Danh mục: Năm B

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 22 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 22 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa:  Dnl 4,1-2.6-8;  Gc1,17-18.21b.22-27;  Mc 7,1-8a.14-15.21-23

    ———

     

    Mục lục

    1. Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Hãy sống chân thật (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Tẩy rửa con tim  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    4. Cội nguồn của tội ác (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

    5. Giữ luật với lòng mến Chúa (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    6. Luật phàm nhân và luật Thiên Chúa  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    7. Hình thức  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    8. Kẻ giả hình  (Lm. Nguyễn Thái)

    9. Lề luật và truyền thống (Lm. Đinh Lập Liễm)

    10. Suy niệm Tin mừng Chúa Nhật 22 TN_B  (Jorathe Nắng)

    11. Suy niệm Chúa Nhật 22 TN_B (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    12. Thờ phượng Chúa hết lòng  (Phó tế Đaminh Nguyễn Bình An)

    13. Sạch và đẹp  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    14. Tâm hồn thanh khiết (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    15. Tuân giữ giới răn và thực hành lời Chúa (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

    16. Con tim bệnh tật  (Lm. Vũ Đình Tường)

    17. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 22 TN_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    18. Bác ái trong lề luật (Anna, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    19. Chỉ nghe suông là lừa dối chính mình (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    20. Tôn kính bằng đầu môi chót lưỡi  (JM. Lam Thy, ĐVD)

    21. Tuân giữ giới răn lề luật của Chúa  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    22. Thiện căn hệ tại lòng ta  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    23. Ai là người Pharisieu?  (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    24. Chúa Nhật 22 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

     

    Mục lục

    1. Đức tin tinh tuyển  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng) 

    2. Với cả tâm tình  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt) 

    3. Cái nào quan trọng  (Gm. Arthur Tone)

    4. Đừng bất công với linh hồn  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    5. Cao cả và bi đát  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Vệ sinh  (Trầm Thiên Thu)

    7. Đường hay pháo đài  (Văn Hào, SDB)

    8. Chúa Nhật 22 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

    9. Biến thái trong đời sống đức tin  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc) 

    10. Thế nào là một người có lòng đạo đức thực sự  (Lm. Đan Vinh)

    11. Tôn kính bằng môi bằng miệng  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    12. Từ trái tim con người  (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

     

     

    TÂM BẤT BIẾN GIỮA DÒNG ĐỜI VẠN BIẾN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Một người khi được hỏi: Trên đời sợ gì nhất? đã trả lời: sợ nhất là con người. Con người vừa cao cả vừa thấp hèn, vừa đáng kính vừa đáng sợ. Con người là tác nhân làm nên những kỳ vĩ, nhưng cũng là lý do gây nên bao đau khổ. Trí thông minh của con người có thể đem lại những kỳ tích giúp thăng tiến và phát triển, đồng thời cũng có thể gây tai họa hủy diệt chết chóc hoàng loạt. Con người vừa là điểm kết nối yêu thương, vừa là nguyên nhân gây chia rẽ bất hòa. Chính vì vậy mà con người trở nên “đáng sợ” nhất. Nhiều khi người ta đem hình ảnh ma quỷ ra để đe dọa người khác. Tuy vậy trong thực tế, chưa bao giờ thấy ma quỷ hiện hình giết người, mà chỉ có những người đang sống giết nhau một cách dã man. Lòng đố kỵ, tham lam đã khiến con người đoạt mạng sống của đồng loại một cách không thương tiếc, để lại những hậu quả khôn lường. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy nhận ra đâu là nguồn gốc của tội lỗi. Tội lỗi không phải là điều gì từ bên ngoài, nhưng xuất phát từ trong chúng ta. Chính con người là nguyên nhân gây ra tội lỗi và đau khổ cho bản thân và cho đồng loại. Trong kinh “Cải tội bảy mối” chúng ta thấy những “mối tội đầu” đều đến từ tà ý và ích kỷ của con người: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng việc đạo đức. “Tâm bình thế giới bình”. Tập luyện để có được tâm hồn bình an, đó là điều kiện quan trọng để góp phần xây đắp an bình trong cuộc sống và trong xã hội.

    Vào thời Chúa Giêsu, một số lớn những kinh sư và người biệt phái thường chú trọng tới những thủ tục bề ngoài mà coi thường tinh thần của lề luật và lãng quên đức bác ái.  Chúa đã nhắc lại giáo huấn của ngôn sứ Isaia: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.Rồi Chúa kết luận: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”. Kinh sư và biệt phái là những người học hành uyên thâm, họ có uy tín trong các cộng đoàn Do Thái, và có vị trí quan trọng trong các buổi hội họp. Chính những “bậc vị vọng” ấy đang bị Chúa kết án nặng nề và coi họ như những kẻ đạo đức giả. Họ lạm dụng khái niệm thánh thiêng và trần tục, và đã tự đặt ra rất nhiều quy định rườm rà và tỉ mỉ. Những quy định này, thay vì giúp cho con người nên thánh, lại đặt trên vai họ những gánh nặng không kham nổi. Những công việc bình thường hằng ngày như rửa tay, rửa chén, rửa bát, họ đã biến thành những nghi thức tôn giáo để kết tội người dân. Chúa Giêsu đã phê phán quan niệm ấy, và mời gọi họ chú trọng đến nhân vị, tức là chính con người. Bởi lẽ, những quy định, luật lệ được thiết lập là phục vụ con người và giúp họ hướng thượng và nên trọn lành.

    Cũng giống như những kinh sư và người biệt phái ngày xưa, nhiều khi chúng ta chỉ chú trọng tới những gì là “xã giao”, “lễ nghi”, “thủ tục” mà quên đi mục đích quan trọng của lề luật, đó là giúp ta nên thánh trước mặt Chúa và trước mặt anh chị em. Vì quá chú trọng đến những thủ tục và truyền thống, nhiều khi những tương giao của chúng ta trở nên giả hình, gượng ép, thậm chí là giả dối.

    Niềm tự hào của dân tộc Do Thái ngày xưa, cũng là niềm vinh dự của người Kitô hữu hôm nay, đó là được Chúa luôn hiện diện giữa cộng đoàn những người tin vào Người. Ông Môisen nhắc người Do Thái đừng quên điều ấy. Giáo Hội hôm nay cũng nhắc chúng ta như vậy. Trải qua những sóng gió trong cuộc lữ hành sa mạc, trên đường về Đất Hứa, người Do Thái càng nhận ra quyền năng của Chúa cũng như tình yêu thương Ngài dành cho họ. Trước tình thương ấy, Ông Môisen đã dặn dò: “Anh em phải giữ và đem ra thực hành những mệnh lệnh của Đức Chúa, vì nhờ đó mà anh em em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh”. Nhờ tin vào Chúa mà dân tộc Do Thái trở nên vĩ đại. Hôm nay, Giáo Hội của Chúa như cây nho vươn cành ra khắp thế giới, bao phủ địa cầu và đang sinh hoa kết trái, trở thành một vương quốc vĩ đại của Thiên Chúa.

    Biết bao lần chúng ta tham dự các nghi thức phụng vụ mà tâm hồn chúng ta xa Chúa. Có nhiều khi chúng ta giống như những người kinh sư và người biệt phái, chỉ chú trọng đến những nghi thức bề ngoài mà coi nhẹ tâm tình cầu nguyện, là điều cốt lõi để làm thành việc tôn thờ đích thực. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta: “Hãy khiêm tốn đón nhận Lời được gieo vào lòng chúng ta… Hãy đem Lời ấy ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Bài đọc II). Đối với thánh nhân, lòng đạo đức thật phải sinh ra hoa trái là lòng bác ái và dấn thân phục vụ người nghèo, giúp họ tìm được niềm vui trong cuộc sống.

    Vì tội lỗi đến từ con người. Nếu mỗi chúng ta chú tâm đến việc canh tân đổi mới cuộc đời, cuộc đời này sẽ bớt đi những mâu thuẫn hận thù và bạo lực. Với tư cách là Kitô hữu, hãy thắp sắng cuộc đời bằng những nhân đức và bằng tình yêu thương, để rồi cuộc sống chan hòa và thấm đượm tinh thần Tin Mừng yêu thương. Trái tim an bình và thánh thiện là điều kiện không thể thiếu để kiến tạo hòa bình xung quanh chúng ta.

    Sống không giậnkhông hờnkhông oán trách
    Sống mỉm cười với thử thách chông gai
    Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai
    Sống chan hòa với những người chung sống
    Sống là động mà không xao động
    Sống là thương mà chẳng vấn vương
    Sống hiên ngang danh lợi ta coi thường
    Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến (Sưu tầm).

    Về mục lục

    .

    HÃY SỐNG CHÂN THẬT

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Đôi khi tôi vẫn tự hỏi: tại sao Thiên Chúa tạo dựng con người có trí tuệ thông minh, có thể biết mọi sự nhưng Ngài lại không cho con người biết được lòng nhau? Có đôi khi ta vẫn nghe ai đó nói rằng “Tôi đi guốc trong bụng anh đấy!”, nhưng chỉ là “suy bụng ta ra bụng người” chứ chẳng ai đi guốc được trong bụng nhau! Vì con người là một diễn viên tài ba có thể che dấu sự thật về mình.

    Thế nên, người đời mới chua cay nói rằng: “Sông sâu còn có kẻ dò – Lòng người nham hiểm ai đo cho tường”. Con người dường như luôn có bí mật để dấu mọi người. Có khi cả tội lỗi mà chẳng ai nhận ra.

    Có một người đàn ông khi hấp hối hỏi vợ:

    – Em yêu, trước khi chết, anh muốn biết sự thật và sẵn sàng tha thứ cho em. Thằng thứ tư có phải là con anh không?

    – Tất nhiên nó là con anh. Em xin thề!

    Người đàn ông lộ vẻ sung sướng và trút hơi thở cuối cùng. Người vợ vừa vuốt mắt cho chồng vừa thở phào:

    – May là ông ấy không hỏi mình về ba đứa đầu…

    Quả thực giữa muôn loài trong thế gian chỉ có con người mới có giả hình, lừa đảo, gian dối, mưu mô, thủ đoạn . . . Chỉ có con người mới có kiểu nói vậy mà không phải vậy nên rất khó biết lòng nhau.

    Hôm nay Chúa Giê-su khẳng định: “không phải những gì từ bên ngoài vào làm cho người ta ra ô uế, nhưng từ trong mới xuất phát những cái làm cho người ta ra ô uế”. Điều này dường như Chúa muốn nói tội xuất phát từ bên trong. Tội chỉ là hành vi làm điều gì đó có lỗi mà từ trong tâm hồn con người đã nuôi dưỡng. Có khi tội cũng chỉ dừng lại ở việc nuôi dưỡng trong tâm hồn những điều bất chính hay những điều ngược với đức ái Ky-tô.

    Hôm nay nhân việc các kinh sư trách các môn đệ Chúa không rửa tay trước khi ăn. Đối với người Do Thái việc rửa tay là luật mà họ phải tuân giữ để chứng tỏ mình sạch trước mặt mọi người. Nhưng Đức Giê-su đã cho họ biết thế nào là sạch, thế nào là dơ. Cá có zòi rửa sạch nhưng bên trong đã hư thối. Sạch dơ đều phải dựa vào cái bên trong. Thế nên, cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay dữ, tốt hay xấu, sạch hay dơ. Từ lòng mà sinh ra các tội: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, lăng loàn , . . .

    Đức Giê-su không phản đối việc rửa tay trước khi ăn, Người chỉ phản đối thói vụ hình thức, vì họ quá quan trọng cái bên ngoài mà quên làm sạch bên trong. Làm người cần có tấm lòng như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết rằng: “sống trên đời cần có một tấm lòng”. Một tấm lòng chân thành, biết trao yêu thương. Khi tạo dựng con người Thiên Chúa cũng truyền cho con người: “Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31). Một trái tim biết yêu thương, một tấm lòng chân thành yêu thương nhau. Con người phải để gió cuốn đi tấm lòng yêu thương chân thành đến với tha nhân.

    Người ky-tô chúng ta đang sống trong mọi thế giới mà sự lừa dối lên ngôi đến mức cảnh báo ở khắp mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Thế giới hôm nay người ta cũng đề cao hình thức nên cũng cố đánh bóng mình bằng nhà cửa, xe cộ, phương tiện đắt tiền để khoe mẽ, để tạo niềm tin cho đối tác nhưng có mấy ai thực sự là sở hữu riêng mà không phải vay mượn.

    Một xã hội nặng hình thức và lừa dối cần lắm một đời sống chứng nhân cho sự chân thành và lòng quảng đại không điều kiện của người tín hữu chúng ta. Thiên Chúa biết rõ mọi sự hãy sống dưới cái nhìn của Chúa. Thế nên, hãy sống chân thành với nhau. Vợ chồng đừng che dấu nhau điều gì nhưng luôn cởi mở thân tình. Bạn bè cần sống chân thành để gìn giữ niềm tin cho nhau. Đối tác cần sống thật để cho mối quan hệ làm ăn bền vững . . .

    Người Ky-tô hữu mỗi khi đưa tay để đón nhận tình thương và sự thanh sạch của Thiên Chúa nên cũng cần phải thanh sạch từ ngoài đến tâm hồn không hoen ố vấn đục bởi tội lỗi, bởi toan tính thấp hèn. Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống thanh sạch trong tâm hồn và chân thành trong đời sống của mình. Amen

    Về mục lục

    .

    TẨY RỬA CON TIM

    Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, từ khám phá này tới khám phá kia : có những câu chuyện xem ra nực cười nhưng cũng dở mếu dở khóc bởi vì những lố bịch của người Biệt phái, của những Tư tế, Pharisêu luôn gây cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Chẳng hạn như việc rửa tay trước bữa ăn, hay việc đóng thuế thập phân, việc lên Đền thờ cầu nguyện, tất cả những sự việc ấy đều được các Biệt phái, Ký lục, Tư tế vv…làm ra to chuyện, coi là quá quan trọng. Việc rửa tay trước bữa ăn là việc vệ sinh bình thường, tuy nhiên khi Chúa Giêsu đang ở Galilêa, họ đã cất công từ Giêrusalem tới gặp Chúa hơn 170 cây số để hỏi Ngài chỉ có một việc là tại sao các môn đệ của Chúa không rửa tay trước bữa ăn.Điều này chứng tỏ người Do Thái rất coi trọng việc tuân giữ các tập tục tiền nhân về vấn đề thanh tẩy…

    Người Pharisêu có tập tục, truyền thống rất kỹ về việc rửa tay trước bữa ăn. Họ sẽ không ăn bất cứ thức ăn nào khi chưa rửa tay.Thực ra, tục rửa tay đã có từ lâu dành riêng cho các Tư tế khi họ làm việc thờ phượng trong Đền thờ, rửa tay để tảy hết các ô uế, tạp khí, uế nhơ để các Tư tế xứng đáng làm việc tôn giáo, thờ phượng, tôn vinh Chúa. Sau này, người Do Thái cũng bắt chước rửa tay trước khi cầu nguyện. Với sự suy nghĩ như thế, họ cũng rửa tay trước các bữa ăn vì đối với người Do Thái khi ra đường, ra chợ, tới nơi công cộng, con người ra ô uế. Phải rửa tay vì không rửa tay đồ ăn bị ô uế lây, đồ ăn ô uế sẽ khiên con người ô uế. Chúa Giêsu quả quyết :” Không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế “. Người Do Thái, đặc biệt những Ký lục và Pharisêu đã biến việc giữ những tập tục tiền nhân trở nên gánh nặng, họ chỉ giữ bề ngoài, ai giữ luật, ai giữ tập tục họ cho người đó là đạo đức, công chính, thánh thiện, là đẹp lòng Thiên Chúa, còn ai không giữ thì họ cho là phạm tội vv…

    Do đó, Chúa Giêsu mới vạch mặt thói giả hình của họ bởi vì họ chỉ giữ những gì là bề ngoài, như người Pharisêu đã quá chú trọng cái bề ngoài mà quên đi cốt lõi của lề luật là tình yêu. Chúa khiển trách, lên án người Pharisêu và Luật sĩ vì gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, và duy trì truyền thống của phàm nhân. Truyền thống của người phàm là truyền thống chỉ mang hình thức, giả hình, chiếu lệ.Họ giữ bề ngoài mà bề trong đầy tham lam, gian dối.Họ rửa tay trước bữa ăn mà quên đi việc tẩy rửa tâm hồn.Rửa tay để an tâm vì đã sạch tay. Họ rửa tay để khỏi phải rửa tâm hồn bởi vì theo Chúa Giêsu nói thì sự xấu, sự dơ dáy không phải từ bên ngoài vào mà từ bên trong xuất phát ra. Chính Chúa Giêsu đã kể ra 12 ý định xấu từ trong trái tim, từ trong tâm hồn. Chính những ý định xấu ấy dẫn con người đến hận thù, ghen ghét, chia rẽ, liều lĩnh, gây ra tội lỗi. Giữ những tập tục, truyền thống người phàm mà quên đi giữ giới răn, lề luật của Thiên Chúa thì không thể nào chấp nhận được. Tất cả những việc chúng ta làm nếu không phải vì Chúa, vì tha nhân, vì tình yêu Thiên Chúa, thì quả thực không có ý nghĩa gì. Lời Chúa

    Hôm nay cảnh tỉnh mỗi người chúng ta rằng truyền thống, luật lệ và nghi lễ không phải là cốt yếu của lề luật của Chúa. Cốt lõi của lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết trí khôn và thương yêu người thân cận, yêu thương ngay cả kẻ thù như chính mình. Thánh Phaolô quả thực đã có lý khi nói dù chúng ta có là gì mà thiếu đức bác ái cũng chỉ như tiếng thanh la, não bạt chập cheng…

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết thanh tẩy con tim, tẩy uế tâm hồn để lời nói, việc làm của chúng con luôn rập theo ý của Chúa. Xin cho chúng con biết lăng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống của chúng con.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Tại sao người Pharisêu và Ký lục lại rửa tay trước bữa ăn ?
    2.Những người Do Thái bắt chước rửa tay trước bữa ăn để làm gì ?
    3.Cốt yếu của lề luật là gì ?
    4.Truyền thống, lề luật và nghi thức có phải là cốt yếu để trở nên thánh không ?

    Về mục lục

    .

    CỘI NGUỒN CỦA TỘI ÁC

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Trong một cuộc biểu tình chống chiến tranh, có hàng ngàn người xuống đường tuần hành qua các đường phố, hô to các khẩu hiệu chống chiến tranh. Ban đầu, đám đông hô vang: “Hủy bỏ bom đạn giết người!”

    Sau đó, trong nhóm tham gia biểu tình có cuộc tranh luận nhỏ: “Làm gì có bom đạn giết người! Bom đạn có giết ai bao giờ đâu? Chỉ có những người ác chế ra bom đạn, rồi ném bom lên đầu người khác mới gây nên thảm họa giết người.”

    Thế là sau đó, người ta hô khẩu hiệu khác, hợp tình hợp lý hơn: “Đả đảo những kẻ giết người!”

    Nhưng rồi lại có người bàn thêm: “Đâu phải tự dưng mà người lại giết người. Phải có động cơ nào đó thúc đẩy mới có việc giết người chứ! Nếu không có lòng tham lam, ghen tị và những dục vọng xấu xa thúc đẩy, nào ai lại đi giết người!”

    Ý kiến nầy được xem là chí lý.

    Thế là cuối cùng, mọi người hô to khẩu hiệu khác: “Đả đảo lòng tham lam! Đả đảo lòng ghen tị! Đả đảo sự hận thù!” (dựa theo Cha Anthony de Mello)

    Chính những dục vọng đen tối trong lòng người mới là nguyên nhân chính gây nên mọi xấu xa trong cuộc đời và trên thế giới. Cội nguồn sự ác nằm trong thâm tâm con người là thứ phải truy diệt trước hết.

    Vì chưa hiểu điều nầy, những người biệt phái và luật sĩ thời Chúa Giê-su cứ lo rửa ráy bên ngoài mà không lo rửa sạch nội tâm. Họ chú mục vào việc rửa tay trước khi dùng bữa, cho rằng đó là việc quan trọng hàng đầu và trách móc các môn đệ Chúa Giê-su đã bỏ qua tập tục đó.

    Nhân cơ hội nầy, Chúa Giê-su dạy cho các ông một bài học: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mác-cô 7, 14-15. 21-23)

    Sự kiện sau đây được thuật lại trong sách Sa-mu-en tỏ cho chúng ta thấy mầm mống ganh tị bên trong là động cơ phát sinh ra tội ác bên ngoài:

    Thời ấy, Gô-li-át, một kiện tướng của quân Phi-li-tinh, một người khổng lồ có sức mạnh vô địch, khiêu chiến với quân Ít-ra-en. Trong hàng ngũ quân Ít- ra-en, không ai dám đương đầu với tên khổng lồ ấy.

    May thay, Đa-vít xuất hiện kịp thời. Cậu dùng ná bắn lủng trán Gô-li-át,  rồi dùng chính gươm của y mà chặt đầu y. Quân Ít-ra-en bấy giờ thừa thắng xông lên như nước vỡ bờ, đánh tan quân địch không còn manh giáp.

    Sau đó, phụ nữ từ các thành Ít-ra-en tuôn ra các ngã đường chào mừng vua Sa-un chiến thắng và ca tụng Đa-vít như vị anh hùng kiệt xuất: “Vua Sa-un giết được một ngàn, còn Đa-vít giết được hàng vạn” (Samuen I, 18, 6-8).

    Lời ca tụng đó làm cho lòng ghen tị sục sôi trong lòng vua Sa-un khiến nhà vua tìm mọi cách tiêu diệt Đa-vít và đem quân truy lùng tận những hang núi sâu, mưu toan tiêu diệt vị anh hùng tài năng và dũng cảm nầy.

    Đúng là những gì xấu xa trong lòng người mới làm cho người ta ra nhơ uế. Cội nguồn sự ác nằm trong thâm tâm con người là điều mà người ta phải quan tâm tiêu diệt trước hết.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Xin cho chúng con mỗi ngày biết dành thời gian thinh lặng để nhìn sâu vào tận đáy lòng mình, nhờ đó, chúng con có thể phát hiện ra những ham muốn xấu xa, những kiêu căng và ghen tị, những tham lam và thù ghét đang âm ỉ trong lòng mình. Chính những thứ đó mới là nguyên nhân gây nên biết bao tội ác, tạo nên mọi điều xấu xa trong xã hội loài người.

    Xin giúp chúng con kiên quyết nhổ bỏ những dục vọng xấu xa đen tối khỏi tâm hồn mình ngay từ hôm nay, để mai đây chúng con khỏi bị chúng điều khiển, chi phối và xô đẩy vào vũng lầy tội lỗi.

    Về mục lục

    .

    GIỮ LUẬT VỚI LÒNG MẾN CHÚA

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Phụng vụ Lời Chúa thường niên B năm tuần vừa qua bị gián đoạn bởi chương 6 Tin Mừng Gioan xen vào, hôm nay chúng ta trở lại với chương 7 Tin Mừng Macô, Chúa Giêsu giúp các môn đệ cũng như người đương thời đào sâu ý niệm về sự trong sạch và những luật lệ liên quan. Về vấn đề này, thư thánh Giacôbê trong bài đọc II cũng soi sáng cho chúng ta khi ngài viết : « Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là: thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế đời này» (Gc 1,27 ).

    Đạo trong sạch

    Từ thế kỷ thứ II, người Do thái đưa ra luật cấm không được giao du và ăn uống với dân ngoại, để khỏi bị ô uế. Người Pharisiêu cho rằng tôn giáo của họ phát xuất từ Thiên Chúa, tẩy sạch là một nghi lễ công cộng, “vì theo đúng tập tục của tiền nhân, những người biệt phái và mọi người Do thái không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước” (Mc 7), thế nên họ chướng tai gai mắt khi thấy môn đệ Chúa Giêsu  “dùng bữa với bàn tay không trong sạch” (Mc 7,3). Người Do thái chỉ ăn sau khi đã rửa tay (x. Mc 7,3), các tập tục của họ gắn bó với “truyền thống” (Mc 7,4), thể hiện lòng trung thành với “Thiên Chúa, Đấng ở gần họ” (x. Dnl 4, 7) như Môise đã nói.

    Cần phải ghi nhận rằng, Chúa Giêsu không đến để hủy bỏ Lề Luật. Nhưng dạy người ta chống lại thói đạo đức giả hình, vụ hình thức, quan trọng hóa luật lệ của con tim với nghi lễ bên ngoài. Người lên án việc làm khiến người ta xa rời Thiên Chúa, và nghĩ rằng thực hành tỉ mỉ của các quy tắc Luật định là vinh quang ; mặt khác, theo Chúa Giêsu, sự trong sạch không tùy thuộc vào lễ nghi thanh tẩy, nhưng tùy thuộc vào tấm lòng.

    Lòng trong sạch

    Khi tuyên bố : “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế ” (Mc 7), cái đó không chạm tới lòng người ta, nhưng vào trong bụng và kết thúc trong cống rãnh. Theo Chúa Giêsu, điều gì làm cho chúng ta ô uế : ” Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế“.

    Những gì là nhơ bẩn, ô uế, hay những ý định và hành động xấu xa không đến từ bên ngoài, mà đến từ lòng dạ xấu xa và xa rời Thiên Chúa. Thiên Chúa không hiện diện khi lòng người rời xa Chúa.

    Tôn giáo được Chúa Giêsu thiết lập không giảm thiểu vào các nghi lễ bên ngoài, gồm một mớ những học thuyết và đạo đức giả ; đây là sự mặc khải về khuôn mặt của Thiên Chúa trong nhân loại nơi con người Chúa Giêsu. Việc thực hành đạo dù lớn hay nhỏ, chỉ có ý nghĩa và có giá trị khi được sinh ra từ tình yêu, được tháp tùng bởi tình yêu và được tiêu thụ trong tình yêu.

    Yêu thương là chu toàn Luật Chúa

    Tập tục của tiền nhân người Do thái thích giữ với lòng đạo đức ấy lại trái với Luật Môise. Đó là lý do tại sao Êsai nói : “Bạc của ngươi hóa thành ten chì, rượu đã trá pha nước lã (Is 1,22), cho thấy người xưa kết hợp sống giới luật của Chúa với một truyền thống nhạt nhòa, nghĩa là họ đã thiết lập một luật biến chất trái với Luật Chúa. Chúa Giêsu trách họ : Tại sao các ông phạm đến lệnh truyền của Thiên Chúa nhân lệ truyền của các ông?  (Mt 15,3) Họ bỏ qua những điều cần thiết, thêm vào những khoản phụ và  giải thích theo lối khác, việc họ làm lột tẩy họ là những kẻ đạo đức giả hình.

    Họ cương quyết bảo vệ các tập tục, nhưng không tuân thủ Luật Chúa. Thậm chí họ đổ lỗi cho Chúa Giêsu vi phạm ngày Sabát khi chữa bệnh, điều mà Luật không cấm. Tuy nhiên, họ không nhận lỗi về mình đã vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa, luật của họ thiếu hẳng tình yêu. Tình yêu này, trên thực tế, là điều răn thứ nhất và trọng nhất, và thứ hai là tình yêu của người lân cận.

    Thánh Phaolô cũng nói : Yêu mến là chu toàn cả Lề luật (Rm 13,10) và khi tất cả chỉ còn lại Tin, Cậy, Mến. Ấy là bộ ba! Nhưng trong bộ ba ấy, Mến lớn hơn cả! ( 1Cor 13,13). Và giả như tôi được ơn tiên tri, và biết mọi sự nhiệm mầu, toàn cả trí tri; và giả như tôi được tất cả lòng tin, khiến chuyển được đồi núi, mà tôi lại không có lòng mến, thì tôi vẫn là không! (1Co 13,2). Nếu không có bác ái thì tất cả chỉ là không.

     Chính bác ai mang lại sự hoàn hảo cho con người, vì ai yêu mến Thiên Chúa là hoàn hảo trong thế giới hiện tại và tương lai. Vì chúng ta sẽ không bao giờ ngừng yêu mến Thiên Chúa, nhưng hơn thế nữa sẽ chiêm ngắm và yêu mến Ngài đồng thời thương tha nhân.

    Về mục lục

    .

    LUẬT PHÀM NHÂN VÀ LUẬT THIÊN CHÚA

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Chúa Giêsu đứng về phía người nghèo và những người cô thế cô thân. Chính vì vậy, Chúa luôn chỉ rõ đâu là điều quan trọng, hình thức hay nội dung, bề ngoài hay bên trong nội tâm, rửa tay hay rửa cõi lòng. Luật phàm nhân hay luật Thiên Chúa?

    Đứng về phía con người

    Thời Chúa Giêsu, xứ Palestine có những nét tương phản: Giữa đa số người nghèo và số ít thành phần người Do Thái thống trị thông đồng với Đế quốc Roma kiếm chác thu lợi. Có những phong trào cách tân, xa rời tôn giáo truyền thống.

    Chúa Giêsu Đấng giải thoát, Người là Đấng hoàn toàn tự do với lề luật, cung cách tiếp cận với những người tội lỗi và bị bỏ rơi giữa xã hội. Không theo những xét đoán nghiêm khắc của nhóm biệt phái, những lên án của thượng tế và luật sĩ.

    Người hướng tới một điều duy nhất: “Sự thật sẽ giải thoát” (Ga 8, 32). Theo não trạng người Do Thái hiểu sự thật nghĩa là trung tín. Khi Chúa nói rửa nội tậm chứ đừng rửa chén đĩa bên ngoài, được hiểu là cần trung tín trong lời nói cũng như việc làm, chứ đừng chỉ nói mà không làm.  “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 3)

    Luật Của Chúa

    Luật của Chúa là luật của tự do đích thực, không bị kiềm hãm trong tội lỗi và sự dữ. Lề luật trọn hảo và toàn thiện, trợ giúp con người biết sống yêu thương nhau, không thù hận, oán ghét, giành giật, khinh khi, ngạo mạn. Một lề luật cởi trói hoàn toàn khỏi những điều xấu xa..

    Chúa Giêu đã thực hiện giới luật ấy trọn vẹn để cho con người được thấy. Người đi đến với người nghèo khổ, đau bệnh. Người đồng bàn với người  tội lỗi, thu thuế. Người tiếp xúc với phụ nữ đúng với phảm vị của họ được tôn trọng, trao cho họ lời loan báo Chúa phục sinh…

    Chúa không lệ thuộc vào lời nói ra vào của người khác, không in trí một điều xấu nào nơi người Chúa gặp gỡ. Tự do trong mọi hành động và giao tiếp bình đẳng với mọi người, trả lại quyền tự do cho con người. Chúa muốn thiết lập sự công bằng trên trái đất cho mọi người. Thái độ đó nói lên, mọi người trên trái đất này đều có quyền sống, bình đẳng, sở hữu, và tự do như nhau. Đó là điều cơ bản cho mọi bản tuyên ngôn độc lập cho nhiều quốc gia.

    Chúa Giê su không phải là một chính trị gia, cũng chẳng phải là vị lãnh đạo trần thế nào, mà cũng không dựa trên quyền bính thế gian nào. Chỉ có một điều Chúa Giêsu nhân danh, đó là Nước Chúa ngự đến, Ý Chúa cha được thực hiện trên trần gian này.

    Luật Thiên Chúa luôn là một luật của tự do. Con người được tự do đáp lại lời gọi của Thiên Chúa, thực hiện Lời Chúa Giêsu giảng dạy, đi theo lối đường của Chúa. Sống tự do là con cái Chúa cũng giúp cho mọi người sống trong tự do đó. Cuối cùng luật của tự do là luật yêu thương như Chúa yêu thương.

    Về mục lục

    .

    HÌNH THỨC

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Tiền nhân tập tục thực thi,
    Rửa tay rửa chén, trước khi dự phần.
    Bàn tay tinh sạch bụi trần,
    Xác thân tắm rửa, tinh thần thảnh thơi.
    Mấy Thầy Biệt Phái gọi mời,
    Thực hành tập tục, trong đời sống đây.
    Phê bình môn đệ điều này,
    Tay dơ không sạch, ăn ngay tiệc mời.
    Không theo luật lệ ở đời,
    Bàn tay dơ dáy, mọi nơi nhúng vào.
    Giả hình môi miệng cao rao,
    Tôn thờ Thiên Chúa, trên cao hững hờ.
    Tấm lòng trống rỗng lật lờ,
    Miệng ngoài giả dối, tôn thờ thần ma.
    Sự gì ô uế xuất ra,
    Bên trong tâm trí, thật là gớm ghê.

    Luật lệ trong tôn giáo là để giúp chúng ta nên trọn lành. Luật không phải là gánh nặng hay sự lừa dối. Giáo hội kêu mời chúng ta giữ đạo và tôn thờ Chúa với cả tấm lòng và trái tim chứ không phải giữ đạo bằng môi miệng. Chúa muốn lòng nhân lành, chứ không muốn của lễ. Tâm đức và ý hướng là cốt lõi của việc giữ đạo. Chúa hiểu rõ nội tâm của chúng ta.

    Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu đối chất với các thầy Biệt phái về việc tuân giữ lề luật. Các Biệt phái chú ý chu toàn từng chi tiết nhỏ của luật như rửa tay, rửa chân, tắm rửa, lau chén bát… Họ giữ luật vì luật. Họ thờ kính Chúa qua các hình thức bên ngoài như may dài tua áo, giang tay cầu nguyện nơi phố xá. Họ làm thế cốt để khoe khoang. Lòng của họ thì trống rỗng. Chúng ta gọi đó là giả hình.

    Các nhà lãnh đạo Do Thái cảm thấy bực dọc và gai mắt khi nhìn thấy các môn đệ của Chúa ăn uống mà không chịu rửa tay trước. Chúa Giêsu phản đối sự câu nệ của họ. Họ đồng hóa tôn giáo với việc chu toàn những hành vi bên ngoài. Chỉ khi chúng ta thi hành các công việc với lòng yêu mến Chúa thì việc làm của chúng ta mới có giá trị. Điều quan trọng không phải việc chúng ta làm mà chính là tình yêu thúc đẩy chúng ta thực hiện.

    Truyện kể một vị Rabbi bị bắt tù ở Roma. Ông được phụng dưỡng tối thiểu, có cơm và có nước. Nhìn thấy vị Rabbi xanh xao yếu ớt. Bác sĩ khám nói rằng ông bị thiếu nước. Các người cai ngục bối rối. Không hiểu sao, vì họ vẫn cung cấp nước đầy đủ. Họ quan sát và phát giác ra Rabbi đã dùng nước uống để rửa tay theo nghi thức.

    Thi hành lề luật trong đức ái. Lề luật sẽ dẫn chúng ta vào con đường chính trực. Có nhiều người coi chu toàn lề luật là quan trọng, còn tình trạng tâm hồn không đáng kể. Chúa Giêsu đi vào nội tâm của con người. Chúa nhìn đến một tôn giáo rộng lớn hơn, một tôn giáo sống tinh thần bác ái. Tình yêu là tâm điểm.

    Trong thánh lễ hay khi cầu nguyện, chúng ta cố gắng tham dự một cách tích cực. Chúng ta tôn thờ Thiên Chúa với trái tim nồng cháy. Tin tưởng Chúa là Cha luôn thương mến chúng ta. Chúa không phải là tượng gỗ không hồn mà là Thiên Chúa hằng sống, cảm nhận và yêu thương.

    Về mục lục

    .

    KẺ GIẢ HÌNH

    Lm. Nguyễn Thái

    Trong nỗ lực làm sạch sẽ thành phố Los Angeles chuẩn bị cho ngày thế vận hội Olympic Games, và để gây ấn tượng tốt đẹp cho thành phố lớn nhất nhì thế giới này, vấn đề được đặt ra là phải giải quyết thế nào đối với những người vô gia cư nghề nghiệp và những kẻ say sưa đi lang thang trong thành phố. Những người này không thể bị đuổi ra khỏi thành phố hay nhốt vào những trại tập trung. Có một hãng sản xuất quần áo địa phương đã có sáng kiến tặng 350 bộ tuxedo của đàn ông và áo dạ tiệc của phụ nữ để họ ăn mặc ngoài đường phố trong suốt 2 tuần lễ. Với biện pháp này, người ta hy vọng sẽ giấu được một góc cạnh xấu xa dơ bẩn của đời sống trong thành phố.

    Đây chính là sự giả hình mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay, Mc 7: 1-8; 14-15; 21-23. Ngài đã nói với những người Biệt Phái và Luật sĩ, những chuyên viên về luật pháp, những người đã tố cáo các môn đệ của Chúa Giêsu là không giữ những phong tục, nghi thức bề ngoài: “Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: ‘Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người’” (Is 7: 6-7).

    Trong cuốn “Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh” do Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X dịch thuật đã định nghĩa sự giả hình dựa trên hai yếu tố: sự câu nệ hình thức và cứng lòng.

    William Barclay đã chia sẻ một câu chuyện liên quan đến vấn đề câu nệ hình thức như sau: Một vị Rabbi Do Thái cao niên bị giam trong một nhà tù của người La Mã. Mỗi ngày ông đều nhận một khẩu phần ăn uống. Sau một thời gian, vị rabbi trở nên yếu ớt, gầy còm xuống ký rõ rệt. Những nhân viên cai tù thắc mắc muốn biết ông có bệnh gì không, nên cho mời một bác sĩ đến khám. Bác sĩ chuẩn đoán là bệnh nhân bị mất nước trầm trọng. Những nhân viên coi tù không thể hiểu được tại sao lại có thể xảy ra như vậy được. Họ tin là phần nước uống của vị rabbi đã được cung cấp đầy đủ. Những người canh gác bèn được lệnh phải canh chừng kỹ lưỡng xem vị rabbi đã làm gì với phần nước của ông; khi đó thắc mắc mới được giải tỏa: Những người canh gác đã trông thấy vị rabbi cử hành nghi thức tôn giáo rửa tay trước khi cầu nguyện và ăn. Do đó, ông ta còn rất ít nước để uống.

    Nhiều người cũng lầm lẫn nghi thức, phong tục, và tập quán bề ngoài với sự thánh thiện (2 Tm 3:5). Chúng ta có một loạt danh sách các kinh phải đọc, những việc phải làm: lần hạt Mân Côi, đọc kinh Truyền Tin, tuần Chín Ngày, đeo Thánh Giá, đi Chặng Đàng Thánh Giá v.v… Chúng ta sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng chỉ có cách duy nhất để làm đẹp lòng Thiên Chúa là giữ những nghi thức này; hay là sẽ phạm tội nặng nếu không tuân giữ. Nhưng Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng sự thờ phượng Thiên Chúa đích thực chính là sự liên hệ yêu thương và mật thiết với Ngài (Ga 4:23). Sự liên hệ này mang lại cho chúng ta niềm vui và sự sẵn sàng hy sinh phục vụ Ngài.

    Qua những lời của tiên tri Isaia, Chúa Giêsu đã tố cáo sự giả hình trong tất cả mọi hình thức vì người giả hình chỉ sống bề ngoài mà không thực lòng (Rm 12:9). Họ giống như những người vô gia cư ăn mặc tuxedo đi lang thang trong thành phố Los Angeles. Sự giả hình không gì khác hơn là một sự dối trá trong hành động. Họ đánh lừa người khác bằng những thái độ tôn giáo bề ngoài để chiếm được lòng quý mến.

    Những người giả hình là những người “tâm ngôn bất nhất”. Họ không thực hành điều họ giảng dạy. Họ tuyên xưng thờ kính Thiên Chúa, nhưng chỉ ngoài môi miệng. Họ dạy và giải thích lề luật, nhưng không hiểu tinh thần của luật. Trong nhiều trường hợp, chính họ cũng không tin những điều họ nói và làm. Họ thường giả bộ tốt lành với những người khác. Trong ý nghĩa này một người giả hình thường hành động để đề cao chính họ. Những việc ăn chay, cầu nguyện, bố thí… được họ đánh tráo nhằm đề cao họ (Mt 6:2,5,16). Họ không bao giờ nhìn thấy điều tốt đẹp nơi những người khác, nhưng luôn luôn bới móc tìm kiếm những khuyết điểm để phê bình chỉ trích. Và sau cùng mọi sự sẽ tập trung vào chính họ (Mt 23:1-36).

    Đức Ông Arthur Tonne kể câu chuyện sau đây về một linh mục đã kêu gọi sự giúp đỡ khẩn trương vào giờ sáng sớm. Sau khi dâng Thánh Lễ, từ nhà thờ trở về nhà xứ, ngài bị một tên ăn cướp dí dao đằng sau lưng: “Tiền hay mất mạng!” Khi nhìn thấy cái cổ trắng của chiếc áo đen, nó ra lệnh cho ngài phải vứt cái ví xuống đất. Sau đó, vị linh mục cảm thấy nhẹ nhõm lấy một điếu thuốc lá ra hút và mời tên cướp một điếu. Nó bèn từ chối mà rằng: “Cám ơn cha. Vì là Mùa Chay nên tôi tạm bỏ hút thuốc.”

    “Sự câu nệ hình thức thì có thể sửa đổi được, nhưng sự giả hình thì gần như sự ‘cứng lòng’… Các ‘mồ mả tô vôi.’ Họ muốn lường gạt người khác. Họ tưởng mình công chính” (Lc 18:9; 20:20) (Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh).

    Thế kỷ vừa qua, Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939 – 1958) đã cảnh giác loài người cứng lòng, đang huênh hoang về nền khoa học kỹ thuật của mình: “Tội của thế kỷ này là tội đánh mất cảm giác về tội lỗi.” Đức Gioan Phaolô II đã lớn tiếng nói rằng: “Chủ nghĩa trần tục hóa -secularism – chủ trương không có Thiên Chúa cũng không có tội lỗi. Tâm lý học chống lại những cảm giác tội lỗi. Xã hội học quy trách tất cả trách nhiệm cho xã hội và nghĩ mình là nạn nhân. Nhân chủng học đổ lỗi cho môi trường. Cả những nhóm thần học mới lên diễn đàn giải thích rằng không có tội.”

    Không những thời đại văn minh khoa học ngày nay đã đánh mất cảm giác về tội, mà còn đề cao một số tội lên hàng nhân đức. Tội tà dâm được coi là sinh hoạt tính dục trước hôn nhân. Phá thai được coi như quyền của phụ nữ. Sự thụ thai được coi như một con bệnh có thể điều trị được. Trong cuốn “Final Exit”, cuốn sách được báo The New York Times coi là sách bán chạy nhất, xuất bản lần đầu 40 ngàn cuốn, bán sạch trong một thời gian rất ngắn, Derek Humphry đã hướng dẫn những cách thức để một người có thể tự tử bằng 18 cách khác nhau. Ông Humphry quan niệm rằng tự tử là một hành động cao quý, có thể chấp nhận được!

    Những người chủ trương trên là ai? Họ có thể là những người mang danh Kitô hữu, nhưng chẳng bao giờ biết đến bản chất của Kitô giáo là gì. Họ được rửa tội nhưng chẳng bao giờ giữ đạo. Thế nhưng hằng năm đến ngày Lễ Tro cả trăm ngàn người lũ lượt đứng sắp hàng để lãnh tro trên trán. Họ là những thành phần trí thức như bác sĩ, y tá, các giáo sư đại học, các thương gia, kỹ sư, chuyên viên v.v… trong các hãng lớn đang bôn ba với tiền bạc, đứng sắp hàng dài ngoài phi trường chờ đợi lãnh tro. Xức tro là gì mà những con người văn minh trí thức ngày nay lại biến nó trở thành như bản chất thiết yếu của tôn giáo vậy? Họ nghĩ rằng không cần phải giữ điều gì cả, chỉ cần lãnh tro một năm một lần, hay đến nhà thờ vào dịp lễ Giáng Sinh hay Phục Sinh. Đối với họ thế là đủ, thế là tròn việc giữ đạo!

    Một người không phải là Kitô hữu, đã biết tự vấn lương tâm mình bằng một danh sách của 7 trọng tội. Đó là sự giàu có mà không làm việc, hưởng khoái lạc mà không có lương tâm, làm thương mại mà không có luân lý, khoa học mà không có sự khiêm tốn, thờ phượng mà không có hy sinh, có kiến thức mà không có lễ phép, làm chính trị mà không có nguyên tắc. Chúng ta đã phạm những tội nào? Tôn giáo không phải chỉ là những nghi lễ. Đời sống tinh thần không phải chỉ là giữ những luật lệ. Và những hình thức bề ngoài chưa hẳn là sự thánh thiện (Mt 7:15; 24:4).

    Có hai vị tu sĩ nọ, một trẻ và một già, đang thả bộ xuống phố vào một ngày mưa tầm tã. Nước mưa ngập lụt phố phường. Họ gặp một cô gái trẻ đẹp ăn mặc tơ lụa gấm vóc. Cô muốn băng qua khúc đường lầy lội để về nhà phía bên kia đường. Vị tu sĩ trẻ bèn trạnh lòng thương: “Này cô, tôi giúp cô một tay nhé!” Với cánh tay khỏe mạnh của mình, người tu sĩ trẻ đã ẵm cô gái trẻ băng ngang khúc đường lầy lội. Rồi hai vị tu sĩ bước đi trong sự “thinh lặng đáng sợ” cho đến khi họ trở về đến tu viện. Vị tu sĩ cao niên không thể nào chịu đựng nổi bèn lên tiếng: “Các nhà tu hành không nên gần gũi những phụ nữ trẻ, nhất là những người đẹp như cô gái này! Tại sao thầy lại làm như vậy?” Thầy dòng trẻ trả lời: “Thưa thầy, em đã bỏ cô gái ở dưới phố rồi, nhưng thầy, thầy lại mang cô ấy về đến nhà dòng này.”

    Chúng ta thấy có hai khuynh hướng trái nghịch nhau trong đời sống thiêng liêng Kitô hữu, tạm gọi là THOÁT TỤC và VÀO ĐỜI. Tinh thần “thoát tục” hay xa tránh cõi trần nhấn mạnh vào lòng đạo đức qua việc tuân giữ những luật lệ tôn giáo nghiêm nhặt, và tránh xa khỏi những người được coi là tội lỗi hoặc không đứng đắn vì sợ sẽ bị lây nhiễm.

    Còn tinh thần “vào đời” lại nhấn mạnh đến sự liên đới chặt chẽ với những người đáng thương, những người thường bị coi như là xấu xa trần tục. Với tinh thần “vào đời”, nhập thế, người tín hữu không xa tránh, nhưng dang rộng cánh tay tới những người đang cần giúp đỡ.

    Đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu cốt ở sự quân bình, và dung hòa hai khuynh hướng này như Thánh Giacôbê Tông Đồ đã nhắn nhủ trong bài đọc II: “Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế của thế gian” (Gc 1:27).

    Về mục lục

    .

    LỀ LUẬT VÀ TRUYỀN THỐNG

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Thèm Lòng Chứ Ai Thèm Thịt.

    Trong Cựu Ước, bộ luật có tới 613 khoản, nhưng những khoản luật đó chỉ nói trên nguyên tắc, còn trong áp dụng thực hành người ta còn thêm vào những lời cắt nghĩa mà ta gọi là truyền thống hay truyền khẩu. Như vậy có hai thứ luật.

    Luật quan trọng hơn là Lề luật thành văn, căn cứ trên sách Torah (Ngũ Kinh), nghĩa là 5 cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước, đôi khi còn gọi là luật Maisen. Thật ra, Ngũ kinh hàm chứa một ít qui tắc và chỉ dẫn chi tiết, nhưng về các vấn đề đạo đức, những gì được nêu lên chỉ là một loạt nguyên tắc mà người ta phải tự giải nghĩa và ứng dụng cho riêng mình. Trong một thời gian dài, dân Do Thái bằng lòng với những “kiểu mẫu” này. Họ áp dụng vào đời sống vì thấy chúng thích hợp.

    Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, có một nhóm chuyên nghiên cứu Lề luật, dưới biệt hiệu là Luật sĩ (Kinh sư). Nhóm người này thấy những điều luật tổng quát trong bộ luật ấy quá mơ hồ, thiếu tính rõ ràng, cần phải được soạn thảo lại cho rõ ràng hơn, với nhiều chi tiết hơn. Do đó, họ muốn triển khai, phóng đại, phân tích các nguyên tắc lớn ấy biến chúng thành hàng ngàn lề luật, qui tắc nhỏ nhặt, để điều khiển từng hành động, từng hoàn cảnh của đời sống. Chúng vẫn được gọi là Luật truyền khẩu, đây chính là cái gọi là tương truyền của người xưa.

    Trong khoảng thời gian này, trong dân chúng Do Thái, có rất nhiều người muốn bắt chước các tư tế của họ về sự thánh thiện bề ngoài có tính cách nghi thức. Chẳng hạn theo lề luật thành văn, mọi tư tế đều phải rửa tay khi vào nơi thánh trong đền thờ. Mục đích của luật này là tẩy rửa đi tất cả những gì là ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng thờ phượng Chúa hơn. Dần dần, dân chúng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Và bằng những suy nghĩ tương tự như thế, họ cũng rửa tay trước khi dùng bữa.

    Có nhiều luật lệ rõ ràng và nghiêm nhặt về việc rửa tay. Trước khi dùng bữa và giữa hai món ăn, người ta phải rửa tay, và phải rửa theo một nghi thức nhất định. Đây là vấn đề không phải chỉ là vệ sinh mà là tập tục tôn giáo về “sạch” và “dơ”, được ghi thành luật của Maisen trong sách Lêvi, được thêm vào nhiều chi tiết và qui định rõ ràng qua truyền thống.

    Vào thời Đức Giêsu, dân Do Thái tuân giữ những lệnh truyền khẩu này cũng tỉ mỉ và thành tín chẳng khác nào lề luật thành văn của Ngũ Kinh. Ý tưởng hàm chứa đàng sau việc tuân giữ này quả thực cao đẹp, bởi vì nó nhằm mục đích làm cho tôn giáo thấm nhập vào mỗi hành vi của cuộc sống, nhưng trong quá trình thực thi luật lệ này, một điều bi đát đã xẩy ra vì tôn giáo đã dần dần thoái hoá thành một hoạt động chỉ đơn thuần là chu toàn những nghi thức bên ngoài: tuân giữ những nghi thức này thì được kể là làm đẹp lòng Thiên Chúa, còn không giữ chúng đồng nghĩa với phạm tội. Nói tóm lại, tuân giữ những nghi thức bên ngoài này được đồng hóa, được đánh giá là đạo đức, là biết phụng sự Chúa.

    Có một thầy tiến sĩ luật Do Thái bị đi tù ở Rôma. Ông chỉ được ăn uống tối thiểu, nhằm mục đích kéo dài cuộc sống cho qua ngày. Thời gian trôi qua, thầy luật sĩ yếu dần. Cuối cùng, người ta phải mời một y sĩ đến khám. Y sĩ bảo rằng cơ thể ông bị thiếu nước. Các sĩ quan cai ngục không hiểu nổi tại sao ông ta lại có thể thiếu nước. Bởi vì khẩu phần nước mỗi ngày tuy là tối thiểu, nhưng vẫn tương đối đủ cho một cơ thể. Thế là đám lính gác liền chú ý quan sát thầy luật sĩ một cách kỹ lưỡng hơn, xem ông ta làm gì với số nước ấy. Cuối cùng, người ta khám phá ra: Thầy luật sĩ ấy đã sử dụng phần lớn số nước để rửa tay theo nghi thức tôn giáo trước khi cầu nguyện và ăn uống. Như thế ông ta chỉ còn lại rất ít nước để uống.

    Thực ra, việc rửa tay không phải chỉ nhằm việc vệ sinh thân thể nhưng là việc vệ sinh tâm hồn. Rửa tay là có ý rửa cho linh hồn mình được sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Trong Thánh Lễ, khi chủ tế rửa tay với chút nước thì đọc: ”Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội con phạm xin Ngài thanh tẩy” (Ps 51:3-4). Nhưng tiếc thay, nhiều người Do Thái chỉ chú trọng rửa tay là rửa tay theo truyền thống mà không để ý đến việc thanh tẩy tâm hồn mình. Vì thế, nhà thần học William Barclay nói: ”Người ta có thể căm thù tha nhân tận xương tủy mà không một chút áy náy vì họ đã tuân giữ một cách chặt chẽ các nghi thức rửa tay và các nghi thức thanh tẩy khác.”

    Chúng ta phải nể phục sự nghiêm túc giữ luật của các luật sĩ Do Thái: họ giữ luật Maisen cẩn thận từng chi tiết, cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Ngoài những điều khoản của Lề Luật, họ còn giữ cả những chi tiết nhỏ mọn trong truyền thống Do Thái Giáo.

    Nhưng Đức Giêsu đã cho họ thấy rằng sự thánh thiện không hệ tại việc giữ một cách chi tiết như thế, hay giữ theo hình thức bên ngoài, mà hệ tại một cái gì đó sâu xa hơn nhiều (Mk 7:17-23). Cái đó ở trong nội tâm chứ không phải ở bên ngoài.

    Điều đáng tiếc là những người đặt nặng những chi tiết hay những hình thức bên ngoài của lề luật, thì lại thường coi nhẹ cái cốt tủy của lề luật. Đức Giêsu đã tố giác điều ấy: ”Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái giả hình! Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ” (Mt 23,23). Như vậy, theo Đức Giêsu, ba điều quan trọng nhất trong lề luật, tinh thần của lề luật, cũng là cốt tủy của sự thánh thiện, chính là chân lý, công lý và tình thương.

    Đối với lòng nhiệt thành giả tạo có vẻ quá hình thức này, Đức Giêsu trách cứ họ hai điều: một là giả hình, hai là làm đảo lộn giá trị. Họ giả hình vì cũng như thời tiên tri Isaia, người ta không nghĩ đến sự hối cải trong các tâm hồn, mà chỉ bận tâm đến việc thực hiện mấy việc bên ngoài: ”Dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người” (Is 29,13). Hơn nữa, Thiên Chúa là chân lý tuyệt đối, có nghĩa là sự gian dối không có chỗ nơi Ngài, không được Ngài ưa thích và ủng hộ. Trái lại, Thiên Chúa lên án cách sống giả hình, sai lạc với sự thật. Thiên Chúa không khinh chê người yếu đuối, tội lỗi, nhưng khinh chê những người đạo đức giả (Lc 16:15). Thiên Chúa yêu thương, tha thứ cho những yếu đuối, tội lỗi, nhưng Thiên Chúa không thể chấp nhận kẻ sống giả hình.

    Nếu chỉ có những hành động bên ngoài mà không có tinh thần cốt tủy bên trong, thì việc giữ luật đó sẽ ít giá trị trước mặt Chúa. Còn những người luật Chúa thì không giữ, lại chỉ lo giữ những tập tục tôn giáo truyền thống, chẳng hạn một số thói quen mà ta gọi là “việc đạo đức”, những hình thức do con người sáng tạo…thì việc giữ những tập tục ấy lại càng ít giá trị hơn.

    Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/08/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ ở Nhật, đó là “Sư Máy.” Vị Sư Máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi, một tay thì gõ mõ, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật Giáo khác nhau tại Nhật. Như tác giả bài báo ghi nhận, những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương (Mỗi ngày một tin vui).

    Họ chỉ giữ tập tục của tiền nhân là những tập tục của con người đặt ra. Các tiền nhân của người Do Thái đặt ra nhiều tập tục tỉ mỉ mà các biệt phái và luật sĩ tuân giữ rất nhiệm nhặt. Biệt phái là những người Do Thái rất sùng đạo, nhưng sùng đạo cách giả hình, vụ hình thức, vì họ chỉ chú trọng đến những hình thức bên ngoài như nhiệm nhặt gìn giữ các tục lệ của tiền nhân, chuộng hình thức bên ngoài mà không có tinh thần bên trong.

    Chúa khiển trách họ: ”Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người, vì các ngươi bỏ qua các giới răn của Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người” (Mk 7:6-9). Chúa khiển trách họ là người làm đảo lộn giá trị vì họ chỉ chú ý đến việc tuân giữ các tập tục của tiền nhân mà lại bỏ qua những giới răn căn bản của Chúa. Họ coi trọng việc thuộc về con người hơn việc thuộc về Thiên Chúa.

    Nhân dịp các luật sĩ chê trách các Tông Đồ không rửa tay khi dùng bữa, Đức Giêsu muốn dạy cho họ một bài học: cái xấu xa không phải từ ngoài mà vào mà ở trong mà ra. Ngài nói: ”Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình… Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mk 7:20-23). Do đó, chính cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay việc dữ.

    Theo lời Chúa dạy, chúng ta thấy yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bề ngoài. Chính ý hướng ở bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài có giá trị hay không. Nhiều người có những hành động rất tốt nhưng lại làm vì những động lực ích kỷ hay gian ác, thì hành động ấy trở nên xấu. Chẳng hạn những hành động giả nhân giả nghĩa nhằm được một lợi lộc nào đó, như bố thí thật nhiều để được khen, để có tiếng là đạo đức hầu lừa đảo người khác; hay làm việc tích cực chỉ nhằm để được lên chức, để nắm quyền hành nhằm thao túng lũng đoạn tập thể. Ngược lại, có những người “tình ngay mà lý gian”, hành động thì có vẻ như xấu, bị kết án, nhưng lại được Thiên Chúa chúc lành.

    Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng sự thánh thiện hệ tại tình trạng tốt đẹp tâm hồn hơn là tại những hành động bên ngoài. Xin cho chúng con một tâm hồn ngay thẳng, luôn thành thật, luôn tôn trọng và bênh vực công lý, luôn yêu thương mọi người. Tâm tốt lành ấy mới chính là điều cốt yếu làm nên sự công chính thánh thiện của chúng con, hơn là giữ luật lệ một cách chi tiết hay việc làm cho thật nhiều (JKN).

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 22 TN_B

    Jorathe Nắng

    Tin Mừng Máccô cho chúng ta thấy Đức Giêsu là người thầy luôn bênh vực môn đệ của mình khi các ông không làm theo những gì Luật Môsê quy định. Ngài đã làm như thế không phải một lần, nhưng rất nhiều lần. Vì thế mâu thuẫn giữa Ngài và các Biệt Phái, Kinh Sư Do Thái ngày càng căng thẳng.

    Các ông Biệt Phái và Kinh Sư là giai cấp lãnh đạo, được trọng vọng trong xã hội tôn giáo Do Thái, và tất nhiên họ phải bảo vệ Luật Môsê một cách triệt để, nếu không nói là cực đoan, vì chỉ có Luật Môsê mới đảm bảo hữu hiệu vị thế và lợi thế của họ. Chính vì thế, bất cứ ai vi phạm Luật Môsê đều bị họ lên án, không kể gì Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai.

    Thực ra Đức Giêsu không chủ trương, cũng không kích động các tông đồ chống lại Luật Môsê và Truyền Thống của cha ông; trái lại Ngài công nhận và tuân giữ. Nhưng Ngài muốn đặt lại cho xã hội tôn giáo lúc bấy giờ, cũng như cho các ông Biệt Phái, Kinh Sư Do Thái ý nghiã, mục đích của Truyền Thống, Lề Luật :

    1. Truyền Thống, Lề Luật phải phục vụ hạnh phúc của con người:

    Điểm thiết yếu Đức Giêsu đặt ra cho các ông Biệt Phái, Luật Sĩ là mục đích của Truyền Thống, Lề Luật. Nếu Truyền Thống, Lề Luật không đem lại hạnh phúc cho con người, không làm cho con người được sống xứng danh con người, không tạo điều kiện để nhân phẩm được bảo vệ và phát triển, không xây dựng đời sống con người ngày càng trở nên tốt đẹp, thoải mái hơn, nhất là không phát huy tình huynh đệ, tương trợ giữa người với người thì Truyền Thống, Lề Luật ấy không đáng được tồn tại, gìn giữ.

    Có rất nhiều Truyền Thống, Lề Luật không góp phần xây dựng đời sống con người, không tạo điều kiện cho cuộc đời đáng sống hơn, nhưng nghiền nát, xóa bỏ con người và làm cuộc sống trở nên ngột ngạt, nặng nề. Dưới áp lực này, con người và hạnh phúc của con người không còn là mục tiêu phục vụ của Truyền Thống, nhưng Truyền Thống là ông chủ khắc nghiệt của con người, mà mọi ý muốn của ông chủ khó tính phải được đầy tớ là con người thoả mãn, đáp ứng chính xác, trọn vẹn, từng chi tiết. Cuộc sống làm người và hạnh phúc của xã hội loài người không còn là đích điểm của Lề Luật, nhưng Lề Luật truy sát, khống chế xã hội và biến những con người sống trong xã hội đó thành những tù nhân bất hạnh.

    Chủ nghiã vị luật, nghiã là chủ nghiã thượng tôn Lề Luật, thần tượng Lề Luật, coi Lề Luật là chân lý tuyệt đối, uy lực tuyệt đối, phán quyết tuyệt đối và cho Lề Luật quyền sinh sát trên con người là chủ nghiã cực kỳ phi nhân, vì hoàn toàn loại bỏ con người, phủ nhận chỗ đứng không thể thay thế, hoán nhượng của con người, và sẵn sàng nhẫn tâm khước từ hạnh phúc của con người để mù quáng phục vụ một hệ thống Lề Luật, một cơ chế Truyền Thống lạnh lùng, vô cảm, xa rời nhu cầu và khắc khoải đích thực của con người.

    Con người ở trong cơ cấu vị luật, cơ chế suy tôn Truyền Thống ấy sẽ chỉ còn là những thân phận nô lệ của Lề Luật, tôi đòi của Truyền Thống, bởi chủ nghiã và khuynh hướng vị luật cực đoan, mù quáng này thường nhân danh con người để củng cố Lề Luật, Truyền Thống, khi con người vừa được gọi tên, tuyên dương là công chính, đạo đức theo tiêu chuẩn đánh giá của Truyền Thống, Lề Luật, vừa bị Truyền Thống, Lề Luật phủ nhận, quật ngã, chà đạp.

    Đức Giêsu chống lại chủ nghiã vị luật này, vì con người bị xúc phạm, nhân phẩm bị tổn thương, hạnh phúc bị chối bỏ. Với Ngài, con người là quan trọng hơn hết dưới mắt Thiên Chúa, và Lề Luật, Truyền Thống, tuy cần thiết nhưng phải nhắm đến hạnh phúc của con người:

    Sau khi chữa lành một người bất toại đã ba mươi tám năm bên hồ nước tại Bétdatha, “hôm đó là ngày sabát, người Do Thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh” : “Hôm nay la ngày sabát, anh không được phép vác chõng!” Nhưng anh đáp: “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : Anh hãy vác chõng mà đi”!.. “Do đó, người Do Thái chống đối Đức Giêsu, vì Người hay chữa bệnh ngày sabát” (Ga 5, 9-10.16).

    Luật Môsê quy định cả đến vác chõng về nhà, sau khi được chữa lành cũng không được làm trong ngày sabát. Tinh thần vị luật quá đáng khi nghiêm cấm làm việc trong ngày sabát đã bị Đức Giêsu chống lại khi Ngài qủa quyết : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17) trước đám đông người Do Thái đang phẫn nộ lên án Ngài vì Ngài đã chữa bệnh này sabát, trái với Lề Luật.

    Đức Giêsu cũng cho những người Do Thái thời đó hiểu rằng : việc tốt lành, thiện hảo là điều Thiên Chúa mong ước con người thực hiện cho nhau, nên Luật ngày sabát không thể ngăn cấm những việc làm bác ái, tương trợ , khi Ngài đặt cho họ câu hỏi: “Ngày sabát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi”? (Mc 3, 4), khi Ngài chữa người bị bại tay trong ngày sabát.

    Nhưng rõ nét hơn là khi Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua một cánh đồng lúa.

    “Dọc đường, các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. Người Pharisiêu thấy vậy, mới nói với Đức Giêsu: Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát!” (Mt 12,1-2). Sau khi trưng dẫn cho người Pharisiêu câu chuyện vua Đavít đã cho phép các thuộc hạ vì đói được ăn bánh đã cung tiến Thiên Chúa, bánh mà chỉ các tư tế mới được ăn và là điều Lề Luật nghiêm cấm, Đức Giêsu đã khẳng định : “Con người làm chủ ngày sabát” (Mt 12,8), chứ không phải ngày sabát làm chủ con người. Điều đó có nghiã Lề Luật được làm nên để phục vụ con người, để con người được sống trong trật tự, an bình, hạnh phúc, chứ không để khống chế, áp đảo, giam hãm, hủy diệt con người.

    Tóm lại, Đức Giêsu không chủ trương hủy bỏ Lề Luật, nhưng Lề Luật, Truyền Thống chỉ có giá trị khi phục vụ con người, giúp con người sống tốt, sống đẹp, sống hạnh phúc. Lề Luật là phương tiện để con người trưởng thành trong đức ái, huynh đệ. Lề Luật cần cho xã hội, với điều kiện Lề Luật không vi phạm, làm tổn thuơng con người trong xã hội ấy. Vì thế, Lề Luật phải luôn giữ được tính nhân văn, để luôn luôn có thể khéo léo uyển chuyển trong những trường hợp cần thiết hầu giữ được ý nghiã, mục đích của Lề Luật là phục vụ con người, thăng tiến đời sống con người và mưu cầu hạnh phúc đích thực cho con người.

    2. Tinh thần vị Truyền Thống, Lề Luật có thể làm phân liệt nhân cách :

    Khi dùng lời của ngôn sứ Isaia để nói với những người Pharisiêu: “Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dậy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mc 7,6-7) , Đức Giêsu đã nói lên nguy cơ phân liệt nhân cách, nói cách khác,nguy cơ giả hình ngay tự bản thân của người sống tinh thần vị luật cách mù quáng, cực đoan.

    Thực vậy, một khi quá đóng khung vào hệ thống rườm rà, trói buộc và mang tính trình diễn hời hợt bên ngoài của Truyền Thống, Lề Luật, người ta sẽ dễ dàng và mau chóng bỏ quên những gì chân thực từ trái tim, những sự thật đáng trân trọng của tâm hồn, những rung cảm trung thực của tấm lòng, những tốt đẹp khó tìm thấy của tim óc. Bị cuốn hút vào chủ nghiã duy Lề Luật, người ta sẽ chỉ chăm chú soi từng nét chữ trong Lề Luật, cẩn thận giữ từng dấu phẩy của quy tắc, nghiêm khắc với từng chi tiết vụn vặt, cỏn con của Truyền Thống, mà quên đi chính con người của mình và anh em. Tình trạng phân liệt giữa bên ngoài và bên trong, giữa hành động và ý nghĩ, giữa đòi hỏi của Lề Luật và thao thức vi tha thầm kín làm nên mâu thuẫn nội tại rất căng thẳng. Để làm dịu căng thẳng của mâu thuẫn nội tại này, người ta bắt buộc phải giả dối, sống nhiều mặt, và đó là hiện tượng giả hình mà Đức Giêsu đã nhiều lần lên án (x. Mt 23).

    Cũng vì giả hình mà môi miệng bai bải yêu mến Chúa, lải nhải các điều răn, nhưng tâm hồn thì trống vắng, trái tim thì lạnh nhạt.Cũng vì giả hình mà bên ngoài thì cung kính lễ nghi, nhưng bên trong thì thờ ơ, chai đá. Cũng vì giả hình mà chu chắm tuân giữ truyền thống, nhưng lại “khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa” (Mc 7,9).Chính Đức Giêsu đã công khai lên tiếng : “Như thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà hủy bỏ lờI Thiên Chúa” (Mc 7, 13).

    Thực vậy, Đức Giêsu đã mặc khải cho chúng ta: điều làm chúng ta bất hạnh, và ngăn cản chúng ta hiến thân cho nhau, chính là chúng ta sống giả dối và giả hình là thứ giả dối đã đi vào chiều sâu của bản ngã. Chính Đức Giêsu đã muốn xua đuổi vi trùng giả hình này ra khỏi đời sống chúng ta khi Ngài phân tích sự thật bên trong và bên ngoài của con người:

    – Bên ngoài là vùng của những gì được biểu lộ, trình diễn; cũng là vùng của mặt nạ, những mặt nạ mà chúng ta muốn đeo cho mình, những hình ảnh mà chúng ta mơ ước và tự phóng các hình ảnh lý tưởng ấy qua lời nói, việc làm của chúng ta.

    – Bên trong là vùng của sự thật, vùng của chính hiệu, chính gốc, vùng ở đó con người thật của chúng ta được xuất hiện “nguyên con” trước mặt Thiên Chúa, là nơi hạt giống Lời Thiên Chúa được gieo vãi. Bên trong còn là nơi của những quyết định, chọn lựa. Nhưng bên trong cũng là sào huyệt của ganh ghét, hận thù, ích kỷ, tham vọng thống trị, ham muốn sở hữu : “Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác tang, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7, 20-23).

    Vâng, mâu thuẫn giữa bên ngoài và bên trong, giữa sự thật chúng ta là và những điều chúng ta mơ ước, giữa những gì chúng ta có và những điều chúng ta khát khao và tự khoác lên mình là sự thật không thể chối cãi.Vì thế, giả hình là cám dỗ nặng nề và liên lỷ của mỗi người, vì ai cũng cần một dáng vẻ ăn khách, một nhân thân hấp dẫn, một quá khứ thành tích, một hiện tại vinh quang, một tương lai hứa hẹn để sống được với đời nhiều tranh giành, đấu đá. Chúng ta cũng dễ rơi vào giả hình, vì thường xuyên chúng ta cũng cần giả hình với chính mình, khi mình chẳng có gì để có thể tự tuyên dương, tự biện minh, tự bào chữa. Đó là thảm cảnh rất bi đát của đời sống con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể giải phóng chúng ta ra khỏi.

    Thiên Chúa giải phóng chúng ta khỏi tình trạng phân liệt vì giả hình, khi chúng ta nhận ra: sẽ không có sự thật toàn diện, bao lâu con người không lắng nghe Thiên Chúa hằng sống và chân thực; sẽ không có tình yêu đích thực, bao lâu tình yêu của chúng ta không gắn kết vào chính Chúa là nguồn Tình Yêu; sẽ không có đời sống chính hiệu, nguyên gốc Tự Do, bao lâu chúng ta không để Thiên Chúa hành động và dẫn dắt định mệnh đời chúng ta. Được dựng nên cho Thiên Chúa, chúng ta không thể hạnh phúc nếu không thuộc về Ngài, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới làm cho chúng ta thực sự tự do, khi giao hoà trong chúng ta nhũng gì bên ngoài với những gì bên trong, những gì được trình ra bề ngoài và những gì được giữ kín ở trong.Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể lấy khỏi chúng ta những mặt nạ mà không làm chúng ta thất vọng; cũng chỉ một mình Ngài mới có thể chữa lành căn bệnh ảo tưởng, giả hình trong chúng ta và làm cho chúng ta trở nên những tạo vật mới có đủ khả năng và nhiệt huyết để yêu mến. Chính Ngài đã vạch cho chúng ta con đường, tuy hẹp, nhưng là con đường chân thật dẫn đến Hạnh Phúc thật (x. Mt 5,1-12).

    Để kết luận, chúng ta cần lưu ý sự cần thiết của Truyền Thống, Lề Luật, nhưng đồng thời cũng cẩn trọng trước cám dỗ của chủ nghiã vị Truyền Thống, vị Lề Luật, nghiã là chỉ biết Lề Luật, chỉ tôn thờ Lề Luật, mà không quan tâm đến con người và ích lợi nhân sinh cũng như thiêng liêng của con người. Vì Lề Luật có thể trở thành nguyên nhân của tình trạng giả hình, phân liệt nhân cách, nhất là miệng ca tụng Chúa, nhưng lòng thì xa Chúa ngàn dặm.

    Xin Chúa cho chúng ta ý thức chúng ta được gọi vào đời để “yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi người”, nên con người trong tất cả chọn lựa phải được yêu mến vì chúng ta yêu mến Thiên Chúa .Thế nên, cho dù là Lề Luật nào đi nữa, chúng ta cũng không thể bỏ quên hay làm tổn thương con người, là hình ảnh sống động của Thiên Chúa yêu thương.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 22 TN_B

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Ðoạn Tin Mừng hôm nay khởi đi từ một câu chuyện nhỏ, chuyện những người Biệt Phái và luật sĩ thắc mắc về việc các môn đệ của Chúa không rửa tay theo tập tục của tiền nhân trước khi ăn. Qua câu trả lời, Chúa Giêsu đã muốn cho mọi người hiểu rằng cuộc sống có những việc còn quan trọng hơn những việc có tính cách tập tục và bên ngoài đó. Và cũng nhân câu chuyện này Chúa còn nói thêm về việc phải sống như thế nào mới là cuộc sống đẹp lòng Chúa và mang lại cho cuộc sống đó nhiều ý nghĩa hơn. Chúng ta tự hỏi Chúa muốn cuộc sống phải như thế nào?

    I. Điều Chúa muốn chắc chắn không phải là cuộc sống sống giả tạo, cuộc sống không có sự ăn khớp giữa bên ngoài với bên trong của một con người.

    Trong một chương trình buổi tối trên một kênh truyền hình Hoa Kỳ, một cô gái điếm đã được mời đến phát biểu ý kiến dựa theo một số câu hỏi của những phóng viên. Cô trang điểm diêm dúa và mặc một chiếc váy cực ngắn. Cô đã tỏ ra không những bình tĩnh, mà còn khiêu khích trước những câu hỏi của phóng viên.

    Chợt có một phóng viên nhìn thầy trên cổ của cô có đeo một sợi dây chuyền vàng với một cây Thánh giá thật đẹp, anh ta liền thay đổi một đề tài. Anh ta hỏi cô: “Tôi thấy cô đeo Thánh giá trên cổ, hẳn cô là người có Tôn giáo”.

    Khán giả thấy rõ sự bối rối xuất hiện trên khuôn mặt cô, vì đây là vấn đề mà cô chưa bao giờ nghĩ tới. Sau một hồi do dự, cô trả lời: “Tôi không theo đạo nào cả”.

    Người phóng viên hỏi dồn: “Vậy tại sao cô lại mang Thánh giá trên người?”.

    Cô thinh lặng cúi xuống sàn nhà một hồi lâu, rồi trả lời: “Lúc nhỏ tôi có đạo, nhưng đó là chuyện xưa rồi”.

    Một con người không còn tin Chúa nhưng vẫn đeo Thánh Giá của Chúa. Rõ ràng đó là việc không hợp lý tí nào. Cuộc sống như thế đáng cho mọi người gọi là cuộc sống giả hình. Và một cuộc sống với những phẩm chất giả tạo như thế nhất định sẽ chẳng đem lại niềm vui nào cho những người sống cuộc sống đó. Chính vì thế mà trong bài tin mừng hôm nay Chúa đã kịch kiệt lên án cuộc sống như thế. “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.”(Mc 7,7)

    Ngày xưa thì như thế còn hôm nay thì sao?

    Chắc anh chị em đã thấy ngày hôm nay người ta nói nhiều tới căn bệnh thành tích, căn bệnh phát sinh từ cuộc sống hình thức giả tạo mà ra. Bao nhiêu hệ lụy xấu xa đã phát sinh từ căn bệnh này thì mọi người chúng ta đã biết. Sống như thế có khác gì ngày xưa và nếu cứ sống mãi như thế thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ không thể tốt đẹp mà ngược lại nó sẽ là một cuộc sống gây nên nhiều đau khổ.

    Rồi nhìn vào cuộc sống của thế giới hôm nay chúng ta thấy cũng chẳng kém gì. Đây là những nhận được Internet truyền đi khắp nơi như một hệ lụy của những lối sống mà con người hôm nay đang sống. Bên ngoài thì xem ra thật tốt nhưng nội dung thì có nhiều phải suy nghĩ. Tác giả gọi những nhận xét này là: “Những nghịch lý của thời đại chúng ta”

    Chúng ta có những tòa nhà cao hơn, nhưng tư cách những người cư ngụ trong đó thì lại nhỏ hơn. Những con đường cao tốc rộng hơn, nhưng quan điểm của con người thì lại hẹp hòi hơn.

    Chúng ta nói quá nhiều, yêu quá ít và ghét quá thường xuyên.

    Chúng ta đã đi lên mặt trăng và quay trở về, nhưng lại cảm thấy phiền hà khi băng qua đường để gặp một người hàng xóm mới dọn đến.

    Chúng ta làm trong sạch không khí, nhưng lại gây ô nhiễm tâm hồn của nhau.

    Chúng ta viết lách nhiều hơn, nhưng học hành thì ít hơn.

    Chúng ta dự tính nhiều hơn, nhưng thực hiện ít hơn. Chúng ta chỉ biết vội vã, mà không biết chờ đợi.

    Chúng ta có thu nhập cao hơn, nhưng đạo đức thì lại thấp hơn.

    Chúng ta trở nên thừa về số lượng, nhưng lại quá thiếu về chất lượng.

    Đây là thời cơ có tới hai nguồn thu nhập từ cả hai vợ chồng trong gia đình, nhưng ly dị thì nhiều hơn; Thời của những căn nhà sang trọng, nhưng tổ ấm thì tan vỡ nhiều hơn.

    Vâng nếu cuộc sống chỉ là như thế thì thật là tủi nhục cho Thiên Chúa khi Chúa đã cho chúng ta được làm người .

    II. Vậy chúng ta phải sống như thế nào mới đẹp lòng Chúa?

    Xin muợn một câu chuyện để trả lời. Chuyện kể rằng có hai nhà sư, một già một trẻ, cùng nhau đi xuống núi. Dọc đường các ngài gặp một cô thiếu nữ rất đẹp đứng bên bờ một vũng nước sâu. Thiếu nữ muốn đi qua nhưng không sao đi được. Thấy vậy, một nhà sư già liền bế thiếu nữ lên và đi qua vũng nước và bỏ cô ở phía bên kia. Rồi hai người tiếp tục cuộc hành trình. Trở về gần đến chùa, nhà sư trẻ trách bạn: “Sao anh lại bế một thiếu nữ như thế?”. Nhà sư già trả lời: “Tôi đã để cô ta lại bên vũng nước, còn anh, sao anh còn mang cô ta về đến tận chùa”.

    Câu chuyện ý nhị trên đã minh hoạ rõ nét ý hai lối thể hiện cuộc sống của mình: Một lối sống đạo theo hình thức và một lối sống đạo theo nội tâm. Nhà sư trọng hình thức không dám động đến thiếu nữ, nhưng tâm hồn ông lại nặng vấn vương. Thế mà ông vẫn cứ yên tâm cho rằng mình đã giữ trọn luật giới sắc. Ông tự hào về mình và trách móc bạn đã vi phạm luật tu hành.

    Những người Biệt phái và Luật sĩ trong đạo Do thái xưa cũng giữ đạo theo hình thức như thế. Họ rất trọng những luật lệ theo hình thức bề ngoài. Họ cho rằng giữ những hình thức bề ngoài là đủ. Đối Với họ, đạo là lề luật. Giữ trọn lề luật là giữ đạo. Đặc biệt là luật thanh sạch.

    Đức Giêsu đã trách họ là giả hình. Họ chỉ lo giữ sự trong sạch bề ngoài mà không lo giữ sự trong sạch bề trong. Họ lo rửa tay chân mà không lo rửa lương tâm. Họ sợ tiếp xúc với người bệnh nhưng họ vẫn ấp ủ những ý đồ xấu xa trong tâm hồn. Có lần Đức Giêsu đã sánh ví họ với những mồ mả, bên ngoài thì tô vôi sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương cốt hôi hám, xấu xa.

    Đạo Chúa không phải là hình thức. Đạo Chúa là tình yêu. Tình yêu chân thật phát xuất từ đáy lòng. Giữ hình thức mà không có tình yêu thì chưa phải là giữ đạo. Làm những việc lớn lao mà không có tình yêu cũng chỉ là vô ích, như lời thánh Phao-lô dạy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoang. Giá như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tính đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi đến chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,1-3).

    Lạy Chúa Giêsu,

    xin giúp con biết bỏ đi những bề bộn nơi tim con.

    Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,

    hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.

    Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,

    bằng trái tim bao dung của Chúa.

    Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,

    trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn

    để yêu mến mọi người.

    Vì con biết rằng với tất cả tâm tình, con mới thực sự sống đạo. Với tất cả tâm tình, đạo mới đưa con đến gần Chúa.

    Lạy Chúa, xin ban cho con thêm lòng yêu mến Chúa.

    Về mục lục

    .

    THỜ PHƯỢNG CHÚA HẾT LÒNG

    Phó Tế Đaminh Maria Nguyễn Bình An

    Dân Do Thái có rất nhiều luật. Luật quy định tỉ mỉ từ đời sống tâm linh như cách thờ phượng Thiên Chúa tới những việc làm cụ thể hàng ngày như tập tục rửa tay trước bữa ăn… Họ giữ rất nghiêm chỉnh các luật lệ này đến nỗi họ nhiều khi chỉ vì luật, và những hình thức bên ngoài mà quên đi ý nghĩa sâu xa của những luật lệ ấy. Chúa Giêsu trong Tin Mừng tuần này chê trách người Do Thái chuộng bề ngoài hơn bề trong: “Dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, mà lòng chúng rời xa Ta” (Mt 15,8). Đức Giêsu không lên án những người giữ luật vì đây là những luật chính đáng được lưu truyền trong dân. Ngài chỉ chê trách những người coi trọng luật bên ngoài  mà bỏ quên cốt lõi, ý nghĩa đích thực của những luật đó. Những người này có thể nghĩ rằng giữ đạo là trung thành với một số các điều luật được truyền lại, ngay cả nhiều khi những luật này không cần thiết. Trong khi căn bản của lời rao giảng của Đức Giêsu chỉ gồm tóm trong hai điều duy nhất: Mến Chúa, Yêu Người. Mọi chuyện chúng ta làm, mọi luật lệ chúng ta giữ cần phải quy hướng và thể hiện hai mục đích này.

    Lời Chúa hôm nay không phải chỉ nói cho người Do Thái nhưng cũng đang nhắc nhở mỗi người chúng ta. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta có thể cũng chỉ vì hình thức bên ngoài. Chúng ta nghĩ rằng thờ phượng Chúa hết lòng là tới nhà thờ dự lễ hàng ngày, sáng tối kinh nguyện hoặc đóng góp xây dựng cộng đoàn, hay rộng tay giúp đỡ người nghèo khổ. Điều này đúng nếu khi chúng ta làm với một ý thức bên trong. Tôi tới nhà thờ không phải để cho người khác biết tôi siêng năng, đạo đức, nhưng thật sự tôi tới để thờ phượng, cám tạ Chúa vì mọi ơn lành Chúa ban xuống cho tôi và gia đình. Tôi rộng tay chia sẻ của cải của tôi có cho những người vô gia cư, già yếu, cô đơn, nghèo khổ, vì họ là anh em tôi, là hình ảnh của Thiên Chúa… Hành động của chúng ta đi kèm với ý thức bên trong hỗ trợ, thì việc làm ấy không bị Chúa chê trách là chỉ kính thờ Chúa bằng môi miệng, bằng hình thức bên ngoài.

    Câu truyện “Để Người Ta Không Thể Nói” trong Hạt Giống Âm Thầm (trang 296) làm cho tôi xúc động. Chúng ta thề hứa với Chúa bao nhiêu lần là sẽ tha cho người khác khi chúng ta đọc kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con…” Tuy nhiên, khi nhìn vào xã hội hiện nay, lời kinh chúng ta đọc có lẽ chỉ trên môi miệng, và có lẽ Chúa cũng nói với chúng ta y chang như Ngài nói với người Do Thái…

    Hai thanh niên điệu một tên sát nhân đã giết cha mình ra trước tòa án. Với đầy đủ bằng chứng nên tên sát nhân lãnh án tử hình. Tội nhân không khiếu nại nhưng chỉ xin hoãn hành quyết ba ngày để hắn về lo liệu cho một thiếu nữ, mà hắn đã được trao phó cho săn sóc từ nhỏ. Mọi người bối rối, nhưng một bàn tay giơ lên với giọng quả quyết: “Tôi xin bảo đảm cho anh này. Nếu sau ba ngày anh không lại, tôi sẽ chịu tội thay”. Tên tử tội được phép ra về. Sau đúng ba ngày, trong khi mọi người đang nôn nóng chờ đợi giờ hành quyết thì tên tử tội hiên ngang bước đến và dõng dạc tuyên bố: “Tôi đã giải quyết xong công việc. Giờ đây, theo đúng lời cam kết, tôi trở lại đây để xin chịu tội. Tôi muốn trung thành với lời cam kết, để người ta không thể nói, chữ tín không còn trên mặt đất này nữa.” 

    Sau lời phát biểu của tên tử tội, người đàn ông đứng ra bảo lãnh cũng tiến ra tuyên bố: “Phần tôi, sở dĩ đứng ra bảo lãnh cho người này là vì tôi không muốn để người ta có thể nói: lòng quảng đại không còn có mặt trên mặt đất này nữa”.

    Sau hai lời tuyên bố trên, đám đông bỗng trở nên im lặng. Dường như ai cũng được mời gọi để thể hiện những gì là cao quý nhất trong thẳm sâu tâm hồn. Và rồi hai người thanh niên bước lên trước quan tòa và nói: “Thưa ngài, chúng tôi xin được tha thứ cho kẻ đã giết hại cha chúng tôi, để người ta không thể nói: lòng tha thứ không còn hiện diện trên mặt đất này nữa”.

    Hôm nay Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta cách chúng ta sống đạo. Bạn và tôi, chúng ta chắc phải dừng lại đôi phút để xét lại xem, chúng ta thật sự sống đạo như thế nào?

    Về mục lục

    .

    SẠCH VÀ ĐẸP

    Lm. Jos. DĐH.

    Xuất phát bởi tình yêu gia đình, dòng tộc, người xưa để lại nhiều kinh nghiệm cao quý: đói cho sạch, rách cho thơm ; tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. Sạch và đẹp, tiếng tốt danh thơm, không phải chúng được đề cao vì “mỹ từ”, hoặc được tán dương bởi nét đẹp mờ mờ ảo ảo, đúng hơn, nơi thẳm sâu tâm hồn, con người luôn được thôi thúc bởi tính thiện toàn, sự sạch đẹp. Vì tình bạn, kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, thiếu nữ vì tiết hạnh, không quản ngại hy sinh mạng sống mình. Sạch đẹp thu hút con người qua muôn thế hệ, nhưng làm sao để người ta không nhầm lẫn giữa “cái chính và cái phụ”, không làm đảo lộn giá trị đạo đức xã hội, tôn giáo ?

    Khởi đi từ quan niệm sạch đẹp quá tuỳ tiện, phóng khoáng, đến độ khắt khe, các luật sĩ biệt phái xưa kia đã tỏ thái độ khinh bỉ người anh em của mình, chỉ vì họ không rửa tay trước khi ăn. Vấn đề sạch dơ, đẹp xấu, sẽ không dừng lại ở khía cạnh vệ sinh, hay tính thẩm mỹ hài hoà, đi xa và sâu rộng hơn, sạch đẹp, chuẩn mực, đáng được ghi nhận phải là sạch đẹp toàn diện: cả hình thức và nội dung. Với cái nhìn hời hợt về thanh sạch bên ngoài, hoặc đầy ô-uế tội lỗi bên trong, nếu không đủ khách quan, thiếu tình yêu và lòng quảng đại, việc lượng định cũng chỉ là hình thức máy móc, vô giá trị. Người ta sẽ sai lầm khi xem tập tục tiền nhân và giới luật yêu thương là một, hoặc nghĩ rằng của lễ dâng cúng cho đền thờ có thể thay cho việc thảo kính cha mẹ ông bà.

    Tục ngữ có câu: sạch sẽ là mẹ con người ; sạch đẹp và linh thiêng hơn, các ngài còn nói: tâm trong sạch là một cái gối êm, không làm việc thẹn lòng, đâu sợ quỷ ma gọi cửa. Sạch bên ngoài, bên trong, đều đáng trân trọng, dơ bẩn tay chân, dơ bẩn tâm hồn, đều cần được tẩy rửa cho sạch đẹp. Đức Giêsu có ý nhắc nhớ đừng ai nhầm lẫn bằng môi miệng, bằng lý thuyết, có thể thay thế cho việc sống đạo. Đức Giêsu không trả lời trực tiếp cho các luật sĩ biệt phái lý do tại sao các môn đệ không rửa tay, nhưng gián tiếp cho thấy sự thanh sạch tâm hồn cần thiết hơn việc rửa tay chân, biết và sống thánh ý của Chúa quan trọng hơn là chỉ giữ tập tục tiền nhân.

    Đức Giêsu không bình luận về sự thanh sạch hay dơ bẩn, nhưng Ngài lên án những ai tin thờ Chúa bằng môi miệng mà lòng xa cách Chúa, có tình yêu trong việc sống giới luật, quan trọng hơn việc dâng mọi của lễ toàn thiêu. Sạch tay chân, trang điểm cho khuôn mặt xinh đẹp, chỉ là tâm lý giúp người ta tự tin khi đi ăn tiệc, nhưng sạch tâm hồn mới là phương thế hữu hiệu, bình an, hạnh phúc nhất, khi tham dự bàn tiệc thiên quốc. Kinh nghiệm cho thấy, không phải sạch sẽ là do một ngày tắm nhiều lần, không phải xinh đẹp là do “quần là áo lượt”, mang trên mình trang sức đắt tiền. Sạch và đẹp, đúng và chuẩn, chỉ là mơ ước, là khẩu hiệu, khi người ta chưa tập luyện, chưa được biến đổi, hoặc chưa có thời gian thực hành đức ái.

    Cái nhìn thông suốt của tiền nhân cho rằng: nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, nơi ăn chốn ở, cơ hội để học, để hiểu và để sống, cùng với một chuỗi thời gian trải nghiệm: bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người. Thực ra thì điểm căn bản của việc sống đạo không hệ tại chúng ta đọc bao nhiêu câu kinh, đi bao nhiêu thánh lễ, bố thí chia sẻ cho anh chị em chúng ta nhiều hay ít tiền của, đúng và đẹp ở chỗ lời nói việc làm của chúng ta có bày tỏ được lòng mến hay không ? Nếu như ngày hôm nay, người ta lên án những ai làm việc như con “rô-bốt” hay chỉ như con “búp-bê” không biết yêu, không cảm xúc, là bởi vì họ quá lệ thuộc vào hình thức bên ngoài mà quên đi ý nghĩa của hành động tin và yêu.

    Truyền thống có đạo, có đức, sống thảo sống hiếu, được xem là gia đình lắm phúc nhiều lộc, nhưng chưa đặt để tình yêu vào cuộc sống, nào có khác gì ta chỉ là con rối vô cảm, vô hồn ? Đức Giêsu xưa kia chắc chắn không chối bỏ nét đẹp phong phú của gia đình, cũng không phủ nhận sự thanh sạch, Ngài có ý nhắc “sạch đẹp tâm hồn” phải là ưu tiên. Đừng chú trọng đến tập tục loài người mà bỏ qua giới luật yêu thương, đừng lẫn lộn ý muốn của con người với thánh ý của Chúa. Xưa kia cũng vì chú trọng đến “môn đăng hộ đối” mà xảy ra việc ép duyên ; xã hội hiện đại hôm nay lại không thiếu cảnh con cái đặt đâu cha mẹ phải đồng ý ! Cả hai quan niệm ấy đều không đẹp mà cũng chẳng gọi là đúng, nếu hôn nhân không đến trong tự do và yêu thương.

    Tục ngữ có câu: muốn chắc ở nhà gạch, muốn sạch quét chổi cùn. Tự bản chất của con người thích sạch đẹp, vẫn ý thức mình cần phải được xây dựng trên nền đá vững chắc, đó là sự thật. Hướng đến sự sạch đẹp toàn diện và bền vững, Chúa Giêsu đã gọi là đồ giả hình, đã nhắc lại lời Isaia: “dân này thờ kính ta bằng môi miệng, còn lòng chúng lại xa Ta”. Lời đó có làm chúng ta hôm nay giật mình không, nếu chúng ta sống đạo mà không được xây dựng bằng tình yêu thương ? Đồng ý rằng: danh thơm là lẽ sống của kẻ sĩ, nhưng kẻ sĩ không thể im lặng cất giấu triết lý sống của mình. Người kitô hữu không thể sống đạo loáng thoáng hời hợt, lời nói việc làm cần minh bạch rõ ràng ; nếu rửa tay cho sạch thì cũng nên suy xét xem đã tẩy rửa tội lỗi chưa, hầu có một tâm hồn sạch đẹp, xứng hợp với tình yêu và ơn cứu độ của Đức Kitô. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÂM HỒN THANH KHIẾT

    Bông Hồng Nhỏ

    Hai cô bé rủ nhau chơi đồ hàng, lấy vỏ trứng làm nồi và tập tành nấu cơm. Người cha đi làm về thấy gạo vương vãi trên sàn nhà bếp liền gọi hai cô con gái vào. Nghe cha hỏi cả hai cô bé đều lo lắng và cúi gầm mặt xuống, đôi mắt ngắn lệ chờ khóc. Cô em lí nhí thưa:

    • Dạ thưa cha, chị lấy gạo làm đổ ra nhà, không phải con.

    Cứ thế cô em đổ lỗi cho chị. Thấy chị bị cha phạt quỳ, cô em hối hận vì đã đổ lỗi hết cho chị mình. Lòng muốn thú tội với cha nhưng lại sợ bị phạt, dù còn nhỏ nhưng cô bé đã thấy hối hận lắm. Lời các chị giáo lý viên từ đâu vang lên bên tai: “ Các em, ai nói dối sẽ làm cho Chúa buồn lòng.” Một lúc sau, cô em thưa với cha:

    • Là con lấy gạo làm đổ ra nhà, không phải chị ấy làm, cha ạ!
    • Hạt gạo là hạt cơm. Lần sau các con đừng lấy chơi nữa.

    Chẳng những không phạt mà cha còn tha tội cho hai chị em.

    Từ trong tâm hồn con người, tiếng nói lương tâm giúp cho biết làm lành lánh dữ. Hôm nay, Thầy Giêsu lên án thói đạo đức giả và chỉ cho dân chúng biết cái gì mới làm cho con người ra ô uế.

    Những đồ ăn thức uống khi được đưa vào cơ thể con người giúp nuôi dưỡng thân xác khoẻ mạnh, nhưng cũng có thể làm thiệt hại sức khoẻ. Khi muốn ăn thịt gà, bạn có thể mua ở chợ nếu bạn có tiền, hay bạn sẽ làm thịt con gà mà bạn nuôi. Nhưng nếu bạn không có tiền, bạn cũng chẳng nuôi gà, mà bạn lại rất thèm được ăn thịt gà . Lúc đó bạn sẽ làm gì? Từ ước muốn được ăn thịt gà đó, thịt gà không phải là của làm cho bạn ra ô uế nhưng điều làm cho bạn ra ô uế là khi bạn đi ăn trộm con gà của hàng xóm để làm thịt. Muốn ăn thịt gà cũng không phải là điều xấu xa, nhưng chính việc bạn ăn trộm đã làm cho bạn thành kẻ xấu. Thầy Giêsu đã tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch (x.Mc7,19b). Trước khi tiến đến hành động trộm gà, chẳng hẳn lương tâm của bạn cũng mách bảo cho bạn biết điều đó là sai, điều quan trọng là bạn nghe theo tiếng lương tâm mách bảo hay chiều theo thói mê ăn uống.

    Thầy Giêsu khẳng định: “Từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam… Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7,21-23)

    Làm thế nào để có một tâm hồn trong sạch, một lương tâm ngay thẳng? Ta hãy lắng nghe lời ca của Thánh vịnh 18 câu 8: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn”. Lòng ai khao khát Chúa, Chúa sẽ cho gặp và Chúa sẽ dạy dỗ họ sống theo nẻo chính đường ngay. Các người Pharisêu và một số kinh sư giữ luật tỉ mỉ, nắm giữ truyền thống của các tiền nhân nhưng lại bị Thầy Giêsu khiển trách: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc7,8). Những khi ca tụng tán dương Thiên Chúa, liệu ta có đặt trọn tâm hồn và lòng trí của ta hướng về Chúa hay ta chỉ “tôn kính Chúa trên môi miệng mà lòng trí lại cách xa Chúa” (x. Mc 7,6b). Trong thinh lặng của tâm hồn, ta hãy để  cho Lời Chúa chất vấn ta, để thấy được thái độ ta dành cho Chúa và can đảm ra khỏi con người cũ.

    Lạy Thiên Chúa chí thánh! Xin cho con biết yêu luật Chúa truyền và can đảm sống điều Chúa dạy, để mỗi ngày, tâm hồn con trở nên thanh khiết, bình an. Xin cho những lời ca tụng Chúa được kéo dài trong cuộc sống của con, để dầu sống giữa cảnh thăng trầm, lòng con vẫn trung thành, gắn bó với Chúa cách chân thực. Amen.

    Về mục lục

    .

    TUÂN GIỮ GIỚI RĂN VÀ THỰC HÀNH LỜI CHÚA

    Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 

              Ông Mô-sê trong Cựu Ước và Chúa Giê-su trong Tân Ước đều có chung một sứ mệnh:  kêu gọi người ta tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa và hãy thực hành những điều Người phán dạy.  Ông Mô-sê là người truyền lại cho dân Ít-ra-en mười giới răn do Thiên Chúa ban trên núi Xi-nai.  Còn Chúa Giê-su là Mô-sê Mới thì ban cho chúng ta lề luật của Tin Mừng được tóm lại trong hai điều mến Chúa và yêu người.  Tuy nhiên, giống như dân Ít-ra-en đã nhiều lần không trung thành trong việc tuân giữ Mười giới răn, chúng ta là các Ki-tô hữu nhiều lần không để cho lời Chúa trở thành hành động trong cuộc sống chúng ta.  Đây là một vấn đề quan trọng, nên Phụng vụ Lời Chúa dành nguyên một Chúa Nhật để đặc biệt nhắn nhủ chúng ta hãy tích cực sống lời Chúa;  đó cũng chính là cách tốt nhất để chúng ta tôn kính và phụng thờ Thiên Chúa.

              Trước hết chúng ta hãy trở lại với thời dân Ít-ra-en trên đường chinh phục Đất Hứa.  Từ Ai-cập trở về Đất Hứa, dân Chúa đã phải trải qua biết bao khó khăn, cộng thêm những cuộc chiến đấu để khắc phục những dân họ đi qua.  Tới đâu họ cũng đạt chiến thắng nhờ luôn phụng thờ Thiên Chúa và tuân giữ những mệnh lệnh của Người.  Đúng vậy, vì họ trung thành sống những giới răn Thiên Chúa ban, nên đã được Người luôn ở cùng và giúp đỡ họ “được sống và được vào chiếm hữu miền đất Đức Chúa ban cho họ” .  Ý thức mạnh mẽ điều ấy, ông Mô-sê là người lãnh đạo đã luôn nhắc nhở dân chúng hãy tiếp tục trung thành giữ Lề Luật và các thánh chỉ của Thiên Chúa, để chỉ có họ “mới là một dân khôn ngoan và thông minh” được thiên hạ ngưỡng mộ!  Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan và quyền năng nên Lề Luật và thánh chỉ của Người sẽ làm cho dân của Người thành một dân khôn ngoan, thông minh và vĩ đại, đó là điều dĩ nhiên rồi.  Vì sức mạnh và uy thế của Lề Luật Chúa đã rõ ràng như vậy, nên ông Mô-sê nghiêm ngặt ra lệnh cho dân Ít-ra-en “đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em”.  Dù dân Ít-ra-en có nghe lời ông Mô-sê cũng như ông Giô-suê sau này hay không, thì sứ điệp rõ ràng vẫn là nếu họ tuân giữ giới răn và thánh chỉ của Đức Chúa, họ “sẽ được sống và được vào chiếm hữu miền đất Người ban cho họ”.

              Nếu ông Mô-sê của Cựu Ước đã nghiêm cấm dân Ít-ra-en không được thêm bớt gì vào những giới răn và thánh chỉ của Thiên Chúa, thì Chúa Giê-su, Mô-sê của Tân Ước, cũng không ngừng tố cáo giới lãnh đạo tôn giáo Do-thái đã làm sai lạc ý nghĩa thi hành Lề Luật Thiên Chúa.  Đáng lẽ những người Pha-ri-sêu và kinh sư là những người cầm cân nảy mực phải là gương mẫu cho việc tuân giữ Luật Chúa, thì họ lại biến dân Chúa thành một dân “tôn kính Thiên Chúa bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Người”.  Không những họ thêm bớt vào giới luật của Thiên Chúa, mà họ còn đặt ra những “giới luật phàm nhân” để biến thành những gánh nặng chất lên vai dân chúng nữa!  Nhân việc người Pha-ri-sêu chỉ trích các môn đệ Chúa vì các ông không rửa tay trước khi ăn nên đã trở thành ô uế, Chúa Giê-su đưa ra một nhận định để ám chỉ sự ô uế không phải hệ ở việc rửa tay, mà sự ô uế đã nằm sẵn trong tâm hồn những người Pha-ri-sêu kia rồi.  Đó là “những ý định xấu:  tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”.  Việc Chúa Giê-su tố cáo nhóm Pha-ri-sêu được tóm tắt trong nhận định này:  “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”.

              Đây chắc chắn là lời tố cáo không chỉ dành riêng cho nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư, nhưng cũng nhắm vào chúng ta hôm nay nữa.  Trong lối sống Ki-tô hữu, biết bao lần chúng ta đã gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa để tuân theo những truyền thống của loài người.  Do đó, thánh tông đồ Gia-cô-bê đã kêu gọi chúng ta “hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”.  Phải, chúng ta lừa dối chính mình khi gạt bỏ và coi thường luật Chúa để sống theo lề luật xấu xa của thế gian.  Thí dụ chúng ta coi thường sự sống Chúa ban mà phá thai, bởi vì phá thai đã được luật pháp bảo vệ!  Lời Chúa là đèn soi đường chúng ta đi.  Vì thế tuân giữ lời Chúa là cách để chúng ta đi trong ánh sáng mà đến với Chúa và anh chị em.  Thánh Gia-cô-bê còn cho chúng ta những ví dụ cụ thể thế nào là thi hành lời Chúa để chúng ta “không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha”.  Vài việc làm cụ thể được ngài đề nghị, là “thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian”.  Nói khác đi, vì Chúa dạy chúng ta hãy sống yêu thương và bác ái, cho nên thăm viếng người nghèo khó chính là thi hành lời Chúa dạy.

    Sống sứ điệp Lời Chúa

              Hôm nay chúng ta sẽ làm gì để thực sự “tôn kính” Thiên Chúa, không phải bằng môi miệng, những bằng việc làm cụ thể?  Chúng ta sẽ làm gì để loại bỏ “những ý định xấu” như tham lam, độc ác, xảo trá, ganh tị, kiêu ngạo… mà Chúa Giê-su đã kể ra?  Như dân Chúa đã trung thành giữ các giới răn Thiên Chúa, chúng ta hãy  trung thành giữ giới luật yêu thương Chúa Giê-su đã truyền dạy chúng ta.

    Về mục lục

    .

    CON TIM BỆNH TẬT

    Lm Vũdình Tường

    Bệnh và tật đi chung với nhau. Không biết bệnh gây nên tật hay tật sinh bệnh hay cả hai. Điều không thể chối cãi là tật xấu chính là nguồn gốc gây bệnh. Xấu nhiều bệnh nặng, xấu ít bệnh nhẹ hơn. Xấu nhiều mau phát sinh bệnh; xấu ít bệnh đến chậm hơn. Tất cả đều là mầm mống gây bệnh và làm gây bệnh. Lây bệnh là do thiếu vệ sinh hoặc ăn phải thực phẩm nhiễm trùng. Thực tế là cơ thể con người có sức chịu đựng giới hạn. Đi quá mức giới hạn nó ngã quị. Tâm trí con người cũng không khác mấy. Nó cũng cần cho ăn, nuôi dưỡng tâm trí bằng thực phẩm lành mạnh nó mạnh khoẻ, điều xấu, sách báo xấu, hình ảnh xấu, môi trường xấu tạo nên một tâm lí què quặt, bệnh tâm lí phát sinh từ đó. Thực tế này cũng đúng, gây tai hại cho tâm linh con người. Điều xảy ra cho tâm linh tai hại nhất con người lại coi nhẹ nhất bởi bệnh tâm linh không gây nhức nhối thân xác nên nhiều người lơ đi, coi như không có bệnh. Bệnh tâm linh phát sinh do coi thường giáo huấn của Đức Kitô. Giáo huấn của Ngài là thần khí và sự thật. Thiếu tôn trọng sự thật bởi coi nhẹ giáo huấn của Đức Kitô. Nhóm Biệt Phái và Pharisiêu gây xích mích với Đức Kitô khi họ gây sự với môn đệ Ngài. Họ đặt vấn đề

    ‘Sao môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa’ Mk 7,5

    Đặt vấn đề vì các môn đệ nhưng thực ra họ chủ trương chất vấn chính Đức Kitô vì Ngài là đầu của các môn đệ. Biết rõ thâm í họ Đức Kitô dùng ngôn từ của tiên tri Isaiah đáp lại họ

    Dân này tôn kính Ta bằng môi, bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta c. 6b

    Câu đáp trên nhắc cho họ biết hai điều quan trọng. Thứ nhất, miệng lưỡi giảo hoạt, ngọt ngào nơi miệng không phải là tâm tình thật, không đến từ con tim chân thành, yêu mến. Đức Kitô cũng nhắc cho biết là không phải những gì đến từ ngoài làm cho tâm hồn ra ô uế mà chính là những gì phát xuất từ sâu thẳm làm cho tâm hồn ra ô uế. c.15. Con tim được hiểu là trung tâm điểm của con người, từ nơi đó tâm tình tốt xấu phát sinh. Sự lành, sự dữ đều từ đó mà ra. Sự lành đến từ con tim chân thành, mạnh khoẻ, sự dữ đến từ con tim bị băng hoại, hướng dẫn bởi tâm tình tội lỗi.

    Thứ hai, các môn đệ về từ phố chợ và họ không rửa tay khi ăn trưa. Phố chợ là nơi người đau yếu, bệnh tật, nghèo khó thường tụ họp mong nhận được của bố thí. Vì thế khi liên kết phố chợ với những thành phần cần nâng đỡ Đức Kitô cách nào đó chuyển đề tài từ nói suông hay nói về sự trong sạch, chuyển sang hành động thi ân, bác ái, lòng thương xót Ngài dành cho muôn dân. Một cách nào đó Đức Kitô cho họ biết nói suông hay giữ truyền thống tiền nhân không tốt hơn hành động bác ái, mến Chúa yêu người như giáo huấn của Ngài.

    Hơn nữa chú trọng nhiều đến việc tẩy uế, rửa ráy bề ngoài mà để bên trong dơ bẩn thì có ích chi. Nó chỉ che mắt được người vô tình, xem qua loa mà không thể nào giữ cho phẩm chất chứa đựng bên trong sạch sẽ được. Vì thế giữ cho con tim trong sáng quan trọng hơn cả. Thay vì chú trọng đến việc lành, thánh thiện thì nhóm Biệt Phái lại chia rẽ cộng đoàn của họ khi họ phân biệt thành phần trong sạch và thành phần ô uế dựa vào cách họ giữ lề luật tẩy uế. Không phải việc đạo đức làm trọn lề luật mà chính là kính mến Chúa và thực thi bác ái, yêu thương là con đường Đức Kitô hướng dẫn. Không luật xã hội nào hay truyền thống tiền nhân nào có khả năng giúp cho con tim trong sáng. Rất nhiều luật xã hội và truyền thống gây gánh nặng cho người nghèo, kẻ thế cô. Con tim trong sáng, con tim đầy lòng yêu mến cần được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng giáo huấn yêu thương của Đức Kitô. Giáo huấn này đòi tuân giữ không phải bằng môi miệng mà chính là thực thi bằng hành động bác ái, yêu thương, tha thứ, đến mọi thành phần trong xã hội, đặc biệt kẻ nghèo khó, goá bụa cần nâng đỡ. Đi theo con đường Đức Kitô đi là phỏng theo lối sống của Ngài. Tin theo Đức Kitô không phải giữ cho thân thể, tay chân sạch sẽ, mà chính là tay chân lấm bùn phục vụ của một thân thể có con tim sạch sẽ, trong sáng. Chúng ta xin ơn nhận biết điều tốt lành, mở tâm hồn đón nhận món quà yêu thương Chúa ban và phân phát món quà đó cho tha nhân. Đón nhận càng nhiều tình yêu Chúa ta càng trở nên trong sáng, bởi trong sáng nên gần Chúa hơn và càng gần Chúa ta càng cảm thấy mình tự do, không bị ràng buộc bởi vật chất trần thế.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 22 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII này đều hướng về một đề tài chung: những huấn lệnh của Thiên Chúa là quy luật sống cho mỗi người tín hữu.

    Đnl 4: 1-2, 6-8

    Lề Luật diễn tả sự khôn ngoan và thánh thiện của Thiên Chúa; mỗi người phải lắng nghe và sống.

    Gc 1: 17-18, 21b-22, 27

    Người tín hữu không chỉ đón nhận Lời Chúa nhưng còn phải thực hành Lời Chúa trong đời sống nữa.

    Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23

    Người ta không được thay thế những huấn lệnh của Thiên Chúa bằng những quy tắc phàm nhân, bởi vì những quy tắc phàm nhân xem việc tuân giữ bên ngoài là quan trọng, thì những huấn lệnh Thiên Chúa biến đổi con người từ bên trong.

    BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 1-2, 6-8)

    Tác phẩm này chủ yếu được cấu thành bởi diễn từ của ông Mô-sê, được đặt vào trong bối cảnh hư cấu ở đó ông Mô-sê ngỏ lời với dân Do thái trước khi họ tiến vào Đất hứa, để cảnh giác họ coi chừng những nguy hiểm đang rình rập họ khi sống ở giữa môi trường ngoại giáo và khẩn khoản kêu mời họ trung thành tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa. Thật ra, con cái Ít-ra-en đã định cư ở đất Ca-na-an từ lâu rồi; họ đã để cho mình bị quyến rủ bởi việc phụng thờ các thần linh của dân bản địa rồi; họ cũng đã để cho mình bị tiêm nhiểm bởi lối sống duy vật, dễ dãi, thậm chí xa đọa.

    Bối cảnh hư cấu này cho phép trình bày một bài giáo lý đích thật về Giao Ước, được đặt dưới sự bảo lãnh của ông Mô-sê và mặc lấy cung giọng khuyên bảo khẩn thiết.

    1. Lề Luật là nguồn sống

    “Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe…”. Biểu thức này thường được lập đi lập lại trong sách Đệ Nhị Luật, thường nhất được dùng một cách tuyệt đối, không có túc từ: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en” (Đnl 5: 1; 6: 4; 9: 1; 20: 3; 27: 9). Kinh nguyện hằng ngày của người Do thái bắt đầu với lời mời gọi này: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en”, được mượn ở Đnl 6: 4-9.

    “Như vậy, anh em sẽ được sống”. Điều mà bản văn Đệ Nhị Luật này nhắm đến là cuộc sống của dân Ít-ra-en với tư cách dân Giao Ước. Không tuân giữ Lề Luật đồng nghĩa với việc vi phạm Giao Ước, tức là đánh mất những phúc lộc mà Thiên Chúa hứa ban. Vì thế, tiếp liền ngay sau những lời này là: “Như vậy, anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, là Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em”. Việc thực hành các huấn lệnh gắn liền với niềm xác tín rằng Thiên Chúa đảm bảo cho họ một cuộc sống trường thọ và thịnh vượng. Vào thời điểm này, những viễn cảnh vẫn còn bị giới hạn trong chân trời trần thế; những hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được dự kiến.

    Đối với dân Ít-ra-en, việc tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa là vấn đề sống chết. “Thế phải chọn lựa” này được đặt ra nhiều lần một cách nghiêm túc: “Anh em không được theo những thần khác trong số các thần của các dân chung quanh anh em, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng ở giữa anh em, là một vị thần ghen tương; hãy coi chừng kẻo Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nổi cơn thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em” (Đnl 6: 14-15) hay còn: “Nhưng nếu chẳng may anh em quên lãng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh em: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong” (Đnl 8: 19).

    Những hoàn cảnh lịch sử đã đem lại cho thế chọn lựa này tính cách bi thảm. Quả thật, có thể nghĩ rằng sách Đệ Nhị Luật, trong cấu trúc đầu tiên của nó, được các tư tế của vương quốc phương Bắc soạn thảo. Với tư cách những chứng nhân về những tội bất trung của dân Ít-ra-en, họ đã đưa ra lời mời gọi như cơ hội cuối cùng. Ấy vậy, vào năm 721 trước Công Nguyên vương quốc phương Bắc bị các đạo quân Át-sua triệt hạ. Vài tư tế trốn thoát được lánh nạn sang vương quốc phương Nam và đem theo bản văn của mình. Bản văn này được cất dấu trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vào triều đại Mơ-na-sê, vị vua vô đạo (687-642 tCn.), bị quên lãng một thời gian dài và sau cùng được khám phá vào lúc trùng tu Đền Thờ. Lúc đó, nó được dùng làm nền tảng cho cuộc cải cách tôn giáo của vua Giô-si-gia-hu (622 tCn.). Bản văn này đã được duyệt xét lại và bổ túc. Đây là điều mà người ta gọi ấn bản thứ hai của sách Đệ Nhị Luật.

    Những huấn lệnh Tin Mừng cũng xuất hiện như những quy luật sống. Đức Giê-su sử dụng hầu như cùng những từ ngữ như ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật, nhưng Ngài cho từ “sống” ý nghĩa tròn đầy của nó, vượt quá không gian và thời gian của cuộc sống trần thế này, khi nói với chàng thanh niên giàu có: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19: 16-17).

    1. Lề Luật bất khả xâm phạm

    “Anh em đừng thêm gì…cũng đừng bớt gì…”. Lời căn dặn kép này nói lên nỗi bận lòng của nhà lập pháp. Biểu thức này được gặp thấy trong Bộ Luật của vua Hammourabi ở Ba-by-lon vào thế kỷ XVIII tCN, cũng như trong những hiệp ước giữa các dân tộc. Người ta cũng gặp thấy biểu thức này trong Tân Ước, như câu sau cùng của sách Khải Huyền: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy những tai ương mô tả trong sách này! Ai mà bớt điều gì trong các lời của sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng nơi cây Sự Sống và Thành Thánh, là cây và thành được mô tả trong sách này” (Kh 22: 18-19).

    Thật ra ông Mô-sê không là người công bố tính bất khả xâm phạm của Lề Luật, ông chỉ là người trung gian truyền đạt những huấn lệnh của Thiên Chúa.

    1. Lề Luật là lẽ khôn ngoan

    Lề Luật là lẽ khôn ngoan cho mỗi người, vì nó là kim chỉ nam cho cuộc sống đức hạnh (đây là ý nghĩa của từ Híp-ri To-ra để chỉ Lề Luật).

    Trong toàn bộ đoạn văn này, tác giả đặt trên môi miệng của ông Mô-sê ngôn từ của một bậc hiền nhân; văn phong rất gần với sách Châm Ngôn và sách Ba-rúc: lời mời gọi để tâm suy niệm lẽ khôn ngoan được diễn tả bằng những ngôn từ tương tự: “Nghe đi nào, hỡi Ít-ra-en, những mệnh lệnh tặng ban sự sống, hãy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan. Đức khôn ngoan là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật, Luật tồn tại cho đến muôn đời. Ai gắn bó với Lề Luật thì sẽ được sống; còn ai lìa bỏ ắt sẽ phải chết” (Br 3: 9; 4: 1).

    1. Nhờ Lề Luật, dân Ít-ra-en được xem là một dân tộc vĩ đại:

    “Khi nghe nói về tất cả những chỉ thị đó, họ sẽ bảo rằng: Dân tộc vĩ đại này chỉ có thể là một dân khôn ngoan và thông minh”. Sứ mạng phổ quát của dân Ít-ra-en không là nỗi bận lòng ưu tiên của sách Đệ Nhị Luật, sách đặt trọng tâm vào Giao Ước. Vì thế, sứ mạng phổ quát này rất hiếm kể ra trong tác phẩm này. Chính nhờ tính siêu việt của Lề Luật mà dân tộc này trở nên một dân mẫu mực và dân tộc nhỏ bé này được gọi là “một dân tộc vĩ đại”. Chúng ta gặp lại ở đây văn phong nồng nàn và cường điệu, nét đặc trưng của vài đoạn văn Đệ Nhị Luật. Dân Ít-ra-en bé nhỏ so với các đế quốc to lớn chung quanh, mặc dầu thế, được gọi “một dân tộc vĩ đại” vì Lề Luật đảm bảo cho nó tính ưu việt tinh thần trên mọi dân nước.

    1. Nhờ Lề Luật, Thiên Chúa ở gần dân

    “Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người”. Lời khẳng định này đáp trả cho câu hỏi đầy xao xuyến của dân Ít-ra-en. Các thần linh ngoại giáo được đúc tượng vẽ hình xem ra ở gần với các tín đồ hơn vị Thiên Chúa phi vật chất, không hình không ảnh của dân Ít-ra-en, đến mức Ngài không cho phép bất cứ hình tượng nào được đúc hoặc vẽ để tôn kính Ngài. Thật ra, Thiên Chúa của Ít-ra-en rất gần với những ai kêu cầu Ngài. Hiệu quả của lời cầu nguyện đó là làm cho Thiên Chúa hiện diện ở trong lòng của mỗi người tín hữu.

    Vả lại, trọng tâm của sách Đệ Nhị Luật là ý tưởng về một Thiên Chúa yêu thương dân Ngài và vui thích ở giữa họ, một vị Thiên Chúa mà họ phải “yêu mến hết lòng hết dạ”. Nói cho cùng, luật của Thiên Chúa không áp đặt từ bên ngoài vì “Lời rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành”, lời này chúng ta đọc thấy ở Đnl 30: 14, một bản văn loan báo giáo huấn Tin Mừng.

    BÀI ĐỌC II (Gc 1: 17-18, 21-22, 27)

    Chúng ta bắt đầu đọc thư thánh Gia-cô-bê trong suốt năm Chúa Nhật. Chung chung, tác giả của bức thư này được cho là thánh Gia-cô-bê, người anh em họ của Đức Giê-su. Thánh nhân là người lãnh đạo đầu tiên của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem; vì thế, ngài không phải là thánh Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại, ở đầu thư, tác giả không giới thiệu mình là Tông Đồ: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô” (Gc 1: 1). Để phân biệt hai vị thánh tiên khởi có cùng tên Gia-cô-bê này, người ta đặt biệt danh cho Gia-cô-bê Tông Đồ là “Gia-cô-bê Tiền”, và Gia-cô-bê anh em họ của Đức Giê-su là “Gia-cô-bê Hậu”. Chính Gia-cô-bê Hậu mà Đức Giê-su đã hiện ra sau khi Ngài sống lại, theo thánh Phao-lô (1Cr 15: 6-7) và thánh nhân đã bị ném đá vào năm 62 do sự xúi dục của vị Thượng Tế đương nhiệm vào thời đó.

    Thư được gởi cho các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái, sống rải rác trong thế giới Hy lạp-Rô ma (2: 2). Chung chung, người ta nghĩ rằng bức thư được viết vào khoảng giữa năm 58 và 62.

    Những lời khuyên trong thư cấu thành nền tảng giáo lý theo cung giọng cổ xưa: không có bất kỳ ám chỉ nào đến việc sống chung giữa những Ki-tô hữu gốc Do thái và những Ki-tô hữu gốc lương dân. Giáo huấn được định vị vào truyền thống của các sách minh triết Cựu Ước, được sứ điệp Tin Mừng đổi mới và soi sáng.

    1. Chúa Cha, nguồn mạch của mọi ân huệ tốt lành

    Thánh Gia-cô-bê bắt đầu gợi lên nguồn mạch đầu tiên của cuộc sống Ki-tô giáo: mọi ân huệ đều xuất phát từ “Chúa Cha, Đấng tạo dựng muôn tinh tú”, ám chỉ đến công trình tạo dựng: trước hết là ánh sáng, đoạn các vầng sáng lớn nhỏ, trong chương thứ nhất của sách Sáng Thế; nhưng chắc chắn cũng phải được hiểu theo nghĩa của những ánh sáng tâm linh.

     “Nơi Người không hề có sự đổi thay, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng”. Những từ ngữ được sử dụng ở đây khiến chúng ta nghĩ đến sự xoay vần của các tinh tú. Người xưa đồng hóa sự bền vững với chân lý, sự chuyển động với sự sai lạc. Tác giả bảo đảm tấm lòng của Thiên Chúa là muôn đời bền vững, không hề “vật đổi sao dời”.

    1. Người Ki-tô hữu được sinh ra từ Thiên Chúa

     “Người đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thụ tạo của Người”. Các Ki tô hữu được sinh vào cuộc sống đầy ánh sáng nhờ Lời chân lý, ân huệ tuyệt vời nhất của Chúa Cha, tức Chúa Con, là Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, họ trở thành “của đầu mùa trong các loài thọ tạo của Người”.

    Phải chăng tác giả muốn nói rằng các cộng đoàn Ki-tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân muốn ngỏ lời hình thành nên một sự khởi đầu của nhân loại mới? Hay đúng hơn, phải chăng nên hiểu: theo ý muốn của Chúa Cha, những người Ki-tô hữu được xem như là hiến lễ đầu tiên của toàn thể nhân loại? Diễn ngữ “của đầu mùa”gợi lên ý tưởng thánh hiến cho Thiên Chúa.

    1. Đức tin năng động

    Từ lời nhắc nhở đạo lý ngắn gọn về ơn gọi Ki-tô hữu, thánh Gia-cô-bê rút ra những kết luận thực tiễn: quan trọng là phải có một đức tin tích cực và, đặc biệt, phải quan tâm đến những người nghèo, hai lời khuyên được lập đi lập lại như điệp khúc xuyên suốt thư này.

    Thật có ý nghĩa biết bao khi tác giả viện dẫn việc giúp đỡ cô nhi quả phụ như là mẫu gương, đây là lời căn dặn truyền thống Cựu Ước (Xh 22: 21; Đnl 14: 29; 16: 11; 24: 19; Tv 68: 6; 14: 6, 9; Is 1: 7; Gr 7: 6; vân vân). Như vậy, thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh sự liên tục từ luân lý Mô-sê đến luân lý Tin Mừng. Luân lý Tân Ước không hủy bỏ nhưng kiện toàn luân lý Cựu Ước. Đây là sự ghi nhận căn bản của bức thư này. Hành xử như vậy chính là “giữ mình khỏi mọi vết nhơ của thế gian”, cách nói này vang dội Tin Mừng Mác-cô được trích dẫn hôm nay về sự thanh sạch trong lòng.

    TIN MỪNG (Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23)

    Chúng ta lại tiếp tục đọc Tin Mừng Mác-cô, bị gián đoạn để nhường chỗ cho diễn từ “Bánh Hằng Sống” được trích từ Tin Mừng Gioan. Thánh Mác-cô tường thuật cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với những người Biệt Phái và một số kinh sư liên quan đến việc tuân giữ truyền thống các tiền nhân.

    1. Sự thanh sạch và ô uế theo Do thái giáo

    Khi quan sát thấy vài môn đệ của Chúa Giê-su không rửa tay trước khi dùng bữa, những người Biệt Phái và kinh sư phàn nàn với Ngài tại sao các môn đệ của Ngài đã không tuân giữ truyền thống tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa.

    Vấn đề họ nêu lên ở đây không là việc vệ sinh, mà là một nhận định liên hệ đến phượng tự (Lv 11-15; x. 19: 23-25; 20: 7; Đnl 14: 3-21; 19; 5: 1-4). Khái niệm thanh sạch và ô uế chiếm một chỗ quan trọng trong Do thái giáo. Khác với nhị nguyên thuyết của Hy-lạp, Do thái giáo quan niệm con người là một thực thể thống nhất, vì thế, cái thanh sạch hay ô uế bên ngoài là dấu chỉ cho thấy cái thanh sạch hay ô uế bên trong. Vì thế, chẳng lạ gì khi sách Lê-vi trong bộ Cựu Ước quy định những gì thanh sạch và những gì không thanh sạch.

    Thật ra, mọi dân tộc đều đã phân biệt những cử chỉ thanh sạch và không thanh sạch để thiết lập ranh giới giữa phàm tục và thánh thiêng. Trong não trạng người xưa, điều ô uế và điều thánh thiêng là hai khái niệm liên kết mật thiết với nhau. Cả hai đều hàm chứa một sức mạnh huyền bí và đáng sợ, được phát huy do sự tiếp xúc. Cái ô uế và cái thánh thiêng đều “không thể đụng chạm được”; kẻ nào tiếp xúc với hai “cái” này, kẻ ấy cũng trở thành “không thể đụng chạm đến được”. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy: người ta không thể dụng chạm đến Hòm Bia Giao Ước, cũng như không được đụng chạm đến tử thi; người mẹ phải được thanh tẩy sau khi sinh con, vì việc sinh nở đã làm cho bà ra ô uế, cũng như vị tư tế phải thay y phục sau khi dâng hy lễ, vì hy lễ đã làm cho vị này ra thánh thiêng. Đây không phải là một sự hoen uế về thể lý hoặc luân lý, và sự thánh thiện đạt được như thế không phải là một nhân đức của tâm hồn, đó là những “trạng thái”, mà người ta phải ra khỏi để trở về đời sống thông thường (R. de Vaux).

    Sau cuộc lưu đày, người Do thái đã mất đi nền độc lập quốc gia nên họ càng gắn bó hơn nữa vào chủ nghĩa đặc thù của dân tộc mình và đã tăng thêm những nghi thức cho phép họ phân biệt mình chừng nào có thể với thế giới ngoại giáo. Qua những nét đặc thù này, họ nhấn mạnh phẩm chất của dân tộc mình là dân được Thiên Chúa chọn và tách riêng khỏi mọi dân tộc khác, vì thế họ không được sống như dân ngoại.

    Thánh Mác-cô chen vào cuộc tranh luận lời giải thích dài dòng để giúp người đọc hiểu những tập tục tiền nhân mà người Do thái tuân giữ hằng ngày (7: 3-4). Điều này để lộ căn tính của độc giả, họ không là người Ki-tô hữu gốc Do thái nhưng là người Ki-tô hữu gốc lương dân.

    1. Sự thanh sạch và ô uế theo Chúa Giê-su

    Chẳng cần quanh co, Chúa Giê-su vạch trần thói sống đạo giả hình của họ. Đây là lời tố cáo rất nghiêm khắc. “Giả hình” là từ vựng kịch nghệ được dùng để chỉ những diễn viên mang mặt nạ theo nhân vật mà mình diễn. Giả hình là người mà ngôn hành bất nhất, bộ điệu cử chỉ bên ngoài không đi đôi với tâm tình bên trong, cuộc đời chỉ là trò diễn kịch bên ngoài để che dấu con người thật bên trong.

    Vì những đối thủ của Ngài là những người am tường Kinh Thánh, Chúa Giê-su viện dẫn lời ngôn sứ I-sai-a để áp dụng vào lối sống đạo của họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư chỉ phụng sự Thiên Chúa bằng môi miệng nhưng không thật lòng với Ngài. Họ tuân giữ các nghi thức thanh tẩy bên ngoài mà bỏ qua các huấn lệnh của Thiên Chúa. Để minh chứng cho lời kết án của mình, Chúa Giê-su liền trưng ra một ví dụ súc tích về các lời khấn hứa (7: 10-13). Đây là một lãnh vực dễ bị lạm dụng nhiều nhất. Dựa vào một thứ “chủ nghĩa vị luật” quen thuộc, đám Pha-ri-sêu đã bẻ cong một điểm then chốt của Lời Thiên Chúa: sự giúp đỡ cha mẹ trong Thập Giới để đạt được những tặng phẩm dâng cúng cho Đền Thờ. Chắc chắn qua việc lèo lái tinh vi này, những kẻ nhiệt tình bênh vực truyền thống đã rơi vào tình trạng hủy bỏ Lời Thiên Chúa.

    Chúa Giê-su không giới hạn cuộc tranh luận chỉ với những người này, nhưng còn mở rộng cuộc tranh luận tới quần chúng ngõ hầu có thể loan truyền sứ điệp của Ngài một cách có hiệu quả hơn: “Sau đó, Đức Giê-su lại gọi đám đông tới mà bảo..”. Trước hết Ngài tuyên bố rằng “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được”: Đức Giê-su xem ra loại bỏ luật Cựu Ước liên quan đến sự ô uế bên ngoài và những quy định về thức ăn đồ uống (x. Lv 11; Đnl 14), luật này không chỉ chiếm nhiều phân đoạn của bộ Ngũ Thư nhưng cũng đã trực tiếp làm bận lòng những người trong cuộc sống thường ngày của mình.

    Sau khi đã phê phán lối sống đạo giả hình, chỉ biết tuân giữ cái bên ngoài, Chúa Giê-su tập trung vào “cái bên trong”. Chính cái gì xuất phát từ trong lòng con người mới làm cho con người ra ô uế, tức là chính từ tà tâm mà mọi ý đồ đen tối nham hiểm xuất ra. Việc phân biệt con người giữa cái bên ngoài và cái bên trong xem ra rất mới mẽ đối với truyền thống Do thái giáo.

    1. Ý nghĩa của cuộc tranh luận này

    Bản văn này chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt. Điểm nhấn thần học mà tác giả nhắm đến là luật Cựu Ước trong mối tương quan với Đức Giê-su. Ngài loại bỏ truyền thống Pha-ri-sêu chung quanh việc tuân giữ luật nghi thức như rửa tay, lên án việc lấy giáo huấn phàm nhân thay thế huấn lệnh của Thiên Chúa bằng cách sử dụng luật như cách thức trốn tránh bổn phận của mình (thực hành luật co-ban), và Ngài hủy bỏ luật thức ăn của Cựu Ước. Hậu ý của cuộc tranh luận này đòi hỏi Ki-tô học mặc nhiên, Đức Giê-su là người có thẩm quyền giải thích luật Cựu Ước.

    Ngoài ra, đoạn văn này đã được tác giả Mác-cô đặt ngay trước đoạn tường thuật hoạt động của Đức Giê-su bên đất dân ngoại. Rõ ràng tác giả đã dùng bản văn này như một lời công bố nguyên tắc: Đức Giê-su đã loại bỏ sự phân biệt giữa “thanh sạch và ô uế”. Không có hàng rào nào mà lại do Thiên Chúa muốn có giữa loài người. Chỉ có những hàng rào đã được loài người dựng lên (mà như thế là không biết ý muốn của Thiên Chúa), mà bây giờ phải lật đổ, bởi vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” (1: 15).

    Đức Giê-su bắt đầu hủy bỏ ranh giới giữa những thức ăn thanh sạch và những thức ăn ô uế, cuộc cách mạng này sẽ được các Tông Đồ (x. Cv 10: 10) và thánh Phao-lô (x. 1Cr 6: 12 và 10: 12-20) tiếp tục. Việc mở ra cho thế giới lương dân đòi buộc phải trả bằng giá này và còn hơn nữa việc nội tâm hóa luật luân lý mà Đức Giê-su không ngừng công bố.

    Về mục lục

    .

    BÁC ÁI TRONG LỀ LUẬT

    Anna Cỏ May

    Trong các trường học, nơi các công ty, xí nghiệp hay những quán vui chơi… luôn có những nội quy yêu cầu dành cho mọi người khi đến học, làm việc hay vui chơi… Tất cả những nội quy ấy nhằm phục vụ và đem lại sự an toàn cho mọi người. Những người Pharisêu cũng đã sống và giữ luật tiền nhân, họ đã giữ luật ấy với tâm tình thái độ gì?

    Sau những chuyến đi cùng với Thầy Giêsu, các môn đệ đã mệt mỏi và đói. Trong khi dùng bữa, tay các môn đệ còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. Thấy vậy, các người Pharisêu và các kinh sư đã hỏi Chúa Giêsu: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” (Mc 7,6). Họ trung thành giữ luật và muốn người khác cũng phải giữ luật như họ. Họ không còn một lý do nào khác hơn cho việc giữ luật. Và dường như không có sự tự do của con người trong những luật ấy. Một khi có ai đến nơi đó sống, điều phải giữ luật tiền nhân.

    Đứng trước câu hỏi của nhóm Pharisêu và các kinh sư, Chúa đã lấy những lời của Ngôn sứ Isaia mà nói với họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng lại xa ta” (Mc 7,6).  Đối với Chúa,  họ đã gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì những truyền thống của con người.

    Bấy giờ Chúa gọi đám đông lại, mà nói cho họ hay về những điều gây ra sự ô uế thật sự và xuất phát từ đâu, Ngài nói: “ Không có cái gì từ bên ngoài vào vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,15). Vậy cái từ bên ngoài là gì? Đó là đồ ăn, nước uống… Tất cả những  thứ  đó vào bụng rồi bị thải ra ngoài, nó đâu vào tấm lòng của con người hay vào trong lương tâm. Những thứ ấy chỉ nuôi thân xác mà thôi. Cái bên trong thật nguy hiểm, đó chính là những suy nghĩ, ý định xấu như: gian dối, kiêu ngạo, ngông cuồng…”(x. Mc 7,21-23). Đó là những thứ dẫn mọi người đến chỗ ô uế, ô uế cả thân xác lẫn linh hồn. Bởi vì suy nghĩ, ý định xấu sẽ đưa ta đến hành động xấu. Mặt khác, thân phận chúng ta rất yếu đuối, dễ theo điều xấu hơn điều tốt.

    Thiên Chúa yêu thương con người bằng tấm lòng của người cha nhân hậu. Chúa muốn nhắn nhủ với con cái của Ngài là tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa bằng trái tim tình yêu, bằng tấm lòng bác ái và không lệ thuộc vào các lề luật. Lời mời gọi ấy còn tha thiết hơn trong bối cảnh xã hội hiện nay. Một xã hội đang dửng dưng, vô cảm trước mạng sống con người.

    Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con những lề luật yêu thương qua các Bí tích, các điều răn và các mối phúc. Chúa cho chúng con được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của Gíáo hội. Xin cho chúng con biết sống trong tâm tình biết ơn,và một tinh thần sống và tuân giữ lề luật trong tình bác ái yêu thương. Nhờ đó danh Cha được rạng ngời và chúng con cùng mọi người được ơn cứu độ. Amen.

    Về mục lục

     

    CHỈ NGHE SUÔNG LÀ LỪA DỐI CHÍNH MÌNH

      Lm. Bosco Dương Trung Tín

    “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em. Lời đó có sức cứu độ linh hồn anh em” (Gc 1,21b).

      Thánh Gia-cô-bê khuyên chúng ta rằng: chúng ta hãy khiêm tốn đón nhận Lời Chúa gieo vào lòng chúng ta. Vì sao ? Vì Lời Chúa đó có sức cứu độ linh hồn chúng ta. Ngài còn nói rõ hơn rằng: “Thiên Chúa đã tự ý dùng Lời Chân Lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thọ tạo của Người” (x. Gc 1,18).

     Lời Chân Lý chính là Lời Chúa; chính là Lời Tin Mừng mà Đức Giê-su đã rao giảng và đã được ghi lại trong các sách Phúc Âm. Lời Chúa là Chân Lý cho người tín hữu chúng ta. Lời Chúa đó mới có sức cứu độ linh hồn chúng ta mà thôi.

      Cũng nhờ nhờ Lời Chúa đó mà chúng ta được sinh ra trong phép Rửa Tội, để ta trở nên thọ tạo mới; ta trở nên con Thiên Chúa và đem lại cho chúng ta sự sống đời đời.

      Bởi đó mà ta phải có lòng khiêm tốn như Đức Ma-ri-a để có thể nhận lãnh Lời Chúa; để Lời Chúa được gieo vào lòng chúng ta. Trong biến cố Truyền Tin, Đức Ma-ri-a đã nói: “Này tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (x.Lc 1,38).

    Lời Chúa không phải như lời người phàm, Lời Chúa vượt lên trên sự hiểu biết và sự khôn ngoan của con người chúng ta. Có khi chúng ta khó chấp nhận, vì cách suy nghĩ của chúng ta không hợp với cách suy nghĩ của Thiên Chúa. Một ví dụ điển hình như trường hợp một trinh nữ mà sinh con;Một người nữ chưa ăn ở với người nam mà có thai thì không thể chấp nhận được và cũng không thể lý giải được. Điều này chính đức Ma-ri-a đã thưa với Thiên Thần chứ không phải chúng ta bây giờ. Nhưng “Đó là Lời Chúa”. Đức Ma-ri-a chỉ biết khiêm tốn và xin vâng.

      Quả thực, phải có lòng khiêm tốn và lòng tin thì ta mới có thể đón nhận Lời Chúa được. Và nhờ Lời Chúa đó mà ta được cứu độ, nghĩa là làm cho ta nên thánh nên thiện. Thực thế trong bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy rõ điều đó.

      Lời của tiền nhân; lời của người xưa, qua các câu ca dao, tục ngữ; đó là những đúc kết những kinh nghiệm mà các ngài để lại.Đó là những kinh nghiệm sống ở đời này, chứ không đem lại cho ta sự sống đời đời. Nào là phải rửa tay, rửa bình, rửa chén cho sạch trước khi ăn. Đó chỉ là phép vệ sinh trước khi ăn, chứ không làm cho ta nên thánh nên thiện được. Vì đồ ăn thức uống, nếu xấu, tức là hư thối hay tay chân ta vấy bẩn, có thể làm cho ta đau bụng hay “Tào Tháo đuổi” thôi, chứ không làm cho tâm hồn hay con người của ta nên tốt hay ra xấu xa được.

    Chỉ có, “những gì từ bên trong, từ lòng người phát xuất ra những ý định xấu như: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngồng cuồng”, mới làm cho con người và tâm hồn ta xấu xa mà thôi.

      Thế đấy, Lời Chúa và lời của con người khác xa nhau biết mấy; cách nghĩ của con người cũng “một trời một vực” với cách nghĩ của Thiên Chúa. Cho nên muốn được cứu độ, muốn nên thánh nên thiện ta phải nghe và thực hành Lời Chúa, chứ không có cách nào khác. Việc này phải có “hai thì” chứ “một thì” không được. Tức là NGHE và THỰC HÀNH.

      Nếu ta chỉ có nghe Lời Chúa không thôi, thì Lời Chúa chẳng sinh ích gì cho ta; chẳng làm cho ta nên thánh nên thiện được. Ta mà chỉ NGHE SUÔNG thì ta tự lừa dối chính mình. Thánh Gia-cô-bê nói: “Anh em hãy đem Lời đó là thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (x.Gc 1,22). Tại sao lại là lừa dối chính mình?

     Vì ta cứ tưởng chỉ được rửa tội, chỉ nghe Lời Chúa; ta chỉ đi đọc kinh, dâng lễ hằng ngày hay hàng tuần là chắc mẻm ta được cứu độ; ta sẽ nên thánh nên thiện; ta sẽ được lên thiên đàng. Điều này không đúng. Chúa đâu có nói như vậy bao giờ. Cứ tìm trong các sách Phúc Âm, không có chỗ nào Đức Giê-su nói như thế cả. Chắc chắn 100%.

      Giáo Hội, có lúc cũng đã nói như thế và có khi Linh mục cũng đã giảng như thế. Nói như thế và giảng như thế thì không đúng với ý Chúa, không đúng với Phúc Âm rồi. Nói như thế và giảng như thế là mị dân, là nói dối. Giáo Hội đã có lúc sai lầm và các Linh mục giảng, có hồi cũng đã sai lầm. Cũng vì tiền, vì của; vì danh, vì lợi mà đã bóp méo Lời Chúa; nói dối, nói láo.

      Ngày xưa khi Giáo Hội cần tiền để xây Đền Thờ, đã mại thánh và nói rằng: “Khi một đồng tiền bỏ vào thùng kêu một tiếng keng, là có một linh hồn lên thiên đàng”. Nếu thế thì những tay nhà giàu lên thiên đàng thẳng cẳng hết rồi. Thế nhưng Đức Giê-su lại nói: “Người giàu có khó vào thiên đàng. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào thiên đàng”(x. Mt19, 23-24). Vậy thì ta tin ai đây ? Ai đúng ai sai ? Chúa sai hay Giáo Hội sai?

      Nói đúng ra Chúa không sai và Giáo Hội cũng không sai, chỉ có những con người lãnh đạo Giáo Hội, các Giáo Hoàng; các Giám Mục, các Linh Mục là sai thôi, vì các ngài cũng là những con người. Nên ta phải tin vào Chúa và thực hành Lời Chúa là chắc ăn nhất. Giáo Hội: Giáo Hoàng, Giám Mục hay Linh Mục mà giảng Lời Chúa; giúp ta sống Lời Chúa thì ta hãy theo và thực hành, nếu không ta cũng sẽ bị lừa dối và lừa dối chính mình.

    Những ai có nhiệm vụ giảng Lời Chúa, cũng phải coi lại lời giảng của mình, xem có đi ngược lại với Lời Chúa nói không? Ta có giảng Lời Chúa hay là giảng “lời ta”. Ta mà giảng lời ta thì ta phải lãnh trách nhiệm nặng nề trước mặt Chúa lắm đấy. Vì ta đã bóp méo Lời Chúa; ta đã uốn cong Lời Chúa, mà nói sai, nói bậy; đã lừa dối các tín hữu; không làm cho đức tin của họ mạnh lên; ta không được vào thiên đàng mà còn kéo cả họ xuống với ta nữa thì khốn cho ta biết chừng nào. Ta phải là người đầy tớ trung thành của Chúa và trung thực rao giảng Lời Chúa.

      Quả thực, nếu ta lười biếng không thực hành Lời Chúa, ta chỉ nghe suông, nói suông thì ta tự lừa dối chính mình. Ta cứ đinh ninh rằng, ta đã được rửa tội; ta là Linh mục, hằng ngày, hàng tuần dâng lễ, nghe Lời Chúa; rước Mình Thánh Chúa; lần hạt mân côi, là ta chắc ăn được lên thiên đàng. Nếu đến khi chết, ta lên gặp Chúa, Chúa không cho ta vào thiên đàng, vì ta chưa nên thánh nên thiện. Lúc đó thì “hỡi ôi!!!”; “công cốc, công cò”. Mà ta có cố gắng sống Lời Chúa gì đâu; tại ta nghĩ, tại ta tự lừa dối mình đấy chứ.

      Vậy ta phải thức tỉnh ngay hôm nay; nếu trước ta đã nghĩ như thế thì ngay bây giờ, ta phải bỏ ngay những ý nghĩ đó đi; phải làm lại ngay; phải đổi hướng ngay; ta đã trật hướng, đã đi sai đường rồi. Ta phải nghe và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống của mình ngay kẻo không kịp. Ta phải lấy lòng khiêm tốn và đức tin để đón nhận Lời Chúa gieo vào lòng ta, để ta càng ngày càng nên thánh nên thiện. Ta sẽ an tâm và cố gắng và như thế ta mới nắm chắc sẽ có chiếc vé vào thiên đàng. Đừng có lười lĩnh mà lừa dối chính mình; cũng đừng để ai lừa dối mình, kẻo ta mất cả chì lẫn chài; mất cả đời này lẫn đời sau đấy.

    Về mục lục

     

    TÔN KÍNH BẰNG ĐẦU MÔI CHÓT LƯỠI

    JM. Lam Thy

    Do Thái giáo có những luật lệ rất khắt khe: không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước; không được ăn thịt heo, thịt thú chết ngạt; không được đụng vào xác chết, chạm vào người phong cùi; không được ngồi chung bàn với dân ngoại, không được vào nhà những người bị coi là tội lỗi v.v… Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng. Đối với người Pha-ri-sêu, ai đụng vào, sờ vào hay ăn những đồ cấm kỵ là trở nên ô uế. Nếu chỉ nhìn trên bình diện đời sống trần tục thì nói chung những luật lệ đó  là tốt đẹp; ngoại trừ tục “không được đụng vào xác chết, chạm vào người phong cùi; không được ngồi chung bàn với dân ngoại, không được vào nhà những người bị coi là tội lỗi” nằm trong vấn đề giao tiếp, đối xử trong cộng đồng, thì không thể chấp nhận được.

    Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXII/TN-B – Mc 7, 1-8a.14-15.21-23) trình thuật một nhóm người Pha-ri-sêu và một số kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến. Họ thấy vài môn đệ của Đức Giê-su dùng bữa mà chưa rửa tay; họ liền hỏi Người: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” Vấn đề đặt ra ở đây là động cơ thúc đẩy bọn người Pha-ri-sêu căn vặn Đức Ki-tô. Họ không nói đến vấn đề vệ sinh ăn uống, mà là muốn đặt vấn đề giới luật để gài bẫy đối tượng mà họ đố kỵ, ganh ghét. Hiểu quá rõ về tâm lý đó, nên Đức Ki-tô đã nói thẳng: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: ‘Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân’. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.” (Mc 7, 6-8).

    Đức Giê-su còn nhấn mạnh: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7, 15), Để ý một chút sẽ thấy Đức Ki-tô dùng tiếng ô uế (Từ nguyên: Ô: vẩn, đục; Uế: bẩn thỉu – Ô uế: nhơ nhớp, dơ bẩn – Vd: Cuộc đời ô uế của gái mại dâm) là có ý nói đến cả cuộc sống của con người chớ không chỉ là việc ăn uống (Nếu thức ăn do bàn tay không sạch sẽ đưa vào trong cơ thể sẽ khiến cho cơ thể đau yếu, bệnh tật, chớ không phải làm cho con người ra ô uế). Người còn giải thích rõ hơn: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7, 20-23). Rõ ràng Đức Ki-tô đã cho họ thấy rằng động lực thúc đẩy con người trở thành ô uế là từ nội tâm tư tưởng.

    Rửa tay trước khi ăn là ăn cơm bánh để nuôi dưỡng thể xác. Nhưng điều Chúa muốn nói đến ở đây là ăn của ăn thiêng liêng, mà với của ăn tâm linh thì điều tất yếu là phải rửa sạch mọi vết nhơ của cõi lòng. Điều đáng tiếc là những người đặt nặng những hình thức bên ngoài, thì lại thường coi nhẹ cái cốt lõi bên trong lề luật. Đức Giê-su đã lên án điều ấy: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.” (Mt 23, 23-24). Đức Giê-su đã phê bình đám kinh sư chỉ câu nệ vào Lề Luật nơi những điều phụ thuộc, còn điều quan trọng thì không màng tới. Người nhấn mạnh: “Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ”. Rõ ràng là Người không những chỉ nhắc nhở phải lưu tâm tới điều trọng yếu trong Lề Luật, mà còn nhắc nhở không được bỏ qua những điều thứ yếu.

    Một cách cụ thể thì việc giữ luật không câu nệ theo hình thức bên ngoài, hoặc những tiểu tiết, những điều phụ thuộc, mà hệ tại một cái gì đó sâu xa hơn nhiều, là cái quan trọng nhất trong luật, là cốt tủy của lề luật. Cái đó chính là tuân giữ tinh thần chủ yếu của lề luật bằng cả tấm lòng. Nói cách khác, đó là “Đạo Tại Tâm” vậy. Khi nói “Đạo Tại Tâm”, thường thì cần phải phân biệt nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng: Theo nghĩa chiểu tự thì “Đạo” chỉ có nghĩa là con đường, nhưng theo nghĩa thiêng liêng thì Đạo mang màu sắc tôn giáo. Gộp chung cả 2 nghĩa thì Đạo chính là đường đi nước bước của một tôn giáo. Vậy “Đạo Tại Tâm” là muốn nói đến tinh thần, đường hướng của một tôn giáo cốt ở trong lòng, ở nội tâm, chớ không chỉ ở hình thức bên ngoài (“Nhưng người Do Thái chính hiệu là người Do Thái tận đáy lòng, phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật. Người như thế được Thiên Chúa chứ không phải người phàm khen ngợi.” – Rm 2, 29). Nếu quá câu nệ vào hình thức bên ngoài mà trong lòng trống rỗng, không thành thật, thì đó chỉ là thứ “giả hình”, là “made in Pha-ri-sêu” mà thôi.

    Nói như vậy cũng không có nghĩa là “Đạo Tại Tâm” chỉ giữ đạo ở trong lòng mà không cần giữ các lề luật bên ngoài. Thực ra những lề luật của Ki-tô giáo đều là những quy tắc giúp tín hữu tuân giữ các giới luật của Thiên Chúa, mà giới luật của Thiên Chúa chỉ quy về một điều răn quan trong nhất là Tình Yêu: “Mến Chúa yêu người” (muốn mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” thì phải biết “yêu anh em như yêu chính mình”, đổi lại, chỉ những ai thực sự yêu người như yêu chính mình mới là thực lòng mến Chúa). Do đó, “Đạo Tại Tâm” phải là “sống đạo và thực hành các giới răn của Chúa” với tất cả tấm lòng, chứ không phải chỉ để phô trương bề ngoài. Sống đạo thực sự là yêu mến và tuân giữ các giới răn của Chúa, và thực thi lòng yêu mến đó bằng cách yêu thương giúp đỡ mọi người, nhất là những người sống trong hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật. Sống đạo thực sự là phải tuân giữ và thực hành “những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật”, đồng thời “Các điều này (chủ yếu) vẫn cứ phải làm, mà các điều kia (phụ thuộc) thì không được bỏ” (ibid).

    Tóm lại, Lời Chúa hôm nay muốn nhắc nhở mọi tín hữu hãy tuân giữ các giới răn của Chúa và đem ra thực hành Lời Chúa như lời khuyên của Thánh Gia-cô-bê Tông đồ  khưyên các tín hữu hãy sống đạo bằng cách thực hành, đó là xa tránh tội lỗi và thực hành đức bác ái (“Anh em hãy tẩy trừ mọi điều ô uế, gian ác… Anh em hãy mau mắn lãnh nhận Lời Chúa và đem ra thực hành, chứ đừng nghe suông… Hãy giữ lòng mình khỏi mọi ô uế ở đời này… Hãy thăm viếng cô nhi, quả phụ trong cơn quẫn bách…” – Gc 1, 17 -18.21-22.27). Chúa Giê-su chỉ phê phán bọn kinh sư Pha-ri-sêu giả hình (“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” – Mc 7, 6); Người không hề bác bỏ Lề Luật (“Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” – Mt 5, 18).

    Ôi! Lạy Chúa! Nhìn lại mình, con thấy cách này cách khác con cũng chẳng hơn gì đám người Pha-ri-sêu chỉ câu nệ vào truyền thống, vào hình thức, mà quên đi cái cốt tuỷ bên trong là giới răn của Chúa. Quả thật, không ít lần con đã ”gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7, 8). Ôi! Lạy Chúa! “Xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin chỉ cho con nước bước của Ngài, xin hướng dẫn con trong Chân Lý, xin dạy bảo con những điều cao quý, vì Chúa là Đấng cứu độ con, là Đấng ngày đêm con cậy trông.” (“Xin chỉ cho con” – Hùng Lân – TCCĐ). Cúi xin Chúa đồng hành với con trong mọi tình huống để giúp con luôn chú trọng đến “những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật” mà đem ra thực hành trong suốt đời con. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

     

    TUÂN GIỮ GIỚI RĂN LỀ LUẬT CỦA CHÚA

     Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

    Kỳ thi phổ thông quốc gia vừa qua đã để lại nhiều tai tiếng cho ngành giáo dục và xã hội. Nhiều thí sinh là con của các quan chức tại các tỉnh phía bắc có số điểm cao bất thường. Khi chấm điểm lại, người ta thấy có sự chênh lệch điểm đến không thể tin được, có những học sinh dưới trung bình được nâng thành điểm xuất sắc. Những người có liên quan tìm cách lấp liếm, quanh co chối bỏ trách nhiệm.

    Thưa quý OBACE, xã hội ngày nay đang lan tràn sự gian dối, giả trá từ cấp cao nhất đến những những nhân viên thấp nhất. Người dân dường như không muốn nghe những bài tuyên giáo sáo rỗng, dối trá của những người lãnh đạo, báo đài, bởi vì sự dối trá đang làm mất lòng tin của người dân. Những người có trách nhiệm, họ nói một đàng lại làm một nẻo, ngôn hành bất nhất, khiến cho người dân mất lòng tin, xã hội trở nên rối ren, lộn xộn, vô luật pháp.

    Xã hội Do Thái ngày xưa cũng rơi vào tình trạng rối ren như thế. Những người lãnh đạo chỉ lo vơ vét của cải cho bản thân và gia đình. Đời sống của họ trở nên bê bối, thành gương xấu cho người khác. Họ tùy tiện uốn nắn, thay thế lề luật của Thiên Chúa bằng các thói quen tập tục có lợi cho bản thân. Trách nhiệm chính của các nhà lãnh đạo là giảng dạy, hướng dẫn dân đi theo đúng giới răn lề luật của Chúa. Tuy nhiên, chính họ lại vi phạm lề luật và tìm cách thêm nhiều chi tiết vào luật để biện minh, che đậy cho sự sai trái của mình.

    Tin Mừng hôm nay kể về cách hành xử của những người lãnh đạo Do Thái: Các người Pharisêu trách Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài không giữ tập tục thanh sạch, không thực hành nghi thức thanh tẩy chén bát và rửa tay trước khi vào bàn ăn. Họ cho rằng Chúa Giêsu và các môn đệ đã vi phạm tập tục của tiền nhân. Theo luật tinh sạch của người Do Thái: tất cả đồ ăn, đồ dùng hoặc khi ra ngoài trở về, họ phải thực hiện một nghi thức thanh tẩy: tắm rửa, thay quần áo, rảy nước trên đồ vật… Đây không phải là việc làm theo phép vệ sinh ngày nay, nhưng họ thanh tẩy vì cho rằng có thể dân ngoại hoặc người bị ô uế đã đụng chạm đến các đồ vật ấy.

    Chúa Giêsu đã muốn đưa những người Pharisêu này trở lại với ý nghĩa nguyên thủy của việc thanh tẩy này. Ngài trích lời Isaia để nói với họ: “Dân này tôn kính ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa ta. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm”. Điều Thiên Chúa muốn nơi mỗi người không phải là những hình thức giả dối bên ngoài nhưng phải là tấm lòng thành. Chúa muốn mỗi người cần phải thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi ô uế hơn là những hình thức thanh tẩy bên ngoài. Chúa muốn mỗi người biết đặt ưu tiên cho việc chu toàn giới răn lề luật của Thiên Chúa, sống ngay thẳng công minh, chính trực, hơn là giữ các tập tục vô nghĩa. Nói như thế, Chúa không phủ nhận các giá trị tốt đẹp của tiền nhân, nhưng Chúa chê trách những người nại vào tập tục mà bỏ qua việc chu toàn giới răn lề luật của Thiên Chúa hoặc giữ luật mà không hiểu ý nghĩa của luật.

    Đàng khác, Chúa trách những luật sĩ và biệt phái vì họ đã làm ngơ trước lề luật của Thiên Chúa và dạy người khác làm theo luật của riêng mình. Ví dụ họ cho rằng những ai chỉ cần tuyên bố sẽ dâng cúng tất cả tài sản của mình cho đền thờ, thì người ấy không phải nuôi dưỡng báo hiếu cha mẹ nữa. Đây chắc chắn không phải là điều Thiên Chúa dạy. Thiên chúa đòi buộc mỗi người phải thảo kính cha mẹ. Ai không chu toàn là có lỗi với cha mẹ và có tội trước mặt Thiên Chúa. Nhưng vì muốn cho có nhiều người dâng cúng vào đền thờ mà các luật sĩ và thượng tế đã đặt ra luật như thế.

    Chúa Giêsu gọi đám đông đến và nói cho mọi người một nguyên tắc căn bản: Đó là phải tôn trọng tiếng lương tâm trong sáng, nghe và làm theo tiếng nhắc bảo của lương tâm. Chúa Giêsu dùng cách so sánh cụ thể: “Không phải những cái từ bên ngoài vào trong con người có thể làm cho họ ra ô uế, mà chỉ những cái từ trong xuất ra mới có thể làm cho con người ra ô uế mà thôi”. Chúa Giêsu cũng giải thích thêm “cái bên trong”  đó là: “tư tưởng xấu, tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng nó phát xuất từ trong tâm hồn và làm cho tâm hồn ô uế”. Đúng như vậy, tư tưởng sẽ chi phối hành động. Tư tưởng xấu xa mờ ám, thì dẫn đến hành động xấu xa gian dối; tư tưởng suy nghĩ quanh co thì hành động cũng quanh co không ngay thẳng; tư tưởng dâm ô thì từ lời nói đến hành động sẽ là những điều dâm ô.

    Đối với Chúa Giêsu, điều quan trọng là mỗi người cần thanh tẩy, điều chỉnh suy nghĩ của mình trước; thanh tẩy từ trong tâm hồn. Thay đổi được suy nghĩ, sẽ thay đổi được hành động và đời sống. Suy nghĩ những điều tốt đẹp, tích cực thì sẽ hành động tích cực tốt đẹp cho người khác. Suy nghĩ những điều thánh thiện, thì cuộc sống và việc làm sẽ thánh thiện.

    Ngày xưa trong Cựu ước, Thiên Chúa cũng đã dùng ông Môsê để cánh báo về việc giữ giới răn lề luật của Thiên Chúa sao cho cho tinh ròng, đừng tự ý thêm hoặc bớt lề luật Chúa. Vì lề luật của Thiên Chúa là do ý muốn của Thiên Chúa. Ai tuân giữ cách vuông tròn, đó là người khôn ngoan và lề luật của Chúa sẽ gìn giữ người ấy. Hơn nữa, Môsê còn kêu gọi mọi người hãy luôn cảm thấy tự hào vì không có dân tộc nào được Thiên Chúa ưu ái ban lề luật của Ngài như Chúa đã ban cho dân Do Thái. Tuy nhiên, những lời căn dặn của Môsê đã không được người Do thái lưu ý. Họ tìm cách sửa luật Chúa theo ý muốn và theo lợi ích riêng của mình, biến việc giữ luật chỉ còn là hình thức bên ngoài không còn ý nghĩa ban đầu. Sau nhiều thế kỷ, người Do thái đã thêm vào lề luật của Chúa nhiều chi tiết và nhiều các thứ luật khác khiến cho đa số người dân không thể phân biệt đâu là giới răn của Chúa đâu là luật của các thượng tế, luật sĩ.

    Thưa quý OBACE, không chỉ những người Do thái ngày xưa, mà chúng ta hôm nay cũng bị tình trạng như thế. Nhiều người trong chúng ta tin Chúa, theo Chúa nhưng không muốn giữ lề luật của Thiên chúa. Nhiều người cho rằng luật Chúa ngày nay con người không thể giữ được. Vì vậy, họ tìm cách xén gọt luật Chúa cho vừa với ý của mình. Nhiều người khi bước vào cuộc sống hôn nhân, họ cam kết chu toàn luật Chúa và Giáo Hội. Họ công khai nói lên sự thuỷ chung và vĩnh viễn của hôn nhân công giáo. Thế nhưng, có nhiều người đã tìm cách phá vỡ mối dây hôn nhân, tìm cách hủy bỏ lời cam kết. Họ đưa ra rất nhiều lý do để biện mình cho lối sống, suy nghĩ và hành động sai trái của mình. Ngày nay có cả những phong trào nổi lên gây sức ép, nhằm phá hủy luật hôn nhân của Chúa để thay thế bằng luật của con người.

    Sống trong một tổ chức nào cũng cần phải có lề luật để duy trì sự trật tự và giúp phát triển tổ chức đó. Cũng vậy, là thành viên trong gia đình Hội Thánh của Thiên Chúa, chúng ta cũng phải chu toàn những lề luật của Hội Thánh. Vì Hội Thánh là của Chúa Kitô, do Chúa Kitô thiết lập để thi hành sứ mạng Chúa Kitô trao phó. Vậy mà, có những người đang tìm cách gây sức ép để Hội Thánh thay đổi lề luật của mình với lý luận: Luật do Hội Thánh đặt ra thì Hội Thánh có quyền thay đổi. Ví dụ như luật về hôn nhân gia đình, luật bảo vệ sự sống… Luật của Hội Thánh là do ý định của Thiên Chúa, nhằm xây dựng Hội Thánh. Vì thế, Hội Thánh không thể đi ngược với ý định của Chúa Kitô.

    Trong một cộng đoàn nhỏ hơn là giáo xứ, gia đình cũng cần có những quy định phù hợp với lề luật của Thiên chúa nhằm bảo vệ, củng cố và phát triển cộng đoàn và gia đình. Vì thế, mỗi người đừng vì ý thích cá nhân, cũng đừng nhân danh tự do cá nhân hoặc quyền lợi nào đó mà coi thường luật Chúa và Giáo hội hoặc những quy định của cộng đoàn và gia đình. Vì tất cả những lề luật của Thiên chúa và Hội Thánh là nhằm giúp ta tiến triển và đạt tới đời sống thánh. Những quy định trong giáo xứ và gia đình là chuẩn mực, nhằm giúp ta hoàn thiện con người mình mà thôi.

    Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra ý Chúa qua các giới răn lề luật của Chúa và giúp chúng ta thi hành, chu toàn luật Chúa cách vui tươi và tự do. Amen.

    Về mục lục

     

    THIỆN CĂN HỆ TẠI LÒNG TA

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Hôm nay, Chúa Nhật XXII thường niên B, chúng ta tìm hiểu về Luật Chúa là luật đích thực của tôn giáo. Luật này được kiện toàn trong bí tích tình yêu và chỉ tồn tại trong tâm hồn tinh truyền và thánh thiện. Vì thế, các bài đọc hôm nay hướng dẫn chúng ta suy tư về cách thế tốt nhất để tuân giữ luật Chúa, nhờ đó chúng ta đạt tới ơn cứu độ.

    Trong bài đọc I, Môsê nhắc nhở dân người về các huấn lệnh của Thiên Chúa và yêu cầu họ phải kiên tâm bền chí tuân giữ để được sống hạnh phúc. Ông cũng nghiêm túc lưu ý họ không được thêm hoặc bớt điều gì. Tuy nhiên, lời cảnh báo này đã không được thực hiện một cách nghiêm túc, bởi vì sau này những người Pharisêu đã biến 10 điều răn thành 613 khoản quy định tỉ mỉ.
    Vì thế, họ đã làm cho cuộc sống trở nên khó khăn và phức tạp một cách thái quá đối với dân Chúa. Đó là lý do tại sao trong thư Galát chương 3, thánh Phaolô đã đối diện với trường hợp như thế nên ngài đã mạnh mẽ chống lại “lề luật.” Ngài không hoàn toàn lên án lề luật, nhưng lên án cách thức mà những người Pharisêu quan niệm, lạm dụng và trình bày lề luật. Ngài cho rằng tinh thần Lề Luật còn quan trọng hơn các chữ viết.

    Cũng thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chống lại nhóm Biệt Phái vì sự giả hình của họ. Họ không bao giờ giữ luật mà họ đã đề ra cho dân. Đây là cách thức nguy hiểm của đời sống mà chúng ta (những linh mục, tu sĩ và những Pharisêu thời nay) phải cẩn thận xa tránh. Chúng ta không được sống một cuộc sống giả hình, cũng như làm cho cuộc sống trở nên phức tạp hơn cho người khác; hay đôi khi chúng ta chỉ thích bắt bẻ, chỉ trích và lên án người khác, nhưng lại không ý thức về giới hạn của mình.

    Đặc biệt, trong khi nhóm Biệt Phái chỉ chú trọng đến hình thức và nệ luật bên ngoài, Chúa Giêsu chỉ cho thấy căn nguyên sâu xa nhất của mọi sự xấu xa và thiện hảo khi Người nói: “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,15). Người mời gọi chúng ta phải kiểm điểm chính mình. Bởi lẽ, từ bên trong, nơi lòng chúng ta, những ý định xấu xa, ghen ghét, kiêu ngạo, những khuynh hướng đồi bại mà chúng ta lưu giữ trong lòng thực sự là những gì biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta là ai. Chúng là những tật xấu làm cho chúng ta trở nên xấu xa. Chúng ta phải loại trừ chúng trước khi chúng cắm rễ sâu và làm cho toàn bộ con người chúng ta ra hư hỏng. Chúng là những kẻ thù đích thực và ẩn mặt mà chúng ta phải chiến đấu và chiến thắng mỗi ngày.

    Phẩm chất của đời sống chúng ta được đo lường nhờ phẩm chất của tâm trí chúng ta. Nếu tâm trí chúng ta bị phá hoại và bệnh hoạn, thân xác chúng ta sẽ bị bệnh hoạn gấp trăm lần, ngay cả khi chúng ta không ý thức điều đó. Như thế, điều quan trọng nhất mà Thiên Chúa cần nơi chúng ta là tâm hồn trong sạch như Chúa Kitô dạy chúng ta: “Phúc thay những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).

    Cách thức tốt nhất để trung thành với huấn lệnh Thiên Chúa là để cho tâm hồn chúng ta được biến đổi nhờ Lời Chúa. Như thế, thay vì quá chú tâm đến những chữ viết của lề luật và sự trong sạch thể lý, chúng ta nên chú ý tới lời khuyên của Phaolô: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Thánh ý Thiên Chúa chính là luật Người. Luật Chúa phải thúc đẩy chúng ta yêu mến người khác và làm lành lánh dữ. Luật Chúa phải kêu gọi sự sám hối đích thực và ước muốn chân thành để tha thứ cho người khác. Luật Chúa giữ chúng ta vững vàng trong đức tin. Tắt một lời, luật Chúa phải thúc đẩy chúng ta chỉ theo đuổi điều tốt lành, phải đạo, cao thượng và thánh thiện.

    Hôm nay, thánh Giacôbê Tông Đồ đòi hỏi chúng ta nơi bài đọc II: “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em… Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành” (Gc 1,21-22).

    Vì thế, cách tốt nhất để thực hiện điều này là chúng ta hãy có gắng sống đức tin của mình vào trong đời sống hằng ngày, hãy diễn tả nó qua cách thức chúng ta sống, yêu và hành xử với người khác. Cuối cùng, Thánh Vịnh Gia nhắc nhở chúng ta rằng người công chính sẽ sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa chúng ta thực hành Lời Chúa và các giới răn với một tâm hồn trong sạch và chân thành. Vì thế, chúng ta hãy khiêm tốm cầu nguyện như vua Đavít: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ” (Tv 51,12). Amen!

    Về mục lục

     

    AI LÀ NGƯỜI PHARISIEU?

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

    Chúng ta thường nói người Pharisieu là đạo đức giả! Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 7:1-8, 14-15, 21-23) giúp chúng ta hiểu nhiệm vụ của người Pharisieu trong Do Thái Giáo. Tại sao chúa Giesu và nhiều người lại ghét thái độ giả hình của người Phrisieu? Ai là Pharisieu trong thời Chúa Giesu và thời đại ngày nay?

     Người Pharisieu muốn cho lề luật được sống động nên đã cố gắng làm cho lề luật thích hợp với mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Giáo lý của người Pharisieu thì không trái với giáo lý Kito giáo. Thời chúa Giesu, người Pharisieu thuộc phe “bảo thủ” trong Do Thái Giáo. Họ tỏ ra rất đạo đức, giữ luật Torah và Talmud thật khít khao. Họ là thủ lãnh phe đa số và được những tín đồ ngoan đạo, nhiệt thành nể trọng. Đối lập với  phe này là phái Sa Đóc, đại diện phái “tự do” trong Do Thái Giáo. Người Sa Đóc thì bình dân và nổi tiềng trong phái thượng lưu xã hội nhưng là thiểu số. Pharisieu và Sa Đóc được nhắc tới trong tin mừng Mathieu (Mt 3:7-10), khi Gioan Tiền Hô kết án họ lúc họ đến xin chịu phép rửa: “ Loài rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp ráng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa trái xứng với lòng xám hối…. Tại sao Gioan lại mắng những người Pharisieu là rắn độc, là quân giả hình nhân đức? 

     Chúa Giesu cũng dùng những lời trách móc rất nặng để chửi những người Pharisieu. Trong Mathieu 16:6 Chúa đã cảnh giác các môn đệ: “Hãy để ý đến căn nguyên của dân Pharisieu và Sa Đóc.” Người môn đệ phải để ý đến cái gì? Có phải cái tính vô đạo đức của dân Pharisieu và Sa Đóc không?

    GIỮ LỀ LUẬT THẬT KHẮT KHE

     Thời chúa Giesu, người Pharisieu thường cổ động cách giữ luật thật khit khao và sống đạo hàng ngày thực sự trong lòng. Nhưng một số người chỉ giữ đạo bề ngoài và bị những Pharisieu khác đả kích. Tiên tri Isaiah cũng từng gọi họ là kẻ giả hình nhân đức. Chúa Giesu cũng phản đối việc cắt nghĩa luật của họ, nhưng Chúa không kết án chủ thuyết của họ hoặc tất cả những người Pharisieu.

     Người Pharisieu “dựa vào chính họ, coi họ là người công chính.” Họ tin rằng bồn phận của họ là làm điều mà Thiên Chúa truyền và cấm điều Thiên Chúa cấm. Những điều làm được và gìn giữ được sẽ tiến dâng lên Thiên Chúa. Họ tự cho mình là người công chính, khinh miệt tất cả những ai không tuân giữ luật theo cách của họ. Họ không ngồi ăn với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi là những kẻ xấu. Họ xì xào nói xấu những người ngồi ăn với chúa Giesu. Thấy vậy Chúa bèn nói: “Người khỏe mạnh không cần bác sĩ mà là kẻ yếu đau bệnh hoạn. Ta đến không vì người công chính nhưng vì kẻ tội lỗi cần ăn năn thống hối” (Lc 5:31-32).

    THỰC TÂM QUAN TRONG HƠN BỀ NGOÀI

    Đoạn Tin Mừng hôm nay (Mc 7:1-8, 14-15, 21-23) cho biết những người Pharisieu và những nhà thông luật đến từ Jerusalem là để điều tra về Chúa Giesu. Chúa Giesu đã bãi bỏ cách thực hành nghi thức thanh tẩy và phân biệt thức ăn sạch và dơ theo truyền thống tôn giáo nên Chúa muốn thi hành luật một cách thông thoáng hơn. Thấy một số môn đệ ngồi vào bàn ăn mà không rửa tay (Mc 7:2) mấy ông Pharisieu và thông luật bèn hạch hỏi chúa Giesu: “Tại sao các đệ tử của ông không giữ truyền thống của các tổ phụ, ngồi ăn với hai bàn tay dơ?” (c.5). Chúa Giesu đã không trả lời nhưng gọi mấy tên Pharisieu và nhà thông luật đó là “quân giả hình nhân đức” (c.6). Nhắc lời Isaiah, chúa Giesu lột mặt nạ họ. Các ông bám lấy nguyên tắc của người đời rồi tin tưởng vào truyền thống của các tổ phụ mà quên đi lề luật của Thiên Chúa (c.8). Chống lại cách hành đạo kiểu bề ngoài, theo thuyết thanh tẩy (Mc 7:2-5), hẹp hỏi của các Pharisieu, chỉ giữ các giới răn thờ phương bằng môi miệng (7:6-7), Chúa Giesu đã lấy luật của Thiên Chúa phản bác lại (7:8-13): “Các ông đã gạt bỏ giới răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm….”

     Chúa còn nêu lên sự tương phản giữa luật và cách cắt nghĩa luật của người Pharisieu. Thực vậy, Macco 7:14-15 đã để luật qua một bên mà vẫn tôn trọng thức ăn sạch và bần. Quan điểm của chúa Giesu rất rõ ràng, chính đa số các Pharisieu cũng công nhận cái tâm mình, lòng mình quan trọng hơn vẻ bề ngoài.

    Ý NIỆM TỘI CỦA DÂN PHARISIEU

     Chúa Giesu bác bỏ quan niệm tội của người Pharisieu và các nhà thông luật. Đối với chúa Giesu, tội từ tâm mà ra. Không biết phân biệt các loại thức ăn không phải là tội. Thái độ của Chúa về tội là quan niệm về ngày Sabbath. Giữ luật mà không có lòng trắc ẩn cảm thông và yêu thương thì thiếu lòng nhân đạo và không có tình người.

     Chúng ta có thể hiểu dễ dàng sứ điệp của Chúa Giesu muốn nói với các Pharisieu và những nhà thông luật (c.1-8) cũng như đám đông: Tất cả các ngươi kể cả các môn đệ (c.21-23), hãy nghe ta đây, để mà hiều (c.14-15). Đây là tin vui cho tất cả mọi người, là Thiên Chúa không cứng ngắc theo sát luật. Người uyển chuyển, bởi vì qua đức Giesu Kito, Thiên Chúa Cha đã cho chúng ta một đời sống mới. Không nên quá lo lắng làm sao để vâng theo luật lệ và giữ mình thanh sạch.

    Giữ mình thanh sạch là chúng ta tự do dùng bàn tay mình để phụng sự tha nhân. Chúng ta có thể bị dơ bẩn trở lại, nhưng Thiên Chúa cho chúng ta tự do giữ luật, lại ban cho chúng ta ân sủng. Đây cũng là một tin vui chúng ta phải chia sẻ khi chúng ta phụng sự những người có tâm hồn giữ luật, đám đông, và cả những môn đệ chúa Giesu ở chung quanh ta.

    NGƯỜI PHARISIEU THỜI ĐẠI

    Ai là Pharisieu và đệ tử của họ ở thời đại ngày nay? Pharisieu thời đại và đệ tử của họ là những người rất sùng đạo và giữ phẩm hạnh nhưng cũng hay ganh ghét. Họ cố gắng giữ luật Chúa nhưng lại hay phân bua khi thực hành đạo. Họ rất siêng năng đi lễ Chúa Nhật. Họ là những công dân làm việc chăm chỉ, bề ngoài tỏ ra rất ngay thẳng. Họ giữ mình tránh các tội ác và luôn luôn giảng giải về luân lý và luật lệ, nhưng lại có đặc điểm hay phân bì ganh tỵ.

     Ngoài ra họ không tin là ơn cứu độ phụ thuộc vào hành động của chúa Kito. Họ cho rằng ơn cứu độ là do cố gắng của con người và những điều mà kẻ tội lỗi thêm vào công việc của chúa Kito.

     Ngược lại,  người Kito hữu thực sự là những người tin và tuyên xưng chúa Kito bị đóng đanh. Không có cách nào khác. Họ tin rằng hành động của chúa Kito là bảo đảm cho ơn cứu độ cho tất cả mọi người mà họ là một đại diện. Chỉ một điều đó làm nổi bật sự khác biệt giữa cứu độ và luận phạt. Họ biết rằng cố gắng của riêng họ tuyệt đối không can dự vào chuyện họ được chấp nhận trước mặt Thiên Chúa. Họ an nghỉ trong một chúa Kito mà thôi khi niềm tin duy nhất của họ là nhận biết công việc của chúa Kito nhờ ân sủng của Thiên Chúa làm bảo đảm cho ơn cứu độ. Chúa Giesu biểu lộ cho chúng ta biết  ai là kẻ tội lỗi cần được chữa lành, ai không tự mình trở thành công chính, ai không có quyền hành Thiên Chúa, ai không đáng được làm bạn với Thiên Chúa, ai là người mà đức Giesu đến để kêu gọi họ thống hối.

     ĐÔI LỜI KẾT- KHOAN DUNG HƠN LUẬN PHẠT

    Đọc bài Tin Mừng hôm nay nói về lề luật, chúng ta nên coi lại Công Đồng Vatican II khai mạc ngày 11-10- 1962. Trong lời mở đầu, Đức Gioan XXIII nói rõ ràng ngài không kêu gọi Vatican II bào chữa cho những sai lầm hay làm sáng tỏ những điểm chính của giáo lý. Ngài nhấn mạnh, Giáo Hội ngày nay phải “ khoan dung hơn là luận phạt.”

     Gioan XXIII khi được yêu cầu, đã từ chối nghe ý kiến của những người chung quanh là những vị “luôn luôn tiên đoán về tương lai xấu.” Ngài goi họ là những “tiên tri bi quan”, thiếu cảm quan về lịch sử mà lịch sử là “thầy dạy đời sống”. Ngài quả quyết, sự quan phòng của Thiên Chúa đã dẫn thế giới đi vào một trật tự mới tốt đẹp hơn trong tình liên đới giữa loài người với nhau. “Và tất cả mọi sự, ngay cả những khác biệt của con người, đều dẫn đưa tới điều thiện vĩ đại hơn của Giáo Hội.”

    “Papa Roncalli” là con người, để ý đến niềm tin của mình hơn là hình ảnh của mình, đến những người chung quanh mình hơn là những ham muốn của mình. Với một nhiệt tình và viễn kiến truyền cảm, ngài nhấn mạnh Giáo Hội cần phải thích ứng với một xã hội đang thay đổi từng giờ và làm cho những sự thật thâm sâu nhất của Giáo Hội được sáng tỏ trong thế giới tân kỳ ngày nay. Ngài biết rằng luật mà không có tình thương, thiếu lòng trắc ẩn cảm thông thì không còn nhân tính.

     Papa Giovanni được vị kế tiếp là Gioan Phaolo II phong chân phước năm 2000, và năm 2014 được vinh thăng hiển thánh cùng với Gioan Phaolo II bởi đức Phan Sinh. Xin ngài tác động lên tâm hồn những Pharisieu và Sa Đốc tân thời là những vị đang sống và sống khỏe trong Giáo Hội và thế giới ngày nay!

    Về mục lục

     

    CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Trong đời sống hằng ngày của mỗi người chúng ta bị ảnh hưởng không ít thì nhiều bởi môi trường và bởi tình cảnh.   Những ảnh hưởng này rất cần thiết và hữu ích, chẳng hạn tại ngã tư đường đèn đỏ báo hiệu chúng ta biết phải dừng lại. Nếu không sẽ có thể đưa đến tai nạn lưu thông và hậu quả trầm trọng. Khi đi chợ hay đến những văn phòng, chúng ta phải xếp hàng chờ đợi.  Khi tới một nơi công cộng hay nhà thờ không được xả rác. Nếu chúng ta ý thức được điều đó thì sẽ bị coi là người kém hiểu biết, hay kém văn minh, nhất là trong xã hội Hoa kỳ này. Ngoài ra chúng ta còn bị chi phối bởi luật lệ của quốc gia, phong tục gia đình, luân lý của xã hội và luật lệ trong tôn giáo.  Như chúng ta đều biết, luật lệ cần thiết cho đời sống vì mục đích là bảo vệ những giá trị căn bản cho cá nhân, và bảo đảm cho chúng ta sự tự do và an toàn.

    Những bài Kinh thánh tuần này nhắc nhở và giúp chúng ta hiểu sự khác biệt và hiệu quả đưa đến từ những gì chúng ta tiếp nhận từ bên ngoài vào, và những hành động và thái độ phát xuất ra từ trong con người chúng ta.

    Bài đọc 1 nhắc nhở chúng ta về 10 điều răn của Thiên Chúa dạy, mục đích là hướng dẫn cuộc sống hằng ngày của chúng ta.  Nếu chúng ta tuân giữ và sống 10 điều răn Chúa dạy, chúng ta sẽ kết hợp mật thiết với Chúa và sống trong ơn sủng và bình an của Người.

    Trong bài Tin mừng, chúng ta thấy Chúa cảnh cáo những người Biệt phái đã giữ những điều luật rất tỉ mĩ, cặn kẽ, nhưng không chú ý đến ý nghĩa và giá trị tinh thần hay mục đích của việc giữ luật.  Họ giữ luật cặn kẽ cốt ý là tỏ ra mình là đạo đức trước mặt mọi người và để được người ta ca tụng. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã gọi họ là những người giả hình.  Giả hình hay giữ luật lệ một cách hình thức bề ngoài đều bị Chúa Giêsu lên án và Chúa không ngại ngùng thẳng thắn tuyên bố rằng: “Dân này kính ta ngoài môi miệng nhưng lòng chúng thì xa ta. Nó sùng kính ta cách giả dối.” //

    Thái độ đó của những người Biệt phái và luật sĩ ngày xưa có thể đang được tái diễn lại trong đời sống của người kitô hữu ngày nay, nhất là trong một xã hội chú trọng tới vật chất, tiền bạc và tự do cá nhân này.  Đây là điều mà chúng ta phải lưu ý. Khi nói đến đời sống tôn giáo, thông thường chúng ta nghĩ ngay đến một số các luật lệ và nghi thức, và chúng ta cũng thường có khuynh hướng đánh giá mức độ đạo đức, thánh thiện qua sự tham dự các lễ nghi, qua việc giữ các luật lệ hay đọc kinh.  Chính vì thế mỗi khi thấy người nào không giữ như chúng ta, chúng ta liền phê bình, chỉ trích và cho là “khô khan”  hay không đạo đức. Đó cũng chính là quan niệm của những người Biệt phái thời Chúa Giêsu, điển hình là khi thấy các môn đệ của Chúa Giêsu dùng bữa mà không rửa tay theo luật.

    Nếu chỉ chú ý tới giữ những nghi thức, tuân theo lề luật hay đọc kinh mà quên đi việc phải sống hy sinh, bác ái, quảng đại như Lời Chúa dạy trong cuộc sống hàng ngày thì phải thành thật thú nhận rằng cũng là điều mà tôi và quí ông bà anh chị em thường rất dễ mắc phải. Thực ra, thì tất cả chúng ta chẳng ai muốn sống giả hình hay hình thức, nhưng vì giữ những hình thức đó xem ra dễ hơn là sống những đòi hỏi, luật lệ của Chúa dạy, hơn nữa vì sống trong xã hội này, chúng ta muốn sống đạo theo phương cách, đường lối, luật lệ của chính chúng ta.  Do đó, chúng ta chỉ mới giữ đạo, chứ chưa sống đạo. Chúng ta chưa thật sự để Tin mừng của Chúa biến đổi cuộc sống của chúng ta, và cũng chính vì thế mà chúng ta vẫn còn phải nghe những nhận xét thật đau lòng của anh chị em chưa có đức tin, đó là: Tin đạo chứ không tin người có đạo.   Họ không tin chúng ta vì chúng ta chưa thật sự sống điều chúng ta tin, hay đời sống của chúng ta không phản ảnh những gì chúng ta tin.  Ngoài ra, nếu chỉ lo giữ những nghi thức bên ngoài, mà không có một tấm lòng chân thật bên trong, thì những nghi thức này sẽ còn dẫn chúng ta đến những thói xấu khác là kiêu căng, tự phụ, tự cao và dễ kết án người khác.

    Chúng ta biết những hình thức bên ngoài không phải là không cần thiết, nhưng những hình thức bên ngoài, muốn có giá trị và ơn ích, cần phải phát xuất từ tâm tình tốt bên trong.  Bởi vì nội tâm trong con người là nguồn mạch, căn nguyên của mọi hành động, việc làm và lời nói, cho nên nội tâm có tốt thì những hành động, lời nói, việc làm phát xuất ra từ đó mới tốt, mới có giá trị.

    Thật vậy, bài Tin mừng nhấn mạnh đến điểm quan trọng này: chính lòng con người là nguồn gốc của việc lành hay dữ, việc tốt hay việc xấu.  Đồng ý rằng chúng ta bị ảnh hưởng, chi phối, lôi cuốn, thúc đẩy của hoàn cảnh, nhưng thật ra thiện căn ở tại lòng của chúng ta. // Và cũng chính từ trong lòng này sinh ra 12 nết xấu mà Tin mừng kể ra là: ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loan, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng.

    Cho nên câu mà chúng ta thường nghe nói: “không gì xấu bằng lòng người’’ chưa hẳn quá đáng.  Ca dao tục ngữ của người Việt nam chúng ta cũng có câu nói về lòng dạ con người: “Sông sâu còn có thể dò, lòng người nham hiểm ai đo cho lường.”

    Vì thế, chúng ta phải gieo vào cánh đồng tâm hồn con người chúng ta những hạt giống tư tưởng tốt lành, những luật lệ điều răn của Thiên Chúa, thì mới sinh ra những hoa trái là những việc tốt lành, thánh thiện và hữu ích cho chúng ta và tha nhân.

    Ngày xưa Chúa Giêsu đã dùng lời ngôn sứ Isaia để trách dân Do Thái rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.  Thế thì chúng ta tự hỏi: “Phải chăng chúng ta cũng đáng bị trách như thế không?”  Xin Chúa giúp chúng ta từ bỏ những cách sống giả dối, hình thức bề ngoài. Vì chúng ta có thể giả hình, giả dối với người khác, nhưng không thể dấu được Thiên Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta có tâm hồn yêu mến và thành tâm lắng nghe và tuân giữ, sống luật Chúa dạy.

    Về mục lục

     

     

    ĐỨC TIN TINH TUYỀN

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Vài năm trở lại đây, cuộc sống kinh tế có phần cải thiện và những quy định khắt khe về tôn giáo cũng đã được tháo cởi, nhờ đó các cộng đoàn tín hữu có nhiều biến chuyển trong những thực hành đạo đức. Tuy vậy, tại một số nơi, điều được chú trọng hơn lại là những gì sầm uất bề ngoài. Những đội trống, đội kim nhạc, những hội đoàn đồng phục… càng ngày càng nhiều như trăm hoa đua nở, nhưng chiều sâu nội tâm và tình bác ái nội bộ lại bị coi nhẹ. Không ai phủ nhận giá trị của các hội đoàn nêu trên, vì những hội đoàn này là biểu tượng và bằng chứng cho đời sống Đức tin. Tuy vậy, nếu chỉ chú trọng đến bề nổi mà quên đời sống nội tâm thì lại là coi nhẹ điều chính mà chú tâm đến những điều phụ.
     
    Chúa Giêsu đã gay gắt lên án các kinh sư và những người biệt phái. Kinh sư và biệt phái là những người học hành uyên thâm, họ có uy tín trong các cộng đoàn Do Thái, và có vị trí quan trọng trong các buổi hội họp. Chính những “bậc vị vọng” ấy đang bị Chúa kết án nặng nề. Người mượn lời ngôn sứ Isaia để lên án họ là những “kẻ đạo đức giả”. Họ lạm dụng khái niệm thánh thiêng và trần tục, và đã tự đặt ra rất nhiều quy định rườm rà và tỉ mỉ. Những quy định này, thay vì giúp cho con người nên thánh, lại đặt trên vai họ những gánh nặng không kham nổi. Những công việc bình thường hằng ngày như rửa tay, rửa chén, rửa bát, họ đã biến thành những nghi thức tôn giáo để kết tội người dân. Họ coi thường những điều răn của Chúa để quá chú trọng đến những tập tục do chính họ đặt ra. Chúa Giêsu đã phê phán quan niệm ấy, và mời gọi họ chú trọng đến nhân vị, tức là chính con người. Bởi lẽ, những quy định, luật lệ được thiết lập là phục vụ con người và giúp họ hướng thượng và nên trọn lành.
     
    Với lời giáo huấn của mình, Chúa Giêsu đã đảo ngược quan niệm “thanh sạch và ô uế” của người đương thời. Trong khi những người này chủ trương những gì ở ngoài sẽ gây ô uế cho con người, Chúa Giêsu lại khẳng định, chính bên trong con người là nguồn gốc của sự ô uế và tội lỗi. Quả vậy, con người là nguyên nhân của biết bao tội lỗi từ khởi đầu của lịch sử cho đến ngày nay. Những tham vọng, ích kỷ và mưu mô từ bên trong con người đã gây nên biết bao đau khổ cho bản thân và cho những người xung quanh. Cuộc sống thường ngày của chúng ta đã chứng minh điều khẳng định của Chúa.
     
    Khi phê phán những biệt phái và luật sĩ, Chúa Giêsu mời gọi những ai nghe Người hãy đổi mới quan niệm của mình về việc thờ phượng, để có thể tôn thờ Chúa với tâm hồn ngay thẳng và với thiện chí sống tình bác ái với những người xung quanh. Một thứ thờ phượng môi mép giả hình sẽ biến người ta thành những con rối. Của lễ Chúa muốn, đó chính là tấm lòng chân thành và yêu mến dành cho Chúa, với thiện chí quyết tâm đổi mới cuộc đời.
     
    Biết bao lần chúng ta tham dự các nghi thức phụng vụ mà tâm hồn chúng ta xa Chúa. Có nhiều khi chúng ta giống như những người kinh sư và người biệt phái, chỉ chú trọng đến những nghi thức bề ngoài mà coi nhẹ tâm tình cầu nguyện, là điều cốt lõi để làm thành việc tôn thờ đích thực. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta: “Hãy khiêm tốn đón nhận Lời được gieo vào lòng chúng ta… Hãy đem Lời ấy ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Bài đọc II). Đối với thánh nhân, lòng đạo đức thật phải sinh ra hoa trái là lòng bác ái và dấn thân phục vụ người nghèo, giúp họ tìm được niềm vui trong cuộc sống.
     
    Vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã ban Lề Luật qua ông Môisen. Ngài ban Lề Luật để giúp họ nên thánh. Đây là niềm tự hào của dân tộc Do Thái, là dân riêng Chúa đã chọn. Ông Môisen kêu gọi người Do Thái hãy nhìn lại sự ưu ái của Chúa trong lịch sử, nhất là trong hành trình sa mạc để tiến về Đất hứa. Các dân xung quanh phải ghen tị, vì Chúa luôn ở với dân Ngài và hướng dẫn họ, nhờ đó, dân tộc Do Thái trở thành một “dân tộc vĩ đại, khôn ngoan và thông minh”. Các kinh sư và biệt phái đã chất lên vai người dân những gánh nặng của luật lệ, trong khi Chúa đã truyền qua ông Môisen: “Đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em”. Ngài cũng hứa ban hạnh phúc cho những ai chuyên tâm thực thi các thánh chỉ của Ngài. Chúa Giêsu đã đến trần gian để kiện toàn Lề Luật Cựu ước, và Người đã ban “giới răn mới” là đức yêu thương. Đây là giới răn quan trọng và cần thiết đối với mỗi tín hữu, vì “yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).
     
    Giữa biết bao trào lưu đang lôi cuốn con người ngả theo những hình thức đạo đức bề ngoài, xin Chúa cho chúng ta một Đức tin tinh tuyền, để luôn hướng về Chúa, một lòng bền vững tin yêu và thuộc trọn về Ngài.
     
    “Có đức tin là ký vào một tờ giấy trắng và để cho Thiên Chúa muốn viết gì vào đó tuỳ Ngài” (Thánh Augustinô).

    Về mục lục

     

    VỚI CẢ TÂM TÌNH

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Truyện thiền kể có hai nhà sư xuống núi. Dọc đường các ngài gặp một thiếu nữ đứng bên vũng nước sâu. Thiếu nữ muốn đi qua mà không sao đi được. Thấy vậy, một nhà sư liền bế thiếu nữ vượt qua vũng nước. Trở về gần đến chùa, nhà sư kia trách bạn: “Sao anh lại bế một thiếu nữ như thế?” Nhà sư trả lời: “Tôi đã để cô ta lại bên vũng nước, sao anh còn mang cô ta về đến tận chùa”.
    Câu chuyện ý nhị trên đã minh họa rõ nét về hai lối sống đạo. Lối sống đạo theo hình thức và lối sống đạo theo nội tâm. Nhà sư trọng hình thức không dám động đến thiếu nữ, nhưng tâm hồn ông lại nặng vấn vương. Thế mà ông vẫn yên tâm cho rằng mình đã giữ trọn luật giới sắc. Ông tự hào về mình và trách móc bạn đã vi phạm luật tu hành. Ông đã hoàn toàn giữ luật theo hình thức bề ngoài mà không xét đến nội tâm của mình.
    Những người Biệt phái và Luật sĩ trong đạo Do Thái cũng giữ đạo theo hình thức như thế. Họ rất trọng những lề luật theo hình thức bề ngoài. Họ cho rằng giữ những hình thức bề ngoài là đủ. Theo họ, đạo là lề luật. Giữ trọn lề luật là giữ đạo. Đặc biệt là luật thanh sạch. Người Do Thái có nhiều cấm kỵ ô uế. Bị coi là ô uế những người mắc bệnh phong, những người phụ nữ sau khi sinh con, người ngoại đạo. Ai tiếp xúc với những người ô uế sẽ bị lây nhiễm ô uế. Ngay cả những đồ vật bị người ô uế động đến cũng trở thành ô uế. Ai động đến những đồ vật đã bị ô uế cũng sẽ bị lây nhiễm ô uế. Ô uế là tội lỗi. Những người bị ô uế sẽ không được dâng lễ vật cho Chúa. Để tránh ô uế, người Do thái luôn rửa tay, rửa bát bên ngoài cho sạch.
    Đức Giêsu chê trách họ là giả hình. Vì họ chỉ lo giữ sự trong sạch bề ngoài mà không lo giữ sự trong sạch bề trong. Họ lo rửa tay chân mà không lo rửa lương tâm. Họ sợ tiếp xúc với người bệnh nhưng họ vẫn ấp ủ những ý đồ xấu xa trong tâm hồn. Có lần Đức Giêsu đã sánh ví họ với những mồ mả, bên ngoài thì tô vôi, sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương cốt hôi hám xấu xa.
    Vì quá chú trọng đến những luật lệ tỉ mỉ bên ngoài, họ biến đạo thành một mớ những nghi thức trống rỗng vô hồn. Đọc kinh cho đủ bổn phận mà không cầu nguyện. Ăn chay để giữ đúng luật hơn là để hạn chế tính mê tật xấu. Làm việc bác ái để phô trương hơn là để chia sẻ với người anh em cơ nhỡ. Tệ hại nhất là họ giữ đạo mà không thật lòng yêu mến Chúa. Nên hôm nay, Đức Giêsu đã nặng lời chỉ trích họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.
    Những hình thức bên ngoài không phải là không cần thiết. Nhưng những hình thức bên ngoài, muốn có giá trị, cần phải phát xuất từ tâm tình bên trong. Nội tâm con người là nguồn mạch của mọi hành vi. Nội tâm có tốt thì hành vi mới tốt. Nội tâm có chân thật thì hành vi mới có giá trị
    Đạo Chúa không phải là hình thức. Đạo Chúa là tình yêu. Tình yêu chân thật phát xuất từ đáy lòng. Giữ hình thức mà không có tình yêu thì chưa phải là giữ đạo. Làm những việc lớn lao mà không có tình yêu cũng chỉ là vô ích, như lời thánh Phaolô dạy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi”.
    Vì thế, khi làm việc gì, điều cần thiết là cho cử chỉ phản ánh trung thực tâm hồn. Tất cả mọi việc làm lời nói ra bên ngoài phải phát xuất từ tâm hồn chân thực. Nhất là phải làm sao cho mọi nghi thức tôn giáo phát nguồn từ trái tim yêu mến chân thành. Việc từ thiện phải phát nguồn từ một tình yêu mến huynh đệ, thành thực muốn chia sẻ. Lời cầu nguyện phải phát xuất từ một trái tim yêu mến của người con hiếu thảo đối với Cha trên trời. Việc ăn chay phải khởi đi từ ý muốn chế ngự các nết xấu. Nghi thức thanh tẩy phải cử hành trong tâm tình sám hối. Có như thế, khi môi miệng đọc kinh, lòng ta mới gần gũi Chúa. Khi ăn chay, tâm hồn ta mới tan nát vì tội lỗi. Khi làm việc bác ái, ta tránh được thói phô trương. Khi rửa tay, tâm hồn ta mới được thanh tẩy nên trong trắng.
    Với tất cả tâm tình, những nghi thức mới trở nên có hồn, thành thực. Với tất cả tâm tình, ta mới thực sự sống đạo. Với tất cả tâm tình, đạo mới đưa ta đến gần Chúa.
    Lạy Chúa, xin ban cho con thêm lòng yêu mến Chúa.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
    1) Rửa tay hay rửa linh hồn, điều nào quan trọng hơn?
    2) Điều gì quan trọng nhất trong đạo? Làm những việc phi thường hay là mến yêu Chúa và yêu thương anh em?
    3) Bạn thường đi lễ cho đầy đủ bổn phận hay đi lễ vì yêu mến Chúa?
    4) Bạn làm việc thiện vì yêu mến người nghèo hay vì muốn khoe khoang?

    Về mục lục

     

     

    CÁI NÀO QUAN TRỌNG

    Gm. Arthur Tone

    Khoảng 2 giờ, một buổi sáng lạnh và gió lớn, chuông điện thoại nhà xứ reo, có tiếng hốt hoảng la lên: “Tôi tưởng ông ngoại qua đời”. Vì chỉ cách 2 căn phố. Cha Murray đi bách bộ, khi ngài qua một ngõ hẻm, chợt xuất hiện một bóng hình cầm cây súng bước tới truyền lệnh: “Đưa tiền đây!”. Vị linh mục nói với người cầm súng: “Ví của tôi để ở trong túi áo khoác”. Khi ngài mở nút áo khoác để lấy ví, để lộ chiếc cổ áo Roma. Kẻ cướp ấp úng: “Ôi con không biết cha là linh mục, con xin lỗi, cha cất tiền đi”. Bình tĩnh lại vị linh mục đưa cho y một điếu thuốc xì gà, nhưng y lắc đầu: “Không, cám ơn cha, trong mùa chay con không hút thuốc”.

    Kẻ cướp đường đã hành động như một người Biệt phái. Người Biệt phái giữ hết sức chi tiết những điều lệ nhỏ nhặt của luật Do Thái, trong khi đó lại bỏ bê những giới răn quan trọng. Đó là lý do Đức Kitô khiển trách họ. Họ ghét Chúa Giêsu vì Người đe dọa địa vị của họ, như những người lãnh đạo tôn giáo. Họ dò xét Chúa, cố gắng bắt bẻ Người trong lời nói. Họ chỉ trích Người đã hòa mình với người thu thuế và tội lỗi. Người đã bỏ qua lệ rửa tay chân như trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ nói Chúa Giêsu không thể tha tội. Người dùng quyền lực của quỷ mà trừ quỷ. Họ làm điều lành chỉ cốt cho người ta thấy.

    Ngày nay còn người Biệt phái không? Bất hạnh thay, vẫn còn. Đây là một vài kiểu Biệt phái tân thời: Những người Công giáo lẫn lộn những cái không quan trọng với cái thật sự quan trọng.

    Giả sử tôi nói với một người nào đến trễ lễ: “Bạn bất lịch sự”. Chắc người ấy cho rằng bị xỉ nhục. Nhưng vì lỗi mình, đến lễ trễ, là một sự xúc phạm đến Chúa, làm lo ra những người trong nhà thờ và cho vị chủ lễ. Có người mỉm cười với bất kỳ ai gặp trong nhà thờ, dĩ nhiên điều đó tốt. Nhưng họ không nói một lời với Chúa trên bàn thờ cũng như đi dự đại tiệc, chỉ nói chuyện với mọi người, trừ ông chủ tiệc. Cái nào quan trọng?

    –   Có những người Công giáo và những người khác nữa, họ không nghĩ rằng họ sẽ tổ chức hay dự một bữa tiệc nêu có một vết nhơ trên bàn, hay trên dĩa hoặc trên quần áo của họ. Nhưng ngôn ngữ của họ không phải chỉ có vết nhơ, mà nó thật sự thô bỉ, một sự thô bỉ bên trong hơn là bên ngoài như Chúa Giêsu đã chỉ rõ trong bài Tin Mừng hôm nay.

    –  Có người trong chúng ta ra ngoài thì hoang phí, rộng rãi với anh bồi ở quán rượu, hào phóng với cô chaỵ bàn; nhưng lại rất keo kiệt với người thân thương, và với Chúa.

    Nhiều người không bao giờ quên câu nói: “Xin vui lòng, cám ơn, xin lỗi”, khi ở ngoài gia đình. Nhưng giữa những người thân yêu, ít khi bạn nghe được những từ quan trọng ấy. Bạn có thể nghĩ đến những hoàn cảnh, trong đó bạn phải sạch sẽ, lịch sự, hào hiệp, chỉ khi nào những hoàn cảnh đó được trình diễn trước mặt mọi người, để đạt được tín nhiệm hoặc tránh khỏi phê bình. Hãy cố gắng đừng làm Biệt phái.

    Cám ơn Chúa vì phần lớn những người chân thành, họ đặt người khác và sự vật vào đúng vị trí trật tự của nó. Như đặt Thánh Lễ lên đầu bảng danh sách những việc quan trọng.

    Xin Chúa chúc lành bạn.

    Về mục lục

     

     

    ĐỪNG BẤT CÔNG VỚI LINH HỒN

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Con người có hồn và xác. Đẹp thân xác là một vinh dự. Đẹp tâm hồn là một hồng ân. Thật quý biết bao nếu con người biết trau truốt cả tâm hồn lẫn thân xác! Người đẹp từ thể xác đến tâm hồn thì đáng giá hơn muôn ngàn vàng bạc. Nhưng tiếc thay, con người dường như chỉ làm đẹp thân xác mà quên làm đẹp tâm hồn.
    Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Một nhà kia có hai người con. Người con út được cha mẹ đem hết lòng yêu thương chăm sóc: cho ăn, cho mặc, cho học hành, cho thuốc men, cho tiêu xài thoải mái, cho tất cả những gì nó muốn và không từ chối nó bất cứ điều gì.
    Trong khi đó, đứa con cả không được cha mẹ đoái hoài: không được nuôi ăn, chẳng được cấp dưỡng chút gì, bị cha mẹ bỏ mặc như thể nó không hề có mặt trên đời, mặc dù nó không làm điều gì sai trái.
    Cha mẹ phân biệt đối xử như thế là quá bất công, đáng bị lên án. Nếu chúng ta ở vào địa vị người cha người mẹ trên đây, chắc chắn không bao giờ chúng ta đối xử bất công như thế.
    Thế nhưng, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có “hai người con” trong đời mình, đó là linh hồn và thân xác. Thân xác này nay còn mai mất thì được nhiều người chăm sóc chiều chuộng tối đa, còn linh hồn trường sinh bất tử thì chẳng được đoái hoài.
    Xem ra người ta luôn chiều chuộng thân xác, kể cả những điều tội lỗi trụy lạc. Xem ra người ta luôn dành mọi thời giờ cho thân xác, và cứ như thế hết tháng nầy qua tháng khác, hết năm nầy qua năm kia.
    Trong khi linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài! Đó là một bất công không thể chấp nhận được và mang lại hậu quả đau thương cho cuộc sống mai sau, vì không sớm thì muộn, cái chết cũng sẽ đến để cướp hết những gì người ta đang có và hủy hoại thân xác ra không. Cuối cùng thân xác con người chỉ là một nhúm bụi đất còn linh hồn thì phải trầm luân muôn đời muôn kiếp.
    Qua sứ điệp Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su kêu gọi mọi người hãy đối xử công bằng với linh hồn mình. Đừng như những người Do Thái quá chú trọng đến sự sạch sẽ thân xác mà xem thường sự trong sạch tâm hồn. Họ giữ luật vụ hình thức nên chỉ chú trọng bề ngoài mà quên gìn giữ vẻ đẹp của tâm hồn. Chúa Giê-su cho họ thấy rằng: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu : tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”
    Ước gì chúng ta hãy để cho Lời Chúa sửa lòng mình, để bên trong lẫn bên ngoài được tốt đẹp. Đó là điều mà Chúa muốn chúng ta hãy để cho Chúa uốn nắn, sửa dạy nên tốt hơn. Xin đừng chú tâm đến vẻ đẹp thân xác mà quên để Chúa uốn nắn thêm xinh tươi cho tâm hồn. Amen

    Về mục lục

     

     

    CAO CẢ VÀ BI ĐÁT

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Thánh với phàm, thiêng với tục là những phạm trù tôn giáo mà mọi thời và mọi nơi đều biết đến.

    Cái thánh thiêng là cái cao cả siêu việt, khác lạ, đáng kính và nhiều khi đáng sợ.

    Cái phàm tục là cái thông thường, cái tầm thường, nhiều khi còn có thể đáng khinh và bị coi là ô uế dơ dáy.

    Trong các tôn giáo sơ khai, cái thánh thiêng hiện diện ở khắp nơi trong mọi sự từ núi cao đến sông dài, từ đền thờ tới gốc đa, gốc đề, từ tượng thần đến cái bình vôi, từ cá sấu đến các tinh tú.

    Trái lại, ngày nay trong thế giới tục hoá, mọi sự đều được giải thiêng, chẳng có gì thánh thiêng ngoài khoa học thực nghiệm duy lý với các định luật, các công thức.

    Trong tiếng Do thái,Thánh có nghĩa là tách biệt. Cái linh thiêng là cái gì tách biệt khỏi cái thường ngày, tách khỏi cái tầm thường thông tục.Cái thánh thiêng là cái gì khác lạ cao xa, ở bên ngoài, ở bên kia, ở bên trên cái thông thường. Do đó,Thiên Chúa được gọi là Đấng Thánh, bởi vì Người cao cả, siêu việt tuyệt đối khác lạ. Người là Đấng siêu việt. Đấng cao cả, linh thiêng phải ngự ở những nơi linh thiêng cao cả. Đó là những ngọn núi thánh, những Đền thờ, những nơi tách biệt khỏi chốn phàm trần. Những người được tuyển chọn để phục vụ Đấng Thánh cũng phải là những người tách biệt khỏi người phàm. Hàng Tư tế trong dân Do thái chỉ được chọn từ chi tộc Lêvi. Họ phải là những người không tỳ vết, không tật nguyền, phải giữ những luật lệ khắt khe hơn người thường.Tất cả những gì dành riêng cho Đấng Thánh, những gì được coi như thuộc về Người, đều là những cái thánh: núi thánh, đền thánh, nơi thánh, ngày thánh, đồ vật thánh. Phạm đến những cái đó là phạm đến chính Đấng Thánh.

    Quan niệm linh thánh như vậy muốn tách biệt cái thánh thiêng ra khỏi cái phàm tục.Từ đó người ta đẩy xa Đấng Thánh ra khỏi cuộc đời và ngày càng đóng khung Người vào trong phạm vi của núi thánh, Đền thờ, nơi thánh, nơi cực thánh. Không gian của Người ngày càng bị thu hẹp lại.

    Dân Israel được gọi là Dân Thánh, dân riêng của Chúa, thuộc về Chúa. Họ tự coi mình là sở hữu Thiên Chúa: Người là của riêng họ, thuộc về họ. Dân Israel chờ đợi một vị thiên sai ngự đến trong cung thánh đền thiêng.

    Trong một thế giới mà cái thánh thiêng và cái phàm tục được xác định rạch ròi tỉ mỉ như thế, chúng ta mới thấy việc Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Thánh làm người, một người phàm ở giữa những người phàm gặp phải sự chống đối quyết liệt.

    Ngay từ giây phút nhập thể, Đức Giêsu đã không đến trong Đền thờ mà lại đến trong căn nhà nhỏ bé ở Nazareth. Thiên Chúa làm người trong lòng một thôn nữ vô danh đối với người Do thái. Rồi khi chào đời, Người đã lấy chuồng bò lừa làm nhà ở, lấy máng cỏ làm nôi, lấy những kẻ mục đồng vốn bị người Do thái coi là uế tạp làm bầu bạn.Trong suốt cuộc đời, Đức Giêsu sống như một người tầm thường giữa những người nghèo khổ, đồng hành ăn uống với những người bị coi là tội lỗi, thâu nhận người thu thuế làm môn đệ.

    Trang Tin mừng hôm nay kể về một sự kiện trong chuỗi những chống đối quyết liệt đó. Các Biệt phái Kinh sư trách các môn đệ Đức Giêsu không rửa tay trước khi ăn. Rửa tay trước khi ăn, đối với người Do thái là một quốc tục, một thánh lệ. Các người Pharisiêu và Kinh sư nói riêng và dân Do thái nói chung, thường rất khắt khe với tục lệ này. Họ cho đó là một nghi thức truyền thống quan trọng phải tuân giữ triệt để, chứng tỏ mình thanh sạch trước mặt mọi người. Vì thế, họ chất vấn Đức Giêsu: Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay mà dùng bữa?

    Đức Giêsu đã cho biết thế nào là sạch thế nào là dơ, thế nào là thánh thiêng, thế nào là phàm tục. Của ăn được nấu chín là sạch. Cái làm cho dơ đó là lòng người. Cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay dữ, tốt hay xấu, sạch hay dơ.

    Có câu chuyện trong sách Tông đồ công vụ (10,11-16). Vào trước giờ ăn trưa, Thánh Phêrô cầu nguyện và xuất thần: “Ông thấy trời mở ra và một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, đang được thả xuống, trong đó có mọi giống vật bốn chân, rắn rết và mọi thứ chim trời. Có tiếng phán bảo ông: Phêrô, đứng dậy làm thịt mà ăn! Phêrô thưa: lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô uế và không thanh sạch. Có tiếng phán với ông lần thứ hai: những gì Thiên Chúa tuyên bố là thanh sạch, ngươi đừng gọi là ô uế. Việc đó xảy đến ba lần, và lập tức vật ấy được đưa lên trời.”. Như vậy những gì Thiên Chúa sáng tạo đều là sạch, con người không thể coi là nhơ bẩn.

    Đức Giêsu bác bỏ hoàn toàn quan niệm về sạch dơ của người Do thái. Đối với Người, không có gì bên ngoài lại làm cho con người ra dơ trước mặt Thiên Chúa. Cái gì dơ, cái gì tội lỗi chính là từ trong lòng người mà phát xuất ra. Đó là: tà dâm, trộm cắp giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác xảo trá, trác táng, ganh tị, kêu ngạo, ngông cuồng.Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế.

    Người đời đã phải than thở rằng : “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho tường”; “Lòng người thăm thẳm mù khơi, không bờ không bến biết nơi nào dò”. Tục ngữ có câu: “Khẩu Phật tâm xà” hay “ Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm” để diễn tả hạng người mang mặt nạ che dấu lòng dạ ác độc bên trong, loại người mà “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”.

    Một trong những đặc trưng của kỹ thuật hiện đại là kỹ thuật làm đồ giả. Chân giả, tay giả, tóc giả, lông mi giả, hoa giả, trái cây giả…. Những thứ giả ấy đi vào cả những sinh hoạt thiêng liêng như mâm ngũ quả, hoa nến nhang đèn đều giả… Mức độ “giả” còn tinh vi nên lắm khi cái giả xem ra còn đẹp hơn cái thật, khó mà phân biệt được thực hư, tốt xấu. Nhưng tệ nhất vẫn là thứ “Giả nhân giả nghĩa”, thứ “giả hình” mà Chúa đã nặng lời khiển trách (Mt 23,13-29). Thánh Gioan đã lật tẩy: “Ai nói rằng mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1Ga 2,4); “Ai bảo mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (Ga 4,20).

    Cõi lòng hay thế giới nội tâm làm cho con người nên cao cả nhưng nó cũng làm nên sự bi đát. Cao cả và bi đát đan xen trong lòng người như ánh sáng và bóng tối.

    Con người nên cao cả là nhờ thế giới nội tâm với tư duy, cảm xúc, phân tích, đúc kết, kinh nghiệm… Nhờ có thế giới nội tâm mới có khoa học, có sáng tạo văn hoá nghệ thuật. Cũng chính cái thế giới nội tâm này làm cho con người trở nên bi đát. Bề ngoài và bề trong liên quan với nhau và tác động lẫn nhau, nhưng về mặt luân lý đạo đức, bề trong mới là phần quyết định. Chỉ có con người mới có giả hình, lừa đảo, gian dối, mưu mô, thủ đoạn. Đức Giêsu đã nhận xét: “ Không phải những gì từ bên ngoài vào làm cho người ta ra ô uế, nhưng từ trong lòng mới xuất phát những cái làm cho người ta ra ô uế” (Mt 15,19).

    Đức Giêsu nhấn mạnh sự thanh tẩy từ bên trong. Người chẳng phản đối chuyện rửa tay. Người chỉ phê bình thói hình thức bên ngoài. Điều quan trọng là rửa cõi lòng. Cái ô uế thực sự đáng sợ không đến từ việc đụng chạm hay ăn uống mà nó lại nằm trong lòng người. Nó không từ ngoài vào mà từ bên trong ra.

    Đối với Đức Giêsu, yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bên ngoài. Ý hướng bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài có gía trị hay không. Đức Giêsu luôn sống tình thương với mọi người, luôn “chạnh lòng thương”.Tình thương chính là sự thánh thiện. Tình thương là thanh sạch. Đấng Thánh hôm nay có tên gọi là Tình Thương.Tình thương là chia sẽ, là hiệp nhất. Sự thánh thiện của Đức Giêsu luôn rộng mở lan toả hương thơm tình thương, thanh sạch.

    Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có viết trong cuốn “Giọt máu” một câu rất sâu sắc “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa. Đấy là chí thánh”.Tác giả hiểu ý nghĩa của từ chí thánh theo đúng những gì là phàm tục, thế gian là cõi hồng trần bụi bặm. Cái chí thánh chính là dìm mình, hoà vào trong bùn lầy, trong tội lỗi để làm cho từ vũng bùn lầy, từ vực thẳm tội lỗi ấy nở hoa, rực lên sự thánh thiện. Tôn giáo nhắm trực tiếp vào nội tâm con người, vì thế có lẽ nó còn hữu hiện hơn xã hội rất nhiều trong việc chế ngự cái xấu, cổ vũ cái tốt. Bởi vì tôn giáo chân chính nào cũng đều kêu gọi, động viên, giáo dục con người làm lành lánh dữ, vươn lên làm chủ phần hạ đẳng nơi mình để thăng hoa phần cao thượng trong sáng. Người ta có thể không sợ dư luận hay luật pháp (vì còn có thể che dấu luồn lách), nhưng một khi đã tin vào Ðấng Linh Thiêng và nếu đó là một niềm tin sống động, người ta khó có thể không sợ sự phán xét của lương tâm và nhất là của Ðấng họ thờ kính.

    Thường thì khi vừa sinh ra, người ta có cái tâm hồn hậu nhưng cái trí dại khờ. Càng lớn lên, trí càng khôn ngoan nhưng tâm càng vẩn đục. Đi cho trọn đường trần là trí học biết được càng nhiều càng tốt những khôn ngoan mà tâm vẫn giữ được cái hồn hậu của tuổi ấu thơ.

    Đối với người Kitô hữu, nếu như xã hội mong muốn và chờ đợi chúng ta sống đạo đức một, thì chính Chúa còn đòi buộc chúng ta phải “thánh thiện” trăm ngàn lần hơn:”Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện” (Mt 5,48); “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian…Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mắt thiên hạ, để họ nhìn thấy công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời” (Mt 5,14.16).

    Con người sống ở đời cần có một tấm lòng, một trái tim yêu thương chân thành. Thiên Chúa đã ra lệnh truyền cho con người: “ Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31). Người còn phán: “Ta sẽ thanh tẩy các ngươi, Ta sẽ ban cho các ngươi môt trái tim mới” (Ed 36,25). Một trái tim mới biết yêu thương hay một tấm lòng để người ta sống tốt đẹp với nhau.

    Tình thương của Chúa Giêsu là tình thương cứu thế, muốn thanh tẩy con người tội lỗi, rửa sạch tâm hồn và trao ban sự sống mới.

    Trong đời sống tâm linh, người Kitô hữu cần phải tu dưỡng cái tâm, phải có tâm ngay lành, luôn tôn trọng sự công bằng, yêu thương mọi người. Cần có một tấm lòng, tâm tốt thì mọi việc làm sẽ đẹp lòng Chúa.

    Người Kitô hữu mỗi ngày đến nhà thờ dự tiệc Thánh Thể. Đưa tay đón nhận Bánh Thánh là đón nhận tình thương và thanh sạch của Chúa.Bàn tay đón nhận Bánh Thánh cũng là bàn tay bác ái yêu thương góp phần thánh hoá trần gian.

    Về mục lục

     

     

    VỆ SINH

    Trầm Thiên Thu

    Vệ sinh (*) là “bài học” chúng ta được học từ những năm đầu đời, thậm chí ngay khi chúng ta còn nằm nôi. Đơn giản là chính “cô giáo” mẹ đã dạy chúng ta nên làm thế này, đừng làm thế kia.

    Vệ sinh là vấn đề giản dị mà quan trọng, liên quan nhiều vấn đề khác, thậm chí liên quan cả “chuyện sinh tử”. Câu “ăn bẩn sống lâu” chỉ là nói đùa hoặc biện hộ cho thói ở bẩn của mình mà thôi.

    Nói về vệ sinh, ai cũng chỉ nghĩ tới sự sạch sẽ. Tuy nhiên, như vậy mới ĐÚNG và ĐỦ, ở dạng cơ bản, chứ chưa trọn vẹn. Vệ sinh không chỉ là giữ SẠCH SẼ, như vậy vẫn là tiêu cực, mà phải giữ cho KHÔNG BẨN, đó mới là tích cực. Vấn đề vệ sinh liên quan tình trạng SẠCH và BẨN, bao gồm các quy tắc giữ gìn sạch sẽ cơ bản nhất của con người – như vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh để đề phòng bệnh tật, bảo vệ và tăng cường sức khỏe.

    Người ta tắm rửa hằng ngày để loại bỏ chất bẩn và vi khuẩn – các tế bào chết đó được chúng ta gọi là “ghét”. Vâng, chúng nó đáng “ghét” thật. Việt ngữ độc đáo quá chừng! Không chỉ vậy, người ta còn phải giữ vệ sinh nhiều thứ khác như đánh răng, cạo râu, đi vệ sinh đúng chỗ, ăn mặc sạch sẽ,… Việc giữ vệ sinh được dạy từ rất sớm, điều đó dần dần trở thành một tập tính. Người ăn ở không vệ sinh sẽ gây “dị ứng” với người khác, và còn nguy hiểm là mắc bệnh – tự làm khổ mình.

    Vệ sinh cần được giữ gìn trong nhiều dạng: vệ sinh thể lý, nhà cửa, vệ sinh môi trường, vệ sinh xã hội, vệ sinh giáo dục, vệ sinh âm nhạc, vệ sinh văn chương, vệ sinh tâm lý, vệ sinh tinh thần, vệ sinh linh hồn,… Trái ngược với sạch sẽ là dơ bẩn, mất vệ sinh. Tương tự, bẩn cũng có nhiều dạng và nhiều mức độ: Ô nhiễm môi trường là bẩn, ô nhiễm không khí là bẩn, ô nhiễm thực phẩm là bẩn, ô nhiễm nguồn nước là bẩn, ô nhiễm quản lý là bẩn, ô nhiễm tư tưởng là bẩn, ô nhiễm ánh mắt là bẩn, ô nhiễm lương tâm là bẩn, ô nhiễm giáo dục là bẩn, ô nhiễm âm nhạc là bẩn, ô nhiễm văn chương là bẩn,… Ô nhiễm nào cũng bẩn, cũng xấu, cũng có hại!

    “Laudato Si’, mi’ Signore! – Chúc Tụng Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” là lời của Thánh Phanxicô Assisi, và cũng là lời mở đầu Tông thư Laudato Si’ của ĐGH Phanxicô (ký ngày 24-5-2015; thông điệp thứ hai của ngài sau Thông điệp Lumen Fidei – Ánh Sáng Đức Tin). Tông thư này nhắc chúng ta về “ngôi nhà chung” là Trái Đất, mệnh danh là “Hành Tinh Xanh”. Gần 800 năm trước, Thánh Phanxicô Assisi đã khéo léo nhân cách hóa khi gọi Hành Tinh Xanh là Chị Đất (Bài Ca Mặt Trời, Thánh Phanxicô Assisi sáng tác lời năm 1226, và được cố Nhạc sư Hùng Lân phổ nhạc năm 1982 với tựa đề “Bài Ca Vạn Vật” ( click nghe).

    Thông điệp này có sức ảnh hưởng đáng kể đến các quốc gia và các tổ chức. Thật vậy, vì ai cũng đã và đang trải nghiệm về tình trạng khủng hoảng môi trường – lũ lụt, động đất, sóng thần, el niño, la niña,… Và kể từ năm 2015, ngày 1-9 trở thành Ngày Chăm Sóc Thiên Nhiên. Bảo vệ thiên nhiên là bảo vệ công trình sáng tạo của Thiên Chúa, là bảo vệ chính mình, và đó cũng chính là trách nhiệm của mỗi chúng ta: Tạ lỗi Thiên Chúa và xin lỗi thiên nhiên.

    Sách Đệ Nhị Luật xác định rằng giữ luật Chúa là khôn ngoan: “Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em. Anh em đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em” (Ðnl 4:1-2). NGHE và THỰC HÀNH là “khoảng cách” vừa gần vừa xa. Thật vậy, khoảng xa nhất không phải từ chỗ chúng ta đứng tới một nước khác, tới cung trăng hoặc sao Hỏa, mà “khoảng cách xa nhất là từ miệng tới tay”. Lạ thật, mà cũng khó thật!

    Kinh Thánh cho biết thêm: “Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoanthông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói: ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh!’. Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?” (Ðnl 4:6-8).

    Những câu hỏi nhẹ nhàng mà vẫn đủ sức xoáy sâu vào tâm khảm. NGHE rồi mà có HIỂU hay không, HIỂU rồi mà có LÀM hay không, những “khoảng” rất nhỏ hẹp mà sao vẫn xa xăm và mông mênh quá, cứ “đi” rồi “đi” mãi mà vẫn chưa tới đích. Nói suông luôn dễ hơn làm thật, chỉ tay ra lệnh bao giờ cũng dễ hơn làm trước để nêu gương!

    Nghe và thực hành lời Chúa mới đích thực là người khôn ngoan và thông minh, và có thể vào Nhà Chúa và lên Núi Thánh của Ngài. Khó quá nhỉ! Vậy ai mới được vào ngụ trong Nhà Chúa và được ở trên Núi Thánh? Kinh Thánh liệt kê danh sách rõ ràng: “Là kẻ sống vẹn toàn, luôn làm điều ngay thẳng, bụng nghĩ sao nói vậy, miệng lưỡi chẳng vu oan, không làm hại người nào, chẳng làm ai nhục nhã, coi khinh phường gian ác, trọng ai kính Chúa Trời, lỡ thề mà bị thiệt thì cũng chẳng rút lời, cho vay không đặt lãi, chẳng nhận quà hối lộ mà hại đến người ngay. Phàm ai làm những điều này không hề nao núng chuyển lay bao giờ” (Tv 15:2-5). Ui da! Nhưng biết sao được, ai cũng phải rá… á… áng hết sức mà thôi! Không cố gắng vào Nhà Chúa và lên Núi Thánh thì đi mô bi chừ – đi đâu bây giờ?

    Muốn thì chắc chắn ai cũng muốn “được vào Nhà Chúa”, nhưng thiếu ơn Chúa thì chúng ta cũng đành “bó tay” mà thôi. Vâng, ơn Chúa vô cùng cần thiết, vì Chúa Giêsu đã xác nhận: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Thật vậy, Thánh Giacôbê đã phân tích rạch ròi: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng. Người đã tự ý dùng Lời Chân Lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thọ tạo của Người” (Gc 1:17-18).

    Về chuyện “nói và làm”, Thánh Giacôbê cho biết: “Hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Gc 1:21-22). Rõ ràng là hành động luôn có giá trị hơn lời nói. Như một điều kiện ắt có và đủ, ở một chỗ khác, Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:17 và 26). Ai cũng ghét lời nói suông, nhưng có bao nhiêu người chứng tỏ bằng việc làm?

    Về lòng đạo đức, Thánh Giacôbê giải thích: “Có lòng đạo đức tinh tuyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian” (Gc 1:27). Đến nhà thờ là điều tốt, nhưng đừng tưởng như vậy là đạo đức, là thánh thiện, nếu không chú ý hành động. Đừng “ảo thuật” như David Copperfield, nghĩa là đừng “tàng hình”, đừng chỉ là con chiên ngoan khi ở trong nhà thờ rồi hóa thành cọp dữ khi ở ngoài nhà thờ.

    Tin Mừng hôm nay đề cập vấn đề tranh luận về những truyền thống của người Pharisêu. Họ chỉ chú trọng bề ngoài mà coi thường bề trong, lấy cái PHỤ làm cái CHÍNH, hiểu nghĩa đen mà không hiểu nghĩa bóng. Họ và một số kinh sư đến từ Giêrusalem. Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. Người Pharisêu và người Do-thái giữ truyền thống của tiền nhân là nhất định “không ăn gì khi chưa rửa tay cẩn thận”, thức gì mua ngoài chợ về cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. Đúng là “hình thức áp bức nội tâm, ngoại tại làm hại nội tại”. Sai bét nhè mà cứ tưởng mình ngon lành. Dốt mà chảnh, thích khoe mẽ văn chương. Làm lớn mà làm láo. Chết chắc!

    Người Pharisêu và kinh sư hỏi vặn Chúa Giêsu về chuyện các môn đệ không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa. Đúng là ngu mà tưởng mình ngon, lo vệ sinh bề ngoài mà mất vệ sinh tâm hồn. Bẩn hết sức mà vẫn mạo nhận là mình sạch sẽ, hôi rình mà ngỡ mình thơm tho.

    Nghe vậy, Chúa Giêsu thản nhiên trả lời họ: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7:6-8).

    Vậy cái gì làm cho con người ra ô uế? Cần hiểu hai dạng ô uế cơ bản: ô uế thể lý và ô uế tinh thần. Tố cáo nhóm Pharisêu và kinh sư xong, Chúa Giêsu gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:14-15). Ngài nói “toạc móng heo” luôn, nhưng Ngài vẫn tế nhị dùng từ ngữ. Khi Đức Giêsu đã rời đám đông mà vào nhà, các môn đệ hỏi Ngài về dụ ngôn ấy, Ngài nói: “Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao? Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:18-19). Ui da, các môn đệ bị Thầy rủa là “ngu tối”. Đau lắm, nhưng đáng lắm. Phải nói thẳng, nói thật như vậy mới được “sáng mắt, sáng lòng”.

    Từ cái bẩn thể lý tới cái bẩn linh hồn, tức là tội lỗi, Chúa Giêsu lý giải: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:21-23). Quả thật, mất vệ sinh tinh thần và linh hồn mới thực sự đáng sợ, chứ sự mất vệ sinh thể lý chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi. Thể lý bẩn thì tắm rửa bằng nước và xà bông. Xong! Nhưng tâm linh bẩn thì chỉ có thể “tắm” bằng hồng ân, phải thành tâm dìm mình trong Biển Tình của Lòng Chúa Thương Xót.

    Kể cũng lạ, có những người rất bẩn mà vẫn ảo tưởng cho là mình sạch. Có những tư tưởng bẩn thỉu và hôi thối mà vẫn được lưu truyền, phát tán. Dạng này nguy hiểm vô cùng, nguy hiểm theo cấp số nhân, vì họ không chỉ “duy trì” cái bẩn cho chính mình mà còn gây ô nhiễm cho người khác. Người bẩn mà không bẩn, người sạch lại bẩn, đôi khi càng có chức có quyền càng bẩn!

    Ô nhiễm nhất và bẩn nhất chính là TỘI LỖI. Thiên Chúa vô cùng ghê tởm dạng ô uế này. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ, và đem lòng kính sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn” (2 Cr 7:1). Tuy nhiên, chúng ta không thể tự rửa sạch, mà phải cầu xin để được Thiên Chúa rửa sạch: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).

    May thay, chúng ta được phép tẩy rửa chính mình trong Máu và Nước tuôn trào từ Thánh Tâm Đức Giêsu Kitô ngay trên Đồi Sọ. Hãy chân thành sám hối: “Pater, peccavi – Thưa Cha, con đã phạm tội”. Chắc chắn Thiên Chúa vẫn đại lượng và tha thứ, vì Chúa Giêsu đã hứa với Thánh nữ Maria Faustyna Kowalska (1905-1938): “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới” (Nhật Ký, số 1485). Xin tạ ơn Thiên Chúa muôn đời! Hãy cùng nhau bảo vệ môi trường thiên nhiên và môi trường tâm linh: Xin chúc tụng Thiên Chúa! – Laudato Sí!

    Lạy Thiên Chúa từ nhân chí thánh, xin thanh tẩy hồn xác con nên trinh trong dù tội con đỏ như máu, xin giúp con thuộc lòng bài học vệ sinh linh hồn và biết giữ vệ sinh tâm linh cho chính con và cho người khác. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    (*) Khái niệm “vệ sinh” được xác định là sử dụng lần đầu trong tiếng Anh vào khoảng năm 1677. Chữ “vệ sinh” (hygiene) bắt nguồn từ tiếng Pháp “hygiène”, vốn là phiên bản của Tây phương từ Hy ngữ là ὑγιεινή (τέχνη) – hugieinē (technē), nghĩa là “nghệ thuật của sức khỏe”. Từ ὑγιεινός (hugieinos) là “khỏe mạnh”, chữ ὑγιής (hugiēs) là “lành mạnh, có lợi”. Trong tôn giáo Hy Lạp cổ đại, Hygeia (Ὑγίεια) là nữ thần đại diện cho sức khỏe, sự sạch sẽ.

