Blog Page 15

Tình yêu và tình bạn trong đời tu

TÌNH YÊU VÀ TÌNH BẠN TRONG ĐỜI TU

Ý nghĩa đời tu

Có lẽ điều liên tưởng đầu tiên của những người ngoài đời về các vị đi tu là những người không lập gia đình, những người sống độc thân. Tuy nhiên, liên tưởng này không phải ai cũng hiểu được một cách thấu đáo, đặc biệt những người không phải là Kitô giáo. Chính vì Lẽ đó, mà có những người không phải Kitô giáo, khi gặp các vị linh mục, tu sĩ, thường hỏi: vậy đi tu có được lấy vợ không? Hoặc có kẻ không biết ác ý hay vô tình không biết còn hỏi: vậy đi tu có lấy được các soeur không! Thật là quá đáng và quá đáng!

Vậy đi tu là gì? Và tại sao đi tu lại phải sống độc thân? Nhiều người trả lời rằng, đó là dựa theo những lời khuyên của Tin mừng, dựa vào những đặc tính đã có từ lâu trong lịch sử. Chọn đời sống độc thân là vì tình yêu của Đức Kitô. Trước tiên, có lẽ khỏi nói, từ bậc cao nhất đến hàng rốt chót, cũng biết đi tu là dâng mình cho Chúa. Nói như vậy cũng đúng nhưng xem ra chưa đủ. Ngắn gọn đó nhưng chưa mang tính chiến đấu cao. Bởi vì nếu như vậy sẽ có kẻ vặn lại ai cũng có thể dâng mình cho Chúa “mà lị”. Họ sẽ phùng mang trợn mắt, nói văng cả nước miếng mà thuyết cho chúng ta rằng: một mức độ nào đó, bất cứ ai khi lãnh nhận bí tích Thanh tẩy cũng được xem là dâng mình cho Chúa rồi. Điều này là bởi vì, nhờ tác động mầu nhiệm và thầm kín của Chúa Thánh Thần, qua lời cam kết từ bỏ ma quỷ và mọi sự quyến rũ, thụ nhân chịu phép Thanh tẩy đã được thánh hiến cách riêng cho Chúa. Với lập luận cứng như “đinh đóng cọc” này, họ sẽ cho rằng cần cóc gì phải đi tu nữa, dĩ nhiên và ngang nhiên là không cần đến việc sống độc thân. Cho nên họ cứ việc lập gia đình và sống đúng vai trò của con người và người con của Chúa là dâng mình cho Chúa cách trọn vẹn. Được lợi cả hai: vừa được cả đời này (vợ đẹp con ngoan) lẫn đời sau.

Điều này hoàn toàn đúng, không sai một chút nào. Nhưng còn một sự thánh hiến thứ hai dành đặc biệt cho một số người mà được Chúa tuyển chọn cách riêng. Thánh hiến trong bậc tu trì. Cuộc thánh hiến này làm cho họ thuộc về Chúa một cách quyết liệt hơn. Thật vậy, trong khi lời hứa của phép Thanh tẩy nhằm từ bỏ ma quỷ và quyến rũ của nó, thì lời khấn hứa của các tu sĩ trong dòng tuyên bố mình thuộc về Chúa cũng như tuyên bố công khai Chúa là chủ nhân tuyệt đối đời mình. Qua ba lời khấn, tu sĩ sẽ bằng lòng một cách tự nguyện từ bỏ chiếm hữu và sử dụng tài sản, giữ luật độc thân và khước từ mọi nhục cảm và tùy thuộc vào bề trên dòng. Nếu qua chịu phép Thanh tẩy ghi dấu ấn đặc biệt trên thụ nhân để làm họ thành dân riêng của Chúa, lời khấn dòng cũng phân hạng cho tu sĩ, biến họ thành những người được thánh hiến trong Hội thánh. Con đường này thật thánh thiện nhưng những người đi trên con đường này có thực sự thánh thiện lại là một chuyện khác. Họ tuy được thánh hiến đặc biệt nhưng vẫn là những con người với những bất toàn của phận người và sống giữa những người đời trong cuộc đời trần thế. Ở trong đời mà lại không thuộc về đời. Theo như nhà thần học Congar nói về đời tu trong thời đại mới: “ở đời mà lại ít thuộc về đời”.

Để hiểu rõ hơn chúng ta đọc đoạn văn sau đây: “Do phép rửa, tín hữu chết cho tội lỗi và được hiến dâng cho Chúa, Nhưng muốn lãnh nhận ơn ích dồi dào, họ phải dùng lời tuyên hứa trong Hội thánh mà thực thi các lời khuyên của Tin Mừng để gỡ mình ra khỏi những ràng buộc, ngăn trở có thể làm cho họ chậm bước trên đường mến yêu thờ phượng Chúa cách hoàn hảo. Nhờ những lời khấn này, họ hiến thân phục vụ Chúa cách mật thiết hơn. Sự dâng hiến này càng trở nên hoàn hảo khi càng được lời khấn bảo đảm.” (LG 51)

Như vậy, qua đây chúng ta thấy sự hiến thân trong bậc tu trì và khi chịu bí tích Thanh tẩy cũng là một. Tuy nhiên, hình thức hiến thân trong bậc tu trì thì theo con đường chặt chẽ hơn để đi tới Chúa. Một trong ba yếu tố giúp cho việc theo Chúa chặt chẽ hơn là sống độc thân. Lý do có thể là các tu sĩ hoàn toàn tự do muốn hiến thân trực tiếp cho việc phục vụ và phụng thờ Thiên Chúa.

Tình bạn và tình yêu

Việc nói tới tình bạn và tình yêu trong đời tu hay cụ thể hơn là trong đời sống độc thân xem ra hơi khó và phức tạp. Thật vậy, cũng chính vì tình bạn và và tình yêu trong đời sống độc thân mà đã khiến bao nhiêu người “trần ai khoai củ” mới vượt qua được để đứng vững trong đời tu. Cũng chính vì tình bạn và tình yêu trong đời sống độc thân mà khiến bao nhiêu tu sĩ không muốn tu hoặc không tu được nữa. Tuy nhiên, thiết nghĩ và dám chắc chắn rằng với những người sống đời sống độc thân trong bậc tu trì một cách trọn vẹn thì vẫn có thể có những tình bạn, tình thân và thậm chí tình yêu một cách tốt đẹp và đáng được trân trọng. Cho nên việc quan trọng và thiết yếu là có một thái độ và giữ mối quan hệ như thế nào cho phù hợp về tình bạn và tình yêu trong đời tu. Như đã nói ở trên, một trong những điều liên tưởng đầu tiên mà cũng gây tò mò cho bao người, về những người tu sĩ là không lập gia đình, sống đời sống độc thân. Độc thân nhưng không có nghĩa là đơn độc. Độc thân nhưng không phải là sống một mình. Người ta thường hát “không ai là một hòn đảo”. Đúng vậy, con người là sống vì, sống cho và sống với mọi người. Đời tu, cũng vậy, cần phải sống vì, sống cho và sống với mọi người. Chính vì lẽ đó, những người tu sĩ cũng cần có tình bạn, thậm chí cả tình yêu trong đời sống độc thân. Cái quan trọng là khái niệm và biên độ của tình yêu và tình bạn của những người tu sĩ tới đâu là đủ. Có những tu sĩ, đặc biệt là các soeur, rất ư là “nhát đòn” trong khái niệm về tình bạn và tình yêu trong đời tu. Thật vậy, một số người vẫn nghĩ rằng hễ có một tình bạn hơi sâu xa một chút là đã vi phạm lời khấn khiết tịnh rồi. Theo họ việc trao hiến con tim cho Chúa thì cho đến chết chỉ một mình họ biết con tim đó, ngoài Chúa ra. Thái độ của những người theo lập trường này là sợ gắn bó với ai, sợ gắn bó để có một tình bạn, e dè đón nhận những cách bày tỏ tình thân một cách trong sáng, không hàm hồ. Đó cũng là thánh thiện, là một tu sĩ thánh thiện nhưng không vui. Một tu sĩ buồn là một tu sĩ đáng buồn! Một tu sĩ đích thực là cần phải hội đủ hai điều kiện: đi tìm Chúa và đem Chúa đến cho mọi người. Như vậy, người tu sĩ là những người đầu tiên giới thiệu Chúa cho những người khác. Họ là những người đầu tiên tình nguyện đón nhận và giới thiệu tình yêu Thiên Chúa. Giới thiệu một Thiên Chúa yêu thương trong sự thân ái, thiện cảm và vui vẻ. Có thể nói sứ mạng của người tu sĩ gieo rắc thiện cảm và niềm vui, sau đó gặt hái về trong tâm tình của những tâm hồn biết yêu và được yêu.

Trái lại với thái độ “nhát đòn” là thái độ quá “lì đòn” trong tình bạn và tình yêu trong đời sống độc thân. Quan niệm này có thể là do không biết hoặc chưa ý thức đủ về ý nghĩa của đời sống độc thân và những mối nguy hại của tình bạn và tình yêu trong đời sống dâng hiến. Tuy người tu sĩ sống đời sống độc thân nhưng, nhìn vào thực tế, chúng ta thấy có một số tu sĩ không đơn độc. Họ có rất nhiều con thiêng liêng, cả những người ngoài đời lẫn những người trong nhà tu. Không phải nói quá, nhưng có những cha, thầy đi đâu cũng có những người con, cháu, anh, chị, em… kết nghĩa, tinh thần. Cũng vậy, có những souer gặp đâu cũng kêu bố, ông nội,… mà nếu tính đời linh tông đôi khi bắn đại bác cả ngày cũng chưa tới! Âu cũng là con người với những thu hút lẫn nhau và khác dấu hút mạnh hơn. Một thực tế, nếu chúng ta để ý, hình như các cha thầy có nhiều ông nội, ông ngoại,… linh tông, nhưng các soeur thì chỉ có ông nội, bố chứ không có ông bà ngoại, mẹ linh tông! Với nhiều tình thân trong mối dây linh tông như vậy sẽ khó mà có được tình bạn và tình yêu trong sáng trong đời sống dâng hiến. Dẫu biết rằng, họ luôn ý thức đó là linh thiêng, nhưng với một người đã thưa với Chúa “con chỉ muốn yêu mình Ngài thôi” mà lại có quá nhiều mối tình thân như vậy thì sao có thể còn chỗ cho tình yêu của Thiên Chúa triển nở nơi mình? Thay vào đó là những “tình bạn đặc biệt’, những “linh tông bí mật”. Chính những mối tình thân quá khép kín và đặc biệt này gây ra những dị nghị và cản trở cho việc phát triển trong cộng đoàn tu trì của họ. Kết quả là không ít những tu sĩ rơi vào tình trạng “khởi sự nhờ Thần khí, nhưng kết thúc bằng xác thịt”. Thế mới có chuyện kể rằng: người mẹ, trước kia cũng là người đã từng đi tu, thấy con gái mình có mối quan hệ rất thân thiết với một ông thầy. Đi đâu ông thầy và cô con gái cũng đi chung. Thấy điều bất ổn như vậy, với kinh nghiệm của mình đã từng trải qua, bà mẹ nói với con gái: “Con nên cẩn thận và ý tứ trong việc tiếp xúc với ông thầy nhé!” Cô con gái đáp: “Mẹ cứ an tâm đi, chúng con là anh em kết nghĩa mà lị”. Bà mẹ nói: “Tiên sư bố mày, hồi xưa tao cũng vì anh em kết nghĩa nên giờ tao mới khổ như vậy nè!”.

Tình bạn và thậm chí tình yêu trong đời sống dâng hiến là không thể không có. Vì dù sao Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa và đôi khi Người có vẻ như ở xa chúng ta quá… Cho nên việc có những mối tình thân của những người tu sĩ là hết sức cần thiết và bình thường. Một người bạn thân có thể là một người, khác phái hay cùng phái, đang làm chung với ta hay ta thường gặp thường xuyên. Một người bạn thân có thể là một người mà ta cảm thấy có điều gì ràng buộc, dù không biết tại sao, vì có một thiện cảm trong sáng sâu sắc mà khó có thể phai nhòa được. Cho dù có xa cách, người đó vẫn là một điều gì đó thật quý báu với ta. Thật vậy, Thiên Chúa luôn muốn những người tận hiến cho Người, nếu cần, vẫn có thể tìm cho mình một người bạn nào đó để đem lại một tình yêu vô hình thành hữu hình.

…mộtquả tim bằng thịt

“Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt” (Ed 11, 19).

Thậtvậy, Thiên Chúa đã gỡ bỏ con người quả tim gỗ đá và thay vào một quả tim bằng thịt, có lẽ Người cũng muốn con người biết yêu như Người, như người đã yêu Con của Người, bằng một quả tim nhân loại, một quả tim biết rung động và đau đớn. Cho nên, nếu lý tưởng của sự độc thân là vô cảm thì có lẽ đó không phải là sự độc thân của Kitô giáo. Vì thế, khó khăn của con đường độc thân là chúng ta vẫn phải có một trái tim thật cởi mở, có thể yêu thương một cách trong sáng không hàm hồ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể bước vào con đường này một cách trong sáng và tốt đẹp. Nếu không đủ khôn ngoan, sáng suốt và khéo léo thì những mối quan hệ này sẽ gây ra thất vọng và có thể đưa tới ngõ cụt. Dĩ nhiên một tình bạn trong sáng trong đời sống độc thân là một điều người tu sĩ nào cũng mong muốn có. Nhưng điều nên nhớ là làm sao cho tình bạn triển nở trong sự tự do hoàn toàn giữa người này với người kia. Tránh đi những tình bạn quá nghiêng về cảm giác, từ đó dễ dành chỗ quá lớn cho nhu cầu cần đến nhau và những khát vọng. Là một con người với những nhu cầu bình thường, nếu đôi khi xác thịt bị những khát vọng dày vò, thì đó là chuyện bình thường, nhưng lúc đó không được phép nhượng bộ hay trì hoãn. Tình bạn chân thật trong đời sống độc thân có thể trao nhau với tất cả sự sáng suốt, không có hậu ý để minh chứng cho sự kết hợp vô hình giữa Người với những kẻ được Người yêu thương. Một sự kết hợp như vậy được thực hiện với sự liên kết của Thiên Chúa, giữa ta với Người. Cũng nhờ đó,
tình bạn chân thật trong đời sống dâng hiến sẽ tìm thấy Chúa ở nơi sâu xa tới mức không có gì có thể cản trở tình yêu của họ đối với Thiên Chúa được.

Tạmkết

Nếu đặt câu hỏi tại sao có những tu sĩ nam nữ từ khước hôn nhân? Câu trả lời, với những người Kitô giáo, là “Vì Người, vì Đức Kitô”. Làm sao có được chuyện ấy? Có hay không cũng vẫn không quan trọng nhưng đó vẫn là sự thật. Tuy nhiên, những người ngoài cuộc vẫn tò mò và đôi khi cảm thấy thương tiếc cho những người tu sĩ vì không có người yêu bên cạnh. Nhưng những người tu sĩ có thể nói như thánh Gioan rằng: tôi đã tin vào tình yêu của bạn thì bạn hãy tin rằng cả tôi nữa, tôi cũng biết thế nào là tình yêu chứ. Chính vì tình yêu vào Đức Kitô mà người phụ nữ khước từ anh thanh niên hấp dẫn, cương nghị và nồng nàn. Cũng chính vì tình yêu vào Đức Kitô mà chàng thanh niên từ khước cô thiếu nữ đang yêu, thông minh, hiền hòa và dễ thương. Tất cả vì tình yêu và để phục vụ và phụng vụ Thiên Chúa mà những người tu sĩ đã chọn đời sống độc thân.

