27) được sử dụng trong biểu tượng Giám Mục và sau đó là biểu tượng Giáo Hoàng của Karol Wojtyla: một Thánh Giá vàng với chữ “M” phía dưới, bên phải, cùng với khẩu hiệu “Totus tuus”, lấy lại từ câu nói nổi tiếng của Thánh Louis Marie Grignon Montfort mà Karol Wojtyla lấy làm ánh sáng soi dẫn cả đời mình: “Totus tuus ego sum et omnia mea tua sunt. Accipio te in mea omnia. Praebe mihi cor tuum, Maria – Con hoàn toàn thuộc về Mẹ, và mọi sự của con là của Mẹ. Mẹ là tất cả của con. Lạy Mẹ Maria, xin ban cho con trái tim của Mẹ” (Về lòng tôn sùng đích thực đối với Đức Trinh Nữ, 266).Trong chứng từ của mình, vị tân Chân Phước đã viết: “Ngày 16 tháng 10 năm 1978, khi Mật Tuyển Viện của các Hồng Y chọn Gioan Phaolô II, thủ chỉ của Ba Lan, Đức Hồng Y Stefan Wyszyński đã nói với tôi: ‘Công việc của tân Giáo Hoàng sẽ là lãnh đạo Giáo Hội tiến vào ngàn năm thứ ba’”. Và ngài thêm: “Tôi muốn một lần nữa cám ơn Chúa Thánh Thần về quà tặng Công Đồng Vatican II. Cùng với toàn thể Giáo Hội, cách riêng cùng với các Giám Mục, tôi cảm nhận sâu xa ân huệ này. Tôi xác tín rằng Công Đồng này của thế kỷ XX sẽ vẫn còn là món quà lâu dài cho các thế hệ kế tiếp kín múc các kho tàng mà nó để lại cho chúng ta. Trong tư cách là một Giám Mục tham dự Công Đồng từ những ngày đầu tiên cho đến khi kết thúc, tôi muốn ủy thác di sản lớn lao này cho tất cả những ai đang và sẽ được mời gọi thực hiện nó. Về phần mình, tôi biết ơn Đấng Mục Tử Vĩnh Cửu đã giúp tôi phục vụ trong tinh thần này trong suốt triều giáo hoàng của mình”. Tinh thần gì vậy? Đó chính là tinh thần mà Đức Gioan Phaolô II trình bày trong Thánh lễ trọng thể đầu tiên của ngài tại Quảng Trường Thánh Phêrô, với những lời cảm kích không thể nào quên: “Đừng sợ! Hãy mở, mở rộng các cánh cửa cho Chúa Kitô!” Điều mà vị giáo hoàng mới được bầu đề nghị với mọi người, thì chính ngài là người đầu tiên thực hiện: ngài đã mở các hệ thống xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế cho Đức Kitô, với sức mạnh của một người khổng lồ – một sức mạnh ngài nhận được từ Thiên Chúa – tạo ra một dòng thác hầu như không thể đảo ngược. Bằng chứng tá đức tin, tình yêu, bằng lòng can đảm tông đồ của mình, và bằng uy tín cá nhân lớn lao, người con tuyệt vời này của đất nước Ba Lan đã giúp cho các tín hữu trên khắp thế giới không sợ được gọi là Kitô hữu, không sợ thuộc về Giáo Hội, không sợ nói về Tin Mừng. Nói tắt một lời: ngài đã giúp chúng ta không sợ sự thật, vì sự thật là bảo đảm của tự do. Hay nói hàm súc hơn: ngài đã trao cho chúng ta sức mạnh để tin vào Đức Kitô, vì Đức Kitô là Redemptor hominis, Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Đó là chủ đề của Thông Điệp đầu tiên của ngài, và cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các Thông Điệp khác.
Khi Karol Wojtyla ngồi vào ghế của Thánh Phêrô, ngài mang theo với ngài một nhận hiểu sâu xa về sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác-xít và Kitô giáo, căn cứ trên những tầm nhìn của mỗi bên về con người. Đây là sứ điệp của ngài: con người là con đường của Giáo Hội, và Đức Kitô là con đường của con người. Với sứ điệp này, vốn là di sản lớn lao của Công Đồng Vatican II, và của “vị tài công” của Công Đồng là Đức Phaolô VI, Tôi Tớ của Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II đã dẫn dắt Dân Thiên Chúa qua ngưỡng cửa của Thiên Niên Kỷ thứ ba, mà nhờ Đức Kitô ngài đã mạnh dạn gọi là “ngưỡng cửa của hy vọng”. Qua hành trình chuẩn bị lâu dài cho Năm Thánh 2000, ngài một lần nữa dìu dắt Kitô giáo tới tương lai, tương lai của Thiên Chúa, vốn siêu việt trên lịch sử trong khi vẫn trực tiếp tác động vào lịch sử. Ngài đã đúng đắn khi gọi Kitô giáo là động lực của niềm hy vọng ấy, niềm hy vọng cách nào đó từng bị rúng động trước chủ thuyết Mác-xít và trước ý thức hệ về sự tiến bộ. Ngài đã lấy lại cho Kitô giáo khuôn mặt thực của mình như là một tôn giáo của hy vọng, được sống trong lịch sử trong một tinh thần của “Mùa Vọng”, trong một cuộc hiện sinh cá nhân và cộng đồng hướng tới Đức Kitô, sự viên mãn của loài người và là sự lấp đầy nơi chúng ta mọi khát vọng công lý và hòa bình.
Cuối cùng, một cách biệt vị hơn, tôi muốn cảm tạ Thiên Chúa về ân huệ đã làm việc nhiều năm với Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tôi từng biết ngài từ trước kia và từng ngưỡng mộ ngài, nhưng trong hai mươi ba năm, bắt đầu từ năm 1982 sau khi ngài gọi tôi về Rôma nhận nhiệm vụ đứng đầu Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, tôi được ở bên cạnh ngài và càng kính mến ngài hơn. Công việc của tôi đã được nâng đỡ nhờ sự sâu sắc tâm linh và nhờ tri thức khôn ngoan phong phú của ngài. Tấm gương cầu nguyện của ngài không ngừng gây cảm kích và soi sáng cho tôi: ngài không ngừng kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa ngay cả khi lọt thỏm giữa bao yêu cầu của sứ vụ. Và cần phải kể đến chứng tá của ngài trong đau khổ nữa: Chúa đã dần dần rút đi khỏi ngài mọi sự, nhưng ngài vẫn cứ là “tảng đá”, như Chúa Kitô mong muốn. Lòng khiêm nhường sâu xa của ngài, cắm rễ trong mối gắn bó mật thiết với Đức Kitô, đã giúp ngài tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội và trao cho thế giới một sứ điệp thậm chí càng hùng hồn hơn khi sức mạnh thể lý của ngài suy kiệt. Bằng cách này ngài đã sống trọn, một cách phi thường, ơn gọi của mọi linh Mục và Giám Mục, đó là trở nên một hoàn toàn với Chúa Giêsu, Đấng mà ngài đón nhận và trao ban hằng ngày trong Bí Tích Thành Thể.
