Blog Page 8

Thánh Lễ Tạ Ơn Hồng Ân Tiên Khấn, Kim Khánh, Ngọc Khánh Khấn Dòng Năm 2026

“Cửa Công Chính hãy mở cho tôi vào,
Cho tôi vào tạ ơn Chúa…
Chính đây là cửa Thiên Chúa,
Hỡi người công chính, hãy mau tiến vào…”

Lời ca tha thiết của bài hát “Cửa Công Chính” như diễn tả tâm tình hân hoan và lòng tri ân sâu xa của Hội dòng trong ngày hồng phúc: bốn ứng sinh tuyên khấn lần đầu và năm nữ tu mừng hồng ân khấn dòng, gồm ba Dì mừng Ngọc Khánh và hai Dì mừng Kim Khánh.

Thánh lễ do Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo – nguyên Giám mục Giáo phận Xuân Lộc – chủ tế, được cử hành vào lúc 8 giờ 30, ngày 20 tháng 6 năm 2026 tại Nguyện đường Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức. Hiệp dâng Thánh lễ có quý cha đồng tế, quý tu sĩ nam nữ, quý ân nhân, thân nhân của các ứng sinh, quý khách và toàn thể chị em trong Hội dòng.

Ngay từ sáng sớm, khuôn viên Nhà Mẹ đã rộn ràng hơn trong bầu khí vui tươi và sốt sắng. Quý phụ huynh, thân nhân và khách mời từ nhiều nơi quy tụ về để hiệp thông và chia sẻ niềm vui với các ứng sinh cũng như với Hội dòng trong ngày trọng đại này. Chị Tổng Phụ trách Anna Nguyễn Thị Ngọc Hiệp đã có buổi gặp gỡ thân tình với phụ huynh các khấn sinh và đại diện thân nhân của quý Dì mừng Ngọc Khánh, Kim Khánh.

Đúng 8 giờ 30, đoàn đồng tế, quý chị em Hội dòng cùng các ứng sinh tiến vào Nguyện đường trong ánh nến lung linh và tiếng hát du dương. Bầu khí trang nghiêm, sốt sắng như dẫn đưa mọi người bước vào mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa – Đấng đã mời gọi và gìn giữ biết bao tâm hồn quảng đại trên hành trình thánh hiến.

Trong phần chia sẻ Lời Chúa, Đức cha Giuse đã nhấn mạnh đến mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người – một mầu nhiệm có thật được mặc khải xuyên suốt Kinh Thánh. Ngài khẳng định: mọi tình yêu chân thật đều bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa. “Có Chúa là có tất cả”, điều tưởng như một câu chuyện đẹp nhưng lại là một thực tại sống động nơi đời sống của những người tận hiến.

Đức cha đặt câu hỏi: “Tại sao những chị em này có thể trung thành dâng hiến suốt 50 năm, 60 năm, hay hôm nay mạnh dạn tuyên khấn lần đầu?” Và ngài trả lời: “Bởi vì Thiên Chúa đã chạm đến trái tim của họ.” Chính tình yêu ấy đem lại hạnh phúc, sức mạnh và sự bình an, để dù gặp đau khổ hay thiếu thốn, người tận hiến vẫn luôn vững vàng và tín thác.

Đức cha cũng nhắc nhở rằng Thiên Chúa không yêu thương con người một cách trừu tượng, nhưng luôn ban những dấu chỉ hữu hình để con người cảm nhận được tình yêu của Ngài. Những thành quả Hội dòng đạt được tuy đáng trân trọng, nhưng lý do sâu xa nhất để tạ ơn chính là việc ngày càng có nhiều chị em trở nên dấu chỉ sống động của tình yêu Thiên Chúa giữa lòng thế giới. Kết thúc bài giảng, Đức cha cầu chúc các khấn sinh và quý chị mừng Ngọc Khánh, Kim Khánh luôn trung thành với ơn gọi và bền đỗ trong tình yêu Chúa cho đến trọn đời.

Sau phần phụng vụ Lời Chúa là Nghi thức tuyên khấn lần đầu của bốn ứng sinh. Mở đầu nghi thức, chị Giám sư Tập viện Maria Đinh Thị Dung giới thiệu các ứng sinh trước cộng đoàn. Từng ứng sinh mau mắn đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa bằng lời thưa đầy xác tín: “Lạy Chúa, này con đây.”

Sau phần thẩm vấn của Đức cha chủ sự, các ứng sinh long trọng tuyên khấn ba lời khuyên Phúc Âm: Khiết tịnh, Nghèo khó và Vâng phục trong Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức. Tiếp đến, Đức cha làm phép và trao khăn lúp cho các tân khấn sinh. Từ giây phút ấy, chiếc khăn lúp đen trở thành dấu chỉ của đời sống thuộc trọn về Đức Kitô, của sự hiến dâng trọn vẹn và lòng quảng đại phục vụ Hội Thánh.

Sau cùng, các tân khấn sinh được trao Hiến Chương và Nội quy Hội dòng. Đây không chỉ là văn bản hướng dẫn đời sống tu trì, nhưng còn là kim chỉ nam giúp các chị em không ngừng suy niệm, thực hành và tiến bước trên con đường đức ái trọn hảo.

Tiếp theo là nghi thức nhắc lại lời khấn của ba Dì mừng Ngọc Khánh và hai Dì mừng Kim Khánh khấn dòng. Trong bầu khí linh thiêng và tràn đầy ân sủng, Đức cha Giuse đã đọc lời chúc lành, cầu xin Thiên Chúa tiếp tục gìn giữ và ban muôn ơn lành trên quý Dì đã trung thành bước theo Đức Giêsu-Kitô Chịu-Đóng-Đinh trong suốt hành trình dài dâng hiến.

Trước khi kết thúc Thánh lễ, chị Tổng Phụ trách Anna Nguyễn Thị Ngọc Hiệp đã thay lời Hội dòng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, đồng thời bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Đức cha Giuse, quý cha, quý tu sĩ nam nữ, quý ân nhân, quý cộng tác viên, quý khách cùng thân nhân của các tân khấn sinh và quý chị mừng Kim Khánh, Ngọc Khánh. Cách riêng, chị tri ân gia đình của những chị thuộc những lớp khấn đầu tiên của Hội dòng, những người đã âm thầm đồng hành, nâng đỡ Hội dòng trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử.

Thánh lễ khép lại trong tâm tình tạ ơn, niềm vui và hy vọng. Ngày hồng phúc này sẽ mãi là dấu ấn đẹp trong hành trình của Hội dòng, như một lời nhắc nhớ rằng: tình yêu Thiên Chúa luôn là nguồn mạch của mọi ơn gọi và là sức mạnh giúp người tận hiến trung thành bước theo Đức Kitô đến trọn đời.

Nhấn để xem hình ảnh

Truyền thông Hội dòng

 

Lời nguyện tín hữu – Chúa Nhật 13 Thường niên_ A

0

Bài đọc 1.  2V 4, 8-11.14-16a:

Ngôn sứ Ê-li-sa trên đường đi thi hành sứ vụ được một gia đình đón tiếp nồng hậu. Đáp lại lòng tốt của họ, ông đã xin Chúa cho bà được sinh con trong lúc tuổi già. Đó là nội dung bài đọc sau đây.

Bài đọc 2.  Rm 6, 3-4.8-11:

Thánh Phaolô xác quyết: Chúng ta lãnh nhận phép rửa là chúng ta cùng chết với Đức Kitô và cùng sống lại với Người. Vì thế, chúng ta phải chết đối với tội lỗi để sống cho Thiên Chúa.

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế:  Anh chị em thân mến, muốn dấn thân theo Chúa Giêsu, người Kitô hữu phải biết từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Người. Với quyết tâm theo Chúa đến cùng, chúng ta cùng tha thiết dâng lời nguyện xin:

  1. Hội Thánh dùng Lời Chúa giáo dục và nâng đỡ đức tin của người Kitô hữu. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các tín hữu biết lắng nghe lời giáo huấn của Hội Thánh, để nhờ đó đức tin của các tín hữu ngày càng mạnh mẽ và vững vàng hơn.
  2. Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy và là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các Kitô hữu biết tiếp đón và giúp đỡ những người bất hạnh/ để họ cảm nhận được tình yêu và lòng thương xót của Chúa giữa cuộc đời chóng qua này.
  3. Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống lại với Người. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người Kitô hữu sau khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, đã chết đối với tội lỗi thì cũng được cùng sống lại với Người trong vinh quang Thiên Quốc.
  4. Chúa Giêsu đã nói: Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta biết can đảm làm chứng cho Chúa qua việc sẵn sàng từ bỏ chính mình/ để làm vinh danh Chúa trong cuộc sống thường ngày.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trải qua con đường đau khổ mới bước vào vinh quang. Xin Chúa cho chúng con biết đón nhận những trở ngại trong cuộc sống hằng ngày như là phương tiện giúp chúng con đạt tới vinh quang cùng Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

CÁC BÀI ĐỌC 

Bài Ðọc I:  2 V 4, 8-11. 14-16a

“Người đến trọ nhà mình, là một vị thánh của Thiên Chúa”.

Trích sách Các Vua quyển thứ hai.

Một ngày nọ, Êlisê đi ngang qua miền Sunam. Ở đó có một bà sang trọng mời ông ở lại dùng bữa. Và từ đấy, mỗi khi ông đi ngang qua đó, ông đều đến nhà bà dùng bữa. Bà nói với chồng bà rằng: “Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó”.

Một ngày nọ Êlisê đến, ông lên căn phòng trên lầu và nghỉ tại đó. Ông nói (với Giêzê, tiểu đồng của ông): “Bà muốn chúng ta làm gì cho bà?” Giêzê nói rằng: “Thầy khỏi hỏi, bà ấy không có con, và chồng bà đã già”. Êlisê bảo gọi bà ta. Nghe gọi, bà liền đến đứng trước cửa, ông nói với bà rằng: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca:  Tv 88, 2-3. 16-17. 18-19

Ðáp: Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời.  (c. 2a).

Xướng:

1) Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời,
qua mọi thế hệ miệng con loan truyền lòng trung thành Chúa.
Vì Ngài đã phán: “Tình thương của Ta đứng vững muôn đời”;
trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín.                                            

2) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa,
họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài.
Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa,
và tự hào vì đức công minh Ngài.                                                                

3) Vì Chúa là vinh quang quyền năng của họ;
nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn.
Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa,
và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel.                                          

Bài Ðọc II:   Rm 6, 3-4. 8-11

“Chúng ta chịu mai táng với Ngài nhờ phép rửa, chúng ta phải sống đời sống mới”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi vì được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng: chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia:   Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. – Alleluia.

Phúc Âm:   Mt 10, 37-42

“Kẻ nào không mang lấy thập giá, thì không xứng đáng với Thầy; kẻ nào tiếp đón các con, là tiếp đón Thầy”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các tông đồ rằng: “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó.

“Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính. Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”.

Ðó là lời Chúa.

Các bài suy niệm Chúa Nhật 16 Thường niên Năm A

0

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN – NĂM A

Lời Chúa: Kn 12, 13.16-19;  Rm 8, 26-27;  Mt 13, 24-43

——- 

 

Mục lục

  1. Thiên Chúa Yêu Thương(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Thiên Chúa có liều lĩnh?(Thiên San,  MTG.Thủ Đức)
  3. Lòng nhân ái bao dung (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  4. Sinh Hoa Trái Qua Đời Sống Kiên Nhẫn Thánh Thiện(Lm. Ngọc Dũng, SDB)
  5. Tất cả là hồng ân  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)
  6. Cỏ lùng ai gieo? (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)
  7. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
  8. Nhẫn nại trong yêu thương (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  9. Cứ để cả hai mọc lên  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  10. Nước Trời cho ta  (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  11. Nước Trời trong ta (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)
  12. Kiên nhẫn và chờ đợi  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)
  13. Nước Trời được ví như chuyện… (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)
  14. Suy niệm Chúa Nhật 16 Thường niên_A  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)
  15. Sự kiên nhẫn và bao dung của Thiên Chúa (Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP)
  16. Chuyện dụ ngôn  (Trầm Thiên Thu)
  17. Nước Trời là Lời Chúa gieo vào thế gian  (P.Trần Đình Phan Tiến)
  18. Điều tốt đẹp (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  19. Giết người đi thì ta ở với ai?  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
  20. Suy niệm Chúa Nhật XVI Thường niên_Năm A  (Lm. Anthony Trung Thành)
  21. Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do con người  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)
  22. Hãy để cho chúng lớn lên cho đến mùa gặt (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh)
  23. Sống chung với lũ lụt  (JM. Lam Thy, ĐVD)
  24. Lúa – Cỏ lùng, hạt cải và men (Lm. Jos. Uyen Nguyen)
  25. Lòng kiên nhẫn và bao dung của Thiên Chúa (Lm. Đan Vinh)
  26. Chúa Nhật 16 Thường niên_A  (Lm. Antôn)
  27. Tại sao sự dữ tồn tại? (Sr. Anna Bích Hạt,  MTG.Thủ Đức)

 

THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG

Tuần 16 TN-A: Mt 13, 24-43

Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

Quy luật tự nhiên phản ánh một sự thật: cho dù là cây đại thụ, cũng bắt đầu từ hạt giống được gieo, nảy mầm rồi lớn lên. Kinh nghiệm trường đời cũng cho biết: không ai có thể hiểu tình yêu thương của cha mẹ, cho đến khi họ trở thành ông bố bà mẹ. Cảm giác mà mọi người ưa thích là được nghe lời yêu thương, được sống trong niềm vui tròn đầy, thực tế, con tim và khối óc cần được thao luyện, được minh chứng mỗi ngày trong đời. Không ai sinh ra là đã thành tài, thành danh, và tất cả được sinh ra đều có cơ hội tạo nên hạnh phúc. Chúng ta có tự do nhìn về phía sau để rút kinh nghiệm, hướng tới phía trước để tăng thêm hy vọng cho sự quyết tâm phấn đấu, quan sát diễn biến xung quanh để tìm ra và sống thực tại đời người. Cách hữu hiệu nhất trong cuộc sống là lắng nghe, học hỏi, trung thành sống lập trường của mình cách tốt nhất.

Đức Giêsu một lần nữa, lại diễn tả tình yêu thương của Thiên Chúa qua hình ảnh người gieo giống tốt trong ruộng mình, rồi ruộng vườn xuất hiện cỏ dại, lúa dại, điều người gieo và các gia nhân cùng không muốn. Tốt xấu, thật giả, hiền lành hung dữ, nghĩa cử đẹp, hành vi tồi, vẫn đang trà trộn trong ruộng vườn gia đình, tâm hồn, đang đặt để mỗi người phải chọn lựa, phải vững lập trường trước hồng ân đức tin đã lãnh nhận. Tiền nhân chúng ta cho rằng: người nông cạn tin vào may mắn, người mạnh mẽ tin vào nhân quả, chỉ những ai trung thực trong việc bé nhỏ, kẻ ấy mới thấy thế nào là sức mạnh của niềm tin. Cái gì thật vẫn là thật, cỏ lùng làm ảnh hưởng đến năng suất, nhưng không thể làm hỏng kế hoạch của chủ, hạt giống tốt, lúa tốt, vẫn chính là tình thương của chủ.

Thiên Chúa yêu thương, gieo giống tốt, tạo điều kiện để hạt giống phát sinh hiệu quả, kẻ thù dù có gieo cỏ lùng, cũng không phá huỷ được chương trình tốt đẹp của Chúa: “Nước Trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình”. Cỏ lùng, sự xấu, xuất hiện, khiến ta hoang mang, nhưng một khi vượt qua sợ hãi, sẽ trưởng thành, mạnh mẽ hơn. Đức Giêsu cho biết, cỏ lùng vẫn mãi là cỏ lùng, sự xấu vẫn là sự xấu, ông chủ không đồng ý cho thợ nhổ cỏ lùng, ông chỉ muốn diễn tả tình yêu thương đối với giống tốt ông đã gieo trồng. Ví như, có những vết thương tuy chữa lành, nhưng vẫn để lại sẹo, có những ký ức tuy xoá mờ, thế mà còn đau mãi. Thật giả, tốt xấu, cỏ dại và lúa tốt, sẽ được phân minh với thời gian, do tình yêu thương của Thiên Chúa và sự nỗ lực cần thiết của ơn ban, của hạt giống tốt được gieo.

Thiên Chúa yêu thương, có phải Chúa muốn nói đừng phàn nàn, đừng nghi ngờ, đừng thắc mắc tại sao có giả dối, tại sao có thù địch, mà hãy hỏi, để ơn ban lớn lên, để có niềm tin mạnh mẽ, con phải làm gì ? Các chuyên gia cũng nói: khi móng tay bạn dài, bạn hãy cắt móng tay chứ không phải cắt ngón tay ! Khi hiểu lầm, hiểu sai, bạn hãy cắt cái tôi, chứ đừng cắt mối quan hệ thân thương ! Chính vì nhân ái, mà Thiên Chúa không trừng phạt mỗi khi con người phạm tội, chính lòng quảng đại của Chúa, là bài học để con người giảm bớt được thành kiến với anh chị em sinh sống gần mình. Có sự khác biệt, nơi ông chủ không thể làm cho cỏ lùng trở thành lúa, thế mà ông vẫn dặn thợ “hãy để cả hai mọc lên, cho đến mùa gặt”. Trong khi với thời gian, Thiên Chúa vẫn tạo điều kiện cho kẻ gian ác ăn năn, và làm cho người tội lỗi hối cải đón nhận lòng thương xót Chúa.

Thiên Chúa yêu thương, khi đưa ra dụ ngôn hạt cải và nhúm men, hẳn Đức Giêsu muốn nói đến sự kỳ diệu và sức mạnh của tình yêu, mà Chúa đang thực hiện trước niềm tin, dù bé nhỏ “cỏn con”. Dù môi trường sống giống nhau, nhưng nếu cách tư duy khác nhau, sẽ cho kết quả và cuộc đời không giống nhau. Chẳng ai có thể hạnh phúc, nếu cứ tiếp tục suy nghĩ tiêu cực về người anh chị em mình; tật xấu, tính tình chưa tốt, sẽ được cải thiện khi tiếp xúc với tình yêu thật, sự bình an thật. Trong cách cư xử của ta, hiện mang hình ảnh lúa tốt hoặc cỏ lùng ? Trong tâm trí của ta chứa đựng hạt giống đức tin khiêm tốn bé nhỏ, Đức Giêsu vẫn đang biến đổi và cho thấy sự kỳ diệu của tình yêu Thiên Chúa. Nói và làm, tin và thực hành niềm tin đã khác nhau rồi, có chăng với tình liên đới hiệp thông, chúng ta hãy tín thác vào tình yêu Chúa, và hãy vui sống thánh ý Chúa bắt đầu từ những việc bé nhỏ nhất.

Trên net người ta có kể truyện châm biếm như sau: có một anh học trò theo ông thầy đồ lên tỉnh, đến trưa thầy vào quán, trò cũng theo sau, nhưng trò ngạc nhiên là tại sao thầy cứ vô tư ăn uống thoả thích như không có đứa học trò theo hầu. Đi cả ngày xong việc rồi trở về nhà, thầy gọi trò khiển trách, sao mày chẳng quan tâm tới thầy ăn uống vậy ? Sao dở thế, không biết trả tiền cơm nước cho thầy ? Trong khi trò buồn chết đi được, thầy ăn uống một mình mà bỏ trò đói khát ! Cuộc đời là thế, biết bao ông thầy vẫn than trách học trò kém cỏi không biết đối nhân xử thế ! Biết bao ông chủ than thở sao đám thợ này biếng nhác quá, biết bao bậc làm cha mẹ kêu la sao con trẻ thời nay cứng đầu quá ! Nếu suy nghĩ một chút, có thể ta sẽ nhận ra Chúa đang hỏi: sao bạn được nhiều ơn vậy mà cứ than khổ, than buồn ! Xin Chúa cho chúng con biết hồi tâm và cảm nhận được Chúa chính là tình yêu. Amen

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA CÓ LIỀU LĨNH?

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Chuyện kể rằng, có ông chủ kia, ngay từ đầu, ông đã gieo giống tốt trong ruộng của mình. Thế nhưng lợi dụng đêm tối, khi mọi người đã ngủ, kẻ thù của ông đã đến gieo cỏ lùng vào trong ruộng. Cả hai cứ thế mọc lên, đến một ngày, người đầy tớ phát hiện ra có cỏ lùng trong ruộng. Phải nhổ nó ngay thôi. Nghĩ thế, đầy tớ mới thưa với ông chủ rằng: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?” (Mt 13, 28). Ông chủ đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.” (Mt 13, 29-30). Dĩ nhiên là tên đầy tớ đã làm y như lời ông chủ căn dặn. Thực  ra, ông chủ đã biết điều đó trước khi đầy tớ thưa chuyện. Ông chủ trên đây chính là Thiên Chúa. Phải chăng Ngài thật liều lĩnh?

Dân gian có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Khi quyết định để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt, chắc hẳn ông chủ đã lường trước được những rủi ro cũng như cơ hội có thể xảy ra cho cả hai. Một là lúa tốt khi sống với cỏ lùng sẽ bị cỏ lùng lấn át, lấy hết chất dinh dưỡng khiến cho lúa trở nên còi cọc, ít năng suất, tệ hơn là nó có thể chết. Hai là khi cỏ lùng sống giữa lúa tốt, nó sẽ chẳng thể làm gì được khi lúa tốt quá mạnh mẽ, nó không đủ cơ dành hết dinh dưỡng từ đất, cũng như sự chăm sóc từ ông chủ. Có khi, nhờ sống gần lúa tốt mà cỏ lùng được biến đổi. Về phần ông chủ, ông không muốn tiêu diệt cỏ lùng vì sợ rằng  khi gom cỏ lùng sẽ làm bật luôn rễ lúa. Bởi vậy, ông đã chấp nhận chăm sóc lúa tốt giữa sự hiện diện của cỏ lùng. Ông chấp nhận để cho cỏ lùng “ăn ké” của lúa tốt. Khi bón phân, tưới nước, xịt thuốc, chắc chắn cỏ lùng cũng được hưởng từ lúa tốt tất cả những điều này. Có điều gì đáng lo ngại nữa không?

Thiên Chúa luôn có thể rút điều lành từ điều dữ. Việc lúa tốt sống cùng cỏ lùng có khi lại là ý hay. Bởi như điều lo ngại của Ông Chủ, nếu chỉ muốn tiêu diệt cỏ lùng ngay khi phát hiện ra thì sẽ chỉ làm ảnh hưởng đến lúa tốt. Nó có thể sẽ bị bật luôn rễ, bật rễ thì chỉ có chết thôi, còn gì nữa. Điều này nhắm đến sự an toàn cho lúa tốt. Khi có cỏ lùng cạnh tranh, lúa tốt sẽ có cơ hội vươn lên cách mạnh mẽ hơn. Con người thường vội vàng trong các quyết định và thường chỉ muốn tiêu diệt, nhưng Thiên Chúa thì khác. Ngài luôn kiên nhẫn, đầy khoan dung. Ngài luôn dành cho chúng ta những lối mở. Ngài không bao giờ diệt đường sống của ai. Mỗi khi ta vấp ngã, Ngài luôn cho ta cơ hội để thay đổi, làm lại để nên tốt hơn. Mỗi khi ta gặp thử thách, thánh giá, Ngài không cất nó khỏi ta, nhưng kiên nhẫn dạy ta cách vác lấy thánh giá, đón nhận và biến nó trở thành phương thế giúp ta được cứu.

Lúa tốt ở đây cũng có thể hiểu là những điều tốt đẹp Ngài đã gieo vào cuộc đời của chúng ta. Cỏ lùng là những ghen ghét, đố kỵ, hận thù mà ma quỷ đã gieo vào lòng chúng ta. Mảnh đất tâm hồn chúng ta mở ra đón nhận hạt giống của Chúa và nó cũng đã không ít lần cưu mang cỏ lùng. Kẻ thù đã lợi dụng lúc đêm hôm, khi người ta còn đang ngủ để gieo cỏ lùng. Thật vậy, trong cuộc sống, đã lắm khi chúng ta ngủ mê trong những thú vui, lạc thú, chạy theo tiền tài danh vọng để rồi thiếu cảnh giác. Hậu quả là cỏ lùng xuất hiện trong mảnh đất tâm hồn ta lúc nào không hay. Cỏ lùng và lúa tốt cùng lớn lên trên mảnh đất tâm hồn ta. Cả hai cùng mọc lên thì cả hai sẽ phải cạnh tranh nhau đất sống. Vậy ta phải làm gì? Thiết nghĩ, ta cần kiên nhẫn với bản thân mình như chính Thiên Chúa đã kiên nhẫn với ta. Mỗi ngày sống là cơ hội để ta nuôi dưỡng lúa tốt trong mình. Khi ta ưu tiên chăm sóc, chú ý đến những điều tốt lành, thiện hảo và sống những giá trị mà Chúa dạy, lúc ấy lúa tốt sẽ phát triển cách mạnh mẽ trong ta. Còn nếu ta bỏ bê việc sống lời Chúa dạy, cỏ lùng sẽ có cơ hội lấn át, bành trướng và làm chủ ta. Chọn lựa là ở mỗi người. Hãy chọn cách Chúa đã dạy.

Sách Khôn ngoan cũng cho ta hay: “Ngoài Chúa, không có chúa nào khác chăm sóc mọi sự, ngõ hầu minh chứng rằng Chúa không đoán xét bất công. Vì chưng, sức mạnh của Chúa là nguồn gốc sự công minh, và vì Người là Chúa mọi sự, nên tỏ ra khoan dung với mọi người. Chúa chỉ tỏ sức mạnh Chúa ra khi có kẻ không tin vào uy quyền của Chúa, và triệt hạ kẻ kiêu căng không nhìn biết Người. Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung: vì khi Chúa muốn, mọi quyền hành tuân lệnh Người. Khi hành động như thế, Người dạy dỗ dân Người rằng: Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối” (Kn 12, 13. 16-19). Điều này vén mở cho ta phần nào về lý do tại sao Ngài lại  quyết định để cho cả lúa và cỏ lùng cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Thực ra, Thiên Chúa của chúng ta luôn biết mình đang làm gì. Ngài không hề liều lĩnh.

Lạy Chúa! Cảm tạ Chúa đã bày tỏ tình thương yêu, lòng nhân hậu của Chúa dành cho chúng con. Chúa không bao giờ ngừng hy vọng và luôn cho chúng con cơ hội để thay đổi mỗi ngày. Xin giúp chúng con biết cộng tác với Chúa để cây đời con trổ sinh nhiều bông hạt. Xin giúp con biến biến những gì là cỏ lùng trong con thành lúa tốt. Khi sống với tha nhân, xin Chúa giúp con cũng có lòng kiên nhẫn, bao dung của Chúa để đừng bao giờ lấy mất cơ hội thay đổi của Người khác nhưng luôn biết mở ra với lòng bao dung, nhân hiền của Chúa. Chúng con luôn tin rằng, tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời chúng con không nằm ngoài sự quan phòng yêu thương của Chúa. Amen.

Về mục lục

.

LÒNG NHÂN ÁI BAO DUNG

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Một lần nữa, hình ảnh thửa ruộng lại được Chúa Giêsu sử dụng để chuyển tải giáo huấn của Người. Thửa ruộng vừa có lúa vừa có cỏ lùng, phản ánh cuộc sống thực tế của chúng ta. Quả thực, trên đời này luôn hiện hữu những người tốt và những người chưa tốt.  Hơn nữa, trong chính con người của mỗi chúng ta cũng có những hành vi tốt và hành vi xấu. Vì thế, Lời Chúa hôm nay vừa diễn tả lòng nhân ái của Thiên Chúa, vừa kêu gọi lòng bao dung của con người. Bởi lẽ, nhờ lòng nhân ái của Chúa mà chúng ta không bị trừng phạt khi lỗi lầm; nhờ lòng bao dung của con người mà bớt đi thành kiến xung đột với cuộc sống xung quanh.
 
Thiên Chúa là Đấng nhân ái. Tác giả sách Khôn ngoan đã khẳng định với chúng ta như thế. Ngài cũng là Đấng Độc tôn, tức là không có thần linh nào ngang hàng hay sánh bằng (Bài đọc I). Lòng nhân ái của Thiên Chúa được minh chứng suốt bề dày của lịch sử Cựu ước, cũng là lịch sử nhân loại. Đã nhiều lần Do Thái phạm tội, nhưng Thiên Chúa thương và tha thứ. Nếu Thiên Chúa là Đấng nhân ái, Ngài cũng muốn chúng ta có lòng bao dung đối với nhau. Tác giả sách Khôn ngoan đã chuyển tải đến chúng ta lời Chúa phán: “Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề, là người có tội được Ngài ban ơn sám hối”. Mỗi người sống trên trần gian là một “tiểu vũ trụ”, có nghĩa là một thế giới riêng, có nhiều điều dị biệt với người khác. “Tiểu vũ trụ” này có nhiều điều cần khám phá và phải tôn trọng. Một tác giả nào đó đã viết: “Đối với vũ trụ bao la, bạn chỉ là một người nhỏ bé. Nhưng đối với một người, bạn là cả vũ trụ” (Sưu tầm).
 
Vì khác biệt về sở thích, tính tình hay quan điểm, nên mỗi người cần phải kiên nhẫn, như người chủ ruộng trong Tin Mừng. Chúa Giêsu cho thấy rõ cách sự khác biệt giữa cách hành xử của Thiên Chúa và cách hành xử của con người: con người muốn tru diệt hết những ai mình không hợp không thích; Thiên Chúa lại nhân ái chờ đợi và mong họ sám hối nên hoàn thiện. Trong thế giới của chúng ta, nếu ông chủ vườn không thể làm cho một cây cỏ lùng đổi thay biến thành cây lúa, thì đối với Thiên Chúa, Ngài lại luôn ban cho các tội nhân một cơ hội để họ sám hối trở về. Đó là câu trả lời cho những mắc chúng ta thường thấy: tại sao trên thế giới này vẫn tồn tại những người thất đức? Thiên Chúa cũng là nguyên lý của mọi sự tốt lành. Ngài chỉ gieo lúa vào cuộc đời. Sự xuất hiện của cỏ lùng là do âm mưu của ma quỷ và của con người.
 
Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta tự vấn lương tâm: tôi là cây lúa hay cây cỏ lùng trong “vườn đời” này? Đừng chủ quan nhận mình là hoàn thiện, nhưng hãy can đảm nhận ra tình trạng thực của mình. Có những lúc chúng ta giống như cỏ lùng, làm mất đi sự hài hòa trong mối tương quan với những người trong một gia đình hoặc trong một cộng đoàn. Có những khi chúng ta đang vô tình gieo vào lòng những người đơn sơ hay trẻ nhỏ những gương xấu, giống như kẻ gieo cỏ lùng lẫn vào ruộng lúa ban đêm.
 
Thiên Chúa là Đấng nhân ái và thương xót, nhưng Ngài cũng là vị thẩm phán công minh. Có những người cố tình khước từ lòng thương xót của Chúa, mặc dù họ được nghe nói về Ngài. Họ phải lãnh trách nhiệm về sự chọn lựa của mình. Cho đến mùa gặt, tức là lúc sau hết của cuộc đời, có những cây cỏ lùng vẫn cố tình là cỏ lùng mà không chịu biến đổi, lúc đó sẽ bị đốt trong lửa. Cùng mọc lên trên một thửa ruộng, nhưng đáp số cuối cùng của cây lúa và cây cỏ lại khác nhau: lúa nuôi sống người được thu vào lẫm; cỏ vô dụng bị  bó lại đốt đi. Đó là hình ảnh diễn tả người công chính và các tội nhân mà chúng ta thường gọi là thiên đàng hay hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi vắng bóng Thiên Chúa, không có tình thương. Nơi ấy, chỉ có hận thù khôn nguôi và đau khổ vĩnh viễn.
 
Trong vườn đời có nhiều lúa và cỏ cùng hiện hữu, người tin Chúa cũng được mời gọi đóng góp phần mình làm cho những người còn lạc xa đường chân lý được tỉnh ngộ và trở về. Hãy giúp họ nhận ra lòng nhân ái của Chúa, qua sự bao dung của mỗi chúng ta. Ngài là Cha yêu thương, luôn chờ đợi các tội nhân trở về, để tha thứ và ban cho họ nghị lực mới. Như thế, thay vì buồn sầu bi quan vì cộng đoàn tín hữu là thiểu số trong một xã hội mênh mông, chúng ta hãy ngẩng cao đầu, vì có Chúa ở với chúng ta. Chúng ta cũng vui mừng tự hào, vì Chúa trao cho chúng ta sứ mạng trở thành muối và ánh sáng cho đời. Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn và bao dung. Chúng ta hãy kiên nhẫn và bao dung như Ngài trong cách đối xử với anh chị em mình.
 
Xin ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ để chúng ta được ơn trung thành với Chúa và nhất là biết sống theo thánh ý của Ngài. Vâng, đời sống gia đình, những sinh hoạt trong giáo xứ, những mối tương quan nghề nghiệp bạn bè trong cuộc sống đời thường đang là những môi trường để chúng ta thực thi sứ mạng làm men làm muối cho đời. Kể cả lời cầu nguyện của chúng ta cũng rất cần có Chúa Thánh Thần soi sáng, vì Ngài hiểu nỗi lòng và những ước nguyện chính đáng của chúng ta (Bài đọc II).

Về mục lục

.

SINH HOA TRÁI QUA ĐỜI SỐNG KIÊN NHẪN THÁNH THIỆN

Lm. Ngọc Dũng, SDB

Trong bài đọc 1 hôm nay, tác giả sách Khôn Ngoan trình bày cho chúng ta về phán quyết công minh của Thiên Chúa. Dù là Đấng uy quyền mạnh mẽ, Thiên Chúa vẫn xét xử khoan hồng với mọi loài: “Nhưng Chúa xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh. Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con, nhưng có thể sử dụng quyền năng bất cứ khi nào Ngài muốn. Làm như thế Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối” (Kn 12:18-19). Những lời này cho thấy Thiên Chúa luôn đối xử từ bi với con người. Đây cũng là điều Ngài mời gọi con người thực hành với đồng loại của mình. Chúng ta thấy điều này dường như ngược với thế giới bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa cá nhân ngày hôm nay. Con người không còn lấy lượng từ bi để đối xử hoặc cai quản nhau. Thay vào đó, nhiều người lấy quyền hành để thống trị người khác hầu mang lại lợi nhuận cho riêng mình. Cuộc sống chỉ trở nên đẹp khi chúng ta biết kiên nhẫn với nhau và lấy lòng nhân ái làm động lực khi đến với anh chị em mình.

Về phần mình, Thánh Phaolô chỉ ra cho tín hữu Rôma biết rằng Thần Khí Thiên Chúa luôn hoạt động trong đời sống cầu nguyện của mỗi người: “Thưa anh em, có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8:26-27). Chúng ta thường nghe rằng cầu nguyện là cuộc đối thoại thân tình với Thiên Chúa. Có thể nói, đây là cuộc đối thoại giữa hai con tim, hai cõi lòng mong ước thiết lập mối tương quan mật thiết với nhau, để biết và hiểu nhau cách trọn vẹn. Về phía Thiên Chúa, Ngài biết và hiểu con người cách thấu đáo. Còn con người thì không thể nào biết và hiểu Thiên Chúa cách hoàn toàn. Nói cách khác, qua đời sống cầu nguyện, chúng ta nhận ra mình chỉ là những tạo vật nhỏ bé, những con người hèn mọn trước mặt Thiên Chúa. Điều an ủi chúng ta là chính Thần Khí cầu nguyện thay cho chúng ta. Để được như thế, chúng ta cần chuẩn bị một chỗ cho Thần Khí trong tâm hồn mình.

Tuần trước, trình thuật Tin Mừng kể cho chúng ta nghe về dụ ngôn người gieo giống. Trong dụ ngôn đó, Chúa Giêsu nói về bốn loại đất mà trên đó hạt giống được gieo. Loại đất chỉ sinh hoa trái là đất tốt. Tuy nhiên, dù được gieo vào đất tốt, hạt giống không sinh hoa trái giống nhau mà hạt được một trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Điều này xảy ra vì khi được gieo trong đất tốt, hạt giống cắm rễ và lớn lên bên cạnh một thực tại khác, đó là cỏ lùng. Đây là kinh nghiệm quen thuộc cho những nông dân trồng lúa. Chúa Giêsu sử dụng kinh nghiệm này để nói với thính giả của Ngài về một dụ ngôn khác, dụ ngôn Cỏ Lùng. Dụ ngôn này được trình thuật trong hai phần: dụ ngôn (Mt 13:24-30) và giải thích dụ ngôn (Mt 13:36-42). Chen giữa hai phần này là hai dụ ngôn khác về Nước Trời [dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men trong bột] (Mt 13:31-33) và lý do tại sao Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để nói với đám đông (Mt 13:34-35). Chúa Giêsu dùng những dụ ngôn này để nói về mầu nhiệm Nước Trời cho những người đơn sơ chất phác qua việc sử dụng những hình ảnh gần gũi quen thuộc trong ngày sống của họ.

Dụ ngôn bắt đầu với thực tại xảy ra khi gieo giống: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện” (Mt 13:24-26). Trước kia, dụ ngôn này thường được hiểu là dụ ngôn đặc trưng của Tin Mừng Thánh Mátthêu vì không được tìm thấy trong các Tin Mừng khác. Tuy nhiên, gần đây các học giả Kinh Thánh cho rằng Thánh Matthêu viết lại dụ ngôn này dựa trên dụ ngôn hạt giống lớn lên cách âm thầm trong Tin Mừng Thánh Maccô (Mc 4:26-29). Thánh Mátthêu không chỉ viết lại câu chuyện để đáp ứng nhu cầu của cộng đoàn mà còn cung cấp một bản giải thích chi tiết về dụ ngôn (Mt 13:36-43). Tự bản chất, dụ ngôn này là dụ ngôn về Nước Trời. Những lời mở đầu của dụ ngôn trình bày cho chúng ta một thực tại quen thuộc trong cuộc sống. Bất kỳ ai cũng gieo giống tốt trong ruộng mình với mong ước sẽ gặt hái được một mùa bội thu. Không ai gieo cỏ lùng cùng với hạt giống tốt. Nhưng khi hạt giống đâm chồi mọc lên, thì chúng ta cũng thấy cỏ lùng xuất hiện trong cùng ruộng lúa mà không biết nguồn gốc chúng đến từ đâu. Điều chúng ta cần lưu ý ở đây là khi hạt lúa chưa trổ bông, thì chúng ta khó phân biệt với cỏ lùng. Chi tiết này cho thấy chúng ta chỉ phân biệt được đâu là lúa đâu là cỏ lùng dựa vào hoa trái được sinh ra. Cũng vậy, qua hành động và thái độ sống với nhau mà chúng ta có thể phân biệt được kẻ xấu và người tốt: “Hành động mạc khải con người.”

Cuộc đối thoại giữa chủ nhà và đầy tớ cho thấy hai thái độ khác nhau trước một thực tại: “Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: ‘Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?’ Ông đáp: ‘Kẻ thù đã làm đó!’ Đầy tớ nói: ‘Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?’ Ông đáp: ‘Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi’” (Mt 13:27-30). Trong cuộc đối thoại giữa chủ nhà và đầy tớ, chúng ta có thể nhận ra điểm quan trọng Thánh Matthêu muốn nhấn mạnh, đó là vấn đề hợp nhất trong cộng đoàn. Điều này được diễn tả qua động từ “gom/thu.” Động từ này xảy ra bốn lần ở đây. Bên cạnh đó, Thánh Mátthêu còn chỉ ra hai thái độ khác nhau trước thực tại cùng hiện hữu của lúa và cỏ lùng: Đầy tớ có vẻ mất bình tỉnh và muốn giải quyết vấn đề ngay lập tức, còn ông chủ thì bình tĩnh kiên nhẫn chờ cho đến mùa gặt. Thái độ của đầy tớ cũng là thái độ của mỗi người chúng ta khi đối diện với vấn đề trong cuộc sống, nhất là những vấn đề liên quan đến bản chất con người. Đã không ít lần chúng ta muốn loại bỏ anh chị em mình ngay lập tức, không cho họ có cơ hội để lớn lên và chứng tỏ bản chất của họ. Chúng ta biết, cỏ lùng không thể trở thành lúa và lúa không thể trở thành cỏ lùng. Cả hai lớn lên để chứng minh bản chất thật của lúa dựa trên hoa trái trổ sinh. Sống cùng với cỏ lùng nhưng không để cỏ lùng bóp nghẹt không trổ sinh hoa trái chứng minh bản chất tốt lành của lúa. Điều này giống với câu tục ngữ chúng ta thường nghe: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng sống và gặp gỡ nhiều người khác nhau. Nhiều lần, chúng ta để cho họ ảnh hưởng đến độ không làm cho chúng ta sinh hoa kết trái đẹp cho Nước Trời. Nhưng Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi để chúng ta khẳng định lại bản chất là con cái Thiên Chúa của mình qua việc sinh hoa kết trái. Học ở Chúa, chúng ta cũng sống kiên nhẫn với anh chị em mình và không để cho “gương xấu” của người khác ảnh hưởng làm chúng ta không sinh hoa trái tốt đẹp trong Chúa.

Hai dụ ngôn chèn giữa dụ ngôn cỏ lùng là dụ ngôn hạt cải và men trong bột nói về Nước Trời như một thực tại nhỏ bé khi bắt đầu, nhưng khi đạt đến mức trưởng thành thì sẽ trở thành một thực tại rất vĩ đại. Chúng ta cũng tìm thấy hai dụ ngôn này trong Tin Mừng Thánh Máccô (4:30-32) và Luca (13:18-21). Trong Tin Mừng Thánh Mátthêu và Luca, hai dụ ngôn này đi chung với nhau tạo thành một cặp: Một dụ ngôn liên quan đến người nam và dụ ngôn còn lại liên quan đến người nữ. Chi tiết này cho thấy thái độ công bằng của Chúa Giêsu đối với mọi người, không phân biệt giới tính. Trong dụ ngôn hạt cải [“Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ rau lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được” (Mt 13:31-32)], điều được nhấn mạnh là sự thay đổi bất ngờ và đầy kinh ngạc từ vô hình cận kề của Nước Trời đến sự tỏ lộ toàn vẹn và phổ quát của nó. Còn trong dụ ngôn men trong đấu bột [Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt 13:33)], điều đáng để chúng ta suy gẫm là sự ảnh hưởng của hạt men nhỏ bé lên đấu bột to lớn. Nói một cách cụ thể, dụ ngôn này nói đến một chuyển vận nhỏ bé có thể mang lại sự ảnh hưởng to lớn trên xã hội. Những chi tiết này giúp chúng ta thay đổi lối nhìn của mình trong cuộc sống. Nhiều lần, chúng ta chỉ quan tâm đến những hành động vĩ đại mà xem thường những hành vi nhỏ bé trong ngày sống. Lời Chúa mời gọi chúng ta thực hành những cử chỉ yêu thương nhỏ bé mỗi ngày. Chính những hành động nhỏ bé này sẽ có sức ảnh hưởng thật lớn trên xã hội và trong đời sống của những người đang sống chung quanh chúng ta.

Thánh Matthêu cho thấy, mục đích Chúa Giêsu dùng dụ ngôn là để ứng nghiệm lời của ngôn sứ: “Tất cả các điều ấy, Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với đám đông; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, hầu ứng nghiệm lời ngôn sứ đã nói: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa” (Mt 13:34-35). Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dùng những hình ảnh đơn sơ, quen thuộc trong ngày sống mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những con người hèn mọn. Điều này cho thấy, những thực tại nhỏ bé trong ngày sống đều chứa đựng những sứ điệp được dấu kín về mầu nhiệm Nước Trời. Chúng ta cần có con mắt đức tin và cõi lòng rộng mở để nhận ra những sứ điệp kín ẩn này.

Trong lời giải thích về dụ ngôn cỏ lùng, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự trái ngược giữa những người gian ác và những người công chính trong ngày tận thế: “Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe” (Mt 13:41-43). Hình ảnh này cho thấy Nước Trời là một sự hỗn hợp giữa những người gian ác [tội nhân] và những người công chính [thánh nhân] cho đến ngày tận thế. Vì vậy, kiên nhẫn, khoan dung và chịu đựng là những nhân đức cần thiết. Không ai có thể tước lấy quyền phán xét của Thiên Chúa. Tóm lại, qua dụ ngôn này, Thánh Mátthêu mời gọi chúng ta chuẩn bị cho ngày phán xét qua đời sống chân thật, sống đúng với bản chất của mình. Tránh việc sống giả dối, giả hình.

Về mục lục

.

TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo.

Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sư hiện diện của ma quỷ. Ma qui hiện hữu. Chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuần bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người. Nhưng ma quỷ lén gieo vào những hạt cỏ xấu.

Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hoà bình. Đẹp biết bao nếu mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng buồn thay, cánh đồng hoà bình tươi xanh đã bị những ngọn cỏ tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sự thế giới được ghi bằng những trang buồn vì không ngày nào không có chiến tranh.

Thế giới sẽ đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần xây dựng. Nhưng buồn thay, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc huỷ hoại, tha hoá, nô lệ hoá con người.

Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà vị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc.

Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt.

Tuy nhiên, dụ ngôn cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa đợi cho đến ngày tận thế mới thu lúa cùng với cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hi vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa bao dung tha thứ không nỡ phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày nên tốt. Nếu phạt ngay nhưng người tội lỗi thì ta đâu còn cơ may được chiêm ngưỡng ông thánh trộm lành. Nếu Chúa thẳng tay thì ta đâu có thánh nữ Madalêna, Tông đồ của các Tông đồ, thánh Augustinô, Tiến sĩ lừng danh, thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Nếu Chúa chấp tội thì bản thân ta sẽ là người bị phạt đầu tiên, vì trong ta cũng đầy những tội lỗi, những sự xấu. Trong tâm hồn ta cỏ lùng vẫn mọc xen với lúa tốt.

Sau cùng, dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự lành để ta hiểu biết và yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa. Có sự dữ để ta gớm ghét tránh xa và càng thêm gắn bó với sự lành. Có sự lành để ta được hưởng niềm an ủi ngọt ngào của Chúa. Có sự dữ để ta phấn đấu vượt qua, chứng minh lòng trung tín của ta với Chúa. Có thuận lợi tiến bước trên đường thánh thiện. Có khó khăn để ta rèn luyện thêm đức.

Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Khi gặp những người xấu trong xứ đạo, trong hội đoàn, bạn có muốn khai trừ người đó ngay tức khắc không?

2) Trong con người bạn có những khuyết điểm, những bệnh tật, bạn có phấn đấu khắc phục những khuyết điểm, vượt qua bệnh tật để thăng tiến bản thân không?

3) Chúa đã khoan dung, kiên nhẫn đợi chờ bạn ăn năn hối cải. Bạn có biết kiên nhẫn với người khác?

Về mục lục

.

CỎ LÙNG AI GIEO?

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống trên trần gian luôn có người tốt, kẻ xấu, sự lành, sự dữ,  . . . Cái tốt và cái xấu đôi khi hòa lẫn với nhau như ánh sáng và bóng tối. Và có khi cái xấu lên ngôi xâm chiếm và bóp nghẹt cái tốt như bóng tối nhậm chìm ánh sáng.

Chúa Giêsu đã dùng “dụ ngôn cỏ lùng” để trả lời cho những người thấy bức xúc trước cái xấu có mặt ở khắp mọi nơi, thậm chí cái xấu ngày càng bành trướng, lấn át cả cái tốt. Mặc dầu, Thiên Chúa luôn gieo giống tốt trong ruộng mình nhưng ma quỷ là kẻ thù của Thiên Chúa vì ghen ghét, nên đã gieo cỏ lùng là tội lỗi vào thế gian.

Cỏ lùng mà ma quỷ đã gieo rắc vào thế gian là những việc làm thiếu yêu thương, và là những lời thiếu tình hiệp nhất, gây nên chia rẽ, đau khổ, bất ổn cho cuộc sống chung. Giữa cuộc sống chung với nhau ta vẫn thấy ma quỷ gieo sự so bì, dèm pha, nói hành, nói xấu, vu oan, giáng họa, căm thù, ghen tỵ, chia rẽ, phỉ báng dẫn đến hành động gian ác, sảo trá, bất công, bóc lột, buôn gian bán lận, tranh dành, diệt trừ, tàn sát lẫn nhau…

Lời Chúa hôm nay cho ta thấy bộ mặt thật của những người thích nói xấu người khác, và hay phao tin đồn là những tay chân của ma quỷ. Họ là hiện thân của ma quỷ khi đi gieo những điều bất chính, dối gian. Cái gian tà không lấn át được chân lý. Sẽ có ngày Thiên Chúa nhổ cỏ lùng để vất vào lửa đời đời. Ngày đó họ sẽ phải khóc lóc nghiến răng vì những việc làm nhân quả xấu mà mình đã gieo vào trần gian.

Là người ky-tô hữu Chúa mời gọi chúng ta đừng bao giờ tiếp tay với ma quỷ để gieo cỏ lùng vào trần gian. Hãy gieo việc thiện. Hãy gieo lời lành. Những việc làm tốt, những lời hay sẽ mang lại cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc khi được sống trong môi trường yêu thương và hạnh phúc. Ngược lại, khi chúng ta gieo điều xấu sẽ làm cho thế gian bất an và đầy chia rẽ, lo âu.

Người ta kể rằng: Thời trẻ, có một lần, một người bạn của Socrates chạy tới tìm ông. Người bạn này vừa thở vừa cao hứng nói: “Mình nói với cậu chuyện này, đảm bảo là ngoài sức tưởng tượng của cậu.”

“Chờ chút!” Socrates vội vã ngăn anh ta lại và nói: “Những lời mà cậu định nói với tôi, cậu đã dùng ba “cái sàng’ để lọc qua chưa?’

Người bạn của Socrates với vẻ mặt không hiểu, lặng im và lắc đầu.

Socrates nói: “Lúc mà cậu muốn nói cho người khác một việc gì đó, ít nhất cũng nên dùng ba “cái sàng” lọc qua một lượt. Cái thứ nhất gọi là chân thậtcậu phải xem xem chuyện mà cậu muốn nói cho người khác có đúng sự thật không?”

Anh bạn tiếp lời: “Tôi là nghe được trên đường đi tới đây, mọi người đều nói như vậy chứ tôi cũng không biết là có đúng sự thật không.”

Socrates lại nói tiếp: “Vậy thì nên dùng “cái sàng” thứ hai của cậu để kiểm tra đi. Nếu như nó không phải là sự thật, thì ít nhất cũng là có thiện ý tốt chứ? Chuyện mà cậu muốn kể với tôi có phải là có thiện ý không?”

Người bạn kia nghĩ nghĩ một lát rồi nói: “Không có, thậm chí còn ngược lại nữa”, người bạn này nói xong dường như cảm thấy có chút xấu hổ, liền cúi mặt xuống đất.

Socrates không ngần ngại mà nói tiếp: “Vậy thì chúng ta lại dùng cái sàng thứ ba xem thử xem, việc mà cậu vội vã để nói cho mình biết có phải là việc quan trọng không?’

“Cũng không phải là việc quan trọng!”

“Một việc không quan trọng mà lại không xuất ra từ thiện ý, hơn nữa cậu còn không biết có phải là sự thật không, thế thì cậu cần gì phải nói ra? Nói ra cũng chỉ tạo thành phức tạp cho hai người chúng ta mà thôi.”

Socrates cũng từng nói: “Đừng nghe và tin vào lời nói của những người bàn luận thị phi hay là người gièm pha, phỉ báng. Bởi vì lời mà họ nói cho bạn không phải là xuất từ thiện ý, họ đã vạch trần việc riêng tư của người khác thì đương nhiên cũng sẽ làm như vậy với bạn.”

Vì vậy, mọi người trước khi muốn nói ra một chuyện gì đó hãy dùng ba cái sàng để lọc một lượt, không làm người đưa đẩy thị phi thì đương nhiên cũng đừng để bị người khác lợi dụng làm người truyền bá thị phi.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức trước những trào lưu của xã hội để biết tích lũy cái hay và bỏ cái dở. Nhất là biết mở rộng lòng đón nhận chân lý, sự thật và loại trừ những chia rẽ hận thù. Và xin cho chúng ta cũng biết gieo vào nhân thế những điều tốt hầu xây dựng một môi trường hạnh phúc, hiệp nhất và yêu thương. Amen

Về mục lục

.

HÃY CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN CHO ĐẾN MÙA GẶT

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dùng các dụ ngôn để giúp các môn đệ cũng như dân chúng hiểu về “Nước Trời”. Người so sánh ” Nước Trời như một người đã gieo giống tốt trong ruộng mình; Nước Trời giống như hạt cải; Nước Trời giống như nắm men” (x. Mt 13, 24-43), nước ấy ở ngay ” trên mặt đất ” chứ không phải nơi xa lạ. 

Thật vậy, chỉ trên mặt đất mới có chỗ cho lúa và cỏ lùng mọc lên, chỉ trong cuộc sống nhân trần mới có bột cần chất men, nên ở trên Thiên Đàng, chỉ có Thiên Chúa là tất cả mọi sự trong mọi người.

Chúa Giêsu lấy dụ ngôn hạt cải, mô tả nó ” bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây “(Mt 13, 32) … ” cũng như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men “(Mt 13, 33), ngoài ám chỉ sự lớn lên âm thầm nhưng hùng mạnh của Nước Chúa trong lịch sử, Chúa Giêsu muốn nói đến sự nhập thể làm người của chính mình và sức thánh hóa của Chúa Thánh Thần. 

Nếu ai đó không lấy men trộn vào bột làm cho bột dậy men, thì bột đó không thể sử dụng làm thực phẩm được. Nhưng nếu trộn bột vào men, bột sẽ dậy men, đó là cách Chúa Giêsu áp dụng cho Nước Trời… Cũng như thịt : để giữ gìn thịt khỏi hư, chúng ta phải tra muối vào để bảo quản… nếu không thịt sẽ hư và trở nên không phù hợp cho tiêu dùng. Một cách tương tự, nhân loại đại diện cho thịt hoặc bột, Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần là muối và men. Nếu men Thánh Thần và muối Giêsu không xuống thế gian, không mặc lấy bản tính con người, nghĩa là nhào trộn với con người, con người sẽ không bao giờ mất đi mùi hôi thối của tội lỗi, không ” tẩy trừ men cũ, để nên bột mới, là bánh không men ” (1Cr 5, 7) thì không thể được cứu độ.

Nếu con người chỉ dựa vào sức riêng mình, không cần Thánh Thần trợ giúp, thì thật sai lầm; bởi con người không được tạo dựng để ở trên Trời … Nếu người tội lỗi không gặp gỡ Thiên Chúa, không từ bỏ tội lỗi, không được thấm nhuần sức sống thần linh của Thiên Chúa, người ấy sẽ không bao giờ được nếm hưởng cuộc sống đích thực … Trái lại, nếu đón nhận được ân sủng của Chúa Thánh Thần, không ” gây phiền muộn cho Thánh Thần ” (Eph 4, 30), người ấy sẽ hạnh phúc và được sống đời đời.

Dụ ngôn hạt cải và nắm men có lẽ dễ hiểu nên các môn đệ không cần phải giải thích, các ông chỉ xin Chúa Giêsu : ” giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng ” (Mt 13, 36) sau khi đã về nhà. Và Người đã giải thích : ” Người là kẻ gieo giống. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần “(Mt 13, 37-39). 

Ở những thế kỷ đầu của Kitô giáo, giáo phái Đô nát cho rằng Giáo hội là tất cả những người lành, còn thế gian thì đầy dẫy con cái sự ác không có hy vọng được cứu độ. Thánh Augustinô quan niệm : “Chính Giáo Hội là một cánh đồng có lúa và cỏ lùng, có kẻ xấu và người tốt đều chung sống với nhau, là nơi để chúng ta bắt chước gương nhẫn nại của Chúa. Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải hóa hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại “.

Vì thế chúng ta có thể rút ra những bài học sau:

1. Cần phải có hành động khôn ngoan, thận trọng, nhẹ nhàng và đúng đắn của người gieo giống tốt, để đề phòng “kẻ thù của ông đến gieo cỏ lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất ” (Mt 13, 25). Thậm chí người gieo giống tốt có thể bị cám dỗ phản ứng với bạo lực khi áp dụng lời van xin của đầy tớ, ” nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ “(Mt 13, 27). Ông chủ thật tuyệt vời, bởi ông thận trọng thẳng thừng nói: ” Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: “Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta” (Mt 13, 29-30).

2. Chúa Giê-su, lúc sinh thời, Người đã phải đối mặt với sự hiện diện của sự dữ, các môn đệ Người cũng thế. Theo Matthêu thì cuộc đối đầu của Chúa Giêsu với sự dữ đã bắt đầu với câu chuyện thời thơ ấu lúc thánh Giuse đưa Đức Maria cùng Người trốn sáng Ai Cập để tránh cuộc thảm sát của Hêrôđê (Mt 2, 1-14). Người sẽ tiếp tục đối đầu khi bị cám dỗ trong hoang địa (Mt 4, 1-11), cũng như trong suốt cuộc đời sứ vụ công khai, và sẽ phải chiến đấu chống lại cái ác cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời (Mt 26 ; 27). Tuy nhiên, Người sẽ chiến thắng khi sống lại bởi Đức Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần (Mt 28). 

Cũng giống như Thầy mình, các môn đệ Chúa Kitô cũng phải đối mặt với sự hiện diện của cái ác. Sau đó họ phải bắt chước Thầy mình nhẫn nại cho đến thời gian thu hoạch.

3. Trước sự hiện hữu của cái ác, thái độ của các môn đệ Chúa Kitô là gì nếu không phải là chấp nhận. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn cỏ lùng để mời gọi chúng ta áp dụng một số thái độ cần phải có đối với sự hiện hữu của cái ác trên thế giới. 

Trước hết cần phải gieo trong chúng ta và xung quanh chúng ta thật nhiều hạt tốt và đặc biệt là thực hiện từng bước để gìn giữ các hạt giống tốt cho đến mùa thu hoạch như là (cầu nguyện, tĩnh tâm, làm việc lành phúc đức, giúp đỡ tha nhân…) 

Tiếp đến là phải hành động với sự khôn ngoan, thận trọng khi đối đầu với sự ác, đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần giúp sức cho, vì: “Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta ” (Rm 8, 26). 

Cần phải đứng vững trong đức tin, hy vọng và bác ái; nghĩa là chinh phục cái ác bằng việc làm tốt, theo lời khuyên của thánh Tông đồ Phaolô: “Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (Rm 12, 21).

Chúng ta hãy hướng tới Mẹ Maria với lòng tin tưởng, để Mẹ giúp chúng ta trung thành theo Chúa Giêsu, và sống như con cái của Thiên Chúa.

Về mục lục

.

NHẪN NẠI TRONG YÊU THƯƠNG

L.m Giuse Hoàng Kim Toan

Cỏ lùng và lúa rất giống nhau khi phát triển thành cây trưởng thành, chỉ khi ra bông hạt, người ta mới biết rõ đâu là cỏ lùng và lúa. Biết lúc này, người nông dân cũng không thể vào nhổ cỏ lùng được nữa, đành phải chờ cho đến khi mùa gặt mới loại ra được. 

Truyện dụ ngôn này thấm thía về ý nghĩa lòng yêu thương nhẫn nại của Chúa. Chúa biết những gì lầm lỗi của con người và Chúa chỉ mong con người sớm hối lỗi để được chũa lành.

Hết lòng tha thứ

Dường như đã nhiều lần Chúa đã buồn lòng vì sự chai đá của con người: “Nói tha thứ hay nói vác chõng mà đi đàng nào dễ hơn”  (Mc 2, 1 – 12). Con người thường hay bắt tội nhau hơn là thông cảm và tha thứ. Hành vi tha thứ là hành vi mang lại nhiều lợi ích cho thể lý và tinh thần. Thế nhưng, cuộc sống bon chen, đầy áp lực, dễ đưa con người vào chỗ buông cho tính nóng nảy, giận hờn, tức giận, thù hằn hơn là tha thứ. Chúa vẫn biết như thế nên Chúa vẫn kiên nhẫn bảo ban: “Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.” (Lc 6, 37).

Nhẫn Nại trong yêu thương.

Cuộc sống nhanh làm cho con người mất đi nhiều niềm vui đáng được hưởng. Sống nhanh, gấp gáp, điều gì cũng muốn dứt khoát, không dây dưa. Điều này tốt cũng có mặt xấu, khi ứng xử với con người với nhau nhiều khi dẫn đến nhiều rạn nứt trong tương quan và đôi khi biến nhau thành kẻ thù. Trong lối sống nhanh, về mặt xấu cũng dẫn đến loại văn hóa vứt bỏ. Nhẫn nại là một đòi hỏi: đón nhận, chịu đựng, hy sinh, tha thứ… (1Cor 13, 7 – 13).

Thời gian là phương thuốc chữa lành.

Chúa dạy yêu thương có lẽ là bài học khó nhất trong cuộc sống. Tuy nhiều người cũng được sinh ra và lớn lên trong tình thương nhưng yêu thương nhau sao lại khó thế. Nhất là trong bối cảnh Việt Nam, niềm tin vào nhau còn ít lắm, cuộc sống bon chen từng ngày, chật chội… Không còn những giá trị xưa truyền thống để lại: “Một câu nhịn, chín câu lành”, “Thương người như thể thương thân”… Sống với nhau cứ dè chừng, nghi kỵ, bởi vì nhiều gian dối quá. Yêu thương khó quá làm sao có thể chờ thời gian là phương thuốc chữa lành được, vì càng ngày càng xấu đi. Chỉ có Chúa mới dạy: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.” (Mt 13, 30).

Vẫn còn lúa tốt giữa cỏ lùng.

Dú sao đi nữa, con người vẫn còn lúa tốt giữa cỏ lùng, và ngay cả trong tâm hồn kẻ xấu vẫn có điều tốt. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người: Chỉ cần ít người công chính cũng có thể cứu thành Sodoma và Gomora, như trong mẫu đối thoại giữa Abraham và Chúa (St 18, 16 – 33), và ngay cả nơi người tội lỗi Chúa vẫn không tắt niềm hy vọng: “Từ nay con đừng phạm tội nữa” (Lc 7, 48; Ga 8, 11). Chúa dạy con người tiếp tục kiên nhẫn và cầu nguyện cho người tội lỗi, tội lỗi cần loại trừ nhưng thương xót cho tội nhân. Mỗi người đều là tội nhân vì trong mình vẫn có thứ cỏ lùng và một lần nữa Chúa cũng dạy trong kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha nợ kẻ có nợ chúng con”.

Lạy Chúa, cỏ lùng vẫn còn ở nơi chúng con, ngay cả khi chúng con sống giả hình, giả tạo, hai mặt, chưa thật lòng, thật tâm,như cỏ lùng giống với lúa. Ngay khi chúng con còn xa cách Chúa, sống hời hợt không bén rễ sâu trong lòng yêu mến Chúa để thực sự cây lúa lớn mạnh chèn ép lại cỏ lùng. 

Xin ban thêm lòng yêu mến Chúa nơi chúng con, xin cho chúng con cũng hết lòng yêu thương anh chị em chúng con, dù ngay bây giờ chưa được nhưng cho chúng con tiệm tiến mỗi ngay hoàn hảo hơn.

Về mục lục

.

CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN

Lm.Giuse Nguyễn Hữu An

Nước Trời là một mầu nhiệm, Chúa Giêsu đã mạc khải và thiết lập trong lịch sử nhân loại. Qua những hình ảnh đơn sơ, bình dị, gần gũi với cuộc sống, Chúa Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn để giảng dạy về Nước Trời.

Chúa Nhật trước với dụ ngôn “người gieo giống”, Chúa Giêsu cho thấy Nước Trời đã khai mạc. Cũng như người gieo giống đi gieo hạt trên khắp cánh đồng, Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Lời Chúa. Hạt giống ấy tăng trưởng trổ sinh hoa trái nơi mỗi người ra sao là tùy thái độ đón nhận của từng người ấy.

Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy về Nước Trời bằng dụ ngôn “lúa và cỏ lùng”. Như vậy, sau khi nói đến việc khai mạc Nước Trời, Người nói đến sự phát triển của Nước Trời trong lịch sử trần thế.

Chúa Giêsu đã khởi đầu công trình của Người với một nhóm nhỏ Mười Hai Tông Đồ. Sự khiêm tốn của “hạt cải bé nhỏ được gieo vào lòng đất bao la”. Sự khiêm tốn của “một nắm men bị vùi sâu vào ba đấu bột”. Điều kỳ diệu là “hạt bé hơn mọi thứ hạt giống” lại “trở thành cây cao bóng cả đến nỗi chim trời có thể đến nương náu nơi ngành nó”. Nắm men ít ỏi kia lại có khả năng làm dậy lên cả ba đấu bột chôn vùi nó. Cũng như vậy, Nước Trời sẽ vươn xa vươn rộng cho muôn dân nước đến nương nhờ. Hạt giống Nước Trời đã làm dậy lên cả thế giới bằng một tinh thần mới của Tin Mừng,biến đổi lịch sử trong tình thương và hòa bình.

Một vấn nạn luôn được đặt ra: Nếu Nước Trời đã được Chúa Giêsu thiết lập cách đây hơn 20 thế kỷ và nếu Thiên Chúa là Đấng nhân hậu giàu lòng xót thương thì tại sao cho đến nay cuộc sống con người vẫn đầy dẫy bất công, bạo lực, khổ đau, chiến tranh tương tàn,và xem ra sự dữ có chiều hướng gia tăng ? Đôi khi những người xấu xa tội lỗi gian manh lại giàu có sung túc trong đời sống vật chất hơn những người lành ? Vấn nạn này vẫn luôn là trăn trở khôn nguôi người Kitô hữu ở mọi thời đại ! Dụ ngôn “lúa và cỏ lùng” giải thích vấn nạn ấy.

Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt.Thiên Chúa đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện. Satan tới gieo cỏ lùng. Thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian. Người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Đang khi hạt giống được gieo giữa ban ngày thì Satan lại lợi dụng đêm tối khi mọi người đã mất cảnh giác để gieo rắc tội lỗi. Hành động thấp hèn. “Xấu” chưa chắc đã “hèn”, nhưng “hèn” thì chắc chắn là “xấu”, bởi lẽ nhiều tay “giang hồ”, bặm trợn, vẫn rất ghét thói “ném đá dấu tay”, trong khi động cơ, phương tiện và mục đích của những hành động lén lút, luôn là bỉ ổi, xấu xa và hại người. 

Thế giới này giống như cánh đồng lúa đầy cỏ lùng xen vào. Những ông thánh sống lẫn lộn với những thằng quỷ, tốt xen lẫn với xấu. Tốt như những tổ chức nhân đạo, nhân quyền, hoà bình thế giới: UNESCO, UNICEP, FAO, OLYMPIC, WORLD CUP là những tổ chức xây dựng văn hoá, giáo dục tình thương bảo vệ sức khoẻ trẻ em, phát triển lương thực thế giới, thăng tiến những tài năng, chăm lo y tế. Nhưng lại có rất nhiều những tổ chức xấu xen vào như Mafia, buôn lậu, ma tuý, vũ khí, khủng bố, trộm cướp, du đãng, buôn bán trẻ em, phim ảnh sách báo đồi truỵ… Đồ thật, hàng tốt bị xen lẫn hàng xấu, đồ giả. Người lương thiện, chân chính bị lẫn lộn với kẻ tham ô, móc ngoặc, bất lương. Những thứ cỏ lùng gai góc đó không bao giờ hết, chỉ đến mùa gặt tận thế chúng mới bị quét sạch, đốt sạch. Tận thế sẽ thiêu đốt tất cả những thứ cỏ lùng đó, những kẻ xấu, kẻ dữ đó. Còn lúa thì được gánh về, chở về kho. Những thánh nhân, những người lương thiện, công chính sẽ sáng chói trong ngày vinh quang đó, họ được rước vào nước hạnh phúc đời đời. 

Thấy cỏ lùng xuất hiện với lúa, các đầy tớ đến hỏi ông chủ : “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu ra vậy ?”.Thấy sự dữ tràn lan trên thế giới, bao nhiêu người thắc mắc: sự dữ, sự ác bởi đâu ra ? Chúng ta nhiều lần thấy gian tà thắng ngay lành, bất công thắng công chính. Kẻ ác thắng kẻ thiện, cũng thất vọng kêu trách : Sao Chúa để kẻ dữ sống lâu, mạnh khoẻ, giàu sang, may mắn, còn kẻ lành phải khổ cực trăm chiều? 

Trước những thắc mắc đó, Chúa đáp : “Kẻ thù đã làm đó!” Kẻ thù là ai ? Thánh kinh cho biết có hai thứ kẻ thù : kẻ thù ở trong ta và kẻ thù ở ngoài ta. Kẻ thù ở ngoài ta có những tên khác nhau : con rắn cám dỗ phỉnh gạt (St 3,2.13), con rồng, rắn xưa, quỷ, satan (Kh 12,9), con thuồng luồng Leviathan (Is 27,1), kẻ thù, kẻ chống đối (Mt 13,25; Lc 10,19; 2Cr 6,15). Những kẻ thù này ở ngoài con người, nhưng chúng xâm nhập vào con người sâu hiểm tới độ đồng hoá với bản tính nhân loại. Nhưng chúng sẽ bị “Thiên Thần Chúa từ trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn, bắt lấy con rồng, tức là con rắn xưa cũng là ma quỷ satan xích nó… quăng vào vực thẳm, rồi đóng cửa niêm phong lại” (Kh 20, 2-3). Nhưng một mình quỷ thôi, chúng sẽ bất lực như bất lực đối với Thánh Gióp. Chỉ khi có sự tiếp tay của ta như Eva tiếp nó, nó mới thành kẻ thù trong ta : nó trở nên kẻ nội thù ghê gớm. Nó mọc lên những cỏ lùng, bụi gai, đá sỏi, quỷ dữ (Mt 13,18-22). “Vì tự lòng phát xuất ra những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cướp, chứng gian, vu khống” (Mt 15, 19). Khi chủ cho biết kẻ thù làm đó, thì đầy tớ xin nhổ đi, chủ sợ hại đến lúa, nên ông đáp : “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt”. Thái độ của chủ thật khôn ngoan, ông kiên nhẫn chờ đợi đến mùa gặt, mới nhặt cỏ lùng đốt đi.

Có thể trong tâm tưởng nhiều người lại quy gán cho Thiên Chúa trách nhiệm về tình trạng khổ đau đó chẳng khác gì câu hỏi ngày xưa: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Vậy cỏ lùng ở đâu mà ra?” Một câu hỏi không lên án nhưng chứa đựng sự nghi ngờ.

Để trả lời cho vấn nạn đó, Chúa Giêsu đã lấy lại giáo huấn của sách Sáng Thế : Sự ác không đến từ Thiên Chúa. Ngài chỉ gieo hạt giống tốt lành vào mảnh đất người đời. Sự ác cũng không chỉ đến từ tâm trí con người nhưng nó đã có trước đó.Sự dữ cũng là một mầu nhiệm. Đối với Chúa Giêsu, con người là nạn nhân của sức mạnh mà Người gọi là ”Kẻ thù”, là ”Quỷ dữ” như cách diễn tả trong dụ ngôn : “Khi mọi người đang ngũ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng rồi đi mất”. Ở cội nguồn tội lỗi của con người,còn có một sức mạnh luôn tìm cách phá hoại công trình của Thiên Chúa và hành tung của nó rất bí mật. Đó là quỷ dữ lợi dụng đêm tối để gieo rắc tội lỗi rồi trốn đi.Thánh Phaolô đã nói về sự dữ trong thư Rôma : Công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa tốt lành.Satan đã cám dỗ Adam, Eva, Nguyên Tổ sa ngã,tội lỗi sinh ra đau khổ và sự chết rồi nó như con bạch tuộc vươn vòi vào trần thế, con người nô lệ cho tội lỗi và nhận lấy án phạt là sự chết (x.Rm 1,20 -31 ;15,12).Ma quỷ luôn có mặt để gieo rắc sự xấu.

Thiên Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hòa bình. Đẹp biết bao khi mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng thực tế lại đáng buồn thay ! Cánh đồng hòa bình tươi xanh đã bị những cỏ dại của tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sử thế giới được ghi bằng những trang buồn đau vì không lúc nào mà không có chiến tranh.

Thế giới này sẽ tươi đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần chung tay xây dựng! Nhưng thật đáng tiếc,rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc hủy hoại, tha hóa, nô lệ hóa con người. Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt. Lúa tốt và cỏ lùng lẫn lộn trên cùng ruộng lúa. Cái tốt, cái xấu đan xen trong cuộc sống hàng ngày,nhất là trong tâm hồn mỗi người. Ở đó, hạt mầm sự sống và nọc độc sự chết cùng sống chung. Mỗi con người chắc chắn đều có kinh nghiệm bản thân như Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm “Điều lành tôi muốn làm tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn làm nhưng tôi lại cứ làm ( Rm 7,19). Con người có tự do để chọn lựa cái đúng cái sai, chọn cái tốt cái xấu. Nước Trời cũng gồm những con người có tự do, thì cũng có những người xấu do chọn lựa sai lầm. Cảm nhận được sự thật ấy trong tâm hồn mình để chúng ta biết khoan dung trong cách nhìn về người khác. Sự khoan dung không đồng nghĩa với đầu hàng cái ác nhưng phát xuất từ niềm tin vững chắc vào sự tất thắng của Nước Trời: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”. Cho dù cỏ lùng có bóp nghẹt lúa tốt trong một thời gian dài, nhưng mùa gặt đến, cỏ lùng sẽ bị gom lại và đốt đi, còn lúa tốt được cất vào kho lẫm.

Cỏ lùng chẳng bao giờ thành lúa tốt được,nhưng người xấu có thể hoán cải để nên người tốt.Thiên Chúa ghét tội lỗi nhưng lại yêu mến tội nhân vì Người chờ nơi họ lòng thống hối để được thứ tha (x.Rm 2,4). Chính vì thế mà Thiên Chúa kiên tâm chờ đợi. Chờ đợi vì Thiên Chúa tin vào sự hoán cải của con người. Chờ đợi vì Thiên Chúa tôn trọng tự do lựa chọn của con người. Chờ đợi vì Thiên Chúa nuôi một niềm hy vọng lớn lao.Thiên Chúa vẫn luôn nhẫn nại đợi chờ cho đến ngày tận thế “ cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt”.

Cỏ lùng và lúa tốt nằm ở trong tim con người. Mỗi người đong đưa giữa cỏ lùng và lúa tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa Thiên Thần và Satan.Tự do chọn lựa là quyền mỗi người.Thiên Chúa vẫn chấp nhận cỏ lùng trong con người. Thiên Chúa nhẫn nại đợi chờ con người thanh luyện dần dần và hy vọng mọi sự trong họ sẽ thành lúa tốt. 

Lạy Chúa, xin cho con nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa và với tha nhân trên những nẻo đường ghập ghềnh cuộc đời, trong thác dốc tâm hồn với tất cả niềm tin và hy vọng. Amen.

Về mục lục

.

NƯỚC TRỜI CHO TA

Bông hồng nhỏ

Mưa rơi, thấm đẫm nương đồng. Lúa ngô xanh mướt, cỏ cây cùng xanh tươi một màu của sự sống. Nhìn ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên, ta nghe Lời vang vọng trong tâm hồn. Lần mở trang Tin Mừng, ta nhẩm đi nhẩm lại từng Lời Chúa, thủ thỉ xin Thánh Thần làm cho trái tim ta được mềm ra trước ánh sáng của Lời.

Hôm nay, ta được nghe Thầy Giêsu trình bày các dụ ngôn về Nước Trời. Nước Trời giống như chuyện người kia gieo giống tốt vào ruộng, nhưng đêm đến kẻ thù đã đến gieo cỏ lùng vào giữa lúa. Cả hai cùng sống chung một đám ruộng nhưng chỉ có lúa mang lại ích lợi cho chủ, còn cỏ lùng chỉ là thứ bỏ đi, cần phải thu gom và đốt đi. Ta không lạ lẫm gì với cách người nông dân miệt mài chăm sóc ruộng lúa, những mong có được mùa lúa bội thu. Bác làm cỏ, xịt thuốc cho cỏ dại chết đi, để lúa lớn lên. Thế nhưng, Con Người gieo hạt giống tốt lại không nhổ cỏ lùng đi mà để cho sống, mặc dù người đầy tớ đã hiến kế để diệt trừ cỏ lùng. Con Người không muốn vì nhổ cỏ lùng mà làm bật luôn rễ lúa. Có chăng một tâm hồn tội lỗi được hoán cải nhờ sống bên cạnh một tâm hồn ngập tràn Chúa? Người thánh thiện như chút men được vùi vào khối bột, họ nâng đỡ và yêu thương những ai lầm đường lạc lối, thế là cả khối bột dậy men. Đợi đến ngày mùa, lúa sẽ được thu vào kho lẫm còn cỏ lùng thì sẽ gom lại mà đốt đi. Thật đáng tiếc cho những tâm hồn mãi không được biến đổi.

 Thầy Giêsu giảng giải dụ ngôn cỏ lùng cho các môn đệ. Ta lắng tai nghe, lời Thầy như đang nói với chính ta: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13, 43b). Chẳng phải Lời đang đến trong tâm hồn ta và chất vấn ta đó sao? Ta là lúa tốt hay chỉ là cỏ lùng? Khi sống giữa thế gian, người tốt sống bên cạnh kẻ gian ác. Ta là ai trong số họ? Nếu ta là một người tốt, ta đã làm gì để nêu gương cho những người sống kế cận ta? Như men trong bột được “bà kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.” (Mt 13, 33), ta có trở thành chất men “dậy cả khối bột đời”?  

Như men trong bột, Lời đến và làm cho lòng người được biến đổi. Lịch sử vẫn có những con người được biến đổi cách ngoạn ngục. Một Mátthêu tội lỗi mải mê bên bàn thu thuế, được Chúa nhìn đến “xót thương và tuyển chọn”, ông trở thành một Tông đồ nhiệt tâm rao giảng cho Lời. Một Phaolô nhiệt thành bắt bớ đạo, sau cú ngã ngựa trên đường đến Đamat, ông được Chúa tuyển chọn làm Tông đồ dân ngoại. Chúa nhân lành vẫn yêu thương con người, dù chúng ta bất trung và nguội lạnh. Thánh Thần vẫn tác động trên từng tâm hồn mỗi chúng ta. Mưa vẫn rơi và nắng vẫn chiếu tỏa trên kẻ lành cũng như người dữ. Hạt mầm hy vọng vẫn được gieo xuống trên từng tâm hồn. Nước Trời thuộc về những người tin. Đức tin dù nhỏ bé như hạt cải nhưng có sức mạnh kiên vững trước phong ba. Đức tin trong tâm hồn mỗi người được Chúa ban cách nhưng không. Như cây cải mọc lên từ một hạt cải nhỏ bé và trở thành cây lớn cho chim chóc đến làm tổ thế nào, người có đức tin cũng trở thành một chỗ dựa cho những ai kém lòng tin như vậy. Sống bên cạnh một người có đức tin vững mạnh và luôn đầy tràn ơn Chúa, ta được nâng đỡ và hướng dẫn bởi gương sáng của họ. Một người xấu cũng có cơ hội trở thành một người lương thiện, và một người lương thiện cũng có thể trở thành một người xấu. Người Việt ta đã chẳng có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” đó sao. Hãy để cho Thần khí biến đổi và làm mới tâm hồn ta.

Lạy Chúa Giêsu! Con cảm tạ Chúa đã dạy dỗ chúng con. Nước Trời là niềm hy vọng của chúng con. Như các Tông đồ đến bên Chúa Giêsu để xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn thế nào, thì xin Chúa cũng cho chúng con biết năng đến với Chúa để được lắng nghe sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm Nước Trời chỉ dành cho những ai có tâm hồn bé mọn. Xin cho chúng con biết sống bé mọn là sống khiêm nhường, đơn sơ, phó thác nơi Chúa. Amen.

Về mục lục

.

NƯỚC TRỜI TRONG TA

Anna Cỏ may

Một màu lúa chín vàng lùa theo làn gió dưới ánh nắng chói chang. Những hạt lúa trĩu nặng đu đưa. Thấp thoáng những cây cỏ dại vươn mình phơi phới. Nhưng rồi đến ngày thu hoạch, những cây cỏ dại lại bị con người loại bỏ. Và đây cũng là điều mà Chúa Giêsu cũng muốn nói qua dụ ngôn “Cỏ lùng”.

Dụ ngôn “Cỏ lùng” tiếp nối cho dụ ngôn “Người gieo giống”. Ngài nói: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống trong ruộng mình” (Mt 13, 24-26). Cỏ lùng hay còn gọi là cỏ dại, là thứ cỏ mà người nông dân phải tốn hao sức lực và mất thời gian để diệt nó. Có lọai thân hình tựa như cây lúa khiến cho người nông dân rất khó nhận ra. Có loại cỏ thì khác cây lúa nên dễ nhận biết. Và chúng đã lấy hết các chất dinh dưỡng của cây. Vì thế, mọi người ngày đêm tìm cách để diệt nó. Nào là nhổ đi, hay xịt thuốc… Nhưng rồi, đến mùa thu hoạch chúng vẫn còn. Còn những cây lúa thì phải chịu đau, chịu xây xát. Như vậy, chỉ còn cách là để đến ngày thu hoạch mới diệt được tận gốc. Và Chúa Giêsu đã ví Nước Trời như vậy.

Sau khi nghe dụ ngôn, các môn đệ chưa hiểu Thầy nói. Cho nên, các ông liền đi gặp riêng Thầy để hỏi. Thấy các môn đệ tha thiết hỏi, Thầy nói: “Ruộng là thế gian, kẻ gieo hạt giống tốt là con người, người gieo cỏ lùng là Ác Thần. Mùa gặt là ngày tận thế, thợ gặt là các Thiên Thần.”(Mt 13, 37-39). Chúa Giêsu cũng muốn nói với chúng ta rằng: Nước Trời ở thế gian có sự lành và sự dữ lẫn lộn, người lành sống chung với kẻ dữ, mọi người khó mà phân biệt. Như vậy, Nước Trời cũng là nơi để tập họp nhiều thành phần trong xã hội và cùng hướng về một mục đích. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói với các Biệt Phái rằng: “Nước Trời ở giữa các ông” (Lc 17, 21).

Khi nghe điều ấy, có lẽ chúng ta có một cái nhìn gì đó về Nước Trời. Có khi chúng ta đang hoang mang, có cảm giác sợ. Nhưng may mắn thay, Chúa Giêsu cho chúng ta nghe xen lẫn hai dụ ngôn về sự phát triển vững mạnh của Nước Trời. Dụ ngôn “Hạt cải” và dụ ngôn “Nắm men”.

Dụ ngôn “Hạt cải”, cho chúng ta nghĩ đến loại rau mình ăn hằng ngày. Chúng ta sẽ có phản ứng không đồng ý với Lời Chúa. Thực ra loại hạt cải này chính là giống cải ở Giêrusalem. Chúng rất nhỏ và có màu đen. Nhưng khi được gieo xuống đất, nó mọc lên rất to và cao đến hai thước. Vì thế, Chúa Giêsu đã nói: “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải nọ lấy gieo trong ruộng mình” (Mt 13, 31-32). Ngài có ý nói rằng: Nước của Ngài thành lập khởi đầu trong âm thầm, bé nhỏ như hạt cải, nhưng sẽ vươn lên tươi tốt và mạnh mẽ. Thưở xưa, những môn đệ của Ngài là những người ngư phủ và thấp hèn. Trước khi về Trời, Ngài đã quy tụ và sai các ông đi rao giảng. Từ đó Giáo Hội bắt đầu lan rộng trên khắp thế giới.

Còn dụ ngôn “Nắm men” cho chúng ta thấy ơn Chúa hoạt động trong các linh hồn. “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy chôn vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.” (Mt 13, 33). Vậy, phải chăng Nước Trời cũng ở trong tâm hồn chúng ta nữa? Thật là mầu nhiệm.

Hai dụ ngôn mặc dù nói về sự phát triển của Nước Trời, nhưng sự phát triển ấy cũng cần thời gian, cần sức chịu đựng, nhẫn nại và sự hợp tác của chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta hãy cộng tác trong sự tin tưởng, phó thác và luôn lắng nghe, làm theo Lời Ngài dạy. Nhờ đó, chúng ta mới hưởng hạnh phúc Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu, những dụ ngôn của Ngài thật đi sát với đời sống của chúng con. Nhưng vì chúng con chưa ý thức, chưa yêu đủ, chúng con còn mải mê những chuyện vô bổ mà quên đi hạnh phúc Nước Trời. Xin Chúa hãy tiếp tục kiên nhẫn đánh thức chúng con, để chúng con hằng ngày được Lời chạm đến và tỉnh thức hơn về cuộc sống vĩnh cửu là Nước Trời mai sau. Amen.

Về mục lục

.

KIÊN NHẪN VÀ CHỜ ĐỢI

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Thường chúng ta sống ở trần gian này luôn có sự lành, sự dữ, luôn có thiện, có dữ. Lành dữ luôn xen lẫn với nhau.Thiên Chúa có người cho rằng Ngài là Đấng ở trên cao luôn khắt khe xét xử con người. Tuy nhiên, Đạo Công Giáo do Chúa Giêsu thiết lập là Đạo tình thương và tha thứ. Thánh Gioan định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu. Bài dụ ngôn lúa và cỏ lùng mà Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay trinh bày, muốn nhắc lại cho chúng ta về Thiên Chúa tình yêu và tha thứ. Dụ ngôn là câu trả lời thật công minh, rõ ràng, dứt khoát của Chúa Giêsu trước sự chai lì, cứng cổ của dân Chúa và đây cũng là câu giải đáp của Chúa Giêsu trước những thắc mắc thường xuyên của các môn đệ :” tại sao Chúa không trừng phạt nhãn tiền những kẻ làm điều gian ác ? “.

Hình ảnh Chúa Giêsu đưa ra trong dụ ngôn này :” lúa luôn luôn là lúa, không bao giờ lúa có thể biến thành cỏ dại. Còn cỏ lùng tự bản chất của nó là cỏ dại, cỏ xấu, nên muôn đời nó vẫn là cỏ xấu, nó không thể nào trở thành lúa tốt được. Nơi bản thân con người cũng có hai mãnh lực khác nhau : thiện ác xen lẫn nhau như lúa và cỏ lùng trong một thửa ruộng. Đối với con người Thiên Chúa dựng nên bản chất là tốt, tuy nhiên khi lớn lên có thể mắc phải những thói hư, tật xấu. Nhưng với ơn Chúa giúp con người có thể trở nên tốt và tốt hơn, khác hoàn toàn với lúa và cỏ lùng. Dụ ngôn cỏ lùng và lúa nói lên sự chậm giận, kiên nhẫn, chờ đợi người tội lỗi quay trở về. Vua Đavít đã cho thấy :” Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giầu tình thương “ ( Tv 102,8 ). Thiên Chúa luôn nhẫn nại, chờ đợi bởi vì trước ruộng lúa xanh tươi, nhưng lại có nhiều cỏ lùng đan xen, ông chủ thật sự rất kiên nhẫn trước sự đề nghị của các đầy tớ :” Ông có muốn chúng tôi ra đi nhổ cỏ lùng không ? “, ông chủ đã không nao núng, xôn xao mà ôn tồn trả lời :” Cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt ! “. Ông chủ đã kiên nhẫn, đợi chờ cho đến khi lúa chín vàng, đến mùa gặt, rồi khi gặt ông mới tách lúa ra một nợi và tiêu diệt cỏ lùng. 

Ông chủ trong dụ ngôn này giống như Thiên Chúa từ nhân và hay tha thứ. Trước một thế giới có muôn hình vạn trạng lành dữ, tốt xấu, thiện ác. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn, đợi chờ đến ngày tận thế, Ngài mới phân biệt người lành, kẻ dữ, như chiên và dê trong đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu 25, 1tt…nói về ngày chung thẩm. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi như xưa dân Do Thái cứng đầu cứng cổ, bướng bỉnh phản nghịch lại Ngài, tuy nhiên Ngài luôn cho họ cơ hội để ăn năn, sám hối và trở về với Ngài…Vâng, lúc nào, nơi nào và muôn thời Thiên Chúa luôn nhẫn nại, trung kiên đợi chờ và cho con người nhiều cơ hội để biến đổi nhờ ơn sủng của Chúa và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần để họ cũng được hưởng nước trời…Chúa không dung tha tội ác nào, Ngài lên án gắt gao thói giả hình của Pharisêu, Biệt phái và con người, nhưng Ngài lại khoan dung, cảm thông và tha thứ cho những người yếu đuối tội lỗi ăn năn sám hối, trở lại : một phụ nữ ngoại tình, một Maria Magđala, một Gia Kêu, một người trộm lành hay một Phêrô chối Chúa…Ngài cảm thông, tha thứ cho họ vì họ có lòng ăn năn hối cải vv…Ngài cảm thông đối với những người yếu đuối, nhưng còn tha thứ cho chinh những kẻ hành hạ, giết Ngài.

Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời của người Cha nhân hậu đón người con út trở về và tha thứ tất cả cho cậu. Chúa hiền lành đã bỏ 99 con chiên mà đi tìm một con chiên lạc vv và vv…Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nhận ra con Người hiền lành, khiêm nhượng và nhân hậu của Ngài. Tha thứ là vẻ đẹp cao quí nhất của Chúa nhưng cũng là vẻ đẹp tuyệt vời của tâm hồn của mỗi người. Tha thứ là một điều khó nhưng không phải không thực hiện được. Chúng ta cầu xin cho mỗi người chúng ta biết sống ơn tha thứ và mau mắn tha thứ cho người khác như Chúa đã tha thứ cho chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết sống khoan dung, cảm thông, nhân hậu và tha thứ như Chúa đã dạy và đã sống. Xin Chúa cho chúng con hiểu được lời Chúa qua miệng ngơn sứ Êdêkiên :” Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó thay đổi để được sống “ ( Ed 33,11 ).Amen.

Gợi ý để chia sẻ :

1.Lúa và cỏ lùng là gì ?
2.Tại sao ông chủ lại nói :” Cứ để cỏ lùng và lúa mọc lên “ ?
3.Thái độ của các đầy tớ trong dụ ngôn lúa và cỏ lùng thế nào ?
4.Ông chủ là ai ?
5.Chúa khuyên chúng ta điều gì ?
6.Kinh nào giúp chúng ta cảm nhận được sự tha thứ của Chúa ?

Về mục lục

.

NƯỚC TRỜI ĐƯỢC VÍ NHƯ CHUYỆN…

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Đoạn Tin Mừng dài hôm nay chỉ có một chủ đề duy nhất: qua một số hình ảnh dễ hiểu, Nước Trời được Đức Giê-su phác lên những nét đặc thù, mà thoạt nhìn xem ra rời rạc, nhưng nếu nhìn thật kĩ, ta mới thấy chúng bổ sung cho nhau cách hết sức chặt chẽ. Vì thế, để có thể hiểu sâu rộng hơn về các dụ ngôn này, tôi thiết nghĩ cần phải đầu tư thêm đội chút suy nghĩ nữa.

Hai dụ ngôn đầu chẳng hạn, được nhiều người giải thích như sau: sức mạnh của Nước Trời được ví như hạt cải, tuy nhỏ bé nhưng lại mọc thành cây lớn, như dúm men ít ỏi mà làm cho cả ba thúng bột dậy men, vì đó là sức mạnh của chân thiện mỹ, mà chân thiện mỹ thì không gì có thể cưỡng lại được. Giải thích như vậy thật có lý, nhưng chỉ mới dựa trên lý luận lô-gích về mặt lý thuyết; thực tế cho thấy: ngay cả giữa các tu sĩ, nhiều người còn nghi ngại về sức mạnh của gương mù gương xấu hơn là tin tưởng vào sức mạnh của gương lành hay nhân đức. Ngay cả Hội Thánh, tuy rất tự hào về các chân lý mình sở đắc nhưng nhiều khi vẫn run sợ, lép vế trước các thói đời, lạc thuyết… Vậy thì, trong suy nghĩ của Đức Giê-su, sức mạnh vô địch của Nước Trời hệ tại điều gì? Chắc chắn phải hệ tại ở điều gì khác xa thứ lô-gic thông thường lắm!

Còn dụ ngôn thứ ba thì được Đức Giê-su kể, rồi sau đó lại được chính Người giải thích, nhằm đáp ứng yêu cầu của các môn đệ. Nhiều người cho rằng, dụ ngôn này nói về tình trạng chịu vậy của người lành phải sống chung với kẻ dữ chờ ngày phán xét. Nếu quả thật là như thế thì, xem ra ý nghĩa của nó đi ngược hẳn tới độ, gần như triệt tiêu luôn hai dụ ngôn trước. Chắc chắn không thể thế được! Hơn nữa như nhiều người chúng ta vẫn hiểu: Đức Giê-su đang ví von Nước Trời giống như… hạt cải, nhúm men…, thậm chí nhiều cuốn Kinh Thánh còn đặt tiêu đề ‘dụ ngôn cỏ lùng’ dễ gây hiểu lầm: ‘Nước Trời giống như cỏ lùng’. Thực ra các dụ ngôn trên đều là các câu chuyện, và ở đây Nước Trời được ví như ba hành động chứ không phải ba vật thể; riêng dụ ngôn thứ ba (lúa tốt và cỏ lùng) Nước Trời được ví với thái độ của chủ ruộng: ông chấp nhận tình trạng sống chung tốt xấu vì một mục đích nào đó cao cả hơn nhiều. Nếu ta đọc cả ba dụ ngôn, và hiểu là ba hành động trong thế liên hoàn, và ta sẽ thấy ý nghĩa của chúng hiện ra rõ hơn; tôi xin phép thử suy diễn như sau:

Nước trời chính là lòng từ nhân của Thiên Chúa, và là một thực tại mà trong đó lòng thương xót của Người ngự trị và hành động; lòng nhân này hầu như chấp nhận, và thực tế còn như ‘mong’ cho có sự dữ, ‘đòi’ phải có sự tội trên trần gian này, mọi nơi và mọi thời đại (kể cả trong Hội Thánh, trong đời tu… và đương nhiên nơi từng tâm hồn…) Felix culpa (tội hồng phúc) mà Thánh Âu-tinh nghiệm ra là thế đấy: ‘Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt!’ Yếu đuối và tội lỗi không hề làm cho tình yêu thương xót bị giảm sút hay thu hẹp chút nào. Thoạt nhìn, lòng nhân ái có vẻ như âm thầm và rất mực khiêm tốn, thế nhưng trước tội lỗi và sự dữ, hình như nó lại càng lớn mạnh và bùng nổ mạnh mẽ hơn: ‘Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải (nhỏ bé) người nọ lấy gieo trong ruộng mình…như nắm men vùi vào ba thúng bột…’; và cũng chính trong cái môi trường tội lỗi và thấp kém đó (thửa đất đen hay mấy thúng bột chai lì) mà lòng thương xót càng chứng tỏ được sức mạnh cải tạo và biến đổi vô địch của nó, ‘cho đến khi tất cả bột dậy men’.

Lấy trường hợp thầy thuốc để minh họa, một hình ảnh mà Đức Giê-su rất hay sử dụng để nói về mình: nghề của thầy thuốc rất cần…, tới độ đôi khi gần như ‘đòi’ phải có người đau yếu bệnh tật. Người ta không gởi bác sĩ tới một nơi toàn những người khỏe mạnh, lành lặn, trái lại con bệnh càng nhiều với những chứng bệnh càng hiểm nghèo thì tay nghề của bác sĩ, không những không mai một, mà ngược lại còn phát huy và nổi danh hơn. Cũng vậy, một bác sĩ giỏi được gởi tới bệnh viện là để chữa cho thật nhiều bệnh nhân, nhất là những con bệnh nặng nhất, và ông phải ở lại đó… cho tới khi tất cả bệnh nhân hoàn toàn bình phục trước khi có thể về nhà. Nước Trời của Đức Ki-tô là như thế đó, và kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cũng là như thế đó!

Cụ thể hơn, ta thử nhìn vào trường hợp cha sở họ Ars – thánh Gio-an Ma-ri-a Vianey; một hình ảnh mà tôi đã nhiều lần chiêm ngắm trong sứ vụ linh mục của mình. Sứ mệnh mục tử tìm chiên lạc của ngài gần như đòi ngài phải được phái tới một họ đạo hẻo lánh, khô khan, nguội lạnh như cái họ đạo Ars xa xôi; và cũng chính vì được gởi tới cái họ đạo tội lỗi bê tha đó mà, từ một linh mục tầm thường vô danh Gio-an Ma-ri-a đã trở nên lừng danh thánh thiện; và vì ngài đã trung thành ở lại phục vụ chứ không trốn chạy (như đã có lần ngài muốn làm vì nản chí) mà họ đạo Ars và cả vùng lân cận dần dần được cải hóa. Có như thế, Jean Marie Vianey mới nối bước theo chân Thầy Giê-su, mới xứng danh là linh mục của Nước Trời, linh mục của Thầy Giê-su cứu độ, linh mục của Thiên Chúa nhân hậu và xót thương.

Tôi cũng không thể khác hơn! Chính vì muốn trở nên một linh mục (hay Ki-tô hữu) của Nước Trời mà tôi phải chấp nhận, và vui sướng được, sống giữa một trần gian tội lỗi, hầu nhiều người có thể nhận ra rằng: ‘Nước Trời đang ở giữa anh em’.

Lạy Thiên Chúa là chủ của Nước Trời đang được thể hiện nơi trần gian, xin biến đổi con nên linh mục của Nước Trời, để con không phàn nàn kêu trách tội lỗi của người đời, không khó chịu chán nản trước các lầm lỗi của chính con, cũng như của giáo dân con chăm sóc. Ngược lại, xin cho con biết dâng lời cảm tạ vì nhờ đó con càng được đồng hành với lòng thương xót Chúa hơn, được tiến bộ và lớn mạnh lên trong sức mạnh yêu thương, và được tham gia vào hiệu năng cải hóa và biến đổi, mà chỉ có lòng thương xót của Thập Giá mới có thể mang lại. A-men.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Tin mừng Matthêu ghi lại 3 dụ ngôn:

– Dụ ngôn lúa và cỏ lùng ghi nhận 2 thái độ tương phản nhau: Thái độ của con người (các đầy tớ) luôn đối đầu và muốn tiêu diệt những kẻ xấu. Thái độ của Thiên Chúa (chủ ruộng) bao dung, nhẫn nại chờ đợi cho đến ngày phán xét, ngày gặt lúa.

– Dụ ngôn hạt cải và men trong bột cho thấy sức phát triển mãnh liệt của Nước Trời và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Ngài không nóng vội, nhưng khiêm tốn kiên nhẫn chờ đợi cho hạt cải thành cây to và nắm men làm dậy cả thúng bột.

Bài Tin mừng hôm nay mạc khải cho chúng ta: Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chậm bất bình và rất mực khoan dung (Tv 35). Ngài là Đấng toàn năng, uy quyền, nhưng bao dung quảng đại với những kẻ tội lỗi để chờ đợi cho họ ăn năn hối cải. Sau đây chúng ta cùng nhau suy niệm về lòng nhân từ của Thiên Chúa qua dụ ngôn cỏ lung và lúa tốt.

Theo kinh nghiệm của người làm ruộng, phải làm sạch cỏ để cây lúa phát triển tốt, không có nhà nông nào lại để lúa và cỏ lùng tồn tại trong ruộng mình “xin ông chủ cho chúng tôi đi nhổ cỏ lùng”. Thiên Chúa là chủ ruộng đã không đồng ý, Ngài muốn cho lúa và cỏ lùng cùng mọc lên đến mùa gặt. Sự nghịch lý này nói lên sự nhân từ bao dung kiên trì nhẫn nại chờ đợi của Thiên Chúa để người tội lỗi ăn năn hối cải để được tha thứ.

Lòng nhân hậu và bao dung của Thiên Chúa luôn tha thứ và yêu thương, không báo thù, không phân biệt đối xử, không đối đầu, không tiêu diệt…“Ta đến không phải để giết chết, nhưng để cứu sống… Ta đến để chiên Ta được sống và sống dồi dào”. Tình thương tha thứ hoán cải con người nên tốt, thù thành bạn, kẻ xấu thành người tốt, kẻ lạ thành người lân cận.

“Lúa tốt và cỏ lùng cùng mọc chung trong ruộng”. Trong xã hội, kẻ lành người dữ, người lương thiện kẻ bất lương, người tốt người xấu luôn luôn sống chung với nhau. Ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu. Chúng ta không thể tìm được một cộng đoàn toàn là những bậc thánh nhân, những người thánh thiện. Ngay trong tâm hồn chúng ta cũng luôn luôn tồn tại cỏ lung và lúa tốt, nghĩa là có nhiều cái tốt và nhiều cái xấu. Điều thiện và điều ác luôn giằng co, xung khắc nơi mỗi người chúng ta. Thánh Phaolô dạy:“Điều tốt tôi muốn làm, tôi lại không làm. Điều xấu tôi không muốn làm, tôi lại làm”. Đó là một điều rất thực tế! không ai chối cãi. Cái mà chúng ta gọi là kẻ dữ không giống như cỏ lùng: Cỏ lùng không thể biến thành lúa được vì khác chủng loại. Nhưng kẻ dữ, kẻ xấu có thể cải tà quy chánh, có thể hoán cải trở thành người tốt nếu xã hội kiên nhẫn chờ đợi và tạo điều kiện tốt cho họ cải thiện. Chẳng hạn như Augustinô, Ignatiô, Madalena, phanxico, Charle de Foucauld là những con người tội lỗi, sa đọa, trụy lạc đã thành những vị thánh… Biết bao nhiêu người bất lương, cướp của giết người sau khi ăn năn sám hối đã trở thành những con người lương thiện ntrong xã hội. Ngược lại cũng có nhiều người lành, nếu không giữ mình, không kiên tâm tu luyện, không làm điều thiện, không cầu nguyện, không siêng năng tham dự thánh lễ, lãnh các bí tích… cũng có thể trở thành kẻ dữ, kẻ xấu trong xã hội và Giáo hội. Vì thế, chẳng ai nên tự phong mình là lúa tốt rồi loại trừ, lên án anh em là cỏ lùng. Bởi vì mang thân phận con người, tất cả đều là tội nhân trước mặt Chúa. Tất cả đều là con người bất toàn trong xã hội “nhân vô thập toàn”. Chẳng ai là thánh, là thiên thần trên cõi đời này. Vì không có tinh thần bao dung, nhân từ của Chúa, chúng ta thường kết án anh em, trừng trị ngay những kẻ ác (nhổ cỏ lùng tận gốc), ai đó làm hại ta, ta trả đũa ngay, đối đầu không muốn đối thoại. Từ thái độ bất bao dung này mà đưa đến bao cuộc khủng bố dã man, bao cảnh chiến tranh tàn khốc, bao cảnh đau thương cho nhân loại.

Chúng ta phải xác nhận điều này là nơi mỗi người có cỏ lùng và lúa. Chúng ta phải phấn đấu cố gắng loại bỏ cỏ lùng là tính hư nết xấu như chúng ta: nhậu nhẹt say sưa, cờ bạc, trộm cắp, chơi bời trác táng, nói gian, nói dối, thù oán… Phải loại bỏ cỏ lùng để lúa nơi ta phát triển tốt, chúng ta mới trở nên người tốt đạo đức hơn.

Qua lời Chúa hôm nay, Đức Giêsu mời mọi người hãy sống nhân từ, bao dung và kiên trì chờ đợi, tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp. Bao dung là biết nhìn nhận sự thật về mình và về anh em để chúng ta luôn biết thông cảm, yêu thương và tha thứ. Như thế gia đình, cộng đoàn, xã hội chúng ta sẽ được an hòa và hạnh phúc.

Về mục lục

.

SỰ KIÊN NHẪN VÀ BAO DUNG CỦA THIÊN CHÚA

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong cuộc sống, chúng ta thường xuyên đặt ra cho mình thắc mắc hay được nghe những chất vấn của rất nhiều người như: “Tại sao Thiên Chúa lại để cho người dữ sống chung với người lành mà không tiêu diệt nó đi?”; hay “tại sao kẻ ác lại gặp được may mắn, còn nhiều khi người tốt lại gặp phải thất bại?”; và “trước thực trạng đó, chúng ta cần phải có thái độ nào? Có được phép tiêu diệt kẻ dữ để làm cho Giáo Hội được trong sạch không?”.

Hôm nay, chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời cho những vấn nạn trên qua ý nghĩa của ba dụ ngôn, đó là: dụ ngôn hạt giống và cỏ lùng, dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men bánh.

Qua ba dụ ngôn trên, ta thấy rất rõ cách hành xử của con người và Thiên Chúa hoàn toàn khác nhau. Cũng qua bài học của ba dụ ngôn trên, mỗi người chúng ta cần phải có thái độ sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Trước tiên, chúng ta cùng xem cách hành xử của con người như thế nào?

  1. Cách hành xử của con người

Vì mang trong mình sự hữu hạn của loài thụ tạo, nên chúng ta không thể thoát ra khỏi sự yếu đuối, bất toàn của kiếp nhân sinh. Tuy nhiên, thay vì cần có thái độ khiêm nhường như Đức Mẹ, thánh Phêrô, Phaolô, Âu tinh…, để tạ ơn Chúa và sửa sai hầu được tốt lành hơn, hay sẵn sàng cảm thông cũng như chia sẻ, nắm lấy tay nhau, dìu nhau đứng dạy và hướng tới sự thánh thiện, thì chúng ta nhiều khi chẳng khác gì những đầy tớ của ông chủ trong “dụ ngôn cỏ lùng”, luôn tìm cách triệt hạ những kẻ yếu đuối và bất toàn, để muốn giải quyết cho nhanh hầu được yên thân, xong chuyện: “Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không?”.

Thật vậy, đã nhiều lần chúng ta không đứng về phía bao dung để tha thứ, mà lại cảm thấy khó chịu và đòi hỏi mọi người phải thánh thiện, tốt lành, trong khi đó, chúng ta không hề xắn tay áo lên để cùng nhau giải quyết.

Thái độ của chúng ta là như thế đó. Luôn muốn loại bỏ cái xấu cũng như cả con người xấu cùng lúc. Tuy nhiên, xem ra thái độ này không được đảm bảo, bởi lẽ không hợp với thánh ý Thiên Chúa muốn.

Vậy ý muốn và cách hành xử của Thiên Chúa là gì ?

  1. Cách hành xử của Thiên Chúa

Qua dụ ngôn cỏ lùng, Đức Giêsu muốn giới thiệu cho chúng ta về bản chất của Thiên Chúa là: “Ðấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (Tv 103, 8).

Vì bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, tha thứ và kiên nhẫn, nên trong mọi hoàn cảnh, biến cố, dù chúng ta suy nghĩ cách nào, tiêu cực hay tích cực, Ngài luôn tìm cách và dịp thuận tiện để hướng dẫn, dạy dỗ nhằm thể hiện tình yêu thương của Ngài và mong muốn chúng ta quay về để được tha thứ, yêu thương. Bởi vì “Ngài ghét tội chứ không ghét kẻ có tội”.Nên khi nghe đầy tớ đến xin cho phép được nhổ cỏ lùng, ngay lập tức, thay vì thái độ ưng thuận, ông chủ đã ngăn chặn ngay và nói: “Đừng, cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt… sợ rằng khi nhổ cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa”. Cách hành xử này hoàn toàn khác với cách hành xử của con người mà chúng ta đã tìm hiểu ở trên.

Thật vậy, Nước Thiên Chúa đã đến nơi hành động của người gieo hạt. Tuy nhiên, Nước ấy được lớn lên ngay trong những thử thách qua hình ảnh cỏ lùng và lúa ở cùng với nhau, trà trộn vào nhau. Thời gian từ lúc gieo cho đến lúc gặt chính là thời gian kiên nhẫn chờ đợi của Thiên Chúa trong sự bao dung, nhẫn nại, để chờ đợi con người sám hối, ăn năn.

  1. Sứ điệp Lời chúa và thái độ của chúng ta

Lời Chúa hôm nay muốn mời gọi chúng ta cần phải có thái độ như Thiên Chúa là: hiền từ, nhân hậu, bao dung và kiên nhẫn, để chịu đựng những điều xấu của người khác và dần dần tìm cách để hoán cải họ nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Đồng thời cảnh tỉnh chúng ta tránh cho xa thái độ của những đầy tớ là ích kỷ, nóng vội, bảo thủ và bất bao dung. 

Tại sao vậy? Thưa, vì chúng ta cần phải nhìn nhận rằng: “Kẻ dữ người lành đều là con cái Chúa, được Chúa thương yêu tất cả, chúng ta cũng phải thương yêu nhau và phải có thái độ khoan dung” (thánh Augustinô).

Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng: “… cho mặt trời chiếu soi kẻ dữ cũng như người lành, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương”.

Khi Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở nên hiền từ, nhân hậu và kiên nhẫn, ấy là lúc Ngài muốn chúng ta có sự bình tâm để được thanh thản ngay trong những thử thách do người anh chị em chúng ta gây nên, đồng thời đợi chờ để kẻ tội lỗi có cơ  may quay trở lại. Thật vậy, “Nước trời giống như hạt cải người kia gieo trong ruộng mình. Hạt đó bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi ngành nó”; hay “Nước trời giống như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men” là bằng chứng cho thấy thành công của sự kiên trì và chờ đợi trong hy vọng.

Mặt khác, Lời Chúa hôm nay cũng cho chúng ta thấy rằng: không vinh quang nào mà không có thập giá. Không thành không nào lại thiếu mồ hôi và nước mắt. Vì thế, chúng ta phải luôn tỉnh thức và chiến đấu, nếu không kẻ thù là ma quỷ sẽ tiến lại và thỏa sức gieo cỏ lùng là tội lỗi… vào trong mảnh đất tâm hồn, hầu làm cho lương tâm chúng ta nhuốm màu đen tối của sự ác…

Làm được điều đó, chúng ta phải trở nên khiêm tốn để lắng nghe Lời Chúa hướng dẫn chứ đừng có tai mà không nghe, có mắt mà không thấy.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đừng rơi vào thái độ khó chịu, bất mãn về những khuyết điểm nơi anh chị em. Xin cho chúng con nhận ra sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Đồng thời biết phản ánh tình yêu của Thiên Chúa qua hành động, lời nói và thái độ của chúng con. Amen.

Về mục lục

.

CHUYỆN DỤ NGÔN

Trầm Thiên Thu

Dụ ngôn là một nét đặc trưng của Kinh Thánh, bởi vì Chúa Giêsu thường sử dụng dụ ngôn để minh họa các giáo huấn của Ngài, với các hình ảnh thực tế ngay trong đời sống thường nhật nhưng mang ý nghĩa cao siêu thuộc thượng giới. Ngài ưa dùng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo. Thật vậy, Kinh Thánh xác nhận: “Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13:34; Mc 4:34). Trong các Phúc Âm nhất lãm có khoảng 35 dụ ngôn.

Thiết tưởng cũng nên “mở ngoặc nhỏ” để “nói nhỏ” rằng dụ ngôn cũng được gọi là ngụ ngôn. Tuy nhiên, hai danh từ này vừa màng ý nghĩa tương đương vừa mang ý nghĩa dị biệt.

Ngụ ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra như chuyện phiếm, nhưng vẫn chứa bài học có giá trị về luân lý, mang tính giáo dục, răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là người hoặc thần linh.

Tương tự, dụ ngôn (Anh: parable; Pháp: parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng có điều khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu dùng thể loại này, tức là Ngài dùng thể loại “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn”.

Trong cuộc sống đời thường luôn có những thái cực khác nhau, thậm chí là đối nghịch. Một trong các “cặp đôi” đó là Tốt và Xấu, hoặc Thiện và Ác. Nói theo tâm linh, đó là Thiên thần và Quỷ sứ. Đại diện phe Thiện là Tổng thần Micae (danh xưng Micae nghĩa là “Người giống Thiên Chúa” hoặc “Giống như Thiên Chúa”, đó là Thiên thần đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, là vị trưởng trong các Tổng thần, có nhiệm vụ bảo vệ, khuyến khích, về sức mạnh, sự thật và sự chính trực), đối nghịch với Quỷ vương Luxiphe – kẻ đại diện phe Ác. Luxiphe từ thần lành biến thành thần dữ, nguyên nhân là do tính kiêu ngạo – mối tội đầu thứ nhất (đối lại là đức khiêm nhường – nền tảng mọi nhân đức).