Tuy nhiên, độc thân không bao hàm là có một lối sống đơn độc lẻ loi. Họ vẫn có những nhu cầu tình cảm, chia sẻ tình cảm của mình cho người khác và ngược lại. Đó là tình bạn trong đời sống độc thân. Một mối tình thân trong sáng và không hàm hồ. Đó là con đường thánh thiện mà người tu sĩ nào cũng phải đạt tới. Nhưng trên thực tế không phải tu sĩ nam nữ nào cũng cũng có thể có một tình bạn, một tình thân trong sáng, không hậu ý trong đời sống độc thân. Đúng vậy, với quả
tim bằng xương thịt, không ít lần người tu sĩ bị những cảm giác và nhục dục lôi kéo theo những tình cảm mà tự nó cản trở cho đời sống độc thân. Cần phải có một thái độ triệt để trong lãnh vực này. Triệt để không có nghĩa là sẽ không bị thử thách, sẽ không bao giờ bị sa ngã và yếu đuối, sẽ không một tình cảm nào đó để lấp vào khoảng trống cần đáp trả yêu thương và được yêu vì hình như lúc này Thiên Chúa quá xa… Nhưng dù có vấp ngã, dù có sa ngã ta vẫn tiến lên phía trước như một người vẫn kiên vững trong quyết định của mình, cho dù thực tế vẫn còn bao yếu đuối.

Valentine 14 tháng 2 năm 2011

Bertrand Nguyễn Thanh Hoài

Nguồn Dựng Lều 34

 

 

Biểu Tượng, Bí Tích và Mầu Nhiệm Phục Sinh

Biểu Tượng, Bí Tích và Mầu Nhiệm Phục Sinh

Qua PV, Ðức Kitô, Ðấng Cứu Độ và Thượng Tế, tiếp tục công trình cứu độ trong, với và qua Hội Thánh. Hôm nay chúng ta sẽ đào sâu về việc cử hành PV và các BT của Hội Thánh.

I. Dấu Chỉ và Biểu Tượng

Con người chúng ta dùng các dấu chỉ và biểu tượng (ngôn ngữ, chử chỉ và hành động) mà liên lạc với nhau. Sự truyền thông của chúng ta với Thiên Chúa cũng dùng những dấu chỉ và biểu tượng.

Thiên Chúa nói với con người qua các tạo vật hữu hình. Ánh sáng và bóng tối, gió và lửa, nước và đất, cây cối và hoa trái của chúng nói về Thiên Chúa và tượng trưng cho sự cao cả mà gần gũi của Ngài. Chúng có thể trở thành những phương tiện để diễn tả hành động của Thiên Chúa trong việc thánh hóa con người, và hành động của con người trong việc thờ phương Thiên Chúa. Những dấu chỉ và biểu tượng trong đời sống xã hội cũng thế. PV của Hội Thánh thừa nhận, tiếp thu và thánh hoá các yếu tố trong thiên nhiên và trong nền văn hóa nhân loại, đồng thời làm cho chúng trở nên những dấu chỉ của ân sủng, của tạo vật mới trong Đức Chúa Giêsu Kitô.

Những dấu chỉ giao ước là cắt bì, xức dầu thánh hiến các vua và tư tế, đặt tay, các lễ vật, và lễ Vượt Qua trong Cựu Ước.  Hội Thánh nhận ra nơi những dấu chỉ đó hình ảnh tiên trưng cho các BT của Tân Ước.

Những dấu chỉ được Ðức Kitô sử dụng đem lại ý nghĩa mới cho những biến cố và dấu chỉ Cựu Ước, nhất là biến cố Xuất Hành và Vượt Qua, vì chính Người là ý nghĩa của mọi biểu tượng này

Những dấu chỉ Bí Tích. Từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, chính qua những dấu chỉ BT của Hội Thánh mà Chúa Thánh Thần tiếp tục sứ vụ thánh hóa.

PV cử hành Mầu Nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô. Mỗi cuộc cử hành BT là một cuộc gặp gỡ giữa con cái Thiên Chúa với Cha mình, trong Ðức Kitô và Chúa Thánh Thần.  Đây là cuộc đối thoại bằng hành động và lời nói. Những hành động trong PV biểu thị những gì Lời Chúa muốn diễn đạt: vừa là sáng kiến ân sủng của Thiên Chúa, vừa là lời đáp trả trong đức tin của Dân Chúa.  PV Lời Chúa là phần cốt yếu trong các cử hành BT.  Chúa Thánh Thần không những chỉ khơi dậy đức tin để các tín hữu hiểu Lời Chúa; nhưng qua các BT, Ngài còn thực hiện “những kỳ công” của Thiên Chúa được Lời Chúa loan báo.

Toàn thể đời sống PV của Hội Thánh xoay quanh Hy Lễ Thánh Thể và các BT. Có hai cụm từ rất quan trọng mà chúng ta cần hiều trong PV:

1. Anamnesis – Tưởng niệm – Lời cầu nguyện tưởng niệm trong PV gợi lại những hành động và biến cố cứu độ của Thiên Chúa, đặc biệt là biến cố Vượt Qua. Lời nguyện này làm cho những biến cố đó hiện diện giữa chúng ta ở đây và lúc này.

2. Epiclesis – Xin Thánh Thần Xuống – Trong lời nguyện này Hội Thánh xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần xuống trên các lễ vật để biến chúng thành Mình và Máu Đức Kitô.

Truyền thống Công Giáo tin rằng Chúa Thánh Thần luôn ngự xuống và biến đổi bất cứ vật gì hay người nào mà trên chúng/họ Hội Thánh xin Ngài ngự xuống.

II.  Các Bí Tích

BT là dấu chỉ hữu hình và hữu hiệu do Chúa Giêsu thiết lập và trao phó cho Hội Thánh để thông chuyển ơn thiêng liêng cho chúng ta.

Các Bí Tích của Đức Kitô và của Hội Thánh

Tất cả các BT đều được Đức Kitô thiết lập vì những lời nói và việc làm trong cả cuộc đời của Người đều có giá trị cứu độ, mà ngày nay Người thực hiện qua các BT nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, Ðấng hoạt động trong Nhiệm Thể Người là Hội Thánh.

Các Tông Đồ tiếp tục truyền thống này và đặt nền tảng cho các thừa tác vụ có chức thánh của các giám mục, linh mục và phó tế là nhửng vị thay thế Đức Kitô mà cử hành các BT hôm nay.

Nhờ Chúa Thánh Thần, Hội Thánh đã nhận ra trong số các cử hành PV có bảy BT do Đức Kitô thiết lập. Chính Đức Kitô hoạt động trong các BT, nhờ Chúa Thánh Thần, trong Hội Thánh. Thừa tác vụ linh mục là dây nối kết hoạt động PV với lời nói và việc làm của Đức Kitô.

Ba BT Thánh Tẩy, Thêm Sức và Truyền Chức còn in vào linh hồn một “ấn tích”, nhờ đó người tín hữu được tham dự vào chức tư tế của Ðức Kitô và trở thành phần tử của Hội Thánh với cấp bậc và phận vụ khác nhau. Ấn tích này không thể xóa được, luôn tồn tại trong họ như bảo chứng tích cực của ân sủng.

Các Bí Tích của Đức Tin – Các Bí Tích Cứu Độ

Ðức Kitô đã sai các Tông Đồ đi rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để nhận các BT.  Mục đích của các BT là thánh hóa con người, xây dựng Nhiệm Thể Đức Kitô, cùng thờ phượng Thiên Chúa, nhưng cũng là những dấu chỉ, giữ vai trò giáo huấn và củng cố đức tin.  Khi cử hành các BT, Hội Thánh tuyên xưng đức tin đã lãnh nhận từ các Tông Đồ; Trong các BT:

1) Lex Orandi, Lex Credendi (Luật cầu nguyện là luật đức tin), Hội Thánh tin như Hội Thánh cầu nguyện. Khi chúng ta cùng nhau cầu nguyện, đức tin của Hội Thánh được đem ra thực hành. BT là cách Hội Thánh sống đức tin. PV là một yếu tố cấu thành Truyền Thống thánh thiện và sống động của Hội Thánh. Các thừa tác viên hay cộng đoàn không được tùy tiện sửa đổi hay thêm bớt bất cứ một nghi thức BT nào.

2) Ex Opere Operato – Vì Đức Kitô hành động qua các BT, nên các BT ban ân sủng mà BT biểu hiện, và ân sủng cần thiết phần rỗi.  Hội Thánh khẳng định rằng các BT có hiệu quả “ex opere operato” (do chính sự việc được thực hiện).  Khi được cử hành theo ý Hội Thánh, quyền năng của Đức Kitô và Chúa Thánh Thần hoạt động trong và qua BT ấy không phụ thuộc vào sự thánh thiện của bản thân thừa tác viên.  Tuy nhiên, hiệu quả của các BT còn tuỳ thuộc vào thái độ nội tâm của người lãnh nhận.

3) Việc Dạy (Học) Giáo Lý- Từ này trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “vang vọng”. Đây là một tiến trình và việc chuẩn bị cho các BT mà trong đó một người được đào luyện để sẵn sàng “vang vọng” Lời Chúa trong chính đời mình.

Các Bí Tích của Sự Sống Muôn Đời

Ngay từ thời các Tông Đồ, PV chia sẻ ước muốn của Đức Kitô: “Thầy khao khát ăn lễ Vượt Qua này với các con…cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” Trong các BT của Đức Kitô, Hội Thánh nhận được bảo chứng gia nghiệp của Người, đã dự phần vào đời sống vĩnh cửu, đang khi “chờ đợi ngày hồng phúc, ngày Chúa Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Ðấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang.

III. Vai trò của Chúa Ba Ngôi trong Phụng Vụ và Bí Tích

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động trong mỗi cuộc cử hành PV và BT.

  1. Chúa Cha là nguồn mạch của mọi phúc lành và kêu gọi một sự đáp trả bằng cảm tạ và chúc tụng cùng việc bác ái. Trong PV, ta đáp lời trong đức tin và đức ái vì những phúc lành thiêng liêng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một cách vô điều kiện.
  2. Chúa Con – Mầu Nhiệm Phục Sinh được làm cho hiện diện trong việc cử hành các BT, và chúng ta tham gia vào sứ vụ của Người như tư tế, ngôn sứ và vua. Mỗi buổi PV là lại sống Mầu Nhiệm PS của Đức Kitô, làm cho Đức Kitô hiện diện và sống trong mỗi thời đại tín hữu.
  3. Chúa Thánh Thần có ba nhiệm vụ:
    1. Chuẩn bị cho Hội Thánh gặp Chúa Giêsu. Qua việc nhắc lại những biến cố cứu độ trong Cựu Ước, CTT giúp ta giọn mình kỹ càng để tham dự các BT.
    2. Nhắc lại và làm cho Đức Kitô hiện diện cộng đồng tín hữu bây giờ và ở đây
    3. Hợp nhất Hội Thánh để thi hành sứ vụ của Đức Kitô.

Khi tham dự Phụng Vụ dưới thế, chúng ta được cùng thần thánh trên Thiên Đàng tham dự vào chính Mầu Nhiệm của Thiên Chúa được Ngài thông ban cho chúng ta qua Mầu Nhiệm Vượt Qua, là Mầu Nhiệm được Chúa Thánh Thần làm cho hiện diện trước chúng ta trên Bàn Thờ. Nhờ sức mạnh của ân sủng, chúng ta được Thiên Chúa trao cho sứ vụ làm cho Đức Kitô hiện diện trên thế gian qua đời sống hằng ngày của mình như những “Alter Christus”.

 

giaoly.org

Ý nghĩa của sự Phục sinh trong Tân ước: cội nguồn Do Thái giáo

Ý NGHĨA CỦA SỰ PHỤC SINH TRONG TÂN ƯỚC: CỘI NGUỒN DO THÁI GIÁO

William L. Burton, OFM

The Bible Today,

Vol. 49, số 45, September/October 2011, tr. 285-290

Để hiểu Tân Ước nói gì về sự phục sinh, chúng ta cần phải am tường bối cảnh tôn giáo của các bản văn Tân Ước cũng như bối cảnh của những người đọc các bản văn này. Chúng ta phải xét đến ngữ cảnh của người viết lẫn độc giả, nghĩa là thế giới ý nghĩa của người Do Thái.

SỰ PHỤC SINH TRONG TƯ TƯỞNG DO THÁI

Quan niệm tôn giáo về sự phục sinh của người chết hầu như không được người Do Thái cổ xưa biết đến. Mãi cho đến thế kỷ thứ I và II trước Công nguyên cũng không. Chính xác đây chỉ là hình thức muộn thời của niềm tin Do Thái giáo, được Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài chia sẻ. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy nhắc đến sự phục sinh trong sách Maccabê 1 và 2, sách Daniel. Hơn nữa, chúng ta cũng biết rằng trong Do Thái giáo thời ấy, niềm tin vào sự phục sinh của người chết không được mọi người Do Thái đồng tình. Những người Samaritanô rõ ràng không tin điều ấy, người Sađucêô cũng không. Bởi thế cho nên không mấy ngạc nhiên khi người Sađucêô không tin vào các thực tại thiêng liêng nói chung như linh hồn, thần khí, ma quỷ, vv…, không tin vào sự phục sinh. Trong khi vấn đề này đặt ra nhiều điểm quan trọng, cần phải nói rằng người Do Thái Giêsu và các môn đệ người Do Thái của Ngài, gồm cả các tác giả Tân Ước, hầu như tin chắc vào sự phục sinh của người chết.

Những người Do Thái vào thời Đức Giêsu thật sự đã hiểu gì về sự phục sinh của người chết? Họ quan niệm thế nào? Đây thật cũng là mớ bòng bong. Như đã nói, người Sađucêô và Samaritanô phủ nhận bất kỳ ý niệm nào về sự phục sinh của người chết. Cũng chẳng biết người Essênêô, một nhánh Do Thái giáo thời ấy, quan niệm thế nào. Họ có nghĩ rằng phục sinh người chết là thân xác sống lại, hay chỉ đó là sự hiện hữu thiêng liêng kéo dài của linh hồn như một bản thảo trong Bản Cuộn Biển Chết (1QS 4:7-8) đã nói: “Niềm vui vĩnh cửu trong cuộc sống, triều thiên vinh quang và vẻ ngoài đường bệ trong ánh sáng khôn cùng”? Thật khó mà nói được. Ngay cả người Pharisiêu cũng có vài vấn đề. Họ tin rằng người công chính sẽ chỗi dậy từ cõi chết và sau đó nhập vào thân xác, nhưng sử gia Josephus cho rằng họ chỉ tin điều này về linh hồn và thân xác của người công chính, còn linh hồn của kẻ tội lỗi vẫn tách biệt khỏi thân xác và chịu hình phạt đời đời (Josephus,Cuộc chiến tranh Do Thái, 2:163). Tuy nhiên, các nguồn sách vở kinh sư sau này cho thấy rằng chỉ một thời gian ngắn sau thời Chúa Giêsu – có lẽ chỉ sau khi Đền Thờ Giêrusalem bị người Roma phá hủy vào năm 70 công nguyên – thì sự phân biệt giữa số phận người công chính và người tội lỗi đã biến mất, và niềm tin rằng mọi người sẽ sống lại, hợp nhất cả hồn và xác, có người hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, có người phải chịu hình phạt đời đời, dường như đã trở thành quan điểm chung.

Sự phục sinh trong Tân Ước cũng được hiểu và phát triển trong cách hiểu của người Do Thái. Trong toàn bộ các sách Tân Ước, chúng ta thấy rõ sự phát triển này trong bộ hai tác phẩm của Luca: Tin Mừng Luca và Tông Đồ Công Vụ.

SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊSU

Hẳn nhiên, trong Tân Ước, biến cố định hình và trở thành chuẩn mực cho niềm tin Kitô giáo vào số phận của người chết là sự phục sinh của Chúa Giêsu. Các tác giả Tin Mừng chia sẻ vài đồng thuận nào đó về vấn đề này. Sự phục sinh của Đức Giêsu là biến cố có thực, một biến cố lịch sử không tranh cãi, nhưng chính ý nghĩa của biến cố này mới là điều quan trọng đối với các tác giả Tân Ước. Sự phục sinh của Đức Giêsu khai mạc tiến trình cánh chung, chương cuối cùng trong lịch sử nhân loại, và nhờ đó mà vận mệnh cánh chung của các tín hữu được bảo đảm. “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6, 8). Hơn nữa, phục sinh của Đức Giêsu là sự xác minh cho căn tính cứu thế của Ngài và cho thấy sự tưởng thưởng của Thiên Chúa cho sự đau khổ và cái chết nhục nhã của Ngài. Cái nhìn này về sự phục sinh của Đức Giêsu được tìm thấy trong khắp cuốn Tân Ước.

Trong số những đề cập đến sự phục sinh và ý nghĩa của nó trong Tân Ước thì các nguồn quan trọng nhất là các thư của Thánh Phaolô, các sách Tin Mừng, và cuốn Tông Đồ Công Vụ. Ở đây chúng ta sẽ bàn đến những nguồn này theo trật tự: trước hết là Thánh Phaolô, rồi đến các Tin Mừng – đặc biệt là Tin Mừng Luca – và cuối cùng là sách Tông Đồ Công Vụ.

PHỤC SINH THEO THÁNH PHAOLÔ

Thánh Phaolô không quan tâm đến trình thuật về sự phục sinh của Đức Giêsu cho bằng ý nghĩa của biến cố này đối với các Kitô hữu. Đối với Thánh Phaolô, biến cố lịch sử mà Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết chỉ là một sự kiện. Giống như những tác giả Tân Ước khác, Thánh Phaolô tin rằng thực tại thể lý và lịch sử của biến cố Đức Giêsu phục sinh là điều không thể chối cãi:

Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. (Rm 15, 3-8)

Là người sáng lập và phát triển các cộng đoàn Kitô giáo, Thánh Phaolô đã có hướng nhìn của một nhà giảng thuyết và là chủ chăn, phải cố gắng làm sao để mở bật ra ý nghĩa của biến cố này cho các Kitô hữu. Khi rao giảng, Thánh Phaolô đã phải khó khăn nối kết biến cố lịch sử của sự phục sinh thân xác nơi Chúa Giêsu với sự phục sinh của mọi người đã chết khi Đức Kitô trở lại. Vì thế, trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Thessalônica, Thánh Phaolô dùng sự phục sinh của Chúa như là một bảo đảm rằng số phận của Chúa Giêsu cũng được chia sẻ với những ai tin vào Ngài: “Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4, 14). Thánh Phaolô là tác giả đầu tiên trong Tân Ước đã nối kết niềm hy vọng cánh chung đã được bảo đảm của sự phục sinh nơi Chúa Giêsu và nơi các tín hữu với nghi thức rửa tội.

Trong thư gởi các tín hữu Roma, Thánh Phaolô đã chứng minh nhờ bí tích rửa tội mà các Kitô hữu được chia sẻ số phận này của Chúa Phục Sinh: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6, 3-4). Sau này, Thánh Basiliô, một trong những giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội, đẫ nối kết cách sinh động hơn nữa: “Qua bí tích rửa tội, chúng ta bắt chước cuộc mai táng của Đức Kitô. Thân xác của người chịu phép rửa tội được chôn vùi trong nước …” (Basil, Về Chúa Thánh Thần).

Như vậy, Thánh Phaolô đã dùng sự kết hiệp với Đức Kitô trong bí tích rửa tội như một nền tảng cơ bản cho nhiều giáo huấn phát sinh của ngài. Chẳng hạn, trong 1 Côrintô, Thánh Phaolô đã rút ra một vài tiêu chuẩn luân lý cho đời sống người Kitô hữu như là hệ quả của sự thâm nhập vào Đức Kitô nhờ bí tích rửa tội, Vì đã được tháp nhập vào thân thể Đức Kitô (en Christo trong tiếng Hy Lạp) qua bí tích rửa tội nên người đã được rửa tội không thể kết hợp thân xác này với gái điếm cũng như không thể mang thân xác này vào các đền đài thờ cúng ngẫu tượng ngoại giáo. Trong 1 Thessalônica, Thánh Phaolô dạy rằng người Kitô hữu được kết hiệp với Đức Kitô qua bí tích rửa tội, khi qua đời thì họ cũng không chia lìa với mọi người khác, ngay cả chính sự chết. Sự chia lìa với những Kitô hữu thân yêu đã qua đời của chúng ta chỉ là vẻ bề ngoài, không phải là thực sự, cho nên chúng ta không cần phải buồn sầu thái quá. Như vậy, Thánh Phaolô đã gởi sứ điệp an ủi đến những người Thessalônica, dựa vào phép rửa của họ với Đức Kitô Phục Sinh: “Chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng” (1 Tx 4, 13). Do đó, đối với Thánh Phaolô, chính cái ý nghĩacủa sự phục sinh nơi Đức Kitô mới là điều quan trọng đối với Kitô hữu chứ không phải trình thuật về biến cố phục sinh hay ngôi mộ trống. Chính thần học về bí tích rửa tội của Thánh Phaolô, dựa trên niềm tin chắc chắn của ngài về sự phục sinh, mà Giáo Hội đã đặt nền tảng cho những giáo huấn quan trọng về sự sống đời sau, về Giáo Hội học, hành vi luân lý của người Kitô hữu cũng như niềm tin các thánh thông công.

PHỤC SINH THEO CÁC TIN MỪNG

Các trình thuật Tin Mừng về biến cố phục sinh của Chúa Giêsu phản ánh quá trình phát triển về ý nghĩa của sự phục sinh trong Giáo Hội sơ thời, một sự phát triển chịu ảnh hưởng đặc biệt của Thánh Phaolô hoặc qua đó nói lên rằng Thánh Phaolô và các tin mừng cùng chia sẻ chung với nhau các truyền thống sơ thời về sự phục sinh. Từ Tin Mừng đầu tiên của Thánh Marcô cho đến Tin Mừng cuối cùng của Thánh Gioan, chúng ta thấy rằng những trình thuật chi tiết về việc khám phá ngôi mộ trống đã có sự khác biệt – không có những chứng nhân trực tiếp về sự phục sinh của Chúa Giêsu, chỉ là những gì xảy ra sau này. Có một số chi tiết khác nhau: khác nhau về căn tính của chứng nhân, cả con người lẫn thiên thần; lời chứng cũng khác nhau và sự gặp gỡ của các nhân chứng với Chúa Giêsu phục sinh cũng khác nhau. Nó thay đổi từ Tin Mừng này đến Tin Mừng khác. Dù rằng xét tổng thể thì trình thuật về sự phục sinh của mỗi Tin Mừng xem ra giống nhau, nhưng ý nghĩa được gán cho sự phục sinh trong Tin Mừng Luca và Tông Đồ Công Vụ đáng chúng ta để ý vì nó đặt nền trên Sách Thánh của Do Thái giáo.

Ý NGHĨA CỦA SỰ PHỤC SINH TRONG LUCA VÀ TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ

Mặc dù các trình thuật Nhất Lãm giống nhau, nhưng nhãn quan của Luca khác biệt đáng kể. Trong Tin Mừng của mình, Thánh Luca nhấn mạnh rằng cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là cần thiết (dei trong tiếng Hy Lạp). Nó cần thiết để Sách Thánh được “ứng nghiệm” (Lc 4, 21; 9, 51; 18, 31; 21, 22; 23, 37; 24, 44). Đối với Thánh Luca, cả trong Tin Mừng lẫn Tông Đồ Công Vụ, phục sinh được hiểu như là sự ứng nghiệm cần thiết của niềm hy vọng và lời tiên tri trong Do Thái giáo thưở xưa. Điều này thật rõ ràng trong câu chuyện làng Emmau, khi Chúa Giêsu phục sinh hỏi: “Chẳng phải là điều cần thiết khi Đấng Cứu Thế phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” và rồi “bắt đầu từ ông Môisê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24, 26-27). Như Luke Timothy Johnson đã viết trong chú giải Tin Mừng Thánh Luca (Sacra Pagina 3, 405), Thánh Luca gắng sức chứng minh rằng cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu đã được Sách Thánh tiên báo: sách Torah, sách Các Tiên Tri và những bản văn khác. Về sự phục sinh của Chúa Giêsu, Thánh Luca luôn nhất quán trong Tin Mừng của mình cũng như khi viết về lịch sử Giáo Hội sơ thời trong Tông Đồ Công Vụ. Trong cả hai cuốn sách, “Thánh Luca sử dụng “lời tiên tri và sự ứng nghiệm” nhiều hơn hết trong tất cả các bản văn khác của Tân Ước” (Luke Timothy Johnson, Tông Đồ Công Vụ, Sacra Pagina, 5, 12).

Không giống như các Tin Mừng, Tông Đồ Công Vụ không có trình thuật ngay sau khi Chúa Giêsu phục sinh. Nhưng như trong Thánh Phaolô, nhờ Tông Đồ Công Vụ mà chúng ta biết được ý nghĩa của sự phục sinh trong Giáo Hội sơ thời cũng như nó được rao giảng như thế nào. Như đã nói trên, một phát triển quan trọng trong Tông Đồ Công Vụ là trình bày cách hiểu của Giáo Hội sơ thời về sự phục sinh của Chúa Giêsu như là một phần ứng nghiệm các lời tiên báo của Cựu Ước được hoàn tất trong Chúa Giêsu (Cv 1, 16; 13, 27). Trong bài đại diễn từ đầu tiên của Tông Đồ Công Vụ (Cv 2, 14-36), Thánh Phêrô trình bày cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu như là “áp dụng chú giải midrash các bản văn về Đấng cứu thế trong sách Torah” (Johnson, Tông Đồ Công Vụ, 54). Trong diễn từ này, Thánh Phêrô trích dẫn ngôn sứ Gioel và Thánh Vịnh 15, chủ đề này cũng được tiếp nối trong các diễn từ khác của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô trong Tông Đồ Công Vụ. Như vậy, Thánh Luca “thành công cách thuyết phục trong việc làm cho câu chuyện về Đức Giêsu của mình và bước khởi đầu của người Kitô hữu như là sự nối dài của lịch sử Thánh Kinh” (Ibid., 12). Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một phần của kế hoạch lớn lao hơn của Thiên Chúa, được khai mạc trước hết nơi dân Do Thái, được Sách Thánh của họ tiên báo, và cuối cùng ứng nghiệm và có hiệu lực trong sự phục sinh của Chúa Giêsu.

chuyển ngữ

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Tại sao Chúa lại chọn con

TẠI SAO CHÚA LẠI CHỌN CON

Mỗi người có một cảm nhận riêng về ơn gọi của mình, ơn gọi này chúng ta nhận được từ Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của mọi sự, cho mọi người. Ở đây tôi chỉ bàn đến ơn gọi dấn thân theo Chúa cách đặc biệt trong đời tu (đời sống dâng hiến) mà thôi. Dẫu biết rõ con người bạn chẳng có tài gì đặc biệt, chẳng có khiếu gì trong lãnh vực hùng biện, cũng như các lãnh vực khác liên quan đến sứ vụ sau này thế mà Chúa đã mời gọi bạn theo Ngài. Ngài cũng không cưỡng ép cũng như Ngài chẳng bắt buộc bạn phải dấn thân nhưng Ngài đang chờ đợi nơi bạn sự đáp trả. Bạn có thể nói “không”. Vì có quá nhiều lí do để biện hộ cho câu trả lời đó: Có thể là thời gian chưa chín muồi, hoặc có thể là chưa thích hợp, và thậm chí có thể là Chúa đã chọn nhầm người để thi hành sứ vụ đặc biệt này. Và có lẽ bạn đang hỏi Chúa: tại sao Chúa lại chọn con?

Tại sao không? Chẳng lẽ bạn không có một tài năng nào được Chúa bạn tặng hay sao? Hay là bạn có quá nhiều tài năng nên nếu như theo Chúa thì tài năng của mình bị giới hạn? Hoặc là chẳng lẽ bạn biết được bạn có thể dâng hiến những gì sao? Bạn có bao giờ nghĩ rằng, nếu Chúa đã khước từ bạn thì liệu có thể Ngài còn mời gọi bạn dấn thân theo Ngài không? Thiên Chúa có lí do của Ngài khi mời gọi bạn. Có thể chương trình của Chúa với bạn đến nay chưa thực sự rõ ràng nhưng tôi chắc chắn với bạn một điều là chính Ngài đã khơi lên trong lòng bạn con đường này, và bạn cũng đã bước đi trên con đường đó. Các tông đồ xưa theo Chúa vì lí do gì? Chắc hẳn bạn cũng biết?! Các ngài cũng rất tầm thường, rất con người trong những giai đoạn đầu theo Chúa. Nhưng dầu sao đi nữa thì các ngài chỉ biết rằng là, mình được “gọi” và với tâm tình đơn sơ, lòng nhiệt thành các ngài đã đáp lại lời mời gọi ấy. Các ngài đã đi trọn con đường của mình theo thánh ý Chúa, tuy là con đường đó có rất nhiều chông gai, nhiều trở ngại nhiều lúc tưởng chừng như các ngài đã bị những khó khăn đánh gục nhưng với ơn Chúa các ngài đã vượt qua tất cả để về đích. Cũng vậy bạn đã cố gắng thế nào? Bạn đã sử dụng ơn Chúa ban ra sao? Bạn có dùng nó để phục vụ cho tha nhân hay là bạn đã dùng nó với ý riêng mình? Có lẽ bạn đã dùng ơn Chúa chưa theo như ý Chúa muốn khi Ngài ban những ơn đó cho bạn. Có lẽ Chúa đang cần nơi bạn một sự phó thác hoàn toàn trong sự tin tưởng tuyệt đối vào Ngài. Lòng tín thác đó nó như một cơn gió thoảng làm cho lòng bạn nhẹ nhàng hơn. Và cơn gió đó bạn biết nó có, nhưng bạn không thể nhìn thấy nó, mà bạn chỉ có thể cảm nhận, và bạn sẽ cảm nhận được nếu như bạn ngưng cuộc sống ồn ào của bạn lại một vài giây, và bạn cố gắng tập trung chú ý một chút, thì bạn sẽ biết được ý Chúa muốn bạn lúc này phải làm gì.

Giả như bạn khước từ lời mời gọi của Chúa thì sao? Theo tôi thì cũng chẳng vấn đề gì. Có thể biết đâu trước đó là chỉ là một cuộc trắc nghiệm. Biết đâu Ngài chỉ muốn bạn sống thử đời sống dấn thân xem bạn có thể chấp nhận được thử thách của Người không? Và cũng có thể Chúa biết điều đó là cần thiết cho cuộc sống của bạn hay nói cách khác thì đó là điều tốt cho cuộc sống sau này của bạn. Giả như Ngài muốn thử xem bạn có hiểu và sử dụng các ơn Chúa Thánh Thần cách hiệu quả không nhất là ơn sức mạnh thì một quyết định như thế phần nào nó cũng nói lên được nơi bạn là đã phải có can đảm, xác tín, ơn thánh và đặc biệt là cầu nguyện rồi. Nếu đã là như vậy thì không có gì để nói, và bạn cũng không có gì phải sợ là mình sẽ phải hối tiếc.