Hỡi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II yêu dấu, ngài thật có phúc, vì ngài đã tin! Chúng con xin ngài, từ trời cao, hãy tiếp tục nâng đỡ đức tin của đoàn Dân Thiên Chúa.
Biết bao lần từ cửa sổ kia ngài đã ban phép lành cho chúng con tại Quảng Trường này! Hôm nay, chúng con nguyện cầu: xin Đức Thánh Cha ban phép lành cho chúng con. Amen.
THIÊN PHONG dịch, từ trang www.vatican.va
Vietcatholic News
-

Xem truyền hình trực tiếp Lễ Tôn phong Chân phước Đức Gioan Phaolô II từ Vatican
Xem truyền hình trực tiếp Lễ Tôn phong Chân phước Đức Gioan Phaolô II từ Vatican
Xin bấm vào đây để xem truyền hình trực tiếp Lễ Tôn phong Chân phước Đức Gioan Phaolô II từ Vatican -

Chân phước Gioan Phaolô II: Đừng sợ – Hãy yêu thương – Hãy hy vọng
Chân phước Gioan Phaolô II:
Đừng sợ – Hãy yêu thương – Hãy hy vọng
WHĐ (27.04.2011) – Vài ngày nữa, tại Rôma, sẽ diễn ra sự kiện được toàn thể Giáo Hội mong đợi: Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II (1920-2005) được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức Tin trong giai đoạn sứ vụ giáo hoàng của ngài, tôn phong Chân phước.Trong những ngày này, Dân Chúa khắp nơi nhắc đến vị tân Chân phước với những hình ảnh còn tươi mới, những kỷ niệm còn đậm nét, và đặc biệt, những công trình còn sống động và những huấn từ còn nguyên giá trị hiện thực.
Đọc lại những huấn từ của Đức cố Giáo hoàng, có thể cảm nhận tính chất nhất quán, xuyên suốt trong những hướng dẫn mục vụ của vị Mục tử toàn thể Giáo Hội.
Đặc biệt những huấn từ của ngài khi mới bắt đầu đảm nhận trọng trách sứ vụ tông đồ Phêrô.
Tinh thần của những huấn từ này có thể tóm tắt trong ba cụm từ: Đừng sợ – Hãy yêu thương – Hãy hy vọng.
Ngay trong bài giảng khai mạc sứ vụ Tông đồ Phêrô ngày Chúa nhật 22-10-1978, tại quảng trường Thánh Phêrô, Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã kêu gọi toàn thể Hội Thánh và mọi người trên thế giới “Đừng sợ”:
“Anh chị em đừng sợ đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Người!”.
“Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.
“Đừng sợ! Chúa Kitô biết rõ “mọi điều trong lòng người”! Và chỉ một mình Người biết rõ” (Gioan Phaolô II – Bài giảng lễ khai mạc sứ vụ Tông đồ Phêrô).
Thái độ “không sợ” được Đức Gioan Phaolô II nói đến vượt trên ý nghĩa thông thường là sự bất khuất, không nao núng trước bạo lực, bạo quyền. Không sợ là thái độ vượt thắng sự thủ thế, co về mình, không dám mở ra đón lấy sự cao cả, siêu việt, linh thánh của Tin Mừng Cứu độ và cũng không đủ nghị lực và sự kiên trì đưa Tin Mừng trở thành hiện thực nơi trần gian, xây dựng Nước Chúa ngay trong thực tại trần thế.
Trong bài giảng thứ hai trên cương vị giáo hoàng, khi cử hành việc tiếp nhận ngai tòa giám mục giáo phận Rôma, ngày Chúa nhật 12-11-1978, tại nhà thờ Chánh tòa Gioan Latêranô, Đức Gioan Phaolô nói rõ thêm về lời kêu gọi “Đừng sợ”.
Đừng sợ đón lấy và thực thi lối sống Tin Mừng.
Đó là sống yêu thương, không hận thù, như chính Đức Kitô yêu thương và đã tha thứ cho kẻ bách hại mình:
“Tình yêu thì kiến tạo. Chỉ có tình yêu mới có thể kiến tạo được.
Còn thù hận thì phá hủy. Lòng hận thù không kiến tạo được gì hết. Nó chỉ gây đổ vỡ. Nó làm tan nát đời sống xã hội. Nó chỉ có thể gây sức ép đối với những người yếu đuối và chẳng xây dựng nổi một điều gì” (Gioan Phaolô II – Bài giảng lễ nhận nhà thờ Chánh tòa Gioan Latêranô của Giám mục Rôma)
Đừng sợ sống yêu thương trong thế giới còn đầy tràn lòng thù hận. Đó là tín thư của Gioan Phaolô II. Một tín thư xụất phát từ sứ điệp Tin Mừng Cứu độ của Đức Kitô. Sứ điệp của niềm Hy vọng:
“Hãy làm cho những Lời hằng sống của Đức Kitô đến được với mọi người để họ nghe được Lời của Chúa, sứ điệp của niềm Hy vọng” (Gioan Phaolô II – Bài giảng lễ khai mạc sứ vụ Tông đồ Phêrô).
Trọn đời mình, Chân phước Gioan Phaolô II đã sống trung thành với Đức Kitô, theo tôn chỉ: Đừng sợ sống yêu thương và hy vọng.
PV
Nguồn: hdgmvietnam.org -

Sứ Điệp Urbi et Orbi của ĐTC Bênêđictô XVI trong Lễ Phục Sinh 2011
Sứ Điệp Urbi et Orbi của ĐTC Bênêđictô XVI
trong Lễ Phục Sinh 2011
“In resurrectione tua, Christe, coeli et terra laetentur!
“Lạy Đức Kitô, trong sự phục sinh của Người, trời đất hãy vui mừng! “(Phụng Vụ Các Giờ Kinh).
