Danh mục: Tin Giáo hội

  • Hãy đem lại một bộ mặt mới mẻ cho quê hương ở trần thế

    Hãy đem lại một bộ mặt mới mẻ cho quê hương ở trần thế

    Trở về từ Castelgandolfo bằng máy bay trực thăng cho cuộc tiếp kiến chung ở Roma, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI mời gọi các giáo hữu , công dân của một thành trì khác , hằng ngày hãy bước theo một con đường dẫn đến một mục đích cho cuộc sống ở trần thế.

    “Đức Kitô đã sống lại từ những người chết là căn bản của đức tin của chúng ta, lan tỏa ra trong phụng vụ của Giáo Hội mang lại đầy đủ tất cả mọi ý nghĩa.. . Sự sống lại của Đức Kitô đem lại một đời sống mới không còn bị hư mất với thời gian, nhưng một đời sống chìm đắm trong cỏi trường sinh của Thiên Chúa”.

    “Trong cuộc sống lại của Chúa Giêsu bắt đầu một tình trạng hoàn toàn mới mẻ cho thân phận con người, soi sáng và biến đổi con đường hằng ngày và mở ra một tương lai hoàn toàn mới và thay đổi toàn thể nhân loại. Trong thư gởi cho người Colôsiens, thánh Phao lồ viết: Nếu ngươi sống lại với Đức Kitô, hãy tìm kiếm những gì trên trời, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa, hãy hướng tâm trí về những điều ở trên trời chứ không phải những gì dưới đất.

    “Nhưng vị tông đồ mời gọi mỗi người chúng ta những Kitô hữu đi xa hơn nữa là vượt ra ngoài thế giới mà Chúa đã đặt để chúng ta. Đúng như thế chúng ta là công dân của một thành trì khác, ở đó chúng ta tìm thấy quê hương thật nhưng chúng ta phải hằng ngày bước đi trên đường trần thế để đến đích. Ngay từ bây giờ phải chia sẻ sự sống với Chúa Kitô sống lại, chúng ta phải sống như những con người mới ở dưới thế này, ở giữa thế giới chúng ta đang sống.”

    “Đây la con đường , Đức Bênêđictô XVI tiếp tục, chúng ta không chỉ biến đổi chúng ta mà thôi, nhưng thay đổi toàn thế giới, để biến thế giới chúng ta đang sống một bộ mặt mới mẻ giúp đỡ phát triển con người và xã hội hợp lẽ phải và trong tình tương thân tương trợ, có lòng nhân ái, và kính trọng nhân phẩm của mọi người.

    “ Mùa Phục Sinh đem lại một giai đoạn mới sâu rộng và bao trùm một đời sống dưới ách nô lệ của tội lỗi bằng một đời sống tự do, thúc đẩy bằng tình yêu, một sức mạnh xô ngã tất cả mọi chứng ngại vật và tạo dựng một sự hòa hợp mới trong tâm hồn và trong sự giao tiếp với kẻ khác và cùng vớí sự vật.

    Nếu mỗi người Kitô hữu, cũng như mỗi cọng đoàn, sống với kinh nghiệm của giai đoạn Phục Sinh, họ sẽ là chất men mới của thế giới, cho đi mà không hề tìm kiếm một lợi ích nào chỉ vì đó là chính đáng và công bình, như các đấng thánh đã chứng tá trong mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh.

    “Thời đại chúng ta cũng có nhiều mong đợi: chúng ta những người Kitô hữu, tin tưởng một cách chắc chắn sự sống lại của Chúa Kitô đã đổi mới con người mà không làm gián đoạn lịch sử của con người. Chúng ta phải là những chứng nhân trong sáng của đời sống mới mà Lễ Phục Sinh đã mang lại cho chúng ta.

