Blog Page 2147

Khát vọng

Khát vọng

Trong những ngày qua, cùng với tin tức về thảm họa động đất và sóng thần tại Nhật Bản, có rất nhiều bài viết ca tụng người dân Nhật. Chẳng hạn, trên báo Tuổi Trẻ, số Chúa nhật 20-3-2011, một tác giả kể rằng ông không tin vào những điều người ta ca tụng dân Nhật “bình tĩnh, trật tự trong và sau trận động đất kinh hoàng”. Lý do là vì ông “đã chứng kiến tận mắt rất nhiều người cứ hay thổi phồng những câu chuyện họ thấy ở nước ngoài để dạy dỗ ngược trở lại những điều diễn ra ở Việt Nam”. Nhưng lần này ông buộc phải nghĩ lại khi nhìn thấy “những hình ảnh của người dân Nhật trong và sau sự cố được phát trên bản tin thời sự của VTV: những người dân quy củ xếp hàng nhận đồ cứu tế, dòng người xếp hàng nhiều đến nỗi người ta không thể đứng thành một hàng dọc, mà phải uốn thành hình cong trong một trật tự đáng khâm phục”.

Đúng là cả thế giới phải khâm phục dân tộc Nhật Bản. Trước đây người ta khâm phục Nhật Bản về những tiến bộ kỹ thuật và phát triển xã hội, nhưng bây giờ người ta thấy rõ hơn và khâm phục cái làm nên những tiến bộ và phát triển đó, chính là những người dân Nhật Bản. Nhiều cơ quan truyền thông không ngần ngại gọi Nhật Bản là dân tộc vĩ đại.

Tuy nhiên, cùng với sự khâm phục đó, có một thực trạng khác không nên quên: tại Nhật Bản, mỗi ngày trung bình có 100 người tự tử. Riêng trong năm 2007, số người Nhật tự tử là 33.093 người. Con số này có chiều hướng gia tăng chứ không giảm. Cụ thể là so với năm 2006, số người tự tử tăng 3%. Thế nên một trong những cam kết của Chính phủ mới là nỗ lực kéo tỷ lệ tự tử xuống. Với số người tự tử cao như thế, thiệt hại nhân mạng trong thảm họa sóng thần và động đất vừa qua, tuy khủng khiếp nhưng mới chỉ bằng một nửa.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao người dân sống trong một đất nước giàu có và văn minh như thế lại muốn tìm đến cái chết đông như vậy? Có thể có nhiều cách trả lời. Tôi đặc biệt chú ý đến bài viết của nhà văn người Nhật Ryu Murakami trên tờ New York Times ngày 16-3-2011. Ông là một cây viết nổi tiếng đã được trao tặng nhiều giải thưởng tại Nhật. Khi thảm họa xảy ra, từ Tokyo, nhà văn mô tả tình trạng động đất và những tác động trong đời sống người dân Nhật. Sau đó ông viết: “Cách đây 10 năm tôi có viết cuốn tiểu thuyết trong đó có kể câu chuyện một học sinh trung học đã tuyên bố trước quốc hội: Đất nước này thừa mứa mọi thứ. Ở đây người ta có thể tìm được mọi thứ mình muốn. Cái thiếu duy nhất là hi vọng”.

Lại chẳng phải là lời lý giải sâu sắc cho tình trạng tự tử hay sao? “Cái thiếu duy nhất là hi vọng”. Đã không còn hi vọng nữa thì sống làm gì? Một cuộc sống vô nghĩa, và vì thế, cần phải chấm dứt. Như thế, cái mà con người cần, cái đem lại hạnh phúc cho con người không chỉ là những tiến bộ kỹ thuật và sự giàu có thịnh vượng vật chất nhưng còn là niềm hi vọng.

Thế rồi Ryu Murakami hân hoan loan báo: “Bất kể những gì đã mất, người Nhật chúng ta đã tìm lại được một điều, đó là hi vọng. Cơn động đất sóng thần kinh hoàng đã cướp mất của chúng ta bao sinh mạng và bao nguồn của cải. Nhưng chúng ta, những người từng thừa mứa với sự thịnh vượng của mình, nay đang gieo trồng lại hạt mầm của hi vọng”. Hay quá! Nhưng niềm hi vọng mà nhà văn vui mừng loan báo là gì vậy? Ấy là vì trước đây người ta có đủ mọi thứ ngoại trừ hi vọng, còn bây giờ thì ngược lại: “Các trung tâm di tản đang phải đối mặt với bao thiếu thốn nghiêm trọng về thực phẩm, nước ngọt và thuốc men. Thiếu cả lương thực và điện ngay tại khu vực Tokyo. Cuộc sống của người dân đang bị đe dọa. Chính phủ và các cơ quan dịch vụ công đã không phản ứng đúng như lẽ ra phải có”. Chính tình trạng thiếu thốn đó khiến cho người ta phải đợi chờ và biết hi vọng vào tương lai tươi sáng hơn.

Hóa ra vậy! Bỗng cảm thấy chút thất vọng khi bài báo chỉ ngưng lại ở đó. Thất vọng vì tự nghĩ: đối với một dân tộc giàu có và hùng mạnh như dân Nhật, chắc sẽ không lâu để mọi sự đi vào ổn định. Sẽ không còn cảnh xếp hàng nhận đồ cứu tế hay đổ xăng. Sẽ không còn những kệ hàng trống vắng trong các siêu thị. Sẽ không còn những trại tạm cư thiếu thốn, và trên đống hoang tàn đổ nát sẽ mọc lên những ngôi nhà mới còn đẹp đẽ hơn bội phần. Lại sẽ thừa mứa mọi thứ. Phải chăng đến lúc đó – và không xa lắm đâu – niềm hi vọng lại sẽ lụi tàn? Lại sẽ tự tử mỗi năm mỗi nhiều hơn?

Nếu chân trời hi vọng chỉ là sự thịnh vượng và giàu có vật chất thì đúng là thế. Thành ra câu hỏi cốt yếu ở đây là câu hỏi về chân trời hi vọng của con người. Trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, từ vị trí của một người xin nước uống: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga 4,7), Chúa Giêsu giúp chị phụ nữ khám phá khát vọng sâu kín trong lòng chị, khát vọng mà không có ai và không có gì trong cuộc đời này có thể lấp đầy: “Chị nói tôi không có chồng là đúng vì chị đã năm đời chồng rồi và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (4,19). Rồi từ đó, Người giúp chị khám phá nguồn nước hằng sống có khả năng lấp đầy khát vọng của lòng người: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với chị “Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin và người ấy sẽ ban cho chị nước hằng sống” (4,10).

Phải chăng đây là thách đố lớn nhất cho Hội Thánh trong nền văn hóa kỹ trị và duy vật ngày nay: đồng hành với con người trong mọi nỗi niềm cuộc sống để cùng với họ khám phá khát vọng sâu xa trong lòng người, và mạnh dạn giới thiệu với họ Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ? Người Kitô hữu có thể đáp trả thách đố này nếu niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô thực sự trở thành xác tín cá nhân xuyên qua những trải nghiệm của đời sống. Đó chính là con đường thánh Augustinô đã kinh qua để trở thành người loan báo Tin Mừng. Rất nhẹ nhàng mà đầy sức thuyết phục: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa và tâm hồn con còn mãi băn khoăn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.

(26-03-2011)

HTT

 

Trung Tâm Bảo Trợ Khiếm Thị Nhật Hồng

Cảm thông trước nỗi bất hạnh của những đứa trẻ kém may mắn, ngày 25/08/1995, mái ấm khiếm thị Nhật Hồng chính thức ra đời do các nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức lập nên. Với ước mong chia sẻ những khó khăn, góp phần xoa dịu nỗi đau tinh thần của các em, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các em có thể hoà nhập vào cuộc sống chung của cộng đồng một cách tốt hơn.

Để tìm hiểu về công việc phục vụ người khiếm thị của các nữ tu Mến Thánh Giá Thủ Đức  và đời sống của các em  khiếm thị , xin  quí vị vào trang web http://www.happysuncenter.org.

Trong nhiều năm qua Hội Dòng cũng được sự hỗ trợ đặc biệt từ Blind Vietnamese Children Foundation ở Hoa Kỳ. Xin quí vị vào link http://www.bvcf.net để biết thêm chi tiết.

Trung Tâm Bảo Trợ Khiếm Thị  Nhật Hồng luôn mong ước nhận được sự góp tay của các nhà hảo tâm khắp nơi. Chúng con xin chân thành ghi ơn.

Lược sử Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ VIỆT NAM

(Trích từ Lịch Sử Hd Mến Thánh Giá Thủ Thiêm – 2005)

1. Dòng Mến Thánh Giá chào đời:

Ngay từ thời cha Đắc Lộ ở Đàng Ngoài (1627-1630), đã có nhiều thiếu nữ dâng mình cho Chúa bằng cách hứa sống tiết dục và khiết tịnh. Năm 1640, khi Chúa Trịnh Tráng ra sắc chỉ cấm đạo, có ba cô trinh nữ xứ Đông: Monica, Nympha và Vitta, tự nguyện lên kinh thành để tuyên xưng đức tin và được chết vì Chúa. Sắc chỉ đã rút lại, nhưng vì có cơ hội trải qua cảm nghiệm đau khổ khác vì đức tin: ba cô trinh nữ họp nhau, sống chung một nhà; sau có thêm 5, 6 cô khác đến xin gia nhập, làm thành một cộng đoàn trinh nữ, sống “đời sống các Thiên Thần” (Đỗ Quang Chính, Dòng tên trong xã hội Đại Việt, 1998, tr. 561).

