Blog Page 10

Chuẩn bị tâm hồn mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, mỗi Kitô hữu được mời gọi mở rộng tâm hồn để được đổi mới trong đức tin, tình yêu và lòng nhiệt thành truyền giáo. Đừng để tâm hồn mình trở nên nguội lạnh trong nhịp sống ồn ào của thế gian, hoặc khóa cửa lòng trước tiếng nói của Thiên Chúa. Vì thế, việc chuẩn bị tâm hồn trước lễ Ngũ Tuần là cơ hội quý giá để chúng ta cầu nguyện, thanh luyện đời sống và sẵn sàng đón nhận những ân sủng của Chúa Thánh Thần. Dưới đây là 10 cách đơn sơ nhưng thiết thực giúp mỗi người Công giáo chuẩn bị tâm hồn mình cho ngày lễ trọng đại này.

1. Dành nhiều thời gian hơn cho việc cầu nguyện.

Lễ Ngũ Tuần bắt đầu khi các môn đệ quy tụ để cầu nguyện cùng nhau. Trước khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các ông, các ông đã chờ đợi, cầu nguyện và mở lòng ra cho Thiên Chúa. Đây là thời điểm tuyệt vời để gia tăng đời sống cầu nguyện và chân thành thưa chuyện với Chúa Thánh Thần.

2. Đi xưng tội.

Một tâm hồn trong sạch sẽ đón nhận ân sủng cách sâu xa hơn. Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống không chỉ là dịp để mừng lễ, mà còn là thời gian canh tân đời sống. Bí tích Hòa Giải giúp loại bỏ những gánh nặng thiêng liêng đang ngăn cản chúng ta lắng nghe tiếng Chúa cách rõ ràng.

3. Đọc sách Công vụ Tông đồ.

Biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống được thuật lại trong chương 2 sách Công vụ Tông đồ. Bằng việc đọc chậm rãi đoạn Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu cách Chúa Thánh Thần biến đổi những môn đệ đầy sợ hãi thành những chứng nhân can đảm của Đức Kitô.

4. Làm Tuần Cửu Nhật kính Chúa Thánh Thần.

Tuần cửu nhật đầu tiên trong lịch sử Giáo hội đã được các môn đệ cầu nguyện trước lễ Ngũ Tuần. Kết hiệp với Giáo hội trong lời cầu nguyện này sẽ giúp tâm hồn chúng ta được chuẩn bị để đón nhận các ân sủng của Chúa Thánh Thần.

5. Xin các ơn của Chúa Thánh Thần.

Khôn ngoan, hiểu biết, biết lo liệu, sức mạnh, thông hiểu, đạo đức và kính sợ Thiên Chúa là những ơn mà mọi Kitô hữu đều cần đến. Đừng nghĩ rằng mình đã có trọn vẹn những ơn ấy. Hãy chân thành cầu xin.

6. Buông bỏ khổ đau và tha thứ cho người khác.

Chúa Thánh Thần mang lại bình an chứ không phải hận thù. Việc nuôi dưỡng oán giận sẽ làm cho tâm hồn trở nên chai cứng. Lễ Hiện Xuống là thời điểm tuyệt đẹp để tha thứ cho những ai làm tổn thương chúng ta và để Thiên Chúa chữa lành tâm hồn mình.

7. Dành thời gian bên Chúa Giêsu Thánh Thể.

Sự thinh lặng trước Thánh Thể mở rộng tâm hồn chúng ta. Chỉ cần vài phút thinh lặng chầu Thánh Thể cũng có thể giúp chúng ta ý thức sâu xa hơn sự hiện diện và hướng dẫn của Thiên Chúa.

8. Chay tịnh hoặc hy sinh nhỏ bé.

Kỷ luật thiêng liêng giúp chúng ta lớn lên trong sự tự chủ và lòng tín thác vào Thiên Chúa. Một hy sinh nhỏ bé được thực hiện với tình yêu sẽ chuẩn bị tâm hồn để đón nhận sức mạnh thiêng liêng.

9. Tham dự Thánh lễ với tấm lòng sốt sắng.

Đừng tham dự Thánh lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống một cách hời hợt. Hãy đến với lòng mong đợi nhận được điều gì đó từ Thiên Chúa. Hãy chăm chú lắng nghe các bài đọc và mở lòng mình qua những lời nguyện cũng như các bài thánh ca.

10. Xin Chúa Thánh Thần biến đổi cuộc đời bạn.

Lễ Hiện Xuống không chỉ là việc tưởng nhớ một biến cố trong quá khứ, mà còn để Chúa Thánh Thần biến đổi cuộc đời chúng ta hôm nay. Hãy cầu xin cho mình lòng can đảm, sự thánh thiện, khôn ngoan và một tình yêu sâu đậm hơn dành cho Thiên Chúa.

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, đổ đầy lòng tín hữu Chúa và nhóm lên trong họ ngọn lửa tình yêu của Ngài”. 
 

G. Võ Tá Hoàng
 Nguồn Catholic Dailies

Khi chúng ta làm dấu Thánh Giá

Khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta không thực hiện một cử chỉ vô hồn hay đơn giản là một thói quen. Chúng ta đang thực sự chúc lành cho chính mình nhân danh Ba Ngôi Cực Thánh.

Khi đặt tay lên trán, chúng ta xin cho tâm trí và thánh ý của Chúa Cha hướng dẫn mọi suy nghĩ, chọn lựa và ước muốn của mình.

Khi chạm tay xuống ngực, chúng ta đặt bản thân mình vào trong Thánh Tâm Chúa Con, xin Đức Giêsu đổ đầy tâm hồn chúng ta bằng tình yêu, lòng thương xót, sự khiêm nhường và lòng can đảm.

Khi đặt tay lên hai vai, chúng ta xin ơn Khôn Ngoan và Sức Mạnh của Chúa Thánh Thần nâng đỡ chúng ta trong việc vác thập giá hằng ngày và trung thành bước theo Thiên Chúa.

Dấu Thánh Giá vừa là một lời cầu nguyện, vừa là một lá chắn thiêng liêng. Dấu ấy nhắc chúng ta nhớ mình thuộc về ai, và cũng nhắc cho kẻ thù biết rằng chúng ta đã được ghi dấu bởi Đức Kitô.

Vì thế, hãy biến việc làm Dấu Thánh Giá thành một thói quen thánh thiện trong suốt ngày sống:

▪️ Khi bị cám dỗ – hãy làm Dấu Thánh Giá.
▪️ Khi sợ hãi – hãy làm Dấu Thánh Giá.
▪️ Khi bất an – hãy làm Dấu Thánh Giá.
▪️ Khi yếu đuối hay ngã lòng – hãy làm Dấu Thánh Giá.

Trước khi ra khỏi nhà, trước khi đi ngủ, trước khi cầu nguyện, trước khi đưa ra quyết định, hãy sốt sắng chúc lành cho chính mình.

Đừng làm cách vội vã. Hãy làm chậm rãi và với lòng tin.

Vì Thánh Giá không chỉ là biểu tượng chúng ta mang trên mình, nhưng là chiến thắng của Đức Kitô mà chúng ta mang nơi chính cuộc đời mình.

Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.

G. Võ Tá Hoàng
PrayersOfTheFaithfu

Lời nguyện tín hữu – Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu

MẪU 1

DẪN VÀO THÁNH LỄ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ!

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo hội, chúng ta mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Đây chính là biểu tượng của tình yêu lớn lao mà Thiên Chúa ưu ái dành cho con cái của Ngài. Điều này cũng mời gọi mỗi người chúng ta hãy mở rộng trái tim để sẻ chia tình Chúa đến với muôn người, hầu giúp mọi người hiểu được mạc khải cốt yếu nhất của Tin Mừng “Thiên Chúa là tình yêu”. Xin cho tình yêu Chúa là nguồn sức mạnh giúp mỗi người chúng ta cố gắng sống sao cho trái tim mình ngày càng nên giống Thánh Tâm Chúa Giêsu hơn.

Với những tâm tình đó, giờ đây, chúng ta cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ.

DẪN BÀI ĐỌC:

Bài đọc 1: Đnl 7, 6-11:
Ông Môsê đã nói cho dân Ítraen rằng: Thiên Chúa chọn họ chỉ vì tình yêu thương của Người và lời hứa với cha ông họ.

Bài đọc 2: 1Ga 4, 7-16:
Thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ nhắn nhủ chúng ta rằng: hãy yêu thương nhau để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa.

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Chị em thân mến, Thánh Tâm Chúa Giêsu là nguồn mạch của tình yêu. Chúng ta cùng cảm tạ tình yêu của Người và thiết tha dâng lời nguyện xin:

  1. Thiên Chúa đã chọn anh em vì tình yêu của Người. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh luôn xác tín vào tình yêu của Chúa, để các ngài trở nên chứng tá sống động của Chúa trong từng lời nói và việc làm.
  2. “Thiên Chúa là tình yêu, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những ai đang sống trong chiến tranh, hận thù luôn biết tôn trọng nhau và biết ở lại trong tình yêu của Chúa.
  3. Hôm nay là ngày cầu xin ơn thánh hóa các Linh mục. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho tất cả những ai đang xả thân quên mình vì người khác, tìm được hạnh phúc và bình an trong Chúa trên con đường dấn thân phục vụ.
  4. “Anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho cộng đoàn chúng ta luôn biết sống hiền hậu và khiêm nhường, để xây dựng cộng đoàn chúng ta thành khí cụ yêu thương của Chúa.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ tình yêu tuôn tràn từ Thánh Tâm Chúa, xin cho chúng con biết trở nên chứng nhân sống động của tình yêu Chúa cho mọi người. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

MẪU 2

DẪN LỄ VÀO THÁNH LỄ

Kính thưa cộng đoàn!

Hôm nay, chúng ta long trọng mừng Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su. Qua Thánh lễ này, Giáo Hội muốn con cái mình chiêm ngắm tình yêu không giới hạn và không điều kiện của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Một tình yêu vô bờ bến mà nhân loại chúng ta không thể lấy gì để đền đáp cho cân xứng. Tình yêu ấy đã làm cho người tội lỗi cảm nhận được sự xót thương và tha thứ, làm cho người cô đơn lẻ loi cảm thấy ấm lòng, làm cho người giàu có biết chia sẻ, làm cho người đói khát được no đầy.

Hôm nay cũng cũng là ngày Giáo Hội xin ơn thánh hoá các linh mục. Ngày này được khởi đi từ triều đại của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo Đệ Nhị. Khi mời gọi toàn thể Giáo Hội cầu nguyện cho các linh mục trong ngày lễ Thánh Tâm, Đức Thánh Giáo Hoàng muốn nhắc đến mối tương quan gắn bó giữa Thánh Tâm Chúa Giêsu và chức tư tế của Giao ước mới, đồng thời nhấn mạnh tới sự thánh thiện là điều không thể thiếu nơi những ai đã được lãnh nhận thiên chức cao cả này. Bởi qua con người của linh mục, Đức Giêsu vẫn hiện diện giữa thế gian để chúc lành, yêu thương, tha thứ và thánh hoá. Chúng ta cầu nguyện đặc biệt cho các linh mục luôn là những người mục tử tốt lành, thánh thiện để chăm sóc đoàn chiên theo thánh ý Chúa/ để dân Chúa tìm được nguồn an ủi nơi Thánh Tâm Chúa Giê-su qua trái tim đầy yêu thương của các vị mục tử.

Với tâm tình đó, chúng ta cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ.

 

DẪN BÀI ĐỌC

Bài Ðọc I: Ed 34, 11-16

Ngôn sứ Êdêkien cho biết/ vì các mục tử được giao trách nhiệm đã không chăm sóc dân Chúa/ nên chính Chúa sẽ đích thân chăm sóc, bảo vệ dân của Ngài, ai lạc bước, Ngài sẽ tìm về, ai đau ốm, Ngài sẽ chữa lành.

Bài Ðọc II: Rm 5, 5-11

Bài đọc sau đây cho chúng ta thấy: Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết bao, dù chúng ta đáng phải chết, nhưng Thiên Chúa đã để Con của Ngài chết thay cho chúng ta mà cho chúng ta được hòa giải với Ngài.

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tếChị em thân mến! Chúa Kitô đã sẵn sàng hiến mạng sống mình, để chúng ta được giao hoà với Thiên Chúa là nguồn sống đích thực. Với tâm tình tri ân cảm tạ vì hồng ân sự sống cao quý chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta cùng tha thiết dâng lời nguyện xin:

  1. Trái tim Chúa Giêsu đã bị đâm thâu để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh có được một trái tim hiền lành, nhân hậu của Chúa Giêsu, để yêu thương và chăm sóc đoàn chiên Chúa giao phó và dám liều mạng sống để bảo vệ đoàn chiên như Chúa Giêsu.
  2. “Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi Ki-tô hữu biết sống chứng tá Tin Mừng yêu thương, qua việc tha thứ và đón nhận những Ki-tô hữu lạc xa đường lối Chúa/ trở về hòa nhập với cộng đoàn Dân Chúa.
  3. Thánh Tâm Chúa Giêsu hằng yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vô bờ bến. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các Linh Mục/ luôn yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể/ để biết họa lại Thánh Tâm đầy yêu thương của Chúa cho Dân Chúa.
  4. Con nào bị thương, Ta sẽ băng bó. Con nào khỏe mạnh, ta sẽ canh chừng. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong chúng ta/ biết theo sát dấu chân Đức Ki-tô/ trở nên người mục tử nhân lành cho chị em trong cộng đoàn/ cho những người chúng ta phục vụ/ nhất là cho các em nhỏ thuộc trách nhiệm của chúng ta/ vì các em là những con chiên yếu đuối và dễ tổn thương nhất.

Chủ tế: Lạy Chúa Giê-su, chúng con cảm tạ tình thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng con. Cảm tạ Chúa đã xuống thế gian, đã chấp nhận bị đâm thâu vì chúng con. Xin cho chúng con biết đáp lại tình thương vô bờ của Chúa bằng tâm hồn thống hối/ và biết đổi mới đời sống mỗi ngày bằng việc yêu thương và trao ban như Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

MẪU 3

DẪN VÀO THÁNH LỄ:

Kính thưa cộng đoàn,

Hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người được biểu lộ nơi Thánh tâm Chúa Giê-su: trái tim của tình yêu, trái tim của dâng hiến, trái tim của trao ban, trao ban chính mình nên của lễ đền thay tội lỗi muôn dân, hòa giải giữa con người với Thiên Chúa.

Kính Trái Tim Chúa là kính nhớ Tình Thương vô biên của Chúa đối với chúng ta. Vì yêu thương loài người tội lỗi khốn khó, Chúa Giêsu đã chịu lưỡi đòng đâm thâu trái tim, để cho nước và máu chảy ra, trở nên Bí tích cứu độ chúng ta, và dạy chúng ta yêu thương nhau.

Chúng ta hiệp dâng Thánh Lễ, kính nhớ Thánh Tâm Chúa đã yêu thương chúng ta. Xin cho chúng ta biết đáp lại tình thương hải hà của Chúa, bằng nhiệt tâm tuân giữ luật Chúa. Xin tình yêu của Ngài thúc bách chúng ta can đảm sống vì tình yêu, cho tình yêu và loan báo tình yêu của Ngài.

Hôm nay cũng là ngày xin ơn thánh hóa linh mục. Xin cho các Linh Mục sống thánh thiện như lòng Chúa mong ước.

Giờ đây, trong tâm tình tri ân và đền tạ,  mời cộng đoàn đứng, chúng ta cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ.

.

DẪN BÀI ĐỌC:

Bài đọc 1.  Ed 34, 11-16 : 

Lời Chúa trong sách ngôn sứ Êdêkiel chúng ta sắp nghe là những lời tâm sự diễn tả tình yêu thương tha thiết của Đức Chúa dành cho đoàn chiên của Người, như tình yêu của người mục tử nhân hậu đối với đoàn chiên yêu quý của mình.

Bài đọc 2.  Rm 5, 5b- 11 : 

Thánh Phaolô đã khẳng định với tín hữu Rôma rằng: Đức Kitô đã dùng chính cái chết của mình để làm bằng chứng tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta và hòa giải chúng ta với Thiên Chúa. Mời cộng đoàn cùng lắng nghe Lời Chúa.

    

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tếAnh Chị em thân mến!

Khi bị treo trên thập giá, từ trái tim bị đâm thâu của Người, Đức Giêsu đã để cho máu cùng nước chảy ra hầu khơi nguồn các bí tích của Hội Thánh. Tin tưởng vào tình thương  của Thiên Chúa, chúng ta cùng cảm tạ Người và tha thiết nguyện xin:

  1. Hội Thánh là hiện thân của Đức Kitô”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho Đức Thánh Cha Phanxicô, các Giám Mục, Linh Mục luôn cảm nghiệm tình yêu sâu thẳm cuả Thiên Chúa, hết lòng phục vụ đoàn chiên và luôn trung thành với sứ mạng Chuá trao phó.
  2. Hội Thánh cần nhiều linh mục thánh đức để loan báo Tin Mừng cứu rỗi. Chúng ta cùng cầu xin Chúa thương thánh hóa các linh mục, và ban những ơn cần thiết, để các ngài luôn là những mục tử như lòng Chúa mong ước.
  3. Thánh Tâm Chúa là nguồn tình yêu vô bờ bến. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người kitô hữu chúng ta luôn cảm nhận được sức mạnh và tình yêu của Chúa mà hăng say loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người.
  4. “Trái tim Chúa Giêsu là biểu tượng của tình yêu đến cùng”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta luôn biết chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa trong sự tin tưởng, phó thác, đón nhận mọi đau khổ vì lòng mến Chúa yêu người.

Chủ tếLạy Chúa Giêsu, Chúa đã đón nhận cái chết trên thập giá để biểu lộ tình yêu đến cùng Chúa dành cho chúng con. Xin cho chúng con luôn biết chạy đến với nguồn ơn cứu độ của Chúa, biết thống hối và đổi mới đời sống mỗi ngày, để đáp trả tình yêu vô bờ bến của Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

.

CÁC BÀI ĐỌC

Bài Ðọc I:   Ed 34, 11-16

“Ta sẽ săn sóc đoàn chiên Ta và sẽ kiểm soát chúng”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: “Này chính Ta săn sóc đoàn chiên Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng. Như một mục tử kiểm điểm đoàn chiên trong ngày chúng bị tản mát, thì Ta cũng kiểm điểm đoàn chiên Ta như vậy. Ta sẽ giải thoát chúng khỏi mọi nơi mà chúng đã bị phân tán. Ta sẽ dẫn chúng ra khỏi các dân tộc, sẽ tụ họp chúng từ khắp mặt đất, và đưa chúng vào đất của chúng. Ta sẽ chăn dắt chúng trên các miền núi Israel, dọc theo các bờ suối, và trong những miền có dân cư. Ta sẽ thả chúng ăn trên những ngọn núi cao Israel, chúng nghỉ ngơi trong những đồng cỏ xanh tươi, và chúng ăn trong đồng cỏ màu mỡ trên miền núi Israel. Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta; chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ, Chúa là Thiên Chúa phán như thế. Ta sẽ tìm con chiên đã mất, sẽ đem về con chiên lạc, sẽ băng bó con chiên bị thương tích, sẽ lo chữa con chiên bị ốm đau, con nào mập béo, Ta sẽ chăm sóc, và sẽ chăn dắt nó trong sự công chính”.

Ðó là lời Chúa.

.

Ðáp Ca:      Tv 22, 1-3. 4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi    (c. 1).

Xướng:

1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi;
trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ.
Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi;
tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính,
sở dĩ vì uy danh Người.

2) (Lạy Chúa,) dù bước đi trong thung lũng tối,
con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con.
Cây roi và cái gậy của Ngài,
đó là điều an ủi lòng con.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ,
ngay trước mặt những kẻ đối phương:
đầu con thì Chúa xức dầu thơm,
chén rượu con đầy tràn chan chứa.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi,
hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa,
tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

.

Bài Ðọc II:  Rm 5, 5-11

“Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người Ðối với chúng ta “.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô. Và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.

Ðó là lời Chúa.

.

Alleluia:  Ga 10,14

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta”. – Alleluia.

.

Phúc Âm:     Lc 15, 3-7

“Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các người biệt phái và luật sĩ dụ ngôn này rằng: “Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: ‘Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!’ Cũng vậy, Tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải”.

Ðó là lời Chúa.

 

Các bài suy niệm Lễ Mình Máu Chúa Kitô Năm A

0

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

Lời Chúa: Dnl. 8, 2-3.14b-16a; 1Cr. 10, 16-17; Ga. 6, 51-58

———

Mục lục

  1. Khao Khát Chính Đáng(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Tấm bánh nhiệm màu (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  3. Chất Kitô  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  4. Bàn tiệc hiệp thông (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  5. Bữa ăn tình liên đới (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
  6. Mầu nhiệm hiệp thông (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)
  7. Dấu chỉ sự sống  (Lm. Vũ Đình Tường)
  8. Qùa tặng tình yêu  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
  9. Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô  (Jorathe Nắng Tím)
  10. Xác bồn chồn hồn héo hon (Trầm Thiên Thu)
  11. Suy niệm chú giải Lời Chúa-CN Lễ Mình Máu Thánh Chúa (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

 

Mục lục

1. Thịt và Máu (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Tấm bánh tình yêu  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Thịt Máu Chúa là của nuôi hồn  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

4. Lương thực quý báu (Anna Cỏ May, Thanh Tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

5. Tôi là Bánh Hằng Sống (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

6. Lễ Mình Máu Chúa Kitô (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

7. Những tên gọi tầm thường  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

8. “Chóp đỉnh và nguồn mạch” của Giáo hội là bí tích Thánh Thể (Tu sĩ Jos Vinc.Ngọc Biển)

9. Bánh Trường Sinh  (Trầm Thiên Thu)

10. Phép lạ của Tình yêu (Lm. Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

11. Chúng ta được biến đổi theo điều chúng ta ăn  (Văn Chính, SDB chuyển ngữ)

12. Lương thực siêu nhiên (P. Trần Đình Phan Tiến)

13. Nước mắt, mồ hôi (Lm. Vũ Đình Tường)

14. Ăn và Uống (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

15. Ăn Mình Thánh Chúa  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

16. Thần lương  (Lm. Trần Việt Hùng)

17. Suy niệm lễ Mình Máu Thánh Chúa. Năm A (Lm. Anthony Trung Thành)

18. Bánh Hằng Sống (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

19. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời (Fx. Đỗ Công Minh)

20. Tấm Bánh Lời Chúa  (JM. Lam Thy, ĐVD)

21. Thông ban sự sống thần linh  (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

22. Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống  (Lm. Jos. Uyên Nguyên)

23. Mình Máu Thánh Chúa – Lương thực cho linh hồn (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

24. Ăn Bánh Thánh Thể sẽ được sống muôn đời (Lm. Đan Vinh)

25. Lễ Mình Máu Thánh Chúa_A (Lm. Antôn)

 

KHAO KHÁT CHÍNH ĐÁNG

MÌNH MÁU CHÚA-A: Ga 6, 51-58

Lm. Jos. DĐH, Gp. Xuân Lộc

Xã hội thời nào cũng mong có sự dấn thân của những người nhiều tài lắm đức, có tinh thần ái quốc, biết chung sức chung lòng, cùng xây dựng một đất nước khang an thịnh vượng. Dù không nói, nhưng các bậc sinh thành đều mơ ước con cháu nên người hữu ích: con cái vinh hoa, vẻ vang cha mẹ. Dù tài trí không xuất chúng, trong ứng xử còn vụng dại, mỗi người vẫn dư biết: trên đường thành công, không thể có bước chân kẻ lười biếng. (Lỗ Tấn). Thân xác khỏe mạnh, tinh thần an vui, hẳn không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không thành. Của ăn nuôi thân xác, kiến thức bồi bổ tinh thần, sống và làm việc ở đâu cũng phải có tình có nghĩa trước các tương quan gia đình, xã hội. Khi nghèo, người ta mơ đủ ăn đủ mặc, khi có tiền có của, người ta lại mơ được ăn ngon, mặc đẹp, khi đời sống vật chất tinh thần ổn định, người ta lại khao khát có sức khỏe tốt, gia đình hạnh phúc, được trường thọ hơn.

Trước thao thức chung của số đông, làm gì để có “công thành danh toại”, Đức Giêsu cho biết có một sự thật quý hơn điều người ta mơ ước: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này, sẽ được trường sinh”. Người đời cũng quan niệm rằng: có tiền mua tiên cũng được, nhưng thực chất biết bao người nhiều tiền lắm của, nào có mua được sức khỏe đâu ! Nhiều bậc làm cha mẹ giầu sang phú quý, thế mà “bất lực”, không mua được sự thông thái, cũng chẳng giúp cho con cháu chăm ngoan, trở nên người hùng tài ! Thứ bánh đặc biệt, của ăn kỳ diệu, mà Đức Giêsu nói, tuy không thay thế cơm áo gạo tiền, chẳng giúp no thỏa quyền lực, ước muốn thụ hưởng, nhưng lại là thứ lương thực đem đến “hạnh phúc đời đời”. “Bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta, để thế gian được sống”; thứ bánh Đức Giêsu tặng ban là bánh hằng sống, là bánh niềm tin: nuôi dưỡng, biến đổi, xứng hợp với tình yêu Thiên Chúa đang hiện diện.