    “Phục Sinh là một món quà mà chúng ta đón nhận trong niềm tin sâu xa, để hành động trong mọi trạng huống, với ân sủng của Chúa Kitô, theo như ý muốn của Thiên Chúa và ý muốn của Tình Yêu.” (Nguồn tin: VIS)

    Pt Huỳnh Mai Trác

  • Đức TGM Fernando Filoni, tân Tổng trưởng Bộ Truyền giáo

    Đức TGM Fernando Filoni, tân Tổng trưởng Bộ Truyền giáo

    Đức TGM Fernando Filoni, tân Tổng trưởng Bộ Truyền giáo

    VATICAN – Ngày 10-5-2011, ĐTC Bênêđictô XVI đã nhận đơn từ chức vì lý tuổi tác của ĐHY Ivan Dias, Tổng trưởng Bộ Truyền giáo, và đã cử người kế nhiệm là Đức TGM Fernando Filoni, cho đến nay là Phụ tá Quốc vụ khanh Toà Thánh.

    Đồng thời, ĐTC bổ nhiệm Đức TGM Giovanni Angelo Becciu, cho đến nay là Sứ thần Toà Thánh tại Cuba, làm tân Phụ tá Quốc vụ khanh Toà Thánh.

    ĐHY Ivan Dias, người Ấn Độ, năm nay 75 tuổi, nguyên là một nhà ngoại giao của Toà Thánh, đã làm Sứ thần tại các nước Ghana, Benin, Togo, Đại Hàn và Albani, trước khi được bổ nhiệm làm TGM Giáo phận Mumbai Ấn Độ hồi tháng 11-1996 và thăng Hồng y 5 năm sau đó (21-2-2011). Cách đây 5 năm, ngài được ĐTC Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Truyền giáo. Trong những năm gần đây ngài bị bệnh tiểu đường khá nặng.

    Đức TGM Fernando Filoni, người Italia, gốc tỉnh Taranto, năm nay 65 tuổi (15-4-1946), nguyên là nhà ngoại giao phục vụ tại Brazil, Sri Lanka, Hong Kong, trước khi thăng TGM Sứ thần Toà Thánh tại Irak rồi tại Philippines và được bổ nhiệm làm Phụ tá Quốc vụ khanh Toà Thánh cách đây gần 4 năm (9-6-2007). Trong tư cách là Tổng trưởng Bộ Truyền giáo, cũng gọi là Bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các Dân tộc, ngài giúp ĐTC phối hợp, liên hệ và trợ giúp lối 1.080 giáo phận thuộc các xứ truyền giáo, trong đó có 26 giáo phận tại Việt Nam.

    Sáng ngày 10-5-2011, ĐHY Bertone, Quốc vụ khanh Toà Thánh, đã tháp tùng Đức TGM Filoni đến trụ sở Bộ Truyền giáo, và giới thiệu vị tân Tổng trưởng với toàn thể các chức sắc của Bộ này. Như vậy hai vị lãnh đạo của Bộ này đều là người “mới”: Vị Tổng Thư ký là Đức TGM Savio Hàn Đại Huy, SDB, 61 tuổi, bắt đầu nhiệm vụ từ khoảng đầu tháng 2 năm nay, và nay đến lượt Đức TGM Tổng trưởng.

    Đức TGM Giovanni Angelo Becciu người đảo Sardegna, Italia, năm nay 63 tuổi (2-6-1948), thuộc ngành ngoại giao Toà Thánh, đã phục vụ tại Cộng hoà Trung Phi, Sudan, New Zealand, Anh quốc, Pháp, Hoa Kỳ, và thăng TGM năm 2001 làm Sứ thần Toà Thánh tại Angola, São Tomé và Principe. Từ năm 2009, ngài làm Sứ thần Toà Thánh tại Cuba. Ngài thông thảo tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Anh và Bồ Đào Nha.

    Vị Phụ tá Quốc vụ khanh được coi là nhân vật thứ 3 tại Toà Thánh và thường được giới báo chí coi như tương đương với “Bộ trưởng Nội vụ” của Toà Thánh, cùng với ĐHY Quốc vụ khanh, ngài thuộc vào số các cộng tác viên thân cận nhất của ĐTC.