Cha Deydier đã hướng dẫn họ trong đời sống thiêng liêng và tháng 8 -1669, cha đã giới thiệu các nhóm trinh nữ này cho Đức Cha Lambert.

Lễ Tro 19-02-1670, Đức Cha Phêrô Lambert de la Motte đã chính thức nhận lời khấn của hai chị Anê và Paula tại Phố Hiến Đàng Ngoài, đồng thời trao cho các chị bản luật tiên khởi mà chính người đã soạn, và xác định rõ tên gọi “một tu hội đặc biệt mang danh hiệu Dòng Nữ Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô”. Đó là ngày Khai Sinh Dòng Tu đầu tiên trên đất Á Châu.

Năm 1671 Ngài lại lập Dòng Mến Thánh Giá tại An Chỉ – Đàng Trong, với 10 nữ tu.

Năm 1672, Đức Cha lập Dòng Mến Thánh Giá Thái Lan. Sau này, Dòng lan tỏa sang Campuchia (1772), Nhật bản (1878) và Lào (1887). Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều Hội Dòng Mến Thánh Giá đã bị mai một, nhưng lại nảy sinh nhiều Hội Dòng mới.

2. Nguồn gốc tên gọi Mến Thánh Giá:

Năm 1633, lúc lên 9 tuổi, Đức Cha Phêrô Lambert de la Motte nhận được ơn linh hứng: những người yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu nên quy tụ lại thành một hội mang tên Mến Thánh Giá, ba từ này lấy từ đầu đề chương 11, quyển 2 của sách Gương Phúc mà ngài say mê đọc và suy niệm hằng ngày. Chính điều này làm nền tảng cho châm ngôn mà gài đã chọn cho chính mình và cho nữ tu Mến Thánh Giá: “Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta” (Tiểu sử ĐC Phêrô-Lambert de la Motte).

3. Dòng Mến Thánh Giá hình thành và lớn lên trong bách hại và chiến tranh:

Quá trình hình thành Dòng Mến Thánh Giá thật phức tạp nhưng phong phú đa dạng. Hơn hai thế kỷ đầu, Dòng Mến Thánh Giá đã đồng chia sẻ số phận thương đau của Giáo Hội Việt Nam. Đặc biệt thời Minh Mạng, Tự Đức, Thiệu Trị, người Công Giáo nói chung, và nữ tu Mến Thánh Giá nói riêng, bị sát hại một cách tàn nhẫn, khủng khiếp, chịu bao nỗi gian truân, khốn khổ. Sau này, người ta không chỉ thù ghét tôn giáo mà có những thời điểm cáo buộc người Công Giáo vào tội phản quốc. Vì thế, những cuộc bách hại liên tiếp tái diễn.

Có thể nói rằng Dòng Mến Thánh Giá khai sinh và lớn lên dưới bóng Thánh Giá vì không chỉ chính quyền mà cả giáo quyền, cũng tạo cho các chị biết bao khó khăn. Có một điều không thể lý giải được là chính trong những cơn bách đạo triền miên ấy, ơn gọi Mến Thánh Giá vẫn gia tăng, các tu viện vẫn phát triển.

Dù trong hoàn cảnh nào, chị em Mến Thánh Giá vẫn luôn dấn thân phục vụ Tin Mừng. Đặc biệt trong cơn bách hại, nhà cửa các chị thường là nơi ẩn náu cho những người bị bách hại; các chị đã lén lút vào các trại giam đem lương thực, nhất là Mình Thánh Chúa cho các Đấng anh hùng tuyên xưng đức tin; an ủi kẻ đau khổ, cứu giúp người yếu đuối, nâng dậy các kẻ đã chối đạo. Những nơi mà linh mục không thể vào được, thì các chị mạnh dạn đi tới.

a – Đàng Ngoài

Từ hạt giống đầu tiên Đức Cha Lambert đã gieo tại Đàng Ngoài, dòng Mến Thánh Giá bắt đầu phát triển, có thể nói là rất nhanh. Chỉ sau 7 năm, 1670-1677, con số chị em lên đến 100, sống trong nhiều cộng đoàn.

a.1Đông Ký:

Các nhà Kiên Lao, Trung Linh, Bùi Chu đều phát triển nhanh ngay sau khi thành lập. Ngoài ra còn có các nhà Bát Trạch, Hạ Linh và Ke He.

Đến năm 1838, sau chiếu chỉ bắt đạo lần ba của Vua Minh Mạng, ba nhà Mến Thánh Giá còn lại cũng bị phá hủy hoàn toàn.

a.2Tây Ký

Năm 1701 có tới 20 nhà; năm 1751 tăng thành 25 nhà. Nhưng những cuộc bách hại trong thế kỷ 18 đã phá hủy toàn bộ các nhà trên.

Trong thời bình an (1802-1830), các cộng đoàn dần dần hồi sinh, với sự nâng đỡ tối đa của các vị Đại Diện Tông Tòa. Sau cuộc bách hại 1838 thời Minh Mạng, 40 nhà bị phân tán. Thời Thiệu Trị (1841-1847), mặc dù cũng có cấm đạo, nhưng trong những hoàn cảnh có thể, các Vị Đại Diện Tông Tòa và các Vị Thừa Sai tái lập các nhà Mến Thánh Giá, họ đã lập lại được 50 nhà. Thế rồi trong thời kỳ phân sáp (1857-1861), ở Đàng Ngoài các nhà dòng bị tàn phá, các nữ tu bị phân tán, hàng trăm nữ tu hy sinh vì đức tin. Thời Văn Thân 1874, có 10 nhà Mến Thánh Giá bị cướp bóc và đốt cháy. Cũng năm đó ở sở Kẻ Trầu (Lưu Mỹ), ba chị Mến Thánh Giá Vinh bị bắt tại Nhà Dòng và bị giết.

b – Đàng Trong:

b.1 – Đông Đàng Trong:

Bốn năm sau khi lập Dòng Mến Thánh Giá tại An Chỉ, Đức Cha Lambert có dịp trở lại Đàng Trong, Ngài được an ủi khi thấy các nữ tu không hề giảm sút lòng sốt sắng buổi ban đầu và chị em vẫn giữ luật rất cặn kẽ.

Sau đó, có thêm các nhà Mến Thánh Giá Diêm Điền (1674), Bo Tay (1674), Lâm Tuyền (1676), Nha Ru, Hội An (1678), Thợ Đúc (1719).

Từ 1780-1812, đời sống tôn giáo tương đối yên ổn. Cha Labartette (sau làm Giám mục), đã lập thêm các tu viện : Di Loan, Phủ Cam, Nhu Lý, Bố Liêu, Kẻ Bàng, Trung Quán, Mỹ Hương, Sáo Bùn. Về sau còn nảy sinh thêm các tu viện khác: Dương Sơn (1828), Kim Long, Cổ Vưu, Tam Tòa …

Theo bản thống kê năm 1795 của Louvet, giáo phận Đàng Trong (lúc ấy bao gồm cả Campuchia và Nam Lào) có khoảng 250 nữ tu bản địa, con số này riêng vùng Thượng Đàng Trong, từ sông Gianh đến Bình Thuận có tới 6 tu viện, mỗi nhà trung bình từ 35 tới 40 nữ tu, và tại Campuchia có 1 tu viện với 6 nữ tu.

Năm 1806, có 8 cộng đoàn ở Cocincina và 1 ở Cambodia.

Năm 1822, có đến 16 nhà với khoảng 400 nữ tu. Đến cuộc bách hại 1833, đã tăng lên tới 20 nhà. Cũng theo thống kê năm 1884 của Louvet, giáo phận Bắc Đàng Trong (Huế) có 7 tu viện với 420 nữ tu , giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) 12 tu viện với 440 nữ tu.

Thế nhưng đồng số phận với các chị Đàng Ngoài, những lệnh cấm đạo thường xuyên làm cho 20 nhà bị phân tán vào năm 1838. Tháng 7-1885 đến 7-1886, trong 6 tỉnh thuộc giáo phận Quy Nhơn, 270 nữ tu trong số 450 bị chết vì nhục hình, 10 nhà dòng trong số 12 bị triệt hạ.