    Về mục lục

     

     

    ĐƯỜNG HAY PHÁO ĐÀI

    Văn Hào, SDB

    Có một Rabbi Do Thái tên là Agiba, bị giam trong một trại tù ở Rôma. Ông rất trung thành với lề luật và truyền thống tổ tiên để lại. Tù nhân vẫn được cho ăn uống tử tế và đầy đủ, nhưng chỉ một thời gian ngắn, sức khoẻ ông bị giảm sút nghiêm trọng. Sau một thời gian theo dõi, giám thị trại giam đã tìm ra nguyên nhân. Lý do đơn giản, vì phạm nhân đã dùng hầu hết số nước được cấp phát thay vì uống, lại để rửa tay trước khi ăn. Cơ thể ông ta thiếu nước một cách trầm trọng. Vị Rabbi Do Thái này đã cương quyết tuân thủ lề luật bằng bất cứ giá nào.

    Giai thoại trên do tác giả Barlay kể lại, dẫn chúng ta đi vào bối cảnh câu chuyện được trình thuật trong Tin mừng hôm nay. Những người biệt phái tỏ ra rất khó chịu khi thấy các môn đệ Đức Giêsu dùng bữa mà không rửa tay trước. Câu trả lời của Đức Giêsu mời gọi chúng ta phải canh tân nội tâm để thực hiện những giới luật của Thiên Chúa. Chúng ta đừng bao giờ tỏ ra xơ cứng, chỉ thỏa mãn trên việc thực thi lề luật cách máy móc theo hình thức bên ngoài.

    Lex Occidit (chữ viết luật lệ thì giết chết)

    Trong các sách Tin mừng nhất lãm, các thánh ký khá nhiều lần thuật lại sự đối kháng giữa Đức Giêsu và các đầu mục Do Thái, đặc biệt nhóm biệt phái. Trình thuật trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ điển hình. Những người biệt phái “nhắc khéo” Chúa Giêsu: “Tại sao môn đệ ông không rửa tay trước khi ăn?”. Có lẽ lời nhắc nhở này phát xuất từ lòng thương hại của họ hơn là để phê phán hay chỉ trích. Đối với họ, phải giữ lề luật cách cẩn trọng và tỉ mẩn, con người mới trở nên công chính và thánh thiện. Cũng vậy, có lần họ thấy những học trò của Chúa Giêsu bứt lúa để ăn cho đỡ đói trong ngày hưu lễ. Họ bực bội khó chịu, và không thể chấp nhận một hành vi phạm luật như thế. Ngày Sabat theo luật viết, là một ngày để nghỉ ngơi, không được làm bất cứ công việc gì. Nhóm biệt phái còn soạn thảo thêm 36 chi tiết tỉ mỉ, nêu ra những điều cấm kỵ tuyệt đối không được đụng tay vào trong ngày hưu lễ. Gặt lúa bị nghiêm cấm, quạt thóc cũng không, ngay cả nấu nướng cũng chẳng được phép làm. Họ tự nghĩ ra những rào cản rất vô lý, không những để tự trói buộc mình, mà còn chất bao gánh nặng lên vai người khác. Chúa Giêsu phản kháng hoàn toàn. Ngài chống đối kịch liệt, và cao điểm nhất, Ngài kết án thái độ giả dối của họ một cách thẳng thừng. Thánh Matthêu đã liệt kê 7 điều “chúc dữ” Chúa đã nói một cách gay gắt nhắm vào họ, không một chút khoan nhượng. “Khốn cho các ngươi, các kinh sư và các Pharisiêu giả hình, các ngươi khóa cửa nước trời không cho ai vào. Các ngươi làm bộ để nuốt hết tài sản của các bà góa.. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bề ngoài ra vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác…”(xem Mt 23,13-32).

    Xem ra mũi dùi tấn công của Chúa Giêsu nhắm vào họ quá cứng rắn và đanh thép, biểu tỏ một thái độ bất nhân nhượng, không thể chấp nhận. Nhưng Chúa có lý do. Ngài ghét cay ghét đắng những con người giả dối chỉ biết giữ lề luật một cách cứng ngắc và giả dối bề ngoài, còn tâm hồn bên trong lại rỗng tuếch. Ngài khẳng định rằng, Ngài đến không phải để hủy bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn, tức mặc cho lề luật một chiều kích nội tâm. Biệt phái ngày xưa đã hết từ lâu, nhưng kiểu cách biệt phái vẫn còn nơi cuộc sống chúng ta, nơi từng mỗi giáo dân, đặc biệt nơi anh em linh mục hay tu sĩ. Chúng ta giữ ngày Chúa nhật bằng việc lê xác tới nhà thờ cho có lệ, nhưng tâm hồn vẫn để ở đẩu ở đâu. Chúng ta vẫn ăn chay kiêng thịt vào ngày hội thánh buộc, bao tử có thể trống rỗng và đói cồn cào, nhưng tâm hồn lại chất đầy hận thù và tham lam bẩn thỉu. Chúng ta đến nhà thờ đấm ngực thật to và cùng đọc với mọi người : lỗi tại tôi, lỗi tại tôi.., nhưng vừa bước chân ra bên ngoài, chúng ta lại đấm lộn qua ngực người khác bằng cách chỉ trích hết người này, đến kết án người nọ. Việc tuân thủ lề luật một cách xơ cứng và vô nghĩa như thế có khác gì thái độ của những người Pharisiêu năm xưa. Quả thật, Lex Occidit, luật lệ cứng ngắc sẽ giết chết chúng ta.

    Spiritus Vivificat (tinh thần lề luật mới làm cho sống)

    Tuân giữ lề luật một cách máy móc sẽ giết chết, sẽ nhấn chìm chúng ta trong bóng tối của mù lòa, nhưng thực thi tinh thần lề luật sẽ làm cho chúng ta sống. Đây là điều Thánh Phaolô đã khẳng quyết trong thư Rôma. Thánh giáo phụ Irênê cũng nói “ Vinh quang của Thiên Chúa là con người chúng ta được sống”, hoặc tác giả sách Khôn ngoan cũng diễn tả: “Thiên Chúa chẳng vui gì khi thiên hạ tiêu vong” (Kn 1,13). Đức Giêsu đến trần gian để cho chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10,10). Vì muốn chúng ta được sống, nên Đức Giêsu đã mặc cho lề luật một chiều kích nội tâm. Ngài gọi mời chúng ta đi vào tinh thần lề luật để được sống. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô đã khẳng định khá nhiều lần: “ Anh em cần phải cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần lề luật, chứ không phải theo chữ viết của lề luật (Rm 2,29b)”. “Chúng ta phục vụ Thiên Chúa theo tinh thần mới, chứ không theo bản văn cũ của lề luật (Rm 7,6). Cuối cùng, thánh tông đồ đã tóm kết toàn bộ lề luật vào một định thức giản đơn. Ngài viết “ Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13.16).

    Như vậy, tinh thần của lề luật, chính là tình yêu. Trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu đã chuyển giao cho các học trò lề luật mới này: “ Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”. Lề luật mà Đức Giêsu thiết định bằng máu Ngài đổ ra trên Thập giá chính là tình yêu, tình yêu mà Ngài đã thực thi như một nguyên mẫu. “Anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em.”

    Nói tóm lại, không phải Đức Giêsu đả kích lề luật cũ của cựu ước, nhưng Ngài kiện toàn và nội tâm hóa lề luật, đồng thời Ngài mời gọi chúng ta đi vào cốt lõi của lề luật, đó là thực hành yêu thương.

    Thiên Chúa thấu rõ tâm hồn mỗi người. Thánh Augustinô đã thưa với Chuá: “ Lạy Chúa, Ngài biết rõ con hơn cả chính con biết con”. Chúng ta không thể giấu diếm Thiên Chúa được một điều gì. Thiên Chúa không bao giờ đo đếm những thành tích đạo đức bề ngoài để đánh giá con người chúng ta, nhưng Ngài thấu tỏ mọi bí ẩn trong tâm can từng người. Thước đo duy nhất để Ngài định giá chúng ta chính là thước đo tình yêu. Những biệt phái ngày xưa, bề ngoài rất đạo đức, không chê vào đâu được : “Lạy Chúa, con ăn chay mỗi tuần 2 lần, con dâng cúng một phần mười huê lợi của con…”, nhưng Chúa nói thẳng vào mặt họ: “ Đồ giả hình và gian ác” (Mt 23,30). Chúng ta hãy lục soát lương tâm để xem có bao giờ Chúa phải nói với chúng ta như thế hay không?

    Cha Anthony de Mello, một tu sỹ dòng Tên đã viết một câu chuyện khá ý nghĩa. Một ông vua nọ chơi bời tác tráng, cả ngày chỉ nhậu nhẹt và lao đầu vào những cuộc ăn chơi trụy lạc, chẳng lo gì cho dân. Khuôn mặt của ông lúc nào cũng đỏ gay và sặc sụa mùi rượu. Một bữa nọ, nhà vua cưỡi ngựa đi ra ngoài thành. Ông gặp một tu sỹ già khuôn mặt nhợt nhạt xanh xao, áo quần lôi thôi lếch thếch. Nhà vua dừng lại và trịch thượng chào vị tu sỹ với giọng điệu mỉa mai: “ Xin chào ông tu sỹ. Nhìn áo quần nhàu nát và khuôn mặt cáu bẩn của ông, tôi thấy ông chẳng khác gì một con heo”. Vị tu sỹ cúi đầu lắng nghe, gương mặt bình thản và cũng chẳng tỏ vẻ khó chịu chút nào. Một lát sau, ngài ngẩng đầu lên, nhìn chăm chú vào đức vua và đáp lễ: “ Thần xin cám ơn bệ hạ, còn bề tôi thấy khuôn mặt đức vua giống như một vị thánh”. Nhà vua kinh ngạc hỏi lại: “ Ta miệt thị ngươi, ngươi không buồn cũng chẳng giận, còn khen ta có khuôn mặt giống một vị thánh, tại sao thế?. Vị tu sỹ điềm nhiên và thong thả trả lời: “Tâu đức vua, một con người sống với trái tim và tâm hồn của loài heo, nhìn thấy ai cũng giống heo. Ngược lại, một con người có tâm hồn và trái tim của một ông thánh, sẽ thấy mọi người giống các vị thánh. Nói xong vị tu sỹ lặng lẽ bỏ đi còn nhà vua đứng chết lặng.

    Chúng ta giữ đạo và giữ luật với trái tim của loài heo hay của một ông thánh? Chúng ta tuân thủ các điều luật trong giáo hội với tâm hồn của những người Pharisiêu năm xưa hay với trái tim nhân hậu của của Chúa Giêsu? Chúng ta hãy tự lục soát lương tâm và nhìn thẳng vào nội tâm chính mình để tìm câu trả lời.

    Đường hay pháo đài?

    Đây là tựa đề của một quyển sách do Nguyễn Ngọc Lan biên soạn. Ông là một cựu tu sỹ Dòng Chúa Cứu Thế, đã suy tư và viết cuốn sách này năm 1972. Trong tác phẩm, ông đặt vấn đề với tất cả chúng ta, đạo Công giáo là đường hay pháo đài? Pháo đài là một thứ lô cốt cứng ngắc chúng ta chui vào đó để cố thủ, để ôm giữ. Nếu chúng ta chỉ giữ đạo một cách khô cứng với những lề luật hình thức bên ngoài, chẳng khác nào chúng ta đang khăng khăng ôm giữ một pháo đài. Điều đó cũng giống như những anh chàng Hồi giáo IS quá khích ngày nay quyết giữ bom trong mình để liều chết. Còn nếu chúng ta không phải giữ đạo mà sống đạo, thì đạo đích thực là một con đường. Con đường trước mắt luôn mở rộng thênh thang để chúng ta bước đi, đi đến gặp gỡ Thiên Chúa và đi đến gặp gỡ anh em. Đạo công giáo của Chúa Giêsu là đường, chứ không phải pháo đài.

    Kết luận

    Nếu bình thản đọc lại bộ giáo luật 1983, chúng ta thấy ngay từ lời tựa đầu tiên, Giáo hội đã đưa ra những tiêu chí chung cho tất cả 1752 khoản luật viết trong đó. Tiêu chí đó là: “ Để giúp việc chăm sóc các linh hồn, không chỉ là đức công bằng, nhưng luôn phải dành chỗ cho đức ái, tiết độ, nhân đạo…Vì thế, các mục tử nên loại bỏ các khoản quá cứng ngắc. Hơn nữa, mỗi khi không cần những khoản luật nhằm phục vụ công ích và kỷ luật chung của Giáo hội, chỉ nên sử dụng lời khuyên hay khuyến cáo mà thôi”. Chúng ta hãy đọc kỹ lại những hướng dẫn này.

    Lời nhắc nhở này dành cho mọi tín hữu, đặc biệt cho các anh em linh mục là những “người quản lý các mầu nhiệm Thiên Chúa”(1 Cor 4,1-2), để trong công việc mục vụ, chúng ta luôn mang chở nơi mình một trái tim giống trái tim của Vị Mục Tử Nhân Lành, là nguyên mẫu cho tất cả chúng ta.

    Về mục lục

     

     

    CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị thân mến. Chúng ta nhận thấy nhiều Ki-tô hữu giới hạn đạo vào việc có tên vào trong danh sách giáo xứ, hay thờ phượng trong nhà thờ, như đi tham dự Thánh lễ mỗi tuần, hay chỉ chịu phép rửa tội để có danh hiệu Kitô hữu. Và chúng ta cũng nhận thấy ngày nay có nhiều biến chuyển thay đổi trong đời sống Ki-tô hữu. Nhưng người Ki-tô hữu chân chính phải có một đời sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, cũng như sống giới răn Chúa dạy trong đời sống hàng ngày. Nếu tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa, thì chúng ta phải tuân giữ giới răn của Người, phải là một chi thể sống động trong Thân Thể Chúa Ki-tô, cũng như chu toàn sứ vụ rao giảng Tin mừng và xây dựng Nước Chúa.  Mỗi bài đọc Kinh thánh Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta một khía cạnh của việc sống đức tin, sống đạo.

    Trong Bài Đọc I, chúng ta thấy ông Môi sen đưa ra những lý do để kêu gọi con cái Israel phải tuân giữ giới răn của Thiên Chúa. Thứ nhất, ông dạy cho dân biết rằng giới răn phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng duy nhất biết những gì tốt lành cho con người. Thứ hai, Thiên Chúa ban giới răn vì yêu thương. Ông Môi sen cho dân biết đây là một đặc quyền cao quí nhất, chỉ dành cho Dân Riêng của Thiên Chúa. Thứ ba, vì là giới răn của Chúa, cho nên không ai được thêm vào hay bớt đi. Và lý do thứ tư là phải sống giới răn Chúa vì là điều kiện phải có để được vào Đất Hứa. Vì vậy, ông nhắc nhở họ, giới răn Chúa ban không phải để học thuộc lòng, cũng không để đóng khung thờ lạy, nhưng phải thực hành, để được liên kết mật thiết với Chúa và được Người hướng dẫn và che chở trong cuộc hành trình.

    Trong Bài Đọc II, chúng ta nghe thánh Giacôbê chú trọng đặc biệt đến việc nghe và thực hành những lời Chúa dạy. Ngài khẳng định Lời Chúa là sự thật và ban sự sống. Ngài nhấn mạnh lắng nghe và sống Lời Chúa phải đi đôi với nhau, cũng như hành động và lời nói của Ki-tô hữu phải đồng nhất. Một người không thể tách rời niềm tin ra khỏi những việc làm hay lối sống. Hay nói một cách khác, hành động hay lối sống của chúng ta không thể nào đi ngược lại, hay đối nghịch với đức tin của chúng ta. Chúng ta cần biết qua cộng đồng các tín hữu thời sơ khai. Nhiều người lầm lẫn về sự chỉ dạy của thánh Phaolô, nhất là trong Thư gởi tín hữu Rôma và Galata, khi ngài nói: con người được trở nên công chính nhờ niềm tin vào Đức Kitô. Họ cắt bỏ cả câu văn và chỉ chú trọng vào câu này, cho nên họ nói chỉ cần niềm tin vào Đức Kitô là đủ, việc làm không quan trọng, vì nó không ảnh hưởng đến sự cứu độ của con người. Chúng ta thấy ngày nay, vẫn còn nhiều anh chị em thuộc giáo phái Tin Lành và nhiều Ki-tô hữu chủ trương sống theo lối sống này. Đây là một cách cắt nghĩa sai lầm lời Chúa, vì Đức Kitô và thánh Phaolô không chủ trương và dạy bảo như thế. Thánh Giacôbê cũng phải đương đầu với ý kiến như thế trong cộng đoàn của ngài. Trong một đoạn thư khác, ngài còn nhấn mạnh hơn nữa: “Đức tin không việc làm là đức tin chết.” Thánh Gia-cô-bê xác quyết rằng Lời Thiên Chúa là chân lý và là sự thật, giúp chúng ta biết phân biệt sự thật khỏi những sự gian trá làm mê hoặc tâm hồn con người. Cũng một ý với ông Môi sen trong Bài Đọc I, thánh Giacôbê khuyên các tín hữu hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, nhân cơ hội những người Pha-ri-siêu kêu trách các môn đệ của Chúa Giêsu về việc không tuân giữ những lề luật về việc thanh sạch bên ngoài, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta 3 điều quan trọng. Điều quan trọng thứ nhất, đừng thờ phượng Thiên Chúa bằng môi miệng bên ngoài. Chúa thấu suốt những gì trong tâm hồn con người chúng ta. Chúng ta có thể lừa dối người đời bằng lối sống giả hình bên ngoài, nhưng không bao giờ dấu diếm, qua mặt được Thiên Chúa. Điều quan trọng thứ hai, đừng vịn vào truyền thống để thay thế giới răn của Thiên Chúa. Một điều qua trọng chúng ta phải chú ý ở đây là Chúa Giê-su không đến để hủy bỏ truyền thống, nhưng Ngài muốn dạy chúng ta phải đặt giới răn của Thiên Chúa lên trên mọi luật lệ và truyền thống của con người. Khi nào có sự xung đột giữa giới răn của Thiên Chúa với luật lệ hay truyền thống của con người, thì người Ki-tô hữu phải can đảm tuân giữ giới luật của Thiên Chúa. Và điều quan trọng thứ ba, thanh tẩy tâm hồn bên trong cần thiết hơn tẩy sạch đồ dùng bên ngoài. Chúa nói cùng đám đông dân chúng “Hết thảy hãy nghe và hiểu rõ lời Ta. Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế.” Điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là chúng ta phải chú trọng đến việc thanh tẩy trong tâm hồn, vì hậu quả của tội lỗi làm con người trở nên ô uế trầm trọng hơn sự ô uế do đồ ăn thức uống gây ra. Những kinh-sư và biệt-phái chú trọng đến việc thanh tẩy bên ngoài để che đậy những ô uế trong tâm hồn, vì họ nghĩ không ai có thể thấy những gì họ giấu kín bên trong, nhưng họ không thể giấu diếm được Thiên Chúa, Người có thể thấu suốt mọi bí ẩn trong tâm hồn của họ.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta hãy tự hỏi cái gì trong cuộc đời này đáng sợ nhất? Có nhiều câu trả lời khác nhau như khủng bố, bệnh hoạn, vv. Nhưng với đa số đó là: cái lưỡi và cái tôi. Trong ca dao Việt Nam có câu “Lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo.” Thật vậy, chỉ có ba tấc lưỡi thôi mà làm cho cuộc sống của bao nhiêu người phải đau khổ. “Cái tâm hay cái tôi” của con người là căn rễ của mọi điều thiện ác, tốt xấu, ngay thẳng gian dối. Nếu cái tôi tốt, thì có những suy nghĩ tốt, sẽ có lời nói và hành động tốt. Và nếu cái tôi xấu, thì sẽ dễ tuôn ra nhưng lời nói và hành động xấu hay lối sống gian dối.

    Chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta đến và thờ phượng Chúa trong Thánh lễ hôm nay với một tâm hồn, và với một tình yêu mến Chúa chân thật. Có một niềm tin vững chắc vào giới răn, Lời Chúa dạy là chân lý, là sự thật, đem lại bình an, hạnh phúc và ban sự sống đời đời, để chúng ta can đảm sống giới răn của Chúa, cũng như có đời sống Ki-tô hữu chân chính. Xin Chúa cũng ban cho chúng ta sự khôn ngoan, biết dùng lời nói và việc làm để ca tụng ngợi khen Chúa và để làm đẹp lòng và sáng danh Chúa, cũng như tạo sự yêu thương và hiệp nhất, an ủi, khích lệ và hy vọng.

    Về mục lục

     

    BIẾN THÁI TRONG ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Chúng ta thấy hiện nay, nhiều hoạt động văn hoá lễ hội tại Việt Nam đang trong tình trạng hết sức lộn xộn và bị biến thái. Các nhà quản lý hầu như không quản lý nổi nên họ để mặc các lễ hội tự do tự phát. Vì thế, các lễ hội văn hoá tôn giáo tâm linh ngày càng mang tính chất kinh doanh và đáp ứng những nhu vật chất, bình dân mê tín. Người ta chú trọng nhiều đến yếu tố thu lợi hơn là giá trị văn hoá tôn giáo. Ví dụ, ngày Giỗ tổ Hùng Vương được coi như ngày quốc lễ, nhưng việc tổ chức nhắm đến kinh doanh hơn là tâm tình biết ơn tổ tiên. Người ta khoe mẽ những chiếc bánh chưng bánh dày to kỷ lục, nhưng nhân bên trong thì bằng giấy vụn, hoặc đồ giả. Cùng với hình thức bên ngoài là tình trạng buôn thần bán thánh, cầu lộc cầu tài để thu tiền.

    Tình trạng biến thái trong đời sống đạo cũng rất dễ xảy ra khi con người không bám sát chuẩn mực của Đấng Sáng lập, khi muốn thêm những ý kiến cá nhân vào các chuẩn mực đó, tạo ra những hình thức dễ dãi đáp ứng cho đám đông. Thời Chúa Giêsu cũng đã xảy ra tình trạng biến thái trong đời sống đạo nơi những người Do Thái, đặc biệt nơi những người có trách nhiệm. Hôm nay Tin Mừng cho thấy, các Pharisiêu chú trọng đến những chi tiết của luật, họ trách môn đệ Chúa Giêsu không giữ luật, không rửa tay rửa chén.

    Khi trách các môn đệ của Chúa, thầm hiểu là họ muốn trách cả Chúa Giêsu là người không giữ luật lệ của tiền nhân, không biết dạy các học trò của mình. Rửa tay trước khi ăn theo tục lệ do Thái, không phải là việc rửa tay giữ vệ sinh khi ăn, mà là rửa tay theo nghi lễ, có tính cách tượng trưng. Người Do Thái quan niệm rằng chỉ có người Do Thái mới là tinh sạch, còn các dân khác đều là ô uế, vì thế, khi ra đường về, họ phải tắm rửa vì sợ đã đụng chạm tới dân ngoại. Khi ăn, họ rửa chén bát vì sợ bám bụi của dân ngoại, rau thịt mua ở chợ về cũng phải thanh tẩy như vậy.

    Có một thực tế là những Pharisiêu chuyên tâm giữ chi tiết của lề luật, nhưng điều chính yếu họ lại không giữ. Hơn nữa, họ giữ lề luật đến từng chi tiết không phải vì họ tin yêu Thiên Chúa cho bằng muốn thể hiện khả năng và sự đạo đức của mình. Họ cho rằng họ có khả năng giữ mọi điều Chúa truyền và khi chu toàn chi tiết như thế, Thiên Chúa sẽ mắc nợ những công phúc của họ. Như vậy, họ giữ luật không phải vì Thiên Chúa mà vì bản thân mình. Chúa Giêsu đã không chấp nhận lối sống giả hình như thế, Ngài không muốn một lối sống đạo hình thức bên ngoài nhưng vô hồn, trống rỗng bên trong. Ngài không muốn giữ luật chỉ vì sợ luật, nhưng Ngài muốn mọi người tôn trọng lề luật vì lòng yêu mến thúc đẩy.

    Chúa Giêsu đã trích sách Isaia để cảnh báo họ : Dân này tôn kính ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa ta. Thiên Chúa là Cha yêu thương, Ngài muốn chúng ta đến với Ngài trong tâm tình của người con thảo đến với cha mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta giữ luật để hoàn thiện bản thân và để sống xứng với tư cách là con Thiên Chúa, chứ không muốn những hình thức giả trá bên ngoài. Ngài muốn chúng ta đến với Chúa bằng tấm lòng tin kính mến yêu, chứ không như dân ngoại đến với thần linh của họ như để đút lót, mua chuộc thần linh.

    Cũng dịp này, Chúa Giêsu sửa lại suy nghĩ của người Do Thái khi nói : Điều làm cho con người ra ô uế không phải từ cái chén, cái bình hoặc mớ rau con cá, mà cái làm cho con người ra ô uế là những cái phát xuất từ bên trong con người. Từ suy nghĩ sai, tư tưởng xấu sẽ dẫn đến hành động xấu ; từ những tư tưởng tà dâm, gian tham, độc ác, xảo trá, ganh tị, kiêu ngạo, ngông cuồng trong tâm hồn sẽ làm ô uế tâm hồn con người. Khi những tư tưởng này thể hiện ra bên ngoài qua hành động, nó sẽ là những hành động ô uế và gian ác. Nói như thế, Chúa Giêsu cho thấy việc tẩy rửa bên ngoài chén bát hoặc rửa tay trước khi ăn, không quan trọng cho bằng việc tẩy rửa tâm hồn. Việc đến với Thiên Chúa bằng tâm hồn đơn sơ, trong sạch thì đẹp lòng Chúa hơn là những nghi lễ rườm rà, hình thức bên ngoài. Việc chu toàn giới răn lề luật vì lòng yêu mến Thiên Chúa thì tốt hơn là hình thức bên ngoài.

    Ngày xưa, biết lòng dân hay thay đổi, ông Môsê cũng đã từng cảnh báo Israel : Anh em hãy nghe những thánh chỉ của Thiên Chúa và đem ra thực hành để được sống và được vào đất Chúa hứa. Đừng thêm gì cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa. Hãy giữ và đem ra thực hành, nhờ đó anh em được các dân tộc coi là khôn ngoan. Cũng cùng tư tưởng ấy, thư Giacôbê nhắn nhủ : Anh em hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em, lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Hãy đem lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.

    Lời Chúa hôm nay cảnh báo chúng ta về sự biến thái trong đời sống đức tin. Chúng ta thường tự hào mình là đạo gốc, đạo dòng trong khi nhiều người đã rơi vào lối sống hình thức như các người biệt phái. Nhiều người chỉ còn giữ đạo theo hình thức bên ngoài mà không có tâm tình bên trong. Nhiều người đã thích giữ những tập tục mà không hề hiểu ý nghĩa của việc mình làm, nhiều người khác lại coi trọng những điều tuỳ phụ mà bỏ qua những điều chính yếu. Nhiều tín hữu tin Chúa, theo Chúa theo kiểu cha truyền con nối, nhưng đời sống kém xa các tân tòng và người ngoại đạo. Nhiều Kitô hữu tin Chúa nhưng không hiểu biết giáo lý và Tin Mừng. Vì thế, họ sống chỉ với hình thức mà không thực sự có lòng yêu mến bên trong. Họ thích những cuộc kiệu linh đình nhưng bỏ qua việc cầu nguyện, dâng lễ và rước lễ. Bên cạnh đó, nhiều Kitô hữu cho rằng đạo mình khó, nên họ đi tìm một lối sống đạo dễ dãi, chấp nhận bắt tay thoả hiệp với các hình thức ngoại giáo, an phận với một vài thói quen nào đó.

    Sự biến thái trong đời sống đạo còn thể hiện nơi đời sống cộng đoàn khi chúng ta chỉ chú tâm vào những phô trương cờ quạt, kèn trống, nhưng lại quên việc canh tân, chỉnh sửa đời sống, lơ là trong việc xây dựng đời sống đạo trưởng thành và tình bác ái. Nhiều cộng đoàn bên ngoài sinh hoạt rất rầm rộ, nhưng bên trong thiếu sức sống và nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, thiếu tình bác ái và sự sẻ chia. Nhiều người sống trong cộng đoàn đòi hỏi quyền lợi cho mình cho gia đình, nhưng lại tránh né, không chu toàn trách nhiệm với cộng đoàn.

    Chúng ta có thể dễ dàng vỗ ngực xưng mình là người Công giáo, nhưng trong đời sống gia đình, trong xóm ngõ, nhiều người sống không khác gì dân ngoại. Khi phải chọn lựa giữa lề luật Thiên Chúa và tiền bạc danh vọng, nhiều người đã nhắm mắt bước qua luật Thiên Chúa chỉ vì một chút lợi lộc hoặc một chút khó khăn. Nhiều người vẫn đến nhà thờ, vẫn đọc kinh dâng lễ, nhưng ra khỏi nhà thờ thì sống chanh chua lươn lẹo, nuôi trong mình sự thù ghét, oán hận không xứng là người Công giáo.

    Lời cảnh báo này cũng là lời cảnh báo các linh mục chúng tôi. Chúng tôi thường bị cám dỗ chạy theo những hình thức tổ chức bên ngoài mà quên xây dựng đời sống tâm hồn của mình và của tín hữu. Chúng tôi cũng bị cám dỗ thích những cuộc lễ hoành tráng bên ngoài nhưng không đọng lại gì bên trong tâm hồn sau buổi lễ. Chúng tôi còn bị cám dỗ ghi danh, ghi công của mình trên các công trình, mà quên làm cho danh Chúa được vinh quang. Có khi chúng tôi lo kêu gọi người khác sám hối nhưng bản thân lại ngại thay đổi. Nhiều người trong anh em linh mục tu sĩ, vẻ bên ngoài rất đạo mạo, giảng dạy rất hùng hồn, nhưng đời sống thì lại khác xa với lời rao giảng.

    Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho từng người, cần xem xét và điều chỉnh lại tương quan của mình đối với Chúa. Chúng ta đang theo Chúa vì mục đích gì ? Chúng ta chu toàn luật Chúa vì yêu mến Chúa hay vì lý do nào khác ? Chúng ta đang sống, đang làm việc và phục vụ vì động lực nào thúc đẩy ? Có phải vì tình yêu đối với Thiên Chúa hay vì danh tiếng cá nhân ? Amen.

    Về mục lục

     

    THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI CÓ LÒNG ĐẠO ĐỨC THỰC SỰ

    Lm. Đan Vinh – HHTM

    I- HỌC LỜI CHÚA

    1/ TIN MỪNG: Mc 7,1-8.14-15.21-23

    (1) Có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến. (2) Họ thấy một vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. (3) Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống tiền nhân: Họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; (4) thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng.  (5) Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” (6) Người trả lời họ: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. (7) Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.- (8) Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”… (14) Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ: (15) Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được. Nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế… (21) Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, (22) ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. (23) Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế”.

    2/ Ý CHÍNH

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tranh luận với các người Pharisêu và kinh sư, về việc “thanh sạch” và “nhơ uế” theo Lề Luật. Đức Giêsu đã dùng lời ngôn sứ Isaia để phê phán thứ tôn giáo hình thức vụ luật của các người Pharisêu và kinh sư. Họ lầm lạc khi bỏ thi hành giới răn Thiên Chúa để tuân giữ cặn kẽ tập tục của loài người. Theo Người, lòng đạo đích thực không dựa trên việc làm hình thức theo Luật, nhưng ở tại tâm tình mến Chúa khi làm các việc ấy.

    3/ CHÚ THÍCH

    – C 1-2: + Những người Pharisêu: Pharisêu hay Biệt phái là “Những kẻ sống tách biệt”. Thành viên trong nhóm phần đông là thường dân thuộc giai cấp trung lưu. Tuy nhiên cũng có một số tư tế, Lêvi và kinh sư. Thời Đức Giêsu, nhóm này được dân chúng kính trọng vì có đời sống đạo đức gương mẫu. Họ thường thành lập những cộng đoàn nhỏ, chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và tuần giữ cặn kẻ mọi điều Luật Môsê dạy, Họ tin kẻ chết sống lại, có thiên sứ và quỷ thần, trái với người phái Xađốc (x. Cv 23,7-8). + và kinh sư: Kinh sư hay luật sĩ là những nhà chuyên môn về Thánh kinh vì nghiên cứu Thánh kinh kỹ lưỡng và lâu dài. Số ít trong nhóm kinh sư là tư tế, nhưng phần lớn là thường dân ủng hộ lập trường của nhóm Pharisêu. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Các kinh sư là người giải thích và áp dụng Luật Môsê vào đời sống của dân chúng. Các kinh sư cùng với thượng tế và kỳ mục là ba thành phần trong Thượng hội đồng Do thái tại Giêrasalem (x. Cv 23,6). + Về quan hệ giữa Đức Giêsu với các người Pharisêu và kinh sư: Nói chung Tin mừng phê phán mạnh mẽ các người Biệt phái và kinh sư: Gioan Tẩy giả gọi họ là “nòi rắn độc”, do thái độ cố chấp không chịu hồi tâm sám hối để sinh hoa trái của họ (x. Mt 3,7-10). Đức Giêsu đòi môn đệ phải công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu (x. Mt 5,20). Người đã kiện toàn Luật Môsê và sửa đổi các lời giải thích hẹp hòi vụ Luật của họ về sự giận ghét tha nhân (x. Mt 5,21-26), về tội ngoại tình (x. Mt 5,27-30) về việc ly hôn (x. Mt 5,31-32), về sự thề thốt ( Mt 5,33-37), về sự trả thù (x. Mt 5,38-40) và cách đối xử với kẻ thù (x. Mt 5,43-48). Đức Giêsu cũng quở trách họ về nhiều tật xấu như: tự mãn về công đức của mình (x. Lc 18,9-14), khinh thường tha nhân (x. Mt 9,10-13), khinh “dân đen” không biết Luật (x. Ga 7,49), nói mà không làm (x. Mt 23,2-3), ham mê danh vọng (x. Mt 23,6-7), dẫn đường đui mù (x. Mt 23,16-22), coi trọng điều tùy phụ mà bỏ qua điều chính yếu (x. Mt 23,23-26), đạo đức giả hình (x. Mt 23,27-28). Về phần các kinh sư: Họ nói Người bị quỷ ám (x. Mc 3,22). Họ liên kết với nhóm Hêrôđê tìm cách chống lại Đức Giêsu (x. Mc 3,6). Sau phép lạ cho Ladarô sống lại, các người Pharisêu cùng với Thượng Hội Đồng quyết định giết Đức Giêsu (x. Ga 11,53). Tuy nhiên, trong số các người Pharisêu thuộc Thượng Hội Đồng Do thái cũng có ông Nicôđêmô đã lên tiếng bênh vực Đức Giêsu (x. Ga 7,50-52) và ông Gamaliên đã bào chữa cho các Tông đồ (x. Cv 5,34-39). Thời Giáo Hội Sơ Khai, cũng có một người Pharisêu tên là Saun, quê thành Tácxô, đã cải đạo Do Thái và trở thành môn đệ Đức Giêsu là thánh Phaolô (x. Cv 22,1-21). + Họ từ Giêrusalem mà đến: Nghe biết về các hoạt động của Đức Giêsu ở Galilê, các người có trách nhiệm về tôn giáo ở thủ đô Giêrusalem đã phái người đi điều tra thực hư. + Dùng bữa mà tay còn ô uế: Các kinh sư ở Giêrusalem coi việc dùng bữa mà không rửa tay là làm cho con người ra ô uế theo Luật. Việc rửa tay ở đây không nhằm giữ vệ sinh, mà để thanh tẩy tâm hồn theo lễ nghi của đạo Do thái.

    C 3-4: + Người Do thái: Ở đây chỉ về mọi người dân Do thái. Nhưng ở nhiều chỗ khác nhất là trong Tin Mừng Gioan, “Người Do Thái” ám chỉ những kẻ thù ghét chống đối Đức Giêsu (x. Ga 2,18; 5,18; 6,41; l 8,22.48; 9,18). + Rửa tay: Luật Môsê đề ra nhiều điều khoản buộc phải thanh tẩy bằng nước như: Khi chuẩn bị lãnh chức vụ (x. Xh 29,4), trong lễ Xá Tội (x. Lv 16,4.24), khi lỡ tay chạm đến xác chết (x. Lv 11,40 ; 17,15), khi thanh tẩy khỏi ô uế bởi bệnh phong cùi (x. Lv 14,8), thanh tẩy khỏi ô uế dục tình (x. Lv 15,1-32). Về sau tập tục còn quy định lễ nghi thanh tẩy cách tỉ mỉ hơn như: Phải lấy nước ở trong bình bằng đồng hay bình sành…. Phải rửa từ khuỷu tay xuống…. Phải rửa hai lần: Lần trước để làm sạch tay bẩn, lần sau để làm sạch nước bẩn còn dính trên tay…

    C 5-8: + Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế dùng bữa?: Mọi người Do Thái đều giữ các tập tục tẩy rửa, nhưng người Do Thái miền Giuđê vì gần Giêrusalem nên tuân giữ khỏan luật này chặt chẽ hơn miền Galilê, vì người miền Galilê thường xuyên tiếp xúc với dân ngoại và vì đất đai khô cằn ít nước hơn. Từ đó ta hiểu lý do tại sao các môn đệ của Đức Giêsu vốn xuất thân từ miền Galilê, đã không giữ tập tục rửa tay trước khi dùng bữa. + Những kẻ đạo đức giả: Đức Giêsu gọi các người Pharisêu và kinh sư từ Giêrusalem kia là những kẻ đạo đức giả, nghĩa là chỉ lo làm các việc đạo đức hình thức bề ngoài, mà thiếu tâm tình mến Chúa bề trong. + “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”: Những điều ngôn sứ Isaia tuyên sấm Lời Đức Chúa trách dân Do Thái thời xưa, đã được Đức Giêsu áp dụng cho các người Pharisêu và kinh sư Do Thái hôm nay khi họ tiếp tục coi trọng các truyền thống của loài người hơn giới răn của Thiên Chúa.

    C 14-15: + Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người….: Luật Môsê (Lv 11,1-30) qui định một số loài vật thanh sạch và ô uế như sau: Loài vật thanh sạch mà người Do thái được ăn là: Mọi thú vật có mòng chân chẻ làm hai và nhai lại, các vật sống dưới nước có vây có vảy. Loài vật ô uế không được ăn và không được đụng đến xác chết của chúng là: Lạc đà, ngân thử, thỏ rừng, heo; Tất cả các loài sống dưới nước mà không có vây, không có vẩy; Một số loài chim như đại bàng, diều hâu, ó biển… Chuột, thằn lằn, tắc kè…+ Về vấn đề đồ ăn thanh sạch và ô uế: Đức Giêsu có một quan điểm vừa khác biệt với Luật Môsê vừa kiện toàn Luật này khi tuyên bố: Mọi đồ ăn tự nó là sạch (x. Mc 7,18). Cái có thể bị dơ, phát ra điều dơ, làm cho người ta ra dơ, chính là “lòng” người, vì: “Lòng đầy thì miệng mới nói ra” (x. Lc 6,45).

    C 21-23: + Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu…: Đức Giêsu giải thích thêm về Luật cấm : Đó là những người có lòng dạ hư hỏng, tư tưởng xấu xa, tâm tình gian ác, ý định bất chính…. + Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ trong xuất ra: cái làm ô uế con người, bắt nguồn từ trong tâm hồn hay lương tâm, chứ không phải là các thức ăn từ bên ngòai ăn vào.

    4/ CÂU HỎI

    1Bạn biết gì về các người Pharisêu và kinh sư Do thái thời Đức Giêsu?

    2 Trong thời gian giảng đạo, quan hệ giữa Đức Giêsu với các Biệt phái và kinh sư thế nào?

    3 Các Biệt phái và kinh sư trong Tin Mừng hôm nay từ đâu đến với Đức Giêsu và chất vấn Người về vấn đề gì?

    4Luật Môsê buộc người Do thái phải thanh tẩy bằng nước trong những trường hợp nào? Về sau, các kinh sư còn giải thích thêm về khoản luật này ra sao?

    5 Tại sao môn đệ Đức Giêsu lại không giữ tập tục rửa tay trước khi dùng bữa?

    6 Tại sao Đức Giêsu gọi các Biệt phái và kinh sư là bọn đạo đức giả?

    7 Đức Giêsu đã trích dẫn lời nào của ngôn sứ Isaia trách dân Do thái?

    8 Theo Luật Môsê thì đồ ăn nào được coi là sạch và đồ ăn nào bị coi là nhơ uế?

    9 Quan điểm của Đức Giêsu về sự sạch hay nhơ uế của đồ ăn ra sao? Điều thực sự làm cho tâm hồn người ta ra nhơ uế là gì?

    II- SỐNG LỜI CHÚA

    1/ LỜI CHÚA: Chúa phán: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7,8):

    2/ CÂU CHUYỆN

    1- LỐI GIỮ ĐẠO HÌNH THỨC

    BÁC-CƠ-LÂY (Barclay) kể một câu truyện khác như sau: Có một người Hồi Giáo kia tìm cách giết một kẻ thù để giành quyền kết hôn với một cô gái đẹp. Một hôm, gặp kẻ thù ở chỗ vắng vẻ và nhân lúc kẻ kia không đề phòng, hắn ta rút dao chém một nhát khiến người kia bị thương vội vàng bỏ chạy. Người Hồi Giáo đã đánh lén kia liền tiếp tục truy đuổi, quyết tâm tiêu diệt tình địch bằng được. Trong lúc đang hăng hái đuổi theo thì bỗng nghe thấy một hồi chuông nhà thờ Hồi giáo gần đó báo giờ phải cầu kinh ban chiều, hắn ta lập tức nhảy xuống khỏi mình ngựa, trải chiếc chiếu luôn mang theo bên mình, quỳ hướng mặt về thủ đô Méc-ca đọc bài kinh chiều thật mau, rồi sau đó lại leo lên mình ngựa tiếp tục cuộc truy đuổi tiêu diệt kẻ thù!!!

    2- TÊN CƯỚP ĂN CHAY

    Một hôm, Cha MƠRÂY (Murray) đang âm thầm đi trên một phố vắng vào lúc đêm khuya để mang Mình Chúa cho một bệnh nhân sắp chết. Khi đi tới một góc phố vắng, bỗng một tên cướp nhảy xồ ra chĩa súng về phía cha ra lệnh: “Đứng lại! Mau nộp tiền ra đây, nếu không tao bắn chết! “Cha Mơ-rây sợ hãi vội vàng mở nút chiếc áo khoác đang mặc và lấy ra một chiếc ví. Tên cướp trông thấy chiếc áo đen của giáo sĩ cha mặc trong chiếc áo khóac, trên cổ có “côn” màu trắng, thì hắn biết là linh mục. Hắn lập tức dịu dọng và ấp úng nói: “Thưa cha, con rất tiếc vì con không biết là cha. Con thành thật xin lỗi cha. Xin cha vui lòng cất tiền đi”. Bây giờ cha Mơ-rây mới hòan hồn trở lại. Ngài móc trong túi ra một gói thuốc lá và mời hắn một điếu! Nhưng thật bất ngờ! Tên cướp xua tay từ chối với lời giải thích như sau: “Xin cám ơn cha, con đã dốc lòng chừa bỏ tật hút thuốc lá trong Mùa Chay này rồi !!!”.

    3- LÒNG MẾN THỰC SỰ BIỂU LỘ QUA HÀNH ĐỘNG YÊU THƯƠNG

    Một nhà triệu phú kia khi chết đi đã di chúc để lại toàn bộ gia tài to lớn cho một người con đi du học nước ngoài từ nhỏ, nên không ai trong dòng họ còn nhớ được khuôn mặt của anh. Sau khi tin tức về cái chết của nhà triệu phú được đăng lên báo thì có ba chàng thanh niên đến tự nhận là con traqi duy nhất của nhà triệu phú để yêu cầu được lãnh phần sản nghiệp. Sau khi suy nghĩ một lát viên quan tòa đã cho phóng lớn bức hình chụp chân dung của nhà triệu phú, rồi trao ba khẩu súng cho ba chàng thanh niên kia và bảo: Ai trong ba người bắn trúng mắt của nhà triệu phú thì sẽ được lãnh phần gia nghiệp của ông để lại. Chàng thanh niên thứ nhất đến và giơ súng bắn. Chàng thanh niên thứ hai cũng thế. Cả hai viên đạn đều bắn gần trúng mắt của bức hình. Đến phiên anh chàng thứ ba cầm súng với vẻ mặt u buồn. Anh ta im lặng suy nghĩ và cuối cùng nói: “Tôi chịu thua vì tôi không thể cầm súng nhắm bắn vào mặt của ba tôi”. Viên quan toà liền tuyên bố: “Chính người thanh niên thứ ba mới thực sự là con trai duy nhất của nhà triệu phú, vì suy nghĩ và hành động của anh đã chứng tỏ anh thực sự là con trai của ông triệu phú”. 

    Cũng vậy, lòng mến Chúa đích thực phải biểu lộ qua việc yêu người thân cận như yêu bản thân mình, như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta và mời gọi chúng ta học tập sống theo. Chính lòng mến Chúa bên trong được thể hiện qua hành động bác ái cụ thể bên ngoài mới là bằng chứng tích cực chứng tỏ một người có lòng đạo đức thực sự.

    3/ THẢO LUẬN

    1 Phải chăng chúng ta nên bỏ các việc đạo đức bề ngoài như: làm dấu Thánh giá, dự lễ, rước sách, ngắm nguyện, ăn chay, kiêng thịt, bố thí…. mà chỉ cần “giữ đạo tại tâm” là đủ? 2- Tuần này bạn sẽ làm gì để chứng tỏ lòng mến thực sự?

    4/ SUY NIỆM

    1- Lòng đạo đức thực sự không hệ tại ở kinh kệ dài dòng

    Người Hồi Giáo trong câu chuyện trên đã tuân giữ luật đọc kinh 5 lần mỗi ngày của đạo Hồi, nhưng lại không ngần ngại phạm tội ác nhúng tay vào máu của kẻ thù. Rồi tên cướp công giáo trong câu chuyện thứ hai đã quyết tâm bỏ thuốc lá để tỏ lòng sám hối Mùa Chay, nhưng lại đi trấn lột tài sản của kẻ khác. Rồi các người Pharisêu và kinh sư Do thái tuy giữ nghiêm ngặt tập tục thanh tẩy bằng nước trước khi dùng bữa, nhưng lại coi thường điều răn quan trọng của Thiên Chúa là “thảo kính cha mẹ”, khi cho phép con cái lấy của cải lẽ ra dùng để nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, biến của đó thành “Cô-ban”, nghĩa là “Của Thánh đã hiến dâng cho Thiên Chúa”, rồi không cho con cái phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu nữa! Cũng vậy, ngày nay có những người chỉ chú trọng làm một số việc đạo đức theo luật như đọc kinh, dự lễ Chúa Nhật, ăn chay kiêng thịt, bố thí… mà không chú trọng thanh tẩy tâm hồn, không giữ luật công bình bác ái trong cách ứng xử với tha nhân.

    2- Mến Chúa thực sự bên trong phải được biểu lộ qua yêu người bên ngoài

    Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng: Truyền thống cha ông, luật lệ và các lễ nghi đối với Thiên Chúa đều tốt và cần được duy trì, nhưng không được quên điều quan trọng không kém là phải thực thi giới răn yêu người. Tôn kính Thiên Chúa bằng việc dự lễ đọc kinh là bổn phận căn bản của người tín hữu, nhưng cần làm những việc đạo đức ấy với một “trái tim mới” và một “Thần Khí mới” (x. Ed 18,31) theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giêsu. 

    3- Muốn có lòng mến Chúa thực sự phải bắt đầu từ trái tim

    Lệnh truyền của Đức Chúa cho dân Ítraen: “Ta sẽ thanh tẩy các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới” (Ed 36,25tt). Đổi mới được trái tim tức là đổi mới được tất cả. Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở mỗi người tín hữu chúng ta: Truyền thống, luật lệ và nghi thức cử hành tại nhà thờ đều là việc cần thiết phải làm, nhưng không được quên điều căn bản của Luật Pháp là thực hành mến Chúa yêu người. Tôn kính Thiên Chúa qua việc đạo đức phụng vụ tại nhà thờ là điều cần phải làm, nhưng điều quan trọng hơn là ta phải có lòng mến Chúa kèm theo đức yêu người trong cuộc sống tại gia đình, khu xóm và xã hội… như lời Chúa dạy: “Từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”. Người tín hữu chúng ta cần phân biệt trong Luật pháp đâu là điều chính đâu là điều phụ. Cần ưu tiên thực hành điều chính trước, rồi sẽ đương nhiên thực hiện được mọi điều tùy phụ liên quan theo sau.

    4- Muôn có lòng mến thực sự phải năng xin ơn Chúa giúp

    Nguyên việc tuân giữ các việc đạo đức như dự lễ đọc kinh, ăn chay kiêng thịt, làm việc bác ái… cũng chưa chứng tỏ người ta có lòng đạo đức thực sự, vì họ có thể làm các việc đó để khoe khoang công đức và được người đời ca tụng… hơn là làm vì lòng mến Chúa, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm lời Chúa trách dân Ít-ra-en: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì ở xa Ta” (Mc 7,6; Is 29,13). Để chứng tỏ lòng đạo đức thực sự, chúng ta phải cầu nguyện kết hiệp với Chúa Giêsu, như thánh Phaolô đã dạy: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,14).- “Từ nay tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Mỗi ngày chúng ta nên làm việc bổn phận như đi học, đi làm, phục vụ tha nhân… kèm theo một lời nguyện tắt như: “Lạy Chúa Giêsu. Con xin làm việc này để biểu lộ lòng con yêu mến Chúa và cầu nguyện cho một người lương quen biết sớm nhận biết yêu mến Chúa”.

    5/ LỜI CẦU

    LẠY CHÚA GIÊSU. Xin biến đổi trái tim con nên giống trái tim Chúa. Ước gì con nhìn mọi sự mọi người với một cái nhìn bao dung đầy yêu thương noi gương Chúa xưa. Xin ban Thánh Thần Tình yêu đốt nóng lòng con. Xin giúp con siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ mỗi ngày cách sốt sắng, để kín múc được sức sống ân sủng từ nguồn mạch yêu thương vô tận là Thánh Tâm Chúa, để con gieo rắc tình thương của Chúa đến cho mọi người, an ủi những người đau khổ, chia sẻ cơm bánh cho kẻ khó nghèo, phục vụ những người bệnh tật và bị bỏ rơi… hầu con có thể trở nên môn đệ thực sự của Chúa.

    X/ HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
    Đ/ XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

    TÔN KÍNH BẰNG MÔI BẰNG MIỆNG

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Cuốn Christian Community Bible chú thích đoạn Lời Chúa hôm nay (Mc 7:1) như sau: “Không một nhóm nào, kể cả Giáo Hội, có thể đứng vững mà không có truyền thống tập quán. Nhưng dù tốt đến mấy, các truyền thống này đều do con người tạo ra. Như cách cử hành thánh lễ, các ngày lễ, các tuần cửu nhật v.v…, tất cả những gì một giáo hoàng, một giám mục, một cộng đoàn Ki-tô hữu đã đặt ra trong quá khứ, thì một vị giáo hoàng khác, một giám mục khác, một cộng đoàn Ki-tô hữu khác có thể thay đổi được. Chính vì tất cả những điền này có thể thay đổi nên ta hiểu ngay rằng đây không phải là điều chính yếu của đời sống Ki-tô giáo.” Cũng theo chú thích của hai anh em nhà Hurault, ta đừng lẫn lộn các truyền thống phức tạp, hay nói đúng hơn các tập tục và thói quen trải dài qua các thế kỷ của lịch sử Giáo Hội, với truyền thống của Hội Thánh; “Có một cách thức hiểu Kinh Thánh mà Chúa Giê-su và các Tông Đồ cũng đã hiểu như thế: đó là điều mà người ta gọi là truyền thống các Tông Đồ (Apostolic Tradition). Và Hột Thánh được các Tông Đồ thành lập luôn gìn giữ truyền thống này, tức là Tinh Thần của các Tông Đồ.”

    Những lời khảng định trên thật xác đáng và quan trọng. Đức Giê-su và sau đó là các Tông Đồ, đặc biệt Tông Đồ Phao-lô – cách riêng trong thư gửi các tín hữu Ro-ma và Ga-lat – đã không ngừng phân biệt rõ giữ đạo – là giữ các tập tục (mà rất nhiều khi khoác cho danh nghĩa ‘truyền thống’) – với sống niềm ‘tin’ đích thực. “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm”…, như thế giữ đạo có thể khác xa sống đức tin chân chính; “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.”

    Đối với người Do Thái của Cựu Ước thì tinh thần kính sợ và tôn thờ Đức Chúa Gia-vê là điều quan trọng hơn hết. Không có tinh thần này thì việc tuân giữ khắt khe mọi lề luật, qui định – điển hình như các luật liên quan tới việc thanh tẩy và ngày Sa-bát – thì cũng kể bằng không… Hoặc cùng lắm, cũng chỉ được coi như nắm giữ các tục lệ – tập quán do con người xuôi dòng lịch sử bày ra mà thôi.

    Thế còn đối với Ki-tô hữu – ta tự hỏi – điều răn Thiên Chúa hay truyền thống Tông Đồ cụ thể là gì? Đức Giê-su, cho dầu tuyên bố không phá bỏ giới răn hay lề luật cũ, đã hơn một lần khảng định điều răn mới mà Người để lại cho các môn đệ chính là giới luật yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Không sở đắc trong thâm sâu cõi lòng giới luật mới này thì việc giữ căn kẽ mọi qui định của Giáo Hội (kể cả việc đi lễ ngày Chúa Nhật hay giữ các ngày chay tịnh) cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Truyền thống Tông Đồ đã không ngừng đề cao điều đó: “Giả như… tôi biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non… mà không có đức mến… thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (1 Cr 13:1-3). Và chính vì để duy trì và phát huy tình mến này trong lòng mà toàn bộ cuộc sống Ki-tô hữu đều không ngừng qui hướng về hiến tế Thập Giá, nhất là qua việc cử hành Thánh Lễ. Khi dâng lễ, tín hữu cử hành ‘như Thầy yêu thương anh em’ hầu có thể ‘hãy yêu thương nhau’ trong cuộc sống. Một khi đã hiểu được ‘Thầy yêu thương’ như thế nào, và có được ‘đức mến trong lòng’, họ sẽ “cứ yêu đi, và bạn làm gì cũng được ”, như Thánh Âu-tinh đã từng tuyên bố. Tất cả các qui định của Giáo Hội lúc đó sẽ không còn được coi như gánh nặng luật lệ áp đặt từ bên ngoài (không giữ thì mắc tội), nhưng được đón nhận như những chỉ dẫn khơi nguồn tình yêu trong con tim.

    Chỉ khi đó, phải, chỉ khi đó mà thôi, các tín hữu mới thật sự hiểu được lời Đức Giê-su đã từng tuyên bố “Thầy đến không phải là để bãi bỏ Luật, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17)… Kiện toàn không phải vì khắt khe chi li hơn, nhưng là vì đưa tới sức mạnh tình yêu; và như thế đương nhiên là họ cảm thấy thảnh thơi trong việc giữ đạo, “vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:30).

    Thế nhưng chính tôi, sau bao nhiêu năm sống niềm tin Ki-tô hữu, tôi vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn thảnh thơi thoải mái, ấy là vì… tôi chưa có được khả năng thực sự ‘tin và thờ phương Thiên Chúa tình yêu trong tinh thần và chân lý’.

    Lạy Chúa! Trong hơn 70 năm cuộc đời, con đã trải nghiệm không biết bao nhiêu là đổi thay về luật lệ, truyền thống và tập tục, về mặt dân sự cũng như Giáo Hội, cả về thời gian lẫn không gian. Phải chăng điều này là một hồng ân Chúa ban, hầu con nhận ra rằng: điều quan trọng hơn hết trong niềm tin Ki-tô hữu là biết Chúa yêu con và con được sống chan hòa trong yêu thương với hết mọi người? Xin cho con không bao giờ để cho bất cứ điều luật nào lấn lướt luật tình yêu này, và còn dạy cho các tín hữu biết sống như thế nữa. A-men.

    Về mục lục

     

    TỪ TRÁI TIM CON NGƯỜI

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Suy Niệm

    Ðoạn Tin Mừng hôm nay khởi đi từ một chuyện nhỏ,
    chuyện các môn đệ không rửa tay trước khi ăn.
    Ðối với người Pharisêu, sau khi ra nơi phố chợ,
    người ta thường trở nên ô uế do đụng chạm.
    Phải rửa tay, vì tay ô uế làm đồ ăn ô uế,
    và đồ ăn ô uế sẽ khiến cả con người ô uế.
    Ðức Giêsu đã long trọng khẳng định:
    “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người
    lại có thể làm cho con người ra ô uế” (c.15).
    Khẳng định này là một cuộc cách mạng trong Do Thái giáo,
    bởi lẽ đời sống người Do Thái bị bao vây bởi nhiều cấm kỵ”
    không được ăn thịt heo, hay thịt thú chết ngạt;
    không được đụng vào xác chết, vào người phong cùi;
    không được ăn chung với dân ngoại hay vào nhà người tội lỗi…
    Ðụng vào hay ăn vào là ô uế ngay.
    Ðức Giêsu đã phạm nhiều điều cấm kỵ,
    đã phá đổ nhiều bức tường ngăn cách kẻ xấu – người tốt,
    dân Do Thái và dân ngoại, nam và nữ, nô lệ và tự do…
    Ngài hồn nhiên đến với những người bị coi là ô uế
    để làm họ nên sạch.

    Thật ra Ðức Giêsu chẳng phản đối gì chuyện rửa tay,
    nhưng Ngài thấy nó có vẻ giả hình
    vì người ta chẳng để ý đến chuyện tẩy rửa trái tim.
    Rửa tay để được yên tâm, mãn nguyện,
    tránh khỏi phải rửa tâm hồn là điều khó hơn.
    Ðức Giêsu cho ta thấy cái ô uế thực sự
    lại không đến từ đụng chạm hay ăn uống.
    Cái ô uế đáng sợ nằm ngay trong trái tim mỗi người.
    Nó không từ ngoài vào, nhưng từ trong ra.
    Ngài kẻ ra 12 ý định xấu xa bắt nguồn từ trái tim,
    ý định xấu dẫn đến hành động không đẹp (cc.21-22).

    Cần trở về với trái tim của mình.
    Ðó không phải là một cuộc dạo chơi,
    nhưng là một thách đố dám nhìn cái tôi sau lớp mặt nạ.
    “Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31).
    Ðó là lệnh truyền của Ðức Chúa,
    nhưng con người chẳng thể tự mình thay tim.
    “Ta sẽ thanh tầy các ngươi.
    Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới” (Ed 36,25tt).
    Ðổi được trái tim là đổi được tất cả.

    Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở Hội Thánh.
    Truyền thống, luật lệ và nghi thức là điều cần thiết,
    nhưng không được quên điều cốt tủy của luật Chúa là yêu thương.
    Tôn kính Thiên Chúa qua phụng vụ là điều phải làm,
    nhưng phải đặt trái tim và cuộc sống mình trong đó.
    Chúng ta vẫn có thể lẫn lộn cái chính với cái phụ.
    “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ” (c.14).
    Ðó là lời Ðức Giêsu nhắn nhủ đám đông ngày xưa
    và chúng ta hôm nay.

    Cầu Nguyện

    Lạy Chúa Giêsu,
    xin dẫn con vào nhà của con,
    căn nhà của trái tim,
    căn nhà vừa quen vừa lạ.

    Xin hãy cho con thấy
    những phức tạp, rắc rối, những che đậy, giằng co,
    những mâu thuẫn và vô lý nơi con.
    Xin hãy cho con thấy
    những nhỏ mọn, ích kỷ,
    những yếu đuối, khô khan,
    những cứng cỏi và tự ái nơi con.

    Xin cho con ý thức
    những lo âu, sợ hãi
    đang đè nặng làm con ngột ngạt,
    những nỗi đau thầm kín khiến đời con mất vui,
    những vết thương không biết bao giờ lành,
    những đỗ vỡ khiến lòng con khép lại.

    Lạy Chúa Giêsu,
    xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con.
    Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,
    hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.

    Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,
    bằng trái tim bao dung của Chúa.
    Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,
    trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn
    để yêu mến mọi người. Amen.

    Về mục lục

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Gs 24,1-2a.15-17.18b; Ep 5,21-32; Ga 6, 54a. 60-69

    ———

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Tin và trung thành với đức tin (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Bỏ Thầy con biết theo ai? (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    3. Lời Chúa là Lời Hằng Sống (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    4. Lời Hằng Sống  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    5. Chọn lựa căn bản  (Lm. Louis M. Nhiên, CRM)

    6. Bỏ Ngài con biết theo ai? (Lm. Đinh Lập Liễm)

    7. Đi theo ai  (Lm. Nguyễn Thái)

    8. Suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

    9. Suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    10. Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa  (Fx. Đỗ Công Minh)

    11. Quyết bước theo Chúa (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    12. Gắn bó với Chúa Kitô (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    13. Lời Chúa là Thần khí và sự sống  (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

    14. Niềm xác tín  (Trầm Thiên Thu)

    15. Bỏ Thầy con sẽ theo ai? (Lm. Trần Bình Trọng)

    16. Lòng trung thành  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

    17. Suy niệm chú giải lời Chúa – Chúa Nhật 21 TN_B  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    18. Lòng trung thành.  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    19. Chọn lựa khôn ngoan (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    20. Đức tin sống động  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    21. Hoang đường   (Lm. Vũ Đình Tường)

    22. Cả các anh cũng tính bỏ đi hay sao? (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    23. Trao ban sự sống thần linh  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    24. Thanh tẩy bằng Lời Chúa  (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    25. Chọn lựa: Một hành vi không dễ  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    26. Chúa Nhật 21 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

     

     

    Năm 2015.

    Mục lục

    1. Chọn lựa và trung thành (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Hành trình đức tin (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Chúa chính là hạnh phúc (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Các con cho Thầy là ai? (Lm. D. Nguyễn Ngọc Long)

    5. Bánh Lời Chúa (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Trong anh em có những kẻ không tin (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    7. Trung thành hay phản bội  (Văn Hào, SDB)

    8. Trung Ngôn Nghịch Nhĩ  (Trầm Thiên Thu)

    9. Chúa Nhật 21 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

    10. Mầu nhiệm Giêsu  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

    11. Lời Hằng Sống  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    12. Chúa mới có lời ban sự sống (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    13. Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời (Lm. Đan Vinh)

     

     

    TIN VÀ TRUNG THÀNH VỚI ĐỨC TIN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Tin là chấp nhận một chuỗi những điều xem ra “vô lý” đối với lý trí con người. Chấp nhận sống theo đức tin là giống như người đứng bên này đỉnh đồi lao mình vào vòng tay Thiên Chúa, khi Ngài đứng đỉnh đồi bên kia. Chính vì thế, đức tin phải đi đôi với lòng trung thành và sự tín thác. Nên thánh chính là trung thành với đức tin đã lãnh nhận, và cố gắng mỗi ngày để đức tin ấy được trọn vẹn tinh tuyền nơi cuộc đời chúng ta.

    Theo giáo lý của Giáo Hội, “Tín điều” là những điều buộc người tín hữu phải tin. Ai không tin những tín điều đã được Giáo Hội tuyên tín, thì người đó được kể như người không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Trong năm Chúa nhật kế tiếp, Phụng vụ giáo huấn chúng ta về Thánh Thể, khẳng định nơi Hình Bánh và Hình Rượu, có sự hiện diện trọn vẹn của Đức Giêsu. Công đồng Tridentinô ở thế kỷ thứ 16 đã khẳng định sự hiện diện này bằng ba trạng từ: đích thực (vraiment), thật sự (réelle) và theo bản thể (substantielle). Trong Bí tích Thánh Thể, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô hiện diện. Sự hiện diện này không thể giải thích bằng lý trí.

    Trong lịch sử, đã có những phép lạ Thánh Thể cho thấy sau khi truyền phép, Bánh trở nên thịt thật, và những phân tích khoa học cho thấy phần thịt này có những tế bào như thịt người. Tuy vậy, không chỉ có những trường hợp vừa nêu mới là phép lạ, nhưng mỗi khi linh mục cử hành Thánh lễ, đọc lời “truyền phép”, thì phép lạ xảy ra, đó là sự “biến đổi bản thể” của bánh và rượu để trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu. Đức tin khẳng định với chúng ta điều ấy.

    Cũng trong lịch sử, đã có những ý kiến bất đồng về Thánh Thể và làm cho Bí tích này trở nên một trong những nguyên nhân gây chia rẽ nghiêm trọng giữa các Kitô hữu. Vì Bí tích Thánh Thể là “Mầu nhiệm của đức tin”, nên chỉ có đức tin và sự tuân phục mới giúp ta nhận ra sự cao quý của Bí tích này. Ngay khi Chúa Giêsu nói về Bánh hằng sống, người Do Thái, và ngay cả các môn đệ cũng đã có phản ứng rồi. Vì vậy, thời nào cũng có những người tin và những người không tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong Bí tích này.

    Đoạn Tin Mừng được đọc trong thánh lễ hôm nay là phần kết thúc cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh hằng sống. Trước những lời tuyên bố của Chúa Giêsu, một số người thấy chói tai và dần dần bỏ đi. Phần lớn những người này đến với Chúa với ước mong được nhận lãnh bánh nuôi sống thể xác, giống như phép lạ ngoạn mục Người mới làm cách đó vài ngày. Ở đây, Chúa lại nói về một thứ bánh thiêng liêng. Ai lãnh nhận Bánh này sẽ được sự sống đời này và sự sống vĩnh cửu đời sau. Khá nhiều người bỏ đi vì họ coi những điều Chúa Giêsu đang nói là ảo tưởng, phi thực tế. Niềm tin vào Bánh hằng sống cũng vấp phải phản ứng của chính một số môn đệ. Thánh Gioan đã viết một cách buồn bã: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”. Họ đã ra đi trong thất vọng, vì hình ảnh của họ vốn có về Đấng Thiên sai hoàn toàn khác biệt với sứ mạng và giáo huấn thực sự của Chúa Giêsu. Khi đối diện với những thử thách gian truân, người tín hữu được mời gọi bày tỏ lòng trung thành với Người. Lòng trung thành cần phải có để đón nhận những chân lý cao siêu mặc dù chưa lý giải thỏa đáng.

    Thánh Phêrô, vị Tông đồ trưởng, đã chứng tỏ lòng trung thành ấy trong bối cảnh có nhiều người bỏ đi. Người ta thường nói ở đời “phù thịnh chứ không ai phù suy”. Phêrô là một người can đảm. Ông đã “phù suy” khi tuyên thệ theo Chúa vào lúc dường như mọi người đã bỏ Người. Ông đã tìm được sự chọn lựa tốt nhất cho đời mình. Theo Chúa là lý tưởng và là sự sống còn của ông, như lời ông nói: “Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Có lẽ ông cũng đã đắn đo cân nhắc xem theo Chúa thì được những gì và mất những gì, như có lần ông đã đặt câu hỏi với Thầy mình. Giờ đây, Phêrô như một người từng trải kinh nghiệm chắc chắn trong cuộc đời. Ông khẳng khái tuyên xưng Đức tin vào Chúa, dù mọi người rút lui. Sau này, chúng ta còn được nghe lời tuyên bố của Phêrô trong bữa tiêc ly: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng!” (Lc 22,34). Lời tuyên bố này về sau không được tuân giữ, do việc Phêrô chối thày mình ba lần, nhưng không vì thế mà làm giảm lòng nhiệt thành, hăng say và tâm huyết của vị Tông đồ trưởng.

    Đời sống Kitô hữu là một lựa chọn. Chúng ta chọn Chúa là lý tưởng của đời sống chúng ta. Trước những cám dỗ và bon chen vì cơm áo gạo tiền, có những lúc chúng ta quên mất sự lựa chọn ấy. Bài đọc I kể với chúng ta, sau khi vào Đất hứa, ông Giôsuê đã tập hợp dân Do Thái ở một nơi gọi là Sikhem để cùng nhau nhìn lại hành trình sa mạc kéo dài 40 năm. Trong hành trình này, người Do Thái gặp nhiều gian nan thử thách. Có nhiều người phạm lỗi với Chúa do kiêu ngạo, ích kỷ và phạm các giới răn. Họ còn thờ lạy  thần linh của các dân ngoại. Tại Sikhem, ông Giôsuê kêu gọi một cuộc thanh tẩy toàn dân, để dứt bỏ quá khứ, bước sang một trang sử mới. Vị thủ lãnh mời gọi dân hãy chọn lựa Chúa và sống theo giới luật Ngài đã truyền ban cho các bậc tổ tiên. “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác”. Lời tuyên xưng của dân chúng thật mạnh mẽ quyết liệt, thể hiện sự gắn bó trung thành với Đấng đã cứu họ khỏi Ai Cập và dẫn đưa họ vào Đất hứa.

    Có thể vào những lúc đen tối của cuộc đời, Chúa hỏi chúng ta: “Con có muốn bỏ Thầy mà đi không?”. Xin cho chúng ta có đủ can đảm để thưa như thánh Phêrô: ““Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Được như vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta.

    Về mục lục

    .

    BỎ THẦY CON BIẾT THEO AI?

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi  

    Cái trớ trêu của con người vẫn là những gì họ nhìn, thấy, rồi mới tin Đặc biệt trên lãnh vực siêu nhiên, mầu nhiệm là điều phải có đức tin mới hiểu được.Người ta không thể dùng lý trí tự nhiên để lý luận, phân tích vv…Tất cả các mầu nhiệm, người Kitô hữu chỉ có thể hiểu nhờ đức tin. Do đó, khi nói tới lương thực, cơm, bánh, con người cảm nhận được liền, nhưng nói tới những gì trên Cung Trăng, trên  Sao Hỏa chẳng hạn, người bình dân rất khó nhận biết!

    Chính vì thế, khi nói tới Bánh Trường Sinh, Bánh Ban Sự Sống những người đồng thời với Chúa Giêsu hầu như không hiểu gì ! Các môn đệ cũng rơi vào kinh nghiệm khủng hoảng đức tin ấy…

    Thực vậy, khi nghe Đức Giêsu tuyên bố, Người sẽ để lại cho nhân loại, cho con người Thịt và Máu Người, nhiều môn đệ đã phản ứng lại :” Lời này chói tai quá, ai mà nghe được “ ( Ga 6, 60 ). Từ lúc đó, theo thánh Gioan tường thuật :” …Có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa “ ( Ga 6, 66 ). Những người này đã theo Chúa Giêsu một thời gian, đã tin và đã trở thành môn đệ của Người, nhưng họ đã không theo Người tới cùng. Theo Chúa là một hành động chọn lựa hoặc theo Người hoặc chọn những thứ mà thế gian ban tặng: địa vị, danh vọng, của cải vv…Chúa Giêsu đã muốn các môn đệ xác định lại mục đích khi theo Chúa :” Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?”.

    Vâng, theo Chúa không phải là sự chọn lựa một lần, đó là đòi hỏi xác định lại sự lựa chọn của mình hằng giờ, hằng ngày và mãi mãi chon Người. Có những người đã là con Chúa, nhưng thực tế họ đã không trung thành với Chúa, đã không theo Chúa tới cùng. Bước Đức Kitô là bước vào một cuộc thử thách gay go : trung tín hay bỏ Người giữa đường. Theo Chúa là đòi hỏi đi tới cùng, trung tín với Người mãi mãi.

    Tại sao nhóm thứ nhất bỏ đi, nhóm thứ hai ở lại với Chúa tới cùng. Bởi vì, nhóm thứ nhất theo Chúa nhưng còn tính toán lợi hại, theo Chúa nhưng đắn đo tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm địa vị, danh vọng vv…Nên, khi Chúa nói :” Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời “. Họ rút lui, không theo Chúa nữa vì chẳng hiểu gì, họ tính toán hơn thịêt, bỏ Người không thương tiếc. Còn nhóm thứ hai khi nghe lời khẳng định, tuyên bố của Chúa Giêsu, Phêrô thay mặt các môn đệ khác, đã thưa với Chúa :” Bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? “ ( Ga 6, 68 ). Thánh Phêrô và các môn đệ khác đã nhận ra Chúa mới là hạnh phúc đích thực mà họ đang tìm kiếm. Các Ngài tin và xác tin chỉ có “ Thầy mới là Đấng có Lời ban sự sống “ như Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo viết :” Thiên Chúa luôn lôi kéo con người vì nơi Người con người mới tìm được chân lý và hạnh phúc đích thực. Và hạnh phúc đích thực là được sống mật thiết với Chúa “. Phêrô đã nhận ra Chúa là Tình Yêu, Chúa là Đường,Sự Thật và là Sự Sống . Do đó, đứng trước thử thách gay go, Phêrô vẫn tuyên xưng :” Thầy là Đấng Kitoô, Con Thiên Chúa”( Ga 6, 52 ).

    Ngày nay, trong cuộc hành trình đức tin theo Chúa, có những lúc chúng ta cũng gặp những thử thách căm go như bị lung lay về đức tin, vì những trào lưu hưởng thụ, những cám dỗ của văn minh sự chết: tiền tài, xác thịt, danh vọng vv…Những lúc đó chúng ta hãy nhìn lên Chúa và thân thưa với Chúa với tất cả tấm lòng :” Bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Vì Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời “.

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết một niềm tín thác vào Chúa.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Tại sao khi Chúa tuyên bố:” Ta là Bánh Trường Sinh “ lại có những môn đệ rút lui, bỏ Chúa ?

    2.Thái độ của Phêrô thì sao ?

    3.Chúng ta phải có thái độ nào trước những cám dỗ của thế gian?

    4.Bí Tích Thánh Thể giúp chúng ta thế nào ?

    Về mục lục

    .

    LỜI CHÚA LÀ LỜI HẰNG SỐNG

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Từ xưa đến nay, sống trường thọ luôn là mơ ước của toàn nhân loại. Không hiếm các bậc đế vương trong lịch sử hao công tốn của đi tìm kiếm. Hiện nay, dù cho khoa học có rất nhiều tiến bộ, đời sống con người ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống cũng như tuổi thọ được nâng cao, nhưng cái đích cuộc sống bất tử có lẽ còn rất xa con người hay bất cứ ai muốn đạt được điều kỳ diệu ấy. Bất tử, đồng nghĩa với không phải chết, hay sống đời đời.

    Phụng vụ lời Chúa hôm nay chỉ cho chúng ta một bí quyết, chọn Chúa thì sẽ được sống tự do, sống vui và sống sống hạnh phục (x. Gs 24, 1-2a. 15-17. 18b), theo Chúa, kết hợp với Chúa thì sẽ được sống đời đời, lời thánh Phêrô khẳng định, “chỉ có Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (x. Ga 6,68).
    Chọn Chúa để được sống

    Sinh ra sống ở trên đời, con người được đặt trước những lựa chọn. Chọn cho mình một lý tưởng, một hướng đi là điều rất quan trọng nhất, chọn đúng thì hạnh phúc, chọn sai sẽ có điều ngược lại. Ai trong chúng ta cũng phải đối diện với sự chọn lựa ấy, dân Do thái thời được Giôsuê đặt trước những chọn lựa : ” Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tùy ý chọn thần mà thờ…”. Dân đáp lại : “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Thiên Chúa, mà phụng thờ các thần khác. Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông của chúng tôi lên từ đất Ai Cập, từ nhà nô lệ…” (Gs 24, 15-17). Dân đã chọn Chúa để được sống trong tự do làm con cái Chúa là Chúa sự sống.

    Chọn Giêsu Bánh Hằng Sống

    Đoạn Tin Mừng hôm nay dẫn chúng ta về Capharnaum, nơi có rất nhiều người theo Chúa Giêsu vì họ đã thấy phép lạ Chúa làm, đặc biệt sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng. Về phương diện xã hội, chính tại nơi đây Chúa Giêsu có nguy cơ “chết vì thành công”, như Tin Mừng mô tả, họ muốn tôn Người lên làm vua (x. Ga 6, 15). Đây là thời điểm quan trọng trong cuộc đời rao giảng của Chúa Kitô. Chính thời điểm này, Người bắt đầu mạc khải rõ nét về về Bánh Hằng Sống là chính Người với những lời xác quyết về sự sống siêu nhiên qua điệp của Người.

    Khát vọng của con người là được sống trường sinh. Ngay từ thủa ban đầu, Adam va Evà đã hái và ăn trái cấm, vì tin rằng trái này sẽ làm cho mình sống mãi, không phải chết. Bất tử trên đời này là một điều thú vị và ai cũng khao khát, nhưng xem ra không tìm thấy ở trần gian này.

    Chúa Giêsu mời gọi chúng ta ăn và uống chính thịt và máu Người để được sống đời đời. Điều này có nghĩa là chúng ta được mời gọi “ăn” và “uống” không phải một sự vật, nhưng là “ăn thịt và uống máu con người có tên Giêsu” một ngôi vị sống động. Người tha thiết mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, ở lại trong Người như thánh Phaolô : “Không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi” (), nghĩa là ai đón rược Chúa vào trong cuộc đời, được Chúa trở thành xương thịt, thành sự sống cho người ấy. Chẳng những thịt máu Chúa nuôi sống mà Lời Chúa cũng mang lại cho chúng ta sự sống đời đời cho những kẻ nghe Người. Thế nhưng không phải ai cũng có thể lĩnh hội được.

    Lời từ miệng Chúa phán ra với đám đông dân chúng khiến Chúa gặp rắc rối với họ, đến nhóm môn đệ Chúa cũng còn nói : “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6, 60).

    Một ai đó nói rằng, trong lịch sử Giáo hội, những người vĩ đại giống như những những cây cột không thể phá hủy khi đổ xuống : “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa” (Ga 6,66). Chúng ta có thể gục ngã, “bỏ qua”, ra đi, chỉ trích, hay tiếp thu những Lời Chúa Giêsu nói trên vào trong tâm trí chúng ta. Với sự khiêm nhường và tin tưởng, chúng ta hãy thưa với Chúa Giêsu rằng, lạy Chúa chúng con muốn trung thành với Chúa hôm nay, mai ngày và mãi mãi. Xin Chúa giúp chúng ta hiểu rằng thật vô ích khi tranh luận về lời giảng dạy của Thiên Chúa hay Giáo hội nên chúng ta nói với nhau rằng “Tôi không hiểu” ; “Lạy Thầy, chúng ta sẽ đi theo ai?” (Ga 6,68). Chúng ta nên xin một ơn phân định siêu nhiên hơn. Chỉ trong Thiên Chúa và Giáo hội chúng ta sẽ tìm thấy Lời ban sự sống đời đời : “Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68).

    Lời Đức Kitô mang lại sự sống đời đời

    Giống như Phêrô, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu nói với chúng ta bằng ngôn ngữ siêu nhiên, một ngôn ngữ mà chúng ta phải đồng ý và đồng hóa để hiểu ý nghĩa, nếu không chúng ta chỉ nghe thấy những tiếng ồn không mạch lạc và khó chịu. Giống như Phêrô, trong đời sống Kitô hữu chúng ta có những khoảnh khắc, chúng ta phải tự làm mới và bày tỏ chính mình với Chúa Giêsu để thưa với Chúa rằng chúng con ở với Chúa và chúng con muốn tiếp tục theo Chúa. Phêrô yêu mến Chúa Giêsu, và đó là lý do tại sao ông ở lại với Chúa, những người khác yêu Chúa chỉ vì cơm bánh, trẻ em theo Chúa vì “kẹo”, số người khác vì lý do chính trị đã bỏ rơi Chúa. Bí mật của lòng trung thành là tình yêu và sự tin tưởng.

    Chúng ta hãy xin Đức Maria là Đức Nữ trung tín thật thà giúp chúng ta từ bây giờ trung thành với Chúa và với Giáo hội.

    Về mục lục

    .

    LỜI HẰNG SỐNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Chúa ban Thịt Máu nuôi hồn,
    Bánh thiêng hằng sống, suy tôn Ngôi Lời.
    Môn đồ lẩm bẩm nặng lời,
    Chói tai bực bội, lạ đời khó nghe.
    Số người chán nản lập phe,
    Rời Thầy bỏ lối, vào bè rút lui.
    Môn đồ trung tín mừng vui,
    Có Thầy dẫn bước, tin vui cuộc đời
    Lời Thầy thần trí cao vời,
    Tuôn ban sự sống, cho người trần gian.
    Thần lương Chúa đã thương ban,
    Của ăn sức sống, ngập tràn yêu thương.
    Tin mừng mạc khải dẫn đường,
    Lắng nghe Lời Chúa, hiến chương Nước Trời.
    Lời ban sự sống đời đời,
    Tự do chọn lựa, gọi mời bước theo.

    Chúa phán: Những lời Ta nói với các ngươi là thần trí và là sự sống. Khi Chúa Giêsu kết thúc bài nói về bánh hằng sống, chính là Thịt Máu của Ngài. Ai ăn sẽ được sống đời đời. Có nhiều môn đệ cảm thấy lời đó khó nghe nên lẩm bẩm khó chịu nói rằng: Lời này chói tai qúa. Lời của Chúa làm chói tai, có nghĩa là họ không thể chấp nhận được. Lời Chúa là lời hằng sống có sức thánh hóa và biến đổi tâm hồn. Khi không chấp nhận nó sẽ trở thành một thách thức và gánh nặng.

    Thiên Chúa tạo dựng con người, Ngài ban cho những đặc quyền trên muông thú. Ngài ban cho con người có lý trí và có tự do. Có trí khôn để suy xét và có tự do để chọn lựa điều hay lẽ phải. Khi Chúa tạo dựng nên chúng ta, Chúa không cần hỏi ý kiến của chúng ta, nhưng muốn cứu chuộc, Chúa dành cho chúng ta có quyền được lựa chọn.

    Truyện kể về bác sĩ Victor France, người Do Thái, khi ông bị bắt giam tại trại tập trung của Đức Quốc Xã. Ông đã bị tước đoạt tất cả và bị lột hết quần áo. Bị kinh bỉ tới cùng tận. Ông không còn gì. Chính trong giây phút đó, ông đã nhận ra rằng ông có một thứ mà không ai có quyền tước đoạt. Ông có toàn quyền chọn cho mình một thái độ. Thái độ chọn lựa là của chính ông. Ông có thể tha thứ hay kết án, bỏ cuộc hay tiếp tục, ghen ghét hay hy vọng. Đây chính là sự lựa chọn và là sức mạnh vô song của con người.

    Biết bao vị thánh tử đạo đã chọn lựa con đường theo Chúa. Dù có phải khổ đau, chém đầu, xử giảo hay tù đầy, các ngài vẫn chọn lựa niềm tin trung kiên vào Chúa Kitô. Các Tông đồ xưa sau khi nghe Chúa nói về bánh hằng sống từ trời xuống, các ngài đã chấp nhận và chọn Chúa là Thầy và là Chúa. Các ngài biết rằng chọn Chúa, các ngài sẽ bị bắt bớ, bị cầm tù, bị khinh bỉ và bị giết vì danh Chúa nhưng các ngài luôn xác tín rằng họ sẽ được chung hưởng hạnh phúc đời đời.

    Chúng ta cũng có quyền lựa chọn theo Chúa hay không theo. Biết rằng chọn theo Chúa là chọn con đường đi vào sự sống. Theo Chúa thì cần phải quyết tâm và từ bỏ. Quyết tâm sống theo lời Chúa dậy, thực hành các giới răn và tuân theo ý Chúa. Từ bỏ những danh, lợi, thú ở đời để chúng ta cùng vác thánh giá hằng ngày mà theo Chúa. Hãy đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chúa có lời ban sự sống đời đời. Lạy Chúa, bỏ Chúa chúng con biết theo ai.

    Về mục lục

    .

    CHỌN LỰA CĂN BẢN

    Lm. Louis M. Nhiên

    Một chủ nông trại nọ thuê một người thanh niên đến nhặt khoai tây cho nông trại. Công việc xem ra thật đơn giản: chỉ cần phân loại các củ khoai tây và cho vào sọt. Lớn theo lớn, trung bình theo trung bình, và nhỏ theo nhỏ. Sau một vài ngày làm việc, người thanh niên đến gặp ông chủ và xin nghỉ việc, gương mặt anh hốc hác và mệt mỏi. Được hỏi lý do, anh giải thích như sau: “Công việc ông giao phó không phải là công việc nặng nhọc, nhưng điều làm cho tôi nhức óc đó là phải chọn lựa.” (Lẽ Sống, trang 117).

    Đời là một chuỗi những chọn lựa và quyết định. Trước ngưỡng cửa đại học các sinh viên học sinh phải đối diện với những chọn lựa:  Chọn ngành gì, chọn trường nào, bạn cùng phòng với ai? Các bạn trẻ lại phải đối diện với việc chọn lập gia đình hay đi tu, sống độc thân?  Các gia đình chọn sống ở nơi này hay di chuyển đến nơi khác, nên mua nhà hay thuê nhà?

    Trong những sự lựa chọn đó, đã có những lần mỗi người chúng ta phải đối diện với những chọn lựa đầy quan trọng có ảnh hưởng chi phối tới cả cuộc sống con người.

    Bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến một sự chọn lựa căn bản cho cuộc sống người Công Giáo chúng ta: Chọn theo Chúa hay chọn từ bỏ không theo Chúa. Bài đọc thứ nhất ông Giosuê đã nói với dân chúng:  “Nếu các người không muốn tôn thờ Thiên Chúa, các người có quyền chọn lựa… Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa.” Rồi bài Tin Mừng ghi lại: “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Ngài nữa,”vì những điều Chúa dạy về phép Thánh Thể làm cho họ chói tai không thể chấp nhận được.

    Chọn Chúa đã khó, theo Chúa lại càng khó khăn hơn nữa. Nhiều môn đệ đã không theo Chúa vì đã không hiểu được giáo lý cao siêu về phép Thánh Thể, nhưng ngày nay có những người từ bỏ không theo Chúa không phải vì không hiểu giáo lý cao siêu, nhưng chỉ vì những lý do tầm thường, vì nhu cầu vật chất, vì miếng cơm manh áo.

    Khi mới qua Mỹ năm 1975, có cha giảng rằng: “Vì để giữ được đạo, để theo Chúa, chúng ta đã phải bỏ quê hương Việt Nam, sang tị nạn nơi nước Mỹ này, nhưng nếu không cẩn thận để ý, thì chúng ta lại bỏ Chúa vì những nhu cầu vật chất tầm thường.”

    Điều này đã đang xảy ra. Cách đây khá lâu, một cha ở Texas chia sẻ rằng người Việt Công Giáo nơi cha đang thi hành mục vụ: “May mà không may.” Khi xin cắt nghĩa, cha giải thích:  “May là họ có nghề may, nhưng không may ở chỗ vì làm nhiều ăn nhiều, may nhiều ăn nhiều nên nhiều người đã may ngày chưa đủ, bỏ ngủ may đêm, may quên giờ nghỉ, rồi bỏ cả đi lễ Chúa Nhật, bỏ quên Chúa.  May mà không may là như thế.”

    Chọn Chúa đã khó, theo Chúa lại càng khó hơn nữa nhất là trong xã hội hôm nay. Một lần tôi gặp một chị Việt Nam, trong khi trò chuyện chị cho biết chị là người Công Giáo, nhưng chị không đi lễ Chúa Nhật lý do là chị đã phải đi làm một tuần 6 ngày, còn ngày Chúa Nhật chị ở nhà thu dọn nhà cửa, lo mua đồ ăn cho tuần tới thành ra không có thời giờ đi lễ, nhưng chị vẫn luôn tin nơi Chúa và vẫn giữ đạo tại tâm. Tôi khuyên bảo chị là nên biết ơn Thiên Chúa và cố gắng sắp xếp thời giờ tham dự thánh lễ hàng tuần như một hành động tạ ơn cám tạ Chúa vì muôn ơn lành chị và gia đình đã đang lãnh nhận.

    Câu hỏi mà ông Giosuê đã hỏi người Do Thái và câu hỏi Chúa đã hỏi các môn đệ: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” cũng là câu hỏi cho từng người chúng ta hôm nay.  Các người Do Thái đã trả lời không có chuyện bỏ Chúa để thờ thần ngoại vì Chúa đã thương giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ và đã làm nơi họ những điều kỳ diệu, còn thánh Phêrô đã đại diện trả lời: “Bỏ Thầy, chúng con biết đi theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống.”Chúa cũng đã yêu thương kêu gọi chúng ta theo Chúa, cho chúng ta được sống trong đất nước văn minh tự do này, và điều quan trọng chúng ta cần để ý đó là: Tình yêu cũng như niềm tin không thể bị ép buộc, và trước cuộc sống đời đời, không ai, không ai có thể chọn lựa hay quyết định giùm cho chúng ta được trừ chính chúng ta, và Thiên Chúa đã đang chờ đợi câu trả lời bằng cuộc sống của mỗi người chúng ta.

    Về mục lục

    .

    BỎ NGÀI CON BIẾT THEO AI?

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Bài đọc 1 hôm nay thuật lại cho chúng ta biết: vào khoảng năm 1200 trước kỷ nguyên, dân Do Thái đã vượt qua sông Giorđan để vào đất hứa dưới sự hướng dẫn của ông Giosuê. Ông đã triệu tập toàn thể dân chúng lại và nói với họ: ”Hôm nay, các ngươi hãy tùy ý chọn lựa phải tôn thờ ai, Thiên Chúa hay các tà thần?” Toàn dân đã thưa với ông Giosuê: ”Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Thiên Chúa mà tôn thờ những thần ngoại lai, vì Chúa là Thiên Chúa chúng tôi” (Jos 24:1-18).

    Trước lời tuyên bố của Đức Giêsu: ”Thịt Ta là của ăn, máu Ta là của uống” thì không những đám dân chúng mà nhiều trong số các môn đệ đã phản ứng như những người Do Thái khác: ”Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6,60)? Khi nghe Đức Giêsu nói vậy, nhiều môn đệ, tuy được sống gần Ngài một thời gian, cũng rút lui, từ giã Ngài: ”Từ bấy giờ, có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Ngài nữa” (Ga 6,66). Họ đã theo Ngài một thời gian, đã tin, đã trở thành môn đệ, nhưng họ không thể đi tới cùng.

    Đứng trước sự tan rã bi đát này, Đức Giêsu quay về Nhóm Mười Hai, những người được coi là thân tín nhất của Ngài: ”Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không?” Thánh Phêrô đã thay mặt cho cả Nhóm nói lên thái độ của họ: ”Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa“ (Jn 6:67-69).

    Như vậy, Thánh Phêrô đã đại diện cho anh em nói lên một lời tuyên xưng rất trọn vẹn và đầy đủ, Ngài có những lời ban sự sống đời đời. Do đó, những lời tuyên bố, quả quyết và khẳng định trong bài giảng về Bánh Hằng Sống này thực sự là theo nghĩa đen thông thường nói về phép Thánh Thể.

    Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà chọn lựa là liều lĩnh, vì không bao giờ ta nắm chắc được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn suy nghĩ, cân nhắc theo như ta có thể, rồi ta cứ tiến bước.

    Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Có lẽ chỉ trừ việc sinh ra và cái chết là người ta không lựa chọn được (Ph 1:22-23), còn tất cả mọi việc khác thì người ta phải lựa chọn. Và chính sự lựa chọn này sẽ định hướng và đánh giá cuộc đời của mình. Nghĩa là nếu chọn đúng, chọn khéo thì đời mình sẽ tốt, sẽ hạnh phúc; còn nếu chọn ẩu, chọn sai thì cuộc đời sẽ xấu, sẽ bất hạnh.

    Nói đến lựa chọn là giả thiết phải có sự tự do trong đó. Nếu ai bị ép buộc phải làm một việc gì ngoài ý muốn thì không còn là tự do lựa chọn nữa, mà là sự bó buộc (ICor 9:17). Chính sự tự do trong lựa chọn làm cho chúng ta phải suy nghĩ, phải day dứt vì phải có trách nhiệm trong việc lựa chọn, phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.

    Bất cứ cách nào, lựa chọn là phải liều, phải chấp nhận một tương lai bấp bênh, phải chấp nhận hậu quả của việc lựa chọn ấy, mặc dầu phải hy sinh rất nhiều. Trong chọn lựa việc kết hôn, chúng ta sẽ thấy rõ đặc tính của sự lựa chọn ấy: “Nhà anh chẳng chiếu chẳng giường. Chỉ ấm ổ rạ, nàng thương chăng là? Yêu nhau chẳng quản cửa nhà. Chuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo.”

    Đức Gioan Phaolô II thường khuyên những người đến với Ngài rằng: Chúng con phải lựa chọn. Chọn là một quyết định lớn và quan trọng của đời người. Chúng ta đã chọn. Và chúng ta còn phải tiếp tục chọn, vì đời là một tiến trình, đời là một cuộc đổi mới không ngừng nghỉ. Khẩu hiệu của Đức Gioan 23 là: Giờ đây tôi mới khởi sự (Rev 21:5). Mỗi ngày chúng ta phải khởi đầu với sự lựa chọn.

    Mà sự lựa chọn căn bản và quan trọng nhất của cuộc sống là chọn Đấng chúng ta tôn thờ. Chúng ta phải chọn Chúa là thần tượng vì Ngài là một vị thần siêu việt, tuyệt đối đáng tôn thờ. Ta không được bắt chước dân Do Thái xưa thờ con bò vàng thay vì Ngài (Ex 32:1-6). Chính Đức Giêsu cũng khuyên: ”Không ai có thể làm tôi hai chủ… Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6, 24).

    Nhưng Thiên Chúa là Đấng vô hình, ta không thể tiếp cận với Ngài, ta cần phải có một thần tượng nào gần chúng ta hơn, vị thần ấy đã nói: ”Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Jn 14:9) và Đấng ấy đã nói: ”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

    Sự lựa chọn của chúng ta sẽ mang lại phần thưởng mà Thánh Phêrô và các Tông Đồ xưa đã nhận lãnh, đó là được chia sẻ tấm bánh hằng sống, Mình và Máu Đức Kitô. Được chết đi với Chúa mỗi ngày (ICor 15:31) để được sống lại với Chúa trong hạnh phúc và vinh quang. Chính Thánh Thể là cớ vấp phạm cho các môn đệ khiến họ từ bỏ Chúa, và ngày nay cũng có những người không chấp nhận được mầu nhiệm này. Đây là một lựa chọn quan trọng có liên quan đến cuộc đời mai hậu của ta.

    Nhiều môn đệ đã bị thử thách về bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống cũng sẽ có những giây phút chúng ta cũng bị thách đố như các môn đệ, và có thể chúng ta cũng bị cám dỗ từ bỏ Chúa, không theo Ngài nữa. Những lúc đó, chúng ta đừng để mình vấp phạm những lỗi lầm giống như các môn đệ xưa đã vấp phải, nghĩa là đừng chỉ lo chú tâm đến những vấn đề xẩy đến cho chúng ta, mà hãy đưa mắt nhìn vào Đức Giêsu; chúng ta hãy xác nhận lại niềm tin vào Ngài như Thánh Phêrô đã làm: ”Lạy Thầy, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Jn 6:68-69).

    Trong ngày chịu phép Rửa tội, Linh mục hỏi chúng ta có từ bỏ ma quỉ và những việc làm của chúng không? Cha mẹ chúng ta hay chính chúng ta đã quả quyết thưa từ bỏ. Ta lại còn tuyên xưng và tin theo Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Chúng ta đã chọn Thiên Chúa là gia nghiệp của mình. Rồi trong mỗi dịp lễ Phục Sinh, từng người chúng ta lại có dịp bầy tỏ sự lựa chọn của mình một lần nữa khi tuyên xưng đức tin và lại tuyên bố từ bỏ ma quỉ và các việc của của chúng.

    Chúng ta đã chọn Chúa và chỉ chọn một mình Chúa chứ không thể chọn cả hai, không được thờ hai chủ. Lựa chọn một lần chưa đủ, còn phải lặp đi lặp lại nhiều lần; nó phải được thể hiện qua những lựa chọn nho nhỏ trong mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: chọn Chúa. Chọn lựa đúng thì được sống và chọn lựa sai thì chết (Sir 15:16-17; Deut 21:26-28).

    Ở đô thị Jaffa xứ Palestina, có một khu đất gọi là khu đất quyết định. Các sông ngòi chảy vào khu đất ấy lưỡng lự một lúc rồi mới chảy sang một trong hai hướng. Những sông ngòi theo một hướng thì chảy vào khu vườn Sharon xinh đẹp. Còn những sông ngoài theo hướng kia thì chảy vào Biển Chết, biển này không có một sinh vật nào sống nổi. Cuộc đời chúng ta cũng thế. Chúng ta phải chọn một hướng, không ai có thể làm tôi hai chủ: “Một nhà hai chủ không hoà. Hai vua một nuớc ắt là không yên.”

    Chọn lựa tự do, nhưng chọn lựa lại là giới hạn. Khi đã có một chọn lựa là chúng ta phải biết tự giới hạn mình. Chính Đức Giêsu khi chọn con đường cứu độ nhân loại, Ngài cũng đã phải chấp nhận thân phận giới hạn con người, và cả cái chết nhục nhã trên thập giá như lời Thánh Phaolô trong bài đọc 2: ”Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và phó mình vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh,…ngõ hầu bầy tỏ cho mình một Hội Thánh vinh quang, không vết nhơ, không nhăn nheo…, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Eph 5:25-27).

    Nếu ta bỏ Chúa thì sẽ ra sao? Linh mục nhạc sĩ Thành Tâm đã suy diễn câu hỏi bất hủ của Thánh Phêrô thành một bài thánh ca rất ý nghĩa như sau:

    Bỏ Ngài con biết theo ai? Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cách chim bơ vơ trong khung trời lộng gió. Bỏ Ngài con sẽ theo ai, đời lộng gió cánh chim ngàn khơi. Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một con tuyền lao đao trên biển cả mênh mông. Bỏ Ngài con biết theo ai, thuyền buông lái biết trôi về đâu? Bỏ Ngài con biết theo ai, trên đời kia tương lai khuất mờ. Và bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cuộc hành trình cô đơn, buồn bã. Bước đi không Ngài, đời con buồn tênh.

    Còn nếu chọn Ngài, thì cuộc đời của chúng ta tuy cũng vẫn là một cuộc hành trình, cũng vẫn như cánh chim bay trong khung trời lộng gió, cũng như một con thuyền giữa biển cả mênh mông; nhưng trong cuộc hành trình ấy, đã có Chúa đồng hành, cánh chim đã biết hướng mà bay, con thuyền đã có người lèo lái và như thế sẽ bảo đảm đi tới bến đò bình an (Lm Carolô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 606-607).

    Chọn Chúa, đi theo Chúa, trước mắt là một sự hy sinh, một sự mất mát và bị người đời coi như một sự điên rồ, nhưng như Thánh Phaolô nói thì đó là sự khôn ngoan trước mặt Chúa (ICor 1:24). Có lẽ người ta nói đúng: ”Khôn thế gian làm quan địa ngục, dại thế gian làm quan thiên đàng!”

    Bước theo Chúa là phải đi vào con đường khổ giá, phải qua cửa hẹp, nhưng chính con đường hẹp hòi khắc khổ lại đem đến vinh quang. “Xả thân nếu muốn theo Thầy. Vác cây khổ giá hằng ngày mà theo (Lc 9:23).

    Về mục lục

    .

    ĐI THEO AI

    Lm. Nguyễn Thái

    “Một giọt sương buổi sáng sớm lung linh trên ngọn cỏ, bỗng reo lên “Ôi mát quá!” Nó ngắm nhìn mình thỏa thuê ra vẻ đắc ý vì thấy mình to lớn, rồi tự nhủ: “Ta sẽ đi cho mọi người thấy vẻ đẹp và sự to lớn của ta.” Nó đã đi qua khu rừng đầy cây cối. Những lá cây, ngọn cỏ xin hạt sương chút nước để uống, giọt sương lắc đầu ngạo mạn nói: “Các ngươi dám xin ta sao, liệu các ngươi có uống nổi cả giọt nước của ta không?” Rồi nó kênh kiệu bỏ đi.

    Gặp vũng nước đang bị từng đám súc vật hút cạn nguồn sống, giọt sương ngỡ ngàng tiến đến hỏi: “Chị ơi! Chị là ai mà to lớn, đẹp đẽ và quảng đại thế?” Vũng nước đáp: “Tôi chỉ là giọt nước luôn sống cho đi.” Nó đang phân vân tự hỏi “cho đi” là gì nhỉ? Nó lại ngỡ ngàng trước tiếng reo hò của người đánh cá. Vũng nước bảo nó hãy đến mà xem. Giọt sương liền đi và hết sức ngạc nhiên, trước mặt nó là một dòng sông hiền hòa trong vắt, đầy những tiếng cười của bọn trẻ đang nô đùa bơi lội. Giọt sương tiến đến hỏi: “Chị ơi, chị là ai?” Dòng sông khiêm tốn trả lời: “Tôi là những giọt sương bé nhỏ luôn biết cho đi.”

    Lúc này giọt sương hối hận và xấu hổ, vì từ lâu nó không hề dám cho đi, không vì kẻ khác. Thấy giọt sương bé nhỏ đau khổ, hối hận, dòng sông dịu dàng bảo: “Đừng buồn nữa em. Hãy xuống đây ở với chị, chị sẽ đưa em đi thăm biển cả.” Lúc đầu giọt sương có vẻ ngần ngại, nhưng sau nó nghĩ: “Thật mình vừa bé nhỏ lại quá kiêu ngạo. Thôi ta hãy tập sống cho đi.” Nó đã chấp nhận cho dòng sông chính bản thân mình. Dòng sông nhận nó trong vòng tay yêu thương và cho nó được đầy tràn. Giữ đúng lời hứa, dòng sông đưa nó ra biển khơi. Được hòa nhập với biển, nó tự nhủ: “Đúng là lúc ta chấp nhận cho đi thì sẽ được đầy tràn, lúc ta biết hy sinh cho người khác là ta được lãnh nhận tất cả” (Minh Hoàng tóm lược, Abba số 54).

    “Cảm nghiệm từ giọt sương” trên đây đã nói lên tâm sự của Phêrô và các môn đệ sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi sự để theo Chúa Giêsu, sống hiến thân phục vụ Nước Trời: “Thầy ơi! Bỏ Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6: 68).

    Đoạn Tin Mừng hôm nay, Ga 6: 60-69, diễn tả một thời điểm quyết định trong đời mục vụ của Chúa Giêsu. Lúc ban đầu rất nhiều người muốn đi theo Chúa, muốn làm môn đệ của Ngài để được ăn bánh no nê, và được chữa khỏi các bệnh tật. Họ mong được của ăn phần xác và sự đảm bảo cho cuộc sống trần thế. Họ chờ đợi một Đấng Thiên Sai sẽ đến để đáp ứng lòng mong ước về vật chất và chính trị của họ.

    Nhưng khi Chúa Giêsu muốn biến đổi cái nhìn của họ hướng về đời sống tinh thần và sự sống đời đời: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:51), và khi Ngài muốn mạc khải cho họ biết ý nghĩa đích thực của Đấng Thiên Sai đến để hy sinh và trao ban chính Mình và Máu Ngài, họ liền quyết định từ bỏ Ngài: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được” (Ga 6:60).

    Sách Giáo Lý Công Giáo số 1336 viết: “Thánh Thể và Thập Giá là những hòn đá vấp phạm. Vẫn là một mầu nhiệm đó, và nó vẫn là dịp của những chia rẽ: ‘Chính anh em cũng muốn bỏ đi sao?’ (Ga 6:67). Câu hỏi này của Chúa vẫn vang lên qua các thời đại, và đó cũng là lời mời gọi chân tình của Ngài thúc giục ta hãy khám phá ra rằng chỉ có mình Ngài có ‘những lời ban sự sống đời đời’ (Ga 6:68), và đón nhận hồng ân của Thánh Thể trong niềm tin là đón nhận bản thân Chúa Kitô.”

    Ăn Mình và uống Máu Ngài là trở nên một thân thể với Ngài, là cùng phải chấp nhận một giá trị mới: cho đi và hy sinh bản thân mình cho tha nhân, vì Nước Trời. Đời sống của mỗi người là một sự chọn lựa dựa theo những bậc thang giá trị tối thượng của mình. Những con người ích kỷ chỉ chọn lựa của ăn thể xác, cuộc sống trần gian làm cùng đích (Ph 3:19) thì không thể nào chấp nhận được sự hy sinh để phát triển đời sống tinh thần cho phần rỗi đời đời của mình cũng như của tha nhân.

    Dân chúng thời Chúa Giêsu cũng như thời nay, họ chỉ đến với Chúa Giêsu vì cái mà Chúa Giêsu đã làm cho họ, họ không muốn đi xa hơn. Lịch sử Giáo Hội Công Giáo đã ghi lại những công việc truyền giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới: Nhiều người bản xứ theo Kitô Giáo vì các nhà truyền giáo ngoại quốc cho họ gạo để ăn, cho ruộng đất để canh tác. Đến khi hết gạo, họ cũng bỏ đạo. Từ đó phát xuất một danh từ mỉa mai là “đạo gạo”!

    William Sloan Coffin, đã nói đến sự sai lầm của việc truyền giáo khi nhấn mạnh đến việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất và trần thế: “Điều bất ổn trong việc gọi là Phúc Âm hóa của Kitô Giáo tại Mỹ Châu là nó bắt đầu bằng sự ích kỷ – Hãy đến với Chúa Giêsu thì cuộc đời của bạn sẽ được ổn định, sự rạn nứt trong hôn nhân sẽ được hàn gắn, con cái bạn sẽ sống trong sạch – và tôi không thấy được sự hợp lý khi bạn khởi sự rao giảng bằng sự ích kỷ như vậy mà lại kết thúc bằng việc Chúa Giêsu giảng dạy rằng: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống” (Mk 8:35). Có một khoảng cách biệt lớn lao giữa những người đến gặp Chúa để thỏa mãn những nhu cầu của họ và những người đã được gọi theo Ngài để trở thành những môn đệ của Ngài.”

    Đang khi có những người bỏ Chúa Giêsu ra đi, thì Phêrô đại diện cho mười hai Tông Đồ là những người đã sống với Chúa lâu hơn, biết Chúa nhiều hơn, đức tin của họ có lẽ cũng mạnh hơn, cho dù có lẽ họ cũng chưa hiểu rõ lắm những lời Chúa đã nói, đã quyết định ở lại với Chúa. Họ chọn lựa con đường hy sinh, bước theo Chúa.

    Có một cô giáo tên là Thompson. Thường vào đầu niên học, các thầy cô đều có hồ sơ của các học sinh của mình. Em Teddy Stollard, một trong những học sinh của cô Thompson, đầu tóc rối bù, thường trả lời nhát gừng khi được hỏi tới. Cô đã đọc trong học bạ của em: “Lớp 1, Teddy là một học sinh trung bình. Chưa phát huy hết khả năng. Gia đình em có vấn đề. Lớp 2, Teddy chia trí lo ra, không chịu học bài, mẹ em bị ung thư. Lớp 3, Teddy càng trở nên tệ hơn, không theo kịp các bạn trong lớp. Mẹ em chết. Cha em không để ý đến em. Lớp 4, Teddy sẽ phải ở lại lớp, trừ khi có gì khác…”

    Nhân dịp Lễ Giáng Sinh, tất cả học sinh mang quà đến tặng cô giáo, chất đống trên bàn. Teddy cũng mang một món quà được gói kỹ và dán lại trong miếng giấy đi chợ mầu nâu. Cô Thompson mở ra, một cái vòng đeo cổ bằng đá, có những hột đá đã bị đánh mất. Và một nửa chai nước hoa loại rẻ tiền. Cô giáo vừa mở quà ra thì các em khác trong lớp phì cười. Nhưng cô giáo cũng trân trọng đeo chiếc vòng vào cổ và cầm lọ nước hoa giơ lên cao cho các em xem. Sau buổi học hôm đó, Teddy ở lại gặp cô giáo và nói: “Thưa cô, khi cô xức nước hoa vào người cô, em cảm thấy mùi vị giống như của mẹ em. Và cái vòng của mẹ em cũng rất là đẹp trên cổ cô!”

    Sau Giáng Sinh, lớp học bắt đầu lại, cô đã thay đổi hoàn toàn, cô dồn hết nổ lực và tâm trí trong việc dạy dỗ học sinh. Cô bắt đầu với Teddy, cho thêm bài tập, dạy kèm riêng. Và đến cuối năm thì Teddy đã theo kịp lớp học và còn vượt xa nhiều em khác.

    Nhiều năm sau đó, cô giáo nhận được một lá thư. “Cô Thompson thân mến! Em học rất chăm, em đứng hạng nhì trong lớp. Em muốn cô là người đầu tiên biết tin này.” Vài năm sau, cô lại nhận được một thư khác. “Cô thân mến! Em vừa được nhà trường cho biết là em tốt nghiệp hạng nhất trong lớp em. Em nghĩ rằng cô sẽ vui khi hay tin nầy. Em biết rằng lên đại học thì việc học hành sẽ khó hơn, nhưng em rất thích.” Rồi tám năm sau đó, cô lại nhận được một lá thư nữa: “Cô thân mến! Em vừa tốt nghiệp, em sẽ là Bác sĩ Teddy Stollar, MD. Em xin mời cô đến dự đám cưới của em và đóng vai của mẹ em. Cô giáo đã đi dự đám cưới với vai trò là mẹ của Dr. Teddy. Cô xứng đáng lắm, vì cô đã cho đi cuộc đời cô cho học sinh. Qua sự hy sinh của cô, cuộc đời của các em học sinh đã thay đổi. Hy sinh và cho đi là lý tưởng chung của tất cả mọi người Kitô hữu, môn đệ Chúa Kitô.

    Một ngày nọ, một nữ tu đến hỏi Thánh Catherine rằng: “Làm thế nào con có thể đền đáp lại cho Chúa tất cả những sự tốt lành của Ngài đã làm cho con? Làm thế nào con có thể vinh danh Ngài vì tất cả lòng nhân từ, thương xót và bao dung của Ngài?” Thánh Catherine đã trả lời: “Dù con có làm bất cứ việc ăn năn sám hối nào, con cũng sẽ không cảm thấy đủ. Dù con có xây lên một ngôi nhà thờ chánh tòa, thêm giờ im lặng cầu nguyện, con cũng không cảm thấy đủ. Nhưng mẹ nói với con một điều con có thể làm để đền đáp tình yêu của Chúa đã yêu con: Đó là con hãy tìm một người thật khó thương giống như con và ban tặng cho người đó một loại tình yêu giống như Thiên Chúa đã ban cho con.”

    Lời khuyên của Thánh Nữ Catherine cũng khó nghe và khó thực hiện nữa! Nhưng đây là ý nghĩa của việc chia sẻ Mình và Máu Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Không thể nói đến tình yêu đích thực, mến Chúa – yêu người, nếu không có sự hy sinh lẫn cho nhau.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Tin mừng Chúa nhật hôm nay ghi lại phần cuối trong bài giảng của Chúa Giêsu về bánh hằng sống và những phản ứng của thính giả trong hội đường Capharnaum. Hôm đó thành phần tham dự nghe bài giảng của Chúa Giêsu đa số là dân chúng, còn có một số môn đệ và 12 tông đồ. Ở đây thánh sử Gioan muốn nói đến phản ứng của các môn đệ và các tông đồ.

    Có 2 phản ứng trái ngược nhau:

    – Thái độ không tin, không chấp nhận giáo lý của Chúa Giêsu vì họ không hiểu, không nhận ra nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu. Nhóm này gồm đa số dân chúng và một số môn đệ. Họ tranh luận với nhau: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được!”. Họ hiểu lời Chúa giảng về bánh hằng sống hoàn toàn theo nghĩa vật chất, nên họ cho là chói tai, họ lẩm bẩm kêu trách và xúc phạm. Thánh Gioan ghi nhận cụ thể rằng: “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa”.

    – Thái độ tin và chấp nhận lời rao giảng của Chúa Giêsu. Sau khi thấy phản ứng cứng lòng của các môn đệ, Chúa Giêsu nói với các tông đò, xem các ông phản ứng ra sao: “Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không?”. Phêrô đã đại diện anh em tông đồ bày tỏ niềm tin vào Thầy mình: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.

    Phêrô cùng với anh em tông đồ tin vào Chúa Giêsu bởi các ông xác tín Thầy mình là Đấng Messia: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”. Ở đây chúng ta thấy các tông đồ cũng nghe những lời mà các môn đệ cho là chói tai, nhưng các ông không vấp phạm mà còn cảm thấy không thể bỏ Thầy được, vì các ông tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, chỉ có Thiên Chúa mới có thể trở nên thần lương ban cho nhân loại sự sống đời đời: “Ai ăn Thịt Tôi và uống Máu Tôi sẽ được sống đời đời”.

    Sống trong một thế giới vô thần, duy vật, tục hóa và hưởng thụ. Một xã hội có nhiều mâu thuẫn đối nghịch với Tin mừng, với đạo Công giáo, chống lại Thiên Chúa, loại bỏ những giá trị thánh thiêng. Lời Chúa hôm nay đòi hỏi người tín hữu phải dứt khoát chọn lựa: chọn Chúa hay thế gian, sống theo tinh thần của Chúa hay tinh thần thế tục, đi theo Chúa hay theo ma quỷ.

    Sống là phải chọn lựa, chọn lựa là hy sinh và từ bỏ. Như thế, hành vi chọn lựa không phải dễ dàng, luôn phải trả giá. Chọn lựa một nghề để mưu sinh, chọn lựa một người bạn đời hay chọn lựa cuộc sống tu trì, chọn một lý tưởng… không phải là chuyện đơn giản, tin theo Đức Giêsu lại càng nhiêu khê và đòi nhiều hy sinh…

    Dân Do Thái thời cựu ước cũng đã trải qua cuộc chọn lựa dứt khoát: Theo Chúa, tôn thờ Thờ Chúa hay tôn thờ các thần khác. Trong bài đọc I, Giôsuê nói với toàn thể dân Irael: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tùy ý chọn thần mà thờ… Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Thiên Chúa”. Dân đáp lại:“Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Thiên Chúa, mà phụng thờ các thần khác. Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông của chúng tôi lên từ đất Ai Cập, từ nhà nô lệ…”.

    Cũng như dân Do Thái xưa, người Kitô hữu chúng ta không có ý lìa bỏ Thiên Chúa vì Người đã giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi. Nhưng trong cuộc sống thực tế có thể nhiều lần chúng ta đã lìa bỏ Thiên Chúa khi không tuân theo lề luật Chúa, không giữ lời Người, phạm tội, sống bất công với anh em.

    Có thể chúng ta “không hề có ý lìa bỏ Thiên Chúa”, không theo chủ nghĩa vô thần, nhưng lại là những người “vô thần thực sự”, nghĩa là sống như không có Thiên Chúa, vì thực tế đã không sống theo lời Chúa dạy, không sống đạo chân thành “Có đạo mà không sống đạo”. Thậm chí có những người vẫn “giữ đạo” qua việc tham dự thánh lễ, rước lễ, đọc kinh… Nhưng lại không “hành đạo” trong cuộc sống hàng ngày qua việc thực hành lời Chúa, việc bác ái, phục vụ tha nhân. Nói cách khác, chúng ta chưa dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa, chưa yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Bài Tin Mừng hôm nay được coi như đoạn kết cho một câu chuyện tương đối dài trong TM của Gioan. Câu chuyện bắt đầu bằng một phép lạ rất đặc biệt được cả bốn Tin Mừng ghi lại. Đó là phép lạ bánh hóa nhiều. Sau phép lạ Chúa giảng một bài giảng rất đặc biệt với đề tài cũng rất đặc biệt. Đó là bài giảng về bánh hằng sống. Bài giảng này đã gây ra một sự phân hoá chưa từng thấy trong thái độ của những người nghe Chúa lúc đó. Ngoài thái độ của những kẻ đã có sẵn một ác ý và luôn thù nghịch với Chúa, chúng ta còn có thể thấy ba thái độ rất khác nhau về vấn đề này.

    1. Trước hết là thái độ của đa số quần chúng.

    – Được Chúa cho ăn bánh no nê, họ cảm thấy vui. Hơn nữa họ còn muốn tôn Chúa lên làm vua để cai trị họ, với hy vọng họ sẽ có được một tương lai sáng sủa và oai hùng hơn.

    – Chính vì quá mong mỏi một tương lai có tính cách trần thế như vậy cho nên khi thấy Chúa không đáp ứng được những mong ước của mình, dân chúng đã bắt đầu lạnh nhạt với Chúa. Khi Chúa nói với họ về một thứ bánh mà Chúa gọi là bánh hằng sống thì họ tỏ ra lãnh đạm lạ thường. Thái độ đó dần dần đã làm cho họ trở thành những người sẵn sàng đối đầu với Chúa sau này.

    2- Thái độ thứ hai là thái độ của một số các môn đệ. 

    – Lý ra thì họ phải là những người hiểu Chúa, tha thiết với Chúa nhiều hơn. Cho dù những lời Chúa giảng có khó chấp nhận thì họ cũng phải luôn gắn bó với Chúa. Thế nhưng thật không may cho Chúa, Chúa mới chỉ đề cập đến một vấn đề hơi khó hiểu một chút thế mà họ đã bỏ Chúa, bỏ một cách không một chút nuối tiếc. Charles Erdman bảo họ bỏ Chúa vì họ thất vọng. Họ thất vọng vì Chúa không trở thành một nhà lãnh đạo chính trị như lòng họ vẫn thầm mong.

    – Trước sự ra đi của họ, xem ra Chúa hơi đau xót một chút nhưng Chúa vẫn giữ nguyên thái độ và không chịu lùi bước.

    3- Thái độ cuối cùng là thái độ của nhóm 12.

    – Sau khi một số các môn đệ bỏ đi, Chúa hướng mắt của Người về nhóm 12.

    – Phêrô đại diện cho tất cả nhóm nói lên một lời mà cho dù không phải là Chúa chúng ta cũng dư biết là Chúa rất vui lòng.

    – Thái độ của Phêrô làm Chúa cảm động. Phêrô đã dứt khoát chọn Chúa… Một chọn lựa không có gì làm cho ông thay đổi.

    B- Vấn đề của ta: Tại sao cùng đứng trước một Chúa Giêsu mà lại có nhiều thái độ khác nhau như thế? Tại vì những lời Chúa nói và vấn đề Chúa đặt ra khó tin quá.

    + Dân chúng không hiểu được vì họ không muốn hiểu.

    + Một số môn đệ không những đã không muốn hiểu mà còn cho đó là những lời quá chói tai nghe không được nên họ bỏ đi.

    + Chỉ còn lại một nhóm nhỏ tuy không hiểu nhưng vẫn tin và vẫn chấp nhận. Họ chấp nhận bởi vì họ cảm thấy không thể bỏ Chúa. Lòng tin của họ rất chân thành. Niềm tin của nhóm 12 chẳng khác gì niềm tin của Giosuê thuở xưa trong thời Cựu ước. Tại Sikem nơi mà trước đây Abraham đã dựng bàn thờ đầu tiên để dâng đất Canaan này cho Thiên Chúa (Kn 12,6), nơi mà Giacob và con cái của ông đã để lại rất nhiều kỷ niệm (Kn 33;35), nơi mà trước đây ông đã chọn để tuyên bố luật pháp. Chính tại nơi đây một lần nữa Giosuê biểu lộ lòng trung thành của ông và gia đình ông. Ông nói với những người Do thái như thế này: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ ĐỨC CHÚA, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần khác mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA.”

    Vâng đó là một chọn lựa thật đẹp, đẹp trong thái độ của ông và gia đình ông, và còn đẹp cả ở trong ý nghĩa nữa: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA.”

    Giosuê quả xứng đáng là một nhà lãnh đạo. Lòng tin và lòng trung thành của ông đã trào qua và thấm vào lòng của toàn dân. Dân chúng cũng cảm thấy họ không thể chọn con đường nào khác. Họ đã đáp lại: “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ ĐỨC CHÚA để phụng thờ các thần khác! Vì chính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. ĐỨC CHÚA đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mô-ri ở trong xứ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi.”

    Đó là những gì đã xẩy ra từ ngàn xưa, cách chúng ta cả gần 3000 năm.

    Thế còn bây giờ thì sao?

    Vào năm 1924 ở nước Anh, có một người tên là Eric Liddell. Eric Liddell là vận động viên xuất sắc trong môn chạy 100 mét. Mọi người đều hy vọng anh sẽ đem về cho quê hương chiếc huy chương vàng tại đại hội Olympic được tổ chức tại Paris nước Pháp năm đó. Nhưng rồi họ ngỡ ngàng bực tức khi nghe tin anh từ chối không tham dự đại hội đó. Lý do là vì đại hội đó tổ chức nhằm ngày Chúa nhật. Anh không thể bỏ lễ Chúa nhật để đi tìm một huy chương vàng. Mọi người đều gây sức ép trên anh. Cả hoàng tử xứ Walles cũng cố gắng thuyết phục anh đi dự đại hội đó. Thế nhưng anh nhất định không chịu đổi ý, báo chí Anh quốc cho anh là tên phản bội.

    Vài năm sau, anh còn làm cho mọi người sửng sốt hơn nữa, khi anh đến Trung Hoa làm trong vai trò của một nhà truyền giáo.

    Thế rồi thế chiến thứ hai xảy ra. Khi Nhật nhả̉y vào cuộc chiến, anh bị bắt và bị giam trong một trại tập trung. Tại đây anh vẫn tiếp tục việc mục vụ bên cạnh các tù nhân. Vài năm sau, anh đã anh dũng chết tại trại tập trung nầy. Năm 1980, có người đã dựng lên cuốn phim về cuộc đời hy sinh vì Chúa của anh. Cuốn phim tựa đề là “Chuyến xe chở lửa”.  Cuốn phim đã phá kỷ lục về lợi nhuận mà còn đoạt giải thưởng Hàn Lâm năm 1982.

    Cuộc đời của Eric Liddell đã làm sáng tỏ thái độ dứt khoát mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ của Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay

    Một khi đã quyết định theo Chúa Giêsu, Eric cứ nhắm thẳng phía trước mà tiến bước, không bao giờ ngó lại phía sau dù phải đối diện với áp lực khủng khiếp của dân chúng, dù bị gọi là tên phản bội.

    Bí quyết nào giúp anh can đảm, trung thành bền đỗ đến thế?

    Anh luôn thức dậy sớm mỗi ngày, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện. Đó là bí quyết của anh. Và chắc chắn đó cũng là bí quyết cho chúng ta, nếu chúng ta muốn làm môn đệ Chúa bền vững. Và “ai bền đỗ dến cùng sẽ được cứu thoát” (Theo “Sunday  homilies”).

    Về mục lục

    .

    THẦY LÀ ĐẤNG THÁNH CỦA THIÊN CHÚA

    Fx Đỗ Công Minh

            Bài  Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với các môn đệ  ngay tại hội đường Cac-pha-na-um sau khi  nghe Người nói: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì được sống muôn đời “. Lời Chúa nói họ không tin và không thể hiểu, thậm chí còn lớn tiếng phê phán “ Lời này chướng tai quá , ai mà nghe nổi “, không ít người khác xầm xì, dè bỉu. Người biết các ông, không phải chỉ là đám đông theo Người, mà chính là những môn đệ ít nhiều đã đi theo Chúa, nhưng các ông không thể tin vào Lời Chúa nói về chính thân thể Người là máu, là thịt,  là của ăn để con người phải dùng hầu được sống đời đời. Đức Giêsu đã lên tiếng về việc này : “Thầy đã bảo với anh em: không ai đến được với Thầy, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho “,  và cuối cùng số đông bỏ đi chỉ còn nhóm mười hai, những người kiên trung ở lại.

            Quả thật, việc các môn đệ thấy chướng tai khi nghe Lời Chúa nói với các ông, họ không có được cái nhìn đức tin. Họ chỉ nghĩ theo trí hiểu của con người trần gian, làm sao dám ăn thịt và uống máu  người đồng lọai với mình? Chúa không trách họ. Họ không thể hiểu “Chính Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống“.Và không chỉ các môn đệ ngày ấy không tin, bỏ đi, mà cho đến hôm nay số người chưa tin vào Lời Chúa vẫn còn là số đông trên thế giới này .

           “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Câu hỏi mà Đức Giêsu đặt ra cho nhóm Mười hai cũng là đặt ra cho mỗi người chúng con đây. Con đang sống trong một thế giới mà nhiều người  vin vào chủ thuyết duy nghiệm, đòi hỏi bất cứ việc gì cũng phải kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ được, cảm nhận được qua các ngũ quan thì mới tin, còn ngòai ra thì bỏ ngòai tai những lời dạy của Hội Thánh đã được Thiên Chúa mạc khải qua Đức Giêsu Kitô, nên nhiều người hôm nay cũng cảm thấy chướng tai khi nghe Lời Chúa Trong Thánh Kinh.

             Phần chúng con, những người được đón nhận Tin Mừng của Chúa qua các Tông đồ, qua Giáo hội Công Giáo tông truyền, chúng con tin rằng “Không ai đến được với Thầy (Đức Giêsu), nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho “.Tuy thế, lòng tin của con hầu như vẫn còn mỏng dòn, do dự, vẫn còn yếu ớt, ngờ ngợ. Con có dám mạnh dạn như Tông đồ Phêrô tuyên xưng :”Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời ” ? Con có dám nói những lời mà Thánh Phaolô đã từng nói “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa sống trong tôi “ ?

            Xin cho con biết lắng nghe và đón nhận Lời Chúa. Xin giúp con nhận ra rằng đón nhận Lời và Thánh Thể chính là con được ăn thịt và uống máu Người.  Con được đón nhận Bánh Trường sinh, là lương thực nuôi dưỡng linh hồn con. Nhiều lần con cũng đã từng bỏ đi khi nghe được tiếng Chúa nhắc nhở, vì những cám dỗ của trần thế, vì sự yếu đuối  cuả bản thân mà con tỏ ra thái độ “Lời này chướng quá “ . Chính vì lòng tin cuả con còn non yếu. Xin Chúa ban thêm đức tin cho con để con có thể thưa lên như Thánh Phêrô Tông Đồ: “ Phần chúng con, chúng con đã tin nhận và biết rằng chính Thầy là đấng Thánh của Thiên Chúa “. AMEN.

    Về mục lục

    .

    QUYẾT BƯỚC THEO CHÚA

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

              Bốn bài giảng liên tiếp về Bánh Hằng Sống của Đức Giêsu đã tạo ra nhiều phản ứng nơi những cử toạ Do thái. Khi Ngài tiết lộ cho họ biết Ngài có Bánh hằng sống, ăn vào sẽ không đói khát nữa, họ bèn xin Ngài cho họ thứ bánh đó. Tiến thêm một bước, Ngài cho họ biết Bánh đó chính là Ngài từ trời xuống, họ có phản ứng chống lại ngay vì họ cho rằng Ngài chỉ là con bác thợ mộc Giuse ở Nazareth, làm sao lại có chuyện đó được ?  Nhưng khi Đức Giêsu cho họ biết Bánh Hằng sống đó chính là thịt máu Ngài, phải ăn thì mới có sự sống trong mình, thì họ có phản ứng kịch liệt vì họ cho đây là một việc tởm gớm, không thể chấp nhận được. Thậm chí cả một số môn đệ cũng có phản ứng tương tự :”Lời này chướng tai quá, ai mà nghe đuợc”. Kết quả là một số môn đệ bỏ đi, không theo Ngài nữa.

              Sau thất bại tàn tệ đó, Đức Giêsu quay sang nhóm Mười Hai, là những người thân tín nhất,  xem họ có thái độ thế nào ?  Rất may, ông Phêrô đã thay mặt cho nhóm Mười Hai thưa ngay với Ngài rằng:”Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Như vậy, các Tông đồ đã tin vào lời Chúa và quyết tâm theo Ngài.

              Ngày nay, trước mầu nhiệm Thánh Thể, vẫn còn có những người có thái độ như dân Do thái và một số môn đệ xưa : họ không tin nhận phép Thánh Thể vì họ cho là một việc phi lý, một sự bầy đặt. Còn chúng ta, chúng ta hãy học theo gương thánh Phêrô và các Tông đồ mà tuyên xưng đức tin và quyết tâm theo Chúa đến cùng, mặc dầu việc tin theo đó đòi hỏi nơi chúng ta nhiều từ bỏ, nhiều hy sinh.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

              + Bài đọc 1 : Gs 24,1-18.

              Sau khi ông Maisen qua đời, ông Giosuê lãnh nhận trách nhiệm lãnh đạo dân chúng và đưa họ vào Đất Hứa. Sau khi chinh phục được Đất Hứa và chia phần đất cho từng chi tộc, ông Giosuêâ tập họp dân chúng lại tại Sikem và đòi họ phải tuyên bố dứt khoát lập trường : tin theo Đức Chúa và trung thành với Giáo ước của Ngài hay tin theo các thần của dân ngoại ở Babylon hay các thần của xứ sở mà họ vừa chiếm cứ ?

              Toàn dân dứt khoát và đồng bộ chọn Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai cập. Từ nay họ sẽ trở thành dân riêng của Đức Chúa, trung thành thi hành giao uớc đã ký kết với Ngài ; và từ nay sự hiệp nhất sẽ phát xuất từ một niềm tin chung vào Giavê Thiên Chúa.

              + Bài đọc 2 : Ep 5,21-32.

              Bài đọc hai chỉ là đề tài phụ nhưng nói lên mối dây chặt chẽ giữa các tín hữu với Chúa Kitô. Chắc chắn thánh Phaolô biết đề tài Kinh Thánh về lễ cưới giữa Thiên Chúa và dân Ngài, và một cách tự nhiên, ngài nói sang hôn lễ giữa Đức Kitô và Hội thánh để nhấn mạnh rằng chính nơi Đức Kitô mà tình yêu Thiên Chúa đối với dân Ngài đã đến mức viên mãn.

              Theo đó, giáo huấn của thánh Phaolô về đạo vợ chồng có 2 điểm :

    1. a) Vợ phải phục tùng chồng như Hội thánh tùng phục Đức Kitô.
    2. b) Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô thương yêu Hội thánh và như người ta yêu thương thân xác mình.

              Kiểu nói của thánh Tông đồ Dân ngoại có thể gây ngỡ ngàng cho người nghe, nhưng sẽ không gây khó chịu  và có thể chấp nhận được khi qui chiếu về Tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh.

              +. Bài Tin mừng : Ga 6,60-69.

              Sau bài giảng về Bánh Hằng Sống với lời khẳng định quyết liệt của Đức Giêsu :”Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống”(Ga 6,55), sự cứng lòng tin của người Do thái lây sang cả nhóm các môn đệ. Họ cảm thấy chướng tai vì những lời quá táo bạo, đảo lộn hết cả mọi quan niệm của họ từ trước đến giờ.

              Bị đặt trước giờ phút phải lựa chọn : tin hay không tin, theo hay rời bỏ ? Nhiều người Do thái không tin và cùng với một số môn đệ cũng rời bỏ Ngài. Nhưng Đức Giêsu không rút lại  điều gì trong lời khẳng định của Ngài.

              Nhưng một câu hỏi được đặt ra một cách đột ngột cho các Tông đồ :”Cả các con nữa, các con cũng muốn bỏ đi hay sao”(Ga 6,67) ? Thánh Phêrô đã đại diện cho nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin một cách tuyệt vời :”Lạy Thấy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”(Ga 6,68).

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

                                                    Bỏ Ngài con biết theo ai ?

              Cả bốn bài Tin mừng của bốn Chúa nhật trước và bài Tin mừng hôm nay là phần cuối bài giảng của Đức Giêsu về Bánh hằng sống. Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết thái độ và phản ứng của các thính giả, cách riêng của các môn đệ và đặc biệt của các Tông đồ.

    I. CÂU CHUYỆN LỰA CHỌN.

    1. Dân Do thái chọn Thiên Chúa.

              Bài đọc 1 hôm nay thuật lại cho chúng ta biết : vào khoảng năm 1200 trước kỷ nguyên, dân Do thái đã vượt qua sông Giorđan để vào đất hứa dưới sự hướng dẫn của ông Giosuê. Sau khi chia đất đai cho các chi tộc, ông cảm thấy phải đau lòng truớc sự ngỗ nghịch phản bội của dân Do thái, ông đã triệu tập toàn thể dân chúng lại, truyền cho các kỳ lão, thủ lãnh các gia tộc, các quan án, các sĩ quan đến trước tôn nhan Chúa, rồi ông  nói với họ:”Hôm nay, các ngươi hãy tùy ý chọn lựa phải tôn thờ ai, Thiên Chúa hay các tà thần”? Toàn dân đã biết hối cải, chừa bỏ tội lỗi và đồng thanh quyết định chọn Thiên Chúa để tôn thờ Ngài, khi thưa với ông Giosuêâ â:”Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Thiên Chúa mà tôn thờ những thần ngoại lai, vì Chúa là Thiên Chúa chúng tôi”.

              Dân Do thái hồi tưởng lại biết bao ơn lành Chúa đã ban cho họ, đã cứu họ thoát ách nô lệ Ai cập. Ngài đã làm biết bao việc kỳ diệu, những phép lạ do cánh tay hùng mạnh của Ngài; Ngài đã thi thố biết bao ơn phúc khi dẫn đưa dân tộc họ vào Đất hứa, đất chảy sữa và mật mà Chúa đã hứa với cha ông họ. Mặc dầu họ phản bội, Chúa vẫn luôn rộng lòng tha thứ, yêu thương chờ đợi họ trở lại để tôn thờ Ngài. Chúa đã chấp nhận lòng sám hối của họ khi họ đồng tâm từ bỏ tà thần, trở lại chọn Chúa để tôn thờ Ngài. Dân Do thái đã quyết định và lựa chọn đúng.. Nhưng thực sự, dân Do thái có trung thành với lời giao ước mà họ đã ký kết khi quyết định chọn Chúa để tôn thờ Ngài hay không ? Lịch sử dân Do thái đã trả lời cho câu trả lời này.

    1. Lựa chọn và tin theo Đức Giêsu.

    a) Thái độ của dân Do thái.

              Trong suốt bài giảng Đức Giêsu nói về Bánh hằng sống, chúng ta thấy các thính giả có những phản ứng  như sau :

              – Khi Đức Giêsu nói với họ phải tin vào Ngài thì dân chúng thưa với Ngài:”Vậy thì ông làm dấu gì cho chúng tôi thấy mà tin ông ? Ông làm gì nào” (Ga 6,30).

              – Khi Ngài hứa ban bánh sự sống thì dân chúng thưa Ngài :”Thưa Ngài, hãy luôn luôn cho chúng tôi bánh ấy”(Ga 6,34).

              – Khi Ngài tự xưng là Bánh bởi trời thì họ kêu ca :”Ông ấy lại không phải là Giêsu con ông Giuse đó sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết ! Làm sao bây giờ ông ấy dám nói : Ta từ trời xuống”(Ga 6,40-42) ?

              – Khi Ngài phán:”Bánh Ta sẽ ban, chính là thịt mình Ta”. Lúc này người Do thái mới la lối rùm beng lên:”Làm sao ông ấy có thể cho chúng ta ăn thịt mình được”(Ga 6,52).

              Đọc tất cả những cảm nghĩ đó ta thấy rằng trong giới thính giả, một số người lưỡng lự, một số dứt khoát bỏ Chúa, không nghe Ngài nữa (Trần văn Khả).

    b) Thái độ của các môn đệ.

              Trước lời tuyên bố của Đức Giêsu :”Thịt Ta là của ăn, máu Ta là của uống” thì không những đám dân chúng mà nhiều trong số các môn đệ đã phản ứng như những người Do thái khác:”Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi”(Ga 6,60) ? Khi nghe Đức Giêsu nói vậy, nhiều môn đệ, tuy được sống gần Ngài một thời gian, cũng rút lui, từ giã Ngài:”Từ bấy giờ, có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Ngài nữa”(Ga 6,66). Họ đã theo Ngài một thời gian, đã tin, đã trở thành môn đệ, nhưng họ không thể đi tới cùng.

    c) Thái độ của Nhóm Mười Hai.

              Đứng trước sự tan rã bi đát này, Đức Giêsu quay về Nhóm Mười Hai, những người được coi là thân tín nhất của Ngài. Vậy phản ứng của họ thế nào trước câu hỏi của Đức Giêsu:”Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không”?  Thánh Phêrô đã thay mặt cho cả Nhóm nói lên thái độ của họ:”Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng : Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên  Chúa “ (Ga 6 , 70).

              Như vậy, thánh Phêrô đã đại diện cho anh em nói lên một lời tuyên xưng rất trọn vẹn và đầy đủ , Ngài có những lời ban sự sống đời đời. Do đó, những lời tuyên bố, quả quyết và khẳng định trong bài giảng về Bánh Hằng Sống này thực sự là theo nghĩa đen thông thường nói về phép Thánh Thể.

    II. LỰA CHỌN VÀ TIN THEO.

    1. Nói về sự lựa chọn.

              Ngày nay người ta nói nhiều đến dân thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà chọn lựa là liều lĩnh, vì không bao giờ ta nắm chắc được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn suy nghĩ, cân nhắc theo như ta có thể, rồi ta cứ tiến bước.

              Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Có lẽ chỉ trừ việc sinh ra  và cái chết là người ta không lựa chọn được, còn tất cả mọi việc khác thì người ta phải lựa chọn. Và chính sự lựa chọn này sẽ định hướng và đánh giá cuộc đời của mình. Nghĩa là nếu chọn đúng, chọn khéo thì đời mình sẽ tốt, sẽ hạnh phúc; còn nếu chọn ẩu, chọn sai thì cuộc đời sẽ xấu, sẽ bất hạnh.

              Nói đến lựa chọn là giả thiết phải có sự tự do trong đó. Nếu ai bị ép buộc phải làm một việc gì ngoài ý muốn thì không còn là tự do lựa chọn nữa, mà là sự bó buộc. Chính sự tự do trong lựa chọn làm cho chúng ta phải suy nghĩ, phải day dứt vì phải có trách nhiệm trong việc lựa chọn, phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.

    Truyện : thần Hercule.

              Theo truyện thần thoại của Hy lạp, Hercule là một vị thần, một lần đứng giữa ngã ba đường và tự hỏi xem đi về đâu. Hai người chỉ đường đến với ông. Một người nói :

              – Hãy theo tôi, đây là con đường thoải mái, hạnh phúc và lối đi dễ dàng.

              Người thứ hai nói :

              – Đây là con đường cố gắng, nỗ lực, khó khăn. Tuy là đường khó khăn, nhưng đưa tới hạnh phúc.

              Hercule đã chọn con đường khó khăn và quả thực ông khôn ngoan, ông đã thành công.

              Bất cứ cách nào, lựa chọn là phải liều, phải chấp nhận một tương lai bấp bênh, phải chấp nhận hậu quả của việc lựa chọn ấy, mặc dầu phải hy sinh rất nhiều . Trong chọn lựa việc kết hôn, chúng ta sẽ thấy rõ đặc tính của sự lựa chọn ấy :

                                          Nhà anh chẳng chiếu chẳng giường,

                                          Chỉ ấm ổ ra, nàng thương chăng là ?

                                          – Yêu nhau chẳng quản cửa nhà,

                                          Chuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo.

    1. Chúng ta chọn Đức Giêsu.

              Đức Gioan Phaolô II thường khuyên những người đến với Ngài rằng : Chúng con phải lựa chọn. Chọn là một quyết định lớn và quan trọng của đời người. Chúng ta đã chọn. Và chúng ta còn phải tiếp tục chọn, vì đời là một tiến trình, đời là một cuộc đổi mới không ngừng nghỉ. Khẩu hiệu của Đức Gioan 23 là : Giờ đây tôi mới khởi sự. Mỗi ngày chúng ta phải khởi đầu với sự lựa chọn.

              Mà sự lựa chọn căn bản và quan trọng nhất của cuộc sống là chọn Đấng chúng ta tôn thờ. Chúng ta phải chọn Chúa là thần tượng vì Ngài là một vị thần siêu việt, tuyệt đối đáng tôn thờ. Ta không được bắt chước dân Do thái xưa thờ con bò vàng thay vì Ngài. Chính Đức Giêsu cũng khuyên :”Không ai có thể làm tôi hai chủ… Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”(Mt 6, 24).

              Nhưng Thiên Chúa là Đấng vô hình, ta không thể tiếp cận với Ngài, ta cần phải có một thần tượng nào gần chúng ta hơn, vị thần ấy đã nói:”Ai thấy Thầy là thấy Cha” và Đấng ấy đã nói:”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”(Ga 14,6).

              Có một người suốt 2000 năm đã được bao nhiêu người hâm mộ tin theo, thậm chí còn nhận lấy cái chết để tỏ ra trung thành với vị thần ấy !

              Vị thần đó là ai ?

              Đó là Đức Giêsu Kitô.

              Sự lựa chọn của chúng ta sẽ mang lại phần thưởng mà thánh Phêrô và các tông đồ xưa đã nhận lãnh, đó là được chia sẻ tấm bánh hằng sống, Mình và Máu Đức Kitô. Được chết đi với Chúa mỗi ngày để được sống lại với Chúa trong hạnh phúc và vinh quang. Đó là niềm vui của mỗi chúng ta. Đây là  một lựa chọn quan trọng có liên quan đến cuộc đời mai hậu của ta.

    1. Chúng ta tin theo Đức Giêsu.

              Chúng ta đã chọn Đức Giêsu làm thần tượng, làm Chúa của mình, điều đó chứng tỏ không những chúng ta phải có niềm tin và còn hơn nữa chúng ta phải có đức tin. Mà giả như chúng ta chưa có đức tin cho đủ thì hãy theo lời khuyên của triết gia Blaise Pascal:”Nếu bạn muốn có đức tin, hãy qùi xuống và cầu nguyện”.

              Sống theo đức tin là đi trong đêm tối, vì đức tin là “khước từ cách hiểu biết thông thường, nhờ giác quan và lý trí, lý luận“ để “tin vào một người khác”, đó là tin mà không thấy, như thánh Gioan sẽ nói rất nhiều lần.

              Đối với Đức Giêsu, như chúng ta đã thấy, luôn gây đụng chạm ! Đức tin không hẳn nhiên là thế. Đức tin luôn luôn cho ta thấy chướng. “Đức tin” không phải là một bài học được lặp đi lặp lại “nhưng” là một “dấn thân” trong cuộc sống, là một thôi thúc phải chấp nhận từ bỏ ánh sáng riêng của mình, được coi là có tính khoa học, để đón nhận mạc khải của một người khác mà không thể kiểm chứng được bằng những phương thế nhân loại. Chính Thánh Thể là cớ vấp phạm cho các môn đệ khiến họ từ bỏ Chúa, và ngày nay cũng có những người không chấp nhận được mầu nhiệm này.

             Đức tin cũng đòi hỏi phải có thử thách. Qua câu chuyện được kể trong bài Tin mừng hôm nay, tức câu chuyện Đức Giêsu nói với các môn đệ Ngài về bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống cũng sẽ có những giây phút chúng ta cũng bị thách đố như các môn đệ, và có thể chúng ta cũng bị cám dỗ từ bỏ Chúa, không theo Ngài nữa.  Những lúc đó, chúng ta đừng để mình vấp phạm những lỗi lầm giống như các môn đệ xưa đã vấp phải, nghĩa là đừng chỉ lo chú tâm đến những vấn đề xẩy đến cho chúng ta, mà hãy đưa mắt nhìn vào Đức Giêsu, chúng ta hãy xác nhận lại niềm tin vào Ngài như thánh Phêrô đã làm:”Lạy Thầy, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa”.

    III. TRUNG THÀNH VỚI SỰ LỰA CHỌN.

              Trong ngày chịu phép Rửa tội, Linh mục hỏi chúng ta có từ bỏ ma qủi và những việc làm của chúng không ? Cha mẹ chúng ta hay chính chúng ta đã quả quyết thưa từ bỏ. Ta lại còn tuyên xưng và tin theo Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Chúng ta đã chọn Thiên Chúa là gia nghiệp của mình. Rồi trong mỗi dịp lễ Phục sinh, từng người chúng ta lại có dịp bầy tỏ sự lựa chọn của mình một lần nữa khi tuyên xưng đức tin và lại tuyên bố từ bỏ ma qủi và các việc của của chúng.

              Chúng ta đã chọn Chúa và chỉ chọn một mình Chúa chứ không thể chọn cả hai, không được thờ hai chủ. Lựa chọn một lần chưa đủ, còn phải lặp đi lặp lại nhiều lần, nó phải được thể hiện qua những lựa chọn nho nhỏ trong mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta chỉ có một sự lựa chọn duy nhất : chọn Chúa. Chọn lựa đúng thì được sống và chọn lựa sai thì chết.

              Ở đô thị Jaffa xứ Palestina, có một khu đất gọi là khu đất quyết định. Các sông ngòi chảy vào khu đất ấy lưỡng lữ một lúc rồi mới chảy sang một trong hai hướng. Những sông ngòi theo một hướng thì chảy vào khu vườn Sharon xinh đẹp. Còn những sông ngoài theo hướng kia thì chảy vào Biển Chết, biển này không có một sinh vật nào sống nổi. Cuộc đời chúng ta cũng thế. Chúng ta phải chọn một hướng, không ai có thể làm tôi hai chủ :

                                          Một nhà hai chủ không hoà,

                                          Hai vua một nuớc ắt là không yên.

              Chọn lựa tự do, nhưng chọn lựa lại  là giới hạn. Khi đã có một chọn lựa là chúng ta phải biết tự giới hạn mình. Chính Đức Giêsu khi chọn con đường cứu độ nhân loại, Ngài cũng đã phải chấp nhận thân phận giới hạn con người, và cả cái chết nhục nhã trên thập giá như lời thánh Phaolô trong bài đọc 2 :”Đức Kitô yêu thương Hội thánh, và phó mình vì Hội thánh, để thánh hóa Hội thánh,…ngõ hầu bầy tỏ cho mình một Hội thánh vinh quang, không vết nhơ, không nhăn nheo…, nhưng thánh thiện và tinh tuyền”.

              Phải chăng chọn Chúa và theo Chúa là một nghịch ly ùvì Chúa chỉ hứa cho những sự mất mát ? Người ta thuật lại câu chuyện của một ông tướng kỳ lạ, đó là đại tướng Garibaldi. Một ngày kia, ông nhóm họp quân đội ăn mặc rách rưới mà hiểu dụ rằng :”Ta cho các ngươi sự đói khát, lạnh lẽo, thương tích và chết  trận. Ai vui lòng nhận các điều ấy thì hãy theo ta”. Kết quả : chẳng ai chịu rời bỏ hàng ngũ của mình.

              Chúng ta nghĩ thế nào về câu nói của vị đại tướng ấy ? Có kỳ lạ không ? Có vô lý không ? Có điên khùng không ? Và chúng ta nghĩ thế nào về câu nói của Đức Giêsu:”Ai gìn giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai vì Ta mà mất mạng sống mình thì lại tìm lại được”(Mt 10,39) ?

              Và để kết thúc, chúng ta phải đặt ra câu hỏi : Nếu ta chọn Chúa thì sẽ ra sao ? Và nếu ta bỏ Chúa thì sẽ ra sao ? Linh mục nhạc sĩ Thành Tâm đã suy diễn câu hỏi bất hủ của thánh Phêrô thành một bài thánh ca rất ý nghĩa như sau :

    “Bỏ Ngài con biết theo ai”

              – Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cách chim bơ vơ trong khung trời lộng gió.

              – Bỏ Ngài con sẽ theo ai, đời lộng gió cánh chim ngàn khơi.

              – Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một con tuyền lao đao trên biển cả mênh mông.

              – Bỏ Ngài con biết theo ai, thuyền buông lái biết trôi về đâu ?

              – Bỏ Ngài con biết theo ai, trên đời kia tương lai khuất mờ.

              – Và bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cuộc hành trình cô đơn, buồn bã.

              Bước đi không Ngài, đời con  buồn tênh.

              Còn nếu chọn Ngài, thì cuộc đời của chúng ta tuy cũng vẫn là một cuộc hành trình, cũng vẫn như cánh chim bay trong khung trời lộng gió, cũng như một con thuyền giữa biển cả mênh mông, nhưng trong cuộc hành trình ấy, đã có Chúa đồng hành, cánh chim đã biết hướng mà bay, con thuyền đã có người lèo lái và như thế sẽ bảo đảm đi tới bến đò bình an (Lm Carolô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 606-607)

              Chọn Chúa, đi theo Chúa, trước mắt là một sự hy sinh, một sự mất mát và bị người đời coi như  một sự điên rồ, nhưng như thánh Phaolô nói thì đó là sự khôn ngoan trước mặt Chúa. Có lẽ người ta nói đúng :”Khôn thế gian làm quan địa ngục, dại thế gian làm quan thiên đàng” !

    Truyện : vua Charles V.

              Vua Charles một lần kêu hoàng tử đến và cho hoàng tử được chọn. Trên bàn vua đặt một thanh kiếm và một vương miện (Triều thiên), Vua nói :

              – Con chọn cái nào ?

              Ngần ngừ một lúc hoàng tử cầm lấy thanh kiếm.

              Vua cha hỏi :

              – Sao con lại chọn thanh kiếm ?

              Hoàng tử cầm thanh kiếm chỉ vào vương miện đáp :

              – Nhờ thanh kiếm này, con sẽ được vương miện kia.

              Chúng ta đã quen với khẩu hiệu :”Per crucem ad lucem” : qua thập giá để tới vinh quang. Bước theo Chúa là phải đi vào con đường khổ giá, phải qua cửa hẹp, nhưng chính con đường hẹp hòi khắc khổ lại đem đến vinh quang. Theo gương hoàng tử, chúng ta cũng phải nhờ øthanh kiếm đau khổ để có thể chiếm được triều thiên vinh phúc muôn đời, thánh giá phải đi trước triều thiên

    Xả thân nếu muốn theo Thầy,

    Vác cây khổ giá hằng ngày mà theo. (Mt 16,24)

    Về mục lục

    .

    GẮN BÓ VỚI CHÚA KITÔ

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Cuộc sống là những chuỗi ngày lựa chọn, nhưng có nhiều người cứ mãi chọn sai nên không thể hạnh phúc. Cuộc sống của dân Israel năm xưa, cũng như cuộc sống của mỗi người chúng ta hôm nay luôn bị giằng co giữa Thiên Chúa và thế tục, hứa trung thành với Thiên Chúa nhưng rồi lại bỏ Chúa. Vì thế, chúng ta cần phải khẳng định thái độ sống.

    Dân Israel được Thiên Chúa yêu thương giải thoát họ khỏi ách nô lệ của người Ai cập. Dẫn đưa họ vào đất hứa với bao vui sướng: đất đai phì nhiêu, cây trái tốt tươi, đời sống thoải mái khác xa với những ngày lang thang trong hoang địa. Nhưng họ đã sớm quên đi bao kỳ công Thiên Chúa đã làm cho cha ông họ và chính họ để có được ngày hôm nay, bởi họ tiếp cận với một nếp sống cầu an, hưởng thụ và với những nghi lễ theo bản năng thấp hèn. Vì thế, ông Giôsuê, người kế vị Môsê dẫn dân vào đất hứa đã triệu tập các vị đại diện dân chúng tại Sikem và mời gọi họ quyết định lựa chọn: thờ Thiên Chúa hay thờ các thần ngoại?. Ông Giôsuê nói cho mọi người biết quyết định của ông và gia đình ông: “Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa”. Các đại biểu đã đồng thanh tuyên bố rằng: “Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Chúa mà tôn thờ những thần ngoại”. Dân Israel đã khôn ngoan sáng suốt lựa chọn Thiên Chúa và nhớ lại những kỳ công mà Thiên Chúa đã làm cho cha ông họ và chính họ. Họ đã không tỏ ra vô ơn, tham lợi mà vội bỏ Thiên Chúa để chạy theo những thần của dân ngoại.

    Thưa anh chị em, vào thời Chúa Giêsu cơm cám dỗ bỏ Chúa cũng đã có lần xảy ra. Sau khi Chúa Giêsu tuyên bố: “Thịt Ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống”. Uống máu xúc vật đã là điều cám kỵ, vậy mà Chúa Giêsu quả quyết: “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sống đời đời”. Nghe đến đây, nhiều người Do thái đã lần lượt bỏ Người mà đi. Chính các môn đệ của Chúa Giêsu cũng nói với nhau rằng: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được!”. Thánh Gioan còn ghi lại: “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa”. Đứng trước lời tuyên bố của Chúa Giêsu xem ra có vẻ “chói tai”, thì Phêrô đại diện Nhóm Mười Hai vẫn không tỏ ra nao núng khi Chúa Giêsu hỏi nhóm Mười Hai rằng: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?”. Simon Phêrô thay mặt nhóm Mười Hai đã cảm nhận được quyền lực của Chúa Giêsu và thưa với Người: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô Con Thiên Chúa”.

    Có câu chuyện kể rằng, một người da trắng và một người thổ dân cùng nghe giảng. Người thổ dân cảm động xin nhập đạo ngay. Còn người da trắng cũng cảm động nhưng cả năm sau mới nhập đạo. Trong một buổi phụng vụ, người da trắng hỏi: Tôi phải mất một thời gian mới có lòng tin, sao anh có lòng tin sớm thế?. Người thổ dân đáp: Này bạn, có vị hoàng tử hứa cho chúng ta chiếc áo mới. Bạn nhìn vào áo mình, tự nhủ: “Áo mình còn đẹp, để mai sau hãy lấy”. Còn tôi, tôi nhìn vào tấm chăn cũ kĩ của mình, thấy nó chẳng ra gì, nên vội vàng đến nhận áo mới. Bạn ạ, bạn đã có chút khôn ngoan, nên bạn còn muốn dùng chúng. Còn tôi, tôi không có, nên tôi mau mắn đón nhận sự khôn ngoan của Chúa Giêsu.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Niềm tin và tình yêu đã là động lực giúp con người khôn ngoan lựa chọn Chúa và trung thành gắn bó với Người. Thế nhưng, sống trong một thế giới không ngừng đổi thay, con người dễ bị lôi kéo vào thái độ thay lòng đổi dạ, giao ước hôn nhân bị đổ vỡ: đến với nhau, sống với nhau, rồi bỏ nhau. Nhiều Kitô hữu cũng đối xử với Chúa như thế: theo Chúa rồi bỏ Chúa. Có lẽ chúng ta đây cũng nhiều lần bị cám dỗ bỏ Chúa. Thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy phục tùng nhau trong sự kính sợ Thiên Chúa. Ngài cũng dùng hình ảnh của vợ chồng trong đời sống hôn nhân gia đình, để nói lên mối dây chặt chẽ giữa các tín hữu với Chúa Kitô. Hôm nay, chúng ta hãy suy nghĩ lại cuộc hành trình đi theo Chúa, và chúng ta tha thiết xin Chúa đừng để chúng ta bỏ Chúa bao giờ, bởi vì, như lời Thánh Phêrô tuyên xưng: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.

    Nguyện xin Chúa là nguồn mạch tình yêu và sự khôn ngoan, giúp chúng ta khôn ngoan sáng  suốt lựa chọn Chúa và trung thành đi theo Chúa để được hưởng sự sống hạnh phúc muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    LỜI CHÚA LÀ THẦN KHÍ VÀ SỰ SỐNG

     Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

    ” Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”

    I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a-60-68:

    54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết… 60 Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” 61 Nhưng Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ?  62 Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? 63 Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

    64 Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. “Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người.  65 Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.”  66 Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.

    67 Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” 68 Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. 69 Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”

    II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a.60-68:      

    2.1 Chương 6 Tin Mừng Gio-an không chỉ nói/viết về Bánh và Sự Sống, Bánh Trường Sinh và Sự Sống Muôn Đời mà còn nói về ”Lời là Thần Khí và Sự Sống.” Trong bài Phúc âm Chúa Nhật XXI Thường Niên B chúng ta thấy hai loại người: Một loại là những người không đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống”. Đó là những môn đệ bỏ không theo Đức Giê-su nữa (Ga 6,66). Một loại là những người đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống”. Đó là Si-mon Phê-rô và 11 Tông Đồ: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” (Ga 6,68-69).

    2.2 Vậy thì chúng ta không chỉ quan tâm đến việc đón nhận Bánh là Mình Chúa, mà chúng ta còn phải quan tâm đến việc đón nhận Lời Chúa nữa. Trong Hiến Chế tín lý Mạc Khải ”Lời Thiên Chúa” (Dei Verbum)  các Nghị Phụ của Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh hai điều này:

    * một là Giáo Hội tôn kính Lời (Chúa) cũng như tôn kính Mình (Chúa);

    * hai là tín hữu phải rước Mình (Chúa) và rước Lời (Chúa) làm của ăn linh hồn.

    III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a.60-68:     

    3.1 Rước Lời không chỉ là nghe giảng trong các thánh lễ. Rước Lời là mỗi ngưuời giáo dân phải thực hành việc đọc và suy niệm Lời Chúa, nếu không được mỗi ngày thì cũng phải là mỗi tuần. Rước Lời còn đòi giáo dân tham dự các Khóa học hỏi, chia sẻ Thánh Kinh để biết phương pháp đọc, chia sẻ và cầu nguyện với Lời Chúa.

    3.2 Rất tiếc là trong các giáo xứ khó mà tim ra một Lớp/Khóa Thánh Kinh cho giáo dân tham dự. Lý do có lẽ là vì các linh mục của chúng ta quá bận rộn với việc quản trị giáo xứ nên quên mất bổn phận giảng dậy Lời Chúa cho giáo dân. Hoặc là vì các linh mục cho rằng giảng Phúc âm trong thánh lễ là đủ rồi. Thật ra là không đủ. Và nghe giảng trong Nhá Thờ thì rất khác với nghe giảng trong lớp.

    3.3 Vì giáo dân ít quan tâm đến việc đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống” nên chúng ta không lạ gì khi thấy đời sống đức tin của nhiều giáo dân khô cứng và nghèo nàn. Thật đáng buồn và đáng lo.

    IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a.60-68:     

    Lạy Chúa Giê-su là Lời Thiên Chúa (Dei Verbum), chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa đã mạc khải Cha và Kế Hoạch Cứu Độ của Người cho chúng con.

    Chúng con biết Chúa muốn chúng con đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống” để đời sống của chúng con sinh nhiều hoa trái. Chúng con cảm tạ và ngợi khen Chúa. Xin Chúa ban Thấn Khí và Sự Sống cho chúng con.  Amen.

    Về mục lục

    .

    NIỀM XÁC TÍN

    Trầm Thiên Thu

    Đề cập đức tin – một trong ba đức đối thần, Thánh LM TS Tôma Aquinô (1225-1274) phân tích: “Mặc dù cái nhìn chúng ta bị giới hạn và mờ nhạt về những sự rất linh thánh, nhưng chỉ thoáng thấy những sự ấy cũng đã là hoan lạc lắm rồi. Có ba điều cần thiết cho phần rỗi con người: hiểu biết điều nào PHẢI TIN; hiểu biết điều nào PHẢI ƯỚC AO; và hiểu biết điều nào PHẢI THỰC HIỆN. Có những điều ta phải nắm giữ bằng ĐỨC TIN, nhưng lý trí vẫn có thể tìm hiểu; nhờ đó, mọi người đều có thể chia sẻ tri thức về Thiên Chúa một cách dễ dàng, không hoài nghi và lầm lạc”.

    Cũng liên quan đức tin, Chân phước LM Charles Eugène de Foucauld (1858-1916) cho biết: “Giây phút tôi nhận biết Thiên Chúa hiện hữu, tôi biết tôi không thể làm gì khác hơn ngoài việc sống cho một mình Người. ĐỨC TIN tước lột mặt nạ khỏi thế giới này và tỏ ra Thiên Chúa trong mọi sự. ĐỨC TIN làm cho không còn sự gì là không thể, làm cho những từ ngữ như lo lắng, nguy hiểm và sợ hãi trở nên vô nghĩa. Nhờ đó, tín hữu sống cuộc đời yên hàn thanh thản, với một niềm tin sâu xa – như một con trẻ được mẹ cầm tay”.

    Đặc biệt là Thánh GH Gioan XXIII (1881-1963) đã từng nhắn nhủ riêng với Giáo Hội Việt Nam: “Xin mượn lời Thánh Phaolô để nhắn nhủ rằng: ‘Các con hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy can trường và mạnh mẽ’ (1 Cr 16:13). Và để biểu dương hơn nữa lòng thương yêu, săn sóc và cảm phục, cha nhắc lại đây lời Thánh Phaolô: ‘Hằng ngày, cha phải cám ơn Thiên Chúa vì các con. Thực thế, đức tin các con mãnh liệt thêm mãi, tình thân ái của các con với tha nhân mỗi ngày một dồi dào, khiến Cha được hãnh diện vì chúng con trước mặt Giáo hội của Chúa, hãnh diện vì các con bền chí, vững lòng tin trong mọi cơn bách hại, trong những giờ gian lao khốn khó: như thế mới xứng đáng vào nước Thiên Chúa, chính vì Ngài mà các con đã chịu đau khổ’ (2 Tx 1:3-5)”.

    Đức tin trừu tượng, không thể sờ được, nhưng có thể cảm nhận một cách cụ thể. Thật lạ! Tin hay không tin là “chấp nhận” hoặc “từ chối”. Một “biên độ” rất mong manh. Rất đơn giản, nhưng cũng rất phức tạp. Sự giằng co đó luôn xảy ra, thế nên cần phải có lòng can đảm để có thể đứt khoát mau mắn. Chỉ trong tích tắc mà các vị tử đạo dám dứt khoát khước từ sự sống để bước theo Đức Kitô. Các ngài đã can đảm, và một niềm xác tín rằng “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa” (Ep 4:5). Bổn phận của chúng ta – Kitô hữu Công giáo – là TIN YÊU và THỜ KÍNH chỉ MỘT THIÊN CHÚA mà thôi, chứ không có bất cứ một thần linh nào khác!

    Chúng ta diễm phúc là nhận biết Chúa và tin theo Ngài, nhưng đức tin đó phải được chứng tỏ. Giáo lý Công giáo dạy: “Làm dấu Thánh Giá là tuyên xưng Thiên Chúa”. Đó là đức tin của Giáo hội và của mỗi chúng ta. Hằng ngày chúng ta thể hiện đức tin nhiều lần bằng cách làm dấu: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Cũng cần lưu ý là chúng ta “làm dấu” chứ không “làm giấu” (phát âm gần giống nhau nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau). Tuyên tín một cách đơn giản là “làm dấu Thánh Giá”, thế mà đôi khi chúng ta làm cho xong lần, vội vã như “phù phép”, thậm chí có khi tay “vẽ dấu Thánh Giá” mà miệng còn càm ràm hoặc lầm bầm điều gì đó. Ôi thôi!

    Biết rằng con người yếu đuối, dễ thay lòng đổi dạ, nhưng không thể cứ viện cớ đó để tự biện hộ. Miệng thì nói tin Chúa nhưng lại hành động khác, chắc hẳn nên xét lại lắm. Ngày xưa, ông Giôsuê đã quy tụ ở Sikhem mọi chi tộc Israel và triệu tập các kỳ mục Israel, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ đứng trước nhan Thiên Chúa. Ông Giôsuê nói với toàn dân về lời tuyên phán của Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel: “Thuở xưa, khi còn ở bên kia Sông Cả, cha ông các ngươi, cho đến Terác là cha của Ápraham và của Nakho, đã phụng thờ các thần khác” (Gs 24:2). Ngày nay, chúng ta gọi họ là những kẻ phản bội hoặc bội bạc, nhưng ngày nay chúng ta cũng có hơn họ, bởi vì chúng ta cũng đã bao lần phạm tội phản nghịch với Thiên Chúa nhân hậu.

    Tuy nhiên, ông Giôsuê vẫn không ép buộc mà cho họ tự do chọn lựa: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa thì hôm nay anh em CỨ TUỲ Ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người Emôri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24:15). Nghe vậy mà họ thấy “rét”. Họ được “đánh động” nên cảm thấy hối hận, và họ đáp lại: “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. Đức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người Emôri ở trong xứ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi” (Gs 24:16-18).

    Cũng là phàm nhân với nhau nên cũng giống nhau y chang. Nghĩa là chúng ta cũng đã và đang yếu đuối, nói một đàng làm một nẻo, cứ liên tục qụy ngã rồi lại té lên té xuống, vậy mà vẫn chưa thực sự “nên người”. Chúng ta yếu đuối nhưng không được thất vọng, vì chúng ta may mắn có “sức mạnh vô song của Đức Kitô”. Tội lỗi tày trời, tội lỗi ngập đầu, tội lỗi đỏ như máu, thế mà chúng ta vẫn được Thiên Chúa xót thương mà tha thứ tất cả, không chỉ vậy mà chúng ta còn được phục hồi nguyên trạng cương vị người con. Vì thế, chúng ta phải tự hứa: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Ngài chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:2-3). Bất kỳ ai cũng phải “làm lành lánh dữ, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 34:15). Đó là sống theo huấn lệnh của Thiên Chúa, cũng có nghĩa là chúng ta đã xác tín là tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất.

    Tuyệt đối Thiên Chúa là Đấng nhân lành (x. Ga 10:11 & 14), và chỉ có Ngài là Đấng nhân lành (Mt 19:17), vì thế Ngài “đối đầu với quân gian ác, xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời”, nhưng Ngài vẫn luôn “để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu” (Tv 34:16-17). Thật vậy, “họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:18). Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót nên Ngài luôn “gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi” (Tv 34:19-21). Đặc biệt là “xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy” (Tv 34:21). Đó là cách quan phòng và tiền định của Thiên Chúa.

    Phàm nhân là loài yếu đuối, chúng ta là phàm nhân nên chúng ta cũng yếu đuối, mà càng yếu đuối thì càng cần có đức tin, và chính đức tin làm cho chúng ta nên vững mạnh. Đức tin và đức ái liên quan tinh thần phục vụ – sống cho và sống vì nhau – khởi đầu từ gia đình. Thánh Phaolô nói: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy TÙNG PHỤC LẪN NHAU” (Ep 5:21).

    Tùng phục nhau bằng cách nào? Thánh nhân giải thích “dài hơi” một chút: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5:22-25). Như vậy là chính Đức Kitô “thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng NƯỚC và LỜI hằng sống, để trước mặt Ngài, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5:26-27). Thiên Chúa là Đấng chí thánh nên những gì thuộc về Ngài đều phải là thánh.

    Tương tự, “chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5:28). Rất hợp lý, bởi vì vợ chồng “tuy hai mà một”, trở nên “một” qua bí tích Hôn phối. Nên một thì không thể là hai hoặc ba, nghĩa là “người này cũng là người kia”. Chẳng có ai ghét thân xác mình bao giờ, chỉ có kẻ ngu xuẩn mới hành hạ chính mình, nhưng “người ta NUÔI NẤNG và CHĂM SÓC thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Ngài” (Ep 5:29-30). Sách Thánh xác định rạch ròi: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ LÌA cha mẹ mà GẮN BÓ với vợ mình, và cả hai sẽ thành MỘT XƯƠNG MỘT THỊT” (Ep 5:31). Và Thánh Phaolô minh định: “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5:32). Hình ảnh phu thê là hình ảnh Đức Kitô và Giáo Hội – và ngược lại. Do đó, những người sống đời hôn nhân phải cố gắng thể hiện đức tin qua ơn gọi hôn nhân của mình. Hôn nhân là bí tích do Thiên Chúa thiết lập chứ không phải do loài người tạo nên. Thế nên không thể “vui ở, buồn đi” theo ý mình.

    Cái gì cũng có tính liên đới, dù đó là điều tốt hay xấu. Tương tự, đức tin cũng có nhiều hệ lụy. Tất cả đều liên kết với nhau một cách mạch lạc và rất kỳ diệu. Thân xác không hơi thở là xác chết – bởi vì “Chúa lấy sinh khí lại, chúng tắt thở ngay” (Tv 104:29), và “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Đó là hai cái chết: chết thể lý và chết tinh thần. Cái chết nào cũng đáng sợ!

    Hôm đó, khi Chúa Giêsu giảng dạy trong hội đường ở Ca-phác-na-um, Ngài nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời” (Ga 6:54). Nghe vậy, nhiều môn đệ của Ngài cũng cảm thấy “nóng gáy” nên nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6:60). Các “đệ tử ruột” mà còn phát biểu vậy đó! Ngài biết tỏng các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, nên Ngài bảo họ: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. Nhưng trong anh em có những kẻ KHÔNG TIN” (Ga 6:61-64). Quả thật, vấn đề đức tin là vấn đề thực sự quan trọng. Không phải cứ nói tin là tin, vì lời nói đó có thể chỉ là “hàng giả” – giả vờ vậy thôi. Cách xác tín cho biết “sức khỏe tâm linh” của chúng ta ra sao, khỏe hay yếu, hoặc cứ làng xàng – chẳng khỏe cũng chẳng yếu.

    Thật vậy, ngay từ lúc đầu, Chúa Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Ngài. Thế nên Ngài cho biết: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Ga 6:65). Từ lúc đó, nhiều môn đệ đã “bỏ của chạy lấy người”, không còn đi theo Ngài nữa. Thấy vậy, Ngài hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6:67). Nhưng ngư phủ Simôn Phêrô nói ngay: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68). Thật tuyệt vời! Ngư phủ Phêrô lâu lâu nói một câu nghe “quá đã”, đúng là “trên cả tuyệt vời”. Ông không dám bỏ Sư phụ Giêsu vì ông đã xác tín. Thật vậy, chính ông đã công khai tuyên tín: “Phần chúng con, chúng con ĐÃ TIN và NHẬN BIẾT chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6:69).

    Ôi, lão ngư Phêrô ơi! Xin giúp chúng con cũng được sáng con-mắt-đức-tin để có thể chân nhận Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ duy nhất, và luôn biết tín thác vào chính Thiên-Chúa-Con-Người ấy.

    Cũng liên quan đức tin, Thánh LM Piô Năm Dấu (1887-1968) cho biết: “Thiên Chúa muốn kết ước với linh hồn TRONG ĐỨC TIN, linh hồn nào muốn cử hành hôn lễ thiên đàng ấy phải bước đi TRONG ĐỨC TIN tinh ròng, đó là phương thế duy nhất thích hợp cho sự kết hợp tình yêu”.

    Lạy Thiên Chúa duy nhất và toàn năng, xin thắp lên ánh sáng đức tin trong mỗi chúng con, xin nâng đỡ để chúng con hãnh diện tuyên tín qua từng ánh mắt và mọi động thái, xứng đáng là môn đệ của Đức Giêsu Kitô, Con Yêu Dấu của Ngài, và tất cả chỉ vì Thánh Danh Ngài mà thôi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    BỎ THẦY CON SẼ THEO AI?

    Lm Trần Bình Trọng

    Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã ban cho loài người được tự do lựa chọn: hoặc chấp nhận hay khước từ ơn Chúa. Sau khi chu toàn sứ mệnh Môsê trao phó để đưa dân Chúa chọn vào miền đất hứa,

    ông Giôsuê đã triệu tập các vị đại diện dân chúng tại Si-khem để khẳng định lại niềm tin vào Chúa. Ông nói với họ rằng: Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ.. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Thiên Chúa (Gs 24:15). Dân Ít-ra-en cũng đã lựa chọn. Họ quyết định phụng thờ Thiên Chúa vì Người đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ bên Ai cập, đã làm những việc kỳ diệu và dẫn đưa họ vào miền đất hứa.

    Tuy nhiên khi gặp khó khăn và thử thách trong sa mạc, họ lại bất trung, phản nghịch cùng Chúa. Và mỗi lần họ ăn năn sám hối thì Chúa lại giang tay đón nhận họ trở về với lòng bao dung tha thứ. Khi Ðức Giêsu đến, hứa cho họ ăn bánh hằng sống là thịt và uống máu Người thì mới có sự sống muôn đời, họ liền tranh luận hỏi nhau: làm sao ông này có thể cho họ ăn thịt Người được? (Ga 6:52).

    Lớp thính giả thứ hai trong Phúc âm hôm nay là các môn đệ khi nghe Ðức Giêsu giảng dạy về việc ăn thịt và uống máu Người để được sống muôn đời, cũng lẩm bẩm cho rằng lời nói thật là chướng tai (Ga 6:60). Và theo Phúc âm thuật lại: Nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa (Ga 6:66). Từ ngữ môn đệ được hiểu là người theo Ðức Giêsu và con số được ghi là bảy mươi hai môn đệ. Và khi có những môn đệ bỏ cuộc, Ðức Giêsu không ngạc nhiên, cũng không buồn giận, và không thay đổi lập trường. Người không giải thích, cũng không rút lại lời giảng dạy để mong bắt được mẻ cá lớn là các môn đệ.

    Ðến lượt lớp thính giả thứ ba là các tông đồ thì Ðức Giêsu còn thách đố các ông thêm nữa. Người đòi hỏi nơi các tông đồ một đức tin không dè dặt, không lưỡng lự. Ðức Giêsu gần làm hoảng hồn các tông đồ, khi Người hỏi thêm các ông: Còn chúng con, chúng con có muốn bỏ Thầy mà đi không? (Ga 6:67). Hoặc ở lại hay bỏ đi, một câu hỏi mà họ không thể nào tránh né được. Ðể trả lời câu hỏi, ông Phêrô tiến lên, đóng vai trò lãnh đạo, đáp lại: Thưa Thầy, nếu bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời (Ga 6:68). Ông muốn nói là không có ai khác để mà theo cả. Ðức Giêsu đòi hỏi một quyết định quả quyết nơi các tông đồ. Và Người đã nhận được lời cam kết của thánh Phêrô. Một lời cam kết đã làm tiêu tan những nghi ngờ của các tông đồ khác.

    Cũng vậy, tất cả những người đã quyết định theo Chúa qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức đều phải đương đầu với những thử thách về đức tin. Hằng ngày ta gặp nhiều cám dỗ để chối bỏ đức tin công giáo tông truyền. Ta gặp nhiều tiếng gọi dụ dỗ từ báo chí, truyền thanh, truyền hình và mạng tin, bảo ta điều gì phải tin, điều gì không cần tin, việc gì phải làm, việc gì không nên làm, điều gì phải thắc mắc, điều gì cần phải được xét lại. Ta bị cám dỗ để giữ đạo theo xu hướng nhất thời, tuỳ theo hứng khởi: vui thì đi lễ thờ phượng, không thì ở nhà. Ta bị cám dỗ chỉ giữ đạo nếu Giáo hội thay đổi lập trường về một vài nguyên tắc luân lý nào đó, nếu Giáo hội chiều theo ước muốn của ta.

    Ta bị cám dỗ chối bỏ đức tin vào sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh thể vì không hiểu sao bánh rượu sau khi linh mục đọc lời truyền phép vẫn giống bánh rượu trước khi truyền phép? Và đó chính là mầu nhiệm đức tin mà loài người không thể dùng lí trí để giải thích và hiểu được một cách thoả đáng. Nếu người ta có thể hiểu được mầu nhiệm trong đạo, thì cái được gọi là mầu nhiệm, không còn phải là mầu nhiệm nữa, mà chỉ là một triết thuyết hay một hệ thống khoa học. Vì thế mầu nhiệm vẫn mãi mãi là mầu nhiệm, nếu không thì đức tin không còn phải là đức tin nữa, mà chỉ là sự hiểu biết thôi. Tuy nhiên, nếu không hiểu, tại sao lại tin? Tin là chấp nhận dựa trên lời nói hay thế giá của người khác. Các tông đồ không hiểu, nhưng vẫn tin vì dựa trên lời nói, quyền năng  và thế giá của Thầy mình.

    Khi cảm thấy khó chấp nhận về đường lối giáo huấn chính thức của Giáo hội, là phản ảnh của đường lối Phúc âm, về một vài vấn đề như tính dục, li dị, phá thai .., đó là lúc mà câu hỏi Chúa đặt ra cho các tông đồ sẽ lại vọng lên bên tai ta: Còn con, con có muốn lìa bỏ Giáo hội mà Thầy đã thiết lập trên nền tảng các tông đồ không? Khi bất đồng ý kiến với Giáo hội về một số chính sách của Toà Thánh Vatican, đó là lúc mà một câu hỏi tương tự sẽ vọng lên bên tai ta: Còn con, con có muốn chấp nhận đường lối của Giáo hội mà Thầy thiết lập không? Khi thấy những gương mù, gương xấu xẩy ra ngay trong hàng giáo sĩ, câu hỏi khác sẽ vọng lên: Còn con, con có muốn ở lại trong Giáo hội để cầu nguyện và xây dựng Giáo hội của Thầy không?

    Khi phải đối chất với những lời giảng dậy khó chấp nhận trong đạo, hoặc giáo lí khó khăn của đạo thì người theo đạo nửa mùa, hoặc mạo nhận theo đạo, toan cắt nghĩa sao cho phiên phiến đi, để cho trở nên dễ dãi, hoặc áp dụng lẽ đạo qua loa, sao cho phù hợp với ước muốn và quan niệm của họ cũng như của quần chúng. Thính giả trong Phúc âm hôm nay hiểu rõ lời Ðức Giêsu giảng dạy, hiểu ý Người muốn nói gì nên mới cho là chướng tai đấy. Vậy mà Chúa cũng không cải chính về sự chướng tai đó đâu. Họ hiểu Chúa không nói đến việc ăn thịt và uống máu theo nghĩa tượng trưng thôi đâu. Khi cảm thấy Chúa mà mình tôn thờ, sao mà khó thế nếu so sánh với những chúa và thần của những đạo khác, đó là lúc mà câu hỏi giả sử của ông Giôsuê cũng vọng bên tai ta: Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ (Js 24:15).

    Phúc thay cho những gia đình, cộng đoàn giáo xứ và trong Giáo hội mà có được những người nói được những lời bất hủ như vậy để bầy tỏ đức tin quả quyết như ông Giôsuê, hoặc Thánh Phêrô: Bỏ Thấy, con sẽ theo ai, hầu giúp củng cố đức tin của người khác trong gia đình, trong cộng đoàn giáo xứ và trong cả Giáo hội.

    Lời cầu nguyện xin cho được ơn giữ vững niềm tin vào Bí tích Thánh thể:

    Lạy Chúa Giêsu Thánh thể.

    Con xin cảm tạ Chúa đã lập Phép Thánh thể

    để làm của ăn uống thiêng liêng cho loài người.

    Xin Chúa làm no thoả những đói khát của con

    khi con lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa

    Và xin cho con giữ vững lời Chúa.

    Ðừng để con nghe theo lời quyến rũ rỉ tai

    mà chối bỏ đức tin và xa lìa Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    LÒNG TRUNG THÀNH

    Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

    Chúng ta vẫn thường hay nghe nói người này hứa dỏm, người kia hứa lèo. Chính bản thân nhiều khi cũng tỏ ra bực mình vì ai đó không giữ đúng lời hứa. Từ những chuyện nhỏ nhất, tầm thường nhất của cuộc sống, đến những vấn đề quan trọng nhất, người ta đều có thể bất trung thất tín.

    Ví dụ: Ai cũng biết, hôn nhân là mối dây ràng buộc chặt, nhưng người ta vẫn phản bội nhau. Một hợp đồng kinh tế vừa mới ký xong, có thể vì lợi lộc riêng tư, người ta vẫn phản bội hợp đồng đó. Một hiệp ước hòa bình giữa hai đảng phái đã được ký kết để đừng chém giết nhau nữa, thì cũng không ai dám tin chắc rằng, hai đảng phái đó hoàn toàn tuân theo hiệp ước, dù nó là hiệp ước quốc tế đi nữa. Vậy là chiến tranh nổ ra, chém giết vẫn còn, những cái chết oan uổng vẫn không ngừng tiếp diễn. Nhìn vào thực tế của đời sống như thế, nhiều lúc ta như chán nản, bật thốt lên: Người đời là vậy! Họ phản bội nhau, bất trung với nhau, không cần đếm xỉa gì đến hậu quả.

    Đối với nhau đã vậy, đối với Thiên Chúa, con người cũng phản bội, cũng bất trung không kém. Từ thuở bình minh của nhân loại, thế giới, theo Thánh Kinh diễn tả, chỉ có hai người: Ađam, Eva. Tưởng chừng cả hai sẽ an phận trong hạnh phúc tuyệt đối Chúa đã an bài. Nhưng không, lòng tham, sự kiêu ngạo đã làm hai ông bà không chấp nhận hạnh phúc đó, mà lại muốn bằng Thiên Chúa. Để bằng Thiên Chúa, chỉ còn cách không vâng lời, chống lại Thiên Chúa, bất trung với Người. Vì tội chống Thiên Chúa một cách tày trời, đã gây ra hậu quả không lường: cả loài người cùng bị vạ lây trong tội nguyên tổ.

    Bất trung của Ađam và Eva là mở đầu cho vô vàn những bất trung mà con người phản bội Thiên Chúa. Chẳng hạn, thời gian dài dân Chúa phải lang thang trong sa mạc là một bằng chứng. Bốn mươi năm trường nếm đủ mùi vị của khổ đau: nào là đói, rét, khát, rắn độc cắn…, đã làm cho dân của Chúa mất kiên nhẫn, nhiều lần lên tiếng trách móc ông Môsê và ông Aaron. Không dừng ở đó, họ còn oán trách nặng lời đối với Thiên Chúa của họ. Họ nghi ngờ lòng thương xót của Chúa: không biết Chúa có thương mình không, hay Thiên Chúa đem họ ra khỏi Aicập để mượn nỗi khổ gay gắt của sa mạc để giết chết họ? Lòng dân nổi loạn đến mức, có lần ông Môsê thất vọng cùng cực, than thở với Chúa: Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu?… Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn…” (Ds 11, 12tt). Trong sa mạc, lòng dân quên mất tình yêu của Chúa, vì thế đã không biết ơn Thiên Chúa của mình, ngược lại, nhiều lần họ đi từ thái độ bất trung đến đối nghịch Thiên Chúa.

    Hôm nay bài đọc một là một phần của câu chuyện dài về lòng thương xót của Thiên Chúa và sự bất trung của dân Người. Sau những năm tháng lang thang rày đây mai đó trong sa mạc, bây giờ sắp định cư trong đất hứa, hạnh phúc chỉ còn là một bước nhảy về phía trước. Trong hoàn cảnh này, dân Chúa phải xác định lại lập trường của mình: Họ có muốn trung thành theo Chúa, thờ phượng Chúa nữa hay không? Dẫu hôm nay, họ dỏng dạc tuyên bố sự chọn lựa của mình: “Không đời nào chúng tôi bỏ Đức Chúa mà đi thờ các thần khác”, và dù cho lý do buộc họ phải xác định lại đức tin của mình là bởi đã quá nhiều lần họ bất trung với Chúa, thì không phải vì thế, mà từ nay về sau họ không còn bất trung. Lời quyết tâm trung thành hứa trước nhan Chúa vẫn còn đó, nhưng lòng dân thì hay thay đổi. Suốt dọc dài của lịch sử, sự phản bội ngấm ngầm hay ra mặt đã làm cho dân của Chúa nhiều lần bước ra khỏi tình yêu của Người, sống cách xa Thiên Chúa. Chính sự bất trung liên tục mà dân Chúa đã bao lần chuốc lấy cơn phẫn nộ của Người. Nhưng nổi bậc lên trên tất cả, lớn hơn cả những lần phẫn nộ, lớn hơn cả sự phản bội của dân vẫn là tình yêu khoan dung, và tha thứ mà Thiên Chúa dành cho họ. Đọc Thánh Kinh ta có cảm tưởng như Thánh Kinh hình thành bởi một công thức gồm ba động từ: phản bội – nổi giận – tha thứ. Dân không ngừng phản bội, nhiều lần Thiên Chúa nổi giận, sau đó lại xót thương và tha thứ. Suốt chiều dài của lịch sử mà Thánh Kinh diễn tả cứ lặp đi lặp lại y như thế.

    Đó là bài đọc I trích trong sách Giosuê. Trong bài Tin Mừng, một lần nữa, ta lại thấy lời khẳng định về lòng trung thành một cách dứt khoát của thánh Phêrô: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”. Dù khẳng khái là thế, nhưng không phải mọi lúc Phêrô đều cứng rắn và hết lòng trung thành. Vì khi Thầy Giêsu của mình lâm nguy trong cuộc tử nạn, có lẽ chính là lúc Thầy cần Phêrô nhất: cần một sự đồng cảm, cần một sự chia sẻ nào đó, cần lắm một thái độ, ít nữa là một ánh mắt tin tưởng để Thầy bớt cô đơn trên mỗi bước đường thập giá… Chính những giờ phút quan trọng ấy, những giờ phút cần thiết ấy, Phêrô lại quên mất lời tuyên xưng mới đó, tính cho đến thời điểm diễn ra cuộc thương khó của Thầy, chưa được bao lâu. Vì một chút sợ hãi và yếu lòng, Phêrô đã chối Thầy, không phải một lần, mà là ba lần, không phải trong ba năm, nhưng chỉ cách nhau có hai canh gà!

    Ôn lại những gì dân Chúa đã sống ngày xưa, và nhìn lại lời tuyên xưng cũng như lỗi lầm của thánh Phêrô nhân dịp Hội Thánh mời gọi ta suy niệm các bài Kinh Thánh nói về lòng trung thành trong ngày Chúa nhật XXI, bạn và tôi, một lần nữa, hãy thâm tín một cách chắc chắn rằng, Chúa vẫn yêu chúng ta, yêu từng người một. Dẫu ta có lỗi lầm bao nhiêu, có bất trung cách mấy, Chúa vẫn một lòng khoan dung tha thứ. Chúa đã chấp nhận nguyên tổ ngay cả khi nguyên tổ chống đối Chúa; Người cũng không vì lỗi lầm của dân riêng mà khước từ tình yêu đối với họ, cũng không phải vì Phêrô yếu đuối mà Chúa tước quyền làm tông đồ trưởng, hơn nữa làm giáo hoàng tiên khởi của Hội Thánh, thì hôm nay bạn và tôi vẫn có quyền hy vọng. Chúa vẫn thế, vẫn mãi mãi là Thiên Chúa của lòng trung thành, của tình yêu và tha thứ, chỉ sợ chúng ta không hy vọng nữa mà thôi. Ta bất trung với Chúa nhiều lần, đó là sự thật. Nhưng còn một sự thật khác lớn hơn nhiều: Tình yêu của Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của ta. Bởi thế, biết mình yếu đuối, lỗi lầm bao nhiêu, ta càng vững tin vào Chúa bấy nhiêu. Nếu lỡ có lần nào vấp ngã, ta nhanh chóng đứng lên và chạy về phía Chúa. Bí tích giải tội là cách tốt nhất để ta lấy lại bình an, lấy lại lòng trung thành cùng Chúa mà chính mình đã đánh mất.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 21 TN_B

    Lm. Inhaxiô Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXI có thể được tóm gọn ở nơi diễn ngữ này: “Tấn thảm kịch của sự chọn lựa”. Có những chọn lựa mang tính quyết định đối với cá nhân hay dân tộc.

    Gs 24: 1-2a, 15-17, 18b

    Bài Đọc I nhắc lại việc ông Gio-suê đưa ra cho dân Ít-ra-en ngay khi họ định cư ở miền đất ngoại giáo một sự chọn lựa dứt khoát: phụng thờ ngẫu tượng hay phụng thờ Đức Chúa, Đấng đã bảo vệ họ và dẫn đưa họ đến tận miền đất mà Ngài đã hứa ban cho tổ tiên của họ.

    Ep 5: 21-32

    Trong đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, Thánh Phao-lô sánh ví tình yêu chung thủy giữa chồng và vợ trong hôn nhân Ki-tô giáo với sự kết hiệp bất khả phân ly của Đức Giê-su với Hội Thánh của Người.

    Ga 6: 54a, 60-69

    Tin Mừng trình bày một chọn lựa khác: tin vào Đức Giê-su và vào lời hứa ban thịt và máu của Người, hay từ chối tin vào Người và không chấp nhận mầu nhiệm này. Đây là thời điểm chọn lựa giữa lòng trung tín và thái độ khước từ.

    BÀI ĐỌC I (Gs 24: 1-2a, 15-17, 18b)

    Sách Gio-suê được đặt liền ngay sau bộ Ngũ Thư; sách này thuật lại việc dân Thiên Chúa định cư ở đất Ca-na-an (thế kỷ thứ mười ba trước Công Nguyên), những diễn biến của cuộc chinh phục, đoạn việc phân chia lãnh thổ giữa mười hai chi tộc Ít-ra-en.

    1. Một sự chọn lựa dứt khoát

    Ông Gio-suê, kế nghiệp ông Mô-sê, lãnh đạo dân Do thái. Ông là vị anh hùng chính của sách mang tên ông. Vào cuối đời, noi gương ông Mô-sê, ông Gio-suê muốn căn dặn dân Do thái lần cuối, vì thế, ông quyết định triệu tập toàn thể các chi tộc Ít-ra-en ở Si-khem.

    Địa danh mà ông chọn, ở trung tâm Đất Hứa. Xét về phương diện địa lý, địa danh này rất thuận tiện (sau này miền này được gọi là Sa-ma-ri). Ngoài ra, miền này chất chứa biết bao kỷ niệm tôn giáo rất có ý nghĩa: Si-khem là nơi tổ phụ Áp-ra-ham trú ngụ đầu tiên khi đặt chân lên đất Ca-na-an và là nơi vị tổ phụ dựng bàn thờ đầu tiên kính Chúa (St 12: 6-8). Đó cũng là nơi mà tổ phụ Gia-cóp đã tậu một thuở đất và đã chôn dưới gốc cây những tượng thần linh ngoại giáo mà thân nhân của ông còn đem theo với mình, đây là dấu chỉ của việc từ bỏ phụng thờ các thần linh của họ (St 33: 18-20). Hành động này báo hiệu cách đặc biệt việc thờ phượng chỉ một mình Đức Chúa, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Cũng một cách như vậy, ông Gio-suê đòi hỏi dân Ít-ra-en phải dứt khoát từ bỏ thờ lạy các thần linh và cam đoan phụng thờ một mình Đức Chúa, Thiên Chúa của họ.

    1. Tấn thảm kịch của sự chọn lựa

    Đoạn văn hôm nay trích từ bài diễn từ của ông Gio-suê được đặt vào trong khung cảnh phụng vụ: ông Gio-suê và tất cả các lãnh tụ dân Ít-ra-en “ra trình diện trước nhan Thiên Chúa”. Đây là biểu thức quen thuộc chỉ ra rằng có một đền thánh ở Si-khem (chắc chắn Hòm Giao Ước được đặt ở nơi thánh địa này).

    Ông Gio-suê đưa ra cho toàn dân Ít-ra-en một chọn lựa triệt để: phụng thờ các vị thần linh của dân ngoại hay chỉ một mình Đức Chúa. Sự quyến rũ của việc phụng thờ các thần linh có thể xuất xứ từ đa thần giáo của tổ tiên họ, hay từ dân bản địa mà họ cùng chung sống trên đất Ca-na-an. Dân Ít-ra-en phải chọn lựa một trong hai. Ông Gio-suê đòi hỏi họ long trọng tái cam kết. Lập luận cốt yếu mà ông đưa ra dựa trên sự trung tín của Đức Chúa, chính Ngài đã giải thoát họ ra khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, đã dẫn đưa họ đến tận Đất Hứa này, bất chấp mọi trở ngại đã giữ trọn lời hứa của Ngài với cha ông họ. Dân Ít-ra-en phải đáp trả sự trung tín của Thiên Chúa bằng cách tái cam kết phụng thờ chỉ một mình Ngài “vì Đức Chúa là Thiên Chúa chúng tôi”.

    1. Giao ước ở Si-khem

    Trên bình diện lịch sử, một cuộc triệu tập như vậy cho thấy là cần thiết để tái tổ chức toàn thể dân Chúa chọn thành một dân duy nhất, bởi lẽ dân Do thái vào Đất Hứa, đất mà các tổ phụ đã sống, và gặp lại những hậu duệ đã không cùng họ rời quê hương sang Ai-cập. Việc sáp nhập những hậu duệ này vào các chi tộc của cuộc Xuất Hành quả là cần thiết. Cuối cùng, cũng cần phải hiệp nhất các chi tộc trước khi họ phân tán khắp xứ sở Ca-na-an. Để được như vậy, chỉ có chung một niềm tin mới có thể gắn kết những yếu tố rời rạc của dân Thiên Chúa.

    Nhưng về phương diện lịch sử, Giao Ước Si-khem chắc chắn là bản sao chép phụng vụ mà dân Ít-ra-en cử hành hằng năm để long trọng lập lại lời cam kết trung thành tuân giữ Giao Ước. Sách Đệ Nhị Luật xem ra làm chứng điều này, một bài thuyết giáo về Giao Ước theo sát sơ đồ của bài diễn từ ông Gio-suê; hay nói chính xác hơn, ông Mô-sê căn dặn dân Ít-ra-en hằng năm phải tưởng nhớ lời cam kết của mình đối với Đức Chúa. Một ngàn năm sau, việc tưởng niệm như vậy cấu thành yếu tố cốt yếu của “lễ Ngũ Tuần”. Hằng năm, vào ngày đại lễ đó, người ta lập lại lời cam kết trung thành tuân giữ Giao Ước Xi-nai (thật lạ thường, bài diễn từ của ông Gio-suê ở Si-khem không được nhắc đến).

    Cuối cùng, chúng ta ghi nhận rằng vào năm 931 trước Công Nguyên sự thống nhất của dân Chúa chọn bị thách đố: mười chi tộc tự tách mình ra khỏi vương triều Đa-vít để thiết lập vương quốc Ít-ra-en, mà kinh đô là Sa-ma-ri; trong khi hai chi tộc còn lại vẫn trung thành với vương triều Đa-vít, được gọi vương quốc Giu-đa, mà kinh đô là Giê-ru-sa-lem. Sự phân ly đau đớn này là phản đề cuộc triệu tập vĩ đại ở Si-khem.

    BÀI ĐỌC II (Ep 5: 21-32)

    Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư thánh Phao-lô gởi các tín hữu Ê-phê-xô, đây là phần luân lý và khuyến dụ.

    Sau khi đã nói về đời sống mới của người Kitô hữu qua phép Rửa, thánh nhân đưa ra vài lời căn dặn liên quan đến đời sống gia đình: thánh nhân tuần tự gợi lên những mối liên hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, chủ và tớ. Đoạn trích hôm nay đề cập đến mối liên hệ giữa chồng và vợ.

    Chúng ta cần phải nhận ra hai khía cạnh khác nhau trong bản văn này: khía cạnh lỗi thời, việc khai triễn của những phong tục tập quán đã khiến cho những lời đề nghị của thánh nhân không còn thích hợp nữa; và khía cạnh bất khả đổi thay, luôn luôn có giá trị và luôn luôn mang tính thời sự: sự hiệp nhất của Đức Ki-tô với Giáo Hội của Người được sánh ví với sự hiệp nhất bất khả phân ly của chồng với vợ trong hôn nhân Ki-tô giáo.

    1. Khía cạnh lỗi thời

    Bản văn của thánh Phao-lô không còn đáp ứng tâm thức hiện nay của chúng ta. Quả thật, trong bối cảnh tôn giáo, văn hóa và xã hội của thánh nhân, lời khuyên “vợ phải tùng phục chồng” cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với “quyền bình đẳng nam nữ” trong thế giới hiện nay. Mặc dầu viết từ Rô-ma, thánh nhân vẫn quan niệm bổn phận của người vợ theo truyền thống Do thái. Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng, về phương diện pháp lý, bổn phận người vợ phải phục tùng chồng trước đây ở Đông Phương rất phổ biến, ngay cả ở Việt Nam: “xuất giá tòng phu”, đã bị hủy bỏ từ lâu rồi. Do đó, chúng ta cũng phải khảo sát hậu cảnh tôn giáo của lời đề nghị này: Giáo Hội tùng phục Đức Ki-tô, chấp nhận Tin Mừng của Người và tuân giữ các huấn lệnh của Người như thế nào thì người vợ phải phục tùng chồng như vậy.

    Còn đối với lời khuyên: “người chồng phải yêu vợ mình như yêu chính thân thể mình” không phải là xúc phạm đến người bạn đời của mình sao? Phải nói thực, linh đạo hôn nhân, sau một lịch sử lâu dài, đã vượt qua những quan niệm như vậy. Tình nghĩa vợ chồng sống theo tinh thần Ki-tô giáo là lời mời gọi thường hằng ra khỏi cái tôi của mình, quên đi bản thân mình mà yêu người bạn đời của mình như chính người ấy. Không phải thánh Phao-lô đã tiên cảm điều đó khi nói rằng người chồng phải bắt chước Đức Ki-tô, Người đã “yêu thương và hiến thân mình vì Hội Thánh” đó sao?

    Vì thế, trước tiên phải vượt qua những quan niệm này mà cố gắng thấu hiểu tư tưởng của thánh nhân, chủ yếu thuộc loại suy.

    1. Truyền thống Kinh Thánh

    Thánh Phao-lô áp dụng cho Đức Ki-tô và Hội Thánh của Ngươi ngôn từ của các ngôn sứ, các ngài đã diễn tả tình yêu của Đức Chúa dành cho dân Ít-ra-en bằng những từ ngữ hôn nhân. Khởi đi từ thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, ngôn sứ Hô-sê đã trình bày hình ảnh hôn ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài bằng những ngôn từ thật thống thiết; từ đó, hình ảnh này trở thành kinh điển. Chúng ta gặp lại hình ảnh này nhất là tại các ngôn sứ: Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, I-sai-a đệ nhị. Hình ảnh này xuất hiện một lần nữa và được thiêng liêng hóa trong sách Khôn Ngoan (thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên). Chính trong truyền thống Kinh Thánh này mà viễn cảnh của thánh Phao-lô được định vị.

    Việc so sánh tình nghĩa vợ chồng phàm nhân với tình nghĩa của Đức Chúa với Dân Người thật là tuyệt vời, dù rằng không phải mọi yếu tố đều xứng hợp. Quả thật, sự so sánh vẫn kiếm khuyết ở nơi mức độ đồng hóa Đức Ki-tô với người chồng được tô điểm bằng sự hoàn thiện, cao cả, uy quyền, và Dân Người với người vợ xem ra hoàn toàn phụ thuộc, có nhiều khuyết điểm, cần được tinh tuyền và thánh thiện “để ra mắt Người”.

    Cũng vậy, trong Cựu Ước, Đức Chúa là vị hôn phu rất mực thủy chung, không bao giờ quên những lời thề non hẹn biển của mình; trong khi dân Do thái là vị hôn thê thường bội thề, bất trung với Thiên Chúa của mình, vi phạm các huấn lệnh của Ngài, chạy theo các ngẫu tượng.

    Vì so sánh như vậy, người chồng phải yêu thương vợ mình “như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh”. Lời mời gọi chan chứa tình nghĩa chồng vợ này tạo nên một dấu nhấn mới gây xôn xao ở giữa lòng xã hội ở đó chỉ người chồng mới có quyền rẩy vợ và ở đó chỉ người phụ nữ ngoại tình bị trừng phạt (dù rằng tội đồng lõa cũng bị trừng trị: Lv 20: 10; Đnl 22: 22, tuy nhiên chúng ta ghi nhận rằng việc người chồng ngoại tình hiếm khi bị kết án).

    1. Hội Thánh là Hiền Thê và Thân Thể của Đức Ki tô

    Đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô này khai triển một trực giác đã xuất hiện kể từ thư thứ hai gởi các tín hữu Cô-rin-tô (2Cr 11: 2), đó là cách diễn tả đạo lý rõ ràng nhất của thánh Phao-lô về Hội Thánh là “Thân Thể Đức Kitô”.

    Đức Ki-tô đã thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh “bằng nước và lời hằng sống”, theo nguyên ngữ của bản văn Hy lạp “bằng việc tắm rửa kèm theo lời”. Thánh Phao-lô sử dụng từ “tắm rửa” vì phép Thánh Tẩy được thực hiện bởi việc nhận chìm vào bể nước, nhưng cũng ám chỉ đến nghi thức tắm rửa của vị hôn thê theo tập tục Do thái cũng như Hy lạp. Còn việc kể ra “kèm theo lời” rõ ràng là biểu thức phép Thánh Tẩy. Dù xác định thoáng qua nhưng thật quý báu biết bao.

    Có thể cũng có một sự quy chiếu đến phép Thánh Thể, khi thánh nhân gợi lên “người chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, không ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi dưỡng và săn sóc thân xác mình”; đó là điều Đức Giê-su làm đối với Hội Thánh của Người khi nuôi dưỡng Hội Thánh bằng Mình và Máu của Người.

    1. Chiều kích cao cả của hôn nhân

    Sự kết hiệp của Đức Giê-su với Hội Thánh là dấu chỉ của sự hiệp nhất giữa đôi vợ chồng trần thế, đó là ý muốn của Đấng Tạo Hóa, vì “cả hai sẽ trở thành một xương một thịt”, như cách diễn tả của sách Sáng Thế mà thánh nhân nhắc lại. Như vậy, sự hiệp nhất chồng vợ được tháp nhập vào trong một thực tại thánh, thực tại này siêu thăng đời sống hôn nhân. Mầu nhiệm hôn nhân thật là cao cả vì là hình ảnh hôn ước giữa Đức Giê-su và Hội Thánh.

    TIN MỪNG (Ga 6: 54a, 60-69)

    Đây là một trong những trang Tin Mừng thống thiết nhất. Đức Giê-su đã hoàn tất diễn từ Bánh Hằng Sống; Người đã loan báo ân ban thịt và máu của Người bằng những từ ngữ hiện thực nhất. Như vậy, Đức Giê-su đặt để các môn đệ của Người trước một sự lựa chọn: tin vào những lời công bố không thể nào tin được này hay từ chối mà ra đi vì “lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”.

    1. Nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Đức Giê-su nữa

    Chúa Giê-su vừa mới công bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống”. Các môn đệ, tức một nhóm đông hơn nhiều nhóm Mười Hai, đã hiểu những lời của Đức Giê-su theo nghĩa thuần túy duy vật: “lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”.

    Đức Giê-su thử làm cho họ hiểu rằng để có thể hiểu những lời của Người, có một cách giải thích khác với cách giải thích của họ, không quá duy vật và “xác thể”, nhưng một cách “thần thiêng”“Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư?”. Từ “chướng” theo nghĩa đầu tiên, có nghĩa sự ngăn trở mà người ta vấp phải, như vấp phải hòn đá trên đường. “Thế khi anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” Người muốn hướng tâm trí của họ về tương lai và ở bên kia cuộc tử nạn của Người, khi Người trở về nơi Người đã đến. Lúc đó ý nghĩa của những lời Người nói mới được sáng tỏ: “thịt” và “máu” mà Người ban tặng chính là Thân Thể của Đấng Phục Sinh, là nguồn sống thần linh trao ban vô tận cho loài người, như vậy loài người đón nhận sự sống Người ban mới có sự sống trường sinh trong chính mình.

    “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”. Lời của Đức Giê-su “là thần khí và là sự sống”, tức là “Thần Khí làm cho sống”, vì chỉ có Thần Khí mới làm cho người tín hữu thấu hiểu được những lời Đức Giê-su đã nói, những phép lạ Người đã làm (3: 6) và những thực tại thần thiêng Người đã biểu lộ qua bản thân Người (Ga 15: 26a). Trái lại, “xác thịt”, tức phàm nhân, chỉ đóng khung trong ánh sáng của riêng mình, không thể hiểu ân ban mà Đức Giê-su hứa. Như vậy, cộng đoàn Ki-tô hữu hậu phục sinh trung thành với bàn tiệc Thánh Thể dễ hiểu hơn các môn đệ chán chường này.

    1. Nỗi buồn của Đức Giê-su

    “Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người”. Sự phản bội của ông Giu-đa được kết nối với những môn đệ không tin này: “vì lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”. Điều này hé mở cho thấy rằng ông Giu-đa đã vấp ngã trên mầu nhiệm Thánh Thể khởi đi từ nghi ngờ giáo huấn của Thầy về Bánh Hằng Sống.

    “Từ đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa”. Trước việc các môn đệ rút lui không theo Người nữa và trước viễn cảnh về một sự phản bội, Đức Giê-su buồn rầu hỏi nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa , anh em cũng muốn bỏ thầy đi sao?”. Nhân danh các môn đệ, thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin của mình: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại đời sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Thánh nhân đặt “tin” trước, rồi mới đến “nhận biết”. Chỉ trong ánh sáng của đức tin, người ta mới có thể nhận biết những chân lý vượt quá khả năng hiểu biết của phàm nhân.

    Mặc khải Thánh Thể đã đặt ra một sự chọn lựa bi thảm. Mặc khải này vẫn sẽ là “mầu nhiệm đức tin” đối với các tín hữu của mọi thời đại.

    Về mục lục

    .

    LÒNG TRUNG THÀNH.

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Mỗi lần tham dự Thánh lễ hôn phối, ta được nghe từng lời của chú rể : Anh … nhận em … làm vợ và hứa sẽ giữ lòng trung thành với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như khi mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em suốt đời anh. Đáp lại, cô dâu cũng nói lên lòng trung thành với chồng của cô.

    Lòng trung thành dường như là điều cần thiết cho cuộc sống chung. Trong mọi tương quan, trong mọi bậc sống đều cần lòng trung thành, sự chung thủy với nhau. Bạn bè chơi với nhau cần trung thành để không phản bội nhau. Vợ chồng cần trung thành để không có lỗi với nhau. Thầy trò cần lòng trung thành để gắn bó mật thiết với nhau. . . Và như vậy, chúng ta thấy lòng chung thủy, sự trung thành luôn là điều mà mọi người chúng ta phải gìn giữ trong mọi mối tương quan với nhau.

    Nhưng xem ra xã hội chạy theo lợi nhuận đã khiến con người khó giữ lời hứa trung thành. Vì lợi nhuận có người đã thay đổi công ty mỗi năm vài lần, cho dù đó là những ông chủ đã từng cưu mang họ lúc khó khăn. Bạn bè chơi với nhau ngày hôm nay cũng thế ! Rất khó kiếm được bạn tri kỷ như thế hệ cha anh. Họ chơi với nhau  nhưng dễ dàng đạp đổ nhau vì cái lợi cá nhân, vì công danh của họ. Ngày hôm nay càng khó kiếm những đứa học trò về thăm thầy cô sau khi công thành danh toại, đôi khi còn phản thầy, phản bạn và vu khống nhau . . .

    Điều báo động là lòng trung thành, sự chung thủy trong hôn nhân hôm nay cũng đang bị phá hủy một cách đáng báo động. Ở những thành phố lớn như Sài Gòn người ta tính cứ 3 đôi kết hôn thì 1 đôi không trung thành với nhau trọn đời. Và theo thống kê tại nơi thử máu AND để xác định cha con ruột với nhau thì cứ 10 trường hợp thì có 3 trường hợp nuôi con hàng xóm. . .

    Quả thực, lòng trung thành nói thì dễ nhưng giữ lại chẳng dễ chút nào. Ngay trong tôn giáo có mấy người thực sự giữ lòng trung thành với Thiên Chúa? Ở Việt Nam vào thập niên 1980-1990 của thế kỷ trước rất nhiều người đã ghi vào lý lịch bản thân là không tôn giáo để tìm kiếm công danh cho dễ. Ở đâu đó ta vẫn thấy người Công Giáo nhưng không trung thành giữ luật Chúa, họ vẫn tham ô, lừa gạt, sống thiếu yêu thương . .  .

    Lời Chúa hôm nay, ta cũng nghe lời hết sức tình cảm từ môi miệng của Simon Phêrô : “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời “. Nhưng Phê-rô thực sự đã không giữ lời hứa. Ông đã ngã đi ngã lại tới 3 lần và cuối cùng bỏ chạy biệt tăm trên đường thập giá mà Chúa phải đi một mình!

    Cuộc đời mỗi người chúng ta dường như cũng có nét gì đó giống Simon Phêrô xưa. Nói yêu Chúa thì dễ nhưng khi phải làm chứng thì lại chạy xa. Đi lễ thì đông nhưng giữ trọn luật Chúa còn mấy ai? Ngày nay không còn có những cuộc bách hại đạo tàn khốc nhưng cuộc cạnh tranh cơm áo gạo tiền đã khiến bao người đánh mất lòng trung thành với Thiên Chúa. Và lòng trung thành với nhau của vợ chồng, của bạn bè , của đối tác làm ăn càng khó giữ vì lợi nhuận mà người ta dễ dàng phản bội nhau.

    Chúa Giê-su hôm nay nói với các môn đệ và cũng là chúng ta muốn trung thành với Chúa và với nhau không thể dựa vào bản thân mà hãy dựa vào chính Chúa. Chính ơn ban của Chúa Cha mới giúp chúng ta sống trung thành với lời hứa. Thế nên, chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của mình để trông cậy với ơn Chúa. Hãy gia tăng cầu nguyện, hãy phó thác vào Chúa để Ngài nâng đỡ sự yếu đuối của chúng ta và hoàn thiện chúng ta nên tốt hơn.

    Xin ơn Chúa giúp chúng ta giữ lòng trung thành với Chúa và với nhau. Nhất là luôn nhận ra Chúa mới là nguồn sống trường sinh để biết chọn Chúa hơn là của cải trần gian mau qua. Amen

    Về mục lục

    .

    CHỌN LỰA KHÔN NGOAN

    Lm. Jos. DĐH.

    Lửa thử vàng, gian nan thử đức, chẳng ai lại hiểu đó là khái niệm mơ hồ, cho dù vàng bạc quý hiếm, khổ đau trong cuộc sống lại quá nhiều. Câu thành ngữ quen thuộc: không có gì quý hơn độc lập tự do, vẫn mãi còn là một minh chứng, ai cũng sẽ thành công trên hành trình đời này, khi họ biết sử dụng con tim khối óc để chọn một lối đi đúng, để lựa một phong cách sống đẹp. Có sa cơ thất thế mới rõ ai là bạn hiền, có nuôi con mới hiểu công khó của cha mẹ, có vấp ngã trong đời, hẳn sẽ “thấm thía” hơn với trấn an: thất bại là mẹ thành công. Một quyết định đúng, một chọn lựa đúng đẹp, mang đến niềm vui hạnh phúc, sẽ không phải vòng vo trong hy vọng, hay bởi tình cờ may mắn, nhưng sẽ là kết quả của tính hợp lý.

    Lạc quan, tự tin, do hoàn cảnh thuận lợi thì quả dễ dàng, được ăn uống đủ chất, được đủ điều kiện học tập, được sống trong bầu khí gia đình hạnh phúc, đối tượng đó thành công đâu khó khăn gì ? Cụ Phan Bội Châu để lại 2 câu thơ vừa khích lệ con cháu hãy tin tương lai sáng lạn ở phía trước, vừa động viên ý chí nghị lực cần phải có để được thành danh: nếu phải đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt nào có hơn ai. Lời giảng dạy của Đức Giêsu về bánh trường sinh, khởi đi từ thực tế thiết thực đến cao sâu, có người im lặng, có kẻ phản kháng, cả một số môn đệ cũng bất mãn vì “lời khó nghe” ! Sứ mạng hay ơn gọi của mỗi người sẽ không êm đềm, xuôi thuận, do đó một chuỗi dài hành trình phía trước, ai cũng cần phải có những chọn lựa khôn ngoan.

    Có tình yêu, có bình an, có gắn bó với anh chị em, hiệp thông với Đấng chúng ta tin tưởng, cuộc đời mỗi người mới là lời chứng khôn ngoan: có khó mới có anh hùng, qua bao gian khổ tỏ lòng trung kiên. Con người hôm nay ham hố lợi lộc, bất trung, bội phản, đầy giới hạn yếu hèn có khác gì người thời xưa ! Nhưng nhờ tình yêu Đức Kitô, chúng ta vẫn đang được soi sáng, dẫn dắt, cũng nhờ thế mà “cái đầu” của chúng ta được thông suốt, “trái tim” chúng ta mới không loạn nhịp. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta tiếp tục chọn lựa: “cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không”?

    Chân lý mà người xưa hay nay đều biết: thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng, thực tế thuốc đắng bao giờ cũng khiến người ta ngại uống, sự thật thì khó nghe, khó chấp nhận. Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, Đức Giêsu là Bánh trường sinh, nghe, hiểu, tin, vẫn mãi là ơn ban, là cơ hội dành cho mỗi người. Tình yêu Thiên Chúa không hề đổi thay, dù niềm tin chúng ta chưa khá hơn đám đông năm xưa, Đức Giêsu vẫn là Chúa, là Thầy, là bạn hữu, là Đấng vì yêu, đã chịu chết mà đền thay tội lỗi nhân loại. Chúng ta nên hiểu: đã là bạn thì mãi mãi là bạn, không thể như sông lúc cạn lúc sâu ! Đã là những người tin theo Chúa, không thể sống trong hoài nghi, dù là đám đông Do-thái, là môn đệ, là nhóm 12, hoặc chúng hôm nay, tất cả đều phải dứt khoát lập trường theo Chúa, không thể sống lấp lửng, nửa vời.

    Giáo huấn của Đức Giêsu về bánh hằng sống không chỉ hướng đến đám đông Do-thái, vì con người tự nhiên, tất cả đều mơ ước được hạnh phúc, được trường sinh bất tử, do đó chúng ta hôm nay cũng là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa. Cám dỗ chối bỏ Đức Giêsu, không tin Đức Giêsu là Thần lương nuôi linh hồn, vẫn là một điều đáng sợ của sự thông thái, quyền lực, tự mãn. Ở trong tình yêu, người ta không thua khi bị thế gian, ma quỷ, tấn công, mà chỉ thua khi tự đầu hàng chúng. Nhờ tình yêu, mỗi khi phải đối mặt với nghịch cảnh, trong chúng ta luôn có một sức mạnh tiềm ẩn, chính niềm tin sẽ dẫn chúng ta đến một chọn lựa khôn ngoan nhất. Đức Giêsu đã nói tới sự thật về tình yêu thương rất cao sâu đó: “không ai có thể đến với Ta, nếu không được Cha Ta ban cho”.

    Tục ngữ có câu: có vụng, sau mới khéo. Có té ngã, thất bại, mới thấy mình chưa khôn, có hiểu sai, có bầm dập khổ đau, mới thấy mình cần tình yêu thương. Cha mẹ thương con thương cháu là đúng, nhưng đâu phải cứ ngọt ngào, cứ đáp ứng đòi hỏi của con cháu mới là thương yêu, nhưng cha mẹ có tình, có lý, có thẳng, có thật, mới thực sự gọi là thương yêu. Sứ mạng của Đức Giêsu sẽ không thể im lặng, rút êm, khi mà đám đông Do-thái, các môn đệ, các tông đồ, đang nghi ngờ về tình yêu của Thiên Chúa, về Bánh hằng sống sẽ được ban cho nhân loại. Đức Giêsu tôn trọng sự chọn lựa của các tông đồ, và cũng như các học trò của Đức Giêsu hôm nay, chúng ta được tự do sống sự chọn lựa thật khôn ngoan: “lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG

    Bông hồng nhỏ

    Có một câu chuyện kể rằng: Có một ông bố giao cho ba đứa con của mình một nhiệm vụ rất quan trọng, hễ ai hoàn thành nhiệm vụ thì ông sẽ trọng thưởng. Cả ba người con nghe xong yêu cầu thì vội vã ra đi. Người con cả lên rừng tìm con thú để về làm món thịt nướng cho cha vì anh nghĩ, chốn rừng sâu nước độc, Chúa sẽ chẳng ở trên ấy. Nhiệm vụ của anh hoàn thành. Người con thứ lặn xuống sông bắt cá vì nghĩ rằng, dưới nước sâu Chúa sẽ chẳng hiện diện. Người con út ra đi, anh xuống thung lũng sâu vẫn gặp thấy Chúa, lên rừng Chúa vẫn hiện diện. Cuối cùng anh trở về tay không. Chỉ có anh con út được cha trọng thưởng dù anh trở về tay không. Bởi anh đã mang về cho cha cả một kho báu, đó là niềm tin vào Thiên Chúa hằng hữu.

    Hôn nay, sau khi nghe Thầy Giê-su khẳng khái tuyên bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,54a), nhiều môn đệ phản đối, có kẻ đã rút lui, không còn đi theo Thầy Giê-su nữa. Có lẽ thầy Giê-su đã rất buồn khi các môn đệ không hiểu tấm lòng Thầy Giê-su yêu thương họ,  và càng buồn hơn khi họ bỏ đi, chối từ nguồn sống được ban cho họ. Đối với họ, việc ăn thịt và uống máu con người là điều kinh khủng, chỉ xảy ra ở những kẻ man di mọi rợ. Họ chẳng nhận biết rằng Thầy Giê-su chính là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x. Ga 6, 69b) và Ngài có thể trao ban chính máu thịt Ngài nuôi sống con người vì yêu con người đến cùng (x. Ga 13, 16). Khi chứng kiến sự ra đi, sự chối từ của các môn đệ, Nhóm Mười Hai có lẽ cũng không tránh khỏi sự bối rối. Thầy Giê-su biết trước sẽ có kẻ không tin và kẻ nào sẽ nộp mình nhưng với tình yêu bao la, Thầy muốn cho tất cả đều được nghe lời sự sống. Thầy Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6, 67). Trước câu hỏi của Thầy, Nhóm Mười Hai đứng trước hai chọn lựa: một là nhất quyết trung thành với Thầy, hai là dứt áo ra đi.  Ông Phê-rô đã thay mặt anh em thưa với Thầy: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6, 69). Trước dư luận phản đối Thầy Giê-su, câu trả lời của Tông đồ Phê-rô chính là một xác tín mạnh mẽ, quyết liệt, đã nâng đỡ đức tin của anh em mình. Không những thế, câu trả lời còn cho thấy niềm tin vào Thầy Giê-su và ơn gọi đi theo Thầy nơi nhóm Mười Hai, trước sau như một, quyết chí trung thành.

    Về phần ta, ta được lắng nghe lời Thiên Chúa dạy dỗ, được chính Thánh Thể Chúa dưỡng nuôi. Đó là hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho ta. Nhịp sống ngày càng vội vã, hối hả đã kéo ta như càng lìa xa Thiên Chúa. Đức tin mà ta tuyên xưng liệu có trở thành một lời tuyên tín chân thực, thống nhất trong cuộc sống của ta? Ngày hôm nay ta mạnh mẽ ca vang tình yêu Chúa nhưng có đôi lần ta lại lãnh đạm thờ ơ với Chúa. Như thế là thế nào? Chẳng phải lúc ta ngại ngùng giấu giếm mình là Ki-tô hữu khi không làm dấu Thánh, hay khi không rộng lòng chia sẻ với anh em mình vật chất ta có, tình yêu thương của ta,.. là khi ta bỏ Thầy Giê-su rồi sao? Chính Tông đồ Phê-rô cũng đã chối Chúa ba lần vì sợ hãi nhưng cũng ba lần ông thưa với Chúa Giê-su Phục Sinh: “Thầy biết con yêu mến Thầy” (x. Ga 21, 15-17).  Noi gương Ngài, ta hãy sống tinh thần sám hối và yêu mến Chúa mỗi ngày bằng một đức tin sống động.

    Lạy Chúa, sau khi hân hoan lắng nghe lời Chúa và dự tiệc Thánh Thể no say, xin cho con can đảm sống lời Chúa bằng một đức tin sống động, một tình yêu mến chân thực. Nếu khi nào con vấp ngã, xin Chúa kéo con về để con được thánh hóa trong Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    HOANG ĐƯỜNG

    Lm Vũdình Tường

    Kẻ thì cho là hoang đường, kẻ khác lại nói nghe chói tai, kẻ khác nữa cho là khó nghe, kẻ khác thấy không thoải mái. Đây là phản ứng của đám đông khi họ nghe Đức Kitô nói về lương thực trường sinh.

    Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. c.53

    Đức Kitô biết phản ứng của họ, Ngài đã không rút lại lời đã nói, trái lại còn nhấn mạnh thêm

    Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thị tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống. c.54

    Nghe vậy đám đông xa lánh Ngài. Đức Kitô không để cho đám đông lung lạc công việc Ngài làm và Ngài cũng muốn môn đệ xác định rõ í định của họ nên Ngài nói với các ông

    Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? c.62

    Đức Kitô đưa ra những lời trên để cho đám đông tự chọn thái độ sống cho riêng họ. Tin theo Đức Kitô hoặc chối bỏ Ngài. Sau khi thấy đám đông ra đi, Đức Kitô hỏi riêng các môn đệ

    Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? c.67

    Đừng coi thường người ngư phủ này, Phêrô đại diện anh em lên tiếng

    Thưa thầy, bỏ thầy chúng con biết đến với ai? Thầy mới có lời đem lại sự sống đời đời c.68

    Câu đáp của Phêrô làm mọi người kinh ngạc về sự khôn ngoan sâu hơn đáy biển, rộng hơn bầu trời. Phêrô đáp lại Đức Kitô ngoài Ngài ra không còn ai hơn được. Phêrô không cho biết ông đã theo những ai. Tuy nhiên câu so sánh cho biết ông biết có những người khác cũng đưa những hứa hẹn nên mới so sánh. Ông cũng nhận định Đức Kitô là Đấng tốt lành nhất. Hơn nữa ông còn xác quyết Thầy là Đấng có lời ban sự sống đời, không phải sự sống thường mà là sự sống đời đời. Đám đông cho là lời nói chói tai, trong khi Phêrô cho là lời hằng sống. Điều mà ông cầu mong. Hơn nữa Phêrô còn nhận biết Đức Kitô đến từ Thiên Chúa. Rất có thể câu nói: nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? giúp Phêrô mở ánh sáng con mắt đức tin nhận biết Đức Kitô là Đấng Thánh của Thiên Chúa c.69

    Tương tự như Joshua tuyên xưng đức tin trước cộng đoàn của ông. Phêrô cũng tuyên xưng đức tin trước mặt Đức Kitô. Joshua nói với toàn dân

    Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ í chọn thánh thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông, hoặc các thần của người

    Amorites mà anh em đã chiến đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa Jos 24,15

    Cả hai nhóm tin vào Đức Kitô và không tin vào Đức Kitô đều có những điểm chung và những điểm khác biệt.

    Điểm chung thứ nhất cả hai cùng đi tìm sự sống thật, khi tìm gặp kẻ tin, người không. Thứ hai, cả hai đều tìm gặp được Đấng ban sự sống thật. Thứ ba, cả hai nhóm đều hiểu lờ mờ giáo huấn của Đức Kitô. Thứ tư, cả hai phải làm quyết định quan trọng trong chọn lựa.

    Điểm khác biệt. Thứ nhất, mhóm chọn tin theo; nhóm chọn không tin. Thứ hai, nhóm chọn tin thầm lặng; trong khi nhóm chọn không tin nhiều lời chỉ trích, phê bình, chê bai. Thứ ba, nhóm chọn tin theo chấp nhận thay đổi, đổi cách sống mới. Nhóm không tin, không thay đổi nhưng trở về với lối sống cũ. Thứ tư, nhóm không tin chọn lối sống của tiền nhân và tiếp tục tìm kiếm; nhóm tin chọn thay đổi theo lối sống do Đức Kitô hướng dẫn và tiếp tục nhận được giáo huấn của Ngài. Nhóm thay đổi vẫn giữ truyền thống nhưng được Đức Kitô giải thích theo lối mới: Bác ái và yêu thương làm lề luật căn bản. Thứ năm. Nhóm chọn theo Đức Kitô sống vui vẻ, nhóm chọn lối sống cũ đã không vui sống còn sống trong phàn nàn, than phiền.

    Đi theo Đức Kitô là tự nguyện sống theo đường lối Chúa; đường lối đó là tin vào Chúa và yêu thương tha nhân. Tin vào Chúa là chấp nhận thay đổi theo tình yêu Chúa hướng dẫn, đặt í Chúa trên í ta và sống thực thi í Chúa. Để í Chúa hướng dẫn cuộc sống. Đôi khi điều này không dễ chấp nhận, nhất là khi điều đó đòi hỏi hy sinh, đau khổ. Con người luôn muốn làm chủ đời mình, muốn làm chúa tể mọi loài. Để Chúa làm chủ đòi hỏi khiêm nhường, hạ mình phục vụ anh em. Chúng ta xin ơn khôn ngoan biết coi trọng và đặt í Chúa trên í riêng.

    Về mục lục

    .

    CẢ CÁC ANH CŨNG TÍNH BỎ ĐI HAY SAO?

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

    Bài Tin Mừng Gioan hôm nay (Ga 6:60-69) nói lên những phản ứng khác nhau của các môn đệ về bài giảng Bánh Hằng Sống mà chúng ta đã nghe ở hai tuần trước. Chúa Giesu ban bánh, nhưng không phải như manna mà Thiên Chúa ban trong hoang địa cho dân Israel mà là chính Người, là sự Sống. Ai ăn bánh này “sẽ được sống đời đời”.

    Danh từ Bánh và Sự Sống trong Tin Mừng Gioan, chỉ là những từ bình thường, nhưng lại mang một ý nghĩa thần học. Lời Chúa nói ra lúc đó không đơn giản như vậy; nó khá phức tạp, có thể đụng chạm người nghe. Thấy cử chỉ và thái độ của khán thính giả, chúa Giesu nói: “ Những lời đó đã xúc phạm các ngươi hay sao?”

    Câu hỏi thách thức đó của Chúa đã đặt ra một vấn đề cực kỳ quan trọng. Không phải chỉ có một người theo Chúa đã phản bội Chúa, nhưng thực tế có những người đã từng theo Chúa nay “quay lưng lại với Chúa, không theo Chúa nữa.”

    Nhóm người này co cụm lại khi cao điểm đã tới. Dù Chúa cắt nghĩa thế nào đi nữa cũng có kẻ hủy lời hứa quay mặt bỏ đi. Gioan dùng từ “các môn đệ” là ám chỉ những kẻ quay lưng bỏ đi. Họ không phải là những người tình cờ đến nghe Chúa hoặc thường xuyên nghe. Họ là những môn đệ đã từng biết Chúa và Chúa biết họ rất rõ.

    CẢ CÁC ANH NỮA CŨNG TÍNH BỎ ĐI CHĂNG?

    Đoạn Chúa gọi 12 tông đồ lại và đặt vấn đề thẳng với các ông: “Cả các anh cũng tính bỏ đi hay sao?”

    Phero, coi như phát ngôn viên của nhóm trả lời: “Thưa Thầy, chúng tôi có thể đi theo ai bây giờ đây? Thầy là lời hằng sống.” Lời Chúa nói thì mỗi lúc có một ý nghĩa khác, nhưng sự trao đổi này giống hệt như lời tuyên xưng của Phero trên đường đi tới các làng  xã ở vùng Caesare Philippi khi Chúa hỏi “Người ta nói thầy là ai?” Phero trả lời: “Thấy là Kito, đấng Thiên Sai” (Mc 8:27-30) Cả hai trường hợp này, phép lạ hóa bánh chỉ là thay đổi bối cảnh của một câu hỏi quyết định: Chúa Giesu thực sự là ai?

    ĐÒI HỎI CỦA PHAOLO VỀ PHÉP HÔN PHỐI

    Đọc thư thánh Phaolo (bài đọc 2) nói về tình nghĩa vợ chồng, chúng ta phải hiểu thánh nhân  có ý nói tới sự liên hệ chúa Kito và Giáo Hội. Tình yêu hỗ tương vợ chồng thế nào thì sự liên kết giữa Giáo Hội và chúa Kito cũng vậy.

    Khởi điểm và trung tâm của hôn nhân Kito giáo là Tình Yêu. “Chồng phải yêu thương vợ, như chúa Kito thương yêu Giáo Hội và hy sinh mạng sống vì Giáo Hội.” Bài giảng của Phaolo có vẻ khó khăn đối với hoàn cảnh thời nay.

    Như trong Sáng Thế (St 2:24), hôn nhân là một cơ chế thánh (Ep 5:31), Phaolo diễn tả  tình nghĩa vợ chồng theo hôn nhân Kito giáo một cách tượng hình, ám chỉ  sự liên hệ mật thiết giữa đức Kito và Giáo hội. Người vợ phải phục vụ chồng đúng như tinh thần phục vụ của Giáo Hội đối với chúa Kito (Ep 5:22, 24), và người chồng phải săn sóc vợ mình suốt đời như Chúa Kito trung thành với Giáo Hội vậy (Ep 5:25-30).