    (SD 10-5-2011)

    G. Trần Đức Anh OP

    Nguồn: RV

  • ĐTC: Tin mừng là sức mạnh lớn lao nhất trong việc biến đổi thế giới

    ĐTC: Tin mừng là sức mạnh lớn lao nhất trong việc biến đổi thế giới

    ĐTC: TIN MỪNG LÀ SỨC MẠNH LỚN LAO NHẤT TRONG VIỆC BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI
     

    ĐGH Bênêđictô XVI ngồi trên chiếc tàu đáy bằng tại vịnh St. Marcô, Venezia, Ý, ngày 8-5-2011, trong chuyến viếng thăm Venezia, 26 năm sau khi vị tiền nhiệm của ngài là ĐGH Gioan Phaolô II viếng thăm thành phố này lần sau cùng

     Venezia

    TTCG (Rôma, 8-5-2011, Zenit.org, Marine Soreau) – Để tin vào một tương lai tốt đẹp hơn và để xây dựng tương lai ấy trong một thế giới có khuynh hướng thoái hoá, Đức Bênêđictô XVI đã mời gọi ta đừng sợ Tin Mừng, Tin Mừng “không phải là một điều không tưởng hay một ý thức hệ” mà là “sức mạnh lớn lao nhất trong việc biến đổi thế giới”.

    ĐGH đã kết thúc chuyến công du thứ 22 của ngài tại Ý bằng một cuộc gặp gỡ trong Vương cung Thánh đường Santa Maria della Salute, vào cuối ngày 8-5, với các vị đại diện của giới văn hoá, nghệ thuật và kinh tế của thành phố Venise và vùng đất của thành phố này.

    Khi suy nghĩ về 3 từ ngữ được gắn liền với thành phố Venise: “l’eau” (nước), “salute” – trong tiếng Ý có nghĩa là “sức khoẻ” – và “Sérénissime” (cộng hoà Venise), ĐGH đã mời gọi Venise chọn lựa giữa một bên là “một thành phố lỏng”, nghĩa là chóng qua hay không bền vững, và bên kia là “không ngừng” canh tân “vẻ đẹp của mình, kín múc trong những nguồn suối tốt lành của nghệ thuật, kiến thức, những tương giao giữa con người và giữa các dân tộc”.

    ‘Thành phố nước’ Venise làm ta liên tưởng tới nhà xã hội học hiện đại nổi tiếng, người đã định nghĩa xã hội của chúng ta là ‘lỏng’, và nền văn hoá của châu Âu cũng thế, một nền văn hoá ‘lỏng’, để diễn tả tính dễ thay đổi, thiếu ổn định, không ổn định, không bền vững, như là điểm đặc trưng của nền văn hoá ấy – Đức Bênêđictô XVI khẳng định.

    Dù không nêu tên tuổi của tác giả, nhưng ở đây ta thấy ĐGH quy chiếu về nhà xã hội học người Ba Lan Zygmunt Bauman, sinh năm 1925 tại Poznan, Ba Lan. Là người Do Thái, ông bị cưỡng bức phải rời khỏi Ba Lan vào năm 1968, do những cuộc bắt bớ chống người Do Thái, và ông đã đến Anh quốc. Ông đã khai triển ý tưởng về một xã hội ‘lỏng’ mà những mối dây liên kết đã bị tan rã dưới tác động bức chế của một xã hội tiêu thụ.

    Trong bài diễn văn của mình, ĐGH khẳng định: “Tôi muốn nói đến việc chọn lựa giữa một thành phố ‘lỏng’, là nơi xuất phát của một nền văn hoá ngày càng biểu hiện tính tương đối và chóng qua, và một thành phố không ngừng canh tân vẻ đẹp của mình, kín múc trong những nguồn suối tốt lành của nghệ thuật, kiến thức, những tương giao giữa con người và giữa các dân tộc”.

    Tiếp đến, khi gợi lại từ ‘salute’, có nghĩa là “sức khoẻ”, ĐGH xác định đây là một thực tế bao gồm nhiều điểm: “khởi đi từ sự kiện ‘ta cảm thấy khoẻ khoắn’, sự kiện ấy cho phép ta sống một ngày học tập và làm việc hay nghỉ hè một cách thanh thản, cho đến salus animae – sức khoẻ sống động, mà số mệnh đời đời của chúng ta lệ thuộc vào đó. Thiên Chúa chăm lo đến tất cả, không loại trừ một điều gì. Người chăm nom đến ‘salute’ (sức khoẻ) của chúng ta theo nghĩa đầy đủ nhất”.