Có lẽ sự dấn thân này không có gì để đảm bảo cho cuộc sống của bạn?! Vậy, có phải bạn đang cần có sự đảm bảo nào đó cho sự dấn thân của mình? Nếu trong một thế giới hoàn hảo thì việc bạn đòi hỏi một đảm bảo nào đó cho một sự dấn thân nào đó của bạn thì đó là điều chính đáng, không có gì để nói. Nhưng đây thực tế thì không phải thế, nó chỉ là một thế giới đầy dẫy những bất trắc. Nên việc đòi có một đảm bảo cho sự dấn thân của mình thì thật là không may vì nó không phải là một thế giới toàn hảo. Và có lẽ là vì vậy mà Chúa muốn bạn dấn thân cho những gì là tốt đẹp nhất theo như sự cảm nhận của bạn khi đã có sự cầu nguyện để tham khảo ý của Ngài một cách kỹ lưỡng rồi. Nếu như bạn thực sự đã làm như vậy một cách nghiêm túc thì bạn không có gì phải lo lắng. Tuy vậy nghĩ kỹ lại thì bạn có thực sự muốn nói “không” với Đấng đã gọi bạn và vì bạn mà Đấng ấy đã hiến đi mạng sống của mình không? Người vẫn đợi chờ và hy vọng bạn sẽ nghe theo lời mời gọi của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn bạn. Người vẫn hy vọng tình yêu của Ngài dành cho bạn sẽ thúc bách bạn để bạn biết chia sẻ tình yêu đó cho mọi người chung quanh và nhất là Ngài hy vọng bạn không phải hối tiếc về sự trả lời của bạn.

Nhưng dù thế nào đi nữa thì lời mời gọi ấy cũng vẫn xoáy vào tâm hồn bạn. Có thể là bạn có nhiều lí do để biện minh cho lựa chọn của mình nhưng bạn quá biết là mình đang làm gì và sử dụng ơn Chúa ban cho mình thế nào. Nhưng có lẽ bạn không biết được bạn đã cố gắng hay không. Điều này thì bạn không thể biết được, tôi dám chắc điều đó. Tất cả đều dựa trên niềm tin của ta vào Chúa. Ngài sẽ giúp bạn, sẽ ban cho bạn đủ sức mạnh để bạn đương đầu với nghịch cảnh. Hãy tin rằng Ngài sẽ ban cho bạn những ơn thánh cần thiết vào những thời điểm cần thiết vì Ngài đã nói “ơn Ta đủ cho con” và Ngài không bao giờ thử thách quá sức chịu đựng của bạn.

Bruno Vinh

Nguồn Dựng Lều 34

 

Cách giữ bình tĩnh trước những cơn bực dọc

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIỮ ĐƯỢC BÌNH TĨNH TRƯỚC NHỮNG ĐIỀU BỰC DỌC HẰNG NGÀY

Richard Carlson, Ph.D.

Hầu hết chúng ta đều có một sức chịu đựng mạnh mẽ trước những thảm hoạ xảy ra trong cuộc sống – sự ra đi vĩnh viễn của người thân yêu, thiên tai… Tuy nhiên, một số người trong chúng ta lại không thể chịu đựng được khi gặp kẹt xe, khi để lạc mất chìa khoá, khi đối mặt với những đồng nghiệp khiếm nhã, và khi đương đầu với những điều khó chịu hằng ngày.

Dường như có vẻ quen thuộc phải không? Hãy đọc những cách thức dưới đây để tránh những phản ứng kịch liệt khi đương đầu với những điều không hài lòng.

Hãy xem những người gây cho bạn phiền muộn như những người thầy. Mặc dù đoạn đường dài nhưng người bán hàng vẫn đi nhỡn nhơ ư? Nếu thế, hoặc bạn sẽ cảm thấy bực bội trước hành động lãng phí thời gian của cô/anh ta – và bạn nóng giận với hành động ấy. Hoặc bạn xem người bán hàng như một người thầy đang dạy bạn bài học về tính kiên nhẫn và lòng biết ơn những cá nhân làm việc thật vất vả nhưng chỉ với đồng lương ít ỏi. Áp dụng tương tự cho nhiều trường hợp khác.

Ví dụ 1: một người lái xe ôtô bỗng nhiên cắt ngang trước mặt bạn trên đường xa lộ. Anh ta dạy cho bạn bài học rằng thật là một điều điên rồ khi chạy nhanh như thế và có thể gặp phải những rủi ro không cần thiết.

Ví dụ 2: Một phụ nữ chen lên trước bạn và dành chiếc taxi bạn đã gọi. Cô ta chỉ cho bạn bài học về tính quan trọng của việc phải biết sắp xếp để có thời gian thong thả cho cuộc hẹn và bài học về việc biết quan tâm đến người khác.

Đừng gán cho mọi việc là “tốt” hay “xấu”

Khi một sự việc nào đó thất bại, hãy tìm một con đường khác. Có rất nhiều con đường.

Hãy có cái nhìn xa hơn trước những nỗi bất hạnh xảy đến

Mặc dù khó có thể nhìn nhận ra điều này khi sự việc xảy đến, việc làm đổ súp vào quần áo của bạn chỉ ngay trước khi một cuộc hẹn quan trọng không hẵn là một điều kinh khủng. Ngay cả việc chiếc ví bị ăn cắp nếu xét xa hơn thì cũng không hẳn là một việc quá quan trọng.

Trước khi bạn cho rằng một sự cố nào đó là một tai hoạ, hãy dừng lại giây lát và tự hình dung rằng một năm sau bạn sẽ nhìn lại sự cố này như thế nào. Liệu vết bẩn trên quần áo có thật sự quan trọng không? Dĩ nhiên không. Liệu bạn có được cấp lại những giấy tờ tuỳ thân không? Chắc chắn là được rồi. Và cuộc sống vẫn tiếp diễn.

Hãy tránh những căng thẳng không cần thiết

Nếu bạn cảm thấy gót chân bị đau nhói trong khi chạy bộ, tốt hơn là nên dừng lại, tránh làm cho vết thương có thể trở nên nghiêm trọng hơn. Tương tự như vậy, tốt hơn là kiên quyết tránh những trường hợp gây căng thẳng.

Ví dụ: nếu trong đầu bạn đang lên danh sách tất cả những việc phải làm, hãy chú ý đến quá trình suy nghĩ của bạn ngay lập tức. Hãy dừng lại trước khi mất kiểm soát.

Những cảm giác căng thẳng là dấu hiệu cảnh báo rằng cần được chú ý. Có thể bạn đang ôm lấy quá nhiều việc, hoặc có thể bạn đang để cho những việc nhỏ nhặt khiến bạn lo lắng quá nhiều. Hoặc bạn cần phải thay đổi.

Đừng quá xem trọng vật chất

Hãy nghĩ xem những thứ vật chất gì bạn hết sức coi trọng – chiếc bình gia truyền, chiếc vòng cổ xinh xắn, bức tranh vẽ đầu tiên của con bạn…

Chúng ta biết rằng những thứ ấy rất dễ vỡ, dễ hư hỏng, hoặc dễ mất, tuy nhiên chúng ta lại ít khi nào nghĩ những mối đe doạ trên là một khả năng hoàn toàn có thể xảy ra trong thực tế. Và khi một thứ gì đó đáng giá đối với chúng ta bị mất, chúng ta rất bực tức.

Hãy tránh bị bực tức bằng cách luôn tưởng tượng rằng những món quý giá ấy đã biến mất rồi. Buổi hoàng hôn tuyệt đẹp vẫn còn chứ? Dĩ nhiên vẫn còn. Và bạn vẫn có thể giữ lại ký ức về những đồ vật mà bạn đã mất và luôn nhớ đến và thưởng thức chúng. Giờ đây, nếu một ai đó làm vỡ chiếc bình đó, hoặc làm đổ cà phê lên bức tranh, bạn sẽ không hề bị suy sụp hoàn toàn.

Hãy lên kế hoạch cho việc thư giãn

Cuộc sống luôn mách bảo chúng ta nên hoãng lại việc thư giãn. Chúng ta có suy nghĩ rằng chúng ta sẽ dành thời gian thư giãn vào kỳ nghỉ sau, hoặc trong thời gian nghỉ hưu.

Những suy nghĩ trên hoàn toàn sai lầm. Một người trung bình một năm chỉ có vài tuần nghỉ ngơi, và hầu hết chúng ta phải làm việc cho đến những năm 60 tuổi mới có thể nhận được những khoảng lợi ích hưu trí.

Trong khi đó, chúng ta sử dụng quá nhiều thời gian để chạy ngược chạy xuôi và để suy nghĩ xem tiếp theo cần phải làm gì đến nỗi chúng ta không thể nào tận hưởng những niềm vui trong cuộc sống.

Cách tốt hơn là: dù có bận rộn đến mấy, cũng hãy lên kế hoạch thư giãn cho một ngày của bạn. Rất đơn giản chỉ cần bạn dành vài phút để hít thở sâu, đi bộ vài bước, hoặc viết một lời nhắn cho ai đó đang cần sự động viên của bạn.

Hãy chống lại khuynh hướng cố thuyết phục bạn hoãn lại thời gian thư giãn vào ngày mai. Hãy nhớ – khi “ngày mai” đến, nó sẽ trở thành là “ngày hôm nay”. Hãy dành ít phút hôm nay để thư giãn – hãy thư giãn mỗi ngày.

Đừng mong đợi rằng mọi người đều yêu thích bạn

Đó chính là một thực tế trong cuộc sống – một số người bạn gặp gỡ trong cuộc sống sẽ thích bạn nhưng sẽ có những người không ưa thích bạn. Cố gắng bằng mọi cách để làm cho mọi người thích bạn sẽ dẫn đến sự căng thẳng tâm lý hết sức lớn.

Hãy luôn cố gắng hết sức mình, nhưng đừng bực tức hay khó chịu khi ai đó dường như không thích bạn.

Nếu ai đó phê bình bạn, hãy làm giảm đi cảm giác nặng nề của bạn chỉ đơn giản bằng cách chấp nhận lời phê bình ấy và tiếp tục tiến lên phía trước.

Hãy luôn linh hoạt

Việc tổ chức và lên kế hoạch trước là điều tốt, nhưng đừng ngạc nhiên hay bực tức khi kế hoạch của bạn bị thay đổi. Hãy nghĩ rằng – chuyến bay có thể bị hoãn, lời hứa có thể không được giữ, và thời tiết không phải lúc nào cũng như ý bạn muốn.

Khi những việc này xảy ra, đừng nóng giận. Hãy giũ sạch tất cả và hãy hài lòng với cuộc sống.

***

 

Cách nhanh nhất và hiệu quả nhất để giảm căng thẳng

Có rất nhiều việc xảy ra trong cuộc sống và dường như quá sức chịu đựng của chúng ta, nhưng đối với Thiên Chúa thì chẳng là gì cả. Hãy xin Ngài ban cho bạn “bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên hết mọi hiểu biết” (Pl 4,7), bình an ấy sẽ đến với bạn khi bạn nói với Ngài những khó khăn của bạn. Có thể mất thời gian để giải quyết một sự việc nào đó, nhưng Thiên Chúa sẽ giúp bạn xoá đi những cảm giác căng thẳng mà những sự việc ấy mang lại. Vậy đừng cố gắng một mình đương đầu với những buồn bực hằng ngày. Hãy xin Thiên Chúa giúp đỡ, và điều đầu tiên Ngài giúp đỡ bạn chính là gửi đến cho bạn bình an của Ngài. (Nana Williams)

Thiên Ân dịch

 

 

Tiểu Sử Thánh Nữ Faustina Kowalska

Tiểu Sử

Thánh Nữ Faustina Kowalska

(1905- 1938)

Tác Giả – Nữ Tu Barbara Jesus Tomaszewski

Dịch Thuât – Rev Ngoc Đính

(Mến Tặng các Thiên Thần của Chúa –

đã dâng cả cuộc đời cho Chúa – Alexander NgH)

 

“Cha đã thương con bằng một tình yêu muôn thuở; Cha đã lôi cuốn con bằng lòng thương xót của Cha” (Jeremiah 31: 3).

Tên tuổi thánh nữ Maria Faustina Kowalska phép Thánh Thể, nữ tu dòng Đức Mẹ Nhân Lành, đã được biết đến trên khắp các lục địa. Sự quan tâm đến đời sống thánh nữ Faustina phần lớn là do sứ mạng toàn cầu Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị thánh, và niềm tin vào lời cầu bầu thần thế của chị thánh cho những lời thỉnh nguyện.

Thánh nữ Faustina chào đời ngày 25 tháng 8 năm 1905 tại Glogowiec, Ba Lan, và được đặt tên là Helen Kowalska. Thánh nữ là con thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó và khiêm nhường. Thân phụ của thánh nữông Stanley Kowalska – là một người đạo hạnh, luôn tham dự các thánh lễ Chúa Nhật, đọc kinh Nhật Tụng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm hàng ngày, và ngắm sự Thương Khó Chúa Giêsu trong mùa Chay. Không bao giờ chểnh mảng với các vịệc đạo đức, ông luôn luôn là người thức dậy sớm nhất và lớn tiếng bắt kinh cho cả nhà. Ông sống rất kỷ cương với những người chung quanh, và điều hành một gia đình nề nếp.

Thân mẫu thánh nữ Faustina – bà Marianna – là người phụ nữ quảng tâm, cần cù, và có tinh thần hy sinh. Cuộc đời của bà nổi bật với đức tính hy sinh trong việc phị giúp chồng và nuôi dạy 10 người con, hai trai, tám gái. Thánh nữ Faustina được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy ngày 27 tháng 8 năm 1905, tại nhà thờ giáo xứ Swinice, Warckie, và được đặt tên là Helen. Ngay từ khi còn nhỏ, Helen đã trổi vượt về sự mộ mến cầu nguyện, làm việc, vâng lời, và nhất là lòng thương cảm đối với những người nghèo khó.

Năm lên 7 tuổi, lần đầu tiên Halen được cảm nhận những soi động về ơn gọi sống đời sống tu trì, ơn đặc biệt sống đời thánh hiến và gắng đạt đến sự trọn lành. Tuy nhiên, Helen không tìm được một ai giải thích cho chị hiểu về điều ấy, và song thân cũng không chấp thuận ý tưởng xin vào tu trong một hội dòng của chị.

Năm lên 9 tuổi, Helen được xưng tội và rước lễ lần đầu. Trong giây phút đắm đuối ấy, chị đã nhận được sự hiện diện của Vị Thượng Khách Thần Linh trong linh hồn mình. Rước lễ đầu tiên là biến cố quan trọng trong cuộc đời Helen. Chị luôn luôn nghĩ tưởng đến mầu nhiệm sự hiện diện ẩn khuất của Thiên Chúa trong bí tích Thánh Thể.

Có hai người láng giềng vẫn còn nhớ những chi tiết về ngày Helen được rước lễ lần đầu. Hôm ấy Helen từ thờ đi về một mình, đắm đuối và trầm tư.

Một người láng giềng hỏi, “Sao em không đi với những trẻ khác?” Helen hết sức nghiêm trang đáp lại, “Tôi đang có Chúa Giêsu trong mình”.

Đi được một quãng nữa, Helen gặp một trẻ nữ khác, và được hỏi, “Hôm nay sung sướng chứ?” Helen đáp lại, “Dĩ nhiên rồi, cứ nhìn vào bộ đồ dễ thương mình đang mặc đây thì biết.”