Điều tốt và xấu cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng. Cái gì tốt thì luôn luôn đẹp – gọi là tốt đẹp, nhưng cái gì đẹp thì chưa chắc là tốt. “Cái tốt” và “cái xấu” xuất hiện trong mỗi hành động, giữa hai thứ là một lằn ranh rất mong manh. Vì thế, phải luôn cảnh giác, đừng bao giờ coi thường sự cẩn trọng trong mỗi suy xét hoặc phán đoán về người khác, cũng đừng bao giờ ngừng chú ý và nghiêm khắc với từng hành động của mình – tư tưởng, lời nói và việc làm.

Với các hình thức và mức độ khác nhau, cuộc chiến giữa “cái tốt” và “cái xấu” không bao giờ kết thúc, ở bất kỳ nơi nào hoặc trong bất kỳ ai, việc của chúng ta không phải là đứng ngó và dùng niềm tin của mình để phân định ai là “người tốt” và ai là “kẻ xấu”, rồi ngỡ ngàng khi niềm tin mơ hồ ấy tan biến theo sự thay đổi của con người.

Tiền nhân đã minh định: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Ai sinh ra cũng đều là người tốt – tốt đúng nghĩa, bởi vì chúng ta được chính Thiên Chúa tác tạo nên giống hình ảnh Ngài theo Thánh Ý Ngài (St 1:26-27), thế nhưng con người có “máu tự kiêu” nên rất “chảnh”, sẵn sàng nghe lời đường mật của ma quỷ mà bất tuân Thiên Chúa, muốn “đấu tranh” với Thiên Chúa, chỉ vì ảo tưởng mà con người đã sập bẫy của nó. Chính cái tội “chảnh” đó đã làm cho con người bị “biến tướng”, trở nên xấu xa, không còn “tính bổn thiện” như trước nữa. Khốn thay!

Ma quỷ rất tinh ranh, ngày nay chúng ta thấy rõ nét ở bọn phiến quân IS. Chúng thật ranh mãnh, không hiểu sao mà chúng có thể dụ dỗ người ta không ngại đánh bom tự sát, nam giới đã đành, đáng ngạc nhiên là phụ nữ cũng “cảm tử”, thậm chí có phụ nữ còn bế cả con nhỏ khi đánh bom tự sát. Lời lẽ tuyên truyền của ma quỷ và đồng bọn của chúng thật đáng sợ. Chắc chắn cảnh giác không bao giờ thừa, đúng như Kinh Thánh cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8).

Thế nhưng lại thật là diễm phúc cho chúng ta mặc dù chúng ta quá đỗi “ngu dại”, xấu xa và khốn nạn, bởi vì Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương các tội nhân chúng ta trước sau như một, không suy giảm chút nào. Sách Khôn Ngoan minh định: “Thiên Chúa chăm sóc mọi loài. Ngoài Ngài ra, chẳng còn thần nào khác để Ngài phải chứng tỏ rằng các phán quyết của Ngài không bất công” (Kn 12:13).

Chúng ta không thể nào hiểu nổi Thiên Chúa nhưng chúng ta lại luôn ra vẻ “tây đui” (tui đây), nhưng Ngài chẳng chấp lách chi ráo trọi. Thật tốt phúc cho chúng ta! Đúng thế, Kinh Thánh giải thích thêm về Thiên Chúa: “Chính do sức mạnh của Chúa mà Chúa hành động công minh, và vì Chúa làm bá chủ vạn vật, nên Chúa nương tay với muôn loài. Khi không có ai tin rằng Chúa nắm trọn quyền năng thì Ngài tỏ sức mạnh; còn ai đã biết mà vẫn to gan thì Ngài trị tội” (Kn 12:16-17). Ông bà Nguyên Tổ đã to gan và đã bị trị tội. Chúng ta cũng “di truyền” cái loại “gen nổi loạn” đó nên lúc nào cũng chỉ muốn “vùng lên”. Tội ở chỗ là biết mà vẫn phạm, cố phạm chứ không phải là ngu phạm, khôn phạm chứ không phải là dại phạm. Thế mới đáng tội. Quả là chúng ta to gan lắm, xấu mà cứ tưởng mình tốt, dốt mà mạo nhận là giỏi, ngu mà vẫn chảnh. Ghê gớm thật đấy!

Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn luôn giàu lòng thương xót, “xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh” và “lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản”, nhưng chớ thấy vậy mà tưởng bở và khinh suất, vì “Ngài có thể sử dụng quyền năng bất cứ khi nào Ngài muốn” (Kn 12:18). Đó bài học Chúa dạy cho Ít-ra-en, và cũng là bài học dạy cho mỗi chúng ta hôm nay – những kẻ to gan, lớn mật, cũng “chẳng vừa”, vẫn dám coi Trời chỉ bằng… nắp bia mà thôi! Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì chúng ta có “máu giang hồ”, ánh mắt mang hình “viên đạn nguyên tử”, chẳng khác chi “dân anh chị” thứ thiệt, có khác chăng là chúng ta có thể giết người mà không cần vũ khí.

Khi Thiên Chúa ra tay trừng trị, không phải là Ngài “trả đũa” hoặc “hẹp hòi”, mà để dạy chúng ta bài học này: “Người công chính PHẢI có lòng nhân ái” (Kn 12:19a). Sự công chính rất quan trọng, như tấm vé vào Nước Trời, vì Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em KHÔNG ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ CHẲNG được vào Nước Trời” (Mt 5:20). Và rồi Lòng Chúa Thương Xót vẫn chan chứa trải quan bao thế hệ: “Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối” (Kn 12:19b). Chắc chắn Thánh Phaolô đã cảm nghiệm sâu sắc về Lòng Chúa Thương Xót nên mới xác định: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20). Chắc chắn nhất là chính Chúa Giêsu đã xác định với Thánh nữ Faustina: “Lòng Thương Xót của Ta lớn hơn cả tội lỗi của con và toàn thế giới” (Nhật Ký số 1485).

Có điều chắc chắn rằng, là phàm nhân thì ai cũng có “gen tội lỗi” ngay khi còn trong lòng mẹ (x. Tv 51:7). Thật vậy, “không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10:18), và Kinh Thánh còn minh định: “Chính nhân có ngã bảy lần cũng đứng lên được, còn kẻ ác cứ lảo đảo hoài trong cảnh tai ương” (Cn 24:16). Nói như vậy có nghĩa là “người công chính mà còn phạm tội mỗi ngày tới bảy lần”, huống chi những người chưa công chính – tức là còn đang ở trong tình trạng tội lỗi, vẫn “dính líu” tới “cái xấu”.

Bởi vì chúng ta còn “máu xấu”, chưa “lọc máu”, thế nên chúng ta phải biết khiêm nhường thật lòng mà “đấm ngực” và cầu xin: “Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng, giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin; lạy Chúa, xin lắng nghe lời con cầu khẩn, tiếng con van nài, xin để ý lưu tâm” (Tv 86:5-6). “Lỗi tại tôi và lỗi tại tôi mọi đàng”, chứ không phải là “lỗi tại tôi và lỗi tại bạn một phần”. Không có Thiên Chúa, chúng ta vô cùng vô duyên và khốn nạn, chẳng là chi ráo trọi. Do đó, chúng ta luôn phải cần có Ngài, bởi vì mỗi nhịp thở của chúng ta chính là sự sống do Ngài thương ban: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29).

Thánh Vịnh gia rạch ròi xác định: “Lạy Chúa, muôn dân chính tay Ngài tạo dựng sẽ về phủ phục trước Thánh Nhan, và tôn vinh danh Ngài. Vì Ngài thật cao cả, và làm nên những việc lạ lùng; chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa” (Tv 86:9-10). Cứ nhìn thiên nhiên cũng đủ xác minh. Thiên Chúa tốt lành nên chỉ tạo điều TỐT, nếu có điều XẤU là tại chúng ta, không thể “nói trại” đi là “thiên tai”, mà hãy can đảm nói rằng các “sự cố” xảy ra hoàn toàn là “nhân tai”.

Tại sao Thiên Chúa vẫn im lặng và chưa ra tay? Bởi vì Ngài vô cùng thương xót chúng ta, Ngài kiên nhẫn chờ đợi chúng ta trở về với Ngài để chính chúng ta được hưởng mọi phúc lợi, chứ chúng ta chẳng thêm gì cho Ngài. Thời gian là sự nhẫn nại Ngài dành cho chúng ta, Ngài chỉ mong chúng ta sớm biết chân thành thân thưa: “Phần Ngài, muôn lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín. Xin đoái nhìn và xót thương con, ban sức mạnh của Ngài và xuống ơn cứu độ cho tôi tớ Ngài đây, con của nữ tỳ Ngài” (Tv 86:15-16).

Kể cũng lạ, Thiên Chúa nhẫn nại nhưng chúng ta lại “nóng tính”, Ngài càng kiên trì thì chúng ta lại càng nôn nóng. Chúng ta cầu nguyện một thời gian chưa thấy “động tĩnh” gì thì vội nản chí sờn lòng, đôi khi còn trách Chúa thế này thế nọ, giận lẫy với Ngài. Quá “chảnh” luôn! Thánh Phaolô nói: “Nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8:25). Như thế mới là sống tích cực về cả ba nhân đức đối thần (Tin-Cậy-Mến), và đó cũng là cách chúng ta tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót bằng cả con người mình – chứ không chỉ đọc như con vẹt hoặc tự động như CD thu âm.

Và Thiên Chúa vẫn tiếp tục kiên trì trước sự bướng bỉnh của chúng ta. Thánh Phaolô giải thích: “Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8:26-27). Rõ ràng Thiên Chúa luôn rất quan tâm chăm sóc chúng ta, sự quan phòng của Ngài ngoài sức tưởng tượng của phàm nhân. Thế nên Thánh Vịnh gia khuyên nhủ: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37:5). Chắc chắn rằng dù chúng ta có xấu tới cỡ nào mà tín thác cuộc đời cho Chúa hướng dẫn thì chúng ta sẽ sớm nên tốt. Xin mở ngoặc: Đừng quên gương sám hối của tướng cướp Dismas, kẻ đã bị đóng đinh cùng lúc với Chúa Giêsu.

Chuyện dụ ngôn luôn ly kỳ và hấp dẫn. Tin Mừng hôm nay theo trình thuật của Thánh sử Mátthêu, gồm “bộ ba” dụ ngôn về Nước Trời: [1] Dụ ngôn Cỏ Lùng (Mt 13:24-30, 36-43), [2] Dụ ngôn Hạt Cải (Mt 13:31-32; tương đương Mc 4:30-32; Lc 13:18-19), và [3] Dụ ngôn Men Trong Bột (Mt 13:33; tương đương Lc 13:20-21).

  1. Dụ ngôn Cỏ Lùng không chỉ nói về Nước Trời mà còn là một trong các dụ ngôn cho thấy Lòng Thương Xót của Thiên Chúa rất bao la, vô hạn.

Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu ví Nước Trời như một người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, cỏ lùng cũng xuất hiện. Thấy vậy, đầy tớ thắc mắc với chủ nhân về việc gieo giống tốt trong ruộng, và hỏi về sự xuất hiện của cỏ lùng. Chủ nhân cho biết rằng chính kẻ thù đã làm điều đó. Đầy tớ đề nghị cho gom cỏ lùng lại, nhưng chủ nhân liền ngăn cản và giải thích: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”.

Dụ ngôn này cũng là một trong số ít các dụ ngôn “khó hiểu” mà chính các môn đệ đã xin Sư Phụ Giêsu giải thích. Ngài phân tích: “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe”. Lời giải thích của Chúa Giêsu rất rõ ràng, mạch lạc, không ai lại không hiểu, nhưng vẫn có những người không muốn hiểu. Vì thế, Chúa Giêsu thường nói câu này: “Ai có tai thì nghe”.

Thiên Chúa thương xót mọi người, cả người tốt và cả người xấu. Nhưng chúng ta lại ưa xì xầm với nhau: “Sao Chúa không cho lũ ác ôn bị nạn cho nó trắng mắt ra nhỉ?”. Chúng ta không thể hiểu thấu tình yêu Thiên Chúa, bởi vì lòng thương xót của Ngài quá lớn, đến nỗi sai Con Một xuống trần gian rồi “hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người” (Mt 20:28). Trong số “muôn người” đó có cả người xấu và người tốt – là người này, là người kia, là bạn, là tôi, là tất cả chúng ta – nam, phụ, lão, ấu. Chẳng vậy mà Chúa Giêsu đã từng dạy chúng ta: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5:44), và “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28).

Câu nói “Ai có tai thì nghe” [ai có tai nghe thì (hãy) nghe] là mệnh đề mà khi nghe, chúng ta cảm thấy có vẻ bình thường, nhưng thật ra lại rất thâm thúy, khiến chúng ta phải giật mình, thấm thía và đau điếng. Đó cũng là điều mà Chúa nhấn mạnh nên đã được nhắc tới vài lần (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43; Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35; và Kh 13:9). Một câu rất đáng để chúng ta phải suy nghĩ nhiều! Có (lắng) NGHE thì mới (thấu) HIỂU, mà hiểu rồi thì phải LÀM (thực hành, thực thi, hành động), chứ không thể nghe suông, chỉ nói mà không làm, hoặc dạy người khác làm mà mình không làm.

Thầy nào trò nấy. Cha nào con nấy. Cây nào trái nấy. Chắc chắn là như vậy. Chúa Giêsu cảnh báo: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai” (Mt 7:15-20; Lc 6:43-45). Với những câu đại loại như thế này, người ta không thích ai đề cập, “kẹt” lắm!

Hai dụ ngôn tiếp theo cũng nói về Nước Trời, Chúa Giêsu ví Nước Trời như Hạt Cải và Nắm Men, nhưng cả hai dụ ngôn này đều ngắn gọn, đơn giản, nhưng vẫn súc tích.

  1. Dụ ngôn Hạt Cải: “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được”.
  2. Dụ ngôn Men Trong Bột: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”.

Các môn đệ không phiền Thầy Giêsu giải thích về cả hai dụ ngôn này, bởi vì không khó hiểu. Với kinh nghiệm sống, chúng ta có thể nhận thấy rằng càng ngày càng có nhiều người tin vào Đức Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Độ, chịu chết và phục sinh. Mức độ không rầm rộ hoặc đột biến, chỉ tiệm tiến, nhưng chậm mà chắc. Hạt Cải đã biến thành Cây Cải (cây cải ở Israel to lớn chứ không như cây cải ở Việt Nam), và Nắm Men đã làm dậy men cả các Thúng Bột.

Các tông đồ đã thắc mắc, và chắc hẳn chúng ta cũng thế, rằng tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với đám đông và nói gì với họ cũng dùng dụ ngôn như vậy. Thánh sử Mát-thêu cho biết rằng như thế là “để ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa” (Mt 13:35).

Ngày xưa, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã nói: “Hãy dùng dụ ngôn mà nói với nòi phản loạn” (Ed 24:3). Vì thế mà chúng ta có thể thấy chí lý khi Chúa Giêsu bảo: “Ai có tai thì nghe”. Ai cũng có tai và có thể nghe, người điếc (thể lý) cũng có cách “nghe” của họ mà chúng ta thường nói là “nghe ngóng” (điếc hay ngóng, ngọng hay nói). Người điếc tâm hồn thì không nghe được điều tốt, đó là chứng nan y bất trị. Nếu nghe thì nghe thế nào, nghe làm gì? Đó là vấn đề quan trọng cần phải lưu tâm!

Ở đời có một điều thường thấy: “Xấu nói tốt, dốt nói chữ”. Người có tâm địa xấu thì thường nói về điều tốt để che lấp mưu mô của mình, muốn cho người khác thấy rằng họ tốt lành; người dốt thì thường nói những lời văn hoa, bóng bẩy, hoặc lý sự “cùn” để che đậy cái sự trống rỗng của mình, muốn cho người khác thấy rằng họ là người có cả “một bụng chữ”. Thùng rỗng nào cũng kêu to, và vải thưa không thể che mắt thánh. Thật chí lý khi người ta phân tích: “Đừng cái lý với kẻ say, đừng bắt tay với kẻ xấu, đừng chiến đấu với kẻ liều, và đừng nói nhiều với kẻ ngu”.

Không ai dò thấu Thánh ý mầu nhiệm và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, cũng chẳng ai hiểu nổi sự tốt lành và lòng thương xót của Ngài. Đúng như Kinh Thánh đã nói về ơn khôn ngoan mà Thánh Vương Sa-lô-môn được chính Thiên Chúa trao ban: “Sự hiểu biết của ngài bao trùm mặt đất, dụ ngôn và ẩn ngữ của ngài lan truyền khắp mọi nơi. Các bài ca, châm ngôn và dụ ngôn cũng như các lời giải thích của ngài khiến mọi xứ phải trầm trồ khen ngợi” (Hc 47:15-17). Quả thật, Thiên Chúa là vô cùng, bất biến, vĩnh hằng. Thật vậy, Thánh Phaolô đã cho chúng ta biết: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25).

Thiên Chúa và phàm nhân là hai thái cực: Thiên Chúa tốt lành tuyệt đối, còn chúng ta xấu xa vô cùng. Thực sự chúng ta rất cần nhận thức rõ như vậy để mà đừng có “chảnh” nữa, nhờ vậy mà có thể nhận tấm visa vào Nước Trời. Đối với Nước Trời, Thánh Elizabeth Ann Seton (1774–1821) có cách nói thú vị và thâm thúy: “Cửa Thiên Đàng rất thấp, chỉ những người biết hạ mình mới có thể vào được”.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con can đảm sống thiện hảo theo tiêu chuẩn của Ngài. Xin giúp con sống nhân hậu thực sự, không chỉ yêu người chung chung, mà thể hiện tình yêu đó bằng cả tấm lòng, khối óc và đôi tay, yêu hết mọi người, dù họ tốt hay xấu, nhất là những người nghèo hèn, khốn khổ, thấp cổ bé miệng. Xin thêm sức cho người đau khổ, xin ban ơn sám hối cho các tội nhân. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ con. Amen.

Về mục lục

.

NƯỚC TRỜI LÀ LỜI CHÚA GIEO VÀO THẾ GIAN

P.Trần Đình Phan Tiến

Kính thưa quý vị, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một ý nghĩa rõ ràng : “DỤ NGÔN CỎ LÙNG”. Vâng, vì thế chủ đề Lời Chúa hôm nay cũng cho chúng ta một tên gọi khác :” Nước Trời là một dụ ngôn cỏ lùng “ nghĩa rông, còn nghĩa hẹp chính là tâm hồn mỗi người Kitô hữu.

Tâm hồn của mỗi Kitô hữu chính là “ Nước Trời” mà chính Chúa Giêsu gieo vào Lời của Thiên Chúa.

Đoan Lời Chúa ( Mt 13, 24 -30) Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta một “ẩn dụ” không khó hiểu, thật rõ ràng. Một hình ảnh, một cảnh tượng “phá hoại” hay  “phá rối”, do kẻ “thủ ác” gây ra. Chúng ta hiểu ngay , đó là “ ma quỷ ”. Vâng, Nước Trời chính là điều thiện hảo, tốt lành từ thiên Chúa, mà chính Chúa Giêsu đã gieo vào, ôi thật là hạnh phúc , nếu đừng có kẻ “quấy rối”. Như chúng ta biết “ruộng “ là thế gian, nhưng, nghĩa hẹp cũng có nghĩa là “ tâm hồn” con người thế nhân. Người xưa có câu :” Dò sông, dò biển có thể dò, nhưng ai lấy thước mà đo lòng người”, hay là “Lòng người nham hiểm khôn lường”,  “ lòng người thay trắng đổi đen”, Hán ngữ có câu: “ Tri nhân, tri diện, bất tri tâm. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt”, có nghĩa, : “ Biết người, biết mặt, nhưng không ai biết được “lòng “ người. cũng vậy, vẽ cọp, thì chỉ vẽ được bộ da, không ai vẽ được bộ xương, nếu vẽ bộ xương, thì không còn giống con hổ nữa.

Như vậy, bộ mặt thế gian là “ ngĩa rộng” còn nghĩa hẹp thì “ lòng người”, vậy, thế gian chính là : “NHIỀU LÒNG NGƯỜI” họp lại thành thế gian.

Theo đó, Chúa Giêsu đến thế gian “GIEO LỜI” của Thiên Chúa vào “mảnh đất tâm hồn” của lòng người để từ đó “lòng người” trở nên thửa ruộng tốt và “lúa tốt” là Hạt giống Lời Chúa mọc lên trong tâm hồn người tín hữu, như vậy, Lời Chúa là hạt giống điều “THIỆN HẢO” sẽ trổ sinh bông hạt, đó chính là NƯỚC TRỜI.

Nhưng, Nước Trời tại thế chưa hoàn hảo, bởi kẻ “quấy rối” được phép hiện diện trong thế gian và cũng gieo điều “BẤT HẢO” vào thế gian. Thiên Chúa không sai thiên thần “diệt cỏ”, nhưng, vẫn để nó mọc lên đồng thời với lúa. Theo đó, cũng có thể nói trong tâm hồn chúng ta cũng hiện diện cùng lúc điều tốt và cái xấu.

Xấu,tốt lẫn lộn, nhiều khi khó phân định, không ít khi, nếu như không có Đoạn Lời Chúa hôm nay ( Mt 13 ,24 -30), người lành dễ ngã lòng. Nhưng, Thiên Chúa là Đấng toàn năng, tình thương và sự quan phòng thật kỳ diệu, bởi vì, Ngài là Thiên Chúa là Đâng minh chính và đây LÒNG THƯƠNG XÓT, chậm bất bình, mà giàu nghĩa nhân.Vâng , Thiên Chúa nhu mì, khiêm nhu, nhưng không nhu nhược, vì bản tính Thiên Chúa chính là như vậy, nếu Thiên Chúa không “nhu mì” thì chắc chắn không có sự sống , và sự sống viên mãn cho loài thụ tạo. Cũng từ suy luận đó, chúng ta biết được Thiên Chúa không bao giờ nhu nhược, bởi vì, Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành, không thể nào loài thụ tạo lại có bản lĩnh hơn Đấng Tạo Thành, vâng, điều ấy hoàn toàn là một lý luận hợp logic, vâng, một suy luậ thật dễ hiểu.

Từ đó, suy ra, loài thụ tạo luôn luôn cần có Đấng Tạo Thành, bởi vì, sự yếu đuối và hèn kém của thụ tạo dễ sa ngã, bởi sự sa ngã đầu tiên là tội, bắt đầu bởi sự “bất tuân”, sau đó là “dòng giống” của tội. Mầm tội là sự phản nghịch, kế đến là sự kiêu ngạo, cứ xa dần, kéo nhân thế đến sự chết, chết thân xác, và chết đời đời. Sự chết là án phạt tự nhiên, khi con người tự tách lià khỏi Thiên Chúa. Như cành cây tách lìa khỏi thân cây, như Lời minh dụ của Chúa Giêsu.

Từ đó, có ân sủng từ Ngôi Lời từ Thiên Chúa ( qua Lời phán từ nguyên thủy) là Chúa Giêsu để “CỨU ĐỘ” thế gian. Thiên Chúa vì “yêu thương” mà “CỨU “, chứ Thiên Chúa không “mắc nợ “ai. Theo đó, chúng ta thấy “Lời” từ Thiên Chúa là “nguồn sống”, vì vậy, Thiên Chúa không nổi giận và tiêu diệt kẻ” thủ ác” là như vậy.

Để “cỏ lùng“ và ”lúa tốt ” mọc lên trong mảnh ruộng thế gian ” đó cũng là Mầu Nhiệm Nước Trời. Đồng thời, để hạt giống Lời Chúa geio vãi trong tâm hồn nhân thế cùng lúc với sự “tự do” đón nhận hay khước từ “cỏ lung” là việc tự nhiên của loài thụ tạo.

Bài Đọc II , ( Rm 8 , 26 -27 ) hôm nay, thánh Phaolo cho chúng ta biết, Thần Khí Thiên Chúa ngự nơi chúng ta, nếu chúng ta biết cậy dựa và kêu cầu Ngài, thì Thần Khí sẽ cầu thay nguyện giúp cho chúng ta vì sự yếu hèn của chúng ta.

Khởi đi từ Bài đọc I ( Kn 12, 13. 16 -19) chúng ta thấy, ” … Quyền lực là nguồn gốc công bình… bởi Thiên Chúa là nguồn gốc muôn loài”.

Qua Đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy, sự nhẫn nại từ Thiên Chúa là điều công bằng và hợp lý. Thiên Chúa không hành động như thế nhân bởi vì Thiên Chúa là “NGUỒN SỐNG” chứ không phải là nhu nhược như con người nghĩ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con là những mảnh ruộng tốt để cho Lời Chúa sinh sôi, triển nở, hầu mang lại hoa trái cho chúng con , nhưng đồng thời cũng biết học theo tính kiên nhẫn của Chúa, để sống hiên ngang bên cạnh “cỏ lùng” là phương tiện của thế lực gian tà. Hầu chúng con biết sống đúng với đường lối Chúa, đó là Nước Trời ./. Amen.

Về mục lục

.

ĐIỀU TỐT ĐẸP

Lm. Jos. DĐH.

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, đó là tính độc đáo được người xưa diễn tả về loại hoa sen, dù chúng có sinh trưởng trong vũng lầy, vẫn xinh đẹp. Nét đặc trưng của tình yêu là không mùi, không mầu, ấy vậy mà hoàn cảnh giầu nghèo, đẳng cấp hay tầm thường, hào hoa phong nhã hay lẻ bóng đơn côi, tất cả đều khao khát cuộc sống này có mãi sự hiện diện của tình yêu. Không phải là thời đại hôm nay người ta mới thao thức sự “thiện toàn”, chẳng phải do trẻ khoẻ mà người ta để vẻ đẹp lôi cuốn, chính xác hơn điều “tốt đẹp” luôn bao phủ cuộc đời ta, đã xuất hiện trước khi ta được sinh ra làm người.

Dụ ngôn cỏ lùng nói tới người tốt kẻ xấu đang ảnh hưởng đến nhiều sinh hoạt và năng suất làm việc của ta, dù kinh nghiệm tiền nhân để lại vốn đầy ý nghĩa: tốt danh hơn lành áo, hoặc xấu lắm cũng quen, xinh lắm rồi cũng nhàm. Học điều hay lẽ phải nơi các bậc vĩ nhân, hãy cẩn trọng trước kẻ phàm phu tục tử, không nản lòng bỏ cuộc khi phải sống chung với người khó tính khó nết. Bao lâu ta chưa đọc ra  ý định tốt đẹp từ ban đầu của Thiên Chúa, hẳn ta sẽ thắc mắc, tại sao không nhổ cỏ lùng, tại sao chủ ruộng không đồng ý để tiêu diệt kẻ xấu ? Cỏ lùng, cỏ dại, lúa tốt, gạo thơm, ta còn phân biệt được, lẽ nào ngày sau hết Thiên Chúa công bằng sẽ không loại bỏ cỏ lùng ?

Ở đời này, nhờ khôn ngoan, nhiều người đã thành công, nhờ hiểu biết, kinh nghiệm, không ít người đã tránh được những sai sót, nhờ ý chí, quyết tâm, nhiều người đã thoát nghèo, gặt hái được vô số điều tốt đẹp. Người tín hữu lữ hành trần thế, nhờ ơn Chúa mà ta biết sống giới luật yêu thương, biết khao khát điều tốt đẹp, nhờ hiệp thông cầu nguyện, ta không ngã lòng cậy trông nơi Đấng đầy lòng thành tín thương yêu. Cỏ dại, cỏ lùng, đưa đến đầy phiền phức cho đồng lúa và tá điền, những khúc mắc chỉ được ông chủ trả lời như một phương thế hữu hiệu nhất, hãy kiên nhẫn đợi tới mùa gặt. Làm sao ta không rối lòng rối trí khi nghe nói: chơi với người xấu, sống sát gần kẻ xấu như đi giữa rừng gươm, tuy không bị thương, nhưng thường sợ hãi.

Điều tốt đẹp xưa nay vẫn được lượng định qua hình thức và nội dung, cái nhìn tích cực về độ sâu rộng của điều tốt đẹp được Chúa Giêsu diễn tả nơi dụ ngôn hạt cải và nhúm men: nhỏ, ít, nhưng tính hiệu quả mang đến thật bất ngờ, ngôn ngữ hôm nay gọi là nhỏ nhưng có võ. Ông chủ ruộng không cho tá điền biết sự nguy hại của cỏ lùng ở mức độ nào, nhưng người thợ thì hiểu ý chủ, vâng ý chủ, tin tưởng mùa gặt rồi sẽ tới. Chắc chắn ông trời ban cho ta cuộc sống không lâu dài, chậm ngắn ra sao, song ký ức về một cuộc đời: sống đẹp sẽ còn lại mãi mãi. Tình yêu Thiên Chúa gieo vào tâm hồn mỗi người, dù tin tưởng nhiều hay chỉ một chút lơ mơ, ơn ban tốt đẹp đó vẫn không hề suy giảm, nếu ta không xao lãng việc sống đức yêu thương. Tâm hồn có Chúa, sống trong tình Chúa, có thể sẽ đúng như câu thành ngữ: sống bên điều tốt đẹp như đi trong sương mai, tuy không ướt áo nhưng người mát rượi.

Ngày hôm nay, nếu ta hỏi người nông dân bạn có sợ cỏ lùng không, hẳn họ sẽ trả lời hiện tại chúng tôi có thuốc diệt cỏ, điều tốt đẹp tôi mơ ước là mưa thuận gió hoà, đến mùa gặt đừng mất giá. Nếu cho kẻ lầm than khổ cực một ước mơ, có thể họ sẽ cho ta thấy chớ gì thời gian quay trở lại, tôi sẽ chăm chỉ học tập, để trở nên người tốt, không phụ lòng mẹ cha. Nếu hỏi người tín hữu chúng ta ngay lúc này, có thể chúng ta sẽ nói chúng tôi rất sợ kẻ xấu, và rất mong muốn được ơn Chúa, được điều tốt đẹp, bình an ở mãi với gia đình, dòng tộc. Từ việc nghe dụ ngôn cỏ lùng, lúa tốt, hạt cải, nhúm men, hẳn mỗi chúng ta phải nhìn thấy sự giới hạn bất toàn của mình, phải cảm nhận được kế hoạch và tình yêu thương của Chúa qua mùa gặt ở phía trước. Sự kiên nhẫn, tấm lòng quảng đại, yếu tố thời gian và sức mạnh để đứng vững trước sóng gió cuộc đời, ta không thể sống mà thiếu ơn Chúa giúp.

Theo quy luật, cỏ lùng không bao giờ trở nên lúa tốt, nhưng tính xấu, kẻ xấu, đều có cơ hội để trở nên tốt đẹp, xứng với tình yêu thương và thời gian Thiên Chúa kiên nhẫn đợi chờ. Tính ích kỷ hẹp hòi, tâm hồn quảng đại, kẻ khô khan, người thánh thiện, tất cả đều hưởng nhờ tình yêu và ơn cứu độ của Đức Kitô, tất cả người tốt kẻ xấu đều cần biết sử dụng thời gian và tự do cách tốt đẹp nhất. Thánh Bernadette đã để lại lời cầu nguyện thật chí lý: con không cầu xin thoát khỏi đau khổ, nhưng xin Ngài đừng bỏ con trong lúc con gặp khổ đau. Trong khi đối diện với kẻ xấu ức hiếp, có thể chúng ta cũng đã từng thưa: con không dám xin Chúa chu diệt hết kẻ gian ác, nhưng mỗi lúc gặp sự dữ tấn công, xin Chúa đừng bỏ con. Amen.

Về mục lục

.

GIẾT NGƯỜI ĐI THÌ TA Ở VỚI AI?

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

“Thiên Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (x.Ed 18,23). Câu Lời Chúa thường được lặp đi lặp lại trong suốt mùa Chay thánh nói lên tấm lòng của Đấng chúng ta tôn thờ. Phụng vụ Lời Chúa ngày Chúa Nhật XVI TN A khởi đầu bằng đoạn trích sách Khôn ngoan làm nổi rõ lòng từ nhân của Thiên Chúa đồng thời gieo rắc niềm hy vọng cho tội nhân xiết bao: “Chúa xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh… Làm như thế, Chúa đã dạy dân rằng: người công chính phải có lòng nhân ái. Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối” (Kn 12,16-19). Chúng ta lại được nghe Chúa Giêsu nói thêm một số dụ ngôn về Nước Trời, đặc biệt là dụ ngôn “cỏ lùng trong ruộng” (Mt 13,24-29).

1. ĐỪNG NHỔ CỎ, KẺO NHỔ LẪN CẢ LÚA: 

Một mệnh lệnh xem ra nghịch thường, nếu có một chút hiểu biết về nghề nông và kinh nghiệm trồng lúa. “Công cuốc, công cày là công bỏ; công làm cỏ mới là công ăn”. Trước khi thuốc diệt cỏ ra đời, thì làm cỏ là một khâu không thể xao nhãng trong nghề nông. Gieo trồng mà không làm cỏ thì chắc chắn “xôi hỏng, bỏng tay”; “mất cả chì lẫn cả chài”. Ngay cả chút “giống” bỏ ra cũng chẳng mong thu lại được, nếu không chịu làm cỏ.

Theo văn phong dụ ngôn thì điều muốn nói, muốn trình bày, chỉ có một hoặc hai điều mà thôi. Và điều muốn nói thường ở nơi câu kết hoặc nơi một chi tiết nghịch thường của câu chuyện. Và ta có thể nói rằng nội dung chính của dụ ngôn “cỏ lùng trong ruộng” muốn dạy ta là đừng tự phong làm “thẩm phán” của bất cứ ai. Với lý trí suy xét và dưới ánh sáng Lời Mạc khải chúng ta có thể phân biệt điều tốt, điều xấu, hành vi chính đáng, phải đạo và hành vi bất chính…nhưng chúng ta thật khó mà quy kết ai là chính nhân, ai là quân tử. Cha ông ta đã từng truyền dạy kinh nghiệm rằng vẫn có đó nhiều người “khẩu phật mà tâm xà” và cũng có nhiều người “ngoài miệng thì nói nam mô mà trong bụng lại chứa một bồ dao găm”. Nhân sinh quan về sự nhập nhằng đen trắng, chính nhân quân tử hay tiểu nhân, mắt người phàm khó biện phân, thì Kim Dung, một cây bút nổi tiếng loại hình tiểu thuyết võ hiệp lịch sử kỳ tình Trung Hoa đã trình bày xuyên suốt qua các pho truyện của ông như “Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Đại Hiệp, Cô Gái Đồ Long…

Sau biến cố 1975, Chính quyền cộng sản đã ra lệnh bài trừ và tiêu hủy “các loại hình văn hóa phản động”, trong đó có tiểu thuyết của ngài Kim Dung. Lý lẽ đưa ra là cần minh bạch rõ ràng người xấu với kẻ tốt, phải rõ ràng “địch với ta”. Nếu không ta thì là địch. Nếu không theo cách mạng là phản động… Quả thật kiểu nhân sinh quan này tưởng rằng là triệt để nhưng thực ra là quá khích, độc đoán, một chiều… May thay, với thời gian, nhân sinh quan này hình như đang dần được chuyển hóa, đổi thay.

Con người, thường xem xét kẻ khác qua diện mạo bên ngoài, kiểu xem mặt mà bắt hình dong, vì thế, sai lầm là chuyện khó tránh. Thế mà ta lại cả gan muốn loại trừ người mà ta cho là xấu xa, là tội lỗi. Nếu giả như hễ ai đã phạm tội đều đáng bị loại bỏ, bị giết đi, thì thử hỏi có ai còn đáng sống. Và ngay chính bản thân ta cũng không đáng tồn tại. Giết người đi thì ta ở với ai? Hơn nữa, kẻ đáng giết trước hết, chính là ta!

2. HÃY BIẾT KIÊN NHẪN ĐỢI CHỜ:

Chỉ mình Thiên Chúa mới tỏ tường đâu là lúa, đâu là cỏ lùng. Chỉ có Chúa mới là Đấng thấu tỏ mọi bí ẩn tâm can con người. Thế mà Người lại chờ cho đến mùa gặt. Thiên Chúa không thích con người phải chết và cũng chẳng muốn tội nhân bị diệt vong. Chỉ một người tội lỗi sám hối ăn năn là cả triều thần thiên quốc vui mừng khôn xiết hơn chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn (x.Lc 15,7). Lượng từ bi vô biên của Chúa nào ai đo lường được. Người kiên nhẫn đợi chờ vì Người là Đấng Hoàn Thiện, là Cha từ nhân, Đấng chậm bất bình và rất mực khoan dung. Người kiên nhẫn đợi chờ vì Người biết con người là hữu thể đang chuyển thành (l’homme c’est l’être en devenir). Không một thánh nhân nào mà không có một quá khứ (quá khứ lỗi lầm), chính vì thế, chẳng có một tội nhân nào lại chẳng có thể có một tương lai (tương lai tốt đẹp). Với con người nhiều khi là không thể, vì quá khó, khó hơn cả lạc đà chui qua lỗ kim, nhưng với quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa thì mọi sự đều là có thể (x.Mt 19,23-26).

3. CHỜ ĐỢI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ NGỒI KHOANH TAY HAY ĐỨNG NHÌN:

Rất có thể có nhiều người viện cớ rằng mình có thể sai lầm trong phán đoán để rồi không làm gì cả. Và cũng có thể có nhiều người vì lười biếng hoặc nhát đảm nên vô tình phạm đến đức trông cậy khi khoán trắng mọi sự cho Chúa. Chúng ta cần khử trừ sự xấu nhưng không được phép loại bỏ tội nhân. Ngoại trừ Mẹ Maria được Chúa gìn giữ vẹn tuyền, còn chúng ta, thảy đều là tội nhân cách này hay cách khác. Tuy nhiên, trong thực tế, giữa sự xấu với người xấu nhiều khi khó phân biệt ranh giới. Hơn nữa, có khi khoan dung với người xấu thì lại vô tình để cho sự xấu lan truyền. Vấn đề thật nan giải! Một trong những cách thế xem ra khôn ngoan là chỉ lên án hay cảnh báo các hiện tượng tiêu cực cách chung chung mà không ám chỉ trực tiếp một ai để rồi “ai có tật thì giật mình”. Tuy nhiên, làm sao tránh được chuyện công luận hướng ngay về một hay những ai đó khi có một sự xấu được nêu lên và bị kết án. Đã là phương thế, đặc biệt các phương thế mang tính tiêu cực như khử trừ, loại bỏ, lên án…, thì không một phương thế nào là hoàn hảo và tối ưu.

Một kinh nghiệm nhà nông, đó là nếu lúa tốt nhanh, thì cỏ sẽ bị che rợp và khó phát triển. Cần nỗ lực sử dụng các phương thế tích cực. Hãy làm chút men nồng. Chỉ một nắm men nhỏ thì cả khối bột sẽ dậy men (x.Mt 13,33). Trong khi khoan dung, kiên nhẫn với tội nhân thì chúng ta cần nhân rộng các nghĩa cử bác ái, những hành vi đạo đức, thánh thiêng, cao thượng. Thà thắp lên một ánh nến còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối. Một cây nến, hai cây nến, nhiều cây nến…cả không gian sẽ bừng sáng và đêm tối sẽ phải lùi xa.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN_NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành

Trước sự việc cỏ lùng mọc chung với lúa, người đầy tớ thưa với ông chủ rằng: “Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không?” (Mt 13,28). Thái độ của người đầy tớ trong dụ ngôn cỏ lùng hôm nay có lẽ cũng là thái độ của đại đa số con người qua mọi thời đại: không muốn cho kẻ dữ hiện diện trên trần gian này, không muốn người lành và kẻ dữ sống chung với nhau. Vì thế, chúng ta mới thấy luật “tử hình” vẫn còn được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới.

Nhưng Thiên Chúa thì không như vậy. Người không muốn tiêu diệt kẻ dữ. Người muốn kẻ dữ, người lành sống chung với nhau cho đến tận thế, giống như Người muốn lúa và cỏ lùng sống chung với nhau cho đến mùa gặt. Tại sao Thiên Chúa lại không muốn tiêu diệt kẻ ác mà để họ sống chung với người lành? Người sợ khi tiêu diệt kẻ dữ, người ta làm tổn thương đến người lành, giống như khi nhổ cỏ lùng, người ta dễ nhầm lẫn mà nhổ luôn cả lúa chăng (x. Mt 14, 29-30). Mặt khác, Thiên Chúa là Đấng “chậm bất bình và giầu lòng khoan dung” (Tv 85,5a). Người yêu thương người lành, kẻ dữ như nhau: “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45). Người không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn thống hối để được sống (x. Ed 18,23). Người không những muốn mà còn ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối (x. Kn 12,19). Tóm lại, Thiên Chúa ghét tội lỗi nhưng lại yêu tội nhân, luôn tạo cơ hội để tội nhân ăn năn hối cải (x. Rm 2,4). Nhờ vậy, lịch sử Giáo Hội mới có Thánh Phêrô, Thánh Madalêna, Thánh Phaolô, Thánh Augustinô…Cũng nhờ sự kiên nhẫn và lòng khoan dung của Thiên Chúa mà biết bao lần chúng ta có cơ hội làm lại cuộc đời sau những vấp ngã. 

Mẫu gương kiên nhẫn và khoan dung của Thiên Chúa nhắc nhở chúng ta điều gì? 

Thứ nhất, cần phải có thái độ khoan dung và kiên nhẫn đối với Giáo Hội. Đặc tính của Giáo Hội là thánh thiện, vì do Chúa Giêsu thiết lập, nhưng Giáo Hội được làm nên bởi những con người, nên trong Giáo Hội vẫn có những con người sai lầm, tội lỗi. Cho nên, thay vì phê phán, chỉ trích, chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo Hội, cầu nguyện cho những người thuộc về Giáo Hội được thánh thiện hơn.

Thứ hai, cần phải có thái độ khoan dung và kiên nhẫn đối với những thành viên trong gia đình. Chắc chắn ai ai cũng muốn mỗi thành viên trong gia đình của mình sống tốt, hòa hợp với nhau. Nhưng vì “bá nhân bá tính”, nên không thể tránh khỏi sai sót, lỗi lầm, dẫn đến những bất bình, va chạm. Vì thế, hãy lấy đức yêu thương, tha thứ mà đối xử và chịu đựng lẫn nhau. Thánh Phaolô căn dặn rằng: “anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo.” (x. Cl 3,12-14). 

Thứ ba, cần phải có thái độ khoan dung và kiên nhẫn đối với những người chúng ta gặp gỡ hằng ngày: bạn bè, đồng nghiệp, thành viên trong các hội đoàn, thành viên trong cộng đoàn giáo xứ… Họ là những con người nên nơi họ có những điểm tốt, điểm tích cực, nhưng đồng thời cũng không thể tránh khỏi những điểm xấu, những điểm tiêu cực, vì “nhân vô thập toàn”. Thay vì nhìn những điều xấu, những điểm tiêu cực để chê trách thì chúng ta hãy nhìn những điểm tốt, những điểm tích cực để khen ngợi và khuyến khích họ. Vì tất cả mọi người đều là con cái Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã nói: “Kẻ dữ người lành đều là con cái Chúa, được Chúa thương yêu tất cả, chúng ta cũng phải thương yêu nhau và phải có thái độ khoan dung”.

Thứ tư, cần phải có thái độ khoan dung và kiên nhẫn đối với những người tội lỗi. Cỏ lùng trong ruộng thì luôn là cỏ lùng, nhưng con người xấu có thể biến đổi trở thành con người tốt, tội nhân có thể trở thành thánh nhân. Vì thế, chúng ta cũng phải làm gì đó để xóa tan “cỏ lùng” nơi những người đang sống xung quanh chúng ta. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã cầu nguyện cho tử tội Pranzini và anh ta đã tỏ dấu ăn năn trước khi lên đoạn đầu đài. Cũng vậy, chúng ta có thể cầu nguyện cho kẻ dữ, cho người tội lỗi, cho những người làm hại chúng ta…để họ có cơ hội trở về nẻo chính đường ngay.

Thứ năm, chúng ta không được lợi dụng sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, vì sự kiên nhẫn của Thiên Chúa cũng có thời hạn. 

Đối với toàn thể nhân loại, thời hạn kiên nhẫn của Thiên Chúa chính là thời gian của vũ trụ này. Vũ trụ này kết thúc thì thời gian kiên nhẫn của Thiên Chúa cũng hết. Đó chính là khi mùa gặt đến, đó là ngày cánh chung. Ngày đó, Thiên Chúa sử dụng sự sự công bằng. Ngài sẽ đến và phân chia lúa và cỏ lùng ra: “Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt : hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi” (Mt 13,30). 

Đối với từng người chúng ta, thời gian Thiên Chúa kiên nhẫn là thời gian chúng ta đang còn sống trên trần gian này. Nhưng chúng ta không biết thời gian đó là bao lâu, vì nó sẽ kết thúc một cách bất ngờ như kẻ trộm đến ban đêm (x. 1Tx 5,2), như chiếc lưới thả xuống biển (x. Mt 13,47-53). Khi thời gian kiên nhẫn của Thiên Chúa kết thúc, Người sẽ dùng sự công bằng để xét xử chúng ta. Vì thế, mỗi người chúng ta không được lợi dung sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, không được lợi dụng tự do của mình để sống buông thả theo con đường tội lỗi mà cần phải luôn sống trong ơn nghĩa Chúa, để đón chờ ngày Chúa đến trong tỉnh thức và sẵn sàng.

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì sự kiên nhẫn và khoan dung của Chúa giúp nhiều người trong chúng con có cơ hội thay đổi đời sống. Xin cho mỗi người chúng con cũng có thái độ kiên nhẫn và khoan dung như Chúa, hầu giúp anh chị em chúng con có cơ hội làm lại cuộc đời. Amen.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA LUÔN TÔN TRỌNG TỰ DO CON NGƯỜI

 Lm. Ignatiô Trần Ngà

Một số người cứ thắc mắc: tại sao Chúa không quét sạch những phường tội lỗi và hung ác khỏi mặt đất nầy? Tại sao Thiên Chúa cứ để họ ung dung sống trong tội ác và tiếp tục gây ra chiến tranh, khủng bố, áp bức, bất công? Ai làm ác, ai gây rối, Chúa cứ việc quét sạch chúng đi là thế giới sẽ được hoà bình và mọi người sẽ được sống trong hạnh phúc. Đó chẳng phải là một giải pháp đơn giản để tái lập hoà bình ổn định cho thế giới đó sao?

Để trả lời cho vấn nạn đó, Chúa Giêsu kể dụ ngôn sau:

“Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó!” Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?” Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.”

Qua dụ ngôn trên, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta biết rằng kẻ nghịch của Thiên Chúa là ma quỷ tìm cách gieo mầm giống xấu vào lòng dạ con người và từ mầm giống xấu xa ấy, sự dữ lan tràn khắp thế gian. “Người kia gieo giống tốt trong ruộng mình, nhưng khi mọi người đang ngủ thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa.”

Cỏ lùng trong ruộng mọc lên lấn lướt lúa non thế nào thì mầm giống xấu do ma quỷ gieo vào lòng người cũng bùng lên cách đáng sợ như thế.

Như những người tôi tớ, sau khi thấy cỏ lùng mọc lên lấn át lúa non, đã nài xin chủ ruộng cho đi nhổ cỏ để bảo vệ lúa, nhiều người trong chúng ta cũng ước mong Thiên Chúa dùng quyền lực của mình để quét sạch phường gian ác khỏi thế giới nầy, để nhân loại được sống trong hoà bình an lạc.

Nhưng làm như thế là ‘khủng bố’ kẻ gian ác, là tước đoạt tự do con người. Thiên Chúa nhân lành và cao cả nên Người không hề ‘khủng bố’ ai và Người cũng không bao giờ tước đoạt tự do mà Người đã thông ban cho loài người, vì nếu Thiên Chúa tước đoạt tự do con người, thì Người sẽ biến họ thành robot hoặc thành thú vật là loài không có tự do.

Con vật không có tự do để lựa chọn điều tốt hay tránh điều xấu, chúng chỉ thực hiện mệnh lệnh của bản năng và hoàn toàn bị bản năng khống chế.

Nơi con người, dù bản năng cũng mãnh liệt không khác chi nơi con vật, nhưng con người có thể dùng tự do của mình để khước từ những mệnh lệnh của bản năng, sống vượt lên bản năng cũng như những lôi cuốn đê hèn. Con người có thể tuyệt thực bên cạnh mâm cỗ thịnh soạn được dọn ra cho mình, nhưng thú vật không thể làm được điều đó vì bản năng sinh tồn đòi buộc chúng phải ăn khi đói.

Con người có thể tuyệt dục dù có thừa cơ hội để thực hiện bản năng truyền sinh; nhưng nơi con vật, bản năng truyền sinh hoàn toàn chế ngự chúng.

Khi con người biết dùng tự do của mình để chế ngự bản năng, làm chủ bản thân và thực hành điều thiện, thì con người trở nên cao cả và đáng kính. Nhưng khi con người để cho bản năng lấn lướt tự do, cam thân làm nô lệ cho bản năng hư hèn hoặc dùng tự do để chọn làm điều xấu, con người đánh mất phẩm giá cao cả của mình.

Nếu con người bị tước đoạt tự do, con người chẳng hơn gì người máy; người máy chỉ biết làm theo những gì mà nhà chế tạo đã cài đặt vào bộ nhớ của nó. Nếu con người không có tự do, con người chẳng hơn gì thú vật; thú vật chỉ biết hành động theo bản năng, theo thú tính mà chẳng có tự do để chọn làm điều tốt. Vì thế, Thiên Chúa không bao giờ tước đoạt tự do con người cho dù con người dùng tự do của mình để gây ra điều ác đối với đồng loại cũng như để phỉ báng Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và thông ban tự do cho mình.

Nhưng nói thế không có nghĩa là Thiên Chúa làm ngơ để mặc loài người đi vào con đường lầm lạc. Thực ra, Người luôn dùng Tin Mừng và giáo huấn để soi sáng, để cảm hoá, để cảnh tỉnh con người và Người luôn kiên nhẫn, rất kiên nhẫn chờ đợi họ hồi tâm quay lại đường lành: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.”

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con tự do vì chỉ khi có tự do, chúng con mới thật sự là người, mới xứng đáng là hình ảnh của Chúa.

Chúa cũng không bao giờ tước đoạt tự do mà Chúa đã thông ban cho chúng con vì không muốn chúng con sống như người máy hay như thú vật.

Xin cho chúng con biết sử dụng tự do của mình mà tránh dữ làm lành để nhờ đó, chúng con làm cho mình trở thành người thật sự tự do, có phẩm chất cao đẹp và thánh thiện.

Về mục lục

.

HÃY ĐỂ CHO CHÚNG LỚN LÊN CHO ĐẾN MÙA GẶT

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

Lại một lần nữa, đoạn Tin Mừng tuần này cho chúng ta hình ảnh đám cây âm thầm phát triển giống như Vương Quốc Thiên Chúa triển nở từ từ trong lòng chúng ta. Câu chuyện ngụ ngôn khá đặc thù của Mathieu (13:24-33) nói về lúa mì và cỏ dại mọc chung với nhau, nhưng chủ vườn không cho thợ nhổ bỏ cỏ dại vì sợ khi nhổ cỏ dại rễ của lúa sẽ bị động.

Cỏ dại ở đây là cỏ lùng (c. 25) nó thường mọc gần gốc lúa, trông giống như lúa nhưng lại làm hại lúa vì ăn mất chất bổ dưỡng của lúa. Chủ nhà là Chúa Giesu không muốn thợ tách rời cỏ dại khỏi lúa khi chúng đang mọc là có ý khuyên các môn đệ đừng đoán xét kẻ có lỗi, cho họ có tội và loại ra khỏi cộng đồng hay vương quốc. Chỉ một mình Chúa mới có thể phán xét và loại bỏ kẻ tội lỗi. Lúc khởi đầu cỏ lùng có vẻ vô thưởng phạt. Chúa luôn nhẫn nại khuyên răn kẻ có tội ăn năn thống hối. Ở đây chúng ta học được bài học của Chúa là cứ để cho cả thiện và ác cùng tự nhiên lớn lên với nhau.

Tính con người là thiếu kiên nhẫn nên thường hỏi Chúa: “Vậy phán xét sau cùng của Chúa là gì, và dựa vào đâu? Khi nào Chúa mới tỏ quyền uy của Chúa để luận tội kẻ thù? Còn bao lâu nữa Chúa mới tỏ lộ diện mạo Chúa cho chúng ta? Khi bị lún xâu vào vũng bùn tội lỗi, chúng ta thường tỏ ra ngoan cố không muốn trở về đường ngay nẻo chính và Thiên Chúa thì yêu điều thiện hơn là ghét bỏ điều ác.

Câu 30 là một ẩn dụ về thời phán xét chung (Gr 51:33; Ge 4:13; Hs 6:11). Giống như người reo hạt giống trên mọi chỗ mà ít có hy vọng đạt kết quả, Chúa Giesu cũng luôn luôn mở rộng đường dây liên lac với những ai biết lắng tai nghe, mở mắt mở lòng đón nhận Lời Chúa.

KẾT QUẢ VĨ ĐẠI CỦA VƯƠNG QUỐC NƯỚC TRỜI

Dụ ngôn hạt cải (Mc 4:30-32; Lc 13:18-21) và men trong bột cho thấy sự tương phàn giữa hạt cải nhỏ bé và cây cải to lớn khi đã phát triển tượng trưng cho sự bành trướng rộng lớn của vương quốc. Hạt giống trong tay chúa Giesu thì nhỏ xíu, chẳng có gì là ghê gớm, nhưng Chúa lại nói Vương Quốc Thiên Chúa cũng giống như vậy. Phải chăng Chúa muốn khuyến khích an ủi Giáo Hội sơ khai lúc đầu phát triển xem ra có vẻ chậm chạp lại bị truy nã cấm cản. Từ một hạt giống nhỏ bé nhưng lại sinh ra cây đại thụ là Vương Quốc Thiên Chúa và Lời Chúa. Sự nhẫn nại cần phải có khi gặp gian nan lúc khởi đầu. Chúa Giesu bảo đảm với đám đông là kết quả sẽ có và người chủ trại sẽ xuất hiện vào mùa gặt. Sự lớn mạnh của Vương Quốc chính là kết quả của quyền lực Thiên Chúa, không phải của riêng chúng ta. Từ một hạt cải nhỏ tí lúc khởi đầu, nhưng sau cùng Vương Quốc Thiên Chúa lại là một cây đại thụ, chim trời có thể đến trú ngụ (Mt 13:32).

HÃY NHẪN NẠI CHỊU ĐỰNG VÀ CHỜ ĐỢI

Thư thánh Phaolo gửi tín hữu Roma (8:26-27) nhắc nhở chúng ta là vinh quang dành cho những người tin Chúa Kito thì to lớn hơn cả những đau khổ mà họ chịu đựng. Ngài coi số phận của thế giới có liện hệ với tương lai của những ai có niềm tin. Hình phạt đổ lên đầu những kẻ tội lỗi và tha hóa ghê gớm thế nào thì phần thưởng cứu độ cũng vinh quang ở tương lai cho những ai biết nghe và thực hành Lời Chúa như vậy. Chỉ có nhẫn nại chờ đợi mới có được mùa gặt trọn vẹn do ơn phúc Chúa Thánh Thần ban.

NHẬN BIẾT VƯƠNG QUỐC NƯỚC TRỜI

Khi khởi đầu mục vụ Chúa Giesu đã tuyên bố: “Nước Trời đang ở trong tầm tay.” Nhưng các môn đệ vẫn cứ thắc mắc hỏi “Khi nào thì vương quốc đến? Làm sao mà nhận ra được vương quốc?” Chúa Giesu thường trả lời là với con mắt trần tục nhận biết Nước Trời thì khó. Nước Trời đang ở trong “tầm tay” nghĩa là nó cận kề và đến một cách bất ngờ. Rõ ràng Chúa cho biết Nước Trời thể hiện dưới hai dạng: Phép lạ chứng tỏ quyền năng Chúa vượt trên tội lỗi và ma quỉ. Những dụ ngôn Chúa kể cho thấy hình thức của Nước Trời. Nhiều người cho rằng Nước Trời là nơi không có ác quỉ, tội lỗi, xung khắc, hận thù, ghen ghét, buồn phiền, lo lắng, sợ hãi…Phải chăng là một ruộng lúa không có cỏ dại, một thế giới không có chiến tranh, một con người không buồn phiền lo lắng, không ghen ghét hận thù, sợ hãi, vô cảm và thất vọng? Hay một nơi, một đời sống giống như bãi chiến trường đầy dẫy tranh chấp vật lộn để sống còn như những bất công và cỏ dại đang làm ngộp thở và giết chết chúng ta.

Chúng ta mơ một một thế giới không chiến tranh hận thù, có đủ danh vọng của cải vật chất, nhưng thế giới đó không bao giờ có ở thực tế trần gian này, và cho rằng có nó đi nữa chúng ta cũng chẳng bao giờ được thỏa mãn. Vì không được thỏa mãn, hy vọng đó sẽ biến chúng ta thành nô lệ, nạn nhân của thất vọng và vô vọng.

Để thành lập vương quốc, Thiên Chúa đã phá vòng vây đó đi vào khung cảnh loài người qua con người Giesu thành Nazaret. Đây là một tiến trình  tạo thành Vương Quốc Thiên Chúa một cách tiệm tiến và trọn vẹn. Chúa  Giesu là Thiên Chúa sẽ đập tan mọi quyền lực ma quỉ. Nước Trời giống như hạt cải nhỏ bé trong tay Chúa nhưng khi nó nảy mầm lớn lên thì lại thành một  đại thụ làm nơi ẩn náu cho chim trời.

ĐỐI LẬP VÀ DỬNG DƯNG VỚI LỜI CHÚA

Để cho Lời Chúa bắt rễ cần phải phấn đấu chống lại kẻ thù là ma quỉ chuyên reo cỏ dại vào đồng lúa. Thánh GH Gioan Phaolo II, trong buổi triều yết chung ngày 25-9-1991 đã đề cập trực tiếp về vấn đề này

Chuyện dụ ngôn này cho thấy thiện và ác luôn luôn đồng hành trà lộn với nhau trong thế giới, trong cộng đồng, trong cuộc sống và trong chính lịch sử của Giáo Hội. Chúa Giesu dạy chúng ta phải nhìn việc này với thực thể Kito giáo và hành sử từng vấn đề với những nguyên tắc trong sáng nhưng cũng phải cẩn thận và nhẫn nại. Điều này phỏng định một viễn kiến tuyệt vời về lịch sử, trong đó mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa, và mọi kết quả cuối cùng cũng đều là công việc của Chúa Quan Phòng. Tuy nhiên định mệnh cuối cùng -vào chiều kích thời cánh chung- của thiện và ác thì không thể che dấu được nữa.  Nó tượng trưng cho hành động thu nhặt lúa để vào lẫm, còn cỏ dại thì đem quăng vào lửa để đốt đi.”

CỎ DẠI TRONG GIÁO HỘI

Tại đại hội giới trẻ thê giới ở Cologne, Đức, Benedict XVI đã tuyên bố:

Tại đây, chúng ta khám phá ra được nỗi vui mừng trong một gia đình rộng lớn bằng cả thế giới, gồm có thiên đàng và trần thế, quá khứ, hiện tại, tương lai. Giáo Hội có thể bị chỉ trích bởi vì trong Giáo Hội có cả lúa và cỏ dại, nhưng cũng an ủi là chúng ta nhận ra được cỏ dại. Với phương cách này, dù là bất toàn chúng ta vẫn còn hy vọng tìm ra trong số những môn đệ của Chúa Giesu những người gọi là tội lỗi.”

Năm năm sau, vào ngày triều yết chung hàng tuần, Biển Đức đã nêu lên hình ảnh cuộc sống thiêng liêng của thánh Gioan Leonardi. Thánh Leonardi (1541-1609) và thánh Philip Neri (1515-1595) là hai linh mục rất khiêm tốn đã quyết tâm cải cách giới giáo sĩ ở cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII. Neri thành lập “nguyện xá”, một cộng đồng các linh mục và Leonardi thành lập một dòng tu và một chủng viện với mục đích duy nhất là cải cách giới giáo sĩ. Cả hai vị đều làm mục vụ cho dân thành Roma trong thời gian dịch cúm thường xuyên xẩy ra. Neri sống sót còn Leonardi thì chết vì dịch cúm năm 1609.

Trong bài nói chuyện đó, Biển Đức nhắc nhở chúng ta là cỏ dại và lúa sống cận kề nhau: “Thánh Gioan Leonardi có một cuộc sống thiêng liêng khác mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây. Vào nhiều dịp khác nhau ngài muốn xác nhận là cuộc sống va chạm với chúa Kito thường xẩy ra trong Giáo Hội của ngài, thánh thiện nhưng yếu duối, bắt rễ trong lịch sử và đôi khi tỏ lộ trong bóng tối, ở đó cỏ dại và lúa vẫn phát triển bên cạnh nhau (Mt 13:30), dù luôn luôn có bí tích cứu chuộc. Vì biết rất rõ Giáo Hội là cánh đồng của Thiên Chúa (Mt 13:24), thánh Gioan cũng không bị xúc động vì sự yếu đuối con người của Giáo Hội ngài.  Để chiến đấu chông cỏ dại, ngài tuyển chọn những loại lúa giống tốt, nghĩa là ngài quyết định yêu mến Chúa Kito trong Giáo Hội và giúp Giáo Hội ngày càng trở thành dấu chỉ trong sáng của chúa Kito. Ngài nhận xét Giáo Hội cách rất thực tế vì con người là yếu đuối nhưng ngài cũng nhìn Giáo Hội như là cánh đồng lúa của Thiên Chúa, một khí cụ của Thiên Chúa để cứu chuộc lòai người.

Và đó không phải là tất cả, ngoài chuyên yêu mến Chúa Kito, ngài làm việc không biết mệt mỏi để thanh tẩy Giáo Hội, làm cho Giáo Hội ngày càng tươi đẹp và thánh thiện hơn. Ngài đã nhận thức được là mỗi một cải tiến phải được thực hiện trong Giáo Hội và không bao giờ chống Giáo Hội. Thánh Gioan Leonardi là ngoại lệ và là gương sáng vượt thời gian. Dĩ nhiên mổi cải cách liên hệ đến tổ chức Giáo Hội, phải đưa lại hiệu quả hàng đầu là do lòng tin. Chí có các thánh, nam nữ, là đấng được thần Linh Thiên Chúa hướng dẫn mới sẵn sàng có những quyết định can đảm cải đổi tận gốc rễ dưới ánh sáng Phúc Âm, canh tân Giáo Hội và đóng góp xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.”

Về mục lục

.

SỐNG CHUNG VỚI LŨ LỤT

JM. Lam Thy

Cứ đến mùa mưa là Saigon lại được nếm mùi lụt lội. Càng chống lụt thì lụt càng tăng. Trước đây chỉ có khoảng 1/4 diện tích thành phố bị chìm trong nước mỗi khi mưa lớn; nhưng ngày nay thì có tới 3/4 thành phố chịu cảnh lụt lội. Đồng bào miền Tây Nam Bộ thì năm nào cũng vậy. cứ tới mùa mưa là phải “sống chung với lũ”. Nói tới chuyện sống chung với lũ, lại nhớ đến chuyện “sống chung với cỏ lùng”. Cỏ lùng ở đâu ra mà phải sống chung với chúng? Bài Tin Mừng Chúa nhật XVI/TN-A (Mt 13, 24-30), Thánh sử Mát-thêu đã trình thuật câu chuyện Đức Giê-su kể cho dân chúng nghe dụ ngôn “Cỏ lùng”: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó!” Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?” Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.”

Trở lại với bài Tin Mừng Chúa nhật trước (CN XV/TN-A – Mt 13, 1-23) xem thử cái mảnh đất nội tâm (tâm địa) của con người đã đón nhận những hạt giống từ tay “Người gieo giống” như thế nào? Nó có thể khô khan như bên vệ con đường cái quan, để hạt giống gieo xuống không bén rễ được, rồi thì chim chóc đến tha đi mất; có thể là khu đất cằn cỗi, đầy sỏi đá để hạt giống gieo xuống rễ bám chẳng sâu, cũng đến khô héo dưới nắng thiêu mà thôi; có thể là nơi gai góc um tùm, hạt giống có nẩy mầm cũng khó mà trưởng thành cho nổi, nếu không muốn nói là sẽ bị chết nghẹt (Mt 13, 4-9). Tuy cũng còn những mảnh đất tốt nên hạt giống “sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.” (Mt 13, 8); nhưng nói chung thì mảnh đất tâm linh (tâm địa) của con người vẫn thê thảm lắm! Và vẫn rất cần Đức Ki-tô – Người chuyên dùng dụ ngôn để dạy các môn đệ – giảng cho hiểu: 

“Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống. Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 18-23). Rõ ràng Người Gieo Giống thì vì lòng thương yêu rộng khắp, đem hạt giống Lời rải đều trên mọi mảnh đất tâm linh. Còn những mảnh đất tâm linh ấy đón nhận hạt giống như thế nào thì là do chủ thể tự ý quyết định. Vì thế nên mới sinh ra nhiều cảnh trớ trêu như vậy. 

Đón nhận hạt giống tốt mà còn như thế, thì tránh sao khỏi bàn tay “kẻ thù đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa”! Chính vì thế nên cái thửa ruộng lòng người đã đầy cỏ lùng mà chủ sở hữu không tự biết; cho dù có biết cũng không thể dùng sức mình mà làm sạch được cỏ lùng, đành để đến mùa gặt, “ông chủ” sẽ có biện pháp xử lý. Vậy thì chỉ còn cách sống chung với cỏ lùng thôi. Cũng chẳng khác cảnh sống chung với lũ, nhờ sống chung sẽ biết rõ được diện mạo, nhận chân được những nguy cơ do chúng đem lại, có thể tránh được, có thể ngừa được. Hãy học kinh nghiệm nơi những người sống chung với lũ: Có sống chung với lũ mới biết được lũ lụt lợi hại như thế nào. Vậy có sống chung với cỏ lùng mới biết rõ diện mạo cỏ lùng. Nói cách khác, đây chính  là dịp để học hỏi. Học nơi những kẻ tốt lành, đồng thời cũng tìm hiểu nơi những “kẻ thù của ông chủ” đầy ác hiểm để rút ra những bài học kinh nghiệm. Về phương diện này, bởi chúng ta là những con người trưởng thành, có ý thức, cần tìm hiểu để biết rõ được những hành vi như vậy là tội lỗi, là ác độc, mà tự răn mình hầu tránh xa, đề phòng những thói hư, tật xấu. 

Còn nhớ Đức TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt (hồi còn là Tổng Giám Mục TGP Hà Nội, đầy kinh nghiệm “sống chung với cỏ lùng”) trong một bài giảng về đề tài này, ngài cũng dạy: “Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Tê-rê-sa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.” Vậy thì “sống chung với cỏ lùng” cũng giống như “sống chung với lũ lụt”, nếu là con người quả cảm, thì đó chính là dịp trui rèn để nên người công chính như “lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Thật vậy, “Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.” (1Pr 1, 6). 

Ôi! Lạy Chúa! Cái thửa ruộng tâm hồn của chúng con khi Chúa ban cho thì thật màu mỡ tốt lành, nhưng chúng con đã để cho ma qủy làm cho khô cằn, chai đá, cỏ lùng rậm rịt. Xin Chúa thương ban cho chúng con ơn sáng suốt để phân biệt được đâu là cỏ lùng và những nguy hại của nó, đâu là những nhánh lúa tốt lành có thể trổ sinh 30, 60, 100. Xin Chúa ban cho chúng con có đủ dũng khí, can đảm để “sống chung với cỏ lùng” không phải là để hùa theo, a dua, mà là để có cơ hội sống ngày một tốt hơn ngay bên sự dữ hằng rình rập. Chúng con vững tin rằng, đến mùa gặt “Ông Chủ Trời” (Thiên Chúa) sẽ “gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi”. Chỉ đến khi đó, chúng con mới xứng đáng được Chúa “thu vào kho lẫm” Nước Trời.

Vâng, lạy Chúa, “Con vẫn trông cậy Chúa, lòng con tin tưởng nơi Ngài. Con hy vọng vào Ngài, đời con nương bóng Chúa thôi. Con xin trao về Chúa niềm tin và ước mơ này được quên đi những âu lo tìm vui theo bước chân Cha. ĐK: Con luôn trông cậy Chúa khác nào em bé ngủ yên trong tay mẹ hiền bên lời yêu mến. Tình Chúa mãi mãi theo con, cho tâm hồn dù trong mưa gió, mãi mãi bình yên, mãi mãi bình yên.” (TCCĐ “Trông cậy Chúa”). Amen.

Về mục lục

.

LÚA – CỎ LÙNG, HẠT CẢI VÀ MEN

Lm. Jos. Uyen Nguyen

Bước vào CN 16 TN A hôm nay, Kitô hữu được nghe GH trích thuật lại ba dụ ngôn khác trong loạt bài giảng gồm bảy dụ ngôn của ĐGS. Theo đó ĐGS mượn những hình ảnh xác thực quen thuộc có trong thực tế dễ thấy làm nền cho giáo huấn của Người. Hình ảnh lúa cỏ lùng, hạt cải và men. Hạt cải và men được ĐGS sánh ví với Nước Trời, như Người nói trong cách lập ngữ: “Nước Trời cũng giống như chuyện…” trong các câu 24,31,34. Riêng dụ ngôn người gieo giống, Người nói khác đi, vì đó là điểm nhấn mang nội dung giáo huấn trọng yếu mà ĐGS muốn loan truyền. Người gieo giống không gieo cỏ lùng, nhưng cỏ lùng vẫn mọc lên và sống cộng sinh đan xen với lúa từ khi nào chẳng ai hay biết. Cỏ lùng là mối nguy hại gây hoạ cho cây lúa.

Ý nghĩa các biểu tượng mà ĐGS đã mượn để diễn tả tư tưởng của Người?

Cỏ lùng, như ĐGS giải thích, là thứ ngoại lai độc hại, không mấy lợi ích cho con người, chỉ để làm thức ăn cho chiên bò, vì gây hại mọi thứ cùng sống chung với nó, như cây lúa hay hoa màu khác chẳng hạng! Xét về hình dạng, cỏ lùng và cây lúa chẳng mấy khác nhau. Cả hai hình dáng giống nhau khó phân biệt. Cây lúa vốn dĩ mõng dòn, biểu tượng cho người lành có lòng yêu thương khiêm nhường. Cỏ lùng mạnh mẽ, lấn át, hống hách, biểu tượng kẻ xấu do quỷ xui khiến. 

Hạt cải, ai cũng biết, thứ hạt nhỏ nhất. Tuy nhiên khi tiếp đất, gặp môi trường thích hợp, hạt cải phát sinh, triển nở lớn thành cây to không tương xứng với hạt, như ĐGS đã nói ‘Nó lớn lên to đến nỗi chim trời đến tá túc làm tổ trên cành nó’(c.32). Về sinh thái hạt giống đã rõ, âm thầm nãy sinh, im ả lớn lên như câu danh ngôn từng nghe: “ Hạt giống rừng âm thầm mọc lên thành khu rừng bạt ngàn không chút ồn ào rúng động. Một cây rừng đổ ngã, lại làm cho cả khu rừng náo động vang rền”.

Men, một dạng tổng hợp sinh học lành tính được tạo ra để xử dụng, thường dùng làm dậy men các thứ làm nên thức ăn thức uống. Đăc điểm của men cùng mang tính âm thầm tác động làm dậy lên mới môi trường mà nó hiện diện.

Các bài học được rút ra:  

Lúa cỏ lùng biểu tượng cái lành cái dữ. Cỏ lùng, hình ảnh tội lỗi, do kẻ thù của TC gây nên nơi mỗi người hay giữa mọi người. TC không gieo hay tạo ra cỏ lùng, mà gieo lúa. Quỷ gieo điều xấu xa là tội. Con người nguyên thủy, tính bản thiện. Trên cõi đời, sau khi tội vào cuộc, mọi sự bị khống chế. Không còn có gì là bền vững. Nơi mỗi người, nay có thể tốt mai ra xấu. Giữa có kẻ tốt có kẻ xấu. Ngạn ngữ có câu: ‘Bảy mươi chớ khoe mình lành’. Nơi CƯ, tiên tri Giêrêmia đã chỉ: ‘Lòng người bất trị, khó lường’ (Gr. 17,19). Khó lường bời tính yếu đuối, ước muốn xấu xa, tình dục, điều kiện và môi trường sống, tất cả do ác tính như nọc độc của tội đã mang lấy. Trong cảm nghiệm, sách Giảng Viên Cựu Ước nói:‘Mọi sự đều phù hoa, hôm nay trăng tròn, mai trăng lại khuyết’(x. Gv 3,19). Người đời cũng chỉ ra: ‘Đời trần là cuộc bể dâu’. Triết học Mác-Lê cũng nêu bật, mọi sự thể không chỉ ‘tự phủ định’ mà còn thay thay đổi đổi khó lường. Do vậy về mặt hiện sinh, để nên tốt cần có được ơn khôn ngoan, sự phân định, biết khắc phục mình từng bước để cải hóa, khả thi cảm thông với tha nhân trong tinh thần cảm thông nhẫn nại.

 Hạt cải và men biểu tượng những cái gọi là xem như vô tích sự, nhưng lại thừa thãi sức mạnh năng động, vì chúng diễn tả Nước Trời. Cả hai khi phát động ra ngoài nên hữu ích. Cái xem như vô tích sự ấy ắt đòi thời gian chờ xem, không cho phép nôn nóng. Vì với tính năng động, âm thầm thao tác nội tại, hai thứ này biến đổi mọi sự. Bài học từ hạt cải và men liên kết mật thiết với bài học từ lúa và cỏ lùng. Hạt cải và men là bài học đợi chờ trong niềm cậy trông, như đợi lúa và cỏ lùng đến mùa vụ. Sự kiên trì và nhẫn nại là hai yếu tố thiết cần ở đây, với sự đợi chờ và hi vọng ơn trời cùng bao nỗ lực nhân linh, mọi sự sẽ được thay đổi. Sự thay đổi đó ắt là sự biến đổi thăng hoa.

Với hai chiều kích của sự kiên trì.

Với chính mình, mỗi người trong cõi đời, cần nhận ra mình là ai, hiện ở, rồi cố sống thực với chính mình là đang hiện diện trước nhan TC. Sự hiện diện kiên vững theo mô hình ĐGS đã sống trong trần gian, kiên vững trong bản thiện: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội nào?” (Ga.8,46). Thái độ ấy tốt, mặc cho cuộc trần thay thay đổi đổi mà mình vẫn vững vàng. Tuy nhiên sự vững vàng ấy không là sự vững vàng cô độc mà trong liên kết: TC và nhân linh. Tình liên đới xuất phát từ tình yêu, thứ tình yêu ‘làm một trong TC và với nhau’. ĐGS cũng thế! khi sống ở trần gian, mặc cho cuộc trần vạn biến, Người vẫn vững vàng sống bản thiện như Người mời gọi: “Tôi với Chúa Cha là Một…Hãy ở lại trong Tôi” (Ga.10,30).

Với tha nhân, cảm thông và hiểu người là điều hệ trọng. Nhiều lời nói dân gian, xưa cũng như nay, nói để giáo hóa con người, mời gọi kiên nhẫn chờ đợi như chờ thời mùa vụ đến.  Trước hết, con người không để mình dễ dàng cuốn theo cảm tính bốc đồng. Khi gặp oán thù, không lấy thù trả oán vì: “Lấy oán báo oán, oán còn; lây ân báo oán oán hết”. Tích cực hơn, sống thực: “Bầu ơi thương lấy bí cùng”. Các thánh, như tông đồ Giacôbê, thư gởi cho giáo đoàn, với tâm hồn thanh thản, ngài kêu gọi:“Hãy mau nghe, chậm nói, khoan giận”(x.1,19). Khoan giận là nhẫn. Không nhẫn sẽ đưa đến: “Giận quá mất khôn”.

ĐGS là Đấng tiên thiên, vô vàn lời dạy thăng tiến. Người trao vào tai người một quan điểm nhận thức thật chuẩn chỉnh. Với nhau: “Mọi người là anh em…Mọi người đều yếu đuối, nên đều có tội, hãy tự biết sám hối ( Lc.13,3). Người dạy ‘kinh Lạy Cha’, hãy cầu xin: “và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha cho anh em có lỗi”. Người không dạy suông, Người đã sống như thế cả khi mạng sống lâm nguy đến tàn, Người cầu xin tha thứ cho những kẻ bắt và hành hình Người: “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết”( Lc.23,34). Rồi Người dạy bất cứ thời khắc nào: “Hãy cầu nguyện; hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho người làm khốn”( Mt.5.44). Cũng cùng phong cách rất cao thượng chân tình ấy, một khi nhận thấy có ai lầm lỡ: ‘hãy sửa bảo lẫn nhau để có lợi được người anh em’(x.Mt.18,,15).

Tóm lại, để nên là ‘Kitô khác’, thiết nghĩ, dù trong khác biệt, mỗi cá vị nên có một cái nhìn tích cực mới theo hướng nội suy. Tự kiểm là tầm nhìn về mình vừa hay vừa độc đáo, nhìn về mình để suy biết đời người không ngoài quy luật yếu đuối với bao là giới hạn. Vì lẽ đó, cái hay là sáng suốt ức chế óc phê phán, định kiến, xa lánh, để biết gần nhau thu tích tình bạn, mua sắm bạn hữu. Vì trong đời riêng thường thì thù nhiều mà bạn thì hiếm hoi. Trên đôi bàn tay đếm không mấy ngón là bạn, mà kẻ thù, người ghét thì liệt kê không xuể.

Lay CGS, Thầy nhân lành, xin dạy con biết sống yêu trong tình yêu bao dung. Yêu như Thầy chí thánh đã yêu trong thân phận làm ngườiyêu bất chấp. Yêu hết mọi người trong thứ tình hòa hiệp cao đẹp dành cho đồng loại anh em

Về mục lục

.

LÒNG KIÊN NHẪN VÀ BAO DUNG CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 13,24-43.

(24) Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn khác: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình”. (25) Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. (26) Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. (27) Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ? (28) Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó !” Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?” (29) Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. (30) Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”. (31) Đức Giê-su còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói: “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. (32) Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống. Nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất: Nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được”. (33) Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”. (34) Tất cả các điều ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn nói với đám đông, và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, (35) hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: “Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa”. (36) bấy giờ Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe”. (37) Người đáp: “kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. (38) Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái ác thần. (39) Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. (40) vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. (41) Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu, và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người. (42) Rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. (43) Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe”.

  1. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay về ba dụ ngôn diễn tả lòng kiên nhẫn và bao dung của Thiên Chúa trong việc ban ơn cứu độ loài người như sau: Dụ Ngôn Cỏ Lùng (24-30), cho thấy trong Nước Trời do Đức Giê-su thiết lập vẫn có kẻ xấu xen lẫn với người tốt. Thiên Chúa không phạt kẻ xấu ngay mà luôn chờ họ hồi tâm sám hối (x. 2 Pr 3, 15). Qua dụ ngôn Hạt Cải và Men trong thúng bột (31-33), Đức Giê-su cho biết về sức tăng trưởng của Nước Trời ban ơn cứu độ cả về số lượng và phẩm chất: Nước Trời do Đức Giê-su tập là Hội Thánh ban đầu chỉ như hạt cải nhỏ bé, nhưng về sau sẽ phát triển thành cây rau to lớn. Về phẩm chất: những ai gia nhập Nước Trời có sứ mệnh như nắm men nhỏ bé hòa trong ba đấu bột xã hội, để làm cho xã hội dậy lên men tình yêu.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 24-25: + Nước Trời ví như chuyện: Ở đây không cố ý so sánh Nước Trời với người gieo giống. Nhưng muốn mượn công việc gieo giống của người nông dân, để diễn tả ý nghĩa của mầu nhiệm Nước Trời. Nước Trời hiện tại đang có kẻ lành người dữ sống chung, nhưng đến ngày tận thế, Đức Giê-su Thẩm Phán sẽ phân định rõ ràng chiên với dê, lành với dữ. + Người kia gieo giống tốt trong ruộng mình: Những gì Thiên Chúa thực hiện đều tốt đẹp, như tác giả sách Sáng Thế viết như sau: “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” (x. St 1, 10.12.18.21.25.31).+ Khi mọi người đang ngủ: Ngủ là lúc người ta dễ mất cảnh giác, và kẻ thù là ma quỷ sẽ thừa cơ lợi dụng để gieo cỏ lùng vào giữa lúa tốt. Cỏ lùng là thứ cỏ dại, rất dễ mọc lên và rễ của nó có thể làm hại cây lúa. Ma quỷ xảo quyệt chuyên đi cám dỗ loài người. Chúng gieo vào đầu người ta những tư tưởng hoài nghi và xúi giục họ không vâng phục Thiên Chúa, như xưa chúng đã cám dỗ nguyên tổ A-đam Eva phạm tội tổ tông (x. St 3, 1-7). + Rồi đi mất: ma quỷ có đặc tính vô hình và luôn khôn ngoan làm việc âm thầm không để lại dấu vết, khiến người ta khó lòng nhận biết sự hiện diện của chúng để đề phòng.

– C 26-28: + Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện: Người tốt kẻ xấu luôn sống đan xen vào nhau, nên rất khó phân biệt ai tốt ai xấu. + Đầy tớ: ám chỉ những người rao giảng Tin Mừng. + Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?: Đầy tớ phát hiện ra có cỏ lùng xen lẫn với lúa tốt, nên thắc mắc với ông chủ nguyên nhân xuất hiện cỏ lùng, đang khi ông chỉ cho thợ gieo toàn lúa tốt trong ruộng ? + “Kẻ thù đã làm đó”: Ma quỷ chính là kẻ đang gieo rắc sự hận thù ganh ghét trong lòng người ta. + “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?”: một số người công chính muốn tiêu diệt kẻ ác ngay. Nhưng điều này trái với tình thương bao dung của Thiên Chúa.

– C 29-30: + Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa: Ông chủ là Thiên Chúa luôn kiên nhẫn, muốn dành cho kẻ dữ có thời gian hồi tâm sám hối (x. Lc 13,8-9). Thực tế cũng có nhiều kẻ tuy nhất thời làm điều ác, nhưng bản chất vốn lương thiện, nên hy vọng sau này họ sẽ sám hối trở về với Chúa, giống như đứa con hoang đàng trở về nhà cha (x. Lc15,17-20). Thiên Chúa luôn giàu lòng thương xót không muốn cho kẻ dữ phải chết. Nhưng muốn nó ăn năn sám hối để được sông. + Mùa gặt: Trong Thánh Kinh, mùa gặt là hình ảnh diễn tả về ngày cánh chung hay tận thế, lúc Thiên Chúa cho thu gom lúa tốt và loại bỏ đi rơm rạ (x. Is 17,5 ; Kh 14,14-20). Ngoài ra, câu này còn cho thấy Chúa để người tốt sống chung với kẻ xấu là để thử thách lòng tin của họ. + Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi: Sở dĩ ông chủ là Thiên Chúa muốn đợi đến ngày tận thế mới phân lọai người lành với kẻ dữ là để cho kẻ dữ có thêm thời gian ăn năn sám hối.

– C 31-32: + Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải: Hạt cải là một thứ hạt được dùng làm đồ gia vị (moutarde). + loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống: Người Do thái thường hay ví: “nhỏ như hạt cải”. Hạt cải tuy nhỏ, nhưng lại có sức sống dồi dào, và sẽ trở thành cây rau cải to lớn, đến nỗi chim trời có thể bay đến làm tổ trên cành của nó. Dụ ngôn này nhằm nói lên sự tương phản giữa hai tình trạng của Nước Trời: Lúc khởi đầu nhỏ bé ít người, nhưng khi kết thúc sẽ trở nên to lớn đông đảo. + Chim trời tới làm tổ trên cành được: Cựu Ước thường dùng hình ảnh một cây to lớn có chim trời đến đậu, để chỉ một vương quốc hùng mạnh, có khả năng che chở thần dân của mình (x. Ed 31, 5-7; Đn 4,18). Hình ảnh này ám chỉ Hội Thánh như một cây to lớn, có khả năng thu nhận chim trời là dân ngoại, đến xin gia nhập.

– C 33: + Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men: Men là một chất bột phụ gia, có sức biến đổi cả khối bột pha trộn với nó. + Ba đấu bột: là một khối lượng khá lớn khoảng trên 39 lít, nghĩa là khoảng 60-70 kí-lô. Con số ba thúng bột này có lẽ lấy từ câu chuyện của tổ phụ Áp-ra-ham đã dùng ba thùng tinh bột làm bánh để đãi Đức Chúa, khi Người hiện ra với ông tại cụm sồi Mam-rê (x. St 18,6). + cho đến khi tất cả bột dậy men: Dụ ngôn này không so sánh Nước Trời với “Men”, nhưng muốn đề cao sức mạnh thánh hóa của Nước Trời như men: tuy chỉ là số người ít oi như một nắm men, nhưng lại có sức biến đổi cả nhân loại có số lượng vô cùng lớn lao. Tin Mừng được rao giảng đến đâu thì sẽ có sức cảm hóa, biến người ta từ gian ác nên hiền hòa, từ tội lỗi nên thánh thiện. Ngoài ra, ý nghĩa này cũng gián tiếp đề cập đến Bữa Tiệc Cánh Chung vào ngày tận thế do Đức Chúa khoản đãi (x. Is 25, 6-8).

– C 34-35: + Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn: Thực ra nhiều lần Đức Giê-su đã giảng mà không dùng dụ ngôn. Do đó câu này chỉ nhắm đề cập đến các bài giảng về mầu nhiệm Nước Trời mà thôi. Vì Đức Giê-su muốn tránh cho người nghe khỏi hiểu lầm về Nước Trời do Người thiết lập khác với một đất nước mang tính thế tục theo kiểu Thiên Sai chủ nghĩa. + Hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: Thực ra đây là lời Thánh vịnh do A-saph viết. Sở dĩ Tin Mừng Mát-thêu gọi lời trích dẫn trên là lời ngôn sứ, có lẽ vì ông coi A-saph là ngôn sứ. Thánh vịnh cũng là Lời Chúa và có giá trị ngang hàng với lời sấm của các ngôn sứ.

– C 36-43: + Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe: Về ý nghĩa của dụ ngôn Cỏ Lùng đã được Đức Giê-su giải thich chi tiết trong đoạn Tin Mừng. Ở đây, chỉ xin nêu ra mấy điều cần biết như sau: + Con cái Nước Trời… con cái ác thần: Cách phân chia nhân loại thành hai loại người đối lập nhau rất thông dụng trong Do Thái giáo. Người ta thường đọc thấy lời phân chia đó trong các văn bản được khai quật ở Cum-ran (Qumrân). chỉ khác một điều là: đối với Cum-ran thì mọi người lành đều ở trong giáo phái của họ, phân biệt với những kẻ gian ác ở ngoài giáo phái này. Còn trong Tin Mừng hôm nay, cả kẻ lành và người dữ đều sống lẫn lộn bên nhau và các môn đệ không được tách riêng họ ra trước thời hạn. + Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào…: Trong dụ ngôn Cỏ Lùng (24-30), Đức Giê-su nhấn mạnh đến sự sống chung hiện tại giữa người lành và kẻ dữ, còn trong phần giải nghĩa dụ ngôn (36-43) Đức Giê-su lại nói nhiều đến ngày phán xét và sự thưởng phạt, nghĩa là nói đến tương lai. Có lẽ Mát-thêu khai triển thêm điều này để nhắn nhủ các tín hữu thời đó đừng thỏa mãn khi được gia nhập Hội Thánh. Nhưng điều quan trọng là phải sống thế nào để khỏi sa hỏa ngục trong ngày phán xét. + Rồi quăng chúng vào lò lửa: Sách Đa-ni-en cho thấy một sự trừng phạt bằng cách ném kẻ bị phạt vào đống lửa đang cháy phừng phực (x. Đn 3,5-6). Đức Giê-su cũng dùng hình ảnh “lò lửa”, như là nơi các kẻ gian ác sẽ bị trừng trị. + Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng: Đây là hình ảnh sự đau đớn do hình phạt thể xác khi còn sống, để diễn tả hình phạt thiêng liêng trong hỏa ngục đời sau. Kiểu nói “Bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” được sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng Mát-thêu (x. Mt 8,12; 22,13; 24,51; 25,30). “khóc lóc nghiến răng” ám chỉ tình trạng những người bị giam trong hỏa ngục. Họ sẽ chịu đau khổ, thể hiện qua sự khóc lóc, và lòng thù hận Thiên Chúa thể hiện qua sự nghiến răng. + Người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của cha họ: Kiểu so sánh này nhiều lần được dùng trong Thánh kinh. Chẳng hạn: “Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ. Những ai làm cho người ta nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (1 Cr 15,42-44).

  1. CÂU HỎI:

1) Ba dụ ngôn trình bày về Nước Trời trong Tin Mừng hôm nay là gì ? 2) Tại sao trong Hội Thánh vẫn có hai hạng người xấu kẻ tốt sống lẫn lộn ? 3)Vai trò của ma quỷ thế nào ? 4) Tại sao Chúa không tiêu diệt kẻ xấu ngay khi phạm tội và khi nào họ mới bị phạt ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy thu gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi. Còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi” (Mt 13,30).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) RƯỢU LÀM MẤT LÝ TRÍ VÀ DỄ PHẠM TỘI:

Con người hơn mọi tạo vật khác biết phân biệt điều thiện điều ác, biết chọn lựa điều nên làm hay nên tránh, nên chỉ con người mới phải nhận trách nhiệm về các hành vi của mình. Câu chuyện ngụ ngôn sau đây cho thấy lý do khiến con người dễ sa ngã phạm tội như sau:

Một hôm Satan muốn cám dỗ một người kia vốn bản tính tốt phạm tội. Nó đã hiện hình thành người và lệnh cho anh ta phải làm một trong ba điều, nếu không làm sẽ bị chết: Một là anh ta phải giết bố đẻ, hai là đánh đập em trai và ba là uống rượu. Bấy giờ anh ta liền suy nghĩ: giết bố và đánh đập em trai là điều trái với đạo lý nên anh không thể làm được. Riêng việc uống rượu theo anh nghĩ vô hại, nên anh đã bằng lòng uống rượu.

Lúc đầu khi mới uống vài ba chén, thì anh cảm thấy tâm trí lâng lâng sảng khoái và tỉnh táo biết phân biệt phải quấy lợi hại. Nhưng khi uống tới chén thứ sáu thì anh bị say túy lúy, tâm trí bất định và không làm chủ được bản thân. Cha anh đến khuyên bảo thì anh nổi nóng và nói hỗn với cha. Rồi khi anh bị cha cho một bạt tai thì anh tức giận cầm dao đâm chết cha. Đứa em trai mở miệng can ngăn cũng bị anh đánh đập tàn nhẫn. Anh còn đập phá đồ đạc và miệng luôn la hét như người điên và nằm ra giường ngủ. Thế là từ việc ban đầu chỉ uống vài ly rượu xem ra vô hại, nhưng sau đó đã dẫn đến chỗ say sỉn không làm chủ được bản thân nên đã liên tiếp phạm hai trọng tội là đánh đập em tàn nhẫn và ra tay giết chết cha, đúng ý đồ của ma quỷ cám dỗ.

2) TÌNH THƯƠNG BAO DUNG ĐÃ BIẾN HÓA TỘI NHÂN THÀNH MỘT NGƯỜI TỐT:

“Con đường đau khổ” là tựa đề một tác phẩm nổi tiếng của văn hào Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), tường thuật câu chuyện về cuộc đời của Văn Giang (Han Valjean), một tên cướp của giết người đã từng bị ở tù 19 năm.

Khi vừa được thả ra khỏi nhà tù, Văn Giang đã phải nếm mùi bị mọi người khinh dể xa lánh: Bước vào tiệm ăn, anh liền bị chủ tiệm xua đuổi; Vào trong nhà trọ thì người gác cửa đóng sập cửa ngay trước mặt; Đi qua ổ chó, thấy bộ dạng nhếch nhác râu ria của anh, chúng liền thi nhau sủa inh ỏi… Chỉ khi bước vào nhà Đức giám mục My-ri-ê, anh mới được ngài tiếp đãi nồng hậu như một con người: Anh được ăn một bữa tối thật ngon, được nằm trên một chiếc giường êm ấm. Nhưng rồi đêm hôm ấy, nhìn thấy các chân đèn bằng bạc quí giá, anh không cưỡng nổi lòng tham, nhẹ nhàng lấy năm cái chân đèn cho vào bao rồi chuồn mất. Khi cảnh sát nhìn thấy bộ dạng khả nghi của anh, liền xét hỏi và khi mở chiếc túi vải anh đang vác trên vai, họ thấy mấy cái chân đèn bằng bạc nghi là của tòa giám mục. Anh liền bị giải đến trước mặt vị giám mục để làm rõ. Nhưng khi đối chất, đức giám mục không những không kết tội Văn Giang, mà còn nhận là đã tặng cho anh ta mấy cái chân đèn bằng bạc kia. Hơn nữa, ngài còn tặng thêm cho anh hai chân đèn nữa cho đủ bộ và nói nhỏ vào tai anh: “Ta không kết tội con đâu, nhưng con phải sám hối để làm lại cuộc đời”. Sau khi được thả, anh luôn suy nghĩ về những lời nhắn nhủ của vị giám mục và xúc động trước tình thương bao dung của ngài. Anh quyết tâm sám hối và sau đó đã trở thành một người lương thiện, luôn quên mình để nghĩ đến người khác.    

Nhiều năm sau, Văn Giang đã chinh phục được tình cảm của mọi người trong thành phố và còn được dân chúng tín nhiệm bầu làm thị trưởng của thành phố. Sở dĩ Văn Giang từ một tên tội phạm trở thành một người lương thiện và được mọi người kính nể là do cảm nghiệm được tình thương bao dung của vị giám mục My-ri-ê.

3) SỨC MẠNH HOÁN CẢI CỦA TÌNH THƯƠNG BAO DUNG :

Một buổi sáng nọ, khi vừa thức dậy, một số tu sinh phát hiện đã bị mất cắp một vài vật dụng cá nhân. Họ bàn nhau rình rập và đã bắt được quả tang một chú tu sinh mới đến đang ăn cắp đồ của họ. Họ liền bắt giữ và giải lên cho thầy bề trên. Nhưng khi nghe xong, thầy bề trên không nói lời nào mà tha cho chú tu sinh kia trở về phòng.

 Ít lâu sau đó, chú tu sinh lại bị phát giác đang ăn trộm lần thứ hai, và lại bị các tu sinh dẫn đến với thầy bề trên. Lần này cũng như lần trước, thầy bề trên vẫn không nói năng gì, chỉ ra hiệu cho chú phạm lỗi trở về phòng. Mọi người chứng kiến đều cảm thấy bực bội về cách xử lý quá rộng lượng của thầy bề trên.

 Đến lần thứ ba, chú tu sinh có tật ăn cắp vặt kia lại tái phạm. Tất cả các tu sinh đều tập trung lại nhà hội. Họ yêu cầu thầy bề trên trừng phạt thích đáng kẻ phạm lỗi và đưa ra yêu cầu như sau:

 – Thưa thầy, xin thầy chọn một trong hai: hoặc là anh tu sinh phạm lỗi này, hoặc là tất cả chúng con. Nếu thầy không đuổi anh tu sinh này thì tất cả chúng con xin rời bỏ tu viện này !

 Sau một lát im lặng, thầy bề trên đã điềm đạm trả lời:

 – Thầy thấy mọi người chúng con đều đã là người tốt. Nhưng riêng chú bé này thì chưa tốt như chúng con. Thầy muốn chú ấy ở lại đây tu luyện thêm một thời gian. Còn tất cả các con đều đã là người tốt nên không cần ở lại đây lâu hơn. Bây giờ các con hãy về phòng dọn đồ ra khỏi tu viện được rồi đó !

 Mọi người đều chưng hửng, cúi đầu nhận lỗi. Họ lặng lẽ trở về phòng mình và không ai dám nói thêm điều gì nữa. Riêng chú tu sinh phạm lỗi kia vẫn quì lại, đôi giòng lệ sám hối lăn dài trên gò má. Từ đó trở đi cậu ta thành tâm sửa đổi thói hư và đã trở thành một tu sinh tốt.

4)  LỜI NÓI VIỆC LÀM CỦA CHA MẸ LUÔN CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN ĐỐI VỚI CON CÁI:

Một bé trai 5 tuổi được mẹ dẫn đến thăm ông nội vào dịp cuối tuần. Ông nội thấy cháu chơi giỡn với mấy đứa bạn rất hăng say, nhưng hễ mở miệng ra là văng tục. Ông nội liền gọi cháu cưng lại và trách: “Cháu học kiểu ăn nói tục tĩu của ai vậy? Từ nay trở đi ông cấm cháu không được chơi với những đứa nào ăn nói tục tĩu như thế nghe chưa.”

Đứa cháu liền hỏi: “Nếu thế thì chẳng lẽ từ nay cháu phải nghỉ chơi với bố cháu hay sao?”

Thì ra nó học được kiểu ăn nói văng tục ra là từ chính ông bố của nó.

Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài để gieo vào gia đình, cộng đoàn, và những người chung quanh những hạt giống tốt là lời nói và hành động tốt lành yêu thương. Có thể những lời nói việc làm của chúng ta bé nhỏ như hạt cải, nhưng nó lại phát sinh hiệu quả rất lớn. Điều cần là chúng ta phải gieo những hạt giống tốt là lời nói yêu thương chân thật, trung tín và quảng đại thứ tha… Chắc chắn những hạt giống ấy sẽ mang lại hoa trái tốt đẹp cho con em chúng ta.

  1. SUY NIỆM:

Trong cuộc sống, chúng ta thắc mắc hoặc được nghe những lời chất vấn của nhiều người chung quanh như: “Tại sao Thiên Chúa lại để cho kẻ dữ tồn tại và sống lẫn lộn với người lành?”; hay : “Tại sao kẻ ác lại gặp được may mắn, còn người tốt lại gặp tai nạn bệnh tật và thất bại?”. Vậy trước thực trạng đó, chúng ta cần có thái độ thế nào? Chúng ta có nên tiêu diệt và xua trừ kẻ dữ ra khỏi Hội Thánh để làm trong sạch Hội Thánh không?”.

Hôm nay, Đức Giê-su đã cho chúng ta câu trả lời cho những vấn nạn nói trên qua ba dụ ngôn về Nước Trời là Cỏ lùng, Hạt cải và Men trong thúng bột.

1) SỰ DỮ VẪN TỒN TẠI VÀ KHÔNG NGỪNG GIA TĂNG :

Gần đây bên Hoa Kỳ, một học sinh 15 tuổi đã mang súng tiểu liên cưa nòng vào nhà trường, nhắm bắn bừa bãi vào các thầy cô và các bạn học làm chết và bị thương nhiều người. Ở sở thú ĐI-TROI (Detroit) người ta phải thuê thêm 4 nhân viên để bảo vệ các thú vật khỏi bị các khách tham quan quậy phá. Một con Kan-gu-ru Úc còn nhỏ lạc mất mẹ, đã bị đám con nít trêu chọc và ném đá đến chết. Tại hồ nuôi cá sấu, nhiều người lớn đã ném những mẩu điếu xì gà còn cháy dở vào những chú cá sấu đang nằm tắm nắng và thích thú reo lên khi thấy tro lửa làm phỏng da khiến loài bò sát này phải quằn quại đau đớn. Tại nhiều gia đình, có những em nhỏ khi thấy con chó hay con mèo đang nằm ngủ trên sàn, đã đá mạnh vào bụng, khiến chúng kêu rú lên và các em cười lên khóai trá… Những điều điên rồ đáng kinh tởm đó khiến chúng ta phải tự hỏi: Tại sao sự gian ác vẫn tồn tại trong xã hội và trên thế giới ? Phải làm gì để biến đổi sự gian ác thành lương thiện ? Qua ba dụ ngôn Nước Trời trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã trả lời cho biết nguyên nhân sự dữ và biện pháp khắc phục như sau :

2) NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH SỰ DỮ :

Nước Trời do Đức Giê-su thiết lập ban đầu chỉ là một nhóm nhỏ nhưng đã lớn lên thành Hội Thánh to lớn khắp hoàn cầu gồm nhiều dân tộc trên thế giới, thấm nhập tính nhân văn công bình nhân ái, bình đẳng vào nền văn minh của nhân loại…

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, vẫn còn những tiêu cực là tội lỗi nơi các cá nhân và tập thể Ki-tô giáo khiến nhiều người phê phán. Trong dụ ngôn Cỏ Lùng, các đầy tớ cũng thắc mắc với ông chủ như sau : “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ? » Ông chủ đáp: “Kẻ thù đã làm đó !”.

Qua câu trả lời của ông chủ trong dụ ngôn, Đức Giê-su đã cho biết : Chính ma quỷ đã kết hiệp với thế gian và sự cộng tác của tính xác thịt nơi con người đã làm cho nhiều người trở nên hư hỏng. Ma quỷ và các người xấu đã gieo sự gian ác xấu xa vào lòng con người, khiến họ phạm tội, trở thành tay sai của chúng chống lại với Thiên Chúa. Vậy chúng ta cần làm gì để chống trả?

3) MỘT SỐ BIỆN PHÁP DÙNG ĐỂ KHẮC PHỤC SỰ DỮ:

– Cần tránh sử dụng bạo lực tru diệt kẻ xấu ngay như đề nghị của các đầy tớ : ”Nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ“(Mt 13, 27). Ông chủ ám chỉ Thiên Chúa giàu lòng từ bi thương xót không muốn cho kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối để được sống nên đã trả lời : ”Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng ».

– Đối diện với kẻ ác, thái độ của các môn đệ Chúa Giê-su là phải chấp nhận sống chung với kẻ xấu như lời ông chủ trong dụ ngôn : « Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: “Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta” (Mt 13, 29-30).

Như vậy, các tín hữu chúng ta cần phải gieo trong lòng chúng ta và môi trường chung quanh chúng ta nhiều hạt giống tốt và thực hiện từng bước để gìn giữ các hạt giống tốt cho đến mùa thu hoạch như cầu nguyện, tĩnh tâm, làm việc lành phúc đức, giúp đỡ tha nhân…

Tiếp đến là phải hành động với sự khôn ngoan, thận trọng khi đối đầu với sự ác, đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần giúp sức vì: “Thánh Thần sẽ nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta” (Rm 8, 26).

Cần chinh phục cái ác bằng việc làm tốt, như thánh Tông đồ Phaolô dạy: “Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (Rm 12, 21).

4) CỤ THỂ CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?

+ Trước hết phải ghét bỏ ma quỷ và mọi điều gian ác, nhưng lại phải thương yêu các tội nhân và giúp những ai sa ngã phạm tội quay trở về với Chúa.

+ Cần tỏ lòng khoan dung với tội nhân và kiên nhẫn chịu đựng họ noi gương Thiên Chúa, hy vọng nhờ đó, họ sẽ có ngày hồi tâm sám hối. Nhưng nếu kẻ ác lợi dụng sự khoan dung để ngày càng dấn sâu hơn trong vệc làm hại bản thân hay người khác, thì ta phải dùng thêm các biện pháp hữu hiệu để khắc phục.

+ Cộng đoàn và gia đình cũng là “thửa ruộng” có “lúa tốt xen lẫn cỏ lùng”, có người tốt sống chung với kẻ xấu. Khi người cha không lo làm việc mà tối ngày ăn nhậu say sưa, lại thường văng tục chửi thề… là ông ta đang trở thành tay sai của ma quỷ để gieo cỏ lùng làm hại con mình.

Khi người mẹ ham mê bài bạc, lười biếng làm việc nhà, không quan tâm đến việc giáo dục con cái… là bà đang trở thành tay sai của ma quỷ để gieo cỏ lùng làm hư con cái. Khi những người lớn trong gia đình làm ăn buôn bán gian dối, sản xuất ra các thực phẩm độc hại… nhằm thu lợi bất chính là họ đang làm tay sai cho ma quỷ để làm hại bản thân gia đình và xã hội mình đang sống.

+ Mỗi người hãy năng cầu nguyện cho những kẻ tội lỗi được sớm hồi tâm, và xin Chúa ban ơn soi sáng giúp đỡ họ mau trở về. Vì: “Lời cầu nguyện có sức mạnh đem lại nhiều sự tốt lành hơn cả những điều người ta dám mơ ước”.

+ Mỗi ngày chúng ta hãy quyết tâm làm một việc cụ thể để chống lại ma quỷ và sự ác như: giúp một người mù chữ biết đọc biết viết, gia nhập một Hội đoàn Tông đồ Giáo dân hay hội Chữ thập đỏ để đi làm công tác xã hội, phục vụ bệnh nhân phong, bệnh nhân bị nhiễm HIV-AIDS, hay những người khuyết tật, trẻ mồ côi, những cụ già cô đơn không nơi nương tựa… Mỗi ngày quyết tâm làm một việc tốt giúp ích cho một người, như nhặt giúp một vật bị rơi, dắt một cụ già sang qua đường, giúp một người tàn tật có bữa cơm ăn…

  1. THẢO LUẬN:

1)Trong những việc làm kể trên thì việc nào bạn thấy hợp với khả năng của bạn và quyết tâm làm trong thời gian sắp tới ? 2) Bạn thích lời nào trong các lời nguyện tắt được ghi trong Tin Mừng: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội”, “Lạy Chúa, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết”, “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì “ ?… Tại sao bạn thích lời cầu nguyện ấy ?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin biến đổi con trở nên một người tốt và nên con hiếu thảo của Chúa Cha noi gương Chúa xưa. Xin hãy biến đổi đôi mắt con khi thấy lỗi lầm của anh em giống như cái nhìn từ bi bao dung của Chúa đối với Tông đồ Phê-rô sau khi ông phạm tội. Xin hãy biến đổi tai con để sẵn sàng lắng nghe những lời kêu cứu của anh em như Chúa đã nghe thấu lời người mù kêu xin và đã chữa cho anh ta được sáng mắt. Xin biến đổi lòng trí con để con nhận ra thánh ý Chúa Cha như xưa Chúa đã cầu nguyện vâng theo ý Chúa Cha trong Vườn Cây Dầu. Xin biến đổi tình cảm của con để con mỗi ngày một thêm lòng mến Chúa yêu người. Mỗi lần rước Chúa vào lòng trong Thánh lễ, xin hãy thánh hóa môi miệng con, biến đổi tâm tư tình cảm và toàn thể con người con, để con trở thành người mang Chúa là tình yêu thương đến chia sẻ cho mọi người.

– LẠY CHÚA. Thế giới hôm nay không cần những Ki-tô hữu buồn chán thất vọng. Xin Chúa hãy biến đổi khuôn mặt của con nên ngời sáng giống như tổ phụ Mô-sê sau khi được gặp Đức Chúa trên núi. Xin giúp nụ cười của con luôn rạng ngời nét hồn nhiên vui vẻ và hiền hòa của Chúa. Xin cho lời nói của con luôn chân thật, khiêm nhu và dịu dàng dễ thương, nhất là những khi con giúp anh em con sửa lỗi. Ước chi người đời khi thấy con là thấy Chúa đang hiện diện trong con. Ước chi con luôn can đảm vác thập giá đời con và bước theo chân Chúa. Vì con biết rằng khi con cùng chết với Chúa, con cũng sẽ cùng được sống lại với Chúa sau này.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Bắt đầu từ bài Tin mừng Chúa nhật tuần vừa qua cho đến mấy tuần tiếp theo, Chúa Giê-su kể cho chúng ta nghe những câu chuyện dụ ngôn ám chỉ về Nước Trời.  Chúa nhật tuần trước, chúng ta nghe dụ ngôn Người Gieo Hạt Giống, và bài Tin mừng cho chúng ta biết Chúa Giê-su là người gieo hạt giống Lời Chúa vào tâm hồn của mọi người. Hạt giống Lời Chúa có sinh hoa kết quả hay không và bao nhiêu tùy vào thái độ của người nghe là chính chúng ta đây.  Để giúp chúng ta biết rõ những khía cạnh phức tạp cũng như hiểu về sự tăng trưởng của Nước Trời như thế nào, trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su kể cho chúng ta ba dụ ngôn Cỏ lùng và lúa, Hạt cải và Bột men.  Dụ ngôn Hạt cải ám chỉ Nước Trời bắt đầu rất nhỏ bé như hạt cải với việc chọn có mười hai tông đồ, là những người yếu kém trong xã hội, nhưng các ông đã được Chúa Thánh Thần biến đổi trở thành những người trung thành, can trường và hy sinh cuộc sống để làm cho Nước Chúa lớn lên, tăng trưởng và lan rộng khắp nơi như ngày nay.  

Dụ ngôn nắm bột dậy men ám chỉ việc bành trướng của Nước Chúa lúc đầu cũng chỉ là nắm bột nhỏ bé chưa dậy lên, nhưng nhờ được men dần dần thấm vào làm cho cả nắm bột dậy lên, to lớn lên.  Men là những nhân đức, là đời sống tốt lành, thánh thiện, hy sinh và bác ái của người chân thành sống Lời Chúa sẽ có những tác động lạ lùng, có ảnh hưởng tốt đến và có khả năng từ từ biến đổi đời sống của những người chung quanh, kết hợp họ lại trong một nắm bột dậy men là Nước Chúa, là Giáo hội, là Thân Thể Chúa Ki-tô.

Dụ ngôn Cỏ lùng và lúa trong một thửa ruộng gây những thắc mắc và có những khía cạnh khó hiểu, do đó chúng ta thấy các môn đệ đã xin Chúa giải nghĩa.  Chúa đã giải nghĩa cho các môn đệ dụ ngôn này, và sự giải nghĩa của Chúa là một bài giáo lý rất quan trọng cho người nào có lòng xác tín vào Chúa và vào lời của Người, để được sống trong ân sủng, an bình đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.  Người gieo giống là Thiên Chúa, hạt lúa giống là con người, thửa ruộng là thế gian, là Giáo hội, là xã hội con người, là cộng đoàn hay gia đình.  Người gieo cỏ lùng là ma quỉ.  Cỏ lùng là sự dữ, gian dối và tội lỗi hay người xấu.  Mùa gặt là ngày chết cá nhân hay ngày tận thế của nhân loại. Thợ gặt là các thiên thần.  Sau sự phán xét công minh chính trực của Thiên Chúa, lúa tốt thì được loại riêng ra và thu vào kho lẫm, tức là người thánh thiện có lòng bác ái và quảng đại thì được vào nơi hưởng hạnh phúc bình an, còn cỏ lùng là những người gian ác, tội lỗi và ích kỷ thì sẽ bị ném vào hỏa ngục, nơi đó họ bị thiêu đốt đau khổ trầm luân.

Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta nhận thấy ở bất cứ nơi nào trên thế gian này đều có điều tốt lành và sự dữ, có sự hiện diện của người tốt người xấu sống bên nhau.  Chúng ta không thấy một xã hội nào, cộng đoàn nào hay gia đình nào hoàn toàn là những người tốt, và cũng chẳng có nơi nào hoàn toàn là những người xấu.  Điều tốt lành và sự dữ, người xấu và người tốt hiện diện và sống chung với nhau, và trong xã hội này nhiều khi khó nhận ra ai là người tốt, ai là người xấu, và việc nào tốt việc nào xấu, dữ, vì nhiều khi điều đó chúng ta cho là phải và thích hôm nay, nhưng trở nên xấu và có hại ngày mai.  Có những sự khó khăn, đau khổ hôm nay nhưng sẽ trở thành tốt và có ích lợi ngày mai.