    Cuối cùng, từ ngữ thứ ba, đó là ‘sérénissime’, là tên của cộng hoà Venise nhưng cũng là tên của kinh thành thiên quốc, là Giêrusalem mới, “một mục đích làm xúc động lòng người và hướng dẫn bước chân của con người”.

    Khi trích dẫn Hiến chế Gaudium et Spes, ĐGH nhắc lại rằng “nào có ích gì cho con người, nếu họ được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn”. Trong một thế giới, nơi mà “sự lạc quan bị che mờ” và nơi mà “niềm hy vọng bị khủng hoảng”, ĐGH mời gọi ta nhớ lại tinh thần, mà qua đó, các Nghị phụ Công đồng đã để lại cho chúng ta giáo huấn này: là những chứng nhân của 2 cuộc thế chiến và những chế độ cực quyền, “quan điểm của các ngài không phải do tính lạc quan dễ dãi gợi lên, nhưng là do đức tin Kitô giáo làm sinh động hoá niềm hy vọng”.

    “Theo quan điểm này, từ ngữ ‘sérénissime’ nói với chúng ta về một nền văn minh hoà bình, dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, trên một sự hiểu biết lẫn nhau, trên những tương giao bằng hữu”, ĐGH nói.

    Đức Bênêđictô XVI nói tiếp: Venise có “một lịch sử lâu dài và một di sản nhân văn, tinh thần và nghệ thuật phong phú, để ngày hôm nay nó còn có thể mang lại được một sự đóng góp quý giá, để giúp đỡ mọi người tin vào một tương lai tốt đẹp hơn, và dấn thân xây dựng tương lai đó”.

    “Nhưng để được như thế, ta không được sợ một yếu tố biểu tượng khác, được chứa đựng trong khẩu hiệu của Thánh Marcô, là “Tin Mừng”, ĐGH kết luận. “Tin Mừng là sức mạnh lớn nhất trong việc biến đổi thế giới, nhưng nó không phải là một điều không tưởng hay một ý thức hệ. Đúng hơn, những thế hệ Kitô giáo đầu tiên gọi Tin Mừng là ‘con đường’, nghĩa là cách thế sống mà Đức Kitô là người đầu tiên đã thực hiện, và Người mời gọi chúng ta bước theo”.

    Hình ảnh ĐTC tại thành phố nổi Venezia

    G.B. Lưu Văn Lộc

  • Mỹ: Xu hướng ngày càng có nhiều thanh niên trẻ hơn làm linh mục

    Mỹ: Xu hướng ngày càng có nhiều thanh niên trẻ hơn làm linh mục

    Mỹ: Xu hướng ngày càng có nhiều thanh niên trẻ hơn làm linh mục

    WASHINGTON – Hơn một nửa của lớp linh mục truyền chức năm 2011 tại Mỹ thuộc độ tuổi 25-34 tuổi, việc này cho thấy một xu hướng nhất quán của ngày càng có nhiều người trẻ tuổi hơn trở thành linh mục.