Khao khát được no cơm ấm áo, được ở trong bầu khí gia đình êm ấm hạnh phúc, khao khát được sự sống đời đời, có chính đáng không ? Mọi người không khó để trả lời, nhưng phải bắt đầu từ đâu, làm gì để mơ ước đó trở thành hiện thực, Đức Giêsu đã quả quyết: “ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”. Ăn cơm bánh, ăn bún ăn phở rất quen và dễ, nhưng ăn thịt và uống máu, quả là đáng sợ, nếu thiếu niềm tin, thiếu sự tác động của Đấng là Thầy là Chúa. Ăn uống là một nghệ thuật: khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Ăn thực phẩm nào ngon, bổ, rẻ, ăn thế nào để khoẻ mà không mập ? Có vị đã chỉ cách khắc phục vui vui là “bạn cứ ăn, cứ nhai, nhưng đừng nuốt” ! Do đó không lạ gì khi tiền nhân chúng ta nói là hãy: học ăn học nói, học gói học mở ! Đức Giêsu cũng cụ thể, rõ ràng: “ai ăn thịt và uống máu Ta, sẽ được trường sinh”.

Khao khát nào là chính đáng ? Ăn uống loại thực phẩm nào là an toàn, bổ dưỡng, ích lợi cho sức khoẻ, dẫu biết rằng cuộc sống này đâu phải chỉ là ăn uống, thụ hưởng ? Thật diễm phúc cho những ai khao khát được bồi bổ tinh thần, được sống trong hoà thuận yêu thương, mà không mất tiền, mất công sức, để tìm của ăn thức uống, của ăn thiết thực. Đấng là Thầy, là Chúa, đã lưu ý: chỉ cần tỏ bày niềm tin, và sống niềm tin là đủ, là ta thấy sự biến đổi kỳ diệu của tình liên đới hiệp thông. Chính tự do và khái niệm lờ mờ về tình yêu, về hạnh phúc thật, người Do-thái đã phản ứng kịch liệt: “làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được” ? Của ăn nuôi xác, của ăn nuôi hồn, hạnh phúc đời này, hạnh phúc đời sau, tin Đức Giêsu tài giỏi, tin Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu độ, vẫn mãi là tự do, là chọn lựa của mỗi người.

Truyện ngụ ngôn “khao khát trường sinh”. Truyện kể như sau: có 2 chú chó thật tinh khôn, chúng lên kế hoạch, ngày mai một đứa ở nhà trông nhà, một đứa vào rừng tìm của ăn bất tử. Thế rồi, chúng mâu thuẫn với nhau, vậy mai đứa nào sẽ ở nhà, đứa nào vào rừng, vì đứa vào rừng sẽ có cơ hội trường sinh cao hơn là đứa ở nhà. 2 chú chó đã nhờ chị gà tư vấn giùm đứa nào nên vào rừng tìm thực phẩm ? Chị gà đã chia sẻ kinh nghiệm: 2 chú không phải đi đâu tìm kiếm nữa, tình yêu thương chính là của ăn bất tử ở hiện tại và tương lai. Vâng, yêu thương là điều thiết thực mà ai cũng cần phải có trong các tương quan. Tất cả mọi thứ rồi sẽ qua đi, duy chỉ có tình yêu là tồn tại. Cơ hội thành công, điểm đến hạnh phúc, đâu phải do bạn sang giầu, khôn ngoan tài giỏi, mà do bạn biết lắng nghe và sống hết tình hết mình với điều kiện bạn đang có.

Khao khát được yêu thương, khao khát được thành công, khao khát được trường sinh bất tử, có phải là khao khát chính đáng không ? Kinh nghiệm của các đấng bậc cho rằng: giầu có là điều tốt mà bạn đã chứng minh. Có chức quyền là phần thưởng cho sự thông thái, linh lợi của  bạn. Cho dù bạn thành công ở ngoài xã hội mà nơi gia đình bạn không hạnh phúc, hẳn bạn vẫn là kẻ thất bại, đáng tiếc ! Đức Giêsu đã chia sẻ, đã công khai minh bạch: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống”. Hãy khao khát bánh hằng sống, hãy đến với bánh trường sinh, thứ lương thực giúp bạn đạt đến hạnh phúc thật, có được sự sống đời đời, khi bạn tin yêu và sống giáo huấn của Đức Giêsu. Amen.

Về mục lục

TẤM BÁNH NHIỆM MÀU

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: khi linh mục chủ sự thánh lễ lặp lại lời Chúa Giêsu đã nói trong bữa tiệc ly: Này là Mình Thày, này là Máu Thày…. thì Chúa Thánh Thần tác động làm cho bánh thành Mình Thánh Chúa và rượu thành Máu Thánh Chúa. Tuy vậy, nếu nhìn bằng con mắt thể lý, trước và sau lời “truyền phép” này, bánh và rượu vấn y nguyên, không có gì thay đổi. Thánh Thể là mầu nhiệm của đức tin, nghĩa là chỉ cảm nhận bằng đức tin, như chúng ta vẫn hát trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo): “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì”. Sau lời truyền phép, linh mục chủ sự thánh lễ cũng tuyên bố với cộng đoàn phụng vụ: “Đây là mầu nhiệm đức tin”, như lời khẳng định: chỉ có đức tin mới nhận ra sự biến đổi tự bản thể của bánh và rượu. Thánh Thể chính là sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa trần gian. Tấm bánh đơn sơ là thế, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, trở nên Tấm Bánh Nhiệm Màu đối với các Kitô hữu.

Đây là Tấm Bánh Nhiệm Màu vì có Chúa Giêsu hiện diện. Suốt bề dày lịch sử của dân riêng, tức là dân Do Thái, Thiên Chúa hiện diện và đồng hành với họ. Ngài ở bên họ để chúc lành, hướng dẫn. Sự hiện diện của Chúa giữa dân Ngài là niềm tự hào của dân được tuyển chọn. Ông Môisen đã nói với người Do Thái: “Anh em hãy xem, có dân nào được các vị thần linh ở gần như Thiên Chúa ở gần chúng ta không?”. Sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa còn thể hiện qua việc Ngài nuôi dưỡng họ trong hành trình sa mạc. Ông Môisen (Bài đọc I) đã nhắc lại những lần Chúa làm phép lạ để nuôi dưỡng dân Ngài: manna, chim cút, nước tử tảng đá…

Nếu trong lịch sử, Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài qua các biểu tượng như đám mây, cột lửa, sấm sét… thì hôm nay, Chúa Giêsu lại đang hiện diện giữa Giáo Hội và giữa trần thế qua Thánh Thể. Công đồng Tridentinô đã khẳng định: Trong Bí tích Thánh Thể, có trọn vẹn mình và máu, thiên tính và nhân tính, linh hồn và thân xác của Đức Giêsu. Để giữ lời hứa: “Này đây, Thày sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế”, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể.  Qua Thánh Thể, Chúa ở giữa chúng ta để chia sẻ phận người, nhất là đối với những người đau khổ và bất hạnh, những người cô thế cô thận và bị gạt ra bên lề của cuộc sống. Chúa hiện diện để lắng nghe nỗi lòng của chúng ta, đồng thời ban lời hướng dẫn, giúp chúng ta vượt lên những khó khăn vất vả trên đường đời. Thánh Thể không phải là một hình ảnh tượng trưng, mà là chính sự hiện diện của Chúa Giêsu.

Thánh Thể được gọi là “Bí tích” và là một trong bảy bí tích do Chúa Giêsu thiết lập. “Bí” là khía cạnh bí nhiệm, vô hình, thiêng liêng; “Tích” là khía cạnh hữu hình, có thể cảm nhận bằng giác quan. Khi lãnh nhận Thánh Thể trong thánh lễ hoặc khi “chầu” Mình Thánh, chúng ta chỉ thấy một tấm bánh đơn sơ, đó là khía cạnh “tích” mà chúng ta cảm nhận, còn khía cạnh “Bí” thì vô hình, chỉ có thể cảm nhận bằng đức tin.

Là Tấm Bánh Nhiệm Màu, Thánh Thể ban sức sống thần thiêng cho các tín hữu. Khi rước lễ, người tín hữu được hiệp thông với Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng sức sống thần linh. Nói cách khác, nhờ Thánh Thể, chúng ta đón nhận sự sống của chính Thiên Chúa, được kết nối với Ngài, như cành nho đón nhận sức sống từ thân nho để sinh hoa kết trái. Không chỉ được tiếp sức sống trong cuộc đời hiện tại, Thánh Thể còn là bảo đảm cho chúng ta được sống đời đời. Tin Mừng Thánh Gioan ghi lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với người Do Thái về đề tài “Bánh hằng sống”. Chúa Giêsu đã khẳng định: Bánh hằng sống là chính bản thân Người. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Việc lãnh nhận bánh hằng sống giúp cho người tín hữu kết hợp với Chúa Cha và Chúa Con. “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy”.

Tấm Bánh Nhiệm Màu cũng nối kết các tín hữu thành một thân thể. Thánh Phaolô đã khẳng định: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (Bài đọc II). Thật là huyền diệu! Thánh Thể liên kết các tín hữu và làm cho họ trở nên những người thân thiết, đến nỗi được so sánh như những chi thể của một thân thể, cùng chung chia vui buồn và cùng cảm thông nâng đỡ nhau. Như vậy, nhờ Thánh Thể, không còn ai là người xa lạ, nhưng đều là anh chị em với nhau trong gia đình Giáo Hội, để cùng nhau liên kết làm nên vẻ đẹp của tình mến và tình hiệp thông.

Ta hãy đến thờ lạy Tấm Bánh Nhiệm Màu với đức tin và với tình yêu mến. Ta hãy tuyên xưng: đây là Bí tích của tình yêu, vì qua Bí tích này, Chúa Giêsu hiến mình nên của ăn của uống cho con người. Sống mầu nhiệm Thánh Thể, chính là thực hiện tình yêu, cụ thể qua những nghĩa cử chia sẻ, hy sinh vì hạnh phúc của tha nhân, noi gương Đấng đã hy sinh và hiến mình vì chúng ta.

Về mục lục

CHẤT KITÔ

Lm. Jos DĐH.

Trong tương quan xã hội, khi giao dịch làm ăn: chất lượng, uy tín, bao giờ cũng là ưu tiên hàng đầu cho mỗi cá nhân gia đình. Bước vào lãnh vực nghệ thuật: mấy ai đặt tiêu chí thế nào là đỉnh cao, đâu là trình độ thưởng thức thấp, nhỏ, bởi vì tác giả nào chẳng muốn “sinh ra” sản phẩm để đời của mình cho hậu thế. Từ xa xưa cha ông ta đã có khái niệm: bản chất tự tin làm nên giầu mạnh, tính chất cần cù kiên nhẫn góp phần làm nên xinh đẹp, và tình đoàn kết dân tộc tạo nên tính anh hùng cho đất nước, quê hương phong phú rạng ngời. Hiểu biết và áp dụng trong đời, thiết tưởng là chí lý rồi, ấy vậy mà qua các thời đại, xã hội vẫn phải cảnh giác những đối tượng khác thường: thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ liều mình cố thây.

Ngày hôm nay, xã hội lưu ý nhiều đến chất bổ dưỡng: thực phẩm sạch, đồ ăn thức uống mang đến ích lợi cho xác hồn, nhằm đáp ứng nhu cầu khoẻ mạnh, sống vui, sống hạnh phúc, sống trường thọ… Đức Giêsu hôm xưa, Ngài nói tới của ăn không những ngon, bổ, khoẻ, mà còn bảo đảm trường sinh bất tử, của ăn mang “Chất Kitô”, là chất yêu thương, được ban phát cho muôn dân thiên hạ. Nếu bậc sinh thành cho rằng: cha mẹ hiền để đức cho con ; cha anh hùng, con hảo hán, thì đúng là các ngài đã hết tình hết mình để lại phúc đức, để lại “một tài khoản” tốt nhất cho con cháu rồi. Đức Giêsu rất mực chân thành, cùng với mức độ quả quyết thật mạnh mẽ về chất Kitô: “bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để thế gian được sống”.

Theo quy luật tự nhiên: cơm bánh là lương thực nuôi xác, bạc vàng là của cải nhằm mang lại cảm giác được sung túc ở trần gian, nhưng người biết thực hành đức yêu thương, mới có sự sống đời đời. Qua việc ăn uống, Đức Giêsu nối kết một của ăn tồn tại muôn đời, đó là “chất Kitô”. Đức Giêsu nói lên điều hệ trọng hơn: “nếu các ngươi không ăn thịt Con Người, các ông không có sự sống nơi mình các ông”. Từ việc tổ tiên ăn Manna ở Samạc, Đức Giêsu dẫn dắt đến việc ăn bánh trường sinh từ trời ban phát. Từ việc cơm bánh nuôi thân xác ở đời này, Đức Giêsu hướng nhân loại đến của ăn mang lại sự sống đời đời, đó là “chất yêu thương” thực sự được sẻ chia.

Xưa kia, hiện tại và tương lai, nhân loại đã từng tìm kiếm hạnh phúc, vẫn đang hành động bác ái, vẫn không hề lùi bước trước mọi khó khăn, phức tạp. Kinh nghiệm của dân gian: dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. Hẳn việc tìm kiếm của ăn đem đến hạnh phúc, mang lại sự sống đời đời, sẽ còn thôi thúc con người qua dòng thời gian, cho dù lập trường không vũng chắc, dễ ngả nghiêng vì chất bổ dưỡng thân xác và chất Kitô khác hoàn toàn ! Đức Giêsu trước những con người đáng thương hơn là đáng trách, Ngài kiên nhẫn khi giải thích: “như Cha Hằng Sống đã sai tôi, nên tôi sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta cũng sẽ sống nhờ tôi”. Vững tin vào Đấng từ trời nói về “chất Kitô” để được sống đời đời, hay tìm kiếm của ăn vật chất để được thế gian là tuỳ tự do của mỗi người.

Trong bài thờ “Dại Khờ” của Xuân Diệu, rất đáng để ta suy gẫm:

Người ta khổ vì thương không phải cách,

yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người.

Có kho vàng nhưng tặng chẳng tuỳ nơi,

người ta khổ vì xin không phải chỗ …

Dấn thân mãi để kiếm trời dưới đất !

Đức Giêsu đã đến từ trời, đã chia sẻ phận người với nhân trần, Ngài ban phát bánh trường sinh, giải thích, nhẫn nại, đợi chờ từng tâm hồn, từng thế hệ, tin và đón nhận niềm tin hoặc sống niềm tin, luôn tuỳ thuộc mỗi người. Ăn gì để được khôn ngoan sáng suốt, uống gì để hết khát, có sức khoẻ, đâu là thực phẩm sạch, an toàn, ngày hôm nay, đúng là nhân loại vẫn không ngừng tìm kiếm ! Đấng từ trời là Đức Giêsu, Ngài vẫn đang hiện diện, vẫn đang nói: “Ta là Bánh hằng sống từ trời xuống, … Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sống muôn đời”. Chất Kitô, sẽ mãi mãi là tình yêu, là sự sống, bao lâu con người còn dửng dưng thờ ơ, Đấng từ trời và những ai thuộc về đoàn chiên của Ngài còn phải dấn thân trước sứ mạng “yêu thương” nặng nề hơn nữa ! Sức mạnh và tình yêu của “chất Kitô”, sẽ mãi là hiện thực, nơi quyền năng của Đấng yêu thương nơi mỗi tâm hồn người môn đệ theo Đức Ktiô. Amen.

Về mục lục

BÀN TIỆC HIỆP THÔNG

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Lễ vượt qua cuối cùng là điều mong ước của Chúa Giêsu sớm thực hiện. Lễ vượt qua là một bữa tiệc hiệp thông khởi sự từ Chúa và tiếp tục lan tỏa tới người đồng bàn.

Chúa Giêsu tâm điểm của bàn ăn hiệp thông.

Một bữa ăn bắt đầu từ việc tiếp khách vào bàn tiệc. Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, như chủ nhà đón tiếp khách quý đến dự là các môn đệ. Chúa đã nói với các môn đệ: “Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.”  (Ga 15, 15).

Là bạn hữu nghĩa là một người bạn thân tình với Chúa kể cả Giuđa Iscariot. Một tình bạn tuyệt vời, Chúa luôn trung tín trong tình bạn đó, dù con người có bội tín như thế nào chăng nữa. Chúa luôn giữ tình bạn, chủ động mời bạn hữu vào bàn tiệc hiệp thông với Chúa. Giuđa đã chọn một lối khác, không cùng một hiệp thông nơi bàn ăn.

Các môn đệ ở lại dù chưa biết chuyện gì xảy ra, chỉ nghe Thầy nói những điều khác lạ với bữa tiệc vượt qua truyền thống. Người cầm lấy bánh bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: Vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.

Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ mà nói: Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: Vì này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”

Hình ảnh người tôi trung đau khổ có lẽ lại xuất hiện trong tâm trí của các môn đệ. Rồi đây các ngài cũng sẽ hiệp thông với Chúa trong tất cả những đau khổ như thế. Phúc âm nói đến lời di chúc của Chúa Giêsu “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”. Môt tình yêu hiệp thông trong lúc vui cũng như lúc buồn, khi hạnh phúc cũng như khi đau khổ. Hiệp thông trong tình yêu là gánh vác đời nhau, là đóng đinh chết cho người mình yêu.

Nhận ra Người lúc bẻ bánh.

Từ sau bữa tiệc hiệp thông, các diễn tiến của tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu xảy ra. Những lúc ngoài bàn tiệc mới thấy rõ con người yếu đuối của mình. Lúc vui vẻ bên bàn tiệc có thể thề non hẹn biển nhưng lúc nguy khó có thể đánh mất lời thề ước kia. Qua những lúc thử thách, sau này các môn đệ đã nhận ra: “Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn”   (Gc 1, 2- 3).

Hai môn đệ trên đường Emmau cũng cho thấy, thiếu đi bàn tiệc hiệp thông là thiếu đi ý nghĩa cuộc sống. Tin mừng diễn tả nỗi buồn của hai môn đệ trên đường về quê. Họ tường thuật câu chuyện cho người khách lạ như là một sự kiện buồn của họ. Rồi họ được nghe giải thích Thánh Kinh, nhận ra Chúa lúc bẻ bánh. Họ vui mừng, một niềm vui thúc đẩy trở lại Giêrusalem để gặp lại các môn đệ khác. Nỗi buồn của ngày không được hiệp thông trong bàn tiệc trong những giãn cách vì Virus Vũ Hán là một kinh nghiệm.

Thánh lễ online cũng không thể thay thế cho Thánh lễ cộng đoàn được. Sống hiệp thông cùng với Chúa và cùng với anh chị em trong cộng đoàn Thánh Thể, là kết nối mang chiều kích Giáo Hội địa phương và Giáo Hội toàn cầu. Trong niềm tin tôi tin và chúng tôi tin, Giáo Hội hướng tới trong bàn tiệc viên mãn ở Nước Trời khi bàn tiệc tại thế hoàn tất.

Hiệp thông nơi bàn tiệc Thánh Thể nhờ Chúa Thánh Thần trong Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha. Đó là bàn tiệc mọi người được nếm trước bàn tiệc muôn đời do chính Thiên Chúa thết đãi.

Xin cho chúng con được tham dự bàn tiệc muôn đời trong Nước Chúa.

Về mục lục

BỮA ĂN TÌNH LIÊN ĐỚI

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Xã hội hôm nay nhiều gia đình đang thèm bữa cơm gia đình. Vì công việc, vì thời giờ mỗi người khác nhau nên nhiều bà mẹ chẳng muốn nấu cơm, vì có ai ăn đâu mà nấu! Nhưng từ ngày dịch bệnh xảy ra, đặc biệt trong thời gian cách ly xã hội, nhiều gia đình đã tìm lại được niềm vui bên bữa cơm gia đình. Một chị nội chợ nói rằng: từ ngày kết hôn đến nay, đây là khoảng thời gian đầu tiên gia đình chị duy trì ba bữa cơm trong một ngày có đầy đủ mọi người. Không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc vô cùng. Một anh chồng thì thú nhận: “Những bữa cơm gia đình trong thời gian chống dịch Covid-19 giúp vợ chồng tôi thấy cần phải thay đổi lại bản thân, sống có trách nhiệm hơn với bố mẹ, con cái và bạn đời của mình. Thời gian này ngồi ăn cùng với mẹ, tôi nhận ra bà không ăn được cơm mà chủ yếu ăn cháo vì răng rụng gần hết. Cái mẹ cần nhất không phải là những đồ ngon, đồ bổ mà tôi nỗ lực kiếm tiền mua về cho mẹ ăn, mà là được ngồi ăn cơm cùng với con cháu hàng ngày. Với con cái cũng vậy, ngồi ăn chung với các con, tôi nhận ra lâu nay mình thật vô tâm với chúng. Chắc chắn từ giờ về sau, tôi sẽ thay đổi để về ăn cơm với mẹ và vợ con nhiều hơn”.

Ăn uống là chuyện rất bình thường nhưng đừng để mất đi bữa ăn chung trong gia đình. Qua bữa ăn đó chúng ta quan tâm lẫn nhau. Nơi bữa ăn chúng ta ân cần hỏi nhau: về sức khỏe, về niềm vui hay những lo âu , những gánh nặng trong cuộc sống.  Đó là nơi chúng ta chia sẻ cho nhau qua việc gắp cho nhau miếng ăn ngon, và mời gọi nhau: “Nào, ăn thêm đi, uống thêm đi! “. Đó là nơi chúng ta kể chuyện mới, ôn chuyện cũ, là nơi êm đềm và hạnh phúc đến nỗi ngườixưa bảo rằng: “Trời đánh cũng tránh miếng ăn”. Bàn ăn cũng luôn đủ chỗ cho mọi người. Khi có khách viếng thăm ai cũng niềm nở nói rằng: chỉ là “thêm đũa thêm chén” cho vui. Vì điều quan yếu của bữa ăn chính là sự liên đới tình người. Liên đới của những người cùng chung một nhà. Liên đới với những người thân thuộc. Có liên đới mới ở bên nhau trong bữa ăn. Có tình liên đới mới ngồi chung với nhau quanh bàn ăn.

Bữa ăn thật thấm đượm tình người mà Nguyễn Minh Tâm đã nói rằng:

“Bữa cơm – ta ngỡ chuyện bình thường
Nhưng đó sum vầy đủ yêu thương
Ông bà – bố mẹ cùng con cháu
Ấp áp quây quần tình thơm hương”.

Hôm nay chúng ta tưởng niệm việc Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể. Ngài đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong một bữa ăn và như một bữa ăn, nhờ đó chúng ta được liên kết, được gắn bó mật thiết với Chúa và với nhau. Bởi vì, ai ăn Tấm Bánh và uống Chén Rượu đã được Ngài biến đổi nhờ quyền năng Thánh Thần, người ấy nên một với Ngài. Nên một trong sự sống thần linh của Thiên Chúa để trở thành một gia đình của Thiên Chúa.

Đồng thời khi trao ban chính Thánh Thể làm của ăn  cho nhân loại, Ngài đã hoàn toàn qui hướng về cái chết và sự phục sinh của Ngài: Này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con… Này là chén máu Thầy, máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.

Như vậy, mỗi khi cử hành thánh lễ, Giáo hội diễn lại sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô, diễn lại mầu nhiệm ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Vì thế, dù dưới khía cạnh một bữa ăn, hay dưới khía cạnh một hy tế, bí tích Thánh thể vẫn mãi mãi là một bí tích của tình yêu, bởi vì hy tế thập giá chính là cao điểm của tình yêu cứu độ, như lời Đức Kitô đã phán:

–  Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

Bởi đó, sống thánh lễ là phải tiêu diệt tính ích kỷ, sự chia rẽ và tất cả những gì đối nghịch với tình yêu của Đức Kitô và tình yêu của anh em đồng loại. Sống thánh lễ là sống tình hiệp nhất để cùng ăn, cùng uống một tấm bánh, một chén rượu thì cũng phải nên một với nhau trong Đức Ky-tô.

Vì thế, nếu thánh lễ là một bàn tiệc thì chúng ta sẽ thiếu sót to lớn khi chúng ta đến tham dự thánh lễ mà lại không để ý, không quan tậm tới người khác, cũng như không muốn chung tiếng chung lòng với nhau để tham dự một cách tích cực và sốt sắng. Quả là không bình thường khi bầu khí thánh lễ thiếu vắng tình huynh đệ, thiếu vắng sự hòa hợp, thiếu vắng sự vui tươi.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn trân trọng sự hiện diện bên nhau qua bữa ăn gia đình. Xin cho bữa ăn nơi các gia đình mãi lan tỏa tình liên đới hiệp nhất và bình an. Và xin cho bàn tiệc Thánh Thể nơi các xứ đạo luôn thể hiện tình hiệp nhất và bình an của đại gia đình Thiên Chúa.

Về mục lục

MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Hôm nay, chúng ta cử hành trọng thể lễ Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi). Đây là cơ hội thuận tiện để chúng ta suy niệm về bí tích Thánh Thể. Trong bài đọc II, thánh Phaolô trình bày về bí tích Thánh Thể như là mầu nhiệm “hiệp thông”: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? ” (1 Cr 10, 16).