Các cuộc bách hại lâu dài đã phá hủy toàn bộ các nhà phước Mến Thánh Giá Đông Đàng Trong. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 18, ở Đàng Trong không còn dấu vết gì Mến Thánh Giá, kể cả Bản Luật. Sau này, Đức Cha Piguel phải xin một bản sao luật Mến Thánh Giá từ vị Đại Diện Tông Tòa Đàng Ngoài.

b.2 – Tây Đàng Trong:

Các nhà Mến Thánh Giá ở vùng này có thể đã hiện diện từ trước năm 1778, nhưng đã bị hủy diệt hoàn toàn qua các cuộc bách hại như ở phía Đông. Đến năm 1830, các nhà Mến Thánh Giá giáo phận Tây Đàng Trong bắt đầu được tái lập, và trải qua một tiến trình phát triển, giải tán và tồn tại một cách khá rõ ràng:

  • Mến Thánh Giá Tân Triều và Lái Thiêu được thành lập năm 1830.
  • Năm 1843, một số nữ tu Tân Triều, Lái Thiêu chạy loạn họp thành hai nhóm, nhóm thứ nhất đến lập nhà Cái Nhum, nhóm thứ hai về tái lập nhà Lái Thiêu.
  • Năm 1844, Đức Cha Lefevre gửi 4 chị của tu viện cái Nhum sang lập tu viện Cái Mơn.
  • Sau khi Đức Cha Lefevre bị bắt tại Cái Nhum 31/ 10/ 1844, các chị nữ tu của họ đạo này đến cư ngụ tại Cái Mơn.
  • Năm 1846, Đức Cha J. Miche nhận thấy các chị ở Cái Mơn không được an toàn, nên ra lệnh cho các chị trở về Cái Nhum, cư ngụ gần kênh Cái Chanh.
  • Năm 1847, sau khi thoát cảnh lưu đầy, Đức Cha Lefevre gửi 4 chị của tu viện Lái Thiêu lập tu viện Cái Mơn.
  • Năm 1852, Cái Mơn gửi 5 chị đi lập một tu viện ở Chợ Quán.
  • Năm 1853, các chị Cái Mơn đi lập lại tu viện Tân Triều và tu viện Đầu Nước, ngày nay là Cù Lao Giêng, nhưng tu viện này bị phân tán ngày 8 tháng giêng âm lịch năm 1859.
  • Cũng năm 1853, tu viện Mặc Bắc được thành lập, nhưng rồi lại bị giải tán sau khi Cha Minh bị bắt. Ba bốn năm sau, 2 chị của tu viện Cái Nhum tái lập lại tu viện Mặc Bắc.
  • Năm 1855, hai chị của tu viện cái Mơn lập tu viện Bãi Xan.
  • Năm 1856, tu viện Chợ Quán lập tu viện Bà Rịa. Khi Pháp chiếm Sàigòn (1859-1862) thì 2 tu viện Tân Triều và Bà Rịa họp lại về cư ngụ tại Thủ Thiêm. Đồng thời tu viện Chợ Quán chuyển về Xóm Chiếu.

Khi Mỹ Tho bị Pháp chiếm ngày 12/ 04/ 1861, cha Nhơn đem các chị từ tu viện Bãi Xan và một số nữ tu thuộc tu viện Mặc Bắc về ở Mỹ Tho.Vài năm sau các chị ở Mỹ Tho lập một nhà ở Vĩnh Long. Nhưng năm 1872 tu viện Vĩnh Long và năm 1874 tu viện Mỹ Tho được nhập lại, một số về tu viện Cái Mơn, một số về Cái Nhum.

Năm 1906, Cha Ernest Hay (thuộc Hội Thừa Sai Paris, sáng lập Dòng Kitô Vua) làm Bề Trên Cái Nhum, cho rằng tính tình phụ nữ Việt Nam chưa đủ điều kiện để sống đời thánh hiến, nên csha ra lệnh giải tán. Chị em lại ra đi, nhóm đôi ba người sống tại một nơi nào đó, một số trở về gia đình , một số liều lĩnh ở lại tu viện. Nhờ vậy mà Hội Dòng còn tồn tại đến hôm nay.

Từ ngày ấy chỉ còn 295 nữ tu tại 4 tu viện thuộc địa phận Tây Đàng Trong (Sàigòn): 2 tu viện ở vùng ngoại ô Sàigòn là Chợ Quán và Thủ Thiêm, hai tu viện ở miền Tây là Cái Mơn và cái Nhum; địa phận Campuchia (Nam Vang) 3 tu viện với 45 nữ tu.

Không chỉ tại Việt Nam mà cả ở Thái Lan, các chị Mến Thánh Giá cũng bị bách hại và chịu chết vì đức tin. Hai chị Agnes Phila và Lucia Khambang đã được phong chân phước vào ngày 22/ 10/ 1989.

4. Dòng Mến Thánh Giá trong thời cải cách và phục hưng:

a – Nguyên nhân:

Một nhà nghiên cứu nhận định: “Ngoài việc sống chung và một bản luật rất giản dị, các chị Mến Thánh Giá không có vẻ gì là nữ tu cả: các chị không có y phục khác với y phục phụ nữ, các chị không có lời khấn. Điều mà chủ yếu duy trì cảnh sống của chị em suốt hai thế kỷ rưỡi (1670-1925) lại chính là việc cấm đạo (Đinh Thực, sdd, tr. 114).

Khi tìm hiểu về chị em Mến Thánh Giá trước đây, hầu hết các thừa sai và các nhà nghiên cứu đều nhất trí với 3 điểm nổi bật sau đây:

1.    Các nữ tu Mến Thánh Giá có đời sống chung,

2.    Giữ một luật lệ rất nghiêm ngặt.

3.    Thực hiện những nhân đức khiết tịnh, vâng phục và khó nghèo mặc dù chưa thành lời khấn.

Năm 1678 mặc dù Tòa Thánh ban ân xá cho những thành viên dòng nữ Mến Thánh Giá, nhưng như một hiệp hội hoặc hội đạo đức. Thời bấy giờ, luật Giáo Hội buộc đời tu gắn liền với Lơi Khấn Trọng Thể và sống trong đan viện. Mãi đến ngày 8 tháng 12 năm 1900, lời khấn đơn mới được nhìn nhận là lời khấn dòng. Về phương diện Giáo Luật, đến năm này, dòng Mến Thánh Giá mới được nhìn nhận là một dòng tu đúng nghĩa, và những nữ tu tuyên lời khấn đơn mới trở thành những tu sĩ thực thụ.

Một phần vì chưa được công nhận, một phần vì cuộc sống bấp bênh, tạm bợ, các vị Thừa Sai quá ít, không thể hướng dẫn các chị cụ thể trong mọi chiều kích của đời thánh hiến, chị em Mến Thánh Giá không khấn công khai là điều dễ hiểu.

Đó là tình trạng chung của tất cả các Hội Dòng Mến Thánh Giá trong hai thế kỷ đầu

b – Cải cách:

Nhờ sự giúp đỡ của các cha Thừa sai, các Hội Dòng Mến Thánh Giá lần lượt được cải cách theo đúng tinh thần của Giáo Luật năm 1917. Có nhiều giai đoạn cải cách khác nhau cho các hội dòng :

Cuộc cải tổ đầu tiên do cha Gernot thực hiện tại tu viện Mến Thánh Giá Cái Mơn năm 1864, thuộc miền truyền giáo Tây Đàng Trong. Đặc điểm của cuộc cải tổ này là cho chị em mặc tu phục và tuyên lời khấn đơn tạm từng năm (quy chế này có hiệu lực cho 4 Hội dòng Nam Bộ : Cái Mơn, Cái Nhum, Chợ Quán, Thủ Thiêm – đến năm 1970).

Cuộc cải tổ thứ hai do Đức Cha Louis de Cooman Hành (làm Giám mục năm 1917) thực hiện năm 1925 tại Phát Diệm thừa lệnh của Đức Cha Alexandre Marcou Thành. Đặc điểm là chị em làm năm Tập theo Giáo Luật, mặc tu phục và tuyên lời khấn đơn, trước tạm thời sau vĩnh viễn.

Năm 1929, Hội Dòng Mến Thánh Giá Quy Nhơn, và sau đó là nhiều Hội Dòng Mến Thánh Giá khác lần lượt được cải tổ giống như Hội Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm.

Công Đồng Đông Dương năm 1934 đã khen ngợi cuộc cải tổ triệt để này và khuyến khích các Đấng Bản Quyền Sở Tại cải tổ các cộng đoàn Mến Thánh Giá trong miền truyền giáo của mình, bằng cách thống nhất các cộng đoàn biệt lập thành một Hội Dòng Giáo phận, có một tập viện duy nhất, có lời khấn, trước tạm thời, sau vĩnh viễn theo Giáo Luật. Dần dần với thời gian, tất cả các Hội Dòng đều được cải tổ và trở thành những Hội Dòng Giáo Phận, theo đúng quy định của Giáo Luật hiện hành, với các đặc điểm sau:

1.    Các thành viên tuyên lời khấn công (x. GL 607§2)

2.    Tuân giữ triệt để ba lời khuyên Phúc Am (x. GL 574§1 ; 598-601)

3.    Sống thành cộng đoàn (x. GL 602 ; 607§2)

4.    Có một Bề Trên Tổng Quyền (được gọi là Tổng Phụ Trách) (x. GL 616; 620; 622; 625§1-2)

5.    Có cơ cấu quản trị riêng (x. GL 586)

6.    Thuộc quyền Đức Giám Mục giáo phận nơi có Nhà Mẹ (x.GL 589; 594-595); và các Đức Giám mục giáo phận nơi có cộng đoàn của Hội Dòng (x.GL 595)

Lược sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức (2010)

HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ ĐỨC

(xin được viết hoa chữ Dì và chữ Nhà Phước)

 

I.   QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

1. Đất Mẹ Bắc Ninh

Địa phận Bắc Ninh được tách ra từ địa phận Đông Đàng Ngoài và chính thức được thành lập ngày 1-6-1883, lúc đó gọi là địa phận Bắc. Ngày 3-12-1924, địa phận Bắc được đổi tên thành địa phận Bắc Ninh [1].