Có một điều căn bản ở thiên nhiên mà chúng ta biết rõ là cỏ lùng, vì bản chất của nó là cỏ xấu vô dụng, tuy bên ngoài và khi còn nhỏ nhìn giống cây lúa nhưng nó không thể nào biến thành lúa được. Cũng thế, lúa thì lúc nào nó cũng là cây lúa chỉ có điều là nó sản xuất ít hay nhiều, chứ không bao giờ biến dạng trở thành cỏ lùng được.  Nhưng với con người thì không như vậy.  Con người được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh của Người.  Khi mới sinh ra thì tốt lành, nhưng với thời gian lớn lên vẫn tốt hay có thể trở thành xấu đi.  Chúng ta  thấy có người trước kia, hôm qua là lúa tốt, người tốt, bây giờ là cỏ lùng, là người tội lỗi, là người xấu.  Ngược lại, có người trước kia là cỏ lùng, là người xấu bây giờ là lúa, là người tốt.  Dĩ nhiên cũng có những người luôn luôn là lúa tốt và những người lúc nào cũng là cỏ lùng. Điều quan trọng đối với những người Kitô hữu chúng ta hay bất cứ ai là khi chết chúng ta đang ở trong tình trạng nào cỏ lùng hay lúa tốt, vì sẽ quyết định cho số phận của chúng ta được hưởng hạnh phúc hay bị đau khổ trong hỏa ngục.

Ông bà anh chị em thân mến. Thiên Chúa yêu thương và nhân từ với chúng ta cho nên Người muốn chúng ta là những người tốt. Chúa còn ban ơn sủng để biến đổi cỏ lùng, như người con hoang đàng, người đàn bà ngoại tình, như thánh Au-gút-ti-nô hay như nhiều người tội lỗi khác đã trở nên tốt lành, thánh thiện. Vì vậy, tốt hay xấu, được thưởng hay phạt là do chính sự quyết định có chấp nhận ân sủng của Chúa của mỗi người chúng ta hôm nay hay không, vì thế khi kết thúc dụ ngôn, Chúa nói: “Ai có tai thì nghe”, có nghĩa là Chúa muốn nhắc nhở chúng ta biết chúng ta được Chúa thương yêu, ban cho nhiều ơn lành và khôn ngoan, để chúng ta biết phân biệt điều tốt xấu, đúng sai, để chúng ta sống giáo huấn của Tin mừng của Người, và luôn tỉnh thức đừng bị ma quỉ lừa dối.  Ma quỉ luôn chờ cơ hội và dùng nhiều cạm bẫy ngon ngọt và hấp dẫn để biến chúng ta thành cỏ lùng.  Ma quỉ dùng mọi mưu chước làm cho chúng ta cảm thấy vui, thích, lợi lộc và thoải mái để lôi chúng ta vào đời sống tội lỗi và lầm lạc.  Ma quỉ dùng mọi mưu chước, cạm bẫy và con người để chia rẽ Giáo hội, giáo xứ, và cản trở sự lớn mạnh và phát triển của Nước Chúa.  

Qua dụ ngôn này, Chúa muốn chúng ta sống ở đời này phải luôn tỉnh thức và chiến đấu loại trừ cỏ lùng là tội lỗi và những sự xấu, đồng thời biết sống tốt lành, bác ái và quảng đại, tích trữ công đức để đến mùa gặt, tức là khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay, và sau khi phán xét, chúng ta sẽ được các thiên thần dẫn chúng ta vào bên lúa tốt, được Chúa thu vào kho lẫm của Người, bởi vì chúng ta sống làm sao, như thế nào ở đời này, Chúa sẽ căn cứ vào đó để thưởng hay phạt chúng ta.  Xin Chúa ban ơn giúp sức để chúng ta là những cây lúa sinh nhiều bông hạt tốt, và biến đổi chúng ta thành những men tốt để đời sống đức tin của chúng ta có tác động, có ảnh hưởng và có sức mạnh lôi kéo người khác đến với Chúa.

Về mục lục

.

TẠI SAO SỰ DỮ TỒN TẠI?

Anna Bích Hạt

Câu chuyện kể rằng: Có một cô gái trẻ chuẩn bị kết hôn. Cô vui sướng lên kế hoạch, báo tin, gửi thiệp tới từng người thân yêu và bạn bè rồi chờ đợi mọi người đến chung vui trong ngày trọng đại của mình. Người chị gái phương xa của cô vui sướng khi hay tin cô đã chọn được ý chung nhân. Chị đặt vé, mua quà..chuẩn bị vào dự vui cùng em. Bỗng một tai nạn giao thông bất ngờ xảy đến, nó đã mang người chị gái thương yêu rời xa cô mãi mãi. Là một gã say đã tông vào xe chị trên đường từ cửa hàng về nhà. Cô gái khóc ròng rã cho đến ngày cưới. Những giọt nước mắt đọng lại như dấu chấm hỏi không lời đáp. Cô không lý giải được những đau khổ, những sự dữ, trái ngang…cứ song hành chen lấn trong cuộc đời cô và của biết bao con người khác. Cô tự hỏi: một ngày, không biết có bao nhiêu người vẫn đang điều khiển phương tiện giao thông khi trong người còn đầy ắp nồng độ cồn? Và rồi sự gì sẽ xảy ra?

Câu chuyện có thật trên đây có vẻ chẳng có gì liên quan đến dụ ngôn mà Đức Giêsu đã kể trong trang Tin mừng Chúa Nhật XVI thường niên hôm nay nhưng vẫn có đó những thông điệp rất sát thực mà Chúa gửi gắm cho mỗi người chúng ta. Nhân vật chính liên quan đến Tin mừng hôm nay không phải là người chị hay cô em trong câu chuyện nhưng là gã say rượu kia. Tôi hình dung thấy một “con ma men” quái ác và nham hiểm đã len lỏi vào “thửa ruộng” của gã đàn ông kia. Nó  làm mê hoặc tâm trí, đánh lừa thể xác, cướp đi thời gian, cùng hạnh phúc của vợ con gã và gây tai họa cho người khác… Cô em đã trách Chúa, giận Chúa và ngửa cô hỏi Người: Tại sao? Tại sao Chúa lại để hai người đi trên một con đường? Tại sao Chúa lại để những sự dữ này tồn tại?  Tại sao Chúa lại để “cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt” ?

Giá mà cô gái đọc được dụ ngôn cỏ lùng sớm hơn thì có lẽ cô đã tìm được lời đáp cho những câu hỏi này và  hẳn cô đã được an ủi biết nhường nào. Rằng: “Nước Trời thì ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. (25) Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. (26) Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. (27) Ðầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu ra vậy?” (28) Ông đáp: “kẻ thù đã làm đó!” Ðầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra nhặt đi không?” (29) Ông đáp: Ðừng, sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. (30) Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Ðến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”. (Mt 13, 24-30)

Ngày hôm nay, chúng ta đang sống giữa một thế giới chẳng khác nào “thửa ruộng” đang bị tục hóa và quá nhiều biến động. Chúng ta không ai dám khẳng định rằng mình mãi là cây lúa tốt, cũng không ai đủ can đảm thừa nhận mình là thứ cỏ lùng xấu xa. Chúng ta chỉ còn biết phải thức tỉnh và cảnh giác với thế gian, ma quỷ và xác thịt. Là ba thù nguy hiểm nhất của con người. Chúa vẫn gieo vãi ân phúc của Ngài mỗi ngày, Ngài cho chúng ta có quyền tự do lựa chọn. Lựa chọn từ những thứ bên ngoài cho những đến những điều bên trong. Nếu ta không thức tỉnh thì rất có thể ma quỷ – con cái của Ác thần sẽ lẻn vào hồn và dùng những thủ đoạn tinh vi giành giật đất sống với những sự thiện hảo mà Chúa đã gieo vào hồn chúng ta. Chúng ta phải cầu xin và cậy dựa Chúa giúp sức vì một mình ta sẽ chẳng thể làm gì được trước sức mạnh ngoan cường của ma quỷ.

Lạy Chúa !

Chúa đã chọn cho chúng con những “thửa ruộng” này: Gia đình, trường học, cơ quan, cộng đoàn, xã hội, đất nước …Chúng con thuộc về thời đại này. Chúa đã ban cho chúng con những hạt giống tốt và chúng con muốn sử dụng nó với đức tin và niềm vui để không bao giờ ngã lòng hay thất vọng trước bao nghịch lý của sự dữ. Xin giúp chúng con biết cày xới mảnh đất rồi phân định và  chọn lựa cách sống, cách lớn lên nhờ sự soi sáng của Thánh Thần Chúa. A.men.

Về mục lục

.

Các bài suy niệm Chúa Nhật 15 Thường niên Năm A

0

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN – A

Lời Chúa: Is. 55, 10-11;  Rm. 8, 18-23;  Mt. 13, 1-23

———

Mục lục

 

  1. Sinh Hoa Kết Quả(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Mảnh Đất Tâm Hồn(Thiên San, MTG. Thủ Đức)
  3. Gieo và đón nhận hạt giống (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  4. Quảng đại yêu thương (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  5. Chuyện người gieo hạt (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  6. Người gieo hạt  (Jorathe Nắng Tím)
  7. Mảnh đất đời tôi  (Maria Phạm Anh, MTG.Thủ Đức)
  8. Sức mạnh của Lời Chúa (Lm. Phê rô Nguyễn Văn Hương)
  9. Sống Lời Chúa để tâm hồn luôn là mảnh đất tốt (Lm. Jos Quang Nguyễn)
  10. Hy vọng  (Lm. Vũ Đình Tường)
  11. Đất tốt  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  12. Trong hồn ta, Lời Chúa có sinh trưởng? (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)
  13. Đời gieo  (Trầm Thiên Thu)
  14. Nhờ bác nông dân không chuyên (Lm. Xuân Hy Vọng)

 

Mục lục

1. Mảnh đất tâm hồn (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

2. Lòng quảng đại Thiên Chúa (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

3. Hãy đón nhận và gieo cách hào phóng  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

4. Hạt giống và đất  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

5. Hai khu vườn  (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

6. Hạt giống Lời Chúa (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

7. Người gieo hạt  (Bông Hồng Nhỏ, MTG.Thủ Đức)

8. Hạt giống trong tâm hồn  (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)

9. Hạt giống có mầm sống (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

10. Gieo giống  (Lm. Trần Việt Hùng)

11. Nghe và hiểu mầu nhiệm Nước Trời  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

12. Suy niệm Chúa Nhật 15 Thường niên_A  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

13. Thái độ của người đón nhận hay là tấm lòng của người gieo (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

14. Hãy mặc lấy tâm tình của người gieo giống  (Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP)

15. Hạt giống Lời Chúa – Mảnh đất tâm hồn  (P.Trần Đình Phan Tiến)

16. Hạt tâm linh  (Trầm Thiên Thu)

17. Gieo khắp bốn phương (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

18. Người gieo giống lạ kỳ (JM. Lam Thy, ĐVD)

19. Trổ sinh niềm vui (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

20. Người đi gieo hạt giống và hạt giống được gieo (Lm. Uyen Nguyen)

21. Những mảnh đất tâm hồn  (Lm. Trịnh Ngọc Danh)

22. Suy niệm Chúa Nhật XV Thường niên. Năm A  (Lm. Anthony Trung Thành)

23. Hình ảnh xưa (Lm. Vũ Đình Tường)

24. Người gieo giống ra đi gieo giống  (Fx. Đỗ Công Minh)

25. Hạt giống Lời Chúa- (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

26. Hoa trái thực hành Lời Chúa  (Lm. Đan Vinh)

27. Chúa Nhật 15 Thường niên_A  (Lm. Antôn)

 

SINH HOA KẾT QUẢ

Tuần 15 TN-A: Mt 13, 1-23

Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

Câu thành ngữ quen thuộc: gieo gì gặt nấy; làm giỏi hơn nói hay. Có ít nhiều thôi thúc ta hãy sáng suốt chọn lựa, đầu tư công sức, và rồi tự tin chờ đợi thành quả không ? Nhà nông gieo trồng bông hạt, nhà giáo gieo trồng kiến thức, bậc cha mẹ gieo trồng tình yêu thương, dù khác nhau về cách thức gieo, nhưng tất cả đều có quyền mong ngóng kết quả đẹp nhất, tốt nhất, mà ta đầu tư. Muốn có duyên lành hãy gieo việc làm tốt, muốn có sức khoẻ, hãy điều độ, chăm chỉ tập luyện, muốn có thành công cần phải làm chủ được bản thân mình. Sống ở đời, chẳng có việc lớn việc nhỏ nào bị lãng quên, khi ta dấn thân phục vụ bằng tình yêu thương. Có bao giờ ta suy nghĩ về tình yêu và ơn ban, hay chúng ta chủ quan cho rằng: may hơn khôn, tay ai dài người ấy với ? Đồng ý rằng, có những người không bằng cấp mà vẫn thành công, nhưng chẳng có ai không gieo trồng việc tốt mà lại mong gặt hái trái quả ngon ngọt !

Có không ít người đã từ chối sống ước mơ đẹp của mình, chỉ vì họ để nỗi sợ hãi lấn lướt ! Trong khi đó, tình yêu thương là cách hữu hiệu nhất, chuyển biến kẻ xa lạ trở thành bạn hiền. Nhiệt tâm nhiệt tình và khiêm tốn là sự tương tác cần thiết dẫn tới thành công, minh chứng tình yêu xoá tan được nỗi sợ hãi. Khi trưng dẫn dụ ngôn người gieo giống, Đức Giêsu cho thấy hình ảnh chủ ruộng gieo trồng hết sức lạc quan, mảnh đất không thuận lợi, chủ vẫn chờ đợi kết quả: hạt một trăm, hạt sáu mươi, hạt ba mươi. Theo lý, nếu có kiến thức căn bản về gieo trồng, cùng với sự chăm chỉ làm việc, người ta có quyền mơ ước thành quả. Theo tình, gieo giống tốt, đầu tư nhiều công sức, sẽ có vụ mùa bội thu, vì chúng ta chỉ thành công khi đã tận tâm tận lực trước việc được giao.

Sinh hoa kết quả, ngày mùa bội thu, vẫn là mơ ước chung của chủ của thợ, diễn biến cuộc sống không có gì là quá khó khăn, nếu tình yêu đủ lớn. Tình yêu phát triển, ơn ban sinh ích lợi, chỉ là thật, khi tâm tính được gọt giũa, lời nói việc làm chuẩn mực trong các tương quan. Đức Giêsu thao thức làm sao cho mảnh đất tâm hồn các môn đệ, và tâm hồn chúng ta trổ sinh bông hạt, việc mơ ước thành quả vẫn là hợp lý hợp tình, khi người gieo luôn gieo hạt giống tốt. Đức Giêsu sẽ còn tiếp tục ban ơn, ban Lời hằng sống cho từng tâm hồn, dù sự thờ ơ làm tổn thương đến công cuộc gieo trồng của Đấng là Thầy là Chúa. Đức Giêsu đã giải thích tường tận về hạt giống đức tin, hạt giống Nước Trời chỉ sinh hoa kết quả, khi mỗi tâm hồn có đủ sức mạnh của tình yêu thương.

Sinh hoa kết quả, trổ sinh bông hạt, không phải là chuyện hên xui, mà hệ tại tác động của tình yêu và thao thức được Đấng là Thầy là Chúa, chăm sóc bảo vệ trước tai hại của sự xấu lấn át. Đức Giêsu có ý nói Thiên Chúa luôn ban phát dồi dào ơn hồn xác, dù Lời Chúa, thánh ý Chúa khó hiểu, thì tác động của tình yêu vẫn đang làm nên điều kỳ diệu. Để sinh hoa kết trái, để đến Nước Trời, nhẫn nại là điều cần thiết cho sự  biến đổi tâm tính, nhưng cẩn thận, để tự phụ và cố chấp không làm hoen ố mảnh đất tâm hồn. Chúng ta sẽ sai lầm khi cho rằng thành công ở đời được tính bằng thời gian, năng lực ta đầu tư, thay vì hạt giống đức tin đã nhận, cần phải sử dụng cách hiệu quả nhất. Tình yêu thật, kết quả sáu mươi, ba mươi, chính là sự hoà hợp giữa hạt giống tốt được gieo và mảnh đất tâm hồn có sự tương tác.

Sinh hoa kết quả không hệ tại giống tốt, mưa thuận gió hoà, mà còn tuỳ mảnh đất tâm hồn có chịu để thợ cày xới chăm sóc thế nào ? Làm việc có niềm vui mới khiến cho công việc được hoàn hảo, giống tốt đất mầu mỡ, vẫn cần đến kỹ thuật chăm sóc để cây phát triển, trổ sinh hoa trái ngon ngọt. Các môn đệ năm xưa rất tự tin về tài hùng biện của Thầy Giêsu, các ông còn hạnh phúc hơn khi Thầy giải thích lý do hạt giống gieo bên vệ đường, nơi sỏi đá, bụi gai, dù khó khăn, tình yêu của người gieo kẻ gặt vẫn không hề mất hy vọng. Mảnh đất tâm hồn được gieo trồng hạt giống đức tin, ơn ban phong phú dồi dào, dù có khác nhau về sự chuẩn bị, thì việc sinh hoa kết quả vẫn là điều thiết thực. Mỗi người kitô hữu là mỗi mảnh đất tâm hồn, dù khác nhau, nhưng ai cũng có cơ hội sống đức ái, trổ sinh hoa trái như lòng Chúa mong ước.

Có hai con chó con đang đùa giỡn với nhau ở sân nhà, một con mèo ở gần đó meo meo cằn nhằn: ăn no nhổng mỡ. Chú chó con trả lời bác mèo: hai chúng cháu chỉ đùa tí thôi, vì cô chủ lúc nào cũng khen chúng cháu đáng yêu. Chúng cháu chẳng hiểu “nhổng mỡ” là gì cả, chú giải thích đi ! Mèo ta bực mực mình, quát tháo: đồ dở hơi, tao không muốn có học trò như chúng mày. Chăm chỉ và nhẫn nại là hai nhân đức cần phải có của nhà nông, ngu dốt mà tỏ ra tài giỏi chỉ là trò hề cho thiên hạ, có đức có tài mà khiêm tốn, thế gian ai chẳng nể phục. Chó lớn mèo nhỏ đã không cân sức rồi, nhưng sống ở đời phải là khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương, mới chuẩn, mới đẹp. Đức Giêsu gieo niềm tin, gieo tình yêu thương vào mảnh đất tâm hồn, hẳn Ngài cũng mong muốn mỗi người hãy sống, hãy giúp nhau để cùng sinh hoa trái mang lại ý nghĩa tốt nhất cho người gieo kẻ trồng. Amen.

Về mục lục

MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Có người kia, không biết đã chuẩn bị ruộng vườn thế nào mà đã đi ra gieo giống. Trong khi người ấy gieo, có hạt rơi nơi vệ đường, có hạt rơi nơi sỏi đá, có hạt rơi nơi bui gai nhưng cũng có hạt rơi nhằm đất tốt. Thoạt nghe, chúng ta sẽ thấy điều này thật lạ. Lạ bởi nó chẳng giống với cách thức một nhà nông đích thực vẫn thường làm. Chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên và tự hỏi, bộ người này có dư thừa hạt giống hay sao mà bả đâu cũng vãi hạt giống? Thường người nông dân sẽ rất để ý đến khâu chuẩn bị ruộng nước chọn hạt, chọn giống đem ủ, rồi gieo vào ruộng. Nhưng ở đây, khi kể dụ ngôn “Người gieo giống”, Đức Giêsu muốn ám chỉ đến mảnh đất tâm hồn của mỗi người chúng ta.

Thực vậy, khi đến với Đức Giêsu, đám dông dân chúng có nhiều thành phần khác nhau. Họ khác nhau về giới tính, tính tình, tuổi tác, nếp suy nghĩ và cả mục đích. Điều này thật dễ hiểu. Mỗi người là một mảnh đất để Lời Chúa được gieo vào. Chúa Giêsu không ngần ngại nói cho chúng ta biết về tình trạng tâm hồn của từng người. Dụ ngôn “Người gieo giống” phần nào vén mở cho chúng ta về điều đó. Đọc dụ ngôn “Người gieo giống”, ai trong chúng ta cũng có thể thấy được tình trạng tâm hồn mình đang như thế nào. Nó có thể là vệ đường, nơi sỏi đá, gai góc hay may mắn là nơi đất tốt. Thực ra, tùy từng thời điểm mà tình trạng tâm hồn ta thay đổi trong cách thức đón nhận Lời.

Khi đến với Đức Giêsu, chúng ta chờ đợi điều gì? Có những người đến chỉ để được nghe Người giảng dạy, có người mong được ơn chữa lành, được trừ quỷ hoặc thậm chí có người đến với Chúa chỉ vì đám đông dư luận, người ta đi nên tôi cũng đi, đi cho biết, cho vui. Đức Giêsu thừa biết điều đó nhưng Người vẫn không ngần ngại dành thời gian, tình thương để giảng dạy và cứu chữa cho chúng ta. Kể dụ ngôn “Người gieo giống”, Đức Giêsu không chỉ nói cho chúng ta biết về tình trạng tâm hồn của chúng ta mà còn hé lộ cho chúng ta biết về lòng quảng đại của Người khi gieo vãi hạt giống Lời Chúa. Qua muôn thế hệ, hạt giống Lời Chúa vẫn được gieo vào những tâm hồn, bất luận họ thuộc ngôn ngữ, màu gia, văn hóa, độ tuổi nào.Chúa vẫn gieo vì Ngài tin rằng, mảnh đất tâm hồn của mỗi người sẽ thay đổi.

Nhưng phải thú thưc rằng, có những khi ta đã để cho Lời qua đi một cách nhanh chóng, có khi ta nghe nhưng lại chẳng thể nhớ được nội dung. Đó chẳng phải là người nghe Lời nhưng lại để cho quỷ dữ đến lấy đi Lời đã gieo. Lời chưa kịp mọc lên bởi nó được gieo nơi vệ đường. Lời mở ra cho chúng ta những lời mời gọi, chỉ cho ta hướng đi nhưng có khi Lời thách đố chúng ta, bắt chúng ta phải từ bỏ, chịu cắt tỉa. Với những ai đang bị những vinh hoa, lợi lộc trần gian vây bủa, bóp nghẹt, Lời vẫn được gieo nơi mảnh đất tâm hồn đầy gai góc. Có những kẻ khi nghe Lời thì vui vẻ, mau mắn đón nhận nhưng vì mọc nơi sỏi đá, không đâm rễ sâu nên nó vấp ngã, héo khô. Vậy để việc nghe được hiểu quả, chúng ta cần làm gì? Hay nói cách khác, để cho hạt giống Lời Chúa được sinh hoa kết quả trong cuộc đời của mỗi người chúng ta cần làm gì?

Thiết nghĩ, để việc lắng nghe Lời Chúa được hiểu quả, chúng ta cần xin ơn Chúa để biết được tình trạng tâm hồn mình. Mảnh đất tâm hồn ta lắm khi chỉ giống như nơi sỏi đã, gai góc, vệ đường nên Lời mới không có cơ hội trổ sinh hoa trái. Vậy chúng ta cần can đảm, khiêm tốn nhìn nhận tình trạng tâm hồn mình qua việc nhìn lại mình mỗi ngày, nhìn lại cách ta nghe Lời và sống theo Lời Ngài dạy. Có lắm khi ta nghe, hiểu nhưng lại thiếu quyết tâm để thực hiện. Bời đó mới có câu con đường từ tai đến tim, từ tim đến tay là con đường dài. Thiên Chúa luôn quảng đại đến với tâm hồn của mỗi người chúng ta. Điều chúng ta cần làm là tin tưởng vào Chúa để nhờ Ngài giúp sức mà ta có thể được biến đổi, từ một tâm hồn đầy sỏi đá, gai góc hay vệ đường có thể trở nên mảnh đất màu mỡ, cưu mang, đón nhận và làm cho Lời được trổ sinh nhiều bông hạt. Thiên Chúa cần con người cộng tác. Chúng ta hãy cộng tác với ơn Chúa trong từng ngày sống, hãy để cho lời của Chúa đụng chạm, biến đổi cuộc đời chúng ta nên tươi sáng. Một tâm hồn biết bằng đôi tai, lắng nghe bằng đôi mắt, và cả con tim sẽ có khả năng làm cho Lời được sống động trong cuộc đời.

Lạy Chúa! Chúng con cảm tạ Chúa vì tình thương bao la Chúa dành cho chúng con. Mỗi ngày Chúa vẫn đến với chúng con, dùng Lời và Thánh Thể Chúa để nuôi dưỡng chúng con. Xin Chúa giúp chúng con biết say mê, yêu mến Chúa và siêng năng tham dự thánh lễ. Chúa biết chúng con là những con người dễ đổi thay, xin Chúa giúp chúng con biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa, để nhờ Lời Chúa soi dẫn, chúng con đi đúng đường và được cùng nhau hưởng vinh phúc Quê Trời. Xin biến đổi chúng con trrong cách thức chúng con lắng nghe, đón nhận và sống Lời Chúa để mảnh đất tâm hồn chúng con được trở nên mảnh đất màu mỡ cho hạt giống Lời Chúa được trổ sinh nhiều bông hạt. Amen.

Về mục lục

 

GIEO VÀ ĐÓN NHẬN HẠT GIỐNG

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Phụng vụ hôm nay dùng hình ảnh ruộng đồng ở miền quê để diễn tả giáo huấn về việc đón nhận Lời Chúa. Những hình ảnh này gần gũi với người Do Thái cũng như với người Việt Nam chúng ta. Qua những hình ảnh đơn sơ bình dị, Chúa muốn gửi đến chúng ta những thông điệp mang ý nghĩa sâu sắc.

Người gieo giống được Đức Giêsu kể lại trong Tin Mừng mang những nét kỳ lạ: ông có vẻ như thiếu tính toán và hoang phí, vì gieo hạt cả vào vệ đường, bụi gai, sỏi đá. Tuy vậy, hình ảnh người gieo giống nhằm giới thiệu với chúng ta về Thiên Chúa. Ngài luôn quảng đại, hào phóng và mời gọi thiện chí của con người. Quả thực, nếu hạt giống không thể mọc ở bụi gai, ở vệ đường hay ở đá sỏi, thì Lời Chúa vẫn có thể sinh hoa kết trái nơi những người khô khan và chai đá, nếu họ thiện chí mở lòng đón nhận.

Cũng giống như hạt sương rơi xuống từ trời làm cho đất đai màu mỡ, Lời Chúa tác động và làm cho tâm hồn con người phục thiện (Bài đọc I). Lời Chúa đến với chúng ta có thể bằng nhiều hình thức khác nhau: một sự kiện, một biến cố hay một nhân vật. Đức tin giúp chúng ta nhận ra đó lời cảnh báo của Chúa, để đón nhận thông điệp Ngài gửi cho chúng ta. Khi thành tâm đón nhận Lời Chúa, chúng ta sẽ được bình an hạnh phúc trong tâm hồn.

Thiên Chúa luôn hào phóng gieo vãi hạt giống của Ngài trong mọi nền văn hoá, mọi truyền thống, mọi chủng tộc và mọi quốc gia. Những gì là tinh tuý trong các nền văn hóa ấy, được coi như “hạt giống” của Ngôi Lời vĩnh cửu. Thiên Chúa ghi khắc lề luật của Ngài trong nơi sâu thẳm của con người, để mặc dù chưa được nghe nói về Chúa, những ai thành tâm thiện chí sống theo tiếng nói của lương tâm, thì được kể là thuộc về Chúa và có thể nên trọn lành.

Chúa Giêsu chính là người gieo hạt giống Tin Mừng. Các tác giả Phúc âm kể lại, Chúa Giêsu đi khắp xứ Galilêa để loan báo Tin Mừng cứu độ. Người nói với chúng ta về Chúa Cha và kêu gọi mọi người hãy nhận ra Chúa Cha là Cha chung của gia đình nhân loại. Người gặp tất cả mọi hạng người, không phân biệt. Trong số đó, có những người rộng mở tấm lòng để đón nhận Lời Chúa, đoạn tuyệt với quá khứ tội lỗi và trở nên thánh thiện. Tuy vậy, cũng có những người khước từ lời giáo huấn của Chúa. Họ cho những lời ấy là “chối tai”, là “lỗi thời”, là “cứng cỏi”. Thời xưa cũng như thời nay, vẫn có những người đón nhận giáo huấn của Chúa và vẫn có những người khước từ. Tuy vậy, Chúa không vì thế mà ngừng gieo hạt giống. Trái lại, Ngài vẫn quảng đại vãi hạt giống khắp nơi.

Khi nêu lên bốn loại đất khác nhau trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn khuyên dạy chúng ta: hãy khiêm tốn nhìn nhận xem mình thuộc thể loại đất nào: đất vệ đường, đất có bụi gai, đất sỏi đá hay đất màu mỡ.  Đương nhiên, Chúa mong muốn và kêu gọi chúng ta hãy trở nên mảnh đất tốt, để Lời Chúa được gieo vãi sẽ sinh nhiều bông hạt. Công đồng Vatican II dạy: “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (Hiến chế về Mạc Khải, 21).

Đón nhận Lời Chúa và cộng tác phần mình làm cho Lời Chúa sinh hoa kết trái. Đó là một chuỗi những nỗ lực cô gắng hy sinh. Tâm hồn nào bề bộn những toan tính mưu đồ, không còn có chỗ để đón nhận Lời Chúa. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: những đau khổ hiện tại không thể sánh được với phần thưởng và vinh quang Chúa ban. Như người nông phu phải vất vả mới có một mùa bội thu, người tín hữu phải dầy công tôi luyện mới sinh hoa kết trái thiêng liêng.  Chúng ta không chỉ chờ đợi phần thưởng Chúa ban ở đời sau, khi đã kết thúc hành trình trần thế. Trái lại, người công chính được đón nhận phần thưởng ngay ở đời này, khi họ chuyên tâm thực hành Lời Chúa mà họ được nghe. Tiếc rằng nhiều giáo dân Việt Nam chúng ta chưa hiểu tầm quan trọng của Lời Chúa cũng như chưa nghiêm túc đón nhận Lời Chúa trong Phụng vụ. Vì thế, họ tham dự Thánh lễ như một thói quen và chiếu lệ. Những người này chưa thực sự là mảnh đất tốt để đón nhận Lời Chúa, nên khó sinh hoa kết quả. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Bài giảng ngày 26-01-2020 đã nói: “Để theo Chúa Giêsu, những việc làm tốt thôi chưa đủ, còn cần lắng nghe lời mời gọi của Người mỗi ngày. Chỉ có Người, Đấng biết và yêu chúng ta tận thẳm sâu, giúp chúng ta bước ra biển đời. Do đó, chúng ta cần lắng nghe Lời Chúa giữa hàng ngàn tiếng nói mỗi ngày, chỉ có Lời Chúa không nói với chúng ta những sự kiện nhưng về sự sống”.

Được mời gọi trở nên mảnh đất màu mỡ để đón nhận Lời Chúa, người tín hữu cũng được sai đi để gieo hạt giống Tin Mừng trong môi trường mình đang sống, tùy hoàn cảnh, khả năng Chúa ban. Đừng bận tâm và bức xúc về những thể loại đất xung quanh bạn. Điều quan trọng là bạn có nỗ lực và miệt mài gieo giống hay không. Gieo là bổn phận của chúng ta. Làm cho lớn lên và sinh hoa kết quả là hoạt động của ơn Chúa.

Về mục lục

QUẢNG ĐẠI YÊU THƯƠNG

Lm. Jos. DĐH.

Đối với người thực dụng, nơi đâu được no cơm ấm áo, đó là tổ quốc, ở đâu cuộc sống đầy đủ tiện nghi vật chất, đó là hạnh phúc, điều mà họ từng đầu tư, kiếm tìm. Là nông dân, là thương gia, hoặc người nhiều bằng cấp chức vị, có phải tất cả chỉ tồn tại trong yêu thương ? Và cuộc đời sẽ ý nghĩa biết bao, khi con tim và khối óc của ta luôn hoạt động không biết mỏi mệt. Cũng phải có lý do hết sức đặc biệt, tiền nhân chúng ta mới lưu ý hậu thế: có chí làm quan, có gan làm giầu. Làm quan, làm giầu, như thế nào là hiệu quả, là bền vững, có phải khi ta được huấn luyện, được đào tạo nghiêm túc, để trở nên người tốt, trở nên người hữu ích. Nhờ cha khôn mẹ khéo, nhờ được giáo dục tốt, phận làm con không thể lơ mơ về giá trị cuộc sống, trước nhu cầu hạnh phúc ở hiện tại tương lai, đó là dấn thân phục vụ, là quảng đại yêu thương.

Năm xưa Đức Giêsu lấy hình ảnh người gieo giống để diễn tả mầu nhiệm nước trời, nung nấu tình hiệp thông, thực thi lòng quảng đại thương yêu của Thiên Chúa cho khắp muôn dân. Ngày hôm nay, người tông đồ, người tín hữu, sống giới luật yêu thương vẫn đang hoạt động ở khắp cùng thế giới, cho dù các học trò của Thầy Giêsu còn hạn chế nhiều mặt. Theo quy luật tự nhiên, hạt giống tốt phải được gieo vào đất tốt, mới trổ sinh bông hạt. Trong phạm vi siêu nhiên, Thiên Chúa thông ban hạt giống đức tin cho tất cả thế giới, không loại trừ ai. Lời Chúa và ơn ban, mọi nơi mọi lúc, Thiên Chúa vẫn gieo vãi vào từng mảnh đất tâm hồn, nếu như mỗi người biết sử dụng tự do của mình cách tốt nhất.

Lời khuyên rất chân tình của người xưa: bất cứ nơi nào bạn đi tới, hãy mang theo cả trái tim. Vì chưng, hành trình đời người không chỉ có thắng-thua, thành công-thất bại, đến lúc hoàn tất đời người, danh thơm tiếng tốt của bạn còn đọng lại chút nghĩa tình cho hậu thế. Khi trưng dẫn dụ ngôn người gieo giống, Đức Giêsu cho thấy, không phải ông chủ, mà cả người gieo hạt, đều đã làm điều tốt đẹp nhất cho vụ mùa, dù kết quả bội thu cần có sự chuẩn bị tốt cho mảnh đất. Là cha mẹ, ta đang phản chiếu gương sáng đức tin cho con cháu như thế nào ? phận làm con cháu, ta đón nhận tình yêu thương của bậc sinh thành ra sao ? Là tu sĩ linh mục, ta có đủ quảng đại sống hết tình, hết mình, với sứ mạng rất riêng tư, và sống ơn gọi yêu thương Chúa Cha trao ban không ?

Thực ra thì từ khi mở mắt chào đời, ai cũng được cha mẹ ông bà, cộng đoàn giáo xứ, cộng đoàn giáo hội, và gia đình nhân loại, họ đã tạo điều kiện thuận lợi nhất, giúp ta đón nhận tình yêu thương, do đó họ có quyền kỳ vọng thành quả mà mọi người đã đầu tư. Từ khi được làm con Chúa, đời sống đức tin được lớn lên, không những gia đình, hội thánh, mà Đức Giêsu vẫn hiện diện, can thiệp, trợ giúp mảnh đất tâm hồn ta: đủ nắng ấm, đủ yêu thương, nên chẳng lý do gì mà hạt giống nơi tâm hồn ta không trổ sinh bông hạt. Theo phương diện tự nhiên, ai cũng cần phải cân nhắc tính toán việc đầu tư công sức của mình ; với Thiên Chúa, hạt giống đức tin và ơn ban, bao giờ cũng phong phú dồi dào nhất, tốt đẹp nhất cho từng tâm hồn.

Kinh nghiệm của tiền nhân thật đáng trân trọng: người không biết lo xa, tất gặp phải ưu phiền trước mắt. Người học trò không nghĩ tới tương lai, hẳn khó mà biết tận lực, cố gắng, với những thuận lợi khi đang ở bên cạnh người thầy mình. Đức Giêsu có lo cho các học trò không, khi Ngài nói dụ ngôn, giải thích dụ ngôn, rồi Ngài kêu gọi hãy sống tinh thần dụ ngôn: “…còn kẻ được gieo trên đất tốt, là kẻ đã nghe, hiểu và đem ra thực hành: hạt được 100, hạt 60 và hạt được 30”. Như nhà nông mong chờ ngày mùa bội thu, chủ doanh nghiệp đợi trông công nhân mạng lại sản phẩm hiệu quả nhất. Là Thầy dậy đức tin, Đức Giêsu đã từng kiên nhẫn hoà giải tình huynh đệ giữa phục vụ và quyền bính, giữa đói cơm bánh nuôi xác và của ăn nuôi hồn. lúc này, hẳn Thầy Giêsu còn muốn mong từng người chúng ta, hãy cùng Ngài sửa chữa, làm mới tâm hồn, phát huy tình đoàn kết yêu thương.

Sinh hoa trái thánh thiện, nhìn thấy kết quả mỹ mãn, chắc không phải chỉ dừng lại ở mơ ước, Chúa Giêsu đã từng sống quảng đại yêu thương cả tội nhân, hẳn Chúa cũng mong chúng ta là học trò, là linh mục, tu sĩ, tất cả phải nên giống Đấng ngự trên trời là Đấng trọn lành. Gia đình, xã hội, giáo hội, đều cần đến những con người toàn diện, những tâm hồn quảng đại yêu thương. Dù con người giới hạn còn phải tập luyện để trở thành thánh nhân, nhưng vì là con Chúa, là môn đệ của Chúa, xin hãy mặc cho chúng con tinh thần phục vụ, yêu thương. Xin tiếp tục chỉ dạy và bổ sức, giúp chúng con biết cộng tác với Thầy Giêsu, hầu được góp phần vào quy trình sinh hoa trái tốt đẹp như Chúa hằng mong muốn. Amen.

Về mục lục

CHUYỆN NGƯỜI GIEO HẠT

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Jim Rohn lấy dụ ngôn gieo giống để thuyết trình về bài học “Kiên trì để thành công”. Ông vừa là doanh nhân vừa là nhà thuyết trình và là tác giả, có nhiều ảnh hưởng giúp người khác thành công việc phát triển bản thân. Bài này viết theo bài học của ông.

Có hai điều người gieo hạt cần có: Kiên nhẫn và có hạt giống tốt. Bí quyết của Chúa Giêsu dạy các tông đồ thành công trong sứ vụ Tin Mừng và có thể diễn giải để thành công ngay trong cuộc sống thường ngày.

Mỗi một giả dụ đều có hai lựa chọn: Bỏ đi hay là tiếp tục.
Giả sử ta có một nội dung Tin Mừng sống động và lòng tin vào Tin Mừng một cách chắc chắn, đó là hạt giống tốt. Bạn ước muốn làm cho Tin Mừng bạn đang sống nảy sinh nơi tâm hồn người khác, hay là bạn có khát vọng cao để truyền đạt.

Chim trời đến ăn mất: Bạn bắt đầu gieo hạt cho vài người và trong số đó nhiều người bỏ đi.
Bạn nghĩ rằng Tin Mừng của bạn đang sống không thuyết phục được mấy ai, bạn theo đuổi những người bỏ đi, để cố gắng thuyết phục. Câu chuyện nhắc đến điều bạn đuổi theo mấy con chim để lấy lại hạt. Bạn đã bỏ lại cánh đồng và công việc đang gieo của bạn. Bạn đã thất bại, bỏ cuộc. Một số nghiên cứu cho thấy rằng 9/10 người bỏ đi kia là những người chưa quan tâm để bắt đầu.
Nếu bạn tiếp tục gieo, hạt giống bạn gieo sẽ nhiều hơn, chim trời ăn không hết sẽ có nhiều hạt còn lại. Bạn cứ gieo, số người quan tâm sẽ bắt đầu nhiều hơn.

Nhiều hạt rơi vào đá sỏi: Bạn gieo và có nhiều người nghe nhưng họ mau chán và bỏ đi.
Bạn nghĩ rằng, có gieo thêm chắc cũng không ăn thua gì, bạn bỏ cuộc. Thật đau lòng, bạn thấy có nhiều khó khăn, thử thách. Bạn không thể thay đổi hoàn cảnh, vì nắng nóng, vì sỏi đá, mau làm khô héo những hạt giống. Bạn thất bại, bạn bỏ đi chưa gặt hái được gì, mất cả hạt giống, vốn liếng.
Bạn tiếp tục gieo: Một số người có thể đã nghe bạn, nhưng họ đã bị phân tâm bởi lời những người khác nói với họ về những điều họ cần thay đổi thì mới có thể đón nhận hạt giống Tin Mừng, nên họ bắt đầu nghi ngờ và bỏ đi. Nếu bạn tiếp tục gieo, những người bỏ đi kia sẽ đặt lại nghi vấn về những điều người khác đã nói với họ có vẻ sai, họ tiếp tục quay lại với bạn để đón nhận hạt giống bạn gieo. Tiếp tục làm bạn tiến tới thành công.

Hạt rơi vào bụi gai; Bạn tiếp tục gieo, những người đã quay lại với bạn đón nhận hạt giống Tin Mừng. Sau một thời gian, họ có thể nghĩ về những chuyện khác cần hơn. Ví dụ như níu lại những cuộc vui chơi, những đam mê, chưa vội gì để đón nhận Tin Mừng. Trong cuộc sống có nhiều người thường bỏ qua những điều quan trọng lại mất thời gian vào chuyện cỏn con, vô ích, đánh mất cơ hội.
Nếu bạn ngừng gieo, Hạt giống chưa thể sinh hoa kết quả, bạn lại thất bại.

Nếu bạn tiếp tục gieo, câu chuyện bắt đầu khác, số người còn sót lại để tiếp tục đón nhận hạt giống bạn gieo, bắt đầu sinh hoa kết quả: hạt ba mươi, hạt sáu mươi, hạt một trăm.

Đó là thành công nếu bạn cứ kiên trì gieo hạt giống tốt. Điều này trong Thánh Kinh cũng nói tới “Số còn sót lại”, dù nhỏ nhưng là con số quan trọng, để hạt giống trổ sinh. Trong kinh doanh bạn cũng có thể áp dụng và thành công.

Tạ ơn Chúa đã cho chúng con bài học hay và quý giá.

Về mục lục

NGƯỜI GIEO HẠT

Jorathe Nắng Tím 

Hình ảnh đẹp ở người nông dân là gieo hạt, bởi khi gieo hạt, người ấy đã nói lên được những đức tính cao qúy của con người, đó là hào sảng quảng đại và tin tưởng, hy vọng.

Người gieo hạt thật hào sảng, quảng đại khi tay vung cao, vung xa những nắm hạt giống trên ruộng. Người ấy không so đo, ki bo khi gieo; không nhút nhát, nghi ngại khi tung cao và xa từng nắm hạt chặt tay; không tiếc nuối, xót xa ođng đếm từng hạt, nhưng cởi mở tấm lòng và vui vẻ qủang đại  gieo.

Cử chỉ gieo thật đẹp, vì gieo la cho đi, là dâng tặng, là trao ban; gieo là không giữ riêng cho mình thúng hạt giống, không đầu cơ tích trữ nhưng phân phát, chia sẻ với mọi người, nên người gieo hạt không thể là người ích kỷ, chỉ nghĩ cho mình, vun vén cho riêng mình.

Người gieo hạt còn là người tin tưởng và hy vọng. Người ấy tin tưởng hạt giống được gieo là hạt giống tốt, tin tưởng hạt giống sẽ cho vụ mùa bội thu. Ông còn đặt tất cả hy vọng vào thửa ruộng đã được dọn, thửa ruộng mà ông luôn hy vọng sẽ mầu mỡ để cho hoa trái tốt tươi, mùa màng trù phú.

Đức Giêsu đến từ Trời để gieo hạt giống Nước Trời trong tâm hồn mỗi người, và Ngài ao ước hạt giống ấy lớn lên, sinh hoa kết trái, như ngôn sứ Isai đã loan báo: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc…” (Is 55,10). Và  suốt những năm tháng ở dương thế, Đức Giêsu đã dong duổi gieo hạt giống “Lời Thiên Chúa”, và với Giáo Hội, công cuộc gieo hạt Lời cứu rỗi ấy sẽ tiếp tục giữa muôn dân mãi cho đến tận thế.

Ngoài thái độ hào sảng, quảng đại và tin tưởng, hy vọng của người gieo hạt, Tin Mừng Matthêu còn làm nổi bật thái độ tôn trọng tự do của Đức Giêsu đối với  người đón nhận, khi Ngài đặt nặng phần trách nhiệm của người đón nhận Lời Thiên Chúa, như hạt giống được gieo.

Theo Ngài, mỗi người có tự do để đón nhận hay từ chối hạt giống Lời Thiên Chúa, và tự do để làm cho hạt giống ấy sinh sôi nẩy nở “gấp trăm, gấp sáu chục, gấp ba chục hay cháy khét, chết khô, chết nghẹt” (x. Mt 13,7-8), và nhấn mạnh tự do này bằng câu kết luận “lạnh” như gáo nước làm tỉnh người: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13,9).

Thực vậy, người gieo hạt đã làm phận vụ của mình với lòng qủang đại và tin tưởng, hy vọng. Người ấy đã không chỉ tin tưởng vào Hạt Giống tốt, mà còn hy vọng vào thửa ruộng mầu mỡ của tâm hồn người đón nhận. Phần còn lại là trách nhiệm của người đón nhận, bởi Lời Thiên Chúa không làm áp lực trên ai, không áp chế, áp đảo ai, nhưng tôn trọng tự do chọn lựa và đón nhận của mỗi người. Vì thế sẽ có hạt Lời Chúa bị mất đi trong những tâm hồn dửng dưng, kiêu căng, ngạo mạn; hạt Lời Chúa héo úa, còi đẹt trong những tâm hồn “ba phải”, cuốn theo chiều gió; hạt Lời Chúa chai cứng trong những tâm hồn vô cảm, ích kỷ, ăn người.

Nhưng dù thế nào đi nữa, dù rủi ro, khó khăn, nguy hiểm đến đâu đi nữa, người gieo hạt vẫn hào sảng, quảng đại gieo Lời Thiên Chúa, và tin tưởng, hy vọng vẫn có những thửa ruộng mầu mỡ, những tâm hồn được chuẩn bị chu đáo, những trái tim đã sẵn sàng đón nhận Hạt Tin Mừng và hăm hở làm cho Hạt ấy sinh hoa kết qủa gấp trăm, để đáp lại lòng qủang đại, tin tưởng, và kỳ vọng của người gieo là Đức Giêsu, Thiên Chúa.

Về mục lục

MẢNH ĐẤT ĐỜI TÔI

Maria Phạm Anh

Đối với nhà nông, khi nói đến từng loại đất, đất nào tốt – không tốt, họ biết rất chính xác và tùy vào giá trị dinh dưỡng của đất, mà người nông dân sẽ trồng những loại cây thích hợp để có một vụ mùa tốt. Trong bài dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh “đất” rất quen thuộc để nói đến cuộc đời chúng ta. Tâm hồn chúng ta được ví như những mảnh đất khác nhau. Có thể đó là mảnh đất sỏi đá của sự cọc cằn, cau có, khó chịu? Có thể đó là mảnh đất gai góc của lừa lọc, gian dối, ganh tỵ. Cũng có khi đó là mảnh đất cằn cỗi bên vệ đường của sự thờ ơ, dửng dưng trước điều lương thiện. Và tất nhiên, đó cũng có thể là mảnh đất tốt của những tâm hồn sinh hoa trái là điều thiện – những việc làm bác ái. Ai trong chúng ta cũng muốn tâm hồn mình là mảnh đất tốt, nhưng điều gì đã khiến cho tâm hồn chúng ta là những mảnh đất bạc màu và cằn cỗi? Làm thế nào chúng ta làm cho mảnh đất tâm hồn trở nên tươi tốt và sinh hoa trái?

Con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (x. St 1, 26. 31). Như vậy, thuở ban đầu, con người là mảnh đất tốt. Tuy nhiên, vì kiêu ngạo, tổ tông loài người đã sa ngã- phạm tội và tương quan với Thiên Chúa- Đấng Thánh Thiện đã bị phá đổ. Do vậy, con người dễ nghiêng theo chiều hướng xấu. Điều này đã làm cho mảnh đất tâm hồn con người chúng ta dễ trở nên sỏi đá, nhiều cỏ và xơ cứng hơn. Thật vậy, khi còn nhỏ, tâm hồn chúng ta đơn sơ như trẻ thơ trong trắng; nhưng khi lớn hơn, chúng ta bị ảnh hưởng bởi môi trường, hoàn cảnh, bị chìm vào trong “biển thế gian”, nên mảnh đất tâm hồn ấy dần dần đã bị hoá nên sỏi đá, đầy gai góc, và cả bị “bê tông hóa” nữa. Chắc hẳn, chúng ta biết truyện “Chí Phèo” của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo đã nói lên niềm khao khát: Tôi muốn làm người lương thiện, nhưng ai cho tôi lương thiện? Ngày nay, cũng có nhiều người như Chí Phèo khi tự bào chữa cho bản thân: Tôi muốn làm điều thiện, thương người; nhưng ai sẽ thương tôi, ai sẽ cho tôi cơm ăn, áo mặc, nuôi sống gia đình tôi? Dần dà, chúng ta đã quá quen và coi những chuyện ấy là bình thường trong xã hội!

Còn một nguyên nhân nữa làm cho mảnh đất tâm hồn chúng ta không tốt là đến từ chính con người chúng ta. Chúng ta không dám đối diện với sự yếu đuối, những đam mê, dục vọng, sự dữ đang xảy đến trong con người chúng ta. Dân gian có câu: “xấu che tốt khoe”. Điều này làm chúng ta dửng dưng trước sự thật, trước những điều không tốt của chúng ta. Đôi lúc chúng ta sợ hy sinh, sợ người khác hơn mình, sợ thiệt thòi theo “kiểu thế gian”. Điều quan trọng hơn, chúng ta chưa nhắm đến mục đích cuối cùng là đạt được hạnh phúc Nước Trời, mà chúng ta đang tập trung vào cuộc sống trần thế tạm bợ và những vật chất mau qua mà chúng ta tưởng rằng vĩnh hằng.

Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn gieo hạt trên mọi mảnh đất. Dù chúng ta là mảnh đất nào, Thiên Chúa vẫn đang từng ngày chờ đợi, vun xới cho mảnh đất tâm hồn chúng ta: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời, không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nảy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn” (Is 55, 10). Chúng ta hãy mở rộng tâm hồn và đón nhận chất dinh dưỡng cho mảnh đất đời mình từ chính Chúa, từ Lời Chúa, từ Thánh Thể. Chúng ta hãy mở lòng đón nhận tác động của Thần Khí- hành động theo tiếng lương tâm thúc giục để tìm kiếm hạnh phúc đích thật – là hạnh phúc trong Nước Trời. Chúng ta hãy nhắm đích ấy để tiến, đừng sự sung sướng, nhàn hạ, chức quyền ở thế gian làm chúng ta quên đi quê hương thật của mình.

Chúng ta đang sống trong thế gian, nhưng chúng ta không thuộc về thế gian. Dù theo mắt người đời, thế gian có vẻ đang thắng thế. Đừng lo! Chúng ta là những ngọn đèn cháy sáng với ánh sáng của Đức Kitô, ánh sáng sẽ lan tỏa sang những ngọn đèn khác, thế là tất cả ngọn đèn đều được thắp sáng. Dù chúng ta không thể thay đổi được cả thế giới, nhưng chúng ta có thể khởi đi từ những hành động nhỏ bé nơi chíng gia đình của chúng ta, nơi môi trường sống quanh chúng ta. Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta tập sống văn hoá Kitô giáo, loại bỏ dần văn hoá phàm tục; mỗi buổi tối, chúng ta quy tụ gia đình đọc kinh, năng tham dự Thánh lễ, tham gia vào các hội đoàn. Trong công việc, chúng ta làm với hết khả năng, tránh gian dối, không dùng những chất độc hại ảnh hưởng đến người tiêu dùng,… Trên hết, chúng ta hãy đặt tình yêu vào cuộc sống của chúng ta, lúc đó, chúng ta sẽ biết phải làm gì, như Thánh Phaolô đã khẳng định: cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm.

Lạy Chúa, theo thời gian, chúng con đã làm cho mảnh đất tâm hồn chúng con trở nên sỏi đá, xơ cứng, nhiều cỏ dại, gai góc khi chúng con chạy theo những lợi lộc thế gian mà quên mất Chúa đang yêu thương, chăm sóc cho mảnh đất tâm hồn chúng con. Xin cho chúng con biết can đảm cộng tác với Chúa trong việc cày xới mảnh đất tâm hồn chúng con qua việc lắng nghe Lời Chúa, ấp ủ Lời Chúa trong lòng, để hành động theo tác động của Thần Khí- theo tiếng lương tâm; nhờ đó, mảnh đất tâm hồn chúng con trở nên tươi tốt và sinh nhiều hoa trái: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5, 22-23). Amen.  

Về mục lục

SỨC MẠNH CỦA LỜI CHÚA

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Với dụ ngôn “người gieo giống” rất quen thuộc, phụng vụ Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta tới một chủ đề nền tảng, đó là “sức mạnh của Lời Chúa.” Chúng ta sẽ tập trung suy nghĩ ba điểm chính yếu của dụ ngôn: người gieo giống, hạt giống và những thửa ruộng khác nhau.

1- Thiên Chúa gieo trong hy vọng

Trước hết, dụ ngôn nói về người gieo làm cho chúng ta không thể không ngạc nhiên trước sự quảng đại đến mức phung phí của người gieo giống. Ông hành động như kẻ không chuyên nghiệp, vung vãi hạt giống khắp nơi và hầu như không để ý tới hạt giống sẽ rơi vào đâu: trên vệ đường, trên sỏi đá, trên bụi gai, cuối cùng may mắn trên đất tốt. Hình ảnh người gieo giống là biểu tượng về một Thiên Chúa của hy vọng: Người gieo trong hy vọng “spes in semine; ” Người quảng đại ban phát ân sủng và Lời Chúa cho con người, đến độ “phung phí” bất luận con người có xứng đáng hay có muốn đón nhận hay không. Người gieo giống là hình ảnh về một Thiên Chúa yêu hết mọi người và ban hạt giống Lời Chúa cho tất cả chúng ta. Hay nói như thánh Phaolô: “Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và đạt tới sự nhận biết chân lý” (x. 1 Tm 2, 4).

Theo cái nhìn đó, Thiên Chúa đã gieo những hạt giống chân lý trong thế giới này và trong các nền văn hóa, các tôn giáo dù chúng chưa được tin mừng hóa. Bởi thế, giáo phụ Giustinô (+165) gọi những giá trị trong các tôn giáo và trong các nền văn hóa là “Semi Verbi, ” những hạt giống của Lời. Đó là chân lý và những giá trị có nguồn gốc từ Thiên Chúa và chúng sẽ đạt tới sự viên mãn nơi Đức Giêsu Kitô. Những giá trị và những mầm chân lý đó giúp con người sống xứng đáng với nhân phẩm của mình và đặc biệt là giúp họ chuẩn bị đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu.

2- Hạt giống

Hình ảnh thứ hai trong dụ ngôn là “hạt giống.” Hạt giống biểu tượng những gì nhỏ bé nhưng lại chứa đựng một sức sống mãnh liệt hết sức kỳ lạ mà nhiều lúc không thể tin được. Hạt giống là biểu tượng của Lời Chúa, Lời được viết ra trong Sách Thánh. Lời Thiên Chúa được ban cho con người như là kim chỉ nam và là luật sống nhằm hướng dẫn đời sống con người. Lời Chúa có sức mạnh biến đổi thế giới và cuộc sống mỗi người trở nên đẹp đẽ và hoàn hảo hơn. Lời Chúa làm tăng trưởng các giá trị hiện có trong các nền văn hóa, thanh tẩy chúng và đưa chúng tới sự hoàn hảo. Lời Chúa là ngọn đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi. Thiên Chúa gieo Lời Chúa vào lòng chúng ta. Lời đó sẽ sinh hoa kết quả như mưa rơi xuống ruộng đồng, như tuyết rơi xuống mặt đất tưới gội đất đai, làm cho đất đai màu mỡ và làm ruộng đồng phì nhiêu sinh hoa kết quả cho con người như tiên tri Isaia nói ở trong bài đọc I.

Nhưng hạt giống Lời Chúa cũng chính là Đức Kitô Giêsu, vì Người là Lời sống động của Thiên Chúa, là Ngôi Lời nhập thể làm người và ở giữa chúng ta. Người là Hạt Giống thần linh có một sức mạnh vô tận. Hạt giống đó được gieo vào thế gian, bị thối nát và sinh ra nhiều hạt giống khác. Quả thật, nhờ cái chết và phục sinh của Người, Đức Kitô mang lại ơn cứu độ và hạnh phúc đời đời cho tất cả mọi người trên thế gian.

Thế giới này là cánh đồng của Thiên Chúa Cha. Nhờ hiệu quả của Lời Chúa và công trình cứu độ của Chúa Giêsu, thế giới này trở thành cánh đồng đẹp đẽ, phong phú và phì nhiêu như chúng ta chứng kiến hôm nay. Thành quả đó là do sức mạnh của Lời Chúa biến đổi.

3- Những mảnh đất khác nhau

Cuối cùng, dụ ngôn nói tới hạt giống được gieo trên bốn loại mảnh đất khác nhau:

1) Có những hạt rơi trên vệ đường, chim chóc đến ăn mất;
2) Có những hạt rơi xuống sỏi đá, nó mọc không sâu, và bị chết khô;
3) Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt;
4) Cuối cùng có những hạt rơi xuống đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được một trăm, hạt được sáu mươi, hạt được ba mươi.

Những thửa đất này được Chúa Giêsu giải thích để nói về tình trạng tâm hồn của mỗi người chúng ta. Thiên Chúa ban Lời và ân sủng cách quảng đại cho hết mọi người. Nhưng Người không ép ai phải theo. Ai có tai để nghe thì hãy nghe. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của chúng ta. Tuy nhiên, Thiên Chúa mời gọi chúng ta cộng tác với Người bằng việc mở tai, mắt và lòng chúng ta để đón nhận Lời Chúa. Chúng ta cũng được mời gọi chuẩn bị lòng mình trở thành mảnh đất tốt để Lời Chúa được bén rễ sâu và sinh hoa kết quả trong cuộc đời của chúng ta.

Mỗi người chúng ta hãy xét mình thuộc loại đất nào trước Lời Chúa. Kết quả của Lời Chúa tùy thuộc vào tình trạng tâm hồn của chúng ta. Hạt được 30, hạt được 60 và hạt được 100! Sự khác nhau tùy thuộc vào thái độ đón nhận Lời và thực hành Lời của mỗi người chúng ta. Bởi vậy, hôm nay chúng ta được mời gọi áp dụng những bài học sau đây:

Hãy yêu mến và siêng năng tìm hiểu Kinh Thánh và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống hằng ngày. Hãy chuẩn bị cho lòng mình là mảnh đất tốt để Lời Chúa dễ bắt rễ, thấm sâu vào tâm hồn và hãy để cho Lời đó uốn nắn và biến đổi suy nghĩ, phán đoán và hành động của chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng được mời gọi trở thành người gieo hạt giống Lời Chúa cho những người xung quanh chúng ta. Amen!

Về mục lục

SỐNG LỜI CHÚA ĐỂ TÂM HỒN LUÔN LÀ MẢNH ĐẤT TỐT

Lm. Jos. Quang Nguyễn

Chúa Giêsu giải thích rất rõ ràng “Dụ ngôn người gieo giống” rằng Thiên Chúa là người gieo giống. Con người và tâm trí của chúng ta là đất. Hạt giống là Lời Chúa.

Vậy, còn lại là vấn đề của chúng ta là làm sao tâm trí, con người chúng trở nên đất tốt để Hạt giống Lời Chúa sinh hoa kết quả tốt đẹp cho đời và làm rạng danh Thiên Chúa?

Có người nói đã là ruộng rồi thì làm gì có đá sỏi, vệ đường, bụi gai như dụ ngôn Chúa Giêsu kể hôm nay. Nhà chú giải Thánh Kinh nổi tiếng, William Barclay giải thích rằng: Đất sỏi đá, không phải là đất đầy những đá; nhưng là đất bình thường ở Palestine, một lớp đất mỏng trên mặt nhưng có tảng đá nằm ở dưới. Lớp đất có lẽ chỉ sâu chừng 4 hay 5 cm trước khi tới phần đá vôi. Đất có gai, dễ tạo nên lầm lẫn. Khi người gieo hạt giống xuống, mặt đất có vẻ được dọn sạch sẽ; nhưng ở trong đất vẫn còn những gốc rễ của cỏ dại, cây hoang, và gai góc sẵn sàng mọc trở lại. Mỗi người làm vườn đều biết rằng các loại cỏ dại mọc lên với một tốc độ nhanh chóng mà ít có hạt giống tốt nào có thể theo kịp. Hậu quả là hạt giống và cỏ dại mọc lên chung với nhau; nhưng cỏ dại mạnh mẽ hơn làm chết ngộp sự phát triển của hạt giống. Đất tốt, ở dưới sâu, thuần túy là đất mềm; hạt giống có thể đâm rễ sâu xuống tìm được dinh dưỡng, lớn lên nhanh chóng; và trong đất tốt nó sẽ phát sinh một mùa gặt bôi thu.

Tâm hồn mỗi người chúng ta cũng giống như thửa ruộng ở Palestine thời Chúa Giêsu, gồm đủ mọi loại đất cho nên Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay nói đến tính hiệu năng của Lời Chúa, tức Lời Chúa có sự sống rồi còn nó lớn lên và phát sinh hoa trái cứu độ: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà và tiết độ (Gl 5, 22- 23) là do mảnh đất tâm hồn, lòng trí chúng ta đó thôi.

Trong bài đọc 1, Đức Chúa phán qua miệng Ngôn Sứ Isaia rằng “cũng như nước mưa thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, hơn thế, lời từ miệng ta phán ra thấm vào lòng người sẽ không trở về với Ta cách hư luống nhưng thực hiện ý muốn của Ta” (Is 55,10-11). Qủa thế, đất mà không có nước thì đất có màu mỡ mấy chăng nữa nó không thể phát sinh sự sống, trái lại, nếu có nước đổ xuống đất thì tất yếu phát sinh sự sống cho muôn loài. Cho nên, mấy ngàn năm nay trên Sao Hỏa, Mặt Trăng… vẫn chưa có sự sống. Nước nguồn phát sinh sự sống muôn loài muôn vật, còn Lời Chúa thấm vào lòng người còn phát sinh sự sống mạnh hơn nhiều: nhờ Lời Chúa mà vạn vật được tạo thành từ hư không (St 1,1-31), nhờ Lời Chúa mà mọi bệnh hoạn tật nguyền được chữa lành (Mt 4,23), tha tội (Lc 7,48), khử trừ quỷ (Mt 8,16), người chết được sống lại (Ga 11, 43-44) và được sống đời đời (Ga 11,25-26). Cho nên, Chúa Giêsu nói: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4). Vì thế, trong Hiến Chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum số 21, Công Ðồng Chung Vaticanô II dạy rằng Lời Chúa có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội.

Qủa thế, “Lời Chúa là lời sáng tạo” (St 1,3-26); “sống động và linh nghiệm” (Dt 4,12) “Lời hằng sống” (Ga 6,68); “Lời mang lại ơn cứu độ cho muôn dân”. Vì thế, chúng ta phải đem Lời Chúa nhập vào mảnh đất tâm trí, lời nói, hành động của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, nghĩa là chúng ta phải “ăn” Lời, hấp thụ lấy Lời hằng ngày qua việc đọc, suy niệm và thi hành Lời Chúa. Vì chưng, Chúa thực hiện Lời của Ngài nơi mọi hoạt động, công việc của chúng ta qua việc sống Lời Ngài. Ngược lại, nếu chúng ta đọc Lời Chúa và không thi hành thì chẳng khác gì đọc bài báo. Điều đó chứng tỏ chúng ta không tin vào sức mạnh của Lời Chúa, như thế đức tin của chúng ta đã chết rồi. Vì vậy Thánh Giacôbê khuyên: “Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình. Thật vậy, ai lắng nghe Lời Chúa mà không thực hành, thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi, và quên ngay không nhớ mặt mình thế nào. Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo -luật mang lại tự do-, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gc 2,22-25).

Vâng, xin vâng và thi hành Lời Chúa ở bất cứ lúc nào và hoàn cảnh nào, bất cứ hạng người nào dù thánh hay tội nhân, dù hạnh phúc hay đau khổ thì nhờ sức mạnh của Lời Chúa, con người và cuộc sống của chúng ta phát sinh hoa thơm trái ngọt cho mình và cho đời. Cụ thể, Ông Phêrô đã vất vả thả lưới suốt đêm mà chẳng bắt được con cá nào mà chỉ khi Chúa Giêsu truyền lệnh và ông vâng Lời Chúa thì được mẻ cá đầy thuyền (Lc 5,1-11). Rõ ràng rằng vì tin và vâng Lời Chúa nên Phêrô bắt được cá, ngược lại chính sự tự cao, quên Chúa, quên Lời Ngài nên cả đêm chẳng bắt được con cá nào. Không phải nhờ vào khả năng của chính mình mà Phêrô bắt được cá, nhưng nhờ tin và thi hành Lời Chúa truyền. Thế rồi, cũng chính vì tin rằng Lời Chúa Giêsu uy lực nên chị phụ nữ tội lỗi cấp thành phố đã sẵn sàng làm tất cả để được thứ tha và đem lại nguồn bình an và hạnh phúc đích thực cho đời chị (Lc 7,37-47). Rồi, một người tội lỗi tầy trời như chàng thanh niên Augustinô đã tin vào Lời Chúa và thi hành Lời Chúa dạy, Chúa đã biến mảnh đất tâm hồn của Ngài đầy sỏi đá, bui gốc thành mảnh đất tâm hồn là đời sống thánh và thiện mà mọi người hôm nay gưỡng mộ.

Qua Lời Chúa hôm nay, suy đi xét lại, tâm hồn chúng ta thuộc loại đất nào? Đất sỏi đá, đất đầy gai góc hay đất phì nhiêu? Nhưng dù mảnh đất nào đi nữa chúng ta phải luôn canh tác, cải tạo cho nó, tức tâm hồn chúng ta luôn tỉnh thức trước những cơn cám dỗ, cầu nguyện kết hiệp liên lỉ với Chúa, ăn năn sám hối khi trót phạm tội với Chúa và tha nhân, lúc đó mảnh đất tâm hồn ta mới có thể đón nhận hạt giống Lời Chúa hầu hạt giống này làm cho cuộc sống chúng ta thánh thiện, hạnh phúc và bình an đồng thời phát sinh ơn cứu độ cho người khác. Muốn có được một mùa gặt bội thu, người nông dân phải dọn ruộng, dọn đất, phải chăm sóc cho hạt giống nảy mầm và lớn lên, phải ngăn ngừa và đẩy lùi mọi yếu tố, mọi tác nhân gây thiệt hại cho hạt giống và cây trồng. Mùa gặt thiêng liêng của chúng ta cũng phải làm như vậy. Nếu tâm hồn chúng ta có những sói đá là kiêu ngạo, nghe Lời Chúa mà không sống Lời Chúa, ích kỷ… thì chúng ta cần phải cày sâu cuốc bẩm bằng việc khiêm nhường, đọc và cầu nguyện với Lời Chúa để thấy những viên sỏi đá ấy, lượm và vất đi qua việc năng chịu các Bí Tích. Nếu tâm hồn chúng ta là bụi gai, gai của đam mê dục vọng tội lỗi, gai của gian dối, lọc lừa, gai của kỳ thị, khinh người, gai của các loại tội lỗi khác… thì chúng ta cần phải phát hoang, đào bậc gốc bụi ấy mà bỏ đi ra ngoài tâm trí, hành vi trong cuộc sống chúng ta bằng việc sống thi hành các giới răn của Chúa và Hội Thánh, nhất là Lời Chúa hằng ngày. Còn nếu tâm hồn chúng ta có những vệ đường của tội trong gia đình hay cộng đoàn của chúng ta đang sống như vệ đường của việc bất hiếu, không vâng lời bề trên, giận hờn ghen ghét, vợ chồng ngoại tình, con cái hoang đàng, cộng đoàn xào xáo nhau… Chúng ta cần phải dẹp bỏ những vệ đường này bằng việc Mến Chúa yêu người hết lòng, sức sức và hết linh hồn có như thế hạt giống Lời Chúa phát sinh hiệu năng nơi tâm hồn, cách sống và hành xử của chúng ta giống như Chúa và các thánh trong gia đình và cộng đoàn xã hội, lúc ấy Lời Chúa khi được gieo vào mới có hy vọng sinh hạt 30, hạt 60 và hạt 100 như lòng Chúa mong ước.

Lạy Chúa, Lời Chúa là lời ban sự sống, xin giúp chúng con biết cúi xuống nhặt những hạt giống Tin Mừng bên vệ đường để đặt vào trong cuộc sống hằng ngày của mình, và biết quăng đi những sỏi đá, là những dịp tội gây cớ vấp phạm cho tha nhân, đồng thời luôn can đảm nhổ đi những gai góc là những đam mê bất chính, là nguyên do đưa đến sự tha hóa của chúng ta. Xin cho con biết noi gương các thánh luôn biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày của chúng con để nhờ đó chúng con có thể làm sáng danh Chúa và mưu ích cho tha nhân. Amen.

Về mục lục

HY VỌNG

Lm Vũđình Tường

Nông gia sống trong hy vọng. Sau những ngày tháng vất vả làm việc họ hy vọng một mùa gặt thành công. Niềm hy vọng bắt đầu khi họ gieo trồng vụ mới. Hạt giống tăng trưởng, mạnh khoẻ, tươi mát, mang đến cho chủ ruộng, vườn, niềm hy vọng dạt dào, tươi mát như cánh đồng họ gieo trồng. Niềm hy vọng, niềm vui lệ thuộc vào sức sống, mức tăng trưởng của cây trồng.

Khi gieo hạt, họ cố gắng làm sao cho các hạt rơi vào vùng đất tốt. Bao lâu hạt còn nằm trong tay, nông gia còn kiểm soát được hạt giống, một khi đã vung nó khỏi tay, nông gia không còn cách nào kiểm soát được hạt giống sẽ rơi vào đâu? Vì thế có hạt rơi vào bờ mương, có hạt rơi vào bụi lác, có hạt rơi vào đất sét, đất phèn, có hạt rơi vào đất tốt. Hạt giống là loại chọn lựa, giống tốt, nên tất cả các hạt đều mọc lên, nhưng không phải các hạt đều sống sót, cho hoa trái nặng cành. Hạt giống bị chim trời tha mất, sâu bọ cắn phá, thiếu độ ẩm, thiếu dinh dưỡng nên sống lây lất trước khi tàn héo. Những hạt rơi vào đất tốt sẽ cho vụ mùa tươi tốt, hạt năm mươi, hạt một trăm. Đức Kitô dùng hình ảnh người nông dân, một hình ảnh gần gũi, quen thuộc để nói về nước trời. Đám đông dân chúng nghe người giảng dậy. Kẻ tin, người không; kẻ hiểu nhiều, người hiểu ít và kẻ không hiểu gì. Đức Kitô cho biết lí do họ không hiểu bởi họ thiếu niềm tin vào Ngài. Để hiểu được dụ ngôn Ngài giảng dậy, việc quan trọng, cần thiết phải có đó là niềm tin vào Đức Kitô. Thiếu niềm tin, nghe tai này Lời Chúa lọt tai kia, biến mất. Niềm tin là bước khởi đầu dẫn đến hiểu biết điều Đức Kitô rao giảng.

Dụ ngôn người gieo giống, hạt giống, Lời Chúa, tuyệt vời. Ruộng đất là cõi lòng, tâm trí con người. Ngoài tầm kiểm soát của nông gia là thời tiết, khí hậu. Kế đến là số trái từng hạt giống. Tất cả lệ thuộc vào thiên nhiên. Môn đệ Đức Kitô rao giảng Tin Mừng cũng làm việc hết khả năng. Dẫu thế vẫn không tránh khỏi giới hạn, sai lầm. Nông gia lệ thuộc vào thiên nhiên; môn đệ Đức Kitô lệ thuộc vào Thiên Chúa. Những ai đón nhận Lời Chúa trở thành môn đệ và được mời gọi chia sẻ tránh nhiệm gieo hạt giống Tin Mừng.

Đám đông nghe Đức Kitô rao giảng, họ hiểu khác nhau. Môn đệ Đức Kitô hỏi và Ngài giải thích thêm cho. Người không tin đòi thêm dấu lạ vì thế Đức Kitô cho biết mầu nhiệm nước trời ‘Anh em được ơn hiểu biết các mầu nhiệm nước trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất’. Mat 13, 11.

Môn đệ Đức Kitô tin vào Ngài và họ hiểu biết thêm về điều Ngài giảng dậy. Hiện tại môn đệ Đức Kitô không hiểu ngay những điều Đức Kitô giảng dậy; tuy nhiên họ sẽ được Thánh Thần Chúa hướng dẫn để từ từ hiểu sâu hơn. Đám đông từ chối, không tin. Đám đông chọn sống theo bản tính tự nhiên của con người. Thói tự nhiên con người là tự mình làm chủ mình, tự mình quyết định số phận mình. Môn đệ Đức Kitô tin theo, sống theo giáo huấn Ngài, cuộc sống họ thay đổi, hy vọng trở nên giống Đức Kitô hơn trong cách xử thế và đời sống tâm linh. Nông dân sống trong hy vọng, môn đệ Đức Kitô cũng luôn sống trong hy vọng. Niềm hy vọng của môn đệ là chân thật, bởi niềm hy vọng đó không phải do khả năng con người làm nên, mà chính là do Đức Kitô hứa ban cho những ai đón nhận và trung tín với giáo huấn Ngài. Ngài là niềm hy vọng và là sự sống trường sinh của môn đệ.

Dụ ngôn người gieo giống chính là dụ ngôn kêu gọi Kitô hữu xét nghiệm lối sống Kitô hữu của mình. Lời Chúa không thay đổi, con tim con người, mảnh vườn, luôn thay đổi, ảnh hưởng bởi đau khổ, bệnh tật, của cải và hào nhoáng xã hội. Rất có thể trong một ngày có lúc Kitô hữu cảm thấy rất gần Chúa, yêu mến Ngài. Lại cũng có lúc cảm thấy đồng hành với vật chất, có lúc yêu thích danh vọng, có lúc thích làm bạn với thú vui trần thế. Chúng ta cầu xin vững tin vào Đức Kitô, nếu có đi sai đường thì mau biết ơn trở về cùng Đức Kitô.

Về mục lục

ĐẤT TỐT

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Sau khi kể dụ ngôn người gieo giống, Chúa Giêsu cắt nghĩa:“Người gieo giống đây là người gieo lời” và đề cập tới thái độ khác nhau của người nghe. Hạt giống Lời Chúa là yếu tố chính của dụ ngôn. Hạt giống này tự nó có sức trổ sinh hoa trái, nhưng khi được gieo vãi thì gặp những hoàn cảnh đối nghịch tùy vào thái độ chấp nhận cộng tác của con người lãnh nhận Lời Chúa. Người gieo giống ở đây là chính Thiên Chúa, Ngài gieo vãi khắp nơi, trao ban nhưng không ơn cứu rỗi cho mọi người. Thiên Chúa có sáng kiến trước, nhưng con người cũng cần cộng tác.

Chúa Giêsu mô tả số phận của mỗi hạt giống tùy thuộc vào vùng đất tiếp nhận nó. Hạt giống gặp phải không chỉ những khó khăn nội tại do từ các loại đất: vệ đường chai cứng, đất đầy sỏi đá, đất đầy bụi gai, nhưng còn những chướng ngại đến từ bên ngoài: chim trời, nắng cháy. Tuy vậy, “có những hạt giống rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục”.

Chúa Giêsu giải nghĩa 4 loại đất, tiêu biểu cho 4 thái độ của con người trước Lời Chúa (SCĐ):

  • Ðất vệ đường: những kẻ chẳng thiết tha gì đến Lời Chúa. Lời gieo xuống đó chẳng bao lâu thì bị quỷ dữ cướp đi.
  • Ðất lẫn sỏi đá: những người mau mắn đón nhận Lời Chúa nhưng không quý chuộng bao nhiêu. Khi gặp chút gian khó thì bỏ cuộc.
  • Ðất có nhiều gai: những người cũng đón nhận lời Chúa, nhưng điều họ quan tâm hơn là những đam mê, vui thú, của cải… Các thứ sau này như gai góc um tùm dần dần làm cho Lời Chúa chết ngạt.
  • Ðất tốt: những người sốt sắng nghe Lời và quảng đại thi hành.

Chúa Giêsu gieo Lời Hằng Sống của Ngài một cách hào phóng cho hết mọi hạng người, không trừ một ai. Tuy nhiên, chỉ những ai mở rộng lòng mình đón nhận thì Lời Ngài mới sinh hoa kết quả. Chúa Giêsu sánh ví Lời Ngài với hạt giống. Hạt giống được gieo vào những mảnh đất tốt, chắc chắn sẽ sản sinh một mùa gặt bội thu.

Theo cha Mark Link, có ba bước trong việc lắng nghe Lời Chúa, mỗi buớc một tiến hơn :

Bước thứ nhất là nghe Lời Chúa. Chúng ta có thể gọi đây là bước của trí não. Bước này bao hàm việc chăm chú lắng nghe, đọc và giải thích Kinh thánh.

* Bước thứ hai là trân trọng tích giữ Lời Chúa. Bước này có thể được gọi là bước của trái tim, bao hàm việc ghi sâu vào lòng lời ta vừa nghe, và suy nghĩ xem có cách nào áp dụng lời ấy vào cuộc sống và làm sao để lời ấy biến cuộc sống của chúng ta nên tốt đẹp hơn. Bước thứ hai này không nhất thiết xẩy ra tại nhà thờ. Nó có thể khởi sự tại nhà thờ nhưng thường kéo dài suốt tuần lễ sau khi chúng ta suy nghĩ Lời Chúa đã nghe hôm Chúa nhật.

* Bước thứ ba là đem Lời Chúa ra thực hành. Nếu chúng ta gọi bước thư nhất là của “trí não”, bước thứ hai là của “trái tim”, thì chúng ta có thể gọi bước thứ ba là bước của “linh hồn”. Bước này bao hàm tác động lên những gì trí óc chúng ta lãnh nhận và con tim chúng ta tích chứa giữ gìn.

Xuyên suốt dòng lịch sử cứu độ, người gieo lời đó là chính Thiên Chúa, qua các tổ phụ, các ngôn sứ, và cuối cùng là Chúa Giêsu Kitô, Con Một của Thiên Chúa (Dt 1,1-3). Trước khi về trời, Chúa Giêsu lại sai các Tông đồ ra đi “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”, và Hội Thánh cũng như mỗi kitô hữu tiếp tục sứ mạng ấy cho đến ngày tận thế.

Hạt giống Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô đã đến với quê hương Việt Nam gần năm thế kỷ.Trước đó cả ngàn năm đã có ba tôn giáo lớn là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo và Tín Ngưỡng dân gian ăn sâu vào tâm hồn người Việt Nam. Phong tục tập quán, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam, đã được nhào luyện bởi tất cả những mầm sống cũng như giới hạn các tín ngưỡng đó.

Trên nền tảng một đời sống tâm linh phong phú mà Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo và nhất là Ðạo Ông Bà đã xây dựng từ hơn một ngàn năm, hạt giống Tin Mừng đã nẩy mầm và trổ sinh nhiều hoa trái. Tinh thần hiếu khách, lòng bao dung làm cho người Việt Nam sẵn sàng tiếp xúc với những người tỏ ra có thiện cảm với mình, cho dù họ từ xa đến. Với những đức tính như lòng hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ, kính trên nhường dưới trong gia đình, với một đời sống yêu thích tĩnh mịch và chiêm niệm, tâm hồn người Việt Nam là một mãnh đất tốt để đón nhận những giá trị thiêng liêng hàm chứa trong Tin Mừng.

Nhờ các nhà truyền giáo, từ các thế hệ tiền nhân, người Việt đã nhận lãnh nhiều điều tốt lành: những thường thức về vệ sinh, khoa học, những hiểu biết mới, những đồ vật quý hiếm cũng như những trợ giúp vật chất dù rất khiêm tốn, những nhân vật thánh thiêng đầy nhân ái… khiến họ, nhất là những người thuộc lớp bình dân, sẵn sàng đón nhận giáo lý mà những người tốt lành như vậy mang đến cho họ. Nhờ đó những tập tục phi lý và phi nhân (bùa mê, sát tế) như một gánh nặng đè lên cuộc đời của họ nay được cởi bỏ. Khi đã tìm gặp một vị thần đầy yêu thương, họ liền cảm thấy được giải thoát và tin theo.

Rao giảng Tin Mừng cho họ cần gắn liền với phát triển cuộc sống, quan tâm săn sóc sức khỏe, nâng cao văn hóa giáo dục. Người truyền giáo cần phải sống giữa những anh chị em này và chia sẽ đời sống của họ. Ðó là điều cần phải làm trước tiên và đó là chìa khóa thành công của một nhà truyền giáo thật sự. Cần huấn luyện những cá nhân trưởng thành và những tổ chức tự lập ngõ hầu những thành phần của địa phương có thể rao giảng phúc âm cho chính đồng bào của họ và cung cấp những giáo dân có đức tin vừng mạnh, có trình độ trí thức tốt, có khả năng làm việc cách hăng say giữa anh chị em mình.

Tôi có dịp đi du lịch hành hương đất nước Hàn Quốc. Theo linh mục Piero Gheddo, thuộc Hội Truyền Giáo Nước Ngoài Milano: “Trong suốt 50 năm qua có lẽ đã không có quốc gia nào trên thế giới có được sự phát triển liên tục trên mọi bình diện chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo như Hàn Quốc. Sự phát triển mạnh mẽ này cũng xảy ra đối với Kitô giáo nữa. Thật thế, từ năm 1960 đến năm 2010, dân số Hàn Quốc từ 23 triệu đã tăng lên 48 triệu người. Lợi tức bình quân tính trên đầu người gia tăng từ 1.300 USD lên 19.500 USD hằng năm. Số Kitô hữu từ 2% tăng lên 30%, trong đó có khoảng 11% là tín hữu Công giáo, tức khoảng 5,4 triệu. Số linh mục từ 250 lên đến 5.000”. (Nhật báo Avvenire (Tương lai), cơ quan ngôn luận chính thức của Hội đồng Giám mục Italia số ra ngày 8-4-2012).

Với hơn 5.000 linh mục hiện nay, tính bình quân, mỗi vị coi sóc 1.100 tín hữu. Hồi năm 2008, số tín hữu Công giáo đã vượt 10% tổng số dân Hàn Quốc và gia tăng 3% mỗi năm.

Theo thống kê của Giáo Hội năm 2009, số người lãnh nhận bí tích Rửa tội đã là 159.000, và đã có 149 phó tế được thụ phong linh mục, tức gia tăng 21 vị so với năm 2008. Trong năm 2009 có 69% người Hàn Quốc thuộc lứa tuổi 23 tới 40. Điều này cho thấy người dân Hàn Quốc rất trẻ trung và tràn đầy sức sống.

Đức Hồng y Nicholas Cheong Jin Suk, Tổng Giám mục thủ đô Seoul, cho biết trong 10 năm qua, số tín hữu Công giáo Hàn Quốc đã gia tăng từ 3 lên đến hơn 5 triệu, khiến cho Giáo Hội Hàn Quốc là Giáo Hội tiến triển mạnh nhất châu Á. Tại Hàn Quốc, quyền tự do tôn giáo được hoàn toàn tôn trọng.

Hiện nay Giáo Hội Hàn Quốc đang sống chương trình gọi là “Rao giảng Tin Mừng hai mươi hai mươi”, có nghĩa là mọi tín hữu trong Giáo Hội phải dấn thân truyền giáo làm sao để vào năm 2020, số tín hữu Công giáo đạt tỷ lệ 20% tổng số dân Hàn Quốc, nghĩa là gia tăng gấp đôi số tín hữu hiện nay lên 10 triệu.

Loan báo Tin Mừng là chia sẻ cuộc sống, một cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, và yêu thương đến cùng (x. Ga 13,11), yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu (x. Ga 15,13).

Một Giáo Hội khiêm nhu nhỏ bé dễ hòa mình vào giữa đại đa số những người nghèo của Châu Á. Và một Giáo Hội không quyền lực dễ gần gũi số đông những người chỉ mơ ước được làm người, được cơm no áo ấm, được học hành và có việc làm. Vì phải chăng đã đến lúc cần sáng tạo ra những “mô hình” mới của Giáo Hội như là những cộng đồng nhỏ bé, dễ hòa mình vào những cộng đồng xã hội của người nghèo: những cộng đồng nghèo hơn, ít bề thế, ít cồng kềnh, khiến người ta không còn e dè sợ hãi khi tiếp cận, gặp gỡ, những cộng đồng mở rộng hơn là khép kín. Sau cùng đó là những cộng đồng quan tâm nhiều hơn nữa đến đời sống toàn diện của con người, không chỉ khép kín trong đời sống thuần túy tôn giáo, nghĩa là trong việc cử hành bí tích hay phụng vụ, mà còn dấn thân trực tiếp vào việc cải thiện đời sống vật chất, nâng cao văn hóa và giáo dục cho người dân, nhất là những người nghèo. Tục ngữ Việt Nam có câu: “có thực mới vực được đạo”. Giáo Hội không được sai đến để giải quyết vấn đề kinh tế xã hội… nhưng không phải vì thế mà Giáo Hội không quan tâm đến những vấn đề ấy. Chúa Giêsu đã loan báo Tin Mừng không chỉ bằng lời nói, mà Tin Mừng của Người là “làm cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết chỗi dậy” (Lc 7,22).

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hôm nay, truyền giáo chính là “làm muối,” “làm men,” “làm ánh sáng”… như những hình ảnh chính Chúa Giêsu đã dùng khi trao sứ mạng cho các môn đệ. Muối, men, ánh sáng thì không ồn ào áp chế, công việc của nó là âm thầm hiện diện, và chỉ cần hiện diện đúng như bản chất của mình, tự khắc môi trường xung quanh nó sẽ thấm mặn, sẽ dậy men, và sẽ đầy ánh sáng.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa chúc phúc cho những ai biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Xin giúp chúng con biết chuyên tâm lắng nghe, học hỏi, suy niệm và thực thi Lời Chúa như Mẹ Maria, như các thánh, để Lời Chúa sinh hoa kết trái trong tâm hồn chúng con. Xin cho chúng con luôn biết canh tân đời sống, cộng tác với ơn Chúa ban để trở thành những mảnh đất tốt đón nhận và làm phát triển hạt giống Lời Chúa. Amen.

Về mục lục

TRONG HỒN TA, LỜI CHÚA CÓ SINH TRƯỞNG?

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

Gieo giống là hình ảnh rất quen thuộc với người Việt Nam, vì đa số dân Việt sống bằng nghề cày cấy, ruộng đồng. Hôm nay Chúa dùng hình ảnh quen thuộc này để nói đến việc gieo hạt giống Lời Chúa trong cuộc đời này.

Chúa không bỏ sót bất cứ cơ hội nào dù nhỏ nhất, cũng không hề tiếc bất cứ hạt giống nào dù cơ may mọc lên có mong manh. Bởi đất có chai cứng như vệ đường, có khô cằn như sỏi đá, có rậm rạp như bụi gai thì Chúa vẫn quảng đại gieo lời của Chúa vào đó. Chúa kiên nhẫn chờ đợi hạt giống mọc lên.

Kết quả sau thời gian gieo vãi, đó là nhiều hạt giống gặp đất phì nhiêu đã trổ sinh gấp nhiều lần: ba mươi, sáu mươi, hay một trăm như lòng Chúa mong đợi.

Lịch sử Hội Thánh cho ta không ít bằng chứng về kết quả khi hạt giống Lời Chúa được gieo vãi: nhiều cuộc đời của nhiều người thay đổi, nhiều tội nhân trở thành thánh nhân. Chẳng hạn:

Chỉ với một nhắc nhở của bạn mình là thánh Inhaxiô: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì” (Lc 9, 25), khiến thanh niên Phanxicô Xaviê bỏ mọi ước muốn, mọi danh vọng nơi mái trường đại học Balê để vào dòng Tên, trở thành linh mục và thành nhà truyền giáo lớn cho Á châu.

Thánh Augustinô bứt phá ngoạn mục để đoạn tuyệt hoàn toàn với tội lỗi, giàu có, trải đầy nhung thảm của thế gian, sau khi được đánh động bằng một lời của Chúa trong thư Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Rôma: “Hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” (Rm 13, 12-14).

Thánh Phanxicô thành Assisi từ một thanh niên giàu có, se sua, sang trọng, trác táng, bỗng dưng tự nguyện trút bỏ mọi sự bởi được sức mạnh của Lời Chúa Giêsu: “Con hãy về bán hết của cải mà theo Ta” (Mt 19, 21) chinh phục.

Lời Chúa gieo vào lòng các thánh như hạt giống gieo vào đất mầu mỡ, đã trổ sinh hoa trái. Một khi quả quyết Chúa làm chủ đời mình, các thánh để mặc Lời Chúa hướng dẫn, chi phối toàn bộ cuộc sống. Lời Chúa thành lẽ sống duy nhất của các thánh.

Nếu người gieo giống luôn ham thích gieo trên đất tốt, đất đã được chuẩn bị, đã cày bừa cẩn thận, thì hạt giống Lời Chúa cũng cần đất tốt để sinh sôi nảy nở.

Dụ ngôn người gieo giống cho thấy, Chúa muốn tâm hồn mỗi người cũng trở nên đất tốt để hạt giống Lời của Chúa tồn tại, dễ dàng mọc lên, phát triển, sinh nhiều hoa trái, gây ích lợi thiêng liêng cho bản thân và anh chị em.

Như chúng ta, các thánh cũng bị chi phối bởi những ồn ào của thế gian, những đam mê tật xấu của con người, những ham muốn khoái lạc, dục vọng, sang giàu, danh giá… Nhưng các ngài hơn chúng ta ở chỗ, biết dùng Lời Chúa làm sức mạnh chế ngự mọi ham muốn. Các ngài chiến đấu để từng bước gạt những ồn ào, những đam mê và ham muốn ấy để có thể nghe tiếng Chúa ngày càng rõ ràng hơn.

Nhìn lại đời mình, ta cần chân nhận, bản thân chưa sống Lời Chúa được bao nhiêu. Trong khi đó, ta lại để tâm hồn xao xuyến trước mọi lo lắng sự đời, mọi đam mê, mọi tham vọng địa vị quyền hành, tiền của…

Ta cần ý thức hơn nữa dụ ngôn người gieo giống hôm nay, để tự chỉnh đốn mình, làm sao từ nay trở đi, tâm hồn thực sự là đất tốt, thực sự là nơi mà Chúa cần để hạt giống Lời của Chúa sinh sôi nảy nở, sinh lợi ích cho chính ta và nhiều người.

Để được vậy, Chúa Giêsu dạy ta:

– Phải chuẩn bị mảnh đất tâm hồn bằng thái độ sẵn sàng đón nhận lời Chúa.

– Phải chân thành sám hối vì từ trước đến nay, do thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, vô cảm với ơn Chúa, không quan tâm đến đời sống thiêng liêng của mình, mà Lời Chúa chưa thể đi vào trái tim, trí não và tâm hồn ta.

– Phải dành thời gian cho việc lắng nghe, suy niệm và sống Lời Chúa, đồng thời bớt tham lam tìm kiếm vật chất, tìm kiếm những kiểu sống vương giả trong cuộc đời này.

 – Biết thánh hóa, biết hiến dâng lên Chúa những biến cố, hoàn cảnh, thử thách xảy đến cho bản thân, gia đình và người thân… Xem chúng là tiếng Chúa nhắc nhở để can đảm tín thác vào Chúa và ly thoát những chèo kéo, những cuồng quay, những mãnh lực cuốn ta vào vòng xoáy của đời này, nhằm bật rễ đời ta khỏi những thứ tạm bợ.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết lắng nghe Lời Chúa, biết sống Lời Chúa, biết để cho Lời Chúa thấm nhập từng ngày vào đời sống chúng con. Nhờ đó, mỗi hành vi, mỗi lời nói, mỗi việc làm của chúng con đều phản ánh được sức sống của Lời Chúa đang bừng dậy trong tâm hồn chúng con. Amen.

Về mục lục

ĐỜI GIEO

Trầm Thiên Thu

Thành công và khổ luyện không bao giờ tách rời nhau. Không có bí quyết thành công, mà chỉ là chuyên cần làm việc và làm việc. Vả lại, làm việc còn giúp người ta không bị những thứ khác quấy rầy – đời thường cũng như tâm linh. Tục ngữ nói: “Thất bại là mẹ thành công.” Người ta có thể thất vọng khi thất bại, nhưng nếu không nỗ lực thì không thể thành công. Và thành công không đồng nghĩa với sự giàu sang phú quý.

Kinh Thánh nói: “Có khi lâm nạn lại thành công, gặp may mà hoá thiệt thòi.” (Hc 20:9) Thật vậy, sự thành công dễ dàng có thể khiến người ta ảo tưởng và ngủ quên. Sự thất bại giúp người ta “sáng mắt” hơn và cẩn trọng hơn, cũng nhờ thất bại mà người ta khả dĩ thấy rõ “con số không to lớn và rỗng tuếch” của mình, bởi vì Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15:5) Như vậy, thành công không phải là mục đích, và thất bại không phải là chấm hết, vấn đề quan trọng là có đủ can đảm để đứng dậy và tiếp tục bước đi hay không.

Sống là chuyện lâu dài cả đời chứ chẳng ngày một, ngày hai. Quá khứ không thể lấy lại, ngày mai chưa biết ra sao, không thể kiểm soát quá khứ hoặc tương lai, chỉ có thể kiểm soát hiện tại. Tùy ý mỗi người. Điều chắc chắn: Muốn Gặt thì phải Gieo, muốn Gieo thì phải có Hạt Giống. Hạt giống là thứ rất quan trọng trong nông nghiệp. Hạt giống phải là những hạt giống mẩy, chắc, có màu sáng. Hầu hết các loại hạt cây lương thực đều gồm ba phần là vỏ, phôi và phôi nhũ. Vỏ có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho hạt, không để phôi hạt bị hư hỏng, vì phôi là “sinh mệnh” của hạt, có nhiệm vụ nảy mầm để có thể trở thành cây con, còn phôi nhũ là phần chứa dưỡng chất của hạt, là phần nuôi cây con. Đúng là phức tạp thật chứ không hề đơn giản chút nào.

Quan trọng về hạt giống vì hạt giống tốt mới có thể nảy mầm tốt, lớn thành cây tốt, và sinh hoa trái tốt. Thật vậy, chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Xem quả thì biết cây.” (Mt 12:33; Lc 6:44) Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Về tinh thần, người ta cũng phải có loại “hạt giống tâm hồn” tốt để sống tốt, không thể hùa theo xu hướng xã hội. Tương tự, tâm linh còn cần hơn nhiều, nghĩa là phải có “hạt giống Lời Chúa” để phong phú hóa cuộc sống.

Mọi thứ đều liên đới với nhau – người và vật, cụ thể và trừu tượng. Quả và Cây, Gieo (trồng) và Gặt (thu hoạch) có hệ lụy với nhau. Nói và Nghe cũng vậy – vì người ta ví Nói là Gieo, Nghe là Gặt. Tương tự, Lòng và Miệng cũng không thể tách rời: “Lòng có đầy, miệng mới nói ra.” (Lc 6:45) Một hệ lụy tất yếu tiếp theo: “Nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án.” (Mt 12:37) Trong và Ngoài cũng “dính líu” với nhau. Chắc chắn cái ly có đầy thì mới tràn, người Việt có cách nói đơn giản như vậy.

Không gì tự nhiên mà có, những gì con cái có hôm nay là do công lao cha mẹ gây dựng, thậm chí từ thời ông bà để lại. Gian khổ lắm, cứ phải nhịn chứ chẳng dám “ra vẻ” hoặc “vung tay quá trán.” Về nông nghiệp, từ khi gieo tới lúc gặt là một quá trình gian khổ. Cái gì cũng có cái giá của nó, Thánh Vịnh gia nói: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng.” (Tv 126:5-6) Nỗi buồn và niềm vui, đau khổ và sung sướng, nụ cười và nước mắt,… đó là các cặp tương đồng về hai trạng thái khác nhau mà không đối lập, cũng như động thái gieo và gặt vậy. Gieo là lúc vất vả, gặt là lúc tận hưởng. Thật vậy, không có niềm hạnh phúc nào mà không có ít nhiều nước mắt – gian nan, khổ cực, hàm oan, hy sinh, chịu đựng,…

Vấn đề thời tiết cũng quan trọng, nghĩa là phải “lệ thuộc” Ông Trời. Trong quá trình Gieo và Gặt, không mưa thuận gió hòa thì con người cũng “bó tay” mà thôi, không thể “thay trời làm mưa” theo kiểu vô thần, mà có làm được mưa nhân tạo thì cũng chẳng thấm vào đâu. Rồi đến ngày thu hoạch, cứ tưởng “chắc ăn” nhưng rồi chỉ một cơn bão hoặc lũ lụt thì con người bỗng dưng trắng tay. Điều đó cho thấy Đấng Vô Hình mới làm chủ mọi thứ, Đấng đó chính là Thiên Chúa. Vừa kinh ngạc vừa kinh sợ, người ta tự hỏi về Đức Giêsu Kitô: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8:27; Mc 4:41; Lc 8:25) Vậy mà xã hội ngày nay vẫn có những kẻ “óc bò ổn định” thốt ra những lời thách thức, ngạo mạn.

Từ ngàn xưa, qua miệng ngôn sứ Isaia, Đức Chúa tuyên phán: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.” (Is 55:10-11) Thiên Chúa vô cùng “bình dân” khi dùng hình ảnh rất quen thuộc, rất thực tế, rất đời thường. Lời Chúa thực sự kỳ diệu và rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119:105) Không chỉ vậy, Lời Chúa còn có sức mạnh phi thường, không ai có thể cưỡng lại. Sức sống của loại “hạt” nào cũng mạnh mẽ, nhỏ bé mà vươn lên thành cây cao to.

Với kinh nghiệm sống và gieo “hạt” Lời Chúa, Thánh Vịnh gia chia sẻ: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi.” (Tv 65:10-12) Hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc, thật thú vị khi dân nhà nông có kinh nghiệm này: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.” Lời Chúa là nguồn giải khát thiết yếu, ước gì chúng ta cũng có thể nói được như Thánh Vịnh gia: “Con há miệng và con hớp lấy, vì khát khao mệnh lệnh của Ngài.” (Tv 119:131) Thật hạnh phúc nếu hằng ngày sống được như vậy!

Nhìn ngắm thiên nhiên không chỉ là thú vui và thưởng ngoạn mà còn có thể nhận biết Thiên Chúa, bởi vì thiên nhiên tràn ngập hình ảnh chứng tỏ quyền năng của Ngài: “Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ, cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh, chiên cừu phủ trắng đồng xanh, lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào, câu hò tiếng hát trổi cao.” (Tv 65:13-14) Khi nhìn ngắm thiên nhiên, người ta có thể nhận biết Thiên Chúa hiện hữu, không nhận ra Ngài cũng có thể đồng nghĩa với việc chối bỏ Ngài. Thật thú vị với cách phân tích về tội thờ ngẫu tượng: “Hết những ai không chịu nhìn nhận Thiên Chúa, tự bản chất là những kẻ ngu si. Từ những vật hữu hình tốt đẹp, chúng không đủ khả năng nhận ra Đấng hiện hữu, và khi chiêm ngắm bao công trình, chúng cũng không nhận biết Đấng Hoá Công. Thế mà, lửa với gió, hay làn khí thoảng qua, hay tinh tú bầu trời, hay nước chảy cuồn cuộn, hay đèn trời thắp sáng, chúng lại coi là thần, là những bậc quản cai hoàn vũ.” (Kn 13:1-2) Rất chính xác!

Thánh Phanxicô hân hoan chúc tụng: “Lạy Chúa, con ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dựng nên muôn loài, cách riêng là Anh Mặt Trời, Anh phân ngày đêm, Anh cho ánh sáng, Anh xinh đẹp và rạng ngời ánh quang chói lọi… Lạy Chúa, con ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dựng nên Chị Trăng và các tinh tú, tuyệt đẹp, trong sáng và lấp lánh trên bầu trời… Lạy Chúa, con ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dựng nên Chị Nước, thật hữu ích, khiêm tốn, cao quý và thanh sạch… Lạy Chúa, con ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dựng nên Anh Lửa, nhờ Anh, Chúa soi sáng đêm đen, Anh xinh đẹp, vui vẻ, mạnh mẽ, hăng say… Lạy Chúa, con ngợi khen Chúa, vì Chúa đã dựng nên Chị Chết, không ai có thể chạy thoát khỏi tay Chị…”

Dù bằng cách này hay cách nọ, hằng ngày chúng ta cũng “gieo” nhiều thứ qua ánh mắt, lời nói, thái độ, cử chỉ, hành động,… Có những thứ chúng ta có thể “gặt” ngay lúc đó, nhưng cũng có những thứ cần có thời gian. Dù lâu hay mau, trong khoảng “gieo – gặt” vẫn có một khoảng chờ đợi nhất định. Thánh Phaolô nhận xét: “Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người.” (Rm 8:18-19) Đó là khoảng chờ đợi, khoảng hy vọng, luôn rất cần có sự kiên trì.

Và rồi Thánh Phaolô vừa giải thích vừa xác định: “Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.” (Rm 8:20-21)

Có hạnh phúc vì có tự do, có tự do vì được giải thoát. Thánh Phaolô cho biết: “Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa.” (Rm 8:22-23) Đó mới là lúc thực sự được giải thoát, được thu hoạch chính những gì chúng ta đã “gieo” trong suốt cuộc đời. Ai gieo giống tốt thì bội thu, ai gieo giống xấu thì cũng thu hoạch, nhưng chỉ thu hoạch những cái xấu xa, độc hại, và nguy hiểm.

Trình thuật Mt 13:1-23 (≈ Mc 4:1-20; Lc 8:4-15) đề cập dụ ngôn liên quan Hạt Giống: Một hôm, Đức Giêsu từ nhà ra ngồi ở ven Biển Hồ. Dân chúng tụ họp bên Ngài rất đông, nên Ngài phải xuống thuyền, còn tất cả dân chúng đứng trên bờ. Hôm đó, Ngài dùng dụ ngôn Người Gieo Giống để giáo huấn họ về đời sống tâm linh – và liên quan “hạt” Lời Chúa.

Chúa Giêsu đưa ra bốn loại hạt biểu thị cho bốn loại người: Thứ nhất là loại hạt rơi xuống VỆ ĐƯỜNG và bị chim chóc ăn mất; thứ hai là loại hạt rơi vào vùng SỎI ĐÁ và bị cháy khô khi nắng lên vì thiếu đất; thứ ba là loại hạt rơi vào BỤI GAI và bị chết nghẹt vì bị gai mọc đè lên; thứ tư là loại hạt rơi vào ĐẤT TỐT và đơm hoa kết trái – gấp trăm, gấp chục.

Rồi Ngài nói: “Ai có tai thì nghe.” (Mt 13:9) Ôi, một câu ngắn gọn mà khiến chúng ta phải suy nghĩ nhiều. Tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói? Chính Ngài giải thích: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành.” (Mt 13:11-15) Đó là một dạng ung thư – xơ cứng cơ phận nào đó. Linh hồn cũng có thể bị ung thư nếu bị “chai sạn” hoặc xơ cứng. Cứng lòng cũng là tội xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, thế nên không đời nào được tha. (x. Mc 3:29; Lc 12:10) Ung thư tâm linh thật đáng sợ vì quá nguy hiểm!

Với các môn đệ, Chúa Giêsu xác định: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.” (Mt 13:16-17) Ngài cũng đang nói với tín nhân chúng ta như vậy. Chúng ta không diễm phúc như các tông đồ xưa được giao tiếp với Ngài, nhưng chúng ta lại có một mối phúc khác mà các tông đồ không có: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29)

Trong các Phúc Âm nhất lãm có khoảng 35 dụ ngôn, có lẽ dụ ngôn Người Gieo Giống khó hiểu nhất. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải giải thích: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13:19-23) Lời giải thích chính xác và rõ ràng, ai cũng có thể hiểu, và có thể biết mình thuộc loại hạt nào.

Thiết tưởng, đã là tín nhân, có lẽ chúng ta chưa đến nỗi là “hạt rơi xuống vệ đường,” nhưng rất có thể chúng ta là “hạt rơi vào đá sỏi” và “hạt rơi vào bụi gai,” bởi vì chúng ta có nhiều nỗi sợ hãi và lo lắng. Vả lại, đôi khi chúng ta còn ảo tưởng, có vẻ “ngoan ngoãn và hiền lành” khi ở trong nhà thờ, nhưng khi ra ngoài nhà thờ thì… “khác hẳn,” y như các ảo thuật gia có thể biến Chiên thành Cọp. Thực sự rất đáng quan ngại!

Là con người nên chắc hẳn vẫn ảnh hưởng ngoại tại, nghĩa là cũng cần thiết có các nghi thức hoặc nghi lễ, nhưng vấn đề quan trọng là đừng quá câu nệ vào hình thức, chú ý số lượng mà coi thường chất lượng, lấy cái phụ làm cái chính. Nếu cứ gieo những thứ linh tinh thì Chúa cũng nói với chúng ta như nói với dân xưa: “Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu.” (Is 1:14-15)

Đời gieo là gieo đời, gieo cả đời với những hạt đời tốt. Khó chứ chẳng dễ, nhưng khó không có nghĩa là không làm được. Có nhiều dạng hạt lép và cũng có nhiều dạng hạt mẩy. Tính từ “mẩy” hoặc “lép” đôi khi còn do chính chúng ta gán ghép cho người khác, chứ chưa chắc tại hạt. Chí Phèo cũng muốn sống tốt mà tại thành kiến của người đời khiến anh ta không thể “ngóc đầu” lên được. Hạt Chí Phèo muốn “mẩy” mà bị người đời làm cho “lép” đấy thôi. Thậm chí còn có những dạng “cùi không sợ lở.” Lỗi tại ai? Lỗi tại tôi bao nhiêu lần cho đủ? Chúng ta có “đấm ngực” thật lòng hay chỉ là công thức?

Tương tự dạng Nhân – Quả, Thánh Phaolô nói: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng.” (Gl 6:7-9) Ước gì mỗi chúng ta đều là “hạt giống gieo vào đất tốt” rồi đơm hoa và kết trái, nhiều hay ít cũng được, miễn sao là có trái tốt – để sinh ích cho chính mình và cho tha nhân.

Lạy Thiên Chúa là Nguồn Mạch mọi sự thánh thiện, xin thúc giục chúng con luôn biết gieo hạt giống tốt và trở thành hạt giống nơi Vườn Nhân Đức để chúng con “được hưởng tình thương Chúa và ơn cứu độ theo lời hứa của Ngài,” (Tv 119:41) “xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hậu của Ngài và xin củng cố việc tay chúng con làm.” (Tv 90:17) Tất cả xin được vinh danh Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Về mục lục

NHỜ BÁC NÔNG DÂN KHÔNG CHUYÊN

Lm. Xuân Hy Vọng

Kính thưa quý cộng đoàn Phụng vụ! Đã là một người nông dân thực thụ thì trước khi xuống giống, họ phải chọn hạt giống tốt, chọn đất tốt để gieo hạt, rồi cần mẫn từng ngày chăm sóc cho đến mùa thu hoạch với kết quả mỹ mãn nhất có thể được.

Tuy nhiên, khi chúng ta nghe đoạn Tin Mừng hôm nay, điều đầu tiên dường như không ai trong chúng ta không khỏi thắc mắc: người gieo hạt giống trong đoạn dụ ngôn không phải là người nông dân chuyên nghiệp, cũng không thể nào là bác nông dân có kinh nghiệm trồng trọt được! Bởi chưng hạt giống tuy nhiều nhưng không rẻ chút nào nên không thể nào gieo rải tuỳ tiện được; thêm nữa, người gieo lúa này sao không gieo vào đất tốt để nắm chắc phần thắng bội phần vào mùa thu hoạch! Và một khi đã biết hạt giống mà gieo trên vệ đường, trên đá sỏi, trong bụi gai thì sẽ không đâm chồi nẩy lộc, sinh hoa kết trái, nhưng vẫn gieo là thế nào!

Đây chỉ là một loạt câu hỏi trong tâm trí của chúng ta khi được nghe hoặc đọc đoạn Tin Mừng này. Chắc chắn lời giải thích dụ ngôn của Chúa Giê-su ở đoạn cuối Tin Mừng quá ư rõ ràng, dễ hiểu hơn mọi cách chú giải khác, cho nên thay vì chúng ta giải thích nữa, thì chúng ta thử nhìn lại thuở ruộng tâm hồn bản thân, và thái độ cũng như tâm thế của ta khi đón nhận hạt giống ra sao.

Như đã nói trên, Thiên Chúa chính là người gieo giống trong đoạn dụ ngôn, và dĩ nhiên Ngài không phải là người nông dân chuyên nghiệp! Tuy vậy, nhờ lí do Ngài không là bác nông dân thực thụ cho nên tất cả mọi ruộng đất, muôn loại đất trồng đều được Ngài gieo hạt mầm. Vì lẽ, hình ảnh mảnh đất chính là tâm hồn chúng ta, chính là cuộc đời, chính là chặng đường đời chúng ta; và hạt giống Ngài gieo không khác hơn là sự sống, ơn sủng, Lời Chúa, ý định, đặc sủng, hồng ân, cơ hội, các giá trị Nước Trời như bình an, công bình, chân lý, thiện hảo, tốt lành…Chính vì thế, Ngài không loại bỏ những thuở ruộng cằn cỗi, khô cháy; Ngài cũng không khước từ những mảnh đất hoang tàn, bị bỏ quên; Ngài càng không chê bai vùng đất chẳng có một chút tiềm năng đơm hoa kết quả. Ngài vẫn gieo, vẫn ban phát, vẫn trao ban tất cả hạt giống cho mọi tâm hồn dẫu như là vệ đường rực nóng vào mùa nắng, dù là sỏi đá trơn nhẵn chen chúc, dù là bụi gai khát cháy, dành giật dinh dưỡng từ khí trời, mưa rơi, “như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 10 – 11).

Tạ ơn Chúa vì Ngài không chỉ gieo vào những thuở đất tươi tốt, có tiềm năng đơm hoa kết trái cho vụ mùa thu hoạch, mà Ngài đón nhận hết tất cả các mảnh đất tâm hồn của chúng con! Vì vậy, chúng ta cùng thử nhìn lại tâm hồn, cuộc đời của bản thân, cũng như thái độ, tâm tình hay tâm thế của chúng ta mỗi khi được đón nhận ‘hạt giống’ từ việc Chúa gieo trồng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua Giáo Hội, qua các thừa tác viên có chức Thánh, qua các biến cố trong đời…! Nhưng trước đó, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một câu mà mỗi khi Chúa kết thúc chuyện dụ ngôn  đều được thuật lại: “ai có tai thì hãy nghe” (Mt 13, 9). Đây dường như là một lời nhắc nhở không quá dư thừa vì trong thời Cựu ước tiên tri I-sai-ah cũng đã tuyên sấm: “các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy. Vì lòng dân này đã ra đần độn, chúng đã nặng tai, còn mắt thì chúng nhắm lại, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa lành cho chúng” (Mt 13, 14 – 15; x. Is 6, 9 – 10). Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta khi nghe câu nhắc nhở đại loại thế này thì thường phản hồi: ‘biết rồi khổ lắm nói mãi!’ hoặc ‘bổn cũ nghe mãi chán lắm rồi’, còn có nhiều câu hồi đáp ngây ngô như ‘ai mà chẳng có tai, mà đã có lỗ tai rồi thì nghe là chuyện miễn bàn. Cho nên không cần nhắc thế đâu hic hic’. Đúng thật, khó cho người giảng dạy và cũng không dễ dàng cho thính giả và học viên! Dù vậy, điều mà Chúa nhắc nhở mỗi người chúng ta ở đây là: không chỉ nghe bằng hai chiếc lỗ tai được gắn trên khuôn mặt cho cân, mà mỗi khi nghe thì hãy chú tâm (cho con tim tham gia), lắng đọng tâm hồn, chăm chú nghe hầu lãnh hội – đón nhận – thực hành, chứ không ‘nghe suông, nghe lấy lệ, nghe cho xong, nghe cho có, nghe từ tai này chạy qua tai kia rồi chạy mất không ngày gặp lại’. Hơn nữa, việc chú tâm lắng nghe này dường như nghe dễ dàng, nhưng thật sự lại gian nan, vất vả, cần rèn luyện nỗ lực mãi liên như thể cách diễn đạt “các đau khổ đời này có ghê gớm đến đâu, cũng chẳng thể nào sánh với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (x. Rm 8, 18).