1. Ý nghĩa hiệp thông

Hiệp thông có nghĩa là kết hợp, trao đổi và chia sẻ. Đây là nguyên tắc nền tảng của sự chia sẻ: mọi sự của anh là của tôi và mọi sự của tôi là của anh. Chúng ta thử áp dụng nguyên tắc này vào sự hiệp thông của bí tích Thánh Thể để khám phá ý nghĩa cao cả của sự hiệp thông này.

Theo nguyên tắc trên, điều tôi có thể chia sẻ là những gì nếu không phải là sự khốn cùng và tội lỗi. Điều Chúa Giêsu có là gì nếu không phải là sự thánh thiện, sự hoàn hảo của các nhân đức. Như thế, những gì tôi dành cho Chúa Giêsu là tội lỗi và sự nghèo khó của tôi, và những gì Người ban tặng cho tôi chính là sự thánh thiện và muôn vàn ơn phúc của Người.

Trong mầu nhiệm này, “một sự trao đổi nhiệm lạ” (admirabile commercium) hay là “sự chuyển đổi tuyệt vời” được thực hiện như phụng vụ diễn tả. Chúng ta nhận thấy có những kiểu hiệp thông khác nhau. Một trong những sự hiệp thông có tính thân mật và đặc trưng nhất đó là chia sẻ thức ăn mà chúng ta dùng với nhau. Khi chúng ta ăn thức ăn như cơm bánh, thịt cá, rau quả vào trong chúng ta, chúng trở thành nguồn dinh dưỡng, năng lượng và sức mạnh cho chúng ta, thành xương thịt trong cơ thể chúng ta. Nhờ quá trình tiêu hóa và biến đổi này, thức ăn trở nên giống chúng ta và nên một với chúng ta.

2. Nên một với Chúa

Ở trong bí tích Thánh Thể, có điều gì đó tương tự như thế xảy ra khi chúng ta đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể như là của nuôi linh hồn chúng ta. Trong Tin Mừng Chúa Giêsu giới thiệu rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống… Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời… vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 51-56).

Ở đây, Chúa Giêsu trở thành bánh hằng sống, Mình và Máu Người trở thành của ăn nuôi dưỡng chúng ta.

Để hiểu rõ hơn điều này, chúng ta hãy quan sát những gì xảy ra trong thế giới tự nhiên liên quan đến thức ăn nuôi dưỡng. Những sinh vật cấp cao hơn ăn và tiêu hóa những sinh vật cấp thấp hơn. Cây cối ăn khoáng vật; con vật ăn cây cỏ. Cả trong mối tương quan giữa Chúa Kitô và con người cũng theo quy luật này.

Tuy nhiên, nơi bí tích Thánh Thể, lương thực không chỉ là một cái gì, mà là một Con Người sống động, là chính Thiên Chúa. Vì thế, ở đây có sự khác biệt so với các lương thực vật chất; khi tiếp nhận thức ăn, chúng ta tiêu hóa chúng và làm cho chúng trở thành máu thịt của chúng ta. Còn khi tiếp nhận Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa không bị biến đổi thành chúng ta, nhưng chúng ta được biến đổi và nên giống Người. Một nhà vô thần duy vật chất nói rằng: “Bạn cho tôi biết bạn ăn gì, tôi sẽ cho biết bạn là ai.” Dù không biết gì về Thánh Thể, người này đã cho chúng ta một định nghĩa hoàn hảo về Thánh Thể. Nhờ Thánh Thể, con người thực sự trở thành điều mình ăn tức là thân thể Chúa Kitô. Chúng ta được kết hợp và nên một với Người. Đây là sự hiệp thông gần gũi, thân mật và kỳ diệu nhất trong các sự hiệp thông.

3. Nên một với tha nhân

Chúng ta hãy đọc phần còn lại bản văn của thánh Phaolô: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10, 17).

Rõ ràng trong trường hợp thứ hai này từ “thân thể” không còn quy chiếu về thân thể Chúa Kitô được sinh ra từ Đức Maria, nhưng quy chiếu về “tất cả chúng ta, ” nghĩa là muốn nói đến một thân thể vĩ đại của Chúa Kitô, tức là Giáo Hội. Thánh Augustinô gọi đó là “Đức Kitô toàn thể (total Christ) gồm chính Người và Giáo Hội. Điều này muốn nói rằng sự hiệp thông Thánh Thể cũng chính là sự hiệp thông ở giữa chúng ta với nhau, giữa con người với con người. Khi cùng ăn một tấm bánh và uống chung một chén rượu, chúng ta sẽ trở nên một thân thể mầu nhiệm trong Đức Kitô. Chúng ta được nên một với nhau nhờ việc hiệp thông với Chúa Kitô và ngược lại.

Điều gì sẽ xảy ra từ đây? Chúng ta không thể hiệp thông với Chúa Kitô nếu chúng ta chia rẽ lẫn nhau, nếu chúng ta thù ghét nhau; hay nếu chúng ta không sẵn sàng hòa giải cho nhau. Nếu chúng ta xúc phạm đến người anh em mình, thánh Augustinô khuyên rằng: “Nếu bạn đã phạm tội bất công chống lại người anh em, rồi đi rước lễ như là không có gì xảy ra, có thể khi đó bạn tràn đầy lòng yêu mến trước Chúa Kitô, khi đó bạn giống như một người gặp một người bạn đang đến với mình, người bạn đó khá lâu rồi anh không gặp. Anh chạy đến với người bạn đó, anh đưa tay choàng lên cổ và hôn người bạn mình. Nhưng đang khi làm như thế, anh đồng thời đá vào người đó bằng mũi dày đinh nhọn.”

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu dạy rằng: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5, 23-24).

Tha nhân chính là hiện thân của Chúa Kitô. Trong ngày lễ Corpus Christi, chúng ta được mời gọi để khám phá sự mù lòa của mình khi đánh mất khả năng nhận biết tha nhân, nhất là những người nghèo là hiện thân của Chúa Kitô, tệ hơn khi hình thành một lối sống vô cảm và vô can trước cuộc sống.

Đây cũng là điều xảy ra với Thiên Chúa. Con người ngày hôm nay tìm kiếm Thiên Chúa trong vũ trụ bao la hoặc trong thế giới nguyên tử; họ tranh luận suốt ngày về một Thiên Chúa tạo dựng thế giới này. Họ tiếp tục chất vấn: “Thiên Chúa ở đâu? ” Nhưng họ không ý thức rằng Người ở với chúng ta và quả thật Người trở thành của ăn và của uống để nên một với chúng ta cách thân mật nhất nơi Thánh Thể. Thật đáng buồn khi nhắc lại lời của thánh Gioan Tẩy Giả: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết” (Ga 1, 26b).

Chính vì thế, lễ Mình Máu Thánh Chúa được thiếp lập và cử hành chính xác là để giúp người Kitô hữu ý thức về sự hiện diện của Chúa Kitô ở giữa chúng ta và để minh chứng cho điều mà thánh Giáo Hoàng Phaolô II gọi: “Sự diệu kỳ của Thánh Thể.” Amen!

Về mục lục

DẤU CHỈ SỰ SỐNG

Lm Vũđình Tường

Thân thể con người cần được chăm sóc, bảo vệ. Nếu lơ là, coi thường, hậu quả thật khó lường trong tương lai. Tư tưởng muốn thay đổi một phần cơ thể do ảnh hưởng xã hội. Tư tưởng này được cổ võ bởi nhóm chuyên sửa sắc đẹp và phẫu thuật làm đẹp. Yêu quí sắc đẹp là điều tốt, cần cổ võ. Mục đích chính của ngành sửa sắc đẹp là kinh doanh, là lợi nhuận. Chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ là điều tốt lành, đáng khuyến khích. Hiện nay hầu như quốc gia nào cũng có trụ sở ‘Hồng Thập Tự’. Một số quốc gia tránh dùng chữ này nên dùng chữ khác nhưng cùng chung mục đích: bảo vệ sự sống con người. Hồng Thập Tự được sáng lập năm 1863 bên Thuỵ Sĩ để giúp nạn nhân thiên tai, chiến tranh và bệnh dịch.

Phụ huynh thương yêu con cái và cung cấp cho chúng những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống về các phương diện sức khoẻ, tâm lí và tâm linh. Phụ huynh có khả năng cung cấp sự an toàn cho con cái và mang lại sự an vui trong cuộc sống của chúng. Họ còn muốn làm tốt hơn cho con cái, nhưng không thể cung cấp những gì ngoài khả năng. Một trong những điều đó là vấn đề bảo đảm đời sống tâm linh. Những ai tin tưởng vào Đức Kitô thường phó dâng cuộc sống của cái, người thân cho Đức Kitô và mẹ Maria coi sóc. Làm như thế vì họ tin tưởng Đấng Toàn Năng có khả năng, sẵn sàng bảo vệ người thân họ.

Con người có thể hiến máu mà không bị tổn hại đến sức khoẻ, trái lại việc hiến máu còn mang lại sự sống cho người khác. Thân nhân có thể hiến một mắt, tặng một trái thận khi còn sống. Việc hiến tặng một bộ phận cơ thể cho người khác đòi người cho phải chết đi mới có để hiến tặng. Đức Kitô cũng theo cách này; chết đi để trao tặng nhân loại sự sống. Đức Kitô yêu thương nhân loại đã tự hiến chính Thịt và Máu Ngài làm của ăn nuôi dưỡng tâm linh con người. Ngài diễn tả việc đó dưới hình bánh rượu – Bí Tích Thánh Thể. Chính Ngài phán:

‘Tôi là bánh gằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống’ Gn 6, 51.

Điều này không những ây tranh luận và còn tạo bất mãn trong số những người nghe. Họ đặt vấn đề Đức Kitô có khả năng làm điều Ngài phán dậy chăng? . Số khác đi xa hơn, không những chỉ trích điều Đức Kitô phán dậy mà còn phân tích và chỉ trích ngôn từ Đức Kitô dùng. Họ nói ‘Lời gì nghe chói tai thế, ! ai mà nghe nổi c.60’. Lối suy nghĩ này hiện nay vẫn tồn tại. Hai niềm tin đối nghịch nhau. Nhóm một tự tin vào khả năng con người, tin là càng ngày càng tiến bộ về mọi mặt, nên con người có khả năng tự cứu mình. Nhóm hai tin là con người dù tài giỏi đến đâu cũng phải đầu hàng trước bí ẩn của sự chết. Đi về đâu sau khi chết. Con người đầu hàng trước sự sống trường sinh. Họ hướng về Đức Kitô. Tin vào điều Ngài giảng dậy. Họ tin là mọi sự Thiên Chúa toàn năng đều có thể thực hiện, bao gồm cả việc cho kẻ chết sống lại, cho linh hồn sống an vui muôn đời. Đây không phải là tin hão huyền. Niềm tin này đặt trọng tâm vào Đức Kitô Phục Sinh, hứa ban cho những ai tin tưởng, yêu mến Ngài. Đón nhận ‘Mình và Máu’ Đức Kitô là liên kết chặt chẽ với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đức Kitô dùng từ ‘Bánh và rượu’ chỉ về thân thể và máu Người đổ ra trên thập giá. Thân thể Ngài bị tra tấn, da rách, thịt nát, máu trào ra, vương vãi, tương tự như tấm bánh bị bẻ ra, li rượu trao tay, chia sẻ cho người cùng bàn ăn.

Cha mẹ diễn tả tình yêu của mình cho con cái bằng cách làm việc cho con có nhà ở, của ăn, thức uống, học hành. Biến lao nhọc, mồ hôi thành thực phẩm và điều cao quí nhất là tình yêu, lòng mến. Con cái không hiểu được việc biến đổi này. Chúng nhìn thấy nhưng không hiểu, không giải thích được việc biến đổi đó. Đức Kitô cũng liên kết thân thể rách nát của Ngài trên thập giá là hình ảnh Bánh Trường Sinh, và chén cứu độ Ngài ban. Ngài chết để cho ta được sống. Ngài sống lại ban cho ta sự sống trường sinh. Khi chúng ta tham dự Bí Tích Thánh Thể, chúng ta liên kết Thánh Thể và Thập Tự của Đức Kitô là một thực thể không thể chia lìa, phân cách. Hai sự việc diễn tả một hành động: Tình yêu Đức Kitô dành cho Kitô hữu. Ngày nay cử hành Bí Tích Thánh Thể chính là làm sống lại hành động xưa Đức Kitô đã hy sinh trên thập tự. Lập lại việc chính Đức Kitô đã thực hiện trong bữa Tiệc Li; làm sống lại đoạn đường thương khó của Đức Kitô, cái chết và sự sống lại Phục Sinh vinh hiển của Ngài. Đây là niềm tin của các Kitô hữu. Chúng ta cầu nguyện mỗi khi tham dự Bí Tích Thánh Thể hình ảnh bữa Tiệc Li và hình ảnh Đức Kitô Phục Sinh luôn sống trong tâm hồn chúng ta.

Về mục lục

QUÀ TẶNG TÌNH YÊU

Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

Thưa quý OBACE, trong cuộc sống, cũng có những người dám hy sinh một phần thân thể của mình, tặng mắt, tặng thận hoặc tặng một phần máu để cứu người khác. Một bà mẹ đã chia sẻ: Khi được gợi ý tặng các cơ phận của đứa con trai bà, cậu bị tai nạn giao thông, đã hôn mê sâu không còn cơ hội cứu sống, đó là điều khó chấp nhận. Nhưng sau khi trao đổi với chồng, hai người đã đồng ý. Các cơ phận trong cơ thể của con bà đã đem lại hạnh phúc cho nhiều người khác: Một người được thay giác mạc, một thanh niên được thay tim, và người khác được cứu sống nhờ trái thận của con bà. Bà cảm thấy đó là những món quà quý giá và ý nghĩa nhất mà con bà để lại cho đời. Cách đây hơn hai ngàn năm, đã có một người, không chỉ tặng một phần máu hoặc một cơ phận nào đó cho người khác, mà là trao tặng toàn bộ, trọn vẹn con người của mình, để cho người mình yêu được cứu sống. Người ấy có tên là Giêsu. Đức Giêsu vì yêu thương nhân loại và vì muốn ở lại với nhân loại mãi mãi và muốn ở trong trái tim, tâm hồn người mình yêu, Chúa đã trao tặng chính máu thịt mình làm của ăn của uống cho nhân loại.

Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Mình và Máu Chúa Kitô, nhắc lại cho chúng ta về món quà hết sức đặc biệt mà Chúa Giêsu trao tặng cho nhân loại. Đây không phải một món đồ lưu niệm treo trong phòng, nhưng là món quà sống động, đem lại sự sống cho người đón nhận.

Thánh Phaolô trong thư gửi cộng đoàn Corintô đã trình bày sự sống động của món quà là Mình và Máu Chúa: Mình và Máu được trao ban không phải là một miếng thịt, một ly huyết tửu, mà là trọn vẹn cả con người, sự sống của Chúa Giêsu và cũng là trọn vẹn cả Thiên Chúa. Khi đón nhận Mình và Máu Chúa, chúng ta đón Chúa đi vào trong thân xác và trong tâm hồn. Thịt máu ấy sẽ trở thành chất dinh dưỡng nuôi sống cả thể xác và linh hồn, đồng thời tăng cường sức mạnh giúp ta có thêm sức để chiến đấu chống lại ma quỷ và tội lỗi và là năng lượng giúp cho hành trình về quê trời. Khi đón nhận Mình Máu Chúa, không chỉ Chúa Giêsu đi vào trong tâm hồn ta, nhưng chúng ta được đi vào trong Thiên Chúa, được dự phần, được thông hiệp với Chúa Kitô. Thánh Phaolô đã nhấn mạnh: “Khi ta nâng chén chúc tụng… là ta dự phần vào Máu Chúa Kitô. Khi ta cùng bẻ Bánh… là ta dự phần vào Thân Thể Người… Tất cả chúng ta, tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”. Khi tất cả chúng ta cùng ăn một Bánh, cùng uống một Chén, chúng ta làm nên thân thể Chúa Kitô, tức là cùng nhau làm nên sự hiệp nhất, duy nhất. Như vậy Mình và Máu của Chúa Giêsu là món quà sống động nối kết chúng ta với Thiên Chúa và liên kết chúng ta nên một với nhau.
Chúa Giêsu cho biết món quà mà Ngài ban tặng cho nhân loại là món quà từ trời. Trong bài giảng về Bánh Hằng Sống, Chúa Giêsu đã quả quyết: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống”.Khi nói những điều này với người Do Thái, họ đã không dễ dàng để đón nhận. Khi nói đến bánh bởi trời, người Do Thái chỉ nghĩ tới Manna trong sa mạc, nuôi tổ tiên họ suốt bốn mươi năm.

Sách Đệ Nhị Luật cho thấy, Môsê hướng người Do Thái đến một ý nghĩa khác hơn khi đón nhận Manna từ trời. Ông nói với họ, Thiên Chúa ban Manna sau khi đã huấn luyện và thử thách lòng trung tín của Israel. Môsê cũng đã nhìn thấy rất xa về việc Thiên Chúa sẽ ban cho nhân loại một thứ lương thực đặc biệt hơn sau này, đó là loại lương thực “Anh em và cha ông anh em chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng, người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Để minh chứng cho việc Thiên Chúa nuôi dân bằng lời do miệng của Ngài, Môsê còn nhắc cho dân Israel nhớ lại rằng lời của Chúa có sức giải thoát dân Israel và cứu họ khỏi những gian lao thử thách bên Aicập cũng như trong hoang địa. Lời Chúa vừa là lương thực vừa là sức mạnh cho Israel.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu cho người Do Thái thấy rằng Manna được Chúa ban trong sa mạc vẫn chỉ là bánh vật chất. Bánh đó chỉ đáp ứng cho nhu cầu của thân xác, giải quyết cái đói. Bánh đó không đem lại sự sống cho linh hồn. Vì thế, ăn bánh đó vẫn phải chết. Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu nói cho người Do Thái biết rằng, Ngài sẽ ban cho họ một thứ Bánh đặc biệt, Bánh này không chỉ đáp ứng nhu cầu thân xác, nhưng Bánh này còn có sức mạnh nuôi sống linh hồn và bảo đảm cho sự sống đời đời.

Chúa Giêsu nói rõ hơn về Bánh bởi trời được Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại là chính con người của Ngài. Ai đón nhận Ngài vào tâm hồn, ai ăn Ngài, sẽ đón nhận được sự sống đời đời. Bánh này vừa là quà tặng của Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại, vừa là quà tặng của chính Đức Giêsu: “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống”. Món quà này của Chúa Giêsu trao ban cho nhân loại hết sức độc đáo, đặc biệt, mà không có ai trong nhân loại có thể nghĩ ra và có thể làm được như thế. Trao ban máu thịt cho nhân loại, Chúa Giêsu đã trao ban cả con người, sự sống, cả linh hồn, thân xác và bản tính Thiên Chúa của Ngài cho nhân loại. Điều này có nghĩa là Chúa trao tặng cách trọn vẹn, không còn giữ lại gì cho riêng bản thân. Ngài chấp nhận hoàn toàn trở nên món quà trong tay con người, để cho con người sử dụng.

Khi ban chính máu thịt cho nhân loại, Chúa Giêsu không gây sốc cho con người. Ngài không trao tặng món quà như một thân xác bị phân thây, máu me be bét, nhưng Ngài lại khôn ngoan và kỳ diệu khi biến máu thịt của mình trở nên hình bánh hình rượu, trở nên của ăn phổ thông cho con người dễ dàng đón nhận. Bánh và rượu là của ăn căn bản của mọi người, mọi dân tộc. Bánh và rượu là thứ lương thực không thể thiếu trong cuộc sống con người. Lương thực này cũng là nguồn cung cấp dưỡng chất căn bản cho cơ thể con người. Nhưng quan trọng hơn, lương thực là Mình Máu Chúa dưới hình bánh và rượu được trao tặng là thứ lương thực không thể thiếu của linh hồn. Ai ăn bánh và uống rượu thánh này, thì được bảo đảm cho một đời sống linh hồn khỏe mạnh, một sức đề kháng cực tốt, có thể ngăn chặn và đẩy lùi những virus độc hại và những căn bệnh do ma quỷ và tội lỗi gây ra.

Tuy nhiên, những người nghe Chúa Giêsu đã không vượt qua được cái nhìn vật chất, đầu óc họ không chịu mở ra để đón nhận những mạc khải về đời sống siêu nhiên, nên họ bị trói buộc theo cái nhìn phàm trần. Vì vậy, khi Chúa nói đến việc trao ban máu thịt làm của ăn, của uống: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông sẽ không có sự sống nơi mình”, họ không chấp nhận: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?” mặc dù Chúa đã giải thích bằng nhiều cách, ai ăn thịt và uống máu Ngài thì có sự sống đời đời, được ở lại trong Ngài và được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa.

Thưa quý OBACE, “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu của người dám hy sinh mạng sống vì người mình yêu”. Đức Giêsu đã yêu thương nhân loại và yêu từng người chúng ta. Ngài đã trao tặng cho chúng ta món quà quý giá và ý nghĩa nhất, đó là chính Người, máu thịt của Ngài làm của ăn của uống để nuôi dưỡng và tăng sức cho chúng ta trên hành trình trần thế. Như đã nói, món quà này không phải là đồ lưu niệm, nhưng là món quà sống động, đem lại sự sống cho nhân loại. Vì thế khi trao tặng, Chúa Giêsu muốn chúng ta đón nhận Ngài cách chủ động, tích cực, để cho Ngài đi vào trong cơ thể con người và thấm sâu vào linh hồn mỗi người. Mình Máu Chúa sẽ là dưỡng chất, sự bồi bổ, tăng lực, tăng đề kháng giúp chúng ta chống trả ma quỷ, tội lỗi và cám dỗ, và thêm sức để ta có thể đi trọn hành trình trần thế.

Đón rước Mình và Máu Chúa, không chỉ Chúa ở lại trong chúng ta, mà chúng ta được ở lại trong Chúa, như con cái ở trong vòng tay cha mẹ. Vì thế, khi rước Chúa vào tâm hồn, đưa Chúa về gia đình, Chúa sẽ tiếp tục ở với mỗi thành viên trong gia đình. Chúa không ở như người khách, nhưng Chúa sẽ ở với các gia đình trong tư cách là Chúa, là Chủ gia đình đồng thời cũng là thành viên trong gia đình, để chia sẻ, trợ lực cho mọi lo toan của các gia đình.

Xin Chúa cho chúng ta được vượt qua cái nhìn tự nhiên để nhìn thấy Chúa đang hiện diện thật sự và sinh động trong Bí tích Thánh Thể. Xin Chúa giúp chúng ta được luôn xác tín và chạy đến tâm sự với Chúa như với người bạn, để được Chúa nâng đỡ an ủi khích lệ cả khi vui và lúc buồn, khi lo âu cũng như khi thành đạt. Amen.

Về mục lục

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

Jorathe Nắng Tím

Đói là thử thách đáng sợ, là tai ương khủng khiếp của con người. Cứ nhìn những em bé gầy giơ xương, mới năm bẩy tuổi mà già như ông cụ chỉ vì đói, những thước phim ghi lại cảnh đói năm 1945 ở miền bắc Việt Nam với hơn một triệu người chết la liệt, chết co quắp, chết nhăn nhó tang thương vì đói đã làm rùng mình, kinh sợ. Bởi là người ai cũng sợ sống mà thiếu ăn; làm người, ai cũng hãi sống mà phải đói, cũng như không mấy người dám nghĩ đến cảnh phải chết đói, để phải thành “ma đói” dưới âm phủ. Chẳng thế mà người ta vẫn giữ tục lệ dành cho tử tội trước khi bị hành quyết được ăn một bữa no nê, để khỏi phải làm người chết đói.

Thời Cựu Ước, dân Do Thái những năm tháng trong sa mạc, trên đường từ Ai Cập về Đất Hứa đã thấm thiá cái đói của đoàn người lữ hành “thiếu thốn” trên hành trình dằng dặc dài và gian khổ. Trong những ngày đói ăn đó Thiên Chúa Giavê đã nuôi họ bằng manna từ trời như sách Đệ Nhị Luật đã ghi lại lời của Môsê nói với dân: “Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn manna là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra” (Đnl 8,3).

Thiên Chúa Giavê đã nuôi dân Ngài bằng manna là lương thực nuôi thân xác. Không của ăn, dân sẽ chết lả vì đói; không nước uống, dân sẽ chết khô vì khát, và Thiên Chúa đã chăm sóc, nuôi nấng dân Ngài, không để họ phải chết vì đói khát trong sa mạc. Nhưng Thiên Chúa còn muốn đi xa hơn, muốn làm nhiều hơn cho con người, khi ban cho con người lương thực thiêng liêng, lương thực ban sự sống đời đời, lương thực mà ai ăn sẽ không còn đói, và nguồn nước, ai uống sẽ không còn  khát. Lương thực ấy chính là Mình và Máu Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã được chính Đức Giêsu mặc khải: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).