    Hội đồng Giám mục Công Giáo Mỹ đã công bố thông kê của lớp linh mục truyền chức năm 2011, và nói rằng có một xu hướng liên tục trong năm năm qua về ngày càng có thêm người truyền chức linh mục trẻ tuổi hơn.
    333 tân linh mục được hỏi ý kiến, trong tổng số 480 tân linh mục thuộc các giáo phận và Dòng tu năm nay.
    Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng việc Tông Đồ (CARA), một trung tâm nghiên cứu thuộc Đại học Georgetown tiến hành cuộc khảo sát này, ghi nhận rằng 69% các tân linh mục là người da trắng / Âu Mỹ / châu Âu da trắng, trong khi 15% là người gốc Tây Ban Nha / Latino, và 10% là người gốc Châu Á / Thái Bình Dương.
    Đa số là người Công giáo từ khi mới sinh, mặc dù 8% gia nhập Giáo Hội khi lớn lên.
    Khoảng một phần ba các tân linh mục có một người thân là linh mục hay tu sĩ.
    Hơn một nửa số các tân linh mục có nhiều hơn hai anh chị em, và một phần tư các tân linh mục có năm hay nhiều hơn năm anh chị em.
    Cuộc khảo sát cũng nhận thấy rằng 21% người đã tham dự Đại hội Giới trẻ thế giới trước khi vào chủng viện.
    Cầu nguyện
    Khảo sát nói thêm rằng 70% các tân linh mục thường xuyên lần chuỗi Mân Côi, và 65% siêng năng chầu Thánh Thể trước khi vào chủng viện.
    Độ tuổi trung bình mà các tân chức nghĩ về ơn gọi linh mục lần đầu tiên là 16 tuổi.
    Đối với 66% số người được hỏi, có một linh mục khuyến khích họ xem xét ơn gọi linh mục.
    Khoảng 71% tân chức nói rằng họ cũng được khuyến khích biện phân ơn gọi linh mục bởi một người bạn, cha mẹ, ông bà, thân nhân hoặc giáo dân, trong khi một nửa số các tân chức cho biết có người làm nản lòng họ trên con đường này
    Các sở thích phổ biến nhất hoặc hoạt động ngoại khóa của lớp tân chức năm 2011 là nghe nhạc (73%), đọc sách (67%), xem phim (62%), chơi bóng đá hay bóng chày (41%), đi bộ đường dài (33%), nấu ăn (33%) và chơi dụng cụ âm nhạc (33%).
    Lớp tân chức năm nay cũng có một người bị điếc bẩm sinh, một số người tị nạn từ Việt Nam, cựu quân nhân và thừa tác viên của các đạo khác trở lại Công giáo. (Zenit 6-5-2011)

    Nguyễn Trọng Đa

  • Đức Thánh Cha gửi sứ điệp cho Uỷ ban Giáo hoàng về Kinh Thánh

    Đức Thánh Cha gửi sứ điệp cho Uỷ ban Giáo hoàng về Kinh Thánh

    Đức Thánh Cha gửi sứ điệp cho Uỷ ban Giáo hoàng về Kinh Thánh

    VATICAN – ĐTC Bênêđictô XVI kêu gọi giải thích Kinh Thánh theo bản chất của Sách Thánh và tránh áp dụng một cách máy móc tiêu chuẩn linh hứng hoặc chân lý tuyệt đối tách rời mỗi câu ra khỏi mạch văn.

    Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong sứ điệp công bố hôm 5-5-2011, gửi Uỷ ban Giáo hoàng về Kinh Thánh, gồm 30 thành viên, nhóm họp tại Vatican trong tuần này, dưới quyền chủ toạ của ĐHY William Levada, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, về chủ đề “Linh hứng và Chân lý trong Kinh Thánh”. ĐTC ghi nhận đây là hai ý niệm nòng cốt để giải thích Kinh Thánh một cách đúng đắn. Ngài viết:

    “Giải thích Sách Thánh mà lơ là hoặc bỏ quên sự linh hứng các sách ấy thì sẽ không để ý đến đặc tính quan trọng và quý giá nhất của các Sách Thánh, nghĩa là nguồn gốc Sách Thánh đến từ Thiên Chúa. Một sự giải thích như thế sẽ không dẫn đến và không giúp đạt tới Lời Chúa qua những lời của con người, và vì thế sẽ đánh mất kho tàng vô giá chứa đựng trong Kinh Thánh được ban cho chúng ta”.

    Về chân lý Kinh Thánh, ĐTC nhắc lại Hiến chế Dei Verbum (Lời Chúa), của Công đồng chung Vatican II, theo đó Thiên Chúa gửi Lời Ngài cho chúng ta “để mạc khải chính Ngài và cho ta biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x. Ep 1,9)” (n.2). Qua Lời Ngài, Thiên Chúa muốn thông truyền cho chúng ta trọn vẹn chân lý về chính Ngài và về dự án cứu độ nhân loại. Vì thế, nỗ lực tìm biết ngày càng rõ hơn về chân lý của các Sách Thánh cũng có nghĩa là cố gắng hiểu biết sâu rộng hơn về Thiên Chúa và về mầu nhiệm ý muốn cứu độ của Chúa”.