    Phaolo đã thêm vào đoạn sách Sáng Thế một ý nghĩa cao xa nhất phù hợp với sự nối kết giữa chúa Kito và Giáo Hội, trong đó sự trung thành và tận hiến của đôi vợ chồng Kito giáo phải giống như đức Kito đối với Giáo Hội (Ep 5:31-33).

    Câu thánh Phao nói “vợ phải phụ thuộc chồng” có thể bị hiểu lầm nếu tách ra khỏi bản văn. Vì như vậy là chồng đã lạm dụng, hành hạ vợ (Ep 5:22). Nhưng cả đoạn (c.21-33) lại nói lên tình yêu hỗ tương giữa chồng vợ như tình yêu chúa Kito và Giáo Hội: “Người chồng phải yêu vợ mình như yêu chính mình,  như chúa Kito yêu Giáo Hội.”

    Kinh Thánh không thể dùng để diễn nghĩa hoặc gán ép cho bạo hành và lạm dụng. Tin Mừng kêu gọi tất cả chúng ta yêu thương nhau, săn sóc nhau và kính trọng nhau, thì tình nghĩa hôn nhân cũng bắt buộc như vậy mà còn phải hơn thế nữa, vì đó là tình liên đới có giao ước.

    Tình yêu và sự kính trọng hỗ tương này cũng cần phải trải rộng thành tình liên đới giữa các quốc gia và các dân tộc. Nó phải được thể hiện nơi cấu trúc và luật lệ của xã hội. Yêu thương nhau, phục vụ nhau là chìa khóa mở cửa vào một hôn nhân đầy tình người, tình thương đích thực, một tình liên đới chính danh và ngay thẳng

    GIA ĐÌNH LÀ NỀN TẢNG XÃ HỘI

    Biển Đức XVI viết trong “Bác Ái trong Sự Thật / Caritas in Veritate”:

    “Vì vậy, điều này đang trở thành một nhu cầu xã hội và cả kinh tế nhất là khi nó được giới thiệu cho những thế hệ trẻ vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình để họ thấy rằng các cơ chế đó đáp ứng được những nhu cầu xâu xa nhất và phẩm giá của con người.

    “Trong viễn tượng này, các quốc gia được kêu gọi đưa ra những chính sách nhắm vào trung tâm điểm và sự vẹn toàn của gia đình được đặt trên nền tảng hôn nhân giữa người nam và người nữ, là tế bào căn bản và sống động của xã hội, hẩu bảo đảm nhu cầu kinh tế tài chính trong khi tôn trọng đặc tính tương giao chính của gia đình.” (44)

    “Bác Ái trong Sự Thật / Caritas in Veritate” được coi như một đáp ứng cho khủng khoảng kinh tế

    của thời đại, nhưng còn hơn thế nữa đã bảo vệ gia đình, thánh hóa đời sống và ngăn cản hành động hạ thấp phẩm giá con người. Biển Đức đã cẩn thận dò xét mọi địa hạt, mổ xẻ từng vấn đề liên hệ cũng như mối tương quan giữa nó và kinh tế.

    Không kể bất cứ một khía cạnh kinh tế nào, sự khôn ngoan được chia sẻ đều liên quan đến chính những địa hạt đó. Nó giúp chúng ta rất nhiều khi cố gắng muốn phát triển con người đích thực. Đây không phải là giảng huấn cổ xưa hay một tàn dư của quá khứ. Nó là nền tảng sống động cho con người ở hiện tại và mai sau. Giông như nhiều lời chúa Giesu nói, ở đây có lời đã xúc phạm thiên hạ và “họ bỏ đi”.

    Không có con người có hôn phối, chúng ta không thể tạo dựng tương lai của xã hội và Giáo Hội. Tu sĩ tốt cũng do những gia đình tốt và vững chắc. Họ có ơn gọi để phục vụ Giáo Hội. Nạn khủng khoảng ơn gọi ở nhiều nơi trên thế giới phần lớn là do gia đình đổ vỡ và bị hủy hoại.

           VẤP NGÃ VÀ THỬ THÁCH

    Chiều sâu và ý nghĩa của đoản văn của đức Kito cũng như giảng huấn về Giáo Hội có thể đã bị hiểu lầm, khiến những kẻ không tin bị vấp ngã, nhưng lại là một thử thách cho những ai có niềm tin.

    Chủ đề gương xấu -trong Tân Ước- được liên kết với niềm tin, nghĩa là tự do chấp nhận mầu nhiệm chúa Kito. Trước Phúc Âm, chúng ta không thể vô cảm, hờ hững hay thoái thác lảng tránh. Thiên Chúa gọi đích danh từng cá nhân mỗi người chúng ta và yêu cầu chúng ta phải tuyên xưng về người (Mt 10:32-33).

    Khi chúng ta đối diện với những giảng huấn khó khăn của chúa Giesu và Giáo Hội, chúng ta có muốn bỏ đi không? Có thể nói, rất nhiều lần, vì vấn đề phức tạp và áp lực của xã hội quanh ta, chúng ta muốn “bỏ đi?”

    Khi chúa Giesu hỏi các môn đệ–“các anh có muốn bỏ đi không?” Phero đại diện đã không nói“Vâng”, mà cũng không hoàn toàn nói “Không”. Ông đã trả lời: “Chúng con có thể đi theo ai đây bây giờ?” Đây không phải là một trả lời có tính nịnh bợ vuốt ve Chúa nhưng là lời chân tình và thành thật. Phero và các môn đệ đã ở lại với Chúa vì Chúa là nguồn mạch sự sống của họ. Chúa Giesu giải phóng họ và ban cho họ một đời sống mới.

    Bước theo Chúa và tuân theo giảng huấn của Giáo Hội không phải luôn luôn dễ, thoải mái, sung sướng, được ăn trên ngồi trước, làm cha thiên hạ. Nhưng một khi đã đi vào nghiệp vụ đời sống vĩnh cửu thì không thể có cách nào khác thay thế là Thập Giá.

    Tuần này chúng ta ráng nhớ lời Chúa Giesu:

    Ai ăn ta thì sẽ sống vì ta.” Hãy là chứng nhân cho niềm tin Giáo Hội và kế hoạch của Thiên Chúa về hôn nhân là một nối kết thánh giữa người nam và người nữ, cũng như đời sống gia đình là nền tảng của xã hội.

    Về mục lục

    .

    TRAO BAN SỰ SỐNG THẦN LINH

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Hôm ấy, tại hội đường Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su nói với những người hiện diện: “Thật, tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi,thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy… ”

    Mọi người trong hội đường cảm thấy bị “sốc” trước những lời này của Chúa Giê-su. Ngay cả các môn đệ thân tín của Chúa Giê-su cũng nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Và thế là kẻ trước người sau lần lượt bỏ đi không muốn theo Ngài nữa!

    Chúa Giê-su rất đau lòng trước tình cảnh đó, Ngài nói với Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”

    Hôm nay, ngay cả những người có đạo khi nghe những lời này cũng cảm thấy “ghê”.  Tại sao Chúa lại nói những lời gây khó chịu cho bao người như thế?

    Phải hiểu thế nào cho đúng lời Chúa Giê-su trong Tin mừng hôm nay.

    Trước hết ta cần phân biệt thân xác của Chúa Giê-su trước và sau khi phục sinh khác biệt rất xa.

    Trước phục sinh, thân xác Ngài hoàn toàn giống như thân xác chúng ta: cần ăn khi đói, cần uống khi khát, thân xác đó có thể bị thương tích vì roi đòn, bị đâm thủng bởi ngọn giáo của người lính Rô-ma và thân xác đó đã thực sự bị giết chết…

    Tuy nhiên, sau khi phục sinh, thân xác Chúa Giê-su biến đổi hoàn toàn nên không còn giống như thân xác chúng ta: Dù các môn đệ họp nhau trong phòng cửa đóng then cài cẩn thận, Chúa Giê-su phục sinh vẫn hiện đến giữa họ không cần qua cửa; thân xác phục sinh của Chúa Giê-su không lệ thuộc không gian; thân xác đó không thể bị thương tích và không bao giờ chết nữa…

    Nói tóm lại, sau khi phục sinh, Chúa Giê-su mang một thân xác thần linh, thiêng liêng, vô hình vô tướng.

    Vì thế, khi Chúa Giê-su nói “Thịt Ta là Của ăn, máu Ta thật là Của uống …” là Chúa Giê-su nói về thân xác phục sinh của Ngài, nói về Thịt Máu thiêng liêng của Ngài, chứ không phải là nói về thân xác chưa sống lại, vì thân xác trước phục sinh của Chúa Giê-su có thể chỉ cao chừng 1,8m, nặng chừng 80 kg thì có đâu mà cắt chia ra cho nhiều người ăn được.

    Chúa Giê-su xác nhận Mình và Máu mà Ngài hứa ban chính là thân xác sau phục sinh, như lời Ngài nói : “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.”

    Như thế khi chúng ta ăn uống Mình Máu Chúa Giê-su là chúng ta ăn uống Mình Máu của Chúa Giê-su phục sinh. Đây không phải là thứ thịt máu của con người trần gian, mà là thịt máu của Thiên Chúa, rất thiêng liêng, vô cùng cao cả.

    Tại sao Chúa Giê-su mời chúng ta ăn uống Thịt Máu đã phục sinh vinh hiển của Ngài ?

    Bởi vì,

    Sự sống của thân mình không thể chuyển qua nuôi sống bàn tay khi bàn tay đó bị cắt lìa khỏi cơ thể, không còn nên một với thân thể.

    Tương tự như thế, Sự Sống của Chúa Giê-su không thể thông truyền cho chúng ta nếu chúng ta không được tháp nhập nên một với Ngài.

    Vì thế, Chúa Giê-su mời ta ăn uống Thịt Máu Ngài, để nhờ đó ta trở nên một với Ngài, cùng chung máu thịt với Ngài… Và một khi được nên một với Chúa Giê-su mật thiết như thế, thì những gì của Chúa Giê-su cũng là của chúng ta; Sự Sống của Chúa Giê-su cũng là sự sống của chúng ta. Bấy giờ chúng ta được sống đời đời mãi mãi với Chúa Giê-su.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Người mắc bệnh ung thư vào thời kỳ cuối chỉ cầu mong sao sống thêm được chừng 5 hoặc 7 năm nữa là phúc lắm rồi và người bệnh sẵn sàng bỏ ra tiền tỷ để mưu cầu sống thêm được một thời gian ngắn trên dương gian.

    Thế mà hôm nay, Chúa mời chúng con đón nhận Mình máu thánh Chúa để được sống muôn đời với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cùng với Mẹ Maria và các thánh trên thiên quốc thì còn gì quý bằng!

    Xin cho tâm hồn chúng con tràn đầy hoan lạc trước hồng phúc vô giá và khao khát tiếp nhận hồng ân nầy với hết lòng cảm tạ tri ân.

    Về mục lục

    .

    THANH TẨY BẰNG LỜI CHÚA

    Lm. Bosco Dương Trung Tín

    “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

      Tại sao thánh Phê-rô cũng như các tông đồ dám nói lên câu nói đó ? Vì các Ngài “đã tin và nhận biết rằng Đức Giê-su là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x.Ga 6,69). Nói cách khác, Đức Giê-su không chỉ là người mà còn là Thiên Chúa nữa. Nên Lời của Đức Giê-su, cũng chính là Lời của Thiên Chúa, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Theo nghĩa đen, tức là Đức Giê-su là Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể (x.Ga,1,1). Theo nghĩa bóng, tức là Đức Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Lời của Ngài nói cũng là Lời của Thiên Chúa. Tóm lại, Lời mà Đức Giê-su nói là LỜI CHÚA.

      Lời Chúa mới đem lại cho ta sự sống đời đời. Nếu ta bỏ Chúa thì ta sẽ đến với ai đây ? Ta sẽ đến với người đời, đến với người này người kia. Thế nhưng, lời của những người này không đem lại cho ta sự sống đời đời. Vì “Thần Khí mới là cho sống, chứ xác thịt nào có ích chi. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống” (x.Ga 6,63). Lời của Đức Giê-su là Thần Khí và là sự sống, nên Lời của Đức Giê-su đem lại cho ta sự sống đời đời. Còn lời của người đời là “xác thịt”, không có ích chi cho sự sống đời đời của ta cả.

    Khi ta nghe và thực hành Lời Chúa, thì sức mạnh của Chúa làm việc trong ta, ta cũng làm việc trong Chúa và sống với Chúa, Lời Chúa trở thành nguyên lý cho sức sống và cho sự sống của ta. Không chỉ ở đời này mà còn cả đời sau, nghĩa là đời đời. Khi ta nghe lời người đời, ta sẽ xa rời Chúa, may ra ta chỉ có sống ở đời này, chứ không được sống ở đời sau với Chúa. Ở đời này ta đã xa rời Chúa thì đời sau ta cũng xa rời Chúa luôn. Quả thực lời của người đời chẳng có ích gì cho đức tin của ta, cũng chẳng đem lại cho ta sự sống đời đời được.

    Chỉ có Lời Chúa mới có sức thánh hóa và thanh tẩy ta nên xinh đẹp, nên lộng lẫy; không có vết nhăn hay tì vết nào, tức là làm cho ta nên thánh nên thiện. Thánh Phao-lô nói: “Người thánh hóa và thanh tẩy Giáo Hội bằng Nước và Lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp, lộng lẫy, không tì ố, không vết nhăn hoặc bất cứ khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (x. Ep 5, 26-27). Nói về Hội Thánh cũng là nói về mỗi người chúng ta.Vì mỗi người chúng ta là thành phần của Hội Thánh.

    Mỗi người chúng ta đã được thánh hóa bằng Nước, tức là bằng phép rửa tội, điều đó cần nhưng chưa đủ. Ta còn cần đến Lời Chúa thanh tẩy nữa. Qua phép rửa, ta được thánh hóa và trở nên con cái Thiên Chúa. Để rồi từ ngày đó trở đi ta sống đời làm con Chúa. Làm con Chúa thì ta phải nghe và sống Lời Chúa. Quả thực, chỉ có nghe và thực hành Lời Chúa, ta mới trở nên đích thực là con Chúa, nếu không, ta chỉ là con Chúa trên giấy tờ. Chỉ có “Made in Con Chúa” thôi.

    Phép rửa ta chỉ chịu có một lần, được thánh hóa một lần, nhưng ta cũng cũng cần Lời Chúa thanh tẩy ta mỗi ngày. Mỗi khi ta sống Lời Chúa là mỗi lần ta được thanh tẩy. Có tẩy đi tẩy lại ta mới nên thánh thiện. Con người của chúng ta hèn mọn và yếu đuối mà. Có nghĩa là ta cần sinh lại mỗi ngày qua Lời Chúa. Mỗi lần sinh lại là ta “lột xác” như rắn, như cua, để ta lớn lên, để ta nên thánh nên thiện.

    Điều này cũng giải thích cho ta hiểu, tại sao trong Giáo Hội Công Giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ nói riêng, lại có sự lạm dụng tình dục trẻ em của hàng giáo sĩ. Vì các Đấng các Bậc đó, mới được thánh hóa trong bí tích rửa tội, trong bí tích truyền chức, chứ chưa được thanh tẩy bằng Lời Chúa. Có nghĩa là các Vị đó chưa sống Lời Chúa trong cuộc sống của mình, nên đã làm những việc xấu xa như vậy và làm cho Hội Thánh không xinh đẹp, không lộng lẫy và mang những vết nhăn, mang những vết tì ố.

    Điều này cũng thức tỉnh mỗi người chúng ta, hãy coi chừng, nếu ta không nghe và không sống Lời Chúa trong cuộc sống của mình thì ta sẽ không đáng là con Chúa đâu. Ta sẽ làm những điều xấu xa, gian ác và làm cho Hội Thánh Chúa có nhiều vết nhăn và nhiều vết tì ố đấy. Mỗi người chúng ta đều phải trả lẽ trước mặt Chúa về những việc mình làm và những gì mình sống.

    Có khi ta sẽ bị Chúa xét xử nghiêm khắc hơn. Tại sao ta được rửa tội rồi mà ta không sống đời làm con Chúa chứ, ta rửa tội để làm gì ? Chẳng lẽ cứ được rửa tội là ta được lên thiên đàng và sống đời đời sao? “Không bao vờ”, “né vờ” (Never). Chỉ khi nào ta nên thánh nên thiện ta mới được lên thiên đàng và sống đời đời với Chúa thôi.

    Tại sao ta đã chịu chức làm Hồng y, làm Giám mục, làm Linh Mục, làm Phó tế mà ta không nên thánh nên thiện cơ chứ ? Thế thì ta chịu chức để làm gì? Chẳng lẽ để bị lên án và bị kết án sao? Càng chức trọng quyền cao bao nhiêu thì ta sẽ càng bị xét xử nghiêm khắc bấy nhiêu.

    Tại sao ta khấn rồi mà ta không nên thánh nên thiện cơ chứ. Vậy ta khấn để làm gì ? Chẳng lẽ để ta làm việc và học hành thôi sao ? Ta sống đời thánh hiến mà ta không nên thánh thì sao cơ chứ, có uổng phí, có nực cười quá chăng !!!!

    Quả thực, khi được rửa tội, được truyền chức, được khấn dòng là ta có cơ hội rất tốt để nghe và thực hành Lời Chúa, để dần dần ta nên thánh nên thiện. Ta được gia nhập vào Cộng Đoàn Dân Chúa, cũng giống như các môn đệ được gặp Đức Giê-su vậy. Các Tông Đồ gặp Đức Giê-su, được nghe Lời Người để các ngài có thể nói rằng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

    Mỗi người chúng ta cũng vậy, khi được rửa tội, khi được chịu chức, khi được khấn dòng là ta được gia nhập vào Giáo Hội và được phúc nghe Lời Chúa. Ta cũng phải thâm tín và nói rằng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Ta đừng thấy những việc lạm dụng xấu xa của một số người mà bỏ Chúa, bỏ Giáo Hội. Không. Chúa không xấu; Giáo Hội không xấu; chỉ có những người không sống Lời Chúa mới xấu xa mà thôi. Coi chừng trong đó có ta, nếu ta không sống Lời Chúa.

    Vậy ta hãy khắc cốt ghi tâm rằng: Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống. Lời Chúa mới đem lại cho chúng ta sự sống đời đời mà thôi. Ta hãy lắng nghe và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống và trong ơn gọi của mình, để dần dần chúng ta nên thánh nên thiện. Nên thánh nên thiện phải là mục đích tối hậu ta phải nhắm đến. Có làm gì, có học hành chi, có phục vụ thế nào thì mục đích cuối cùng của ta là phải làm cho ta nên thánh nên thiện, chứ không vì một mục đích nào khác.

    Có thế, ta mới sống bình an và hạnh phúc ở đời này và ngày sau cũng được sống đời đời với Chúa trên thiên đàng nữa. Đồng thời, chúng ta cũng góp công làm cho Giáo Hội Chúa nên xinh đẹp, lộng lẫy, bớt đi những vết nhăn; bớt đi những vết tì ố, bớt đi những khuyết điểm, để nên thánh thiện và tinh tuyền trước thế gian và trước Thiên Chúa.

    Về mục lục

    .

    CHỌN LỰA: MỘT HÀNH VI KHÔNG DỄ

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Cả anh em nữa, anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không? Chúa Giêsu không hỏi: anh em có tiếp tục theo Thầy không mà lại hỏi thẳng thừng: anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không. Một câu hỏi không thuộc dạng mời gọi như trước đây mà là đặt vấn đề chọn lựa rõ ràng, dứt khoát.

    Kitô hữu chúng ta theo đạo không phải là theo một học thuyết mang tính triết lý hay thần học nào đó, nhưng là theo một “con người”, theo một “ai đó”, một “Đấng nào đó”. Đấng hay con người mà chúng ta lựa chọn đi theo, lựa chọn để gắn bó, đó là Đức Giêsu Kitô. Chọn lựa một công việc để làm kế sinh nhai quả không mấy dễ. Chọn lựa một bậc sống thật lắm phân vân đủ bề. Chọn lựa một con người để làm bạn đời trăm năm cũng lắm sự nhiêu khê. Và chọn lựa Đấng để trao gửi hạnh phúc hôm nay và vĩnh cửu chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều. Vì thế, khi phải chọn lựa trong một vấn đề quan trọng, chúng ta cần có đủ cơ sở một cách nào đó.

    Sau khi nhắc lại cho dân tình yêu của Thiên Chúa qua các kỳ công Người đã thực hiện để bảo vệ dân, Giosuê khẳng khái trước toàn dân rằng: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24,15) . Và dân đã đáp lại rằng họ không hề có ý định bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác. Họ sẽ thờ phụng Thiên Chúa, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của họ dùng quyền năng thực hiện những dấu lạ lớn lao để đem họ cùng với cha ông họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ mà vào đất hứa. Như thế, cơ sở để dân Chúa xưa chọn thờ phụng Người đó là vì Người đã giải thoát họ khỏi cảnh đời nô lệ.

    Trước câu hỏi của Chúa Giêsu, một kiểu đặt vấn đề đòi hỏi có sự chọn lựa dứt khoát thì Phêrô đã thay mặt nhóm Mười Hai trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Không kể trường hợp một phần tử trong nhóm không tin, thì câu trả lời của Phêrô nói lên sự chọn lựa của cả tập thể Tông Đồ. Và sự chọn lựa ấy đặt cơ sở trên điều này: vì Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Để nói lên được những lời này, chắc chắn cùng với các bạn, Phêrô đã từng chứng kiến uy quyền của Thầy khi khiến nước lã hóa thành rượu ngon (x.Ga 2,1-12). Các vị đã từng nghe Thầy nói với viên sĩ quan cận vệ nhà vua rằng: “Ông cứ về đi, con ông sống” và đứa con trai của ông ta đang đang hấp hối đã đuợc cứu sống (x.Ga 4,46-54 ). Và các ngài chưa thể quên lời tạ ơn mới đây của Thầy đã giúp cho năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà và con trẻ no nê chỉ từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá (x.Ga 6,1-15).

    Không ai tự nguyện dấn thân theo một lý tưởng, thực hiện một trách vụ hay gắn bó với một con người mà không ấp ủ một hoài bão, một ước mơ hay niềm hy vọng nào đó. Xưa, dân Do Thái chọn tôn thờ Thiên Chúa là để một mặt khỏi bị Người giáng họa, trừng phạt, mà trái lại sẽ được Người chúc phúc và che chở trước các “kẻ thù” lân bang (Gs 24,19-20).

    Cái hoài bão, uớc mơ, đúng hơn là cái mục đích việc Phêrô thay mặt anh em chọn gắn bó với Thầy đó là vì “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Sự sống đời đời là một ước mơ của con người, mọi thời và mọi nơi. Dù đủ đầy của cải vật chất, dù nắm trong tay quyền sinh sát của bậc đế vương thì con người vẫn cảm nhận cái hữu hạn của cuộc sống đời này. Danh vọng quyền lực, của cải hay tiền tài không thể giúp ta kéo dài cuộc sống đến vô tận. Một thanh niên có nhiều sản nghiệp đã đến tham vấn Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Sau khi biểu anh ta giữ các giới răn, Chúa Giêsu đã mời gọi anh ta hãy bán của cải, phân phát cho người nghèo rồi đến mà theo Người (x.Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,28-30).

    Chọn lựa là hy sinh. Một câu nói cho thấy một lẽ tất yếu của việc chọn lựa. Chọn ra đi thì phải hy sinh chuyện không ở lại, chọn việc cất tiếng nói thì đương nhiên phải mất thái độ giữ im lặng, đã chọn tôn thờ Thiên Chúa thì phải bỏ các thần của dân ngoại (x.Gs 24,23)… Tuy nhiên sự hy sinh trong việc chọn lựa không chỉ dừng lại ở các nội dung xem như đối lập của sự chọn lựa mà còn có đó sự hy sinh ngay trong chính hành vi chọn lựa. Sự hy sinh ở đây được hiểu như một sự đánh cược, một sự dân thân, một sự “liều lĩnh” nào đó. Vì chưng, chúng ta vốn khó có được các cở sở một cách chắc chắn kiểu trăm phần trăm khi chọn lựa một điều gì đó. Chúng ta dễ nhận ra ngay hiện thực này qua việc các bạn thanh niên nam nữ chọn bạn đời hay chọn ơn gọi tu trì. Như thế, sự hy sinh ở đây có thể hiếu như sự can đảm dấn thân, chấp nhận nhiều “cái giá” phải trả khi chọn lựa.

    Cái giá mà chúng ta phải trả khi chọn lựa đi theo Chúa Giêsu, gắn bó với Người đó chính là “vác thập giá”. “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). Cái giá mà Phêrô sẽ phải trả được Đấng Phục sinh báo trước: “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đế nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi Người bảo ông: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,18-19).

    “Thiên Chúa dựng nên tôi không cần có tôi, nhưng Người không thể cứu tôi mà cần có tôi” (thánh Âugustinô ). Tự do là một quà tặng cao quý Chúa ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài hữu hình Người dựng nên. Tự do là một ân ban cao quý và cũng là một thử thách ắt có của tình yêu. Được sống đời đời hay phải chết đời đời có nghĩa là được hạnh phúc bất diệt hay bị trầm luân mãi mãi, các khả thể này đang tùy ở sự lựa chọn của chúng ta. Ai lại không muốn được sự sống đời đời, được hạnh phúc bất diệt, nhưng vấn nạn khó vượt qua đó là chúng ta thường e ngại phải trả giá vì phải chọn lựa.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Bài Tin mừng hôm nay kết thúc chương 6 Tin mừng thánh Gioan về Bánh Hằng Sống là chính Chúa Giê-su.  Trong bài Tin mừng Chúa nhật tuần trước, Chúa Giê-su tuyên bố: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống… Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống.”  Đám đông dân chúng nghe lời tuyên bố quả quyết như thế, họ lẩm bẩm, phản đối, xô xát nhau. Họ không thể nào chấp nhận được những lời tuyên bố rất quả quyết của Chúa: thịt máu Ngài là của ăn của uống ban sự sống muôn đời.  Còn thái độ của các môn đệ như thế nào?  Bài Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta biết phản ứng của các môn đệ nói chung và của nhóm 12 nói riêng.  Nhiều môn đệ đã phản ứng như đa số dân chúng.  Khó chịu, lẩm bẩm lời gì mà chướng tai thế!  Ông ta làm sao lấy thịt mình cho người ta ăn được?  Như vậy, không những dân chúng tỏ ra chán ngán vô lý mà cả các môn đệ của Chúa cũng bị khủng hoảng, và từ lúc ấy một số môn đệ đã rút lui không đi theo Chúa nữa.

    Những lời mặc khải của Chúa Giê-su là một thử thách lớn lao cho lòng tin của các môn đệ ngày xưa, và cho nhiều người chúng ta ngày nay đối với Bí tích Thánh Thể.  Nhiều người không tin hay không còn tin Chúa Giê-su thực sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể nữa.  Chúng ta thành tâm tự hỏi: “Chúng ta có dễ dàng tin rằng trong Thánh lễ, Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi trở nên thức ăn thức uống cho chúng ta không?”  Thật sự là thế!  Đây là một điều kỳ diệu lạ lùng, chỉ có tình yêu cao cả của Thiên Chúa mới làm nổi và có thể làm nổi.  Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô vàn, cho nên Ngài đã biến bánh rượu nên thịt máu Ngài để nuôi sống linh hồn chúng ta.  Vì thế nếu chúng ta xác tín, thì mỗi lần rước lễ, chúng ta hãy để cho tâm hồn của mình sững sờ thán phục, và cảm tạ tình thương vô biên của Chúa.

    Những môn đệ bỏ Chúa ra đi vì họ không cảm nhận ra được tình yêu thương đó. Sau khi họ bỏ đi, Chúa Giê-su hỏi nhóm 12:  “Chúng con muốn bỏ đi không?”  Si-mon Phê-rô trả lời thay cho các bạn:  “Không đời nào chúng con bỏ Thầy.”  Có nghĩa là các ông quả quyết chọn Chúa và theo Chúa.  Nghe được những lời này, chúng ta có thể đoán được Chúa cảm thấy được an ủi và ấm lòng biết bao!  Các Tông đồ thân tín đã tuyên xưng lòng tin của họ vào Chúa: Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.

    Ngày nay, mỗi lần chúng ta đến nhà thờ để cùng với mọi người trong cộng đồng giáo xứ dâng Thánh lễ, chúng ta cũng hãy đến với một lòng tin như các tông đồ, nhất là khi rước lễ, chúng ta hãy xác tín rằng chúng ta ăn thịt và uống máu Chúa Giê-su.  Thánh Thể nối kết chúng ta mật thiết với Chúa và với nhau. Đây là Bí tích tình yêu cao cả!  Chúng ta đừng bao giờ quên Thiên Chúa đang yêu thương chúng ta vô cùng và Chúa muốn chúng ta hãy yêu thương nhau.

    Như các Tông đồ ngày xưa, trong cuộc sống hôm nay, chúng ta có tự do để lựa chọn và quyết định, và chúng ta biết có những quyết định hay lựa chọn ảnh hưởng đến cuộc sống đức tin, ảnh hưởng đến hạnh phúc của vợ chồng và đến đời sống của con cái trong gia đình. Trong bài đọc I, sau khi vào Đất hứa, ông Giô-suê đã trở thành người lãnh đạo thay thế Môi-sen.  Ông nhận thấy cuộc sống của dân chúng dần dần xa lìa Thiên Chúa và đi thờ thần ngoại bang, cho nên ông đã triệu tập dân chúng lại tại Si-kem để lập một giao ước.  Ông tuyên bố cho mọi người biết phải quyết định dứt khoát: một là kính thờ một Thiên Chúa, hai là thờ các thần ngoại bang. Và như chúng ta vừa nghe, họ đã đồng thanh hứa trung thành và chỉ kính thờ một Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai cập mà thôi.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô khuyên các đôi vợ chồng một khi đã quyết định chọn nhau làm bạn đời, thì phải suốt đời trung thành với nhau trong giao ước hôn nhân.  Thánh Phao-lô kêu gọi vợ chồng phải từ bỏ sự ích kỷ sống cho riêng mình, biết hy sinh cho nhau để giao ước hôn nhân đem đến kết quả là yêu thương, hạnh phúc và sự hòa thuận.  Vợ chồng phải bảo vệ giao ước hôn nhân bằng sự chung thủy, tôn trọng, chu toàn bổn phận làm vợ, làm chồng, làm cha mẹ dạy dỗ đức tin cho con cái.

    Hôm nay, chúng ta cũng quyết định đến đây để dâng Thánh lễ cảm tạ đội ơn Chúa vì những ơn lành hồn xác, nhất là ban cho chúng ta Lời Chúa và Thánh Thể.  Thánh lễ được cử hành trong một bữa tiệc và dưới hình thức một bữa ăn. Những người ngồi cùng bàn phải là anh chị em và phải là những người thương mến nhau.  Trước khi lên rước lễ chúng ta chúc bình an cho nhau.  Chúc bình an là tha thứ hòa giải với nhau để nối kết lại tình đoàn kết và thương mến như anh chị em trong một nhà.  Chúc bình an hòa giải để mọi người trong cộng đồng giáo xứ dẹp bỏ mọi bất hòa, đồng tâm nhất chí trong tình yêu Thiên Chúa vì được nối kết với nhau như những chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô.  Chúc bình an trước khi rước Thánh Thể vì Thánh Thể là Bí tích tình yêu và hiệp nhất.

    Mỗi khi dự Thánh lễ, chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn sốt sắng và xứng đáng để được rước Mình Thánh Chúa, để Mình Thánh Chúa kết hợp chúng ta với Chúa và với nhau, và nhắc nhở chúng ta phải sống hiệp nhất, sống hy sinh, bác ái và quảng đại để xây dựng giáo xứ làm sáng danh Chúa.  Xin Chúa ban cho chúng ta một niềm xác tín Chúa Giê-su là Bánh Hằng Sống từ trời xuống và hiện diện trong Bí tích Thánh thể, là nguồn ơn sức mạnh giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, để luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh, và có những chọn lựa khôn ngoan theo thánh ý và đẹp lòng Chúa, đưa đến bình an và hạnh phúc đời này và đời sau.

    Về mục lục

    .

     

    CHỌN LỰA VÀ TRUNG THÀNH

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Thánh Thể là mối dây liên kết các tín hữu và là biểu tượng của tình hiệp thông trong Giáo Hội. Tuy vậy, trong lịch sử, do sự ích kỷ của con người, nên đã có những ý kiến bất đồng về Thánh Thể và làm cho Bí tích này trở nên một trong những nguyên nhân gây chia rẽ nghiêm trọng giữa các Kitô hữu. Phải chăng vấn đề bất đồng ý kiến này đã có từ thời ban đầu do việc có những người khước từ giáo huấn của Chúa Giêsu về Bánh hằng sống? Trong thực tế, vẫn còn đó những người tin và những người không tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu nơi Bí tích này.

    Đoạn Tin Mừng được đọc trong thánh lễ hôm nay là phần kết thúc cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh hằng sống. Chúa Giêsu đã khởi đi từ nhu cầu ăn uống để nuôi thân xác, rồi dần dần dẫn vào mầu nhiệm cao siêu là Bí tích Thánh Thể, tức là Thịt và Máu Người. Xem ra kết thúc cuộc đối thoại này không khả quan. Bởi lẽ, trước những lời tuyên bố của Chúa Giêsu, một số người thấy chói tai và dần dần bỏ đi. Phần lớn những người này đến với Chúa với ước mong được nhận lãnh bánh nuôi sống thể xác, giống như phép lạ ngoạn mục Người mới làm cách đó vài ngày. Ở đây, Chúa lại nói về một thứ bánh thiêng liêng. Ai lãnh nhận Bánh này sẽ được sự sống đời này và sự sống vĩnh cửu đời sau. Khá nhiều người bỏ đi vì họ coi những điều Chúa Giêsu đang nói là ảo tưởng, phi thực tế. Niềm tin vào Bánh hằng sống cũng vấp phải phản ứng của chính một số môn đệ. Thánh Gioan đã viết một cách buồn bã: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”. Họ đã ra đi trong thất vọng, vì hình ảnh của họ vốn có về Đấng Thiên sai hoàn toàn khác biệt với sứ mạng và giáo huấn thực sự của Chúa Giêsu. Khi đối diện với những thử thách gian truân, người tín hữu được mời gọi bày tỏ lòng trung thành với Người. Lòng trung thành cần phải có để đón nhận những chân lý cao siêu mặc dù chưa lý giải thỏa đáng.
     
    Thánh Phêrô,vị Tông đồ trưởng, đã chứng tỏ lòng trung thành ấy, trong bối cảnh có nhiều người bỏ đi. Người ta thường nói ở đời “phù thịnh chứ không ai phù suy”. Phêrô là một người can đảm. Ông đã “phù suy” khi tuyên thệ theo Chúa vào lúc dường như mọi người đã bỏ Người. Ông đã tìm được sự chọn lựa tốt nhất cho đời mình. Theo Chúa là lý tưởng và là sự sống còn của ông, như lời ông nói: “Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Có lẽ ông cũng đã đắn đo cân nhắc xem theo Chúa thì được những gì và mất những gì, như có lần ông đã đặt câu hỏi với Thầy mình. Giờ đây, Phêrô như một người từng trải kinh nghiệm chắc chắn trong cuộc đời, Ông khẳng khái tuyên xưng Đức tin vào Chúa, dù mọi người rút lui. Sau này, chúng ta còn được nghe lời tuyên bố của Phêrô trong bữa tiêc ly: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng!” (Lc 22,34). Lời tuyên bố này về sau không được tuân giữ, do việc Phêrô chối thày mình ba lần, nhưng không vì thế mà làm giảm lòng nhiệt thành, hăng say và tâm huyết của vị Tông đồ trưởng.

    Đời sống Kitô hữu là một lựa chọn. Chúng ta chọn Chúa là lý tưởng của đời sống chúng ta. Do biết bao cám dỗ trong cuộc bon chen vì cơm áo gạo tiền, có những lúc chúng ta quên mất sự lựa chọn ấy. Bài đọc I kể với chúng ta, sau khi vào Đất hứa, ông Giôsuê đã tập hợp dân Do Thái ở một nơi gọi là Sikhem để cùng nhau nhìn lại hành trình sa mạc kéo dài 40 năm. Trong hành trình này, người Do Thái gặp nhiều gian nan thử thách. Có nhiều người phạm lỗi với Chúa do kiêu ngạo, ích kỷ và phạm các giới răn. Họ còn thờ lạy  thần linh của các dân ngoại. Tại Sikhem, ông Giôsuê kêu gọi một cuộc thanh tẩy toàn dân, để dứt bỏ quá khứ, bước sang một trang sử mới. Vị thủ lãnh mời gọi dân hãy chọn lựa Chúa và sống theo giới luật Ngài đã truyền ban cho các bậc tổ tiên. Lời tuyên xưng của dân chúng thật mạnh mẽ quyết liệt, thể hiện sự gắn bó trung thành với Đấng đã cứu họ khỏi Ai Cập và dẫn đưa họ vào Đất hứa.

    Trong suốt 5 Chúa nhật vừa qua, Phụng vụ giúp chúng ta suy tư về ý nghĩa của Bí tích Thánh Thê ở nhiều khía cạnh khác nhau, và mời gọi chúng ta sống mầu nhiệm Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày. Nhờ Thánh Thể, chúng ta tìm được sức mạnh để dấn thân. Mẹ Têrêsa đã viết: “Một số người hỏi: ‘Các sơ tìm đâu ra sức mạnh và niềm vui để phục vụ?’. – Niềm vui chúng tôi có được là nhờ Thánh Thể mà chúng tôi nhận lãnh hằng ngày”. Nhờ Thánh Thể, chúng ta kiên  định trong Đức tin vào Chúa và làm cho Đức tin ấy mỗi ngày một tỏa sáng trong cuộc sống hôm nay.
     
    Có thể vào những lúc đen tối của cuộc đời, Chúa hỏi chúng ta: “Con có muốn bỏ Thầy mà đi không?”. Xin cho chúng ta có đủ can đảm để thưa như thánh Phêrô: “Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68). Được như vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta.

    Về mục lục

     

    HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Đức tin là một con đường: con đường dẫn ta tới Chúa. Đây là một con đường dài. Vì ta sẽ phải đi suốt cuộc đời mới hết. Đường đức tin có những quãng đầy hoa thơm cỏ lạ và tiếng chim hót véo von. Đó là những khi niềm tin dâng đầy. Ta cảm thấy phấn khởi vì được gặp gỡ Chúa, được Chúa an ủi, mọi sự diễn ra êm xuôi tốt đẹp. Nhưng đức tin sẽ phải trải qua những quãng đường gian nan đầy chông gai sỏi đá. Ta gặp khó khăn thử thách. Ta gặp đau khổ thất bại. Ta không tìm đâu ra lối thoát. Ta như chìm trong đêm tối mênh mông chẳng có ánh sáng nào soi đường dẫn lối. Đó là khi niềm tin bị thử thách, bị nghiêng ngả chao đảo. Ta cảm thấy mệt mỏi chán chường. Ta muốn bỏ cuộc, rẽ sang đường khác. Ta bị cám dỗ tìm con đường dễ dàng hơn, rộng rãi hơn, thoải mái hơn.

    Đó là trường hợp của những người Do Thái và một số môn đệ hôm nay.

    Khi Đức Giêsu hoá bánh và cá ra nhiều nuôi năm nghìn người, niềm tin của đám đông dâng lên cao vời vợi. Họ phấn khởi mừng vui. Họ tin tuyệt đối rằng Người chính là Đấng Cứu Thế đến cứu dân tộc Do Thái. Niềm tin của họ mạnh mẽ đến nỗi khi Đức Giêsu trốn đi, họ vẫn đuổi theo sát nút với ý định tôn Người lên làm vua cai trị họ.

    Thế mà hôm nay, khi Đức Giêsu tuyên bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”, đám đông đã bỏ Chúa. Một số môn đệ cũng bỏ Chúa mà đi. Đức tin bồng bột tưởng chừng như không gì dập tắt nổi của những ngày hôm trước nay đã tan tành như mây khói. Sự gắn bó tưởng chừng như không gì chia cắt nổi bỗng trở nên nhạt nhẽo lạnh lùng. Đức tin gặp thử thách và họ đã không đủ mạnh tin để vượt qua thử thách. Họ đã thất vọng bỏ cuộc. Nhưng Đức Giêsu vẫn bình tĩnh chấp nhận sự quay lưng trở gót của những người thân tín. Người không vì thế mà nói những lời nhẹ nhàng hơn. Đức tin phải trải qua thử thách. Lửa thử vàng, gian nan thử lòng trung tín. Chỉ có những người bạn trung thành qua những khó khăn mới là những người bạn đích thực. Chỉ có niềm tin kiên vững bất chấp mọi thử thách mới là niềm tin đúng nghĩa.

    Giữa cơn khủng hoảng ấy, thánh Phêrô đã đại diện nhóm 12 tuyên xưng niềm tin sắt đá vào Đức Kitô. Dù chưa hiểu những điều Đức Giêsu nói, nhưng các ông vẫn đặt trọn niềm tin vào Người. Thế mới gọi là tin. Vì chưa thấy nên mới cần tin. Đã thấy rõ, đã biết rõ thì đâu cần tin nữa. Tuy nhiên niềm tin không phải là cái gì vô lý. Sau khi thấy Đức Giêsu làm phép lạ hoá bánh ra nhiều và sau khi chứng kiến Người đi trên mặt nuớc, các ông hoàn toàn có cơ sở để đặt niềm tin nơi Người. Đó là hai khía cạnh trái ngược của niềm tin. Tin là một ngọn đèn soi cho ta bước đi trong đêm tối. Ngọn đèn chỉ sáng đủ cho ta bước đi từng bước nhỏ trong niềm tin. Nhưng màn đêm vẫn tăm tối đủ cho ta nghi ngại. Chính vì thế mà niềm tin mới có giá trị và cần thiết.

    Lời tuyên xưng của thánh Phêrô lại càng có giá trị trong lúc mọi người gặp khủng hoảng và bỏ Chúa. Tin tưởng khi thời cơ thuận lợi thì thật dễ dàng. Nhưng vẫn tin tưởng gắn bó với Chúa trong những lúc gặp khó khăn thử thách đó mới thật sự là niềm tin chân chính.

    Hành trình đức tin của chúng ta chắc chắn sẽ không khác hành trình đức tin của các Tông đồ. Có những thời gian thuận lợi, ta thấy niềm tin dâng cao mãnh liệt. Khi ấy Lời Chúa là những lời êm ái ngọt ngào làm phấn chấn lòng ta. Lời Chúa mang đến cho ta niềm vui, niềm bình an, niềm hy vọng. Lời Chúa đem đến cả thành công và may mắn nữa.

    Nhưng rồi tới những ngày u ám tăm tối, ta cảm thấy niềm tin lung lay chao đảo. Đó là khi ta gặp khó khăn thử thách. Lúc ấy Lời Chúa làm cho cuộc đời ta mất bình an. Lời Chúa gõ vào tính tự ái, tự cao, tự đại của ta. Lời Chúa gõ vào sức khoẻ ta. Lời Chúa gõ vào gia sản ta. Lời Chúa như lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn ta, tạo ra những vết thương sâu thẳm không bao giờ ngưng rỉ máu. Những lúc ấy, ta dễ bị cám dỗ từ bỏ Chúa như những người Do Thái trong bài Tin Mừng hôm nay.

    Trong những giờ phút gặp gian nan thử thách như thế, ta hãy nhớ đên những lời tuyên xưng của thánh Phêrô. Niềm tin tuyên xưng trong đau đớn thử thách mới là niềm tin đúng nghĩa. Sự trung tín vượt qua được những cơn khủng hoảng mới minh chứng một tình yêu chân thực.

    Trong những giờ phút tăm tối nhất, hãy mạnh dạn thưa với Chúa như thánh Phêrô: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết đi theo ai. Chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời”. Amen.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

    1- Đã có khi nào bạn cảm thấy niềm tin chao đảo, lung lay? Bạn đã làm gì để vượt qua những giờ phút khó khăn đó?

    2- Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Bạn có xác tín điều đó không?

    3- Sau khi những khó khăn qua đi, bạn nhìn thấy tất cả đều là ơn Chúa. Bạn có kinh nghiệm đó không?

    Về mục lục

     

     

    CHÚA CHÍNH LÀ HẠNH PHÚC

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Cuộc sống là một hành trình tìm kiếm. Con người luôn dáo dát đi tìm kiếm. Tìm kiếm những niềm vui hạnh phúc trong cuộc đời. Nhưng xem ra chẳng có gì trọn vẹn! Hạnh phúc chẳng nơi đâu tròn đầy! Tất cả đều vô vị, chán chường. Còn bé thì chỉ mong chóng làm người lớn để tung hoành. Khi lớn thì lam lũ vất vả chỉ mong gom được chút tiền còm để dưỡng già. Mà về già thì lại ngồi tiếc nuối quá khứ vàng son! Nghĩa là chẳng bao giờ bằng lòng với những cái đang có trong hiện tại.
    Năm xưa thánh Augustino cũng đã tìm, đã kiếm niềm vui hạnh phúc trong nhiều cách và đam mê nhưng chỉ khi ngài  tìm được Chúa mới thực là niềm vui trọn vẹn, hạnh phúc tròn đầy. Ngài đã thốt lên trong tiếc nuối thời gian: Lạy Chúa, con yêu Chúa quá muộn màng!
    Có một anh sinh viên bị bắt vào lính đi quân dịch. Anh ta bất mãn vì bị như thế, nên tính tình trở nên bất thường, suốt ngày cứ nhớn nhác như muốn tìm một cái gì. Khi phải xếp hàng đi tập trên đường mà anh thấy được một tờ giấy văng vãi là thế nào anh ta cũng chạy tới nhặt lên xem. Đọc xuôi một hồi rồi lại lật tờ giấy đọc ngược nữa. Rồi càu nhàu vất đi: không phải cái này! 
    Cứ thế, ngày này qua ngày khác, lần nào anh ta cũng nhặt lên được mấy tờ giấy đọc rồi lại vất xuống: “không phải cái này.” Người đội trưởng bực mình la hét phạt chán rồi cũng vậy thôi. Còn đồng đội thì cũng đành chịu cái tên “hết thuốc chữa” này mỗi ngày một “mát” quá ra! Một hôm văn phòng gọi anh ta lên. Vị chỉ huy hằn giọng nói ngay: Mày “mát” quá không ai chịu nổi nữa. Đây, mày cầm cái giấy này về ngay!  
    Anh ta cầm giấy giơ lên đọc. Thì ra là giấy miễn dịch. Anh ta sung sướng reo lên: A, đúng là cái này rồi. Và anh ta vội vã chạy mất. 
    Phê-rô năm xưa cũng từng vui sống trong bậc gia đình, từng đeo đuổi theo con sóng để đánh bắt cá, từng vui với thợ thuyền trên sông nước, nhưng dường như ông vẫn không tìm ra lẽ sống và hạnh phúc. Chỉ từ khi bước theo Thầy, cuộc đời ông đã rẽ sang trang sử mới. Những ngày bên Thầy cho ông cảm nghiệm được chỉ ở bên Chúa mới trọn vẹn niềm vui và hạnh phúc. Ông cảm nghiệm niềm vui bên Chúa lớn hơn tất cả những niềm vui mà ông từng có. Thế nên, khi Chúa hỏi: cả anh em cũng muốn bỏ đi sao? Ông liền mau mắn trả lời: Bỏ Thầy con biết theo ai, vì Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.
    Hóa ra những niềm vui mau qua kia chẳng thấm là bao so với niềm vui có được sự sống đời đời. Niềm vui trần gian thì mau qua. Sự sống đời đời là niềm vui trọn vẹn và vĩnh viễn. Nếu ai đã có được nó trong cuộc đời thì chẳng phải lo bon chen tìm kiếm những niềm vui giả tạo mau qua của trần gian. Chính Chúa sẽ làm thỏa mãn mọi sự đến nỗi ở bên Chúa không còn phải ham muốn điều gì khác nữa.
    Cuộc sống luôn cho chúng ta nhiều niềm vui, nhưng nó chỉ khiến ta thêm thèm khát niềm vui. Cuộc đời con người xem ra cũng giống như anh lính, ngày nào cũng dáo dát đi tìm kiếm, mừng vui cầm lấy một điều gì đó, nhưng rồi lại thất vọng vất đi và bảo: không phải cái này! Cuộc đời con người dường như cứ ngụp lặn trong đại dương mãi chơi vơi mà chẳng bao giờ dừng. Điều quan yếu là phải tìm được Chúa, nắm bắt được Ngài thì mới được no thỏa niềm vui và hạnh phúc. Có Thiên Chúa thì mới òa lên niềm vui như anh lính đã tìm được sự giải phóng, như Phê-rô đã tìm được Chúa làm gia nghiệp, như Augustino đã tìm được lẽ sống sau bao nhiêu ngày tìm kiếm.
    Xin Chúa giúp chúng ta có đủ con mắt đức tin để nhận ra Chúa là lẽ sống, là cùng đích cuộc đời. Xin cho chúng ta nhận ra Chúa thật quyền năng để chúng ta tín thác, cậy dựa vào Chúa trong những khó khăn thử thách. Ước gì cuộc đời chúng ta đủ xác tín về niềm tin của mình như Phê-rô để ở lại và bước đi theo Chúa cho đến cùng. Amen.

    Về mục lục

     

     

    CÁC CON CHO THẦY LÀ AI?

    Lm. D. Nguyễn Ngọc Long

    Tạp chí Reader’s Digest – Das Best số tháng 4/1999 trang 116 đăng kết quả Bản thăm dò ý kiến của người dân Đức về Đức Tin vào Thiên Chúa:
    50 phần trăm người được hỏi ý kiến vào lứa tuổi từ 14 đến 39 tin vào sự sống vĩnh cửu mai sau; trái lại chỉ 38 phần trăm người vào lứa tuổi 60 còn tin vào điều này.
    70 phần trăm đều cho rằng xã hội bây giờ không tin vào Thiên Chúa nữa. 78 phần trăm những người trẻ thuộc thế hệ từ 14 đến 29 tuổi cảm thấy đời sống tôn giáo càng ngày càng biến mất trong đời sống; và họ cho là tình trạng này xảy đến quá sớm…
    Hội Thanh Thiếu Niên Công giáo thuộc Giáo phận Munich thăm dò ý kiến 1200 bạn trẻ về vai trò Chúa Giêsu trong đời sống tinh thần của họ… Phần đông cho biết Chúa Giêsu Kitô không còn chiếm địa vị trung tâm đời sống tinh thần họ nữa! Bản đúc kết đi kết luận: Trong đời sống tôn giáo của người trẻ ngày nay, niềm tin Kitô giáo không còn hấp dẫn hay gây nhiều ảnh hưởng nơi họ. Chúa Giêsu dần dần ít được nhắc tới trong các buổi thuyết trình, hay nếu có cũng chỉ được nêu ra như một nhân vật lịch sử.
    Như thế có thể nói hình ảnh về Thiên Chúa, về Chúa Giêsu, trung tâm điểm của niềm tin Kitô giáo không còn ăn rễ sâu nơi tâm thức con người, ít là nơi những người trẻ tương lai của xã hội, Giáo hội nữa!
    Vậy đâu là ý nghĩa câu hỏi của Thầy Giêsu năm xưa cho chúng ta ngày nay: “Các con cho Thầy là ai?”
    Ông Phêrô xưa kia nhân danh anh em môn đệ trả lời Thầy mình: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống!”
    Tôi không tin Ông Phêrô trả lời theo cách suy tư lý luận thần học khúc mắc khô cứng với nhiều trích dẫn dài dòng ngày nay. Nhưng câu trả lời đó do Thần Linh Thiên Chúa đánh động tâm hồn Ông nói ra. Câu trả lời ngắn gọn biểu lộ niềm xác tín của tâm hồn đơn sơ mộc mạc của bác sống nghề thuyền chài lưới ngoài sông biển!
    Vậy niềm tin đó từ đâu mà ông có? Lòng tin đó không phải tự dưng từ trời rơi xuống, nhưng là kết quả của năm tháng ngày giờ tiếp xúc, nghe nhìn tận mắt Thầy Giêsu.
    Lúc đầu các môn đệ theo Thầy Giêsu cũng nghĩ Thầy mình là một nhà giáo có nhiều tài năng thu hút con người, hay một Tiên Tri như các tiên tri thời Cựu ước, và cũng có thể là một Gioan Tẩy Giả! Nhưng với thời gian gần Thầy, các Ông nhận ra Thầy mình không phải như vậy. Thầy Giêsu giảng dậy không căn cứ vào luật lệ truyền từ xa xưa, vào sách vở. Nhưng lời Ngài nói phát ra luồng mãnh lực, một Người đầy uy quyền: “Các con nghe nói, luật xưa truyền dậy rằng… nhưng Thầy bảo cho các con hay… (Mt 5,21…) Ngài quả quyết, chính Ngài có quyền trên ngày Sabbath (x.x.Mt 12, 8). Và dân chúng kính phục uy tín quyền năng Ngài, chính lời Ngài đã đi sâu vào tim óc người dân (x.x. Mt 7, 29).
    Đời sống, lời giảng dậy của Ngài hoàn toàn khác biệt với các Tiên tri thời Cựu ước. Lời Ngài không phải chỉ là mớ điều khôn ngoan, điều răn đe, kêu gọi phải ăn năn sám hối, nhưng là lời ban ơn tha thứ làm hòa, khoan dung nhân ái, điều này ai có thể làm được, nếu không phải chỉ một mình Thiên Chúa! (Mt 9, 2).
    Mối liên hệ giữa Ngài với Thiên Chúa Cha không phải là tôi tớ, nhưng là liên hệ thân tình cha con. Ngài là sứ giả rao giảng tình yêu Thiên Chúa, nhưng vị Sứ giả đó lại chính là trung tâm của sứ điệp tình yêu (Mc 8, 35; Mt 10, 37).
    Các môn đệ thán phục Thầy mình, ngày càng nhận ra và tin vào Ngài. Dân chúng kính phục đổ xô đến nghe ngài giảng thuyết. Nhưng những lời quả quyết về Ngài phát xuất từ chính Ngài làm cho người nghe không khỏi bất mãn khó chịu đến nghi ngờ.
    Phêrô và các môn đệ tin vào Thầy mình không qua do hiểu biết nghiên cứu học hỏi lý luận, nhưng qua gặp gỡ, đối thoại, nghe Ngài giảng thuyết. Chính từ mảnh đất đó Thần Linh Thiên Chúa tác động soi chiếu tâm hồn các ông nhận ra Thầy mình là Đức Kitô Con Thiên Chúa.
    Tò mò theo Chúa để tin vào Ngài, hay tin vào Chúa để theo Ngài. Cả hai thái độ đều biểu lộ một tâm hồn sẵn sàng gặp gỡ Chúa, qua việc đọc Lời Chúa, nghe Lời Chúa và ngắm nhìn Chúa trong thiên nhiên, nơi con người.
    Và qua đó tìm ra trả lời cho câu hỏi: “Các con cho Thầy là ai?”

    Về mục lục

     

     

    BÁNH LỜI CHÚA

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Bài Phúc Âm hôm nay kết thúc Tin Mừng Gioan chương 6 với lời tuyên tín của Thánh Phêrô : chỉ có Chúa Giêsu mới đem lại Lời ban sự sống đời đời.

    Khi Chúa Giêsu tuyên bố : “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời”, lập tức nhiều môn đệ phản ứng: “Lời này chói tai quá, ai mà nghe được” (Ga 6,60). “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa” (Ga 6,66). Thấy một số môn đệ bỏ đi, Chúa Giêsu hỏi nhóm mười hai: còn các con, các con có muốn bỏ Thầy mà đi nữa không?

    Thánh Phêrô trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì con biết theo ai, vì Thầy có Lời ban sự sống đời đời”. Phêrô xác tín: Thầy có Lời ban sự sống, nên đã quyết tâm chọn Thầy: bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai?

    Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh – Bánh Thánh Thể và là Lời Ban Sự Sống – Bánh Lời Chúa, lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng nhân loại.

    Khi nói đến Lời Chúa, nhiều người nghĩ ngay đến Sách Thánh Kinh. Đối với người Công giáo, Lời Chúa có nhiều ý nghĩa và vượt trên Sách Thánh Kinh.

    Cụm từ Lời Chúa có thể được dùng để nói về:

    – Lời Hằng Hữu, là Ngôi Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi.

    – Lời Thiên Chúa lúc tạo dựng, nhờ Người mà mọi sự hiện hữu được tạo thành.

    – Chúa Giêsu, Ngôi Lời làm người và ở cùng chúng ta.

    – Thánh Kinh, Lời được Thiên Chúa linh hứng và viết thành văn tự.

    – Truyền Thống của Giáo Hội, vang vọng cách trung thực Lời của Thiên Chúa cho mọi thế hệ.

    1. Lời Hằng Hữu

    Lời Chúa là Ngôi Lời Thiên Chúa, là Lời Hằng Hữu của Thiên Chúa. Tin Mừng Thánh Gioan mở đầu: “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1).

    Ngôi Lời Hằng Hữu vì Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa, và Ngôi Lời chính là Thiên Chúa. Ngôi Lời chính là Đức Giêsu Kitô. Đây là tâm điểm của tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhưng chỉ là Một Thiên Chúa Duy Nhất.

    1. Lời Tạo Dựng

    Sách Sáng thế mở đầu: “Lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Thiên Chúa tạo dựng tất cả mọi sự bằng cách dùng Lời mà phán : “Rồi Thiên Chúa phán: Hãy có ánh sáng, và liền có ánh sáng… Rồi Thiên Chúa phán: Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước” (St 1,3a.6a). Mỗi ngày, Thiên Chúa tạo dựng bằng cách phán Lời Ngài. Vào ngày thứ sáu : “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1,26a). Lời được phán ra và người nam người nữ đã hiện hữu theo chính hình ảnh Thiên Chúa.

    Sách Sáng thế và Tin Mừng Gioan có một mối liên hệ đặc biệt. Sách Sáng thế mở đầu với một câu chuyện tạo dựng tất cả mọi sự, bắt đầu với ánh sáng. Tin Mừng Thánh Gioan là câu chuyện tái tạo dựng về tinh thần đã được mạc khải và hoàn thành nhờ Đức Giêsu Kitô, ánh sáng thế gian.

    Trong Sách Sáng Thế cũng như trong Tin Mừng Gioan, nhờ Lời Tạo Dựng mà muôn vật được tạo thành :“Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành,và không có Người, thì không có gì được tạo thành” (Ga 1,3a). Ngôi Lời Hằng Hữu của Thiên Chúa chính là Lời Tạo Dựng.

    1. Ngôi Lời làm người

    Ngôi Lời Hằng Hữu, Lời Tạo Dựng, nguồn mạch của tất cả những gì hiện hữu, đã làm người và ở giữa chúng ta:“Ngôi Lời đã trở thành nhục thể và ở giữa chúng ta.Và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người,như vinh quang của Con Một Chúa Cha, đầy ân sủng và chân lý” (Ga 1,14).

    Ngôi Lời đã làm người đó là Đức Giêsu Nazareth. Người đã ở giữa nhân loại trong một giai đoạn của lịch sử, ở vùng đất Palestine, làm người Do thái, và sống dưới quyền đô hộ của Đế quốc Rôma. Người đã chết và đã phục sinh.Người luôn ở giữa nhân loại trong Thánh Kinh, trong các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, trong Giáo Hội, trong tha nhân và trong mỗi người chúng ta.

    1. Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa

    Thánh Kinh là Lời mạc khải của Thiên Chúa. Thánh Kinh là Lời được Thiên Chúa linh hứng. Thánh Kinh là Lời Chúa được các Thánh Sử ghi lại bằng văn tự qua dòng Lịch sử Cứu độ.

    Thánh Kinh là bức tâm thư Thiên Chúa gởi cho Dân được tuyển chọn. CĐVTC II đã dạy:”Trong các Sách Thánh,Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ.Vậy sức mạnh và quyền năng chứa đựng trong Lời Chúa lớn lao đến độ trở thành điểm tựa đầy năng lực cho Hội thánh và là sức mạnh của đức tin,lương thực nuôi linh hồn,nguồn sống thiêng liêng,tinh tuyền và trường cửu cho con cái của Hội Thánh”(MK21).

    1. Yêu mến, học hỏi và sống Lời Chúa

    Lời Chúa là chính Chúa Kitô. Thánh Giêrônimô nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô”. Học hỏi Lời Chúa để tìm được nguồn năng lực cho sức mạnh đức tin, lương thực thần thiêng nuôi linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu (MK 21).

    Lời Chúa là Sự Thật, “là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119 ;105). Chúng ta kín múc ánh sáng và sự khôn ngoan từ Lời Chúa để đời mình được chiếu soi và hướng dẫn.

    “Lời Chúa trở thành niềm vui và hạnh phúc của lòng con” (Gr 15,16). Không có lời nào của loài người có thể đến với con người bằng một sự thâm sâu như Lời Thiên Chúa đến với họ.

    “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4,12).

    Lời Chúa có sức sống và quyền năng vô cùng bởi lẽ: “Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là Sự Sống”.

    Lời Chúa quý giá như một viên ngọc, như kho báu. Ai yêu mến khám phá sẽ say mê, đến nỗi có thể bán hết mọi của cải tài sản để có được viên ngọc quí, có được kho báu ấy.Có những người chỉ cần khám phá một câu Tin Mừng thôi là thay đổi cả một cuộc đời. Chẳng hạn như thánh Phanxicô Assidi, câu “Phúc cho những người nghèo khó” đã khiến ngài bỏ hết gia tài của cha mẹ để dấn thân vào một cuộc sống nghèo khó nhưng vô cùng hạnh phúc. Thánh Phanxicô Xaviê được đánh động bởi câu: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì”.Thánh nhân từ bỏ tất cả danh vọng thế tục dấn thân truyền giáo và đã đưa về cho Chúa hàng trăm ngàn linh hồn.Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng tìm thấy linh đạo “con đường thơ ấu” từ câu “Nước Trời thuộc về những trẻ nhỏ”…

    Ngày Chúa Nhật 05/10/2008, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI chủ sự Thánh lễ khai mạc Thượng Hội đồng Giám Mục Thế giới lần thứ 12 với chủ đề “Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội”. Đức Thánh Cha đã gọi Đức Trinh Nữ Maria là người môn sinh tuyệt hảo của Lời Chúa.

    Mẹ Maria là một khuôn mẫu tuyệt vời cho chúng ta trong sứ vụ học hỏi, suy niệm và rao truyền Lời Chúa. Mẹ là người đã đón nhận Lời, đã cưu mang Lời thành xác phàm trong lòng dạ mình. Nhờ đó Mẹ đã sinh Lời cho nhân loại. Quá trình đón nhận, cưu mang, và sinh hạ chính là quá trình mà mỗi Kitô phải đi qua nếu muốn Lời Chúa mang lại hiệu quả cho mình và cho tha nhân. Vì thế, chiêm ngắm Mẹ Maria, học tập với Mẹ và cầu nguyện cùng Mẹ là một trong những cách thế tốt nhất giúp chúng ta chu toàn sứ mạng học hỏi, suy niệm và rao truyền Lời Chúa.

    Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến dự bàn tiệc Lời Chúa trước khi dự bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực bổ dưỡng cho người tín hữu. Công đồng Vaticanô (PV 7) khẳng định rằng, khi chúng ta nghe đọc Lời Chúa trong Phụng Vụ thì Chúa Giêsu “hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội”. Như thế Chúa Giêsu vẫn loan báo Tin Mừng trong từng thánh lễ (PV 33). Chúa Giêsu vẫn trao cho chúng ta Tấm Bánh là Lời của Người.

    Bổn phận của các linh mục là phải trình bày Lời Chúa như thế nào để giáo dân thấy được giá trị hấp dẫn của Lời Chúa.

    Bổn phận của giáo dân là phải biết chăm chú lắng nghe để chính mình cũng khám phá ra được giá trị tuyệt vời của Lời Chúa.

    Bổn phận của tất cả mọi tín hữu, linh mục cũng như giáo dân, là phải học hỏi, yêu mến và sống Lời Chúa. Nhờ học hỏi Lời Chúa mà mỗi người biết Chúa Giêsu. Nhờ suy niệm và cầu nguyện mà mỗi người gặp gỡ Chúa Giêsu. Nhờ sống Lời Chúa mà mỗi người yêu mến và bước theo Chúa Giêsu. Đời sống thiêng liêng cốt yếu dựa trên Chúa Giêsu và gắn bó với Người như “Cành nho gắn với thân nho” (Ga 15,5). Học hỏi, gặp gỡ, chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta được Lời Chúa biến đổi mỗi ngày. Từ đó dần dần nên giống Chúa Giêsu hơn, được nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, có được những tâm tình, thái độ và phản ứng của Chúa Giêsu.

    Lời Chúa là tấm bánh thơm ngon cho những ai biết lắng nghe và đem ra thực hành. Càng sống Lời Chúa, chúng ta càng gặp được ánh sáng và sức mạnh, nhất là được hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu để cuộc đời mỗi người được biến đổi, có ý nghĩa, có giá trị.

    Về mục lục

     

    TRONG ANH EM CÓ NHỮNG KẺ KHÔNG TIN

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Lời mời gọi tiếp nhận ‘bánh hằng sống’, hay đúng hơn ‘ăn thịt và uống máu’ của Đức Giê-su, đã bị đám thính giả Do Thái nói chung, thậm chí cả một số môn đệ nói riêng, khước từ; “Lời này chướng tai quá, ai mà nghe cho nổi!… Từ lúc đó nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”. Chắc chắn không phải vì họ không muốn có bánh ăn là thứ mà họ đang kiếm tìm, nhưng họ khước từ ‘ăn thịt và uống máu’ vì là hình thức ghê tởm đối với bất kỳ ai. Điều đó thật ra cũng dễ hiểu thôi, và chẳng có gì đáng chê trách! Tuy nhiên điều làm chúng ta suy nghĩ chính là, từ sự ghê tởm tự nhiên đó, họ đã không còn tin vào Đức Giê-su nữa, “Trong anh em có những kẻ không tin”… và nhiều người quyết định lìa bỏ Người.

    Nếu chỉ là vì hình thức ‘ăn thịt và uống máu’ làm họ ghê tởm, thì cách giải quyết cũng nhẹ nhàng thôi: chỉ cần trao bánh và rượu, rồi nói: “này là thịt và máu Ta”, như Người sẽ làm trong bữa ăn ly biệt, là sẽ dễ dàng được chấp nhận ngay. Thế nhưng, trong nhận thức của Đức Giê-su, thì rõ ràng đó không phải là lý do đáng quan tâm nhất để họ từ khước. Đối với Người, các môn đệ đang cần củng cố một điều gì còn thâm sâu hơn nhiều mà Người gọi là đức tin nhờ Thần Khí; “Thần Khí mới làm cho sống chứ xác thịt chẳng có ích gì”, vì cũng chỉ có Thần Khí mới có thể mở miệng Phê-rô thốt lên lời tuyên xưng: “Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”

    Ngày nay trong số các Ki-tô hữu cũng có nhiều kẻ không tin, nhưng vấn đề chúng ta phải giáp mặt có lẽ lại trái ngược hẳn với các môn đệ Do Thái thời xưa. Khi giảng giải về Thánh Thể, người ta nhấn mạnh, bánh và rượu thật là ‘mình và máu’ Chúa (cũng có thể là do phản ứng của Công Giáo trước việc anh em Tin Lành chối bỏ học thuyết ‘biến thể’ transubstantiation). Điều này ngày nay không quá khó chấp nhận, ngay cả đối với các dự tòng, chỉ cần đưa ra một lý luận đơn giản: có điều gì mà Thiên Chúa không làm được? Cũng vậy khi tiến lên rước lễ, chẳng ai trong chúng ta còn có cái cảm giác ghê tởm của ‘ăn thịt và uống máu’. Thế nhưng, như đã từng xẩy ra cho các môn đệ xưa, vấn đề chính của chúng ta sẽ là: tôi có thật sự ‘tin và theo Thầy’ cách triệt để hay không? ‘Uống nước hằng sống’ và ‘ăn bánh trường sinh’ thực chất chỉ là những kiểu nói tượng hình để diễn đạt một điều hệ trọng hơn nhiều. Môn đệ Phê-rô đã biểu lộ niềm tin này qua lời tuyên xưng chân thành: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68). Chính Đức Giê-su cũng chỉ rõ: “… Trong anh em có những kẻ không tin… Vì thế, Thầy bảo anh em: không ai đến với Thầy được nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”. Tác giả Gio-an hình như cũng có cùng một nhận định khi nói về các môn đệ: “Quả thực ngay từ đầu đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp người”. Như vậy ‘tin Đức Giê-su’ có nghĩa là lấy cái chết tự hiến thập giá của Người làm sức sống cho đời mình, làm con đường duy nhất dẫn đến Chúa Cha – sự sống vĩnh cửu; “Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” Chỉ ai tin như thế (= ăn thịt và uống máu) mới bảo đảm cho mình được sống muôn đời; “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

    Xác tín điều này, tôi không hề có ý hạ thấp tầm quan trọng của bí tích Thánh Thể trong nội dung triết học và thần học; ngược lại là đàng khác. Khi cử hành Thánh Thể, thay vì chỉ suy nghĩ rằng mình đang làm một việc đạo đức tốt lành và thánh thiện bậc nhất (hàng đầu trong số các bí tích hay phụng vụ), tôi cần minh định rõ rằng mình đang tuyên xưng niềm tin vào Đức Ki-tô cách long trọng nhất, cũng như đang đón nhận ơn cứu độ cách thâm sâu nhất. Đức tin của tôi không đơn thuần chỉ là xác tín bánh và rượu đã trở thành Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô. Đức tin phải đưa tôi tới việc đón nhận Đấng đã hiến dâng mình trên thập giá để tôi được thông phần vào sự sống từ ái vô biên của Chúa Cha… Và điều này thiết thực tới độ, cho dầu tôi, nếu có chết trước cả khi có dịp ‘ăn thịt và uống máu’ Người nơi bí tích Thánh Thể, và nếu tôi đã từng hết lòng ‘ăn bánh trường sinh’ trong niềm tin phó thác thâm sâu nhất đó, thì chính niềm tin này mới đảm bảo cho tôi “không còn chết nữa, nhưng được sống muôn đời”.

    Điều tối quan trọng là đôi lúc tôi cần thật sự duyệt lại niềm tin của mình đạt nơi bí tích Thánh Thể, nhất là trong Thánh Lễ tôi cử hành hàng ngày.

    Lạy Cha chí ái, mỗi ngày khi con cử hành Thánh Thể, cho dầu có là một thói quen như hầu hết các linh mục khác, xin Cha luôn làm con ý thức rằng, đây chính là lời tuyên xưng đức tin thâm sâu nhất của con. Thánh Thể khi đó sẽ diễn đạt việc con đón nhận ơn cứu độ vô giá của thập giá Chúa Ki-tô cách trọn vẹn nhất, sẽ trở thành con đường để con đi vào sức sống vô biên của Chúa Cha, và bảo đảm cho con cuộc sống vĩnh hằng. Xin Cha giúp con luôn cử hành Thánh Lễ trong niềm tin như vậy. A-men.

    Về mục lục

     

     

    TRUNG THÀNH HAY PHẢN BỘI

    Văn Hào

    Người ta vẫn thường nói, trên đời này không có gì ghê tởm và đáng cho chúng ta khinh bỉ cho bằng sự phản bội. Trò phản thầy. Con cái phản bội công ơn cha mẹ, nhất là vợ chồng phản bội nhau trong nghĩa tình phu thê, .. tất cả đều đáng bị nguyền rủa và coi khinh. Tuy nhiên, trong đời sống đức tin, đặc biệt trong ơn gọi thánh hiến, chúng ta cũng có nguy cơ dễ rơi vào sự bội phản này. Lời tuyên tín của thánh Phêrô trong trình thuật tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta phải luôn canh tân lòng trung thành và bền bỉ theo Chúa Giêsu từng ngày: “ Bỏ Thầy chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6,68)

    Nghịch lý của Lời

    Sau khi Đức Giêsu tuyên bố : “ Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”, nhiều môn đệ dị ứng và ngán ngẩm bỏ đi. Có lẽ họ đã theo Chúa một thời gian khá lâu với những động cơ khác nhau, nhưng cuối cùng hầu hết đã thoái lui và đầu hàng vô điều kiện. “Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi”(c.60). Họ bỏ của chạy lấy người, vì không thể chấp nhận nghịch lý theo suy luận tự nhiên nơi đầu óc của họ. Lời Đức Giêsu tuyên bố làm sụp đổ hoàn toàn những toan tính trần thế mà họ vẫn đeo bám khi đến với Đức Giêsu. Quả thật, Đức Giêsu vẫn luôn là một mầu nhiệm ẩn kín và khó hiểu. Mầu nhiệm về Ngài và những lời Ngài nói luôn hàm ngậm một nghịch lý, và cao điểm của nghịch lý này là cái chết trên Thập giá. Một con người mà họ mơ tưởng sẽ trở thành thủ lãnh chính trị, khai lập một vương quốc mới đầy oai phong, lại bị kết án như một tên tội phạm, và bị treo thân cách nhục nhã giống hệt một tên cướp đáng sợ. Một số môn đệ bỏ đi cũng dễ hiểu. Lời Đức Giêsu nói ra nghe thật chói tai và nhức nhối. Giả như chúng ta ở vào hoàn cảnh đó, có lẽ chúng ta cũng sẽ hành xử giống như họ. Khi tuyên bố như thế, ông Giêsu đúng là một con người điên điên khùng khùng chẳng giống ai. Ngay cả các thân nhân đồng hương với Chúa cũng đã có lần phải lắc đầu và ngao ngán thốt lên “ Ông ấy đã mất trí rồi” ( Mc 3,21).

    Nhưng nếu tìm hiểu căn nguyên một cách sâu xa hơn, một số môn đệ bỏ đi, bởi vì họ đã chưa thực sự cắm sâu vào mầu nhiệm Đức Giêsu. Họ chỉ nghe Chúa nói bên ngoài, nhưng bên trong, tâm hồn họ vẫn hoàn toàn đóng khép. Con tim họ chưa mở toang ra để lời Chúa có thể thẩm thấu vào sâu tận nơi con người họ. Thánh Biển Đức cũng dạy các con cái Ngài: “Chúng con phải siêng năng lắng nghe lời Chúa, nhưng không phải nghe với đôi tai của thân xác mà với đôi tai của cõi lòng”.

    Tự bản chất, Đức Giêsu chính là Lời hằng sống được hiến trao cho nhân loại. “Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Lời Thiên Chúa không phải là một hệ thống những triết ngôn, hay những tư tưởng khuyến thiện để răn đời. Lời Chúa ở trên một mức độ khác cao cả hơn rất nhiều, bởi vì Lời Chúa và duy nhất chỉ có Lời của Thiên Chúa mới đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Đây là lời tuyên tín của Thánh Phêrô, được khởi hứng bởi Thần khí, đồng thời cũng là một mặc khải sâu xa Thiên Chúa ngỏ trao. Những kiến thức khoa học, chúng ta có thể nghiên cứu để sở đắc. Những chân lý triết học, chúng ta có thể dùng lý luận để suy tư. Nhưng lời Chúa không phải là một mớ kiến thức để nhồi nhét, nhằm thỏa mãn sự tò mò nơi đầu óc con người. Muốn đón nhận lời của Chúa để được sống luôn mãi, thái độ căn bản cần phải có chính là “tin” vào Ngài. Trong diễn từ về bánh nơi chương 6 trong Tin mừng Gioan, Đức Giêsu nói khá nhiều về thái độ căn bản này: “Ai tin vào tôi sẽ được sống muôn đời”. Lời khuyến mời của Đức Giêsu cũng tương thích với lời tuyên tín của thánh Phêrô. “ Chỉ Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Ăn thịt và uống máu Chúa, cũng như mở lòng đón nhận nhận Lời của Thiên Chúa sẽ được trường sinh. Đây là hai cách thái giống hệt nhau biểu tỏ một thực tại duy nhất : Tin vào Đức Giêsu.

    Canh tân lòng trung thành

    Lời của Chúa là nghịch lý luôn hàm ngậm mầu nhiệm tự hủy. Thánh giáo phụ Grêgoriô thành Nysse đã quảng diễn nghịch lý đức tin này khi Ngài viết: “Hành trình đức tin của chúng ta đến với Chúa giống như chúng ta đang dấn bước tìm đến một khoảng tối đầy ánh sáng”. Ánh sáng và bóng tối, sự sống và sự chết, ân sủng và tội lỗi… là những cặp phàm trù tương phản và đối kháng nhau ẩn chứa nơi nghịch lý của Lời, cũng như trong nghịch lý của mầu nhiệm Đức Giêsu. Trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta phải liều lĩnh dấn bước vào bóng tối để tiến đến ánh sáng, phải chấp nhận đi qua Thập giá và cái chết để tiến nhận sự sống và vinh quang. Đối diện trước nghịch lý này, chúng ta sẽ phải chạm mặt với những cám dỗ muốn thoái lui và không muốn chấp nhận điều nghịch thường đó.Vì thế, chúng ta cần phải canh tân lòng trung thành mỗi ngày. Đức tin không phải chỉ đón nhận một lần là xong. Thánh Phaolô cũng đã căn dặn giáo đoàn Rôma: “Những người có đức tin vững mạnh phải nâng đỡ những người yếu đuối không có niềm tin vững mạnh” (Rm 15,1).

    Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã từng cảnh báo chúng ta về ba nguy cơ gây xói mòn đức tin và làm suy giảm căn tính đích thực nơi mọi Kitô hữu, đó là sống theo chủ nghĩa duy vật (materialism), sống theo chủ nghĩa hưởng thụ (consumerism) và sống theo chủ nghĩa tục hóa (secularism). Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta phải đặt Thiên Chúa vào chỗ tối thượng (in primacy). Điều này ai cũng biết trên lý thuyết, nhưng trong thực tế, chúng ta lại hay sống theo kiểu khác. Khi chúng ta thượng tôn tiền bạc, đặt tiền bạc làm thước đo mọi giá trị theo kiểu sống duy vật, thì đó chính là một sự phản bội. Khi chúng ta chủ trương sống an nhàn với những tiện nghi vật chất để thỏa mãn nhu cầu thể xác theo kiểu sống hưởng thụ, đó cũng là một sự phản bội. Đặc biệt, khi chúng ta mất dần cảm thức linh thánh, không còn thiết tha đến việc cầu nguyện và rơi vào nếp sống tục hóa, thì chắc chắn đó cũng chính là con đường phản bội mà chúng ta đang từ từ đi vào. Chúng ta phải can đảm đạp đổ những “con bò vàng” giống như con bò vàng của những người Do thái năm xưa trong sa mạc Sinai, để từng giờ từng phút, chúng ta luôn lặp lại quyết tâm sống trung thành.

    Nguy cơ phản bội

    Một đứa bé 12 tuổi ngồi tham dự phiên tòa xét xử vụ án ly dị của bố mẹ, đã viết lại những dòng tâm sự đầy nước mắt sau đây:

    “Con nhớ mãi buổi chiều thu ấy, lá rơi nhiều. Bên ngoài trời mưa tầm tã. Bố đến hôn con, một nụ hôn cay đắng và nghiệt ngã. Tâm hồn con tan nát và chết lặng.

    Bố ơi, sao bố dùng cái hôn ấy để xé nát gia đình chúng ta. Sao bố dùng nụ hôn giả dối ấy để trao cho con thay vì hôn trên đôi môi của mẹ. Chữ ký ngày xưa trên bàn thờ Chúa ngày bố mẹ thành hôn nay trở thành những nét chữ không hồn.

    Mẹ ơi, sao mẹ không đến nhận nụ hôn thay cho con, nụ hôn ngày xưa mẹ đã hạnh phúc lãnh nhận trước bàn thờ Chúa. Sao mẹ vẫn lạnh lùng đứng đó như một kẻ xa lạ nhìn bố hôn con, một nụ hôn như mũi dao nhọn đâm nát trái tim bé bỏng nơi con.

    Bố ơi, mẹ ơi, con phải trung thành với ai đây khi con sẽ đứng nhìn những nụ hôn bố trao cho mẹ ghẻ, mẹ sẽ trao cho một người đàn ông khác hoàn toàn xa lạ.

    Chúa ơi, con còn quá nhỏ bé, sao Chúa để con phải nhận những nụ hôn Giuđa này?”

    Đúng vậy, trên đời này không có gì đáng chúng ta ghê tởm cho bằng sự phản bội.

    Nhưng, những nụ hôn Giuđa hình như vẫn đang được lặp lại trong cuộc sống mỗi người chúng ta, qua nhiều dạng thức khác nhau, đặc biệt trong đời sống đức tin, nhất là trong đời sống thánh hiến.

    Kết luận

    Cha Matthêu King, một linh mục dòng Salêdiêng DonBosco đã qua đời cách đây hơn 7 năm. Ngài được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời sang Rôma để làm cố vấn đặc biệt cho giáo triều về những vấn đề của Trung quốc. Trong những năm tháng cuối đời nằm trên giường bệnh quặn đau với căn bệnh ung thư, Ngài vẫn thường nói: “ Tôi luôn cám ơn Chúa về ba hồng ân Chúa đã ban cho tôi. Trước hết, tôi được biết Chúa và trở nên môn đệ Đức Giêsu ngày tôi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Thứ đến, Chúa đã chọn tôi trong ơn gọi Salêdiêng và trở nên một linh mục phục vụ Giáo hội. Cuối cùng, Chúa đã gửi đến cho tôi căn bệnh đau đớn này để tôi được thông dự vào những khổ đau với Chúa Giêsu trên Thánh giá. Tôi luôn cảm tạ Chúa vì ba ân huệ quý giá này”. Ngài cũng luôn nói với những ai đến thăm Ngài: “Xin anh em cầu nguyện cho tôi, để tôi được mãi trung thành”.

    Đức tin không phải chiếm được một lần là xong. Chúng ta còn phải chiến đấu mãi, phải luôn bươn chải mãi, để với ơn Chúa, chúng ta có thể trung thành đến cùng.

    Về mục lục

     

     

    TRUNG NGÔN NGHỊCH NHĨ

    Trầm Thiên Thu

    Câu thành ngữ “trung ngôn nghịch nhĩ” (Hán-Việt) bắt nguồn từ câu chuyện được ghi chép lại trong Sử Ký Tư Mã Thiên (*), trong giai thoại thứ 55 về quân sư tài ba Trương Lương (262-189 trước công nguyên). Ý nói rằng những lời khuyên chân thành thường nghe không thuận tai và khiến người ta khó chấp nhận.

    Đời nhà Hán (năm 206 trước CN đến năm 23 sau CN), Hán cao tổ Lưu Bang sống xa hoa với hàng ngàn cung phi mỹ nữ. Phàn Khoái khẩn thiết tấu trình: “Tâu bệ hạ, ngài thấy trong cung có vô số châu báu và hàng nghìn mỹ nữ. Tất cả những thứ này chính là điều đã làm nhà Tần suy vong. Thần mong bệ hạ lập tức trở về doanh trại, bệ hạ không thể ở lại trong cung”.

    Tuy nhiên, Lưu Bang bỏ ngoài tai những lời can gián của Phàn Khoái. Nghe vậy, Trương Lương vẫn dám nói thẳng: “Tần vương sống xa hoa, hung bạo và hủ bại. Đó là lý do dân chúng nổi dậy lật đổ ông ta và đánh bại quân Tần. Bệ hạ vừa mới lật đổ một Tần vương hung bạo bức bách dân chúng”. May thay, Lưu Bang đã nhận ra sai lầm mà quay về doanh trại và chấn chỉnh cách sống.

    “Trung ngôn nghịch nhĩ” nghĩa là lời nói ngay thẳng thì nghe chướng tai. Người ta cũng nói “thuận ngôn nghịch nhĩ”, và được Việt hóa thành “nói thật mất lòng”. Vâng, thuốc đắng dã tật (có người nói là giã, đã, đả). Người dám nói thật là người can đảm, nhưng phải khôn ngoan để phân định nên nói lúc nào, nơi nào và với ai. Nói không đúng lúc, không đúng chỗ và không đúng người sẽ phản tác dụng. Tuy nhiên, phải nói thật vì công ích chứ không để chứng tỏ “bản lĩnh” của mình, và có thể lợi bất cập hại.

    Một hôm, ở Si-khem, ông Giô-suê quy tụ mọi chi tộc Ít-ra-en, đồng thời triệu tập các kỳ mục Ít-ra-en, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ hiện diện trước nhan Thiên Chúa. Ông Giô-suê nói với toàn dân: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ, hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24:15).

    Tự do là điều Thiên Chúa cho chúng ta “tùy ý”, được toàn quyền sử dụng. Rất thoải mái, nhưng phải khôn ngoan mới biết sử dụng đúng đắn. Thật ra gọi là tự do nhưng chính sự tự do cũng có giới hạn nhất định của nó. Cái khó là ở chỗ đó.

    Thật may là dân không có ý như ông Giô-suê nghĩ. Họ đáp lại: “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. Đức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mô-ri ở trong xứ. Về phần chúng tôi,chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi” (Gs 24:16-18).

    Ước gì tất cả chúng ta, những người đã được lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, trở nên con cái của Thiên Chúa, sẽ biết quan tâm như ông Giô-suê và dân Ít-ra-en xưa, để có thể kiên trì giữ vững đức tin cho đến hơi thở cuối cùng. Có lẽ lúc này chúng ta có thể lặp lại câu ca dao Việt Nam: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, thì tôi vẫn vững như kiềng ba chân”. Cũng có thể coi chiếc kiềng-ba-chân đó là Tin-Cậy-Mến, ba đức đối thần cần thiết lắm.

    Ngày xưa, nhiều lần có những lúc nổi lên các bè rối, tà thuyết. Ngày nay không thấy các dạng tương tự, nhưng vẫn luôn có những “làn sóng” nguy hiểm hơn sóng thần, bởi vì càng văn minh hiện đại thì người ta càng tinh vi trong cách chối bỏ Thiên Chúa. Từ nghi ngờ đến chối bỏ đức tin không xa bao nhiêu, có thể chỉ như một làn ranh mong manh mà thôi!

    Vì thế, chúng ta luôn phải tự nhủ: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa” (Tv 34:2-3a), đồng thời vì yêu thương mà nhắn nhủ với người khác: “Xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:3b).

    Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, luôn chạnh lòng thương những người hèn mọn, thấp cổ, bé miệng, “họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:18). Thật vậy, “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 34:19), còn người công chính, “khi gặp nhiều nỗi gian truân, Ngài giúp họ luôn thoát khỏi” (Tv 34:20). Có được một vị Thiên Chúa như vậy thì làm sao có thể rời xa? Chỉ có những kẻ khờ dại hoặc ngu xuẩn mới có mưu đồ phản loạn, muốn chống lại Ngài, muốn chối bỏ Ngài!

    Tác giả Thánh Vịnh minh chứng: “Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy. Quân gian ác chết vì tội ác, kẻ ghét người lành chuốc án phạt vào thân. Chúa cứu mạng các người tôi tớ, ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ” (Tv 34:21-23).

    Ai cũng đã từng được Chúa cứu thoát nhiều lần, bằng cách này hay cách khác, kể cả những người chưa chân nhận Ngài và tôn thờ Ngài. Chính Ngài đã xác định: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng biết Ta” (Ga 10:27). Nghe và sống Lời Chúa là chứng tỏ niềm tin vào Ngài, là sống đạo. Sống đạo từ đâu? Từ chính việc tu thân và ngay tại gia đình mình.

    Trình thuật Ep 5:21-32 là lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô về việc “gia đình sống đạo” theo tinh thần Kitô giáo giữa đời thường: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau”. Tùng phục nhau không phải theo hệ lụy chủ nhân với tôi tớ, mà đơn giản là lắng nghe nhau, vâng lời nhau, yêu thương nhau, và phục vụ nhau.

    Trước tiên, Thánh Phaolô nói về hệ lụy phu thê: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Rất chi tiết và chí lý, vì vợ chồng tuy hai mà một, họ không còn là hai mà chỉ là một mà thôi (x. Mt 19:6).

    Thánh Phaolô phân tích và dẫn chứng: “Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh”. Và ông kết luận: “Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng”. Nói chung, dù là ai cũng phải tôn trọng nhau, đặc biệt là vợ chồng – những người luôn ở bên nhau cả tinh thần và thể lý. Có tôn trọng nhau mới biết yêu thương nhau và phục vụ nhau theo lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô.

    Người Anh có thành ngữ: “A friend in need is a friend indeed – Khi hoạn nạn mới biết bạn thật”. Người bạn thật không chỉ ở bên ta khi ta gặp khó khăn, mà còn dám nói thật mà không sợ ta mất lòng.

    Trình thuật Ga 6:61-70 là phần cuối của diễn từ mà Đức Giêsu đã giảng dạy trong hội đường ở Ca-phác-na-um. Sau khi nghe Ngài nói chính Ngài là Bánh Trường Sinh và phải ăn uống Thịt Máu Ngài để được sống dồi dào, người Do Thái lùng bùng lỗ tai. Ngay cả nhiều môn đệ của Ngài còn nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?”. Ôi chao, các môn đệ còn như vậy huống chi người ta! Ngài biết tỏng là các môn đệ cũng đang xầm xì về vấn đề ấy, nên Ngài bảo họ: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”.

    Và Ngài nói thẳng: “Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. Xấu hổ quá! Mắc cở hết sức! Mang tiếng là theo Thầy, được Thầy mở lòng trí và được thụ giáo bao điều hay lẽ phải, thế mà lại bị Thầy trách nặng nề như vậy. Sự thật mãi là sự thật, không thể biện hộ, và đừng tưởng mình “ngon lành” hơn người khác. Chúa Giêsu nói sự thật rành rành ra đó đấy thôi!

    Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Ngài, vì Ngài thấu suốt mọi sự. Rồi Ngài nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”. Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Ngài nữa. Họ chịu không nổi vì “choáng”, vì nghe toàn là những lời “khó lọt lỗ tai”, thôi thì đành “bỏ của chạy lấy người” vậy.

    Tùy. Không ép. Hoàn toàn tự do mà. Ngài biết có những người mạnh miệng nhưng nhát đảm, chết khiếp trước khi chết thật, thế nên Ngài hỏi thẳng Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”. Ui da! Thầy ơi là Thầy, răng mà hỏi chi khó rứa hỉ? Có lẽ ai cũng ngại trả lời nên ông Simôn Phêrô liền gãi đầu và đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Một câu xác định và tuyên tín mạnh mẽ, “bù lỗ” lần ông hồ nghi nên suýt chết đuối trên biển và bị Thầy chê là kém tin (Mt 14:25-31), và lần ông dám cản bước Thầy nên bị rủa là Satan (Mc 8:33).

    Đức Giêsu đặt vấn đề: “Chẳng phải Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao? Thế mà một người trong anh em lại là quỷ!”. Ngài muốn nói về Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt, một môn đệ trong Nhóm Mười Hai, sẽ nộp Ngài. Chắc chắn lúc đó nhìn Chúa Giêsu “thấy thương” lắm, vì mặt Ngài buồn rõ nét nhưng chưa đến lúc tiện nói ra!

    Thật không dễ để có thể bình thản sống theo câu “trung ngôn nghịch nhĩ”. Phải thực sự can đảm lắm. Học giả Tuân Tử (313-235 trước CN, Trung Hoa) đã phân định rạch ròi ba loại người chúng ta thường gặp trong cuộc sống: “Người chê ta mà chê đúng, đó là thầycủa ta; người khen ta mà khen đúng, đó là bạn của ta; còn những kẻ nịnh bợ ta chính làkẻ thù của ta vậy”. Thầy – Bạn – Kẻ thù, các khoảng cách rất nhỏ. Cẩn tắc vô ưu!

    Có một tư tưởng hay trong sách Luận Ngữ của Khổng Tử (551-479 trước CN) đáng để chúng ta cùng suy tư: “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên; trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi – Ba người cùng đi, có một người là thầy ta; còn các khuyết điểm của họ, hãy lấy đó làm gương mà hoàn thiện chính mình”.

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết chân thành đón nhận những ý kiến xây dựng của mọi người, dù họ già hay trẻ, để con có thể rút kinh nghiệm mà cố gắng hoàn thiện dần dần. Xin tha thứ tội-nhân-con, lạy Chúa, và ban tràn đầy Thần Khí Chúa để làm con nên mới từng ngày. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    (*) Bộ Sử Ký của sử gia lỗi lạc Tư Mã Thiên (135-86 trước công nguyên) gồm hơn 130 thiên, ghi lại giai đoạn lịch sử từ năm 2600 đến năm 86 trước công nguyên.

    Về mục lục

     

     

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Những bài Tin mừng trong 5 tuần Chúa nhật vừa qua được trích trong chương 6 Tin mừng thánh Gioan, có chủ đề là Bánh Hằng Sống. Chương 6 bắt đầu với phép lạ Chúa Giê-su biến 5 chiếc bánh và 2 con cá ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng theo Ngài. Sau đó Chúa nói với họ Chúa muốn ban cho họ một loại thức ăn đặc biệt có sự sống đời đời, đó là Bánh Hằng Sống, là chính Ngài. Chúa nhật vừa qua, chúng ta nghe Chúa nhấn mạnh “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống.” Đám đông dân chúng nghe Chúa nói những lời như thế, trong đó có một số môn đệ đã từng đi theo và tin Chúa, đã phản ứng và phản đối cho rằng chói tai, khó nghe, không thể chấp nhận được và họ đã bỏ đi. Và chúng ta thấy, Chúa đã không chạy theo nài nỉ gọi những môn đệ bỏ đi trở lại để đính chính lại “họ đã nghe lầm” hay đó chỉ là “biểu hiệu” mà thôi. Chúa biết họ nghe và hiểu lời Chúa nói rõ ràng và minh bạch, và do đó Chúa để họ ra đi. Sau đó, Chúa quay lại hỏi các môn đệ còn ở lại “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” Simon Phêrô đại diện cho nhóm 12 thưa “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta thấy ngày nay cũng có rất nhiều môn đệ của Chúa bỏ ra đi vì họ nghĩ rằng sứ điệp lời Chúa dạy khó nghe, chói tai quá không thể chấp nhận qua bình diện lý luận, và nhất là không phù hợp với cuộc sống của họ. Họ có sự sống và có lối sống riêng của chính họ không cần đến lời Chúa ban sự sống. Hôm nay trong một xã hội có xu hướng đặt nặng vật chất tiền bạc, chú trọng vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu thụ và ích kỷ, tất cả mọi người Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi lập lại lời tuyên xưng của thánh Phê-rô với Chúa “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” để chúng ta có một đức tin vững chắc vào Chúa Giê-su là Bánh Hằng Sống và có sự sống đời đời. Và để có một lời tuyên xưng có nội dung thật sự, thì các bài Kinh thánh hôm nay cung cấp cho chúng ta những yếu tố quan trọng. Một trong những yếu tố quan trọng là chúng ta phải có sự lựa chọn, quyết định khôn ngoan theo thánh ý Chúa, chứ không theo sự khôn ngoan của thế gian.    

    Chúng ta thấy trong bài đọc I hôm nay, sau khi vào Đất hứa, ông Giô-suê đã trở thành người lãnh đạo thay thế Môi-sen. Ông nhận thấy cuộc sống của dân chúng dần dần xa lìa Thiên Chúa, nhiều người đã phản bội và đi thờ thần ngoại bang, cho nên ông đã triệu tập dân chúng lại tại Sikem, để lập một giao ước, buộc dân chúng phải quyết định dứt khoát, lựa chọn một là thờ phượng một Thiên Chúa hai là thờ phượng các thần ngoại bang. Và như chúng ta vừa nghe, họ đã đồng thanh hứa trung thành và chỉ thờ một Thiên Chúa, Người đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai cập mà thôi. Không biết họ có thành tâm hay chỉ ngoài môi miệng, nhưng lịch sử Do thái cho chúng ta biết những thế hệ con cái, cháu chắt của họ đã phản bội, không còn nhiệt tình trung thành với Chúa nữa.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta đang sống trong một quốc gia tự do và không bị kiềm chế hay áp lực, cho nên chúng ta có tự do quyết định cho chính mình, cho gia đình một cách sống, hay chọn những gì ưa thích. Chúng ta biết những sự quyết định hay lựa chọn này sẽ định hướng và đánh giá cuộc đời của mình. Mỗi quyết định hay lựa chọn của chúng ta hôm nay đều có những ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta hiện tại hay trong tương lai, và có những ảnh hưởng đến đời sống gia đình, con cái và cháu chắt chúng ta. Có những lựa chọn mà chúng ta cảm thấy khó khăn, thiệt thòi hay phải hy sinh hiện tại, nhưng lại đem đến những điều tốt đẹp và lợi ích trong tương lại, hay ngược lại, có những lựa chọn đem đến cho chúng ta sự thoải mái, ưa thích hiện tại, nhưng có thể sẽ có những hậu quả xấu ở tương lai, đem lại những đau khổ và hối hận. Chúng ta biết, ngoài cuộc sống vật chất, chúng ta còn có đời sống đức tin, và Chúa cũng cho chúng ta sự tự do để chúng ta lựa chọn và quyết định tin theo Chúa và sống lời Chúa, hay ngược lại, không tin, không sống lời Chúa. Như chúng ta thấy, Chúa không nài nỉ, cưỡng bách hay áp lực những người không chấp nhận và phản đối lời Chúa phán là chói tai, khó nghe và bỏ ra đi, quay trở lại, vì họ không thành tâm, và tin vào lời Chúa. Vì vậy, là những Ki-tô hữu, chúng ta phải suy nghĩ và thận trọng, cũng như thành tâm lắng nghe những lời Chúa dạy bảo và hướng dẫn.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô đề cập đến hôn nhân gia đình, một vấn đề rất khó khăn và gai góc hiện nay vì ly dị và sống chung tự do. Thánh Phao-lô đã so sánh đời sống hôn nhân gia đình vợ chồng như sự liên kết giữa Chúa Giê-su Ki-tô và Giáo hội, và khuyên các đôi vợ chồng một khi đã quyết định chọn nhau làm bạn đời, thì phải suốt đời trung thành với giao ước đó, phải biết hy sinh cho nhau, để giao ước đó đem đến kết quả là yêu thương, hạnh phúc và sự hòa thuận trong gia đình. Vợ chồng phải bảo vệ giao ước hôn nhân bằng sự chung thủy, tôn trọng, chu toàn bổn phận làm vợ, làm chồng, nhất là bổn phận đức tin cho con cái. Chúng ta bận rộn và dành nhiều thời giờ cho công việc làm ăn, kiếm tiền, lo cho đời sống vật chất, nhưng là Ki-tô hữu và nếu chúng ta quyết định và chọn Chúa, chúng ta cũng phải quyết định chú tâm vào việc chu toàn bổn phận đời sống đức tin cho gia đình, nhất là cho con cái. Tôi kêu gọi ông bà anh chị em để tâm tham gia, cộng tác với các giáo lý viên, thày cô và những người hy sinh tình nguyện làm mọi công việc trong chương trình giáo lý và Việt ngữ, và làm những gương sáng tốt lành, để giúp con cái của ông bà anh chị em biết giáo lý, hiểu Lời Chúa và yêu mến Chúa hơn.

    Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả chúng ta đã quyết định chọn tin theo Chúa, đó là lý do chúng ta hiện diện trong Thánh lễ sáng hôm nay. Như thánh Phê-rô, chúng ta cùng tuyên xưng “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.” Chúng ta tin thật và chắn chắn Chúa Giê-su là Đấng cứu thế và là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, hiện diện trong Bí tích Thánh thể. Xin Chúa Giê-su Thánh Thể ban ơn, thêm sức cho chúng ta, vượt qua mọi khó khăn và luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh, và luôn có những quyết định, chọn lựa khôn ngoan theo thánh ý và đẹp lòng Chúa, đưa đến cho chúng ta bằng an và hạnh phúc đời này và đời sau.

    Về mục lục

     

     

    MẦU NHIỆM GIÊSU

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Đức Giêsu là một thực tại. Ngài hiện hữu như một sự kiện lịch sử. Ngài là người không dễ hiểu tuy dù người ta biết cha mẹ và dòng tộc Ngài. Ngài đã có những lời mà người đương thời không hiểu được, nhưng qua đó những người tin vào Ngài biết rằng Ngài có nguồn gốc thần linh: Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

    1. Lời nói của Đức Giêsu khó hiểu

    “Mình Ta là thật của ăn, máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, sẽ được sống đời đời”. Làm sao chấp nhận được câu nói này, khi người ta biết Ngài từ nhỏ đã sống ở Nadarét, khi người ta biết cha mẹ Ngài là Yuse và Maria! Ngài không được học hành gì, không có gì trổi trang hơn người khác khi sống tại Nadarét. Không thể chấp nhận được lời nói này của Ngài, đó là chuyện thường tình. Kể cả một số môn đệ, những người đã từng thán phục lời giảng của Ngài trước đó, cũng không thể chấp nhận lời này: “lời chi sống sượng thế, ai nghe cho nổi”. Họ đã bỏ đi, không muốn làm môn đệ của Ngài nữa.

    Đức Giêsu nói với nhóm 12: cả các anh nữa, các anh có muốn bỏ đi không? Phêrô được một ơn riêng nên trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đi theo ai. Thầy có lời ban sự sống đời đời. Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa”. Để chấp nhận lời của Đức Giêsu về chính Ngài, con người phải có ơn đặc biệt từ trên, vì những gì Ngài nói vượt trên cái bình thường. Đức Giêsu cũng biết điều này: “Không ai đến được với Ta, trừ phi được Cha Ta ban ơn đó”. Ngài cũng biết những gì Ngài nói không phải chuyện “thuộc hạ giới”.

    Những biểu lộ bên ngoài diễn tả điều gì sâu kín bên trong. Lời nói diễn tả nội tâm và bản tính mỗi người. Đức Giêsu không chỉ là một con người; qua lời Ngài, người ta nhận ra còn cái gì rất đặc biệt nơi Ngài. Làm sao lý giải những gì Đức Giêsu nói về chính Ngài, khi những lời này cho thấy như thể Ngài còn hơn là một con người? Chỉ một mình Thiên Chúa có quyền tha tội, thế mà Ngài lại nói: “Tội con đã được tha” (Mc.2, 7); Abraham là ông tổ của cả dân Do Thái, thế mà Đức Giêsu lại nói: “trước khi có Abraham, Ta là Ta” (Ga.8, 58); Thiên Chúa là Đấng vượt trên tất cả, thế mà có lúc Đức Giêsu lại nói: “Ta và Cha Ta là một” (Ga.10, 30). Nếu không phải là người mất trí, thì ắt hẳn còn một điều gì đó mà người ta chưa hiểu về con người Đức Giêsu.

    2. Đức Giêsu là một sự kiện khó lý giải

    Biến cố Đức Giêsu phục sinh, giúp những người thân thiết với Đức Giêsu, cụ thể là các tông đồ, hiểu hơn về Đức Giêsu. Nếu Ngài thuộc loại gian dối, phạm thượng, thì Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài. Nếu Ngài được phục sinh, ắt hẳn những gì Ngài nói về Ngài phải là sự thật. Vậy Đức Giêsu là ai? Tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa như thế nào? Đức Giêsu là một vấn đề cho con người thời đó, và cho cả con người thời nay nữa.

    Với những người đơn thuần nghĩ Ngài là người phạm thượng, cái án tử hình dành cho Ngài thật là chính đáng. Nhưng biến cố phục sinh cho thấy cách nghĩ như vậy là không thỏa đáng và sai lầm. Vậy Ngài là ai? Các môn đệ thân tín, nhóm 12, có câu trả lời về người thầy thân yêu của họ. Ngài là tiên tri và còn hơn một tiên tri, Ngài là Đấng Kitô và còn hơn một Đấng Kitô, Ngài là con Thiên Chúa và còn hơn là con Thiên Chúa như những người công chính từng được gọi là con Thiên Chúa. Vậy Ngài là ai?

    Tin Mừng Gioan diễn tả Ngài là Lời đã thành xác phàm (Ga.1, 14). Một số người diễn tả Ngài là con Thiên Chúa theo một nghĩa rất đặc biệt. Đức Giêsu cũng thắc mắc về điều người ta nói về Ngài: “người ta bảo Con Người là ai?” Đức Giêsu có vẻ hài lòng với câu trả lời của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Tuy nhiên, điều này cũng không rõ ràng lắm với con người ngày nay, vì có nhiều Đức Kitô, nghĩa là nhiều người được xức dầu, nhiều người là Đấng Thiên Sai, chẳng hạn Môsê, Đavít. Cũng có nhiều người được gọi là con Thiên Chúa, chẳng hạn các thiên thần, những người công chính, các vị vua. Công Đồng Chung Nicea sau này (năm 325) xác định, Ngài là con đồng bản tính với Thiên Chúa. Công Đồng Chung Chalcedoine xác định Ngài có hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính con người, Ngài thực sự là người và thực sự là Thiên Chúa. Công Đồng Chung Epheso xác định Ngài là một ngôi vị Thiên Chúa trong hai bản tính. Dù thế nào chăng nữa, những tín điều về Đức Giêsu Kitô của Hội Thánh sau này, là để giúp các tín hữu hiểu đúng những mặc khải đã được tỏ lộ cho các tông đồ. Đức tin của Giáo Hội tựa trên nền tảng các tông đồ. Đức tin của các Kitô hữu, là đức tin tông truyền.

    3. Mở lòng đón nhận sự kiện Giêsu Kitô

    “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Không thể hiểu lời này, vì xưa nay chưa có lương thực nào cho con người sự sống vĩnh cửu. Vậy làm sao có thể chấp nhận lời nói này! Hơn nữa, con người Giêsu cũng mong manh như bao người, vậy Giêsu lấy gì để bảo đảm cho lời nói của Ngài là đáng tin, là sự thật?

    Đức Giêsu là một sự kiện, một biến cố, và là một mầu nhiệm. Những từ ngữ và lý giải, là để hiểu đúng và hiểu hơn về Đức Giêsu Kitô. Người ta chưa hiểu hết về Ngài, người ta đang cố gắng hiểu và diễn tả về Ngài. Có thể, mỗi một diễn tả giúp con người hiểu hơn về mầu nhiệm Giêsu; và có thể, cũng che khuất Ngài dưới một khía cạnh nào đó. Một điều đáng mừng là ngày nay người ta vẫn còn đang truy tìm về Đức Giêsu Kitô, người ta đang cố gắng diễn tả về Đức Giêsu Kitô với hy vọng giúp con người ngày nay hiểu và chấp nhận Đức Giêsu Kitô hơn. Tất cả những điều này cho thấy, Thánh Thần Thiên Chúa vẫn đang hoạt động nơi con người ngày hôm nay một cách rất sống động.

    Xin cho con người ngày nay biết mở lòng và đón nhận mầu nhiệm Giêsu Kitô, và xin cho mầu nhiệm Giêsu Kitô soi sáng mầu nhiệm con người, giúp con người sống an bình và hạnh phúc trên đường trần gian này.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ

    1. Bạn có câu hỏi hoặc thao thức gì về Đức Giêsu?
    2. Đức Giêsu có ảnh hưởng nhiều trên đời bạn không? Xin bạn cho biết điều đó.

    Về mục lục

     

     

    LỜI HẰNG SỐNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Sau khi ông Môisen qua đời, ông Joshua, con của ông Nun, lên kế vị dẫn dân Do-thái vượt qua sông Jordan vào miền Đất Hứa. Toàn dân và gia đình ông Joshua đến trước Thiên Chúa ở giữa công đường, ông Joshua gợi ý cho dân chọn lựa tôn thờ Thiên Chúa hay tôn thờ các thần dân ngoại:Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Thiên Chúa (Jos 24, 15). Dân chúng và gia đình ông Joshua đã chọn Thiên Chúa làm phần gia nghiệp. Ông Joshua đã trở thành người lãnh đạo tín trung và can đảm dẫn đưa dân vào miền đất chảy sữa và mật như lời đã hứa.

    Dân Do-thái đã chọn đi theo Chúa tiến vào miền Đất Hứa nhưng rồi chẳng được bao lâu, dân chúng quên lời đã thề hứa. Họ bỏ Chúa, chạy theo các thú vui trần thế, tôn thờ các tà thần và sống theo thói tục của dân ngoại. Chúa phạt tội lỗi của họ, nhưng rồi Chúa lại tha thứ. Lịch sử cứu độ cứ thế lập đi lập lại với hết dòng dõi này sang dòng dõi khác. Thiên Chúa vẫn luôn kiên nhẫn đợi chờ. Qua các thử thách, Thiên Chúa hé mở những mầu nhiệm cao siêu trong cuộc sống bình thường. Từ những biến cố xảy ra hằng ngày, Thiên Chúa lại mở thêm những cánh cửa để dẫn con dân đi tìm về nguồn yêu thương. Không có một sự cố nào xảy ra mà không ghi dấu ấn tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Con đường cứu độ là con đường tình yêu và tha thứ. Yêu thương là ban tặng và dâng hiến. Thiên Chúa trao cho nhân loại bánh hằng sống, chính là Con Một của Thiên Chúa.

    Sau khi Chúa Giêsu đã mạc khải về bánh ban sư sống bởi trời là thịt và máu Chúa, có nhiều người khó chịu về giáo lý này. Họ nói rằng: Lời này chói tai qúa! Ai nghe được. Chúa Giêsu biết rõ lòng họ nhưng Chúa không rút lại lời đã nói. Chúa không ngại để họ được tự do ra đi. Ngay cả các tông đồ, Chúa đã hỏi: Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không? Phêrô thưa: Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai. Chúa không muốn mị dân để làm vừa lòng mọi người. Chúa cho chúng ta được tự do chọn lựa thái độ. Chúng ta không thể đi nước đôi theo kiểu bắt cá hai tay. Tông đồ Phêrô đại diện cho anh em tuyên xưng niềm tin một cách xác tín: Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.

    Thái độ của Chúa Giêsu khác biệt thái độ của nhiều nhà lãnh đạo. Các lãnh tụ thế gian muốn mình trở thành số một, có quyền hành và muốn được người khác phục vụ. Người cầm quyền dùng nhiều thủ đoạn tìm vinh quang và thu gom cho mình mọi thứ ở trần gian. Họ thường dùng những lời hứa suông vượt trên khả năng và quyền hạn của họ để bảo đảm sự an toàn cho người khác. Họ muốn giới hạn tự do và ngay cả quyền thiêng liêng của con người để phục vụ cho chính sách và đường lối chính trị của phe nhóm họ. Trái lại, Chúa Giêsu không tìm vinh quang cho chính mình. Ngài qui mọi vinh quang và danh dự về Chúa Cha.

    Khi Chúa chữa lành cho người phung hủi. Chúa nói với anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết (Mc 1, 44). Chúa chối từ sự tôn vinh của người đời. Khi Chúa hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng ăn no nê, họ muốn tôn Chúa làm vua, Chúa đã từ chối. Chúa Giêsu từ trời hạ sinh làm người, nhưng Chúa lại chọn con đường phục vụ từ dưới thấp đi lên. Chúa khiêm hạ trong phục vụ. Chúa cúi xuống rửa chân cho các tông đồ. Khi Chúa xua đuổi qủy ám ra khỏi người đàn ông Gerasene, ông ta muốn ở lại với Chúa: Nhưng Chúa không cho phép, Người bảo: “Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào (Mc 5, 19). Chúa mời gọi mọi người đi theo Chúa để được lãnh nhận ơn cứu độ, nhưng Chúa không ép buộc hay cưỡng bức. Chúa để họ được hoàn toàn tự do lựa chọn.

    Chúa Giêsu là thủ lãnh, là chủ chiên tốt lành và là Chúa đầy lòng xót thương. Chúa đã thí mạng sống vì đàn chiên. Trong vườn Cây Dầu, trước lúc bị bắt trói và dẫn đi, Chúa đã yêu cầu quân lính cho các tông đồ được tự do.Đức Giêsu nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi (Ga 18, 8). Chúa còn có những sứ mệnh khác cho các tông đồ. Các Ngài sẽ nên nhân chứng cho sự đau khổ, sự chết và sự sống lại của Thầy. Chúa không hứa một cuộc sống sung túc, đầy đủ, an bình và hưởng lạc, nhưng là con đường thánh giá có nhiều chông gai. Chúa đáp lời môn đệ muốn đi theo: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (Lc 9, 58).

    Lời Chúa là thần trí và là sự sống. Tác giả thơ Do-thái đã viết: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử (Dt 1, 1-2). Qua Thánh Tử Giêsu, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta về tình yêu của ơn cứu độ. Lời của Chúa Giêsu là lời hằng sống. Lời Chúa có uy quyền tác động biến đổi và có hiệu qủa ngay: Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy (Ga 6, 56). Chúa Giêsu đã từng chữa lành các bệnh nhân qua lời của Ngài.Người bảo anh bại tay: “Anh giơ tay ra! ” Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường (Mc 3, 5). Khi Chúa Giêsu đang ngủ trên tàu gặp sóng gió:Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi! ” Gió liền tắt, và biển lặng như tờ (Mc 4, 39). Thánh Phêrô chỉ cho chúng tabiết rằng Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.

    Thánh Phaolô trong thơ gởi cho tín hữu Êphêsô đã khuyên dạy chúng ta: Anh em hay phục tùng nhau trong sự kính sợ Thiên Chúa (Eph 5, 21). Phaolô dùng hình ảnh của Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội để nói về việc vợ chồng phục tùng lẫn nhau trong đời sống hôn nhân gia đình:Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy (Eph 5, 25). Giáo Hội luôn gắn kết với Chúa Kitô là đầu. Lời Chúa là kim chỉ nam và là nguồn sống của Giáo Hội. Thánh Kinh và Thánh Truyền là hai nguồn bảo chứng giúp Giáo Hội tồn tại.Giáo Hội tin tưởng vào quyền năng thánh hóa qua lời hằng sống:Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống (Eph 5, 26).

    Chúng ta lắng nghe, học hiểu, nhận biết và thực hành lời Chúa. Lời Chúa là lời quyền năng giúp chúng ta biến đổi nội tâm. Chúng ta cần học hỏi để có những kiến thức về đạo, nhưng điều quan trọng là tri và hành. Giống như chúng ta cầm được tấm bản đồ, chúng ta học biết các vị thế và nơi chốn nhưng chúng ta chỉ ngồi một chỗ thì sẽ chẳng bao giờ tới nơi. Lời của Chúa Giêsu mở cửa tâm hồn dẫn chúng ta đến hạnh phúc. Thực thi lời Chúa là chúng ta đang đi trên con đường chính thật. Chúng ta không thể đốt giai đoạn, mà hãy suy niệm và sống lời Chúa trong từng giây phút và qua từng cách ăn nết ở trong cuộc sống hằng ngày. Dấu chỉ của người môn đệ của Chúa là:Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau (Ga 13, 35).

    Lạy Chúa, bỏ Chúa, chúng con biết theo ai. Chỉ có Chúa là Đấng Cứu Độ và là nguồn an lạc cho đời chúng con. Chúng con xin chọn Chúa làm gia nghiệp và là nơi chúng con nương náu ẩn thân. Chúng con xin chúc tụng và ngợi khen danh Chúa đến muôn ngàn đời.

    Về mục lục

     

    CHÚA MỚI CÓ LỜI BAN SỰ SỐNG

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Có nhiều bạn trẻ đặt vấn đề : Tại sao người Công giáo kết hôn với người ngoại giáo lại yêu cầu họ phải theo đạo mới được kết hôn ? Tại sao mình không theo đạo của họ ?

    Người ta bảo rằng : Yêu nhau thì yêu cả nước bước đường đi. Yêu nhau không những chọn nhau, thuộc về nhau, nhưng người ta còn chọn cả niềm tin tôn giáo của nhau. Người Công Giáo tin rằng đạo của mình vượt trội hơn tất cả tôn giáo khác vì đạo của mình do chính Thiên Chúa mặc khải và chỉ cho biết : Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế. Chính Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta đường đi và còn đồng hành với mỗi người trên hành trình đạt hạnh phúc đời đời. Ai tin và thực hành theo lời của Chúa thì sẽ được sống muôn đời. Vì thế, người Công Giáo không thể bỏ Chúa để chọn một tôn giáo khác. Đó cũng là điều Phêrô và các tông đồ đã nhận ra, đã tin và đã tuyên xưng : Bỏ Thầy con biết theo ai, vì Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.

    Tuy nhiên trong thực tế, nhiều người Công Giáo không ý thức đủ về sự cao quý của niềm tin mình. Họ chấp nhận một thứ cào bằng tôn giáo khi cho rằng : “Đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành”. Dẫu rằng, đạo nào cũng dạy làm việc tốt, dạy ăn ngay ở lành, nhưng không thể đánh đồng : “Đạo nào cũng giống đạo nào”. Các đạo khác chỉ là những chỉ dạy về luân lý, tức là những điều phải tránh và những việc phải làm. Đạo Công giáo không chỉ như thế, cũng không chỉ là cố gắng của con người, nhưng đạo Công giáo còn dạy về một Thiên Chúa là Cha yêu thương. Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu độ, chúng ta được mời gọi sống thân tình với Thiên Chúa như với người cha, sống với Chúa Giêsu như với người Thầy, người anh và người bạn. Đây là những niềm tin mà không có một tôn giáo nào có được.

    Khác với Phật giáo và các tôn giáo khác, Đức Phật không bao giờ nhận mình là thần linh, và cũng không chỉ cho người khác về một thần linh nào. Chúa Giêsu đến để chỉ cho chúng ta biết về Thiên Chúa và còn tỏ cho biết Ngài chính là Thiên Chúa, đến từ Chúa Cha, Đấng Tạo dựng và cứu độ. Ngài có quyền năng ban sự sống và nắm giữ mọi mối dây sinh tử của cả vũ trụ và mọi loài. Ai tin và thực hành Lời Ngài thì có sự sống đời đời.

    Các môn đệ và những người Do Thái ngày xưa bị giằng co bởi nhiều triết thuyết và nhiều tôn giáo của các dân tộc chung quanh. Mặc dù tin một Thiên Chúa Duy Nhất, nhưng họ lại bị lôi kéo bởi các tập tục của dân ngoại, bị cám dỗ chạy theo những tôn giáo dễ dãi. Vì thế, khi nghe Chúa Giêsu nói về bánh là chính máu thịt của Ngài, nói đến việc phải ăn và uống máu của Ngài, nhiều môn đệ đã không chấp nhận và bỏ đi. Họ lấy làm khó chịu về giáo lý của Chúa Giêsu, họ cảm thấy chướng tai về điều đó.

    Như chúng ta đã suy niệm tuần trước, Người Do Thái không được phép đụng đến máu của súc vật, huống nữa là máu của con người. Họ chỉ được ăn một số con vật, nay Chúa lại nói ăn thịt của Ngài. Chúa Giêsu đã giải thích thêm và cho thấy, nếu không được Thần Khí của Thiên Chúa soi sáng, thì con người không thể hiểu được. Nếu chỉ nhìn Đức Giêsu là con bà Maria thì cũng không thể hiểu được, nhưng phải tin nhận Ngài là Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến. Vì chỉ chỉ có Thiên Chúa và từ nơi Thiên Chúa mà đến, Chúa Giêsu mới có thể đem đến sự sống cho nhân loại được. Có được đức tin này, đó là một ân huệ của Thiên Chúa. Như thế, đức tin là một ân huệ, là quà tặng của Thiên Chúa, chỉ những ai mở lòng và sẵn sàng đón nhận thì mới có thể lãnh nhận được.

    Sau khi Chúa Giêsu cho thấy sự khác biệt giữa giáo lý của Ngài với các giáo thuyết khác, Chúa để cho mọi người tự do chọn lựa. Có những môn đệ dù đã theo Ngài một thời gian, nhưng cuối cùng đã bỏ cuộc vì không tin. Chúa cũng muốn sát hạch lại niềm tin của các tông đồ khi nói với các ông : Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao ? Nhưng Simon Phêrô đã thay cho các anh em tuyên xưng niềm tin của mình : Bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai, vì chỉ Thầy mới có lời ban sự sống đời đời. Chúng con đã tin và nhận biết rằng, chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Tuyên xưng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa, Phêrô đã muốn nói rằng, chúng con tin Thầy chính là Thiên Chúa.

    Tin và sống chết với niềm tin của mình luôn là một chọn lựa quyết liệt và dứt khoát. Trong niềm tin không thể có nước đôi, không đánh đồng, không thỏa thuận, trái lại, phải là một chọn lựa dứt khoát. Ngày xưa biết lòng dân hay thay đổi, biết dân Israel dễ bị lôi kéo bởi các tôn giáo khác, nên ông Giosuê sau khi đưa dân vào đất hứa, đã đòi dân Israel phải công khai nói lên chọn lựa niềm tin của mình. Ông quy tụ toàn dân lại tại Sikhem và đặt ra cho họ một chọn lựa : Nếu anh em không bằng lòng thờ phượng Thiên Chúa, thì hôm nay, anh em có quyền chọn các thần mà thờ, còn tôi và gia đình tôi sẽ phụng sự một mình Đức Chúa.

    Dân Israel đã công khai nói lên sự chọn lựa của mình : Chúng tôi không hề có ý bỏ Thiên Chúa để phụng thờ các thần khác, vì chính Đức Chúa là Đấng đã đưa chúng tôi và cha ông chúng tôi ra khỏi đất Aicập…Chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa và Người là Thiên Chúa của chúng tôi.

    Thưa các bạn, trong ngày lãnh Bí tích rửa tội, và đặc biệt trong ngày Thêm sức, chúng ta cũng đã thề hứa từ bỏ mọi tà thần và những quyến rũ của ma quỷ để tin thờ một mình Thiên Chúa mà thôi. Tuy nhiên trong thực tế, có chắc rằng chúng ta chọn một mình Thiên Chúa hay còn chọn thêm các thứ thần linh và quyến rũ của ma quỷ nữa ?

    Chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa và Lời Ngài là lời ban sự sống, song nhiều người đã không muốn lắng nghe Lời Ngài, không muốn đón nhận những giáo huấn của Ngài. Tin rằng Lời Chúa là Tin Mừng, nhưng nhiều Kitô hữu đã không thực sự tìm thấy niềm vui và sức sống nơi Lời của Chúa, vì họ không chủ tâm đọc, suy gẫm không lắng nghe và không thực hành. Nhiều người khác lại chỉ dùng Lời Chúa như vật trang trí cho mình, lấy Lời Chúa để biện minh cho hành động của mình thay vì phải uốn mình theo Lời của Chúa. Chính vì thế mà Lời Chúa đã không đi vào được tâm hồn, không chi phối được đời sống của họ.

    Nhiều người xưng mình là Kitô hữu, tức là người có Chúa Kitô, nhưng gặp khó khăn thử thách, họ không tìm đến sự hướng dẫn của Chúa Kitô, trái lại, họ tìm kiếm sự hướng dẫn của các thầy bói và tin kiêng những đều vớ vẩn. Là người tin Chúa, nhưng nhiều người lại vẫn thực hành đời sống theo kiểu dân ngoại, vì họ không hiểu biết gì về giáo lý và lời dạy của Chúa. Không chỉ sai lạc trong niềm tin, trong cách sống, nhiều Kitô hữu đã không còn chọn một mình Thiên Chúa là Chúa duy nhất. Họ không còn dành cho Thiên Chúa ưu tiên tuyệt đối trong cuộc đời, họ chọn tiền bạc, của cải vật chất và đặt Chúa xuống hàng tùy phụ, coi việc tôn thờ Thiên Chúa như việc làm thêm.

    Điều đó chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ nơi đời sống gia đình. Nhiều cặp vợ chồng đã không còn trung thành với lề luật của Thiên Chúa, họ chọn những giải pháp dễ dãi để giải quyết khó khăn thử thách. Nhiều người cậy dựa vào quyền lực thế gian để giải quyết những ràng buộc của giới luật Thiên Chúa. Vì thế mà ngày càng có nhiều gia đình Công Giáo đưa nhau ra tòa để giải gỡ hôn nhân. Hành đông như thế là họ đã công khai phá bỏ luật và lời dạy của Thiên Chúa, từ chối Lời ban sự sống của Ngài.

    Việc chọn lựa Thiên Chúa, tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu và hoàn toàn đặt cuộc đời theo sự chỉ dạy của Chúa đang là một thách thức với nhiều bạn trẻ. Nhiều người trẻ đã tin bạn bè hơn cha mẹ, tin vào bài báo hơn tin vào Lời Thiên Chúa, tin vào khoa học công nghệ hơn tin vào mạc khải của Thiên Chúa. Chính vì thế nhiều người đang bị lầm lẫn, đang mất phương hướng sống cho cuộc đời.

    Xin Chúa cho chúng ta mỗi ngày sống là mỗi ngày chúng ta tái khẳng định lòng trung thành tuyệt đối vào Thiên Chúa và vào Tin Mừng của Ngài. Amen.

    Về mục lục

     

     

    THẦY MỚI CÓ NHỮNG LỜI

    ĐEM LẠI SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Lm. Đan Vinh – HHTM

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG : Ga 6,54a.60-69

    (54a) Khi nghe Đức Giêsu tuyên bố : “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời”, (60) nhiều môn đệ của Người liền nói : “Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?” (61) Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông : “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? (62) Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao ? (63) Thần Khí mới lam cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là Sự Sống. (64) Nhưng trong anh em có những kẻ không tin”. Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. (65) Người nói tiếp : “Vì thế, Thầy đã bảo anh em : Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”. (66) Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa. (67) Vậy Đức Giêsu hỏi Nhóm 12 : “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?” (68) Ông Si-mon Phê-rô liền đáp : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. (69) Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng : Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”.

    1. Ý CHÍNH :

    Sau khi nghe Đức Giêsu giảng về Bánh Hằng Sống, tức là bí tích Thánh Thể mà Người sẽ ban, thì thính giả chia thành hai phe : Một số khá đông, trong đó có cả các môn đệ của Người, cho rằng lời ấy chói tai, không thể chấp nhận được và đã bỏ không còn theo Người nữa (c. 66). Riêng Nhóm 12, khi được hỏi thì Si-mon Phê-rô đã đại diện Nhóm tuyên xưng đức tin : “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời” (c. 68).

    1. CHÚ THÍCH :

    C 54a.60 : + Ai ăn Thịt Tôi và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời : “Thịt và Máu” Đức Giêsu là Bánh Thánh Thể sẽ được Người ban trong bữa tiệc Vượt Qua (x Mt 26,26). Do đó Thịt và Máu Đức Giêsu nói đây chính là Thánh Thể của Người, sẽ trải qua cuộc khổ nạn và phục sinh, như một hy lễ đền tội để ban sự sống cho trần gian. + Nhiều môn đệ của Người : Môn đệ là những người nhận Đức Giêsu làm Thầy (Ráp-bi), nghe và thực hành Lời Chúa, tích cực cộng tác với Người thi hành sứ vụ tông đồ. Đức Giêsu có hai nhóm môn đệ là nhóm bảy mươi hai (x. Lc 10,1) và Nhóm mười hai (x Ga 6,66). + “Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?” : Khi nghe Đức Giêsu nói sẽ lấy Thịt Máu mình cho người ta ăn uống, thì các môn đệ cũng như đám đông dân Do Thái không chấp nhận. Phần vì không ai xẻ thịt mình ra cho người khác ăn, hay lấy máu mình cho người khác uống ! Đàng khác, Luật Mô-sê cấm ăn máu huyết, vì máu được coi là sinh khí tụ lại, chỉ được dành riêng cho Đức Chúa là chủ tể của sự sống. Luật Mô-sê qui định : “Các ngươi không được ăn máu huyết của bất cứ xác thịt nào, vì mạng sống của mọi xác thịt là máu của nó. Bất cứ ai ăn máu huyết sẽ bị khai trừ” (x. Lv 17,14).

    C 61-62 : + Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? : Ba điều người Do Thái và môn đệ xầm xì không chấp nhận : Một là Đức Giêsu tự nhận mình là Bánh hằng sống, đang khi cha ông họ xưa dù đã ăn Man-na mà vẫn phải chết (x. Ga 6,49). Hai là Người tuyên bố mình từ trời mà đến, đang khi họ biết rõ tông tích của Người (x Ga 6,42). Ba là Người khẳng định : “Thịt Tôi thật là của ăn và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6,55), đang khi luật Mô-sê cấm uống máu và ăn thịt các con vật chết ngạt, vì còn có máu trong thịt (x. Lv 17,10). + Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao ? : Đức Giêsu cho các môn đệ bằng chứng để tin Người là Đấng Thiên Sai và tin lời Người giảng là sự thật. Bằng chứng ấy là Người sẽ từ cõi chết sống lại và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Ga 3,13), đúng như thị kiến về vai trò và sứ mệnh của Con Người trong sách Ngôn Sứ Đa-ni-en (x. Đn 7,13).

    C 63-64) : + Thần khí : Là một từ ngữ mang nhiều ý nghĩa như sau : Một là gió : Có đặc tính vô hình (x Ga 3,8). Gió có khi trở thành bão để Đức Chúa trút cơn lôi đình hủy diệt những kẻ gian ác (x. Ed 13,13). Hai là hơi thở : Tuy yếu ớt, nhưng lại là sức mạnh nâng đỡ và là điều kiện giúp thân xác sống động. Con người sẽ chết khi không còn hơi thở do Thiên Chúa phú ban (x. St 2,7; 6,3). Ba là linh hồn : Bao lâu Thần khí còn ở với con người, nó biến xác thịt bất động thành sống động, Thần Khí ấy gọi là linh hồn (x. St 2,7). Chết là khi con người trút hơi thở trả linh hồn về cho Thiên Chúa (x. Tv 31,6 ; Lc 23,46). Bốn là một đặc tình của Thiên Chúa : “Thiên Chúa là Thần Khí” (Ga 4,24) nên người ta phải thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật (x. Ga 4,24). + Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì ! : Việc tạo dựng con người đã được sách Sáng Thế thuật lại như sau : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Như vậy xác thịt chỉ là bụi đất, không thể sống động nếu không được Thiiên Chúa phú ban thần khí gọi là linh hồn. Chính thần khí ấy mới làm cho con người sống động. Khi thân xác ngừng thở là lúc thần khí xuất ra khỏi thân xác, và thân xác ấy trở thành xác chết, nên chẳng còn ích gì ! + Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là Sự Sống : Lời Chúa chính là Thần Khí thiêng liêng, là Lời phát xuất từ Thiên Chúa, nhằm mặc khải các mầu nhiệm và các việc làm của Thiên Chúa cho loài người (x. Xh 20,2), các giới răn và các điều sắp xảy đến (x. St 15,13-16). Lời Chúa sẽ ban Sự Sống đời đời cho con người (x. Ga 6,68), nếu họ biết lắng nghe (x. Mt 13,23), tìm hiểu và xin vâng (x. Lc 1,34.38), tuân giữ (x. Lc 8,15), và nhất là đem ra thực hành (x. Lc 6,47.49). + Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người : Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã có cái nhìn tiên tri và thấy trước sự bất tín của Giu-đa (x. Mt 26,14-16). Tin mừng Gio-an viết như sau : “Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói “Không phải tất cả anh em đều sạch” (Ga 13,11).

    C 65-66 : + Không ai đến với Thầy được nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho : Đức tin là một ơn do Thiên Chúa ban cho loài người, để họ tin Đức Giêsu là “Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (x. Mt 16,16), lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy để được vào Nước Trời và sẽ được sống muôn đời (x Ga 6,44.47). + Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa : Lý do nhiều môn đệ bỏ Đức Giêsu là do họ không tin Người là Đấng Thiên Sai (x. Ga 6,29.40), không tin Người là Bánh Trường Sinh từ trời mà đến (x. Ga 6,32-38), không chấp nhận lời tuyên bố Người sẽ lấy Thịt mình mà cho họ ăn (x. Ga 6,52). + Nhóm Mười Hai : Đức Giêsu đã lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn (x. Mc 3,13) Sau khi cầu nguyện suốt đêm, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ (x. Lc 6,12-13). Nhóm Mười Hai này tượng trưng cho mười hai chi tộc Ít-ra-en Mới là Hội Thánh. Sau này các ông sẽ được ngồi trên mười hai tòa, mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en (x. Mt 19,28). Các ông sẽ được sự sống đời đời (x Mt 19,29), được Người ban “quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1; Lc 9,1), “Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2).

    C 67-69 : + Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ? : Trước mặc khải về bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu đòi Nhóm Mười Hai phải tỏ thái độ dứt khoát : Tin hay không tin, thể hiện qua việc tự do chọn ở lại với Thầy hay bỏ đi. + Ông Si-mon Phê-rô liền đáp : Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời” : Dù chưa hiểu hết ý nghĩa của Lời Chúa, nhưng Si-mon vẫn đại diện Nhóm 12 chọn ở lại làm môn đệ Thầy và khẳng định niềm tin Lời Thầy là sự thật và sẽ mang lại sự sống đời đời cho những ai đón nhận (x. Ga 5,24). + “Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” : Trước đó, Si-mon đã tuyên xưng : “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Ở đây, Si-mon lại công nhận Đức Giêsu là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x Ga 6,69) giống như sứ thần Gap-ri-en khi truyền tin đã cho Đức Ma-ri-a biết về trẻ Giêsu : “Vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ là thánh, sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).

    1. CÂU HỎI : 1) Tại sao dân Do thái và một số khá đông môn đệ đã bỏ không đi theo Đức Giêsu nữa ? 2) Môn đệ là những ai và Đức Giêsu có bao nhiêu môn đệ ? Tông đồ là ai và khác với môn đệ thế nào ? 3) Người Do thái và các môn đệ lấy làm gai chướng không chấp nhận ba điều nào của Đức Giêsu ? 4) Đức Giêsu đưa ra bằng chứng nào cho thấy Người có quyền nói ra những điều mầu nhiệm ấy ? 5) Trong Kinh thánh, thần khí mang bốn ý nghĩa nào ? 6) Đức Giêsu đã nói gì về thần khí và xác thịt nơi mỗi con người ? 7) Tại sao Đức Giêsu lại nói Lời Người chính là Thần khí và là Sự sống ? 8) Đức Giêsu biết rõ ai trong Nhóm Mười Hai là người không tin và sẽ phản nộp Người ? 9) Đức Giêsu chó biết đức Tin phát xuất từ đâu ? Ta phải làm gì để giúp người khác tin vào các mầu nhiệm được mặc khải ? 10) Lý do nào khiến nhiều môn đệ đã bỏ không còn theo Đức Giêsu ? 11) Nhóm 12 Tông đồ do Đức Giêsu tuyển chọn từ Nhóm nào ? Nhóm Tông đồ được Người hứa ban các quyền lợi nào và phải chu toàn sứ mệnh gì ? 12) Si-mon Phê-rô đại diện Nhóm Mười Hai trả lời thế nào khi được Đức Giêsu hòi có muốn bỏ đi hay không ? Ý nghĩa của câu trả lời đó thế nào ? 13) Si-mon đã tuyên xưng Đức Giêsu là ai ?

     II.  SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA : Ông Si-mon Phê-rô liền đáp : “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (x. Ga 6,68) :
    2. CÂU CHUYỆN : CHỌN TIN THEO CHÚA :

    Bài đọc một trong sách Gio-su-ê là một bản tường thuật mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Vào khoảng năm 1200 trước Công Nguyên, Dân Do Thái đã được Mô-sê dẫn đi ngang qua sa mạc trong 40 năm và đã đến được bờ sông Giô-đan, giáp ranh giới xứ Ca-na-an là Miền Đất Thiên Chúa đã hứa ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông đến muôn đời. Sau đó, Mô-sê trao quyền cho Gio-su-ê lãnh đạo dân tiếp tục đánh chiếm Hứa Địa Ca-na-an. Được Đức Chúa hỗ trợ, dân Ít-ra-en đã chiếm được miền đất này. Cuối cùng, Gio-su-ê đã triệu tập các chi tộc Ít-ra-en và các đầu mục trong Đại Hội tại Si-khem. Ông cho dân được tự do chọn lựa : Hoặc là tôn thờ yêu mến Một Đức Chúa duy nhất, hoặc tin theo các tà thần của chư dân. Dân được tự do chấp nhận hay từ chối Lề Luật, được chọn trung thành hay chống lại Giao Ước mà họ đã ký với Đức Chúa tại núi Khô-rép vùng Si-nai… Bấy giờ toàn dân thưa lại rằng : “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác ! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-Cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc mà chúng tôi đi ngang qua. Đức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mo-ri” (x Gs 24,14-28).

    1. THẢO LUẬN : 1) Người ta thường bị khủng hoảng đức tin là do những nguyên nhân nào ? 2) Một tín hữu bị khủng hoảng về đức Tin sẽ biểu lộ qua những thái độ và hành vi nào ? 3) Chúng ta phải làm gì để giúp một người đang bị khủng hoảng đức Tin sớm lấy lại đức Tin vào Chúa và Hội Thánh ?
    2. SUY NIỆM :

    1) Tự do chọn “tin hay không tin”:

    Như dân Ít-ra-en xưa, ngày nay mỗi tín hữu chúng ta cũng có quyền tự do chọn tin hay không tin vào Đức Giêsu để đức tin có giá trị giúp đón nhận ơn cứu độ của Chúa. Khi chịu phép Thánh Tẩy, các dự tòng cũng phải công khai chọn thái độ từ bỏ ma quỉ tội lỗi và tuyên xưng đức tin vào các chân lý đức tin như Hội Thánh dạy, trước khi được chủ sự ban bí tích đổ nước trên đầu hoặc dìm mình trong giếng nước rửa tội để được Thánh Thần tái sinh làm con Thiên Chúa.

    Trong đời sống thường ngày, các tín hữu chúng ta cũng cần khẳng định đức tin như dân Ít-ra-en xưa đã khẳng định niềm tin vào Đức Chúa như sau: “Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Đức Chúa, mà tôn thờ các tà thần của dân ngoại”. Sự chọn lựa tin theo Chúa đòi người tín hữu không ngừng hồi tâm sám hối để thanh luyện đức tin của mình.

    2) Cần dứt khóat chọn tin theo Chúa Giêsu:

    Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng đòi Nhóm Mười Hai Tông đồ phải dứt khoát lập trường trước sự thật về bí tích Thánh Thể do Người mặc khải: “Thịt Tôi thật là của ăn và Máu Tôi thật là của uống !”. Trước mầu nhiệm này, nhiều môn đệ đã phản đối và rút lui không còn đi theo Người nữa. Riêng ông Phê-rô khi được hỏi đã đại diện Nhóm Mười Hai để tuyên xưng đức tin: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Qua câu nói này, ông Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin dù chưa hiểu rõ nội dung đức tin vào mầu nhiệm bí tích Thánh Thể. Ông chỉ dựa vào thế giá của Thầy để tin lời Thầy dạy về bí tích này cũng như về các chân lý đức tin khác.

    Ngày hôm nay, Chúa Giêsu cũng hỏi mỗi người chúng ta khẳng định lập trường có trung thành tin theo Chúa hay không như vậy. Chúng ta có dám chọn ở lại với Thầy đang khi nhiều bạn bè khác đã bỏ Chúa qua việc bỏ dự lễ Chúa Nhật, hành xử theo ý riêng của mình chứ dựa vào lời Chúa và lề luật Hội Thánh nữa ? Chúng ta có dám trung thành với Chúa và với tuân giữ các chuẩn mực đạo đức đang khi nhiều bạn bè đã chọn lối sống dễ dãi theo tính xác thịt tội lỗi, chọn làm các điều phi pháp để kiếm được tiền bạc bất chính, chọn chối bỏ Chúa trong lý lịch để được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi và để có được địa vị xã hội ? Có lẽ phần đông chúng ta đã chọn thái độ lập lờ im lặng. Phải chăng thái độ đó đồng nghĩa với thái đô của ông Giuđa, đã được Tin Mừng Gioan hôm nay nói thêm: “Quả thật ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người” (Ga 6,64b). Tuy trong thâm tâm Giuđa đã không còn tin vào Thầy và đã rắp tâm phản bội Thầy, nhưng thực tế ông ta vẫn ở lại trong Nhóm Mười Hai để chờ cơ hội thuận tiện sẽ bán nộp Thầy ! (x. Ga 13,21-27; Mt 26,14-16).

    3) Đức tin vào bí tích Thánh Thể dựa trên tin vào Lời Chúa :

    Tông đồ Phê-rô tuyên xưng đức tin không phải do ông đã hiểu được mầu nhiệm bí tích Thánh Thể, nhưng chỉ vì tin “Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Ông tin Thầy là Đấng đã từng nhân bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no; Đã từng đi trên mặt biển và chỉ cần phán một lời là dẹp yên sóng gió biển khơi; Đã từng xua trừ ma quỷ ra khỏi nhiều người bị ám; Đã từng đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân và phán một lời là phục sinh kẻ chết… Chính nhờ đức tin vào quyền năng của Thầy Giêsu, mà Phê-rô và Nhóm Mười Hai đã tin cả những điều xem ra khó nghe, khó hiểu và khó chấp nhận về bí tích Thánh Thể:“Ai ăn thịt và uống máu Tôi sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,54a).

    4) Cần làm gì để gia tăng đức tin vào bí tích Thánh Thể? :

    Đây là một mầu nhiệm đức tin, vượt trên sự hiểu biết khả giác của lòai người, nên để tin vào bí tích này, mỗi tín hữu chúng ta cần có ba điều kiện như sau :

    Một là phải thành tâm lắng nghe và suy niệm Lời Chúa như lời thánh Phaolô: “Có đức Tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố Lời Đức Kitô” (Rm 10,17). Do đó, để tin vào mầu nhiệm trong bí tích Thánh Thể, chúng ta cần lắng nghe Lời Chúa khi tham dự thánh lễ hoặc dự các buổi họp nhóm học sống Lời Chúa, rồi còn phải “suy niệm Lời Chúa trong lòng” noi gương Đức Ma-ri-a xưa (x Lc 2,51).

    Hai là phải xác tín vào Lời Chúa Giêsu noi gương ông Phêrô trong Tin mừng hôm nay:“Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng : Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).

    Ba là phải ý thức đức tin là ơn Chúa ban như lời Đức Giêsu: “Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Ga 6,65). Do đó, để tin vào mầu nhiệm Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể, chúng ta phải năng cầu xin Chúa Giêsu tăng thêm đức tin cho mình, như người cha có đứa con bị quỷ ám đã thưa với Đức Giêsu:“Tôi tin ! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24).

    1. LỜI CẦU :

    LẠY CHÚA GIÊSU. Nhiều lần khi xin các ơn phần xác lâu ngày chưa được nhậm lời, con đã nản lòng thất vọng rồi Chúa, bỏ dự lễ và không còn tin tưởng cầu xin Chúa nữa. Tin mừng hôm nay cho thấy: Chúa đã ngán ngẩm trước thái độ vụ lợi của đám đông dân chúng và các môn đệ. Có lẽ hôm nay Chúa cũng đang ngán ngẩm khi thấy con chỉ lo tìm kiếm lợi lộc tiền bạc phần xác, và dửng dưng những lơị ích thiêng liêng phần hồn. Xin giúp con “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

    Lạy Chúa. Mỗi lần tham dự thánh lễ hay chầu Thánh Thể, xin cho con luôn xác tín vào Lời Chúa để tin vững vàng Chúa đang hiến thân dưới hình bánh rượu trên bàn thờ, dù các giác quan của con không cảm nhận được. Nhờ tin vào Lời Chúa mà con sẽ siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ sốt sắng, để có sự sống thần linh của Chúa, là bảo đảm cho cuộc sống vĩnh hằng đời sau, như lời Chúa hứa trong Tin Mừng hôm nay: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống, để ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời…. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,51.54).

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 20 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 20 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa:  Cn. 9, 1-6; Ep. 5, 15-20; Ga. 6, 51-58

    ——-

    Mục lục

    1. Ta hãy lấy đức tin bù lại  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)
    2. Để Được Trường Sinh(Lm. Jos. DĐh, Gp. Xuân Lộc)
    3. Nguồn sống  (Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)
    4. Lương thực linh hồn (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)
    5. Bí tích Thánh Thể: biểu lộ tuyệt vời của đức tin và tình yêu (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi)
    6. Bữa tiệc Thánh Thể (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)
    7. Suy niệm Chúa Nhật 20 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)
    8. Suy niệm Chúa Nhật 20 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)
    9. Tôi là Bánh Hằng Sống (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)
    10. Hồng ân Thánh Thể  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)
    11. Đắn đo  (Trầm Thiên Thu)
    12. Hãy lo tìm kiếm đức khôn ngoan  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
    13. Thánh Thể  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)
    14. Bánh Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
    15. Bánh Hằng Sống (Lm. Nguyễn Thái)
    16. Tiệc Thánh Thể (Lm. Minh Trân, CRM)
    17. Bánh ban sự sống (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
    18. Suy Lời Chúa, Sống Sự Đời (Lm. Bosco Dương Trung Tín)
    19. Chúa cho con tất cả (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
    20. Mầu nhiệm đức tin (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
    21. Thánh Thể, nhiệm tích vô cùng cao quý!  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)
    22. Mở hồn ra với Chúa  (JM. Lam Thy, ĐVD)
    23.  Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời  (Fx. Đỗ Công Minh)
    24.  Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 20 TN_B  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)
    25. Chúa Nhật 20 Thường niên_B.  (Lm. Antôn)

     

    Mục lục

    1. Thịt và Máu Chúa  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Thịt Ta là của ăn  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Hạnh phúc đời đời  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    4. Ăn Thịt và Uống Máu  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    5. Cho thì có phúc  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    6. Bánh Thánh Thể  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    7. Chúa Nhật 20 Thường Niên_B  (Lm. Antôn) 

    8. Sự sống  (Trầm Thiên Thu)

    9. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

    10. Tôi là bánh (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

    11. Đón nhận Thánh Thể để được biến đổi nên giống Chúa  (Lm. Đan Vinh)

    12. Lương thực trường sinh (Huệ Minh)

     

     

    TA HÃY LẤY ĐỨC TIN BÙ LẠI

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
    .

    Trong bốn Chúa nhật liên tiếp, Lời Chúa trong Phụng vụ đều mang nội dung chính là giáo huấn về Bí tích Thánh Thể. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Bí tích này đối với đời sống của Kitô hữu. Công đồng Vatican II đã khẳng định: “Thánh Thể là nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống Kitô hữu” (GH 11). Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo cũng tiếp nối giáo huấn của Công đồng để tái xác quyết điều này (x. SGLGHCG số 1324). Tuy vậy, không ít Kitô hữu hiểu và ý thức được điều này. Trong một bài chia sẻ về Bí tích Thánh Thể, Phó tế Mike Houghton cho biết, theo kết quả một cuộc thăm dò, có đến trên 50% tín hữu Công giáo không tin sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Điều này dễ hiểu, vì “đây là màu nhiệm đức tin”. Con người không thể dùng lý trí mà chứng minh sự hiện diện của Chúa trong Hình Bánh và Hình Rượu. Chính vì vậy, trong bài ca kính Mình Thánh, chúng ta hát: “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì” (Ca kính Thánh Thể – Tantum ergo).

    Những đoạn Tin Mừng được đọc trong bốn Chúa nhật (từ Chúa nhật 16 đến Chúa nhật 20 Thường niên, năm B) đều được trích từ Tin Mừng Thánh Gioan, và khởi đi từ việc Chúa Giêsu làm “dấu lạ” cho bánh hóa ra nhiều. Từ năm cái bánh lúa mạch và hai con cá của một bé trai mang theo, Chúa đã nhân ra nhiều và nuôi năm ngàn người ăn no nê dư thừa, không kể phụ nữ và trẻ em. Việc nhân bánh ra nhiều được những người đương thời đón nhận nhiều cách khác nhau. Trước tình trạng này, Chúa Giêsu đã tranh luận với người Do Thái về đề tài “bánh hằng sống”. Khởi đi từ bánh vật chất và manna trong hành trình sa mạc, Chúa Giêsu đã từng bước mạc khải cho họ về Bánh Trường sinh và quả quyết: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Nếu chỉ căn cứ vào ngôn từ, đây quả là một điều mạo phạm và kiêu ngạo. Người Do Thái đã lập tức phản ứng trước lời tuyên bố này: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”. Với những lời lẽ khôn ngoan và đầy uy quyền, Chúa Giêsu đã chứng minh cho họ sự khác biệt giữa manna và Bánh Hằng Sống mà Người sẽ ban. Tổ tiên của người Do Thái đã ăn manna và đã chết. Những ai ăn Bánh Hằng Sống là Thịt của Người thì sẽ được trường sinh. Nhờ kết hợp với Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, các tín hữu được hiệp thông trong tình yêu viên mãn của Ba Ngôi  Thiên Chúa.

    “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”. Đây cũng là vấn nạn được đặt ra, mỗi khi chúng ta nói về Bí tích Thánh Thể. Bởi lẽ điều mà chúng ta nhìn thấy sau khi truyền phép, không là gì khác một tấm bánh và một ly rượu bình thường. Tuy vậy, Thiên Chúa quyền năng đã sáng tạo mọi sự từ hư vô, có lẽ nào Người không làm cho bánh hóa thành Thịt và rượu hóa thành Máu của Người? Như thế, sự hiện của Chúa Giêsu chỉ có thể được đón nhận bằng đức tin và lòng yêu mến. Tin vào quyền năng vô biên của Chúa và vào tình thương của Người. Tình  thương ấy đã thể hiện qua việc trao ban chính thân mình làm của ăn của uống cho con người. Chính vì vậy, “ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì”. Nếu giác quan thể lý bất lực trước huyền nhiệm Thánh Thể, thì đức tin lại khẳng định với chúng ta: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).

    Thánh Thể là bữa tiệc Chúa dọn sẵn cho chúng ta. Tác giả sách Châm ngôn đã diễn tả bữa tiệc chính Đức khôn ngoan thết đãi những ai thiện chí và thành tâm kiếm tìm Chúa. Ai đến với bàn tiệc này sẽ được hạnh phúc no nê (Bài đọc I). Người Kitô hữu vừa cung kính tôn thờ Thánh Thể, vừa sống ý nghĩa của Thánh Thể trong cuộc đời. “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thày”. Đó là lời căn dặn của Chúa Giêsu khi Người lập Bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đã trao ban chính bản thân mình cho chúng ta. Chúng ta cũng phải noi gương Người để sống tinh thần chia sẻ, cảm thông và liên đới với tha nhân, nhất là những người nghèo khổ cô đơn và bất hạnh. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông thư “Mane Nobiscum Domine – lạy Chúa, xin ở lại với chúng con” đã viết: “Mỗi lần ta dự phần vào Mình và Máu Người, chúng ta đã thực sự gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta không thể giữ lại cho riêng mình niềm hân hoan mình đã cảm nghiệm. Việc gặp gỡ riêng tư với Chúa Kitô cách thường xuyên được tăng triển và đào sâu trong Bí tích Thánh Thể khơi lên trong Giáo Hội và nơi mỗi tín hữu một lời mời gọi khẩn thiết cho việc làm chứng và rao giảng Tin Mừng” (Mane Nobiscum Domine, số 24).

    Thánh Thể vừa nuôi dưỡng đức tin của chúng ta, vừa giúp chúng ta canh tân đổi mới để nên giống Chúa. Sự canh tân này cần có nỗ lực cộng tác từ phía chúng ta. Thánh Phaolô khuyên mọi người hãy tận dụng thời gian hiện tại, từ bỏ mọi nết xấu như chơi bời say sưa, rượu chè trụy lạc. Hãy dùng thời gian để cầu nguyện và tôn vinh Chúa bằng những bài thánh ca cùng Thánh vịnh. Đây chính là một hình ảnh lý tưởng của cộng đoàn tín hữu, được thấm nhuần tâm tình cầu nguyện và tình bác ái huynh đệ. Bí tích Thánh Thể là mối dây liên kết mọi người trong tình hiệp nhất yêu thương, vì mọi người đều được nuôi dưỡng bằng một lương thực thiêng liêng là thịt và máu Đức Kitô.

    “Ta không được để đời mình xa lìa Thánh Thể. Làm như thế, ta sẽ suy nhược. Người ta hỏi : ‘Các sơ tìm đâu ra sức mạnh và niềm vui để phục vụ ? ‘ – Trong Thánh lễ không phải chỉ có việc rước lễ, mà thánh lễ còn làm dịu đi cơn đói của Chúa Giêsu. Người nói : ‘Hãy đến với Ta’. Người đói chính linh hồn ta »  (Mẹ Têrêsa Calcutta – được trích trong Youtcat, Tr. 176).

    Về mục lục

    .

    ĐỂ ĐƯỢC TRƯỜNG SINH

    Lm. Jos. DĐh, Gp. Xuân Lộc

    Cơm áo gạo tiền, là nhu yếu phẩm bồi bổ thân xác; yêu thương, tha thứ, là lương thực nuôi hạnh phúc, đó là sự thật. Tìm kiếm của ăn thức uống, chăm chỉ làm việc, để sống và sống trọn nghĩa vẹn tình, không bao giờ là lời nhắc nhớ thừa dư. Các em bé làm sao hiểu: thương cho roi cho vọt ? Người trẻ đâu dễ dàng để đối phó với thực tế: tình cay đắng biết sống sao đây ? Người khôn ngoan, tài giỏi, chắc gì đã hiểu đầy đủ lời tiền nhân: một sự nhịn, chín sự lành ! Người kitô hữu chúng ta mấy ai sống được lời giáo huấn của Đức Giêsu: “nếu ai vả má này hãy đưa má bên kia cho nó”. (Mt 5, 39). Cũng vậy, đám đông năm xưa họ “phải lắc đầu” trước lời quả quyết: “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn Bánh này thì sẽ sống đời đời”. (Ga 6, 51).

    Kinh nghiệm của cha ông hướng dẫn con cháu trong cư xử: cơm sôi bớt lửa, hoặc mềm nắn, rắn buông, được gọi là khôn ngoan trong giao tiếp ở đời. Khi nói về bánh hằng sống, Đức Giêsu quả quyết hơn: “và Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta để cho thế gian được sống”. (Ga 6, 52). Ngày nay, chẳng ai “ăn tươi nuốt sống”, hơn nữa, người ta dễ dàng nhận biết của ăn nuôi xác và nuôi hồn không giống nhau. Bánh nuôi linh hồn, thứ “Bánh” mà tình yêu và niềm tin, giúp người tín hữu hiểu “ai ăn” hoặc đón nhận “Bánh Giêsu”, người ấy sẽ có Chúa, có đủ sức mạnh của Chúa. Đâu phải tự nhiên mà người xưa nói: dù là vua chúa hay dân cày, kẻ nào được yêu, được bình an, người đó hạnh phúc nhất. (Goethe). Đâu phải cứ có tiền, có quyền, là có sức khoẻ, cũng đâu phải cứ nghèo là do không thông minh, hoặc không bằng cấp là khổ ?

    Con người tự nhiên là “tham sống sợ chết”, biết bao thầy thuốc đã thao thức và tìm kiếm “linh dược” để hy vọng được sống khoẻ, sống thọ, cũng vô vọng. Kitô giáo chúng ta lưu ý con cháu: sống như thế nào để không phải hối tiếc, cuộc sống dài ngắn không phải là vấn đề, quan trọng là hành trình làm người của bạn có hạnh phúc không ? Đức Giêsu không nói với đám đông tìm kiếm thuốc trường sinh ở các nước văn minh, Ngài quả quyết: “Ta bảo thật các ngươi, nếu các ngươi không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi”. (Ga 6, 53). Để được yêu thương, được hạnh phúc, được trường sinh bất tử, ai cũng có cơ hội, giầu sang hoặc đói nghèo, tri thức hoặc bình dân, miễn sao cuộc sống của ta luôn có “Chúa Giêsu”.

    Xã hội thời nào cũng có người tài đức, văn võ song toàn, nhưng kẻ gian ác, tâm địa xấu xa, vẫn đang trà trộn, gây đau khổ cho nhiều gia đình, đúng là ai cũng cần được yêu thương, cần có Chúa hiện diện. Người Việt chúng ta có câu: mạng sống quý hơn đống vàng. Phương Tây thì họ nói: thà làm con chó biết sủa hơn là được làm con sư tử bằng đá. Đức Giêsu cùng các môn đệ năm xưa đã hết tình, hết mình, trải lòng với đám đông về thứ lương thực nuôi hồn, bảo đảm cho sự sống đời. Nay, hiện diện trong giáo hội, nơi bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, Đức Giêsu còn tiếp tục làm cho tình yêu Chúa sống động nơi mỗi người tín hữu: “ai ăn Thịt và uống Máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Ta sống nhờ Cha thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta”. (Ga 6, 56-57).

    Để được khoẻ mạnh, để được hạnh phúc, để được trường sinh, không phải là ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc, không phải chỉ là hy vọng, mà là xác tín về tình yêu được Đức Giêsu diễn tả nơi đau khổ thập giá và phục sinh. Cũng không biết vì vô tình hay chỉ có ý kích thích sự say mê về sức khoẻ mà cha ông ta có câu: ăn gì bổ nấy ? Ăn uống ngủ nghỉ điều độ sẽ bổ dưỡng thân xác, thì người Kitô hữu “ăn Chúa”, đón nhận Chúa, hẳn sẽ bổ khoẻ linh hồn. Sự sống đời đời hay trường sinh bất tử, mãi mãi xa lạ, khó hiểu, đối với ai từ chối Đức Giêsu, dù người đó tài giỏi, địa vị chức danh, bổng lộc nhiều. Để sống và sống hạnh phúc, người ta phải đầu tư, dấn thân phục vụ, biết buông bỏ, xứng hợp tình yêu Chúa.

    Để xua tan sự kỳ thị giữa giầu nghèo và sự chênh lệch giữa khôn ngoan khờ dại, người ta rất cần đến kỷ luật bản thân, khiêm tốn học hỏi. Mọi người sẽ giầu có bởi tinh thần yêu thương, phục vụ, và sẽ túng nghèo bởi những gì họ từ chối. Để được trường sinh, tâm hồn bạn phải có Thầy Giêsu hiện diện, để nên vẹn nghĩa thuỷ chung, tương quan xã hội không thể thiếu tình yêu và sức sống của Đấng đã ban Thịt Máu làm lương thực nuôi hồn. Cha ông chúng ta mời gọi con cháu sống tình sống nghĩa: ai ơi cứ ở cho lành, tu thân tích đức để dành về sau. Chúa Giêsu không phải là “của ăn mới lạ” được ban phát, mà là sự hiện diện không nhạt phai để mọi người nhận ra sự “bất tử” như Ngài nói: “Vì Thịt Ta thật là của ăn, và Máu Ta thật là của uống”.

    Về mục lục

    .

    NGUỒN SỐNG

    Bông hồng nhỏ

     “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được.” (Ga 6, 52). Đó là điều mà người Do Thái tranh luận sôi nổi với nhau sau khi nghe Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”(Ga 6,51). Quả là khó mà tin rằng một người bình thường có thể cho người khác ăn thịt mình.

    “Truyện một tâm hồn” có kể lại việc chị Céline hỏi bé Têrêsa (Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu) rằng: “Làm sao Chúa có thể ở trong một tấm bánh nhỏ xíu như thế ?” Dù còn rất nhỏ tuổi, bé Têrêsa cũng mau mắn trả lời: “Có gì khó, vì chúa là Đấng Toàn Năng mà.” Chị Céline hỏi tiếp: “Toàn Năng nghĩa là gì ?” “Là làm được bất cứ những gì Ngài muốn!” Câu trả lời quá tuyệt vời. Chúa Giêsu là Đấng Toàn Năng và cũng là Đấng yêu thương. Nếu người Do Thái cảm thấy không thể chấp nhận được điều Thầy Giêsu mạc khải, không thể tin được Đức Giêsu lại cho họ ăn thịt của chính mình thì một tâm hồn trẻ thơ như bé Têrêsa lại được Chúa mạc khải cho hiểu. Trong mắt người Do Thái lúc bấy giờ, Đức Giêsu chỉ là một anh thợ mộc bình thường, không thể là Đấng từ trời xuống. Và như thế, họ đã tự đóng khung trong cái nhìn hạn hẹp và một tấm lòng không thể mở ra để được “Thiên Chúa dạy dỗ.” (x.Ga 6,45).

    Đức Giêsu là người thật và là Con Thiên Chúa, là Đấng được Thiên Chúa sai đến để cứu độ nhân loại. Hôm nay Người mạc khải cho người Do Thái biết rằng Ngài chính là “ bánh từ trời xuống”, là chính nguồn sống để “Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Ta đã được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng và Chúa đã thánh hóa tâm hồn ta, làm cho trái tim biết mở ra để yêu thương anh em. Ta đã hạnh phúc biết bao khi được Chúa tình yêu ngự vào tâm hồn. Ta được hạnh phúc hơn người Do Thái ngày xưa vì hôm nay ta được lớn lên trong lòng Giáo hội, được thừa hưởng đức tin tinh tuyền và thánh thiện. Còn họ, họ được gặp và nghe Chúa Giê-su nói nhưng họ đã chỉ nhận biết một Đức Giê-su rất đỗi bình thường, một người thợ, một người bình dân. Có một lần ta mời người bạn thân cùng đi lễ, thấy ta lên rước lễ thì bạn thắc mắc. Lời bạn như giúp ta phản tỉnh lại: “Bánh Thánh đó có thật là Chúa Giê-su không?”. Giáo lý ta thuộc lòng rồi nhưng Đức tin của ta đang được thử luyện. Bao nhiêu năm nay, ta cũng rước lễ nhưng tại sao đến bây giờ câu hỏi của bạn lại khiến ta bối rối đến vậy? Nhìn lại thái độ của ta khi đến với Thánh Thể, ta chợt giật mình. Ta đã từng rước lễ chỉ như một thói quen. Ta đã đón Chúa Giê-su vào nhà mình với thái độ nào? Hân hoan, vui mừng, phấn khởi hay chỉ lãnh đạm thờ ơ? Nếu ta thờ ơ, ta đã biến mình trở nên xa lạ với Chúa. Chúa là vị khách quý nhưng đã không được ta đón rước và tiếp đãi tử tế. Có lẽ nào ta không tin Thánh Thể là chính Chúa?

    Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, con tin Chúa ngự thật nơi tấm bánh trắng tinh và Chúa đã ban chính Thịt Máu mình nuôi sống linh hồn con. Mỗi lần con rước Chúa ngự vào lòng, xin cho con biết thân thưa và chuyện trò tâm tình cùng Chúa vì Chúa là Đấng đã yêu con trước. Xin thêm sức cho con và củng cố đức tin cho con vì nơi Thánh Thể cả thiên tính và nhân tính của Chúa đều được ẩn dấu, và con cần dâng hy lễ đời con lên Chúa để được tháp nhập vào Thánh Thể Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    LƯƠNG THỰC LINH HỒN

    Anna Cỏ May

    Chúng ta thường có thói quen thích gì thì giữ lại, không thích là bỏ đi, hay quý mến ai thì vồn vã, không quý thì làm ngơ. Và tin việc gì thì làm, không tin là chối từ. Những người Do thái sau khi nghe Chúa Giê-su nói rằng chính Ngài là của ăn thì họ đã tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể cho ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6,52). Sự cứng lòng của họ có làm cho Chúa Giê-su ngừng giảng dạy không?

    Không, Chúa Giê-su không chùn bước vì trong họ vẫn còn có vài người tiếp tục lắng nghe Ngài. Ngài gọi mời những ai đang tìm kiếm sự sống và có lòng tin vào Ngài thì hãy đến mà ăn bánh trường sinh. Ngoài lương thực chính là Mình và Máu Ngài thì không còn một thứ lương thực nào đem lại sự sống đời đời cho con người. Ai ăn thịt và uống máu Ngài sẽ được sự sống muôn đời, sự sống vào ngày sau hết và được luôn ở trong Ngài. Ngài luôn cho con người cơ hội nghe – sống – thưởng thức sự sống trong Ngài (x.Ga 6,53 -56).

    Lời rao giảng về lương thực trường sinh của Chúa Giê-su vẫn âm vang cho đến ngày hôm nay và muôn đời. Đó là lời tình yêu tha thiết dành cho con người. Ngày hôm nay, chúng ta đã và đang nghe những lời ấy như thế nào? Xầm xì to nhỏ hay tranh luận sôi nổi mỗi ngày? Bỏ đi hay hờ hững? Và thái độ khi đến chung hưởng sự sống với Ngài là gì? Theo thói quen hay bị ép buộc? Theo phong trào anh rước lễ thì tôi cũng rước lễ hay phong cách thể hiện tôi là người có đạo khi đi lễ?… Không ai nhìn thấy những thái độ của mình bằng chính bản thân mình. Nếu chúng ta mang thái độ như vậy khi tham dự Thánh lễ, đặc biệt là rước Mình và Máu Chúa thì Thánh Lễ không đem lại sự sống cho linh hồn chúng ta. Chúng ta lắng nghe lời mời gọi của Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”(Ga 6,51).

    Lạy Chúa, thật là quý giá cho chúng con khi chúng con được sống trong tình yêu của Chúa. Thế nhưng, chúng con lại cứ mải mê vui cuộc sống thế gian mà không tìm sự sống vĩnh cửu trên Nước Trời. Chúa đã biết rõ tình trạng linh hồn chúng con. Xin Chúa hãy nói, hãy làm trong chúng con như Chúa đã nói và làm cho các Thánh. Nhờ đó, chúng con được xứng đáng hưởng sự sống trong Nước Trời. Amen!

    Về mục lục

    .

    BÍ TÍCH THÁNH THỂ: BIỂU LỘ TUYỆT VỜI CỦA ĐỨC TIN VÀ TÌNH YÊU

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Lương thực hằng ngày vẫn là điều tối quan trọng để con người được sống đời tạm bợ ở trần gian này. Không có của ăn, con người sẽ  đói, sẽ chết. Do đó, trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ và nhân loại :” Xin cho chúng con lương thực hằng ngày”. Tại sao Chúa lại nhắc nhớ chúng ta phải xin cơm bánh hằng ngày ?

    Bởi vì lương thực chúng ta xin, chúng ta cặm cụi làm ăn, kiếm tìm, nhưng chính Chúa mới là Đấng ban cho chúng ta! Tuy nhiên, Chúa nói:” Người ta sống chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn bởi Lời do miệng Chúa phán ra “.

    Vâng, con người sống trong thế giới, trong xã hội, nơi trần gian: banh, cơm, gạo, lương thực có giới hạn vô cùng. Bao lâu Chúa còn cho chúng ta sống nơi thế gian, nhu cầu lương thực vẫn là ưu tiên số một cho mỗi người. Bánh hay lương thực cơm,gạo Chúa ban, con người hưởng dùng và dù con người có ăn, ít ăn nhiều, ăn no, ăn tới đâu đi nữa,rồi một lúc nào đó, con người cũng phải nhắm mắt xuôi tay. Manna, chim cút Chúa ban cho dân Do Thái trong sa mạc đi về đất hứa do Môsê kêu khẩn Chúa…Dân Do Thái nhặt ăn hằng ngày nhưng họ vẫn phải chết vì đó chỉ là thứ bánh tạm bợ, thịt tạm bợ Chúa ban cho dân Do Thái ăn cho qua ngày, qua tháng hầu có sức tiến vào đất hứa. Bánh, hay lương thực chúng ta dùng ở đời này không đủ sức mạnh để giúp chúng ta sống hoài, sống mãi. Hôm nay, Chúa quả quyết :” Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.Và, bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống “. Người Do Thái khi nghe Chúa nói thì khó chịu và không tin. Nhưng chính Mình Thánh Chúa mới làm được việc này :” mới ban cho con người sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời “. Chúa để lại cho nhân loại, cho con người, cho chúng ta chính Mình Máu của Người. Bí tích Thánh Thể là bí tích tình yêu, bí tích ban sự sống…Mỗi ngày khi chúng ta tham dự thánh lễ, linh mục sẽ cử hành Bí tích ThánhThể, Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Thịt Máu của Người.Chúng ta được mời gọi chia sẻ Mình Máu Thánh Người và chính nơi bàn tiệc thánh, chúng ta lãnh nhận sự sống và ơn cứu độ.Bởi vì, Chúa đã phán :” vì Thịt tôi thật là của ăn.Máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy “. Lời xác quyết của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu được tình yêu vô biên của Chúa. Thật thế, Chúa yêu nhân loại, yêu thương con người, yêu thương chúng ta không chỉ bằng lời nói suông, nhưng Người đã cụ thể bằng chính cái chết tự hiến của Người trên thập giá để cứu độ con người, cứu rỗi chúng ta. Người đã để lại cho nhân loại bí tích Thánh Thể là Mình Máu Thánh của Người để nuôi sống loài người, nuôi sống chúng ta cả hồn lẫn xác. Do đó, bí tích Thánh Thể là biểu hiệu lớn lao nhất của đức tin và tình thương mà Lòng Thương Xót và nhân từ của Chúa ban tặng cho con người, cho chúng ta. Thánh Phaolô đã diễn tả đức tin và đức ái chúng ta phải có khi tiến lên dự Tiệc Thánh :” Chén chúc tụng chúng ta dùng trong bữa tiệc của Chúa, chính là sự thông hiệp vào Máu Chúa Giêsu và tấm bánh chúng ta bẻ ra, chính là sự thông hiệp vào Mình Thánh Chúa Kitô.Vì chỉ có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều nhưng cũng chỉ là một thân xác bởi vì chúng ta thông dự vào cùng một tấm bánh “ ( 1 Co 10, 16-17 ).

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con tin một cách sâu xa lời quả quyết của Chúa :” Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống.Ai ăn thịt Ta và uống Máu Ta thì sống trong Ta và Ta sống trong kẻ ấy “.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1. Lương thực cần thiết làm sao đối với con người ?
    2. Manna do ai ban ?
    3. Người Do Thái khi nghe Chúa quả quyết về Mình Máu Thánh của Người ban sự sống vĩnh cửu, họ có tin không ?
    4. Bánh Trường Sinh là gì ?

    Về mục lục

    .

    BỮA TIỆC THÁNH THỂ

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A.  DẪN NHẬP.

              Ăn uống là nhu cầu khẩn thiết cho con người, nó cần thiết đến nỗi người ta phải nói :”Dĩ thực vi tiên”. Trong cuộc lữ hành của dân Do thái đi về đất hứa, Thiên Chúa đã ban manna cho họ để làm lương thực hằng ngày trong suốt 40 năm ở hoang địa. Tuy manna ấy là vật từ trời xuống nhưng chỉ là bánh vật chất nuôi thể xác, không có sức đem lại sự sống vĩnh cửu cho người ăn. Cha ông họ đã ăn manna ấy nhưng đã chết.

              Đức Giêsu hứa sẽ ban cho người Do thái và cho chúng ta hôm nay một thứ manna khác từ trời xuống có sức đem lại sự sống đời đời cho người ăn. Bánh ban sự sống trường sinh ấy là Mình và Máu Đức Kitô. Ai ăn thịt và uống máu Đức Kitô tức là lãnh nhận bí tích Thánh Thể, thì ở đời này sẽ được kết hiệp mật thiết với Ngài, được tham dự vào đời sống thần linh của Ngài, và trong ngày sau hết sẽ được sống lại.

              Thánh Thể là bàn tiệc Thiên Chúa dọn sẵn cho con người, có đủ mùi vị thơm ngon. Chúa mời mọi người tới tham dự.  Chúng ta hãy là người khôn ngoan không những biết tìm của ăn vật chất để nuôi thân, nhưng còn biết tìm lương thực thần linh có sức bổ dưỡng và đem lại cho linh hồn sự sống đời đời.

    B.  TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

              + Bài đọc 1 : Cn 9,1-6.

              Đây là một ngụ ngôn trong sách Châm ngôn. Khôn ngoan đây là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, hay nói cách khác, đó là chính Thiên Chúa. Khôn ngoan được nhân cách hóa như một Mệnh phụ hào phóng dọn một bữa tiệc thịnh soạn và kêu mời mọi người đến dự. Những ai sẽ được mời ? Đó là những kẻ nghèo và tất cả những ai sẽ chấp nhận hoán cải khỏi những lầm lạc, họ là những kẻ khôn ngoan chứ không như những kẻ khờ dại.

              Những món ăn được dọn để dùng có giá trị tượng trưng : nhằm trình bầy những giáo huấn Thiên Chúa dạy để mọi người đem ra thực hành hầu cho cuộc sống được thành đạt mỹ mãn. Như vậy, hình tượng về sự khôn ngoan nói trên sẽ được thực hiện bởi Đức Giêsu.

              + Bài đọc 2 : Ep 5,15-20.

              Đoạn thư này cũng trùng hợp với hai bài Cựu ước và Tân ước  vì cùng nói đến sự khôn ngoan. Trong đoạn thư này, thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô không nên làm uổng phí thời giờ mà phải tận dụng để sống khôn ngoan theo Thần Khí hướng dẫn và thúc đẩy, chứ đừng sống như những kẻ khờ dại.

              Đây là lời khích lệ mời gọi tỉnh thức : chúng ta đang sống trong một thế giới đầy đam mê dâm loạn. Với tư cách là một Kitô hữu khôn ngoan, chúng ta hãy tránh xa những điều phù phiếm ấy mà hướng lòng về Chúa và điều chỉnh cuộc sống theo thánh ý Ngài.

              + Bài Tin mừng : Ga 6,51-56.

              Đây là cao điểm của bài diễn từ của Đức Giêsu về bánh ban sự sống. Ngài quả quyết rằng  chính Ngài là nguồn mạch sự sống trường sinh và làø bánh ban sự sống từ  trời xuống.

              Ngài giáo dục dân chúng theo cách tiệm tiến : Chúa nhật 18 Ngài chỉ khẳng định  mình là Bánh hằng sống từ trời xuống. Chúa nhật 19 vừa qua Ngài nói rõ hơn :”Bánh Ta sẽ ban chính là Thịt Ta đây”(Ga 6,51). Hôm nay Đức Giêsu hướng thính giả về bí tích Thánh Thể : Ngài nói rõ hơn về Bánh ban sự sống, đó là Thịt và Máu Ngài:”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời”

              Đức Giêsu còn nhấn mạnh thêm : Ai muốn Thiên Chúa ban cho sự sống thật, kẻ đó phải lấy đức tin mà lãnh nhận mình Ngài đã hiến tế và máu Ngài đã đổ ra, thực sự hiện diện trong Thánh Thể. Ngài ban chính Thịt và Máu Ngài làm của ăn của uống cho loài người. Nếu chúng ta biết rước mình máu Ngài thì hiệu quả sẽ là:”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời… thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”.

    C.  THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

              Bữa tiệc Thánh Thể

              Tiếp nối Tin mừng của hai Chúa nhật trước nói về sự khác biệt giữa của ăn vật chất mau hư nát và Bánh Hằng sống từ trời xuống nuôi linh hồn loài người, trong bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu khẳng định một cách quyết liệt Bánh hằng sống từ trời đó chính là Thịt và Máu Ngài và hứa sẽ ban Bánh hằng sống đó trong phép Thánh Thể.

    I.  LỜI KHẲNG ĐỊNH CỦA ĐỨC GIÊSU.

    1. Lời khẳng định tiệm tiến.

              Đức Giêsu không nói ngay đến Bánh hằng sống là Mình Máu Ngài được ban trong phép Thánh Thể, mà Ngài còn dọn lòng dân chúng  để họ có thể chấp nhận chân lý cao siêu mà Ngài muốn dạy dỗ họ. Trước tiên, Đức Giêsu phân biệt hai thứ bánh : bánh vật chất nuôi xác tức Manna trong Cựu ước và bánh thiêng liêng nuôi hồn tức là Thánh Thể Chúa Kitô trong Tân ước. Tiếp đến Ngài nói đến việc Ngài ban mình làm Bánh hằng sống từ  trời xuống và kêu gọi người ta ăn bánh đó. Hôm nay Ngài khẳng định Bánh Hằng Sống đó chính là Thịt và Máu Ngài và hứa Bánh hằng sống ấy trong phép Thánh Thể.

    1. Lời khẳng định quyết liệt.

              Hôm nay Đức Giêsu dọn lòng dân chúng tiến dần đến tột điểm cùng đích của Ngài, đón nhận một mầu nhiệm thẳm sâu, Ngài cho biết rằng Bánh sự sống chính là Thịt và Máu của Ngài khi Ngài phán:”Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống”(Ga 6,55). Phép Thánh Thể là một bữa tiệc hy lễ trong đó chúng ta thực sự “ăn thịt và uống máu Chúa”. Lời tuyên bố vừa được nói ra thì nhiều người phản đối, ngờ vực, bỏ đi. Ai lại làm một việc kinh tởm như vậy ? Nhưng Đức Giêsu chẳng những không làm nhẹ bớt ý nghĩa mà lại nói cách rõ rằng hơn, không có thể hiểu một cách khác  được :”Thật, Ta bảo thật các ngươi : nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong mình. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết”(Ga 6,53-54).

    1. Phản ứng từ phía dân chúng.

              Khi nghe lời tuyên bố của Đức Giêsu : Thịt Ngài là của ăn, máu Ngài là của uống cho sự sống muôn đời thì người Do thái đã phản ứng rất mạnh:”Làm sao ông có thể lấy thịt máu của ông cho chúng tôi ăn được”?(Ga 6,52) ? “Ông này chẳng phải ông Giêsu, con ông Giuse đó sao ? Cha mẹ ông ta , chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói:”Ta từ trời xuống”(Ga 6, 42).

              Trước phản ứng dữ dội của họ, Đức Giêsu vẫn không rút lời, không cải chính, nhưng còn giải thích và khẳng định thêm:”Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sống muôn đời và Ta,  Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết”.  Hơn nữa con người còn đi vào sự kết hiệp mật thiết với Ngài:”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở lại trong Ta và Ta ở lại trong kẻ ấy”(Ga 6, 56). Trước mạc khải này, nhiều môn đệ nói:”Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi”(Ga 6,60). Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui không còn đi với Ngài nữa.

    1. So sánh Manna xưa và nay.

              Nhân dịp người Do thái gợi ra câu chuyện Manna, Đức Giêsu lại dùng ngay câu chuyện ấy để so sánh và mạc khải về Bánh bởi trời đích thực, bánh ban sự sống muôn đời.

              Nếu ngày xưa, manna như một thứ nhựa cây, ngày nay bánh Thánh Thể chính là Mình Máu Đấng là Thiên Chúa làm người. Nếu ngày xưa ăn manna chỉ là ăn bánh, ngày này lãnh bí tích Thánh Thể là ăn chính Chúa Kitô. Ngày xưa manna là quà tặng do lòng thương xót của Chúa dành cho dân, thì hôm nay lòng thương xót của Thiên Chúa đã trao tặng cho con người chính Người Con Một yêu dấu. Ngày xưa manna chỉ là của ăn mang lại sự no nê cho thể xác, ngày nay mình máu Chúa Kitô trở thành thần lương không chỉ nuôi sống linh hồn mà còn củng cố khả năng hướng thiện của người rước lấy. Ngày xưa manna chỉ là phương tiện cứu đói tạm thời, ngày nay Mình Máu Chúa Kitô không chỉ là lương thực giúp người tín hữu có đủ sức mạnh, đủ nghị lực tiếp bước hành trình về quê trời, mà lại còn đưa họ vào vĩnh cửu và sống vĩnh cửu. Ngày xưa manna cho thấy Chúa không bỏ dân của Ngài, ngày nay Chúa hiện diện giữa Hội thánh và hiện diện giữa thế giới này bằng chính Con của Ngài trong bí tích Thánh Thể (Vũ xuân Hạnh)

    II.  PHẢI HIỂU LỜI CHÚA THẾ NÀO ?

    1. Hiểu theo nghĩa đen.

              Những lời Đức Giêsu giảng dạy ở đây nói về phép Thánh Thể, chúng ta phải hiểu theo nghĩa nào  : nghĩa đen hay là nghĩa bóng, nghĩa tượng trưng ? Anh em Tin lành không tin có Đức Giêsu trong phép Thánh Thể. Để phủ nhận, đoạn văn về việc hứa lập phép Thánh Thể phải hiểu theo nghĩa bóng, chứ không thể hiểu theo nghĩa đen được. Còn đối với chúng ta, giáo lý công giáo đã dạy chúng ta  phải hiểu theo nghĩa đen thông thường khi nói về phép Thánh Thể, chứ không theo nghĩa bóng được.

              Ta thử đọc lại đoạn văn này: Đức Giêsu nói:”Ta là Bánh hằng sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trên rừng và họ đã chết. Đây là Bánh từ trời xuống : ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời. Bánh Ta sẽ cho chính là Thịt Ta cho thế gian được sống”(Ga 6,48.49.51).

              Người Do thái nghe Đức Giêsu nói thế thì lẩm bẩm rằng:”Ông Ta lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn sao được”(Ga 6,52) ? Thế là họ hiểu theo nghĩa đen, đúng như  ý Ngài muốn nói.  Cho nên, Đức Giêsu không chữa lại (nghĩa là không bảo rằng : các người lẩm bẩm làm chi, Ta nói bóng đấy mà), mà còn nói hăng hơn :”Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi : nếu các ngươi không ăn thịt Con Người, và uống máu Ngài, thì các ngươi không có sự sống trong mình… Vì thịt Ta là của ăn, máu Ta là của uống”(Ga 6,53.55).

              Nhiều người trong môn đệ nghe nói thế, rất khó chịu nên nói :”Lời nói chướng tai quá, nghe sao được”(Ga 6,60). Ngài không rút lời, không cải chính, nên có một số môn đệ bỏ đi. Giả như Đức Giêsu nói nghĩa bóng, thì Ngài giải thích cho họ chứ ? Chẳng những không cải chính, Ngài còn quay lại hỏi các Tông đồ rằng:”Còn các con,  các con có muốn bỏ mà đi không” ? Nghĩa là Ngài muốn nói : nếu các con không tin mà bỏ Ta, thì Ta cũng cứ nói thế, chứ không rút lại lời đã nói.

    1. Sự hiện diện thực sự.

              Dân chúng trong hội đường Capharnaum đã không hiểu hay không muốn hiểu. Ngày nay cũng có nhiều người không muốn hiểu và muốn coi đó chỉ là một cách nói. Còn chúng ta, chúng ta tin rằng lời Chúa là sự thật. Khi chúng ta “ăn thịt và uống máu Chúa”, không phải chỉ là một sự hiện diện, mà là sự thông phần thực sự vào Thánh Thể vinh quang của Ngài. Sự sống của Ngài tuôn chảy trong mạch quản của chúng ta. Ngài ở trong Ta và Ta ở trong Ngài.

              Thánh Cyrillô nói:”Đừng nghi ngờ đó là sự thật, nhưng tốt hơn nên đón nhận Lời của Đấng Cứu thế trong đức tin, vì Ngài không thể nói dối”.

    Truyện : Ông Daniel Connell

              Daniel Connell, người đã giải phóng dân tộc Ái-nhĩ – lan, là một tín hữu can đảm và nhiệt thành. Khi có một số bạn bè theo đạo Tin lành chế nhạo ông vì họ không hiểu rõ và cũng không tin Đức Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Bấy giờ Daniel đã trả lời như sau:”Sao các ông lại hỏi tôi ? Lẽ ra các ông phải hỏi Đức Giêsu mới đúng. Phần tôi, tôi chỉ tin vào lời Chúa nói. Nếu Lời Chúa khẳng định rằng :”Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống” mà thực sự không đúng, thì người nói là Đức Giêsu mới đáng trách chứ không phải là tôi ! Nhưng tôi luôn tin rằng : Lời Chúa là sự thật, là Lời hằng sống và sẽ tồn tại đến muôn đời”.

              Câu nói của Daniel Connell cho ta thấy : niềm tin vào bí tích Thánh Thể cũng như toàn bộ niềm tin của chúng ta  đã được xây dựng trên nền tảng vững chắc là Lời Chúa trong Thánh Kinh. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường, là sức sống của ta, là căn bản đức tin của ta, la ølương thực nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Do đó,  ta cần phải có thái độ tôn trọng Lời Chúa, yêu mến và thực hành Lời Chúa, là đều kiện để ta được ơn cứu độ (Vietcatholic).

    1. Lời Chúa và Thánh Thể.

              Ngày nay có những người Công giáo bị ảnh hưởng các giáo phái khác, có khuynh hướng nhấn mạnh đến việc đọc lời Chúa, họp nhau chia sẻ lời Chúa, mà không quan tâm đến việc đi dự lễ để được rước Mình thánh Chúa. Đối với người công giáo, Lời Chúa và Mình thánh Chúa đều là lương thực thiêng liêng. Đọc lời Chúa và suy gẫm lời Chúa mà không đi dự lễ để được kết hiệp với Chúa trong bí tích Thánh Thể thì không còn cái căn tính của người công giáo. Cha ông ta thường nói :”Quen quá hoá nhàm”, nghĩa là người ta không qúi trọng cái mà người ta có trong tay mà còn muốn tìm cái khác…

              Đức tin của người công giáo về bánh hằng sống khác hẳn với người Tin lành. Người công giáo tin có Chúa hiện diện thực sự trong bí tích Thánh Thể, và tin việc rước lễ là rước Mình thánh Chúa. Vì nếu ta tin Chúa có quyền phép, ta cũng tin Chúa có thể biến đổi bánh rượu thành Mình thánh Người, mặc dù hình thái bên ngoài vẫn giống bánh rượu. Nếu ta tin Chúa có quyền thế, ta cũng tin Chúa trao quyền cho Linh mục, để truyền cho bánh rượu trở thành Mình Máu thánh Người.

    III.  HÃY ĐẾN DỰ BÀN TIỆC THÁNH THỂ.

    1. Thánh Thể là bữa tiệc.

              Thánh lễ trong đó có Thánh Thể là bữa tiệc mà Đức Giêsu đáp ứng cho các môn đệ Ngài. Tất cả chúng ta đều đến dự bữa tiệc ấy với cái đói, chúng ta đều cần bánh ăn mà chỉ có Đức Giêsu có thể ban cho – bánh của sự sống đời đời. Và tất cả chúng ta đều được nuôi sống và được vinh dự, bởi vì ở đây mỗi người cho là một vinh dự.  Ở đây mọi người trở nên bình đẳng, vì tất cả chúng ta là những người nghèo về mặt thiêng liêng nên tất cả đều được ăn uống no nê. Ngoài ra, tất cả những người cùng tham dự bàn tiệc Chúa sẽ liên kết với nhau bằng sợi dây tình nghĩa, vì cùng chia sẻ một thức ăn và một tình yêu của Đức Giêsu Kitô. Chúa đã tự hiến mình làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta và mời gọi chúng ta đến ăn, tại sao chúng ta không đến dự ?

    Truyện : Người mẹ hy sinh để con sống.

              Vào cuối thế kỷ trước, bên Anh có phong trào di dân sang lập nghiệp tại Úc châu. Trên một chiếc thuyền buồm chở người di cư, có một bà mẹ goá chồng, mang theo một đứa con thơ đang bú sữa mẹ. Sau khi đi được một tuần, thì một cơn bão bất ngờ ập tới làm biển động dữ dội, con thuyền bị sóng đánh tơi tả và cột buồm bị gẫy. Từ đó, con thuyền phải lênh đênh trên mặt biển trong nhiều ngày. Lương thực trên tầu hầu như cạn kiệt. Nhiều người trên thuyền bị chết đói và bị quăng xuống biển. Vào một buổi sáng người ta phát hiện ra bà mẹ kia đã bị chết đói, đang khi đứa con bên cạnh vẫn còn sống. Thì ra bà mẹ này trước khi chết đã dùng dao cắt đứt đầu ngón tay út và cho con bú máu mình thay cho dòng sữa. Bà đã hy sinh chết để cho con bà được sống !

              Về sau đứa bé lớn lên đã trở thành một dân biểu nổi tiếng trong vùng. Ông luôn nhớ và biết ơn người mẹ thân thương và một ngày kia, ông đã đứng trên diễn đàn quốc hội, kể lại câu chuyện đau thương cuộc đời mình, và đề nghị Quốc hội chọn một ngày trong năm làm ngày để nhắc nhở con cái tỏ lòng biết ơn đối với mẹ mình. Đó là nguồn gốc của Ngày Quốc tế các Bà Mẹ hiện nay.

    2.  Hiệu quả việc tham dự Thánh Thể.

              Đức Giêsu đã giãi bầy tâm sự với các môn đệ :”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”(Ga 6,56). Khi chúng ta rước mình và máu thánh Chúa thì chúng ta được kết hợp với Ngài như Ngài ở trong chúng ta vậy. Một cuộc kết hợp giao thân như cành nho với thân nho (Ga 15,4-7), một cuộc trao đổi tình thương có một không hai, chỉ có trong phép Thánh Thể.

              Để minh hoạ cho sự kết hợp trên, tôi xin đưa ra hình ảnh cụ thể : Đây là tủ sách của tôi, trong đó có một quyển sách  mà tôi chưa hề đọc. Dù cho quyển sách đó có qúi và bổ ích đến bao nhiêu, nhưng nếu tôi không đọc đến thì nó vẫn ở ngoài tôi. Nhưng một ngày kia, tôi lấy nó ra đọc, tôi cảm thấy hồi hộp, lôi cuốn và rung cảm. Câu truyện đó thôi thúc tôi, những dòng chữ quan trọng được ghi khắc vào tâm trí tôi. Bây giờ lúc nào cần, tôi có thể lấy những điều kỳ diệu đó từ bên trong, hồi tưởng lại, suy gẫm nó bồi dưỡng tâm trí mình. Trước kia cuốn sách đó vốn ở ngoài tôi, nằm trên kệ sách. Bây giờ, nó đã thâm nhập vào tôi, tôi có thể lấy nó để nuôi mình. Những kinh nghiệm và từng trải trọng đại trong đời cũng vậy, chúng vẫn ở ngoài ta cho đến khi chúng ta nhận lấy cho riêng mình.

              Với Chúa Giêsu cũng vậy. Bao lâu Ngài còn là một nhân vật trong sách, thì Ngài vẫn ở ngoài ta, nhưng một khi Ngài đã vào lòng chúng ta, thì Ngài ở trong chúng ta, chúng ta có thể nuôi dưỡng bằng sự sống, sức mạnh và sinh động mà Ngài ban cho.  Đức Giêsu dạy chúng ta phải uống máu Ngài, điều ấy Ngài muốn nói “Các ngươi phải tiếp thu sự sống của ta, đưa vào bên trong các ngươi. Phải thôi nghĩ về Ta  như một nhân vật trong sách hay một đề tài thảo luận thần học, mà phải nhận lấy Ta vào bên trong các ngươi, và các ngươi vào trong Ta, lúc ấy, các ngươi sẽ có sự sống, và đó là sự thật”.  Đó là điều Đức Giêsu muốn nói khi Ngài đề cập đến  việc chúng ta ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta. Khi Đức Giêsu dạy chúng ta ăn thịt và uống máu Ngài là dạy chúng ta  hãy lấy nhân tính của Ngài để nuôi dưỡng tâm trí và linh hồn mình, hãy bồi bổ lại đời sống mình bằng sự sống của Ngài cho đến khi chúng ta được thấm nhuần, tràn ngập, đầy dẫy sự sống của Thiên Chúa (Trần văn Hàm, Tin mừng Chúa nhật, năm B, tr 185).

              Muốn thực sự gặp gỡ Đức Kitô, muốn được kết hợp chặt chẽ với Ngài, có lẽ chúng ta phải có chút  duyên như người ta thường nói :

                                          Hữu duyên vạn lý năng tương ngộ,

                                          Vô duyên đối diện bất tương phùng.

              Muốn gặp Chúa kết hiệp nên một với Ngài thì phải có “duyên” với Ngài, nghĩa là phải có một sự đồng cảm hay một sự giống nhau nào đấy với Ngài. Ta thấy dầu và nước không thể hoà tan với nhau được, vì hóa tính của hai chất không giống nhau. Hai chất phải có những hoá tính căn bản giống nhau mới hoà tan với nhau được. Cũng vậy, “Thiên Chúa là Tình yêu”(1Ga 4,8.16), nên muốn gặp Ngài hay kết hiệp với Ngài thì chính mình cũng phải có ít nhiều tình yêu, có lòng vị tha, có thiện chí muốn gặp gỡ Ngài bằng bất cứ giá nào. Một người có tính ích kỷ, lãnh đạm với mọi người, hay có tính ganh tị, ghen  ghét thì khó mà gặp được Chúa, dẫu họ có rước lễ cả chục lần một ngày. Thánh Gioan xác định:”Ai không yêu thương, thì không biết (=kinh nghirệm về) Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”(1Ga 4,8) ; “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta”(1Ga 4,12) ; “Nếu ai có của cải thế gian mà thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao Thiên Chúa ở trong người ấy được?” (JKN).

              Để kết thúc tôi xin đưa ra đây câu truyện có vẻ  hơi “kỳ kỳ”, không biết có tương xứng không,  nhưng cũng có thể giúp chúng ta suy nghĩ, may ra có thể kiếm được một vài tư tưởng nào đó để áp dụng vào cuộc sống mình :

    Truyện : Thánh Gióng.

              Thời vua Hùng Vương có một bà sinh đứa con tên là Gióng. Đứa bé lên ba rồi vẫn không biết lật, không biết ngồi, cũng không biết cười nói gì, cứ nằm ngửa đòi ăn.

              Thời ấy giặc Ân kéo đến xâm chiếm, quân ta nhiều lần bại trận. Vua Hùng lo sợ, sai sứ đi khắp nước tìm kiếm tướng tài cứu nước. Nghe báo cứu nước, tự nhiên bé Gióng nhìn mẹ bật lên tiếng nói :

    – Mẹ gọi sứ giả vào đây cho con.

     Sứ giả vào nhà thấy bé liền hỏi:

              – Bé ơi, bé bị tật như thế, mời ta vào làm gì ?

              Bé dõng dạc nói :

              – Về bảo vua đúc một con ngựa sắt, một mũ sắt đưa đến cho ta đi đánh giặc Ân.

              Rồi bé bảo mẹ thổi nhiều cơm cho con ăn. Mẹ thổi bao nhiêu, bé ăn hết bấy nhiêu. Hết gạo, mẹ kêu làng xã mang gạo, khoai, bánh rượu, trâu bò cho bé ăn. Bao nhiêu cũng hết. Ăn xong, lúc vươn vai thành người khổng lồ, mặc áo giáp, câm gươm, hét lớn tiếng :

              – Ta là tướng nhà trời.

              Gióng nhảy lên ngựa sắt phun ra lửa, phi như bay đến phá tan giặc Ân. Dẹp xong giặc. Gióng chạy lên núi Sóc Sơn, cởi áo bỏ lại, biến lên trời. Vua phong thánh Gióng làm Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thở kỷ niệm ở làng quê (Vũ khắc Nghiêm).

    Câu chuyện có vẻ thần thoại, nhưng cũng có ý nghĩa.  Nếu sứ giả của nhà vua cùng bà mẹ và dân làng khinh chê đứa bé tàn tật, cố chấp không nghe lời bé Gióng, không góp công góp của một chút, thì đâu được bé Gióng là tướng nhà Trời đến cứu dân cứu nước.  May thay, họ đã khiêm tốn nghe lời đứa bé ba tuổi tàn tật và họ đã được tướng nhà trời cứu sống.

    Người Do thái đã không học bài học đó. Họ khinh chê Đức Giêsu, không tin lời Ngài vì Ngài chỉ là con bác thợ mộc Giuse và cũng là người ở Nazareth, theo họ, tại Nazareth có cái gì hay đâu ! Ngày nay, người ta cũng chẳng khác gì người Do thái xưa. Đức Giêsu đã bảo họ :”Ai có tai để nghe thì hãy nghe”, nhưng đâu người ta có nghe, nếu có nghe thì cũng chỉ như hạt giống gieo bên vệ đường chim trời ăn mất vì họ từ chối :”Người đi thăm trại, kẻ đi buôn, đứa thì lo cưới vợ. Họ khinh thường lời nói của vua trời đất, họ sẽ bị tru diệt”(Mt 22,5-7).

    Cuối cùng, chúng ta hãy đọc lại lời nói của Đức Giáo hoàng Phaolô VI trong thông điệp Mysterium Fidei nói về việc tôn sùng phép Thánh Thể :

    ”Trong khi nhớ đến sự cao cả và lòng thương lạ lùng của Chúa Giêsu, Đấng đã ban sự sồng rất qúi giá của mình để làm giá cứu chuộc chúng ta và là Đấng đã ban thịt mình cho chúng ta ăn, các tín hữu hãy tin vững chắc và kính thờ sốt sắng mầu nhiệm Mình Máu thánh Người với một niềm kính trọng và đạo đức khả dĩ cho phép họ được năng rước lấy bánh siêu thể đó. Ước chi Người thực là đời sống của linh hồn họ, và là sức khoẻ vĩnh viễn của tinh thần họ ; ước chi, sau khi được tăng cường bởi nghị lực của Người, từ cuộc hành trình gian khổ đời này dần dà họ tới nơi quê trời, để được ăn ở đó bánh không còn che phủ của các thiên thần : bánh mà bây giờ họ được ăn  dưới những tấm màn thánh che phủ”

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Tin mừng hôm nay ghi lại nội dung quan trọng nhất trong bài giảng của Chúa Giêsu về bánh hằng sống trong hội đường Capharnaum sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Đức Giêsu hướng thính giả về bí tích Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập vào thứ năm Tuần Thánh, khi Ngài nói: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời. Bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống”.

    Những lời khẳng định của Chúa Giêsu đã khiến người do Thái tranh luận với nhau: “Làm sao ông này lại có thể cho chúng ta ăn thịt của ông ta được?”. Họ tranh luận sôi nổi vì họ không hiểu hay hiểu theo nghĩa đen: ăn thịt người tức là ăn thịt một con người đang nói với họ, ở đây cho thấy người Do Thái thắc mắc vì họ không hiểu để phân biệt “Thịt” của một con người thần linh mà Chúa Giêsu muón nói đến, với thịt của một con người theo xác phàm mà họ nghĩ theo nghĩa thông thường.

    Trong bài diên văn về Bánh Hằng Sống, Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần động từ “ăn” và “uống”“Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời”. Như thế Chúa Giêsu nói tới bí tích Thánh Thể, trong bí tích Thánh Thể, Ngài ban chính Thịt và Máu Ngài làm của ăn, của uống cho nhân loại được sống: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời”. Đức Giêsu là thần lương nuôi sống chúng ta trong cuộc lữ hành tiến về quê trời.

    Ăn thịt và uống máu người quả là một điều khó nghe và khó hiểu! Nhưng có những điều rất hiển nhiên vào năm Thìn nhiều người bị chết đói. Người ta thấy có nhiều bà mẹ đã lấy máu thịt mình nuôi con để con được sống. Năm 1982, trận động đất ở Armenia, bà Suzanne đã lấy máu cho con bú khi con kêu khát lúc nằm dưới đống gạch vụn. Bà có sáng kiến vô cùng táo bạo vì bà muốn con bà sống.

    Một sự kiện hiển nhiên và dễ hiểu là mỗi người chúng ta khi thành thai trong lòng mẹ đã được nuôi dưỡng bằng thịt máu của người mẹ truyền từ nhau thai qua dây rốn đến với thai nhi. Thai nhi được nuôi sống bằng máu thịt của người mẹ một cách trực tiếp trong suốt thời gian trong bụng mẹ. Khi được sinh ra, em bé được nuôi dưỡng bằng thịt máu của người mẹ đã biến thành sữa trắng ngon ngọt và nhiều chất bổ dưỡng. Sự sống của người mẹ được ban cho người con biểu lộ tình mẹ bao la như biển Thái Bình.

    Thời thượng cổ bên Tây Tạng có một bộ lạc tục lệ rất lạ, nhưng suy nghĩ chúng ta thấy rất có ý nghĩa. Khi cha mẹ về già thì con cháu tụ họp lại đưa cha mẹ lên một ngọn cây rồi tất cả rung cây… Nếu người cha, người mẹ còn khỏe thì không bị rơi xuống đất, ai mà yếu thì té xuống đất, con cháu liền làm thịt ông bà. Tất cả thân tộc ăn thịt ông bà với mục đích là để ông bà trở thành xương thịt máu huyết con cháu và như thế người chết luôn hiện diện, luôn sống bên con cháu. Đối với người Tây phương thì đây là một tục lệ dã man, mọi rợ. Nhưng đối với dân Tây Tạng xưa thì quả thật là ý nghĩa.

    Hành động của Chúa Giêsu cũng vô cùng ý nghĩa khi Ngài muốn trở nên lương thần nuôi sống nhân loại trong bí tích Thánh Thể. Chính vì yêu thương mà qua tác động của Chúa Thánh Thần, bánh và rượu đã trở thành Mình và Máu Đức Giêsu để nuôi dưỡng ta trong cuộc hành trình tiến về quê Trời: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sống đời đời”.

    Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm tình thương Thiên Chúa muốn con người thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương trở thành của ăn của uống nuôi sống con người. Lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể là ăn thịt và uống máu Chúa mà không yêu thương anh em, là chúng ta đã không “tiêu hóa” Mình và Máu Chúa, thì không thể được sống đời đời như Chúa dạy trong bài Tin mừng hôm nay.

    Qua bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội muốn người Kitô hữu xác tín vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Qua sự hiện diện nay, Chúa Giêsu tiếp tục sống giữa chúng ta. Ai từ chối Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể, người đó không có đức tin đích thực. Ai không tha thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể, không tham dự thánh lễ, người đó kém đức tin, không bảo đảm sự sống đời đời. Người Kitô hữu không bao giờ tham dự thánh lễ được kể như người bỏ đạo, người khô khan, người nguội lạnh.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối tư tưởng các bài Tin Mừng của ba Chúa nhật trước. Trong những bài Tin Mừng trước chúng ta thấy Chúa đã tuyên bố những lời làm cho người nghe phải khó chịu. Hôm nay những lời tuyên bố của Chúa lại càng làm cho người ta thắc mắc và khó chịu hơn nữa.

    1- Ta là bánh (Ga 6,15)

    Đây không phải là lần duy nhất Chúa dùng thuật ngữ này. Kiểu nói “Ta là” là kiểu nói Chúa dùng nhiều lần để định nghĩa về mình. Chẳng hạn Chúa nói: “Ta là cái cửa”(Ga10,7), “Ta là mục tử” (Ga 10,11),”Ta là ánh sáng” (Ga 8,12), “Ta là con đường”(14,6),”Ta là cây nho” (Ga,15,1). Và hôm nay Chúa tự định nghĩa: “Ta là bánh”(Ga 6,15).

    Định nghĩa nào trên đây cũng nói về mối tương quan giữa Chúa và thế giới con người nơi Chúa được sai đến. Cửa là để chiên ra vào. Mục tử là để lo cho chiên được sống và sống sung mãn. Ánh sáng là để cho người ta thấy đường mà đi. Con đường là để cho người ta đến được với Thiên Chúa. Cây nho là để cho ngành nho được sinh nhiều hoa trái. Ngay cả khi Chúa định nghĩa mình là “sự thật”(Ga 14,6) là sự sống và là sự sống lại (Ga 11,25) thì đó cũng là những gì cụ thể nhằm việc phục vụ con người.

    “Ta là bánh”. Bánh là lương thực không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của người Do Thái. Bánh của người Do thái là cơm gạo của chúng ta. Đức Kitô nhận mình là bánh, một thức ăn thông thường, nhưng rất cần thiết. Bánh không phải để ngắm nhưng để ăn. Bánh là thứ ăn được, tiêu hóa được. Bánh đem lại sự sống cho người ăn nó. Như thế sự hiện hữu của bánh là vì người khác. Chấp nhận làm bánh có nghĩa là chấp nhận mình bị tan biến, bị mất đi. Và chỉ khi mất mình đi như thế bánh mới thật là bánh. Khi bánh được ăn, bánh trở nên xương thịt của người ăn. Bánh tiếp tục hiện diện trong người ăn một cách sâu thẳm, khó lòng mà tìm lại được bánh, khó lòng mà bảo bánh đang ở chỗ nào nơi người ăn vì bánh đã nên một với người ăn.

    “Ta là bánh và là bánh trường sinh” (Ga 6,35,48). Bánh trường sinh là bánh ban sự sống, không phải là sự sống của thân xác, bánh ở đời này – mà là sự sống muôn đời. Sự sống ấy bắt đầu ở đời này và tiếp tục mãi mai sau bất kể việc thân xác có bị kết thúc ở đời này bằng cái chết hay không. Đức Giêsu là bánh ban sự sống muôn đời vì Ngài là bánh hằng sống (Ga 6,51) – bánh có sự sống. Sự sống ở nơi Đức Giêsu sự sống đã đạt tới mức độ viên mãn khi Ngài được phục sinh. Ngài được Cha ban cho sự sống dư tràn để rồi Ngài trở thành “Thần khí ban sự sống” cho chúng ta.  (1Cr15,45).

    “Ta là bánh”. Đây không phải là một ẩn dụ mà là một giấc mơ của Đức Giêsu. Ngài muốn trở nên của ăn của uống để nuôi chúng ta, để ban cho chúng ta sự sống thần linh vĩnh cửu. Ngài không muốn nuôi chúng ta bằng cái gì ở ngoài Ngài như là Manna hay là những tấm bánh do Ngài hóa ra nhiều năm xưa. Ngài muốn nuôi chúng ta bằng chính con người của Ngài, bằng thịt và máu của Ngài.

    2. Nhưng làm sao một giấc mơ như thế có thể thực hiện được? Làm sao Ngài có thể trở thành lương thực cho mọi thời đại? Người Do thái thuở xưa cũng hỏi những câu hỏi tương tự như thế: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn?” (Ga 6,52).

    * Đối với người Do thái ngày xưa thì quả thực chưa có câu trả lời. Nhưng với chúng ta hôm nay thì câu trả lời đã rõ. Chính qua Bí tích Thánh thể mà Chúa có thể thực hiện được những gì mà loài người không thể nghĩ ra. Bí tích Thánh thể là sáng kiến bất ngờ và cũng là sáng kiến ngoạn mục tuyệt vời của Chúa. Ngài trở thành thức ăn cho loài người khi biến tấm bánh trong bàn tiệc thành thịt của Ngài và Ngài trở thành của uống cho con người khi Ngài biến rượu thành máu của Ngài: “Này là mình Thầy, chúng con hãy cầm lấy mà ăn. Này là máu Thầy các con hãy cầm lấy mà uống”. Ăn bánh và uống rượu đã được truyền phép là ăn uống chính thịt và máu của Đức Kitô phục sinh. Ngài thành tấm bánh cho ta khi Ngài biến tấm bánh ta dâng cho Ngài nhờ Bí tích Thánh thể.

    Vâng Chúa muốn cho chúng ta được sống. Ngài muốn trở thành của nuôi chúng ta mãi mãi, không bao giờ ngưng nghỉ. Và như Ngài đã hứa, ngài muốn cho chúng ta có được sự sống dồi dào, sự sống của chính Ngài.

    Trong các câu truyện có liên quan đến Bí Tích Thánh Thể người ta thường nhắc và truyền tụng cho nhau về câu truyện có liên hệ đến một em bé có tên là Macxellinô. Câu truyện có nguồn gốc từ Tây Ban Nha. Khi vừa được sinh ra, Macxellinô đã bị mẹ đem bỏ đi. Mẹ em đã bỏ em trước cổng một Tu viện. Tình cờ một tu sĩ đi ngang qua, nghe thấy có tiếng “oe oe” của một đứa trẻ, ông cúi xuống thấy em. Ông bồng em, đem vào tu viện. Em được các tu sĩ Đan viện chăm sóc và nuôi nấng và dần dần em được lớn lên trong tu viện.

    Vốn tính tình nghịch ngợm, nên thầy đầu bếp cấm không cho em được leo lên gác. Nhưng rồi vì tính tò mò, một ngày kia Macxellinô lẻn leo lên. Đến nơi em vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy một người khổng lồ bị treo trên Thập giá. Bao nhiêu ngày như vậy mà chẳng thấy ai cho ăn. Bản tính tự nhiên em nghĩ rằng chắc là người bị treo trên đó đói lắm, nên một đêm kia Macxellinô vào bếp ăn cắp bánh mang lên cho ông. Người khổng lồ đưa tay đón nhận bánh của cậu bé và cười với cậu.

    Từ đó trở đi, ngày nào cậu cũng mang bánh lên cho người khổng lồ. Một hôm tay người khổng lồ tự rời bỏ thánh giá, cúi xuống, vòng hai tay ôm choàng lấy cậu. Ông hỏi:

    – Điều gì làm cho con thấy thích nhất ở trần gian này?

    Cậu nói:

    – Con muốn được thấy mẹ con.

    Người khổng lồ liền nói với cậu bé:

    – Con sẽ được thấy nếu con chấp nhận chết.

    Cậu bé bằng lòng và cậu đã an giấc trong tay người khổng lồ.

    Hôm sau các thầy không thấy em trong nhà, đi tìm lục lọi khắp nơi nhưng cũng không thấy đâu. Cuối cùng các thầy lên gác và vô cùng xúc động khi thấy em đang nằm gọn trong vòng tay của Chúa.

    Câu chuyện của Macxellino là một trong những câu truyện rất đẹp, đầy ý nghĩa về Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu đã lập và để lại cho Giáo hội như một giao ước muôn đời.

    Chúa Giêsu không ngừng mời gọi con người mở rộng tâm hồn để đón nhận Ngài như Ngài nói với cậu bé Macxellinô trong truyện trên. Bánh và rượu là ngôn ngữ cậu bé dùng để nói lên với Chúa Giêsu, cậu bé cũng muốn săn sóc Chúa. Bánh và Rượu Ngài ban trong Thánh Thể cũng là cách Ngài tỏ tình yêu, Ngài muốn nói với chúng ta ‘Ta yêu thương các con, Ta săn sóc các con”. Ngài chính là Bánh và Rượu nuôi sống chúng ta. Ngài muốn chúng ta mở rộng tâm hồn để đón nhận Ngài. Khi chúng ta mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể, thì lúc đó chúng ta mới có thể mở rộng trái tim và bàn tay để đón nhận người khác.

    Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời được ban xuống để lôi kéo chúng ta lên với Chúa Cha. Người tín hữu Kitô tiếp nhận Thánh Thể là để được lãnh nhận tình yêu của Chúa và từ đó mới có thể trào sang cho người khác để đưa mọi người về với Thiên Chúa. Có chia sẻ bàn tiệc với Chúa Giêsu trong Thánh Thể, chúng ta mới có thể chia sẻ cơm bánh cho những người khác chung quanh chúng ta.

    Xin Chúa Giêsu Thánh Thể cho chúng con cảm nếm được sự sống trường sinh và niềm hạnh phúc khi chúng ta đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng để chúng ta cũng có thể trao ban và chia sẻ tình yêu của Chúa cho mọi người.

    Về mục lục

    .

    TÔI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG

    Lm. GB. Trần Văn Hào

    Công đồng Vaticanô II trong sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục (Presbiterorum Ordinis) đã viết: “ Mọi bí tích của Giáo hội đều quy nguồn về Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa mọi kho tàng thiêng liêng của Giáo hội, là nhiệm thể Đức Kitô. Không có Thánh Thể, không có đời sống cầu nguyện và cũng không có việc rao giảng Tin mừng” (số 8). Lời khẳng quyết của Hội thánh nêu bật nền tảng thiết yếu của bí tích Thánh Thể trong đời sống Đức tin của mọi Kitô hữu .

    Suốt bốn tuần qua, chúng ta đã suy gẫm bài diễn từ về “Bánh” trong chương 6 của tin mừng thánh Gioan. Chúa nhật hôm nay, Giáo hội mời  gọi chúng ta một lần nữa lắng đọng tâm hồn để tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi bàn tiệc thánh. Đó là bàn tiệc  yêu thương, bàn tiệc đức tin và cũng là bàn tiệc diễn bày sự hiệp thông huynh đệ.

    Bàn tiệc tình yêu.

    Thánh Gioan đã viết: “ Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm”(Ga 1,14). Thân xác Đức Giêsu sau khi sống lại đã đi vào trong vinh quang với Chúa Cha, nhưng thân xác thánh thiêng ấy vẫn còn hiện diện cách nhiệm mầu nơi bí tích Thánh Thể. Đó là sự hiện diện của tình yêu. “Thiên Chúa vui thích ở giữa dân Ngài”. Ngài đã đến cắm lều giữa chúng ta, dọn sẵn cho chúng ta bữa tiệc để tỏ hiện tình yêu nhưng không của Ngài. Đây cũng chính là bữa tiệc mà sách Khôn ngoan nhắc tới trong  bài đọc thứ nhất của phụng vụ hôm nay. Thực đơn của bàn tiệc này chỉ có một món duy nhất, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu, là lương thực được hiến trao, như chính Đức Giêsu đã khẳng định trong bài Tin mừng: “ Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống”. Không có từ ngữ nào lột tả được cách trọn vẹn mầu nhiệm tình yêu sâu xa này. Chính Đức Giêsu đã khải thị cho các học trò trong bữa tiệc ly trước khi Ngài đi thụ nạn : “ Không ai có tình yêu nào cao cả hơn mối tình của người hiến ban mạng sống mình cho bạn hữu”.

    Muốn ngồi vào bàn tiệc tình yêu này, chúng ta phải loại bỏ khỏi mình những gì thuộc ác quỷ, đối kháng với tình yêu mà Thiên Chúa diễn bày. Thánh Augustinô đã nói: “Bánh mì nuôi sống con người, nhưng sẽ giết chết chim diều hâu”. Bao tử con người thích hợp với bánh mì nhưng khi diều hâu ăn vào, bánh mì sẽ trương nở, nó bị ngạt thở và sẽ chết. Bàn tiệc tình yêu sẽ không có chỗ để những con người ác tâm với một trái tim diều hâu ngồi vào. Diều hâu chuyên rúc rỉa xác chết, là một hình tượng ám chỉ những hôi thối và bẩn thỉu của tội lỗi. Ngồi vào bàn tiệc thánh, chúng ta cần phải tinh luyện tâm hồn, loại bỏ đi những gian dối lọc lừa, những hận thù ghét ghen, những tham lam bất chính. Chúa nói “Tôi là Bánh trường sinh”, bánh đem lại sự sống cho những người ngay lành nhưng sẽ giết chết những tâm hồn diều hâu đầy gian ác.

    Bàn tiệc đức tin.

    Mỗi khi chầu thánh thể, chúng ta mượn lại những vần thơ thánh của thánh Tôma Aquinô để hát lên: “ Đây nhiệm tích vô cùng cao quý. Nếu giác quan không cảm nhận ra, chúng ta hãy lấy đức tin bù lại”. Đức tin là điều kiện tiên quyết để dẫn đưa chúng ta đến bàn tiệc. Chúa Giêsu đã nói: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi sẽ sống muôn đời” (Ga 6,54). Khi đàm đạo với Nicôđêmô, Đức Giêsu cũng đã khải thị : “Ai tin vào con của Người, sẽ được trường sinh” (Ga 3,15-16). Đây là hai cách diễn tả của một thực tại duy nhất : Ăn bánh trường sinh và tin vào Thiên Chúa. Bàn tiệc Thánh Thể chính là bàn tiệc của đức tin. Rất nhiều lần chúng ta đến nhà thờ tham dự thánh lễ nhưng thiếu hẳn cảm thức đức tin cần phải có. Nhiều người coi việc dự lễ mỗi tuần một lần vào Chúa nhật như một bổn phận phải làm để lương tâm được yên ổn, hay để người khác khỏi dị nghị. Thái độ đức tin là điều kiện tất yếu cần phải thể hiện, vì nếu không phát xuất từ đức tin, việc đi lễ cách máy móc sẽ trở nên vô nghĩa và phí phạm thì giờ cách vô ích.

    Tin không phải là một động thái mang tính suy lý, nhưng trước hết đây là tác động của ơn sủng. Vì thế trong mỗi Thánh lễ, Giáo hội luôn nhắc nhở “ Đây là mầu nhiệm đức tin”. Qua lăng kính đức tin chúng ta mới có thể khám phá nguồn sống vô tận từ Bánh Hằng Sống. Chỉ với đức tin soi dẫn, chúng ta mới có thể tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu linh thánh được diễn bày nơi bàn tiệc Thánh Thể mà chúng ta được mời tới tham  dự.

    Bàn tiệc hiệp thông.

    Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong khung  cảnh một bữa ăn. Bữa ăn là dịp để quy tụ, gắn kết mối hiệp thông trong từng mỗi gia đình hay tại bất cứ một tổ chức, một đoàn thể  nào. Cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần hiệp thông này. Tác gỉa sách Tông đồ Công vụ thuật lại rằng, các tín hữu “luôn  chuyên cần lắng nghe các tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng. Họ sống hiệp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Tất cả đều đồng tâm nhất trí. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ (Cv 3,42-46). Sự hiệp thông này đòi hỏi phải xóa bỏ những hàng rào cách ngăn, dẹp tan mọi toan tính ích kỷ mang tính vụ lợi, và sống gắn kết nên một với nhau như lời ước nguyện của Chúa Giêsu “ Ut unum sint ” (xin cho chúng nên một).

    Một tu sĩ nọ khi tham dự một thánh lễ khá đặc biệt ở Bolivia thuộc Châu Mỹ La tinh đã tả lại quang cảnh buổi lễ đó như sau. Phần đầu lễ, vị linh mục mời gọi mọi người thống hối. Vài giây phút thinh lặng để cầu nguyện, sau đó một hồi trống nổi lên. Bốn thanh niên nam nữ từ cuối nhà thờ tiến lên trước cung thánh, trên tay mỗi người mang một sợi xích thật nặng. Họ cố giơ cao tay lên cùng với lời cầu nguyện : Lạy Chúa, đây là những dây xích biểu tượng sức mạnh tội lỗi đang đè nặng trên chúng con. Chúng con chưa hết lòng yêu mến Chúa và mến thương nhau. Trong cuộc sống hằng ngày, đức ái của chúng con vẫn bị khống chế bởi những sợi xích của tham lam và ích kỷ, những trói buộc của đam mê và dục vọng thấp hèn. Xin Chúa phá đi những dây xích nặng nề này nơi tâm hồn tan nát và bầm dập của chúng con. Lạy Chúa xin thương xót chúng con.” Cả cộng đoàn lập lại : Xin Chúa thương xót chúng con. Đến phần dâng lễ vật, cũng hai cặp thanh niên nam nữ tiến lên dâng bánh và rượu. Đặc biệt họ mang theo một tảng đá lớn cùng với lời cầu nguyện: “ Lạy Chúa, chúng con xin dâng lên Chúa cả tảng đá này, biểu trưng sự chai cứng trong tâm hồn mỗi người. Xin Chúa hãy nhận bánh và rượu để biến nên mình và máu con Chúa. Xin Chúa cũng dang rộng đôi tay đón nhận những con tim lạnh lùng và chai đá của chúng con để biến đổi thành những trái tim thịt mềm. Xin Chúa giúp chúng con biết sống với nhau tử tế hơn, khoan dung hơn và biết quảng đại tha thứ cho nhau hơn”.

    Kết luận

    Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã viết lại những trang hồi ký trong thời gian Ngài bị biệt giam trong tù. Ngài tóm gọn thành một tập sách nhỏ mang tựa đề “ Năm chiếc bánh và hai con cá” để chia sẻ cho giáo triều Rôma trong dịp tĩnh tâm mùa chay vào những năm thập niên 90. Ngài thú nhận, sức mạnh lớn nhất nâng đỡ Ngài trong những năm tháng tù ngục là được cử hành Thánh lễ cho dù lén lút, nhưng rất cảm động và sâu lắng. Thánh lễ Ngài dâng một mình trong bóng tối của nhà tù, không kèn không trống, cũng chẳng có ánh đèn hay một bông hoa trang trí nào. Áo tù Ngài mặc thay cho áo lễ. Đôi bàn tay sần sùi của Ngài đựng những giọt rượu nho thay cho chén thánh. Bánh lễ chứa trong hộp đựng thuốc ho. Những Thánh lễ rất âm thầm và giản đơn, không ồn ào, không một chút hoành tráng bề ngoài, chẳng có ca đoàn hay người giúp lễ.. nhưng sao chép lại gần sát với chính Thánh lễ mà Chúa Giêsu đã cử hành năm xưa trên Thập giá. Đó là những Thánh lễ đẹp nhất trong cuộc đời linh mục của Ngài. Vị Giám mục đáng kính đã dâng những thánh lễ như thế để kín múc cho mình sức mạnh tâm linh trong những tháng ngày đen tối nhất nơi ngục tù. Còn những thánh lễ chúng ta tham dự mỗi ngày thì sao?  Đặc biệt đối với anh em linh mục là những “alter Christus”, đã hàng trăm, hàng ngàn lần cử hành thánh lễ “in personna Christi”, chúng ta đã dâng các thánh lễ ấy như thế nào? Chúng ta cũng hãy bắt chước tâm tình đơn sơ của một nữ tu dòng Clara khi đến bàn tiệc thánh. Chị chia sẻ với các chị em trong cộng đoàn “ Các chị hãy xem một người ăn xin nghèo khổ đến gõ cửa nhà một người giàu có, một bệnh nhân gần chết đến với một bác sĩ tài giỏi, một người đang khát cháy đến bên dòng nước mát trong. Họ đến để làm gì, thì em cũng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể như thế”.

    Xin Chúa khơi dậy nơi tâm hồn chúng ta một ánh lửa đức tin ngời sáng, mỗi khi chúng ta đến ngồi vào bàn tiệc thánh này.

    Về mục lục

    .

    HỒNG ÂN THÁNH THỂ

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Không gì quý bằng sự sống. Dù bị thiên tai càn quét hết ruộng vườn, tài sản, nhà cửa, tiền bạc, nhưng người nhà chưa phải chết thì vẫn còn may.

    Được sống trên cõi đời là một hồng phúc lớn nhất, là một ân huệ vượt trên hết mọi ân huệ. Sách Giảng Viên viết: “Thà làm một con chó sống còn hơn làm một con sư tử chết.” (Giảng Viên 9,4). Thà làm một con chuột sống còn hơn một con voi chết! Đúng là “Mạng sống quý hơn đống vàng.”

    Vì yêu thương con người vô hạn nên Thiên Chúa muốn dành cho họ quà tặng cao quý nhất, đó là sự sống; và Thiên Chúa không chỉ ban sự sống sinh vật (sự sống tự nhiên) mà còn thông ban cả Sự Sống thần linh của chính Thiên Chúa cho con người nữa.

    Thông ban Sự Sống thần linh

    Thiên Chúa Cha là Cội Nguồn của Sự Sống. Sự Sống bắt nguồn từ Chúa Cha, rồi Chúa Cha thông ban Sự Sống của mình cho Chúa Con (Chúa Cha nhiệm sinh Chúa Con) và Chúa Thánh Thần. Chúa Giê-su xác nhận sự sống của mình từ Chúa Cha mà đến: “Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha.” (Ga 6, 57)

    Một khi nhận được sự sống từ Chúa Cha, Chúa Giê-su không giữ lại cho riêng mình, nhưng tìm cách thông truyền Sự Sống cao quý ấy cho nhân loại.

    Bằng cách nào?

    Muốn cho cành nho rừng tiếp nhận được sự sống của cây nho vườn, thì nó phải được tháp nối để nên một với cây nho vườn.

    Muốn cho một bàn tay bị cắt lìa thân được tiếp nhận sự sống từ thân thể thì bàn tay đó phải được ghép nối vào thân thể, trở nên một với thân thể.

    Vậy muốn cho loài người tiếp nhận được Sự Sống của Chúa Giê-su thì phải làm cho họ nên một với Chúa Giê-su.

    Thế nên, Chúa Giê-su lập nên bí tích Thánh Thể, hiến ban Thịt và Máu Ngài, dưới hình bánh rượu, làm của ăn cho nhân loại, để cho những ai lãnh nhận Mình Máu thánh Ngài thì được nên một với Ngài, được ở lại trong Ngài:“Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy.”

    Những ai “ở lại trong Chúa Giê-su và có Chúa Giê-su ở lại trong người ấy”, thì kẻ ấy nên một với Chúa Giê-su và tất nhiên Sự Sống của Chúa Giê-su sẽ được thông ban cho người ấy.

    Điều tuyệt vời là Sự Sống mà Chúa Giê-su thông ban cho những ai tiếp nhận Mình Máu Ngài, không phải là sự sống sinh vật có thể bị lụi tàn theo năm tháng mà là Sự Sống vĩnh cửu không bao giờ tàn phai.

     “Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 51)

     “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” (Ga 6, 54)

    Thế là thông qua việc tiếp nhận Mình và Máu Chúa Giê-su khi rước lễ, con người được nên “cùng một thân mình, cùng một dòng máu” với Chúa Giê-su và do đó, Sự Sống thần linh của Chúa Giê-su sẽ được thông ban cho họ. Họ sẽ được sống đời đời.

    Biến đổi con người thành Chúa Giê-su

    Ngoài ra, khi tiếp nhận Mình Máu thánh Chúa Giê-su trong Bí Tích thánh thể, chúng ta còn được biến đổi để nên một Giê-su khác. Thánh Giáo hoàng Lê-ô Cả khẳng định:

     “Thực thế, chúng ta thông phần Mình và Máu Chúa Ki-tô là để được biến thành Đấng chúng ta rước lấy.” (Trích bài giảng của thánh Lê-ô cả giáo hoàng, trong bài đọc kinh sách ngày thứ tư, tuần 2 phục sinh)

    Giáo huấn của Hội Thánh còn dạy cho biết nhờ tiếp nhận Mình Máu thánh Chúa Giê-su, chúng ta được thông phần bản tính Thiên Chúa: “Khi bạn ăn uống Mình và Máu Đức Ki-tô, bạn nên một với Ngài, cùng một thân mình, cùng một dòng máu. Như thế, chúng ta trở thành những người mang Đức Ki-tô, có Mình Máu Ngài thấm nhập khắp toàn thân. Nhờ vậy, theo lời thánh Phê-rô, chúng ta được thông phần bản tính Thiên Chúa.” (trích bài giáo huấn cho các tân tòng tại Giê-ru-sa-lem trong bài đọc kinh sách ngày thứ bảy, tuần bát nhật phục sinh)

    Lạy Chúa Giê-su,

    Hồng ân Thánh Thể Chúa ban thật vô cùng lớn lao và quý báu nhưng tiếc thay, nhiều người không nhận biết nên tỏ ra hững hờ.

    Xin cho tâm hồn chúng con tràn đầy hoan lạc trước hồng phúc vô giá và khao khát tiếp nhận hồng ân nầy với hết lòng cảm tạ tri ân.

    Về mục lục

    .

    ĐẮN ĐO

    Trầm Thiên Thu

    Đắn đo là cân nhắc và so sánh mức độ hơn – kém nhau như thế nào. Khi đó cần có trí tuệ sáng suốt để có thể cân nhắc một cách chính xác nhất. Tác giả sách Huấn Ca xác định: “Ăn nói thì phải cân nhắc đắn đo, miệng con phải như là cửa có khoá. Hãy ý tứ, đừng để lỡ lời, kẻo vấp ngã trước kẻ rình rập con” (Hc 28:25-26). Và rồi tác giả kết luận: “Làm việc gì cũng phải đắn đo cân nhắc” (Hc 31:15). Đắn đo có thể tốt và cũng có thể không tốt – không tốt vì đắn đo thái quá nên hóa ra nhút nhát.

    Đắn đo không phải là để thoái thác hoặc lẩn tránh, mà là cân nhắc điều hơn lẽ thiệt để không phải hối tiếc. Người Việt có cách ví von: “Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”. Kinh Thánh cũng có cách nói còn đáng quan ngại hơn: “Vì ngươi hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:16). Rất cần cân nhắc để có thể dứt khoát, vì người ta chỉ có thể chọn một trong hai, không thể “bắt cá hai tay”.

    Cuộc sống có vẻ đơn giản mà lại luôn nhiêu khê, đôi khi quá sức tưởng tượng của chúng ta. Ngay trong cuộc sống đời thường cũng luôn có nhiều “chuyện lạ”, nhưng mỗi chuyện đều có những mức độ “lạ” khác nhau, thậm chí là khác hẳn. Tốt cũng “lạ”, xấu cũng “lạ”. Vì vậy mà cần phải tỉnh táo, biết phân biệt cái gì đúng hoặc cái gì sai. Người cẩn trọng luôn biết đắn đo cân nhắc, đó là người thông minh và khôn ngoan. Về cách xử sự này, Chúa Giêsu dạy: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải KHÔN như rắn và ĐƠN SƠ như bồ câu” (Mt 10:16). Đắn đo cân nhắc như vậy không hề dễ dàng gì, nhưng phải cố gắng!