“Mình sung sướng vì Chúa Giêsu đã đến với mình.” Helen khẽ nói, mỉm cười rạng rỡ giữa lúc được cảm nghiệm sự kết hợp với Thiên Chúa trong linh hồn mình lần đầu tiên.

Thánh nữ Faustina rất có lòng sùng kính bí tích Thánh Thể, đến nỗi hầu như mọi trang nhật ký của chị đều có nhắc đến bí tích này.

Cuộc sống muôn đời (Chúa Giêsu phán với chị) phải bắt đầu ngay từ dưới trần thế qua việc hiệp lễ. Mỗi lần hiệp lễ đều tăng thêm cho con nhiều khả năng để kết thân với Thiên Chúa trong cõi đời đời (NK 1811).

Một lần khác, thánh nữ Faustina đã ghi lại trong Nhật Ký:

“Tôi thấy mình quá yếu đuối đến nỗi nếu không nhờ hiệp lễ, có lẽ tôi không ngừng bị sa ngã. Chỉ có một sức nâng đỡ cho tôi, đó là hiệp lễ. Từ đó, tôi kín múc được nguồn sức mạnh, đó là sự thư thái của tôi. Tôi hoảng sợ phải sống những ngày không được rước Thánh Thể. Tôi sợ chính bản thân mình. Chúa Giêsu ẩn ngự trong Bánh Thánh là tất cả cho tôi. Từ nhà tạm, tôi kín múc được sức mạnh, năng lực, can đảm và ánh sáng. Ở đó tôi tìm được sự an ủi trong giờ thống khổ. Nếu như không có Thánh Thể trong lòng, tôi không biết phải làm cách nào để tôn vinh Thiên Chúa” (NK 1037).

Ngày 30 tháng 10 năm 1921, Halen đã được Đức Cha Vincent Tymieniecki của giáo phận Aleksandrow – Lodz ban bí tích Thêm Sức. Trong thời gian này, Helen đang sống xa nhà và giúp việc cho một gia đình khác.

Helen được dưỡng dục dưới ánh mắt dịu hiền quán xuyến của người mẹ, và biết gánh nặng đỡ đần nghèo khó của gia đình. Thân phụ thánh nữ rất nghiêm khắc đòi buộc các con trai, cũng như gái, phải làm quen với công việc ngay từ còn nhỏ. Những đứa con trai chưa đến chín tuổi đã phải giúp việc đồng áng. Helen phụ giúp với mẹ trong việc bếp núc, dẫn bò ra đồng và coi sóc các em nhỏ, dạy cho chúng biết vâng lời. Với bản tính nhân ái, chăm chỉ, vâng lời, tiên liệu được nhu cầu của người khác và sẵn lòng giúp đỡ, nên Helen đã trở thành đứa con được quí mến trong gia đình là điều không có gì lạ.

Theo hồ sơ của trường học địa phương, khi đã 12 tuổi, Helen mới cắp sách đến trường tịa Suinice Warckie vào năm 1917. Helen không thể đi học sớm hơn vì nhà trường bị đóng cửa trong thời kỳ quân Nga chiếm đóng Ba Lan. Vì đã biết đọc nên Helen vào thẳng lớp hai. Helen là một học sinh tốt . Thực vậy một lần kia, khi vị thanh tra đến hăm trường, Helen đã được phần thưởng xuất sắc vì đọc thuộc lòng bài thơ “Cuộc Trở Về Của Người Cha” của thi sĩ Adam Mickiewicz.

Vào mùa xuân 1919, những học sinh nhiều tuổi nhất đành phải thôi học vì nhà cầm quyền quyết định dành chỗ cho các trẻ khác mới nhập học. Helen khi ấy mới học lớp ba.

Đến năm 14 tuổi, Helen đã rời gia đình để đi làm như một người giúp việc tại Aleksandrow và tại Lodz, với mục đích tự lập và giúp đỡ gia đình. Helen ngụ tại gia đình thân quen và sống gần gũi với Helen Bryszewska trước khi trở về sống với gia đình.

Năm 18 tuổi, Helen mới ngỏ ý với mẹ về ước muốn vào tu trong một tu viện. Khi thân phụ biết tin, ông đã kịch liệt phản đối: “Mày không biết mày muốn gì cả. Để cho mày đi với bà phước, tao phải nộp một món tiền không sao liệu nổi. Tao chỉ có nước mang nợ mà thôi”. Helen thưa lại, “Nhưng thưa cha, con đâu có cần tiền bạc. Chúa Giêsu sẽ đưa con vào dòng”.

Đáp lại ơn gọi.

Một ngày kia, đang khi cùng với người em gái tham gia một cuộc khiêu vũ, bỗng nhiên Helen nhìn thấy Chúa Giêsu đau khổ, mình đầy những thương tích. Người phán với chị: “Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?” (NK 9).

Cuộc thị kiến làm Helen xao xuyến đến cực độ. Biết mình không thuộc về nơi đó nữa, Helen giả bộ nhức đầu, rồi rời bỏ đám hội và tìm đến một nhà thờ. Tại đó trước bí tích Thánh Thể, Helen đã xin Chúa cho biết Người muốn gì về chị. Và chị được nghe những lời này:

“Con hãy đến gặp vị Linh Mục ấy (cha James Dabrowski, cha sở giáo xứ Thánh Gicôbê) và cho ngài biết tất cả; ngài sẽ dạy con phải làm gì tiếp theo” (NK 12).

Khi thánh lễ chấm dứt, Helen lên phòng áo và thưa với vị linh mục về mọi điều đã xẩy ra trong linh hồn. Chị xin vị linh mục hướng dẫn để biết nên vào tu viện nào.

Lúc đầu, vị linh mục cảm thấy ngạc nhiên, nhưng ngài khuyên chị hãy hoàn toàn tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ an bài mọi sự. Trước mắt, ngài gửi Helen đến ngụ tại nhà một phụ nữ đạo đức cho đến khi vào dòng. Và như thế, Helen bắt đầu tìm cách gia nhập một hội dòng. Tuy nhiên, mọi tu viện chị đến gõ cửa đều khước từ tất cả. Nỗi buồn phiền lại bao chiếm tâm hồn, và Helen thưa lên cùng Chúa Giêsu, “Lạy Chúa, xin giúp con, xin đừng để con bơ vơ” (NK 11-13).

Vào tháng 8 năm 1924, Helen đến gõ cửa tu viện tọa lạc ở số 3/9 phố Zytnia tại Warsaw của dòng Đức Mẹ Nhân Lành. Tuy nhiên, trước khi ra tiếp khách, qua cánh của mở, bà Bề Trên đã nhìn thấy một thiếu nữ với một ngoại hình không chút ấn tượng nào. Khi Helen chưa kip nhìn thấy Bề Trên, thì bà đã trở vào và sai môt nữ tu khác ra bảo Helen hãy về đi.

Về sau, bà Bề Trên kể lại “Vào lúc ấy, tôi chợt nghĩ rằng bảo người ta đi mà không trao đổi ít ra một đôi lời với họ là thiếu đức ái. Theo ơn soi sáng ấy, tôi trở ra và đến gần, tôi phát hiện ra thiếu nữ ấy có một nét rất đặc biệt: một nụ cười hiền hậu, trên khuôn mặt khả ái. Nét đơn sơ và cách phục sức giản dị của thiếu nữ ấy đã thắng được tôi”.

Bế Trên truyền cho Helen đến gặp Chủ Nhà và hỏi Người có muốn tiếp nhận chị không. Helen hiểu ngay là chị phải đến với Chúa Giêsu.

Thánh Nữ đã ghi lại việc này như trong Nhật Ký:

Hết sức vui mừng, tôi lên nhà nguyện và xin Chúa Giêsu, “Thưa Chủ Nhân của nhà này, Chúa có nhận con không?” Một nữ tu ở đây đã dạy con phải thưa với Chúa như vậy.”

Tức thì tôi nghe được lời này: “Cha nhận con ở trong trái tim Cha”. Khi ra khỏi nhà nguyện mẹ Bề Trên liền hỏi “A, Chúa đã nhận rồi phải không?” Tôi thưa vâng ạ” (Mẹ nói) “Nếu Chúa nhận thì tôi cũng nhận” (NK 14).

Helen đã được nhận vào dòng như thế. Mặc dù vậy, vì nhiều lý do khác, chị vẫn còn phải sống ngoài thế gian thêm một năm nữa, nhưng không trở về gia đình cho đến khi trở thành nữ tu Faustina.

Helen gia nhập dòng Các Nữ Tu Đức Mẹ Nhân Lành tại Warsaw vào ngày 1 tháng 8 năm 1925, ngày vọng lễ các Thiên Thần. Helen cảm thấy tràn ngập hạnh phúc. Dường như chị đã bước vào cuộc sống thiên đàng. Một lời kinh chợt phát ra từ tâm hồn chị, một lời kinh tạ ơn.

Tuy nhiên, sau đó ba tuần lễ, chị cảm thấy có ít thời giờ cho việc cầu nguyện. Nhiều vấn đề khác lại xúi dục chị hãy chuyển sang một cộng đoàn nghiêm nghặt hơn. Tư tưởng này bám riết với tâm hồn chị, nhưng đó không phải là thánh ý Chúa. Tuy nhiên, tư tưởng ấy, đúng hơn là cơn cám dỗ, càng ngày càng mãnh liệt đến độ chị quyết định một ngày nào đó sẽ trình với mẹ Bề Trên để xin ra đi.

Nhưng Chúa lại sắp xếp hoàn cảnh khác không cho Helen trình bày được với mẹ Bề Trên. Chị lên nhà nguyện và xin Chúa ban ơn soi sáng về vấn đề này, nhưng chẳng nhận được gì trong linh hồn. Chị trở về phòng riêng, lòng đầy những cay cực và trằn trọc, không biết phải làm gì. Mọi nơi cũng như Nhà Tạm đều vắng lặng như tờ. Sau đó một lúc, một luồng sáng chứa chan trong phòng. Rồi trên bức màn, Helen nhìn thấy thánh nhan Chúa Giêsu ưu phiền. Có những thương tích đang há miệng và hai giọt nước mắt đang nhỏ xuống trên nhan thánh Chúa.

Không hiểu được ý nghĩa của tất cả điều ấy, Helen lên tiếng hỏi Chúa Giêsu:

“Lạy Chúa Giêsu, ai đã làm cho Chúa đau đớn dường ấy?”

Và Chúa phán với chị:

“Chính con gây cho Cha nỗi đau đớn này nếu như con rời bỏ tu viện. Đây là nơi Cha đã gọi con, chứ không phải nơi nào khác; và Cha đã dọn sẵn nhiều ơn thánh cho con. Helen đã nài xin Chúa tha thứ và lập tức thay đổi quyết định của mình (NK 18-19).

Cuối cùng vào ngày 30 tháng 4 năm 1926, Helen được gia nhập tập viện, lãnh tu phục và được nhận tên gọi mới Maria Faustina, tên này về sau được chị thêm mấy chữ “phép Thánh Thể” vào nữa. Trong thời gian hai năm, tập sinh Faustina cho thấy chị rất tha thiết với ơn thiên triệu, và kết quả là được nhận cho khấn tạm lần đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1928.

Cha mẹ của Faustina được đến tham dự nghi lễ và gặp gỡ chị trong dịp khấn dòng. Thấy con rạng rỡ niềm vui, thân phụ đã hỏi chị: “Vậy con không bao giờ cảm thấy chán ở đây à?” Chị đáp lại, “Làm sao có thể chán khi được sống dưới cùng một mái nhà với Chúa?

Trên đường về, thân phụ của chị Faustina nhiều lần cứ lẩm bẩm: “Nó yêu mến Chúa Giêsu quá lắm! Chúng ta phải để cho nó yên. Đó là thánh ý Chúa.”

Vĩnh Thệ và Đời Sống Nội Tâm Phong Phú

Vào ngày mồng 1 tháng năm 1933, nữ tu Faustina phép Thánh Thể đã được tuyên khấn trọn đời. Chị sống trong hội dòng Các Nữ Tu Đức Mẹ Nhân Lành được mười ba năm, đảm nhận các công tác như làm bếp, coi vườn, giữ cổng tại nhiều trụ sở của dòng tại Plock, Vilnius, và Krakow. Trong tất cả các nơi ấy, chị thánh đã trung thành với những tục lệ của cộng đoàn và tận tâm chu toàn các việc phận sự.

Bề ngoài, không có gì cho thấy cuộc sống phong phú nơi nội tâm chị thánh. Chị sốt sắng chu toàn các công tác và trung thành giữ trọn luật dòng. Chị thánh có một cuộc sống tịnh hiệp cao độ, nhưng rất tự nhiên, thanh thản, và có một đức ái vô điều kiện với người chung quanh. Mặc dù bên ngoài, đời sống chị thánh xem ra vô  nghĩa và đơn điệu, nhưng bên trong là một sự kết hiệp ngoại thường với Thiên Chúa. Từ khi còn nhỏ, chị đã ước ao trở nên một vị đại thánh, và với lòng kiên định, chị đã hoàn thành hoài bão này đến mức hiến dâng chính cuộc sống cho các tội nhân.

Những năm sống trong dòng của thánh nữ Faustina tràn đầy những ân huệ ngoại thường: hưởng những lần thị kiến, các dấu thánh kín ẩn, chia sẻ cuộc thương khó của Chúa, hiện diện hai nơi cùng một lúc, đọc được tâm hồn người khác, nói tiên tri, và được đặc ân cao quí là kết ước nhiệm hôn cùng Chúa.

Mối tương giao sống động giữa chị thánh với Thiên Chúa, Đức Mẹ, các thiên thần, các vị thánh, các linh hồn luyện ngục – toàn bộ thế giới vô hình – cũng thực tế như thế giới hữu hình mà chị thánh cảm nhận được qua các giác quan.

Đời sống đạo đức của thánh nữ Faustina chủ yếu tập trung vào việc sùng kính Lòng Thương Xót Chúa. Rõ ràng, nhờ hội dòng đặc biệt của mình, chị thánh đã chuẩn bị đầy đủ cho các công việc sứ mạng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là ngoài nếp sống của dòng, chị thánh còn có một lòng sùng kính ngoại thường với Thánh Tâm Chúa Giêsu và Thánh Thể, bí tích mà qua đó, Lòng Thương Xót Chúa đã đổ chan hòa cho chúng ta.

Chúa đã ủy thác cho chị nữ tu hèn mọn nhưng mạnh mẽ, khiêm nhượng, và tín thác cao độ của Người một sứ mạng đặc biệt:

“Hiện nay Cha sai con đem tình thương của cha đến cho toàn thế giới, Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim lân tuất của Cha (NK 1588).

Dù dưới cái nhìn riêng, hoặc như một phần tử trong nhà dòng, chị thánh vẫn luôn dìm mình trong bầu khí thiêng liêng luôn luôn tràn đầy Lòng Thương Xót Chúa. Vì thế không có gì lạ khi chị thánh tận hiến toàn thân cho Chúa, và chỉ sau một vài năm sống trong dòng, chị đã được Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng nhắc nhớ cho thế giới về Lòng Thương Xót của Người.

Xét trên phương diện nhân loại, dường như thánh nữ Faustina không có đủ chuẩn bị để hoàn thành những mục tiêu Chúa đã tiền định cho chị. Nhưng rõ ràng, Thiên Chúa đã nghĩ cách khác. Bất chấp tất cả, Người đã biến đổi chị Faustina thành nên người Tông Đồ của Lòng Thương Xót Người. Thánh nữ Faustina là chứng nhân sống động của Chúa, công bố Lòng Thương Xót của Chúa bằng ngôn từ và hành động, kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong việc cộng tác cứu độ các linh hồn. Chính vì lý do ấy, Chúa đã muốn chị thánh sống ngày càng khắng khít hơn với Người, thắm thiết đến độ không những nhận biết “chiều dài và chiều sâu” của Lòng Thương Xót Chúa, mà còn hoàn toàn đắm đuối trong đó, để có thể chuyển thông dồi dào Lòng Thương Xót cho các linh hồn.