Nói đến vùng đất Bắc Ninh là nói đến mảnh đất quan họ, tranh Đông Hồ, sơn mài Đình Bảng… Bắc Ninh còn là quê hương của các nhân tài Nước Việt. Hơn thế nữa, Bắc Ninh đã thấm máu bao vị anh hùng tử đạo để làm chứng cho Tin Mừng Chúa Kitô [2].

Trên mảnh đất Bắc Ninh trù phú, hạt giống Tin Mừng đã trổ sinh hoa trái dồi dào, trong đó có sự ra đời của chín Nhà Phước[3]: Xuân Hoà, Hương La, Đạo Ngạn, Đình Tổ, Nhã Lộng, Yên Mỹ, Tiên Nha, Yên Tràng, Vĩnh Phúc Yên.

2. BIẾN CỐ LỊCH SỬ NĂM 1954

Với hiệp định Genève được ký kết năm 1954, đất nước tạm thời bị chia đôi khiến tình hình chính trị trở nên rối ren. Dân chúng ở miền Bắc và miền Trung đổ xô chạy vào miền Nam, trong đó có nhiều người Công giáo.

Trong tình hình đó, ngày 09-08-1954, các chuyến bay và tàu thuỷ đã lần lượt đưa dân chúng, trong số đó có giáo dân và hàng trăm Dì phước từ chín Nhà Phước thuộc Giáo phận Bắc Ninh di tản vào miền Nam. Tuy vào Sài Gòn đất lạ, người đông, nhưng các Dì may mắn được Nhà Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán và Giáo xứ Đức Hòa (trước đây thuộc tỉnh Long An) giúp đỡ trong thời gian đầu. Sau đó các Dì được tự do gia nhập vào một dòng tu thích hợp để tiếp tục đời sống dâng hiến của mình. Trong số đó, có một nhóm còn đang tìm ý Chúa về Linh đạo mà mình mong ước theo đuổi. Nhưng một lần nữa nhóm này lại phải phân tán, nhiều lần thay đổi chỗ ở để tu trì và mưu sinh. Một số Dì dạy học, số khác lao động chân tay như  làm ruộng, tráng bánh, làm nón lá, dệt vải… Đặc biệt, các Dì tự làm thuốc nam để vừa bốc thuốc chữa bệnh vừa đem Phúc Âm Chúa Kitô đến cho lương dân và rửa tội cho trẻ em lâm cơn nguy tử nơi các thôn làng. Ngoài ra, các Dì còn quy tụ trẻ em mồ côi, người khuyết tật, người già yếu neo đơn để chăm sóc, nuôi dưỡng. Dù sống trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhưng các Dì vẫn luôn giữ trong mình một tinh thần tận hiến cao độ với ước mong được sống trọn vẹn đời tu trì để hiến thân cho Thiên Chúa và phục vụ mọi người.[4]

3. SINH HOẠT KHỞI ĐẦU [5]

Tháng 06.1956, các Nhà Phước Đaminh thuộc bốn Giáo phận gốc Thái Bình, Hải Phòng, Lạng Sơn và Bắc Ninh được tập trung tại Hố Nai để thực hiện việc cải tổ. Các Dì thuộc các Nhà Phước trong Giáo phận Bắc Ninh cũng như ba Giáo phận trên lần lượt từng lớp xin vào nhà Tập. Một số Dì không gia nhập Dòng Đaminh thì chuyển đến sống tại Tua Chín, huyện Long Thành (nay thuộc Giáo xứ Thiết Nham, Giáo phận Xuân Lộc).

Khi nơi cư trú đã tạm ổn, các Dì tổ chức tuần tĩnh tâm và sau đó bầu Bà Nhất và Bà Nhì. Trong mọi hoàn cảnh, các Dì luôn yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Theo thời gian, Thiên Chúa đã mạc khải dần chương trình tình yêu của Ngài và các Dì đã trở thành những hạt giống đầu tiên mà Thiên Chúa gieo trồng để cây Hội Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh-Thủ Đức được dần nảy mầm và lớn lên.

4. HÌNH THÀNH HỘI DÒNG

  • 1959-1964 : CÔNG CUỘC CẢI TỔ [6]

Năm 1959, cha Gioan Baotixita Đào Duy Du, gốc Bắc Ninh, du học từ Roma trở về. Ngài quan tâm đặc biệt tới các Dì Nhà Phước còn lại ở Tua Chín, huyện Long Thành và có ý định giúp các Dì đi đến việc cải tổ.

Từ tháng 08.1959, cha Gioan Baotixita thường xuyên liên lạc và khích lệ tinh thần các Dì. Đầu năm 1960, ngài đến Tua Chín tổ chức tĩnh tâm và giúp các Dì đi vào nề nếp của đời sống tu trì. Vào thời điểm này, cơ sở vật chất và điều kiện sinh sống của các Dì đã phát triển hơn. Cha Gioan-Baotixita đề nghị các Dì liên lạc với cha Phêrô Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ Từ Đức, thuộc ấp Từ Đức, Linh Xuân, Thủ Đức, để xin ngài khu đất lập Nhà Dòng. Vừa ngỏ ý với cha Phêrô Hiền, ngài đã sẵn lòng chấp thuận cho các Dì một mảnh đất khá rộng, gần nhà xứ của ngài. Chính nơi đây đã trở thành chiếc nôi khai sinh Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức. Đầu năm 1961, cha Gioan-Baotixita đặt viên đá đầu tiên xây dựng cơ sở cho các Dì, gồm nhà ở và trường học. Năm 1962, mười sáu Dì Nhà Phước đã quy tụ về Thủ Đức. Mặc dù rất bận rộn với nhiều công việc trong giai đoạn mới, nhưng các Dì vẫn luôn thao thức được cải tổ để trở thành nữ tu thực thụ trong một Nhà Dòng theo đúng điều kiện của Giáo Luật.

Niềm mong ước mãnh liệt ấy thúc đẩy các Dì mạnh dạn liên lạc với Bề trên Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt) để xin giúp cải tổ, nhưng không được chấp thuận. Mặc dù bị từ chối, các Dì vẫn tiếp tục duy trì ước mơ của mình trong âm thầm cầu nguyện, đồng thời trình bày với cha Gioan-Baotixita. Theo lời khuyên của ngài, một lần nữa các Dì thiết tha xin Bề trên Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa giúp cải tổ và lời thỉnh nguyện lần này đã được chấp thuận.

Sau khi được sự đồng ý của Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt), cha Gioan-Baotixita trực tiếp trình bày với Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình. Trong thư phúc đáp, Đức Tổng Giám Mục đã vui mừng chấp thuận cho các Dì được cải tổ theo tinh thần Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt). Với văn thư đề ngày 01.07.1964, Đức Giám Mục Giáo phận Đà Lạt, Simon Hoà Nguyễn Văn Hiền cũng đã ban phép cho Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt) giúp huấn luyện Nhà Phước Bắc Ninh.

  • 1965-1970 : NHỮNG NỮ TU ĐẦU TIÊN [7]

Hạ tuần tháng 5 năm 1965, Bề trên Nhà dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt) cử hai Bà Rosa Hoàng Thị Nhung và Anna Nguyễn Thị Thơm, từ Bảo Lộc xuống Thủ Đức để bắt tay ngay vào việc huấn luyện.

Chỉ sau một tuần, đã có hai mươi ba chị (mười sáu chị Nhà Phước và bảy ứng sinh mới đã tìm hiểu ơn gọi từ hai đến ba năm) được gia nhập lớp Tiền Tập viện đầu tiên, và sau sáu tháng, vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, 08.12.1965, các chị được gia nhập Tập viện. Đây là lớp Tập đầu tiên của Dòng. Sau này, Nhà Dòng đã quyết định chọn ngày này là ngày thành lập. Từ đây, Nhà Dòng đã thực sự trở thành thành viên chính thức của Đại Gia đình Mến Thánh Giá. Ngày 19.12.1966, ngày hồng phúc của Nhà Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh khi hai mươi hai chị được thánh hiến để trở thành nữ tu thực thụ qua việc tuyên khấn lần đầu.

Bấy giờ, Nhà Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh tuân giữ Hiến Chương và Nội Quy của Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt). Thời gian khấn tạm theo luật định là sáu năm mới được khấn trọn, nhưng Đức Giám mục bản quyền đã ban phép chuẩn cho các chị lớn tuổi, đã ở Nhà Phước lâu năm được khấn trọn đời sớm hơn. Nhờ đặc ân này, sau hơn ba năm khấn tạm, mười sáu chị đã được khấn trọn đời vào ngày 02.05.1970. Trong tình yêu thương quan phòng của Thiên Chúa, các chị trở thành nền móng cho Nhà Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh được xây dựng.