Anh chị em ở Rôma và trên toàn thế giới thân mến,
Buổi sáng Phục Sinh mang lại cho chúng ta một tin cũ nhưng luôn là tin mới: Đức Kitô đã sống lại! Dư âm của biến cố này, đã được phát ra từ Giêrusalem hai mươi thế kỷ trước, vẫn tiếp tục vang vọng trong Hội Thánh, trong tận đáy lòng những ai sống đức tin sống động của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, đức tin của bà Maria Mađalêna và những phụ nữ khác, những người đầu tiên phát hiện ra Ngôi mộ trống, và đức tin của thánh Phêrô cùng các Tông Đồ khác.Cho đến thời đại của chúng ta – ngay cả trong những ngày của kỹ thuật truyền thông tiên tiến này – đức tin của các Kitô hữu vẫn dựa trên cùng một tin ấy, trên chứng từ của những anh chị em đã trước tiên thấy tảng đá đã được lăn ra từ ngôi mộ trống và sau đó các sứ giả thần bí là những vị đã làm chứng rằng Chúa Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đanh, đã sống lại. Và sau đó là chính Chúa Giêsu, Chúa và Thầy, sống động và hữu hình, đã hiện ra với bà Maria Mađalêna, với hai môn đệ trên đường Emmau, và sau cùng với tất cả mười một vị đang tụ tập trong Nhà Tiệc Ly (x. Mark 16:9-14) .
Sự sống lại của Đức Kitô không phải là kết quả của suy đoán hoặc kinh nghiệm thần bí: đó là một biến cố, dù siêu vượt lịch sử, nhưng lại xảy ra ở một thời điểm chính xác trong lịch sử và để lại trên lịch sử một dấu ấn không thể xóa nhòa được. Ánh sáng làm lóa mắt các lính canh ngôi mộ của Chúa Giêsu đã vượt thời gian và không gian. Nó là một thứ ánh sáng khác, ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng đã xua tan bóng tối sự chết và đã mang lại cho thế giới sự huy hoàng của Thiên Chúa, sự rạng ngời của chân lý và Thiện Hảo.
Cũng giống như tia nắng mặt trời mùa xuân làm cho các chồi non nẩy mầm và ló rạng trên cành cây, thì ánh quang chiếu ra từ sự phục sinh của Đức Kitô cũng ban sức mạnh và ý nghĩa cho mọi hy vọng, ước muốn, kỳ vọng và kế hoạch của con người. Do đó hôm nay toàn thể vũ trụ vui mừng, theo kịp mùa xuân của nhân loại, làm cho bài thánh thi ngợi khen thầm lặng của tạo vật được nói thành lời. Bài Alleluia Phục Sinh, vang dội trong Hội Thánh trong khi đang lữ hành trên thế gian, nói lên sự mừng vui thầm lặng của vũ trụ và trên hết sự khao khát của tất cả của linh hồn mọi người chân thành mở ra với Thiên Chúa, tạ ơn Ngài về sự Chân Thiện Mỹ vô tận của Ngài.
“Lạy Đức Kitô, trong sự phục sinh của Người, trời đất hãy vui mừng”. Trong lời triệu tập để ca ngợi, được phát sinh từ lòng Hội Thánh hôm nay, các “Các Tầng Trời” đáp lại trọn vẹn: các đạo binh thiên thần, các thánh và các linh hồn được chúc phúc cùng hợp một lời trong bài ca vui mừng của chúng ta. Trên trời tất cả đều bình an và vui mừng. Nhưng than ôi, ở dưới đất thì không phải như thế! Ở đây, trong thế giới của chúng ta, bài Alleluia Phục Sinh vẫn còn tương phản với những tiếng khóc than phát sinh từ rất nhiều hoàn cảnh đau thương: thiếu thốn, đói khát, bệnh tật, chiến tranh, bạo lực. Nhưng chính vì điều đó mà Đức Kitô đã chết và sống lại! Người đã chết vì tội lỗi, kể cả tội lỗi của chúng ta hôm nay, Người đã sống lại vì ơn cứu độ của lịch sử, kể cả lịch sử của chúng ta. Vì vậy, thông điệp của tôi hôm nay có ý dành cho tất cả mọi người, và, như một lời tuyên bố ngôn sứ, nó được đặc biệt dành cho những dân tộc và cộng đồng đang trải qua một thời gian đau khổ, mà Đức Kitô Phục Sinh có thể mở ra cho họ con đường tự do, công lý và hòa bình.
Xin cho Vùng Đất đầu tiên đã được tràn ngập ánh sáng của Đấng Phục Sinh được hân hoan. Nguyện xin cho ánh quang của Đức Kitô chiếu soi đến các dân tộc Trung Đông, để ánh sáng của hòa bình và nhân phẩm có thể thắng vượt bóng tối của phân hóa, hận thù và bạo lực. Trong cuộc xung đột hiện nay ở Libya, chớ gì ngoại giao và đối thoại thay chỗ cho vũ lực, và những người đang chịu đau khổ vì hậu quả của cuộc xung đột có thể nhận được viện trợ nhân đạo. Trong các nước Bắc Phi và Trung Đông, xin cho tất cả các công dân, đặc biệt là giới trẻ, làm việc để mưu cầu công ích và để xây dựng một xã hội mà trong đó nghèo đói bị đánh bại và mỗi sự lựa chọn chính trị được cảm hứng từ việc tôn trọng con người. Nguyện xin cho sự trợ giúp được đến từ mọi phía với những người đang chạy trốn xung đột và cho những người tị nạn từ nhiều nước Phi Châu, là những người đã phải rời bỏ tất cả những gì thân thương đối với họ; chớ gì những người có lòng tốt sẽ mở rộng tâm hồn của mình ra để chào đón họ, để những nhu cầu khẩn cấp của quá nhiều anh chị em được đáp trả bằng một sự đáp ứng có phối hợp trong một tinh thần đoàn kết; và xin cho những lời an ủi và biết ơn của chúng ta có thể đến được với tất cả những ai đang có những nỗ lực đại lượng như thế,cùng tạo thành một chứng từ gương mẫu trong vấn đề này.
Xin cho việc chung sống hoà bình được khôi phục giữa các dân tộc của Ivory Coast, nơi có một nhu cầu khẩn thiết trong việc bước đi trên con đường hòa giải và tha thứ, để chữa lành những vết thương bị cắt sâu do bạo lực gần đây gây ra. Xin cho Nhật Bản tìm thấy sự an ủi và hy vọng khi nó phải đương đầu với những hậu quả nghiêm trọng của trận động đất gần đây, cùng các nước khác trong những tháng gần đây đã bị thử thách bởi các thiên tai là những điều đã gieo vãi đau thương và sầu khổ.