Khi ban cho con người Mình và Máu, Đức Giêsu Thiên Chúa cho chúng ta được thông hiệp vào chính Thân Thể của Ngài, được kết hiệp với Chúa Cha, được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa (x. Ga 6,56-57). Đồng thời, chúng ta cũng được thông hiệp với anh em, khi ăn thịt và uống máu Con Thiên Chúa, vì tất cả đều là chi thể của một Thân Thể Đức Giêsu, như thánh Phaolô đã khẳng định: “Chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1 Cr 12,13).

Như thế, Mình và Máu Đức Giêsu không chỉ nuôi sống linh hồn và ban cho chúng ta sự sống đời đời, mà còn cho chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa và hiệp thông với anh em. Chính nhờ kết hiệp với Thiên Chúa mà chúng ta được sống đời đời, và nhờ hiệp thông với anh em mà chúng ta trở thành chi thể sống động, chi thể yêu thương của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội.

Qủa thế, nếu manna đã được Thiên Chúa ban để nuôi dân riêng trong sa mạc, thì Mình và Máu Đức Giêsu là lương thực được Thiên Chúa ban để nuôi Giáo Hội, dân mới của Thiên Chúa, “bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,17).

Chính Thánh Thể quy tụ, hiệp nhất, xây dựng, nuôi sống Giáo Hội, nên không có Giáo Hội, nếu không có Thánh Thể. Một Giáo Hội thiếu Thánh Thể, một Giáo Hội không yêu mến Thánh Thể, không tìm về Thánh Thể là nguồn tình yêu, ân sủng, sức sống sẽ là một Giáo Hội “không có Đức Giêsu”, không hiệp thông, không hiệp nhất, không sinh sôi nẩy nở, vì là một Thân Thể “không đầu”, cạn kiệt sức sống, chết lả, khô héo.

Trước những phong trào cải cách không muốn tin vào mầu nhiệm Thánh Thể, không chấp nhận sự hiện diện đích thực và sống động của Đức Giêsu trong Mình Máu thánh, như đám đông người Do Thái ngày xưa đã phẫn nộ la ó phản đối khi nghe Đức Giêsu tuyên bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống” (Ga 6,54-55), ngay cả các môn đệ cũng có người cho những lời Ngài nói khó nghe qúa và từ lúc đó, nhiều  môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa (Ga 6,66), chúng ta, những người Kitô hữu, giữa một thế giới không còn muốn tin, trong lòng một xã hội muốn triệt hạ và loại bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ khó tránh khỏi những cám dỗ “nghi ngờ mầu nhiệm Thánh Thể”, và chỉ coi Thánh Thể như một biểu tượng, một biểu trưng mang tính hình thức, chứ không là Mình và Máu thật của Đức Giêsu, Thiên Chúa.

Chúng ta cũng bị cám dỗ hời hợt với Thánh Thể, khi không nhận ra Thánh Thể chính là Tình Yêu của Thiên Chúa, nên không thể đón nhận Thánh Thể với trái tim rực lửa hận thù, rước Mình Máu Chúa với lòng dạ ganh ghét, kiêu căng, ích kỷ, bởi Tình Yêu đòi hiệp nhất, hiệp thông, trao ban, chia sẻ như Mình Máu thánh đã được hiến dâng để làm nên một dân tộc mới hiệp nhất với Đức Giêsu, Thiên Chúa và hiệp thông với mọi người như các chi thể của một Thân Thể duy nhất.

Thực vậy, Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng và sáng kiến tình yêu của Ngài luôn độc đáo, táo bạo, kỳ diệu mà bí tích Thánh Thể là một trong những sáng kiến đó, để ở lại và nuôi dưỡng linh hồn chúng ta một cách thực sự và sống động cho đến tận thế.

Mừng lễ Mình Máu thánh Chúa, chính là dịp sống lại lòng suy tôn Thánh Thể và yêu mến Thánh Lễ, ở đó tất cả chúng ta là Giáo Hội được quây quần, hiệp nhất nên một trong một tấm Bánh, một Thân Thể mầu nhiệm là Đức Giêsu.

Về mục lục

XÁC BỒN CHỒN HỒN HÉO HON

Trầm Thiên Thu

Khi cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi với Mùa Sáng, chúng ta cầu xin trong ngắm thứ năm: “Xin cho được năng kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể.” Tất nhiên cũng hiểu ngầm là tình trạng linh hồn phải thực sự xứng đáng.

Con người có hai phần: xác và hồn. Thân xác cần lương thực để duy trì sự sống và phát triển, linh hồn cũng vậy, và còn cần hơn nữa. Lo cho phần xác mà nhếch nhác phần hồn thì không chỉ hại chính mình mà còn làm cho Chúa buồn. Một tinh thần minh mẫn trong một thân xác khỏe mạnh, tương tự, nếu xác bồn chồn thì hồn héo hon là điều chắc chắn.

Con người rất cần lương thực – kể cả động vật và thực vật. Chiến tranh không ngừng cũng chỉ vì giành nhau miếng cơm, manh áo. Để duy trì sự sống, người ta cần có lương thực – một phần thiết yếu. Tuy nhiên, ngày nay người ta phải cảnh giác cao độ vì các loại thực phẩm nhiễm độc vì các hóa chất, đặc biệt là thực phẩm của Trung cộng, loài quỷ đỏ đang bị cả thế giới tẩy chay. Do đó, càng văn minh thì người ta càng quan ngại về thực phẩm, nghĩa là càng cần sự an toàn về thực phẩm. Ngày xưa người ta nghèo nhưng không lo về thực phẩm, hầu như an toàn tuyệt đối: không chất bảo quản, không tẩm thuốc, không hóa chất,…

Để hỗ trợ dân nghèo vì nhân đạo, Liên Hiệp Quốc đã thành lập tổ chức FAO (Food and Agriculture Organization – Tổ chức Lương Nông) ngày 16-10-1945 tại Canada. Tổ chức này nhằm 3 mục đích chính: 1) Nâng cao mức sống và mức dinh dưỡng của nhân dân các nước thành viên; 2) Nâng cao hiệu quả sản xuất lương thực và nông sản; 3) Góp phần vào việc phát triển kinh tế thế giới và giải phóng nhân dân khỏi nạn đói. Trên logo của FAO có 2 chữ “Fiat Panis” (La ngữ) – nghĩa là “Để Có Lương Thực” (let there be bread).

Là Đấng giàu lòng thương xót, Chúa Giêsu sợ người ta đói nên Ngài đã chạnh lòng thương mà hai lần làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho đám người “quên” cái bụng đói vì say mê nghe Ngài giảng thuyết. Các thánh sử đã ghi lại phép lạ lần một (Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17; Ga 6:1-14), với 5 cái bánh và 2 con cá, số thực khách lên tới 5.000 người, chưa kể phụ nữ và trẻ em, phần dư còn thu được 12 thúng đầy; và lần hai (Mt 15:32-39; Mc 8:1-10), với 7 cái bánh và vài con cá nhỏ, khoảng 4.000 người no nê, cũng không tính phụ nữ và trẻ em, phần dư còn thu được 7 thúng đầy.

Đó là ngụ ý đề cập Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong buổi Dạ Tiệc Vượt Qua, trước khi Ngài chịu chết vì tội lỗi của chúng ta. Máu và thịt không thể tách rời, vì đó là dấu cho thấy có sự sống.

Trong cuộc sống đời thường, ăn uống là chuyện thường xuyên, nên khi đề cập cái gì thường xuyên thì người ta thường ví von “như cơm bữa.” Ăn và uống thường đi đôi. Ăn là một trong tứ khoái của con người, đặc biệt là đứng đầu, có thể gọi là “đệ nhất khoái.” Tuy nhiên, miếng ăn cũng có thể là vinh dự hoặc nhục nhã. Có lẽ vì vậy, nhất là với người có lòng tự trọng, tục ngữ Việt Nam so sánh: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ.” Ăn cũng có nghệ thuật ăn, không phải cứ cho vô miệng là xong. Không chỉ vậy, ăn không chỉ để no bụng mà còn cần ngon miệng: Đồ ăn ngon, chỗ ăn ngon, và người ăn ngon (cùng ăn). Thế mới đủ độ ngon. Chuyện ăn uống quả là phức tạp!

Ngày xưa, khi dân Israel đi qua sa mạc ròng rã 40 năm để tới Miền Đất Hứa, lương thực duy nhất là manna. Suốt 40 năm chỉ một món manna thế thì ngán thật. Thảo nào vì chán ngán mà thấy thèm đồ ăn ngon ngày xưa thường ăn, thế rồi cả đám con cái Israel khóc lóc than vãn: “Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây? Nhớ thuở nào ta ăn cá bên Ai Cập mà không phải trả tiền, rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi. Còn bây giờ đời ta tàn rồi; mọi thứ đó hết sạch, chỉ còn thấy manna thôi.” (Ds 11:4-6) Giữa sa mạc khô cằn hoang vu mà đòi thịt thì lấy đâu được chứ? Môsê thấy “đau đầu, nhức óc” ghê gớm. Khổ!

Theo Kinh Thánh, manna là loại “bánh từ trời,” nhìn như hạt ngò và trông như nhựa hương. Lạ quá chừng! Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nồi nấu bánh, mùi vị manna cũng y như mùi vị bánh chiên dầu. Thơm phức, nức lòng. Đêm về, sương rơi trên doanh trại, và manna cũng rơi xuống. (Ds 11:7-9) Cái món manna lạ nhưng ăn hết ngày này sang tháng nọ thì cũng thấy ngán. Dân kêu réo, Môsê đành “cầu cứu” Chúa. Ngài cho gió lùa chim cút tới, lớp chim cút dày tới cả mét, dân cứ việc lượm mà ăn cho thỏa thích. Nhưng người ta tham lượm nhiều để dành, thế nên Chúa nổi trận lôi đình. (Ds 11:31-33) Tham thì thâm. Rõ ràng là “thần khẩu hại xác phàm” – cái miệng hại cái thân. Có ăn cũng khổ, chẳng sướng gì!

Dân cứng đầu cứng cổ, ngang ngược, xấc xược, thế nên Thiên Chúa thịnh nộ. Họ được ăn mà không biết cảm ơn lại còn dám nổi loạn. Loài người vô ơn bạc nghĩa thật! Nhưng Ngài vẫn luôn nhân từ, vẫn tha thiết mời gọi: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào.” (Is 55:1) Thế nhưng con người “chảnh” lắm, nên ca dao cũng có tâm sự buồn: “Khi vui chẳng nhớ tới ai, Đến khi nóng cứ trái tai mà sờ.”

Nói đi rồi nói lại, nhắc tới rồi nhắc lui, Kinh Thánh tiếp tục cho biết: “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực; như vậy Người thử thách anh em cho biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không. Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra.” (Ðnl 8:2-3) Chính Đức Kitô cũng đã nhắc nhở y như vậy. (x. Mt 4:4; Lc 4:4) Xác cần ăn thì hồn cũng cần ăn, có vậy mới sống và phát triển cân bằng – thể lý, tâm sinh lý, trí tuệ, đặc biệt là tâm linh.

Không thể ngưng hoặc im lặng, Kinh Thánh lại tiếp tục vừa giải thích vừa động viên: “Thiên Chúa của anh em, Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Người đã dẫn anh em đi trong sa mạc mênh mông khủng khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã khiến nước từ tảng đá hoa cương chảy ra cho anh em uống. Trong sa mạc, Người đã cho anh em ăn man-na, thức ăn mà cha ông anh em chưa từng biết, để bắt anh em phải cùng cực và thử thách anh em, hầu làm cho anh em được hạnh phúc trong tương lai.” (Ðnl 8:14-16) Thế nhưng trái tim phàm nhân nếu không bằng đá thì cũng bị xơ cứng, nghe xong rồi quên, hứa xong rồi thôi, vậy mà vẫn tự nhận mình là “cái rốn của vũ trụ,” là “số dzách,” cho nên lúc nào cũng chỉ chực nổi loạn. Không hề oan ức. Đó là loại “ADN kiêu ngạo” di truyền từ Ông Bà Nguyên Tổ. Mệt ghê!

Không chỉ là phàm nhân mà còn là tội nhân, nhưng “cái tôi” của chúng ta to hơn cái tháp Eiffel, chẳng cần biết ai, kể cả Chúa. Vì thế, chúng ta vẫn tưởng mình “ngon lành” lắm, dám mạo nhận mình là ân nhân, mặc dù chúng ta chỉ cho người khác những thứ thừa thãi – còn tệ hơn bố thí, thay vì vứt đi! Do đó, Thánh Vịnh gia nhắc khéo bằng cách mời gọi: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa! Này Sion, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi! Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc, con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân. Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình, và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo.” (Tv 147:12-14) Đúng là tình yêu Chúa bao la, hồng ân Chúa chan hòa, lòng thương xót của Ngài vô tận.

Dân Israel là Dân Riêng của Chúa, và cũng là hiện thân của chúng ta, bởi vì chúng ta cũng là Dân Thánh của Ngài. Chúng ta cũng được “đặc cách” mà vẫn vô ân bội nghĩa. Thật vậy, Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Giacóp, chiếu chỉ luật điều cho Israel. Chúa không đối xử với dân nào như vậy, không cho họ biết những điều luật của Người.” (Tv 147:19-20) Thật thấm thía với lời xác định của bác học André Marie Ampère: “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ gối cầu nguyện.” Đó là lúc nhận biết Chúa là ai và nhận ra mình là gì.

Dù chẳng đáng gì, nhưng chúng ta được Thiên Chúa ban tặng mọi thứ, tặng phẩm đặc biệt là chính Con Một Ngài – Đức Giêsu Kitô. Đó là hệ quả của “khối tình si” của Thiên Chúa dành cho đám tội nhân chúng ta: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3:16) Vâng, Ngài yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân. (Rm 5:8) Và rồi Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.” (1 Cr 10:16-17) Đó cũng là lời nhắc nhở chúng ta về việc yêu thương nhau – yêu thương bằng mọi động thái, bằng cả con người của mỗi chúng ta: Hai mắt để nhìn nhiều, hai bán cầu não để động não nhiều, hai tai để lắng nghe nhiều, hai tay để hành động nhiều, hai chân để đến với nhau, nhưng một miệng để nói ít, và một con tim để trung tín.

Đã có lần Chúa Giêsu nói với người Do Thái trong thời gian đi rao giảng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6:51) Nghe “chói tai” nên họ tranh luận sôi nổi, và đặt vấn đề: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:52) Ừ, nghe thấy ớn thật. Nhưng họ ớn vì họ không chịu tin Ngài là Con Thiên Chúa.

Vấn đề cốt lõi là chỗ đó. Nhưng làm sao họ hiểu được. Nếu có chúng ta trực tiếp nghe Chúa Giêsu nói lúc đó, chắc chắn chúng ta cũng phản đối tới cùng chứ chẳng vừa đâu. Chúa Giêsu biết hết, và Ngài nghiêm túc nói với họ, có vẻ “dài dòng” nhưng cần thiết, đồng thời cũng vừa xác định vừa giải thích: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6:53-58) Quả thật, Chúa Giêsu không chỉ làm cho chúng ta sống, vì chính Ngài là Sự Sống, (Ga 14:6) mà Ngài còn cho chúng ta được sống dồi dào. (Ga 10:10) Sống đúng mức, tới đỉnh điểm của sự viên mãn.

Thật vậy, điều đó đã được Chúa Giêsu thực hiện ngay khi cùng các môn đệ ăn Bữa Tiệc Ly, và đó cũng là cách Ngài thực hiện lời hứa trước đó: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20) Một cách tương tự là Ngài cũng đã hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.” (Ga 14:16) Và Chúa Thánh Thần vẫn đang ở với chúng ta cùng với Thánh Thể, bây giờ và mãi đến lúc không còn thế gian này nữa.

Giống nhau mà rất khác nhau, bởi vì cũng là “bánh từ trời,” nhưng manna chỉ là lương thực bình thường, ăn để sống phần xác rồi… chết, còn Mình Máu Đức Kitô là lương thực thiêng liêng, vừa là Thần Lương vừa là Thần Dược, ăn để sống và điều trị phần hồn (kể cả phần xác), đặc biệt là Thánh Thể làm cho chúng ta bất tử và được hưởng vĩnh phúc. Thánh Thể chính là Thần Lương cho chúng ta đủ sức kiên nhẫn đi hết chặng đường lữ hành trần gian, là Của Ăn Đàng, là Nguồn Trường Sinh của chúng ta. Nhờ Thần Lương Thánh Thể, chúng ta không chỉ sống mà sống dồi dào, sống sung mãn.

Mẹ Thánh Teresa Calcutta xác định: “Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể.” Đối với Bí tích Thánh Thể, chúng ta phải có đức tin thực sự trưởng thành, không thể dựa trên thính thị hoặc cảm giác. Chỉ có đức tin mới thực sự cảm nghiệm được Mình Máu Thánh Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa. Hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì.

Hằng ngày, mỗi khi rước lễ là chúng ta đón rước Thiên Vương Giêsu vào lòng, lúc đó Chúa Tể càn khôn đang hòa tan vào chúng ta, nên một với chúng ta, thật là đại phúc cho phàm nhân và tội nhân chúng ta. Ước gì sau khi rước lễ, chúng ta có được vài phút để cùng nhau cảm nghiệm Chúa Giêsu Thánh Thể, Vua Thương Xót. Ngài muốn lắng nghe chúng ta về mọi điều buồn vui, đặc biệt là Ngài muốn chúng ta tôn thờ và cảm tạ Ngài. Vài phút ngắn ngủi đó rất cần thiết cho đời sống của tín nhân – những người khao khát sự sống của Đức Giêsu Kitô.

Đức tin là điều rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Bí tích Thánh Thể luôn “gắn liền” với đức tin, nhưng cũng phải thận trọng lắm, vì có thể dễ trở thành cuồng tín hoặc tin lệch lạc. Vấn đề tín lý không đơn giản. Tương tự, khi nói về Kinh Thánh cũng phải thận trọng, nếu không cũng rất nguy hiểm. Chẳng hạn, mới đây có người nói trong một bài viết nói về “con tim” mà sai tín lý. Nguyên văn của tác giả: “Lạy Chúa Giêsu mến yêu! Như trái tim của Ápraham đau khổ khi vâng lời Chúa, sát tế con mình, như trái tim Môsê vâng lệnh Chúa đưa dân Israel vào sa mạc suốt 40 năm mà vẫn không vào được Đất Hứa, hoặc như trái tim vua Đavít đã hối hận ăn năn vì biết bao tội lỗi mình đã phạm, và trái tim đau khổ vô ngần khi Mẹ Maria vâng theo Thánh ý Chúa Cha để công cuộc cứu độ loài người được hoàn tất.”

Thật vô cùng nguy hiểm nếu tác giả “trực tiếp chia sẻ” với người khác như vậy, nếu người nghe là tân tòng thì càng nguy hiểm hơn. May thay bài viết này tác giả đã được thông báo và kịp sửa lại cho đúng tín lý Công giáo. Ngày xưa, khoảng vài thập niên của thế kỷ XIX cũng vẫn có các tà thuyết hoặc dị giáo, trước đó có nhiều – ví dụ: Albigensianism (thế kỷ XII–XIII), Arianism (thế kỷ IV), Donatism (năm 311), Jansenism (thế kỷ XVII), Macedonianism (khoảng năm 362), Manichaeism (khoảng 216–276), Nestorianism (giữa thế kỷ IV và V), Pelagianism (thế kỷ V), Priscillianism (thế kỷ IV–V), Calvinism (1570),… Chỉ vì họ tin sai và suy diễn lệch lạc, đối nghịch với đức tin Công giáo. Phải chăng họ muốn lập tân giáo? Ngày nay cũng vẫn có người tự xưng là giáo chủ của phái này, phái nọ. Nguy hiểm!

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, xin gia tăng đức tin, thắp Lửa Yêu Mến và biến đổi trái tim chai sạn của chúng con, để chúng con chỉ yêu mến Ngài mà thôi, yêu bằng cả con người của chúng con, xin thêm sức mạnh để chúng con vượt qua mọi mưu ma chước quỷ, để chúng con xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể Ngài mỗi ngày. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Thánh Phụ, hiệp nhất với Thánh Linh đến đời đời. Amen.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT LỄ MÌNH MÁU CHÚA

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Vào ngày lễ Mình và Máu Thánh Đức Ki-tô, Phụng Vụ Lời Chúa cử hành sự kiện Thiên Chúa ban tặng bánh từ trời làm lương thực cho nhân loại.

Đnl 8: 2-3, 14-16

Sách Đệ Nhị Luật nhắc lại ân ban bánh Man-na kỳ diệu từ trời xuống mà Đức Chúa ban cho dân Do thái để nuôi dưỡng họ trong suốt cuộc hành trình qua sa mạc khô cằn nóng cháy và thiếu thốn.

1Cr 10: 16-17

Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nêu lên bí tích Thánh Thể, bí tích hiệp nhất mọi Ki-tô hữu khi cho họ được dự phần vào chỉ một tấm bánh là Thân Thể Đức Giê-su.

Ga 6: 51-58

Tin Mừng Gioan trích từ diễn từ về “Bánh Hằng Sống” trong đó Đức Giê-su tuyên bố Ngài chính là “Bánh Hằng Sống”, bánh ban sự sống đời đời cho nhân loại.

BÀI ĐỌC I (Đnl 8: 2-3, 14-16)

Đệ Nhị Luật là sách cuối cùng của bộ Ngũ Thư, được gọi chung là “Sách Luật” (Tô-ra). Tuy nhiên, thuật ngữ Tô-ra theo tiếng Do thái không có nghĩa pháp lý, nhưng là những giáo huấn giúp soi sáng, hướng dẫn cách ăn nếp ở của người tín hữu.

Nhan đề sách: “Đệ Nhị Luật”, có nghĩa “Luật thứ hai” hay “Thứ Luật” (tiếng Hy lạp: Deuteros: thứ hai, và nomos: luật). Tác phẩm này là “ôn cố tri tân”, nghĩa là nhắc lại những lời dạy của Mô-sê để dân biết phải sống như thế nào khi ở trong Đất Hứa. Thật ra, sách này được biên soạn vào thế kỷ thứ 8 hay thứ 7 tCn, khi dân Ít-ra-en đã an cư lạc nghiệp qua nhiều thế kỷ ở đất Ca-na-an và có chiều hướng quên Giao Ước cũng như những huấn lệnh tôn giáo và luân lý.

Sách Đệ Nhị Luật chủ yếu bao gồm những diễn từ, được gán cho ông Mô-sê, nhân vật được xem như đang ngỏ lời với dân Do thái trước ngưỡng cửa Đất Hứa, để cảnh giác họ về những mối nguy hiểm đang rình rập họ khi sống trong môi trường ngoại giáo tại đất Hứa, cũng như để khẩn khoản nài van họ trung thành với những giới luật của Thiên Chúa như điều kiện tiên quyết để sống dài lâu trong Đất Hứa.

Bản văn hôm nay được trích từ chương 8 của sách Đệ Nhị Luật gồm hai phần: 8: 2-3 và 8: 14-16. Phần trích dẫn thứ nhất nhấn mạnh nguồn gốc từ trời của bánh Man-na, trong khi phần trích dẫn thứ hai nhấn mạnh giá trị dấu chỉ của bánh Man-na, dấu chỉ của việc Thiên Chúa can thiệp cách đặc biệt, nhờ đó dân Ngài được sống trong những ngày tháng lang thang trong sa mạc. Cả hai phần trích dẫn đều bắt đầu với những nhắc nhở: “Anh em hãy nhớ lại” và “Anh em đừng quên” bánh Man-na là một thiên ân.

1.“Anh em hãy nhớ” (8: 2-3)

Phần trích dẫn thứ nhất mở ra với lời mời gọi dân Ít-ra-en “nhớ lại” những thử thách mà họ đã trải qua trong sa mạc: “Anh em hãy nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi trong sa mạc suốt bốn mươi năm qua”, vì thời gian thử thách là cách thức Thiên Chúa giáo huấn dân Ngài khỏi mọi ảnh hưởng xa lạ. Chính khi sống trong khung cảnh nghèo khó, kham khổ và gian nan vất vả mà con cái Ít-ra-en thấy mình hoàn toàn phụ thuộc vào Thiên Chúa. Bánh Man-na đã là một ân ban đặc biệt, lương thực từ trời, để cho con người hiểu rằng “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi điều từ miệng Chúa phán ra”. Có một sự đồng hóa và hầu như đồng nhất giữa bánh Man-na và Lời Thiên Chúa, vì Lời Chúa cũng là lương thực ban sự sống cho con người. Đó cũng là câu trả lời của Đức Giê-su cho Xa-tan khi Ngài chịu những chước cám dỗ trong hoang địa (Mt 4: 4).

  1. “Anh em đừng quên”(8: 14-16)

Phần trích dẫn thứ hai kêu gọi “đừng quên” những ân phúc Thiên Chúa ban cho dân Ngài trong sa mạc khi phải đối mặt với biết bao nguy hiểm. Lời ghi nhận này cũng gợi nhớ ơn Quan Phòng lạ lùng, tức là bánh Man-na.