    ĐẮN ĐO KHÔN

    Khôn ngoan là một nhân đức, rất quan trọng trong mọi trường hợp. Kinh Thánh cho biết: Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột, hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn và sai các nữ tỳ ra đi. Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi: “Hỡi người ngây thơ, hãy lại đây!” (Cn 9:4). Với người ngu si, Đức Khôn Ngoan bảo: “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (Cn 9:5-6). Mỗi người có mức độ nhận thức khác nhau, cao – thấp và rộng – hẹp, dù là ai cũng phải luôn trau dồi để khả dĩ đạt mức hiệu quả nhất.

    Chúng ta là phàm nhân cát bụi, trí óc thấp hơn ngọn cỏ, không thể nào hiểu nổi đường lối cao siêu của Thiên Chúa. Thánh LM TS Thomas Aquino (1225–1274) là tác giả bộ Tổng Luận Thần Học đồ sộ, thế mà khi được hỏi thì ngài bảo “chỉ là rơm rác”. Thật vậy, đối với Thiên Chúa thì chỉ là thế thôi. Vì vậy, chúng ta chẳng có gì để dám mạo nhận, mà phải luôn thầm nhủ: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Ngài chẳng ngớt trên môi” (Tv 34:2), đồng thời còn phải chia sẻ với người khác: “Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa, xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Ngài” (Tv 34:3-4). Có thể có người sẽ thắc mắc, và đây là lý do: “Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Ngài đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng” (Tv 34:5). Chắc chắn Thánh Vịnh gia đã đắn đo khôn lắm mới có được lý do độc đáo như vậy.

    Tình yêu của Thiên Chúa bao la, lòng thương xót của Ngài vô biên, chắc chắn rằng “ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi” (Tv 34:6). Sự thường thì “vô tri, bất mộ”. Nhưng một khi đã “nếm thử” sự ngọt ngào của Ngài rồi, người ta sẽ khiêm nhường khi làm chứng về Ngài: “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:7). Đó là sự thật vừa mặc nhiên vừa minh nhiên, không thể chối cãi.

    Có một điều cần thiết Thánh Vịnh gia muốn nhắc nhở và động viên chúng ta: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (Tv 34:9). “Nghiệm xem” là cách “nếm thử”. Và khi nghiệm ra Chúa rồi thì người ta sẽ thêm khôn ngoan, biết sống theo lời khuyên tốt lành: “Phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa; hãy làm lành, lánh dữ;, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 34:14-15). Lời do lưỡi, lưỡi như lửa, nó có thể thiêu rụi mọi thứ.

    Cách đắn đo khôn khéo của Việt nhân đơn giản mà thú vị: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Đồ ăn ngon lành, chỗ ăn thú vị, người cùng ăn phù hợp, nhưng còn phải biết cách ăn, đặc biệt là cách ngồi ăn. Không đơn giản chi cả! Đó là phép lịch sự cơ bản nhưng lại thể hiện sự ý tứ, tinh tế và khôn khéo. Cách ăn bình thường mà đã quan trọng như vậy, huống phi “cách ăn nết ở”. Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep 5:15-16). Thánh nhân “vuốt mặt” mà không cần “nể mũi”, cứ nói thẳng nói thật: “Anh em ĐỪNG hoá ra ngu xuẩn, nhưng HÃY tìm hiểu đâu là Ý Chúa. CHỚ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới truỵ lạc, nhưng HÃY thấm nhuần Thần Khí” (Ep 5:17-18). Một câu ngắn mà có tới bốn mệnh lệnh cách phủ định: CẤM. Đó mới là cách sống khôn ngoan, mà người nào có “sống khôn” thì mới có thể “chết thiêng”. Hệ lụy lô-gích lắm!

    Theo quan niệm xưa, những người có “máu nhạc” đều bị coi là “xướng ca vô loài”, nghĩa là “không hề giống ai” theo dạng “kỳ quặc”, kiểu như “con giáp thứ 13” không có trong danh sách các con giáp. Thế mà Thánh Phaolô lại khuyên: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19). Quan niệm xưa sai hay là chúng ta hiểu không đúng? Đặc biệt hơn, thánh nhân nhấn mạnh: “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5:20). Tạ ơn khi vui mừng và may mắn thì đó là điều dễ dàng, không có gì đáng nói; nhưng tạ ơn khi buồn rầu và kém may mắn thì đó mới là điều đáng nói. Khó lắm! Thế mà Thánh Gióp đã làm được điều đó, dù đời ông là bản “trường ca đau khổ”, khổ tới mức trắng tay – cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Chúng ta phải nỗ lực noi gương Thánh Gióp mới mong “xách dép” theo ngài được. Và rồi Thiên Chúa đã “bù lỗ” cho ngài Gióp. Phúc thay!

    CÂN NHẮC KHÉO

    Có cách đắn đo khôn thì cũng có được cách cân nhắc khéo. Cái gì cũng có hệ lụy, chẳng có gì gọi là ngẫu nhiên đâu. Có những lúc đắn đo cân nhắc rất dễ, nhưng cũng có những khi đắn đo cân nhắc rất khó.

    Thật vậy, giả sử lần đầu nghe Chúa Giêsu xác định Ngài là “bánh hằng sống từ trời xuống”, bất cứ ai ăn loại bánh ấy sẽ “được sống muôn đời”. Ngài còn nói rõ ràng rằng bánh Ngài ban tặng chính là thịt của Ngài và loại thít ấy làm cho thế gian “được sống” (Ga 6:51), liệu chúng ta có thể tin “chuyện động trời” như vậy? Chắc hẳn là không! Ngày xưa, người Do-thái khi nghe Chúa Giêsu nói vậy, họ không tin và tranh luận sôi nổi với nhau: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:52). Đó cũng là một cách phản đối. Ăn thịt sống của động vật đã là “điều lạ”, huống chi là “ăn thịt và uống máu người”. Ôi, phải nói là… kinh dị thật!

    Vâng, phàm nhân không thể tin nếu không có đức tin. Lúc đó chắc là Chúa Giêsu cười thầm trong bụng. Biết họ không thể tin vì “chói tai”, nhưng sự thật mãi mãi là sự thật, và Ngài vẫn xác quyết: “Thật, Tôi bảo thật các ông: nếu các ông KHÔNG ăn thịt và uống máu Con Người, các ông KHÔNG có sự sống nơi mình. Ai ĂN thịt và UỐNG máu Tôi thì được SỐNG muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy SỐNG LẠI vào ngày sau hết, vì thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:53-55). Chắc là lúc đó ai cũng trố mắt và há hốc mồm miệng vì ngạc nhiên, vậy mà họ vẫn vểnh tai nghe “điều kỳ lạ” ấy. Rồi Chúa Giêsu nói tiếp: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy” (Ga 6:56-57). Cách lý luận của Thánh Bernadette rất chí lý: “Đối với người tin thì không cần giải thích, đối với người không tin thì giải thích cũng vô ích”.

    Thật tuyệt vời vì Chúa Giêsu là nhà hùng biện vĩ đại nhất. Và thật lạ, họ nghe rồi không còn “khó chịu” nữa mà chỉ im lặng, như vậy có nghĩa là cảm giác của họ “khác” rồi. Đúng là “lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Ngài tiếp tục tái xác định: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:58). Nghe “chết” thì buồn, chứ nghe “sống” thì khoái lắm, đặc biệt là “sống muôn đời”. Thế thì trên cả tuyệt vời rồi!

    Ôi chao, thế thì còn gì bằng, chí lý lắm! Chắc hẳn lúc đó có nhiều tâm hồn đang cứng như sáp nguội bỗng chốc hóa “mềm nhũn” như sáp nến gặp lửa nóng vậy. Trong số những người biết cách đắn đo cân nhắc khôn ngoan thì chắc cũng không thiếu những người dại khờ, ngớ ngẩn hoặc ngu xuẩn. Tại sao? Vì cố chấp, biết đúng mà cứ muốn chứng tỏ “bản lĩnh dốt” của mình, vì quá tự ái quá cao, vì “cái tôi” quá lớn, vì không muốn tin vào quyền năng của “chàng trai trẻ” Giêsu, người làng Nadarét, chẳng học trường nào, chẳng bằng cấp gì mà giỏi quá chừng. Vô cùng lạ lùng!

    Chuyện người đời vẫn thế. Thời nào cũng vậy, xã hội nào cũng vậy. Ai ngu dốt thì bị khinh, thông minh thì bị ghét, ở đâu cũng có người thế này và người thế nọ, cũng có người khôn và người dại, nhưng người dại thì không biết ngại, ưa tài lanh, dốt mà chảnh. Thật là nhiêu khê, thế nên càng cần phải khôn ngoan đắn đo và cân nhắc.

    Nói về hệ lụy Gieo – Gặt, nhưng vẫn liên quan vấn đề đắn đo cân nhắc, Dick Lyles nhận định: “GIEO suy nghĩ, GẶT hành động; GIEO hành động, GẶT thói quen; GIEO thói quen, GẶT tính cách; GIEO tính cách, GẶT số phận”.

    Lạy Thiên Chúa, xin ban thêm khôn ngoan cho con và giúp con sống khiêm nhường để nên công chính theo Tôn Ý Ngài, hầu đáng được mãi mãi “ở lại trong tình thương của Ngài” (Ga 15:9). Xin Ngài giáng phúc cho người đã quan tâm đến con (Rút 2:19), xin tha thứ cho họ nếu họ xúc phạm tới con, và cũng xin tha thứ cho con vì con đã không đủ tốt để làm họ vừa lòng. Con chân thành cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    HÃY LO TÌM KIẾM ĐỨC KHÔN NGOAN

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Hôm nay, tiếp tục diễn từ về bánh hằng sống, Chúa Giêsu kêu gọi những người Do thái và cả chúng ta nữa, hãy đến mà ăn cho no uống cho thoả. Nếu chúng ta khao khát sự sống trường sinh, thì đây là cơ hội tốt để có được mầm sống ấy. Hãy đến gặp Chúa Giêsu và đón nhận Người, bởi chính Người : “Là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai ăn bánh này, sẽ được sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).

    Lời Chúa trong sách Châm Ngôn giúp chúng ta hiểu sâu xa hơn ý nghĩa của lời Chúa Giêsu phán ở trên : ” Sự khôn ngoan đã xây nhà mình… Pha rượu, dọn bàn tiệc, và sai những nữ tỳ lên các nơi cao trong thành mà công bố rằng: Hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi” (Cn 9, 1-5).

    Nhưng Đức Khôn Ngoan ở đây là ai vậy ?

    Theo thánh Irênê, vị giáo phụ thời danh của Giáo hội thì Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa không phải ai khác ngoài chính Ngôi Vị Thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đúng như sách Khôn Ngoan mô tả : Người tìm thấy niềm vui giữa loài người … “Người đã làm người giữa muôn người … Người đã trao ban sự sống và thiết lập sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người ” (Kinh Tin Kính của Thánh Irênê).

    Con người có được sự sống là nhờ Đức Khôn Ngoan nhập thể làm người thông ban sự sống ấy cho, và sở dĩ con người được hiệp thông với Thiên Chúa là nhờ Đức Khôn Ngoan ở giữa loài người, là chiếc cầu nối kết giữa con người với Thiên Chúa. Những lời cuối trong diễn từ về Bánh Hằng Sống của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng (Ga 6, 51-58) hôm nay là bằng chứng.

    Theo tác giả sách Châm Ngôn thì chính Đức Khôn Ngoan ban tặng đồ ăn thức uống cho những kẻ ngây thơ, tín thành và ban tặng sự sống cho kẻ bỏ đi sự ngây dại và bước đi theo đường lối khôn ngoan (x. Cn 9, 6). Theo thánh Gioan, Chúa Giêsu chính là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa từ trời nhập thể, đích thân mời gọi chúng ta ăn Người, để có sự sống trong chúng ta : “Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi” (Ga 6, 53). Bắt đầu đặt bút viết Tin Mừng, Gioan đã viết: ” Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời” (Ga 1,1). Thiên Chúa đã dùng chính Ngôi Lời mà tạo thành vũ trụ, nay lại sai Ngôi Lời xuống thế để ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu. Tin và đón nhận Chúa Giêsu là tin và đón nhận sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Tự chúng ta không thể có sự sống đời đời được, phải cậy nhờ vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa là Chúa Giêsu. Vì thế, kết hợp cả hai dòng tư tưởng, một của thánh Gioan và một của sách Khôn Ngoan, chúng ta thật hạnh phúc khi được mời gọi ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu để được sống đời đời : “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 54) và hơn thế nữa còn được Người đến cắm lều ngay nơi lòng kẻ ấy : “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy” (Ga 6, 56).

    Vậy, hãy nghe và thực hành lời khuyên của thánh Phaolô mà thận trọng trong cách ăn nết ở : ” Đừng như những kẻ dại dột, song như những người khôn ngoan” (Eph 5, 15). Ai bước theo đường lối khôn ngoan, và cư ngụ trong nhà Đức Khôn Ngoan đã xây dựng, ngồi tại bàn của của Đức Khôn Ngoan thì sẽ được ăn thoả thích những đồ ăn mỹ vị và uống rượu ngon do Đức Khôn Ngoan dọn sẵn cho.

    Chính do sự khôn ngoan của Thiên Chúa, con cái Israel mới có Manna từ trời rơi xuống làm lương thực để ăn dòng dã suốt 40 năm trường (x. Xh 16, 1- 36 ) ; Và nhờ lòng từ bi mà Chúa sai Thiên Thần mang bánh đến cho Êlia ăn, nhờ “sức của nuôi ấy, ông đi bốn mươi ngày bốn mươi đêm mới tới Horeb, núi của Thiên Chúa” (1V 19, 8) ; Hay do chạnh lòng thương, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho “ai muốn bao nhiêu tuỳ thích” (Ga 6, 11)

    Cho dù là Manna từ trời xuống, hay bánh Thiên Thần mang đến nuôi sống người ta 40 ngày cùng lắm là 40 năm đi nữa, thì những thứ bánh đó cũng chỉ là thứ lương thực rất tạm bợ, kẻ nào ăn những thứ bánh ấy vẫn đói, vẫn khát và vẫn phải chết, nghĩa là không có sự sống nơi mình.

    Hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định, Người là bánh bởi trời xuống, Người đến làm no thỏa cái đói, cái khát, nhất là cái ước vọng lớn nhất của con người mọi nơi mọi thời là sự sống đời đời.

    Nếu như trong sa mạc, Manna là quà tặng do lòng thương xót của Chúa dành cho dân, lương thực cứu đói tạm thời, nay Mình Máu Thánh Chúa là lương thực giúp người tín hữu có đủ sức, đủ nghị lực vượt qua trần thế về tới quê trời hưởng phúc vinh quang. Chẳng có gì chân thật và an ủi hơn cho những linh hồn khát khao nên thánh, nên trọn lành hãy nhớ lời sách Châm Ngôn dạy : “Hỡi những người ngây thơ hãy lại đây… hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế” (Cn 9, 5).

    Lạy Chúa, xin phái Đức Khôn Ngoan của Ngài tới đồng lao cộng khổ với chúng con, dạy cho chúng con biết tìm kiếm Chúa là nguồn mạch mọi sự khôn ngoan, ẩn mình trong Bí tích Thánh Thể, và siêng năng lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa để được sống đời đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    THÁNH THỂ

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Thịt Ta là thật của ăn,
    Máu Ta của uống, tự căn sống đời.
    Chúa thương nhân loại mọi thời,
    Hiến thân chịu chết, cho người trần gian.
    Con Người Máu Thịt thương ban,
    Thần lương sự sống, muôn vàn ân thiêng.
    Của ăn nuôi dưỡng thiêng liêng,
    Thông ban sự sống, thần thiên cao vời.
    Đức tin phó thác gọi mời,
    Tin yêu nguồn sống, rạng ngời phúc ân.
    Dưới hình bánh rượu dự phần,
    Nhiệm mầu Thánh Thể, vô ngần cao siêu.
    Hy sinh cứu độ vì yêu,
    Dưỡng nuôi hồn xác, huyền siêu ơn trời.
    Chúc khen thờ phượng Chúa Trời,
    Nguồn ban sức sống, muôn đời suy tôn.

    Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời. Đây là lời truyền dậy của chính Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là bánh hằng sống từ trời xuống. Thịt Máu của Chúa chính là bánh bởi trời. Bánh được biến đổi trong Bí Tích Thánh Thể. Chúa hiện diện thực sự trong Thánh Thể. Bánh và rượu không phải là biểu tượng mà là một thực tại biến đổi. Mọi người đều có thể lãnh nhận bánh hằng sống, nếu họ chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng và muốn lãnh nhận.

    Vào một buổi lễ sáng Chúa Nhật, tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ và bốn đứa con nhỏ ngồi hàng ghế đầu trong nhà thờ. Trong lúc truyền phép, mọi người tập trung hướng về bàn thờ cầu nguyện và thờ lạy Chúa. Người cha bế em nhỏ lên hướng về bàn thờ và thì thầm bên tai em: Đó là Chúa Giêsu nhưng em bé chẳng hiểu chi. Em hỏi lại: Cái gì? Tôi cảm nhận rằng không phải câu nói của em bé, nhưng là một diễn tả niềm tin của người cha muốn truyền lại cho con cái.

    Nhìn lại chính lòng mình, đôi khi chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta không luôn ý thức và tin tưởng thật vào sự biến đổi lạ lùng khi cử hành Bí Tích Thánh Thể. Nhà sư Nhất Hạnh trong cuốn “Sống tin Phật, sống tin Chúa Kitô” ông viết: Người giáo dân nghe lời truyền phép qúa nhiều lần và họ cảm thấy đôi khi lo ra và không tin thực sự. Nhận xét của nhà Sư Nhất Hạnh không sai.

    Chúa Giêsu xác tín: Đây là Mình Ta. Đây là Máu Ta. Khi chúng ta nhận biết sâu xa sự hiện diện thực sự của Chúa trong Bí tích Thánh Thể. Đây là một thực tại sống. Mình Máu Chúa có sức dưỡng nuôi tâm hồn. Đời sống linh thiêng sẽ không trở nên già nua và cằn cỗi.

    Phép Thánh Thể là nguồn mạch sự sống. Có lần tôi ghé thăm nhà Dòng Thánh Thể, trong nhà nguyện luôn có một chị quỳ trước Mặt Nhật chầu Thánh Thể. Các chị thay phiên hiện diện cùng với Chua Giêsu nơi Bí tích Thánh Thể suốt ngày. Nhìn gương mặt các chị rất an bình và đầy sự xác tín có Chúa đang ở cùng.

    Chúa hiện diện trong Thánh Thể không chỉ để dưỡng nuôi linh hồn mà Chúa còn muốn gặp gỡ mỗi người chúng ta. Chúa chờ đón chúng ta nơi Nhà Tạm nhưng mấy khi chúng ta dừng chân bên Chúa. Có khi cả tháng hay cả năm, chúng ta chẳng khi nào thăm viếng Chúa. Đôi khi chúng ta quá thờ ơ, ngay cả thái độ cúi đầu hay bái chào cũng không có.

    Khi xưa, tôi nhớ sau mỗi tiết học, các chú chủng sinh thường có thói quen ghé nhà nguyện viếng Chúa. Ngày nay, rất hiếm khi chúng con có thời giờ thăm viếng Chúa nơi Nhà Tạm Thánh Thể. Xin Chúa thứ tha sự vô tâm và vô tình của chúng con.

    Về mục lục

    .

    BÁNH GIÊSU

    Lm. Jos. DĐH.

    Cơm bánh, bơ sữa, cháo phở, đều được gọi là thực phẩm nuôi sống thân xác con người. Lao động chân tay, lao động trí óc, cũng là công sức đầu tư nhằm mang lại thu nhập. Tự do để kiếm tìm của cải vật chất, chức danh bổng lộc, tự do để phát tín hiệu yêu thương, kiếm tìm hạnh phúc, ai cũng có. Dù hạnh phúc vững chắc bởi công danh sự nghiệp, ý chí quyết tâm, hay hạnh phúc do vừa đủ cơm ăn áo mặc, như thế, đã được xem là thành công ở đời này rồi. Bánh cao cấp, thức uống ngoại nhập, giá cả bao giờ cũng mắc, không phù hợp cho người nghèo, mặc dù nhà sản suất không có ý làm ra sản phẩm cho người giầu. Tính thời sự mà các chuyên gia kinh tế, thời nào cũng muốn sản phẩm của mình có tính sáng tạo: ngon bổ rẻ, đảm bảo được tính vệ sinh an toàn thực phẩm, thu được lợi nhuận cao.

    Tuy không hứa hẹn một thứ bánh ngon bổ rẻ như các thương gia làm kinh tế, Đức Giêsu đã công khai rao giảng về thứ lương thực trường tồn: “bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Đức Giêsu còn mạnh mẽ hơn khi nói: “nếu các ngươi không ăn thịt Con Người, và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi”. Đồng ý rằng khát vọng của con người là tìm kiếm “bánh trường sinh”, là mong có được bí quyết sở hữu thứ lương thực bất tử. Nhưng đám đông hôm đó họ phải khựng lại vì lời Đức Giêsu, họ cho là chói tai: làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được ? Của ăn trường sinh được Đức Giêsu ban phát đã trở nên mầu nhiệm, dù không mất tiền mua, song cần phải có niềm tin, dù không trải qua sát hạch, nhưng cần có tình yêu và tấm lòng thành.

    Được trường sinh bất tử, hay được sự sống đời đời, là mơ ước của con người, là thao thức của các tôn giáo, thuốc mang lại hạnh phúc là thứ thần dược quá đặc biệt, kỳ diệu đến độ người nghèo, người không học rộng hiểu sâu lại dễ đón nhận. Kinh nghiệm cho thấy: muốn biết phải học, muốn hiểu phải nghiêm túc với chính mình, “cái được” không dừng lại ở lý thuyết, mơ ước suông. Tiền nhân đã từng nhắc con cháu: ăn có nhai, nói có nghĩ, phản ứng nhanh là cần, biết ứng phó trong mọi tình huống xảy đến là tốt, nhưng biết đúng, biết chính xác, mới đáng gọi là đạt tới hạnh phúc thật.

    Bánh trường sinh còn gọi là Bánh Giêsu, nhiều tâm hồn thành kính đang hàng ngày, hàng tuần, sốt sáng lãnh nhận, qua thực hành niềm tin, Bánh Giêsu biến đổi tâm tính các nhiệm thể nên giống Chúa, và dẫn dắt họ đạt tới sự sống đời đời. Bánh, cá, là thứ lương thực nuôi người Do-thái, cơm, phở, người Việt vẫn ăn để thân xác tồn tại, còn “thần lương” nuôi linh hồn, ban sự sống đời đời, vẫn mãi là niềm tin người ta phải thực hành. Đức Giêsu nói với đám đông năm xưa: “ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”; nhưng họ không hiểu, không tin, phải chăng vì con người chỉ thích những thứ hạnh phúc ở hiện tại ?

    Thực ra: hạnh phúc không tự đến, đau buồn không phải sự việc bất ngờ…, việc ăn bánh gì để sống, hoặc tại sao muốn được trường sinh bất tử, luôn cần đến tình yêu và lương thực đặc biệt. Làm sao hôm nay chúng ta có được lập trường vững chắc về sự sống đời đời, nếu chúng ta không thật lòng tin tưởng và kết hiệp với Đấng đã công khai về Bánh thần lương được ban phát. Bánh nuôi xác, Bánh nuôi hồn, tuy khác nhau, nhưng đã cho thấy một điểm chung là sống hạnh phúc và sống đời đời, đều phải có tình yêu thương của người lãnh nhận. Tìm hạnh phúc đời đời thì đến với Đức Giêsu, đến với niềm tin để có Bánh nuôi hồn. Cơm áo gạo tiền để nuôi thân, để che đậy những khiếm khuyết thân xác. Bánh Giêsu là Bánh nuôi dưỡng tình yêu, bình an, và niềm vui, xoa dịu những khổ đau tinh thần trên hành trình đạt tới hạnh phúc trường sinh.

    Trong cuộc sống, có những người chỉ lo chạy bon bon trên đường, nên đã không thể tìm thấy thứ mình cần tìm, họ đánh mất cả cơ hội thưởng thức tiếng suối reo và hoa đồng nội xinh đẹp bên đường. Người ta vì quá bận tâm đến cơm bánh nuôi thân xác, nên không còn thời giờ để chia sẻ tình yêu thương cho gia đình bé nhỏ mà các thành viên của họ đang cần. Bánh Giêsu là Bánh trường sinh được ban tặng cho những ai sống niềm tin kitô giáo, nhưng vì nhiều lý do, vẫn không ít người để mất cơ hội không đón nhận thần lương bất tử đó. Bánh Giêsu là Bánh nuôi linh hồn, Bánh có sức mạnh thiêng liêng nhằm giúp tâm hồn trưởng thành và thấy được, cảm nhận được “trường sinh bất tử” là có thật, là đang tuỳ thuộc tự do chọn lựa của mỗi người tin vào Đức Giêsu. Amen.

    Về mục lục

    .

    BÁNH HẰNG SỐNG

    Lm. Nguyễn Thái

    Tôi còn nhớ một trò chơi khi còn bé có tên là “thiên đàng hỏa ngục”. Trẻ con thường tụ họp nhau lại ở sân trường học. Nhiều trò chơi cần có hai nhóm, hoặc là “oánh tù tì” hay “thiên đàng hỏa ngục”. Một chuỗi trẻ con xếp hàng dài, chui qua một cái cổng do hai đứa đứng nắm tay nhau giơ cao lên làm cổng. Trẻ con vừa đi chui qua cổng vừa đọc: “Thiên đàng hỏa ngục hai bên. Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn. Đêm nằm nhớ Chúa nhớ cha. Đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn. Linh hồn phải giữ linh hồn. Đến khi gần chết được lên thiên đàng.” Vừa đọc xong câu này, cổng xập xuống, chặn lại hỏi: “Lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục?” Bọn con trai thường mánh mung với nhau để về một phe, phe đó là phe xuống hỏa ngục. Thường thì phe này bao giờ cũng thắng trừ trò chơi nhẩy dây!

    Trong các bài đọc hôm nay chúng ta được mời gọi để trở nên khôn ngoan và tìm kiếm sự khôn ngoan đích thực. Tuy nhiên sự khôn ngoan đích thực không thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu, ngoại trừ nơi chính Thiên Chúa, nơi Lời của Người, nơi chính Mình và Máu Con Thiên Chúa ban sự sống đời đời: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống ” (Ga 6: 51).

    Trong bài đọc thứ hai hôm nay (Ep 5:15-20), Thánh Phaolô nói đến một khía cạnh của sự khôn ngoan. Đó là sự chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu, giữa sự thật và sự giả dối. Sống vâng theo thánh ý Thiên Chúa là đầu mối của sự khôn ngoan: “Hãy sống như những người khôn ngoan: biết lợi dụng thời giờ… hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa” (Ep 5: 15-17).

    Thánh ý Thiên Chúa nằm trong những luật tự nhiên của vũ trụ, trong lương tâm đạo đức của con người, và trong mạc khải của Thánh Kinh và Thánh Truyền. Trong những huyền thoại về “Vua Salomon Khôn Ngoan” đã được truyền tụng qua các thế hệ, có câu chuyện kể sau đây: ngày xưa, có một bà hoàng hậu rất giầu sang đã mời vua Salomon tới cung điện của bà để thử tài khôn ngoan chưa từng có trên đời của vị vua nổi tiếng này xem có đúng không. Bà đem trình vua Salomon hai bó hoa và tuyên bố: “Một bó hoa được chế tạo ra bởi một tay thợ thủ công tài giỏi, và một bó hoa thật cắt từ vườn hoa. Chúng tôi muốn được chứng kiến, qua sự khôn ngoan của ngài, xin ngài cho chúng tôi biết bó hoa nào là bó hoa thực.” Vua Salomon ngồi quan sát kỹ lưỡng mỗi bó hoa. Mầu sắc cũng như cành lá thật giống nhau. Cả hai đều có những giọt sương, và ngay cả những khuyết điểm bất toàn cũng giống nhau. Vua Salomon không thể nói lên sự khác biệt được. Ngay lúc vua sắp sửa chấp nhận thua cuộc thì một con ong đã bay vào cung điện qua cánh cửa sổ mở. Những cận thần trong cung điện cố gắng ra sức bắt đuổi con ong, nhưng vua Salomon ra dấu cho họ cứ để con ong trong phòng. Con ong bay lượn một vòng khắp phòng và sau cùng nó đã đậu lên một trong hai bó hoa. Lập tức, vua Salomon công bố bó hoa đó là hoa thật. Đấng Sáng Tạo đã xếp đặt định luật của Ngài nơi vũ trụ thiên nhiên để dạy ta biết phải học hỏi sự khôn ngoan của Ngài, Nguồn Mạch của thiên nhiên và sự sống trên vũ trụ nầy.

    Một trong những tác giả bảo vệ đức tin ở thế kỷ thứ 20 là G.K. Chesterton. Trong cuốn “Orthodoxy” (New York: Image Books, 1959), Chesterton đã viết về sự quan trọng của truyền thống, một nguồn sống khôn ngoan vĩ đại cho các Kitô hữu: “Truyền thống có thể được định nghĩa như một sự mở rộng của quyền bầu cử. Truyền thống có nghĩa là bỏ phiếu cho phần ít người biết đến nhất trong tất cả các giai cấp, tổ tiên của chúng ta. Đó là nền dân chủ của những người đã chết. Truyền thống từ khước chịu phục tùng tập đoàn đầu sỏ nhỏ bé và kiêu căng của những người có vẻ tỏ ra quyền hành. Tất cả những người dân chủ phản đối lại những con người đang bị mất tư cách bởi tình cờ sinh ra. Truyền thống chống lại sự đánh mất tư cách của họ bởi tình cờ chết đi. Dân chủ nói với chúng ta không được chểnh mảng ý kiến của một người tốt, ngay cả nếu người đó là cha của chúng ta. Ở bất cứ cấp độ nào, tôi cũng không thể tách rời hai tư tưởng dân chủ và truyền thống; đối với tôi dường như chúng là một.”

    Người khờ dại là một người hay một cộng đoàn tự giới hạn mình vào thời gian hiện tại. Chúng ta có rất nhiều điều phải học hỏi từ các tiên tri, các tư tưởng gia và các nhà hiền triết ở quá khứ. Truyền thống là tiếng nói khôn ngoan của họ.

    Và trong bài Phúc Âm Chúa Giêsu đã mạc khải chân lý tối hậu của sự khôn ngoan là được nối kết với đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa qua việc đón nhận Mình và Máu của Con Thiên Chúa: “Cũng như Cha, là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính Người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta” (Ga 5:57).

    Trong Thông Điệp Ecclesia De Eucharistia, Đức Gioan Phaolô II đã viết: “Hiệu năng ban ơn cứu độ của hy tế được thực hiện trọn vẹn khi Mình và Máu Chúa được tín hữu lãnh nhận qua việc rước lễ. Tự bản chất, hy tế tạ ơn hướng đến sự kết hiệp nội tâm của người tín hữu với Đức Kitô qua việc rước lễ, sự kết hiệp đó mà Người so sánh với sự kết hiệp trong đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi thật sự đã thực hiện” (đoạn 16). Ngài đã trích lời của Thánh Êphrem đã viết như sau: “Người đã gọi tấm bánh là Thân Mình hằng sống của Người và đã lấp đầy tấm bánh đó bằng chính Người và Thánh Khí của Người. Tất cả anh chị em, hãy cấm lấy mà ăn; và cùng với bánh ấy, hãy ăn Chúa Thánh Thần. Vì đó đích thật là Mình Thầy và ai ăn sẽ có được sự sống đời đời” (đoạn 17).

    Chúa Giêsu đã biết rằng đời sống con người tuy được Thiên Chúa ban cho mọi ơn lành, nhưng do tội lỗi đã làm cho cuộc sống trở nên đầy những gian nan, thử thách và thù nghịch. Để giúp chúng ta vượt qua những khó khăn này, Ngài đã trở nên “bánh từ trời”, hiện diện trong Nhà Tạm để thực hiện lời Ngài đã hứa. Ngài đã trở nên nguồn sức mạnh như Lửa và Thánh Khí để nâng đỡ chúng ta trên cuộc hành trình chông gai về thiên quốc.

    Một câu chuyện kể về một em bé trai sống trong viện mồ côi. Em luôn ước ao rằng mình có thể bay được như chim. Em luôn thắc mắc tại sao mình không bay được, và lý luận rằng ở sở thú có những con chim còn to lớn hơn em nữa nhưng chúng lại bay được. “Tại sao mình không thể bay? Chắc có gì không ổn!” Em tự nghĩ như vậy.

    Một em bé trai khác bị khuyết tật từ khi mới sanh. Em bị què không thể đi và chạy được. Em luôn mơ ước làm sao mình có thể đi lại và chạy nhảy như mọi em khác. Một ngày kia, em bé trai muốn được bay như chim, đi lang thang ngoài công viên, tình cờ gặp em bé bị khuyết tật đang chơi nghịch cát. Em đến làm quen và hỏi xem nó có muốn được bay như chim không. “Không”, em khuyết tật trả lời. “Tôi chỉ muốn được đi lại và chạy nhảy như mọi người thôi!” “Thế hả, tội nghiệp cho bạn!” “Thế chúng mình có thể làm bạn với nhau được không?” em muốn được bay như chim hỏi. “Được chứ!” Rồi hai em cùng chơi với nhau. Chúng đắp những ngôi nhà bằng cát, bắt chước những âm thanh của các loài chim chóc và thú vật, rồi lăn ra cười thích thú. Đang vui đùa thú vị thì cha của em khuyết tật đến với chiếc xe lăn đón con về nhà. Em muốn bay như chim nói: “Bạn là người bạn duy nhất, bạn ước ao đi lại và chạy nhảy như mọi người, nhưng không thể làm được. Tôi có thể làm điều đó cho bạn.” Rồi em trai mồ côi quay lưng lại, nói với em khuyết tật bám chặt lấy cổ nó, cõng trên lưng. Nó lấy đà chạy thật nhanh. Hai tay vòng ra sau ôm chặt lấy em khuyết tật. Nó chạy băng qua vườn cỏ. Ráng sức chạy nhanh hơn nữa băng qua công viên. Gió thổi vù vù trên khuôn mặt rạng rỡ của hai đứa trẻ. Người cha cảm động nhìn thấy đứa con khuyết tật của mình giang hai cánh tay ra đập lên đập xuống như chim bay, rồi nó la thật to: “Con đang bay! Ba ơi! Con đang bay!”

    Dưới một góc cạnh nào đó, câu chuyện này giúp chúng ta hiểu về sức mạnh của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể. Ngài sẽ giúp vượt qua nhưng gian nan thử thách mà tự sức chúng ta không làm được. Chúng ta phải lấy Bí Tích Thánh Thể làm trung tâm điểm của đời sống thiêng liêng.

    Trong cuốn “The Song of the Bird”, cha Anthony de Mello, S.J., đã kể câu chuyện ngụ ngôn “Thượng Đế Là Lương Thực” như sau: Ngày kia Thượng Đế quyết định thăm viếng trái đất. Do đó Ngài đã sai một thiên thần đi dò thám trước khi đích thân Ngài xuống thăm viếng. Thiên thần trở lên và làm tờ tường trình như sau: “Phần đông loài người thiếu ăn và nhiều người không có công việc làm.” Thượng Đế phán: “Vậy chính Ta đích thân làm của ăn cho những ai đói khát và trở nên việc làm cho những ai thất nghiệp.”

    Ngay những tháng đầu tiên bước chân vào tiểu chủng viện, chúng tôi đã được các cha giáo dạy bảo và thực hành việc tham dự Thánh Lễ mỗi ngày. Sau mỗi giờ học, trong thời gian giải lao 15 phút, tất cả các chủng sinh có thói quen vào nhà nguyện viếng Thánh Thể. Chính sự thực hành này đã là nguồn sức mạnh thúc đẩy và hỗ trợ tôi trong bước đường theo đuổi ơn kêu gọi.

    Nơi Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta tất cả những gì Ngài có: Mình Máu Ngài, tình yêu, sức mạnh, niềm vui, sự bình an và khôn ngoan. Ngài không còn gì quý hơn để cho chúng ta nữa. Chính sự hiện diện thực sự của Ngài sẽ thay đổi cuộc đời của ta.

    Về mục lục

    .

    TIỆC THÁNH THỂ

    Bm. Minh Trân

    Anh chị em thân mến,

    Hôm nay con xin chia sẻ một vài suy tư về vấn đề ăn uống. Lý do là vì Lời Chúa trong Chúa Nhật tuần này nói đến chuyện ăn uống: bài đọc 1, nói đến rượu, tiệc: “Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi.” Bài đáp ca, thì kêu gọi: “Các bạn hãy nếm thử…” Và đến bài Phúc Âm, Chúa cũng phán: “Thịt Ta thật là của ăn, và Máu Ta thật là của uống… ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời.”

    Ngồi dọn bài giảng mà bụng con cứ sôi sùng sụng. Lời Chúa thì hướng về các vấn đề siêu nhiên, mà tâm trí con thì cứ toàn nghĩ lung tung… nào là dê nướng, heo rừng xào lăn, rồi lại thêm mấy đĩa tiết canh vịt thỉnh thoảng bà con mời thưởng thức đó đây… tội lỗi, tội lỗi…

    Ăn uống, như chúng ta đều biết, là chuyện bình thường và là nhu cầu cần thiết của hết mọi người. Chúng ta được nghe, “Có thực mới vực được đạo.” Không ăn, thì không thể sống… trừ một vài trường hợp đặc biệt như trong trường hợp của cô Therese Newmann, là người được in 5 dấu thánh. Suốt 36 năm trường, cô chẳng ăn uống gì cả ngoài trừ rước Mình Thánh Chúa.

    Therese được sinh ra đúng vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, 8 tháng 4, 1898, trong một gia đình Công Giáo đạo hạnh tại Bavaria, miền Bắc nước Ðức. Gia đình của Therese rất nghèo, sống bằng nghề nông. Ngay từ thuở niên thiếu, Therese đã mơ ước trở thành một nữ tu sang Phi Châu truyền giáo. Nhưng Thiên Chúa đã an bài một hướng truyền giáo khác cho cô.

    Vào buổi sáng thứ Sáu đầu tiên của Mùa Chay, ngày 5 tháng 3 năm 1926, Therese được lãnh nhận dấu thánh. Khi nằm nghỉ trên giường, cô chợt thấy trong một thị kiến, Ðức Giêsu đang quì cầu nguyện ở vườn cây dầu và thấy các môn đệ đang ngủ. Cô cảm thấy dấy lên nơi tâm hồn niềm thương cảm vô biên đối với Ðấng Cứu Chuộc. Cô cảm thấy đau đớn tột độ ở gần nơi trái tim đến nỗi có thể chết được. Khi tỉnh lại, cô thấy một vết thương ở cạnh sườn bên trái, máu rỉ ra cho đến ngày hôm sau.

    Các tuần lễ sau, cũng vào giờ đó Therese lại thấy Ðức Giêsu trong vườn cây dầu, chịu đánh đòn, chịu đội mão gai. Mỗi lần như thế, vết thương cạnh sườn cô chảy máu chan hoà đến ngày hôm sau. Ngày thứ sáu 26 tháng 3, Therese thấy Chúa vác thánh giá và té ngã dưới sức nặng. Khi tỉnh lại cô thấy một vết thương hiện lên nơi bàn tay trái của cô, không cách chi che giấu được. Khi mẹ cô hỏi tại sao bị thương như thế, Therese trả lời rằng vết thương ấy đã xuất hiện cách tự nhiên. Trong đêm thứ năm tuần thánh, tức ngày 1 tháng 4, lần đầu tiên Therese được mục kích trọn đường thánh giá từ vườn cây dầu tới đỉnh núi Sọ và cái chết của Chúa trên thập giá.

    Sau đó những vết thương khác xuất hiện thêm trên tay mặt và hai chân của cô. Cha sở Naber được mời đến. Cha vội đến nói với một linh mục khác và cha đã ghi như sau trong nhật ký của cha: “Therese nằm đó như một vị tử đạo, cặp mắt cô đầy máu và hai giọt máu chảy xuống má cô. Gương mặt cô nhợt nhạt như một người chết. Ðến 3 giờ chiều, giờ chết của Ðấng Cứu Chuộc, cô phải chịu những cơn đau khủng khiếp đến chết đi được. Sau đó, cô ngất đi hoàn toàn. Cha sở bị đánh động mạnh trước biến cố. Các dấu thánh ấy đồng thời khiến cha mẹ và cả gia đình của Therese sầu khổ tột độ.

    Ngày 4 tháng 4 là Chúa Nhật Phục Sinh, Therese được thấy Ðấng Cứu Chuộc Phục Sinh. Cô cảm thấy khoẻ khoắn trong người để có thể ra khỏi giường.

    Từ lễ Giáng Sinh 1926, Therese cảm nghiệm một sự thay đổi đột ngột là ngưng hẳn việc ăn uống. Hằng ngày sau khi rước lễ cô chỉ dùng vài giọt nước để giúp cô nuốt trôi Mình Thánh Chúa. Nhưng cha sở Naber chứng thực rằng sau tháng 9, 1927, cô không cần những giọt nước này nữa.

    Từ đó trở đi, trong 36 năm liền, Therese sống mà không cần ăn uống gì cả. Mình Thánh Chúa là thức ăn duy nhất của cô. Có lần người ta hỏi cô rằng sao cô lại có thể sống được như vậy? Cô đơn giản trả lời: “Chúa làm được tất cả mọi sự mà.” Và chẳng phải Chúa đã nói: “Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống’ sao?”

    Tiến trình phong chân phước và á thánh cho Therese Newmann đã chính thức được mở ngày 13 tháng 2 năm 2005 do Đức Cha Gerhard Mueller tại Regensburg, Germany.

    Kính thưa quí ông bà anh chị em,

    Ăn uống là nhu cầu cần thiết cho thân xác của chúng ta thế nào, thì việc Rước Mình và Máu Thánh Chúa cũng là nhu cầu cần thiết cho linh hồn và sự sống đời sau của chúng ta như vậy… và còn hơn thế nữa.

    Chúng ta cũng biết rằng máu tiêu biểu cho sự sống. Do đó, ở điểm này, chúng ta hiểu thêm khi Chúa Giêsu phán dạy phải ăn thịt và uống máu Ngài, là Ngài dạy chúng ta phải nhận lấy sự sống của Ngài vào trong mình.

    Như thế có nghĩa là gì? Con xin chia sẻ bằng một hình ảnh cụ thể. Mấy năm trước đây con có một cha bạn về thăm gia đình bên Việt Nam và khi về lại Mỹ có tặng cho con bộ sách chú giải thánh kinh của William Barclay. Cha nói bộ sách này rất hay. Và suốt mấy tháng trời mặc dù sách hay cỡ nào đi nữa thì nó cũng chẳng bổ ích gì cho con vì nó vẫn nằm trên giá sách, nằm ở ngoài con. Mãi cho đến một hôm con mở ra đọc… và rồi những dòng chữ quan trọng, những tư tưởng xúc tích được ghi khắc vào tâm trí con… thấm nhập vào con… Với Chúa Giêsu cũng thế, bao lâu Ngài chỉ là một nhân vật trong sách, trên kệ sách… và lại thật sự không ở trong ta, thì bấy lâu Ngài vẫn chẳng ích lợi và ý nghĩa gì cho ta.

    Xin Chúa ban cho chúng con lòng yêu mến Thánh Thể tha thiết. Biết sốt sắng dọn mình và rước Mình Máu Thánh Chúa để được sống và được sống dồi dào.

    Về mục lục

    .

    BÁNH BAN SỰ SỐNG

    Lm.Giuse Đỗ Đức Trì

    Có nhiều người nói rằng: “Ở Việt Nam cứ quảng cáo tặng quà miễn phí là sẽ thu hút được nhiều người”. Có một cửa hàng bán sushi quảng cáo tặng mỗi người một miếng sushi bằng miếng chả giò ăn thử, vậy mà đã có hàng ngàn người xếp hàng lũ lượt để được ăn thử. Các cửa hàng, siêu thị quảng cáo: mua một tặng một (buy one get one free) luôn luôn đông người.
    Hôm nay, Lời Chúa cũng đang mời gọi chúng ta: Hãy đến ăn bánh, uống rượu mà không phải trả tiền – free. Tuy nhiên, nhiều người tỏ ra dửng dưng với lời mời gọi quảng đại này của Chúa. Bài đọc một sách Châm Ngôn nói đến lời mời gọi của Đấng Khôn Ngoan. Đấng Khôn Ngoan chính là Thiên Chúa, là chủ tiệc, Ngài đã cất công dựng rạp, xây nhà, ủ rượu, làm thịt, dọn cỗ và cho các đầy tớ đi khắp nơi, mời gọi mọi người: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế, …các ngươi sẽ được sống và bước đi trong sự hiểu biết”. Lời mời gọi của Đấng Khôn Ngoan cho thấy sự quảng đại của Thiên Chúa. Thiên Chúa như người cha, như ông chủ hào phóng với tất cả mọi người. Ngài không quan tâm đến điều gì khác ngoài việc muốn cho mọi người được bước vào nhà, chung hưởng niềm vui và hạnh phúc với Chúa.
    Tất cả hình ảnh các ngôn sứ Cựu ước dùng để diễn tả trước về bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi dân Người và đều nhắm tới một bữa tiệc ngập tràn niềm vui hạnh phúc cùng với thịt béo, rượu ngon mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện trong thời Tân Ước. Chúa Giêsu là Đấng đến để xây dựng Nước Thiên Chúa và Ngài mời gọi mọi người, mọi dân bước vào nhà của Chúa để cùng hưởng chung bữa tiệc hạnh phúc. Trong bữa tiệc này mọi người được ăn, uống chính máu thịt Con Thiên Chúa. Của ăn của uống này sẽ đem lại niềm vui, hạnh phúc và sự sống đời đời cho con người.
    Tin Mừng hôm nay tiếp nối những đoạn Tin Mừng chúng ta đã nghe vào các tuần trước: Sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi hơn năm ngàn người, những người Do Thái nghĩ rằng từ nay, theo Chúa họ sẽ không phải làm việc nữa vẫn có bánh ăn. Chúa Giêsu đã cảnh báo họ không những phải siêng năng làm việc để nuôi sống thể xác, mà còn phải chuyên chăm tìm kiếm lương thực nuôi sống linh hồn. Đoạn Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói rõ thứ lương thực nuôi sống linh hồn, đem lại sự sống đời đời là chính máu thịt của Ngài: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Khi Chúa Giêsu nói đến bánh từ trời, người Do Thái có thể dễ dàng chấp nhận, vì cha ông họ ngày xưa cũng được ăn Manna từ trời. Tuy nhiên, khi Chúa nói bánh đó là máu thịt của Ngài thì người Do Thái đã thực sự bị sốc. Họ tranh luận: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?” Đối với người Do Thái, luật buộc họ phải tránh xa máu. Vì máu là sự sống, thuộc chủ quyền của Thiên Chúa, không ai được phép đụng đến máu, chỉ trừ các tư tế. Cũng vậy, luật Do Thái chỉ cho phép ăn một số thịt loài vật, có những con vật bị coi là vật cấm không được ăn vì ô uế. Do đó, khi Chúa Giêsu nói đến việc ăn thịt của Ngài là điều người Do Thái khó chấp nhận, họ nghĩ rằng, Chúa Giêsu mời gọi họ ăn thịt người.
    Chúa Giêsu không mời chúng ta ăn thịt thường, mà Ngài mời gọi chúng ta ăn thịt và uống máu của Ngài. Thịt máu này được Chúa Giêsu ban tặng trong bữa Tiệc Ly khi Người cầm lấy bánh trao cho các môn đệ và nói: “Đây là mình thầy sẽ bị nộp vì các con, các con hãy cầm lấy mà ăn”. Người cầm lấy chén rượu trao cho các môn đệ và nói: “Đây là chén máu Thầy đổ ra cho muôn người được tha tội, các con hãy cầm lấy mà uống”. Với hành động này, Chúa Giêsu đã dùng quyền năng của Thiên Chúa biến bánh thực sự trở nên thịt của Ngài và rượu nho trở nên máu của Người thật. Chúa Giêsu lại còn làm phép lạ để cho thịt của Ngài vẫn giữ nguyên hình dạng và mùi vị của bánh, và máu Người vẫn giữ nguyên hình dạng và mùi vị của rượu, để cho con người có thể dễ dàng đón nhận và hưởng dùng. Khi ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu, chúng ta đón nhận trọn vẹn Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Vì là thịt máu của Thiên Chúa thật, nên lương thực này có sức mạnh thần linh của Thiên Chúa. Đón nhận máu thịt này, chúng ta đón nhận chính sức sống thần linh từ nơi Thiên Chúa thông chuyển cho chúng ta. Vì thế, Chúa Giêsu quả quyết: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”. Thiên Chúa sẽ ban cho những ai ăn thịt, uống máu Ngài được sống lại trong ngày sau hết và là bảo đảm cho sự sống đời đời.
    Tuy nhiên, một khi đưa tay đón nhận máu thịt Chúa, chúng ta phải đáp ứng những đòi hỏi của Chúa, đó là không ngừng để cho máu thịt của Chúa thấm vào con người chúng ta, nuôi dưỡng và biến đổi chúng ta nên giống Chúa mỗi ngày. Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta cách sống phù hợp những đòi hỏi của Chúa, đó là phải tìm hiểu ý Chúa mỗi ngày để điều chỉnh lại cách ăn nết ở của mình: “Đừng sống như kẻ khờ dại nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời gian hiện tại để sống tốt”. Thánh Phaolô còn căn dặn kỹ hơn: “Anh em đừng để mình ngu muội, nhưng hãy tìm ra ý Chúa. Chớ rượu chè say sưa, vì say sưa đưa đến trụy lạc”. Thánh Phaolô còn khuyên chúng ta phải sống thể hiện niềm vui của những người con Chúa: “Hãy cùng nhau hát những bài thánh vịnh, thánh ca do thần khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca tụng Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha”. Sống như thế là chúng ta sống con người mới, con người được nuôi dưỡng bằng lương thực thần linh, bánh ban sự sống.
    Thưa quý OBACE, lời mời gọi của Chúa ngày xưa cũng đang được gửi đến mỗi chúng ta ngày hôm nay. Cũng như các cha mẹ trong gia đình vui mừng khi thấy các con cái cùng xum họp trong nhà. Thiên Chúa cũng như thế, Ngài là cha muốn thấy tất cả con cái xum họp trong nhà của Ngài, cùng ăn tiệc thánh mà Chúa thiết đãi. Vì thế, sống tình con thảo trước hết là mỗi người đáp lại lời mời gọi của Chúa và sự mong đợi của Chúa, đến tham dự bữa tiệc Chúa ban tặng. Kế đến là lãnh nhận lương thực Chúa dọn sẵn là Mình và Máu của Chúa Giêsu. Ăn tiệc thánh này, Chúa sẽ đi vào trong trái tim, tâm hồn từng người chúng ta, thông truyền sự sống và biến đổi chúng ta nên con người mới và trở nên thánh. Đón nhận Mình Máu Chúa chúng ta được trợ lực để chiến đấu với những khó khăn thử thách và những cám dỗ của xác thịt, ma quỷ. Đón nhận Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta được nuôi sống cả thể xác lẫn linh hồn và còn là bảo đảm chắc chắn cho hạnh phúc đời đời.
    Thưa các bậc làm cha mẹ! Chúng ta vất vả sớm tối để lo cơm áo gạo tiền cho con cái là điều chính đáng. Chúng ta vất vả để lo cho gia đình được sung túc là điều hợp lý, nhưng nếu chúng ta không lo tìm kiếm lương thực thiêng liêng cho gia đình là điều vô cùng thiếu sót và không lo xây dựng cho gia đình mình êm ấm hạnh phúc, đạo đức đó là thiếu trách nhiệm. Có nhiều người cảm thấy lúng túng không biết phải bắt đầu từ đâu. Lời Chúa hôm nay chỉ cho chúng ta: Hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể mỗi ngày trong Thánh Lễ, đón rước Ngài vào tâm hồn và đem Chúa về gia đình. Chúa sẽ chỉ cho chúng ta biết cách phải làm và Chúa sẽ biến đổi bản thân và gia đình chúng ta.
    Lối sống của xã hội ngày nay đang khuyến khích và lôi kéo con người chiều theo bản năng. Mỗi khi để mình sống theo bản năng, con người sẽ bị suy thoái xuống hàng con vật. Chúng ta là con của Thiên Chúa, Chúa muốn chúng ta sống xứng với phẩm giá con người và còn xứng với phẩm giá là con Thiên Chúa. Chúa ban cho chúng ta phương thế để thực hiện lời mời gọi này. Mỗi người, cách riêng các bạn trẻ đừng ngại đến với chúa Giêsu Thánh Thể, đừng ngại rước mình máu Chúa, đừng ngại sống theo Lời của Chúa. Lời Chúa không làm cho chúng ta trở nên quê mùa lạc hậu, nhưng Lời Chúa giúp chúng ta mỗi ngày nên mới mẻ sinh động hơn; Mình Máu Chúa sẽ giúp ta mỗi ngày trở nên xinh đẹp hơn, đáng yêu hơn trước mắt Chúa và mọi người. Vì tâm hồn có Chúa sẽ có niềm vui, cuộc đời có Chúa, ta sống sẽ có ý nghĩa hơn. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY LỜI CHÚA, SỐNG SỰ ĐỜI

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

    “Anh em hãy cẩn thận xét xem cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan” (Ep 5,15).

      Khờ dại ở đây là gì ? Khôn ngoan ở đây là gì? Vấn để ở đây là không phải khôn ngoan theo kiểu người đời mà là những hiểu biết khôn ngoan của người có lòng tin làm vui lòng Thiên Chúa. Khôn ngoan theo kiểu người đời là khờ dại. Khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa mới là khôn ngoan. Vậy ta phải xem xét cẩn thận cách ăn nết ở của mình, đừng sống khôn ngoan theo kiểu người đời, nhưng hãy khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa. Khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa là gì, ta cùng suy gẫm.

      Trong bài đọc 1 có viết: “Hãy đến mà ăn Bánh của Ta và uống Rượu do Ta pha chế. Đừng ngây thơ khờ dại nữa và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (Cn 9,5-6).“Ta” đây là Đức Khôn Ngoan, tức là chính Thiên Chúa. “Bánh” đây, không phải là bánh mì mà là Bánh của Thiên Chúa, tức là Lời của Chúa. “Rượu” đây, không phải là rượu đế, rượu nho mà là Rượu của Thiên Chúa, tức là sự khôn ngoan của Chúa.

      Ta hãy nghe thánh Phao-lô nói về sự khôn ngoan này: “Biết tận dụng thời buổi hiện tại” (c16); “tìm hiểu đâu là ý Chúa” (c17); “thấm nhuần Thần Khí” (c18). Như thế, người khôn ngoan là người biết tận dụng thời buổi hiện tại; biết tìm hiểu đâu là ý Chúa và thấm nhuần Thánh Thần.

      Ta tận dụng thế nào và tìm hiểu ý Chúa ra sao ? Ta hãy đặt ra những câu hỏi và trả lời như: Ta sống trên đời này để làm gì ? Sống để ăn hay ăn để sống? Tại sao ta phải đau khổ, bệnh tật và phải chết ? Chết rồi đi đâu ?

    Người khôn ngoan là người biết mình sống ở đời để làm gì. Vì khi biết được mục đích, ta sẽ làm mọi sự vì mục đích đó.

    Nếu mục đích của ta là tiền của, danh vọng thì ta sẽ ra sức làm việc này việc kia để có được nhiều tiền, nhiều của; giàu sang phú quí và có danh vọng. Nếu mục đích của ta chỉ là sống ở đời này thôi, ta sẽ không cần đọc kinh, cầu nguyện làm chi cho mất thì giờ, mất công.

    Nếu mục đích của ta là sự sống đời đời, ta phải lo tận dụng những năm tháng ta sống trên trần thế và tận dụng mọi cơ hội, mọi hoàn cảnh để đạt được Nước Trời. Nếu mục đích của ta là ơn Chúa, ta sẽ lo đọc kinh, cầu nguyện và dâng lễ. Nếu mục đích của ta là thiên đàng, ta sẽ tận dụng mọi khó nhọc, những bệnh tật, ta chịu đựng để đền bù những tội lỗi của mình, mai sau đỡ ở lâu trong luyện ngục.

    Vậy ai là người khôn ngoan đây ?

    Người ta nói, kiếp người là sinh-lão-bệnh-tử. Nghĩa là ai đã là người thì có lúc được sinh ra, lớn lên và già đi. Trong thời gian sống, lúc còn trẻ thì khỏe nhưng khi có “tí tuổi” thì hết bệnh này đến bệnh kia; lục phủ ngũ tạng “rơ” hết. 60 năm còn chạy tốt, nhưng 80 năm e sụm bà chè. Và cuối cùng là chết. Ai cũng phải chết.

    Về kiếp người ta nghĩ cũng lạ. Lúc mới sinh, tay chân nhỏ xíu, làm việc, đi đứng không được, phải nằm, phải lật, phải bò, rồi mới tập tễnh bước đi. Răng cỏ không có, ăn không được, phải có người đút, mớm cho ăn. Ấy thế, khi lớn lên, trưởng thành được một thời gian, khi tuổi già sức yếu, có chân, có tay đấy nhưng cũng chẳng làm được gì, đi đứng phải có người giúp hay phải chống gậy; răng cỏ rụng dần, trơ trơ cái lợi; cũng không tự mình ăn được phải có người đút cho. Khi không còn sức ăn nữa thì chết.

    Thế thì, trước khi được sinh ra ta ở đâu và sau khi chết ta đi đâu? Ta sống ở đời này để làm gì thế ? Chẳng lẽ ta sống chỉ để ăn sao ? Chết rồi là hết sao ?

    Con vật chết là hết, nhưng con người chết chưa hết, vì ta có linh hồn. Thực tế cho thấy, ở đâu hay bất cứ thời đại nào, có đạo hay không có đạo, người ta đều cầu cho người chết. Cầu nguyện để làm chi ? Cầu nguyện cho người chết mau lên nhập Niết Bàn hay mau được lên Thiên Đàng. Nếu người chỉ lo sống ở đời này, không lo nên thánh nên thiện, thì chết rồi có được lên thiên đàng không; có được nhập niết bàn bàn không ? Chắc chắn là không rồi.

    Bởi đó mà thánh Phao-lô khuyên: “Đừng sống khờ dại nữa, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì ta đang sống trong những ngày đen tối”. Nghĩa là ta phải biết tận dụng những thời gian mình còn đang sống, không phải để làm giàu mà là để lập công; để nên thánh nên thiện. “Ta đang sống trong những ngày đen tối”, không phải là ta đang sống trong những ngày xấu, mà những ngày này đối với những ngày ta được sống trong ánh sáng hạnh phúc thiên đàng thì những ngày ta sống trên trần gian này là đen tối. Một cách chơi chữ thôi.

    Có thể nói những ngày ta đang sống là những thời cơ thuận lợi, là dịp rất tốt để ta có thể đạt được hạnh phúc thiên đàng. Ta phải chuẩn bị cho sự sống đời đời của ta ngay từ bây giờ, chứ đừng chỉ dựa vào sự cầu nguyện của người khác. Phần của ta phải là chính, ta phải cố gắng đến 90 hay 99%, thì ta mới cơ may lên thiên đàng nhanh chóng, không thì sẽ rất lâu đấy.

    Người có được sự hiểu biết này là người khôn ngoan và thấm nhuần Thánh Thần. Vì họ ăn Bánh Lời Chúa; họ nghe, suy niệm và sống Lời Chúa. Hằng ngày họ đến với Chúa để xin ơn trợ lực. Với ơn Chúa họ đã, đang và sẽ cố gắng cho đến hơi thở cuối cùng. Còn sống được ngày nào là họ cố gắng ngày đó. Họ tận dụng mọi cơ hội để nên thánh nên thiện; họ tận dụng những thời gian, những giây phút, những ngày giờ để lập công, đền tội.

    Nào là những khó khăn, vất vả; nào là thất bại, ốm đau; nào là những gian truân, khốn khổ, họ chấp nhận hết những sự đó để đền tội ngay ở đời này, cũng như giúp họ biết kiên trì, nhẫn nại mà sống khiêm nhường, hạ mình. Chắc chắn họ sẽ có những thành công và thành công lớn nhất của họ là nên thánh nên thiện. Đó chẳng phải là người khôn ngoan lắm sao !!!

    Cái khôn ngoan này là khôn ngoan của Chúa, vì do việc nghe, suy niệm và sống Lời Chúa mà ra. Càng suy niệm và sống Lời Chúa bao nhiêu ta càng hiểu biết nhiều bấy nhiêu. Hiểu biết đây là hiểu biết chân lý; hiểu biết ý Chúa; hiểu biết về thiên đàng và tận dụng những thời gian mình đang sống để lên thiên đàng sống đời đời.

    Việc này tôi gọi là : “Suy Lời Chúa, sống sự đời”. Nghĩa là ta suy gẫm Lời Chúa, để ta có sự khôn ngoan của Chúa mà sống sự đời. Nói theo kiểu thánh Phao-lô là tận dụng sự đời, nhằm chuẩn bị cho tương lai của mình. Tương lai của mình có sáng lạn hay không là do mình biết chuẩn bị ngay từ bây giờ. Mình có được lên thiên đàng hay không là do có biết tận dụng những thời gian mình sống trên trần gian này hay không.

    Thế thì thì ai khôn ai dại ? Người biết chuẩn bị xa là người khôn ngoan. Người biết tận dụng thời buổi hiện tại để mai sau được lên thiên đàng là người khôn ngoan.

    Vậy ta hãy suy gẫm Lời Chúa để ta có sự hiểu biết và nhờ sự hiểu biết đó mà ta biết tận dụng những ngày tháng mình sống trên trần gian này để chuẩn bị sau này ta lên thiên đàng. Ta sẽ nên người khôn ngoan, sống vui, sống khỏe ở đời này và ngày sau được sống đời đời với Chúa.

    Về mục lục

    .

    CHÚA CHO CON TẤT CẢ

    Lm.Jos Tạ duy Tuyền

    Có những tình yêu cho đi mà không cần hồi đáp. Quảng đại trao ban mà không toan tính thiệt hơn. Như tình yêu của dòng Nước. Nước ôm ấp đất, trao ban cho đất sự sống , và phù sa một cách nhưng không. Vượt hơn hẳn tình yêu của nước người ta ví đó là tình mẹ. Tình người mẹ không chỉ là giọt nước mà là cả một biển cả bao la biển rộng.

    Trong bài hát “Mẹ cho con tất cả” đã nói lên điều ấy.

    “Lòng mẹ cho con như trời như biển
    Con sẽ muôn đời nhớ mãi không quên”

    Bởi vì, trong biển bao la ấy :

     “Mẹ cho con máu đỏ hình hài

    Mẹ lo con hơi ấm những ngày trong nôi”,

    Tình mẹ mãi theo con qua dòng sữa ngọt và tiếng hát ầu ơ có khi thức trắng đêm thâu:

    “Dòng sữa thơm môi bao canh dài mẹ thức

    Câu hát ầu ơ con ngủ trên tay”

    Sự sống của mẹ là sự sống của con. Mẹ hy sinh đến hao gầy vì con:

    “Mẹ cho con bước nhỏ đầu đời

    Mẹ nhai cho cơm bún lưỡi lừa cá xương”

    Có mẹ con không sợ đói, không sợ khổ và cả không sợ hiểm nguy, vì:

    “Giọt nắng quê hương mẹ nghiêng đầu che mát

    Cơn giông bất chợt mẹ khoác áo che mưa”

    Hôm nay Chúa Giê-su bảo chúng ta rằng: tình yêu của Ngài vượt xa mọi tình yêu trên thế gian. Bởi tình Ngài như dòng nước mang lại sự mát mẻ trong ta và như tình mẹ mang lại hơi ấm tình thương.

    Cuộc đời của Ngài luôn cho đi, cho đi để tha nhân được sống và sống dồi dồi. Trong suốt hành trình dương thế, Ngài luôn cho đi tình thương, cho đi thời giờ để xoa dịu nỗi đau cho nhân thế. Sự cho đi của Ngài đi đến tột cùng là cho đi đến giọt máu cuối cùng để nguồn ơn thánh đổ tràn đầy xuống nhân gian. Ngài còn cho đi qua tấm bánh được bẻ ra để trao ban sự sống đời đời cho nhân loại. Ngài bảo rằng “ai ăn bánh Ngài thì sẽ sống muôn đời”.

    Xem ra cuộc đời phải biết cho đi, càng cho đi thì giá trị mình càng cao. Giá trị con người không dựa vào tiền tài hay địa vị mà dựa trên những gì họ cống hiến cho tha nhân.

    Nhưng trong dòng đời luôn vội vã với “cơm áo gạo tiền”. Tất bật lo toan đủ điều khiến chúng ta chẳng có giờ nghĩ đến tha nhân. Trong dòng đời vội vã đó nhiều người dường như đã bỏ rơi đồng loại, đôi khi thiếu sót bổn phận với cả người thân của mình. Họ chỉ lo đối phó với công việc, với nhu cầu bản thân mà cả người thân và bạn bè.

     Chúng ta được tạo dựng đâu phải để sống riêng cho mình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác, đặc biệt là người bất hạnh, nghèo đói. Đây là quy luật của cuộc đời luôn “cho” và “nhận”. Đã nhận nhưng không thì cũng phải quảng đại cho đi. Nhưng đáng tiếc, nhiều người chỉ biết nhận mà chẳng bao giờ biết cho.

    Có một người sắp chết đuối, mọi người vây quanh hô lớn: “Hãy đưa tay ông ra cho chúng tôi cứu!”, nhưng ông ta lưỡng lự để rồi vật vã chống cự với dòng nước. Và dường như thà chết chứ không chịu đưa tay ra. Một người bạn thân biết ý liền nói: “Thằng này nó chỉ nhận chứ không bao giờ cho ai nên nó thà chết chứ không đưa ra đâu”. Thế là, người ta nói với nó: “Hãy nắm lấy tay tôi đi!”, và ngay lập tức, ông ta đã nắm chặt lấy!

    Sự khác nhau đó là gì? Rõ ràng người đàn ông trong câu chuyện này thường được nhận nhiều hơn là cho đi và ông ta đã suýt chết vì chỉ muốn được nhận!

    Con người là thế! Từ thuở lọt lòng mẹ, đã biết nắm tay lại. Chỉ biết nhận và không biết cho. Đó là lý do cuộc đời thường tranh giành nhiều hơn là nhường nhịn, là loại trừ nhiều hơn là đùm bọc yêu thương.

    Ước gì mỗi lần chúng ta rước Chúa là được đón nhận chính sự sống và tình yêu của Chúa. Xin cho tình yêu Chúa tuôn chảy trong con tim của chúng ta để chúng ta dám hiến dâng chính mình vì sự  sống của tha nhân. Ước gì mỗi người biết noi gương Chúa Giêsu trở thành quà tặng mang lại cho anh em niềm vui và hạnh phúc. Xin cho chúng ta luôn cảm nghiệm rằng “chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Amen

    Về mục lục

    .

    MẦU NHIỆM ĐỨC TIN

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Một giáo lý viên muốn chơi khăm ông cha phó: “Thưa cha, Hội Thánh dạy rằng phải kiêng thịt mỗi ngày thứ sáu. Vì thế, hôm nay ngày thứ sáu, con không dám rước Chúa vì rước Chúa là ăn thịt, uống máu Chúa Giêsu. Mà ăn thịt là lỗi luật Hội Thánh dạy”. Chắc hẳn ông cha phó dù mới ra lò cũng có đủ cách, đủ kiểu để thoát cạm bẩy của mấy tay giáo lý viên tinh nghịch ấy. Tuy nhiên, qua câu chuyện vui này, chúng ta có lẽ dễ thông cảm với người Do Thái xưa thấy khó chịu khi nghe Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51). Tin mừng tường thuật rằng họ đã tranh luận sôi nổi với nhau rằng: “làm sao ông nầy có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6,52).

    Kho tàng các chuyện dân gian về tình mẫu tử hay tình hiếu thảo vẫn có đó nhiều mẫu gương các bà mẹ cho con “uống máu”mình hay những người con hiếu thảo cắt thịt để nuôi mẹ già. Dù vậy, khi nghe đến các từ ăn thịt và uống máu người, thì chúng ta vẫn thấy gai gai, rờn rợn chút nào đó. Thế nhưng, có thể nói rằng tất cả mọi người đều đã từng ăn uống thịt máu người để được sống. Cứ vào mỗi dịp chuẩn bị cho các em xưng tội rước lễ lần đầu, tôi thường nói lên sự thật này, đó là con người chúng ta thoặt sinh ra hầu hết đều nhờ chính thịt máu của mẹ qua dòng sữa để sống và lớn lên. Đã từng một thời, nhiều bà mẹ không ý thức tầm quan trọng của dòng sữa mình trong việc nuôi con thưở con mới lọt lòng và khi con còn thơ bé. Nhờ khoa học tiến bộ và cũng nhờ các phương tiện thông tin đại chúng, ngày nay người ta biết khôn ngoan hơn khi nhìn nhận: “sữa mẹ là sữa tốt nhất cho trẻ sơ sinh và các trẻ nhỏ”. Qua hình ảnh dòng sữa mẹ, xin được chia sẻ đôi điều về chính Thịt Máu Chúa Kitô là quà tặng nhưng không, là phương dược kháng bệnh tuyệt vời và là nguồn ban sự sống đời đời.

    Thánh Thể là quà tặng nhưng không. Nói rằng nhưng không thì có thể là thừa, vì đã nói là quà tặng thì không đòi hỏi phải trả tiền hay công sức. Tuy nhiên, không nói thì cũng có thể thiếu vì trong thực tế đằng sau nhiều quà tặng vẫn có đó hậu ý “bánh ít trao đi, bánh nhì trả lại” hay chuyện trả nợ đời của những bữa tiệc cưới hỏi, đám đình. Dòng sữa mẹ trao ban cho con thơ thì như là tuyệt đối nhưng không, nghĩa là tất cả chỉ vì con và cho con, ngay cả khi con chưa cất tiếng khóc vì khát sữa. Thiên Chúa được nhân cách hóa bằng Đức Khôn ngoan đã bảo “Hãy đến mà ăn bánh của Ta, và uống rượu do Ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa…”(Cn 9,5). Ngôn sứ Isaia cũng đã từng khẳng định: “Ngày ấy trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon…”(Is 25,6) và ngài đã nói thay Thiên Chúa: “Đến cả đi, hỡi những ai đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mà mua mà dùng; đến mua rượu, mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55,1). Thánh Thể là quà tặng nhưng không. “Anh em đã lãnh nhận nhưng không thì hãy trao ban nhưng không”(Mt 10,8).

    Thánh Thể la phương dược kháng khuẩn, phòng bệnh tuyệt vời. Khôn ngoan hơn người xưa, các bà trẻ ngày nay ý thức tầm quan trọng của những “giọt sữa trong” của mình khi đứa con vừa chào đời, là một linh dược giúp đứa trẻ kháng bệnh tật hữu hiệu. Chúa Kitô minh nhiên phán: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,27-28). Mẹ Hội Thánh còn dạy chúng ta: “Việc rước lễ giúp chúng ta xa lánh tội lỗi. Chúng ta rước lấy Mình Chúa Kitô, “đã phó nộp vì chúng ta” và Máu “đã đổ ra cho mọi người được tha tội”. Vì thế, bí tích Thánh Thể không thể kết hiệp chúng ta với Chúa Kitô, nếu không thanh tẩy chúng ta khỏi tội đã phạm và giúp chúng ta xa lánh tội lỗi” (GLCG chung số 1393).

    Thánh Thể là nguồn ban sự sống thần thiêng, nhờ được kết hiệp nên một với Chúa Kitô. Qua dòng sữa, đứa trẻ ngày càng khắng khít với người sinh ra nó. Nhờ dòng sữa, cái tình giữa người mẹ và đứa con thêm đậm đà. Chúa Kitô đã từng khẳng định: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì luôn kết hiệp với Tôi, và Tôi luôn kết hiệp với người ấy”. Đời sống trong Chúa Kitô có nền tảng nơi bí tích Thánh Thể: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57) (GLCG chung số 1391).

    Không ai tự nhận là người khờ dại. Chúng ta đều muốn là những người khôn ngoan, nhưng có thể là “khôn ngoan của con cái thế gian”. Người khôn ngoan kiểu này thì tìm mọi cách thế để có được những thiện hảo đời này kể cả những cách thế phi nghĩa (x.Mt 16,1-8). Không chối cãi rằng vẫn có đó những bậc hiền triết và khôn ngoan đáng trân trọng. Tuy nhiên khôn ngoan theo kiểu này vẫn chưa đủ bảo đảm cho sự sống đời đời vì người ta có thể ỷ lại vào luận lý nhân loại để khước từ Đấng là bánh hằng sống từ trời xuống (x.Mt 11,25-56; Lc 10,21). Ngoài sự khôn ngoan chính đáng thì cần phải có lòng tin. Dù luận suy thế nào đi nữa thì Bánh hằng sống là nguồn ban sự sống đời đời, là phương dược xóa tội và giúp chống lại chước cám dỗ, là quà tặng nhưng không, mãi là mầu nhiệm của đức tin.

    Nói đến đức tin thì chúng ta nhìn nhận đó là hồng ân Chúa ban và cũng là sự dấn thân đáp trả của chúng ta. Sự đáp trả này đòi hỏi nhiều sự từ bỏ. Một trong những sự từ bỏ phải có, đó là chấp nhận sự hạn chế của lý trí trước các thực tại siêu nhiên, vì đối tượng của đức tin không minh nhiên rõ ràng theo sự luận lý của trí khôn nhân loại. Vì tin Chúa Kitô là Đấng có lời quyền năng trên bệnh tật, trên sự chết, trên cả thiên nhiên và Người là Đấng từ bi, nhân hậu, đầy lòng xót thương, nên chúng ta tin nhận những gì Người mạc khải.

    Lạy Chúa, con tin, nhưng xin củng cố đức tin cho chúng con (x.Mc 9,24)

    Về mục lục

    .

    THÁNH THỂ, NHIỆM TÍCH VÔ CÙNG CAO QUÝ!

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Trong ba Chúa Nhật liền, Lời Chúa tập trung một chủ đề duy nhất, đó là Thánh Thể. Điều này cho thấy bí tích Thánh Thể quan trọng như thế nào đối với người Kitô hữu. Giáo Hội dành nhiều thời gian tìm hiểu ý nghĩa bí tích Thánh Thể, là bí tích được cử hành mỗi ngày. Theo ý định đó, hôm nay, chúng ta tìm hiểu về ba điều quan trọng nhất nơi bí tích Thánh Thể bằng việc trả lời ba câu hỏi này: 1) Làm sao bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa? 2) Chúa Giêsu hiện diện thực sự nơi Thánh Thể không? 3) Chúng ta phải chuẩn bị thế nào là để rước lễ?

    1- Bánh rượu trở thành Mình Máu Chúa
    Trước hết, chúng ta phải nói rằng bí tích Thánh Thể là sự mới mẻ nhất do Chúa Giêsu mang lại, nhưng đồng thời cũng là mạc khải khó tin nhất đối với con người mọi thời. Quả thế, khi Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). Người Do Thái đã sốc khi nghe những lời này. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6,52).
    Đối với chúng ta hôm nay, khi dự thánh lễ, câu hỏi đầu tiên mà chúng ta thường được đặt ra là làm sao bánh và rượu trở thành Mình và Máu thánh Chúa?
    Chúng ta tìm thấy câu trả lời trong Giáo Lý Công Giáo, theo đó, khi linh mục truyền phép, chính Chúa Thánh Thần là Đấng ngự xuống trên các lễ vật, nhờ quyền năng thần linh mình, Người biến đổi bánh thành Mình Chúa Kitô và rượu thành Máu Chúa Kitô.
    Theo ngôn ngữ thần học, đây là sự biến thể (transsubstantiatio), nghĩa là một sự biến đổi từ bên trong, bản thể của bánh rượu không còn là bánh rượu nữa, nhưng trở thành bản thể của Chúa Kitô, thành Thịt và Máu Người. Thánh Cyrillô thành Giêrusalem (313-387) giải thích về sự biến thể này như sau: “Bánh này không còn là bánh, dù bằng chứng của vị giác thế nào đi nữa, nhưng là thân mình Chúa Kitô. Rượu này không còn là rượu dù giác quan có nói thế nào đi nữa, nhưng chính đây là máu Chúa Kitô” (Giáo Lý Nhiệm Huấn IV, 9)
    Bởi vậy, khi chủ tế đọc lời khẩn cầu (epiclesis) chính là lúc Chúa Thánh Thần thực hiện sự biến đổi kỳ lạ này: “Chúng con nài xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hoá những của lễ này, để trở nên cho chúng con, Mình và Máu Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.” Sau đó, chủ tế mới đọc: “Này là Mình Thầy… Này là chén Máu Thầy… sẽ đổ ra cho các con…” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
    Như thế, qua linh mục, Chúa Thánh Thần dùng quyền năng thần linh của Người biến đổi bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô.

    2- Sự hiện diện đích thực
    Câu hỏi thứ hai mà chúng ta thường thắc mắc là Chúa Giêsu có hiện diện thực sự trong bí tích Thánh Thể không? Đây cũng là “hòn đá vấp chân cho nhiều người.” Đối với những người Tin Lành và Anh Giáo, họ chỉ tin và cử thành thánh lễ như là sự tưởng nhớ; bánh và rượu chỉ là biểu tượng về sự hiện diện thiêng liêng của Chúa; họ không tin rằng Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Thánh Thể.
    Đối người Công Giáo, di sản quý báu nhất mà Giáo Hội có được chính là niềm tin vào bí tích Thánh Thể. Theo đó, chúng ta xác tín và tuyên xưng rằng: “Trong bí tích Thánh Thể cực trọng, sự hiện diện “Mình và Máu, cùng với linh hồn và thần tính, của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và vì vậy, Đức Kitô được ẩn chứa cách đúng đắn, chân thật và bản thể” (Giáo Lý, số 1374).
    Thế nên, Chúa Giêsu thực sự hiện diện dưới hình bánh rượu, dầu giác quan con người không thấy. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng hiện tại hóa hy tế thập giá xưa của Chúa Giêsu trong mỗi thánh lễ được cử hành. Nên mỗi thánh lễ là một phép lạ đang diễn ra trước mắt chúng ta. Thánh Thể quả là “mầu nhiệm Đức Tin”; Thánh Thể là nhiệm tích vô cùng cao quý!”
    Bởi thế, để đến với Thánh Thể, chúng ta cần có đức tin. Nhờ cặp mắt đức tin, chúng ta tin nhận rằng Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong Thánh Thể, Người ban Thịt và Máu Mình làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta.
    Về điều này, trong lịch sử Giáo Hội, có nhiều phép lạ Thánh Thể xảy ra để cũng cố niềm tin cho chúng ta. Ở Lanciano, nước Italia, vào thế kỷ thứ VIII, có một linh mục, thuộc Dòng thánh Basiliô, rất giỏi về khoa học, nhưng lại yếu đức tin, ngài thường nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thánh lễ. Một ngày nọ ngài đi hành hương ở Rôma. Trên đường về, ngài dâng lễ tại một nhà Dòng, sau khi truyền phép, một phép lạ xảy ra ngay tại bàn thờ, bánh trở thành thịt và rượu trở thành máu thật Chúa Giêsu. Ngày nay, người ta còn lưu giữ dấu tích cục máu đông tại Lanciano, được các nhà khoa học kiểm chứng thuộc nhóm AB như là bảo chứng của niềm tin vào Thánh Thể.

    3- Chuẩn bị xứng đáng để rước lễ
    Chúa Giêsu không chỉ mời gọi chúng ta đến nhà thờ để tham dự thánh lễ nhưng Người còn mời gọi chúng ta chuẩn bị xứng đáng để rước lễ.
    Liên quan đến vấn đề này, trong văn kiện Bữa Tiệc Thánh thánh, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói đến ba hạng người lên rước lễ:
    1) Hạng người thứ nhất lên rước lễ chỉ vì phong trào, họ sợ người ta nghĩ mình không đạo đức hay thấy người khác lên, mình cũng lên, nhưng họ không có lòng yêu mến Thánh Thể. Họ rước lễ cách bất xứng.
    2) Hạng người thứ hai là những người đang mắc tội trọng, nhưng đã đánh mất cảm thức về tội, không xưng tội, nhưng vẫn lên rước Mình Thánh Chúa. Họ rước lễ cách bất xứng và thêm tội phạm thánh. Giáo Hội dạy phải xưng tội trọng trước khi lên rước lễ.
    3) Hạng người thứ ba lên rước lễ với tâm hồn sạch tội và yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể. Họ đón nhận được muôn vàn phúc lành đến từ Thánh Thể.
    Chúng ta thuộc hạng người nào trong ba hạng người trên? Tôi không có quyền xét đoán và xếp loại ai, nhưng tôi để cho mỗi người xét mình và tự trả lời.
    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin ban cho chúng con lòng yêu mến Chúa và siêng năng tham dự thánh lễ, rước Mình Máu Chúa cách xứng đáng; đồng thời, xin giúp chúng con luôn ý thức rằng bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh” của đời sống Giáo Hội và mỗi người chúng con. Amen!

    Về mục lục

    .

    MỞ HỒN RA VỚI CHÚA

    JM. Lam Thy

    Bài Tin Mừng hôm nay (CN XX.TN-B – Ga 6, 51-58) trình thuật tiếp “Diễn từ trong hội đường Ca-phac-na-um” của Đức Giê-su Ki-tô (Ga 6, 21-66). Nghe lời giảng, đám người Do Thái xầm xì với nhau: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói “Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 42). Tuy vậy, nhưng Đức Ki-tô vẫn tiếp tục bài giảng về Bánh Trường Sinh. Người khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”; khiến đám người Do Thái lại càng thắc mắc: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”

    Cứ kể ra với trí khôn loài người thì điều Đức Ki-tô nói là thậm vô lý. Nếu nói rằng Man-na là bánh từ trời xuống do Thiên Chúa ban tặng thì còn có thể hiểu được, bởi thực sự Man-na từ trời đổ xuống như mưa trước mắt mọi người (Xh 16, 1-36). Tuy nhiên, giờ đây Đức Ki-tô lại nói chính Người là bánh hằng sống từ trời xuống, rồi còn khẳng định: “bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”; thì làm sao nghe lọt tai, nhất là loài người vẫn tự cho mình là “người” chứ không phải là “thú vật” mà có thể ăn thịt đồng loại. Cái động lực cơ bản khiến đám người Do Thái cho Lời dạy của Đức Ki-tô là vô lý, chính là lòng tin. Bởi họ không tin “ông Giê-su con bác thợ mộc Giu-se” là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nên mới xầm xì: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”

    Nếu họ hiểu và tin rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa thì vấn đề sẽ sáng tỏ ngay: Với quyền năng vô hạn của Thiên Chúa thì mọi điều “không thể” đều trở nên “có thể”. Dựng nên cả vũ trụ và con người còn được, thì sá gì một chuyện nhỏ nhặt đó. Không hẳn chỉ có đám người Do Thái thời đó cho Lời dạy của Đức Ki-tô là thậm vô lý, mà ngay ở cái thế kỷ XXI này cũng không thiếu những kẻ nghe xong liền chẹp mịêng: “Ôi dào! Chuyện không tưởng!” Họ cứ hiểu Lời dạy của Đấng Cứu Độ theo nghĩa đen và theo quy ước của loài người, bởi cho đến hiện nay đâu có một chứng tích nào cho thấy thật sự các Tông đồ tiên khởi và các tín hữu đã trực tiếp ăn thịt và uống máu của Đức Ki-tô.

    Vấn đề đặt ra ở đây là họ không hiểu “nghĩa ẩn dụ” (ví ngầm) của Lời Chúa, như trong Tông huấn Lời Chúa “Verbum Domini” (số 37) đã dạy: “Về phương diện này, người ta có thể nhắc tới 2 câu thơ trung cổ diễn tả mối tương quan giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh: “Littera gesta docet, quid credas allegoria, Moralis quid agas, quo tendas anagogia” (Chữ đen nói tới việc làm; ẩn dụ nói về đức tin; luân lý nói tới hành động; loại suy nói về số phận ta)”

    Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 116-118) giải thích rất rõ:

    1. Nghĩa văn tự:Đây là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những qui luật để giải nghĩa đúng. “Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự” (Thánh Tô-ma A-qui-nô. Tổng luận 1,1,10, 1.). (Giáo lý HTCG, số 116).
    1. Nghĩa thiêng liêng :Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến, đều có thể là những tiên trưng:

    a- Nghĩa ẩn dụ: Chúng ta có thể hiểu thấu đáo hơn các biến cố bằng cách nhận ra ý nghĩa của nó trong Đức Ki-tô. Ví dụ cuộc vượt qua Biển Đỏ là tiên trưng cuộc chiến thắng của Đức Ki-tô, do đó cũng là tiên trưng của phép Thánh Tẩy ( x. 1Cr 10,2).

    b- Nghĩa luân lý: Các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực. Các biến cố đó được viết ra “để răn dạy chúng ta” (1 Cr 10, 11) ( x. Dt 3-4, 11).

    c- Nghĩa thần bí: Chúng ta có thể đọc thấy ý nghĩa vĩnh cửu của các thực tại và biến cố, khi chúng hướng chúng ta về Quê Trời. Ví dụ Hội Thánh dưới đất là dấu chỉ Giê-ru-sa-lem trên trời ( x. Kh 21,1-22,5) (Giáo lý HTCG, số 117).

    Hai câu thơ thời trung cổ tóm tắt ý của bốn nghĩa như sau : “Nghĩa văn tự dạy về biến cố, Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, Nghĩa luân lý dạy điều phải làm, Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới.” (Rotulus prigiecaris I : ed A WALZ : Angelium 6 (1929) Augustin de Dace).” (Giáo lý HTCG, số 118).

    Đúng là Đức Ki-tô luôn dùng dụ ngôn trong khi giảng dạy. Người muốn cụ thể hoá ý nghĩa thiêng liêng thần bí ra bằng những hình ảnh sự vật trong thiên nhiên hay con người trong xã hội. Trước đó, Người đã dùng hình ảnh thực vật hay khoáng vật và nếu có dùng tới động vật thì chỉ là động vật cấp thấp như súc vật nuôi trong nhà hay động vật hoang dã. Lần này thì Người dùng tới động vật cao cấp là con người, và hơn thế nữa còn là Con Người siêu đẳng vì ngoài bản tính loài người còn có cả một bản tình siêu việt là bản tính Thiên Chúa nữa. Vì thế, phải hiểu Thịt và Máu Đức Giê-su là của ăn tâm linh bổ dưỡng linh hồn. Thức ăn tâm linh thì chủ yếu phải ăn bằng tâm linh, chớ không phải bằng thể xác. Điều quan trọng để được bổ dưỡng tâm linh là phải gặp gỡ được Đức Giê-su và nhận được sức mạnh từ nơi Người. Việc gặp gỡ Người ở đây cũng cần được hiểu là gặp gỡ bằng tâm linh chứ không phải bằng thể chất.

    Nói đến gặp nhau thường thì người ta hay nói đến cái “duyên”, nghĩa là phải có một sự đồng cảm hay một sự cộng hưởng tư tưởng nào đó làm “duyên cớ” hội ngộ (Vd: Tư tưởng lớn gặp nhau). Tất nhiên ở đây không nói đến chuyện gặp nhau bằng thể xác kiểu như “Gặp nhau tay bắt mặt mừng” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Dầu và nước không thể hòa tan với nhau được, vì hóa tính của hai chất không giống nhau. Hai chất phải có những hóa tính căn bản giống nhau mới hòa tan với nhau được (Vd: muối hoặc đường có thể hòa tan trong nước).

    Cũng vậy, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8), nên muốn gặp hay kết hiệp với Người thì chính mình cũng phải có tình yêu. Một người có tính ích kỷ, lãnh đạm với mọi người, hay có tính ganh tị, ghen ghét thì khó mà gặp được Chúa, dẫu họ có rước lễ hết ngày này qua tháng khác. Vâng, “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.” (1Ga 4, 8); “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta… Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.” (1Ga 4,12-16). Quả thật không tình yêu thì đừng nói đến chuyện gặp gỡ Thiên Chúa.

    Hóa cho nên “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối. Vì thế, anh em đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa.” (Ep 5, 15-17). Muốn hiểu được ý Chúa thì phải làm sao gặp gỡ Chúa, mà muốn gặp gỡ Chúa thì phải “sống như người khôn ngoan”. Những tư tưởng trong Bài đọc 2 hôm nay (Ep 5, 15-20) đã nhắc nhở người tín hữu phải biết “sống khôn ngoan theo Thánh ý Chúa”, phải biết chăm lo đến đời sống thiêng liêng, phải biết nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng bằng phương cách cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, ca tụng ngợi khen Thiên Chúa, và nhất là phải biết dự Tiệc Thánh Thể, rước Mình và Máu Thánh Chúa.

    Phải luôn luôn tâm niệm rằng việc ăn Mình và uống Máu Chúa hằng ngày không bao giờ là những hành động biểu diễn bên ngoài hoặc những việc làm vô thức theo thói quen hay vì sĩ diện. Ý Chúa dạy không phải và không thể là trực tiếp ăn Thịt và uống Máu Chúa, cũng như không phải và không thể là cứ vô tư ăn bánh và uống rượu đã truyền phép mà không biết dọn dẹp sạch sẽ ngôi đền Thánh Linh, sẵn sàng “Mở hồn ra với Chúa, mở tim ra với đời”. Thật vậy, việc “mở miệng ra ăn” Mình Thánh Chúa chỉ thực sự đem lại hiệu quả tốt đẹp, đem lại cuộc sống vĩnh cửu mai sau, khi linh hồn biết “mở ra đón Chúa” và trái tim biết “mở ra với anh em”. Lương thực siêu nhiên phải được ăn bằng hành động siêu nhiên là thế.

    “Mở hồn ra với Chúa” ư? Kẻ viết bài này vẫn chưa quên câu chuyện Mẹ thánh Tê-rê-sa Calcutta khi được hỏi về “bí quyết nào giúp Mẹ có thể làm được những việc vĩ đại như vậy?” Mẹ đã trả lời: “bí quyết của tôi rất đơn giản: Tôi cầu nguyện”. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 2626-2643) dạy Cầu nguyện là: “chúc tụng và thờ lạy” (số 2626-2628), “khẩn cầu” (số 2629-2633), “chuyển cầu” (số 2634-2636), “tạ ơn” (số 2637-2638) và “ca ngợi” (số 2639-2643). Dựa theo định nghĩa ấy, Thomas H. Green, S.J. – tác giả cuốn “Opening to God” (Mở ra với Chúa) – dùng cách ghép những mẫu tự đầu của mỗi từ làm nên một tổng hợp cụ thể đặc biệt: “Cầu nguyện (prayer) là: Adoration (thờ lạy) + Contriction (ăn năn) + Thanksgiving (tạ ơn) + Supplication (cầu xin) => ACTS (hành động).”

    Vâng, quả nhiên “cầu nguyện là hành động”, muốn cầu nguyện phải hành động, chính bởi vì: “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.” (Mt 6, 7-8); và “Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý. Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em.” (Mc 11, 24); “Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn.” (Cl 4, 2).

    Nếu “cầu nguyện là “nâng tâm hồn và trí khôn lên cùng Thiên Chúa” (Giáo lý HTCG, số 2590) thì xin hãy “Mở hồn ra với Chúa”:

    MỞ HỒN RA VỚI CHÚA

    (OPENING OUR SOUL TO GOD)

    Mở hồn ra với Chúa

    Mở tim ra với Đời

    Đất trời muôn vạn thuở

    Một Tình Yêu lên ngôi.

    Nói tóm lại, “Trong mọi hoàn cành, anh  em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su. Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em.” (Pl 4, 6-9). Ước được như vậy.

    Ôi! Lạy Chúa! Con đã “ăn Mình, uống Máu Thánh Chúa” suốt bao nhiêu năm trường, nhưng dường như đời sống tâm linh của con chẳng tăng trưởng bao nhiêu. Xin cho con biết đặt lại vấn đề một cách nghiêm chỉnh: Thịt Máu Chúa là lương thực tâm linh, tại sao con ăn uống Máu Thịt ấy hằng ngày, hằng tuần, mà tâm linh con vẫn hèn yếu, bạc nhược? Xin ban Thần Khí soi sáng và dạy bảo con cách thức “ăn Mình, uống Máu Thánh Chúa” cho đúng với ý mà Chúa hằng mong muốn con thực hiện. Ôi! Lạy Chúa! “Tâm tư con hoan lạc được rước Mình Máu Thánh. Tâm tư con vinh hạnh được diện kiến Thánh Tâm. Biết nói chi cho cân tình Chúa thương muôn vàn. Biết đáp chi cho cân tình Chúa thương rộng ban.” (“Mình Máu Thánh” – Thu Lâm – TCCĐ). Amen.

    Về mục lục

    .

    AI ĂN BÁNH NÀY SẼ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Fx Đỗ Công Minh

    Bài Tin mừng hôm nay tiếp tục diễn từ Bánh Hằng Sống của Đức Giêsu, với lời khẳng định: “Ai ăn Thịt và uống Máu tôi thì được sống muôn đời”.  Bánh Hằng Sống được ban cho con người chính là Thịt Máu của Đức Giêsu, nghĩa là bằng chính thân mình của Ngừơi. Như vậy, con người được nuôi sống, không chỉ bằng cơm bánh, nhưng nhất là bằng sự sống thần linh của Đức Giêsu, qua chính Thịt Máu Ngài.

    Những người Do Thái lúc ấy tranh luận với nhau về việc “ Làm sao Ông này có thể cho chúng ta ăn thịt Ông ta được ?”,lời tranh luận ấy đến hôm nay và sau này vẫn còn mãi.

     Một vị Linh mục thánh thiện đã kể lại, mỗi lần Cha dâng lễ, khi đưa cao bánh Thánh và công bố lời “Đây Chiên Thiên Chúa, đây đấng xóa tội trần gian “, ông nhận ra Chúa hiện thân khuôn mặt Người trong Bánh Thánh. Lúc thì Chúa Giêsu với khuôn mặt vui tươi, như đang cười với Ông. Ông hiểu rằng Chúa hài lòng về ông. Lúc khác, vị Linh mục lại nhìn ra gương mặt đau khổ, buồn sầu trong Bánh Thánh, ông hiểu ra Chúa đang đau khổ vì tội lỗi con người xúc phạm đến Chúa, trong đó có ông. Ông xin Chúa thứ tha và tha thiết cầu nguyện nhiều hơn. Cũng có lúc với khuôn mặt tư lự trong Bánh Thánh, ông nhận ra Chúa đang ưu phiền vì nhân lọai thờ ơ với Chúa. Số người đón nhận Thánh Thể Chúa sút giảm.

      Phần con trong lòng tin, con biết rằng điều ấy không có gì khó hiểu, bởi con được sống trong bầu khí Thánh Kinh từ nhỏ, được học hỏi giáo lý, được Thánh Thần Chúa soi sáng. Con lại vẫn đang sống trong môi trường Xứ Đạo, nói rộng ra là trong lòng Giáo hội Công Giáo. Thế nhưng việc lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa có tác động gì đến cuộc sống của con?

    Con rước Mình và Máu Thánh Chúa, nhưng con có Chúa ở trong lòng ? Con có thể hiện mình đang ở lại trong Chúa? hay sau mỗi Thánh Lễ, Chúa tiếp tục ở trong nhà Tạm, trong nhà thờ. Còn con, con ra đi giữa chợ đời. Chúa vẫn là Chúa, con vẫn là con với tất cả hỉ nộ ái ố của cuộc sống trần gian.

    Nếu con có Chúa trong lòng, con có minh chứng điều ấy bằng những hành động cụ thể không? Con có mạnh dạn sống niềm tin của mình giữa xã hội  hôm nay không ? Tự nhận là con cái Chúa, con có mạnh dạn “Sống Tin Mừng Đức Giêsu giữa dân tộc mình “ như lời Đức Thánh Cha Bênêdictô đã nhắn nhủ ? tại đất nước Việt Nam của con, những người chưa nhận biết Chúa chiếm số đông, trên 90% dân số. Sống Phúc Âm chính là Sống Thánh Thể, sống có Chúa trong lòng. Sống bác ái thực sự, hy sinh xả kỷ vì anh em. Con có làm được và dám làm?Những câu hỏi ấy vẫn theo con mỗi ngày trong cuộc sống này.

    Trong bầu khí tục hóa đang lan tràn, lắm khi con cũng trở nên hờ hững với việc đến với Chúa.Bị chi phối bởi các thế lực trần tục, lắm lúccon không dám đặt hết niềm tin nơi Chúa.

    Xin Chúa giúp con, mỗi khi tham dự thánh lễ là mỗi lần con  ý thức mình đang dự tiệc, với lương thực thần linh mà Đức Giêsu thết đãi và nuôi sống linh hồn con.

    Xin chocon ao ước và say mê rước Thánh Thể với tất cả lòng tin và sự trân trọng.Dám sống và giới thiệu Chúa cho những người sống bên con, là con đang có Chúa ở cùng .AMEN.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 20 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên năm B chứa đựng hai đề tài xen lẫn vào nhau:

    Chúng ta được mời gọi nuôi dưỡng sự sống đời đời bằng thần lương mà Thiên Chúa thiết đãi (Bài Đọc I và Tin Mừng).

    Đề tài khôn ngoan ngự trị trong Bài Đọc I và Bài Đọc II nhưng xuất hiện trong Tin Mừng như lời thách đố của Thiên Chúa đối với sự khôn ngoan của phàm nhân.

    Cn 9: 1-6

    Trong Bài Đọc I trích từ sách Châm Ngôn, Đức Khôn Ngoan mời gọi nhân loại và đặc biệt những người túng thiếu, hãy đến dùng thần lương mà mình thiết đãi. Bàn tiệc Đức Khôn Ngoan loan báo bàn tiệc Thiên Sai.

    Ep 5: 15-20

    Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu của mình sống theo sự khôn ngoan độc đáo của Kitô giáo.

    Ga 6: 51-58

    Tin Mừng dâng hiến cho chúng ta phần cuối của diễn từ “Bánh Hằng Sống”, trong đó bằng những ngôn từ rất hiện thực, Đức Giê-su loan báo ân ban Thánh Thể: Thịt và Máu của Ngài. Đây là lương thực mà Thiên Chúa thiết đãi muôn dân với sự khôn ngoan cao vời khôn ví của Ngài, nhưng được cho là điên rồ dưới con mắt phàm nhân.

    BÀI ĐỌC I (Cn 9: 1-6)

    Sách Châm Ngôn là một trong những sách minh triết Cựu Ước, cũng được gọi là các sách Huấn Giáo (những lời khuyên bảo của các tiền nhân). Trường phái văn chương này xuất xứ từ nguồn gốc bình dân và nguồn gốc bác học.

    Về nguồn gốc bình dân, sự khôn ngoan là thành quả thường nghiệm được tích lũy qua bao nhiêu đời, nó diễn tả bằng những câu châm ngôn, thường rất phổ biến. Chúng ta thấy trào lưu này khắp bốn phương trời, hình thành nên “túi khôn của loài người”.

    Về nguồn gốc bác học, sự khôn ngoan là những suy tư sâu sắc về cuộc sống của các bậc hiền triết, thậm chí của vua chúa nữa, như ở Ít-ra-en, vua Sa-lô-môn là một bằng chứng điển hình: nhiều câu châm ngôn được gán cho vị vua được cho là khôn ngoan bậc nhất này (sách Châm Ngôn được đặt dưới quyền bảo trợ của vua Sa-lô-môn). Trong miền Cận Đông cũng vậy, có nhiều tác phẩm giáo huấn ở đó, vua (hay một quan đại thần) cho con mình hay người kế nghiệp của mình những lời khuyên khôn ngoan. Su-me, A-khát, Ai-cập đã để lại cho chúng ta nhiều sử liệu thuộc thể loại văn chương này.

    1. Nét đặc trưng của sách Châm Ngôn:

    Sách Châm Ngôn kết hợp hai nguồn này. Nét đặc trưng của sách Châm Ngôn đó là, ở giữa những câu châm ngôn rất dị biệt, sách dâng hiến một phân đoạn đề tặng Đức Khôn Ngoan. Ở đây, Đức Khôn Ngoan được nhân cách hóa thành một Bà Chúa hiếu khách mở tiệc khoản đãi. Việc nhân cách hóa này mang tính chất thi ca. Đức Khôn Ngoan được ca ngợi ở đây cốt yếu là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, tự nó không thể cấu thành một thực thể biệt phân với Thiên Chúa. Độc thần giáo tuyệt đối của dân Ít-ra-en: “Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất, ngoài Ngài ra, không có vị Chúa nào khác”, không thể nào quan niệm khác đi được. Trong Cựu Ước, sự Khôn Ngoan của Đức Chúa cũng như Thần Khí của Ngài là những quyền năng của Thiên Chúa chứ không là những ngôi vị biệt phân với Thiên Chúa.

    1. Bàn tiệc Đức Khôn Ngoan thiết đãi:

    Trong đoạn văn được đề nghị cho chúng ta, giáo huấn mà Đức Khôn Ngoan ban cho được sánh ví với một bàn tiệc khoản đãi cho tất cả nhưng ai muốn làm môn đệ của mình.

    “Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột”: Điều này muốn nói rằng một nội thất nguy nga lộng lẫy, ở đó các khách mời có thể trò chuyện thân mật; “bảy cây cột”: con số bảy là con số chỉ sự hoàn hảo. Đức Khôn Ngoan đích thân “hạ thú vật”, tự mình “chế rượu” và “dọn bàn”, nghĩa là chủ nhân muốn thiết đãi khách những món ăn thức uống tuyệt hảo.

    Đức Khôn Ngoan “sai các nữ tỳ ra đi”. Câu này xem ra không quan trọng lại là câu then chốt của bản văn. Trong Kinh Thánh, việc sai phái các tôi tớ của mình đi thi hành sứ vụ quan trọng là hành vi của Thiên Chúa. Truyền thống sẽ xem hành vi này thậm chí là hành vi của Đấng Thiên Sai. Đó là lý do tại sao các tác giả Tin Mừng thường nhấn mạnh hành vi này được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su khi “Người sai hai môn đệ ra đi” để chuẩn bị bữa ăn Vượt Qua (Mc 14: 13; Lc 22: 8); trong dụ ngôn Tiệc Cưới, vua sai các gia nhân ra đi mời khách dự tiệc, như Đức Khôn Ngoan đã làm.

    1. Lời mời được gởi đến hết mọi người:

     “Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố” để lời mời gọi của mình được vang lên khắp hang cùng ngỏ hẽm ngỏ hầu mọi người đều có thể nghe được; lời mời này mang tính phổ quát. Đức Khôn Ngoan mời mọi người tham dự bàn tiệc mà mình thiết đãi. Ở bàn tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su cất tiếng mời gọi:“Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn và uống”.

    Tuy nhiên, lời mời trở nên trực tiếp hơn và khẩn thiết hơn được gởi đến cho những ai “ngây thơ khờ dại”. Đó là những người khao khát hiểu biết và muốn mỗi ngày được sống trong sự hiểu biết, chứ không phải là những bậc thông thái tự mãn, khép kín mình trong sự hiểu biết của riêng mình. Ngôn sứ I-sai-a đã loan báo rằng rồi sẽ đến ngày Đức Chúa sẽ thực hiện những điềm thiêng dấu lạ cho dân Ngài: “Bấy giờ sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan sẽ chuốc lấy sự thất bại, và trí thông minh của những kẻ thông minh sẽ tan thành mây khói” (Is 29: 14).

    Chúng ta đang ở ngưỡng cửa Tin Mừng hôm nay. Dự định của Thiên Chúa, được chuẩn bị trong sự khôn ngoan khôn dò của Ngài, xem ra điên rồ dưới con mắt của con người dù họ đã được báo trước đi nữa.

    BÀI ĐỌC II (Ep 5: 15-20)

    Đoạn thư gởi tín hữu Ê-phê-xô được trích dẫn hôm nay thuộc chương 5, trong đó thánh Phaolô trình bày cách sống mới mẻ mà người Kitô hữu đem lại. Những lời khuyên ở đây hòa điệu tuyệt vời với những lời khuyên của sách Châm Ngôn.

    1. Cẩn thận xem xét cách ăn nếp ở của mình:

    Đây cốt là lời kêu mời khái quát và có tính cách khuyên bảo. Cách ăn nếp ở của người Ki-tô hữu phải là cách sống của một người khôn ngoan, đây là sự khôn ngoan đặc thù Ki-tô giáo mà thánh Phao-lô chú ý mời gọi. Ở môi trường chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp, sự khôn ngoan Hy-lạp mà người ta tìm kiếm là một cuộc sống quân bình, điều độ và mực thước, thánh nhân đề cao sự khôn ngoan Ki-tô giáo, sự khôn ngoan cao vời khôn ví, vì nó mở đường đến sự hiểu biết của Thiên Chúa và ơn cứu độ đời đời.

    1. Hãy biết tận dụng thời buổi hiện tại:

    Chúng ta đừng quên rằng thánh Phao-lô viết thư này đang khi thánh nhân đang bị giam cầm ở Rô-ma để gởi đến các cộng đoàn Ki-tô hữu hiện đang gặp phải những khó khăn và quấy nhiễu. Lời khuyên của thánh Phao-lô ở đây có thể được quảng diễn như sau:“Anh em được dịp sống vào thời buổi khó khăn, đó là cơ hội thuận tiện tuyệt vời để anh em hoàn thiện chính mình và sống theo Đức Ki-tô. Hãy tận dụng tận mức cơ hội này”.

    1. Chớ say sưa rượu chè:

    Thánh nhân đưa ra một mẫu gương khác cho thấy cách sống của người khôn ngoan: sống điều độ. Thánh nhân dường như nhắm đến sự lạm dụng xảy ra trong những bữa ăn huynh đệ của cộng đồng Ki-tô hữu. Quả thật, thánh nhân gợi lên những buổi nhóm họp ngay sau khi thánh nhân mong ước rằng những buổi nhóm họp phải tập trung vào việc cầu nguyện. Thánh nhân đối lập việc thấm nhuần Thần Khí với việc rượu chè say sưa:“Hãy thấm nhuần Thần Khí”.

    1. Hãy cùng nhau xướng đáp những bài thánh vịnh:

    Chúng ta biết rằng những người Ki-tô hữu tiên khởi đã được gợi hứng từ những tập quán hội đường để cấu trúc những buổi hội họp của họ: xướng đáp những bài thánh vịnh, thánh thi, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện… Sơ đồ của Thánh Lễ làm chứng như vậy. Nhưng các cộng đồng Ki-tô hữu đã sáng tác rất sớm các bài thánh thi của riêng mình, đọc kinh Lạy Cha và những lời ngợi khen chúc tụng Chúa tự phát. Thánh Phao-lô luôn luôn nhấn mạnh tâm tình tạ ơn như yếu tố cốt yếu của lời cầu nguyện.

    TIN MỪNG (Ga 6: 51-58)

    Với đoạn trích Tin Mừng hôm nay, chúng ta hoàn tất bài diễn từ “Bánh Hằng Sống”.

    1. “Bánh tôi ban tặng, chính thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”:

    Đức Giê-su công bố một lời gây sửng sốt:“Bánh tôi ban tặng, chính thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Lời công bố khó lọt tai này gây phản ứng ngay tức khắc từ phía người Do thái, vốn trước đây đã nghi ngờ, tranh luận sôi nổi với nhau:“Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”.

    Lời công bố của Đức Giê-su ở đây rất gần với lời công bố của Ngài vào lúc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể:“Này là Mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn”, được thuật lại trong các sách Tin Mừng nhất lãm. Tuy nhiên, ở đây thánh Gioan không dùng từ “sô-ma” (“thân xác Thầy” được dịch “Mình Thầy”) như các sách Tin Mừng nhất lãm, mà là từ “sarsh” (“thịt tôi”). Từ “sarsh” này, theo tiếng A-ram cũng như Hy-ngữ, chỉ toàn bộ con người đang sống, trong khi từ “sô-ma” chỉ một thân xác đối lập với linh hồn theo thuyết nhị nguyên của người Hy-lạp. Vì thế, chúng ta có thể khẳng định rằng từ “thịt tôi” chính là từ gốc mà Đức Giê-su đã sử dụng khi thiết lập bàn tiệc Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly. Với từ “thịt tôi”, thánh Gioan thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa “Nhập Thể” và “Thánh Thể” để có thể nói “Ngôi Lời làm người (“sarsh”) trở thành bánh Thánh Thể”.

    1. “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống đời đời”:

    Đức Giê-su nhận ra thái độ kinh ngạc của thính giả. Ấy vậy, nếu như câu nói này chỉ là biểu tượng, chắc chắn Ngài sẽ đính chính, nhưng không, Ngài lại càng nhấn mạnh hơn nữa:“Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống đời đời”. Lời khẳng định này lại còn gây sửng sốt hơn nữa: Đức Giê-su không chỉ nói đến “thịt của Ngài”, nhưng còn “máu của Ngài” nữa. Đây không còn là lời khẳng định không thể tin được, nhưng còn gây kỳ chướng hơn nữa. Người Do thái không bao giờ dùng máu; máu là trung tâm sự sống, được dành riêng cho Thiên Chúa, Đấng là nguồn sống. Trong các hy lễ, máu được hoàn toàn dâng tiến cho Thiên Chúa.

    Chắc chắn trong ngôn ngữ sê-mít, cách nói thông dụng “thịt và máu” chỉ toàn thể con người, một phàm nhân, như Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô sau khi thánh nhân tuyên xưng đức tin: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải thịt và máu mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16: 17). Nhưng khi khảo sát theo văn mạch cặp “thịt và máu” này, chúng ta nhận ra rằng khi gợi lên máu sẽ đổ ra để chúng ta uống, cũng như thịt sẽ được trao ban để chúng ta ăn, Đức Giê-su loan báo rằng bàn tiệc Thánh Thể không thể tách khỏi cuộc Tử Nạn của Ngài trên đồi Sọ. Ngoài ra để tránh việc hiểu lầm bàn tiệc Thánh Thể quá vật chất, quá phàm trần, Đức Giê-su sử dụng kiểu nói “ăn thịt và uống máu Con Người”, một nhân vật có nguồn gốc thần linh đến trên mây trời trong sách Đa-ni-en. Như vậy, thịt và máu mà Ngài ban tặng để chúng ta ăn và uống ngõ hầu có sự sống đời đời, không là thịt và máu của Đức Giê-su thành Na-da-rét bằng xương bằng thịt đang hiện diện trước thính giả, mà là thịt và máu của Đấng đã chết, sống lại và nay đang ngự bên hữu Chúa Cha. Chính vì thế thịt và máu mà Người ban tặng sẽ là nguồn sống đời đời cho nhân loại.

    1. “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì sống mãi trong tôi, và tôi sống mãi trong người ấy”:

    Toàn bộ phần cuối của diễn từ nhấn mạnh lời hứa ban sự sống; lời hứa này được lập đi lập lại hầu như ở mỗi câu. Chúa Con nhiệm sinh từ Chúa Cha Hằng Sống; vì thế, Ngài nắm trong tay mọi nguồn phong phú của sự sống thần linh mà Ngài chuyển thông cho nhân loại khi hiến thân mình thành của ăn thức uống, nghĩa là một sự hiệp thông mật thiết đến mức không gì có thể sánh ví được: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì sống mãi trong tôi, và tôi sống mãi trong người ấy”. Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su nhắc lại mối liên hệ tròn đầy của Ngài với Chúa Cha: “Như Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha”, và mời gọi các môn đệ đi vào trong mối hiệp thông tròn đầy này: “Anh em hãy ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em”. Thế nên, động từ “ở trong” là một trong những động từ thánh Gioan rất tâm đắc, qua đó, thánh ký diễn tả tính nội tại của Vương Quốc Thiên Chúa.

    Cuối cùng, Đức Giê-su nhấn mạnh sự sống bất khả hư nát mà Ngài ban, một lần nữa Ngài củng cố lời hứa ban sự sống phục sinh của Người. Như vậy, Đức Giê-su mạnh mẻ khẳng định ý nghĩa cuối cùng của “Bánh Hằng Sống”. Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan đã không tường thuật sự kiện Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể, nhưng trong chương 6 này, thánh ký muốn chúng ta thấu hiểu mầu nhiệm vĩ đại này, còn hơn cả các tác giả Tin Mừng nhất lãm có thể làm trong những bài trình thuật “Chúa Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể” của các ngài.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Antôn

    Có câu truyện về 2 bà chủ quán. Một người tên là Khôn ngoan và người kia là Khờ dại. Mỗi bà đều bận rộn với công việc mời khách đến ở và ăn uống trong quán của mình.  Những ai nhận lời mời của bà Khôn ngoan sẽ được hưởng sự vui mừng và sự sống.  Còn ai nhận lời mời của bà Khờ dại thì bước vào một cạm bẫy đưa đến đau khổ và sự chết.  Chúng ta hãy nghe lời bà Khôn ngoan mời khách: “Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi. Các ngươi hãy bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ được sống, và hãy bước theo đường lối khôn ngoan.”  Đó cũng chính là lời mời của bài đọc 1 trích sách Khôn ngoan ám chỉ đến lời mời của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng hôm nay, hãy đến với Người trong Bí tích Thánh thể để có sự sống đời đời.

    Trong mấy tuần Chúa nhật vừa qua, chúng ta đọc và nghe chương 6 Tin mừng của thánh Gioan về Bánh Hằng sống là chính Chúa Giêsu. Chương 6 Tin mừng của thánh Gioan cũng là nền tảng thần học của Bí tích Thánh Thể. Trong bài tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục cho đám đông dân chúng biết chính Người là Bánh Hằng Sống, Chúa tuyên bố: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống.”

    Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta xác tín vào Người là Bánh Hằng Sống và đến với Người trong Bí tích Thánh Thể.  Chúa biết rõ lời Người giảng dạy về Bánh Hằng Sống làm cho dân chúng thời xưa phản đối.  Ngay cả các môn đệ theo Chúa lúc đó cũng cảm thấy chói tai. Họ thắc mắc, xì xầm, bàn tán: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”  Tuy nhiên Chúa không rút lại hay thay đổi hay đính chính lời Người giảng dạy khi các môn đệ tỏ ra nghi ngờ, và Chúa cũng không trở nên dễ dãi để hi vọng dụ dỗ thu hút được nhiều người theo.  Chúa nói rõ cho họ biết Người là Đấng bởi trời mà đến và nói lời của Thiên chúa.  Ai đón nhận Người là đón nhận Thiên Chúa và ai nghe lời Người là nghe lời Thiên Chúa. Trước sự phản ứng mạnh mẽ, dữ dội của dân chúng, Chúa quả quyết, khẳng định và giải thích rõ hơn, Người nói: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi.”

    Ông Đa-ni-en Côn-neo (Daniel Connell), người đã giải phóng dân tộc Ái-nhĩ-lan, là một tín hữu Công giáo can đảm và nhiệt thành. Khi bạn bè giáo phái Tin Lành chế nhạo và thách thức niềm tin của ông về sự hiện diện của Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể, ông đã trả lời như sau: “Sao các ông lại hỏi tôi?  Lẽ ra các ông phải hỏi Đức Giêsu Ki-tô mới đúng. Phần tôi, tôi chỉ tin vào Lời Chúa nói.  Nếu Chúa khẳng định rằng: “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống” mà thực sự không đúng như vậy, thì người nói là Chúa Giêsu mới đáng trách, chứ không phải là tôi!  Với tôi, tôi luôn xác tín rằng: Lời Chúa là sự thật, là chân lý, là lời hằng sống và sẽ tồn tại đến muôn đời, như lời Chúa nói: Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.”

    Lời tuyên bố của ông Đa-ni-en Côn-neo trên đây cho chúng ta thấy niềm xác tín của chúng ta vào Bí tích Thánh Thể được xây dựng trên nền tảng vững chắc đó là Lời Chúa.  Lời Chúa là ánh sáng soi chỉ đường, là sức sống của chúng ta, là căn bản nền tảng đức tin, và cũng là lương thực nuôi dưỡng linh hồn thể xác chúng ta.  Do đó, chúng ta cần phải có tấm lòng khao khát, yêu mến và nhất là thực hành Lời Chúa, đó là điều quan trọng và cần thiết để chúng ta được sống trong ơn sủng, bình an và lãnh nhận ơn cứu độ.

    Khi giảng dạy về Bánh Hằng Sống, Chúa Giêsu đã cùng cho chúng ta biết: Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, cả hai chỉ là một.  Khi tham dự Bí tích Thánh Thể, chúng ta lắng nghe Lời Chúa lãnh nhận Mình Thánh Chúa vào trong tâm hồn.   Vì thế, khi ăn “Thịt Chúa” và khi sống “Lời Chúa” là khi chúng ta hòa nhập sự sống của chúng ta vào với sự sống của Chúa.  Do đó, Thánh lễ mà chúng ta cử hành  tuy có hai phần: Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, nhưng chỉ là một, nơi đó Chúa Giêsu ban cho chúng ta hai của ăn là Lời Chúa và Thịt Máu Người.

    Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết ba hiệu quả, ba tác dụng quan trọng và cao cả của bí tích Thánh Thể.  Thứ nhất là ban cho chúng ta được sống muôn đời và được sống lại, Chúa nói: “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì được sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.”  Thứ hai là chúng ta được kết hiệp mật thiết với Chúa, Người nói: “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy.”  Cuối cùng thứ ba là được sống nhờ sự sống của Chúa Giêsu, theo khuôn mẫu sự kết hiệp giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha như Chúa nói: “Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Ta, cũng sẽ nhờ Ta mà được sự sống như vậy.”  Có nghĩa là khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể vào trong tâm hồn và khi chúng ta sống Lời Chúa, chúng ta trở nên đồng hình đồng với Chúa Giê-su và cùng có một sứ mạng như Người.

    Xin Chúa Giêsu Thánh Thể giúp chúng ta có một niềm xác tín mục đích lời Chúa giảng dạy về Bánh Trường Sinh hôm nay chính là Bí tích Thánh Thể, vì thế chúng ta đến với Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể là đến với nguồn sống và gặp gỡ Chúa thật.  Xin Chúa cũng giúp chúng ta dọn mình sốt sắng và lãnh nhận Thánh Thể Chúa vào trong tâm hồn một cách xứng đáng, để càng ngày chúng ta càng yêu mến và khao khát Bí tích Mình và Máu Thánh Chúa hơn, để có sức mạnh và can đảm sống Lời Chúa dạy, trở nên giống hình ảnh của Chúa, trở nên những chứng nhân tình yêu của Chúa, bằng những việc tốt lành, hy sinh, bác ái và quảng đại.

    Về mục lục

    .

     

     

    THỊT VÀ MÁU CHÚA.

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên 

    Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay tiếp tục ghi lại cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và người Do Thái về chủ đề Bánh. Càng về cuối, cuộc tranh luận càng gay cấn. Chúa Giêsu đã khẳng định rõ, Người là Bánh trường sinh và Bánh chính này là Thịt và Máu của Người. Hai từ “Thịt – Máu” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Nhờ được nuôi dưỡng bằng Thịt và Máu Chúa Giêsu, thế gian tìm được sự sống
     
    Thánh Gioan đã khởi đầu tác phẩm Tin Mừng của mình bằng lời xác quyết: “Ngôi Lời đã hóa thành xác thịt” (Ga 1,14). Qua lời khẳng định ấy, tác giả muốn diễn tả Con Thiên Chúa thực sự là con người như chúng ta. Đấng Cao cả đã hóa thân làm người. Thiên Chúa đã đến để ở cùng người thế. Đất với Trời trở nên một. Tuy vậy, sự hiện diện của Ngôi Lời như một con người trên trần gian chỉ kéo dài trong khoảng thời gian 33 năm. Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã muốn tiếp tục hiện diện giữa loài người dưới một dạng thức khác, đó là Bí tích Thánh Thể.  Nếu khởi đầu của công trình nhập thể là Ngôi Lời trở nên xác thịt, thì nay, xác thịt lại trở thành Bánh để nuôi dưỡng con người.
     
    Hình ảnh thịt và máu gợi lại cho chúng ta sự dưỡng nuôi của người mẹ đối với thai nhi. Nhờ dưỡng chất từ người mẹ, thai nhi phát triển và lớn lên hằng ngày. Thiên Chúa quyền năng đã lấy những tế bào của người mẹ mà tạo thành người con. Nhờ được “ăn thịt và uống máu” của người mẹ, mà thai nhi có sự sống cho đến ngày chào đời. Nhờ được “ăn thịt và uống máu” của Chúa Giêsu, chúng ta được nếm hưởng sự sống đời đời ngày từ khi còn sống trên trần gian. Chúa Giêsu đã hứa ban cho những ai ăn thịt và uống máu Người sẽ được sự sống đời đời.
     
    Khi dùng hình ảnh “thịt và máu” để diễn tả lương thực thiêng liêng được ban cho thế gian, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta, Thánh Thể là của ăn thiết thực, nhờ đó chúng ta được sống tình thân nghĩa với Chúa, tức là sự hiệp thông với Người. Quả vậy, nhờ được nuôi dưỡng bởi Bánh Thánh Thể, chúng ta trở nên một với Chúa Giêsu. Trong cơ thể của chúng ta, có thịt và máu của Người. Khi ngự trong ta, Chúa Giêsu sẽ biến đổi chúng ta mỗi ngày, khác với thực phẩm chúng ta hưởng dùng hằng ngày. Nếu thực phẩm mà chúng ta ăn uống sẽ trở nên máu thịt chúng ta, thì Mình Thánh chúng ta đón nhận lại biến đổi chúng ta mỗi ngày nên giống Chúa Giêsu hơn. Thánh Augustinô đã diễn tả sự biến đổi huyền nhiệm này như sau: “Ta là thức ăn của người mạnh, hãy lớn lên và ăn Ta. Nhưng con không biến đổi Ta trong con như biến đổi một thức ăn, mà đúng ra là con sẽ được biến đổi thành Ta”.
     
    Để được Chúa biến đổi cuộc đời, ta phải cộng tác với Ngài. Thánh Phaolô đã khẳng định với giáo dân Ephêsô như vậy. Vị tông đồ dân ngoại đã khuyên mọi người hãy tận dụng thời gian hiện tại, từ bỏ mọi nếu xấu như chơi bời say sưa, rượu chè trụy lạc. Hãy dùng thời gian để cầu nguyện và tôn vinh Chúa bằng những bài thánh ca cùng Thánh vịnh. Đây chính là một hình ảnh lý tưởng của cộng đoàn tín hữu, được thấm nhuần tâm tình cầu nguyện và tình bác ái huynh đệ. Bí tích Thánh Thể là mối dây liên kết mọi người trong tình hiệp nhất yêu thương, vì mọi người đều được nuôi dưỡng bằng một lương thực thiêng liêng là thịt và máu Đức Kitô.
     
    “Hãy nhận lấy mà ăn, vì này là Mình Thày; hãy nhận lấy mà uống, vì này là Chén máu Thày”. Chúa Giêsu đang mời gọi chúng ta đến dự tiệc do Người dọn sẵn. Đây cũng là lời mời gọi được tác giả sách Châm Ngôn trước Chúa Giêsu vài thế kỷ, ghi lại: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế. Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (Bài đọc I). Quả vậy, nhờ được ăn thịt và uống máu Chúa, chúng ta được liên kết với Người và hiểu biết thánh ý của Người, nhờ đó, chúng ta sống hoàn thiện trong cuộc đời đầy bóng tối hôm nay.
     
    “Ta phải quyện đời ta quanh Thánh Thể. Mắt hướng về Chúa là Ánh Sáng; trái tim đặt rất gần trái tim thánh của Chúa; cầu xin Người ơn để tuyên xưng Người, tình yêu để yêu mến Người, can đảm để phụng sự Người »   (Mẹ Têrêsa).

    Về mục lục

     

    THỊT TA LÀ CỦA ĂN

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Nói đến máu thịt là nói đến những gì thâm sâu nhất trong con người. Thâm sâu vì máu thịt chính là sự sống. Thâm sâu vì máu huyết thuộc hệ di truyền. Ta thường nói: máu huyết của cha, thịt xương của mẹ. Yếu tố “gen” là thứ sâu xa trong bản tính con người. Là lực lượng âm thầm điều hướng định mệnh con người. Như thế máu thịt không những làm thành con người thể lý bên ngoài mà còn làm thành con người ở chiều sâu tâm sinh lý nữa.

    Máu thịt là thứ thiết thân nhất trong con người. Thiết thân vì nó gắn bó chặt chẽ với bản thân ta, gắn bó với sự sống của ta. Lấy nó ra khỏi con người thì đau đớn lắm. Thiết thân vì ta yêu mến nó. Yêu máu thịt của mình cũng như yêu mạng sống mình là một điều hết sức tự nhiên.

    Hôm nay khi nói ban Máu Thịt cho chúng ta, Chúa Giêsu ban cho ta những gì thâm sâu nhất trong bản thân Người. Người không chỉ ban Máu Thịt mà còn ban cho ta cốt lõi của bản tính Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu”. Khi ban cho ta Máu Thịt, Chúa Giêsu ban cho ta chính tình yêu của Người.

    Khi ban Máu Thịt cho ta, Chúa Giêsu phải chịu đau đớn. Mạng sống là quý nhất. Nhưng Người yêu ta còn hơn yêu mạng sống của mình. Vì thế, Người hiến mạng sống cho ta như lời Người nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Mạng sống là thiết thân. Nhưng đối với Người, ta còn thiết thân với Người hơn cả mạng sống của Người nữa. Người chịu tiêu hủy mình đi để trở nên thiết thân với ta. Khi hiến mình làm lương thực, Người chấp nhận chịu nghiền tán, chịu đớn đau để trở thành thịt máu của ta, để trở thành thiết thân với ta, đến nỗi ta không thể tách Người ra khỏi ta được nữa. Thật là một tình yêu lạ lùng. Thật là một sáng kiến tuyệt vời.

    Khi ban Mình Máu Thánh cho ta, Chúa Giêsu mong ước ta sống kết hiệp mật thiết với Người. Khi chịu lấy Mình máu Thánh Chúa thì Chúa ở trong ta và ta được ở trong Chúa. Đây là một biến đổi sâu xa. Chúa Giêsu đã làm người để ở với ta, làm tấm bánh để ở lại trong ta. Chúa mong ước ta ở lại trong Chúa. Vì thế khi rước lễ, ta phải biến đổi đời sống cho xứng đáng và phù hợp với Chúa. Ở trong Chúa không phải là ở trong không gian vật lý nhưng ở trong không gian thiêng liêng, trong ảnh hưởng của Chúa, trong tình yêu của Chúa, trong lề luật của Chúa, trong tinh thần của Chúa. Như thế ở trong Chúa có nghĩa là sống như Chúa, suy nghĩ như Chúa, hành động như Chúa, yêu thương như Chúa.

    Khi mời gọi ta đến kết hiệp với Người, Chúa mong muốn cho ta được sống. Chúa chính là nguồn mạch sự sống. Ở trong Người là ở trong sự sống. Kết hiệp với Người là kết hiệp với sự sống. Sống nhờ Người là hít thở sự sống của Người, hấp thu sự sống của Người. Người là sự sống vĩnh cửu, sự sống sung mãn, sự sống hạnh phúc. Được sống bằng sự sống của Người ta sẽ được sự sống dồi dào, hạnh phúc không bao giờ tàn phai.

    Lạy Chúa, xin cho con hiểu biết, yêu mến và sống bí tích Thánh Thể trong cuộc đời con. Amen.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1) Bạn hiểu thịt máu có ý nghĩa gì?

    2) Chúa ban Thịt Máu Chúa cho ta. Điều này có ý nghĩa gì?

    3) Thế nào là ở trong Chúa? Muốn ở trong Chúa bạn phải làm gì?

    4) Thế nào là sống nhờ Chúa? Muốn sống nhờ Chúa bạn phải làm gì?

    Về mục lục

     

    HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI

    Lm. Jos. DĐH

    Người xưa nói rằng : có tiền mua tiên cũng được, quan niệm như thế, tiền sẽ là giấy thông hành mở ra nhiều hứa hẹn cho con người. Không dừng lại ở việc sở hữu “danh, lợi, thú”, người ta còn mơ ước cao xa hơn, đó là được hạnh phúc, được trẻ mãi không già, được trường sinh bất tử. Để đạt được lý tưởng sống, người ta kiếm tiền, kiếm tình, xem ra rất hợp lý cho hạnh phúc ở đời này, có gieo, ắt có gặt; có công mài sắt, có ngày nên kim.

    Sung túc vì nhiều tiền lắm của, hạnh phúc bởi ngày ngày được no say yến tiệc linh đình, hoặc công danh sự nghiệp ổn định, suy đi nghĩ lại cũng chỉ là niềm vui thoáng qua. Hạnh phúc đời đời ẩn chứa qua cung cách sống của mỗi người, là khái niệm có thật được Đức Giêsu quả quyết : “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”. Nghèo tiền, đói tình, không biết yêu và chẳng được yêu, đều khổ; đáng lưu ý hơn, Đức Giêsu hôm nay minh xác rõ ràng : “không có Bánh Giêsu, sẽ không có sự sống đời đời”.

    Đám đông dân chúng xưa kia không thể hiểu được “chữ tình” mà Chúa Giêsu sẽ thánh hóa trở nên của ăn nuôi linh hồn, bảo đảm trường sinh bất tử. Người Do-thái và cả chúng ta hôm nay đều nghe nói tới Manna ở sa mạc, thứ bánh được ban bởi trời, nuôi đoàn người tiến về miền đất hứa. Bánh được biến đổi thành Chúa, tình yêu Giêsu trở nên Máu – Thịt, ban hạnh phúc đời đời cho nhân loại, thật khó hiểu, nếu người ta không hiệp thông với Thầy Giêsu.

    Theo lẽ tự nhiên, người ta có thể ăn các loại động thực vật nấu chín, còn ăn tươi nuốt sống, dám chắc chỉ có yêu quái chúng mới nghĩ đến chuyện đó. Thời đại hôm nay, có đủ các hình thức quảng cáo nhằm tiêu thụ sản phẩm, tìm thu lợi nhuận, nhưng chưa ai đủ mạnh mẽ nói tới thứ thuốc trường sinh, chỉ duy Đức Giêsu dám công bố về thứ Bánh hằng sống. Cái biết tự nhiên, mọi người ai cũng hiểu tiền Việt hay bất cứ tiền nào đều có mục đích là giao dịch, trao đổi, ngoại trừ tiền giả, tiền âm phủ. Người Do-thái trông chờ Đức Giêsu ban tiền của vật chất, ban sự sống trường sinh ở đời này; đối với hạnh phúc đời đời, người lãnh nhận bánh hằng sống, trước hết tâm hồn nhất định phải có tình yêu Giêsu.

    Nếu thành công ở đời này, có tiền có quyền, rồi nghỉ ngơi hưởng thụ, nếu gặp Đức Giêsu chỉ để có cơm bánh vật chất, như thế chúng ta cũng đi theo qui luật sinh lão bệnh tử mà thôi ! “Bách niên giai lão hay trường sinh bất tử, vẫn mãi là thao thức của con người; tình yêu của Thiên Chúa và hạnh phúc đời đời, sẽ không xa vời đối với người tin vào Đức Giêsu, bánh từ trời xuống. Khi nói “ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời”, chắc chắn Ngài sẽ ban cho nhân loại chúng ta thứ lương thực có trọn vẹn thiên tính ở trong Bánh Thánh Giêsu.

    “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được” ? Làm sao chúng ta có được niềm vui bình an, khi chúng ta hàng ngày gian tham, hành xử như kẻ giang hồ, chỉ biết sống luật rừng, không hề biết đến luật yêu thương ? Bánh Giêsu là hồng ân Thiên Chúa yêu thương, được ban phát, không phải mua bán trao đổi, khi người ta tự do để Đức Giêsu hoàn thành kế hoạch cứu độ qua các thời đại. Bánh Thánh Giêsu không chỉ là lời hứa trường sinh bất tử, mà luôn là khẳng định : hôm nay thân xác chúng ta được tham dự tiệc Mình Máu Chúa, mai này thân xác chúng ta sẽ được dự tiệc thiên quốc.

    Tục ngữ có câu : biết tội đâu mà tránh, biết phúc đâu mà tìm. Đúng là sống chết không ai biết trước được, thực tế phúc họa là do tự mỗi người tạo nên; thật giả lẫn lộn, nhưng chân lý không hề thay đổi : “Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta”. Bánh Giêsu là thứ bánh đặc biệt, giầu hay nghèo, da mầu hay da trắng, tất cả mọi đối tượng đều được ban tặng theo tiêu chuẩn công bằng tình yêu thương.

    Hạnh phúc đời này, người ta vẫn kiểm soát đánh giá bằng trí óc thông minh; hạnh phúc đời sau, người Kitô hữu chỉ cảm nhận được do tình yêu Đức Kitô, do chúng ta biết kết hiệp với Bánh Giêsu. Hạnh phúc đời đời không đến từ kinh doanh buôn bán, cũng không do làm nông nghiệp hay công nhân có thu nhập ít hay nhiều. Hạnh phúc đời đời chính là có tình yêu Đức Giêsu, như lời Ngài đã phán : “đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các người đã ăn Manna và đã chết, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”. Amen.

    Về mục lục

     

    ĂN THỊT VÀ UỐNG MÁU

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Tại Hàn Quốc cách đây hơn một tháng, Hải quan đã bắt một lô hàng là loại thuốc viên nhập từ Trung Quốc. Xét nghiệm chất bột trong những viên thuốc này, người ta thấy có ADN của người. Có lẽ chỉ những bộ lạc cổ xưa trong rừng sâu mới có thói quen ăn thịt người, những người sống trong thời văn mình coi việc ăn thịt người là một việc man rợ, là hành động của một con thú. Trong xã hội văn minh của chúng ta, có những người sau khi đã ăn đủ mọi thứ cao lương mỹ vị thì họ ăn thịt thai nhi, ăn thịt người như là một món ăn thú vị.

    Sau ba tuần các bài Tin Mừng nói về tình trạng đói khát, về việc tìm kiếm của ăn nuôi sống linh hồn, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hứa ban bánh từ trời xuống cho những ai tìm kiếm Ngài. Tuần này, Ngài nói rõ hơn về bánh ban sự sống chính là thịt và máu Ngài để cho thế gian được sống.

    Chúa Giêsu nói đến ăn thịt và máu Ngài khiến người Do Thái cảm thấy khó chịu và chướng tai. Họ nghĩ rằng Chúa Giêsu mời họ ăn thịt người. Đối với Người Do Thái, máu là sự sống, thuộc chủ quyền của Thiên Chúa, không ai được phép ăn máu, ai đụng đến máu đều bị ô uế theo pháp luật. Cũng vậy, người Do Thái cũng chỉ được phép ăn thịt của một số con vật mà thôi. Vì thế, lời mời “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi, để cho thế gian được sống”, đã khiến người Do Thái xầm xì : Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được ?

    Người do Thái không hẳn là cứng lòng trước lời mời gọi này, kể cả các tông đồ, nếu không được Thiên Chúa tỏ cho biết, các ông cũng sẽ phải ứng giống như thế. Cụ thể là có một số người sau khi nghe Chúa nói về việc ăn mình máu Người, họ đã bỏ đi. Chỉ khi lãnh nhận Thánh Thần sau ngày Chúa Phục sinh, các tông đồ mới hiểu việc Chúa Giêsu làm trong đêm tiệc ly. Trong đêm thánh thiêng ấy, Chúa đã cầm lấy bánh trao cho các tông đồ và nói : Đây là mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em ; đây là máu Thầy, sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội. Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.

    Với hành động đó, Chúa đã thực hiện một phép lạ lớn lao là làm cho bánh và rượu trở nên máu thịt của Người, làm của ăn của uống cho nhân loại. Đồng thời, Chúa cũng thực hiện một phép lạ khác nữa là làm cho thịt máu ấy vẫn giữ nguyên hình dạng và mùi vị của bánh và rượu để cho con người có thể dễ dàng đón nhận. Bánh rượu đã trở thành thịt máu Chúa và thịt máu Chúa lại “trở thành” bánh và rượu để thực sự trở nên lương thực, nên của ăn cho con người. Đón nhận thịt và máu Chúa, chúng ta được đón nhận trọn vẹn Thiên Chúa và sức sống thần linh của Ngài thông truyền cho chúng ta, để ta được sống trường sinh bất tử. Sức sống của Thiên Chúa được thông truyền cho chúng ta qua việc chúng ta ăn và uống thịt máu Ngài. Sức sống ấy không chỉ là gia tăng sức lực cho linh hồn và thể xác, mà còn là bảo đảm chắc chắn cho sự sống đời sau.

    Giống như thịt bánh thường ngày khi được ăn vào sẽ biến thành dưỡng chất nuôi sống cơ thể, ai ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu thì sẽ được ở lại trong Chúa Giêsu, tức là sống trong tình yêu của Chúa, được nên một và được biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Khi được ở trong Chúa Giêsu thì cũng là được ở trong cung lòng của Thiên Chúa Cha, được Cha yêu thương.

    Với mặc khải này của Chúa Giêsu, con người ngày nay không dễ để chấp nhận. Chỉ những người khôn ngoan, biết khao khát tìm kiếm Thiên Chúa thì mới có thể nhận ra mà thôi. Khi đã nhận ra giá trị tuyệt vời của lương thực này, mỗi người cũng phải khôn ngoan để chọn cho mình một cách sống sao cho phù hợp với đòi hỏi của Chúa. Thánh Phaolô đã chỉ ra một số việc được coi là khôn ngoan : Trước hết là biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống trong những ngày đen tối. Có nghĩa là, chúng ta đang sống trong thời đại thật giả lẫn lộn. Chúng ta đang bị lạc trong mê cung của thế giới vật chất, bị chìm ngập trong thế giới quảng cáo, khiến nhiều người không còn sáng suốt để chọn lựa đâu là điều đúng, đâu là điều sai, đâu là việc nên làm và đâu là việc phải tránh. Kế đến là tìm ra ý Chúa trong mọi biến cố của bản thân, gia đình và xã hội để kiên quyết tuân theo ý Chúa. Sau nữa là đừng để mình bị say sưa, lú lẫn trong đam mê, nhưng tỉnh táo, sáng suốt để dùng lời ca tiếng hát và cả cuộc đời mà ca tụng Thiên Chúa.

    Thưa các bạn, bánh rượu là thịt và máu Chúa Giêsu vẫn đang được dọn ra nơi Thánh lễ hằng ngày, thế nhưng dường như nhiều người vẫn không đủ sáng suốt để nhận ra giá trị cao quý và sức sống thần linh từ nơi của ăn này. Nhiều người vẫn chỉ lo tìm kiếm cơm bánh thường ngày để đáp ứng nhu cầu sống của thể xác, mà không quan tâm đến việc tìm kiến lương thực bảo đảm cho hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu. Nhiều người chỉ lo chăm sóc cho thể xác mà quên ăn thịt và uống máu Chúa để gia tăng sức sống thần linh trong con người của mình.

    Không ai có thể ăn một lần thay cho tất cả. Cũng vậy, việc ăn và uống thịt máu Chúa không phải chỉ cần một lần hoặc vài lần trong đời, nhưng, như thể xác cần cơm bánh thế nào thì linh hồn cũng không thể thiếu bánh của Chúa nuôi dưỡng thế ấy. Vì vậy, chúng ta đừng bao giờ để mình béo phì thể xác nhưng lại suy dinh dưỡng trong đời sống thiêng liêng ; đừng để mình dư thừa dinh dưỡng thể xác mà linh hồn gầy gò, ốm yếu. Siêng năng đến ăn thịt và máu Chúa, không những để ta được có sức sống của Thiên Chúa dưỡng nuôi, mà còn được ở với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa, nên một với Chúa Giêsu và sống sự sống của Chúa Giêsu.

    Trong một thế giới quá ồn ào và quá nhiều khuynh hướng cùng những lôi kéo của vật chất, của xã hội, chúng ta sẽ phải là những người khôn ngoan để biết tận dụng thời gian, hoàn cảnh, điều kiện đang có để làm gia tăng sức sống thần linh cho mình và cho gia đình. Chỉ khi được nuôi dưỡng bằng sức sống của Thiên Chúa, chúng ta mới tránh khỏi sự suy thoái trong con người và trong lối sống của mình. Chỉ khi gia đình được nuôi dưỡng bằng thịt máu Chúa, thì gia đình mới bằng an và hạnh phúc. Xã hội văn minh phát triển, nhưng dường như con người lại đối xử với nhau theo bản năng hơn là theo lý trí và văn minh tình thương. Vì thế, sự ác ngày càng gia tăng trong xã hội. Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi phải luôn tỉnh táo, sáng suốt, để đừng bị lôi kéo, nuông chiều theo bản năng thú tính của con người, nhưng cần được trợ lực để hướng thượng, sống xứng với phẩm giá là con người và con Chúa.

    Lối sống thực dụng, sống vội theo kiểu mì ăn liền cũng đang kiến nhiều người, nhiều bạn trẻ bị lún sâu tìm kiếm những lợi ích trước mắt, lo thỏa mãn những đòi hỏi của bản năng hơn là lo bồi bổ cho tâm hồn. Vì thế, họ để mình rơi vào tình trạng trống rỗng trong đời sống đức tin, suy dinh dưỡng trong đời sống đạo. Nhiều bạn trẻ biết rất nhiều thứ, sành điệu trong nhiều lãnh vực, nhưng lại tỏ ra kém cỏi, ấu trĩ, dửng dưng trong đời sống đức tin, đời sống đạo.

    Lời Chúa hôm nay vừa là lời cảnh báo, vừa là lời mời gọi mỗi người xác tín hơn vào Chúa Giêsu Thánh Thể, để mỗi người siêng năng đến lãnh nhận, tôn thờ Chúa, đón nhận nguồn trợ lực và sức sống từ nơi Bí tích cực trọng này, là Bí tích bảo đảm cho đời sống hôm nay và mai sau. Amen.

    Về mục lục

     

    CHO THÌ CÓ PHÚC

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Cuộc sống luôn vồn vã với “cơm áo gạo tiền”. Tất bật lo toan đủ điều khiến chúng ta chẳng có giờ nghĩ đến tha nhân. Trong dòng đời vội vã đó nhiều người dường như đã bỏ rơi đồng loại, đôi khi thiếu sót bổn phận với cả người thân. Họ chỉ lo đối phó với công việc, với nhu cầu bản thân đôi khi còn quên cả gia đình.

     Nhưng đã là cuộc đời thì đâu phải chỉ trải đầy hoa hồng, đâu phải ai sinh ra cũng có được cuộc sống giàu sang, có được gia đình hạnh phúc mỹ mãn mà còn đó nhiều mảnh đời đau thương, bất hạnh cần chúng ta sẻ chia, giúp đỡ. Cuộc đời vẫn còn đó những mảnh đời lây lất đang cần chúng ta đùm bọc, chia sẻ, yêu thương. Chúng ta được tạo dựng đâu phải để sống riêng cho mình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác, đặc biệt là người bất hạnh, nghèo đói. Đây là quy luật của cuộc đời luôn “cho” và “nhận”. Đã nhận nhưng không thì cũng phải quảng đại cho đi. Nhưng đáng tiếc, nhiều người chỉ biết nhận mà chẳng bao giờ biết cho.

    Có một người sắp chết đuối, mọi người vây quanh hô lớn: “Hãy đưa tay ông ra cho chúng tôi cứu!”, nhưng ông ta lưỡng lự để rồi vật vã chống cự với dòng nước. Và dường như thà chết chứ không chịu đưa tay ra. Một người bạn thân biết ý liền nói: “Thằng này nó chỉ nhận chứ không bao giờ cho ai nên nó thà chết chứ không đưa ra đâu”. Thế là, người ta nói với nó: “Hãy nắm lấy tay tôi đi!”, và ngay lập tức, ông ta đã nắm chặt lấy!

    Sự khác nhau đó là gì? Rõ ràng người đàn ông trong câu chuyện này thường được nhận nhiều hơn là cho đi và ông ta đã suýt chết vì chỉ muốn được nhận!

    Con người là thế! Từ thuở lọt lòng mẹ, đã biết nắm tay lại. Chỉ biết nhận và không biết cho. Đó là lý do cuộc đời thường tranh giành nhiều hơn là nhường nhịn, là loại trừ nhiều hơn là đùm bọc yêu thương.

    Cuộc đời Chúa Giê-su luôn cho đi, cho đi để tha nhân được sống và sống dồi dồi. Trong suốt hành trình dương thế, Ngài luôn cho đi tình thương, cho đi thời giờ để xoa dịu nỗi đau cho nhân thế. Sự cho đi của Ngài đi đến tột cùng là cho đi đến giọt máu cuối cùng để nguồn ơn thánh đổ tràn đầy xuống nhân gian. Ngài còn cho đi qua tấm bánh được bẻ ra để trao ban sự sống đời đời cho nhân loại. Ngài bảo rằng “ai ăn bánh Ngài thì sẽ sống muôn đời”.

    Mỗi lần chúng ta rước Chúa là được đón nhận chính sự sống và tình yêu của Chúa. Ước gì tình yêu Chúa tuôn chảy trong con tim của chúng ta để chúng ta dám hiến dâng chính mình vì sự  sống của tha nhân. Ước gì mỗi người biết hy sinh cho nhau, và biết kiến tạo hạnh phúc cho nhau, chắc chắn cuộc sống này sẽ đẹp hơn. Ước gì mỗi người biết noi gương Chúa Giêsu trở thành quà tặng mang lại cho anh em niềm vui và hạnh phúc. Xin cho chúng ta luôn cảm nghiệm rằng “chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Amen

    Về mục lục

     

    BÁNH THÁNH THỂ

    Lm  Giuse Nguyễn Hữu An 

    Bài đọc 1 trích sách Châm Ngôn: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế”. Theo lời sách Châm Ngôn, bánh và rượu đây là Đức Khôn Ngoan. Đức Khôn Ngoan được “thiên cách hóa” như chính Thiên Chúa: “đừng ngây thơ dại ngờ nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết”.

    Tin Mừng thánh Gioan chương 6 cho thấy Chúa Giêsu Kitô chính là Đức Khôn Ngoan Nhập Thể, là Bánh Hằng Sống, “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

    Trang Tin Mừng hôm nay là đỉnh cao của mạc khải Đức Khôn Ngoan Nhập Thể trở thành Bánh Thánh Thể.

    Chúa Giêsu khẳng định: “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Người Do thái phản ứng và tranh luận sôi nổi: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”.

    Chúa Giêsu giải thích và khẳng định thêm: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.

    Chúa Giêsu cho biết hiệu năng khi “ăn thịt và uống máu” là được kết hiệp mật thiết với Chúa: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”.

    Chúa Giêsu nhắc lại hiệu lực của manna cũ để so sánh với hiệu năng của Manna mới: “Tổ tiên các ngươi đã ăn mana và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

    Những lời Chúa Giêsu giảng dạy mạc khải rõ ràng về Bí Tích Thánh Thể.

    Bí Tích Thánh Thể được Chúa tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum.

    Bí Tích Thánh Thể được Chúa thiết lập trong Tiệc Ly: “Đang khi ngồi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán:Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Ta sẽ bị nộp vì các con.Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói:Tất cả hãy cầm lấy mà uống vì này là chén máu Ta, máu giao ước sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. (Mt 26,26-29).

    Bí Tích Thánh Thể được Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau “Người cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ. Và họ đã nhận ra Người đã Phục sinh” (Lc 24,13-35).

    Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.

    Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.

    Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.

    Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô. Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá. Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.

    Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần. Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một tấm bánh là thân mình Đức Kitô (1 Co10,17). Như thế bàn tiệc Thánh Thể là nguồn mạch của yêu thương, cảm thông và hiệp nhất.

    Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể”. Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc linh mục Truyền Phép:

    • Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
    • Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).
    • Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).

    Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18, 20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: “Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống...” (Mt 25, 35- 36). Trái lại nơi Bí Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi linh mục đọc Lời Truyền Phép. (x.simonhoadalat.com, Tặng phẩm Thần Linh, ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).

    Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. “Thiên Chúa đã yêu thế gian nỗi ban chính Con Một…” (Ga 3, 16) và Con Một là Chúa Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.

    Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.

    Trước tình yêu bao la của Thiên Chúa, thánh Phaolô trong bài đọc 2 khuyên các tín hữu: “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha”, đồng thời: “Hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời gian hiện tại…hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa…hãy thấm nhuần Thần Khí”. Ý Thiên Chúa muốn chúng ta sống yêu thương như Chúa Giêsu Kitô đã yêu thương.

    Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.

    Về mục lục

     

    CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN_B

     Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Những bài Tin mừng trong mấy Chúa nhật vừa qua và tuần này được trích trong chương 6 Tin mừng của thánh Gioan nói về Bánh Hằng sống là chính Chúa Giêsu, và những hiệu quả của sự lãnh nhận Bánh Hằng Sống này.

    Trước khi đi sâu vào bài Tin mừng hôm nay, tôi xin có mấy lời về bài đọc 1 hôm nay trích sách Châm ngôn. Sách Châm ngôn hướng dẫn những người trẻ lớn lên đến tuổi trưởng thành, và nhấn mạnh đến những đề tài như giáo dục, tự hãm, sự cẩn trọng, chân thật và cách cư xử tốt. Sách Châm ngôn cho chúng ta biết tất cả những điều này dẫn đến sự khôn ngoan, và cũng đề cập đến khía cạnh ngây ngô, ngu xuẩn là sự bồng bột, thiếu tự chủ và tự chế, là thái độ gian dối, lười biếng, không có lòng tôn kính và là cuộc sống buông thả.

    Chín chương đầu của Sách Châm ngôn diễn tả 2 người đàn bà, không phải người thật, mà chỉ là biểu hiệu, nhân cách hóa mà thôi, một người có tên là Bà Khôn ngoan và thứ hai là Bà Ngu xuẩn. Mỗi bà được diễn tả như một hình trạng của một người chủ quán trọ bận rộn với công việc mời khách đến trọ, và ăn uống trong quán của mình. Những ai nhận lời mời thân thiện của Bà Khôn ngoan sẽ được hưởng sự vui mừng và tràn đầy sự sống. Còn ai nhận lời mời của Bà Ngu xuẩn thì bước vào một cạm bẫy đưa đến sự diệt vong và sự chết.

    Hôm nay, chúng ta nghe phần đầu của chương 9, trong đó chỉ chứa đựng lời mời những bạn trẻ của Bà Khôn ngoan tham dự bữa ăn của bà thôi. Và lời mời của bà là “Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi. Các ngươi hãy bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ được sống, và hãy bước theo đường lối khôn ngoan.”

    Ông bà anh chị em thân mến. Lời mời của Bà Khôn ngoan trong bài đọc 1 này rõ ràng ám chỉ đến những lời mời chúng ta của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng hãy đến ăn thức ăn và uống nước Chúa đã dọn sẵn và ban cho chúng ta. Thức ăn và thức uống là chính Mình và Máu của Chúa trong Bí tích Thánh thể để có sự sống đời đời. Nhận và đến với Chúa Giê-su Thánh Thể là quyết định và lựa chọn của những người khôn ngoan. Những người khôn ngoan có cái nhìn vượt qua sự hiện hữu, còn người ngu xuẩn chỉ nhìn thấy những gì trước mắt. Và đây cũng là chủ đích của bài đọc hai.

    Trong bài đọc này, thánh Phaolô khuyên các tín hữu phải biết sống như những người khôn ngoan bằng cách theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để tìm ra và sống theo thánh ý Thiên Chúa. Ngược lại, người khờ dại, thánh Phao-lô cho chúng ta biết, là những người chỉ sống theo ý muốn xác thịt, say sưa rượu chè, và rượu chè đưa tới truỵ lạc. Những người khờ dại không biết lợi dụng ơn thời giờ Chúa ban cho, phí thời giờ vào các việc vô ích, không đem lại lợi ích cho cuộc sống tương lai. Và vì không biết thánh ý Chúa nên người khờ dại chỉ biết làm theo ý riêng mình, không mang lại những hiệu quả thiêng liêng cho cuộc đời của họ.  

    Ông bà anh chị em thân mến. Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi dân chúng tin hãy vào lời người giảng dạy về chính Ngài là bánh hằng sống, và phải ăn thịt và uống máu Ngài thì mới có sự sống đời đời. Chúng ta thấy ngay cả các tông đồ và môn đệ của Chúa cũng cảm thấy chói tai về những lời giảng dạy này của Chúa. Họ thắc mắc, xì xầm bàn tán “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6 : 52). Nhưng Chúa không rút lại lời Ngài giảng dạy, và cũng không mơn trớn họ về sự nghi ngờ vào lời Người giảng dạy. Chúa đã không thay đổi lời Ngài giảng dạy, và cũng không làm theo những đòi hỏi dễ dãi của dân chúng để hi vọng dụ dỗ thu hút được nhiều người theo. Lời giảng dạy của Chúa là lời ban sự sống, nên Chúa nói sự thật và khẳng địnhThịt Ta là thật của ăn, và máu Ta là thật của uống.” (Ga 6:55).

    Ông bà anh chị em thân mến. Ngày xưa người Do thái tranh luận với nhau, làm sao ông Giê-su có thể ban cho họ thịt máu Ngài làm của ăn thiêng liêng, và trong suốt dòng lịch sử Ki-tô giáo, người ta cũng tranh luận tương tự như vậy, về sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh thể. Chúng ta biết những người trong các giáo phái Tin lành không tin vào Lời Chúa phán, cho nên, họ chỉ coi việc bẻ bánh như một kỷ niệm, một hình bóng biểu hiệu sự hiện diện của Chúa mà thôi. Họ không tin sự hiện diện thực sự của Chúa trong Bí tích Thánh Thể.

    Ông Daniel Connell, người đã giải phóng dân tộc Ai-nhĩ-lan, là một tín hữu Công giáo can đảm và nhiệt thành. Khi một số bạn bè đạo Tin Lành chế nhạo ông vì họ không tin Chúa Giêsu hiện diện trong Tí tích Thánh Thể, và ông đã trả lời họ như sau “Tại sao các ông lại hỏi tôi? Lẽ ra các ông phải hỏi Chúa Giêsu mới đúng, vì đó là lời của Ngài. Phần tôi, tôi tin vào lời Chúa nói. Nếu lời Chúa khẳng định “Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống” mà không đúng, thì người nói là Chúa Giêsu mới đáng trách, chứ không phải là tôi! Tôi luôn tin rằng: Lời Chúa là sự thật, là lời hằng sống và sẽ tồn tại đến muôn đời.”

    Ông bà anh chị em thân mến. Và cũng qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su dạy và cho chúng ta biết ba hiệu quả quí trọng và cần thiết của Bí tích Thánh Thể. Hiệu quả cần thiết thứ nhất là ban cho chúng ta được sống lại và được sống muôn đời. Chúa nói “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì được sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.”(Ga 6, 54). Hiệu quả quí trọng thứ hai, chúng ta được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu, Ngài nói “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy” (Ga 6, 56). Và hiệu quả thứ ba, có sự sống của Chúa Giêsu, theo khuôn mẫu sự kết hiệp giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha, Chúa nói “Cũng như Cha, là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta.” (Ga 6, 57).

    Chúng ta nhận thấy Chúa Giêsu đã đặc biệt nhấn mạnh nhiều lần hai từ “thịt” và “máu.” Thịt – máu, nghĩa là trọn vẹn con người, và có nghĩa là Chúa trao ban hoàn toàn sự sống của Chúa cho chúng ta, để chúng ta nhận được những hiệu quả là được kết hiệp mật thiết với Ngài và với Chúa Cha, hiệp thông với anh chị em, và được sự sống đời đời.

    Hôm qua, hôm nay và ngày mai, Chúa Giêsu vẫn luôn mời gọi chúng ta đến và sẵn sàng ban Thịt Máu cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Xin Chúa cũng ban cho chúng ta sự khôn ngoan, chấp nhận và hân hoan đón tiếp Chúa vào trong tâm hồn một cách sốt sắng và chân thật, cùng với một niềm tin vững chắc, để chúng ta trở nên giống Chúa, được tháp nhập vào Chúa và sống bằng sự sống của Chúa.

    Về mục lục

     

    SỰ SỐNG

    Trầm Thiên Thu

    Sự sống là một quá trình diễn ra từ lúc sinh vật được tạo thành (sinh ra) cho đến lúc bị phân hủy (chết đi). Sự sống là một điều kiện cho phép một thực thể sinh ra, được tồn tại và phải chết đi tại một thời điểm nào đó. Có khởi đầu và có kết thúc. Nhân loại đúc kết: “Sinh ký, t quy”.

    Người ta tóm tắt công trình của bác học Pasteur thành định luật: “Mi s sng đu bt đu t trng – omne vivum ex ovo”. Sự sống vô cùng kỳ diệu, người ta đúc kết thành ba quy luật: (1) Có cấu trúc phức tạp và tổ chức tinh vi, (2) Có cấu trúc phức tạp và tổ chức tinh vi, (3) Thông tin của sự sống ổn định, chính xác và liên tục.

    Trong thông điệp “Evangelium Vitae” (Tin Mừng Sự Sống, 25-3-2995), Thánh GH Gioan Phaolô II tái xác định giá trị của sự sống con người và tính bt kh xâm phm của s sng, đồng thời nhân danh Thiên Chúa mà thiết tha kêu gọi mọi người phải tôn trọng, bảo vệ, yêu mến và phục vụ sự sống con người. Ngài mời gọi mọi người dấn thân vào cuộc chiến giữa “nền văn hóa sự chết” và “nền văn hóa sự sống”. Cuộc chiến đấu này được biểu hiện qua Thập Giá của Đức Kitô mà Giáo Hội xác tín: “Ánh rng ngi ca Thp Giá không b bóng ti này che đi; thm chí Thp Giá càng ni bt rõ nét và sáng t hơn, xut hin như là trung tâm, ý nghĩa và cu cánh ca toàn th lch s và toàn th s sng con người” (Evangelium Vitae, s 50).

    Sự sống cần có lương thực. Nhưng sự sống đời này chỉ tạm bợ, mau qua và chắc chắn sẽ kết thúc, quan trọng là sự sống vĩnh hằng. Khi một thanh niên giàu có hỏi về sự sống đời đời, Chúa Giêsu xác định: “Nếu anh mun vào cõi sng, hãy gi các điu răn” (Mt 19:17).

    Ngoài các điều răn, Chúa Giêsu còn trao ban cho chúng ta loại lương thực đặc biệt để nuôi dưỡng chúng ta trên đường lữ hành trần gian: Bánh Trường Sinh – tức là Bánh Hằng Sống, Bánh của Sự Sống đời đời. Chúa Giêsu lặp đi lặp lại và nhấn mạnh vấn đề này để chuẩn bị tinh thần cho người ta có thể hiểu về Thánh Thể – loại Bánh đặc biệt là chính Thân Mình Ngài. Một sự thật vượt ngoài trí hiểu của nhân loại, phàm nhân khó có thể chấp nhận, vì thế mà Ngài đã chuẩn bị tinh thần cho chúng ta.

    Được nghe nói tức là được biết, biết thì phải suy nghĩ, nhờ đó mà có thể hiểu, nhưng hiểu rồi có tin hay không lại là chuyện khác. Ai hiểu và tin thì thật là người khôn ngoan. Khôn ngoan là một nhân đức cần thiết trong đời sống, cả đời thường và tâm linh. Kinh Thánh cho biết: “Đc Khôn Ngoan đã xây ct nhà mình, dng lên by cây ct, h thú vt, pha chế rượu, dn bàn ăn và sai các n tỳ ra đi” (Cn 9:2-3). Rồi Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi: “Hi người ngây thơ, hãy li đây!” (Cn 9:4). Thiên Chúa yêu quý người ngây thơ, đơn sơ như trẻ thơ, tức là sống khiêm nhường. Với người ngu si, Đức Khôn Ngoan bảo: “Hãy đến mà ăn bánh ca ta và ung rượu do ta pha chế! Đng ngây thơ kh di na, và các con s được sng; hãy bước đi trên con đường hiu biết” (Cn 9:5-6). Thiên Chúa muốn “phá ngu kẻ dốt”, để rồi cũng được nên khôn ngoan.

    Có ai muốn khờ dại chứ không muốn khôn ngoan? Chắc chắn không ai muốn, nhưng muốn thì phải hành động. Đó mới là vấn đề quan trọng, vấn đề sinh tử. Muốn thì quá dễ, làm mới khó biết bao, nhưng ai cố gắng làm được thì là người thực sự khôn ngoan!

    Nhờ Thiên Chúa, chúng ta có sự sống. Nhưng đó mới là sự sống đời thường, sự sống sinh học. Nhưng nếu có Thiên Chúa trong mình, chúng ta thực sự có sự sống tâm linh, sự sống siêu nhiên. Tác giả Thánh Vịnh vui mừng chia sẻ và mời gọi: “Tôi s không ngng chúc tng Chúa, câu hát mng Người chng ngt trên môi. Linh hn tôi hãnh din vì Chúa, xin các bn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:2-3).

    Tác giả Thánh Vịnh có Thiên Chúa, nhưng không ích kỷ, mà muốn mọi người cũng có Thiên Chúa như mình nên không thể không lên tiếng: “Kính s Chúa đi, đoàn dân thánh hi, vì ai kính s Người chng thiếu thn chi. K giàu sang phi bn cùng đói kh, còn ai tìm kiếm Chúa chng thiếu ca gì. Các con ơi, hãy đến mà nghe, ta s dy cho biết đường kính s Chúa” (Tv 34:10-12). Ý tưởng tương tự cũng đã được Đức Maria bày tỏ trong bài ca Magnificat: “Chúa h b nhng ai quyn thế, Người nâng cao mi k khiêm nhường. K đói nghèo, Chúa ban ca đy dư, người giàu có, li đui v tay trng” (Lc 1:52-53).

    Tác giả Thánh Vịnh vừa hỏi vừa trả lời: “Ai là người thiết tha được sng, ước ao hưởng chui ngày hnh phúc cha chan? Phi gi mm gi ming, đng nói li gian ác điêu ngoa; hãy làm lành lánh d, tìm kiếm bình an, ăn thun hoà” (Tv 34:13-15). Chắc chắn ai cũng muốn vế thứ nhất, nhưng vấn đề vô cùng quan trọng là phải biết cố gắng thực hành vế thứ hai cho bằng được. Như vậy mới có sự sống của Thiên Chúa, như vậy mới là khôn ngoan!

    Song song với ý tưởng đó, Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Anh em hãy cn thn xem xét cách ăn nết ca mình, đng sng như k kh di, nhưng hãy sng như người khôn ngoan, biết tn dng thi bui hin ti, vì chúng ta đang sng nhng ngày đen ti” (Ep 5:15-16). Nhận xét của Thánh Phaolô càng đúng hơn trong thời đại ngày nay. Điển hình như mới đây, một cô gái trẻ đẹp, người Công giáo ở Ai Cập, là nạn nhân của một số tín đồ Hồi giáo. Cô gái này bị 20 người hãm hiếp. Sau khi thỏa mãn thú tính, họ dùng cây Thánh Giá cắm vào họng cô. Quá đỗi dã man! Quả thật, “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7).

    Sống khôn ngoan không là điều dễ dàng. Chúng ta đang sống trong thời buổi nhiễu nhương, sự khôn ngoan càng cần thiết hơn bao giờ hết. Thánh Phaolô nói về cách sống khôn ngoan: “Vì thế, anh em đng hoá ra ngu xun, nhưng hãy tìm hiu đâu là ý Chúa. Ch say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa ti tru lc, nhưng hãy thm nhun Thn Khí. Hãy cùng nhau đi đáp nhng bài thánh vnh, thánh thi và thánh ca do Thn Khí linh hng; hãy đem c tâm hn mà ca hát chúc tng Chúa. Trong mi hoàn cnh và mi s, hãy nhân danh Đc Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cm t Thiên Chúa là Cha” (Ep 5:17-20).

    Trình thuật Ga 6:51-59 là phần cuối của diễn từ mà Chúa Giêsu nói tại hội đường Ca-phác-na-um. Ngài xác định: “Tôi là bánh hng sng t tri xung. Ai ăn bánh này, s được sng muôn đi. Và bánh tôi s ban tng, chính là tht tôi đây, đ cho thế gian được sng”. Nghe vậy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ cho rằng Chúa Giêsu không thể cho chúng ta ăn thịt của mình. Họ không hiểu nổi điều Ngài nói. Nếu chúng ta hiện diện với họ và được nghe Chúa Giêsu nói vậy, chắc chắn chúng ta cũng chẳng hiểu nổi. Thậm chí chúng ta có thể còn dám manh động kiểu “xã hội đen” chứ chẳng vừa đâu. Nhưng thật may là chúng ta đã “kịp hiểu” nhờ tiếp nhận đức tin tông truyền!

    Biết họ đang “lùng bùng lỗ tai” và “quay cuồng đầu óc”, nhưng Ngài vẫn nghiêm túc phân tích tỉ mỉ: “Tht, tôi bo tht các ông: nếu các ông KHÔNG ăn tht và ung máu Con Người, các ông KHÔNG CÓ s sng nơi mình. Ai ăn tht và ung máu tôi thì được sng muôn đi, và tôi s cho người y sng li vào ngày sau hết, vì tht tôi tht là ca ăn, và máu tôi tht là ca ung. Ai ăn tht và ung máu tôi thì li trong tôi, và tôi li trong người y. Như Chúa Cha là Đng hng sng đã sai tôi, và tôi sng nh Chúa Cha thế nào, k ăn tôi cũng s nh tôi mà được sng như vy. Đây là bánh t tri xung, không phi như bánh t tiên các ông đã ăn, và h đã chết. Ai ăn bánh này s được sng muôn đi.

    Khi chúng ta tiếp rước Thánh Thể là chúng ta được “hòa tan” vào Chúa Giêsu, được sống bằng sự sống của Ngài. Chúng ta sẵn sàng mở lòng ra với Ngài thì Ngài sẽ đại lượng trao ban, vì Ngài luôn muốn chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10:10).

    Ly Thiên Chúa hng hu và hng sinh, xin giúp con biết tiếp nhn Thánh Th Đc Kitô đ được sng di dào, c đi này và đi sau. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

    Về mục lục

     

    AI ĂN BÁNH NÀY SẼ SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Đức Giêsu nói “thịt Ngài là thật của ăn và máu Ngài thật là của uống”, và hơn nữa, “ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời”.

    Kitô hữu tin rằng bánh rượu sau khi linh mục đọc lời truyền phép trong thánh lễ, thực là mình và máu Đức Giêsu Kitô Phục Sinh. Với giác quan, con người vẫn thấy đó là tấm bánh và rượu, nhưng với con mắt đức tin, đó là mình máu Chúa Giêsu Kitô. Đây không là phép lạ, vì nếu là một phép lạ, thì mọi người đã nhận biết đó là thịt máu Đức Giêsu, và con người không thể chối cãi được; chẳng hạn một số người nhận được phép lạ chữa lành bệnh tật ở Lourdes, người ta không thể phủ nhận điều này. Bánh rượu sau truyền phép là một bí tích, nghĩa là, là một dấu chỉ hữu hình để Thiên Chúa ban ơn sủng thiêng liêng cho con người.

    Bí tích Thánh Thể không đơn thuần là dấu chỉ hữu hình Thiên Chúa dùng để ban ơn thiêng liêng, nhưng còn là biểu tượng tình yêu của Thiên Chúa. Biểu tượng là dấu chỉ liên hệ mật thiết với điều dấu chỉ trỏ tới, và cũng là chính thực tại, chẳng hạn thân xác là biểu tượng của con người toàn diện. Bánh rượu nuôi sống và làm hoan lạc con người, bí tích Thánh Thể, mình và máu Đức Giêsu Kitô, cũng nuôi sống và làm hoan lạc con người, thể chất và tinh thần.

    Bí tích Thánh Thể cho thấy Lời Thiên Chúa tiếp tục tự hủy cho con người được sống. Lời Thiên Chúa đã tự hủy, nhập thể làm người, giờ đây Đức Giêsu Phục Sinh đã được tôn vinh, thế nhưng Ngài vẫn tiếp tục tự hủy nơi bí tích Thánh Thể. Bánh rượu trở thành mình máu Đức Giêsu Kitô: ôi vật chất sao được diễm phúc đặc biệt này. Lời Thiên Chúa tự hủy cho con người thấy nét đẹp và cao quý của thân xác, điều mà nhiều người tưởng rằng thân xác là cái gì kém giá trị. Bí tích Thánh Thể cho thấy vật chất cũng là cái gì tuyệt vời, vì Lời Thiên Chúa nhập thể đã dùng để làm nên mình máu thánh Ngài.

    Bí tích Thánh Thể, mình máu thánh Đức Giêsu Kitô, là bánh ban xuống bởi trời. Là lương thực ban cho con người sự sống vĩnh cửu. Bí tích Thánh Thể là bánh hằng sống đối với những người tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa nhập thể. Với những người này, chính qua bí tích Thánh Thể mà các tín hữu được quy tụ, để họ được nghe Lời Chúa và được rước mình và máu Chúa. Bí tích Thánh Thể nuôi sống đời sống thiêng liêng của họ, củng cố đức tin của họ vào Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô, giúp họ sống bình an hạnh phúc trong những ngày ở dương gian này.

    Bí tích Thánh Thể là biểu tượng tình yêu của Đức Giêsu cho con người, vì Thánh Thể là chính mình máu Ngài. Nơi bí tích Thánh Thể, người ta đọc thấy tình yêu của Đức Giêsu đã hiến mạng sống cho con người, cho những ai tin vào Ngài. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu mình (Ga.15, 13). Đức Giêsu đã hiến mạng cho con người, và điều này được thấy một cách cụ thể qua qua bí tích Thánh Thể khi Đức Giêsu nói: “các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình thầy, sẽ bị nộp vì anh em…. Này là chén máu thầy, máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”. Bí tích Thánh Thể là chính mình máu thánh Người, được ban tặng cho con người, để trở thành bánh ban sự sống, để trở thành giá cứu chuộc con người. Con người thật là tạo vật được Thiên Chúa quý trọng biết bao, vì nó đã được Đức Giêsu hiến mình cứu chuộc.

    Với bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa đang hiện diện với con người một cách bí tích nhưng thật cụ thể đối với những người tin. Thiên Chúa ở với con người qua Ngôi Lời nhập thể là Đức Giêsu; giờ đây Đức Giêsu Phục Sinh đã được siêu tôn ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài đang ở với con người tuy dù con người không thể thấy Ngài bằng mắt trần, và rồi Ngài đang hiện diện với tín hữu cách đặc biệt nơi bí tích Thánh Thể. Thiên Chúa vẫn tiếp tục hiện diện cụ thể với con người. Thiên Chúa luôn ở với con người, và Ngài còn luôn ở lại với con người một cách cụ thể qua bí tích tình yêu này.

    Khi một người nhận lãnh lương thực nuôi thân xác, lương thực được biến hóa thành thịt máu người nhận; khi một Kitô hữu đón nhận mình và máu Đức Giêsu Kitô vào lòng, Đức Giêsu Kitô làm cho người lãnh nhận được trở nên một với Ngài, được thần hóa nhờ Ngài. Mình máu Đức Giêsu Kitô thánh hóa Kitô hữu, làm Kitô hữu trở nên thánh một khi họ rước mình và máu Ngài. “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”.

    Bí tích Thánh Thể, thần lương quy tụ, gầy dựng, và nuôi dưỡng Giáo Hội. Ước gì mỗi Kitô hữu nhận biết giá trị vô lường của bí tích Thánh Thể, để trân trọng và hân hoan đón nhận bí tích cao quý này mỗi ngày, để bí tích Thánh Thể trở thành nguồn sống cho cá nhân và cộng đoàn.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ

    1. Bí tích Thánh Thể có giúp bạn sống hạnh phúc không?
    2. Theo kinh nghiệm sống, bí tích Thánh Thể ảnh hưởng trên đời bạn thế nào?

    Về mục lục

     

    TÔI LÀ BÁNH

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Suy Niệm

    Cả các Kitô hữu cũng ngỡ ngàng trước bí tích Thánh Thể.
    Ăn thịt và uống máu người mình yêu
    là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới.
    Nhưng Ðức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại
    bằng Thịt và Máu Ngài.
    Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết thập giá –
    ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.
    Ðúng hơn, Ngài nuôi chúng ta bằng sự sống của Ngài:
    sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện,
    và sự sống được lấy lại qua phục sinh vinh quang.

    Ðức Giêsu ban cho ta Tấm Bánh (c.51).
    Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (cc.48.51):
    Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống.
    Tôi là Tấm Bánh: đó là định nghĩa của Ðức Giêsu về mình.
    Ðịnh nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không?
    Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống.
    Bánh không sống cho mình, nhưng cho người khác.
    Chấp nhận là bánh có nghĩa là chấp nhận mất mình,
    mà chỉ khi mất mình như thế,
    bánh mới thật là bánh, mình mới thật là mình.
    Thật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn.
    Ðức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt.
    Khi tôi ăn, Ngài thành tôi và biến tôi thành Ngài.
    Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.

    “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi
    thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (c.56).
    Rước lễ là đón lấy dòng sự sống, chấp nhận sống nhờ.
    Ðức Giêsu sống nhờ Cha
    và chúng ta sống nhờ Ðức Giêsu (c.57).
    Như cành nho sống nhờ thân cây nho,
    chúng ta cũng sống nhờ,
    nghĩa là sống trong và sống cho Chúa.

    Trong nhiều thế kỷ, Hội Thánh đã từng có thái độ
    nhìn và thờ lạy Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn.
    Ðộng từ ăn được nhắc đến 8 lần trong bài Tin Mừng này,
    như một lời mời gọi tha thiết của Ðức Giêsu.
    Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước.
    Tiếc thay lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã,
    thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.
    Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên.
    Phút thinh lặng sau rước lễ cũng bị cắt ngắn.
    Tôi phải về ngay vì phải lấy xe, vì nhà thờ đóng cửa…
    Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi.
    Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.
    Tôi lên ăn một vật thánh, thay vì đón một người.
    Ít khi có vị khách quý nào
    bị thường xuyên tiếp đón lạnh nhạt như thế!
    Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra,
    nên tôi vẫn cứ là tôi như trước.

    Hãy dự lễ như người đi dự tiệc Lời Chúa, Mình Chúa.
    Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm,
    người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.

     Cầu Nguyện

    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
    Chúa đến với chúng con
    dưới dạng tấm bánh bình thường.
    Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi.
    Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người.
    Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé,
    có thể bị ẩm mốc làm hư hoại,
    và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.

    Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự
    giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa.
    Xin cho chúng con biết cách
    đến với con người hôm nay:
    đơn sơ, khiêm hạ,
    không chút vinh quang hay quyền lực.
    Nhờ ăn tấm bánh của Chúa,
    chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon,
    được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người.

    Ước gì chúng con dám rước Chúa
    đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình,
    để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên.
    Và ước gì chúng con trở thành
    những Nhà Tạm di động,
    đem Chúa đến cho đồng bào
    và quê hương chúng con. Amen.

    Về mục lục

     

     

    ĐÓN NHẬN THÁNH THỂ

    ĐỂ ĐƯỢC BIẾN ĐỔI NÊN GIỐNG CHÚA

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG : Ga 6,51-59

    (51) Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống”. (52) Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn Thịt ông ta được ?” (53) Đức Giêsu nói với họ: “Thật, Tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”. (54) Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. (55) Vì Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống. (56) Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy. (57) Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy. (58) Đây là Bánh từ trời xuống. Không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. (59) Đó là những điều Đức Giêsu đã nói khi giảng dạy trong hội đường ở Caphácnaum.

     

    1. Ý CHÍNH : Sau phép lạ nhân bánh ra nhiều, tại hội đường thành Caphácnaum, Đức Giêsu đã giảng về Bánh Hằng Sống là bí tích Thánh Thể. Nội dung bài giảng được tóm lược như sau: Ai ăn Thịt và uống Máu Người, tức là lãnh nhận bí tích Thánh Thể mà Người sẽ thiết lập, thì ở đời này sẽ được kết hiệp mật thiết với Người, được tham phần vào sự sống thần linh của Người, và đến ngày tận thế sẽ được sống lại để hưởng hạnh phúc muôn đời với Người.
    2. CHÚ THÍCH :

    – C 51 : + Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống…: Đức Giêsu tự xưng là tấm Bánh với hai đặc tính thần linh là “hằng sống” và “từ trời xuống”. + Bánh Tôi sẽ ban tặng: Sẽ ban là chưa ban ngay lúc này, nhưng sẽ ban khi lập bí tích Thánh Thể vào bữa Tiệc Ly sau này (x. Mt 26,26-28). + Chính là Thịt Tôi đây : Thịt (Sarx) trong ngôn ngữ Hy Lạp ám chỉ con người toàn diện gồm cả xác lẫn hồn. Thịt ở đây cũng chính là Thịt (Sarx) trong câu: “Ngôi Lời đã hóa thành “nhục thể” – hay là “Thịt” (Sarx) hoặc “người phàm” (Sarx) – và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Ở đây, “Bánh” được liên kết với “Thịt” và với “Sự Sống”, là hai đặc tính của bí tích Thánh Thể. + Cho thế gian được sống : Thịt của Đức Giêsu tức là bánh Thánh Thể, là lương thực thần linh, sẽ đem lại hiệu quả là ban sự sống cho người lãnh nhận.

    C 52-53 : + Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn Thịt ông ta được ? : Dân chúng Do Thái nghe Đức Giêsu giảng và đã hiểu đúng ý của Người. Đó là Người cho người ta ăn chính Thịt của Người. Họ thắc mắc và phản đối Đức Giêsu vì nghĩ rằng Người đã hóa điên khùng nên mới ăn nói bừa bãi như vậy. + Thật, Tôi bảo thật các ông: Trước sự thắc mắc về việc cho người ta ăn Thịt của mình, Đức Giêsu đã không làm dịu kiểu nói này lại và cũng không cải chính để tránh cho họ hiểu sai ý mình, nhưng Người lại tiếp tục xác quyết: “Thật, Tôi bảo thật các ông”. + Nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình : Đây là cách diễn tả khác nhằm nhấn mạnh sự thật này: người ta chỉ có sự sống của Chúa nơi bản thân khi lãnh nhận bí tích Thánh Thể, tức là ăn Thịt và uống Máu của Người.

    C 54-56 : + Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết : Kẻ lãnh nhận Thịt Máu Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể sẽ được tham phần vào sự sống đời đời và được Đức Giêsu cho sống lại vào ngày tận thế. + Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống : Trong bốn câu liền (c. 53.54.55.56), Tin Mừng Gio-an dùng cặp từ: Thịt (Sarx) và Máu (Haima) để chỉ con người toàn diện của Đức Giêsu. + Thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy : Hiệu quả của việc lãnh bí tích Thánh Thể là người ta được kết hiệp thân mật với Chúa Giêsu. Nghĩa là được “ở lại” trong Người, đón nhận sự sống dồi dào của Người và trở thành bạn tâm giao của Người, như thánh Phao-lô đã viết : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).

    C 57-59 : + Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy : Đức Giêsu nói đến sự sống siêu nhiên nhờ bí tích Thánh Thể. Ai ăn Bánh Thánh Thể thì sẽ được tham phần vào sự sống siêu nhiên phát xuất từ nơi Chúa Cha thông qua Chúa Giêsu. + Đây là Bánh từ trời xuống. Không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời : Sự sống siêu nhiên mà Bánh Thánh Thể ban cho người lãnh nhận, khác với sự sống tự nhiên thể xác do bánh Man-na mang lại. Vì thế mà dân Ít-ra-en xưa, dù đã ăn Man-na trong sa mạc nhưng vẫn bị chết do tội đã phạm. Còn ai ăn Bánh do Chúa Giêsu ban trong bí tích Thánh Thể thì sẽ được sống đời đời, nhờ đón nhận được sự sống siêu nhiên của Người.

    1. CÂU HỎI : 1)Bánh Thánh do Đức Giêsu hứa ban có hai đặc tính thần thiêng nào ? 2)Bánh đó sẽ được ban khi nào và là Bánh gì ? 3)Từ Thịt (Sarx) trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là gì ? 4)Khi Đức Giêsu hứa sẽ ban Bánh Hằng Sống là Thịt của Người trong bí tích Thánh Thể, người Do Thái đã hiểu ra sao ? Có hiểu đúng với ý Người muốn nói không ? Tại sao ? 5)Khi thấy họ phản đối, Đức Giêsu không những không thay đổi điều vừa nói hay nói nhẹ đi, mà Người càng nhấn mạnh hơn qua câu nào ? 6)Ai ăn Thịt uống Máu Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể sẽ nhận được hiệu quả nào ? 7)Trong 4 câu liền (câu 53.54.55.56), Đức Giêsu dùng hai từ Thịt và Máu ám chỉ điều gì ? 8)Câu nào cho thấy hiệu quả của việc ăn Thịt uống Máu Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể ? Thánh Phao-lô viết về sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu qua câu nào ? 9)Sự sống siêu nhiên nhận được do bí tích Thánh Thể là sự sống nào ? 10)Sự sống siêu nhiên nhận được từ Bánh Thánh Thể thời Tân ước với sự sống tự nhiên từ Manna thời Cựu ước khác nhau thế nào ?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA : Bánh Tôi sẽ ban tặng chính là Thịt Tôi đây để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).
    2. CÂU CHUYỆN :

    1) MẸ SẴN SÀNG HY SINH CHỊU CHẾT ĐỂ CON ĐƯỢC SỐNG:

    Vào cuối thế kỷ trước, bên Anh quốc có phong trào di dân sang lập nghiệp tại Úc Châu. Trên một chiếc thuyền buồm chở người di cư, có một bà mẹ trẻ góa chồng, mang theo một đứa con thơ còn bú sữa mẹ. Sau khi thuyền khởi hành được mấy ngày, thì một cơn bão bất ngờ ập đến làm biển động dữ dội, con thuyền bị sóng đánh tơi tả và cột buồm đã bị gãy. Từ đó, con thuyền lênh đênh trôi trên mặt biển nhiều ngày. Lương thực trên thuyền đã dần dần cạn kiệt. Nhiều người bắt đầu bị chết đói và sau đó bị quăng xuống biển. Vào một buổi sáng người ta phát hiện ra bà mẹ trẻ kia cũng đã bị chết đói, trong khi đứa con nằm bên cạnh vẫn còn sống. Thì ra bà mẹ này trước khi chết đã dùng dao cứa đứt đầu ngón tay út và cho con bú máu của mình thay cho sữa mẹ đã hết. Bà đã hy sinh chịu chết để cho đứa con của bà được sống ! Về sau đứa trẻ kia lớn lên đã trở thành một vị dân biểu nổi tiếng trong vùng. Ông luôn nhớ đến công ơn trời biển của người mẹ đã hy sinh lấy máu mình để làm lương thực nuôi ông khỏi bị chết. Rồi một hôm, ông đã đứng trên diễn đàn quốc hội kể lại câu chuyện thời thơ ấu của mình, và đề nghị quốc hội chọn một ngày trong năm để tôn vinh các bà mẹ, nhắc nhở con cái phải hiếu thảo với mẹ của mình. Đó là nguồn gốc ngày Quốc Tế Các Bà Mẹ hiện nay.

    2) CÂU CHUYỆN GIÚP BỆNH NHÂN ĐÓN NHẬN THÁNH THỂ:

    Một nữ tu được cha sở nhờ mỗi sáng Chúa Nhật mang Mình Thánh Chúa đến thăm viếng và giúp đỡ một bà cao niên tại tư gia. Chị đã kể lại diễn tiến một buổi trao Mình Thánh Chúa như sau:

    – Giúp bà cụ hồi tâm sám hối để dọn lòng đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể.

    – Đọc một câu Lời Chúa trọng tâm trong Tin Mừng Chúa Nhật và áp dụng vào đời sống.

    – Đọc chung kinh Lạy Cha.

    – Đưa Mình Thánh Chúa lên đọc câu xướng đáp : “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. – “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà linh hồn con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ được lành mạnh”.

    – Cho bệnh nhân rước lễ và uống thêm chút nước suối.

    – Dâng lời nguyện kết thúc: “Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể. Ước gì Mình Thánh Chúa con vừa lãnh nhận, gia tăng sức khoẻ hồn xác cho con. Xin thương chữa con mau lành bệnh. Xin ban ơn nâng đỡ con và giúp con sẽ được sống lại vào ngày tận thế và được sống mãi mãi với Chúa trên thiên đàng. Từ nay con xin hứa sẽ luôn nở nụ cười với người chung quanh, sẵn sàng đón nhận mọi đau khổ trái ý gặp phải để đền tội con và cầu xin cho một tội nhân được mau trở về với Chúa, cho một người lương quen biết được sớm nhận biết tin yêu Chúa để cũng được hưởng niềm vui ơn cứu độ với con.- Amen”.

    – Cuối cùng nói chuyện thân tình, hứa luôn cầu nguyện và hẹn gặp lại vào tuần sau.

    1. THẢO LUẬN :

    1) Bạn nhận xét trong câu chuyện của chị nữ tu nói trên có những yếu tố nào giúp đỡ thiết thực cho bệnh nhân ?

     2) Mỗi người chúng ta cần làm gì để được biến đổi nên tốt hơn sau mỗi lần rước lễ ?

    1. SUY NIỆM :

    Câu chuyện bà mẹ nuôi con bằng dòng máu của mình, là hình ảnh tuyệt hảo nói lên tình thương của Đức Giêsu khi lập bí tích Thánh Thể. Người đã tự hiến mình trở thành Bánh thiêng nuôi dưỡng và ban sự sống đời đời cho các tín hữu chúng ta.  Vậy Bánh Thánh Thể là bánh gì?

    + Sứ mệnh của bánh : Bánh là lương thực có thể ăn được và giúp người ta duy trì sự sống (Ga 6,51). Bánh không sống cho mình, mà luôn sống “vì và cho” con người. Đức Giêsu tự xưng mình là Bánh, vì Người đã tự hủy bản thân, hy sinh chính mình để cho loài người chúng ta được sống. Chỉ khi nào chúng ta sẵn sàng hy sinh bản thân cho tha nhân được sống, thì bấy giờ ta mới trở thành tấm bánh giống như Bánh Thánh Thể của Đức Giêsu.

    + Ăn Bánh Thánh Thể là đón nhận Đức Giêsu : Đức Giêsu nói : “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). Khi lên rước lễ, là chúng ta được sống nhờ, sống trong và sống cho Đức Giêsu, như cành nho chỉ sống nhờ hút được nhựa sống từ thân cây chuyển sang (x. Ga 15,5).

    + Đức Giêsu là tấm Bánh để người ta ăn : Trong nhiều thế kỷ, Hội Thánh đã chủ trương chiêm ngưỡng và thờ lạy Bánh Thánh Thể hơn là hãy cầm lấy mà ăn như lệnh truyền của Đức Giêsu. Động từ ăn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Tin Mừng hôm nay, như một lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu là: hãy siêng năng tham dự bữa tiệc Thánh Thể do Người khoản đãi, với hai của ăn cao quý trên bàn thờ là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa.

    + Phải ăn Bánh Thánh Thể cách nào cho hữu hiệu ? : Để việc rước lễ mang lại lợi ích thiêng liêng, thì người rước lễ cần được chuẩn bị trước, và phải đối thoại thân tình với Chúa Giêsu Thánh Thể sau khi đón rước Người vào lòng. Cần tránh rước lễ như một thói quen hay do vị nể, rước lễ để làm vui lòng người khác, nên thiếu sự chuẩn bị, bỏ thưa chuyện với Chúa sau khi rước lễ. Ngày nay tuy các tín hữu đã lên rước lễ nhiều hơn, nhưng phần đông lại rước lễ cách hờ hững : Thiếu tâm tình mến Chúa, bỏ phút thinh lặng thánh sau rước lễ, ra về sớm để tiện lấy xe và lo việc làm ăn, hay đi dự liên hoan với bạn bè… Vì thế việc rước lễ đã trở thành một lễ nghi mang tính hình thức : Lên đón nhận một tấm Bánh Thánh, thay vì được gặp gỡ Chúa Thánh Thể. Quả thật, ít có vị khách quí nào lại bị chủ nhà tiếp đón lạnh nhạt như Chúa Thánh Thể ! Do đó, dù năng dự lễ và rước lễ hằng ngày, nhưng nhiều tín hữu vẫn không gặp được Chúa Giêsu, không được ơn biến đổi nên giống Chúa, nên họ vẫn sống vô cảm, ích kỷ, tự mãn, lười biếng và vô trách nhiệm… như bao năm qua !

    1. LỜI CẦU:

    LẠY CHÚA GIÊSU. Con cảm thấy có sự giống nhau giữa thân phận làm Bánh của Chúa với thân phận làm người của con. Nhờ ăn Bánh Thánh Thể của Chúa, con sẽ được biến hóa nên tấm bánh thơm ngon, được bẻ ra để phục vụ tha nhân. Ước gì con dám đón Chúa vào vùng mờ tối của lòng con, để sự hiện diện của Chúa làm cho con được bừng sáng ngọn lửa tin yêu. Ước gì sau khi được đón Chúa ngự vào lòng, con sẽ trở thành một Nhà Tạm di động, luôn mang Chúa chính là Tình Yêu, để sẵn sàng chia sẻ cho tha nhân chung quanh, để họ cũng được hưởng hạnh phúc đời đời với con.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

     

    LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH

     

    Huệ Minh

    Là con người, nhịn ăn nhịn uống có thể trong một thời gian nào đó, nếu không ăn không uống chắc chắn con người sẽ phải chết.  Đó là chuyện bình thường và hết sức bình thường của cơ thể con người.

    Ngày xưa, cũng buồn cười là vào cái thời bao cấp, thời còn nghèo khổ thì thiếu thốn đủ thứ đủ điều và nhất là thiếu về cái ăn. Gạo, mắm muối … và đặt biệt là thịt, muốn có mà ăn phải có sổ lương thực và xếp hàng để mà mua. Mỗi người chỉ có khẩu phần là như thế.

    Còn nhớ, hôm nào mua được khoanh thịt mỡ có lẽ mừng hơn thịt nạc. Đơn giản là có mỡ về có thể thắng ra lấy nước để có thể chiên, xào … thêm món khác. Ngày nay thì ngược lại, cái ăn cái uống nó dư đầy và người ta ngại đưa thức ăn vào trong người bởi lẽ thức ăn bây giờ dường như là chất độc.

    Ngày nay, tràn ngập thị trường nhiều loại thực phẩm không được sạch. Heo, gà, bò, cá , tôm, cua, ghẹ … tất cả đều được nuôi bằng thức ăn nhân tạo. Và dĩ nhiên là thức ăn đó ngậm một lượng hóa chất đáng kể. Chưa hết, sau khi xuất chuồng, sau khi đánh bắt người ta còn bơm vào con gà, con heo, con trâu, con tôm thêm những hóa chất nữa. Bơm vào hoặc là để nó nặng thêm ký lô để bán hoặc là bơm vào cho nó xỉu để giữ cho nó được lâu.

    Thế nhưng, dù làm gì thì làm, tất cả thực phẩm dường như đều ngậm hóa chất để rồi con người càng dung nạp vào thì con người càng … chết sớm.

    Điều đáng tiếc, điều bi đát là con người nếu không ăn thì không sống được nhưng càng ăn vào thì lại càng chết sớm.

    Cơ thể con người là như thế. Ngoài cái cơ thể 40, 50, 60 ký cần nạp thực phẩm vào trong người để nuôi cơ địa của mình thì con người cần lắm một thứ lương thực khác đó chính là lương thực tâm linh, lương thực thường tồn … Lương thực mà con người ăn vào sẽ có sự sống đời đời đó chính là Bánh Hằng Sống từ Trời xuống như Chúa Giêsu nói với người Do Thái trong diễn từ Bánh Hằng Sống mà chúng ta vừa nghe : “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”.

    Đứng trước lời lẽ đó, người Dothái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?” Bản thân chúng ta cũng thế thôi, chúng ta cũng khó mà tin vào những lời ấy vì lẽ làm sao ta có thể ăn thịt và uống máu của Chúa Giêsu được ?

    Thế nhưng, dù chúng ta có băn khoăn, dù chúng ta có chất vấn, dù chúng ta có nghi ngờ đi chăng nữa thì lời Chúa nói vẫn là sự thật : “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha, là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống. Không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.

    Lời Chúa nói đó và vẫn là thách đố, là lời mời gọi mỗi người chúng ta lựa chọn Bánh Trường Sinh hay chọn thứ bánh hay hư nát đó là quyền của chúng ta.

    Sách khôn ngoan hôm nay nói rõ cho chúng ta rằng : Sự khôn ngoan đã xây nhà mình và dựng bảy cột trụ, đã giết các sinh vật, pha rượu, dọn bàn tiệc, và sai những nữ tỳ lên các nơi cao trong thành mà công bố rằng: “Ai ngây thơ, hãy đến cùng ta”. Và bảo những kẻ mê muội rằng: “Các ngươi hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha cho các ngươi. Các ngươi hãy bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ được sống, và hãy bước theo đường lối khôn ngoan”.

    Rất am hợp với những lời lẽ như thế trong bối cảnh mà ta lưỡng lự, ta chất vấn về Bánh Hằng Sống. Thánh Phaolô tông đồ vừa khuyên chúng ta : Anh em thân mến, anh em hãy xét coi phải ăn ở thế nào cho thận trọng, đừng như những kẻ dại dột, song như những người khôn ngoan: biết lợi dụng thời giờ, vì thời buổi này đen tối. Vì thế anh em chớ ăn ở bất cẩn, nhưng hãy hiểu biết thế nào là thánh ý Thiên Chúa. Anh em chớ say sưa rượu chè, vì rượu sinh ra dâm dục, nhưng hãy tiếp nhận dồi dào Chúa Thánh Thần, cùng nhau hát lên những thánh vịnh, những ca vãn và những bài ca đạo đức và hết lòng ca tụng Chúa. Hãy luôn luôn cảm tạ Thiên Chúa là Cha trong mọi nơi mọi sự, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

    Thật vậy, cuộc sống này qua đi quá mau và quá vội để rồi chúng ta nhìn lại lựa chọn của chúng ta. Những thứ gọi là lương thực vật chất, danh vọng, quyền lực mà ta càng đi tìm, ta càng lấp đầy cuộc đời ta tưởng chừng như làm no đủ, làm thỏa mãn ta nhưng dường như ngược lại. Những thứ ấy, ta càng đi tìm thì ta càng thấy hụt hẫng vì không bao giờ đủ cũng như nó cũng chỉ làm thỏa mãn cơn “khát” của cái tôi, của con người trần gian của ta mà thôi.

    Ta, được mời gọi sống ở đời này nhưng không bám vào đời này, không lệ thuộc vào đời này mà là được mời gọi hướng về đời sau, về Nước Thiên Chúa. Và như vậy, ta lại xin Chúa thêm ơn cho ta để ta nhận ra đâu là lương thực trường tồn cho ta.

    Xin Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống đến và ở lại trong ta và nuôi dưỡng linh hồn ta để ta không còn cảm thấy đói, thấy khát bao giờ nữa.

    Về mục lục

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 19 Thường Niên Năm  B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 19 Thường Niên Năm B

    Lời Chúa:  1V. 19, 4-8;  Ep. 4, 30-5,2;  Ga. 6, 41-51

    ———

    Mục lục

    1. Nguồn trợ lực siêu nhiên (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Hãy tin tôi  (Lm. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Bánh bởi trời.  (Lm. Thái Nguyên)

    4. Hãy trở về với lòng thương xót Chúa  (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

    5. -Bánh Hằng Sống  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    6. Lương thực thường tồn (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Từ Manna đến Chúa Giêsu (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    8. Bánh Hằng Sống thời Covid (Quỳnh Thoại, CĐM)

    9. Tiếp sức  (Trầm Thiên Thu)

    10. Thánh Thể nhiệm tích vô cùng cao quí  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    11. Ai Bánh Hằng Sống đây! (Lm. Nguyễn Xuân Trường)

    12. Chối bỏ Đức Giêsu là chối bỏ sự sống đời đời (Lm.Phaolô Phạm Trọng Hương)

    13. Lương thực đi đường (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    14. Bánh tình thương  (Lm. Trần Ngà)

     

    Mục lục (2018)

    1. Thần lương ban sức mạnh  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Bánh bởi trời  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Phúc đức trong tầm tay (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    4. Hãy đến với Chúa Giêsu, Bánh Hằng Sống  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    5. Ta là Bánh ban sự sống (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    6. Bánh Hằng Sống  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    7. Bánh Hằng Sống. (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    8. Có ai thấy Chúa Cha đâu (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    9. Thần lương độ đường (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

    10. Suy niệm Chúa Nhật 19 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

    11. Suy niệm Chúa Nhật 19 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    12. Bánh Hằng Sống từ trời xuống  (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    13. Sự sống vĩnh cửu  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    14. Bánh Hằng Sống-  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    15. Người cõi trên  (Trầm Thiên Thu)

    16. Hãy mở tâm hồn  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    17. Để có thể tin phải giữ tâm hồn rộng mở (Lm. Trần Bình Trọng)

    18. Tôi là bánh từ trời xuống  (Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

    19. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 19 TN_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    20. Thánh Thể, nguồn mạch sự sống đời đời  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    21. Thánh Thể: Man-na mới trên đường về quê trời (Lm. Đan Vinh)

     

    NGUỒN TRỢ LỰC SIÊU NHIÊN

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Lời Chúa trong sách Các Vua kể với chúng ta việc ông Êlia chạy trốn vua Akáp. Là người thực thi sứ mạng Chúa trao, ngôn sứ Êlia đã nhiệt thành can đảm, dám đương đầu với 450 tiên tri của thần Baal. Kết quả là 450 tiên tri này đã bị giết chết. Sự thua cuộc bẽ bàng đã khiến cho hoàng hậu Zerabel nối giận và thề giết cho được Êlia. Nghe tin dữ đó, Êlia đã chạy trốn. Trong tâm trạng buồn chán, ông xin Chúa cho mình được chết đi. Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai dấn thân phụng sự Ngài. Chính vào lúc Êlia đang buồn chán thì Chúa can thiệp. Ngài đã sai sứ thần đem đến cho Êlia bánh và nước. Nhờ bánh và nước này mà vị ngôn sứ của chúng ta có đủ sức trong 40 ngày trên đường tiến về núi Horeb. Bánh và nước đã ông sức mạnh để tìm về núi Hôreb, là núi của Thiên Chúa, để tìm ở đó nguồn sức mạnh.

    Nếu ngôn sứ Êlia được Chúa nuôi dưỡng trên đường lên núi Horeb ngày xưa, thì hôm nay Chúa cũng đang nuôi dưỡng chúng ta trong hành trình trần thế. Cuộc sống của con người, theo nhãn quan Kitô giáo, cũng là một hành trình vượt sa mạc để lên núi của Thiên Chúa. Cuộc hành trình và lên núi này đòi hỏi chúng ta phải có đủ sức mạnh thể lý và tinh thần, vì đây là hành trình đầy gian nan và cám dỗ. Lương thực mà Chúa ban cho chúng ta chính là Thánh Thể và Lời Chúa. Nhờ nguồn trợ lực siêu nhiên này mà chúng ta có thể tiến bước trong bình an và hạnh phúc.

    Tin Mừng trong Phụng vụ hôm nay tiếp tục ghi lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh trường sinh. Chúa Giêsu nhấn mạnh tới khía cạnh thần linh của bánh mà Người sẽ ban. Người Do Thái chỉ nhận ra nơi Chúa Giêsu là con ông Giuse thợ mộc, nên họ khó nhận ra bánh mà Đức Giêsu nói tới. Đây là bánh từ trời, cũng như Đức Giêsu từ trời xuống, vì thế, bánh này là lương thực thiêng liêng Chúa ban. Nếu ngày xưa, Thiên Chúa nuôi dân trong hành trình sa mạc bằng Manna, thì nay, Chúa Giêsu là Manna từ trời xuống. Cũng như bánh cần thiết cho sự sống thân xác, bánh thiêng liêng là chính Chúa Giêsu cần thiết cho sự sống thần linh nơi chúng ta. “Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Nếu chúng ta có mặt lúc bấy giờ, chắc hẳn chúng ta cũng sẽ ngạc nhiên như những người Do Thái, khi nghe Chúa Giêsu nói về thịt của Người. Nếu màu nhiệm nhập thể dẫn tới việc “Ngôi Lời đã trở thành xác thịt” (Ga 1,14), thì nay, “xác thịt đã trở thành Bánh” (Ga 6,51). Khi nghe Chúa Giêsu nói, Người sẽ lấy thịt mình cho họ ăn, người Do Thái coi đây là sự mạo phạm. Liên hệ với cuộc khổ nạn và được soi sáng bởi mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu, người Kitô hữu nhận ra nơi Thánh Thể chính là thịt và máu Chúa Giêsu, Đấng Cứu nhân độ thế. Đây là lương thực thiêng liêng, là lương thực giúp chúng ta được tăng trưởng mỗi ngày trong hành trình lên núi của Thiên Chúa về quê trời.

    Cơn đói bánh là nỗi lo của con người mọi thời đại. Những xung đột và chiến tranh xảy ra cũng nhằm để giải quyết cơn đói này. Đâu là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn nhắn gửi nhân loại, khi hiến trao thân mình Người cho chúng ta? Đó là sứ điệp của sự sẻ chia, dấn thân phục vụ. Thánh Thể là bài học yêu thương. Như Đức Giêsu đã trao ban chính bản thân mình, người tín hữu được mời gọi bắt chước Chúa, dấn thân phục vụ, để trở nên những cánh tay nối dài của Người giữa trần gian. Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự và trao phó cho con người quản lý. Nếu biết phân phối công bằng, thì của cải trên thế giới đủ để nuôi sống tất cả mọi người. Nghèo đói, bất công là con người ích kỷ, chỉ biết chiếm hữu cho mình mà quên tha nhân. Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: “Sự phân phối bất công của cải vẫn tồn tại, tạo nên tình trạng tội lỗi mang tính xã hội, tình trạng ấy kêu thấu trời xanh và làm cho quá nhiều anh chị em chúng ta không có khả năng đạt được một cuộc sống đầy đủ hơn.”Nghĩa cử quảng đại chia sẻ sẽ đem cho chúng ta hạnh phúc, vì “Chỉ khi nào biết xả thân cho người khác, chúng ta mới thành công trong đời sống và mới cảm nghiệm được nỗi vui mừng của Thiên Chúa”(Michel Quoist).

    Được nuôi dưỡng nhờ Thánh Thể, cuộc đời người Kitô hữu phải được canh tân. Thánh Phaolô nói với giáo dân Êphêsô: “Anh em hãy loại ra khỏi anh em mọi thứ gay gắt, tức giận, nóng nảy, dức lác, chửi rủa, cùng mọi thứ độc ác. Anh em hãy ăn ở hiền hậu với nhau, hãy thương xót và tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Ðức Kitô”. Vị Tông đồ dân ngoại cũng khuyên các tín hữu hãy chia sẻ quảng đại theo gương Đức Giêsu: “Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta.” (Bài đọc II).

    Trong những ngày này, qua các phương tiện thông tin, chúng ta được biết có hàng ngàn hàng vạn người dân nghèo vội vã rời bỏ các đô thị có dịch để trở về quê, tránh đại dịch Covid-19. Nhiều cảnh đời rất đáng thương, vạ vật bên đường. Không chỉ những người trên đường về quê, có nhiều nơi đang phải cách ly, phong toả và giãn cách. Họ đang cần lắm những “sứ thần” mang đến cho họ sự giúp đỡ. Nếu không có khả năng giúp đỡ vật chất, chúng ta đều có thể cầu nguyện cho họ, xin Chúa cho những người nghèo khó và đau khổ được ơn nâng đỡ nhờ nguồn trợ lực siêu nhiên. Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng, Chúa có thể làm những điều kỳ diệu để nâng đỡ chúng ta. Ngài chính là nghuồn trợ lực siêu nhiên đối với những ai tin tưởng trông cậy nơi Ngài, như tác giả Thánh vịnh chia sẻ với chúng ta: “Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi điều lo sợ”.

    Về mục lục

    HÃY TIN TÔI

    Lm. Jos DĐH.

    Sợ người có chức quyền, thích làm bạn với kẻ sang giầu, nể phục bậc hiền tài, kính trọng người đức độ, uy tín, không phải là điều khó hiểu nơi cuộc sống đầy phức tạp này. Người xưa có những kinh nghiệm hết sức cao quý: cho dù con đi trật đường sai hướng lâu như thế nào, con luôn có lựa chọn quay đầu trở lại. Khôn ngoan tài giỏi, tỉ lệ thành công bao giờ cũng cao, người khiêm tốn, chân tình, chắc chắn sẽ có nhiều bạn hiền, nhưng tất cả đều phải chịu trách nhiệm về sự tự do của mình. Hãy chịu khó, chứ đừng khó chịu. Dù biết và hiểu quy luật: sinh – lão – bệnh – tử, nhưng ai cũng được mời gọi sống sao cho có tình có nghĩa, để không phải hổ thẹn với tổ tiên thiên địa. Hãy vui vẻ với điều kiện, khả năng ta đang có, nhưng chớ đòi người khác phải dành ưu ái cho mình.

    Đám đông dân chúng xưa kia có bước khởi đầu đến với Đức Giêsu rất mông lung, rồi bước kế tiếp họ được nghe, được xem thấy phép lạ chữa bệnh, trừ quỷ, được no cơm bánh, được vừa đủ tình yêu thương, mở ra một tương lai hạnh phúc thật lớn cho họ. Đừng nghi ngờ lòng tốt của cha mẹ, hãy tin Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, dù mắt xác phàm và tâm trí của ta còn nhiều giới hạn. Biết tìm kiếm sự sống đời đời, biết thao thức có được “Bánh trường sinh”, quả thực, bạn đã là người khôn ngoan rồi. Tài giỏi hơn một chút ở đời này, họ sẽ áp dụng tiêu chí: ai thương, ta tìm tới, ai ghét, ta lánh thân. Hạnh phúc hơn nữa, là ai nghe, hiểu, tin, và biết thực hành lời Đức Giêsu phán dạy: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống”, thì quả là tuyệt vời.

    “Hãy tin tôi”, cơm bánh vật chất chỉ nuôi được thân xác, Bánh Giêsu, mới đúng thật là thứ bánh mang lại sự sống đời đời. Mỗi người trước hết, tự mình phải trả lời có thứ bánh trường sinh bất tử không ? Khi đủ khôn để gật đầu thưa có, hẳn ta đừng “lăn tăn” đòi hỏi một kiểm chứng, hãy tin lời sách tiên tri quả quyết: “mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo”. Người “si tình” thường được diễn tả hết sức dại khờ: hãy yêu tôi, nếu không tôi sẽ chết. Kẻ độc ác lại điên khùng nói: hãy yêu ta, nếu không ta sẽ giết ngươi ! Đức Giêsu không ủy mị, không bạo lực, Ngài mở ra cho mỗi người sự tự do chọn lựa: “thật, Ta bảo thật các ngươi: ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống”.

    Hãy tin tôi, có phải là ưu tư của bạn không ? Vâng, tin và sống niềm tin “Bánh Giêsu”, chính là thao thức của người khôn ngoan biết tìm kiếm hạnh phúc, tìm kiếm sự sống đời đời, dù họ không có cơ hội để truyền kinh nghiệm cho ta. Nhà vật lý “đại tài” Ac-xi-met, có một câu khá thuyết phục: hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất này lên. Bậc thánh hiền không cần phải “đại tài”, nhưng phải “đại đức”, người tin Đức Giêsu không cần “đòn bảy mưu trí”, nhưng cần “điểm tựa Giêsu”, qua đó, ta sẽ thắng được tính kiêu căng và nết xấu của mình, hầu đạt tới niềm vui bất tử trong tình yêu Giêsu. Hãy tin Đức Giêsu là bánh trường sinh, tin giáo hội được Đức Giêsu thiết lập trên nền tảng yêu thương và hiệp nhất, tin sự hiện diện của Đấng Kitô nơi người anh chị em mà ta gặp gỡ.

    Sách có câu: đừng lấy dạ tiểu nhân để đo lòng người quân tử ! Cũng vậy, người ta không thể lấy tiền của và tình yêu thương, đổ đồng như nhau, bằng nhau. Không ai có thể lấy cơm bánh để nuôi linh hồn, hoặc lấy bánh tình thương để nuôi thân xác. Không ai lại lấy danh lợi thú ở đời, mà so sánh với giáo huấn của Đức Giêsu. Tin Đức Giêsu là bánh hằng sống, không phải ta sẽ có một cuộc sống dễ dãi, nhưng tin yêu Đức Giêsu là sống tình liên đới, hiệp thông trọn vẹn trong tình yêu, hầu được dẫn dắt tới niềm vui hạnh phúc đời đời. Cơm áo gạo tiền nuôi xác, không ai thắc mắc làm gì, bánh Giêsu nuôi hồn, đem lại sự sống đời đời, không hề dễ đối với những ai cậy dựa vào năng lực tính toán của mình. Người Do-thái tìm đến Đức Giêsu hay nhân loại tìm đến Đức Giêsu, đều tùy thuộc vào tình yêu, niềm tin và hành động riêng nơi mỗi người.

    Hãy tin tôi, nếu bạn không thể là mặt trời, xin cũng đừng có ý tưởng là đám mây. Đức Giêsu chiếu soi vào từng tâm hồn mỗi người một ơn ban: của ăn nuôi xác và của ăn mang lại sự sống trường tồn, đều phát xuất bởi tình yêu Thiên Chúa. Gặp Đức Giêsu bằng mắt xác thịt, bằng mắt đức tin, nghe Đức Giêsu giáo huấn trực tiếp hay gián tiếp, đều là ơn ban, là cơ hội để giúp con người đạt tới đức ái vẹn toàn. Biết Đức Giêsu là con bác thợ mộc thì không sai, tin con bác thợ mộc là Thiên Chúa cứu độ, là Bánh trường sinh, nhất định phải trải qua giai đoạn biến đổi tâm tính, thay đổi lập trường sống tín thác vào Đấng đang hiện diện. Trường sinh bất tử hay trẻ mãi không già, là mơ ước đúng, đẹp, nhưng nếu chỉ dừng lại ở khao khát vu vơ, sao được gọi là khôn ngoan, là tin yêu ? Phân biệt bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể là Bánh Giêsu, là của ăn nuôi hồn, còn mở lòng ra bày tỏ niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu độ, tùy tự do của từng người chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    BÁNH BỞI TRỜI.

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Chúng ta sẽ cảm nhận bài Tin Mừng sâu hơn khi quay lại với bối cảnh thời Cựu Ước, lúc Ítraen vừa đặt chân vào đất Canaan. Ở đó đã có sẵn một tôn giáo thờ thần Baan, là vị thần của mưa gió, của sức mạnh thiên nhiên, của sự phú túc. Đây quả là vị thần lý tưởng cho cuộc sống nông nghiệp lúc bấy giờ. Thế là Irael bắt đầu tiêm nhiễm thứ đạo ngoại lai ấy, và ngày càng gia tăng cho tới thời vua Akhát.

    Êlia xuất hiện như vị anh hùng bảo vệ đức tin, chống lại mọi pha trộn, mọi thỏa hiệp. Cuộc so tài trên núi Carmen giữa Êlia và các ngôn sứ thần Baan được hoàng hậu Ideven bảo trợ, có mục đích cho dân nhận định rõ ai là Chúa thật: Giavê hay Baan? Các ngôn sứ Baan làm mọi cách: kêu cầu, nhảy múa, rạch mình, nhưng không có hiệu quả. Êlia kêu cầu Thiên Chúa, và phép lạ đã xảy ra. Điều đó cho thấy Thiên Chúa của Ítraen mới là Chúa tể các năng lực thiên nhiên, và là Thiên Chúa của toàn thể vũ trụ (1V 18,17- 40). Thế nhưng sau đó, Êlia phải chạy bán mạng trước sự trả thù của Ideven. Trên đường trốn tránh, Êlia đói lã, chán nản, thất vọng, nên xin cho mình chết đi. Sứ thần Chúa đã mang đến cho ông bánh và nước. “Nhờ lương thực bổ dưỡng ấy, ông đi suốt 40 ngày, 40 đêm tới Khôrép là núi của Thiên Chúa”. Tại Khôrép, ông được gặp Đức Chúa, lấy lại được niềm tin và sức mạnh tinh thần để tiếp tục sứ mệnh tái lập một Israel đích thực.

    Các Giáo phụ nhận ra những chiếc bánh mà sứ thần đem đến cho Êlia là hình ảnh tiên báo về phép Thánh Thể, để nuôi dưỡng tín hữu trên đường về quê trời. Các thế hệ Kitô hữu đã xem Êlia như chiến sĩ vô địch về đức tin. Các đan viện, các dòng tu nhìn Êlia như vị tiền phong của sự nỗ lực từ bỏ nếp sống trần tục, đi vào trong thinh lặng nội tâm để tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban lương thực trường sinh.

    Lương thực trường sinh đó chính là Đức Giêsu, Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, và Ngài đã nói rõ cho người Do Thái biết: “Tôi là bánh từ trời xuống… là bánh trường sinh”. Người ta khó mà lãnh hội được ngay mạc khải sâu nhiệm ấy? Vì thế, đã có tiếng xầm xì to nhỏ: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Con cái Ítraen cũng đã từng xầm xì để bày tỏ sự ngờ vực đối với Môsê: họ không tin vào sứ mạng của ông là do Thiên Chúa trao ban. Vẫn đi theo chiều hướng của tổ tiên, người Do Thái một lần nữa xầm xì, nói lên sự hoài nghi của họ về con người của Đức Giêsu. Đối với họ, Đấng Mêsia phải xuất hiện thình lình mà không ai biết Người từ đâu đến. Dựa trên những lý lẽ như vậy, người Do Thái thấy mình hoàn toàn có cơ sở để bác bỏ các khẳng định của Đức Giêsu.

    Ngài liền cho họ biết: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy”. Quả thật, nếu người Do Thái dám để cho lòng họ mở ra với những dấu chỉ của Thiên Chúa, họ sẽ được lôi kéo đến với Đức Giêsu. Ngôn sứ Isaia đã từng nói: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Việc dạy dỗ này về phía bên ngoài cho thấy chính Đức Giêsu đang ở giữa họ, và phía bên trong là Thiên Chúa đang hành động trong trái tim họ, nhưng rồi họ vẫn khép lòng mình lại. Sau đó, Đức Giêsu chuyển sang một đề tài mới: vấn đề không chỉ là tin vào Ngài để được sống đời đời nữa, mà là ăn thịt và uống máu Ngài. Chúa Giêsu không chỉ nói về Bí tích Thánh Thể, nhưng còn muốn nêu bật giá trị cái chết của Ngài trên thập giá, là chính Ngài hiến dâng mạng sống mình để cho thế gian được sống.

    Trường sinh bất tử là ước mơ của con người qua muôn thế hệ, nhưng con người không thể sống mãi với thân xác từ bụi cát này. Nó phải trở về cát bụi, nhưng cát bụi sẽ trở thành con người mới trong sự sống muôn đời, do quyền năng của lòng Chúa thương xót. Sự sống đời đời không phải là chuyện viễn vông xa vời, nhưng là một thực tại đang triển nở trong đời sống người tín hữu. Mỗi thánh lễ là một bàn tiệc nuôi dưỡng sự sống linh hồn để ta đủ sức đi về cõi trường sinh.

    Cầu nguyện

    Lạy Cha là Thiên Chúa!
    Dù trước mắt sự thật đã rành rành,
    nhưng rồi thiện ác vẫn phân tranh,
    người lành vẫn luôn bị xử tệ,
    kẻ dữ xem ra luôn thắng thế.

    Ai bảo vệ sự thật đều điêu đứng,
    ngôn sứ Êlia cũng buồn sầu thất vọng,
    chỉ khi được ăn bánh của thiên thần,
    mới tiếp cuộc hành trình đầy phấn chấn.

    Chúng con cũng băng qua sa mạc đời,
    phải đối đầu với thử thách không ngơi,
    nhất là trước lòng dạ của người đời,
    khiến chúng con phải nhiều phen chới với.

    Dù tuổi trẻ hăng say và mạnh mẽ,
    nhưng rồi cũng lắm kẻ phải buông xuôi,
    khi không được chia sẻ nỗi ngậm ngùi,
    một mình phải thui thủi trong sầu não.

    May mắn cho đời con có Chúa đây,
    Đấng không chỉ ở trên chín tầng mây,
    Đấng không chỉ ở Lời Ngài phán dậy,
    mà còn chính Đức Giêsu Con Cha nữa,
    là Tấm Bánh Cha ban xuống cho nhân thế,
    bánh trường sinh là Thánh Thể nhiệm mầu.

    Ít khi con cảm nhận sự thâm sâu,
    sức mạnh linh thiêng của Mình Máu Chúa,
    là sự sống không tàn úa của đời con,
    bao lần con đón nhận như thói quen,
    khiến tâm trí đời con vẫn khô cằn,
    thiếu sức mạnh vượt qua những khó khăn.

    Xin cho con lòng cảm mến vô vàn,
    ân huệ cao vời mà Cha đã thương ban,
    để con hân hoan vững bước đường đi tới,
    về nơi vinh phúc chốn quê Trời. Amen.

    Về mục lục

    HÃY TRỞ VỀ VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

      Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Saigon đang dịch bệnh bùng phát, sự dữ lan tràn, nhưng ta lại nghe kể nhiều về những nghĩa cử cao đẹp, về tình cảm tốt, thái độ tử tế, và tấm lòng rộng rãi của người này người kia đối với người, với nơi bị phong tỏa , chúng ta gọi đó là lòng tốt của sự thương cảm giữa người với người dành cho nhau.

    Ở lúc khó khăn này người ta mới thấy cần đến tình người để bao bọc, để chia sẻ, để nương tựa nhau là cần thiết. Khi Covid chưa đến thì con người xa cách nhau, và luôn cảm thấy đồng tiền và quyền lực sẽ bảo vệ mình, và sẽ cho mình một cuộc sống bình an, hạnh phúc.

     Rồi bỗng nhiên một buổi sáng ngôi nhà bị phong toả, con hẻm bị giăng dây, và có khi cả khu phố bị rào chắn, tự dưng mình lại trở thành như những tù nhân thiếu thốn mọi sự, hoang mang đủ điều . . . Lúc này, con người mới thấy cần lắm tình người dành cho nhau, giầu nghèo lúc này đều như nhau. Có tiền cũng không mua được tiện nghi cho mình. Có quyền lực cũng không cho mình sự bình an. Con người thực sự cần đến bình an.

    Nhưng có thật là khi con người quây quần bên sẽ mang lại bình an cho nhau không?

    Thưa không, vì những sự quan tâm chia sẻ cho nhau chỉ làm giảm bớt lo lắng và phần nào yên tâm về thể lý, hoặc tâm lý. Nó không mang lại bình an thực sự. Sự bình an thực sự chỉ có ở nơi Đấng có thể chiến thắng sự dữ mới giúp cho con người an toàn khi nương nhờ nơi Ngài.

    Đó chính là lòng xót thương của Thiên Chúa. Con người lúc này cần Thiên Chúa xót thương và giải cứu. Cần Thiên Chúa cúi xuống để che chở. Cần Thiên Chúa cúi xuống để băng bó vết thương cho con người. Đây là điều mà Chúa Giê-su đã mặc khải cho thánh nữ  Maria Faustina về sự bình an cho thế gian chỉ có khi nào con người quay trở về nương ẩn nơi Lòng Chúa Thương Xót  . Trong NK LTX số 699 viết:

    “Các linh hồn đừng sợ đến gần Cha, ngay cả khi tội lỗi nó đỏ tươi như máu. Lòng thương xót Cha rộng rãi vô biên đến nỗi trí khôn của con người hoặc của thiên thần cũng không có thể đo lường được. Nhân loại sẽ không được bình an cho đến khi chúng quay về Suối Nguồn Tình Thương của Cha”.

    Nhìn vào cuộc Cuộc đời dương thế của Chúa Giê-su đã chứng minh Ngài đến để mang bình an cho nhân thế. Ngài đến để giới thiệu một Thiên Chúa yêu thương. Ngài đi gieo vãi yêu thương. Ngài đi nối kết tình người. Ngài đi xoa dịu đau thương. Ngài sống một cuộc đời thanh thoát không lệ thuộc của cải danh vọng trần gian. Ngài không bẻ gãy cây lau bị dập. Ngài không kết án ai. Đỉnh cao của dấu hiệu yêu thương ấy là chết cho người mình thương.

    Cuộc đời Ngài ví tựa tấm bánh bẻ ra cho muôn người. Tấm bánh mang lại hạnh phúc cho nhiều người. Tấm bánh làm vui lòng trẻ thơ cũng như người già. Tấm bánh hòa tan cho muôn người. Kẻ thấp hèn cũng như người giầu sang. Tấm bánh thêm sức mạnh cho mọi người. Kẻ no đầy cũng như người khát. Tấm bánh nối kết tình mọi người. Vì “bánh ngọt bẻ đôi” sẽ là nhịp cầu thân ái cho người với người gần nhau hơn. Tấm bánh đời Ngài ban cho thế gian để cho thế gian được sống và sống dồi dào. “Và ai ăn bánh này sẽ không phải chết bao giờ”. Đó là tấm bánh phục sinh. Bánh cải từ hoàn sinh. Bánh trao ban sự sống đời này và cả đời sau.

    Phải chăng Ngài cũng mời gọi chúng ta đón nhận tấm bánh đời Ngài để sức sống, ân sủng, tình thương của Ngài thẩm thấu trong cuộc đời chúng ta, để chính chúng ta cũng trở thành tấm bánh trao ban bình an và hạnh phúc cho tha nhân?

    Ứơc gì nhân loại hôm nay tin nhận vào quyền năng của Thiên Chúa và quay trở về nương ẩn nơi Lòng Thương Xót Chúa để được cứu chữa. Ước gì khi chúng ta nhận ra Lòng Chúa Thương Xót  dành cho mình, thì mỗi người hãy biết sống tâm tình tạ ơn Chúa, đồng thời biết noi gương Chúa sống yêu thương anh em đồng loại của mình. Amen

    Về mục lục

    -BÁNH HẰNG SỐNG

    Bông hồng nhỏ

    Hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục nói với ta về diễn từ “Bánh hằng sống”. Người chính là bánh hằng sống dưỡng nuôi nhân loại. Người chia sẻ với ta cơn đói thể xác khi hóa bánh nuôi dân chúng, Người cũng dẫn ta hướng đến một thứ lương thực dưỡng nuôi linh hồn ta, đó chính là Mình và Máu Thánh Người. Để khi được rước chính Thánh Thể Chúa, ta sẽ được no thỏa, được tham dự vào sự sống thần linh, được sống trong tình yêu của Thiên Chúa. “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6, 57).

    Người Dothái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giêsu đã nói: “Tôi là bánh từ trời xuống”. Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 41-42). Họ lại tập trung cái nhìn của mình về nguồn gốc, xuất thân của Thầy Giêsu. Họ nghĩ rằng mình biết rõ về ông Giêsu này, và họ hoài nghi về lời Chúa Giêsu mạc khải cho họ. Trong dịp về thăm quê, Chúa Giêsu cũng đã đứng lên đọc sách Thánh, giảng lời cho dân chúng nhưng những người đồng hương đã không tin Người, vì họ biết quá rõ về xuất thân của Người. Cũng giống như những người Do thái này, ta tự khép mình trong những suy nghĩ hạn hẹp, những thành kiến và cả những ảo tưởng về những người thân của ta hay về những người ta quen biết. Ta luôn nghĩ mình hiểu hết về họ, ta đi guốc trong bụng họ nhưng kỳ thực ta không hiểu họ. Ta dễ xét đoán và khó đón nhận người khác.

    Đến với Chúa, đã bao lần ta cũng mang trong mình cách hành xử ấy. Ta chưa mở lòng mình ra trước Lời của Người. Có những bài Tin Mừng chỉ nghe mấy câu đầu, ta đã biết đằng sau đó là gì và ta dừng lại, không nghe nữa, hay tai ta vẫn nghe nhưng không nghe thực sự, vì ta đang chia trí lo ra. Lòng ta không cưu mang lời Chúa. Lắng nghe Chúa là điều rất quan trọng. Mỗi khi ta chia trí lo ra, Chúa Giêsu cũng đang nói với ta: “Các ông đừng có xầm xì với nhau!”. Ta đang ‘xầm xì” với những bận tâm của ta về công việc, về một người nào đó. Ta cũng nghĩ “mình biết cả rồi” và Lời Chúa trở nên thật nghèo nàn trong tâm hồn ta. Hãy lắng nghe tường tận từng điều Chúa đang nói với ta, ngay trong tâm hồn ta. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 44). Muốn đến với Chúa phải có ơn Chúa. Ơn Chúa vẫn tuôn đổ xuống trên ta, điều cần thiết là ta hãy mở lòng ra trước ân sủng của Người. Chúa Cha vẫn không ngừng lôi kéo ta trong từng phút giây: “Đây là Con ta yêu dấu, hãy vâng nghe Lời Người” (x. Mc 9, 7). Kinh nghiệm yêu thương trong gia đình cho ta thấy: ta có thể yêu thương người khác dù ta không hiểu hết về họ. Bố mẹ yêu thương con, hy sinh cả cuộc đời cho con. Dù có lúc, những đứa con than trách rằng bố mẹ không hiểu mình, nhưng dù không hiểu hết về con nhưng tình yêu họ dành cho con thì không hề suy giảm. Yêu thương là điều kiện để giúp ta đến với người khác. Càng yêu họ bao nhiêu, ta sẽ dần hiểu hơn về họ, và ta đón nhận họ như họ là. Hãy yêu mến Thiên Chúa bằng cả con người mình, ngay trong chính những yếu đuối và giới hạn của mình. Chính khi yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, hết trí khôn của mình, Thiên Chúa là Cha nhân lành sẽ đích thân dạy dỗ ta.

    Lạy Chúa Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống, và cũng là lời hằng sống dưỡng nuôi con! Cảm tạ Chúa đã dưỡng nuôi con bằng Thánh Thể của Người và bằng chính Lời Chúa. Xin Chúa không ngừng thanh luyện tâm hồn con, những ước muốn trong con, để con không bao giờ ước muốn điều mất lòng Chúa. Cảm tạ Chúa đã luôn ban Chúa Thánh Thần cho con, để Người mở ra trong trái tim con một con đường tình yêu, con đường dẫn con đến với Chúa là nguồn sống của linh hồn con. Bất chấp sự giới hạn và bất toàn của con, tình yêu Chúa vẫn không ngừng mở ra cho con những con đường mới, nâng con lên, dẫn con đến với Chúa giữa những bất ổn của thế giới hôm nay. Amen.

    Về mục lục

    LƯƠNG THỰC THƯỜNG TỒN

    Thiên San

    Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta nghe câu chuyện những người Do Thái xầm xì phản đối khi Đức Giêsu tuyên bố: “Tôi là bánh từ trời xuống”. Trước sự phản kháng dữ dội của người Do Thái, Đức Giêsu không những không lùi bước mà còn quả quyết hơn về lời tuyên bố của mình. Người mặc khải rõ hơn về chính mình, mặc khải tình yêu của Người dành cho nhân loại: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).

    “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavit, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa” (Lc 2,11). Đó là lời loan báo của sư thần Chúa trong đêm Hài nhi Giêsu chào đời. Sau những năm tháng lưu lạc nơi đất khách quê người, gia đình Thánh gia trở về quê hương. Biến cố Giáng sinh của Hài nhi Giêsu dường như chẳng còn ai nhắc đến. Những mục đồng được phúc chiêm ngắm Hài nhi Giêsu năm nào có còn chăng? Cuộc sống ẩn dật nơi ngôi làng Nadaret đã nuôi dưỡng Hài Nhi ấy lớn lên như bao đứa trẻ khác. Bản tính Thiên Chúa dần dần ẩn khuất nơi bản tính con người của Thầy Giêsu. Thật dễ hiểu khi người Do thái thắc mắc: Ông này chẳng phải là ông Giêsu đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: ‘Tôi từ trời xuống?” (Ga 6,42).