Xin cho trời trái đất vui mừng trước việc làm chứng của những người đang bị chống đối và thậm chí còn bị ngược đãi vì niềm tin vào Đức Chúa Giêsu Kitô. Chớ gì việc công bố sự phục sinh chiến thắng của Người củng cố lòng can đảm và tin tưởng của họ.
Anh chị em thân mến! Đức Kitô phục sinh đang hành trình phía trước chúng ta hướng về phía trời mới đất mới (x. Revelation 21:01), trong đó tất cả chúng ta chung cuộc sẽ được sống như một gia đình, như con cái của cùng một Chúa Cha. Người ở với chúng ta cho đến tận thế. Chúng ta đi sau Người, trong thế giới bị thương này, và cùng hát Alleluia. Trong lòng chúng ta có niềm vui và nỗi buồn, trên khuôn mặt chúng ta có những nụ cười và nước mắt. Đó là thực tại trần thế của chúng ta. Nhưng Đức Kitô đã sống lại, Người vẫn còn sống và Người đồng hành với chúng ta. Vì lý do này, chúng ta hát và chúng ta bước đi, trung thành thi hành nhiệm vụ của chúng ta trong thế giới này với đôi mắt hướng về Thiên Đàng.
Chúc anh chị em một lễ Phục Sinh Hạnh Phúc.
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
-

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi giới trẻ nhân Ngày Giới trẻ Thế giới XXVI
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi giới trẻ
nhân Ngày Giới trẻ Thế giới XXVI (năm 2011)“Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Giêsu Kitô, vững mạnh trong đức Tin” (x. Cl 2,7)
Các bạn trẻ thân mến,
Tôi thường nhớ lại những ngày Đại hội Giới trẻ Thế giới diễn ra tại Sydney năm 2008. Ở đó, chúng ta đã sống trong đại lễ của đức Tin, có Thánh Thần Chúa hoạt động mạnh mẽ, tạo nên mối hiệp thông sâu xa nơi tất cả những người tham dự đến từ khắp nơi trên thế giới. Đại hội ấy, cũng như những Đại hội trước đó, đã sinh hoa kết trái dồi dào nơi đời sống của nhiều người trẻ và đời sống của toàn thể Giáo Hội. Bây giờ, chúng ta hướng đến Ngày Giới trẻ Thế giới sắp tới, sẽ diễn ra tại Madrid vào tháng 8 năm 2011. Hồi năm 1989, vài tháng trước cuộc sụp đổ lịch sử của bức tường Berlin, cuộc hành hương của giới trẻ đã dừng chân ở Tây Ban Nha, tại Đền Thánh Santiago de Compostela.
Nay vào lúc Âu Châu đang rất cần tìm lại nguồn cội Kitô giáo của mình, chúng ta hẹn gặp nhau ở Madrid, với chủ đề: “Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Giêsu Kitô, vững mạnh trong đức Tin” (x. Cl 2,7). Tôi mời gọi các bạn hãy tham dự sự kiện rất quan trọng này đối với Giáo Hội tại châu Âu và Giáo Hội hoàn vũ. Tôi mong tất cả mọi người trẻ –những người cùng chia sẻ niềm tin của chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô, và cả những người còn đang do dự, hoài nghi hoặc không tin nơi Chúa– chia sẻ cảm nghiệm này, có thể sẽ mang ý nghĩa quyết định đối với cuộc đời của họ. Đó là cảm nghiệm về Chúa Giêsu đã phục sinh và hằng sống, cảm nhận tình thương của Người dành cho mỗi người chúng ta.1. Cội nguồn những khát vọng lớn nhất
Thời nào cũng vậy, kể cả thời chúng ta đang sống, nhiều người trẻ hằng thiết tha mong cho những quan hệ con người diễn ra trong sự thật và có tình liên đới với nhau. Nhiều người ước muốn xây dựng được những tình bạn chân thật, một tình yêu đích thực, một gia đình hiệp nhất, bản thân được sống ổn định và an toàn, bảo đảm cho họ một tương lai tươi sáng và hạnh phúc.
Thực vậy, nhớ lại thời thanh xuân, tôi biết rõ rằng được sống ổn định và an toàn không phải là những vấn đề khiến người trẻ bận tâm nhất. Đúng là có được việc làm để ổn định cuộc sống là điều quan trọng, nhưng những năm tháng tuổi trẻ cũng còn là lúc chúng ta đi tìm một lý tưởng lớn lao cho đời mình.
Nghĩ lại những năm tháng lúc đó, tôi nhớ đơn giản chúng tôi chỉ mong đừng đánh mất chính mình trong cuộc sống thị dân tầm thường. Chúng tôi nuôi khát vọng lớn, mong muốn cái mới. Chúng tôi muốn khám phá chính cuộc sống trong sự cao cả và vẻ đẹp của nó. Chắc chắn điều này cũng do hoàn cảnh của chúng tôi lúc bấy giờ. Dưới chế độ độc tài Đức quốc xã và trong thời chiến, có thể nói, chúng tôi bị nhà cầm quyền thống trị “giam hãm”. Vì thế chúng tôi muốn thoát ra, đến với bầu không khí tự do và tiến vào mọi tiềm năng của đời sống con người. Tôi cho rằng, theo một nghĩa nào đó, đà tiến ấy thúc đẩy vượt ra khỏi cái quán tính thế hệ nào cũng có. Mong muốn vượt khỏi lối mòn của việc làm ổn định và có khát vọng thực sự lớn lao, chính là những điều góp phần làm nên tuổi trẻ.
Phải chăng đó chỉ là một giấc mộng chóng qua, sẽ tan biến khi trở thành người lớn? Không, con người thực sự được dựng nên cho cái cao cả, vô biên. Kỳ dư chỉ là bất cập, không làm mãn nguyện. Thánh Augustinô có lý khi nói “lòng chúng con mãi xao xuyến cho đến khi được nghỉ an trong Chúa”. Ước muốn được sống cao cả hơn là một dấu chỉ Chúa đã dựng nên chúng ta và chúng ta mang “dấu ấn” của Người. Thiên Chúa hằng sống, và vì thế, mỗi thụ tạo đều hướng về sự sống. Một cách độc nhất và đặc biệt, con người được dựng nên theo hình ảnh của Chúa và giống Thiên Chúa, nên con người khao khát tình yêu, niềm vui và an bình.