  • 1970 : NHÀ DÒNG MẾN THÁNH GIÁ BẮC NINH ĐỘC LẬP [8]

Năm 1970, Ban Điều hành Nhà dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt) nhận thấy Mến Thánh Giá Bắc Ninh có thể đứng độc lập về mặt quản trị nên đã để cho các chị được tự lập. Kể từ ngày 02.05.1970, Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh có Mẹ Bề trên và Ban Tổng Cố vấn. Tuy nhiên, Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh vẫn xin được tiếp tục tuân giữ Hiến pháp, Kỷ luật và Tục lệ của Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt). Do chưa có nhân sự đảm trách việc huấn luyện, Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh tiếp tục gửi tập sinh lên Tập viện của Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt) để được huấn luyện.

Năm 1975, Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh xin được thiết lập Tập viện riêng tại Nhà Mẹ ở Thủ Đức và bắt đầu việc huấn luyện các giai đoạn tìm hiểu ơn gọi của Nhà Dòng. Tuy nhiên, chị em vẫn xin được sống theo Hiến pháp, Kỷ luật và Tục lệ Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa (Đà Lạt) cho đến năm 1990, khi bảy Hội Dòng Mến Thánh Giá thuộc Tổng Giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh được Đấng bản quyền cho phép thử nghiệm Hiến Chương mới.

  • 1995 : ĐỔI TÊN THÀNH HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ ĐỨC

Để phù hợp với bản chất của Dòng địa phương, Toà Thánh đã đề nghị những Dòng Mến Thánh Giá có Nhà Mẹ tại Tổng Giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh mà vẫn mang tên Giáo phận gốc miền Bắc lấy tên địa danh nơi Nhà Mẹ của Hội Dòng đang toạ lạc. Sau khi duyệt hồ sơ, ngày 29.06.1995, với bản tuyên ngôn (Prot. n. DD-2375-1/95), Toà Thánh chính thức đổi tên Hội Dòng Mến Thánh Giá Bắc Ninh thành Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức.

II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH

1. NHÂN SỰ

1.1. Tuy non trẻ nhưng Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức đã từng bước lớn lên về nhiều mặt. Từ năm 1966 đến năm 2010, Hội Dòng đã có 34 lớp khấn với 148 nữ tu. Hiện tại, Hội Dòng có :

–   Khấn trọn               :  95 chị

–   Khấn tạm               :  53 chị

–   Tập sinh                :  39 em

–   Tiền tập sinh       :  19 em

–   Thanh tuyển sinh :  65 em

–   Tìm hiểu sinh        :  40 em

1.2.  Các Bề trên Hội Dòng:

–   Mẹ Bề trên Anna Nguyễn Thị Nhường (1970-1976 ; 1988-1992)

–   Mẹ Bề trên Anna Nguyễn Thị Phượng (1976-1982; 1982-1988)

–   Chị Tổng Phụ trách MariaTêrêsa Nguyễn Thị Dâng (1992-1996; 1996-2000)

–   Chị Tổng Phụ trách Anna Phạm Thị Khấn (2000-2004; 2004-2008;  2008-2012 )

2. CƠ SỞ

Tính đến năm 2010, Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức có 22 cộng đoàn hiện diện trong 6 Giáo phận:

GIÁO PHẬN CỘNG ĐOÀN NĂM THÀNH LẬP THUỘC GIÁO XỨ
Thành Phố Hồ Chí Minh Nhà Mẹ 1965 Từ Đức
Hoàng Mai 1971 Hoàng Mai
Tam Hải 1972 Tam Hải
Thị Nghè 1995 Thị Nghè
Nhật Hồng 2007 Tam Hải
Long Thạnh Mỹ 2007 Long Thạnh Mỹ
Xuân Lộc Tân Bắc 1967 Tân Bắc
Tâm Hòa 1973 Tâm Hòa
Tâm An 1975 Tâm An
Bắc Minh 1985 Bắc Minh
Nghĩa Sơn 1993 Nghĩa Sơn
Long An 2003 Thái Lạc
Tân Hiệp 2004 Tân Hiệp
Bà Rịa-Vũng Tàu Đông Xuyên 1969 Đông Xuyên
Bãi Dâu 2010 Bãi Dâu
Đà Lạt Đà Lạt 2002 Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Lạt
Suối Mơ 2005 Suối Mơ
Damb’ri 2006 Bảo Lộc
Cần Thơ Vị Tín 2001 Vị Tín
Vị Thủy 2006 Vị Thủy
Cầu Móng 2008 Long Mỹ
Bắc Ninh Thường Lệ 2007 Thường Lệ
Oánh 2009 Thái Nguyên

3. HUẤN LUYỆN

3.1. Giai đoạn Thanh Tuyển viện nhằm giúp các em

–       Tìm hiểu và làm quen với ơn gọi tu trì, nhất là ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá ;

–       Trải nghiệm đầu tiên về đời sống Cộng đoàn ;

–       Nhận định ơn gọi, ý thức tự do, tự nguyện đáp trả tiếng Chúa ;

–       Thanh Tuyển sinh được hướng dẫn :

+ Giáo dục các đức tính nhân bản;

+ Giáo dục giới tính;

+ Giáo dục đức tin:

* bổ túc giáo lý,

* học gương các thánh, cách riêng là các Thánh Tử đạoi Việt Nam,

* tập suy niệm, chia sẻ và sống Lời Chúa.

+ Tiếp tục học văn hóa, nghề nghiệp cho đến khi tốt nghiệp (Trung cấp, Cao đẳng, Đại học).

Thời hạn: Đủ để hoàn tất chương trình của Thanh Tuyển viện.

Những trường hợp ngoại lệ sẽ do chị Đặc trách Thanh Tuyển quyết định.

3.2. Giai đoạn Tiền Tập viện

–       Giúp các em nhận biết ơn gọi của mình và Hội Dòng.

–       Hội Dòng tìm hiểu tính tình, khả năng và lý do chọn lựa đời sống tu trì của các em bằng cách cho tham gia đầy đủ đời sống cầu nguyện, đồng hành thiêng liêng và chia sẻ cuộc sống trong những sinh hoạt hàng ngày.

–       Thời hạn Tiền Tập viện là một năm. Trình độ tối thiểu của Tiền tập sinh là tốt nghiệp cấp III . Tiền Tập sinh tiếp tục được hướng dẫn về giáo dục nhân bản, đọc, học và chia sẻ Lời Chúa, Cầu nguyện, Giáo lý, Tiểu sử Đấng Sáng lập, Ơn gọi và Chân tính của Dòng. Ngoài ra, Tiền Tập sinh cũng có thể được học thêm về âm nhạc (đàn, xướng âm, ca trưởng), nhằm giúp cho cuộc sống thêm phong phú, thư giãn, đồng thời cũng giúp cho công việc mục vụ theo sứ vụ của Hội Dòng sau này.

Những trường hợp ngoại lệ sẽ do chị Đặc trách cùng với  Hội Đồng Hội Dòng ấn định.

3.3. Giai đoạn Tập viện

Đây là giai đoạn khởi đầu đời sống trong Hội Dòng, là thời gian quan trọng nhất trong hành trình huấn luyện và nhằm mục đích :

1.   Giúp ứng sinh nhận biết và xác tín hơn ơn gọi của mình và của Dòng Mến Thánh Giá ;

2.   Thực nghiệm lối sống của Hội Dòng ;

3.   Uốn nắn trí tuệ và trái tim theo tinh thần của Dòng Mến Thánh Giá ;

4.   Kiểm chứng ý định và tư cách thích đáng của ứng sinh đối với đời sống tu trì trong Hội Dòng.

Để đạt mục đích đó, ngang qua việc đồng hành cá nhân, học tập, tu đức… tập sinh được giúp đỡ để hình thành nơi mình cách suy nghĩ, cảm nhận và hành xử phù hợp với ơn gọi và chân tính của Dòng. Thời hạn huấn luyện trong Tập viện là hai năm :

* Tập sinh năm I được dành nhiều thời giờ cho việc cầu nguyện, đọc, học và chia sẻ Lời Chúa, Đời sống Thánh hiến, Hiến Chương, Linh đạo, Đặc sủng và Bút tích của Đấng Sáng Lập…

* Tập sinh năm II được học thêm các môn về mục vụ và được gửi đi thực tập tông đồ tại các giáo điểm, giáo xứ hay cơ sở của Hội Dòng, tuỳ theo sự phân công của chị giám sư.

3.4. Giai đoạn Học viện

Việc huấn luyện trong giai đoạn này nhằm mục đích :

1.   Hướng dẫn chị em đến sự dâng hiến trọn vẹn và dứt khoát cho Chúa Kitô trong đời sống đặc thù của Hội Dòng ;

2.   Trau dồi cho chị em có khả năng chu toàn sứ mạng của Dòng Mến Thánh Giá cách thích đáng hơn ;

3.   Giúp chị em hòa hợp các yếu tố của chương trình huấn luyện sao cho có được một đời sống thuần nhất.

Với thời hạn từ sáu đến chín năm, khấn sinh :

1. Được Hội Dòng dành cho hai hoặc ba năm để hoàn thành các môn học theo quy định của Hiến Chương;  hoặc học Thần học khoá Hè tháng 07 do Liên Tu sĩ Tổng Giáo phận Sài Gòn tổ chức;

2. Thực tập tông đồ từ hai đến ba năm tại các cộng đoàn, giáo xứ hoặc các công tác y tế, xã hội theo sứ vụ và định hướng của Hội Dòng; có thể được đào tạo thêm chuyên môn hoặc ngành nghề phù hợp, để phục vụ hữu hiệu hơn theo ơn gọi của Dòng;

3. Trở về Nhà Mẹ chuẩn bị Khấn Trọn đời, thời gian một năm;

4. Những trường hợp ngoại lệ sẽ do chị Giám sư Học viện cùng với Hội đồng Hội Dòng ấn định.

Khi đã hoàn tất chương trình Tập viện hoặc Học viện theo đúng thời gian quy định của Hiến Chương và Nội Quy, ứng sinh tự nguyện đệ đơn xin khấn lên chị Tổng Phụ trách.