    Và ĐTC nhấn mạnh thêm: “Trong việc giải thích đúng đắn về Kinh Thánh, không thể áp dụng một cách máy móc tiêu chuẩn linh hướng cũng như chân lý tuyệt đối, bằng cách tách rời một câu hoặc một thành ngữ. Phương thức giúp nhận thức Kinh Thánh như Lời của Thiên Chúa chính là ý thức sự thống nhất toàn thể lịch sử của Thiên Chúa, trong một tổng thể trong đó mỗi yếu tố soi sáng cho nhau và giúp hiểu biết Lời Chúa”.

    (SD 5-5-2011)

    G. Trần Đức Anh OP

    Nguồn: RV

  • Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa

    Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa

    Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa

    Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa. Nhưng nó không phải là việc ngẫu nhiên, mà cần phải tập cầu nguyện, hầu như để luôn luôn chiếm hữu được trở lại nghệ thuật này. Cả những người rất tấn tới trong đời sống thiêng liêng cũng luôn luôn cảm thấy nhu cầu theo học nơi trường của Chúa Giêsu để tập cầu nguyện đích thực.

    Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã khẳng định như trên trước hơn 25.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung tại Quảng trường Thánh Phêrô sáng thứ tư 4-5-2011.

    Trong số hàng trăm phái đoàn tham dự cũng có phái đoàn 50 tín hữu Việt Nam do Cha Nguyễn Đức Vượng, dòng Đaminh, Cha sở Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam Arlington, Virginia, Hoa Kỳ, hướng dẫn.

    Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã bắt đầu loạt bài giáo lý mới về lời cầu nguyện, là một đề tài mọi người đều lưu tâm, đặc biệt là lời cầu nguyện Kitô, nghĩa là lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu và Giáo Hội tiếp tục dạy dỗ chúng ta. Đức Thánh Cha nói:

    Thật thế, chính nơi Chúa Giêsu mà con người có khả năng đến gần Thiên Chúa với sự sâu xa và thân tình của tương quan hiền phụ và con thảo. Như vậy, cùng với các môn đệ tiên khởi chúng ta hãy khiêm tốn tin tưởng hướng tới Thầy và xin Người: “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1). Bài học đầu tiên là chính gương sống của Chúa Giêsu. Các Phúc Âm cho chúng ta thấy Chúa Giêsu liên lỉ đối thoại thân tình với Thiên Chúa Cha: đó là một sự kết hiệp sâu xa của người đã đến trần gian không phải để làm theo ý mình, mà là để làm theo ý Thiên Chúa Cha, Đấng đã gửi Người đến để cứu rỗi nhân loại.

    Tiếp đến, Đức Thánh Cha đã đơn cử một số thí dụ về lời cầu nguyện trong các nền văn hoá cổ xưa để cho thấy con người luôn luôn hướng về Thiên Chúa như thế nào.

    Chẳng hạn bên Ai Cập, lời cầu của một người mù xin thần linh cho ông ta được sáng mắt cho thấy lời cầu đơn sơ và thuần tuý là lời xin từ phía người đau khổ. Ông mù cầu nguyện như sau: “Tim tôi ước ao trông thấy Ngài… Ngài đã làm cho tôi thấy tối tăm, xin hãy tạo dựng ánh sáng cho tôi. Ước chi tôi đựơc trông thấy Ngài! Xin hãy ghé mặt yêu thương của Ngài xuống trên tôi” (A. Baruq – F. Daumas, Hymnes et prières de l;Egypte ancienne, Paris 1980, trad. it. in Preghiere dell’umanità, Brescia 1993, tr. 30).