Sau cùng, chúng ta tự hỏi và xem xét tâm hồn bản thân đang thuộc loại đất nào, có tâm tình, thái độ nào khi được ‘gieo hạt giống vào lòng’? Phải chăng ‘đất vệ đường’: nghe rao giảng Nước Trời mà không hiểu, không chịu tìm hiểu, không đâm rễ sâu trong lòng, dễ dàng để mất đi (x. Mt 13, 19); hay thuộc dạng ‘đá sỏi’: nghe Lời Chúa và vui vẻ đón nhận, nhưng đòi ‘tốt nghiệp sớm’, không đâm rễ sâu, lại nhất thời nữa, đặc biệt lúc gặp gian nan hoặc bị ngược đãi, bị bắt bớ vì Chúa thì vấp ngã và bỏ cuộc ngay? (x. Mt 13, 20 – 21). Nếu không rơi vào hai trường hợp trên, thì chúng ta có thể đang ở tình trạng ‘bụi gai’ chăng? nghĩa là được nghe Lời Chúa, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì (x. Mt 13, 22). Trái lại, loại đất tâm hồn ai cũng trông mong, ai cũng muốn trở thành, chính là thuở đất tốt tươi mầu mỡ, cụ thể: nghe Lời Chúa, hiểu và đón nhận hầu đem ra sống hằng ngày, nên đơm bông kết trái và được thu nhận bội phần khi đến mùa (x. Mt 13, 23).

Giờ đây, chúng con đặt mình trước Chúa mà cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho tâm hồn chúng con luôn trở nên mảnh đất tốt tươi để khi Chúa gieo hạt giống vào lòng, được trổ sinh hoa trái. Cho dẫu dòng đời cứ đổi thay, mọi thứ bị cuốn trôi để lại lo toan, khó khăn thử thách như thể không vượt qua nỗi, thì cho chúng con luôn biết mở rộng tâm tư, có thái độ khiêm nhu, chú tâm lắng nghe, khắc ghi trong lòng, hầu làm lẻ sống đời chúng con.

          Tạ ơn Chúa vì không hề chê bỏ

          Tâm hồn con dù bé nhỏ mong manh

          Dù thuở ruộng đất trồng chẳng tươi xanh

          Chúa vẫn gieo, trông thức canh đêm ngày

          Mãi vun trồng, hằng tra tay chăm bón          

          Cho tới khi hạt chồi non mơn mởn

          Cây trổ sinh hoa trái, vươn cao lớn

          Mùa thu hoạch bội phần, ơn siết bao. Amen!

Về mục lục

 

MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Chúng ta thường dùng biết bao những lời hay ý đẹp để diễn tả ý nghĩa Lời Chúa, nhất là qua những bài thánh ca. Tuy vậy, trong thực tế, ít khi chúng ta đọc Lời Chúa một cách nghiêm túc. Đối với khá nhiều Kitô hữu, việc nghe Lời Chúa và thực hành Lời Chúa tách rời nhau. Nói cách khác, họ thường xuyên nghe Lời Chúa, nhưng lại không chú tâm thực hiện những lời mà họ nghe. Phụng vụ hôm nay giúp chúng ta suy tư về cách thức sống Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày.
 
Ý nghĩa của dụ ngôn về người gieo giống đã được chính Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ trong phần sau của Tin Mừng được đọc trong thánh lễ Chúa nhật. Lời Hằng Sống được gieo một cách quảng đại vào lòng con người bằng nhiều cách thức khác nhau. Có những người giữ được Lời ấy, nhưng cũng có những người vô tình đánh mất. Dù có nhiều người chối từ, Thiên Chúa vẫn luôn quảng đại gieo hạt giống là Lời của Ngài trong mọi nền văn hóa, mọi thời đại, mọi lứa tuổi, mọi tôn giáo. Nội dung Lời Chúa là lời mời gọi thực hành đức yêu thương, tôn trọng phẩm giá của con người. Giữa cuộc đời nhiễu nhương, đầy bon chen tính toán, Lời Chúa có những lúc bị bóp nghẹt. Con người dễ ngả theo những gì ồn ào, náo nhiệt và hấp dẫn. Vì thế, họ thường chọn lựa lời của thế gian mà lãng quên Lời Hằng Sống.
 
Chúa Giêsu là người gieo giống. Người đã đến gieo vào lòng người những chỉ dẫn để họ đạt tới sự hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng Hoàn Thiện. Chúa Giêsu cũng là Hạt Giống mà Chúa Cha đã gieo vào trần gian, vì Người là Lời của Chúa Cha. Khi sai Ngôi Lời đến trần gian, Chúa muốn cho nhân loại được thấm nhuần giáo huấn của Người, như mưa làm cho đất đai phì nhiêu và đâm chồi nảy lộc, nhờ đó mà con người cũng như mọi tạo vật được sống động và phát triển (Bài đọc I). Chúa Giêsu là nguyên lý của hạnh phúc, ân sủng và bình an. Ai đón nhận Người thì sẽ tìm được định hướng cho đời mình và sẽ được hạnh phúc.
 
Tâm hồn mỗi người là một mảnh đất để Lời Chúa gieo vào. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta tự vấn lương tâm: chúng ta là mảnh đất như thế nào? Chúng ta có sẵn sàng đón nhận hạt giống Lời Chúa, đồng thời cộng tác để hạt giống ấy mọc lên, sinh hoa kết trái? Có bốn loại đất được Đức Giêsu nhắc tới. Thực ra, bốn loại đất ấy đang hòa quyện và tồn tại trong mỗi chúng ta. Tâm hồn chúng ta đã có những lúc đầy sỏi đá, đầy gai góc, hoặc chai lỳ như đất bên vệ đường. Thật may mắn, có những lúc tâm hồn chúng ta giống như mảnh đất tốt, nhiệt thành đón nhận Lời Chúa. Khi ấy, chúng ta sẽ cảm nghiệm được niềm vui thiêng liêng, vì Lời Chúa đang sinh hoa kết trái trong tâm hồn và cuộc đời chúng ta. Ơn gọi nên thánh của người Kitô hữu nhắc bảo chúng ta: hãy giữ cho tâm hồn mình mãi mãi là mảnh đất tốt, nhờ đó, một khi hạt giống Lời Chúa được gieo vào, sẽ sinh lợi gấp trăm.
 
Những ai nhiệt thành đón nhận hạt giống Lời Chúa, sẽ được Ngài giải thoát khỏi mọi bất hạnh, tha thứ mọi tội lỗi và là bảo chứng cho hạnh phúc đời đời. Thánh Phaolô đã khẳng định với chúng ta như thế. Cùng với muôn tạo vật, chúng ta đang rên siết, ngóng trông sự giải thoát đến từ Thiên Chúa (Bài đọc II). Chính Lời Chúa soi sáng và đưa chúng ta ra khỏi ngục tù của ích kỷ và hận thù. Lời Chúa cũng nối kết con người với nhau trong tình huynh đệ bác ái.
 
Mỗi tín hữu được mời gọi trở nên một mảnh đất tốt. Mỗi tín hữu cũng được trao phó trách nhiệm trở nên những người gieo giống trong cuộc đời hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội hãy đóng góp phần mình cho công cuộc Tân-Phúc-âm hóa. Hãy trình bày Phúc âm cho con người của thời đại. Sự mới mẻ là lời mời gọi chúng ta trước hết sống và cảm nghiệm sứ điệp Tin Mừng và chia sẻ sứ điệp ấy. Việc chia sẻ này không đơn thuần là lặp lại các lời của Tin Mừng, mà bằng hoa quả của việc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trong những lời ấy và ảnh hưởng của Người trong cuộc sống của mình. Chúng ta chỉ có thể trở nên người gieo giống đúng nghĩa, khi chính chúng ta đã là mảnh đất phì nhiêu. Việc loan báo Lời Chúa chỉ đem lại những kết quả, khi người loan báo là người sống Lời Chúa.
 
Chúa Giêsu gọi chúng ta là những người có phúc, vì được nghe Lời Hằng Sống. Trong Tin Mừng Chúa nhật tuần trước (CN 14), Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha, vì Chúa Cha đã mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Ngài không mạc khải cho Nước Trời cho những người hiền triết và khôn ngoan. Nói đúng hơn, Ngài không mạc khải cho những ai tự cho mình là khôn ngoan và hiền triết. Vì tâm hồn họ đã đầy những tham vọng và đam mê, không còn chỗ để đón Chúa đến. Chúng ta có phúc vì được đón nhận Lời Chúa, nhưng chúng ta còn có phúc hơn, nếu chúng ta biết đem Lời Chúa cho mọi người và làm cho Lời ấy tỏa lan hương thơm thánh thiện trong cuộc sống hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý chúng ta: “Hân hoan loan báo Tin Mừng trở thành cái đẹp của Phục vụ, như một phần mối quan tâm hàng ngày của chúng ta trong việc làm lan tỏa lòng nhân hậu” (Niềm vui Tin Mừng, số 24).

Về mục lục

.

LÒNG QUẢNG ĐẠI THIÊN CHÚA

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Tâm hồn con người vẫn được ví như thưở ruộng. Ngay từ nhỏ được gieo vào đó biết bao điều hay điều dở. Cái tốt, cái xấu. Cái trí thức, cái lạc hậu.  . . Người may mắn là được cha mẹ hướng dẫn chắt lọc cái hay bỏ cái dỡ. Lấy cái tốt bỏ cái xấu. Người tốt là người biết mở rộng lòng đón nhận lời hay lẽ phải để sống cho nên người. Người xấu là người thích tự do phóng khoáng và không đi theo thuần phong mỹ tục của luân thường đạo lý.

Kinh nghiệm dân gian khi nói về những con người sống bỏ ngoài tai lời dạy của bề trên bằng câu ca dao:

Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

Đây là bài học thực tiễn hết sức giản đơn. Khi mua cá ở chợ về, muốn giữ được tươi lâu, người ta mổ sạch sẽ rồi đem ướp muối. Cá thấm muối, thịt săn chắc, khi chế biến thành món ăn, hương vị sẽ đậm đà. Ngược lại, nếu để lâu không ướp muối, cá sẽ ươn, ăn mất ngon.

Con cái không nghe lời dạy bảo của cha mẹ khác nào như cá không ăn muối, sẽ hư hỏng, không thể trở thành người tốt được. Xã hội cũng có những quy định những luật lệ nếu ai không sống theo luân thường đạo lý cũng tựa như cá không thấm muối sẽ trở thành người hư hỏng.

Bài tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta đón nhận hạt giống Nước Trời là Đức Giêsu – Ngôi Lời của Thiên Chúa Nhập thể ở cùng nhân loại qua mọi thời. Hạt giống này sẽ được Giáo Hội, được các môn đệ của Đức Giêsu mọi nơi và mọi thời gieo vào khắp nơi, trong lòng mọi người, không phân biệt một ai, nhưng việc sinh hoa kết quả hay không thì sẽ tùy thuộc vào lòng người đón nhận.

Đây cũng là một lời nhắc nhở chúng ta đừng để cho lòng mình thành sỏi đá khô khan hay thành đường đi với lối mòn vô tâm và lạnh nhạt, cũng đừng biến lòng mình thành bụi gai của lòng tham tiền tài danh vọng mà bóp nghẹt hạt giống lời Chúa, nhưng hãy là mảnh đất được cày xới làm cho mầu mỡ phì nhiêu để cho hạt giống lời Chúa nảy mầm và sinh hoa kết quả dồi dào. 

Nhưng xem ra với thế giới hưởng thụ đã khiến con người trở thành thuở đất đang bóp nghẹt lời Chúa bởi đam mê danh lợi thú trần gian. Nhiều người bỏ ngoài tai chân lý và sự thật. Họ chỉ tìm kiếm tiền, lợi lộc và đam mê xác thịt. Họ để cho tham sân si chế ngự khiến họ không còn sống theo sự thật và công lý.

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy có những người đang tìm kiếm thú vui xác thịt bất chính mà sống sai luật Chúa và Giáo hội. 

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy những con người nguội lạnh thờ ơ với đức tin vì chạy theo danh vọng trần gian. 

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy những người mang danh Công Giáo nhưng vẫn sống thiếu công bình bác ái, đôi khi còn sống thù hận, tranh chấp, loại trừ lẫn nhau. 

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy những cuộc tranh chấp hơn thua, tố tụng nhau đôi khi còn vu khống, cáo gian nhau. 

–  Dầu vậy, ta vẫn thấy những mảnh đất tốt giữa cánh đồng xấu. Đó là những người thiện chí sống đời công chính. Họ không chạy theo gian tà. Không vì tiền mà bỏ Chúa. Vì danh vọng mà sống sai luật Chúa. Không vì quyền lực mà làm hại anh em. Họ vẫn sống theo tin mừng dù thiệt thòi nhưng lòng họ vẫn thanh thản bình an. 

Đây là thuở ruộng đẹp mà người ky-tô hữu cần phải vn trồng nơi trần gian. Người ky-tô hữu cần phải tự canh tân mình theo ánh sáng tin mừng để Lời Chúa đơm hoa kết trái trong cuộc đời chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống theo tin mừng để trở thành muối ướp mặn trần gian và thành men yêu thương thẩm thấu vào trong từng ngõ ngách cuộc đời hôm nay.  Amen.

Về mục lục

.

HÃY ĐÓN NHẬN VÀ GIEO CÁCH HÀO PHÓNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 “Dụ Ngôn Người Gieo Giống” của Chúa Giêsu được thánh Matthêu trình bày tuy bình dân, nhưng chứa đựng một sứ điệp rất quan trọng liên quan đến người kể và người nghe. Người gieo giống ở đây không ai khác ngoài Thiên Chúa, hạt giống là Chúa Giêsu, đã được Chúa Cha gieo vào trần gian một cách hào phòng. Ngài gieo Lời cứu độ là chính Con Ngài xuống trên chúng ta, bất kể chúng ta thờ ơ, từ chối, nhưng chắc chắn ai đón nhận, nơi ấy hạt sẽ đâm rễ và mọc lên.

Chúa Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa đi gieo hạt giống là chính thân mình vào trần gian, chôn vùi vào lòng đất khi nhập thể làm người, mục nát đi khi chịu chết và chôn trong mồ, mong có ngày bội thu là phục sinh cứu độ hết thảy mọi người. Nên dụ ngôn tự sự này có sức cuốn hút người nghe cách đặc biệt.

Bài đọc I, Lời Chúa được tiên tri Isaia ví “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất” (Is 55,10). Mưa và tuyết vốn là những điều kiện thiết yếu cho hạt giống nảy mầm, lớn lên và kết hạt. Hình ảnh mưa và tuyết nói rõ: “tưới gội mặt đất, làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói của bánh ăn” (Is 55,10).  Đó là những hình ảnh đẹp, sống động và rất gần gũi với giới bình dân chúng ta, diễn tả cho chúng ta Lời Chúa phục vụ sự sống như thế nào; bởi vì Lời Chúa là Sự Sống của ta, là Ánh Sáng đời ta, hạnh phúc cho đời ta hôm nay và mãi mãi.

Lời của ngôn sứ Isaia giúp chúng ta hiểu đúng hướng dụ ngôn Người Gieo Giống. Thông điệp thật rõ ràng: Thiên Chúa là người đi gieo giống, Ngài gieo cách hào phóng, nhưng kết quả cụ thể còn tùy thuộc vào thời tiết và cách thức gieo giống cũng như tự do của thửa đất đón nhận hạt giống là chúng ta. Kinh nghiệm thường ngày của nhà nông quả quyết rằng, kết quả tùy thuộc vào thửa đất, nơi gieo hạt. Ví dụ, trong số những sinh viên chung một lớp, học cùng trường, được thầy giáo dạy cũng một môn về tôn giáo, nhưng người này tin còn người kia vô thần. Dù cả lớp đều nghe giáo viên giảng những điều tương tự nhưng hạt giống đã rơi lại rơi vào mảnh đất là những người khác nhau. Chúng ta cũng thế, tất cả vừa cùng nghe sứ điệp Lời Chúa, nhưng ra về mỗi người sống khác nhau.

Thửa đất tốt là tâm hồn chúng ta, do Thiên Chúa dựng nên cách tự nhiên, Ngài đã phú ban nó cho chúng ta, chúng ta tự do đón nhận hay từ chối là quyền của ý chí của chúng ta. Có những người thích tận hưởng cuộc sống thay vì trở nên tốt hơn. Có những kẻ mê đắm sự đời thế gian, “Lời Chúa bị bóp nghẹt không mang lại hoa trái” (Mt 13,22) .

Nhưng trái lại, đối với một số người, vì muốn giữ giá trị của chính mình, họ đón nhận Lời Chúa với lòng yêu mến thế là đơm hoa kết trái là trăm số việc lành, cho dù phải hy sinh. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó sẽ sinh nhiều hoa trái” (Ga 12,24). Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta rằng, con đường dẫn đến sự cứu rỗi là con đường vào qua cửa hẹp (Mt 7,14): tất cả đều có giá của nó. Chúng ta sẽ không bao giờ có giá trị nếu chúng ta không cố gắng.

Ai bị ước muốn sự đời hướng dẫn, người ấy sẽ có trái tim giống như một khu rừng nhiệt đới. Ngược lại như cây ăn quả, cây tốt ắt sẽ sinh trái tốt. Vì thế, các thánh đã không có cuộc sống dễ dàng, họ đã trở nên mẫu gương cho nhân loại. Đức Giáo hoàng Piô XII nói: “Chắc chắn không phải tất cả chúng ta đều được kêu gọi chịu tử vì Đạo. Nhưng tất cả chúng ta được kêu gọi để có nhân đức Kitô giáo. Chúng ta kiên trì hoạt động, đừng chểnh mảng cho đến hết đời. Chính vì thế người ta cũng có thể nói về một tử đạo chậm và kéo dài”.

Thiên Chúa không đòi hỏi nơi chúng ta những điều không thể : chúng ta hãy vui lòng làm như Chúa, gieo cách hào phóng bằng lời nói và gương sáng, ngay cả trong sự khác biệt; hãy tin rằng sẽ luôn có cái gì đó thúc đẩy hạt giống mọc lên đúng thời vụ ; bởi vì Lời từ miệng Chúa phán ra sẽ không trở lại với Chúa nhưng theo ý Chúa mà sinh kết quả (x. Is 55, 10-11).

Điều căn bản là chúng ta cần chuẩn bị để chính mình là một thửa đất tốt để đón nhận hạt giống, đồng thời phải chăm sóc để nó có thể đơm hoa kết trái. Có người không muốn mình bị thử thách hay gặp khó khăn, người ấy sẽ có ngàn lý do để từ chối. Nhưng ai “ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết quả” (Mt 13, 23).

Tất cả đều nghe dụ ngôn, nhưng người hiểu được là người mang nơi mình và trân trọng như một tài sản quý giá, người ấy sẽ hạnh phúc nếu nghe những gì Chúa nói và nghiêm túc hoán cải theo tiếng Chúa gọi : Ngài sẽ chữa lành và làm cho họ được sống, “giải thoát khỏi vòng nô lệ sự hư nát, để được thông phần vào sự tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa” (Rm 8, 21), chúng ta sẽ đơm hoa kết trái. 

Dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria như bậc thầy của việc lắng nghe Lời Chúa cách sâu sắc và kiên trì thực hành. Xin Mẹ giúp chúng ta theo gương Mẹ, trở nên “đất tốt”, để hạt gống Lời Chúa có thể sinh nhiều bông hạt, ngõ hầu chúng ta tiếp tục sứ mạng tông đồ đi gieo vãi Lời Cứu Rỗi khắp mọi nơi cho anh em. Amen. 

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG VÀ ĐẤT

L.m Giuse Hoàng Kim Toan

Câu truyện dụ ngôn hạt giống và mảnh đất, hiểu theo nghĩa tâm hồn đón nhận và Lời Chúa gieo vào cho chúng ta thấy những gì gặt được trong cuộc sống.

Hạt giống được sánh ví như Nước Trời.

Không phải chỉ sau này chết đi mới sống trong Nước Trời. Thế nên khi hiểu Lời Chúa gieo vào tâm hồn được đón nhận như đất tốt, thì Nước Trời đã đang sống trong thực tại trần gian. Nước Trời đã được ban tặng cho con người ngay trong cuộc sống này. Nước Trời dần dần lớn lên trong tâm hồn khi con người luôn biết chăm sóc cho đời sống tâm hồn mình luôn sạch đá sỏi và bụi gai.

Hạt giống hằng được gieo.

Sự kiên trì của người gieo giống, đó là Lời Chúa đã trở thành Người ở giữa chúng ta. Người mãi mãi là Người, một Người yêu thương tất cả mọi người. Dù là kẻ gian ác hay như người thánh thiện, kẻ bất chính cũng như người ngay lành, Người vẫn yêu thương và chấp nhận tất cả: được gieo vào: bụi gai che lấp, vệ đường chai cứng, nơi nhiều đá sỏi, và nơi đất tốt. Thánh Phaolô viết về tình thương yêu của Chúa: “Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào,39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.” (Rm 8, 38 – 39). Thiên Chúa yêu thương đến cùng bởi vì Thiên Chúa vẫn hy vọng về con người sẽ nhận ra chính mình cần nhặt đi những sỏi đá, bụi gai, và cày lên những vệ đường cứng cỏi.

Hạt giống âm thầm.

Tình yêu của Chúa luôn âm thầm nảy mầm và mọc lên, dù thức hay ngủ Chúa vẫn cho cây tình yêu sinh trưởng trong mỗi người. Thiên Chúa tạo dựng nên con người bằng Tình Yêu và Thiên Chúa để cho con người nhận ra, chỉ có Tình yêu Mới có khả năng biến đổi người mình yêu. Họ có thể là vệ đường, một bụi gai, một tâm hồn đầy đá sỏi. Một ngày nào đó giữa biến cố bế tắc trong cuộc đời, tỉnh ngộ chưa gặt hái được gì sau những vất vả lầm than. Họ đã bắt đầu hối hận và trở về để bắt đầu lại cuộc đời mình là đất tốt và cảm nhận niềm vui của Tình Yêu đánh mất.

Hạt giống bị chết ngạt.

Hạt giống đã nảy mầm, ăn rễ và bị lấy đi. Khộng có lần nào bị lấy đi mà không để lại dấu vết đớn đau. Những dấu vết là những kinh nghiệm bị vuột mất Tình yêu, để sống giữa khô cằn, không có được bình an. Giữa thế trần, nếu chỉ là bụi gai, chỉ là vệ đường, đá sỏi, có gì vui? Niềm vui nếu có lấp đầy chỉ là những giả tạo, chẳng giúp gì được ai. Cũng là đất, nhưng đất không sinh ích, cũng là người nhưng lại vô dụng, có gì vui? Đó là những kinh nghiệm để tự thấy rằng, cần có tình yêu đối với chính mình để can đảm thay đổi. Cần có Tình Yêu của Chúa để mạnh mẽ đưng dậy sau những lần vấp ngã.

Nếu là đất, xin hãy là đất tốt. Nếu là đá sỏi, xin Người hãy giúp con nhặt đi những gì chai cứng để tâm hồn con được tưới mát bằng Tình Yêu. Nếu còn bụi gai, xin Người hãy cho con thêm can đảm nhổ bớt bụi gai bằng bàn tay của Người. Nếu là vệ đường, xin cho con cũng là vệ đường mọc lên những bông hoa dại, tô điểm con đường về với Chúa.

Về mục lục

.

HAI KHU VƯỜN

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Có hai khu vườn nằm cạnh nhau, tuy cũng thuộc dạng đất màu mỡ như nhau, có điều kiện tưới tiêu như nhau và cùng được gieo trồng bằng những hạt giống y như nhau… Thế mà hai khu vườn này lại tương phản nhau cách lạ lùng.

Vườn anh Nam thì đầy hoa thơm trái tốt, thu hút nhiều du khách đến xem: họ đua nhau chụp hình bên những luống hoa xinh đẹp; họ trầm trồ khen ngợi những cành cây trĩu trái, họ thưởng thức những trái cây ngọt lịm mới ngắt còn đang tươi…

Trong khi đó, vườn chị Nữ bên cạnh thì đầy gai góc và sỏi đá, chẳng ai muốn để mắt nhìn đến và nếu có ai liều lĩnh bước vào khu vườn này thì cảm thấy rờn rợn trong người.

Chị Nữ rất buồn vì thấy vườn của anh Nam tốt đẹp hấp dẫn đến thế, còn khu vườn của chị thì tệ hại quá chừng. Chị cho biết là chị và anh Nam cùng gieo vào khu vườn của hai người những hạt giống hoa và cây trái như nhau, thế mà kết quả lại hoàn toàn trái ngược nhau.

Sở dĩ có sự khác biệt đáng tiếc này là vì anh Nam đã dọn sạch sỏi đá và mọi thứ gai góc trong vườn trước khi gieo hạt; còn chị Nữ thì phạm phải một sai lầm tai hại là bỏ qua công việc hệ trọng này. 

Hình ảnh hai khu vườn này minh hoạ cho Lời Chúa Giê-su trong Tin mừng Mát-thêu được trích đọc hôm nay:

Người kia ra đi gieo giống. “Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không nhiều; nó mọc ngay… nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục” (Mt 13, 4-7). 

Tâm hồn chúng ta cũng như một khu vườn. Chúng ta hãy nhìn lại khu vườn tâm hồn mình xem sao, nơi đây có nhiều hoa thơm trái đẹp như vườn nhà anh Nam, được nhiều người ưa thích ngưỡng mộ, hay lại đầy gai góc và bụi rậm như vườn nhà chị Nữ chẳng ai muốn ghé vào?

Lời Chúa là những hạt giống tuyệt vời được Chúa Giê-su mang từ trời xuống gieo vãi trong tâm hồn mọi người và Ngài mong sao cho hạt giống Ngài gieo được sinh hoa kết trái tốt tươi. Tuy nhiên, nếu khu vườn của ta có nhiều gai góc và sỏi đá thì Lời Chúa không thể nào bén rễ được, vì thế, không thể sinh chút hoa trái nào.

Khi lời dạy này của Chúa Giê-su: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai hy sinh mạng sống mình đời này vì Tôi, thì sẽ được sống đời đời” được gieo vào tâm hồn người ích kỷ thì lòng ích kỷ của anh như những tảng đá lớn, làm chết nghẹt Lời Chúa ngay từ đầu.

Khi lời dạy này của Chúa Giê-su: “Hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo Tôi …”được gieo vào tâm hồn người tham lam, thì lòng tham nơi người đó y như những bụi gai rậm rạp, sẽ làm lụi tàn Lời Chúa ngay.

Khi lời dạy này của Chúa Giê-su: “Hãy theo cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, còn đường chật thì đưa đến sự sống…” được gieo vào tai người đam mê lạc thú trần gian, thì lòng đam mê lạc thú này như những mặt đường trơ lì và chai cứng, làm cho Lời Chúa bị khô héo liền.

Như thế thì ích kỷ, tham lam, đam mê lạc thú… là những cụm gai lớn, là những viên đá hòn sỏi vô tích sự… sẽ bóp nghẹt Lời Chúa ngay từ đầu, không để cho Lời Chúa mọc lên và bén rễ. Thế rồi, chỉ còn những cụm gai của thói hư tật xấu, những cây hoang dại của đam mê tội lỗi… sẽ chen chúc mọc lên, xâm chiếm hết thửa đất tâm hồn, biến tâm hồn ta thành một bãi đất hoang phế.

Lạy Chúa Giê-su,

Thật là điều rất đáng buồn và đáng tiếc nếu tâm hồn chúng con trở nên như bãi đất hoang mọc đầy cỏ dại và ngổn ngang sỏi đá vô tích sự khiến nhiều người khinh chê, xa lánh.

Và thật là điều đáng mừng nếu tâm hồn chúng con trổ sinh nhiều hoa đẹp trái ngon nhờ có nhiều đức tính tốt, trở nên như khu vườn xinh đẹp được nhiều người yêu thích.

Xin cho chúng con không ngừng loại bỏ mọi thứ “sỏi đá gai góc” ra khỏi tâm hồn, tích cực vun xới cho hạt giống Tin mừng đâm chồi và tăng trưởng để làm cho cuộc đời nở hoa, tức làm cho mình trở thành người có văn hoá, có đạo đức và phẩm chất cao đẹp.

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA

Lm. GB. Trần Văn Hào

Triết gia Bergson đã phát biểu : “Con người là một sinh vật xã hội”, hoặc nói như Karl Marx : “Con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Dưới một khía cạnh nào đó, những quan niệm này khá đúng, vì ‘Không ai là một hòn đảo’ (Thomas Merton), và chẳng ai trong chúng ta có thể sống cô lẻ một mình. Chúng ta chỉ có thể sống và tồn tại trong sự tương liên với những người khác. Để sống sự liên đới ấy, con người được Thiên Chúa phú ban một khả năng rất cao quý, đó là biết sử dụng ngôn ngữ. Chúng ta dùng ngôn ngữ hay lời nói của mình để diễn bày tư tưởng, biểu tỏ những cảm xúc, hầu kiến tạo sự hiệp thông với cận nhân chung quanh.

Thiên Chúa cũng chung hòa kiếp sống làm người với chúng ta. Ngài đi vào thế giới loài người bằng chính ‘Lời’ của Ngài. Để tiếp xúc, Thiên Chúa cũng ‘nói’ với chúng ta. Khởi đầu thư gửi tín hữu Do Thái, tác giả viết : “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết, Thiên Chúa phán dạy chúng ta qua Người Con”. Đức Giêsu là ‘Lời’ được Thiên Chúa ban tặng cho trần gian. Ngài là Ngôi Lời của Chúa Cha. Lời tác sinh vũ trụ, đã nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta. Lời của Chúa tự bản chất là lời hằng sống, đem lại cho con người sự sống trường tồn.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu vay mượn hình ảnh những hạt giống để sánh ví với Lời của Ngài, và đó là những hạt giống được gieo vào những thửa ruộng lòng người. Lời Chúa được trao ban cách nhưng không và rất hào phóng, như người đi gieo tung những hạt giống đến khắp nơi. Song, Lời có mang lại hoa trái hay không còn tùy thuộc vào thái độ nội tâm nơi mỗi người. Tâm hồn chúng ta có thực sự trở nên như mảnh đất tốt, hay chỉ là miếng đất cằn cỗi bên vệ đường đầy sỏi đá hay gai góc, điều đó hệ ở sự cộng tác của chúng ta nhiều hay ít. Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại thái độ đức tin để biết cách tiếp cận Lời Chúa, hầu những hạt giống của Lời được trổ sinh hoa trái.

Lời Chúa đem lại sự sống

Lời nói của con người giống như con dao hai lưỡi. Nó có thể là phương tiện kiến tạo hòa bình, nhưng cũng có thể là một thứ vũ khí giết người thâm độc. Thời hoàng đế Antonius của đế quốc Rôma có một nhà hùng biện đại tài tên là Cicéron. Ông dùng khiếu ăn nói để  thu phục nhân tâm và lôi kéo quần chúng chống lại sự cai trị hà khắc của tên bạo chúa. Cái lưỡi của ông như một vũ khí sắc bén rất lợi hại. Hoàng đế Antonius đã bắt ông và giam ông vào ngục. Bà vợ của Antonius sai lính chặt đầu Cicéron, và chính tay bà đã dùng dao cắt lưỡi nhà hùng biện. Bà ta còn điên cuồng lấy kim đâm nát cái lưỡi của Cicéron, vì bà nghĩ rằng chính vì cái lưỡi thâm độc ấy mà ngai vàng của chồng bà suýt bị sụp đổ tan tành. Lời nói của con người có thể gây nên chiến tranh, tạo ra những đổ vỡ hay khơi dậy sự oán thù. Nhưng Lời Chúa thì hoàn toàn khác. Tự bản chất, Lời Chúa sẽ phát sinh sự sống. Phêrô đã từng bày tỏ : “Bỏ Thầy chúng con biết đến với ai. Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Đây là lời tuyên tín của vị tông đồ trưởng qua mạc khải của Thần Khí.

Tác giả sách Sáng Thế cũng thuật lại công cuộc tạo dựng. Tác giả viết : “Thiên Chúa phán, hãy có ánh sáng, liền có ánh sáng. Thiên Chúa phán hãy có vòm trời phân chia nước.., hãy có các sinh vật, có các loài chim trên bầu trời, … và đã có như thế” (St chương 1). Lời Thiên Chúa đem lại sự sống và ơn cứu độ. Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn đòi hỏi chúng ta phải cộng tác, phải biến tâm hồn mình thành mảnh đất tốt, và Ngài luôn trân trọng tự do nơi con người.

Lời Chúa là một nghịch lý.

Sau khi Đức Giêsu tuyên bố về Bánh Trường sinh, là chính thịt và máu Người, đám đông ngán ngẩm bỏ đi và nói với nhau : “Lời này chói tai quá, ai nghe cho nổi (Ga 6,60). Lời Chúa luôn là nghịch lý đối với đầu óc và sự suy tính của con người. Lãnh tụ Krouschev đã có lần nói với những tín hữu Kitô : “Tôi rất thích đọc những giáo huấn của Đức Giêsu, nhưng tôi không thể chấp nhận điều mà Đức Giêsu đã nói : “Ai tát ngươi má bên này, hãy giơ cả má bên kia, ai lột của ngươi chiếc áo ngoài, hãy ‘kính biếu’ nó luôn cả chiếc áo trong. Không đời nào tôi làm thế. Chúng ta phải kiên quyết chống lại kẻ thù để có thể tồn tại”. Cũng vậy, bài giảng trên núi được Thánh sử Matthêu ghi lại trong chương 5, đầy những nghịch lý mà con người với đầu óc suy nghĩ bình thường không thể chấp nhận. Thế gian đề cao sự giàu sang, Chúa lại nêu bật sự nghèo khó như một mối phúc. Người ta chủ trương phải chống lại kẻ thù, Chúa lại dạy phải yêu thương và đừng cự lại người ác. Nếu không cắm sâu vào mầu nhiệm Thập giá, chúng ta sẽ không thể cảm thấu được ý nghĩa của những nghịch lý mà Chúa Giêsu đã dạy. Thập giá là kết tụ và cũng là cao điểm của mọi nghịch lý nơi Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha. Để trải nghiệm và sống nghịch lý này, chúng ta cần mở lòng để tin vào Ngài. Đây là đích nhắm được nói đến trong các sách Tin mừng, nhất là trong Tin mừng của Thánh Gioan.

Thái độ đối với Lời

Lời Chúa không phải là bảng tổng hợp những tư tưởng khuyến thiện, dạy chúng ta ăn ngay ở lành. Kinh thánh cũng không phải là bộ bách khoa tự điển để chúng ta lục tìm những kiến thức về khoa học. Chúng ta đừng xem Lời Chúa như một bộ sách làm giàu cho sự hiểu biết nơi đầu óc mình, cũng đừng trích những câu Kinh thánh chỉ giống như những câu danh ngôn của các bậc hiền nhân khác. Nhưng, chúng ta hãy tập thinh lặng lắng nghe Lời Chúa, bắt chước thái độ của ngôn sứ Giêrêmia : “Gặp được Lời Chúa tôi đã nuốt vào. Lời Chúa trở thành hoan lạc cho tôi, thành niềm vui của lòng tôi”. ‘Nuốt’ Lời Chúa chính là để cho lời hằng sống thẩm thấu vào thịt máu, vào tâm hồn và vào chính cuộc sống của chúng ta. Lời Chúa ngỏ với chúng ta qua các biến cố cuộc sống hằng ngày, qua các cử hành phụng vụ, qua các bài giảng huấn và nhất là qua các bài đọc sách thánh mỗi khi chúng ta đi tham dự Thánh lễ. Giáo hội khuyến khích mọi người năng cử hành ‘Lectio Divina’ mỗi ngày, đặt Lời Chúa vào tâm điểm cuộc sống, giúp chúng ta suy niệm và cầu nguyện. Có như vậy, chúng ta sẽ làm cho hạt giống Lời Chúa phát sinh hoa trái trong đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Kết luận

Một thanh niên Do Thái khoe với thầy Rabbi : “Thưa thầy, con đã đọc trọn bộ Kinh thánh từ đầu đến cuối 5 lần”. Nghe vậy, vị đạo sĩ trả lời: “Điều quan trọng không phải là con đã đọc Kinh thánh được mấy lần, nhưng con đã sống và thực hành lời Chúa được bao nhiêu lần”. Chúng ta hãy nhớ lại lời dạy của Thánh Giacôbê : “Anh em hãy đem Lời Chúa ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối lòng mình. Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gia 1, 22-25).

Về mục lục

.

NGƯỜI GIEO HẠT

Bông hồng nhỏ

Như hạt nắng chiếu soi mặt đất, Lời cũng đến với bao mảnh đất tâm hồn, những mong Lời sinh hoa kết quả. Thầy là Lời chân lý, miệt mài rảo bước tung gieo Tin Mừng cứu độ. Thầy đến với bao mảnh đời tội lỗi, nâng đỡ bao người yếu đuối, bệnh tật. Thầy chữa lành tất cả những ai thành tâm đến với Thầy với một lòng tin vững mạnh. Thể xác họ được lành lặn mà tâm hồn được ngập tràn hạnh phúc. Danh tiếng Thầy lẫy lừng khiến cho dân chúng tuôn đến với Thầy: kẻ hiếu kỳ cũng có, người mộ mến cũng nhiều vô kể và có cả những kẻ chỉ đến vì lòng đố kỵ, muốn tìm dịp hạ uy thế của Thầy.

Sáng hôm nay, Thầy đi từ nhà ra Biển Hồ, dân chúng lại lũ lượt đi theo Thầy. Họ khao khát được nghe Thầy giảng, được đụng chạm đến Thầy và để được khỏi bệnh. Họ chen lẫn, tiếng người huyên náo. Từ trên thuyền, Thầy giảng về dụ ngôn người gieo giống. Thầy là người gieo giống, hạt giống Tin Mừng đến với lòng bao người. Đám đông dân chúng đang tụ họp ở đây, mỗi người là một mảnh đất tâm hồn khác nhau. Thầy không loại trừ ai nhưng đón nhận tất cả. Không phải Thầy không biết tính toán để có một mùa lúa bội thu nhưng Thầy cũng có một khao khát mãnh liệt xuất phát từ tình yêu: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và những ước mong phải chi lửa ấy bùng lên.” (Lc 12, 49). Thầy hiểu rằng, mỗi mảnh đất tâm hồn đang quây quần bên Thầy hôm nay, những tâm hồn Thầy đã gặp gỡ và sẽ gặp gỡ, không phải tất cả họ đều là những mảnh đất tốt, mỗi tâm hồn đều có một tình trạng riêng biệt. Hạt giống Tin Mừng rơi xuống vệ đường, con chim đến ăn mất. Có hạt rơi trên sỏi đá, nó mọc lên nhưng lại chết khô. Có hạt rơi vào bụi gai và bị chết nghẹt. Hạt khác rơi vào mảnh đất tốt, nó lớn lên và sinh hoa kết quả. Người nông dân khi đọc dụ ngôn này có lẽ sẽ buồn cười vì cách gieo hạt kỳ cục của Thầy. Người ấy trộm nghĩ: ai lại gieo hạt kiểu đó, phí phạm hạt giống quá. Mảnh đất mà Thầy nói đến lại là chính tâm hồn của mỗi người. Thầy luôn bận tâm tới con người, những đứa con thuộc về Thầy. “Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” Phàm nhân là con cái của Chúa và Chúa yêu thương tất cả. Chúa đến để tìm và cứu những gì đã mất. Ai tin mới hiểu được điều Thầy trao ban và đón nhận với tấm lòng biết ơn.

Thầy vẫn gieo vào tâm hồn ta hạt giống Tin mừng đó. Còn ta là mảnh đất nào cho Lời ngự đến? Có lẽ ta chỉ là một vệ đường đầy những chim chóc trú ngụ, và khi Lời đến, ta để chim ăn mất chăng? Hay ta chỉ là một mảnh đất cằn cỗi toàn sỏi đá và khi Lời đến ta vui vẻ đón nhận đó nhưng lại không đi vào chiều sâu. Khi gặp khó khăn và thách đố, ta vấp ngã ngay. Ta cũng có thể là một mảnh đất đầy những bụi gai, và khi Lời đến, ta để cho những toan tính và lo lắng sự đời bóp nghẹt Lời vừa chớm mọc trong lòng, bịt tai che mắt trước sự thúc đẩy của Lời? Thật hạnh phúc nếu ta là  một mảnh đất tốt, để khi Lời đến và sinh hoa kết quả dồi dào.

Lòng người khôn dò khôn thấu, nhưng Thiên Chúa biết rõ từng người chúng ta và Ngài yêu thương từng người một. Nếu tâm hồn ta chỉ là vệ đường, Lời vẫn được gieo xuống với hy vọng tâm hồn ta được Thần Khí biến đổi. Bỏ đi một lối mòn cũ của tâm hồn để bước vào một tình trạng mới với sự hướng dẫn của Thần Khí, đòi hỏi sự nỗ lực cộng tác từng ngày của ta. Nếu ta không cố gắng, Lời được gieo xuống đó nhưng lại bị qủy đến cướp đi. Nếu tâm hồn ta là mảnh đất đầy sỏi đá, xin Thần Khí tình yêu biến đổi tâm hồn ta, giúp ta nhặt hết những gì là nông nổi để đi vào chiều sâu, để Lời được bám rễ sâu trong tâm hồn ta. Từ đó, Lời ấp ủ trong tâm hồn ta một sức mạnh lướt thắng mọi khó khăn và kiên vững trước những thách đố để sống cho Lời. Nếu những lúc vấp ngã, ta biết bám vào Chúa để đứng lên như cây đã bám rễ sâu vào lòng đất dù có bị bão quật ngã vẫn mọc lên những mầm xanh mạnh mẽ. Ta là một mảnh đất đầy gai ư? Hãy để cho Thần Khí nhổ đi những gai góc của bao lo lắng và đam mê vinh hoa phú quý, để Lời được trổ sinh hoa trái. Ta là một mảnh đất tốt thì hãy để Thần Khí thúc đẩy ta canh tân đời sống, để tỉnh thức trước kẻ thù, vì bất cứ lúc nào một mảnh đất tốt cũng có thể bị chai đi.

Thầy là Người gieo giống và Thần Khí làm cho Lời sinh hoa kết quả trong tâm hồn ta. Thầy Giêsu cho các môn đệ biết về cái phúc mà các ông có được: phúc vì được thấy và được nghe. Chính Thầy hiện diện và đồng hành cùng các ông, để mỗi tâm hồn được biến đổi và chăm sóc. Ta cũng là môn đệ của Thầy. Từng ngày Thầy vẫn hiện diện và ngự trị trong tâm hồn ta. Thánh Thể tình yêu là món quà vô giá mà ta được nhận lãnh. Một Giêsu khiêm tốn và tận hiến đến cùng. Ta hãy tự chất vấn lòng mình xem: ta đã làm gì để Lời sinh hoa quả trong tâm hồn ta?

Lạy Chúa! Chúa đã đến và gieo vào tâm hồn chúng con hạt giống Tin Mừng. Xin Chúa giúp chúng con mỗi ngày biết yêu mến Chúa hơn, yêu mến Lời hằng sống và nỗ lực cộng tác với ơn Chúa mà canh tân mảnh đất tâm hồn mình, hầu Lời được sinh hoa kết quả trong cuộc sống chúng con. Mỗi chúng con cũng được Chúa mời gọi trở thành người gieo Lời của Chúa trên chính cuộc sống của chúng con. Xin Thần Khí hướng dẫn chúng con. Amen.

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG TRONG TÂM HỒN

Anna cỏ may

Khi nghe tên tuổi của ai đó, chúng ta liền tò mò và muốn biết người đó là ai, có thật như mình được nghe không. Người Do thái xưa kia cũng vậy, họ biết và nghe nhiều về danh Đức Giêsu là Đấng có uy quyền. Vì thế, khi nghe biết Chúa Giêsu đi đâu, ở đâu là họ đi tìm và ở đó.

Chúa Giêsu đang ngồi trên thuyền, còn dân chúng thì đứng trên bờ. Chúa Giêsu liền mượn cơ hội này dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Ngài dùng dụ ngôn rất quen thuộc, dụ ngôn “người gieo giống”. Khi đề cập đến việc gieo giống, chúng ta liền nhớ đến những người nông dân. Cứ đến mùa, họ phải vất vả làm đất và ủ giống. Đến ngày đi gieo, trên tay bê thúng thóc, họ vừa đi vừa gieo dưới ánh nắng chói chang, mồ hôi thì thấm dần trên áo. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường hoặc dọc theo bờ ruộng. Đó là những hạt rơi không bị kẻ qua người lại chà đạp thì cũng bị chim trời ăn hết. Có hạt rơi trên sỏi đá, nơi không có nhiều đất, hạt mọc lên ngay, nhưng khi nắng lên dễ bị cháy khô. Có hạt rơi vào bụi gai, là loại cây cày bới bỏ đi nhưng nó vẫn mọc lại được. Và đây là nỗi âu lo cho những người nông dân. Còn những hạt rơi vào đất tốt liền mọc lên, nảy nở và sinh nhiều hoa trái. Điều này mang lại niềm vui sướng và hạnh phúc cho những người nông dân khi thấy được mùa bội thu (x. Mt 13, 4-8). Vâng, Chúa Giêsu dùng hình ảnh này để nói với dân chúng, nhưng họ vẫn không hiểu ý của Ngài muốn ám chỉ điều gì. Bởi vì lòng họ đã ra chai đá.

Còn các Tông đồ được ơn hiểu biết, nên Ngài đã nói cho các ông biết về dụ ngôn. Ngài nói: Người gieo giống là Chúa Kitô. Hạt giống là Tin Mừng. Ruộng đất là tâm hồn họ. Nhưng điều Ngài muốn nói tới là hiệu quả Tin Mừng trong các tâm hồn đón nhận. Qủa thực, hạt giống tốt cũng không thể sinh quả tốt, một khi đã rơi vào đất xấu. Lời Hằng Sống không thể sinh lợi ích, nếu trong tâm hồn không chuẩn bị kỹ. Hạt giống có sinh hoa trái cũng tùy vào đất tốt. Lời Chúa có sinh lời nhiều hay ít cũng tùy thuộc vào sự đáp trả của mỗi tâm hồn. Không dừng ở đó, Chúa Giêsu tiếp tục cho các ông thấy ba tâm trạng của những người nghe lời Chúa: Kẻ nghe Lời Chúa một cách dửng dưng hay nghe như một bản nhạc cho vui và giải sầu thì quỷ sẽ đến cướp đi; còn kẻ khác nghe Lời Chúa, liền vui vẻ đón nhận nhưng không đem ra làm lẽ sống hằng ngày; còn kẻ khác nữa nghe nhưng lo lắng sự đời và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt thì không bao giờ kết quả. (x. Mt 13, 19-23). Như vậy, họ nghe nhưng do ảnh hưởng bên ngoài nên Lời Chúa không thấm nhập và dễ dàng bị xóa bỏ.

Vâng, Lời Chúa là Lời Hằng Sống. Lời đầy nhựa sống thiêng liêng. Lời chứa đựng ơn cứu độ. Vì thế, chúng ta cần có đôi tai để nghe. Đôi tai xác thịt là để nghe lời con người. Chính đôi tai đức tin mới cho chúng ta hiểu được Lời Chúa. Qủa thực, không có đôi tai đức tin, chúng ta vẫn nghe được Lời Chúa như bất cứ lời nào hay sách nào. Nhưng nghe như thế để biết, để tìm hiểu. Có khi chúng ta nghe để tìm cách tỏ lộ, chất vấn ai đó… Còn đôi tai đức tin giúp chúng ta hiểu được ý Ngài muốn nói. Và khi nghe được tiếng Ngài, tiếp xúc với Ngài, chúng ta mới thấy Lời Ngài là lời nói với mình.

Ngoài ra, để cho Lời Chúa được sinh hoa kết quả, chúng ta phải nghe Lời Chúa bằng cả trái tim, với tấm lòng tôn kính, đơn sơ, ngoan ngoãn, rộng mở, yêu mến và khao khát nghe. Chính khi chúng ta làm được như vậy, Thiên Chúa mới thấy chúng ta xứng đáng được nhận lời Hằng Sống của Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã không ngừng gieo những hạt giống tốt trên chúng con. Xin cho chúng con biết lắng nghe, hiểu ý, đáp ứng và thực hành Lời Chúa. Nhờ đó, Lời Chúa được sinh hoa kết quả trong tâm hồn chúng con và mọi người. Amnen. 

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG CÓ MẦM SỐNG

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Vào một đêm nọ, người phụ nữ nằm mơ, thấy mình bước vào một siêu thị. Khách hàng tấp nập. Có một quày hàng đặc biệt, người chen chân không lọt. Chị ngạc nhiên thấy Chúa Giêsu đang bán ở quày hàng này. Chờ đợi đến phiên mình, chị hỏi: Chúa mà cũng bán hàng sao? Chúa bán cái gì ở đây vậy?

Chúa trả lời: Ta bán mọi sự con đang ước muốn trong trái tim.

Chị nói liền một hồi: Thưa Chúa, con muốn có bình an, có tình yêu, có hạnh phúc, có khôn ngoan và tự do không sợ hãi. Suy nghĩ một lúc, chị lại thêm: không chỉ cho con mà thôi nhưng còn cho chồng, cho con và cho những người thân yêu của con nữa.

Chúa mỉm cười và nói: hỡi con yêu dấu, ở đây,Ta không bán hoa trái mà chỉ bán hạt giống thôi. (Lm. Anthony de Mello. SJ).

Tin mừng hôm nay có tên gọi là “Dụ ngôn người gieo giống”. Thiên Chúa là người gieo giống. Chúng ta là đất. Hạt giống là lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Tùy vào thái độ của mỗi người, chân thành đón nhận hay lười biếng khước từ, Lời Chúa sẽ sinh những hiệu quả khác nhau.Hạt giống được gieo trên bốn loại đất, đất vệ đường, đất lẫn sỏi đá, đất có nhiều gai góc và đất tốt. Đất nào cho năng suất nấy. Làm sao bên lề đường khô cằn sỏi đá, hạt giống có thể sinh hoa kết trái được? Trong bụi gai chằng chịt cỏ rác không mọc nổi, hạt giống làm sao vươn lên để thành cây xanh tốt được?

Chúa Giêsu ví lời giảng dạy của Ngài như hạt giống trong tay người nông dân. Hạt giống gieo trên những loại đất khác nhau, số phận các hạt giống khác nhau. Lời Chúa cũng có nhiều số phận khác biệt. Có lời sinh lợi muôn vàn lời. Có lời sống èo uột bị bóp nghẹt. Có lời làm tròn sứ mạng được uỷ thác. Có lời biến mất như rơi vào cõi hư không. Khác biệt về thành quả không hệ tại bởi hạt giống mà bởi phẩm chất ruộng đất. Thửa ruộng mà Chúa Giêsu nói đến không phải ruộng trên mặt đất mà là cõi lòng con người. Vì thế, dụ ngôn hạt giống gieo trên các loại đất khác nhau gợi lên những ý nghĩa.

  1. Tấm lòng quảng đại của người đi gieo.

Người đi gieo đã gieo hạt giống trên những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ. Những mảnh đất sỏi đá, gai góc, lối mòn có bước chân người cũng không bị lãng quên. Người gieo hạt không bỏ rơi một mảnh đất nào, ông quảng đại muốn cho hạt giống được gieo vãi khắp chốn. Thiên Chúa quảng đại nhìn mọi người với chính phẩm giá của họ trong niềm hy vọng của Ngài. Vì thế, mảnh đất nào cũng nhận được hạt giống đồng đều. Ai cũng có cơ may nhận được ân sủng cứu độ Tin Mừng nếu như họ thành tâm thiện chí. Lòng quảng đại không phân biệt đối xử, không ưu tiên ai mà cũng chẳng loại trừ ai, không thất vọng về hiện tại của người khác mà biết kiên tâm đợi chờ hy vọng vào tương lai tươi sáng hơn.

Không ai hoàn toàn là “lề đường”, là “sỏi đá” hay là “bụi gai”. Trong mỗi con người luôn có một mảnh đất tốt cho dù nó chỉ nhỏ bé thôi. Có thiện chí đón nhận hạt giống cũng sẽ có một mùa gặt bội thu “đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi” (Mt 13, 23). Thiên Chúa vẫn gieo Lời Ngài vào lòng chúng ta, vì Ngài chắc chắn rằng: “Lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 11). Tác giả Thánh Vịnh cảm nghiệm hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi” (Tv 65,10-12).

Thánh Phêrô đã ba lần chối Chúa, nhưng trong ngài vẫn còn một mảnh đất tốt của lòng sám hối. Thánh Phaolô hăng say bách hại các kitô hữu, nhưng trong ngài vẫn còn đó một mảnh đất tốt của lòng nhiệt thành và khiêm tốn. Thánh Augustinô bị những bụi gai của tri thức, kiêu căng và dục vọng vây bủa, nhưng vẫn còn có một mảnh đất tốt hướng tìm chân lý, chỉ chờ hạt giống gieo trồng là nở rộ mùa gặt phong nhiêu… Còn nhiều lắm những mảnh đất tốt như thế trong Giáo Hội và trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Tất cả những mảnh đất tốt đó, cho dù có nhỏ nhoi đi chăng nữa, nhưng một khi đã được đón nhận Lời Chân Lý thì đúng như lời Chúa nói, đã sinh lợi “hạt một trăm, hạt sáu mươi, hạt ba mươi”.

  1. Hạt giống tiềm ẩn sự sống.

Hạt giống có vỏ cứng bảo vệ, khi được gieo vào lòng đất vỏ sẽ vỡ ra cho mầm đâm chồi. Chồi non lên xanh là hình ảnh của sự sống mới. Sự sống vào đời mới bằng một cuộc phiêu lưu, bằng niềm phó thác cho tương lai.

Hạt giống là ánh sáng, là Tin mừng, là thiện hảo tốt lành, là giá trị Nước Trời. Tự nó, hạt giống có một sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Trong hạt giống có mầm sự sống, hễ cứ gặp điều kiện thuận lợi là mọc lên. Trong mầm sống có sự sống tiếp nguồn từ sự sống của Thiên Chúa. Nếu “Hạt lúa âm thầm mọc lên” (x. Mc 4,26-29) là hình ảnh sức sống tiềm tàng thì “Hạt lúa mục nát đi” (x. Ga 12,24) lại là một hình ảnh khác nói lên niềm hy vọng một mùa gặt mới sau khi chịu ‘mục nát”. Hạt giống là hồng ân Thiên Chúa, phong phú bao la và vô cùng mạnh mẽ. Điều quan trọng là hãy cho hạt giống một cơ hội để mọc lên.

Lời Chúa ví như hạt mưa. Khí hậu dù khắc nghiệt mấy cũng không triệt tiêu được hạt mưa. Giá rét, hạt mưa biến thành tuyết. Gió bão, hạt mưa biến thành bụi sương. Nóng rát, hạt mưa biến thành thể khí bay là là trên cát nóng. Rơi xuống sông biển hạt mưa hoà mình trong nước, trên đất khô hạt mưa thẩm thấu vào lòng đất.

  1. Niềm hy vọng mùa gặt phong phú

Nếu người gieo hạt đã đặt hy vọng vào từng mảnh đất bất kể mức độ tốt xấu thì bổn phận của đất là không được phụ lòng người quảng đại gieo hạt. Thiên Chúa làm được mọi sự nhưng Ngài cần con người cộng tác.Thiên Chúa vẫn luôn tin tưởng và hy vọng nơi con người.

Trong các hoạt động tông đồ, không cần phải phân tích người nào là lề đường, là sỏi đá hay bụi gai. Hạt giống cứ gieo vào đất, chúng ta hãy làm việc tốt cho người khác. Chính Thiên Chúa mới là Đấng làm cho hạt giống mọc lên và sinh hoa kết quả (x. 1 Cr 3, 5-9).

Niềm hy vọng phải là một đặc trưng của đời sống người kitô hữu. Chính niềm hy vọng đó sẽ giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống hiện tại, hướng tới một tương lai tươi sáng và một cuộc sống vĩnh cửu của người được làm con cái Thiên Chúa.

Mầu nhiệm Nước Trời còn ẩn chứa nhiều điều huyền diệu và chỉ cõi lòng nào chân thành, khiêm nhường đón nhận mới có cơ duyên thưởng thức những huyền diệu của Lời Hằng Sống. Nhận lấy hạt giống Lời Chúa trong mình, chúng ta từ từ sinh hoa trái trong Giáo Hội cho vinh quang của Thiên Chúa (GLCG # 1724).

Người nông dân có câu: “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Giống là cần thiết, nhưng nước, phân bón và công chăm sóc thật là quan trọng. Giống tốt, gieo xạ đúng quy trình kỹ thuật, nhưng để đất khô hạn thì lúa không lên xanh. Có giống, có nước mà không có phân bón thuốc trừ sâu, thì lúa sẽ èo uột không kết quả. Có được giống tốt, nước bảo đảm, phân thuốc đầy đủ, nhưng chẳng chăm sóc thì không thu lợi được bao nhiêu.

Người sáng, người mù hay người câm điếc cũng đều có thể nghe Lời Chúa, đón nhận hạt giống Lời Chúa gieo vào lòng, nhưng quan trọng là đem ra thực hành.

Có một mãnh đất hoang cỏ mọc um tùm. Ông Tư mua lại thửa đất ấy rồi cày xới, làm sạch cỏ, rồi ông trồng cây, trồng hoa, trồng rau. Một thời gian sau, mảnh đất trở thành một khu vườn thật đẹp. Một hôm, ông Tư đang làm việc trong vườn, cha xứ đi qua và nói: “Khu vườn thật là đẹp! Ông Tư thấy không, khi ông biết cộng tác với Thiên Chúa thì kết quả như thế đó”.Ông Tư trả lời: “Vâng, cha cứ thử nghĩ lại xem, miếng đất này như thế nào khi chỉ có một mình Chúa làm việc ở đây”.

Có gieo thì mới có gặt. Gieo giống nào thì gặt giống đó. Thánh Phaolô viết: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng” (Gl 6,7-9).

Hạt giống tốt mới có thể nảy mầm tốt, lớn thành cây tốt và sinh hoa trái tốt. Chúa Giêsu xác định: “Xem quả thì biết cây” (Mt 12,33; Lc 6,44). Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Đời sống tinh thần cần có “hạt giống tâm hồn”. Đời sống tâm linh rất cần “hạt giống Lời Chúa”.

Lời Chúa chính là ngọn đèn soi bước đường đi, là ánh sáng chỉ đường trong đêm tối và là lương thực nuôi linh hồn chúng ta. Lời Chúa như hạt giống, tự nó có sức phát triển mạnh mẽ, nhưng hạt giống ấy, tuy là hạt giống hảo hạng nhưng cũng cần có điều kiện thuận lợi để phát triển. Chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho hạt giống ấy nảy nở và phát triển. Chúa đòi chúng ta phải cộng tác vào trong công việc này.

Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta đi gieo hạt giống Lời Chúa, gieo hào phóng, gieo kiên trì, gieo hy vọng và nhất là gieo yêu thương. Gieo gì gặt nấy. Gieo bác ái chúng ta sẽ gặt được yêu thương, một mùa yêu thương tràn ngập đời sống hàng ngày.

Về mục lục

.

GIEO GIỐNG

Lm. Trần Việt Hùng

Dụ ngôn Chúa dậy hôm nay,

Nhìn người gieo giống, đôi tay nhịp nhàng.

Nắm từng vốc lúa chín vàng,

Đi gieo khắp chốn, từng hàng tung rơi.

Vệ đường ít hạt chơi vơi,

Chim trời ăn mất, chỗ nơi xa gần.

Hạt rơi xỏi đá ẩn thân,

Mặt trời nắng gắt, lột trần hạt tan.

Bụi gai hạt giống tràn lan,

Um tùm chết ngạt, bóng tàn héo hon.

Hạt rơi đất tốt mầm non,

Sinh hoa kết trái, vàng son đẹp mầu.

Nước Trời bí nhiệm cao sâu,

Thành tâm tìm hiểu, nguyện cầu khấn xin.

Trau dồi kiến thức niềm tin,

Canh tân hối cải, ngước nhìn trời cao.

Đức tin hạt giống truyền rao,

Mở lòng đón nhận, khát khao Nước Trời.

Thành tâm sám hối sống đời,

Hạt mầm gieo vãi, tuyệt vời phát sinh.

Hình ảnh người gieo giống nơi cánh đồng rất ấn tượng. Người gieo giống ra đi gieo hạt một cách rộng rãi quảng đại. Từng vốc hạt giống được tung ra. Hạt giống rơi xuống những vùng đất khác nhau. Có hạt rơi vào mảnh đất khô cằn, có hạt rơi bên vệ bờ, có hạt rơi vào vũng nuớc sâu và có hạt rơi vào vùng đất tốt phì nhiêu và đã sinh hoa kết trái.

Chúng ta biết rằng nhà nông chuẩn bị mảnh ruộng rất kỹ lưỡng trước khi gieo trồng. Họ chuẩn bị cầy xới, phơi đất ải, mương máng dẫn nuớc đầy đủ và rồi gieo vãi hạt giống. Hạt giống chất chứa mầu nhiệm sự sống. Bất cứ hạt giống nào cũng có tiềm năng nẩy sinh thành mầm cây. Tùy số phận mỗi hạt giống được tung gieo vào nơi đâu để được phát triển. Dụ ngôn Chúa dùng để chỉ một thực tại cụ thể. Mỗi người chúng ta được ví như một mảnh vườn đón nhận hạt giống. Chúa là người gieo hạt và hạt giống là Lời Chúa được gieo vào tâm hồn chúng ta.

Chúa gieo hạt lời Chúa nhiều lần. Gieo nhiều loại hạt khác nhau và gieo mỗi mùa. Có hạt của yêu thương, có hạt phục vụ, có hạt của hy sinh, mỗi hạt đều có sức biến đổi. Có những hạt rơi vào vùng đất thích hợp đã phát triển gấp trăm. Lời Chúa như hạt giống được chôn vùi dưới vùng đất tốt. Hạt giống vẫn chờ đợi khi có cơ hội sẽ phát triển.

Người ta khám phá ra rằng có nhiều hạt giống bị chôn sâu trong các mồ mả của Vua Ai-cập xưa. Họ lấy các hạt giống đem gieo và tưới nước. Thật ngạc nhiên, hạt giống mọc lên sau gần 5 ngàn năm bị chôn vùi dưới đất. Chúa Giêsu ví Ngài như hạt lúa miến bị chôn vùi và thối rữa để trở thành cây sinh nhiều hoa trái.

Mỗi người chúng ta nhận lãnh đức tin, đó chính là hạt giống trường sinh. Hạt giống đang chờ cơ hội bung ra và phát triển để sinh hoa kết qủa. Chúng ta hãy cầy xới tâm hồn để trở thành mảnh đất tốt. Đôi khi chúng ta sẽ cảm nhận sự xót xa đau đớn nhưng chỉ có xới lên được, nguồn nước mới thấm nhập giúp hạt giống nẩy mầm. Tâm hồn mới trở thành miền đất phì nhiêu và sẽ thu hoạch mùa bội thu.

Xin Chúa tiếp tục tưới gội và biến đổi tâm hồn chúng ta trở thành những mảnh đất mầu mỡ để đón nhận hồng ân của Chúa. Xin giúp chúng con phát triển không ngừng sinh hoa kết qủa và cho chúng con tiếp tục đem hạt giống lời Chúa tung gieo khắp nơi.

Về mục lục

.

NGHE VÀ HIỂU MẦU NHIỆM NƯỚC TRỜI

 Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Mỗi khi tiến lên bục giảng, tôi muốn mọi thính giả để tai lắng nghe các lời tôi nói, vì lúc đó tôi đinh ninh rằng mình đang công bố Lời Chúa, đang rao giảng về Nước Thiên Chúa. Dụ ngôn được kể hôm nay nhắc nhở tôi rằng, linh mục rao giảng Lời Chúa phải là người đầu tiên đặt ra cho chính mình câu hỏi: tôi có thật sự biết Nước Trời là gì không? và tôi đã từng nghe và hiểu mầu nhiệm Nước Trời chưa? Câu hỏi không thừa thãi chút nào, kể cả sau 40 năm đời linh mục, vì vẫn có nguy cơ tôi hiểu sai, hoặc chưa hề thực sự nghe Lời và hiểu thấu.

‘Con hãy chỉ cho cha con đường tới nhà thờ, và cha sẽ chỉ cho con đường về trời.’ câu nói danh tiếng đó của cha sở họ Ars – thánh Jean Marie Vianey thì mọi linh mục đều biết; có điều, rất thường khi ta lại hiểu ‘chỉ đường về trời’ là dạy bảo điều tốt lành để được rỗi linh hồn, lên thiên đàng. Và vì hiểu như thế nên linh mục về phần mình cố gắng sống đời thánh thiện gương mẫu, và rồi cho rằng việc mục vụ mà mình phải chu toàn chính yếu hệ tại ở việc giảng dạy cho giáo dân bổn đạo ăn ngay ở lành và nắm giữ các luật Chúa và luật Hội Thánh, nhất là các qui định về đạo giáo và luân lý.

Người Việt Nam chúng ta (giống người Do Thái) dùng chữ ‘trời’ để chỉ Thiên Chúa, vì thế Nước Trời là Nước Thiên Chúa. Trong ngôn ngữ bình dân, chúng ta cũng hiểu ‘trời’ là nơi xa xôi trên cao, ‘về quê trời’ là lên thiên đàng gặp gỡ Thiên Chúa sau khi chết v.v… Công việc giữ đạo vì thế hệ tại ở sống làm sao để sau khi chết được rỗi linh hồn, được về quê trời, được lên thiên đàng. Do đó trách nhiệm bổn phận chính yếu của linh mục là giúp bổn đạo đạt được điều đó… Chính vì thế mà… câu chuyện dụ ngôn hôm nay cũng dễ dàng được suy đoán và giải thích theo chiều hướng đó…

Nếu Lời là chính Đức Giêsu, và nếu rao giảng Nước Trời là chính công bố cuộc sống và cái chết thập giá của Người, thì đúng là hạt giống Nước Trời yêu thương và tha thứ đã được gieo vào trần gian. Nghe Lời và hiểu là chấp nhận Đức Giêsu, là chấp nhận ơn cứu rỗi của Người, là đi vào vương quốc tinh yêu tha thứ của Thiên Chúa. Người môn đệ của Đức Giêsu trước hết phải là ‘anh em được hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời’ vì đã tin và chấp nhận Giêsu là tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Bí tích rửa tội đã thực sự đưa họ vào Nước Trời và còn tiếp tục đưa vào ngày càng sâu hơn, miễn là họ còn luôn sẵn sàng đón lấy như thửa đất tốt được hạt giống gieo xuống. Thửa đất tốt khi đó không phải là những người ngay lành về mặt luân lý, cũng không phải là người học cao hiểu rộng về mặt tri thức, không phải là người chăm chú lắng tai nghe về mặt tâm lý. Đơn giản đó là những tâm hồn, trong tác động của Thần Khí và ân sủng, đang trong tư thế sẵn sàng lắng nghe, hiểu và chấp nhận Tình Yêu tha thứ hay Tình Yêu thương xót. Và hạt giống Tình Yêu đó sẽ tự động ‘sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục’. Điều duy nhất con người cần làm để thửa đất được nên tốt là nhìn nhận thân phận tội lỗi, thấp hèn và đáng thương của mình, nhờ thế chân thành khao khát đón lấy Giêsu Cứu Chúa. Hiệu năng của hạt giống Lời gieo xuống lệ thuộc rất nhiều vào chiều sâu của cầy sâu cuốc bẫm này.

Nếu như thế, trước khi bước lên bục giảng để gieo Lời Tình Yêu cứu độ, tôi – linh mục của Lời – sẽ phải đi sâu vào con người bất toàn yếu đuối của chính mình. Câu kinh ngắn, ‘Xin Chúa thanh tẩy tâm hồn và môi miệng con…’ mà linh mục hay phó tế cúi mình thầm đọc trước công bố Tin Mừng là gợi nhớ cho chính tôi một thái độ chân thành và khiêm tốn. Và rồi hạt giống tôi gieo qua bài giảng của mình, bất kể lúc nào và trong hoàn cảnh nào, ngay cả trong các tình huống tệ hại và bi quan hơn hết, vẫn đích thực phải là Đức Kitô Giêsu – tình yêu Thiên Chúa thứ tha, chứ không phải một Đức Chúa công thẳng luận phạt gieo sợ hãi, hầu ép người nghe nắm giữ các giới răn hay luật buộc để mong được lên thiên đàng. Trong khi dọn bài giảng, chính tôi sẽ phải tự tra vấn: có thực sự tôi ‘nghe Lời và hiểu’ hay không; và chính tôi có phải là thửa đất tốt được cầy sới đang khiên tốn đón nhận hạt giống Nước Trời của lòng thương xót Chúa, và đang sinh bông hạt của cùng một tình yêu xót thương tha thứ hay không?

Lạy Đức Giêsu là chính hạt giống và người gieo giống Nước Trời, xin cho con, linh mục của Lời Chúa, trở thành thửa đất tốt sẵn sàng nhất đón nhận hạt giống của Tình Yêu xót thương. Và một khi đã đón nhận và làm cho hạt giống này sinh hoa kết trái (ít là được vài chục hạt), chính con sẽ tiếp tục cùng Chúa gieo vãi vào các thửa đất khác là tâm hồn các tín hữu. Xin liệt con vào số những ‘ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư dật’, không phải chỉ vì lợi ích riêng tư của mình, nhưng vì công tác gieo giống Chúa đã trao phó cho con, linh mục của Lời. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Khi loan báo Tin mừng, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh, sự việc cụ thể, những biến cố, những sinh hoạt đời thường để trình bày về mầu nhiệm Nước Trời. Dụ ngôn người gieo giống là một ví dụ điển hình.

Người đi gieo giống là Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô. Hạt giống là lời Chúa. Lời Chúa được gieo vãi khắp nơi một cách thật phong phú: nơi vệ đường, nơi sỏi đá, bụi gai và đất tốt. Điều này chứng minh Thiên Chúa là người Cha quảng đại và yêu thương luôn mong muốn mọi người được nghe lời Chúa, được ơn cứu độ. Thiên Chúa rất hào phóng sẵn sàng ban lời Ngài cho mọi người. Điều quan trọng là thửa đất tâm hồn phải chuẩn bị tốt để hạt giống lời Chúa được gieo vãi và sinh hoa kết trái.

Sống đạo là sống lời Chúa, đưa lời Chúa vào cuộc sống, là thực thi thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc đời. Đức Giêsu đề cập đến bốn loại đất tiếp nhận lời Chúa cũng là bốn thái độ sống đạo của chúng ta:

– Sống đạo hình thức, đạo ở trong nhà thờ: đọc kinh cầu nguyện nhiều, lãnh các bí tích, tham dự thánh lễ… nhưng khi về nhà thì lời Chúa không còn ảnh hưởng đến cuộc sống: bất công với an hem, sống bất hòa với mọi người, không có tương quan tốt với mọi người trong gia đình cũng như xã hội. Đó là những thửa đất bên vệ đường!

– Sống đạo vụ lợi, vì thế khi gặp khó khăn, gặp thất bại, đau yếu bệnh tật thì thường oán thiên trách địa, than van kêu trách mọi người… Danh vọng, địa vị xã hội đã bóp nghẹt lời Chúa. Đó là những thửa đất tâm hồn đầy sỏi đá, hạt giống lời Chúa sẽ bị khô héo, càn cỗi không thể mọc lên được.

– Sống đạo xu thời, gió chiều nào thì nghiêng chiều đó, thiếu niềm tin vững chắc vào Chúa, sợ người đời, sợ mất nồi cơm bát gạo, ham mê thú vui vật chất, lo hưởng thụ. Đó là những tâm hồn đày gai góc. Thực tế biết bao nhiêu anh em cán bộ Công giáo đã khai lý lịch là không Công giáo, không dám xưng mình là Kitô hữu, không dám làm dấu thánh giá nơi công cộng… để có địa vị cao trong xã hội.

– Sống đạo chân thành với một đức tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Đó là những Kitô hữu biết yêu mến lời Chúa, thực hành lời Chúa, đem lời Chúa vào cuộc sống. Đó là những tâm hồn tốt, thửa đất tốt sẽ sinh hoa kết trái khi lời Chúa được gieo vào. Nói cách khác những Kitô hữu ngoan đạo là biết thực thi lời Chúa! Tương quan tốt với Chúa và với mọi người trong tình yêu thương huynh đệ, bác ái.

Nhận xét chung thì thấy có tới ba loại Kitô hữu không tha thiết với lời Chúa, coi đạo không cần thiết cho cuộc sống. Đạo chỉ là viên thuốc an thần, là bùa hộ mạng, cần thì dung, không cần thì thôi. Những người này thay vì tôn thờ và yêu mến Thiên Chúa, thì họ bắt Thiên Chúa phục vụ họ. Lời Chúa gieo vào long họ không kết quả, vì không thành tâm tiếp nhận, không thực hành lời Chúa, không theo thánh ý Chúa.

Chỉ còn một phần ít Kitô hữu sống đạo tốt, chuẩn bị tâm hồn để đón nhận hạt giống lời Chúa và đem ra thực hành với kết quả tốt, hạt được 100, 60, 30…

Người Kitô hữu phải yêu mến lời Chúa. Vì lời Chúa là ngọn đèn hướng dẫn cuộc đời chúng ta, là sức mạnh có sức biến đổi cuộc sống chúng ta. Trường hợp thánh Phanxicô Xaviê, nhờ thánh Ignatiô nhắc nhở: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì”. Câu thánh kinh này đã biến đổi cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê thành nhà truyền giáo nhiệt thành.

Về mục lục

.

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI ĐÓN NHẬN HAY LÀ TẤM LÒNG CỦA NGƯỜI GIEO

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Thoạt nghe bài Tin Mừng vốn đã quen tai là dụ ngôn người gieo giống, chúng ta không khỏi nghĩ ngay đến những thái độ khác nhau của người nghe Lời Chúa. Cũng là lắng nghe Lời, nhưng tùy thuộc vào thái độ tiếp nhận thì mới có những hiệu quả tốt xấu, ít nhiều, khác nhau. Một số nhà nghiên cứu Tin Mừng cho rằng có lẻ xuất phát bởi nhu cầu của Hội Thánh sơ khai trong việc đón nhận Lời Chúa nên các tác giả Tin Mừng đã thêm vào phần giải thích bài dụ ngôn (parabole) theo kiểu văn phong thể phóng dụ (allégorie), tức là áp dụng từng chi tiết của câu chuyện, một thể văn mà các giáo phụ thường dùng, khác với thể văn dụ ngôn, một thể văn thông dụng thời Chúa Giêsu, là thường chỉ nhắm đến một điều muốn nói.

Dù sao đi nữa thì Lời Chúa vẫn nguồn sống cho mọi người, mọi hoàn cảnh. Việc thiên về thái độ của người đón nhận Lời đã, đang và mãi còn chân giá trị. Ân sủng không loại bỏ tự nhiên, một chân lý mà Hội Thánh luôn khẳng định cách chắc chắn. Tuy nhiên, xin được chia sẻ một vài ý tưởng nhỏ khi nhìn ngắm tấm lòng của người gieo giống.

1.  Thiên Chúa muốn mọi người nhận biết chân lý (x.1Tim 2,3-4): Đây là một sự thật cần khẳng định mà không sợ sai lầm. Đấng Toàn Thiện sẵn sàng cho mưa rơi đều trên người lành lẫn kẻ dữ, cho mặt trời mọc lên soi sáng người công chính lẫn tội nhân hẳn là Đấng không muốn bất cứ một ai phải hư mất. Chính vì thế Thiên Chúa không chỉ muốn mà còn tìm đủ cách thế, giúp mọi người nhận biết chân lý, để được sống trong hạnh phúc viên mãn (x. Mt 5,45; Ga 6,39).

Có lẽ hình thức “cấy mạ” chưa hình thành và phát triển trong nghề nông vào thời bấy giờ. Ngay cả với ngành nông nghiệp hiện đại hôm nay thì cách thức gieo hạt, người Việt Nam ta gọi là “sạ lúa” vẫn còn phổ biến. Nhìn người nông phu vung tay sạ lúa giữa trời trưa, nhiều gió, chúng ta thoáng thấy một nét đẹp của sự hào phóng.

Từng nắm lúa được tung gieo theo chiều gió. Có nhiều hạt rơi trên mảnh đất đã cày xới, cũng có nhiều hạt vung vải trên bờ giường, bờ thuở…Bác nông phu chẳng tiếc, chẳng nao. Làm sao tránh được những hao hụt. Nhưng không sao, mùa vụ trước mắt sẽ dư đầy. Trở lại với dụ ngôn Chúa Giêsu kể năm nào. Người chỉ nêu có bốn loại hạt rơi ở bốn mảnh đất khác nhau. Giả như số hạt ấy được chia đều cho bốn loại đất, ta thử làm con tính xem sao. Mất ba, chỉ được một. Tưởng chừng như thua lỗ, nhưng vẫn còn dư lãi. Chỉ với một loại hạt rơi trên đất tốt, đã có hạt sinh một trăm, hạt sinh sáu mươi, hạt sinh ba mươi. Thế là sinh lợi bình quân trên sáu mươi. Khấu trừ cho ba loại hạt có vẻ như đã mất thì vẫn còn lãi dư nhiều.

Tấm lòng của Thiên Chúa, Đấng gieo hạt Lời từ trên, thật bao la khôn xiết. Người đã gieo Lời Người khắp cả vũ hoàn. Mỗi kỳ công tay Người tác tạo, dù chẳng một âm thanh, nhưng là mỗi Lời của Người được tung gieo (x.Tv 18,2-5). Thiên Chúa gieo Lời của Người vào tận đáy lòng mỗi con người. Chẳng máy móc tân kỳ nào có thể ghi âm, nhưng hiệu quả của “tiếng lòng” ấy không ai là không chân nhận, mỗi khi lý trí đã biết xét suy. Thiên Chúa gieo Lời của Người qua các biến cố lịch sử, đặc biệt qua lịch sử một dân được tuyển chọn và đến thời kỳ viên mãn Người đã gieo Lời trọn hảo của Người qua chính Con Một làm người (x.Dt 1,1-2). Rất có thể bị hao hụt phần nào, nhưng “cũng như mưa với tuyết sa từ trời không trở về trời mà không sinh hiệu quả thì Lời của Thiên Chúa sẽ không trở về với với Người nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Người, chưa chu toàn sứ mạng Người giao phó” (x. Is 55,10-11).

  1. Dù đối với loài người là không thể, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể (x. Lc 1,37; Mt 19,26):

Vệ đường, đất sỏi đá hay đất đầy gai góc, tất cả đều có thể mọc cây, đơm bông, kết hạt. Đây là chuyện không còn viễn vông đối với khoa học công nghệ hiện đại. Sa mạc biến thành vườn rau hay thành cánh đồng cây ăn trái, không còn là chuyện xưa nay hiếm. Nhiều thứ cỏ dại như cỏ cú, cỏ chỉ, cỏ tranh không còn là nan trị đối với nông gia ngày nay. Không chỉ ở thôn quê mà ngay cả ở thành thị, những con đường đã phủ đầy cây xanh. Nhưng sự khả thể ngày càng mở ra trước mắt chúng ta. Cây sẽ mọc và đơm hoa kết trái, nếu có đủ nước và khí trời.

Với quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa thì mọi sự đều là có thể. Thiên Chúa đã ban tất cả cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô. “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32).

Vấn đề còn lại là ở mảnh đất có “sâu” đủ và “thoáng” đủ, để đón nhận nước và khí trời. Đây chính là sự khiêm nhu và lòng thành hướng thiện của mỗi người chúng ta. Nếu có sự hướng thiện và khiêm nhu chân thành thì dù cho cuộc đời ta, hoàn cảnh sống của ta như mảnh đất đầy sỏi đá hay nhiều gai góc cũng sẽ trở thành mảnh đất tốt để cho hạt giống Lời nẩy mầm, thành cây, đơm bông và kết hạt.

3.  Hãy mặc lấy tấm lòng của Người gieo giống: Chúng ta cần có chút cẩn trọng để đừng “ném ngọc trai cho heo”. Đừng làm cớ cho người ta xúc phạm đến những gì thánh thiêng một khi đã suy xét và lường trước sự việc. Tuy nhiên, việc tích cực gieo rắc Lời Chúa bằng nhiều hình thức một cách nào đó nói lên tấm lòng của ta với tha nhân và nói lên niềm tin của ta vào quyền năng của Chúa và vào sức mạnh của Lời. Thánh Tông đồ dân ngoại dạy ta: Hãy rao giảng Tin mừng khi thuận lợi cũng như lúc không thuận lợi. Kitô hữu chúng ta hẳn không quên câu Lời Chúa: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào có ích gì” (Mt 16,26), đã làm trổ sinh cho nhân loại, cho Hội Thánh một Phanxicô Xavie, vị thánh nhiệt tình rao giảng Tin mừng cho lương dân. Đoạn Tin Mừng Mt 10,7-10 đã góp phần dệt xây nên một “người nghèo của Thiên Chúa là Phanxicô khó khăn cùng với Hội Dòng anh em hèn mọn…

Người gieo, kẻ gặt, nhưng chính Thiên Chúa là Người cho mọc lên. Không ai thắp đèn rồi lấy thùng úp lên. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, hãy lên mái nhà mà rao giảng (x. Mc 4,21-24; Mt 10,27). Dù mệt nhọc, muốn nghỉ ngơi cùng với các môn đệ, nhưng khi thấy đoàn người đông đảo, Chúa Giêsu động lòng xót thương, Người lại tiếp tục rao giảng (x. Mc 6,34). Hãy có tấm lòng với anh chị em đồng loại, đồng thời tin tưởng vào sức mạnh của Lời, để nhiệt thành gieo rắc hạt giống. Vì đêm hay ngày, ta ngủ hay thức thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, trổ bông, đơm hạt (x. Mc 4,26-29).

Về mục lục

.

HÃY MẶC LẤY TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI GIEO GIỐNG

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong quá trình loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn khác nhau để giúp cho người Dothái cùng thời thay đổi thái độ và cách sống sao cho phù hợp với Tin Mừng.

Hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục dùng dụ ngôn “người gieo giống” để giúp cho người nghe hiểu ý nghĩa của nội dung lời giảng.

  1. Cách gieo hạt và thửa ruộng của người Dothái

Người Dothái xưa không có những cánh đồng bằng phẳng như ở đồng bằng của Việt Nam, mà thửa ruộng của họ thuộc loại bậc thang trên sườn đồi như những vùng núi Trung du và thượng du gồm  sơn địa và bán sơn địa như ở miền Bắc Việt Nam. Như vậy, thửa ruộng của họ thường có sỏi đá, gai góc và thiếu nước.

Cách thức gieo hạt của họ rất giống với cách sạ lúa của người Nam Bộ chúng ta. Tức là họ không cấy từng cụm như đồng bằng, mà họ rắc hạt trên thửa đất của mình.

Sau khi quan sát và thấy hình ảnh của người gieo hạt cũng như những thửa đất khác nhau, Đức Giêsu đã rất tinh tế khi dùng dụ ngôn này để nói về thái độ của dân chúng khi lắng nghe Lời Chúa và sự quảng đại, hào phóng của Thiên Chúa khi gieo giống. 

  1. Tâm tình người đi gieo giống

Đức Giêsu đưa ra hình ảnh của người gieo giống thật kỳ lạ: ông là người hào phóng. Chỗ nào cũng gieo. Gieo vung vãi không tiếc hạt, tiếc công. Gieo một cách quảng đại, không phân biệt bất cứ loại đất nào. Gieo cả nơi sỏi đá, vệ đường, bụi gai. Ông gieo trong thái độ kiên trì và trung thành, không tính toán thiệt hơn, không biết mỏi mệt và không hề thất vọng.

Ông đầu tư hết tất cả những gì mình có. như: tiền tài, vốn liếng, sức khỏe và cả ngày lẫn đêm. Ông gieo mọi nơi mọi chốn.

Có được điều ấy, hẳn ông là người có tham vọng lớn, một trái tim rộng mở để vượt qua mọi rào cản, khó khăn, để tung gieo từng hạt giống, bất chất mọi sự ngỗ nghịch. Ông có một tình yêu bao la, vượt lên trên tất cả, miễn sao hạt giống được tung ra và rơi vào mọi môi trường.

Nói như thế, không có nghĩa ông là người vô trách nhiệm, không chuyên nghiệp, nhưng muốn diễn tả hình ảnh một người nông dân cần cù, chịu khó, kiên trì và quảng đại. Hình ảnh đó không ai khác ngoài Thiên Chúa, mà hiện thân chính là Đức Giêsu, người đang nói qua dụ ngôn.

Thật vậy, Thiên Chúa say mê con người, không ngừng tìm mọi cách để mong sao con người nhận ra chân lý, tình thương để cải hóa bản thân cho tốt hơn. Vì thế, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu phổ quát, một tình yêu đi bước trước, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, địa vị, màu da, sắc tộc…, vì “Người làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương…”

  1. Thái độ của mỗi chúng ta trong vai trò của người gieo và nhận

Khi dùng dụ ngôn “người gieo giống” và nhiều loại đất khác nhau, Đức Giêsu mong muốn mỗi người chúng ta cũng mang trong mình tâm tình của người gieo giống. Tức là gieo trong hy sinh, vất vả, không tính toán hơn thiệt, không ích kỷ nhỏ nhen. Bổn phận của người môn đệ chính là mau mắn lên đường, tung hoành khắp nơi, biết tận dụng mọi thời gian, phương tiện để miễn sao Lời Chúa được loan xa tới mọi nơi, mọi chốn, không phân biệt họ là ai, cuộc sống và địa vị của họ như thế nào…

Thật vậy, chúng ta cứ trung thành và quảng đại, còn thành công là do Chúa chứ không phải hoàn toàn ở khả năng của chúng ta. Tinh thần này đã được thánh Phaolô nói đến khi ngài xác định: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Ðấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1 Cr 3,6-7).

Làm được điều đó, chúng ta cần có một trái tim đủ lớn để yêu thương,  kiên trì và trung thành.

Là Kitô hữu, chúng ta được hạt giống là chính Lời của Chúa gieo vào lòng chúng ta từ ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Rồi tiếp tục trải qua dòng thời gian, chúng ta có nhiều điều kiện để cho “Hạt Giống” ấy nẩy mầm và sinh hoa kết trái dồi dào. Nhưng thử hỏi, mỗi chúng ta có sẵn sàng để trở thành thửa đất tốt tươi hay chỉ là sỏi đá, ven đường và gai góc?

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi chúng ta hãy có tấm lòng bao dung, độ lượng như người gieo giống, đồng thời cũng phải có thái độ cởi mở, hân hoan, đơn sơ và yêu mến để cho hạt giống được nảy mầm, trổ sinh hoa trái dồi dào như những thửa đất tốt.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được mặc lấy tâm tình của người gieo giống, đồng thời cũng trở nên những thửa đất tốt để hạt giống Lời Chúa được trổ sinh hoa trái dồi dào nơi tâm hồn chúng con. Amen.

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA – MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

P.Trần Đình Phan Tiến

LỜI Chúa ví như “hạt Giống”  được gieo vào tâm hồn nhân thế, vì vậy, không phải tâm hồn nào cũng giống tâm hồn nào, có tâm hồn cao thượng, có tâm hồn phi thường, bình thường, thì cũng có những tâm hồn khác thường, dị thường. Nói chung, người ta thường nói :” chin người, mười ý”, mỗi một cá thể con người là mỗi hoang địa phức tạp, hay những phù sa màu mỡ, hoặc sa mạc cát trắng hay đồng bằng phì nhiêu, thì hạt giống Lời Chúa mới sinh hoa kết trái theo sự phù hợp đó.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy được lòng người nhân thế “vô định”. Dụ ngôn người gieo giống là một minh họa rõ nét nhất về điều đó.

Khởi đi từ Bài đọc I hôm nay ( Isa 55, 10-11) cho biết “ Công hiệu Lời Chúa”, nghĩa là Lời Chúa như hạt giống người nông dân gieo vãi, không trở lại với người gieo, mà là phải được sinh sôi, nảy nở. Lời Chúa cũng vậy, được phán ra  khỏi miệng Thiên Chúa, thì không trở lại với Ngài nữa, nhưng sẽ trổ sinh kết quả tùy theo Ý Chúa.

Không phải mọi người kêu: “ Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời”, vì Nước Trời không phải là cái chợ đời, chúng ta nhớ lại có lần Chúa Giêsu đã nói : Nước Trời là Cửa hẹp, vì thế, muốn vào được Nước Trời, thì nhân thế phải cuộc sống nầy bằng Lời Chúa.

Không phải nghĩ rằng : Đạo Công giáo sẽ tha thứ hết. Vâng, sẽ tha thứ hết, nếu những tội không xúc phạm đến Thánh Linh, không xúc phạm đến những mầu nhiệm siêu nhiên của Thiên Chúa.

Ngày nay kể cả người Công giáo, họ cũng xem thường những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, xúc phạm đến Chúa thánh Thần mà họ không biết, hoặc chủ tâm. Những kẻ “giết “ Chúa Giêsu đều được tha, hay những tội xúc phạm đến tha nhân  đều được tha, nhưng những tội phạm đến chính Thiên Chúa, là những tội khinh dễ các mầu nhiệm siêu nhiên hoặc hữu hình, xem thường các Bí Tích, tội lộng ngôn, kể cả người công giáo, họ cậy thế dựa vào chính quyền nầy, thể chế nầy, để phá hoại, hoặc bách hại Giáo Hội.

Trong hàng ngũ giáo dân công giáo, họ cũng đang làm đảo lộn tất cả, nói xấu linh mục, kéo bè, kéo cánh, là đủ mọi chuyện, họ đinh ninh rằng cứ làm cho “đã nư” rồi khi chết sẽ ăn năn sam hối thì sẽ được tha thứ, hoàn toàn sai lầm. Thiên đàng và hỏa ngục là chuyện đúng sai, nhưng chỉ duy một mình Thiên Chúa mới là Đấng phán xử ĐÚNG –SAI ấy, chứ không phải bất cứ một nhân vật nào khác.Vì cuối cùng của đời người là chỉ có hai cửa mà thôi đó là : THIÊN ĐÀNG và HỎA NGỤC.

Thiên Chúa luôn tha thứ và tha thứ, nhưng sự tha thứ hay trừng phạt được ban cho Giáo Hội, Giáo Hội trao quyền cho Thừa Tác Viên có chức Thánh là Linh mục, nếu linh mục tha phạt không đúng, thì họ phải chịu trách nhiệm trước Mặt Thiên Chúa. Nhưng, có một tội không ai dám tha, đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần. Tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội nào? Thưa , dó là tội phỉ bang Đạo công giáo, nói xấu, xuyên tạc, bôi bác, vu khống, mạ lỵ Bí Tích Thánh Thể, xem thường đức tin của Hội Thánh, đặt Đạo Thánh Chúa ngang hàng hoặc thua kém với những thể chế chính trị.

Mầu Nhiệm Đạo Công giáo không phải là thể chế chính trị độc đoán, hay một đảng phái tràn thế. Vì vậy, Đạo Công giáo là một mầu nhiệm của tình thương, nhưng tình thương ấy phải căn cứ vào Lời Chúa, sự tha thứ cảu Đạo Công giáo không phải tùy tiện, nhu nhược xô bồ, mà là phải dựa trên tiêu chí của tình thương, cũng như khiêm nhường không phải cúi mình xuống cho người ta chà đạp, mà nhìn nhận chân lý và tình thương bởi Thiên Chúa, chứ không phải do chính ai khác. Nhân thế không thể tự cao phủ nhận Thiên Chúa, cũng như không thể lợi dụng tình thương của Thiên Chúa mà đứng trên tha nhân.

Đó là những mảnh đất có đầy bụi gai, gai mọc um tùm Hạt giống Lời Chúa chết nghẹt, không lớn lên được. Những hạt rơi xuống vệ đường, hay trên đá sỏi, mặc nhiên không đủ điều kiện để mọc lên.

Dù rằng mọi người đều là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, nhưng tội nhân “Phêrô”, hay “Phaolo”, thì khác với tội nhân là ”Giuđa”. Giu-đa không pahi3 không được tha thứ, nhưng vì Giu-đa không biết ăn năn, và không tìn vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Có nhiều hạng người kiêu ngạo, tự cho mình hiểu biết hơn người khác, làm ra vẻ “rành rẽ” hiểu Đạo, lên mặt dạy đời, trong khi “cái xà trong mắt mình không thấy, lại đòi lấy cái rác trong mắt tha nhân “. Cũng không thiếu những người đi tu vì ham lợi lộc chức quyền, khi vào thấy không đạt được thì chuồn ra.

Cùng với những mảnh đất sỏi đá, hay cằn cỗi, thì những mảnh đất màu mỡ nảy sinh nhiều bông hạt, có hạt được ba mươi, sáu mươi, hạt được một trăm. Đó là những mảnh đất tâm hồn chân thật, công chính, như Lời Thánh Vịnh :  Linh hồn người công chính ở trong tay Chúa, đau khổ, chết choc không làm gì họ được …”  Theo đó, Hạt Giống Lời Chúa rất cần và phải phù hợp với MẢNH ĐẤT TÂM HỒN của người nghe ./. Amen

Lạy Chúa Giêsu, Chùa đã dùng dụ ngôn “Người gieo giống”, để dạy cho chúng con biết phát huy Lời Chúa trong mọi môi trường hoàn cảnh, hầu làm sáng Danh Chúa mọi lúc , mọi nơi. Xin cho chúng con biết trung tín, tôn thờ và thực thi Lời Chúa, hầu mang lại hoa trái cho chúng con như lòng Chúa mong ước ./. Amen

Về mục lục

.

HẠT TÂM LINH

Trầm Thiên Thu

Quả và Cây luôn có hệ lụy với nhau theo quy trình Gieo – Gặt. Muốn gieo thì phải có hạt. Chúa Giêsu đã xác định: “Xem quả thì biết cây” (Mt 12:33; Lc 6:44). Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Về tinh thần cũng cần có “hạt giống tâm hồn”. Tương tự, “khu vườn” tâm linh rất cần “hạt giống Lời Chúa”.

Nói và Nghe là hoạt động hằng ngày, vì Nói là Gieo, Nghe là Gặt. Tương tự, Lòng và Miệng cũng không thể tách rời: “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6:45). Người Việt có câu: “Có đầy mới tràn”. Một hệ lụy tất yếu, Chúa Giêsu nói rõ: “Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12:37). Cuộc sống là một chuỗi gieo – gặt không ngừng, dù vô tình hay hữu ý. Đừng nghĩ rằng “lời nói theo gió bay” hoặc “vào tai này, ra tai kia”.

Samuel Smiles (1812–1904, Anh quốc) nhận định: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động; gieo hành động, gặt thói quen; gieo thói quen, gặt tính cách; gieo tính cách, gặt số phận”. Hạt tốt mới nảy mầm thành cây tốt, từ đó mới có quả tốt. Lời khôn ngoan mới đủ sức lay động lòng người. Khổng Tử phân tích: “Người khôn ngoan hỏi nguyên do ở bản thân, kẻ dại khờ hỏi nguyên do ở người khác”.

Chắc chắn rằng muốn Gặt thì phải Gieo, trước khi Gieo thì phải có Hạt Giống. Hạt giống là thứ rất quan trọng trong nông nghiệp. Hạt giống phải là những hạt giống mẩy, chắc, có màu sáng. Hầu hết các loại hạt cây lương thực đều gồm ba phần là vỏ, phôi và phôi nhũ. Vỏ có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho hạt, không để phôi hạt bị hư hỏng, vì phôi là “sinh mệnh” của hạt, có nhiệm vụ nảy mầm để có thể trở thành cây con, còn phôi nhũ là phần chứa dưỡng chất của hạt, là phần nuôi cây con. Tương tự, hạt tâm linh cũng cần hạt tốt để có cây tốt và quả tốt. Chắc chắn rằng “hạt giống tốt” cho mảnh đất tâm linh không gì khác hơn là chính Hạt Giống Lời Chúa.

Ai đã từng làm nông nghiệp thì biết rằng từ khi gieo tới lúc gặt (thu hoạch) là một quá trình đầy gian khổ. Thật vậy, Thánh Vịnh gia nói: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Nỗi buồn và niềm vui, đau khổ và sung sướng, nụ cười và nước mắt,… đó là các cặp tương đồng về hai trạng thái trái ngược nhau, cũng như Gieo và Gặt. Gieo là lúc vất vả, gặt là lúc tận hưởng. Quả thật, không có niềm hạnh phúc nào mà không có ít nhiều nước mắt. Nước mắt càng nhiều và càng mặn thì hạnh phúc càng lớn và càng ngọt.

Vấn đề thời tiết cũng là điều quan yếu trong quá trình Gieo và Gặt. Không mưa thuận gió hòa thì con người cũng “bó tay”. Hoặc đến ngày thu hoạch, nhưng chỉ một cơn bão hoặc lũ lụt thì con người cũng đành chịu trắng tay. Điều đó cho thấy Đấng Vô Hình mới làm chủ mọi thứ, Đấng đó chính là Thiên Chúa. Vừa kinh ngạc vừa kinh sợ, đã có lần người ta phải nghi vấn về Đức Giêsu Kitô khi Ngài điều khiển cả thiên nhiên: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8:27; Mc 4:41; Lc 8:25).

Thuở xưa, qua miệng ngôn sứ Isaia, Đức Chúa đã tuyên phán: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55:10-11). Thiên Chúa dùng hình ảnh rất quen thuộc, rất thực tế trong đời thường. Lời Chúa rất kỳ diệu, rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Không chỉ vậy, Lời Chúa còn có sức mạnh phi thường, không ai có thể cưỡng lại.

Thánh Vịnh gia chia sẻ về việc cảm nghiệm Lời Chúa: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi” (Tv 65:10-12). Hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc, Lời Chúa là nguồn giải khát thiết yếu, ước gì chúng ta cũng có thể nói được như Thánh Vịnh gia: “Con há miệng và con hớp lấy, vì khát khao mệnh lệnh của Ngài” (Tv 119:131). Hằng ngày ai sống được vậy thì thật hạnh phúc biết bao! Đó là “khéo sống”, là sống khôn ngoan, mà đức khôn ngoan rất cao quý: “Được khôn ngoan tốt hơn được vàng, được hiểu biết quý hơn được bạc” (Cn 16:16).

Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong – Thuận với Trời thì còn, nghịch với Trời thì mất. Thiên nhiên chứng tỏ Thiên Chúa hiện hữu, khắp nơi tràn ngập hình ảnh chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa: “Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ, cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh, chiên cừu phủ trắng đồng xanh, lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào, câu hò tiếng hát trổi cao” (Tv 65:13-14). Càng nhìn ngắm thiên nhiên, người ta càng khả dĩ nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Ngay cả những người theo chủ nghĩa vô thần cũng không thể chối bỏ Ông Trời, bởi vì họ vẫn thắp nhang cho người quá cố, mặc dù họ không muốn công khai xác nhận, nghĩa là họ tự mâu thuẫn, và chắc chắn rằng họ không thể nào “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” như họ muốn.

Trong cuộc sống thường nhật, bằng cách này hoặc cách nọ, chúng ta cũng “gieo” nhiều thứ qua ánh mắt, thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động,… Có những thứ chúng ta có thể “gặt” ngay lúc đó, nhưng cũng có những thứ cần có thời gian. Dù lâu hay mau, trong khoảng “gieo – gặt” vẫn có một khoảng chờ đợi. Thánh Phaolô nhận xét: “Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8:18-19). Đó là khoảng chờ đợi, khoảng hy vọng, luôn rất cần có sự kiên trì, tính kiên nhẫn. Thánh Phaolô giải thích: “Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8:20-21).

Có tự do là có hạnh phúc, khi được giải thoát là được sống tự do. Thánh Phaolô cho biết thêm: “Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa” (Rm 8:22-23). Quả thật, đó là lúc thực sự được giải thoát, được thu hoạch chính những gì chúng ta đã “gieo” trong suốt cuộc đời. Ai gieo giống tốt thì bội thu, ai gieo giống xấu cũng có thu hoạch, nhưng là thu hoạch những cái xấu xa và nguy hại.

Kinh Thánh cho biết: Một hôm, thấy Đức Giêsu ra Biển Hồ, đông đảo dân chúng kéo đến tụ họp bên Ngài, thế nên Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng đứng trên bờ. Khi đó, Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều, một trong các dụ ngôn đó là “Dụ Ngôn Người Gieo Giống” (Mt 13:1-23; Mc 4:1-20; Lc 8:4-15).

Trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu đề cập bốn loại hạt: (1) Loại hạt rơi xuống vệ đường, bị chim chóc ăn mất; (2) Loại hạt rơi trên nơi sỏi đá, đất không nhiều, nó mọc ngay nhưng bị cháy khô khi nắng lên; (3) Loại hạt rơi vào bụi gai, bị chết nghẹt vì gai mọc đè lên; (4) Loại hạt rơi vào đất tốt nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.

Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu nói: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13:9). Đây là cách nói khiến chúng ta phài suy nghĩ nhiều. Tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói? Chúa Giêsu giải thích: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽbị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìnmà không nhìnnghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã rachai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Mt 13:11-15). Ung thư là dạng xơ cứng cơ phận nào đó, rất đáng sợ; “chai sạn” là dạng xơ cứng tâm hồn, chứng ung thư linh hồn, đáng sợ h7n nhiều. Cứng lòng cũng là tội xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, một dạng “ung thư tâm linh”, bất trị, thế nên không được tha cả ở đời này lẫn đời sau (x. Mc 3:29; Lc 12:10).

Đối với những người thành tâm, tâm hồn mềm chứ không cứng, Chúa Giêsu đã lên tiếng chúc mừng: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13:16-17). Chúng ta không diễm phúc trực diện với Chúa Giêsu như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta lại “gặp gỡ” Ngài bằng con mắt đức tin, và được một mối phúc khác: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Thấy hay không thấy trực tiếp, điều đó không thành vấn đề, mà vấn đề là TIN hay KHÔNG TIN.

Đề cập đức tin và để củng cố đức tin, hãy nghe giáo sư Robert Andrews Millikan Millikan (1868–1953, nhà vật lý danh tiếng người Mỹ, đạt giải nobel vật lý năm 1923) nhận định: “Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng sự vô tín không có nền tảng khoa học. Tôi thấy giữa đức tin và khoa học không có gì mâu thuẫn với nhau cả”.

Trong tất cả các dụ ngôn, có lẽ dụ ngôn Người Gieo Giống khó hiểu nhất đối với phàm nhân. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải giải thích chi tiết: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục” (Mt 13:19-23). Lời giải thích của Chúa Giêsu chính xác và mạch lạc, chẳng cần lời giải thích nào nữa!

Thiết tưởng, có thể chúng ta chưa đến nỗi là “hạt gieo bên vệ đường”, nhưng rất có thể là “hạt gieo nơi đá sỏi” và “hạt gieo vào bụi gai”, bởi vì chúng ta có nhiều những nỗi sợ hãi và nỗi lo lắng – đôi khi vô cớ và vô lý. Vả lại, đôi khi chúng ta còn ảo tưởng, bởi vì chúng ta có vẻ rất “ngoan ngoãn và hiền lành như chiên” khi ở trong khuôn viên nhà thờ, nhưng khi ra ngoài nhà thờ thì… “khác hẳn”, y như các ảo thuật gia có thể biến Chiên thành Cọp, David Copperfield còn “thua xa”, và chắc hẳn mỗi chúng ta cũng nên “tự xem lại” chính mình lắm. Sự thật thì vẫn hay phũ phàng thế đấy, nhưng chỉ có thuốc đắng mới “đã” tật mà thôi, không thể khác được!

Cuộc sống cho biết rằng công thức là điều cần thiết, bởi vì cái gì cũng cần có “luật” nhất định, và nghi thức hoặc nghi lễ cũng vậy, nhưng đừng quá câu nệ vào hình thức, đừng coi trọng số lượng mà coi thường chất lượng!

Hạt giống là hạt đời, có nhiều dạng hạt lép và cũng có nhiều dạng hạt mẩy. Tính từ “mẩy” hoặc “lép” đôi khi còn do chính chúng ta gán ghép cho người khác, chứ không phải tại hạt. Chí Phèo cũng muốn sống tốt mà tại thành kiến của người đời khiến anh ta không thể “ngóc đầu” lên được, anh ta muốn hoàn lương mà người ta cứ “đè” anh ta xuống. Hạt Chí Phèo muốn “mẩy” mà bị người đời làm cho “lép”. Vì thế mà có những dạng “cùi không sợ lở”. Lỗi tại ai? Lỗi tại tôi ba lần đủ chưa? Và chúng ta có thật lòng “đấm ngực” không? Ai thực sự can đảm mới có thể trả lời!

Hệ lụy Gieo – Gặt mang tính liên đới. Thánh Phaolô nói: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng” (Gl 6:7-9). Ước gì mỗi chúng ta đều là “hạt gieo vào đất tốt” và sinh lời, nhiều hay ít cũng được, miễn sao là có sinh lời – cho chính mình và cho tha nhân.

Hãy lưu ý lời cảnh báo của Thánh Gioan Climacus: “Ma quỷ thường hại linh hồn của con người bằng cách lấy đức hạnh và việc thiện tu đức của con người bày ra trước mắt để dẫn con người tới kiêu ngạo”. Kiêu ngạo là “cái tôi” quá lớn, và là đầu mối tội lỗi, đối lập với đức khiêm nhường – nền tảng nhân đức.

Lạy Thiên Chúa hằng sinh, xin giúp con biết gieo những hạt giống tốt và cố gắng hút mầu mỡ tâm linh để phát triển thành cây tốt và sinh trái lành, xin ban cho con được vui hưởng lòng nhân hậu của Ngài và xin củng cố những gì con có thể làm được theo khả năng Ngài trao. Con chân thành cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

GIEO KHẮP BỐN PHƯƠNG

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

I.  LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN (Mt 13,1-23)

 1 Khi ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. 2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. 3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. 

Người nói: Người gieo giống đi ra gieo giống.  4 Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. 8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. 9 Ai có tai thì nghe.” 10 Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?” 11 Người đáp: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. 12 Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. 13 Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. 14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; 15 vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành. 

 16 “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. 17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe. 

 18 “Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống. 19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. 20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. 21 Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. 22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. 23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” 

II.  TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

2.1  Nếu gieo lúa theo kiểu được kể trong dụ ngôn “Người gieo giống” trên thì Đức Giê-su không phải là một nông dân chuyên nghiệp. Người nông dân chuyên nghiệp sẽ chỉ gieo hạt vào những luống đất đã dược cầy bừa kỹ càng. Nhưng gieo lúa như trong dụ ngôn thì đúng là cách mà Đức Giê-su gieo hạt lúa Lời Chúa: gieo khắp bốn phưong, gieo tứ tung, gieo tưới sượi…. gieo cách hào phóng! 

2.2  Có nhiểu mảnh đất khác nhau đón nhận hạt lúa cũng như có nhiều tâm hồn khác nhau đón nhận Lời Chúa. Có những hạt rơi xuống vệ đường, có những hạt rơi nơi sỏi đá, có những hạt rơi vào bụi gai, có những hạt rơi nhằm đất tốt… Mỗi mảnh đất đem lại kết quả khác nhau cho hạt lúa cũng như mỗi tâm hồn sinh hoa kết quả khác nhau cho Lời Chúa. 

III. THỰC THI LỜI CHÚA  

3.1  Từ khi tôi có trí khôn, tôi đã được dậy cho biết tôi phải trở thành mảnh đất tốt, để hạt lúa Lời Chúa cho kết quả 100,60 hoặc 30. Tôi cũng đã cố gắng rất nhiều để thành mảnh đất tốt cho hạt giống Lời Chúa sinh hoa kết trái xum xuê. Nhưng chắc chắn không phải lúc nào tâm hồn tôi cũng là mảnh đất tốt, mà có nhiều lúc tâm hồn tôi khô cằn, đầy sỏi đá và gai góc khiến Lời Chúa không thể bén rễ và sinh bông.    

3.2  Tôi thật có phúc vì Chúa Quan Phòng đã sắp đặt để tôi được phục vụ các Khóa Thánh Kinh (Thánh Kinh 100 tuần, Thánh Kinh và Huấn Luyện Lãnh Đạo, Lectio Divina, Chia sẻ Lời Chúa 7 bước, Xem Xét Làm). Nhờ việc soạn bài và hướng dẫn các Khóa này tôi ý thức hơn việc thực thi Lời Chúa trong cuộc sống cá nhân của mình, tức lời nói phải đi đôi với việc làm. 

3.3 Tôi cũng thật có phúc vì Chúa Quan Phòng đã sắp đặt cho tôi được phục vụ Hội Thánh qua các bài “Sống Lời Chúa Hôm Nay” và các bài “Suy Niệm Phúc Âm Chúa Nhật”. Nhờ việc soạn các bài này tôi có giờ suy niệm và thực thi Lời Chúa. 

IV.  CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Lời của Thiên Chúa đã được gieo vào lòng trần gian.  

Con hết lòng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa đã ngự đến trong lòng con, trong cuộc đời con.

Xin Chúa làm cho đời con sinh nhiều hoa trái của Tình Yêu, của Ơn Cứu Độ.  

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Lời của Thiên Chúa đã được gieo vào lòng trần gian.  

Con hết lòng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa đã ngự đến trong lòng con, trong cuộc đời con.  

Chúa cũng đã mời gọi con phục vụ Lời và ban cho con nhiều cơ hội để gieo vãi hạt giống Lời Chúa vào các tâm hồn. 

Xin Chúa chúc lành cho các lớp Thánh Kinh của con.  

Xin Chúa làm cho các bài diễn giải và suy niệm Lời Chúa của con có sức sống để đánh động người đọc.  

Con cầu xin Chúa là Thiên Chúa, Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn ngàn đời Amen.

Về mục lục

.

NGƯỜI GIEO GIỐNG LẠ KỲ

JM. Lam Thy

Chúa Giê-su xuống thế làm người, sinh trưởng ở thôn quê, mãi tới năm 30 tuổi, Người mới đi khắp đó đây thu nhận môn đệ và công khai rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Những sinh hoạt nơi thôn dã, nhất là cảnh gieo trồng lúa mạ của người nông dân, Người thường xuyên chứng kiến; nên khi đi rao giảng Tin Mừng, Người đã mượn những hình ảnh dân dã ấy để minh hoạ cho Lời giảng. Đó quả thực là một biện pháp giảng thuyết sinh động, gần gũi, thân tình, giúp cụ thể hoá những ý niệm trừu tượng, khiến người nghe dễ tiếp thu. Một trong những dụ ngôn đầu tiên của Người là dụ ngôn “Người gieo giống” (CN XV TN-A – Mt 13, 1-23)

Nếu khi suy niệm Lời Chúa chỉ ngưng lại ở dụ ngôn “Người gieo giống” (Mt 13, 4-8), chắc chắn sẽ nảy sinh những ý nghĩ cho rằng người gieo giống trong bài Tin Mừng thật là một con người lạ lùng. Chẳng có người nông dân nào có đầu óc bình thường lại đi phung phí hạt giống trên mọi mảnh đất, kể cả những mảnh đất đầy sỏi đá và gai góc; cũng chẳng ai dại gì đem hạt giống gieo bên vệ đường. Cứ suy ngay việc gieo mạ cấy lúa của nông dân Việt Nam cũng đủ thấy đó không phải là một công vịêc đơn giản. Hạt giống phải được chọn lựa kỹ càng, phơi nắng cho thật khô ráo (vì nếu để ẩm ướt, hạt sẽ nảy mầm khi thời vụ gieo trồng chưa tới). Tới mùa, cho hạt giống vào bao và đem ngâm nước (ao, giếng) khoảng chừng ba ngày. Trong thời gian này thì phải cày bừa ruộng cho thật kỹ và sạch sẽ (không còn một cọng cỏ rác nào).