  1. Bánh Man-na

Bánh Man-na có thể từ một thứ nhựa cây rỉ ra và đông cứng lại. Loại cây sa mạc thuộc gia đình liễu bách này, khi bị côn trùng chích vào, liền tiết ra một thứ nhựa và đông cứng lại trong khí lạnh ban đêm và khi mặt trời mọc lên những hạt nhựa này rơi xuống đất như những hạt nhỏ có vị mật ong. Đây là lương thực mới lạ mà dân Do thái bất ngờ gặp thấy cho đến lúc đó, vì thế tên gọi Man-na có nghĩa “Cái gì đây?” (Xh 16: 15). Từ đó, bánh Man-na là lương thực hằng ngày của họ cho đến cuối cuộc hành trình băng qua sa mạc. Thánh vịnh 78 gợi lên bánh Man-na là “bánh của những kẻ mạnh” mà bản Bảy Mươi dịch “bánh của các thiên thần”. Văn chương kinh sư loan báo rằng bánh Man-na sẽ là thức ăn của thời thiên sai. Đức Giê-su trình bày bánh Man-na là hình ảnh báo trước bánh ban sự sống đích thật, tức là Bánh Thánh Thể.

BÀI ĐỌC II (1Cr 10: 16-17)

Cùng chung một bàn ăn, cùng chia sẻ một tấm bánh, tạo nên “tình liên đới” giữa những người đồng bàn. Nghi thức Thánh Thể là một nghi thức “đồng hội đồng thuyền”“đồng sinh đồng tử”“sống chết có nhau”“Bánh Thánh Thể” không là bất cứ bánh nào mà người ta chia sẻ với nhau; “rượu Thánh Thể” cũng không là bất cứ rượu nào mà người ta chuyền tay cho nhau. Bánh mà người ta ăn, chính là “Thân Thể Đức Ki-tô”, rượu mà người ta uống chính là “Máu Đức Ki-tô”, nghĩa là thiết lập mối liên hệ vừa vật chất vừa mầu nhiệm giữa các tín hữu với nhau và với Đức Ki-tô. Thánh Thể là bí tích của sự hiệp nhất tuyệt vời. Đồng bàn với Đức Kitô, Chúa chúng ta, mọi người đều được dự phần vào cùng một thực tại siêu nhiên: nên một với Đức Ki-tô. Đức Ki-tô làm cho cộng đoàn Ki-tô hữu trở nên một thực thể duy nhất.

Đây là đạo l‎ý căn bản của thánh Phao-lô. Trong cùng thư gửi tín hữu Cô-rin-tô này, thánh nhân khai triển chủ đề “liên đới” của mọi chi thể thành một thân thể với Đầu, Thủ Lãnh, là Đức Ki-tô, Ngài vừa nguyên l‎‎ý của sự sống vừa là nguyên lý của sự hiệp nhất: “Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1Cr 12: 27).

Thánh Phao-lô lại càng có l‎ý do nhấn mạnh sự liên đới này hơn nữa vì các tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ nhau. Thánh nhân muốn cho họ hiểu rằng họ không chỉ liên đới với nhau thành một cộng đồng duy nhất, nhưng còn với các cộng đoàn khác thành một Giáo Hội duy nhất bất khả phân chia.

TIN MỪNG (Ga 6: 51-58)

Ngày hôm sau Đức Giê-su trở lại Ca-phác-na-um, ở đó Ngài gặp lại đám đông mà Ngài đã cho họ ăn no nê qua dấu lạ “hóa bánh ra nhiều”. Trên bờ hồ, Đức Giê-su bắt đầu ngỏ lời với họ (Ga 6: 26); sau đó, trong hội đường Ca-phác-na-um (Ga 6: 59), Ngài hoàn tất bài diễn từ của Ngài, được gọi là diễn từ về “Bánh Hằng Sống”.

Bài diễn từ về “Bánh Hằng Sống” (6: 26-58) được chia làm hai phần. Phần thứ nhất (6: 26-51b) được gọi là “diễn từ về Lời Chúa”, trong đó Đức Giê-su tự giới thiệu Ngài là “Lời từ trời xuống ban sự sống đời đời”. Phần thứ hai (6: 51c-58) được gọi là “diễn từ về Thánh Thể”, trong đó Ngài tự giới thiệu Mình và Máu Ngài là “của ăn đích thật ban sự sống đời đời”. Toàn bộ câu 51 đóng chức năng nối kết hai phần của một diễn từ: lời công bố: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” kết thúc diễn từ: “Bánh Hằng Sống là Lời Ngài”; lời công bố thứ hai: “Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” mở ra diễn từ: “Bánh Hằng Sống là Mình Ngài”.

Đoạn trích dẫn hôm nay là phần thứ hai của diễn từ “Bánh Hằng Sống là Mình Ngài”. Trong phần thứ nhất, Đức Giê-su đòi hỏi phải tin vào Ngài như điều kiện tiên quyết, bởi vì Mặc Khải mà Ngài sắp ban lạ lùng đến nỗi nó đòi hỏi, trước hết, “phải tin vào Đấng Chúa Cha đã sai đến” và “tín thác vào Lời Ngài”. Tiếp đó, Đức Giê-su không úp mở khai triển phần thứ hai, phần trọng điểm lời công bố của Ngài. Đây là đoạn Tin Mừng được trích dẫn vào ngày lễ “Mình và Máu Chúa Ki-tô”.

  1. Bánh Hằng Sống Đức Giê-su ban chính là Mình và Máu của Ngài:

Trong suốt những lời tuyên bố gây kinh ngạc của Ngài: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống”, Đức Giê-su không ngừng gợi lên nguồn gốc thiên giới của Ngài và tử hệ thần linh của Ngài. Chính vì Ngài đến từ Chúa Cha và nên một với Chúa Cha, mà Ngài có thể tự mình ban phát sự sống thần linh cho nhân loại: “Bánh tôi sẽ cho, chính là thịt tôi ban, để thế gian được sống”.

Những lời này rất gần với những lời mà Đức Giê-su sẽ công bố khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26: 26; Mc 14: 22; Lc 22: 14; 1Cr 11: 24). Chúng ta lưu ‎ý rằng thánh Gioan không dùng từ “sôma” (thân xác) như các sách Tin Mừng Nhất Lãm, nhưng từ “sarx” (nhục thể, nhân tính), bởi vì từ “sôma” rất dễ hiểu lầm, quả thật, ‎ý nghĩa đầu tiên của từ “sôma” là xác chết, thây ma (x. Lc 17: 37). Với từ “sarx” này, thánh Gioan nối kết Bí Tích Thánh Thể với Mầu Nhiệm Nhập Thể (Ga 1: 14). Ngôi lời nhập thể để trở nên bánh ban sự sống. Mầu nhiệm Nhập Thể là căn nguyên của ơn cứu độ.

  1. Khó mà tin được

“Người Do thái liền tranh luận sôi nổi với nhau”. Danh xưng “người Do thái” chung chung mang nét nghĩa tiêu cực trong Tin Mừng thứ tư. Danh xưng này được dùng để chỉ những người Do thái cứng lòng tin; trái lại, danh xưng “Ít-ra-en” được dành riêng cho những người gắn bó mật thiết với Đức Giê-su.

Quả thật, người Do thái càng tỏ thái độ nghi nan ngờ vực: “Ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được”, Đức Giê-su càng nhấn mạnh hơn nữa. Lời công bố của Ngài càng trở nên thách thức hơn nữa, vì Ngài không chỉ kể ra thịt của Ngài mà còn cả máu của Ngài nữa: “Quả thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, thì các ông không có sự sống nơi mình…”

Đối với những người Do thái nghi nan ngờ vực, lời công bố này không thể nào tin được, nhưng còn quá kỳ chướng. Như chúng ta biết, dân Do thái bị nghiêm cấm triệt để không được ăn máu bởi vì máu là trung tâm sự sống được dành riêng cho Thiên Chúa. Vì thế, trong mỗi hy tế, máu phải được dâng hiến trọn vẹn lên Thiên Chúa.

Theo cách thức này, Đức Giê-su loan báo tính cách hy tế của Thánh Thể, cũng như mối hiệp nhất khả phân giữa ân ban thịt và máu của Ngài với cuộc Tử Nạn của Ngài.

  1. Thịt và máu “Con Người”

Nhưng ở bên kia cuộc Tử Nạn của Ngài, Đức Giê-su gợi lên cuộc siêu tôn của Ngài khi quy chiếu đến danh xưng “Con Người”“Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống đời đời” (6: 53). “Thịt và máu Con Người” thuộc trật tự khác với trật tự trần thế: Đức Giê-su sẽ ban cho nhân loại “thịt và máu” của Ngài làm lương thực, chính là “Thân Thể vinh hiển” của Ngài. Sau diễn từ này, Ngài cũng sẽ quy chiếu theo cùng một cách như vậy khi ngỏ lời với các môn đệ đang xầm xì về vấn đề này: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” (Ga 6: 62).

Như vậy, khi loan báo ân ban Thánh Thể một cách hiện thực và khá mạnh bạo, Đức Giê-su thử làm cho hiểu rằng ân ban này sẽ được trình bày một cách mầu nhiệm, hoàn toàn đặc biệt (được ẩn dấu dưới kiểu nói: “bánh hằng sống từ trời xuống”).

  1. Lời hứa ban sự sống

Về thành quả của Bí Tích Thánh Thể, điểm nhấn được đặt trên sự sống: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy được sống lại… Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Qua lời này, Đức Giê-su khẳng định cách rõ ràng sự sống siêu nhiên và ‎ý nghĩa cánh chung của nghi thức Thánh Thể.

  1. Hiệp thông mật thiết và nội tại

Lời công bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy”, gợi lên sự hiệp thông mật thiết đến độ không gì có thể sánh ví được. Động từ “ở lại” là một động từ tâm đắc của thánh Gioan, qua đó thánh k‎ý diễn tả tính thường hằng của sự sống siêu nhiên luân chuyển trong mỗi Ki-tô hữu, một cách nào đó, tính nội tại của Vương Quốc.

  1. Lễ Vượt Qua sắp đến

Dấu lạ “hóa bánh ra nhiều” và diễn từ “Bánh Hằng Sống” được thánh Gioan xác định ngay từ đầu: “Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do thái” (Ga 6: 4). Đó là l‎ý do tại sao có đông đảo người ở Ca-phác-na-um. Từ khắp nơi, người ta quy tụ với nhau ở đây để theo từng nhóm hành hương lên Giê-ru-sa-lem. Như vậy, chính trong bối cảnh lễ Vượt Qua mà Đức Giê-su ban cho đám đông Mặc Khải gây xôn xao của Ngài. Trong Tin Mừng thứ tư, lễ Vượt Qua sắp đến này là lễ Vượt Qua áp chót của Đức Giê-su. Vào lễ Vượt Qua năm tới, Ngài sẽ thực hiện lời hứa của Ngài khi thiết lập lễ Vượt Qua đích thật của Ngài, lễ Vượt Qua của Ki-tô giáo.

Về mục lục

 

THỊT VÀ MÁU

 Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Thịt và máu là hai yếu tố căn bản làm nên một thân xác con người. Thịt và máu cũng là biểu tượng của sự gắn bó liên kết. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, tức là làm cho bánh trở nên Thịt Người và rượu trở nên Máu Người. Qua bí tích này, Chúa muốn ở lại với nhân loại, để đồng cam cộng khổ với con người của mọi thời đại. Cũng qua bí tích này, Chúa cho phép con người được gắn bó với Chúa, nhờ ăn uống Thịt và Máu Người, là lương thực thần linh. Lương thực này vừa ban sức sống thiêng liêng cho con người khi còn tại thế, vừa là bảo đảm cho họ được sự sống đời đời.
 
Bí tích Thánh Thể là sự kết hợp thiêng liêng với Chúa Giêsu. Trong cuộc tranh luận với người Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy”. Nhờ việc rước lễ, người tín hữu được ở trong Chúa Giêsu. Hơn thế nữa, một cách nào đó, họ được trở nên chính Chúa, để rồi họ có thể nói như Thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là chính Chúa Giêsu sống trong tôi” (Gl 2,20). Khi ta ăn uống lương thực và thực phẩm, thì các loại lương thực và thực phẩm ấy được biến hóa trở nên máu thịt làm cho thân xác ta được khỏe mạnh và tràn đầy sức sống. Nhưng khi chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Đức Giêsu, chúng ta được biến đổi dần dần để nên giống như lương thực mà chúng ta đã ăn, để trở nên đồng hình đồng dạng với Con Thiên Chúa. Đây là sự khác biệt giữa lương thực vật chất và lương thực thiêng liêng.
 
Manna trong Cựu ước và phép lạ nhân bánh trong Tân ước chỉ là hình bóng của Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập trong bữa tiệc ly. Nếu người Do Thái vẫn còn in đậm trong trí nhớ phép lạ Manna, thì Chúa Giêsu quả quyết với họ, chính là Chúa Cha ban cho họ lương thực huyền nhiệm đó, đồng thờ Chúa nêu sự khác biệt giữa Manna với Thánh Thể: Manna chỉ là lương thực vật chất để nuôi sống thân xác; Thánh Thể chính là lương thực thần thiêng để nuôi sống tâm hồn. Manna chỉ là lương thực đời này; Thánh Thể là bảo đảm cho con người được hưởng sự sống đời sau.
 
Khi cử hành trọng thể lễ kính Mình và Máu Đức Kitô, Giáo Hội mời gọi chúng ta đừng quên sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Giêsu trong Bí tích cực trọng này. Trong bảy bí tích Chúa Giêsu đã thiết lập, bí tích Thánh Thể được gọi là “Bí tích rất thánh – Sancti – Saint Sacrement”. Bởi đây là sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu. Trong bí tích Thánh Thể, “có trọn vẹn linh hồn và thể xác, thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể” như Công đồng Tridentinô đã xác quyết và định tín. Vì vậy, theo truyền thống của Giáo Hội Công giáo, sau thánh lễ này, thường có cuộc rước trọng thể để tôn vinh sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Hình Bánh và Hình Rượu. Sự hiện diện này không chấm dứt khi thánh lễ kết thúc, như một số giáo phái Kitô khác chủ trương.
 
Bí tích Thánh Thể cũng là lời mời gọi sống yêu thương và hiệp thông với nhau như máu với thịt. Mối hiệp thông này có hai chiều kích: Hiệp thông chiều dọc và hiệp thông chiều ngang. Hiệp thông chiều dọc là gắn bó với Chúa Giêsu để nhờ Người mà chúng ta được gặp gỡ Chúa Cha. Hiệp thông chiều ngang là tình liên đới cảm thông với anh chị em mình. Thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự hiệp thông chiều ngang này khi Ngài viết cho giáo đoàn Côrinhtô: “Bởi vì chí có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (Bài đọc II). Qua hình ảnh một thân thể, vị Tông đồ dân ngoại muốn nhắc chúng ta sống liên kết và yêu thương nhau. Bởi lẽ tất cả đều được nuôi dưỡng bằng một lương thực thần thiêng là Mình và Máu Đức Giêsu. Lương thực ấy liên kết chúng ta thành một thân thể là Giáo Hội. Người Việt Nam chúng ta thường nói: “Máu chảy ruột mềm”. Hình ảnh này muốn nói lên tình tương thân tương ái giữa mọi thành viên trong gia đình với nhau và còn vươn rộng hơn là tình đồng loại, để gia tay cứu giúp những ai hoạn nạn khổ đau và những người bất hạnh.
 
“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra” (Bài đọc I). Ông Môi-sen nhắc nhở dân Do Thái hồi tưởng lại những việc kỳ diệu Chúa đã làm, để tôn vinh quyền năng cao cả của Chúa, cũng là để cảm tạ tình thương bao la của Ngài. Tôn thờ Thánh Thể cũng là tôn thờ quyền năng cao cả của Chúa. Bởi lẽ như chúng ta đọc trong “Kinh Cám ơn thông dụng” của Mùa Chay: “Chúa trọng vô cùng cả và trời đất chứa chẳng đủ, mà rầy muốn ở trong một Hình Bánh nhỏ làm vậy…”. Thiên Chúa cao cả ẩn mình trong bí tích Thánh Thể vì yêu thương con người. Qua Bí tích này, Chúa cũng dạy chúng ta bài học khiêm nhường, sống và hy sinh vì tha nhân, như Chúa đã trở nên của ăn của uống cho con người.

Về mục lục

.

TẤM BÁNH TÌNH YÊU

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ. Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Tấm bánh, tình yêu gần gũi.

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người. Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị.

Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Tấm bánh, tình yêu tự hiến.

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng. Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại. Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu chết cho ta được sống. Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.

Tấm bánh, tình yêu hiệp thông.

Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hoà vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa. Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình. Không còn gì đẹp hơn. Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

Với những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Con chúc tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Khi dâng lễ, tấm bánh có gợi lên cho bạn điều gì về tình yêu của Đức Giêsu không?

2) Khi bạn rước lễ, bạn có cảm nghiệm được tình yêu của Chúa không?

3) Phép Thánh Thể thôi thúc bạn làm gì?

Về mục lục

.

THỊT MÁU CHÚA LÀ CỦA NUÔI HỒN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 

Ngoài sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, con người ở mọi nơi mọi thời vẫn hằng khao khát sống sống trường sinh. Thế nên, người ta ra công tìm mọi cách để kéo dài sự sống bao lâu có thể. Một trong những thứ đó là “Bánh” mà phụng vụ lễ Mình Máu Thánh Chúa năm A đề cập đến : bánh vật chất, bánh Giêsu và bánh Thánh Thể.

Manna của ăn trong sa mạc

Trong sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa đối với dân mà Ngài đã cưu mang và dẫn ra khỏi Ai cập. Trên hành trình về Đất Hứa để chứng tỏ tình thương và lòng thành tín của Chúa đối với dân giữa xa mạc khô cằn, Ngài đã ban cho họ Manna, theo Môsê, “Đó là bánh Thiên Chúa ban… làm của ăn” (Xh 16, 16), không chỉ làm lương thực đi đường mà còn giáo huấn họ về lòng yêu thương vô cùng của Chúa.

Thật đáng ngưỡng mộ, Thiên Chúa đã làm mưa Manna từ trời xuống mỗi ngày cho cha ông chúng họ ăn no thỏa thích. Đó là lý do tại sao người ta nói : “Bánh Thiên Thần phàm nhân được hưởng” (Tv 77, 25). Nhưng cho dù là Manna từ trời xuống nuôi dân Israel trong sa mạc, hay bánh Thiên Thần mang đến cho Êlia nuôi sống người ta 40 ngày cùng lắm là 40 năm đi nữa, thì những thứ bánh đó cũng chỉ nuôi sống con người cách rất tạm bợ, kẻ ăn những thứ bánh ấy vẫn đói, vẫn khát và vẫn phải chết. Hôm nay, Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta bánh bởi trời xuống là chính Chúa, Người đến làm no thỏa cái đói tinh thần con người, ai ăn chính Người sẽ khỏi đói muôn đời, và nhất là khỏi chết đời đời: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời” (Ga 6, 51).

Bánh Giêsu

Chúa Giêsu là bánh từ trời xuống, là hồng ân bởi trời, có khả năng duy trì sự sống không phải chỉ trong một lúc hay một đoạn đường, mà luôn mãi. Người là lương thực ban sự sống đời đời, bởi vì Người là Con Một Thiên Chúa, ở cung lòng Thiên Chúa Cha, đến để trao ban cho con người sự sống tràn đầy, dẫn con người vào trong chính sự sống của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã thất bại, gặp phải điều cấm kỵ trong dân Israel khi tuyên bố : “Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51 ). Người dẫn chứng : “Cha ông các ngươi đã ăn Manna trong sa mạc và đã chết”, khiến họ tranh luận với nhau: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được? ” (Ga 6, 52). Họ không vượt qua được nguồn gốc trần thế của Chúa Giêsu, vì thế họ khước từ tiếp nhận Chúa Giêsu như Lời nhập thể của Thiên Chúa. Và như một hệ quả, họ đã mang án tử để đi vào cõi chết vì không tin. Họ còn quá xa bánh bởi trời và không cảm thấy đói bánh ấy.

Thế giới ngày nay có rất nhiều người đói và cần bánh. Có người cam chịu chết đói, chết vì cô đơn, vì thiếu hy vọng, nhưng cũng có nhiều người cần đến Chúa Giêsu. Có ba cái đói và ba phương thế để chuyển hóa ba loại bánh : bánh vật chất, bánh Giêsu và bánh Thánh Thể.

Bánh Giêsu là bánh quan trọng nhất. Nếu không có Chúa Giêsu, chúng ta không thể sống như lời Chúa nói “Không có Thầy, anh em không thể làm gì được” (Ga 15,5). Tuy nhiên, Chúa muốn nuôi dưỡng những người đói khát. Có lẽ Chúa nghĩ rằng đó là một cách tốt để mạc khải và biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa là Đấng Cứu Thế. Nhưng Chúa cũng muốn trở thành bánh cho chúng ta, để nuôi dưỡng chúng ta trong hành trình dương thế, ngõ hầu chúng ta được ở lại trong tình yêu của Chúa mà được sống đời đời. Người khuyên chúng ta phải tìm kiếm và sống trong Người. Khi nuôi dưỡng những kẻ đói khát, Chúa chỉ cho chúng ta tình yêu tự hiến của Chúa trong Bí tích Thánh Thể : “Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời” (Ga 6,58). Theo thánh Augustinô thì “khi chúng ta ăn Chúa Kitô, là chúng ta ăn sự sống (…), thật vậy, giả như, anh em tự tách mình ra không ăn thịt và uống máu Chúa nữa, anh em sẽ không có sự sống”.

Muốn sống đời đời, hãy ăn Bánh Giêsu

Xưa kia Chúa Giêsu mời gọi những người Do thái, giờ đây Chúa bảo chúng ta hãy đến mà ăn cho no uống cho thỏa. Nếu chúng ta khao khát sự sống trường sinh, thì đây là cơ hội tốt để có được mầm sống ấy. Hãy đến gặp Chúa Giêsu và đón nhận Người, bởi chính Người : “Là Bánh Hằng Sống” (Ga 6,51).

Thật hạnh phúc khi được mời gọi ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu để được sống đời đời : “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 54) và hơn thế nữa còn được Người đến cắm lều ngay nơi lòng kẻ ấy : “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy” (Ga 6, 56). Chúa Giêsu là bánh bởi trời xuống làm no thỏa cái đói, cái khát, nhất là cái ước vọng lớn nhất của con người mọi nơi mọi thời là sự sống đời đời.

Thánh Thể thần lương vượt thế trần

Nếu như trong sa mạc, Manna là quà tặng do lòng thương xót của Chúa dành cho dân, lương thực cứu đói tạm thời, nay Mình Máu Thánh Chúa là lương thực giúp người tín hữu có đủ sức, đủ nghị lực vượt qua trần thế về tới quê trời hưởng phúc vinh quang.

Trong sa mạc, manna chứng tỏ Chúa không bỏ dân của Chúa, ngày nay Chúa ở giữa Hội Thánh và trong thế giới bằng chính mình trong bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích ThánhThể, người cô đơn tìm được nguồn an ủi ; người yếu đuối tìm được sức mạnh; người tội lỗi tìm được ơn tha thứ ; người đau yếu tìm được sự chữa lành ; người bất hạnh tìm được nghị lực tinh thần ; người hấp hối tìm được sự đỡ nâng ; người bị bỏ rơi tìm được nguồn tình yêu chất chứa đầy sự thông cảm và âu yếm… Và còn một ý nghĩa rất quan trọng, manna ngày xưa của ăn trong sa mạc, Thánh Thể thần lương vượt thế trần.

Lạy Chúa Giêsu ngự thật trong phép Mình Thánh, xin cho con biết ra đi tìm kiếm của ăn không hư nát là chính Chúa và đón rước Chúa hầu được sống muôn đời. Amen.

Về mục lục

.

LƯƠNG THỰC QUÍ BÁU

Anna Cỏ may

          Một anh bạn lần đầu tiên lên thành phố làm việc. Vào một ngày anh được bạn bè trong công ty mời đi nhậu. Khi món ăn vừa được đưa ra và đặt lên, anh bạn liền nói: “Đây là thịt dê quay, ngon lắm đó, ăn thử đi”. Mọi người cùng ăn và tấm tắc khen ngon.

          Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng giới thiệu cho người Do thái và cả chúng ta về một món ăn: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế  gian được sống”(x. Ga 6, 51). Chúa Giêsu khẳng định mình là bánh hằng sống, bánh đem lại sự sống muôn đời. Bánh không do nguyên liệu nào mà từ chính mình Ngài.

          Khi Chúa Giêsu tuyên bố mình là Bánh hằng sống, Ngài muốn nói đến bí tích Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập. Ngài cũng không cho biết về phương thức thực hiện việc này. Ngài chỉ đòi hỏi người người Do thái một niềm tin cậy và phó thác, nên Ngài chỉ nhấn mạnh đến sự cần thiết và hiệu quả lương thực bởi trời(x. Ga 6, 53- 58).

          “Ai ăn thịt và uống máu Tôi” là câu được lặp đi lại nhiều lần để nói lên sự hiện của Ngài trong bí tích Thánh Thể. Phép Thánh Thể là của ăn cần thiết cho sự sống linh hồn cũng như của ăn vật chất cho thể xác. Nếu chúng ta muốn đạt đến sự sống viên mãn của đời sống thiêng liêng thì phải cần phép Thánh Thể là của ăn giúp chúng ta được điều ấy. Khi được ăn Thịt Máu Ngài qua hình bánh và rượu, chúng ta còn được hiệp nhất với Chúa Kitô, được gặp gỡ, trò chuyện, ở lại và được biến đổi nên một với Ngài như Thánh Phaolô nói: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà chính Đức Kitô sống trong tôi”.