3.5 Giai đoạn Huấn luyện thường xuyên [9]

Các nữ tu khấn trọn đời vẫn tiếp nối tiến trình huấn luyện đã nhận được trong giai đoạn huấn luyện khởi đầu. Mục đích giai đoạn này không đơn thuần là đào tạo về trí thức hay nghề nghiệp như là thủ đắc những kỹ năng mục vụ mới, nhưng là nhằm đẩy mạnh sức phát triển liên tục và toàn diện con người, đào sâu từng phương diện như : nhân bản, đời sống thiêng liêng, tri thức, lối sống, đời tu, tông đồ, quản trị cũng như học cách sống hoà hợp và tích cực đặt nền trên đức ái mục vụ. [10]

Dù làm việc gì hay ở đâu, tất cả đều nhắm đến việc huấn luyện người nữ tu Mến Thánh Giá có khả năng thích ứng và hội nhập, đối thoại và lắng nghe, cần mẫn và nhẫn nại, nhạy bén và linh động trước những khó khăn cũng như những vấn đề của con người và thời đại, để dễ dàng thống nhất đời sống trong Đức Giêsu -Kitô Chịu-Đóng-Đinh là đối tượng duy nhất, và trở nên chứng nhân sống đời dâng hiến tới mức trọn hảo trong đức ái.

4. HOẠT ĐỘNG TÔNG ĐỒ

Sứ mạng của người nữ tu Mến Thánh Giá là trở nên cánh tay hữu hình của Đức Giêsu-Kitô Chịu-Đóng-Đinh và tiếp nối sứ mạng Trung gian Chuyển cầu của Người nơi trần thế. Sống đúng tinh thần đó, chị em Mến Thánh Giá Thủ Đức thi hành sứ mạng tông đồ trong tâm tình vừa chiêm niệm vừa hoạt động trong các lãnh vực: giáo dục đức tin, giáo dục văn hoá, đến với lương dân, y tế và xã hội.

4.1. Giáo dục Đức tin

Ở những nơi có cộng đoàn Mến Thánh Giá Thủ Đức hiện diện, chị em cộng tác với cha xứ trong các việc mục vụ như : trao Mình Thánh Chúa, cắm hoa nhà thờ, phụ trách phòng thánh, phụ trách giáo lý Thiếu Nhi, giáo lý Dự Tòng, giáo lý Hôn nhân, hướng dẫn Giáo lý viên, hướng dẫn tìm hiểu ơn gọi, phụ trách ca đoàn và đoàn thể : Thiếu Nhi, Hiền Mẫu, Đaminh, Giới Trẻ, Mến Thánh Giá Tại Thế cũng như thăm viếng, an ủi và trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân…

4.2. Giáo dục Văn hóa

Phần lớn các cộng đoàn của Hội Dòng đều mở trường Mẫu Giáo để chăm sóc, giáo dục trẻ thơ. Bên cạnh đó, chị em cũng mở các lớp dạy ngoại ngữ, đàn Organ để giúp phát triển năng khiếu cho trẻ em. Chị em đặc biệt quan tâm mở các lớp học tình thương để nuôi dạy trẻ em  nghèo.

4.3. Đến với lương dân

Truyền giáo là sứ mạng của Giáo Hội và cũng là sứ mạng của Dòng Mến Thánh Giá, chị em Mến Thánh Giá Thủ Đức ý thức trách nhiệm của mình trong việc đem Tin Mừng đến cho những người chưa nhận biết Chúa. Hiện nay, Hội Dòng có năm cộng đoàn hiện diện trong các vùng truyền giáo và có những chị em dấn thân tích cực trong việc sống và phục vụ lương dân. Qua đó, nhiều người đã được nhận biết Chúa, được tham dự các nghi lễ sốt sắng của đạo như Lễ Giáng Sinh, Lễ Phục Sinh… ; nhiều thiếu nhi lương dân được đến lớp Giáo lý, được tham gia vui chơi, sinh hoạt tôn giáo trong các dịp lễ tết, hội hè…

4.4. Y tế

Hội Dòng có phòng khám Đông Y chăm sóc nhiều bệnh nhân, có các chương trình phát thuốc miễn phí cho bà con nghèo. Chị em cộng đoàn Long An thường xuyên thăm hỏi, giúp đỡ các bệnh nhân phong trong vùng.

4.5. Công tác xã hội

Chị em góp phần xoa dịu nỗi khổ đau của đồng bào với cả tấm lòng yêu mến qua những công việc cụ thể như : giúp đỡ hàng trăm em học sinh nghèo được đến trường, thăm viếng, trao quà cho người già yếu neo đơn trong các dịp lễ tết, phát gạo, thuốc cho những gia đình nghèo, gia đình người dân tộc, những gia đình vùng sâu vùng xa ba tháng một lần, nhiều hộ nghèo được giúp vốn làm kế sinh nhai…

Từ năm 1995, Hội Dòng bắt đầu mở rộng lãnh vực công tác xã hội chuyên biệt trong việc chăm lo cho người khiếm thị, đặc biệt chăm sóc và nuôi dạy trẻ khiếm thị và trẻ khiếm thị đa tật. Các cộng đoàn và cũng là các mái ấm phục vụ trẻ khiếm thị được Hội Dòng quan tâm tạo nhiều điều kiện.

Để đáp ứng nhu cầu phục vụ cho sứ mạng chăm sóc và giáo dục trẻ khiếm thị, Hội Dòng đã gửi một số chị em đi học chuyên ngành về khiếm thị ở nước ngoài cũng như tại các trường đại học trong nước. Cho đến nay, Hội Dòng có sáu cộng đoàn phục vụ trong lãnh vực này. Các em khiếm thị tùy khả năng, tình trạng sức khỏe sẽ được chị em chăm sóc, nuôi dạy phù hợp : có những em có thể học cùng với trẻ sáng mắt và theo học hết các chương trình từ phổ thông cho đến đại học ; có những em học bổ túc văn hóa hay chỉ có thể học tại nhà ; có những em được hướng dẫn học các nghề phù hợp… Trong từng trường hợp, các chị luôn cố gắng giúp mỗi em có được một công việc ổn định để có thể tự lập sau này.

5. BIẾN CỐ ĐẶC BIỆT

  • 2005: MỪNG BỐN MƯƠI NĂM THÀNH LẬP HỘI DÒNG VÀ CUNG HIẾN NGUYỆN ĐƯỜNG

Nếu con số 40 có nhiều ý nghĩa trong Kinh Thánh thì cũng rất có ý nghĩa đối với Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức: bốn mươi năm Dân Chúa đi trong sa mạc để tiến vào Đất Hứa, bốn mươi ngày ông Giôna ở trong bụng cá, bốn mươi ngày Chúa Giêsu vào sa mạc để chịu thử thách… và với Hội Dòng là bốn mươi năm được hình thành và phát triển. Ai đã từng đến thăm Hội Dòng trước năm 2000, chắc hẳn đều nhớ đến những gian nhà lợp tôn đơn sơ, nhỏ bé, nhiều vết rạn nứt và cũ kỹ. Dịp mừng bốn mươi năm ngày thành lập Hội Dòng và cung hiến Nguyện Đường do Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn chủ sự ngày 10.12.2005 quả thực là dấu ấn đối với chị em trong Hội Dòng. Nhìn những giọt nước mắt của các bà, các chị đã từng bước gầy dựng Nhà Dòng, cùng với những nụ cười của đàn em thơ- tương lai Hội Dòng, những ánh mắt ngỡ ngàng của những người thân quen… Tất cả đều muốn nói lên tâm tình tri ân Thiên Chúa về mầu nhiệm tình yêu mà Ngài đã thực hiện trên Hội Dòng. Những hạt giống ngày nào nay đã nảy mầm, vươn cao và đơm bông kết trái trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa Ba Ngôi.

6. NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU :

  • MẸ CỰU BỀ TRÊN ANNA NGUYỄN THỊ NHƯỜNG

Mẹ Anna là mẫu gương của tinh thần dấn thân không ngừng. Từng bước phát triển của Hội Dòng trong hành trình hơn bốn mươi năm qua đều có dấu ấn đôi tay của mẹ. Mẹ không chỉ là người đề xướng thiết lập các cộng đoàn mới mà chính mẹ còn là người thực hiện những dự án đó. Hơn thế nữa, mẹ luôn là người tiên phong sống trong các cộng đoàn mới để kiến tạo tinh thần tu trì và đời sống cộng đoàn lúc khởi đầu. Hội Dòng biết ơn mẹ vì bao hy sinh và những đóng góp to lớn của mẹ cho Hội Dòng được lớn lên như hôm nay. Mẹ như người thuyền trưởng trên con thuyền Hội Dòng, vị thuyền trưởng can đảm và cương nghị. Nơi mẹ, mỗi người con trong Hội Dòng còn được nêu gương về lòng khiêm nhường và vâng phục thẳm sâu. Trong mọi hoàn cảnh, mẹ luôn kiếm tìm và mau mắn vâng theo Thánh ý Chúa.