    Trong các tôn giáo vùng Medopotamia, tuy trong lời cầu nguyện người ta ý thức được sự nghiêm trọng của lỗi lầm làm tê liệt, nhưng lời cầu cũng không thiếu niềm hy vọng được Thiên Chúa cứu chuộc và giải thoát. Thí dụ lời cầu của một tín hữu như sau: “Ôi Thiên Chúa là Đấng nhân từ cả đối với lỗi lầm trầm trọng nhất, xin xá giải tội lỗi của con… Lạy Chúa, xin hãy nhìn xem tôi tớ kiệt lực của Ngài và thổi làn gió mát nhẹ của Ngài trên nó: đừng chậm trễ tha thứ cho nó… Xin hãy làm vơi nhẹ sự trừng phạt nghiêm minh của Ngài. Xin làm cho con lại thở được và thoát các dây trói; xin hãy bẻ gãy xiềng xích của con, xin hãy cởi các dây trói buộc cho con” (M. J Seux, Hymnes et prières aux Dieux de Babylone et d’Assyrie, Paris 1976, trd.it. in Preghiere dell’umanità, op. cit., tr. 37). Các kiểu diễn tả này cho thấy con người trực giác được một đàng là tội lỗi của mình, đàng khác là lòng lành và sự xót thương của Thiên Chúa.

    Bên trong tôn giáo của Hy Lạp cổ, người ta chứng kiến một sự tiến triển rất ý nghĩa: tuy tiếp tục là các lời kêu cứu thần linh trợ giúp trong các tình huống khác nhau của cuộc sống thường ngày, và để được các lợi ích vật chất, các lời cầu từ từ hướng tới các cầu xin vô vị lợi hơn, cho phép con người đào sâu tương quan với Thiên Chúa và trở nên tốt lành hơn. Chẳng hạn đại triết gia Platon ghi lại lời cầu của Socrate thầy mình như sau: “Xin cho con xinh đẹp ở bên trong. Ước chi con coi người khôn ngoan là giàu có và chỉ có số tiền mà người khôn ngoan có thể lấy và đem theo. Con không xin gì khác nữa” (Opere I. Fedro 279c, trd.it. P. Pucci, Bari 1966). Nghĩa là ông muốn được xinh đẹp trong nội tâm và khôn ngoan, chứ không muốn tiền bạc.

    Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ về lời cầu nguyện:

    Trong các tuyệt tác của nền văn chương thuộc mọi thời đại có các bi kịch hy lạ. Cả ngày nay nữa, sau 25 thế kỷ, chúng được đọc, suy gẫm và diễn lại, và trong đó có các lời cầu diễn tả ước muốn hiểu biết Thiên Chúa và thờ lạy sự cao cả của Ngài.

    Cả nơi người Roma đã xây dựng một đế quốc rộng lớn, trong đó một phần lớn Kitô giáo tiên khởi nảy sinh và phố biến, tuy có trộn lẫn với quan niệm vụ lợi và gắn liền với việc xin thần linh phù trợ cuộc sống của cộng đoàn dân sự, lời cầu nguyện cũng rộng mở cho các lời khấn cầu đáng ca ngợi xin cho lòng đạo đức cá nhân, biến trở thành lời chúc tụng và cảm tạ. Thí dụ như lời cầu của ông Apuleio, một tác giả Phi châu sống vào thế kỷ thứ II sau công nguyên. Trong các bút tích của mình, ông bày tỏ sự không thoả mãn của các người đồng thời đối với tôn giáo cổ truyền, và ước mong có một tương quan đích thực hơn với Thiên Chúa. Trong tuyệt tác tựa đề “Các sự biến hình”, có một tín hữu hướng tới một nữ thần với các lời sau đây: “Ngài thực là thánh, ngài cứu vớt nhân loại trong mọi lúc; trong sự quảng đại của ngài, ngài luôn trợ giúp con người phải chết; ngài cống hiến cho những kẻ bần cùng đang gặp khốn khó lòng yêu mến hiền dịu của một bà mẹ. Không có một ngày, một đêm, một lúc nào, cho dù có ngắn ngủi tới mấy đi nữa, mà ngài lại không đổ tràn đầy trên nó các ân huệ của ngài” (Apuleio di Madaura, Metamorfosi IX,25, trad. it., C. Annaratone, in Preghiere dell’umanità, op, cit., tr. 79).