          Xưa kia, người Do thái được trực tiếp thấy Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ, nhưng khi nghe lời Ngài nói thì họ cho Ngài là điên và xì xầm với nhau. Trong số các môn đệ đi theo Chúa cũng có những lời nói tỏ lộ không chấp nhận tin lời Ngài và đã rút lui không đi theo Ngài nữa. Còn chúng ta có thái độ nào với Chúa Giêsu đây? Xung quanh chúng ta có rất nhiều loại bánh và rượu ngon. Đó là lương thực chúng ta phải mất rất nhiều thời gian và mất tiền mới có ăn. Nó chỉ cho chúng ta có vị ngon và no tạm thời ngay lúc đó mà thôi. Còn Chúa Giêsu ngự trong hình bánh và rượu mà Hội Thánh luôn kêu gọi chúng ta chỉ cần tham dự và hưởng dùng là đủ. Chúng ta không mất công đi tìm hay mất một đồng xu nào mà còn được nuôi dưỡng phần hồn lẫn phần xác và được sự sống muôn đời.

          Bí tích Thanh Tẩy đem lại sự sống thần linh. Nhưng như sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta còn non nớt, dễ bị cám dỗ và dễ phai tàn. Chính vì thế, Chúa Giêsu ngự trong Mình Máu để tiếp sức và hồi sinh chúng ta. Ngài củng cố, nuôi dưỡng, gìn giữ đời sống thần linh cho chúng ta mà còn làm tăng trưởng sự sống ấy. Ngài như đặt sự sống của chúng ta lên trên bản thân Ngài.

          Chúng ta có suy nghĩ gì với câu chuyện này: một Giáo xứ nọ, cứ đến Lễ Chúa Nhật hay các lễ lớn, cha xứ phải mời gọi mọi người vào nhà thờ ngồi. Những người trong Ban Hành Giáo cũng ra mời vào vì ở trong nhà thờ còn nhiều chỗ trống.

          Lạy Chúa Giêsu, chính Ngài là lương thực trường sinh. Xin cho chúng con ý thức, năng tham dữ Thánh Lễ và đón nhận của ăn thiêng liêng mỗi ngày để ở cùng Chúa luôn mãi và luôn mãi. Amen.

Về mục lục

.

TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG

Lm. GB. Trần Văn Hào

Công đồng Vaticanô II trong sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục (Presbiterorum Ordinis) đã viết: “ Mọi bí tích của Giáo hội đều quy nguồn về Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa mọi kho tàng thiêng liêng của Giáo hội, là nhiệm thể Đức Kitô. Không có Thánh Thể, không có đời sống cầu nguyện và cũng không có việc rao giảng Tin mừng” (số 8). Lời khẳng quyết của Hội thánh nêu bật nền tảng thiết yếu của bí tích Thánh Thể trong đời sống Đức tin của mọi Kitô hữu .

Chúa nhật hôm nay, Giáo hội mời  gọi chúng ta lắng đọng tâm hồn để tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi bàn tiệc thánh. Đó là bàn tiệc yêu thương, bàn tiệc đức tin và cũng là bàn tiệc diễn bày sự hiệp thông huynh đệ.

Bàn tiệc tình yêu.

Thánh Gioan đã viết: “ Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm”(Ga 1,14). Thân xác Đức Giêsu sau khi sống lại đã đi vào trong vinh quang với Chúa Cha, nhưng thân xác thánh thiêng ấy vẫn còn hiện diện cách nhiệm mầu nơi bí tích Thánh Thể. Đó là sự hiện diện của tình yêu. “Thiên Chúa vui thích ở giữa dân Ngài”. Ngài đã đến cắm lều giữa chúng ta, dọn sẵn cho chúng ta bữa tiệc để tỏ hiện tình yêu nhưng không của Ngài. Đây cũng chính là bữa tiệc mà phụng vụ hôm nay gợi nhắc. Thực đơn của bàn tiệc này chỉ có một món duy nhất, đó chính là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu, là lương thực được hiến trao, như chính Đức Giêsu đã khẳng định trong bài Tin mừng hôm nay : “ Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống”. Không có từ ngữ nào lột tả được cách trọn vẹn mầu nhiệm tình yêu sâu xa này. Chính Đức Giêsu đã khải thị cho các học trò trong bữa tiệc ly trước khi Ngài đi thụ nạn : “ Không ai có tình yêu nào cao cả hơn mối tình của người hiến ban mạng sống mình cho bạn hữu”.

Muốn ngồi vào bàn tiệc tình yêu này, chúng ta phải loại bỏ khỏi mình những gì thuộc ác quỷ, đối kháng với tình yêu mà Thiên Chúa diễn bày. Thánh Augustinô đã nói: “Bánh mì nuôi sống con người, nhưng sẽ giết chết chim diều hâu”. Bao tử con người thích hợp với bánh mì nhưng khi diều hâu ăn vào, bánh mì sẽ trương nở, nó bị ngạt thở và sẽ chết. Bàn tiệc tình yêu sẽ không có chỗ để những con người ác tâm với một trái tim diều hâu ngồi vào. Diều hâu chuyên rúc rỉa xác chết, là một hình tượng ám chỉ những hôi thối và bẩn thỉu của tội lỗi. Ngồi vào bàn tiệc thánh, chúng ta cần phải tinh luyện tâm hồn, loại bỏ đi những gian dối lọc lừa, những hận thù ghét ghen, những tham lam bất chính. Chúa nói “Tôi là Bánh trường sinh”, bánh đem lại sự sống cho những người ngay lành nhưng sẽ giết chết những tâm hồn diều hâu đầy gian ác.

Bàn tiệc đức tin.

Mỗi khi chầu thánh thể, chúng ta mượn lại những vần thơ thánh của thánh Tôma Aquinô để hát lên: “ Đây nhiệm tích vô cùng cao quý. Nếu giác quan không cảm nhận ra, chúng ta hãy lấy đức tin bù lại”. Đức tin là điều kiện tiên quyết để dẫn đưa chúng ta đến bàn tiệc thánh. Chúa Giêsu đã nói: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi sẽ sống muôn đời” (Ga 6,54). Khi đàm đạo với Nicôđêmô, Đức Giêsu cũng đã khải thị : “Ai tin vào Con của Ngài, sẽ được trường sinh” (Ga 3,15-16). Đây là hai cách diễn tả của một thực tại duy nhất : Ăn bánh trường sinh và tin vào Thiên Chúa. Bàn tiệc Thánh Thể chính là bàn tiệc của đức tin. Rất nhiều lần chúng ta đến nhà thờ tham dự thánh lễ nhưng thiếu hẳn cảm thức đức tin cần phải có. Nhiều người coi việc dự lễ mỗi tuần một lần vào Chúa nhật như một bổn phận phải làm để lương tâm được yên ổn, hay để người khác khỏi dị nghị. Thái độ đức tin là điều kiện tất yếu cần phải có, vì nếu không phát xuất từ đức tin, việc đi lễ cách máy móc sẽ trở nên vô nghĩa và phí phạm thì giờ cách vô ích.

Tin không phải là một động thái mang tính suy lý, nhưng trước hết đây là tác động của ơn sủng. Vì thế trong mỗi Thánh lễ, Giáo hội luôn nhắc nhở : “ Đây là mầu nhiệm đức tin”. Qua lăng kính đức tin, chúng ta mới có thể khám phá nguồn sống vô tận từ Bánh Hằng Sống. Chỉ với đức tin soi dẫn, chúng ta mới có thể tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu linh thánh được diễn bày nơi bàn tiệc Thánh Thể mà chúng ta được mời tới tham  dự.

Bàn tiệc hiệp thông.

Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong khung  cảnh một bữa ăn. Bữa ăn là dịp để quy tụ, gắn kết mối hiệp thông trong mỗi gia đình hay tại bất cứ một tổ chức, một đoàn thể  nào. Cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần hiệp thông này. Tác gỉa sách Tông đồ Công vụ thuật lại rằng, các tín hữu ‘luôn  chuyên cần lắng nghe các tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng. Họ sống hiệp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Tất cả đều đồng tâm nhất trí. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ’ (Cv 3,42-46). Sự hiệp thông này đòi hỏi phải xóa bỏ những hàng rào cách ngăn, dẹp tan mọi toan tính ích kỷ mang tính vụ lợi, và sống gắn kết nên một với nhau như lời ước nguyện của Chúa Giêsu “ Ut unum sint ” (xin cho chúng nên một).

Một tu sĩ nọ khi tham dự một Thánh lễ khá đặc biệt ở Bolivia thuộc Châu Mỹ La tinh đã tả lại quang cảnh buổi lễ đó như sau. Phần đầu lễ, vị linh mục mời gọi mọi người thống hối. Vài giây phút thinh lặng để cầu nguyện, sau đó một hồi trống nổi lên. Bốn thanh niên nam nữ từ cuối nhà thờ tiến lên trước cung thánh, trên tay mỗi người mang một sợi xích thật nặng. Họ cố giơ cao tay lên cùng với lời cầu nguyện : Lạy Chúa, đây là những dây xích biểu tượng sức mạnh tội lỗi đang đè nặng trên chúng con. Chúng con chưa hết lòng yêu mến Chúa và mến thương nhau. Trong cuộc sống hằng ngày, đức ái của chúng con vẫn bị khống chế bởi những sợi xích của tham lam và ích kỷ, những trói buộc của đam mê và dục vọng thấp hèn. Xin Chúa phá đi những dây xích nặng nề này nơi tâm hồn tan nát và bầm dập của chúng con. Lạy Chúa xin thương xót chúng con.” Cả cộng đoàn lập lại : Xin Chúa thương xót chúng con. Đến phần dâng lễ vật, cũng hai cặp thanh niên nam nữ tiến lên dâng bánh và rượu. Đặc biệt họ mang theo một tảng đá lớn cùng với lời cầu nguyện: “ Lạy Chúa, chúng con xin dâng lên Chúa cả tảng đá này, biểu trưng sự chai cứng trong tâm hồn mỗi người. Xin Chúa hãy nhận bánh và rượu để biến nên mình và máu con Chúa. Xin Chúa cũng dang rộng đôi tay đón nhận những con tim lạnh lùng và chai đá của chúng con để biến đổi thành những trái tim thịt mềm. Xin Chúa giúp chúng con biết sống với nhau tử tế hơn, khoan dung hơn và biết quảng đại tha thứ cho nhau hơn”.

Kết luận

Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã viết lại những trang hồi ký trong thời gian Ngài bị biệt giam trong tù. Ngài tóm gọn thành một tập sách nhỏ mang tựa đề ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ để chia sẻ cho giáo triều Rôma trong dịp tĩnh tâm mùa chay vào những năm thập niên 90. Ngài thú nhận, sức mạnh lớn nhất nâng đỡ Ngài trong những năm tháng tù ngục là được cử hành Thánh lễ cho dù lén lút, nhưng rất cảm động và sâu lắng. Thánh lễ Ngài dâng một mình trong bóng tối của nhà tù, không kèn không trống, cũng chẳng có ánh đèn hay một bông hoa trang trí nào. Áo tù Ngài mặc thay cho áo lễ. Đôi bàn tay sần sùi của Ngài đựng những giọt rượu nho thay cho chén thánh. Bánh lễ chứa trong hộp đựng thuốc ho. Những Thánh lễ rất âm thầm và giản đơn, không ồn ào, không một chút hoành tráng bề ngoài, chẳng có ca đoàn hay người giúp lễ.. nhưng sao chép lại gần sát với chính Thánh lễ mà Chúa Giêsu đã cử hành năm xưa trên Thập giá. Đó là những Thánh lễ đẹp nhất trong cuộc đời linh mục của Ngài. Vị Giám mục đáng kính đã dâng những Thánh lễ như thế để kín múc cho mình sức mạnh tâm linh trong những tháng ngày đen tối nhất nơi ngục tù. Còn những Thánh lễ chúng ta tham dự mỗi ngày thì sao?  Đặc biệt đối với anh em linh mục là những “Alter Christus”, đã hàng trăm, hàng ngàn lần cử hành Thánh lễ “in personna Christi”, chúng ta đã dâng các Thánh lễ ấy như thế nào? Chúng ta cũng hãy bắt chước tâm tình đơn sơ của một nữ tu dòng Clara khi đến bàn tiệc thánh. Chị chia sẻ với các chị em trong cộng đoàn : “ Các chị hãy xem một người ăn xin nghèo khổ đến gõ cửa nhà một người giàu có, một bệnh nhân gần chết đến với một bác sĩ tài giỏi, một người đang khát cháy đến bên dòng nước mát trong. Họ đến để làm gì, thì em cũng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể như thế”.

Xin Chúa khơi dậy nơi tâm hồn chúng ta một ánh lửa đức tin ngời sáng, mỗi khi chúng ta đến ngồi vào bàn tiệc thánh này.

Về mục lục

.

LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ

Lm Giuse Nguyễn Văn Nam

Phụng vụ lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về Bí tích Thánh Thể. Bài đọc I, sách Đệ Nhị Luật thuật lại sự việc Thiên Chúa nuôi dân Do Thái trong sa mạc bằng Manna bởi trời và nước từ tảng đá chảy ra, Manna là hình bóng chỉ Bí tích Thánh Thể. Bài đọc II, thánh Phaolô nhắc tín hữu Côrintô ý thức rằng họ cùng ăn một bánh và cùng uống một chén, lãnh nhận Thánh Thể, thì phải đoàn kết yêu thương nhau.

Bài Tin mừng ghi lại bài diễn văn về bánh hằng sống của Chúa Giêsu tại hội đường Caphanaum, sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi 5.000 người trong sa mạc. Chính Chúa Giêsu, từ bánh nuôi thể xác, Ngài hướng mọi người đến một thứ lương thực cao quý hơn, đó chính là Mình và Máu Ngài, là Thánh Thể.

“Tôi là bánh trường sinh… Bánh Tôi sẽ ban chính là thịt Tôi để cho thế gian được sống.. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi sẽ được sống muôn đời”.

Đức Giêsu vì yêu thương nhân loại, đã thiết lập bí tích Thánh Thể vào Thứ Năm Tuần Thánh trước khi Ngài hy sinh hiến thân trên thập giá để cứu độ muôn người.

Sách Giáo lý Công giáo số 1323 dạy về bí tích Thánh Thể: “Đang khi ăn bữa tiệc ly, trong đêm Người bị nộp. Đấng Cứu Độ chúng ta đã thiết lập hy lễ Thánh Thể bằng Mình và Máu Người, để nhờ đó hy tế thập giá trương tồn qua các thời đại cho tới khi Người đến. Và Chúa Giêsu đã ủy thác cho Hội Thánh việc tưởng nhớ sự chết và sống lại của Người”.

Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch, tột đỉnh của đời sống Giáo hội, của đời sống Kitô giáo, bởi vì tất cả các bí tích đều quy về bí tích Thánh Thể chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Giáo hội và chính Đức Giêsu Kitô.

Các thánh Giáo phụ dạy rằng Bí tích Thánh Thể là bản toát yếu, bản tổng luận của đức tin chúng ta; ai hiểu biết bí tích Thánh Thể là hiểu biết tất cả giáo lý đạo Công Giáo. Ai sống bí tích Thánh Thể là sống tất cả giáo lý của đạo, bởi vì bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm của tình thương, đạo Công Giáo là đạo bác ái, đạo tình yêu.

Bí tích Thánh Thể là bí tích tình yêu: Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể người trở nên một với con người, Ngài trở nên thần lương nuôi sống chúng ta để chúng ta được sống muôn đời, Ngài bảo đảm cho ta được sự sống đời đời “Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời”.

Vậy sống bí tích Thánh Thể là phải trở nên tấm bánh cho mọi người như Chúa Giêsu, nghĩa là phục vụ anh em trong yêu thương: cha mẹ trở nên tấm bánh cho con cái, hết tình phục vụ, yêu thương và làm cho con cái được những điều may lành. Con cái yêu thương giúp đỡ cha mẹ. Vợ chồng yêu thương phục vụ nhau. Trong đời sống xã hội, người Kitô hữu phải trở nên tấm bánh cho anh em, cho mọi người, nghĩa là biết hy sinh, giúp đỡ, chia sẻ, thông cảm với anh em, nhất là những anh em đang đau khổ, nghèo đói, bệnh tật.

Hãy siêng năng tham dự thánh lễ, nhất là thánh lễ Chúa nhật, đừng bao giò bỏ lễ Chúa nhật khi không có lý do chính đáng. Trong thánh lễ, chúng ta được nuôi dưỡng bằng hai của ăn thiêng là lời Chúa và Thánh Thể. Về đời sống thể xác, con người cần phải ăn uống, cần thực phẩm mới sống. Đời sống thiêng liêng cũng vậy, cần được nuôi dưỡng bằng lời Chúa và Thánh Thể, chính là lương thần nuôi dưỡng chúng ta, bảo đảm sự sống đời đời.

Về mục lục

.

NHỮNG TÊN GỌI TẦM THƯỜNG

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

1. Đất, nước, đá

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã dùng đất nắn nên hình hài (St 2,7).Từ đó Tổ Tông loài người mang tên Đất (St 4,25;5,1-3). Ađam, tiếng Do thái nghĩa là đất.

Để cứu Dân Ngài thoát khỏi nô lệ Ai cập, vượt qua Biển Đỏ khô chân, lập giao ước Sinai với dân, Thiên Chúa đã dùng Môsê. Môsê, tiếng Do Thái nghĩa là nước (Xh 2,10).

Khi xây dựng Giáo Hội, Thiên Chúa lại dùng một con người đánh cá tầm thường, khi thì hùng hổ tuốt gươm bảo vệ Thầy Giêsu (Lc 22,50), khi thì sợ hãi chối quanh trước một đầy tớ gái (Lc 22,56-57). Người ấy Chúa Giêsu đặt tên là Đá (Mt 16,18). Kêpha, tiếng Do Thái nghĩa là đá.

Như vậy, lịch sử sáng tạo,lịch sử cứu độ quyện đan với những cái tên gọi tầm thường: Đất, Nước, Đá.

2. Bánh và rượu

Chúa Giêsu đã dùng bánh rượu làm nên Mình và Máu Thánh của Người. Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống hàng ngày của con người. Chính Chúa Kitô đã muốn trở nên gần gũi và cần thiết đó. Người muốn bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người để nuôi sống chúng ta hàng ngày.

Tình yêu Chúa Kitô làm nên sáng kiến tuyệt vời. Vì yêu thương hết mọi người, Chúa đã muốn trở nên bé nhỏ tầm thường trong thân phận một người thợ mộc ở Nazareth để có thể ở giữa mọi người, từ kẻ hèn cho đến người sang trọng, từ người thánh thiện cho đến kẻ tội lỗi, từ người Do thái cũng như dân ngoại. Để trở thành của ăn nuôi mọi người,Chúa đã muốn trở thành tấm bánh ly rượu. Chỉ khiêm tốn và giản dị thế thôi để mọi người có thể ăn, chứ không phải là một bữa ăn đắt giá dành cho bậc quyền quý sang giàu.

Khi sinh ra đời, Chúa đã chọn cái chuồng bò. Khi sống ở Nazareth Chúa đã muốn làm một người thợ giữa những người lao động khác. Khi bắt đầu rao giảng tin mừng, Chúa đã chọn những người tầm thường trong xã hội làm bạn đồng hành, làm bạn tâm phúc thừa kế sự nghiệp. Trong giờ sau hết, Chúa đã chọn tấm bánh ly rượu, chọn khung cảnh một bàn ăn giữa bạn bè, chọn một tư gia để Tạ Ơn, trong đó người vừa là chủ tế vừa là của lễ. Và Chúa muốn Giáo Hội tiếp tục lễ Tạ Ơn theo cách thức của Người bằng những phương tiện đơn sơ là tấm bánh ly rượu.

Chỉ cần một bông lúa, một chùm nho đủ làm nên tấm bánh ly rượu. Không cần cái gì cao sang đắt giá, to lớn như con bò, con bê, con cừu mà đạo Do thái vẫn tế lễ trong đền thờ. Với tấm bánh ly rượu, Chúa Giêsu còn muốn cho của lễ Tạ Ơn phải chính là sản phẩm hoa màu ruộng đất, lao công con người, của ăn thức uống căn bản và phổ biến nhất của con người. Chính vì thế, khi dâng Bánh, dâng Rượu, Giáo Hội thay cho toàn thể con người để tôn vinh Thiên Chúa: Chúc tụng Chúa là Chúa tể càn khôn… Chúa đã rộng ban cho chúng con Bánh này là hoa màu ruộng đất và lao công của con người… Chúng con dâng lên Chúa để trở nên Bánh nuôi sống chúng con… Chúc tụng Chúa là Chúa Tể càn khôn, vì Chúa đã rộng ban cho chúng con Rượu này là rượu bởi cây nho và lao công của con người… Chúng con dâng lên Chúa để trở thành của uống thiêng liêng cho chúng con.

Chúa Giêsu là bông lúa, là chùm nho mọc lên từ ruộng đất thế gian, nơi Người nhập thể làm người. Người đã biến đổi trong thân thể Người là Con Thiên Chúa và cũng là con loài người tất cả tinh hoa của ruộng đất, trở thành bông lúa chùm nho. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Chối từ cám dỗ của Satan hoá đá thành bánh, nhưng Chúa Giêsu đã tự ý biến đổi đời mình thánh Tấm Bánh để nuôi dưỡng con người.

“Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống”. Chắc hẳn không ai hiểu câu nói này theo kiểu các yêu tinh muốn ăn thịt Đường Tăng, trong truyện Tôn Ngộ Không. Yêu tinh quyết tâm bắt cho được Đường Tam Tạng để ăn thịt. Nó tin rằng ăn thịt vị cao tăng này thì sẽ được trường sinh bất tử.Tôi nghĩ rằng giả như có ai giết Chúa Giêsu để ăn thịt Người (theo kiểu các yêu tinh ăn thịt Đường Tăng) thì người ấy vẫn chết như thường, và về mặt tâm linh thì cũng chẳng được ích lợi gì. Vì câu nói “Thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống” của Chúa Giêsu không thể hiểu theo nghĩa vật chất. “Thịt và Máu” ở đây không phải là thịt và máu huyết vật chất. “Của ăn và của uống” ở đây cũng không phải là của ăn và của uống vật chất. Những từ đó phải hiểu theo nghĩa tâm linh. Chúa Giêsu chính là lương thực đem lại sự sống và sự phát triển tâm linh thật sự.

3. Lương thực thần thiêng

Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu chính là một hy lễ dâng lên Chúa Cha. Trong hy lễ này, Người vừa là tư tế vừa là lễ vật. Trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đổ máu ra. Bằng cái chết cứu độ, Người đã thiết lập giao ước mới. Tự nguyện làm “Con Chiên Vượt Qua” bị sát tế, Chúa Giêsu đã lập phép Thánh thể để lễ vật bị sát tế ấy trở nên của ăn tâm linh nuôi dưỡng con người.

Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

Thánh thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước, Máu của Đấng Cứu Thế đổ ra trên thập giá. Bởi đó Thánh thể và Thánh giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh giá, Thánh thể không có ý nghĩa. Không có Thánh thể, Thánh giá chỉ là thất bại.

Thánh thể và Thánh giá Chúa Kitô là hai cớ vấp phạm cho trí tuệ con người hơn 20 thế kỷ qua. Thánh giá Đức Kitô là sự điên rồ đối với người Hy lạp đi tìm sự khôn ngoan, là dại dột đối với người Do thái tìm dấu lạ và mãi mãi là mầu nhiệm thẳm sâu với lý trí.

Thánh thể, bánh rượu nên Mình và Máu Chúa Kitô. Sự hiện đích thực của Con Thiên Chúa, làm lương thực vĩnh cửu là mầu nhiệm khó hiểu đối với đầu óc con người không có niềm tin. Khi nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu: “Thịt Ta là của ăn, Máu Ta là của uống cho sự sống muôn đời”, người Do thái phản ứng rất mạnh: “Làm sao ông có thể lấy thịt máu của ông cho chúng tôi ăn được?” (Ga 6,52); ”Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta,chúng ta đều biết cả,sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6,42). Trước phản ứng dữ dội của họ, Chúa Giêsu không rút lời, không cải chính, nhưng còn giải thích và khẳng định thêm “Ai ăn thịt và uống máu Tôi,thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết”(Ga 6,54); sâu xa hơn là con người được đi vào sự kết hiệp mật thiết với Người: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy”(Ga 6,56). Trước mạc khải này, nhiều môn đệ liền nói: “Lời này chướng tai qua, ai mà nghe nổi?”( Ga 6,60). Từ lúc đó, “Nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa” (Ga 6,66).

Như thế, người ta chỉ nhìn nhận Chúa Giêsu về phương diện con người, phủ nhận bản tính Thiên Chúa của Người. Chúa Giêsu cho dân chúng và các môn đệ thấy rõ mầu nhiệm Phục sinh trong Bánh Hằng Sống “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và là sự sống.Thần khí mới làm cho sống,chứ xác thịt có ích gì” (Ga 6,63). Quả thật, chúng ta chỉ có thể hiểu được Bí tích Thánh thể qua mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn, Phục Sinh mà thôi.