  • MẸ CỰU BỀ TRÊN ANNA NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

Suốt cuộc đời dâng hiến, mẹ Anna đã chọn cho mình phương châm sống: “phục vụ trong khiêm tốn”. Trước mọi hoàn cảnh, mẹ đều thể hiện trọn vẹn phương châm ấy theo gương Chúa Kitô. Những năm 70, 80 với muôn vàn khó khăn : khó khăn chung của đất nước, khó khăn riêng của Hội Dòng trong những bước khởi đầu, mẹ luôn nêu cao tinh thần hiền hậu, nhẫn nại, phó thác trong tin yêu. Tấm gương của mẹ đã giúp chị em có thêm nghị lực để cùng nhau vượt qua bao khó khăn. Mẹ đã an nghỉ bên Chúa ngày 21 tháng 5 năm 2007.

  • CHỊ CỰU TỔNG PHỤ TRÁCH MARIA TÊRÊSA NGUYỄN THỊ DÂNG

Cuộc đời chị Maria-Têrêsa là một cuộc đời  tận tâm tận lực, hết lòng gắn bó và phục vụ Hội Dòng trong hành trình ơn gọi sống thánh hiến. Chị đã dùng trái tim yêu thương nhân hậu của người mẹ, người chị để đón nhận mọi chị em trong Hội Dòng. Thao thức lớn nhất của chị là ước mong chị em luôn yêu thương và hiệp nhất với nhau. Đặc biệt đối với các em khiếm thị, những người đã từng được chị trực tiếp săn sóc và phục vụ sau khi chị đã hết nhiệm kỳ Bề trên, luôn cảm nhận từ chị sự ân cần, thương yêu. Thế nên các em đã âu yếm gọi chị là “Bà ngoại”. Ngay trong những lúc đau đớn vì căn bệnh ung thư, gương mặt chị vẫn tỏa ra sự dịu hiền và tinh thần tín thác. Trong tin yêu phó thác, chị đã về Nhà Cha ngày 23 tháng 1 năm 2006.

  • CHỊ TỔNG PHỤ TRÁCH ANNA PHẠM THỊ KHẤN

Trong những năm tháng đất nước chuyển mình hội nhập với nền văn hóa thế giới, chị Tổng Phụ trách Anna đã cùng với Ban Tổng Cố Vấn hết lòng hướng dẫn chị em gạn lọc để thích nghi với môi trường mới. Qua chị, Thiên Chúa đã thông ban muôn hồng ân xuống trên Hội Dòng : ước mơ của chị em về việc xây dựng một số cơ sở, việc thành lập các cộng đoàn mới… đều đã trở thành hiện thực. Chị Tổng Phụ trách Anna còn đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ văn hoá và đời tu cho chị em qua việc khuyến khích và tạo điều kiện để các chị em được học tập. Đồng thời chính chị trở thành tấm gương về tinh thần khiêm tốn học hỏi và học hỏi không ngừng cho các chị em.

Là Bề trên Tổng quyền nhưng dường như mọi chị em trong Hội Dòng đều thấy hình ảnh của chị như một người mẹ hiền, một người chị Cả tận tụy, đảm đang. Mọi người đều có thể đến với chị mà không phải lo lắng hay khép nép. Chị gần gũi, thân tình với từng người chị gặp gỡ: một trẻ thơ, một cụ già, một người hành khất, một chị đã khấn hay một em thanh tuyển… tất cả đều cảm nghiệm nơi Chị sự khiêm tốn, hiền lành và dễ mến. Chị thật đã sống đúng lời thánh Phaolô mà Chị hằng tâm niệm là “coi người khác trọng hơn mình” và đáp lại, Chị đã được bao người coi trọng và mến yêu.


[1] x. Tìm về miền đất quê hương, Tăng Việt Yên, trang 154

[2] x. Tìm về miền đất quê hương, Tăng Việt Yên, trang 173

[3] x.Nhật ký Mẹ Cựu Bề trên Anna Nguyễn Thị Nhường

[4] x.Lược sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức, 2005

[5] x.Nhật ký Mẹ Cựu Bề trên Anna Nguyễn Thị Nhường

[6] x.Lược sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức, 2005; Nhật ký Mẹ Cựu Bề trên Anna Nguyễn Thị Nhường

[7] x. Lược sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức, 2005

[8] Lược sử Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức, 2005

[9] x.Giáo luật 661

[10] x.Chỉ thị về đào tạo cho các Hội Dòng1990 và thông điệp của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II ngỏ lời với các tu sĩ ở Brazil, 1986).

Thường huấn

THƯỜNG HUẤN

 

MỤC TIÊU CHUNG

Huấn luyện thường xuyên[1] tiếp nối tiến trình huấn luyện khởi đầu. Mục đích của giai đoạn này nhằm đẩy mạnh sức phát triển liên tục và toàn diện con người nữ tu, đào sâu từng phương diện như : nhân bản Kitô hữu và nữ tu Mến Thánh Giá, đời sống nội tâm và kinh nghiệm thiêng liêng, tri thức và thực nghiệm tông đồ, bản thân thống nhất được đời sống trong Chúa qua lối sống đời tu, công việc và hoàn cảnh[2] hiện tại.

 

GIAI ĐOẠN TRƯỚC NGÂN KHÁNH KHẤN DÒNG

1.      Đặc tính: Đây là thời kỳ của khẳng định bản thân, đảm nhận trách nhiệm với công việc được trao phó nên dễ khủng hoảng, mất quân bình trong đời tu. Tình trạng này có thể rơi vào duy cá nhân chủ nghĩa.

2.      Phương thế hỗ trợ:

a.      Hằng năm, tạo điều kiện cho chị em được học hỏi riêng các chuyên đề đáp ứng nhu cầu và hoàn cảnh từ 2-3 ngày.

b.      Bề trên và cộng đoàn giúp chị em vượt qua bằng việc tiếp tục củng cố đời sống tâm linh trưởng thành và tận tâm gắn bó với sứ mạng Chúa trao qua Hội dòng.

c.      Có thể hỗ trợ thêm bằng các cuộc linh thao, sa mạc phụ trội,…

 

GIAI ĐOẠN MỪNG NGÂN KHÁNH KHẤN DÒNG

1.      Thời điểm: Năm chuẩn bị Ngân khánh khấn dòng.

2.      Đặc tính: Đây là thời điểm đặc biệt hồi tâm để tạ ơn Chúa vì được Chúa yêu thương mời gọi sống trọn vẹn cho Chúa, xin lỗi Chúa vì nhiều khi vấp ngã, thiếu sót và dâng cho Chúa những tháng năm còn lại.

3.      Phương thế hỗ trợ:

a.      Tạo điều kiện cho chị em có thời giờ ôn lại Hiến Chương, Đời sống Thánh hiến, Cộng đoàn, Tông đồ … nhất là có giờ cầu nguyện riêng, hồi tâm mỗi ngày và viết lại kỹ hơn lược sử bản thân.

b.      Có thể hỗ trợ thêm bằng các cuộc linh thao, sa mạc phụ trội,…

 

GIAI ĐOẠN SAU NGÂN KHÁNH KHẤN DÒNG

1.      Đặc tính: Những điều thường xảy ra trong giai đoạn này là những khó khăn xuất phát từ bệnh tật, từ việc rút lui khỏi các hoạt động hoặc từ sự mệt mỏi và suy giảm sức khỏe thể lý.

2.      Phương thế hỗ trợ:

a.        Bề trên và cộng đoàn nâng đỡ tinh thần cho các chị em sống tinh thần lạc quan với mầu nhiệm Khổ nạn-Phục sinh nhằm chu toàn Thánh ý Chúa Cha theo gương Chúa Giêsu.

b.        Có thể hỗ trợ thêm bằng các cuộc linh thao, sa mạc phụ trội,…

 

GIAI ĐOẠN HƯU DƯỠNG

1.      Thời điểm: Đây là thời gian đặc biệt, chuẩn bị cho hy tế cao nhất của tình yêu và của sự tận hiến.

2.      Đặc tính: Chấp nhận bệnh tật, từ từ rút lui khỏi các hoạt động bên ngoài để chuẩn bị cho cuộc trở về với Thiên Chúa.

3.      Phương thế hỗ trợ: Bề trên và cộng đoàn giúp chị em sống tin yêu và hy vọng, tín thác vào lời hứa của Thiên Chúa là đang đưa chị em vào sự hoàn tất ơn gọi dâng hiến rất tốt đẹp mà chị em bắt đầu từ chọn lựa của tuổi thanh xuân.

 


[1] x. GL 661

[2] Thông điệp của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II ngỏ lời với các tu sĩ ở Brazil, 1986.