Sau ba ngày, hạt giống nảy mầm (hạt giống mới chỉ nứt vỏ để lộ cái mầm trắng) thì lấy ra rải đều trên mặt chiếu ở nơi mát mẻ (trong nhà hoặc trong bóng râm) để mầm nhú dài ra một chút mới đem gieo (trường hợp nếu vội vàng đem gieo khi mầm chưa ló ra ngoài, thì có thể nhiều hạt giống sẽ bị hư thối, còn nếu cứ để trong bao ngâm dưới nước, chờ mầm nhú dài ra thì khi lấy ra khỏi bao đem gieo, nhiều hạt sẽ gãy mầm và cũng sẽ hư thối khi gieo xuống ruộng; đó là lý do giải thích tại sao phải chờ khoảng ba ngày rồi mới đem hạt giống rải đều lên mặt chiếu trải dưới bóng râm, nơi mát mẻ). Kỹ như vậy, nhưng khi nhổ mạ đem cấy cũng vẫn có lẫn cỏ, nên khi nhổ mạ lại phải lựa bỏ hết cỏ lẫn trong đó rồi mới đem cấy xuống ruộng đã cày bừa kỹ càng. Ấy vậy mà rồi cũng vẫn có cỏ mọc lẫn trong lúa và đến mùa gặt lại phải tim cách loại bỏ cỏ. Đồng bào miền bắc VN còn tổ chức làm cỏ khi lúa “con gái” (lúa đã trưởng thành nhưng chưa trổ bông “đòng đòng”).

Chính vì thế, nên cần phải đọc tiếp phần giải nghĩa dụ ngôn (Mt 13, 10-23), vâng “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23). Từ đó, sẽ hiểu được người gieo giống ở đây chính là Thiên Chúa.

Một cách cụ thể, đó chính là Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa. Người muốn dùng hình ảnh cụ thể trong công việc thường nhật của con người để mạc khải cho con người hiểu về tình yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa. Vì tình yêu, Người muốn cứu rỗi tất cả loài người đang ngụp lặn trong tội lỗi, không phân biệt đối xử với bất cứ một ai. Vì thế, có những hạt giống Lời Chúa gieo bên vệ đường, gieo trên sỏi đá, gieo vào bụi gai, và cũng có những hạt gieo vào ruộng đất màu mỡ, tươi tốt. Tuy nhiên, cũng không loại trừ có thể có những con người có một thửa ruộng tâm linh hội đủ những yếu tố trên: Thửa ruộng đó có thực sự là một thửa ruộng màu mỡ, đã được cày bừa, dọn dẹp sạch sẽ, hay cũng vẫn còn nhiều sỏi đá, bụi gai, thậm chí còn hoang hoá như bờ cỏ bên vệ đường?

Chúa hay dùng dụ ngôn để giảng dạy, ấy cũng bởi vì có những sự kiện, những công việc nếu chỉ dùng trí khôn của con người thì không thể hiểu được. Cũng giống như đám người Do-thái “họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu” (Mt 13, 13). Mà cũng vì thế, Chúa mới dùng dụ ngôn để giúp họ sáng mắt, hiểu ra vấn đề mà Chúa muốn truyền dạy. Vâng, không chỉ những người sống cách đây 20 thế kỷ, mà ở ngay thế kỷ XXI này cũng vẫn còn không ít những người không hiểu và cố tình không hiểu Lời Chúa. Khoan thử nói đến những người xung quanh mình đón nhận Lời Chúa như kiểu hạt giống gieo bên vệ đường, gieo trên sỏi đá hoặc gieo vào bụi gai; mà hãy nhìn lại mình xem có phải mình đã thờ ơ, bàng quang với Lời Chúa (như đứng bên vệ đường), hoặc khô khan nguội lạnh chai lì (như sỏi đá) hoặc không tin thì chớ, mà còn chống đối lại (như bụi gai).

Vâng, hãy nhìn lại chính mình xem cái sà trên mắt mình nó lớn tới cỡ nào, trước khi đi tìm cọng rác nơi mắt người anh em. Và để lấy được cái sà nơi mắt mình ra, cũng đừng vội ỷ tài cậy sức mình, mà phải cậy nhờ vào Đức Thánh Linh, và chỉ có như vậy mới mong thửa ruộng tâm hồn trở nên màu mỡ tốt tươi, ngõ hầu đón nhận được hạt giống Lời Chúa. Cũng đừng quên “làm cỏ khi lúa còn con gái” như đồng bào miền Bắc VN vẫn quen làm. Nói cách cụ thể, hãy luôn luôn chăm sóc cho thửa ruộng tâm hồn sạch cỏ tội lỗi, đồng thời cũng phải hết sức cảnh giác kẻo ”Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất” (Mt 13, 25). Nếu làm được như vậy thì mới hy vọng bản thân mình sẽ trở nên “người gieo giống” như Lời Chúa dạy “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Ước được như vậy. Amen.

Về mục lục

.

TRỔ SINH NIỀM VUI

Lm. Jos. DĐH.

Người làm nông nghiệp sẽ quên hết mệt nhọc khi ngày mùa bội thu tới, các ngư dân chăm chỉ lao động trên biển cả, họ hạnh phúc biết bao sau chuyến trở về, được mùa, được giá. Các bậc cha mẹ sẽ khoẻ và tươi trẻ hơn, khi thấy con mình thành người, thành danh, sau những năm tháng các ngài đã hy sinh vất vả nuôi dạy con cháu. Dù làm kinh tế, hay chuyên chăm giáo dục thế hệ trẻ, ai cũng mơ ước việc đầu tư công sức của mình luôn mang lại thành quả tốt nhất. Bài học lý thuyết và kinh nghiệm ít nhiều vẫn đang trả lời cho chúng ta những trải nghiệm hết sức phong phú. Vì chưng: con người cao hơn nhau ở tầm nhìn, quý mến nhau nhau hệ tại ở tấm lòng, xác hồn thanh thản thế nào tuỳ ở chỗ nhận biết mình là ai.

Tâm trạng vui mừng của nhóm 12 năm xưa, không phải do các ông mắt thấy tai nghe Thầy Giêsu tài đức, đúng hơn, những ngư phủ đó đang được yêu, được phủ lấp một khát vọng làm đệ tử. Các tông đồ không chỉ dừng lại ở việc thấy một số lượng rất đông đang chăm chú nghe Thầy dẫn giải về dụ ngôn người gieo giống, các ông còn mường tượng một niềm vui rộng lớn sau khi hạt giống được gieo vãi. Đức Giêsu chia sẻ hạnh phúc Nước Trời khởi đi từ dụ ngôn người gieo giống, niềm vui vật chất và tinh thần, ơn ban tự nhiên và ơn siêu nhiên, chính là ơn làm phong phú mảnh đất tâm hồn người ta trổ sinh bông hạt.

Thành quả lao động, tận hưởng phúc lộc, đều tuỳ thuộc vào quá trình đầu tư, công sức, dân gian còn nói tới ba yếu tố quan trọng đưa đến kết quả khác nhau là do: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Hạt giống đức tin Chúa Giêsu đã gieo trồng, được giáo hội chăm sóc, được thừa hưởng ân phúc của tổ tiên thì có rồi, còn trổ sinh hoa trái thánh thiện là do mảnh đất tâm hồn nơi mỗi chúng ta. Tài năng, sức khoẻ, của cải vật chất dồi dào, đó là điều tốt, nếu có tinh thần trách nhiệm, có lòng quảng đại, gia đình, xã hội, hẳn chúng ta sẽ thấy được niềm vui và hiệu quả việc đầu tư chăm sóc. Lời Chúa, giáo huấn của hội thánh, chính là điều kiện làm cho cuộc sống trở nên sung túc ở hiện tại và tương lai, nhưng đức tin, đức ái, có lớn mạnh, có trổ sinh bông hạt, là tuỳ thuộc cách ta đón nhận và sử dụng ơn ban như thế nào.

Người xưa có câu: người trồng cây hạnh, người chơi, ta trồng cây đức, để đời về sau. Tiến trình gieo và gặt, kết quả nhiều hay ít, chất lượng cao hoặc thấp, nhất định phải có. Mang lại niềm vui, hạnh phúc cho gia đình, bậc cha mẹ nào cũng nghĩ tới, nếu phải vất vả, phải hao hao mòn về sinh lực, các ngài cũng không quản ngại. Nhưng con cháu có ghi nhận những hy sinh, có đi trong đạo hạnh, có quyết tâm nên người hữu ích, chắc không phải hên xui hay do thời thế. Trổ sinh bông hạt, hoa trái, hệ tại nhà nông biết mưu tính với những kiến thức đã được trang bị ; để phúc đức trổ sinh nơi con cháu, thế gian vẫn cho rằng tuỳ thuộc trách nhiệm của gia đình.

Là người Kitô hữu, ai cũng hiểu Chúa Giêsu đã đến trần gian gieo trồng hạt giống đức tin, Ngài mơ ước Lời Chúa nơi tâm hồn chúng ta phải sinh ơn ích. Tuy hoàn cảnh mỗi người không giống nhau, nhưng ai cũng phải ước muốn sống tốt, trở thành người tốt. Là con người, dù hoàn cảnh thuận lợi hay bất lợi, ai cũng được nghe, hiểu, cần xa tránh điều xấu, dừng ngại làm việc thiện. Nói chung, cơ hội để trổ sinh niềm vui, trổ sinh hoa trái thánh thiện là do ta cộng tác với ơn ban và sống đức tin hiện tại này thế nào. Cuộc sống mỗi người được sánh ví như con đường, đường mở ra không phải để ta bưng bít, thụ hưởng, nhưng là để các phương tiện lưu thông, dẫn đưa ta tới đích điểm hạnh phúc.

Chúa Giêsu đã gieo trồng hạt giống đức tin, Ngài đã giảng giải cặn kẽ cho các học trò, cho nhân loại, Ngài khao khát cho hạt giống đức tin nơi tâm hồn mỗi chúng ta sẽ trổ sinh bông hạt. Sở dĩ ở đời này, có thành công, có thất bại, là do mỗi người đã biết thích ứng hoàn cảnh của mình phù hợp, biết cố gắng để khắc phục khó khăn. Cũng từ ơn ban rất đặc biệt, người tín hữu chúng ta vẫn tin rằng, dù là một nén, hai nén bạc Chúa trao, mỗi người vẫn có cơ hội trổ sinh niềm vui cho con cháu từ số vốn khiêm tốn mình đã lãnh nhận. Giầu nghèo, tài giỏi, danh lợi địa vị, rồi cũng dừng lại như câu danh ngôn: xuân qua, hạ tới, thu sang, đông về, con người rồi cũng đi về, sinh ra không áo, chết về tay không !

Thước đo của cuộc đời, không phải là dài hay ngắn, tầm cỡ tri thức hay bình dân, mà ở mức độ ta đang sử dụng quỹ thời gian như thế nào. Mai này Chúa sẽ không hỏi ta làm nghề nông hay làm linh mục tu sĩ, Ngài cũng không cần hỏi bạn đã để lại cho con cháu tài sản, kinh tế ra sao, nhưng Ngài muốn biết chúng ta đã sống đức tin thế nào. Ở đời người ta quan tâm nhiều đến chức tước bổng lộc, sức khoẻ, quan hệ xã hội dễ hay khó, tuy nhiên vẫn có những người chỉ ước muốn để lại tình yêu thương, và mong rằng con cháu sẽ đón nhận được bí quyết sống đạo làm người, sống đạo làm con Chúa mà thôi. Hy vọng rằng, hạt giống Lời Chúa mà mỗi người chúng ta nhận lãnh, sẽ phát sinh được hoa trái tốt đẹp như thánh ý Chúa. Chân thành, thật lòng, chưa chắc đã có kết quả như ý ta muốn, nhưng chân thành và thật lòng với nén bạc Chúa trao thì ta sẽ không bao giờ phải hối tiếc. Amen.

Về mục lục

.

NGƯỜI ĐI GIEO HẠT GIỐNG VÀ HẠT GIỐNG ĐƯỢC GIEO

Lm Uyen Nguyen 

Dụ ngôn gieo giống thật rất quen thuộc, cũng cực kỳ thời sự vì đâu đâu đều có thể gặp thấy trên cõi đất này . ĐGS mượn hình ảnh người đi gieo giống trong thực tế để diễn tả về Người. Người cũng mượn hình ảnh hạt giống thực dụng Thiên Chúa tạo dựng ( đã được nhắc đến trong sách Sáng Thế 1,11) để chỉ Lời Chúa đã được loan báo vào tai nhân loại. Rao giảng là hành vi như người nông phu đi ra đồng gieo hạt giống vào ruộng mình. Chúa nhựt 15 chu kỳ năm A nay ôm ấp chủ đề này để trình bày giúp con người đón nhận Lời Chúa như phần đất đón nhận hạt giống mà người nông phu đi gieo.

Có ba hình ảnh giúp ta hiểu trọn gói nội dung và ý nghĩa của ba bài Lời Chúa được trích đọc dành cho mọi người ở Chúa Nhựt 15 này.

1.  Hình ảnh thứ nhứt, người đi gieo hạt giống. Trong hình ảnh này ĐGS muốn mọi người nhận ra chính Người, vừa là chủ tạo dựng hạt giống mới, vừa là Đấng được Chúa Cha sai phái xuống trần làm người đi gieo hạt giống mới ấy. Ý nghĩa đặc thù này mang tính quyết định để có thể nắm bắt toàn bộ dụ ngôn ‘người đi gieo giống’. Chối bỏ ý này là chối bỏ toàn bộ ý của dụ ngôn nếu không muốn nói là dụ ngôn chỉ còn là câu chuyện nghe cho vui tai chứ chẳng mang lại ý nghĩa bổ ích nào cho cuộc trần, nhất là những mảnh đời luôn khao khát hướng về chân thiện mỹ.

Người gieo giống trong câu chuyện, có thể nói, là một người không chuyên gieo hạt, gần như ‘cẩu thả’ bất thường. Vì khi gieo, ai cũng gieo cách thận trọng, tiết kiệm. Ngay cả hôm nay, trong tính toán, người ta đã đưa ra phương án canh tác hạn chế chi phí cho việc thu hoạch đạt lợi nhuận cao. Phương pháp ‘ba giảm ba tăng’, trong đó có việc tiết kiệm giống. Người gieo giống trong dụ ngôn như ĐGS tường thuật không để ý gì đến những chuyện như vậy ngoài việc khi đã ra gieo hạt thì hãy cứ gieo. Điều này bộc lộ rõ tính khí người gieo giống, không chút phản ảnh nét gì thuộc luân lý tiêu cực, trái lại thật hào phóng, mặc cho hạt giống rơi xuống bất cứ đâu, cả khi số mệnh hạt giống còn hay mất, mọc lên xanh tốt hay bạc số vàng hoe héo úa. Là thế vì người đi gieo hạt đích thực chỉ là TC cũng như những kẻ đã thuộc về TC mới có phong cách như vậy. Cũng như ở đây, còn có việc phản ánh một cuộc sáng tạo mới. Chính người đi gieo hạt giống mới ở thời điểm này được nhìn là hành vi mang tác động đạt chuẩn canh tân mọi sự.

2.  Hình ảnh hạt giống. Biết rằng hạt giống từ buổi ban sơ TC tạo dựng cùng lúc với con người, như sách Sáng Thế miêu tả. Thiên Chúa phán : y Ta ban cho các ngươi mi th có mang ht ging trên khp mt đất, và mi th cây có trái mang ht ging, để làm lương thực cho các ngươi ( St 1,29). Cho đến giờ này hạt giống ban sơ ấy đã biến thái chung phận với con người vi bao tội ác của con người làm ra. Do vậy, trong bài đọc 2, thư Phaolô khẳng định: “Muôn loài đã rơi vào cảnh hư ảo…mà vẫn còn niềm trông cậy” (x. c.20) . Cảnh hư ảo ấy thuộc cả về hạt giống cũng như mẹ đã cưu mang chúng. Mọi sự đã rơi vào trạng thái hư ảo và niềm hi vọng nơi hạt giống mới mà TC mang đến gieo vào lòng nhân loại có tính năng biến đổi thần kỳ.

Hạt giống ở đây được TM ám chỉ chính là Lời Chúa, cụ thể là toàn bộ những Lời đã được ghi trong KT. Hạt giống như vậy lại vừa chỉ đến Đấng đi gieo vừa là ‘Lời’ được ban qua việc đi rao giảng, là hành vi gieo giống tốt. Một khi Đấng là hằng sống thì Lời của Người cũng là hằng sống, vì ai đón nhận sẽ gặt hái được sự sống. CGS nói với đám đông theo Người: “Tht, tôi bo tht các ông: ai tuân gili tôi, thì skhông bao gi phi chết” (Ga 8,51). Hơn thế, hạt giống được như vậy quả thật là hạt giống thần, thuộc về TC, hạt giống siêu đặc sản, chắc hạt. Nói cách dân giã là giống tốt, sạch, không nhiễm khuẩn. Hạt giống tốt không chỉ mọc lên cung cấp nhiều hạt mới mà còn có tính thần kỳ biến đổi cao ở người đón nhận. Hạt giống tốt luôn mang trong mình chức năng bộc lộ tính chất của đất mà hạt giống rơi xuống, nghĩa là đất xấu tốt, tiếp nhận mức độ, hoặc loại trừ.

Tuy nhiên, giữa thành quả của việc gieo giống và hạt giống gieo, còn có điều nghịch lý nội tại, để hạt giống phát sinh nhiều hạt mới, hạt giống phải thối đi, nghĩa là phải tự hủy, theo lời ĐGS đã phán: Tht, Thy bo tht anh em, nếu ht lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vn trơ tri mt mình ; còn nếu chết đi, nó mi sinh được nhiều ht khác” ( Ga 12,24).Tự hủy chính là tính năng động thần linh tự biến đổi của hạt giống trong tiêu chí mang lại phong phú hoa trái bất biến.

3.  Hình ảnh đất tiếp nhận hạt giống. Ở đây ĐGS ám chỉ đến con người. Con người đón nhận hạt giống Lời Chúa như mọi hình thái đất. Có bốn hình thức. Những hình thức này đã được ĐGS giải thích cho các tông đồ. Mỗi loại gắn chặt với bầu tâm sự mang bao nỗi niềm hay tư thế mà họ đang có. Ba hình thức đầu là ba hình thức đáng tiếc, không mong đợi. Chỉ hình thức sau cùng là đáng được hoan nghênh. Là mô hình tuyệt hảo từ những người đón nhận Lời Chúa với tư thế để sống và sống đổi mới theo hướng Lời Chúa đòi hỏi và tác động nơi họ cùng với bao nỗ lực cá nhân đáng ca ngợi. Phong cách đón nhận Lời Chúa như thế chính là điều để bộc lộ niềm vui tuyệt hảo mà cả triều thần trên trời dưới đất đều ca ngợi và tung hô. Dành cho những người biết tiếp nhận và sống Lời Chúa với quyết tâm cao. Tuy nhiên về điều này cá nhân không thể tránh khỏi những đời hỏi nghịch ý phiền toái của Lời Chúa. Dù vậy phần phúc sẽ được đền bù bảo đảm đầy trung tín và hậu hĩnh.

Tóm lại, trong ba bài đọc Lời Chúa hôm nay, GH mong ước các Kitô hữu giáo dân hiểu rằng kết quả đón nhận Lời Chúa thành bại nơi mỗi người không là cái gì không quan trọng, nhưng đặc biệt mời gọi mọi người hãy rắp tâm quy hướng vào ĐGS để chiêm ngắm. Người đích thực là Đấng  được Chúa Cha sai đến trần gian để đi gieo hạt giống Nước Chúa vào đời. Chính Người vừa là Đấng gieo vừa là Lời, là hạt giống đích thực mang lại sự sống biến đổi và trao ban phúc trường sinh, đúng với Lời Người đã phán: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Lại có lời khác tuyệt vời hơn mà Người đã dành riêng cho những ai chú tâm chiêm ngắm và nghe Lời Người: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì đã thấy, tai anh em thật có phúc, vì đã  nghe” (Mt 13,16).

Lạy ĐGS, Đấng được sai đến trần gian để gieo những hạt giống Nước Trời theo ý Chúa Cha. Xin Người hãy biến đổi chúng con nên những phần đất phì nhiêu và màu mỡ để chúng con sẵn sàng tiếp nhận Lời Người hầu phát sinh nhiều hoa trái tô thắm cho trần gian.

Về mục lục

.

NHỮNG MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

Lm. Trịnh Ngọc Danh 

“ Kìa người gieo giống đi ra gieo giống”, đó là lời mở đầu dụ ngôn  người gieo giống mà Đức Giêsu nói với dân chúng  ở Biển Hồ. Với một người gieo giống chuyên nghiệp, ông không thể vung vãi hạt giống cách bừa bãi bất cứ đâu, nhưng ông sẽ gieo vãi trên mảnh đất tốt, đất màu mở.

Thiên Chúa là người đi gieo giống. Hạt giống Thiên Chúa gieo vào thế gian là Lời Chúa , là lời rao giảng Nước Trời. Suốt lịch sử cứu độ, hạt giống đã được gieo qua các tổ phụ, các tiên tri trong thời Cựu Ước và qua thời Tân ước với Đức Giêsu. Thế nhưng hạt giống ấy đã có những lúc bị lãng quên, bị khước từ hay bị bỏ ngoài tai như lời ngôn sứ Isaia đã nói: “Các ngươi có lắng ta nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng không thấy.”Họ giống như những hạt giống rơi trên vệ đường, rơi vào đất sỏi đá hay rơi vào bụi gai. 

Người gieo giống là một người quảng đại, không phân biệt đất tốt đất xấu, đất màu mỡ hay khô cằn.Người gieo giống không bỏ qua một mảnh đất nào. Thiên Chúa quảng đại yêu thương hết mọi người, nhìn mọi người với chính phẩm giá của họ. Vì thế, đất nào cũng nhận được hạt giống. Ai cũng có cơ may nhận được ơn cứu độ tùy lòng thành tâm, thiện chí để cho Thiên Chúa hành động.Lòng quảng đại của Thiên Chúa không phân biệt đối xử, không ưu tiên ai cũng không loại trừ ai; vì không ai hoàn toàn là lề đường, là sỏi đá hay là bụi gai. 

Những hạt giống rơi xuống vệ đường sẽ bị chim chóc đến ăn hết. Đó là những ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì qủy dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy. Người khép kín tâm trí đối với  Lời Chúa thì cũng  như đất vệ đường  

Những hạt giống rơi trên đất sỏi đá mọc ngay, nhưng vì đất không nhiều, không sâu nên khi nắng lên, vì thiếu rễ nên bị cháy và chết khô. Đó là những người nghe Lời Chúa và liền vui vẻ đón nhận; nhưng vì không đâm rễ,nên họ là những kẻ nhất thời; khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời Chúa, họ vấp ngã ngay hoặc có những người nghe được Lời Chúa và sốt sắng tiếp nhận, nhưng khi đem ra thực hành thì lại trở nên khó khăn do lòng nhiệt thành suy giảm và mau chóng bỏ rơi. 

Những hạt  rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Đó là những người nghe Lời Chúa, nhưng vì lo lắng sự đời, bị  bả vinh hoa phú qúycuốn hút khiến Lời Chúa không sinh hoa kết quả gì. Người ta có thể nhận đươc Lời của Thiên Chúa, nhưng vì có quá nhiều mối bận tâm trong cuộc sống đến nỗi điều quan trọng nhất bị đẩy ra ngoài. 

Những hạt rơi vào đất tốt nên sinh hoa kết quả: có hạt được gấp trăm, hạt sáu chục, hạt ba chục. Đó là những người nghe Lời Chúa, hiểu và đem ra thực hành thì sinh hoa kết quả. Đời sống của những người ấy được Lời Chúa làm cho phong phú.: “Ai đã có thì được cho thêm.”

Một phụ nữ nằm mơ thấy mình đang bước vào một cửa hàng mới khai trương. Chị rất ngạc nhiên nhìn thấy Thiên Chúa ngồi đằng say quầy. Chị hỏi: “ Chúa bán gì ở đây vậy?” Chúa trả lời: “ Mọi thứ mà lòng con người ao ước.” 

Thú vị quá, người phụ nữ quyết định mua những thứ tốt nhất mà con người ước mơ: “ Con muốn mua sự bình an trong tâm hồn, hạnh phúc, khôn ngoan, và sự tự do khỏi mọi nỗi sợ hãi. Không chỉ cho con mà cho hết mọi người.” 

Chúa mỉm cười : “ Chắc con chưa hiểu rõ rồi, con yêu. Ta không bán hoa quả. Ta chỉ bán hạt giống thôi.” 

Lời Chúa gieo vào tâm hồn con người như hạt giống được gieo vào lòng đất. Đất không có hạt giống không sinh hoa quả. Cũng thế, đời sống chúng ta mà không có Lời Chúa cũng không sinh hoa quả.Qua Lời Ngài, Thiên Chúa kêu gọi chúng ta có một đời sống viên mãn và sinh nhiều hoa trái hơn. 

Thiên Chúa kiên trì gieo Lời của Ngài vào mảnh đất tâm hồn chúng ta cho dù Ngài biết rằng có nhiều hạt được gieo sẽ bị chim ăn mất hoặc rơi vào sỏi đá hoặc rơi vào gai góc.Bổn phận của mỗi người chúng ta là lắng nghe, tìm hiểu và thực hành Lời Chúa.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN. NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành

Nhằm mục đích giúp người nghe dễ lĩnh hội giáo huấn của mình, Đức Giêsu thường dùng dụ ngôn để giảng dạy. Trong chương 13 Tin mừng của Thánh Mathêu đã có tới 7 dụ ngôn: dụ ngôn cỏ lùng (24-30), dụ ngôn hạt cải (31-32), dụ ngôn men trong bột (33), dụ ngôn kho báu và ngọc quý (44-46), dụ ngôn chiếc lưới (47-50) và dụ ngôn Người gieo giống (4-8) mà chúng ta vừa nghe trong đoạn Tin mừng hôm nay.  

Qua dụ ngôn “người đi gieo giống”, Đức Giêsu muốn cho chúng ta hiểu rằng: Thiên Chúa là người đi gieo giống. Hạt giống ở đây chính là Lời của Ngài. Theo chiều dài lịch sử cứu độ, Ngài gieo Lời của Ngài xuống thế gian qua các tổ phụ, các tiên tri. Vào thời sau hết, Ngài đã gieo Lời của Ngài qua chính Con Một của mình là Đức Giêsu Kitô. Sau khi Đức Giêsu về trời, Lời của Thiên Chúa được tiếp tục gieo vãi bởi các Tông đồ và các Đấng kế vị. Gieo vãi Lời Chúa cũng là bổn phận của mỗi người kitô hữu qua mọi thời đại. 

Nhưng để chu toàn bổn phận đó, trước hết chúng ta phải hiểu được tầm quan trọng của Lời Chúa. Khi nói về tầm quan trọng của Lời Chúa, Thánh Vịnh 119 diễn tả: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”(Tv 119,105). Tác giả thư Do thái thì khẳng định: “Thực vậy, lời Thiên Chúa sống động và linh nghiệm” (Dt 4,12). Công đồng Vatican II trong Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa cũng dạy : “Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Tiên Tri cùng với các Tông Ðồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn” (DV 21). 

Công đồng dạy tiếp: “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (DV 21). 

Bài đọc I hôm nay cũng cho chúng ta thấy tính chất phong phú của Lời Chúa: “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (x. Is 5,10-11). 

Chính vì thế, Giáo hội tôn kính Lời Chúa ngang hàng với Thánh Thể: “Giáo hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu” (DV 21).

Vì Lời Chúa có tầm quan trọng như vậy, nên Giáo hội không chỉ tôn kính Lời Chúa mà còn tìm mọi cách để rao giảng, nhờ đó Lời Chúa được đến với tất cả mọi người. Giáo hội rao giảng Lời Chúa trong nhà thờ, rao giảng Lời Chúa trong các lớp Giáo lý, rao giảng Lời Chúa qua các phương tiện truyền thông, “rao giảng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (x. 2Tm 4,2)…Nhưng Lời Chúa có sinh hoa kết quả hay không cũng còn tùy thuộc vào thái độ đón nhận của con người. Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, mảnh đất mà Lời của Chúa được gieo vào chính là tâm hồn của con người. Tâm hồn con người có thể là mảnh đất vệ đường, hạt giống Lời Chúa gieo xuống, chim trời ăn mất. Tâm hồn con người có thể là mảnh đất đá sỏi, hạt giống Lời Chúa gieo xuống không đâm rễ sâu, liền khô héo. Tâm hồn con người có thể là mảnh đất bụi gai, hạt giống Lời Chúa gieo vào bị chết nghẹt. Tâm hồn con người có thể là mảnh đất tốt, hạt giống Lời Chúa gieo xuống được sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi (x. Mt 13.4-8). 

Tâm hồn con người trở thành những mảnh đất tốt khi biết đón nhận Lời Chúa qua việc siêng năng đọc, suy niệm, học hỏi và để cho Lời Chúa thấm nhập và phát sinh những hiệu quả tốt đẹp trong cuộc sống. Chẳng hạn: Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nên thánh bằng câu Lời Chúa “Hãy trở nên như trẻ nhỏ để được vào nước trời” (x. Mt 18,3); Thánh Phaxicô Xaviê nên thánh bằng câu Lời Chúa: “được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào có ích gì” (x. Mt 16,26). Tương tự như thế, biết bao nhiêu kitô hữu đã trở thành mảnh đất tốt cho Lời Chúa gieo vào: Đó là những kitô hữu biết giữ luật Chúa, luật Hội Thánh. Đó là những kitô hữu biết sống công bằng, bác ái, yêu thương. Đó là những kitô hữu biến cuộc đời của mình thành cuốn Kinh Thánh sống động. Họ chính là men, là muối, là ánh sáng cho trần gian. Họ không những để cho Lời Chúa biến đổi cuộc đời mình mà còn qua họ Lời Chúa biến đổi cuộc đời của tha nhân.  

Nhưng vẫn còn đó những mảnh đất vệ đường, đá sỏi, bụi gai khi con người vẫn đọc Lời Chúa, vẫn nghe Lời Chúa nhưng không để cho lời Chúa đâm rễ sâu trong tâm hồn nên không sinh hoa kết quả:   

Đó là những kitô hữu nhưng sống buông thả theo các dục vọng trần thế: Chưa có vợ có chồng nhưng vẫn ăn chung ở chạ. Đã có vợ có chồng nhưng vẫn lén lút với những mối tình ngang trái.  

Đó là những  kitô hữu, nhưng không biết tôn trọng sức khỏe và sự sống của kẻ khác: chửi bới, bỏ vạ, cáo gian, đánh đập anh chị em xung quanh; sẵn sàng phá thai hay cộng tác với người khác để phá thai.  

Đó là những kitô hữu, nhưng sống gian dối: không thành thật với các thành viên trong gia đình, trong cộng đoàn giáo xứ, trong các mỗi tương quan xã hội;  bán hàng giả nhưng vẫn nói là hàng thật, bán thức ăn bẩn nhưng vẫn cho đó là thức ăn sạch. 

Đó là những kitô hữu, nhưng sống thiếu bác ái yêu thương, hằn thù ghen ghét nhau: chủ trương giải quyết mọi vấn đề bằng bạo lực, hậu quả là nhiều người bị thương tổn về thân xác và tâm hồn, thậm chí bị lấy đi cả tính mạng. 

Đó là những kitô hữu, nhưng không giữ đức công bằng:  sẵn sàng cho vay nặng lãi; vay mượn của cải người khác mà không trả; dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản của người khác.  

Đó là những kitô hữu, nhưng không ngăn chặn sự xấu, sự ác, trái lại, còn tiếp tay để cho sự xấu và sự ác lan tràn khắp nơi trong gia đình, giáo xứ và xã hội.

Còn chúng ta thì sao? Xin Chúa loại ra khỏi tâm hồn chúng ta mảnh đất vệ đường, sỏi đá, bụi gai. Xin Chúa biến đổi tâm hồn mỗi người chúng ta trở thành những mảnh đất tốt, để Lời Chúa được thấm nhập và sinh nhiều hoa trái, hầu xứng đáng lãnh nhận sự chúc phúc của Chúa (x. Lc 11,28). Amen.

Về mục lục

.

HÌNH ẢNH XƯA

Lm Vũđình Tường

Hình ảnh người nông dân xạ lúa trong ruộng là hình ảnh của thời xa xưa. Thời đại khoa học kĩ thuật, nhiều công việc tay chân nay được máy thay thế. Máy xạ lúa, máy gặt lúa nên tình trạng hạt giống rơi vào bụi gai hay lối đi không còn là hình ảnh quen thuộc nữa mà là hình ảnh của quá khứ. Máy cầy xới đất làm cho đất vỡ vụn dễ dàng hơn cho hạt giống mảy mầm. Nông gia hiện nay cũng vẫn còn chịu lệ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết, thành phần của đất và phẩm chất của hạt giống. Bởi lợi nhuận là thành quả cuối cùng nên làm thế nào phẩm chất tốt, thu hoạch cao mà phí tổn chi phí ít là vấn đề các nông gia đang cố gắng tìm hiểu.

Có sự khác biệt thành quả của các bông lúa, cùng loại hạt giống, gieo trồng cùng lúc, trên cùng thửa ruộng, chung khí hậu, phân bón nhưng kết quả gặt hái lại bông thì 30 hạt, bông khác 50 và bông khác 100 hạt. Đây là điều chưa có câu giải thích thoả đáng. Điều rõ ràng là sau khi gieo giống chủ ruộng cố gắng hết khả năng và ước mong kết quả tốt đẹp, nhiều ít ra sao ngoài khả năng của chủ ruộng.

Đức Kitô dùng hình ảnh người gieo giống để nói về người gieo hạt giống đức tin, Lời Chúa hay Tình Yêu Chúa cho muôn dân. Hạt giống không gieo vào lòng đất nhưng gieo vào lòng người. Con tim cởi mở chân thành đón nhận Lời Chúa con tim đó sẽ được cải biến thành con tim tốt lành và cuộc sống người đó thay đổi từ lời nói đến tư tưởng, hành động. Lời Chúa hoạt động mạnh trong cuộc sống người đó và từ đó phát sinh hành động bác ái, yêu thương, tha thứ, cùng phát triển lòng nhân ái.

Hạt giống gieo vào lòng đất gặp nhiều chướng ngại bởi có thể bị chim trời ăn mất hay chuột bọ ăn. Ngay cả khi chúng mọc mầm thì mầm non cũng sẽ là mồi cho ốc sên, sâu rầy và những hạt may mắn mạnh khỏe tươi tốt mang lại niềm vui và niềm hy vọng cho chủ ruộng. Không giống hạt giống gieo vào lòng đất, hạt giống đức tin gieo vào lòng người và chỉ có một điều kiện. Đó là con tim đón nhận hạt giống hay con tim từ chối hạt giống Lời Chúa.

Con tim từ chối hạt giống Lời Chúa bằng cách đóng chặt cánh cửa lòng không cho hạt giống lọt vào. Thực tế thì con tim không đủ khả năng làm điều đó. Một khi hạt giống gieo vào tim hạt giống đó nếu không có cơ hội phát triển hạt giống ngủ yên chờ cơ hội. Con tim cố gắng loại bỏ nhưng càng cố gắng quên thì hạt giống càng làm cho tim người đó cảm thấy bất an. Từ chỗ không thành công vứt bỏ được hạt giống Lời Chúa trong tim họ trở thành người ghét hạt giống và biến mũi dùi ghét đó sang người gieo trồng hạt giống. Tìm cách loại bỏ người gieo trồng bằng cách khủng bố, đe doạ, vu vạ để cầm tù và ngay cả giết chết. Người gieo trồng hạt giống đức tin Lời Chúa trở thành kẻ bị ruồng rẫy, bách hại. Điều này cho thấy đối với hạt giống Lời Chúa người quyền thế trong tay, có binh quyền, có tiền tài, có thế lực, cũng bất lực, không làm hại được hạt giống mà chỉ có thể làm hại người gieo trồng

Chủ ruộng thường phải lựa chọn giống tốt để gieo giống và chọn lựa thời điểm tốt nhất để gieo trồng, thường là theo thời tiết hàng năm. Hạt giống đức tin không lệ thuộc vào điều kiện vật chất đó. Hạt giống đức tin luôn là hạt có phẩm chất thượng hảo hạng. Số lượng gieo trồng lại không giới hạn, gieo vãi nhiều bao nhiêu cũng không thiếu. Điều này không có nghĩa là người gieo trồng gieo bừa bãi. Không, người đó cần gieo hạt giống với tấm lòng chân thành, yêu quí hạt giống. Thời gian gieo trồng cũng không lệ thuộc đúng mùa nhưng có thể gieo vào bất cứ thời điểm nào trong năm bởi hạt giống không bị thối rữa, thời gian và khí hậu dù thất thuờng cũng không thể thiêu huỷ. Một khi hạt giống được gieo hạt giống nếu không gặp điều kiện phát triển, hạt giống sẽ ngủ yên chờ cơ hội phát triển. Chính điều này cho thấy nhiều người gieo trồng hạt giống mười năm hay hai mươi năm sau tình cờ nhận biết hạt giống gieo trước đây giờ bắt đầu bám rễ và sắp sinh bông tươi tốt, kết trái nhiều hạt. Chính điều này mang lại niềm vui cho người gieo trồng và cũng chính điều này cho thấy người đó không bao giờ thất vọng khi gieo trồng. Họ có thể không nhìn thấy thành quả ngay nhưng rất có thể trong tương lai họ nhận thấy công việc gieo trồng họ thực hiện thậ hữu ích. Món quà truyền giáo nằm trong tầm tay nhưng lại ở trong tương lai.

Về mục lục

.

NGƯỜI GIEO GIỐNG RA ĐI GIEO GIỐNG

Fx Đỗ Công Minh 

Bài Tin mừng Chúa nhật XV thường niên hôm nay tường thuật đám đông theo Chúa để được nghe Người giảng dạy. Đông đến nỗi Chúa phải lên thuyền ra xa bờ mà nói vọng vào, vì dân chúng ai cũng chen lấn không còn chỗ cho Người giảng dạy. Những người theo Chúa ngày ấy cũng có người vì tò mò, nghe người khác đồn thổi về Chúa nên họ kéo đến xem thế nào. Cũng có người theo đám đông, thấy người khác đi thì cũng đi theo. Cũng có người theo Chúa vì đã có lần được ăn no nê, không làm mà vẫn có ăn. Thế nhưng bên cạnh đó cũng không ít người theo Chúa vì họ nhận ra Chúa là Đấng uy quyền, họ muốn Chúa dẫn họ theo con đường của Người để họ được ơn giải thoát, được cứu độ. Chúa đã dùng dụ ngôn” Người gieo giống” mô tả thái độ của những người đến nghe Chúa giảng dạy, một hình ảnh rất gần gũi với người tín hữu Việt Nam chúng con. Chúa nói với các môn đệ và dân chúng ngày ấy thật dễ hiểu với chúng con hôm nay. Đất nào sẽ trổ sinh nhiều bông hạt, đất nào khiến hạt lép, có vỏ mà không có ruột, đất nào cây mọc lên rồi héo đi đến nỗi chết khô. . . 

Đối chiếu với đời sống đạo của con hôm nay, con vẫn đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, tiếng là để nghe Lời Chúa dạy qua các bài đọc, nhưng hình như con đi tham dự Thánh lễ, nghe giảng dạy về lời Chúa, con không có ý tìm xem Chúa muốn con làm gì? Chúa dạy con ra sao? Con có nhắm đem Lời Chúa vào cuộc sống? hay chỉ ngồi đó, hiện diện bằng thân xác, còn tâm hồn bay bổng nơi nao. Thậm chí còn giật mình khi thấy cộng đoàn đứng lên tuyên xưng niềm tin, cha giảng đã kết thúc bài chia sẻ lúc nào con cũng chẳng hay. Hoặc vừa nghe cha giảng, vừa nhìn đồng hồ để đếm thời gian; tệ hơn nữa là bấm điện thoại nhắn tin cho bạn bè, “chat” với nhau ngay trong nhà thờ, chính vì thế đời sống Đức tin của con vẫn nghèo nàn, không lớn thêm lên được. 

Chúa ơi ! 

Xin cho con nhìn lại những hạt giống mà Chúa đã gieo vào lòng con. Con thuộc loại người nào đây? Nghe lời Chúa mà không hiểu hay con không muốn nghe? Nghe Lời Chúa mà mải lo nghĩ cuộc sống riêng tư nên lời Chúa không triển nở trong con. Nghe Lời Chúa mà không đâm rễ sâu, nông nổi nhất thời, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời đã vấp ngã. Con không dám xin Chúa cho hạt giống lời Chúa trong con triển nở 30, 60 mà chỉ xin lúc này, được 5 hạt, được 10 hạt thôi, rồi từ đó mảnh đất đời con tốt hơn lên, sẽ sinh sôi thêm được nhiều hơn. Con tin rằng rồi ra Chúa cũng dủ lòng xót thương: “Ta sẽ chữa cho chúng lành“. 

Xin giúp con, Chúa ơi!

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA-

Lm Giuse Đinh Lập Liễm

 A. DẪN NHẬP

    Lời Chúa là đèn soi bước đường chúng ta đi, là ánh sáng chỉ đường trong đêm tối và là lương thực nuôi linh hồn chúng ta. Lời Chúa được ví như hạt giống, tự nó có sức phát triển mạnh mẽ, nhưng hạt giống ấy, tuy là hạt giống hảo hạng có sức mạnh vô song, cũng cần có điều kiện thuận lợi để phát triển. Chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho hạt giống ấy nảy nở và phát triển. Chúa đòi chúng ta phải cộng tác vào trong công việc này.

    Hạt giống Lời Chúa được gieo vãi khắp nơi một cách dồi dào, nhất là gieo vào lòng người. Hạt giống ấy có được tiếp nhận hay không, hoặc được tiếp nhận một cách ơ hờ lạnh nhạt, hoặc được tiếp nhận một cách trân trọng, thì hạt giống ấy được phát triển tùy theo thái độ của từng người. Chúng ta cố gắng biến thành thửa đất tốt để đón nhận hạt giống Lời Chúa, hy vọng  hạt giống ấy sẽ sinh hoa kết quả, hạt sinh 30, hạt sinh 60 hay sinh 100 hạt khác.

    Tâm hồn mỗi người là một thửa ruộng, và không có thửa ruộng nào là vô ích. Nhưng để thửa ruộng là mảnh đất phì nhiêu đòi hỏi mỗi người chúng ta phải ra công cầy xới. Đương nhiên không có cuộc cầy xới nào mà không đòi phải vất vả, long đong. Tâm hồn chúng ta sẽ không là mảnh đất sinh hoa trái, nếu chúng ta không chịu hy sinh, mất mát lo cầy xới, gạn lọc, nhổ hết gai góc, nhặt đi những sỏi đá của ích kỷ hẹp hòi, của những đam mê hư hèn, của gian tham lừa lọc, của thù hận ghen tương.

    Như vậy Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta đừng để tâm hồn mình thành sỏi đá, đường đi bởi do lòng ích kỷ và thói vô tâm, cũng đừng để tâm hồn mình là bụi gai bởi lòng tham những của hư hèn và tính ươn lười ngại hy sinh cố gắng, nhưng là hãy ra công cầy xới cho hồn mình là mảnh đất phì nhiêu.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+  Bài đọc 1 : Is 55,10-11.

    Dân Do thái đang phải sống trong cảnh lưu đầy, niềm tin đang lụi dần, tiên tri Isaia được sai đến an ủi, khuyến khích và nói cho dân biết rằng Thiên Chúa đã hứa cho dân thoát cảnh lưu đầy và được trở về quê hương.

    Tuy thế, nhiều người Do thái tỏ ra nghi ngờ lời hứa đó, họ không thể tin được. Tiên tri Isaia phải nói cho họ biết tính chất phong phú của lời Chúa giống như mưa và tuyết thấm vào đất làm cho đất nên phì nhiêu thế nào thì lời Chúa luôn luôn hữu hiệu như vậy : Ngài đã nói thì thế nào cũng xẩy ra đúng như lời Ngài đã nói, Ngài đã hứa thì chắc chắn Ngài sẽ thực hiện. Lịch sử đã minh chứng cho lời tiên tri Isaia : dân Do thái đã được hồi hương vào năm 538 trước công nguyên đúng như lời đã báo trước.

+  Bài đọc 2 : Rm 8,18-23

    Trong đoạn thư gửi tín hữu Rôma mà phụng vụ hôm nay ghi lại, thánh Phaolô cố cho chúng ta hiểu thế nào là niềm hy vọng của người Kitô hữu. Tuy mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Niềm hy vọng của Kitô giáo là một sự chờ đợi, được thực hiện trong nước mắt khổ đau như một cuộc vượt qua cái chết.

    Tuy sống trong cuộc đời đầy đau khổ nhưng Kitô hữu luôn lạc quan hướng về tương lai, chờ đợi ngày được hưởng ơn cứu độ viên mãn trong Nước Trời.

+  Bài Tin mừng : Mt 13,1-23.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về người gieo giống đi gieo lúa, để dạy rằng cũng một lời Chúa rao giảng nhưng sinh nhiều hiệu quả khác nhau là tuỳ theo thái độ đón nhận của các tâm hồn người nghe.

    Để ý nhận xét, ta thấy người nông phu này gieo hạt giống xuống mọi loại đất mặc dù biết trước là nhiều hạt sẽ không nảy mầm mọc lên. Điều đó có ý nói Thiên Chúa rất hào phóng sẵn sàng ban lời Ngài cho mọi người và ban cách quảng đại dồi dào.

    Một nhận xét nữa là dụ ngôn kể ra 4 loại đất trong đó có tới 3 loại đất xấu. Điều đó có ý nói là có rất nhiều người không sẵn sàng đón nhận lời Chúa để cho lời ấy sinh hoa kết quả. Nhưng cũng có những người thiện chí biết đón nhận lời Chúa và đem ra thực hành để cho Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào : hạt sinh 30, 60, 100 hạt khác.

    Qua bài dụ ngôn  hôm nay, Giáo hội muốn nhắc nhở chúng ta phải nhận thức giá trị thiêng liêng của Lời Chúa, để nhờ đó chúng ta biết tha thiết lắng nghe và chăm chỉ đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA : Lời Chúa sinh hoa kết quả.

    Khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu rao giảng về Nước Thiên Chúa hay Nước Trời. Đây là những ý tưởng quá trừu tượng mà thính giả phần lớn là dân quê, ít học, ngay các Tông đồ nồng cốt cũng ở trong tình trạng đó.  Để diễn tả về Nước Trời, Chúa Giêsu hay dùng dụ ngôn để giảng dạy, mỗi dụ ngôn diễn tả được một khía cạnh của Nước Trời. Đây là một lối giảng dạy rất cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn, động não để đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng mà các nhà hiền triết thời xưa thường dùng để dạy các đồ đệ.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn người gieo giống đi gieo lúa để nói về hạt giống của Lời Chúa. Theo đó, Lời Chúa như hạt giống được gieo vào lòng mọi người để có thể phát triển và sinh hoa kết quả tùy theo thái độ đón nhận của từng người : có người không chấp nhận, có người chấp nhận với thái độ ơ hờ lạnh nhạt, có người đón nhận với lòng thành để Lời Chúa có thể sinh hoa kết quả dồi dào gấp 30, 60 hay 100 lần.

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA

1. Lời Chúa trong Thánh Kinh

    Thấu hiểu huấn lệnh Chúa truyền, Giáo hội đã khuyên nhủ chúng ta :“Thánh công đồng Vatican 2 nhiệt liệt cổ vũ các tín hữu chuyên cần lắng nghe và đọc Thánh Kinh, suy gẫm và sống Lời Chúa, vì đó là khoa học cao siêu dạy về Chúa Kitô. Vì theo thánh Giêrônimô :“Dốt Thánh Kinh là không hiểu biết về Chúa Kitô”(cf Verbum Dei # 25). Thánh Kinh dạy cho chúng ta hiểu biết về Chúa, am tường về các mầu nhiệm cao cả của Nước Trời; hay nói cách khác, Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa nói với chúng ta, tỏ cho chúng ta thánh ý của Ngài.

  1. Ba bước đón nhận Lời Chúa

    Theo Mark Link, có ba bước trong việc lắng nghe Lời Chúa, mỗi buớc một tiến hơn :

* Bước thứ nhất là nghe Lời Chúa. Chúng ta có thể gọi đây là bước của trí não. Bước này bao hàm việc chăm chú lắng nghe, đọc và giải thích Kinh thánh.

* Bước thứ hai là trân trọng tích giữ Lời Chúa. Bước này có thể được gọi là bước của trái tim, bao hàm việc ghi sâu vào lòng lời ta vừa nghe, và suy nghĩ xem có cách nào áp dụng lời ấy vào cuộc sống và làm sao để lời ấy biến cuộc sống của chúng ta nên tốt đẹp hơn. Bước thứ hai này không nhất thiết xẩy ra tại nhà thờ. Nó có thể khởi sự tại nhà thờ nhưng thường kéo dài suốt tuần lễ sau khi chúng ta suy nghĩ Lời Chúa đã nghe hôm Chúa nhật.

* Bước thứ ba là đem Lời Chúa ra thực hành. Nếu chúng ta gọi bước thư nhất là của “trí não”, bước thứ hai là của “trái tim”, thì chúng ta có thể gọi bước thứ ba là bước của “linh hồn”. Bước này bao hàm tác động lên những gì trí óc chúng ta lãnh nhận và con tim chúng ta tích chứa giữ gìn.

  1. Bốn thái độ tiếp nhận Lời Chúa

    Theo bài Tin mừng, Chúa Giêsu đã phân chia thành 4 loại đất mà người nông phu gieo hạt giống vào. Bốn loại đất ấy tiêu biểu cho 4 thái độ của con người trước Lời Chúa :

* Đất vệ đường : những kẻ chẳng thiết tha gì đến Lời Chúa. Lời gieo xuống đó chẳng bao lâu thì bị qủi dữ cướp đi.

* Đất lẫn sỏi đá : những người mau mắn đón nhận Lời Chúa nhưng không quí chuộng bao nhiêu. Khi gặp chút gian khó là bỏ cuộc.

* Đất có nhiều gai : những người cũng đón nhận Lời Chúa, nhưng điều họ quan tâm hơn là những đam mê, vui thú, của cải… Các thứ sau này như gai góc um tùm dần dần làm cho Lời Chúa chết ngẹt.

* Đất tốt : những người sốt sắng đón nghe Lời Chúa, ghi sâu vào tâm hồn và quảng đại đem ra thi hành trong cuộc sống.

    Mỗi người phải chuẩn bị đất tốt  để đón nhận hạt giống Lời Chúa :

. Đất phải xốp : không cứng như vệ đường, tức là phải có tinh thần khao khát Lời Chúa như một nhu cầu của sức sống để lắng nghe, tìm hiểu và thực hành lời Chúa.

. Đất không có sỏi đá : tức là phải cất những chướng ngại vật như : sự lười biếng, thờ ơ, chểnh mảng Lời Chúa, bỏ các thành kiến, khuynh hướng xấu trong tâm hồn.

. Đất không có gai : tức là tâm hồn phải thanh thoả, không có những bồn chồn lo lắng về những sự ở đời như thú vui xác thịt, danh vọng, của cải vật chất… vì những cái đó là những gai góc bóp chết lời Chúa.

. Đất tốt : là tâm hồn khiêm nhường biết tin tưởng, trông cậy và yêu mến Lời Chúa để biến đổi đời sống (Lm Trần Hữu Thành, Suy niệm Tin mừng Chúa nhật năm A, tr 218).

II. SỐNG THEO LỜI CHÚA..

  1. Sức mạnh của Lời Chúa

    Hạt giống lời Chúa là thứ hạt giống tốt có thể phát triển mạnh. Lời Chúa có thể thay đổi được lòng người nhưng Chúa không muốn can thiệp vào đời tư của con người một cách thô bạo. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người.

    Lời Chúa tự nó có sức mạnh vô biên. Ta có thể ví lời Chúa như nước chảy, nước rất mềm, nhưng có thể làm cho đá mòn như người ta thường nói :“Nuớc chảy đá mòn” (tục ngữ). Lời Chúa tuy êm ái nhẹ nhàng nhưng có sức bào mòn những gì gồ ghề trong tâm hồn để trở nên những viên đá tròn trịa.

    Thiên Chúa cứ gieo hạt giống Lời Chúa vào lòng người, còn việc hạt giống đó có phát triển được hay không là do thái độ của tùng người có muốn cộng tác hay không.

Truyện : Nước làm sạch rổ rau.

    Bà vợ đi lễ về làm cơm sáng hơi muộn làm cho người chồng khó chịu. Người chồng thì khô khan, thỉnh thoảng mới đến nhà thờ. Vợ thì siêng năng đi lễ để nghe Lời Chúa.

    Bụng đang đói, chồng tức bực hỏi vợ :

  – Em đi lễ hằng ngày như vậy để được cái gì ?

    Bà vợ trả lời :

  – Được nhiều lắm, anh ạ.

    Chồng hỏi tiếp :

  – Được cái gì ?

    Vợ thản nhiên đáp :

  – Được nghe Lời Chúa. Được Lời Chúa soi dẫn và rửa sạch tâm hồn em !

    Chồng trợn mắt :

  – Rửa sạch ?

    Vợ chỉ tay vào rổ rau mới rửa, trả lời :

  – Vâng, nước đã làm cho bụi bặm rổ rau này sạch trơn !

    Người chồng hiểu, lặng thinh và suy nghĩ !

  1. Sống đạo bằng gì ?

    Nếu được hỏi câu này, một người bàng quan nhìn chúng ta sống sẽ trả lời rằng : họ sống đạo bằng đọc kinh, bằng nhận lãnh các bí tích và bằng tham dự các lễ nghi.

    Đúng vậy, người Công giáo chưa hoặc rất ít sống đạo bằng Lời Chúa. Nếu sống đạo bằng đọc kinh thì sau giờ kinh là hết sống đạo ! Nếu sống đạo bằng lãnh nhận các bí tích  thì có bao nhiêu dịp sống đạo đâu !  Và nếu sống đạo bằng cách tham dự các lễ nghi thì sẽ không còn sống đạo khi ra khỏi nhà thờ ! Vả lại, đạo ở các kinh đọc, trong các bí tích và trong những lễ nghi không thấm nhập vào cuộc đời, vào xã hội.

    Đạo là đường, sống đạo là đi đường. Trong cuộc hành trình này. Lời Chúa chỉ hướng cho ta đi. Lời Chúa dạy ta giải quyết những tình huống như thế nào, Lời Chúa là kim chỉ nam đưa ta tới cùng đích (Lm Carolô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 387-388).

                                                            Truyện : Lời Chúa khắc ghi trong lòng.

    Hôm ấy, một nhà thừa sai Công giáo gặp một cậu bé người Ả rập trên đường từ trường về nhà. Nhà truyền giáo vui vẻ hỏi :

  – Sao, hôm nay con học thêm được gì về sách Coran ?

    Mắt cậu sáng lên và mau mắn đọc thuộc lòng những câu trích từ sách Coran là sách thánh của các tín đồ Hồi giáo.     

    Nhà truyền giáo nói thêm :

  – Bây giờ, con thử viết những lời đó trên đất để cha có thể hiểu dễ dàng hơn và học mau thuộc hơn không ?

    Cậu bé đáp :

  – Thưa cha, không được ! Lời Thánh phải được viết trong trí và ghi khắc trong lòng, chứ không thể viết trên đất được.

    Theo tư tưởng của cậu bé đó thì Kinh thánh phải được ghi khắc trong tâm hồn, nghĩa là Lời Chúa phải thấm nhập vào lòng trí người Kitô hữu để họ phải sống bằng Lời Chúa.

            Sống đạo là để cho Lời Chúa thấm nhập tâm hồn.

            Sống đạo là để cho Lời Chúa hướng dẫn cuộc sống.

            Sống đạo là để cho Lời Chúa tuôn trào ra cửa miệng và thấm nhuần môi trường sống.

III. PHỔ BIẾN LỜI CHÚA.

    Lắng nghe và thực hành Lời Chúa là điều cần thiết nhưng chưa đủ, chúng ta còn có sứ mạng rao giảng Lời Chúa cho người khác. Chúa Giêsu đã nói :“Nếu các con đã lành nhận nhưng không, thì cũng phải cho đi nhưng không” (Mt 11,08). Nếu bản chất của Hội thánh là truyền giáo thì bản chất của những thành viên trong đó cũng phải là truyền giáo.

    Lời Chúa phải được chúng ta loan truyền để mang lại nhiều mùa gặt khác. Cũng như những hạt giống được gió đưa đi, rơi xuống và nảy mầm ở nơi xa, hạt giống Phúc âm phải được rải ra từ chính tấm lòng của chúng ta vào trong lòng anh em chúng ta. Nếu chúng ta giữ Lời Chúa cho riêng mình, chắc chắn chúng ta sẽ mất Lời Chúa. Hạt giống không phải được tạo ra để nằm trong một góc của bồ lúa, mà là để được nảy sinh trong những cánh đồng và cuối cùng là trên khắp thế gian.

    Mỗi người chúng ta tuỳ theo ơn gọi, địa vị, chức vụ và khả năng, đều được Chúa mời gọi lãnh nhận sứ vụ rao giảng Lời Chúa, như hạt giống được gieo vào hồn chúng ta, như sức sống nuôi dưỡng làm cho triển nở tới thời sung mãn, để rồi sau đó lại phải gieo rắc sự dư tràn đó vào lòng những người khác. Đó là sứ mạng Chúa ủy thác  cho mỗi người chúng ta phải chu toàn.

Truyện : Rao giảng bằng cuộc sống.

    Khi một người ra đi gieo Lời Chúa, người ấy không biết rõ việc mình đang làm và kết quả của hạt giống đó sẽ ra thế nào thì ông H.L. Gee đã thuật lại cho chúng ta câu chuyện sau đây :

    Trong xóm đạo của ông, có một cụ già cô độc tên là Tôma. Cụ thọ hơn bạn bè của cụ nên không còn ai biết cụ nữa. Khi cụ Tôma qua đời, ông Gee nghĩ rằng không ai đi đưa đám cụ, nên ông quyết định đi để còn có người đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không có ai đi đưa cả, hôm đó trời lại mưa dầm ướt lạnh. Khi quan tài đến nghĩa trang, có một quân nhân đứng ở cổng chờ, đó là một sĩ quan nhưng trên áo mưa không thấy quân hàm. Quân nhân đó đứng bên huyệt dự lễ an táng. Xong lễ, ông ta tiến đến bên huyệt đưa tay lên chào theo nghi thức dành cho một vị vua. Rồi ông Gee và quân nhân đó ra về.

    Khi họ đang đi, gió thổi bật cái áo mưa của vị sĩ quan và ông Gee thấy quân hàm của ông ta, quân hàm thiếu tướng. Vị sĩ quan nói với ông Gee :

– Có lẽ ông ngạc nhiên không hiểu tôi làm gì ở đây. Nhiều năm trước đây cụ Tôma là giáo viên dạy giáo lý ở trường tôi. Tôi là một thằng bé ngỗ nghịch và là một thứ gai nhức nhối cho cụ.  Cụ không hề biết cụ đã làm gì cho tôi nhưng cả đời tôi mang ơn cụ, và hôm nay tôi phải đến để nghiêng mình chào tiễn cụ lần cuối.

    Ông Tôma không biết được việc mình đã làm, không một giáo sư hay nhà truyền giáo nào biết được. Công tác của chúng ta là gieo ra không chút nản lòng và phần còn lại hãy để cho Chúa định liệu.

    Khi một người đi gieo giống, anh ta không thể và không  được trông đợi có kết quả tức khắc. Trong thiên nhiên, sự tăng trưởng không bao giờ vội vã, phải mất một thời gian dài để hạt giống đơm bông kết trái, và có thể còn phải mất thời gian dài hơn nữa để hạt giống nảy mầm trong lòng người.

    Chúng ta tin chắc rằng hạt giống Lời Chúa có sức tăng trưởng phi thường trong những môi trường thuận lợi.  Công việc chúng ta là gieo, cứ gieo rồi để hạt giống mọc lên và khi đã mọc lên thì phát triển mạnh mẽ để sinh hoa trái dồi dào

Truyện : Hạt giống bông lau.

    Trong số những vị anh hùng xây dựng Hợp chủng quốc, phải kể đến Benjamin Flanklin, tạ thế năm 1790. Ông là một văn sĩ, nhà ấn loát và xuất bản; lại còn là một nhà phát minh, một khoa học gia, thương gia và nhà ngoại giao. Một hôm, ông nhận được món quà từ Ấn Độ. Đó là một cây chổi bông lau. Nhìn cây chổi, ông thấy có vài hạt còn dính lại ở đó, ông đã nhặt ra và lấy đem gieo, thế là hạt giống nảy mầm, sinh hoa kết hạt. Tới mùa gặt, ông lại lấy những hạt giống đó đem phân phát cho các bạn bè xóm ngõ. Tất cả đều đem gieo, và chẳng bao lâu, Hoa Kỳ đã có một kỹ nghệ làm chổi bông lau phát đạt rải rác khắp nơi trong quốc gia. Đó cũng là nhờ Benjamin Franklin đã có sáng kiến, biết lợi dụng vài hạt giống nhỏ mọn.

    Sau khi đã tìm hiểu lời Chúa, chúng ta phải quyết tâm lắng nghe, thực hành và phổ biến Lời Chúa cho người khác. Muốn cuộc đời chúng ta sinh hoa kết quả, muốn cho bản thân thành đạt trên đường đời, hãy kiểm tra ruộng  lúa tâm hồn thường xuyên và kỹ lưỡng như người nông dân luôn biết săn sóc ruộng sạ của mình. Càng vất vả cầy bừa, diệt cỏ, càng can đảm diệt tính hư nết xấu, Lời Chúa gieo xuống, càng đem lợi ích cho cuộc đời chúng ta.

Về mục lục

.

HOA TRÁI THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Lm. Đan Vinh

I. HỌC LỜI CHÚA

1.TIN MỪNG: Mt 13,1-23

(1) Hôm ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. (2) Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn toàn thể đám đông thì đứng trên bờ. (3) Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Người nói: “Kìa người gieo giống đi ra gieo giống. (4) Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. (5) Có những hạt rơi trên sỏi đá, chỗ đất không có nhiều, nó mọc ngay, vì đất không sâu. (6) Nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và bị thiếu rễ nên bị chết khô. (7) Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. (8) Có những hạt nơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, gạt được sáu chục, hạt được ba chục. (9) Ai có tai thì nghe”. (10) Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ ?” (11) Người đáp: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. (12) Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa. Còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. (13) Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. (14) Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a rằng: “Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy. (15) Vì lòng dân này đã ra đần độn. Chúng đã nặng tai, còn mắt thì chúng nhắm lại, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành. (16) Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy. Tai anh em thật có phúc vì được nghe. (17) Quả thế, Thầy bảo thật anh em: Nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe. (18) Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống: (19) Hễ ai nghe Lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy. Đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. (20) Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá. Đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. (21) Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời. Khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. (22) Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. (23) Còn kẻ được gieo trên đất tốt. Đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra: kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.

  1. Ý CHÍNH: DỤ NGÔN NGƯỜI GIEO GIỐNG

Tin Mừng hôm nay là một trong bảy “dụ ngôn về Nước Trời” của Đức Giê-su như sau: Nước Trời của Đức Giê-su rao giảng có thể ví như việc gieo hạt giống của bác nông dân trên cánh đồng ruộng. Hạt giống Nước Trời chỉ phát sinh hiệu quả nơi những tâm hồn thiện chí muốn nghe giống như đất ruộng mầu mỡ, không cứng tin như vệ đường, không khô cằn như đất pha sỏi đá, không xấu xa do thói hư như đất nhiều bụi gai…

  1. CHÚ THÍCH:

– C 1-2: + Ngồi ở ven Biển Hồ: Câu chuyện xảy ra ở bờ biển hồ Ghen-nê-xa-rét miền Ga-li-lê. + Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều: Dụ ngôn là những câu chuyện do người giảng đặt ra, dựa theo phong tục và nếp sống trong xã hội, với mục đích trình bày một giáo lý nào đó về siêu nhiên. Giữa hình ảnh tự nhiên và giáo lý siêu nhiên có những điểm giống nhau mà người đọc phải cố gắng suy nghĩ mới có thể nắm bắt được ý nghĩa khách quan của dụ ngôn. + Các dụ ngôn về Nước Trời: Khi diễn tả về cách tổ chức và sinh hoạt của Nước Trời sắp thiết lập. Đức Giê-su đã dùng bảy dụ ngôn sau đây: Dụ ngôn “Người gieo giống” (x. Mt 13,1-23); Cỏ lùng (x. Mt 13,24-30); Hạt cải (x. Mt 13,31-32); Men trong bột (x. Mt 13,33); Kho báu và Ngọc quý (x. Mt 13,44-46); Chiếc lưới (x. Mt 13,47-50). Dụ ngôn người gieo giống kể về công việc gieo hạt giống của người nông dân trong cánh đồng của mình, qua đó Đức Giê-su dạy môn đệ phải có thiện chí muốn nghe và thực hành Lời Chúa thì mới phát sinh nhiều bông hạt là các việc lành.

– C 3-8: + Dụ ngôn người gieo giống: Vệ đường, sỏi đá, bụi gai, đất tốt…: Hằng năm vào tháng 12 dương lịch, đất thánh bắt đầu mưa, nhà nông khởi công gieo hạt giống. Ga-li-lê là miền đất nhỏ nhiều đồi núi đất đá và ít ruộng đất tốt. Do đất chật người đông, nên ruộng bị chia thành nhiều thửa nhỏ. Mỗi thửa ruộng đều có đường biên có thể đi lại trên đó. Đất ruộng thường xấu vì pha trộn đá sỏi và gai mọc tràn lan. Tuy nhiên cũng có những chỗ đất tốt được người nông dân cày bừa gieo hạt và cây lúa mọc lên. Đến mùa lúa chín sẽ được gặt hái mang về nhà.

– C 9: + Ai có tai thì nghe: Đây là kiểu nói Đức Giê-su hay dùng để gây sự chú ý cho người nghe (x. Mt 11,15; Mc 4,23; Lc 8,8). Có tai là có khả năng nghe, nhưng chưa chắc đã muốn nghe, như các kinh sư và Pha-ri-sêu Do thái tuy đến nghe Đức Giê-su giảng mà lòng không tin không muốn đón nhận Tin Mừng Nước Trời. Ở đây Đức Giê-su kêu gọi mọi người: “Ai có khả năng nghe thì hãy lắng nghe !”.

– C 10: + Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ ?: Sở dĩ Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà giảng Tin Mừng về Nước Trời là vì lý do như sau: Bấy giờ dân Do thái đang mong chờ một Đấng Thiên Sai dòng dõi vua Đa-vít, đến lập một Vương Quốc, bằng một đạo quân hùng mạnh và có sự trợ giúp của cơ binh các thiên thần trên trời. Vương quốc của Đấng Thiên Sai sẽ mở rộng ra khắp nơi, dẹp tan các nước của chư dân tôn thờ tà thần… Nhưng sứ mệnh của Đức Giê-su lại không giống như dân Do Thái trông mong: Người cũng đến để thiết lập Nước Trời, nhưng “Nước của Người không thuộc về trần gian”. Do đó, để tránh cho dân khỏi bị ảo tưởng, Đức Giê-su đã dùng nhiều dụ ngôn để diễn tả các đặc tính siêu việt của Nước Trời mà Người muốn thiết lập.

– C 11: + Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không: “Mầu nhiệm Nước Trời” là chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua Đức Giê-su. Đây là điều vượt quá sự hiểu biết của loài người. Chỉ Đức Giê-su là Đấng thiết lập Nước Trời mới có thể trình bày về Nước ấy bằng các dụ ngôn. Dụ ngôn là các ví dụ cụ thể giữa đời thường, được Đức Giê-su dùng để trình bày các đặc tính của Nước Trời mà Người sắp thiết lập.

– C 12: + Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa. Còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất: Người Do thái thời Đức Giê-su đang có đức tin truyền thống về Đấng Thiên Sai (Mê-si-a). Trong bọn họ, ai tin vào Người sẽ được hiểu biết thêm về các mầu nhiệm Nước Trời. Còn những kẻ không tin Đức Giê-su thì ngay cả lòng tin họ đang có về Nước Thiên Sai trần thế cũng sẽ bị lấy mất.

– C 13: + Vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu: Khi giảng cho dân Do thái đang khao khát một Nước trần thế lệch lạc, Đức Giê-su một đàng phải trình bày đúng về Nước Trời mà Người muốn thiết lập. Đàng khác, Người phải uốn nắn các quan niệm sai lạc của họ về một Nước Thiên Sai trần tục. Vì thế Đức Giê-su phải dùng dụ ngôn để rao giảng. Dụ ngôn có tính cách vừa mở vừa đóng: mở để giúp họ nhận ra sự thật và đóng đối với những gì họ hiểu sai. Khi nghe các dụ ngôn về Nước Trời, chỉ những ai thành tâm chấp nhận lời giảng của Đức Giê-su như môn đệ, mới có thể lãnh hội được ý nghĩa của nó. Còn những kẻ mang nhiều thiên kiến, cố chấp trong sự sai lầm như các đầu mục dân Do thái, thì dù có nghe Đức Giê-su giảng, họ cũng không hiểu về ý nghĩa thực sự của các dụ ngôn Người muốn dạy.

– C 14: + Ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a: I-sai-a đã tuyên sấm các Lời Chúa phán khi sai ông đến giảng cho dân Do thái (x. Is 6,9-10). I-sai-a có trách nhiệm nói với dân Do thái về các hình phạt mà Chúa sẽ giáng xuống do tội của họ. + “Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn, cũng chẳng thấy…”: Lời tuyên sấm của I-sai-a về tình trạng của dân Do thái thời Đức Giê-su cũng giống như thời của ông là bị dân Do thái không tin và từ chối đón nhận (x. Lc 2,34). Mát-thêu cũng ghi nhận cách giảng của Đức Giê-su bằng dụ ngôn đã ứng nghiệm lời tiên báo trong Thánh Vịnh như sau: “Mở miệng ra, tôi sẽ nói đôi lời huấn dụ, công bố điều huyền bí thuở xa xưa” (Tv 78,2).

– C 16-17: + Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy…: Các môn đệ Đức Giê-su không những được nhìn thấy các phép lạ Người làm và được nghe những Lời Người phán dạy, mà các ông còn có thiện chí muốn tìm hiểu để tin, nên các ông được phúc hơn các ngôn sứ và những người công chính ở thời trước đây: dù có thiện chí muốn nghe muốn thấy, nhưng đã không được thấy được nghe Lời Người.

– C 18-23: + Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn Người Gieo Giống: Lời giảng dạy trong đoạn này xem ra không phù hợp với trọng tâm của dụ ngôn Người Gieo Giống ở phần trên: Dụ ngôn nhấn mạnh đến hành động gieo giống của Thiên Chúa qua Lời Đức Giê-su rao giảng vào 4 tình trạng đất khác nhau, nhưng phần giảng giải thì lại chú trọng đến tình trạng đón nhận Lời Chúa nơi các người nghe. Tâm điểm của dụ ngôn đã bị xê dịch từ lời dạy về mầu nhiệm Nước Trời sẽ gặp nhiều thử thách trước khi đạt kết quả sung mãn thời cánh chung, chuyển thành lời khuyến cáo hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Có lẽ phần giải thích dụ ngôn này là của Giáo Hội sơ khai, nhấn mạnh đến các thái độ khác nhau của những kẻ nghe Lời Chúa: Muốn cho Lời Chúa sinh sôi nẩy nở gấp bội, thì người nghe phải như mảnh đất tốt thể hiện qua thái độ “nghe và hiểu”. Phải tránh chai lì cứng lòng như vệ đường, khô khan như sỏi đá và có các thói hư như gai góc…

  1. CÂU HỎI:

1) Thế nào là dụ ngôn ? Có mấy dụ ngôn về Nước Trời là những dụ ngôn nào ? Ý nghĩa của dụ ngôn người gieo giống là gì ? 2) Bốn tình trạng đất trong dụ ngôn Người Gieo Giống ám chỉ điều gì ? 3) Câu: “Ai có tai thì nghe” có nghĩa thế nào ? 4) Tại sao Đức Giê-su phải dùng dụ ngôn khi giảng về Nước Trời cho dân Do Thái, nhưng lại nói rõ cho các môn đệ ? 5) Tại sao ngôn sứ I-sai-a lại tuyên sấm Lời Chúa với dân Do Thái rằng: “Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy” ? 6) Tại sao các môn đệ có phúc hơn các ngôn sứ và các người công chính thời trước ? 7) Phần giải thích dụ ngôn người gieo giống thực ra là của ai và mang nội dung thế nào ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra: kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục” (Mt 13,23).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) TÔN GIÁO CÓ ÍCH GÌ?

Có một lần người thợ làm xà bông và một vị giáo trưởng đi dạo và chuyện trò với nhau. Người thợ làm xà bông đã nói:

– Tôn giáo có ích gì? Tôn giáo nào cũng rao giảng chân lý, bình an, lòng thiện hảo. Nhưng ngài hãy nhìn vào thực trạng của thế giới: chiến tranh, đói khổ, và bao nhiêu hệ lụy khác xem ra sẽ chẳng bao giờ chấm dứt. Tôn giáo đâu có giúp được gì cho nhân loại?

Vị giáo trưởng im lặng và hai người tiếp tục đi qua một khu phố nghèo. Tại một con hẻm lầy lội, vị giáo trưởng chỉ vào một em bé ăn mặc bẩn thỉu, và nói:

– Ông hãy nhìn đứa bé kia. Ông cho rằng xà bông để tẩy xóa nhơ bẩn trên thân thể và quần áo của con người. Vậy ông hãy thử nhìn đứa bé kia. Xà bông của ông để làm gì? Với tất cả mọi thứ xà bông hiện có trên thế giới, đứa bé nhơ bẩn này vẫn cứ nhơ bẩn. Tôi chẳng biết xà bông dùng để làm gì?

Nghe lời ấy, người thợ làm xà bông cãi lại:

– Nó dơ bẩn là tại nó. Xà bông sẽ không có ích gì, nếu người ta không sử dụng nó.

Bấy giờ vị giáo trưởng mới nhỏ nhẹ nói:

– Đúng thế, xà bông sẽ vô ích, nếu người ta không sử dụng nó. Tôn giáo cũng vậy. Tôn giáo sẽ vô ích nếu con người không sống theo tôn giáo của mình.

2) QUYỀN NĂNG BIẾN ĐỔI LÒNG NGƯỜI CỦA LỜI CHÚA :

PHA-MÁT là một tên cướp lừng danh tại một vùng kia ở Ấn Độ. Hắn ta cùng đồng bọn thường ra tay cướp đoạt tài sản của người đi đường rồi mau lẹ tẩu thoát mà không để lại một dấu vết nào. Một ngày nọ, Pha-mát bẻ khóa vào một ngôi nhà vắng chủ. Sau khi đã lấy hết tiền bạc quý kim trong tủ, hắn kiểm tra lại ngôi nhà lần cuối thì thấy còn một cuốn sách nhỏ bìa đen, giấy mỏng và dai. Hắn nhặt lên bỏ vào túi với ý định sẽ dùng làm giấy vấn thuốc hút. Từ đó, mỗi khi hút thuốc hắn đều xé một tờ để vấn thuốc. Một lần nọ, hắn thấy trên tờ giấy có các hàng chữ nhỏ, hắn tò mò đọc thử xem hàng chữ đó viết điều gì, và từ đó mỗi lần hút thuốc hắn đều đọc một đọan lời Chúa trên tờ giấy. Vào một tối kia, sau khi đọc xong trang Lời Chúa, hắn để lại tờ giấy vừa xé vào trong cuốn sách, và quỳ gối xuống xin Chúa Giê-su tha tội và cứu hắn, giống như Người đã tha thứ cho tên cướp có lòng sám hối trên cây thập tự mà hắn vừa đọc được. Từ lúc ấy hắn cảm thấy tâm hồn thật bình an.

Hôm sau, hắn ăn mặc chỉnh tề rồi đi đến đồn cảnh sát xin đầu thú và nộp lại những đồ hắn đã ăn cắp còn lại. Mọi người đều ngạc nhiên khi nghe hắn cho biết lý do ra đầu thú, hắn sẵn sàng tra tay vào còng và sau khi nghị án, tòa chỉ kết án hắn 10 năm tù giam vì có yếu tố được giảm khinh. Trong thời gian mười năm ở tù, hắn vẫn tiếp tục đọc phần còn lại của sách Tân Ước và kể lại cho các bạn tù nghe. Dần dần nhờ sống khiêm tốn yêu thương và phục vụ theo gương Đức Giê-su, hắn đã làm cho các bạn tù cảm mến. Họ không còn thù ghét và đàn áp bóc lột lẫn nhau như trước, nhưng mọi người đều biết quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Một số bạn khác còn xin học Lời Chúa với hắn và tình nguyện trở thành môn đệ của Đức Giê-su noi gương của hắn.

3) NGƯỜI TA CHỈ MUA ĐƯỢC HẠT GIỐNG LỜI CHÚA:

Vào một đêm nọ, người phụ nữ nằm mơ. Chị thấy mình bước vào một siêu thị. Khách hàng tấp nập. Có một quày hàng đặc biệt, người ta chen chân không lọt. Chị ngạc nhiên thấy Chúa Giê-su đang đứng bán ở quày hàng này.

Chờ đợi đến phiên mình, chị hỏi: “Chúa mà cũng bán hàng sao? Chúa bán cái gì ở đây vậy?”

Chúa trả lời: “Ta bán mọi sự con đang ước muốn trong trái tim con.”

Chị nói liền một hồi: “Thưa Chúa, con muốn có bình an, có tình yêu, có hạnh phúc, có khôn ngoan và tự do không sợ hãi”. Suy nghĩ một lúc, chị lại thêm: “Không chỉ cho con mà thôi nhưng còn cho chồng con và cho những người thân yêu của con nữa.”

Chúa mỉm cười và nói: hỡi con yêu dấu, ở đây,Ta không bán hoa trái mà chỉ bán hạt giống thôi. (Anthony de Mello).

Trong Tin mừng “Dụ ngôn người gieo giống” hôm nay (Mt 13,1-23), Chúa Giê-su chính là người gieo giống. Mỗi người chúng ta là đất. Hạt giống là lời Chúa trong Thánh Kinh. Tùy vào thái độ của mỗi người nghe, chân thành đón nhận hay lười biếng khước từ, mà Lời Chúa sẽ phát sinh những hoa trái hiệu quả khác nhau.

  1. SUY NIỆM:

1) ĐỜI SỐNG CÁC TÍN HỮU NÓI CHUNG CHƯA TỐT HƠN LƯƠNG DÂN:

TIM KƠN-ROI (Tim Conroy) là một thanh niên đạo đức, siêng năng đến nhà thờ dự lễ hằng ngày. Một hôm, anh đã tâm sự với một người bạn thân về nỗi thao thức của anh về đức tin như sau: “Tớ xuất thân từ một gia đình gốc Công giáo. Hằng ngày tớ vẫn dự lễ và không quên đọc kinh sớm tối. Nhưng có một điều tớ lấy làm lạ là: Tớ càng giữ đạo lâu năm thì lại càng thấy mình xuống dốc về mặt đạo đức như: bê tha rượu chè, quan hệ nam nữ bừa bãi, lại còn chích hút ma túy… không hơn gì những người lương không theo đạo. Vào ngày sinh nhật năm 25 tuổi, tớ đã tính ra số lần dự lễ, số lần nghe giảng Lời Chúa và lên rước lễ tới cả chục ngàn lần. Thế mà sao tớ vẫn không thấy mình tiến bộ được bao nhiêu !” Thắc mắc của TIM đã được trả lời trong dụ ngôn về người gieo giống trong Tin Mừng hôm nay.

2) NGUYÊN NHÂN SỐNG CHƯA TỐT LÀ DO KHÔNG THỰC HÀNH LỜI CHÚA:

Trong một vườn nho kia có một gốc nho bị tàn héo đang khi các cây nho khác lại vẫn xanh tốt. Người làm vườn đã mất nhiều công sức đào sới đất chung quanh, rắc phân tro và tưới nước hằng ngày cho cây nho này. Nhưng sau một thời gian mà cây nho vẫn èo uột không sinh hoa trái. Cuối cùng ông đã đào bật gốc nho lên thì phát hiện ra có một miếng tôn nằm dưới gốc cây, khiến rễ cây không cắm sâu xuống đất để hút được các chất bổ dưỡng. Từ lúc lấy miếng tôn kia đi thì cây nho đã bắt đầu xanh tốt và sinh hoa trái như các cây nho khác. Cuộc đời chúng ta cũng vậy: Nếu sau một thời gian dài theo đạo, mà chúng ta vẫn như cây nho tàn úa không sinh hoa trái là các việc lành, không sống công bình nhân ái hơn anh em lương dân… là do chúng ta đã không chịu lắng nghe Lời Chúa, không suy niệm để tìm hiểu và không quyết tâm sống theo ý Chúa muốn. 

3) BỐN LỐI SỐNG ĐẠO THEO TIÊU CHUẨN THỰC HÀNH LỜI CHÚA:

Dụ ngôn về người gieo giống trong Tin Mừng hôm nay trình bày bốn loại đất tiếp nhận lời Chúa, tượng trưng cho bốn lối sống đạo của các tín hữu hôm nay như sau:

* Loại có lối sống đạo hình thức: Họ chỉ sống đạo tốt tại nhà thờ, còn khi về nhà thì lời Chúa lại không chút ảnh hưởng đến cuộc sống, nên đối xử bất công với tha nhân, hay gây sự và bất hòa với người chung quanh. Đây là hạng tín hữu thiếu đức tin giống như loại đất vệ đường chai lỳ!

* Loại có lối sống đạo vụ lợi: Tuy có đến nhà thờ nhưng chỉ nhằm mục đích tìm cầu danh lợi. Gặp lúc làm ăn thất bại hay khi mắc bệnh tật thì chỉ biết than trời trách đất, bỏ việc đọc kinh dự lễ, có khi còn hữu sự vái tứ phương đến với bói toán bùa ngải mê tín… Hạng tín hữu này nghe được lời Chúa thì cũng để ngoài tai. Họ giống cây lúa mọc nơi đất sỏi đá dễ bị chết héo khi gặp phải lúc trời nắng gắt.

* Loại có lối sống đạo xu thời: Đó là những tín hữu có nhiều thói hư như: cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút sách… Lời Chúa họ nghe khi dự lễ không thể phát sinh hoa trái là các việc lành được là do đã bị các thói hư cản trở.

* Loại có lối sống đạo chân thành: Đó là những tín hữu ham mê đọc, nghe và suy niệm Lời Chúa để tìm hiểu ý Chúa muốn và sẵn sàng xin vâng, noi gương Thánh Mẫu Ma-ri-a khi xưa. Những người này được tượng trưng bằng loại đất tốt mà khi hạt giống Lời Chúa được gieo vào sẽ có điều kiện phát sinh nhiều hoa trái bác ái. Họ sẽ trở thành môn đệ và nên chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa Giê-su giữa lòng xã hội hôm nay.

4) PHƯƠNG PHÁP GIÚP CÁC TÍN HỮU THỰC HÀNH LỜI CHÚA:

Để sống được Lời Chúa dạy, các tín hữu cần tham dự các buổi HIỆP SỐNG TIN MỪNG hằng tuần tại nhà thờ hay nhà sinh hoạt mục vụ. Mỗi buổi họp nhóm gồm bốn bước như sau:

* Bước một của trí khôn: Cộng đoàn tìm hiểu Lời Chúa bằng cách đứng đọc chung một đoạn Tin Mừng Chúa Nhật hay theo chủ đề. Tiếp đến người hướng dẫn sẽ giúp cộng đoàn tìm hiểu ý Chúa muốn dạy qua đoạn Tin Mừng?

*  Bước hai của trái tim: Cộng Đoàn thảo luận để chọn ra một câu Lời Chúa quan trọng nhất phù hợp với ý Chúa muốn dạy để học thuộc và quyết tâm áp dụng vào đời sống. Mỗi người chia sẻ các câu chuyện các thánh đã sống Lời Chúa hoặc kinh nghiệm bản thân mình đã sống Lời Chúa và kết quả ra sao.

* Bước ba của ý chí: Cộng đoàn góp ý cách áp dụng thực hành Lời Chúa nơi bản thân, cait thiện môi trường mình đang sống là gia đình, khu xóm, xứ đạo và xã hội chung quanh.

* Bước bốn của ơn Chúa: Việc sống theo Lời Chúa chỉ có thể hoàn thành được khi mỗi người biết cầu xin ơn Chúa giúp theo lời Chúa hứa: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7); “Vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5b). Sau lời nguyện tự phát, sẽ kết thúc bằng một bài hát thích hợp.

  1. THẢO LUẬN:

1) Hãy cho biết lý do nào khiến các ông Mát-thêu, Gia-kêu và Phan-xi-cô Xa-vi-ê đang là tội nhân đã được biến đổi nên tốt lành thánh thiện? 2) Mỗi người chúng ta hãy tự xét xem mình đang ở trong tình trạng nào: Mặt đường chai cứng, đất đá khô khan, đất nhiều gai góc hay đất mầu tốt… để Lời Chúa có thể phát sinh hoa trái là việc lành?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con đường dài nhất là đường từ tai nghe đến tay làm. Chúng con thường hay xây ngôi nhà đức tin của mình trên nền cát, khi chỉ mới nghe Lời Chúa mà chưa thực hành, nên Lời Chúa đã không biến đổi lối sống của chúng con.

– LẠY CHÚA. Xin giúp chúng con biết lắng nghe Lời Chúa mỗi khi tham dự thánh lễ, biết năng đến tham dự các buổi Hiệp Sống Tin Mừng. Xin giúp chúng con ý thức loại bỏ tình trạng sỏi đá là thói lười biếng chu toàn các việc đạo đức, biết loại trừ gai góc là các thói hư… Nhờ đó, chúng con trở thành đất tốt, để Lời Chúa có thể sinh hoa trái. Ước gì ngôi nhà đức tin của chúng con được xây trên đá thực hành Lời Chúa, hầu tòa nhà đức tin của chúng con có thể đứng vững trước các cơn thử thách, và có thể chống trả ba thù là ma quỷ, thế gian và xác thịt của mình.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Nhìn lại cuộc đời, tôi phải thú nhận rằng những năm tháng mà tôi cảm thấy tuyệt vời, sung sướng, hạnh phúc nhất là những năm được nằm trong vòng tay của một người đàn bà đã có chồng! Người đàn bà đó thú thực chính là mẹ tôi!  Qua tư tưởng này, tôi muốn chia sẻ với ông bà anh chị em về sự lớn lên hay tăng trưởng trong dụ ngôn Người Gieo Giống mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng hôm nay.

Khi còn là một đứa bé mới sinh ra đời, tất cả chúng ta được nâng niu và săn sóc trong vòng tay của người mẹ hiền của chúng ta.  Có người còn được nằm trong vòng tay của 2 hay 3 người đàn bà, mẹ và bà nội hay bà ngoại hay cả hai. Nhưng với thời gian, qua sự nuôi nấng và chăm sóc của cha mẹ và những người thân yêu, chúng ta dần dần lớn lên, rồi bắt đầu bò, đi, nói và cắp sách đến trường học.  Đến tuổi trưởng thành chúng ta đi làm, sau đó kết hôn, lấy vợ, lấy chồng, xây dựng một gia đình cho chính chúng ta và rồi đi vào tuổi già.  Khi còn trẻ, chúng ta mong, trông đợi lớn lên cho thật nhanh, nhưng khi đã có tuổi chúng ta cảm thấy thời gian đi mau quá. Có người thường than thở mới đây mà đã hết 1 năm, 5 năm hay 10 năm, hay 20 năm.

Chúa nhật tuần này và những tuần sắp tới, chúng ta sẽ nghe Chúa Giê-su kể những câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin mừng về Nước Trời.  Thông thường, dụ ngôn có một kết cuộc bất ngờ thú vị, nhưng dụ ngôn Người Gieo Giống hôm nay thì khác thường.  Chúng ta hoàn toàn biết trước được kết cuộc sẽ như thế nào.  Tôi chọn đọc bài Tin mừng ngắn hôm nay, vì tôi biết chúng ta đã nghe dụ ngôn này nhiều lần và biết Chúa giải nghĩa như thế nào ở đoạn kết.  Nhưng nếu chúng ta đọc từ mấy chương trước cho đến đoạn này, thì chúng ta biết được nhiều sự kiện đã xảy ra dẫn đến dụ ngôn Người Gieo Hạt Giống hôm nay. Chúng ta biết được thái độ khinh chê, thờ ơ và từ chối của dân chúng đáp trả lại lời giảng dạy của Chúa Giê-su.  Chúng ta biết Chúa Giê-su bị dân chúng cho là bị quỉ ám, phạm luật và phạm thượng xưng mình ngang hàng với Thiên Chúa. Một số dân chúng cho rằng Chúa là thầy thuốc tài giỏi vì đã được Người cứu chữa lành bệnh tật.  Họ vui mừng và trở về nhà tiếp tục cuộc sống thường ngày, không còn nghĩ đến Chúa nữa như không có chuyện gì đã xảy ra.  Một số dân chúng có lẽ cảm thấy vui khi Chúa nói những điều họ thích, nhưng khi Chúa đối đầu dạy họ phải từ bỏ, thay đổi cuộc sống hay ăn năn sám hối, hay thách thức họ phải hy sinh, hãm mình, có lòng bác ái và quảng đại thì họ ngoảnh mặt bỏ đi. Một số người cảm thấy Chúa nói và dạy những điều hữu ích, tốt lành thì tiếp tục theo và lắng nghe lời Người giảng dạy.  Chúa Giê-su giống như người gieo hạt giống, gieo hạt giống Lời Chúa đến cho mọi người.  Mặc dầu lời Chúa giảng dạy không cảm kích hay đánh động vào tâm hồn của tất cả mọi người nghe, nhưng tâm hồn nào được đánh động thì sinh nhiều hoa trái tốt, có nghĩa là cuộc sống trở nên tốt lành hơn, làm những việc đẹp lòng Chúa, có lòng bác ái, quảng đại hơn, hữu ích cho tha nhân, hy sinh dấn thân phục vụ xây dựng Nước Chúa.

Ông bà anh chị em thân mến.  Sứ điệp Lời Chúa gởi đến cho chúng ta qua dụ ngôn hôm nay là Nước Chúa, Nước Thiên Đàng không phải là một quyền lợi tự nhiên, tự động được hưởng, như những quyền lợi xã hội “medicaid, quyền lợi ý tế, welfare hay foodstamp, trợ cấp xã hội”, mà một số người Ki-tô hữu hôm nay tự nghĩ.  Nếu hạt giống ân sủng Lời Chúa được gieo vào trong tâm hồn chúng ta và nếu chúng ta không làm gì cả, thì nó sẽ chết đi. Nếu Lời Chúa đi vào lỗ tai điếc thì sẽ không có ích lợi gì, không sản xuất gì.  Còn nếu hạt giống đó đi vào tâm hồn và sống trong cuộc sống của chúng ta thì nó sẽ tăng trưởng và có kết quả, có hạt được 100, có hạt 60 và có hạt 30. 

Tôi biết tất cả mọi người chúng ta đều có kinh nghiệm và nhận ra rõ ràng những sự tăng trưởng hay suy đồi về thân xác, về thể lý xảy ra một cách tự nhiên khi chúng ta lớn lên hay già đi, hay chứng kiến sự phát triển thể xác của con cái, cháu chắt sống chung quanh chúng ta.  Còn có những sự tăng trưởng hay phát triển khác không xảy ra tự nhiên, nhưng cần đến sự chú ý, hy sinh và cố gắng của chúng ta như sự phát triển về văn hóa, về kỹ năng, về thể dục, về nghệ thuật, về tài chánh, về giao tiếp hay về sự liên hệ với người khác.  Sự tăng trưởng của những sự kiện này không tự nhiên xảy ra, mà cần sự chú ý, hy sinh học hỏi, cố gắng luyện tập và kiên nhẫn. 

Sự tăng trưởng trong ân sủng của Chúa và trong sự thánh thiện để sinh hoa trái tốt trong đời sống người Ki-tô hữu thì giống như trường hợp thứ hai trên.  Sự tăng trưởng này không xảy ra một cách tự nhiên hay tình cờ mà cần đến sự chú ý, cố gắng và hy sinh của chúng ta, cũng như liên quan đến sự cương quyết lựa chọn Chúa Giê-su là Người quan trọng nhất trong đời sống của chúng ta, trên hết mọi người và mọi sự.  Hạt Giống Lời Chúa có sống, tăng trưởng và có kết quả hay không, ít hay nhiều là tùy vào lòng tin, tùy ở thái độ, sự chấp nhận và quan tâm của người nghe là chúng ta. Có nghĩa là phải có niềm xác tín vào Chúa Giê-su, là Đấng Cứu Thế đã đến và dạy chúng ta những điều chân thật, cũng như dẫn chỉ chúng ta đường lối đến với Thiên Chúa Cha, và luôn trung thành với Người.  

Ông bà anh chị em thân mến.  Chúa gieo hạt giống ân sủng Lời Chúa vào trong tâm hồn mỗi người chúng ta, và Chúa không bao giờ bỏ rơi hay không ngó ngàng gì tới nữa.  Nếu Chúa ban cho ánh sáng mặt trời và mưa xuống để hạt giống lớn lên, phát triển và sinh hoa trái, thì Chúa cũng ban cho chúng ta rất nhiều ơn lành hồn xác.  Nếu chúng ta tin vào Lời Chúa, quan tâm và cố gắng để cho hạt giống Lời Chúa sống và tăng trưởng thì cuộc sống Ki-tô hữu của chúng ta sẽ sinh hoa trái tốt cho Chúa, và khi mùa gặt đến chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu Nước Chúa.  

Về mục lục

.

Các bài suy niệm Chúa Nhật 14 Thường Niên Năm A

0

Chúa Nhật 14 Thường Niên, năm A

Dc 9, 9-10;  Rm 8, 9-11-13;  Mt 11, 25 – 30

——-

Mục lục

  1. Tất Cả Hãy Đến Với Ta(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Nhà Chúa, Khóa Học Của Sự Hiền Lành Và Khiêm Nhường(Thiên San, MTG. Thủ Đức)
  3. Hãy đến với tôi  (Tgm. Vũ Văn Thiên)
  4. Khiêm nhường  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)
  5. Hiền lành và khiêm nhường (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)
  6. Làm đẹp lòng Chúa Cha (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)
  7. Hãy nên bé mọn  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)
  8. Gánh nặng  (Lm. Trần Việt Hùng)
  9. Suy niệm Chúa Nhật XIV Thường niên – Năm A  (Lm. Anthony Trung Thành)
  10. Suy niệm Chúa Nhật 14 Thường niên. Năm A  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)
  11. Hãy mang lấy “ách” và “gánh” của Chúa Giêsu (Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP)
  12. Tri ân  (Trầm Thiên Thu)
  13. Sự thách đố của đức tin  (P.Trần Đình Phan Tiến)
  14. Học cùng Giêsu  (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  15. Nương tựa bên Chúa (Anna Cỏ May,  MTG.Thủ Đức)
  16. Ách của Chúa thì êm ái (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
  17. Học sống hiền lành và khiêm nhượng với Chúa Giêsu (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)
  18. Hãy tự mang lấy “ách” và “gánh” của mình (JM. Lam Thy, ĐVD)
  19. Hãy đến cùng tôi  (Fx. Đỗ Công Minh)
  20. Câu danh ngôn hay  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  21. Hiền lành và khiêm nhường (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  22. Hãy cầm lấy và đọc (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  23. Phúc cho những ai hiền lành  (Lm. Giuse Nguyễn)
  24. Ứng sử hiền hậu và khiêm nhường noi gương Chúa Giêsu (Lm. Đan Vinh)
  25. Hãy đến cùng Giêsu  (Maria Phạm Anh,  MTG.TĐ)

 

TẤT CẢ HÃY ĐẾN VỚI TA

Tuần 14 TN-A: Mt 11, 25-30

Lm. Jos DĐH, GP. Xuân Lộc

Trọng người tài, nể phục người có tâm, có tầm, cẩn thận với kẻ quyền hành, chức tước, ngao ngán làm việc với kẻ khờ dại, ắt hẳn thời nào cũng quan niệm như thế. Kẻ có tiền vẽ tiên vẽ phật, người không tiền lật đật mưu sinh. Người khôn ngoan là người nhìn cuộc đời này bằng một con mắt, còn mắt kia họ để nhìn lại chính mình. Cuộc sống sẽ thực sự đáng yêu và đầy ý nghĩa, khi mỗi người biết đặt mình vào vị trí của nhau. Thực ra, trong thâm tâm ai chẳng mơ ước đến một ngày, sẽ tự tin nói: khôn sống, dại sống, biết cũng sống, và sống ngập tràn yêu thương hạnh phúc. Nhiều người cho rằng cuộc đời này đừng có chữ “nếu”, đừng ai sử dụng chữ “tưởng”, sẽ dễ chịu biết bao ! Đức Giêsu từ xa xưa đã cho thấy có sự khác biệt: “lạy Cha là Chúa trời đất, con xưng tụng Cha vì đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn”.

Nếu một ngày nào đó, bạn cảm thấy thật buồn và muốn khóc, hãy gọi cho tôi. Nếu mai này bạn phát hiện ra sự thật: tưởng người hiền triết và khôn ngoan là người luôn thành công; tưởng người giầu chẳng bao giờ phải khóc, nhưng không, giầu nghèo, khôn hay khờ, tất cả đều đáng thương. Kinh nghiệm ở đời cho rằng: ngu ngốc không phải là thất bại, mà là do chưa đủ nhẫn nại để làm lại cuộc đời. Thất bại không phải là ngã, là gục, mà là vì từ chối đứng dậy. Sống trên đời này: tài giỏi, thấp kém, tri thức, bình dân, có, nhưng không ai là vô dụng, chẳng qua là ta đọc sai, chưa đặt đúng vị trí của họ mà thôi. Các đấng bậc rất khôn ngoan khi nói: bạn chưa đến đỉnh cao của thành công, nhưng chắc chắn bạn đã gần “đích điểm” hơn vị trí mà hôm qua bạn sống. Đức Giêsu vẫn đang là Vị Thầy vĩ đại: “tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và ganh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi”.

Tất cả hãy đến với Ta, lời Đức Giêsu mãi mãi là sự thật và là sự sống: “mọi sự đã được Cha trao phó, không ai biết Cha trừ ra Con và không ai biết Con trừ ra Cha và kẻ con muốn mạc khải cho”. Tình yêu vô cùng kỳ diệu, khiến xa lạ trở nên thân quen, không máu mủ ruột thịt bỗng trở thành bạn tri kỷ. Tình yêu có lực hút đặc biệt, đến độ người ta sẵn sàng buông bỏ tất cả để tự nguyện làm môn đệ Đức Giêsu. Tình yêu khai mở được tâm trí của kẻ bé mọn, giúp họ hiểu được mầu nhiệm Nước Trời. Tình yêu có sức biến đổi tâm hồn chai đá trở nên hiền hoà đáng yêu, có khả năng thay đổi tâm tính, giúp người tội lỗi biết sám hối ăn năn. Tất cả hãy đến với Ta, đến để cảm nghiệm Thiên Chúa Đấng giầu lòng xót thương, đến để học hiểu và sống mầu nhiệm yêu thương.

Tất cả hãy đến với Ta, tất cả không phân biệt giầu nghèo, thông thái hay dại khờ, thánh thiện hay tội lỗi, tất cả đều là đối tượng lòng thương xót Chúa. Tất cả những nét đẹp về tinh thần, không thể nhìn rõ, cũng không hề dễ hiểu, mà phải cảm nhận bằng trái tim. Điều đáng ngại nhất không phải là kẻ hiền triết khôn ngoan, hay kẻ hèn mọn, điều đáng sợ nhất cũng không phải là bạn không có thứ gì trong tay, mà là trái tim của bạn không còn tha thiết điều gì nữa. Tất cả hãy đến với Ta, Đức Giêsu gián tiếp nói với nhân loại: con người sinh ra không đơn thuần là để tan biến như hạt cát vô danh, chính xác, được sinh ra là để in dấu lại cho hậu thế, in dấu lại trong trái tim những ai ta gặp gỡ. Đức Giêsu cũng đang nói: mối tương quan đẹp nhất, đáng yêu nhất, là khi tin tưởng, yêu thương, ta sẽ dành những điều vượt lên trên những nhu cầu đòi hỏi từ người anh chị em của ta.

Tất cả mọi người sinh ra không phải là để hưởng thụ, tất cả tự nhiên không ai hoàn hảo, và tất cả dù tài giỏi, khiếm khuyết, đạo đức, tội lỗi, đều được tự do mang vác cuộc đời của mình cậy nhờ Đức Giêsu. Tất cả hãy đến với Ta, những kẻ hèn mọn, thấp kém trong xã hội, họ dễ dàng cảm nhận được tình yêu thương của Chúa Cha, nhưng người hiền triết khôn ngoan họ vẫn là đối tượng lòng thương xót Chúa. Trong tình yêu, các đấng các bậc đã rút tỉa được nhiều điều thú vị: âm thanh đẹp nhất của cuộc sống, không phải là sự ồn ào bên ngoài, mà là tiếng nói sâu thẳm của một người nói yêu một người. Trong muôn vàn những âm thanh phức tạp ở đời, mỗi người đều có giây phút lắng đọng để nghiệm ra: phải duyên phải kiếp thì theo, giầu ăn khó chịu lo gì mà lo.

Triết lý sống của tình yêu và trách nhiệm vẫn đang gõ cửa từng tâm hồn: gà con nói với gà mẹ, mẹ có thể ngưng đẻ trứng một ngày để sớm mai dẫn con đi chơi không ? Gà mẹ trả lời dứt khoát, không được. Gà con lại lý sự tại sao ? Vì mẹ đã đẻ nhiều trứng, đã cống hiến cho chủ nhiều rồi mà ! Gà mẹ giải thích, chính tình yêu và trách nhiệm mách bảo mẹ, bao lâu còn khoẻ, còn có thể mang lại cho chủ những sản phẩm tốt, mẹ vẫn chu toàn. Đức Giêsu cũng nói: hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng…”. Hãy đến với Thầy Giêsu, mỗi người không những vơi nhẹ gánh nặng cuộc đời, tất cả còn hạnh phúc hơn, khi đã cảm nhận giá thật của mầu nhiệm Nước Trời, chính là tình liên đới hiệp thông trong yêu thương. Amen.

Về mục lục

.

NHÀ CHÚA, KHÓA HỌC CỦA SỰ HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Sau một ngày vất vả, dường như ai trong chúng ta cũng mong ước được trở về bên tổ ấm gia đình, về lại nơi ta được yêu thương, chăm sóc, được nghỉ ngơi. Điều này càng được thể hiện rõ nơi những ai đang được sống trong một mái ấm hạnh phúc. Nhà là nơi đón nhận ta, cưu mang những vui buồn, mệt mỏi, thành công và cả thất bại của ta. Hôm nay, Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta bước vào gia đình của Ngài, nơi ấy ta sẽ được học nơi Ngài sự hiền lành và khiêm nhường, Ngài sẽ cho ta được nghỉ ngơi bồi dưỡng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11, 28-30).

Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến với con người, chia sẻ, sống kiếp người như ta, Như lời thánh Phao lô đã khẳng định: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2, 6-7). Quả thực, Ngài có đủ lý do để mời gọi chúng ta đến với Ngài. Những khó khăn, vất vả trên đường đời trở nên những gánh nặng ta phải mang. Có những gánh đè nặng lên đôi vai gầy gò ốm yếu, có những gánh nặng ghì chặt những mảnh đời lầm than vất vưởng. Gánh nặng của cơm áo, gạo tiền; gánh nặng lo cho tương lai con cái; gánh nặng khi lấy phải một người chồng vũ phu, một người vợ cờ bạc… Đức Giêsu mời gọi tất cả chúng ta hãy đến với Ngài. Đến để được nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Người sẽ cho ta được nghỉ ngơi, bồi dưỡng như thế nào? Khi mang trong mình những lo toan của cuộc sống, chúng ta ít có được sự bình an. Tâm hồn nặng trĩu, cùng với những điều bất như ý xảy đến khiến ta dễ cáu kỉnh, bực bội, nóng tính. Nếu ai trong chúng ta khi đến với tha nhân cũng mang lấy những tâm trạng này thì thử hỏi điều gì sẽ xảy ra? Dường như chúng ta sẽ chỉ làm tổn thương nhau. Đức Giêsu không chỉ hứa hẹn sự nghỉ ngơi bồi dưỡng cho những ai đến với Ngài mà còn mời gọi họ tham gia một khóa học dài hạn: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11, 29-30). Hiền hậu và khiêm nhường chính là chìa khóa giải quyết những xung đột, giúp ta xây dựng tương quan với tha nhân. Đặc biệt là giúp ta có được sự bình an.

Để tham gia khóa học này, học viên cần học cách mang lấy ách của Chúa và học với Ngài sự hiền lành và khiêm nhường. Tại sao chúng ta phải mang lấy ách của Ngài? Ách ta mang chưa đủ hay sao mà Ngài còn bắt ta mang thêm ách của Ngài? Phải chăng ách của Chúa là những giới răn của Ngài? Nếu khi ta đang buồn phiền, nóng nảy, chua chát, cau có thì những gì ta mang đến cho người khác chỉ toàn nước mắt. Nhưng khi ta mang ách của Chúa, nghĩa là mang lấy giới răn yêu thương của Ngài để đến với người khác bằng cách đến của Chúa, nhìn người khác với ánh nhìn của Chúa thì chắc chắn yêu thương sẽ được nở hoa trên cuộc đời họ.

Khóa học còn mở ra cho chúng ta cơ hội được học nơi Ngài sự hiền lành và khiêm nhường. Như đã nói ở trên, hiền lành và khêm nhường là chìa khóa hóa giải những xung đột, những tổn thương, giúp ta có được sự bình an trong tâm hồn. Còn gì hơn khi được học nơi Con Một Thiên Chúa sự hiền lành và khiêm nhường. Ngài thật sự khiêm nhường khi chấp nhận trút bỏ vinh quang của Thiên Chúa để mặc lấy thân nô lệ, sống kiếp phàm nhân. Một Thiên Chúa hoàn toàn vì yêu thương mà đến với con người, khiêm tốn sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn, và cuối cùng chết nhục thân trên thánh giá để cứu chuộc con người. Một Thiên Chúa khiêm nhường hơn tất cả. Ngài thật sự hiền lành khi để cho đám đông dân chúng lôi lên tới đỉnh núi để xô xuống vực, Ngài hiền lành khi chấp nhận để cho người ta đánh đòn, đóng đinh vào thập giá. Tất cả chỉ vì yêu thương, để cứu độ con người mà Thiên Chúa đã chấp nhận để con người làm mình “đau”.

Sự hiền lành và khiêm nhường của Thiên Chúa mời gọi chúng ta học cách bỏ mình để nghĩ cho người khác, học cách đến với tha nhân với tình yêu thương. Chúng ta cần học bài học này suốt cả cuộc đời. Khóa học chỉ kết thúc sau khi ta đã nhắm mắt lìa đời. Khi ta học đi học lại, làm đi làm lại bài tập “hiền lành và khiêm nhường” mà Chúa dạy, chắc chắn chúng ta sẽ sống vui hơn, bình an hơn. Chúng ta không chỉ học sự hiền lành và khiêm nhường trên lý thuyết nhưng trên hết chúng ta sẽ được trải nghiệm và sống những gì đã học. Đức Giêsu là một vị Thầy tuyệt vời bởi cả cuộc đời của Ngài nói lên cho ta điều đó. Còn đợi gì nữa, hãy nhanh tay đăng ký và đến với Thầy Giêsu trong khóa học này nhé.

Về mục lục

.

HÃY ĐẾN VỚI TÔI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Giữa biển đời đầy sóng gió ba đào, lời mời gọi “Hãy đến với Tôi” của Chúa Giêsu giúp chúng ta vững tin, nhờ đó ta có thêm can đảm nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Bởi lẽ, có những lúc chúng ta cảm thấy đang đứng trước ngõ cụt của cuộc đời mà không tìm được lối thoát. Chúa Giêsu chính là niềm hy vọng và yên ủi cho những ai đang đau khổ và bế tắc trên đường đời. Hãy đến với Người. Người đang chờ đợi chúng ta.

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Không chỉ gồm những tâm tình thân thưa với Chúa Cha, lời cầu nguyện này còn nhằm mạc khải, soi sáng cho các môn đệ về sứ mạng thiên sai của Người. Người từ Chúa Cha mà đến, nên biết rõ Chúa Cha, cũng như biết rõ thánh ý của Ngài. Khi khẳng định những điều này, Chúa Giêsu cũng muốn giúp các môn đệ kiên vững lòng tin, để rồi, những lúc đối diện với khó khăn thử thách, các ông không ngã lòng.

Nếu chúng ta được mời gọi đến với Chúa, là vì trước hết Người đã đến với chúng ta. Lịch sử Cứu độ đã chứng minh Thiên Chúa chủ động đến với con người để can thiệp và giải thoát họ. Cuộc gặp gỡ với ông Môisen trong sách Xuất Hành đã chứng minh điều đó. Chúa nói với ông: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của Dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than, vì bọn cai hành hạ. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật…” (Xh 3,7-8).

Mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời là bằng chứng của tình thương Thiên Chúa và việc Ngài chủ động đến với con người. Đức Giêsu khiêm nhường hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa không còn chỉ ở trên cao, mà “hạ giới” làm người để gặp gỡ những mảnh đời bất hạnh. Người là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Vì Thiên Chúa hiện diện với chúng ta, nên ngôn sứ Dacaria mời gọi chúng ta hãy vui lên. Ngôn sứ đã nhắc tới hình ảnh rất sinh động và bình dân, đó là các thiếu nữ Sion, trong trang phục truyền thống, múa nhảy reo hò chạy ra đón Đức Vua (Bài đọc I). Đây là ngày hội tưng bừng cho cả toàn dân. Đức tin Kitô giáo phải luôn diễn tả niềm vui và tinh thần của lễ hội, bởi lẽ Chúa hiện diện giữa chúng ta. Đó là niềm vui cao cả và tuyệt vời nhất. Tiếc thay, có nhiều người không cảm nghiệm được niềm vui này, nên cuộc đời của họ luôn âu sầu buồn bã.

Chúa đang hiện giữa giữa chúng ta, và Ngài mời gọi chúng ta đến với Ngài. “Hãy đến với Tôi”. Đó vừa là lời diễn tả sự gần gũi thân tình, vừa là lời khích lệ những ai còn sợ sệt vì thấy mình bất xứng. Lịch sử ghi nhận biết bao người đã đến với Chúa và gánh nặng cuộc đời của họ đã trở nên êm ái nhẹ nhàng hơn. Đến với Chúa, họ vừa được tha thứ tội lỗi, vừa có sức mạnh vươn lên làm lại cuộc đời.

Hãy đến với Chúa để học sự khiêm nhường. Chúa Giêsu là bậc thày. Người dạy chúng ta về sự khiêm nhường. Cuộc đời và giáo huấn của Chúa luôn thể hiện nhân đức khiêm nhường. Vì khiêm nhường mà Chúa đã hạ mình làm người. Vì khiêm nhường mà Chúa đến với mọi người đau khổ. Vì khiêm nhường mà Chúa đã chết trên thập giá. Chúa dạy chúng ta hãy học dưới mái trường của Người, để sống khiêm tốn, hy sinh, vì tha nhân và vì công ích. Sống khiêm nhường hạ mình sẽ giúp chúng ta thanh thản vui tươi hơn, nhờ đó cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn.

«Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề !». Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân phận con người. Người muốn đồng hành với họ để nâng đỡ họ trong hành trình trần gian. Khi được thụ giáo tại ngôi trường của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nên giống như Người đến nỗi trở thành đồng hình đồng dạng với Người. Hãy đến với Chúa Giêsu để được Người giáo huấn và dẫn đưa về cùng Chúa Cha. Bởi lẽ Người từ Chúa Cha mà đến. Người còn là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Đến với Chúa Cha để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, đó cũng là đích điểm của cuộc sống chúng ta.