Chúa đã chuẩn bị chị thánh Faustina cho sứ mạng này một cách tiệm tiến. Bước quan trọng để thực hiện sứ mạng này là việc vẽ bức hình Chúa Thương Xót – theo như mẫu Người đã hiện ra tại Plock. Qua bức hình này, ý nghĩa của sứ mạng ấy trở nên rõ rệt và có nền tảng vững vàng hơn.

Điểm cốt yếu trong các lời dạy của Đấng Cứu Độ Thương Xót là việc cứu các linh hồn. Chúa Giêsu mặc khải Lòng Thương Xót của Người cho thánh nữ Faustina dưới ánh sáng của những góc nhìn luôn luôn mới mẻ, trong khi ngày càng kiên quyết yêu sách chị thánh phải hoàn toàn hiến thân.

Ý thức về sự hiện diện của Chúa và cuộc sống trong Người ngày càng trở nên hiển nhiên hơn – thấm nhuần mọi tư tưởng và tâm trí của thánh Faustina, một tâm trí giờ đây đã đựợc tràn đầy tình yêu và lòng khát khao Thiên Chúa Ba Ngôi, cùng với niềm ước vọng ngây thơ được gieo mình vào cuộc sống huyền nhiệm sâu thẳm của Người.

Chúa Giêsu muốn thánh nữ Faustina hãy làm thấm nhuần cuộc sống hàng ngày của chị bằng tinh thần Lòng Thương Xót. Nhưng đó mới là điểm khởi đầu. Điểm chính yếu của giáo huấn của Chúa là biến đổi thánh nữ Faustina nên một của lễ vĩnh viễn để phạt tạ tội lỗi của tất cả những người thân của chị thánh, kể cả những người gây nên những đớn đau tê tái nhất cho chị. Thánh nữ Maria Faustina phép Thánh Thể đã viết trong Nhật Ký của chị:

Một lần kia, trong giờ chầu, Chúa yêu cầu tôi hãy hiến thân cho Người như một của lễ bằng cách chịu đựng đau khổ để đền bồi tội lỗi của thế giới nói chung, mà còn vì những xúc phạm cụ thể trong nhà này. Tôi liền thưa: “Vâng được; con xin sẵn sàng.” Bấy giờ Chúa Giêsu cho tôi nhìn thấy những gì tôi sắp sửa chịu, và trong một giây phút, tất cả những sự đau khổ hiện lên trước mắt tôi. Lúc đầu những ý hướng của tôi, không được người ta chấp nhận; rồi sẽ có đủ thứ nghi nan, ngờ vực, xỉ nhục và chống đối. Tôi không sao kể hết ra được. Mọi thứ này lù lù trước mắt tôi như một cơn dông đen ngòm, sấm chớp sẵn sàng dáng xuống bất cứ lúc nào, chỉ còn chờ sự đồng thuận của tôi. Bản tính tự nhiên của tôi run giùng khiếp hãi một lúc. Thế rồi, chuông báo bữa tối vang lên. Tôi rời nhà nguyện vẫn còn lẩy bẩy và thiếu dứt khoát. Những hy sinh ấy vẫn luôn ở trước mắt tôi, vì tôi chưa quyết định đón nhận mà cũng chưa từ chối với Chúa. Tôi muốn đặt mình hoàn toàn trong thánh ý Chúa. Nếu Chúa Giêsu đích thân trao hy sinh ấy cho tôi, tôi sẵn sàng đón nhận. Nhưng Chúa Giêsu cho tôi biết chính tôi phải đồng ý một cách tự do và chấp nhận một cách ý thức, còn không, hy sinh ấy sẽ trở nên vô nghĩa. Toàn bộ hiệu năng của hy sinh ấy được gồm chứa trong hành vi tự do của tôi trước mặt Chúa. Nhưng đồng thời, Chúa Giêsu cũng cho tôi hiểu sự quyết định hoàn toàn trong năng lực của tôi. Tôi có thể chấp thuận hay không chấp nhận hy sinh ấy. Bấy giờ, tôi liền thưa: “Lạy Chúa Giêsu, con chấp nhận mọi sự Chúa muốn gửi đến cho con; con tín thác vào lòng nhân lành của Chúa.” Lúc đó, tôi cảm thấy mình đã tôn vinh Thiên Chúa rất nhiều nhờ hành vi này. Nhưng tôi cũng trang bị cho mình lòng nhẫn nại. Ngay khi vừa rời nhà nguyện, tôi đã phải đối đầu với thực tế (NK 190).

Trường Học Của Chúa Giêsu

Học trong trường của Chúa Giêsu không phải là điều dễ dàng. Chúa tỏ mình đến mức  khôn lường. Tuy nhiên, Chúa đồng thời cũng yêu sách các linh hồn ưu tuyển phải nỗ lực tối đa. Toàn bộ chương trình của Chúa tập trung quanh những đau khổ. Chúa Giêsu truyền cho thánh nữ Faustina không những hãy đón nhận, mà còn phải tìm kiếm đau khổ như nhiên liệu cần thiết để được biến đổi lên vàng ròng trước thánh nhan Thiên Chúa.

Hiến mình cho Thiên Chúa để làm của lễ đền bồi tội lỗi các tội nhân đã là điều khó. Vậy mà linh hồn ấy còn muốn nâng đỡ các tội nhân bằng cách chấp nhận những gánh nặng tinh thần và tâm lý đang hành hạ các tội nhân để giúp họ khỏi ngã lòng – linh hồn của lễ ấy đón nhận đau khổ như bạn đồng hành của mình. Trên phương diện thể lý hay tinh thần, linh hồn ấy phải luôn sẵn sàng để không khước từ, đúng hơn là tự mình chấp nhận để biến đổi đau khổ thành của lễ đền bồi đẹp lòng Thiên Chúa. Đáng chú ý là những nỗ lực của một linh hồn như thế đã được tưởng thưởng bằng niềm hoan lạc thiêng liêng. Chúa Giêsu không che dấu niềm vui của Người, cũng không dè sẻn những lời khích lệ dành cho các môn đệ. Theo lời thánh Faustina. Chúa Giêsu đã cho chị thánh biết những lời kinh phạt tạ rất đẹp lòng Người. Chúa phán với thánh nữ Faustina:

Lời kinh của một linh hồn khiêm nhượng và yêu mến, làm giãn được cơn nghĩa nộ của Chúa Cha và kéo xuống cả một đại dương ân phúc (NK 320).

Vào một dịp khác thánh nữ Faustina đã ghi lại trong cuốn Nhật Ký:

Trong giờ thánh lễ, tôi được hiểu biết về Trái Tim Người, bản chất ngọn lửa lân ái của Người hàng rạo rực yêu thương chúng ta và Người chính là một đại dương đầy nhân từ lân tuất. Sau đó tôi nghe được lời này:

“Hỡi tông đồ Lòng Thương Xót của Cha, con hãy công bố cho toàn thế giới về Lòng Thương Xót khôn dò của Cha. Đừng chán ngại trước những khó khăn con phải đương đầu khi rao truyền tình thương của Cha. Những khó khăn này tuy làm con đau khổ, nhưng hết sức cần thiết cho việc nên thánh của con và là bằng chứng cho thấy công cuộc này là của Cha. Ái nữ của Cha ơi, con hãy tỉ mỉ ghi lại từng câu Cha dạy cho con về lòng nhân lành của Cha, bởi vì nhờ đó rất nhiều linh hồn sẽ được hưởng nhờ lợi ích” (NK 1142).

Vào một dịp khác, Chúa Giêsu phán với chị thánh:

“Trong Cựu Ước, Cha đã sai các tiên tri mang những cơn thịnh nộ đến với dân Cha. Còn hiện nay, Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới. Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương, vào Trái Tim lân tuất của Cha. Cha chỉ sử dụng hình phạt khi chính họ ép buộc Cha phải làm như vậy; tay Cha rất miễn cưỡng khi phải cầm thanh gươm công thẳng. Trước Ngày Công Thẳng, Cha gửi đến ngày Xót Thương” (NK 1588).

Hởi ái nữ của Cha, con hãy nói cho các linh mục về Lòng Thương Xót khôn lường của Cha. Những ngọn lửa thương xót đang bừng cháy trong Cha kêu gào được phung phát; Cha muốn trào đổ mãi cho các tâm hồn; trái lại, các linh hồn lại không muốn tin vào lòng nhân lành của Cha (NK 177).

Ái nữ của Cha ơi, nếu Cha muốn qua con mà đòi mọi người tôn sùng Lòng Thương Xót của Cha, thì con phải là người trước tiên trổi vượt trong niềm tin tưởng vào lòng thương xót ấy. Cha đòi hỏi con những hành vi nhân ái được thực hiện và yêu mến Cha. Ở mọi nơi trong mọi lúc, con hãy tỏ lòng nhân ái với người lân cận. Con không được thoái thác, kiếm cớ chữa mình hay tự miễn cho mình điều ấy.

Cha ban cho con ba phương thế để sống nhân ái với người chung quanh: thứ nhất – bằng hành vi, thứ hai – bằng ngôn từ, thứ ba – bằng cầu nguyện. trong ba cấp độ này hàm chứa lòng nhân ái sung mãn và bằng chứng không thể nghi ngờ về tình yêu dành cho Cha. Bằng cách này, một linh hồn sẽ tôn vinh và sùng kính Lòng Thương Xot Cha (NK 742).

Vào tháng 5 năm 1935 thánh nữ Faustina đã viết trong Nhật Ký:

Khi ý thức những chương trình vĩ đại Thiên Chúa dành cho tôi, tôi kinh hãi trước tầm mứn lớn lao và cảm thấy hoàn toàn bất lực trước những chương trình ấy. Tôi bắt đầy trốn tránh các cuộc chuyện vãn nội tâm với Chúa, bằng cách nhồi nhét cho kín thời giờ bằng những lời khẩu nguyện. Tôi làm điều đó chỉ vì khiêm nhượng, nhưng tôi nhận ra ngay đó không phải là khiêm nhượng thật, đúng hơn là một cám dỗ do thần dữ. Vào một dịp kia, thay vì tâm nguyện, tôi đã đọc sách thiêng liêng, và trong linh hồn đã nghe những lời này một cách rõ ràng và mạnh mẽ:

“Con hãy sửa soạn thế giới cho lần đến sau cùng của Cha”.

Những lời này đánh động tôi thật sâu xa, và mặc dù giả vờ như không nghe thấy, nhưng tôi hiểu rất rõ ràng và không còn nghi ngờ gì nữa về những lời ấy. Một lần kia, vì quá mệt nhọc trong cuộc chiến tình yêu với Thiên Chúa và cứ phải thường xuyên thoái thác, viện cớ không đủ sức lực thực hiện công việc, tôi muốn ra khỏi nhà nguyện, nhưng một sức mạnh đã giữ tôi lại và tôi thấy mình bất lực. Khi ấy, tôi được nghe những lời này: Con muốn rời nhà nguyện, nhưng con sẽ không rời Cha được, vì Cha ở khắp nơi. Con không tự mình làm được việc gì, nhưng với Cha, con có thể làm được mọi sự (NK 429).

Loan Báo Lòng Thương Xót Chúa.

Sứ mạng của thánh nữ Maria Faustina phép Thánh Thể là loan báo thánh ý của Thiên Chúa, là công bố cho toàn thế giới biết về Lòng Thương Xót của Người. Một lần kia, Chúa Giêsu đã phán với thánh nữ:

“Hỡi thư ký của Lòng Thương Xót vô cùng thẳm sâu của Cha, con hãy biết rằng con có một nghĩa tình cá biệt với Cha. Công việc của con là ghi chép tất cả những điều Cha đã tỏ ra về Lòng Thương Xót của Cha, ngõ hầu những ai đọc những điều này thì được an ủi trong linh hồn và có can đảm đến cùng Cha. Vì vậy Cha muốn con hãy dành tất cả thời giờ cho việc ghi chép” (1693).

Thư ký của Cha, con hãy viết rằng: Cha rộng lượng với các tội nhân hơn với người công chính. Vì họ, Cha đã từ trời xuống thế; vì họ Cha đã đổ máu ra. Chớ gì họ đừng sợ hãi khi đến gần Cha; họ rất cần đến Lòng Thương Xót của Cha (1275).

Quyển Nhật Ký của thánh nữ Faustina là một bản tường thuật sâu sắc về những cao quang và những thử thách của một tâm hồn. Đó là bằng chứng của một đức tin kiên cường không lay chuyển. Nhưng trên hết, đó là bằng chứng về một niềm tín thác trọn vẹn vào Lòng Thương Xót vô cùng của Thiên Chúa.

Phân tích quyển Nhật Ký trên phương diện thần học, chúng ta có thể tóm lược sứ mạng của thánh nữ Maria Faustina phép Thánh Thể vào 3 chủ điểm:

  1. Nhắc nhở cho thế giới nhớ lại chân lý đức tin về tình yêu thương xót của Thiên Chúa dành cho mỗi người, như đã được mặc khải trong Thánh Kinh.
  2. Khẩn nài Lòng Thương Xót của Chúa cho toàn thế giới, cách riêng cho các tội nhân, bằng việc thực hiện một số hình thức sùng kính Lòng Thương Xót Chúa như đã được chính Chúa Giêsu đã tỏ ra. Những hình thức này gồm việc tôn kính bức hình Chúa Thương Xót với hàng chữ “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa”, cử hành đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa, vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh; đọc chuỗi kinh Thương Xót; và cầu nguyện vào giờ thương xót vô biên ( 3 giờ chiều. Chúa Giêsu đã ban những lời hứa trọng đại cho các hình thức sùng kính ấy – miễn là chúng ta phải phó thác đời sống cho Thiên Chúa và tích cực thi hành bác ái cho tha nhân.
  3. Khởi xướng phong trào Lòng Thương Xót Chúa, với nhiệm vụ loan truyền và khẩn nài Lòng Thương Xót Chúa cho thế giới, đồng thời gắng đạt đến sự toàn thiện, theo những điều thánh nữ Faustina đã đặt ra. Những điều này đòi các tín hữu phải có một thái độ thơ thảo tín thác nơi Thiên Chúa, thể hiện qua việc chu toàn thánh ý Người và thái độ sống nhân ái với người chung quanh. Ngày nay, hàng triệu người khắp thế giới đang dấn thân vào phong trào Giáo Hội này: gồm các dòng tu, các tu hội đời, các tu sĩ, các đoàn hội, các tổ chức, các cộng đoàn tông đồ Lòng Thương Xót Chúa, cũng như các cá nhân đả trách những công việc mà Chúa Giêsu đã phán dạy qua thánh nữ Faustina.

Những lời Chúa Giêsu phán sau đây đã minh định nhiệm vụ tông đồ của thánh nữ Faustina:

“Hỡi ái nữ của Cha, con hãy cho cha các linh hồn. Con hãy biết sứ mạng của con là cho Cha các linh hồn bằng lời cầu nguyện và hy sinh. Khuyến giục họ tín thác vào Lòng Thương Xót của Cha (NK 1690).

Bị kiệt quệ vì bịnh tật và những đau khổ khôn xiết mà chị đã tự nguyện đón nhận như một lễ hy sinh vì các tội nhân. Nữ tu Maria phép Thánh Thể đã từ trần vào ngày mồng 5 tháng 10 năm 1838, tại thành phố Krakow, nước Ba Lan khi mới 33 tuổi đời. Danh tiếng về mức trưởng thành thiêng liêng và kết hợp thần bí với Thiên Chúa của chi đã được công nhận rộng rãi.