Vậy, chúng ta hiểu rằng có một sự mâu thuẫn khi chủ trương loại bỏ Thiên Chúa để làm cho con người được sống! Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống: loại bỏ Người có nghĩa là tách khỏi nguồn mạch ấy và chắc chắn sẽ bị tước mất sự sung mãn và niềm vui: “Thực vậy, không có Đấng Tạo Hóa thụ tạo đều tiêu tan” (Gaudium et Spes, 36). Nền văn hóa hiện nay tại một số nơi trên thế giới, nhất là tại phương Tây, có xu hướng loại trừ Thiên Chúa hoặc coi đức tin chỉ là một chuyện riêng tư, không liên quan gì tới đời sống xã hội. Trong khi tất cả các giá trị làm nền tảng cho xã hội đều xuất phát từ Tin Mừng – như ý thức về phẩm giá con người, tình liên đới, việc làm và gia đình –, người ta nhận thấy một loại “vắng bóng Thiên Chúa”, một kiểu lãng quên nào đó, thậm chí một sự khước từ thực sự đối với Kitô giáo và chối bỏ kho tàng đức tin đã nhận lãnh, đến độ có nguy cơ đánh mất chính căn tính sâu xa của mình.
Vì thế, các bạn thân mến, tôi mời gọi các bạn hãy củng cố con đường đức Tin của mình nơi Thiên Chúa, là Cha của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Các bạn là tương lai của xã hội và Giáo Hội! Như thánh Tông Đồ đã viết cho các Kitô hữu thành Colossê, điều thiết yếu là phải có cội rễ, nền tảng vững chắc! Và điều này đặc biệt đúng với ngày nay. Hiện nhiều người trẻ không có những chuẩn mực vững chắc để xây dựng đời mình, nên sống rất bất an. Chủ nghĩa tương đối đang lan tràn cho rằng tất cả đều có giá trị như nhau, không hề có chân lý và chuẩn mực tuyệt đối, nên chủ nghĩa ấy không đưa đến tự do đích thực, nhưng tạo nên sự bất ổn, thất vọng, lối sống chạy theo mốt nhất thời. Là những người trẻ, các bạn có quyền được tiếp nhận từ các thế hệ đi trước những chuẩn mực rõ ràng, để các bạn chọn lựa và xây dựng cuộc sống của mình, như một cây non cần cọc buộc cho vững, trong một thời gian cần thiết để cây bén rễ, cứng cáp, rồi đơm hoa kết trái.2. Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Giêsu Kitô
Để làm nổi bật tầm quan trọng của niềm tin nơi Thiên Chúa trong đời sống các tín hữu, tôi muốn cùng với các bạn suy tư về từng hình ảnh trong ba lối diễn tả mà Thánh Phaolô sử dụng khi nói: “Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Kitô, vững mạnh trong đức Tin”. Trong câu này chúng ta có thể thấy ba hình ảnh. “Bén rễ” gợi lên hình ảnh cây và bộ rễ nuôi cây. “Đặt nền tảng” nói về việc dựng nhà. “Vững mạnh” gợi đến sự tăng trưởng sức mạnh thể lý hoặc tinh thần. Những hình ảnh này rất gợi tả. Trước khi giải thích các hình ảnh này, tôi muốn lưu ý, về phương diện văn phạm, trong bản gốc Hy Lạp, câu ở thể thụ động: điều này có nghĩa là chính Chúa Kitô đưa ra sáng kiến làm bén rễ, xây dựng và củng cố các tín hữu.
Hình ảnh trước tiên là cây, bám chắc vào đất nhờ rễ, rễ làm cho cây đứng vững và nuôi dưỡng cây. Nếu không có rễ, cây sẽ bị gió bứng lên rồi chết. Đâu là những gốc rễ của chúng ta? Chắc chắn đó là cha mẹ, gia đình và nền văn hóa của đất nước chúng ta, hình thành một phương diện rất quan trọng trong căn tính của chúng ta. Kinh Thánh cho thấy một khía cạnh khác. Tiên tri Giêrêmia viết: “Phúc thay kẻ phó thác vào Chúa, có Chúa là niềm tin. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, tỏa rễ vào dòng nước, chẳng sợ gì khi nóng bức, lá vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái”. (Gr 17,7-8).
Vì vậy, đối với tiên tri Giêrêmia, tỏa rễ nghĩa là đặt niềm tín thác của mình nơi Chúa. Chúng ta rút lấy đời mình từ nơi Thiên Chúa. Không có Chúa chúng ta không thể có sự sống đích thực. “Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời và sự sống này ở nơi Con của Người” (x. 1Ga 5,11). Chính Chúa Giêsu tự giới thiệu Người là sự sống của chúng ta (x. Ga 14,6).
Vì thế, đức tin Kitô giáo không chỉ bao gồm việc tin nhận các chân lý, nhưng trước hết là mối quan hệ giữa bản thân mình với Chúa Giêsu Kitô. Chính cuộc gặp gỡ với Con Thiên Chúa mang lại một động lực mới cho cả cuộc sống chúng ta. Khi chúng ta bước vào mối quan hệ riêng tư với Chúa Kitô, Ngài sẽ cho chúng ta thấy rõ căn tính đích thực của chúng ta, và trong tình bạn với Người, sự sống của chúng ta được lớn lên và đạt đến viên mãn.
Thời trẻ, có lúc mỗi người chúng ta tự hỏi: đời tôi có ý nghĩa gì? Đâu là mục đích, hướng đi tôi muốn mang lại cho đời mình? Đó là một giai đoạn cơ bản, nhiều khi kéo dài, cứ làm cho lòng dạ day dứt. Ta cứ nghĩ đến loại công việc cần thực hiện, đến những quan hệ xã hội cần thiết lập, những quan hệ tình cảm cần phát triển…
Đến đây tôi lại nhớ đến hồi còn trẻ. Bằng cách nào đó, tôi đã ý thức rõ rệt Chúa muốn tôi làm linh mục. Nhưng rồi sau đó, sau chiến tranh, khi ở chủng viện và đại học, tôi tiến bước trên con đường hướng về mục đích ấy, tôi đã phải lặp lại quyết tâm đó. Tôi đã phải tự hỏi: Có phải đây thực sự là con đường mình đi? Có phải đây là ý Chúa muốn cho tôi? Liệu tôi sẽ trung thành với Chúa, hoàn toàn để cho Chúa sử dụng, và toàn tâm phụng sự Chúa? Đưa ra một quyết định như thế không phải là không có đau đớn. Không thể nào khác được. Nhưng rồi sau đó sẽ vững vàng hơn, quả đúng như vậy! Vâng, Chúa nhắm đến tôi, nên Ngài ban sức mạnh cho tôi. Lắng nghe và bước đến với Chúa, tôi thực sự được trở nên chính mình. Điều quan trọng không phải là làm theo ý riêng, nhưng là làm theo Ý Chúa muốn. Như thế, cuộc sống mới có ý nghĩa đích thực.