Đến với Chúa là một hành trình liên lỉ lâu dài. Trên hành trình này, có những cám dỗ cam go. Thánh Phaolô đã gọi đó là sự giao tranh giữa Thần Khí và tính xác thịt. Ai thiện chí sống theo Thần Khí thì sẽ chiến thắng mọi cám dỗ, trở nên hoàn thiện, diệt trừ được con người ích kỷ, sống đời sống mới trong Chúa Giêsu Kitô (Bài đọc II). Lối sống theo xác thịt luôn mang nhiều màu sắc lấp lánh hấp dẫn. Nó dễ làm cho chúng ta ảo tưởng lầm lạc. Xin Thần Khí Chúa soi sáng và hướng dẫn chúng ta biết khôn ngoan chọn lựa những gì đem lại ích lợi lâu bền, vĩnh cửu. Amen.

Về mục lục

.

KHIÊM NHƯỜNG

Tgm. Ngô Quang Kiệt.

Chúng ta thường tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ta thường nghĩ đến một Thiên Chúa oai nghi bệ vệ, cao sang quyền thế, xa cách. Ta không nghĩ hay không dám nghĩ rằng Thiên Chúa thật rất khiêm nhường. Thực sự Thiên Chúa rất khiêm nhường.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa ẩn mình trong vô hình. Ở đời, một người quyền thế chiếm rất nhiều không gian của người khác. Người quyền thế ở nhà lớn, ngồi ghế rộng. Sự hiện diện của họ khiến mọi người khép nép, nói năng mất tự nhiên, đi đứng phải nhìn trước nhìn sau. Nếu bây giờ Thiên Chúa hiện hình đứng giữa chúng ta. Chắc hẳn chúng ta chẳng thể ngồi thoải mái như bây giờ. Trái lại chúng ta sẽ quì sụp xuống, gục đầu, đấm ngực ăn năn. Nhưng Thiên Chúa đã che giấu dung nhan. Người ẩn mình trong vô hình để cho ta được tự do. Người nhường không gian cho con người. Người tự trở nên một Đấng nghèo hèn, bé nhỏ đến độ bị người đời quên lãng.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa im lặng. Trong xã hội, người uy quyền thường nói nhiều. Người nhỏ phải nghe người lớn, người nhỏ có muốn nói cũng bị tiếng người lớn át đi. Thiên Chúa đã tự trở nên bé nhỏ. Người im lặng nhường lời cho con người. Người lắng nghe con người cả khi họ chỉ trích, chống đối, lên án Người. Người trở nên một Đấng bé nhỏ nghèo hèn, khép nép, im lặng trong thế giới ồn ào của loài người.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận con người. Con người chẳng là gì mà Chúa vẫn thương. Người còn cúi xuống sâu hơn nữa trước những kẻ tội lỗi để nâng họ lên. Khi người ta cúi xuống trước một kẻ cao trọng, sự khiêm nhường ấy đáng nghi ngờ. Nhưng khi người ta cúi xuống trước một thân phận tội lỗi, nghèo hèn, sự khiêm nhường ấy rất chân thực.

Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Ai chống lại quyền lực, quyền lực sẽ nghiền nát người ấy. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.

Thiên Chúa vô hình. Có lẽ ta sẽ khó mà hiểu biết sự khiêm nhường của Thiên Chúa, nếu ta không nhìn thấy sự khiêm nhường của Chúa Giêsu.

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.

Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống, nên những ai kiêu căng tìm nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường nhỏ bé mới gặp được Người.

Hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Hãy ghi danh vào học trường Chúa Giêsu. Hãy học bài học khiêm nhường. Hãy học bài học Giêsu. Hãy học với Thầy Giêsu. Hãy bước theo Thầy Giêsu xuống những bậc thang khiêm nhường thẳm sâu. Ở bậc thang cuối cùng, Thiên Chúa đang chờ đợi ta, ta sẽ gặp được Người. Ta sẽ kết hiệp với Người. Ta sẽ rũ sạch mọi vất vả lo âu. Ta sẽ được bình an.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn lòng con nên giống như trái tim Chúa. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

  1. Những dấu nào cho thấy sự khiêm nhường của Chúa?
  2. Có quyền ăn nói, nhưng im lặng nhường lời cho người khác. Có vị thế cao, nhưng ẩn mình nhường chỗ cho người khác. Có dễ không?
  3. Sức mạnh bùng nổ trên người khác. Và sức mạnh chế ngự chính mình. Đàng nào mạnh hơn?

     4. Thiên Chúa tuyệt đối khiêm nhường. Khám phá này có tác động gì trên bạn không?

Về mục lục

.

HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Lm. Văn Hào

Ngày xưa, có một vị đạo sỹ khá nổi tiếng về sự thông thái và nếp sống đạo đức. Nhiều học trò từ khắp nơi tìm đến để xin thụ giáo nơi ông. Trong ngày khai môn, vị đạo sỹ quy tụ các đệ tử trong chiếc sân rộng trước nhà, ở giữa có một pho tượng bằng đá. Trước mặt các học trò, ông chẳng nói chẳng rằng, chỉ cầm trên tay một nắm đá, ném tới tấp vào pho tượng và nặng lời chửi rủa, sau đó ông ra hiệu giải tán. Chiều tối, ông lại quy tụ các học trò đến trước pho tượng và lặng lẽ cúi đầu xin lỗi vì hành vi xúc phạm ban sáng. Ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng kia, ông cứ lập đi lập lại hành vi ấy, ban sáng chửi bới pho tượng và trước khi đêm về ông lại cúi mình xin lỗi. Một người học trò sốt ruột hỏi ông ta : “Thưa thầy, chúng con đến đây để tầm sư học đạo mong thầy chỉ giáo, nhưng suốt cả tháng qua, thầy chẳng dạy chúng con điều gì, ngoài trừ mỗi một hành động thầy làm xem ra có vẻ ngớ ngẩn và vô nghĩa”. Bấy giờ, vị đạo sĩ mới nói với các học trò : “Tất cả bài học mà thầy muốn truyền đạt, nằm ở pho tượng kia. Chúng con hãy suy nghĩ và sống như vậy. Khi bị rủa xả, nó không giận, không cự cãi. Khi được người ta xin lỗi, nó cũng không vênh váo hay tự đại. Điều thầy muốn dạy bảo các con, là hãy sống hiền lành và khiêm tốn như thế.”

Hãy học với ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường

Bài học Chúa dạy chúng ta hôm nay cũng là hãy sống tinh thần hiền hòa và khiêm nhường. Nhưng, chúng ta không sao chép lại sự hiền lành và khiêm tốn từ nơi bức tượng vô tri vô giác kia. Chúng ta cũng chẳng cần học hỏi sự hiền lành và khiêm tốn nơi các vị hiền nhân quân tử mà sử sách đã nêu gương. Chúa mời gọi chúng ta hãy học hai bài học căn bản này nơi chính trường học của Ngài, phát nguyên từ trái tim nhân lành và yêu thương nơi Ngài. “Anh em hãy học cùng tôi, vì tôi có tấm lòng hiền lành và khiêm nhường”. Chúa Giêsu là vị tôn sư duy nhất và tuyệt hảo mà chúng ta cần phải đến để thụ giáo. Chỉ mình Đức Giêsu là chuẩn mẫu duy nhất để chúng ta noi theo. Ngài không dạy chúng ta bằng lý thuyết mô phạm, nhưng chính cuộc sống và cái chết của Chúa trên Thập giá đã diễn bày hai phẩm tính ấy một cách tròn đầy.

Vào năm 1944, Hit-le, tên trùm phát xít Đức đã cao ngạo dương oai muốn thôn tính cả thế giới và tập trung quyền bính trong tay mình. Một vị chính khách đã mỉa mai tự hỏi: “Con người đầy tham vọng và kiêu căng này đã chiếm biết bao lãnh thổ. Hắn sẽ dừng lại ở lãnh thổ nào đây ?”. Nghe vậy, một vị giáo sĩ trả lời: “Chắc chắn ông ta sẽ phải dừng lại trên một lãnh thổ rất chật hẹp, vỏn vẹn chỉ hai thước đất, đủ để chôn ông ta mà thôi”. Cũng tương tự như thế, hoàng đế Napolêon đã từng ngạo nghễ bắt giữ ngay cả Đức Thánh Cha Piô VII và giam Ngài ở đảo Saint Hélène. Vào cuối đời, ông bị thất trận tơi tả, và chính ông lại bị biệt giam tại hòn đảo ấy, nơi mà ông đã kiêu ngạo giam giữ vị sứ giả của Chúa. Phi hành gia Gagarin của Liên Xô sau một vòng bay quanh bầu trời bao la đã kệch cỡm tuyên bố: “Tôi đã bay vào vũ trụ mênh mông và lùng sục khắp nơi mà chẳng tìm thấy một ông gìa nào có tên là Thiên Chúa đâu cả”. Sau lời phát ngôn đầy kiêu căng đó, con thuyền Spounik của ông đã nổ tung. Câu chuyện về con tàu Titanic chìm sâu giữa đại dương vào năm 1911 cũng giống hệt như vậy. Người ta đã kiêu ngạo treo một bảng hiệu trên thành tầu với hàng chữ ‘Ở đây không có Thiên Chúa’ (There is no God). Biến cố bi thảm ấy là một lời cảnh báo đối với sự cao ngạo của con người. Tất cả những dẫn chứng trên giúp chúng ta nghiệm ra rằng, ‘Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhu’.

Trong thư Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, thì cũng nhờ một người duy nhất mà chúng ta được công chính hóa” (Rm 5,18). Con người đầu tiên ấy chính là Adam và tội gây nên cái chết cho con người chính là tội kiêu ngạo. Ngược lại, Đức Giêsu – Adam mới, đã phục hồi cho chúng ta phẩm giá làm con, qua sự khiêm tốn tự hạ nơi Người.

Trong thư Philipphê, Thánh Phaolô cũng đã viết một bài thánh thi nổi tiếng, họa lại bài ca về ‘Người tôi tớ đau khổ’ trong sách tiên tri Isaia để mời gọi chúng ta chiêm ngắm mẫu gương nơi Chúa Giêsu. Ngài viết : “Đức Giêsu Kitô vốn là Thiên Chúa, mà không nghĩ nhất thiết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống như một phàm nhân. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến chết và chết trên cây Thập giá (Philip 2, 6-8). Bài học khiêm nhường Chúa nói hôm nay chính là bài học được hiển thị rõ nét nơi cái chết của Ngài.

Con chiên hiền lành bị đem đi xén lông mà không kêu ca mở miệng

Ở đời người ta vẫn thường hay nói ‘Nhịn là nhục’. Nhiều người vẫn chủ trương phải tranh đấu để có thể tồn tại trong xã hội. Giáo huấn mà Chúa Giêsu trình bày hôm nay xem ra rất nghịch thường và khó chấp nhận. “Ai tát con má bên phải, con hãy đưa luôn cả má bên trái, ai bắt con đi một dặm, con hãy đi với nó hai dặm”. Theo lý luận thông thường, chẳng ai dại dột làm thế. Nhưng đây là sự khôn ngoan của nước trời cho dù đối với thế gian, đó quả là sự khờ dại và điên rồ. Thánh Phaolô cắt nghĩa : “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn sự khôn ngoan của loài người. Cái yếu đuối của Thiên Chúa lại còn hơn sự mạnh mẽ của trần gian.” (1 Cor 1,25).

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu cũng đưa ra quy chuẩn về sự trọn lành mà chúng ta vẫn thường gọi là bản ‘Hiến Chương Nước Trời’. Một trong những mối phúc, những quy chuẩn căn bản của bản hiến chương ấy, là ‘Phúc cho những ai sống hiền lành’.

Khi đi vào trần gian, Chúa Giêsu đã đến rất âm thầm trong tĩnh lặng, mặc lấy hình hài của một thơ nhi nhỏ bé và yếu ớt. Ngài đã trải qua 30 năm tại Nazarét trong cuộc sống rất bình lặng, chung chia thân phận làm người giữa những dân quê chất phác và mộc mạc. Sự hiền lành ấy được thể hiện rõ nét hơn nơi cái chết của Chúa trên Thập giá. Ngài đã bị chửi rủa, bị lăng mạ, bị bêu xấu, nhưng Chúa tuyệt đối không cãi một lời, không đối lại một câu. Sự thinh lặng ấy không phải là một sự câm nín cách vô nghĩa, nhưng đó là một loại hình ngôn ngữ diễn bày sự hiền lành sâu thẳm nơi Ngài. Ngôn sứ Isaia đã phác vẽ dung mạo hiền từ của Đức Kitô, Đấng sẽ bị sát tế như một ‘Con chiên hiền lành bị đem đi xén lông mà không hề kêu ca hay mở miệng’.

Trong cuộc sống hôm nay, đây là hai bài học căn bản, vạch dẫn cho chúng ta con đường vươn tới hoàn thiện, nhưng quả là rất khó để thực hành. Ai trong chúng ta cũng có cái tôi to đùng, thích được người ta nể trọng. Mọi người đều biết rằng, Thập gía là lý tưởng của mọi Kitô hữu và Chúa Giêsu vẫn nhắc đi nhắc lại lời mời gọi của Ngài : “Ai muốn theo tôi hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo”. Biết thế, nhưng thực hành không phải là chuyện giản đơn.

Kết luận

Kinh điển Phật giáo có thuật lại một giai thoại. Một người kia mang đến dâng cho Đức Phật hai bó hoa, một bó cầm bên tay phải và một bó cầm bên tay trái. Ông đến dâng lên bó hoa cầm nơi tay trái. Đức Phật ngắm nghía một lát và nói với ông : “Hãy vứt đi”. Người đàn ông kia vứt bó hoa xuống đất và dâng cho Đức Phật bó hoa còn lại bên tay phải. Đức Phật cũng nói : “Hãy vứt xuống”. Người đàn ông không hiểu và hỏi lại: “Thưa Ngài, con đã vất cả hai bó hoa xuống đất rồi, con phải làm gì nữa ?”. Đức Phật mới trả lời: “Ta không bảo phải vứt những bó hoa này mà hãy vứt đi chính người đang cầm hoa”. Trong cuộc hành trình theo Chúa Giêsu, chúng ta hãy tập vứt bỏ chính mình, giống như Chúa Giêsu đã nêu gương. Ngài đã đi đến tận cùng của mầu nhiệm tự hủy và hôm nay Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy sao chép lại cách sống của Ngài : “Anh em hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Về mục lục

.

LÀM ĐẸP LÒNG CHÚA CHA

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện liên lỉ. Thật vậy, đọc Tin mừng của Chúa, chúng ta thấy Chúa Giêsu cầu nguyện không ngừng. Tuy nhiên, các Sách Tin Mừng đã ghi lại một số lần Chúa cầu nguyện và một số lời cầu nguyện của Chúa. Chúa đã dạy kinh Lạy Cha cho các môn đệ. Hôm nay, trong đoạn Tin Mừng của thánh Matthêu 11,25-30 cho thấy, đây là một lời cầu nguyện của Chúa Giêsu. Lời cầu nguyện này giống như một lời than thở, nhưng điều cốt lõi Chúa muốn :” tôn vinh Chúa Cha, chúc tụng và cảm tạ Ngài “.

Xuyên suốt Tin Mừng nhất lãm và Tin Mừng của thánh Gioan cho chúng ta ý thức sâu xa : cả cuộc đời dưới thế của Chúa Giêsu là vâng phục thánh ý Chúa Cha, hiếu thảo với Cha và làm theo Chúa Cha. Sự vâng phục của Chúa Giêsu luôn làm hài lòng Chúa Cha. Qua lời cầu này, Chúa Giêsu chỉ rõ chúng nhân loại, cho chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ, thế giới và dựng nên con người. Ngài là chủ tế thế giới, và vũ trụ, con người. Ngài hoàn toàn tự do, yêu thương.Ngài muốn tỏ ra cho ai là quyền tự do của Ngài. Ngài muốn chọn ai là do sáng kiến của Ngài. Ngài muốn hướng dẫn, chỉ bảo ai điều gì, lúc nào, ở nơi nào là do tình thương vô biên của Ngài.Nhưng, chắc chắn một điều là Ngài không tỏ mình ra cho những con người tự kiêu, tự đại, tự cho mình là khôn ngoan, thông thái vv…theo quan niệm của đời thường, của thế gian mà chỉ tỏ cho những kẻ đơn sơ, nhỏ bé.Bởi vì, Chúa đã cất tiếng nguyện cầu :” Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn “. Chúng ta nhận ra, Chúa Giêsu đã làm đẹp lòng Chúa Cha thế nào khi chính Thiên Chúa Cha đã xác nhận điều đó khi Chúa Giêsu đã nhận phép rửa bởi tay Gioan Baotixita bên dòng sông Giorđăng khi Ngài vừa lện khỏi nước, trên trời, Chúa Cha đã phán :” Đây là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng “. Do đó, qua lời cầu nguyện hôm nay, Chúa Giêsu cho biết tại sao mầu nhiệm Nước Trời lại được trao cho những kẻ nhỏ bé, những kẻ khiêm hạ vì “ đó là điều đẹp ý Cha “. Chúa Giêsu muốn cho chúng ta biết những vị lãnh đạo tôn giáo lúc đó, những Pharisêu, những Biêt phái, Luật sĩ là những người cho mình là biết rõ Lề luật, thấu đáo Kinh Thánh, tuy nhiên họ đã không đón nhận Lời Chúa, không nhận ra Chúa là ai và cũng hoàn toàn mù tịt về Nước Trời. Họ đã không được diễm phúc Chúa mặc khải những điều tốt lành, những bí nhiệm của Nước Trời cho họ…Như vậy, Chúa nhắc bảo mọi người, nhắc bảo riêng chúng ta, nếu chúng ta muốn vào Nước Trời hay muốn được Chúa Mặc khải Nước Trời, chúng ta phải sống hiền lành, đơn sơ và khiêm tốn. Bên cạnh việc loan báo Tin Mừng, rao giảng Nước Trời, một trong những điều mà Chúa Giêsu đã làm để sống đẹp lòng Thiên Chúa, là sống hiền lành, khiêm nhượng, yêu thương. Các Sách Tin Mừng thuật lại Chúa Giêsu đến với mọi lớp người, mọi hạng người, lo lắng, an ủi, chữa lành, cảm thông với từng lớp người, đặc biệt những người mang gánh nặng nề, bệnh hoạn, tật nguyền, đau khổ, bị thử thách, yếu đuối, hèn kém, bị xã hội bỏ rơi vv…

Chúng ta được Chúa mời gọi làm môn đệ của Ngài. Chúng ta hãy noi gương, bắt chước Ngài sống khiêm nhường, phó thác, lo lắng, chia sẻ, ủi an, cảm thông, giúp đỡ mọi người, đặc biệt những người bé mọn, thấp cổ bé họng, những người bị loại trừ, những người đau khổ, tật nguyền, lao đao, vất vả. Chúa đã đồng hóa với tất cả những kẻ nhỏ bé đó. Đây chính là những của lễ chân thành làm đẹp lòng Chúa nhất.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trút bỏ mình ra không, chuốc lấy tội lỗi của nhân loại để cứu rỗi và độ trì tất cả. Xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng cxon để chúng con biết noi gương bắt chước Chúa mà sống phó thác tốt lành, để mọi người khi gặp gỡ chúng con, họ nhận ra ngay Chúa đang hiện diện nơi chúng con.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là gì ?
2.Kẻ bé mọn là gì ?
3.Biệt phài, Luật sĩ và Pharisêu được liệt vào hạng người nào ?
4.Ai đã mặc khải Nước Trời cho những kẻ bé mọn ?
5.Chúa Giêsu đã đồng hóa với ai ?

Về mục lục

.

HÃY NÊN BÉ MỌN

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái biết, Cha lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy” (Mt 11, 25). 

Trong lời cầu nguyện của mình, Chúa Giêsu nhắc đến những người “bé mọn”. Người “bé mọn” là ai mà lại được Cha yêu thương tỏ mình để mạc khải cho họ? Họ chính là người nghèo của Chúa. Họ là những người nhiệt thành đi tìm Chúa. Họ thấy mình cần Chúa, ước mong được Chúa ngự vào tâm tư mình. 

Vì thế, cái “bé mọn” mà Chúa ưu tiên tỏ mình không chỉ là nghèo vật chất, thiếu thốn cái ăn, cái mặc, mà còn bao gồm nhiều thái độ sống tốt như: sống siêu thoát trước vật chất, khước từ sự tham lam vật chất, khiêm nhường, đói tình thương, thiếu thốn đời sống tinh thần, bị cướp bóc văn hóa, bị tước đoạt từ vật chất, tình yêu đến nội tâm… Đúng hơn, họ là những người bé mọn trước thế gian, nhưng lớn lao trước Chúa.

Nếu người bé mọn trước thế gian được Chúa yêu thương mạc khải cho, thì ngược lại, người không bé mọn – họ được Chúa Giêsu gọi là “người khôn ngoan và thông thái” – sẽ xa Chúa diệu vợi. Nói nặng hơn, họ sẽ đui mù trước Chúa, bởi bị Chúa “che giấu” mầu nhiệm bản thân Người. Bằng câu chuyện cụ thể sau đây, ta có thể hiểu “người khôn ngoan và thông thái” mà Chúa Giêsu nói đến là ai.
Người đàn ông đến xin cho con trai ông được rước lễ trọng thể, nhân dịp giáo xứ chúng tôi tổ chức rước lễ trọng thể vào một ngày giữa tháng 7, dù con ông đang học giáo lý ở một giáo xứ khác. Tôi đồng ý với điều kiện, cha xứ, nơi mà em đang học giáo lý cho phép. 

Nếu chuyện chỉ có thế thì không còn gì đáng nói. Nhưng lần thứ hai, đến gặp tôi, ông cho biết, con ông học trường tư, nội trú, có tiếng là nghiêm khắc trong vấn đề kỷ luật và học tập. Đầu tháng 7, con ông tựu trường để vào lớp 12. 

Bình thường, trường đã nghiêm khắc. Bây giờ lên lớp 12, chắc chắn trường sẽ còn nghiêm khắc hơn. Con ông không dám và cũng không được phép nghỉ học bất cứ ngày nào. Trong khi tuần đầu của tháng 7 là tuần các em chuẩn bị rước lễ trọng thể ở giáo xứ chúng tôi tĩnh tâm. Nhưng vì luật của nhà trường như thế, người đàn ông đòi tôi phải cho em khỏi tĩnh tâm, và vẫn cho phép em cùng được rước lễ chung với các học viên khác.

Nghe xong câu chuyện, tôi buồn, thở hắt ra mà không biết phải nói lời nào. Chọn lựa của người Công Giáo thời nay là như thế sao: Sự học hành thay Thiên Chúa. Kiến thức ở đời thay lý lẽ đức tin. Giá trị trần thế thay giá trị Nước Trời. Cái chóng qua thay cho vĩnh cửu. Kiến thức đức tin bị đạp xuống hàng thứ yếu, đẩy kiến thức học vấn của đời tạm bợ vượt lên hàng chủ yếu. 

Kiến thức đức tin là đường lối của Thiên Chúa, là phương hướng dẫn con người đến gặp chính Thiên Chúa, lại bị đạp xuống hàng thứ yếu, có khác gì Thiên Chúa đã bị người ta đẩy xuống để cuộc đời vượt lên! Hóa ra đời mới là “Thiên Chúa” của họ, còn Thiên Chúa lại bị họ biến thành một thứ xa xí phẩm nào đó, có cũng được, không có cũng không sao. Mà kẻ loại chính Thiên Chúa không ai khác hơn là chính con cái trong nhà, là người Công Giáo chính hiệu, là chính con Thiên Chúa. 

Đáng thương cho lối suy nghĩ nông nổi dẫn đến cả một quyết định, cả một chọn lựa sai lầm lớn không thể nói hết. Người ta chấp nhận hình thức và sẵn sàng phục vụ thứ hình thức ấy một cách giả trá thay cho thực chất, thay cho lòng yêu mến Chúa thật. Chỉ cần đánh lừa lương tâm rằng, con tôi đã lãnh bí tích rồi, thế là đủ, chẳng cần để ý đến việc nó có hiểu biết gì về bí tích mà nó lãnh nhận hay không. 

Người đàn ông trong câu chuyện bên trên muốn trang bị cho con của ông giàu có về sự học hành, lớn lao về đường công danh, bảo đảm cho tương lai đời nó. 

Khi trang bị cho con mình, ông cũng đồng thời nghĩ tới ông, nghĩ tới gia đình ông bằng một giấc mơ thiên đàng trần thế về danh giá ở đời, về sự nổi nang, ngưỡng mộ trong ánh mắt mọi người xung quanh. 

Nhưng ông lầm. Tìm kiếm thông thái và khôn ngoan trần thế mà không tháp nhập trần thế vào sự cứu độ siêu nhiên, ông có thể tìm được thành công trần thế, nhưng chắc chắn đời đời vắng bóng siêu nhiên. 

Chỉ trong sự cứu độ siêu nhiên của Chúa, người ta mới đạt tới vĩnh cửu. Vì thế, nếu chỉ tìm kiếm trần thế, đó là sự đánh cắp đời mình, cắt đứt vĩnh cửu. Cắt đứt vĩnh cửu là làm ngắn đời mình. 

Chính ông đã tự gieo, cũng như đã gieo vào tâm tư của con ông lối suy nghĩ, lối sống làm ngắn đời mình. Ông đã đánh cắp đời mình đã vậy, lại còn đánh cắp đời con của ông. Nguy hiểm hơn khi sự đánh cắp này có dấu hiệu “di truyền”. 

Không biết có bi quan lắm không, nếu nói rằng, một khi con ông “thừa hưởng” thái độ đánh cắp ấy của ông, thì nó sẽ còn bao nhiêu lần đánh cắp như thế đến bao nhiêu thế hệ con người! Siêu nhiên mà vắng bóng, vĩnh cửu mà bị đánh mất, Thiên Chúa bị đẩy xa đời người, thông thái và khôn ngoan vẫn cứ là dốt nát. 

Qua lời cầu nguyện cùng Chúa Cha, “Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái biết, Cha lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy”, Chúa Giêsu dạy ta phải có thái độ phó thác tuyệt đối của một người có tinh thần nghèo khó trọn vẹn. 

Chỉ có trong ta tinh thần của một người nghèo, ta mới thấy mình chẳng là gì, chẳng có gì. Tất cả là bởi Chúa, phát xuất từ Chúa. Đối với Kitô hữu, chúng ta cần biết rằng, chính bản thân ta cũng chỉ là bụi đất, rồi sẽ trở về bụi đất. Tất cả những hy vọng, những tìm kiếm, những bươn chãi, những tranh giành, những vất vả, những hao mòn lặn lội mới có trong cuộc đời này… đều chỉ là hư không, tất cả chỉ là một trò ảo thuật. 

Ta không là chủ đời mình, càng không bao giờ là chủ những gì mình tạo ra. Cùng với sự tắt thở của thân xác, ngay lập tức, ta trở nên thối rữa, nhơ nhớp. Vì thế, Chúa Giêsu dạy ta phải có thái độ phó thác tuyệt đối cho Chúa như một người bé mọn, chẳng có gì. 

Phó thác tuyệt đối cho Chúa là làm giàu Thiên Chúa cho đời mình. Thiên Chúa là Vĩnh Cửu. Ai làm giàu Thiên Chúa, người đó bước vào vĩnh cửu. Vì thế, chỉ những ai biết làm giàu Thiên Chúa cho đời mình mới là người thật sự khôn ngoan. 

Cuộc đời mà ta đồng hành với nó, chỉ là người bạn bạc bẽo. Lẽ nào ta chọn sự bạc bẽo làm chúa thay Thiên Chúa đầy lòng xót thương, Đấng mà ta phải tôn thờ suốt đời! 

Đừng quên rằng, những người chỉ biết tìm kiếm sự thông thái, tìm kiếm khôn ngoan trần thế sẽ bị Chúa che giấu. Họ chỉ là những kẻ dại khờ, đui mù trước Chúa. 

Chúa chỉ mạc khải chính Chúa cho những người bé mọn. Đó là những người nghèo khó thật sự, là những người phó thác trọn đời mình trong tay Chúa thực sự. 

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con. Chúng con xin lặp lại chính lời cầu nguyện của Chúa Giêsu mà Vinh danh Cha rằng: Chúng con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái biết, Cha lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy, nên suốt đời, chúng con nguyện trở thành người nghèo của Cha, và là người bé mọn trong Nước Cha, biết phó thác đời mình trong tay Cha. Xin dẫn dắt chúng con đi tới, để chúng con hạnh phúc mãi mãi vì được ở trong nhà Cha. 

Về mục lục

.

GÁNH NẶNG

Lm. Trần Việt Hùng 

Lạy Cha là Chúa muôn loài,

Khôn ngoan tuyệt đối, thiên oai diệu vời.

Con người thụ tạo trong đời,

Thông minh hiền triết, một thời thoáng qua.

Kiêu căng tự phụ điêu ngoa,

Trí tâm chẳng thấu, nhiều khoa ở đời.

Chúa thương ban xuống Ngôi Lời,

Vén màn mạc khải, cho người trần gian.

Những ai bé mọn tâm can,

Tinh thần thanh thản, Chúa ban dư đầy.

Cha ban mọi sự trong Thầy,

Những ai khó nhọc, kéo cầy khổ thân,

Trên đời gánh nặng nợ nần,

Ủi an nâng đỡ, chia phần lắng lo.

Hãy mang lấy ách nhỏ to,

Bước theo học hỏi, Thầy trò có nhau.

Nhẹ vơi thánh giá qua mau,

Hiền lành khiêm nhượng, nỗi đau xóa nhòa.

An bình phúc lộc chan hòa,

Nhẹ nhàng êm ái, thiên tòa rạng khơi.

Chúa Giêsu phán: “Hãy đến cùng Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi”. Ai trong chúng ta cũng đã trải qua những kinh nghiệm khó khăn trong cuộc sống. Những trải nghiệm đau thương nơi chính bản thân mình hoặc những người thân trong gia đình. Cảm nghiệm về con cái hư hỏng, về công ăn việc làm, về sự nghiện ngập, về sự chia ly, về thất vọng, về tình yêu, về bệnh hoạn tật nguyền hoặc những lo toan khác trong cuộc sống.

Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu giới thiệu Ngài như người bạn tốt kêu mời chúng ta đến với Ngài để tìm nguồn an ủi. Chúa mời chúng ta đặt niềm tin tưởng nơi Chúa như con trẻ đặt trọn niềm tin trong vòng tay người cha, người mẹ. Như khi còn bé nhỏ, chúng ta đặt trọn niềm tin tưởng vào sự bảo trợ của cha mẹ. Quan sát một em nhỏ, khi thấy chó sủa hoặc gặp nguy hiểm, em chạy tới bố mẹ để được bảo vệ và em cảm thấy an toàn trong vòng tay của mẹ cha.

Hiền lành trong khiêm nhượng là đức tính tốt. Nhớ câu truyện của Thomas Edison, thuở nhỏ ông học kém. Một ngày nọ, thầy giáo gởi giấy về cho bà mẹ, nói rằng em nhỏ bị nghễnh ngãng. Bà hãy đem con về nhà vì nó học qúa dốt không thể dạy. Bà kiên nhẫn bắt đầu dạy con. Cậu dần lớn khôn và về sau đã để lại cho hậu thế một phát minh vĩ đại mà mọi người đều mắc nợ. Thomas Edison đã phát minh ra máy chụp những hình ảnh di động, thu băng và bóng điện. Khi ông chết, cả nước Hoa Kỳ đã tắt hệ thống điện trong vòng một phút để tưởng nhớ ông.

Hãy đến với Chúa vì Chúa hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Sự hiền lành không phải là sự yếu ớt và thua kém. Sự dịu hiền chính là sức mạnh để thuyết phục. Chúa hiền lành trong lời nói, trong cách cư xử và hiền lành sự phán đoán. Nhiều câu truyện trong Phúc âm phản cách tư cách nhân hậu của Chúa. Đối với người đàn bà bị bắt qủa tang phạm tội ngoại tình, Chúa bênh đỡ và tha thứ. Với đứa con hoang đàng, Chúa đón nhận trở về với nụ hôn nồng ấm.

Hãy chạy đến với Chúa để trút gánh nặng và chúng ta sẽ tìm được sự nâng đỡ bổ sức. Chúa sẽ bổ sức cho chúng ta qua Lời của Ngài, qua các Bí Tích, qua chính Bí tích Thánh Thể. Chúa sẽ dẫn chúng ta tới nguồn nước chỗ nghỉ ngơi và bồi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đừng ngại đến với Chúa để tìm nguồn  ủi an, Chúa sẽ chẳng bỏ rơi chúng ta.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN – NĂM A

 Lm. Anthony Trung Thành

Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Với bản tình loài người, Ngài có đầy đủ mọi đức tính mà người đời cần học hỏi. Nhưng ít khi Ngài mời gọi con người học theo các đức tính của Ngài, có chăng cũng chỉ là gián tiếp thôi. Vậy mà, Tin mừng hôm nay lại cho chúng ta biết, Ngài trực tiếp mời gọi các môn đệ và mỗi người chúng ta hãy học theo Ngài để sống hiền lành và khiêm nhường. Điều đó, chứng tỏ, đức tính hiền lành và khiêm nhường hết sức quan trọng trong đời sống chúng ta.

Vậy, Đức Giêsu sống hiền lành và khiêm nhường như thế nào?

Trước hết, Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã tự hạ mình xuống, làm người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Như thế, Đức Giêsu cũng chấp nhận mang nơi mình sự thấp hèn, yếu đuối, đau khổ của con người. Cụ thể, Tin mừng cho biết Đức Mẹ sinh Ngài trong hoàn cảnh thiếu thốn, rét mướt, bị người đời từ chối (x. Mt 2,7). Sau đó, Ngài sống với Thánh Giuse và Mẹ Maria trong tinh thần khiêm nhường vâng phục (x. Mt 2,51).

Khi ra giảng đạo, Ngài nêu cao tinh thần hiền lành và khiêm nhường. Ngài dạy các môn đệ hãy trở nên như trẻ nhỏ: “Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, các con không được vào nước trời.” (Mt 18,3). Trong bài giảng về hiến chương nước trời, Ngài tuyên bố: “Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.” (Mt 5,4). Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, Đức Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Người đã quý chuộng những kẻ bé mọn và khiêm nhường. Chính Người đã tiết lộ bí mật của Người cho họ trong khi lại giấu không cho kẻ khôn ngoan và thông thái biết những điều ấy (x. Mt 11,25). Rồi, Ngài mời gọi mọi người sống hiền lành và khiêm nhường như Ngài: “Hãy học cùng Ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”(Mt 11,29). Khi dân chúng tôn Ngài lên làm vua, Ngài khiêm nhường không đón nhận như họ tưởng mà trái lại, Ngài lánh lên núi cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha (x. Ga 6,15). Trong bữa tiệc ly, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài đã thể hiện sự khiêm nhường cách tột cùng khi cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Đồng thời, Ngài dạy các môn đệ hãy rửa chân cho nhau (x. Ga 13,14). Trong ngày khải hoàn vào Thành Giê-ru-sa-lem, mặc dầu được dân chúng tung hô, nhưng Ngài vẫn khiêm nhường ngồi trên lưng lừa. Cử chỉ đó đã được tiên tri Isaia báo trước mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất: “Người khiêm tốn ngồi trên lừa con, con của lừa mẹ. Người đã loại bỏ các chiến xa khỏi Ép-ra-im, và ngựa khỏi Giê-ru-sa-lem. Cung tên chiến trận sẽ được phá huỷ. Người sẽ công bố hoà bình cho các dân tộc”(Dcr 9,9-10). Ngài hiền lành khi không kết án người phụ nhữ ngoại tình (x. Ga 8,2-11). Ngài hiền lành như người mục tử đi tìm con chiên lạc (x. Lc 15,3-7). Ngài hiền lành như người cha đợi chờ đứa con đi hoang trở về (x. Lc 15,1-32). Ngài hiền lành khi để cho Giuđa, kẻ phản bội hôn lên má mình và để cho quân dữ bắt trói đem đi (x. Mc 14: 43 -50; Lc 22: 47 -53; Ga 18: 3-11 ). Ngài hiền lành khi không có một phản ứng gì trước cảnh dân chúng nhạo cười hay bị kết án bất công. Đặc biệt, Ngài chấp nhận những đòn roi, chịu đội mạo gai, chịu đóng đinh trên thập giá…tất cả đều thể hiện sự hiền lành và khiêm nhường của Ngài.

Chúng ta không chỉ thấy đức tính hiền lành và khiêm nhường nơi Đức Giêsu mà còn thấy đức tính hiền lành và khiêm nhường nơi Đức Maria và các Thánh.

Nơi Đức Maria: Khi được Thiên thần Gabriel chào “Bà đầy ơn phúc” và cho Mẹ biết Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã thưa với Thiên Thần rằng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền”(Lc 1,38). Rồi Mẹ quy hướng tất cả những gì mình có được về cho Thiên Chúa bằng lời kinh Magnificat (x. Lc 1, 46-55). Từ đó, Mẹ sống một cuộc sống phó thác trọn vẹn trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa bằng việc khiêm nhường chấp nhận mọi đau khổ sẽ đến với mình: sinh con trong hang đá nghèo hèn; đem con trốn sang Ai-cập; lạc mất con trong đền thờ; thấy con vác thập giá và cuối cùng là chấp nhận đứng nhìn Con yêu dấu chết tất tưởi trên thập giá trước những kẻ nhạo báng Người.

Hầu hết các thánh cũng đã sống hiền lành và khiêm nhường. Xin được đơn cử một số các thánh sau đây:

Thánh Giuse: Khi biết Mẹ có thai, nhưng vì bản tính hiền lành và khiêm nhường nên Ngài không tố cáo Mẹ mà dự định âm thầm bỏ trốn. Ngài khiêm nhường vâng lời đón Đức Mẹ về nhà làm vợ mình, đưa Đức Giêsu trốn sang Ai-cập và lại đưa Mẹ con về cho dù lệnh truyền đó chỉ là lời của Thiên thần trong giấc mơ. Suốt cuộc đời của Thánh Giuse, Ngài đã sống hiền lành và khiêm nhường trong tinh thần phục vụ chương trình của Thiên Chúa nơi Đức Maria và Chúa Giêsu một cách âm thầm.

Thánh Gioan Tẩy Giả: Khi được dân chúng ca tụng vì tưởng Ngài là Đấng Cứu Thế, là Đấng phải đến, thì Gioan đã khiêm nhường giải thích rằng: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa… Đấng đến sau tôi cao trọng hơn tôi, tôi không xứng đáng để xách dép cho Người” (Lc 1,23-27). Vì biết sứ mạng của mình chỉ là người dọn đường, nên khi Đức Giêsu đến, Thánh Gioan đã âm thầm rút lui : “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).

Thánh Phêrô cũng đã sống rất khiêm nhường. Sự khiêm nhường đó được thể hiện qua những hành động sau đây: Khi Ngài vâng lời thả lưới và đánh bắt được rất nhiều cá (x. Lc 5, 1-11). Khi thấy “mẻ cá lạ lùng”, Phêrô đến sụp lạy dưới chân Chúa và thưa Người rằng: “Lạy Thầy, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Khi lún xuống nước, ông kêu xin Chúa rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con” (Lc 14,30). Sau khi chối Thầy ba lần, ông đã ra ngoài ăn năn khóc lóc (x. Lc 22,62). Khi chịu chết tử đạo, ông xin được đóng đinh đầu lộn ngược xuống đất vì nghĩ mình không xứng đáng để nên giống Thầy mình. Như vậy, Phêrô là một vị thánh hết sức khiêm nhường.

Thực tế trong xã hội hôm nay, chúng ta thấy đâu đâu cũng có bạo lực xảy ra: nơi gia đình, nơi trường học, nơi các cơ quan công quyền, ngoài xã hội. Người ta vẫn cứ muốn giải quyết mọi thứ bằng bạo lực. Vì thế, đức tính hiền lành và khiêm nhường hầu như vắng bóng, không được chú trọng, không được để ý lưu tâm. Không những thế, nhiều khi người ta còn cho rằng: người sống hiền lành là người đần độn, hèn nhát; người sống khiêm nhường thì được được coi là tự ti, rụt rè, biếng nhác. 

Nhưng xét về phương diện tu đức và dưới nhãn quan của Kitô giáo, thì hiền lành và khiêm nhường luôn là hai đức tính nền tảng cần thiết cho bản thân, gia đình, Giáo hội và xã hội. Vì khiêm nhường là mẹ của các nhân đức khác, là nền móng để xây dựng đời sống thiêng liêng. Người sống hiền lành thường để lại nhiều điều tốt cho hậu thế, như người ta nói: “Cha mẹ hiền lành để đức cho con.” Người hiền lành và khiêm nhường luôn biết sống hoà thuận với tất cả mọi người, coi trọng mọi người, không phân biệt sang hèn giàu nghèo. Người khiêm nhường và hiền lành thì không làm hại người khác. Người hiền lành và khiêm nhường luôn đem lại niềm vui và bình an cho mọi người. Không những thế, người hiền lành và khiêm nhường luôn được Chúa ban ơn (x. 1 Pr 5,5). Trong cuốn Nhật Ký về Lòng Thương Xót của Thánh Nữ Faustina Kowalska, Chúa Giêsu nói với Thánh Nữ về nhân đức hiền lành và khiêm nhường rằng: “Con hãy đem đến Ta các tâm hồn hiền hòa, khiêm tốn và những tâm hồn trẻ thơ. Hãy nhận chìm họ vào đại dương Thương Xót của Ta. Những tâm hồn này giống Trái Tim hơn hết. Họ tăng nghị lực cho Ta để Ta bước vào cơn hấp hối đau thương. Ta thấy họ như những Thiên Thần trần thế, chầu chực quanh các bàn thờ của Ta. Ta đổ tràn trên họ những dòng thác lũ ân sủng. Duy chỉ những tâm hồn khiêm nhường mới có khả năng đón nhận ân huệ của Ta. Ta đặc biệt tín nhiệm nơi những tâm hồn đó.” 

Qua những trình bày trên đây chúng ta thấy Đức Giêsu, Đức Mẹ và các thánh đã quý trọng đức hiền lành và khiêm nhường. Mặt khác, người hiền lành và khiêm nhường mang lại nhiều lợi ích cho gia đình, xã hội và được Chúa thương ban ơn. Vậy, chúng ta hãy cố gắng học tập đức tính hiền lành và khiêm nhường của Đức Giêsu, Đức Mẹ và các thánh. Để được như vậy, trong những sinh hoạt thường ngày, qua các mối tương quan trong gia đình, ngoài xã hội chúng ta hãy dẹp bỏ tính nóng nảy để  tập sống hiền lành và khiêm nhường.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con biết thực hiện lời dạy và gương sáng của Chúa để sống hiền lành và khiêm nhường, hầu mang lại sự bình an cho gia đình, Giáo hội và xã hôi. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN. NĂM A

Lm Giuse Nguyễn Văn Nam

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta Đức Giêsu là Đấng cứu độ khiêm nhường vàhiền hậu đối với mọi người, đặc biệt là những người bé nhỏ hèn mọn là những người được ưu tiên loan báo Tin mừng:

“Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn…”

Lần đầu tiên trong cuộc đời loan báo Tin mừng cứu độ, Đức Giêsu tràn đầy Chúa Thánh Thần và dâng lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa Cha với tâm tình hân hoan phấn khởi vì những người nghèo khổ, bé nhỏ đón nhận Tin mừng nước Trời. Đức Giêsu còn xác định đó là ý muốn của Thiên Chúa Cha: “Đó là đẹp ý Cha”.

Đức Giêsu sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo để chia sẻ thân phận làm người với đa số nhân loại chúng ta. Thế giới hôm nay 80% là người nghèo. Thời gian 33 năm sống trên trần gian, Đức Giêsu đã lăn lóc với người nghèo khổ, tiếp xúc, gần gũi, giúp đỡ, chữa lành bệnh tật, an ủi những con người khổ đau… nhất là loan báo mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé nhỏ trong xã hội. Điều này minh chứng Đức Giêsu là một người “có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

Thông cảm với con người nghèo khổ, bé nhỏ trong xã hội. Đức Giêsu đã kêu gọi họ đến với Ngài, để Ngài nâng đỡ, bồi dưỡng, ủi an: “Tất cả những ai đang vất vả, mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng”.

Xã hội hôm nay còn bất ổn, hận thù, chia rẽ, ghen ghét là vì con người chưa sống bài học Chúa dạy: “Hiền lành và khiêm nhường trong long”.

Đức Giêsu là mẫu gương tuyệt hảo về sự hiền lành và khiêm tốn:

– Ngài yêu thương người tội lỗi, những người bé nhỏ nghèo hèn, sẵn sàng tha thứ cho người hại mình, lấy tình thương đáp lại hận thù, lấy ân báo oán: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm không biết”.

– Ngài quan tâm đặc biệt đến việc loan báo Tin mừng cho người nghèo hèn, bé nhỏ trong xã hội “Con ngợi khen Cha, đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những kẻ bé nhỏ”.

– Ngài kêu gọi những ai khó nhọc hãy đến với Ngài đẻ Ngài an ủi, bồi dưỡng được an nghỉ và hãy mang lấy ách của Chúa, ách chỉ là lề luật, đó là luật yêu thương. Luật yêu thương sẽ giúp con người được bình an, vui tươi và hạnh phúc. Mang ách của Chúa là đi theo Chúa trên con đường tình thương phục vụ tha nhân.

– Đức Giêsu còn là mẫu gương rất mực khiêm tốn: Ngài đã tự hạ và vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Khiêm nhường là nhìn nhận sự thật về mình và về an hem. Phải có ý chí mạnh, nghị lực và tinh thần cương quyết mới có sự khiêm nhường thực sự để không bao giờ kiêu căng, tự mãn, khinh khi an hem… mà biết sống tương quan tốt với an hem trong tinh thần huynh đệ bác ái.

Thánh Augustinô đã nói: “Kiêu ngạo thay đổi các thiên thần thành ma quỷ. Khiêm nhường làm cho con người thành thiên thần”.

Sự khiêm nhường hay kiêu ngạo sẽ quyết định chúng ta là con cái Thiên Chúa hay con cái thế gian.

Thánh Phêrô khuyên dạy chúng ta: “Anh em hãy lấy đức khiêm tốn mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5, 5).

Khiêm nhường là nhìn nhận sự thật về mình và an hem. Ông Samuel Moorse phát minh ra điện tín, nhận được rất nhiều giải thưởng cao quý, nhưng ông luôn cho mình là bất xứng với những lời khen tặng. Ông đã nói: “Tôi được hân hạn đóng góp vào nền văn minh của nhân loại, nhưng không phải vì tôi tài giỏi hơn kẻ khác, mà chỉ là vì Thiên Chúa muốn ban quà tặng này cho nhân loại, nên khi đến lúc Ngài muốn tỏ bí mật này cho con người, Ngài đã thương bày tỏ cho tôi”.

Biết nhìn nhận tất cả những gì mình có là do Thiên Chúa ban, chứ không phải do công lao, tài ba của mình. Đó mới là người khiêm nhường thật.

Xin Chúa cho chúng con biết sống hiền lành và khiêm nhường để chúng con đem an hòa, niềm vui cho mọi người trong xã hội và trong gia đình.

Về mục lục

.

HÃY MANG LẤY “ÁCH” VÀ “GÁNH” CỦA CHÚA GIÊSU

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong cuộc sống hiện nay, khoa học phát triển, con người được nhàn nhã hơn. Nhận định đó không sai. Tuy nhiên, nó chỉ đúng với những gì là thực dụng, hay đúng trong lãnh vực khoa học, còn trong lãnh vực tinh thần thì vẫn còn đó những buồn sầu, lo lắng; vẫn còn đó những đau khổ tinh thần; và vẫn còn đó những điều bất bình an khi con người có nhiều thứ phục vụ cho thân xác và chất lượng hiện sinh của cuộc sống. Câu hỏi được đặt ra là: làm sao cho cuộc sống này được hạnh phúc và bình an thực sự?

  1. Những gánh nặng cuộc đời

Trước khi nói đến sự bình an, chúng ta cùng nhau tìm hiểu những gánh nặng của con người trong cuộc sống hiện nay.

Những gánh nặng đó là:

Gánh nặng của những quá khứ với biết bao nhiêu điều chưa làm được;

Gánh nặng của hiện tại với biết bao bất công;

Gánh nặng của ham muốn, tham lam mà không đạt được;

Gánh nặng của những nghi ngờ, bon chen, hà tiện, ganh tỵ;

Gánh nặng của những khát vọng thống lĩnh xã hội bằng chiến tranh;

Gánh nặng của những người bị áp bức bạo tàn;

Gánh nặng của những kỳ thị chủng tộc và loại trừ;

Gánh nặng khi mang trên mình những căn bệnh nguy hiểm của thế kỷ;

Gánh nặng của những thất vọng, lo âu;

Khi mang trên mình những gánh nặng về thể lý hay tinh thần như thế, con người cần phải được nghỉ ngơi, bồi dưỡng để đem lại bình an. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể đạt được khi chúng ta mang lấy “ách” và “gánh” của Đức Giêsu, và hãy học cùng Đức Giêsu, vì Ngài “hiền hậu” và “khiêm nhường” trong lòng.

  1. Ý nghĩa sự “hiền hậu” và “khiêm nhường” theo tinh thần Tin Mừng

Khi nói đến sự“hiền hậu”, người ta nghĩ ngay đến những đặc tính của nó như: dịu dàng, nhẹ nhàng, ngọt ngào, không thô bạo, cứng cỏi, cộc cằn…;“hiền hậu” còn có nghĩa là êm ái, hòa nhã, yêu thương, nhân hậu, thông cảm, tôn trọng và khoan dung; luôn nghĩ tốt và hành động tốt cho người khác. Sẵn sàng đối thoại, không đối đầu và chấp nhận sửa sai.

Còn khi nói đến sự “khiêm tốn”, chúng ta sẵn sàng xuống thấp, ở dưới hay chấp nhận bị hạ xuống, biết sự giới hạn của mình để sống khiêm tốn, sống thật với bản chất, khả năng của mình, không thêu dệt quá những gì mình có.

  1. Hãy học với Đức Giêsu vì Ngài “hiền hậu” và “khiêm nhường”

Hôm nay, Đức Giêsu lên tiếng mời gọi các môn đệ hãy mang lấy “ách” và“gánh” của Ngài, bởi vì Ngài có lòng “hiền hậu” và “khiêm nhường” trong lòng.

Thật vậy, hễ mang “ách” của ai là học với người đó; còn mang “gánh” của ai thì được mời gọi giữ những điều luật của người đó đang giữ hay điều luật của chính người đó ban hành. Đức Giêsu mời gọi mang lấy “ách” “gánh” của Mình, Ngài muốn chúng ta phải sống“hiền hậu”“khiêm nhường”, “êm ái”, “nhẹ nhàng” và giữ “luật yêu thương”.

Khi mang lấy “ách” và “gánh” của Đức Giêsu, chúng ta sẽ được hạnh phúc và bình an, vì “ách” của Đức Giêsu thì êm ái và “gánh ” của Ngài thì nhẹ nhàng. Đến với và mang lấy tinh thần của Đức Giêsu, chúng ta sẽ được nghỉ ngơi lại sức vì có ơn Chúa phù trợ, chở che. Khi ấy, tinh thần của chúng ta sẽ hạnh phúc và an vui, dẫu có gặp phải những điều khó khăn, thử thách.

Khi mang trong mình những “ách” và “gánh” của Đức Giêsu, ấy là lúc chúng ta đang sống trong quỹ đạo của tình yêu và làm cho tình yêu đó được lên ngôi chứ không phải nhu nhược, nhát đảm, hèn hạ, mù quáng, hay lầm lạc…

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được kiên trì trung thành mang lấy “ách” và “gánh” của Chúa để chúng con được bình an. Amen.

Về mục lục

.

TRI ÂN

Trầm Thiên Thu

Tri ân là một trong những cảm xúc mạnh mẽ nhất mà con người khả dĩ có được trong cuộc sống hàng ngày của mình. Động thái tri ân liên quan việc đền ơn đáp nghĩa bằng một cách nào đó. Cựu nghị sĩ Hạ viện Les Brown (sinh 1945, Hoa Kỳ) có cách ví von đơn giản mà thú vị: “Người ngồi trong bóng râm ngày hôm nay là nhờ đã trồng cây từ lâu về trước”. Người trồng đó có thể là chính mình hoặc một người nào đó, thường là người khác đã trồng cho chúng ta được hưởng.

Tri ân là biết ơn, trái ngược với vô ơn. Con người chẳng có gì, tất cả đều do Chúa ban, nhưng con người lại làm toán trừ rất nhanh: vô ơn! Mười người cùi được Chúa Giêsu chữa lành, nhưng chỉ có một người quay lại để cảm ơn, người đó là người ngoại giáo (Lc 17:11-19); bao người được Chúa Giêsu thi ân, nhưng không có ai giúp Ngài khi Ngài phải vác Thập Giá, chỉ có một người ngoại đã làm điều đó: ông Si-môn, người Ky-rê-nê (Mt 17:32; Mc 15:21; Lc 23:26); không ai dám lên tiếng bênh vực Chúa Giêsu, chỉ có tướng cướp Dimas, người chịu đóng đinh với Ngài (Lc 23:40-41). Chúng ta vô cùng xấu hổ, thế mà vẫn ra vẻ “ta đây”. Thật tồi tệ!

Thi sĩ Ralph Waldo Emerson (1803-1882, Hoa Kỳ) có nhận định khá độc đáo: “Ai trong đời rồi cũng phải cảm ơn những khiếm khuyết của mình”. Sai lầm mà phải cảm ơn ư? Hãy nghe Tuân Tử lý giải: “Người chê ta mà chê đúng, đó là thầy ta; người khen ta mà khen đúng, đó là bạn ta; những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy”. Một dạng triết lý sống không phải ai cũng có thể hiểu ra và chấp nhận.

Cảm Ơn và Xin Lỗi là hai động thái cần thiết trong cuộc sống thường nhật, trong mọi lĩnh vực. Cảm ơn là tạ ơn, là cảm tạ, cảm ơn, biết ơn, nhớ ơn – tức là TRI ÂN. Sống trên đời, không ai là một ốc đảo, nghĩa là luôn có mối liên đới với người khác, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không ai lại không thọ ân của người khác, đơn giản nhất là nhờ ông bà, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, thầy cô, bạn bè,… Tục ngữ nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là tiền nhân muốn nhắc nhở chúng ta về tâm tình tri ân.

Tri ân là biết tự trọng, biết tôn trọng người khác, là người có giáo dưỡng, là người khiêm tốn và trọng chữ tín. Trong cuốn sách “Những Lời Khai Thị Vàng Ngọc”, Tịnh Không Pháp Sư viết: “Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ; hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn; hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập; hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta; hãy biết ơn những người lường gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta; hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta; hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được kiên định và thành tựu”. Những ý tưởng thật là cao thượng, ai sống đúng được như vậy thì đúng là vĩ nhân rồi!

Là một phàm nhân mà biết được như vậy thì thật đáng quý, đáng trân trọng. Có lẽ vì thế mà chúng ta không còn ngạc nhiên, và có thể hiểu được lý do Chúa Giêsu bảo chúng ta phải yêu kẻ thù: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28).

Luật yêu của Chúa Giêsu khác Cựu Ước – tương đương mà dị biệt, có vẻ “ngược đời” lắm, nhưng đó lại là nghịch-lý-thuận. Cựu Luật dựa trên nền tảng công bằng: “Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, mạng đền mạng” (Xh 21:24; Lv 24:20; Đnl 19:21). Đó là luật báo phục tương xứng. Thế là “huề cả làng”, nhưng như vậy còn ở mức tiêu cực. Còn Tân Luật dựa trên nền tảng yêu thương, mà yêu thương thì phải tha thứ. Rất lô-gích. Tân Luật chủ động và tích cực. Quả thật, hiểu cho sâu xa thì ai cũng là ân nhân của chúng ta, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nghĩa là chúng ta luôn phải biết ơn người khác. Đối với Thiên Chúa, chúng ta càng phải biết tạ ơn nhiều hơn và tạ ơn không ngừng. Tạ ơn phải được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như một điệp khúc của bài trường ca vậy!

Thánh Vịnh gia đã tự vấn và tự trả lời: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116 [114-115]:12-13). Tạ ơn Thiên Chúa là bổn phận của chúng ta, và công việc chúng ta thể hiện đó chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn cứu độ cho chính chúng ta. Kỳ diệu quá!

Khi đề cập động thái tạ ơn, chúng ta có thể nhớ lại chuyện mười người phong hủi, chuyện thật chứ không là dụ ngôn hoặc ngụ ngôn. Cả mười người đều được sạch, nhưng chỉ có một người ngoại bang trở lại tạ ơn Chúa Giêsu (Lc 17:11-19). Như vậy, chắc chắn chín người kia là “đạo gốc”, chính đạo chứ không tà đạo, thế nhưng người ta vẫn “vô tư” vô ơn vì có lẽ tưởng mình, là “số dzách”, là “number one”. Ái chà, “ngon” dữ nghen! Câu chuyện này vừa “nhắc khéo” vừa “nguyền rủa” chúng ta về việc vô ơn bội nghĩa đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Câu chuyện này cũng phần nào liên quan thánh ngôn của Chúa Giêsu khi Ngài nói về người môn đệ chân chính: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21). Có những người nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ, làm nhiều phép lạ,… nhưng Chúa Giêsu lại không hề biết họ, và Ngài “phang” thẳng thừng: “Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7:23). Họ làm những việc “đạo đức tốt lành” mà Chúa Giêsu lại bảo là “điều gian ác”. Tại sao? Bởi vì giả hình và khoe mẽ trước bàn dân thiên hạ, làm lấy tiếng khen, lấy bằng tri ân, lấy danh dự khi tên mình được khắc vào bia đá,… Coi chừng “ý tứ” và “cách làm”, nếu không thì chúng ta rất có thể ở trong đám người ấy, và nếu như thế thì thật khốn nạn biết bao!

Còn những người khiêm nhường, họ biết mình và biết người, họ vui vẻ nhớ ơn chứ không ưu sầu. Thánh Vịnh gia lên tiếng mời gọi: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9:9). Lý do để chúng ta vui mừng rất rõ ràng.

Thiên Chúa đến với chúng ta bằng nhiều cách, dạng phổ biến nhất là Hồng Ân. Thánh Ân của Ngài cũng lạ “phép lạ” luôn xảy ra trong cuộc đời hằng ngày của mỗi chúng ta – đơn giản mà cần thiết là không khí. Không cần phải rỉ tai nhau đi tìm “sự lạ” ở nơi kia, chỗ nọ. Phép lạ Thánh Thể hằng ngày không ngừng xảy ra ngay tại nhà thờ của giáo xứ hoặc cộng đoàn của mình, còn phải đi đâu mà tìm? Vì thế, chúng ta không thể không biết tạ ơn Ngài. Ngài còn đến với chúng ta qua từng người chúng ta gặp hằng ngày, và rồi chúng ta cũng phải biết ơn những người chúng ta gặp – dù họ là ai, bởi vì ai cũng có cái để chúng ta học hỏi – nếu họ đúng thì mình theo, nếu họ sai thì mình tránh. Lợi cả đôi đàng!

Rất nhiều thứ để chúng ta phải tri ân. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài là Đấng cứu thoát chúng ta khỏi kẻ thù và làm cho chúng ta được sống bình an và an cư lạc nghiệp: “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Dcr 9:10). Vả lại, “chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3:27). Vậy thì tại sao không thể hiện lòng tri ân? Có những thứ người ta gọi là ngẫu nhiên hoặc tình cờ, nhưng thực ra đó là ý Chúa quan phòng, cho phép chúng ta gặp điều này hoặc sự nọ.

Bài ca nguyện tuyệt vời và cần thiết là Điệp Khúc Tạ Ơn. Tình Khúc này phải được lặp đi lặp lại hằng ngày trong suốt cuộc đời: “Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” (Tv 145:1-2). Thiên Chúa vui lòng thì có lợi cho chúng ta vô cùng. Tuy nhiên, chúc tụng Chúa khi cuộc đời chúng ta xuôi chèo mát mái thì không có gì đáng nói, nhưng thật “đáng nói” nếu cuộc đời chúng ta luôn gặp trắc trở, số kiếp luôn lận đận, gặp xui chứ chẳng hên, toàn là “họa vô đơn chí”.

Và Thánh Gióp là tấm gương sáng chói điển hình để chúng ta soi vào. Sau khi bị mất tất cả, từ tài sản tới con cái, bản thân ông cũng bị bệnh tật, mọi người đều xa tránh, nhưng ông vẫn tận trung với Thiên Chúa. Ông minh định rạch ròi: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Cả đời chúng ta cũng không thể so sánh với một góc nhỏ của Thánh Gióp. Có xách dép cho ông thì cũng chỉ đi xa xa thôi, mấy ai đủ “trình độ” mà đi gần ông Gióp. Có nhiều người đã nên thánh nhờ “xách dép” theo ông Gióp. Đau khổ (tinh thần hoặc thể lý) là “visa” để nên thánh đấy!

Ôi, đức tin của Thánh Gióp lớn lao quá! Nhưng niềm tin đó không mơ hồ hoặc ảo tưởng, mà hoàn toàn chính xác, đúng như Thánh Vịnh gia nói: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang” (Tv 145:8-12).

Chẳng có ai khác hoặc thần linh nào khác, mà chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, Ngài “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1 Sm 2:6; Kn 16:13), Ngài “bắt phải nghèo và cho giàu có, hạ xuống thấp và nhắc lên cao” (1 Sm 2:6-7). Nghe có vẻ “oải” quá! Nhưng không phải vậy đâu. Ngài vẫn “thành tín trong mọi lời Ngài phán, và đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quỵ ngã, Ngài đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên” (Tv 145:13-14). Thánh Vịnh gia đã trải nghiệm và chân thành tạ ơn: “Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống” (Tv 30:4). Đúng là Hồng Ân chồng lên Hồng Ân nhờ đức tin quyện vào đức mến và đức cậy. Quả thật, tri ân Thiên Chúa là điều hoàn toàn hợp lý!

Tuy nhiên, trong cuộc sống của mỗi chúng ta lại thường xuyên có động thái trái ngược, biết mà không làm. Thế mới chết! Do đó, Chúa Giêsu đã phải cảnh báo: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41; Mc 14:38). Thân xác thật nặng nề, nặng hơn đá đeo! Chúng ta vẫn lòng chai dạ đá, “máu” lắm, bởi vì chỉ “ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối” (Tv 4:3).

Với kinh nghiệm “xương máu”, Thánh Phaolô chia sẻ: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gl 5:17). Thần Khí Chúa rất quan trọng trong đời sống chúng ta, vì chính Chúa Thánh Thần đã tác động và biến đổi chúng ta, như Thánh Phaolô nói: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô” (Rm 8:9).

Một cách cặn kẽ hơn, Thánh Phaolô giải thích: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới. Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:11-13). Quả thật, chúng ta luôn là “con nợ” của Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng mặc dù là “con nợ” cũng vẫn phải biết ơn, bởi vì mắc nợ cũng là một dạng mang ơn vậy. Thọ ân thì phải tri ân. Lẽ tất nhiên thôi!

Đối với Thiên Chúa, Hồng Ân lớn nhất mà chúng ta mắc nợ Chúa Giêsu, và phải tri ân Ngài, đó là ơn cứu tử của Ngài dành cho chúng ta, điều mà chính Chúa Giêsu đã minh định: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:15). Vâng, chính cái chết của Ngài là Hồng Ân cao cả, không gì sánh bằng, và chẳng bao giờ chúng ta có thể đền ơn đáp nghĩa cho cân xứng. Nhưng Ngài không đòi hỏi gì nhiều ở chúng ta, mà Ngài chỉ cần chúng ta biết tin yêu Ngài và biết cảm tạ Ngài trong mọi hoàn cảnh – dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hên hay xui. Điều kiện có khó gì đâu, thế mà chúng ta vẫn chỉ “hứa lèo”, có máu di truyền của Chú Cuội, hứa nhiều mà giữ chẳng bao nhiêu. Thiết tưởng cũng nên tự trách: “Tôi tồi tệ thật!”.

Về động thái tri ân, chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:25-26). Ngài là Sư Phụ hiền lành và khiêm nhường (Mt 11:29) nên Ngài chỉ thích những con người “hèn mọn” mà thôi. Chắc chắn là thế!

Sau khi dâng lời tạ ơn, Chúa Giêsu cho biết: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11:27). Ai khiêm nhường thì Ngài sẽ mặc khải cho những điều bí ẩn. Chắc chắn như vậy. Và Ngài luôn mời gọi mọi người, không trừ ai: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30).

Quả thật, ách của Ngài là ách êm ái, gánh của Ngài là gánh nhẹ nhàng. Không ai lại không vất vả và mang gánh nặng nề, không cách này thì cách khác, dù theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen, có nghĩa là không ai lại không cần đến Ngài để được Ngài nâng đỡ. Cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta phải “gồng mình” mà chịu đựng, thậm chí có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi và hầu như kiệt sức. Cái ách thô ráp và cái gánh nặng trĩu ở đâu cũng có, dù trong gia đình hoặc cộng đồng tu trì. Nhưng có lẽ chúng ta chưa thực sự kề vai vào gánh vác Ách và Gánh của Chúa Giêsu nên chúng ta vẫn thường “than” đủ thứ, “thở”đủ điều, và “trách” đủ kiểu. Thế mới biết phàm nhân yếu hèn và khốn nạn quá sức, vậy mà vẫn “chảnh” lắm, lúc nào cũng chỉ rình nổi loạn mà thôi!

Đối với mỗi chúng ta, được sinh ra làm người là một đại ân, được có vóc dáng và tâm trí bình thường lại là một đặc ân nữa, được lành lặn và khỏe mạnh lại thêm một đại ân nữa. Hôn thế nữa, chúng ta lại được Chúa Giêsu cứu độ, đó là một đặc ân cao cả khác nữa. Ơn chồng lên ơn. Quá nhiều. Như vậy, chúc tụng và tạ ơn là một trong các bổn phận ưu tiên hàng đầu mà chúng ta phải thực hiện đối với Thiên Chúa. Có nhiều cách thể hiện, một cách đơn giản là tránh tội: “Hãy run sợ, và đừng phạm tội nữa, trên giường nằm, suy nghĩ và lặng thinh” (Tv 4:5). Một cách khác cũng đơn giản là ca hát: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5:19).

Tương tự, con cái không thể nào trả hiếu cho cha mẹ, và cha mẹ cũng không đòi hỏi gì nhiều, chỉ cần con cái ngoan ngoãn là trả hiếu rồi.

Thật chí lý khi ca dao Việt Nam nhắn nhủ: “Ai mà phụ nghĩa quên công / Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”. Quả thật, lòng biết ơn rất quan trọng, dù chúng ta đang đứng trên đỉnh núi Ta-bor hoặc Can-vê. Thật dễ tạ ơn khi phấn khởi đứng trên đỉnh Ta-bor, nhưng rất khó tạ ơn khi ủ rũ sầu thảm trên đỉnh Can-vê. Hằng ngày, một lời cảm ơn rất đơn giản nhưng lại rất thường bị lãng quên! Cuộc đời chúng ta phải là bản “trường ca tri ân” vô tận, đối với ai cũng vậy mà thôi. Trong đó có những “nốt tình” khác nhau về trường độ và cao độ, mỗi “nốt” có vị trí khác nhau nhưng vẫn luôn hài hòa để tạo thành bản tổng phổ hoàn chỉnh để ca tụng Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa dành cho chính mình, cho gia đình, và cho tha nhân.

Tri ân có thể là đền ơn. Việc đền ơn nên luôn được sử dụng trong cách hành xử. Theo nghiên cứu tâm lý, người ta cảm thấy hạnh phúc hơn nếu biết ơn về những điều tích cực trong cuộc sống (tức là những gì mình có) hơn là cứ lo lắng về những gì mình không có.

Nhà từ thiện William Clement Stone (1902-2002, Hoa Kỳ) đặt vấn đề: “Nếu thực sự có lòng biết ơn, bạn sẽ làm gì? Hãy chia sẻ với mọi người”. Còn nữ tác giả Betty Smith (1896-1972, Hoa Kỳ) xác định: “Quan tâm tới mọi việc xung quanh cho dù đó là gặp lần đầu hay lần cuối, và rồi cuộc sống của bạn sẽ trở nên hạnh phúc”. Cuộc sống vốn dĩ nhiêu khê vì bao nỗi khổ, thế nên hãy đơn giản hóa và đi xuyên qua đau khổ để gặp được hạnh phúc ngay trong tâm hồn của mình, và như thế sẽ gặp được Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Hạnh Phúc.

Lạy Thiên Chúa, con thật tồi tệ, bởi vì đã bao lần con vô ơn bội nghĩa với Ngài và với tha nhân. Con thành tâm xin lỗi Ngài. Xin ban thêm cho con được dồi dào ba đức đối thần và các đức đối nhân để con thanh thản bước đi khi vác thập giá hằng ngày, xin giúp con đủ sức lên tới đỉnh Can-vê. Xin giúp con thể hiện tình yêu thương và tâm tình tri ân Ngài qua mọi người để con khả dĩ hoàn thiện như Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

SỰ THÁCH ĐỐ CỦA ĐỨC TIN

P. Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn, bạo lực là một sự “cuồng phong” của sự dữ, nó hất tung tất cả những gì nó muốn, bất chấp những định luật, hệ lụy, thường dấy lên bởi sự đối kháng, những tư tưởng ngạo mạn , bất chấp luân lý, đạo đức, tức tình người, nhân tính, chỉ biết trục lợi để thỏa mãn tham vọng ngông cuồng. Mặc nhiên, bạo lực là động cơ của satan, luôn chống lại sự thiện hảo.

Như vậy, bao lực là một chướng ngại vật trên hành trinh tiến về Nước Trời, là điều đối nghịch với Đức Tin Công giáo.

Mấy ngày qua, Đan viện Thiên An Huế dường như suy kiệt với sự đương đầu với nạn “bạo lực”, mà dường như chính quyền làm ngơ. Đây không phải vấn đề của riêng ai, mà là tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội bị “thui chột”. Chính quyền nắm quyền phải tuân thủ luật pháp, như vậy mới bảo toàn an ninh Quốc Gia, người dân mới chấp hành trong tuân phục. Các đan sĩ là những người tu hành, họ kế thừa những gì tiền nhân để lại, có trách nhiệm bảo quản tài sản là đất đai, chính phủ có trách nhiệm tôn trọng và công nhận những gì là tài sản của họ . Họ là những người đang ngày đêm làm lợi cho xã hội, vì họ là người của Giáo Hội. Đất đai của họ là mồ hôi, công sức được gây dựng từ bao đời tu sĩ, chứ không nghiễm nhiên một sớm một chiều mà có được. Họ là những công dân lao động cần cù, đối với giáo hội , họ cầu nguyện là lao động tâm linh, mài dũa đức tin hằng ngày, mặc nhiên họ sống thành cộng đoàn để cầu nguyện và làm việc thiện. Đối với xã hội công việc lao động hằng ngày của họ cũng góp phần làm cho bộ mặt xã hội mỗi ngày tốt đẹp hơn.

Thiết nghĩ, phần đất mà họ đành “ngậm ngùi” dâng hiến trong sự cưỡng chế cho chính quyền gần ½ tổng số đất đai của họ. (50/107 mẫu tây đất ). Trước đây là rừng, họ là những người đầu tiên trồng bạch đàn, tức cây khuynh diệp, gọi là cây tràm, cây để chế ra dầu tràm. Những cây nầy là chứng tích của phần đất đai mà họ đã mua và sử dụng cho đến ngày nay. Nếu nói là cư dân trong vùng đồi Thiên An, thì họ là những người tiên phong, thì tại sao bây giờ vu không cho họ là “chiếm đất” của người dân. Trong vùng núi rừng ấy, cách đây trăm năm làm gì có người ở.

Từ đó, cho thấy đất đai theo Bộ Luật Dân Sự của Việt Nam, thì gọi là “sở hữu toàn dân”, như vậy là bất hợp lý. Vì họ, tu sĩ Thiên An là một cộng đoàn tu trì hợp pháp, thì mặc nhiên, họ cũng là công dân, quyền sở hữu của họ bị xâm chiếm, lập tức chính quyền phải bảo vệ, có đâu để xảy ra 150 người kéo vào đánh đập tu sĩ, nếu ai đúng, ai sai lập tức phải được chính quyền xử lý, không thể có chuyện” MẠNH ĐƯỢC YẾU THUA”, như một cuộc xâm lược của ngoại bang.

150 người kéo vào Đan Viện đánh người là phi pháp, bất kể là ai, làm gi ? Lập tức phải khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu họ là” thường dân” , thì họ phải có tôn giáo của họ, nếu họ là ”cán bộ” thì họ càng phải chịu xử lý đúng mức, như vậy mới gọi là “ sống và làm việc theo hiến Pháp và pháp luật”.

Theo đó, không thể vu khống cho tu sĩ của Đan Viện đi chiếm đất của ai, bởi vì tổng điện tích đất của đan viện là 170 mẫu tây, nhưng đã “ngậm ngùi” chịu mất 50 mẫu tây, trong khi đó với lực lượng và phương tiện, thì các đan sĩ không thể làm cái chuyện “ châu chấu đá xe”. Những người sống đời tu sĩ trong các Đan Viện, đặc biệt là Đan Viện Thiên An, chính là những con người sống lý tưởng “XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”  nhất,bởi vì, họ sống cho cộng đoàn và vì cộng đoàn nhất. Vì một cộng đoàn tu trì nào cũng góp phần làm nên một “ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” , nếu đổi lại, như họ không đi tu, mà trở thành  những “tên cướp “ thì thật bất hạnh cho xã hội biết bao! Một xã hội có dân chủ, Đất Nước có chủ quyền thì tại sao lại có chuyện 150 vi phạm pháp luật như vậy. Vì Luật Cư Trú có ghi : “kẻ nào vào nhà người khác, mà không được sự đồng ý của họ ( chủ nhà) thì vi phạm pháp luật”. Theo đó, nếu 150 người kia là tu sĩ, thì chắc chắn họ không hành động như vậy. Vì vậy, 150 người không phải là tu sĩ, thì gây nguy hiểm cho xã hội biết bao !

Trở lại Trang Tin Mừng hôm nay, (Mt 11, 25 -30), chúng ta thấy Lời Giáo Huấn của Chúa Giêsu quả là “Lời Thách đố cho Đức Tin Công giáo”. Vì, Chúa nói :” Anh em hãy mang lấy ách của Tôi, và học cùng Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghĩ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Tôi êm ái, và gánh Tôi nhẹ nhàng” ( c 29 -30).

Như vậy, nỗi oan trái mà cộng đoàn đan sĩ Đan Viện Thiên An Huế gánh chịu trong mấy ngày vừa qua và còn kéo dài nữa là một sự thách đố đối với Đức Tin Công giáo.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con học cùng Chúa, vì Chúa Hiền hậu và khiêm nhường. Trước những bất công của xã hội, những người bước theo Chúa ngày càng cố gắng xây dựng, nhưng, nếu cứ lui bước trước sự tấn công của sự dữ, thì cộng đoàn đan sĩ Đan viện Thiên An, sẽ trở nên một cộng đoàn khất thực đúng nghĩa, vì nếu tu mà không còn phương tiện mưu sinh, thì làm sao tồn tại. Xin Chúa thương ban cho cộng đoàn Đan Viện Thiên An một giải pháp hữu lý của Chúa, để ngõ hầu họ được tồn tại trong tình yêu của Chúa, hầu phụng thờ Ngài trong ơn gọi Đan Tu Biển Đức Thiên An./. Amen

Qua phần chia sẻ lời Chúa hôm nay, xin hiệp thông cầu nguyện cho những ai đang gặp hoạn nạn.

Về mục lục

.

HỌC CÙNG GIÊSU

Bông hồng nhỏ

Hiểu về cha, đó là mong ước của người làm con. Con được cha hiểu cũng là một hạnh phúc lớn lao. Cha con hiểu nhau cuộc sống sẽ thuận hòa và ngập tràn hạnh phúc. Có những bất đồng trong quan hệ cha con làm cho tình cha con bị rạn nứt, tạo nên một khoảng cách vô hình khiến cha và con không thể xích lại gần nhau được.

Hiểu để yêu mến, đó là điều rất cần thiết trong bất kỳ mối quan hệ  nào. Có một mối tình phụ tử tuyệt đẹp, là khuôn mẫu cho mọi thời đại, đó là tình yêu Chúa Cha dành cho Chúa Con và Chúa Con dành cho Chúa Cha. Chúa Giêsu mặc khải về Chúa Cha cách trọn vẹn: Một Thiên Chúa giàu lòng xót thương. “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi.” ( Mt 11, 27). Giêsu hiểu và yêu Cha, Ngài thực hiện công trình Cha trao, “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự.” ( Pl 2, 8). Chúa Giêsu đọc ý Chúa Cha, hiểu Cha và yêu Cha hết lòng. Khi nhìn ngắm mẫu gương của Giêsu, ta học hỏi được điều gì? Đâu là điều đẹp ý Chúa Cha, chúng ta hãy mau mắn thực hiện. Ta tự hỏi mình rằng: Tôi có khao khát đọc được ý Chúa trong chính cuộc sống của mình không? Đâu là những chạm nhẹ của Thiên Chúa trên cuộc đời tôi? Giêsu mời gọi: “Hãy đến cùng tôi…”. Ta có hồ hởi và hăng say đến bên Giêsu? Chính lúc Giêsu đi bước trước để đến với ta, ta có tỏ ra hiếu khách với Giêsu hay xem Giêsu như người khách lạ mà thờ ơ? Chúa Giêsu ngợi khen Chúa Cha về những điều mà Cha đã mặc khải cho những người bé mọn. Hãy trở thành những người bé mọn trước mặt Thiên Chúa để xứng đáng lãnh nhận mặc khải từ Trời Cao. Thiên Chúa vẫn mặc khải cho những người bé mọn mỗi ngày.

Giêsu luôn mời gọi ta tha thiết: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Học nơi Giêsu sự hiền lành và khiêm nhường: một Thiên Chúa nhập thể, Hài nhi Giêsu nhỏ bé và đơn sơ trong máng cỏ, một Giêsu sống cuộc đời ẩn dật suốt ba mươi năm, một Giêsu miệt mài rao giảng và động lòng thương “bầy chiên không người chăn dắt”, không ngừng trao ban tình thương, và một Giêsu hiến mình trên thập giá, khiêm cung trong Thánh Thể tình yêu. Ta không hiểu thấu được vì sao Giêsu có thể im lặng khi bị phường tội lỗi kết án, sỉ vả và vu khống đủ điều xấu xa; dù bị con người đóng đinh trên thập giá cách nhục nhã nhưng Giêsu vẫn khẩn nài cùng Thiên Chúa cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ lầm chẳng biết.” (Lc 23, 34). Yêu  rồi thì sẽ tin. Giêsu sẽ dạy ta yêu như Ngài đã yêu. Ngài vẫn ở cùng ta mọi ngày cho đến tận thế. Dù ta lỗi tội và bất trung, Ngài vẫn trao ban một tình yêu nhưng không, luôn khát mong ta trở về. Ta đến cùng Giêsu và học cùng Giêsu với thái độ nào? Học cùng Giêsu trong chính tương quan của ta với Thiên Chúa, giữa ta với tha nhân và sau cùng là ta với chính mình. Khi đã được ơn hiểu biết về Thiên Chúa (dù chỉ là một phần nhỏ bé), hiểu về chính mình và hiểu tha nhân để ta bước vào đời với con tim mang nhịp đập của Giêsu. Đâu là những gánh nặng ta đang mang và đâu là những nhọc nhằn đời ta phải chịu? Hãy đến bên Giêsu và mang lấy ách của Giêsu, cái ách của tình yêu để khi yêu rồi, ta sẽ theo Ngài trên con đường Ngài đi. Kề bên lòng Chúa, hồn ta sẽ được nghỉ ngơi và bồi dưỡng.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu! Nguyện xin Chúa ban cho chúng con lòng yêu mến để khi đến với Chúa, chúng con học sự hiền lành và khiêm nhường theo gương Giêsu, Đấng đã đến và ở cùng chúng con. Đến với Chúa, chúng con được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Mọi nhọc nhằn và gánh nặng của cuộc sống sẽ qua đi và chúng con sẽ được ở bên Chúa mãi, chẳng bao giờ Chúa bỏ chúng con mồ côi. Amen.

Về mục lục

.

NƯƠNG TỰA BÊN CHÚA

Anna Cỏ may

Cuộc đời của mỗi người đâu có ai muốn vất vả, đau khổ và bệnh tật, nhưng cái gì đến thì cứ đến, không ai tránh khỏi. Có người vất vả với gia đình, công việc; có người đau khổ với thể xác và tinh thần… Trong lúc như vậy, ai cũng mong có một người chia sẻ hay cùng chung vai gánh vác trách nhiệm. Vợ chồng san sẻ cho nhau, bạn bè giúp đỡ nhau trong học tập, đồng nghiệp cùng hợp tác với nhau. Chúa Giêsu cũng đang cùng chia sẻ với mọi người: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 28).

Đám đông dân chúng đã nhịn ăn ba ngày, họ đang đói. Đứng trước cảnh tượng ấy, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho họ no nê. Chúa Giêsu là một nhà tâm lý, là thầy thuốc và là Đấng nuôi dưỡng linh hồn. Lời Ngài mời gọi thiết tha: “Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11, 29). Chúng ta hãy quyết tâm và tự do đem tất cả sự vất vả của thể xác và gánh nặng nề của tâm hồn đến với Ngài. Ngài sẽ cho chúng ta nghỉ ngơi bồi dưỡng thỏa thuê. Chúng ta đã chẳng biết Ngài có một tâm hồn hiền hậu và khiêm nhường đó sao? Ngài là nguồn suối mát, là đồng cỏ xanh ngát, ở bên Ngài chúng ta được tràn đầy bình an và hạnh phúc.

Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt đẹp về sự tín thác vào tình thương của Chúa Cha. Ngài đã dâng lên Chúa Cha sự đau khổ, lo lắng và sợ hãi. Ngay trong vườn Giệtsêmani, Ngài đã sấp mặt xuống cầu nguyện cùng Chúa Cha rằng: “Lạy Cha nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con mà theo ý Cha.” (Mt 26, 39). Chúa Giêsu cầu nguyện tha thiết cùng Cha, Ngài dâng cả trái tim, tâm hồn lên Cha. Nhờ vậy, Ngài đã đi trọn con đường cứu độ. Chúng ta hãy bắt chước và đến cùng Giêsu để được Ngài dạy dỗ. Ngài luôn mời gọi chúng ta mỗi ngày. Chúng ta hãy mau mắn để đến bên Ngài mà nghỉ ngơi bồi dưỡng, được tràn đầy tình yêu và ân sủng.

Ngoài ra, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn cho chúng ta thấy trình tự như một giờ cầu nguyện. Đầu tiên, Ngài cất lời ngợi khen Chúa Cha. Tiếp đến, Ngài đón nhận hồng ân từ Chúa Cha. “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi.” (Mt 11, 27). Từ hồng ân ấy, Ngài chia sẻ cho mọi người, cho tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề. Đó có thể là một cách để cho chúng ta cầu nguyện mỗi ngày cùng Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu! Chúng con là những người bất toàn, yếu đuối. Chúng con luôn sống trong sự lo toan cuộc sống. Xin cho chúng con biết đem tất cả sự lo lắng và gánh nặng của mình đến với Ngài, dâng cho Ngài, nhờ đó chúng con được hưởng niềm vui hoan lạc bên Chúa. Amen.

Về mục lục

.

ÁCH CỦA CHÚA THÌ ÊM ÁI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sống trong một thế giới mà người nghèo, kẻ yếu, người bị áp bức luôn phải lo lắng, vật lộn với cuộc sống đầy vất vả. Không những thế, họ còn bị đồng loại chất lên vai những gánh nặng trong khi những người kia lại chẳng buồn đưa lấy một ngón tay để nhấc những gánh nặng ấy. Lời mời gọi của Đức Giêsu “hãy đến với Ta” thật ý nghĩa và đầy nguồn an ủi cho những ai vất vả mang gánh nặng nề. Đến với Chúa Giêsu, gánh nặng sẽ vơi đi, mang ách của Người ta sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng, vì ách của Chúa là ách của tình yêu và tha thứ. 

Lời Chúa Giêsu thân thưa với Cha Người : “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11, 25). Chúa Giêsu hứa ban cho tất cả “sự bổ sức”, nhưng đặt một điều kiện, đó là: “ Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11, 29). Cái “ách đó” là gì, mà thay vì đè nặng thì lại làm vơi nhẹ, thay vì nghiền nát thì lại nâng lên ? ” Ách của Chúa Giêsu là luật của tình yêu thương, là giới răn mà Người đã để lại cho các môn đệ Người (x. Ga 13, 34; 15, 12). 

Nói đến cái “ách”, luật Dothái được xem như đặc quyền của họ, vì sự khôn ngoan là hồng ân của Thiên Chúa thể hiện trong sống hàng ngày. Chúa Giêsu coi mình như là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và ban tặng những cái ách ấy cho ai đón nhận Người. Chúa Giêsu chính là mặc khải trọn vẹn về Thiên Chúa và ý muốn của Thiên Chúa cho con người. Người mời gọi : “Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng ” hãy đến với Người, hãy tin vào Người, “ Người sẽ nâng đỡ bổ sức cho ” (Mt 11, 28). 

Ách, với mục đích là giúp con vật kéo cầy, kéo xe một cách dễ dàng. Cũng thế, khi chúng ta mang ách của Chúa Giêsu, Người không làm gì khác hơn là giúp đỡ chúng ta bớt đi những gánh nặng. Người mời gọi chúng ta đến mang lấy ách của Người, Người cùng vác ách với chúng ta. Chúa Giêsu mang ách ấy trước hết và đứng bên cạnh chúng ta. Khi hai người cộng tác với nhau kéo chung một cái ách, chắc chắn hơn một khỏe mạnh. Đó chính là điều Chúa Giêsu làm cho mỗi người trong chúng ta. 

Thật là lạ, Chúa Giêsu mời gọi kẻ khó nhọc đến với Người để được nghỉ ngơi dưỡng sức, nay Người lại trao thêm ách. Ách là một công cụ để làm việc. Ách là để thi hành một tác vụ, phục vụ Đức Kitô. Chúng ta có đón nhận cái ách mà Đức Giêsu ban cho hay không? Ách của Người không phải là gánh nặng nhưng là êm ái và nhẹ nhàng (x. Mt 11, 30). Thánh Phaolô nói cái ách này sẽ dẫn chúng ta đến tự do, nên khi đón nhận cái ách của Đức Giêsu là chúng ta cũng đón nhận một người “cùng mang ách” với chúng ta.  

Ở đoạn trước trong Tin mừng Matthêu, Chúa Giêsu chúc phúc cho những ai “có tinh thần nghèo khó” (Mt 5,3) như thể đã có được nước trời làm sản nghiệp. Hôm nay, Đức Giêsu nói đến “những kẻ bé mọn” (Mt 11, 25) nghĩa là những người hèn mọn và khiêm nhường. Theo nghĩa Kinh Thánh, họ là những người không có uy thế, quyền lực, địa vị hay chức vụ cao sang, chẳng có gì để có thể khoe khoang. Vì thế, họ chấp nhận phó thác nơi Thiên Chúa mà không chút do dự hay kiêu hãnh giả tạo nào. 

Tiên tri Dacaria nói đến Vị vua Mêssia lên Giêrusalem cưỡi trên con lười con là con của lừa mẹ, nhắc lại rằng Chúa Giêsu liên kết với chúng ta, dưới ách nặng của sự khiêm nhường và dịu dàng, Người đã mang thân phận người như chúng ta, chịu khổ nạn để cứu chuộc chúng ta. Từ trên nơi cao thẳm, Người đã cúi xuống đất để nghe tiếng van nài, Người đã hạ mình xuống để giải thoát chúng ta khỏi chết. 

Chúa Giêsu đề nghị chúng ta mang lấy ách của sự khiêm nhường và hiền hầu, của niềm tin vào tình thương Thiên Chúa và phó thác trong tay Người, xin Người cứu giúp : “ Trẻ trung thì mệt, thì mỏi, tráng đinh nghiêng ngả bổ nhào, song những ai trông vào Thiên Chúa, sẽ có sức mạnh luôn luôn đổi mới, chúng mọc cánh như những phụng hoàng; chúng chạy mà không mỏi, chúng đi mà không mệt ” (Is 40, 30-31). Thật hạnh phúc biết bao khi chúng ta đón nhận vào lòng sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ tìm thấy liều thuốc bổ sức như lời Người hứa ; và giảm bớt gánh nặng đè trên chúng ta, vì có Chúa vác đỡ chúng ta. 

Có người viện cớ hỏi : Vậy tại sao Thiên Chúa không cất đi gánh nặng nơi con người, giải thoát con người một lần cho tất cả các gánh nặng ? Thưa là vì Ngài không muốn cứu chúng ta mà không có chúng ta. Thiên Chúa dành cho chúng sự tôn trọng và yêu thương trong lúc ấy. 

Chúng ta đang đứng trước một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này là chỉ mạc khải cho những kẻ bé mọn nghĩa là những người không cậy dựa và sức riêng mình để tự cứu mình mà chỉ cậy dựa vào Chúa, những người không đặt an toàn vào sự hiểu biết nhân loại nhưng trong Người Con đã được mạc khải cho họ, bởi vì họ biết ngoài Người ra, họ không thể làm gì được.  

Niềm vui cả thể của con người là được gắn bó với Đức Kitô và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa là Cha.  Biết được Chúa Cha yêu mến, kết hợp với Ngài và tin tưởng vào Ngài như người con bé nhỏ đặt an toàn trong tay bố của mình.  

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết khiêm nhường thật trong lòng, để chúng con được kể vào số những kẻ bé mọn của Tin Mừng, những người Thiên Chúa Cha hứa mạc khải cho biết mầu nhiệm Nước Trời.

Lạy Ðức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương của lòng từ mẫu, xin giúp chúng con “ học” nơi Chúa Giêsu sự khiêm nhường thật, cương quyết mang lấy ách êm ái Người trao, để sống an bình nội tâm, và giúp chúng con an ủi các anh chi em khác đang mệt nhọc bước đi trên con đường cuộc sống. Amen.

Về mục lục

.

HỌC SỐNG HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỢNG VỚI CHÚA GIÊSU

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Nhiều người cho rằng muốn trở nên hùng mạnh và thắng được người khác thì mình phải hung tợn hơn, tàn ác hơn, phải dùng sức mạnh để quật ngã, phải dùng khí giới để huỷ diệt và khủng bố kẻ thù… Nhưng suy nghĩ như thế là thiển cận và sai lầm.

Lịch sử loài người cho thấy những bạo chúa hung tàn bậc nhất như Nê-rô thời xưa, Hitler,   Polpot thời nay hay bất kỳ một thế lực bạo tàn nào… tuy họ nắm được quyền lực trong tay và dùng bạo lực cường quyền để uy hiếp người khác, nhưng rốt cuộc, họ đều bị hạ bệ, bị người đời lên án và chuốc lấy thất bại não nề. 

Trong khi đó, lịch sử đánh giá rất cao những con người hiền lành, khiêm nhượng, ôn hoà bất bạo động như Mahatma Gandhi, Martin Luther King và nhiều hiền nhân khác đã biết dùng sự hiền hậu, dịu dàng để chiến thắng sự hung bạo một cách hiệu quả và vẻ vang. Nhân loại qua bao thời vẫn nhìn nhận họ là những bậc vĩ nhân đáng ngưỡng mộ, biết dùng “nhu để thắng cương”, biết “dụng nhược để thắng cường” (Lão Tử). 

Thế nên, mặc dù Chúa Giê-su có rất nhiều phẩm chất cao đẹp đáng nêu gương, nhưng phẩm chất đầu tiên mà Ngài kêu gọi mọi người nên học với Ngài là đức tính hiền hậu và khiêm nhường. Qua Tin mừng Mát-thêu chương 11 câu 29, Chúa Giê-su mời gọi: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhượng.” (Mt 11, 29) và “Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5, 4). 

Hiền hậu là lợi khí của người khôn 

Trong vườn Dầu, khi Phê-rô tuốt gươm ra để bảo vệ Chúa trước đám đông binh lính xông đến bắt Ngài, Chúa Giê-su bảo ông: “Hãy xỏ gươm vào bao. Ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm.” (Mt 26,52)

Bạo lực không là giải pháp khôn ngoan, nên người khôn không bao giờ dùng bạo lực để kháng cự bạo lực, không dùng hận thù để trả đũa hận thù, nhưng biết dùng tính khiêm nhường hiền hậu để ứng xử với mọi người, ngay cả khi bị người khác đối xử tàn ác, thô bạo với mình. 

Khi búa tạ tấn công vào đá; đá sẽ dùng sự cứng rắn của mình để kháng cự lại nên bị vỡ tan. Đá thất bại hoàn toàn. 

Khi búa tấn công nước; nước sẽ dùng sự mềm mại dịu hiền của mình để đối lại. Bằng cách nầy, nước không hề bị sứt mẻ hư hao, còn búa thì bị chìm lĩm xuống tận đáy bùn! Thế là nước thắng lớn, búa thua to. 

Khi búa hung hăng đập vào tường; bức tường sẽ dùng sự cứng rắn của mình chống lại sự thô bạo của búa; thế là bức tường cao sẽ bị sập xuống. Tường thất bại. 

Thế nhưng, khi búa đập vào bức màn; tấm màn sẽ dùng sự dịu dàng của mình né tránh sự thô bạo của búa. Màn bình yên vô sự, còn búa sẽ bị mất thăng bằng và bị lao vào khoảng không. Thế là màn chiến thắng. 

Như thế, với tấm lòng hiền hậu, khiêm nhường, dịu dàng, mềm mại… người ta có thể thắng được sự thô bạo, hung hăng của người khác. 

Ngoài ra, với đức tính khiêm nhường hiền hậu, người ta không chỉ thắng được những lực đối kháng bên ngoài mà còn chinh phục được lòng người. Như nước luôn luôn chảy về chỗ trũng, thì lòng yêu thương quý mến của nhiều người khác cũng dồn về cho những người có tâm hồn hiền hậu, khiêm nhường. 

Gương hiền hậu, khiêm nhường của Chúa Giê-su 

Trong cuộc khổ nạn, tấm gương hiền lành và khiêm nhường của Chúa đã được nêu cao: Mặc dù là Thiên Chúa quyền năng cao cả, là Con Một của Thiên Chúa Cha, Ngài đã chấp nhận cho người đời hèn mọn nhạo cười, phỉ báng, lăng nhục, khạc nhổ vào mặt, đánh đập tơi bời, lại còn chịu vác thập giá, chịu đóng đinh và chết ô nhục trên thập giá… mà vẫn không oán hờn hay kháng cự; hơn nữa, còn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ gây đau khổ cho mình. 

Lạy Chúa Giê-su, 

Khiêm nhường và hiền hậu là tính cách nổi bật nhất nơi con người và cuộc đời của Chúa. 

Khiêm nhường và hiền hậu là nhân đức được toả sáng trong cuộc thương khó của Ngài. 

Khiêm nhường và hiền hậu là một trong những bài học quan trọng nhất mà Chúa kêu mời chúng con phải học với Chúa từng ngày. 

Lẽ nào chúng con là những môn đệ đã chọn Chúa làm Thầy và là mẫu mực cho mình, lại gạt bỏ ra khỏi tâm hồn mình bài học quý báu nầy sao! 

Xin cho chúng con luôn noi gương bắt chước Chúa để sống khiêm nhường hiền hậu như Chúa đã nêu gương.

Về mục lục

.

HÃY TỰ MANG LẤY “ÁCH” VÀ “GÁNH” CỦA MÌNH

JM. Lam Thy

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật Lời Đức Giê-su kêu gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11, 28-30). Theo từ nguyên thì “ách” có 3 nghĩa: *1- Đoạn gỗ cong mắc lên cổ con vật (trâu, bò, ngựa…), để buộc dây kéo xe, cày, bừa (vd: bắc ách, quàng ách vào cổ trâu, tháo ách); *2- Gông cùm, xiềng xích (vd: ách áp bức, ách đô hộ, ách kìm kẹp); *3- Tai hoạ, việc rắc rối phải gánh chịu (vd: “ách giữa đàng quàng vào cổ” (tục ngữ); ách giặc giã cướp bóc). Cả 3 nghĩa đều nói lên “ách” là một ép buộc, một tai họa từ bên ngoài đưa tới, chẳng ai muốn gánh chịu. Như vậy, Lời dạy của Đức Giê-su “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” thì có gì là mâu thuẫn không?

Nếu tỉ mỉ tìm hiểu những Lời của Đức Giê-su mời gọi mọi người đến và đi theo Người, thì sẽ thấy tất cả đều khác hẳn (nếu không muốn nói là mâu thuẫn) với lời mời gọi nêu trên. Thật thế, Đức Giê-su thường răn dạy các môn đệ: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 11, 38-39) ; “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16, 24); “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” (Mt 19, 21)… Đi theo Đức Giê-su phải sống và thực hành Lời dạy của Người như nêu trên, vậy mà gọi là “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” được sao? Một vấn nạn nảy sinh: Chúa dạy “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” thế thì tại sao Chúa vác thập giá của Chúa (cái ách, cái gánh của bản thân), sao lại nặng nề quá như vậy, nặng đến độ ngã xuống đất 3 lần, phải nhờ Si-mon vác đỡ?  

Vấn đề đặt ra là phải hiểu cây thập giá ấy do đâu mà có? Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, chẳng chút bợn nhơ, nhưng vì vâng lệnh Chúa Cha, Người xuống trần mặc lấy thân xác yếu hèn của phàm nhân, gánh lấy tội lỗi loài người để cứu độ nhân loại; Người “đã làm việc bằng đôi bàn tay của con người, đã suy nghĩ với trí thông minh của con người, đã hành động với ý chí của con người, đã yêu thương với trái tim của con người.” (Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội “Gaudium et Spes”, số 22). Vì thế nên với thân xác phàm nhân ấy, Người đã vác cây thập-giá-tội-lỗi-loài-người quá sức nặng nề đến nỗi phải quỵ ngã ba lần. Thập giá ấy không phải của Chúa, mà là của loài người đã chất lên vai Chúa; nên khi Người nói “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” là Người muốn dạy người tín hữu hãy tự gánh lấy tội lỗi của bản thân (thập giá của mình) – nói cách khác là nhìn lại mình mà ăn năn sám hối tội lỗi đã mắc phạm – kiên quyết đi theo con đường Thập-tự-Giêsu, thì sẽ được cứu rỗi (“nghỉ ngơi bồi dưỡng”). Lời mời gọi chân tình đó chính là “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” vậy.  

Sở dĩ Chúa dạy như vậy, vì Nguời biết rõ tính xác thịt của con người rất là nặng nề, nặng nề nhưng lại quyến rũ hơn cả tinh thần hướng thượng (“thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống.” – Kn 9, 15). Con người không những đã chiều theo tính xác thịt, mà còn viện dẫn trăm ngàn lý do để bào chữa cho những hành vi mang tính xác thịt đó. Thánh Phao-lô đã cảnh báo: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.” (Rm 8, 5-6). Quả thật, theo Thầy thì rất muốn theo Thầy, nhưng bảo phải vác thập giá mình mà theo thì lại… buồn rầu bỏ đi một nước (giống hệt anh chàng thanh niên giàu có muốn theo Thầy Chí Thánh – Mt 19, 16-22). 

Rõ ràng “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” (Gl 5, 19-21), nên “hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được.” (Rm 8, 7). Điều đó cho thấy giữa “tính xác thịt” và Thiên Chúa luôn luôn đối lập nhau như ánh sáng và bóng tối: Thiên Chúa là ánh sáng ≠ tính xác thịt của con người là bóng tối. Vâng, “ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3, 19). Ấy cũng bởi vì “ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3, 20).

Quả thật chỉ có “từ bỏ chính mình”, từ bỏ bóng tối, thì mới đi theo được Ánh Sáng Chúa Ki-tô. Muốn được vậy, phải cầu xin Thiên Chúa ban ơn soi sáng để sống theo Thánh Linh như lời khuyên của Thánh Phao-lô (Gl 5, 16-18), ngõ hầu được trở nên những người con tự do (con cái ánh sáng) của Thiên Chúa. Sống đời Ki-tô hữu tốt đẹp là biết bước đi theo Thánh Linh, để Thánh Thần dẫn đưa. Có thể, người tín hữu học hỏi nhiều về Đức Ki-tô, nhưng vẫn chưa biết rõ về Người, chưa yêu mến và gắn bó với Người. Lý do là vì chưa bước đi theo Thần Khí của Người. Cũng bởi vì Thánh Thần là Đấng nối kết chúng ta với Chúa Ki-tô và với anh em chung một niềm tin; Thánh Thần là Đấng Soi Sáng, Đấng Giải Thoát, Đấng Bảo Trợ đầy sức mạnh thần thiêng làm cho chúng ta không bao giờ mệt mỏi, mất sức trên hành trình thi hành sứ vụ; đồng thời mở lòng mở trí cho chúng ta, để chúng ta nhận ra ý muốn của Thiên Chúa, giúp chúng ta giải quyết tốt đẹp các vướng mắc, dạy chúng ta cách cư xử cho phù hợp với ơn gọi Ki-tô hữu. Thánh Thần còn là Đấng Hiệp Thông (Thánh Phao-lô gọi Người là Ơn Thông Hiệp). Tắt một lời, Thánh  Thần làm cho sự sống thần linh trong chúng ta triển nở và lớn lên, đạt tới tầm vóc viên mãn của Chúa Ki-tô (trở nên “đồng hình đồng dạng với Người” cách trọn vẹn).  

Chính là nhờ Thánh Thần, với Thánh Thần và trong Thánh Thần, mọi Ki-tô hữu cùng hiệp thông xây dựng Nhiệm Thể Chúa Ki-tô (Giáo Hội) bền vững và phát triển đến thiên thu vạn đại. Để được như vậy, người Ki-tô hữu hãy tiến bước theo Thánh Linh trên con đường dấn thân phục vụ: Phục vụ trong tinh thần hiệp nhất “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”; phục vụ vô vị lợi (phục vụ trong tinh thần “vị tha ”, hơn là “vị kỷ”); phục vụ trong khiêm tốn và thầm lặng (không khua chiêng gõ mõ, không “mồm loa mép giải”, không “ngồi trên tòa ông Mô-sê” hoặc “đứng ở ngã ba ngã tư”, “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng…, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc…” (Mc 23, 1-36). Chung quy là hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Đức Vua Phục Vụ Giê-su Ki-tô.  

Cấp bậc cao nhất của việc từ bỏ chính mình là sẵn sàng hy sinh mạng sống khi việc phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân đòi hỏi. Từ bỏ sự sống mình theo như Đức Ki-tô đòi hỏi, biểu hiện trong thực tế bằng việc phấn đấu và nỗ lực hằng ngày, chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ (vác thập giá mình) trong cuộc sống chứng nhân, sẵn sàng thực thi những chứng tá bác ái. Khi người tín hữu “thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5, 24), thì đó chính là lúc người tín hữu đã chết đi hằng ngày để được cùng sống lại với Đức Ki-tô (“Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người.” – Rm 6, 8). Chỉ có như vậy, người Ki-tô hữu mới thực sự được “nghỉ ngơi bồi dưỡng” tận hưởng “hoa quả của Thần Khí” (“Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” – Gl 5, 22-23).  

Tóm lại, đi theo Đức Giê-su thì tất cả cái ách là những gánh nặng, những gông cùm, xiềng xích của tội lỗi đè nặng trên bản thân sẽ được Người vác thay (“Chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta. Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” (Is 53, 4-5; Mt 8, 17). Vì thế nên đi theo Đức Giê-su thì sẽ được hưởng cái “ách êm ái, gánh nhẹ nhàng” của Người. Chính hoa quả của Thánh Linh sẽ giúp người Ki-tô hữu hiểu rõ được Lời dạy của Đấng Cứu Thế.  

Khi đã hiểu rõ “nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” (Rm 8, 11); người Ki-tô hữu hãy cầu xin Thiên Chúa ban sự sống cho bản thân, ban Thánh Thần để có đủ sáng suốt và dũng khí tiến bước theo Đức Ki-tô, để được hưởng hoa quả đầu mùa “ách êm ái, gánh nhẹ nhàng”. Vâng, “Những ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước.” (Gl 5, 24-26). 

Ôi! “Lạy Chúa, nhờ con Chúa hạ mình xuống, Chúa đã nâng loài người sa ngã lên, xin rộng ban cho các tín hữu Chúa niềm vui thánh thiện này: Chúa đã thương cứu họ ra khỏi vòng nô lệ tội lỗi, xin cũng cho họ được hưởng phúc trường sinh. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN. XIV/TN-A).

Về mục lục

.

HÃY ĐẾN CÙNG TÔI

Fx Đỗ Công Minh

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Matthêu ghi lại những lời Đức Giêsu cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha, một lời cầu nguyện được coi là khuôn mẫu cho chúng con khi thưa với Cha trên trời. Đọan Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu bày tỏ với Cha những tâm tình chân thành của Người : “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã dấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhệm nước trời, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng Lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha “ .

Trước tôn nhan Thiên Chúa, Đức Giêsu đã dâng lời chúc tụng, tôn vinh. Người đã tự nhận mình là con người bé mọn, không là gì trước mặt Chúa. Đây là điều mà trong lúc cầu nguyện, con ít để ý đến. Cầu nguyện như Chúa Giêsu là đặt mình trước Thiên Chúa, dâng lời chúc tụng tôn vinh Đấng toàn năng, khiêm tốn nhìn nhận mình là bé mọn trước Thiên Chúa và tin tưởng vào lời cầu nguyện đẹp ý Cha trên trời.

Cũng trong đọan tin mừng này, Chúa còn cho chúng con biết về sứ mạng của Người nơi trần gian. Người là con Thiên Chúa: ”Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi “ và Người cũng hé mở cho chúng con biết con đường, cách thức cầu nguyện với Cha:” Không ai biết rõ Chúa Cha trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho “. Từ Lời Chúa hôm nay, Chúa cho con nhận ra và biết phải làm gì khi cầu nguyện. Bài học cho con đó là phải khiêm tốn nhìn nhận mình là bé nhỏ. Muốn thưa với Cha trên trời hãy đến với Đức Giêsu Kitô, Người là đấng trung gian duy nhất. 

Thánh Matthêu cũng cho chúng con nhận ra thông điệp của Đức Kitô gửi đến những con người đang lữ thứ nơi trần gian này, với bao gian truân thử thách. Người cho chúng con nhận biết Đấng mà con người có thể bấu víu nương tựa chính là Đức Giêsu Kitô . “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng “. Con nhớ đến mẩu chuyện tranh nhỏ được đưa lên Facebook vừa rồi. Chuyện về một nhóm người tham dự một cuộc thi về sự kiên trì nỗ lực. Mỗi người vác theo một cây thập tự ngang 1 mét, dọc 2 mét băng qua một quãng đường dài để về đích. Một chàng trai nọ mới vác đi được một chặng đường ngắn đã cảm thấy mệt mỏi, nặng nề. Anh dừng lại xin ban tổ chức cho phép anh đẽo bớt thanh dọc của cây thập tự để nhẹ nhàng hơn trên đường đua, trong lúc những người khác dù cũng mang vác nặng nề vẫn tiếp tục hành trình. Đi thêm một chặng đường, vẫn thấy cây thập tự nặng nề, anh dừng lại xin đẽo thêm một đọan nữa. Chỉ còn một  đoạn đường ngắn, vượt qua một vực sâu khỏang gần hai mét, là đến đích.

Những người khác dù đến bờ vực bên này sau anh, nhưng ai nấy đặt cây thập tự theo chiều dọc làm cầu bước sang bờ bên kia, rút cây thập tự vác tiếp, chỉ một quãng thì đến đích. Còn anh chàng “khôn lanh “ đành dừng lại bên bờ vì không có cách nào qua vực do thanh dọc đã quá ngắn không bắc ngang vực được. 

Lạy Chúa, 

Nhiều lúc trong cuộc sống, con tự cho là khôn ngoan hơn người khác. Con muốn chiếm được nước Trời bằng sự tính tóan, thông thái của mình mà quên đi sự khiêm nhu, tín nhiệm, phó thác vào Chúa. Trên chặng đường theo Chúa, bao người đều thấy vất vả và gánh nặng, nhưng họ đã vượt qua được vì họ chạy đến với Người. Họ tin vào Lời Chúa “Hãy mang lấy ách của tôi, vì ách của tôi thì êm ái, gánh của tôi thì nhẹ nhàng “ nên đã vượt qua những chặng đường khổ giá.

Xin cho con luôn biết học nơi Chúa sự hiền lành và khiêm nhường, đồng thời luôn biết tin tưởng vào Lời Người : “ Hãy đến cùng tôi.. . Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng “. AMEN.

Về mục lục

.

CÂU DANH NGÔN HAY

Lm. Jos. DĐH.

Tre già măng mọc, hậu sinh khả uý, con hơn cha, nhà có phúc, khi nghe đọc những câu thành ngữ này, chẳng biết các đấng bậc sinh thành của ta có nhẹ vơi đi chút ưu tư về việc giáo dục con cháu không ? Biết bao lời hay ý đẹp, đầy dẫy những tác phẩm có giá trị nghệ thuật mà tiền nhân để lại, hậu thế vẫn coi đó là những di sản cao quý được lưu truyền. Cáo chết để da, người chết để tiếng, thực ra thì để lại tiền của, để lại kiến thức, để lại danh thơm tiếng tốt, hoặc để lại tình yêu thương, đều có ý nghĩa đối với con cháu, dòng tộc. Tất cả mọi người đều có cơ hội gặt hái thành công, nếu biết áp dụng vào cuộc sống bài học của cha mẹ, của bậc thánh hiền, dù hoàn cảnh chúng ta có khó khăn, khắc nghiệt, không giống nhau.

“Hiền lành và khiêm nhường”, không phải là câu danh ngôn hay đối với nhà quản trị kinh doanh, cũng không thích hợp với các vị ẩn tu. Những lời khuyên dạy phòng bệnh hơn chữa bệnh của giới y bác sĩ sẽ chẳng nghĩa lý gì đối với người lam lũ, cơm không đủ no áo không đủ ấm. Lời hay ý đẹp dù có ích lợi cho hôm nay và mai sau, cũng không thể làm thay đổi được lòng người, nếu họ chỉ biết đến “luật rừng”, sống trong hận thù, bất mãn, tự kỷ. “Hiền lành và khiêm nhường” có còn là câu danh ngôn hay đối với người tín hữu chúng ta hôm nay không ? “Hiền lành và khiêm nhường” có thể vẫn là câu trả lời khó, khi mà người ta xử với nhau theo lý lẽ: phép vua thua lệ làng, nhất thân nhì thế. “Hiền lành và khiêm nhường” sẽ là lời mời gọi thật hay, khi chúng ta muốn trở nên môn đệ Chúa, chọn  Chúa là Thầy hoặc từ chối tin Đức Giêsu là Đấng cứu độ trần gian.

Đâu phải vô tình mà người xưa nói rằng: khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giầu có ba mươi tết mới hay ; cháy nhà mới ra mặt chuột. Không phải tự nhiên người trẻ hôm nay họ biết khích lệ nhau vượt qua thử thách để đi tới trưởng thành hơn: đừng buồn vì bạn không có người ấy, nhưng hãy sống sao để người ấy buồn vì không có bạn. Thực sự thì với độ “nhạy bén” vừa phải, người ta có thể kiểm chứng được người tài giỏi, người giầu có ; nhưng thước đo hạnh phúc, mức độ hiểu biết của chúng ta thì không được là trẻ con, phải thực sự là người trưởng thành trong đức ái. Người hiền triết và khôn ngoan, người tầm thường ít học hay người túng thiếu nghèo hèn, đều bất hạnh khi không có tình yêu, nhưng họ đều có chung một cơ hội, đó là ai cũng là đối tượng của Thiên Chúa cứu độ.