Học viện

HỌC VIỆN

MỤC ĐÍCH [1]

Giai đoạn Học viện nhằm mục đích kiện toàn việc huấn luyện các nữ tu khấn tạm bằng cách :

1. Hướng dẫn chị em đến sự dâng hiến trọn vẹn và dứt khoát cho Chúa Kitôa trong đời sống đặc thù của Hội Dòng.

2. Trau dồi cho chị em có khả năng chu toàn sứ mạng của Dòng Mến Thánh Giá cách thích đáng hơnb.

3. Giúp chị em hòa hợp các yếu tố của chương trình huấn luyện sao cho có được một đời sống thuần nhấtc.

ax. Btt 4

bx. GL659,1

cx. DT 18

CHƯƠNG TRÌNH [2]

1. Đời sống thiêng liêng :

a.  Đào sâu linh đạo của Đức Cha Lambert và Dòng Mến Thánh Giá với ba chiều kích thiết yếu : chiêm niện, khổ chế và tông đồ, theo quan điểm kết hợp chặt chẽ lý thuyết với thực hành và thích ứng với hoàn cảnh thực tế của môi trường ;

b.  Đào sâu mầu nhiệm Chúa Kitô, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Giáo Hội ;

c.  Học KinhThánh, đặc biệt Thánh Vịnh, Phúc Âm và các thư của Thánh Phaolô.

2. Đời sống tông đồ :

a. Học lịch sử Giáo Hội Việt Nam ;

b. Học sư phạm giáo lý ;

c.  Huấn luyện về khả năng chuyên môn, học nghề hoặc bổ túc nghiệp vụ để nâng cao hiệu năng các công việc do Hội Dòng và cộng đoàn giao phó.

 

HỌC TẬP BỔ SUNG

Ngoài chương trình quy định của Hiến Chương

1. Khấn sinh có quyền lợi và trách nhiệm tham dự những đợt bồi dưỡng dành riêng cho khấn sinh. Nên quan tâm trước tiên đến các môn học về Hiến chương, Linh đạo Mến Thánh Giá, Kinh Thánh, đặc biệt là Tin Mừng, các Thư thánh Phaolô, Lịch sử Giáo hội Việt Nam, Sư phạm Giáo lý.

2. Khấn sinh có thể tự học thêm về vi tính (word, excell, photo shop, cắt phim …), ngoại ngữ (Anh, Pháp …), cũng như các môn năng khiếu, tâm lý, văn hóa, xã hội hoặc nghiên cứu theo chuyên môn, chuyên biệt phù hợp với Linh đạo và Sứ mạng của Dòng.

 

ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH

1. Khấn sinh cần được tạo cơ hội trang bị thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết bằng cách tham dự những khóa đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn; nếu được, khấn sinh nên lấy những văn bằng thích hợp.

2. Trong từng trường hợp cụ thể, chị Tổng Phụ trách, chị Giám sư và Ban Điều hành Hội dòng (nên tham khảo ý kiến của chị Phụ trách cộng đoàn nơi khấn sinh đang ở) để có kế hoạch đào tạo khấn sinh phù hợp với khả năng và theo Định hướng của Hội dòng.

3. Trong việc chọn khấn sinh để đào tạo chuyên môn, điều nên làm là trao đổi với đương sự để họ được thể hiện trách nhiệm với chọn lựa của mình.

 

THỰC TẬP TÔNG ĐỒ [3]

1. Khấn sinh cần được thực tập tông đồ tại những cộng đoàn của Hội dòng, nơi có “bầu khí huấn luyện”.

2. Nếu không có gì trở ngại, thời gian thực tập tông đồ dành cho các khấn sinh nên ít nhất từ 2 đến 3 năm.

3. Các công việc tông đồ khấn sinh cần quan tâm   như : mục vụ (đàn, hát trong Phụng vụ, Thánh Lễ, chầu Thánh Thể, Nghi thức An táng, viếng xác, tập hát ca đoàn, đoàn hội, tập dâng hoa, dâng hạt, trang trí, cắm hoa, đem Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt, thăm viếng bệnh nhân…) ; giáo dục đức tin (sư phạm giáo lý, huấn luyện giáo lý viên, tân tòng, hôn nhân gia đình…) ; đồng hành với các tổ chức đoàn hội ; giáo dục văn hóa (mầm non, cấp 1, cấp 2…) ; giáo dục đặc biệt (khiếm thính, khiếm thị, đa tật…).

 

THỜI HẠN[4]

1. Tập sinh khấn tạm lần đầu một năm.

2. Sau đó phải khấn lại từng năm một cho đến khi được khấn trọn đời.

3. Phải khấn tạm tối thiểu sáu năm[5] mới được khấn trọn đời. Thời gian khấn tạm tối đa thông thường là sáu năma. Nhưng nếu chị Tổng Phụ trách thấy nên gia hạn khấn tạm cho một trường hợp đặc biệt thì với sự ưng thuận của Ban Tổng Cố vấn có thể gia hạn tối đa ba năm nữa để tổng số thời gian khấn tạm không vượt quá chín nămb.

4. Vì lý do chính đáng chị Tổng Phụ trách có thể cho phép một chị khấn trọn đời trước thời hạn không quá ba thángc.

ax. Gl 655

bx. GL 657,2

cx. GL 657,3

 

KHẤN TẠM LẠI[6]

1. Hai tháng trước khi hết hạn, chị khấn tạm tự nguyện đệ đơn lên chị Tổng Phụ Trách xin khấn tạm lại.

2. Sau khi tham khảo ý kiến chị Giám sư Học viện, các cộng đoàn liên hệ và xin ý kiến tư vấn của Ban Tổng Cố vấn, chị Tổng Phụ trách có thể quyết định cho khấn tạm lại.

 

KHÔNG ĐƯỢC KHẤN TIẾP VÀ PHÉP XUẤT TU[7]

1. Đối với một chị đã mãn hạn khấn tạm, nếu có lý do chính đáng, chị Tổng Phụ trách sau khi tham khảo ý kiến chị Giám sư Học viện, cộng đoàn liên hệ và xin ý kiến tư vấn của Ban Tổng Cố vấn, có thể quyết định không cho khấn tiếp và đương nhiên chị ra khỏi Hội Dòng cách hợp phápa.

2. Bệnh tật thể lý hay tâm lý, dù mắc phải sau khi khấn tạm, làm cho chị nữ tu không có khả năng sống trong Hội Dòng theo sự thẩm định của các chuyên viên, vẫn là nguyên nhân khiến chị không được khấn tạm lại hoặc khấn trọn đời, miễn là bệnh đó không mắc phải do sự chểnh mảng của Hội Dòng hay do một công việc chị đã làm trong Hội Dòngb.

3. Tuy nhiên, nếu trong thời gian khấn tạm, một chị nữ tu mắc phải bệnh điên thì cho dù không có khả năng khấn tiếp, chị vẫn không bị thải hồi khỏi Hội Dòngc.

4. Một chị đang bị ràng buộc bởi lời khấn tạm có thể đệ đơn xuất tu vì một ký do nghiêm trọng. Chị Tổng Phụ trách, với sự ưng thuận của Ban Tổng Cố vấn, có thể chấp thuận, nhưng xét xuất tu phải được Đức Giám mục Giáo Phận xác nhận mới có hiệu lựcd.

ax. GL 689,1

bx. GL 689,2

cx. GL 689,3

dx. Gl 688,2

ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆC KHẤN TRỌN ĐỜI THÀNH SỰ[8]

Để việc khấn trọn đời thành sựa, ứng sinh phải có những điều kiện sau :

1. Tối thiểu 26 tuổi trọn.

2. Đã khấn tạm ít nhất sáu năm.

3. Và các điều kiện nêu tại Hiến Chương điều 96, số 3 đến 6.

ax. GL 658 ; 656

CHUẨN BỊ KHẤN TRỌN ĐỜI

1. Khấn sinh chuẩn bị khấn trọn đời được dành từ 6 đến 12 tháng để chuẩn bị.

2. Chị Giám sư có kế hoạch đồng hành riêng dành cho các khấn sinh chuẩn bị khấn trọn đời.

3. Các khấn sinh chuẩn bị khấn trọn đời được dành trọn một tháng cho việc tĩnh tâm chọn lựa ơn gọi (có thể là một tháng Linh Thao). Cuộc tĩnh tâm quan trọng này nên được sắp xếp trước khi khấn sinh chuẩn bị khấn trọn đời viết Lượng định và Đơn xin khấn trọn đời.

 


[1] Hiến Chương, điều 99

[2] Hiến Chương, điều 100

[3] “Không được cho các tu sĩ không phải là giáo sĩ và các nữ tu ra làm việc tông đồ ngay khi vừa mãn hạn nhà Tập, nhưng phải tiếp tục huấn luyện họ cách thích đáng về mặt tu trì, tông đồ, giáo lý va kỹ thuật trong những nhà có đủ điều kiện; cũng nên cho họ thi lấy những văn bằng thích hợp” (DT 18).

[4] Hiến Chương, điều 101

[5] Nội quy, điều 29

[6] Hiến Chương, điều 102

[7] Hiến Chương, điều 103

[8] Hiến Chương, điều 104