    Trong cùng thời đó, hoàng đế Marco Aurelio, là một triết gia suy tư về điều kiện là người, khẳng định sự cần thiết phải cầu nguyện để thiết lập một sự cộng tác phong phú giữa hoạt động của thần linh và hoạt động của con người. Ông viết trong tác phẩm “Các kỷ niệm”: “Ai đã nói với bạn rằng các thần linh không trợ giúp chúng ta, cả trong điều tuỳ thuộc nơi chúng ta? Vậy hãy bắt đầu cầu khấn các ngài đi, và bạn sẽ thấy” (Dictionnaire de Spiritualité XII/2, col. 2213). Và Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa lời khuyên này của hoàng đế như sau:

    Nhiều thế hệ con người trước Chúa Kitô đã thực thi lời khuyên này của hoàng đế triết gia. Nó chứng minh cho thấy rằng cuộc sống con người mà không có lời cầu nguyện, là điều mở cuộc sống chúng ta ra cho mầu nhiệm của Thiên Chúa, thì trở thành vô ý nghĩa và không có điểm quy chiếu. Thật vậy, trong mỗi một lời cầu luôn luôn diễn tả sự thật của bản tính con người, một đàng sống kinh nghiệm sự yếu đuối và bất xứng, và vì thế xin Trời trợ giúp, đàng khác nó lại có được một phẩm giá ngoại thường, bởi vì nó đang chuẩn bị mình đón nhận Mạc Khải của Thiên Chúa, nó khám phá ra mình có khả năng bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.

    Rồi Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau:

    Các bạn thân mến, trong các thí dụ về lời cầu nguyện của nhiều thời đại và nền văn minh này, nổi bật lên ý thức con người có về điều kiện là thụ tạo và sự tuỳ thuộc của nó đối với Một Đấng Khác, cao hơn nó và là suối nguồn của mọi sự thiện. Con người thuộc mọi thời đại cầu nguyện, bởi vì nó không thể làm gì khác hơn là tự hỏi xem đâu là ý nghĩa cuộc sống. Nó tối tăm và không an ủi, nếu không được đặt trong tương quan với mầu nhiệm của Thiên Chúa và chương trình của Ngài đối với thế giới. Cuộc sống con người là một giao thoa giữa thiện và ác, khổ đau vô tội, niềm vui và vẻ đẹp. Nó thúc đẩy chúng ta xin Thiên Chúa ban ánh sáng và sức mạnh nội tâm cứu giúp chúng ta trên trần gian này, và rộng mở chúng ta cho một niềm hy vọng vượt ngoài ranh giới của cái chết.

    Trong các thí dụ lời cầu của các nền văn hoá khác nhau, chúng ta có thể thấy một chứng tá của chiều kích tôn giáo và ước muốn Thiên Chúa ghi sâu trong trái tim của mọi người. Chúng nhận được sự thành toàn và diễn tả tràn đầy trong Thánh Kinh Cựu và Tân Ước. Mạc Khải thanh tẩy và đem khát vọng Thiên Chúa của con người nguyên thuỷ tới sự tràn đầy, bằng cách cống hiến cho nó khả năng của một tương quan sâu xa hơn với Thiên chúa Cha trên trời, trong lời cầu nguyện. Chúng ta hãy xin Chúa soi sáng trí tuệ và con tim chúng ta để tương quan của chúng ta với Người trong lời cầu nguyện luôn trọn vẹn, yêu thương và liên lỉ hơn.

    Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Chào các bạn trẻ, các người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới Đức Thánh Cha nói tháng 5 là tháng Kitô hữu kính Đức Mẹ, vừa mới bắt đầu. Ngài xin người trẻ mỗi ngày noi gương và học nơi trường của Mẹ Maria Rất Thánh để biết chu toàn ý muốn của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha xin các anh chị em đau yếu biết chiêm ngưỡng Mẹ và tiếp nhận giá trị cứu rỗi của mọi khổ đau kết hiệp với khổ đau của Chúa Kitô chịu đóng đinh. Ngài xin Mẹ che chở các cặp vợ chồng mới cưới để bầu khí Thánh Gia Nazareth luôn ngự trị trong gia đình họ.

    Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Toà Thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

    Linh Tiến Khải

    Nguồn: RV