Như cây nhờ rễ mà bám chắc vào đất, cũng vậy, nền móng giúp cho nhà được vững chãi lâu bền. Nhờ đức tin, chúng ta được xây nền nơi Chúa Kitô (x. Cl 2,7), như một căn nhà được xây trên nền móng của mình. Trong lịch sử thánh, chúng ta có nhiều tấm gương các thánh xây dựng đời mình dựa trên Lời Chúa. Abraham là người đầu tiên trong số các vị ấy. Vị “Tổ phụ trong đức tin” của chúng ta đã vâng phục Thiên Chúa, Đấng đã yêu cầu ông rời bỏ quê hương, đi đến một xứ xa lạ. “Abraham tin Thiên Chúa, và vì thế Thiên Chúa kể ông là người công chính và ông được gọi là bạn của Thiên Chúa” (Gc 2,23). Được xây nền nơi Chúa Kitô, nghĩa là đáp lại một cách cụ thể tiếng Chúa gọi, bằng cách đặt niềm tin tưởng của chúng ta nơi Chúa và thực hành Lời Chúa. Chính Chúa Giêsu đã lưu ý các môn đệ: “Tại sao các con gọi Thầy ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ mà lại không làm điều Thầy nói?” (Lc 6,46). Và khi dùng hình ảnh xây nhà, Người nói thêm: “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc.” (Lc 6,47-48).
Các bạn thân mến, hãy xây nhà các bạn trên đá, như con người đã “đào sâu” kia. Hằng ngày các bạn hãy cố gắng sống theo Lời Chúa Kitô. Hãy lắng nghe lời Người như một Người Bạn đích thực có thể chia sẻ con đường đời của bạn. Có Người bên cạnh, các bạn sẽ can đảm và đầy hy vọng đương đầu với những khó khăn, những vấn đề, cũng như những thất vọng và thất bại. Các bạn sẽ không ngừng gặp phải những đề nghị dễ dãi, nhưng chính các bạn sẽ nhận ra chúng chỉ lừa phỉnh, không mang lại sự thanh thản và niềm vui. Chỉ có Lời Chúa mới chỉ cho chúng ta con đường đích thực, chỉ có đức Tin chúng ta được thông truyền mới là ánh quang soi sáng đường chúng ta đi. Với lòng biết ơn các bạn hãy đón lấy món quà thiêng liêng được gia đình mình trao cho và dấn thân đáp lại tiếng Chúa gọi một cách có trách nhiệm, trở nên những người trưởng thành trong đức Tin. Đừng tin những ai nói các bạn không cần người khác xây dựng đời mình! Trái lại hãy dựa vào đức Tin của những người thân cận, đức Tin của Giáo Hội, và cảm tạ Chúa vì các bạn đã lãnh nhận đức Tin ấy và biến nó thành niềm tin của mình.3. Vững mạnh trong đức tin
Hãy “bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Kitô, vững mạnh trong đức Tin” (x. Cl 2,7). Câu này trích từ thư thánh Phaolô viết nhằm đáp ứng một nhu cầu rõ rệt của các Kitô hữu thành Colossê. Quả thực, cộng đoàn này bị đe dọa do một số khuynh hướng văn hóa đương thời tác động, làm cho các tín hữu xa lìa Tin Mừng.
Các bạn trẻ thân mến, bối cảnh văn hóa của chúng ta ngày nay cũng có nhiều điểm tương đồng với bối cảnh của dân thành Colossê thời bấy giờ. Có một trào lưu “thế tục hóa” mạnh mẽ muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống con người và xã hội, phác họa và cố xây dựng một “thiên đường” không có Thiên Chúa. Nhưng kinh nghiệm dạy rằng, một thế giới không có Thiên Chúa chính là một “địa ngục”, ở đó chỉ có ích kỷ, chia rẽ trong các gia đình, oán thù giữa cá nhân và các dân tộc, thiếu tình thương, niềm vui và hy vọng. Trái lại, nơi nào con người và các dân tộc sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa, thờ phượng Chúa trong chân lý và lắng nghe tiếng Ngài, thì nơi đó nền văn minh tình yêu được cụ thể hóa, mọi người được tôn trọng phẩm giá, tình hiệp thông được lớn lên với hoa trái dồi dào. Tuy vậy cũng đã có những Kitô hữu bị lối suy nghĩ thế tục hóa cám dỗ hoặc bị lôi kéo bởi những trào lưu tôn giáo xa lìa niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. Có những người khác, tuy không tham gia những cách tiếp cận đó, nhưng lại để cho niềm Tin vào Chúa Kitô nguội lạnh đi, thì cũng đã không tránh khỏi những hậu quả tiêu cực trên bình diện luân lí.
Đối với những anh em bị ô nhiễm vì những tư tưởng xa lạ với Tin Mừng như thế, Thánh Phaolô nhắc lại về quyền năng của Chúa Kitô chịu chết và sống lại. Mầu nhiệm này là nền tảng cho đời sống chúng ta, là trung tâm của đức Tin Kitô giáo. Tất cả những triết lý không biết tới điều đó, và coi mầu nhiệm này là “điên rồ” (1Cr 1,23), đã bộc lộ hạn chế trước những vấn đề lớn thuộc về tâm hồn con người. Vì thế, với tư cách là người kế vị Thánh Phêrô, tôi cũng muốn củng cố các bạn trong đức Tin (x. Lc 22,32). Chúng ta tin vững vàng, Chúa Giêsu Kitô đã tự hiến trên Thập giá để ban tình yêu của Người cho chúng ta. Trong cuộc khổ nạn, Người đã mang những đau khổ của chúng ta, gánh lấy những tội lỗi của chúng ta, Người giành được cho chúng ta ơn tha thứ và làm cho chúng ta được giao hòa với Thiên Chúa Cha, mở lối cho chúng ta đi vào đời sống vĩnh cửu. Bằng cách đó, chúng ta được giải thoát khỏi những gì gây cản trở nhiều nhất cho cuộc sống của mình: thân phận làm nô lệ cho tội lỗi. Giờ đây chúng ta có thể yêu mến tất cả mọi người, kể cả kẻ thù của chúng ta, và chia sẻ lòng yêu thương ấy với những người nghèo khổ nhất và chịu thử thách nhiều nhất trong số các anh em chúng ta.