Mặc dù chỉ có một học vấn rất giới hạn, nhưng người nư tu hèn mọn này được giáo dục trong trường học của Thày Chí thánh. Chị đã để lại cho chúng ta một cuốn nhật ký (đã được dịch ra nhiều thứ tiếng), khơi lên một nguồn hoan lạc và là trường dạy về đời sống thánh cho hàng ngàn tín hữu nam nữ. Từ quyển Nhật Ký này, người đọc có thể tìm thấy những con đường đưa họ đến với Chúa và học biết để sống tín thác và nhân ái.

Tiến Trình Phong Thánh.

Cùng với việc sùng kính Lòng Thương Xót Chúa, danh tiếng về sự thánh thiện của nữ tu Faustina cũng đã được loan truyền trong thế kỷ XX. Sau đây là một vài cột mốc của thập niên cuối cùng trong thế kỷ ấy. Những cột mốc ấy dẫn đến cao đỉểm là cuộc tôn phong hiển thánh cho nữ tu Maria Faustina phép Thánh Thể và việc thiết lập lễ tôn kính Lòng Thương Xót Chúa trong toàn thể Giáo Hội vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh.

Vào ngày 18 tháng 4 năm 1993, tại quảng trường thành Phêrô ở Rôma, Đức Gioan Phaolô II đã tôn phong nữ tu Faustina Kowalska lên hàng chân phước. Bghi lễ này diễn ra vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh, hợp với ước nguyện của Chúa Giêsu đã tỏ ra cho nữ tu Faustina, muốn cử hành lễ kính Lòng Thương Xót Người vào ngày ấy. Nữ tu Faustina đã được tôn phong lên hàng chân phước nhờ Đức Gioan Phaolô II, người mà nhiều năm trước đó, khi còn là Tổng Giám Mục Giáo Phận Krakow, đã khở sự tiến trình cấp Tổng Giáo Phận để đưa đến vụ phong thánh cho chị.

Trong bài giảng hôm ấy, Đức Thánh Cha nói:

“Nữ tu Faustina, tôi chào kính chị. Bắt đầu từ hôm nay, Giáo Hội gọi chị là chân phước. Ôi chị Faustina, đời sống của chị phi thường biết bao! Chính chị là người con gái khó nghèo của dân tộc Ba Lan, đã được Chúa Giêsu ưu tuyển để nhắc nhở cho mọi người về mầu nhiệm cao vời Lòng Thương Xót Chúa! Chị đã mang mầu nhiệm ấy trong mình, và lìa bỏ thế gian này sau một cuộc đời ngắn ngủi, nhưng đầy những khổ đau. Tuy nhiên, màu nhiệm ấy đồng thời đã trở nên một lời nhắc nhở tiên tri cho thế giới và cho Âu Châu. Sứ điệp Lòng Thương Xót Chúa đã xuất hịện gần sát với ngày Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ.

Chắc chắn chị đã phải kinh ngạc nếu như chị được cảm nghiệm ngay trên trần gian náyứ điệp ấy có ý nghĩa như thế nào đối với những con người đau khổ trong giờ phút tang thương ấy, và nó đã lan truyền khắp thế giới như thế nào. Hôm nay, chúng tôi thực sự tin rằng chị đang nhìn thấy trong Thiên Chúa những thành quả trên trần gian của chị. Hôm nay, chị được nghiệm cảm điều ấy ngay từ nguồn mạch, đó là Chúa Kitô của chị, “Đấng Giàu Lòng Thương Xót”.

Nữ tu Faustina đã viết trong Nhật Ký của chị, “Tôi cảm thấy sứ mạng của tôi sẽ không chấm dứt sau cái chết của tôi, nhưng đó sẽ là khởi đầu (NK 281. Và quả thật đúng như thế! Sứ mạng của chị vẫn tiếp tục và đang sinh hoa kết quả lạ lùng. Thật sự lạ lùng vì lòng sùng kính của chị đối với Chúa Giêsu nhân lành đang loan truyền khắp thế giới đương đại và đem về rất nhiều linh hồn! Hiển nhiên đây là một dấu chỉ của thời đại- Một dấu chỉ của thế kỷ XX của chúng ta. Sự quân bình của thế kỷ này giờ đây đang chấm dứt, ngoài những tiến bộ thường vượt xa những tiến bộ của các thời đại trước, còn cho thấy một nỗi ưu tư sâu sắc và sợ hãi về tương lai. Thế giới có thể tìm được nơi nương ẩn, nếu không phải là nơi Lòng Thương Xót Chúa! Các tín hữu đã quá hiểu điều ấy.”

Khi suy tư về những lời của Đức Thánh Cha ở đây, điều đáng lưu ý là sứ mạng của thánh nữ Faustina có một nền tảng sâu xa trong Thánh Kinh và các văn kiện Giáo Hội. Nó cũng hoàn toàn phù hợp với tông thư Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót (Dives in misericordia) của chính Đức Gioan Phaolô II.

Trong quyển Nhật Ký đã được Đức Thánh Cha trích dẫn, thánh nữ Faustina đã trình bày những kinh nghiệm thần bí của ngài với Chúa Giêsu một cách đơn giản. Việc thánh nữ đã vương đến những tầm cao trong đời sống thần hiệp cho chúng ta một tấm gương sáng ngời về một con đường tiến đến sự trọn lành. Và đối với các linh hồn được lôi cuốn đến với màu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa và mơ ước về một thế giới hạnh phúc hơn, thì sứ mạng tông đồ của chị thánh là một mô phạm. Vì vậy một số thần học gia đã liệt thánh nữ Faustina vào số những nhà thần bí vĩ đại.

Bức hình Chúa Thương Xót và con người của thánh nữ Faustina là một chứng từ hùng hồn về điều các thần học gia gọi là sự hạ mình của Thiên Chúa – Thiên Chúa đã tỏ mình cho nhân loại như đã được xác nhận trong Thánh Kinh, nhất là trong Phúc Âm.

Sau đó, đến ngày 23 tháng 4 năm 1995, chính Đức Gioan Phaolô II lại đích thân cử hành thánh lễ Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa và gửi đến tất cả chúng ta sứ mạng sau đây: “Anh chị em hãy tín thác vào Thiên Chúa. Hãy trở nên tông đồ của Lòng Thương Xót Chúa. Đáp ứng theo lời mời gọi và gương sáng của chân phước Faustina, hãy chăm sóc cho những người đau khổ xác hồn. Hãy giúp cho mọi người cảm nghiệm được tình yêu thương xót của Chúa, tình yêu ủi an và làm cho chúng ta được chan chứa niềm vui.”

Bốn năm sau, vào ngày 11 tháng 4 năm 1999, nhân dịp năm dâng kính Chúa Cha, Đức Gioan Phaolô II đã chúc mừng 50.000 tín hữu từ khắp thế giới tụ về quảng trường thành Phêrô tại Roma, để cử hành lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Đó là Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa được cử hành lần đầu tiên tại quảng trường thành Phêrô. Đức Thánh Cha tỏ ra rất hài lòng về việc sùng kính Lòng Thương Xót Chúa của các tín hữu hiện diện và một lần nữa Ngài lên tiếng: “Quả thật, Tôi tha thiết kêu gọi anh chị em hãy trở nên những tông đồ của Lòng Thương Xót Chúa, như chân phước Faustina Kowalska, trong đời sống thường nhật và tại những nơi làm việc của anh chị em.”

Cuối cùng, vào Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa, ngày 30 tháng 4 năm 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã long trọng tôn phong nữ tu Maria Faustina lên bậc hiển thánh. Chị là đấng thánh đầu tiên của năm thánh Cứu Độ. Trong một lời công bố đầy ngạc nhiên, Đức Thánh Cha đã ấn định Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh là Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa trong toàn Giáo Hội hoàn vũ.

Vị Thánh Được Báo Trước.

Khi nữ tu Faustina được tôn phong hiển thánh, người ta mới chú ý đến giấc mơ mà chính chị thánh đã ghi lại trong thời gian đầu cuộc sống tu trì của chị; thị kiến mang ý nghĩa tiên tri thực sự về vị thánh tương lai ấy đáng được trích lại nguyên vẹn ở đây.

Tôi muốn ghi lại ở đây một giấc mơ của tôi về thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Khi còn trong thời gian nhà tập, lúc gặp phải một số khó khăn mà tôi không biết làm cấch nào để vượt qua. Đó những khó khăn nội tâm nhưng lại liên quan đến các gian nan bên ngoài. Tôi làm tuần cửu nhật kính các vị thánh, nhưng tình hình mỗi lúc một khó khăn hơn. Những đau khổ làm tôi tan nát đến độ làm thế nào để sống còn, nhưng bỗng nhiên tôi lóe lên một tư tưởng là cầu nguyện với thanh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Tôi bắt đầu một tuần cửu nhật kính thánh nữ, bởi vì trước khi vào dòng, tôi đã có lòng sùng kính ngài đặc biệt. Sau đó, tôi có phần thờ ơ với lòng sùng kính này, nhưng vì có nhu cầu, tôi lại bắt đầu cầu nguyện với ngài một cách sốt sắng. Đến ngày thứ năm trong tuần cửu nhật, tôi chiêm bao gặp được thánh nữ Têrêxa như thể ngài còn sống trên trần gian. Chị thánh giấu không cho tôi biết ngài là một vị thánh và lên tiếng an ủi, bảo tôi đừng lo âu về vấn đề này, nhưng hãy tín thác vào Thiên Chúa. Thánh nữ nói: “Chị cũng đã chịu đau khổ nhiều.” Nhưng tôi không hết lòng tin tưởng vào thánh nữ và đáp lại, “Hình như em thấy chị đau khổ gì đâu.” Nhưng thánh nữ Têrêxa xác quyết chắc chắn rằng chị thánh đã trải qua rất nhiều đau khổ, “Này em, em hãy biết rằng ba ngày nữa, sự khó sẽ đến hồi kết cuộc hạnh phúc.” Vì tôi chưa sẵn lòng tin tưởng, thánh nữ mới tỏ ra cho tôi biết ngài là một vị thánh. Lúc ấy niềm vui lớn lao tràn ngập linh hồn tôi, và tôi nói với chị thánh, “Chị là một vị thánh à? Thánh nữ đáp: “Đúng vậy, Chị là một vị thánh. Em hãy tin rằng vấn đề này rồi sẽ được giải quyết trong ba ngày nữa.” Và tôi nói: “Chị Têrêxa đáng yêu ơi, chị hãy cho em biết em có được lên thiên đàng không?” Thánh nữ đáp: “Có, em sẽ được lên thiên đàng.” “Em có trở thành một vị thánh không?” Thánh nữ lại đáp, “Có, em sẽ trở thành một vị thánh.” “Nhưng này chị Têrêxa nhỏ ơi, em có sẽ trở thành một vị thánh được nâng lên bàn thờ như chị không?” Chị thánh trả lời: “Có, em cũng sẽ là một vị thánh giống như chị, nhưng em phải tín thác vào Chúa Giêsu.”

Đây là một giấc mơ. Và như châm ngôn Ba Lan nói, những giấc mơ là những ảo ảnh; Thiên Chúa là đức tin. Tuy nhiên, ba ngày sau, sự khó đã được giải quyết một cách xuôi xắn như thánh nữ đã tuyên báo. Và mọi chuyện trong việc này xảy ra đúng như những gì thánh nữ đã nói trước. Tuy là một giấc mơ, nhưng là một giấc mơ có ý nghĩa (NK 150).

Thánh, nữ tu Faustina đã trân trọng danh xưng đó biết bao! Những đoạn khác trong quyển nhật ký chứng minh điều này: Con mong ước sẽ ra khỏi tuần tĩnh tâm này như một vị thánh, mặ dù mắt nhân loại không nhận ra điều này, kể cả các bề trên của con. Con buông mình hoàn toàn cho tác động của ân sủng Chúa. Lạy Chúa, nguyện thánh ý Chúa được thể hiện trọn vẹn nơi con (NK 1326).

Sự thinh lặng sâu thẳm bao phủ linh hồn tôi. Không có một áng mây nào che khuất mặt trời khỏi tôi. Tôi tắm mình trong áng sáng mặt trời để tình yêu Thiên Chúa có thể thực hiện việc biến đổi tôi hoàn toàn. Tôi muốn ra khỏi tuần tĩnh tâm này như một vị thánh, bát chấp tất cả; nghĩa là bất chấp tình trạng xấu xa của bản thân, tôi vẫn mong muốn trở thành một vị thánh, và tin vào Lòng Thương Xót Chúa có thể tác thành từ một kẻ khốn cùng như tôi, bởi vì tôi hoàn toàn có thiện chí. Trước tất cả các thất bại tôi vẫn muốn tiếp tục chiến đấu như một linh hồn lành thánh và sống như như một linh hồn lành thánh. Tôi không thất đảm bất cứ điều gì, như thể không có gì có thể làm thất đảm một linh hồn thánh thiện.

Con muốn sống và chết như một linh hồn thánh thiện, với ánh mắt luôn cắm chặt vào Chúa, lạy Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá, mẫu gương các hành động của con. Con thường nhìn quanh để kiếm tìm các tấm gương, nhưng không tìm được gì thỏa đáng, và con nhận ra sự thánh thiện của con dường như chao đảo. Nhưng từ nay về sau, mắt con sẽ cắm chặt vào Chúa, lạy Chúa Kitô, Đấng hướng đạo toàn thiện của con. Con tin tưởng Chúa sẽ chúc lành cho các nỗ lực của con (NK 1333).

Cuộc Tâm Sự

Giữa Thiên Chúa Nhân Lành

Với Một Linh Hồn Đau Khổ.

Đoạn trích sau đây từ Nhật Ký của thánh nữ Faustina sẽ cho ta thấy những đau khổ của chị, và có sức thôi thúc chúng ta noi gương chị trong việc chấp nhận đau khổ và nhìn nhận giá trị cứu độ của nó.

Chúa Giêsu: Hỡi Linh hồn đáng thương, Cha thấy con chịu lắm tân toan và thậm chí không có đủ sức để thưa chuyện với Cha. Thế thì Cha bắt chuyện với con vậy. Cho dù những đau khổ của con có lớn lao đi nữa, con cũng đừng nản lòng hoặc đầu hàng sự tuyệt vọng. Hỡi con nhỏ của Cha, hãy nói cho Cha biết ai đã giám gây thương tích cho trái tim con? Con hãy kể mọi sự chân tình với Cha và tỏ bày cho Cha tất cả những thương tích của trái tim con. Cha sẽ chữa lành, và đau khổ của con sẽ trở nên mạch nguồn thánh hóa cho con.

Linh Hồn: Lạy Chúa, những đau khổ của con quá lớn, quá nhiều, và quá lâu làm con phải ngã lòng.

Chúa Giêsu: Hỡi con nhỏ của Cha, con đừng nản chí. Cha biết niềm tín thác vô hạn con trao đặt nơi cha; Cha biết con ý thức về lòng nhân lành và tình thương xót của Cha. Vậy Cha con mình hãy hàn huyên cho hết những gì đang đè nặng trái tim con.

Linh Hồn: Có đủ thứ đủ chuyện nên con không biết phải nói điều nào và phải trình bày như thế nào.

Chúa Giêsu: Con hãy nói cho thật đơn giản như chỗ bạn bè với nhau. Hỡi con, bây giờ con hãy kể cho Cha biết điều gì cản trở con tiến bước trên đường trọn lành?