    Giả như chúng ta ở vào thời của Đức Giêsu, khi nghe những lời tuyên bố của Ngài, chắc gì chúng ta đã tin. Thật khó hiểu, khó tin khi một người đang sống với chúng ta tuyên bố rằng chính họ là bánh từ trời, là bánh trường sinh và kêu mời chúng ta đến với họ để ăn “thịt” của họ. Điều đó thật kinh khủng. Kể cả ngày hôm nay, khi nghe những câu chuyện “ăn thịt người”, chúng ta cũng không khỏi ớn lạnh trong mình. Nhưng, quả thực, điều đó có thật. Lời tuyên bố và mời gọi của Đức Giê su vẫn vang lên, thôi thúc chúng ta lắng nghe, đón nhận chân lý mạc khải của Ngài. “Bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51). Như xưa Đức Chúa đã dùng bánh nuôi dưỡng ngôn sứ Êlia, giúp ông có đủ sức đi tiếp bốn mươi ngày đêm, nay qua Đức Giêsu, Thiên Chúa tiếp tục nuôi dưỡng mỗi người chúng ta qua bí tích Thánh Thể, là chính Mình và Máu Thánh của Ngài.

    Phải chăng, vì biết rằng, nếu để chúng ta ăn thịt của Ngài theo kiểu ăn thịt của các loài động vật, điều đó thật khó khăn cho chúng ta vì không phải ai cũng có điều kiện để ăn thịt nên Ngài đã sáng kiến biến bánh và rượu, là sản phẩm ruộng vườn trở nên chính Mình và Máu Thánh Ngài. Điều này cũng tựa như việc biến dòng máu nơi người mẹ thành dòng sữa trắng tinh tuyền nuôi đứa con thơ. Dù trong hình thức nào, chúng ta vẫn luôn xác tín rằng, qua bí tích Thánh Thể, chúng ta thật sự được đón rước, được ăn chính Thịt và Máu của Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa. Điều đó cũng xảy ra ngay cả lúc ta đón rước Người một cách thiêng liêng khi tham dự thánh lễ trực tuyến hay bất cứ thời khắc nào trong ngày. Thiên Chúa là Đấng quyền năng, Ngài có thể làm tất cả, chỉ cần chúng ta thật sự khao khát kết hiệp với Ngài, khao khát đón rước Ngài.

    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Chúng con cảm tạ Chúa đã cho chúng con được phúc đón rước Ngài vào lòng, được nuôi dưỡng bằng chính Mình và Máu Thánh của Ngài. Xin cho chúng con, dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn biết kết hiệp với Chúa, khao khát Chúa như khao khát được hít thở. Bởi chính Chúa là nguồn sống, là lương thực thường tồn, đem lại phúc trường sinh. Xin đừng để chúng con đón rước Chúa cách hờ hững, theo thói quen hay trong tình trạng tội lỗi nặng nề. Chúng con xác tín rằng, chính Chúa Cha là Đấng đã lôi kéo chúng con đến với Ngài, cùng giúp chúng con sống bác ái, yêu thương nhau trong mọi hoàn cảnh. Amen.

    Về mục lục

    TỪ MANNA ĐẾN CHÚA GIÊSU

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Khởi đi từ phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng, phụng vụ Lời Chúa các tuần tiếp theo giúp chúng ta đọc lại hầu như toàn bộ chương 6 Tin Mừng theo thánh Gioan. Đây là cơ hội để khám phá ra Tấm Bánh đích thực bởi Trời có tên là Giêsu, Bánh do Thiên Chúa Cha tặng ban để thế nhân ăn mà sống muôn đời.

    Tin Mừng thánh Gioan hôm nay ghi lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với người Do Thái về bánh hằng sống, khơi lại manna thời Cựu Ước và nguồn gốc của Chúa Giêsu. Với lời tuyên bố: “Ta là bánh hằng sống bởi trời mà xuống” (Ga 6,41). Chúa Giêsu đã gặp phải điều cấm kỵ trong dân Do Thái. Nhất là câu “Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51). Người dẫn chứng: “Cha ông các ngươi đã ăn Manna trong sa mạc và đã chết”, khiến họ kêu trách: “Chớ thì ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse sao? Chúng ta đều biết rõ cha mẹ của ông. Vậy làm sao ông lại nói: ‘Ta bởi trời mà xuống” (Ga 6, 42).

    Manna là gì?

    Căn cứ vào tiếng Do Thái thì Manna bắt nguồn từ “Man” có nghĩa là “Quà tặng”, nên Manna là quà Thiên Chúa ban tặng cho dân. Trên hành trình về Đất Hứa, qua sa mạc Sin, giữa Êlim và Sinai, dân Israel nổi loạn kêu trách Môsê đã dẫn họ ra khỏi Ai Cập để vào đây phải chết đói (x. Xh 16,3). Chính họ cảm thấy hối tiếc vì đã bỏ đất Ai Cập, dù làm thân nô lệ nhưng còn có thức ăn. Sau khi xảy ra chuyện phàn nàn này, Môsê đã xin Thiên Chúa ban cho Manna từ trời xuống làm của ăn dòng dã 40 năm trường (x. Xh 16, 1- 36). Thiên Chúa đã nhận lời và ban bánh xuống như mưa sa cho dân mỗi sáng thu nhặt bánh ăn thỏa thích trong ngày.

    Đến lượt Êlia, người Tisbê, ở Galaad, sứ ngôn của Thiên Chúa, trong thời kỳ hạn hán không có mưa, có sương, Thiên Chúa đã dùng quạ ở thung lũng Cơrít và bà góa thành Xarépta nuôi ông (x. 1V 17, 1-15). Và trong cuộc hành trình đến núi Horeb của Thiên Chúa, ngài đã dùng chính Thiên Thần mang bánh đến cho ông ăn, nhờ “sức của nuôi ấy, ông đi bốn mươi ngày bốn mươi đêm mới tới Horeb, núi của Thiên Chúa” (1V 19, 8).

    Manna hình ảnh báo trước về Chúa Giêsu

    Lời ông Môsê trong sách Đệ Nhị Luật cho thấy, manna là thứ mà Thiên Chúa ban cho dân trong sa mạc ăn cho đỡ cái đói đời sống tạm bợ này. Vì: “Con người sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3).

    Môsê đã tiên báo cho dân Do Thái biết về lương thực Thiên Chúa sẽ ban cho dân Chúa sau này là chính Chúa Giêsu Kitô : “Thiên Chúa sẽ ban cho các người của ăn mà các ngươi và cha ông các người chưa từng biết tới” (x. Đnl 8, 2-3.14b-16).

    Chúa Giêsu mạc khải chính mình là Bánh bởi Trời

    Cho dù là Manna từ trời xuống nuôi dân chúng trong sa mạc, hay bánh Thiên Thần mang đến cho Êlia nuôi sống người ta 40 ngày cùng lắm là 40 năm đi nữa, thì những thứ bánh đó cũng chỉ nuôi sống con người cách rất tạm bợ, kẻ ăn những thứ bánh ấy vẫn đói và vẫn chết. Hôm nay, Chúa Giêsu tự giới thiệu cho mình: “Ta là hằng sống bởi trời mà xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời” (Ga 6,41). Thật không dễ để những người Do Thái thời Chúa Giêsu đón nhận Người là Bánh Hằng Sống, thứ bánh họ cần thiết phải kiếm tìm, và ăn không phải nhằm thỏa mãn thể lý trong một thời gian, nhưng còn để sống vĩnh viễn.

    Những lời trên khiến cho những cùng quê với Chúa Giêsu sửng sốt. Chẳng những khước từ, họ còn coi đó là gương mù gương xấu. Họ lẩm bẩm với nhau, bới lông tìm vết: ” Chớ thì ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse sao? Chúng ta đều biết rõ cha mẹ của ông. Vậy làm sao ông lại nói: ‘Ta bởi trời mà xuống” (Ga 6,42). Cuộc sống của Chúa Giêsu rất đỗi bình thường giữa người làng xóm, thường đến nỗi khiến người ta vấp phạm vì lời Người. Thấy họ lẩm bẩm, Chúa Giêsu nói: “Các người chớ thì thầm với nhau. Không ai đến được với Ta nếu Cha, là Đấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy“, và Người thêm: “Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 44.47).

    Người Cha mà Chúa Giêsu nói với họ không ai nhìn thấy bao giờ là người cha nào? Bánh từ Trời xuống là bánh gì mà người ta ăn vào sẽ sống đời đời? Trong khi đó, manna của ăn trong sa mạc, cha ông họ đã ăn và đã chết thì Chúa phủ nhận, nay tuyên bố: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời” (Ga 6, 51). Thịt của Chúa có thể là thức ăn cho con người được không?

    Chúa Giêsu muốn giúp họ hiểu ý nghĩa sâu xa của phép lạ hóa bánh ra nhiều để họ đón nhận lời loan báo của Chúa là Bánh từ Trời xuống (x. Ga 6,41) sẽ làm thỏa mãn một cách vĩnh viễn. Dân Do thái đã sống kinh nghiệm ăn manna trong hành trình vào Đất Hứa. Giờ đây Chúa Giêsu nói về chính Người như Bánh từ Trời xuống, có khả năng duy trì sự sống không phải chỉ trong một lúc hay một đoạn đường, mà luôn mãi: “Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời” (Ga 6, 51 ). Chúa Giêsu tỏ mình là Con Một Thiên Chúa, từ Chúa Cha mà đến để trao ban cho con người thứ lương thực ban sự sống đời đời. Chúa khẳng định Người là Bánh bởi Trời và khích lệ dân chúng tin vào Người.

    Chúng ta ngày hôm nay tự hỏi: Tôi có tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa không? Tôi có khao khát Bánh bởi Trời là chính Người không? Thật ra, ăn Bánh Hằng Sống có nghĩa là tin nơi Chúa và ai tin thì ăn.

    Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hướng dẫn chúng ta tới gặp Chúa Giêsu, để trong tình hiệp thông tràn đầy với Chúa Giêsu Con Mẹ, Bánh Hằng Sống từ Trời xuống; chúng con được kết hợp với Người ngay từ bây giờ và mãi mãi. Amen.

    Về mục lục

    BÁNH HẰNG SỐNG THỜI COVID

    Quỳnh Thoại

    Đã bao lâu rồi, chúng ta không được đến nhà thờ, kể từ khi đại dịch COVID bùng phát lần thứ 4 tại Việt Nam?

    Đã bao lâu rồi, chúng ta hít thở khí trời qua chiếc khẩu trang, và giấu mình trong những lớp quần áo bảo hộ khi có dịp đến nơi công cộng?

    Đã bao lâu rồi chúng ta sống trong lo lắng, sợ hãi khi nhắc đến F0, F1, F2?

    Và hơn bao giờ hết, trong những ngày cuối tháng bảy vừa qua, đã có rất nhiều những cảnh tượng đau thương diễn ra trước mắt chúng ta, dù là trước màn ảnh nhỏ, hay ngay cạnh nhà mình: người người bị đem đi cách ly, dù đó là người già hay trẻ nhỏ, những cảnh chết chóc diễn ra trong buồn bã… Rồi trên những con đường Sài Gòn xô bồ, nhộn nhịp bao đời, giờ im ắng tiếng còi xe. Từng đoàn người tứ xứ vào Sài Gòn lập nghiệp, giờ cũng vội vã trở về quê, mang theo bên mình những rủi ro, vì đường xa, mà lương thực lại ít. Chiếc xe máy chở cả gia đình và những chắc chiu dành dụm bao ngày…Đã bao lâu rồi, chỉ cần được thở thôi mà khó khăn đến vậy?

    Tấm Bánh Hằng Ngày- Tình Yêu Thời COVID

    Trong những cảnh hỗn độn, đầy hoang mang và chông chênh đó, chúng ta lại thấy tình người thật ấm áp. Những siêu thị mini và những quán ăn không đồng mọc lên, những cửa hàng rau củ không người bán, chỉ có vỏn vẹn tấm bảng ghi dòng chữ: “Ai cần đến lấy!” Rồi trong những ngày Sài Gòn “bệnh nặng”, không làm gì được, thì chúng ta lại bắt gặp những chuyến xe chở thực phẩm từ miền Trung và miền Tây tấp nập vào chia sẻ yêu thương. Những chuyến xe nhân ái ấy đã nuôi sống anh chị em mình từng ngày trong lúc khốn khó. Rồi có người không ngại chạy xe máy vào các con hẻm nhỏ, trao tận tay những ổ bánh mì cho người vô gia cư. Đơn giản vậy thôi, những “tấm bánh hằng ngày” thời COVID.

    Tấm Bánh Hằng Sống- Tình Yêu Muôn Đời

    Hình ảnh “bánh hằng ngày” này làm chúng ta dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh Bánh Hằng Sống mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay. Cả hai đều cùng một mục đích hướng tới, đó là nuôi sống con người. Tuy nhiên, Bánh Hằng Sống mà Chúa Giêsu ban tặng không làm từ bột mì, hay từ hoa màu ruộng đất, nhưng là từ chính Mình và Máu Thánh của Ngài. Đối với những tấm lòng quảng đại, thì cho đi những gì mình có không khó. Những trận bão lụt, thiên tai, hay đại dịch vừa qua cho chúng ta xác tín điều đó, và niềm tin vào tình người vẫn luôn đong đầy. Họ có sợ, có lo đó, nhưng tình yêu thương đã giúp họ vượt qua những cảm xúc sợ hãi để dấn thân vì người khác.

    Chúa Giêsu, Chúa chúng ta còn hơn vậy nữa. Ngài không chỉ cho những gì Ngài có trong tay, trong tâm trí. Ngài không chỉ muốn dấn thân, mà còn muốn hiến thân cho con người. Bí Tích Thánh Thể là minh chứng cho điều Ngài muốn. “Bánh Tôi sẽ ban tặng chính là thịt Tôi để cho thế gian được sống.” (Ga 6,52). Hằng ngày, nơi nhà tạm nhỏ bé, và trong thánh lễ, chúng ta được nhắc nhở: Có một tình yêu đã hiến thân cho nhận loại, như tấm bánh được bẻ ra và trao ban cho hết mọi người, hầu tất cả được nuôi dưỡng và sống đời đời. Còn cách diễn đạt nào trong tình yêu mà quyết liệt hơn, độc đáo hơn, và tuyệt đối như cách mà Chúa Giêsu đã làm cho con người chúng ta?

    Con người Hôm Nay và Lương Thực Hằng Ngày

    Tình Chúa là thế. Yêu thương là thế. Gắn bó từng giây phút bên con người là thế. Nhưng đến tận bây giờ, con người vẫn không ngừng hỏi: Thiên Chúa ở đâu trong đại dịch COVID 19? Đọc bài đọc một Chúa Nhật hôm nay, (1V.19, 4-8), chúng ta thấy cuộc đời của tiên tri Ê-li-a như là hình ảnh sống động nhất để chỉ về những gì đang xảy ra nơi anh chị em chúng ta trong những ngày dịch bệnh hoành hành: tuy không nói là bị trục xuất khỏi nơi làm việc, nhưng họ đang phải cuốn gói lên đường trở về quê nhà, một sự trở về vội vã, mạo hiểm. Ăn bờ, ngủ bụi, vất vả nhất là những ai có con nhỏ…

    Tạ ơn Chúa là giữa những lúc như vậy, họ không đơn độc. Như Ê-li-a được thiên thần Chúa hiện ra và ban lương thực cho ông. Ông đã được ăn, được uống, và trở nên mạnh mẽ, rồi tiếp tục cuộc hành trình 40 đêm ngày để đến núi Horeb. Ngay lúc này đây, tại quê hương Việt Nam chúng ta, cũng có những thiên thần dễ thương với trái tim và đôi bàn tay hướng về người nghèo, người lâm cảnh túng thiếu. Họ chia sẻ những tấm bánh, chai nước trên đường đi. Những trái tim và những đôi bàn tay đó chính là hiện thân của Chúa, để đồng hành cùng những ai vất vả dặm trường. Đó là đức ái Ki-Tô hữu mà Thánh Phao-lô trong bài đọc hai đã mời gọi mỗi người chúng ta, hãy bắt chước và sống thực hành điều đó với anh chị em mình. (Ep. 4: 30-5: 2).

    Hãy là Tấm Bánh Yêu Thương         

    Để mở lối cho việc sống thực hành bác ái theo gương Chúa Giêsu, Thánh Tê-rê-sa Avila có nói thế này: “Hôm nay Đức Ki-tô nhìn người khác bằng mắt chúng ta, yêu người khác bằng trái tim chúng ta, đến với người khác bằng đôi chân chúng ta và phục vụ người khác bằng đôi tay của chúng ta”. Vậy để trả lời cho câu hỏi: Thiên Chúa ở đâu trong cơn đại dịch này? Chúng ta hãy cùng nhau phản ảnh dung mạo và tình yêu của Đức Ki-tô bằng chính đời sống mình:

      • Trong cầu nguyện xin được ơn can đảm
      • Trong phục vụ xin được ơn khiêm nhường
      • Trong hy sinh xin thêm lòng yêu mến
      • Trong chia sẻ xin tìm thấy niềm vui.

    Xin Chúa Giêsu Thánh Thể luôn là nguồn khởi đầu mọi hành động của chúng con, để trong mọi điều chúng con nghĩ, mọi lời chúng con nói, và mọi việc chúng con làm, đều nhằm mục đích cho mọi người nhận ra sự hiện diện của Chúa. Qua tấm bánh cuộc đời chúng con được bẻ ra và trao tặng cho nhau, xin dung mạo Chúa được phản ảnh bây giờ và trong sự tiếp nối mỗi ngày. Amen.

    Về mục lục

    TIẾP SỨC

    Trầm Thiên Thu

    Cái gì cũng có giới hạn, rồi cũng hư hỏng, không thể tồn tại mãi. Có những thứ mau hư, có những thứ lâu hư. Thực phẩm tươi sống phải được bảo quản mới có thể không mau hư hỏng. Những thứ mau hư hỏng lại tiếp sức đạt tới những gì lâu dài, bất diệt.

    Tục ngữ nói: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no.” Câu này càng thấy đúng trong thời gian dịch bệnh thế này. Người nghèo bao giờ cũng khổ – khổ đủ thứ, đủ kiểu, đủ mức, cả thể lý lẫn tinh thần. Đáng quan ngại là đói thể lý có thể dẫn tới đói tinh thần, lo sợ lắm: “Thân phận bồ câu, xin đừng trao cho thú dữ, đừng mãi mãi quên đi mạng sống dân nghèo khổ của Ngài.” (Tv 74:19)

    Vì nghèo khổ mà phải tha phương cầu thực, rồi vì dịch bệnh mà phải về quê. Thật xót xa khi thấy những người đi bộ về quê cả trăm cây số, có những người đi xe đạp hoặc xe máy về quê cả ngàn cây số. Không thể tưởng tượng nổi có hàng trăm, hàng ngàn người tháo chạy, cực khổ lắm nhưng không còn cách nào khác. Dọc đường có những người tiếp sức bằng thứ này, thứ nọ, kể cả tiền mặt. Thật ấm áp tình người!

    Vì kiệt sức mà phải tiếp sức. Cái đói khát cấp bách lắm. Trình thuật 1 V 19:4-8 cho biết: Một mình ông Êlia đi một ngày đường trong sa mạc, rồi ông đến ngồi dưới gốc một cây Kim Tước. [1] Mệt mỏi vì đường xa và vì đói khát, có lẽ nản lòng nên ông cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.” Nói rồi ông nằm dưới cây kim tước đó và thiếp đi, an tâm chờ… chết.

    Bất ngờ, một thiên sứ đến đánh thức ông và bảo ông dậy mà ăn. Ông nhìn thấy ở phía đầu ông có một chiếc bánh nướng và một hũ nước. Ông ăn bánh, uống nước, rồi lại nằm xuống chờ chết. Thiên sứ của Đức Chúa trở lại lần nữa, đụng vào người ông và nói: “Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa.” Ông lại dậy, ăn bánh và uống nước. Nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi ngày đêm tới Khô-rếp – tức là núi Sinai, núi của Thiên Chúa. Chỉ ăn uống như thế mà ông Êlia đủ sức đi ròng rã bốn mươi đêm ngày.

    Điều đó không chỉ lạ lùng mà là kinh ngạc. Bánh thiên thần có khác. Bốn mươi là con số quen thuộc nhưng khá đặc biệt, được đề cập nhiều lần trong Kinh Thánh. [2] Bốn mươi cũng là khoảng thời gian kỳ lạ – dù là ngày, tháng, hoặc năm. Với con người, bốn mươi năm là độ tuổi trung niên, cần phải thực sự trưởng thành toàn diện tâm sinh lý.

    Bánh thiên thần hoặc thần lương chỉ có thể là bánh do Thiên Chúa ban tặng. Ngài biến bánh thường hóa thành thần lương. Thần Lương nhắc nhớ tới Bánh Thiêng là Thánh Thể – Mình Máu Chúa Giêsu Kitô. Có Thần Lương nuôi dưỡng phần xác thì cũng có Thần Lương nuôi dưỡng phần hồn. Đã có những vị thánh chỉ sống nhờ Thánh Thể suốt vài chục năm.

    Thánh Vịnh gia rất biết ơn vì được nuôi dưỡng cả xác hồn: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.” (Tv 34:2) Không chỉ vậy, Thánh Vịnh gia còn phải lên tiếng xác nhận và chia sẻ chân thành: “Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người.” (Tv 34:3-4) Thánh Vịnh 34 là một Thánh Vịnh “đẹp” về cả ngôn từ và ý nghĩa.

    Thật vậy, Thánh Vịnh này khiến người ta cảm thấy ấm lòng. Chứng cớ được viện dẫn và lý giải rạch ròi: “Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng. Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn. Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh để giải thoát những ai kính sợ Người.” (Tv 34:5-8) Ước gì mỗi chúng ta cũng khả dĩ cảm nghiệm ân tình của Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, và luôn biết nhắn nhủ lẫn nhau: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (Tv 34:9)

    Không thể không hành động khi cảm nhận được điều tốt lành. Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.” (Ep 4:30-31) Cái “tôi” là cái tồi tệ, nó luôn muốn vùng lên bất cứ lúc nào, vì cứ tưởng mình là “số dzách” (số một, đệ nhất, number one) Có biết yêu mình thì mới biết yêu người khác, nhưng yêu mình quá hóa tự ái, tự ái dẫn tới ích kỷ, ích kỷ dẫn tới bất chính, đúng như cổ nhân nói: “Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính.”

    Ngày xưa, Saolô hung hăng, hiếu chiến, háo thắng, tự cho mình “ngon lành” nên tìm mọi cách chống lại danh Đức Giêsu. Ông đã từng giận dữ mà rảo khắp các hội đường, cưỡng bức người ta phải nói lộng ngôn, sang cả nước ngoài mà bắt bớ những người tin theo Đức Kitô, (x. Cv 26:11) nhưng chính ông đã khốn khổ vì “châu chấu mà muốn đá voi” và dám “giơ chân đạp vào mũi nhọn.” (Cv 26:14) Tội to lắm, nặng lắm, nhưng Thiên Chúa đã “triệt buộc” ông. Và rồi một Saolô ngang ngược đã biến thành một Phaolô nhiệt thành rao giảng về Đức Kitô.

    Với kinh nghiệm “xương máu” như vậy, Thánh Phaolô chia sẻ: “Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.” (Ep 4:26) Không làm điều xấu vẫn là tiêu cực, cũng chưa xong bổn phận, mà còn phải tích cực làm điều tốt, nghĩa là “phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, NHƯ Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta trong Đức Kitô.” (Ep 4:32)

    Bác ái cần lắm, vì hạnh phúc là biết yêu và được yêu. Thánh Phaolô kết luận: “Vậy, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt.” (Ep 5:1-2) Bác ái là đức ái, một trong ba nhân đức đối thần, cần thiết cho cả đời này và đời sau. Đó là một loại lương thực nuôi dưỡng tinh thần mà ai cũng cần sử dụng để khả dĩ duy trì sự sống tâm linh.

    Bánh vật chất đời thường mau hư, cần cho sự sống thân xác, gợi nhớ tới bánh tinh thần bất hoại, cần cho sự sống thiêng liêng, và còn cần hơn nữa là Bánh Thánh – loại Bánh Trường Sinh chỉ có được từ Đức Giêsu Kitô. Đó chính là Mình Máu Ngài, Thần Lương tiếp sức cho chúng ta suốt cuộc lữ hành trần gian.

    Thánh Gioan cho chúng ta biết “đặc sản” duy nhất là Bánh Trường Sinh này qua trình thuật Ga 6:41-52.

    Sau khi nghe Chúa Giêsu nói chính Ngài là Bánh Trường Sinh, người Do Thái cảm thấy “chói tai” và xầm xì phản đối, bởi vì Ngài đã nói: “Tôi là bánh từ trời xuống.” Chắc chắn rằng, từ cổ chí kim, cả hiện tại và tương lai, hoặc bất cứ dân tộc nào, không ai dám nói như vậy, và cũng chẳng ai dám tự xưng là Thiên Chúa. Quả thất, rất “khó lọt lỗ tai” vì chúng ta chỉ là phàm nhân, không thể hiểu nổi những gì cao hơn vầng trán bé nhỏ của mình. Nhưng điều Chúa Giêsu nói hoàn toàn là sự thật.

    Lúc đó, người Do Thái đặt vấn đề với nhau: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” Ngày nay chúng ta không còn tranh luận về “sự lạ” Thánh Thể vì chúng ta đã thừa kế di sản đức tin tông truyền, nếu chúng ta sống thời đó và lần đầu nghe Chúa Giêsu nói vậy, chắc chắn chúng ta không chỉ nổi da gà, nổi gai óc, mà còn nổi nóng như ngọn lửa bùng cháy. Tuy nhiên, dù đã hơn hai ngàn năm qua, những người vô thần hoặc theo tôn giáo khác, kể cả một số hệ phái thuộc Kitô giáo, người ta vẫn không chấp nhận Bí tích Thánh Thể, cho rằng người Công giáo chỉ ảo tưởng. Sự thật mãi là sự thật, dù người ta không tin sự thật là sự thật thì sự thật cũng không thể biến thành điều gì khác.

    Biết rõ người Do Thái đang lùng bùng lỗ tai và máu đang bốc lên tới chỏm đầu, Chúa Giêsu nói: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.” Hết cú sốc này tới cú sốc khác, chắc là họ muốn điên lên được. Thế nhưng Chúa Giêsu không thể chuyển hướng khác, và Ngài dẫn chứng: “Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha thì sẽ đến với tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha.” Như vịt nghe sấm, không hiểu gì, cứ nghe ông Giêsu nói kiểu này thì họ điên mất thôi!

    Ai điên thì điên. Mặc kệ. Sự thật không thể khác. Chúa Giêsu “sang số” và “tăng ga” tiến tới: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6:51) Nghe những lời này, người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ tức giận lắm, nhất là mấy “ông lớn” – mặt to, tai to, miệng to, quyền to, chức to – thế nhưng họ vẫn không thể làm gì được Ngài.

    Có lẽ hôm đó xảy ra ẩu đả vì ai cũng cho mình là đúng. Một số người rút lui mặc dù đã đi theo Ngài một thời gian. Không hiểu thì không tin, không tin thì không thích, không thích thì không thể theo. Lẽ thường là như thế.

    Đối với người Do Thái, cả chính quyền và các vị lãnh đạo tôn giáo, Chúa Giêsu là “cái gai nhọn” cần phải nhổ, càng sớm càng tốt. Vì thế, họ luôn tìm mọi cách bắt bẻ, gài bẫy, để có cớ bắt giết Ngài, nhưng giờ của Ngài chưa đến thì không ai có thể làm gì được.

    Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin gia tăng các đức đối thần và đối nhân, xin ban Thần Khí Ngài để chúng con có thể hiểu đúng những điều siêu nhiên, xin ban cho chúng con lương thực cần thiết cho xác hồn để chúng con đủ sức vượt qua mọi chướng vật trong cuộc lữ hành và được đến Cõi Trường Sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    —–

     [1] Cây Kim Tước thuộc họ đậu, hoa màu vàng ươm, nở vào mùa Xuân, còn gọi là “Cây Hoa Chuỗi Vàng” – Golden Chain Flowers. Tất cả các bộ phận của cây kim tước đều độc, có thể gây tử vong. Tuy nhiên, cây cũng được dùng để làm giảm nhịp tim và kích thích lợi tiểu.

    [2] Số 40 được đề cập trong một số câu Kinh Thánh:

    a). Sau 40 ngày lụt Đại Hồng Thủy, (St 7:17) có nhân loại mới, tượng trưng bằng gia đình ông Nôê.

    b). Khi 40 tuổi, ông Môsê đã đến thăm dân đang sống kiếp nô lệ ở Ai Cập; (Cv 7:23) sau 40 năm ở tại Mađian, ông được Thiên Chúa kêu gọi đi giải phóng dân Israel, (Cv 7:30) ông đã hướng đạo dân Israel đi trong sa mạc suốt 40 năm.

    c). Sau hai lần ở trên núi Sinai 40 ngày đêm cầu nguyện, (Xh 24:18; Xh 34:28) ông Môsê nhận được Luật Giao Ước để tổ chức đời sống cho Dân Chúa.

    d). Sau 40 năm đi trong sa mạc, (Ds 14:22; Đnl 1:3) đoàn dân vào Đất Hứa, thoát kiếp nô lệ, được sống tự do.

    e). Sau 40 ngày đêm đi trong sa mạc, (1 V 19:8) ngôn sứ Êlia đến núi Khôrép (Sinai) để gặp Thiên Chúa và được Người củng cố trong sứ mạng.

    f). Sau 40 ngày ăn chay hãm mình đền tội, dân thành Ninivê được Thiên Chúa tha thứ. (Gn 3:10)

    g). Sau 40 ngày ăn chay trong sa mạc, (Mt 4:2) Đức Giêsu công khai thi hành sứ vụ.

    h). Sau khi sống lại 40 ngày, Đức Giêsu dạy dỗ các tông đồ, chuẩn bị cho các ông đón nhận Chúa Thánh Thần, Hội Thánh được thiết lập, và các ông can đảm ra đi truyền giáo. (Cv 1:3)

    Về mục lục

    THÁNH THỂ NHIỆM TÍCH VÔ CÙNG CAO QUÍ

    Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Bí tích Thánh Thể là chóp đỉnh và là nguồn mạch của đời sống Kitô hữu. Vì tầm quan trọng của bí tích này, phụng vụ Lời Chúa tuần này tiếp tục mời gọi chúng ta suy niệm về diễn từ “Bánh hằng sống” trong chương VI của Tin Mừng Gioan. Dưới ánh sáng của trích đoạn này, hôm nay, chúng ta tìm hiểu về ba điều quan trọng nhất nơi bí tích Thánh Thể bằng việc trả lời ba câu hỏi này:

    1) Làm sao bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa?
    2) Chúa Giêsu hiện diện thực sự nơi Thánh Thể không?
    3) Chúng ta phải chuẩn bị thế nào là để rước lễ?

    1- Bánh rượu trở thành Mình – Máu Chúa

    Trước hết, chúng ta phải nói rằng bí tích Thánh Thể là sự mới mẻ nhất do Chúa Giêsu mang lại, nhưng đồng thời cũng là mạc khải khó tin nhất đối với con người mọi thời. Quả thế, khi Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). Người Do Thái đã sốc khi nghe những lời này. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6,52).
    Đối với chúng ta hôm nay, khi dự thánh lễ, câu hỏi đầu tiên mà chúng ta thường được đặt ra là làm sao bánh và rượu trở thành Mình và Máu thánh Chúa?
    Chúng ta tìm thấy câu trả lời trong Giáo Lý Công Giáo, theo đó, khi linh mục truyền phép, chính Chúa Thánh Thần là Đấng ngự xuống trên các lễ vật, nhờ quyền năng thần linh mình, Người biến đổi bánh thành Mình Chúa Kitô và rượu thành Máu Chúa Kitô.
    Theo ngôn ngữ thần học, đây là sự biến thể (transubstantiatio), nghĩa là một sự biến đổi từ bên trong, bản thể của bánh rượu không còn là bánh rượu nữa, nhưng trở thành bản thể của Chúa Kitô, thành Thịt và Máu Người. Thánh Cyrillô thành Giêrusalem (313-387) giải thích về sự biến thể này như sau: “Bánh này không còn là bánh, dù bằng chứng của vị giác thế nào đi nữa, nhưng là thân mình Chúa Kitô. Rượu này không còn là rượu dù giác quan có nói thế nào đi nữa, nhưng chính đây là máu Chúa Kitô” (Giáo Lý Nhiệm Huấn IV, 9)
    Bởi vậy, khi chủ tế đọc lời khẩn cầu (epiclesis) chính là lúc Chúa Thánh Thần thực hiện sự biến đổi kỳ lạ này: “Chúng con nài xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hoá những của lễ này, để trở nên cho chúng con, Mình và Máu Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.” Sau đó, chủ tế mới đọc: “Này là Mình Thầy… Này là chén Máu Thầy… sẽ đổ ra cho các con…” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
    Như thế, qua linh mục, Chúa Thánh Thần dùng quyền năng thần linh của Người biến đổi bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô.

    2- Sự hiện diện đích thực

    Câu hỏi thứ hai mà chúng ta thường thắc mắc là Chúa Giêsu có hiện diện thực sự trong bí tích Thánh Thể không? Đây cũng là “hòn đá vấp chân cho nhiều người.” Đối với những người Tin Lành và Anh Giáo, họ chỉ tin và cử thành thánh lễ như là sự tưởng nhớ; bánh và rượu chỉ là biểu tượng về sự hiện diện thiêng liêng của Chúa; họ không tin rằng Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Thánh Thể.
    Đối người Công Giáo, di sản quý báu nhất mà Giáo Hội có được chính là niềm tin vào bí tích Thánh Thể. Theo đó, chúng ta xác tín và tuyên xưng rằng: “Trong bí tích Thánh Thể cực trọng, sự hiện diện “Mình và Máu, cùng với linh hồn và thần tính, của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và vì vậy, Đức Kitô được ẩn chứa cách đúng đắn, chân thật và bản thể” (Giáo Lý, số 1374).
    Thế nên, Chúa Giêsu thực sự hiện diện dưới hình bánh rượu, dầu giác quan con người không thấy. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng hiện tại hóa hy tế thập giá xưa của Chúa Giêsu trong mỗi thánh lễ được cử hành. Nên mỗi thánh lễ là một phép lạ đang diễn ra trước mắt chúng ta. Thánh Thể quả là “mầu nhiệm Đức Tin”; Thánh Thể là nhiệm tích vô cùng cao quý!”
    Bởi thế, để đến với Thánh Thể, chúng ta cần có đức tin. Nhờ cặp mắt đức tin, chúng ta tin nhận rằng Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong Thánh Thể, Người ban Thịt và Máu Mình làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta.
    Về điều này, trong lịch sử Giáo Hội, có nhiều phép lạ Thánh Thể xảy ra để cũng cố niềm tin cho chúng ta. Ở Lanciano, nước Italia, vào thế kỷ thứ VIII, có một linh mục, thuộc Dòng thánh Basiliô, rất giỏi về khoa học, nhưng lại yếu đức tin, ngài thường nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thánh lễ. Một ngày nọ ngài đi hành hương ở Rôma. Trên đường về, ngài dâng lễ tại một nhà Dòng, sau khi truyền phép, một phép lạ xảy ra ngay tại bàn thờ, bánh trở thành thịt và rượu trở thành máu thật Chúa Giêsu. Ngày nay, người ta còn lưu giữ dấu tích cục máu đông tại Lanciano, được các nhà khoa học kiểm chứng thuộc nhóm AB như là bảo chứng của niềm tin vào Thánh Thể.

    3- Chuẩn bị xứng đáng để rước lễ

    Chúa Giêsu không chỉ mời gọi chúng ta đến nhà thờ để tham dự thánh lễ nhưng Người còn mời gọi chúng ta chuẩn bị xứng đáng để rước lễ.
    Liên quan đến vấn đề này, trong văn kiện Bữa Tiệc Thánh, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói đến ba hạng người lên rước lễ:
    1) Hạng người thứ nhất lên rước lễ chỉ vì phong trào, họ sợ người ta nghĩ mình không đạo đức hay thấy người khác lên, mình cũng lên, nhưng họ không có lòng yêu mến Thánh Thể. Họ rước lễ cách bất xứng.
    2) Hạng người thứ hai là những người đang mắc tội trọng, nhưng đã đánh mất cảm thức về tội, không xưng tội, nhưng vẫn lên rước Mình
    Thánh Chúa. Họ rước lễ cách bất xứng và thêm tội phạm thánh. Giáo Hội dạy phải xưng tội trọng trước khi lên rước lễ.
    3) Hạng người thứ ba lên rước lễ với tâm hồn sạch tội và yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể. Họ đón nhận được muôn vàn phúc lành đến từ Thánh Thể.
    Chúng ta thuộc hạng người nào trong ba hạng người trên? Tôi không có quyền xét đoán và xếp loại ai, nhưng tôi để cho mỗi người xét mình và tự trả lời.

    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin ban cho chúng con lòng yêu mến Chúa và siêng năng tham dự thánh lễ, rước Mình Máu Chúa cách xứng đáng; đồng thời, xin giúp chúng con luôn ý thức rằng bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh” của đời sống Giáo Hội và mỗi người chúng con. Amen!

    Về mục lục

    AI BÁNH HẰNG SỐNG ĐÂY!

    Lm. Nguyễn Xuân Trường

    Trong đời, ai cũng muốn sống khỏe, sống lâu, sống mãi. Muốn sống vậy, người ta để ý đến ăn: không chỉ là ăn no, ăn ngon, mà là ăn có lợi cho sức khỏe. Như để đáp lại điều đó, Phúc Âm các Chúa Nhật dịp này vang lên như tiếng rao lặp đi lặp lại: Ai bánh hằng sống đây!

    1. Đói khát bánh. Bài đọc 1 kể chuyện trong hành trình sứ mạng của mình, ngôn sứ Êlia đói khát buồn chán đến độ muốn xin được chết. Cũng thế, trong dịch Covid-19, nhiều người đói khát buồn chán. Hành trình theo Chúa của người môn đệ cũng không tránh khỏi những lúc chán nản xuống tinh thần.

    2. Cho nhau bánh. May thay, sứ thần của Chúa đã đem bánh và nước đến mời Êlia ăn. Nhờ đó ngôn sứ có đủ sức đi suốt 40 ngày đêm tới núi của Thiên Chúa. Lúc này, Chúa cũng muốn mỗi người là những “sứ thần” đem lương thực bổ dưỡng, nâng đỡ tiếp sức cho nhau tiến bước hành trình.

    3. Trở thành bánh. Bài đọc 2 thánh Phaolô mời gọi chúng ta trở thành bánh thơm hương yêu thương qua việc sống tình bác ái như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta đến độ tự nộp mình làm hy lễ ngào ngạt hương thơm dâng lên Thiên Chúa. Cụ thể, bánh ấy không có mùi cháy khét của chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay những hành vi gian ác. Trái lại, bánh ấy thơm hương yêu thương của đối xử tốt đẹp và tha thứ cho nhau.

    4. Bánh hằng sống. Để có thể thỏa mãn những đói khát sâu xa nhất của con người, để có thể quảng đại cho nhau bánh ăn, để có thể dấn thân hy sinh trở thành bánh, thì chúng ta rất cần một thần lương là bánh hằng sống từ trời nuôi dưỡng, là chính Chúa Giêsu.
    Trong lịch sử, nhiều khi con người giết nhau vì tranh giành bánh, còn Chúa Giêsu lại tự hiến mình thành bánh nuôi nhân loại sống muôn đời. Chúa mời gọi chúng ta ăn bánh hằng sống để có thể sống yêu thương trao ban như Ngài. Amen.

    Về mục lục

    CHỐI BỎ ĐỨC GIÊSU LÀ CHỐI BỎ SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương

    Ngày xưa, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống trần quan sát dân chúng. Tiên ông giả làm người ăn mày quần áo rách rưới và đi lang than. Vào buổi chiều mùa đông mưa lạnh. Ông gõ cửa nhà chó sói. Hé cửa nhìn ra, thấy ông lão rách rưới, nó nhe nanh đe dọa để xua đuổi. Ông lão sợ hãi vội chạy đi. Ông lão đến gõ cửa nhà con cáo. Nó chửi mắng thậm tệ nhưng chẳng cho gì. Buồn tủi, ông tiếp tục đi dưới trời mưa lạnh. Sau cùng ông gõ cửa nhà của thỏ trắng. Thấy ông lão run rẩy dưới trời mưa. Thỏ vội mời vào và đưa ông đến bên đống lửa, hong quần áo cho ông. Ông rên rỉ:“Cậu thỏ ơi, tôi đói quá, có gì cho tôi ăn không? Nếu không tôi chết mất”. Thỏ nói: “Thưa ông, mùa đông năm nay kéo dài, rau cỏ dự trữ cháu đã ăn hết, nhưng cụ yên trí, cháu sẽ tìm thức ăn đãi cự”. Thỏ chất thêm củi cho lửa cháy to hơn. Giữa lúc ông lão còn ngạc nhiên thì thỏ nhảy vào đống lửa ngùn ngụt cháy. Chẳng mấy chốc, mùi thơm tỏa lan cả căn nhà. Thì ra thỏ đã tự nguyện hy sinh thân mình, làm món ăn cho ông lão ăn mày. Ông lão về trời báo cáo với Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng liền cho triệu sói, cáo và thỏ tới. Sói và cáo bị trừng phạt. Còn thỏ thì được khen thưởng cho ở trên cung trăng như một vị thần. Nên người Trung Quốc gọi mặt trăng là Ngọc Thố. Đây là câu chuyện không có thật, nhưng đáng để chúng ta suy nghĩ. Sói và cáo rất ân hận vì bỏ lỡ cơ hội và không thể trở thành thần tiên. Cơ hội không bao giờ trở lại với chúng ta nữa. Phải chăng dân Do thái nói riêng và mỗi chúng ta nói chung cũng đang rơi vào tình trạng này?

    Tại sao chúng ta chối bỏ Đức Giê-su?

    Thái độ khinh thường, thành kiến, là thái độ khó chấp nhận Thiên Chúa và đón nhận tha nhân. Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể đã hiện thân nơi một con người đơn sơ mộc mạc, chất phác bằng nghề thợ mộc thành Nazareth nhưng dân Do thái đã không nhận ra Ngài lại còn có thái độ khinh miệt và loại trừ Ngài. Thái độ đó được diễn tả trong bài Tin mừng hôm nay: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: ‘Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 41-42). Họ đã hiểu theo tinh thần thế gian, xác thịt, thì không thể nhận ra được Thiên Chúa hiện diện nơi trần gian, vì tư tưởng Thiên Chúa khác với tư tưởng con người, khác với tư tưởng thế gian. Vì tính chai lì và cứng đầu cứng cổ nơi con người nên sinh ra cố chấp và khó lòng đến với người khác phương chi là với Thiên Chúa.

    Mặt khác, cũng vì lòng tham và sự ích kỷ của con người, nên không muốn tìm đến chân lý cũng như sự thật. Con người hầu như mong tìm kiếm cái dễ dại, chóng qua, thực tiễn, cụ thể,… nên sự bình an, niềm hạnh phúc và ngay cả sự sống đời đời làm sao có thể sở hữu được. Họ tìm kiếm cái ăn mau qua hơn là cái ăn trường sinh. Họ khó chịu và thấy chướng tai gai mắt khi Chúa Giê-su nói về bánh trường sinh, nói về việc trao Mình Máu của Ngài cho họ. Họ chối từ sự lôi kéo của Thiên Chúa nên họ không thể gặp gỡ và đón nhận Đức Giê-su. Vì ai đến được với Đức Giêsu đều bởi sự lôi kéo của Thiên Chúa. Chính Chúa Giê-su cũng đã khẳng quyết như vậy: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.”(c.46).

    Vì sự từ chối đó nên người Do thái nghe mà không nghe, nhìn mà không thấy, lại còn tìm cách hãm hại và gài bẫy Đức Giê-su, thậm chí tìm cách bắt bớ và giết chết Ngài. Quả thật, sự sống và ơn cứu độ của Thiên Chúa chỉ đến với những ai có lòng khát khao và khiêm tốn đón nhận. Ngược lại, ơn cứu độ và sự sống đời đời của Thiên Chúa sẽ bị cản ngăn, không muốn nói là không bao giờ đến được với những ai kiêu căng và chối từ. Như vậy, con người từ chối Đức Giêsu Kitô là từ chối Bánh Hằng Sống từ Trời, mà từ chối Bánh Hằng Sống từ Trời tức là từ chối sự sống đời đời. Thật vậy, để có ơn cứu độ và sự sống đời đời của Thiên Chúa, con người phải đón nhận ‘Bánh hằng sống’ từ Trời, là Đức Giêsu Kitô.

    Đón nhận Đức Giê-su là đón nhận sự sống đời đời.

    Chúng ta tin rằng ngoài Danh Đức Giêsu Kitô không có danh nào có thể đem lại ơn cứu độ cho con người. (x.Cv 4,12). Thật vậy, đón nhận Bánh Trường Sinh là đón nhận chính Thiên Chúa, là đón nhận sự sống đời đời. Thiên Chúa không bao giờ để con người cô độc, cô đơn và thiếu thốn. Nơi bài đọc I, ngôn sứ Êlia đã được Chúa nuôi dưỡng khi ông tưởng chừng như là đã chết. Do đó, Thiên Chúa sẽ luôn luôn dõi theo và chăm sóc những ai Ngài tuyển chọn. Dù con người có bỏ Thiên Chúa đi chăng nữa, thì Ngài vẫn luôn trung thành và yêu thương con người. Thánh Vịnh 26, 10 cũng đã minh định: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có CHÚA đón nhận con.”

    Quả thật, vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã dùng nhiều cách thể để ở lại và đồng cảm với thân phận yếu đuối cũng như đau khổ của con người. Ngài đã hiện thân làm người giống chúng ta mọi đàng ngoài trừ tội lỗi ngang qua Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Thiên Chúa yêu con người và muốn con người hưởng nếm ơn cứu độ và được sống đời đời. Thế nhưng mấy ai nhận ra được sự hiện diện, sự hóa thân cũng như yêu thương đó của một vị Thiên Chúa hết sức đơn sơ và giản dị nơi Con Người Giê-su. Chỉ những ai biết lắng nghe và khiêm tốn đón nhận sự lôi kéo của Thiên Chúa thì mới dễ dàng đón gặp được Đức Giêsu Kitô. Trong đời sống thường ngày, có bao nhiêu cơ hội, bao nhiêu dịp thuận tiện mà chúng ta đã bỏ lỡ và lãng quên vì thái độ xem thường và khinh nhờn. Bao nhiêu dấu chỉ, bao nhiêu phép lạ vẫn diễn ra ngay trong cuộc sống đời thường mà chúng ta đã không hay biết, chẳng hạn hơi thở mà chúng ta đang sử dụng, sức khỏe mà chúng ta đang có, thời gian mà chúng ta đang sở hữu, nhất là sự sống mà chúng ta đang hưởng dùng,..tất cả đều là ân ban của Thiên Chúa.

    Ngoài ra, Thiên Chúa là Đấng quan phòng mọi sự. Ngài thấu suốt tâm can con người. Nhưng Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người. Vì sự tự do mà con người đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của mình. Vì sự tự do, con người đã tự cho mình có thể giải quyết được tất cả mà không cần sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời. Chính vì thế, trong mọi biến cố, nhất là trong bối cảnh hiện tại nhân loại đang đối diện với ‘cơn sóng dữ dội’ bởi đại dịch Covid, con người dường như hoàn toàn thất bại. Con người đã tìm đủ mọi cách và mọi phương thế để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Nhưng xem ra con người đã không thể làm được gì nếu không có sự hiện diện của Thiên Chúa. Thật vậy, trong gần hai năm qua, cả nhân loại đang phải chiến đấu với đại dịch Covid: Số người nhiễm bệnh và tử vong rất là cao. Đứng trước biến cố nghiêm trọng này, con người dường như tuyệt vọng và hết đường giải thoát. Ngay lúc này, đối với con người, tiền bạc, tài năng, khôn ngoan, kiêu hãnh, giàu có, thông minh, từ cao tự đại,… đã không thể giúp cho họ thoát khỏi cơn đại dịch nguy hiểm này. Sự chết chóc đã bao phủ họ. Sự sợ hãi và hoang mang đang vây quanh họ. Sự khát khao và tìm kiếm sự sống trong lúc này hết sức quan trọng và cấp thiết đối với họ. Dưới nhãn quan Đức tin, chúng ta biết rằng chúng ta chẳng làm được gì nếu không có sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính vì thế, đứng trước mọi thử thách và gian nan, con người được mời gọi hãy tìm kiếm Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, còn tất cả mọi sự Ngài sẽ ban cho.(x.Mt 6,33). Vì thế, con người cần cầu nguyện liên lỉ và năng chạy đến với Thiên Chúa ngang qua việc lắng nghe Lời Chúa và đặc biệt là dọn mình sốt sắng để rước lấy Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Quả thật, Đức Giêsu đã phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6,51). Thật vậy, sự sống đời đời chỉ có được nơi Đức Giêsu Kitô. Hay nói cách khác, nơi Đức Giêsu Kitô, tất cả mọi sự trong cuộc đời của con người sẽ được giải thoát. Đó là niềm tin của chúng ta.

    Trao ban Đức Giê-su cho tha nhân như thế nào?

    Chúng ta được đón nhận nhưng không thì cũng phải cho nhưng không.(x.Mt 10,8). Đức Giê-su trở thành tấm bánh bẻ ra cho mỗi chúng ta để chúng ta được bình an, được hạnh phúc và được đón nhận sự sống đời đời. Đến lượt chính mình, chúng ta cũng được mời gọi trở nên tấm bánh đời mình cho anh chị em đồng loại bằng cuộc sống đượm tình bác ái yêu thương. Một lời nói nhỏ nhẹ đầy tình mến là đã trở nên tấm bánh cho đời. Một cử chỉ quảng đại, phục vụ hy sinh và dấn thân không mệt mỏi, nhất là trong bối cảnh Đại dịch Covid-19 này là chúng ta đang trở nên hiện thân của Chúa Giê-su nơi tha nhân. Như vậy, chúng ta sẽ là tấm bánh hữu ích và ‘dễ ăn’ cho anh chị em khi chúng ta dám chấp nhận từ bỏ chính mình, từ bỏ lối sống ích kỷ, lòng tham lam, sự kiêu căng,… Sẽ là ‘tấm bánh thơm ngon và thi vị’ cho muôn người trên đường đời nếu chúng ta biết liên đới hơn là loại trừ, biết bao dung – thứ tha hơn là hận thù – ghen ghét, biết đối thoại – gặp gỡ hơn là khép mình – bảo thủ. Nơi bài đọc II, chính Thánh Phaolô Tông đồ đã căn dặn chúng ta như thế này: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô. Vậy, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Ki-tô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt.”(Ep 4, 31-32.5, 1-2). Phải chăng sống được như thế là chúng ta đang trở nên tấm bánh tuyệt vời cho anh chị em đồng loại, nhất là cho những ai đang đói khát, nghèo khổ và bệnh hoạn tật nguyền trong môi trường sống của chúng ta?

    Về mục lục

    LƯƠNG THỰC ĐI ĐƯỜNG

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Những ngày qua, từng đoàn người hối hả rời những thành phố tâm dịch covid để về quê, cuộc hồi hương vào “Mùa hè đỏ dịch”. Nhìn những bức ảnh “tháo chạy về quê”, thật xót cho thân phận người dân nghèo lao động. Ly hương ra thành phố với hy vọng đổi đời, nay thành phố đại dịch, họ không tiền bạc, tứ cố vô thân, phải tháo chạy. Quê hương, hai chữ sao vừa ấm áp lại vừa đắng cay. Sài Gòn “miền đất hứa”, bao dung và cưu mang biết bao thế hệ, biết bao cuộc đời. Sài Gòn ôm cả tình người mênh mông, nơi gặp gỡ những dòng người từ mọi miền đất nước…! Nhưng những ngày qua, bao tang thương, bao mất mát đã làm cho Sài Gòn như tê liệt quỵ ngã, và không ai nghĩ rằng Sài Gòn sẽ có một cuộc tháo chạy như những ngày này!
    May mắn thay, trên đường hồi hương, họ được đồng bào tiếp tế lương thực trên mọi nẻo đường “hành trình vạn dặm” như cơm, bánh mì, trái cây, nước, xăng, tiền bạc đến vá bơm sửa xe… Dân thương dân, dân đùm bọc lấy dân qua cơn khốn khó. Khi nhiều người an lành trốn dịch trong nhà, hãy nhớ ngoài kia còn biết bao mảnh đời bất hạnh, còn biết bao số phận không may, còn biết bao người đang thiếu ăn và khổ đau vì đại dịch. Và thật đẹp, nghĩa đồng bào, ứa nước mắt vì tình cảm đồng bào giúp nhau, tự trái tim, tự tình yêu, dọc suốt chặng đường hàng trăm, hàng ngàn cây số, ở đâu cũng có những tổ chức, cá nhân hảo tâm hỗ trợ người về. Như “mana” từ trời rơi xuống trong sa mạc nuôi dân Do thái, nay “lương thực đi đường” từ những người hảo tâm đã tiếp thêm sức lực và yêu thương cho bà con trên đường trở về quê nhà.

    Bài đọc 1 hôm nay thuật lại cuộc hành trình của ngôn sứ Êlia trong sa mạc tiến đến núi Khôrép. Êlia chạy trốn trước sự trả thù bách hại của hoàng hậu Ideven, người đỡ đầu tà giáo trong nước. Trên đường đi, Êlia đói lã và chán nản thất vọng. Sứ thần Chúa mang đến cho ông bánh nước và thúc dục: “Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa”. “Ông dậy ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực bổ dưỡng ấy, ông đi suốt 40 ngày, 40 đêm tới Khôrép là núi của Thiên Chúa”. Tại Khôrep, ông được gặp Đức Giavê. Ông lấy lại được niềm tin và tiếp tục sứ mệnh tái lập một Israel đích thực.

    1. Bánh nuôi ngôn sứ Êlia lên núi Khôrep

    Sau khi vua Salomon băng hà, đất nước Israel chia đôi: vương quốc Israel, phương Bắc, vương quốc Giuđa phương nam (1V 12). Tại Israel, vua Omri (885-874 tcn) đã lập một dòng vua mới và đặt kinh đô tại Samari. Con của Omri là vua Akháp (875 – 853 tcn) xây cất thành lũy và cung điện. Israel dưới thời Akháp khá thịnh vượng. Công việc thương mại tạo nên những tương quan thuận lợi với các nước lân bang, nhưng đồng thời cũng gây nên một tiêm nhiễm văn hóa và tôn giáo ngoại lai. Điển hình của việc suy đồi tôn giáo là cuộc hôn nhân của vua Akháp với Ideven, con gái vua Xiđôn (1V 16,29-34). Ideven du nhập đạo ngoại vào Israel, xây dựng đền thờ thần Baan tại Samari, tổ chức cộng đồng các Ngôn sứ thần Baan. Đạo Giavê bị bách hại. Chính trong hoàn cảnh đó, sách các Vua nói đến hoạt động của hai Ngôn sứ Êlia và Êlisê (1V17 ;  2V 13).

    Ngay từ khi Israel đặt chân lên Canaan, tôn giáo Canaan và việc thờ thần Baan đã là mối ưu tư và nguy hiểm cho niềm tin vào Giavê. Mối nguy hiểm cũng như sự tiêm nhiễm đạo ngoại lai ấy ngày càng gia tăng qua sự phát triển kinh tế, tương quan thương mại với các dân tộc lân bang và đạt tới cao điểm vào thời Akháp. Đây không phải là việc từ bỏ đức tin truyền thống của cha ông vào Thiên Chúa Giavê, nhưng đúng hơn là sự pha trộn đạo Giavê với tôn giáo Canaan. Baan là vị thần của mưa gió, của sức mạnh thiên nhiên, của phú túc. Đối với dân, đây quả là vị thần lý tưởng cho cuộc sống chủ yếu là nông nghiệp thời bấy giờ. Êlia xuất hiện như vị anh hùng bảo vệ đạo Giavê, chống lại mọi pha trộn, mọi thỏa hiệp. Ông quả là người hùng của Thiên Chúa duy nhất và chân thật của Israel. Cuộc so tài trên núi Carmen giữa Êlia và các ngôn sứ thần Baan được hoàng hậu Ideven bảo trợ, có mục đích cho dân nhận định rõ ai là Chúa thật tại Israel: Giavê hay Baan. Các ngôn sứ Baan làm mọi cách: kêu cầu, nhảy múa, rạch mình, nhưng không có hiệu quả. Êlia kêu cầu Thiên Chúa. Giavê trả lời bằng một phép lạ chứng tỏ Ngài là Chúa các năng lực thiên nhiên. Người chính là Thiên Chúa của toàn thể vũ trụ (1V 18,17 – 40).

    Êlia chưa kịp vui hưởng thành quả thì đã phải tất tưởi ra đi, hướng thẳng về sa mạc để tránh sự trả thù của hoàng hậu Ideven. Êlia đi mãi cho đến khi mỏi gối chùn chân. Gặp được một bóng cây ở giữa sa mạc hoang vu, ông nằm vật xuống, chán nản ê chề. Sống làm gì nữa, ông nghĩ vậy? Và ông xin Chúa cất lấy linh hồn ông, để ông chết đi cho rồi. Êlia thất vọng, chán nản, mệt nhọc, Ông muốn đầu hàng trước tử thần. Nhưng một thần sứ đến lay Êlia dậy: “Ăn đi để còn lên đường“. Và nhờ thức ăn bồi dưỡng này, Êlia đã đi trọn 40 đêm ngày và tới Núi Thánh của Thiên Chúa.

    Tác giả Kinh Thánh dùng con số 40 để ám chỉ cuộc hành trình của Dân Chúa nơi sa mạc từ khi ra khỏi Aicập tới ngày vào Hứa địa là 40 năm. Nó đã trở thành biểu tượng của thời gian con người hành trình ở trần gian này. Và đối với chúng ta, nó nói lên thời gian sống ơn gọi làm con cái Chúa ở trần gian, từ ngày rửa tội tới khi về thiên đàng. Các Giáo phụ nhìn 40 ngày hành trình của Êlia như gợi lại cuộc hành trình của Israel trong hoang địa tiến về đất hứa,40 ngày chay tịnh của Môisê (Xh 34,28), tiên trưng việc Chúa Giêsu ăn chay 40 đêm ngày trươc khi thi hành sứ vụ công khai. Các Giáo phụ cũng nhìn thấy nơi những chiếc bánh mà sứ thần trao cho Êlia là hình ảnh tiên báo phép Thánh Thể nuôi dưỡng tín hữu trên đường dương thế tiến về quê trời. Lương thực nuôi dưỡng Êlia trở thành biểu tượng cho của ăn đi đường cho Kitô hữu trong suốt cuộc hành trình trần gian. Các thế hệ Kitô hữu đã xem Êlia như võ sĩ vô địch về đức tin. Các đan viện, các dòng tu nhìn Êlia như vị tiền phong của mọi nỗ lực từ bỏ nếp sống trần tục để đi vào trong thinh lặng và nội tâm, tìm kiếm Thiên Chúa. Ðó là con đường đầy thử thách, nhưng chắc chắn sẽ gặp thần lương đi đường cho những ai có thiện chí.

    1. Bánh Hằng Sống nuôi tín hữu lữ hành về quê trời.

    Chúa Giêsu Kitô là Bánh Hằng Sống, Bánh bởi Trời, Bánh ban sự sống cho cả nhân loại. Nhưng làm sao mà con người có thể lãnh hội được ngay mạc khải quan trọng ấy. Vì thế, đã có tiếng xầm xì to nhỏ: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Người Do thái có đủ lý do để nghi ngờ những lời nói của Chúa Giêsu: Ngài đang sống ở giữa họ như một người giữa mọi người vậy mà Ngài bất ngờ tuyên bố mình từ trời xuống. Chúa Giêsu đòi hỏi họ hãy tin vì Ngài là Đấng ban sự sống và Ngài từ Chúa Cha mà đến. Ngài là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa Cha. Gặp gỡ Ngài là gặp gỡ Thiên Chúa Hằng Sống. Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Bánh Hằng Sống. Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, ai ăn thì khỏi phải chết”. Chúa Giêsu tuyên bố: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Thánh Thể được mạc khải một cách minh nhiên ngay từ bây giờ với điểm nhấn trên hy tế cứu độ trong mầu nhiệm thập giá. Sự sống vĩnh cửu hàm chứa trong mầu nhiệm Thánh Thể.

    Cho tới Bữa Tiệc Ly và Hy Tế Thập Giá, khi Chúa Kitô tự nguyện nộp mình, như hạt lúa bị nghiền nát để trở nên tấm bánh cứu độ cho tất cả nhân loại, người ta mới hiểu và tin vào lời mạc khải về Bánh Hằng Sống.

    Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép; nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.

    Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chính là một hy lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Trong hy lễ này, Người vừa là tư tế vừa là lễ vật. Trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đổ máu ra. Bằng cái chết cứu độ, Người đã thiết lập giao ước mới. Tự nguyện làm “Con Chiên Vượt Qua” bị sát tế, Chúa Giêsu đã lập phép Thánh Thể để lễ vật bị sát tế ấy là chính Người trở nên của ăn tâm linh nuôi dưỡng con người.

    Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí Tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

    Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá.

    Thánh Thể, Tấm Bánh Chúa Kitô bẻ ra cho sự sống thế giới; Thánh Thể Mình Máu Chúa Kitô trao ban cho cả nhân loại; Thánh Thể tình yêu đã trở nên thực phẩm vun bồi sự sống cho hôm nay trên đường dương thế và cho mai sau trong hạnh phúc Nước Trời.

    Trong cuộc hành trình tiến tới sự sống viên mãn với Thiên Chúa là Cha, chính Chúa Giêsu là lương thực bổ dưỡng cho con người.

    1. Bánh Hằng Sống chính là bí tích Thánh Thể

    Câu nói “Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” của Chúa Giêsu không thể hiểu theo nghĩa vật chất. “Thịt và máu” ở đây không phải là thịt và máu huyết vật chất. “Của ăn và của uống” ở đây cũng không phải là của ăn và của uống vật chất. Những từ đó phải hiểu theo nghĩa tâm linh. Chúa Giêsu chính là lương thực đem lại sự sống và sự phát triển tâm linh thật sự. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử Nạn Thập Giá và Phục Sinh.

    Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu Thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh giá, Thánh thể không có ý nghĩa. Không có Thánh thể, Thánh giá chỉ là thất bại. Chúa Giêsu cho dân chúng và các môn đệ thấy rõ mầu nhiệm Phục Sinh trong Bánh Hằng Sống “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống.Thần khí mới làm cho sống,chứ xác thịt có ích gì” (Ga 6,63). Quả thật, chúng ta chỉ có thể hiểu được Bí tích Thánh thể qua mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn, Phục Sinh mà thôi.

    Vậy có thể nói, cả mầu nhiệm Đức Kitô đều gói trọn trong Bí tích Thánh thể. Từ công cuộc nhập thể làm người, rao giảng tin mừng, đến khổ hình thập giá, sống lại vinh quang. Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha nên mới ban Bí tích Thánh thể làm lương thực thần thiêng cho chúng ta được kết hợp với Người. Bí tích Thánh thể gói trọn cuộc đời Chúa Kitô và không có gì thuộc về Người mà không hội tụ trong Bí Tích Thánh Thể. Từ Thập giá-Phục sinh đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh giá đến tình yêu Thánh Thể. Hiểu như thế để khi dâng thánh lễ hay chầu Mình Thánh Chúa, chúng ta hãy tham dự tích cực linh động với tất cả trí lòng tin yêu.

    Chúng ta đang lữ hành tiến về vĩnh cửu nên cũng có “lương thực đi đường”, không phải là manna từ trời rơi xuống và nước chảy ra từ tảng đá, hay chiếc bánh lùi và bình nước của thiên thần, nhưng là thần lương cao quý: Mình Máu Chúa Kitô trong Thánh Thể.

    Để được ăn bánh Chúa ban, mỗi người phải chấp nhận sự thay đổi hoàn toàn: từ con người cũ thành con người mới; từ suy nghĩ, hành động cũ trở thành con người mới với suy nghĩ và hành động mới theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô trong bài đọc 2 đã gợi ý cụ thể: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần, đừng bao giờ chua cay, gắt gỏng, hờn giận, la lối, chửi rủa, gian ác, nhưng phải đối xử tốt với nhau và có lòng thương xót, biết tha thứ cho nhau. Hãy theo gương Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hiến mình vì chúng ta”.

    “Muốn tin, phải nuôi mình bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng “mầu nhiệm Đức Tin,” và ban sức mạnh đức tin cho con.” (Đường Hy Vọng, số 373).

    Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa đã cho con hàng ngày có “lương thực đi đường” là được ăn một miếng Bánh đơn sơ, nhỏ bé để con được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Vô Cùng. Xin cho cho tâm hồn con luôn kết hợp với Chúa, để được Chúa dẫn vào cuộc sống muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    BÁNH TÌNH THƯƠNG

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Một thế giới đói khát tình thương

    Chúng ta đang sống trong một thế giới thiếu tình huynh đệ, đói tình thương, khao khát hòa bình. Nguyên nhân chính đưa đến thảm trạng nầy là con người có những nhận định sai lầm về người khác.

    Có một số nhận định sai lầm về người khác đưa đến hậu quả tai hại như sau:

    Thứ nhất: Tha nhân là người xa lạ.

    Nhiều người cho rằng tha nhân là người xa lạ, chẳng liên quan gì đến mình. Hậu quả là họ theo chủ nghĩa “mác-kê-nô” (mặc kệ nó), sống chết mặc bây, mạnh ai nấy sống, không hề quan tâm giúp đỡ nhau.

    Thứ hai: Tha nhân là nguồn lợi béo bở cần khai thác triệt để.

    Trong chế độ nô lệ, người chủ khai thác sức lao động của nô lệ, bắt họ làm việc quần quật ngày đêm như trâu cày, ngựa kéo… để hầu hạ, phục dịch mình.

    Trong thời buôn bán nô lệ ngày xưa, có nhiều người khốn khổ bị buôn đi bán lại như súc vật và cho đến hôm nay, nạn buôn người, buôn bán nội tạng con người…vẫn còn đang tiếp diễn.

    Ngoài ra, trên phạm vi toàn cầu, một số nước lớn tìm cách thống trị những nước yếu hơn, chiếm đoạt lãnh thổ, vơ vét tài nguyên phong phú của họ về cho mình.

    Thứ ba: Tha nhân là kẻ thù cần tiêu diệt.

    Dựa theo quan điểm nầy, một số quốc gia theo đuổi chiến tranh, chạy đua vũ trang, đua nhau chế tạo những thứ vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt, chế tạo nhiều tên lửa liên lục địa mang đầu đạn nguyên tử có sức công phá dữ dội, có sức hủy diệt kinh hoàng…

    Đau lòng thay, đây là một chọn lựa mà nhiều quốc gia trên thế giới xem là khôn ngoan và được đa số người dân đồng thuận.

    Chính những nhận định, những chủ trương sai lầm và tai hại như thế là nguyên nhân gây ra vô vàn đau thương cho nhân loại, là động cơ xô đẩy nhân loại đến bên bờ hủy diệt.

    Như thế, đe dọa lớn nhất, nguy cơ lớn nhất đối với nhân loại hôm nay không phải là thiếu đói cơm bánh vật chất, nhưng là thiếu tình huynh đệ, đói khát tình thương.

    Chính vì thế, khát vọng mãnh liệt nhất của nhân loại qua bao thời là được sống trong hòa bình, trong hiệp thông huynh đệ, trong tình yêu thương.

    Tiếc thay, không ai trong loài người có thể đáp lại khát vọng sâu xa mãnh liệt nầy.

    Mong đợi “Bánh bởi trời”

    Khi con người không thể tự cứu mình, khi bánh từ lòng đất không thể cứu loài người khỏi cơn đói khát tình thương… thì Thiên Chúa đã ban cho nhân loại “Bánh bởi trời” để giải thoát họ khỏi cơn đói nầy. Bánh đó là Chúa Giê-su, như lời Chúa phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 51).

    Chính Chúa Giê-su là “Bánh” Chúa Cha ban xuống để cứu con người khỏi cảnh đói khát tình thương, khỏi cảnh nồi da xáo thịt, khỏi cảnh huynh đệ tương tàn, khỏi hận thù chiến tranh, đồng thời mang lại cho con người cuộc sống hạnh phúc đời nầy và đời sau.

    Chúa Giê-su là “Bánh bởi trời” cứu loài người khỏi “đói” tình huynh đệ bằng cách vén mở cho họ biết rằng mỗi người trên dương thế thật sự là con yêu quý của Thiên Chúa Cha, do đó, mọi người đều là anh chị em con cùng một Cha trên trời, vì thế, phải yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà.

    Chúa Giê-su là “Bánh bởi trời” cứu loài người khỏi đói khát tình thương khi bày tỏ cho họ biết mỗi người là một chi thể của Ngài, mỗi người là hiện thân của Ngài, vì thế, những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa, yêu người là yêu Chúa nên sẽ được ban thưởng đời sau; ghét người là ghét Chúa nên phải mang án phạt đời đời… Khi nhận ra sự thật nầy, người ta sẽ không còn oán ghét hay làm hại nhau, trái lại sẽ tận tình yêu thương phục vụ lẫn nhau. Bấy giờ, thế giới nầy sẽ là trời mới đất mới nơi hòa bình và công lý ngự trị; trái đất nầy sẽ trở thành một đại gia đình huynh đệ ấm áp tình người.

    Và đặc biệt hơn hết, Chúa Giê-su là “Bánh bởi trời” khi Ngài trao ban Thân mình Ngài cho nhân loại, để những ai đón nhận “Bánh nầy” sẽ được kết hợp nên một với Ngài và được sống muôn đời với Chúa.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Thế giới chỉ thực sự được hòa bình, nhân loại chỉ thực sự được hạnh phúc, khi muôn dân muôn nước đón nhận và được nuôi dưỡng bằng “Lời hằng sống” là thứ “Bánh bởi trời” do Chúa tặng ban.

    Xin ban Chúa Thánh Thần cho nhân loại để Ngài soi sáng tâm hồn mọi người biết quý trọng và đón nhận bánh vô cùng cao quý nầy. Amen.

    Về mục lục

     

    THẦN LƯƠNG BAN SỨC MẠNH

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên
    .

    Thân xác con người cần phải được bồi bổ để đủ sức tồn tại và lớn lên mỗi ngày. Cũng vậy, đời sống linh hồn cần được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng. Người tín hữu tin vào sức mạnh được Chúa ban qua bí tích Thánh Thể, là Thần Lương trợ lực để sống an bình, nhất là để vượt thắng mọi khó khăn thử thách. Nhờ Thần Lương này, người tín hữu còn được nếm trước vinh quang đời sau, tức là hạnh phúc Chúa dành cho các thiên thần và các thánh trên thiên đàng.

    Bài đọc I kể lại việc ngôn sứ Elia trên đường chạy trốn trước sự rượt đuổi của vua Akháp. Ông mệt mỏi vì đường xa, lại thêm sự sợ hãi vì bị săn đuổi, nên ông đã buồn rầu và xin Chúa cho chết. Chúa đã sai thiên sứ mang cho ông bánh và nước. Nhờ thần lương này, ông đã đủ sức đi đến núi của Thiên Chúa, và nơi đây, ông được gặp gỡ Ngài. Hành trình của Elia cũng giống như hành trình của chúng ta. Mỗi ngày, chúng ta phải đối diện với biết bao thử thách gian nan. Có những lúc tưởng chừng chúng ta bị đè bẹp trước sức nặng của cuộc đời. Như Elia trong lúc kiệt sức, chúng ta hãy đón nhận lương thực thiêng liêng Chúa ban để lấy lại nghị lực, tiếp tục bước đi trong hành trình cuộc đời. Lương thực ấy là Thánh Thể, là Thần Lương giúp ta bền sức đi đến đích.

    Tin Mừng trong Phụng vụ hôm nay tiếp tục ghi lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh trường sinh. Chúa Giêsu nhấn mạnh tới khía cạnh thần linh của bánh mà Người đang nói tới. Cũng như người Do Thái chỉ nhận ra nơi Chúa Giêsu là con ông Giuse thợ mộc, nên họ khó nhận ra bánh mà Đức Giêsu hứa ban. Đây là bánh từ trời, cũng như Đức Giêsu từ trời xuống, vì thế, bánh này là lương thực thiêng liêng Chúa ban. Nếu ngày xưa, Thiên Chúa nuôi dân trong hành trình sa mạc bằng Manna, thì nay, chính Chúa Giêsu là Manna từ trời xuống. Cũng như bánh cần thiết cho sự sống thân xác, bánh thiêng liêng là Chúa Giêsu cần thiết cho sự sống thần linh nơi chúng ta. “Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Nếu chúng ta có mặt lúc bấy giờ, chắc hẳn chúng ta cũng sẽ ngạc nhiên như những người Do Thái, khi nghe Chúa Giêsu nói về thịt của Người. Nếu màu nhiệm nhập thể dẫn tới việc “Ngôi Lời đã trở thành xác thịt” (Ga 1,14”, thì nay, “xác thịt đã trở thành Bánh” (Ga 6,51). Khi nghe Chúa Giêsu nói, Người sẽ lấy thịt mình cho họ ăn, người Do Thái coi đây là sự mạo phạm. Liên hệ với cuộc khổ nạn và được soi sáng bởi mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu, người Kitô hữu nhận ra nơi Thánh Thể chính là thịt và máu Chúa Giêsu, Đấng Cứu nhân độ thế, là Thần Lương giúp chúng ta được tăng trưởng mỗi ngày.

    Giữa cuộc đời đầy xáo trộn bất an, người tín hữu rất cần có nguồn trợ lực siêu nhiên, để có thể  đứng vững trước phong ba bão tố dồn dập bủa vây. Rất nhiều chứng từ cho thấy nhờ sức mạnh của Thánh Thể, mà người tin Chúa tìm được sức mạnh và hy vọng. Khi chúng ta ăn uống và hưởng dùng lương thực phần xác, thì những thứ thực phẩm được nghiền nát, được tiêu hóa và trở thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Như thế lương thực trở thành máu thịt của ta. Tuy vậy, đối với bí tích Thánh Thể thì ngược lại: Khi ta rước lễ, Thánh Thể biến đổi tâm hồn ta để làm cho ta nên giống Chúa Giêsu, tức là làm cho ta trở nên “Thánh Thể” ngay trong đời sống hằng ngày. Thánh Augustinô viết: “Ta là thức ăn của người mạnh, hãy lớn lên và ăn Ta. Nhưng con không biến đổi Ta trong con như biến đổi một thức ăn, mà đúng ra là con sẽ được biến đổi thành Ta”. Qua cách giải thích của Thánh Augustinô, chúng ta tin rằng con người được thần linh hóa, được nên giống Chúa nhờ việc năng lãnh nhận Bí tích này. Thánh Tôma Aquinô cũng khẳng định: “Hiệu quả đích thực của Bí tích Thánh Thể là chuyển đổi con người thành Thiên Chúa”. Nhờ năng kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể, cuộc sống của chúng ta sẽ được canh tân đổi mới và có thể sống như Thánh Phaolô khuyên dạy: “Anh em hãy đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô. Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta” (Bài đọc II). Như Đức Giêsu đã trao ban chính bản thân mình, người tín hữu được mời gọi bắt chước Chúa, dấn thân phục vụ, sống vì tha nhân, để trở nên những cánh tay nối dài của Người giữa trần gian.

    “Bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống”. Với lý trí tự nhiên và theo suy luận của con người, đây là điều không tưởng và khó chấp nhận. Chẳng có ai có thể làm cho thịt mình thành bánh tặng người khác. Chỉ có Thiên Chúa quyền năng mới có thể làm được điều kỳ diệu ấy. Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể, là Thiên Chúa quyền năng, nên đối với Người, mọi sự đều có thể. Thánh Thể là “Mầu nhiệm đức tin”, nghĩa là chỉ có đức tin mới giúp ta chấp nhận và tôn thờ Đấng Cao Cả đang ngự trong Hình Bánh và Hình Rượu. Người đang hiện diện giữa chúng ta. Hãy đến đón nhận để rồi chúng ta được Thần Lương ban sức mạnh trong cuộc lữ hành trần thế. Với nghị lực siêu nhiên được trao ban qua Bí tích Thánh Thể, như ngôn sứ Elia, chúng ta sẽ đến “núi của Thiên Chúa” để gặp gỡ và chiêm ngắm vinh quang của Ngài.

    BÁNH BỞI TRỜI

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt.

    Cuộc đời tiên tri Êlia là một cuộc chiến đấu anh dũng và kiên cường. Một mình người phải chiến đấu chống lại cả một dân tộc bỏ đạo do hoàng hậu Dêdaben cầm đầu. Người khiển trách dân chúng vì họ đã nghe theo hoàng hậu mà bỏ Chúa. Người thách thức 400 sư sãi của thần Baan trong một cuộc dâng của lễ cầu mưa. Người đã chiến thắng. Nhưng chính vì chiến thắng. Người bị hoàng hậu săn đuổi, phải chạy trốn vào sa mạc. Hôm nay, đói khát đến lả người, vị tiên tri dũng mãnh rồi cũng cảm thấy mệt mỏi rã rời. Người mất hết sức lực thể chất lẫn tinh thần. Chẳng thiết sống, người xin Chúa cất người ra khỏi thế gian phiền nhiễu đầy bất trắc. Người mất hết sức phấn đấu. Người chỉ muốn an nghỉ trong Chúa. Nhưng Chúa sai thiên thần đem bánh cho người. Ăn được bánh bởi trời, tiên tri mới đủ sức vượt qua sa mạc, sau cùng đi tới núi của Thiên Chúa.

    Tương tự như thế, đời sống ta cũng là một chuyến đi về nhà Thiên Chúa. Để đến với Thiên Chúa, ta phải vượt qua sa mạc cuộc đời đầy chông gai cạm bẫy. Đường đi rất xa và rất khó khăn. Những chiến đấu có thể sẽ khiến ta mệt mỏi rã rời. Ta sẽ chẳng đủ sức đi trọn con đường nếu không được nâng đỡ, an ủi. Để giúp ta đủ sức chiến đấu và đi trọn con đường khó khăn thử thách tiến về nhà Cha. Thiên Chúa đầy tình yêu thương đã ban cho ta tấm bánh bởi trời. Tấm bánh bởi trời mà Chúa Cha ban cho ta chính là Đức Giêsu Kitô, người Con duy nhất của Người. Món quà của Chúa Cha ban được thực hiện dưới hai hình thức: Lời Chúa và Phép Thánh Thể.

    Đức Giêsu Kitô là Lời Ban Sự Sống của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa là Lời Ban Sự Sống. Chính Đức Giêsu đã khẳng định điều này khi Người trả lời ma quỉ cám dỗ: “Người ta sống không nguyên bởi bánh. Nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Thật vậy, chính Lời Chúa làm cho sự sống xuất hiện. Nhờ Lời quyền năng của Thiên Chúa, vũ trụ được tạo thành. Lời Chúa là lẽ sống của Đức Giêsu, nên trọn đời Người luôn đi tìm thực hiện thánh ý Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy”. Xưa kia, Thiên Chúa nói qua trung gian các tổ phụ và các tiên tri. Nay, Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa trực tiếp nói với nhân loại. Lời Người ban sự sống cho Ladarô, cho con trai bà góa thành Naim. Lời Người tha thứ tội lỗi cho Mađalêna, cho người phụ nữ ngoại tình, cho Giakêu. Lời Người hoán cải người phụ nữ xứ Samaria. Người đưa tất cả những người tội lỗi trở về con đường sự sống. Lời Người đã giúp cho bao thế hệ tìm thấy lẽ sống. Lời Người ban cho họ một sự sống mới, tươi trẻ, phong phú, dồi dào hơn. Chính vì thế, thánh Phêrô đã lên tiếng tuyên xưng: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đi theo ai. Chỉ Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời”.

    Ban Lời hằng sống chưa đủ với tình yêu thương của Người, Đức Giêsu cònban cho ta chính bản thân Người trong bí tích Thánh Thể. Thật là một tình yêu sâu xa tha thiết. Khi nuôi dưỡng ta bằng chính thịt máu Người, Đức Giêsu không những muốn kết hiệp mật thiết với ta trong từng thớ thịt, từng dòng máu, mà Người còn muốn ban cho ta sự sống đời đời. Bí tích Thánh Thể là lương thực thần linh. Lương thực thần linh ban sự sống thần linh. Qua bí tích Thánh thể, sự sống thần linh dần dần thấm nhập bản thân ta. Đây là một tiến trình thần hóa chầm chậm. Ta trở nên một thân thể với Đức Giêsu. Ta sống cùng sự sống của Người, sự sống đời đời trong hạnh phúc của Thiên Chúa.

    Thánh lễ chính là bữa tiệc trong đó Thiên Chúa dọn ra hai bàn tiệc. Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai bàn tiệc cũng đều là chính Đức Giêsu. Trong thánh lễ, ta nghe lời Chúa dạy dỗ ta. Lời Chúa chỉ cho ta con đường ngay thẳng, con đường hạnh phúc, con đường đưa ta về với Chúa. Thánh Thể Chúa ban sức mạnh giúp ta đủ sức đương đầu với những khó khăn thử thách của cuộc đời. Bởi thế, khi tham dự thánh lễ, ta cần lưu ý lắng nghe Lời Chúa. Chúa muốn nói riêng với từng người. Hãy lắng nghe để tìm ra điều Chúa muốn nhắn gửi. Hãy lắng nghe để tìm ra lẽ sống. Hãy lắng nghe để biết con đường phải đi. Lời Chúa là con đường đưa tới sự thật và sự sống.

    Hãy rước lễ một cách kính cẩn sốt sắng. Phép Thánh Thể chính là một quà tặng của tình yêu Thiên Chúa. Hãy hưởng nếm sự ngọt ngào được kề cận Thiên Chúa. Hãy múc lấy nơi Thánh thể nguồn sức mạnh để thắng vượt những thử thách trong cuộc đời. Hãy để Thánh Thể uốn nắn, biến đổi ta để ta ngày càng nên giống Người hơn. Hãy nếm cảm hương vị thiên đàng ngay khi còn tại thế.

    Lạy Chúa là Cha vô cùng yêu thương, con cảm tạ Cha đã ban cho con chính Con Một yêu quý của Cha làm bánh trường sinh nuôi dưỡng và đưa chúng con vào sự sống đời đời.

    Về mục lục

    .

    PHÚC ĐỨC TRONG TẦM TAY

    Lm. Jos. DĐH.

    Cảnh tìm kiếm lợi nhuận, thủ thế thủ thân, bồi bổ sức lực, hoặc tìm thoả mãn nhu cầu riêng tư, rồi từ kẻ bình thường trở nên“đại gia”, từ nghèo vươn lên thành những người có của ăn của để, khách quan mà nói, họ đã thành công. Quy luật tự nhiên cho thấy: thuyền to sóng lớn, người tài giỏi, có chức vị, xã hội vẫn nhìn nhận họ là quan trọng, cần được bảo vệ ; khi lắm tiền nhiều của, người ta dễ nghĩ đến việc “kín cổng cao tường”, hoặc thuê vệ sĩ trợ giúp. Cha ông chúng ta truyền lại một quy luật bất thành văn: của biếu là của lo, của cho là của nợ, hiểu đơn giản là người nhận sự trợ giúp không thể không ưu tư, người hưởng của biếu xén được coi như nợ đồng lần. Rõ ràng, tiền nhân khuyên con cháu làm việc bác ái, nhưng lại không hề có ý cổ võ việc ngồi chơi xơi nước, đợi của biếu của cho bao giờ.

    Tâm lý chung, ai chẳng muốn mình có phần có phúc, được thừa hưởng gia tài vật chất, tinh thần, của tổ tiên dòng tộc, dù trong thâm tâm họ dư biết “muốn và được” đang ở trong tầm tay của mỗi người. Số đông dân chúng năm xưa họ đại diện cho dân tộc, cho nhân loại, đến với Đức Giêsu tìm kiếm hạnh phúc, họ được nghe, được đối thoại, còn sở hữu phần phúc đức, họ phải quyết định lựa chọn, vượt qua thành kiến để nhận ra“Con Bác thợ mộc” chính là Thiên Chúa. Tư tưởng có hay không thứ bánh trường sinh, có thật Mình và Máu Đức Giêsu đủ chia sẻ và nuôi sống con cái nhân loại không, nhiều người Do-thái, nhiều người trong chúng ta vẫn còn bị ám ảnh bởi sự nghi ngờ đó !

    Kinh nghiệm của tiền nhân: tài ra ngoài mới lớn, lính ra trận mới nên công. Nếu thông thái tài giỏi, vàng bạc dư thừa, nhưng lại nhốt chúng trong tủ, như thế sao gọi là giỏi, là giầu, là khôn ngoan ? Nếu người ta lấy đất đá nuôi sống được thân xác, sẽ chẳng còn ai nghĩ đến chuyện đi làm. Nếu dùng tiền vàng, hoặc cơm bánh, nuôi sống được linh hồn, chắc không ai tới nhà thờ, cũng không còn cảnh người tìm gặp Đức Giêsu làm chi nữa ! Trong đối thoại cầu nguyện, Chúa Giêsu chỉ cho đám đông hôm xưa và còn đang chỉ cho chúng ta: Bánh trường sinh chính là Tôi đây, tuy nhiên nhiều người đã phản ứng dữ dội. Đúng, làm sao người ta có thể hiểu, Đức Giêsu chính là của ăn nuôi linh hồn, là Bánh trường sinh, khi họ lẫn lộn thứ bánh vật chất và Bánh Giêsu hoàn toàn giống nhau.

    Triết lý ở đời cho rằng: muốn ăn ngon, phải có tiền, muốn sức khoẻ tốt, phải sống điều độ, muốn thừa hưởng phúc đức của tổ tiên dòng tộc, nhất định họ phải là người đã từng sống hiếu sống thảo, và còn đang hiệp thông sống lời răn dạy của tiền nhân. Gặp được niềm vui hạnh phúc đời đời, ai chẳng mơ ước có được bí quyết đó, đám đông Do-thái và chúng ta hôm nay, đủ dư hiểu biết Đấng ban phát Bánh trường sinh, Đấng là Đường, là Sự thật, chính là Đức Giêsu. Lý do từ chối, vì người ta không muốn hiểu, cố tình không tin Đức Giêsu là Bánh ban sự sống, vì họ lấy tai mắt thể xác để cân đo đong đếm, lấy tài trí khôn ngoan của mình để hiểu Mầu nhiệm Thiên Chúa. Thời nào cũng vậy, biết tìm kiếm sự sống trường sinh đã là hợp lý, là một ơn ban rồi, nhưng nhận ra Bánh hằng sống, người ta phải gặp phải tin Đức Giêsu, để Ngài biến đổi tâm tính, thay đổi quan niệm về tình yêu thương.

    Bộ phim Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân đã được chúng ta xem nhiều lần, Vị Đường Tăng không hề tuyên bố “ta là của ăn bất tử”, thế mà lộ trình của Cao Tăng đi tới đâu cũng bị “yêu quái” rình rập ăn thịt, vì chúng nghĩ là ăn nhậu Đường Tăng sẽ được trường sinh. Phúc đức ở đời này và phúc đức ở sau, luôn ở trong tầm tay mỗi người, đó là sự tự do chọn lựa, là cơ hội sống và tin vào Đức Giêsu, Đấng Thiên Chúa sai đến. Người sẵn lòng cho đi, sẽ khiến phúc đức ngày càng đến nhiều, người biết chia sẻ vật chất, tinh thần với người khác, càng ngày họ càng có nhiều bạn, có được hiểu biết và sống tốt đẹp như thế, nhất định họ phải có tình yêu thương của Đức Giêsu.

    Phúc đức ở quá khứ, hiện tại, tương lai là có thật, cuộc sống thành đạt còn mãi ở phía trước, nghiên cứu phát minh về của ăn thức uống, trẻ mãi không già sẽ còn ở tận cuối chân trời, khi mà con người vẫn ảo tưởng về tài sức riêng của mình. Tại ngôi thánh đường này, chúng ta có tin hay không tin Đức Giêsu là Bánh trường sinh, có đến gặp Đức Giêsu vì mục đích khác, Ngài vẫn thực sự là của ăn thức uống như đã quả quyết: “ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời”. Trường sinh bất tử bao giờ cũng là mầu nhiệm, đối với người xưa và cả chúng ta hôm nay, quà tặng của Thiên Chúa trước sau vẫn là một, không bao giờ có sự sống đời đời, nếu người ta không đến gặp Đức Giêsu. Phúc đức ở đời này và phúc phức ở đời sau, chỉ Đức Giêsu mới có lời giải thích rõ ràng cụ thể, tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, người ta mới hiểu, Đức Giêsu là Bánh trường sinh được ban cho nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    HÃY ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU, BÁNH HẰNG SỐNG

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Khởi đi từ phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng, phụng vụ Lời Chúa các tuần tiếp theo giúp chúng ta đọc lại hầu như toàn bộ chương 6 Tin Mừng theo thánh Gioan. Đây là cơ hội để khám phá con người Chúa Giêsu, Bánh Hằng Sống, sức mạnh của Lời Chúa, ý nghĩa của Mầu Nhiệm Thánh Thể. Mỗi Chúa nhật một khía cạnh khác nhau. Từ Bánh Bởi Trời là Chúa Giêsu đến Bánh Ban Sự Sống, Tấm Bánh Thánh Thể và Bánh Lời Chúa.

    Tin Mừng hôm nay tiếp tục quảng diễn cho chúng ta bầu không khí tại quê nhà của Chúa Giêsu và thái độ của những người đồng hương đến nghe Chúa giảng. Sau khi đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, kèm theo lời giải thích cho dân chúng về ý nghĩa của “dấu chỉ” ấy xong, Chúa Giêsu tuyên bố : « Ta là hằng sống bởi trời mà xuống » (Ga 6,51). Câu này khiến cho những cùng quê với Chúa Giêsu sửng sốt. Họ đâu có đón nhận Lời này. Họ coi đó là gương mù gương xấu. Họ lẩm bẩm với nhau, bới lông tìm vết : ” Chớ thì ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse sao? Chúng ta đều biết rõ cha mẹ của ông. Vậy làm sao ông lại nói: ‘Ta bởi trời mà xuống” (Ga 6,42). Cuộc sống của Chúa Giêsu rất đỗi bình thường giữa người làng xóm, thường đến nỗi khiến người ta vấp phạm vì lời Người. Thấy họ lẩm bẩm, Chúa Giêsu nói : “Các người chớ thì thầm với nhau. Không ai đến được với Ta nếu Cha, là Đấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy“, và Người thêm: “Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 44.47).

    Người Cha mà Chúa Giêsu nói với họ không ai nhìn thấy bao giờ là người cha nào ? Bánh từ trời xuống là bánh gì mà người ta ăn vào sẽ sống đời đời ? Trong khi đó, manna của ăn trong sa mạc, cha ông họ đã ăn và đã chết thì Chúa phủ nhận, nay tuyên bố : “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời” (Ga 6, 51). Thịt của Chúa có thể là thức ăn cho con người được không? Sự chống đối mà Chúa Giêsu đã gieo vào giữa những người Do Thái cũng có thể áp dụng cho chúng ta ngày hôm nay nếu chúng ta không trả lời được câu hỏi căn bản “Chúa Giêsu là ai?” trong đời sống kitô giáo của mình.

    Trước chúng ta, nhiều người nam cũng như nữ đã tự đặt ra cho mình câu hỏi này, và cá nhân họ đã có câu trả lời, họ đã đến với Chúa, đi theo Chúa và tận hưởng một cuộc sống vô tận tràn đầy tình yêu như Chúa hứa : “Và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (x. Ga 6, 44). Juan Casiano đã nói với các môn đệ mình rằng, “Hãy đến gần Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ đến gần anh em vì ‘không ai đến được với Ta nếu Cha, là Đấng đã sai Ta không lôi kéo kẻ ấy’ “. Lời mời gọi của Chúa trong Tin Mừng vẫn thúc bách chúng ta hôm nay, “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồ dưỡng”  (Mt 11,28).

    Những lời này không chỉ dành cho một số người, không, Chúa nói những lời ấy là dành cho tất cả mọi người, những ai đang mệt mỏi với gánh nặng, những ai cảm thấy mình bị loại ra khỏi lời mời gọi của Chúa. Chúa thấu hiểu cuộc sống này nặng tới mức độ nào và Chúa còn thấy bao điều mệt mỏi trong tâm hồn chúng ta như : thất vọng, vết thương trong quá khứ, lầm lỗi trong hiện tại, những bất định và lo âu về tương lai. Chúa mời gọi chúng ta : “Hãy đến! “.

    Đón nhận Lời Chúa, chúng ta hãy năng đến với Chúa Giêsu mỗi ngày và đi vào trong sự hiệp thông thân tình với Chúa, ăn thịt Chúa, vì như Orgene nói : “Của ăn đích thực là mình Chúa Kitô, Đấng là Ngôi Lời, nhập thể làm người giữa chúng ta”. Hãy đến với Chúa Giêsu, vì chính Người là Đấng được Chúa Cha đã sai vào thế gian làm Lương thực trường tồn, và vì điều này mà Chúa Giêsu đã hiến tế mạng sống mình, hiến trao thịt và máu Người làm của ăn cho chúng ta.

    Vì thế, trong Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta, những người đang lữ hành trên bước đường dương thế để nuôi dưỡng đức tin, niềm hy vọng và lòng bác ái nơi mình, như xưa Người đã đồng hành với các môn đệ trên đường Emmaus. Hơn nữa, Chúa Giêsu Thánh Thể sẽ an ủi chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta đạt tới chân lý và bình an. Mỗi khi chúng ta đón nhận Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng trong đức tin, đức cậy và đức mến; an ủi chúng ta giữa những thử thách của cuộc đời.

    Được Chúa Giêsu Thánh Thể nuôi dưỡng, cũng có nghĩa chúng ta phải từ bỏ chính mình, để đặt niềm tin nơi Chúa và để cho Chúa hướng dẫn. Bằng cách ấy, tình yêu nhưng không mà chúng ta nhận nơi Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể với tác động của Chúa Thánh Thần, sẽ nuôi dưỡng lòng mến Chúa và tình yêu thương mà chúng ta dành cho từng anh chị em mà chúng ta gặp gỡ trên mọi bước đường đời. Được nuôi dưỡng bởi Thân Mình Chúa Kitô, chúng ta ngày càng trở nên thân thiết hơn và cụ thể hơn với Thân Thể nhiệm màu của Chúa Kitô là chính Hội Thánh.

    Lạy Đức Nữ Trinh Maria, Mẹ luôn hiệp thông mật thiết với Đấng là Bánh Hằng Sống, xin giúp chúng con tái khám phá vẻ đẹp của Bí tích Thánh Thể, là bí tích nuôi dưỡng đời sống đức tin, để chúng con biết sống mật thiết với Chúa và với anh chị em đồng loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    TA LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Mỗi ngày Việt nam đang phải đối đầu với bao cái ác hoành hành. Những cái chết của phi nhân bất nghĩa, của tình người băng giá, của đạo đức suy đồi, của tham lam bất chính. Đây phải là lúc chúng ta nhìn lại nhân sinh quan cuộc sống, tại sao giữa nền văn minh nhân loại lại đổ vỡ tình người, lại tan nát tất cả những luân thường đạo lý mà bốn ngàn năm văn hiến của cha ông đã gầy dựng? Chúng ta thử nhìn lại thống kê của trang điện tử www.tin247.com/ mỗi ngày Việt Nam có:

    Phá thai hơn 500.000 ca phá thai một năm, trung bình mỗi ngày có hơn 1.300 thai nhi bị giết hại.

    Mỗi tháng có gần 1.100 người chết vì tai nạn giao thông, trung bình mỗi ngày hơn 35 người chết vì tai nạn giao thông.

    Trung bình mỗi ngày lại có thêm 50 – 100 người nhiễm AIDS.

    Mỗi một ngày tứ Bắc chí Nam có hàng ngàn cô gái đem thân xác đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn.

    Mỗi ngày những vụ án hình sự lại nhiều trò man rợ kinh hoàng hơn.

    Đạo lý làm người nay ở đâu? Con người có còn là “nhân chi sơ tính bản thiện” hay đã bị thoái hóa mất tính người? Con người biết thiện và ác, có khả năng tự chủ bản thân hơn loài vật, sao lại dễ dàng làm điều xấu, điều hại người hơn là làm điều tốt, điều cứu sống anh em?

    Là người kytô hữu, ai trong chúng ta cũng tự hào vì mình là hình ảnh Thiên Chúa. Ai trong chúng ta cũng tự hào mình vượt lên trên muôn loài muôn vật vì “nhân linh ư vạn vật”. Ai trong chúng ta cũng hiểu rằng con người có tương giao với Thiên Chúa, với thần linh. Con người đến từ Thiên Chúa. Con người thuộc về Thiên Chúa, vì con người bởi Thiên Chúa mà ra. Nhưng liệu rằng, khi nhìn vào cuộc sống của chúng ta người ta có nhận ra chúng ta là con cái Thiên Chúa hay người ta sẽ ngán ngẩm bảo rằng: cuộc sống của anh, suy nghĩ độc ác, ích kỷ, những ước muốn tầm thường, những lời nói giết người không dao của anh làm tan nát tâm hồn bao người, …tất cả chúng tôi nào có lạ gì, sao anh bảo anh đến từ Thiên Chúa tình thương và nhân lành? “Người ta cứ dấu này, mà nhận biết các con là môn đệ Thầy: là các con yêu thương nhau”. Liệu rằng dấu hiệu ấy có được tỏ hiện qua lời nói việc làm của chúng ta hay không?

    Cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu là chứng minh Ngài từ Thiên Chúa mà đến. Ngài đến để giới thiệu một Thiên Chúa yêu thương. Ngài đi gieo vãi yêu thương. Ngài đi nối kết tình người. Ngài đi xoa dịu đau thương. Ngài sống một cuộc đời thanh thoát không lệ thuộc của cải danh vọng trần gian. Ngài không bẻ gãy cây lau bị dập. Ngài không kết án ai. Ngài luôn bao dung tha thứ. Ngài đã từng tha thứ cho cả kẻ gây nên nhục hình cho Ngài. Đỉnh cao của dấu hiệu yêu thương ấy là chết cho người mình thương.

    Cuộc đời Ngài ví tựa tấm bánh bẻ ra cho muôn người. Tấm bánh mang lại hạnh phúc cho nhiều người. Tấm bánh làm vui lòng trẻ thơ cũng như người già. Tấm bánh hòa tan cho muôn người. Kẻ thấp hèn cũng như người giầu sang. Tấm bánh thêm sức mạnh cho mọi người. Kẻ no đầy cũng như người khát. Tấm bánh nối kết tình mọi người. Vì “bánh ngọt bẻ đôi” sẽ là nhịp cầu thân ái cho người với người gần nhau hơn. Tấm bánh đời Ngài ban cho thế gian để cho thế gian được sống và sống dồi dào. “Và ai ăn bánh này sẽ không phải chết bao giờ”. Đó là tấm bánh phục sinh. Bánh cải từ hoàn sinh. Bánh trao ban sự sống đời này và cả đời sau.

    Phải chăng Ngài cũng mời gọi chúng ta đón nhận tấm bánh đời Ngài để sức sống, ân sủng, tình thương của Ngài thẩm thấu trong cuộc đời chúng ta, để chính chúng ta cũng trở thành tấm bánh trao ban bình an và hạnh phúc cho tha nhân?

    Phải chăng Ngài cũng đang mời gọi chúng ta, không chỉ nhận ra mình mang nguồn gốc từ trời, mà phải sống và hành động như con cái của Chúa. Sống hoàn thiện mình mỗi ngày như cha chúng ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Mỗi ngày chúng ta phải thanh tẩy mình khỏi mọi điều gian ác, khỏi những ước muốn tầm thường và mặc lấy tâm tình từ bi nhân hậu như Đức Kitô để dung nhan Thiên Chúa được tỏ hiện trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

    Ước gì trong mỗi lời nói hành động đầy yêu thương bác ái của chúng ta mà các anh chị em chung quanh sẽ ngợi ca Cha chúng ta là Đấng ngự trên trời. Ứơc gì khi chúng ta nhận ra tình thương của Chúa dành cho mình, thì mỗi người hãy biết sống tâm tình tạ ơn Chúa, đồng thời biết noi gương Chúa sống yêu thương anh em đồng loại của mình.

    Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể là tấm bánh bẻ ra cho muôn người nâng đỡ và giúp chúng ta biết sống cao thượng, sống đúng với phẩm giá làm người và làm con Thiên Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    BÁNH HẰNG SỐNG

    Bông Hồng Nhỏ

    A! Mẹ về ! Mẹ về !

    Ba đứa trẻ chạy ùa ra cổng khi thấy mẹ đi chợ về. Chúng ríu rít như chim non trong tổ  chờ chim mẹ bón mồi:

    • Mẹ ơi ! Mẹ có mệt không?
    • Mẹ ơi ! con đói quá ! Mẹ có mua quà bánh cho con không?
    • Các con ở nhà chơi ngoan không? Vào nhà rồi mẹ lấy bánh cho.
    • Hoan hô hoan hô ! Cám ơn mẹ nhiều !

    Hôm nay, Chúa Giêsu nói với người Do Thái rằng: “ Tôi là bánh từ trời xuống” (Ga 6,41). Nghe điều này, họ liền xầm xì phản đối. Họ không chấp nhận rằng Đức Giêsu là Đấng từ trời xuống, bởi họ biết rõ Đức Giêsu là con ông thợ mộc Giuse. Họ biết rõ gốc gác của Đức Giêsu. Thế mà Chúa Giêsu lại nói Ngài là Đấng được Chúa Cha sai đến và còn mạc khải rằng: “ Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51a). Không ai có thể hiểu được điều này nếu không có ơn Thiên Chúa ban.

    Thuở bé, ta hồn nhiên đón nhận chiếc bánh mẹ mua cho mỗi lần đi chợ về. Ta không hề biết rằng đó là món quà mà mẹ chắt chiu dành dụm tiền để mua cho ta. Lớn lên rồi, khi nhìn giọt mồ hôi mẹ rơi, thấy nụ cười của mẹ, ta thấy thương yêu mẹ thật nhiều. Nhớ về chiếc bánh ngày xưa, ta đã thổn thức bởi tình mẹ thương ta thật bao la. Từ ngày được Rước lễ, ta cũng đón nhận món quà của Thiên Chúa ban tặng, cũng là một tấm bánh trắng tinh nhưng gói gọn tình yêu Thiên Chúa. Đó không phải là tấm bánh đơn thuần, nhưng là Thánh Thể, là chính Máu Thịt Chúa Giêsu, là chính Chúa Giêsu ngự đến trong tâm hồn ta.

    Người Do Thái không đón nhận Chúa Giêsu vì họ không tin Ngài là Đấng Chúa Cha sai đến. Còn ta, ta đã đón nhận Chúa Giêsu bằng một đức tin tinh tuyền, thánh thiện. Đức tin là một hồng ân nhưng không mà Chúa Giêsu ban tặng. Nhờ có đức tin, ta tin Chúa Giêsu ngự thật trong Bí tích Thánh Thể, ta ao ước đón rước Chúa ngự vào trong tâm hồn. Mỗi lần rước Chúa, ta cung kính đón rước Chúa vào lòng, thờ lạy Chúa, tạ ơn Chúa và tâm sự với Chúa. Chúa Giêsu đã tự nguyện trở nên một hy lễ của tình yêu qua Thánh Thể. Hy lễ Thánh Thể là chính Máu Thịt của Chúa Giêsu nuôi dưỡng tâm hồn người tín hữu và cho họ được sống dồi dào hơn.

    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể ! Xin Chúa đến ngự vào trong tâm hồn con và cho con cảm nếm vị ngọt được Chúa yêu thương. Xin cho con khát khao được Chúa ngự vào tâm hồn, rước Chúa với niềm xác tín, hân hoan và cùng với Chúa, con dâng hiến hy lễ của đời con hiệp với hy lễ  Thánh Thể của Chúa, để cuộc đời con cũng trở thành tấm bánh thơm ngon chia sẻ cho anh chị em.

    Về mục lục

    .

    BÁNH HẰNG SỐNG.

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng 

    Bánh trời hằng sống nhiệm mầu,

    Ban cho nhân loại, nhu cầu thần lương.

    Nuôi hồn chữa xác tựa nương,

    Thông ban sự sống, miên trường khát khao.

    Đây là Thịt Máu Chúa trao,

    Bởi trời mà xuống, biết bao ân tình.

    Mấy người Do-thái bực mình,

    Có cha có mẹ, bình sinh sống đời.

    Mẹ cha sống với mọi người,

    Xì xầm to nhỏ, bởi trời là sao?

    Quyền năng phép tắc trên cao,

    Nghe lời giáo hóa, truyền rao tín điều.

    Ta là sự sống cao siêu,

    Ai tin sẽ được, thiên triều phúc vinh.

    Thịt Ta lương thực thần linh,

    Hiến thân nuôi dưỡng, chúng sinh trong đời. 

    Chúa Giêsu đã phán rằng: Ta là bánh hằng sống bởi trời mà xuống. Bánh hằng sống mà Chúa Giêsu ban cho nhân loại chính là Thịt và Máu Thánh Chúa. Trong bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu hiện diện thật trong tấm bánh nhỏ và chén rượu nho. Làm sao gọi là bánh hằng sống? Tấm bánh mà chúng ta rước lễ mỗi ngày có một sức sống vô biên biến đổi và dưỡng nuôi cả hồn lẫn xác.

    Theo cái nhìn trần tục hoặc phân tích khoa học dinh dưỡng, tấm bánh hằng sống không có giá trị bao nhiêu. Nó không đủ để nuôi sống được con người. Thế nhưng tại sao chúng ta cung kính và chăm chú tham dự thánh lễ và rước lễ. Người lớn cũng như trẻ em cùng chia nhau một tấm bánh nhỏ bé và một chén rượu nho. Đây là mầu nhiệm đức tin. Với tấm bánh nhỏ đã được truyền phép trong thánh lễ đã trở nên thần lương đem sức sống thiêng liêng. Tấm bánh nhỏ chứa đựng trọn vẹn Chúa Giêsu cả thần tính và nhân tính.

    Ý nghĩa của Bí Tích Thánh Thể chính là lễ Tạ Ơn. Chúa Kitô đã hiến thân chịu chết trên thánh giá để cứu độ và chuộc tội cho chúng ta. Chúa đã chết vì tình yêu. Một tình yêu tuyệt đối và vô điều kiện. Thánh Thể là thân thể của Chúa được trao ban cách nhưng không. Chúa dùng chính Thịt Máu mình trong bí tích Thánh Thể để dưỡng nuôi chúng ta cũng như người mẹ dùng chính sữa của mình mà nuôi con.

    Truyện kể rằng một người mẹ dẫn con qua đường. Vừa sang tới lề đường bên kia, gặp một người ăn mày đang ngửa tay xin bố thí. Để tập đức thương người, bà đưa cho đứa con một tờ giấy bạc để cho người ăn xin. Đứa con cầm tiền nhưng rụt rè không đưa. Bà mẹ đứng chờ mãi không thấy con đưa tiền vào đôi tay của người ăn xin. Bà khom xuống dí ngón tay vào tay của con cho tiền rơi xuống. Đi một quãng, bà hỏi con: Sao con không cho ông ta. Con sợ à. Đứa con trả lời: không, con không sợ. Con chờ ông ta đưa tay ra lấy. Mẹ bảo: Thường khi ông ăn mày sẽ không cầm lấy mà ông chỉ ngửa tay, mình cho bao nhiêu cứ bỏ vào lòng bàn tay ông. Người ăn xin ngửa hai bàn tay ra xin bố thí. Ai cho nhiều hay ít gì cứ tự  nhiên bỏ vào. Ngửa tay chờ đợi và nói lời cám ơn.

    Chúng ta đến với Chúa đưa hai bàn tay ngửa xin ơn lành. Tin tưởng vào lòng nhân hậu và đại lượng của Chúa. Chúa sẽ ban ơn phúc lành cho chúng ta. Chúng ta nhận lấy và cám tạ ơn Chúa. Hãy đến với Chúa bất cứ khi nào chúng ta muốn, nhất là khi chúng ta mệt mỏi, chán nản và thất vọng. Đừng vì thất vọng mà chúng ta xa Chúa. Chỉ có nơi Chúa, chúng ta sẽ tìm thấy nguồn sinh lực. Chỉ có Chúa mới giải trừ được mọi nỗi khát mong của tâm hồn. Chúa chính là thần lương và là bánh tự trời xuống.

    Về mục lục

    .

    CÓ AI THẤY CHÚA CHA ĐÂU

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Câu chuyện bánh ăn vẫn chưa tới hồi kết nhưng lại ngày càng trở nên gay cấn hơn. Các người Do Thái bắt đầu cảm thấy bực bội khó chịu; họ xầm xì – phản đối (xem Xh 15:24; 16:12; 17:3), nhưng lần này không còn xoay quanh vấn đề bánh đó là thức ăn gì, hay người nào cho ăn, mà tập trung vào vấn nạn, người cho ăn bánh đó từ đâu mà đến; “tại sao bây giờ ông ta lại nói: “tôi từ trời xuống?’ Qua cuộc tranh luận về ăn bánh này, Đức Giê-su đã đưa nhóm thính giả Do Thái, vốn có rất ít thiện cảm với Người, đi tới một kết luận hết sức bất ngờ: “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. Thật tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời”.

    Câu khảng định gây ngạc nhiên trên cho các thính giả Do Thái khi cho biết một điều chưa từng được nghe ai nói tới bao giờ, đó là bất cứ ai thấy được Chúa Cha thì người đó sẽ có sự sống đời đời. Điều này trước hết hoàn toàn trái ngược với quan niệm phổ thông của người Do Thái đương thời; họ cho rằng, Đức Chúa, Chúa các đạo binh là đấng quyền uy cao cả vô song tới nỗi không ai có thể nhìn thẳng mặt Ngài được, nếu không muốn chết (xem Xh 19:21). Ngay cả các thiên thần, trong quan điểm của họ, cũng phải hãi sợ lấy cánh che mặt mỗi lần ra trước Thánh Nhan (xem Is 6:1-3). Đến cả Mô-sê từ đỉnh núi Si-nai đi xuống, sau khi đã nhận lãnh các bia đá giới luật, mặt ông còn phản chiếu vinh quang Đức Chúa chói lọi tới độ dân chúng không dám nhìn trực diện, buộc ông phải lấy mảnh vải thưa che mặt mình lại (xem Xh 34:29-34). Thế đấy, làm sao một Đức Chúa đáng khiếp sợ như thế lại có thể trở thành nguồn cứu rỗi, và nhân vật đã nhìn thấy Đức Chúa, rồi từ Ngài mà đến, lại có thể ban sự sống chứ không phải là cái chết cho con người? Chính vì suy nghĩ như thế mà sau này, khi Phi-líp-phê đại diện cho các tông đồ và những kẻ tin khao khát được nhìn thấy Cha và lên tiếng: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện!” (Ga 14:8) thì đó đã là cả một lời tuyên xưng đức tin rất can trường và hiếm có. Nếu đối với các người môn đệ – những kẻ tin đã là như thế, thì đối với những ai không tin, đương nhiên việc ao ước được nhìn thấy Đức Chúa uy hùng để rồi phải chết là điều không thể. Do đó câu khảng định tiếp theo của Đức Giê-su lại càng chói tai, càng khó chấp nhận hơn đối với nhóm cử tọa đa nghi: “Tôi là bánh trường sinh, bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.

    Khi đồng hóa việc ‘nhìn thấy Cha’ – là điều không ai dám làm, với việc ăn bánh và tin vào Người Con, Đức Giê-su đã làm một mời gọi vô cùng táo bạo, vượt quá hết mọi giới hạn chấp nhận của người đương thời. Nó đòi dân chúng nói chung, đặc biệt đám thính giả Do Thái nói riêng, phải có khả năng chuyển dịch từ quan niệm về một Thiên Chúa quyền uy cao cả, xa cách và đáng khiếp sợ, để chấp nhận diện mạo đối nghịch về một Thiên Chúa gần gũi, thấp hèn và từ nhân. Điều này cũng giống như đòi các tín đồ Do Thái nhiệt thành phải bỏ hẳn lối hiểu biết về (hay niềm tin vào) Đức Chúa oai hùng của Mô-sê và các tổ phụ, để đặt trọn niềm tin vào một Thiên Chúa Nhập Thể biểu hiện nơi con người ông Giê-su quá tầm thường này, “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông chúng ta đều biết cả” (câu 42). Đơn giản họ không bao giờ có thể chấp nhận nổi điều này!

    Đối với Ki-tô hữu chúng ta ngày nay, chính vì Mầu Nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể đã dần trở thành một ‘công thức’ quen thuộc, cho nên việc chấp nhận lời mời gọi ‘ăn bánh trường sinh’ cũng không còn là điều gì quá chói tai. Tuy nhiên cũng như mãi mãi Thiên Chúa Nhập Thể vẫn là một mầu nhiệm khó nuốt trôi, thì việc ‘ăn bánh hằng sống’ với tất cả niềm tin sâu sắc cũng chẳng dễ dàng gì. Bao lâu ta còn đặt nặng việc tôn thờ một Thiên Chúa quyền uy cao cả, bấy lâu ta còn chưa thể khai thác được tất cả sự phong phú của Mầu Nhiệm Nhập Thể; bao lâu ta chưa thể thuyết phục được mình, rằng yếu tính quan trọng nhất của Thiên Chúa chính là sự từ bi nhân ái và hay xót thương, bao lâu ta còn chưa chịu chấp nhận “ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9) khi ngước nhìn lên Thập Giá, bấy lâu ta vẫn chưa thể bị thuyết phục rằng: “Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Thế đó, Thánh Thể luôn là biểu hiện của một niềm tin sâu sắc nhất (mầu nhiệm đức tin) chính là ở điểm này!

    Niềm tin của tôi vào Thánh Thể hệ tại ở điều gì?

    Lạy Chúa, bao lâu con còn chu chu chắm chắm tôn thờ sự hiện diện uy nghi cao cả của Chúa sau mỗi lần rước lễ, bấy lâu con chưa thể chân nhận Chúa chính là ‘bánh bởi trời’ nuôi sống con. Con phải tôn thờ Chúa, nhưng là tôn thờ một Thiên Chúa thật gần gũi, khiêm hạ và tự hiến, sẵn sàng hiến thân mình làm của ăn nuôi con. Xin cho con biết chuyển dịch cách hữu hiệu niềm tin của con từ việc quá quan tâm tới sự toàn năng cao cả của Chúa qua việc nhấn mạnh trên lòng nhân từ xót thương của Người, đặc biệt trong những lần con được diễm phúc tiến lên rước Chúa. A-men.

    Về mục lục

    .

    THẦN LƯƠNG ĐỘ ĐƯỜNG

    Lm. GB. Trần Văn Hào

    Trong cuộc sống đời thường, ai trong chúng ta cũng có lúc thành công, cũng có khi thất bại. Thành công mang lại cho chúng ta niềm phấn khích, nhưng thất bại dễ nhấn chìm chúng ta trong tuyệt vọng và chán chường. Hình ảnh của ngôn sứ Êlia được sách Các Vua phác vẽ trong bài đọc thứ nhất của phụng vụ hôm nay lột tả các trạng luống nhân sinh của đời sống con người. Ông đã chiến thắng ngoạn mục trên núi Car-mê-lô trước 450 tiên tri của thần Baal. Lời cầu khấn của ông đã được Chúa chấp nhận và cho lửa từ trời xuống đốt cháy lễ vật. Trong khi đó, môt đội quân đông đảo các tiên tri của Baal dài cổ kêu gào cả ngày mà không một thần linh nào đoái hoài tới. Sự thành công đó đã chứng minh Đấng mà ông tôn thờ là Thiên Chúa thật. Nhưng liền sau đó, gian nan ập đến. Hoàng hậu Idêven săn lùng và  tìm cách giết ông, bởi vì bà ta bảo vệ cho tôn giáo thờ Baal. Thế là vị ngôn sứ phải lẩn trốn để lánh nạn. Ông lên đường ra đi trong tất tưởi và cay đắng. Ông hoàn toàn tuyệt vọng và muốn chết quách cho xong. Giữa sa mạc hoang vu, ông nằm vật xuống, đi sâu vào giấc ngủ và xin Chúa cất lấy linh hồn ông. Trong cơn thất vọng ê chề, vị ngôn sứ đã được Chúa sai thiên thần đến đem bánh và nước để ông tiếp tục cuộc hành  trình tới núi Khô-rep .

    Hình ảnh của Êlia là biểu trưng thân phận lữ hành của tất cả mọi người chúng ta. Biết bao lần chúng ta cũng bị bầm dập và tan nát giữa những bi thương của cuộc sống, tưởng chừng như bế tắc và sụp đổ hoàn toàn. Nhưng Thiên Chúa đã trao tặng một thứ lương thực kỳ diệu như đã ban cho Êlia năm xưa để giúp chúng ta độ thân trên con đường lữ thứ. Đó chính là Bánh ban sự sống, Bánh trường sinh, là thần lương cao quý nhất trong kiếp sống lữ hành trần thế hôm nay.

    Một lần nữa trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu mặc khải cho chúng  ta về lương thực kỳ diệu này. Ngài khẳng định: “ Tôi là Bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ không phải chết …. Và bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống” (Ga 6,50-51)

    Bánh thần thiêng

    Cha thánh Gioan Maria Vianney đã miêu tả trong một bài giảng. Thuở ban đầu khi tạo thành vũ trụ, Thiên Chúa định liệu cho mọi sinh linh có đủ lương thực để tồn tại. Mọi thứ rau cỏ, thịt cá … được dọn ra ê hề như một mâm cỗ đầy ắp và mỗi  loài có thể tự chọn những lương thực thích hợp để bảo tồn sự sống cho mình. Cuối cùng đến lượt con người, Thiên Chúa khựng lại và tự hỏi “ Ta sẽ ban cho họ lương thực gì đây ? Bởi vì con người được dựng nên giống hình ảnh Ta, không chỉ có thân xác mà còn có cả linh hồn”. Thân xác thì đã có của ăn vật chất còn linh hồn thì sao? Cuối cùng, để tương xứng với vẻ đẹp của linh hồn con người vốn là họa ảnh của chính Thiên Chúa, Ngài đã quyết định trao hiến thịt và máu Người Con yêu quý để nuôi sống chúng ta, cho dù Ngài biết con người đầy tội lỗi và bất xứng.

    Thiên Chúa đã phân thây xẻ thịt người con duy nhất để biểu tỏ tình yêu điên rồ của Ngài. Chính Đức Giêsu  khải thị điều này trong câu chuyện nói với  Nicôđêmô: “ Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một yêu dấu” (Ga 3,16). Tình yêu này quả rất điên rồ mà chúng ta không thể lý giải được. Đức Giêsu đã nói: “ Không có tình yêu nào cao cả hơn mối tình của người hiến thân vì bạn hữu”. Đức Giêsu không phải là một lý thuyết gia, không phải là một nhà mô phạm chỉ nói bằng sáo ngữ trên đầu môi cửa miệng. Ngài đã hiện thực lời tuyên bố ấy qua chính cái chết trên thập giá. Thập giá Đức Kitô là câu định nghĩa tròn đầy nhất và sâu tận nhất về tình yêu mà Thiên Chúa muốn diễn bày. Đức Giêsu chính là tấm bánh được ban tặng, tấm bánh được nướng chín trong cuộc khổ nạn, tấm bánh đã được bẻ nát và được phân hủy để thông truyền sự sống cho chúng ta. “Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống” (Ga 6,51) .

    Hình tượng Thịt và Máu

    Cách đây hơn 80 năm, có một đoàn di dân từ Âu châu đến Úc châu. Trong đám người du cư lang thang lếch thếch đó, người ta bỗng nghe tiếng khóc xé lòng của một đứa bé bên vệ đường. Lại gần, mọi người thấy một em bé còn đỏ hỏn đang giãy dụa nằm khóc thét bên cạnh mẹ nó. Người phụ nữ xấu số đã chết vì mệt nhọc và đói khát. Khuôn mặt hốc hác và tím tái của chị trông bất động và thật lạnh lẽo. Bầu vú của người đàn bà hầu như đã cạn kiệt. Nhưng kỳ diệu thay, đứa bé vẫn còn sống. Nó vẫn mân mê mút đầu ngón tay của mẹ nó, và những giọt máu hiếm hoi của người mẹ đã cứu sống đứa trẻ. Chính người mẹ với tình mẫu tử bất tận đã truyền những giọt máu cuối cùng của mình cho đứa con để nó được cứu sống. Bà đã chết, nhưng tình yêu cao cả khiến bà vẫn sống. Bà vẫn sống và sống mãi trong tâm hồn đứa bé thơ. Năm mươi năm sau, đứa bé đó lớn lên trở thành chủ tịch quốc hội nước Úc. Chính ông ta đã kể lại câu chuyện cảm động này, làm sống lại hình ảnh người mẹ đã hy sinh tính mạng để cho con bà được sống.

    Ngày hôm nay Giáo hội cũng kể lại cho chúng ta nghe một câu chuyện tương tự giống như vậy. Câu chuyện hôm nay được kể còn hay hơn và thâm thúy hơn rất nhiều. Chính xác hơn, chính Đức Giêsu đang kể cho chúng ta câu chuyên này. “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống”. Qua bài Tin mừng, Chúa Giêsu dẫn mời chúng ta dần dần đi sâu vào câu chuyện tình rất linh thánh mà chính Ngài thủ vai chính.

    Câu chuyện Đức Giêsu kể hôm nay không phải là một câu chuyện hoang đường hay mang tính thần thoại. Nhân vật chính trong câu chuyện là chính Ngài, đấng là Thiên Chúa –Người, đã đến trần gian để viết nên một câu chuyện tình hay đẹp nhất và sâu xa nhất. Cảm nghiệm điều này, thánh giáo phụ Irênê đã viết: “ Vì yêu thương, Thiên Chúa đã trở nên con người để khi chúng ta đi vào quỹ đạo tình yêu cùng với Ngài, con người chúng ta được trở nên Thiên Chúa.”

    Canh bạc điên rồ

    Một viên phi công từng chở công nhân Trung quốc sang Miến điện làm việc hồi thế chiến thứ 2 đã kể lại một giai thoại. Hồi đó những chuyến bay như thế thường rất dài và hành khách tỏ ra khá mệt mỏi. Các công nhân trên máy bay có nhiều thời gian rảnh rỗi và không biết làm gì nên rủ nhau đánh bạc. Đi vào vận đỏ đen, có kẻ thắng người thua. Người được tiền, kẻ trắng túi. Khi không còn tiền bạc mà  máu đen đỏ vẫn còn, họ vẫn ham mê và đánh bạc bằng chính mạng sống của mình. Ai thua phải nhảy ra khỏi máy bay mà không có dù. Họ đã liều lĩnh và nhiều người đã lao vào canh bạc một cách hết sức điên rồ .

    Nhưng có lẽ điên rồ hơn cả là canh bạc mà chính Thiên Chúa đang liều mạng dấn bước vào. Ngài dùng chính mạng sống Con Một yêu dấu để đánh bạc với chúng ta. Ngài phân thây xẻ thịt chính Đức Giêsu một cách điên rồ để cá cược với mọi người. Qủa là một sự liều lĩnh và táo bạo. Trong canh bạc này, Thiên Chúa thắng hay thua là do chúng ta quyết định. Bàn tiệc đã dọn sẵn và chúng ta là những thực khách được mời. Chúng ta có đến hay không đến, Thiên chúa vẫn để cho chúng ta tự do lựa chọn.

    Kết luận

    Chúa Giêsu nói trong bài Tin mừng hôm nay: “Ai tin thì có sự sống đời đời” (Ga 6,47). Tin là chấp nhận lao vào canh bạc của tình yêu và để cho Thiên Chúa thắng. Thánh Augustinô cũng nói: “ Tin là chúng ta ký sẵn một bản hợp đồng với Thiên Chúa trên một tờ giấy trắng. Chúa muốn viết gì trên trang giấy đó tùy ý Ngài.” Mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ, Giáo hội công bố: “ Đây là mầu nhiệm đức tin”. Chúng ta xin Chúa ban cho chúng ta ơn đức tin để chúng ta luôn biết trải lòng mình ra lãnh nhận hồng ân ban tặng. Hồng ân được hiển thị rất cụ thể qua bữa tiệc linh thánh nhất mà chúng ta được mời tới tham dự. “Ai ăn thịt tôi sẽ được trường sinh” và “Ai tin sẽ được sự sống đời đời”. Đó là hai vế của một định đề duy nhất, diễn bày tình yêu sâu tận của Thiên Chúa. Đứng trước lời gọi mời này, thái độ của bạn, thái độ của tôi, thái độ của chúng ta phải như thế nào ?

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Chủ đề phụng vụ lời Chúa hôm nay là bánh hằng sống. Bánh nuôi phần xác và bánh thiêng nuôi phần hồn đều cần thiết cho cuộc sống người Kitô hữu. Không ai sống ở đời mà không phải ăn, cần có bánh ăn để sống. Phần hồn cũng vậy, cần được nuôi dưỡng bằng của ăn thiêng mới đạt được sự sống đời đời.

    Bài đọc I sách Các Vua thuật lại cuộc hành trình lên núi Horeb gặp Thiên Chúa của tiên tri Elia. Sau khi chiến thắng các sư sãi thần Baal trên núi Carmel, Elia đã tiêu diệt khoảng 300 sư sãi Baal, ông đã bị vua Achab và hoàng hậu Giêzabel truy lùng tìm cách giết ông trả thù. Nên ông phải trốn vào rừng vắng. Ông chán nản thất vọng, cầu xin cho được chết… Thiên sứ đem đến cho ông bánh và nước để ông dùng. Nhờ bánh Thiên Thần và nước, ông đã lấy lại được sức, lấy lại được nghị lực, ông đi bộ suốt 40 ngày đêm tới núi Horeb, là núi của Thiên Chúa để gặp Thiên Chúa. Nếu không có bánh các Thiên Thần, Elia đã quỵ ngã và bỏ cuộc giữa đường.

    Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu hướng chúng ta về bánh hằng sống và kêu gọi mọi người lãnh nhận bánh đó để được sống đời đời. Bánh thiêng đó chính là Ngài: “Ta là bánh ban sự sống… Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta để cho thế gian được sống” (Ga 6, 52).

    Trong sa mạc Sinai suốt cuộc hành trình về đất hứa. Dân Do Thái nghi ngờ đối với Môsê. Họ kêu trách, than vãn, từ chối không tin vào sứ mạng thần linh của Môsê, không tin rằng ông có khả năng bảo đảm cho họ bánh ăn và nước uống như cha ông của họ, người Do Thái hôm nay kêu trách Chúa Giêsu vì Người tự xưng là “Bánh Hằng Sống từ trời mà xuống”,họ không tin nhận nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu. Họ chỉ biết dừng lại ở nguồn gốc tầm thường của Chúa Giêsu: con bác thợ mộc Giuse. Vì thế họ không tin những lời rao giảng của Đức Giêsu, không công nhận Đức Giêsu là bánh trường sinh, họ khó chịu về những lời khẳng định của Chúa, nên Ngài nhấn mạnh: “Ai tin thì được sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh… và bánh Tôi sẽ ban tặng. Chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống”(Ga 6, 51-52).

    Chúa Giêsu hướng chúng ta tới bánh trường sinh là chính Ngài trong bí tích Thánh Thể.

    Ở trên đời, ai cũng muốn sống mãi, muốn không phải chết, ước muốn trương sinh bất tử là khát vọng của con người ở mọi thời đại. Vua Tần Thủy Hoàng đã truyền xây dựng Vạn Lý Trường Thành dài hơn 2.000 dặm; một kỳ quan của thế giới cổ đại. Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầy quyền lực, giàu sang, nhưng ông rất sợ chết và muốn sống mãi để hưởng vinh quang trần gian.

    Một hôm các nhà chiêm tinh kể cho vua nghe về một hòn đảo thần tiên ở biển Đông, dân cư trên đảo đã khám phá ra bí quyết trường sinh. Vua liền sai quan quân đem vàng bạc châu báu đến đây để đổi lấy bí quyết trường sinh của họ, thuốc trường sinh bất tử. Nhưng không tìm được thuốc trường sinh, khi mọi người nhận ra rằng trường sinh bất tử là hảo huyền, nên đã trốn đi không quay trở lại với nhà vua. Họ sợ phải chết dưới lưỡi gươm của bạo vương Tần Thủy Hoàng vì không thể đưa thuốc cải lão hoàn sinh về cho vua muốn trường sinh; được trường sinh bất tử như vua Tần Thủy Hoàng chỉ là một ước mơ không bao giờ hiện thực, dù con người đã làm mọi cách để tìm kiếm.

    Chỉ có Đức Giêsu, Ngài là Thiên Chúa mới có thể làm cho con người trường sinh bất tử bằng việc tiếp nhận Ngài trong bí tích Thánh Thể “Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”.

    Muốn được sống muôn đời, người Kitô hữu phải tin vào Đức Giêsu và đón nhận Ngài vì Ngài là của ăn nuôi sống nhân loại.

    Thánh Phaolô mời gọi người Kitô hữu sống đức tin bằng việc thức thi đức ái trong cuộc đời: “Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 4, 30; 5,2).

    Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm của tình thương. Tin nhận Chúa Giêsu thánh Thể phải được bộc lộ bằng những việc bác ái phục vụ anh em trong đời thường. Nói một cách khác, sống mầu nhiệm Thánh Thể là trở nên tấm bánh cho anh em, như Đức Giêsu Kitô đã trở nên lươnhg thần nuôi sống nhân loại.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm Giuse Đinh tất Quý

     “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6,51).

    Kính thưa anh chị em.

    Tin Mừng chúng ta vừa nghe được trích từ bài giảng Bánh hằng sống. Đây là một trong những bài giang khó cắt nghĩa nhất của Chúa Giêsu. Xin Chúa mở lòng mở trí cho chúng ta để chúng ta hiểu được một phần nào Lời của Người.

    Bây giờ chúng ta đi thẳng vào chủ đề.

    1. Đức Giêsu vừa long trọng khẳng định: “Tôi là bánh từ trời xuống”.

    Ngày xưa Thiên Chúa đã ban cho Dân Do thái “bánh bởi trời”. Bánh ấy có tên là Manna. Theo Chúa Giêsu thì Manna chỉ là của ăn tạm bợ, mau hư nát. “Tổ tiên các ông đã ăn Manna trong sa mạc, nhưng đã chết”.  Manna chỉ là hình bóng cho một thứ lương thực khác mà Thiên Chúa sẽ ban cho loài người. Chúa Giêsu gọi lương thực đó là “Bánh trường sinh”. Bánh trường sinh là một thứ lương thực duy nhất có khả năng làm cho lòng người được no đầy phỉ chí. Bánh đó trổi vượt và kỳ diệu hơn Manna xưa rất nhiều. “Tôi là bánh trường sinh… là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

    Tất cả những lời đó được nói ra với một sự quả quyết sắt đá xem chừng như không có gì làm thay đổi được. Nó đòi hỏi người nghe phải xác định một thái độ. Xem chừng như Chúa Giêsu không còn chờ đợi thêm nữa. Đã đến lúc trắng phải ra trắng đen phải ra đen.

    Và quả đúng như thế. Người Do thái đã bắt đầu không còn cảm tình với Chúa nữa. Họ xầm xì về những gì Chúa nói. Mối quan hệ tốt đẹp giữa Chúa với họ trước đây bây giờ không còn. Nó đã bắt đầu trở nên mỗi ngày một xấu đi để rồi từ sự ngộ nhận này đến sự ngộ nhận khác người ta đã bắt đầu đi tới thái độ không chịu hiểu và sau đó là chống đối. Sự thay đổi và chống đối càng ngày càng trở nên quyết liệt.

    Mặc kệ cho những lời xầm xí phản đối, Chúa Giêsu đã không nhường bước. Không những không nhẹ giọng, Ngài còn lên tiếng mạnh mẽ và quả quyết rằng Ngài từ Thiên Chúa mà đến, – rằng chỉ mình Ngài là người  đã thấy Chúa Cha. Tin Đức Kitô là tuyên xưng Ngài có nguồn gốc từ trời, không căn cứ vào những vẻ bề ngoài, không nệ thuộc vào những gì ta biết được về liên hệ gia đình và xã hội của Ngài. Tin chính là khởi đầu đi từ dấu chỉ để học cho biết cách nhận ra và hết lòng tin cậy vào Đấng Chúa Cha sai đến… Và đó hẳn không phải là chuyện con người có thể một mình mà  làm được. Nhưng chỉ có  những ai được Chúa Cha lôi kéo mời đến được với Đức Kitô mà  thôi: “Chẳng ai đến được với Tôi, nếu không được Chúa Cha, là Đấng đã sai Tôi, lôi kéo người ấy…”.

    Sau đó dựa vào những lời hứa và hình ảnh đã được tiên báo trong Cựu ước, Đức Giêsu còn tuyên bố rằng những lời hứa và hình ảnh ấy nay đang ứng nghiệm nơi chính bản thân Ngài.

    Isaia xưa đã loan báo rằng Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra cho toàn thể dân Người: “Mọi người sẽ được chính Thiên Chúa dạy dỗ” (Is 54,13 và 11,8 hoặc Giê 31,34). Đức Giêsu khẳng định chính bây giờ là lúc lời hứa ấy được ứng nghiệm. Ngài còn nói với họ: Chính bây giờ là lúc Chúa Cha kêu gọi các ông và lôi kéo các ông đấy, bởi lẽ lời dạy của tôi là lời dạy của Chúa Cha; Người mà các ông chỉ muốn coi là “Con ông Giuse” lại chính là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa đã được các ngôn sứ loan báo từ trước.

    Manna, lương thực lạ lùng thật, nhưng chỉ là tạm bợ, không thể giữ cho lớp người ở sa mạc khỏi phải chết. Còn Đức Giêsu, bởi Thiên Chúa mà đến, mới thực là “Bánh hằng sống”, Bánh đem lại phúc trường sinh: “Tổ tiên các ông đã ăn Manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”.

    Ở câu 51: “Bánh tôi sẽ tặng ban, chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống”, với những lời này Đức Giêsu đã muốn loan báo trước về cái chết của Ngài như một ân huệ, một ân huệ nguồn sống. Đây là câu chuyện chuyển tiếp qua phần hai của “diễn từ về Bánh hằng sống” chúng ta sẽ đọc vào Chúa Nhật tới.

    1. Kính thưa anh chị em. Đó là nội dung những gì tôi muốn chia sẻ với anh chị em hôm nay. Rất căng nhưng cũng rất sòng phẳng để từ đó chúng ta phải có một thái độ rõ ràng đối với Chúa. Chúa không thích thái độ nửa chừng mà “Nóng thì ra nóng, lạnh thì ra lạnh, hâm hâm nguội nguội ta sẽ mửa ngươi ra”

    Ferdowsi (925–1020), thi sĩ người Ba tư sống vào thế kỷ 11 có kể một câu chuyện: Một quốc vương nọ phải đi qua sa mạc để đến một ốc đảo. Cùng đi với ông là một đoàn tùy tùng rất đông. Họ mang theo vô số bạc vàng của cải. Dọc đường, một con lạc đà bỗng ngã quị. Và từ trên lưng nó, một dòng thác vàng bạc châu báu chảy xuống cát. Tức khắc người ta thấy ngay được sự tham muốn đến tột độ bừng lên trong những con mắt của những người đi theo hộ giá nhà vua.

    Bằng một cử chỉ rất vương giả, quốc vương nói với những người tùy tùng:

    – Các khanh hãy tự do nhặt lấy những thứ đó. Trẫm tặng cho các khanh tất cả. Các khanh cũng được tự do đi tiếp với trẫm hoặc lựa chọn con đường khác mà quay về.

    Nói xong, ông tiếp tục lên đường không một chút do dự. Ông nghĩ, tất cả sẽ dừng lại để nhặt cho đến viên kim cương cuối cùng.

    Đang đi bỗng ông nghe thấy có tiếng chân theo sau mình. Quay lại, và ông nhận ra đó người hầu cận được tiếng là trung thành nhất. Ông hỏi:

    – Sao nhà ngươi không ở lại nhặt vàng bạc trẫm đã ban tặng? Ngươi không biết rằng với số vốn ấy ngươi sẽ trở nên giàu sang ư?

    Người hầu cận trung thành trả lời:

    – Tâu bệ hạ, ngài là vua. Đối với hạ thần, bệ hạ là kho tàng quí giá nhất. Bệ hạ là tất cả của thần.

    Chúng ta hãy lặp lại một lời tương tự như thế đối với Chúa đi các bạn. “Lạy Chúa, đối với con, Chúa là kho tàng quí giá nhất vì Chúa là Thiên Chúa. Vâng Chúa là tất cả của con”

    Lạy Chúa Giêsu,

    có những ngày con cảm thấy

    đời sống thật nặng nề ;

    có những lúc con muốn buông trôi,

    để mặc cho dòng đời đưa đẩy ;

    có những khoảng thời gian dài,

    con như mảnh đất khô khan cằn cỗi.

     Xin cho con ánh sáng của Chúa

    để con biết lối mà đi.

     Xin cho con tấm bánh của Chúa

    để con có sức mà dấn bước.

     Xin cho con Lời của Chúa

    để con vững một niềm tin.

     Xin cho con sự sống của Chúa

    để con lấy lại niềm hăng say và sự tươi tắn,

    niềm vui và sáng tạo.

     Lạy Chúa Giêsu,

    con thấy mình cần Chúa

    trong mỗi giây phút của cuộc đời.

    Ước gì ai gặp con

    cũng gặp được sự hiện diện của Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI XUỐNG

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

              Đời là một cuộc hành trình đi về quê trời. Con đường về trời vừa xa lại vừa khó khăn. Lương thực cho cuộc hành trình phải được đầy đủ. Nhưng lương thực chúng ta phải có là gì ? Lấy đâu ra thứ lương thực đó ?  Hôm nay, Đức Giêsu đã chỉ bảo cho chúng ta thứ lương thực mà Ngài sẽ ban cho. Đó là bánh hằng sống từ trời xuống.

              Đức Giêsu đã hé mở cho dân Do thái biết : Ngài sẽ ban cho họ thứ bánh đó :”Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”. Lời tuyên bố này gây sốc cho người nghe, làm cho người ta sững sờ và khó chịu, nhất là khi Ngài nói thêm:”Và bánh ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta đây”(Ga 6,51). Họ không thể nào chấp nhận được lời tuyên bố ấy khi bản thân Đức Giêsu chỉ là một người Nazareth, gia cảnh rất tầm thường.

              Còn đối với chúng ta, nếu không có đức tin soi dẫn, chúng ta không thể nào chấp nhận được mầu nhiệm Thánh Thể, vì Thánh Thể là mầu nhiệm đức tin. Ngày nay chúng ta đã được Chúa soi sáng, chúng ta tin nhận Đức Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống va øBánh ấy là thịt máu Ngài. Thánh Thể chính là lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta trên đường về quê trời và ban cho chúng ta sự sống đời đời.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

              + Bài đọc 1 : 1V 19,4-8.

              Tiên tri Êlia đứng lên chống đối viêc thờ kính ngẫu  thần do bà Jézabel, vợ ngoại giáo của vua Achab, đưa vào đất Israel. Sau lần tiên tri Êlia  giết chết 400 sư sãi Baal, ông bị hoàng hậu Jézabel truy nã gắt gao, ông phải trốn chạy vào hoang địa. Bị đói khát và thất vọng, ông chỉ còn chờ chết. Nhưng Chúa sai thiên thần mang đến cho ông một chiếc bánh và một vò nước. Được bánh và nước bồi dưỡng, ông lấy lại sức và tiếp tục lên đường, đi một mạch suốt 40 ngày tới núi Horeb diện kiến Thiên Chúa.

              + Bài đọc 2 : Ep 4,30-32 – 5,2.

              Khi viết thư này, phải chăng đang có một sự căng thẳng trầm trọng đã nảy sinh trong cộng đoàn tín hữu ở Êphêsô, đến độ người ta đã la lối và thoá mạ nhau ? Thánh Phaolô nhắc nhở mọi người hãy nhớ mình là Kitô hữu, nhờ phép rửa tội đã trở nên con Thiên Chúa, là môn đệ và là anh em với Đức Kitô.

              Vì thế, địa vị ấy đòi hỏi chúng ta phải biết thương yêu, biết tha thứ cho nhau bằng cách phải giũ bỏ  khỏi đời sống tất cả những gì làm thương tổn đức bác ái như giận hờn, thù oán, ích kỷ. Thánh Phaolô xác định rằng việc tha thứ cho nhau ấy là kết quả hợp lý của việc được Thiên Chúa thứ tha “Như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô”(Ep 5,2).

              + Bài Tin mừng : Ga 6,41-51.

              Đức Giêsu đã tuyên bố:”Ta là bánh từ trời xuống”. Đứng trước những thính giả hoài nghi và còn thù nghịch nữa, Đức Giêsu cứ khẳng định như thế. Ngài còn cho biết thêm : ai muốn được sống vĩnh hằng, cần phải lãnh nhận bánh ấy.

              Người Do thái không thể nào chấp nhận được lời tuyên bố ấy bởi vì làm sao người ta có thể hiểu được mầu nhiệm Nhập thể. Người ta chỉ có thể lý luận theo lẽ tự nhiên rằng : làm sao ông này có thể  là bánh hằng sống từ trời xuống được ? Bởi vì ông ta chỉ là người Nazareth như họ, ông ta chỉ là người thợ mộc, con ông Giuse và bà Maria, anh chị em ông đang ở với mình, thân thế sự nghiệp chả có gì đáng lưu ý, gia cảnh của ông ta thật là tăm tối. Vậy tại sao ông ta dám tuyện bố như thế ?

              Đức Giêsu muốn trả lời cho họ rằng muốn tin mầu nhiệm này, hiển nhiên là phải có đức tin. Đức tin chỉ Thiên Chúa mới có thể ban cho. Đức tin giúp những người lãnh nhận nó được kết hợp với Chúa và sống bởi Chúa và nhờ Chúa.  Như vậy, chúng ta hưởng nhờ đức tin vào Chúa Kitô, chúng ta hãy tỏ ra ngoan ngoãn với những giáo huấn của Ngài, trung thành yêu mến Ngài, nhiệt tâm với Thánh Thể Ngài. Do đó, Ngài sẽ là bánh hằng sống từ trời xuống, là nguồn mạch sự sống vĩnh hằng cho chúng ta.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

               Muốn được trường sinh bất tử

              Đây là bài giảng dài, Đức Giêsu nói về Bánh Hằng Sống. Bài Tin mừng hôm nay tiếp theo đoạn Tin mừng tuần trước được rút ra trong bài giảng về Bánh hằng sống trong thánh Gioan.  Bài giảng này có thể chia thành 3 phần :

    1. Chúa nhật tuần trước đã nói đến sự khác biệt giữa của ăn vật chất mau hư nát và của ăn bất hủ mà Con người đem đến trong thế gian.
    2. Chúa nhật này nói đến việc Đức Giêsu ban mình làm bánh hằng sống và kêu gọi mọi người ăn bánh đó.
    3. Chúa nhật tuần sau sẽ nói đến việc Đức Giêsu ban bánh đó trong phép Thánh Thẻ.

    I.  TA LÀ BÁNH TỪ TRỜI XUỐNG.

              Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy Đức Giêsu đưa dần đến mầu nhiệm “Bánh ban sự sống”. Nhưng dân chúng không mở tai ra để nghe, để hiểu. Họ chỉ khư khư xoay quanh  những đòi hỏi vật chất. Khi nghe Đức Giêsu nói:”Ta là bánh từ trời xuống”, người ta kêu ca phản đối:”Ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Ta từ trời xuống” ? Họ phản đối Đức Giêsu vì họ thấy theo con mắt xác thịt, theo suy nghĩ của loài người hạ giới. Họ giống như Gagarin, anh hùng vũ trụ đầu tiên, bay lên không gian ngày 12 tháng 4 năm 1961. Khi trở về trái đất, ông tuyên bố :”Tôi không thấy thiên đàng đâu cả”. Lối nhìn này gọi là quan sát thực nghiệm, cân đo, đụng chạm được bằng mắt, tai, tay, chân, mũi. Ngoài ra không thấy gì khác nữa.

              Họ phản ứng trước lời tự xưng của Đức Giêsu, nêu lên sự kiện Ngài là con bác thợ mộc, họ biết Ngài sinh sống tại Nazareth. Làm sao họ hiểu một người thợ mộc tầm thường nghèo nàn lại có thể trở thành sứ giả đặc biệt của Thiên Chúa được. Họ chối bỏ Đức Giêsu vì trắc nghiệm Ngài bằng các giá trị của loài người, của xã hội và bằng tiêu chuẩn thế gian.

    Truyện : Bé cái lầm

              Lawrencee là bạn thân của thi sĩ Thomas Hardy. Thời gian ông phục vụ trong Không lực hoàng gia Anh với tư cách thợ máy, ông vẫn thường mặc quân phục thợ máy đến thăm vợ chồng Hardy.  Một lần tại nhà thi sĩ, ông gặp bà thị trưởng Dorchester. Không biết anh thợ máy cùng có mặt hôm đó là ai, bà tỏ ra khó chịu quay sang hỏi bà Hardy, nói bằng tiếng Pháp, bà than phiền “từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay, tôi chưa bao giờ ngồi uống trà với một tên lính quèn như thế này”. Không ai nói năng gì. Một lúc sau, Lawrencee nói với bà bằng tiếng Pháp thật hoàn hảo rằng “Xin lỗi bà, tôi có thể làm thông dịch viên cho bà, vì bà Hardy không biết nói tiếng Pháp”.

              Một mệnh phụ phu nhân rởm đời và bất nhã đã lầm lẫn tai hại  chỉ vì xét người theo bề ngoài, theo tiêu chuẩn xã hội. Đó cũng là lầm lẫn của người Do thái đối với Đức Giêsu. Họ không thấy được Đức Giêsu từ trời xuống vì lòng họ ra chai đá, không còn cảm động theo ân huệ lôi kéo của Đức Chúa Cha, không còn nghe lời Cha dạy dỗ dù hết mọi người được Thiên Chúa dạy dỗ như sách tiên tri đã chép. Thiên Chúa lôi kéo. Thiên Chúa dạy dỗ. Thiên Chúa đề nghị, nhưng rồi ta không nghe, không đáp lại, không hiệp thông. Người ta có tự do, có quyền từ chối, tự do của họ đã chiều theo các tình tư dục của họ.

    II.  TA LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG.

              Sau khi đã trẽ câu chuyện vì sự lẩm bẩm của người Do thái, Đức Giêsu lạiï trở lại vấn đề Ngài là Bánh.  Trên kia Ngài quả quyết Ngài là bánh từ trời xuống. Đây Ngài quả quyết thêm một điều nữa :”Ngài là bánh ban sự sống”, khác với manna.  So sánh manna được ban cho dân Do thái làm lương thực đi đường  trong sa mạc với Bánh Hằng Sống được Đức Giêsu ban cho  các tín hữu trong bí tích Thánh Thể, chúng ta thấy manna là lương thực được Đức Chúa ban cho dân Do thái trong thời xuất hành, là thứ đồ ăn  mau bị hư nát (x.Xh 16,19-21). Dù dân Do thái đã ăn manna, nhưng họ vẫn bị giết chết do tội họ đã phạm (x.Tv 78, 29-31) và vẫn không sống đời đời (x.Ga 6,58). Còn Đức Giêsu mới là Bánh Hằng Sống đích thực, để ăn thịt và uống máu Ngài thì sẽ không phải chết (x.Ga 6,50) nhưng được sống đời đời(Ga 6,51.54), được ở trong Ngài (Ga 6,56), được sống nhờ Chúa Cha (x.Ga 6,57), được sống và được sống dồi dào(x.Ga 10,10).

              Đức Giêsu lại nói tiếp:”Bánh Ta sẽ ban tặng chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống”. Với câu này, Đức Giêsu đã đưa vào một ý tưởng mới. Bánh này Đức Giêsu hứa sẽ ban, nhưng chưa ban. Đã rõ, đây Đức Giêsu muốn nói về Thánh Thể Ngài sẽ thành lập sau này. Từ lương thực nuôi sống thể xác, được Ngài biến thành Bánh Hằng sống (x.Ga 6,48), thành thân mình sẽ bị khổ nạn và phục sinh của Ngài (x.Ga 6,51), thành của ăn thần thiêng nuôi dưỡng đức tin, giúp các tín hữu đủ sức tiến về Đất Hứa là quê trời đời sau và sẽ được sống muôn đời.

    Truyện : Phép lạ ở Lanciano.

              Năm 700, tại tu viện thánh Longino ở Lanciano (Ý) có một linh mục Basiliô, đã dâng Thánh lễ nhưng lại hoài nghi về mầu nhiệm Chúa biến  bánh rượu nên Mình Máu Thánh Chúa ,thì Chúa đã làm một phép lạ cả thể còn được lưu niệm đến ngày nay như một tang chứng vĩ đại về phép Thánh Thể,  được gọi là phép lạ Lanciano. Sau khi vị Linh mục ấy truyền phép, Bánh đã trở nên Thịt và Rượu đã trở nên máu, còn được cô đọng đến ngày nay. Theo một cuộc phân tích, thịt là một thớ thịt từ trái tim, máu là máu một người với công thức AB (vết máu trên chiếc khăn liệm Turin cũng là công thức AB). Ngày nay, Thịt và Máu Chúa được lưu giữ trong hào quang qúi giá gọi là Hào Quang phép lạ Thánh Thể Lanciano, có từ năm 1713. Cuộc khảo sát khoa học chứng minh, được thực hiện năm1971. Thánh đường thánh Phanxicô, nơi lưu giữ, trở nên một trung tâm hành hương lớn của thế giới (Đọc Eucharistic Miracles của Carroll Cruz).

    III.  BÁNH BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI.

              Người đời ai cũng muốn sống lâu, sống trường sinh bất tử, cho nên mỗi độ xuân về người ta nhộn nhịp chúc tuổi nhau như thi sĩ Trần tế Xương đã diễn tả :

                                          Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau

                                          Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.

              Người ta ai cũng sợ chết. Tham sinh úy tử là lẽ tất nhiên. Người ta nhận xét rằng  không bao giờ người đời cảm thấy mình sống lâu cả. Dầu đã tóc bạc da mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy.  Cụ Tam nguyên Yên Đổ đã diễn tả tâm trạng ấy như sau :

                                          Nhớ từ năm trước vẫn thơ ngây

                                          Thoát chốc mà già đã tới ngay.

              Đến ngay Đức Hồng y Mercier, trước khi kết thúc cuộc đời 74 tuổi, đã buồn rầu khóc lên khi thấy thần chết đến gõ cửa :”Ôi đau đớn thay, Phải mang theo vào lòng đất bao nhiêu dự định”.

              Càng sống lâu, người ta càng muốn sống, càng thích sống, thèm sống, khát sống… Cụ già tám chín mươi tuổi thấy còn ham sống , như trang thanh niên mười chín đôi mươi vậy. Người ta có sống lâu đến ngàn năm như ông Mathusalem đi nữa, chắc tâm trạng cũng không thay đổi được.

              Vì vậy, người ta mới tìm ra đủ cách, đủ mọi phương pháp để được cải lão hoàn đồng, được sống lâu, nhất là được trường sinh bất tử.

    Truyện : Thuốc bất tử hay thuốc tử ?

              Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, có viên canh cửa hỏi rằng :

              – Vị thuốc này có ăn được không ?

              Người ấy đáp :

              – Ăn được.

              Tức thì, viên quan giật lấy vị thuốc mà ăn.

              Chuyện nói đến tai vua. Vua phán bắt viên quan đem giết.

              Viên quan kêu rằng :

              – Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người ấy nói rằng :”Ăn được” nên thần mới ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi người dâng thuốc – Vả chăng, người đem dâng thuốc nói là “bất tử”, nghĩa là ăn vào thì không chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã sắp phải chết, vậy là thuốc tử, chớ sao gọi là bất tử được ? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội mà tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.

              Vua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy, không giết nữa.

                       (Nguyễn văn Ngọc, Cổ học tinh hoa, tập 1, tr 170)

              Người ta hoàn toàn bất lực trước cái chết. Bao nhiêu phương pháp làm cho con người trường sinh bất tử đều thất bại. Người ta chỉ còn có cách quay về với Chúa thôi. Một trong những câu nói quan trọng nhất của Đức Giêsu về đời sống vĩnh cửu là những gì Ngài nói trong bài Tin mừng hôm nay:”Ta là Bánh từ trời xuống… Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời. Bánh của Ta sẽ ban cho ấy là Thịt Ta, Ta ban Thịt Ta để thế gian được sống”. Đức Giêsu mạc khải cho biết cuộc sống nơi trần gian này không phải là cuộc sống duy nhất và chết không phải là chấm hết. Còn có cuộc sống trong tương lai không bao giờ chấm dứt, đó là cuộc sống vĩnh cửu.

    IV.  THÁI ĐỘ CỦA TA.

    1. Tin hay không tin.

              Khi Đức Giêsu nói:”Ta là Bánh từ trời xuống”, dân Do thái xầm xì phản đối là phải, vì Ngài mạc khải về mình cho họ, Ngài mời họ tin vào Ngài và ăn bánh trường sinh là Ngài, để không bị đói khát nữa mà được sống đời đời. Làm sao họ tin Ngài là sứ giả của Thiên Chúa, là Đấng ở nơi Thiên Chúa, là Đấng sống mật thiết với Thiên Chúa, là chính Ngôi Lời Thiên Chúa, tiếng nói của Ngài là tiếng nói của Thiên Chúa. Ngài là bánh hằng sống từ trời xuống ư ?

              Ngày nay tâm thức của con người cũng chẳng khác với người Do thái xưa. Không phải chỉ có ngày nay con người mới khước từ mầu nhiệm trung tâm của đức tin. Sự khước từ hiện nay của nhiều người trẻ cũng như người trưởng thành không phải là chuyện mới mẻ : việc này đã bắt đầu từ thời Đức Giêsu, khi chính Ngài đã giảng giải và dạy giáo lý ! Trước hết chúng ta hãy khiêm tốn nhận biết lời xác quyết của Đức Giêsu thật to lớn. Chúng ta nên nhìn nhận rằng người không tin không phải là một kẻ bất bình thường.  Họ sống theo “lý trí” của con người một cách hoàn toàn tự nhiên. Điều này càng nhấn mạnh đến tính cách đặc biệt của đức tin : đức tin không chỉ giới hạn vào những quan điểm hợp lý mà thôi. “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống”. Đây là cao vọng chưa từng thấy của một người thợ mộc thấp hèn ở làng bên cạnh, mà người ta biết rõ cha mẹ. Đức Giêsu đã phản ứng thế nào, hôm đó (và hôm nay) trước sự khước từ “Bánh bởi trời”( Noel Quesson) ?

    1. Muốn được đến với Chúa.

              Đức Giêsu phán tiếp:”Các ông đừng có xầm xì với nhau, chẳng ai đến với Ta được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai Ta, không lôi  kéo kẻ ấy”.  Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã đứng trên một bình diện khác với lý trí của con người. Đó là điều mà chúng ta thường gọi là “Ân sủng”, hay nói cách khác, đó là sáng kiến của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói cần phải có sự soi sáng ở bên trong của Thiên Chúa là Đức tin, để thấu hiểu được những việc của Thiên Chúa, để “đến với Đức Giêsu”. Chỉ có Chúa mới có thể nói về Chúa. Đấng siêu việt không phải là một thực tại nhỏ bé nằm trong tầm hiểu biết của bộ óc con người hay của máy móc khoa học : Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, vượt cao hơn tất cả. Hãy để cho Chúa dạy bảo chúng ta. Phải đón nhận “Lời Chúa”, lời từ một nơi khác đến với chúng ta.

    Truyện : Hồng y Newman.

              Hồng y Newman trước kia đã từng giữ chức vụ cao trong Anh giáo và bổng lộc hằng năm là một số tiền khá lớn. Dù thuộc tầng lớp qúi tộc và hàng chức sắc cao cấp như vậy, nhưng ngài vẫn luôn có sự áy náy lương tâm về một số vấn đề liên quan đến đức tin tôn giáo khó lòng lý giải được. Thế rồi một ngày kia, sau khi đã dành nhiều thời giờ suy nghĩ tìm hiểu và so sánh giữa Anh giáo và đạo Công giáo, cuối cùng ngài quyết định từ bỏ mọi chức vụ và các đặc quyền đặc lợi để xin cải giáo theo Công giáo.  Biết được ý định của Newman, nhiều người thân là bà con và bạn bè đã đến thăm và đề nghị ngài suy nghĩ lại. Có người còn nêu cụ thể vấn đề bổng lộc như sau:”Trước khi quyết định, xin ngài hãy cân nhắc cẩn thận. Vì nếu ngài cải giáo  thì không những bị mất tất cả các chức danh và địa vị tinh thần, mà ngay cả lương bổng vật chất hàng năm không còn được  hưởng nữa”. Nhưng Newman đã thẳng thắn trả lời họ rằng:”Tiếc thì tôi cũng có tiếc thật. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Chức vụ, quyền hành và bổng lộc vật chất tuy đáng qúi, nhưng có đáng là gì nếu đem so sánh với những cái tôi nhận được khi tôi trở nên thành viên của Hội thánh Công giáo và tông truyền. Tôi sẽ được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần qua việc lãnh các bí tích, nhất là được ăn bữa tiệc Thánh Thể. Đó mới thực là bánh đem lại phúc trường sinh”.

              Sở dĩ Newman có được suy nghĩ sáng suốt  và quyết tâm cao như vậy, là do Ngài được Chúa Thánh Thần soi dẫn và đã thuận theo sự hướng dẫn ấy. Thực vậy, nếu không có ơn Thánh Thần, thì người ta chẳng những  sẽ không hiểu nổi các chân lý nói trên, mà sẽ còn tỏ ra khó chấp nhận những lời giảng dạy về mầu nhiệm Thánh Thể, như đám đông dân Do thái tại thành Capharnaum mà Tin mừng hôm nay đã thuật lại.

    1. Thánh Thể, nguồn sinh lực dồi dào.

              Để có thể tin vào mầu nhiệm Thánh Thể, người ta phải mở rộng tâm hồn trước những mạc khải và quyền lực siêu nhiên. Văn sĩ Charles Péguy đã nói:”Bí tích Thánh Thể, Bánh Hằng sống, không phải là những chuyện tầm thường ngang tầm tay chúng ta. Phải tìm kiếm vượt trên những gì hữu hình. Không ai đã thấy bao giờ ! Vậy để thấy rõ hơn, có lẽ chúng ta sẽ nhắm hẳn mắt lại, tránh mọi sự chia trí trong thế giới hữu hình, để tập trung vào cái “vô hình”.

              Người Kitô hữu cũng phải đi ngang qua sa mạc cuộc đời với bao gian nan trở ngại. Chúng ta cũng cần được Chúa nuôi dưỡng để đủ sức đi trọn cuộc hành trình về quê trời đời sau. Vậy chúng ta cần phải ăn thứ lương thực nào ? Chúa Cha đã ban cho ta bánh bởi trời là Đức Giêsu (x.Ga 6, 32-33). Đó là Bánh Thánh Thể, được ban để đem lại sự sống đời đời như Ngài đã nói:”Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống. Bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống (x.Ga 6, 48.51).

               Bánh ban Sự Sống còn là Lời Chúa như Đức Giêsu đã nói khi đương đầu với ma qủi cám dỗ:”Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”(Đnl 8,3 ; Mt 4,4). Ngài chính là Ngôi Lời hay lời nói của Thiên Chúa đã nhập thể làm người (Ga1,14) và chỉ mình Ngài mới có những lời mang lại sự sống đời đời (x.Ga 6,68).

              Tóm lại, Mình Máu Chúa là của ăn không những nuôi dưỡng linh hồn mà còn tăng thêm niềm tin, lòng yêu mến và hy vọng, giúp chúng ta sống hào hùng, sống tốt đẹp ở đời này và bảo đảm cho chúng ta hạnh phúc trường cửu đời sau. Vậy chúng ta hãy qúy mến phép Thánh Thể và siêng năng rước lễ để lãnh nhận những ơn ích và những hiệu quả cao qúy ấy.

    Về mục lục

    .

    SỰ SỐNG VĨNH CỬU

    Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Chúa Giêsu cho các môn đệ biết về cuộc sống vĩnh cửu và phương thế để có cuộc sống ấy.  Ga 6,41-51

    Người Do Thái, đặc biệt người làng Nazarét đã được sống gần gũi Chúa Giêsu.Họ đã được chứng kiến các phép lạ Ngài làm,những lời chân thật của Ngài, gương sáng Ngài nêu, họ cứ tưởng với

    đôi mắt, với lỗ tai phàm nhân họ đã biết rõ thân thế của Chúa Giêsu. Họ không có đức tin, do đó họ không nhận ra thiên tính của Chúa Giêsu và không tin lời Người nói. Họ tin vào Thiên Chúa và lời Kinh Thánh. Tuy nhiên, Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, Đấng Thiên Sai đang sống giữa họ thì họ không tin chỉ vì họ thiển cận, nông cạn nhìn với con mắt bình thường, nên không không thể nào tin nhận Chúa là Con Thiên Chúa. Họ chỉ biết Chúa   Giêsu là người thợ mộc, Cha của Người là bác Giuse thợ mộc và con của bà Maria nội trợ, anh em họ hàng của Người đang sống giữa họ, làm những nghề tầm thường trong xã hội vv… Tuy nhiên khi nói về cuộc sống vĩnh cửu thì ai ai cũng muốn có được cuộc sống ấy…

    Chúa Giêsu đã hướng con người về kho tàng không hư nát, về cuộc sống trường sinh. Chúa nói :” Ai đến với ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát “. Chúa đã đưa con người từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác của cuộc sống .Ngài không chê trách con người tìm kiếm của cải, lương thực để nuôi sống, tiền tài dự trữ cho lúc ốm đau vv…Ngài muốn con người đừng quá bám víu lấy những của cải ở trần gian mà quên đi sự sống vĩnh cửu, quên đi kho báu là Nước Thiên Chúa. Con người ai cũng muốn được trường sinh bất tử, nên khi Ngài nói về Nước Hằng Sống thì người phụ nữ bên bờ thành giếng Giacóp đã xin cho bằng được Ngài ban cho thứ nước đó và chị loan báo cho nhiều người trong làng đi gặp Chúa để xin thứ nước đó. Cuộc sống vĩnh cửu hôm nay, Chúa đã mạc khải :” Ta là Bánh ban Sự Sống…Ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời “ ( Ga 6, 47 ). Sự sống đời đời rất nhiều người đang tìm, đang muốn có. Nên, họ tuôn đến nghe Chúa Giêsu giảng dạy.Bánh Trường Sinh Chúa xác nhận là chính Đức Giêsu, nguồn mạch trường sinh. Đức Kitô đang hiện diện với nhân loại, với chúng ta qua Bi Tích Thánh Thể.Ngài hiện diện mọi ngày trong nhà chầu. Ngài hứa :” Nơi đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Ta, Ta sẽ ở đó với họ “ ( Mt 18, 20 ). Chúa hiện diện với nhân loại qua Lời của Người.  Người hiện diện nơi các Vị lãnh đạo qua Bí Tích Truyền chức thánh :” Ai nghe các con là nghe Ta “ ( Lc 10, 16 ). Người hiện diện trong Giáo Hội và ở cùng Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế. Chúa hiện diện với chúng ta như Ngài nói trong bài Tin Mừng hôm nay :” Ta là Bánh Hằng Sống, ai ăn Bánh này sẽ  được sống đời đời :” Và khi chúng ta hiểu rõ những lời này, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu ngỏ lời với chúng ta :” Phúc cho các ngươi khi các ngươi thấy được các điều các ngươi đang thấy ! Ta nói cho các ngươi biết nhiều tiên tri và vua chúa  từng ao ước thấy điều các ngươi đang thấy, nghe được điều các ngươi đang nghe, mà không thể được “ ( Lc 10, 23-24 ).

    Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì muôn hồng ân Chúa đã ban cho chúng con. Chúa đã nuôi dưỡng chúng con không chỉ bằng cơm bánh, mà Chúa còn dùng chính Mình Máu Thảnh là chính Thân Xác của Chúa để nuôi chúng con. Chúa đã ban cho chúng con sự sống đời đời vì chính Chúa đã quả quyết :” Ta là Bánh Trường Sinh…Ta là Bánh ban Sự Sống “. Xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tin tưởng, tín thác vào Chúa vì Chúa chính là ơn cứu độ cho chúng con.Xin giúp chúng con luôn nhận ra sự hiện diện của trong Kinh Thánh vì đọc Lời Chúa là nghe Chúa đang nói với chúng con. Xin cho chúng con luôn mến yêu và tôn kính Bí Tích Thánh Thể vì chính Chúa đang nuôi sống và ban cho chúng con sự sống vĩnh cửu. Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Sự Sống vĩnh cửu là gì ?

    2.Chúa đã quả quyết Chúa là ai ?

    3.Chúa hiện diện ở những nơi nào ?

    4.Tại sao người Do Thái không nhận ra Chúa là Đấng Thiên Sai, Đấng Mêsia ?

    Về mục lục

    .

    BÁNH HẰNG SỐNG-

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Thiên Chúa đã nuôi dân Do Thái bằng mana xuyên suốt hành trình 40 năm trên đường về Đất Hứa. Thiên Chúa bồi bổ cho ngôn sứ Êlia bánh và nước trong cuộc đăng sơn Khôrep. Thiên Chúa ban Bánh Hằng Sống cho nhân loại đang lữ hành tiến về quê trời.

    1. Mana nuôi dân Chúa trong sa mạc

    Trước bánh Thiên Chúa ban, con cái Israel liền hỏi nhau: “Man hu?”, nghĩa là: “Cái gì đây?”. Ông Môsê bảo họ: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn!”. Bánh Thiên Chúa ban, họ chỉ biết gọi là mana, một tên gọi dưới dạng câu hỏi. Vẫn còn đó khía cạnh mầu nhiệm cần được vén tỏ.

    Theo “Từ điển Công Giáo”: Mana có gốc tiếng Hipri là (man hu – cái gì đây; x. Xh 16,15), là một loại thức ăn Thiên Chúa đã ban cho dân Israel trong sa mạc, trên hành trình về Đất Hứa. Mana rơi xuống quanh trại vào mỗi buổi sáng “giống như hạt ngò, màu trắng và mùi vị tựa bánh tráng tẩm mật ong” (Xh 16,31).

    Điều quan trọng đối với Thánh Kinh không phải là bản chất thể lý, nhưng là giá trị tượng trưng của nó. Câu hỏi của con cái Israel “Man hu?” (Cái gì đây?) đã nói lên tích cách huyền nhiệm của nó. Mana tiêu biểu cho một ân huệ kỳ diệu của Thiên Chúa trong việc chăm sóc Dân Ngài.

    Trong Tân ước Chúa Giêsu dùng Mana để chỉ “Bánh Bởi Trời”, “Bánh Trường Sinh” là chính Người, ban cho các tín hữu trong Bí Tích Thánh Thể” (Ga 6,32-35). (x.Từ điển Công giáo, trang 226).

    1. Bánh nuôi ngôn sứ Êlia lên núi Khôrep

    Sau khi vua Salomon băng hà, đất nước Israel chia đôi: vương quốc Israel, phương Bắc, vương quốc Giuđa phương nam (1V 12). Tại Israel, vua Omri (885-874 tcn) đã lập một dòng vua mới và đặt kinh đô tại Samari. Con của Omri là vua Akháp (875 – 853 tcn) xây cất thành lũy và cung điện. Israel dưới thời Akháp khá thịnh vượng. Công việc thương mại tạo nên những tương quan thuận lợi với các nước lân bang, nhưng đồng thời cũng gây nên một tiêm nhiễm văn hóa và tôn giáo ngoại lai. Điển hình của việc suy đồi tôn giáo là cuộc hôn nhân của vua Akháp với Ideven, con gái vua Xiđôn (1V 16,29-34). Ideven du nhập đạo ngoại vào Israel, xây dựng đền thờ thần Baan tại Samari, tổ chức cộng đồng các Ngôn sứ thần Baan. Đạo Giavê bị bách hại. Chính trong hoàn cảnh đó, sách các Vua nói đến hoạt động của hai Ngôn sứ Êlia và Êlisê (1V17 ; 2V 13).

    Ngay từ khi Israel đặt chân lên Canaan, tôn giáo Canaan và việc thờ thần Baan đã là mối ưu tư và nguy hiểm cho niềm tin vào Giavê. Mối nguy hiểm cũng như sự tiêm nhiễm đạo ngoại lai ấy ngày càng gia tăng qua sự phát triển kinh tế, tương quan thương mại với các dân tộc lân bang và đạt tới cao điểm vào thời Akháp. Đây không phải là việc từ bỏ đức tin truyền thống của cha ông vào Thiên Chúa Giavê, nhưng đúng hơn là sự pha trộn đạo Giavê với tôn giáo Canaan. Baan là vị thần của mưa gió, của sức mạnh thiên nhiên, của phú túc. Đối với dân, đây quả là vị thần lý tưởng cho cuộc sống chủ yếu là nông nghiệp thời bấy giờ. Êlia xuất hiện như vị anh hùng bảo vệ đạo Giavê, chống lại mọi pha trộn, mọi thỏa hiệp. Ông quả là người hùng của Thiên Chúa duy nhất và chân thật của Israel.

    Cuộc so tài trên núi Carmen giữa Êlia và các ngôn sứ thần Baan được hoàng hậu Ideven bảo trợ, có mục đích cho dân nhận định rõ ai là Chúa thật tại Israel: Giavê hay Baan. Các ngôn sứ Baan làm mọi cách: kêu cầu, nhảy múa, rạch mình, nhưng không có hiệu quả. Êlia kêu cầu Thiên Chúa. Giavê trả lời bằng một phép lạ chứng tỏ Ngài là Chúa các năng lực thiên nhiên. Người chính là Thiên Chúa của toàn thể vũ trụ (1V 18,17 – 40).

    Bài đọc 1 thuật lại cuộc hành trình của ngôn sứ Êlia trong sa mạc tiến đến núi Khôrép. Êlia chạy trốn trước sự trả thù bách hại của Ideven. Trên đường đi, Êlia đói lã và chán nản thất vọng. Sứ thần Chúa mang đến cho ông bánh và nước. “Ông dậy ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực bổ dưỡng ấy, ông đi suốt 40 ngày, 40 đêm tới Khôrép là núi của Thiên Chúa”. Tại Khôrep, ông được gặp Đức Giavê. Ông lấy lại được niềm tin và tiếp tục sứ mệnh tái lập một Israel đích thực.

    Bốn trăm năm đã trôi qua giữa ngôn sứ Môsê và ngôn sứ Êlia. Danh tiếng của hai vị được liên kết với đỉnh núi Khôrep, núi thánh của Đức Chúa. Hai nhận vật Cựu Ước danh tiếng lừng lẫy nầy sẽ cùng nhau tái xuất hiện trên đỉnh núi Tabor.

    Các Giáo phụ nhìn 40 ngày hành trình của Êlia như gợi lại cuộc hành trình của Israel trong hoang địa tiến về đất hứa,40 ngày chay tịnh của Môisê (Xh 34,28), tiên trưng việc Chúa Giêsu ăn chay 40 đêm ngày trươc khi thi hành sứ vụ công khai. Các Giáo phụ cũng nhìn thấy nơi những chiếc bánh mà sứ thần trao cho Êlia là hình ảnh tiên báo phép Thánh Thể nuôi dưỡng tín hữu trên đường dương thế tiến về quê trời. Lương thực nuôi dưỡng Êlia trở thành biểu tượng cho của ăn đi đường cho Kitô hữu trong suốt cuộc hành trình trần gian. Các thế hệ Kitô hữu đã xem Êlia như võ sĩ vô địch về đức tin. Các đan viện, các dòng tu nhìn Êlia như vị tiền phong của mọi nổ lực từ bỏ nếp sống trần tục để đi vào trong thinh lặng và nội tâm, tìm kiếm Thiên Chúa. Đó là con đường đầy thử thách, nhưng chắc chắn sẽ gặp thần lương đi đường cho những ai có thiện chí.

    1. Bánh Hằng Sống nuôi tín hữu lữ hành về quê trời.

    Chúa Giêsu Kitô là Bánh Hằng Sống, Bánh bởi Trời, Bánh ban sự sống cho cả nhân loại. Nhưng làm sao mà con người có thể lãnh hội được ngay mạc khải quan trọng ấy. Vì thế, đã có tiếng xầm xì to nhỏ: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Người Do thái có đủ lý do để nghi ngờ những lời nói của Chúa Giêsu: Ngài đang sống ở giữa họ như một người giữa mọi người vậy mà Ngài bất ngờ tuyên bố mình từ trời xuống. Chúa Giêsu đòi hỏi họ hãy tin vì Ngài là Đấng ban sự sống và Ngài từ Chúa Cha mà đến. Ngài là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa Cha. Gặp gỡ Ngài là gặp gỡ Thiên Chúa Hằng Sống. Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Bánh Hằng Sống. Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, ai ăn thì khỏi phải chết”. Chúa Giêsu tuyên bố: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Thánh Thể được mạc khải một cách minh nhiên ngay từ bây giờ với điểm nhấn trên hy tế cứu độ trong mầu nhiệm thập giá. Sự sống vĩnh cửu hàm chứa trong mầu nhiệm Thánh Thể.

    Cho tới Bữa Tiệc Ly và Hy Tế Thập Giá, khi Chúa Kitô tự nguyện nộp mình, như hạt lúa bị nghiền nát để trở nên tấm bánh cứu độ cho tất cả nhân loại, người ta mới hiểu và tin vào lời mạc khải về Bánh Hằng Sống.

    Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép; nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.

    Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chính là một hy lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Trong hy lễ này, Người vừa là tư tế vừa là lễ vật. Trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đổ máu ra. Bằng cái chết cứu độ, Người đã thiết lập giao ước mới. Tự nguyện làm “Con Chiên Vượt Qua” bị sát tế, Chúa Giêsu đã lập phép Thánh Thể để lễ vật bị sát tế ấy là chính Người trở nên của ăn tâm linh nuôi dưỡng con người.

    Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí Tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

    Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá.

    Thánh Thể, Tấm Bánh Chúa Kitô bẻ ra cho sự sống thế giới; Thánh Thể Mình Máu Chúa Kitô trao ban cho cả nhân loại; Thánh Thể tình yêu đã trở nên thực phẩm vun bồi sự sống cho hôm nay trên đường dương thế và cho mai sau trong hạnh phúc Nước Trời.

    Trong cuộc hành trình tiến tới sự sống viên mãn với Thiên Chúa là Cha, chính Chúa Giêsu là lương thực bổ dưỡng con người.

    Trong bài đọc 2, thánh Phaolô mời gọi các tín hữu hãy sống hoàn thiện theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thánh Thần, bắt chước Thiên Chúa và thực hành đức ái như Đức Kitô. “Vậy anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt”. Những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, phải sống đức tin bằng đức ái.

    Ai rước Mình Máu Chúa Kitô sẽ có sự sống Chúa Kitô. Chúa Kitô sống trong họ và họ được hiệp thông sống trong Người.

    Ai nhận Mình Máu Chúa Kitô sẽ cùng tham dự một sự sống, nên trở thành anh em với nhau, sống đức ái và trở nên chứng nhân của Chúa Kitô.

    Tạ ơn Chúa đã ban Bánh Hằng Sống, quà tặng tình yêu thần linh cho chúng con. Mỗi lần rước Bánh Thánh Thể với lòng sốt mến kính cẩn chúng con được cảm nến hương vị thiên đàng. Chúng con tạ ơn Chúa đã luôn nuôi dưỡng và dẫn đưa chúng con vào sự sống đời đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    NGƯỜI CÕI TRÊN

    Trầm Thiên Thu

    Có lần Chúa Giêsu đã xác định: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13). Đó là Ngài nói về Ngài, thế thì đích thực Ngài là “người cõi trên”, thuộc thượng giới, thế nhưng Ngài lại tự nguyện sống và làm việc ở hạ giới – trần gian. Chuyện khó tin mà có thật. Và cũng vì “khó tin” nên “không tin”, cụ thể là người Do Thái, tới nay mà họ vẫn không tin Đức Giêsu Kitô là Đấng Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta – Đấng Emmanuel.

    Chúa Giêsu mặc xác phàm nhưng Ngài vẫn là Thiên Chúa, đặc biệt là có hai bản tính – thần tính và nhân tính. Về nhân tính, Ngài trở nên giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi, nghĩa là Ngài cũng có nhu cầu ăn uống, và Ngài cũng cảm thấy đói (Mt 4:2; Mt 21:18).

    Ăn uống cần thiết để duy trì sự sống, nhưng ăn không phải là bỏ vô miệng rồi nhai và nuốt, mà còn cần biết thực phẩm đó có hóa chất hoặc độc tố hay không, đặc biệt là phải bảo đảm đủ dưỡng chất. Điều đó liên quan vấn đề dinh dưỡng. Dinh dưỡng là gì? Dinh dưỡng là khoa nghiên cứu mối liên quan giữa thực phẩm và cơ thể, đó là quá trình cơ thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, sinh trưởng và phát triển bình thường của các mô và cơ quan, và để sinh năng lượng, cũng như các phản ứng của cơ thể đối với việc ăn uống, sự thay đổi khẩu phần và các yếu tố khác có liên quan bệnh lý.

    Chất dinh dưỡng rất cần thiết trong việc phát triển cơ thể hợp lý và khỏe mạnh. Chất dinh dưỡng là chất bổ dưỡng, là vitamin, nếu thiếu nó thì cơ thể suy yếu và sinh bệnh tật, nhưng nếu nó nhiều quá cũng bất lợi cho sức khỏe, do đó mà phải có mức cân bằng hợp lý với cơ thể. Nói đến dinh dưỡng có “dính líu” tới ẩm thực, tức là ăn uống.

    Sau một ngày đường trong sa mạc, ông Ê-li-a đến ngồi dưới một gốc cây kim tước (ulex europaeus – loài cây bụi thường xanh, lưu niên và có gai, mọc thành bụi rậm rạp. Cây này mọc phổ biến ở những khu vực đất đã được khai khẩn, trên thảm cỏ, ở bìa rừng, ven biển và những vùng đất hoang. Loại cây này phát triển tốt và khó tiêu diệt khi chúng đã thích nghi và phát triển). Ông xin cho được chết và nói: “Lạy Đức Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con” (1 V 19:4). Câu này cho thấy ông khiêm nhường và tự cảm thấy hổ thẹn vì cũng chẳng hơn gì ai. Rồi ông nằm dưới cây kim tước đó và thiếp đi. Nhưng có một thiên sứ đụng vào người ông và gọi ông dậy ăn (1 V 19:5).

    Giật mình thức giấc, ông ngơ ngác đưa mắt nhìn thì thấy ở phía đầu ông có một chiếc bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước. Quá đã! Buồn ngủ gặp chiếu… hoa (chứ chẳng phải “chiếu manh” đâu). Đang đói, ông liền ăn bánh và uống nước, nhưng rồi lại nằm xuống – không phải để ngủ mà… chờ chết. Thiên sứ của Đức Chúa trở lại lần nữa, đụng vào người ông và nói: “Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa” (1 V 19:7). Ông lại dậy, lại ăn bánh và uống nước. Đúng là thần lương, ăn vô thấy khỏe re. Cũng nhờ loại lương thực đặc biệt nhiều dưỡng chất đó mà ông đủ sức đi ròng rã suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm để tới Khô-rếp, núi của Thiên Chúa.

    Hằng ngày chúng ta cũng được lãnh nhận Thần Lương do Chúa ban – loại thực phẩm đặc biệt “Made in Heavens” (làm tại Nước Trời), không chỉ cho cơ thể mà quan trọng hơn là cho linh hồn. Đó là những hồng ân, Lời Chúa, và đặc biệt là Thánh Thể. Vì thế, như tục ngữ Việt Nam nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, chúng ta phải chân thành quyết tâm như Thánh Vịnh gia: “Tôi sẽ KHÔNG NGỪNG chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người CHẲNG NGỚT trên môi” (Tv 34:2), đồng thời làm nhân chứng cho Thiên Chúa: “Linh hồn tôi HÃNH DIỆN vì Chúa, xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người. Tôi đã TÌM KIẾM Chúa, và Người đáp lại, GIẢI THOÁT cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng” (Tv 34:3-5). Thật vậy, bất cứ “ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi” (Tv 34:6), và với kinh nghiệm dày dạn, Thánh Vịnh gia minh định: “Từ nhỏ dại tới nay tôi già cả, CHƯA THẤY người công chính bị bỏ rơi, hoặc dòng giống phải ăn mày thiên hạ” (Tv 37:25).

    Chắc hẳn không ai lại không đã từng hơn một lần được nhận ơn lành của Chúa – thậm chí là nhận quá nhiều, vì thế chúng ta lại càng phải minh chứng: “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:70). Và cũng chắc chắn rằng “sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh để giải thoát những ai kính sợ Người” (Tv 34:8). Cứ thật lòng suy nghĩ xem điều đó có đúng hay không. Nếu thực sự đúng, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm phải chia sẻ với người khác: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (Tv 34:9). Không ai có thể phủ nhận. Và điều đó có liên quan vấn đề mà tiểu thuyết gia René François Bazin (người Pháp, 1853-1932) đề cập: “Con người, dù là người không tin, cũng có một nhu cầu được thánh thiện, ngay khi họ nhận ra sự thánh thiện, họ liền chạy theo”. Thật lạ!

    Cuộc sống luôn có tính liên đới. Do đó, ai càng lãnh nhận nhiều thì càng “mắc nợ” Chúa, và tất nhiên càng phải làm chứng về Ngài. Việc chúng ta ca tụng Chúa không thêm gì cho Chúa nhưng sinh ích lợi cho chính chúng ta (Kinh nguyện Thánh Thể). Thánh Phaolô khuyến cáo: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc” (Ep 4:30). Không chỉ bổn phận đối với Chúa, Thánh Phaolô còn nói về bổn phận yêu thương đối với đồng loại: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4:31-32). Thế nhưng, trong đời sống thường nhật, chúng ta chưa thể hiện đúng mức, thậm chí có khi còn “trái ngược” với đức yêu thương, ngay cả lúc chúng ta mệnh danh là người hoạt động trong các hội đoàn. Chưa thương xót người thân cận thì làm sao có thể yêu kẻ thù (x. Mt 5:44; Lc 6:27) và tha thứ “bảy mươi lần bảy” (x. Mt 18:22) như Chúa Giêsu đã truyền dạy? Thánh Gioan gọi là “nói dối” (1 Ga 2:4; 1 Ga 4:20).

    Đề cập nhiệm vụ yêu thương, Thánh Phaolô giải thích: “Hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, Người đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5:2). Rất dễ hiểu!

    Vô cùng kỳ diệu vì vượt quá trí hiểu phàm nhân khi Chúa Giêsu đã có cách độc nhất vô nhị là “lấy Thịt Máu Ngài làm lương thực nuôi dưỡng chúng ta”. Không thể nào chúng ta khả dĩ hiểu hết sự mầu nhiệm này. Vì thế, người Do-thái đã xầm xì phản đối khi nghe Đức Giêsu nói: “Tôi là bánh từ trời xuống” (Ga 6:41). Nghe “sốc” quá, muốn lộn gan và muốn điên lên được! Rồi họ đặt vấn đề: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?” (Ga 6:42). Ui da, nghe mà nổi da gà và khó tin quá đi, bởi vì “anh chàng” Giêsu này ở cùng xóm lao động với họ, hằng ngày ra vào chạm mặt nhau, thế mà bây giờ bỗng dưng “nói rước” lên về mình thái quá. Ai mà chịu nổi chứ? Nhà Chú Giuse và Cô Maria nghèo rớt mồng tơi, ai còn lạ gì trong xóm nhỏ ở cái làng Nadarét bằng cái bàn tay ấy? Quen mặt, biết tên hết trơn!

    Thế nhưng Chàng Giêsu vẫn thản nhiên và nói thẳng: “Các ông đừng có xầm xì với nhau!” (Ga 6:43). Ôi, lạ thế nhỉ? Họ nói thầm với nhau mà Chúa Giêsu cũng biết. Lạ lùng thật! Rồi Ngài nói tiếp: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy, và Tôi, Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:44). Hết bất ngờ này tới bất ngờ khác, chắc lúc đó họ ngẩn người trông ngố còn hơn “chú Tàu nghe kèn”. Miệng chữ A, mắt chữ O, họ chưa hết kinh ngạc thì lại nghe Ngài nói: “Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha thì sẽ đến với Tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời” (Ga 6:45-47). Lạ lùng lắm, lạ tới mức chịu không nổi nữa!

    Sự thật vẫn là sự thật, mặc dù người ta không tin. Chúa Giêsu lặp lại và giải thích: “Tôi là BÁNH TRƯỜNG SINH. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là BÁNH TỪ TRỜI xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là BÁNH HẰNG SỐNG từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6:49-51). Lại càng khó lọt tai hơn. Ai lại ăn thịt sống và uống máu sống chứ? Nhưng đó hoàn toàn là sự thật. Và điều đó chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ làm được. Chúng ta cũng phải đấm ngực và bắt chước viên đại đội trưởng mà thốt lên: “Đúng người này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54). Và rồi từ đó tới nay, đã có nhiều phép lạ Thánh Thể để củng cố đức tin cho chúng ta.

    Có câu chuyện lý luận về Thánh Thể như thế này…

    Palestine là một vùng đất hiện vẫn còn rất đông người theo đạo Hồi. Một hôm, một vị thầy lãnh đạo một cộng đoàn Hồi giáo mời một linh mục Công giáo đến để công khai tranh luận về bí tích Thánh Thể trước sự hiện diện của các tín hữu đôi bên. Vị thầy hỏi:

    – Làm sao một miếng bánh nhỏ lại có thể trở thành Đức Kitô được?

    Vị linh mục trả lời:

    – Được chứ sao lại không? Tôi xin minh chứng cho thầy biết bằng một thí dụ đơn sơ. Nếu thầy ăn cơm, thầy có thể biến cơm thành máu thịt của thầy, có thật thế không nào? Vậy thì tại sao Chúa lại không biến tấm bánh nhỏ trở thành máu thịt Chúa được?

    Bậc thầy đó lại hỏi tiếp:

    – Làm sao Đức Kitô to lớn như thế lại có thể ở trong miếng bánh nhỏ xíu?

    Vị linh mục trả lời:

    – Thầy hãy nhìn trời, nhìn núi và các thôn làng. Bầu trời thì mênh mông. Ngọn núi thì cao lớn hùng vĩ, còn thôn làng thì rộng rãi bao la, thế mà con mắt nhỏ xíu của thầy có thể chứa được tất cả. Nếu con mắt của Thầy làm được chuyện đó thì tại sao Thiên Chúa lại không thể làm cho miếng bánh nhỏ xíu chứa đựng được Đức Kitô.

    Bậc thầy không chịu thua lại hỏi thêm:

    – Làm sao có thể cử hành nhiều thánh lễ cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới, mà mỗi thánh lễ lại có Mình và Máu của Đức Kitô được?

    Vị linh mục đáp:

    – Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được.

    Rồi để chứng minh cho câu trả lời này, vị linh mục lấy một tấm gương ném xuống đất khiến nó bể tan thành rất nhiều mảnh nhỏ. Tiếp đến, vị linh mục giơ tay chỉ cho bậc thầy đang ngạc nhiên và nói:

    – Trước đây trong tấm gương này, thầy trông thấy gương mặt mình có phải không nào? Và bây giờ thầy cũng trông thấy gương mặt mình trong từng mảnh nhỏ. Thế thì tại sao Thiên Chúa lại không thể hiện diện tại nhiều nơi trong cùng một lúc được.

    Cuộc tranh luận trên giúp chúng ta hiểu được phần nào mầu nhiệm Mình Máu Thánh Đức Giêsu Kitô mà Giáo Hội cử hành bí tích Thánh Thể mỗi ngày. Vậy chúng ta phải có thái độ nào khi đi tham dự Thánh lễ?

    Hãy nghe Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta qua Thánh nữ Faustina:

    – “Ta rất đau lòng khi các linh hồn lãnh nhận bí tích yêu thương này như một thói quen, hầu như họ không nhận thức được của ăn này, cho nên họ không có niềm tin hay tình yêu đối với Ta trong trái tim họ. Ta bước vô những tâm hồn đó với tất cả sự miễn cưỡng, thà rằng họ đừng rước lễ thì hơn” (Nhật Ký, số 1258).

    – “Niềm vui thích lớn lao của Ta là được kết hợp với các linh hồn… Khi họ rước lễ, Ta đến ngự trong tâm hồn họ. Bàn tay Ta đầy những ân sủng mà Ta muốn ban cho họ, nhưng họ không để ý đến Ta. Họ để Ta thui thủi một mình và bận bịu với những ý nghĩ riêng tư của họ. Ôi, buồn biết mấy vì những linh hồn không nhận biết tình yêu của Ta! Họ đối xử với Ta như một vật chết” (Nhật Ký, số 1385).

    – “Thật đau đớn cho Ta, rất ít linh hồn biết kết hợp với Ta trong lúc đón rước Ta. Ta chờ đợi họ, nhưng họ rất lãnh đạm thờ ơ với Ta. Ta muốn ban rất nhiều ơn cho họ nhưng họ không muốn nhận lãnh” (Nhật Ký, số 1447).

    Lạy Thiên Chúa, chúng con tạ ơn Ngài đã sai Con Một Ngài đến trần gian để cứu độ chúng con, xin giúp chúng con luôn sống xứng đáng với hồng ân được lãnh nhận và luôn biết quyết tâm noi gương Đức Giêsu Kitô trong mọi hoàn cảnh, xin giúp chúng con chuẩn bị chu đáo để xứng đáng lãnh nhận Bánh Thánh Giêsu và được phúc trường sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    HÃY MỞ TÂM HỒN

    Anna Cỏ May

    Trong Tin Mừng Chúa Nhật XVIII Thường Niên, dân chúng đã nói với Chúa Giê-su rằng: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.”. Chúa Giê-su trả lời: “Chính tôi là Bánh Trường Sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói, ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ.”(Ga 6, 34-35). Nghe những lời Chúa Giê-su nói xong, một số người Do thái trong đám đông liền quay lại xầm xì với nhau. Họ xầm xì về những gì?

    Họ đã nói với nhau: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi là bánh từ trời xuống.”? Họ xầm xì với nhau về những chuyện mà họ thấy, họ biết. Họ chỉ nhìn ở phía bên ngoài của cuộc sống. Đối với họ, người từ trời xuống phải là một người cao trọng nào đó, chứ không phải là một người thấp hèn, khổ cực được. Họ chỉ nói to nhỏ cho nhau nghe thôi. Vậy mà, Chúa Giê-su đã nghe được điều họ nói, liền đáp rằng: “Các ông đừng có xầm xì với nhau!”(Ga 6,43). Người bắt đầu nói với họ về sự lôi kéo của Chúa Cha nơi những ai đến với Ngài. Và từ nơi Ngài, mọi người sẽ được hưởng sự sống vĩnh cửu bởi Bánh Hằng Sống. Tổ tiên họ ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết, còn bánh Ngài trao là bánh đem sự sống muôn đời (x. Ga 6, 44-51). Nhưng rồi người Do thái có chịu tin không? Thái độ xầm xì với nhau về Chúa Giê-su của họ, đã tỏ lộ một sự khó tin, khó chấp nhận.

    Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có xầm xì khi đến với Chúa không? Khi đến tham dự Thánh lễ, chúng ta mang tâm tình, thái độ nào? Một thái độ sốt sắng hay hờ hững hoặc ở trước mắt Chúa nhưng ta vẫn làm việc ta. Đó là một kiểu xầm xì tinh vi mà có khi chúng ta không hay biết. Ngày hôm nay, Giáo hội đang gặp khó khăn trước vấn đề Đức tin nơi các mọi Ki-tô hữu. Những lời xầm xì của thế gian đang len lỏi vào tâm hồn của mỗi người, khiến cho mọi người càng khó tin Chúa Giê-su là bánh Trường Sinh và ngay cả chính bản thân chúng ta cũng không ý thức đủ. Vậy chúng ta phải làm sao? Nhớ lại lời Chúa Giê-su nói: “Ai tin sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.” Mỗi chúng ta cùng tha thiết xin Chúa Giê-su thêm tình yêu, sự khao khát, ơn biến đổi nơi chúng ta. Nhờ đó, chúng ta sẽ có cơ hội tham dự vào sự sống trường sinh là Nước Trời.

    Lạy Chúa, chúng con đang lần bước trên đường đời, đi tìm sự sống giữa những u tối. Xin ánh sáng chân lý Chúa soi dẫn lý trí chúng con. Để nhờ đó, chúng con ý thức hơn khi đến với Ngài và tin Ngài là bánh Trường Sinh. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỂ CÓ THỂ TIN PHẢI GIỮ TÂM HỒN RỘNG MỞ

    Lm Trần Bình Trọng

    Phúc âm tuần trước ghi lại đám đông dân chúng đi theo Ðức Giêsu sang bên kia bờ hồ Galilê. Họ nhắc lại chuyện tổ tiên họ đã ăn man-na trong sa mạc do Môsê ban phát (Ga 6:31).

    Ðức Giêsu bảo họ bánh mà Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian (c. 33), họ liền xin cho được bánh đó (c. 34).

    Dân chúng trong Phúc âm hôm nay đã phải nghe biết về phép lạ Ðức Giêsu làm khi biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana và phép lạ Người chữa con của viên sĩ quan cận vệ nhà vua cũng ở Cana miền Galilê, vì họ cũng là người Galilê. Và chính họ đã ăn bánh do phép lạ Ðức Giêsu làm ở bờ hồ Galilê khi họ đói. Thấy dấu lạ, họ bảo nhau ông này phải là vị ngôn sứ Thiên Chúa sai đến. Họ nói như vậy vì họ phải biết có những ngôn sứ trong Cựu ước cũng đã làm được phép lạ.

    Tuy nhiên khi Ðức Giêsu phán tại Ca-phác-na-um, chính Người là bánh bởi trời xuống (Ga 6:41) thì họ lại tẩy chay Người. Họ cho rằng họ biết tất cả về gia cảnh, thân thế và sự nghiệp của Chúa. Theo họ thì Ðức Giêsu chỉ là con ông thợ mộc Giuse và bà Maria nội trợ, sống ẩn dật giữa họ hơn ba mươi năm nơi phố nhỏ tầm thường tại Nadarét. Như vậy thì làm sao Người có thể nói Người bởi trời mà xuống được (Ga 6:42)? Làm sao Người có thể mời gọi họ đặt niềm tin nơi Người? Làm sao Người có thể ban cho họ bánh hằng sống? Do đó mà người Việt nam mới truyền tụng những kiểu nói như: quen quá hoá nhàm để chỉ cho thấy không có gì mới lạ hay gần chùa gọi bụt bằng anh để chỉ thái độ coi thường người trên.

    Ðể có thể chấp nhận lời giảng dạy của Đức Giêsu về bánh hằng sống trong Phúc âm hôm nay, khác với bánh man-na mà cha ông họ đã ăn trong sa mạc, Ðức Giêsu muốn họ đặt niềm tin nơi Người là Ðấng từ trời xuống trước đã, nghĩa là họ phải tin Người là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên đối với họ, việc tin Người là con Thiên Chúa lại đặt ra một vấn đề gai góc cho họ. Từ trước đến nay người Galilê nói riêng và người Do thái nói chung chỉ thờ một Thiên Chúa. Tôn giáo của họ là tôn giáo độc thần. Vì thế khi Ðức Giêsu khẳng định Người từ trời xuống, và là con Thiên Chúa thì lại đưa vào đầu óc họ ý tưởng đa thần, nghĩa là có hơn hai thần, hơn hai chúa. Như vậy làm sao họ có thể chấp nhận hai chúa được?

    Tuy nhiên Ðức Giêsu vẫn giữ lập trường giảng dạy mà nói rằng Người là bánh hằng sống từ trời xuống (Ga 6:41); ai được Chúa Cha lôi kéo đến cùng Người thì Người sẽ cho sống lại ngày sau hết (c. 44); ai tin vào Người thì có sự sống đời đời (c. 47). Nói như vậy là Ðức Giêsu coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Ðối với người không tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì đó là lời nói phạm thượng đến Thiên Chúa. Mà nếu Ðức Giêsu phạm tội phạm thượng thì làm sao Người có thể làm phép lạ được? Những người không tin, như những người trong Phúc âm hôm nay có thể trả lời: hoặc họ không hiểu, hay phép lạ là do sản phẩm của môn đệ của ông Giêsu bầy ra.

    Không phải chỉ có những người Galilê mới từ chối việc tin tưởng vào Ðức Kitô là Con Thiên Chúa và là bánh hằng sống. Bài trích sách các Vua hôm nay mô tả nỗi chán nản của ngôn sứ Êlia, được sai đến vương quốc miền bắc là It-ra-en rao giảng tôn giáo thật, chống lại những quyền lực mà bà hoàng hậu I-de-ven ngoại đạo đã đưa vào đất nước. Nản chí vì dân cứng lòng tin và hoàng hậu I-de-ven còn tìm cách sát hại, Êlia trốn lên núi Khô-rếp, không còn muốn ăn uống. Thiên thần Chúa hiện ra đem bánh bảo ông ăn để lấy sức đi tiếp (1 V 19:4-8).

    Vậy để có thể tin, người ta phải giữ tâm hồn rộng mở trước những mạc khải và quyền lực siêu nhiên. Nói cách khác người ta cần loại bỏ những thành kiến và định kiến về đạo và người giảng đạo. Có bao giờ ta chủ trương giữ đạo tại tâm, cho rằng không cần đến nhà thờ đọc kinh, dự lễ, mà chỉ cần giữ đạo trong lòng là đủ không? Có bao giờ ta cho rằng việc đọc kinh, dự lễ là việc của đàn bà con nít chăng? Có bao giờ ta chỉ muốn giữ đạo theo sở thích, cá tính riêng của mình, hứng thì giữ đạo, không thì bỏ cuộc? Có bao giờ ta cho rằng đạo phải phù hợp với ước muốn cá nhân, đạo phải thế nọ thế kia chăng?

    Hôm nay mỗi người cần xin Chúa giúp cho mình biết loại bỏ những thành kiến về đạo và người giảng đạo và ban cho được mở rộng tâm hồn đón nhận lời Chúa và Mình thánh Chúa, là bánh hằng sống, bánh làm no thoả những khát vọng thiêng liêng của tâm hồn, bánh đem lại sự sống vĩnh cửu.

    Lời cầu nguyện xin cho được ơn mở rộng tâm hồn trước quyền lực siêu nhiên:

    Lậy Chúa Giêsu! Ngôi Lời nhập thể của Thiên Chúa!

    Xin làm mới lại đức tin của con

    vào sự hiện diện thực sự của Chúa trong Bí tích Thánh thể.

    Xin loại bỏ tâm trạng ‘quen quá hóa nhàm’ nơi con.

    Và xin tha thứ những lần con đóng cửa lòng lại

    trước lời mời gọi của Chúa

    vào việc tin và ăn bánh hằng sống. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÔI LÀ BÁNH TỪ TRỜI XUỐNG

    Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

    Chúa nhật trước, Đức Giêsu kêu gọi dân chúng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hư nát, nhưng để có lương thực trường sinh”.

    Chúa nhật hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh đến thứ lương thực đó là bánh từ trời xuống “Tôi là bánh từ trời xuống”.

    Rất nhiều dân tộc trên thế giới chủ trương tổ tiên của họ là người từ trời xuống. Đoạn văn về Sáng Thế trong kinh Digha Nykaya của Phật giáo viết như sau: Có ít dân trời hết nghiệp tốt, phải bỏ trời xuống mặt đất. Họ vẫn sáng láng thanh tịnh. Nhưng xảy ra có mấy người tò mò lấy ngón tay động vào vỏ đất rồi đưa lên lưỡi nếm thấy mùi mật ong. Lòng tham thúc đẩy họ bắt đầu ăn vỏ đất. Những người khác thấy vậy cũng ăn vào, nên thân xác trở nên dầy đặc và nặng nề.

    Platon, ông tổ triết học Tây phương, cũng cho con người từ trên lý giới sa đọa xuống hạ giới này.

    Con người luôn mơ ước được về trời vì họ tưởng tổ tiên họ đã từ trời xuống. Nhưng khi nghe Đức Giêsu nói: “Tôi là bánh từ trời xuống”, người ta lại kêu ca phản đối: “Ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống”. Họ phản đối Đức Giêsu vì họ thấy theo con mắt xác thịt, theo suy nghĩ của loài người hạ giới. Họ giống như Gagarin, anh hùng vũ trụ đầu tiên, bay lên không gian ngày 12 tháng 04 năm 1961. Khi trở về trái đất, ông tuyên bố: “Tôi không thấy thiên đàng đâu cả”. Cũng như bác sĩ giải phẫu bệnh nhân, chỉ thấy ruột, tim, gan, phổi mà không thấy tâm tình, ý chí, trí khôn, lương tri, trí thức và nhất là linh hồn đâu cả.

    Lối nhìn này gọi là quan sát thực nghiệm, nghĩa là chỉ thấy cái nhìn thí nghiệm, cân đo, đụng chạm được bằng mắt, tai, tay, chân, mũi. Ngoài ra, không thấy gì khác nữa, nên cho là không có.

    Người Do thái cũng biết Đức Giêsu theo lối nhìn xác thịt. Họ chỉ thấy Người là con ông Giuse và bà Maria, sống ở thôn ấp nhỏ bé. Nếu họ thấy hơn chút nữa, thì họ cũng chỉ ngạc nhiên thấy Người làm cho kẻ què được đi, kẻ mù thấy được, kẻ câm nói được, kẻ điếc nghe được, kẻ chết sống lại và chính họ là kẻ đói được ăn no nê. Có thế thôi. Họ không thể thấy gì thiêng liêng, cao siêu qua những việc lạ lùng đó. Cùng lắm, họ coi Người là một tiên tri như Êlia được thiên thần đưa bánh cho ăn, hay là kẻ chết sống lại mới làm được những sự lạ ấy.

    Họ không thể thấy Người từ trời xuống, thấy Người được Chúa Cha sai đến, thấy Người là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể trong lòng Đức Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, thấy các thiên thần hát mừng Người lúc sinh ra trong hang lừa, thấy được tiếng Đức Chúa Cha phán: Này là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng, khi Đức Giêsu chịu phép rửa của ông Gioan tẩy giả.

    Họ không thấy được Đức Giêsu từ trời xuống vì lòng họ ra chai đá, không còn cảm động theo ân huệ lôi kéo của Đức Chúa Cha, không còn nghe lời Chúa Cha dạy dỗ dù hết mọi người được Thiên Chúa dạy dỗ như sách các Ngôn sứ đã chép. Thiên Chúa lôi kéo, Thiên Chúa dạy dỗ, Thiên Chúa đề nghị, nhưng rồi ta không nghe, không đáp lại, không hiệp thông. Người ta có tự do, có quyền từ chối, tự do của họ đã chiều theo cái bụng, cái mắt, cái tai, cái dục. Chừng nào họ diệt được tham, sân, si thì lòng mới trong sạch, mắt mới sáng lên, tai mới thính ra, lúc đó, họ mới sống đức tin, mới thấy được bánh từ trời xuống, họ mới rước được bánh trường sinh và được sống đời đời.

    Mỗi Thánh lễ đều nói với chúng ta: “Tôi là bánh từ trời xuống” “Này là Mình Thầy, này là chén Máu Thầy”. Thánh lễ chẳng có gì hấp dẫn những con mắt no nê phim ảnh, những cái bụng say sưa ăn nhậu. Thánh lễ chẳng có gì làm hồi hộp rung động những con tim mê đắm xác thịt, những lòng trí miệt mài tiền của, danh vọng.

    Thánh lễ chỉ cảm hóa những con người chân thành, những tấm lòng khao khát lương thực trường sinh. Thánh lễ chỉ hấp dẫn những ý chí quyết tin theo lời Thiên Chúa, những tình yêu sốt sắng hy sinh lấy thịt mình cho người khác ăn.

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho con đôi mắt sáng để nhìn thấy bánh từ trời xuống. Xin cho con đôi tai tinh tường để lắng nghe lời hằng sống. Xin cho con một ý chí mạnh mẽ để ra sức làm việc của Thiên Chúa và một trái tim nhạy cảm trước tình thương lấy thịt mình nuôi sống chúng con đời đời.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 19 TN_B

    Inhaxio Hồ Thông

    Diễn từ về Bánh Hằng Sống tiếp tục ngự trị Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XIX này.

    1V 19: 4-8

    Bài Đọc I thuật lại một trong những chuyện tích tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a. Bị trục xuất khỏi vương quốc phương Bắc, đơn độc và chán nãn trong sa mạc, ngôn sứ Ê-li-a được thần lương bồi dưỡng lấy lại sức lực và thẳng tiến đến núi thánh của Đức Chúa.

    Ep 4: 30-5: 2

    Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô đưa ra cho các Ki-tô hữu mẫu gương hoàn thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thần Khí, bắt chước Thiên Chúa, thực hành đức ái như Đức Giê-su đến mức tận hiến bản thân mình.

    Ga 6: 41-51

    Tin Mừng giới thiệu tiếp diễn từ về Bánh Hằng Sống, trong đó Chúa Giê-su công bố chính Ngài là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, nguồn sống đời đời cho nhân loại.

    BÀI ĐỌC I (1V 19: 4-8)

    Đây là một trong những chuyện tích tâm linh rất phong phú về cuộc đời của ngôn sứ Ê-li-a, vị ngôn sứ sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên trong vương quốc phương Bắc, vào thời vua A-kháp trị vì (874-853 B.C.).

    1. Bối cảnh lịch sử:

    Vua A-kháp chẳng những kết hôn với công chúa I-de-ven, ái nữ của vua Xi-đôn, lại còn phụng thờ thần Ba-an. Vua lập một bàn thờ để kính thần Ba-an trong đền thờ mà vua đã xây dựng tại thành đô Sa-ma-ri. Hoàng hậu I-de-ven không những nhiệt thành truyền bá việc thờ kính thần Ba-an trong vương quốc phương Bắc, nhưng còn cho các ngôn sứ của thần Ba-an ở trong dinh thự của bà ở Sa-ma-ri.

    Ngôn sứ Ê-li-a kịch liệt chống đối việc thờ thần ngoại giáo nầy. Ông đã đạt được một chiến thắng vang dội của Thiên Chúa Ít-ra-en trên thần Ba-an ở trên núi Các-men. Trong một cuộc thách đố, vị ngôn sứ của Thiên Chúa Ít-ra-en đã chiến thắng các ngôn sứ của thần Ba-an: hy lễ và lời cầu nguyện mà các ngôn sứ của thần Ba-an dâng lên cho thần để xin thần cho mưa xuống vào thời kỳ hạn hán chẳng đem lại kết quả gì; trái lại, chỉ hy lễ và lời cầu nguyện mà ngôn sứ của Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, dâng lên cho Ngài thì được nhậm lời ngay lập tức. Do đó, dân chúng nỗi giận giết chết các ngôn sứ của thần Ba-an.

    Hoàng hậu I-de-ven nổi cơn thịnh nộ; bà ra lệnh cho ngôn sứ Ê-li-a phải rời khỏi vương quốc ngay, nếu không ông sẽ bị giết chết như vậy.

    1. Cuộc hành trình đến núi thánh.

    Ngôn sứ Ê-li-a ra đi hướng về sa mạc phương Bắc, với ý định đến núi Kho-rếp (cũng còn được gọi là núi Xi-nai). Ông muốn đi lại lộ trình mà trước đây ông Mô-sê đã đi để tôi luyện niềm tin của mình ở nơi mà Đức Chúa đã tỏ mình ra.

    Sau một ngày đường trong sa mạc, vị ngôn sứ kiệt sức và chán nãn muốn bỏ cuộc, vì vậy ông xin Chúa cho ông được chết đi: “Lạy Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con”. Lời khẩn nguyện của ông ám chỉ đến những người Do thái phải chết trong sa mạc mà không được nhìn thấy Đất Hứa vì họ đã nghi ngờ.

    Vị ngôn sứ vốn nổi tiếng là người nhiệt thành bất khuất của Đức Chúa đã phải chán nãn ngã lòng đến như vậy. Thình lình một thiên sứ xuất hiện gọi vị ngôn sứ: “Dậy mà ăn”. Ông đưa mắt nhìn, một chiếc bánh nướng và một hũ nước đặt sẳn bên cạnh ông. Đồ ăn thức uống thật sự rất quý trong sa mạc hoang vu và nóng cháy nầy.

    Nhưng phải can thiệp đến lần thứ hai vị thiên sứ mới có thể lay chuyển tâm trí của vị ngôn sứ. Cuối cùng, nhờ thần lương tiếp sức, vị ngôn sứ lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông đi một mạch suốt bốn mươi ngày đêm tới núi Kho-rếp, núi của Thiên Chúa. “Bốn mươi” là con số biểu tượng, đặc biệt gắn liền với kỷ niệm bốn mươi năm dân Do thái hành trình trong sa mạc trên đường về Đất Hứa; cũng là bốn mươi ngày ông Mô-sê ăn chay cầu nguyện trước khi lãnh nhận hai tấm bia Lề Luật. Vị ngôn sứ đã đạt đến đích cuộc hành hương, nhưng sứ mạng của ông chưa hoàn tất. Ông sẽ phải trở về Sa-ma-ri và tiếp tục sứ vụ ngôn sứ của mình.

    Bốn trăm năm đã trôi qua giữa ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a. Danh tiếng của hai vị được liên kết với đỉnh núi Khô-rếp, núi thánh của Đức Chúa. Hai nhận vật Cựu Ước danh tiếng lừng lẫy nầy sẽ cùng nhau tái xuất hiện trên đỉnh núi Biến Hình.

    BÀI ĐỌC II (Ep 4: 30-32-5: 2).

    Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, phần luân lý và khuyên bảo. Nét đặc trưng của đoạn trích hôm nay chính là lời kêu gọi các tín hữu sống hoàn thiện theo mẫu gương Ba Ngôi Thiên Chúa: sống theo Thánh Thần, bắt chước Thiên Chúa và thực hành đức ái như Đức Ki tô.

    1. Sống theo Thần Khí:

    Người tín hữu đã lãnh nhận ấn tín của Chúa Thánh Thần vào ngày lãnh nhận phép Rửa Tội, họ được bảo đảm ơn cứu độ, ơn cứu độ chỉ đạt viên mãn “vào ngày giải thoát” (hoặc sau khi qua đời hay vào ngày Đức Ki-tô quang lâm, thánh nhân không xác định). Trong khi chờ đợi, điều quan trọng là sống làm sao đừng làm phiền lòng Chúa Thánh Thần.

    Thánh Phao-lô không ngại gợi lên cách ăn nếp ở của con người làm phiền lòng Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã thất vọng trước những bất tín của dân Ngài, điều nầy thường được diễn tả bằng cơn thịnh nộ hơn sự phiền lòng. Tuy nhiên, sự phiền lòng nầy cũng được gợi lên nhiều lần. Quả thật, ngôn sứ I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ của thời hậu lưu đày, đã minh nhiên kể ra điều nầy bằng những từ ngữ báo trước những từ ngữ của thánh Phao-lô. Trong lời khẩn nguyện thống thiết, vị ngôn sứ nhắc lại những ân huệ mà con cái Ít-ra-en đã nhận được trong suốt lịch sử của mình. Từ đó, vị ngôn sứ kêu gào: “Nhưng chính họ đã nổi loạn, đã làm phiền thần khí thánh của Người” (Is 63: 10). Truyền thống Do thái không quên lời nói táo bạo nầy. Sách Khôn Ngoan nói về Chúa Thánh Thần: “Thần khí thánh là thầy dạy dỗ, luôn tránh thói lọc lừa, rời xa những lý luận ngu dốt, và ghê tỡm những chuyện bất công” (Kn 1: 5).

    1. Bắt chước Thiên Chúa:

    Phải nói rằng thánh Phao-lô rất hiếm khi khuyên bảo các tín hữu bắt chước Thiên Chúa, bởi vì thánh nhân đặt ưu tiên cho việc bắt chước Đức Ki-tô. Chúng ta nên lưu ý rằng lời kêu mời bắt chước Chúa Cha nầy được dẫn trước bởi việc tha thứ: “Biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em, trong Đức Ki-tô”, điều này rõ ràng ám chỉ đến kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6: 12).

    1. Thực hành đức ái như Đức Ki-tô:

    Lời kêu gọi sống hoàn thiện theo mẫu gương Ba Ngôi Thiên Chúa được hoàn tất ở nơi lời khuyên khẩn thiết “sống cuộc đời bác ái như Đức Ki-tô”. Từ “tha thứ” đã dẫn vào lời khuyên bắt chước Chúa Cha như thế nào, từ “yêu thương” dẫn vào lời khuyên bắt chước Đức Ki-tô cũng như vậy: “Như những người con yêu dấu, anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, và sống cuộc đời bác ái như Đức Ki-tô, Đấng đã yêu thương chúng ta…”. Chúng ta lưu ý rằng động từ “yêu thương” đồng xuất hiện với tỉnh từ “yêu dấu” và danh từ “bác ái” trong cùng một câu.

    Tình yêu của Chúa Con đối với nhân loại đã được bày tỏ một cách cao vời qua việc “tự hiến mình làm của lễ thơm tho dâng lên Thiên Chúa”. Thánh Phao-lô lập lại diễn ngữ mà Cựu Ước dùng cho hy tế toàn thiêu, theo đó tế vật được hoàn toàn hỏa tế trên bàn thờ. Đức Ki tô là tế vật hoàn hảo, tận hiến chính bản thân mình.

    TIN MỪNG (Ga 6: 41-51)

    Chúng ta tiếp tục đọc diễn từ của Đức Giê-su về Bánh Hằng Sống. Hướng nhắm của bản văn vẫn là Thánh Thể, nhưng đề tài trung tâm là đức tin: Đức Giê-su đòi hỏi những người lắng nghe Ngài hãy tin vào Ngài, vì Ngài là Đấng ban sự sống và Ngài ban sự sống vì Ngài từ Chúa Cha mà đến.

    Thế nhưng, thánh ký nhấn mạnh ngay “tin” không phải là một chuyện dễ dàng: “Người Do thái xầm xì phản đối”. Chung chung danh xưng “người Do thái” mang nét nghĩa tiêu cực trong Tin Mừng thứ tư; danh xưng này chỉ rõ những người Do thái cứng lòng tin trong khi danh xưng “người  Ít-ra-en” được dành riêng cho những ai tin vào Đức Giê-su (Ga 1: 47). Việc thay đổi danh xưng ở đây rất có ý nghĩa. Theo cách nầy, tác giả loan báo cho chúng ta rằng cuộc tranh luận sắp diễn ra và cuộc tranh luận này được đinh vị theo cùng một hướng đi như những cuộc tranh luận đã được tường thuật trước đây (nhất là cuộc tranh luận của chương 5).

    1. Vấn đề đức tin:

    “Ông nầy chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”. Người Do thái có đủ lý do để nghi ngờ những lời nói của Đức Giê-su: Ngài đang sống ở giữa họ như một người giữa mọi người, bất ngờ tuyên bố mình từ trời xuống. Chúng ta gặp thấy những suy nghĩ tương tự và biết bao những suy nghĩ khác nữa đến từ những người mà thánh Gioan nhắm đến một cách mãnh liệt trong thư thứ nhất của mình. Về phương diện lịch sử, nhiều thế hệ sau nầy nẩy sinh những nghi ngờ như thế.

    Đức Giê-su trả lời: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy đến với tôi”. Đức tin là một ân ban đến từ Chúa Cha, nhưng cũng đòi hỏi con người phải mở rộng cõi lòng mà đón nhận. Đức Giê-su ngầm quở trách thính giả của Ngài không có được một thái độ như thế; có những dấu chỉ mà họ phải biết đọc, những thành kiến mà họ phải cởi bỏ, và tiên vàn phải lắng nghe Chúa Cha. Đức Giê-su sẽ khai triển khía cạnh đức tin nầy, nhưng trước hết Ngài muốn tăng cường độ nhạy bén của những người lắng nghe Ngài và thậm chí khơi lên ở nơi họ sự tò mò, để chuẩn bị tâm trí họ đón nhận những lời mặc khải mà Ngài sắp ban cho: “Ai đến với tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.

    Dường như những thính giả của Ngài là những người Biệt Phái, những người chấp nhận thân xác sống lại; trái với những người Xa-đốc, những người không chấp nhận thân xác sống lại. Đức Giê-su tự đặt mình trên lập trường của những người tin vào thân xác sống lại nầy mà tranh luận. Vì thế, Ngài khẳng định rằng chính Ngài nắm giữ trong tay quyền cho các vong nhân được sống lại. Cựu Ước đã thiết lập rồi mối liên hệ giữa bữa tiệc Thiên Chúa thiết đãi muôn dân và sự phục sinh, nhất là Is 25: 6-8: “Ngày ấy trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc…Trên núi nầy, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người…” Tại các ngôn sứ, lời loan báo bàn tiệc cánh chung được nhiều lần nối kết với bàn tiệc thiên sai. Đây là điều Đức Giê-su xem ra ám chỉ ở đây.

    1. “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”:

    Đức Giê-su trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a đệ nhị về Giê-ru-sa-lem vào thời thiên sai: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Qua đó, Đức Giê-su muốn thính giả của Ngài hiểu rằng thời điểm nầy đã đến, lời hứa đã được ứng nghiệm; chính Ngài, Đấng được Chúa Cha sai đến, đem đến cho con người sự hiểu biết về Thiên Chúa. “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến”, như vậy Ngài khẳng định nguồn gốc và giáo huấn siêu việt của Ngài, tức Lời Hằng Sống. Vì ai đón nhận và gắn bó với giáo huấn của Ngài, “có sự sống đời đời”. Ở nơi khác, Đức Giê-su cũng khẳng định như vậy: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giê-su Ki tô” (Ga 17: 3).

    Đức Giê-su chủ ý trích dẫn sấm ngôn I-sai-a, vì sấm ngôn nầy tiếp tục mời gọi dự phần vào bàn tiệc Thiên Chúa thiết đãi cho muôn dân. Ở bàn tiệc thiên sai, Thiên Chúa phục vụ con người không chỉ với Lời Thiên Chúa, lời ban sự sống đời đời, nhưng còn với thần lương làm no thỏa mọi ước nguyện.

    1. Từ Lời Hằng Sống đến Bánh Hằng Sống:

    Những người lắng nghe Ngài là những người Do thái chắc chắn biết Kinh Thánh. Bánh man-na được tiên báo vào thời thiên sai không phải là bánh hằng sống mà Đức Giê-su hứa ban, bánh từ trời xuống đem lại sự sống muôn đời sao? Đức Giê-su lay động tâm trí của họ. Trong ánh sáng của các bản văn, tâm trí họ phải mở ra mà hiểu cho được.

    Lúc đó, Đức Giê-su khẳng định thêm một lần nữa: “Tôi là Bánh Hằng Sống. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh nầy là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”. Lần nầy, không rào trước đón sau, Ngài tuyên bố không úp mở: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Thánh Thể được mạc khải một cách minh nhiên ngay từ bây giờ với điểm nhấn trên hy tế.

    Về mục lục

    .

    THÁNH THỂ, NGUỒN MẠCH SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Bí tích Thánh Thể là chóp đỉnh và là nguồn mạch của đời sống Kitô hữu. Vì tầm quan trọng của bí tích này, phụng vụ Lời Chúa tuần này tiếp tục mời gọi chúng ta suy niệm về diễn từ “Bánh hằng sống” trong chương VI của Tin Mừng Gioan. Trong đó, Chúa Giêsu mạc khải về ý nghĩa của Thánh Thể khi nói: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,47-51).

    1- Thánh Thể và sự sống đời đời

    Trong những lời này, Chúa Giêsu nói nhiều về hiệu quả mà Thánh Thể mang lại cho chúng ta đó là sự sống đời đời, hay đúng hơn đó là sự sống của Đấng Phục Sinh được ban nơi bí tích Thánh Thể. Nên chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa của lời mạc khải này.
    Khi giải thích đoạn Tin Mừng này, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chú giải: thuật ngữ “sự sống đời đời” không mang ý nghĩa như một số người nghĩ, đó là cuộc sống sau cái chết, nó không liên hệ gì đến cuộc sống hiện tại, trong khi cuộc sống hiện tại là chóng qua và không phải là sự sống đời đời. Theo Đức Giáo Hoàng, sự sống đời đời chính là sự sống đích thực, đang được sống trong thời gian hiện tại và sẽ không chấm dứt với cái chết thể lý. Sự sống đó được Đấng Phục Sinh khai mở khi Người sống lại, là sự sống hoàn toàn mới, sự sống trọn vẹn và không bị hủy hoại, đó là một cuộc sống không còn nằm dưới lề luật của cái chết và thay đổi. Sự sống này được thánh Gioan phân biệt bằng hạn từ zôê (sự sống phục sinh), khác với bios (sự sống sinh học, tự nhiên). Sự sống này chỉ do Chúa Kitô mang lại cho chúng ta qua cái chết và sự phục sinh của Người. Giờ đây, Người lập bí tích Thánh Thể và tiếp tục hiến mình cho chúng ta. Người trở thành bánh ban sự sống đời đời cho chúng ta. Nơi Thánh Thể, Chúa Giêsu ban chính sự sống đó cho những ai đón nhận Mình và Máu Thánh Người. Qua bí tích Thánh Thể, chúng ta được tham dự chính sự sống thần linh đó của Đấng Phục Sinh nhờ việc rước lễ.
    Về điều này, người ta tìm thấy nơi tác phẩm của Platon quan niệm về sự bất tử như thế này: con người có thể bất tử nhờ được liên kết với điều bất tử. Càng đón nhận chân lý vào bản thân mình, con người càng được nâng đỡ và được đảm bảo một cuộc sống tràn đầy sau khi chết. Tư tưởng này chuẩn bị cho chúng ta hiểu lời của Đức Giêsu: “Ai ăn thịt tôi và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.” Khi đón nhận Chúa Giêsu nơi bí tích Thánh Thể, chúng ta được tham dự và hội nhập vào sự sống thần linh của Đấng Phục Sinh. Chúng ta tìm được sự sống mà không cái chết nào có thể lấy đi được, nhờ sự gắn bó với Đấng là sự sống, nhờ sự ở lại trong Người và Người ở trong chúng ta.
    Thánh Ignatio thành Antiochia nói rằng: “Chúng ta chia sẻ Bánh, thần dược của sự bất tử, thuốc giải độc chúng ta uống, không phải để chết nhưng để sống muôn đời trong Chúa Kitô”. Như Đức Giêsu đã nói với các môn đệ nơi bàn Tiệc Ly: “Thầy sống, anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14,19). Như vậy, Bí tích Thánh Thể, lương thực thần linh mang sự sống đời đời, là sự tiền dự vinh quang Nước Trời ngay tại thế này khi chúng ta rước lễ.

    2- Tham dự tích cực

    Nếu Thánh Thể là trung tâm điểm và là nguồn mạch của đời sống kitô hữu, thì ngày Chúa Nhật là phải ngày cao điểm của chúng ta. Không phải là người Kitô hữu nến không đến nhà thờ tham dự thánh lễ. Vì thế, Giáo Hội mời gọi mỗi người chúng ta hãy năng tham dự Thánh Lễ và đón nhận Chúa Kitô nơi bí tích Thánh Thể, là nguồn sức mạnh, quà tặng vô giá Thiên Chúa và là sự sống đời đời cho chúng ta trên cuộc hành trình trần thế này.
    Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, hồng ân Thánh Thể không đến từ một chiều trên xuống. Thiên Chúa muốn và mời gọi chúng ta tham dự và cộng tác phần mình. Nơi bàn tiệc Thánh Thể, là vòng tròn mở rộng, Chúa luôn dành chỗ cho mỗi người chúng ta vào ngồi để cùng cử hành. Nơi bàn tiệc Thánh Thể, con người có thể cộng tác phần mình vào của lễ được dâng lên, mà bánh và rượu là tượng trưng của hoa màu ruộng đất và lao công con người, chúng ta dâng lên Thiên Chúa để trở thành của ăn, của uống thần linh cho chúng ta.
    Vì thế, sau một ngày sống, hay sau một tuần làm việc, chúng ta hãy mang đến nhà thờ tham dự thánh lễ và hãy đặt trên bàn thờ cùng với bánh và rượu mà linh mục dâng lên, cùng với ngài, chúng ta hãy dâng lên cho Chúa tất cả những cố gắng, khó nhọc, niềm vui và cả nỗi buồn của mình và của gia đình mình; chúng ta tham dự thánh lễ với ý thức đó và cầu xin Thiên Chúa thánh hóa tất cả những công khó và hy sinh này trở thành nguồn ơn cứu độ chính mình và cho anh chị em chúng ta.

    3- Giá trị của rước lễ

    Để kết thúc, xin kể câu chuyện liên quan đến giá trị của việc rước lễ. Trước khi trở lại với Công Giáo, Đức Hồng Y Newman là người theo Anh Giáo. Ngài là một chức sắc cao cấp, được trợ cấp hàng năm một ngân khoản rất lớn. Thế mà sau một thời gian lâu dài suy nghĩ, cuối cùng ngài đã quyết định xin trở lại Công Giáo. Ngày nọ, một bạn thân của Newman khuyên: “Bạn phải suy nghĩ cẩn thận, nếu cải giáo, bạn sẽ mất hết số lương bổng hàng năm.” Newman hiên ngang trả lời: “Ngân khoản trợ cấp và bổng lộc là gì, so với một lần tôi được rước lễ?”
    Câu trả lời này cho thấy rằng ngài đã đánh đổi tất cả để trở lại Công Giáo và để được rước lễ trong thánh lễ. Bởi vì, người Anh Giáo chỉ cử hành thánh lễ nhưng không tin Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh rượu. Còn đối với đức tin người Công Giáo, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh rượu khi truyền phép, nhờ quyền năng biến đổi của Chúa Thánh Thần. Vì thế, Thánh Thể là hồng ân lớn lao nhất mà Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta, nơi đó, chúng ta có chính Chúa đang hiện diện và ban sự sống đời đời cho chúng ta. Nếu ai yêu mến thánh lễ và siêng năng rước lễ, thì chắc chắn rằng người đó sẽ lãnh được thần thưởng thiên đàng ngay khi chết. Bởi họ đã được tham dự sự sống đời đời khi còn sống.

    Xin cho chúng ta luôn biết yêu mến Thánh Thể và khao khát đến tham dự thánh lễ mỗi ngày, mỗi tuần, để đón nhận chính Chúa Kitô là nguồn sức mạnh, bình an và sự sống đời đời, để nhờ Thánh Thể, chúng ta có đủ nghị lực để tiếp tục hành trình dương thế và thi hành tốt sứ vụ mà Chúa đã giao phó cho mỗi người chúng ta. Amen!

    Về mục lục

    .

    THÁNH THỂ: MAN-NA MỚI TRÊN ĐƯỜNG VỀ QUÊ TRỜI

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Ga 6,41-51.

    (41) Người Do Thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói: “Tôi là Bánh từ trời xuống”. (42) Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả. Sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?” (43) Đức Giê-su bảo họ: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! (44) Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy. Và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.  (45) Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. (46) Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. (47) Thậ̣t, tôi bảo thật các ông: Ai tin thì được sự sống đời đời. (48) Tôi là Bánh Trường Sinh. (49) Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. (50) Còn Bánh này là Bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. (51) Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.