Các bạn thân mến, Thập giá thường làm cho chúng ta sợ hãi, vì dường như là sự phủ định đối với sự sống. Thực tế thì ngược lại! Thập giá là lời “ưng thuận” của Thiên Chúa nói với loài người, là sự diễn tả tột cùng về tình yêu của Người và là nguồn phát sinh sự sống. Vì từ trái tim của Chúa Giêsu được mở ra trên Thập giá đã trào vọt sự sống thần linh luôn dành sẵn cho những ai biết ngước mắt nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh. Vì thế, tôi chỉ có thể mời gọi các bạn hãy nhận lấy Thánh Giá của Chúa Giêsu, dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống mới. Ngoài Chúa Kitô chịu chết và sống lại, không có ơn cứu độ! Chỉ một mình Người mới có thể giải thoát thế giới khỏi sự dữ và làm lớn mạnh Vương quốc công lý, hòa bình và yêu thương mà mọi người chúng ta hằng mong ước.4. Tin nơi Chúa Giêsu dù không thấy Ngài
Trong Tin Mừng có mô tả kinh nghiệm đức tin của thánh tông đồ Tôma khi ông đón nhận mầu nhiệm Thánh Giá và Phục Sinh của Chúa Kitô. Tôma là một trong 12 tông đồ. Ông đã đi theo Chúa Giêsu, đã chứng kiến Chúa chữa bệnh và làm phép lạ. Ông đã nghe Chúa nói và cảm thấy sững sờ trước cái chết của Chúa. Buổi chiều Phục sinh, lúc Chúa hiện ra với các môn đệ thì Tôma lại vắng mặt. Khi người ta bảo ông Chúa Giêsu đã sống lại và hiện ra, ông tuyên bố: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đăt bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin” (Ga 20,25).
Chúng ta cũng muốn được thấy Chúa Giêsu, muốn nói với Người và cảm nhận sự hiện diện của Người còn mạnh mẽ hơn nữa. Ngày nay, đối với nhiều người, đến với Chúa Giêsu thật là khó khăn. Hiện có nhiều hình ảnh về Chúa Giêsu, tự cho là có tính khoa học, loại bỏ sự cao cả và tính độc nhất của Người. Vì vậy, sau nhiều năm nghiên cứu và suy niệm, tôi nghĩ đến việc viết một quyển sách để chia sẻ điều gì đó từ sự gặp gỡ riêng với Chúa Giêsu. Đó là cách để giúp người khác thấy, nghe và chạm đến Chúa, Đấng mà nơi Người, Thiên Chúa đã đến với chúng ta để tỏ mình cho chúng ta. Chính Chúa Giêsu, khi lại hiện ra với các môn đệ 8 ngày sau đó, đã nói với Tôma: “Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Hãy đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,27).
Cả chúng ta cũng có thể chạm vào Chúa Giêsu, có thể nói là đặt tay vào những dấu hiệu khổ nạn của Người, những dấu hiệu tình yêu của Người. Chính trong các bí tích mà Chúa gần gũi chúng ta một cách đặc biệt và hiến thân cho chúng ta.
Các bạn trẻ thân mến, hãy học “nhìn thấy” và “gặp gỡ” Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, nơi đó Người hiện diện và gần gũi với chúng ta, đến độ trở nên của ăn cho cuộc hành trình của chúng ta. Trong bí tích Thống hối Chúa biểu lộ lòng thương xót của Người và luôn ban ơn tha thứ cho chúng ta. Hãy nhận ra và phục vụ Chúa Giêsu nơi những người nghèo, nơi các bệnh nhân và anh chị em chúng ta đang gặp khó khăn và cần được giúp đỡ. Hãy đi vào cuộc đối thoại riêng tư với Chúa Giêsu Kitô và vun trồng cuộc đối thoại ấy trong đức tin.
Hãy tìm biết Chúa nhiều hơn qua việc đọc Tin Mừng và Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo. Hãy trò chuyện với Chúa qua kinh nguyện và tín thác vào Người. Người chẳng bao giờ phản bội niềm tín thác ấy! “Tin trước hết là gắn bó bản thân con người với Thiên Chúa. Đồng thời, và không thể tách biệt, cũng là tự nguyện chấp nhận tất cả chân lý Thiên Chúa đã mặc khải” (Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo, 150). Như thế, các bạn có thể đạt đến một đức tin trưởng thành và vững chắc, không chỉ dựa trên tình cảm tôn giáo hoặc một ký ức mơ hồ về giáo lý đã học khi còn thơ ấu. Các bạn sẽ đi đến chỗ biết được Thiên Chúa và thực sự sống kết hiệp với Người, như tông đồ Tôma đã biểu lộ niềm tin vững vàng vào Chúa Giêsu: “Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi!”5. Được nâng đỡ nhờ đức tin của Hội thánh, để trở thành chứng nhân
Chúa Giêsu đã nói với Tôma: “Vì đã thấy Thầy nên con tin. Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20,29). Chúa đã nghĩ đến con đường của Giáo Hội, dựa trên đức tin của các chứng nhân tận mắt là các tông đồ. Như thế, chúng ta hiểu rằng đức tin cá nhân của chúng ta nơi Chúa Kitô, có được nhờ cuộc đối thoại với Người, đức tin ấy gắn liền với niềm tin của Giáo Hội. Chúng ta không tin như những cá nhân lẻ loi, nhưng đúng hơn, nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta trở nên phần tử của một đại gia đình; chính đức tin được Giáo Hội tuyên xưng đã củng cố đức tin cá nhân của chúng ta. Kinh Tin Kính mà chúng ta tuyên xưng trong Thánh Lễ Chúa nhật giúp chúng ta tránh được nguy cơ tin vào một Thiên Chúa không phải là Đấng mà Chúa Kitô mặc khải: “Như thế, mỗi tín hữu là một mắt xích của xâu chuỗi các tín hữu. Tôi không thể tin nếu không được đức tin của người khác nâng đỡ, và nhờ đức tin của tôi, tôi góp phần nâng đỡ đức tin của người khác” (Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo, 166). Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa luôn vì hồng ân Giáo Hội, vì Giáo Hội giúp chúng ta tiến bước vững vàng trong đức tin vốn mang lại cho chúng ta sự sống thật (x. Ga 20,31).