Linh Hồn: Sức khỏe yếu nhược đã kiềm hãm con trên đường trọn lành. Con không thể chu toàn các phận sự. Con vô dụng như một bánh xe thừa thãi trên một cỗ xe. Con không ham mình và giữ chay được đến mức các thánh đã làm. Lại nữa, không ai tin là con bệnh tật, thành ra nỗi đau tinh thần làm trầm thống thêm nỗi đau thể xác, và con thường xuyên phải chịu nhục nhã. Lạy Chúa Giêsu, làm sao ai lại có thể nên thánh trong những hoàn cảnh như thế?

Chúa Giêsu: Con nhỏ của Cha ơi, đúng thế, tất cả điều ấy đều là đau khổ. Nhưng đâu còn con đường nào khác dẫn lên trời ngoài con đường thánh giá. Cha là người thứ nhất đã đi con đường ấy. Con phải biết đó là con dường ngắn nhất và bảo đảm nhất.

Linh Hồn: Lạy Chúa, trên con đường nên thánh cũng còn một ngãng trở khác. Vì trung thành với Chúa mà con cam chịu bách hại và đau khổ rất nhiều.

Chúa Giêsu: Chính vì con không thuộc về thế gian nên thế gian mới ghét bỏ con. Trước tiên, thế gian đã bách hại Cha. Bách hại là dấu hiệu minh chứng con đang trung thành theo bước Cha.

Linh Hồn: Lạy Chúa, con còn chán nản vì các bề trên và cha giải tội của con cũng không cảm thông những thử thách nội tâm của con. Một đám mây mù bao phủ tâm trí con. Làm sao con có thể tiến bước? Tất cả điều ấy làm con nản chí và chẳng còn muốn vươn đến những đỉnh cao trọn lành nữa.

Chúa Giêsu: Được, con ơi, lần này con đã tâm sự khá nhiều với Cha. Cha biết rằng không được cảm thông cũng là một nỗi đớn đau, nhất là những người mà ta yêu mến và cởi mở thật nhiều. Nhưng con hãy biết, tất cả những phiền sầu và khốn cùng của con được Cha cảm thông là đủ lắm rồi. Cha hài lòng với niềm tin tưởng vững vàng của con, dù thế nào cũng vẫn tin tưởng vào các vị đại diện của Cha. Từ đó, con hãy biết rằng không ai có thể cảm thông hoàn toàn cho một linh hồn – vì điều ấy vượt quá khả năng nhân loại. Vì vậy, Cha vẫn còn trên trần gian để ủi an trái tim nhức nhối của con và bổ sức cho linh hồn con, để con khỏi phải lao đao trên đường. Con nói có một bóng đen tăm tối dầy đặc đang phủ lấp tâm trí con. Nhưng trong những lúc ấy, sao con không đến với Cha là nguồn sáng, trong một giây phút có thể chiếu giãi vào linh hồn con tri thức thánh thiện nhiều hơn trong bất kỳ sách vở nào? Không cha giải tội nào có thể dạy dỗ và chỉ dẫn cho một linh hồn được như thế.

Con cũng nên biết cảnh tăm tối mà con than phiền ấy chính Cha là người trước tiên đã chịu trong vườn Cây Dầu, giữa lúc linh hồn Cha bị nghiền nát trong nỗi thảm sầu đến chết. Cha cho con chia sẻ một phần những đau khổ ấy vì ân tình đặc biệt Cha dành cho con và vì mức độ thánh thiện cao vời Cha muốn ban cho con trên thiên đàng. Linh hồn đau khổ là linh hồn gần gũi với Trái Tim Cha nhất (NK 1487).

Bài Giảng Của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

Trong Lễ Tôn Phong Hiển Thánh Cho Nữ Tu Faustina.

Vào ngày 30 tháng 4 năm 2000, trong thánh lễ tôn phong hiển thánh cho Nữ Tu Faustina, Đức Thánh Cha đã tuyên bố trong bài giảng của ngài:

‘Hãy cảm tạ Thiên Chúa, vì Người nhân lành, vì ơn Người miên man vạn đại (Tv 118:1).

(…) Lòng Thương Xót Chúa đến với nhân loại qua Thánh Tâm của Chúa Giêsu tử giá:

Hỡi ái nữ của cha, con hãy nói với mọi người rằng Cha là Toàn Yêu và Toàn Thương (NK 1047).

Chúa Kitô đã trao đổ Lòng Thương Xót ấy qua việc sai phái Ngôi Thánh Thần trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Ngôi vị tình yêu, đến với nhân loại. Và phải chăng thương xót không phải là danh hiệu thứ hai của tình yêu (tông thư Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót 7), được hiểu trên phương diện sâu xa và ngọt ngào nhất, trong khả năng đảm đương gánh nặng của mọi nhu cầu, và nhất là trong năng lực vĩ đại để ban ơn tha thứ hay sao?

Hôm nay, niềm vui của tôi thật sự lớn lao khi được trình bày cuộc sống và chứng từ của nữ tu Faustina Kolwalska cho toàn Giáo Hội như một quà tặng Thiên Chúa dành cho thời đại chúng ta. Nhờ Thiên Chúa quan phòng, cuộc sống người thiếu nữ hèn mọn của đất nước Ba Lan đã được liên kết mật thiết với lịch sử của thế kỷ XX, thế kỷ chúng ta vừa bỏ lại phía sau. Thực vậy, vào thời giữa hai cuộc Thế Chiến I và II. Chúa Kitô đã ủy thác sứ điệp Lòng thương Xót của Người cho chị nữ tu này. Những ai còn nhớ – những người đã chứng kiến và tham dự vào các biến cố của những năm tháng ấy và những đau khổ kinh hoàng mà hai cuộc thế chiến đã gây ra cho hàng triệu con người – đều quá biết rằng sứ điệp Lòng Thương Xót khẩn thiết như thế nào. Chúa Giêsu đã phán với nữ tu Faustina rằng:

Nhân loại sẽ không được bình an cho đến khi nào quay về với Lòng Thương Xót của Cha với niềm tín thác (NK 300).

Nhờ công việc của người nữ tu Ba Lan ấy, sứ điệp này đã mãi mãi được gắn liền với thế kỷ XX, thế kỷ sau cùng của thiên niên kỷ II và cầu nối sang niên kỷ thứ III. Đó không phải là sứ điệp mới mẻ, nhưng có thể được coi như một ân huệ soi sáng đặc biệt giúp chúng ta sống Phúc Âm Phục Sinh một cách mãnh liệt hơn, trình bày Phúc Âm ấy như một tia sáng cho những con người, nam cũng như nữ, trong thời đại của chúng ta.

Những năm tháng trước mắt sẽ mang lại những gì cho chúng ta? Tương lai nhân loại trên thế giới này sẽ ra sao? Chúng ta không được tỏ cho biết. Tuy nhiên, điều không may là, ngoài những tiến bộ tân kỳ, chắc chắn sẽ không thiếu những kinh nghiệm đau đớn. Nhưng ánh sáng Lòng Thương Xót Chúa, ánh sáng Chúa đã muốn đem đến cho thế giới qua đặc sủng nữ tu Faustina sẽ soi chiếu con đường cho những con người nam nữ của thiên niên kỷ thứ III.

Tuy nhiên, như các Tông Đồ xưa, nhân loại ngày nay cũng phải đón tiếp Chúa Kitô Phục Sinh vào gian phòng Tiệc Ly của lịch sử, Chúa sẽ tỏ ra những thương tích thập gía của người và phán: Bình an cho các con! Nhân loại phải sẵn lòng để mình được Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho họ, đánh động và bao chiếm. Chính Chúa Thánh Thần, Đấng chữa lành các vết thương tâm hồn, sẽ phá tan những chướng ngại ngăn cản chúng ta với Thiên Chúa và chia rẽ chúng ta với nhau, đồng thời sẽ phục hồi niềm tin của tình yêu Thiên Chúa Cha và sự hiệp nhất huynh đệ.

Điều quan trọng là chúng ta phải đón nhận toàn bộ sứ điệp ban cho chúng ta qua Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ hai sau lễ Phục Sinh, ngày mà từ nay về sau trong khắp Giái Hội sẽ được gọi là Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa. Trong các bài đọc phong phú, phụng vụ dường như nêu lên con đường của lòng thương xót, con đường tái lập mối tương giao giữa từng người với Thiên Chúa, và đồng thời cũng tạo lập những tương quan liên đới huynh đệ giữa nhân loại với nhau. Chúa Kitô đã dạy chúng ta rằng: Nhân loại không những tiếp nhận và cảm nghiệm Lòng Thương Xót Chúa mà còn được mời gọi hãy sống lòng xót thương với nhau nữa: ‘Phúc cho ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được xót thương’ (MT 5:7) (Tông thư Thiên Chúa Giàu Lòng Xót Thương, 14). Người còn chỉ cho chúng ta nhiều con đường của lòng thương xót, không những tha thứ tội lỗi, mà còn vươn đến tất cả những nhu cầu của nhân loại. Chúa Giêsu thương đoái nhìn đến mọi nỗi khốn cùng của nhân loại, vật chất cũng như tinh thần.

Sứ điệp Lòng Thương Xót vẫn tiếp tục đến với chúng ta qua đôi tay hằng dang ra cho nhân loại tang thương. Đó là hình ảnh Chúa Giêsu mà nữ tu Faustina đã nhìn thấy và tuyên xưng cho mọi người trên khắp các lục địa, mặc dù chị sống mai ẩn trong tu viện ở Lagiewnik tại thành phố Krakow. Chị đã biến cuộc đời mình thành một bản thánh ca chúc tụng Lòng Thương Xót Chúa. Misericordias Domini in aeternum cantabo: Con sẽ tấn dương Lòng Thương Xót Chúa đến muôn đời.

Sự kiện tôn phong hiển thánh của nữ tu Faustina có một sức hùng biện đặc biệt. Qua hành vi này, hôm nay Tôi muốn loan truyền sứ điệp này cho thiên niên kỷ mới. Tôi quảng bá sứ điệp này, cho mọi người, để họ càng ngày càng hiểu biết hơn về thánh nhan chân thật của Thiên Chúa và dung mạo đích thực của anh chị em mình.

Thực vậy, tình yêu Thiên Chúa và tình yêu anh chị em không thể tách lìa nhau, như bức thư thứ nhất của thánh Gioan Tông Đồ đã nhắn nhở chúng ta: ‘Căn cứ vào điều này mà chúng ta biết được chúng ta yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Người’ (1Ga5:2). Ở đây, thánh Tông Đồ nhắc cho chúng ta chân lý của tình của tình yêu, chỉ cho chúng ta thấy mức độ và tiêu chuẩn để tuân giữ các điều răn ấy.

Thật không dễ dàng để yêu thương bằng một tình yêu sâu xa, một tình yêu hệ ở việc trao hiến bản thân thật sự. Chúng ta chỉ có thể học được tình yêu này nhờ việc đi sâu vào mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa. Nhìn lên Chúa, nên một với Thánh Tâm hiền phụ của Người, chúng ta mới có thể nhìn vào anh chị em chúng ta bằng một ánh nắt mới mẻ, với một thái độ xả kỷ và liên đới, quảng đại và tha thứ. Tất cả đây là lòng thương xót!

Nhân loại càng đi sâu vào màu nhiệm của ánh nhìn Lòng Thương Xót Chúa, thì dường như họ càng có thể đạt đến lý tưởng mà chúng ta đã nghe trong bài đọc Một hôm nay. “Cộng đoàn các tín hữu bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ các gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung’ (Cv 4:32). Ở đây, lòng thương xót đã tạo lập những tương quan con người và sinh hoạt cộng đồng; tạo lập căn bản cho việc chia xẻ của cải. Điều này đã dẫn đến những hành vi thương xót, tinh thần và vật chất. Ở đây, lòng thương xót đã trở nên một phương cách cụ thể giúp chúng ta trở thành người lân cận với những người anh chị em đang cùng quẫn nhất.

Nữ tu Faustina đã viết trong quyển nhật ký của mình:

Tôi đau đớn rất nhiều khi thấy đau khổ của người khác. Tất cả những đau khổ ấy đều vọng lại trong tâm hồn tôi. Tôi mang những khổ ải của họ trong trái tim đến nỗi khiến thể xác của tôi tiều tụy. Tôi muốn tất cả những đớn đau ấy trút xuống mình tôi để xoa dịu cho người chung quanh’ (NK 1309).

Chính tình yêu này phải cảm khái nhân loại ngày nay, khi họ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng về ý nghĩa cuộc sống, những thách đố của các nhu cầu hết sức đa dạng, và nhất là bổn phận bảo vệ phẩm giá của từng con người. Như vậy, sứ điệp Lòng Thương Xót Chúa cũng tiềm ẩn một sứ điệp về chính giá trị của mỗi con người. Mỗi người đều quí báu trước mắt Chúa; Chúa Kitô đã hiến mạng sống cho từng các nhân; Chúa Cha ban cho từng cá nhân Thánh Thần của người và dành cho họ một mối tình thân mật.

Sứ điệp có sức an ủi này trước tiên hướng đến những người bị đau khổ vì thử thách gian nan đặc biệt họăc chịu quằn quại dưới gang nặng tội lỗi họ đã phạm, những người đã mất hết niềm tin vào cuộc sống và liều mình đi đến chỗ tuyệt vọng. Thánh nhan dịu hiền của Chúa Kitô là dành cho họ; những luồng ánh sáng từ Thánh Tâm Người đánh động, chiếu soi, và sưởi ấm cho họ, chỉ cho họ một con đường và trào đổ cho họ một niềm hy vọng. Biết bao linh hồn đã được ủi an nhờ câu kinh ‘Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa’câu kinh mà Chúa Quan Phòng đã riêng tỏ ra cho nữ tu Faustina! Hành vi tín thác đơn sơ nơi chúa Giêsu ấy xua tan những đám mây dầy đặc và để một tia sáng thấu đến mọi cuộc đời.

Misericordias Domini in aeternum cantabo (Tv 88 – 89 :2). Con sẽ tán dương Lòng Thương Xót Chúa đến muôn đời. Cả chúng ta nữa, Giáo Hội lữ hành, chúng ta hãy cùng hợp tiếng với Đức Maria Rất Thánh, ‘Từ Mẫu Thương Xót’ và cùng với vị thánh nữ mới này, người đang ca ngợi Lòng Thương Xót Chúa cùng với tất cả những bạn hữu của Người trên Jerusalem Thiên Quốc.

Và thưa chị thánh Faustina, một tặng ân Thiên Chúa ban cho thời đại chúng ta, một quà tặng từ miền đát Ba Lan dành cho toàn thể Giáo Hội, xin cho chúng tôi nhận thức về chiều sâu Lòng Thương Xót Chúa. Xin giúp chúng tôi có một kinh nghiệm sống động về điều đó giữa các anh chị em của chúng tôi. Ước chi sứ điệp ánh sáng hy vọng của chị thánh lan tỏa khắp thế giới, lôi kéo các tội nhân trở về, làm nguôi tan những đối đầu và ghen ghét, mở lòng những cá nhân và những quốc gia để thực thi tình huynh đệ. Hôm nay cùng với chị thánh, chúng tôi chiêm ngắm thánh nhan Chúa Kitô Phục Sinh, xin cho chúng tôi mượn lời kinh phó thác tin tưởng của chị thánh làm như của chúng tôi mà thưa lên với lòng cậy trông vững vàng:

Lạy Chúa Giêsu Kitô,

con tín thác nơi Chúa!

Cali, Phục Sinh 2011

Thân mến kính tặng mọi tâm hồn khát khao về Lòng Thương Xót Chúa.

Kính Mừng lễ kính Lòng Thương Xót Chúa & Chân Phước Gioan Phaolô II – May 1, 2011

Joseph Hoat