Câu danh ngôn hay không phải là câu nói nghe cho vui tai, lời hay ý đẹp chắc chắn không phải là những sản phẩm trưng bày để “bàn dân thiên hạ” xem cho vui mắt ? Người tín hữu chúng ta đều dễ dàng tin: phần thưởng nước trời không chỉ dành cho người lắm tiền nhiều của ở trần gian này, nhưng nước trời thuộc về tất cả mọi người biết sinh lợi những nén bạc mà Thiên Chúa trao ban. Không ai định nghĩa hạnh phúc là người giầu có địa vị, nhưng ai cũng hiểu và chấp nhận: hạnh phúc là người biết sống yêu thương và được yêu thương. Câu danh ngôn hay đối với người kitô hữu, hẳn không phải là câu bí ẩn khó hiểu, vì nghe, đọc: hiền lành khiêm nhường và trở nên bé nhỏ trong yêu thương cư xử, rất dễ, nhưng hay hoặc dở ở chỗ ta có tin và dám sống hèn mọn như Chúa đã sống không ?

Nếu sống ở đời này ta đủ đức đủ tài, chẳng màng đến giầu nghèo, thông thái hay khờ dại, hẳn ta sẽ không quan tâm đâu là câu danh ngôn hay để học để nhớ, làm chi. Vì “cái thừa, cái thiếu” trong mỗi  ta quả còn nặng nề, sai sót nhiều, nên ta phải dò tìm, học hỏi, hầu có điều kiện xoá đi những bất ổn trong các tương quan của ta. Nếu biết câu danh ngôn hay, chính là chìa khoá mở ra khung trời hạnh phúc mới, hẳn dù phải sắp hàng, đấu tranh, mới có cơ hội được nhìn xem, ta cũng quyết không bỏ cuộc. Tâm tình của Chúa Giêsu với Chúa Cha, với chúng ta, sẽ mãi là bí mật, là khó hiểu, nếu người ta không thuộc về Chúa, không muốn trở nên hiền lành và khiêm nhường như Chúa Giêsu.

Câu danh ngôn được cho là hay mà nhiều người chúng ta đã từng nghe: khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương, sở dĩ câu nói này hay vì nhu cầu được yêu thương, ai trong chúng ta cũng có. Câu nói hay và sống động là khi ta biết cư xử có nhân có nghĩa, biết để lại nét đẹp cho con cháu. Vương quốc đầy “chất tình” của Chúa Giêsu được xây dựng trên nền tảng yêu thương, lời hay ý đẹp dẫn dắt chúng ta thoát được gánh nặng khổ đau, tội lỗi, khởi đi từ niềm tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu độ. Ngày hôm nay, bài học khiêm tốn để trở nên môn đệ Đức Giêsu, lời hay ý đẹp dẫn tới hạnh phúc thật đều phải trở nên giống Đức Kitô. Câu danh ngôn hay nhất chính là tình yêu Đức Giêsu, là học biết thực thi đức khiêm nhường bé nhỏ, là thấy độ rộng lớn mà kẻ bé mọn như Chúa Giêsu đang thực thi công lý yêu thương. Amen.

Về mục lục

.

HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG-

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Hiền lành xuất phát từ trái tim rộng mở, từ ái, khoan dung. Khiêm nhường kín múc từ nguồn lực tình yêu, chỉ muốn trở nên không trước mọi người và tất cả cho mọi người. Cuộc sống con người thì lựa chọn ngược lại, hiền lành luôn bị bắt nạt, ức hiếp; khiêm nhường thì bị lợi dụng trở nên tôi mọi cho nhiều người và dễ bị đè bẹp.

Học với Chúa để sống đúng nghĩa của hiền lành và khiêm nhường.

Hiền lành:

Tình yêu tự thông ban:

Thiên Chúa tự thông ban chính mình, đó là biểu lộ bản chất của tình yêu vô biên. Khi Thiên Chúa tạo dựng nên con người, Người đã ban cho ơn cao trọng: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” (St 1, 26). Tình yêu tự thông ban nên tình yêu Thiên Chúa cũng đón nhận tất cả những hậu quả của con người gây nên khi phạm tội: “Thiên Chúa đi tìm kiếm con người” (St 3, 8 – 10); “Hứa ban đấng cứu chuộc” (St 3, 14 – 15).

Tình yêu tự hiến:

Một tình yêu tự thông ban cũng là một tình yêu phó nộp vì người mình yêu: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3, 16 – 17).

Người mục tử nhân lành: 

“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10, 11 – 15)

Như Con Chiên:

Tiên tri Isaia đã nói về Con Người chịu hiến tế: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53,7). Và con người được thứ tha: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích là Đức Kitô” ( 1 Pr 1,19).

Hiền lành không lên án:

Với người phụ nữ phạm tội ngoại tình công khai: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! ” (Ga 8, 11). Và ngay khi trước khi chết Người cũng cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23, 34)

Khiêm nhường:

Tình yêu tự hạ:

Thánh nữ Têrêsa dùng một ví dụ đơn sơ để nói về tình yêu tự hạ: “Một người cha, khi muốn hôn đứa con nhỏ, tất nhiên không thể đứng thẳng người một cách ươn lười mà bảo đứa trẻ con leo lên, áp má nó vào môi mình, để có thể gọi là mình hôn yêu nó. Không, muốn hôn đứa con nhỏ, nhất định là người cha phải cúi sâu xuống tận mặt nó, hoặc bế nó lên trên tay mình, nhưng đằng nào cũng phải cúi…”

Thánh Phaolô thì định nghĩa: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ,rở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2, 6 – 8)

Khiêm nhường biểu lộ trong vâng phục: Vâng phục là từ bỏ ý riêng, để tùy thuộc vào Chúa Cha, Chúa Giêsu, người đã nói với các môn đệ: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34). Thánh Phaolô trong vinh tụng ca ngài xác tín: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.  Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su,cả trên trời dưới đấtvà trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa”” (Pl 2, 6 – 11).

Khiêm nhường trong phục vụ: Qua việc rửa chân cho các tông đồ, Chúa Giêsu cũng dạy cho các môn đệ bài học phục vụ trong yêu thương: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13, 12 – 15).

Hãy học cùng Thầy, là một lời mời gọi để có một đời sống hiền lành thật sự giữa những điều dữ, “đem yêu thương vào nới oán thù”. Và để học điều quan trọng trong cuộc sống là khiêm nhường, “chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (kinh hòa bình).

Về mục lục

.

HÃY CẦM LẤY VÀ ĐỌC

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy về đời sống đức tin và siêu nhiên mà còn dạy cách sống nhân bản. Những ai học theo giáo huấn của Người sẽ trở thành con người sống dễ thương, dễ mến và do đó sẽ thành công trong cuộc đời.

Sứ điệp Chúa Giêsu gởi đến Chúa Nhật hôm nay là: “Anh em hãy học với Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). 

– Hiền lành là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo, không cứng cỏi. Hiền lành là nhân đức bao gồm tâm thế bên trong và phản ứng bên ngoài. Tâm thế bên trong luôn êm ái, hoà nhã, nghĩ tốt về người khác, yêu thương, khoan dung, thông cảm; phản ứng bên ngoài luôn nhẹ nhàng, tôn trọng. 

– Khiêm tốn là chấp nhận đứng thấp, ở dưới như Gioan Tẩy Giả khiêm tốn “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. 

Chúa Giêsu hiền lành, dễ thương trong lòng. Người luôn yêu thương người khác. Đặc biệt là những người bé mọn. Người luôn muốn và làm điều tốt cho mọi người. Người không lên án, không thành kiến với những người mà xã hội coi là xấu xa, tội lỗi. Lời nói và hành động của Người luôn toả ra sự dịu dàng, nâng đỡ, khích lệ, ủi an. Người không nặng lời, không kết án, Người sống bằng tình thương. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu chẳng những dễ thương với người phụ nữ mà còn dễ thương đối với những người đã tố cáo chị ta. Những người này tự cho mình là công chính. Chúa Giêsu không la, không quát, không hét, không hò, Người chỉ thinh lặng cúi xuống hiền từ dùng ngón tay viết lên cát. Bị hỏi mãi Chúa mới trả lời: “Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đá trước đi”. Họ rút lui bắt đầu từ những người lớn tuổi. “Tôi cũng không kết án chị đâu, chị hãy ra về và từ nay đừng phạm tội nữa” (x.Ga 8,1-11). 

Chúa Giêsu dạy chúng ta sống hiền lành, dễ thương. Người khuyên chúng ta bắt chước người mục tử trong dụ ngôn “Con chiên lạc” (Lc 15, 4-7). Người mục tử không hề đánh đập, giận dữ, quát tháo, hay kéo lê con chiên lạc về mà lại tử tế đặt nó lên vai mình, vác về đàn. Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta bắt chước người cha trong dụ ngôn “Đứa con hoang đàng” (Lc 15,11-32). Người cha không mắng chửi đứa con đầy lầm lỗi trở về, cũng không cãi cọ, không xua đuổi mà lại ôm hôn và dọn tiệc ăn mừng. Chúng ta có thể kể rất nhiều ví dụ trong Phúc âm về sự hiền lành, dễ thương của Chúa Giêsu. 

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Người không ngừng đi xuống. Từ trời cao, Người đã hạ mình xuống trần thế. Từ thân phận là Thiên Chúa, Người đã hạ mình xuống làm một người lao động bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là Đấng thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tôi đòi. Là Đấng Hằng Sống, Người đã tự nguyện chết khổ đau. Suốt cuộc đời, Người không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Thiên Chúa đã quỳ trước mặt nhân loại, Thiên Chúa rửa chân cho con người. Ôi lạ lùng thay! sự khiêm nhường thẳm sâu của Thiên Chúa. Trong khi con người kiêu ngạo, muốn vươn lên làm Chúa thì Thiên Chúa lại hạ mình xuống làm người. 

Trong khi con người thấp hèn, muốn nâng mình lên bằng cách chà đạp người khác thì Thiên Chúa cao cả lại hạ mình xuống nâng con người lên. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là hèn nhát mà trái lại là dũng mãnh cam đảm, hạ mình để phục vụ. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là nô lệ, nhưng trái lại là một cử chỉ đầy tình yêu. Hạ mình là con đường của Thiên Chúa. Khiêm tốn là khuôn mặt của Thiên Chúa. (ĐTGM Ngô Quang Kiệt).Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống nên những ai kiêu căng, tìm cách nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường, nhỏ bé mới gặp được Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã “ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp lòng Cha” (Mt 11,25-26). 

Trang Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: Hãy học cùng Tôi vì Tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng. (Mt 11,29). Vậy hãy ghi danh vào học trường Giêsu. Hãy học bài học hiền lành, dễ thương, không những chúng ta sẽ gặp được Thiên Chúa mà Thiên Chúa sẽ rũ sạch mọi vất vả, âu lo và chúng ta sẽ tìm được nguồn bình an cho tâm hồn (Mt 11,28). Hãy học bài học Giêsu, hãy học với Thầy Giêsu. 

Augustinô là một thanh niên có tư chất thông minh nhưng lỡ đi lạc đường. Về phương diện trí thức, Augustinô ỷ mình thông thái, dùng kiến thức của mình để truy tìm những học thuyết uyên bác. Kết quả là lạc vào bè rối Manikê. Về phương diện luân lý, Augustinô sống buông thả theo những đòi hỏi của xác thịt, kết quả là một cuộc sống tội lỗi. Thế rồi một hôm, trong lúc tâm hồn đang trống rỗng, vô vị, Augustinô bỗng nghe một tiếng nói từ đâu đó vang lên: “Tolle et lege” (hãy cầm lấy và đọc). Augustinô thấy trước mặt một cuốn Kinh Thánh, Ngài cầm lên, mở ra và gặp ngay đoạn thư Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Rôma: “Đừng sống theo xác thịt nữa, mà hãy sống theo Thánh Thần”. Cuộc hoán cải của Augustinô đã được dọn đường nhờ sự cầu nguyện và hãm mình của mẹ Ngài là thánh Monica, nhưng chính câu Thánh kinh này là yếu tố quyết định thay đổi cuộc đời Thánh nhân. Trở nên một giáo phụ, một triết gia, một thần học gia, một vị thánh lỗi lạc, rất mực thánh thiện của Giáo Hội, Augustinô nhờ việc học hỏi về Chúa Giêsu qua Thánh kinh. 

Chúng ta cũng hãy học với Thầy Giêsu qua Lời Chúa mỗi ngày. Yêu mến Lời Chúa, sống Lời Chúa để Lời Chúa biến đổi đời chúng ta sống theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hãy học hỏi Tin mừng và hãy để Tin Mừng soi sáng lòng trí của mình. Hãy múc lấy sức mạnh từ ân sủng của Bí tích Hoà Giải và Bí tích Thánh Thể. Hãy siêng năng Chầu Thánh Thể. Đó là sứ điệp Lời Chúa gởi đến cho chúng ta trong Chúa Nhật này. Học với Thầy Giêsu suốt đời, lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái, sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ, đó là điều cần thiết để mỗi người được Thầy Giêsu mạc khải và đưa vào thế giới của Thiên Chúa. 

Về mục lục

.

PHÚC CHO NHỮNG AI HIỀN LÀNH

Lm. Giuse Nguyễn

Câu chuyện “Thế à” nổi tiếng về vị Thiền sư Hakuin được nhiều người biết đến:

“Thiền sư Hakuin rất được mọi người trọng vọng, kính nể vì phong cách đạo đức thánh thiện của ông. Một ngày kia, có một người con gái trẻ đẹp, nhà gần chùa của thiền sư bị chửa hoang. Người ta không biết cha đứa bé là ai. Bố mẹ cô gái vô cùng tức giận và xấu hổ nên đánh đập tra khảo cô con gái về lai lịch tình nhân của cô. Ban đầu cô con gái không chịu nói gì cả, nhưng sau vì bị đánh đập dữ dội, cô tiết lộ đó là thiền sư Hakuin. Tin xấu đồn ra nhanh chóng. Cha mẹ cô gái giận dữ, đùng đùng lên chùa và mắng xối xả vào mặt Hakuin. Khi họ dứt lời, Hakuin chỉ thốt lên hai tiếng “Thế à!”. Sau khi đứa bé chào đời, gia đình cô gái mang đứa bé quẳng cho Hakuin nuôi. Thiền sư cũng chỉ nói hai tiếng: “Thế à!”. Hakuin chăm sóc đứa bé thật tử tế và bồng nó đi xin sữa khắp nơi. Một năm sau, cô gái vì cảm thấy ray rứt, hối hận nên đã thú thực với cha mẹ người cha đứa bé không phải là Hakuin mà là một chàng thanh niên làm việc ở chợ cá. Cha mẹ cô ta vội chạy lên chùa dập đầu tạ lỗi với Hakuin và xin mang đứa bé về. Thiền sư vẫn thản nhiên như không, thốt lên hai tiếng “Thế à!” và trao đứa bé lại cho gia đình.

Đang khâm phục thái độ của Thiền sư Hakuin, tôi được lời Chúa hôm nay soi dẫn để suy nghĩ, nghiền ngẫm về nhân đức hiền lành.

  1. Hiền lành nói chung

Đức Cha G.B Bùi Tuần đã chia sẻ: “Hiền lành và khiêm nhường là những giá trị đạo đức chung. Nghĩa là bất cứ ai, không phân biệt thuộc dân tộc nào, tôn giáo nào, văn hoá nào, hễ sống hiền lành và khiêm nhường, thường được đánh giá là đạo đức. Có thể nói: Hiền lành và khiêm nhường là vẻ đẹp gọi được là căn bản của bất cứ ai muốn sống nên người. Hơn nữa, hiền lành và khiêm nhường nhiều nơi được coi như tinh hoa của nền văn hoá do các thánh hiền đã dạy, và được các thế hệ tổ tiên truyền lại”.  

  1. Hiền lành trong Kitô Lời Chúa

Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Dacaria cho dân Do Thái biết Đấng Messia sẽ đến là Đấng “khiêm tốn ngồi trên lưng lừa” (Dcr 9, 9); Ngài sẽ là một vì Thiên Chúa đem đến bình an, hạnh phúc cho dân bằng sự nhẹ nhàng, khiêm tốn chứ không phải bằng vũ lực, chiến tranh hay muốn biểu dương quyền lực…

Trong bài Tin Mừng, sau khi cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa Cha, Đức Giêsu đã nói với đám đông dân chúng: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11, 29).

Trước đoạn Tin Mừng này, trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu đã nói đến mối phúc thứ hai: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất hứa làm gia nghiệp” (Mt 5, 4).

Như vậy sự hiền lành trong Kitô giáo được bắt nguồn từ sự khiêm hạ của Đức Giêsu, Ngài chính là “Người tôi tớ đau khổ” mà Isaia đã loan báo. Ngài là người được Thiên Chúa tuyển chọn và rất mực yêu thương. Người rất hiền lành và dịu dàng: “không lớn tiếng giữa phố phường, không nỡ bẻ gãy cây lau bị dập, Người cũng không dập tắt tim đèn còn khói” (Is 42,3). Để nói về sự khiêm nhường của Người, chúng ta chỉ có thể đọc lại lời thánh ca trong thư của Thánh Phaolô Tông đồ gửi giáo đoàn Philipphê: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).

Như vậy qua lời Chúa, qua giáo huấn của những bậc hiền triết, qua tấm gương của những chân tu, và nhất là bằng tất cả con người của Đức Giêsu Kitô với lời nói, việc làm, chúng ta đón nhận giáo huấn về sự hiền lành và được mời gọi sống hiền lành để “được đất hứa làm gia nghiệp”. Tuy nhiên, thế nào là hiền lành.

  1. Thế nào là Hiền lành?

Từ điển Wiktionary Tiếng Việt đã định nghĩa: Hiền lành là tính từ chỉ một người nào đó rất tốt bụng, hay giúp người. Stratu còn cho biết người hiền lành không hề có một hành động gây hại cho bất kỳ ai. Có người cho ý kiến : người hiền lành là người sống hòa nhã, chân thật, không làm điều ác, không thích gây gổ cãi cọ bao giờ, biết nhường nhịn mọi người.

Theo nguyên ngữ Hy lạp được dùng trong Kinh thánh thì hiền lành có nghĩa là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo cứng cỏi. Như thế hiền lành phải có cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong thì phải êm ái, hòa nhã, yêu thương, khoan dung, thông cảm. Bên ngoài thì phải nhẹ nhàng, không có hành động cứng rắn hay thô bạo. Tất cả những biểu hiện nói trên cho chúng ta một nét chung của người hiền lành: “Tâm bất biến giữa dòng dời vạn biến”.

  1. Phúc cho những ai hiền lành

Như vậy, người hiền lành không phải là kẻ nhu nhược, sợ hãi không dám hành động, mà bởi vì họ là kẻ mạnh, họ làm chủ được cảm xúc của mình và họ biết mình phải làm gì. Sự hiền lành đạt đến mức tột độ khi người ta thực sự rập khuôn cuộc đời mình với khuôn mẫu mầu nhiệm thánh giá của Đức Kitô. Nó là sự tự hủy, coi bản thân mình chẳng là gì, mà chỉ nghĩ đến người khác.

Những người có tâm tính hiền lành tự nhiên phải cám ơn Chúa, vì đó có thể gọi là “hoa đồng cỏ nội”, nét đẹp dịu dàng, chất phác của thiên nhiên làm cho mọi người dễ chịu, đi ngang qua ai cũng muốn ngắm nhìn. Dân gian thường hay nói họ: “hiền như cục đất”, muốn ném đâu thì ném. Quả thật họ là những người không thích tranh luận, không muốn hơn thua, sao cũng được. Họ quan niệm: “Ai nhất thì tôi thứ hai, ai mà hơn nữa, tôi thì thứ ba”

Tuy nhiên thật quý giá cho những ai có tính khí hung hăng, nhưng luôn thao thức để rèn luyện nhân đức hiền lành theo lời mời gọi của Thầy Giêsu. Họ phải cắn răng chịu đựng, ngậm đắng nuốt cay… để tránh những xung đột, những va chạm… vì họ muốn yêu thương “như Thầy yêu thương”.

Có những người chia sẻ với tôi, mỗi sáng thức dậy họ đều cầu nguyện: “Xin cho con trong ngày hôm nay được hiền lành như Chúa Giêsu”, vì họ biết mình rất nóng nảy. Và lời nguyện đó trở thành lời nguyện tắt trong suốt ngày, để khi gặp những gì không vừa ý, họ nhớ đến sự hiền lành và cố gắng bỏ qua. Tuy nhiên có những khi  không thể chịu nổi, họ cũng lỡ lời lớn tiếng nạt nộ người khác. Nhưng điều đó cho thấy sự nổ lực để muốn trở nên hiền lành là đáng quý hơn những vấp váp do tính khí hung hăng.

  1. Hãy học với tôi…

Nhìn vào thực trạng xã hội và thực tế đời sống gia đình hôm nay, lời mời gọi: “hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” của Đức Giêsu càng trở nên cấp bách. Chỉ vì những xung đột nho nhỏ, hoặc những va chạm giao thông chẳng đáng gì mà nhiều khi trở thành những vụ án mạng. Chỉ vì chồng thích xem đá banh, vợ mê phim Hàn Quốc cũng đủ trở thành nguyên nhân cho một vụ ly dị… Nói theo lý thuyết, chỉ cần nhường nhịn nhau một chút là mọi sự sẽ tốt đẹp. Tuy nhiên, nếu nhường nhịn được thì đâu có chuyện gì để nói.

Vấn đề ở đây là chúng ta phải nhìn với cái nhìn đức tin. Chúng ta là những Kitô hữu, chúng ta được nghe biết rát nhiều về Đức Giêsu, nhưng chúng ta có cố gắng để học hỏi cung cách hiền lành và đời sống yêu thương của Ngài không, hay việc đi lễ của chúng ta chỉ lề luật, và việc sống đạo của chúng ta chỉ là hình thức bên ngoài?

Nếu Kitô hữu thực sự luôn thao thức để thực hành lời Chúa, luôn cố gắng để trở nên giống Đức Giêsu, thì rõ ràng họ sẽ trở thành ánh sáng cho trần gian.

Ước mong qua lời Chúa hôm nay, trước hết mỗi người chúng ta, nhất là các bạn trẻ hãy cố gắng cho mình biết sống đạo thực sự chứ đừng giữ đạo bằng những lề luật bên ngoài. Khi đã muốn sống đạo, chúng ta mới thực hành bước tiếp theo là cầu nguyện cho mình được hiền lành như Đức Giêsu. Với lời nguyện xin được trở nên hiền lành nghĩa là chúng ta muốn đem tình yêu thương đến cho người khác, không muốn để người khác phải khổ vì bị mình chửi mắng, đánh đập, hành hung, làm hại, xúc phạm… thì tự nhiên những hành động của chúng ta cũng sẽ hiền lành hơn mỗi ngày vì chúng ta biết nghĩ đến người khác.

“Lạy Trái Tim Cực Thánh Đức Chúa Giêsu, xin uốn lòng chúng con nên giống như Trái Tim Chúa.”

Về mục lục

.

ỨNG SỬ HIỀN HẬU VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 11,25-30

(25) Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất. Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. (26) Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. (27) Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho. (28) Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (29) Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. (30) Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”.

  1. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su ngợi khen Chúa Cha vì đã tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Người hứa sẽ mặc khải về Chúa Cha và ban sự sống đời đời cho những ai tin vào Người. Người kêu gọi dân Do thái đang sống dưới ách Luật Mô-sê và những kẻ đang chịu lầm than vất vả hãy đến để được ơn nâng đỡ. Người khuyên họ mang lấy ách thập giá của Người và học nhân đức hiền lành và khiêm nhường của Người. Nhờ đó, thập giá sẽ nên nhẹ nhàng và đau khổ sẽ thành êm ái cho họ. Tóm lại, Đức Giê-su chính là Đấng Thiên Sai xuất hiện như là Con người, Con Thiên Chúa, là Vua và là Đấng mặc khải Nước Trời cho những kẻ bé mọn.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 25-26: + Lạy Cha (Áp-ba): là một tiếng kêu thân thương của đứa con với cha giống như “Bố ơi!” của người Việt Nam. Đây là một kiểu nói mới lạ độc đáo của Đức Giê-su, mà trước đó không ai dám thưa với Đức Chúa như vậy. + Con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu: Đức Giê-su cảm tạ Chúa Cha vì đang khi những kẻ tự cho mình là khôn ngoan không chấp nhận Tin mừng Nước Trời, thì những người nghèo hèn lại vui vẻ đón nhận. + Đó là điều đẹp ý Cha: Đức Giê-su nhận ra thánh ý của Chúa Cha phù hợp với lời tuyên sấm của I-sai-a: trong Triều đại của Đấng Thiên Sai người nghèo sẽ được nghe rao giảng Tin Mừng (x. Is 61,1-2).

– C 27-28: + Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi: Câu này gợi lại lời tuyên sấm của Đa-ni-en về Đấng Thiên Sai mang danh hiệu Con Người, Ngài được Đấng Cao Niên là Thiên Chúa ban cho mọi sự (x. Đn 7,13-14). + Không ai biết rõ người Con trừ Chúa Cha…: Chỉ Chúa Con mới biết rõ về Chúa Cha và mặc khải cho nhân loại để họ tin theo và được ơn cứu độ là sự sống đời đời (x. Ga 17,3). + Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề: Những người bé nhỏ khiêm hạ được Đức Giê-su mặc khải cho là những ai đang vất vả mang gánh nặng nề. Đó là dân chúng Do thái sống dưới ách Lề Luật và phải tuân giữ nhiều tập tục phức tạp mà các kinh sư và Pha-ri-sêu đã đặt thêm ra (x. Mt 23,4). Đây cũng hiểu là hết những ai đang chịu nhiều thiệt thòi về vật chất và đau khổ về tâm hồn. + Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng: Đức Giê-su thương xót hết mọi kẻ đau khổ và mang vác gánh nặng. Người không hứa sẽ cất cho họ khỏi gánh nặng, nhưng sẽ ban thêm sức mạnh tinh thần giúp họ can đảm chịu đựng đau khổ để vượt qua và lập công đền tội mình.

– C 29-30: + Hãy mang lấy ách của tôi: Ách hay gánh nặng của Đức Giê-su là đạo lý Tin Mừng. Đạo lý ấy được tóm lại trong ba điều: Một là phải tin vào Đức Giê-su và trở nên môn đệ của Người. Hai là phải sống khiêm hạ bé nhỏ trước tôn nhan Thiên Chúa. Ba là phải cư xử hiền hòa với tha nhân noi gương Đức Giê-su. + Vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường: Sự hiền hậu của Đức Giê-su luôn đi với khiêm nhường tự hạ (x. Mt 11,29; Lc 14,11). + Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng: Đức Giê-su hứa sẽ ban bình an nội tâm cho những ai mở lòng đón nhận tình yêu của Người, và chấp nhận theo con đường “qua đau khổ vào trong vinh quang”. + Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng: Tuy Đức Giê-su đòi hỏi nhiều hơn và triệt để hơn các ráp-bi Do thái (x Mt 10,37-38), nhưng Người chỉ mời gọi và chờ đợi sự tự nguyện đáp lại, trái với các đầu mục Do thái thường “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, còn chính họ thì không buồn động ngón tay vào” (Mt 23,4).

  1. CÂU HỎI: 1) “Abba” nghĩa là gì ? Lối xưng hô này cho thấy quan hệ giữa Đức Giê-su với Thiên Chúa ra sao ? 2) Đức Giê-su ngợi khen Chúa Cha về điều gì ? 3) Lời Đức Giê-su cho biết Người được Thiên Chúa ban cho mọi sự đã được ngôn sứ nào đề cập đến ? 4) Đức Giê-su kêu gọi những kẻ đang vất vả mang gánh nặng đến với Người. Họ là những ai và Người hứa sẽ ban điều gì cho họ ? 5) Ách của Đức Giê-su nói đây ám chỉ điều gì và được tóm lại như thế nào ? 6) Sự hiền hậu của Đức Giê-su luôn đi kèm với nhân đức nào ? 7) Đức Giê-su đã nêu gương khiêm nhường hiền hậu ra sao ? 8) Đức Giê-su hứa ban điều gì cho những kẻ sống khiêm hạ hiền hòa ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA:

  1.  LỜI CHÚA: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) SẴN SÀNG NHẪN NHỊN KẺ THÙ VÌ VIỆC NƯỚC:

LẠN TƯƠNG NHƯ được phong làm tướng quốc nước Triệu. LIÊM PHA cậy mình có nhiều công hơn mà lại bị vua Triệu xếp đứng bên dưới, nên cảm thấy bực tức và hăm hễ gặp mặt Tương Như là sẽ giết. Tương Như vì thế cứ phải lánh mặt… Một hôm Tương Như có việc phải ra ngoài, gặp phải toán lính tiền đạo của Liêm Pha từ xa đi tới, liền sai mấy người đánh xe tránh vào trong ngõ, đợi cho kiệu của Liêm Pha đi qua rồi mới ra đường. Bọn xa nhân của Tương Như thấy thế rất căm giận thay cho chủ và họp nhau lại chất vấn Tương Như rằng:

– Chúng tôi bỏ nhà cửa, xa thân thích đến đây để hầu ngài, tức coi ngài là bậc trượng phu nên mến mà đi theo. Nay ngài cùng Liêm tướng quân cùng hàng quan nhất phẩm mà hạng thứ của ngài còn ở trên ông ta. Liêm Pha dọa, ngài đã không đáp nên tránh mặt ở triều đình. Nay lại còn tránh cả ở ngoài đường nữa ! Sao ngài lại tỏ ra nhát sợ ông ta quá như vậy ? Chúng tôi là bề tôi cảm thấy xấu hổ, nên xin phép từ giã ngài, không tiếp tục theo ngài nữa.

 Tương Như liền nói :

 – Các ngươi xem tướng quân ta có hơn vua nước Tần không ?

Bọn xa nhân đáp :

– Thưa không.

Tương Như lại nói :

– Trước cái oai của vua nước Tần, thiên hạ nào ai dám ra mặt chống, mà Tương Như này dám mắng ông ta ngay giữa triều đình nước Tần, lại làm nhục cả quần thần của vua Tần nữa.  Tương Như ta dẫu hèn, há lại sợ một Liêm tướng quân hay sao ? Nhưng ta nghĩ sở dĩ nước Tần hiện nay không dám tiến đánh nước Triệu chúng ta là vì e sợ có ta và Liêm tướng quân. Nay hai con hổ đấu nhau, thề không sống chung với nhau. Nếu nước Tần nghe tin được, tất sẽ thừa cơ mang quân sang đánh nước Triệu ta thì sao ? Ta sở dĩ chịu nhục tránh Liêm tướng quân là vì lấy việc nước là trọng và coi thù riêng là khinh vậy thôi.

Bọn xa nhân liền quỳ mọp bái lạy Tương Như mà rằng :

– Tiểu nhân chúng tôi trí hẹp làm gì hiểu nổi đại chí của tướng công.

Về phần Liêm Pha, khi nghe thuật lại lối ứng xử của Tương Như thì cả thẹn mà rằng : ”Ta thật còn kém Lạn Tương Như xa lắm”. Rồi Liêm Pha còn đến tạ tội với Tương Như, qùi mọp mà rằng: ”Tôi tính tình thô bạo, đội ơn tướng quân đã bỏ qua, tự nghĩ lấy làm hổ thẹn quá !”. Tương Như đến đỡ dậy, và sau đó cả hai kết làm bạn thân thiết sống chết có nhau.

                   (Cái DŨNG của thánh nhân- Nguyễn duy Cần)

2) TÂM HỒN BÌNH AN NHỜ TIN VÀO CHÚA:

TOM là một tân tòng người da đen. Anh có lòng tin Chúa và siêng năng tham dự thánh lễ mỗi ngày. Nhưng anh bạn thân của anh tên là GION thì lại không tin Chúa. Khi gặp Tom, anh ta thường nói lời khích bác đức tin của Tom và coi Tom là một kẻ mê tín. Một hôm Tom đang vác một bao khoai mì khá nặng từ cánh đồng trở về nhà, thì gặp Gion đang ngồi chờ bên vệ đường. Thấy Tom vác nặng mồ hôi chảy ra nhễ nhãi, Gion liền lên tiếng diễu cợt: “Này Tom, anh tin Chúa mà sao Chúa lại để anh vất vả quá như thế ?” Tom không trả lời và tiếp tục bước đi. Được thể, Gion lẽo đẽo theo sau và tiếp tục nói những lời khích bác về đạo. Đi được một quãng, Tom đã cố ý buông tay cho bao khoai sau lưng anh rơi xuống đất. Sau đó anh quay lại nhặt lên và nói với Gion: “Tôi cũng xin hỏi anh: “Làm sao tôi biết được bao khoai sau lưng mình bị rơi, khi mắt tôi không thấy nó rơi ?”. Gion liền đáp: “Đương nhiên là anh phải biết nó rơi rồi, vì anh cảm thấy gánh nặng trên vai anh biến mất ?” Bấy giờ Tom mới giải thích cho Gion hiểu lý do tại sao mình theo đạo như sau: “Tôi đồng ý với anh là bao khoai tôi đang vác mà bị rơi xuống thì đương nhiên tôi phải biết, vì tôi thấy gánh nặng trên vai tôi đột nhiên biến mất và tôi cảm thấy nhẹ mình. Về đức tin cũng vậy: Trước đây, tôi luôn cảm thấy buồn rầu lo lắng về những tội lỗi trong quá khứ, và không lúc nào tâm hồn được bình an. Nhưng từ ngày theo đạo, tôi đã gặp được Chúa Giê-su. Mỗi lần tham dự thánh lễ, tôi được nghe Lời Chúa an ủi và lời giảng của vị linh mục giúp tôi hiểu thêm về lòng thương xót của Chúa, về ý nghĩa những đau khổ tôi gặp phải và về giá trị công việc lao động tôi đang làm… Khi từ nhà thờ ra về, tôi cảm thấy bao nhiêu gánh nặng lo âu phiền muộn đều biến mất. Hiện nay tôi cảm thấy tâm hồn mình thật bình an hạnh phúc. Mặc dù vẫn phải làm việc để kiếm sống, vẫn gặp phải những điều rủi ro tai nạn trái với ý muốn, nhưng tôi luôn an tâm và sẵn sàng chấp nhận chúng giống như tôi đang vác cây thập giá của mình mà theo chân Chúa vậy. Chính đức tin đã giúp tôi nhận ra Chúa Giê-su đang sống trong tôi và tôi cảm thấy rất an tâm vì có Chúa đồng hành, cùng chia sẻ vui buồn với tôi. Đó chính là lý do tại sao tôi theo đạo và tôi quyết trung thành theo Chúa đến cùng”.

Tom đã cảm nghiệm được lời Đức Giê-su hôm nay: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng… Và tâm hồn anh em sẽ được bình an” (Mt 11,28-29).

3) GIÓ BÃO VÀ MẶT TRỜI – AI MẠNH HƠN AI ? :

Gió bão và Mặt trời đang tranh cãi nhau về sức mạnh vô địch của mình. Lúc đó có một người hành khất mặc một chiếc áo khoác cũ rách đang đi trên đường. Mặt Trời liền nói : “Chúng ta đã cãi nhau nhiều rồi mà không có người thắng. Bây giờ mỗi người hãy chứng tỏ sức mạnh bằng hành động: “Ai lột được chiếc áo khoác của người hành khất đang đi dưới đường kia thì mới là kẻ mạnh nhất.” Nghe vậy, gió bão liền đồng ý và lập tức ra tay trước.

Gió bão bắt đầu cho đổ mưa và làm thành một cơn cuồng phong thổi nước mưa ào ào tạt vào người của gã hành khất kia. Có điều lạ là gió bão càng thổi mạnh bao nhiêu thì gã hành khất lại càng ôm chặt chiếc áo khoác sát vào người. Gió bão tức giận tăng thêm cường độ xô gã hành khất té ngã xuống đường. Nhưng khi thấy chiếc áo khoác sắp bị thổi bay khỏi người thì gã hành khất liền nằm đè lên chiếc áo, quyết không cho nó rời khỏi mình. Sau khi làm đủ cách trong một thời gian dài, gió bão bị thấm mệt nên đành chịu thua, nhường chỗ cho mặt trời ra tay.

Mặt trời liền chiếu xuống đường những tia nắng ấm áp khiến gã hành khất đang nằm trên đường cảm thấy dễ chịu và bắt đầu ngồi lên. Hắn ta mới lỏng chiếc áo khoác phanh ngực ra đón ánh nắng mặt trời. Khi ánh nắng chứa chan làm cho gã cảm thấy nóng bức và mồ hôi bắt đầu xuất ra khiến gã phải cởi áo khoác ra và chạy tới một gốc đa gần đó trú nóng. Gã ta trải chiếc áo khoác phơi trên bãi cỏ cho mau khô. Thế là anh mặt trời đã chiến thắng vẻ vang mà không cần vất vả như anh gió bão trước đó.

Câu chuyện cho thấy sự hiền hòa dịu dàng kèm theo sự khôn ngoan sẽ có sức mạnh chinh phục lòng người hơn là thái độ hung dữ dùng bạo lực để trấn áp tha nhân.

4) SỐ PHẬN CỦA KẺ KIÊU NGẠO THÔNG MINH NHẤT THẾ GIỚI :

“Có một máy bay nhỏ chở hành khách đang bay ở độ cao trung bình và với vận tốc vừa phải. Hành khách trên máy bay gồm một vị giáo sĩ, một hướng đạo sinh, một giám đốc sản xuất điện toán. Đang bay trên bầu trời thì bỗng nhiên động cơ của máy bay không hoạt động nữa. Gió rít mạnh làm chiếc máy bay rơi nhanh. Ba chiếc dù được đưa ra, nhưng trên máy bay có tất cả bốn người. Làm sao đây?

Viên phi công khóc và nói: “Tôi phải có một chiếc dù, vì tôi có vợ và ba đứa con thơ.” Nói đoạn, viên phi công nhanh tay chộp lấy một cái dù và nhảy vội ra khỏi máy bay. Ba người còn lại nhìn nhau. Ông Giám độc điện toán kêu lên: “Ồ, chắc là tôi phải cần một cái dù. Tôi là người thông minh nhất thế giới và thế giới đang cần tôi”. Nói chưa dứt lời, ông nhanh tay luồn dây vào vai rồi vội nhảy ra ngoài.

Vị giáo sĩ quay sang nói với người hướng đạo sinh: “Này con, con hãy lấy chiếc dù cuối cùng và nhảy ra đi. Cha đã già rồi, cha sẵn sàng để đi gặp Chúa. Con còn trẻ, tương lai huy hoàng đang chờ đợi con. Con không thể chết được”. Nhưng người hướng đạo sinh mỉm cười nói: “Cha già đáng kính và dễ thương của con ơi. Cha hãy yên tâm. Vẫn còn đủ dù hai chiếc dù cho hai cha con mình. Ông giám đốc điện toán cho mình là người thông minh nhất thế giới vừa nhảy ra khỏi máy bay với chiếc ba lô của con mà ông ta tưởng đó là chiếc dù”.

Hãy tự khiêm tự hạ trước mặt Thiên Chúa để chính Ngài sẽ hành động trên chúng ta. Hạnh phúc cho những ai biết nép mình bên Chúa như đứa con thơ trong tay mẹ hiền của mình.

5) GƯƠNG HIỀN LÀNH KHIÊM NHƯỜNG CỦA THÁNH GIÁO HOÀNG GIO-AN 23 :

Khi được phong lên làm Tổng giám mục, thì đức cha Roncalli đang là Khâm sứ Toà Thánh kiêm Đại diện Tông tòa quản trị các giáo phận ở Bungari và Thổ.  Công việc của ngài rất khó khăn, vì phải coi sóc một vùng đất rộng lớn, đang sôi động về mặt chính trị, chia rẽ về mặt tôn giáo : Giữa đạo Công giáo với các đạo Tin lành, Chính thống, Hồi giáo ;  Giữa các linh mục triều với các tu sĩ. Trong lúc thi hành công tác mục vụ, đức Tổng giám mục Roncalli đã nhận được một bức thư nặng lời chê trách ngài về mọi mặt, do một linh mục bất mãn với ngài viết.  Khi đọc xong, đức cha Roncalli không nói một lời, lòng vẫn tha thiết yêu thương vị linh mục ấy. 

Sau khi được thăng chức  sứ thần Toà thánh tại Paris, rồi hồng y giáo chủ Vênêcia, và cuối cùng đắc cử lên làm Giáo hoàng với danh hiệu Gioan 23 vào năm 1958, linh mục viết thư chỉ trích ngài năm nào vẫn đang còn sống.  Ông cùng với đoàn giáo dân sang Rôma xin được vào yết kiến Đức Giáo hoàng. Linh mục ấy đã thuật lại cuộc tiếp kiến riêng tư với Đức Giáo hoàng :

“Trong lúc đứng ở phòng khách trên lầu cao Vatican, đầu óc tôi cứ nghĩ tới bức thư biểu lộ sự bất mãn năm xưa mà lòng vô cùng hối hận. Tôi trộm nghĩ, đã mấy chục năm trôi qua rồi, nên giờ đây chắc hẳn Đức Thánh Cha sẽ không còn nhớ gì… Nhưng ai ngờ, sau khi tiếp chuyện thân mật, Đức Thánh Cha với lấy cuốn Kinh thánh và lôi ra trước mặt tôi bức thư ấy. Đang khi tôi lúng túng, Đức Thánh Cha đã cầm lấy tay tôi và dịu dàng bảo: ”Con đừng hoảng sợ, cha không bao giờ giận ghét gì con đâu mà trái lại còn phải cám ơn con nữa. Vì cha cũng chỉ là người, cũng có những yếu đuối sai lỗi, nên khi nhận được thư của con, cha đã để vào trong cuốn Thánh kinh đọc hằng ngày, để mỗi tối cha đều nhìn vào bức thư đó để xét mình, hầu dễ dàng tu sứa những khuyết điểm sai lỗi tồn tại, và quyết tâm xa tránh những lầm lỡ có thể xẩy đến trong tương lai. Mỗi lần như thế cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con”.

  1. SUY NIỆM:

1) THẾ NÀO LÀ HIỀN HẬU VÀ KHIÊM NHƯỜNG ?:

– Hiền hậu hay hiền lành là thái độ của một người tốt lành, giàu lòng từ bi nhân ái, có lòng thương xót và thích làm điều tốt cho kẻ khác. Hiền hậu theo Kinh Thánh còn có nghĩa là thái độ hiền dịu, không cứng cỏi… Như vậy sự hiền hậu vừa có trong lòng lại vừa phát xuất ra bên ngoài: Trong lòng thì từ bi, khoan dung, độ lượng, cảm thông, còn bên ngoài thì nhẹ nhàng, từ tốn nhỏ nhẹ, không thô bạo, không gây thù chuốc oán với ai…

– Trong đời sống thường ngày, những người có quyền thường tự cao tự đại, không muốn ai làm trái ý của mình, lại thường nóng tính biểu lộ qua nét mặt cau có, hay la mắng người dưới làm trái ý mình, có khi còn “giận cá chém thớt” nữa.  

– Khiêm nhường là thái độ nhún nhường không thích khoe khoang thành tích, sẵn sàng hạ mình một chút.  Căn bản của khiêm nhường là tôn trọng sự thật về mình: nhận thức đúng mình là người xấu tốt như thế nào để không muốn mình nổi trội hơn người khác. Giả như người khác có coi thường mình thì cũng không tức giận và để bụng trả thù. Nhờ “biết mình biết người” như vậy nên người khiêm nhường sẽ luôn thành công trong mọi việc., sẽ không buồn phiền chán nản khi sự thể xảy ra không như ý của mình. Người khiêm nhường dễ gây được thiện cảm với người khác và nhận được sự hợp tác của nhiều người. 

 2) HÃY HỌC VỚI TÔI SỰ HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG TRONG LÒNG:

– Đức Giê-su mời gọi chúng ta hãy học nơi Người về “lòng hiền hậu và khiêm nhường”, để tâm hồn chúng ta có sự bình an thư thái. Cần loại bỏ thái độ tự mãn về sự khôn ngoan thông thái của mình, để tập suy nghĩ đơn sơ trung thực như trẻ thơ. Bấy giờ chúng ta sẽ được Chúa mặc khải những mầu nhiệm của Thiên Chúa (x. Mt 11,25-27). Ngoài ra, thánh Au-gút-ti-nô cũng nói: “Ở đâu có khiêm nhường, ở đó có bác ái”.

– Văn hào Nga TÔN-TOI (Tolstoi) đã kể một câu chuyện ngụ ngôn cho thấy sự hiền lành là nguyên nhân của niềm vui và hạnh phúc như sau: Một hôm sói hỏi sóc nâu: “Tại sao họ sóc nhà mi luôn vui vẻ nhảy nhót, còn bọn sói chúng ta lại luôn ủ rũ buồn rầu vậy?” Sóc liền trả lời rằng: “Ông sói buồn rầu vì trong lòng ông chứa đầy sự độc ác. Chính sự độc ác ấy đã bóp nghẹt trái tim ông, không cho ông được an bình hạnh phúc. Còn sở dĩ lũ sóc chúng tôi luôn vui vẻ vì chúng tôi hiền lành, không làm hại ai cả”.

– Một câu chuyện khác về một con nhái bén kiêu căng: Ngày nọ một con nhái bén kiêu căng lên tiếng thách đấu với một con bò mộng. Nhái ta cố uống nhiều nước để phình bụng ra to hơn con bò. Nhưng to đâu không thấy, chỉ thấy con nhái bén kiêu căng kia sau một hồi cố gắng đã bị nổ bụng và chết thảm.

Câu chuyện nhái bén này dạy chúng ta bài học như sau: “Đừng trèo cao để khỏi bị té đau”, đừng “xưng hùng xưng bá” khi không có thực tài như người ta thường nói: “Có tài mà cậy chi tài. Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Đàng khác dù có thực tài đi nữa nhưng phải ý thức về giới hạn của mình như người xưa dạy: “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” (Một người tài giỏi chắc cũng sẽ có người tài giỏi hơn đánh bại mình).

3) ỨNG XỬ HIỀN HẬU VÀ KHIÊM NHƯỜNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG: Trong cuộc sống, mỗi tín hữu chúng ta hãy quyết tâm ứng xử hiền lành khiêm nhường cụ thể như sau:

a- Nhẫn nhịn chịu đựng: Kềm chế cơn giận khi bị kẻ khác khinh thường chơi xấu mình, noi gương Đức Giê-su đã không trừng phạt dân làng Sa-ma-ri khi họ không tiếp đón Người và các môn đệ vào ở trọ trong làng của họ. Hai môn đệ Gia-cô-bê và Gio-an đã tức giận yêu cầu Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không? ” Nhưng Người quay lại quở mắng các ông: “Anh em không biết anh em thuộc loại thần khí nào. Vì Con Người không đến để làm cho người ta mất mạng, nhưng là để  cứu mạng”. Rồi thầy trò đi sang làng khác (x. Lc 9,53-56).

b- Không khoa trương công đức trước mặt người đời để tìm tiếng khen (x. Mt 6,1-4). Tránh tình trạng “thùng rỗng kêu to”; “Làm láo báo cáo hay”. Bệnh thành tích làm cho người ta dễ che đậy cái xấu và gian dối phóng đại điều tốt lên để được người khác khen thưởng.

c- Sẵn sàng tha thứ vô điều kiện: Đức Giê-su đã dạy: “Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (x. Mt 5,43-45). Trong kinh Lạy Cha Người cũng dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6,12).

d- Cần sớm hòa giải với tha nhân trước khi dâng của lễ: “Vậy nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lài đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ của mình” (Mt 5,23-24).

e- Sắn sàng phục vụ hơn là được phục vụ (x. Mt 20,28): Đức Giê-su đã nêu gương khiêm hạ bằng việc rửa chân môn đệ trước khi dạy các ông bài học khiêm nhường (x. Ga 13,14).

g- Yêu kẻ thù và làm ơn cho những kẻ thù ghét bách hại mình (x. Mt 5,39-42): Trên thập giá, Đức Giê-su nêu gương hiền lành khiêm nhường khi im lặng chịu đựng sự sỉ nhục và cầu xin Chúa Cha tha cho những kẻ hành hạ mình (x. Lc 23,34)…

4) PHÚC THAY AI XÂY DỰNG HÒA BÌNH: Trong bài giảng “Tám mối phúc thật” , Đức Giê-su đã khẳng định: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp”. ”Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,4.10).  Sự hiền lành sẽ làm cho chúng ta được vào Nước Trời của Đức Giê-su và nếu biết xây dựng hòa bình trong môi trường sống và làm việc của mình, chúng ta sẽ xứng đáng được gọi là con Thiên Chúa.

Tuy nhiên, sự hiền lành nơi Đức Giê-su không phải là nhu nhược thụ động, không đồng nghĩa với bất nhất ba phải… nhưng luôn biết ăn ở công minh chính trực, từ bi nhân ái, thể hiện qua thái độ và cách ứng xử như sau:

a- Tránh xét đoán ý trái cho kẻ khác: Luôn tỏ lòng nhân từ với các tội nhân noi gương Đức Giê-su đã nói với người phụ nữ phạm tội ngoại tình: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” (Ga 8,11b).

b- Hiền lành nhưng cương quyết: Không thỏa hiệp với cái xấu như Đức Giê-su đã trách ông Phê-rô khi ông can trách Người đừng chấp nhận con đường “qua đau khổ vào vinh quang” theo ý Chúa Cha như sau: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23). Đức Giê-su cũng có lần quát mắng ma quỷ cám dỗ: “Xa-tan kia, xéo đi ! Vì đã có lời chép: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10).

c- Nặng lời khiển trách bọn đạo đức giả: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào ! Các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng không để cho họ vào” … “ Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia ! Các ngươi trốn đâu cho khỏi hình phạt hỏa ngục ?” (Mt 23,13.33).

d- Sẵn sàng dùng biện pháp mạnh khi cần: Người đã bện dây thừng làm roi để xua đuổi tất cả bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ, lật đổ bàn của những người đổi bạc và xô ghế của những kẻ bán bồ câu. Rồi Người bảo họ: “Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành sào huyệt của bọn cướp“ (Mt 21,12-13).

e- Lý phải nhân tâm phục: Đức Giê-su đã hạch kẻ đã vả mặt Người rằng: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh xem sai chỗ nào. Còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” (Ga 18,22-24).

TÓM LẠI: Tất cả những điều tốt đẹp Đức Giê-su làm và dạy nói trên đã được thánh Phan-xi-cô tóm lại trong KINH HÒA BÌNH. Nếu mỗi tín hữu chúng ta biết năng đọc và áp dụng theo các nguyên tắc ứng xử này thì chúng ta sẽ nên giống Đức Giê-su và sẽ tích cực góp phần vào sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.

  1. THẢO LUẬN:

1) Phân biêt sự hiền lành giống và khác với sự nhu nhược và ba phải ra sao ?

2) Có người nghĩ rằng: không thể áp dụng lời Đức Giê-su dạy: “Đừng chống cự người ác” (Mt 5,39), để tránh cho kẻ ác “được đàng chân, lân đàng đầu”. Bạn có đồng ý với quan điểm ấy không ? Tại sao ?

3) Bạn cần làm gì cụ thể để nên hiền lành và khiêm nhường noi gương Đức Giê-su ?

  1. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA. Xin cho chúng con quyết tâm học tập nhân đức hiền lành và khiêm nhường trong lòng để nên giống Chúa noi gương Mẹ Ma-ri-a khi xưa. Xin cho chúng con trước khi nhắm mắt từ giã cuộc đời, có thể nói được như mục sư Mác-tin Lu-thơ Kinh (Martin Luther Kinh) rằng: “Tôi rất hãnh diện nếu ngày tôi qua đời, ai đó sẽ kể lại rằng: Mác-tin Lu-thơ Kinh là người đã cố gắng sống vì yêu thương. Ngày đó tôi mong muốn các bạn sẽ nói rằng tôi đã sống cho công lý, tôi đã dấn thân để đem lại cơm bánh cho những người đói khổ, tôi đã luôn cho kẻ đói rách được ăn mặc. Tôi mong rằng ngày đó các bạn sẽ nói rằng tôi đã dấn thân đến thăm những người tù tội, và yêu thương phục vụ hết mọi người như lời Chúa dạy… Còn tất cả những thứ khác, như giàu có, danh dự, giải No-ben hòa bình … đều không đáng kể”.

– LẠY CHÚA. Chúng con đã được Chúa tạo dựng nên giống hình ảnh Chúa. Chúa đã phú ban cho chúng con có tình yêu thương giống như “Thiên Chúa là Tình Thương”. Xin cho chúng con luôn tìm kiếm Chúa là nguồn hạnh phúc thật sự của đời con. Xin cho con biết ăn ở khiêm nhường và phục vụ Chúa trong những người cô đơn nghèo khổ và bệnh tật yếu đau đang sống bên chúng con”.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

Về mục lục

.

HÃY ĐẾN CÙNG GIÊSU

Maria. Phạm Anh

Ngày nay, chúng ta chẳng lạ gì với những quảng cáo. Chúng ta có thể gặp mọi loại hình quảng cáo ở khắp mọi nơi, khi đi trên đường, đến nơi làm việc, đi mua sắm, hay thậm chí ngồi ở một chỗ mà chúng ta vẫn nắm bắt được rất nhiều thông tin qua các phương tiện kỹ thuật số. Nếu chúng ta yêu thích thời trang thì quảng cáo về thời trang giới thiệu cho ta mẫu mới, giá rẻ, chất lượng; nếu chúng ta thích du lịch thì quảng cáo về du lịch sẽ cho chúng ta nhiều địa điểm hấp dẫn với không gian yên tĩnh, thoáng mát, đầy đủ tiện nghi, đảm bảo rằng ta sẽ hài lòng. Vì đã quá quen với cách người ta quảng cáo nên chúng ta không mấy để tâm và tin tưởng về những quảng cáo ấy. Có một người cũng giới thiệu về mình cho chúng ta, nhưng không phải là để kiếm chác thu lợi cho bản thân nhưng là để đỡ nâng người khác: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11, 28). Chúng ta có để tâm khi nghe lời mời gọi của Đức Giêsu hay cho rằng Người cũng chỉ nói suông như bao nhà quảng cáo khác? Chúng ta có được cuốn hút hay thắc mắc về lời mời gọi của Ngài không? Chúa thực có biết những nỗi đau, gánh nặng nề của ta? Làm sao Ngài có thể gánh lấy những nỗi đau thương của ta? Và làm thế nào ta có thể đến với Ngài?

Dân gian có câu: “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Thật vậy, mỗi người một hoàn cảnh, với nỗi đau và sự khốn khó riêng chẳng ai giống ai. Đã là người, ai cũng có những nỗi ưu tư, lo lắng, không phải chỉ người lớn mà ngay cả những đứa trẻ. Còn nhỏ thì chịu áp lực về học hành, thi cử, chạy đua theo thành tích của người lớn. Còn người lớn thì lo lắng về bệnh tật, kinh tế- tài chính, việc, tương lai của con cái, mất mát người thân, … Nếu kể ra cho hết những lo lắng ấy thì kể đến suốt đời cũng không hết vì ngày nào cũng có khốn khó của ngày đó (x. Mt 6,34).

“Ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6,34). Đó là lời của Chúa Giêsu nói cho chúng ta biết về thực tại của cuộc sống trần gian này. Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa nhưng đã xuống thế làm người, cùng sống và trải qua hết những nỗi khổ đau của thân phận làm người như ta. Ngài đã từng chịu nỗi đau mất mát Cha Thánh Giuse, bị phả báng, bị ruồng bỏ, bị đánh đập, và bị giết như người tội lỗi dù Ngài hoàn tôafn vô tội. Trong sách tiên tri Dacaria đã tiên báo về Ngài: Ngài là Đức Vua Chính Trực, Toàn Năng nhưng lại rất khiêm tốn, ngồi trên lưng lừa; Ngài sẽ đến và đem lại cảnh hòa bình cho muôn dân (x. Dcr 9, 9-10). Ngài đã gánh lấy những nỗi đau khổ của chúng ta để chúng ta được sống. Hãy chiêm ngắm Thánh giá, chúng ta sẽ nhận ra rằng: tất cả những nỗi đau của chúng ta chẳng sánh được với nỗi đau thương của Ngài đã phải chịu vì yêu thương ta để chu toàn thánh ý của Chúa Cha.

Chu toàn thánh ý Chúa Cha là cách sống viên mãn và hạnh phúc. Tuy nhiên, có một số quan điểm cho rằng: Tôi sống tốt thế mà khi tôi xin được hết bệnh mà tôi đâu có hết bệnh? Tôi xin được giàu có mà sao mãi vẫn “nghèo rớt mùng tơi”? Hãy thinh lặng và nhìn lại, phải chăng chúng ta đang muốn điều tốt đẹp theo ý chúng ta, mà không để cho Thiên Chúa được thực hiện chương trình tốt đẹp của Ngài dành cho chúng ta? Trong thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma, ngài đã khẳng định: “Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8, 13). Đúng vậy, sự sống không theo cái nhìn của thế gian, nhưng là sự sống- hạnh phúc thật trong Chúa. Đó chính là bình an nội tâm, dù trong những phong ba bão táp của cuộc sống hay bệnh tật, hoàn cảnh khốn khó nhưng vẫn ánh lên niềm vui. Đó là nghịch lý của cuộc sống và là mầu nhiệm Nước Trời; chỉ khi chúng ta mở lòng để Thần Khí tác động, chúng ta mới hiểu được.

Thật vậy, chúng ta hãy đơn sơ dâng lên Chúa tất cả những khó khăn, nghịch cảnh, bệnh tật, nỗi đau của chúng ta. Ngài chẳng bỏ rơi chúng ta bao giờ: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 26, 10). Để rồi, chúng ta khiêm tốn đón nhận tất cả những điều ấy, và cùng với Chúa Giêsu dâng hiến lễ lên Chúa Cha, đồng thời, giúp chúng ta và những người xung quanh sống vui trong hành trình dương thế. Như vậy, chúng ta đang được hưởng hạnh phúc Nước Trời rồi!

Lạy Chúa Giêsu, lời mời gọi của Chúa không phải là quảng cáo nhưng là lời chân thật, lời yêu thương tha thiết của Chúa dành cho nhân loại. Con cám ơn Chúa đã mời gọi chúng con đến với Ngài, chỉ nơi Ngài, chúng con mới tìm thấy niềm vui. Xin cho chúng con biết “mạnh dạn” chạy đến với Ngài, trút cho Ngài gánh nặng của chúng con, trong tâm tình đơn sơ, phó thác và khiêm tốn đón nhận tất cả để dược cùng Ngài vào dự phần vinh phúc Nước Trời Amen.

Về mục lục

.

Các bài suy niệm Chúa Nhật 13 Thường niên _ A

0

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN – A

Lời Chúa: 2V. 4, 8-11.14-16a;  Rm. 6, 3-4.8-11;  Mt. 10, 37-42

——-

 

Mục lục

  1. Tình yêu dành cho Thiên Chúa(Thiên San,  MTG.Thủ Đức)
  2. Hãy Vững Tin(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  3. Theo Chúa Giêsu  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  4. Người môn đệ Đức Kitô (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)
  5. Sống xứng với Chúa (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
  6. Suy niệm Chúa Nhật XIII Thường niên. Năm A  (Lm. Anthony Trung Thành )
  7. Lớn lên trong Tình yêu (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  8. Cùng vác thập giá với Chúa Giêsu  (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)
  9. Nghịch lý của Thập giá (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)
  10. Hiếu khách  (Lm. Trần Việt Hùng) 
  11. Tiện nghi vật chất (Lm. Vũ Đình Tường)
  12. Được và mất  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
  13. Yêu sách của Tình yêu  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)
  14. Thiên Chúa không thua lòng quảng đại của con người (Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển, SSP)
  15. Khát khao  (Trầm Thiên Thu)
  16. Hy sinh – Từ bỏ để theo và nên giống Đức Giêsu Kitô (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)
  17. Chấp nhận vác Thập giá theo Chúa để sống vui  (Lm. Đan Vinh)
  18. Địa chỉ tối ưu  (Lm. Giuse Nguyễn văn Nghĩa)
  19. Chúa Nhật XIII Thường niên_A  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)
  20. Thiên Chúa luôn bênh vực người công chính (P. Trần Đình Phan Tiến)
  21. Đâu là lẽ sống  (JM. Lam Thy, ĐVD) 
  22. Để xứng đáng với Thầy (Fx. Đỗ Công Minh)
  23. Chúa Nhật 13 Thường niên. Năm A  (Lm. Antôn)

TÌNH YÊU DÀNH CHO THIÊN CHÚA

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Nhắc đến tình yêu, ai trong chúng ta cũng có điều gì đó để nói về nó. Tình yêu là thứ làm cho cuộc sống này thêm thi vị, tươi mát. Như vườn cây vừa được tưới mát, chắc hẳn những ai đang yêu cũng sẽ có cảm nhận được sự mát dịu của tình yêu. Không chỉ là sự mát dịu, tình yêu mang lại cho ta muôn vàn cung bậc cảm xúc khác nhau. Ta chỉ muốn ở mãi trong tình trạng đó. Tất cả những điều nói trên đây phải chăng chỉ mới dừng lại trong những trải nghiệm yêu thương của của con người? Hôm nay, Đức Giêsu mời gọi chúng ta hướng cái nhìn và sự quan tâm của mình đến tình yêu đối với Thiên Chúa.

“Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10, 37). Thoạt nghe qua, không ít người trong chúng ta sẽ cảm thấy khó hiểu. Đọc thật kỹ những đòi hỏi của Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy, Người không hề ngăn cản, cấm đoán chúng ta yêu thương cha mẹ hay con cái. Đúng hơn, Người mời gọi chúng ta lưu tâm hơn đến tình yêu dành cho Ngài. Tình yêu dành cho Thiên Chúa phải vượt lên trên tất cả, nghĩa là đặt Người lên trên hết và trước hết. Tình yêu ấy chẳng phải là: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” (Lc 10, 27).

“Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 10, 38-39). Đó là điều kiện thứ hai Chúa mời gọi chúng ta khi theo Chúa và đó cũng là cách thức Thiên Chúa mong muốn chúng ta yêu mến Ngài. Thiên Chúa, qua Đức Giêsu bày tỏ mong ước của Ngài đối với mỗi người chúng ta. Thập giá là những gì gây khó khăn, cản trở chúng ta trên đường về quê trời. Đó có thể là những trở ngại từ bên ngoài, những ham muốn chạy theo tiền tài danh vọng. Có khi thập giá đến từ chính cái tôi của chúng ta. Cái tôi chính là đất ở của tội. Muốn bớt tội thì phải dệt trừ đất ở của nó. Nhưng thật ra, không phải muốn diệt là có thể diệt được. Trên đoạn đường đi, có những thập giá chúng ta có thể loại bỏ nó ngay được, nhưng cũng có những cái chúng ta phải chấp nhận mang lấy nó, vác lên vai mà đi. Đức Giêsu mời gọi chúng ta vác thập giá mình mà theo Ngài là thế. Thậm chí, có khi vì Chúa, chúng ta phải chấp nhận liều mất mạng sống mình.

Thực ra, Đức Giêsu không chỉ mời gọi chúng ta vác thập giá mình nhưng chính Ngài đã làm gương cho ta trước nhưng tâm tình của Ngài khác xa với tâm tình của chúng ta. Đức Giêsu đã dùng nó như phương thế để bày tỏ tình yêu cứu độ của Ngài dành cho nhân loại, và sự vâng phục tuyệt đối dành cho Chúa Cha trong tình yêu của người con thảo. Đức Giêsu đã biến thập giá gỗ nặng vai trở nên nguồn ơn cứu độ cho chúng ta. Bởi không phải ai khác bị treo trên thánh giá mà chính là Con Một Thiên Chúa đã hiến mình vì ta, chấp nhận vác lấy thập giá, chịu chết trên thánh giá để cứu độ nhân loại. Chiêm ngắm Đức Giêsu trên thánh giá, Đấng đã kêu gọi chúng ta vác lấy thập giá mình mà theo Ngài, chúng ta được mời gọi mang lấy tâm tình của Ngài. Để khi biết vui lòng đón nhận, vác lấy thập giá đời mình mà theo Chúa, chúng ta cũng biết biến những gì là nặng nề, khó chịu của thập giá trở nên phương thế bày tỏ tình yêu dành cho Thiên Chúa và chuyển cầu cho tha nhân.

Tình yêu dành cho Thiên Chúa không chỉ dừng lại ở đó nhưng tiếp tục mở ra cho chúng ta những lời mời gọi.Theo Chúa, chúng ta không chỉ được mời gọi vác lấy thập giá của mình, nghĩa là không chỉ dừng lại ở việc loay hoay với cái tôi “cồng kềnh”  của bản thân nhưng ta còn được mời gọi mở rộng tầm nhìn, hướng sự quan tâm đến tha nhân. Đức Giêsu đã bày tỏ tình yêu của Ngài cho chúng ta qua cái chết trên thập giá. Người không chỉ chết cho ta mà còn muốn nên một với chúng ta. Khi chúng ta làm một nghĩa cử tốt đẹp cho người khác là ta đang làm cho chính Ngài. “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Mt 10, 40). Điều này mời gọi chúng ta phải có khả năng nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tha nhân. Bởi đó, khi làm bất cứ điều gì cho tha nhân, chúng ta hãy nhớ rằng, có Chúa đang hiện diện nơi mỗi người. Ý thức được điều đó, chúng ta sẽ biết trao yêu thương hơn là oán thù, biết hy sinh mà không tính toán.

Lạy Chúa! Xin dạy chúng con biết yêu mến Chúa. Chúng con biết rằng, ngoài Chúa ra chẳng còn ai có thể dạy chúng con yêu mến như Chúa mời gọi. Xin Chúa giúp chúng con biết dành cho Chúa chỗ nhất trong cuộc đời chúng con. Xin Chúa ở cùng chúng con. Amen

Về mục lục

.

HÃY VỮNG TIN

Tuần 13 TN-A Mt 10, 37-46

Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

Yêu cha yêu mẹ, thương con thương cháu, là nghĩa vụ, là bổn phận, ai cũng muốn chu toàn. Đói ăn vụng, túng làm liều, bần cùng sinh đạo tặc, vẫn được hiểu là quá nghèo, là khổ đau cùng cực rất cần một lối thoát. Phấn đấu, nỗ lực, sáng suốt, sử dụng tự do để phân biệt sai quấy ở đời này là rất tốt, cho dù phải đối diện với nhiều thứ phức tạp, người ta vẫn phải giữ vững lập trường của mình. Tương quan gia đình, xã hội, mến bạn yêu thầy, biết mang kiến thức ra thực hành nơi cuộc sống, luôn được gọi là khôn ngoan số một. Biết bao người đang hạnh phúc vì lắm tiền nhiều của, không ít người tâm đắc vì có trong tay nhiều bằng cấp, dẫu biết rằng sức khoẻ, vật chất, chức quyền, chỉ là cái phao đỡ nâng phút chốc vượt biển trần. Quan nhất thời, dân vạn đại, sức mạnh vĩ đại và bền vững đâu phải quyền cao chức trọng, mà là tình yêu và bình an.

Đức Giêsu nói đến một sự thật, một đòi hỏi hết sức quyết liệt: “kẻ nào yêu cha mẹ hơn Thầy thì chẳng xứng đáng với Thầy”. “Kẻ nào yêu con trai con gái hơn Thầy, chẳng đáng làm môn đệ của Thầy”. Buông bỏ vật chất của cải để mong có sự thanh thoát, tưởng là khó khăn lắm, mấy ai làm được ! Để theo Thầy, làm môn đệ Đức Giêsu, phải giới hạn tình yêu thương với cha mẹ, người thân, đúng là một chọn lựa đáng sợ ! Chưa hết, mạng sống con người là cao quý, thủ thân thủ thế, phòng vệ, để mong được tồn tại tưởng là hợp lý, ấy vậy mà Đức Giêsu lại quả quyết: “kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất”. Đúng là nghịch lý ở đời không khỏi làm người ta phải nghi ngờ: thời đại gì mà bạn bè té ngã thì người ta cười, còn điện thoại rơi, mất, thì lại buồn, lại khóc !

Theo Thầy đến cùng tận, người học trò sẽ đi con đường chật hẹp, phải vác thập giá không trì hoãn, nghĩa là cần có niềm tin tuyệt đối: “kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó”. Đâu phải tự nhiên mà người xưa biết dạy con cháu: đường dài mới biết ngựa hay, sống lâu mới biết người ngay kẻ tà. Đâu phải cứ nhiều tiền lắm của là có sức khoẻ tốt, cũng chẳng phải thông minh, khôn khéo, ắt sẽ có thành công. Thực ra, có đủ tình yêu thương, người ta mới làm chủ được mình, mới biết chọn lựa đúng, và quyết tâm hướng đến niềm vui hạnh phúc ở phía trước. Hãy vững niềm tin: chỉ những ai trải qua đau khổ tột cùng, họ mới cảm nhận thế nào là hạnh phúc tột cùng. Hãy vững tin, chỉ những ai đi con đường thập giá, chỉ những ai dám đối diện với đau khổ, người ấy mới hiểu có sức mạnh đỡ nâng, ở đâu có khổ đau, ở đó có tình yêu Đức Kitô.

Hãy vững tin, một khi là người khôn ngoan, bạn sẽ học được sự thật này: rắc rối là tạm thời, thời gian là thuốc bổ, đau khổ là ống nghiệm. Là học trò Đức Giêsu, dù chưa hiểu, chưa thông, về đau khổ thập giá đang tiềm ẩn nơi cuộc sống, mỗi người vẫn được tự do minh chứng, để rõ hơn thế nào là tin, là yêu. Dù khái niệm phần thưởng ở hiện tại và tương lai chỉ lơ mơ, Đức Giêsu vẫn đang khích lệ: “kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, kẻ nào đón tiếp Thầy là đón tiếp Cha Thầy”. Dù cái biết của ta còn nhỏ bé, ta vẫn có thể mường tượng được: thứ được bán với giá rẻ nhất bây giờ là lời hứa, thứ đắt nhất bây giờ là niềm tin. Yêu người yêu thương mình để được yêu lại, gọi là đánh đổi: hòn đất ném đi hòn chì ném lại. Hãy vững tin, dù Đức Giêsu vẫn không ngừng giang tay trên thập giá, thì tình yêu và sức mạnh của Ngài vẫn đủ để giúp ta cảm nhận được sự kỳ diệu của khổ đau.

Hãy vững tin, vì một gánh sách vở không bằng một thầy giỏi, cả trăm người giầu có, không thể so sánh với cô giáo hiền. Công bằng xã hội là có qua có lại mới toại lòng nhau. Bình đẳng, sòng phẳng, trước đối tác làm ăn là đôi bên phải cùng có lợi, trẫm chết bệ hạ cũng phải băng hà. Đức Giêsu không chủ trương phải trở nên khờ dại, chịu thua thiệt, mà tất cả những ai là môn đệ, là học trò của Ngài đều phải có niềm tín thác vào tình yêu, hầu dám sống từ bỏ, dám thể hiện đức ái kitô. Hãy vững tin, Đức Giêsu đã nếm trải sức nặng của khổ đau thập giá, đã nới rộng đức yêu thương cho mọi người mọi thời, dù khối óc và trái tim của ta giới hạn. Hãy vững tin, hãy đặt tình yêu vào hành động, đừng bao giờ trao trọn niềm tin vào lời nói. Hãy vững tin, vì Chúa không bao giờ quên ta, cho dù là một chén nước vẫn được phần thưởng xứng đáng.

Hành trình đời người, có khổ đau, thất bại, đừng nản chí, hãy bình tĩnh cám ơn đời, cám ơn trời, vì đó là dấu hiệu chắc bạn đang sống và sẽ nhận lãnh phần thưởng cân xứng với những khó khăn đã vượt qua. Hãy vững tin, nếu được thọ giáo với thầy giỏi, được làm môn đệ người đức độ, được cộng tác làm việc với người nổi tiếng, đó là vinh dự. Hãy vững tin, hãy bày tỏ tự do của mình để Chúa làm chủ, để được gọt giũa, được làm môn đệ, được thấy giá trị thật của tình yêu đang biến đổi ta. Hãy vững tin, ai cũng có cơ hội trở thành môn đệ Đức Giêsu, ai cũng có đủ thời gian thể hiện đức ái với anh chị em mình, dù sức mạnh và tình yêu trong ta còn quá nhỏ bé, hạn hẹp. Xin tình yêu Chúa tiếp tục gìn giữ, đỡ nâng, giúp mỗi người chúng ta có đủ khao khát chu toàn nén bạc Chúa trao phó. Amen.

Về mục lục

.

THEO CHÚA GIÊ-SU

Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

Có những câu thành ngữ khiến nhiều người không khỏi “hoang mang”: sống để bụng, chết mang chôn ; đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Có nhiều việc làm không mang lại kết quả như ý, để rồi sau đó ta buồn phiền than thở “không ai học được chữ ngờ”: bắn súng không nên phải đền đạn, cái miệng hại cái thân, làm phúc phải tội… Đúng, sai, thật, giả, tốt, xấu, đó là những từ đối nghịch nhau, vậy mà đâu phải ai cũng phân biệt được, để rồi hối tiếc, ăn vạ, đổ thừa cho phận số hẩm hiu. Làm sao ta đủ khôn để phân định thật giả ? Làm sao mắt ta đủ sáng để thấy cuộc đời này đâu là trắng, đâu là đen ? Và làm sao để ta đủ tỉnh táo mà nhận biết đâu là người tốt, đâu là Thầy đức độ mà bước theo xin thọ giáo ?

Theo người có đầu óc kinh doanh để học buôn bán, theo thầy thuốc để học chữa bệnh, theo thầy cô giáo để học chữ, học làm người tốt, còn theo Thầy Giêsu để học sống đức ái, học làm người phục vụ Tin mừng, thật không hề đơn giản tí nào. Theo Thầy Giêsu bằng cả con tim khối óc, theo một cách triệt để như Ngài nói: “kẻ nào yêu cha mẹ hơn Thầy thì chẳng xứng với Thầy”. Theo Thầy Giêsu trọn vẹn không những là phải biết từ bỏ con người cũ của mình, mà còn phải biết sống tín thác, biết để tình yêu Chúa làm chủ cuộc đời mình. “Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm lại được”.

Thầy Giêsu đi con đường chật hẹp, tất cả những ai tự nguyện làm môn đệ Ngài, đều được mời gọi đi con đường Thầy đã đi rất phong phú, hầu trở nên môn đệ Đức Kitô, xứng đáng làm con cái Cha trên trời. Mang thân phận con người, Đức Giêsu cũng cần học biết vâng phục thánh ý Chúa Cha, và rất cần đến sức mạnh, tình hiệp thông để chu toàn sứ mạng cứu độ. Theo Đức Giêsu, các môn đệ đã từng bước, từng bước, được mở trí mở lòng, các ông hiểu theo Thầy Giêsu không phải chỉ là đúng, sai, thật, giả, không phải là tận hưởng danh lợi thú ở đời này, mà chính là tin yêu phục vụ. Quy luật gieo gì gặt nấy, ở hiền gặp lành, đó là ơn gọi trở nên người tốt, luôn sống như môn đệ Đức Kitô, đáng lãnh nhận phần thưởng của người công chính.

Ơn gọi bước theo Chúa Giêsu của Thánh Phanxicô Assisi, có phải là phản ánh kỳ lạ cho hậu thế không ? Một thanh niên tài giỏi, con nhà quyền quý cao sang, Phanxicô đã dám bán đi hết phần tài sản của mình chia cho người nghèo, ngay cả tấm áo còn lại trên người, ngài cũng trả lại cho thân phụ. Nhận định của một số người khắt khe cho rằng Phanxicô quả là bất hiếu với cha mẹ. Số khác tích cực hơn cho rằng, Phanxicô đã theo Chúa Giêsu một cách trọn vẹn theo tinh thần của Tin mừng: “ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy”. Theo Chúa Giêsu đơn gian là đi đằng sau Chúa, để Chúa huấn luyện, chỉ dẫn cách sống ơn gọi yêu thương phục vụ mà thánh ý Chúa Cha mời gọi.

Ngày hôm nay, theo Chúa Giêsu sống ơn gọi gia đình, hoặc theo Chúa Giêsu vào chủng viện, dòng tu, trở nên linh mục, tu sĩ, theo Chúa Giêsu sống độc thân giữa trường đời, tất cả đều có chung một tâm tình yêu mến phục vụ. Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh, người thuộc về Đức Kitô, dù ở bậc sống nào cũng được mời gọi chia sẻ, dấn thân hoạt động với danh nghĩa là tiên tri, là người công chính. Ngày hôm nay, số anh chị em đói nghèo cơm bánh ít hơn so với số đói tình người, nghèo tình Chúa, nhưng việc làm nhỏ bé như chia sẻ bát “nước lã”, vẫn là việc cần thiết cho ơn gọi theo Chúa Giêsu.

Người trẻ hôm nay vẫn tâm đắc với câu danh ngôn: đừng vì quá cô đơn mà nắm nhầm một bàn tay, cũng đừng vì quá lạnh mà ôm vội một bờ vai. Hẳn kinh nghiệm đó, ai cũng có thể đọc được là hãy cẩn thận và sáng suốt để phân biệt thật giả, tốt xấu. Đừng lầm tưởng nhất thiết phải có được bằng cấp địa vị trong xã hội, đừng vì lợi lộc vật chất mà bán rẻ lương tâm, đừng vì cơ cực mà gục ngã như câu thành ngữ: đói ăn vụng, túng làm liều. Ơn gọi theo Chúa Giêsu là ơn gọi sống yêu thương, ơn gọi trở nên người công chính, ơn gọi để lãnh nhận phần thưởng cao quý, sau khi hoàn tất công việc được trao phó ở trần thế này.

Người xưa có câu: nếu bạn không trở thành sao sáng ở trên trời, thì ít ra bạn hãy trở thành ngọn đèn soi sáng trong nhà bạn. Đức Giêsu mời gọi tất cả những ai muốn trở nên môn đệ của Ngài đều phải ý thức sống từ bỏ, để theo Ngài một cách trọn vẹn, tín thác. Nếu Ngài không sử dụng ta trong sứ mạng truyền giáo ở xa xôi, nghĩa là Ngài muốn ta loan báo tình yêu thương của Ngài ngay tại gia đình mình. Theo Chúa Giêsu mà tài năng, vật chất, sức khoẻ, đều giới hạn, có thể khiến chúng ta sợ hãi, chùn bước, thực ra thì Chúa dư biết khả năng mang vác thập giá của từng người, Ngài chỉ cần tấm lòng của chúng ta đối với Chúa và tha nhân. Amen.

Về mục lục

.

NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

  1. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 10, 37-42
  2. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Chuẩn bị nhân sự tiếp nối công việc truyền giáo ở trần gian, Chúa Giêsu đã tuyển chọn các môn đệ. Tuyển chọn rồi Chúa còn đào tạo để các ngài nên những chứng nhân trung thành của Chúa. Hôm nay, Chúa nêu lên những đức tính cần thiết của người môn đệ.

Người môn đệ của Chúa phải có tâm hồn quảng đại.

Tiên tri Elisêô đã hào phóng đối với gia đình tiếp đón Ngài. Tiên tri là hình ảnh đẹp về các môn đệ của Chúa. Người môn đệ là đại diện cho Đấng sai mình. Người đại diện tốt phải là người trình bày được dung mạo của Đấng sai mình. Chúa Giêsu, Đấng sai ta là người vô cùng rộng lượng. Người đến trần gian không phải để thu tích mà để ban phát. Trọn cuộc đời, Người ban phát không biết mệt mỏi. Người đến không phải để xét xử, luận phạt, nhưng để tha thứ. Người tha thứ một cách dễ dàng cho tất cả những tội nhân đến với Người. Người đến không phải để giết chết, nhưng là để cứu chữa. Người đến cho ta được sống và sống dồi dào. Người môn đệ của Chúa cũng phải có tâm hồn quảng đại, rộng lượng, bao dung như Chúa.

Người môn đệ của Chúa phải sống khiêm nhường.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là những người bé mọn. Chống lại những thói kiêu căng, phô trương, Chúa Giêsu luôn thao thức sao cho các môn đệ của Người trở nên bé nhỏ, khiêm nhường. Bé nhỏ trong tâm tình đạo đức để phó thác mọi sự trong tay Cha. Bé nhỏ về của cải, đừng mang “hai áo, mang theo túi tiền”. Bé nhỏ trong cách cư xử với nhau, đừng tranh giành chỗ nhất, nhưng hãy chọn chỗ chót. Bé nhỏ để quỳ xuống phục vụ: “như Thầy đã rửa chân cho các con, các con hãy rữa chân cho nhau”. Bé nhỏ để sau khi làm mọi việc rồi, hãy nhận mình là “tôi tớ vô duyên bất tài”.

Người môn đệ của Chúa phải biết tập trung vào Chúa Kitô.

Người môn đệ là người chọn Chúa Kitô làm lý tưởng. Người môn đệ cũng là người đi làm chứng về Chúa Kitô. Vì thế mọi lời ăn tiếng nói, cả đến tâm tư tình cảm phải qui hướng về Chúa Kitô. Chúa Kitô phải chiếm vị trí ưu việt trong tâm hồn người môn đệ. Nói thế không có nghĩa là người môn đệ chối bỏ mọi tình cảm chính đáng, dứt lìa những mối liên hệ gia đình. Nhưng có nghĩa là từ nay người môn đệ có yêu thương ai thì cũng là yêu thương trong tình yêu của Chúa Kitô và bằng tình yêu của Chúa Kitô.

Người môn đệ của Chúa sống cho Chúa và chết cho Chúa.

Chúa Giêsu không sống vì mình và cho mình. Người luôn sống vì và cho người khác. Người sống vì Chúa Cha và cho Chúa Cha. Nên mọi việc Người làm đều vì Chúa Cha và cho Chúa Cha. Người là tình yêu hoàn hảo dâng tặng Chúa Cha. Nên Người đã “vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá”. Người sống vì con người và cho con người. Nên người đã ban tặng chính sự sống của Người cho nhân loại, đã hiến mạng sống làm giá cứu chuộc nhân loại.

Nên thánh Phalô khuyên người môn đệ của Chúa hãy bắt chước Chúa mà chịu phép rửa trong sự chết của Chúa Kitô. Hãy yêu mến, sống cho Chúa và chết cho Chúa. Chắc chắn ta không chết một lần, nhưng sẽ chết dần mòn. Chết cho tội lỗi để không bao giờ phạm tội nữa. Chết trong quên mình âm thầm. Chết trong những hy sinh nhỏ bé. Chết trong nhiệt thành phục vụ nước Chúa. Chính khi chết đi như vậy, ta lại được một sự sống mới tràn ngập tâm hồn, sự sống sung mãn, phong phú của Thiên Chúa. Chỉ có những ai đã trải qua cái chết, mới cảm nghiệm được sự sống ấy, Thánh Phanxicô chắc chắn đã trải qua cuộc lột xác ấy nên mới thốt ra được những lời bất hủ: “Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời”. Vì thế thánh nhân đã trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Lạy Chúa, xin thanh luyện tâm hồn con, để con xứng đáng là môn đệ của Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1- Chúa Giêsu muốn cho môn đệ của Chúa có những phẩm chất nào?

2- Những gì Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ, Người có thực hành không?

3- Đào tạo nhân sự cho Hội Thánh. Bạn nghĩ đến việc này thế nào? Quan tâm? Giúp đỡ? Đóng góp?.

Về mục lục

.

SỐNG XỨNG VỚI CHÚA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Giêsu hôm nay cất tiếng mời gọi con người, cách riêng là người môn đệ, chẳng những lắng nghe, đi theo, mà còn phải hy sinh và từ bỏ nữa. “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 37).

Nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Chúa Giêsu, với đòi hỏi thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải yêu Chúa hơn cha mẹ, con cái.. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng, Điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Chúa Giêsu, người ta phải dành hết tình yêu đối với Chúa, người theo phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Ngài là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Chúa Giêsu yêu cầu con người dành cho Ngài một vị trí đặc biệt và cao nhất.

Tuy nhiên, dường như trở ngại lớn nhất không phải là người thân cận hoặc cha mẹ anh chị em, của cải … mà là cái tôi. Cái tôi cũng phải nhường bước cho dây liên kết với Chúa Giêsu, nên Ngài thêm: “Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 10, 38-39).

Thì ra con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Con đường “chịu mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức nguyên Giáo hoàng Benedictô XVI viết: con đường “chịu mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (Ðức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Ngày nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Vác thập giá mà theo” (Mt 10, 38). Theo Chúa khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, đây là một thất bại. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết như sau: “Một cách nhiệm mầu chính Chúa Kitô chấp nhận… chết trên một thập giá để nhổ tận gốc rễ tội kiêu căng khỏi trái tim con người, và biểu lộ một sự vâng phục toàn vẹn con thảo”t (Es. ap. Gaudete in Domino 9 maggio 1975, AAS 67 (1975) 300-301). Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn dân. Thánh Cirillo thành Giêrusalem giải thích rằng: “Thập giá chiến thắng đã soi sáng những ai bị mù lòa vì ngu muội, đã giải thoát người bị tội lỗi giam cầm, đã đem lại ơn cứu độ cho toàn nhận loại” (Catechisis Illuminandorum XIII,1; de Christo crucifixo et sepulto: PG 33, 772 B).

Người ta hỏi : Chúa Giêsu có thích khổ đau và thập giá không? Không, Chúa Giêsu đã không đi tìm thập giá và đau khổ, y như thể Ngài thích. Nhưng Ngài vác trên mình thập giá và sự đau khổ, đến mất mạng, khi phải đáp ứng điều này hầu giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vác thập giá mình là từ bỏ ý mình, vâng theo ý Chúa. Ý Chúa muốn là hy sinh và từ bỏ để sống trọn vẹn cho Chúa và cho tha nhân. Cơ bản, vác thập giá mình mà theo Đức Giêsu là liều thuốc chữa chúng ta khỏi căn bệnh ghê sợ là “sự trì trệ”, ù lì, tê liệt và khép kín lòng mình.

Không phải ngẫu nhiên Chúa Giêsu nói đến “Thập Giá”. Vác thập giá bước theo Chúa Giêsu không phải là vác đi với những bước nhẹ nhàng. Vác lấy thập giá mà theo Chúa Giêsu có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào vì tình yêu đối với Chúa. Nhưng chúng ta không vác thập giá một mình, vì có Chúa cùng đi, Ngài đi trước để chúng ta tiếp bước theo sau, Ngài đi mau để chúng ta được lúi kéo dắt dùi, Ngài nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Quyết định theo Chúa Giêsu, là gạt bỏ tất cả, hướng về Chúa là sự giầu có đích thực của chúng ta, không gì hơn Ngài, không đặt cái gì trước Ngài, toàn bộ phải qui hướng về Ngài. Ngài cũng khẩn khoản mời gọi chúng ta dùng mọi cách để đi đến tận cùng là trở nên những môn đệ Đức Giêsu. Theo Chúa Kitô, chúng ta không mất gì hết, chúng ta được tất cả. Như Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh trong bài giảng khai mào sứ vụ Giám mục Rôma : “Ai chấp nhận cho Chúa Kitô bước vào trong cuộc đời họ, thì người đó không mất đi điều gì cả, tuyệt đối không mất điều gì làm cho cuộc đời được tự do, tươi đẹp và cao cả. Không! Chỉ trong tình bạn với Chúa Kitô này mà các cửa sự sống được mở rộng ra. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà những khả năng to lớn của cuộc sống con người được thể hiện đích thực. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà chúng ta cảm nghiệm được điều gì là tươi đẹp và điều gì là tự do”. Với sức mạnh cao cả và với niềm xác tín lớn lao, dựa trên những năm dài kinh nghiệm cá nhân về cuộc sống, Đức Giáo hoàng nói với chúng con rằng: “Anh em đừng sợ Chúa Kitô. Chúa không đến lấy mất đi điều gì cả, nhưng ban cho đủ mọi sự. Ai hiến thân cho Chúa, thì được nhận gấp trăm. Phải, hãy mở ra, hãy mở rộng mọi Cửa cho Chúa Kitô, và chúng con sẽ gặp được sự sống thật” (Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, 24/4/ 2005).

Lạy Chúa, trong niềm tin, chúng con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, xin đến giúp chúng con để chúng con thấy rằng trên đường đi, có chúa là sức mạnh để chúng con tiến bước theo Chúa cho đến trọn đời. Amen.  

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN. NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành

Vào một đêm mưa bão cách đây đã nhiều năm, có một cặp vợ chồng già bước vào gian tiền sảnh của một khách sạn nhỏ ở thành phố Philadelphia của Mỹ và hỏi thuê phòng. Họ ghé vào tránh bão và hy vọng có thể mướn được căn phòng trọ qua đêm.

Tiếp đón họ là một chàng trai có nụ cười rất dễ mến. Chàng trai giải thích rằng trong thành phố của họ đang có ba hội nghị lớn nên tất cả các phòng đều đã có người thuê. Chàng trai ngập ngừng một lát rồi nói tiếp:“Nếu thời tiết tốt, tôi sẽ gửi hai vị đến một khách sạn khác, nhưng làm sao tôi có thể để một đôi vợ chồng đáng mến như hai vị ra ngoài trong trời mưa gió như thế này vào lúc một giờ khuya được? Hai vị có thể ở tạm trong phòng của tôi được không? Nó không phải là phòng sang trọng gì cho lắm, nhưng nó cũng gọn gàng và sạch sẽ. Vì tôi phải trực vào khoảng thời gian này nên tôi có thể nghỉ ngơi ở đây cũng được. Xin ông bà đừng ngại.”

Cặp vợ chồng rất biết ơn và nhận lời trọ lại trong căn phòng đó của anh. Chàng nhân viên nhìn cặp vợ chồng già và mỉm cười với họ, và họ cũng mỉm cười lại với anh.

Nhiều năm sau đó, khi chàng trai trẻ dường như đã quên câu chuyện này, thì bất ngờ, anh nhận được một lá thư kèm cặp vé máy bay. Lá thư là từ cặp vợ chồng già. Họ nhắc lại đêm mưa bão hôm đó với lòng biết ơn sâu sắc cùng lời mời cậu đến thăm New York.

Chàng trai trẻ có đôi chút ngạc nhiên. Cả đêm đó, cậu không ngủ được và nằm suy nghĩ ngẩn ngơ: có lẽ ngày mai họ sẽ dẫn mình đi thăm thành phố một vòng và dùng bữa ở một nhà hàng sang trọng nào đó chăng? Nhưng nghĩ lại, cậu thấy mọi thứ có vẻ hơi quá, vì chỉ là một sự giúp đỡ nhỏ thôi, liệu có cần phải tới mức như vậy không?

Sáng hôm sau, cậu đáp máy bay xuống New York. Cặp vợ chồng già có vẻ như đã đứng đợi cậu ở đó từ lâu. Họ mỉm cười, vẫy tay chào từ xa và đón cậu lên một chiếc xe sang trọng. Sau khi đi qua vài con phố, cặp vợ chồng già đưa cậu tới góc ngã tư đại lộ Fifth Avenue, người chồng đưa tay chỉ tòa nhà tráng lệ mới xây ở đó – một cung điện toàn bằng đá đỏ với những ngọn tháp cao vươn thẳng trên nền trời xanh, rồi nói với chàng trai: “Đây là tòa khách sạn mà tôi xây cho cậu, và tôi hy vọng cậu có thể quản lý nó”.

“Ông không đùa đấy chứ?” – Cậu ngỡ ngàng.

“Không. Đây là một đề nghị hoàn toàn nghiêm túc”, người chồng già trả lời bằng một giọng chắc nịch với nụ cười thấp thoáng trên môi.

Công trình tráng lệ kia chính là khách sạn nổi tiếng Waldorf Astoria – nơi tụ họp của tầng lớp quý tộc lớn của New York vào thời điểm đó. Đây cũng là nơi mà các nhân vật cao cấp trên toàn thế giới thường xuyên lui tới để nghỉ ngơi, đặc biệt là các Tổng thống Mỹ khi họ đang còn tại chức.

Người đàn ông già trong câu chuyện này chính là William Waldorf Astor của dòng họ Astor, một trong những gia đình giàu có nhất ở New York vào thế kỉ đó. Còn chàng trai tốt bụng kia chính là George Charles Boldt – vị giám đốc đầu tiên của khách sạn này! (Nguồn: daikynguyenvn.com). 

Thái độ đầy ắp tình người của chàng trai tốt bụng trong câu chuyện trên đây, phần nào giúp chúng ta hiểu sứ điệp của Lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay. Ở bài đọc I, trích sách các vua quyển thứ hai kể lại rằng, trên con đường đi thi hành sứ mạng, tiên tri Êlisa đi ngang qua Su-nêm và được một phụ nữ sang trọng mời ở lại dùng bữa tại nhà bà. Mỗi lần lưu lại đây, tiên tri Êlisa được bà đón tiếp một cách chu đáo. Không những thế, bà còn coi vị Tiên tri như một Đấng Thánh đến từ Thiên Chúa và muốn dọn cho vị Tiên tri một nơi ở xứng đáng trong nhà của mình. Bà nói với chồng rằng: “Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó” (2V 4,9-10). Sự hiếu khách của bà đã làm cho tiên tri Êlisa hết sức cảm kích. Vì thế, khi biết vợ chồng bà đã già mà chưa có con, Êlisa đã khẩn cầu cùng Chúa, và lời khẩn cầu của Ngài đã được Thiên Chúa chấp nhận. Tiên tri Êlisa nói với bà rằng: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai” (2V 4,16). 

Cùng một sứ điệp ấy, sau khi đòi buộc các môn đệ và những ai muốn theo Ngài phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự, trên cả cha mẹ và mạng sống của mình, bài Tin mừng hôm nay cũng đề cập tới việc Đức Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta thể hiện lòng hiếu khách bằng sự đón tiếp và giúp đỡ. Chắc chắn, Ngài mong muốn chúng ta đón tiếp và giúp đỡ hết mọi thành phần trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, khỏe mạnh hay ốm đau, bạn hay thù, chủng tộc hay màu da. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu chỉ mời gọi chúng ta đón tiếp ba thành phần sau:

Thứ nhất, đón tiếp các môn đệ: “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy.” (Mt 10,40). Chính Đức Giêsu đã đồng hóa mình với các môn đệ, cũng như Ngài tự đồng hóa mình với Chúa Cha. Có lẽ cũng vì sự đồng hóa đó mà trong thực tế chúng ta thấy, từ thời Đức Giêsu cho đến hôm nay, các môn đệ và các đấng kế vị Ngài đi đâu cũng được đón tiếp một cách trân quý. Đặc biệt, ở Việt Nam chúng ta, các Giám mục, linh mục, tu sĩ, những người làm việc nhà Chúa đi bất cứ nơi đâu cũng được người giáo dân yêu mến, và đón tiếp một cách trang trọng như là đón tiếp chính Chúa vậy. Ở cuối đoạn Tin mừng, Đức Giêsu còn cho biết: “Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”(Mt 10,42). Những kẻ bé mọn ở đây không chỉ hiểu là các môn đệ của Chúa, mà còn là những nạn nhân của cường quyền, bạo lực, những người đang phải chịu cảnh đói khát, trần truồng, bệnh tật, hay tù đày(x. Mt 25,35-36). Như vậy, giúp đỡ kẻ bé mọn chính là giúp đỡ các môn đệ, giúp đỡ kẻ bé mọn tức là giúp đỡ chính Đức Giêsu. 

Thứ hai, đón tiếp các tiên tri: “Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri.”(Mt 10,42). Các “tiên tri” ở đây được hiểu là các kitô hữu. Đặc biệt là các kitô hữu được giao nhiệm vụ thi hành một tác vụ nào đó trong Giáo Hội: nhiệm vụ dạy giáo lý; nhiệm vụ làm việc bác ái; nhiệm vụ loan báo Tin mừng cho dân ngoại…Họ có thể gặp khó khăn hay bị bách hại trong khi thi hành nhiệm vụ. Họ có thể phải chạy trốn “từ thành này qua thành khác”. Những lúc như thế, họ cần đến sự đón tiếp và chở che của mọi người. Vì vậy, nếu ai đón tiếp họ, nhất là trong những lức nguy hiểm như thế thì chắc chắn sẽ được Chúa ghi công, được Chúa trao “phần thưởng của tiên tri.” 

Thứ ba, đón tiếp những người công chính: Đây là thành phần được tôn trọng trong cộng đoàn Giáo Hội. Họ là những tấm gương phản chiếu lối sống mẫu mực: mẫu mực trong đời sống gia đình; mẫu mực trong đời sống cộng đoàn; mẫu mực trong đời sống bác ái yêu thương; mẫu mực trong đời sống đức tin… Vì vậy, họ xứng đáng để được mọi người đón tiếp và tôn trọng. Cho nên, Đức Giêsu mới nói: ai đón tiếp họ thì sẽ được đón nhận phần thưởng của người công chính (x. Mt 10, 41).

Như vậy, lòng hiếu khách không chỉ là một đức tính thiết yếu, một việc bổn phận “cho khách độ nhà” mà còn mang lại cho chúng ta những phần thưởng cao quý. Từ mẫu gương hiếu khách của chàng trai tốt bụng trong câu chuyện trên đây đến mẫu gương hiếu khách của người phụ nữ giàu sang tại Su-nêm và những giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, mỗi người chúng ta hãy nhìn lại chính mình để xét xem: Tôi có lòng hiếu khách không? Tôi có sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ những kẻ bé mọn là hiện thân của Chúa không? Tôi có sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ những sứ giả của Chúa không?

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết chu toàn bổn phận “cho khách độ nhà”, biết sống quảng đại, sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ các sứ giả của Chúa, nhất là những kẻ bé mọn. Nhưng trước hết, xin cho chúng con có lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Amen.

Về mục lục

.

LỚN LÊN TRONG TÌNH YÊU

Bông Hồng Nhỏ

Tình yêu làm cho cuộc sống của chúng ta tươi đẹp hơn. Tình yêu đi từ con tim đến con tim, từ trải nghiệm đến cảm nếm. Khi yêu, con tim ta dành trọn cho người mình yêu. Ta yêu ai thì luôn nhớ về người ấy, nói về người ấy, luôn dễ dàng mở lòng với người ấy, đến độ ta sống cũng là sống vì người ấy. Dường như, người ta yêu luôn chiếm trọn con tim và cuộc sống của ta, chi phối mọi việc ta làm.

Tình yêu có muôn màu và nhiều hương vị, cũng như mang lại cho ta nhiều cung bậc cảm xúc. Tình yêu cha mẹ dành cho con cái là một tình yêu tự nhiên, không cần đền đáp, luôn mong cho con cái được trưởng thành. Dù phải hy sinh, lao nhọc suốt một đời nhưng cha mẹ chẳng than phiền bởi niềm hạnh phúc khi thấy con lớn khôn đã làm tan biến đi tất cả. Con cái đáp lại tình yêu của cha mẹ bằng lòng hiếu thảo cũng là lẽ phải đạo. Thế nhưng, cả hai tình yêu trên đều không được lớn hơn tình yêu Chúa Kitô. Bởi, “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10, 37). Không những thế, Ngài còn đòi hỏi người môn đệ: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10, 38). Theo Chúa là chọn con đường thập giá nhưng nếu không vác thập gái mình mà theo Thầy thì cũng không xứng với Thầy. Chúa Giêsu đòi hỏi cách quyết liệt và tuyệt đối người môn đệ khi theo Chúa phải đặt tình yêu Chúa Kitô lên trên mọi mối tương quan gia đình, trên chính mạng sống của mình nữa. Khi tự hỏi, tôi có yêu cha mẹ hơn Thầy Giêsu không thì thật khó có câu trả lời chính xác. Nếu ta yêu cha mẹ hơn nghĩa là ta không xứng với Thầy. Thầy đã yêu ta và dành cho ta mọi sự. “Con có phải là đứa con TA yêu dấu, một đứa con TA rất mực mến yêu? Vì mỗi lần nhắc tới con, TA lại thấy nhớ thương, nên lòng TA bồi hồi thổn thức, TA thương con, thương con thật nhiều.” (Gr 31, 20). “Vì con, nước mắt TA chan hòa.” (Is16, 9). Trong những trường hợp đòi hỏi phải chọn lựa, ta luôn nhớ rằng phải đặt Thiên Chúa lên hàng đầu. Khi đã yêu Thầy, ta sẽ sẵn sàng vác thập giá mình mà theo Thầy bởi khi ấy, con tim và cuộc sống của ta đã hướng trọn về Thầy rồi. Chính lúc ấy, “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi.”( 2 Cr 5, 14).  Ta sẽ tìm kiếm sự sống đời đời hơn là cố giữ lấy mạng sống mình, dám lao mình về phía trước và sống cho giá trị Tin Mừng.

Mỗi ngày, ta vẫn thường đón tiếp người này người nọ trong mỗi lần gặp gỡ. Thế nhưng, ta có thật sự để cho Lời Thầy đánh động và chi phối mọi lời nói, hành động và cung cách hành xử của ta? Ta có sẵn sàng đón tiếp tất cả những anh chị em mà Chúa gửi đến không? Có khi ta đón tiếp đó nhưng liệu ta có mang đến cho người anh chị em niềm vui vì được gặp gỡ Chúa ngang qua chính ta không? “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Mt 10, 40). Đón tiếp ai nghĩa là đón nhận những gì họ mang đến, ngay cả tình trạng hiện tại của họ, ta cũng đón nhận với tấm lòng bác ái. Dù họ chỉ là một người hành khất rách rưới hay một người bạn thân thiết của ta, dù họ là một người có địa vị cao trọng hay chỉ là một người ít học quê mùa, ta có sẵn sàng đón nhận họ với cả tấm lòng? Để đón tiếp tất cả những người ta gặp gỡ cách chân thành, ta cần có cung cách hành xử của Giêsu, nói cách khác là ta phải có văn hóa Giêsu trong mình. Cho ai cái gì không quan trọng cho bằng cách cho. Chúa Giêsu đã dạy: “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10, 42). Nếu ta cho với lòng quảng đại và chân thành thì dù chỉ cho một chén nước lã thôi nhưng nhìn nhận họ là anh chị em của ta trong Chúa Kitô, xem họ là môn đệ của Chúa thì ta sẽ đón nhận họ như đón nhận chính Chúa Kitô vậy. Đón tiếp một ngôn sứ là ta đón nhận những gì họ rao giảng bằng lời nói và cả đời sống. Ta đón nhận Tin Mừng của Chúa ngang qua những người ta gặp gỡ. Điều đó đòi hỏi ta phải có ánh mắt của Giêsu. Đón nhận một người công chính là đón nhận những sự thật họ mang đến, cả những sự thật về chính ta, ta có vui lòng đón nhận không? Quả thật, để sống được Lời Chúa dạy, ta phải có một sức mạnh nội tâm thúc đẩy. Trái tim ta hướng về Giêsu thì chính Giêsu sẽ hành động trong con người ta vậy.

Lạy Chúa Giêsu! Lời Chúa vẫn thôi thúc trái tim con mỗi ngày. Xin cho con luôn biết lớn lên trong Tình Yêu để cuộc sống của con trở thành chứng tá của lòng thương xót Chúa. Chúa biết sự yếu hèn và bất toàn của con. Xin Chúa thôi thúc trái tim con, ngự trị trong tâm hồn con từng phút giây để con được Chúa chi phối và điều khiển con người con, kéo con bước vào chính lộ của Ngài; để con bước theo Chúa, chọn Chúa là cơ nghiệp đời đời. Amen.

Về mục lục

.

CÙNG VÁC THẬP GIÁ VỚI CHÚA GIÊSU

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Vào năm 1976, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, nhiều gia đình sống rất chật vật. Hồi ấy có một ông lão nghèo cùng với đứa con gái lớn ở Sài Gòn ra thăm người em đang sống ở Ninh Thuận để kiếm chút gì đắp đổi qua ngày.

Thương ông anh từ Sài Gòn lặn lội ra thăm mình, người em tặng anh những sản phẩm cây nhà lá vườn, gồm một bị khoai, một bị xoài và dăm nải chuối để mang về Sài Gòn làm quà cho vợ con.

Về lại Sài Gòn, hai cha con xuống xe cuốc bộ về nhà. Người cha tuổi đã già, gầy gò ốm yếu, chịu khó mang bị xoài bên vai phải, khoác bị khoai bên vai trái, còn đôi tay gầy guộc thì xách mấy nải chuối bằng tay này và giỏ áo quần bằng tay kia. Trong khi đứa con gái cưng song hành bên cạnh thì chỉ đeo chiếc bóp đầm xinh xắn trên vai, đi tênh tênh bên bố mà chẳng để ý đến lưng bố đang còng xuống vì sức nặng của hành lý, chẳng thấy mồ hôi bố lấm tấm trên khuôn mặt nhăn nheo, y như cô chủ giàu sang đi bên cạnh tên nô lệ khốn cùng.

Người cha già chịu còng lưng mang nặng những món quà đó về nhà cho ai hưởng? Cho người mẹ, cho đứa em út của cô gái này và cho chính cô. Chính cô cũng được hưởng phần trong đó!

Thế mà cô cứ để mặc cha già của mình còng lưng mang nặng mà chẳng động lòng thương xót, chẳng đụng vào một ngón tay.

Đây đúng là đứa con bất hiếu và hoàn toàn bất xứng, khi thấy cha vác nặng mà con thì chẳng mó tay vào.

Thế nhưng, lắm lúc chúng ta cũng xử sự như cô gái kiêu sa, vô cảm này.

Dẫu biết rằng hôm nay Đức Giê-su, Chúa chúng ta đang tiếp tục chịu khổ nạn (GLHTCG số 1323. TĐCV 22, 6-8) để cứu độ chính ta và anh chị em chúng ta, nhưng ta cứ làm ngơ như không nhìn thấy; ta cứ đi tênh tênh trên con đường lạc thú của mình mà chẳng động lòng trắc ẩn đối với Chúa là Đấng đang tiếp tục chịu khổ nạn để đền tội cho chúng ta.

Thật là người môn đệ bất xứng khi Chúa chúng ta vác thập tự giá đền tội cho ta, còn chúng ta thì cố tìm kiếm lạc thú trần gian mà chẳng kê vai vác cùng với Chúa.

Chính vì thế, Chúa mới cảnh báo rằng: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).

Nhưng vác thập tự giá với Chúa thế nào đây?

Chúa Giê-su dạy chúng ta vác thập giá với Ngài qua 2 câu nói tiếp theo:

Câu thứ nhất: “Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất” (Mt10.39) có nghĩa là kẻ nào chỉ biết chăm lo cho bản thân mình mà thôi, chẳng thiết gì đến Chúa và anh chị em chung quanh, thì sẽ không được hưởng sự sống đời sau;

Và câu thứ hai: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt10.39) có nghĩa là ai từ bỏ nếp sống vị kỷ để sống vị tha, quên mình đi để hy sinh phục vụ Chúa và tha nhân thì sẽ được sống đời đời.

Lạy Chúa Giê-su,

Người con để mặc người cha gánh nặng một mình mà không kê vai gánh giúp là con bất hiếu; người môn đệ của Chúa để mặc Thầy chịu khổ nạn, chịu vác thánh giá mà không vác cùng thì không xứng đáng là môn đệ trung thành.

Hôm nay Chúa vẫn còn tiếp tục chịu khổ nạn, chịu vác thập giá cách nhiệm mầu (GLHTCG số 1323. TĐCV 22, 6-8) để cứu độ chúng con, lẽ nào chúng con để mặc Chúa gánh vác một mình mà không chia sẻ gánh nặng của Chúa.

Xin cho chúng con  sẵn sàng cống hiến thời giờ, công sức… của mình để chăm sóc, phục vụ người khác. Làm như thế là cùng vác thập giá với Chúa; làm như thế thì mới xứng đáng là môn đệ của Chúa và mới được hưởng phúc thiên đàng.

Về mục lục

.

NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ

Lm. GB. Trần Văn Hào

‘Thập giá Đức Kitô là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta’. Đây là câu châm ngôn mà Đức Cha Lambert de la Motte đã chọn cho mình cũng như cho các nữ tu Hội dòng Mến Thánh gía, con cái của Ngài. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói với các môn sinh : “Ai không vác Thập gía mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng làm môn đệ Thầy (Mt 10,38).” Con đường Thập gía là con đường duy nhất mà Chúa đã đi qua, đã vạch dẫn và mời gọi chúng ta tiếp bước theo dấu chân của Ngài .

Thập giá – Hình phạt khủng khiếp nhất.

Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô đã viết : “Trong khi người Do Thái đòi tìm dấu lạ, người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh vào Thập gía, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là sự điên rồ”(1 Cor 1, 22). Thời đế quốc Rôma, Thập gía là khung hình phạt dã man và ghê sợ nhất, chỉ dành cho những phạm nhân bị kết án tử hình. Tên tử tội bị đóng chặt vào hai thanh gỗ và được treo lên cao, nằm phơi thây giữa trời, ngực dãn ra rất khó thở, vừa đói khát, vừa bị lột trần truồng để cho thiên hạ nguyền rủa. Người khỏe nhất cũng chỉ cầm cự tối đa được một đến hai ngày rồi chết. Sau khi chết, xác của họ sẽ bị chim trời đến rúc rỉa và không được đem đi chôn để lòng đất khỏi bị hoen ố do tội lỗi bẩn thỉu họ gây ra. Đế quốc Rôma chỉ sử dụng hình phạt này cho ngoại bang, còn công dân Rôma được miễn. Trong bối cảnh xã hội như thế, người Do Thái xem án phạt này là một sự sỉ nhục, bởi vì họ vẫn coi mình là một dân tộc ưu tú được Chúa tuyển chọn. Còn người Hy Lạp thì nhìn những phạm nhân bị treo lên cây gỗ như là những con người điên điên khùng khùng, không sống theo lý tưởng khôn ngoan của nền triết học mà họ vẫn theo đuổi.

Nhưng, chính Đức Giêsu đã tự nguyện chọn cái chết ô nhục này. Ngài chấp nhận bị dìm xuống tận đáy bùn đen trong xã hội loài người, sống tận căn mầu nhiệm tự hủy để trở nên căn nguyên ơn cứu độ cho chúng ta. Chính vì thế, khi Đức Giêsu phác vẽ viễn ảnh Thập gía mà Ngài sẽ trải qua, các tông đồ không thể chấp nhận, đặc biệt, Phêrô đã kịch liệt cản ngăn. Tuy nhiên, chính nghịch lý của Thập gía đã khai mở cho nhân loại một chân trời mới : Qua Thập gía sẽ đến vinh quang, qua cái chết nhuốc khổ, chúng ta sẽ được sống lại trong khải hoàn.

Đây chính là chân lý mà thánh Phaolô đã nhắc lại trong bài đọc thứ nhất của Phụng vụ hôm nay. Ngài viết : “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ được cùng sống với người” (Rm 6,8).

Thập Gía – Sự chọn lựa duy nhất của các môn đệ.

Các môn đệ đã bỏ mọi sự để theo Chúa. Tuy nhiên, cho dầu đã được huấn luyện khá kỹ, các Ngài vẫn không thể hình dung ra con đường Thập gía mà Đức Giêsu hằng luôn mời gọi. Sau khi các học trò bộc bạch : “Thưa Thầy, chúng con đã bỏ mọi sự để theo Thầy”, Chúa mới từ từ cắt nghĩa để họ dần dần cảm thấu được phương thức trở nên môn đệ cách đích thực. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc lại việc từ bỏ cách tuyệt đối, và đây là đòi hỏi gay gắt nhất, sâu xa nhất. “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai không vác Thập gía mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy”. Tình yêu dành cho Chúa Giêsu phải là tình yêu toàn hảo, không suy tính, không đắn đo hơn thiệt. Cũng vậy, một lần khác Chúa còn mạnh mẽ khuyến cáo : “Ai tra tay cầm cầy mà con ngoái lại phía sau, thì không thích hợp với nước Thiên Chúa” (Lc 9,62). Con đường theo Chúa không thể là con đường nửa vời, theo kiểu bắt cá hai tay. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan đã ghi lại mặc khải Chúa ngỏ cho Hội thánh ở Laodakia : “Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Vì ngươi hâm hẩm không nóng cũng không lạnh, nên ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3,16).