Trong lịch sử Giáo Hội, các thánh và các vị tử đạo đã luôn kín múc sức mạnh từ Thánh Giá vinh hiển của Chúa Kitô để trung thành với Thiên Chúa đến độ hiến dâng cả mạng sống mình. Trong đức tin, họ tìm được sức mạnh để chiến thắng những yếu đuối của mình và vượt qua mọi nghịch cảnh. Thực vậy, như thánh tông đồ Gioan đã nói: “Ai là người chiến thắng thế gian nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5,5). Chiến thắng sinh ra từ đức tin chính là chiến thắng của tình yêu. Bao nhiêu Kitô hữu đã và đang sống chứng tá về sức mạnh của đức tin được biểu lộ qua đức ái. Họ là những người kiến tạo hòa bình, thăng tiến công lý, xây dựng một thế giới nhân bản hơn, một thế giới theo kế hoạch của Thiên Chúa. Họ dấn thân trong nhiều lãnh vực của đời sống xã hội, với khả năng chuyên nghiệp, góp phần hữu hiệu vào hạnh phúc của mọi người. Đức bác ái sinh ra từ đức tin đưa họ đến việc làm chứng cụ thể bằng hành động và lời nói. Chúa Kitô không phải là kho tàng dành riêng cho chúng ta; Người là kho tàng quí giá nhất mà chúng ta có để chia sẻ cho người khác. Trong thời đại toàn cầu hóa của chúng ta, các bạn hãy trở thành chứng nhân của niềm hy vọng Kitô giáo trên khắp thế giới. Biết bao người mong ước đón nhận niềm hy vọng này!
Đứng trước ngôi mộ của bạn mình là Lazarô, đã chết được bốn ngày, và trước khi làm cho ông hồi sinh, Chúa Giêsu nói với bà Marta, chị của Lazarô: “Nếu con tin, con sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa” (x. Ga 11,40). Các bạn cũng thế, nếu các bạn tin, và nếu các bạn biết sống niềm tin ấy và làm chứng về niềm tin ấy mỗi ngày, các bạn sẽ trở thành dụng cụ giúp những người trẻ khác như các bạn tìm thấy ý nghĩa và niềm vui của cuộc sống, phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô!6. Hướng về Ngày Giới trẻ Thế giới ở Madrid
Các bạn trẻ thân mến, một lần nữa tôi mời các bạn đến tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới ở Madrid. Tôi rất vui mừng chờ đợi từng người trong các bạn. Chúa Giêsu Kitô muốn củng cố các bạn trong đức tin qua Giáo Hội.
Quyết định tin vào Chúa Giêsu Kitô và đi theo Người chẳng phải là điều dễ dàng. Nó luôn bị cản trở vì những thất bại của chúng ta và vì bao nhiêu tiếng gọi chỉ những lối đi dễ dàng hơn cho chúng ta. Các bạn đừng nản chí; hãy tìm kiếm sự nâng đỡ của cộng đoàn Kitô, sự nâng đỡ của Giáo Hội! Suốt cả năm này, các bạn hãy chuẩn bị chu đáo cho cuộc tập họp ở Madrid, với các giám mục, các linh mục và những người lãnh đạo giới trẻ trong các giáo phận của các bạn, các cộng đoàn giáo xứ, các hội đoàn và phong trào. Phẩm chất cuộc tập họp của chúng ta tùy thuộc trước hết vào sự chuẩn bị thiêng liêng, vào kinh nguyện, vào việc cùng nhau lắng nghe Lời Chúa và sự nâng đỡ nhau.
Các bạn trẻ thân mến, Giáo Hội cần đến các bạn! Giáo Hội cần đức tin sinh động, đức bác ái sáng tạo và đức cậy trông năng động của các bạn. Sự hiện diện của các bạn đổi mới Giáo Hội, làm cho Giáo Hội tươi trẻ và mang lại sinh lực mới cho Giáo Hội. Vì thế, những Ngày Giới trẻ Thế giới là một ân phúc không những cho các bạn, mà còn cho toàn thể Dân Chúa nữa.
Giáo Hội tại Tây Ban Nha đang chuẩn bị tích cực để đón tiếp các bạn và chia sẻ với các bạn kinh nghiệm đức tin vui mừng này.
Tôi cám ơn các giáo phận, các giáo xứ, đền thánh, các cộng đồng dòng tu, các hiệp hội và phong trào của Giáo Hội và mọi người đang chuyên cần làm việc để chuẩn bị cho sự kiện này. Chúa sẽ không quên chúc lành cho tất cả.
Xin Đức Trinh nữ Maria đồng hành với các bạn trong hành trình chuẩn bị này! Khi thiên thần truyền tin, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa trong đức tin. Cũng trong đức tin, Mẹ đã ưng thuận điều Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ. Qua lời thưa “Xin vâng”, Mẹ đã đón nhận hồng ân bác ái vô biên, thúc đẩy Mẹ dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Xin Mẹ chuyển cầu cho mỗi người trong các bạn, để trong Ngày Giới trẻ Thế giới sắp tới, các bạn được lớn lên trong đức tin và đức mến!
Tôi đoan chắc luôn nghĩ đến các bạn với tình phụ tử trong kinh nguyện và tôi thành tâm ban phép lành cho các bạn.
Vatican, ngày 6-8-2010
Lễ Chúa Hiển dung
Bênêđictô XVI, giáo hoàng[Đức Thành dịch theo bản tiếng Pháp và tiếng Anh của vatican.va]
ĐGH Bênêđictô XVI


Trong bài giảng sau các bài Sách Thánh, ĐHY Quốc vụ khanh bắt đầu bằng cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu Phục Sinh và Thánh Phêrô: “Simon, con Giona, con có mến Thầy không? Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết con yêu mến Chúa” (Ga 21,17). Cuộc đối thoại này đi trước mệnh lệnh của Chúa: “Con hãy chăn dắt các chiên của Thầy”, nhưng đó cũng là một cuộc đối thoại dò hỏi trọn cuộc sống của con người. Phải chăng đó cũng là câu hỏi và câu trả lời đã đánh dấu trọn cuộc sống và sứ mạng của Chân phước Gioan Phaolô II?” ĐHY Bertone nhận định rằng: “Đúng vậy, đó là cuộc đối thoại yêu thương giữa Chúa Kitô và con người đánh dấu trọn cuộc sống của Đức Karol Wojtila và đã dẫn đưa người không những đến công tác trung thành phục vụ Giáo Hội, nhưng còn đến chỗ tận hiến toàn thân cho Thiên Chúa và loài người, vốn là một đặc điểm trong con đường nên thánh của Người.