    1. Ý CHÍNH:

    Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã khẳng định Người từ trời mà đến. Điều này làm cho dân chúng xầm xì phản đối vì họ nghĩ rằng họ đã biết rõ về gia thế của Người. Nhưng dù vậy, Đức Giê-su vẫn quả quyết: Người từ nơi Chúa Cha mà đến, và sẽ ban Thịt Máu mình làm lương thực đi dường, để ai lãnh nhận bí tích này sẽ được kết hiệp mật thiết với Người, được sống nhờ Người và sẽ về Nước Trời với Người sau này.

    1. CHÚ THÍCH:

    C 41-42: + Người Do Thái xầm xì phản đối bởi vì Đức Giê-su đã nói: “Tôi là Bánh từ trời xuống”: Người Do Thái đây ám chỉ dân chúng đi theo Đức Giê-su từ hoang địa về thành Ca-phác-na-um. Họ xầm xì bàn tán khi nghe Người tuyên bố Người là Bánh từ trời mà đến. + Ông này chẳng phải là Giê-su, con của ông Giu-se đó sao?….: Dân Do thái nghĩ rằng họ đã biết rõ về thân thế và cha mẹ của Người.

    C 43-44: + Các ông đừng có xầm xì với nhau: Đức Giê-su biết đám đông đang bàn tán để phản đối lời Người vừa nói, vì họ chỉ nghĩ về phạm vi nhân tính của Người. + Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha không lôi kéo…: Người cho họ biết đức tin là một hồng ân do Thiên Chúa ban cho. + Và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết: Ai tin vào Đức Giê-su thì sẽ được Người cho sống lại vào ngày tận thế và sẽ được sống mãi mãi.

    C 45-46: + “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ”: Câu này lược tóm lời tuyên sấm của I-sai-a: “Con cái ngươi, Đức Chúa đều dạy dỗ” (x. Is 54,13), và lời sấm của Giê-rê-mi-a: “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: Hãy học cho biết Đức Chúa. Vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta” (Gr 31,33-34). +Phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi: Tuy mọi người đều được Thiên Chúa kêu gọi và dạy bảo, nhưng chỉ ai nghe và đón nhận lởi giáo huấn của Chúa Cha thì mới có thể tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. + Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha: “Thiên Chúa là Thần Khí”, là Đấng thiêng liêng vô cùng (x. Ga 4,24). “Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Thời Xuất hành, dù được thường xuyên đàm đạo với Đức Chúa, nhưng ông Mô-sê cũng chỉ thấy được phía sau lưng của Đức Chúa chứ không được nhìn thấy tôn nhan Ngài (x. Xh 33,23). Nhưng Đức Giê-su, Đấng từ nơi Chúa Cha mà đến, đã xem thấy Chúa Cha và có thể mặc khải về Ngài cho chúng ta.

    C 47-51: + “Ai tin thì được sự sống đời đời”: Ai tin vào Đức Giê-su thì sẽ không phải chết trong tội nữa, nhưng sẽ được Người ban sự sống đời đời, như lời thánh Phao-lô: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã (là A-đam), mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất (là Đức Giê-su), đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,18). + “Tôi là Bánh Trường Sinh”: Đức Giê-su tự ví mình là “Bánh Trường Sinh” hay “Bánh Hằng Sống”, ám chỉ bí tích Thánh thể mà Người sẽ thiết lập sau này. “Hằng sống” là một đặc tính của Thiên Chúa (x. Mt 16,16), và của Chúa Ki-tô Phục Sinh (x. Rm 6,9). + Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết: Man-na là lương thực Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en trong thời kỳ Xuất Hành, là thứ đồ ăn dễ bị hư nát (x. Xh 16,19-21). Dù dân Ít-ra-en đã ăn man-na, nhưng họ vẫn phải chết do tội lỗi đã phạm (x. Tv 78,29-31) và không được sống đời đời (x. Ga 6,58). + Còn Bánh này là Bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết: Đức Giê-su mới là Bánh từ trời thực sự, và ai ăn Bánh này sẽ “không phải chết” (x. Ga 6,50), nhưng “được sống muôn đời” (x Ga 6,51.54), “được ở trong Người” (x Ga 6,56), “được sống nhờ Chúa Cha” (x. Ga 6,57), “được sống và được sống dồi dào” (x. Ga 10,10). + “Bánh Tôi sẽ ban tặng chính là Thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống”: Nói câu này, Đức Giê-su đã liên kết 5 chiếc bánh trong phép lạ nhân bánh ra nhiều (x. Ga 6,9) và bánh không men trong bữa tiệc Chiên Vượt Qua, với Thịt Mình của Người trong Bí tích Thánh thể (x. Mt 26,26). Từ của ăn nuôi sống thể xác, được Đức Giê-su biến thành Bánh Hằng Sống đem lại sự sống đời đời (x. Ga 6,48), thành Thân Mình chịu khổ nạn và được Phục sinh của Người (x. Ga 6,51), và thành của ăn thần thiêng nuôi dưỡng đức tin (x. Ga 6,51.63), giúp các tín hữu tiến về Nước Trời để được sống muôn đời (x. Ga 6,58).

    HỎI: 1) Dân Do thái xầm xì phản đối Đức Giê-su về câu nói nào của Người ? Tại sao ? 2) Đức Giê-su dạy đức tin có được là do đâu ? 3) Ai tin vào Đức Giê-su thì sẽ nhận được gì? 4) Câu “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ” tóm lược lời tuyên sấm của hai vị ngôn sứ nào và 2 lời đó thế nào ? 5)Thiên Chúa thiêng liêng được mệnh danh là gì ? Ai mới nhìn thấy Thiên Chúa và mặc khải Ngài cho chúng ta ? 6) Ai tin vào Đức Giê-su sẽ được hưởng ơn gì ? Thánh Phao-lô đã so sánh giữa A-đam cũ với Đức Giê-su thế nào ? 7) Khi ví mình là Bánh Trường Sinh, Đức Giê-su muốn ám chỉ về bí tích nào Người sẽ thiết lập sau này ? 8) Man-na là lương thực được Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en khi nào và có đem lại sự sống đời đời không ? 9) Đức Giê-su là Bánh Hằng Sống từ đâu mà đến và ai ăn Bánh này sẽ được ơn ích gì ? 10) Đức Giê-su hứa sẽ thiết lập bí tích Thánh Thể thế nào và để làm gì ?

     

    II.SỐNG LỜI CHÚA:

    1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời”(Ga 6,51).

    2.CÂU CHUYỆN:

    1) GIẤC MỘNG TRƯỜNG SINH BẤT TỬ CỦA TẦN THỦY HOÀNG:

    Tần Thủy Hoàng là hoàng đế Trung Hoa, sống khoảng 200 năm trước Công Nguyên. Ông chính là người đã xây Vạn Lý Trường Thành dài hơn 2.000 dặm, là một kiến trúc duy nhất trên trái đất, mà các phi hành gia có thể quan sát được từ ngoài không gian. Theo tạp chí National Geographic, Tần Thủy Hoàng rất sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên đã tìm đủ cách để có thể cải lão hoàn đồng. Một ngày kia, các chiêm tinh gia đã kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở biển Đông, dân cư ở đấy đã khám phá ra bí quyết sống trường sinh bất lão, nên ai cũng sống lâu. Tần thủy Hoàng liền phái một số tàu thuyền chất đầy ngọc ngà châu báu lên đường, hy vọng có thể đổi những đồ quý giá lấy bí quyết trường sinh mang về. Nhưng dân chúng tại đây đã nhất quyết không chịu đổi bí quyết trường sinh của họ lấy bất cứ thứ gì.

    Không lấy được thuốc trường sinh, nên khi già yếu, Tần thủy Hoàng đã ra lệnh cấp tốc xây một nhà mồ cho mình như một cung điện nguy nga tráng lệ, rồi ông cho trang trí nhà mồ bằng các đồ trân châu quý giá, lát tường nhà bằng vàng bạc và truyền sẽ chôn sống hàng trăm cung nữ với ông sau khi ông chết, hy vọng kiếp sau sẽ được sống thanh thoát như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ham hưởng thụ ấy đã chỉ làm vua được hơn chục năm và sống trên năm mươi tuổi thì chết.

    Bí quyết để sống vĩnh hằng ấy, Đức Giê-su đã mặc khải trong Tin Mừng hôm nay: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga.6,47). Ngày nay thánh lễ chính là bàn tiệc cho chúng ta Lời Chúa và Thánh Thể ban sự sống đời đời. Vậy chúng ta cần làm gì ngay từ hôm nay ?

    2) GIÁ TRỊ THỰC SỰ CỦA THUỐC TRƯỜNG SINH:

    Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một viên thuốc bất tử. Người ấy bưng thuốc vào triều, Viên quan canh cửa liền hỏi:

    – Đây là cái gì ?

    – Là viên thuốc trường sinh bất tử tôi đem đến dâng tiến cho đức vua.

    – Thế viên thuốc này có ăn được không ?

    Người ấy đáp :

    – Ăn được.

    Lập tức, viên quan liền cầm lấy viên thuốc mà ăn. Câu chuyện đến tai nhà vua. Vua liền truyền bắt viên quan đến định xử tội khi quân và sẽ bị chém đầu. Viên quan nghe án liền kêu oan như sau:

    – Thần đã hỏi người dâng thuốc và được ông ta nói đó là viên thuốc trường sinh bất tử, nghĩa là ai ăn sẽ không bị chết nữa. Thần có hỏi người ấy “ăn được không”, và người ấy đáp: ”Ăn được”, nên thần mới ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi tại người dâng thuốc. Hơn nữa, người dâng thuốc lại nói đó là viên thuốc “trường sinh bất tử”, nghĩa là ai ăn vào sẽ không bị chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã sắp phải chết. Vậy đó là “thuốc tử”, chớ sao gọi là “thuốc bất tử” được ? Nếu bệ hạ giết thần, là bệ hạ đã kết án oan cho người vô tội, và chứng tỏ bệ hạ là người dễ bị kẻ khác mê hoặc lừa gạt.

    Vua nghe viên quan đó nói có lý, nên đã tha không giết nữa. (Nguồn: Cổ học tinh hoa)

    Trong Tin mừng hôm nay Đức Giê-su nói: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Qua đó, Đức Giê-su đã mặc khải : ngoài cuộc sống đời này, còn có một cuộc sống vĩnh hằng đời sau nữa, dành cho những ai tin vào Đức Giê-su, thể hiện qua việc lắng nghe Lời Người và năng ăn Bánh Thánh Thể của Người ban cho.

    3) QUYẾT TÂM CẢI GIÁO NHỜ TIN LỜI CHÚA VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ:       

    Hồng y NIU-MÂN (Newman) trước kia đã từng giữ chức vụ Tổng Giám Mục Anh Giáo với bổng lộc hằng năm khá lớn. Dù thuộc tầng lớp quí tộc và là chức sắc cao cấp của Anh Giáo như vậy, nhưng ngài luôn bị lương tâm dày vò về các mầu nhiệm đức tin trong Tin Mừng không sao lý giải được. Rồi đến một ngày, sau khi đã suy nghĩ kỹ về sự khác biệt đức tin giữa Anh Giáo và Công Giáo, cuối cùng ngài đã đi tới quyết định từ bỏ các chức vụ cao cấp và các đặc quyền đặc lợi đang thụ hưởng của Anh giáo, để cải giáo theo đạo Công Giáo. Biết được ý định của Niu-mân, bạn bè thân thích đã đến can ngăn để yêu cầu ngài nghĩ lại. Họ nói: “Trước khi quyết định, xin ngài hãy cân nhắc cẩn thận. Vì nếu ngài cải giáo thì không những bị mất tất cả các chức danh và địa vị tinh thần, mà ngay cả lương bổng vật chất hằng năm cũng không được hưởng nữa !” Nhưng Niu-mân đã thẳng thắn trả lời: “Tiếc thì tôi cũng tiếc thật. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Chức vụ, quyền hành và bổng lộc vật chất tuy đáng quí, nhưng có đáng là gì so với những điều tôi nhận được khi trở nên thành viên của Hội Thánh Công Giáo và Tông Truyền. Tôi sẽ lãnh nhận được ơn Thánh Thần và được chịu các phép bí tích, nhất là được ăn tiệc Thánh Thể. Đó mới thực là Bánh đem lại phúc trường sinh”.

    Sở dĩ Niu-mân có được suy nghĩ và quyết định sáng suốt như vậy, là do ngài đã nghe theo sự hướng dẫn của Thánh Thần. Thực vậy, nếu không có ơn Thánh Thần ban, thì người ta sẽ khó lòng hiểu được Lời Chúa Giê-su và sẽ không tin vào bí tích Thánh Thể, như đám đông dân Do Thái và phần đông các môn đệ đã không tin. Họ đã chán nản bỏ đi không muốn đi theo Đức Giê-su, vì họ không thể chấp nhận được mầu nhiệm của bí tích Thánh Thể này. Chỉ có Nhóm Mười Hai là vẫn trung thành đi theo Thầy, vì dù họ không hiểu Lời Thầy bằng lý trí, nhưng vẫn sẵn sàng tin vào Thầy, như ông Phê-rô đã đại diện anh em thưa: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết: chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).

    4) CON LỪA QUÌ LẠY THÁNH THỂ CHÚA:  

    Thánh AN-TÔN PA-DO-VA (1195-1231) tên thật là Fernando, là tu sĩ dòng Phan-xi-cô khó nghèo. Ngài sinh tại Bồ-đào-nha nhưng sau này lại sống tại nước Ý. Ngài có tài hùng biện với một lòng đạo đức sâu xa, nên luôn được mời đi giảng thuyết ở nhiều nơi. Linh Mục Antôn có biệt tài chống lại lý luân của các lạc giáo, nhất là nhóm An-bi-gien-sê tại vùng Tây Nam nước Pháp. Ngài rất có lòng sùng kính bí tích Thánh Thể. Một ngày nọ, An-tôn có mặt tại Tu-lu để bác bỏ lạc thuyết của nhóm An-bi-gien-sê về bí tích Thánh Thể. Cuộc tranh cãi rất sôi nổi. Với lý luận sắc bén, An-tôn đã làm cho nhóm lạc giáo cứng miệng. Tuy thua về lý thuyết nhưng họ vẫn không đầu hàng. Ông trưởng lạc giáo nói: “Bây giờ chúng ta hãy dẹp bỏ mớ lý luận kia để đi vào thực tế. Nếu ông có thể chứng minh có Chúa Giê-su hiện diện thực sự trong Bánh Thánh Thể, trước sự chứng kiến của mọi người, thì tôi sẽ xin từ bỏ lạc giáo để trở về với Đức Tin Công Giáo. Đầy tin tưởng vào quyền năng của Chúa Thánh Thể, linh mục An-tôn trả lời: “Tôi chấp thuận đề nghị của anh”.

    Ông trưởng lạc giáo An-bi-gien-sê nói tiếp: “Ở nhà tôi có một con lừa cái. Tôi sẽ nhốt nó vào chuồng và bắt nó nhịn đói 3 ngày. Đến ngày thứ ba, tôi sẽ dẫn nó đến đây trước mặt mọi người, và dọn ra cho nó một thùng lúa mạch thơm ngon. Còn ông, ông cũng đưa ra trước mặt con vật ”cái” mà ông gọi là Mình Thánh Chúa. Nếu con lừa đang đói mà không ăn thóc lúa, nhưng lại quỳ lạy Thánh Thể, thì tôi sẽ tin vào  giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo.

    Đúng ngày hẹn, toàn dân thành Tu-lu đứng chen chúc nhau tại quảng trường chính, nơi sắp diễn ra cuộc thách thức, đang lúc linh mục An-tôn sốt sắng dâng lễ trong một nhà nguyện gần đó.

    Đến giờ hẹn, ông trưởng phe lạc giáo liền dắt con lừa cái nhà ông đến quảng trường và không quên mang theo thùng thức ăn thích hợp với nó. Nhóm lạc giáo hiện diện rất đông cùng nét mặt hân hoan như cầm chắc phần thắng trong tay. Bấy giờ Linh mục An-tôn từ trong thánh đường gần đó bước ra, tay giơ cao Bánh Thánh Thể mới được truyền phép trong thánh lễ. Bấy giờ linh mục An-tôn lớn tiếng nói với con lừa rằng: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, là Đấng đã dựng nên ngươi. Tuy ta bất xứng, nhưng ta đang giữ Người trên tay, ta truyền cho ngươi, hỡi con vật đáng thương, hãy mau đến quỳ gối thờ lạy Người. Cùng lúc ấy, người ta cũng đưa thùng lúa kiều mạch đến trước mặt con vật. Lạ lùng thay, con lừa đã không đoái hoài đến thức ăn hợp khẩu vị, mà đã vâng lời linh mục An-tôn, nó chạy đến gập hai chân trước quì xuống cúi đầu thờ lạy Mình Thánh Chúa Giê-su.

    Trước cảnh tượng ấy, các tín hữu Công Giáo vui mừng vỗ tay reo hò để tạ ơn Chúa, đang khi nhóm lạc giáo kia ngơ ngác không biết phải ứng phó thế nào. Cuối cùng ông trưởng nhóm lạc giáo đã chịu thua. Ông đã giữ lời hứa là từ bỏ lạc giáo và khiêm tốn quay về tin theo giáo huấn chân thật của Hội Thánh Công giáo.

    1. THẢO LUẬN: 1) Bạn sẽ tham dự thánh lễ thế nào để đón nhận được sự sống đời đời do Chúa hứa ban ? 2) Sau thánh lễ, bạn cần làm gì để giới thiệu Chúa cho tha nhân, nhất là cho những người nghèo hèn, bệnh tật và bị bỏ rơi… để họ cũng được chia sẻ niềm vui ơn cứu độ và được tham phần vào sự sống đời đời ?
    2. SUY NIỆM:

    Trong cuộc hành trình về Nước Thiên Chúa, mỗi người cần được ăn lương thực để đủ sức như sau:

    1) Man-na: lương thực bổ sức cho dân Ít-ra-en trên đường về miền đất hứa:

    Dân Ít-ra-en dưới sự lãnh đạo của Mô-sê đã từ Ai Cập tiến về miền đất Ca-na-an do Đức Chúa đã hứa ban cho Ap-ra-ham và con cháu ông (x. St 12,5-7).

    Trong suốt thời gian lưu lạc trong sa mạc, dân Ít-ra-en tuy không còn bánh ăn nước uống vật chất như khi ở Ai Cập, nhưng họ lại được Đức Chúa ban man-na từ trời rơi xuống (x Xh 16,15) và uống nước từ tảng đá chảy ra (x Xh 17). Nhờ đó họ đã đủ sức vượt qua sa mạc trong thời gian 40 năm để sau cùng về tới được miền Đất Chúa hứa ban cho A-bra-ham và con cháu là xứ Ca-na-an.

    2) Bánh và nước: bổ sức cho ngôn sứ Ê-li-a về tới núi của Chúa :

    Sau khi tiêu diệt 450 sãi bụt Ba-an trên núi Các-men (x. 1 V 18,20-40), ngôn sứ Ê-li-a đã bị hoàng hậu I-de-ven sai quân truy bắt, nên ông phải chạy đến Núi Khô-rép để được Đức Chúa bảo vệ.

    Trong cuộc trốn chạy, có lúc ông bị đói khát mệt mỏi và tuyệt vọng, chỉ muốn chết đi cho xong. Nhưng khi đang thiếp ngủ dưới một gốc cây, ông đã được thiên sứ đến đánh thức và mang cho ông bánh ăn nước uống. Nhờ được ăn bánh uống nước của Chúa mà Ê-li-a đã hồi phục sức khỏe và tiếp tục cuộc hành trình tiến về Núi Thánh của Đức Chúa (x. 1 V 19,1-8).

    3) Man-na Mới: bổ sức cho các tín hữu trên đường về Nước Trời:

    Manna xưa là hình ảnh tiền trưng của Bí Tích Thánh Thể do Đức Giê-su thiết lập. Người đã tự hiến làm lương thực thiêng liêng ban sự sống đời đời cho thế gian khi nói rằng: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Bánh tôi sẽ ban chính là Thịt tôi để cho thế gian được sống” (Ga 6,48.51).

    Lương thực nói trên còn là Lời Thiên Chúa như Đức Giê-su đã nói: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3; Mt 4,4). Chính Lời của Thiên Chúa đã nhập thể làm người và ở cùng chúng ta là Đức Giê-su (x Ga 1,14). Người trở thành con đường duy nhất nối liền giữa đất với trời như Người đã nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Từ đây ai muốn lên trời phải ăn được hai của ăn Chúa ban là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa.

    4) Bánh Thánh Thể hôm nay – mầm sống lại của cuộc sống mai sau:

    Ngày nay Hội Thánh cử hành bí tích Thánh Thể để tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa Giê-su và mời gọi mọi người chúng ta năng lãnh nhận, để có mầm sống lại trong mình như lời Chúa phán: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.

    Mỗi tín hữu hôm nay phải năng tham dự thánh lễ và rước lễ, để được hưởng nếm sự ngọt ngào của Chúa Giê-su, hầu có thể vượt qua các thử thách gian nan gặp phải trong cuộc sống. Hãy để Chúa Giê-su Thánh Thể biến đổi chúng ta nên giống Người. Mỗi lần rước lễ chúng ta sẽ cảm nếm được hương vị hạnh phúc thiên đàng, được nghỉ ngơi trong Chúa như lời Chúa hứa: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11,28-30). Ai ăn Bánh Thánh Thể sẽ tiếp nhận được mầm của sự sống lại ở đời sau.

    1. NGUYỆN CẦU

    LẠY CHÚA GIÊ-SU. Mỗi lần dự lễ là chúng con được Chúa kêu gọi ăn Lời Chúa và Thánh Thể do Chúa tặng ban. Khi lên rước lễ là chúng con được đón nhận cả nhân tính và thần tính của Chúa. Xin giúp chúng con siêng năng dự lễ mỗi ngày để được Lời Chúa giáo huấn và được Mình Chúa dưỡng nuôi. Xin cho chúng con biết mở rộng vòng tay đón nhận mọi người sống trong cùng một nhà, ở chung cùng một khu xóm, cùng học tập trong một mái trường, làm việc trong một cơ quan hay nhà máy… Xin cho chúng con biết đón nhận những người đối xử tốt với chúng con mà cả những kẻ không ưa thích nói xấu chúng con. Xin giúp chúng con mở lòng đón nhận Chúa Thánh Thần để được ơn biến đổi nên con thảo của Chúa Cha, nên môn đệ đích thực của Chúa, và nên anh chị em của mọi người trong gia đình Hội Thánh.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. –Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 18 Thường Niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 18 Thường Niên Năm B

     CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Xh. 16, 2-4.12-15; Ep. 4, 17.20-24; Ga. 6, 24-35

    —–

    Mục lục

    1. Bánh Trường Sinh  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Bạn tìm ai  (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Đại dịch và cơn đói hiện sinh  (Gioan Phạm Duy Anh, SJ)

    4. Bánh Trường Sinh-  (Lm. Thái Nguyên)

    5. Đến với Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    6. Điều chính yếu  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Hãy tin và làm theo ý Chúa để sống muôn đời (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    8. Môsê, Người lãnh đạo là tôi tớ của dân (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    9. Tôi tìm kiếm cái gì vậy? (Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương)

    10. Tìm kiếm lương thực tồn tại đến muôn đời  (Lm. Trần Bình Trọng)

    12. Đức Kitô, Bánh Hằng Sống (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    13. Lương thực đời đời (Trầm Thiên Thu)

    14. Ăn cho no bụng hay cho thỏa lòng  (Lm. Nguyễn Xuân Trường)

     

    Mục lục (2018)

    1. Bánh bởi trời  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng) 

    2. Tìm kiếm giá trị tuyệt đối (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Hãy tìm kiếm Nước trời (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Đằng sau vật chất hữu hình (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm) 

    5. Chính là Cha tôi cho các ông ăn  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    6. Tấm bánh được bẻ ra (Văn Hào, SDB)

    7. Bánh bởi trời-  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    8. Cái gì đây? (Trầm Thiên Thu)

    9. Chúa Nhật 18 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

    10. Tôi đang tìm kiếm gì trong cuộc đời?  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc) 

    11. Hãy ra công làm việc (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    12. Chia sẻ Đức Giêsu là Bánh Trường Sinh cho tha nhân  (Lm. Đan Vinh) 

    13. Bánh trường sinh  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    14. Thực thi ý Chúa để sống muôn đời  (Lm. Antôn Nguyễn văn Độ)

    15. Nơi Chúa Giêsu  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    16. Đối xử công bằng với linh hồn ta  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    17. Manna từ trời  (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

    18. Hãy tìm lương thực trường sinh  (Lm. Đinh Lập Liễm)

    19. Cuộc sống muôn đời  (Lm. Nguyễn Thái)

    20. Chia sẻ  (Lm. Inhaxio M. Hải Dương, CRM)

    21. Suy niệm Chúa Nhật 18 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

    22. Suy niệm Chúa Nhật 18 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    23. Đặc sản  (Trầm Thiên Thu)

     

    BÁNH TRƯỜNG SINH.

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Báo cáo về Tình trạng An ninh Lương thực và Dinh dưỡng trên thế giới được thực hiện tháng 7-2020, ước tính có khoảng 690 triệu người rơi vào tình trạng thiếu ăn trong năm 2019 – tăng thêm 10 triệu người so với năm 2018 và thêm gần 60 triệu người trong vòng 5 năm. Với đại dịch Covid-19, tình hình thiếu đói lương thực còn nghiêm trọng hơn, nhất là ở những quốc gia châu Phi và châu Á. Lương thực là một trong những nỗi lo căn bản của con người. Nó cũng là nguyên nhân gây xung đột ở nhiều cấp độ: thế giới, quốc gia, vùng miền và cá nhân.

    Cùng với nạn đói lương thực, con người cũng đang trải qua những nạn đói khác. Đó là đói khát Chân lý và Tình thương. Con người hiện hữu trên trần gian luôn mong muốn tìm về cội nguồn của mình. Con người cũng luôn mong muốn được yêu thương. Những nhu cầu về bánh ăn, mặc dù rất cần thiết để tồn tại, không làm cho con người thoả mãn trọn vẹn. Cùng với nhu cầu về cơm bánh, con người còn có như cầu tìm về Chân Lý. Đức Giêsu đến trần gian để khẳng định với chúng ta: điều mà nhân loại đang tìm kiếm, đó là Chúa Cha, là Thượng Đế, là Ông Trời, là Tạo Hoá. Chính bản thân Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người dẫn chúng ta đến gặp Chúa Cha, là Cha chung của gia đình nhân loại và là nguồn mạch của mọi sự thiện hảo. Được gặp gỡ Chúa, con người sẽ thoả mãn những ước vọng thâm sâu của mình.

    Tác giả sách Xuất hành kể lại một sự kiện trong hành trình sa mạc của người Do Thái để về Đất Hứa. Trước những nhu cầu cấp thiết của họ, Thiên Chúa đã làm mưa manna và cho chim cút bay đến, làm lương thực và thực phẩm cho dân. Nhờ quyền năng của Thiên Chúa và tình yêu thương của Ngài, trong bốn mươi năm hành trình sa mạc, dân Do Thái không cày cấy, không canh tác và trồng tỉa mà vẫn có đủ lương thực và thực phẩm để nuôi sống phần xác. Qua đó, Chúa thể hiện lòng trung tín với dân mà Ngài đã dẫn đưa họ ra khỏi ách nô lệ Ai Cập.

    Nếu Thiên Chúa đã thể hiện quyền năng và tình thương của Ngài trong lịch sử qua hành động cung cấp manna và chim cút, thì nay, Ngài lại tiếp tục thực hiện những điều lạ lùng qua Chúa Giêsu Kitô. Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái, có liên quan đến đề tài Bánh. Sau khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, những người Do Thái chỉ nhìn phép lạ ấy với cái nhìn trần tục, họ mong nhận được bánh mỗi ngày để khỏi phải lao động. Chúa Giêsu muốn nói với họ về Bánh Trường Sinh mà Người ban tặng cho thế gian. Bánh ấy không đơn thuần là vật chất, mà là chính Thịt và Máu Người. Bánh này là lương thực thiêng liêng để nuôi sống con người, biến đổi làm cho họ được trở nên thần linh. Nhờ ăn bánh này mà con người được chia sẻ sự sống của Đấng Tối cao. Khi nhắc lại sự kiện manna trong Cựu Ước, Chúa Giêsu nối kết quá khứ với hiện tại, như hành động có tính liên tục của Thiên Chúa, mặc dù ở bình diện và cấp độ khác. Thiên Chúa, Đấng đã nuôi dưỡng tổ tiên người Do Thái trong sa mạc bằng manna, giờ đây tiếp nối hành động yêu thương ấy qua chính Con Một của Ngài. Thiên Chúa, Đấng ban manna thời ông Môisen và Thiên Chúa Cha của Đức Giêsu là một. Cuộc tranh luận với người Do Thái trong Tin Mừng Thánh Gioan (chương 6) cũng là mạc khải từng bước giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Đây vừa là lời khích lệ, vừa là lời hứa cho những ai thành tâm đón nhận lương thực thiêng liêng trong đức tin chân thành và tâm tình yêu mến.

    Con người hôm nay không chỉ đói lương thực, nhưng còn đói khát kiến thức, văn hóa, và nhất là đói khát tình thương. Điều nghịch lý là trong khi của cải càng ngày càng phong phú, kỹ nghệ máy móc càng ngày càng tinh vi, thì tình người càng ngày càng nghèo đi. Sự nghèo về tình người dẫn đến nghèo về cơm bánh, vì khi người ta sống ích kỷ thì không có sự chia sẻ giúp đỡ nhau. Giáo Hội luôn kêu mời và cổ võ những hoạt động thiết thực nhằm giải phóng con người khỏi đói nghèo, dốt nát và hận thù. Sống màu nhiệm Thánh Thể cách đích thực là cảm thông chia sẻ với người nghèo đói, để họ được sống theo đúng phẩm giá con người và phẩm giá của con Thiên Chúa. Qua Giáo Hội và qua mỗi Kitô hữu, Thiên Chúa vẫn đang đến cứu giúp những người nghèo khó bất hạnh, để nâng đỡ họ và giúp họ vững bước trong đường đời.

    Như dân Do Thái xưa trong hành trình sa mạc, chúng ta đang sống trong cuộc lữ hành trần gian. Cuộc sống đan xen những vui buồn, và đầy những gian nan trắc trở. Giữa những buồn vui trắc trở ấy, chúng ta cần được Chúa dưỡng nuôi thêm sức. Bánh trường sinh mà Chúa Giêsu đã hứa, chính là bản thân Người, tự hiến để nên của ăn của uống thiêng liêng cho chúng ta. Thánh Phaolô khuyên chúng ta, một khi lãnh nhận của ăn thiêng liêng là Mình và Máu Chúa, cuộc đời của chúng ta phải được biến đổi: “Anh em hãy cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”. Con người mới mà Thánh Phaolô nói tới, chính là con người được thần linh hóa nhờ việc kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể, nhờ vậy, chúng ta nên một với Người và hình ảnh của Người tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.

    Mỗi khi dâng thánh lễ và rước Thánh Thể, chúng ta được đón nhận Mình và Máu Chúa Giêsu. Thịt Máu Chúa trở nên máu thịt của chúng ta để nuôi dưỡng và biến đổi chúng ta nên giống như Người. Đó là tác động kỳ diệu của Thánh Thể nơi cuộc đời người tín hữu. Đây là Bí tích của Đức tin. Chỉ có Đức tin mới giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện nhiệm màu. Vâng, Đức Giêsu hiện diện trong Thánh Thể để ở với chúng ta mỗi ngày cho đến tận thế, như lời Người đã hứa.

    Như trên đã nói, số người nghèo đói trên thế giới hiện nay có nguy cơ tăng thêm. Tuy vậy, một trong những nguyên nhân dẫn tới sự nghèo đói là do phân phối tài sản không đồng đều. Nếu con người bớt ích kỷ, nếu người giàu biết chia sẻ cho người nghèo, nếu những quốc gia phát triển văn minh biết quan tâm đến các dân tộc còn lạc hậu và nghèo nàn, thì nạn đói sẽ bị xoá sạch và thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nói đến chuyện thế giới thì xa xôi, mỗi chúng ta, hôm nay và ở địa vị cụ thể mình đang sống, hãy làm một điều gì có thể để nâng đỡ những người nghèo khó xung quanh, đang có nhu cầu cấp thiết trong đời sống. Trong thời gian dịch Covid-19, chúng ta được chứng kiến tấm lòng quảng đại của người dân Việt: những bữa cơm miễn phí, những dịch vụ “không đồng” là những chia sẻ tuyệt vời, bất kể nhân danh tôn giáo nào, cũng là những hành động nhân văn đầy tình người. Đối với người tín hữu, những nghĩa cử bác ái với tha nhân là những chứng từ sống động cho thấy chúng ta là con cái của Cha trên trời. Chúng ta hãy cầu nguyện với Thánh Augustinô:

    Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là Tình Yêu tràn đầy và là sự ý thức chắc chắn của con. Với Lời của Chúa, Chúa đã gặp gỡ trái tim con và con trở thành người yêu của Chúa. Nhưng cũng như bầu trời, trái đất và tất cả những gì chất đầy nơi chúng, tất cả đều nói với con rằng, con cần phải yêu mến Chúa.

    Về mục lục

    BẠN TÌM AI

    Lm. Jos DĐH.

    Tìm em như thể tìm chim, đồng kia bãi nọ biết đâu mà tìm. (ca dao). Người xưa thật khéo khi có ý nhắc hậu thế, nếu để mất phương hướng, việc kiếm tìm hạnh phúc của ta sẽ bế tắc, vô vọng. Sống không mục tiêu, có khác gì đời tôi cô đơn, “hẩm hiu”, ví như hành trình cuộc đời thiếu bạn hiền, chân sải bước, nhưng không còn biết đâu là điểm dừng ! Trong khi đó: tìm nơi có đức gởi thân, tìm nơi có nhân gởi của, ngay từ tấm bé, ai ai cũng được biết đến như một nghệ thuật sống kiếp nhân sinh. Hãy tận dụng tốt nhất những gì mình có: khỏe dùng sức, yếu dùng mưu. Giáo lý nhà phật thì nói: người khờ tích của, người khôn tích đức, người giác ngộ là người biết tu luyện để thoát khổ. Thực ra, thành công là thứ khiến ta mãn nguyện, tuy nhiên, thất bại mới chính là lúc giúp ta trưởng thành. Do đó, khôn hay khờ, bạn đã tìm kiếm, đã cố gắng, hoặc là mãn nguyện, hoặc là trưởng thành, cả hai điều đều tốt.

    Tìm kiếm quân sư bàn hỏi, tìm kiếm thầy thọ giáo, đó là điều mà kẻ khôn ngoan từng áp dụng. Người ta tìm kiếm thầy học nghề vì trách nhiệm miếng cơm manh áo, người ta tìm kiếm nhau để trục lợi, có khi tìm đến bên nhau để chung chia nỗi khắc khoải với gia đình xã hội. Cứ bình thường, nơi đâu được no đủ, nơi đó gọi là đáng sống, ai giúp tôi có của ăn vật chất, tinh thần dồi dào, đó là ân nhân, là thần tượng của tôi. Đám đông dân chúng năm xưa tìm kiếm thầy trò Đức Giêsu, họ rất vui vì đã gặp, đã thấy, thế rồi họ đã quên điều quan trọng gì chăng, họ hỏi một câu xem ra quả là ‘lạc điệu’: “thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ” ? Suy nghĩ tích cực một chút, nếu ở ngoài cuộc chúng ta sẽ cho rằng: méo mó, có còn hơn không. Biết tìm đến Đức Giêsu đã là tốt rồi, dù chưa nói hay, chưa thể hiện được niềm tin, ít nhất bạn cũng được nghe Đức Giêsu là Vị Thầy đức độ.

    Sau khi gặp lại đám đông, dù có nghe những lời vu vơ, Đức Giêsu vẫn nhẫn nại giúp họ đi xa và sâu hơn: “các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến muôn đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi”. Có phải Đức Giêsu muốn nói lên một thông điệp: đã diễm phúc gặp, thấy, tin, thì hãy sống niềm tin. Nếu bạn đúng, bạn không cần phải nổi cáu, nếu bạn sai, bạn lấy tư cách gì mà nổi giận ? Quả thực, Đức Giêsu dư biết sự giới hạn, quá rõ bản tính kiêu căng của đám đông, biết cả sự bất toàn của chúng ta hôm nay, nhưng sứ mạng Ngài thực thi là rao truyền Thiên Chúa cứu độ, Thiên Chúa giầu lòng xót thương. Tình yêu thật, không phải là tìm thấy người hoàn hảo, mà là học cách để thấy điều tuyệt vời nơi đám đông chưa hoàn hảo.

    Bạn tìm ai ? Có bao giờ bạn tự tin quả quyết rằng: tôi đã gặp Đấng Kitô, bây giờ tôi đang thao thức được sống hết tình, hết mình, trước ơn gọi yêu thương mà Ngài trao phó ? Kinh nghiệm nơi cuộc sống luôn nói với ta nhiều điều: bạn không cần phải hiểu biết tất cả mọi thứ, nhưng từng giây phút trong đời, nhất định bạn phải biết đặt câu hỏi đúng, chuẩn. Đức Giêsu không những gây được thiện cảm với đám đông, Ngài còn đủ bản lĩnh giúp đám đông tiếp tục tiến xa hơn, biết đặt câu hỏi chính xác hơn: “thưa Ngài, chúng tôi phải làm gì là tin vào Thiên Chúa” ? Vâng, nói mạnh mẽ một chút thì mưu cao chẳng bằng chí dày. Dù con người ngạo ngược, chuyên bắt bẻ các thánh hiền, hoặc cứng lòng ngoan cố đến đâu, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa của tình thương. Con tim có những lý lẽ, mà lý trí không giải thích được. (Pascal).

    “Đây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến”. Đó là kết quả việc tìm kiếm, là câu trả lời bạn tìm ai. Nếu đám đông dân chúng năm xưa tìm kiếm Đức Giêsu chỉ muốn được no bụng, thích được xem dấu lạ, hệ quả sẽ là: rượu nhạt uống mãi cũng say, người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm. Cao lương mỹ vị ăn hoài cũng dở, bài giáo huấn chất lượng, nghe mãi cũng nhàm, ngày này tháng nọ chỉ được nhìn xem biểu diễn một màn ảo thuật, hẳn người ta cũng ngao ngán như phim một tập. Đáp án chuẩn, hành động đẹp thay cho lời muốn nói, chính là hãy khiêm tốn học hỏi và mau đem “cái biết” ra thực hành. Hãy đón nhận và chia sẻ: “vì bánh của Thiên Chúa phải là bánh từ trời ban xuống, bánh ban sự sống cho thế gian”.

    Bạn tìm ai ? Câu trả lời bạn tin Đức Giêsu là Thiên Chúa, chỉ trọn vẹn khi mà bạn biết sống thánh ý Chúa, biết thực thi giới luật yêu thương của Chúa. Bạn đã gặp Đức Giêsu, bạn đã tuyên xưng Thầy là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống, đáp án mực thước nhất, đầy đủ nhất, phải là thưa Thầy, xin ban thêm đức tin cho con, xin cho tâm hồn con có mãi sức mạnh tình yêu Chúa hiện diện. Cơ hội để sống có ý nghĩa, dịp thuận tiện để trả lời, bạn đang tìm sự sống ở đời này, hay tìm sự sống trong Đấng Kitô là nghiêm túc. Bạn đã gặp Đức Giêsu, cứ tạm gọi đó là duyên, là ơn ban, nhưng giữ mãi được niềm vui, được tình yêu, có nghĩa là bạn được sống mãi giây phút ban đầu, vì trường học thì có “bút xóa”, trường đời thì không. Xin cho mỗi người chúng ta giữ mãi được lập trường theo Đức Kitô: “ai đến với Ta không hề đói, ai tin vào Ta, sẽ không khát bao giờ”. Amen.

    Về mục lục

    ĐẠI DỊCH VÀ CƠN ĐÓI HIỆN SINH

    Gioan Phạm Duy Anh

    Trong thời điểm hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới người ta rơi vào cuộc khủng hoảng thừa, thừa vật chất, tiền của và vaccine, tuy nhiên ngược lại ở một số quốc gia họ lại rơi vào cuộc khủng hoảng thiếu, họ thiếu lương thực, thiếu vaccine, thiếu tương quan và thiếu tình thương. Nhất là ở những nghèo họ chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch, họ khao khát có được tấm bánh để khỏa lấp cơn đói. Thế nhưng trên thực tế, không chỉ những người nghèo mới đói nhưng cả những người giàu cũng đói. Họ đói tình thương, sự quan tâm và nhất là họ khao khát sự sống đời đời. Đâu là nơi giúp con người khỏa lấp cơn khát hiện sinh này. Chúa Giêsu là tấm bánh ban sự sống đời đời cho con người.

    1. Cơn đói và sự thèm khát

    Cơn đói là một nhu cầu tự nhiên của cơ thể cần cung cấp lương thực và những nhu cầu thiếu yếu. Hẳn rằng bạn và tôi đều có kinh nghiệm này. Tuy nhiên người ta không chỉ đói về vật chất nhưng người ta còn đói khát về tương quan, niềm tin, niềm hy vọng, và tình yêu. Họ khao khát được yêu thương chăm sóc, được thừa nhận và dự phóng đời mình vào vô tận. Và nhất là khao khát sự sống đời đời. Khát vọng sâu xa của con người không thể chỉ được khỏa lấp bởi những đáp ứng vật chất nhưng chỉ bằng lương thực liêng liêng, lương thực không hề hư nát.

    Nếu đọc lại những trang đầu của Sách Sáng Thế bạn thấy rằng, Adam và Eva cũng cảm nhận được điều này. Họ đói tự do, đói sự công chính và họ khao khát sự sống đời đời. Nhưng có một điều khao khát đó bị đặt sai chỗ, khao khát của họ đặt nơi con rắn cho lên họ tiếp tục đói khổ. Họ bị trắng tay. Ở đây cơn đói cũng là con đường để rồi cơn cám dỗ len lỏi vào. Eva trông trái thì đẹp, ăn thì ngon và nghĩ rằng việc ăn trái cấm sẽ làm cho mình khôn ra, bà đã ăn, bà đưa cho cả chồng và ông cũng ăn.[1]

    Không chỉ hai ông bà nguyên tổ nhưng dân Israel cũng thế. Họ được Thiên Chúa giải thoát dẫn đi trong sa mạc để đến vùng đất hứa nhưng họ lại thèm khát nồi thịt trong cảnh nô lệ bên Ai Cập.[2] Họ thà chấp nhận làm nô lệ để được ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê còn hơn chấp nhận qua sa mạc để được tự do. Cám dỗ của những cơn đói tâm linh vẫn là thách đố cho bạn trên hành trình đi tìm tự do. Một mặt bạn khao khát tự do đích thực, nhưng mặt khác bạn thích ở lại trong những khung cảnh chật hẹp của tự do cá nhân và sử dụng chúng theo những gì bạn muốn.

    Trong sa mạc, sau khi ăn chay bốn mươi đêm ngày, Chúa Giêsu cảm thấy đói nhưng Ngài đã chiến thắng cơn đói và sự cám dỗ bằng lương thực Lời Chúa và việc vâng phục ý Cha. Cám dỗ len lỏi từ cơn đói và thúc đẩy con người tìm cách thỏa mãn cơn đói từ đó dẫn đến con người phạm tội. Có nhiều thứ tội xuất phát từ cơn đói và việc con người đặt sai chỗ khát vọng của mình. Thay vì đặt khao khát của mình vào Đấng là nguồn cội của sự sống và sự tốt lành, họ lại đặt khao khát của mình trên con rắn và để rồi cuộc đời vẫn mãi long đong.

    Giống như Eva, bạn và tôi, động lực ban đầu của việc lựa chọn là tốt lành, hay nhìn có vẻ tốt lành như ngon, đẹp, đáng quý và trở nên khôn ngoan. Ngay cả những người làm điều dữ cũng nghĩ rằng tôi làm điều này vì sự tốt lành hoặc điều này có thể giúp tôi giải tỏa cơn khát hiên sinh và siêu hình. Việc đặt tự do sai chỗ dẫn đến những hậu quả thảm khốc. Đánh mất chính mình, với tạo thành và tương quan với Chúa.Vậy bạn cần làm gì? Thưa phải sống sự công chính.

    1. Bánh và sự công chính

    Sự công theo thánh Phaolô là sự công chính bởi đức tin (vào Đức Kitô.) Sự công chính có liên quan chặt chẽ tới Bánh và Đức Tin. Bạn tin nên bạn đón nhận Bánh. Việc đón nhận Bánh mời gọi bạn sống công chính. Nói cách khác bạn được mời gọi ăn bánh công chính. Bánh công chính ở đây chính là tin vào Lời và tin vào Chúa Giêsu, được trở nên một và biến đổi trong Ngài. Hệ quả tất yếu là cần phải thay đổi lối sống và trở thành con người mới. Thánh Phaolô mời gọi cộng đoàn Êphêxô cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới. “Hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt”[3] Như thế việc đón nhận Đức Kitô trong lòng tin mời gọi người Kitô hữu trở nên con người mới.

    Có ba dấu chỉ cho thấy bạn trở nên con người mới đó là: mới trong lòng trí, được tác thành theo ý Chúa và trở nên thánh thiện xứng với sự thật. “Anh em hãy trở nên mới trong lòng trí anh em, hãy mặc lấy người mới đã được tác thành theo thánh ý Chúa trong sự công chính và thánh thiện xứng với sự thật.”[4] Đây là ba dấu chỉ mà thánh Phaolô mời gọi những tín hữu Êphêxô hãy thực hành. Điều này cũng là điều mà bạn có thể học nơi Thánh Phaolô, trở nên con người mới, đón nhận bánh công chính để có được sự sống đời đời.

    1. Bánh ban sự sống

    Mặc dù khác nhau về chủng tộc, màu da, trình độ văn hóa, mỗi người có thể cảm nhận những cơn đói khác nhau. Tuy nhiên có một mẫu số chung mà mỗi người có thể chia sẻ đó là việc khao khát sự sống đời đời. Vậy bạn sẽ tìm được thứ bánh này ở đâu?

    Chúa Giêsu trả lời rất rõ: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.”[5] Chúa Giêsu khẳng định rất mạnh mẽ và dứt khoát “Chính Ta.” Ngài không dựa vào thẩm quyền của ai khác để trao ban sự sống nhưng là vào chính Ngài bởi vì Ngài là Chúa, là nguồn của sự sống. Ngài có thể thỏa mãn tất cả những cơn đói khát thiêng liêng của con người. Đôi khi sau khi bạn ăn no, bạn vẫn cảm thấy đói có lẽ bởi vì bạn chưa ăn thứ bánh mà Chúa Giêsu mời gọi. Thế giới cung cấp cho bạn nhiều lựa chọn và nhiều thứ bánh. Đáp ứng cho bạn những như cầu và giải khát nhất thời nhưng không giúp cho bạn giải được cơn khát về sự sống vĩnh cửu.

    Ở những thời điểm khác nhau có lẽ bạn và tôi có những khao khát và ước muốn khác nhau. Khi còn trẻ bạn có nhu cầu được bảo vệ và chăm sóc, lúc trưởng thành bạn mơ ước một công việc ổn định và một gia đình hạnh phúc, lúc về già bạn khao khát được thảnh thơi bên đàn con đông đúc. Những khao khát này là rất chính đáng và rất hợp lý, điều mà nhiều người đều mơ ước. Tuy nhiên có một thực tế rằng những điều này không còn mãi với bạn. Đại dịch phơi bầy sự mong manh và sự hào nhoáng của những giá trị mà bạn tin tưởng. Những điều bạn tưởng chừng vững bền lại không còn mãi với bạn. Nó đánh vào sự yếu đuối và tính dễ tổn thưởng của mỗi người, sự kiêu hãnh, giàu có và sự phong phú hào nhoáng. Người giàu cũng bệnh, người nghèo cũng bệnh, tổng thống cũng bệnh, dân thường cũng bệnh. Đại dịch chỉ ra cơn đói hiện sinh thực sự của bạn và tôi, bạn cần tình yêu, cần sự sự liên đới, bạn khao khát ý nghĩa cuộc sống, bạn khao khát gặp gỡ Đấng là nguồn cội và có thể giải tỏa mọi cơn khát tâm linh. Đứng trước đại dịch bạn cảm thấy lo lắng, sao xuyến, sợ hãi, lo âu, có khi bạn tự hỏi Thiên Chúa ở đâu, Ngài có còn yêu thương bạn nữa không. Bạn thực sự khát một câu trả lời về sự hiện diện của Chúa và về sự quan phòng của Ngài.   Hơn nữa bạn cũng nên biết rằng Thiên Chúa không phải là nguyên nhân của sự dữ nhưng chính ma quỷ mới là nguyên nhân của sự dữ.

    Hiển nhiên, bạn có quyền tra vấn về đức tin của mình tuy nhiên bạn đừng mất niềm hy vọng, bởi vì niềm hy vọng dẫn bạn tiến về phía trước và vượt qua tăm tối. Vả lại ngay cả khi bạn có thể trả lời tất cả những câu hỏi mà bạn thắc mắc thì những đau khổ vẫn bủa vây bạn. Sự thỏa mãn những đòi hỏi của lý trí không khỏa lấp những đòi hỏi của khoảng trống hiện sinh và siêu hình, khao khát vô tận. Và chỉ có sự vô tận mới khỏa lấy được cơn khát vô tận của bạn mà thôi. Chúa Giêsu chỉ cho bạn nơi mà bạn có thể được bồi dưỡng và nghỉ ngơi. “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.”[6]

    Không chỉ bạn và tôi là những người khao khát sự sống đời đời và hạnh phúc vĩnh cửu nhưng Thiên Chúa Ngài cũng đang khao khát bạn và tôi hãy đến và để được hưởng sự sống nơi Ngài. Bản chất của tình yêu là khao khát sự thân mật và chia sẻ sự sống. Thiên Chúa là tình yêu, Ngài cũng đang khao khát bạn và tôi đến với Ngài để được kín múc sự sống không hề vơi cạn. Xin cho mỗi người chúng con cũng biết đặt niềm tin tưởng và sự phó thác nơi Chúa vì chỉ có Chúa mới làm no thỏa những cơn khát của mỗi người chúng con.

    ——-

    [1] St 3: 1

    [2] Xh 16; 3

    [3] Ep 5,1-2

    [4] Ep 5; 22-24

    [5] Ga 6; 35

    [6] Ibidem

    Về mục lục

    BÁNH TRƯỜNG SINH-

    Lm. Thái Nguyên

     Suy Niệm

    Manna vẫn được xem là bánh của Thiên Chúa (Tv78,24; Xh l6,15). Trong Do Thái giáo, có một niềm tin mạnh mẽ khi Đấng Mêsia đến, Ngài sẽ lại ban Manna. Việc ban Manna được coi là ông việc tối quan trọng đối với vai trò của Môsê, nên đối với dân chúng, nếu Đức Giêsu là Đấng Mêsia thì phải làm hơn thế nữa.

    Miếng ăn là nỗi lo của mọi người trong mọi thời đại, nhất là đối với dân nghèo. Dân chúng vùng Galilê sau khi được Chúa cho một bữa ăn no nê, lại tiếp tục đổ xô đi tìm Ngài. Ðức Giêsu không trách họ về chuyện đó, nhưng Ngài cũng không ngại nói thẳng: “Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Con người ta vẫn thế, dễ để cho miếng ăn vật chất quyết định tính cách của mình. Đối với những người quyền thế cũng vậy: “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Không là gì mà“Còn bạc còn tiền còn đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi”. Ngay trong tôn giáo cũng thế: có thực mới vực được đạo. Còn chúng ta thì sao?

    Có thể chúng ta cũng bị yếu tố vật chất tác động mạnh mẽ: khi sung túc thì sốt sắng; khi túng thiếu thì nguội lạnh, thậm chí có người buông bỏ đời sống đức tin khi làm ăn thất bát, cầu xin mãi mà cũng chẳng thấy hơn gì. Cũng như dân Do Thái xưa, muốn quay về Ai Cập để tìm lại miếng ăn xưa, dù phải tiếp tục đem thân làm nô lệ. Đức Giêsu muốn nâng cao phẩm cách của con người nên đã đưa ra lời cảnh giác: “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”. 

    Rất tiếc, người dân Galilê cũng lại nhớ đến chiếc bánh hôm qua trong sa mạc. Họ dừng lại ở phép lạ hóa bánh bên ngoài, không muốn tìm kiếm hay mơ ước những gì lớn lao hơn, chỉ xin cho được có bánh ăn mãi. Con người ngày nay trong điều kiện kinh tế tiến bộ vượt bực, nhưng có lẽ tâm trạng cũng không khác gì dân Do Thái xưa, chỉ muốn sống với những gì trước mắt. Người nghèo thì bị cuốn hút vào công việc làm ăn, để giải quyết vấn đề cơm áo gạo tiền hằng ngày. Người giàu thì chạy theo tiện nghi và thời trang. Đứng trước cuộc sống hiện đại, ta thấy nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao, tìm kiếm sự thỏa mãn ngày càng nhiều. Rốt cuộc, kẻ nghèo người giàu đều có nguy cơ trở nên nô lệ cho vật chất, không nhận ra phẩm giá cao cả của đời mình.

    Cơm bánh không thể thỏa mãn cơn đói của con tim và tinh thần. Con người còn đói rất nhiều thứ: đói được tôn trọng, được chấp nhận; đói niềm tin, đói hy vọng, đói tình yêu, an bình và lẽ sống. Cho dù đã thỏa mãn mọi thứ trong cuộc đời này từ vật chất cho tới tinh thần, thì người ta vẫn cảm thấy thiếu hụt điều gì đó rất sâu xa, mà thiếu nó thì mọi cái khác đều trở thành dư thừa. Chẳng lạ gì mà các bạn trẻ thành công và ngay cả những người đã thành đạt vẫn rơi vào thất vọng, cô đơn, chán chường, có khi tuyệt vọng, vì không tìm thấy ý nghĩa cho đời mình. Ý nghĩa đó hay khát vọng sâu xa nhất của con người là chính Thiên Chúa, là sự sống đời đời chứ không phải sự sống đời này. Thiên Chúa mới là cùng đích, là chóp đỉnh của mọi khát vọng, là suối nguồn hạnh phúc của đời sống con người. Đó cũng là kinh nghiệm của thánh Augustinô, luôn khắc khoải cho tới khi nào gặp được chính Chúa.

    Mọi khát vọng của con người cũng chỉ là biểu hiện sự khao khát Tuyệt Đối mà Thiên Chúa đã đặt trong lòng. Đức Giêsu khơi dậy sự khát vọng đó nơi tâm hồn con người. Ngài không cho dân chúng thứ manna ngày xưa, nhưng cho họ thứ bánh đích thực bởi trời, bánh ban sự sống đời đời như Lời Ngài công bố: “Chính tôi là bánh trường sinh, Ai đến với tôi sẽ không đói, ai tin vào tôi sẽ không khát bao giờ”. Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu, hãy tin tưởng tuyệt đối vào Ngài. Hãy để cho Lời Ngài và Mình Ngài nuôi dưỡng ta, thần hóa ta, để ta đạt tới chính Thiên Chúa, Đấng duy nhất lấp đầy khao khát vô biên của con người.

    Cầu nguyện

    Lạy Chúa!
    Kinh nghiệm sống cho con thấy,
    càng hưởng thụ con người càng khao khát,
    thỏa thích rồi nhưng lại cứ khát khao,
    mọi thứ trần gian cho dù có đầy tràn,
    cũng chẳng thể làm lòng con thỏa mãn.

    Có bao người dư thừa thế lực và tiền bạc,
    nhưng chẳng thể tìm thấy được bình an,
    cuối cùng rồi cũng đến lúc chán chê,
    có khi còn phải gánh lấy những ê chề,
    còn có cơ may khi ai đó biết quay về,
    để tìm cho đời mình một ý nghĩa.

    Ý nghĩa của đời con là chính Chúa,
    Đấng dựng nên con cho chính Ngài,
    bởi vì mọi thứ khác sẽ tàn phai,
    càng bám níu lại càng thêm hư hại,
    chẳng lạ gì con khắc khoải khôn nguôi,
    cho tới khi được yên hàn trong Chúa.

    Nhìn vào tận thâm tâm con mới thấy,
    trái tim người có khoảng trống mênh mông,
    mà chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy,
    nhưng thực tế tuổi trẻ chúng con vẫn u mê,
    vẫn chạy theo vinh hoa và lợi lộc trần thế.

    Xin cho chúng con sớm nhận ra,
    Chúa chính là bánh trường sinh,
    bánh đem lại sự sống mãi muôn đời,
    mà chúng con được diễm phúc cao vời,
    được nhận lấy trong từng thánh lễ,
    xin cho lòng chúng con luôn say mến,
    tìm mọi cách để được đến với Ngài. Amen.

    Về mục lục

    ĐẾN VỚI CHÚA

    Bông hồng nhỏ

    Con người luôn khao khát kiếm tìm hạnh phúc. Càng kiếm tìm, người ta càng đói khát. Vật chất là cái chóng qua, bởi thế, nó cũng chỉ làm cho người ta no thỏa tạm thời. Người nghèo lo lắng cho miếng cơm manh áo, hạnh phúc của họ là có đủ cơm ăn áo mặc. Khi đã đủ ăn đủ mặc, người ta lại nỗ lực làm việc mong được ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn. Khi đã phát tài, họ lại bị cuốn vào cuộc chạy đua hưởng thụ. Nhưng liệu người ta có hạnh phúc thật sự không? Có bao người nghèo phải khóc vì quá khổ nhưng cũng có không ít người giàu phải khóc vì không hạnh phúc.

    Thời Chúa Giêsu, có rất nhiều người nghèo khổ, bệnh tật. Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân và làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, cho họ được ăn no nê.  Nhưng Chúa Giêsu không phải là một vĩ nhân hay một vị thần đến để giải quyết vấn đề nghèo đói hay bệnh tật của nhân loại. Người đã khẳng định rằng: “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 37-40).

    Sau khi được ăn bánh no nê từ phép lạ hóa bánh của Thầy Giêsu, đám đông dân chúng muốn tôn Người lên làm vua. Biết thế, Đức Giêsu liền trốn lên núi một mình. Khi không thấy Người và các môn đệ ở đó, họ liền đi tìm Người. Khi gặp Người ở bờ biển bên kia, họ nói với Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?” Chúa Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông tìm tôi, không phải vì các ông đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6, 26). Lý do mà đám đông vất vả đi tìm Chúa chỉ vì điều họ đã nhận được: ăn bánh no nê. Còn ta, ta có đi tìm Chúa không? Động lực nào đang thôi thúc ta tìm kiếm Chúa? Theo Chúa, ta được mời gọi hãy tìm kiếm Chúa chỉ vì yêu mến Chúa chứ không phải vì những gì ta nhận được. Tình yêu đích thực phải xuất phát từ con tim chứ không vì cái lợi trước mắt. Tình yêu vô vị lợi phải vượt lên trên cảm xúc, vượt lên trên những tình cảm quyến luyến hay niềm vui, sự an ủi mà ta nhận được. Những ân huệ mà ta đã và đang lãnh nhận là ơn nhưng không của Thiên Chúa chứ không phải do ta ra công tìm kiếm được.

     Nhìn vào tấm gương của các thánh, ta được mời gọi hãy yêu mến Chúa cách chân thành, vô vị lợi. Các thánh là những người rất trưởng thành trong tình yêu. Các ngài yêu Chúa chỉ vì Chúa. Do đó, dù ở trong hoàn cảnh nào, dù sướng vui hay đau khổ, các ngài vẫn một lòng yêu Chúa. Còn ta, khi hạnh phúc, ta có nhớ đến Chúa mà dâng lợi tạ ơn, ca ngợi, chúc tụng và cảm tạ Người không? Khi gặp đau khổ, tại sao ta than trách và không đón nhận thánh giá đời mình? Trải qua muôn vàn đau khổ và thử thách, ông Gióp vẫn một lòng kính mến Chúa trên hết mọi sự. Ta hãy suy gẫm lời ông nói: “Chúng ta đón nhận điều lành bởi Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?” (G 2,10). Chúa Giêsu biết rõ lòng dạ con người. Người không trách mắng đám đông nhưng hết lòng khuyên nhủ họ: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Ðấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6, 27).

    Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6, 29). Mỗi lần đọc kinh Tin Kính là ta đang tuyên xưng đức tin. Nhưng nếu chỉ tuyên xưng đức tin mà không sống đức tin thì chưa gọi là tin. Đức tin nơi ta phải được diễn tả qua hành động, bằng chính đời sống của ta. Tin vào Chúa Giêsu là sống như Người đã sống: tất cả được diễn tả bằng trái tim yêu thương. Đó là mến Chúa và yêu Người. Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6, 35). Chỉ bằng cách đến với Chúa Giêsu Thánh Thể – nguồn mạch tình yêu và sức sống của ta, lắng nghe Lời Người dạy dỗ, ta mới biết yêu như thế nào. Người sẽ dạy dỗ và hướng dẫn cho ta trong mọi hành trình, chỉ vẽ cho ta trong mọi việc ta làm. Trong tình hình dịch bệnh hiện nay, đâu là cách ta diễn tả đức tin vào Chúa Giêsu?

    Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã luôn yêu thương và hướng dẫn con. Cảm tạ Chúa đã luôn bày tỏ cho con tình yêu bao la của Chúa. Xin củng cố đức tin trong con và thêm sức cho con, giúp con biết sống đức tin bằng cả đời sống của mình. Amen.

    Về mục lục

    ĐIỀU CHÍNH YẾU

    Thiên San

    Tin Mừng nhiều lần thuật lại cho chúng ta về việc dân chúng lũ lượt đi tìm Đức Giêsu. Có những lần, khi nhìn thấy đám đông dân chúng chạy đến với mình, Đức Giêsu không khỏi chạnh lòng thương. Người lưu tâm đến tất cả những ai đến với mình. Lần khác, khi các môn đện đến báo tin rằng dân chúng đang tìm Thầy và muốn Thầy ở lại với họ nhưng Người đã không ở lại. Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện tương tự: dân chúng lũ lượt đi tìm Thầy Giêsu. Nhưng lần này, Người có vẻ quá thẳng khi trả lời với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,26).

    Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Vì yêu thương nhân loại, Người đã tự nguyện xuống thế làm người, hi sinh mạng sống trên thánh giá để cứu chuộc nhân loại tội lỗi. Tình yêu của Người luôn rộng mở, sẵn sàng trao ban và cứu chuộc. Dân chúng đến với Người đông đảo. Nhiều người trong số họ thật sự tin vào quyền năng của Người, một số khác vì tò mò, vì “được ăn bánh no nê”…  Đức Giêsu thấu suốt mọi sự. Người thừa biết những kẻ đến với Người vì điều gì. Đức Giêsu không chỉ chạnh lòng, chữa lành bệnh tật, trừ quỷ, hóa bánh ra nhiều nuôi đám đông ăn no mà còn chỉ cho họ thấy điều gì là cần thiết cho đời sống, và nhất là Người chỉ cho dân chúng thấy rõ cách để thực hiện điều Chúa Cha muốn: “Việc Thiên Chúa muốn các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,29).

    Khi đến với Chúa, chúng ta cũng có những mong đợi. Người sẵn lòng lắng nghe mọi mong đợi của ta. Người biết điều gì tốt và cần thiết cho chúng ta. Khi thấy đám đông đến với mình chỉ vỉ “cái bụng”, Người không ngần ngại nói cho họ biết điều đó. Người hướng họ đến điều cần thiết nhất, những gì cần thiết cho đời sống mai này: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6, 27). Nhưng dân chúng lại thách thức Người: “Vậy chính ông, ông làm được được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây?” (Ga 6, 30).

    Trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống, khi cầu xin Chúa một điều gì đó, có thể chúng ta cũng đã từng có thái độ thách thức Thiên Chúa. Thiết nghĩ, chúng ta cần lắng nghe lời khuyên nhủ chân tình của thánh Phaolô tông đồ: “Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và mặc lấy con người mới, là con người được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4, 23-24). Hành trình chúng ta đang bước đi chẳng khác hành trình dân Do Thái xưa trong sa mạc. Chúng ta cũng đã không ít lần kêu trách Thiên Chúa qua các trung gian của Ngài như cách dân chúng đã trách cứ ông Môsê. Thiên Chúa lắng nghe tất cả. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa tỏ bày cho chúng ta biết điều quan trọng nhất: “tin vào Đấng Người sai đến”. Đức Giêsu chính là Đấng ấy. Thần Khí sẽ giúp chúng ta biết cách cải biến con người của mình theo đúng ý Thiên Chúa. Việc của chúng ta là hoán cải và hoán cải mỗi ngày cùng tin tưởng vào Thiên Chúa giàu lòng xót thương. Vì có thương thì Người mới sửa dạy.

    Thời Cựu Ước Thiên Chúa đáp lại lời kêu cách của dân chúng bằng cách ban bánh và thịt cho họ. Thiên Chúa thời Tân Ước qua Đức Giêsu đã thực hiện một bước tiến ngoạn mục khi trao ban chính Mình cho nhân loại. Người trao ban chính Mình làm của ăn nuôi dưỡng chúng ta qua bí tích Thánh Thể. “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6, 35). Của ăn nuôi thân xác thật sự quan trọng nhưng của ăn mang lại sự sống đời đời là điều quan trọng nhất, chính yếu hơn cả. Chúng ta hãy đến với Người để được nuôi dưỡng và được vui hưởng sự sống đời đời.

    Về mục lục

    HÃY TIN VÀ LÀM THEO Ý CHÚA ĐỂ SỐNG MUÔN ĐỜI

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Chúng ta đang chứng kiến cảnh con người trên thế giới giành giật sự sống trước cái chết do đại dịch Covid gây ra.

    Cộng đoàn con cái Israel trước cái đói thể lý. Đói không có gì ăn thì sẽ chết. Họ sợ chết, nên họ kêu trách Môsê và Aaron: “Thà chúng tôi chết trong đất Ai-cập do tay Chúa, khi chúng tôi ngồi kề bên nồi thịt và ăn no nê. Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói?” (Xh 16, 2-4)

    Dân chúng thời Chúa Giêsu, vì cái bụng, hay cụ thể hơn họ sợ chết đói nên đi tìm bánh để ăn chứ không tìm Đấng Cứu Thế. Lời Chúa Giêsu minh chứng: “Các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê” (Ga 6, 26).

    Từ cái bụng rỗng không có gì, tức đói thể xác, Thiên Chúa đã cho “cho bánh từ trời rơi xuống như mưa”, nhưng cũng để thử coi dân có tuân giữ lề luật của Chúa hay không (x. Xh 16, 4). Từ của ăn phần xác, Chúa Giêsu khơi dậy sự khao khát của ăn đích thực cho sự sống đời đời nơi lòng họ. Tìm kiếm bánh để ăn là cần thiết, nhưng vun trồng mối quan hệ với Chúa Giêsu, củng cố niềm tin vào Người, Ðấng là bánh sự sống, đã đến để giải cơn đói chân lý, cơn đói công bình, tình yêu còn quan trọng và cần hơn thế nữa. Để có được thì ngay hôm nay phải ra công làm việc, việc đó chính là: “Tin vào Chúa Giêsu là Đấng mà Chúa Cha sai đến” (Ga 6,29).

    Con người đã, đang và sẽ làm mọi cách để có được sự sống đời đời bằng nỗ lực của chính mình. Nhưng dù y học có tiến bộ đến đâu đi chăng nữa, hứa hẹn tăng tuổi thọ cho con người, thì những nỗ lực đó không giúp con người sống mãi được. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể cho chúng ta sự sống đời đời, vì Chúa là “Sự Sống”. Chúa hứa sẽ “tiêu diệt sự chết đến muôn đời” và ban sự sống vĩnh cửu cho những ai trung thành với Chúa. (x.​ Is 25, 8; 1 Ga 2,25). Tất cả những ai vâng lời Thiên Chúa đều có cơ hội sống đời đời (x. Cv 10,34, 35).  Câu hỏi: Làm sao để được sống đời đời là vấn nạn con người ở mọi nơi mọi thời đặt ra. Thánh Gioan cho ta câu trả lời: “Kẻ làm theo ý Thiên Chúa thì lưu tồn vạn đại” (x. 1Ga 2,17).

    Đọc Tin Mừng Ga 6, 24-35, chúng ta thấy của ăn để sống đời tạm này cần phải kiếm tìm thế nào, thì của ăn cho sự sống đời đời càng phải ra công tìm kiếm hơn. Chúa Giêsu mời gọi dân chúng : “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu” (Ga 6,26-27). Chính Chúa Giêsu là bánh sự sống thật (x. Ga 6, 35), Người đến xoa dịu không chỉ cơn đói thể xác nhưng cả cơn đói linh hồn khi ban lương thực thiêng liêng có thể thỏa mãn cơn đói sâu thẳm nhất trong con người. Vì vậy Người mời gọi đám đông dân chúng hãy tìm thứ lương thực tồn tại cho sự sống vĩnh cửu (x. Ga 6, 27). Ðó là lương thực mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta mỗi ngày: Lời của Người, Mình Người, Máu Người.

    Sự khao khát nổi lên trong họ, khiến họ thưa rằng: “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?” Chúa Giêsu đáp: “Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến”. (Ga 6, 28-29).

    Quả thật, “Tin” vào Chúa Giêsu và làm theo ý Chúa là chìa khóa để có được sự sống đời đời. Niềm tin vào Chúa Giêsu giúp chúng ta thực hiện những việc làm của Thiên Chúa. Nếu chúng ta để cho mình tham dự vào mối tương quan tình yêu và tin tưởng với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ được Chúa thông truyền cho sự sống thật.

    Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu đã nói rõ: “Sự sống đời đời tức là: chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Ðấng Cha đã sai, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3). Sách Công vụ Tông đồ khẳng định: “Không có ơn cứu độ nơi một người nào khác nữa. Vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được cứu thoát” (Cv 4,​12).

    Nhưng liệu có phải chỉ cần tin Chúa Giêsu là chúng ta sẽ được cứu không?

    Chúng ta phải tin Chúa Giêsu để được cứu, nhưng tin thôi thì chưa đủ (x. Cv 16,30, 31). Vì: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,​26). Nên tin phải đi đôi với thực hành và vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa (x. Lc 6,46; 1 Ga 2.​17). Trước khi giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, Thiên Chúa đã ban truyền những lề luật để dân tuân giữ. Có tin mới tuân giữ, còn khi hồ nghi thì họ vi phạm thánh chỉ của Chúa. Có lúc Thiên Chúa “thử coi dân có tuân giữ lề luật của Ta hay không”. Chúa Giêsu từng nói: “Không phải người nào nói “Lạy Chúa” thì sẽ được cứu nhưng chỉ ai “làm theo ý muốn của Thiên Chúa” (x. Mt 7,21).​ Trung thành trong niềm tin thật cần thiết, vì: “Ai bền chí chịu đựng cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu” (Mt 24,13). Chúa Giêsu cứu những người trung thành bằng cách hiến mạng sống mình làm giá chuộc (x. Mt 20,28). Vì Người là “Đấng Cứu Độ thế gian” (1 Ga 4,14).

    Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con vững tin vào Chúa và làm theo ý Chúa như Mẹ. Amen.

    Về mục lục

    MÔSÊ, NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ TÔI TỚ CỦA DÂN

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Trong bối cảnh gian truân tư bề của những ngày ôn dịch, hôm 23-7, Ông Lâm Minh Thành, chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang nói những câu được nhiều người khen tặng và bình luận: “Đi chợ mua đồ ăn, thức uống, đi chợ nào, mua cái gì là quyền của dân. Một bó rau, một mớ hành cũng phải để cho dân chở đi bán”; “Việc đi chợ nào, mua cái gì, mua bao nhiêu là quyền của người dân. Họ phải ăn, uống mới sống được. Đâu phải chợ nào cũng giống chợ nào. Có chợ ở phường này, xã này bán thứ này, chỗ khác bán thứ khác, cho nên không được cứng nhắc khi áp dụng, mà phải linh động, phải hiểu nhu cầu thực tế của người dân. Ở vùng sâu, vùng xa, người ta đất ít, trồng ít được 1 bó rau, mớ hành cũng phải để cho dân chở đi bán, để ở nhà 2, 3 ngày rau cải hư hỏng hết. Người có nông sản bán được thì người mua mới có để mà mua. Mình chống dịch chặt chẽ, nhưng không được ngăn sông cấm chợ”…

    Ông Thành được khen là: con người công vụ gần Dân, hiểu Dân và làm việc vì Dân…Từ khi “gà chưa biết gáy” đến…bi giờ, mới nghe được một vị lãnh đạo có lời nói đứng về phía Dân…Trong lúc này, lãnh đạo nào mà sống gần Dân, hiểu Dân, cống hiến vì Dân, thì họ là Thánh trong lòng Dân…

    Bài trích sách Xuất hành ngày Chúa nhật hôm nay nói về Môsê một nhà lãnh đạo vì Dân, yêu thương Dân.

    Tôi đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái”.

    Tại sao phải mất 40 năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái? Bài đọc 1 hôm nay nêu lý do. Dân Do thái than vãn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Aicập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,3). 

    Dân Do thái đã buông ra những lời trách móc nặng nề ông Môsê và ông Aharon. Nhiều lần dân đã trách móc, xỉa xói và tỏ thái độ vô ơn bạc nghĩa đối với ông Môsê, vị đại ân nhân của họ.

    Hành trình sa mạc với nhiều thử thách là dịp thanh luyện dân tuyển chọn khỏi nổi nhớ “thịt béo, củ hành củ tỏi Ai cập”. Suốt 40 năm, họ được thử thách, tinh luyện để vào đất hứa. Đó là thời gian giáo dục để trở thành một dân tộc, một cuộc giáo dục từ từ, dạy họ tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa bằng cách thi thố những phép lạ, dạy họ tín nhiệm vào sự quan phòng của Thiên Chúa bằng cách ban manna, chim cút và nước vọt ra từ tảng đá. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người trong sa mạc là một sự hiện diện đầy yêu thương. Môsê vị lãnh đạo là khuôn mặt nổi bật nhất suốt chặng đường gian truân này.

    1. Môsê, người của Thiên Chúa luôn sống liên đới với dân.

    Môsê nhà lãnh đạo đã dành cả đời lo cho dân. Ông đã trải qua biết bao đau khổ, sợ hãi và lo lắng để chăm sóc cho dân. Nhưng dân lại trách móc, than phiền và mắng nhiếc ông. Dân đối xử tệ bạc với Môsê. Họ xem ông như chính là thủ phạm gây ra những đau khổ và bất hạnh cho họ và gia đình họ vậy. Thật bất công!

    Vậy mà cả đời Môsê vẫn một mực yêu thương liên đới với dân, sống chết với dân trong lời táo bạo với Chúa mà thấm đượm lòng thương dân:“Tôi không muốn một mình sống hạnh phúc bên cạnh Chúa, nếu ở đó tôi không có Dân của tôi!”.

    Từ ngày được Thiên Chúa gọi để lãnh đạo Dân Chúa (Xh 3,10), Môsê dần dần thấu hiểu và thâm tín rằng: vị tư tế ở giữa dân Chúa không những phải sống hoàn toàn liên đới với Thiên Chúa, mà còn phải hoàn toàn liên đới với dân Chúa.

    Môsê luôn là người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa và là vị lãnh đạo quảng đại, đầy lòng xót thương, liên đới với dân cho dù dân ‘cứng cổ’, tội lỗi, bất trung.

    a). Môsê, người của Thiên Chúa

    Là tư tế, Môsê tường trình mọi việc của dân chúng ‘lên Thiên Chúa’ (Xh 18,19). Ông đàm đạo và nhận chỉ thị của Thiên Chúa trong Trướng tao phùng (Xh 33,9); ông thể hiện vai trò trung gian của vị tư tế, môi giới giữa Thiên Chúa và dân, nối kết hai bên bằng máu giao ước (Xh 24,6-8); ông còn chọn Aharôn và con cái Aharôn để sung vào chức tư tế (Xh 28,1), cũng như thay mặt Thiên Chúa để tác thánh họ (Xh 29,1-46). Chính việc tiếp xúc thường xuyên với ‘lãnh vực thánh’ đã dần dần khiến ông đi sâu về phía Thiên Chúa, đến độ Kinh Thánh đã không ngần ngại gọi ông là ‘người của Thiên Chúa’ (Tl 33,1; Yôs 14,6).

    Môsê có những lúc tiếp xúc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, được chan hoà sự hiện diện của Người, mặt ông đã rạng sáng lên, dọi chiếu lại vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà không một người phàm nào có thể nhìn thẳng được: “Aharon và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông” (Xh 34,30). Khi ông vào Trướng tao phùng đàm đạo với Thiên Chúa, toàn dân phủ phục (Xh 33,7-11). Ở đó, Thiên Chúa nói chuyện với ông như nói chuyện với một người bạn thân ‘diện đối diện’ (Xh 33,11). Ông thật sự trở nên con người mà Thiên Chúa ‘biết’ đích danh và không ngần ngại đồng hành với ông (Xh 33,12-17). Môsê táo bạo thỉnh cầu được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa (Xh 33,18-23).Thiên Chúa đã nhượng bộ cho ông nhìn thấy Người… Nhưng từ phía sau lưng: “… Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và Ngươi sẽ nhìn thấy phía sau Ta, nhưng Nhan Ta, người ta sẽ không nhìn thấy được” (Xh 33,23).

    b) Môsê, người liên đới với dân Chúa

    Môsê được sống bên cạnh, thân mật với Thiên Chúa, và tâm trí ông luôn hướng về dân Chúa: “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, vì đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9).Từ ngữ ‘chúng tôi’ ở đây thật cảm động! Môsê đã không đặt mình trên dân, cũng không ở ngoài dân; nhưng hoàn toàn liên đới đến đồng hoá với dân, ngay cả nhận lãnh trách nhiệm về tội lỗi của dân.

    Môsê bị phạt vì chính tội của dân, vì ông muốn liên đới với tội của dân: “Giavê đã phẫn nộ với cả ta nữa vì cớ các ngươi, mà rằng: cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không vào!” (Tl 1,37). Hình phạt này đối với Môsê thật nặng nề và đau khổ. Môsê đã phải nằm xuống trên núi Nêbô, tại vùng đất Môab. Môsê chia sẻ hoàn toàn số phận của dân và dường như ông còn muốn ôm vào lòng cả thế hệ xuất Ai cập, thế hệ mà ông đã lãnh đạo, đã cầm tay đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa tại Sinai, đã yêu thương cũng như đã chịu đựng… Thế hệ đó đã nằm xuống trong sa mạc. Môsê vì thế cũng ‘không muốn’ vào Hứa Địa một mình khi vắng bóng dân!

    Môsê đã đau khổ cùng dân và cho dân! Môsê đã chết với dân và cho dân! Khuôn mặt và đời sống của Môsê đã in đậm nét trong lịch sử dân Chúa.

    Môsê luôn luôn bênh đỡ, cầu bầu cho dân trước mặt Thiên Chúa: “Phải! Dân này đã phạm một tội rất lớn… Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng; bằng không, xin Người hãy xoá tôi đi khỏi sách Người đã viết…” (Xh 32,30-32).

    Lòng yêu thương, tình liên đới, thái độ bầu chữa, bênh vực dân của Môsê xuyên suốt trong quá trình ông lãnh đạo dân. Môsê gắn bó cả cuộc đời và mạng sống mình với dân tộc Israel.

    1. Môsê là hình bóng của Đức Giêsu Kitô.

    Môsê là vị cứu tinh, là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân. Môsê là ngôn sứ nói với dân về Đấng Cứu Độ một lời danh tiếng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đó là: Đức Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe lời vị ấy” (Tl 18,15). Sau này, Têphanô vị tử đạo đầu tiên đã nhắc lại lời tiên tri đó (Cv 7,37); thánh Phêrô đã thấy thực hiện nơi Đức Kitô (Cv 3,22). Chính Môsê đã làm chứng về “Vị Tiên Tri” đó (Lc 24,27; Ga 5,46).

    Là trung gian làm nhịp cầu giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel, Môsê tiên báo Đức Kitô, Đấng trung gian cho một Giao Ước mới hoàn hảo hơn. Dọc dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức. Giao ước thứ nhất với Môsê trên núi Sinai. Giao ước thứ hai với Đức Kitô trên núi bát phúc và được bảo chứng trên Núi Sọ. Đây là Giao Ước Mới và là Giao Ước Vĩnh Cửu.

    Đức Kitô, là Môsê mới đã hoàn thành tất cả những điều đã được ghi chép trong Lề Luật: “Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi Ta còn ở với các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật của Môsê và các tiên tri cùng Thánh Vịnh” (Lc 24,44).

    Môsê đã đưa dân Israel nô lệ ở Ai cập, xuyên qua sa mạc về Đất Hứa. Đó là hình bóng và là tiên báo Chúa Cứu Thế, Đấng là Đường, là Ánh Sáng đưa Israel mới đi qua cuộc đời trần thế mà tiến về Đất Hứa, là thành Giêrusalem trên trời.

    Đức Kitô là Môsê mới của Dân Chúa. Tác giả thư Do thái quả quyết: “Trong mọi sự, Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương, vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2,17). Chính Người đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên Vị Thượng Tế tuyệt đối trung tín với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa (Dt 5,5-6), đồng thời Người cũng đã thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người, đầy lòng xót thương đối với mọi người (Dt 5,9) qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của mình làm lễ tế để kéo tình thương tha thứ của Thiên Chúa cho dân Chúa (Dt 5,8). Để đền tội cho dân và đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đức Giêsu Nazaret đã dùng chính máu mình để thiết lập Giao Ước Mới, một lần nữa nối kết Thiên Chúa với con người (Mc 14,24; Mt 26,28; Lc 22,20; 1C 11,25; cf Xh 24,8) và dùng cái chết tự nguyện đau thương trên thập giá, bị liệt vào hàng tội nhân (Mc 15,22-37; Mt 27,39-50; Lc 23,33-46; Ga 19,17-30; Rm 8,3; cf Tl 34,5-6) để đáp lại lời thách đố của Môsê? Từ đó, qua Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, chắc hẳn Môsê sẽ được chứng kiến và nghe lại lời này: “Tôi muốn sống hạnh phúc bên cạnh Đức Chúa, và ở đó có cả dân của tôi nữa!” (x.Môsê, vị lãnh đạo của Dân Chúa: trung tín và liên đới, ĐGM Giuse Võ Đức Minh, WHĐ).

    Môsê là một tấm gương lãnh đạo vì dân, mẫu gương người lãnh đạo là tôi tớ của dân. Ông được Thiên Chúa tuyển chọn ngay từ lúc còn rất nhỏ. Sau này, ông xác tín, lãnh trách nhiệm dẫn dắt Dân Chúa ra khỏi Ai Cập, vào miền Ðất Hứa. Cuộc đời của ông là gương mẫu cho những nhà lãnh đạo chân chính, thiện chí, phục vụ vì Dân vì Nước. Ông tu thân và thường xuyên gặp gỡ, đàm đạo với Thiên Chúa. Ông trình bày với Ngài về tình trạng của dân và xin ơn tha thứ. Rồi ông đón nhận Thánh Ý Ngài, cụ thể là Mười Giới răn, ghi khắc vào bia đá, truyền đạt lại cho dân. Dân chỉ tin người lãnh đạo, khi người lãnh đạo gặp Thiên Chúa và truyền đạt cho họ ý của Ngài.

    1. Chúa Giêsu, người lãnh đạo đem lại cho dân sự sống đời đời.

    Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu biết dân chúng đi tìm mình chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự. Chúa Giêsu muốn họ tìm đến lương thực thường tồn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”. Bánh của Thiên Chúa chính là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người, không chỉ sự no đủ về phương diện thể lý mà còn là sự sống đời đời: “Chính tôi là Bánh Hằng Sống. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ”. Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời, là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát. Lời, sứ vụ và cuộc sống của Chúa Giêsu đều là bánh nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng. Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống. Chúa Giêsu chính là Môsê mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn khôn ngoan cho nhân loại. Chỉ có Chúa Giêsu mới làm thỏa mãn cơn đói đời đời.

    Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ con đường trở nên lớn lao thật sự. Đó là con đường phục vụ. Con đường phục vụ thay thế cho tham vọng thống trị. Giúp đỡ tha nhân thay cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể. Người lớn nhất, người đứng đầu là người phục vụ hết mình. Chức tước, chức vụ, chức vị, chức quyền chỉ là phương tiện để phục vụ. Ai sống tinh thần phục vụ đó là người lớn nhất. Ai không biết phục vụ thì là người nhỏ nhất. Giá trị của một con người không do địa vị chức tước mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó. Chúa Giêsu mở ra một nền văn minh mới. Người lớn nhất không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng khả năng để phục vụ. Người lớn nhất không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng trái tim để yêu thương.

    Về mục lục

    TÔI TÌM KIẾM CÁI GÌ VẬY?

    Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương

    Câu chuyện người ta kể về Hoàng đế Charles Quint của Đế quốc Đức ngày xưa. Đây là một giai thoại rất đẹp về hoàng đế:
    Sau nhiều năm tận tụy hy sinh phục vụ Hoàng đế, một vị trung thần của ông ngã bệnh và đang chiến đấu với tử thần. Để tỏ lòng biết ơn và cảm mến đối với con người đã suốt đời trung thành với mình, Hoàng đế Charles Quint đã đích thân đến ngay bên giường bệnh của ông. Cầm tay vị trung thần, Hoàng đế nói:
    – Khanh đã hết phục vụ trẫm, nay trẫm xin được dịp đền đáp, khanh hãy cho trẫm biết khanh mong ước điều gì, trẫm sẽ thỏa mãn yêu cầu của khanh.
    Trong hơi thở đứt đoạn, vị trung thần liền tâu:
    – Thần ước ao nhận được từ tay bệ hạ một ân huệ.
    Đôi mắt Hoàng đế như sáng lên, ông hỏi nhanh:
    – Khanh cứ nói, ân huệ gì trẫm cũng ban cho khanh.
    Kẻ hấp hối nói một cách chua xót:
    – Xin bệ hạ hãy ban cho hạ thần một ngày sống nữa, chỉ một ngày thôi.
    Nghe xong lời của vị trung thần, Hoàng đế Charles chỉ biết lắc đầu chán nản:
    – Trẫm đã được xem là quân vương quyền thế nhất trên thế gian này, nhưng điều khanh xin hoàn toàn ở ngoài tầm tay của trẫm, chỉ Thiên Chúa mới có thể ban và bảo đảm hồng ân sự sống mà thôi.
    Trong tiếng thở dài, vị trung thần mới thốt lên như một lời nhắn nhủ cho chính hoàng đế:
    – Thật là vô ích cho tôi, vì tôi đã điên rồ đến độ không biết dành nhiều thời gian hơn để phục vụ Chúa, mà lại hoang phí thời giờ trong việc phục vụ các vua chúa trần gian”.

    1. Phải chăng tôi đang mải mê tìm kiếm lương thực mau hư nát?

    Câu chuyện trên như một lời khuyến cáo về lối sống chỉ biết tìm kiếm, phục vụ, chọn lựa những thứ mau qua mà quên mất tìm kiếm Thiên Chúa, là chủ của sự sống. Thật vậy, dường như ai sống trên đời cũng lâm vào cảnh đi tìm cái vật chất, cái của cải, cái lương thực để thoả mãn cho nhu cầu xác thịt. Họ tìm mọi cách để có của, để có tiền, để có cái ăn, cái mặc, cái nhu yếu phẩm để khoả lấp cho những khát vọng được coi là xứng hợp cho thân xác của mình. Họ đã không thể chấp nhận khi đối diện với cơn đói, cơn khát về thể lý. Họ vội vàng tìm kiếm hoặc than thân trách phận vì phải rơi vào tình cảnh hẩm hiu này. Không chỉ ngày nay, mà ngay cả hơn chúng ta cả mấy ngàn năm, dân Israen cũng đã than trách Chúa cũng như ông Mô-sê khi họ đối diện với cơn đói và cơn khát nơi sa mạc. Nơi bài đọc I cho chúng ta hiểu rõ về điều đó: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây.”(Xh 16,3). Nhiều người cho rằng con cái Israel có lý do để than phiền, vì nếu phải “chết đói” trong sa mạc thì ở lại Ai-cập để được “chết no” còn sướng hơn. Nhưng sự thực là con cái Israel đã không phải chết đói, vì nếu Thiên Chúa đã có kế hoạch đưa dân ra khỏi Ai-cập để vào Đất Hứa, làm sao Ngài có thể để dân chết đói dọc đường được. Nơi bài đọc Tin mừng, dân Do thái cũng đã mong mỏi để tìm kiếm Đức Giê-su vì nhờ Ngài mà họ được no nê. Họ tìm kiếm Đức Giê-su chỉ vì miếng ăn thực tại và họ còn mong muốn tôn phong Ngài lên làm người cai trị để họ được hưởng nhờ theo nghĩa vật chất. Đức Giê-su đã biết rõ mọi sự: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.” (Ga 6, 26). Về điều này, phải chăng như thánh Phaolô đã từng khiển trách không nhẹ nhàng chút nào trong thư gửi cộng đoàn Phi-lip-phê rằng “chung cuộc đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này.” (Pl3, 19). Vì thế, nơi bài đọc II, thánh nhân cũng đã căn dặn: “vậy đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ.” (Ep 4, 17).

    Như vậy, đọc lại lịch sử dân Israen và dân Do thái để đọc lại lịch sử cuộc đời mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng đã từng sống theo lối sống xác thịt và tìm mọi cách để lấp đầy nhu cầu của nó bằng mọi giá, đôi khi không sợ tội, không ngại để giá trị của nhân phẩm bị chà đạp, lối sống văn hoá – tôn giáo nhường bước cho lối sống hưởng thụ và sự chết. Tuy nhiên, chúng ta không thể sống mà không có lương thực. Vì thân xác muốn tồn tại thì phải có cái ăn để nuôi sống. Vì ‘không có thực làm sao vực được đạo’, một thân xác yếu ớt và đói khổ làm sao chúng ta có thể đọc kinh, cầu nguyện? Vì thế, không thể mà không tìm kiếm, không lo cho thân xác của mình được. Vì như câu tục ngữ cũng nhắc nhở “có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Phải ra công làm việc chứ! Tuy nhiên, con người không chỉ có phần xác, nhưng còn có phần linh hồn. Như Công đồng Vatican II trình bày: “Con người là một chủ vị duy nhất gồm có thể xác và linh hồn” (Gaudium et spes, số 14; GLHTCG số 364). Do đó, chúng ta lo cho thân xác là quan trọng, nhưng cái quan trọng hơn hết và giá trị cao cả là phải lo cho phần linh hồn. Chính Đức Giê-su đã cho chúng ta biết rõ phải làm gì để lo cho phần linh hồn của chúng ta?

    2. Tìm kiếm lương thực đời đời nơi Đức Giê-su.

    Trước sự khao khát và mong mỏi đi tìm kiếm cái ăn của dân Do thái, Đức Giê-su đã dạy cho họ nói riêng và cho mỗi chúng ta nói chung cái chân lý này: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” (Ga 6, 27) Như vậy, Đức Giê-su muốn nói rằng không phải lo tìm kiếm của cải vật chất, tìm kiếm cái ăn mau hư nát, nhưng điều cốt yếu và ưu tiên hàng đầu là tìm kiếm lương thực thường tồn, là sự sống đời đời, là Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài. Nhưng tìm ở đâu? Xin thưa là tìm ở chính nơi Đức Giê-su, nơi Ngôi Lời Nhập Thể, nơi vị Thiên Chúa hữu hình ở cùng nhân loại. Nơi Đức Giê-su, Ngôi Lời Thiên Chúa, con người sẽ tìm được sự sống cho mình. Vì chính Đức Giê-su Ki-tô sẽ ban Bánh Hằng Sống, là Mình và Máu của Ngài cho con người để có sống đời đời. Ngài đã tuyên bố điều này: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6,35). Quả thật, thân xác cần thức ăn thế nào, thì linh hồn chúng ta lại càng cần đến Mình Máu Thánh Đức Giê-su Ki-tô như thế. Bí tích Thánh Thể là của nuôi linh hồn con người, là nguồn ân phúc dẫn đưa con người đạt được hạnh phúc Nước Trời. Như vậy, từ nay tất cả cơn đói: đói tình yêu, đói yêu thương, đói chân lý, đói hy vọng, đói lời động viên, đói những liên đới, đói niềm tin, đói sự sống đời đời, đói Thiên Chúa,… chỉ thật sự được khoả lấp khi con người biết chạy đến với Đức Giê-su Ki-tô. Từ đây, con người sẽ có được lương thực trường tồn, là sự sống vĩnh cửu khi biết bám rễ sâu vào Đức Giê-su ngang qua việc đón nhận Mình Máu Ngài. Thật vậy, đúng như lời Kinh Thánh đã khẳng định: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. (Mt 4,4 ). Chính vì thế, của cải vật chất và thức ăn tự nhiên không thể là thứ đem lại sự sống cho con người, nhưng chính Mình Máu Đức Giê-su là nguồn sống đích thực nuôi dưỡng con người không chỉ nơi lữ hành trần gian mà là hành trang dẫn về Thiên đàng, nơi hưởng vui vẻ đời đời cùng Thiên Chúa Ba Ngôi và toàn thể các thánh.

    Do đó, mỗi chúng ta được mời gọi: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho.” (Mt 6, 33). Đây mới là điều quan trọng và thiết yếu cho sự sống linh hồn chúng ta. Nhất là trong bối cảnh cả nhân loại đang phải đối diện với đại dịch Covid nguy hiểm này, hơn bao giờ hết, con người cần chạy đến với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa và ngụp lặn trong tình yêu của Ngài để nhờ Ngài, qua Ngài và trong Ngài chúng ta được bình an và được giải thoát. Cũng trong bối cảnh này, mỗi người được mời gọi hãy đặt niềm tin tưởng và phó thác cho sự quan phòng của Chúa ở mọi nơi và mọi lúc. Hơn nữa, để đón nhận được ân sủng và niềm vui từ Chúa, Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện.” (Ep 3, 22-23).

    Tóm lại, trong cuộc sống của con người, không chỉ có cơ thể mới biết đói, biết khát, nhưng nơi con tim, nơi đời sống tâm linh cũng đang rên xiết. Cơm bánh có thể làm thoả mãn cơn đói thể xác, nhưng không thể làm cho con tim, cho đời sống linh hồn được khoả lấp. Chỉ nơi Thiên Chúa ngang qua Đức Giê-su Ki-tô, con tim, nhất là linh hồn con người mới được nghỉ ngơi yên hàn. Chỉ nơi Mình Máu Thánh của Đức Giê-su, con người mới thật sự chiếm trọn sự sống đời đời. Tuy nhiên, để có được sự sống đời đời làm gia nghiệp, con người cần biết tìm kiếm liên lỉ và gặp gỡ luôn luôn Thiên Chúa, Đấng là Em-ma-nu-el, là Đấng ở cùng nhân loại. Vì theo Cha Mark link, S.J: “trái tim của chúng ta có một khoảng trống mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy”. Tuy vậy, nhưng hiện tại tôi đang tìm kiếm cái gì? Tôi đang thực sự thuộc về ai? Tiền của, vật chất tiện nghi, danh vọng, quyền lực, chức tước hay Thiên Chúa, sự sống đời đời?

    Về mục lục

    TÌM KIẾM LƯƠNG THỰC TỒN TẠI ĐẾN MUÔN ĐỜI

    Lm Trần Bình Trọng

    Ðể sửa soạn chọn một dân tộc làm dân riêng, Thiên Chúa đã dẫn đưa dân Do thái thoát khỏi ách nô lệ bên Ai cập, vượt qua Biển đỏ ráo chân, đi vào sa mạc chịu cảnh thiếu thốn cực khổ về vật chất để thanh tẩy và luyện lọc họ. Bài trích sách Xuất hành hôm nay cho thấy dân chúng trách móc ông Môsê và A-ha-ron vì đã đưa họ vào sa mạc thanh vắng, thiếu đồ ăn thức uống, để họ phải nhịn đói khát.

    Sở dĩ có sự phàn nàn là vì họ đã quên mất tình yêu và đường lối quan phòng của Chúa. Tình yêu và quyền năng Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ của người Ai cập. Dầu sao đi nữa, khi nghe tiếng kêu trách của dân chúng, Chúa liền phán bảo Môsê: Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các người ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó. Ta muốn thử lòng chúng như vậy, xem chúng có tuân theo Luật của ta hay không (Xh 16:4). Tuy nhiên khi Chúa cho ma-na rơi xuống mỗi ngày, dân chúng lại phàn nàn vì họ phải đi lượm lấy mà ăn, và vì ngày nào cũng phải ăn cùng thứ bánh, mà bánh lại không có mùi vị. Phải chăng họ được voi đòi tiên?

    Phúc âm hôm nay cũng ghi lại việc dân chúng đi tìm Chúa, để hi vọng được ăn bánh no nê, vì ngày hôm trước họ đã được Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để nuôi dưỡng họ. Nhân cơ hội này, Chúa dạy họ một bài học: Các ngươi đi tìm ta, không phải vì các ngươi đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no thoả. Các ngươi hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn, đem lại phúc trường sinh (Ga 6:26-27). Khi Ðức Giêsu bảo họ việc Thiên Chúa Cha muốn họ  tin vào Ðấng mà Người đã sai đến. Tuy nhiên đám đông vẫn cứ muốn xin Người một dấu lạ để tin vào Người. Họ tìm Chúa để được ăn bánh nuôi thân xác nên họ không nhận ra Chúa là Ðấng có quyền năng làm phép lạ.

    Qua Bí tích Rửa tội, người tín hữu được gia nhập đại gia đình của Chúa là Giáo hội. Tuy nhiên không phải vì thế mà ta dừng chân lại, không cần đi tìm Chúa nữa. Ta vẫn phải tiếp tục đi tìm Chúa: tìm những gì thuộc về nước Chúa, tìm sự công chính của nước Chúa, tìm chân thiện mỹ trong tư tưởng, lời nói và hành động, tìm những gì thuộc lãnh vực thiêng liêng và siêu nhiên. Ta cần tìm ra những dấu vết của sự hiện diện của Chúa trong vũ trụ, nơi những kỳ công của Ðấng tạo dựng. Ta cần tìm lắng nghe tiếng Chúa qua liếng lương tâm ngay thẳng. Ta cần tìm ra những gì đem lại hạnh phúc toàn diện về thể xác, tinh thần và thiêng liêng, cũng như hạnh phúc lâu dài ở đời này và đời sau cho cuộc sống.

    Tìm Chúa phải là một tiến trình kéo dài suốt cả cuộc sống.  Mỗi ngày ta phải đi tìm Chúa với hi vọng được biết Chúa hơn: biết được nhiều về Thánh kinh, biết được giáo lý của Chúa, biết được ý Chúa, biết đường lối của Chúa, và hiểu được chương trình quan phòng của Chúa cho đời sống cá nhân của mình, để mình tạ ơn và ca tụng Chúa, hay ít ra biết chấp nhận, nếu chưa ca tụng và tạ ơn Chúa được. Mỗi ngày ta phải khám phá ra sự hiện diện của Chúa để được sống gần gũi thân mật với Chúa. Ðể có thể đi tìm Chúa, ta phải cảm thấy đói khát về đời sống thiêng liêng: đói khát sự thật, sự công chính, thiện hảo.

    Ðể có thể cảm thấy đói khát, người ta phải loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn là tội lỗi và các thứ tinh mê nết xấu thì tâm hồn mới có chỗ trống mà cảm thấy đói được. Nếu tâm hồn chứa đầy những chướng ngại vật: những tư tưởng ám muội, những hận thù ghen ghét, tham lam, những ước muốn ngang trái, những việc làm tội lỗi thì tâm hồn bị ứ đọng, không thể cảm thấy đói khát về đời sống thiêng liêng được. Ðể có thể cảm thấy đói khát thiêng liêng, ta phải từ bỏ con người cũ, nếp sống tội lỗi cũ để mặc lấy con người mới cùng với nếp sống mới trong ơn nghĩa với Chúa.

    Hôm nay mỗi người cần tự xét xem mình đang đói khát những gì? Có phải ta đang đói khát tiền tài, danh vọng, thú vui.. hay đói khát Chúa và những sự công chính và bình an của nước Chúa ?

    Lời cầu nguyện xin cho được ơn biết tìm kiếm lương thực thiêng liêng:

    Lạy Thiên Chúa toàn năng!

    Chúa là Đấng ban phát lương thực cho loài người.

    Xin loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn con

    để con có thể cảm thấy nhu cầu cần Chúa.

    Xin dạy con biết tìm kiếm lương thực vững bền

    và xin làm thoả mãn những đói khát thiêng liêng của con. Amen.

    Về mục lục

    ĐỨC KITÔ, BÁNH HẰNG SỐNG

    Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Nếu Chúa Nhật vừa rồi, Lời Chúa đề cập đến phép lạ hóa bánh ra nhiều, do Chúa Giêsu thực hiện, như là hình bóng báo trước về bí tích Thánh Thể, thì Chúa Nhật này, Lời Chúa trực tiếp nói về bí tích Thánh Thể là Bánh ban sự sống đời đời cho chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa chủ đề này xuyên qua các bài đọc được chọn trong thánh lễ này.

    1- Từ Manna tới Thánh Thể

    Trong bài đọc I, sách Xuất Hành kể lại biến cố Thiên Chúa giải thoát dân Do Thái khỏi ách nô lệ ở Ai Cập để tiến về Đất Hứa. Trong hành trình 40 năm qua sa mạc, họ phải đối diện với nhiều khó khăn và thử thách, họ không có thức ăn và nước uống, cuộc sống bất ổn, thiếu thốn mọi đàng với một thời tiết khắc nghiệt ở sa mạc. Bởi thế, họ kêu trách ông Môsê và ông Aaron rằng: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” Họ muốn bỏ cuộc và quay trở lại Ai Cập để được ăn uống no nê dù phải làm kiếp nô lệ. Nhưng khi nhìn thấy cảnh lầm than khốn khổ của dân Do Thái, Thiên Chúa đã can thiệt và ban cho họ Manna và chim cút như là bánh từ trời rơi xuống, để làm lương thực nuôi sống họ và giúp họ tiếp tục lên đường tiến về Đất Hứa (x. Xh 16,16-22).

    Thật vậy, manna ở đây là dấu chứng về sự quan phòng và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với Dân Người. Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, luôn đồng hành, gần gũi và chở che con cái loài người trong mọi nơi mọi lúc, đặc biệt trong những lúc gian nan túng quẫn nhất, Người vẫn ở bên mỗi người để chăm sóc và nâng đỡ chúng ta.

    Đồng thời, Thiên Chúa mời gọi dân Do Thái xưa và cả chúng ta hôm nay cần phải có tầm nhìn xa hơn, phải biết theo đuổi và vươn tới những lý tưởng cao cả hơn mà Người mời gọi, dù phải đối diện với những khó khăn thử thách. Vì con người sống không chỉ lo tìm kiếm của cải vật chất, nhưng còn phải biết tìm kiếm những của cải tinh thần để sống đúng với nhân phẩm của mình. Con người không chỉ đói khát của cải vật chất, nhưng còn đói khát về sự thật, công lý, tư do, nhân quyền, tình yêu và hòa bình. Con người sống không chỉ vì cơm bánh, nhưng còn nhờ đến Lời Chúa và Thánh Thể. Chỉ nơi Chúa Kitô, con người được thảo mãn cơn đói và cơn khát này.

    2- Đức Kitô, Manna mới

    Dưới ánh sáng của Tân Ước, Manna là hình bóng tiên báo về Chúa Kitô, Đấng đã hiến mình làm bánh trường sinh cho chúng ta trong bí tích Thánh Thể. Thật vậy, Chúa Giêsu trở thành bánh đích thực từ trời xuống để nuôi dưỡng chúng ta. Bởi vì, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha sai xuống trần gian, Người đã chết và phục sinh để giải thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Người tiếp tục hiến mình cho chúng ta nơi bí tích Thánh Thể để trở thành nguồn ơn cứu độ cho nhân loại, Chúa Giêsu trở thành nguồn ơn cứu độ cho nhân loại, Người là “manna mới,” là của ăn nuôi sống dân Chúa trên hành trình dương thế tiến về nhà Cha trên trời. Bởi thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu quả quyết: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).

    Trong lời này, theo nhà thần học nổi tiếng người Đức, Kark Rahner, chúng ta tìm thấy sự mới mẻ của mạc khải Tân Ước: ở đây Thiên Chúa không phải ban cho chúng ta một cái gì, một ơn gì, nhưng là ban chính mình Người, qua Con Một Người. Chúa Giêsu vừa là quà tặng vừa là Người tặng quà. Nơi Thánh Thể, Chúa Giêsu ban thịt và máu mình làm của ăn nuôi sống linh hồn loài người. Điều độc đáo và cao cả của Kitô giáo chúng ta khác với các tôn giáo khác, đó là không phải Thiên Chúa đòi buộc loài người phải nộp mạng mình để được Thiên Chúa cứu độ, nhưng chính Thiên Chúa hiến mình để cứu độ loài người.

    3- Hiệu quả và thông điệp từ Thánh Thể

    Khi tham dự bí tích Thánh Thể, chúng ta dự phần vào sự sống thần linh và kết hợp với Chúa Kitô Phục Sinh. Chúa Giêsu là bánh hằng sống, bánh tác động nơi chúng ta. Khi chúng ta ăn bánh thông thường, chúng ta tiêu hóa và đồng hóa bánh thành máu thịt của chúng ta, còn khi chúng ta ăn bánh là Mình Chúa Kitô, thì chính bánh này đồng hóa và biến đổi chúng ta nên giống Người. Chúa Kitô biến đổi chúng ta và ban cho chúng ta sự sống của Người, cũng như kết hợp chúng ta nên một với sự sống Thiên Chúa như Chúa nói: “Kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống” (Ga 6,57).

    Như thế, nhờ bí tích Thánh Thể, chúng ta được gần gũi, gắn bó và trở nên một với Thiên Chúa và với nhau trong Đức Kitô. Thánh Thể ban cho chúng ta chính sự sống Thiên Chúa, sự tự do và phẩm giá làm con cái Thiên Chúa. Tất cả chúng ta được mời gọi yêu mến bí tích Thánh Thể và năng đến tham dự thánh lễ. Vì Thánh Thể là trung tâm điểm, là sức mạnh và nguồn mạch cho đời sống Kitô hữu chúng ta.

    Và để xứng đáng tham dự Thánh Thể, thánh Phaolô ở bài đọc II mời gọi chúng ta: “Anh em thân mến, tôi nói với anh em điều nầy và chứng thực trong Chúa là anh em chớ ăn ở như Dân Ngoại ăn ở, chiều theo sự giả trá của tâm tư mình,” nhưng “anh em hãy trừ khử lối sống xưa kia, hãy lột bỏ con người cũ” và “hãy mặc lấy con người mới… trong sự công chính và thánh thiện xứng với sự thật” (Ep 4,17.20-24).

    Để kết thúc bài suy niệm hôm nay, xin kể một câu chuyện cổ tích của người Đức về chàng Bờm Hanz: “Sau bao năm tháng làm việc mệt nhọc, chủ trả công cho Bờm một thỏi vàng nặng. Và Bờm khệ nệ vác vàng về nhà, trên một quảng đường thật dài. Thỏi vàng quá nặng, lại thêm trời nắng gắt. Khát. Mỏi. Mệt. Thế là vì nhu cầu trước mắt, để được thoải mái, Bờm đã tuần tự đổi vàng để lấy ngựa, bò, ngỗng và cuối cùng là một phiến đá mài. Phiến đá rốt cuộc cũng bị Bờm quẳng luôn xuống nước, để được – như Bờm lý luận – tự do khỏi bị thứ gì ràng buộc cả trên đường về. Cơn mơ của Bờm kéo dài bao lâu và hậu quả đen tối nào đã xảy ra khi Bờm hết mê, câu chuyện không kể tiếp, dành để cho trí tưởng tượng của người đọc.”

    Như thế, bài học mà Lời Chúa hôm nay cũng như câu chuyện này muốn nhắn gửi là đừng vì “những lợi lộc thấp hèn trước mắt,” hay vì miếng cơm manh áo mà đánh mất lý tưởng cao đẹp và ý nghĩa cuộc sống, nhưng hãy luôn biết theo đuổi những giá trị cao đẹp và tìm kiếm những lương thực thiêng liêng là Lời Chúa và Thánh Thể để được sống và sống dồi dào như chính Chúa đã dạy chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    LƯƠNG THỰC ĐỜI ĐỜI

    Trầm Thiên Thu

    Lương thực là sản phẩm được thu hoạch từ các loại cây chủ yếu dùng làm thực phẩm. Do đó, thực phẩm là tất cả những thứ con người (hoặc động vật) có thể ăn hoặc uống để hấp thụ dinh dưỡng – gọi chung là ẩm thực. Bốn loại cây lương thực chính của Việt Nam – đất nước nông nghiệp – là lúa, bắp, sắn, và khoai lang. Bánh mì không là thực phẩm chính của dân Việt nhưng là thực phẩm chính của người Tây phương, vả lại nó được làm từ lúa mì, lúa mạch, lúa miến,…

    Nhưng trớ trêu thay, có quan chức ở Việt Nam lại cho rằng bánh mì và bắp không phải là lương thực hay thực phẩm. Ai cũng biết chữ “thực” nghĩa là ăn, lương thực và thực phẩm là những thứ ăn được, có thể nuôi sống con người, nhất là trong lúc dịch bệnh thế này. Nếu đồ ăn đó không là lương thực hay thực phẩm thì là cái gì?

    Ngày xưa có “đặc sản” Manna hoặc Mana, nhìn trắng như sương muối, rơi xuống từ trời vào ban đêm, trong như pha lê hoặc giọt sương. Nhưng nó sẽ cứng dần và dính, biến thành màu trắng, vàng, hoặc hơi nâu, giàu chất carbohydrates (chất cần thiết để cơ thể hoạt động), và sẽ tan biến khi nắng lên.

    Từ ngữ manna được sách Xuất Hành đề cập 5 lần, (Xh 16:26-35) và được Kinh Koran đề cập 3 lần. Một số học giả cho rằng manna do tiếng Ai Cập là mennu, nghĩa là “đồ ăn.” Theo Kinh Thánh, manna là “man hu,” nghĩa là “cái gì đây?” – tương tự Anh ngữ là “what is it?” hoặc Pháp ngữ là “qu’est-ce que c’est?” Nhưng cũng có người cho rằng chữ “man hu” có thể có từ nguyên là tiếng Aram chứ không phải là tiếng Do Thái. Đó là chuyên môn, chúng ta chỉ cần hiểu manna là đặc sản duy nhất Chúa cho dân ăn suốt 40 năm khi tiến về Đất Hứa. Thế thôi!

    Chúng ta được biết qua trình thuật Xh 16:2-4, 12-15 thế này: Trong sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Israel kêu trách ông Môsê và ông Aharon: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây.” Khổ gì thì khổ, chứ khổ vì đói khát thì khổ lắm. Với bản năng sinh tồn, người ta có thể dám làm bất cứ điều gì, thậm chí còn liều bán rẻ danh dự hoặc lương tâm. Bất chấp! Vì miếng ăn mà xảy ra tranh chấp, chiến tranh, ngay cả tình thân cũng có thể cắt đứt. Có miếng ăn vinh, có miếng ăn nhục!

    Thi sĩ ngụ ngôn La Fontain (1621-1695, Pháp) thẳng thắn: “Cái bụng đói không thể lắng nghe.” Khi bụng đói cồn cào, thằng Bờm không cần thứ gì quý giá mà không thể ăn ngay, chỉ cần nắm xôi ăn ngay được. Thực tế vậy thôi! Danh y Anthony xác định: “Thực phẩm là cội rễ của vạn vật. Chính thực phẩm và chỉ có thực phẩm mới là thuốc chữa bách bệnh.” Ăn không chỉ để no bụng mà còn để duy trì sức khỏe. Chế độ ăn uống tốt khả dĩ ngăn ngừa bệnh tật. Sức khỏe tinh thần cũng ảnh hưởng lẫn nhau – hồn an, xác mạnh.

    Thực sự Thiên Chúa thực tế hơn người ta tưởng. Ngài thấu hiểu nỗi khổ của dân nên phán với ông Môsê: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không.” Ngài cũng cho biết: “Ta đã nghe tiếng con cái Israel kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.” Ngài trừng trị nhưng Ngài “xót xa” lắm. Chúng ta có thể cảm nhận qua tình cha mẹ đối với con cái: Con đau một, cha mẹ xót mười.

    Thiên Chúa hứa gì thì làm ngay. Chiều hôm đó, chim cút bay đến rợp cả trại. Buổi sáng có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan đi, trên mặt hoang địa có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi con cái Israel thấy thế, họ liền hỏi nhau: “Man hu? – Cái gì đây.” Ông Môsê bảo họ: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn.” Sự thật chứ không là chiêm bao. Đỡ khổ, khỏi lo đói khát nữa, vì đã có thịt chim cút và bánh hiên thần để no thỏa. Thật tuyệt vời!

    Không phải là Thiên Chúa không biết nên mới “dò sóng” và thử thách chúng ta. Ngài thấu suốt mọi sự, biết trước cả những gì chúng ta chưa nghĩ tới. Ngài muốn dùng sự thử thách để tôi luyện chúng ta. Đại dịch cúm Tàu đang hoành hành, nhưng nó giúp chúng ta nhận biết Thiên Chúa và thân phận mỏng manh của chúng ta. Khi nhận ra phép lạ của Thiên Chúa thì người ta không thể lặng im: “Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình, chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau: sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của Chúa, với những kỳ công Chúa đã làm.” (Tv 78:3-4)

    Tất cả chỉ là “chuyện nhỏ” đối với Thiên Chúa. Ngài tuyên phán một lời thì liền có cả trời đất và muôn loài trong đó, nói chi chuyện rẽ nước cho dân Israel băng qua và vùi lấp quân Ai Cập trong biển nước. (Xh 14:15-31) Manna và chim cút cũng chỉ là “hạt bụi trong hạt cát” mà thôi: “Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn; Người khiến manna tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ. Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.” (Tv 78:23-25) Manna được gọi là “bánh thiên thần,” nhắc chúng ta nhớ tới Thánh Thể – bánh thiên thần đặc biệt mà chúng ta được tận hưởng mà dân xưa không được biết đến. Chúng ta hạnh phúc hơn họ mà lại không biết tạ ơn Thiên Chúa sao?

    Lời khuyên Thánh Phaolô dành cho dân Êphêsô ngày xưa nhưng vẫn đầy tính thời sự đối với chúng ta ngày nay: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ.” (Ep 4:17) Quả thật, chúng ta vẫn chưa bỏ được thói ảo tưởng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống – cả đời và đạo: Nói hay, muốn nhiều, mà làm chẳng bao nhiêu. Đòi lấy, chứ không muốn cho.

    Sự thật thì hay mất lòng và thường phũ phàng lắm. Thánh Phaolô cảnh báo: “Còn anh em đã chẳng học biết về Đức Kitô như vậy đâu; ấy là nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giêsu và được dạy dỗ theo tinh thần của Người, đúng như sự thật ở nơi Đức Giêsu. Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện.” (Ep 4:20-24) Con người chúng ta mê muội, ù lì, viện nhiều cớ nên vẫn giậm chân tại chỗ – đôi khi còn thụt lùi mới đáng sợ.

    Thật vậy, đã bao Mùa Vọng, Mùa Chay, tĩnh tâm, xưng tội, quyết tâm,… cứ theo nhau qua đi, con người cũ vẫn chẳng đổi mới được bao nhiêu. Rất chí lý với cách ví von của tiền nhân: “Chó đen giữ mực. Cốt khỉ hoàn cốt khỉ.” Chắc hẳn đã nhiều lần chúng ta tự nhủ: “Tại sao vậy?” Lý do thực tế và đơn giản lắm, bởi vì “chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình.” (Đại đế Napoléon) Đặc biệt là đối lập: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” (Rm 7:19) Thật khốn nạn cho chính tôi!

    Dân Israel rất ngạc nhiên khi thấy manna. Chưa hề thấy bao giờ. Và họ hỏi nhau: “Cái gì vậy?” Tương tự, khi thấy người lạ, người ta thường hỏi: “Ai đây?” Còn nhiều câu hỏi tương tự như vậy trong cuộc sống đời thường. Thắc mắc không chỉ vì tò mò mà để tìm hiểu. Thắc mắc đúng đắn sẽ dẫn tới sự khôn ngoan. Thắc mắc vì ham lạ sẽ bất lợi, thậm chí là tác hại.

    Ngày xưa, dân chúng không thấy Chúa Giêsu và các môn đệ, họ đi tìm Ngài. Khi thấy Ngài ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6:25) Ngài trả lời nhưng có ý trách họ: “Tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.” (Ga 6:26) Rất “sốc” nhưng không oan chút nào. Và Ngài khuyên: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” (Ga 6:27)

    Ngày nay, chúng ta cũng chẳng khác. Những lúc cầu nguyện, chúng ta thường chỉ muốn XIN là chính, nhất là muốn “xin như ý mình,” muốn XIN thì phải ĐƯỢC, gọi là xin-cho, nhưng khi được rồi lại quên tạ ơn Ngài. Rất phũ phàng!

    Sau khi dân chúng nghe Chúa Giêsu nói vậy thì hỏi ngay: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6:28) Thật lòng mà hỏi như vậy thì tốt, vì muốn vâng ý Chúa chứ không theo ý mình. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến.” (Ga 6:29) Thế nhưng họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.” (Ga 6:30-31) Thì ra họ không thành tâm, chỉ muốn “bắt bẻ” Chúa Giêsu mà thôi. Dốt mà chảnh, ngu mà kiêu. Chúng ta cũng vậy thôi.

    Nhưng Chúa Giêsu vẫn thản nhiên và thẳng thắn: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” (Ga 6:32-33) Có lẽ lúc này họ mới “sáng mắt” nên vội xin Ngài cho họ được ăn mãi thứ bánh ấy. Biết xin như vậy là tốt, biết phục thiện. Chúa Giêsu nói: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35) Nghe vậy thì họ lại xì xầm với nhau, cho rằng Chúa Giêsu nói những lời “khó lọt lỗ tai.” Bướng bỉnh tột đỉnh!

    Sự thật đích thực thì mãi mãi là sự thật, trường tồn và bất biến. Chúng ta may mắn hơn dân xưa vì được thừa hưởng di sản vô giá: Đức tin Công giáo, đức tin tông truyền, đức tin duy nhất, đặc biệt nhất là Thánh Thể Chúa Giêsu Kitô.

    Thánh Thomas More (luật sư, triết gia, chính khách, 1478-1535, Anh quốc) chia sẻ: “Nếu tôi xao lãng, việc hiệp lễ sẽ giúp tôi tịnh tâm trở lại. Nếu hằng ngày có những dịp xảy đến xúi giục tôi xúc phạm đến Thiên Chúa, tôi sẽ tự trang bị cho cuộc chiến mỗi ngày bằng việc lãnh nhận Thánh Thể. Nếu tôi đặc biệt cần đến ánh sáng và sự khôn ngoan để thực thi các phận sự nặng nề của tôi, tôi sẽ đến bên Đấng Cứu Độ, mong tìm được lời khuyên và ánh sáng của Người.”

    Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin ban những ơn cần thiết để chúng con đủ sức biến đổi theo ý Ngài, cụ thể là trải nghiệm hoàn cảnh khó khăn vì đại dịch thế này. Xin cho chúng con được no thỏa Thánh Ân và Thánh Thể, và cho chúng con được hưởng sự sống đời đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    ĂN CHO NO BỤNG HAY CHO THỎA LÒNG

    Lm. Nguyễn Xuân Trường

    Trong phòng chống dịch bệnh Covid-19, người ta nói nhiều về hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Người ta tìm mọi cách để có đủ lương thực thực phẩm, chứ thiếu ăn thì nguy to. Lời Chúa tuần này cho thấy Chúa không chỉ lo cung cấp cơm bánh nuôi sống thân xác, mà Chúa còn lo cung cấp bánh ban sự sống đời đời.

    1. Ăn cho no bụng. Dân chúng kéo nhau đi tìm Chúa. Cứ tưởng vì họ quý mến Chúa, nào ngờ Chúa thẳng thắn bóc mẽ họ: Các ông đi tìm tôi là vì các ông đã được ăn bánh no nê. Hóa ra là thế, theo Chúa để được no cái bụng, theo Chúa để tìm kiếm lợi lộc, để thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Ăn rất cần thiết cho đời sống, nhưng nếu chỉ chăm chú vào miếng ăn mà thôi thì con người lại tự hạ thấp phẩm giá của mình. Ngoài nhu cầu vật chất cơ bản thì con người còn có những nhu cầu tinh thần cao quí khác. Thế nên Chúa Giêsu mời gọi: Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực đem lại phúc trường sinh.

    2. Ăn cho thỏa lòng. Chúa muốn người ta theo Ngài không chỉ để no bụng mà còn để thỏa lòng, để thỏa mãn những khát vọng cao cả nhất của lòng người: “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” Chúng ta đón nhận cơm bánh hàng ngày không thuần túy chỉ là miếng ăn cho no bụng, mà nó còn là “dấu lạ” diễn tả ân sủng và tình thương Chúa dành cho nhân loại. Ăn quả nhớ người trồng cây – Ăn phải nhớ đến người cho ăn để sống vui vẻ và biết ơn. Cơm bánh phải dẫn chúng ta đến Đấng ban ơn mà tin vào Ngài.
    Ăn cơm bánh là ăn bằng miệng để no cái bụng đem sự sống cho thân xác. Ăn bánh trường sinh Giêsu là ăn bằng đức tin để no lòng thỏa dạ và lan tỏa yêu thương, nhờ đó đem sự sống đời đời cho trọn vẹn xác hồn của chúng ta. Amen.

    Về mục lục

     

    BÁNH BỞI TRỜI

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh Hằng Sống được ghi lại trong bối cảnh Lễ Vượt Qua. Đây là thời điểm người Do Thái ăn bánh không men để tưởng nhớ biến cố Chúa giải phóng dân khỏi ách nô lệ Ai Cập. Chúa Giêsu đã khởi đi từ phép lạ Manna để chứng minh Người là Bánh đích thực mà Chúa Cha ban cho nhân loại. Khi nói đến Manna, bất cứ người Do Thái nào cũng liên tưởng đến những phép lạ Thiên Chúa đã làm để nuôi dưỡng tổ tiên của họ. Qua việc ban Manna và chim cút cho dân lữ hành trong sa mạc, Thiên Chúa vừa chứng tỏ quyền năng của Ngài, vừa cho thấy tình yêu thương Ngài dành cho dân riêng. Những ai theo Chúa sẽ không bị bỏ rơi, nhưng được Ngài chăm sóc phần hồn phần xác. Ngài nuôi dưỡng họ bằng Manna trong suốt hành trình về Đất Hứa. Được ban mỗi ngày, Manna là nguồn sức mạnh vừa thiêng liêng vừa phàm trần, giúp họ nhận ra sự đồng hành của Chúa.
     
    Trong cuộc tranh luận được thánh Gioan ghi lại, Chúa Giêsu đã chứng minh Người là Bánh bởi trời. Người là Manna mới Chúa Cha ban tặng cho nhân loại, giống như Manna của thời lữ hành. Tấm bánh có tên gọi Giêsu được ban không chỉ riêng cho dân tộc Do Thái, mà là cho cả thế giới. Ngày hôm nay, tấm bánh ấy là Thánh Thể, được hiến dâng mỗi ngày trên bàn thờ để trở nên lương thực thiêng liêng nuôi sống các tín hữu.
     
    Cùng với sự kiện Manna, Cựu ước cũng ghi lại sự cứng lòng của dân Do Thái. Trước sự thiếu thốn vật chất, họ đã nhanh chóng quên tình thương của Chúa thể hiện qua cuộc giải phóng ngoạn mục. Họ phàn nàn kêu trách ông Môi-sen và quy mọi trách nhiệm cho ông. Những nhu cầu vật chất đã khiến họ ước mong trở lại thời nô lệ bên Ai Cập. Chi tiết muốn quay lại Ai Cập được nhắc tới như một sự mỉa mai, bởi vì truớc đó, họ tìm mọi cách để thoát cảnh áp bức và công việc nô dịch tại đất nước này. Cám dỗ của dân Do Thái ngày xưa cũng chính là cám dỗ triền miên của con người mọi nơi mọi thời. Vì vật chất, họ sẵn sàng chối bỏ Thiên Chúa và lãng quên bao điều tốt lành Chúa đã làm trong cuộc đời. Con người cũng thường đổ lỗi cho Thiên Chúa vì những bất tiện hoặc tai ương, trong khi có nhiều tai ương do chính họ là thủ phạm.
     
    Khi dân Do Thái ra khỏi Ai Cập, Chúa che chở và hướng dẫn họ bằng cột mây, cột lửa và nuôi dưỡng họ bằng Manna, nay Chúa Giêsu là Bánh bởi trời, để nên nguồn sống cho chúng ta. Thánh Thể là Bánh trường sinh. Ai ai ăn bánh này sẽ được biến đổi mỗi ngày để được thần linh hóa và được sống vĩnh cửu. Được nuôi dưỡng bởi bánh từ trời, người tín hữu mặc dù đang sống giữa trần gian đã phần nào nếm hưởng hạnh phúc thiên đàng. Vì hạnh phúc thiên đàng là gì nếu không phải được kết hợp với Chúa, được chiêm ngưỡng và ca tụng tình thương bao la của Ngài?
     
    Những ai lãnh nhận Bánh Thánh Thể mà còn sống trong tội lỗi, sẽ đi ngược lại với ý nghĩa của Bí tích này, vì Thánh Thể là Bí tích của sự canh tân. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Anh em hãy trở nên mới trong lòng trí anh em. Hãy mặc lấy người mới đã được tác thành theo thánh ý Chúa trong sự công chính và thánh thiện xứng với sự thật”. Nhờ năng rước lễ, người Kitô hữu được biến đổi cuộc đời. Mình Thánh Chúa sẽ tác động và làm cho chúng ta trở nên những tạo vật mới, nên giống Chúa Kitô.
     
    Chúng ta hãy đến tôn thờ Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Người hiện diện trong thinh lặng để lắng nghe những nỗi lòng của chúng ta. Cũng chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới có thể đón nhận lời giáo huấn của Người.
     
    Thánh Thể là lời mời gọi sống hiệp nhất giữa các tín hữu. Cũng như tấm bánh được làm nên bởi muôn hạt miến và chén rượu được chế từ ngàn trái nho, những ai được nuôi dưỡng bởi lương thực thiêng liêng này sẽ được liên kết nên một để cùng nhau làm nên một thân thể huyền nhiệm có Chúa Giêsu là Đầu.
     
    Người tín hữu còn được mời gọi sống màu nhiệm Thánh Thể qua những nghĩa cử sẻ chia mỗi ngày. Noi gương Chúa Giêsu hy sinh hiến mình làm của ăn của uống cho con người, chúng ta hãy dấn thân phục vụ, quan tâm đến lợi ích của những người xung quanh, hầu giúp họ tìm được hạnh phúc trong cuộc sống.

    Về mục lục

     

    TÌM KIẾM GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Cách đây khoảng 10 năm, tại bang California bên Mỹ, có hiện tượng thanh niên tự tử hàng loạt. Tất cả đều là những thanh niên trẻ tuổi, con nhà giàu, có học thức. Nguyên nhân tự tử là vì họ mong về Thiên đàng. Năm ấy có sao chổi xuất hiện. Họ cho rằng sao chổi chính là chuyến xe về Thiên đàng. Mấy mươi năm mới có một chuyến, nên họ vội vàng ra đi, sợ nhỡ chuyến.

    Tính tỉ lệ những người tự tử, ta thấy thanh niên các nước giàu tự tử nhiều hơn thanh niên các nước nghèo. Hiện nay trong nước ta, tại các thành phố lớn, đang có hiện tượng các thanh niên đua xe gắn máy, liều lĩnh coi thường mạng sống. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy đó là những thanh niên con nhà giầu có.

    Những hiện tượng đó đáng cho ta suy nghĩ. Những người nghèo đói thật vất vả khổ sở. Họ chỉ mong sao cho có đủ cơm ăn áo mặc. Có cơm ăn áo mặc đã là hạnh phúc. Nhưng khi người ta đã có đủ cơm đủ áo, đủ mọi phương tiện, người ta vẫn không hạnh phúc. Nhìn những thanh niên giầu có chán đời đi tìm cái chết; nhìn những thanh niên chán cảnh nhà cao cửa rộng, chăn êm nệm ấm đeo ba-lô đi du lịch bụi đời, ta thấy rằng vật chất không phải là tất cả. Và những khao khát của con người là vô tận. Hôm nay tôi chưa đủ ăn thì tôi mong cho có đủ ăn. Ngày mai đủ ăn rồi, tôi lại muốn ăn ngon hơn. Hôm nay còn đi bộ, tôi mong được một chiếc xe đạp. Có xe đạp rồi tôi mong có xe máy. Có xe máy rồi tôi mong có ô – tô. Có ô – tô rẻ tiền rồi, lại mong có cái tốt hơn, tiện nghi hơn, chạy nhanh hơn, êm ái hơn. Có tất cả rồi, người ta vẫn chưa hài lòng. Cuộc đời vẫn còn thiếu một cái gì đó. Bao tử hết bị hành hạ, thì lập tức tâm hồn cảm thấy những cơn đói khác dày vò: đói bình an, đói tình yêu, đói hạnh phúc, đói ý nghĩa cuộc đời, đói những điều cao thượng. Những cơn đói khát tinh thần này rất mãnh liệt. Nên con người mãi mãi khắc khoải đi tìm. Mà hạnh phúc dường như luôn luôn ở ngoài tầm tay với.

    Hôm nay, đứng trước đoàn người hăm hở đi tìm lương thực, Đức Giêsu đã cảnh báo họ: “Đừng lo tìm những thứ lương thực hay hư nát, nhưng hãy tìm lương thực đem lại hạnh phúc trường sinh”. Vì Người đã rõ giá trị tạm bợ của miếng cơm manh áo. Người cũng thấu rõ tâm hồn con người mau chán những gì đạt được. Người đã tạo dựng tâm hồn con người, nên Người hiểu lòng khao khát của con người là vô biên. Chỉ có những giá trị tuyệt đối mới có thể lấp đầy những khát khao ấy. Người đã mở đường để tâm hồn con người thoát khỏi những ràng buộc của vật chất, vươn lên tìm kiếm những giá trị thiêng liêng cao cả, xứng với tầm vóc con Thiên chúa.

    Thế nhưng ta tìm đâu ra những giá trị tuyệt đối để lấp đầy nỗi khao khát vô biên? Ta tìm đâu ra thứ bánh làm dịu được cơn đói hạnh phúc? Hôm nay, Đức Giêsu giới thiệu cho ta thứ bánh đó. Đó là bánh đích thực, vì ăn rồi ta sẽ không bao giờ đói nữa. Đó là bánh ban sự sống, ai ăn sẽ không chết nữa. Đó là bánh ban hạnh phúc, ăn vào sẽ không còn khao khát điều gì khác. Đó là bánh Thiên Chúa ban chứ loài người không ban được. Đó là bánh từ trời chứ trần gian không sản xuất được. Tấm bánh đó là chính bản thân Người, Đức Giêsu Kitô.

    Những người Do thái đã sai lầm khi đi tìm Đức Giêsu để được ăn bánh. Đức Giêsu đã cảnh tỉnh họ khi cho họ biết rằng không nên tìm bánh, vì như thế họ sẽ thất vọng. Bánh ăn rồi sẽ lại đói. Nhưng phải tìm chính Đức Giêsu. ở đây ta nhớ tới bài học Chúa đã dậy tổ phụ Ápraham. Thoạt tiên, Chúa kêu gọi tổ phụ Ápraham đi theo Chúa và hứa cho ông được một đất nước chảy sữa và mật và một dòng dõi đông như sao trên trời như cát dưới biển. Nghe theo lời hứa, tổ phụ đã lên đường. Nhưng khi ông sinh được một người con trai duy nhất trong tuổi già, Chúa lại bảo ông phải sát tế dâng cho Chúa. Đây là một thử thách lớn lao, nhưng cũng là một lời mời gọi vươn lên. Ápraham được mời gọi thoát khỏi sự ràng buộc của lợi lộc vật chất. Theo Chúa chỉ vì Chúa chứ không phải vì lợi lộc vật chất. Ông hoàn toàn có lý vì ông đã chọn Chúa là sự Thiện tuyệt đối chứ không chỉ lựa chọn một vài sự thiện tương đối. Ông đã lựa chọn Chúa là nguồn mạch hạnh phúc chứ không đuổi theo những ảo ảnh của hạnh phúc. Đức tin của ông hoàn toàn trưởng thành, nên ông đã trở thành Cha của những kẻ tin.

    Hôm nay, Chúa mời gọi tôi, hãy noi gương tổ phụ Ápraham. Đừng tìm những mảnh vụn hạnh phúc, nhưng hãy đi đến nguồn mạch hạnh phúc. Đừng lo nắm giữ những của cải phù du, nhưng hãy tìm chiếm giữ kho tàng bền vững mối mọt không đục khoét được. Đừng đuổi theo những giá trị tương đối, nhưng hãy biết tìm kiếm giá trị tuyệt đối là chính Chúa. Chính Chúa sẽ làm ta no thoả. Chính Chúa sẽ lấp đầy những khát vọng của ta. Chính Chúa ban cho ta hạnh phúc tràn đầy, vĩnh viễn.

    Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với thánh Âucơtinh: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con mãi khắc khoải băn khoăn, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Amen.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

    1) Có một thời người ta nói: “Đi đạo kiếm gạo mà ăn”. Bạn nghĩ gì về câu nói đó?

    2) Mơ ước một đồ vật. Khi được rồi lại chán. Bạn có kinh nghiệm đó không?

    3) Bạn có những khao khát về vật chất cũng như tinh thần. Khi đến với Đức Giêsu, bạn có thấy được thoả mãn phần nào không?

    Về mục lục

     

    HÃY TÌM KIẾM NƯỚC TRỜI

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Một gia đình đang lái xe trên đường thì con cóc nhảy ngang qua. Ông chồng thắng xe kip thời, bước xuống, mang con cóc đặt qua vệ đường.
    Con cóc bỗng nói:
    – Cám ơn ông đã cứu mạng. Tôi sẽ cho gia đình ông một điều ước!
            Người đàn ông nói:
    – Vậy hãy làm cho con chó của tôi thắng cuộc đua hôm nay?
    Ông ta gọi con chó ra, và khi thấy nó chỉ có ba chân, con cóc nói:
    – Khó quá… Hay ông xin điều khác đi!
    Lúc đó bà vợ trong xe bước ra và nói:
    – Vậy hãy làm cho tôi thắng cuộc thi hoa hậu năm nay được không?
    Cóc nhìn bà vợ rồi quay lại nói với ông chồng:
    – Ông… cho tôi xem lại con chó. Xem ra con chó thắng dễ hơn là bà nhà thắng cuộc thi hoa hậu!
    Xem ra cuộc đời là một cuộc đua. Đua tìm danh vọng. Đua tìm tiền tài. Đua tìm lạc thú. Con người ra công tìm kiếm thường là danh lợi thú trần gian. Nhu cầu của con người cần có là vật chất, là tiền tài. Họ mải mê tìm kiếm và tôn thờ của cải. Họ hy sinh mạng sống để được nó. Ngay cả khi đến với Chúa, con người xem ra cũng chỉ cầu xin cho có tiền, có địa vị . . . Xem ra chẳng mấy ai thấy được nhu cầu thiết yếu đời người là tìm kiếm của ăn không hư nát là đời sau.
     Thực vậy, nhu cầu của con người ngày nay không phải là tâm linh mà là vật chất. Con ngươi gắn bó với thực tại trần gian này hơn là thực tại Nước Trời mai sau. Nhưng đáng tiếc, nhu cầu vật chất chẳng bao giờ cho đủ. Lòng tham của con người chẳng khi nào dừng. Con người không bao giờ cảm thấy mình đủ với của cải vật chất. Lòng tham khiến con người cứ như con kiến miệt mài tích lũy mà chẳng cần biết có cần dùng tới hay không?
    Thật phí phạm nếu chỉ tích lũy mà chẳng có nhu cầu sử dụng! Thật dại dột khi tích lũy một cái mà chẳng có giá trị bền vững! Thật là “dã tràng xe cát biển Đông” nếu tích lũy của phù dù mong manh chóng tàn!
    Là người Ky-tô hữu Chúa mời gọi chúng ta hãy gia công tìm kiếm của ăn không hư nát. Đừng uổng phí thời gian tích lũy của phù vân. Hãy sống cho giá trí Tin Mừng. Hãy tìm kiếm giá trị vĩnh cửu. Đó là sứ điệp mà Chúa vẫn tha thiết mời gọi chúng ta.
    Có lẽ nhiều người sẽ bảo không tích lũy của cải trần gian lấy gì mà sống? Điều Chúa muốn nói không phải là đừng làm giầu của cải vật chất mà là dù mình làm bất cứ việc gì hãy đặt giá trị Tin Mừng lên trên. Người giầu vẫn vào Nước Trời khi họ làm giầu theo ánh sáng Tin mừng. Người giầu đôi khi còn dễ vào Nước Trời khi họ biết sử dụng của cải trần gian để xây dựng ngôi nhà Nước trời bằng việc lành phúc đức cho những anh em nghèo khó. Đây cũng là cách chúng ta tích lũy kho tàng trên trời. Đây chính là phương thế chúng ta đang sống gia công làm việc để có lương thực không hư nát.
    Quả thực, tiền bạc sẽ qua đi, nhưng công đức của chúng ta sẽ theo ta vào đời sau. Của cải này sẽ trả lại cho thế gian nhưng việc lành phúc đức của chúng ta sẽ giúp chúng ta có sự sống trường sinh.
    Xin Chúa giúp chúng ta biết sống quảng đại và hiến thân hầu xây dựng cho mình một ngôi nhà thiên quốc. Xin Chúa giúp chúng ta đừng quá đặt nặng vật chất mà cản lối tiến chúng ta về quê trời. Amen

    Về mục lục

     

     

    ĐẰNG SAU VẬT CHẤT HỮU HÌNH

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Qua những biểu tượng hay dấu chỉ hữu hình, con người có thể nhận ra Thực Tại Siêu Vượt. Qua tấm bánh, con người có thể nhận ra Thiên Chúa luôn yêu thương, săn sóc và dưỡng dục mỗi người và mọi dân tộc.

    I. Cơ cấu vật chất- tinh thần

    Con người có thân xác, nên phải ăn phải mặc; nhu cầu vật chất là điều chính đáng và cần được thỏa mãn. Tuy nhiên, con người khác con vật, con người không chỉ có nhu cầu vật chất: ăn ngon ngủ kỹ chưa đủ làm con người hạnh phúc. Con người còn có nhu cầu tinh thần. Con người cần được chấp nhận, cần được yêu được thương, cần được phát triển tài năng của mỗi người đến mức độ tuyệt hảo.

    Vật chất- tinh thần là cơ cấu của con người. Qua những gì hữu hình vật chất, con người nhận ra tinh thần hiện diện. Con người là tinh thần qua thân xác, thân xác là biểu tượng của con người xét như hữu thể vật chất- tinh thần. Thế nên, kính trọng con người đòi phải kính trọng thân xác con người. Tình yêu đối với con người cũng được diễn tả một cách cụ thể qua thân xác và những gì cụ thể hữu hình. Tình yêu của cha mẹ đối với con cái được diễn tả qua sự hy sinh, vất vả làm việc để nuôi con, kiên nhẫn giáo dục con cái, mong con mình thành người trưởng thành và hạnh phúc.

    Bài đọc sách Xuất Hành cho thấy dân Do Thái đói khát trong hoang địa nên đã kêu trách Môsê và Thiên Chúa. Thiên Chúa đã ban Manna nuôi sống họ. Họ đòi thịt, Thiên Chúa đã ban chim cút cho họ ăn. Tình yêu Thiên Chúa đối với dân Do Thái được diễn tả qua việc đưa họ ra khỏi Ai cập, qua việc che nắng và soi sáng họ bằng cột mây cột lửa, qua việc cho họ ăn uống. Thiên Chúa diễn tả tình yêu cho con người qua những gì cụ thể hữu hình, và Thiên Chúa cũng mong ước con người nhận ra tình yêu của Ngài, để con người có thể sống tín thác, an bình và hạnh phúc.

    II. Siêu vượt- vượt lên những gì vật chất hữu hình

    Dân Do Thái trong hoang địa càm ràm Thiên Chúa và Môsê: “Tại sao chúng tôi đã không chết trong tay Đức Chúa tại Aicập khi được ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa lòng”. Dân Do Thái đã dừng lại nơi những gì là miếng ăn vật chất, nên đã không nhận ra tình yêu của Thiên Chúa qua việc Ngài can thiệp giải phóng họ khỏi cảnh nô lệ bên Aicập. Thiên Chúa đã ban bánh cho dân, vì cơm bánh là nhu cầu chính đáng của con người; nhưng qua đó Thiên Chúa cũng mời gọi dân Do Thái nhận ra Thiên Chúa luôn quan tâm săn sóc họ, can thiệp, nuôi dưỡng và dạy dỗ họ ngang qua mọi biến cố.

    Không phải chỉ dân Do Thái ngày xưa như vậy, ngày nay nhiều người cũng chỉ dừng lại những gì vật chất, họ đi tìm thỏa mãn hoan lạc nơi miếng ăn và xác thịt, họ chưa nhận ra được giá trị thực của đời người, chưa nhận ra được niềm vui sâu xa trong việc phục vụ và giúp đỡ tha nhân. Đức Giêsu nói với những người đi tìm Ngài chỉ vì bánh ăn: “các ngươi tìm Ta không vì đã thấy dấu lạ nhưng vì các ngươi có bánh ăn. Đừng lao công chỉ để có lương thực chóng qua, nhưng vì lương thực cho cuộc sống vĩnh cửu”. Thiên Chúa mời gọi mỗi người hãy giúp nhau nhận ra giá trị đích thực, làm sao để con người có thể sống hạnh phúc ngay trong hoàn cảnh hiện tại.

    Con người được mời gọi vượt trên gặp gỡ Thiên Chúa qua những trung gian vật chất. Qua lương thực hằng ngày con người cũng có thể nhận ra tình yêu và sự quan tâm săn sóc của Thiên Chúa đối với mỗi người. Qua tình yêu của người con đối với cha mẹ, hoặc của cha mẹ đối với con cái, mỗi người có thể nhận ra tình yêu của Thiên Chúa cho mình. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, vì con người được tạo dựng giống Thiên Chúa. Cái nhìn siêu vượt, là cái nhìn giúp con người nhận ra Đấng Tuyệt Đối và có tương quan thân thiết với Ngài.

    III. Thiên Chúa là Cha của tất cả

    Khi một người được sinh ra, người đó là con của người cha người mẹ sinh ra mình. Mỗi người không tình cờ mà hiện hữu trên đời, chính Thiên Chúa đã yêu thương và sinh ra người đó qua cha mẹ của mình. Mỗi người đều có Thiên Chúa là cha là mẹ mình. Mỗi người làm cha làm mẹ đều cố gắng thương yêu tất cả những con mình sinh ra; cũng tương tự như vậy, mỗi người đều được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt.

    Lịch sử dân tộc Do Thái là một mẫu cho tất cả các dân tộc trên hoàn vũ nhận ra rằng, Thiên Chúa yêu thương dân tộc mình như Ngài đã yêu thương dân tộc Do Thái. Cho tới ngày nay, cho dù dân tộc Do Thái có bị phân tán trên khắp thế giới, cho dù đất nước Do Thái có nhỏ bé và luôn sống trong chiến tranh, thì người ta vẫn tin rằng Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương dân tộc Do Thái, một dân được tuyển chọn làm dân tư tế, dân trung gian để nói về Thiên Chúa cho mọi người và mọi dân tộc khác.

    Do Thái giáo là tôn giáo đặc biệt, vì Thiên Chúa mặc khải qua lịch sử dân tộc Do Thái, và lịch sử dân tộc Do Thái là lịch sử thánh. Kitô giáo là một tôn giáo đặc biệt vì đã được Đức Giêsu Kitô sáng lập, vì đã nhận ra Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Qua Đức Giêsu Kitô, Kitô hữu nhận ra Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Thiên Chúa yêu thương mỗi người như yêu thương Đức Giêsu (Ga.17, 23; 15, 8-9). Đức Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo có thể là phương tiện Thiên Chúa dùng để giúp con người sống trong tôn giáo đó gặp gỡ Thiên Chúa theo cách thế riêng của họ; tuy nhiên Kitô giáo là một hồng ân rất đặc biệt cho Kitô hữu và cho tất cả mọi người, ngay cả cho những người sống trong các tôn giáo khác.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ

    1. Đâu là dấu chỉ hay biểu tượng mà qua đó bạn dễ nhận ra Thiên Chúa hiện diện và yêu thương bạn nhất? Nếu có, xin bạn chia sẻ.
    2. Theo bạn, đâu là dấu chỉ hay biểu tượng đặc biệt có ý nghĩa đối với con người ngày nay, giúp con người vươn lên gặp gỡ Thiên Chúa?

    Về mục lục

     

     

    CHÍNH LÀ CHA TÔI CHO CÁC ÔNG ĂN

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Sau phép lạ Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều, dân chúng bủa đi kiếm tìm Người; họ thật khẩn khoản, “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Tuy nhiên điều này không làm cho Người hài lòng, vì Người biết quá rõ, họ kiếm tìm Người chỉ để được ăn bánh; “Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng… vì các ông đã được ăn bánh no nê”. Sau phép lạ, Đức Giê-su đã phải ‘lánh mặt, đi lên núi một mình’ vì biết rằng: cho dầu họ có muốn tôn Người lên làm vua đi nữa, thì chẳng qua cũng chỉ vì muốn được tiếp tục ăn bánh, chứ chẳng phải vì muốn chấp nhận Người, lắng nghe lời Người, và còn xa lạ hơn nữa, nhận ra Thiên Chúa yêu thương họ.

    “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc như có lời chép: người đã cho họ ăn bánh bởi trời… ” còn ông “ông sẽ làm gì đây?” Vấn đề được người Do Thái đặt ra đã rõ: ông cho chúng tôi ăn thứ bánh gì? Đúng là phần lớn diễn từ sau đó (đúng hơn, một cuộc tranh luận) sẽ xoay quanh vấn đề thứ bánh gì, thứ ‘bánh hay hư nát’ hay ‘bánh trường sinh’ đơn giản là vì, đó là mối quan tâm – thắc mắc hàng đầu họ đặt ra cho Người. Tuy nhiên hầu như ngay lập tức và xuyên suốt trong cuộc trao đổi tiếp theo, Đức Giê-su luôn gợi cho họ nhớ về ‘người ban bánh và kẻ cho họ ăn’; “Không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời”. Ngay cả sau đó, khi tự giới thiệu mình là ‘bánh trường sinh’, thì Người cũng không quên nhắc nhở rằng, Người đồng thời cũng là đấng ban tặng, vì được Chúa Cha sai đến.

    Nếu chỉ nhìn vào bánh như một thứ thức ăn, người ta sẽ dễ dàng có những đánh giá khác nhau. Man-na không được sách Xuất Hành (chương 16) xác định rõ là thức ăn gì (nếu có chút đề cập thì cũng rất chung chung (xem Xh 16:31)). Sách chỉ nhấn mạnh trên sự kiện, nó được Gia-vê ban cho dân làm của ăn hàng ngày suốt hành trình gian khổ trong sa mạc. Man-na trước hết là dấu chỉ Gia-vê ân cần chăm sóc dân riêng trong thời gian xuất hành giải thoát; “Vào buổi chiều các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng các ngươi sẽ được ăn bánh thỏa thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi’ (câu 12). Ngược lại, trong sách Dân Số (chương 11), khi dân ta lên tiếng ta thán Mô-sê, thì Man-na bị chê là không ra gì hết, ‘… bây giờ chỉ thấy toàn Man-na thôi… nó như hạt ngô, trông như nhựa hương… xay ra nấu bánh thì mùi vị nó chẳng khác gì mùi vị bánh chiên dầu…’ (câu 7 và 8). Thế đấy, người Do Thái thời Đức Giê-su chưa tới nỗi chê bánh và cá mà Người đã hóa ra nhiều cho họ được ăn no nê, dầu có thể thức ăn bình dân đó chẳng ngon lành gì cho lắm (nếu là ngày nay, nhất là trong một xã hội sung túc hưởng thụ, có lẽ chúng ta sẽ lên tiếng ta thán vì bánh đó nhàm chán nhạt nhẽo quá chăng). Tuy nhiên phát biểu của họ cho thấy, họ đã hoàn toàn quên mất việc nhận biết ai đã cho họ ăn, và tại sao lại cho. Họ lầm tưởng vào thời cha ông họ, Mô-sê đã cho Man-na là để… tiếp tục lãnh đạo dân, thì nay ông Giê-su cũng làm vì một lý do tương tự; ‘Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây?’ (Ds 11:4) Đức Giê-su đã muốn gợi cho họ nhớ lại mục tiêu chính mà sách Xuất Hành nhắm tới khi tường thuật về Man-na: ‘chính Cha tôi đã cho…’ Tiếp theo đó, khi khảng định chính mình là bánh bởi trời, bánh trường sinh, thì đồng thời Đức Giê-su cũng xác định luôn, Người cũng chính là Đấng ban bánh cho họ, “bánh tôi sẽ ban tặng…” (câu 51), và Người kêu gọi họ không những chỉ đón nhận bánh, mà còn hãy đến với ‘người cho’, đồng thời với Đấng đàng sau ‘người cho’ đó nữa; “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và sẽ không bị loại ra ngoài… Ý của Cha là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời…” (câu 37 và 40). Mục đích tối hậu của việc ăn bánh trường sinh chính là: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

    Ăn bánh trường sinh là tin và tiếp nhận trọn vẹn Thiên Chúa tình yêu trao hiến mình cho con người; là hành vi chạm sâu sát nhất tới sự chăm sóc tuyệt diệu của Thiên Chúa đối với con người yếu hèn tội lỗi. Tương tự như khi xưa, dân Do Thái thu gom Man-na để “biết rằng Ta là Đức Chúa”, thì nay Kit-tô hữu rước Mình Máu Thánh Chúa để tuyên xưng: Thiên Chúa là tình yêu tuyệt hảo, là tình yêu nhân từ và thương xót, là tình yêu cứu chuộc và trao ban. Mô-sê đã lưu trữ một đấu Man-na trong bình và đặt nó trong cung thánh ‘để giữ lại cho con cháu anh em…’ (Xh 16:53). Cũng thế nếu Bánh Thánh ngày nay có được giữ lại trong nhà tạm, mục đích chính cũng là để gợi nhớ về tình yêu nhân ái này, hơn là chỉ để được thờ lạy kính tôn.

    Lạy Bánh Trường Sinh nhiệm mầu, xin cho con hiểu: nếu bánh và người cho bánh chỉ là một, thế có nghĩa là người đó đã trao ban hết, trao ban trọn vẹn chính mình. Bây giờ thì con đã rõ hơn: Thánh Thể và Thập Giá chỉ là một, vì đều là tình yêu tự trao ban đến cạn kiệt. Xin cho con rước lễ sốt sáng như con đường độc đạo đưa con vào chính tình yêu trao ban đó, để rước lễ trở nên cho con nguồn dâng hiến và phục vụ, trọn vẹn và mãi mãi. A-men.

    Về mục lục

     

     

    TẤM BÁNH ĐƯỢC BẺ RA

    Văn Hào

    Chúa Nhật tuần trước, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Đức Giê-su, vị mục tử nhân lành giàu lòng yêu thương con người đã nhân bánh và cá lên gấp ngàn lần để cho 5000 người ăn no nê. Phép lạ đã xảy ra. Nhưng chắc chắn Đức Giê-su không phải là một kinh tế gia, cũng không phải là một chuyên viên đi làm công tác từ thiện xã hội, hoặc xóa đói giảm nghèo. Phép lạ Đức Giê-su thực hiện là một dấu chỉ khải thị một chân lý sâu xa hơn. Ngài chính là tấm bánh được bẻ ra để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Đức Giê-su không đóng vai một nhà từ thiện giầu hảo tâm, giúp con người vượt qua cái đói vật chất. Ngài chính là Đấng Cứu Độ, là Bánh Trường Sinh, Đấng đến trần gian để cho chúng ta được sống. Đó chính là nội dung bài diễn từ về bánh mà Thánh Gioan trình bày cho chúng ta trong chương 6, bắt đầu từ Chúa Nhật hôm nay.

    1. Tấm bánh thần thiêng

    Năm 1868, một cô gái người Bỉ yếu ớt được in năm dấu thánh. Cô ta tên là Louis Lateau. Từ đó trở đi, cô không còn có thể ăn uống được nữa. Trong bảy năm trời, cô ta sống nhờ lương thực duy nhất là rước Mình Thánh Chúa mỗi ngày. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với chị Têrêsa Newman và cô Matta Robin, người Sáng lập Tu hội Bác Ái. Những điều kỳ diệu đó phần nào chứng minh cho lời Chúa nói hôm nay: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh. Hãy ra công làm việc không phải vì của ăn mau hư nát nhưng để có lương thực mang lại sự sống trường sinh, là lương thực mà Con Người sẽ ban cho các ngươi.” (Ga 6, 27). Thế, lương thực Chúa nói đây là lương thực gì?

    Chúa Giê-su đã công bố: “Tôi là Bánh Trường Sinh”. Để có tấm bánh, dù là bánh bột mì hay bột gạo, trước hết phải có hạt. Hạt được gieo trồng trong ruộng, rồi phải có người tưới nước, làm cỏ, bón phân. Hạt lúa cần ánh nắng để được chín vàng. Kế đến phải có người gặt, đem về xay thành bột. Bột được nhào, nặn thành bánh và bánh phải được nung chín trong lò. Đức Giê-su, tấm bánh được Thiên Chúa ban tặng, cũng trải qua những công đoạn tương tự như thế. Ngài đã được cấy vào mảnh ruộng trần gian, nơi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Ngài cũng đã được lớn lên trong ánh nắng mặt trời vùng quê Nazareth, đã vươn lên giữa đám cỏ lùng trong thửa ruộng dương gian. Ngài đã trưởng thành, đã chín vàng dưới ánh nắng kỳ diệu của Thần Khí. Sau cùng, Ngài đã được gặt hái, bị nghiền nát phơi thây trên Thập Giá, và được nung chín trong cuộc khổ nạn. Ngài đã trở nên một Tấm Bánh, được bẻ ra và hiến trao cho nhân loại. Tấm bánh Giê-su được hiến tặng cho ta chính là tấm bánh được nướng chín trong mầu nhiệm Thập Giá, nơi kết tụ đỉnh cao của Tình yêu mà Thiên Chúa đã tỏ bày.

    Văn hào Fortry đã viết: “Dầu bầu trời có tối đen đến mấy đi nữa, thì Thánh Giá vẫn là dấu hiệu cao cả nhất và tuyệt vời nhất của tình yêu”. Cha Thánh Gioan Maria Vianney cũng diễn tả một xác tín tương tự: “Chúng ta phải đeo bám vào Thập Giá Chúa như một kẻ hà tiện bám víu vào tiền bạc, vì Thánh Giá là chóp đỉnh của tình yêu, là lương thực trường sinh, là nguồn mạch cứu độ”.

    Chúa Giê-su đã nói: “Ai tin vào tôi sẽ được sống đời đời”. Tin vào Đức Giê-su, Đấng bị phân thây trên Thập Giá, chính là tiếp nhận Ngài, mở lòng ra để “ăn” Ngài, vì Ngài chính là tấm bánh cứu độ được bẻ ra và được phân phát nhưng không cho tất cả mọi người.

    Muốn trở nên lương thực nuôi sống con người, tấm bánh phải được nghiền nát và bị phân hủy để đi vào thịt máu, đem lại cho chúng ta sự sống. Đây là định luật về Bánh, đã được chính Đức Giê-su biểu tỏ qua cái chết của Ngài trên Thập Giá. Định luật đó cũng được Chúa Giê-su chuyển giao để chúng ta sống và thực hành: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá hằng ngày theo tôi”.

    1. Sống định luật về bánh

    Văn hào Leon Tolstoi viết một tiểu thuyết ngắn với tựa đề: “Con người chúng ra sống bằng gì?” Tác giả nêu ra câu hỏi và trả lời ngay sau đó “Con người chúng ta sống bằng tình yêu”. Tần Thủy Hoàng ngày xưa đã cho nhiều người tài giỏi đi khắp nơi lùng sục những thang thuốc quý, hay những lương thực cao lương mỹ vị để được sống mãi. Nhưng ông ta đã chết, cũng như tất cả mọi người khác. Dùng đồ ăn thức uống hằng ngày cũng chỉ có thể vỗ béo và tẩm bổ thân xác hầu kéo dài thêm thời gian sống, nhưng cuối cùng ai ai cũng phải chết. Trái lại, sống bằng tình yêu, con người sẽ không bao giờ chết. Thánh Gioan trong thơ thứ nhất, đã định nghĩa “Thiên Chúa là tình yêu”. Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, nên những ai đi vào quỹ đạo tình yêu với Thiên Chúa và sống sung mãn huyền nhiệm yêu thương, người đó không bao giờ chết. Điều đó, chính Đức Giê-su đã khẳng định trong bài Tin Mừng hôm nay: “Tôi là bánh đem lại sự sống cho trần gian (Ga 6, 33-35). Ai ăn bánh này sẽ không còn đói.. Ai tin tôi sẽ được sống đời đời”. Định luật về bánh phản chiếu qua mầu nhiệm Thập Giá luôn hàm ngậm một nghịch lý. Hạt lúa được gieo vào lòng đất phải thối đi mới có thể nảy mầm và đơm bông kết trái. Tấm bánh phải được nhai nát, được tiêu hủy trong dạ dày mới có thể chuyển hóa thành máu và thịt. Cũng vậy, chúng ta phải đi qua cái chết mới đến được sự sống, phải đi qua Thập Giá mới có thể đón nhận vinh quang. Per Crucem ad Lucem. Per angusta ad augusta.

    Con đường theo Đức Ki-tô, tấm bánh được bẻ ra, không phải là con đường thẳng tắp và phẳng lặng. Lối bước Thập Giá không phải là nẻo đường được đan kết bằng những bông hoa và nụ cười. Đó chính là con đường gập ghềnh đầy sỏi đá gai chông, là con đường đưa dẫn đến núi sọ và huyệt đá, hàm ngậm mầu nhiệm tự hủy để cùng chịu đóng đanh và cùng chết với Chúa Giê-su. (Mt 16, 24-25). Muốn trở thành môn đệ Ngài, chúng ta cũng phải trở nên tấm bánh được nghiền nát, được bẻ ra để phân chia cho mọi người.

    1. Ví dụ cụ thể

    Một ngày cuối năm 1965, trên một chuyến bay từ Rôma đến Mỹ mang theo một số Giám Mục tham dự công đồng Vaticanô II trở về, có một tiếp viên hàng không khá xinh đẹp. Cô ta ân cần phục vụ hành khách, nhưng hôm đó cô tỏ vẻ hơi khó chịu vì có một cặp mắt cứ nhìn cô đăm đăm mỗi khi cô xuất hiện. Cô khá bực mình và cũng hơi bối rối, vì đó lại là cặp mắt của một vị Giám Mục đáng kính và khá nổi tiếng lúc bấy giờ: Đức Cha Fulton Sheen. Khi phi cơ đáp xuống, Đức Cha là người sau cùng rời máy bay. Ngài tiến lại gần cô tiếp viên và nói: “Thưa cô, cô rất xinh đẹp. Cô hãy cám ơn Chúa vì đã ban cho cô sắc đẹp tuyệt vời như thế”. Vị Giám Mục nói rất đứng đắn và trang nhã, nhưng cũng đầy trìu mến. Chỉ vài ngày sau, có tiếng gõ cửa tại văn phòng của Đức Cha ở New York. Người đến gặp Đức Cha không ai khác, mà chính là cô tiếp viên hôm nọ. Cô vào đề ngay: “Thưa Cha, con phải làm gì để cám ơn Chúa đã ban tặng cho con sắc đẹp?” Thay vì trả lời, Đức Cha hỏi lại cô: “Cô có bao giờ nghe nói về trại phong Di Linh ở Việt Nam chưa?” Cô trả lời rằng cô có biết qua báo chí. Đức Cha nói tiếp “Những người cùi ở đó cũng xinh đẹp lắm. Chúa Giê-su đang hiện thân nơi họ. Nếu cô muốn cám ơn Chúa, cô hãy sang Việt Nam và phục vụ họ như Chúa Giê-su đã yêu thương và phục vụ chúng ta”. Cô tiếp viên xinh đẹp đó đã bay sang Việt Nam và sau đó trở thành nữ tu. Châm ngôn sống của cô là “Tôi cũng phải trở nên như một tấm bánh được bẻ ra để trao ban tình thương của Chúa Giê-su cho những người cùng khổ.”

    Kết luận: Xin được tóm kết với bài thơ ngắn của thi sĩ Thagor: “Tôi đã nài xin Chúa cất khỏi tôi sự kiêu hãnh. Chúa trả lời rằng không. Chính tôi là người phải phấn đấu để vượt thắng. Tôi đã nài xin Chúa cho đứa con tật nguyền của tôi được lành lặn. Chúa nói không. Tinh thần mới cần lành lặn, còn thể xác chỉ là tạm bợ. Tôi đã nài xin Chúa cho tôi được hạnh phúc. Ngài cũng nói không. Ơn Ta thì luôn đủ cho con, hạnh phúc con phải tìm lấy. Và cuối cùng tôi xin Chúa ban cho tôi một quả tim để biết yêu thương. Chúa nói rằng đây là lời cầu nguyện Ta vẫn hằng mong chờ. Ta sẽ ban cho con một trái tim biết rung lên những nhịp đập yêu thương để con trở nên như một tấm bánh được bẻ ra, được nhai nát và góp phần đem lại sự sống cho mọi người”.

    Về mục lục

     

     

    BÁNH BỞI TRỜI-

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Tôi có dịp hành hương sang Aicập, đi qua sa mạc mênh mông, lên đỉnh núi Sinai cao vời vợi và đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái”.

    Tại sao phải mất 40 năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái? Bài đọc 1 hôm nay nêu lý do. Dân Do thái than vãn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Aicập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,3).

    Dân Do thái đã buông ra những lời trách móc nặng nề ông Môsê và ông Aharon. Nhiều lần dân đã trách móc, xỉa xói và tỏ thái độ vô ơn bạc nghĩa đối với ông Môsê, vị đại ân nhân của họ: “Bên Ai cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? … Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai cập! Thà làm nô lệ Ai cập còn hơn chết trong sa mạc!” (Xh 14,11-12);“(Thà) chúng tôi chết … trên đất Ai cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê … (còn hơn là) vào sa mạc này, để … phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,2-3);“Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai cập để làm gì? Có phải là để cho (chúng) tôi, con cái (chúng) tôi, và súc vật của (chúng) tôi bị chết khát hay không?” (Xh 17,3); “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai cập … Chúng tôi đã chán ngấy (manna) thứ đồ ăn vô vị này (rồi)” (Ds 21,5); “Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai cập, hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong! Sao Đức Chúa lại đem chúng tôi vào đất này để chúng tôi ngã gục dưới lưỡi gươm, để vợ con chúng tôi bị giặc bắt? Chúng tôi trở về Ai cập có tốt hơn không?” (Ds 14,2-4).

    Hành trình sa mạc với nhiều thử thách là dịp thanh luyện dân tuyển chọn khỏi nổi nhớ “thịt béo, củ hành củ tỏi Ai cập”. Suốt 40 năm, họ được thử thách, tinh luyện để vào đất hứa. Đó là thời gian giáo dục để trở thành một dân tộc, một cuộc giáo dục từ từ, dạy họ tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa bằng cách thi thố những phép lạ, dạy họ tín nhiệm vào sự quan phòng của Thiên Chúa bằng cách ban manna, chim cút và nước vọt ra từ tảng đá. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người trong sa mạc là một sự hiện diện đầy yêu thương. Môsê vị lãnh đạo là khuôn mặt nổi bật nhất suốt chặng đường gian truân này.

    1. Môsê, người của Thiên Chúa luôn sống liên đới với dân

    Môsê nhà lãnh đạo đã dành cả đời lo cho dân. Ông đã trải qua biết bao đau khổ, sợ hãi và lo lắng để chăm sóc cho dân. Nhưng dân lại trách móc, than phiền và mắng nhiếc ông. Dân đối xử tệ bạc với Môsê. Họ xem ông như chính là thủ phạm gây ra những đau khổ và bất hạnh cho họ và gia đình họ vậy. Thật bất công!

    Vậy mà cả đời Môsê vẫn một mực yêu thương liên đới với dân, sống chết với dân trong lời táo bạo với Chúa mà thấm đượm lòng thương dân:“Tôi không muốn một mình sống hạnh phúc bên cạnh Chúa, nếu ở đó tôi không có Dân của tôi!”.

    Từ ngày được Thiên Chúa gọi để lãnh đạo Dân Chúa (Xh 3,10), Môsê dần dần thấu hiểu và thâm tín rằng: vị tư tế ở giữa dân Chúa không những phải sống hoàn toàn liên đới với Thiên Chúa, mà còn phải hoàn toàn liên đới với dân Chúa.

    Môsê luôn là người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa và là vị lãnh đạo quảng đại, đầy lòng xót thương, liên đới với dân cho dù dân ‘cứng cổ’, tội lỗi, bất trung.

    a)  Môsê, người của Thiên Chúa

    Là tư tế, Môsê tường trình mọi việc của dân chúng ‘lên Thiên Chúa’ (Xh 18,19). Ông đàm đạo và nhận chỉ thị của Thiên Chúa trong Trướng tao phùng (Xh 33,9); ông thể hiện vai trò trung gian của vị tư tế, môi giới giữa Thiên Chúa và dân, nối kết hai bên bằng máu giao ước (Xh 24,6-8); ông còn chọn Aharôn và con cái Aharôn để sung vào chức tư tế (Xh 28,1), cũng như thay mặt Thiên Chúa để tác thánh họ (Xh 29,1-46). Chính việc tiếp xúc thường xuyên với ‘lãnh vực thánh’ đã dần dần khiến ông đi sâu về phía Thiên Chúa, đến độ Kinh Thánh đã không ngần ngại gọi ông là ‘người của Thiên Chúa’ (Tl 33,1; Yôs 14,6).

    Môsê có những lúc tiếp xúc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, được chan hoà sự hiện diện của Người, mặt ông đã rạng sáng lên, dọi chiếu lại vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà không một người phàm nào có thể nhìn thẳng được: “Aharon và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông” (Xh 34,30). Khi ông vào Trướng tao phùng đàm đạo với Thiên Chúa, toàn dân phủ phục (Xh 33,7-11). Ở đó, Thiên Chúa nói chuyện với ông như nói chuyện với một người bạn thân ‘diện đối diện’ (Xh 33,11). Ông thật sự trở nên con người mà Thiên Chúa ‘biết’ đích danh và không ngần ngại đồng hành với ông (Xh 33,12-17). Môsê táo bạo thỉnh cầu được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa (Xh 33,18-23).Thiên Chúa đã nhượng bộ cho ông nhìn thấy Người… Nhưng từ phía sau lưng: “… Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và Ngươi sẽ nhìn thấy phía sau Ta, nhưng Nhan Ta, người ta sẽ không nhìn thấy được” (Xh 33,23).

    b)  Môsê, người liên đới với dân Chúa

    Môsê được sống bên cạnh, thân mật với Thiên Chúa, và tâm trí ông luôn hướng về dân Chúa: “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, vì đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9).Từ ngữ ‘chúng tôi’ ở đây thật cảm động! Môsê đã không đặt mình trên dân, cũng không ở ngoài dân; nhưng hoàn toàn liên đới đến đồng hoá với dân, ngay cả nhận lãnh trách nhiệm về tội lỗi của dân.

    Môsê bị phạt vì chính tội của dân, vì ông muốn liên đới với tội của dân: “Giavê đã phẫn nộ với cả ta nữa vì cớ các ngươi, mà rằng: cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không vào!” (Tl 1,37). Hình phạt này đối với Môsê thật nặng nề và đau khổ. Môsê đã phải nằm xuống trên núi Nêbô, tại vùng đất Môab. Môsê chia sẻ hoàn toàn số phận của dân và dường như ông còn muốn ôm vào lòng cả thế hệ xuất Ai cập, thế hệ mà ông đã lãnh đạo, đã cầm tay đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa tại Sinai, đã yêu thương cũng như đã chịu đựng… Thế hệ đó đã nằm xuống trong sa mạc. Môsê vì thế cũng ‘không muốn’ vào Hứa Địa một mình khi vắng bóng dân!

    Môsê đã đau khổ cùng dân và cho dân! Môsê đã chết với dân và cho dân! Khuôn mặt và đời sống của Môsê đã in đậm nét trong lịch sử dân Chúa.

    Môsê luôn luôn bênh đỡ, cầu bầu cho dân trước mặt Thiên Chúa: “Phải! Dân này đã phạm một tội rất lớn… Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng; bằng không, xin Người hãy xoá tôi đi khỏi sách Người đã viết…” (Xh 32,30-32).

    Lòng yêu thương, tình liên đới, thái độ bầu chữa, bênh vực dân của Môsê xuyên suốt trong quá trình ông lãnh đạo dân. Môsê gắn bó cả cuộc đời và mạng sống mình với dân tộc Israel.

    1. Môsê là hình bóng của Đức Giêsu Kitô

    Môsê là vị cứu tinh, là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân. Môsê là ngôn sứ nói với dân về Đấng Cứu Độ một lời danh tiếng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đó là: Đức Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe lời vị ấy” (Tl 18,15). Sau này, Têphanô vị tử đạo đầu tiên đã nhắc lại lời tiên tri đó (Cv 7,37); thánh Phêrô đã thấy thực hiện nơi Đức Kitô (Cv 3,22). Chính Môsê đã làm chứng về “Vị Tiên Tri” đó (Lc 24,27; Ga 5,46).

    Là trung gian làm nhịp cầu giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel, Môsê tiên báo Đức Kitô, Đấng trung gian cho một Giao Ước mới hoàn hảo hơn. Dọc dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức. Giao ước thứ nhất với Môsê trên núi Sinai. Giao ước thứ hai với Đức Kitô trên núi bát phúc và được bảo chứng trên Núi Sọ. Đây là Giao Ước Mới và là Giao Ước Vĩnh Cửu.

    Đức Kitô, là Môsê mới đã hoàn thành tất cả những điều đã được ghi chép trong Lề Luật: “Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi Ta còn ở với các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật của Môsê và các tiên tri cùng Thánh Vịnh” (Lc 24,44).

    Môsê đã đưa dân Israel nô lệ ở Ai cập, xuyên qua sa mạc về Đất Hứa. Đó là hình bóng và là tiên báo Chúa Cứu Thế, Đấng là Đường, là Ánh Sáng đưa Israel mới đi qua cuộc đời trần thế mà tiến về Đất Hứa, là thành Giêrusalem trên trời.

    Đức Kitô là Môsê mới của Dân Chúa. Tác giả thư Do thái quả quyết: “Trong mọi sự, Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương, vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2,17). Chính Người đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên Vị Thượng Tế tuyệt đối trung tín với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa (Dt 5,5-6), đồng thời Người cũng đã thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người, đầy lòng xót thương đối với mọi người (Dt 5,9) qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của mình làm lễ tế để kéo tình thương tha thứ của Thiên Chúa cho dân Chúa (Dt 5,8). Để đền tội cho dân và đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đức Giêsu Nazaret đã dùng chính máu mình để thiết lập Giao Ước Mới, một lần nữa nối kết Thiên Chúa với con người (Mc 14,24; Mt 26,28; Lc 22,20; 1C 11,25; cf Xh 24,8) và dùng cái chết tự nguyện đau thương trên thập giá, bị liệt vào hàng tội nhân (Mc 15,22-37; Mt 27,39-50; Lc 23,33-46; Yn 19,17-30; Rm 8,3; cf Tl 34,5-6) để đáp lại lời thách đố của Môsê? Từ đó, qua Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, chắc hẳn Môsê sẽ được chứng kiến và nghe lại lời này: “Tôi muốn sống hạnh phúc bên cạnh Đức Chúa, và ở đó có cả dân của tôi nữa!” (x.Môsê, vị lãnh đạo của Dân Chúa: trung tín và liên đới, ĐGM Giuse Võ Đức Minh, WHĐ).

    1. Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống đem lại sự sống đời đời

    Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu “đã lánh mặt đi lên núi một mình”. “Chiều đến”, các môn đệ xuống thuyền đi sang “bên kia Biển hồ”; còn Chúa Giêsu lát sau đó “đi trên mặt biển” mà đến với các ông. Hôm sau, đám đông cũng xuống thuyền vượt qua Biển hồ về hướng Capharnaum để tìm kiếm Người. Dân chúng sắp được Chúa mời gọi sống một cuộc “vượt qua” khác, sâu xa hơn nhiều. Đó là cuộc vượt qua từ bánh hóa nhiều đến với Đấng ban bánh ấy, vượt qua từ dấu chỉ là bánh đến với Đấng chính là Bánh Trường Sinh.

    Chúa Giêsu biết dân chúng đi tìm mình chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự. Chúa Giêsu muốn họ tìm đến lương thực thường tồn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”. Chúa Giêsu nhắc cho họ, không phải Môsê đã cho họ manna, mà là Thiên Chúa. Người bảo họ manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, manna chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa. Bánh của Thiên Chúa chính là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người, không chỉ sự no đủ về phương diện thể lý mà còn là sự sống đời đời: “Chính tôi là Bánh Hằng Sống. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ”.

    “Chính Tôi là Bánh Hằng Sống”. Khẳng định long trọng của Chúa Giêsu không một chút mông lung, mơ hồ. Một ý tưởng, một lý tưởng hay một lý thuyết thì có thể mơ hồ, nhưng một con người có danh xưng cụ thể thì không. Bánh sự sống, lương thực đem lại sự sống và là sự sống vĩnh cửu, bất hoại, chính là bản thân Chúa Giêsu. Và để đón lấy một con người, một Đấng làm sự sống và lẽ sống cho mình, thì “công việc” phải làm là “đến với” và “tin vào” Người.

    Liên tiếp trong 4 tuần lễ kể từ Chúa nhật hôm nay, phụng vụ Lời Chúa đọc lại gần như toàn bộ chương 6 Phúc âm Thánh Gioan về Bánh Hằng Sống. Đây là cơ hội để khám phá ý nghĩa của Mầu Nhiệm Thánh Thể. Mỗi Chúa Nhật một khía cạnh khác nhau. Tuần 1: Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời; Tuần 2: Bánh Ban Sự Sống; Tuần 3: Tấm Bánh Thánh Thể và Tuần 4: Tấm Bánh Lời Chúa.

    Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời, không phải là đã “rớt xuống ” như mana trong sa mạc. Người là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát. Lời của Chúa Giêsu, sứ vụ của Chúa Giêsu, cuộc sống của Chúa Giêsu đều là bánh nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng. Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống. Chúa Giêsu chính là Môsê mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn khôn ngoan cho nhân loại. Chỉ có Chúa Giêsu mới làm thỏa mãn cơn đói đời đời. Người được Thiên Chúa đóng ấn, là chân lý của Thiên Chúa nhập thể.

    Để được sống trường sinh, Thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô : “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”. (Bài đọc 2).

    Sự công chính và thánh thiện chủ yếu là chết đi con người cũ để sống yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương. Không ai có thể đến với Thiên Chúa Hằng Sống để được sống trường sinh mà không qua Con Đường Giêsu, vì đây là Con Đường Thật, Con Đường dẫn đến Sự Sống.

    “Đến với” và “tin vào”, khao khát và no thoả. Đó là hành trình của tình yêu, một hành trình vô giới hạn, không cùng, là sự cất cánh của tình yêu càng lên cao, càng lên cao mãi trong huyền nhiệm Thiên Chúa.

    Mỗi lần rước lấy Thánh Thể, Tấm Bánh Bởi Trời, chúng ta phải cảm nghiệm được Chúa Giêsu như tâm điểm luôn thu hút chúng ta đến với Người và đến với nhau, làm cho tất cả nên một, một tấm bánh duy nhất: Bánh của tình thương.

    Về mục lục

     

    CÁI GÌ ĐÂY?

    Trầm Thiên Thu

    Khi chưa biết về vật gì, người ta sẽ thắc mắc: “Cái gì đây?”. Rồi tìm hiểu, nghiên cứu, nhờ đó mà có thể biết đó là cái gì và để làm gì. Khi dân Ít-ra-en đi qua sa mạc để đến Đất Hứa, người ta cũng đã từng thắc mắc khi thấy “vật lạ” từ trời rơi xuống như mưa: “Cái gì đây?”.

    Manna hoặc Mana là loại thực phẩm đặc biệt, ăn được, nhìn trắng như sương muối, rơi xuống từ trời vào ban đêm, trong như pha lê hoặc giọt sương, rồi cứng dần và dính, biến thành màu trắng, vàng, hoặc hơi nâu, giàu chất carbohydrates (chất cần thiết để cơ thể hoạt động), nhưng manna sẽ tan biến khi nắng lên. Từ ngữ manna được đề cập 5 lần trong sách Xuất Hành (Xh 16:26-35), được đề cập 3 lần trong Kinh Koran.

     

    Một số học giả cho rằng manna do tiếng Ai Cập là mennu, nghĩa là “đồ ăn”. Theo Kinh Thánh, manna là “man hu”, có nghĩa là “cái gì đây?” – tương tự Anh ngữ là “what is it?”, hoặc Pháp ngữ là “qu’est-ce que c’est?”. Nhưng người ta cho rằng từ “man hu” có thể có từ nguyên là tiếng A-ram chứ không phải là tiếng Do Thái.

    Trình thuật Xh 16:2-4. 12-15 cho biết: Trong sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Họ nói: “Phi chi chúng tôi chết bi tay Đc Chúa trên đt Ai-cp, khi còn ngi bên ni tht và ăn bánh tho thuê. Nhưng không, các ông li đưa chúng tôi ra khi đó mà vào sa mc này, đ bt chúng tôi phi chết đói c đây!”. Khổ gì thì khổ, chứ khổ vì đói khát thì khổ lắm. Vì miếng ăn người ta có thể dám làm bất cứ điều gì, thậm chí không ngần ngại bán rẻ danh dự hoặc lương tâm. Bất chấp hết! Vì miếng ăn mà xảy ra tranh chấp, chiến tranh, ngay cả tình thân cũng có thể mất chỉ vì miếng ăn. Khốn nạn thật!

    Nhà ngụ ngôn La Fontain (1621-1695, Pháp) nói: “Cái bng đói không th lng nghe”. Và rồi, cũng chỉ vì cái bụng đói cồn cào, thằng Bờm chứ không cần thứ gì quý giá mà không thể ăn ngay, chỉ cần nắm xôi ăn ngay, thực tế là thế đó! Danh y Anthony: “Thc phm là ci r ca vn vt. Chính thc phm và ch có thc phm mi là thuc cha bách bnh”. Ăn không chỉ để no bụng mà còn để duy trì sức khỏe. Chế độ ăn uống tốt khả dĩ ngăn ngừa bệnh tật.

    Thiên Chúa cũng rất thực tế, Ngài thấu hiểu nỗi khổ của dân nên Ngài phán với ông Mô-sê: “Này, Ta s làm cho bánh t tri mưa xung cho các ngươi ăn. Dân s ra lượm ly khu phn cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta mun th lòng chúng như vy xem chúng có tuân theo Lut ca Ta hay không”. Và Ngài cho ông Mô-sê biết: “Ta đã nghe tiếng con cái Ít-ra-en kêu trách. Vy, ngươi hãy bo chúng rng: Vào bui chiu, các ngươi s được ăn tht, và ban sáng, các ngươi s được ăn bánh tho thuê, và các ngươi s biết rng Ta là Đc Chúa, Thiên Chúa ca các ngươi.

    Thật vậy, vào buổi chiều, chim cút bay đến rợp cả trại. Buổi sáng có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan đi, trên mặt hoang địa có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi con cái Ít-ra-en thấy thế, họ liền hỏi nhau: “Man hu? – Cái gì đây?”. Ông Mô-sê bảo họ: “Đó là bánh Đc Chúa ban cho anh em làm ca ăn!”. Thật hay mơ? Nếu thật như thế thì đỡ khổ, khỏi lo đói khát nữa, vì đã có thịt chim cút và bánh để ăn. OK lắm!

    Thiên Chúa thử thách chúng ta không phải vì Ngài không biết nên phải “dò sóng”, mà Ngài biết trước cả những gì chúng ta chưa nghĩ tới. Ngài thử thách để tôi luyện niềm Tin Cậy Mến của chúng ta mà thôi. Một khi nhận ra phép lạ của Thiên Chúa thì người ta không thể lặng im: “Điu chúng tôi đã tng nghe biết do cha ông k li cho mình, chúng tôi chng giu gì con cháu c, s tường thut cho thế h mai sau: s nghip ly lng, quyn uy ca Chúa, vi nhng kỳ công Chúa đã làm” (Tv 78:3-4).

    Với Thiên Chúa, tất cả chỉ là “chuyện nhỏ”, một lời tuyên phán là có cả trời đất và muôn loài trong đó, nói chi chuyện rẽ nước cho dân Ít-ra-en băng qua và vùi lấp quân Ai Cập trong biển nước (Xh 14:15-31). Manna và chim cút chỉ là “chuyện nhỏ của chuyện nhỏ” mà thôi: “Chúa h lnh cho mây tng cao thm, li truyn m rng cánh thiên môn; Người khiến man-na ta h mưa đ xung, và ban bánh bi tri nuôi dưỡng h. K phàm nhân được ăn bánh thiên thn, Chúa gi đến cho h di dào lương thc” (Tv 78:23-25). Manna được gọi là “bánh thiên thần”, nhắc chúng ta nhớ tới Bí tích Thánh Thể – bánh thiên thần đặc biệt mà chúng ta được tận hưởng, còn dân Ít-ra-en xưa không hề biết đến. Chúng ta hạnh phúc hơn họ mà không biết tạ ơn Chúa đấy!

    Thánh Phaolô nói: “Đây là điu tôi nói vi anh em, và có Chúa chng giám, tôi khuyên anh em: đng ăn như dân ngoi na, vì h sng theo nhng tư tưởng phù phiếm ca h” (Ep 4:17). Lời khuyên dành cho dân Êphêsô ngày xưa nhưng vẫn “nóng hổi” với chúng ta ngày nay, vì chúng ta vẫn chưa loại bỏ được sự ảo tưởng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống – cả đời và đạo. Nói hay, muốn nhiều, làm chẳng bao nhiêu!

    Chẳng oan ức gì đâu, như Thánh Phaolô đã cảnh báo: “Còn anh em đã chng hc biết v Đc Kitô như vy đâu; y là nếu anh em đã được nghe nói v Đc Giêsu và được dy d theo tinh thn ca Người, đúng như s tht nơi Đc Giêsu. Vì thế, anh em phi ci b con người cũ vi nếp sng xưa, là con người phi hư nát vì b nhng ham mun la di, anh em phi đ Thn Khí đi mi tâm trí anh em, và phi mc ly con người mi, là con người đã được sáng to theo hình nh Thiên Chúa đ tht s sng công chínhthánh thin” (Ep 4:20-24). Quả thật, phàm nhân chúng ta vẫn mê muội, ù lì, viện nhiều cớ nên vẫn giậm chân tại chỗ – đôi khi còn thụt lùi mới đáng sợ. Bao Mùa Vọng, bao Mùa Chay, bao kỳ tĩnh tâm, bao lần xưng tội, bao lần quyết tâm,… Tất cả cứ theo nhau qua đi, con người cũ vẫn chẳng đổi mới được bao nhiêu! Đúng như tiền nhân ví von: “Chó đen gi mc. Ct kh vn hoàn ct kh. Chắc hẳn đã nhiều lần chúng ta tự nhủ : “Ti sao vy?”. Lý do thực tế và đơn giản lắm, vì “chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình” (Đại đế Napoléon), và “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:19). Khốn nạn thân tôi!

    Thấy manna, dân Ít-ra-en lấy làm lạ, vì chưa hề thấy bao giờ, thế nên họ hỏi nhau: “Cái gì thế nh?”. Tương tự, khi thấy người lạ, chúng ta thường hỏi: “Ai đây?”. Và còn nhiều câu hỏi tương tự như vậy trong cuộc sống đời thường này. Thắc mắc không chỉ vì tò mò mà để tìm hiểu. Biết thắc mắc đúng sẽ dẫn tới sự khôn ngoan.

    Một hôm, khi dân chúng thấy Đức Giêsu và các môn đệ cũng không có ở đó, thế là họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Ngài. Khi gặp thấy Ngài ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thy, Thy đến đây bao gi vy?” (Ga 6:25). Ngài trả lời nhưng có ý trách họ: “Tôi bo tht các ông, các ông đi tìm tôi không phi vì các ông đã thy du l, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm vic không phi vì lương thc mau hư nát, nhưng đlương thc thường tn đem li phúc trường sinh, là th lương thc Con Người s ban cho các ông, bi vì chính Con Người là Đng Thiên Chúa Cha đã ghi du xác nhn” (Ga 6:26-27). Khi cầu nguyện, chúng ta cũng thường chỉ muốn xin là chính, nhất là muốn “xin như ý mình”, mà lại quên chúc tụng và tạ ơn! Chúng ta có đáng trách không nhỉ? Chắc chắn ngại trả lời ghê đi!

    Nghe Chúa Giêsu nói vậy, họ liền hỏi Ngài: “Chúng tôi phi làm gì đ thc hin nhng vic Thiên Chúa mun?” (Ga 6:28). Thật lòng mà hỏi như vậy thì tốt lành biết bao, vì muốn vâng ý Chúa chứ không theo ý mình. Và Đức Giêsu trả lời: “Vic Thiên Chúa mun cho các ông làm là tin vào Đng Người đã sai đến” (Ga 6:29). Thế nhưng họ lại hỏi: “Vy chính ông, ông làm được du l nào cho chúng tôi thy đ tin ông? Ông s làm gì đây? T tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mc, như có li chép: Người đã cho h ăn bánh bi tri” (Ga 6:30-31). Thì ra họ chẳng thành tâm chi cả, mà họ chỉ muốn “bắt bẻ” Chúa Giêsu mà thôi. Đúng là họ dốt mà chảnh. Và chúng ta cũng thế!

    Đức Giêsu vẫn thản nhiên và nói thẳng: “Tht, tôi bo tht các ông, không phi ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bi tri đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bi tri, bánh đích thc, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh t tri xung, bánh đem li s sng cho thế gian” (Ga 6:32-33). Có lẽ lúc này họ đã “sáng mắt” nên họ liền xin Ngài cho họ được ăn mãi thứ bánh ấy. Biết xin như vậy là tốt. Và Chúa Giêsu xác định: Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến vi tôi, không h phi đói; ai tin vào tôi, chng khát bao gi!” (Ga 6:35). Và họ lại xì xầm với nhau, cho rằng Chúa Giêsu nói những lời “khó lọt lỗ tai”.

    Tuy nhiên, đó là sự thật, thật hơn cả sự thật. Ngày nay, chúng ta may mắn hơn họ vì đã được hưởng di sản quý báu vô cùng: Đức tin Công giáo, đức tin tông truyền. Và chúng ta không phải thắc mắc như dân Ít-ra-en xưa: “Cái gì thế nh?”. Vâng, chúng ta thực sự vô cùng may mắn!

    Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết thc mc đúng và tìm hiu cho thu đáo, nh đó mà có th duy trì ba nhân đc đi thn trong mi hoàn cnh. Vâng, ly Thiên Chúa, xin thêm đc tin cho con, đ nh vng tin mà con có th trông cy nơi Ngài, và yêu mến Ngài qua tha nhân. Xin cho con được no tha ân tình Thiên Chúa và Thánh Th Đc Giêsu Kitô. Ngài là Đng hng sinh và hin tr cùng vi Thiên Chúa Cha, hip nht vi Thiên Chúa Thánh Linh, đến muôn đi. Amen.

    Về mục lục

     

    CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Con người chúng ta có 3 phần: thể xác, tinh thần và tâm linh hay linh hồn, và cần những nhu cầu căn bản cần thiết. Nhu cầu căn bản thứ nhất cho thể xác là thức ăn và nước uống. Nhu cầu thứ nhì cho tinh thần là tình yêu, sự thương mến và tình cảm qua các mối liên hệ gia đình, bạn bè, thân thuộc hay đoàn thể. Nhu cầu căn bản cần thiết thứ ba cho tâm linh, cho linh hồn là thức ăn tinh thần, Lời Chúa và Thánh Thể.

    Chúng ta biết của ăn, thực phẩm và vật chất cho thân xác luôn là một miếng mồi rất dễ cám dỗ của ma quỉ. Muốn có thức ăn và vật chất, phải cần tiền, vì vậy, ma quỉ dùng mọi cạm bẫy, phương cách để dụ dỗ con người có nhiều tiền, nhưng nhiều khi bất an trong đời sống, gia đình mất hạnh phúc và hòa thuận, gây chia rẽ, ganh ghét và tranh chấp trong cộng đoàn, và làm cho nhiều người mất đức tin. Vì thức ăn, thế giới nhân loại chém giết nhau, và gây nên những tranh chấp, hận thù và khổ đau. Ma quỉ cũng đã từng dùng thức ăn để cám dỗ Chúa Giê-su, khi Ngài cầu nguyện, ăn chay 40 đêm ngày trong sa mạc, và Chúa đã trả lời “Người ta sống không chỉ bởi bánh, nhưng còn bởi mọi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra.”

    Các bài Kinh thánh hôm nay muốn dạy chúng ta, những Ki-tô hữu, biết phân biệt rõ ràng hai thứ thức ăn cho cuộc sống mau hư nát và thức ăn cho sự sống vĩnh cửu, cũng như giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa về những nhu cầu thiết yếu này trong đời sống, và nhất là ai là người cung cấp những nhu cầu đó cho chúng ta.

    Bài đọc 1 trích sách Xuất hành tường thuật cho chúng ta biết tình cảnh thiếu thốn thức ăn cho thân xác của dân Chúa trong sa mạc, trên con đường về Đất hứa, và lòng nhân từ của Thiên Chúa đã ban man na để nuôi sống họ. Chúa muốn họ tin vào Chúa, tin vào lòng yêu thương và sự quan phòng của Ngài trong hành trình, cho nên Chúa cho họ có thể ăn uống thỏa thuê, nhưng không được tích trữ, chỉ lấy lương thực đủ cho ngày đó, nếu tham lam tích trữ, manna sẽ hư hại hôm sau.  

    Trong bài đọc 2 và trong các bài khác, Thánh Phaolô phân biệt và cho chúng ta thấy chủ đích và hai đường lối sống của dân ngoại và của những tín hữu, tin vào Chúa Giê-su Ki-tô. Thứ nhất là dân ngoại, họ sống theo lối sống phù phiếm, và chỉ biết dùng hết mọi khía cạnh cuộc sống để kiếm tiền, để có của ăn và hưởng thụ cho thân xác sẽ ra hư nát. Ngược lại, các Ki-tô hữu, ngoài thân xác, còn có tinh thần và linh hồn, cho nên phải sống theo Thánh Thần hướng dẫn, và sống theo những lời chỉ dạy của Đức Kitô, để có tình yêu thương hợp nhất, liên kết trong “Thân Thể Chúa Ki-tô”, và được ăn lương thực tinh thần, được nuôi sống bằng sự chân thật, bằng chân lý của Chúa, để sống công chính, thánh thiện. Vì yêu thương, thánh Phao-lô đã khuyên nhủ mọi tín hữu hãy từ bỏ nếp sống cũ, và trở về với đời sống chân chính theo hình ảnh của Chúa Giê-su.

    Trong bài Tin mừng tuần trước, Chúa Giêsu đã hóa 5 chiếc bánh và 2 con cá ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng theo người, và sau đó họ muốn tôn Người lên làm vua, nhưng Chúa đã tìm cách trốn lánh đi. Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta ngạc nhiên nghe đám đông thách thức Chúa thực hiện một dấu lạ gì để họ có thể tin vào Người. Trước đây, họ tin và muốn tôn Chúa lên làm vua, nhưng bây giờ, họ tỏ ra một thái độ thật khác lạ với Chúa. Thật khó tưởng tượng và hiểu được đám đông dân chúng. Chúng ta nhận thấy họ tìm kiếm Chúa theo ý muốn của họ, chứ không phải theo ý Chúa. Họ theo và tìm đến Chúa vì vật chất, vì thức ăn cho thể xác, và qua cái nhìn của trần thế, vì vậy Chúa đã phải thốt lên “Các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê.” Hay nói một cách khác, họ muốn tìm đến với Chúa để có những bữa ăn miễn phí. Họ muốn tôn Chúa làm vua để giải phóng họ khỏi cảnh xâm lăng, nô lệ của ngoại bang. Nhưng Chúa cố gắng nâng sự suy nghĩ của họ lên cao hơn, để họ có thể nhìn thấy ý nghĩa, giá trị của đời sống tâm linh, vì vậy, Chúa cho họ biết phép lạ nuôi sống họ bằng bánh và cá là chính dấu chỉ Chúa muốn nuôi sống đời sống tâm linh của họ bằng bánh hằng sống, là chính Người, bởi Thiên Chúa từ trời ban xuống cho sự sống vĩnh cửu đời sau của họ. Nhưng Chúa cho chúng ta biết họ đã không nhìn thấy ý nghĩa dấu chỉ Người đã làm, ngoài bữa ăn miễn phí.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta cũng không nên quá nặng nề và khó khăn với họ, vì thật ra và nếu chúng ta thành thật, nhiều khi chúng ta đến với Chúa là để có những bữa ăn miễn phí, hay tìm những phép lạ cho cuộc sống hiện tại. Nhiều khi, chúng ta tìm đến Chúa không phải để vững tin vào Chúa hơn, để yêu mến Chúa hơn, để nghe và sống Lời Chúa dạy, và để có một sự liên hệ mật thiết với Chúa.

    Hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta một bài học quan trọng, Chúa nói “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống.” Chúng ta biết để có thức ăn nuôi thân xác, quần áo mặc, nhà cửa để có chỗ trú thân hay xe cộ là phương tiện di chuyển chúng ta phải làm việc. Thế nhưng, có phải Chúa muốn chúng ta không cần phải làm việc, chỉ ngồi xem TV hay cầu nguyện là có mọi sự miễn phí không?   Thưa: Đó không phải ý hay điều Chúa muốn nói. Chúng ta thấy Chúa cũng phải di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác và phải làm việc như dạy dỗ, làm phép lạ, như chúng ta. Ở đây, Chúa muốn dạy chúng ta nhìn xa hơn cuộc sống ở đời này, đến cuộc sống vĩnh cửu đời sau, và tìm kiếm những nhu cầu cần thiết cho linh hồn, là chính Chúa.

    Tất cả mọi người chúng ta cần đến những nhu cầu cần thiết cho phần xác, tinh thần và linh hồn. Và chúng ta nhận biết Thiên Chúa yêu thương, nhân từ và rất quảng đại với chúng ta, cho nên, Ngài ban cho chúng ta đời này nhiều ơn lành hồn xác đầy đủ. Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin ngoài cuộc sống đời này, còn có sự sống vĩnh cửu đời sau. Chúa kêu gọi chúng ta đừng quên chú ý và chuẩn bị cho cuộc sống đời sau, tin vào Chúa và sự quan phòng của Người. Xin Chúa ban cho chúng ta sự khôn ngoan, để chúng ta biết phân biệt thức ăn mau hư nát, và thức ăn vĩnh cửu. Chúng ta hãy thật lòng tìm đến Chúa, để Chúa ban cho chúng ta Lời Chúa, là ánh sáng dẫn dắt chúng ta trong cuộc hành trình đức tin nơi dương thế, và ban cho chúng ta Bánh Bởi Trời, là chính Chúa và là Thánh Thể, để chúng ta có sự bình an và sức mạnh, cũng như có can đảm sống Lời Chúa dạy.

    Về mục lục

     

    TÔI ĐANG TÌM KIẾM GÌ TRONG CUỘC ĐỜI?

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Một trong những khao khát sâu thẳm của con người là được trường sinh bất tử, kéo dài tuổi thọ. Con người dường như luôn bị dằn vặt, trăn trở khi phải đối diện với sự tàn tạ, suy thoái của thân xác. Vì thế, họ tìm kiếm linh dược để kéo dài sự sống của mình. Khao khát này được thể hiện qua việc chăm lo cho khẩu phần ăn mỗi ngày được đầy đủ và nâng cao chất lượng, tìm kiếm các đồ ăn bổ dưỡng để tẩm bổ cho cơ thể mình. Tuy nhiên, những thứ mà người ta cho là bổ, là tăng lực, thì có khi lại là thứ đem bệnh tật đến cho con người và khiến họ mau chết hơn. Người ta thường quên rằng, thân xác con người không thể cưỡng lại quy luật của vật chất. Điều quan trọng không phải là sống thọ hay không thọ, mà là sống như thế nào, sống với mục đích gì, điều đó nó mới làm nên giá trị, chất lượng cuộc sống và làm nên sự bất tử cho con người.

    Ngày xưa, Thiên Chúa đã đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập bằng cánh tay hùng mạnh. Ngài dẫn họ 40 năm rong ruổi trong sa mạc, che chở họ bởi bao phép lạ lẫy lừng. Dầu vậy, họ vẫn không tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Họ tỏ ra vô ơn bội bạc, trách móc Thiên Chúa và Môsê : Tại sao ông lại đưa chúng tôi và sa mạc để chúng tôi phải chết đói, chết thèm thế này ? Họ tiếc nuối quá khứ, thèm khát miếng thịt, miếng bánh đến độ muốn quay trở về kiếp sống nô lệ. Thiên Chúa biết rõ sự vô ơn và thay lòng đổi dạ của họ, song Ngài vẫn đáp ứng những điều họ thèm khát. Thiên Chúa hứa sẽ cho họ bánh và thịt không chỉ ăn một hai ngày mà ăn trường kỳ, ăn dư thừa. Để thực hiện lời hứa này, Thiên Chúa đã cho mưa manna xuống, dân chúng mỗi sáng chỉ việc nhặt về xay thành bột, nướng thành bánh để ăn. Ngài cũng cho họ ăn thịt dư thừa như thế trong suốt 40 năm.

    Hình ảnh manna từ trời rơi xuống là hình ảnh phép lạ báo trước và phép lạ hóa bánh ra nhiều cũng là một hình ảnh báo trước một phép lạ mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện sau này. Tin Mừng thuật lại : Sau khi được ăn bánh no nê bởi phép lạ, thì dân chúng đã kéo nhau đi tìm Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Chúa Giêsu biết họ đi tìm Ngài là để có của ăn. Nhưng Chúa Giêsu không muốn dùng của ăn vật chất để thu hút và lôi kéo đám đông. Sứ mạng của Ngài không phải là thực hiện những vấn đề liên quan đến nghèo đói của xã hội, mà Chúa Giêsu dùng phép lạ hóa bánh để đưa dân chúng đến một thực tại cao hơn, xa hơn. Việc giải quyết một bữa ăn cho hơn năm ngàn người chỉ là dịp để Chúa hướng họ đến một thứ lương thực khác, lương thực sẽ giải quyết cái đói của con người trên bình diện tâm hồn hơn là bình diện vật chất.

    Theo Chúa không phải để thỏa mãn cho cái bụng, cũng không để tìm kiếm sự giàu sang vật chất. Vì thế, Chúa Giêsu cảnh tỉnh đám đông rằng : Phải ra công làm việc để tìm kiếm lương thực trường tồn, lương thực đem lại phúc trường sinh, đó chính là mục đích quan trọng nhất của cuộc đời con người. Lương thực ở trần gian rồi sẽ vơi cạn, chỉ có thể nuôi sống thể xác, còn lương thực mà Đức Kitô ban tặng là lương thực nuôi sống cả linh hồn và là bảo đảm cho hạnh phúc Nước Trời. Đó là thứ lương thực mà mọi người phải ưu tiên tìm kiếm. Lương thực ấy là chính Thánh Thể, là Mình Máu Chúa Kitô. Những ai tìm kiếm, đón nhận Ngài, hay nói đúng hơn ai ăn Ngài thì sẽ được Ngài thông truyền sự sống trường sinh và được thỏa mãn mọi cơn đói khát trong tâm hồn và thể xác.

    Chúng tôi phải làm gì để có được thứ bánh ấy ? Đó là câu hỏi của những người Do Thái khi nghe nói về thứ lương thực đem đến trường sinh bất tử. Chúa Giêsu đã trả lời cách rõ ràng và dứt khoát : Hãy tin vào Đấng mà Thiên Chúa sai đến. Tin và đón nhận Đức Giêsu là điều kiện tiên quyết để có thể lãnh nhận được sự trường sinh bất tử. Tin vào Đức Giêsu không chỉ là thuộc lòng một số điểm giáo lý, cũng không phải là một cái tên Kitô hữu bên ngoài, cũng không chỉ là thực hành một số việc đạo đức, mà là phải chấp nhận để cho Ngài chi phối đời sống, sống dưới sự hướng dẫn của Ngài, dám bước vào con đường Ngài chỉ dạy, dám làm bạn với Ngài, làm môn đệ của Ngài.Nói như thánh Phaolô : Tin vào Đức Giêsu là phải chấp nhận sống một con người mới, một suy nghĩ mới, một cuộc đời mới. Đừng ăn ở như người dân ngoại, họ tìm kiếm những của phù phiếm đời này, mà hãy để cho Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và mang lấy một con người mới, con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa.

    Thưa cộng đoàn, mỗi người hãy dừng lại để đặt cho mình câu hỏi : Tôi đang tìm kiếm điều gì ? Chắc chắn sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau. Nhiều người đang lao đi tìm kiếm mà không biết mình tìm gì, không biết mình sống để làm gì. Nhiều người dư thừa của cải vất chất, nhưng vẫn cảm thấy thiếu thốn. Sự bận rộn, thiếu thốn ấy là dấu chỉ cho thấy một sự thiếu thốn sâu thẳm, đó là thiếu bình an, hạnh phúc, nhất là thiếu Chúa trong cuộc đời.

    Lời Chúa hôm nay cảnh báo các bậc làm cha mẹ đang vất vả tìm kiếm lương thực cơm bánh cho gia đình. Hãy tìm kiếm lương thực đem đến hạnh phúc và sự sống đời đời cho mình và gia đình. Đừng lấy lý do bận rộn để từ chối việc lãnh nhận Bánh Thánh Thể là lương thực bảo đảm cho hạnh phúc đích thực. Đừng để gia đình mình dư thừa cơm bánh vật chất, tiền của, nhưng lại thiếu thốn tình yêu, hạnh phúc, và nhất là thiếu vắng sự hiện diện của Chúa trong gia đình.

    Mỗi người cần nhìn lại cuộc sống của mình và của gia đình để can đảm điều chỉnh, cùng nhau mang lấy con người mới, nếp sống mới của Đức Kitô. Hãy cởi bỏ những gian tham, lừa dối, tham lam để biết ưu tiên tìm kiếm Đức Giêsu và lương thực của Ngài. Hãy để cho Ngài chi phối và biến đổi từ trong suy nghĩ, chọn lựa và cách sống của mình. Hãy dọn những bữa ăn Lời Chúa mỗi ngày cho gia đình trong các giờ kinh, giờ cầu nguyện, nhất là hãy cùng nhau đến lãnh nhận Bánh Thánh Thể mỗi ngày. Chúa sẽ đem đến cho gia đình hạnh phúc và sự sống của Chúa.

    Lối sống thực dụng, hưởng thụ, tiêu thụ ngày nay đang ảnh hưởng trên các bạn trẻ. Họ cho rằng : Có thực mới vực được đạo. Lý luận này vừa mang tính thực dụng vừa cho thấy sự chọn lựa của giới trẻ ngày nay. Nhiều bạn đang ưu tiên tìm kiếm cho mình nhiều thứ như : việc học hành, thành công, tiền bạc, đẳng cấp, bạn bè hơn là quan tâm đến đời sống đạo và hạnh phúc đời đời. Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người hãy biết xếp lại thứ tự ưu tiên của cuộc đời, dám đặt Chúa vào vị trí ưu tiên số một. Hãy để cho Ngài đáp ứng sự khao khát tìm kiếm của mình. Các bạn đừng ngại đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, đừng ngại lãnh nhận Thánh Thể của Ngài cách thường xuyên, vì Ngài không bao giờ làm phiền chúng ta. Trái lại, Ngài sẽ đem đến cho chúng ta hạnh phúc và giúp chúng ta thành công trong những ước nguyện và khao khát chính đáng của chúng ta.

    Xin Chúa giúp cho mỗi người luôn biết ưu tiên tìm kiếm lương thực là Lời Chúa và Thánh Thể của Ngài, là lương thực mang lại sự sống và hạnh phúc đời đời cho chúng ta. Amen.

    Về mục lục

     

     

    HÃY RA CÔNG LÀM VIỆC

    Lm. Jos. DĐH

    Trẻ trồng na, già trồng chuối, câu tục ngữ ấy nói lên một thực tế : tuổi trẻ hay tuổi già đều có cơ hội làm việc, và làm việc còn có tính hệ thống khoa học nữa. Người Việt vốn cần cù chăm chỉ, được đúc kết, được cụ thể hóa qua câu ca dao : có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần cho ta; tằm có lứa, ruộng có mùa, chăm làm trời sẽ đền bù có khi. Những người thành đạt hôm nay, có thể họ đã chịu tác động từ hai yếu tố gia đình và xã hội, tuy nhiên, giá trị của công danh sự nghiệp không thể không nói tới sự tận lực chăm chỉ làm việc của mỗi cá nhân.

    Cùng đích mà người đời hướng tới đâu phải là có việc làm ổn định, không phải là đồng lương nhiều hay ít, đúng hơn phải là làm gì để đạt tới hạnh phúc thật. Việc đám đông dân chúng tìm Đức Giêsu xưa kia không hề dễ dàng, khi gặp ở bên kia biển hồ, đám đông ấy lại chẳng xác định được là họ tìm gặp ông Giêsu để làm gì, họ ngớ ngẩn hỏi : “thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ” ? Các chuyên gia tâm lý khi phân tích tình trạng một người cất bước đi mà không biết mình đi đâu, hẳn sẽ kết luận, đó là người mắc “tâm bệnh”.

    “Hãy ra công làm việc”, một sứ điệp còn vang vọng mãi : không phải chỉ đơn thuần là con người ra công làm việc để có tiền có quyền; nhưng còn là thỏa mãn sự đói khát sâu thẳm trong tâm hồn. Cơn đói khát tâm linh luôn làm cho ta dại khờ trước thế gian, chính vì tác động yêu thương của Chúa Giêsu, đám đông dân chúng xưa đã biết hỏi : “chúng tôi phải làm gì để thực hiện việc Thiên Chúa muốn” ? “Hãy ra công làm việc” cũng là “tín hiệu” nhắc nhớ dù trẻ khỏe hay cao niên già lão, chúng ta vẫn là người có ích cho gia đình xã hội, một khi biết làm việc theo thánh ý Chúa.

    Xưa nay gì cũng vậy, con người dễ lầm tưởng tôi no thỏa trong hạnh phúc ở đời này là do công khó của tôi, đúng là nhầm lẫn nên nếu gặp Đức Giêsu, người ta cũng chỉ muốn được xem dấu lạ mà thôi. Nếu suy xét, chúng ta sẽ thấy cơn khát tiền, khát tình, khát công danh địa vị, vẫn làm con người đau khổ, bị tổn thương, vì quên mất tình Chúa đang ở giữa chúng ta, vì tính bất toàn mà ta bị sập bẫy bởi những quyến rũ thế gian.

    Người xưa có câu : thất bại là mẹ thành công, gặp Chúa Giêsu rồi mà tâm hồn chưa phấn khởi vui mừng, hãy kiễn nhẫn tìm gặp nữa. Ăn uống no say, thành công rực rỡ, mà tâm hồn vẫn trống rỗng, hãy rút kinh nghiệm : tôi đang ra công tốn sức làm việc vì của ăn nào ? tôi đang túng thiếu, đói khát của ăn vật chất hay tinh thần ? Hàng ngày biết bao điều khó hiểu làm tâm trí ta mệt mỏi, đừng ngại đến gặp Chúa Giêsu, Ngài chính là Thầy dạy, đủ tình yêu thương thỏa lấp những trống vắng, như Ngài đã nói : “việc Thiên Chúa muốn các ông làm là hãy tin vào Đấng Người đã sai đến”.

    Người Do-thái xưa kia lầm tưởng Man-na mà tổ tiên họ ăn chỉ xảy ra trong quá khứ, không còn liên hệ gì tới của ăn trong tương lai nữa. Đám đông đã sai lầm khi nghĩ Đức Giêsu sẽ tiếp tục hóa bánh cho họ được ăn no, hoặc Đức Giêsu sẽ làm một số dấu lạ, để mọi người xem cho vui mắt. Trước đoàn người thiếu định hướng ấy, Đức Giêsu đã cảnh báo họ : “các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến muôn đời…..”. Làm công việc của Thiên Chúa là nhận biết Đức Giêsu là Đấng được ban cho nhân loại, Đức Giêsu chính là Bánh ban sự sống, dấu lạ về Bánh nuôi linh hồn không phải để xem cho vui mắt.

    Con người hôm nay có nhiều nét giống đám đông ngày xưa, ngại đủ thứ, nhưng lại thích lung tung. Người nghèo dễ bị hút vào công việc : làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ nghỉ, với hy vọng thoát cảnh đói khổ vật chất. Người giàu tiền lắm của lại bị “hút hồn” với bao tiện nghi hiện đại, phải chạy đua với những công nghệ mới, để không bị mang tiếng là “hai lúa”. Rốt cuộc, kẻ nghèo người giàu đều có nguy cơ như nhau, mục đích sống bị chi phối, cơn đói khát tâm linh sẽ bủa vây giăng mắc. Do đó, hãy ra công làm việc, và hãy làm việc của Thiên Chúa, lúc nào cũng là điệp khúc cần thiết cho mọi đối tượng.

    Ngày hôm nay, người ta biết chủ trương làm giầu cả vật chất lẫn tinh thần, biết sử dụng kỹ năng để có vẻ đẹp nội dung lẫn hình thức; nhưng làm việc của Thiên Chúa, sống yêu thương như Chúa muốn, tin Đức Giêsu là Bánh trường sinh, vẫn là khó khăn ! Người xưa lý luận rằng : đói thì đầu gối phải bò, nếu suy xét, bằng khả năng của mình, chúng ta sẽ vừa bò, vừa chạy cũng chưa chắc đã đủ no, đủ hạnh phúc ! Chăm làm việc để có thành quả tốt, biết lời nói chân thành, sẽ có sức thuyết phục hơn vẫn là ý tưởng số một. Và sẽ là chân lý vẹn toàn khi đến gặp Chúa Giêsu, cậy nhờ Ngài, mọi người sẽ tiến tới cùng đích của hạnh phúc, vì đã biết ra công làm việc của Thiên Chúa, vì sự sống đời đời là có thật như lời Chúa phán truyền. Amen.

    Về mục lục

     

     

    CHIA SẺ ĐỨC GIÊSU LÀ BÁNH TRƯỜNG SINH CHO THA NHÂN

    Lm. Đan Vinh – HHTM

    I- HỌC LỜI CHÚA

    1/ TIN MỪNG : Ga 6,24-35

    (24) Vậy khi dân chúng thấy đức Giêsu cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Caphácnaum tìm kiếm Người. (25) Khi đã gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy? (26) Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông: Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. (27) Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (28) Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (29) Đức Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (30) Họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? (31) Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi Trời” (32) Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông: Không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực. (33) Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (34) Họ liền nói: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy. (35) Đức Giêsu bảo họ: “Chính tôi là Bánh Trường Sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói. Ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ !”

    2/ Ý CHÍNH : TÔI LÀ BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI MÀ ĐẾN

    Đức Giêsu cảnh cáo dân chúng đi tìm Người vì muốn được ăn thứ bánh vật chất mau hư nát. Ngay cả Manna thời kỳ xuất Hành cũng không phải là bánh bởi trời thực sự và không cứu được cho người ta khỏi phải chết. Họ cần phải tìm kiếm thứ Bánh bởi trời đích thực tức là Con Người, Đấng từ trời mà đến và ban sự sống vĩnh hằng cho trần gian. Bánh Hằng Sống đó chính là Mình Máu Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể mà Người sẽ thiết lập.

    3/ CHÚ THÍCH

    – C 24-25 : + Caphácnaum : Là một thành phố thuộc xứ Galilê, nằm trên bờ biển hồ Tibêria. Đức Giêsu lấy thành Caphácnaum làm trung tâm hoạt động suốt thời gian đi giảng đạo công khai. Tại đây, Người đã nhiều lần rao giảng trong các hội đường (x. Mc 1,21), làm nhiều phép lạ như : Xua trừ ma quỷ (x. Mc 1,23-28), chữa bệnh cảm sốt cho nhạc mẫu Phêrô và nhiều bệnh nhân khác (x. Mc 1,29-31.32-34), chữa lành một phụ nữ bệnh loạn huyết 12 năm và làm cho con gái ông Gia-ia mới chết được sống lại (x. Mc 5,21-43), giảng về Bánh Hằng Sống (x. Ga 6,24-66)… Về sau thành này cũng là một trong các thành của dân Do Thái bị Đức Giêsu quở trách, vì họ đã được chứng kiến nhiều phép lạ Người làm mà vẫn tỏ thái độ cứng lòng không tin vào Người (x. Mt 11,23-24). + Khi đã gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ : Sau phép lạ nhân bánh ra nhiều trong hoang địa, vì biết dân chúng muốn tôn mình làm vua, nên Đức Giêsu đã lánh lên núi một mình (x. Ga 6,15). Sau đó Người đi trên mặt nước đến với thuyền của các môn đệ và sang bờ bên kia Biển Hồ là thành Caphácnaum.

    – C 26-27) : + Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê : Đức Giêsu cảnh báo dân chúng về động lực đi tìm Người là do vụ lợi : để được ăn bánh no nê mà không phải vất vả làm việc. + Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh : Đức Giêsu chấp nhận nhu cầu về lương thực là bánh ăn vật chất nuôi sống thân xác, nên Người đã làm phép lạ cho họ được ăn no. Nhưng Người còn muốn dạy rằng : Trên cuộc sống thể xác còn có linh hồn tồn tại mãi mãi. Chính Người sẽ ban cho họ thứ lương thực nuôi sống linh hồn là Bí Tích Thánh Thể mà Người sắp thiết lập. + Con Người : Là một nhân vật thần thiêng mà Ngôn sứ Đa-ni-en trong một thị kiến đã xem thấy đang đứng bên Thiên Chúa (x. Đn 7,13-14). Khi tự xưng mình là Con Người từ trời mà đến, Đức Giêsu muốn cho người ta thấy Người là Sứ giả đích thực của Chúa Cha, được Thánh Thần thánh hiến trở thành Đấng Thiên Sai và sẽ giúp Người chu toàn sứ vụ ấy (x. Lc 4,18 ; Is 61,1-2). + Là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận : Dấu ấn là một vật dùng để xác định nguồn gốc thay cho chữ ký. Ngoài việc dấu ấn được in trên giấy tờ, bao bì hay các vật khác để làm bằng chứng bảo đảm sự chân thực, người ta còn dùng dấu ấn để niêm phong mồ mả (x. Mt 27,66). Ngoài ra, dấu ấn hay ấn tín cũng được dùng theo nghĩa bóng như lời Thánh Phaolô : “Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,22). Câu này cho thấy Chúa Cha đã đóng dấu ấn trên Đức Giêsu làm bảo chứng để xác nhận Người chính là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa.

    – C 28-29 : + Chúng tôi phải làm gì ? : Đây là câu hỏi bày tỏ thiện chí muốn đáp ứng đòi hỏi của Thiên Chúa sau khi nghe giảng Tin Mừng, như đám đông đã hỏi ông Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan (x. Lc 3,10.12.14), hay dân chúng hỏi ông Phêrô sau khi nghe ông giảng vào lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem (x.Cv 2,37). + Tin vào Đấng Người đã sai đến : Đấng Thiên Chúa sai đến ở đây là Đức Giêsu.

    – C 30-31 : + Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? : Dù mới chứng kiến phép lạ nhân bánh ra nhiều vào chiều hôm trước, nhưng dân chúng vẫn chưa thỏa mãn. Họ đòi một phép lạ đặc biệt phát xuất từ trời để minh chứng sứ mạng Thiên Sai của Người, giống như Môsê xưa đã làm phép lạ cho manna từ trời mưa xuống để nuôi dân Ítraen suốt 40 năm trong sa mạc, nên manna được gọi là bánh bởi trời. + Manna : Phát xuất do từ “Mannu ?”, nghĩa là “Cái gì vậy ?”, vì dân Ítraen không biết đó là cái gì (x. Xh 16,15). Môsê bảo dân rằng: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn !”. Như vậy, Manna chính là lương thực lạ lùng mà Đức Chúa đã ban cho dân Ítraen, khi họ đi qua sa mạc về Miền Đất Hứa (x. Xh 16,11-18). Manna có hình dạng giống như hạt ngò, màu trắng và mùi vị tựa bánh tráng tẩm mật ong (x. Xh 16,31). Trông nó như nhựa hương. Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nồi nấu bánh (x. Ds 11,7-8). Manna là hình bóng của Lời Chúa, là của ăn được Đức Chúa ban để dân Ítraen biết rằng : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, mà còn sống nhờ mọi Lời do miệng Đức Chúa phán ra” (x. Đnl 8,3 ; Mt 4,4). Khi dân Ítraen vào tới Đất hứa là xứ Canaan và bắt đầu trồng và thu hoạch được các loại thổ sản tại đó, thì Manna không còn rơi xuống nữa (x. Gs 5,12). Cũng vậy, trong thời gian lưu lạc trần gian, các tín hữu cũng được ăn lương thực thiêng liêng là Mình Thánh Chúa để đủ sức về tới Đất Hứa Thiên Đàng, được tham dự Bữa Tiệc Cánh Chung trong Nước Trời với Đức Giêsu (x. Lc 22,30), và ngồi đồng bàn với các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp của dân Do Thái (x. Mt 8,11).

    – C 32-33 : + Không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi : Đức Giêsu đã giúp dân chúng hiểu rõ : Manna được ban thời kỳ Xuất Hành không phải do Môsê, nhưng do Đức Chúa đã ban cho dân Ítraen. Ngoài ra manna cũng không thực sự là Bánh của Thiên Chúa, mà chỉ là thứ luơng thực vật chất mau hư nát và có khả năng nuôi sống thể xác mà thôi (x. Xh 16,19-21), vì dù có ăn manna, dân Do thái cũng vẫn phải chết (x. Xh 32,33-35). + Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian : Để được gọi là Bánh của Thiên Chúa thì cần hai đặc tính là xuất phát từ trời, và ban sự sống muôn đời. Bánh ấy chính là Đức Giêsu. Người vừa là Ngôi Lời vốn ở trên trời, được Chúa Cha sai xuống làm Đấng Thiên Sai (x. Ga 1,14), và Người sắp ban Mình Máu Người làm lương thực đem lại sự sống muôn đời cho người lãnh nhận (x. Ga 6,51).

    – C 34-35: + Chính tôi là Bánh Trường Sinh: Kiểu nói “Tôi là” thường được Đức Giêsu dùng và Gioan đã ghi lại một số Lời Chúa có hai tiếng “Tôi là” như sau: “Chính tôi là Bánh Trường Sinh” (Ga 6,34); “Tôi là Ánh Sáng Thế Gian” (x. Ga 8,12; 9,5); “Tôi là Cửa cho chiên ra vào” (x. Ga 10,7); “Tôi là Mục Tử nhân lành” (x. Ga 10,11) ; “Tôi là Sự Sống Lại và là Sự Sống” (x. Ga 11,25); “Tôi là Con Đường, là Sự Thật và Là Sự Sống” (x. Ga 14,6); “Tôi là Cây Nho thật” (x. Ga 15,1). Trong câu nói trên, khi khẳng định: “Chính Tôi là Bánh Trường Sinh”, Đức Giêsu muốn nói về bí tích Thánh Thể mà Người sắp lập. Qua bí tích đó Người sẽ hóa nên bánh thiêng nuôi dưỡng người dương thế và đem lại hạnh phúc vĩnh hằng đời sau. + Ai đến với tôi, không hề phải đói ; Ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ: Người hứa sẽ ban cho những ai lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể được no thỏa; Cho những ai đặt trọn niềm tin nơi Người thỏa mãn khát vọng được sống vĩnh cửu.

    4/ CÂU HỎI : 1) Bạn biết gì về thành Caphácnaum? 2) Khi nói lên động cơ đi tìm Chúa của dân chúng là tìm bánh ăn vật chất, Đức Giêsu muốn họ phải tìm kiếm điều gì khi đến với Người? 3) Tại sao Đức Giêsu tự xưng là Con Người? 4) Đức Giêsu trả lời cho dân chúng biết họ cần phải làm gì sau khi nghe Người giảng Tin Mừng? 5) Dân Do Thái đòi Đức Giêsu làm gì để chứng minh cho sứ mạng Thiên Sai của Người? 6) Thời Môsê danh từ Manna ám chỉ điều gì? Manna được ban cho ai ăn và nhằm mục đích gì? Trong Tân Ước Manna ám chỉ điều gì? 7) Bánh bởi Trời thực sự phải có những đặc tính nào? 7) Khi tự xưng “Tôi Là Bánh Trường Sinh”, Đức Giêsu muốn nói gì về Người? 8) Người hứa ban cho những ai chịu phép Thánh Thể được những ơn ích gì?

    II- SỐNG LỜI CHÚA

    1/ LỜI CHÚA : “Chính Tôi là bánh trường sinh. ai đến với Tôi, không hề phải đói. ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ !”

    2/ CÂU CHUYỆN :

    1- NHẬN ĐƯỢC ĐỨC TIN NHỜ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

    HÉC-MAN KON (Hermann Cohn) là người Do Thái và là một tài năng xuất chúng về đàn dương cầm (Pianô). Anh là học trò xuất sắc của PhăngLít (Franz Liszt), một nhạc sĩ nổi tiếng tài hoa vào lúc đó. Kon cùng với mấy người bạn thân thành lập một ban nhạc trẻ và đi đó đây biểu diễn âm nhạc để kiếm sống. Sau khi đã có nhiều tiền và bị bạn bè cám dỗ, Kon đã tìm đến những nơi hàng quán để ăn chơi trụy lạc. Rồi một ngày kia, một người bạn thân của Kon là ca trưởng một ca đoàn nhà thờ, do thiếu người đánh đàn, đã mời Kon cộng tác đàn giúp ca đoàn hát thánh ca trong một buổi dâng hoa kính Đức Mẹ tại nhà thờ.

    Buổi dâng hoa hôm ấy kết thúc bằng giờ chầu Mình Thánh Chúa. Mặc dù không phải là người công giáo, nhưng khi vị chủ sự ban phép lành Mình Thánh Chúa, thì tự nhiên Kon cảm thấy như có một sức mạnh vô hình bắt anh phải quì gối cúi đầu thờ lạy Chúa. Kon không lý giải được tại sao lại có hiện tượng trên. Sau đó, Kon tiếp tục đến nhà thờ và cảm thấy có một Đấng nào đó hiện diện ở trong anh, và thôi thúc anh đi tìm gặp Chúa. Sau đó anh xin học đạo nơi một linh mục trẻ và được người bạn ca trưởng tặng cho cuốn sách tựa đề là: “Các kinh nguyện trong Thánh lễ”. Kon đã say sưa đọc đi đọc lại nhiều lần phần Kinh Nguyện Thánh Thể. Về sau anh đã chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa Giêsu như sau: “Trong thời thơ ấu, tôi thường hay khóc mỗi lần bị cha mẹ sửa phạt vì làm sai một lỗi nào đó. Nhưng chưa khi nào nước mắt tôi lại chảy ra nhiều như lúc bấy giờ. Khi ấy, đột nhiên tôi nhìn ra các tội lỗi của mình đã phạm bấy lâu nay, tôi thấy rõ những sự xấu xa hèn hạ của tôi và tôi nghĩ mình đáng bị phạt trong hỏa ngục. Nhưng sau khi đã khóc hết nước mắt, tôi đã cảm thấy tâm hồn mình được bình an. Tôi xác tín rằng : Chúa nhân lành đã thấu hiểu lòng tôi, đã tha thứ lỗi lầm cho tôi để tôi xứng đáng trở nên con cái của Người”.

    Sau đó, Kon được lãnh phép rửa tội gia nhập vào Hội Thánh, rồi xin nhập vào dòng Các-me-lô. Trong nhà dòng, Thầy Kon đã được học các môn học về triết lý và thần học, thực tập các nhân đức, và bảy năm sau thày đã được thụ phong linh mục. Tân linh mục Kon đã được nhiều người công nhận là một linh mục có lòng đạo đức. Cha nhiệt thành rao giảng Tin Mừng và cha thường chia sẻ kinh nghiệm gặp được Chúa cho người chưa biết Chúa. Nhiều người nhờ tiếp xúc với cha nên cũng gặp được Chúa. Chính nhờ sự hướng dẫn của cha mà cả thầy dậy đàn là nhạc sĩ Phăng-Lít và 10 bạn thân thời thơ ấu cũng đã tin vào Chúa Giêsu và đã được lãnh nhận phép rửa tội.

    2- THĂM VIẾNG CHIA SẺ TÌNH NGƯỜI

    Một hôm một lão hành khất gặp Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta trên đường phố và đã chìa tay ra xin bố thí. Bà lục lọi hết các túi áo mà không tìm ra một đồng tiền nào, bà đành vỗ vai ông lão vừa cười vừa nói lời xin lỗi vì không có gì để tặng ông. Bấy giờ lão hành khất đã nói: “Hôm nay bà đã cho tôi một món quà quí giá nhất mà từ trước đến nay tôi chưa bao giờ nhận được. Món quà đó là nụ cười cảm thông và sự an ủi đầy tình người của bà. Tôi cảm thấy vui mừng và hạnh phúc, vì tôi đã được bà tôn trọng và được đối xử bình đẳng !”. Điều quan trọng là phải mang lại niềm vui tâm hồn cho những người chúng ta gặp gỡ tiếp xúc.

    3/ THẢO LUẬN : Trong những ngày này, tôi sẽ làm gì cụ thể để chia sẻ tình thương và niềm tin cho những người chưa nhận biết Chúa và đang chịu nhiều bất hạnh khổ đau ?

    4/ SUY NIỆM

    + Hơn ai hết, Đức Giêsu đã am hiểu cơm bánh vật chất là một nhu cầu không thể thiếu để con người được sống, và Người đã làm phép lạ nhân bánh ra nhiều nuôi đám đông dân chúng ăn một bữa no nê. Người cũng dạy môn đệ cầu nguyện trong kinh Lạy Cha : “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Tuy nhiên, “Người ta không chỉ sống nhờ cơm bánh”, nhưng còn có những khát vọng mà chỉ mình Đức Giêsu mới có thể thỏa mãn họ, là lòng khao khát muốn gặp Đức Giêsu. Vì Người là “Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Nhờ Người mà chúng ta sẽ được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần như : Muốn hiểu biết về chân lý đức tin, muốn yêu và được yêu, muốn được tha nhân cảm thông chia sẻ… Nhờ được thỏa mãn các nhu cầu này mà con người mới đạt được niềm vui và sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn.

    + Lời Chúa và Mình thánh Chúa là hai của ăn thần linh mang lại cho các tín hữu sự sống muôn đời, như thánh Phêrô đã thưa với Đức Giêsu : “Chỉ có Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68), hay như lời Chúa phán trong Tin Mừng hôm nay: “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời… Đây là Bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn và họ đã chết. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,54.58). Mỗi ngày chúng ta nên tham dự thánh lễ để đón nhận được hai thứ lương thực thiêng liêng của Đức Giêsu ban cho là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Nhờ đó chúng ta sẽ có sự sống muôn đời.