Muốn trở nên môn đệ Chúa, các học trò phải đặt Ngài vào chỗ tối thượng cách tuyệt đối. Họ phải chấp nhận những nghịch lý, nhất là nghịch lý của Thập gía. Đây là điều mà Chúa Giêsu nhấn mạnh trong bài Tin Mừng hôm nay.

Cùng chết với Đức Kitô.

Theo Chúa là chấp nhận đi vào lộ trình Thập gía. Mầu nhiệm Thập gía luôn hàm ngậm sự tự hủy, và cái chết trên Thập gía là cao điểm của hành trình tự hủy này. Việc từ bỏ cha mẹ, vợ con, ruộng vườn, v…v…chỉ là bước khởi đầu, và sự từ bỏ ấy phải đi đến tận căn, tức là từ bỏ ngay cả mạng sống. Vì thế, Chúa Giêsu đã nói với các học trò ngày hôm nay : “Ai tìm giữ mạng sống mình thì sẽ mất, và ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được”.

Trong ánh sáng của mầu nhiệm Phục Sinh, chết không phải là dấu chấm hết, kết thúc cuộc sống con người một cách vô nghĩa. Cũng như Đức Kitô đã can đảm tiến nhận cái chết nhục nhã để khai mở cho chúng ta một chân trời mới, thì cái chết của những ai tin vào Đức Kitô không phải là một cuộc ra đi nhưng là sự trở về, không phải là sự thất bại chua cay, nhưng là một dấu chỉ vinh thắng. Điều này Thánh Phaolô đã nhắc lại trong thư gửi giáo đoàn Rôma mà Giáo hội đọc lên cho chúng ta trong bài đọc 2 hôm nay : “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ được cùng sống với Người. Thật vậy chúng ta biết rằng, một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người”.

Kết luận

Trên giường hấp hối, chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói với các chị em trong cộng đoàn : “Em đang chết, nhưng không phải em chết, mà em đang tiến về cõi sống”. Có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ khuôn mặt duyên dáng của nữ tu Cécilia Maria dòng Carmêlô trên giường hấp hối (hình bên dưới). Ngày 22 tháng 6 năm ngoái, Chị đã chết an bình, đôi môi vẫn còn giữ một nụ cười thật duyên dáng cho dầu chị đang chịu đựng những đau đớn vì căn bệnh ung thư phổi. Sự tươi tắn của chị là dấu chỉ của niềm vui và tình yêu dành trọn cho Chúa Giêsu, như lời thánh nữ Têrêsa đã viết trong cuốn ‘Nhật ký một tâm hồn’: “Ơn gọi của tôi là tình yêu. Tình yêu là tất cả. Ơn gọi của tôi không là gì khác, ngoài tình yêu”.

Về mục lục

.

HIẾU KHÁCH

Lm. Trần Việt Hùng

Thương người mến Chúa là sao?

Yêu Thầy trên hết, biết bao phúc lành.

Dù là con cái chính danh,

Yêu thương con cháu, vì danh Chúa Trời.

Thánh Danh cao trọng tuyệt vời,

Phượng thờ kính mến, muôn lời ngợi khen.

Con người thụ tạo mọn hèn,

Hy sinh mạng sống, muối men cho đời.

Kẻ nào đón tiếp Ngôi Lời,

Họ đang tiếp đón, Chúa Trời trên cao.

Tiên tri sứ giả mời vào,

Tiếp người công chính, Cha trao ơn lành.

Công lao phần thưởng đã dành,

Đẹp lòng tốt tánh, để danh muôn đời.

Những ai tiếp nhận con người,

Khó nghèo bé mọn, sống đời lầm than.

Dù là bát nước sẻ san,

Vì Thầy, danh nghĩa, tỏa lan sáng ngời.

Chính Thầy hạ giới vào đời,

Sống chung chia sẻ, gọi mời yêu thương.

Chúa phán: “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy”. Thật là vinh dự cho chúng ta, được Chúa cho ưu quyền đại diện Chúa. Chúa đã đồng hóa chính Ngài với những người nghèo đói, khổ sở và thấp hèn nhất. Vì thế ai đón tiếp họ, cũng là đón tiếp Chúa.

Truyện kể: Có một lần, một bà cụ được Chúa hẹn đến thăm nhà. Bà chuẩn bị mọi thứ để đón tiếp Chúa. Sáng sớm có một người đến xin ăn, bà không tiếp. Trưa đến lại có một người bệnh lê gót tới nhà, bà từ chối giúp đỡ. Chiều tối, lại một người nghèo đến xin ở trọ qua đêm, bà đóng cửa không cho. Bà chờ cho tới đêm, cũng không thấy Chúa đến. Bà đành đóng cửa đi ngủ, trong giấc mơ, Chúa nói với bà rằng: Cha đến thăm con ba lần, mà con không tiếp.

Đón tiếp Chúa là như thế đó. Làm sao chúng ta nhận diện ra Chúa giữa muôn người? Đâu là khuôn mặt thật của Chúa? Chúa luôn ẩn dấu nơi những người bị khinh miệt và bỏ rơi. Có lẽ chúng ta đã từ chối đón tiếp Chúa vào nhà và vào tâm hồn ta nhiều lần. Tôi còn nhớ khi còn nhỏ, sống tại nhà quê, mỗi lần có người ăn xin mù lòa hay bất toại đi qua nhà. Tôi ngồi trong nhà ngó qua cửa sổ và tôi thấy từng nhà vội khép chặt cửa và kéo màn che xuống. Người ăn xin kiên nhẫn đợi chờ, đi gõ cửa từng nhà, nhưng chẳng mấy ai thèm cho. Không thấy ai mời họ vào nhà uống ly nước hay ly trà nóng. Không ai muốn trao đổi truyện trò với họ. Rồi ông/bà xấu số ấy cứ tiếp tục đi khu này sang khu khác tìm kiếm lòng quảng đại.

Chúng ta thử nghĩ, nhà chúng ta luôn rộng cửa để đón nhận ánh nắng mặt trời và không khí trong lành, nhưng chúng ta đâu muốn mở cửa đón nhận người lạ mặt, nhất là những người ăn mặc dơ dáy bẩn thỉu và nghèo đói. Sống trong  một xã hội đầy nghi ngờ và luôn phải đề phòng những bất trắc xảy ra, chúng ta đã đánh mất đi sự nhạy cảm của lòng người. Ngày nay, trong các ngôi nhà, các cửa đều có khóa, có lỗ nhỏ để nhìn, có hệ thống báo động, có chó giữ nhà.. càng làm chúng ta xa cách nhau.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy đón tiếp và giúp đỡ những kẻ khốn cùng. Tiếp họ một chén cơm, một ly nước, một lời chào hỏi, chúng ta sẽ được phần thưởng. Sự đón tiếp không chỉ là mở cửa ngôi nhà, nhưng quan trọng là mở cửa tâm hồn.  Hãy mở rộng cửa đón Chúa, có Chúa, chúng ta sẽ có niềm vui và hạnh phúc thật

Về mục lục

.

TIỆN NGHI VẬT CHẤT

Lm Vũđình Tường

Vật chất trần gian mang lại nhiều tiện nghi nhưng nó cũng đòi hỏi phải bảo vệ nó. Vật chất tự nó không thể bảo vệ nó nhưng cần bàn tay, khối óc con người cất giữ, nếu không khéo cất, giấu, kẻ khác rình mò được sẽ tìm cách lấy mất. Hơn nữa vật chất thì giới hạn; lòng tham con người vô hạn và đa số ham vật chất nên có của là một gánh nặng, lệ thuộc vào của đã đành mà còn phải ngày đêm lo bảo vệ chúng. Vật chất không bảo vệ được chúng nên chúng không thể bảo đảm cuộc sống lâu dài cho chủ nó. Tìm kiếm vật chất đã khó mà cầm giữ chúng còn vất vả hơn vì thế chủ đáng hưởng hoa quả do lao công khó nhọc làm ra. Những ai tin vật chất có khả năng mang lại sự sống lâu dài, đặc biệt là sự sống trường sinh cần phải suy nghĩ lại. Lí do là vật chất nay còn mai mất. Như thế còn vật chất còn bảo đảm, mất vật chất mất bảo đảm. Như thế bảo đảm vật chất hứa hẹn rất bấp bênh. Hơn nữa vật chất không tồn tại mãi và giá trị của chúng thay đổi liên tục. Thực tế cho thấy những gì thuộc về trần thế chỉ bảo đảm được những gì thuộc về trần thế. Con người không phải chỉ có vật chất mà còn có tinh thần, có tình yêu và lòng mến. Vật chất không bảo đảm được tinh thần, tình yêu và lòng mến vì những nhân đức này vượt lên trên vật chất. Chỉ những gì vượt lên trên vật chất, cao hơn vật chất mới có khả năng bảo đảm được những gì không thuộc về vật chất. Đây chính là điều Đức Kitô mời gọi Kitô hữu tin tưởng vào giáo huấn của Ngài. Tin tưởng vào Đức Kitô là lắng nghe Lời Ngài, yêu mến và trở thành môn đệ Đức Kitô. Niềm tin Kitô giải thoát con người khỏi nô lệ vật chất, tâm hồn thư thái, an bình và sống trong hy vọng Đức Kitô hứa ban.

Sự sống trường sinh chỉ có thể tìm thấy nơi Đức Kitô, tình yêu Chúa. Đức Kitô là Đấng duy nhất bảo đảm cho sự sống trường sinh bởi chính Ngài phá tan xiềng xích sự chết. Chính Ngài sống lại từ cõi chết, tiêu diệt thần chết, sống lại vinh quang vì thế lời Ngài hứa đặt căn bản trên sự sống lại của chính Ngài. Lời Ngài hứa có nguồn gốc từ sự Phục Sinh vinh hiển vì thế lời hứa đó không thể sai.

Sống đời sống ngay lành, không làm hại ai, không gian tham của người là mẫu người xã hội tốt nhưng không phải là Kitô hữu tốt. Kitô hữu tốt là người biết sống cho mình và sống cho tha nhân, giúp đỡ tha nhân, mang niềm tin vào hành động bác ái, yêu thương và tha thứ. Kitô hữu tốt là người làm cho niềm tin của mình sinh hoa, kết trái bằng các việc từ thiện, làm phúc, bố thí cho người đói ăn, khát uống, có lòng nhân từ, bác ái, vị tha. Kitô hữu tốt là người nhận biết tất cả những gì chúng ta có đều do Chúa ban, kể cả sự sống của ta vì thế luôn sống trong tâm tình tạ ơn. Kitô hữu nhận biết mọi sự ta có đều thuộc về Chúa nên yêu cầu yêu Chúa hơn chính cha mẹ là điều hợp lí và đúng đắn. Nhiều người vì yêu hy sinh cả sở thích, vợ cHồng Yêu nhau hơn cha mẹ và họ yêu con cái hơn chính bản thân họ. 

Học từ Đức Kitô, yêu Chúa, yêu tha nhân và sống bác ái. Đức Kitô cho biết mọi hành động bác ái, yêu thương dù nhỏ mấy, đơn giản mấy cũng được ghi nhận và thưởng công. Một li nước lạnh cho đi vì Đức Kitô li nước đó cũng được đón nhận qua hành động bác ái.

Về mục lục

.

ĐƯỢC VÀ MẤT

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu cẩn thận. Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được. Nó mới nghĩ ra một cách: nhịn đói để gầy bớt đi.

Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng. Nó vào được trong vườn nho. Sau khi ăn uống no nê, con chồn mới khám phá rằng nó đã trở nên quá mập để có thể chui qua lỗ hổng trở lại. Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.
Thoát ra khỏi vườn nho, nó nhìn và suy nghĩ: “Hỡi vườn nho, vào trong nhà ngươi để được gì? Bởi vì ta đã đi vào với hai bàn tay không, ta cũng trở ra với hai bàn tay trắng”.

Khi bước vào trong trần thế này, con người muốn mở rộng bàn tay để chiếm trọn mọi sự. Khi nhắm mắt xuôi tay cũng đành phải ra đi với hai bàn tay trắng mà thôi.

Chúa Giêsu nói với các môn đệ : “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích lợi gì?”. Xuất thân từ bụi đất, con người rồi cũng trở về với đất bụi. Chỉ có sự sống vĩnh cửu mới tồn tại muôn đời. 

Chúa Giêsu còn dạy rằng: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mất mạng sống mình vì thầy thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất. Không phải cứ thu vào là được, buông ra là mất. Trái lại nhiều khi phải chịu mất trước rồi mới được sau. Mất nhỏ để được lớn. Mất ít để được nhiều. Sống ở đời ai cũng tranh phần được và không muốn mất. Vấn đề là phải xác định xem đâu là cái được thực sự, lâu bền, trọn vẹn, đâu là cái được quan trọng nhất, cần thiết nhất. Kitô hữu là người say mê cái được vĩnh cửu, vì thế họ chấp nhận những mất mát tạm thời. Họ tin rằng cuối cùng chẳng có gì mất cả. Mọi sự nếu họ mất vì Thầy Giêsu thì họ sẽ được lại. Mất tạm thời để giữ được mãi mãi. Từ bỏ chính mình là để tìm lại cái tôi trong suốt hơn, ngời sáng hơn.

Chúa Giêsu cũng quả quyết: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo”. Theo Thầy là đi vào con đường từ bỏ. Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc từ bỏ không ngừng. Từ bỏ trời để xuống đất. Từ bỏ địa vị Thiên Chúa để làm người. Từ bỏ cuộc sống an nhàn nơi thôn làng để đi vào cuộc phiêu lưu rao giảng Tin Mừng. Từ bỏ cứu thế bằng con đường dễ dãi do ma quỉ xúi giục, để đi vào con đường chật hẹp khó khăn theo ý Chúa Cha. Cuộc từ bỏ cam go nhất chính là từ bỏ ý riêng mình. Đó là một cuộc chiến khốc liệt khiến Người phải toát mồ hôi máu. Nhưng Người đã đi đến cùng con đường từ bỏ. Hình ảnh Người chết treo trần trụi trên thánh giá là hình ảnh một người từ bỏ tất cả đến tận cùng. Không còn một chút hơi thở. Không còn một giọt máu. Không còn một chút danh dự. Không còn gì cả. (Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt).

Từ bỏ là một quy luật.

– Quy luật của sinh tồn: có nhiều thứ nếu ta không chịu bỏ thì ta sẽ chết. Chẳng hạn ta có một khúc chân đang bị hoại tử. Nếu không cắt bỏ nó đi thì chứng hoại tử sẽ lan dần đến toàn cơ thể làm ta phải chết.
– Quy luật của phát triển: cơ thể ta hằng ngày hằng giờ hằng phút đều bỏ đi những chất thải, bỏ đi một số tế bào già nua để thu nhận vào những chất dinh dưỡng, để sinh những tế bào mới. Nhờ đó cơ thể lớn dần lên. Trong quá trình phát triển, con người phải từng giai đoạn bỏ đi đứa bé sơ sinh, đứa trẻ con ấu trĩ… có thế mới phát triển dần thành người lớn.
– Quy luật của cải thiện: cải thiện là bỏ đi những cái chưa tốt để lấy vào những cái tốt hơn.
– Quy luật của tiếp nhận: có bỏ thì mới có nhận. Thí dụ ta có một cái chai đang đựng nước. Muốn có một lít rượu thì trước hết phải đổ bỏ một lít nước kia ra khỏi cái chai.

Chẳng những phải bỏ bớt, bỏ cái này, bỏ cái kia… mà có khi phải bỏ hoàn toàn, bỏ tất cả nữa. Chẳng hạn chiếc xe gắn máy của tôi đã hư quá nặng, nếu tiếp tục sử dụng thì có ngày sẽ gây tai nạn, có sửa bộ phận này bộ phận khác cũng không bảo đảm an toàn. Vì thế tôi phải bỏ hẳn để mua một chiếc xe khác.

Làm môn đệ Chúa Giêsu là làm một người khác hẳn, cho nên không lạ gì khi Người bảo chúng ta phải “từ bỏ mình”. Cái phần “mình” được bỏ đi bao nhiêu thì cái phần “Chúa” được gia tăng bấy nhiêu. “Từ bỏ mình” hoàn toàn thì sẽ trở thành “Kitô khác” hoàn toàn.Như thế tuy bỏ nhưng không mất, mà lại được, không thiệt thòi mà lại có lợi hơn. 

Theo Thầy là đi vào con đường dẫn đến phục sinh. Con đường từ bỏ là con đường dẫn đến vinh quang. Phải qua sự chết mới đến sự sống. Phải qua tủi nhục mới đến vinh quang. Phải qua gian khổ mới đến hạnh phúc. Khi mời gọi “Hãy theo Thầy”, Chúa muốn chúng ta triển nở đến viên mãn. 

Lời Chúa hôm nay gởi đến sứ điệp: từ bỏ không phải để mất mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội. Mất hiện tại để được tương lai. Mất đời này để được đời sau. Mất phàm tục để được thần thiêng. Mất tạm bợ để được vĩnh cửu. Trong đời sống thường ngày, người Kitô hữu bị giằng co giữa một bên là tình cảm gia đình, bên kia là đòi hỏi của Chúa; hoặc một bên là quyến rũ của tiền tài, danh vọng, sống buông thả, một bên là sự trung thành với lý tưởng Kitô giáo. Trong những trường hợp giằng co như vậy, chúng ta sẽ chọn thế nào và phải làm gì? Lời Chúa soi sáng và hướng dẫn chúng ta hãy chọn đúng và thực hành đúng.

Qua cuộc tử nạn và cái chết, Chúa Giêsu cũng khẳng định chân lý: “Ai tìm mạng sống mình, sẽ mất. Ai đành mất mạng sống mình, sẽ gặp lại”. Đó là nghịch lý của Kitô giáo. Và đó cũng là chân lý của cuộc đời. Thánh Phanxicô Assisi đã cảm nghiệm sâu xa chân lý này nên đã thốt lên lời ca bất hủ: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. 

Các vị tử đạo là những người say mê sự sống, đến nỗi dám chấp nhận cái chết. Các ngài coi trọng sự sống vĩnh cửu của mình hơn cả thế giới phú quý vinh hoa. 

“Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đẵ chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn.
Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày, thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn. 
Xin dạy chúng con biết rằng chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình và những ước muốn ích kỷ. 
Ước chi từ nay, không gì có thể làm cho chúng con khổ đau và khóc lóc chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa Phục Sinh. 
Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn; xin lấy niềm vui của Người mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất giữa chúng con. Amen.” (Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta).

Về mục lục

.

YÊU SÁCH CỦA TÌNH YÊU

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Tình yêu là cái gì thật kỳ diệu, khó nói. Sống trên đời ai cũng muốn được yêu và muốn yêu. Đó là định luật bất biến của cuộc đời. Đôi bạn trẻ đã quyết định yêu nhau dù có khó khăn gì mấy, trước sau gì họ cũng đến với nhau.Hôm nay, Chúa Giêsu ra điều kiện cho những ai muốn theo Người :” Phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự, ngay cả những tình cảm gắn bó nhất, thân thiết nhất như tình phụ tử, mẫu tử , những tình cảm ruột thịt của mối giây anh em, chị em vv…đồng thời “ phải vác thập giá “ mà theo Người; rồi Chúa lại nói tiếp :” Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình …thì sẽ tìm thấy được “.

Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hay :” Đi theo Chúa không có nghĩa Người đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ hết mọi sự, nhưng Người muốn mọi người khi đã quyết tâm theo Người phải đặt tình yêu Thiên Chúa và việc phục vụ, thực thi sứ mạng của mình trên mọi mối quan hệ, trên những tình cảm thân thiết của cha mẹ, anh chị em và nếu cần phải hy sinh cả mạng sống của mình vì Người “. Quả thực đây là đời hỏi rất quyết liệt và cực kỳ khó khăn.

Ngoải ra, Chúa Giêsu còn cho biết người môn đệ hay chúng ta quyết tâm đi theo Người thì họ phải bước trên con đường Giêsu, con đường khổ giá, con đường hẹp, đường hy sinh, từ bỏ, quảng đại và xả kỷ để làm vinh danh Chúa và phục vụ hết mình vì đồng loại, vì tha nhân.

Theo Chúa Giêsu, người môn đệ của Chúa, hay người Kitô hữu đều được Chúa kêu mời đón nhận, hy sinh, quên mình để sống yêu thương, hòa hợp, chia sẻ, phục vụ tha nhân, phục vụ người khác bằng tình yêu cao vời, tuyệt mỹ không phân biệt, không vị kỷ. Tình yêu tự hiến mà Đức Kitô đã sống, đã sẻ chia và đã phục vụ vô vị lợi :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ). 

Người môn đệ của Chúa hay chúng ta được mời gọi góp phần nhỏ bé của mỗi người bằng những công việc nhỏ bé, âm thầm nhưng có giá trị tỏa sáng là làm vinh danh Thiên Chúa. Người môn đệ không cần phải làm những công việc lớn lao, đi đây đi đó, đứng lên rao giảng công khai, to tiếng mới là loan báo Tin Mừng bởi chính Chúa đã tự đồng hóa mình với những con người nhỏ bé, khó nghèo, những con người thấp cổ bé họng. Chúa nói : ” Mỗi lần các con cho một kẻ đói ăn là các con cho Ta ăn…cho kẻ khát uống, rách rưới ăn mặc, kẻ tù được thăm viếng vv…là các con làm cho chính Ta “. Chúa đòi hỏi người môn đệ và tất cả chúng ta khi phục vụ thì phải phục vụ quên mình, hy sinh quên mình đến nỗi biến mình ra không, nhưng việc phục vụ ấy lại có giá trị cao cả trước mặt Thiên Chúa như Người đã khẳng định :” Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy “.

Chúa ban thưởng người môn đệ của Người và ban thưởng cho chúng ta nếu chúng ta đã biết thực hiện điều Chúa đòi hỏi. Theo Chúa là phải sống như Chúa, yêu như Chúa và phục vụ như Chúa phục vụ. 

Lạy Chúa Giêsu, cuộc sống nơi gian trần có nhiều cạm bẫy, có nhiều thử thách khiến chúng con dễ quên đi bổn phận của chính mình, xin ban cho chúng con đức tin mạnh mẽ để chúng con can đảm, hiên ngang, biết từ bỏ mình, vác thập giá của mình mà theo chân Chúa và biết phục vụ anh em theo đòi hỏi của Chúa yêu thương như Chúa yêu. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Chúa đòi hỏi người môn đệ những điều gì ?
2. Yêu như Chúa nghĩa là làm sao ?
3. Vác thập giá nghĩa là gì ?
4. Con đường Giêsu là con đường nào ?
5. Ông bà anh chị em hiểu thế nào về những người nhỏ bé ?

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA KHÔNG THUA LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CON NGƯỜI

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Tại một Tòa Giám Mục miền bắc Việt Nam, trong khuôn viên Tòa Giám mục, có một khẩu hiệu rất đặc biệt, đó là: “Mỗi vị khách là một Đức Giêsu”.  Ấn tượng hơn nữa là cung cách của vị Giám Mục và nhiều nhân viên trong đó đã để lại cho người đến thăm nhiều cảm xúc qua cách đón tiếp mang đậm chất Kitô.

Khi ra về, nhiều người đã không ngớt lời khen ngợi tấm lòng hiếu khách, chân tình và đơn sơ của Đức Giám Mục và những người ở nơi đây.

Tại sao nơi đó lại có cung cách đối đãi tốt như vậy? Thưa, bởi vì nơi đó đã thấm đượm bài học của chính Đức Giêsu dạy: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10, 40).

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay sẽ lần lượt làm sáng tỏ nhằm giúp chúng ta hiểu tâm tình trên.

  1. Lời Chúa       

Khởi đi từ bài đọc 1, tác giả sách các Vua kể về sự kiện tiên tri Êlisê được một phụ nữ người Sunam đón tiếp rất thịnh tình khi ông và tiểu đồng đi ngang qua đây.

Người phụ nữ này là người thuộc giới thượng lưu trong thành. Gia đình giàu có. Đời sống vợ chồng rất ấm êm. Tuy nhiên, có một nỗi khổ tâm quá lớn đối với vợ chồng bà, đó là ông bà đã lớn tuổi mà không có con.

Nguyện vọng của ông bà là mong sao được Chúa thương nhận lời cho mình mụn con để nối dòng.   

Được tiếp đãi tử tế và rất thân tình, tiên tri Êlisê nghĩ đến ân nghĩa, nên trước khi rời khỏi nơi ấy, ông đã ngỏ ý muốn trả ơn vì những điều mà gia đình đã làm cho ông cũng như tiểu đồng.

Tuy nhiên, bà chủ đã hoàn toàn khước từ, bởi bà luôn nghĩ rằng: “Người đến trọ nhà mình là một vị thánh”. Vì thế, khi đón tiếp Ngài là đón tiếp người của Thiên Chúa. Vì thế, không lẽ lại sòng phẳng như “hòn đất ném đi, hòn trì ném lại???” Vì thế, dù nói thế nào, bà đều từ chối không hề nhận bất cứ thứ gì mà vị tiên tri đáp lễ.

Thấy được tấm lòng chân thành ấy, Êlisê cũng áy náy! Tuy nhiên, khi được tiểu đồng mách cho biết nguyện vọng của ông bà là muốn có một người con để nối dõi tông đường cũng như tránh đi sự tủi nhục.

Thấy được sự khao khát chính đáng, Êlisê đã cầu nguyện và chúc phúc cho hai ông bà và nói tiên tri: “Vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng”. Sau đó tiên tri Êlisê lên đường. Đúng như điều đã nói, bằng rầy sang năm, ông bà đã có một người con trai.

Tuy nhiên, niềm vui chỉ được ít lâu, vì chỉ vài năm sau, thằng bé bị bệnh và qua đời.

Khi nghe tin ấy, tiên tri Êlisê đã không ngớt cầu xin Chúa cho con bà được sống lại, và Chúa đã nhận lời. Đứa trẻ đã sống lại để sống một cuộc sống mới trong ân sủng và tình thương của Thiên Chúa.

Qua câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy: Thiên Chúa không thua lòng quảng đại của con người. Nếu chúng ta rộng tay làm phúc cho Chúa hay những người cần đến sự giúp đỡ của chúng ta với lòng mến, thì chắc chắn Chúa sẽ trả ơn gấp bội.

Sang bài đọc 2, thánh Phaolô đi xa hơn để cho thấy nền tảng và nguồn gốc của sự sống mới chính là Đức Giêsu, Đấng đã sống cuộc sống như ta, đã chết và đã sống lại vì nhân loại. Ngài nói: “Nếu ta cùng chết, cùng được mai táng với Ngài, thì ta cũng có được một đời sống mới như Ngài”.  

Nếu trước kia, tâm hồn chúng ta đầy rãy những tội lỗi, bon chen, ích kỷ, hận thù, kiêu ngạo và thiếu tinh thần bác ái, thì khi ta được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, nghĩa là ta được dìm mình vào trong một khuôn đúc mới, để xuất hiện một hình ảnh mới, hình ảnh của Đức Giêsu Kitô. Từ đó, con người của ta được biến đổi và được mặc lấy sự sống mới trong Ngài.

Thật vậy, nếu chết đi cho tội là loại bỏ những ích kỷ, tham vọng, nhục dục, thù hận, ghét ghen, vô cảm, vô tâm, dửng dưng, thì sống một đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô là biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy; biết yêu thương, tha thứ, nhân từ, cảm thông, liên đới, quảng đại, dấn thân vì người nghèo…, bởi vì những thứ đó thuộc về phẩm chất của Thiên Chúa và chúng ta được mời gọi loan truyền tình thương của Ngài qua những hành vi đó.

Đỉnh cao của phụng vụ Lời Chúa hôm nay là bài Tin Mừng. 

Như một lời hiệu triệu, Đức Giêsu đã nói về sự liên đới giữa Ngài với ta, giữa ta với Ngài và Thiên Chúa Cha trong một đường dây bác ái. Ngài nói:“Ai đón tiếp một trẻ nhỏ…là đón tiếp Thầy…ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy…”. Mối liên hệ này cho thấy sự khăng khít và giao hảo giữa ba thành phần: Thiên Chúa – Đức Kitô và nhân loại.  Nói khác đi, ta được Thiên Chúa cứu độ nhờ Đức Kitô và cùng với anh chị em.

Chính vì thế mà Đức Giêsu đã đặt trọng tâm của sự liên kết này qua người nghèo và mời gọi người môn đệ hãy làm cho mối liên hệ này được trở nên sống động hơn.

Như vậy, qua 3 bài đọc, chúng ta thấy có một chủ đề xuyên suốt, đó là: nếu ta rộng lòng quảng đại giúp đỡ những người khó khăn, bần cùng trong tâm tình mến yêu Chúa và anh chị em, ta sẽ được Thiên Chúa trọng thưởng ở ngay đời này và cả đời sau. Thiên Chúa không bao giờ thua lòng quảng đại của chúng ta. Ngược lại, Người sẽ trả công hậu hĩnh đến không ngờ.

  1. Sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đi vào mối tương quan với Thiên Chúa cách sống động.

Hành trình này có thể được ví như một hành trình đức tin. Đức tin ấy được chứng minh bằng những việc thực thi đức ái, từ bỏ tội lỗi để sống cho Thiên Chúa.

Chúng ta không thể nói rằng: đức tin của tôi chỉ cần được ghi trong sổ Rửa Tội; đức tin của tôi cũng chỉ cần ở trong nhà thờ; hay đức tin của tôi chẳng cần phải tỏ lộ ra bên ngoài.

Không! Nói như thế là tự mâu thuẫn, không nền tảng và vu vơ, chẳng khác gì người xây nhà mình trên nền cát, bởi vì: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2, 26. ); hay như thánh Gioan nói: “Người anh em chúng ta nhìn thấy mà không yêu mến, thì làm sao yêu mến Thiên Chúa là Đấng ta không thấy?” (x. 1 Ga 4, 20)

Đức tin mà chúng ta được đón nhận phải đưa chúng ta vào trong sự sống mới của Đức Kitô, mà sự sống mới của Đức Kitô chính là vâng lời Chúa Cha tuyệt đối và yêu con người đến cùng.

Như vậy, nếu ta nói mình là môn đệ, là người thuộc về Đức Kitô mà ta không lắng nghe Lời Chúa, hay lắng nghe xong rồi bỏ, hoặc nghe một đàng làm một nẻo… thì chúng ta không khác gì hạt giống gieo bên vệ đường, bụi gai, sỏi đá.

Hay nếu nói là người đi theo Chúa, mà ta không mang trong mình tâm tư của Chúa, đó là từ bi, nhân hậu, bao dung, tha thứ, liên đới, nhất là thi hành bác ái dối với người nghèo, bảo vệ người cô thế cô thân, bênh vực cho công bằng, sống sự thật…thì chúng ta có khác gì những Pharisêu giả hình thời xưa đâu?

Mong sao, Lời Đức Giêsu dạy khi xưa : “Mỗi lần các ngươi làm cho một người nhỏ bé nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40), sẽ được chúng ta ý thức và mau mắn thi hành trong lòng mến, để sau này, chúng ta được Thiên Chúa trọng thưởng trên Thiên Đàng.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con biết yêu thương anh chị em chúng con bằng tình yêu chân thành và đầy lòng mến. Xin cũng ban cho chúng con biết sống xứng đáng là con cái Chúa khi chúng con biết đi theo đường lối của Thiên Chúa trong ánh sáng và chân lý. Amen.

Về mục lục

.

KHÁT KHAO

Trầm Thiên Thu

Khát là tình trạng “thiếu”, đặc biệt là thiếu nước, mà nước là loại ẩm thực cấp bách hơn thực phẩm. Người ta có thể nhịn đói lâu, nhưng không thể nhịn khát lâu. Thể lý đã vậy, tâm linh còn cấp bách hơn. Biết khát khao là một trong tám mối phúc: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5:6). Theo kinh nguyện, chúng ta đọc: “Thứ bốn – Ai khao khát nhân đức trọn lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy”. Dạng khát nào cũng cần được “giải khát”, càng sớm càng tốt!

Mọi người đều biết rằng nước lã là loại nước tự nhiên, rất bình thường, nhạt nhẽo, vô vị, không màu sắc, được kết hợp bởi Hydrô và Ôxy (H2O), thế nhưng nước lã lại có giá trị cao và rất cần thiết trong sinh hoạt thường nhật. Thứ bình thường mà lại khác thường. Thiếu nước thì người ta sẽ chết chắc! Nơi nào có nước (và không khí) là có sự sống. Các hành tinh khác không có sự sống vì không có nước (và không khí).

Bởi vì coi nước lã là loại bình thường, người ta thường dùng cách nói “người dưng nước lã” để nói về hai người không có mối quan hệ gì với nhau. Nước lã xem chừng chẳng có giá trị gì và không khác gì là chất liệu vô ích quá! Tuy nhiên, “của cho” không bằng “cách cho”. Chén nước lã chẳng là gì cả, nhưng vẫn có thể là Chén Tình Nghĩa. Nước cũng là chất liệu đặc biệt vì được dùng trong Bí tích Thánh tẩy.

Ngày nay, khi đi trên đường phố, chúng ta có thể thấy một nơi có thùng “nước đá miễn phí” cho khách vãng lai có thể sử dụng khi khát. Dĩ nhiên chỉ có những người nghèo sử dụng, những người “sang” và “giàu” thì chẳng ai thèm quan tâm. Thùng nước miễn phí chỉ là một hành động nhỏ nhoi nhưng lại mang tính nhân bản cao. Cần lắm một tấm lòng, dù có thể sẽ bị “gió cuốn đi” theo cách nói của cố NS Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng để làm gì anh (em) biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…!” (Để Gió Cuốn Đi). Sự thật phũ phàng quá!

Trên thế giới, hàng ngày vẫn có nhiều người không đủ nước sạch để sinh hoạt, có thể họ ở ngay trong các thành phố. Khổ lắm! Và đó là tiếng vọng của Chúa Giêsu từ trên Thập Giá trên Đồi Can-vê ngày xưa: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Khi uống một ly nước (nước sạch, nước ngọt, nước sinh tố, nước sữa,…), chúng ta hãy tạ ơn Chúa, và đừng quên cầu nguyện cho những người nghèo khổ, họ thèm muốn lắm mà không có. Dạng khát nào cũng dữ dội: Khát nước, khát vọng, khát tình,… Đói ăn còn có thể chịu đựng lâu, khát uống không thể chịu đựng lâu, cơn khát dữ dội lắm!

Trên đường tâm linh, chúng ta cũng thường gặp những người khát khao tình yêu thương, dạng này còn cấp bách hơn mọi cơn khát nước bình thường. Chính chúng ta cũng vẫn đang khát loại Nước Trường Sinh mà Chúa Giêsu đã ban cho người phụ nữ thành Samari năm xưa (x. Ga 4:7-30).

Trình thuật 2 V 4:8-11, 14-16 cho biết: Một hôm, ông Ê-li-sa đi qua Su-nêm. Ở đó có một phụ nữ giàu sang. Bà ta giữ ông lại dùng bữa. Từ đó, mỗi lần đi qua, ông đều ghé vào dùng bữa. Bà ấy nói với chồng: “Này ông! Tôi biết người thường ghé vào nhà chúng ta là một thánh nhân của Thiên Chúa. Mình phải làm cho ông một căn phòng nhỏ trên lầu có tường có vách, rồi kê ở đó một cái giường, đặt bàn ghế và để một cái đèn cho ông dùng. Như thế, khi nào đến nhà mình, ông sẽ lui vào đó”. Phụ nữ này có con mắt “tinh đời” lắm, đặc biệt là phụ nữ này có trái tim đập những nhịp đập thương xót. Bà giàu sang nhưng tốt bụng, rộng lòng giúp đỡ người khác.

Một hôm, ông đến nơi ấy, ông lui vào phòng trên lầu và nghỉ ở đó. Ông Ê-li-sa biết ơn bà nên nói với tiểu đồng: “Nên làm gì cho bà ấy?”. Giê-kha-di đáp: “Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng thì đã già”. Có qua, có lại là sự thường ở đời. Thấy phụ nữ này tốt bụng nên ông Ê-li-sa muốn đền ơn đáp nghĩa. Ông bảo tiểu đồng đi gọi bà ấy tới. Bà tới đứng ngoài cửa, ông Ê-li-sa nói: “Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ được bế con trai”. Bà nói: “Không, thưa ngài, người của Thiên Chúa, xin đừng lừa dối nữ tỳ ngài!”. Khát khao được làm mẹ là khát khao chính đáng và mãnh liệt của phụ nữ. Nghe nói vậy, bà thấy vui cái bụng lắm nhưng vẫn bán tín bán nghi. Tuy nhiên, mọi sự đều có thể đối với Thiên Chúa. Và quả thật, bà ấy đã có thai. Tới năm sau, cũng vào độ mà ông Ê-li-sa nói, bà hạ sinh một bé trai kháu khỉnh. Nỗi khát khao của bà đã được Thiên Chúa “giải khát”.

“Thiên Chúa là tình yêu – Θεόςείναιαγάπη – God is love – Dieu est l’amour” (Ga 4:8 và 16). Vì thế, tình thương của Ngài luôn tràn đầy mặt đất (Tv 33:5; Tv 119:64). Ngài biết rõ từng người cần gì nên Ngài ban cho ngày mặc dù chúng ta chưa lên tiếng cầu xin, ngay cả người vô thần cũng vẫn được Ngài chở che, nếu không thì họ làm sao sống nổi? Vì thế, chúng ta phải không ngừng tạ ơn Ngài: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” (Tv 89:2). Lời ca tụng Chúa phải được lặp đi lặp lại: “Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời” (Tv 89:3). Lời chúc tụng đó có vẻ đơn giản nhưng lại vô cùng thâm thúy và cần thiết. Tại sao vậy? Bởi vì việc chúng ta ca tụng Chúa cũng chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn ích cho phần rỗi của chính chúng ta. Ôi, kỳ diệu quá!

Thánh Vịnh gia đã xác định: “Hạnh phúc thay dân nào biết ca ngợi tung hô; nhờ Thánh Nhan soi tỏ, họ tiến lên, lạy Chúa. Nhờ được nghe danh Ngài, họ suốt ngày hớn hở; bởi vì Ngài công chính, nên họ được hiên ngang. Sức hùng cường hiển hách của dân chính là Ngài, hồng ân Ngài làm nổi bật uy thế chúng con. Đấng bảo vệ chúng con là người của Đức Chúa, vua chúng con thuộc quyền Đức Thánh của Ít-ra-en” (Tv 89:16-19). Có Chúa trong lòng thì an tâm, chẳng lo sợ gì, và hơn thế nữa, chúng ta còn có thể làm được những điều phi thường, bởi vì chính Chúa Giêsu đã xác định: “Ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (Ga 14:12).

Mặc dù mang thân phận cát bụi và vướng “nghiệp chướng” tội lỗi, nhưng chúng ta đã được tái sinh trong Nước và Thánh Thần. Chúng ta thực sự là con cái của Thiên Chúa. Và rồi chúng ta còn được tẩy rửa trong Máu và Nước chảy ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, nhờ đó chúng ta lại được cải tử hoàn sinh. Thánh Phaolô nói: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4). Thật vậy, chúng ta không chỉ được sống mà còn được sống dồi dào trong Đức Kitô (Ga 10:10). Trên cả tuyệt vời rồi đấy!

Cuộc sống luôn có những cái “nếu”. Có cái nếu không nên đặt ra, nhưng cũng có những cái nếu nên đặt vấn đề. Thánh Phaolô đặt ra cái nếu cần thiết và phân tích: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:8-11). Đó là đại phúc cho chúng ta. Và chắc chắn chúng ta không thể nhờ vào ai ngoài Đức Giêsu Kitô, vì Ngài đã xác định: “Thầy là con đường, là sự thật, và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:5).

Hôm nay – và năm A này, trình thuật Tin Mừng theo Thánh sử Matthêu là giáo huấn ngắn gọn của Chúa Giêsu, nhưng lại có sức chuyển tải triết-lý-sống sâu sắc. Có thể tạm chia lời dạy này làm hai phần.

  1. SỰ TỪ BỎ MÌNH. Đây là một việc làm không dễ chút nào, thế nhưng chúng ta phải làm, nghĩa là chúng ta phải “chết dần”, cứ “chết” từng ngày: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10:37-39).
  2. LÒNG YÊU THƯƠNG. Chúa Giêsu nói: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10:40-42).

Chén nước lã chỉ là thứ tầm thường nhưng lại có thể trở thành khác thường, được Chúa Giêsu “chấm công” nếu chén nước lã đó chứa “chất yêu thương”, được chúng ta trao cho người khác vì lòng thương xót, nếu không thì cũng chỉ luốn công vô ích. Hãy cùng nhau tâm niệm: Làm những việc bình thường một cách phi thường!

Dạng khát nào cũng mãnh liệt, nhưng mãnh liệt và cấp bách nhất phải là KHÁT CHÚA. Nhưng không ai có thể “giải khát” chúng ta ngoài Đức Kitô – Đấng là nguồn nước trường sinh. Ước gì mỗi chúng ta đều thực sự biết KHÁT CHÚA trong suốt cuộc đời, như Thánh Vịnh gia đã bày tỏ niềm khát khao đó: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước” (Tv 63:2). Mỗi sáng thức dậy, việc “dâng ngày” là điều rất cần thiết, và phó thác mọi việc “từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa”. Đó là lương thực bổ dưỡng cần được “điểm tâm” để đủ sức sống thêm một ngày mới.

Thánh Georgius nhận định: “Đức ái không ghen ghét, bởi vì nó không những không khát vọng mà lại còn xem nhẹ tất cả, kể cả địa vị cao quý của người thế tục”. Chỉ có “nước yêu thương” mới thực sự luôn cần thiết và có thể giải khát mọi người.

Lạy Thiên Chúa hằng sinh, Nguồn Mạch Trường Sinh, xin giúp con không ngừng khát khao Ngài, luôn tín thác vào Ngài và quyết tâm thực hành yêu thương như Ngài mong muốn. Xin cho con được no thỏa ân tình Ngài, xin giải khát con mọi nơi và mọi lúc, và xin giúp con cũng biết “giải khát” tha nhân bằng tình yêu của Ngài. Con tha thiết cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

HY SINH – TỪ BỎ ĐỂ THEO VÀ NÊN GIỐNG ĐỨC GIÊSU KITÔ

Hiêrônimô Nguyễn Văn Nội

I.  LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁT-THÊU (Mt 10,37-42)

37 “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. 38 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. 39 Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.

40 “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.

41 “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.

42 “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

2.1 Nội dung bài Phúc Âm trên có hai phần:

Một là “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được. Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Mt 10,37-40).

Hai là “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10,41-42).

2.2 Phần thứ nhất quan trọng hơn phần thứ hai, nên chúng ta tập trung vào phần này. Không có tôn giáo nào lại không coi trọng việc hy sinh từ bỏ trong đời sống tâm linh. Hy sinh từ bỏ không chỉ là những cái xấu (tội lỗi, ích kỷ, hận thù) mà cả những cái tốt (người thân, của cải, ý kiến cá nhân, kế họach riêng).

Càng hy sinh từ bỏ nhiều, người tín đồ càng trở nên thánh thiện. Càng hy sinh từ bỏ nhiều, người tu hành càng trở thành nhà chân tu.

Riêng với người Công giáo thì việc hy sinh từ bỏ còn có thêm nhiều ý nghĩa khác nữa: hy sinh từ bỏ để theo Chúa Giê-su Ki-tô; hy sinh từ bỏ để nên giống Chúa Ki-tô, Đấng đã từ bỏ cả ngai tòa thiên quốc để xuống thế làm người và đã chấp nhận cái chết trên thập giá để cho nhân loại được sống. Có thể nói: một khi đã trở thành Ki-tô hữu thì đời sống của người tín hữu đã được quy chiếu tất cả vào Chúa Giê-su Ki-tô.

2.3 Trong thực tế hy sinh từ bỏ cũng có nghĩa là đặt ưu tiên cái này trên cái kia, người này trên người nọ: Yêu Chúa nhiều hơn yêu cha mẹ sinh ra mình, yêu Chúa nhiều hơn yêu anh chị em ruột thịt của mình là từ bỏ. Yêu Chúa và thập giá của Chúa hơn yêu ý riêng và mạng sống mình là từ bỏ lớn hơn.

III.  THỰC THI LỜI CHÚA

3.1 Từ nhỏ, tôi đã được học hành và đào luyện trong Tiểu Chủng Viện. Khi bước vào tuổi trưởng thành tôi tiếp tục được đào luyện trong Đại Chủng Viện và sau đó trong Dòng Tu. Tôi hiểu và quý trọng sự hy sinh từ bỏ trên con đường theo Chúa. Khi trở về thế gian làm giáo dân và lập gia đình, tôi còn có nhiều cơ hội hơn để hy sinh từ bỏ.

3.2 Hy sinh từ bỏ trong đời sống giáo dân và gia đình thì có muôn hình vạn trạng và xẩy ra hằng ngày. Một việc làm nho nhỏ, một lời nói dịu dàng, một quan tâm, một chút nhịn đều là hy sinh từ bỏ, chứ không cần phải là những điều lớn lao. Hơn nữa hy sinh từ bỏ có thể là tự nguyện, mà cũng có thể là bị động, miễn sao bản thân tôi nhỏ bé đi một chút và những người xung quanh lớn lên thêm một chút. Điều quan trọng nhất là động lực của hy sinh từ bỏ phải là vì và cho Chúa Ki-tô, vì và cho hạnh phúc của người khác.

IV.  CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, con cảm tạ ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa đã hy sinh từ bỏ ngai tòa Thiên Quốc và cả bản thân Chúa để cứu chuộc loài người và cá nhân con.

Con hết sức ngưỡng mộ sự hy sinh, từ bỏ, sự tự hạ, tự hủy của Chúa. Con như bị cuốn hút, bị chinh phục…. bởi gương lành của Chúa!

Xin Chúa ban cho con sức mạnh để con dũng cảm chết đi cho những gì cản trở con nên giống Chúa. Xin Chúa ban cho con sức mạnh để con dũng cảm thục hiện những hy sinh từ bỏ làm cho con nên giống Chúa.

Con cầu xin Chúa là Thiên Chúa, Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Amen.

Về mục lục

.

CHẤP NHẬN VÁC THẬP GIÁ THEO CHÚA ĐỂ SỐNG VUI

Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 10,37-42

(37) “Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. (38) Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. (39) Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được. (40) Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. (41) Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ : Ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. (42) Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em : Người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.

  1. Ý CHÍNH: Người môn đệ phải đặt tình yêu Chúa Giê-su lên trên mọi tương quan tình cảm gia đình ruột thịt. Những ai sẵn sàng đón nhận gian khổ thập giá để đi theo và cùng chết với Đức Giê-su thì sẽ tìm lại được sự sống đời đời cho mình sau này. Đức Giê-su tự đồng hóa với các thừa sai và hứa sau này những người sẵn sàng đón tiếp họ, sẽ được Thiên Chúa ban thưởng bội hậu trên trời.

          3.CHÚ THÍCH:

          – C 37: + Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy… : Ở đây Đức Giê-su tỏ ý “ghen tương” giống như sự ghen yêu của Đức Chúa đối với dân Ít-ra-en trong thời Cựu Ước (x. Đnl 29,17-19 ; 32,16-21). Đức Giê-su không chấp nhận bất cứ tình yêu nào cạnh tranh với tình yêu phải được dành riêng cho Người. Kẻ nào muốn theo làm môn đệ Đức Giê-su mà còn quá quyến luyến với gia đình, thì chẳng xứng đáng với tình yêu của Người. Kẻ nào không nhìn nhận sự tối thượng của Người cũng không thể làm môn đệ của Người được. Sở dĩ Người đòi hỏi trung thành tuyệt đối như vậy, vì Người chính là Thiên Chúa làm người, đến để chịu chết đền tội thay cho loài người.

          HỎI : Với đòi hỏi như thế, phải chăng đi theo Chúa là phải hoàn toàn từ bỏ mọi liên hệ gia đình ruột thịt, có thể bị người đời kết tội là bất hiếu ?

          ĐÁP : Thực ra không phải như vậy. Vì chính Đức Giê-su là một người con hiếu thảo : Người vâng lời cha mẹ trong suốt thời gian ẩn dật tại Na-da-rét (x. Lc 2,51). Dù “giờ” chưa tới, nhưng Người sẵn sàng nghe lời cầu bầu của Đức Mẹ, để làm phép lạ đầu tiên giúp đỡ đôi tân hôn là hóa nước thành rượu ngon (x. Ga 2,4.5-8). Trước khi tắt thở trên cây thập giá, Người trối Đức Mẹ làm Mẹ của môn đệ Gio-an, để ông đem ngài về nhà mình mà phụng dưỡng thay cho Người (x. Ga 19,25-27). Người dạy người ta về sự thực hành cách cụ thể giới răn “Phải thảo kính cha mẹ”, trái với lời dạy lỗi bổn phận hiếu thảo của các luật sĩ (x. Mc 7,10-13). Nhưng đối với Đức Giê-su, sự vâng lời cha mẹ phải được đặt sau Thánh Ý Chúa Cha (x. Lc 2,49). Mẹ và anh em của Người chính là những ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa (x. Mc 3,33-35). Trong câu này, Đức Giê-su chỉ muốn nói rằng : khi cần phải chọn một trong hai tình yêu dành cho cha mẹ và dành cho Đức Giê-su, thì môn đệ phải biết đặt tình yêu trung thành với Người trên tình yêu dành cho cha mẹ.

          – C 38: + Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy : Lúc đầu có lẽ các môn đệ đi theo Đức Giê-su do muốn được lợi lộc vật chất (x. Mt 19,27-30), được địa vị cao khi Người lên làm vua (x. Mt 18,1-4). Nhưng Người lại không chiều theo ý họ, mà đòi họ phải đi con đường hẹp, leo dốc và đầy gai chông, ít người chịu theo (x. Mt 7,13-14). Đó là đường “từ bỏ mình, vác thập gia mình hàng ngày mà theo chân Người” (x. Mt 16,24).

          – C 39: + Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất… : Giữa hai sự sống tự nhiên và siêu nhiên, thì môn đồ phải biết chọn sự sống siêu nhiên. Nếu họ chỉ lo tìm sự sống thân xác, đến nỗi từ chối Chúa để khỏi bị giết chết, thì họ sẽ bị mất sự sống siêu nhiên ở đời sau. Ngược lại, nếu họ bằng lòng chịu chết vì đức tin, thì sẽ được Chúa ban lại sự sống siêu nhiên sau này.

          – C 40: + Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy…: Ở đây Đức Giê-su áp dụng một nguyên tắc thông thường về ngoại giao là : “Kẻ được sai đi đồng hóa với người đã sai mình”. Đón tiếp môn đệ là đón tiếp Đức Giê-su, cũng là đón tiếp chính Thiên Chúa là Đấng đã sai Người. Sự đón tiếp ở đây là phải sẵn sàng đón nhận Tin Mừng do các tông đồ thừa sai rao giảng.

          – C 41: + Ai đón tiếp một ngôn sứ… một người công chính : Có người nghĩ rằng : Ngôn sứ và công chính đồng nghĩa với tông đồ, nên ai tiếp đón các tông đồ với danh nghĩa là ngôn sứ và người công chính, thì sẽ được phần thưởng của các ngài. Nhưng một số các nhà chú giải hiện nay lại cho rằng : Thời Giáo hội sơ khai, chức vụ ngôn sứ khác với chức vụ tông đồ, còn người công chính thì không phải chức vụ, nhưng là người có lối sống công bình và ngay chính, được cộng đoàn kính trọng, như ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a người công chính (x. Mt 1,19), ông Giu-se hay Ba-sáp-ba, biệt danh Rô-ma là Gút-tô, nghĩa là công chính (x. Cv 1,23). + Thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ… cho bậc công chính : Đức Giêsu áp dụng nguyên tắc : “Người được sai đi đồng hóa với Đấng sai mình”, để nói rằng : kẻ đón tiếp các ngôn sứ và người công chính cũng sẽ được phần thưởng giống như phần thưởng mà các bậc ngôn sứ và người công chính sẽ được, là sự sống và được sự sống đời đời.

          – C 42: + Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này… : Kẻ bé nhỏ đây ám chỉ các môn đệ của Đức Giê-su là tông đồ thừa sai. + Người đó sẽ không mất phần thưởng đâu : Đức Giê-su hứa sẽ ban thưởng Nước Trời cho những ai thành tâm cộng tác vào sứ mệnh truyền giáo của các môn đệ, thì cũng sẽ được thưởng giống như các ngài sẽ được ở đời sau.

II.  SỐNG LỜI CHÚA :

  1. LỜI CHÚA: Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy (Mt 10,38).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) CHẤP NHẬN THẬP GIÁ ĐỂ SỐNG VUI.

Có một thiếu nữ kia trẻ đẹp và là con một gia đình quý tộc ở Ái Nhĩ Lan. Tuy sống trong cảnh giàu sang, nhưng cô lại muốn sống đời thánh hiến cho Chúa. Khi tới tuổi trưởng thành, cô từ chối khi các chàng trai quý tộc đến dạm hỏi, và được cha mẹ cho phép, cô tìm đến một đan viện có lối sống nhiệm nhặt khắc khổ để xin được dâng mình cho Chúa. Mẹ bề trên thấy cô vừa trẻ đẹp, lại vừa là con nhà quyền quý giàu có, nên chưa dám nhận ngay. Bà muốn thử thách ơn gọi của cô nên đã cố ý trình bày những luật lệ khắt khe của đan viện về nhiệm vụ cầu nguyện và lao động nhiều giờ mỗi ngày. Nghe xong, cô gái giữ im lặng như suy nghĩ. Một lát sau, bà bề trên hỏi tiếp : “Bây giờ con còn muốn dâng mình cho Chúa nữa thôi ?”. Cô đáp : “Thưa mẹ, con chỉ còn một thắc mắc này là : Không biết trong tu viện có nhiều cây thánh giá không ?”. Mẹ bề trên trả lời : “Con đừng lo. Khắp nơi trong nhà, không chỗ nào là không có thánh giá cả”. Bấy giờ cô gái tươi nét mặt và nói : “Thế thì thưa mẹ, con sẵn sàng xin vào tu viện, vì con chắc sẽ không gặp gì khó khăn cả. Bởi vì theo con nghĩ : Nếu mọi nơi mọi lúc con đều nhìn thấy thánh giá Chúa, đều thấy Người đang cùng chịu đau khổ với con, thì con hy vọng có thể chịu đựng được mọi đau khổ”.

2) CHU TOÀN BỔN PHẬN ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TRƯỚC KHI ĐI THEO CHÚA:

Vào năm 1994 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho chị Mác-đa-la Mô-ra-nô, là một nữ tu thuộc dòng Đức Mẹ Phù Hộ. Ngay từ thuở niên thiếu, Mác-đa-la đã phải nếm mùi đau khổ: Chỉ trong một tháng, người cha và chị cả trụ cột nuôi gia đình lần lượt bị chết, khiến cho bà mẹ và bốn đứa con thơ dại hết sức lo lắng cho tương lai gia đình.

Lúc đó em Mác-đa-la mới được 8 tuổi, nhưng đã tỏ ra khôn ngoan và chín chắn. Thấy mẹ lo buồn, em thường an ủi mẹ: “Mẹ đừng khóc nữa, chẳng bao lâu con sẽ khôn lớn và con hứa sẽ giúp mẹ thật nhiều như bố và chị Phanxica đã giúp mẹ vậy”. Nhưng không phải đợi tới lúc khôn lớn mà ngay từ lúc đó, vì nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn của gia đình, Mác-đa-la đã bỏ học để ngồi vào guồng tơ dệt chỉ mà chị Phanxica đã làm để kiếm tiền hằng ngày nuôi gia đình.

Một hôm, tình cờ người bác họ là cha Bandenla đến chơi và khi biết hoàn cảnh của Mác-đa-la, cha đã hứa phụ giúp nhu cầu vật chất của gia đình và giúp học phí sách vở cho Mác-đa-la đến trường học. Sau hơn mười năm chăm chỉ đèn sách, chị đã tốt nghiệp và trở thành một giáo viên giỏi dạy ở trường làng để phụ giúp gia đình. Suốt 16 năm trời, chị đã giữ lời hứa với mẹ, chuyên cần làm việc và âm thầm dành dụm. Đến ngày sinh nhật thứ 30, Mác-đa-la đã dẫn mẹ đến xem mảnh đất với căn nhà và khu vườn mà mẹ hằng mong ước. Chị âu yếm thưa với mẹ: “Thưa mẹ, đây là món quà con tặng mẹ, con chỉ xin mẹ cho phép con được tận hiến cuộc đời còn lại để theo ơn Chúa kêu gọi phụng sự Người”.

Quyết định của Mác-đa-la đã gây đau khổ nhiều cho mẹ chị, cho cha xứ, bạn bè và các phụ huynh học sinh của chị, vì họ mất đi một người con hiếu thảo, một người bạn tốt, một giáo viên gương mẫu, một người giáo dân nhiệt thành việc tông đồ. Ngày chia ly không khỏi ngậm ngùi đau xót, nhưng chị đã tìm được sức mạnh nơi tình yêu và lời Chúa phán: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với thầy”. Đồng thời chị cũng được sự an ủi vì tin vào lời Chúa đã hứa: “Quả thật, Thầy bảo cho anh em, không ai bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh chị em vì nước Thiên Chúa mà lại chẳng lãnh nhận gấp trăm ở đời này và sẽ được sống đời sau”. Thật vậy, lời hứa ấy đã thể hiện qua suốt 30 năm sống đời tận hiến mà trong đó, hơn 25 năm hăng say với sứ mệnh tông đồ giữa giới trẻ nghèo khổ và bị bỏ rơi tại đảo Xi-xi-li-a. Cuối cùng chị đã được Hội Thánh tôn phong lên bậc chân phước để mọi người tôn kính và học tập noi gương.

3) AI KHÔNG ĐÓN TIẾP THA NHÂN LÀ ĐÃ TỪ CHỐI ĐÓN CHÍNH CHÚA GIÊ-SU:

Tiểu bang Minnesota ở phía trung bắc nước Mỹ, giáp với Canada, vào mùa đông thường có những trận bão tuyết và nhiệt độ tụt xuống -30 hay -40 độ âm Farenheit. Vào một đêm bão tuyết, chiếc xe hơi của người phụ nữ bị chết máy trên đường tới Rochester. Chị biết rằng sẽ bị chết cóng nếu cứ ngồi lại ở trong xe. Tuy là vùng miền quê, nhưng trên trục lộ chính, cũng có một số nhà dọc theo đường lộ. Chị đã đến gõ cửa lần lượt hơn một chục căn nhà, nhưng chẳng có ai chịu ra mở cửa. Sau cùng, có một người lái xe ngang qua thấy chị nằm gục bên vệ đường bèn xuống xe đưa chị vào nhà thương cấp cứu. Chị đã được cứu sống, nhưng tất cả các ngón tay, ngón chân và một bàn chân đã bị hoại tử vì chịu giá lạnh trong một thời gian quá lâu.

Có điều đáng nói là các căn nhà chị đến gõ cửa đêm hôm ấy, mọi người đều ở trong nhà và đều nghe có tiếng gõ cửa. Mọi người đều là các tín hữu sống tại vùng quê hiền hòa, nhưng không một ai chịu ra mở cửa, vì sợ có thể sẽ bị kẻ cướp vào nhà trấn lột !

4) AI LIỀU MẤT MẠNG SỐNG MÌNH VÌ THẦY THÌ SẼ TÌM THẤY ĐƯỢC:

Vào một sáng mùa đông tuyết lạnh, SADHU và một người bạn cùng nhau đi du lịch qua một miền núi phía Bắc Ấn Độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào thét bên tai họ, khiến họ phải rất vất vả để chống trả với cơn bão tuyết.

Bấy giờ họ thấy một người đàn ông bị lạnh cóng đang nằm thoi thóp bên đường chờ chết. Sadhu muốn dừng lại cứu giúp người gặp nạn, nhưng anh bạn kia lại không đồng ý vì cho rằng  nguyên việc làm sao để cứu mạng mình lúc này cũng đã khó khăn vất vả lắm rồi, và anh ta cương quyết bỏ đi. Chạnh lòng xót thương, Sadhu ở lại bên kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân cho người sống dở chết dở ấy. Sau đó với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh ta trên lưng và tiếp tục đi qua vùng bị bão tuyết. Hơi ấm của hai thân thể hòa quyện lấy nhau khiến người kia dần hồi sinh và cả hai dìu nhau đi tiếp. Đi khoảng mươi dặm, cả hai kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết vì bị lạnh cóng đang nằm bên vệ đường. Họ càng ngạc nhiên hơn khi nhận ra đó không ai khác hơn là anh bạn đã cùng đi với Sadhu trước đó.

Hành động yêu thương xả thân cứu người của Sadhu đã minh chứng cho lời Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay: ”Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”. Anh bạn của Sadhu do đã cố giữ mạng sống của mình nên cuối cùng đã bị mất mạng, còn Sadhu do liều mất mạng vì tha nhân nên đã được cứu. Đó là điều nghịch lý mà Đức Giêsu đã trải qua và dạy các tín hữu noi theo. Người đã sẵn lòng chịu chết thập giá rồi sống lại vinh quang, để dạy chúng ta hãy đi con đường yêu thương: hy sinh mạng sống mình vì lòng mến Chúa yêu người, và chắc ta sẽ nhận được ơn cứu độ của Chúa.

5) CHIA SẺ GIÚP ĐỠ NGƯỜI NGHÈO LÀ LÀM CHO CHÍNH CHÚA:

MÁC-TANH THÀNH TUA (Martin de Tour) là một mẫu gương về đức bác ái cụ thể. Bấy giờ Mác-tanh  là người đầu tiên được Hội Thánh tôn kính như một vị thánh mà không do chịu tử vì đạo. Ngài sinh ra tại Pháp vào lúc cuộc bách hại đạo sắp chấm dứt. Trước đó chưa có người nào được các tín hữu tôn kính như một vị thánh giống như ngài.

Mác-tanh đã nêu cao chân lý : yêu thương tha nhân là yêu chính Chúa Giê-su. Trong lúc Mác-tanh đang học giáo lý dự tòng thì ngài đã ở trong quân đội. Vào một đêm đông giá rét, khi Mác-tanh đang ngồi trên lưng ngựa đi tuần tra thì gặp một người ăn xin nghèo khổ đang đi trên đường. Ông ta bị rét run vì quần áo ông đang mặc chỉ là một mớ giẻ rách. Mác-tanh liền thương cảm cởi chiếc áo choàng bằng dạ đang mặc, rút gươm cắt thành hai mảnh và đưa một mảnh cho người ăn xin nghèo khổ kia. Sau đó, trong giấc ngủ, Mác-tanh đã nằm mơ thấy Chúa Giê-su trên cây thập giá đang khoác mảnh áo mà ông mới cắt cho người ăn xin.  Mác-tanh nghe Người phán: “Hỡi Mác-tanh, tuy đang học giáo lý, mà con đã cho Ta chiếc áo này”.

  1. SUY NIỆM:

1) ĐÓN TIẾP THA NHÂN LÀ ĐÓN TIẾP CHÍNH ĐỨC GIÊSU.

          “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.”

          – NGƯỜI KHÁC LÀ AI ? : GIĂNG PÔN SÁT (Jean Paul Sartres) một triết gia hiện sinh vô thần đã nói : “Hỏa ngục chính là người khác !”. Đây là một câu nói hận đời, trái ngược với tinh thần yêu thương của Đức Giê-su. Vì đối với các tín hữu chúng ta thì người khác chính là hiện thân của Đức Giê-su như Người đã nói : “Ta bảo thật các ngươi : Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Nhưng người khác là ai ? Họ không phải là một người trừu tượng, nhưng là những người sống bên chúng ta. Họ là La-da-rô nghèo đói đang ở cửa nhà chúng ta. Họ là những người yếu đuối, già cả neo đơn, là những người vô gia cư, vô nghề nghiệp. Có thể họ cũng là một người trong gia đình ta, một người hàng xóm hay ở cùng một đường phố với chúng ta. Họ có thể là hỏa ngục hay là thiên đàng của ta tùy theo cái nhìn của ta đối với họ.

          – LÒNG HIẾU KHÁCH : Trong một xóm đạo nọ, vào buổi sáng khi ánh mặt trời vừa ló rạng, cánh cửa mọi nhà trong xóm đều được mở ra đón ánh nắng ban mai. Rồi từ đầu xóm, một gã hành khất đeo bị và tay chống gậy xuất hiện. Qua các cánh cửa, người ta phát hiện ra gã. Thế là từng nhà dọc theo xóm, vội vã đóng và chốt cửa lại, kéo rèm che cửa sổ. Bấy giờ gã hành khất đến từng nhà gõ cửa, nhưng không ai ra mở cửa. Cảm thấy nhục nhã buồn tủi, gã lặng lẽ đi ra khỏi xóm. Khi gã vừa khuất dạng, các rèm cửa lại được kéo lên, mọi cửa nhà lại được mở toang đón nhận nắng ấm tràn vào trong nhà. Mọi người trong xóm đều vui vẻ ra mặt vì như vừa thoát khỏi sự quấy rầy của một kẻ không mời mà đến.

          Hoạt cảnh trên đây vẫn thuờng xảy ra đó đây là do lòng ích kỷ của con người. Người ta thường chỉ mở cửa nhà và cửa lòng để đón mời một số người nào đó trong gia đình ruột thịt, các người bạn thân quen, đồng nghiệp, hay những kẻ mà họ hy vọng sẽ đem lại cho mình lợi lộc… và họ sẵn sàng khép cửa lại khi gặp một người lạ, nhất là những kẻ dáng vẻ nghèo nàn.

          – CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ĐỐI VỚI HỌ ? : Đức Giê-su dạy chúng ta hãy ân cần tiếp đón tha nhân. Tùy theo thái độ của chúng ta mà họ sẽ thành niềm vui mang lại hạnh phúc hay trở nên nỗi bất hạnh của chúng ta : các chủ quán ở Bê-lem xưa đã từ chối đôi vợ chồng nhà quê nghèo khó là Giu-se và Ma-ri-a, nhưng họ lại không ngờ mình đã từ chối đón nhận Đấng Cứu Thế trong đêm Người giáng sinh (x. Lc 2,7); Hai người thu thuế trong Tin Mừng là Mát-thêu và Da-kêu đã mở rộng cửa nhà đón tiếp Đức Giê-su và đã được ơn cứu độ (x. Mt 9,10 ; Lc 19,5-10); Gia đình Bê-ta-ni-a đón tiếp Đức Giê-su và đã được Người dạy cho biết điều cần thiết nhất (x. Lc 10,39-42). Hai môn đệ làng Em-mau nhờ mời vị khách bộ hành vào tạm trú trong nhà, mà các ông đã nhận ra Đức Giê-su phục sinh (x. Lc 24,29-31). Ngày nay Đức Giê-su vẫn đang hiện thân trong những người đau khổ nghèo đói, những kẻ đứng ngoài cửa nhà chúng ta và gõ. Ai mở cửa đón rước Người, thì Người sẽ vào trong nhà linh hồn của họ và ngồi vào bàn dùng bữa tối thân tình với họ.

          XÉT MÌNH : Tôi thường có thái độ thế nào đối với những kẻ mình không ưa hay những khách lạ không mời mà đến ? Tại sao người ta đóng cửa nhà hay cửa lòng với những người nghèo đói ăn xin ? Khi các người làm tông đồ đến nhà, tôi có niềm nở đón tiếp và cộng tác vào việc rao giảng Tin Mừng của họ hay không ?

          2) TÌNH YÊU ĐỐI VỚI ĐỨC GIÊSU.

          – GƯƠNG VÁC THÁNH GIÁ :

          Từ lễ Giáng Sinh năm 1969, mục sư ÁC-THƠ BƠ-LÉT-SÍT (Arthur Blessit) đã khởi đầu một cuộc hành trình đi bộ vòng quanh thế giới. Trên vai vác một cây thập giá dài 3,6m, ngang 1,8m nặng 18 ki-lô. Sau 26 năm vất vả, ông đã lập được một kỷ lục thế giới về đi bộ, khi vượt qua một quãng đường dài tới hơn 50 ngàn cây số, ngang qua nhiều quốc gia. Sau này ông đã thuật lại chuyến đi ấy như sau : “Tôi đã đi qua nhiều sa mạc và rừng già, đã từng bị dã thú như voi, rắn, cá sấu tấn công. Tôi bị bắt giam 21 lần vì bị nghi là làm gián điệp và có lần suýt bị dân da đỏ hành hình…” Động lực thúc đẩy ông làm được việc phi thường ấy là tình yêu mến Chúa Giê-su. Ông muốn mang thánh giá đến mọi nơi trên thế giới, như lệnh Người truyền : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,20). “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b).

          – PHẢI VÁC THẬP GIÁ NÀO ?

          Đức Giê-su mời mọi người hãy vác thập giá mình hằng ngày mà theo chân Người (x. Mt 16,24). Đường thập giá là con đường chính Đức Giê-su đã đi chịu chết. Đây là con đường khó nghèo khiêm hạ ở Bê-lem, lao động vất vả ở Na-da-rét, là đường rao giảng Tin Mừng và làm phép lạ cứu nhân độ thế từ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem, là đường lo buồn trong vườn Cây Dầu, bị xét xử bất công, chịu đánh đòn, đội mão gai, vác thập giá lên đồi Can-vê; là đường chịu đóng đinh và chết nhục nhã như một tên đại gian ác. Nhưng con đường đó lại là điều kiện để vào vinh quang phục sinh, như ba lần Người đã báo trước (x. Mt 16,21 ; 17,22-23 ; 20,18-19).

          Các tín hữu chúng ta cũng được Đức Giê-su mời gọi đi con đường thập giá của Người. Thập giá mà chúng ta vác không phải là cây gỗ thập giá của Đức Giê-su, nhưng là những gánh nặng việc bổn phận đối với gia đình xã hội và Giáo hội, là đòi hỏi phải từ bỏ của cải vật chất, quyền hành, là những người mà chúng ta tuy không ưa, nhưng vẫn phải sống chung một nhà. Đức Giê-su đã làm gương cho chúng ta khi với tính tự nhiên, Người bị lo buồn sợ hãi trước Giờ Tử Nạn, nhưng Người đã can đảm chấp nhận vâng theo ý Chúa Cha (Mt 26,39). Chỉ vì yêu mến Cha mà Người sẵn sàng từ bỏ ý riêng để chấp nhận khổ hình thập giá. Cũng vậy, chỉ khi nào ta thực sự yêu mến Chúa Giê-su thì ta mới dám hy sinh quên mình, dấn thân theo Chúa trên con đường thánh giá, và mới dám hiến mạng sống mình vì mến Chúa và yêu tha nhân.

          – PHẢI YÊU CHÚA THẾ NÀO ?

          Đức Giê-su đòi những ai muốn theo làm môn đệ Người phải dành trọn tình yêu cho Người : “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37). Nếu Đức Giê-su không phải là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa và nếu Người đã không chịu chết vì yêu loài người trước, thì chắc Người không dám đòi môn đệ phải hy sinh như vậy. Từ ngày Đức Giê-su về trời đến nay, có biết bao vị thừa sai tông đồ đã dám sống đến cùng tình yêu mà Đức Giê-su đòi hỏi ấy. Truyền giáo không phải chỉ là rao giảng Lời Chúa, nhưng còn là thông truyền đức tin và tình yêu Chúa cho người khác ; Là giới thiệu Đức Giê-su cho tha nhân nhận biết, tôn thờ, yêu mến cậy trông vào Người. Muốn làm được điều này thì chính chúng ta phải cảm nghiệm được tình yêu của Chúa nơi bản thân và sẵn sàng dâng cả cuộc đời để đáp lại tình yêu ấy. Ước gì chúng ta yêu mến Đức Giê-su trên hết mọi người, mọi vật, chấp nhận bỏ đi cái tôi ích kỷ hẹp hòi, để tình yêu Chúa ngày một lớn lên khi ta biết khiêm tốn phục vụ tha nhân.

  1. THẢO LUẬN: 1) Ta cần từ bỏ những gì và phải vác thập giá nào để nên môn đệ của Chúa ? 2) Theo kinh Cải Tội Bảy Mối, muốn bỏ một tật xấu như tự kiêu, bủn xỉn, mê đắm xác thịt, hay giận hờn, say xỉn, ghen ghét, lười biếng… Ta phải tập những nhân đức đối nghịch nào ?

5. LỜI CẦU

      – LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin dạy con biết yêu mến Chúa cho xứng đáng : biết cho đi mà không cần tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, biết làm việc mà không cần an nghỉ, biết xả thân mà không cần một phần thưởng nào khác, ngoài việc biết mình đã làm theo thánh ý Chúa (Thánh I-NHA-XI-Ô).

     – LẠY CHÚA. Xin nhận lấy tất cả tâm tư tình cảm và ước muốn của con, tất cả những gì con có và những gì thuộc về con. Mọi sự ấy đều do Chúa đã ban cho con, thì hôm nay con lại xin dâng chúng cho Chúa. Tất cả là của Chúa. Xin hãy sử dụng theo ý Chúa muốn. Con chỉ xin Chúa ban cho con lòng yêu mến Chúa nồng nàn và sau này được Chúa ban ơn cứu độ. Được như vậy là con đã thỏa mãn lắm rồi.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

Về mục lục

.

ĐỊA CHỈ TỐI ƯU

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Các bạn trẻ ngày nay rất thích nghe diễn giảng về chủ đề thành công trong cuộc sống. Có một vài điểm chung trong các bài diễn thuyết của nhiều danh nhân, doanh nhân thành đạt mà có thể kể ra hai điểm chung thường thấy trình bày đó là để đạt thành công trong cuộc sống thì cần phải có “hoài bão” (ambition) và biết cách “đầu tư” (investing). Sống mà không có hoài bão tức là không có mục đích, lý tưởng cụ thể thì hầu chắc không thể thành công. Người có hoài bão mà không biết đầu tư công sức, thời giờ và cả vật chất cho mục tiêu lý tưởng muốn đạt thì cũng chỉ là người mộng mơ viễn vông.

Phụng vụ Lời Chúa Giáo hội dọn cho đoàn tín hữu trong Chúa Nhật XIII TN A có thể nói tập trung vào chủ đề “đầu tư đúng địa chỉ tối ưu” để được hạnh phúc viên mãn, để được sống đời đời. Đầu tư là hành vi bỏ ra, tiêu phí một khoản nào đó và rồi sau đó mong sẽ thu lại một khoản nhiều hơn phần đã bỏ ra. Dĩ nhiên đã và đang có đó nhiều người đầu tư cách thiếu khôn ngoan, lầm lạc và hậu quả là phần thu lại ít hơn phần đã bỏ ra và có khi là chẳng thu lại được gì, kiểu “dã tràng xe cát”. Một trong những lý do gây ra các hậu quả trên đó là vì họ đã đầu tư không đúng địa chỉ.

Bài đọc thứ nhất trích Sách các vua quyển thứ hai tường thuật câu chuyện một cặp vợ chồng cao niên ở miền Sunam đã biết khôn ngoan đầu tư đúng địa chỉ. Hai vợ chồng đã đón tiếp ngôn sứ Êlisêu và dâng cho Ngài căn phòng khá đủ tiện nghi trên lầu. Hiệu quả của sự đầu tư của hai vợ chồng như nhãn tiền với lời khẳng định của vị ngôn sứ: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng một bé trai” (2V 4,16a). Trong cảnh già nua mà vẫn son sẻ thì quả là một điều bất hạnh và là một nỗi nhục trước mặt người đời. Dâng trao cho vị ngôn sứ chỉ một căn phòng vật chất và rồi lại được một người con nối dõi tông đường thì quả là thu một món lời khôn kể xiết. Ngoài ra căn phòng ấy cũng không mất đâu cả vì hầu chắc vị ngôn sứ sẽ không ở lại đó mãi mãi. Đầu tư đúng địa chỉ quả là một hành vi khôn ngoan.

Bài Tin mừng tường thuật những lời của Chúa Giêsu thoặt xem ra có vẻ nghịch thường. Một vị tôn sư lại thẳng thừng kêu gọi người ta phải yêu mến mình hơn cả mẹ cha. Người lại còn mạnh mẻ khẳng định rằng kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Người, thì sẽ tìm lại được mạng sống (x.Mt 10,37-39).

Một lý chứng duy nhất biện minh cho người có những lời lẽ xem ra nghịch thường và cả sống sượng ở trên đó là vì người ấy chính là Thiên Chúa, là Đấng dựng nên các bậc sinh thành của chúng ta, là Đấng cho chúng ta từ hư vô làm người trên cõi dương trần này. Những ai tin nhận Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật thì mới có thể đón nhận và sống theo những lời ấy.

Đã tin Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, là Đấng mà nhờ Người mọi vật mọi loài được dựng nên (x.Col 1,15-20), thì việc chọn yêu mên Người hơn cả mẹ cha, việc sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì Người chính là việc đầu tư khôn ngoan nhất vì đã đầu tư đúng địa chỉ tối ưu nhất. Chắc chắn một khi đã đầu tư đúng địa chỉ tối ưu thì phần sẽ thu lại là gấp trăm gấp ngàn lần phần đã bỏ ra. Chính Chúa Giêsu cũng đã từng minh định rõ sự thật này với các môn đệ. Khi Phêrô lên tiếng thưa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy” thì Chúa Giêsu đã nói: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái, ruộng đất gấp trăm lần, cùng với sự ngược đãi và sự sống vĩnh cữu ở đời sau” (Mc 10,28-30).

Cần lưu ý là trong lời khẳng định của Chúa Giêsu có đó sự ngược đãi. Đây là một hiện thực và cũng là một chướng ngại phải vượt qua. Bất cứ sự đầu tư nào cũng có đó phần khó khăn vì kết quả luôn ở thì tương lai. Để mong thành công trong những thiện hảo đời này thì người đầu tư dĩ nhiên cần một chút liều lĩnh nào đó, nói đúng hơn là sự can đảm và kiên trì vượt khó. Để được thành nhân và nhất là được hạnh phúc vĩnh cửu thì khi khôn ngoan đầu tư mọi sự vào Đấng Cứu Độ thì vẫn có đó chướng ngại phải can đảm vượt qua. Đó là mầu nhiệm thập giá mà Chúa Kitô đã nói rõ ràng: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Bài Tin Mừng hôm nay có thể chia này thành 2 phần tương đối rõ rệt:

* Phần đầu (các câu 37-39) Đức Giêsu dạy các môn đệ về sự từ bỏ.

* Phần sau (các câu 40- 42) dạy về sự tiếp đón.

  1. Về sự từ bỏ
  2. Có nhiều loại từ bỏ

– Tôi soạn lại tủ áo của tôi. Nhiều áo quá. Có những chiếc đã cũ và lỗi thời, tôi có thể bỏ bớt để đem cho người nghèo.

– Trong sân nhà tôi có hai cây mọc cạnh nhau. Nếu cứ để như thế thì hai cây vẫn sống, nhưng không cây nào lớn mạnh tốt được. Tôi nên bỏ bớt một cây để cây kia mọc tốt hơn.

–  Nha sĩ khám thấy có một chiếc răng của tôi đang bị hư nặng. Ông bảo phải bỏ nó đi, nếu không, nó sẽ lây cho những chiếc bên cạnh.

Đức Giêsu kêu gọi người đi theo Ngài hãy từ bỏ. Bỏ những gì và bỏ cách nào?

–  Có những thứ ta có thể bỏ. Thí dụ bớt chút thức ăn, bớt chút giờ ngủ khi ta ăn chay hãm mình.

–  Có những thứ ta nên bỏ để cuộc sống của ta nên tốt hơn. Thí dụ khi ta nhường nhịn không trả đũa, không đòi lại của cải hoặc danh dự bị người khác làm tổn thương, mất mát.

–  Có những thứ ta bó buộc phải bỏ như: tội lỗi, thói xấu, dịp tội.

  1. Xét như thế thì Chúa muốn chúng ta từ bỏ để được nên tốt hơn.

Người ta kể lại rằng: khi nhà danh họa Léonard de Vinci đem bức tranh nổi tiếng của mình là bức tranh vẽ Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly ra trưng bày cho mọi người thưởng lãm. Đây là một bức tranh rất đẹp. Chúa Giêsu ở giữa và chung quanh là các môn đệ của Người.  Lúc triển lãm bức tranh, tác giả cố ý núp ở một chỗ trong một phòng kín có ý để quan sát. Ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy điểm thu hút sự chú ý của mọi người không phải là khuôn mặt của chúa Giêsu mà là cánh hoa ông vẽ bên góc bức họa. Ngay lập tức ông đã nhận ra sự sai lầm của mình đó là đã thêm một cánh hoa vào bức tranh làm cho người xem bị phân tâm không còn chú ý tới trọng tâm của bức tranh là Chúa Giêsu nữa. Ông liền lấy cọ bôi bỏ cánh hoa đó. Và sau đó thì mọi người xem đều dán chặt mắt vào khuôn mặt Chúa Giêsu.

Việc bỏ cánh hoa là việc rất nên. Chính vì thế mà Léonard de Vinci đã đạt được uớc nguyện của mình.

Đàng khác vấn đề mất và được ở trên thế gian này có gì là tuyệt đối đâu.

Ngày xưa có một ông lão ở gần cửa ải mất một con ngựa. Có người đến thăm chia buòn vì sự rủi ro đó. Ông đáp:

– Biết đâu chuyện mất ngựa chẳng là điều may.

Vài ngày sau, con ngựa cũ trở về lại rủ thêm được một con ngựa Hồ rất hay. Có người cho đó là điều may mắn nên đến chúc mừng. Ông nói:

– Chưa hẳn được ngựa là may đâu.

Ông có đứa con trai, thấy ngựa Hồ hay, liền bắt cỡi thử, chẳng may bị ngã ngựa té gãy chân. Nhiều người cho rằng xui xẻo. Ông lại nói chưa biết chừng đây là điềm báo trước điều phúc cho gia đình ông. Qua năm sau, giặc Hồ tràn sang nước ông. Theo lệnh vua, các trai tráng trong làng đều phải sung vào cơ ngũ đi dẹp loạn, 10 người chỉ sống sót được một. Con trai ông vì tàn tật nên được miễn dịch, nhờ đó mà thoát chết, gia đình ông được an toàn. Nên việc họa phúc không biết đâu mà ngờ được.

Sống theo chúa Giêsu là đặt Ngài làm trọng tâm của cuộc sống, nhìn thấy Ngài trong mọi sự. Đó là bí quyết của các thánh. Chúa Giêsu không chỉ là bậc Thầy, vạch ra một con đường cho người khác đi theo. Ngài còn tự xưng mình là con đường duy nhất, Ngài đòi hỏi con người phải đi theo Ngài một cách tuyệt đối, nghĩa là vì Ngài sẵn sàng từ bỏ tất cả và từ bỏ tức khắc: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy… không xứng với Thầy… Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất… (x. Mt 10,37.39). Đi theo chúa, bỏ tất cả, hiến mạng sống làm gia nghiệp đó là đòi hỏi Chúa Giêsu đã kể ra trong Tin mừng hôm nay cho chúng ta.

Đi theo chúa Giêsu cũng có nghĩa là sống thế nào để mọi người nhìn vào đều thấy được gương mặt của Ngài. Một cuộc sống như thế đòi nhiều hy sinh từ bỏ, cũng như nhà họa sĩ sẵn sàng bôi bỏ một cánh hoa để thu hút sự chú ý của khán giả vào gương mặt của Chúa Giêsu. Cũng thế, người môn đệ của Chúa luôn sẵn sàng tháo gỡ và dứt bỏ mọi thứ vướng bận để chỉ sống cho Chúa và làm cho mọi người nhận ra gương mặt của Chúa qua cuộc sống của chính mình” (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày” – tập II).

  1. Vần Đề Thứ hai về sự tiếp đón
  2. Thánh Kinh đã ghi lại những cuộc tiếp đón rất đẹp và rất dễ thương. 
  3. Abraham thấy 3 người khách lạ đang đi trong sa mạc. Ông chạy ra năn nỉ họ vào nhà và ân cần chăm sóc họ. Đó là 3 sứ giả của Thiên Chúa. Đáp lại tấm lòng của Abraham, 3 sứ giả này ban ơn cho vợ chồng son sẻ của Abraham có con trai đầu lòng (St 18);
  4. Một gia đình ở Sunam chẳng những tiếp đón ngôn sứ Elisê, mà còn dọn hẳn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới có chỗ trọ. Đáp lại, Elisê cũng giúp họ thoát khỏi tình trạng son sẻ (bài đọc I);
  5. Gia đình Matta, Maria và Lazarô ở Bêtania là nơi thường xuyên tiếp đón Đức Giêsu và các môn đệ. Đáp lại, Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại.
  6. Phần thưởng của tấm lòng quảng đại ấy là gì?

Là sự sống: Một đứa con cho cặp vợ chồng già, hai đứa con trai đầu lòng cho hai vợ chồng son sẻ, và mạng sống được trả lại cho Ladarô đã chết 4 ngày. Xét cho cùng, ơn ban sự sống ấy không phải do những người khách, mà chính Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống, ban cho họ.

Những câu chuyện rất đẹp trên đây khuyến khích chúng ta hãy quảng đại tiếp đón:

– Tiếp đón không chỉ là đón người vào trọ trong nhà mình, cho họ ăn, cho họ nghỉ, mà còn là biết quan tâm tới nhu cầu của người khách và đáp ứng theo khả năng của mình.

– Khi tiếp đón, dĩ nhiên chúng ta phải mất mát: mất giờ, mất tiền của, mất công… Nhưng Thiên Chúa sẽ trọng thưởng chúng ta: Ngài sẽ cho sức sống thần linh của Ngài thêm lớn mạnh trong sự sống chúng ta.

Chúa hứa với một bà là Ngài sẽ đến thăm bà vào ngày đó. Bài rất hãnh diện về điều này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh bóng, quét bụi và xếp đặt mọi thứ sẵn sàng. Bà ngồi và đợi Chúa đến.

Đột nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy một người ăn xin đứng đó. Bà liền nói: “Không, hôm nay tôi không giúp anh, vì Chúa luôn ở với anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến, không thể giúp anh điều gì”. Bà đuổi anh và đóng cửa lại.

Mấy phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở cửa nhanh hơn trước. Thấy gì? Vài người già nghèo nàn. “Rất tiếc, tôi đang đợi Chúa đến. Hôm nay tôi không thể giúp đỡ các ông”. Rồi bà đóng sầm cửa lại.

Một lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở và lại thấy một người ăn xin rách rưới. Anh xin ăn và nghỉ qua đêm. “Ồ, hãy để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa đến. Tôi không thể tiếp anh”. Người ăn xin ra đi và bà tiếp tục ngồi chờ.

Hàng giờ trôi qua và màn đêm buông xuống, nhưng cũng chẳng thấy dấu hiệu gì của Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài ở đâu.

Cuối cùng, bà đành lên giường nằm chờ. Rồi bà ngủ lúc nào không biết. Trong giấc mơ bà thấy Chúa đến với Ngài nói: “Hôm nay Ta đã đến với con 3 lần và cả 3 lần con đều đuổi Ta”.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA LUÔN BÊNH VỰC NGƯỜI CÔNG CHÍNH

P.Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn, mấy ngày vừa qua dường như những ai có “trái tim Công giáo” đều phải xốn xang, hoặc ít nhất cũng phải tan nát, bởi ngay chính tại quê hương Việt Nam, nơi mà được cho là tự do Tôn giáo, lại bị dấy lên một cuộc xung đột ngay tại cơ sở của Đan Viện Thiên An, Huế. Một nơi tu hành, yên ắng , tưởng chừng là nơi bình an, nhưng vẫn gặp xung đột. Một nhóm người ngang nhiên xông vào khuôn viên tu viện đập phá Thánh Gía có tượng Chịu Nạn, đập phá, nhổ đi. Cùng lúc các thầy hữu trách của đan viện phải ra sức bảo vệ, nhưng, lực bất tòng tâm, một số thầy bị đánh có thương tích.

Theo đó, hành động được xảy ra như trên các trang mạng truyền thông đã đăng tải vụ việc. Thiết nghĩ, nếu trộm cướp, thì Thánh giá có tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh, không phải là “tài sản” để chúng hành động như vậy giữa ban ngày.

Còn thế “đối nghịch” với Đạo Công Gíao mà ngang nhiên hành động như vậy giữa ban ngày là phạm pháp. Vậy, những người ấy là ai ?! Nếu giang hồ, côn đồ, thì họ làm vậy vì mục đích gì ?! Chắc chắn là do “thuê mướn”. Như vậy, chính quyền và luật pháp ở đâu?! Các đan sĩ Thiên An là những người tu hành hợp pháp. Tu Viện có giấy tờ gần trăm năm, nghĩa là có quyền sở hữu tồn tại hợp pháp. Nếu không, thì không thể tồn tại với thời gian được.

Rõ ràng, nếu đã hợp pháp, thì các tu sĩ mặc nhiên có quyền và trách nhiệm bảo vệ tất cả tài sản thuộc đan viện, dù là một “cọng cỏ”. Theo đó, tất cả những ai đặt chân vào khuôn viên của Đan Viện một cách bất hợp pháp, đều là ”phi pháp”. Vì, Đất Nước có chủ quyền, lãnh thổ có Quốc Gia, nếu không ngoại bang xâm lấn lấy gì mà đánh đuổi, tục ngữ Việt Nam có câu :”Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Nay, sự việc ẩu đả, xâm phạm gia cư bất hợp pháp của một nhóm người xảy ra trong khuôn viên của một dòng tu, giữa ban ngày, trong một Đất Nước có chủ quyền “như” Việt Nam, pháp luật và nhà cầm quyền thản nhiên hay sao ?!

Dù thế lực nào, trừ phi “gian tặc”, thì không thể ngang nhiên xông vào nơi tu hành hợp pháp “tấn công” tu sĩ như vậy!

Nếu tranh chấp đất đai, cũng phải chờ bản án của Tòa Án, còn nếu cưỡng chế cũng phải có “án lệnh” mới thi hành. Điều nầy loại trừ, bởi vì đất đai của tu viện có từ lâu đời và có bằng khoán từ thể chế cầm quyền trước đây công nhận là đất mua chứ không phải đất tự khai phá.

Như vậy, “lực lượng” xông vào đập phá THÁNH GIÁ là biểu tượng thờ phượng của hơn 1 tỷ 2 người Công giáo, chưa kể Chính thống và Tin Lành, là một sự xúc phạm “khó dung”. Kính mong các cấp Giáo Quyền đề nghị nhà Cầm quyền truy xét, xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành và Luật Tôn giáo của Quốc Tế và của Việt Nam, vì Việt Nam đã ký kết Công Ứơc Quốc Tế về tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền, vì vậy, Việt Nam phải thực thi hầu bảo vệ công dân của mình cách chính đáng, đ1o là trách nhiệm và danh dự của một Quốc Gia.

Trở lại Trang Lời Chúa hôm nay, chúng ta thấy,  có hai phần:

  • Thứ nhất : Điều kiện nhất đẳng để làm môn đệ Chúa Giêsu.
  • Thứ hai : Phần thưởng dành cho người công chính.

Theo đó, mỗi trang Lời Chúa là một “cẩm nang sống” cho người môn đệ. Chúng ta thấy khởi đi  từ bài đọc I hôm nay, (2 V 4, 8-11. 14 -16a) cho thấy , Thiên Chúa luôn bênh vực người công chính, các tiên tri của Người. Rồi nữa, ai gíúp đỡ cho họ, thì cũng được Thiên Chúa thưởng công.

Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy phần thứ nhất từ câu 37 đến câu 39, dường như Chúa Giêsu đòi hỏi khắt khe, “ích kỷ”, nhưng, thật ra không phải vậy, đó là một sự đòi hỏi” tuyệt đối” công bằng. Một sự đòi buộc hợp lý dẫn đến một quy chế “hoàn hảo”, mà suốt hơn hai ngàn năm qua tồn tại phát triển theo chiều hướng đó, điều nầy nói lên sự thật. Vì, Chúa không “cưỡng ép” ai phải theo Người, nhưng mời gọi vì tình thương, mặc nhiên, tình thương thì phải đáp trả tình thương, phải có một sự tuyệt đối nhất định, không “ bắt cá hai tay”. Sự đòi buộc để làm môn đệ Chúa Giêsu cho thấy sự đòi hỏi của Thiên Chúa là Đấng toàn năng, chứ không phải quy chế của một phàm nhân nào khác đặt ra, vì : “Ai yêu cha mến mẹ hơn Thầy, thì không đáng thuộc về Thầy…” ( c 37 a)

Như vậy, tình gia đình phải đặt dưới tinh Chúa, tình tự nhiên phải đặt dưới tình siêu nhiên, tình khả năng, phải đặt dưới tình toàn năng, tình đồng loại, phải đặt dưới tình Đấng Tạo Thành. Vì , tất cả mọi thứ tình dưới Thiên Chúa là tình đồng loại, chỉ duy nhất một “ chữ tình” đó là Tình Thiên Chúa, thì phải đặt lên trên.

Như vậy, không phải Chúa chỉ đòi hỏi đặt tình Chúa lên trên tình gia đình mà thôi. Mà là, Chúa đòi hỏi phải đồng cam, cộng khổ với Người nữa, nghĩa là: phải vác Thập giá của mình mỗi ngày, và phải hy sinh mạng sống mình nữa. Như vậy, muốn theo Chúa Giêsu, điều kiện đòi hỏi thật khắt khe, chứ không đơn giản. Có nghĩa là phải hy sinh tình gia đình, hy sinh bản thân, và cuối cùng là hy sinh mạng sống. Vâng, một sự đòi hỏi khắt khe, nhưng, hoàn toàn hợp lý, bởi vì, thế gian không phải là thiên đàng. Trần thế chưa phải là Nước Trời, mà là hành trình tiến về quê Trời.

Phần thứ hai : Từ đó suy ra, sự đòi hỏi của Chúa Giêsu cho chúng thấy sự công bằng bởi sự đòi hỏi ấy là sự bênh vực tuyệt đối bởi Thiên Chúa. Vì , quy chế, thì phải có phần thưởng, từ quy chế siêu nhiên, mặc nhiên , phần thưởng cũng siêu nhiên. Thực tế trong cuộc sống Thiên Chúa vẫn ban cho chúng ta những ơn siêu nhiên qua những nhu cầu tự nhiên, như chúng ta gặp được những may mắn trong đời sống vật chất, trong đó hầu để đáp ứng nhu cầu thân xác và thiêng liêng nữa. Vì chính Chúa muốn đồng hóa với những người công chính, ngôn sứ và trẻ em.

Vì phần thưởng cho ngôn sứ được dành cho những ai đón tiếp ngôn sứ.

Phần thưởng cho người công chính được dành cho những ai đón tiếp người công chính.

Phần thưởng cho trẻ em dành cho những ai yêu thương trẻ em.

Như vậy, theo đó chỉ có hai hạng người được chính Chúa Giêsu đồng hóa mình là : Người công chính và trẻ em.

Như vậy, ai là người công chính thì hãy an tâm, vững chí và vui mừng trong hy vọng vì phần thưởng sẽ dành cho sự công chính của họ. Còn ai chưa công chính, thì nhờ Lời Chúa hôm nay cố gắng trở nên công chính, Còn những ai có tâm hồn “ người lớn” thì hãy trở nên tâm hồn “ trẻ thơ”, để được phần thưởng của trẻ nhỏ.

Và , những ai bị bách hại vì lẽ công chính, mặc nhiên, họ là những người công chính, vì vậy phần thưởng của họ là phần thưởng dành cho người công chính.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã giáo huấn cho những ai muốn bước theo Người một chân lý sáng tỏ, là Thiên Chúa luôn bênh vực người công chính. Xin cho những ai được sáng soi biết nhận lấy ánh sáng chân lý của Chúa mà an tâm, vững chí thi hành, hầu mang lại cho họ phúc trường sinh ./. Amen

Về mục lục

.

ĐÂU LÀ LẼ SỐNG

 JM. Lam Thy.

Con người sống trên đời ai mà chẳng “tham sinh uý tử” (tham sống sợ chết). Và khi có ai đó (là người đáng tin cậy) mách bảo lẽ sống còn (con đường hạnh phúc, thuốc trường sinh, sống vui, sống khoẻ…) thì ham thích lắm, nghe theo liền, dù chưa biết cái lẽ sống ấy sẽ đi về đâu. Khi các môn đệ đi theo Đức Ki-tô thì cũng vậy, ai cũng muốn mình sẽ được thế này thế nọ (Vd: Hai người con ông Dê-bê-đê xin được ngồi bên tả bên hữu Chúa Giê-su [tức là Tả Hữu Thừa Tướng của Vua Giê-su] – Mc 10, 35-45; hoặc ít ra thì cũng được làm dân chài đi ”lưới người” thay vì “lưới cá” – Mc 1, 17).

Tuy vậy, nghe lời mời gọi của Đức Ki-tô thì lại thấy không hấp dẫn một chút nào. Bài Tin Mừng hôm nay (CN XIII TN/A – Mt 10, 37-42) là một ví dụ. Xin cùng nghe thử: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 10, 37-39); “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24)…Tất cả đều chứng mình muốn theo Chúa không phải chuyện dễ dàng. Duy chỉ có một lần Người nói khác hẳn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11, 28-30). Ách của Người êm ái và gánh của Người nhẹ nhàng ư? Nếu thế thì ai chẳng muốn theo, nhưng tại sao lại “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”? Vác thập giá mà coi là êm ái, nhẹ nhàng sao? Có gì mâu thuẫn chăng? Như vậy thì phải hiểu Lời dạy của Thầy Chí Thánh như thế nào? 

Trước hết, Lời dạy “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” phải được hiểu theo nghĩa ẩn dụ và cái thập giá ấy chính là những tội lỗi trì trệ của tính xác thịt bản thân. Đó chính là cây thập giá của mình, là cái gánh nặng nề, cùng với cái ách chẳng êm ái một chút nào. Sẽ có một vấn nạn: Chúa dạy “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”; nhưng tại sao Chúa vác thập giá của Chúa (cái ách, cái gánh của bản thân), sao lại nặng nề quá như vậy, nặng đến độ ngã xuống đất 3 lần, phải nhờ Si-mon vác đỡ? Vấn đề chính ở điểm này: Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, chẳng chút bợn nhơ, nhưng vì vâng lệnh Chúa Cha, Người xuống trần mặc lấy thân xác yếu hèn của phàm nhân, gánh lấy tội lỗi loài người để cứu độ nhân loại; Người đã vác cây thập-giá-tội-lỗi-loài-người quá sức nặng nề bằng thân xác phàm nhân, nên mới quỵ ngã ba lần. Thập giá ấy không phải của Chúa, mà là của loài người đã chất lên vai Chúa. Vì thế nên khi Người nói “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” là Người muốn dạy người tín hữu hãy tự gánh lấy tội lỗi của bản thân, đi theo con đường thập-tự-Giê-su thì sẽ được cứu rỗi (“nghỉ ngơi bồi dưỡng”). Lời mời gọi chân tình đó chính là “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” vậy. 

Sở dĩ Chúa dạy như vậy vì Nguời biết rõ tính xác thịt của con người rất là nặng nề; nặng nề nhưng lại quyến rũ hơn cả tinh thần hướng thượng. Con người không những đã chiều theo tính xác thịt, mà còn viện dẫn trăm ngàn lý do để bào chữa. Thánh Phao-lô đã cảnh báo: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.” (Rm 8, 5-6). Quả thực, theo Thầy thì rất muốn theo Thầy, nhưng bảo phải vác thập giá mình mà theo thì lại… buồn rầu bỏ đi một nước (giống hệt anh chàng thanh niên giàu có muốn theo Thầy – Mt 19, 16-22). “Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được.” (Rm 8, 7). Hoá cho nên anh cần phải biết phân biệt rạch ròi ánh sáng và bóng tối. Đừng ngụp lặn trong bóng tối mà vẫn cứ ru mình trong ảo vọng đã tìm được hướng đi đích thực. Vâng, “ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.” (Ga 3, 19). Ấy cũng bởi vì “ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.” (Ga 3, 20).  

Để phân biệt được ánh sáng và bóng tối, không phải là chuyện dễ dàng, nhất là ở cái thế kỷ XXI vàng thau lẫn lộn này. Chính những nơi mình cứ tưởng là chan hoà ánh sáng, lại là bóng tối, tội lỗi ngập đầu. Bởi ngay như Đức Giê-su Ki-tô là “ánh sáng cho trần gian…, là ánh sáng thế gian” (Ga 8, 11-12), mà cũng còn có Giê-su giả nữa kia (“Thật vậy, sẽ có những Ki-tô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể.” – Mt 24, 24). Thiết nghĩ, chỉ còn một phương cách duy nhất, hữu hiệu nhất, đắc dụng nhất, đó là cầu nguyện, cầu nguyện liên lỉ để xin ơn soi sáng, xin ơn trợ giúp từ chính Đấng Bảo Trơ là Thánh Thần, là Thần Chân Lý. Vâng, một cách cụ thể, chỉ có  một con đường “độc đạo” cho chúng ta: Đó là, hãy sống theo Sự Thật do Đức Thánh Linh mạc khải và hướng dẫn. 

Tóm lại, “vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. Chúng ta biết rằng: con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết, thì thoát khỏi quyền của tội lỗi. Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta.  Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su.” (xc. Bài đọc 2: Rm 6, 5-11). Hãy vững tin và dâng lời khẩn nguyện:

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng; xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc, nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.” (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 13 mùa Thường niên).

Về mục lục

.

ĐỂ XỨNG ĐÁNG VỚI THẦY

 Fx. Đỗ Công Minh.

Bài Tin Mừng hôm nay mới đọc lên hẳn sẽ khiến nhiều người cảm thấy “Dội “. Thật vậy, Đức Giêsu nói với các môn đệ :”Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy”, những lời này xem ra dị ứng với luân lý đời thường. Chúa dạy phải thảo kính cha mẹ, cha mẹ phải yêu thương con cái. Đó là điều phải lẽ và chính đáng, sao Đức Giêsu lại nói những điều này? Vấn đề ở đây là chỉ ở từ  “HƠN” . Đức Giêsu không có ý nói đến sự so sánh, nhưng điều chính yếu, đó là Người muốn chúng con phải biết đặt Chúa là đối tượng lớn nhất và duy nhất để lắng nghe, tôn thờ. Bởi Chúa là đấng trọn lành, Người khẳng định “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến được với cha mà không qua Thầy”. Cha mẹ, anh chị em, rộng ra là những người thân, mỗi người phải có bổn phận yêu mến, lắng nghe nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống trần gian, nhưng mục đích cuối cùng của cuộc đời chính là đạt đến sự toàn thiện như Cha, Đấng ngự trên trời. Chính vì vậy, theo Chúa là một cuộc đấu tranh để đạt tới hạnh phúc  viên mãn,vĩnh cửu, bất diệt. Ngay sau những lời nhắc nhở chúng con về việc tôn nhận Chúa là Đấng tuyệt đối, Người cũng cho thấy cái giá phải trả khi theo Chúa:”Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” . Thập giá ở đây chính là chiến thắng sự giằng co giữa thế trần và Nước Trời, phải biết gạt bỏ tình cảm , ý riêng của mình, từ bỏ những tình cảm gia đình, những sở thích, nhu cầu của bản thân, hội nhóm  để đi theo con đường Chúa đi, Lời Chúa dạy qua Tin Mừng.

Đức Kitô cũng đã trải qua đau thương, Người đã chiến đấu và chiến thắng trước những cám dỗ của ma quỉ. Chính Chúa đã vác Thập giá tiến đến đồi Sọ và sẵn sàng đổ máu mình ra làm chứng cho sự thật, tình yêu.  Cuối cùng Người đã chiến thắng sự chết, Người đã Phục sinh vinh hiển và lên trời.

Ngày hôm nay, con đang sống trong một xã hội tục hóa, biết bao cám dỗ bủa vây khiến con người dễ sa ngã. Nhiều bậc cha mẹ, phụ huynh cũng vì không dám vác Thập giá mình theo Chúa, đã làm ngơ trước những điều xấu của con cái, anh chị em mình. Thậm chí có những hành động và lời lẽ tán đồng, chiều theo cái xấu khiến cái xấu lan tràn, tội ác, sự hiềm thù, gian dối, lừa đảo phát triển ngày càng nhiều dẫn đến xã hội ngày càng bất an.

Xin cho con luôn biết mỗi ngày mỗi cố gắng hơn, tu thân sửa mình, chọn Chúa thay vì chọn thế gian. Biết tin nhận Chúa là Đấng toàn năng trên hết mọi sự, biết vác thập giá mỗi ngày theo Chúa. Biết sống chân thành, bác ái, yêu thương đến những người đang sống bên chúng con, nhất là những người bất hạnh, bị bỏ rơi, hèn kém trong xã hội. Có như thế con mới xứng đáng là môn đệ của Chúa vậy. AMEN.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN. NĂM A

Lm. Antôn 

Sống trong quốc gia Hoa kỳ này, mỗi lần lái xe đi đâu xa chúng ta có thể ghé vào những tiệm ăn bên đường như Mc Donald hay những nhà hàng Việt Nam để mua thức ăn.  Nếu cần ngủ qua đêm, chúng ta cũng có thể dừng chân tại những khách sạn hay quán trọ dọc đường. Nhưng trong thời tiên tri Ê-li-sê và ngay cả ở Việt Nam chúng ta vào những thập niên 60 hay 70 cũng không có những tiện nghi này. Thế nên nếu vì hoàn cảnh phải đi xa và trải qua những con đường dài thì nhiều khi phải lệ thuộc vào lòng hiếu khách của những người xa lạ.  Chúng ta có thể hình dung và chắc chắn rằng trong cuộc hành trình dài, khó khăn và nguy hiểm của Đức Maria đi thăm bà Ê-li-za-bét, hay cuộc hành trình trốn vua Hê-rô-đê sang Ai-cập, của Thánh gia, Đức Maria, Chúa Giê-su Hài đồng lúc đó mới sanh, và thánh cả Giuse đã phải cậy nhờ đến lòng hiếu khách và sự giúp đỡ của những người xa lạ sống dọc đường.  Và có thể sinh mạng của Thánh gia tùy thuộc vào sự giúp đỡ của họ.
 
Trong bài đọc 1, chúng ta thấy ngôn sứ Ê-li-sê vô cùng may mắn được người phụ nữ ngoại bang ở thành Sunam đón tiếp một cách ân cần.  Người phụ nữ này thấy Ê-li-sê thường qua lại thành Sunam để làm công việc của Chúa nên mới bàn với chồng làm một căn phòng trên gác để ngôn sứ trọ qua đêm.  Trước lòng hiếu khách cao quí đó, ngôn sứ Ê-li-sê muốn thưởng công cho hai vợ chồng.  Khi biết vợ chồng đã già mà chưa con, Ê-li-sê liền hứa sẽ cầu nguyện cho bà được một người con trai vào năm tới.
 
Đây quả là phần thưởng vượt quá ước mơ của hai vợ chồng, nhưng đó cũng mới chỉ là phần thưởng dành cho những người đón tiếp ngôn sứ. Còn phần thưởng của Thiên Chúa dành cho những người quảng đại, đối xử tốt đẹp với chính môn đệ Người, những người thi hành sứ mạng của Người trao phó, còn trọng đại và cao quí hơn nhiều.

Trong Tin mừng, chúng ta được biết trong sứ mạng rao giảng Tin mừng tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã phải nhờ đến những sự giúp đỡ của người bên đường như bà Mát-ta và Maria, và có lẽ nhiều người khác nữa.  Chúng ta còn nhớ câu chuyện Chúa Giêsu, Đức Maria và các môn đệ được mời đi dự đám cưới ở thành Cana.  Chúa Giê-su, qua lời giới thiệu của Đức Maria, Mẹ Người, đã giúp cho đôi tân hôn qua khỏi sự khó khăn là hết rượu giữa bữa tiệc.  Chúng ta còn được biết khi dân chúng của một làng hay thành nào đón tiếp Chúa Giêsu thì nơi đó nhận được phần thưởng của Thiên Chúa: bệnh nhân được chữa lành; tội nhận được tha thứ; người nghèo khổ được loan báo Tin Mừng. Còn những nơi nào từ chối đón tiếp Chúa hay các môn đệ thì chúng ta nghe Chúa nói phần dành cho họ chỉ là chút bụi bàn chân thôi.
 
Người Do thái cảm nhận rằng khi thành tâm đón tiếp vị đại diện của ai là đón nhận chính người đó. Thành ra khi đón nhận các môn đệ của Chúa Giêsu thì không khác gì đón nhận chính Người, mà đón nhận chính Người cũng có nghĩa là đón nhận chính Thiên Chúa Cha.
Chúng ta thấy trong xã hội này, khi mà cửa nhà ai cũng đóng kín và còn được cài gắn hệ thống báo động, cho nên chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, khép kín lòng người, đang từ từ ăn sâu vào tâm trí và ảnh hưởng nặng đến cuộc sống của mọi người kể cả Ki-tô hữu.  Tiền tài, vật chất và các thú vui đang từ từ chiếm hữu đời sống của Ki-tô hữu. Đức tin và chính Chúa cũng từ từ bị loại ra khỏi đời sống của nhiều Ki-tô hữu ngày nay, để họ có cuộc sống tự do và thoải mái hơn, không bị cản trở.  Và hậu quả thì sao?  Có lẽ tất cả chúng ta có câu trả lời.

Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta biết trong cuộc hành trình đức tin nơi dương thế này có nhiều thập giá, đau khổ, khó khăn, thử thách và cám dỗ, và Chúa thiết tha kêu gọi chúng ta hãy có lòng quảng đại và hãy “mở lòng hiếu khách” đón nhận Người và lời của Người vào trong tâm hồn của chúng ta, vào trong gia đình của chúng ta. Chúng ta sẽ nhận được những phần thưởng quí giá là sự bình an thật của Chúa; chúng ta sẽ nhận được sức mạnh và ân sủng của Chúa; chúng ta sẽ được lời Chúa hướng dẫn và đi trong niềm vui mừng, hy vọng và vững tâm.

Ông bà anh chị em thân mến.  Chúa kêu gọi chúng ta hãy can đảm phá cánh cửa ích kỷ, lười biếng và cái tôi đang đóng kín tâm hồn mà thoát ra ngoài đến với Chúa và đến tha nhân.  Khi can đảm mở rộng cánh cửa tâm hồn để tiếp nhận Chúa và Lời Người là sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, đau khổ, khó khăn và thiệt thòi, để sống với và trong Chúa, để sống vì và như Chúa, để tin theo và yêu mến Chúa.  Mở tâm hồn ra để đến với tha nhân bằng hành động bác ái, yêu thương, quảng đại, giúp đỡ và phục vụ, và chúng ta sẽ gặp được ơn phúc và sự sống như lời Chúa nói: “Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó.”  

Nhìn vào xã hội ngày nay, chúng ta thấy có những người can đảm vác  những khó khăn và đau khổ vì Chúa và vì Tin mừng để theo Chúa, và có những người từ chối. Có những người vui mừng nhận chịu những sự thiệt thòi, hy sinh phục vụ, sống bác ái, yêu thương và quảng đại, và có những người sống ích kỷ, khép kín và sống riêng cho mình.  Sự khác biệt là đức tin.  Đối với những Ki-tô hữu chúng ta, đó là đức tin vào Chúa Giê-su, Người đã đem ân sủng và sự sống đến cho nhân loại, khi Người hy sinh chịu những đau khổ và vác thập giá, để chúng ta cũng mang ân sủng và sự sống của Chúa đến với tha nhân khi chúng ta hy sinh, khi chúng ta chịu thiệt thòi, chịu đau khổ và vác thập giá.  Đối với những Ki-tô hữu chúng ta, đó là đức tin vào lời của Chúa-Giê-su-Chịu-Đóng-Đinh trong bài đọc 2 hôm nay cho chúng ta biết: là nếu chúng ta đã chịu phép rửa trong sự chết của Người, thì chúng ta cũng sẽ có đời sống mới như Người.

Đây là tin mừng mà Chúa Giê-su mang đến cho chúng ta.  Xin Chúa giúp chúng ta can đảm mở cửa tâm hồn đón nhận tin vui mừng của Chúa, và sức mạnh để trung thành và vui mừng vác thập giá  theo Chúa.     

Về mục lục

.