    + Cần biết chia sẻ Chúa là niềm vui ơn cứu độ cho tha nhân: Sau khi tham dự thánh lễ, chúng ta đã nhận được ơn Chúa ban qua hai của ăn là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Chúng ta cần mang Chúa đến viếng thăm những người lương dân, những anh chị em bệnh tật lâu ngày, những gia đình bất hạnh… để chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho họ, như thai nhi Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng vì được ơn cứu độ của thai nhi cứu thế Giêsu do Đức Maria mang đến thăm viếng.

    5/ LỜI CẦU

    LẠY CHÚA GIÊSU. Của cải vật chất và cơm ăn áo mặc là những nhu cầu không thể thiếu của thân xác con người. Chúng thường cám dỗ lôi kéo con tìm kiếm chúng thay vì phải tìm kiếm Chúa mới thực là lẽ sống cuộc đời của con. Lạy Chúa, từ trong thâm tâm, con rất sợ bị nghèo đói bần hàn, và con luôn khao khát có một cuộc sống dư dật sung sướng. Con thường mải mê tìm kiếm những của cải vật chất đến nỗi chẳng còn thiết tha với việc cầu nguyện, dự lễ và tuân giữ các giới răn. Xin Chúa thương tha thứ tội lỗi và bù đắp những thiếu sót của con.

    X- HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
    Đ- XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

    BÁNH TRƯỜNG SINH

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Lạy Thầy, Thầy đến bao giờ?
    Đám đông tìm Chúa, bơ vơ lạc loài.
    Chúa rằng nhớ bánh đoái hoài,
    Không vì dấu lạ, bề ngoài xác thân.
    Khuyên răn tìm kiếm điều cần,
    Của ăn tồn tại, lương thần Chúa ban.
    Quí hơn của cải trần gian,
    Man-na sẽ chết, bánh ban bởi trời.
    Thần lương là bánh tuyệt vời,
    Ai ăn sẽ sống, muôn đời phúc ân.
    Chính Cha ban bánh thiên thần,
    Từ trời ban xuống, nuôi dân sống đời.
    Bánh ban sự sống ngàn đời,
    Chính là thịt máu, nuôi người thế gian.
    Chúa ban phúc lộc tràn lan,
    Vững tin vào Chúa, thiên nhan rạng ngời.

    Dân chúng thưởng thức thỏa thuê bánh và cá do Chúa tặng ban. Hôm nay họ lại đến với Chúa tìm của ăn nuôi xác. Chúa hiểu ý họ và Chúa đã dẫn họ đi tìm của ăn nuôi hồn. Chúa nhắc lại như xưa trong sa mạc, Thiên Chúa đã nuôi dưỡng họ bằng Manna và chim cút. Nay Chúa muốn ban cho họ của ăn hằng sống. Chúa Giêsu nói: Chính Ta là bánh sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói.

    Chúa Giêsu từ từ mặc khải cho dân khao khát thần lương nuôi hồn hơn là cứ mải mê đi tìm của ăn vật chất hay hư nát. Phép lạ hóa bánh ra nhiều là dấu chỉ của ăn thiêng liêng mà Chúa cũng sẽ ban dồi dào. Chúa sẽ ban cho họ bánh trường sinh, đó chính là Thịt và Máu của Chúa.

    Khi Chúa nói về bánh ban sự sống là chính Thịt Máu Chúa, nhiều người chưa thể lãnh hội được ý nghĩa. Ngay cả một số môn đệ cũng không thể chấp nhận, một số muốn bỏ đi và phát biểu rằng lời này chói tai qúa! Ai nghe được. Chúng ta không thể hiểu được, nếu không có tình yêu.

    Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể như thần lương vĩnh cửu. Bánh được trao ban dưới hình bánh và rượu. Qua lời truyền phép bánh rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa. Chúa đã dùng công thức rất đơn giản để biến đổi bản thể của bánh rượu. Đây chính là mầu nhiệm đứuc tin. Đây là món qùa vô giá Chúa đã để lại cho Giáo Hội. Gia sản của Giáo Hội chính là Chúa Kitô hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể.

    Chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Chúa ngự trong Thánh Thể. Chúng ta tin Chúa ẩn thân nơi tấm bánh nhỏ. Mỗi lần chúng ta rước Chúa vào lòng là mỗi lần chúng ta được dưỡng nuôi bằng bánh trường sinh. Những người không có niềm tin thì không thể hiểu được ý nghĩa của sự hiến tế và Bí Tích Thánh Thể. Đây chính là Bí Tích tình yêu. Thử hỏi có ai táo bạo đến nỗi lấy thịt máu mình nuôi dưỡng người khác.

    Chúa Giêsu đã hiến tế mình trên thập giá làm của lễ và dùng cách thế tuyệt hảo nhất để ở lại với chúng ta qua Thánh Thể. Đây chính là nguồn yêu thương chan chứa của sự dâng hiến. Chúa hiến dâng chính mình làm của ăn đưa dẫn chúng ta tới nguồn sống bất diệt. Chúa mời gọi chúng ta tham dự bàn tiệc Mình Máu Thánh. Chúa sẽ ban dư tràn của ăn nuôi hồn.

    Về mục lục

    .

    THỰC THI Ý CHÚA ĐỂ SỐNG MUÔN ĐỜI

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp tục mô tả một đám đông số đàn ông chừng năm ngàn chưa kể đàn bà và con trẻ đi theo Chúa, họ đã được nghe Chúa giảng dạy, chữa lành bệnh tật, chứng kiến những phép lạ Chúa làm, nhất là được ăn bánh và cá no nê. Một ngày kết thúc, Chúa giục các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia. Tất nhiên là họ không thấy Chúa nữa, các môn đệ Chúa cũng không, nên họ cũng xuống thuyền hướng về Capharnaum để tìm gặp Chúa. Thấy Chúa họ hết sức vui mừng và ôn tồn hỏi Chúa : “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?” (Ga 6, 25). Câu hỏi này không làm Chúa vui, nên Chúa buôn lời phán với họ rằng: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê” (Ga 6, 26). Họ đã cất công tìm Chúa, ấy vậy khi gặp chẳng thấy Chúa an ủi vỗ về lại nhận được lời quở trách tìm Chúa vì cái bụng, thật là buồn. Chúa khuyên họ : “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời” (Ga 6, 26). Chúa gợi lên nơi họ sự sống đời đời để dù ăn, dù uống hay làm bất cứ điều gì thì cũng phải nhắm tới mục tiêu tối hậu là sự sống đời đời, khiến họ khao khát thưa Chúa rằng : “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?” (Ga 6, 28) Chúa Giêsu đáp : “Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến” (Ga 6, 29).

    Từ trên cung thánh nhìn xuống dưới, bên trong và bao quanh nhà thờ giờ đây cũng có một đám đông với đủ mọi tầng lớp, đàn ông, đàn bà và con trẻ, chắc số đàn ông chừng vài trăm. Nếu trong Tin Mừng, những người tìm kiếm Chúa với những thái độ khác nhau : có người tìm Chúa vì đã được ăn bánh no nê, có người thì mong gặp Chúa là Đấng làm những dấu lạ, một số người khác lăng xăng đi tìm Chúa bởi họ có kinh nghiệm về sự hiệp thông thân tình với Chúa họ thưa Chúa rằng : “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi” (Ga 6,34). Phần chúng ta, một câu hỏi được đặt ra cho chính chúng ta đang ngồi đây : Chúng ta đến đây để làm gì ? Chúng ta tin Chúa, tìm Chúa và theo Chúa vì điều gì ? Phải chăng là để được ăn bánh no nê ? Có người sẽ nói, chúng con đến tham dự Thánh lễ, đến tìm gặp Chúa chứ còn gì nữa. Phần lớn câu trả lời sẽ là như vậy. Chắc chắn Chúa Giêsu rất vui khi thấy chúng ta đang nỗ lực tìm kiếm Chúa và đi theo Chúa.

    Đúng, chúng ta đến đây tham dự Thánh lễ, xin ơn khỏe mạnh phần hồn, an lành phần xác, nhưng sự sống đời đời phải là mục tiêu chúng ta nhắm tới. Lời Chúa Giêsu nói với đám đông xưa kia, cũng là lời Chúa dạy chúng ta ngày hôm nay: “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời” (Ga 6, 27).

    Chúng ta vẫn làm việc không ngừng đấy thôi, nhưng lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh chúng ta. Ra công làm việc để có nhiều của cải thăng tiến bản thân, phục vụ gia đình, góp phần xây dựng xã hội và Giáo hội là điều chính đáng. Nhưng không thể làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm Chúa Nhật dẫn đến bỏ lễ Chúa Nhật và lễ trọng buộc, bỏ đọc kinh tối sớm là điều tối cần thiết cho sự sống đời đời. Hãy thực thi đức công bằng trong làm ăn, thuận mua vừa bán, đừng mùa thừa bán thiếu, đánh đổi trắng đen thu lời bất chính, có kiếm được lương thực dồi dào thì cũng hư nát và chỉ dành cho sự sống tạm bợ đời này. Lương thực không hư nát là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa là lương thực nuôi dưỡng phần linh hồn chúng ta, giúp chúng ta đạt đến cuộc sống vĩnh cửu sau này. Thứ lương thực cao quí ấy được ban bởi Đấng Hằng Sống. Mặc dù được trao ban cách miễn phí, nhưng muốn có được Bánh Hằng Sống ấy, con người phải làm việc, mà công việc Thiên Chúa muốn con người phải làm là hãy đến và tin vào Đức Ki-tô, vì “Ai đến với Ngài, không hề phải đói; ai tin vào Ngài, chẳng khát bao giờ” (x. Ga 6.35).

    Người Do thái hỏi Chúa : “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?” Xem ra không có liên quan gì đến “công việc của Thiên Chúa”, nhưng vẫn có liên quan vì Chúa Giêsu mời gọi họ « ra công làm việc … công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến”. Ra công làm việc nhưng hướng đến lương thực trường tồn đem lại sự sống đời đời, mà để có được sự sống ấy thì chúng ta phải nỗ lực tin vào Chúa Giêsu, tin đến độ lấy Chúa làm của ăn của chúng ta. Chính Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại : “Ai tin vào Người thì được sống muôn đời” ( Ga 3,15 ) ; “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người” (Ga 20, 15). Vì thế, tin không còn là công việc, nhưng là công trình của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã tự hiến mình làm của ăn cho chúng ta nơi Bí tích Thánh Thể. Tin là “ra công làm việc… vì của ăn vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời” (Ga 6, 27).

    Vậy, chúng ta hãy ra sức tìm những của ăn không hư nát là thánh ý Chúa, Lời Chúa, Mình Máu Thánh Chúa. Đừng để những lo lắng và cám dỗ thế gian làm chúng ta quên đi hay không dám sống cho những giá trị trường tồn này.

    Lạy Chúa xin giúp chúng con hiểu rằng, đón nhận thánh ý Thiên Chúa là thứ lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh. Xin đừng để một ai trong chúng con lạc xa thứ lương thực cao quí này. Amen.

    Về mục lục

    .

    NƠI CHÚA GIÊSU

    Anna Cỏ May

    Vì sự sống, chúng ta luôn cố gắng suy nghĩ đi tìm cho mình một chức vị nào đó trong xã hội hay đi tìm một thứ gì đó để được sống lâu hơn. Chúng ta thường chúc ông bà “sống lâu trăm tuổi”, đó cũng là ước mong của tất cả mọi người.

    Mong ước vẫn là mong ước. Điều gì đến vẫn cứ đến. Không ai không phải đi qua cái chết. Vì quê hương chúng ta không phải nơi trần gian mà chính ở quê trời. Vậy làm sao chúng ta được hưởng sự sống ở Nước Trời. Xưa kia, Chúa Giê-su đã nói với dân chúng khi họ theo Ngài rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn no nê.”(Ga 6,26). Về phương diện cuộc sống, có ăn mới sống được. Nên sau khi chứng kiến Chúa Giê-su làm phép lạ cho họ ăn no nê và còn dư, khiến họ không ngần ngại đi theo Ngài. Họ mới biết đến sự sống nơi thân xác mà thôi hay họ chưa biết hoặc không rõ về sự sống trường sinh trong tâm hồn. Bởi đó khi nghe những lời Chúa Giê-su nói, họ tò mò, muốn được có lương thực ấy nên đã hỏi Chúa Giê-su: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những điều Thiên Chúa muốn.” . Chúa Giê-su trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”(Ga 6, 28-29). Tin là điều kiện để làm mọi việc Thiên Chúa muốn. Có tin thì họ mới dốc hết sức lực, tình yêu vào việc họ làm. Họ phải tin những gì? Họ cần phải tin Người đang nói chuyện với họ là Đấng Thiên Chúa sai đến; chính Người là bánh Trường Sinh. Nhưng liệu họ có muốn ăn bánh trường sinh khi Chúa Giê-su nói: “Chính tôi là Bánh Trường Sinh.”. Đó là một thử thách mà họ cần có lòng khao khát, tin tưởng vào Thiên Chúa và tin có sự sống trường sinh.

    Có bộ phim mà các trẻ em rất thích xem, đó là phim “Tôn Ngộ Không”.  Bộ phim nói về Đường Tăng đi lấy Kinh. Ông đã gặp rất nhiều khó khăn trên đường cùng muôn vàn yêu quái và yêu tinh. Họ tin là chỉ cần ăn thịt Đường Tăng sẽ được sống muôn đời. Nên họ không ngừng dùng mọi thử đoạn để bắt ông. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta vẫn đi tìm một cái gì đó để duy trì sự sống. Sự sống ấy chỉ nơi thân xác. Ít mấy ai đi tìm sự sống cho linh hồn, sự sống vĩnh cửu. Vì chúng ta yếu đuối, dễ bị lôi cuốn vào sự sống thân xác hơn như vui chơi, hưởng thụ,…

    Nhưng rồi thân xác chúng ta cũng đi vào dĩ vãng, còn linh hồn đi đâu? Với Đức tin, linh hồn chúng ta sẽ vào Nước Trời. Vậy làm gì để sau khi chết linh hồn được vào sự sống Nước Trời? Chúa Giê-su đã trả lời dân chúng rằng: “Ta là Bánh Trường Sinh”. Đó cũng là câu trả lời cho chúng ta ngày hôm nay. Để cho chúng ta được hưởng sự sống ấy. Chúa Giê-su đã truyền cho các Tông Đồ và được Giáo Hội không ngừng thực hiện mỗi ngày trong Thánh Lễ. Mỗi chúng ta đang được mời gọi “hãy đến mà ăn”. Đó là lương thực sẽ nuôi nấng, gìn giữ linh hồn chúng ta mỗi ngày. Để khi Chúa đến, chúng ta được phúc về Nước Trời cùng với Ngài.

    Lạy Chúa, chúng con đang sống trong một xã hội đầy vẻ đẹp và nhiều điều mới lạ. Chúng con đang bị cuốn hút vào đó, khiến chúng con không thấy giá trị khi tham dự Thánh Lễ, đặc biệt là khi rước Mình Máu Ngài. Xin Chúa hãy đánh thức và đưa chúng con về bên Chúa. Vì chỉ có Chúa mới giải thoát được chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI LINH HỒN TA

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Sau khi được Chúa Giê-su ban cho một bữa ăn no nê thỏa thích qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, đám đông người Do-thái đổ xô tìm đến với Chúa mong được Ngài cho ăn tiếp. Chúa Giê-su không bằng lòng với toan tính đó nên Ngài nói thẳng với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.”

    Biết rõ bận tâm của đám đông là chỉ lo tìm kiếm lương thực phần xác mà lãng quên lương thực cho tâm hồn nên Chúa Giê-su răn bảo họ: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh.” (Ga 6, 27)

    Khi nói như thế, Chúa Giê-su kêu gọi mỗi người hãy cố công chăm lo cho linh hồn mình được phúc đời đời chứ đừng chỉ dồn tất cả công sức chăm lo cho thân xác mau hư nát nầy.

     Một nhà kia có hai người con. Người con út được cha mẹ đem hết lòng yêu thương chăm sóc: cho ăn, cho mặc, cho học hành, cho thuốc men, cho tiêu xài thoải mái, cho tất cả những gì nó muốn và không từ chối nó bất cứ điều gì.

    Trong khi đó, đứa con cả không được cha mẹ đoái hoài: không được nuôi ăn, chẳng được cấp dưỡng chút gì, bị cha mẹ bỏ mặc như thể nó không hề có mặt trên đời, mặc dù nó không làm điều gì sai trái.

    Cha mẹ phân biệt đối xử như thế là quá bất công, đáng bị lên án. Nếu chúng ta ở vào địa vị người cha người mẹ trên đây, chắc chắn không bao giờ chúng ta đối xử bất công như thế.

    Thế nhưng, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có “hai người con” trong đời mình, đó là linh hồn và thân xác. Thân xác nầy nay còn mai mất thì được nhiều người chăm sóc chiều chuộng tối đa, còn linh hồn trường sinh bất tử thì chẳng được đoái hoài.

    Châm ngôn của một số đông là: Tất cả dành cho thân xác, tất cả cho cuộc sống đời nầy. Người ta không từ chối thân xác bất cứ điều gì. Dù thân xác có đòi hỏi những điều hèn hạ, vô luân, người ta cũng chiều theo nó.

    24 giờ của mỗi ngày đều dành trọn cho thân xác. 168 giờ của mỗi tuần, 720 giờ của một tháng đều dành trọn để lo cho thân xác và cứ như thế hết tháng nầy qua tháng khác, hết năm nầy qua năm kia.

    Trong khi linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài!

    Đó là một bất công không thể chấp nhận được và mang lại hậu quả đau thương cho cuộc sống mai sau, vì không sớm thì muộn, cái chết cũng sẽ đến để cướp hết những gì người ta đang có và hủy hoại thân xác ra không. Cuối cùng thân xác con người chỉ là một nhúm bụi đất còn linh hồn thì phải trầm luân muôn đời muôn kiếp.

    Thật phi lý khi người ta đầu tư toàn bộ vốn liếng mình có cho thân xác: dành hết tất cả thời gian, công sức, trí tuệ, tài năng, nghị lực của mình cho thân xác để rốt cuộc, chỉ “thu hoạch” được một nắm bụi tro!

    Qua sứ điệp Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su kêu gọi mọi người hãy đối xử công bằng với linh hồn mình.

    Thân xác nầy nay còn mai mất thì chỉ cần chăm lo vừa đủ, còn linh hồn sống đời đời bất diệt thì đáng phải được chăm sóc chu đáo hơn.

    Khi nuôi xác bằng cơm bánh được thu hoạch từ lòng đất thì cũng phải nuôi hồn bằng “Bánh từ trời xuống.”

    Chính Chúa Giê-su là Bánh bởi trời được Chúa Cha ban cho nhân loại để mang lại sự sống cho thế gian. (Ga 6, 32-35)

    “Ăn” Chúa Giê-su (theo nội dung đoạn Tin Mừng hôm nay, Gioan 6, 24-35) không có nghĩa là nhai, là nuốt Chúa Giê-su nhưng là đến với Chúa Giê-su và tin vào Ngài: “Chính tôi là Bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

    Lạy Chúa Giê-su,

    Chúa là Bánh ban sự sống đời đời cho chúng con. Xin cho chúng con thường xuyên “ăn” Bánh này, tức là tìm đến với Chúa, học với Chúa, sống như Chúa để đào tạo bản thân mình nên người có phẩm chất cao đẹp. Nhờ đó, mỗi người chúng con trở thành hình ảnh sống động của Chúa giữa trần gian và được chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.

    Về mục lục

    .

    MANNA TỪ TRỜI

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Dân chúng vẫn còn sôi nổi sau phép lạ bánh hoá nhiều.

    Hôm sau, họ lên thuyền qua bờ bên kia để tìm Ðức Giêsu.

    Ðức Giêsu thấy nỗ lực tìm kiếm của họ.

    Ngài biết họ tìm Ngài chỉ vì đã được ăn bánh no nê.

    Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự…

    Miếng ăn là nỗi lo của người nghèo vùng Galilê.

    Ðó cũng là nỗi lo của hàng tỉ người trên thế giới.

    Ðức Giêsu không trách họ về chuyện này.

    Ngài chỉ muốn nâng họ lên cao hơn,

    bởi lẽ con người không chỉ là thân xác.

    Dân chúng vất vả tìm chút lương thực mau qua.

    Ðức Giêsu muốn họ đừng quên thứ lương thực thường tồn

    nhằm nuôi dưỡng tinh thần và đem lại sự sống vĩnh cửu.

    Người dân Galilê chỉ nhớ đến chiếc bánh hôm qua.

    Họ bị sa lầy và ngừng lại trong phép lạ.

    Họ không thể đi xa hơn và cũng không mơ ước gì hơn.

    Con người hôm nay có nét giống đám đông ngày xưa.

    Người nghèo thì bị hút vào công việc lam lũ nhọc nhằn,

    để thỏa mãn cái đói cấp bách của thân xác.

    Người giàu thì mê mải với bao tiện nghi đang mời gọi.

    Họ bị ám ảnh và chạy đua với những mặt hàng mới.

    Rốt cuộc, kẻ nghèo người giàu đều có nguy cơ như nhau,

    đó là đánh mất đi cái đói khát tinh thần,

    mãn nguyện với cái bụng no, hay với thứ nữ trang đắt giá.

    Thật ra, cũng khó dập tắt nỗi khát khao về Tuyệt Ðối

    mà Thiên Chúa đã đặt rất sâu trong lòng người.

    Mọi thứ thức ăn trần gian, con người không lấy làm đủ.

    Người nghèo không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần tình thương.

    Người giàu dư cơm bánh, nhưng lại cần lẽ sống.

    Không thiếu những bạn trẻ nhà giàu, có học, có tương lai,

    nhưng lại thất vọng chán chường, thậm chí rơi vào trụy lạc.

    Họ có tất cả, nhưng vẫn thấy thiếu cái gì đó…

    Thiếu cái này thì mọi thứ khác trở thành thừa.

    Có khi sống sa đọa lại là cách họ biểu lộ

    cơn đói khát vô cùng về những điều cao cả.

    Ðức Giêsu khơi dậy những khát khao tốt đẹp đang ngủ quên.

    Ngài không cho dân chúng thứ manna từ trời rơi xuống,

    để mỗi ngày họ phải lượm mà ăn.

    Ngài cho họ thứ bánh bởi trời đích thực,

    bánh ban sự sống đời đời cho toàn thế giới.

    “Xin cho chúng tôi thứ bánh đó luôn luôn”

    “Xin ông cho tôi thứ nước ấy” (Ga 4, 15).

    Con người vẫn đói khát thức ăn tinh thần.

    Cơn đói này còn kinh khủng hơn cả cơn đói thân xác.

    Hãy đến với Giêsu! Hãy tin vào Giêsu!

    Nếu bạn khao khát Tuyệt Ðối

    thì chỉ Tuyệt Ðối mới làm bạn no thỏa.

    Tuyệt Ðối đã hiện diện nơi Ðức Giêsu.

    Ước chi bạn để cho Ngài nuôi bằng lời giáo huấn,

    và tin tưởng dấn thân theo Ngài bằng cả cuộc đời.

    Cầu nguyện:

    Lạy Chúa,

    những lúc con cảm thấy đói,

    xin ban cho con một ai đó đang cần của ăn.

    Khi con khát,

    xin gởi đến cho con một ai đó đang cần nước uống.

    Khi con lạnh lẽo,

    xin gởi đến cho con một ai đó đang cần được sưởi.

    Khi con bị xúc phạm,

    xin ban cho con một ai đó đang cần ủi an.

    Khi thập giá của con trở nên nặng nề,

    xin ban cho con thập giá của một người khác

    để cùng chia sẻ.

    Khi con túng nghèo,

    xin dẫn đến cho con một người thiếu thốn.

    Khi con không có thời giờ,

    xin ban cho con ai đó để con giúp họ giây lát.

    Khi con nản chí,

    xin gởi đến cho con một người cần khích lệ.

    Khi con chỉ biết nghĩ đến mình,

    xin xoay chuyển tư tưởng con hướng đến tha nhân.

    Trích trong PRIER

    Về mục lục

    .

    HÃY TÌM LƯƠNG THỰC TRƯỜNG SINH

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Sau phép lạ bánh hóa nhiều, Đức Giêsu và các Tông Đồ bỏ đảo Ghênêsarét trở về Capharnaum, nhưng Đức Giêsu không đi cùng thuyền với các Tông Đồ vì Ngài còn lên núi cầu nguyện một mình (Ga 6,15). Dân chúng thấy rõ Đức Giêsu không đi trên thuyền đó, nên họ đổ xô đi tìm Ngài. Khi về tới Capharnaum gặp Chúa, họ hết sức ngạc nhiên vì gặp Ngài ở đó rồi: ”Lạy Thầy, Thầy đến đây bao giờ?”  (Jn 6:25).

    Đức Giêsu không trả lời câu hỏi ấy, mà nhân cơ hội này Ngài giảng cho họ một bài về Bánh hằng sống. Bài này cốt nâng cao tư tưởng thính giả lên bên trên những lo lắng vật chất. Phép lạ làm cho bánh hoá nhiều làm cho người ta nghĩ rằng: đã đến thời lập lại nước Israel (Act 1:6), đời sống sẽ phú túc. Bài này có ý cải chính ý tưởng đó. Điều Đức Giêsu muốn là đưa họ đi xa, đưa họ lên cao hơn những điều họ thấy trước mắt: Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Ngài sai đến (Jn 6:29), tức tin vào Ngài là Đấng vừa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho hàng ngàn người ăn. Nhưng như thế vẫn chưa hết, vì Đức Giêsu còn muốn làm cho người Do Thái nhận ra rằng Ngài không chỉ có thể làm cho bánh hoá nhiều để duy trì sự sống vật chất của con người, mà Ngài còn có thể ban chính sự sống cho con người, không chỉ là sự sống thể xác mà cơm bánh lương thực tạo nên, mà còn sự sống thần linh, sự sống vĩnh cửu mà chỉ một mình Thiên Chúa mới ban được cho con người: ”Chính Ta là Bánh trường sinh, ai đến với Ta, không hề phải đói. Ai tin vào Ta, chẳng hề khát bao giờ” (Ga 6,35).

    Đức Giêsu là bánh trường sinh (Jn 6:35,48,51). Những ai ăn bánh trường sinh thì không còn phải đói khát bao giờ nữa vì được no thỏa tâm hồn. Nhưng sự sống trường sinh là gì? – Sự sống trường sinh là nhận biết Đức Giêsu là Đấng đến từ Thiên Chúa, là sự sống của Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống của Thiên Chúa cho những ai muốn đón nhận (Jn 6:58). Sự sống trường sinh là sự sống của ”con người mới” tức con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được dạy dỗ theo tinh thần của Đức Kitô. Cụ thể đó là con người thực sự sống công chính và thánh thiện (bài đọc 2: Eph 4:17,20-24).

    Đức Giêsu nói với họ: ”Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,26). Đức Giêsu nói chuyện với những người nông dân vùng Galilê đang vất vả để kiếm sống. Họ biết đói khổ là thế nào khi họ miệt mài làm việc để mùa thu hoạch có kết quả tốt. Đức Giêsu dựa vào một nhu cầu vật chất của thính giả làm khởi điểm, đó là những biểu tượng thông thường: đói, khát, bánh, nước…

    Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: nếu một người giầu có đầy đủ: gia đình, nghề nghiệp, lợi tức, chức quyền, danh vọng… nhưng họ vẫn thấy còn thiếu cái gì nữa chăng? Nếu chúng ta trả lời rằng “CÓ” thì các bài đọc Kinh Thánh hôm nay là một sứ điệp quan trọng cho chúng ta. Chúng nhắc cho chúng ta một điều chúng ta thường hay bỏ quên, đó là: Trên thế giới này có hai loại đói: trước hết là đói khát thể lý mà chỉ đồ ăn thức uống mới có thể thỏa mãn được. Thứ đến là đói khát thiêng liêng mà không thực phẩm nào trên trần gian này có thể thỏa mãn được. Nói cách khác, dầu chúng ta có giầu có hoặc thành công đến đâu đi nữa, chúng ta vẫn cảm thấy nơi thâm sâu lòng mình một cơn đói khát khó có thể bầy tỏ được.

    Đối với con người nếu chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể xác thì càng cảm thấy thiếu thốn vì nhu cầu đẻ ra nhu cầu; nhu cầu này nối tiếp nhu cầu kia làm cho người ta luôn tìm kiếm mà không bao giờ được thỏa mãn.

    Tần Thủy Hoàng của nước Tầu đã sống trước Chúa Giáng Sinh 200 năm. Ông tự phong là vô địch nhất thế gian này, về đức độ hơn cả Tam Hoàng, có công hơn cả Ngũ Đế là những vị vua có công lập quốc, kiến quốc nhất của Trung Hoa. Tần Thủy Hoàng còn muốn trường sinh trẻ mãi, nên đi tìm đủ mọi danh y, pháp thuật, bói toán, chỉ dẫn cho uống thuốc, tập luyện và sai quần thần đi khắp nơi tìm thuốc trường sinh, với bất cứ giá nào, dù phải vượt biển Đông hão huyền cũng phải đi tìm, dù phải khổ luyện đến chết, vẫn nhắm mắt theo. Đồng thời, ông lại lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga, rộng lớn chín dặm vuông vức, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thủy tinh làm sông Ngân hà, lấy vàng bạc xây tường và chôn sống hàng trăm cung nữ vây quanh nhà mồ của ông… Quả thực, Thủy Hoàng chỉ làm vua hơn chục năm và sống hơn năm mươi tuổi (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr 155).

    Dân chúng hỏi Đức Giêsu rằng: ”Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của ThiênChúa.” Đức Giêsu đáp lại: ”Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Người sai đến” (Jn 6:28-29). Ở đây bắt đầu một mặc khải lạ lùng. Lương thực cốt yếu mà con người đói khát, đó chính là Đức Giêsu! Một quyết đáp có vẻ táo bạo và điên rồ, nhưng đã được kiểm chứng hàng triệu lần từ hai ngàn năm qua. “Anh em hãy tin.” Đó là công trình của Thiên Chúa nơi chúng ta. Tin, có đức tin, đó là làm việc với Thiên Chúa, là cộng tác với Thiên Chúa Đấng muốn ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu của Ngài.

    Đức Giêsu vừa đưa ra một tuyên bố quan trọng. Ngài bảo rằng công việc đích thực của Thiên Chúa là tin Ngài. Người Do Thái nói: Hay lắm, quả thật đây là lời tuyên xưng mình là Đấng Messia, vậy ông hãy chứng minh đi (Jn 6:30).

    Bấy giờ họ vẫn còn nghĩ đến việc Chúa hóa bánh cho đám đông ăn, nên điều không tránh được là họ liên tưởng ngay đến manna trong sa mạc. Họ kết hợp hai việc đó thật dễ dàng. Manna vẫn được xem như bánh của Thiên Chúa (Tv 77,24; Xh 16,15). Trong Do Thái Giáo, có một niềm tin mạnh mẽ rằng: khi Đấng Messia đến, Ngài sẽ lại ban manna. Việc ban manna được cho là việc tối quan trọng trong cuộc sống của Maisen, mà Đấng Messia thì còn phải hơn thế nữa. Vị cứu tinh đầu tiên thế nào thì vị cuối cùng cũng phải như thế. Vị cứu tinh đầu tiên đã khiến manna từ trời rơi xuống thế nào, thì vị cứu tinh thứ hai cũng phải khiến được manna từ trời rơi xuống thể ấy.

    Như vậy, dân Do Thái đang thách thức Đức Giêsu hãy khiến bánh từ trời xuống để hậu thuẫn cho lời tuyên bố của Ngài. Họ không chịu xem số bánh cho 5000 người vừa được ăn là bánh từ Thiên Chúa đến. Ban đầu nó vốn là bánh của trần gian. Theo họ, manna phải khác hẳn, và đó là trắc nghiệm cho Đức Giêsu.

    Câu trả lời của Đức Giêsu gồm hai phương diện. Trước hết, Ngài nhắc họ rằng, không phải Maisen đã cho họ ăn manna, mà là Thiên Chúa (Jn 6:32). Thứ hai, Ngài bảo họ: manna không phải là bánh thật của Thiên Chúa, mà chỉ là biểu tượng cho bánh của Thiên Chúa. Bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người không chỉ sự no đủ về phương diện thể xác nhưng là sự sống (Jn 6:33). Đức Giêsu tuyên bố rằng sự thỏa mãn duy nhất là ở trong Ngài (Jn 6:35).

    Đức Giêsu biết rõ tâm tư của họ, họ đến với Ngài chỉ vì muốn được ăn bánh no nê như đã được ăn hôm trước (Jn 6:26). Dĩ nhiên, việc ăn uống nuôi thể xác là một điều cần thiết, ai lại không phải ăn? Nhưng Đức Giêsu muốn nói với họ là ngoài sự đói khát vật chất và thể lý còn có sự đói khát thuộc tinh thần và tâm linh nữa. Và Chúa đã đưa ra cho họ một lời khuyên: ”Các ông hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh” (Jn 6:27).

    Con người sống trên trần gian này có rất nhiều khát vọng cần được thỏa mãn. Khát vọng đầu tiên là được thoả mãn cơn đói khát thể xác. Cái ăn cái uống là những nhu cầu vật chất khẩn thiết làm cho thể xác được bảo toàn và tăng trưởng. Người Tây phương có một câu ngạn ngữ nói về nhu cầu đó: ”Manducare priusquam philosophare”: ăn đã rồi muốn nói gì thì nói. Người Việt nam chúng ta cũng có tư tưởng ấy được gói ghém trong câu tục ngữ: ”Dĩ thực vi tiên”: cái ăn phải đứng đầu.

    Ngoài những nhu cầu vật chất, người ta còn có những khát vọng tinh thần cần được thỏa mãn: nhu cầu hiểu biết, cần được tôn trọng, cần được quan tâm, cần được thông cảm…. Tuy nhiên, con người còn có một khát vọng căn bản và sâu xa nhất, đó là khát vọng tình yêu. Đó là khát vọng sống đời đời (Jn 6:54-58). Nói cách khác, đó là khát khao Thiên Chúa. Cảm nghiệm được khát khao này không phải là một bất hạnh mà là sự chúc lành. Thánh Gioan nói: ”Thiên Chúa là tình yêu” (I Jn 4:8,16). Chính Chúa là hạnh phúc; ai được yêu mến là sống trong hạnh phúc. Nhiều người muốn được hạnh phúc mà không biết cách tìm; họ tìm hạnh phúc ở nơi tạo vật mà bỏ quên Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc, cho nên họ đã thất bại (Jer 2:13). Thay vì tiến tới hạnh phúc, họ chỉ đạt tới những bất hạnh vì họ đã đi trệch đường.

    Tại Pháp, có một thương gia rất giầu, phương châm sống của đời ông là làm tiền, ăn nhậu và chơi bời. Nhưng chẳng bao lâu ông bị bệnh trầm trọng: thần kinh chỉ huy thanh quản bị tê liệt, làm ông bị câm. Trên giường bệnh, ông luôn thở dài chán nản. Cuối cùng, trước khi chết, ông ghi một hàng chữ và truyền khắc nó trên bia mộ của ông: ”Đây là người dại dột, đã sống mà không biết sống. Hỡi những người đang sống, chớ gì sự vô phúc của kẻ khác mở mắt các ông.”   Đức Giêsu nói: ”Bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (Jn 6:33). Đức Giêsu khẳng định mình là bánh từ trời xuống để ban sự sống cho thế gian: ”Ta là bánh hằng sống.” Linh hồn chúng ta phải có của ăn mới sống được, mà của ăn ấy chính là Đức Kitô: ”Chính Ta là bánh ban sự sống ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Jn 6:35).

    Chúng ta đã được tạo dựng cho Thiên Chúa. Dù muốn dù không, cơn đói của chúng ta chính là đói Thiên Chúa. Tiên tri Isaia đã nói: ”Tại sao phí tiền vào những của không làm no bụng” (Is 55:2). Thánh Augustinô đã thú nhận rằng: ”Lạy Chúa, tâm hồn con không nghỉ yên khi nó chưa được an nghỉ trong Chúa.” Vâng, tâm hồn chúng ta rất rộng lớn đến nỗi không gì có thể lấp đầy được, ngoài một mình Thiên Chúa mà chúng ta được dựng nên vì Ngài.

    Vậy sứ điệp trong các bài Kinh Thánh hôm nay gửi đến cho chúng ta như sau: Tận thâm tâm mỗi người chúng ta đều ẩn chứa một cơn đói khát sâu xa mà chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể thoả mãn. Khi người Do Thái nói với Chúa: ”Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy” (Jn 6:34). Đức Giêsu bảo họ: ”Chính Ta là Bánh trường sinh” (Jn 6:35). Bánh trường sinh mà Đức Giêsu ban cho chúng ta, chính là Lời Chúa và Thánh Thể:

    Chúng ta thấy quan niệm cho rằng Lời Chúa, giới răn Chúa là thức ăn thiêng liêng bồi dưỡng cho con người, cao quí hơn thức ăn thông thường đã có trong Cựu Ước. Ví dụ tiên tri Amos đã nói: ”Sắp tới những ngày, Ta sẽ cho nạn đói đến trong xứ, không phải đói bánh, không phải khát nước, mà là đói khát nghe Lời Chúa” (Am 8,11). Tiên tri Giêrêmia cũng khát Lời Chúa: ”Khi nghe Lời của Ngài, tôi đã ăn ngấu nghiến. Lời Chúa là sự vui sướng hạnh phúc cho lòng tôi” (Gr 15,16).

    Đức Giêsu nói ”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết” (Jn 6:54). Chúa xác quyết: ”Chính ta là bánh ban sự sống! Ai đến với Ta sẽ không hề đói, và ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Jn 6:35).

    Về mục lục

    .

    CUỘC SỐNG MUÔN ĐỜI

    Lm. Nguyễn Thái

    Ngày 31/7/1997, trên trang nhất của hai tờ báo lớn ở Chicago, Chicago Tribune và Sun Times, đăng tin, hình ảnh, và cuộc đời của bà cụ Gladys Holm. Bà qua đời vào tháng 6/1996, thọ 86 tuổi, đã để lại một di chúc trao tặng 18 triệu đô la cho bệnh viện Nhi Đồng Children’s Memorial. Với cuộc sống giản dị, tấm lòng yêu thương các em nhi đồng, và quan trọng hơn hết là viễn tượng hướng về tương lai nhân loại của bà cụ là bài học quý giá cho hậu thế.

    Bà sống rất bình dân trong một căn nhà nhỏ, chỉ có 2 phòng ngủ ở Evanston, một thị xã nhỏ phía bắc Chicago. Hàng xóm láng giềng không ai biết rằng họ đang sống với một bà cụ triệu phú. Bà thích ở nhà có hàng xóm láng giềng để cảm thấy gần gũi, ấm cúng như đang ở trong gia đình hơn là cư ngụ ở những biệt thự sang trọng, giàu có dọc theo bờ hồ Michigan với cuộc sống trưởng giả dành cho các triệu phú. Khi còn trẻ bà làm việc cho công ty cung cấp dụng cụ y khoa của Mỹ, “The American Hospital Supply Corp.” Tất cả số tiền bà kiếm được trong 42 năm làm việc đã được đầu tư vào thị trường chứng khoán (stock). Với sự phát triển mau chóng, công ty đã trở thành một trong những hãng sản xuất những sản phẩm về sức khoẻ và y dược lớn nhất thế giới.

    Bà là người con duy nhất trong gia đình, lúc qua đời, tất cả thân nhân họ hàng không ai còn sống cả! Tuy cuộc sống có vẻ đơn độc bà không cảm thấy cô đơn chút nào, vì trái tim luôn chứa đầy tình thương mến dành cho các trẻ em ở bệnh viện Nhi Đồng Children’s Memorial. Khi về già, với chứng bệnh phong thấp, bà phải di chuyển bằng xe lăn, nhưng bà vẫn thường xuyên có mặt ở bệnh viện để thăm viếng, phát quà, và đồ chơi cho các em, ngay cả cho các em tới thăm viếng người bệnh, vì bà không muốn một em nào bị bỏ rơi. Trong nhà bà luôn luôn có sẵn khoảng từ 200 tới 300 con gấu Teddy để phát cho các em. Năm 1991, bà bác sĩ Constantine Mavroudis, trưởng khoa phẫu thuật về tim của bệnh viện Nhi Đồng, cùng với luật sư và bạn bè đã đến thăm bà tại tư thất, đã kể lại câu chuyện như sau:

    Bà bác sĩ đã trao tặng bà cụ ít sách và phim ảnh tài liệu liên quan đến việc giải phẫu tim cho các em. Hôm đó, tại phòng khách, bà vừa rót nước mời khách, vừa hỏi bác sĩ: “Bà có cần gì không?” “Có, tôi đang cần 50 ngàn đô la, để tài trợ cho chương trình nghiên cứu giải phẫu tim cho các em,” bác sĩ trả lời. “Được! Bà sẽ có ngay! Nếu cần thêm nữa thì cho tôi biết!” Bà cụ hứa hẹn.

    Bà đã đóng góp 18 triệu đô la vào để nghiên cứu về vai trò của gen, thay thế các bộ phận trong cơ thể con người, và săn sóc các trẻ em sơ sinh bị nhiễm bệnh AIDS. Bà Gladys Holm đã sử dụng tất cả những gì bà có, không những tiền bạc, mà còn chính tình yêu và sự sống của bà để bảo vệ và xây dựng nguồn mạch sự sống mà Thiên Chúa đã ban cho loài người. Bà đã dùng của cải trần gian để đi tìm gia tài không thể hư hoại trên trời (1Pr 1: 4-5).

    Bài Phúc Âm hôm nay, Ga 6:24-35, nối tiếp câu chuyện Chúa Giêsu nuôi một đám đông 5000 người ngày hôm trước. Sau việc Chúa hóa bánh ra nhiều, dân chúng được ăn uống no nê và muốn phong Chúa Giêsu làm vua, nên Ngài phải tránh họ đi nơi khác. Họ bèn đi tìm kiếm Ngài. Chúa nhìn thấy động lực thúc đẩy quần chúng tìm kiếm Ngài vì “đã được ăn bánh no nê”, vì được thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tạm bợ ở đời, nên Ngài đã dạy họ: “Đừng làm việc vì lương thực mau hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời” (Ga 6:27). Chúa Giêsu đã có một viễn tượng khác với cái nhìn thiển cận của con người.

    Trong bộ Barclay’s Daily Study Series, William Barclay đã chú giải như sau: “Con người, như Chrysostom đã nói, bị đóng đinh vào những sự vật của đời sống này. Ở đây, những con mắt của người ta chưa bao giờ được cất nhắc ra khỏi các thành vách của thế giới này để tới những sự đời đời ở bên kia.” Xưa kia, Napoleon và một người bạn đang nói chuyện với nhau về cuộc đời. Bên ngoài trời tối thui, họ đi bộ đến bên cửa sổ và nhìn ra bên ngoài. Trông bầu trời ở rất xa, có những vì sao nhỏ li ti. Napoleon rất sáng mắt, trong khi người bạn lại cận thị. Napoleon chỉ tay lên bầu trời và hỏi: “Anh có nhìn thấy những ngôi sao này không?” Người bạn lắc đầu: “Không! Tôi không thấy chúng.” Napoleon nói: “Đó là sự khác biệt giữa anh và tôi.” Con người bị cột vào quả đất đang sống với một nửa đời. Con người với một viễn tượng, trông vào chân trời và nhìn thấy những ngôi sao, mới thực sự là đang sống.

    Chúa Giêsu đề cập đến sự đói khát đời sống tinh thần của con người mà chỉ một mình Ngài mới làm thỏa mãn được khát vọng này. Đôi khi đó là sự đói khát chân lý mà con người chỉ tìm thấy nơi Đức Giêsu Kitô: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14:6). Là sự sống vĩnh cửu mà Ngài đã hứa ban: “Ta đã đến là để chúng được có sự sống, và sống một cách dồi dào” (Ga 10:10). Có khi là chính tình yêu mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta: “Không ai có tình yêu thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15:13).

    Thomas Long kể về cuộc đời của một thầy Rabbi đã chết tại Anh Quốc. Khi còn bé, cậu và gia đình bị bắt giam trong trại tù của Nazi, Đức Quốc Xã, chờ ngày hành quyết. Trong trại những tù nhân chỉ được phân phát đủ lương thực để sống qua ngày – một ít hạt ngũ cốc, một chút bánh thiu, một ít mỡ lợn mỗi tuần. Mặc dù ở trong hoàn cảnh khó khăn, gia đình của cậu bé vẫn giữ luật của ngày Sabát. Họ vẫn tìm cách biến chế, làm nên một cây đèn cầy và một ít lương thực mỗi tuần. Rồi họ đọc lời kinh nguyện và công bố phúc lành của ngày Sabát. Tuy nhiên, vào một tuần nọ, họ không còn đèn cầy nữa. Bóng đêm đã đến, sắp bước sang ngày Sabát, cha của cậu bé đã lấy một ít mỡ heo quý giá và đổ xung quanh một sợi giây. Ánh sáng đã được đốt lên thay cho đèn cầy, và ông bắt đầu hướng dẫn gia đình cầu nguyện và xin ơn chúc lành của ngày Sabát. Thấy vậy, cậu bé nổi cơn giận dữ. Khi những lời cầu nguyện chấm dứt, cậu bèn chất vấn cha mình rằng: “Tại sao cha lại làm như vậy? Tại sao lại phí phạm mỡ heo để làm đèn cầy trong khi chúng ta chỉ còn một chút lương thực duy nhất?” Cha cậu từ tốn trả lời: “Hỡi con, không có lương thực chúng ta vẫn còn có thể sống sót được vài ngày. Nhưng không có hy vọng, chúng ta sẽ không thể nào sống được thêm một giờ.”

    Sách Giáo Lý Công Giáo số 2835 đề cập đến những sự đói khát của con người như sau: Các Kitô hữu phải tận lực lo “loan báo Tin Mừng cho những người nghèo”. Có nạn đói trên mặt đất này, “không phải đói cơm bánh và khát nước, nhưng là đói khát nghe Lời Thiên Chúa” (Am 8:11). Bởi vậy ý nghĩa đặc biệt Kitô giáo của lời cầu xin ban lương thực hằng ngày liên quan đến Bánh của Sự Sống, đó là Lời Chúa ta đón nhận trong niềm tin, và Mình Thánh Chúa Kitô ta lãnh nhận trong Thánh Lễ.

    Trong bài Phúc Âm, người Do Thái cũng hỏi Chúa Giêsu: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6:28). Chúa Giêsu đã trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6:29). “Tin vào Đấng Người đã sai đến” có nghĩa là nhận ra rằng chúng ta thuộc về Ngài, và Ngài là cha của chúng ta. Đó là đáp trả lại tình yêu của Ngài bằng chính tình yêu sâu xa của chúng ta dành cho Ngài (GLCG # 26). Tin có nghĩa “là sự gắn bó bản thân của con người với Thiên Chúa” (GLCG #150).

    Thiên Chúa là tình yêu. Do đó, trong đời sống chúng ta phải yêu thương, phục vụ và tha thứ cho tha nhân để đáp lại tình yêu và tha thứ của Thiên Chúa đối với ta. Thiên Chúa là sự thánh thiện. Do đó chúng ta phải trở nên thánh, công chính, đạo đức như lời Chúa Giêsu đã nói: “Hãy trở nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Thiên Chúa là sự khôn ngoan. Do đó, trong cuộc sống chúng ta phải luôn vâng theo thánh ý của Thiên Chúa và hoàn toàn phó thác trong sự khôn ngoan nhiệm mầu của Người đã quan phòng cho chúng ta.

    Ngày xưa, có hai người ăn xin hằng ngày vẫn đến xin bánh tại cổng triều đình của vua. Mỗi ngày vua cho họ một ổ bánh mì. Người ăn xin thứ nhất lấy lòng vua bằng cách luôn cám ơn lòng quảng đại của vua. Còn người ăn xin thứ hai luôn cám ơn Thiên Chúa đã ban cho vua sự giàu có để làm việc bác ái. Những lời cám ơn của người thứ hai làm nhà vua đau lòng. Do đó, vua quyết định dạy cho ông ta một bài học. Vua ra lệnh nướng hai cái bánh y hệt như nhau, nhưng trong một cái bánh có giấu những hạt kim cương quý giá bên trong. Rồi vua bảo người làm bánh cho người ăn xin thứ nhất ổ bánh có giấu những viên kim cương đó.

    Ngày hôm sau, người làm bánh ra cổng và trao cho hai người ăn xin hai ổ bánh. Ông hết sức chú tâm để tránh khỏi lầm lẫn vì sợ vua giận dữ nếu có sai lầm xẩy ra. Khi người ăn xin thứ nhất nhận ổ bánh nặng nề, ông ta kết luận ngay rằng ổ bánh này nướng chưa được chín, bên trong bột còn sống nên cầm rất nặng tay, và năn nỉ người ăn xin thứ hai đổi cho ông ta. Người ăn xin thứ hai rất tốt bụng, lúc nào cũng muốn giúp đỡ bạn nên đồng ý đổi. Thế rồi họ chia tay nhau ra về. Khi người ăn xin thứ hai khám phá thấy bên trong ổ bánh những hạt kim cương quý giá. Ông tạ ơn Thiên Chúa vì phúc lộc của Ngài đã ban cho, đồng thời cũng biết ơn Ngài vì từ nay trở đi ông không phải đi xin bánh ăn nữa.

    Sáng hôm sau nhà vua rất đỗi ngạc nhiên khi thấy chỉ có người ăn xin thứ nhất xin bánh ở cổng triều đình. Vua truyền lệnh gọi người nướng bánh đến và hỏi: “Ngươi có làm gì lầm lẫn ở hai ổ bánh mà ta đã ra lệnh cho ngươi không?” “Tâu Hoàng Thượng,” người nướng bánh trả lời, “Hạ thần đã làm đúng như lệnh truyền của Hoàng Thượng.” Rồi nhà vua quay sang người ăn xin và hỏi: “Nhà ngươi đã làm gì với ổ bánh ta cho ngươi ngày hôm qua?” Người ăn xin thứ nhất trả lời: “Nó nặng quá, nên con nghĩ rằng bánh nướng chưa được chín. Do đó con đã đổi nó cho người bạn ăn xin của con để lấy cái bánh của anh ta!”

    Sau đó nhà vua đã hiểu rằng tất cả của cải mình có thực sự đều đến từ Thiên Chúa, và chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm cho một người nghèo khó trở nên giàu có và một người đang giàu có hóa ra nghèo nàn. Dù là vua chăng nữa cũng không thể nào thay đổi được ý Trời!

    Sự liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa chỉ qua Đức Giêsu Kitô. Ngài đã hứa giúp chúng ta: “Chính Ta là bánh hằng sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói, ai tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Ga 6:35). Ngài đã ban cho chúng ta sự sống Ngài dưới hình thức của bánh từ trời. Dĩ nhiên bánh từ trời này là Bí Tích Thánh Thể, là Mình và Máu Chúa Giêsu chúng ta đón nhận. Chính sự sống này sẽ mang lại cho chúng ta sự can đảm và sức mạnh, niềm tin cậy mến, và ân sủng để trung kiên cho đến hơi thở cuối cùng trên mặt đất và bắt đầu sự sống đời đời trên thiên quốc.

    Về mục lục

    .

    CHIA SẺ

    Lm. Inhaxiô M. Hải Dương

    Hiện nay, Hoa Kỳ, cũng như nhiều nước trên thế giới đã chú ý tới những loại thực phẩm sạch, mà người ta gọi là Organic food. Đây là loại thực phẩm không dùng chất hóa học. Có những loại rau organic, trứng organic, thậm chí cả đường cũng organic. Thế rồi có những tiệm ăn chỉ phục vụ thực phẩm Organic.

    Ngay tại Việt Nam, bên cạnh những thực phẩm chết người, nhập từ Trung Quốc, cũng thấy có những thực phẩm Organic như rau sạch. Nhà vườn quảng cáo loại rau sạch này được cấy ở trong những nhà kiếng, không có bụi bậm, không dùng phân hoá học, ăn  không bị đau bụng. Nếu có đau thì người ta bảo là vì bạn ăn thịt thà, cá mú toàn là những thứ được nuôi bằng cám, trộn chất hoá học, hay bị ô nhiễm môi trường.

    Ngày nay, thiên hạ cố đi tìm cho được những thực phẩm sạch để bảo toàn sức khoẻ.

    Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc người Do Thái đi tìm Chúa, tìm thức ăn đặc biệt qua phép lạ Chúa Giêsu làm từ 5 chiếc bánh và 2 con cá. Sau  bữa tiệc này, dân chúng vẫn còn sôi nổi, đi kiếm tìm người đã ban cho họ của ăn đó. Chúa Kitô nói với họ: “Các ngươi tìm Ta không phải vì thấy các dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê”.Và có lẽ đúng như vậy, vì người ta hy vọng sẽ được ăn những bữa ăn tương tự.

    Thực phẩm là nỗi lo âu của người nghèo vùng Galilê. Đó cũng là mối lo của hằng tỉ người trên thế giới hiện đang sống trong những tình cảnh khó khăn. Có những thống kê, ước tính hằng nhiều triệu người trên thế giới đi ngủ đêm mà bụng bị đói.

    Đức Kitô không chê trách họ vì chuyện ăn uống này. Ngài chỉ muốn nâng họ lên cao hơn, bởi lẽ con người không chỉ có thân xác, mà còn có hồn thiêng. Ngài căn dặn họ hãy “tìm những thực phẩm không hư nát, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi.”

    Khi nói với dân chúng tìm những của ăn không hư nát, Chúa Kitô muốn nói lên rằng đời sống con người không chỉ lẩn quẩn trong thế giới vật chất, như của ăn, của uống, như ngủ nghỉ, vui chơi. Vì nếu chỉ có thế thì con người không khác chi một con vật, chúng cũng có bản năng tìm kiếm những thứ đó. Đời sống con người phải được nâng lên đến với Chúa, Đấng luôn chia sẻ những gì là tốt đẹp cho con người. Tuần trước Ngài làm phép lạ cho bánh hoá nhiều cho dân chúng ăn no nê. Tuần này, Ngài ban cho họ bánh bởi trời là bánh đích thực, không như Man-na từ trời rơi xuống để dân chúng phải đi lượm hằng ngày.

    Đón nhận của ăn từ môi miệng Chúa Kitô mệnh danh là: “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống”, cũng đòi hỏi chúng ta phải chia sẻ những gì chúng ta có cho tha nhân.

    Chia sẻ đó là điều chúng ta luôn được kêu mời thực hành trong đời sống. Cậu bé trong bài Tin Mừng tuần trước cũng đã biết chia sẻ những gì mình có cho Chúa, để Chúa làm nên phép lạ. Sự chia sẻ đầu tiên đó, cuốn theo cả một dây chuyền chia sẻ. Các tông đồ đón nhận sự chia sẻ của em bé, lại mang lại cho Chúa. Rồi sự chia sẻ tiếp tục, khi Chúa Kitô, sau khi đọc lời tạ ơn, lại chia sẻ cho các môn đệ, và các môn đệ lại chia sẻ cho dân chúng. Nhưng làm sao các tông đồ, với 12 vị có thể chia sẻ cho mấy ngàn người, nếu không có sự tiếp tay của dân chúng, người này chuyền tới người khác, người khác chuyền tới người kia. Và kết cục, là nhờ sự chia sẻ, mọi người được ăn no nê.

    Nhưng sự chia sẻ đó chưa hết. Chúa Kitô kêu mời các Tông Đồ thu lại những mảnh bánh vụn còn lại. Một lần nữa, mọi người lại chia sẻ phần dư thừa của mình cho các tông đồ, và kết quả là được 12 thúng bánh vụn còn lại.

    Mỗi ngày Chúa Nhật, tham dự Thánh Lễ, Chúng ta được đón nhận Mình Máu Thánh Chúa vào trong tâm hồn. Chúng ta được đón nhận ơn phúc bình an của Chúa hứa mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Lời linh mục đọc sau kinh Lạy Cha: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban sự bình an của Thầy cho các con” và lời chúc bình an vào lúc kết Lễ, phải là lời phấn khích chúng ta  hãy chia sẻ sự bình an của mình cho tha nhân. Đây chính là lời mời gọi nối dài Thánh Lễ trong cuộc sống.

    Thực tế, cuộc sống thường nhật của chúng ta, cũng như tha nhân có biết bao nhiêu là những khó khăn, thử thách, chúng ta hãy chia sẻ những gì mình có để nâng đỡ tha nhân, như hy sinh thời giờ, sức lực, tài năng, của cải vật chất để giúp đỡ tha nhân. Vì chính Mình Thánh Chúa Kitô cũng đã phải bẻ ra để phân phát cho mọi người tham dự. Sự chia sẻ này sẽ làm cho chúng ta được giầu có hơn, làm cho trái tim chúng ta được mở rộng, và làm cho cuộc sống  chúng ta được giầu có thêm lên.

    Xin Đức Mẹ, sau khi mang thai Chúa Kitô, đã mau mắn quảng đại chia sẻ Chúa Kitô cho tha nhân, cho gia đình Giacaria, cho các mục đồng, cho ba vua, và cho nhân loại khi đứng dưới chân thập giá, giúp chúng ta cũng biết chia sẻ đời sống mình cho tha nhân như vậy.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Chủ đề Phụng vụ Lời Chúa hôm nay là bánh. Dân Do Thái 40 năm lưu lạc trong sa mạc đã được Thiên Chúa nuôi sống bằng bánh Manna. Thiên Chúa giàu lòng thương xót luôn quan tâm tới những nhu cầu của con người: ban bánh, ban thịt cho dân Do Thái (Bài đọc 1). Đức Chúa phán với Môsê: “Này, Ta sẽ làm bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn… vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt”.

    Đức Giêsu đã làm phép lạ nhân bánh ra nhiều cho 5.000 người ăn trong hoang địa khi họ đói bụng. Từ bánh nuôi phần xác, Đức Giêsu hướng dân chúng về một của ăn thiêng, đó là bánh thiêng, bánh hằng sống nuôi hồn, tức là Thánh Thể của Ngài.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đã phân biệt bánh Manna với bánh hằng sống:

    – Manna do Thiên Chúa ban qua trung gian Môsê, không phải là bánh đích thực từ trời ban xuống.

    – Bánh hằng sống là bánh của Thiên Chúa “Từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian”.

    – Bánh hằng sống ban sự sống cho thế gian, sự sống đời đời không như Manna ăn rồi lại đói, rồi cũng phải chết. Còn bánh của Thiên Chúa ban sự sống đời đời cho mọi người “Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”.

    – Chính Chúa Giêsu là bánh hằng sống. Ngài tự hiến trong Thánh Thể mới có khả năng thỏa mãn mọi khát vọng của những người tìm đến và tin vào Ngài. Đức Giêsu đã khẳng định:

    “Chính Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói. Ai tin vào Tôi , chẳng khát bao giờ” (Ga 6, 35).

    Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu và các tông đồ trở về Capharnaum. Dân chúng đi tìm Chúa Giêsu không phải vì tin vào Đức Giêsu là Đấng Thiên sai, nhưng là vì được ăn bánh no nê và trong thâm tâm họ muốn Đức Giêsu làm vua để nhờ Người mà được hạnh phúc ở đời này. Họ không tin Người, nhưng vì bánh Người ban cho: vụ lợi! Chính Chúa Giêsu đã nói: “Các ngươi tìm Ta không phải vì các ngươi thấy dấu lạ, nhưng vì các ngươi được ăn bánh no nê”. Người khuyên họ nên tìm kiếm của ăn tồn tại không hư nát mà Người sắn sàng ban cho họ và cho những ai tin vào Người. Đó là bánh ban sự sống, là chính Đức Giêsu.

    Điều kiện để được bánh của Thiên Chúa là tin vào Đức Giêsu Kitô, là đến với Ngài. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể làm thỏa mãn khát vọng cho những ai tin vào Người: “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”. Từ bánh nuôi thể xác, Đức Giêsu hướng chúng ta đến của ăn nuôi sống linh hồn là chính Đức Giêsu. Điều này sẽ được thực hiên khi Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể trong ngày thứ năm Tuần Thánh.

    Qua bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cho chúng ta nhận ra giá trị và ý nghĩa khác nhau về bánh, của ăn phần xác và của ăn phần hồn để chúng ta biết ra công làm việc, vì của ăn phần hồn hơn của ăn phần xác. Điều này đòi hỏi người tín hữu tin vào Chúa, yêu mến Chúa và đến với Ngài.

    Người Do Thái xưa cũng như người thời đại hôm nay, họ mải mê với công việc trần gian, tìm kiếm của ăn vất chất, hưởng thụ mà quên đi những của ăn tinh thần, của ăn đem lại sự sống đời đời. Họ đến với Chúa vì được ăn no nê, vì vụ lợi. Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta “ra công làm việc” để có sự sống đời đời, và làm công việc của Thiên Chúa: “Tin vào Đức Giêsu” nghĩa là đi theo, tin nhận và sống như Người. Cũng vậy, để được sống trường sinh, Thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô: “Phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa… mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thực sự sống công chính và thánh thiện”.

    Trong xã hội hôm nay, nền đạo đức xuống cấp trầm trọng, đầy tội ác, trụy lạc, hưởng thụ, tục hóa. Con người hôm nay không quan tâm tới đời sống đạo đức, chỉ lo kiếm được nhiều tiền bằng bất cứ phương tiện nào. Người Kitô hữu phải nêu gương đời sống lương thiện, công chính, loại bỏ những gì là bất chính, tội lỗi hầu phục hồi nền đạo đức cho thế hệ hôm nay. Đó là sứ mạng của chúng ta.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Anh chị em thân mến

    A. Bài Tin mừng hôm nay gồm hai phần:

    a/ Phần I nói về việc dân đi tìm Chúa.

    Vì đã được ăn bánh no nê nên dân chúng tiếp tục đi tìm Chúa Giêsu. Ngày hôm sau, họ tìm gặp Ngài ở phía bên kia biển hồ. Ngài nói với họ: “Các ngươi tìm Ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn no nê.” Rồi Ngài dạy họ tìm một thứ lương thực khác quan trọng hơn: “Các ngươi hãy ra công làm việc, không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời”.

    b/ Phần thứ 2

    Chúa Giêsu bắt đầu giải thích cho dân về thứ “của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời” là gì.

    –  Đó là thứ của ăn đó vượt trội hơn Manna ngày xưa.

    – Nghe thế dân chúng tưởng đó cũng là một thứ thức ăn vật chất – nhưng ăn vào thì sẽ không đói nữa, nên họ xin “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh đó luôn mãi”.

    B…Cuộc sống

    1. Vì còn mang thân xác, nên con người còn bám víu quá nhiều vào những thứ thỏa mãn các nhu cầu của thân xác. Thế nhưng chúng ta đã biết ngoài sự sống thân xác này ra còn một sự sống cao hơn, đó là sự sống thần linh. Lời Chúa Giêsu nhắc nhở dân chúng ngày xưa cũng là lời nhắc nhở cho chúng ta hôm nay: hàng ngày chúng ta thường tìm gì? Tìm những thứ thỏa mãn nhu cầu thân xác hay thỏa mãn nhu cầu tâm linh.

    Nếu chúng ta chỉ đi tìm những thứ hay hư nát thì hãy coi chừng. Một lúc nào đó chúng ta sẽ trắng tay!

    Đây là kinh nghiệm của một người đã đạt được những thành công vang lừng trong cuộc sống. Tên anh là J. Demsey. Anh là một võ sĩ quyền anh có đẳng cấp thế giới. Chiều hôm đó anh vừa mới đoạt được chức vô địch. Nhưng rồi đêm đến anh không sao nhắm mắt được. Mãi đến 2 giờ sáng anh mới thiu thiu ngủ được một chút. Nhưng ngủ chưa được một tiếng đồng hồ, anh bỗng giật mình thức giấc vì nằm mơ thấy mình mất chức vô địch. Rồi vì không ngủ được, anh đi ra phố mua tờ báo vừa mới xuất bản để đọc lại những lời tường thuật trận đấu, hầu trấn an là mình còn giữ chức vô địch. Demsey ghi lại cảm tưởng của mình thế này: “Sau khi đọc bài báo, tôi hiểu rằng sự thành công không có mùi vị thơm ngon như tôi hằng mơ tưởng trước đó. Sau biến cố, tôi vẫn còn cảm thấy trống rỗng” (…)

    1. “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh”

    Vâng có những thứ rất mau hư nát nhưng bên cạnh đó cũng có những thứ trường sinh.

    Thánh Gioan Kim khẩu nói: “Loài người vốn bị đóng đinh vào những việc thuộc về đời sống”. Đây là những người chẳng bao giờ có được những ước vọng cao hơn bức tường thành của thế gian để phóng tầm mắt lên đến chân trời của cõi đời đời. Sự khác biệt giữa một người chỉ biết nhìn gần và một người biết nhìn xa thật lớn lao vô cùng. Một đêm nọ, Nã Phá Luân nói chuyện với một người quen. Bấy giờ trời đã về khuya, ngoài trời tối đen như mực. Hai người đến gần bên khung cửa sổ. Trên trời có những ngôi sao thật xa, trông nhỏ bằng đầu cái kim, đang nhấp nháy sáng. Mắt của Nã phá Luân còn rất tinh, còn mắt bạn ông đã mờ. Ông chỉ lên trời và hỏi:

    – Anh có thấy các ngôi sao đó không?

    Người bạn đáp:

    – Tôi không thấy.

    Nã Phá Luân nói:

    – Tôi thì thấy, đó là chỗ khác nhau giữa tôi và anh..

    Người bị buộc chặt vào thế gian thì không thể thấy được những gì ở xa. Họ mới chỉ thấy được những cái thật gần mà cái gần nhất của họ như lời thánh Phaolô nói: Đó là cái bụng. Như vậy họ mới sống có phân nửa của cuộc đời. Chỉ có những ai có tầm mắt nhìn xa, nhìn thấy cả vùng trời xa xăm, thấy được các ngôi sao, họ mới là người thật sự sống.

    Sau năm 60 SC, xã hội Lamã sống trong sự sa hoa chưa từng thấy. Bấy giờ người Lamã đãi tiệc bằng óc chim công và lưỡi họa mi. Người ta uống thuốc cho nôn mửa giữa hai bữa ăn, để lần sau ăn cho ngon miệng hơn. Những bữa ăn đáng giá hàng ngàn Anh kim là chuyện thường tình. Pliny kể lại, thời ấy một mệnh phụ may một chiếc áo cưới dát vàng và đính nhiều châu ngọc trị giá tương đương bốn mươi ngàn Anh kim. Họ tưởng ăn như thế, mặc như thế là cuộc sống sẽ hoàn toàn được thỏa mãn. Không! Ngàn lần không. Họ vẫn còn đói, vẫn còn khát. Sự đói khát không gì thoả mãn được. Họ tiếp tục tìm đến bất cứ điều gì khiến cuộc đời có một thêm những rung động mới, hương vị mới, nhưng chẳng có gì có thể làm cho họ được no thỏa.

    Chúa Giêsu thấy quần chúng Do Thái chỉ chú ý đến sự thoả mãn về phần thể xác, nên Chúa đã cho họ ăn một bữa dư dật chẳng phải trả tiền, và họ còn muốn được ăn nữa. Tầm nhìn của những người Do thái mới chỉ dừng lại ở đó.

    1. Thế nhưng như mọi người đều thấy. Đâu phải chỉ có cơ thể mới biết đói, mà con tim và tinh thần cũng biết. Cơm bánh không thể nào thỏa mãn cơn đói của con tim và tinh thần. Nuôi sống một người không giống như nuôi một con vật, chỉ cần cho nó ăn no. Chúng ta là người, chúng ta không chỉ có một thứ đói mà có hàng trăm thứ đói khác. Ngoài cơm bánh ra chúng ta còn đói rất nhiều thứ :

    – Đói được người ta tôn trọng: không ai muốn bị coi là đồ bỏ; ai cũng muốn có người khác trọng mình, ít ra là một người.

    – Đói được người ta chấp nhận: nếu không ai chấp nhận chúng ta thì chúng ta không sao thể hiện chính mình được.

    – Đói những tương giao: không được tương giao với người khác thì chúng ta sẽ trở nên cô độc buồn sầu.

    – Đói nguồn động viên: không có gì động viên chúng ta thì chúng ta giống như những cánh buồm không gió.

    – Đói niềm tin: ai cũng cần đức tin hay ít ra là một số điều mình tin tưởng. Nếu không thì dòng đời chúng ta bị trôi dạt như những con thuyền không định hướng.

    – Đói hy vọng: bao lâu con người còn hy vọng thì còn có thể làm được nhiều việc; một khi đã mất hy vọng thì mất tất cả.

    – Đói tình yêu: nếu cơn đói này được thỏa mãn thì hầu hết những cơn đói khác sẽ biến mất.

    Và còn một thứ đói nữa, sâu xa nhất, hàm chứa trong mọi cơn đói khác, kể cả đói tình yêu. Đó là đói sự sống đời đời, hay nói cách khác, đói Thiên Chúa. Và thứ đói này chỉ có Chúa mới có thể làm cho chúng ta được no thỏa.

    Ngày 20 tháng 10 năm 1995, hơn 200 triệu người trên 100 quốc gia đã theo dõi cuộc phỏng vấn đặc biệt công nương Diana – vợ hoàng tử Charles Anh quốc do hãng thông tấn BBC thực hiện.

    Diana nhìn nhận đã ngoại tình với viên sĩ quan kỵ binh James Hewitt. Lý do dẫn đến việc bất trung ấy là vì hoàng tử Charles đã dan díu với nàng Camilla Packer Bowles. Diana nói : “Tôi biết điều đó nhưng không làm gì được. Có tới ba người trong hôn nhân của chúng tôi. Và điều đó khiến nó trở nên chật chội”.

    Quả thật, nếu người thứ ba trong cuộc hôn nhân của Diana và Charles không phải là Camilla mà chính là Đức Kitô, thì gia đình ấy sẽ no thỏa hạnh phúc biết bao rồi. Cha Mark Link viết: “Trái tim chúng ta có một khoảng trống mà chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy”.

    Lạy Chúa, chỉ một mình Chúa mới đem lại cho chúng con sự no thỏa tâm hồn và niềm vui đích thực.

    Xin cho chúng con luôn biết khao khát Chúa là Bánh ban Sự Sống, là nguồn hạnh phúc đích thực của đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc, “Như Thầy đã yêu”)

    Về mục lục

    .

    ĐẶC SẢN

    Trầm Thiên Thu

    Mỗi vùng, mỗi miền, mỗi nơi, mỗi dân tộc,… đều có loại đặc sản độc đáo mang sắc thái đặc trưng, không lẫn với các sản phẩm khác, ngay cả đối với mỗi người cũng có những món khoái khẩu khác nhau. Nói về sự ăn kiêng một cách khôi hài mà thú vị, Julia Child nhận định: “Chỉ nên ăn kiêng khi bạn chờ thịt chín”. Rõ ràng là việc ăn uống quan trọng lắm – không chỉ đối với sức khỏe mà còn đối với khẩu vị. Có câu nói rất riêng của một nhân vật trong một bộ phim Bắc Việt thế này: “Không thể hoãn lại cái sự sung sướng được”. Đúng vậy!

    Các món ăn được gọi chung là ẩm thực – tức là chuyện ăn uống (ẩm: uống, thực: ăn). Thật kỳ lạ, ăn uống cũng có “đạo lý ăn uống”, có nét văn hóa đặc thù – gọi là văn hóa ẩm thực, và còn có cả một triết lý trong văn hóa ẩm thực. Ăn uống không chỉ là đưa thức ăn và thức uống vào miệng, là việc cần thiết để duy trì sự sống, mà còn thể hiện tính cách một con người. Tiền nhân dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”. Xem ra việc “ăn uống” quá đơn giản mà lại khá nhiêu khê, và cũng vì phức tạp nên mới phải học – học để biết cách hành xử hợp lý nhất.

    Cách ăn uống tiết lộ tính cách con người. Có thể nhờ ăn uống mà người ta thêm hiểu nhau, nhưng cũng có thể do ăn uống mà sinh hiềm khích nhau – thậm chí có thể hành hung nhau và có thể xảy ra án mạng. Vì sự sinh tồn, nghĩa là vì miếng cơm và manh áo, mà người ta có thể sát hại lẫn nhau. Chung quy thì chiến tranh xảy ra cũng chỉ vì tranh giành quyền lợi, tranh giành sự sống lẫn nhau: Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Cái tôi to lớn nên sinh đủ thứ chuyện xấu xa.

    Ẩm thực là vật chất nhưng cũng ảnh hưởng tinh thần và tâm linh. Chuyện ăn uống cũng có mức độ ảnh hưởng tương tự. Kinh Thánh nói về việc ăn uống: “Khi con ngồi ăn với kẻ có chức quyền, hãy để ý kỹ người đối diện. Nếu con vốn tham ăn, hãy đặt dao kề cổ. Đừng thèm thuồng cao lương mỹ vị của hắn, vì đó là thứ đồ ăn phỉnh gạt” (Cn 23:2-3). Còn ca dao Việt Nam cảnh báo: Miếng ăn là miếng tồi tàn – Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu. Vinh hay nhục có khi chỉ từ miếng ăn bé nhỏ mà thôi!

    BÁNH NUÔI XÁC – MANNA

    Chúng ta là hậu sinh, không hề biết loại đặc sản mà dân Israel đã từng ăn ròng rã suốt 40 năm hành trình qua hoang địa để tiến về Đất Hứa. Loại đặc sản đó như thế nào? Kinh Thánh mô tả: “Manna như hạt ngò và trông nó như nhựa hương” (Ds 11:7).

    Trong thời gian miệt mài di chuyển qua sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Israel kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Họ vất vả khổ sở, có lẽ vì sức người có hạn, thế nên họ đã trách móc các ông: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên NỒI THỊT và ĂN BÁNH thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải CHẾT ĐÓI cả lũ ở đây!” (Xh 16:3). Họ trách móc người khác và than thân trách phận chỉ vì thiếu thực phẩm, họ không thỏa mãn cái miệng, và cái bụng cứ reo hoài nên họ khó chịu. Chúa biết lắm, thế nên Ngài nói với ông Môsê: “Này, Ta sẽ làm cho BÁNH TỪ TRỜI mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không” (Xh 16:4). Có ăn là khỏe ngay, con người là thế!

    Sau đó, Thiên Chúa còn nói thêm với ông: “Ta đã nghe tiếng con cái Israel kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Xh 16:12). Thích gì được nấy, thịt bánh đều có. Thật vậy, cứ chiều đến, chim cút bay đến rợp cả trại, còn buổi sáng thì có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan thì trên mặt hoang địa có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi dân Israel thấy thế, họ liền hỏi nhau: “Man hu?”, nghĩa là: “Cái gì đây?” (Xh 16:15a). Ông Môsê bảo họ: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh chị em làm của ăn!” (Xh 16:15b). [Xin “mở ngoặc”: Loại bánh-từ-trời đó là Manna (tiếng Hê-brơ: מָ‏ן‎), còn được viết là Mana, hoặc al-Mann wa al-Salwa (tiếng Ả-rập: المَنّ و السلوى‎‎), tiếng Hy-lạp và Latin là Man hoặc Manna].

    Ôi, thật lạ lùng thay việc Thiên Chúa làm để thỏa mãn lòng dân, và còn biết bao điều kỳ diệu khác mà hằng ngày Ngài vẫn làm vì chúng ta, cho chúng ta. Vì thế, chúng ta phải biết tự hứa: “Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình, chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau: Sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của Chúa, với những kỳ công Chúa đã làm” (Tv 78:3-4). Thánh Vịnh gia nhắc lại: “Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn; Người khiến manna tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ. Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực” (Tv 78:23-25). Thiên Chúa đại lượng và hào phóng, Ngài luôn chiều lòng chúng ta một cách hợp lý, cho dù đôi khi chúng ta rất ngỗ nghịch, bướng bỉnh, cao ngạo hoặc phản bội Ngài, nhưng Ngài vẫn im lặng và kiên trì chờ chúng ta “giác ngộ” mà chân nhận Ngài là Đức Chúa duy nhất – tức là xác định KHÔNG HỀ CÓ BẤT CỨ THẦN LINH NÀO KHÁC.

    Chắc chắn như vậy. Nếu thế thì hãy nghe Thánh Phaolô khuyên nhủ: “ĐỪNG ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ” (Ep 4:17). Một khi đã thay đổi lối sống, chúng ta “phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, phải để Thần Khí đổi mới tâm trí, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24). Tuy nhiên, không thể “giả vờ” hoặc “ra vẻ” mà phải thay đổi từ đáy lòng, phải thay đổi theo ý Đức Kitô, phải “chết” cho con-người-cũ và “chết” cho tội-lỗi-của-chính-mình, tức là phải chịu đau đớn vì phải “banh da, xẻ thịt” của mình để sống theo lý tưởng Kitô. Khó lắm, đâu phải chuyện đùa. Nhưng thành tâm cố gắng và nhờ ơn Chúa, mọi thứ đều có thể, và sẽ ổn thôi.

    Xác và hồn không thể tách rời. Xác khỏe thì hồn mạnh. Một tâm hồn lành mạnh ở trong một thân xác khỏe mạnh. Tinh thần yếu đuối sẽ khiến thể lý uể oải, lâu dần hóa bệnh tật. Đó là điều tất yếu, vì chúng liên quan lẫn nhau.

    BÁNH DƯỠNG HỒN – THÁNH THỂ

    Thân xác cần có lương thực để sống, linh hồn cũng vậy. Khi dân chúng thấy Đức Giêsu và các môn đệ đều không có ở đó, họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Ngài. Khi thấy Ngài ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6:25). Tính thẳng thắn và thật thà, Ngài nói toạc móng heo luôn: “Thật, Tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm Tôi KHÔNG phải vì các ông đã thấy DẤU LẠ, nhưng vì các ông đã được ĂN BÁNH NO NÊ” (Ga 6:26). Nghe rất “sốc”, rất đau, vì họ bị “chạm” vào chính “ý đồ” của họ. Trong chúng ta cũng có những người như vậy – nghĩa là vì chính sự ích kỷ của mình.

    Vâng, sự thật vẫn thường phũ phàng như thế. Và có lẽ chúng ta cũng chẳng hơn gì dân Israel xưa. Liệu chúng ta đi hành hương có thực sự vì yêu mến Chúa, vì sùng kính Đức Mẹ hoặc các thánh, hay vì cái gì “khó nói” lắm? Người ta vẫn thường “rỉ tai” nhau: “Chỗ đó thiêng lắm, xin được nhiều ơn lắm”. Và rồi chúng ta cũng cố gắng đến để “được ơn” là chính. Nếu không được ơn thì sao? Liệu đức tin còn được vững vàng? Những người có “của ăn, của để” mới đủ “khả năng” đi hành hương các Thánh địa hoặc Linh địa, còn những người nghèo thì sao?

    Nếu như vậy thì người nghèo chịu thiệt thòi quá. Họ được ít ơn hơn thì họ cũng khó vào Nước Trời hơn, nếu xét theo “nghĩa thực tế” đó! Đã từng có đoàn hành hương về Thánh địa Giêrusalem với chi phí tới 9 tỷ VNĐ, còn đến các linh địa trong nước cũng tốn kém lắm. Người nghèo có mơ cũng chẳng được, bởi vì họ lo kế sinh nhai hằng ngày còn “méo mặt” thì làm sao có dư tiền mà đi hành hương để “xin ơn” chứ? Nếu chỉ những ai đi hành hương mới được ơn thì Chúa không công bằng. Nhưng Ngài đâu có như vậy, chỉ tại chúng ta bắt Ngài như vậy thôi!

    Liệu chúng ta đi làm việc thiện có vì yêu mến Chúa qua những anh chị em kém may mắn hơn mình? Liệu chúng ta thực sự làm việc tông đồ, tham gia các hội đoàn hoặc các nhóm đạo đức có thực sự hy sinh và chỉ vì muốn vinh danh Chúa hay không? Chắc chắn những câu hỏi đó “khó” trả lời lắm, và có lẽ chúng ta cũng đang có những tư tưởng phù phiếm! Có điều chắc chắn là Thiên Chúa không câu nệ hình thức như chúng ta tưởng hoặc cứ “suy bụng ta ra bụng… Chúa”. Thế thì “căng” thật!

    Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Quý vị hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có LƯƠNG THỰC THƯỜNG TỒN đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6:27). Có lẽ họ không hiểu hết ý Ngài nên liền hỏi: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6:28). Ngài trả lời ngay: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là TIN vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6:29). Không biết vì không hiểu hay cố ý không chịu hiểu mà họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời” (Ga 6:30-31). Đức Giêsu đáp: “Thật, Tôi bảo thật quý vị, không phải ông Môsê đã cho quý vị ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha Tôi cho quý vị ăn BÁNH BỞI TRỜI, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, BÁNH ĐEM LẠI SỰ SỐNG cho thế gian” (Ga 6:32-33). Hai loại bánh đều từ trời, nhưng manna chỉ làm cho sống phần xác, Thánh Thể mới làm cho sống phần hồn.

    Ôi chao, ý Ngài hoàn toàn khác hẳn, thảo nào…! Nếu chúng ta được trực tiếp đối thoại với Ngài lúc đó thì chắc chắn chúng ta cũng chỉ “như vịt nghe sấm” chứ hiểu gì nổi.

    Thế nhưng đối với dân Israel lại khác, sau khi nghe Ngài nói đến “bánh đem lại sự sống” thì họ nói ngay: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy” (Ga 6:34). Đức Giêsu bảo họ: “Chính Tôi là BÁNH TRƯỜNG SINH. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35). Lại nghe thấy “sốc” quá! Bánh gì kỳ lạ vậy chứ? Thế nên chúng ta đừng vội chê trách “người xưa”. Quả thật, nếu là chúng ta thì có lẽ Chúa Giêsu “không có đường về”. Cũng may là chúng ta “sinh sau, đẻ muộn”, được học hỏi và được lãnh nhận đức tin nơi Chúa Giêsu từ ngàn xưa truyền lại. Quả thật, so với dân Israel xưa thì chúng ta may mắn và diễm phúc lắm!

    Thật vậy, ngày xưa dân Israel chỉ được ăn bánh-từ-trời là manna, loại đặc sản chỉ có thể nuôi sống phần xác; còn chúng ta ngày nay cũng được ăn bánh-từ-trời, nhưng đó là Bánh Trường Sinh, là chính Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, loại đặc sản nuôi sống phần hồn, là của ăn đàng trên suốt hành trình về Thiên Quốc vĩnh hằng.

    Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin giúp chúng con xứng đáng lãnh nhận Bánh Trường Sinh là Thánh Thể Đức Giêsu Kitô, để được sự sống đời đời theo giao ước. Xin ban lương thực hồn xác cho những người nghèo khổ, thiếu thốn, những người chịu thủy hoạn và hỏa hoạn khắp nơi trên thế giới. Xin giữ gìn họ trung kiên trong đức tin và giúp họ cố gắng chịu đựng để đáng phần phúc mai sau. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 17 Thường Niên Năm  B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 17 Thường Niên Năm B

    Lời Chúa: 2V 4,42-44;  Ep 4,1-6;  Ga 6,1-15

    ——-

    Mục lục

    1. Hãy cho họ ăn!   (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Tình và lý  (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Phép lạ của tình liên đới (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

    4. Với năm chiếc bánh và hai con cá  (Lm. Thái Nguyên)

    5. Thế giới hôm nay đang rất cần tình liên đới (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    6. Người thấy họ đói  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện Thủ Đức)

    7. Chút lòng đơn sơ  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    8. Điều không thể thành điều có thể  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    9. Phép lạ hóa bánh tiên báo Bí tích Thánh Thể (Lm. Trần Bình Trọng)

    10. Tràn đầy yêu thương (Lm. Vũ Đình Tường)

    11. Thực tế  (Trầm Thiên Thu)

    12. Thiên Chúa có thích thử thách con người không? (Giuse Trần Văn Ngữ, SJ)

    13. Đức Giêsu là Đấng Hằng Sống từ trời (Lm. Nguyễn Ngọc Dũng, SDB)

    14. Cơn đói và sự khỏa lấp  (Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương)

    15. Vững như kiềng ba chân (Lm. Dương Trung Tín)

     

    Mục lục  (2018)

    1. Hãy dọn cho họ ăn  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Đào tạo trái tim  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Năm chiếc bánh và hai con cá  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    4. Đừng bỏ lỡ cơ hội  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    5. Dâng Chúa tất cả  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    6. Một chút thôi  (Anna Cỏ May,  Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    7. Thế giới đang rất cần tình yêu chia sẻ  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    8. Hóa bánh  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    9. Năm chiếc bánh  (Lm. Nguyễn Thái)

    10. Các con hãy cho họ ăn  (Lm. Đinh Lập Liễm)

    11. Không làm một mình (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    12. Anh em hãy cho họ ăn  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

    13. Được ăn no nê  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    14. Suy niệm Chúa Nhật 17 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

    15. Suy niệm Chúa Nhật 17 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    16. Đệ nhất khoái  (Trầm Thiên Thu)

    17. Chia sẻ tấm bánh tình người  (Lm. Đan Vinh)

    18. Niềm vui  (Lm. Peter Tran)

    19. Con mơ ước  (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

    20. Cuộc đời có Đức Giêsu  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    21. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật 17 TN_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    22. Không là Con Người, thì là Con Cóc  (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    23. Thương thì cho bánh cho Lời  (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

    24. Tính toán!  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    25. Xây dựng phúc lợi cộng đồng  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    26. Thánh Thể nguồn sống (Lm. Laurensô Phan Ngọc Bích)

    27. Nhu cầu thiết yếu  (JM. Lam Thy, ĐVD)

    28. Thiên Chúa nuôi dưỡng dân Người  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    29. Chúa Nhật 17 Thường niên_B.  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    30. Chúa Nhật 17 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

    31. Tình yêu hiệp thông  (Lm. Giuse Nguyễn)

     

    HÃY CHO HỌ ĂN!

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Nội dung của Bài đọc I trích sách Các Vua và Bài Tin Mừng Thánh Gioan của Phụng vụ Chúa nhật này cùng chung một đề tài, đó là “Bánh”. Cả hai trình thuật cùng có chung một cấu trúc văn chương. Trước hết là lệnh truyền: “Hãy cho họ ăn!”; tiếp theo là sự băn khoăn về số bánh thì quá ít mà số người có nhu cầu thì quá đông; và sau cùng là điều kỳ diệu đã xảy ra: đó là phép lạ nhân bánh ra nhiều. Sách Các Vua nói đến người làm phép lạ là ngôn sứ Elisê; Tin Mừng kể lại, người làm cho bánh hoá ra nhiều là Chúa Giêsu. Cả hai trình thuật đều nhấn mạnh đến quyền năng của Thiên Chúa. Tuy vậy, nếu trong Cựu ước, quyền năng của Thiên Chúa thể hiện qua lời cầu nguyện của một vị ngôn sứ, thì trong Tân ước, chính Thiên Chúa hiện diện nơi trần thế và thực hiện những điều huyền diệu. “Hãy cho họ ăn!”. Đó là lệnh truyền của Chúa Giêsu cho các môn đệ. Kitô hữu là môn đệ của Chúa Giêsu, vậy nên lệnh truyền ấy vẫn đang mang tính thời sự trong cuộc sống của chúng ta.

    Thiên Chúa tạo dựng mọi sự mọi loài. Ngài ban cho trái đất có đủ tiềm năng để nuôi sống nhân loại. Nếu trên thế giới, còn có những người nghèo đói, là vì do sự phân phối của cải vật chất không đồng đều. Tại một số quốc gia phát triển, người dân quá lãng phí vật chất, trong khi ở những quốc gia nghèo, nhiều người thiếu ăn. Nguyên nhân nghèo đói cũng do một số quốc gia sử dụng quá nhiều tiền bạc đầu tư cho chiến tranh và vũ khí nguyên tử để phô trương sức mạnh và mở rộng ảnh hưởng trên chính trường. Vì vậy, để giải quyết gốc rễ của nạn nghèo đói, con người phải biết chia sẻ và có trách nhiệm với nhau và phải tôn trọng tài nguyên trong vũ trụ.

    Cũng như ông Philiphê, chúng ta băn khoăn không biết phải làm thế nào để cung cấp bánh cho số đông những người theo Chúa. Bởi lẽ khả năng con người thì giới hạn, mà nhu cầu xung quanh ta thì quá nhiều. Lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Cứ bảo người ta ngồi xuống đi”. Năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá là số lượng quá ít so với nhu cầu của đám đông. Tuy vậy, khởi đi từ một chút nhỏ nhoi này, điều kỳ diệu đã xảy ra: năm ngàn người ăn no và vẫn còn dư mười hai thúng. Khi lòng quảng đại và sự vâng lời của con người kết hợp với quyền năng của Thiên Chúa, thì phép lạ sẽ xảy đến. Như thế, trong cuộc sống hiện tại, nếu chúng ta biết chia sẻ cho anh chị em cơ nhỡ bần hàn, Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu, làm cho cuộc sống này đẹp hơn và của cải vật chât sẽ tăng thêm. Một câu ngạn ngữ châu Phi nói đại ý như sau: lòng bác ái như ngọn lửa, càng chia sẻ, lửa không mất đi, nhưng càng nhân rộng. Quả vậy, khi chia sẻ, ta không mất đi, trái lại tình nghĩa và cả vật chất cũng sẽ được nhân lên và toả sáng. Khi cho đi vật chất, ta nhận lại tinh thần, đó là niềm vui và sự an bình.

    Khởi đi từ hai mươi chiếc bánh lúa mạch, ngôn sứ Elisê đã có thể phân phát cho hàng trăm người đang đói, mà vẫn còn dư.

    Khởi đi từ năm cái bánh và hai con cá nhỏ, Chúa Giêsu đã thết đãi số đông tới năm ngàn người mà còn dư mười hai thúng.

    Các tác giả Phúc Âm đều kể lại phép lạ Chúa nhân bánh ra nhiều để nuôi dân chúng. Ngay từ những thế kỷ đầu, cộng đoàn Kitô hữu đã nhận ra hình ảnh tiên báo của Bí tích Thánh Thể. Quả vậy, nếu ngày xưa Chúa Giêsu đã làm cho bánh hoá ra nhiều để nuôi dân chúng là những người trung thành bền bỉ theo Người, thì hôm nay, qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục nuôi dưỡng các Kitô hữu trong đời sống thiêng liêng. Đây là nguồn sức mạnh giúp chúng ta vững bước trên đường đời. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiến cho chúng ta chính bản thân Người. Thánh Thể là Mình và Máu Chúa Kitô. Đây là mầu nhiệm của tình thương Thiên Chúa đối với nhân loại.

    Thánh Thể kết nối mọi người Kitô hữu. Vì được nuôi dưỡng cùng một Bánh, người Kitô hữu cũng phải trở nên một trong tình thương và bác ái chia sẻ. Thánh Phaolô đã khẳng định: “Chỉ có một Chúa, một Đức tin, một Phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha của mọi người. Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người”. Sự kết nối kỳ diệu ấy được thực hiện nhờ Bí tích Thánh Thể. Như thế, chia rẽ phân biệt và ganh tỵ là đi ngược lại với ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Thể. Chính Chúa Giêsu hôm nay đang liên kết chúng ta nên một. Người vẫn đang truyền lệnh cho chúng ta: “Hãy cho họ ăn!”. Khi quảng đại chia sẻ và bác ái là chúng ta thực hiện lệnh truyền của Người.

    Những ngày này, cả nước hướng về Sài Gòn và các tỉnh thành phía Nam, để cảm thông, cầu nguyện và chia sẻ tinh thần cũng như vật chất. Không thể kể xiết những tấm lòng nhân nghĩa, bằng muôn hình thức khác nhau, đã được thể hiện để chứng minh tình liên đới với đồng bào trong vùng dịch. Qua những tấm lòng tuyệt vời ấy, chắc chắn Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu cho chúng ta.

    “Lạy Chúa, xin hãy mở lòng con để biết cảm thông với anh chị em bất hạnh.
    Xin hãy mở mắt con để biết nhìn nỗi khổ của tha nhân
    Xin hãy mở tay con để biết sẻ chia không tính toán.
    Và như thế, con đang cùng Chúa làm nên những phép lạ diệu kỳ. Amen

    Về mục lục

    TÌNH VÀ LÝ

    Lm. Jos DĐH.

    Tình là tình nhiều khi không mà có, tài hèn, giầu nghèo, chết cũng như nhau. Cuộc đời có quá nhiều phức tạp, lập trường vững chắc của ta có thể lung lay ; thông thái, ngốc nghếch, vô duyên, tài hoa, rồi cũng thế, bạn có tốt mấy, vẫn có kẻ ghét, đó là điều không ai tránh nổi ! Tìm no thỏa cho bản thân gia đình, lý sự hơn người để công bằng được hiện hữu, có hay không người tài được sử dụng, kẻ hết tình, hết mình vì yêu thương, sẽ sống mãi trong thế giới này ?  Đâu phải tự nhiên, tiền nhân chúng ta nói lên được kinh nghiệm: chim khôn hót tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. Ứng xử có tình có lý, làm việc có khoa học, sống đúng, sống đẹp, chuẩn mực đó, hầu hết mọi người đều cho rằng nhờ khôn ngoan: biết nói, biết sống hiền hòa, biết xả thân, do đó xác suất thành công bao giờ cũng cao hơn.

    Đám đông dân Do-thái năm xưa đau khổ, túng thiếu, bệnh tật, họ nghe, họ thán phục khả năng hùng biện, tài năng chữa bệnh, trừ quỷ, tất nhiên có cả thành phần tìm theo Đức Giêsu vì tò mò, chỉ muốn được xem phép lạ. Mỗi chúng ta hôm nay, đang tìm gặp Đức Giêsu trong cầu nguyện, trong các cử hành phụng vụ, hy vọng không phải do muốn thấy phép lạ, đúng hơn là tình yêu, là niềm tin. Dù có toan tính hơn thiệt, dù được tự do chọn lựa tìm gặp Chúa vì tình hay vì lý, Đức Giêsu vẫn hé mở cho ta biết thế nào là yêu là thương: “Philiphê, Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn” ? Cư xử với anh chị em có lý có tình, luôn phản ánh 3 điều quan trọng: thứ nhất là sống tử tế, thứ hai là hành động tử tế, thứ ba là đang thực thi điều tử tế.

    Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình, một ngàn nỗi ưu tư lo lắng không bằng một giây tỉnh táo, ba năm sống với người đần, không bằng một phút sống gần người khôn. “Philiphê thưa: hai trăm bạc bánh cũng không đủ cho mỗi người một chút”. Từ trái tim, tình yêu thương luôn phát sinh điều kỳ diệu: năm chiếc bánh và hai con cá, lại đủ cho hơn năm ngàn người được ăn no. Thiên hạ nói: nhất lý nhì lỳ, trong đám đông, một số hạnh phúc vì mắt được thấy tai được nghe, số khác có thể nghĩ, ai sao ta vậy, “cái tình” nơi Đức Giêsu đã vượt lên tất cả: “cứ bảo người ta ngồi xuống”. Đức Giêsu không hỏi phải có bao nhiêu tiền mới đủ cho đám đông được ăn no, Đức Giêsu không dò hỏi trong số đông nơi hoang địa lúc này, có bao nhiêu người tin Con Thiên Chúa đang hiện diện. Phép lạ xảy ra là do tình yêu thương, ơn cứu độ được ban phát cho muôn dân: không phân biệt đạo gốc đạo theo, tội phúc, dân đen hay kẻ giầu.

    Kinh nghiệm của các đấng bậc cho ta biết: có hai sai lầm trong cuộc đời: một là sống cho người khác coi, hai là xem người khác mà sống. Thực ra, chỉ cần bản thân cảm thấy bình an hạnh phúc là đủ, đừng mải mê nhìn người khác suy diễn, kẻo đi sai con đường dưới chân mình. Được no thỏa về vật chất, được ấm áp tình người, hoặc dồi dào hạnh phúc, tất cả chúng ta sẽ có câu trả lời khi đến gặp Đức Giêsu, Đấng là Thầy, là Thiên Chúa giầu lòng xót thương. Tình là gì, tình là chi mà từ ngàn năm trước đến ngàn năm sau nhân loại vẫn khổ đau vì tình ? Tình là gì, lý có nghĩa gì không, tại sao được ăn no, được chữa lành bệnh, biết nói: “thật ông này là Đấng tiên tri phải đến trong thế gian”. Nhưng đa số lời đáp trả mang hình thức, môi miệng ; đúng là đá có thể mòn, huống chi lòng người.

    Tình và lý, sẽ mãi mãi là gợi ý cho hậu thế phải suy gẫm: đói lòng thèm thịt thèm xôi, hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đàng. Bao lâu chưa no đủ về đời sống tinh thần, còn nghèo đói về tình yêu thương, hẳn người ta sẽ tiếp tục phải tìm kiếm, đầu tư, hầu có mãi thứ tình yêu đặc biệt của Đức Giêsu. Vì chưng, tài giỏi, thành đạt, dễ gì nhớ đến truyền thống tôn sư trọng đạo: một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa ? Giầu có địa vị, đâu phải ai cũng còn biết chú tâm sống lời răn dạy của tiền nhân: công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Đám đông dân chúng hôm xưa và nhân loại hôm nay, sẽ còn khắc khoải nhiều, bao lâu người ta chưa tìm đến với Đức Giêsu, chưa đủ khiêm tốn để học hiểu thế nào là tình, là lý mà Con Thiên Chúa mời gọi lắng nghe, thực hiện.

    Đám đông dân chúng theo Thầy-trò Đức Giêsu đã no lòng thỏa dạ, chỉ lý giải được bằng “cái tình, cái lý”, tất cả phát xuất từ sứ mạng Con Thiên Chúa đã và đang thực hiện: “yêu đến cùng”. Phép lạ tình yêu thương sẽ còn tiếp tục được Chúa Giêsu thực hiện qua các đại gia, qua việc dấn thân phục vụ của mỗi người trong tình liên đới với Đấng cứu độ. Con người sinh ra để được yêu thương, vật chất được tạo ra để sử dụng, Xin đừng ai lý sự, đừng ai nghĩ mãi về quá khứ nếu nó mang tới khổ đau, nước mắt. Đừng ai phác họa chương trình yêu thương to lớn của mình ở phía trước, có thể sẽ tự gây lo sợ cho mình: nói trước, bước không tới. Hãy sống chữ tình chữ hiếu ở hiện tại, hãy sống lý lẽ đơn giản như trẻ thơ: tin tưởng, cây trông, biết sẵn sàng thực thi điều Chúa muốn. Amen.

    Về mục lục

    PHÉP LẠ CỦA TÌNH LIÊN ĐỚI

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Miền Nam đang rơi vào tình cảnh giãn cách, và có nơi bị cách ly vì cúm Vũ Hán. Điều đáng buồn là những chợ nhỏ bị cấm tụ tập nên người dân dồn vào các siêu thị dẫn đến chen lấn, ùn tắt và giá các mặt hàng cũng cao hơn bình thường.

    Nhiều người hoang mang về nguồn thực phẩm ở đâu cho người nghèo và ngay cả người giầu cũng ngại ra chỗ đông người như siêu thị mua hàng đầy rủi ro! Chính trong cái rủi lại có cái may. Chính những nơi bị phong tỏa lại là nơi thấy rõ tình người, tình liên đới và sẻ chia. Tôi hỏi thăm một số người ở Gia Kiệm là nơi bị phong tỏa hoàn toàn từ ngày 28/06 tới nay về nguồn lương thực, và ai đã giúp cho người dân đủ lương thực để ăn trong lúc này? Mọi người đều bảo chẳng có ai ngoài tình làng nghĩa xóm. Người trong xóm, người trong xứ tự giúp nhau chứ chưa nhận được một sự tài trợ nào từ nơi khác. Những chuyến xe hàng của anh em thiện nguyện chạy xuyên thời gian 24/24 để mang lương thực tới từng xóm ngõ. Những bàn đồ ăn bày ra trên các con hẻm với những dòng chữ : “ai thiếu cứ lấy, ai dư hãy mang đến” .. ..

    Tôi có hỏi một cụ già neo đơn vẫn thường xuyên nhận lương thực với giá 0 đồng về cảm xúc của cụ như thế nào? Cụ nói: tôi cầm lương thực mà nước mắt cứ rưng rưng. Tôi khóc không phải nhận được quà mà bởi vì cảm nhận được tình cảm giữa con người với con người những lúc khó khăn như thế này. Người Gia Kiệm dân Bắc di cư khi mới vào lập nghiệp đã sống đùm bọc nay lại có cơ hội thể hiện tình thân, thân thiện và nghĩa tình’.

    Đây là ân huệ hay là một phép lạ mà Thiên Chúa đang dành cho quê hương của tôi. Có lẽ đây là phép lạ của chia sẻ. Phép lạ của sự liên đới. Phép lạ của tình người “tối lửa tắt đèn có nhau”. Khi con người biết chia sẻ là lúc phép lạ sẽ diễn ra. Càng nhiều người chia sẻ thì phép lạ càng lớn lao.

    Năm xưa khi thấy dân chúng đang đối diện với cái đói, thì Chúa Giê-su đã hỏi các môn đệ: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”. Dường như các môn đệ đều cảm thấy “lực bất tòng tâm”. Philipphê đã nhanh trí thoái thác trách nhiệm khi ông nói: “Thưa Thầy, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.”. Môn đệ Anrê cũng ủng hộ lập trường của bạn ông: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !”

    Khi người ta không cảm thấy liên đới, người ta sẽ tìm trăm ngàn lý do để né tránh, để an phận thủ thường, để bình an lương tâm. Các môn đệ muốn nại vào khó khăn để biện minh cho sự thờ ơ của mình. Nhưng Chúa đã tận dụng chính khó khăn đó để dạy các ông: chỉ cần cảm thấy có tình liên đới thì sẽ cùng chung tay để vượt qua kếp nạn.

    Thực vậy, sau khi đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá từ lòng quảng đại của một em bé. Chúa Giêsu đã có thể nhân rộng ra thành hàng trăm, hàng ngàn tấm bánh. Phép lạ đã diễn ra khi 5 cái bánh và 2 con cái được trao ban. Và rồi các tông đồ cứ thế trao ban mãi, trao ban hoài mà vẫn không hết.

    Có lẽ nhân loại hôm nay không chết đói cho bằng chết vì thiếu tình thương. Những người đang chờ chết cũng là những người đang chờ từng nghĩa cử yêu thương, san sẻ của đồng loại. Con người cần cơm bánh để sống. Nhưng con người lại rất cần tình thương để tồn tại.

    Lời Chúa hôm nay dường như đang chất vấn bạn và tôi về những thiếu sót của chúng ta trước sự khốn cùng của tha nhân. Chúng ta hãy hành động nhân danh Chúa để bánh và cá tiếp tục được nhân rộng đến cho mọi người, để tình yêu đem lại hạnh phúc cho con người hôm nay.

    Cám ơn Chúa về tình làng nghĩa xóm đầy tình bác ái ky-tô giáo mà người giáo dân Gia Kiệm đang thể hiện. Chính tình liên đới đã làm cho phép lạ được diễn ra để ai cũng có rau xanh để ăn, ai cũng có đủ lương thực để vượt qua khó khăn của ngày hôm nay.

    Xin Chúa giúp chúng ta luôn giầu lòng quảng đại để có thể trao ban niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân trong đời sống bác ái yêu thương. Amen

    Về mục lục

    VỚI NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Chúa Giêsu đã từng phán: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4). Nhưng qua việc hóa bánh ra nhiều cho dân chúng ăn, Ngài cũng muốn công bố rằng: Người ta sống không nguyên bởi Lời Chúa, mà còn sống bởi bánh nữa. Điều này không ngược với điều trên nhưng bổ sung cho nhau, và rất đúng cho hoàn cảnh thực tế trước mắt. Con người không chỉ là tinh thần cũng không chỉ là thể chất, mà là cả hai. Chúa Giêsu quan tâm tới con người toàn diện, không duy tâm cũng không duy vật, mà “duy” nơi Thiên Chúa để con người được sống và sống dồi dào.

    Sứ mạng của Chúa Giêsu chỉ nhằm cứu vớt nhân loại tội lỗi, nhưng điều đó có nghĩa gì khi con người phải đói khát, phải sống trong cùng khổ mà không được cứu giúp. Thật ra, trường hợp của dân chúng ở đây chẳng đến nỗi nào, cho họ ra về cũng chẳng sao, nhưng Chúa Giêsu lại nhạy cảm đối với niềm vui và nỗi khổ của con người. Tình thương sâu xa đòi Ngài phải hành động ở mức độ cao nhất. Thế nhưng để cho năm ngàn người một bữa ăn nơi hoang địa thì các môn đệ đành bó tay: “Chúng ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”. Cũng may có em bé dâng tặng năm chiếc bánh và hai con cá, “nhưng với bằng ấy người thì thấm vào đâu!”. Nhưng khi con người bất lực, thì Thiên Chúa lại ra tay. Từ sự dâng trao nhỏ bé, Chúa Giêsu đã cho dân chúng một bữa ăn no nê.

    Chúng ta thấy hết mọi hoạt động của Chúa Giêsu tập trung vào những con người cụ thể, chứ không nơi đền thờ hay hội đường. Cứ mở sách Phúc Âm ra, lúc nào ta cũng thấy Ngài ở ngoài đường, đang tiếp xúc, đang gặp gỡ, đang cứu giúp, đang phục vụ… Lo cho người ta về thể chất, chính là cách biểu lộ tình thương cụ thể nhất. Tiêu chuẩn ngày phán xét cũng chỉ là tình thương cụ thể: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cứu giúp kẻ đau yếu, bệnh tật, tù đày.

    Chúa Giêsu thương người nghèo đến nỗi Ngài nói với người thanh niên: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời…” (Mc 10, 21). Đúng là ta còn phải lo cho những người thân của mình, còn những bổn phận và trách nhiệm khác nữa, nhưng nhớ rằng đó không phải là những khuôn đúc cứng ngắc, phiến diện, làm tê liệt đời sống tinh thần. Sống phẩm chất cao nhất của đời Kitô hữu là sống dưới tác động của Thánh Thần, Đấng luôn khai mở sự sống và tình yêu trong ta trước những nghịch cảnh của tha nhân.

    Không thể nhắm mắt làm ngơ trước bao người đang lâm vào cảnh túng thiếu và đói rách xung quanh ta. Chúng ta không thể chỉ lo êm ấm cho gia đình mình hay chỉ lo trang hoàng nhà cửa mình, trong khi những người bên cạnh không có cơm ăn, thuốc uống, chết dần mòn trong cô đơn, bệnh tật và thất vọng. Làm như vậy ta cũng không hơn gì người phú hộ đối xử với người nghèo Ladarô.

    Cũng vậy, chúng ta không thể yên tâm ngồi đó xây cất những công trình nguy nga tráng lệ cho Giáo hội, đang khi đa số dân chúng còn đang sống trong cảnh cơ cầu. Giáo hội không tự xưng mình là Giáo hội của người nghèo đó sao? Mà Giáo hội là ai đây nếu không phải là chúng ta? Dĩ nhiên, Giáo hội không làm công việc của xã hội, không giải quyết vấn đề dân sinh, vì thuộc quyền hạn của những người lãnh đạo đất nước, nhưng “không thể tách rời việc thờ phượng Thiên Chúa với việc chăm sóc người yếu kém, nghèo hèn. (FABC s. 41§2)
    Chúa đâu chỉ ở trong nhà thờ, nhưng còn nơi những người nghèo khó. Ta dễ quên điều đó, cũng như thầy Tư tế và Lêvi chỉ lo tới Đền thờ dâng lễ mà bất chấp sự sống của người anh em mình trên đường Giêricô. Của lễ trong Đền thờ có nghĩa lý gì khi lòng nhân đã mất đi.

    Thiên Chúa “muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ.” (Hs 6,6; Mt 9,13). Chúng ta cần có lòng yêu mến con người như Chúa Giêsu, cần đặc biệt quan tâm đến những anh chị em nghèo nàn bé mọn, nhưng trước hết, cần một lòng quảng đại như em bé để chia sẻ những gì mình có.

    Cầu nguyện

    Lạy Chúa Giêsu!
    Chúa là niềm vui ơn cứu độ,
    đem lại hạnh phúc cho con người,
    cho cuộc đời được đổi mới đẹp tươi.
    Chúa không chỉ hy sinh sống nghèo khó,
    mà còn sống cho những kẻ khó nghèo,
    không chỉ lo rao giảng Nước Trời,
    mà còn cứu chữa cho những ai bệnh tật,
    không chỉ lo canh tân đời sống tinh thần,
    mà còn đem ơn lành cho cả xác thân.
    Chúa đã động lòng trắc ẩn,
    thấy đám dân theo Ngài đang bụng đói,
    với năm chiếc bánh và hai con cá nhỏ,
    Chúa đã biến ra cho họ bữa ăn no.
    Phép lạ đã xảy ra nhờ lòng quảng đại,
    với sự góp phần đem lại của con người,
    mặc dù Chúa quyền phép làm nên tất cả,
    nhưng kết quả tùy vào sự cộng tác của con.
    Hôm nay còn biết bao người nghèo đói,
    có chủ trương phải xóa đói giảm nghèo,
    nhưng rồi chẳng mấy ai dám sống theo,
    kẻ giàu có càng lo đầu cơ tích trữ,
    mặc ai sống chết cứ cất giữ cho mình,
    nạn tham nhũng càng gây thêm đói khát,
    cũng vì ích kỷ và bạc ác của con người.
    Xin cho chúng con cứ mở lòng quảng đại,
    để Chúa lại làm nên việc lạ lùng,
    nhất là cho những ai còn nghèo túng,
    đón nhận được ân sủng Chúa ban. Amen.

    Về mục lục

    THẾ GIỚI HÔM NAY ĐANG RẤT CẦN TÌNH LIÊN ĐỚI

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Sứ điệp lời Chúa

    Thời Êlia, đứng trước đám đông dân chúng đói khát, Êlisê người của Thiên Chúa nói: “Xin dọn cho dân chúng ăn” (2V 4, 42). Đầy tớ của người trả lời: “Tôi dọn bấy nhiêu cho một trăm người ăn sao ?” (2V 4, 43). Đến thời Chúa Giêsu, các môn đệ Chúa khi được yêu cầu lo cho đám dân chúng ăn, họ thưa: “Bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người“.

    Thời nào cũng có những người sống an phận thủ thường, thoái thác trách nhiệm, tránh khó đến mình, sống ích kỷ nhất là thiếu tình liên đới. Nhìn cảnh dân chúng đói, Êlisê ra lệnh: “Cứ dọn cho dân chúng ăn ” (2V 4, 44). Còn Chúa Giêsu thấy đám đông đói trước mặt mình liền bảo các môn đệ mình: “Cứ bảo người ta ngồi xuống” (Ga 6, 10). Khi đã ổn định chỗ người, cả dân thời Êlisê và dân chúng thời Chúa Giêsu “ăn mà vẫn còn dư” (2V 4, 44; Ga 6, 12).

    Thế giới hôm nay giầu nhưng lại rất nghèo

    Sống trong một thế giới khoa học phát triển tột bậc, con người đã đạt được những bước tiến vĩ đại với những công trình vượt quá sức tưởng tượng như thám hiểm sao Hỏa, tiếp cận sao Diêm Vương, rất tự hào dư dật của cải và lương thực. Reuters dẫn số liệu từ báo cáo của Oxfam ngày 20 tháng 01 năm 2020 cho hay, 2.153 người giàu nhất thế giới nắm giữ tài sản nhiều hơn so với tổng tài sản của 4,6 tỷ người nghèo toàn cầu cộng lại. Chưa bao giờ con người có nhiều của cải như thế và cũng chưa bao giờ có nhiều người nghèo đói như hiện nay. Tại sao có sự chênh lệch giầu nghèo trên thế giới như thế?

    Trước tác động của dịch Covid-19, khoảng cách giàu – nghèo tại nhiều nơi trên thế giới ngày càng nới rộng, với sự bất bình đẳng về thu nhập, giáo dục, y tế… Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo, đại dịch để lại hậu quả cho thế hệ sau nếu các biện pháp không được đưa ra kịp thời nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nước giàu và nước nghèo. Đúng là một thế giới giầu vật chất nhưng lại rất nghèo tình yêu và chia sẻ.

    Đối diện với nhu cầu của biết bao người nghèo đói, bệnh tật, thiếu thốn những cái tối thiểu cần thiết để mà sống chung quanh ta và rộng lớn hơn là trên thế giới, chúng ta có thể nói: không thể nào đương đầu với những tình trạng như vậy, và thế là sự co cụm, thiếu tình liên đới, nhất là tuyệt vọng bắt đầu xâm chiếm tâm hồn chúng ta. Nhiều người cho rằng thế giới này quá chật hẹp không đủ chỗ hay lương thực trên thế giới không đủ nuôi mọi người nên giảm dân số. Họ viện cớ, đại dịch ập đến bất ngờ, không kịp xây bệnh viện, thiếu thuốc men, y tế dự phòng, lương thực thực phẩm, họ chọn người để chữa. Nhưng thực tế, nhiều khách sạn cao tầng mọc lên, các nước chế tạo được vaccine chưa chịu chia sẻ công nghệ sản xuất cho các nước, thậm chí vaccine để quá hạn, thực phẩm rau củ quả bỏ đi, bán không ai mua… thiếu tình liên đới.

    Hôm nay Chúa dạy ta mỗi người hãy chia sẻ những gì mình có thì thế giới sẽ dư thừa lương thực. Khi trái tim mở ra thế giới sẽ có đủ chỗ cho mọi người. Hãy nhìn những người chung quanh bằng cái nhìn của tình liên đới, đừng dửng dưng, vô cảm. Hãy nhìn anh em nghèo khổ, đói khát, bệnh tật, bơ vơ, hãy an ủi họ, đừng có thờ ơ. Triệu chứng của sự thờ ơ xuất hiện, gặp người có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn mà không thấy xót xa, thương cảm, không muốn ra tay giúp đỡ dù có điều kiện; đứng trước sự bất công, xấu xa, gian dối mà không thấy phẫn nộ, nhức nhối; thấy những điều tốt đẹp, cao thượng mà không ngưỡng mộ, cảm phục. Dù là thờ ơ, dửng dưng, hay mặc kệ, bất cần đều là vô cảm (x. Sứ Điệp Mùa Chay 2015). Chúa muốn loại bỏ sự vô trách nhiệm, phủi tay đối với đồng loại.

    Sống tình liên đới trong cơn đại dịch

    Sống tình liên đới và thực hành đức ái với tha nhân, tôn trọng và bảo vệ sự sống của mình cũng như của người khác lúc này cần thiết hơn bao giờ hết. Sống trong đại dịch, sự chết, sợ hãi, lắng lo bủa vây khắp nơi. Giữa biên giới tử biệt sinh ly, cần biết bao một bàn tay, một ánh mắt sẻ chia; một lời kinh, một lời giã từ đầm đìa trong nước mắt. Chúng ta được mời gọi sống có trách nhiệm và liên đới hơn với mọi người. Giữ vệ sinh cho mình và cho người khác, đeo khẩu trang, giữ khoảng cách 2 mét khi tiếp xúc với người khác, rửa tay nhiều lần. Nhưng rửa tay là để diệt khuẩn chứ không phải rửa tay để thoái thác trách nhiệm chung như Philatô đã làm, hay kỳ thị các bệnh nhân Covid-19 cũng như thân nhân của họ.

    Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Chúa (x. St 1,26). Chúa là Thiên Chúa tình thương (x. 1Ga 4,8), nên con người tự bản chất là tình thương. Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất nghĩa nếu không nhận lấy mạc khải về tình yêu, nếu không gặp tình yêu, nếu không kinh nghiệm tình yêu và không nhận lấy kinh nghiệm đó làm của mình và dự phần vào đó cách mãnh liệt” (Thông điệp Đấng Cứu Chuộc số 10). Không có tình thương, thế giới không còn là thế giới của con người nữa.

    Ý thức về điều này, chúng ta hãy phấn đấu để trở nên những tông đồ, những sứ giả cổ vũ và kiến tạo nền văn minh liên đới và tình thương. Hãy thương yêu và tương trợ lẫn nhau, vì tình thương là căn tính, là bản chất của con người. Hãy loại bỏ sự đố kỵ, hận thù, chia rẽ và những nguyên nhân làm hại đến tình thương như: bất công, kỳ thị, độc đoán, tham quyền, ích kỷ, kiêu căng, giả dối và các tội ác. Hãy sống đúng với sự thật về căn tính của mình theo hình ảnh của Thiên Chúa là sự thật và tình thương. Hãy đặt vào tay Chúa những gì mình có. Thiên Chúa đủ khả năng để nhân lên từ những cải bé nhỏ của chúng ta.

    Lạy Mẹ của lòng nhân ái, xin trợ giúp chúng con làm việc này. Amen

    Về mục lục

    NGƯỜI THẤY HỌ ĐÓI

    Bông hồng nhỏ

    Chúa Giêsu luôn đi bước trước trong tình yêu. Ánh mắt của Người luôn dõi theo từng người một và hiểu rõ điều mỗi người đang cần, dù họ chưa lên tiếng cầu xin. Hôm nay, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho đám đông dân chúng và họ đã được ăn bánh no nê.

    “Khi ấy, Chúa Giêsu đi sang bên kia biển Galilêa, cũng gọi là Tibêria. Có đám đông dân chúng theo Người, vì họ đã thấy những phép lạ Người làm cho những kẻ bệnh tật. Chúa Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lễ Vượt Qua là đại lễ của người Dothái đã gần tới” (Ga 6, 1- 4). Quả thế, trước một đám đông đi theo mình, Người biết họ đang khát lời hằng sống, đang cần được chữa lành bệnh tật cả thể xác và tinh thần, và Người cũng biết rõ họ đang đói lả.

    Người thấy cơn đói đang giày vò và họ chẳng còn đủ sức để xuống núi, đến các làng mạc xung quanh mà mua lấy thức ăn. Tất cả đều đã chạy theo Người rất vội vàng, chẳng ai kịp mang theo đồ ăn thức uống. Tất cả mọi người đều đang đói. Nhưng trên núi thì tìm đâu ra bánh? Để đến được các làng mạc xung quanh mà mua thức ăn cũng không phải dễ. Người hỏi ông Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?” (Ga 6, 5). Người mời gọi các môn đệ hãy tìm cách để kiếm thức ăn cho mọi người. Chắc chắn các môn đệ cũng đang đói và các ông thừa biết dân chúng cũng đói. Thấy được sự khó khăn khốn khổ của người khác là bước những bước đầu tiên để cưu mang họ trong lòng, sau đó sẽ là những hành động bác ái cụ thể.

     Chúa muốn các ông không chỉ thấy rằng dân chúng đang đói nhưng còn muốn các ông thấy rằng mình có trách nhiệm lo cho dân được ăn uống, họ có trách nhiệm phục vụ mọi người. Các ông tìm cách xoay xở, tìm đáp án cho bài toán cực khó này. Ông Philipphê thưa với Người: “Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút” (Ga 6, 7). Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô thưa với Chúa: “Ở đây có một bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng ngần ấy người thì thấm vào đâu!” (Ga 6,9). Người ta nghe được tiếng thở dài não ruột của ông, các môn đệ đều thất vọng. Các môn đệ đã đưa ra những cách giải quyết nhưng tất cả đều không khả quan. Có lẽ chỉ còn cách là giải tán họ để ai về nhà nấy, tự lo thức ăn cho mình. Trước tiếng thở dài của các môn đệ, Chúa Giêsu nói với giọng rất ân cần: “Cứ bảo người ta ngồi xuống”. Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ mở lòng ra để thấu hiểu những khó khăn của đám đông dân chúng, Người khiến họ gắng sức tìm mọi cách để lo cho dân, Người cũng cho họ thấy được giới hạn của chính mình. Họ tưởng rằng đành phải bó tay trước khó khăn vì họ không có đủ khả năng lo cho dân. Chính lúc con người mở lòng ra với đồng loại, dù họ không thể làm gì hơn để thay đổi tình thế, không có cách nào vượt qua khó khăn thì chính lúc ấy Thiên Chúa bày tỏ quyền năng và tình thương vô biên của Người. Từ năm chiếc bánh và hai con cá ấy, Chúa Giêsu đã cho mọi người được ăn no nê, người ta thu lại những miếng thừa chất đầy mười hai thúng. Người ta tôn vinh Chúa và nói với nhau: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!” Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6, 14-15). Người không để cho vinh dự trần gian níu kéo đôi chân của mình nhưng lòng chỉ hướng về Chúa Cha là Đấng mà Người yêu mến.

    Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã cho con thấy được tình thương Chúa vẫn bao bọc chúng con. Trong hoàn cảnh đại dịch hiện nay, nhân loại chúng con đang rơi vào sự bế tắc và đầy lo lắng. Giữa bầu khí căng thẳng và u ám đó, Chúa vẫn khơi lên lòng trắc ẩn nơi trái tim của mỗi người. Con thấy được những hình ảnh quên mình phục vụ của đội ngũ các y bác sĩ, các y tá, điều dưỡng hay các thiện nguyện viên. Những chuyến hàng từ Tây Nguyên, miền Trung, miền Tây hay từ tận ngoài Bắc được chuyển về vùng tâm dịch để cứu trợ cho cho dân. Con thấy những tấm lòng đang mở ra hướng đến người khác, chia sẻ và nâng đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Những phép lạ mà Chúa vẫn từng ngày thực hiện qua bàn tay của từng người trong chúng con. Nguyện xin tình yêu Chúa luôn thôi thúc trái tim của chúng con biết mở ra với người khác. Amen.

    Về mục lục

    CHÚT LÒNG ĐƠN SƠ

    Thiên San

    Trước mắt các môn đệ và Thầy Giêsu là đoàn người đông đảo đi theo các ngài. Trong số họ, có nhiều người đã từng được chứng kiến nhiều phép lạ Đức Giêsu đã làm như chữa lành người đau ốm, trừ quỷ… Không cần hỏi, chúng ta cũng biết họ đến với Chúa vì điều gì. Đức Giêsu ngước mắt lên và thấy họ. Người thấy và biết mình sắp làm gì. “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6, 5). Câu hỏi được đặt ra trong bối cảnh rất khẩn thiết.

    Đó là câu hỏi Đức Giêsu dành riêng cho Philipphê hay cho tất cả các môn đệ? Có thể, lúc ấy, Philipphê là người đứng cạnh Thầy của mình nên Gioan kể rõ rằng “Người hỏi ông Philipphê”. Thực ra, câu hỏi đó dành cho tất cả các môn đệ đang có mặt lúc ấy. Philipphê trả lời cách rất thực tế: “Thưa có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (Ga 6, 7). Anrê, anh ông Simon cũng thưa với Thầy: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!” (Ga 6, 9). Nếu chúng ta có mặt lúc ấy, có thể chúng ta sẽ cười thầm rằng hai trăm quan tiền chẳng giải quyết được huống gì là năm chiếc bánh và hai con cá. Thiết nghĩ, chúng ta cần lắng nghe, chiêm ngắm và học cách trả lời đơn sơ của Anrê. Có thể Anrê là người rất thích chơi với trẻ nhỏ nên mới biết được có một em bé có năm cái bánh và hai con cá. Tiếp xúc nhiều với trẻ nhỏ, Anrê học được cách hành xử đơn sơ của trẻ nhỏ. Cuối cùng, những điều tưởng chừng quá nhỏ bé như năm chiếc bánh và hai cá lại là điều cần cho phép lạ hóa bánh ra nhiều của Đức Giêsu.

    Hiện nay, đại dịch Covid đã tàn phá một cách khủng khiếp. Sài Gòn, một thành phố phồn hoa, tráng lệ, là “người chị hai” của cả nước nhưng đang bị kiệt quệ vì Covid. Trong thảm trạng đó, cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn. Các nhu cầu về lương thực thực phẩm bị hạn chế. Nếu có tiền, họ cũng không thể mua hay có thể tự xoay sở. Bỗng chốc, họ trở nên bất lực. Những ngày gần đây, người dân cả nước tập trung cứu trợ cho Sài Gòn về các nhu cầu lương thực, thực phẩm. Các chuyến xe chở đầy “bánh và cá” từ khắp nơi đổ về Sài Gòn. Có thể trong số họ, có những người cũng chỉ có được “năm chiếc bánh và hai con cá” nhưng với lòng quảng đại, đơn sơ và tình thương, họ đã góp phần cứu nguy cho Sài Gòn. Như đám đông ngày xưa được Đức Giêsu chăm lo, Sài Gòn hôm nay cũng đang được nhiều “Giêsu hữu” của khắp nơi chăm lo.

    “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6, 5). Đức Giêsu đang hỏi mỗi người chúng ta trong hoàn cảnh hôm nay. Thiết nghĩ, mỗi người chúng ta trong tình liên đới, anh em cùng một Cha trên trời, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Thầy Giêsu những điều nhỏ bé như “năm chiếc bánh và hai con cá” để nhờ Người, chúng ta được no đầy và dìu nhau vượt qua khó khăn Chính Thầy Giêsu, Thiên Chúa tình thương sẽ cùng chúng ta giải quyết mọi khó khăn của hiện tại. Xin cho mỗi chúng ta, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn tin tưởng, phó thác vào tình yêu quan phòng của Ngài.

    Về mục lục

    ĐIỀU KHÔNG THỂ THÀNH ĐIỀU CÓ THỂ

    Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Trong suốt cuộc đời rao giảng, Chúa Giêsu đã thực hiện rất nhiều kỳ diệu khiến những ai chứng kiến không thể nào quên. Trong số đó, phép lạ hóa bánh ra nhiều là biến cố được cộng đoàn tín hữu sơ khai nhớ đến cách đặc biệt nhất. Đây là phép lạ do Chúa Giêsu thực hiện bên kia biển hồ Galiêa khi rất đông dân chúng đến với Người để nghe giảng, họ không có gì ăn, vì họ đang ở trong một nơi hoang vắng. Đây cũng là câu chuyện duy nhất được cả bốn Tin Mừng thuật lại.

    1- Hơn cả một phép lạ

    Bài Tin Mừng hôm nay là trình thuật của thánh Gioan (Ga 6,1-6). Nội dung trình thuật này chứa đựng nhiều ý nghĩa rất phong phú. Theo cách nhìn riêng, thánh Gioan không gọi đây là một “phép lạ” nhưng đúng hơn là một “dấu chỉ hay dấu lạ.” Bởi lẽ, phép lạ thường được hiểu là những gì được xảy ra một cách ngoại thường, vượt ra khỏi định luật tự nhiên, do một bàn tay nào đó tác động. Chẳng hạn, một người leo lên nhà cao tầng, rồi nhảy xuống, đến mức nào đó, anh dừng lại trong không gian. Người ta gọi đó là phép lạ! Nó đi ngược với luật tự nhiên là phải rơi xuống đất. Hay một ai đó bị bệnh ung thư, không thể nào chữa khỏi, nhưng nhờ cầu nguyện, người đó được ơn chữa lành và sống thêm được một thời gian. Đó là phép lạ.

    Nhưng theo cách nhìn của thánh Gioan, những việc kỳ điệu do Chúa Giêsu thực hiện là những “dấu chỉ” của Thiên Chúa. Vì dấu chỉ hướng chúng ta tới khám phá những ý nghĩa và thực tại bên trong mà những sự kiện xảy ra bên ngoài mách bảo. Đó là lý do tại sao thánh Gioan mời gọi chúng ta không có dừng lại ở những sự kiện bên ngoài được kể, nhưng cần khám phá ý nghĩa bên trong, sâu hơn của nó từ viễn tượng đức tin.

    Trong trình thuật này, Chúa Giêsu là trung tâm điểm của câu chuyện. Trước một hoàn cảnh người thì đông, thức ăn không có, chợ thì xa, các môn đệ lo lắng: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn? Không ai chạy đến xin Chúa Giêsu can thiệp. Nhưng chính Người đi bước trước, Người thấy dân chúng đang chịu đói khát, nên Người đề nghị các môn đệ phải chăm sóc họ. Điều rất thú vị ở đây khi biết rằng Chúa Giêsu không chỉ nuôi dưỡng dân chúng bằng Lời Chúa, nhưng Người còn quan tâm đến cả cái đói, cái khát mà họ đang trải qua.

    Trước một đám đông khoảng năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con, các môn đệ thắc mắc: “Trong nơi hoang vắng, làm sao kiếm thức ăn mà nuôi chừng đó người được? Philiphê nói: Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút.” Các môn đệ không tìm ra giải pháp, bởi vì họ không có đủ tiền.

    2- Chúa không làm gì một mình

    Tuy nhiên, Chúa Giêsu không muốn làm gì một mình. Người mời gọi con người cộng tác. Ông Anrê nói: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người.” Một em bé vô danh, không rõ lai lịch đã đóng góp phần mình cho một điều không thể trở thành điều có thể. Sự sẵn sàng của em bé là giải pháp để có thức ăn cho đám đông.

    Đối với Chúa Giêsu như thế là đủ rồi. Người sẽ làm điều còn lại: Người cầm lấy bánh và cá của em bé, rồi tạ ơn Thiên Chúa và bắt đầu phân phát cho họ ăn, ai cũng được no nên. Sự đóng góp của em bé trở thành điều kiện để phép lạ được xảy ra.

    Quả là một cảnh tượng thật ý nghĩa: Đám đông ngồi trên thảm cỏ xanh, chia sẻ một bữa ăn không rượu cũng không thịt, nhưng với những thức ăn đơn giản của dân sống gần biển hồ Galiêa: đó là bánh từ lúa mạch và cá muối; một bữa ăn đầy ấp tình huynh đệ mà Chúa Giêsu dọn ra cho mọi người, nhờ sự đóng góp quảng đại của em bé.

    Đồng thời qua dấu chỉ bữa ăn này, thánh Gioan ám chỉ về bí tích Thánh Thể mà người Kitô hữu cử hành trong ngày của Chúa. Nơi đó, chính Chúa Giêsu đi bước trước chuẩn bị cho dân Chúa một bữa tiệc để nuôi dưỡng chúng ta nhờ Thần Khí, Bánh Hằng Sống đến từ Thiên Chúa. Thánh Thể chính là của ăn nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Thánh Thể làm nên Giáo Hội và quy tụ mọi người vào trong Giáo Hội. Nhờ đó, chúng ta được hiệp nhất với nhau trong Nhiệm Thể Chúa Kitô như thánh Phaolô nói trong bài đọc II: “Chỉ có một thân thể và một tinh thần, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Đấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người, và ở trong mọi người” (Ep 4,5-6).

    3- Cần sự đóng góp của chúng ta

    Sự quảng đại của em bé là lý tưởng mời gọi mọi tín hữu phải noi gương bắt chước. Bởi thế, ngay từ lúc ban đầu Giáo Hội, các tín hữu coi những gì mình có là của chung và mỗi người là anh chị em. Đây là mô hình lý tưởng của một xã hội mới do Chúa Giêsu thiết lập để xây dựng một nhân loại mới mà trong đó con người đối xử với nhau với tình tương thân tương ái, chia sẻ và đoàn kết.

    Nhiều lúc, sự đóng góp của mỗi người là nhỏ bé, nhưng với ơn Chúa, lại trở nên điều kỳ diệu trong cuộc sống. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này qua nhưng sự kiện xảy ra xung quanh chúng ta: chẳng hạn từ những đợt bão lụt xảy ra ở Miền Trung Việt Nam, có nhiều người không còn nhà cửa, của cải. Nhưng nhờ tinh thần tương thân tương ái của mọi người, nhiều ngôi nhà được xây dựng lại, nhiều người có đủ cơm ăn áo mặc… đó là phép lạ của sự đoàn kết!

    Liên quan đến điều kỳ diệu này, cha Anthony de Mello kể câu chuyện về nồi cháo kỳ diệu: “Một ngày nọ, có một vị thiền sư tới một ngôi làng quê nghèo khổ, ai cũng không có gì ăn. Ông liền lấy một cái nồi, rồi đưa ra giữa ngã ba đường, múc nước, nhặt một hòn đá bỏ vào nồi và bắt đầu nấu. Ông vừa nấu vừa thiền. Thỉnh thoảng ông cúi xuống nếm thử và nói: “Giá mà có thêm ít gạo nữa thì ngon biết mấy.” Thế là có người dân làng mang đến cho ông một bịch gạo, ông đổ vào và tiếp tục nấu. Một lúc, ông lại nói: “Giá mà có thêm ít thịt nữa thì ngon biết mấy.” Thế là có một cụ bà đưa đến mấy con gà. Ông làm thịt và cho vào nồi, tiếp tục nấu. Sau đó, ông lại nếm và nói: “Giá mà có thêm ít rau, ít củ hành, củ tỏi, và ít gia vị nữa… thì ngon biết mấy.” Những người xung quang mang đến cho ông tất cả những thứ đó, ông nấu. Sau khi cháo chín, ông mời mọi người trong làng đến ăn. Ai cũng được ăn cháo gà no nê. Đó là phép lạ của sự chia sẻ.

    Nếu trong thế giới này còn sự đói khát, đó không phải do thiếu thực phẩm, nhưng là do thiếu tình tương thân tương ái. Của ăn luôn có đủ cho mỗi người; nhưng sự quảng đại chia sẻ thì đang thiếu. Nhiều người hôm nay phải chết vì đói, vì khát chỉ vì sự vô cảm và ích kỷ của chúng ta. Nên thông điệp mà Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta góp phần nhỏ bé của mình để những gì xem ra như không thể trở thành có thể. Amen!

    Về mục lục

    PHÉP LẠ HÓA BÁNH TIÊN BÁO BÍ TÍCH THÁNH THỂ

    Lm Trần Bình Trọng

    Ðám đông dân chúng theo Ðức Giêsu vì họ thấy những phép lạ Người làm, chữa người đau yếu bệnh tật. Họ say mê nghe lời Người giảng dạy và xem việc Người làm đến độ quên rằng trời đã xế chiều và lại quên mang thức ăn.

    Biết họ không có gì ăn, mà cho họ về nhà thì đường xá lại xa xôi cách trở. Vì thế Ðức Giêsu quyết định làm phép lạ hoá năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá ra nhiều để nuôi dưỡng họ. Ðọc Thánh kinh, ta thấy mỗi lần Chúa làm phép lạ đều do người ta xin. Lần này Ðức Giêsu làm phép lạ mà không có người xin, vì Người quan tâm đến nhu cầu thể xác của họ. Không thấy ai trong số năm ngàn người theo Chúa kêu đói và xin ăn. Các tông đồ cũng không đề nghị giải pháp nào cho họ ăn. Câu hỏi Ðức Giêsu hỏi Philiphê sao mua bánh ở đâu cho họ ăn có thể chỉ là câu hỏi giả vờ để thử các tông đồ mà thôi.

    Bài trích sách các Vua quyển hai kể lại việc ngôn sứ Ê-li-sa dùng quyền năng Chúa ban để làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho dân chúng ăn. Câu chuyện Thánh kinh được kể lại như sau. Trong thời nạn đói, có người đem đến cho ngôn sứ Ê-li-sa hai mươi ổ bánh. Mặc dù không đủ cho một trăm người ăn, vị ngôn sứ vẫn phân phát cho dân chúng. Kết quả là khi họ đã ăn no nê, mà vẫn còn dư lại (2V 4:42-44).

    Phúc âm hôm nay ghi lại Chúa Giêsu cầm bánh, tạ ơn trước khi phân phát cho dân chúng.  Bằng việc tạ ơn trước khi phân phát, Chúa muốn dạy ta bài học về việc cảm tạ khi nhận lãnh. Biết cảm tạ bao hàm ý nghĩa tuỳ thuộc vào Chúa. Bài học thứ hai Chúa muốn dạy ta là không nên phung phí đồ ăn thức uống. Sau khi nuôi dân chúng bằng phép lạ hoá bánh ra nhiều, Chúa bảo các tông đồ thu đồ ăn còn dư lại kẻo phí phạm và họ thu được mười hai thúng đầy bánh còn dư (Ga 6:13). Bài học thứ ba là Chúa muốn sửa soạn tâm trí các tông đồ để họ đón nhận Bí tích Thánh thể mà Chúa sẽ thiết lập sau này. Chúa làm phép lạ hoá bánh nuôi dân là do lòng thương xót của Người vì dân chúng không có gì ăn. Tuy nhiên mối quan tâm của Chúa còn đi xa hơn nữa, sâu xa hơn việc đáp ứng nhu cầu đói khát của ăn vật chất của dân chúng.

    Thánh Gioan nhắc đến lễ Vượt qua gần đến sau phép lạ hoá bánh. Bữa ăn vào ngày lễ Vượt Qua là hình bóng của bữa Tiệc ly. Ngay trước lễ Vượt Qua mà Ðức Giêsu làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, thì khi Người lập Bí tích Thánh Thể vào dịp lễ Vượt Qua, phải khiến các tông đồ nhớ lại và liên tưởng đến phép lạ hoá bánh. Phép lạ hoá bánh theo Phúc âm thánh Gioan đã được Phúc âm nhất lãm thuật lại (Mt 14:13:21; Mc 6:33-44; Lc 9:10-17).

    Thường thì thánh sử Gioan không thuật lại phép lạ đã được các thánh sử ghi chép rồi. Còn khi thuật lại cùng phép lạ, thánh sử Gioan thường đưa vào câu chuyện một ý nghĩa sâu xa đặc biệt. Và trong chu kì phụng vụ năm B mùa thường niên, lẽ thường thì Giáo hội dùng Phúc âm thánh Mác-cô. Thánh sử Mác-cô cũng ghi lại phép lạ hoá bánh. Tuy nhiên phép lạ hoá bánh theo Phúc âm thánh Gioan lại được dùng hôm nay vì được coi là câu chuyện nhập đề cho Bí tích Thánh thể vì hầu hết nội dung của phần còn lại trong chương sáu đều nói về bánh hằng sống là Bí tích Thánh thể cho bốn Chúa nhật kế tiếp. Nhắc đến bữa ăn Vượt Qua, thánh Gioan muốn sửa soạn đưa độc giả đến một thực tại mà Ðức Giêsu sẽ thực hiện sau này trong bữa Tiệc Li là việc thiết lập Bí tích Thánh thể. Và đó là ý tứ mà thánh sử Gioan muốn gửi gắm trong câu chuyện Phúc âm về phép lạ hoá bánh.

    Những lời Chúa dùng để làm phép lạ hoá bánh: Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi ăn (Ga 6:11) cũng giống những lời Chúa dùng khi truyền phép Thánh thể trong bữa Tiệc ly: Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ (Lc 1:19). Thánh sử Gioan ghi lại việc Chúa nuôi dưỡng năm ngàn người ăn như là dấu chỉ về quyền năng mà Người sẽ dùng để nuôi dưỡng loài người bằng của ăn thiêng liêng là Mình Thánh Người. Như vậy phép lạ hoá bánh là dấu chỉ thích hợp để sửa soạn dân chúng nghe những lời Người giảng dạy về Bí tích Thánh thể mà Người sẽ thiết lập sau này: Bánh mà Ta sẽ ban, chính là Mình Ta cho thế gian được sống (Ga 6:51). Cũng như Chúa dùng quyền năng hoá bánh ra nhiều để nuôi năm ngàn người, Chúa cũng dùng quyền năng biến bánh rượu thành Mình Máu thánh Người, để làm của ăn thiêng liêng cho loài người.

    Vậy thì trong tâm tình tạ ơn, ta cùng dâng lời cảm tạ Thiên Chúa, dùng lời đáp ca trong thánh lễ để nhắc nhở ta về đường lối quan phòng của Chúa: Chúa mở rộng bàn tay ra và thi ân cho chúng tôi được no đủ (Tv 144:16). Người tín hữu thời giáo hội sơ khai khi dâng thánh lễ, họ mang trong tâm khảm tâm tình tạ ơn. Tạ ơn theo tiếng Hy lạp có nghĩa là thánh lễ. Như vậy theo nguyên tự Hy lạp, thì dâng lễ có nghĩa là dâng lời tạ ơn.

    Lời nguyện xin cho người đói khát được no thoả:

    Lậy Thiên Chúa toàn năng, thiện hảo!

    Con xin tạ ơn Chúa cho của ăn thức uống hằng ngày.

    Xin Chúa cho mưa xuống trên những miền đất khô cằn

    để người dân có thể trồng cấy đồ ăn thức uống.

    Và xin cho những người đói khát được no thoả.

    Xin tha thứ những lần con coi là ngẫu nhiên,

    những của Chúa ban, lại còn tỏ ra vô ơn bội bạc.

    Và xin cho con cảm nghiệm được sự đói khát

    về của ăn thiêng liêng:

    lời Chúa và Mình thánh Chúa. Amen.

    Về mục lục

    TRÀN ĐẦY YÊU THƯƠNG

    Lm Vũđình Tường

    Môn đệ Đức Kitô trở về sau hành trình truyền giáo, các ông rất vui, đồng thời cũng rất mệt và đói. Cảm nhận đau khổ của đói khát, các ông thông cảm với đám đông khi họ suốt ngày nghe Đức Kitô giảng. Các ông tự hỏi nhau làm thế nào kiếm thực phẩm cho mấy ngàn người ăn trước khi trời tối. Quan sát đám đông, các môn đệ thấy chú nhỏ có dăm cái bánh lúa mạch và hai con cá, bữa ăn vừa đủ cho riêng chú. Sau khi tính toán hơn thiệt, không biết làm cách nào hơn là xin Đức Kitô cho giải tán đám đông để họ vào làng mạc ăn tối. Nghe thế, Đức Kitô nói với các ông. Chính anh em sẽ cho họ ăn. Lòng xót thương đám đông giờ trở thành gánh nặng. Suy nghĩ hết mọi cách, không biết xoay sở ra sao. Đành chịu tìm đến Thầy. Ai ngờ, Thầy lại bảo đó là trách nhiệm của các anh. Có lẽ Đức Kitô nhắc các ông, trước đây các anh đã ăn ở nhà người ta, giờ phải tìm cách đáp lại chứ. Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại, còn lạ gì câu này nữa (Tục ngữ, ca dao dân tộc).

    Chắc chắn các tông đồ không thể hoàn thành điều Đức Kitô truyền bảo. Thứ nhất các ông không đủ tài chánh mua thực phẩm, tiền chung của cả nhóm cũng không là bao. Thứ hai, ngay trường hợp có tiền thì nơi hoang vắng, làng nhỏ ven biển cũng không đủ thực phẩm để mua. Thế là câu: ‘có tiền mua tiên cũng được’ cho biết tiền đôi khi cũng vô dụng, nhất là vấn đề liên quan đến sự sống trường sinh, tiền coi như giấy nộm, không hơn, không kém. Ông Anrê mạnh dạn lên tiếng cùng Đức Kitô. Thưa Thầy, có chú nhỏ kia có năm bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bằng đó chỉ như ‘muối bỏ biển’ thấm vào đâu.

    Bánh lúa mạch mang í nghĩa quan trọng trong phép lạ bánh ít hoá nhiều này. Một số học giả kinh Thánh giải thích bánh làm bằng lúa mạch là thực phẩm cùng cực lắm người ta mới dùng ăn chóng đói. Loại thực phẩm này thường dùng nuôi gia súc hơn là để cho người. Vì thế chú nhỏ kia thuộc vào tần lớp cùng đinh, nghèo mạt rệp. Thực phẩm gia đình dùng hàng ngày cho biết tình trạng kinh tế gia đình. Gia đình đó được liệt vào giai cấp nào trong xã hội: Có của ăn, của để; đủ ăn hay tay làm hàm nhai.

    Bánh lúa mạch trong phép lạ này hàm chứa nhiều bài học quí giá, đáng lưu tâm. Cần ghi nhớ, học hỏi vì những bài học này cần thiết, hữu dụng cho cuộc sống tâm linh.
    Thứ nhất, chú nhỏ thuộc gia đình nghèo. Không phải người giầu có mà thuộc giai cấp nghèo hèn; cũng không phải người trí thức mà thuộc giới thất học. Ở phép lạ này muốn nêu cao tính khiêm nhường, tấm lòng chân thành của người tự nguyện đến nghe Đức Kitô giảng dậy.

    Thứ hai, dân nghèo hàng ngày dùng thực phẩm rẻ tiền nôi thân, miễn sao có của ăn sống là tốt. Của ăn nuôi thân xác rẻ tiền, tâm linh lại nhận được thần dược nuôi tâm linh, nuôi linh hồn. Linh hồn được nuôi bằng chính lời Đức Kitô rao giảng.

    Thứ ba, bánh lúa mạch không phải thực phẩm hàng ngày của giới thượng lưu, kẻ có của ăn dư thừa, mà đến từ giai cấp thấp, hạ lưu. Tấm bánh này lại đến từ tay một chú nhỏ. Gia đình ăn bữa sáng thiếu bữa chiều, chú nhỏ lại cho đi ngay cả miếng ăn nuôi thân trong ngày.

    Thứ tư, mọi sự chúng ta có đều do Chúa ban, vì thế khi cần dùng đến Chúa có toàn quyền, tự do lấy lại những gì Ngài đã trao ban. Phép lạ dậy chúng ta í thức điều đó. Hãy vui lòng dâng Chúa khi Ngài cần đến. Lấy đi tấm bánh nuôi thân khác chi lấy đi sự sống. Phép lạ dậy chúng ta nhận biết những gì chúng ta có không phải mình hoàn toàn làm chủ, kể cả cuộc sống thân xác. Chúng ta chỉ là người quản lí, người có trách nhiệm quản lí thay cho Thiên Chúa.

    Thứ năm, mấy tấm bánh và cá chỉ đủ cho một người, trong tay Chúa chúng biến thành của ăn nuôi muôn người. Bài học này cho biết Chúa quyền phép khôn lường, cao hơn ước tính, chuẩn đoán của mọi người. Chúa là Đấng duy nhất thoả mãn nhu cầu cần thiết của con người. Đám đông ăn no, số thực phẩm dư thừa thu lại được mười hai thúng.

    Phép lạ ít bánh hoá nhiều có nhiều điểm giống, tương tự khi Đức Kitô lập Phép Thánh Thể trong bữa Tiệc Li trước cuộc khổ nạn. Giống nhau trong việc bẻ bánh và phát bánh cho mọi người. Giống nhau trong việc Đức Kitô cầm bánh và dâng lời tạ ơn Chúa Cha, trước khi Ngài phân phát cho các môn đệ để các ngài phân phát cho dân chúng. Giống nhau ở điểm mọi người đều được coi trọng, ngang hàng, ngồi chung, bình đẳng trong bữa ăn Đức Kitô trao ban. Giống nhau trong việc không phí phạm bánh dư thừa, nhưng được thu góp cất giữ cẩn trọng. Giống nhau trong việc đám đông ăn bán thoả thuê nhưng không biết rõ bánh từ đâu tới. Trí khôn con người cũng không đủ khả năng hiểu bí tích, mầu nhiệm Mình và Máu cực thánh Đức Kitô. Bánh và rượu thường, sau khi truyền phép biến thành Mình và Máu Thánh Đức Kitô, làm sao trí khôn đủ sức hiểu. Giống nhau ở điểm môn đệ Đức Kitô làm công việc phân phát bánh, linh mục khi cử hành Thánh Thể cũng chỉ làm nhiệm vụ phục vụ, tự nguyện trở thành khí cụ trong tay Thiên Chúa. Giống nhau ở điểm môn đệ không làm phép lạ mà chính Đức Kitô làm phép lạ; linh mục cũng không làm phép lạ mà chính Thánh Thần Chúa làm việc biến đổi bánh, rượu thành Mình, Máu Thánh Đức Kitô.

    Phép lạ bánh ít hoá nhiều biểu tỏ quyền phép nhiệm mầu của Đức Kitô. Ngài biểu tỏ phép nhiệm mầu không phải để ra tay uy quyền, nhưng để biểu tỏ lòng yêu mến, xót thương dân chúng, đám đông. Phép lạ cũng mặc khải cho chúng ta nhận biết những gì chúng ta cho đi vì tình yêu sẽ không mất. Những gì chúng ta cho đi vì lòng bác ái, dù rất nhỏ, ít giá trị, lại trở thành lớn lao, trở thành rất giá trị trong mắt Chúa.

    Đức Kitô dậy ta cho đi, học từ Ngài cho đi. Đức Kitô cho đi cuộc sống Ngài để chúng ta có sự sống. Học cho đi chính là học nhận sự sống trường sinh, học sống chung trong nước trời.

    Về mục lục

    THỰC TẾ

    Trầm Thiên Thu

    Không đâu xa, Việt Nam cũng đã từng có nạn đói năm 1945, nhưng chúng ta chỉ nghe kể hoặc thấy qua hình ảnh. Hiện nay, trong cơn dịch Vũ Hán, chúng ta có thể nhận biết thực tế về sự cần thiết của lương thực như thế nào, nhất là những người đang ở “tâm dịch” Saigon. Hơn bao giờ hết, lúc này chúng ta mới cảm nhận lời cầu nguyện cấp bách mà Chúa Giêsu dạy: “Xin Cha cho chúng con hôm nay LƯƠNG THỰC hằng ngày…” (Mt 6:9-13; Lc 11:2-4)

    Đói cần ăn, khát cần uống, sống cần khí thở. Đó là nhu cầu tự nhiên thiết yếu của con người. Chúa Giêsu rất thực tế, và Ngài hành động cụ thể chứ không nói suông: Cho ăn uống no nê – phép lạ hóa bánh ra nhiều lần 1 (Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17; Ga 6:1-14) và lần 2 (Mt 15:32-39; Mc 8:1-10).

    Trên thế giới vẫn có những vùng cần cứu đói, chẳng hạn hiện nay có Madagascar, tình hình mỗi ngày càng trầm trọng thêm. Người Việt có câu: “Có thực mới vực được đạo.” Điều đó cho thấy chuyện ăn uống là điều không chỉ cần thiết mà còn cấp bách, vì đó là điều cơ bản nhất để con người khả dĩ duy trì sự sống. Trước tiên, người ta cần ăn no và mặc ấm; sau đó mới có thể phấn đấu để ăn ngon và mặc đẹp.

    Vấn đề lương thực như một bí ẩn: “Kẻ ăn không hết, người lần không ra.” Trong thời gian dịch bệnh này, có người già neo đơn đã phải bới tìm đồ ăn thừa ở đống rác để duy trì sự sống. Thật đáng thương. Nhưng chuyện ăn uống cũng được coi là văn hóa, gọi là văn hóa ẩm thực. Cái gì cũng có hai mặt. Miếng ăn thực sự cần thiết và có thể là vinh hoặc nhục: “Người trí quý cái sức, kẻ dại quý cái ăn.” Ăn không lượng thì hại sức khỏe, ngủ không cân thì hại trí tuệ. Tục ngữ có câu: “Ăn được, ngủ được là tiên; không ăn, không ngủ, mất tiền, đâm lo!” Ăn để có sức khỏe, có sức khỏe thì an tâm vui sống.

    Có lẽ lúc này người ta có thể cảm nhận sâu sắc hơn về câu tục ngữ: “Sức khỏe là vàng.” Đó là thực tế rất cụ thể. Chúa Giêsu rất thực tế. Ngài chăm lo những gì cần thiết và cơ bản nhất liên quan sự sống. Đó là chuyện ăn uống – ẩm thực. Ngài luôn quan tâm người nghèo, tại nhà ông Simôn Cùi ở Bêtania, khi có một phụ nữ xức dầu chân Ngài bằng dầu thơm cam tùng hảo hạng, Chúa Giêsu đã xác định: “Người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có.” (Ga 12:8; Mt 26:11; Mc 14:7) Thánh Giacôbê cũng khuyên chúng ta phải kính trọng người nghèo, không được kỳ thị họ, vì đức tin phải có hành động cụ thể. (Thư Thánh Giacôbê, chương 2)

    Có thực tế này: Người khổ chưa chắc là người nghèo, nhưng người nghèo thì chắc chắn là người khổ – thậm chí còn khốn đốn, vì luôn bị người đời khinh miệt, bị xa lánh. Vả lại, đáng quan ngại là vì “lý lẽ của người nghèo không được ai nghe thấy.” (Sử gia Thomas Fuller, 1608-1661) Có lẽ vì vậy mà người Việt thường “ghép đôi” hai tình trạng này thành một: Nghèo khổ. Quả thật, “sự nghèo đói là hình thức bạo lực tồi tệ nhất.” (Mahatma Gandhi, 1869-1948) Kinh Thánh vừa khuyên nhủ vừa ra lệnh: “Đừng tước đoạt miếng cơm manh áo của người nghèo, đừng để kẻ khốn cùng luống công chờ đợi. Kẻ khốn khổ nài xin, con đừng từ chối, gặp người nghèo, con đừng ngoảnh mặt đi.” (Hc 4:1-4)

    Thực tế xã hội vẫn có nghịch lý: “Người giàu vừa ăn cướp vừa la làng, còn người nghèo bị thiệt thì lại phải năn nỉ.” (Hc 13:3) Tuy nhiên, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi người nghèo, vì thế họ luôn tin tưởng và nhủ thầm: “Có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ.” (Tv 54:6) Đồng thời họ luôn tâm niệm: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo, vì Chúa giải thoát con khỏi mọi gian nguy, và con đã dám nghênh bọn địch thù.” (Tv 54:8-9)

    Lương thực là vấn đề rất bình thường mà lại quan trọng. Thực tế đó cũng liên quan vấn đề kinh tế và chính trị, đồng thời cũng là vấn đề cơ bản trong Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo. Chúa Giêsu rất ghét loại người giả nhân giả nghĩa, Ngài đã 8 lần nguyền rủa họ là “đồ khốn” (Mt 23:13-29) và gọi họ là “đồ ngu si mù quáng.”

    Từ xa xưa, hiền triết Trang Tử (Zhuang Zhou hoặc Zhuangzi, 365-290 trước công nguyên) đã nhận định: “Cản trở con người sống vui vẻ, tước đoạt khả năng dệt vải, may mặc, cày cấy, ăn uống, mà lại tô vẽ nó như là nhân nghĩa, đó là TỘI ÁC của THÁNH NHÂN.” Một cách nói rất đáng quan ngại!

    Liên quan sự sống là vấn đề lương thực – sự sống, thực tế đó là chuyện “nồi cháo độc”với “phép lạ nhãn tiền” trong trình thuật 2 V 4:42-44. Khi ông Êlisa trở về Ghin-gan, nạn đói đang xảy ra trong xứ. Lúc anh em ngôn sứ đang ngồi trước mặt ông, ông nói với tiểu đồng bắc nồi lớn lên bếp và nấu cháo cho anh em ngôn sứ. Một người trong nhóm ra đồng hái rau, tìm thấy một thứ cây giống như nho dại thì hái trái dưa đắng ấy đầy một vạt áo, rồi về nhà, thái nhỏ ra, bỏ vào nồi nấu cháo, vì họ không biết đó là thứ gì. Sau đó, họ múc ra cho mọi người ăn. Vừa ăn chút cháo, họ kêu lên: “Người của Thiên Chúa ơi, thần chết ở trong nồi!” Thế là họ không thể ăn được nữa. Nhưng ông Êlisa bảo cứ đem bột đến cho ông. Ông bỏ bột vào và bảo múc ra cho mọi người ăn. Lạ thay, trong nồi không còn chất độc nữa.

    Phép lạ vẫn luôn xảy ra và với mức độ khác nhau, đặc biệt là “phép lạ hoá bánh ra nhiều.” Kinh Thánh cho biết rằng có một người từ Baan Salisa đến, đem bánh đầu mùa biếu người của Thiên Chúa. Đó là 20 chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Ông Êlisa bảo đem phát cho người ta ăn. Tiểu đồng nói chỉ có chừng nấy thì không thể đủ cho cả trăm người ăn được. Nhưng ông bảo cứ phát cho người ta ăn, vì Đức Chúa đã phán: “Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư.” Tiểu đồng vâng lời đem phát cho người ta. Họ đã ăn mà vẫn còn dư, đúng như lời Đức Chúa đã tuyên phán. Lại một phép lạ nhãn tiền nữa. Thật là kỳ diệu vô cùng!

    Đối với Thiên Chúa, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá trở nên con cháu ông Áp-ra-ham (Mt 3:9) thì đối với Ngài, “không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37) Thánh Vịnh gia thực sự tin nhận nên đã dâng lời xưng tụng: “Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng.” (Tv 145:10-11)

    Thiên Chúa luôn tạo cơ hội làm việc để con người mưu sinh vì Ngài biết nhu cầu thực tế của phàm nhân để duy trì sự sống. Không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được gì, chắc chắn như vậy. Với kinh nghiệm sống, Thánh Vịnh gia chia sẻ bằng lời cầu nguyện chân thành: “Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn. Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê. Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.” (Tv 145:15-18) Thiên Chúa chẳng chấp lách gì đối với những cái đầu nhỏ mọn, thiển cận và nông cạn của thụ tạo chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta biết khiêm hạ và chân thành cầu xin thì mọi sự đều ổn định. Có làm vậy cũng chẳng thêm gì cho Ngài, mà chỉ có lợi cho chúng ta mà thôi.

    Thánh Phaolô chia sẻ: “Tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau.” (Ep 4:1-2) Những lời lẽ rất chân thành, nhưng NGHE, BIẾT, và LÀM là ba vấn đề khác nhau.

    Có lẽ chưa an tâm nên thánh nhân động viên thêm: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có MỘT thân thể, MỘT Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa. Chỉ có MỘT Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4:3-6) Những cái “một” rất kỳ diệu, nghĩa là đòi buộc chúng ta phải NÊN MỘT, vì thế mà không thể ba bè, năm nhóm hoặc bảy phe, không thể tiêu cực như chúng ta vẫn có “xu hướng” ngay cả trong các gia đình, các hội đoàn, các cộng đoàn, các giáo xứ,… Phe nhóm là đối lập với Thiên Chúa, bởi vì chúng ta cùng ĂN MỘT TẤM BÁNH – Thánh Thể.

    Trình thuật Ga 6:1-15 (≈ Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17) đề cập phép lạ hoá bánh ra nhiều do Chúa Giêsu thực hiện. Trong phép lạ này có sự hiệp nhất: Đủ loại người đồng tâm nhất trí quy tụ bên Chúa để cùng NÊN MỘT và được nghe lời khôn ngoan của Ngài, thế nên Ngài thương họ lắm. Biết lắng nghe là có thiện chí, nghe để hiểu, hiểu để làm – hành động cụ thể chứng tỏ đức tin sống động.

    Hôm đó, bên Biển Hồ Galilê – Biển Hồ Tibêria, có đông đảo dân chúng đi theo Chúa Giêsu, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Ngài đã làm cho những kẻ đau ốm. Ngài lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Thời gian đó sắp đến lễ Vượt Qua, đại lễ của người Do Thái. Ngước mắt lên, Ngài nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Ngài không bất ngờ mà Ngài thấy thương họ. Ngài hỏi ông Philípphê về việc mua bánh cho họ ăn.

    Ngài nói thế là để thử ông, chứ Ngài đã biết mình sắp làm gì. Nghe vậy, ông Philípphê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” Chu choa! Phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh cho họ ăn. Tiền đâu mà mua? Hai trăm quan tiền là số tiền lớn, dù chưa bằng số tiền giá chiếc bình dầu thơm mà người phụ nữ tội lỗi xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simôn Cùi ở làng Bêtania: Ba trăm quan tiền, (Mt 26:6-13; Mc 14:3-9; Ga 12:1-8) nhưng lại gấp nhiều lần số tiền ông Giuđa đã bán Thầy trong đêm định mệnh năm xưa: Ba mươi đồng. (Mt 26:15)

    Thật lạ, ông Phêrô nhanh tay lẹ mắt nên thưa: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!” Đức Giêsu cười: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chả biết Thầy định làm gì, nhưng các ông không hề thắc mắc, vâng lời Thầy và bảo người ta ngồi xuống cỏ, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Tính cả phụ nữ và trẻ em có thể lên tới cả chục ngàn người. Thật kỳ diệu!

    Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho họ. Cá nhỏ, Ngài cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. Khi họ đã no nê rồi, Ngài bảo các môn đệ thu lại những miếng thừa kẻo phí. Chúa Giêsu tiết kiệm, không lãng phí, điều này nhắc chúng ta phải biết quý miếng ăn, biết nghĩ đến những người đang đói khổ ở đâu đó, có thể họ đang ở ngay bên mình.

    Vâng lời Thầy, các môn đệ thu được mười hai thúng đầy những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch. Phần dư còn nhiều hơn phần gốc. Ngoài sức tưởng tượng, thế nên mọi người rỉ tai nhau: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!” Nhưng Chúa Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, Ngài lánh mặt đi lên núi một mình. Lại một bài học đắt giá nữa: Đừng coi trọng danh vọng, đừng tự tôn, đừng thấy người ta khen mà tưởng mình “ngon” hơn hoặc tài giỏi hơn người khác. Tất cả sẽ qua đi, ngay cả những gì mình sở hữu cũng không thuộc về mình. Cuộc đời chỉ còn lại tình yêu tồn tại nhờ biết thương xót, ba nhân đức đối thần cũng chỉ còn Đức Mến – Đức Ái.

    Phép lạ hóa bánh ra nhiều là dấu tiên báo về Bí tích Thánh Thể, và cũng cho chúng ta biết rằng nhu cầu ăn uống liên quan vấn đề sinh tồn – thể lý và tâm linh. Biết chăm lo cho mình thì cũng phải biết chăm lo cho người khác: Yêu người như yêu mình. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết chạnh lòng thương mà quan tâm nhu cầu thiết yếu của người khác. Thể lý yếu đuối có thể ảnh hưởng tinh thần, trí tuệ và tâm linh. Thể xác cần ăn uống để sống khỏe mạnh thì linh hồn cũng cần nuôi dưỡng để sinh tồn. Có thực mới vực được đạo. Rất thực tế.

    Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu có cách riêng rất thực tế: “Tôi không thể làm được việc lớn, nhưng tôi ước nguyện dùng mỗi công việc, dù là việc nhỏ, để làm sáng danh Chúa.” Rất độc đáo! Trong tình trạng “căng” của đại dịch hiện nay, có tiền cũng chẳng làm gì được. Thật xúc động khi có những Mạnh Thường Quân chia sẻ thực phẩm rất cụ thể – từ chai nước tới hộp cơm, từ mớ rau đến ký gạo, từ vài tấn tới vài chục tấn thực phẩm,… Nếu không có điều kiện chia sẻ lương thực thì chúng ta cầu nguyện cho những người đau khổ. Lời cầu nguyện lúc này vô cùng cần thiết, cụ thể và thực tế.

    Lạy Thiên Chúa chí thánh, xin giúp chúng con can đảm chấp nhận và biến đổi theo Ý Ngài. Xin cho người giàu biết rộng lòng chia sẻ nhu cầu thực tế hằng ngày để người nghèo có thể sống xứng đáng kiếp người, nhờ đó họ có thể an tâm phụng sự Ngài và làm chứng về Ngài suốt đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    THIÊN CHÚA CÓ THÍCH THỬ THÁCH CON NGƯỜI KHÔNG?

    Giuse Trần Văn Ngữ, SJ

    Những ngày qua, bệnh dịch đang hoành hành mạnh mẽ ở Việt Nam. Nếu trước đây, chúng ta chỉ nghe nói và chứng kiến trên màn hình tivi về sự tàn phá của bệnh dịch, thì bây giờ, chúng ta đang trải qua những khốn khó nhất trong cơn đại dịch. Giữa vòng vây của đại dịch, chúng ta mới thực sự cảm nhận được thân phận con người yếu đuối mỏng manh và dễ vỡ. Không ít người đã rơi vào sự hoảng loạn và mất hết hy vọng về tương lai.

    Cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng! Điều quan trọng, chúng ta đối diện với những khó khăn ấy như thế nào. Bài Tin Mừng hôm nay,[1] cho ta thấy các môn đệ đang đứng trước một khó khăn lớn. Tất nhiên, tình cảnh này không bi đát bằng những điều mà người dân Việt Nam đang phải trải qua trong cơn đại dịch, nhưng ở đây, chúng ta thấy các môn đệ đang ở trong thế bế tắc và bất lực hoàn toàn.

    Bấy giờ, Đức Giê-su hỏi Phi-líp-phê: „Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Người nói thế là để thử[2] ông” (6a). Thánh Gio-an đã khéo léo cho ta biết rằng Đức Giê-su đang „hỏi thử” người môn đệ. Chúng ta nên để ý sự khác biệt giữa thử thách và cám dỗ. Khi thử thách, người thầy hy vọng rằng học sinh sẽ vượt qua bài kiểm tra; Còn khi cám dỗ, người cám dỗ luôn muốn rằng người kia sẽ rơi thất bại và rơi vào cạm bẫy của mình. Ở đây, Đức Giê-su không có chủ ý gài bẫy. Ngài chỉ hỏi thử để hy vọng tìm thấy nơi Phi-líp-phê một đức tin mạnh mẽ hơn. „Vì Người đã biết mình sắp làm gì rồi” (6b). Đức Giê-su đã có một kế hoạch trong tâm trí. Ngài không có ý đòi buộc Phi-líp-phê phải giải quyết một vấn đề quá khó khăn, nhưng Ngài chỉ thăm dò xem, để biết chiều sâu đức tin của Phi-líp-phê thế nào.

    Có lẽ, Phi-líp-phê không nhớ đến phép lạ Đức Giê-su đã thực hiện tại tiệc cưới Ca-na.[3] Phép lạ đánh dấu sự khởi đầu của Đức Giê-su, và khiến các môn đệ tin vào Ngài. Trước đó, Phi-líp-phê đã là môn đệ của Đức Giê-su.[4] Mặc dù chúng ta không được biết cụ thể rằng Phi-líp-phê có hiện diện trong tiệc cưới Ca-na hay là không, nhưng chắc chắn ông đã nghe nói về phép lạ đó. Tuy nhiên lúc này, Phi-líp-phê không mảy may nghĩ đến việc Đức Giê-su có thể thực hiện phép lạ để nuôi dân chúng.

    Không chỉ riêng Phi-líp-phê cảm thấy tình cảnh quá khó khăn, mà một môn đệ khác cũng đã nhận ra tình hình thực tế không có gì khả quan. „Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người: Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá.” Ông An-rê thông tin cho biết: có một nguồn lực khiêm tốn – một cậu bé với bữa trưa của mình. Ngay sau đó, ông tán thành chủ nghĩa bi quan của Phi-líp-phê: “nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”” Cả Phi-líp-phê và An-rê đều giúp chúng ta hiểu được thực trạng khó khăn thực sự mà các ông đang phải đối diện.

    Phải chăng Đức Giê-su đang thực sự muốn thử thách Phi-líp-phê và các môn đệ? Hay nói một cách khác, Thiên Chúa có thích thử thách con người không?

    Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là nguồn gốc mọi sự tốt lành. Còn sự dữ và những khó khăn trên thế giới như là một phần của cuộc sống. Và theo cái hiểu thông thường, Thiên Chúa không cần thử thách con người làm chi. Nhưng những thử thách và cám dỗ luôn hiện diện trong đời sống thường ngày, chúng là cơ hội để con người sống gần Thiên Chúa hơn.[5]

    Bài Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta tiếp tục đặt niềm tin nơi Thiên Chúa. Trong những tình cảnh khó khăn, tưởng chừng như không thể đối với con người, thì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể. Tất nhiên, chúng ta không nên hiểu lầm là mình cứ ngồi chờ đợi, Thiên Chúa sẽ ra tay cứu. Ngược lại, chúng ta được mời gọi: cố gắng vận dụng tất cả những gì mình có, để đẩy lui bệnh dịch và tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa. Nói một cách khác, Thiên Chúa luôn dành chỗ cho sự cộng tác của con người vào công trình của Ngài. Để phép lạ có thể xảy ra, con người cần đóng góp phần nhỏ bé của mình.

    Trở lại với câu chuyện trong Tin Mừng hôm nay. Điều gì sẽ xảy ra nếu cậu bé không muốn chia sẻ bữa trưa của mình? Điều gì sẽ xảy ra nếu cậu bé nói: „Tôi cần những thức ăn này cho chính mình”; hoặc chối từ chia sẻ một cách trả lời khéo léo rằng: “Một chút của tôi sẽ không tạo ra sự khác biệt nào cả!” Ngược lại, ở đây cậu bé đã hoàn toàn quảng đại chia sẻ những gì mình có, và được Chúa ban phước lành. Đây là thông điệp chính trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay.

    Nhìn lại lịch sử loài người, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa thường dùng một số ít người tài giỏi và khiêm tốn để thực hiện hầu hết các công việc nhân danh Ngài. Nếu ai trong chúng ta bị cám dỗ và muốn thoái lui, vì nghĩ rằng mình có quá ít để đóng góp, thì cần phải nhớ rằng Chúa đã thực hiện những điều kỳ diệu thế nào từ sự quảng đại đóng góp phần nhỏ bé của con người.

    Niềm hy vọng của chúng ta trong cơn đại dịch này không phải là những hy vọng ảo tưởng vào những lời nói suông, nhưng là niềm hy vọng đặt trên những hành động cụ thể. Dù tình hình thực tế có bi đát đến đâu đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn luôn cậy trông nơi Thiên Chúa và sống liên đới với người khác. Như lời Đức Thánh Cha Phan-xi-cô từng chia sẻ với chúng ta trong cơn đại dịch: Chúng ta nên sống trong đại dịch thế nào?[6] Và cần đối phó với đại dịch bằng tình yêu không biên giới.[7] Với tình yêu ấy, chúng ta thắp lên những ngọn nến hy vọng dìu bước nhau trong đêm tối, và hướng đến một tương lai tươi sáng hơn.

    Xin cho chúng con biết sống yêu thương và quảng đại với anh chị em mình. Amen.

    ………..

    [1] Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều (Ga 6,1-15).

    [2] πειράζων (peirázôn) = có thể có nghĩa là kiểm tra, thử thách hoặc cám dỗ.

    [3] Tiệc cưới Ca-na (Ga 2,1-11).

    [4] Xem: Các môn đệ đầu tiên (Ga 1,43-48).

    [5] Chúng ta hãy đọc thư thánh Giacôbê Tông đồ: “Khi bị cám dỗ, đừng ai nói : ‘Tôi bị Thiên Chúa cám dỗ’, vì Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai (Gc 1,13). Hoàn toàn ngược lại: Chúa Cha không phải là tác giả của điều xấu, không có người con nào yêu cầu cá mà Người cho rắn (x. Lc 11,11) như Chúa Giêsu đã dạy, và khi sự ác xuất hiện trong cuộc sống của con người, Chúa chiến đấu bên cạnh họ, để họ có thể để được giải thoát khỏi sự dữ. Đó là một Thiên Chúa luôn chiến đấu vì chúng ta, chứ không chống lại chúng ta. (xem bài giảng của Đức Thánh Cha Phan-x-cô: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2019-05/dtc-phanxico-tiep-kien-chung-kinh-lay-cha-cam-do-thu-thach.html )

    [6] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-04/dtc-phanxico-song-trong-dai-dich-covid-19-the-nao.html

    [7] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-09/dtc-phanxico-tiep-kien-chung-dai-dich.html

    Về mục lục

    ĐỨC GIÊSU LÀ BÁNH HẰNG SỐNG TỪ TRỜI

    Lm. Nguyễn Ngọc Dũng

    Ai trong chúng ta cũng đã một lần đối diện với những khó khăn mà dường như vượt ra khỏi sự kiểm soát cũng như khả năng của mình để giải quyết. Khi vượt qua những khó khăn đó, chúng ta ngạc nhiên khẳng định rằng chỉ với ơn Chúa mình mới có thể vượt qua được. Đây chính là điều chúng ta thấy phản chiếu trong các bài đọc lời Chúa hôm nay. Trong bài đọc 1 hôm nay, tác giả sách các Vua trình bày cho chúng ta nghe câu chuyện về lòng quảng đại của một người từ Baan Salisa dành cho Êlisa, “người của Thiên Chúa” trong nạn đói. Lòng quảng đại của người đó được gói gọn trong “hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị” (2V 4:42). Ông Êlisa không nghĩ đến mình mà nói với người tiểu đồng của mình mang phát cho mọi người ăn. Câu trả lời của người tiểu đồng phản ánh chính thực tại của đời sống chúng ta khi đối diện với khó khăn và câu trả lời này một lần nữa được tìm thấy âm hưởng trong bài Tin Mừng: “Có bằng này, sao con có thể phát cho cả trăm người ăn được?” (2V 4:43). Nhưng Êlisa chỉ cho tiểu đồng biết rằng, chính Đức Chúa là Đấng cho dân ăn chứ không phải ông: “Cứ phát cho người ta ăn! Vì Đức Chúa phán thế này: Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư.” Khi làm theo lời của Êlisa, tiểu đồng mới hiểu được đối với Thiên Chúa không gì là không thể: “Tiểu đồng phát cho người ta. Họ đã ăn, mà vẫn còn dư, như lời Đức Chúa phán” (2V 4:44). Chi tiết này giúp chúng ta an lòng khi đối diện với những khó khăn trong cuộc sống. Khó khăn không nhằm mục đích đè bẹp chúng ta, nhưng có mục đích rèn luyện đức tin cũng như giúp chúng ta khám phá ra khả năng của mình siêu việt thế nào khi biết cộng tác với Chúa.

    Một kinh nghiệm khác chúng ta cảm nghiệm trong đời sống là mỗi người chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi sống những bậc sống khác nhau: gia đình, độc thân, hay thánh hiến tu trì. Trong bài đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Êphêsô [chúng ta] sống xứng đáng với ơn gọi của mình. Để sống xứng đáng với ơn gọi của mình, Thánh Phaolô mời gọi chúng ta phải “ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau” (Ep 4:2-3). Trong những lời này, Thánh Phaolô chỉ ra những nhân đức chúng ta cần phải có khi sống với nhau, nhất là trong đời sống gia đình và trong cộng đoàn tu trì. Bên cạnh đó, Thánh Phaolô cũng chỉ ra rằng khi sống đúng với ơn gọi của mình, chúng ta nhận ra mình được nối kết với anh chị em khác trong cùng một thân thể, được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng, cùng tin vào một phép rửa, tin vào một Chúa là “Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người, và trong mọi người” (x. Ep 4:4-6). Nếu chúng ta được nối kết với những anh chị em khác trong cùng một phép rửa, một đức tin và một Thiên Chúa, tại sao lại có sự chia rẽ giữa chúng ta? Đó là vì chúng ta không sống đúng với ơn gọi của mình và mặc lấy những nhân đức mà Thánh Phaolô đã kể ra ở trên. Hãy là những con người khiêm tốn, hiền từ, nhẫn nại và lấy tình yêu mà chịu đựng những khuyết điểm của nhau. Chỉ như thế chúng ta mới cảm nghiệm được sự bình an và hiệp nhất trong Chúa.

    Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu bài giảng của Chúa Giêsu về bánh hằng sống (Ga 6:1-71). Đây là một trong những chương dài trong Tin Mừng Thánh Gioan. Bài giảng này có sự tương đồng với những sự kiện được Thánh Máccô thuật lại trong 6:30-54 và 8:11-33. Những sự kiện đó bao gồm: (1) hoá bánh cho năm ngàn người ăn (Ga 6:1-15; Mc 6:30-44); (2) Chúa Giêsu đi trên biển (Ga 6:16-24; Mc 6:45-54); (3) đòi một dấu lạ (Ga 6:25-34; Mc 8:11-13); (4) bình luận về bánh hằng sống (Ga 6:35-59; Mc 8:14-21); (5) lời tuyên xưng của Phêrô (Ga 6:60-69; Mc 8:27-30); (6) [tiên báo về] cuộc thương khó (Ga 6:70-71; Mc 8:31-33). Những hình ảnh [biểu tượng] về Chúa Giêsu như Đấng cung cấp “nước hằng sống” trong chương 4 và bánh từ trời được phát triển cùng với nền Kitô học của Thánh Gioan như một vị vua – ngôn sứ theo Môsê. Đối với thánh sử, toàn bộ câu chuyện về bánh hằng sống trở thành một cuộc đối diện khác giữa đám đông không tin và Đấng đến từ trời với lời ban sự sống. Cấu trúc của bài Tin Mừng hôm nay như sau: (1) bối cảnh xa (Ga 6:1-4); (2) bối cảnh gần: Chúa Giêsu đối thoại với các môn đệ (Ga 6:5-10); (3) Chúa Giêsu thực hiện phép lạ (Ga 6:11-13); (4) phản ứng của dân chúng và hành động của Chúa Giêsu sau phép lạ (Ga 6:14-15). Chúng ta cùng nhau suy gẫm trên những điểm mà cấu trúc Tin Mừng đã gợi ý cho chúng ta.

    Trước tiên, chúng ta cần lưu ý rằng Thánh Gioan đã nới rộng phần giới thiệu bằng việc thêm vào đó những chi tiết sau: (1) một cột móc không rõ ràng về thời gian [“sau những điều này”]; (2) một nơi chốn cụ thể [“bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria.”]; (3) động lực của đám đông tìm đến Chúa Giêsu [“Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm.”]; (4) thời điểm quy chiếu [“Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do Thái.”]. Trong phần này, điều đáng để chúng ta suy gẫm là động lực của đám đông đến với Chúa Giêsu. Thánh Gioan trình bày rõ ràng cho chúng ta là đám đông đến với Chúa Giêsu vì họ thấy ‘những dấu lạ người làm cho những kẻ đau ốm,’ nói cách khác là họ nhìn thấy Chúa Giêsu chữa lành những kẻ đau ốm. Như chúng ta biết, một trong những hành động quan trọng trong Tin Mừng Thánh Gioan là ‘thấy.’ Tuy nhiên, ‘thấy’ chỉ mới là bước đầu của tin. Đám đông đến với Chúa Giêsu chỉ vì ‘thấy’ Ngài thực hiện những dấu lạ chứ chưa biết và tin Ngài. Điều này được chỉ rõ trong phần kết của bài Tin Mừng, đó là họ chỉ nhận ra Ngài như một vị ‘ngôn sứ’ giống như Môsê, người đã cho dân Israel bánh ăn trong sa mạc. Chúng ta cũng đến với Chúa mỗi ngày [hoặc mỗi tuần], nhưng động lực của chúng ta là gì? Nhiều người trong chúng ta đã ‘thấy’ nhiều dấu lạ Chúa thực hiện mỗi ngày trong cuộc đời của mình [hay của người thân], nhưng chúng ta đã đóng cửa lòng mình lại, chúng ta không nhận ra Ngài và đặt trọn niềm tin yêu phó thác vào tay Ngài. Chúng ta chỉ đến với Chúa chỉ vì chúng ta cần những nhu cầu của mình được đáp ứng, chứ chúng ta không đến với Ngài vì tin yêu Ngài.

    Bối cảnh gần của phép lạ là một cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, cụ thể là với Philipphê và Anrê. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại này như sau:

    Chúa Giêsu [“Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê]: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” [“Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi].

    Ông Philípphê: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.”

    Anrê:  “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!”

    Chúa Giêsu: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” [Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn].

    Trong phần phép lạ, chúng ta đọc thấy như sau: “Vậy, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: ‘Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.’ Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng” (Ga 6:11-13). Điều đáng để chúng ta lưu ý là sự tương phản và tiếp nối giữa hành động của Chúa Giêsu và các môn đệ. Trong Tin Mừng Thánh Gioan, chính Chúa Giêus là người phân phát cho dân chúng bánh và cá sau khi đã dâng lời tạ ơn. Các môn đệ chỉ là những người đi thu lại những gì Chúa Giêsu đã phân phát. Điều này khác với Tin Mừng Nhất lãm là Chúa Giêsu dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ đi phân phát cho dân chúng và cũng chính các môn đệ đi thu lại những gì Chúa Giêsu đã bẻ ra và các ông phân phát. Chúng ta rút ra từ những chi tiết này điều để suy gẫm là: Chúa Giêsu luôn là Người trao ban chính mình và mọi sự cho chúng ta. Về phần chúng ta, chúng ta chỉ cộng tác với Ngài trong việc phân phát những gì Chúa Giêsu đã trao vào tay chúng ta cho anh chị em của mình. Sứ vụ của chúng ta là sự tiếp nối của sứ vụ Chúa Giêsu. Những gì chúng ta trao ban đều thuộc về Chúa Giêsu. Chỉ khi hiểu được điều này, sứ vụ của chúng ta mới sinh được nhiều hoa trái để mọi người được ăn no nê mà vẫn còn dư thừa.

    Bài Tin Mừng kết thúc với phản ứng của đám đông sau khi nhìn thấy dấu lạ là: “Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giêsu làm thì nói: ‘Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!’” (Ga 6:14). Đứng trước sự hiểu lầm về chân tính của mình, Chúa Giêsu liền tránh mặt: “Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6:15). Đứng trước dấu lạ Chúa Giêsu thực hiện, dân chúng chỉ dừng lại ở những gì “thuộc về thân xác, thuộc về đất.” Vì vậy, họ không hiểu được thực tại trên trời mà qua dấu lạ Chúa Giêsu ám chỉ đến. Qua dấu lạ, họ chỉ dừng lại ở việc tuyên xưng Chúa Giêsu là một vị ngôn sứ như Môsê, người đã cho họ bánh ăn trong sa mạc. Họ không thể đạt đến việc tuyên nhận rằng, Ngài là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, là Con Thiên Chúa. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng chỉ dừng lại ở vẻ bề ngoài của sự kiện để rồi không thể đọc và hiểu được điều Thiên Chúa nói với chúng ta. Hãy vượt qua những gì mà con mắt thể lý có thể nhìn, và nhìn với con mắt đức tin, chúng ta mới hiểu được những thực tại của Thiên Chúa.

    Về mục lục

    CƠN ĐÓI VÀ SỰ KHỎA LẤP

    Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương

    1. Đói.

    Theo từ điển Tiếng Việt, đói là có cảm giác cồn cào, khó chịu khi đang thấy cần ăn mà chưa được ăn hoặc chưa được ăn đủ. Đói là lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Đói cũng có nghĩa là thiếu nhiều, do một đòi hỏi tự nhiên và đang rất cần. Tuy nhiên, tình trạng đói không chỉ dừng lại ở đói ăn, đói uống, đói vật chất, nhưng tồn tại cái đói trầm trọng và đáng quan ngại là đói tinh thần, đói sự thật, đói tình yêu, đói tình người, đói sự chung thủy trong đời sống vợ chồng, đói tình liên đới, đói sự hiệp nhất, đói sự tha thứ, đói sự dấn thân, đói sự quảng đại, đói sự bao dung, đói nụ cười, đói sự cảm thông, đói sự chia sẻ nhưng chất chứa sự chia rẽ, đói sự vị tha,… Trước những cơn đói dữ dằn này, con người dường như rất khó khăn để giải quyết, nhưng chỉ thực sự được khoả lấp nơi Đức Giê-su Ki-tô mà thôi.

    2. Khoả lấp từ Chúa Giê-su.

    Đứng trước cái đói của con người, chính Thiên Chúa đã thi thố quyền năng của Ngài ngang qua các ngôn sứ cũng như các trung gian để con người được khoá lấp cơn đói. Một Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo trời đất với biển khơi, Một Thiên Chúa đã giải thoát dân Is-ra-en thoát khỏi Ai cập, chẳng lẽ nào lại không làm cho dân đói được no nê hay sao?.

    Quả thật, nơi bài đọc I, đứng trước cái đói của dân, ngôn sứ Ê-li-sa đã bảo tiểu đồng phát cho họ ăn mặc dù chỉ vỏn vẹn có hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Nhưng tin tưởng vào uy quyền của Đức Chúa, ngôn sứ Ê-li-sa đã mạnh dạn phân phát cho dân: họ đã ăn, mà vẫn còn dư, như lời Đức Chúa phán. (x.2 V 4, 42-44). Nơi bài Tin Mừng (Ga 6, 1-15) mà Thánh Gioan trình thuật, trước cái đói của dân chúng đông đúc, Đức Giê-su đã hoá bánh ra nhiều từ năm chiếc bánh và hai con cá để cho hơn năm ngàn người đàn ông, chưa kể đàn bà và trẻ em đã ăn no nê mà còn dư mười hai thúng. Một phép lạ biểu lộ quyền năng của Đức Giê-su trước dân người. Một sự khoả lấp đầy lòng nhân ái và tình thương của vị Thiên Chúa hữu hình đối với con người ngang qua Đức Giê-su Ki-tô. Một hình ảnh báo trước về bí tích Thánh Thể mà sau này Đức Giê-su sẽ tặng ban cho con người chính Máu và Thịt của Ngài. Thật vậy, tuy chỉ có một tấm bánh, là Mình Thánh Chúa, nhưng muôn người ở khắp mọi nơi trong mọi thời đã luôn được đón nhận và không bao giờ chấm dứt. Sự dư tràn hồng ân dịu ngọt từ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô sẽ khoả lấp mọi khát vọng cho con người, nhất là khát vọng sự sống đời đời.

    Quả thật, khi đói về thể xác, con người tìm đến của ăn để thoả mãn cơn đói. Khi đói về tinh thần, đói về linh hồn, đói về tâm linh, con người chúng ta chỉ thực được khoả lấp và no thoả khi chúng ta biết tìm gặp Đức Giê-si Ki-tô, là hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu ở cùng chúng ta. Có thể nói ngay rằng có nhiều sự khoả lấp để con người tìm cách giải quyết cho những khúc mắc cuộc đời, nhưng sự khỏa lấp đích thực và đỉnh cao là ở nơi Chúa, nơi Đức Giêsu. Nơi Ngài, con người được sống và sống dồi dào. Nơi Ngài, chúng ta sẽ được no thỏa. Nơi Ngài, muôn người sẽ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng. Nơi Ngài, con người sẽ được dẫn đến đồng cỏ xanh tươi và tắm ở dòng suối mát. Nơi Ngài, con người được vỗ về và chăm sóc cẩn thận và kỹ càng. Nơi Ngài, con người được kín múc nguồn sức mạnh từ Lời và từ Mình Máu Thánh Ngài. Nơi Ngài, con người không còn lo sợ và cô đơn. Nơi Ngài, con người sẽ được chan chứa niềm vui và sự bình an. Nơi Ngài, con người sẽ đón gặp sự gần gũi, thân thiện và thương yêu. Nơi Ngài, con người cảm nhận được lòng thương xót vô bờ vô bến của Một Vị Thiên Chúa Tình Yêu. Nơi Ngài, con người sẽ được sống đời đời. Tuy nhiên, được đón nhận ân lộc từ Chúa, được khoả lấp cơn đói – cơn khát từ Chúa, mỗi chúng ta cũng được mời gọi biết trao ban và khoả lấp cho anh chị em chung quanh.

    3. Khoả lấp cho tha nhân, bổn phận của ki-tô hữu:

    Thật vậy, chúng ta đang sống chung với mọi người trong hành trình dương thế, chúng ta được nhắc nhở thế này: chúng ta đã đón nhận nhưng không thì cũng phải cho nhưng không (x.Mt 10,8); “Ai vui vẻ dâng hiến thì được Chúa yêu thương” (2 Cr 9,7); “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35); “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.” (1 Ga 3,17-18); cũng như câu ca dao “Anh em như thể tay chân – Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.” hoặc “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng”. Trong bối cảnh cả và nhân loại, nhất là tại các tỉnh miền nam Việt Nam hiện nay đang phải quằn quại và mệt mỏi vì đại dịch Covid. Họ không những đói về mặt nhu yếu phẩm, nhưng cái quan trọng là tinh thần hoang mang, lo sợ và mất bình an vì sự ‘thăm viếng’ của ‘nàng Cô-vy’. Lúc này đây, hơn bao giờ hết, họ đang cần tình liên đới, sự nối kết và lòng cảm thông của mọi người. Lúc này đây, trong cơn đại dịch, chúng ta mới biết rằng tình người cần biết bao. Lúc này đây, tiền bạc và của cải giàu sang không phải là thứ quyết định cho những ai bị nhiễm bệnh Covid Vũ Hán. Lúc này đây, bệnh viện dã chiến cũng hết chỗ bởi số người nhiễm bệnh quá lớn. Cho nên, họ không những đau buồn vì bị nhiễm bệnh, nhưng còn đau buồn hơn là không được đi tới bệnh viện để được cách ly và được chữa trị. Lúc này đây, nhiều gia đình đã phải ‘phân ly cách biệt’ những người thân. Do đó, tất cả những ai đang phải đối diện với những gian nan và khổ đau này đều đang sống trong tình trạng ‘đói’. Họ cần sự tương trợ, họ cần sự giúp đỡ và tình liên đới của mỗi chúng ta. Trước nguy cơ này, Thánh Phaolô đã mời gọi chúng ta nơi bài đọc II: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau.”(Ep 4, 2-3). Lúc này đây, sống sự nối kết và tình tương thân tương ái là lời mời gọi hết sức khẩn thiết đối với mỗi chúng ta. Là anh em với nhau trong mái nhà chung là nhân loại, chúng ta hãy sống yêu thương hơn là ích kỷ, sống bao dung hơn là loại trừ, sống quan tâm chăm sóc anh chị em hơn là vô tâm và dửng dưng. Là con cái của Chúa, chúng ta không thể không sống chiều kích yêu thương như Chúa. Chính khi thực thi bác ái yêu thương bằng hành động là chúng ta đang trở nên ‘khí cụ khoả lấp’ những ‘cơn đói, cơn khát’ của con người thời đại, nhất là những con người khổ đau, bệnh hoạn tật nguyền và nghèo đói.

    Tóm lại, con người ngày nay đang phải đối diện với những cơn đói trong cuộc sống: đói cơm áo gạo tiền, đói tình thương và lòng bao dung. Cơn đói lớn nhất là cơn đói về mặt tinh thần hay về mặt linh hồn. Cơn đói này chỉ thực sự được khoả lấp khi con người biết tìm kiếm và tựa nương vào Thiên Chúa ngang qua Đức Giê-su Ki-tô. Chỉ nơi Lời Ngài và Mình Máu Thánh của Ngài, con người mới thực sự được no thoả viên mãn. Chỉ nơi Danh Ngài, con người mói thực sự được cứu độ và giải thoát. Tuy nhiên, mỗi chúng ta, là những ki-tô hữu, cũng đóng một vai trò hết sức cần thiết trong việc khoả lấp những khát vọng và những cơn đói của anh chị em đồng loại. Là những Chúa Giê-su khác, những người đang sống cùng, sống với anh chị em, chúng ta được đòi hỏi phải thực hành giới răn yêu thương liên lỉ để cùng dẫn dắt anh chị, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật và những người bất hạnh tìm đến sự bình an, niềm vui và hạnh phúc trong Chúa Ki-tô.

    Về mục lục

    VỮNG NHƯ KIỀNG BA CHÂN

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

    Hẳn ông này là vị Ngôn Sứ, Đấng phải đến thế gian(Ga 6,14).

    Vị Ngôn Sứ nàyđược Chúa với ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật như sau: “Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một Ngôn Sứ như ngươi để giúp chúng. Ta sẽ đặt những Lời của Ta trong miệng Người ấy và Người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho Người ấy”(x.Dnl 18,18).

    Qua đó, chúng ta biết Ngôn Sứ là người nói Lời Chúa. Đức Giê-su là người đến loan báo Lời Chúa, nên Đức Giê-su thực sự là một vị Ngôn Sứ. Trong bài Phúc Âm, khi Đức Giê-su làm dấu lạ, lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, đã làm cho 5 ngàn người đàn ông chưa kể phụ nữ và con trẻ, ăn no nê và còn dư 12 thúng đầy. Trước khi làm dấu lạ này, Đức Giê-su đã nói Lời Chúa cho họ.

    Như Chúa đã lấy bánh và cá làm cho người ta ăn no nê về phần xác thế nào, thì Chúa cũng sẽ lấy Lời Chúa làm cho chúng ta no nê về phần hồn như vậy. Và khi được no đầy Lời Chúa, chúng ta, những người tín hữu công giáo cũng được Chúa cho tham dự vào chức vụ Ngôn Sứ của Đức Giê-su nữa.

    “Đức Ki-tô chu toàn chức vụ Ngôn Sứ không những nhờ hàng giáo phẩm, nhưng cũng nhờ các giáo dân nữa. Người đã đặt họ làm chứng nhân, bằng cách ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ”(x. GLCG, số 904).

        “Cảm thức đức tin” là gì?

    “Mọi tín hữu đều tham dự vào ơn hiểu biết và việc lưu truyền mặc khải. Họ được Thánh Thần xức dầu, chính Người dạy dỗ và dẫn họ tới chân lý toàn diện”(x.GLCG, số 91).

    Như vậy, “cảm thức đức tin” được hiểu nôm na là những gì mà người tín hữu cảm nghiệm, cảm nếm và nhận thức được nhờ đức tin về những gì Chúa mặc khải qua Lời Chúa. Từ đó, “Toàn thể tín hữu, không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ đặc tính ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi “từ các Giám Mục cho đến người giáo dân rốt hết”, đều đồng ý về những chân lý liên quan đến đức tin và phong hóa”(x.GLCG, số 92).

    “Thực vậy, nhờ cảm thức về đức tin được Thánh Thần chân lý khơi dậy và duy trì và dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền, Dân Thiên Chúa một lòng gắn bó không sờn với đức tin đã được truyền lại một lần dứt khoát, đào sâu đức tin hơn nhờ giải thích đúng đắn và thực thi trọn vẹn đức tin ấy trong đời sống của mình”(x. GLCG, số 93).

    Như chúng ta biết, “Kho tàng đức tin” được chứa đựng trong Thánh Kinh và Thánh Truyền, đã được các Tông Đồ giao phó cho toàn thể Hội Thánh(x. GLCG, số 84). Nhưng “Nhiệm vụ giải nghĩa cách chân chính Lời Thiên Chúa đã được viết ra hay lưu truyền, chỉ được ủy thác cho Huấn Quyền sống động của Hội Thánh và Hội Thánh thi hành quyền đó nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, nghĩa là được ủy thác cho những Giám Mục sống hiệp thông với Giám Mục Rô-ma, là người kế nhiệm thánh Phê-rô”(x. GLCG, số 85).

    Dù vậy, “Huấn Quyền không vượt trên Lời Chúa, nhưng phải phục vụ Lời Chúa, nên chỉ dạy những gì đã được truyền lại. Theo lệnh Chúa, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Huấn Quyền thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và thành tín trình bày Lời Chúa. Và từ kho tàng đức tin duy nhất ấy, rút ra mọi điều phải tin như là Mặc Khải của Thiên Chúa”(x. GLCG, số 86).

    Như thế, người tín hữu công giáo chúng ta muốn có những cảm thức về đức tin; nói cách khác là gia tăng sự hiểu biết về đức tin; hiểu biết về Lời Chúa, chúng ta phải làm 3 việc sau đây:

    1. Suy niệm và học hỏi về Lời Chúa và Giáo Lý của Giáo Hội.
    2. Có đời sống nội tâm sâu sắc để có thể cảm nghiệm được những thực tại thiêng liêng.
    3. Tuân phục những lời giảng dạy của Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục. Vì các ngài là những người đã nhận được đặc sủng chắc chắn về chân lý.

    “Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền, nhờ một sự an bài rất khôn ngoan của Thiên Chúa, liên kết và phối hiệp với nhau đến nỗi không một thực thể nào một trong ba có thể đứng vững một mình được. Dưới tác động của một Thánh Thần duy nhất, cả ba cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu độ các linh hồn, mỗi thứ theo phương cách riêng của mình”(x.GLCG, số 95).

    Có thể nói Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền, theo tôi, được ví như 1 cái kiềng 3 chân. Ông bà ta nói: “Vững như kiềng 3 chân” mà. Cái kiềng đây là Đức Tin; 3 chân đây là Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền của Hội Thánh. Nhờ Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền mà đức tin của chúng ta vững vàng, chính xác và hiệu quả.

    Vậy, chúng ta những người tín hữu công giáo hãy không ngừng đón nhận, đào sâu và sống hồng ân mặc khải ngày càng trọn vẹn hơn, cũng như thực thi trọn vẹn đức tin đó trong đời sống hàng ngày của mình. Đức tin của chúng ta ngày càng vững vàng hơn; trưởng thành hơn; để

    “Dù ai nói ngả nói nghiêng,

    Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”.

    Về mục lục

     

    HÃY DỌN CHO HỌ ĂN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Thời nào cũng vậy, con người luôn có nhu cầu cần lương thực. Đó là nhu cầu căn bản của con người, như người ta thường nói : “Có thực mới vực được đạo”. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tạo thành con người và đặt họ trong vũ trụ. Ngài cũng dùng những sản phẩm từ thiên nhiên để nuôi sống con người. Nếu biết sử dụng đúng mức và công bằng, trái đất này không bao giờ thiếu lương thực nuôi sống con người. Tuy vậy, trong thực tế, mức sống của mọi người lại khác nhau. Hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo càng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Trên thế giới luôn có những người nghèo khổ đói ăn, trẻ em suy dinh dưỡng, người bệnh không có thuốc, trong khi đó lại có những người giàu ăn tiêu phung phí. Trong bối cảnh đó, Lời Chúa hôm nay kêu mời chúng ta: “Hãy dọn cho họ ăn”. Đây là lời mời gọi chia sẻ tinh thần và vật chất để xoa dịu nỗi đau của đồng loại và xây dựng một xã hội công bằng.

    “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?”. Khi viết lại câu hỏi của Chúa Giêsu, Tác giả Gioan còn ghi chú thêm: Người có ý hỏi thử ông Philipphê, vì chính Người biết việc Người sắp làm. Việc Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, vừa chứng minh quyền năng thiên sai của Người, vừa nói lên sự quan tâm chăm sóc của Chúa dành cho những ai nhiệt tâm theo Người vào tận sa mạc. Qua đó, Chúa khẳng định: những ai tin cậy phó thác nơi Chúa, Người sẽ không bỏ rơi họ. Đời sống cá nhân của mỗi tín hữu chúng ta ít nhiều đã chứng minh điều đó. Có những lúc ngặt nghèo túng quẫn, Chúa đã ra tay phù giúp chúng ta. Nhiều khi chúng ta không nhận ra sự can thiệp diệu kỳ của Chúa, mà lại coi đó như một điều ngẫu nhiên. Hôm nay cũng như trong suốt lịch sử, Thiên Chúa vẫn đồng hành với chúng ta và vẫn sẵn sàng ban cho chúng ta những ơn cần thiết trong cuộc đời.

    “Hãy dọn cho họ ăn”, đó là lời mời gọi chia sẻ với tha nhân. Xã hội văn minh hôm nay đang tạo ra những “cỗ người máy”, sống vô cảm trước nỗi đau của người khác. Một số người làm ăn phát đạt giàu có lại khép lòng trước người nghèo và những hoạt động công ích. Sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn gửi gắm chúng ta qua việc hóa bánh ra nhiều, đó là sự chia sẻ với tha nhân. Những chuyên viên nghiên cứu khẳng định rằng, nếu của cải vật chất trên trần gian này được phân phối đồng đều, thì sẽ không còn người đói khát và nghèo khổ. Chúng ta vui mừng vì những năm gần đây, ngày càng có nhiều người quan tâm đến những hoạt động từ thiện, giúp đỡ người nghèo khó bất hạnh và nạn nhân thiên tai. Đó là những điểm sáng bừng lên giữa đêm đen, khẳng định rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn có những tấm lòng nhân ái. Bên cạnh đó, hằng năm đều có những người cán bộ lợi dụng chức quyền ăn chặn tiền hỗ trợ dành cho người nghèo, làm mất niềm tin và ảnh hưởng đến quyền lợi của người nghèo.

    Có người đặt câu hỏi: “Tại sao Chúa không tiếp tục nhân bánh ra nhiều để nuôi con người như được thuật lại trong Tin Mừng?”. Chúng ta nhớ lại lời Chúa quở trách người Do Thái, vì họ tìm Chúa không phải vì lòng yêu mến hay vì thấy những dấu lạ, nhưng vì đã được ăn bánh no nê hôm trước (x. Ga 6, 26). Người không muốn biến đức tin của con người thuần túy vì mục đích trần tục. Thiên Chúa cũng không phải là một người giữ kho, ai cần thì đến xin phát chẩn. Hơn nữa, Chúa Giêsu có thể phán một lời để có số bánh nuôi dân chúng, nhưng Người lại làm bánh ra nhiều khởi đi từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá một bé trai mang theo. Qua đó, Chúa muốn dạy chúng ta: những điều kỳ diệu khởi đi từ sự sẻ chia của con người, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

    “Hãy dọn cho họ ăn”, giáo huấn về quyền năng của Thiên Chúa và lời mời gọi chia sẻ xuyên suốt bề dày lịch sử cứu độ. Ngôn sứ Elisê, với hai mươi chiếc bánh lúa mạch, đã nuôi hằng trăm người ăn no, nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Phép lạ kỳ diệu này đến từ lòng xác tín và cậy trông của Elisê. Ông tin chắc điều ông xin sẽ được Chúa nhận lời, và quả đúng như vậy (Bài đọc I).

    Phép lạ nhân bánh được cả bốn Tin Mừng kể lại, như hình ảnh báo trước Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu sẽ thiết lập trong bữa Tiệc ly. Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đã hóa bánh ra nhiều để nuôi năm ngàn người trong sa mạc, thì hôm nay, trên bàn thờ khắp thế giới, Chúa vẫn đang tiếp tục hiến mình làm của nuôi sống các tín hữu. Nhờ của ăn thiêng liêng là Bí tích Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng và tăng thêm sức mạnh. Bí tích Thánh Thể cũng cho chúng ta được hiệp thông với Chúa và hiệp thông với anh chị em mình. Tình hiệp thông giữa các tín hữu được so sánh với một thân thể con người, gồm nhiều bộ phận mà làm nên sự duy nhất, nhờ vậy mà mọi tín hữu có cùng một đức tin, một phép rửa, một niềm hy vọng, vì cùng là con Thiên Chúa, Đấng là Cha chung của chúng ta (Bài đọc II).

    “Hãy dọn cho họ ăn”, lời mời gọi không dừng lại ở sự chia sẻ vật chất, nhưng nhắc đến mọi khía cạnh đa dạng của cuộc sống. Thánh Gioan Phaolô II đã mong ước mỗi cộng đoàn Kitô hữu trở nên những “Cộng đoàn Thánh Thể”, tức là cộng đoàn lấy Thánh Thể làm trung tâm cho mọi hoạt động, liên kết với nhau trong tình bác ái yêu thương để diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội, là Thân Thể Đức Kitô và là phác thảo đời sau.

    Về mục lục

    .

    ĐÀO TẠO TRÁI TIM

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Đài VTV1 đã chiếu lại bộ phim truyền hình nhiều tập “Bản Tin Sớm”. Nhân vật chính trong phim là Gary Hopson, một người thường xuyên theo dõi tin tức hằng ngày qua tờ báo “Chicago”. Khi đọc tin tức, anh thường chú ý tới những người đang gặp nạn. Mỗi khi thấy có người bị nạn, anh luôn băn khoăn tự hỏi xem mình phải làm gì để giúp đỡ nạn nhân. Và lập tức, bất kể những khó khăn, anh lên đường tìm giúp người bị nạn.

    Tâm hồn người thanh niên dũng cảm và quảng đại ấy có những nét giống với tâm hồn của Đức Giêsu. Mỗi khi nhìn thấy những cảnh khổ ở đời, Đức Giêsu không sao cầm được lòng thương. Hôm nay, nhìn thấy đám đông đói khát, Người không thể để mặc họ ra về. Người cảm thấy có trách nhiệm phải lo cho họ ăn uống đầy đủ. Dù giữa nơi hoang vu không có hàng quán. Mà nếu có hàng quán cũng chẳng ai đủ tiền mua cơm bánh cho hàng chục nghìn người đang đói khát. Nên người đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi dân. Qua phép lạ lớn lao này, Đức Giêsu hé mở cho ta thấy trái tim đầy tình thương xót của Người, quyền năng cao cả của Người. Nhưng đồng thời Người cũng nhân dịp này đào tạo trái tim con người.

    Bài học thứ nhất mà Người muốn dạy ta, đó là lòng cảm thương phải biến thành việc làm cụ thể. Lòng cảm thương là một tình cảm tốt. Nhưng cảm thương suông thì chưa đủ. Thiếu việc làm cụ thể, lòng cảm thương nhiều khi trở thành hình thức, giả dối. Lòng cảm thương ai cũng có. Nhưng số người thực sự ra tay hành động vì lòng cảm thương lại rất hiếm. Có rất nhiều lý do: thái độ ngại ngùng, hoàn cảnh phức tạp, thiếu thốn phương tiện. Các tông đồ nại đến những lý do đó để thoái thác hành động. Nhưng Đức Giêsu bắt họ vào cuộc. Đã thấy việc tốt thì cố gắng làm. Dù khó khăn cách mấy cũng phải vượt qua. Chỉ có việc làm cụ thể mới minh chứng một lòng cảm thương đích thực. Thế là các môn đệ phải đi tìm bánh và cá mang đến cho Chúa. Các ông giúp phân phát lương thực cho mọi người. Các ông đi thu lượm những mẩu bánh còn dư. Các ông tích cực tham gia vào việc cứu đói.

    Bài học thứ hai mà Người muốn dạy ta, đó là hãy cộng tác vào công trình của Chúa. Chúa có thể làm được mọi sự. Nhưng Người muốn ta cộng tác vào chương trình của Người. Người có thể biến đá thành bánh. Nhưng Người vẫn đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá của một em bé. Sự đóng góp của con người tuy nhỏ bé, nhưng rất cần thiết. Đó chính là khởi điểm để Chúa làm việc. Đừng khoán trắng cho Chúa mọi việc. Hãy đóng góp phần của mình. Tục ngữ Pháp có câu: “Hãy tự giúp mình, rồi trời sẽ giúp bạn”. Sự cộng tác của ta nói lên nhu cầu thật sự bức thiết. Sự cộng tác tích cực nói lên lòng ta tha thiết mong muốn. Nỗ lực của con người là khởi đầu phải có. Rồi Chúa sẽ làm nốt phần còn lại. Ở đây ta phải ghi nhận lòng quảng đại của em bé. Có lẽ em đi bán bánh. Giữa nơi hoang vu vắng vẻ, trước một đoàn người đói khát, em có thể lợi dụng thời cơ nâng giá bánh để tìm lợi nhuận. Nhưng em đã quảng đại dâng hết cho Chúa. Chính sự quảng đại của em đã góp phần làm nên phép lạ nuôi sống hàng vạn người.

    Bài học thứ ba mà Người muốn dạy ta, đó là hãy biết tiết kiệm. Đói khát và thừa mứa. Thiếu thốn và phung phí. Đó là hai trạng thái trái ngược hiện nay trên thế giới. Khi dư giả người ta dễ phung phí. Những người vừa trải qua cơn đói, nay đã vứt bừa bãi những mẩu bánh dư thừa. Đức Giêsu sai các môn đệ đi thu lượm những mẩu bánh thừa. Chúa dậy cho mọi người hãy biết tiết kiệm. Tiết kiệm là trân trọng những của cải Chúa ban. Tiết kiệm là ý thức của cải là của mọi người. Nếu tôi phí phạm, anh em tôi sẽ thiếu thốn. Tiết kiệm để chia sẻ. Tiết kiệm vì công bình. Tiết kiệm vì lợi ích của toàn thể nhân loại. Thế giới còn những người đói nghèo không phải là vì thiếu tài nguyên, nhưng vì phân phối chưa đồng đều, vì những người giầu có tiêu xài phí phạm.

    Bài học thứ bốn mà Người muốn dạy ta, đó là phải tìm lương thực thiêng liêng. Vật chất là cần thiết cho đời sống hiện tại. Nhưng vật chất không phải là tất cả. Quá nô lệ vào vật chất, tâm hồn con người sẽ không vươn lên được. Lương thực cho thân xác là một giải quyết cấp thời. Về lâu về dài, muốn con người phát triển, cần phải giải quyết các nạn đói khác. Đó là nạn đói văn hóa. Đó là nạn đói đạo đức. Và trên hết, đó là nạn đói lương thực thiêng liêng. Nhu cầu tâm linh của con người ngày càng lớn rộng. Cơn đói khát tâm linh càng lúc càng mãnh liệt. Tìm đáp ứng nhu cầu tâm linh là một việc làm thiết thực. Nâng cao đời sống tâm linh là đưa con người tới phát triển toàn diện. Chúa bỏ trốn, không chịu để được tôn làm vua, vì Người muốn những kẻ tìm Người tỉnh ngộ, vượt thoát khỏi vòng nô lệ vật chất, vươn lên những giá trị tâm linh.

    Với những bài học kèm theo việc hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu muốn đào tạo trái tim chúng ta. Người muốn trái tim ta hãy mở ra để cảm thương anh em đồng loại. Người muốn lòng cảm thương ấy đi đến cùng bằng những việc làm cụ thể, bằng sự cộng tác quảng đại, bằng sự tiết kiệm để giúp ích cho nhiều anh em. Người muốn trái tim ta vươn lên khao khát những chân trời cao thượng của đời sống tâm linh. Người muốn đào tạo ta nên những con người phát triển toàn diện xứng đáng là những người con của Thiên Chúa. Người muốn nuôi dưỡng không chỉ thân xác nhưng nhất là linh hồn ta.

    Lạy Chúa, xin nâng tâm hồn con lên tới Chúa. Amen.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

    1) Hãy kể lại những bài học mà Chúa muốn dạy ta qua bài Tin Mừng hôm nay.

    2) Bạn có thể góp phần phát triển xã hội bằng cách tiết kiệm. Bạn có thấy việc đó là cần thiết không?

    3) Nhiều lần bạn đã xin Chúa cho được cơm no áo ấm. Nhưng có bao giờ bạn xin Chúa cho được nên người tốt, biết sống đạo đức hơn không?

    4) Lòng cảm thương của bạn có đi đến những việc làm cụ thể không?

    Về mục lục

    .

    NĂM CHIẾC BÁNH VÀ HAI CON CÁ

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.Tất cả những lời nói, cử chỉ, thái độ và những phép lạ của Ngài nói lên quyền năng và lòng nhân từ thương xót của Ngài đối với nhân loại, đối với chúng ta. Chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá do sự cộng tác của con người, Chúa Giêsu đã làm phép lạ để nuôi năm ngàn người ăn no và nhiều người khác nữa khi họ đi theo Chúa, nghe Ngài giảng dạy…Chúa đãi họ một bữa ăn thật bất ngờ ngờ, giản dị. Bữa ăn ngoài trời, bữa ăn tập thể tràn đầy niềm vui, hạnh phúc.

    Đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan hôm nay viết :” Thấy đám đông Chúa chạnh lòng thương “. Chúa đến trần gian để đem lại hạnh phúc và ơn cứu độ cho nhân loại, cho con người. Chúa Giêsu không chỉ rao giảng Nước Trời, Ngài sống nghèo, sống cho người nghèo. Ngài nhạy cảm và đụng tới những nỗi đau của con người. Ngài chữa lành bệnh hoạn tật nguyền, xua trừ ma quỷ và đem lại cho con người ơn cứu độ cả hồn lẫn xác. Đi rao giảng, Ngài không làm công việc cứu thế một mình, Ngài đã mời gọi các môn đệ đi theo Ngài. Ngài chính là mẫu gương sáng ngời của các môn đệ khi dạy các môn đệ :” Rao giảng sự sám hối. Giới thiệu Nước Thiên Chúa. Xua trừ ma quỷ và chữa bệnh hoạn tật nguyền. Chúa Giêsu quan tâm tới con người phần hồn cũng như phần xác. Nên, thấy dân chúng từng đoàn người theo Chúa và các môn đệ để nghe Ngài giảng dạy. Chúa không muốn để họ đói, họ khát. Nên, Ngài đã đặt các môn đệ vào nỗi bận tâm của Ngài. Chúa cần sự đóng góp của con người. Chúa cần một Anrê giới thiệu một em bé. Ngài cần em bé trai dâng tặng Ngài bữa ăn trưa với năm chiếc bánh và hai con cá. Ngài truyền lệnh cho các môn đệ sắp xếp, ổn định chỗ ngồi cho dân chúng. Và Chúa đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều…Thật sự với một vài cái bánh và hai con cá, một số lương thực chẳng thấm vào đâu đối với số dân đông đảo như thế, nhưng nó lại là món quà thật cao quý của sự chia sẻ.

    Thực tế, trên thế giới ngày nay, cái đói cái khát vẫn luôn là nỗi ám ảnh của con người. Biết bao người trên trái đất này đang gặp cảnh đói nghèo. Biết bao người trên thế giới không đủ cơm ăn áo mặc. Tài nguyên thiên nhiên của nhiều nước nằm trong tay của những người giầu thiểu số. Lương thực không được phân bổ đồng đều, có những người ăn không hết phải vứt lương thực đi, nhưng có những người không được ăn no, bữa có bữa không. Vậy cái đói, cái mặc vẫn còn quay quắt trên thân xác của nhiều con người. Có biết bao người có tấm lòng vàng, tấm lòng nhân từ, đã xót xa trước những cảnh tượng đau thương đó, và họ đã bắt tay vào công việc với niềm tin, với sự hy vọng sẽ phần nào làm vơi đi nỗi khổ đau của con người, của nhân loại dù chỉ với :” năm chiếc bánh và hai con cá “. Thiên Chúa sẽ biến đổi, sẽ làm cho con người được đầy no ân phúc.Ngài sẽ làm cho thế giới đẹp hơn, ấm áp hơn, con người hơn và bộ mặt trái đất trở nên sáng hơn, tươi hơn. Do đó, muôn thời thế giới luôn cần có những Kitô hữu,dám sống triệt để Tin Mừng, luôn sẵn sàng giơ tay ra để giúp đỡ những người nghèo, những người bơ vơ vất vưởng, những kẻ cô thân cô thế, thấp cổ bé họng trong xã hội vv…Thế giới này luôn cần có những Phanxicô khó nghèo, những  Đa Minh, những Anphongsô, những Têrêsa Calcutta vv…để những người nghèo, những người đau khổ, những người bị thử thách nhận được sự nâng đỡ, ủi an…

    Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài để thực hiện những phép lạ như Ngài đã làm trong Kinh Thánh. Chúa mời gọi chúng ta dâng cho Ngài thời giờ, khả năng, vật chất, của cái vv…để với sự cộng tác của chúng ta, Chúa sẽ làm những tặng vật chúng ta trao cho Ngài hóa ra nhiều như năm chiếc bánh và hai con cá, để sẻ chia cho nhiều người trên thế giới, trong xã hội cần được chia sẻ vv…Đứng trước những nỗi khổ đau và nghèo nàn, đói khát của nhiều người. Biết bao người nghĩ rằng mình chẳng có gì để sẻ chia, nhưng thực tế nếu con người biết cho đi thì những cái mình tưởng không ích lợi, không cần thiết  sẽ làm cho nhiều người được bớt đói và như thế là đủ cho họ,

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn nhạy cảm, luôn biết quan tâm đến nỗi khó nhọc, đau khổ của người khác.Xin giúp chúng con có tấm lòng như Chúa để chúng con biết cho đi và sẻ chia cho người khác những gì chúng con tưởng răng không cần thiết, nhưng chính sự cho đi là niềm vui và là sự cần thiết cho những người đang cần chúng con chia sẻ.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Thấy đám đông dân chúng, Chúa Giêsu thế nào ?

    2.Chúa Giêsu làm phép lạ nhưng Người nơi chúng ta điều gì ?

    3.Năm chiếc banh và hai con cá giúp Chúa ra sao ?

    4.Đứng trước cơn đói, cơn khát của tha nhân chúng ta phải làm gì ?

    5.Cho đi có cần thiết không ? Tại sao ?

    Về mục lục

    .

    ĐỪNG BỎ LỠ CƠ HỘI

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Người ta nói rằng: cuộc đời ngắn lắm. Hãy trao cho nhau tình yêu khi có thể. Hãy sống trọn tình yêu thương với tha nhân. Đừng để thời gian trôi qua mới nuối tiếc vì mình đã không sống tròn hai chữ yêu thương.

    Có người nghĩ rằng tôi còn nghèo, còn phải bòn nhặt từng đồng lấy đâu ra của cải để cho tha nhân. Có người thì bảo rằng : tôi quá bận rộn với việc mưu sinh lấy đâu ra thời giờ dành cho tha nhân.  Con người thường loay hoay cho bản thân nên bỏ lỡ cơ hội giúp tha nhân.

    Thực ra trong tình yêu thương đâu cần làm những chuyện vĩ đại. Một nụ cười nhân ái. Một cái bắt tay thân ái. Một ánh mắt nhìn cảm thông là chúng ta cũng đang cho nhau tình yêu. Nếu có tình yêu thì người ta luôn vun quén từng nghĩa cử, từng khoảnh khắc để bày tỏ tình yêu. Không có tình yêu người ta sẽ dửng dưng vô cảm với nhau. Nhưng nhờ tình yêu người ta sẽ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để thi thố tình yêu.

    Em bé trong tin mừng hôm nay đã không bỏ lỡ cơ hội giúp tha nhân. Có thể em không nghĩ rằng mình sẽ giúp được cho hơn 5000 người có bánh và cá ăn. Em chỉ trao ban một phần nhỏ của em cho ai đó đang quặn đau vì đói. Em đã dâng cho Chúa một cách vô vị lợi, không toan tính thiệt hơn. Em đã làm tất cả vì tình yêu đối với đồng loại của mình. Chính lòng quảng đại của em đã được Chúa làm phép lạ nhân rộng bánh và cá cho hơn năm ngàn người ăn.
    Thế nhưng, trong cuộc sống chúng ta thường bỏ lỡ cơ hội giúp người. Đôi khi chúng ta cũng áy láy vì từ chối giúp người ăn xin, người cơ nhỡ. Đôi khi chúng ta cũng tiếc nuối vì việc thiện chúng ta đã bỏ qua. Và đôi khi chúng ta cũng ân hận vì sự vô tâm của mình mà ai đó đã chết dần vì chúng ta.

    Vâng, bỏ lỡ cơ hội làm việc thiện là một thiếu sót của chúng ta. Đôi khi vì đó mà chúng ta ân hận cả đời. Thiên Chúa luôn tạo cho chúng ta biết bao cơ hội để trao ban những nghĩa cử cao đẹp cho tha nhân, để thi thố tình thương đến với những anh em bất hạnh. Có thể là những cơ hội cứu sống người khác. Có thể là những cơ hội mang lại niềm vui cho tha nhân. Có thể chỉ là những cơ hội nhỏ nhoi khi chúng ta biết chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau từ ngay chính gia đình của mình. Thiên Chúa muốn chúng ta vào được Nước Trời phải biết lập công qua việc giúp đỡ tha nhân. Tha nhân là hiện thân của Chúa. Ai giúp đỡ tha nhân là giúp đỡ Chúa. Vì thế, hãy thi thố tình thương trong khả năng, trong hoàn cảnh của mình. Đừng đánh mất cơ hội vào Nước trời khi bỏ rơi đồng loại và sống dửng dưng với những bất hạnh của tha nhân.

    Nhưng đáng tiếc vẫn còn đó biết bao người già đã chết trong sự cô đơn vì con cháu bỏ rơi. Biết bao người chồng, người vợ đang bị đối xử bằng những đòn roi, những lời thoá mạ, làm nhục lẫn nhau. Biết bao lần chúng ta đã ngoảnh mặt làm ngơ khi ai đó van nài chúng ta. Biết bao lần chúng ta bước qua những mảnh đời bất hạnh mà không hề xót thương.

    Chúa Giê-su Ngài luôn chạnh lòng thương với những mảnh đời bất hạnh. Ngài không bỏ lỡ cơ hội giúp người. Từ mọi thành phần. Từ mọi tầng lớp. Ngài đều thi ân giáng phúc. Hôm nay, Ngài cũng nhắc nhở các môn sinh: “chính anh em hãy cho họ ăn”.  Cho dù các ông nại vào lý do số đông để từ chối, để nói rằng: “lực bất tòng tâm”. Nhưng Chúa muốn các ông phải bắt đầu. Bắt đầu từ việc thu gom một phần bánh nhỏ bé. Mọi việc dù nhỏ, dù lớn cũng phải được bắt đầu. Bắt đầu không nhất thiết phải hoành tráng, phải đánh trống khua chiêng. Bắt đầu từ những việc nhỏ bé âm thầm nhưng với thời gian, với ơn Chúa sẽ trở thành những việc phi thường.

    Xin Chúa cho chúng ta luôn biết bắt đầu việc thiện từ những việc nhỏ bé tầm thường, và để Chúa sẽ kiện toàn những điều tốt đẹp đó theo ý Ngài. Xin cho chúng ta đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội làm việc thiện cứu đời, nhưng luôn biết tận dụng mọi cơ hội lớn nhỏ để dâng cho Chúa như những chiếc bánh, con cá hầu mang lại niềm vui cho mọi người. Xin Chúa chúc lành cho tất cả những hy sinh, những nghĩa cử bác ái mà chúng ta đã làm cho Chúa và cho tha nhân. Amen

    Về mục lục

    .

    DÂNG CHÚA TẤT CẢ

    Bông hồng nhỏ

    Người mẹ đi chợ mua năm chiếc bánh và hai con cá cộng thêm mớ rau ngót là đã có được một bữa ăn cho gia đình nhỏ của mình. Chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá, hôm nay, Chúa Giê-su đã phân phát cho hơn năm ngàn người ăn no nê và còn dư được cả mười hai thúng đầy. Đó là một phép lạ xuất phát từ trái tim thương cảm của Chúa Giê-su.

    Một anh bạn ngoại đạo đã mỉn cười khi đọc trình thuật “Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều” trong Tin Mừng theo Thánh sử Gio-an. Anh xem câu chuyện vừa đọc giống như câu chuyện niêu cơm Thạch Sanh trong kho tàng cổ tích Việt Nam. Ta cũng từng đọc và nhớ mãi niêu cơm của chàng Thạch Sanh. Nhưng khác với anh bạn ngoại đạo kia, khi đọc trình thuật “Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều”, lòng ta vang lên lời mời gọi “hãy cho họ ăn” mà chính Chúa Giê-su ngỏ lời; lòng ta dấy lên một niềm tin tưởng mãnh liệt vào tình thương bao la của Thiên Chúa.

    Trong cuộc sống, đứng trước cái đói khát của người anh chị em, Chúa Giê-su cũng hỏi ta: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6,5b). Chính câu hỏi đó làm ta bối rối và không ít lần ta bỏ cuộc vì xét thấy mình chẳng làm gì được. Có nhiều thứ đói khát, không chỉ đói cơm bánh, khát nước nhưng còn  những thứ đói khát khác: đói tình thương, khát sự quan tâm, đói và khát Đức tin, đói khát một lý tưởng sống… Chúa vẫn cứ ngỏ lời với ta và chờ đợi ta cộng tác. Chúa chỉ cần chúng ta cộng tác qua việc vất vả tìm kiếm chỉ “năm chiếc bánh và hai con cá” thôi, và dâng hết cho Chúa, và phần còn lại Chúa sẽ lo. Bởi khi ngỏ lời với ta, Thiên Chúa đã biết điều Người sắp làm (x.Ga 6,6). Khi ta dám trao vào tay Chúa tất cả những gì mình có, những gì mình có thể cộng tác bằng cả trái tim thì Thiên Chúa ban phát ân sủng chứa chan. Trở thành cánh tay hữu hình của Chúa, ta thấy mình thật hạnh phúc. Khi dân chúng đã no, nỗi lo của các Tông đồ không còn, lại còn được nghe người ta ca ngợi, có lẽ các Tông đồ cũng rất hạnh phúc. Vậy mà phản ứng của Thầy Giê-su thật khác người: “Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.” (Ga 6,15). Thầy Giê-su lại lánh mặt, có nghĩa là đây không phải là phản ứng bất ngờ đầu tiên của Thầy. Sau bao lần tỏ tình thương cho dân chúng, Thầy được tung hô, muốn tôn Thầy làm vua nhưng Thầy Giê-su đã từ chối. Lòng người đầy tham vọng và háo danh. Thầy Giê-su muốn dạy dỗ các môn đệ mình, giải thoát các ông khỏi thói háo danh, để chỉ cho các ông thấy rằng tình thương xót của Thiên Chúa thì vô điều kiện. Để thoát khỏi tình cảnh nô lệ nơi chính mình, ta cũng phải can đảm “rời khỏi đó” như Thầy Giê-su và đến cùng Chúa Cha để không bị ba thù vây hãm.

    Lạy Chúa Giê-su! Để trở thành cánh tay hữu hình của Chúa, con được mời gọi cộng tác với Chúa trong khi dấn thân phục vụ. Chúa là Đấng xót thương, xin Chúa cho con biết chiêm ngắm và noi theo Chúa, đến với tha nhân bằng trái tim biết thương cảm. Xin cho con hiểu rằng: mọi khó khăn thử thánh trên đường phục vụ đều trở nên nhẹ nhàng khi con biết trao vào tay Chúa tất cả. Amen.

    Về mục lục

    .

    MỘT CHÚT THÔI

    Anna Cỏ May

    Ngày hôm nay, trong các tiệm bánh, người ta trưng bày rất nhiều loại bánh, mỗi loại bánh lại có nhiều hình dạng khác nhau và mùi vị khác nhau. Những chiếc bánh ấy là thành quả sáng tạo của con người và được làm từ bàn tay của những người thợ lành nghề. Những người muốn có bánh ăn mà không có thời gian để làm thì đến mua bánh và trả tiền cho người thợ. Cung và cầu luôn đi song hành cùng nhau. Cuộc sống của chúng ta cũng vậy, nhờ hợp tác với nhau, cuộc sống của chúng ta trở nên an hòa và và trật tự.

    Chúa Giê-su, Đấng quyền năng tuyệt đối, Ngài có thể làm được mọi sự nhưng Ngài vẫn muốn sự cộng tác của con người. Khi làm phép lạ chữa bệnh tật cho mọi người, Ngài cần Đức tin nơi họ. Khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, Ngài cần một chút bánh từ chính con người.

    Chúa Giê-su biết rõ mình phải làm gì trước một đám đông trong lúc bóng xế chiều, và Ngài đã hỏi ông Phi-líp-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Phi-líp-phê trả lời: “Thưa, có mua tới hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Còn ông An-rê thì trả lời với Ngài những gì hiện đang có: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!” (Ga 6,5-9). Với năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài đã làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho khoảng năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con. Tất cả đều được ăn no nê và còn dư mười hai thúng.

    Nếu không có năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa Giê-su có làm phép lạ được không? Có, nhưng Ngài muốn họ cộng tác với Ngài trong các phép lạ. Dõi theo Tin Mừng, dường như mỗi phép lạ của Ngài luôn có sự khao khát, lòng yêu mến, sự khiêm tốn, thái độ nài xin, hy vọng và nhất là sự tin tưởng và phó thác của người xin. Theo lẽ tự nhiên, điều gì hay cái gì đến, xuất phát từ lòng mong ước và lòng khát khao thì con người dễ thấy giá trị và niềm vui. Như cha mẹ mong con cái sống hạnh phúc và có tương lai và đã mẫn nguyện như thế nào khi chứng kiến điều họ mong ước nên hiện thực. Như các tu sĩ khao khát, mong ước được đi theo Chúa đến cùng, và đã hạnh phúc như thế nào khi nhắm mắt về với Chúa. Chính sự khao khát ấy thôi thúc chúng ta thực hiện kế hoạch để đạt tới. Vậy sao chúng ta không dâng cho Ngài sự ước mong ấy như cậu bé trao bánh và cá cho Ngài, để Ngài chúc phúc cho chúng ta. Chúng ta hãy tin tưởng và cầu xin Ngài. Bởi vì Ngài đã nói: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.”(Mt 9,13).

    Lạy Chúa, ngày hôm nay dường như chúng ta thích những phép lạ từ Chúa hơn là phát huy những ân huệ Chúa ban để Chúa làm nên phép lạ. Xin Chúa giúp chúng con biết nhận ra những ân huệ Chúa ban phát huy những gì đang có để phục vụ mọi người. Đồng thời, biết tin tưởng vào quyền năng của Chúa mỗi ngày một hơn. Amen.

    Về mục lục

    .

    THẾ GIỚI ĐANG RẤT CẦN TÌNH YÊU CHIA SẺ

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Hôm nay, chúng ta có thể chiêm ngắm tình yêu nhân loại và tình yêu siêu nhiên được hình thành bên trong chúng ta như thế nào, để chúng ta có một trái tim vừa yêu mến Thiên Chúa vừa yêu thương tha nhân.

    Thật vậy, Thiên Chúa đã tạo dựng con người không phải để sống một mình, mà là để sống với, sống cùng, và sống cho người khác. Ngài không muốn chúng ta sống trong cô độc, khép kín, nhưng là mở lòng ra với Thiên Chúa, với anh chị em mình. Nghĩa là sống tình liên đới với nhau, trong tương quan hài hòa giữa ta với Chúa và vạn vật.

    Bé trai trong đoạn Tin Mừng (Ga 6,1-15) hôm nay là một mẫu người điển hình cần phải có trong thời đại chúng ta. Em có “năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá” (Ga 6,9), đối với Anrê thì chẳng thấm vào đâu, nhưng là tất cả những gì em đang có, em có là do cha mẹ hoặc người khác cho em.

    Cứ bảo người ta ngồi xuống“, lệnh Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ phải làm ngay lập tức. Người mắt lên thì nhìn thấy đám đông, một đám đông đi tìm Chúa không phải chỉ để được ăn no, nhưng còn để được chữa lành bệnh, nhất là được an ủi, được dạy dỗ và bảo ban. Năm chiếc bánh với hai con cá của một bé trai trước nhu cầu của một đám đông, chỉ tính nguyên số đàn ông thôi cũng chừng năm ngàn người rồi thật là ít ỏi. Chúa không chê cái số ít ấy, điều quan trọng là đóng góp phần mình. Tình yêu không đòi ta phải quán xuyến mọi sự, nhưng đòi ta góp phần của mình vào việc chung.

    Chúa cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng để làm phép bánh và cá như chúng ta thấy, sự sẻ chia của em bé dù ít cũng trở thành thiêng liêng cao quí. Chúa không làm phép lạ tức khắc biến ngay cá và bánh ra một núi lương thực cho mọi người tự do đến lấy mà. Chúa cũng không tự tay phân phát lương thực cho mọi người. Chúa trao bánh và cá cho các môn đệ. Các môn đệ trao cho mọi người. Và mọi người trao lại cho nhau. Đó là bài học lớn của phép lạ. Chính khi mọi người trao cho nhau, Chúa làm phép lạ. Bánh và cá cứ tiếp tục sinh sôi bao lâu những bàn tay còn trao cho nhau. Bao lâu con người còn nhìn đến nhau, bấy lâu bánh và cá vẫn tiếp tục nhân lên. Những tấm bánh yêu thương. Những đàn cá của sự chia sẻ nhân lên theo nhịp đập đồng cảm của trái tim. Khi trái tim chan chứa yêu thương, quan tâm, liên đới, lương thực trở nên phong phú, dồi dào.

    Nhiều người cho rằng thế giới này quá chật hẹp không đủ chỗ hay lương thực trên thế giới không đủ nuôi mọi người nên giảm dân số. Hôm nay Chúa dạy ta mỗi người hãy chia sẻ những gì mình có thì thế giới sẽ dư thừa lương thực. Khi trái tim mở ra thế giới sẽ có đủ chỗ cho mọi người.

    Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh và như họa ảnh của mình (x. St 1,26). Ngài cũng là Thiên Chúa tình thương (x. 1Ga 4,8). Nên con người tự bản chất là tình thương. Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất nghĩa nếu không nhận lấy mạc khải về tình yêu, nếu không gặp tình yêu, nếu không kinh nghiệm tình yêu và không nhận lấy kinh nghiệm đó làm của mình và dự phần vào đó cách mãnh liệt” (Thông điệp Đấng Cứu Chuộc số 10). Không có tình thương, thế giới không còn là thế giới của con người nữa.

    Ý thức về điều căn bản này, chúng ta hãy phấn đấu để trở nên những tông đồ, những sứ giả cổ vũ và kiến tạo nền văn minh tình thương. Hãy thương yêu và tương trợ lẫn nhau, vì tình thương là căn tính, là bản chất của con người. Hãy loại bỏ sự đố kỵ, hận thù, chia rẽ và những nguyên nhân làm hại đến tình thương như : bất công, kỳ thị, độc đoán, tham quyền, ích kỷ, kiêu căng, giả dối và các tội ác. Hãy sống đúng với sự thật về căn tính của mình và giúp mọi người sống đúng với căn tính đó: con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa là sự thật và là tình thương.

    Nếu chúng ta sẵn sàng đặt những gì mình có vào tay Thiên Chúa thì như thế đã là đủ bởi vì trong thế giới sẽ có thêm một chút tình thương, an bình, công lý, và trên hết là niềm vui. Ðiều cần thiết là niềm vui trong thế giới! Thiên Chúa đủ khả năng để nhân lên từ những bé nhỏ của chúng ta.

    Lạy Mẹ của lòng nhân ái, xin trợ giúp chúng con làm việc này. Amen

    Về mục lục

    .

    HÓA BÁNH

    Lm. Trần Việt Hùng

    Vượt Qua đại lễ gần kề,

    Đám đông theo Chúa, tụ về thành xưa.

    Nhiều người bệnh tật đón đưa,

    Chữa lành tất cả, ơn mưa dạt dào.

    Chúa lên sườn núi trên cao,

    Thấy đoàn dân chúng, lao đao tìm tòi.

    Cảm thương đói khát thiệt thòi,

    Muốn mua ít bánh, thử coi thế nào.

    Môn đồ tính toán làm sao?

    Hai trăm bạc bánh, có bao số người.

    Biết rằng Chúa muốn gọi mời,

    Tin yêu phó thác, Chúa Trời ban cho.

    Có đây bánh cá đừng lo,

    Chúa làm phép lạ, ăn no dư tràn.

    Năm ngàn nhân khẩu Chúa ban,

    Mười hai thúng vụn, tràn lan bánh thừa. 

    Xin Chúa mở rộng bàn tay ra thi ân cho chúng tôi được no nê. Chúa Giêsu đã nhìn biết được những nhu cầu cần thiếu của con người. Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu để nuôi dưỡng sự sống. Với năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa đã hóa ra nhiều để nuôi trên năm ngàn người ăn no nê. Chúa đã ban cho dư tràn.

    Không phải ngày nào Chúa cũng hóa bánh ra nhiều để nuôi dân. Chúa có quyền năng để ban phát của ăn như Chúa đã ban Manna cho dân Do Thái trong suốt hành trình lưu lạc trong sa mạc. Nơi đây Chúa chú trọng đến của ăn tinh thần. Chúa không đến trần gian để làm kinh tế và lo thực phẩm cho phần xác. Chúa đến ban ơn cứu độ. Tuy nhiên, Chúa cũng quan tâm đến sự đói khổ và những nhu cầu phần xác của con người. Chính Chúa hạ thân trong cảnh cơ nghèo. Chúa thấu hiểu sự đói khổ và nghèo túng của con người. Chúa đã trao cho con người có trí khôn thông minh để làm chủ trái đất. Con người có bổn phận tìm kiếm, khai thác và gìn giữ phát triển nguồn thiên nhiên để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết cho loài người

    Truyện kể vào một buổi chiều, thầy dòng chăm chú cầu nguyện. Thầy thấy một bà mẹ tật nguyền lê bước xin thức ăn cho đứa con bị suy dinh dưỡng. Nhìn cảnh khổ đau, thầy ngước nhìn lên Chúa thầm cầu nguyện và như có vẻ oán trách Chúa: Lạy Chúa toàn năng và đại lượng. Sao Chúa lại để cảnh khổ đau và đói khát trên trần gian này? Trong lúc đó, tâm hồn thầy nghe được tiếng lòng. Chúa phán: Ta đã làm. Ta đã dựng nên con. 

    Cảnh đời đói khát xảy ra khắp nơiĐói cơm đói gạo. Đói nhu cầu vật chất. Đói lương thực thiêng liêng. Đói tình thương. Đói chân lý. Đói khát làm con người héo tàn. Người đời luôn hăng hái tìm kiếm và tích lũy cho thật nhiều của cải nuôi sống thân xác. Có nhiều người sống trên nhung lụa hoang phí của cải. Có những người làm lụng vất vả cả đời cũng không đủ ăn.

    Chúa đứng về phía những người nghèo. Chúa cần sự giúp đỡ và sự chia xẻ của mỗi người. Chúa muốn sự giúp đỡ không phải cho Chúa mà cho thân thể mầu nhiệm của Ngài, đó chính là các anh chị em nghèo hèn của Chúa. Họ đang đói khát cơm bánh và đói khát tình yêu. Ngày phán xét, Chúa sẽ hỏi chúng ta rằng: Chúng con đã giúp đỡ cho những người nghèo khổ và đói khát được những gì?. Việc công bằng chia xớt và việc bác ái sẽ chính là phần thưởng đời sau.

    Chúa nhắn nhủ chúng ta rằng nhu cầu cuộc sống không chỉ là cơm bánh nhưng là nguồn tình yêu chia xẻ. Lương thực cần thiết làm no thỏa khát vọng của con người chính là tình yêu. Chỉ có tình yêu mới lấp đầy và mới giải khát cho những ước vọng sâu xa của con người. Thánh Augustinô nói rằng: Hãy yêu đi rồi làm.

    Về mục lục

    .

    NĂM CHIẾC BÁNH

    Lm. Nguyễn Thái

    Xưa kia, Mẹ Têrêsa Calcuta đã có một giấc mơ. Mẹ đã từng nói với những vị bề trên của mình rằng: “Con chỉ có 3 xu thôi, nhưng Thiên Chúa cho con một giấc mơ là xây dựng một viện mồ côi.” Bề trên đã nhẹ nhàng khiển trách rằng: “Con không thể nào xây dựng được một viện mồ côi với 3 xu. Chỉ với 3 đồng xu thôi con không thể làm được bất cứ việc gì cả!” Mẹ mỉm cười đáp: “Con biết, nhưng với Thiên Chúa và 3 đồng xu của con có thể làm được bất cứ việc gì.”

    Trong bài Phúc Âm hôm nay, Ga 6:1-15, Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều nuôi năm ngàn người ăn no nê từ năm chiếc bánh và hai con cá của một em bé trai. Đây là câu chuyện duy nhất đã được cả bốn Phúc Âm kể lại, hai lần trong các Phúc Âm của Mátthêu (14:13-21; 15:32-39) và Mác-cô (6:32-44; 8:1-10), một lần trong Luca (9:10-17) và Gioan. Vì thế, như William Barclay đã nhận xét, câu chuyện mang tích cách bí tích với một nội dung phong phú, có liên hệ đến đời sống đức tin của các tín hữu thời sơ khai.

    Trước tiên, hóa bánh ra nhiều là sự chia sẻ trong tình liên đới. Thời Cựu Ước, trẻ con và phụ nữ là những thành phần không đáng kể. Em bé trai thì có gì đáng nói! Năm chiếc bánh và hai con cá của em cũng rất tầm thường và bé nhỏ. Theo William Barclay, bánh lúa mạch là loại bánh rẻ nhất và bị khinh chê, vì lúa mạch là lương thực của gia súc. Bánh lúa mạch là bánh của người nghèo. Còn cá thì không có gì hơn cá mòi, sardine, bắt ở biển Galilêa, được ngâm muối rất phổ thông. Vào thời này, cá tươi là loại quý giá, chỉ có ở những nơi gần biển Galilêa, vì không có phương tiện bảo trì và di chuyển đến những nơi xa.

    Qua những phương tiện tầm thường và nhỏ bé này Chúa Giêsu đã làm nên một phép lạ vĩ đại. Ngài cần bất cứ cái gì chúng ta có thể mang lại cho Ngài, dù nhỏ bé đến đâu. Chúng ta đã sử dụng thế nào những món quà Thiên Chúa ban cho ta? Những món quà của chúng ta sẽ được nhân lên nếu chúng ta biết chia sẻ trong tình liên đới.

    Bạn có biết rằng mỗi giờ đồng hồ, có khoảng 1,500 trẻ em trên thế giới đang chết vì đói hay vì những bệnh tật và những nguyên nhân có liên hệ đến sự đói khát không? Bạn có để ý đến sự kiện mùa Đông năm 2002, ở Afghanistan, có hằng triệu người dân phải ăn cỏ để giữ lấy mạng sống của mình không?

    Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khuyên: “Tình liên đới giúp ta nhìn ra ‘người khác’ – cá nhân, dân tộc, hay quốc gia – không phải như dụng cụ nào đó mà người ta khai thác khả năng lao động hay sức dẻo dai thể lý cho đỡ tốn tiền, để rồi vất bỏ đi như đồ vô dụng. Nhưng phải nhìn ‘người khác’ đó như kẻ ‘giống’ mình, một trợ lực (St 2:18-20), mà người ta phải làm cho được cùng tham dự vào bữa tiệc cuộc đời ngang hàng với ta; bữa tiệc mà mọi người đều được Chúa mời gọi tới dự. Do đó, cần phải khơi dậy ý thức tôn giáo nơi mọi người, mọi dân tộc” (TVNNTB, Lao Động, trang 190).

    Thứ hai, việc hóa bánh ra nhiều nói lên thái độ duy vật của dân chúng. Trong cuốn “The Great Church Year” (Crossroad, New York: 1994), thần học gia Karl Rahner đã giải thích tâm lý phức tạp của quần chúng lũ lượt kéo đến với Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay: “Họ đã đi theo Chúa Giêsu vào hoang địa vì họ ý thức rằng cuộc sống riêng tư của họ cũng là một hoang địa. Họ đói những lời Chúa Giêsu phán dạy. Họ muốn có thêm một sự gì đó hơn là cuộc sống hằng ngày đã đem lại cho họ. Nhưng trong khi họ đói khát Thiên Chúa, thì cái đói thể lý chộp lấy họ. Đang khi đói khát Thiên Chúa, thì họ cũng nhận thấy chính mình đang đói khát cuộc sống trần thế này. Rồi tình huống đã biến đổi lạ lùng. Chúa Giêsu, Đấng mà họ đang theo đuổi để lắng nghe những lời hằng sống, đã ban cho họ bánh và cá, lương thực trần gian. Sau khi đã ăn uống no nê, họ lại muốn tôn phong Ngài lên làm Vua: “Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6, 15). Điều đã được ban cho họ như là lương thực để nâng đỡ họ đang lúc đi tìm kiếm Thiên Chúa đã trở nên một sự cám dỗ, thúc đẩy họ thèm muốn “bữa ăn miễn phí” và đánh mất đi cái ý nghĩa của nó. Hậu quả là, Chúa Giêsu đã chạy trốn thoát ra khỏi họ.” Karl Rahner kết luận: “Đây chính là một dụ ngôn về điều đang thường xuyên xảy ra trong đời sống của mỗi cá nhân, và đặc biệt trong thời buổi khoa học kỹ thuật ngày nay.”

    Thiên Chúa đã ban cho con người lý trí khôn ngoan để phát triển nền khoa học kỹ thuật, tạo nên cơm bánh và các phương tiện sinh sống khác. Khoa học kỹ thuật phải giúp con người đi tìm kiếm Thiên Chúa và hướng về đời sống vĩnh cửu. Nhưng khi đã đạt đến trình độ văn minh tân tiến rồi, con người lại muốn tôn vinh khoa học kỹ thuật trở thành một thứ ngẫu tượng giống như Thiên Chúa!

    Một thực tại khác nữa là, khi nghèo khổ, người ta nhiệt tình đi tìm kiếm và thờ phượng Thiên Chúa. Xin Chúa ban cho có cơm ăn áo mặc để “có thực mới vực được đạo”. Nhưng khi đã no đủ, giàu sang, văn minh tiến bộ, người ta lại muốn tôn vinh của cải trần gian đó lên làm thượng đế thay cho Thiên Chúa!

    Đây chính là những cám dỗ của con người trong mọi thời đại. Chúa Giêsu đã có những quyết định dứt khoát như Công Đồng Vatican II diễn tả: “Vì không muốn là một Đấng Thiên Sai làm chính trị, dùng sức mạnh để cai trị, nên Người thích tự xưng là Con Người, đến ‘để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn dân’ (Mc 10:45). Người đã tỏ ra là một Tôi Tớ hoàn hảo của Thiên Chúa (Is 42:1-4)” (Dignitatis Humanae, đoạn 11).

    Trên hết, hóa bánh ra nhiều nói lên tình yêu thương của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu với tình yêu thương và quyền phép của Ngài chính là trung tâm của câu chuyện hóa bánh ra nhiều hôm nay. Phúc Âm kể về những hành động của Chúa Giêsu như sau: “Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó” (Mc 6:11). Đây là những hành động Ngài đã làm được diễn tả trong bữa tiệc ly khi cử hành Bí Tích Thánh Thể (Mt 26:26). Dấu chỉ hóa bánh ra nhiều dạy cho chúng ta biết rằng Bí Tích Thánh Thể là lương thực thực sự cho những ai theo Chúa Giêsu. Một nguồn ban phát lương thực phong phú vô tận cho nhân loại.

    Một trong những con bệnh đáng sợ của thời đại chúng ta đang sống là tính ích kỷ (Gl 6:2; Pl 2:21). Sự ích kỷ gây nên chiến tranh và hận thù (Gc 4:1-3). Khi Đức Dalai Lama, vị lãnh đạo tinh thần lưu vong của người Tây Tạng, được hỏi về giải đáp cho những vấn đề rắc rối của thời đại chúng ta, ngài đã trả lời thật ngắn gọn: Lòng Thương Xót!

    Có người đến nói với triết gia Hy Lạp Epictetus rằng: “Tôi không phải là bậc thánh hiền, nhưng tôi thương con tôi và con tôi cũng thương tôi lắm.” Epictetus mỉn cười rồi chỉ hai con chó con đang đùa giỡn với nhau rất thân thiện và nói: “Nếu ông thích nhìn chúng vui vẻ nô đùa với nhau như vậy, thì chớ có ném cho chúng mẩu xương nào.” Nói xong, triết gia quay lại nói tiếp với người kia: “Ông có nhớ không, hai người con sanh đôi của Oedipe là Étéocle và Polinice, ngay từ bé đã yêu thương nhau thắm thiết, nhưng chỉ vì một mẩu xương vụn rơi giữa hai đứa – tức là cái ngai vàng – mà chúng đã trở nên thù nghịch đến nỗi giết hại nhau. Vậy nếu cha con ông thương nhau, tôi cầu mong đừng bao giờ có một mẩu xương vụn nào rớt giữa cha con ông. Nghĩa là đừng bao giờ có một miếng đất nhỏ nào mà cha con ông cùng ước muốn; đừng bao giờ có người nữ xinh đẹp nào mà cha con ông cùng say mê; đừng bao giờ có một chức vị nào mà cha con ông cùng nhắm tới. Tôi chỉ sợ tổn thương tình phụ tử của cha con ông. Khi nào cha con ông, vì tình nghĩa với nhau, loại bỏ được tính ích kỷ, hờ hững của cải vật chất bên ngoài, chừng đó ông bảo với tôi cha con ông thương nhau, bấy giờ tôi mới tin.”

    Mỗi khi chúng ta đến nhà thờ cử hành Bí tích Thánh Thể, tuyệt đỉnh của Tình Yêu và Hy Sinh của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi đến để học biết loại bỏ tính ích kỷ (1 Cr 11:17), và để gia tăng tình liên đới. Dấu chỉ hóa bánh ra nhiều từ năm chiếc bánh và hai con cá chính là phép lạ của sự chia sẻ và tình liên đới đối với những món quà của Thiên Chúa ban cho chúng ta. Ơn Chúa ban cho chúng ta vô cùng phong phú, đặc biệt qua bàn tiệc Thánh Thể. Chúng ta được gọi đến không những để lãnh nhận ơn lành của Tình Yêu Thiên Chúa mà còn phải chia sẻ ra những gì chúng ta đang có cho anh chị em chúng ta nữa. Bởi “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35).

    Về mục lục

    .

    CÁC CON HÃY CHO HỌ ĂN

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Trong khung cảnh giữa nơi hoang vắng, trước một đám đông dân chúng hầu như mệt lả sau một ngày đi theo Chúa để được nghe Ngài giảng dạy và được chữa lành. Đức Giêsu bảo các Tông Đồ hãy cho họ ăn (Mk 6:37). Các ông đều có ý nghĩ rằng trong nơi hoang địa này lấy gì cho họ ăn; giả như có được 200 đồng mua bánh đi nữa thì cũng chẳng thấm vào đâu với số người đông đảo này. Nhưng Đức Giêsu đã ra tay, chỉ với 5 chiếc bánh lúa mạch và 2 con cá, Ngài đã làm cho 5000 người đàn ông, không kể đàn bà con trẻ, được ăn no nê, lại còn thu được 12 thúng đầy miếng bánh vụn (Mk 6:34-44).

    Qua phép lạ này, dân chúng rất hồ hởi và muốn tôn phong Ngài làm vua (Jn 6:15) vì coi Ngài như một tiên tri có quyền năng, Đấng phải đến trong thế gian. Nhưng Đức Giêsu thấy họ hiểu sai ý định của mình và có thể gây ra nguy hiểm cho việc truyền giáo nên Ngài lánh mặt họ, trốn lên núi một mình.

    Phép lạ hóa bánh ra nhiều cho người ta ăn no, không chỉ có mục đích làm cho người ta khỏi bị chết đói mà còn mang nhiều ý nghĩa cao quí hơn. Phép lạ hóa bánh ra nhiều không phải chỉ để nuôi năm ngàn người, mà để nuôi cả nhân loại qua mọi thế hệ. Như vậy phép lạ là dấu chỉ phép Thánh Thể. Bánh ấy là bánh ban sự sống (Jn 6:33-35), mà quần chúng đông đảo vô số kể là Giáo Hội qua mọi thời đại. Đức Giêsu hiện diện trong Giáo Hội sẽ thực hiện lại phép lạ mà Ngài làm hôm nay là biến bánh rượu nên Thịt và Máu để nuôi linh hồn chúng ta. Và nhân danh Ngài, các ”cộng tác viên của Đức Kitô và những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” còn tiếp tục ban phát Bánh Hằng Sống cho nhân loại (1Cr 4,1) (Hồng Phúc).

    Tường thuật phép lạ làm cho bánh hoá nhiều đều muốn nói với chúng ta về lòng thương và quyền năng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Đức Giêsu tỏ lòng thương những người dân đơn sơ, chất phác đi theo Ngài không kể gian nan, không nghĩ đến việc phải tìm ra đâu của ăn. Nếu chúng ta đem so sánh Đức Giêsu với tiên tri Êlisê trong bài đọc 1 hôm nay (II King 4:42-44), thì chúng ta thấy Đức Giêsu trổi vượt hơn nhiều về quyền năng, vì Ngài đã làm cho bánh ra nhiều, còn Êlisê chỉ ban phát bánh mà ngài đã nhận được mà thôi, còn việc làm cho bánh ra nhiều lại là việc của Thiên Chúa: Êlisê khi nhận được những tấm bánh người ta biếu ông, thì đã nói với tiểu đồng: ”Phát cho người ta ăn”, nghĩa là ông chia sẻ những tấm bánh của mình với những người đang đói. Còn Đức Giêsu đứng trước hàng ngàn người bụng đang đói, đã thực hiện phép lạ biến 5 chiếc bánh và 2 con cá thành một khối lượng thật nhiều bánh và cá để làm cho mọi người no nê. Rõ ràng trong phép lạ bánh hoá nhiều, Đức Giêsu vừa thể hiện lòng thương, vừa thể hiện quyền năng của một vị tiên tri của Thiên Chúa (Jn 6:14).

    Theo sách Sáng Thế, trước khi dựng nên con người giống hình ảnh mình, Thiên Chúa đã tạo dựng nên vạn vật từ hư vô, và Ngài đã trao vũ trụ này cho con người quản lý (Gen 1:28; 2:15). Thiên Chúa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người làm việc để làm ra của ăn. Con người được sống trong cảnh an nhàn thư thái trong vuờn địa đàng. Sau khi phạm tội, con người bị đuổi ra khỏi vuờn địa đàng (Gen 3:24), phải làm việc cực nhọc mới có của ăn (Gen 3:19), nhưng Thiên Chúa vẫn tạo mọi điều kiện để con người làm việc và có đầy đủ của ăn. Thánh vịnh cũng có câu: ”Chúa thương mở tay ra và thi ân cho mọi sinh vật được no nê” (Tv 144,16). Người Việt nam cũng trình bầy tư tưởng đó trong ca dao tục ngữ như “Trời sinh, trời dưỡng” hoặc “Trời sinh voi, trời sinh cỏ.”

    Suốt chiều dài lịch sử loài người hoàn toàn sống nhờ vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng có thể làm được mọi sự theo ý Ngài, nhưng Ngài lại muốn chúng ta cộng tác vào công trình của Ngài. Ngài có thể biến đá thành cơm bánh (Mt 4:3), nhưng Ngài vẫn đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá của một em bé (Jn 6:9). Sự đóng góp của con người tuy nhỏ bé, nhưng rất cần thiết. Đó chính là khởi điểm để Chúa làm việc. Đừng khoán trắng cho Chúa mọi việc. Hãy đóng góp phần của mình. Tục ngữ pháp có câu: ”Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp bạn.”

    Trong phép lạ bánh hóa nhiều, chúng ta không chỉ thấy tình thương và quyền năng của Đức Giêsu, mà chúng ta còn thấy giá trị của sự đóng góp của con người. Dĩ nhiên nếu không có 5 chiếc bánh và 2 con cá của một cậu bé, Đức Giêsu vẫn có thể làm phép lạ ra nhiều bánh để nuôi dân chúng, như Thiên Chúa đã làm cho manna từ trời rơi xuống trong sa mạc nuôi dân Issrael khi họ tiến về Đất Hứa (Ex 16:4-35). Nhưng ở đây có yếu tố 5 chiếc bánh và 2 con cá của một em bé và chi tiết này đáng chúng ta suy nghĩ để rút ra bài học bổ ích.

    Trong lời giới thiệu cuốn sách “Năm chiếc bánh và 2 con cá” của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Đức Hồng Y Bernard Law (nguyên hồng y giáo chủ giáo phận Boston, Hoa kỳ) đã viết: ”Một cậu bé đã đem đến cho Đức Giêsu 5 chiếc bánh và 2 con cá, một tặng vật đơn sơ mà Đức Giêsu đã dùng để nuôi một đoàn dân đông đảo. Chúng ta cũng thế, dù tặng vật của mình nhỏ bé, chúng ta cũng có thể dâng lên Thiên Chúa. Ngài sẽ dùng chúng để có một hiệu quả lớn lao trên đường của Ngài” (trang 5).

    Ngày nọ, có một phụ nữ trung niên đến với lũ người nghèo khổ, hung dữ. Nhìn thấy tình trạng bi đát trước mắt, bà nhủ lòng: ”Ta phải làm điều gì mới được.” Thế rồi bà dồn tất cả tiền bạc của mình thuê một căn nhà cũ với chiếc sàn nhà dơ dáy bẩn thỉu. Tuy căn nhà không khang trang lắm nhưng có thể dùng được. Ngày hôm sau, bà đi khắp vùng lân cận tìm lũ con nít đem về dạy dỗ chúng. Thế rồi điều gì đã xẩy ra cho người phụ nữ và công việc bảo trợ của bà ấy? Ngày hôm nay bà đã có 80 trường học trang bị đầy đủ, 300 nhà phát chẩn lưu động hiện đại, 70 bệnh viện cho người cùi, 30 viện săn sóc người hấp hối, 30 viện săn sóc trẻ em bị bỏ rơi và 40 ngàn tình nguyện viên khắp thế giới sẵn lòng giúp bà. Người phụ nữ đó chính là Mẹ Têrêsa Calcutta, ngày nay đã được phong hiển thánh ( Theo M. Link).

    Có một sự tương phản giữa Anrê và Philipphê. Khi Philipphê nói: “Hoàn cảnh thật là tuyệt vọng, chẳng có thể làm gì được.” Anrê thì nói: ”Để coi thử, tôi có thể làm được gì và phần còn lại tôi trao cho Đức Giêsu.” Chính Anrê đã đem cậu bé đến với Đức Giêsu (Jn 6:8-9), và bởi việc đem cậu bé ấy lại mà phép lạ đã xẩy ra. Đức Giêsu bắt các ông vào cuộc, dù khó khăn cũng phải vượt qua. Với sự cố gắng của Anrê mà Đức Giêsu đã làm phép lạ cho bánh hoá nhiều từ 5 cái bánh và 2 con cá. Các ông giúp phân phát lương thực cho mọi người và thu lượm được 12 thúng đầy bánh vụn (Jn 6:12-13). Các ông tích cực tham gia vào việc cứu đói.

    Năm 1634, Thánh Vinh Sơn họp một số các bà đạo đức để cùng nhau sống đức ái như lời Chúa dạy. Họ ngồi lại với nhau bàn cãi để tìm phương cách hành động. Tuy nhiên, sau nhiều buổi họp bàn sôi nổi mà chẳng đi đến kết quả cụ thể nào. Một hôm, trong lúc họ đang hội họp như vậy, thì Thánh Vinh Sơn từ bên ngoài buớc vào phòng họp, trên tay mang theo một vật gói trong khăn vải. Ngài đặt chiếc khăn xuống giữa bàn họp. Thì ra đó là một bé gái khoảng mới sinh được ba ngày, bị bỏ rơi bên cạnh đống rác công cộng, mà ngài mới lượm được. Thánh nhân nói: ”Các bà muốn làm việc bác ái thì không cần nói nhiều nữa mà hãy làm việc cụ thể. Các bà hãy bắt tay mà làm ngay!” Dòng Bác Ái Vinh Sơn ra đời từ đó.

    Đức Giêsu đã nói: ”Các con đã lãnh nhận nhưng không thì cũng phải cho đi nhưngkhông” (Mt 10,8). Thánh Phaolô cũng xác nhận: Mọi sự chúng ta có đều là hồng ân Chúa ban (Ps 116:20;I Cor 4:7). Ngày nay đói khát và dư thừa, thiếu thốn và phung phí. Đó là hai trạng thái trái nguợc hiện nay trên thế giới. Những người vừa trải qua cơn đói, nay đã vứt bừa bãi những mẩu bánh thừa. Đức Giêsu bảo các môn đệ đi thu lượm những miếng bánh thừa ấy (Jn 6:12). Ngài dạy cho mọi người biết tiết kiệm. Tiết kiệm là biết trân trọng những cái Chúa ban. Tiết kiệm là ý thức rằng của cải trên thế giới là của mọi người. Nếu tôi phí phạm, anh em tôi sẽ thiếu thốn. Ngày nay, người ta có mối bận tâm về lương thực nhưng vấn đề khác nhau tùy từng khu vực của thế giới.

    Trong thế giới phát triển, chúng ta có quá nhiều lương thực. Lo lắng chính của nhiều người là làm thế nào giảm bớt phần ăn để được giảm cân. Nhưng những người cứ mãi bận tâm về mình với vấn đề đó, không còn có chỗ dành cho yêu thương. Còn trong thế giới thứ ba, vấn đề là làm sao có được cái ăn cho mọi người.

    Phép lạ của Đức Giêsu phải làm cho chúng ta biết ơn Thiên Chúa về lương thực mà chúng ta có được và cẩn thận không hoang phí nó. Phép lạ ấy cũng phải làm cho chúng ta tích cực quan tâm đến những người không có lương thực. Người ta biết rằng có hơn 700 triệu người trên thế giới ngày nay không đủ ăn. Một phần ba trẻ em châu Phi bị suy dinh dưỡng. Thế giới văn minh ngày nay vẫn còn là một thế giới đói nghèo, vì 80% của cải trên trái đất này đang nằm trong tay 20% những người giầu sang phú quí.

    Lương thực cho thân xác là một giải quyết cấp thời, nhưng còn cần phải giải quyết các nạn đói khác nữa. Đó là nạn đói văn hoá. Đó là nạn đói những nhu cầu thiêng liêng. Ngày nay được ăn no mặc ấm, ăn ngon mặc đẹp cũng chưa đủ, người ta còn cần nhu cầu tinh thần, nhu cầu văn hoá nữa. Người ta muốn nâng cao tinh thần hơn, nếu chỉ biết ăn ngon ngủ kỹ thì không hơn con vật bao nhiêu. Con người có lý trí cần phải có nhu cầu hiểu biết, nhu cầu giải trí, tinh thần phải được vươn cao hơn vật chất.

    Con người có hai phần: linh hồn và thể xác. Linh hồn phải có những nhu cầu khác với thể xác, cao hơn thể xác, linh thiêng hơn. Nhu cầu tâm linh của con người ngày nay càng lớn rộng. Cơn đói khát tâm linh càng lúc càng mãnh liệt. Tìm đáp ứng nhu cầu tâm linh là một việc làm thiết thực. Nâng cao đời sống tâm linh là đưa con người tới phát triển toàn diện.

    Đối với đời sống thể xác, con người cần có của ăn vật chất để duy trì và phát triển sự sống. Đối với đời sống linh hồn, con người cũng cần phải có của ăn thiêng liêng để giúp linh hồn được sống và phát triển, đó là Lời Chúa và Thánh Thể: –Lời Chúa là nguồn sống mới nuôi linh hồn ta: ”Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4:4). Thánh Thể là nguồn sống dồi dào và nhu cầu khẩn thiết cho linh hồn: ”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời… vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống” (Ga 6,54-55).

    Hai nguồn sống này Chúa vẫn ban cho ta mọi ngày trong Thánh Lễ Misa. Thánh Lễđược chia ra hai phần: Phụng vụ lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể. Chúng ta được trực tiếp nghe Lời Chúa trong các bài Sách Thánh và được tăng cường bằng các lời giảng dạy của Linh mục chủ tế. Thật vậy, Lời Chúa đem lại sự sống cho con nguời: ”Lời Thầy nói là Thần khí và là sự sống” (Ga 6,63). Bánh rượu được trở nên mình và máu Chúa Kitô để trở nên của ăn của uống cho chúng ta. Chúa thiết tha mời gọi: ”Các con hãy nhận lấy mà ăn… Các con hãy nhận lấy mà uống” (Lc 22,17-20; 1Cr 11,25).

    Bất cứ chúng ta trao tặng cho Ngài điều gì – chẳng hạn thời gian, tài năng, lời cầu nguyện, sự hy sinh và nguồn lực của chúng ta – Ngài sẽ xử dụng nó để đem lại kết quả vượt mọi kỳ vọng vĩ đại nhất của chúng ta. Ngài sẽ bội nhân chúng lên vượt khỏi bất cứ niềm mơ ước nào của chúng ta (Eph 3:20) giống như Ngài đã biến đổi những chiếc bánh lúa mạch và hai con cá trong bài Tin Mừng hôm nay.

    Để kết thúc, chúng ta hãy dâng lời kinh nguyện rất được Thánh Igatiô Loyola yêu chuộng: “Lạy Chúa, xin hãy nhận lấy tự do, trí nhớ, sự hiểu biết và toàn bộ ý chí của con. Xin hãy nhận lấy toàn thân con và tất cả sở hữu của con. Ngài đã ban tặng cho con, giờ đây con xin hiến tặng hết cho Ngài để Ngài tùy ý xử dụng. Chỉ xin ban cho con tình yêu và ân sủng, như thế là đủ cho con rồi và con không còn mong muốn điều chi khác nữa” (M. Link).

    Về mục lục

    .

    KHÔNG LÀM MỘT MÌNH

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Phép lạ hoá bánh ra nhiều được bốn thánh sử ghi lại cả trong bốn Phúc âm (Mt 14,13-21; Mc 6,31-34; Lc 9,10-17; Ga 6,1-13). Matthêu và Maccô còn kể thêm lần thứ hai Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều (Mt 15,32-38; Mc 8,1-10).

    Tuy kể cùng một câu chuyện “năm chiếc bánh và hai con cá”, nhưng trình thuật của Tin Mừng Gioan có những chi tiết khác biệt với trình thuật Nhất Lãm. Chúng ta cùng tìm hiểu thêm ý nghĩa mà bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay muốn truyền đạt.

    Đức Giêsu sang bên kia Biển Hồ Galilê. Đông đảo dân chúng đi theo, cả trên bộ lẫn dưới thuyền, “vì họ đã từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm”. Cho nên “Đức Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ”.

    Câu chuyện xảy ra vào thời gian: “Sắp đến lễ Vượt Qua là Đại Lễ của người Do thái”. Lễ Vượt Qua cho tới nay vẫn là ngày lễ lớn nhất của người Do thái, vì là lễ kỷ niệm ngày dân Ítraen trong Cựu Ước được Thiên Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ bên Aicập. Thiên Chúa đưa họ ra khỏi Aicập, dẫn họ đi và nuôi dưỡng họ trong hoang địa cho tới khi họ vào được Đất Hứa. Sách Tin Mừng Gioan kể tới ba lần Lễ Vượt Qua, từ khi Đức Giêsu khởi đầu đi rao giảng (Ga 2,13-25) cho tới khi Chúa được tôn vinh tại Giêrusalem (Ga 13-20). Câu chuyện “bẻ bánh” ở chương thứ sáu xảy ra vào dịp lễ Vượt Qua lần thứ hai, tại một ngọn núi gần Biển Hồ (Ga 6,1-14).

    Ba sách Tin Mừng Nhất Lãm đều đặt vào khung cảnh nhóm Mười Hai trở về sau khi được Chúa sai đi rao giảng Tin Mừng. Đám đông kéo đến thật đông. Các tông đồ có sáng kiến xin Người giải tán đám đông để họ đi mua thức ăn, vì nơi họ đang tụ tập quanh Người là nơi hoang vắng. Người bảo các ông phải đích thân cho họ ăn. Các ông thú nhận mình bất lực. Các ông chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá. Người truyền cho đám đông ngả lưng xuống cỏ. Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho các ông và các ông dọn ra cho dân; cá cũng vậy. Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều minh họa sứ mạng của các tông đồ là nuôi dân bằng Lời Chúa (rao giảng) và Bánh của Chúa trao.

    Tin Mừng Gioan mở ra một viễn tượng khác. Đám đông tuôn đến với Đức Giêsu vì đã chứng kiến dấu lạ Người làm trên những kẻ đau ốm. Gioan dùng kiểu nói “dấu lạ” để cho thấy việc Người chữa lành các kẻ đau ốm bằng quyền năng lạ thường, là “dấu hiệu” tỏ bày ơn cứu độ, chứ không phải tất cả. Vì thế Đức Giêsu sẽ trách những người tìm đến với Người vì đã được ăn bánh no nê, chứ không phải vì đã đọc ra ý nghĩa của dấu hiệu chỉ về Người là Bánh ban Sự Sống đời đời. Họ như những đứa con nít, thấy ai cho bánh cho kẹo thì chạy theo. Nói chuyện gì ngoài bánh kẹo thì không nghe. Hết bánh hết kẹo thì bỏ đi.

    Ở đây cũng nên đọc lại sách Xuất Hành từ chương 3 tới chương 17. Ngay từ đầu dân Ítraen đã không tin vào Thiên Chúa, cũng không tin vào Môsê. Khi tới bờ Biển Đỏ và bị quân đội của Pharaô đuổi sau lưng thì họ oán trách ông Môsê. Sau khi vượt qua biển và thấy xác quân Aicập dạt vào bờ thì “họ tin vào Đức Chúa và tin vào Môsê, tôi tớ của Người” (Xh 14,31). Nhưng chỉ mấy ngày sau, thiếu nước uống, thiếu bánh, thèm thịt thì họ lại oán trách ông Môsê (x. Xh 15,23-27 ; 16,1 – 17,7) ; thâm chí họ toan ném đá ông nữa (Xh 17,4). Diễn biến câu chuyện trong toàn chương thứ sáu của Tin Mừng Gioan có chút gì tương tự như câu chuyện trong sách Xuất Hành, nhưng theo trình tự ngược lại : được ăn thì họ tìm đến nhưng khi nghe Người nói “trái tai” thì họ bỏ đi, kể cả một số môn đệ. Nếu chú ý tới “âm thanh”, ta có cảm tưởng âm thanh của Xuất Hành được dùng làm “nhạc nền”cho trình thuật của Gioan.(x. Tìm hiểu Tin Mừng Gioan, Lm Giuse Nguyễn công Đoan, SJ).

    Câu chuyện Tin mừng Gioan cũng gợi nhớ lại, khi dân Itraen vượt qua Biển Đỏ rồi đi vào hoang địa, được một tháng thì hết lương thực mang theo, họ kêu khóc và oán trách ông Môsê và ông Aharon. Thiên Chúa nghe tiếng kêu than liền cho mana từ trời rơi xuống nuôi họ (Xh 16,1-36). Ăn mana một thời gian họ lại thèm thịt và kêu trách. Lần này thì Đức Chúa nổi giận: “Ông Môsê nghe thấy dân tụm năm tụm bảy theo thị tộc mà kêu khóc tại cửa lều của mình. Còn Đức Chúa thì bừng bừng nổi giận. Ông lấy làm khổ tâm và thưa với Đức Chúa: “Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con lại không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên con?…Con ở giữa một dân có đến sáu trăm ngàn bộ binh, mà Đức Chúa lại bảo: Ta sẽ ban thịt cho chúng, và chúng sẽ ăn suốt cả tháng. Dù có giết chiên giết bò, liệu có đủ cho họ không? Dù có bắt hết cá dưới biển, liệu có đủ cho họ không?. Đức Chúa phán với ông Môsê: “Đức Chúa mà chịu bó tay sao? Bây giờ ngươi sẽ thấy lời Ta phán có đúng hay không”. (Ds 5,10-12.21-23). Sau đó Đức Chúa cho chim cút rơi xuống đầy quanh trại, họ ăn thả cửa như ông Môsê đã báo cho họ: “Anh em sẽ ăn, không phải một ngày, hai ngày, năm mười ngày, hay hai mươi ngày mà thôi, nhưng suốt cả tháng, cho đến khi thịt lòi ra lỗ mũi làm anh em phát ngấy” (Ds 11,31-35).

    Bối cảnh của câu chuyện “hóa bánh ra nhiều” là hoang địa, dân chúng tự ý kéo đến. Các môn đệ xin Thầy cho dân chúng về để họ vào các làng mạc mua thức ăn. Chúa bảo chính các ông cho họ ăn, các ông thú nhận “chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá”. Nguyên số đàn ông khoảng năm ngàn người. Đám đông lớn như thế mà chỉ có năm cái bánh và hai con cá, chúng ta như nghe ông Môsê than: “Dân có tới 600 ngàn bộ binh! Giết chiên giết bò, bắt hết cá biển lên có đủ cho họ không?. Thiên Chúa nói với ông Môsê: Đức Chúa mà chịu bó tay sao!”. Hôm nay, Đức Giêsu bảo: “đem lại đây cho Thầy”. Đọc lồng hai câu chuyện vào nhau, chúng ta nhận ra thánh sử gợi cho biết ý nghĩa của bữa ăn này. Môsê và Aharon thú nhận sự bất lực thì Đức Chúa tỏ vinh quang, cho mana, cho chim cút rơi xuống cho dân ăn. Đức Giêsu bảo các môn đệ cho dân chúng ăn, họ thú nhận bất lực thì Chúa ra tay. Mọi người ăn dư dả phủ phê no nê đầy ứ. Chúa cho họ ăn một bữa đã đời và để đời.

    Hình ảnh Chúa truyền cho dân chúng ngồi xuống trên cỏ rồi cho họ ăn gợi nhớ Thánh vịnh 23: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”.

    Chúa cầm bánh và cá, “ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng và bẻ ra, trao cho các môn đệ”, trong phong tục dân Itraen cho tới ngày nay, đó là cách mở đầu bữa ăn. Trong bữa Tiệc Ly, Chúa cũng làm như vậy, nhưng kèm theo lời lập Bí Tích Thánh Thể cũng là bí tích của Giao Ước Mới. Vì thế, trong thánh lễ hàng ngày chúng ta cũng lập lại những lời này, và cụm từ : “Bẻ Bánh” đã sớm mang ý nghĩa đặc biệt chỉ về việc cử hành Bí Tích Thánh Thể (x.Cv 2,42). Chúa bảo các môn đệ cho dân chúng ăn, họ thú nhận là bất lực thì Chúa trao bánh cho họ để họ trao cho dân. Đó là nhiệm vụ mà các tông đồ sẽ thi hành ngay sau khi nhận được quyền năng Chúa Thánh Thần: phục vụ Lời và bàn ăn, cử hành lễ Bẻ Bánh. Bữa ăn đã thành hình vừa gợi lại dân của Cựu ước được Thiên Chúa nuôi trong hoang địa, vừa loan báo bữa ăn Lời Chúa và Thánh Thể mà chúng ta lãnh nhận ngày nay với tư cách là dân của Giao Ước Mới. (x. Tự đáy lòng, Lm Giuse Nguyễn Công Đoan. SJ).

    Trong chuyến hành hương Đất Thánh, tôi có đến thăm thành Tabgha, nơi Chúa đã làm phép lạ biến 5 cái bánh và 2 con cá hóa nhiều nuôi hơn 5.000 người ăn no nê. Khi chiêm ngắm bàn thờ và cung thánh trong ngôi Nhà thờ ấy, tôi thấy trên nền Nhà thờ phía trước Bàn thờ có khắc hình một chiếc giỏ đựng 2 con cá và 4 cái bánh. Tại sao lại là 4 chứ không phải là 5 cái bánh như Phúc âm kể? Đây là một sự thiếu sót có chủ ý của nghệ nhân làm nên bức hình đó. Vì cái bánh thứ năm không nằm trong giỏ nhưng nằm trên bàn thờ, đó chính là Mình Thánh Chúa mỗi khi dâng thánh lễ trên bàn thờ này.

    Trong “Phép lạ hóa bánh ra nhiều”, Chúa không làm một mình và làm từ bàn tay không. Không làm một mình mà như dò ý môn đệ, chẳng phải vì quyền năng giới hạn mà chỉ vì Người muốn có sự cộng tác nào đó cho phép lạ trở nên hiện thực. Không làm từ bàn tay không mà cần có năm cái bánh, Chúa trân trọng sự đóng góp của con người, dẫu sự đóng góp ấy rất nhỏ. Năm cái bánh cho năm ngàn người. Tỉ lệ một phần ngàn có nghĩa lý gì. Muối bỏ bể! Thế nhưng trong mắt nhìn của Thiên Chúa, đó lại là cả một thiện chí hùn hạp làm ăn sinh lời đến chóng mặt.

    Đức Bênêđitô XVI đã nói: phép lạ này không được làm từ không có gì, nhưng từ những gì bạn có, dù nhỏ bé, mang đặt trong bàn tay của Chúa. Chúa không đòi hỏi chúng ta những gì chúng ta không có. Chúa cho chúng ta hiểu rằng, nếu mỗi người đặt vào tay Ngài những tấm bánh, những con cá bé nhỏ, Chúa sẽ làm cho phép lạ được tiếp diễn hôm nay, bởi Ngài có quyền năng làm cho những cử chỉ yêu thương khiêm tốn của chúng ta trở thành quà tặng lớn lao cho anh chị em chúng ta.

    Chúa cần sự cộng tác của chúng ta, cho dù sự cộng tác ấy rất nhỏ bé, nhưng với tấm lòng rộng lớn thì Chúa sẽ biến sự nhỏ bé nên lớn lao, biến điều tầm thường nên vĩ đại nhờ vào tình thương của Người. Như Chúa Giêsu đã yêu thương quan tâm chăm lo đến mọi nhu cầu từ vật chất đến tinh thần cho dân chúng thì Kitô hữu, các môn đệ của Người cũng phải biết yêu thương chăm lo cho tha nhân như vậy.

    Trong thánh lễ Tạ ơn dịp Kết thúc Hồ sơ Chân Phước Đức Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận tại nhà thờ Santa Maria della Scala, ngày 06/7/2013, Đức cha Giuse Võ Đức Minh chia sẻ.

    Nếu như năm xưa trên bước đường rao giảng về Tình yêu Thiên Chúa, Đức Giêsu đã đón nhận năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ của một em bé (x. Ga 6,9) để làm phép lạ nuôi sống hàng ngàn người, thì nay mình có thể dâng cho Chúa những cái nho nhỏ của cuộc đời mình: “Chúa bảo gì, cứ làm theo”.

    1. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa chiếc bánh thứ nhất: sống giây phút hiện tại. Làm cho giây phút hiện tại chan hòa tình thương của Chúa.
    2. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa chiếc bánh thứ hai: phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa.
    3. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa chiếc bánh thứ ba: cầu nguyện. Ngài cho biết có những lúc quá đau, quá mệt, không đọc được một kinh. Chính lúc đó, ngài thều thào: “Chúa Giêsu ơi, có con đây”; và ngài như nghe tiếng đáp trả: “Thuận ơi, có Chúa Giêsu đây”.
    4. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa chiếc bánh thứ tư: phép Thánh thể. Thật kỳ diệu khi ngài có sáng kiến cử hành Bí tích Thánh thể mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay. Bàn tay trở nên chén thánh, trở nên bàn thờ. Không gian ngài đang sống, chính là nhà thờ chánh tòa của ngài. Mình Thánh Chúa Kitô là “thuốc” của ngài.
    5. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa chiếc bánh thứ năm: yêu thương theo chúc thư của Chúa. Trải qua muôn vàn thống khổ, ngài chợt nhận ra mình tích lũy trong bản thân một kho tàng vô cùng phong phú và quý giá. Đó là tình yêu thương.
    6. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa con cá thứ nhất: yêu mến Mẹ Maria La Vang. Ngài bắt đầu cuộc khổ nạn vào ngày lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Trong người chỉ có duy nhất tràng hạt Mân côi. Từ lúc còn nhỏ, thân mẫu ngài đã dạy phải luôn đem tràng hạt trong mình: Đức Mẹ La Vang sẽ giữ gìn cho mình được bình an. Chính truyền thống đạo đức trong gia đình, dòng tộc, đã truyền vào tim ngài lòng sùng kính đối với Đức Mẹ La Vang.
    7. Làm theo Lời Chúa, ngài dâng cho Chúa con cá thứ hai: chọn Chúa. Như các Tông đồ năm xưa, ngài đã chọn Chúa, đi theo Chúa, gặp Chúa, sống bên Chúa; rồi tiếp tục ra đi đem Tin mừng của Chúa đến cho mọi người.

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết cộng tác với ơn Chúa, mỗi ngày xin cho con quảng đại đặt vào tay Chúa một món quà, một ước nguyện, để phép lạ xảy ra. Con xin là tấm bánh dâng lên Chúa, để Chúa biến đổi trở thành Thịt Máu Chúa. Con xin là tấm bánh dâng lên trong tay Chúa, để Chúa bẻ ra và phân phát cho anh em. Tấm thân con xin là tấm bánh dâng lên Chúa để được thuộc trọn về Chúa, để tuỳ ý Chúa sử dụng. Amen.

    Về mục lục

    .

    ANH EM HÃY CHO HỌ ĂN

    Lm. GB. Trần Văn Hào

     Hai mươi năm trước, báo chí thế giới đăng tải một bức hình chụp khá nổi tiếng, đã từng đoạt giải Pulitzer. Bức ảnh nói về thảm trạng nạn đói ở Somalia năm 1994. Trong bức ảnh, một chàng thanh niên gầy gò đang ôm xác đứa con trai duy nhất của mình đem đi chôn. Đứa bé gầy trơ xương vì nhiều tháng qua nó không có gì để ăn. Nó đã chết vì đói. Người thanh niên, bố của đứa bé, với khuôn mặt đau khổ hốc hác cũng đang đói. Phía sau là một con quạ đen đậu gần đó. Nó chờ khi người cha vùi xác đứa con trong cát, sẽ bới lên tìm cái gì để ăn vì nó cũng đói. Cả người và vật đều đói. Cái đói lộ rõ trên khuôn mặt trơ xương của ông bố. Cái đói hằn sâu trên thân thể còm cõi của đứa trẻ, và cái đói cũng lồ lộ nơi cặp mắt hau háu của con quạ. Cái đói luôn là một tai họa khủng khiếp đè nặng trên thân phận hiện sinh của con người.

    1. Cái đói trong phận người

    Mọi người chúng ta ít nhiều đều kinh qua cái đói. Các cụ lớn tuổi đã từng có kinh nghiệm về cơn đói kinh hoàng năm Ất Dậu 1945. Những tháng ngày sau biến cố năm 1975, nhiều gia đình đã từng phải ăn độn hoặc đi vay mượn ít gạo để  cầm cự sống qua ngày. Những trải nghiệm về cái đói luôn là một ám ảnh sợ hãi nơi cuộc sống chúng ta.

    Khi mang thân phận làm người, Đức Giê-su cũng từng nếm trải cơn đói. Sau 40 ngày chay tịnh trong hoang mạc, Chúa đói. Ma quỷ đến tấn công vào bao tử xẹp lép của Ngài. “ Nếu ông là con Thiên Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này biến thành bánh đi” (Mt 4,3). Vì thế, trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su chạnh lòng cảm thương thực sự khi đối diện trước một đám đông khổng lồ đang vật vã trong cơn đói. Phép lạ đã xảy ra, và 5000 người đã được ăn no nê. Phép lạ không nhằm phô diễn một kỳ tích để thỏa mãn những nhu cầu vật chất của con người. Nhưng trong cái nhìn thần học của thánh Gioan, phép lạ mang chở những dấu chỉ nhằm khải thị một thực tại sâu xa hơn. Thánh Gioan muốn chúng ta chiêm ngắm dung mạo của một Thiên Chúa làm người luôn diễn bày tình yêu mục tử của Ngài cho đoàn chiên. Phép lạ nhân bánh ra nhiều khởi dẫn chúng ta đi đến một chân trời rộng lớn hơn : Đó là chân trời ơn cứu độ được thể hiện qua cái chết của Đức Giê-su trên Thập giá. Mầu nhiệm Thập giá chính là cách diễn bày tình yêu của Thiên Chúa cách tròn đầy nhất.

    1. Sự cộng tác của con người.

     Phép lạ Chúa Giê-su thực hiện trong tin mừng hôm nay cũng được phác vẽ trước qua phép lạ của tiên tri Elisêu mà chúng ta sẽ nghe trong bài đọc thứ nhất. Vị ngôn sứ nhận 20 chiếc bánh từ tay một người hảo tâm dâng tặng. Với 20 chiếc bánh, Êlisêu đã phân phát đủ cho cả trăm người. Quyền năng của Thiên Chúa được thể hiện qua vị tiên tri. Cũng vậy, sức mạnh và tình yêu của Thiên Chúa cũng được diễn bày nơi Đức Giê-su, vị “ngôn sứ đặc thù” của Chúa Cha. Cả hai phép lạ đều hàm ngậm những sứ điệp quan trọng mời gọi chúng ta suy gẫm và thực hành.

    Trước hết, đó là bài học về sự cộng tác của con người. Chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng, Đức Giê-su đã không làm phép lạ nuôi sống 5000 người ăn no, nếu đã không có lòng quảng đại của một đứa bé. Em nhỏ đã trao cho Chúa 5 cái bánh và 2 con cá, là khẩu phần lương thực ít ỏi nó mang theo. Cũng thế, với 20 chiếc bánh do một người tốt bụng dâng tặng, Elisêu đã phân chia đủ cho cả trăm người. Thiên Chúa có thể thực hiện những điều kỳ diệu bắt đầu từ sự cộng tác nhỏ nhoi khiêm tốn của con người. Trong cuốn Confessio, Thánh Augustinô ghi lại lời cầu nguyện mà Ngài đã thưa với Chúa “ Lạy Chúa, Chúa dựng nên con, không cần có con. Nhưng để cứu rỗi con, Chúa lại cần có con cộng tác”. Con người chúng ta vẫn được Thiên Chúa mời gọi cộng tác để hoàn thiện công trình sáng tạo và cả công trình cứu chuộc mà Ngài đã khởi sự.

    Trong một bài giảng, Cha Gioan Maria Vianney có kể một câu chuyện. Một buổi chiều nọ, Chúa Giê-su và Thánh Phêrô cùng rảo bước trên con đường làng. Hai Ngài gặp một người nông dân đang đánh chiếc xe bò cũ kĩ. Chiếc xe chở nặng và bị mắc lầy. Người nông dân này khá đạo đức. Ông ta bước xuống, sấp mình sát đất và xì sụp cầu nguyện xin Chúa đến giúp. Ông cứ sụp lạy và cầu khẩn mãi, nhưng chẳng ai đến giúp ông ta. Còn chính ông cũng chẳng buồn đụng tay vào để lôi chiếc xe lên. Chúa nói với Phêrô “Thôi hãy đi và mặc kệ hắn”. Đi đến cuối làng, hai Ngài cũng gặp một tình huống tương tự. Gã đánh xe bò là một thanh niên trông nét mặt khá bặm trợn. Khi chiếc xe bị lầy, anh ta bước xuống, mồ hôi nhễ nhãi, miệng thì văng tục nhưng cố gắng hết sức để đẩy chiếc xe lên. Chúa nói với Phêrô “Nào hãy đến phụ anh ta một tay”. Cuối cùng, chàng thanh niên đã kéo được chiếc xe ra khỏi vũng bùn. Về đến nhà, Phêrô hỏi Chúa tại sao Chúa lại hành xử như thế. Chúa trả lời: “ Ta không giúp những ai lười biếng. Phải cố gắng, rồi ta sẽ giúp”. Phải tự giúp mình trước, rồi Chúa sẽ đến giúp đỡ chúng ta sau (Aide-toi, le ciel t’aidera).

    Chúa cũng đã nói với Phaolô :“ Ơn Ta thì đủ cho ngươi”. Ơn Chúa luôn đủ và dư tràn trên mọi người, nhưng nếu chúng ta lười biếng, không mở lòng ra để cộng tác, Chúa cũng chịu thua. Mặc dầu sức lực con người yếu đuối, khả năng chúng ta giới hạn, nhưng Chúa vẫn luôn cần chúng ta cố gắng vươn lên để cộng tác với Ngài. Chỉ với 5 chiếc bánh và 2 con cá, một khẩu phần quá ít ỏi và chẳng đáng gì, nhưng Đức Giê-su đã làm phép lạ nhân bánh và cá  lên gấp cả ngàn lần. Đó là bài học rất thực tế cho mỗi người chúng ta về nỗ lực cũng như sự cộng tác của con người.

    3. Chúng con hãy cho họ ăn.

     Báo cáo của Liên Hiệp Quốc cho thấy, mỗi năm trên thế giới có khoảng 2 triệu trẻ em chết vì đói. Hàng chục triệu trẻ em sống vất vưởng đầu đường xó chợ, không được cắp sách đến trường. Chúng đói về thức ăn vật chất, nhưng cũng đói cả về tình thương. Nói theo thuật ngữ của Đức Thánh Cha Phanxicô, đây là những con người ở tận vùng ven, những con người đang bị xã hội gạt bỏ ra bên ngoài. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng luôn nghe vang vọng bên tai lời thét gào não nùng của Chúa Giê-su trên Thánh Giá trước khi Ngài tắt thở : “Ta khát”. Đức Giê-su ngày nay vẫn còn đang đói, đang khát, giống như đám đông năm ngàn người sau những ngày lang thang đi theo Chúa. Chúa nói với các tông đồ : “ Anh em hãy cho họ ăn”. Lời cầu ngỏ đó vẫn đang được lặp lại và gởi trao đến mỗi người. Một vị Thánh nọ sau một ngày đi bách bộ qua nhiều  dãy phố, thấy quá nhiều người đói nghèo, quần áo tả tơi, ngồi ăn xin bên vệ đường. Buổi tối về nhà, Ngài cầu nguyện và hỏi Chúa “ Tại sao trên thế giới này còn nhiều người đau khổ như thế? Chúa không làm gì hay sao?” Chúa trả lời “ Có chứ, Ta đã làm. Điều Ta đã làm là dựng nên con. Ta dựng nên con với đôi bàn tay để biết trao ban, với một trái tim rung cảm để biết yêu thương và dâng tặng.

     Kết luận :

    Phép lạ nhân bánh ra nhiều mà Chúa đã thực hiện 2000 năm trước là dấu chỉ tiên báo phép lạ vĩ đại Chúa đang thực hiện ngay ngày hôm nay nơi bàn tiệc Thánh Thể mà chúng ta được mời tới tham dự. 5000 người ngày xưa Chúa cho ăn bánh no nê, nhưng họ vẫn còn đói, vẫn chưa no thỏa thực sự. Còn nơi bàn tiệc hôm nay, Chúa xác quyết rằng :“ Tôi là Bánh Hằng sống, ai ăn bánh này sẽ không còn đói, ai uống chén này sẽ không còn khát”. Đó là bữa tiệc thịnh soạn nhất diễn bày tình yêu bất tận của Thiên Chúa. Một nhà tu đức đã diễn tả có vẻ hơi cường điệu nhưng rất chính xác: “ Thiên Chúa đã thực hiện một  giấc mơ rất điên rồ là phân thây xẻ thịt chính con một yêu quý của Ngài để thiết đãi chúng ta”. Đó quả là một sự điên rồ và táo bạo. Chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được sự điên rồ ấy khi đi vào quỹ đạo tình yêu sâu xa của Thiên Chúa. Muốn nếm cảm tình yêu này, chúng ta phải có cảm thức đức tin. Trước khi làm phép lạ, Chúa nói với các môn đệ “ Anh em hãy bảo họ ngồi xuống”. Đám đông phải ngồi xuống để có thể lắng nghe và lãnh nhận. “Ngồi xuống” là một hình tượng diễn bày đức tin, tín thác vào tình yêu Thiên Chúa. Xin Chúa khơi dậy lòng tin yếu kém nơi chúng ta để chúng ta có thể lãnh nhận quà tặng tình yêu, và để chúng ta cũng biết chia sẻ tình yêu đó cho mọi người.

    Về mục lục

    .

    ĐƯỢC ĂN NO NÊ

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

              Hầu hết các nhà Thánh Kinh học đều cho rằng chương sáu của sách Tin Mừng thứ tư là diễn từ về đề tài ‘Bánh Trường Sinh’, mà phép lạ Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều chỉ là phần dẫn nhập, hay là dịp để Người đề cập tới đề tài quan trọng này. Đúng là Đức Giê-su đã tự giới thiệu mình là ‘Bánh bởi trời, bánh trường sinh, bánh làm no thỏa…’, thế nhưng – tôi vẫn thườnng tự hỏi – chủ đề đích thực của bài thuyết pháp quan trọng này của Ráp-bi Giê-su có phải là để chứng minh ‘bánh vật thể’ trở thành một ‘Ki-tô hữu thể’, hay chỉ đơn giản là một ‘lời mời ăn Bánh’, tức là chủ đề của bài diễn từ nhằm diễn tả mối quan tâm, tình yêu chăm sóc của Thiên Chúa dành cho con người?

              Phối hợp với tường thuật của Phúc Âm Mác-cô, cũng chương sáu, ta có thể thấy trình tự vấn đề được tác giả Gio-an đặt ra như sau: – Đức Giê-su tỏ rõ mối quan tâm chăm sóc các tông đồ nhọc mệt trở về sau cuộc hành trình truyền giáo; mối quan tâm của Người sau đó còn rộng mở cho đám dân chúng, khi Người ‘chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn’ (Mc 6:34). Phép lạ làm bánh hóa nhiều để cho dân chúng ăn no chẳng qua là dấu hiệu cụ thể của mối bận tâm từ ái đó; chính vì vậy mà khi nhận thấy đám đông dừng lại ở việc được ăn bánh thỏa thích, Đức Giê-su đã phải cất công giải thích, chỉ cho họ thấy được sự chăm sóc từ nhân của Thiên Chúa mới chính là điều họ cần tìm kiếm. Phần mình, khi tự đồng hóa với ‘bánh trường sinh’, điều duy nhất Người muốn nhấn mạnh đó là: sự quan tâm chăm sóc của Thiên Chúa đối với loài người đã lên tới đỉnh điểm… “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” Từ một biểu lộ chăm sóc được cụ thể hóa qua phép lạ hóa bánh ra nhiều để đám đông dân chúng được ăn no thỏa, Đức Giê-su rõ ràng muốn họ nhận ra rằng họ đang được Thiên Chúa từ ái yêu thương chăm sóc tới mức nào. Chính Đức Ki-tô, và toàn bộ sự hiện diện của Người nơi trần gian, là một thứ ‘Bánh bởi trời’, nhưng không phải là thứ ‘Thánh Thể’ để người ta phải khúm núm tôn thờ, cho bằng là của ăn nuôi sống để làm cho họ được no thỏa; và so sánh này chỉ đạt ý một khi qua đó nhân loại nhận ra Thiên Chúa yêu thương họ hết tình.

              Từ kinh nghiệm cụ thể được ăn bánh, các môn đệ và nhiều người Do Thái thành tâm lẽ ra phải khám phá ra chân lý vĩ đại: Thiên Chúa là Người Cha đầy yêu thương, hằng quan tâm tới con cái, và ra tay chăm sóc chúng (xem Mt 7:11; Lc 11:13). Nội dung này chính là cuộc hành trình đức tin mà mọi Ki-tô hữu chúng ta cần làm. Tiến trình này phải đưa chúng ta tới việc tin nhận Đức Ki-tô Giê-su – Bánh hằng sống như một biểu hiện tột đỉnh của tình yêu chăm sóc của Chúa Cha. Tiến trình này quả thực đầy thách đố đối với các tông đồ nói riêng và người Do Thái nói chung, đơn giản là vì khái niệm Thiên Chúa như là người Cha yêu thương chăm sóc còn rất lu mờ và khá xa lạ đối với cách suy nghĩ của Cựu Ước.

              Thế còn đối với Ki-tô hữu chúng ta ngày nay thì sao? Cảm nghiệm thiêng liêng nền tảng này của Tân Ước có lẽ lại bị chúng ta đảo ngược trái chiều chăng?

              Ít nhất về khái niệm, Ki-tô hữu đã quá quen thuộc với việc gọi Thiên Chúa là Cha. Cả ngàn lần họ kêu lên ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời!’ Thế nhưng khái niệm này đa phần vẫn còn nằm trên mặt lý thuyết trừu tượng như một công thức; cũng thế, ý tưởng ‘Đức Ki-tô – bánh trường sinh’ vẫn chỉ là một khái niệm thần học mang tính suy luận (speculative). Cái cảm nghiệm thực tế rằng, với việc trao ban ‘Bánh trường sinh’, Thiên Chúa đã thực sự đặt tôi trong sự no thỏa của tình yêu Người, rằng Người là cha nhân ái hằng chăm sóc tới từng chi tiết đời sống con người, chăm sóc tới độ gần như thừa bứa ‘thu những miếng thừa của năm chiếc bánh người ta ăn còn lại… cũng chất đầy được mười hai thúng’; đó chính là cảm giác đã từng được Phao-lô diễn đạt như sau: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng ban tất cả cho chúng ta” (Rm 8:32). Cảm giác này có lẽ còn quá xa lạ đối với phần đa Ki-tô hữu chúng ta ngày nay; thay vì chỉ ngưỡng mộ Thiên Chúa là Cha cách chung chung, tôi thiết nghĩ, mỗi Ki-tô hữu nên cụ thể có những giây phút nhìn sâu vào đời sống mình để nhận ra, đàng sau mọi thành công hay may nắm lớn nhỏ, kể cả đàng sau những thất bại ê chề hay đại họa, đều có cả một dàn xếp tinh vi và tế nhị của một ‘Ai Đó’ đầy từ tâm và nhân ái. Đó mới chính là chiều sâu đức tin của Ki-tô hữu chúng ta, một chiều sâu đích thị mang lại vui mừng và hy vọng, bình an và phó thác trong mọi tình huống cuộc đời. Trọn đời người Ki-tô hữu, nếu được đặt trên nền tảng vững chắc này, thì kể cả trong các thử thách gian truân của cuộc sống thường ngày, sẽ luôn phải là an bình và vui tươi (xem Rm 8:38-39).

              Phải chăng đó mới đích thực là niềm tin sống động và trưởng thành mà mọi Ki-tô hữu chúng ta cần cất công vun đắp hàng ngày, nhất là trong thế giới và xã hội hiện đại?

              Lạy Chúa! Lúc được ăn, con cần hiểu bàn tay nào đang cho con ăn, cõi lòng nào đang nuôi nấng con. Mỗi khi rước lễ, xin cho con không chỉ nghĩ tới thứ bánh nào con đang được ăn (dầu đó là bánh trường sinh Thánh Thể đi nữa), nhưng ngày càng nghiệm ra rõ hơn cõi lòng nhân ái của Cha trên trời đang âu yếm dưỡng nuôi con bằng chính Người Con Chí Thánh. Xin cho việc cử hành Thánh Thể sẽ gia tăng niềm tin tưởng phó thác nơi con mỗi ngày. A-men.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Đức Giêsu 2 lần làm phép lạ nhân bánh ra nhiều nuôi dân chúng đi theo Ngài. Tất cả các Tin mừng đều ghi lại biến cố phép lạ này tới 7 lần. Đây là phép lạ lớn và có tầm mức quan trọng. Đức Giêsu làm phép lạ cho có lương thực nuôi 5.000 người đàn ông, cộng thêm khoảng 5.000 người đàn bà và 2.000 trẻ em, tổng cộng 12.000 người ăn no nê và dư lại 12 thúng đầy. Hơn nữa phép lạ hóa bánh ra nhiều là biểu tượng hướng chúng ta về bí tích Thánh Thể.

    Theo Tin mừng Gioan, phép lạ hóa bánh có nhiều ý nghĩa đặc biệt:

    – Phép lạ này diên ra trong thời gian lễ Vượt Qua, một đại lễ của người Do Thái, kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi nô lệ Ai Cập đẻ vào đất hứa. Phép lạ nhân bánh ra nhiều là dấu chỉ cao điểm của sứ mạng cứu thế mà Đức Giêsu thực hiện. Dấu chỉ này loan báo lễ Vượt Qua đích thực tức là cuộc vượt qua của Chúa Giêsu để về cùng Chúa Cha (Ga 13, 1). Ở đây gợi lên cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, là lúc Chúa Giêsu đặc biệt tự hiến thân mình làm của ăn thiêng, là bánh đích thực phát sinh sự sống đời đời cho nhân loại.

    – Phép lạ hóa bánh ra nhiều là phép lạ của lòng quảng đại. Trước hết là lòng quảng đại của em bé đã hiến 5 chiếc bánh và 2 con cá là phần ăn của em trong ngày. Em đã cho tất cả những gì em có, nhờ 5 chiếc bánh và 2 con cá của em mà Chúa Giêsu đã làm phép lạ. Kế đến là lòng quảng đại của Chúa Giêsu. Ngài cho mọi người ăn no nê, ăn bao nhiêu tùy thích, còn dư lại 12 thúng đầy. Phép lạ này cũng là dấu chỉ tình yêu của Chúa Giêsu đối với mọi người. Dĩ nhiên phép lạ nào cũng xuất phát do tình thương và lòng quảng đại của Chúa Giêsu.

    – Không phải dân chúng xin Chúa Giêsu bánh ăn, cũng không phải do các tông đồ can thiệp, mà chính là sáng kiến của Chúa Giêsu. Ngài thấy dân chúng đói và chính Ngài gợi ý tìm kiếm thức ăn cho họ: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn”. Câu hỏi này biểu lộ rằng việc lo cho dân chúng ăn là do chính Đức Giêsu, Ngài lo lắng cho họ có thức ăn.

    – Trong phép lạ, Chúa Giêsu luôn cần đến sự cộng tác của con người: Đức tin của chúng ta. Phép lạ hóa bánh được thực hiện do sự cộng tác, góp phần 5 chiếc bánh và 2 con cá của một em bé. Sự đóng góp này quá khiêm tốn và tầm thường để nói lên quyền năng của Thiên Chúa. Vì thế, sự đối thọi làm nổi bật sự tương phản giữa sự yếu đuối bất lực của con người và quyền năng của Thiên Chúa. Trong chương trình cứu độ, Thiên Chúa luôn cần đến sự cộng tác của con người. Trong lãnh vực ơn thánh, các bí tích, muốn được ơn thánh của Chúa, con người phải hợp tác qua niềm tin, lòng mến, sự ước ao, lòng hy sinh. Thí dụ muốn lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta phải đi tham dự thánh lễ.

    – Phép lạ hóa bánh ra nhiều là hình ảnh báo trước hy lễ Thánh Thể mà chính Chúa Giêsu sẽ thiết lập. Chúa bẻ bánh và trao cho các môn đệ, rồi các ông phân phát, nói lên chính cử chỉ Ngài sẽ làm trong bữ Tiệc Ly. Trong diễn biến của phép lạ, trung tâm là lời tạ ơn: “Đức Kitô cầm bánh, dâng lời tạ ơn…”. Lời tạ ơn mà Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha để kêu mời chúng ta tham dự vào hiến tế Thánh Thể, mầu nhiệm của tình thương.

    Qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu đã biểu lộ lòng thương xót đến với dân chúng theo Chúa một cách tích cực: nuôi sống 5.000 người ăn no nê! Ngài kêu gọi người Kitô hữu thực thi lòng quảng đại yêu thương với mọi người, nhất là những người đói khổ, nghèo nàn, những người cần đến chúng ta trong xã hội hôm nay. Nói cách khác, như Đức Giêsu Kitô, chúng ta trở nên tấm bánh cho anh em mình.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Phép lạ bánh hóa nhiều hôm nay làm cho tất cả mọi người chứng kiến phải ngạc nhiên ngỡ ngàng. Ngạc nhiên ngỡ ngàng vì tầm mức của nó quá rộng lớn. Nó không phải chỉ dành cho một người – một nhóm người – mà là cho tất cả mọi người… mà những người trong bài Tin mừng hôm nay không phải là những người bệnh tật, đau khổ… nhưng là những người khỏe mạnh.

    Phép lạ này được cả bốn Tin Mừng ghi lại. Đây là Phép lạ duy nhất được cả bốn Tin Mừng ghi lại. Điều đó chứng tỏ Phép lạ này có một chỗ đứng thật cao và vai trò thật quan trọng trong Lời giáo huấn và đời sống của Giáo Hội thời khai nguyên. Tuy nhiên ta cũng nên lưu ý vài chi tiết:

    1. Với Gioan chúng ta thấy Chúa Giêsu có một vai trò thật đặc biệt: Ngài hoàn toàn chủ động và hầu như độc diễn trong câu chuyện này.

    Nơi ba Tin Mừng khác ta thấy các môn đệ được kêu mời hợp tác với Chúa.

     – Nào là họ có sáng kiến đến xin Chúa Giêsu cho dân về để mua thức ăn (Mt 14,15)

    – Nào là bảo dân ngồi xuống từng nhóm 100 người (Mc 6,39-40)

    – Nào là cầm bánh đi phát cho người ta. (Lc 9,16)

    – Còn nơi Gioan, chúng ta thấy Chúa hoàn toàn chủ động.

    – Hơn nữa sau Phép lạ ta thấy Gioan còn có cả một bài suy tư rất dài. Chúng ta sẽ suy niệm vào những tuần sau.

    Như vậy chúng ta thấy được ý của Gioan. Ông muốn cho người ta thấy một mình Chúa Giêsu làm tất cả. Các người khác chỉ đóng vai phụ và như thế Chúa Giêsu là Cứu Chúa.

    2. Chi tiết thứ hai: Nơi Chúa làm Phép lạ. Đó là một cánh đồng vắng, nơi thiếu thốn đủ mọi phương tiện của cuộc sống kể cả những thứ cần thiết như thực phẩm chẳng hạn.

    Tin mừng có nhắc tới việc Andrê phát hiện ra một em bé có năm cái bánh lúa mạch và hai con cá. Nhưng bằng ấy thì có thấm vào đâu với số người nguyên đàn ông thôi cũng lên đến 5000.

    Chúa cũng đã thử tài của Philiphê là người quê ở vùng này xem ông có thể  kiếm đâu ra đủ lương thực cho cả một đoàn người đông đảo như thế không. Philipphê đã nói lên tiếng nói xem ra có vẻ tuyệt vọng của mình: “Có đến 200 đồng quan = 200 ngày công = một số tiền rất lớn cũng không đủ cho mỗi người một chút.

    Vậy mà Chúa vẫn bình thản ra lệnh: Cứ bảo người ta ngồi xuống. Chúa biết những gì Chúa sắp làm.

    3. Chi tiết 3 là thời điểm Chúa chọn để làm Phép lạ: Trước lễ Vượt qua.

    Lễ Vượt qua là kỷ niệm hào hùng nhất của cả dân tộc. Lễ vuợt qua làm sống lại niềm tự hào của cả một dân tộc được Thiên Chúa giải phóng.

    – Ngày ấy con cháu Israel làm nô lệ cho người Ai Cập. Ách nô lệ tưởng chừng như kéo dài bất tận. Nhưng Thiên Chúa đã thương. Uy quyền của Người đã quật ngã cả một Ai cập hùng cường và đưa dân của Người vào đất hứa.

    – Ngày ấy giữa một sa mạc khô cằn trên thì nắng, duới thì cát, chung quanh có nhiều kẻ thù. Vậy mà suốt 40 năm Chúa vẫn gìn giữ dân của Người.

    – Ngày ấy khi dân đi qua sa mạc khô cằn không nước, không thực phẩm cũng như những thứ cần thiết cho cuộc sống.  Nhiều lúc họ tưởng chừng như phải bỏ xác giữa trời làm mồi cho muông thú. Thế mà dưới sự lãnh đạo của Moise, Chúa đã cho nuớc vọt ra từ tảng đá, Manna và chim chóc cứ từ trời rơi xuống mỗi ngày làm lương thực cho dân.

    4. Tất cả những hình ảnh như thế làm cho những người đi theo Chúa vào trong hoang địa hôm nay làm sao mà quên được. Họ vẫn còn nhớ, nhớ thật rõ.

    Ngày ấy trong sa mạc – Hôm nay trong đồng vắng.

    Ngày ấy dân bị đói, Chúa ban Manna – Hôm nay đã ba ngày họ không có gì ăn, Chúa đã làm phép lạ bánh hóa nhiều. Bàn tay uy quyền của Người còn kỳ diệu hơn cả Moise. Hay nói đúng hơn: Ngài là Moise mới. Ngài là Vua. Không còn điều gì phải nghi ngờ nữa.

    Trước sự việc Chúa đã làm, Gioan còn nhớ thật rõ cảm nghĩ của dân lúc đó và ông đã viết thật đậm câu này: “Quả thật Ngài là Đấng phải đến trong thế gian” và ông cũng không quên ghi lại một chi tiết tuy nhỏ nhưng cũng rất quan trọng này: “Họ muốn tôn Ngài lên làm Vua”.

    Nhưng Chúa trốn đi vì không muốn làm Vua theo kiểu họ mong chờ.

    Vâng kính thưa anh chị em. Chúa Giêsu Chúa của chúng ta là Moise mới, là Vua. Ngài là Vua mới. Ngài là Vua đã thiết lập một dân tộc mới. Chúng ta là thần dân của Người.

    BÀI HỌC. 

    Thử hỏi Chúa mong chờ gì nơi chúng ta?

    Lời Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô 4,1 hôm nay trả lời cho chúng ta: “Anh em hãy ăn ở xứng đáng với ơn kêu gọi anh em đã lãnh nhận”. Ngài kể ra một loạt những đức tính cần thiết.

    Phần tôi: Hãy biết sống quảng đại. Quảng đại như chú bé đã dâng cho Chúa những tấm bánh và hai con cá hôm nay.

    Cậu bé chẳng có gì nhiều để dâng lên Chúa, nhưng từ lễ vật đơn thành của cậu. Chúa Giêsu đã có chất liệu để thực hiện phép lạ. Nếu cậu cứ giữ lại bánh và cá cho riêng mình, thì lịch sử có lẽ đã mất đi một phép lạ lớn lao, chói lọi.

    Nói tới đây tôi nhớ đến một câu chuyện.

    Để dạy các thiếu niên lòng quảng đại. Thánh Don Boscô đã kể lại câu chuyện sau đây:

    Một hôm Chúa Giêsu gọi Phêrô và Gioan lại bảo hai ông cùng leo núi với Ngài.

    Dọc đường Ngài bảo hai ông mỗi người hãy mang theo một hòn đá. Phêrô suy nghĩ một lúc đã rồi mới nhặt một viên đá nhỏ bỏ vào túi. Gioan do lòng quảng đại tự nhiên, vác cả một tảng đá lớn. Đường dài vác nặng. Gioan thở hổn hển, còn Phêrô vừa đi vừa huýt sáo thảnh thơi. Ông nói với Gioan:

    – Sao anh nhọc công vác một tảng đá lớn như thế?

    Chúa Giêsu nghe hết tất cả nhưng Ngài giữ thinh lặng. Khi lên đến đỉnh núi, Ngài muốn dạy cho Phêrô một bài học về lòng quảng đại. Ngài bảo hai môn đệ ngồi xuống rồi đọc lời chúc tụng và biến hai viên đá ra thành bánh mì.

    Phêrô tiu nghỉu vì viên đá của ông chỉ biến thành mẩu bánh mì nhỏ không đủ xoa dịu cơn đói của ông.

    Lần khác, Chúa Giêsu cũng gọi hai môn đệ Phêrô và Gioan leo núi với Ngài. Dọc đường Ngài cũng bảo hai ông mang đá theo. Với kinh nghiệm của lần trước, Phêrô liền đi tìm một tảng đá bự cồ để vác. Cố gắng hết sức Phêrô mới vác được tảng đá lên đến đỉnh núi. Ông chờ đợi phép lạ Chúa Giêsu sẽ làm để thưởng ông. Thế nhưng, Chúa Giêsu chỉ nói với họ:

    – Nào chúng ta hãy ngồi lên những viên đá chúng ta vừa mang đi theo. Không phải lúc nào ta cũng biến đá thành bánh mì cả đâu!

    Phêrô thấy xấu hổ, ông trách Chúa:

    – Thì ra Thầy đã chơi khăm con!

    Nhưng Chúa Giêsu bảo ông:

    – Lòng quảng đại đích thực không có sự tính toán.

    Lòng quảng đại đích thực không có sự tính toán.

    Nếu tính toán, em đã chẳng dâng cho Chúa những gì em có.

    Nếu tính toán như Philiphê thì làm sao mà có được phép lạ?

    Hãy bắt chước Chúa cho đi một cách quảng đại. Hơn 5000 người không phải là một con số nhỏ. Tất cả đã được ăn no nê. Vâng tất cả, không trừ một ai.

    Xem ra Chúa Giêsu cần những gì chúng ta đem đến cho Ngài. Ngài không cần mỗi người chúng ta đem đến thật nhiều, nhưng cần những gì chúng ta đang có. Có thể là thế giới đã không nhận được phép lạ này đến phép lạ khác, chiến thắng này đến chiến thắng khác, chỉ vì chúng ta không chịu đem đến cho Chúa những gì mình có, không chịu đến với Chúa Giêsu bằng chính con người hiện tại của mình. Nếu chúng ta bằng lòng hiến dâng chính mình để phục vụ Chúa thì Ngài dùng chúng ta. Có thể chúng ta hối tiếc hổ thẹn vì mình không có gì nhiều để dâng, hối tiếc hổ thẹn như vậy là đúng, nhưng chúng ta không có lý do gì để từ chối dâng cho Ngài những gì mình có. Dù ít, bao giờ cũng thành nhiều trong tay Chúa Giêsu!

    Hãy biết dâng hiến, chúng ta sẽ thấy những việc lạ lùng Chúa làm cho chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỆ NHẤT KHOÁI

    Trầm Thiên Thu

    Ăn uống là chuyện rất ư bình thường hàng ngày nhưng cũng rất cần thiết, thậm chí điều bình thường đó còn là “đệ nhất khoái” trong “tứ khoái” của con người. Chiến tranh xảy ra cũng chỉ vì miếng cơm, manh áo. Miếng ăn bình thường mà vô thường, bởi vì miếng ăn có thể là niềm vinh dự mà cũng có thể là nỗi ô nhục!

    Cuộc sống là thực tế, không trừu tượng hoặc mơ hồ. Chúa Giêsu đã sống rất thực tế, do đó Đạo Yêu Thương của Ngài cũng thực tế, không thực tế thì chỉ là nói dối (1 Ga 4:20). Thánh Phaolô cũng dành cả chương 13 (13 câu) trong thư I gởi giáo đoàn Côrintô để đề cập đức ái. Thánh Phaolô không sử dụng từ “nói dối” mà ví những người không yêu thương thì “cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng” (1 Cr 13:1). Ngày nay người ta gọi đó là dạng “chảnh”, “nổ”, chỉ khoác lác mà thôi.

    Giáo Hội cũng rất thực tế: Trong kinh “Thương Người Có 14 Mối”, mối thứ nhất của phần “Thương Xác 7 Mối” là “cho kẻ đói ăn”. Giáo hội không thể nói suông, vì Giáo hội theo đúng cách thức của Đức Kitô. Tuy nhiên, có lẽ Kitô hữu (nói chung) và người Công giáo chúng ta (nói riêng) vẫn chỉ yêu người bằng lý thuyết, qua sách báo, qua những bài “thuyết pháp” hùng hồn, thậm chí là yêu người “online” mà thôi. Chúa Giêsu chưa một lần nói suông. Nếu can đảm mà nghiêm túc xét mình, liệu chúng ta đã theo Chúa đúng ý Ngài? Chắc hẳn chúng ta phải đấm ngực vô số lần! Thật vậy, danh nhân Mahātmā Gāndhī (1869-1948, được dân Ấn Độ coi là Quốc phụ) đã nói thẳng: “Tôi sẵn sàng trở thành Kitô hữu nếu tôi tìm được các Kitô hữu thực thi Bài Giảng Trên Núi” – tức là Bát Phúc, là Tám Mối Phúc Thật. Chắc chắn chúng ta phải “giật mình” mà xét lại cách sống của chính mình ngay thôi, kẻo tự chuốc khốn cho chính mình!

    Nói là làm, làm ngay, làm thật. Thấy thương dân chúng theo mình suốt ngày, Chúa Giêsu đã thực tế bằng cách hóa bánh ra nhiều hai lần: Lần một với 5 chiếc bánh và 2 con cá mà đủ cho khoảng 5.000 người ăn, chưa kể phụ nữ và trẻ em, lại còn dư 12 giỏ đầy (Mt 14:17-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17; Ga 6:1-14); lần hai với 7 cái bánh và một ít cá nhỏ mà đủ cho khoảng 4.000 người ăn, cũng không kể phụ nữ và trẻ em (Mt 15:34-38; Mc 8:1-10). Quả thật, Chúa Giêsu vô cùng thực tế. Và Ngài cũng rất muốn chúng ta làm như vậy, nghĩa là PHẢI BIẾN LỜI NÓI THÀNH HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ. Người Công giáo cũng thường nói: “Có thực mới vực được đạo”. Thực tế thôi!

    Như chúng ta đã biết, ăn uống là điều cần thiết nhất để duy trì sự sống. Ăn uống không chỉ là cái thú đầu tiên trong tứ khoái của con người, mà còn là bài học đầu tiên chúng ta phải học: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Còn nhiều thứ khác cũng phải học hỏi, đặc biệt là học hỏi về tinh thần, tâm linh: “Hãy học cho biết đâu là khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là thông hiểu, đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng soi con mắt, và đâu là bình an” (Br 3:14).

    Kinh Thánh cho biết: Một người trong nhóm các ngôn sứ ra đồng hái rau, tìm thấy một thứ cây giống như nho dại, họ hái trái dưa đắng ấy, đầy một vạt áo, rồi về nhà, thái nhỏ ra, bỏ vào nồi nấu cháo, vì họ không biết đó là thứ gì. Sau đó, họ múc ra cho mọi người ăn. Vừa ăn chút cháo, họ kêu lên: “Người của Thiên Chúa ơi, thần chết ở trong nồi!” (2 V 4:40), nghĩa là nồi cháo đó có độc tố vì được nấu bằng những loại trái độc. Và họ không thể ăn được. Nhưng ông Ê-li-sa điềm nhiên nói: “Đem bột đến đây!”. Ông “vô tư” bỏ bột vào nồi rồi bảo: “Múc ra cho người ta ăn”. Lạ lùng thay, trong nồi liền hết chất độc. Ôi chao, không biết ông Ê-li-sa có nghiên cứu y dược hay không mà kết hợp thực phẩm khéo léo quá chừng!

    Sau đó, có một người từ Ba-an Sa-li-sa đến, đem bánh đầu mùa biếu người của Chúa, đó là 20 chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Ông Ê-li-sa không giữ riêng cho mình và những người trong nhóm, mà ông nói: “Phát cho người ta ăn” (2 V 4:42). Nhưng tiểu đồng hỏi ông: “Có bằng này, sao con có thể phát cho cả trăm người ăn được?” (2 V 4:43a). Ông cương quyết nói: “Cứ phát cho người ta ăn! Vì Đức Chúa phán thế này: Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư” (2 V 4:43b). Và quả đúng như vậy, phép lạ đã xảy ra nhãn tiền. Sau khi tiểu đồng phát cho người ta ăn xong, vẫn còn dư như lời Thiên Chúa đã phán truyền. Mọi sự đều có thể xảy ra (x. Gv 9:1), bởi vì Thiên Chúa quyền linh, điều không thể trở thành có thể (x. Mt 19:26; Mc 10:27; Lc 18:27; Lc 1:37).

    Vì vậy, “muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, và nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng” (Tv 145:10-11a). Trong “muôn loài” đó có mỗi chúng ta, nghĩa là chúng ta phải biết tạ ơn Chúa. Bất cứ ai tin tưởng và ngước mắt trông lên Chúa, Ngài đều chạnh lòng thương và “chính Ngài đúng bữa cho ăn” (Tv 145:11b). Sự quan phòng của Thiên Chúa thật là mầu nhiệm, chúng ta không thể hiểu thấu. Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, biết rõ chúng ta cần gì, và “khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê” (Tv 145:16). Không chỉ vậy, Ngài còn “công minh trong mọi đường lối, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm, gần gũi tất cả những ai thành tâm cầu khẩn Ngài” (Tv 145:17-18).

    Ôi, tình yêu Thiên Chúa quá bao la, lòng thương xót của Ngài quá hải hà, bởi vì Ngài luôn “chạnh lòng thương” những con người sầu khổ, thiếu thốn về vật chất hoặc tinh thần. Vâng, Thiên Chúa của chúng ta rất thực tế! Không chỉ vậy, Ngài còn ưu ái chấp nhận chúng ta là con cái, là thân hữu của Ngài (Ga 15:15b) mặc dù chúng ta chỉ là phàm nhân, là tội nhân, hoàn toàn bất xứng. Vì thế, chúng ta cần phải khiêm nhường mà nhận diện chính mình để không ảo tưởng.

    Con người luôn cần được nhắc nhở và động viên. Mặc dù đang bị tù đày vì Chúa, Thánh Phaolô vẫn không ngần ngại bày tỏ: “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em” (Ep 4:1). Theo Thánh Phaolô, cách “sống xứng đáng” đó là: Ăn ở thật KHIÊM TỐN, HIỀN TỪ và NHẪN NẠI; lấy tình bác ái mà CHỊU ĐỰNG lẫn nhau; thiết tha duy trì sự HIỆP NHẤT mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở THUẬN HOÀ gắn bó với nhau (Ep 4:2-3).

    Tại sao vậy? Thánh Phaolô giải thích: “Chỉ có MỘT thân thể, MỘT Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa. Chỉ có MỘT Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4:4-6). Tất cả đều là MỘT trong Thiên Chúa thì không có lý do gì mà tách rời. Có ai lại tự cắt lìa một phần thân thể của mình chứ? Mà đã là MỘT thì phải yêu thương, quan tâm, nâng niu và chia sẻ mọi thứ với nhau. Vâng, đó là vấn đề rất thực tế, nhưng con người vẫn chia ba bè bảy nhóm, nên Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho mọi người “nên một” (Ga 17:21-23).

    Rất chi tiết, Thánh sử Gioan kể: Hôm đó, Đức Giêsu sang bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria, có đông đảo dân chúng đi theo Ngài, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Ngài đã làm cho các bệnh nhân. Ngài lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do Thái. Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Ngài hỏi ông Philípphê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6:5). Thực ra Ngài nói thế là để thử ông thôi, chứ Ngài biết mình sắp sửa làm gì rồi.

    Lúc đó, có lẽ ông Philípphê gãi đầu vì ngạc nhiên và nói: “Thầy ơi là Thầy, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” (Ga 6:7). Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, thưa với Ngài: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!” (Ga 6:9). Đức Giêsu mỉm cười và ôn tồn nói: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi” (Ga 6:10). Rồi mọi người ngồi xuống trên cỏ, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Có lẽ lúc đó các tông đồ lắc đầu ngán ngẩm vì đông quá, có sẵn đủ thực phẩm mà phục vụ họ cũng mệt đứ đừ chứ chẳng giỡn chơi. Chỉ tính 5.000 người thì mỗi ông phải phục vụ khoảng 500 thực khách. Ui da, “căng” dữ nghen!

    Khi đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Ngài cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý chứ không “chia khẩu phần”. Khi họ đã no nê rồi, Ngài bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi” (Ga 6:12). Các môn đệ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. Thật là trên cả tuyệt vời. Kỳ diệu!

    Mọi người chứng kiến dấu lạ Đức Giêsu làm, họ nói với nhau: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!” (Ga 6:14). Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Ngài lại lánh mặt và đi lên núi một mình. Ngài “thực tế” với người khác nhưng lại không “thực tế” với chính mình. Ngài không muốn được “tôn làm vua” mà lại “lánh mặt” và “đi lên núi”, đáng lưu ý là Ngài đi lên núi MỘT MÌNH mà thôi. Thầy Giêsu tỏ ra không thực tế mà lại rất thực tế. Hay quá chừng luôn!

    Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin giúp chúng con luôn sống “thực tế” như Đại Sư Giêsu là biết “chạnh lòng thương” tha nhân, dù họ là ai, đồng thời cũng sẵn sàng cầm lấy chiếc-bánh-cuộc-đời của chính mình, chân thành dâng lời tạ ơn, rồi vui vẻ bẻ ra và chia sẻ với bất kỳ ai. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHIA SẺ TẤM BÁNH TÌNH NGƯỜI

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1.TIN MỪNG : Ga 6,1-15.

    (1) Sau đó, Đức Giê-su sang bên kia Biển hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển hồ Ti-bê-ri-a. (2) Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (3) Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. (4) Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do thái. (5) Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-lip-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” (6) Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. (7) Ông Phi-lip-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. (8) Một trong các môn đệ là ông An-rê, anh ông Simon Phêrô, thưa với Người : (9) “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá. Nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu ?”. (10) Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta nằm ngả xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta nằm ngả xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. (11) Vậy Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. (12) Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” (13) Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. (14) Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị Ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” (15) Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

    1. Ý CHÍNH : Đức Giê-su chứng tỏ mình là Mô-sê Mới khi làm phép lạ nhân năm chiếc bánh và hai con cá ra nhiều để nuôi dân chúng ăn no, giống như trong thời kỳ Xụất hành, Mô-sê đã làm phép lạ nuôi dân Ít-ra-en trong sa mạc bằng Man-na từ trời rơi xuống. Phép lạ nhân bánh ra nhiều là hình bóng của bí tích Thánh Thể mà Đức Giê-su sắp thiết lập trong bữa Tiệc Ly Vượt Qua sau này.
    2. CHÚ THÍCH :

    – C 1-4 : + Biển hồ Ga-li-lê : Gọi là Ga-li-lê vì Biển Hồ này nằm ở xứ Ga-li-lê, miền Bắc nước Pa-lét-ti-na. Cũng gọi là Biển hồ Ti-bê-ri-a (x. Ga 6,1), vì vào năm 26 vua Hê-rô-đê An-ti-pa đã cho xây thành phố Ti-bê-ri-a ở gần Biển Hồ này, rồi người ta dùng tên thành đó để gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Ngoài ra, Biển Hồ còn có tên là Ghen-nê-xa-ret (x. Lc 5,1). + Sắp đến lễ Vượt Qua là dại lễ của người Do thái : Lễ Vượt Qua kỷ niệm việc dân Do thái được thóat khỏi ách nô lệ cho dân Ai Cập, và được trở về miền Hứa Địa là xứ Ca-na-an (x. Xh 3,17), nơi Thiên Chúa đã hứa ban cho tổ phụ Áp-ra-ham và dòng dõi đến muôn đời (x. St 12,1).

    -C 5-7 : + Người hỏi ông Phi-lip-phê : Sở dĩ Phi-lip-phê được Đức Giê-su hòi ý kiến vì ông là người dân địa phương này. + Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ? : Qua câu này, ta thấy Đức Giê-su cũng quan tâm cả đến nhu cầu thể xác của đám đông dân chúng và tìm cách đáp ứng nhu cầu chính đáng ấy. + Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi : Thời kỳ Xuất hành, Đức Chúa đã nhiều lần thử thách sự trung thành của dân Ít-ra-en, xem họ phản ứng ra sao khi gặp hoàn cảnh khó khăn. (x. Xh 16,4;17,1-7). Trong bài Tin Mừng hôm nay, hỏi Phi-lip-phê kiếm đâu ra bánh cho đám đông là Đức Giê-su muốn thử xem ông có tin vào quyền năng của Người có thể giải quyết sự khó khăn này không ? Còn Người thì đã dự tính sẽ phải làm gì rồi. + “Có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” : 200 đồng là một số tiền lớn, tương đương với 200 ngày công, vì lương công nhật của thợ lành nghề lúc bấy giờ là một đồng (x. Mt 20,2.9).

    -C 8-9 : + An-rê anh ông Si-mon Phê-rô thưa với Người : An-rê là người đã dẫn em mình là Si-mon đến giới thiệu với Đức Giê-su (x. Ga 1,42). Lần này ông cũng đã phát hiện ra một em bé trai có mang thực phẩm theo và dẫn em đến giới thiệu với Đức Giê-su. + “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá : Bánh lúa mạch là loại bánh mì rẻ tiền, làm bằng lúa mạch, là thức ăn dành cho gia súc. Đây là bánh của những người thật nghèo. Cá của em nhỏ này là loại cá nhỏ ướp muối. Vì thời đó người ta chưa có phương tiện bảo quản cá tươi lâu được. Cá muối là món ăn bình dân của dân chài lưới ven Biển Hồ. + “Nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” : Câu này cho thấy sự bất lực của các tông đồ trước nhu cầu lớn lao của dân chúng bị đói đang cần được ăn no.

    -C 10-11 : + Anh em cứ bảo người ta nằm ngả xuống đi : Nằm ngả xuống hay ngồi xuống cách thoải mái là tập tục nằm nghiêng khi ăn uống của vùng Cận Đông. Theo Mác-cô, việc người ta ngồi thành từng nhóm một trăm hay năm mươi (x Mc 6,40), không những tiện lợi cho việc phân phát bánh theo thể thức Mô-sê đã làm trong cuộc Xuất Hành (x. Xh 18,21.25), mà còn nói lên tinh thần hiệp thông khi tham dự bữa tiệc Thánh Thể sau này (x. 1 Cr 11,18-21). + Chỗ ấy có nhiều cỏ : Đất có nhiều cỏ cho thấy lúc này đang trong mùa xuân, là thời gian mừng lễ Vượt Qua của dân Do thái. Cây cỏ xanh tươi gợi lên hình ảnh Đức Giê-su là vị Mục tử nhân lành (x. Ga 10,11). Người dẫn đàn chiên Ít-ra-en Mới đi đến cánh đồng cỏ xanh tươi, để họ được ăn uống no nê và được sống dồi dào (x. Tv 23,1-3; Ga 10,10). + Vậy Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó : Trong Tin Mừng Nhất Lãm (gồm 3 Tin Mừng của Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca), Đức Giê-su trao bánh và cá cho môn đệ để họ đi chia cho dân chúng (x. Mt 14, 19; Mc 6,41; Lc 9,16). Còn trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su tự phân phát bánh đã được nhân ra nhiều cho dân chúng. Việc Cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát là những cử chỉ Người sẽ làm trong bữa Tiệc Ly Vượt Qua để thiết lập bí tích Thánh Thể (x Mt 26, 26). Như vậy, phép lạ nhân bánh ra nhiều này là hình bóng của bí tích Thánh Thể do Đức Giê-su sẽ thiết lập sau này.

    -C 12-13 : + No nê : Theo Hy ngữ cổ, từ “no nê” chỉ việc cho súc vật ăn rơm. Khi dùng cho người thì có nghĩa là ăn no đến phát ngán !  + “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi” : Tạo sao có nhiều miếng bánh thừa như vậy ? Theo phong tục Do thái, khi ăn tiệc người ta có thói quen để lại chút gì cho các người giúp việc ăn sau đó. Số bánh thừa gồm mười hai giỏ đầy do mười hai tông đồ đi thu lượm lại.

    -C 14-15 :  + Hẳn ông này là vị Ngôn sứ : Vị Ngôn sứ nói đây đã được Mô-sê đề cập đến như sau : “Bấy giờ Đức Chúa phán với tôi rằng : “Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một Ngôn sứ giống như ngươi, để giúp chúng. Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy “ (Đnl 18,17-18). + Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình : Dân Do thái đang bị quân Rô-ma cai trị và họ trông mong Đấng Thiên Sai mau đến làm Vua của họ và cầm quân để giải phóng họ khỏi ách đô hộ của người Rô-ma. Dân Do thái đã nhiều lần khởi nghĩa và đều bị quân Rô-ma đàn áp thẳng tay. Đức Giê-su ý thức sứ mạng của Người không phải để làm ông Vua trần tục như dân Do thái đang trông mong, nên Người đã lánh mặt lên núi một mình.

    4.CÂU HỎI :

    1) Vào thời Xuất Hành, trong suốt thời gian 40 năm dẫn dân Ít-ra-en đi trong sa mạc về Đất Hứa, Mô-sê đã xin Đức Chúa ban Man-na từ trời rơi xuống cho họ ăn, thì nay Đức Giê-su làm gì để nuôi Hội Thánh là dân Ít-ra-en Mới trên đường về Nước Trời?

    2) Tại sao Biển Hồ còn được gọi là Ga-li-lê hay Ti-bê-ri-a ?

    3) Lễ Vượt Qua là lễ của đạo Do thái hay đạo Công giáo ? Lễ này kỷ niệm biến cố nào xảy ra trong lịch sử dân Ít-ra-en ?

    4) Tại sao Đức Giê-su hỏi Phi-lip-phê chỗ mua bánh cho dân chúng ? Đức Giê-su hỏi Phi-lip-phê nhằm mục đích gì ?

    II. SỐNG LỜI CHÚA :

    1. LỜI CHÚA : Người hỏi Phi-lip-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”(Ga 6,5).

    2. CÂU CHUYỆN :

    1) ĐỨC BÁC ÁI PHẢI THIẾT THỰC CỤ THỂ :

    Năm 1634, Thánh Vinh Sơn họp một số các bà đạo đức để cùng nhau sống đức bác ái theo Lời Chúa dạy. Các bà ngồi lại với nhau bàn cãi để tìm phương cách họat động. Tuy nhiên, sau nhiều buổi họp bàn sôi nổi mà kết quả chẳng đi đến đâu. Một hôm, trong lúc họ đang bàn cãi, thì thánh Vinh Sơn từ bên ngoài bước vào phòng họp, trên tay mang theo một vật được gói trong tấm khăn vải. Ngài đặt chiếc gói xuống giữa bàn họp. Thì ra đó là một bé gái mới sinh được khỏang ba ngày, bị bỏ lại bên cạnh đống rác mà ngài mới lượm được. Thánh nhân nói : “Các bà muốn làm việc bác ái thì đừng nói nhiều nữa mà hãy làm những việc cụ thể. Các bà hãy bắt tay làm việc nuôi trẻ bị bỏ rơi này ngay đi !”. Dòng Bác Ái Vinh Sơn ra đời từ ngày đó.

    2) QUẢNG ĐẠI CHIA SẺ TẤM BÁNH TÌNH NGƯỜI :

    Có hai anh em nhà kia áo quần rách nát đang dùng cây sắt bới móc đống rác ở bãi rác trung chuyển cạnh một con đường nhỏ. Bỗng mắt hai đứa sáng lên khi thấy một miếng bánh kem từ trong chiếc xe hơi đậu gần đó vất xuống lề đường. Thằng anh vội chạy đến nhặt lên, nhưng chiếc bánh đã bị lấm đất không thể ăn được. Đứa em gái nuốt nước miếng nói với anh: “Anh phải thổi cho cát bẩn bay đi đã, rồi anh em mình mới có thể ăn được”. Thằng anh liền phùng má thổi mạnh vào chiếc bánh cho đất cát bay ra. Nhưng cát bẩn đã dính sâu vào bánh, thổi thế nào chúng cũng không chịu văng ra. Con em  sốt ruột cũng ghé miệng thổi và lỡ tay đụng vào tay của anh khiến chiếc bánh bị rơi tòm xuống chiếc rãnh hôi hám ven đường. Thằng anh tiếc rẻ trách em gái: “Tại em đó. Em đã  đụng vào tay anh làm cho chiếc bánh bị rơi xuống cống rồi. Bây giờ lấy gì ăn đây ?”. Nhưng rồi khi thấy vẻ mặt buồn bã của em, nó liền an ủi: “Ừ, lỗi tại anh! Nhưng may là kem vẫn còn dính vào tay anh nè. Cho em mút kem trong ba ngón, còn anh chỉ mút hai ngón còn lại thôi!”

    Câu chuyện nói trên không biết thực hư ra sao, nhưng cũng cho thấy giữa đời thường vẫn có những người giàu có hoamg phí vất bỏ đồ ăn đi, đang khi nhiều kẻ nghèo lại phải bòn nhặt từng miếng bánh bị bỏ đi ấy. Là tín hữu của Đức Giê-su, chúng ta cần làm gì để giúp đỡ cụ thể những người nghèo đói bất hạnh trong xã hội hôm nay?

    3) ĐỪNG BỎ LỠ CƠ HỘI LÀM VIỆC THIỆN :

    vào một đêm đông gió tuyết se lạnh. Một ông lão đến gõ cửa nhà một người giàu có trong xóm. Ông nhà giàu ngồi trong nhà nhìn ra thấy lão ăn xin trong chiếc áo rách mỏng manh  đang đứng rét run ngoài cổng. Dù biết lão ăn xin đang bị lạnh, nhưng ông ta nghĩ không nên để lão già ăn xin hôi hám kia vào nhà, nên sai gia nhân ra cổng cho vài đồng xu để lão ta đi.

    Mấy ngày sau, một thi thể đã được người ta phát hiện nằm chết cóng dưới một đụm tuyết ở đầu làng. Nghe tin này, ông nhà giàu biết chắc đó là lão già ăn xin mấy hôm trước, nên cũng cảm thấy ân hận vì đã không tận tình giúp đỡ lão ta.

    Bỏ lỡ cơ hội làm việc thiện để người ta bị chết cũng chính là một tội ác nghiêm trọng: Tội thiếu sót bổn phận khi ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau của tha nhân đang cần được trợ giúp.

    4) CỨ LÀM HẾT SỨC MÌNH ĐI RỒI CHÚA SẼ TRỢ GIÚP :

    Ngày nọ, một phụ nữ trung niên đã đến thăm một khu nhà ổ chuột trong thành phố. Nhìn thấy tình trạng bi đát của những người nghèo không nhà cửa, không cơm ăn áo mặc… bà đã tự nhủ: “Ta phải làm gì giúp họ đây ?”. Thế rồi bà dồn tất cả sớ tiền trong túi được 4 đồng bạc Ấn đi thuê một căn nhà tồi tàn trong xóm gần đó. Hôm sau, bà đã đi đến các đường phố lân cận gặp gỡ các trẻ em lang thang bụi đời và đưa chúng về căn nhà mới thuê. Bà ngăn căn nhà thành hai phòng là phòng học và phòng ngủ. Căn phòng học không bàn ghế bảng viết. Bà đã viết lên trên nền nhà lau sạch dạy lũ trẻ học. Hằng ngày bà gặp gỡ nhiều người để xin ủng hộ gạo rau thịt cá để nấu ăn cho chúng. Đó là cách mà bà đã dùng để chiến đấu với sự nghèo đói và dốt nát chỉ với những gì trong tầm tay của mình.

    Nhờ ơn Chúa giúp và sự nhiệt thành cộng tác của nhiều người mà đến hôm nay bà đã xây dựng được 80 trường học trang bị học cụ đầy đủ, 300 nhà phát chẩn lưu động theo phong cách hiện đại, 70 bệnh viện miễn phí chuyên chăm sóc chữa trị người cùi, 30 viện chăm sóc cho những bệnh nhân sắp chết bị người thân bỏ rơi, 30 viện chăm sóc các trẻ em bụi dời cùng 40.000 nhân viên thiện nguyện cộng tác trên khắp thế giới. Người phụ nữ đó không ai khác hơn là Mẹ Têrêxa thành Calcutta, vị sáng lập Dòng Thừa Sai Bác Ái.

    1. THẢO LUẬN : Ngày nay vẫn còn nhiều người đang bị đói khát cơm áo thuốc men… và đói nghe Lời Chúa và Bánh Thánh Thể. Vậy chúng ta cần làm gì để giúp họ ?
    2. SUY NIỆM :

    Giống như Mô-sê xưa đã được Đức Chúa ban cho Man-na để nuôi dân It-ra-en trong cuộc lữ hành vượt qua sa mạc 40 năm để về tới miền Đất Hứa, Tin Mừng hôm nay cũng trình bày Đức Giê-su như một Mô-sê Mới thời Tân Ước. Người cũng nhân bánh ra nhiều, bánh Man-na Mới tượng trưng bí tích Thánh Thể, để làm lương thực nuôi dưỡng đức tin của dân It-ra-en Mới là Hội Thánh, đang trên đường lữ hành vượt qua sa mạc trần gian về Đất Hứa Nước Trời đời sau. Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn chúng ta thực hành đức bác ái cụ thể như sau:

    1) “Ta mua đâu bánh cho họ ăn đây?” :

    Nhìn thấy đám đông đi theo mình, Đức Giê-su chạnh lòng thương, vì họ đang bị đói khát, bệnh tật và bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt. Họ khao khát đi tìm Chúa để mong được nghe giảng Tin Mừng Nước Trời và được chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Đức Giê-su đã ban cho họ một bữa ăn để đáp ứng cơn đói sau ba ngày theo Người nơi hoang địa. “Ta mua đâu bánh cho họ ăn đây?” Nói câu này, Người muốn các môn đệ chia sẻ mối bận tâm của Người và cộng tác với Người trong phép lạ mà Người sắp thực hiện.

    2) “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá”:

    Trước nhu cầu lớn lao của đám đông, các môn đệ đã đề nghị với Thầy giải pháp dễ nhất qua câu nói: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (Mt 14,15). Giải pháp này xem ra hợp lý và nhẹ nhàng nhất: Ai nấy tự mua thức ăn để phục vụ mình. Nhưng giải pháp này lại không được Đức Giê-su chấp nhận. Người muốn các ông phải có trách nhiệm lo cho đám đông: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn đi”.

    Tin Mừng Gio-an cho thấy thiện chí góp phần của các môn đệ như sau: An-rê nói: “Ở đây có một em bé có 5 chiếc bánh lúa mạch và hai con cá nhưng với bằng ấy người thì thấm vào đâu!”. Tuy nhiên Đức Giê-su đã quá rõ sự bất lực của các môn đệ. Người chỉ cần các ông góp phần tối thiểu mà thôi. Người ý thức việc Người sắp làm nên đã cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, hướng nhìn về trời cao, đọc lời chúc tụng… Lập tức những bế tắc của các môn đệ đã được hóa giải và đám đông dân chúng được ăn một bữa no nê.

    3) Bài học từ phép lạ nhân bánh ra nhiều:

    Đức Giê-su không biến bánh và cá thành một khối thức ăn to lớn, rồi để cho mỗi người tự đến lấy phần ăn cho mình. Người đã cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho họ bằng cách trao bánh và cá cho các môn đệ, rồi các ông này lại mang đến trao cho từng người trong đám đông. Rồi bánh và cá lại từ người này được bẻ ra trao cho người bên cạnh. Đó là bài học bác ái chia sẻ mà Chúa muốn dạy chúng ta trong Tin Mừng hôm nay. Thực vậy, khi mọi người biết quan tâm đến nhau, quảng đại chia sẻ thì Chúa sẽ nhân ra nhiều để mọi người được ăn no.

    4) “Anh em hãy thu lấy những miếng thừa kẻo phí đi”:

    Con số 5000 người không kể đàn bà con trẻ là cả một rừng người. Đã có hằng ngàn chiếc bánh và cá hôm đó đã được chia sẻ để mọi người ăn no mà còn dư. Đức Giê-su đã truyền cho các môn đệ đi thu lại được mười hai thúng bánh và cá người ta ăn còn thừa đó.

    Đức Giê-su quý trọng những mẫu bánh và cá vụn vì chúng là hiện thân tình thương cứu độ của Người. Ngày nay, cũng có những tấm bánh tiếp tục được bẻ ra trong thánh lễ dâng tại các nhà thờ, tuy tấm bánh nhỏ bé mỏng manh nhưng sau khi truyền phép đã biến thành Thân Mình của Chúa Giê-su, tái diễn bữa Tiệc Ly và lễ Hy sinh Thánh giá của Người khi xưa hầu ban ơn cứu độ cho muôn người.

    Ngoài ra, qua việc dạy môn đệ đi thu lại những miếng bánh vụn, Đức Giê-su muốn dạy chúng ta bài học phải tránh lãng phí các ơn lành Chúa ban như : Sức khoẻ, tài năng, trí tuệ, thời giờ… Vì chúng đều là những hồng ân của Chúa và cần được bảo quản để chia sẻ cho nhiều người.

    5. LỜI CẦU :

    LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho chúng con biết quảng đại, biết mở rộng con tim để góp phần giải quyết những đói nghèo của nhân loại. Phần đóng góp nhỏ bé của chúng con hôm nay có thể chỉ là một nụ cười cảm thông với người đang đau khổ, một ly nước lã hay một chén cơm manh áo cho người đói khát nghèo khó, một lời động viên an ủi những người đang bị hiểu lầm và đối xử bất công; một sự khoan dung tha thứ cho những kẻ đang thù ghét làm hại chúng con…

    Xin cho chúng con quyết tâm mỗi ngày làm ít là một việc thiện, mỗi ngày sẽ làm vui lòng một người… để chúng con trở thành những tông đồ giáo dân nhiệt thành làm cho “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

    Xin cho chúng con thành tâm cộng tác với Chúa trong việc cứu rỗi bản thân chúng con và nhiều người như lời thánh Au-gút-ti-nô nói : “Thiên Chúa dựng nên bạn không cần hỏi ý bạn, nhưng Ngài không thể cứu rỗi bạn, nếu bạn không cộng tác với Ngài”.

    X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.  -Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

    NIỀM VUI

    Lm. Peter Tran

    Kính thưa anh chị em thân mến,

    Hôm nay, bài đọc hai và bài Tin Mừng cho chúng ta thấy có hai niềm vui khác nhau. Trong bài Tin Mừng, dân chúng đã chứng kiến một phép lạ, và họ đã được ăn một bữa no nê và còn dư 12 thúng đầy, không mất tiền, hoàn toàn free.  Họ đã vui mừng đến nỗi muốn tôn Chúa Giêsu lên làm vua để họ được tiếp tục ăn free.

    Chúng ta thấy dân chúng có thái độ thật kỳ quặc với phép lạ bánh hoá nhiều Chúa thực hiện. Họ hoàn toàn hiểu sai chủ ý của Chúa Giêsu. Phải, dân chúng đã trần tục hóa phép lạ. Chạy theo lợi nhuận vật chất, họ chỉ nhìn thấy vật chất. Nói như thánh Phaolô họ tôn thờ cái bụng! Thánh Gioan nói rõ chi tiết này: “Sau biến cố, dân chúng muốn bắt Chúa đi mà tôn lên làm vua.” Dân chúng được ăn no nê và vui mừng muốn tôn Chúa làm vua để được ăn free hoài, có lẽ để tiếp tục phục vụ cho những lợi lộc vật chất, cho những tham vọng của họ. Thay vì cố gắng để được ăn của ăn không hư nát, để được sống đời đời, thì dân chúng lại giới hạn phép lạ trong chiều kích vật chất của cơm bánh để nuôi sống thể xác mà thôi. Phải chăng đó cũng là một trong những cám dỗ vẫn thường xảy ra cho mỗi người chúng ta dù thời đại nào. Cám dỗ dùng Thiên Chúa cho những chuyện tầm phào, vài ba chuyện lẻ tẻ! Bắt Chúa chỉ phục vụ cho vài ba nhu cầu thể xác thôi.

    Nhưng khi Chúa Giêsu từ chối sự tôn phong ‘làm dzua’ của họ, chúng ta nghĩ niềm vui của họ sẽ tồn tại được bao lâu? Chắc chắn là không có dài. Phép lạ cũng không đem lại niềm vui bền vững được.

    Còn trong bài đọc hai, thánh Phaolô đang là tù nhân khuyên các tín hữu Êphêsô “ăn ở xứng đáng với ơn kêu gọi anh em đã lãnh nhận” vì  “chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa là Cha hết mọi người, Đấng vượt trên hết mọi người, hoạt động nơi mọi người và ở trong mọi người.”

    Lý do tại sao thánh Phaolô đang trong tù vẫn bình an khuyên tin nơi Chúa vì như trong Thánh Vịnh đáp ca, “Chúa công minh trong mọi đường lối, thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. Chúa gần gũi những kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm.”

    Nếu Chúa là trung tâm của cuộc sống chúng ta, thì không ai có thể làm mất niềm vui của chúng ta được. Nếu lòng chúng ta mong ước những sự trên trời thì ba cái nhỏ như con thỏ ăn cỏ làm sao ảnh hưởng trên ta? Niềm vui ở đây phát xuất từ một niềm tin, một niềm hy vọng, vào sự hạnh phúc cao vượt hơn, sâu xa hơn, và chân thực hơn; làm cho chúng ta sẵn sàng hy sinh chấp nhận tất cả những khó khăn và đau khổ khác.

    Nếu chúng ta chỉ chú tâm vào những rắc rối, những khó khăn, những lời nói chê bai, những bất công, những sự không vừa ý, hay những nhu cầu không được thoả mãn, những bệnh tật, sự mất ngủ, sự kém tài… thì chúng ta sẽ bị bế tắc trong đau khổ, bị thất vọng, và tức giận.

    Ngược lại nếu chúng ta chú tâm vào Thiên Chúa, đặt Chúa làm trung tâm, thì chúng ta sẽ tìm được câu trả lời cho những khó khăn; chúng ta sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Chúa và hồng ân của Chúa bao bọc xung quanh những đau khổ của chúng ta. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá, thánh Phaolô bị tù đầy hay các thánh, nhất là các thánh tử đạo, đã sẵn sàng đón nhận đau khổ hiện tại, để có được hạnh phúc cao vời sẽ tới.

    Một ngày nọ, có ông tiên hiện ra với một anh chàng u sầu, và hỏi:

    – Sao trông con buồn bã thế, có việc gì không vui à?

    – Con buồn lắm, Ông Tiên ơi! Con không hiểu tại sao con làm việc chăm chỉ, vất vả mà vẫn nghèo.

    – Nghèo ư, con là một người giàu có đấy chứ.  Giả sử ta chặt một bàn tay của con, ta trả con 30 đồng vàng, con đồng ý không?

    – Không bao giờ. Chưa ai nói với con như vậy cả, con rất nghèo.

    – Giả sử ta chặt một ngón tay cái của con, ta trả con 3 đồng vàng, con có đồng ý không?

    – Không ạ.

    – Vậy ta muốn lấy đi đôi mắt của con, ta trả con 300 đồng vàng, con thấy thế nào?

    – Cũng không được.

    – Vậy, ta trả con 3.000 đồng vàng để con trở thành một ông lão, già cả, lú lẫn được không?

    – Đương nhiên là không.

    – Con muốn giàu. Vậy ta sẽ đưa cho con 30.000 đồng tiền vàng để lấy đi mạng sống của con, con thấy thế nào?

    – Con cảm ơn ông! Con đã hiểu, con cũng là một người giàu có.

    Có khi vì mê mải sự đời, hay phải đối diện với những đau khổ, mà chúng ta quên rằng mình cũng là những người rất giàu có, vì khi chúng ta chịu phép Rửa Tội, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta sự sống Phục Sinh quí giá, sự sống đời đời, hay nói khác đi là ơn gọi sống thánh thiện mà chúng ta cố gắng theo đuổi hằng ngày.  Cho dù có mấy trăm ngàn đồng tiền vàng, hay bao nhiêu của cải vật chất, hay những khó khăn đau khổ, cũng không thể đánh đổi được sự sống Phục Sinh, sự sống thánh thiện đó. Mong rằng một khi chúng ta đã nắm chắc được kho tàng quí giá là chính Chúa Giêsu, thì cho dù có gặp những thử thách, khó khăn, đau khổ, chúng ta cũng vẫn hân hoan như thánh Phaolô đang bị cầm tù vẫn bình thản mà còn vui mừng chia sẻ những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa cho Giáo Hội.

    Lạy Chúa, xin luôn nâng tâm hồn con lên để con nhìn nhận và tôn vinh Chúa hằng ngày. Xin Chúa giải thoát con khỏi làm nô lệ cho thể xác, vật chất vì Chúa vẫn còn làm nhiều phép lạ trong đời con. Xin cho con được luôn sẵn sàng lắng nghe. Xin Thánh Thể Chúa mà chúng con lãnh nhận hôm nay nên nguồn ánh sáng và sức mạnh và giúp con chu toàn trọn vẹn hơn sứ mạng Chúa đã trao phó cho con. Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã nhìn nhận Chúa làm nơi Mẹ những điều trọng đại, xin mở mắt con để con thấy Chúa cũng làm muôn điều trọng đại nơi con và ca lên với Mẹ “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa.”.

    Về mục lục

    .

    CON MƠ ƯỚC

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Có người cho rằng Kitô giáo là một thứ duy tâm,

    chỉ biết có đời sau, chỉ lo cho linh hồn.

    Khi đọc Tin Mừng, ta thấy một điều khác hẳn.

    Ðức Giêsu vừa rao giảng Nước Trời,

    vừa chữa mọi thứ tật bệnh cho dân chúng.

    Ngài quan tâm đến thân xác con người.

    Ngài đem lại ơn cứu độ cho cả hồn lẫn xác.

    Ðức Giêsu đã từng nếm cái đói trong hoang địa,

    cái khát bên bờ giếng, cái mệt khiến Ngài ngủ vùi,

    cái lạnh của những đêm không chỗ trọ,

    Ngài biết con người có thân xác và là thân xác.

    Khi thấy đám đông kiên trì theo Ngài,

    Ðức Giêsu biết lòng họ rất vui, nhưng bụng họ thì đói.

    Ngài muốn tặng họ một bữa ăn đơn sơ, bất ngờ,

    một bữa ăn tập thể ngoài trời,

    trên thảm cỏ xanh tươi sau những trận mưa xuân.

    Bữa ăn khiến niềm vui được trọn vẹn.

    “Chúng ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”

    Ðức Giêsu đưa các môn đệ đi vào nỗi bận tâm của Ngài.

    Ngài cần sự cộng tác của họ.

    Nhưng câu hỏi trên lại là một bài toán khó.

    Nó giúp các môn đệ nhận ra sự bất lực của mình.

    Dù có một số tiền lớn cũng chẳng thấm vào đâu.

    Khi con người bất lực thì Thiên Chúa bày tỏ quyền năng.

    Năm cái bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ,

    từ tay một cậu bé con đến tay Ðức Giêsu,

    đã trở nên lương thực nuôi năm ngàn người.

    Thế giới tiến bộ hôm nay vẫn là một thế giới đói.

    Ðừng vội nói đến cái đói tinh thần.

    Cái đói trên thân xác vẫn làm con người quay quắt.

    Ðói cơm ăn áo mặc, đói nhà ở, đói thuốc men,

    đói chút nước sạch, rau sạch để dùng,

    đói an toàn và bảo hộ khi lao động,

    đói một bầu khí trong lành và yên tĩnh để nghỉ ngơi…

    Có bao Kitô hữu đã xót xa trước cảnh đói,

    và đã bắt tay vào cuộc với niềm tin,

    dù họ chỉ có năm cái bánh và hai con cá.

    Tất cả những gì giúp thăng tiến đời sống con người

    đều là việc thánh thiêng, việc của Chúa.

    Khi thân xác con người được sống xứng hợp,

    tâm hồn con người dễ vươn lên các giá trị tinh thần.

    Thiên Chúa đã ban một trái đất đủ nuôi sống mọi người.

    Ðừng trách Thiên Chúa đã tạo ra nghèo khổ.

    Chỉ nên nhận rằng bất công nằm ngay nơi lòng mình.

    Xã hội còn nhiều người nghèo đói

    vì tôi không dám chia sẻ cả điều mình dư thừa,

    vì tôi bị hút vào cơn lốc của thời trang và mua sắm,

    vì tôi xa lạ với những Giêsu quanh tôi

    đang đói khát, không nhà, trần trụi và đau yếu.

    Ước gì tôi biết yêu mến con người như Ðức Giêsu.

    Cầu nguyện:

    Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới:

    Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này

    là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.

    Con mơ ước

    không còn những Ladarô đói ngồi ngoài cổng,

    bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.

    Con mơ ước

    mọi người đều có việc làm tốt đẹp,

    không còn những cô gái đứng đường

    hay những người ăn xin.

    Con mơ ước

    những người thợ được hưởng lương xứng đáng,

    các ông chủ coi công nhân như anh em.

    Con mơ ước

    tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình,

    các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.

    Lạy Chúa của con,

    con ước mơ một thế giới đầy màu xanh,

    xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển,

    và xanh của bao niềm hy vọng

    nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.

    Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ,

    thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó.

    Về mục lục

    .

    CUỘC ĐỜI CÓ ĐỨC GIÊSU

    Lm. Jos. DĐH.

    Ăn được ngủ được là tiên, đích thực là dấu hiệu của khoẻ mạnh, các bậc cha mẹ thường mơ ước như thế khi chăm con nuôi con. Thử thách lớn mà người ta thường ngao ngán phải đối diện: không ăn không ngủ được nữa và sự chết đang gần kề, ai đó đã xoay sửa lại nghe thật dí dỏm: chán cơm thèm đất thích nghe kèn. Cảm giác đói khát và thèm ăn, sẽ còn hứa hẹn nhiều điều ở phía trước, khác với nỗi niềm phải chấp nhận: không ăn không ngủ là tiền vứt đi, “đời tàn, tình sẽ trôi vào quên lãng”. Nếu không ai muốn mình sinh ra trong túng nghèo, bệnh tật, cô đơn, thì đúng là mọi người đều có sẵn tình yêu và phép mầu đang can thiệp dẫn người ta đến no thoả an vui.

    Đám đông tin tưởng thầy trò Đức Giêsu, hoặc đám đông a-dua theo thầy trò Đức Giêsu hôm đó, đều là tín hiệu tốt, và những người chài lưới hoảng sợ vì đám đông, càng cho thấy rõ nơi nào có Đức Giêsu, nơi đó hoàn toàn được an tâm. Người giầu, cậy vào tiền của, người địa vị, dựa vào thế lực ở đời, người theo Đức Giêsu, phải cậy trông và tin tưởng vào tình yêu thương của Ngài. Biểu hiện của các số môn đệ hôm đó là vừa mừng vì có số đông ủng hộ thầy trò, vừa lo sợ Thầy ra lệnh phải chi tiêu ăn uống cho đám người đó. Dân chúng đói khát theo Đức Giêsu muốn được no thoả, muốn lành sạch bệnh tật, muốn được nghe, được niềm vui chứng kiến phép lạ, dù “dụng ý” họ chưa tốt, tình yêu thương của Đấng cứu độ vẫn rộng rãi thi ân.

    Người xưa có câu: thước đo cuộc đời không hệ tại dài hay ngắn, nhưng hơn nhau ở chỗ người ta sử dụng thước đo ấy thế nào. Các tông đồ tìm lại bình tĩnh khi nghe Thầy gợi ý: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn”. Đám đông dân chúng vui mừng khi được nghe các tông đồ nhắc bảo hãy yên tâm ngồi xuống. Ở trong ngôi thánh đường này, chúng ta có bình an không, có cảm thấy vui chưa, chúng ta đang sử dụng tự do của mình để tin tưởng, cây trông nơi Đức Giêsu như thế nào ? Đức Giêsu không chờ đợi đủ 12 học trò nói lạy Thầy, xin Thầy làm phép lạ, con tin Thầy là Thiên Chúa cứu độ, Ngài vẫn cho thấy quyền năng của Thiên Chúa là yêu thương. Đức Giêsu không hỏi các học trò, hết tất cả đám đông dân chúng họ có tin tuyệt đối vào thầy trò chúng ta chưa, phép mầu tình yêu thương của Ngài vẫn cho họ no nê xác hồn.

    Đi sâu và đi xa hơn một chút vào bối cảnh của đám đông hôm xưa, thì giầu nghèo, đơn sơ hay mưu mô thủ đoạn, tất cả những ai đến với Đức Giêsu đều có niềm vui, đều được san sẻ yêu thương, đó là bước khởi đầu gặp Thầy, đến với Thầy Giêsu. Bước kế tiếp quan trọng hơn là sau khi được ăn uống, được nghe nhìn người ốm đau, kẻ mù loà được khỏi, được no thoả tình yêu thương, người ta có còn giữ và sống niềm tin vào Thầy Giêsu không ? Giáo lý Nhà Phật cho rằng: người khờ tích của, người khôn tích đức, người giác ngộ tu luyện để thoát khổ.  Chúng ta là linh mục, tu sĩ, là chức sắc ban hành giáo, là gia trưởng, hiền mẫu, là giới trẻ thiếu nhi, tất cả đều sống ơn gọi theo Chúa. Chúa không quan tâm chúng ta khờ, khôn, hay giác ngộ, Ngài cần chúng ta biết đến giới luật yêu thương, tin và hãy tiếp tục sống niềm tin với sứ mạng riêng của mình.

    Đám đông năm xưa đến với Đức Giêsu, họ được nghe, được thấy phép lạ, được no thoả mơ ước khỏi ốm đau bệnh tật, chẳng ai phải trả tiền, cũng không phải tự trang bị đồ ăn thức uống cho mình, họ vẫn được yêu thương, no đủ ơn ban xác hồn. Số đông hôm nay hiện diện bên Đức Giêsu, chúng ta cũng được nghe, được xoa dịu nỗi ưu tư lo lắng sự đời, nghĩa là được ban ơn nâng đỡ gánh nặng cuộc đời, nếu chúng ta tin, và ý thức quyền năng của Chúa sẽ làm được tất cả. Con người xưa hay nay cũng không tránh khỏi đau khổ, đói khát tình yêu thương, cho dù chúng ta đang là đối tượng nào, hẳn cũng cần được no thoả mơ ước, khi chúng ta biết gặp Chúa, đến với Chúa và sống niềm tin yêu ít là như đám đông năm xưa.

    Mang thân phận người, ai cũng cần được ăn uống vì đó là nhu cầu để sống, Chúa Giêsu thực hiện phép lạ hoá bánh và cá nuôi đám đông, trong đó dù là tông đồ, là người đạo cũ hay đạo mới, Chúa đều cho no lòng thoả dạ. Phép lạ hoá bánh và cá được ban phát, không dành riêng cho một số người đạo đức hay tội lỗi, Chúa mơ ước thời đại nào cũng vẫn nhận ra phép lạ tình yêu thương, và ai cũng có cơ hội để làm môn đệ, để cộng tác làm cho phép lạ của Chúa đến được mọi người. Vật chất của cải, kiến thức, sức khoẻ, là nhu cầu thiết thực nhằm giúp người người nhận biết cuộc đời có Chúa là có tất cả. Tình yêu giữa cha mẹ con cháu phải được san sẻ, nhưng tình yêu nên một trong Đức Giêsu Kitô chỉ hiện thực khi mà chúng ta biết tin tưởng cuộc đời của mình là cuộc đời có Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XVII này là “Dân Thiên Chúa hiệp nhất trong cùng một bàn tiệc của Chúa” ở đó, Đức Giê-su chia sẻ tận cùng với chúng ta, bánh mà Ngài ban tặng chính bản thân Ngài.

    2V 4: 42-44

    Phép lạ bánh hóa nhiều đã là ân ban của ngôn sứ Ê-li-sa trong thời kỳ đói kém ở miền Pa-lét-tin, vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên. Số người được thụ hưởng thành quả phép lạ bánh hóa nhiều này thì khiêm tốn.

    Ep 4: 1-6

    Trong đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô ca ngợi sự hiệp nhất của các Ki-tô hữu theo cùng khuôn mẫu sự hiệp nhất của Một Chúa Ba Ngôi: chỉ có một Thân Thể, một Thánh Thần, một Chúa, một niềm tin và một phép rửa…

    Ga 6: 1-15

    Phép lạ hóa bánh ra nhiều là ân ban của Đức Giê-su nuôi đông đảo dân chúng ăn no nê mà còn dư đến mười hai thúng đầy. Đây là dân mà trước đó Ngài đã nuôi họ bằng Lời Hằng Sống của Ngài. Ân ban bánh hóa nhiều này loan báo “ân ban Thánh Thể”.

    BÀI ĐỌC I (2V 4: 42-44)

    Ngôn sứ Ê-li-sa là môn đệ chân truyền của ngôn sứ Ê-li-a. Ông tiếp tục sự nghiệp của thầy mình vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên trong vương quốc miền Bắc. Ông thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình chủ yếu dưới triều đại vua Giô-ram (852-841 B.C.).

    Sách Các Vua quyển thứ nhất và quyển thứ hai sưu tập những triều đại của các vua (19 vua Ít-ra-en và 20 vua Giu-đa), đồng thời dành một chỗ rộng lớn cho vai trò của các ngôn sứ: về tôn giáo, các ngôn sứ là những người bảo vệ phụng tự tinh tuyền của Đức Chúa và lên án mọi hình thức thờ ngẫu tượng; về luân lý, các ngài tố cáo bạo lực và bất công xã hội; về chính trị, các ngài là những nhà cải cách các triều đại thối nát.

    Trong số các tác phẩm Cựu Ước, hai sách Các Vua là những cuốn sách chứa đựng nhiều chuyện tích ý nhị nhất về các ngôn sứ. Trong hai tác phẩm này, ngôn sứ Ê-li-sa được phác họa chân dung kém huyền nhiệm hơn chân dung ngôn sứ Ê-li-a. Ông gần với phàm nhân hơn, dù không kém thần thông biến hóa.

    1. Thời kỳ đói kém

    “Hồi ấy, trong miền có nạn đói”. Sự cố này không phải là chuyện hi hữu. Cựu Ước nhiều lần trích dẫn những trường hợp đói kém ở miền Pa-lét-tin: chính vì lý do đó mà ông Áp-ra-ham xuống Ai-cập và sau này các anh em ông Giu-se cũng xuống đất nước của các Pha-ra-on này. Đôi khi hạn hán xảy ra nhiều năm liên tiếp. Sách Sa-mu-en trích dẫn một nạn đói kéo dài ba năm và sách Các Vua quyển thứ hai kể lại một nạn đói khác kéo dài bảy năm. Có lẽ câu chuyện hôm nay được kể vào thời gian nạn đói kéo dài bảy năm này.

    “Có một người từ Ba-an Sa-li-sa đến, đem biếu ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, sản phẩm đầu mùa…”. Đây là lễ phẩm đầu mùa. Vào đầu mùa thu hoạch, người ta trích ra một phần để biếu tặng các tư tế hoặc “những người của Thiên Chúa”, tức “các ngôn sứ”. Sách Lê-vi viết: “Cho đến chính ngày đó, khi các ngươi mang lễ phẩm của Thiên Chúa các ngươi đến, các ngươi không được ăn bánh, ăn gié lúa rang và hột lúa mới” (Lv 23: 14).

    Chúng ta lưu ý rằng mối quan tâm của chuyện tích này rõ ràng tập trung vào phép lạ, vì thế truyền thống đã không lưu giữ tên của người biếu tặng: “có một người”; cũng không cho biết địa danh nơi biến cố xảy ra nhưng chỉ nói trống “trong miền”.

    1. Quà tặng của tấm lòng biết chia sẻ

    Vị ngôn sứ không giữ riêng cho mình, nhưng liền chia sẻ ngay quà biếu này với những người túng thiếu và quà tặng này sẽ hóa nhiều. Qua tấm lòng chia sẻ quảng đại của vị ngôn sứ, chính Thiên Chúa làm cho tặng phẩm phàm nhân trở nên phong phú. Chính đó là cách thức mà Thiên Chúa thường sử dụng.

    Chuyện tích về ngôn sứ Ê-li-sa làm phép lạ “hóa bánh ra nhiều” từ hai mươi chiếc bánh lúa mạch có nhiều điểm tương đồng với những bài tường thuật Tin Mừng về việc Đức Giê-su làm phép lạ “hóa bánh ra nhiều” từ năm chiếc bánh lúa mạch.

    -Ngôn sứ Ê-li-sa bảo: “Hãy cho người ta ăn”. Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi” (Mc 6: 37; Mt 14: 16; Lc 9: 13).

    -Đầy tớ của vị ngôn sứ thưa: “Có bằng này, thì làm sao con có thể cho cả trăm người ăn được?”. Một trong các môn đệ của Đức Giê-su thưa: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với bằng ấy thì thấm vào đâu !” (Ga 6: 9).

    -Vị ngôn sứ nói: “Cứ cho người ta ăn! Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư”. Các thánh ký viết: “Ai nấy đều ăn và được no nê. Người ta thu lại những mẫu bánh được mười hai thúng đầy”.

    -Ngôn sứ Ê-li-sa làm no thỏa nhu cầu vật chất của những người túng thiếu. Quả thật, Đức Giê-su cũng làm no thỏa nhu cầu thể lý của đám đông đang mệt và đói, nhưng cử chỉ của Chúa Giê-su chất chứa biết bao ý nghĩa. Chính Ngài là “dấu chỉ”, dấu chỉ của chiếc bánh khác, “Bánh Trường Sinh”: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ !” (Ga 6: 35).

    BÀI ĐỌC II (Ep 4: 1-6)

    Thánh Phao-lô viết bức thư này khi thánh nhân bị cầm tù ở Rô-ma vào những năm 61-63. Lời mở đầu thư rất tổng quát: “Kính gởi các thánh, là những người tin vào Đức Giê-su Ki-tô”, khiến nhiều nhà chú giải nghĩ rằng bức thư này không chỉ viết riêng cho cộng đoàn Ê-phê-xô, nhưng nhằm luân lưu giữa các cộng đoàn miền Tiểu Á.

    Bức thư được chia thành hai phần: phần thứ nhất về đạo lý (ch. 1-3) và phần thứ hai về luân lý và khích lệ (ch. 4-6). Cả hai phần liên kết chặc chẽ với nhau bất khả phân. Đoạn trích hôm nay là đoạn mở đầu của phần thứ hai.

    1. “Tôi là người đang bị tù vì Chúa”

    Để tăng thêm sức mạnh cho những lời khích lệ của mình, ngay từ đầu của phần thứ hai, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng ngài đang bị giam cầm; như vậy, thánh nhân muốn nói rằng ngài không chỉ là vị tông đồ rao giảng về Đức Ki-tô, nhưng còn là một nhân chứng chịu thương chịu khó vì Đức Ki tô.

    1. Ơn gọi làm người Ki tô hữu

    Trong phần thứ nhất về đạo lý, thánh Phao-lô đã chú tâm trình bày “mầu nhiệm cứu độ” mà thánh nhân đã được chính Đức Ki-tô mặc khải và truyền cho thánh nhân phải thông truyền cho Giáo Hội của Ngài, đó là trong kế hoạch của Thiên Chúa, mọi người, dù Do thái hay lương dân, đều được mời gọi hưởng nhận cùng một ơn cứu độ. Từ đó, thánh nhân nhắc nhở với hết mọi người Ki-tô hữu, dù họ xuất thân từ đâu, hãy sống cho xứng với ơn gọi mà Thiên Chúa đã ban cho họ.

    Thánh nhân khuyến khích họ hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền hòa và nhẫn nại; hãy lấy đức ái mà chịu đựng lẫn nhau. Chúng ta ghi nhận rằng thánh nhân đặt lên hàng đầu những nhân đức mà chính Đức Giê-su là mẫu gương: “Tôi hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. Đoạn, thánh nhân mời gọi họ hãy hiệp nhất với nhau qua việc “ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau”. Trước đó, thánh nhân đã gợi lên sự bình an mà Đức Giê-su mang lại: “Thật vậy, chính Người là sự bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tương ngăn cách là sự thù ghét” (2: 14).

    Lời kêu gọi “sống yêu thương thuận hòa với nhau” không là nét đặc thù trong các thư của thánh Phao-lô. Việc chung sống giữa những người Ki-tô hữu gốc Do thái và những người Ki-tô gốc lương dân đã là vấn đề trong lòng Giáo Hội tiên khởi.

    1. Lời tuyên xưng đức tin

    Đoạn, trong lúc hưng phấn, thánh Phao-lô công bố lời tuyên xưng đức tin xoay quanh chủ đề hiệp nhất: chỉ có một thân thể, một Thần Khí, một niềm hy vọng, một Chúa, một niềm tin, một phép rửa, vân vân.

    Biểu thức nguyên thủy có thể là một lời tuyên xưng phụng vụ mà những người chịu phép rửa công bố khi khẳng định niềm tin của mình, và chắc chắn được thánh Phao-lô quảng diễn. Ngôn từ của lời tuyên xưng này rõ ràng đã có ảnh hưởng trên kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê-a.

    TIN MỪNG (Ga 6: 1-15)

    Vào Chúa Nhật tuần trước, Tin Mừng Mác-cô tường thuật cho chúng ta phần đầu của câu chuyện phép lạ “hóa bánh ra nhiều”, trong đó Đức Giê-su đã động lòng thương dân chúng đến với Ngài như “đàn chiên bơ vơ không người chăm sóc”. Vì thế, Ngài đã đáp ứng nhu cầu của họ, trước tiên bằng Lời Hằng Sống của Ngài, và tiếp đó bằng phép lạ “hóa bánh ra nhiều”. Cả hai đều báo trước “bàn tiệc Thánh Thể”.

    Tuy nhiên, Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay không tiếp tục câu chuyện bỏ dở của Tin Mừng Mác-cô. Thay vì đó, phụng vụ đề nghị cho chúng ta câu chuyện của Tin Mừng Gioan thuật lại cùng một biến cố với Tin Mừng Mác-cô: phép lạ hóa bánh ra nhiều. Thánh Gioan sử dụng câu chuyện hóa bánh ra nhiều này để mở đầu bài diễn từ dài của Đức Giê-su về “Bánh Trường Sinh”, mà chúng ta sẽ đọc bốn tuần Chúa Nhật liên tiếp sau đó.

    Như vậy, các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm và tác giả Tin Mừng Gioan đều khẳng định cùng một chân lý: Trong mỗi Thánh Lễ, Đức Giê-su tiếp tục làm như vậy qua suốt nhiều thế kỷ sau đó, chăm lo những nhu cầu của chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng những thần lương của Ngài, tức là Lời Hằng Sống và Thánh Thể của Ngài, không còn chỉ cho vài ngàn người, nhưng cho hằng triệu người, mỗi phút giây và khắp hoàn vũ, cho đến ngày tận thế. Công Đồng Vatican II đã khẳng định: “Giáo Hội vẫn luôn tôn kính Thánh Kinh giống như tôn kính chính Thánh Thể Chúa, đặc biệt trong Phụng Vụ thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Ki-tô để trao ban cho các tín hữu” (Mk, 21).

    1. Nơi chốn

    Phép lạ bánh hóa nhiều là một phép lạ duy nhất được cả bốn thánh ký thuật lại; thêm nữa, thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô thuật lại đến hai lần: một lần từ năm chiếc bánh hóa nhiều nuôi năm ngàn người ăn no nê tại đất Do thái, và một lần khác từ bảy chiếc bánh hóa nhiều nuôi bốn ngàn người ăn no nê tại đất dân ngoại. Quả thật, phép lạ hóa bánh ra nhiều cho thấy Đức Giê-su là Mục Tử nhân lành, Ngài không chỉ chăm lo dân Do thái mà cả dân ngoại nữa. Sau này, Giáo Hội bao gồm cả người Ki-tô hữu gốc Do thái lẫn người Ki-tô hữu gốc lương dân.

    Thánh Gioan mở đầu bài tường thuật của mình thật bất ngờ: “Sau đó, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê”. Trong bài tường thuật trước, Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem, đoạn Ngài trở về miền Ga-li-lê, sau đó, Ngài băng qua biển hồ Ti-bê-ri-a, nhưng từ đâu mà Ngài đến đây? Chúng ta khó xác đinh nơi diễn ra phép lạ hóa bánh ra nhiều. Thánh Lu-ca nói về các làng mạc chung quanh thành Bết-xai-đa, thành phố được định vị ở đông bắc biển hồ, phía bên bờ sông Giô-đan đối với thành Ca-phác-na-um.

    Đức Giê-su không lưu lại trên bờ hồ: “Ngài lên núi và ngồi đó với các môn đệ”. Núi là nơi ưu tiên đánh dấu một sứ điệp siêu việt: núi của các Mối Phúc, núi của cuộc Biến Hình, núi của phép lạ hóa bánh ra nhiều, vân vân.

    2.Thời điểm

     “Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do thái”. Thời điểm này rất quý. Trước tiên, nó giải thích tại sao đám đông dân chúng đông đảo đến như thế. Chính ở Ca-phác-na-um và trong các thành phố ven biển mà những người hành hương đến từ khắp nơi quy tụ lại và rồi từ đó khởi hành thành từng nhóm lên thành thánh Giê-ru-sa-lem để tham dự đại lễ Vượt Qua. Nhưng nhất là, lễ Vượt Qua sắp đến đem lại một cung điệu sâu xa cho cử chỉ của Đức Giê-su. “Đại lễ của người Do thái” này làm cho cử chỉ của Ngài trở thành cử chỉ ngôn sứ, loan báo lễ Vượt Qua mới, “lễ Vượt Qua của người Ki-tô giáo”, ở đó một phép lạ hóa bánh ra nhiều khác được thực hiện, bàn tiệc Thánh Thể.

    1. Không có bất kỳ giải pháp nào từ phía con người

    Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, chính các môn đệ lưu ý với Đức Giê-su là giờ đã khá muộn nên giải tán đám đông này để “họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” (Mc 6: 35-36). Trong Tin Mừng Gioan, chính Đức Giê-su ý thức hoàn cảnh và đề xuất sáng kiến.

    Đức Giê-su ngỏ lời với ông Phi-líp-phê. Nhờ Tin Mừng Gioan chúng ta biết ông Phi-líp-phê là một con người rất năng động và thực tiễn. Khi ông Na-tha-na-en chất vấn ông Phi-líp-phê về Đức Giê-su, ông trả lời: “Cứ đến mà xem!” (Ga 1: 46). Khi Đức Giê-su gợi lên mối tương quan thân mật của Ngài với Chúa Cha, ông thưa ngay: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14: 8). Ở trong câu chuyện bánh hóa nhiều này, vấn nạn Đức Giê-su đặt ra cho ông: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” hàm chứa một thực trạng: nếu một môn đệ có tài xoay xở nhất trong các môn đệ mà cũng không thể gặp thấy một giải pháp, chính vì hoàn cảnh bế tắc, lúc đó phép lạ sẽ là thích đáng nhất. Mặt khác, chúng ta không thể không lưu ý rằng chỉ có hai môn đệ can dự vào câu chuyện là ông Phi-líp-phê và ông An-rê, cả hai đều xuất thân từ Bết-xai-đa, nơi mà hai ông biết rõ nhất để giải quyết vấn đề.

    Dù thế nào, Đức Giê-su nêu câu hỏi cho ông Phi-líp-phê chỉ để thử ông. Ngài muốn ông ý thức rằng nếu chỉ nhờ vào những phương tiện nhân loại, người ta đành bất lực không thể nào tìm thấy bất kỳ giải pháp nào cho vấn đề, lúc đó người ta nhận ra rằng không có gì khác ngoài việc đặt trọn niềm tin tưởng vào Đức Giê-su.

    Ông Phí-líp-phê tính toán một cách chính xác: “Thưa, có mua đến hai trăm đồng bạc bánh, cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Tiền công của một ngày làm việc là một đồng bạc (chúng ta biết điều này nhờ dụ ngôn người làm thuê vào giờ thứ mười một), vậy thì hai trăm đồng bạc mua được bao nhiêu bánh lúa mạch. Ấy vậy, ba Tin Mừng Nhất Lãm nói cho chúng ta biết có “năm ngàn người, không kể đàn bà và trẻ con”. Vì thế, ông Phí-líp-phê nhận ra rằng về phương diện nhân loại không thể đáp ứng nhu cầu cho một đám người đông đảo như thế.

    1. Quà tặng của tấm lòng biết chia sẻ

    “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá”. Em bé biếu tặng khẩu phần ăn của em, cũng như ngôn sứ Ê-li-sa chia sẻ quà biếu của mình và quà tặng của ông sẽ hóa nhiều. Chính cũng một bài học. Phải nói thêm, Đức Giê-su không bao giờ làm phép lạ từ hư không; ở nơi nền tảng của một phép lạ luôn luôn có một yếu tố vật chất. Giáo Hội cũng sẽ thực hiện các bí tích theo cùng một cách như vậy.

    1. Tấm lòng của vị Mục Tử Thiên Sai

    Thánh Gioan nói: “Chỗ ấy có nhiều cỏ”. Thánh Mác-cô xác định “Cỏ xanh” (6: 39). Đây là cỏ xanh non vào thời điểm mùa xuân ở miền Pa-lét-tin. Phải chăng điều này hàm ý rằng Đức Giê-su là vị mục tử nhân lành mà các ngôn sứ loan báo Ngài dẫn đàn chiên của mình vào đồng cỏ xanh tươi? Thánh Mác-cô gợi ra điều này. Đối diện với các vị mục tử Ít-ra-en chỉ biết đến mình, Đức Giê-su hành xử như vị Mục Tử Thiên Sai tận tình chăm lo cho dân Ngài.

    1. Dấu chỉ bàn tiệc Thánh Thể

    Không ai có thể phủ nhận rằng phép lạ hóa bánh ra nhiều làm sáng tỏ việc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. Các Tông Đồ đã hiểu như vậy, các thánh ký cũng đã ghi lại như vậy: “Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát…”. Lời nói và cử chỉ này tương tự như lời nói và cử chỉ của Chúa Giê-su ở Tiệc Ly khi thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. Bánh hóa nhiều trên đồi Ga-li-lê loan báo bánh hóa nhiều khác, bánh Thánh Thể, tức là hóa nhiều thân thể vinh quang của Đức Ki-tô, không còn chỉ cho vài ngàn người, nhưng cho hằng triệu, đồng một lúc, và trong khắp hoàn vũ, cho đến thời cánh chung.

    1. Mười hai thúng đầy những mẫu bánh thừa

     Như rượu được ban một cách dồi dào ở tiệc cưới Ca-na, bánh cũng được ban một cách dư dật, phần dư được thu lại đến mười hai thúng đầy. Con số mười hai đại diện mười hai chi tộc Ít-ra-en, cũng như mười hai Tông Đồ đại diện dân Thiên Chúa mới. Không phải những phần dư này muốn nói rằng có đủ chỗ cho nhiều người khác được mời vào bàn tiệc Thiên Chúa sao? 

    Quả thật, sự dồi dào dư dật là dấu chỉ bữa tiệc Thiên Sai. Các sấm ngôn (Am 9: 13; Is 49: 10; 55: 1-3; Ge 4: 18), các Thánh Vịnh (Tv 132; 15: 78; 24-27), các sách minh triết đã loan báo rồi: triều đại Thiên Sai sẽ được đóng ấn bởi một dấu chỉ của sự phú túc và mãn nguyện, hình ảnh báo trước bàn tiệc cánh chung mà Thiên Chúa sẽ ban tặng cho tất cả những người được chọn trong vương quốc của Ngài, biểu tượng niềm hoan lạc thiên giới và mọi của cải tinh thần. (Bàn tiệc Thiên Sai và bàn tiệc cánh chung thường được định vị trong cùng một viễn cảnh).

    1. Phản ứng của dân chúng

    Phấn khởi trước Đức Giê-su là vị Mô-sê mới, Đấng đã cho họ ăn dư dật “ở nơi hoang vắng này”, đám đông đã không hiểu ra được dấu chỉ vương quốc Thiên Chúa, nhưng chỉ nghĩ đến vương quốc trần thế, vì thế, họ muốn “bắt Ngài đem đi mà tôn làm vua”. Đức Giê-su không muốn một chút nào chủ nghĩa Thiên Sai chính trị hẹp hòi và nông cạn này, nên “Ngài lại lánh mặt, đi lên núi một mình”.

    Thánh Gioan là thánh ký duy nhất trong các thánh ký tường thuật phản ứng này của dân chúng. Còn các môn đệ, nhờ Mác-cô, chúng ta biết rằng lòng trí các ông vẫn còn ngu muội. Vì cũng chính đêm tiếp theo sau phép lạ hóa bánh ra nhiều là đêm Đức Giê-su đi trên mặt biển, thánh Mác-cô nói “các ông thấy bàng hoàng sửng sốt, vì các ông không hiểu ý nghĩa phép lạ hóa bánh ra nhiều” (Mc 6: 52).

    Về mục lục

    .

    KHÔNG LÀ CON NGƯỜI, THÌ LÀ CON CÓC

    Lm. Bosco Dương Trung Tín

    Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ở trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,6).

    Chỉ có một Thiên Chúa là Cha của mọi người, nên ai đã là người đều là con của Thiên Chúa, dù cho người đó tin hay không tin; có đạo hay không có đạo. Vì sự sống là của Thiên Chúa và Thiên Chúa sinh ra mọi người qua cha mẹ của họ. Thiên Chúa đó ở trên mọi người, vì Ngài là Đấng tạo thành vạn vật. Ngài hoạt động qua mọi người, tức là hoạt động qua Đức Giê-su Ki-tô, để cứu độ và Ngài là Đấng ở trong mọi người, tức là trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần.

    Thiên Chúa là Cha của mọi người hay nhiều người, Ngài ở trên mọi người hay trên nhiều người và Ngài ở trong mọi người hay ở trong nhiều người? Về phía Thiên Chúa thì Ngài là Cha của mọi người, Đấng ở trên mọi người, qua mọi người và ở trong mọi người. Về phần con người thì Thiên Chúa là Cha của nhiều người; Đấng ngự trên nhiều người, qua nhiều người và ở trong nhiều người. Vì không phải mọi người đều tin Chúa nhưng có nhiều người tin vào Chúa thôi.

    Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thần Khí, một niềm hy vọng. Cái MỘT là sự hiệp nhất, mà Thiên Chúa muốn kêu gọi con người sống. Thế nhưng con người chúng ta có sống được ơn gọi đó không? Câu trả lời là , mặc dù hơi khó. Ta hãy xem hình ảnh của sự hiệp nhất đó qua thân thể của ta.

    Thân thể của ta chỉ có một, nhưng lại có nhiều bộ phận khác nhau. Nào là mắt mũi, tai miệng, chân tay, tim gan, phèo phổi,vv……Có cái nào giống cái nào đâu. Dù cho ta có hai tay đi chăng nữa thì tay trái cũng khác với tay phải; dù ta có hay chân đi nữa thì chân phải cũng đâu có giống chân trái; hai con mắt cũng vậy, mắt trái cũng đâu có y chang như mắt phải đâu. Lại nữa, bàn tay có năm ngón, thế mà có ngón nào giống ngón nào đâu, nó có 5 tên khác nhau đàng hoàng: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út và ngón út.

    Thế nhưng tất cả các bộ phận gom lại, cấu thành một cơ thể hoàn chỉnh, đẹp đẽ, cân đối và tiện dụng; đi đứng, chạy nhảy; thông minh, sáng láng; khéo léo, tuyệt vời và trên cả tuyệt vời.

    Mọi người chúng ta cũng vậy, chúng ta tuy nhiều nhưng cũng chỉ là những bộ phận trong một Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Ki-tô. Trong Thân Thể đó, Đức Ki-tô là Đầu và mỗi người là những bộ phận là tay hay là mắt gì đó,…Tất cả chúng ta cũng gom lại, để cấu thành một Giáo Hội hoàn chỉnh, xinh đẹp, cân đối và hữu ích. Chúng ta phải hiệp nhất cùng nhau, đương nhiên sẽ tùy theo khả năng của mỗi người để xây dựng Giáo Hội, xây dựng cộng đồng.

    Hiệp nhất không nhất thiết là phải giống y chang nhau, đây là hiệp nhất trong sự khác biệt; hiệp nhất trong sự cùng nhau xây dựng, cùng nhau hướng về một mục đích. Người góp công, người góp của, mỗi người tùy theo khả năng của mình để xây dựng và phát triển.

    Mỗi người dù là già hay trẻ; dù là trẻ em hay người lớn, là đàn ông hay đàn bà; là Tu Sĩ hay Linh Mục; là người khỏe hay người bệnh; tất cả được Chúa mời gọi hiệp nhất cùng nhau để xây dựng Giáo Hội như cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau tin, cùng nhau trông cậy, cùng nhau chúc tụng Chúa, cùng nhau thờ lạy Chúa; cùng nhau tôn vinh Chúa, cùng nhau cảm tạ Chúa, cùng nhau hướng về trời, cùng nhau nghe và thực hành Lời Chúa, cùng nhau dâng lễ,….với cách thế của chính mình.

    Theo thánh Phao-lô, trong một thân thể: “Mắt không thể bảo tay: tao không cần chúng mày; đầu không thể bảo chân: tao không cần chúng mày”(x.1Cor 12,21). Trong Giáo Hội cũng vậy, tôi không thể nói tôi không cần người khác. Chẳng lẽ toàn thân chỉ là mắt hay sao? Nếu vậy thì là mắt chứ không là thân thể; rồi sẽ ăn bằng gì, đi bằng gì, làm bằng gì? Chẳng lẽ ăn bằng mắt, làm bằng mắt, đi bằng mắt à. Ăn bằng mắt sao mà no; làm bằng mắt sao mà được và đi bằng mắt làm sao mà tới.

    Cũng vậy, nếu ai cũng giống y chang như ai thì là rô-bốt chứ không phải con người. Chẳng lẽ mình tôi làm, mình tôi ăn, mình tôi đi nhà thờ sao. Tất nhiên là không rồi. Suy gẫm như thế, ta mới thấy, mình ta chẳng làm được gì dù có giỏi dang đến mấy; dù mình có 3 đầu 6 tay cũng chẳng nên tích sự gì. Dù ta có là tướng tài tướng giỏi, đánh đâu thắng đó mà không có hậu cần, không có ai nấu ăn cho thì cũng chết dần chết khô thôi; tay chân nhấc không nổi, chẳng có đánh đấm được gì hết. Bởi thế mà thánh Phao-lô khuyên: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền hòa, nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” (x.Ep 4,2).

    Phải khiêm tốn, vì bản thân ta chẳng hơn ai, chẳng giỏi hơn ai; ta cũng chỉ là con người yếu đuối và tội lỗi. Ta khiêm tốn để chấp nhận người khác theo khả năng của họ chứ không theo ý thích của ta. Rồi người ta cũng là người như ta, cũng yếu đuối, lỡ lầm; ta khiêm tốn để cảm thông, để tha thứ, để giúp đỡ.

    Kế đến là phải hiền từ. Tức là ta không khinh bỉ người khác vì họ yếu kém hơn ta; cũng không cãi cọ, tranh dành, ghen tị với ngườigiỏi hơn ta.

    Sau nữa là phải nhẫn nại. Nhẫn nại để chờ, để đợi, để hy vọng, vì đã dạy, đã nói, đã chỉ bao nhiêu lần, thế nhưng “vẫn chứng nào tật đó”, trước sau vẫn thế. Chờ đợi như người nông dân chờ đến mùa gặt; chờ cho đến khi nó hiểu, chờ cho đến khi nó biết, chờ cho đến khi nó làm được; chờ cho đến khi nó nên khôn ngoan, chờ cho đến khi nó nên tốt,…

    Sau cùng là phảichịu đựng lẫn nhau. Chịu đựng những yếu đuối; chịu đựng những lỗi lầm; chịu đựng những tính khí; chịu đựng những ý nghĩ. Vì mỗi người mỗi tính; mỗi người có ý thích, mỗi người có ý nghĩ và ý hướng khác nhau. Thánh Phao-lô nói là phải lấytình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Vì không có tình bác ái, không có tình yêu thương này thì ta không thể chịu đựng ai được hết.

    Cứ không vừa lòng là quát, là nạt; không vừa ý là la um xùm trời đất. Cứ thấy người khác quên là ta nổi điên nổi khùng lên, mà không nhận ra có lúc mình cũng đã quên; có nhớ chăng thì ta cũng nhăn răng cười hì hì, lấp liếm cho qua. Đó là cái thứ người gì thế ? Có phải là con người không ? Không phải là con người thì là con …gì ?Đó là con cóc. Con cóc nó ngồi trong hóc, nó đưa cái lưng ra ngoài đó là cóc con.(Lời một bài hát).

    Vì như con cóc, cứ ngồi trong hóc và đưa lưng ra ngoài, cái đầu dúi vào trong nên đâu có nhận ra cái gì, đâu có nhận ra ai. “Như ếch ngồi đáy giếng”, không có sức chịu đựng người khác. Cũng như không biết người khác cũng đã chịu đựng sự “dở hơi” của mình. Trên hết, chính Chúa là Đấng đã hạ mình, hiền từ, nhẫn nại và chịu đựng mình đấy, nếu không, ta không còn có mặt trên trần gian này đâu. Bởi đó mà ta cũng phải hạ mình, hiền từ, nhẫn nại và chịu đựng người khác như vậy.

    Vậy dù là ai, tất cả chúng ta hãy tôn thờ một Thiên Chúa là Cha chúng ta; chúng ta hãy làm mọi việc qua Đức Giê-su Ki-tô và chúng ta cũng hãy hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần, để chúng ta sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đó là ơn chúng ta được làm CON yêu dấu của Cha trên trời và là anh chị em rất thân mến của nhau. Đó chính là ƠN GỌI của mỗi người chúng ta. Ơn gọi của ta là Con Người chứ không phải là “Con Cóc”.  

    Về mục lục

    .

    THƯƠNG THÌ CHO BÁNH CHO LỜI

    Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

    “Ở đây có một em bé

    có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá…”

    I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,1-15:

    1 Hôm ấy, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do Thái. 5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê:  “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người: 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!” 10 Đức Giê-su nói: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

    II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,1-15:     

    2.1 Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước tức Chúa Nhật 16 Thường Niên B chúng ta đã được chứng kiến sự kiện Đức Giê-su chạnh lòng thương khi Người đứng trước đám đông. Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này tức  Chúa Nhật 17 Thường Niên B chúng ta được nghe bài tường thuật việc Đức Giê-su biến năm chiếc bánh và hai con cá ra nhiều để cho mấy ngàn người ăn đỡ đói khi họ đi theo Người để nghe Người giảng  dậy.

    2.2 Trước nhu cầu chính đáng và cấp bách về lương thực của đám đông, Đức Giê-su đã ban Lời (giảng dậy) và dùng đến quyền năng của Thiên Chúa để giúp đám đông dân chúng khỏi đói lả dọc đường (bánh và cá). Tình yêu thương phải được thể hiện cách cụ thể, thiết thực và toàn diện (cả Lời cả Bánh) như cách làm của Đức Giê-su trong Phúc Âm. Không thể nói anh em hãy ra về bình an khi bụng họ đói, miệng họ khát, lòng họ đau buồn, lo lắng.

    III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,1-15::   

    3.1 Chúng ta đọc và suy niệm bài Phúc Âm Ga 6,1-5 trong bối cảnh rất nhiều đồng bào của chúng ta đang bị khốn khổ vì những trận mưa lũ ở Thanh Hóa và các tỉnh Miền Tây Bắc Việt Nam. Nhiểu người, nhiều gia đình đang phải điêu dứng trắng tay, mất cửa mất nhà, mất hoa mầu vật nuôi. Nỗi khổ vật chất chồng chất trên nỗi khổ tinh thần…

    3.2 Đồng bào ta đang rất cần những lời an ủi, khích lệ, chia sẻ, đồng cảm. Nay là lúc các giáo xứ, các hội đoàn, các giáo phận thể hiện Tình Yêu Thương đồng bào ruột thịt, bằng những chuyến hàng cứu trợ, những khoản tiền bác ái sẻ chia, những đợt viếng thăm chăm sóc các nạn nhân thiên tai.

    IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,1-15:    

    Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con, chúng con xin Cha hãy nhìn đến những người đang bị khốn khổ vì mưa lũ. Họ mất cửa mất nhà, mất người thân, mất phương tiện sinh sống, mất niềm hy vọng, mất cả hiện tại và tương lai. Xin Cha hãy thương họ và dùng quyền năng của Cha mà nâng đỡ, ủi an đồng bào của chúng con.

    Chúng con xin Cha ban cho chúng con tình thương bao la của Cha để chúng con san sẽ tình thương ấy cho anh chị em đồng loại của chúng con. Chúng con cầu xin Cha nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, Con Cha, Chúa chúng con, Đấng đã chạnh lòng thương trước nỗi khốn khổ của đám đông dân chúng và đã ban cho họ cả Bánh cả Lời. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÍNH TOÁN!

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa 

    Tình cảnh nhân loại từ xưa đến nay nhìn chung thật hiếm có thời kỳ lâu dài được sống trong an bình hạnh phúc. Con người càng phát triển thì nhu cầu càng cao và càng thêm nhiều. Kiếm được một lúc nào đó nhân loại trên trái đất này thoả mãn được nguyên chỉ các nhu cầu sinh tồn căn bản như ăn uống mà thôi thì cũng là khó thấy. Ngay cả đến hôm nay khi mà nền khoa học công nghệ phát triển phải nói là rất cao thì vẫn còn đó hằng trăm triệu người ở Á châu, đặc biệt ở Châu lục đen đang phải chịu cảnh thiếu thốn lương thực. Có thể nói ngày nay, người ta chết vì đói thì ít những chết vì thiếu ăn hay thiếu dinh dưỡng thì dường như không thống kê được. Bên cạnh những thiên tai, thì nhân hoạ vẫn đang rình rập con người mọi lúc mọi nơi. Nào là lũ lụt, sóng thần, nào là động đất, hạn hán, nào là khủng bố, chiến tranh…Khói lữa súng đạn đang lan tràn đó đây là một minh chứng. Chuyện khích bác, doạ dẫm nhau bằng vũ khí hạt nhân hay trừng phạt kinh tế nhau cũng vẫn chưa ngừng. Tai ương, hoạn nạn như đang rình rập chúng ta từng ngày. Người nghèo khổ luôn có đó quanh ta. Cảnh khổ đau như là chuyện cơm bữa của các chương trình thời sự trên truyền hình.

    Bài đọc thứ nhất trích sách các Vua tường thuật một nạn đói đang xảy ra tại xứ Ghingan. Đã là nạn đói thì số người khốn khổ là con số không nhỏ. Quý ông bà lớn tuổi dân Việt hẳn có kinh nghiệm nào đó về nạn đói  năm 1945 (Ất Dậu) trên quên hương đất nước chúng ta. Dù sinh sau đẻ muộn nhưng qua các tài liệu ghi chép, kẻ hậu sinh cũng hình dung được phần nào cái cảnh người chết dọc đường như rạ, đến nỗi ngay cái chuyện đào hố để chôn cũng lắm vất vả. Rồi đến chuyện phải ăn thịt đồng loại để sống cũng khiến thế hệ hôm nay dù khó tưởng tượng nhưng vẫn là chuyện đã từng xảy ra.

    Trước bao cảnh khổ ấy của đồng loại, chúng ta, Kitô hữu, những người theo đạo của tình yêu, của bác ái, ai ai cũng động lòng xót thương. Thế nhưng, chúng ta cũng rất có thể có thái độ như người hầu của tiên tri Êlisêu “Có được chỉ hai mươi chiếc bánh lúa mạch làm sao có thể phát cho cả trăm người ăn đây”, hay như Philipphê: “Có mua hai trăm bạc bánh (khoảng trên dưới bốn mươi triệu đồng Việt Nam) cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Ngài Philipphê tính toán quả không sai. Với năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà và con trẻ thì bốn muơi triệu tiền bánh cũng chẳng thấm vào đâu. Các Tin mừng nhất Lãm còn cho ta hay rằng có tông đồ lại hiến kế kiểu phủi tay: Thôi, ta giải tán để họ vào làng mà mua thức ăn (x.Mt 14,15; Mc 6,36; Lc 9,12). Một diệu kế rất mang tính kinh tế. Tuy nhiên, đằng sau nó vẫn là một tấm lòng đầy tính toán và dĩ nhiên nó bộc lộ sự hẹp hòi của con tim.

    “Phát cho họ ăn đi”. Elisêu khẳng khái với người hầu cách không do dự. Còn Chúa Giêsu thì dứt khoát: “Các con hãy cho họ ăn đi”. Đã yêu thì đừng tính toán. Đã yêu thì hãy làm ngay những gì trong tầm tay của mình. Tình yêu không hệ tại ở số lượng. Chúng ta vốn quen với câu chuyện bà goá nghèo trong Tin Mừng. Dù với hai xu nhỏ nhưng hơn cả trăm triệu đồng của những người giàu có, khi họ chỉ trao dâng cái phần thừa thải của mình, còn bà thì thực hiện nghĩa cử yêu thương bằng cả sự sống còn của mình (x. Lc 21,1-4; Mc 12,41-44).

    Quả thật, rất nhiều lần trước cảnh tình khốn khổ của tha nhân, chúng ta viện cớ là làm không xuể, làm như muối bỏ biển, nên đã thoái thác nghĩa vụ yêu thương như lời Chúa chỉ dạy. Ma quỷ có thừa xảo kế tinh ranh. Chúng đâu có cám dỗ chúng ta không thương yêu tha nhân, nhưng lại gieo vào tâm trí chúng ta sự tính toán về kết quả. Ai lại không mong việc làm của mình có kết quả, nhất là những việc tốt, những nghĩa cử yêu thương? Khi cám dỗ ta về viễn cảnh không như ý, đó là dù ta có cố sức đến bao nhiêu cũng chẳng giải quyết được sự gì, thì ma quỷ đã thành công nhiều lần, khi khiến chúng ta chần chừ, ngần ngại dấn thân. Và từ sự ngần ngại, lần lữa chúng ta đã nhiều lần bỏ qua nhiều dịp để sống yêu thương.

    Là Thiên Chúa, với quyền năng cao cả, Chúa Giêsu có thể làm từ không ra có. Ngài có thể cho bánh từ trời xuống nuôi dân, hoặc biến sỏi đá thành cơm bánh. Thế nhưng, Chúa lại muốn cần đến năm chiếc bánh và hai con cá nhỏ của một em bé lúc bấy giờ để rồi giáng phúc thi ân cho cả gần mười ngàn người hôm ấy. Khi nhận lấy phần cá, bánh nhỏ bé ấy không phải Chúa cần bao nhiêu phần trăm phần góp của chúng ta cho bằng sự dấn thân của ta trong tình yêu. Khi nhận lấy năm chiếc bánh và hai con cá từ tay em bé, Chúa Giêsu minh định với chúng rằng đã yêu thì đừng quá tính toán.

    “Ăn – cho, buôn – so”. Đã có tính toán, so đo thì thật khó sống yêu thương. Đợi cho đầy đủ các tiện nghi rồi mới phục vụ thì không còn là phục vụ. Đợi cho đầy đủ tiền, có cơ sở vật chất hay đủ phương tiện rồi mới sống quảng đại với đàn chiên thì chưa phải là mục tử. Đợi cho dư dã rồi mới làm việc bác ái yêu thương thì còn gì là yêu thương bác ái. Dù rằng cần biết sống khôn ngoan và thận trọng, nhưng đã yêu thì phải chấp nhận “liều”một cách nào đó. “Một con én không làm nên mùa xuân”. Đây là một lời nhận định thiết thực, cũng có thể là một lời khuyên khôn ngoan, nhưng rất có thể là một chước cám dỗ tinh tế của thần dữ. Xin đừng quên rằng sẽ chẳng bao giờ có mùa xuân nếu không có từng con chim én nhỏ.

    Người nghèo luôn ở bên ta. Cảnh khốn khổ của đồng loại vẫn nhan nhãn trước mắt chúng ta. Nguyên nhân của sự nghèo đói, cảnh khốn cùng hiện nay chủ yếu là do bạo quyền, nạn bất công, sự gian dối. Lời mời gọi yêu thương, dấn thân chia sẻ đang cấp thiết ngõ với chúng ta: “Chúng tôi rất cần tình yêu của bạn, của ông bà, anh chị…”. Đã yêu, xin đừng quá tính toán. Hãy làm những gì có thể trong tầm tay, ngay hôm nay. Với cả con tim, với sự dấn thân hết mình thì một nghĩa cử yêu thương dù nhỏ bé, bình thường cũng có thể gặt hái kết quả phi thường và to lớn. Một chân lý ngàn đời: Đấng là Tình Yêu và cũng là Đấng mà không có sự gì là không thể, luôn đồng hành với người biết yêu thương cách không tính toán.

    Về mục lục

    .

    XÂY DỰNG PHÚC LỢI CỘNG ĐỒNG

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Chủ nghĩa Makeno (có nghĩa là mặc-kệ-nó, một cách nói khôi hài chỉ thái độ vô cảm, thờ ơ trước những đau thương khốn khổ của người khác, không quan tâm đến lợi ích chung) là một thói xấu tai hại đang lan rộng trên quê hương đất nước chúng ta. 

    Vì tiêm nhiễm thói vô cảm và tham lam, người sản xuất thực phẩm độc hại chỉ cần biết thu lãi thật nhiều cho mình mà không thiết gì đến sức khoẻ người tiêu dùng.

    Vì tiêm nhiễm thói vô cảm, tham lam… nhiều người sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng hoặc độc hại để hốt tiền, bất chấp sinh mạng và sự thiệt hại lớn lao của người khác.

    Thói vô cảm cực kỳ tai hại vì nó hủy diệt tình nghĩa đồng bào, phá vỡ nền móng đạo đức, làm đất nước suy yếu, gây thiệt thòi, mất mát đau thương cho nhiều người… Thói xấu tai hại nầy hoàn toàn trái ngược với chủ trương sống yêu thương phục vụ của Chúa Giê-su. 

    Chúa Giê-su hiến thân xây dựng phúc lợi cộng đồng

    Mang lại phúc lợi cho cộng đồng nhân loại là ưu tiên hàng đầu của Chúa Giê-su. Vì thế, Ngài đã hạ mình xuống thế để phục vụ nhân loại và hiến ban cả mạng sống để cứu rỗi muôn người.

    Trong ba năm bôn ba rao giảng Nước Trời, Chúa Giê-su luôn sống vì mọi người: “Cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kể điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin mừng” (Lc 7, 22).

    Qua Tin mừng hôm nay, thánh Gioan giới thiệu Chúa Giê-su là Đấng đặc biệt quan tâm đến hạnh phúc người khác. Ngài không dừng lại ở việc rao giảng Tin mừng mà còn chăm lo cho cả cái bao tử trống không của họ nữa.

    Chúa Giê-su mời gọi chúng ta quan tâm giúp ích cho người khác

    Xây dựng phúc lợi cộng đồng là trách nhiệm chung của mọi người, thế nên Chúa Giê-su không thực hiện một mình mà còn kêu mời các môn đệ cùng tham gia vào việc nuôi ăn đoàn dân đông đảo đang theo Ngài ngày hôm ấy.

    Trước hết Chúa hỏi Phi-líp-phê, để mời gọi ông cùng chung lo với Ngài: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”

    Ông Phi-líp-phê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.”

    Bấy giờ môn đệ thứ hai là An-rê tham gia: “Thưa Thầy, ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! “

    Thế là em bé nầy được đưa đến với Chúa Giê-su. Ngài đã thuyết phục em chịu hy sinh phần ăn quý hóa của mình cho tập thể. Thế là ngay cả trẻ con cũng được Chúa Giê-su mời gọi góp phần cho phúc lợi của cộng đồng.

    Khi bụng đói cồn cào thì chẳng có gì cần hơn cơm bánh. Vậy mà em bé nầy đã quảng đại trao năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ vào tay Chúa Giê-su.

    Nhờ có sự tham gia của các môn đệ và đứa bé, “Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Ngài cũng phân phát như vậy.”

    Thế rồi, điều tuyệt vời là đang khi mỗi người chấp nhận trao phần bánh ít ỏi của mình cho người khác thì phép lạ xảy ra: bánh càng trao đi thì càng được tăng thêm nhiều, cá càng được chia ra thì lại phát sinh gấp bội, nhiều đến nỗi cả 5.000 người ăn không hết còn dư lại cả 12 thúng đầy! 

    Xây dựng xã hội lành mạnh và phát triển là điều kiện tiên quyết để mỗi người được hạnh phúc 

    Số phận của mỗi tế bào trong cơ thể tùy thuộc vào số phận của toàn thân. Khi thân thể lâm trọng bệnh thì các tế bào cũng bị ảnh hưởng nặng nề và khi thân thể chết đi thì các tế bào không thể nào tồn tại. Trái lại, khi toàn thân khỏe mạnh thì mỗi một tế bào trong cơ thể cũng được hưởng nhờ. Vì thế, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, phát triển, hòa bình… là điều kiện cần thiết để từng cá nhân trong xã hội được an bình hạnh phúc. 

    Lạy Chúa Giê-su,

    Chúa đến trần gian hiến trọn đời mình để mưu cầu lợi ích cho toàn thể nhân loại. Chúa không chỉ cứu rỗi linh hồn con người mà thôi, nhưng còn nỗ lực xây dựng một thế giới lành mạnh, hạnh phúc ngay trên mặt đất bằng cách cổ võ mọi người dấn thân phục vụ, yêu thương.

    Xin dạy chúng con xa lánh thói vô cảm đang dần dần tàn phá xã hội; trái lại, biết noi gương Chúa Giê-su hiến thân đem lại phúc lợi cho anh chị em chung quanh mình.

    Về mục lục

    .

    THÁNH THỂ NGUỒN SỐNG

    Lm. Laurensô Phan Ngọc Bích

    Chúa Giêsu ngước mắt lên và thấy đám rất đông dân chúng đến với Người. 
    Người hỏi Philipphê : “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn? (Ga 6,5)

    Với Chúa Nhật 17, chúng ta đang ở giữa cuộc hành trình của Mùa Thường Niên Năm Phụng Vụ. Đi qua nửa chặng đường, lẽ đương nhiên Hội Thánh muốn chúng ta ý thức rằng lương thực thần linh là Thánh Thể Chúa cần thiết chừng nào, để nuôi dưỡng chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin và đạt tới đích Quê Trời. Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay muốn nói lên điều ấy. Bài trích sách Các Vua quyển thứ hai (2V 4,42-44) thuật lại câu chuyện tiên tri Êlisê, khi được người ta biếu 20 chiếc bánh lúa mạch và lúa mì đầu mùa, đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, nuôi cả trăm người ăn no nê mà vẫn còn dư. Giá trị của phép lạ rất lớn, vì thời bấy giờ, nạn đói đang hoành hành khắp xứ Israel. Câu chuyện đó là tiên trưng cho câu chuyện Tin Mừng Thánh Gioan (Ga 6,1-15) thuật lại hôm nay. Lúc ấy, dân chúng đổ xô đi theo Thầy Giêsu, vừa để nghe những lời giảng đầy uy quyền vượt xa các luật sĩ biệt phái vừa để xin ơn tha thứ hoặc chữa lành bệnh tật. Có lẽ lúc ấy trời đã về chiều, chạnh lòng thương dân chúng khốn khổ đói khát, Chúa đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá của một em bé. Lần này, chỉ kể đàn ông thôi cũng đã tới năm ngàn ! Bánh ấy là hình bóng của Mình Máu Thánh Chúa Kitô, điều mà chính Chúa Giêsu Kitô đã xác nhận sau đó : “Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời. Và Bánh Tôi sẽ ban tặng chính Thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống” (c.51). 

    Nhưng như thế nào mà Thánh Thể Chúa Kitô làm cho chúng ta được sống, hiểu theo nghĩa mạnh nhất, sống viên mãn tròn đầy? Trước hết, vì khi đón nhận Thánh Thể, chính Chúa Kitô sống trong chúng ta : “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal 2,20). Ngược lại, nếu chúng ta không ăn Thịt và uống Máu Người, chúng ta sẽ không có sự sống nơi mình (c.53). Khi lập bí tích Mình Máu Thánh, Chúa Kitô muốn ở cùng chúng ta luôn mãi. Yêu nhau thì cần hiện diện bên nhau, vì thường dễ cứ xa mặt thì cách lòng. Trong niềm hân hoan, Hội Thánh kinh nghiệm dưới nhiều hình thức sự thực hiện liên lỉ lời hứa của Đấng Phu Quân: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Nhưng trong bí tích Thánh Thể, Hội Thánh vui hưởng sự hiện diện này với một cường độ mãnh liệt duy nhất. Kể từ ngày lễ Ngũ Tuần, khi Hội Thánh, Dân của Giao Ước mới, bắt đầu cuộc hành trình tiến về Quê Trời, bí tích thần thiêng này tiếp tục ấn dấu trên ngày sống bằng cách tuôn đổ trên họ niềm hy vọng tin tưởng (x. Thông điệp Thánh Thể EE, Đức Gioan Phaolô II, số 1). Thánh Thể vốn là sự hiện diện ban sự sống của Chúa Kitô. 

    Kế đến, Chúa Giêsu Thánh Thể hiện diện trong chúng ta là để trao ban một ân huệ vô giá, đó là chính bản thân Người. Thật vậy, Công Đồng Vaticanô II đã tuyên bố cách xác đáng rằng : Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Giáo Hội : đó là chính Đức Kitô, Người là mầu nhiệm Phục Sinh và Bánh Hằng Sống của chúng ta. Người trao ban sự sống cho nhân loại bằng chính Thịt của Người, Thịt đã trở nên sống động nhờ Thánh Thần và ban sự sống cho con người (x. Sắc lệnh Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục số 5, CĐ Vat II). “Trong Thánh Thể chúng ta có Đức Giêsu, chúng ta có hy tế cứu độ của Người, chúng ta có sự sống lại của Người, chúng ta có ân ban của Chúa Thánh Thần, chúng ta có sự tôn thờ vâng phục và tình yêu đối với Chúa Cha. Nếu xem thường Thánh Thể, làm sao chúng ta có thể khắc phục sự nghèo hèn bất toàn của mình?” ( EE 60). 

    Cuối cùng, khi trao ban Thánh Thể, Chúa Kitô muốn kết hiệp với mỗi người chúng ta. “Tự bản chất, Hy tế Tạ Ơn hướng đến sự kết hiệp nội tâm của người tín hữu với Chúa Kitô qua việc rước lễ : chúng ta lãnh nhận chính Đấng đã tự hiến vì chúng ta, chúng ta lãnh nhận Mình Người bị trao nộp vì chúng ta và Máu Người đổ ra cho muôn người được tha tội” (EE 16). Đó là sự kết hợp của cành nho với thân nho mà hiệu quả là cái gì có ở trong thân nho thì cũng sẽ có ở trong cành nho. Nhờ đó, cành nho sẽ sinh nhiều hoa trái : trong chúng ta sẽ tiếp diễn sự nhiệt thành của Chúa, sự khiêm tốn của Chúa, sự hiền hậu của Chúa, sự trong sạch của Chúa, quyền năng của Chúa… Tắt một lời, nhờ kết hiệp với Thánh Thể, chúng ta sẽ được thần hóa, sẽ dần dần trở thành một “thánh thể” thứ hai. 

    Trong đức tin tinh tuyền, chúng ta thấy Thánh Thể mang tất cả dáng vẻ huy hoàng của một thực tại sống động. Đó là chính Thiên Chúa đang sống giữa loài người. Đó là chính Thầy Chí Thánh muốn sưởi ấm và làm no thỏa tâm hồn chúng ta. Như vậy, một cách sâu xa, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy siêng năng tham dự Thánh lễ và nồng nhiệt đón rước Thánh Thể. Như lời Đáp ca, chúng ta hãy thưa với Chúa rằng : “Lạy Chúa, Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho chúng con được no nê” (Tv 144,16).

    “Đức Maria vừa cộng tác vào việc ban Đức Kitô Thánh Thể vừa giúp ta đón nhận Người. Trong việc Nhập Thể, Mẹ đã là gương mẫu hoàn hảo về việc đón nhận Ngôi Lời làm người ; Mẹ đã nhận lấy Đức Kitô với tất cả lòng tin mạnh mẽ và với tất cả tình yêu đầy phó thác của Mẹ. Mẹ đã biết dâng cho Con Thiên Chúa một nơi ở rất đẹp lòng Người, và đã cố gắng cư xử thật vừa lòng Người hết sức. Chưa bao giờ đã có một tình thân mật giữa hai linh hồn sâu xa như giữa Đức Kitô và Mẹ Người. Bởi đó Đức Trinh Nữ đã được đặc biệt chỉ định để giúp cho người rước lễ có được những điều kiện tốt để đón tiếp Chúa. Người ta có thể xin Mẹ một tấm lòng đón nhận nồng nàn hơn, quảng đại hơn, với một đức tin mạnh mẽ hơn và một tình yêu rộng rãi hơn. Nào Mẹ chẳng phải là Đấng có thể thông ban cho ta ơn mở rộng cõi lòng, và ơn sống thân mật với Đức Giêsu một cách vừa bình an vừa nồng nhiệt ? Là Mẹ và là Đấng giáo dục các Kitô hữu, Đức Maria đặc biệt có khả năng dạy cho họ biết đón tiếp Đức Kitô như thế nào : đấy là nghệ thuật riêng của Mẹ, nghệ thuật chu toàn trách nhiệm làm Mẹ đối với Con Mình ; Mẹ tập cho các tín hữu nghệ thuật ấy, và làm cho họ có đủ khả năng nhận lấy sự hiện diện Thánh Thể tràn ngập lòng họ; và được đồng hóa với sự sống Đức Kitô” (Thánh Thể Sinh Động, Jean Gallot SJ).

    Lạy Chúa Giêsu, mỗi khi đón nhận một món quà nào, chúng con đều có tâm trạng vui mừng sung sướng vì được yêu thương. Thánh Thể, vốn là sự hiện diện ban ơn cứu độ của Chúa trong cộng đoàn các tín hữu, là của ăn thiêng liêng, và là tài sản quý báu nhất mà cả Hội Thánh cũng như mỗi người chúng con được ban tặng trong cuộc hành trình theo dòng lịch sử (EE 9). Xin cho chúng con dạt dào hân hoan ngây ngất mỗi khi đón nhận Mình Máu Thánh Chúa vào lòng. Và trong niềm tri ân đó chúng con sống dồi dào cuộc đời nhân chứng cho tình yêu.

      Lạy Mẹ Maria, việc công bố sự Chúa Kitô chịu chết cho đến khi Người lại đến đòi hỏi chúng con là những người thông phần vào Thánh Thể phải dấn thân biến đổi cuộc sống của mình và làm cho nó, một cách nào đó, hoàn toàn trở thành “thánh thể”. Xin Mẹ giúp chúng con sản sinh hoa quả của một cuộc sống đã được “biến hình”, và biết dấn thân để biến đổi thế giới cho phù hợp với Tin Mừng. Amen.

    Về mục lục

    .

    NHU CẦU THIẾT YẾU

    JM. Lam Thy

    Lời Chúa hôm nay (CN XVII TN-B) cho thấy Thiên Chúa rất quan tâm đến nhu cầu sống của con người cả về thể xác và tinh thần. Người luôn “chạnh lòng thương” khi thấy đám đông đi theo Người để nghe lời giảng dạy, tới bữa ăn mà họ không lui gót đi tìm thức ăn mà vẫn bao quanh Người. Bài đọc 1 (2V 4, 42-44) trình thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều: Chỉ có 20 chiếc bánh lúa mạch mà cả trăm người ăn vẫn còn dư. Đến bài Tin Mừng (Ga 6, 1-15), Thánh sử Gio-an trình thuật chỉ với 5 chiếc bánh và 2 con cá, Đức Giê-su đã làm phép lạ cho 5.000 người ăn mà vẫn còn dư tới 12 thúng đầy. Thử tìm hiểu xem sống trên  đời, con người có những nhu cầu gì?

    Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) cho biết: “Nhu cầu” là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội.

    Về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được, nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Nhu cầu bậc cao là những nhu cầu bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, tín ngưỡng (tôn giáo)…

    Nhà triết học, bác học Hy Lạp cổ đại Aristote (384-322 trước Công nguyên) đã cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn. Sự phân loại này mang tính ước lệ lớn, nhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu cầu thành “nhu cầu vật chất” và “nhu cầu tinh thần“. Ngoài ra, còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định. Nhu cầu về thể chất là vấn đề bảo dưỡng thân xác, nhưng nếu chỉ thuần tuý lo bảo dưỡng thể xác, con người nào có khác chi thực vật? Vì thế, vấn đề bảo dưỡng tinh thần, bảo dưỡng đời sống tâm linh cũng thật cần thiết. Cũng đã có những vấn nạn được nêu ra: “Những kẻ vô thần thì làm gì có đời sống tâm linh”. Nếu chỉ nghe tên thuyết “vô thần” thì dường như vấn nạn trên là đúng, nhưng nếu nhìn kỹ, đi sâu vào đời sống thực của họ, sẽ thấy họ cũng có một đời sống tâm linh, thậm chí còn phong phú hơn cả những người “hữu thần” nữa là khác.

    Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật phép lạ Đức Giê-su hoá bánh ra nhìều lần thứ nhất: Khi nhìn thấy đoàn người rất đông đến nghe Người giảng dạy, Đức Giê-su đã hỏi môn đệ: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Điều này chứng tỏ Đức Ki-tô rất quan tâm tới nhu cầu ăn uống để bảo dưỡng thân xác cho con người. Nhưng như thế thì có gì mâu thuẫn với Lời dạy: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4)? Cũng đã có nhiều bài chia sẻ cho rằng khi dạy như vậy, Đức Ki-tô muốn các môn đệ và rộng ra là tất cả mọi Ki-tô hữu hãy lo sống bằng Lời Chúa, còn phần xác thì không cần quan tâm, hãy quên đi mạng sống trần thế để giữ lấy sự sống đời sau.

    Lập luận này là căn cứ vào một Lời dạy của Đức Giê-su về vấn đề ăn mặc (“Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” – Mt 6, 31-33 ). Nếu nhìn vấn đề theo lập luận này thì rõ ràng Đức Ki-tô đã mâu thuẫn khi lo cơm bánh cho đông đảo dân chúng đi theo Người. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ văn phong trong Lời dạy này, sẽ thấy thánh sử Mat-thêu đã dùng biện pháp ghi chép “không chỉ… mà còn…” để liên kết 2 vế thành một câu hoàn chỉnh: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, mà còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” Như vậy là người ta sống phải nhờ cả hai: cơm bánh nuôi dưỡng thân xác + Lời Chúa nuôi dưỡng tinh thần.

    Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “Có thực mới vực được Đạo” (có ăn thì mới có sức khoẻ để làm việc Đạo). Nếu chỉ lo lắng việc đạo nghĩa mà không bảo dưỡng thân xác (không ăn uống gì hết) thì liệu cái thân xác ấy có tồn tại để tiếp tục lo vịêc đạo nghĩa được không? Hỏi tức là trả lời rồi vậy! Rõ ràng Đức Giê-su cũng không chỉ lo phần rỗi đời sau cho con người, mà còn lo cả những gì cần thiết cho đời sống hiện tại của họ nữa. Người cũng ra lệnh cho các môn đệ ngoài việc rao giảng Tin Mừng, còn phải giải quyết những nhu cầu thể chất và cấp bách của họ (“Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” – Mt 10, 7-8).

    Lo cho người ta về thể chất chính là cách biểu lộ tình thương đối với họ, đó là tạo điều kiện để lo cho họ một cách hữu hiệu về tâm linh. Để vấn đề thêm sáng tỏ, nên đối chiếu lập luận trên với Lời dạy về ngày cánh chung (đói cho ăn, khát cho uống, rách rưới cho mặc, đau yếu tới thăm viếng, ngồi tù tới hỏi han… – Mt 25, 31-46), hoặc Lời Đức Ki-tô nói với đám Pha-ri-sêu đang chê trách Người hay đi với bọn thu thuế và người tội lỗi (“Đức Giê-su nói: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” – Mt 9, 12-13). Rõ ràng Đức Giê-su Thiên Chúa luôn quan tâm đến nhu cầu sống của con người cả 2 mặt: thể xác và tinh thần.

    Tông huấn Giáo hội tại châu Á “Ecclesia in Asia” (số 41) đã nhấn mạnh: “Không thể cắt đứt việc thờ phượng Thiên Chúa với việc chăm sóc người yếu kém, được Kinh Thánh mô tả một cách điển hình là “cô nhi, quả phụ và ngoại kiều.” (x. Xh 22, 21-22; Đnl 10, 18; 27, 19), là những người dễ bị tổn thương nhất khi có bất công đe dọa.” Thánh Gio-an Kim Khẩu viết: “Anh em có muốn tôn vinh thân thể Chúa Ki-tô? Chớ xa lánh Chúa khi ngài đang trần truồng. Chớ tôn kính Chúa khi ngài mặc trang phục lụa là trong đền thờ, mà xa lánh Chúa khi ngài đang rách rưới, đói lạnh bên ngoài. Đấng đã nói: “Nầy là thân thể ta” cũng chính là đấng đã bảo “Vì ta đã đói, các ngươi không cho ta ăn”, và “hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.” Có ích gì khi đến trước bàn Tiệc Thánh đầy những chén thánh mạ vàng trong khi anh em chúng ta đang chết vì đói khát ngoài kia? Hãy đi ra mà chăm sóc những người đói khát, rồi vào mà dự lễ trước bàn thờ.” (nguồn: Wikipedia).

    Ở đâu và ở thời nào cũng vậy, thế giới loài người muôn đời vẫn luôn cần đến những con người giầu lòng yêu thương, nhân đạo. Thế giới luôn cần những bàn tay nhân ái, luôn cần những con tim rộng mở để chia sẻ và yêu thương. Thế giới luôn cần những con người thiện nguyện dám hy sinh những tư lợi, dám quên mình cho hạnh phúc tha nhân. Xã hội loài người vẫn cần lắm những Phan-xi-cô khó khăn, những Gandhi, những Albert Schweitzer, những Tê-rê-sa Calcutta… Người Ki-tô hữu hãy làm sao sống được như lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô trong Tông sắc Lòng Thương Xót của Thiên Chúa “Misericordiae Vultus” (số 15):

    “Chúng ta trông đợi những trải nghiệm của việc mở lòng mình ra với tất cả những ai đang sống bên rìa ngoài cùng của xã hội: Chính cái xã hội hiện đại này tạo ra những vùng ngoại vi như thế. Đang có biết bao nhiêu là những trạng huống hiểm nghèo, cũng như đang có biết bao nhiêu là những nỗi khổ đau trong thế giới chúng ta! Có biết bao nhiêu là những vết thương đang bị làm trầy xước nơi thân xác của rất nhiều con người mà họ không có được tiếng nói nữa, vì tiếng kêu của họ đã trở nên yếu ớt hay đã hoàn toàn bị ngưng bặt chỉ vì sự thờ ơ lãnh đạm của mọi người. Chúng ta hãy tái khám phá những hoạt động thể lý của lòng thương xót: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, và chôn xác kẻ chết. Và chúng ta đừng quên các hoạt động thiêng liêng của lòng thương xót: lấy lời lành mà khuyên người, mở dậy kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cũng như cầu cho kẻ sống và kẻ chết.” Ước được như vậy.

    Ôi! Lạy Chúa! Xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết sống yêu thương chia sẻ, hầu góp phần nhỏ bé của chúng con vào công việc phục vụ những anh em khó nghèo, khiếm khuyết, tật bệnh sống gần kề chúng con. Ôi! “Lạy Chúa! Xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Ôi! Thần Linh thánh ái, xin mở rộng lòng con, xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình.” (Kinh Hoà Bình – TCCĐ). Amen.

    Về mục lục

    .

    THIÊN CHÚA NUÔI DƯỠNG DÂN NGƯỜI

    Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

    Ngày nay, ngành nông nghiệp trên thế giới đã phát triển vượt bậc, cung cấp lương thực cho gần 8 tỷ người trên thế giới. Tuy nhiên, số lương thực này không được phân bố đồng đều, nhiều quốc gia tại Châu Phi hoặc các nước chậm phát triển, tình trạng đói nghèo thiếu lương thực đang diễn ra thường xuyên. Trong cái nhìn đức tin, chúng ta nhận thấy, Thiên Chúa ban cho con người vũ trụ, cùng ban cho họ có khả năng nghiên cứu, tìm ra những phương pháp để làm cho vũ trụ này sinh sôi nảy nở, góp phần nuôi sống nhân loại. Có thể nói, Thiên Chúa đang trao cho con người quyền “làm phép lạ” của Ngài, để con người tiếp tục đem lại cơm bánh cho nhau. Thiên Chúa không chỉ nuôi nhân loại bằng cơm bánh thể xác, nhưng Ngài còn nuôi dưỡng đời sống tâm hồn của con người qua lương thực thiêng liêng là Lời của Chúa và Thánh Thể Ngài. Chúa nhật tuần trước Lời Chúa nói về việc Thiên Chúa quy tụ dân dưới sự hướng dẫn bảo vệ của Chúa. Hôm nay, các bài đọc Lời Chúa nhấn mạnh đến việc: Qua những con người có lòng chạnh thương, Thiên Chúa yêu thương chăm sóc và nuôi dưỡng dân Ngài bằng lương thực vật chất và thiêng liêng.

    Lương thực của Chúa được ban cho những ai có lòng tin và lòng quảng đại, để qua những tấm lòng quảng đại và đôi tay mở rộng của họ, lương thực Chúa ban lại được chuyển đến với nhiều người khác nữa. Sách các vua kể lại câu chuyện thời tiên tri Eliseo: “Lúc bấy giờ trong miền đang đói kém. Có một người đem đến biếu vị tiên tri hai mươi chiếc bánh và một bịch cốm. Tiên tri Eliseo không dành riêng cho mình. Ông sai chú tiểu đồng đem phân chia cho dân chúng. Chú tiểu đồng nói, có vài cái bánh làm sao có để đủ chia cho hàng trăm người. Vị tiên tri bảo: ‘Cứ phân phát cho mọi người, vì Chúa Chúa sẽ cho họ ăn mà còn dư’. Quả thật đám đông dân chúng đang đói, được ăn một bữa no nê mà vẫn còn dư”. Nếu tiên tri Eliseo để dành phần bánh cho riêng mình, nó cũng chỉ là hai mươi cái bánh lúa mạch. Nhưng vị tiên tri đã nghĩ đến một đám đông dân chúng, ông dám chia tất cả những gì người khác tặng ông cho những người đang đói. Thiên Chúa đã dùng sự quảng đại, biết quan tâm đến người khác của ông, Ngài đã biến số lương thực ít ỏi: hai mươi chiếc bánh lúa mạch, thành một bữa ăn lớn nuôi sống nhiều người.

    Thánh Gioan cho thấy, chính Chúa Giêsu là một vị Thiên Chúa chạnh thương. Vì có trái tim chạnh thương, Chúa Giêsu có thể dễ dàng nhận ra những nhu cầu của anh chị em chung quanh. Một đám người rất đông đi theo Chúa để được nghe lời Chúa giảng và chứng kiến những dấu lạ, được Chúa Giêsu nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, được chữa lành những đau khổ bệnh tật trong tâm hồn. Chúa Giêsu không dừng lại ở việc chăm lo đời sống tâm hồn cho dân chúng, Ngài còn quan tâm đến nhu cầu thực tế của họ đó là việc ăn uống. Trước mặt Chúa là một đám đông đang đói cả về tinh thần lẫn vật chất, mệt mỏi cả thể xác lẫn tâm hồn. Chúa Giêsu muốn truyền cho các tông đồ ngọn lửa từ trái tim chạnh thương của Ngài, Ngài muốn các ông cũng phải lưu tâm đến đời sống của dân chúng. Chúa nói với philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho họ ăn?”

    Tác giả Tin Mừng mở ngoặc cho biết: Chúa nói như thế là để thử các ông, xem lòng các ông như thế nào, phản ứng ra sao khi trước mắt là một đám đông đang thiếu đói. Trước câu gợi ý của Chúa Giêsu, các tông đồ dường như muốn làm ngơ, không muốn nhận trách nhiệm về mình. Các ông thưa: “Thưa Thầy, có mua đến hai trăm quan tiền cũng chẳng đủ mỗi người một chút”. Trả lời như thế, các ông cho thấy sự bất lực của mình. Tuy nhiên, có lẽ hiểu được ý Chúa, các tông đồ đã nỗ lực với hết sức của mình. Các ông đã tìm ra một em bé có năm chiếc bánh và hai con cá rồi đưa em bé đến cho Chúa. Với sự nỗ lực của các tông đồ cùng với sự quảng đại của em bé dâng tặng cho Chúa phần ăn của mình, Chúa Giêsu đã thực thi quyền năng của Ngài. Chúa Giêsu muốn các tông đồ chủ động cộng tác với Chúa, Ngài sai các ông sắp xếp cho đám đông ngồi xuống trên bãi cỏ theo từng nhóm. Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn rồi trao cho các môn đệ để các ông phân phát bánh cho dân. Cá cũng được phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tùy ý. Qua việc này, Tin Mừng cho thấy, Chúa Giêsu có thể làm phép lạ trực tiếp không cần đến sự trợ giúp của các tông đồ. Nhưng, Chúa muốn qua tay các tông đồ, để các ông là người phân phát bánh và là những người phục vụ đám đông. Hôm đó hơn năm ngàn người, không kể phụ nữ và trẻ em, được ăn uống no nê từ năm chiếc bánh và hai con cá. Sau khi chứng kiến phép lạ, dân chúng nhận ra Chúa Giêsu là một vị Ngôn Sứ, Đấng phải đến thế gian. Có nghĩa là họ đã tin Ngài là Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế. Họ muốn tôn Chúa làm vua, nhưng Chúa đã trốn lên núi một mình. Chúa Giêsu đã không muốn dân chúng tôn mình làm vua theo kiểu thế gian. Vì Ngài đến không phải để giải quyết những vấn đề chính trị hay xã hội, nhưng là để giải thoát tâm hồn con người, giúp họ thoát khỏi sự nô lệ trói buộc của ma quỷ và tội lỗi. Chúa còn muốn giúp mỗi người phá vỡ sự hẹp hòi nhỏ nhen trong trái tim để biết chạnh thương, biết nghĩ đến những nhu cầu của anh em. Chúa giúp chúng ta phá vỡ thành trì của sự ích kỷ trong mỗi người để chúng ta biết mở rộng vòng tay ra với anh chị em. Khi đó các vấn đề xã hội sẽ được giải quyết.

    Xa hơn nữa, phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi đám dông dân chúng ăn no đến dư thừa, còn là hình ảnh báo trước việc Chúa Giêsu sẽ thiết đãi nhân loại một thứ bánh thần linh là máu thịt của Chúa. Qua bữa Tiệc Ly và cái chết thập giá, Chúa Giêsu đã bẻ chính mạng sống và con người của mình, mà phân chia cho toàn thể nhân loại. Chúa Giêsu vẫn đang thực hiện phép lạ này mỗi ngày trong thánh lễ. Bí Tích Thánh Thể là máu thịt của Chúa vẫn đang được Giáo Hội dâng lên Chúa Cha với tâm tình tạ ơn mỗi ngày và bẻ ra để phân phát, nuôi dưỡng đời sống linh hồn các tín hữu. Tất cả mọi người được mời gọi đến lãnh nhận bánh thần linh là máu thịt của Chúa để được tăng cường sinh lực, đem lại sự sống đời đời cho linh hồn.

    “Chúng ta kiếm gì cho họ ăn đi” – đó là điều Chúa Giêsu muốn chúng ta thực hiện mỗi ngày. Chúa muốn chúng ta chứ không phải ai khác, là người chia sẻ với anh chị em chung quanh. Chúng ta không thể làm ngơ, không thể tránh né trước sự đói khổ cả tinh thần và thể xác của anh em. Chính chúng ta sẽ phải chạnh thương, cảm thông và tìm kiếm lương thực thiêng liêng và lương thực vật chất cho họ. Hàng tỷ người đang thiếu đói của ăn vật chất mỗi ngày, trái lại cũng có hàng tỷ người đang ăn uống tiêu dùng dư thừa hoang phí, nhưng không biết chia sẻ. Nhân loại ngày nay đang bị bơ vơ thiếu thốn của ăn thiêng liêng nuôi sống tâm hồn. Nhiều người dư thưa vật chất, nhưng tâm hồn thiếu đói, thiếu tình thương, thiếu sự thông cảm và sự quan tâm, sống trong buồn chán, thất vọng. Nhiều người đang bơ vơ lạc lối giữa biết bao trào lưu sống của xã hội như hưởng thụ, thực dụng, lợi dụng, tiêu dùng, khiến họ không biết đâu là đường đưa tới sự thật và sự sống đời đời. Các chủ thuyết duy vật, vô thần đang biến con người thành những kẻ giàu có vật chất, nhưng tâm hồn trống rỗng, vô cảm, vô lương tâm. Chủ thuyết này đang ảnh hưởng trên nhiều người chúng ta. Để tẩy trừ được ảnh hưởng này, mỗi người cần đến với Chúa đón nhận của ăn là Lời và Mình Máu Chúa, đón nhận tình yêu từ nơi Chúa để trái tim của mình mềm ra, từ đó chúng ta mới có thể chạnh thương với anh chị em chung quanh. 

    Mẹ Têrêsa Cancutta kể lại: “Có một gia đình nghèo, gồm một người mẹ bệnh tật không thể lao động và ba đứa con nhỏ, ngày nào các sơ cũng đem đồ ăn đến cho gia đình này. Tuy nhiên, có điều lạ, là cứ sau khi nhận phần ăn, thì đứa con gái lớn lại gói một nửa phần quà đem đi đâu đó. Các sơ hỏi người mẹ: ‘Sao phần ăn các sơ đem đến, bà và các con lại không ăn?’ Người mẹ trả lời: ‘bốn mẹ con chúng con ăn một nửa cũng đã đủ no rồi. Ở dãy phố bên kia cũng có một gia đình bốn người, họ cũng khó khăn thiếu đói như chúng con. Chúng con đem chia cho họ phần ăn của mình”. 

    Chúa muốn mỗi chúng ta có tấm lòng quảng đại như em bé, dâng tặng cho Chúa phần ăn của mình. Chúa sẽ biến mỗi phần ăn bé nhỏ đó thành phép lạ lớn lao nuôi sống cả thế giới này. Chúng ta cũng có thể dâng cho Chúa thời giờ, sức lực, khả năng ít ỏi của mình để phục vụ Chúa và anh em, Chúa sẽ làm cho việc bé nhỏ của chúng ta thành những việc lớn lao. Xin Chúa cho chúng ta có một trái tim chạnh thương, một tâm hồn rộng mở và một đôi tay quảng đại luôn biết chia sẻ với anh em, để qua chúng ta Thiên Chúa nuôi dưỡng nhân loại này cả thể xác và linh hồn. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.

    Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu thương của Thiên Chúa luôn được thể hiện qua việc thi ân giáng phúc và chăm sóc đoàn chiên, và dẫn chúng về đồng cỏ xanh tươi, về dòng suối mát để chúng được ăn uống no nê thỏa thích. Tác giả sách các Vua trong bài đọc 1 hôm nay thuật lại cho thấy biến cố đã xảy ra trong thời kỳ có nạn đói kéo dài 7 năm, một sự kiện ngặt nghèo chung của xứ sở. Bảy năm mất mùa, bảy năm đói khổ. Những cố gắng của con người hầu như tuyệt vọng. Số phận của hằng trăm môn đệ ngôn sứ Êlisê cũng không hơn gì. Họ đang bị đói. Nhờ lòng quảng đại và tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, từ hai mươi chiếc bánh nhỏ mạch nha và lúa mì do một nông dân vô danh đến từ Baal-Salisa tiến dâng, ngôn sứ Êlisê giúp hàng trăm người ăn no và vẫn còn dư.

    Thưa anh chị em, phép lạ được ngôn sứ Êlisê thực hiện trong thời Cựu ước tiên báo việc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều trong Tân ước để nuôi sống nhiều ngàn người ăn no nê. Đây là dấu chỉ lòng thương xót và sự quan tâm đặc biệt của Thiên Chúa đối với loài người. Giữa cảnh núi rừng với một số đông dân chúng theo Chúa Giêsu, Người chạnh lòng thương xót họ và đã khéo léo gợi lên trong lòng các môn đệ một vấn nạn lương tâm: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn?”. Người hỏi như vậy có ý thử các ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm. Dường như các môn đệ đã lặng thinh trước vấn nạn Thầy Giêsu đặt ra. Họ im lặng vì “lực bất tòng tâm”. Họ im lặng vì chưa cảm thấy trách nhiệm liên đới với người khổ đau. Philipphê thưa: “Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút”, nói chi đến năm chiếc bành lúa mạch và hai con cá. Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người”. Tuy con người hoàn toàn bất lực, không giải quyết được vấn đề, nhưng Thiên Chúa lại muốn cần đến sự cộng tác của con người: một người vô danh mang đến cho Êlisê 20 chiến bánh đầu mùa; một bé trai có 5 chiếc bánh lúc mạch và 2 con cá. Em sẵn sàng cho hết những gì mình có dù ít ỏi. Những cái bé nhỏ và ít ỏi này đã được Thiên Chúa chúc phúc, sẽ trở nên sự phong phú khởi đầu của một phép lạ lớn lao cho mọi người không những no thỏa mà cò dư thừa. Chúa Giêsu nói: “Cứ bảo người ta ngồi xuống”. Từ năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa Giêsu đã làm phép lạ ngoạn mục hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng và biểu lộ tình yêu thương của Người đối với loài người.

    Có câu chuyện kể rằng:  Trong một cuộc thi quốc tế dành cho các trẻ em khuyết tật, sau tiếng súng lệnh, chín em bắt đầu cuộc thi chạy 100m. Tất cả đều chạy vui vẻ, và rất cố gắng. Bỗng nhiên, một cậu bé bị vấp té. Em vội đứng lên và chạy tiếp, cố chạy cho kịp với các bạn. Nhưng rồi em lại bị té lần nữa, khoảng cách bây giờ lớn hơn. Em không chạy nữa mà … khóc! Nghe thấy tiếng khóc, tám em kia liền dừng lại, rồi quay trở lại, đến bên cậu bé. Một cô bé cúi xuống hôn cậu và nói: “Không sao đâu, tốt thôi!” Và lần này chín đứa trẻ cầm tay nhau chạy về đích.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Tình liên đới mà những người lành mạnh không thể làm được thì chín em tật nguyền đã làm được. Chúa đã làm phép lạ từ năm chiếc bánh và hai con cá của một em bé. Hôm nay Chúa cũng muốn chúng ta hợp tác với Người thực hiện những phép lạ Người đã làm bằng tình yêu thương, khiêm nhượng, hiền lành và tình bác ái đối với tha nhân. Tin tưởng vào Người có đủ năng lực thực hiện tất cả những gì cần thiết và tốt đẹp nhất cho từng người.

    Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biểu lộ quyền năng và tình thương bao la của Chúa dành cho nhân loại. Xin Chúa giúp chúng con biết ý thức và quảng đại cộng tác trong những công việc chung của Giáo hội và xã hội, nhằm làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích hạnh phúc cho con người. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn 

    Có lẽ một số người hiện diện trong Thánh lễ hôm nay nhận ra bài Tin mừng tuần này trích trong sách Gioan không phải sách Mác-cô như những tuần vừa qua. Khi đến đoạn Tin mừng nói về phép lạ Chúa Giê-su hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng, Tin mừng Mác-cô chỉ diễn tả ngắn ngọn, trong khi đó đoạn văn trong sách Gioan thì chi tiết và dẫn đến một đoạn văn tuyệt đẹp là Chúa Giê-su là Bánh Hằng Sống.  Vì vậy trong những tuần kế tiếp, chúng ta sẽ tiếp tục đọc và nghe Tin mừng Gioan. Thật vậy, phép lạ hóa bánh cá ra nhiều là hình bóng của Bí tích Thánh Thể. Nhưng trước khi là hình bóng đó, tự phép lạ này cũng có những bài học biểu lộ tấm lòng yêu thương quảng đại của Chúa đối với loài người.

    Hãy tưởng tượng chúng ta đang đứng trong đám đông dân chúng khi Chúa Giê-su và các tông đồ bắt đầu phát thức ăn ra. Chắc chắn chúng ta sẽ tự hỏi: Điều gì đang xảy ra? Thức ăn này từ đâu đến? Sự kiện này có gây ấn tượng cho chúng ta không? Ấn tượng có sâu xa để chúng ta ghi nhớ đã xảy ra không?  Những người theo Chúa lúc đầu đã có ấn tượng sâu xa về sự kiện này và đã lập đi lập lại nhiều lần đến mức phép lại này xuất hiện trong cả 4 sách Tin mừng. 

    Bằng một cách nào đó, Chúa đã nuôi đám đông dân chúng ăn no và dư thừa còn lại. Đây là một phép lạ lớn: Chúa Giêsu đã biến 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi đám đông người ăn no nê thừa thãi.  Tin mừng cho chúng ta biết số đàn ông là 5,000, nếu cộng thêm độ 5,000 đàn bà và khoảng 2,000 trẻ em mà thánh Gioan không kể ra, thì con số có thể lên tới khoảng 12,000 người. 12,000 người ăn no nê và dư lại 12 thúng đầy. Quả là một phép lạ to lớn. Nhưng có một điều quan trọng là Chúa muốn cho phép lạ lớn lao này có sự góp phần của loài người, và khi bánh và cá đã hóa ra nhiều rồi, Chúa nhờ các tông đồ đi phân phát cho dân chúng. Dĩ nhiên, với quyền phép vô biên, Chúa có thể một mình làm được phép lạ này, nhưng Chúa đã cố ý muốn con người góp tay hợp tác vào. Các phép lạ khác cũng vậy, Chúa đều mời người ta hợp tác, hợp tác ít ra cũng bằng một thái độ khiêm nhường tin vào Chúa. Thường trước khi làm một phép lạ, Chúa hỏi: “Con có tin không?” và sau khi làm phép lạ, Chúa nói: “Đức tin của con đã cứu con.” 

    Chúng ta biết lúc nào Chúa cũng sẵn sàng ban những ơn lành cho chúng ta, kể cả phép lạ Chúa cũng sẵn sàng làm. Nhưng nếu chúng ta không nhận được là vì chúng ta đã không góp phần của chúng ta vào với ơn Chúa, hoặc chúng ta không tin đủ, hay chưa xác tín vào ơn Chúa. Cụ thể như nếu chúng ta xin Chúa giúp ban ơn cho gia đình chúng ta được bình an, yêu thương hoà thuận, thì đừng có cầu xin suông, nhưng vừa cầu xin vừa có những cố gắng, quyết tâm từ bỏ những tật xấu ảnh hưởng đến gia đình, con cái, hay phải thành tâm tha thứ, làm hoà lại với nhau. Hay nếu chúng ta xin Chúa giúp cho có sức khỏe tốt, thì cũng đừng cầu xin suông, nhưng vừa cầu xin vừa cố gắng từ bỏ những tật xấu, hay nhất quyết không hoang phí sức khỏe, không làm cho thân thể bị ảnh hưởng vì nghiện ngập và tham lam. Hay nếu chúng ta xin Chúa giúp chúng ta có lòng đạo đức, thánh thiện, bác ái hơn, thì cũng đừng cầu xin xuông, mà phải cố gắng tham dự Thánh lễ với tấm lòng sốt sắng và yêu mến Chúa. 

    Một vị linh mục đã giảng rằng: phép lạ hóa bánh ra nhiều là phép lạ của lòng yêu thương quảng đại. Trước hết là lòng hy sinh quảng đại của em bé đã hiến dâng năm chiếc bánh và hai con cá cho Chúa Giêsu. Chúng ta thấy số bánh và cá đó không nhiều. Nhưng với em bé thì nó cần thiết và nhiều lắm vì đó là tất cả những gì em có. Có rất nhiều người sẵn sàng cho đi từ cái có nhiều, dư thừa của mình, nhưng rất ít người chịu cho đi từ cái có ít của họ. Vì thế, việc em bé cho hết năm chiếc bánh và hai con cá là một phép lạ của lòng quảng đại. Kế đến là lòng yêu thương quảng đại của chính Chúa Giêsu. Chẳng những Ngài cho mọi người được ăn, mà còn muốn ăn bao nhiều tuỳ thích, rồi còn dư lại 12 thúng nữa.

    Giảng xong, vị linh mục rất hài lòng nghĩ rằng mình đã giảng một bài rất hay. Khi vị linh mục vào phòng áo, một bà cụ già cũng theo vào và hỏi xem có ai thấy cái túi xách của bà để quên trong nhà thờ không. Vị linh mục cứ tưởng bà sẽ mỉa mai những người đã đến nhà Chúa mà còn ăn cắp thì hết nước nói. Nhưng bà cụ không nói thế, bà chỉ nhỏ nhẹ: “Chắc là người lấy cái túi đó cần đến nó hơn tôi.”  Vị linh mục hỏi tiếp: “Thế trong túi có gì vậy?”  Bà đáp: “Chỉ có hai chiếc bánh để ăn khi đường trong máu xuống thấp thôi.”

    Chúng ta biết quảng đại phải là một nhân đức quan trọng và cần thiết của người Kitô hữu. Nhân đức này lại có nhiều dịp thể hiện, và chúng ta có thể hiện lòng quảng đại bằng nhiều cách như đóng góp, dâng cúng tiền bạc, cho đi của cải, thời giờ, tài năng, cho đi công sức hy sinh phục vụ, cho đi sự quan tâm, cho đi lòng thương mến.  Và Chúa sẽ biến sự hy sinh quảng đại này thành niềm vui và hy vọng trong cuộc sống của người khác và nhất là cho chính mình. Một người đã nói: Ít khi chúng ta gặp một người nào quảng đại mà buồn. Cũng như ít khi chúng ta gặp người nào bủn xỉn, ích kỷ mà vui.

    Thật vậy, Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài và có lòng hy sinh quảng đại để giúp đỡ những người trong tình trạng khó khăn, và để xây dựng Nước Chúa, xây dựng tình yêu thương hiệp nhất trong cộng đoàn giáo xứ. Thánh Phaolô trong bài đọc 2, lo lắng vì sự chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu trong cộng đoàn ở, cho nên Ngài đã khuyên bảo họ: “Hãy hết lòng khiêm nhượng, hiền hậu, nhẫn nại, chịu đựng nhau trong đức ái; hãy lo bảo vệ sự hợp nhất tinh thần, lấy bình an hoà thuận làm dây ràng buộc.” Ngài so sánh cộng đoàn như một thân thể, và “chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa” nối kết, làm cho thân thể ấy được sống, mạnh khỏe và hoạt động.  Chúng ta cầu xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta tấm lòng quảng đại chia sẻ tình yêu Chúa với những người chung quanh, và hiệp nhất với nhau trong giáo xứ qua Thánh Thể là Thân Thể Chúa Ki-tô, để chúng ta xây dựng giáo xứ và làm sáng danh Chúa.

    Về mục lục

    .

    TÌNH YÊU HIỆP THÔNG

    Lm. Giuse Nguyễn

    Các kênh truyền hình ngày nay có những chương trình bổ ích, đầy tính nhân văn, coi mãi, coi hoài mà không chán. Ví dụ chương trình: “Vượt lên chính mình”, “khát vọng sống”“như chưa hề có cuộc chia ly”… Những chương trình này hấp dẫn, xúc động vì nó chạm đến trái tim người ta, nó làm cho người xem thấy được tình yêu trong cuộc đời; tình yêu nơi những con người dù sống trong đau khổ vẫn luôn hướng về phía trước, tin tưởng vào tương lai, và sống hết mình cho hiện tại; tình yêu nơi những con người biết cảm thông, chia sẻ với người khác cả vật chất lẫn tinh thần, để cho những người kém may mắn thấy rằng tình người vẫn còn chan hòa trong cuộc sống, thấy rằng mình vẫn được yêu thương. Đó chính là một tình yêu hiệp thông.

    I.  PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

    1. Bài Đọc I: 2 V 4, 42-44

    Trong bài đọc 1, sách Các Vua kể lại cho chúng ta vào khoảng những năm 850-840 TCN, lúc Israel đang gặp nạn đói, có một người đem đến cho ông Êlisa, người của Thiên Chúa 20 chiếc bánh. Đang lúc gặp nạn đói mà có bánh ăn, có thể người ta sẽ cất giấu rất kỹ để thủ  thân. Còn ở đây, người của Thiên Chúa sai đệ tử “Phát cho người ta ăn”. Từ sự rộng rãi, quên mình của Êlisa mà Thiên Chúa đã làm dấu lạ từ 20 chiếc bánh cho cả trăm người ăn.

    1. Bài Đọc II: Ep 4, 1-6

    Thánh Phaolô đã kêu gọi giáo dân thành Êphêxô hiệp nhất:“Anh em hãy ăn ở thuận hòa, gắn bó với nhau”. Muốn được như vậy, ngài dạy họ:“Hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ, nhẫn nại, hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau.” Xem ra Phaolô là một con người rất tâm lý, chỉ những ai khiêm tốn, hiền từ, nhẫn nại, biết chịu đựng mới có thể hiệp thông với người khác. Lý do để Phaolô kêu gọi con cái mình hiệp thông là bởi vì:“Chỉ một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha”.

    1. Tin Mừng: Ga 6, 1-15

    Liên tục trong những tuần gần đây, bài Tin Mừng trong các Chúa Nhật cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn yêu thương và chăm sóc dân Người. CN 15 TN, CG sai các môn đệ của mình đi rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa. CN 16 TN tuần rồi, sau khi các môn đệ rao giảng trở về, dân chúng kéo theo rất đông khiến CG “Chạnh lòng thương vì họ như đoàn chiên không người chăn dắt”, và bắt đầu giảng dạy cho họ. Còn hôm nay, CN 17 TN, khi thầy trò lên núi cầu nguyện, ngước mắt lên, CG ngỡ ngàng vì dân chúng đông đảo kéo đến với Ngài. Lúc đó con tim yêu thương tự nhiên đã thúc bách khiến Ngài cảm thấy bổn phận phải lo cho dân chúng. Ngài hỏi Philipphê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Ngài hỏi như vậy không phải vì Ngài bế tắc, không có hướng giải quyết, nhưng để khơi lên cho các môn đệ cũng biết đi vào mối bận tâm của Ngài. Sau khi Anrê giới thiệu cho Chúa một em bé có năm chiếc bánh và hai con cá. Với số lượng tượng trưng đó, CG đã làm một phép lạ vĩ đại, phép lạ mà cả 4 tác giả Tin mừng đều thuật lại, riêng Matthêu thuật đến 2 lần. Từ năm chiếc bánh và hai con cá cho 5 ngàn người đàn ông, chưa kể đàn bà và con nít (chắc chắn phải đông hơn) được ăn no nê mà vẫn còn dư tới 12 thúng đầy. Qua những hành động đó, cho chúng ta thấy Thiên Chúa rất giàu có, nhưng không phải keo kiệt, mà Ngài sẵn sàng ban phát một cách dư thừa. Điều chúng ta cần để ý trong bài Tin mừng hôm nay là tình yêu của Thiên Chúa mang tính cách hiệp thông. Ngài làm phép lạ cho tập thể và trong tập thể. Phép lạ đó chỉ được thực hiện khi có sự quan tâm trong cộng đoàn, và khi cộng đoàn đó biết cho đi dù là phần bé nhỏ của mình như em bé hôm nay.   

    II. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN HIỆP THÔNG

    Thực vậy, hiệp thông là một trong những sự thật về Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là sự hiệp thông được mặc khải qua hành động của Chúa Ba Ngôi. Vì vậy khi thiết lập Giáo Hội, ĐGK cũng muốn Giáo Hội và từng người trong Giáo Hội sống hiệp thông. Muốn như thế thì mỗi người phải biết hiệp thông với Thiên Chúa, để từ nền tảng căn bản đó dẫn đến sự hiệp thông với Giáo Hội và tha nhân.

    1. Với Thiên Chúa:

    Đời sống người kitô hữu chỉ thực sự có giá trị khi họ biết gắn bó với nguồn cội của mình là chính Chúa. Con người được Thiên Chúa dựng nên, nên họ phải hướng về Chúa. Những ai không hiệp thông, không gắn bó với Chúa thì giống như xác không hồn, chỉ là xác chết; họ cũng làm việc, cũng hoạt động, nhưng hoàn toàn không có ý nghĩa, không có giá trị gì cả, có chăng chỉ là những giá trị tạm bợ ở đời này thôi. Còn những ai biết hiệp thông, biết gắn bó với Chúa thì không quan trọng họ làm gì, bởi vì bất cứ điều gì họ làm cũng là để hiệp thông với Chúa.

    Phải gắn bó, hiệp thông với Chúa trong mọi nơi, mọi lúc và mọi việc. Nói như vậy coi bộ khó! Nhưng khi đã tập cho mình một thói quen, làm bất cứ việc gì cũng nói với Chúa một tiếng: con đi làm, con đi đám tiệc, con đi lễ, con đi chơi… thì đó là đã hiệp thông với Chúa rồi, vì mình ý thức có Chúa cùng làm với mình trong mọi việc. Mà khi ý thức như vậy sẽ tránh cho mình những chuyện sai trái, bởi vì mình luôn sống dưới cái nhìn của Chúa. Nhưng quan trọng hơn cả là hiệp thông với Chúa trong Thánh lễ, trong các Bí tích và trong cầu nguyện.

    1. Với Giáo Hội, với tha nhân:  

    Khi đã có được nền tảng căn bản là sự hiệp thông với Chúa, từ đó sẽ dẫn đến mọi sự hiệp thông khác: với Giáo Hội, với tha nhân.

    Không lạ gì khi những người thường xuyên lui tới nhà thờ là những người yêu mến Chúa. Họ xem nhà thờ, nhà xứ, giáo hội là con tim của họ. Họ yêu mến Đức Thánh Cha, yêu mến Đức Giám Mục của mình, yêu mến cha sở, cha phó, quý dì, quý thầy, những con người dâng hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Họ sẵn sàng cộng tác, giúp đỡ trong khả năng có thể… Còn tâm lý chung, những người không gắn bó với Chúa, cụ thể là bỏ đạo lâu năm, khi đến nhà thờ họ cảm thấy lạ lẫm, thậm chí là sợ nữa; gặp các cha, các dì, các thầy, họ ngại ngùng, những sinh hoạt trong họ đạo, trong giáo phận họ không hay biết gì… Điều đó thể hiện họ không có sự hiệp thông với Giáo Hội bởi vì họ chưa có sự hiệp thông với Chúa.

    Sau cùng, tình yêu với Thiên Chúa không bao giờ là một tình yêu ích kỷ. Càng yêu mến Chúa, người ta càng yêu thương anh chị em của mình. Chính sự yêu thương đó thúc bách mình quan tâm đến người khác,  sống cho người khác, san sẻ với người khác nhất là những con người bé mọn; chúng ta gọi là hiệp thông với tha nhân. Sự hiệp thông không chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ, chia sẻ vật chất. Nếu hiệp thông chỉ là giúp đỡ, chia sẻ vật chất thì rất rất nhiều người không thể sống hiệp thông, bởi vì họ rất nghèo. Nhưng hiệp thông còn là và phải là quan tâm đến phần hồn, phần rỗi của anh chị em mình, nhất là những người thân trong gia đình.

    Tóm lại, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn yêu thương và chăm sóc con người, không phải vừa đủ, mà một cách dư dật. Điều đó thể hiện Thiên Chúa luôn muốn hiệp thông với con người. Phần chúng ta muốn được Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc, thì chúng ta phải hiệp thông với Chúa trong từng suy nghĩ, lời nói, việc làm; trong mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh. Đồng thời cũng biết hiệp thông với anh chị em của mình, nhất là trong đời sống đức tin. Cầu chúc mọi người và từng người luôn thể hiện được sự hiệp thông với Chúa và với nhau. Có như vậy chúng ta mới trở thành một cộng đoàn đức tin và đức mến thực sự.

    Về mục lục

    .