Vậy có thể nói, cả mầu nhiệm Đức Kitô đều hội tụ trong Bí tích Thánh thể. Từ công cuộc nhập thể làm người, rao giảng tin mừng, đến khổ hình thập giá, sống lại vinh quang; Đức Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha và ban lương thực thần thiêng đều hàm chứa trong Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh thể gói trọn cuộc đời Chúa Kitô và không có gì thuộc về Người mà không hội tụ trong Bí Tích Thánh thể.

Từ Thánh giá đến Thánh thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh giá đến tình yêu Thánh thể. Bí tích Thánh thể là một sáng kiến của tình thương Thiên Chúa.Của ăn vật chất chỉ dừng lại ở việc nuôi dưỡng, bảo tồn sự sống hữu hạn của con người.Để sống đời đời, con người được mời gọi ăn và uống Thịt Máu Chúa, nguồn ơn cứu độ nhân loại.

Đất nước đá cũng như bánh và rượu là những thực tại tầm thường trong cuộc sống, nhưng một khi đã gắn với lịch sử cứu độ là nó trở nên những điều kỳ diệu.

Cuộc sống chúng ta với Thiên Chúa cũng thế. Sống đời sống thiêng liêng, siêu nhiên một cách tự nhiên. Sống đời sống tự nhiên một cách thiêng liêng, siêu nhiên. Thánh Thể, suối nguồn tình yêu của cuộc sống Giáo Hội là trường học của tình bác ái và liên đới. Ai nuôi mình bằng Bánh của Chúa Kitô thì người ấy sống những điều tầm thường hàng ngày một cách phi thường trong tin yêu.

Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa đã cho con hàng ngày được ăn một miếng Bánh đơn sơ, nhỏ bé để con được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa Vô Cùng. Xin cho cho tâm hồn con luôn kết hợp với Chúa, để được Chúa dẫn vào cuộc sống muôn đời. Amen.

Về mục lục

.

“CHÓP ĐỈNH VÀ NGUỒN MẠCH” CỦA GIÁO HỘI LÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Nếu chiều thứ năm Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành thánh lễ Tiệc Ly, kỷ niệm việc Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể để ở lại với loài người mọi ngày cho đến tận thế, thì hôm nay, Giáo Hội long trọng cử hành thánh lễ kính Mình và Máu Chúa Giêsu nơi Bí Tích Thánh Thể. Khi cử hành như thế, Giáo Hội cảm nghiệm và xác tín rằng: Bí tích Thánh Thể chính là trung tâm trong lịch sử của nhân loại, là “nguồn mạch” và “chóp đỉnh” của mọi sinh hoạt trong phụng vụ của Giáo Hội, bởi vì Thánh Thể là lương thực cần thiết cho sự sống và sứ mạng của Giáo Hội.

Thật là ý nghĩa và tốt đẹp biết bao khi các tín hữu trong ngày Lễ này, quy tụ với nhau chung quanh Thánh Thể, để tôn thờ Người hiện diện trong Bí tích cao trọng qua các hình thức đạo đức như chầu và rước kiệu Thánh Thể để diễn tả lòng đạo đức, sốt sắng tham dự Thánh lễ và rước Mình và Máu Thánh Chúa xách xứng đáng, để thể hiện niềm tin vào Chúa Giêsu hằng sống và nói lên niềm vui vì sự hiện diện của Ngài trong nhân loại và trên cuộc đời.

  1. Sự cao trọng của Bí tích Thánh Thể

Trong Giáo Hội có bẩy Bí tích, nơi các Bí tích này đều có sự liên hệ mật thiết với nhau làm nên tính toàn thể trong mầu nhiệm cứu chuộc của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Bí tích cao trọng nhất và vĩ đại nhất vẫn là Bí tích Thánh Thể. Vì thế, Bí tích này được gọi là: “Bí tích của các Bí tích”: Thật vậy: “Tất cả các Bí tích khác đều quy hướng về Bí tích Thánh Thể như về cùng đích” (GLHTCG số 1211), và đời sống đức tin của chúng ta nơi Bí tích Thánh Thể như là cứu cánh của mình.

Vì thế, không có kinh nào, nghi thức nào và tổ chức nào cao trọng, quý mến cho bằng Thánh lễ, bởi vì trong Thánh lễ sẽ diễn ra một cuộc trao đổi kỳ diệu dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, làm cho bánh và rượu trở nên Thịt và Máu Chúa Giêsu qua lời truyền phép của linh mục. Bí tích Thánh Thể nói lên sự hiện diện thực sự và trọn vẹn của Chúa Giêsu. Cũng qua Thánh lễ, cùng với của lễ tuyệt hảo là Chúa Giêsu trên Thánh giá, chúng ta nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, dâng lên Thiên Chúa Cha lời chúc tụng, tạ ơn và cầu xin.

Nơi Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu diễn tả tình yêu trọn vẹn khi trao hiến Thịt và Máu của mình làm của ăn, của uống cho nhân loại. Qua Bí tích Cực Thánh này, Chúa Giêsu hiện diện dưới hình bánh, hình rượu để trở nên lương thực nuôi dưỡng chúng ta, làm cho đời sống tinh thần của chúng ta được lớn mạnh không ngừng.

Chính vì thế, Bí tích Thánh Thể là “Nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống kitô hữu” (x. LG 11). “Hy lễ Thánh Thể, tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa, tiếp diễn mãi mãi Hy Lễ Thánh Giá, là tuyệt đỉnh và nguồn suối của tất cả phụng tự và đời sống Kitô giáo. Nhờ Hy Lễ Thánh Thể, sự hiệp nhất của dân Chúa được biểu lộ và thể hiện, việc xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô được hoàn tất. Bởi đấy, các Bí Tích khác và mọi hoạt động tông đồ của Giáo Hội đều quy hướng về và liên kết chặt chẽ với Bí Tích Thánh Thể” (Giáo  Luật, số 897). Thật vậy, mỗi lần Hy tế Thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó “Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (x. 1 Cr  5,7), thì công cuộc cứu chuộc chúng ta được thực hiện” (x. LG, số 3).

Như thế, tham dự và cử hành Bí tích Thánh Thể trong khuôn khổ Thánh lễ Tạ Ơn là việc vô cùng quan trọng trong đời sống của Giáo Hội và của mọi người tín hữu Chúa Kitô, vì đây chính là “nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô giáo” (x. LG, số 11) như Giáo Hội dạy.

Mỗi khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể hay tôn sùng Bí tích cao trọng này cách xứng đáng, ấy là lúc chúng ta tin nhận Bí tích Thánh Thể  là“nguồn mạch và tột đỉnh” của đời sống kitô hữu. Nói cách khác, toàn thể đời sống tâm linh của kitô hữu cũng như mọi cử hành phụng vụ của Giáo Hội được bắt nguồn từ Bí Tích Thánh Thể.

Khi xác tín như thế, chúng ta cùng nhau hướng mục đích của cuộc đời mình về Chúa Giêsu như một sự quy chiếu đến cùng đích tối hậu của cuộc sống nơi mình. Đồng thời, mỗi khi cử hành và tôn sùng Bí tích Thánh Thể, Giáo Hội mời gọi con cái mình trở nên giống Chúa Giêsu ngày càng mật thiết hơn và sống mầu nhiệm Thánh Thể trong đời sống hằng ngày.

Như thế, đời sống tâm linh của chúng ta phải là con đường hai chiều. Con đường này khởi đi từ Bí tích Thánh Thể, rồi sau đó lại đưa dẫn chúng ta trở về với Thiên Chúa trong Bí tích này. Mối liên hệ trên được diễn ra trong tình yêu. Chính nhờ tình yêu, mà chúng ta cũng kết hợp với toàn thể Giáo Hội, là Nhiệm Thể Đức Kitô. Để rồi nhờ hồng ân Bí tích Thánh Thể, chúng ta thương yêu tha nhân như chính mình vì họ là hình ảnh của Thiên Chúa.

  1. Sống mầu nhiệm Thánh Thể trong đời sống người kitô hữu

Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông thư “Mane Nobiscum Domine – lạy Chúa, xin ở lại với chúng con” đã nhấn mạnh khi viết: “Mỗi lần ta dự phần vào Mình và Máu Người, chúng ta đã thực sự gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta không thể giữ lại cho riêng mình niềm hân hoan mình đã cảm nghiệm. Việc gặp gỡ riêng tư với Chúa Kitô cách thường xuyên được tăng triển và đào sâu trong Bí tích Thánh Thể khơi lên trong Giáo Hội và nơi mỗi tín hữu một lời mời gọi khẩn thiết cho việc làm chứng và rao giảng Tin Mừng” (Gioan Phaolô II, Mane Nobiscum Domine, số 24).

Người kitô hữu chúng ta không thể sống khác đi được. Nếu đi ngược lại, chúng ta đánh mất chính mình vì đã mâu thuẫn nội tại.

Vì thế, mỗi khi tham dự Thánh Lễ, nhất là rước Mình và Máu Chúa vào trong linh hồn chúng ta, hẳn là hơn bao giờ hết, chúng ta được mời gọi để trở nên thánh thiện, trong sạch hầu xứng đáng với Mầu Nhiệm ta đã lãnh nhận.

Thông hiệp vào Mầu Nhiệm Cực Thánh này, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi để đi vào tận sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa để cảm nghiệm được tình yêu tự hiến nơi Chúa Giêsu, Đấng đã “đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”, Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, để qua đó, mời gọi chúng ta noi gương Ngài, phục vụ anh chị em mình với sự khiêm nhường trong lòng mến.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin Chúa ban cho chúng con thêm lòng yêu mến Chúa và siêng năng tham dự Thánh lễ, rước Mình và Máu Chúa cách xứng đáng; đồng thời luôn xác tín Bí tích Thánh Thể chính là “nguồn mạch và chóp đỉnh” của đời sống Giáo Hội và nơi mỗi người chúng con. Amen.

Về mục lục

.

BÁNH TRƯỜNG SINH 

Trầm Thiên Thu

Thánh Thể liên quan đức tin, bởi vì “đây là mầu nhiệm đức tin”. Giáo Hội đã xác định như vậy, và mỗi khi lãnh nhận Thánh Thể, mỗi chúng ta có trách nhiệm “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”.

Có rất nhiều loại bánh. Mặn có, ngọt có, dẻo có, cứng có,… và người ta có cả bánh chay nữa. Thích gì ăn nấy, đủ loại có thể tự chọn theo sở thích. Bánh là một loại thực phẩm, ăn để no một thời gian rồi lại cần ăn nữa, thậm chí mỗi ngày người ta còn phải ăn vài lần mới ổn cái bụng. Và rồi ai cũng phải chết, dù no hay đói, dù ăn bất cứ loại thực phẩm nào.

Nhưng có một loại bánh đặc biệt được mệnh danh là Bánh Trường Sinh, đó là Thánh Thể. Chúa Giêsu đã xác định: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35). Thật vậy, chị Marthe Robin (1902-1981, người Pháp) là người chứng tỏ điều Chúa Giêsu đã nói. Chị Marthe ốm yếu từ nhỏ, đến năm 28 tuổi thì bị liệt, thi thoảng chị được Chúa Giêsu hiện ra, chị không thể ăn hoặc uống được bất cứ thứ gì, chị chỉ sống nhờ Thánh Thể trong suốt 51 năm. Giáo Hội đã tôn phong chị là bậc đáng kính vào ngày 7-11-2014.

Thánh Thể là bằng chứng hùng hồn về Lòng Chúa Thương Xót, và liên quan đức tin, nhưng đức tin lại liên quan cách thể hiện yêu thương, liên quan cuộc sống và con người – đặc biệt là những con người hèn mọn. Mẹ Thánh Teresa Calcutta lý giải: Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể”. Vô hình mà hữu hình. Rất thực tế, rất cụ thể!

Cuộc đời được gọi là cuộc sống. Sự sống liên quan việc ăn uống, liên quan ẩm thực. Ăn để sống, chứ không sống để ăn. Lương thực là một phần thiết yếu để duy trì sự sống. Tuy nhiên, ngày nay người ta phải cảnh giác cao độ vì các loại thực phẩm nhiễm độc vì các hóa chất, đặc biệt là thực phẩm của Trung cộng. Do đó, người ta càng văn minh lại càng đáng quan ngại về thực phẩm – kể cả các dụng cụ, nghĩa là người ta càng cần có sự an toàn.

Theo dòng đời, ai cũng biết rằng lương thực và thực phẩm rất cần, người ta cũng chỉ vì “miếng ăn” mà không ngừng gây chiến tranh. Các dạng tội phạm cũng vì đó mà leo thang. Để hỗ trợ dân nghèo vì nhân đạo, Liên Hiệp Quốc đã thành lập tổ chức FAO (Food and Agriculture Organization – Tổ chức Lương Nông) vào ngày 16-10-1945 tại Canada. Tổ chức này nhằm ba mục đích: (1) Nâng cao mức sống và mức dinh dưỡng của nhân dân các nước thành viên; (2) Nâng cao hiệu quả sản xuất lương thực và nông sản; (3) Góp phần vào việc phát triển kinh tế thế giới và giải phóng nhân dân khỏi nạn đói. Trên logo của FAO có dòng chữ bằng La ngữ: “Fiat Panis – Để Có Lương Thực” (Anh ngữ: Let There Be Bread).

Ngày xưa, chính Chúa Giêsu đã vì chạnh lòng thương, sợ người ta đói khát nên Ngài đã hai lần làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho đám người mê Ngài nói mà quên cả cái bụng. Các thánh sử đã ghi lại phép lạ mà Chúa Giêsu đã làm bằng cách hóa bánh ra nhiều: lần một (Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17; Ga 6:1-14), với 5 cái bánh và 2 con cá, Ngài đã cho mọi người no nê, số thực khách lên tới 5.000 người, chưa kể phụ nữ và trẻ em, phần dư còn thu được 12 thúng đầy; và lần hai (Mt 15:32-39; Mc 8:1-10), với 7 cái bánh và vài con cá, Ngài cũng đã cho mọi người no nê, phần dư còn thu được 7 thúng đầy. Đó là ngụ ý đề cập Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập trong buổi Dạ Tiệc Vượt Qua, trước khi Ngài chịu tử hình vì tội lỗi của chúng ta. Máu và thịt không thể tách rời. Chính máu và thịt là dấu chứng tỏ của sự sống.

Đối với phàm nhân, chuyện ăn uống là một trong tứ khoái của con người, ăn là hành động đứng đầu, và có thể gọi là “đệ nhất khoái”. Tuy nhiên, miếng ăn cũng có thể làm cho người ta vinh hoặc nhục. Có lẽ vì vậy, nhất là với người có lòng tự trọng, tục ngữ Việt Nam so sánh: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”. Ăn cũng có nghệ thuật ăn, không phải cứ cho vô miệng là xong. Không chỉ vậy, ăn không chỉ để no bụng mà còn cần ngon miệng: Đồ ăn ngon, chỗ ăn ngon, và người ăn (với mình) cũng ngon. Thế mới đủ “độ” ngon. Có cả chuỗi nghệ thuật liên quan chứ không đơn giản đâu!

Quả thật, chuyện ăn uống cũng đủ kiểu và đủ mức, nhiêu khê lắm! Ngày xưa, khi dân Chúa đi qua sa mạc suốt 40 năm để tới Miền Đất Hứa, lương thực duy nhất là man-na, một món cứ ăn mãi nên dân chán ngán. Chán lắm! Chán ngán đồ ăn nhớ không mùi vị nên thèm đồ ăn ngon ngày xưa thường ăn, đám dân ô hợp sống giữa dân Ít-ra-en bắt đầu cảm thấy không chịu nổi, họ và cả con cái Ít-ra-en đều khóc lóc mà nói: “Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây? Nhớ thuở nào ta ăn cá bên Ai-cập mà không phải trả tiền, rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi. Còn bây giờ đời ta tàn rồi; mọi thứ đó hết sạch, chỉ còn thấy man-na thôi” (Ds 11:4-6). Mô-sê cũng “nhức đầu” lắm, vì họ đòi thịt thì lấy đâu giữa sa mạc khô cằn và hoang vu như vậy chứ? Căng dữ nghen!

Và Kinh Thánh cho biết rằng man-na là loại “bánh từ trời”, nhìn như hạt ngò và trông như nhựa hương. Lạ lắm. Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nồi nấu bánh, và mùi vị của nó như mùi vị bánh chiên dầu. Đêm về, sương rơi trên doanh trại, và man-na cũng rơi xuống (Ds 11:7-9). Cái món man-na lạ nhưng ăn hết ngày này sang tháng nọ thì chịu hết nổi rồi! Mô-sê “cầu cứu” Chúa. Và rồi Ngài cho gió lùa chim cút tới, lớp chim cút dày tới cả mét, dân cứ việc lượm mà xơi cho đã cơn thèm. Nhưng ai cũng tham nên lượm nhiều để dành, thế nên Chúa nổi trận lôi đình (Ds 11:31-33). Đúng là “tham thì thâm”. Đúng là “thần khẩu hại xác phàm”, cái miệng hại cái thân rõ ràng. Có ăn mà không khéo cũng khổ!

Ngày nay chúng ta cũng không hơn gì dân ngày xưa, thế nên Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ vì chúng ta sai trái, đã vậy còn cứng đầu cứng cổ, ngang ngược và bướng bỉnh. Được ăn chưa biết cảm ơn lại dám nổi loạn. Loài người vô ơn bạc nghĩa hết sức! Thế nhưng Ngài vẫn luôn nhân từ, vẫn tha thiết mời gọi tất cả chúng ta: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55:1). Và đó cũng là “lời mời gọi cuối cùng”.

Kinh Thánh nhắc nhở: “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực; như vậy Người thử thách anh em cho biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không. Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra” (Ðnl 8:2-3). Chính Đức Kitô cũng đã từng nhắc nhở y như vậy (Mt 4:4; Lc 4:4). Xác cần ăn thì hồn cũng cần ăn, có vậy mới sống và phát triển toàn diện.

Kinh Thánh tiếp tục giải thích và động viên: “Thiên Chúa của anh em, Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Người đã dẫn anh em đi trong sa mạc mênh mông khủng khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã khiến nước từ tảng đá hoa cương chảy ra cho anh em uống. Trong sa mạc, Người đã cho anh em ăn man-na, thức ăn mà cha ông anh em chưa từng biết, để bắt anh em phải cùng cực và thử thách anh em, hầu làm cho anh em được hạnh phúc trong tương lai” (Ðnl 8:14-16). Thế nhưng trái tim phàm nhân bằng đá hoặc đã xơ cứng, nghe xong rồi quên, hứa xong rồi thôi, cứ tưởng mình là “cái rốn của vũ trụ”, tự nhận mình là “số dzách”, cho nên lúc nào cũng chỉ chực nổi loạn. Lô-gích thôi. Đó là chúng ta có “gen kiêu ngạo” của Ông Bà Nguyên Tổ!

Ôi, phàm nhân chúng ta dễ vô ơn lắm, dù có lãnh nhận đại ân. Và rồi chúng ta cũng rất “chảnh”, luôn nghĩ mình “ngon lành”, tự nhận mình là ân nhân, mặc dù chúng ta chỉ cho người khác những thứ thừa thãi – còn tệ hơn bố thí (thay vì vứt bỏ í mà)! Do đó, tác giả Thánh Vịnh nhắc khéo chúng ta bằng cách mời gọi: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa! Này Sion, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi! Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc, con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân. Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình, và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo” (Tv 147:12-14).

Dân tộc Ít-ra-en là Dân Riêng của Chúa. Ít-ra-en là hiện thân của chúng ta, vì chúng ta cũng là Dân Thánh của Ngài. Chúng ta cũng được “đặc cách” mà vẫn vô ơn. Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh cho biết: “Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp, chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en. Chúa không đối xử với dân nào như vậy, không cho họ biết những điều luật của Người” (Tv 147:19-20).

Với lòng đại lượng bao la, Thiên Chúa ban tặng chúng ta mọi thứ, đặc biệt là chính Con Một Yêu Dấu của Ngài. Đó là hệ quả của “khối tình si” của Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Vâng, Ngài yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân kia mà! (x. Rm 5:8). Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10:16-17). Và đó cũng là lời nhắc nhở chúng ta phải biết yêu thương nhau – bằng mọi động thái, bằng cả con người của chúng ta. Chữ MỘT rất quan trọng!

Khi Chúa Giêsu đi rao giảng khắp nơi, có lần Ngài nói với người Do Thái: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6:51). Có vẻ họ “chói tai” nên họ liền tranh luận sôi nổi với nhau. Và họ đặt vấn đề: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:52).

Với trí tuệ loài người, tất nhiên làm sao họ hiểu được. Nếu có chúng ta trực tiếp nghe Chúa Giêsu nói lúc đó, chắc chắn chúng ta cũng phản đối tới cùng chứ chẳng vừa đâu. Tất nhiên Chúa Giêsu biết tỏng, và Ngài nghiêm túc nói với họ, có vẻ “dài dòng” nhưng cần thiết, đồng thời vừa xác định vừa giải thích: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:53-58). Quả thật, Chúa Giêsu không chỉ làm cho chúng ta sống, vì chính Ngài là Sự Sống (Ga 14:6), mà Ngài còn cho chúng ta được sống dồi dào (Ga 10:10).

Và rồi ngay trong Bữa Tiệc Ly, điều đó đã được Đức Giêsu thực hiện, đồng thời đó cũng là cách Ngài thực hiện lời hứa của Ngài: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Một cách tương tự là Ngài cũng đã hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14:16). Và Chúa Thánh Thần đang ở với chúng ta hằng ngày cùng với Thánh Thể.

Tuy là “bánh từ trời”, nhưng man-na chỉ là lương thực bình thường, là loại bánh ăn để sống phần xác thôi, nghĩa là có ăn bao nhiêu rồi cũng… chết. Ngược lại, Mình và Máu Đức Kitô là lương thực thiêng liêng, vừa là Thần Lương vừa là Thần Dược, ăn để có sự sống và được điều trị phần hồn (kể cả phần xác), đặc biệt là Thánh Thể làm cho chúng ta bất tử và được hưởng vĩnh phúc. Thánh Thể chính là Thần Lương tăng lực để chúng ta đủ sức kiên nhẫn đi hết chặng đường lữ hành trần gian, là Của Ăn Đàng, là Nguồn Trường Sinh của chúng ta.

Đối với Bí tích Thánh Thể, chúng ta phải có đức tin trưởng thành, không thể dựa trên thính thị hoặc cảm giác. Chỉ có đức tin mới thực sự cảm nghiệm được Mình và Máu Thánh của Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa.

Hằng ngày, mỗi khi rước lễ là chúng ta đón rước Thiên Vương Giêsu vào lòng, lúc đó Vua Trời Đất vui mừng hòa tan vào chúng ta, nên một với chúng ta, thật là đại phúc đối với phàm nhân chúng ta. Ước gì sau khi rước lễ, chúng ta dành vài phút để cảm nghiệm Chúa Giêsu Thánh Thể, Vua Thương Xót, và tâm sự với Ngài. Thực sự Ngài rất muốn lắng nghe chúng ta về mọi điều buồn vui, đặc biệt là Ngài muốn chúng ta tôn thờ và cảm tạ Ngài. Vài phút ngắn ngủi đó rất cần thiết và sinh nhiều ích lợi cho đời sống của mỗi chúng ta.

Như chúng ta đã biết, Bí tích Thánh Thể “gắn liền” với đức tin. Mà đức tin (nói chung) là điều rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu, nhưng cũng phải thận trọng lắm, vì có thể dễ trở thành cuồng tín hoặc tin lệch lạc. Vấn đề tín lý quan trọng lắm. Tương tự, khi nói về Kinh Thánh cũng phải thận trọng, nếu không rất nguy hiểm.

Ngày xưa, có nhiều tà thuyết hoặc dị giáo – chẳng hạn: Albigensianism (thế kỷ XII–XIII), Arianism (thế kỷ IV), Donatism (năm 311), Jansenism (thế kỷ XVII), Macedonianism (khoảng năm 362), Manichaeism (khoảng 216–276), Nestorianism (giữa thế kỷ IV và V), Pelagianism (thế kỷ V), Priscillianism (thế kỷ IV–V), Calvinism (1570),… Đó là do niềm tin sai lạc và suy diễn lệch lạc, đối nghịch với đức tin Công giáo. Có lẽ họ muốn lập một đạo mới chăng? Ngày nay cũng vẫn có các tà thuyết nhưng ở dạng khác, tinh vi hơn nên khó nhận ra. Còn chúng ta, những tín hữu của Đức Kitô Giêsu, hãy cố gắng tâm niệm như Thánh nữ Catharina Senensis (Catarina Siêna, 1347–1380): “Mặc dù tôi u mê yếu đuối, nhưng tôi quyết không thất vọng đem linh hồn của tôi ẩn núp vào trong các vết thương của Chúa Giêsu, xin Máu Thánh của Chúa Giêsu rửa sạch tội lỗi của tôi”.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con xin tôn vinh và kính thờ Ngài. Xin thêm đức tin cho con người yếu kém của con, xin dùng Lửa Yêu Mến thiêu đốt lòng con và biến trái tim chai cứng của con trở thành trái tim si tình để con chỉ yêu Ngài mà thôi, yêu bằng cả con người của con, yêu qua từng động thái, và xin luôn canh giữ con như con ngươi trong mắt Ngài để con xứng đáng đón rước Ngài vào lòng hằng ngày. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Về mục lục

.

PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

I.  LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN (Ga 6.51-58)

51 Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do-thái rằng:“Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

52 Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” 53 Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.  56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

II.  TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

2.1 Chương 6 là chưong khó “nuốt” nhất của Sách Tin Mừng Gio-an, vì Đức Giê-su khẳng định Thịt và Máu Con Người là Bánh từ trời xuống đem lại sự sống muôn đời cho những ai ăn Bánh (Thịt) và uống Chén (Máu) ấy. Với người Do-thái thì khi nói đến bánh từ trời xuống là họ nghĩ ngay đến man-na là thứ bánh mà Thiên Chúa đã ban cho cha ông họ trong hoang địa. Nhưng bánh từ trời xuống mà Đức Giê-su ban cho cac tín hữu thì vượt xa man-na ấy. Ăn man-na người Ít-ra-en vẫn chết. Ăn bánh từ trời Đức Giê-su ban, các tín hữu sẽ có sự sống bất diệt, ở đời này và ở đời sau.  

2.2 Không chỉ có thế, ai ăn Bánh (Thịt) và uống Chén (Máu) Đức Giê-su ban sẽ được ở lại trong Người, được kết hiệp với Người, được sống bằng sự sống thần linh, sự sống của Thiên Chúa, được nên một với Người. Đó chẳng là điều thần kỳ sao?  

2.3 Suy nghĩ về những điều trên, chúng ta không thể không thán phục quyền năng và tình yêu mà Chúa Giê-su đã dành cho Dân Thánh Chúa. Trước việc thể hiện quyền năng và tình yêu vô biên ấy, chúng ta được mời gọi dâng lên Thiên Chúa và Con của Ngài là Đức Ki-tô Giê-su, lời cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng. Nhờ quyền năng và tình yêu vô biên ấy mà chúng ta được chứng kiến phép lạ phi thường mỗi ngày: Phép Lạ của Tình Yêu!  

III.  THỰC THI LỜI CHÚA

3.1 Từ ngày rước lễ lần đâu, tôi đã rước Thánh Thể không biết bao nhiêu lần. Tôi đã “chầu” Thánh Thể trong nhiều thời gian. Tôi đã có được những cảm nghiệm sâu sắc về sự hiện diện của Chúa Ki-tô trong Thánh Thể. Chính sự hiện diện này đem lại cho tôi sức mạnh và niềm an ủi trong cuộc sống.     

3.2 Qua các Khóa Thánh Kinh (mà tôi hướng dẫn) và qua các Sách Tu Đức, Thần Học, Hạnh các Thánh (mà tôi đọc), tôi đã hiểu sâu hơn ý nghĩa của Thánh Thể. Qua việc dấn thân phục vụ, tôi đã làm cho đời sống của tôi đậm đà ý nghĩa hiến dâng chia sẻ mà Thánh Thể gợi ý.

3.3 Tôi cảm tạ Thiên Chúa và Chúa Giê-su Thánh Thể về những hồng ân mà tôi đã lãnh nhận từ lòng từ bi thương xót của Người.  

IV.  CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, vì yêu thương nhân loại, Chúa đã  xuống thế làm người;   vì yêu thương các tín hữu, Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể để trở thành của ăn của uống cho chúng con. Con xin dâng lên Chúa lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ!

Nơi Thánh Thể Chúa mời gọi con sống hiệp nhất với mọi người. Chúa cũng mời gọi con sống hiến dâng cho mọi người và sống chia sẽ với mọi người, nhất là với những người thiếu thốn.

Con quyết không quên những mời gọi ấy của Chúa. Xin Chúa giúp con thực hiện chúng một cách khiêm cung và chân thành. Amen.

Về mục lục

.

CHÚNG TA ĐƯỢC BIẾN ĐỔI THEO ĐIỀU CHÚNG TA ĂN

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Thánh nữ Juliana thành Liege, một nữ tu dòng thánh Âu-tinh, đã có một thị kiến trong có thánh nữ nhìn thấy một mặt trăng tròn trịa chiếu sáng. Mặt trăng thật hoàn hảo, ngoại trừ bị  một vài lỗ nhỏ màu đen, mà qua đó thánh nữ được cho biết là do thiếu việc lễ mừng Thánh Thể. Chuyện này đã dẫn đến việc mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa trong niên lịch phụng vụ của Giáo Hội vào năm 1264.

Tại sao chúng ta cần mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa? Lễ mừng này cho chúng ta cơ hội để cám tạ Thiên Chúa vì sự hiện diện thường hằng của Đức Giê-su Ki-tô cách hữu hình trong Bí Tích Mình và Máu Thánh Chúa. Đó cũng là cơ hội để chúng ta tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa cúa Bí Tích này cũng như có thái độ sống sao cho xứng đáng, vì Bí Tích Thánh Thể là bí tích của sự sống, mà ai ăn uống bất xứng, sẽ lãnh lấy án phạt cho mình như Thánh Phao-lô đã viết trong thư gởi tín hữu thành Cô-rin-tô: “Thật vậy, ai ăn uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết” (1Cr 11,29-30).

Để hiểu biết hơn về Bí Tích Thánh Thể, trước hết, chúng ta cần cầu xin Đức Giê-su ban cho chúng ta bí tích này. Bài Tin mừng hôm nay, đúng hơn là cả chương 6 của Tin Mừng Gioan, cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta có thể thấy Đức Giê-su đưa ra cho chúng ta 2 lý do:

a) Đức Giê-su hứa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Qua Bí Tích Thánh Thể, Đức Giê-su cho chúng ta một dấu chỉ hữu hình và một phương cách hiệu quả để hiện diện với chúng ta và đưa chúng ta đến với Ngài. Như Đức Giê-su đã nói: “Ai ăn thịt và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy”.

b) Đức Giê-su nói rằng Ngài đến để cho chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10,10). Trong Bí tích Thánh Thể, ngài trở thành phương cách hữu hình của sự trao ban sự sống cho chúng ta, để chúng ta có thể sống dồi dào trong thế giới này và trong cuộc sống mai hậu, như lời Ngài đã nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.  Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,53-54)

Đức Giê-su nói với người Do thái khi họ cùng nhau đến để xin Ngài ban cho họ bánh ăn một lần nữa. Nhưng lần này, Đức Giê-su muốn ban cho họ thứ bánh và máu một cách bí tích. Trong đầu óc phàm tục của họ, họ không thể hiểu và đánh giá được giá trị của bí tích này. Họ xầm xì với nhau: “Làm sao ông này có thể ban cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (c. 52). Thế nhưng Đức Giê-su khẳng quyết: “Thịt tôi chính là của ăn, máu tôi thật là của uống” (c. 55). Kết cục, những người Do Thái đã bỏ đi khi nghe về Bí Tích Thánh Thể, vì họ thấy bí tích này quả không có nghĩa gì đối với họ trong cuộc sống vật chất của trần gian.

Vấn nạn mà những người theo Đức Giê-su đặt ra vẫn còn là một vấn đề đối với chúng ta ngày hôm nay. Nếu chúng ta đến với Bí Tích Thánh Thể với một đầu óc duy vật, chúng ta chẳng thể hiểu được, và tất nhiên sẽ đánh mất tất cả những ơn ích của một món quà tuyệt vời của Tình Yêu Thiên Chúa. Bí Tích Thánh Thể thực là của ăn và của uống cho chúng ta, nhưng đồng thời cũng rất khác biệt với những loại đồ ăn thức uống của trần gian. Điều khác biệt lớn nhất hệ tại ở những lời của Đức Ki-tô mà Thánh Âu-Tinh đã được nghe trong lúc cầu nguyện: “Con chẳng thể làm cho Ta đi vào thân xác con trừ khi con đón nhận như một thức ăn cho cơ thể con; và đó cũng là cách con được biến đổi trong Ta”. Hằng ngày, chúng ta biến đổi những thức ăn thành thịt máu chúng ta, thì thức ăn của Bí Tích Thánh Thể cũng biến đổi chúng ta thành thân mình của Đức Ki-tô. Câu nói của Ludwig Feuerbach “chúng ta sẽ trở thành điều mà chúng ta ăn” thì càng đúng hơn nữa trong sự cảm nghiệm về Bí Tích Thánh Thể.

Nhưng tại sao nhiều người trong chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể, nhưng không cảm nghiệm được sự biến đổi tận căn này? Có thể câu chuyện sau đây cũng soi sáng việc này: Một nhóm gồm những người Nga và người Hoa Kỳ cùng tham gia vào một cuộc thám hiểm. Trong ngăn chứa lương thực có loại bánh mì đen của người Nga. Vị của nó thật ngon, nhưng lại quá cứng để nhai. Chuyện xảy ra là trong một bữa ăn, một người Hoa Kỳ cắn một miếng bánh và bị gãy một chiếc răng. Anh ta liền quẳng ổ bánh vào trong ngăn và làu bàu: “Đúng là loại bánh mì cộng sản”. Nhưng một người Nga cãi lại: “Chẳng phải vì loại bánh của xã hội chủ nghĩa đâu, mà là do hàm răng hư thối của tư bản đấy”.

Nếu chúng ta không cảm nghiệm được năng lực biến đổi của Bí Tích Thánh Thể, thì có lẽ không phải do Bí Tích Thánh Thể, nhưng chính do việc thiếu niềm tin của chúng ta. Ngày hôm nay, chúng ta hãy đến với Bí Tích Thánh Thể trong một đức tin sống động tin vào sự hiện diện thực sự của Đức Giê-su trong Bí Tích Thánh Thể, và chúng ta sẽ cảm nghiệm quyền năng cứu độ của Thiên Chúa cũng nhưng tình yêu có sức biến đổi của Ngài.

Về mục lục

.

LƯƠNG THỰC SIÊU NHIÊN

P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn, Thiên Chúa tạo thành sự sống cho nhân loại bắt nguồn từ sự sống bởi Thiên Chúa. Sự sống Thần Linh duy nhất và vĩnh cửu, vì nơi Thiên Chúa không có sự chết, đó là chân lý muôn đời. Vì, Thiên Chúa không tạo dựng sự chết, đó là bản tính tất yếu và khôn ngoan của Thiên Chúa. Điều nầy không khó suy luận, bởi vì, dù sự hèn kém của thụ tạo cũng chẳng ai “dại” gì tạo ra kẻ thù, hay là sự đối lập với mình, hoặc làm ra vật hủy hại mình, hay chơi với kẻ chống lại mình, phương chi là Thiên Chúa, có nghĩa là Chủ Trời Đất muôn vật.

Vậy, khi có sự sống, hay nói về sự sống , hệ lụy tất yếu phải có “lương thực” là phượng tiện để nuôi sống, có nghĩa là duy trì sự sống, vì không ai dược sống mà không được ăn. Vì vậy, người ta thường nói :ăn để sống, và rõ ràng, muốn sống phải ăn. Việc ăn uống là phương tiện để sinh sống, dù ít, nhiều, ngon , dỡ đều phải có để mà ăn.. Miếng ăn nơi thân xác cũng thánh thiện biết bao, vì nó liên hệ đến sự sinh tồn mà Thiên Chúa đã tạo thành. Miếng ăn tuy nhỏ, nhưng nó đứng ngang hàng với sự sống của nhân loại. Vâng, thưa quý vị, nhưng chỉ dừngg lại nơi miếng ăn của thân xác không thôi, thì sự sống của thân xác không thể sinh tồn và trường tồn được. Vì , thân xác tự nhiên hữu hạn, hữu hình, tất phải có thời gian chấm dứt. Nếu chỉ dừng lại tại nơi hữu hình chỉ vì “ miếng ăn” nuôi thân xác không thôi, thì quả là vô cùng bất hạnh cho nhân loại, vì ,như  người ta nói : “ miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”. vâng, điều nầy nói lên, nhân thế “tranh “ nhau miếng ăn nuôi thân xác, và nếu chỉ có thế thôi, thì sự sống thân xác hữu hạn lại càng “ mỏng manh”, người ta sẵn sàng sát phạt nhau chỉ vì miếng ăn, cái ăn.  Từ người thân trong gia đình, đến bạn bè, sơ giao, tâm giao, đến xã hội, giữa nước nầy và nước kia. Các nước xâm lược lẫn nhau, nước lớn  đánh nước bé. Hằng ngày, hằng giờ, từng giây, từng phút nhân thế tranh giành và sát phạt nhau chỉ vì miếng ăn, có khi anh em ruột thịt, cha mẹ, con cái, bên chồng, bên vợ, bên nội , bên ngoại đâm chém nhau tất cả chỉ vì miếng ăn.

Từ đó, ra đến xã hội “kim tiền”, chẳng hạn muốn được việc  thì phải : “cao lễ dễ thưa”, hay “ đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” , và dẫn đến bất công xã hội :”nén bạc đâm toặc tờ giấy”. tất cả, nếu đánh mất sự công bằng, bác ái sẽ dẫn đến diệt vong. Như vậy, sự hữu hình nơi thân xác thật mỏng manh, vô nghĩa, sự sống thân xác không có siêu nhiên thì chắc chắn không phải là sự sống vĩnh cửu được. Nên chi, sự sống hữu hình không phải là sự sống thật, dù sống đến già trăm tuổi.

Suy luận chân lý ấy, chúng ta mới hiểu được Lời Chúa hôm nay ( Ga 6, 51 -58) Lễ Mình Và Máu Thánh Chúa Kitô, Lễ hôm nay là đứng đầu mọi Thánh Lễ, Lễ hôm nay có thể nói là Lễ Cả của mọi Lễ Misa. Điều mà người Dothai cho là chói tai, vì họ không hiểu về đời sống vĩnh hằng, nếu chúng ta tin và hiểu về đời sống siêu nhiên, thì Lời nói của Chúa Giêsu hôm nay không khó hiểu, không chói tai như người Dothai đã nghe.

Vì khi Chúa Giêsu nói về “của ăn” nuôi sống sự siêu nhiên, vĩnh hằng, chứ không phải nuôi sống thân xác hữu hạn. Người nói bằng từ ngữ của nghe là trần thế, nhưng ý nghĩa siêu nhiên. Từ đó, chúng ta biết được Bí Tích Thánh Thể là một Mầu Nhiệm vô cùng cao cả, bởi chính Phần Nhân Tính tức mầu nhiệm Nhập Thể và Nhập Thế, tức mầu nhiệm làm Người của Chúa Giêsu, trở nên Hy Tế muôn đời để cứu chuộc nhân thế, nhưng phần Nhân tính ấy lại được một Thiên Tính của một Ngôi Vị Thiên Chúa làm nên. Như vậy, Đoạn Lời Chúa hôm nay ( Ga 6, 51 -58) là một Đoạn nói lên ơn Cứu Độ muôn đời của Đấng Cứu Thế, vì khi được lãnh nhận ơn Cứu Độ ấy, không những chỉ bằng Phép Rửa bởi Nước và Thần Khí, mà còn phải được kết hợp bởi việc “ăn và uống” chính Đấng Cứu Chuộc, vì chính Người đã tự nguyện trao ban. Khi nói đến đây, Chúa Giêsu muốn mời gọi chúng ta đáp lại trọn vẹn sự trao ban của Người. Chúa Giêsu muốn trao ban tuyệt đối, trao ban tất cả, cho đến tận cùng cái cho là Bí Tích Thánh Thể.

Bí Tích Thánh Thể là nguồn sung mãn nhất, nguồn lương thực vĩnh hằng từ Đấng Cứu Thế Giêsu, chính là thần Lương để nuôi sống vĩnh hằng siêu nhiên là linh hồn bất tử đã được cứu chuộc bằng Máu và Nước của Một Ngôi Vị Thiên Chúa làm Người. Chúa Giêsu không ẩn nấp, không quanh co, không che đậy, mà Người nói rõ : “ … Và bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống.” ( c 51c ).

Vâng , khi nghe nói đến “thịt”, người Dothai không khỏi kinh ngạc, vì “thịt” không thể ăn sống. Nhưng,  “thịt” của Đấng Cứu Thế là phần nhân tính, siêu nhiên, Người vẫn mang sự hữu hình trong siêu nhiên, Vì vậy, Người vẫn muốn trao ban trọn vẹn “cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ” của người trong mầu nhiệm Tử Nạn, để rồi không những từ ý nghĩa siêu nhiện nhiệm mầu, mà còn là sự hữu hình mà Người đã mang và đã gánh lấy vì nhân loại. Từ đó, việc “ăn Thịt và uống Máu” Đấng đã chết vì chúng ta, mặc nhiên chúng ta mới được phục sinh trong Người, có nghĩa là được sống đời đời.

Như vậy, Bí Tích Thánh Thể là được kết hiệp trọn vẹn mầu nhiệm Nhân Tính và Thiên Tính của Đấng Cứu Thế. Vì vậy, việc “ăn và uống” Thịt và Máu của Đức Kitô không phải như cầm “cục thịt” mà ăn, bưng một  “chén Máu” mà uống. Mà là mỗi lần cử hành mầu nhiệm Đức Tin, qua thể thức Bánh và Rượu mà chúng ta nhìn thấy, chúng ta được “ăn” tron vẹn mầu nhiệm làm Người, Tử Nạn và Phục Sinh của Con Một Thiên Chúa, như vậy, chúng ta mới được đón nhận ơn cứu độ trọn vẹn. Theo đó, không phải việc ăn và uống Máu Chúa Kitô là một việc theo tự nhiên, mà là việc làm của Đức Tin.

Mỗi lần rước Mình và Máu Thánh Chúa Kitô là mỗi lần được tham dự vào mầu nhiệm Nhân Tính và Thiên Tính của Người. Vì : “… Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ sống nhờ Tôi như vậy” ( c 57). Vì vậy, dù Manna ngày xưa từ trời mà rơi xuống cho dân riêng của Chúa, nhưng, cũng không thể được gọi là lương thực siêu nhiên, mà chỉ có chính “Thịt và Máu” của Đấng Cứu Thế mới được gọi là Thần Lương. Vì , ai ăn manna thì cũng sẽ chết( ý nói đến chưa được ơn cứu độ của Đấng Cứu Thế.)

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến cho thế gian được sống, và sống dồi dào, nếu thế gian biết kết hợp vào Chúa là sự sống vĩnh cửu, bởi chính Thánh Thể của Chúa, thì họ sẽ được đón nhận sự sống muôn đời, vì sự sống của Thiên Tính là sự sống muôn đời./. Amen.

Về mục lục

.

NƯỚC MẮT, MỒ HÔI

Lm. Vũ Đình Tường

Nước mắt mồ hôi nói đây không phải nước mắt mồ hôi do sợ hãi, do bệnh tật mà do vất vả, lao công khó nhọc của ngày làm việc cực khổ kiếm miếng cơm, manh áo. Nuớc mắt mồ hôi đôi khi đến từ lo lắng mất công ăn, việc làm. Nước mắt mồ hôi đôi khi đến từ sợ hãi đơn xin việc bị từ chối, không được phỏng vấn. Công ăn việc làm không chỉ giúp ta nhận ra giá trị con người mà còn cung cấp thực phẩm hàng ngày và các phí tổn trong cuộc sống.

Thực phẩm, thức uống chúng ta dùng hàng ngày không những cung cấp dinh dưỡng cho thân xác, mà còn trở thành chính máu huyết thân thể con người. Bánh và rượu dâng tiến trong thánh lễ cũng là của mồ hôi nước mắt do bàn tay con người làm ra. Chúng là hoa qủa của đất trời cộng với công lao của con người được dâng lên Chúa Trời, nói lên tâm tình tạ ơn và lòng yêu mến. Tạ ơn Chúa tạo dựng trái đất; vì yêu mến Chúa dựng nên trái đất cho con người hưởng dùng. Qua lời cầu nguyện và ơn thánh hoá của Thánh Thần bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Đức Kitô. Việc biến đổi tuyệt vời này xảy ra thế nào thì ngoài sự quan sát của con mắt trần thế và cũng vượt khỏi tầm tìm hiểu của khối óc loài người. Kitô hữu tin vào việc biến đổi đó bởi Kitô hữu tin vào chỉ dậy của Đức Kitô. Tin tưởng vào Đức Kitô và yêu mến Ngài giúp chúng ta tin Thánh Thần Chúa biến bánh rượu thành Mình và Máu Thánh Chúa như lời Ngài truyền dậy

Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống Gn 6,51.

Tất cả những gì đến từ trời cao không phải để cho chúng ta tìm hiểu, tranh biện mà chính là để sinh ích cho phần rỗi linh hồn. Vì thế tranh luận về sự biến đổi Mình Máu Thánh Chúa không sinh ích gì cho tâm linh. Tin vào Mình Máu Thánh Chúa mang sự sống trường sinh cho tâm hồn và chính Mình và Máu Thánh đó trở nên một phần máu thịt trong cuộc sống tâm linh của các tín hữu. Đức Kitô tự hiến thân mình vì nhân loại, trao tặng nhân loại chính thân thể Ngài và trao tặng nhân loại chính Thần Khí Ngài để luôn cùng đồng hành với nhân loại. Tất cả đến từ lòng yêu mến Đức Kitô dành cho nhân loại vì thế Kitô hữu học từ Đức Kitô cũng hy sinh cuộc sống mình, yêu tha nhân như yêu mình. Thánh Phaolô trong thư gởi cho tín hữu thành Corintô nhắc nhở mỗi chúng ta là một thành phần của thân thể Đức Kitô, Ngài là đầu chúng ta là phần thân thể và các phần thân thể phải lắng nghe hướng dẫn của đầu.

Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô sao? Và khi ta cùng bẻ bánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, vá tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, hungg ta cũng chỉ là một thân thể. 1 Cor 10,16-17

Chúng ta có thể trao tặng nhau thực phẩm, nước uống cho thân xác nhưng không có khả năng ban sức mạnh tâm linh. Chúa là Đấng duy nhất có khả năng làm được điều đó. Ai đón nhận với tâm tình yêu mến, tạ ơn, người đó được hưởng cuộc sống trường sinh trong nước Chúa.

Nhiều cha mẹ cảm thấy quá cực nhọc, vất vả kiếm được lương thực hàng ngày và cái cực nhọc lo lắng kia làm lu mờ những sự hy sinh cao quí cha mẹ dành cho con cái; trong khi đó lại có người thực phẩm lúc nào cũng dư thừa chan chứa nên coi thường thực phẩm và đâm ra phí phạm một cách đáng trách. Họ không hề bao giờ nghĩ đến việc phải dâng lời tạ ơn Chúa ban cho thực phầm qua trái đất, khí hậu và lao công. Kitô hữu lúc nào cũng cần nhớ dâng lời tạ ơn Chúa ban cho vũ trụ, thực phẩm bởi không có Chúa chúng ta không thể tồn tại vì thế sống tâm tình tạ ơn là điều không thể thiếu trong cuộc sống của các Kitô hữu.

Về mục lục

.

ĂN VÀ UỐNG

Lm. Jos. DĐH.

Ăn uống là nhu cầu để tồn tại, mà ăn để sống, ăn để hưởng thụ, hoàn toàn khác nhau, cho dù người Việt ăn cơm, ăn phở, người Tây ăn bánh, ăn súp. Ăn uống đâu phải chỉ là đưa cơm bánh vào miệng nhai nuốt, nhưng nhờ được giáo dục, mà điều đầu tiên chúng ta đã ý thức: ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Khi ăn người ta còn được tự do chọn lựa thứ thực phẩm mang lại sức khỏe, sức sống, có hiệu quả cao nhất. Chắc chắn không phải vô tình mà cha ông chúng ta nói: ăn trông nồi, ngồi trông hướng, cũng không phải vì lắm lời nhiều lẽ, cha ông ta đã sức ưu tư, làm gì để ta không phải bận tâm đến cơm áo gạo tiền.

Ăn như thế nào gọi là đúng, đủ, không lỗi đạo làm người, ăn uống ra sao để không phí phạm đến của trời ban, như câu thành ngữ các đấng bậc nhắc nhớ: khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Chúa Giêsu hôm nay không nói đến “văn hóa ẩm thực”, không chi tiết đến độ “cách ăn nết ở”, Ngài lưu ý chúng ta hãy ăn uống thứ lương thực nào để nuôi sống được linh hồn. Ăn uống thế nào để mỗi người tìm gặp được sự sống đời đời. Ăn tươi nuốt sống, đó là câu thành ngữ chỉ người bạo ăn bạo uống, dám nói, dám làm dám chịu, nghe quả thật là bạo lực. Từ việc ăn uống tự nhiên, Chúa Giêsu mạc khải “ai ăn bánh Ta ban sẽ được sống muôn đời”, Ngài còn quả quyết với đám đông Do-thái: “ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời, và tôi sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”.

Thực tế ở đời là: người ta ăn rồi lại đói, uống rồi lại khát, người ta “vận sức dụng mưu” hầu có của ăn của để, rồi cũng tới lúc bỏ lại tất cả vì tuổi cao sức yếu. Người khôn ngoan đức độ nhất, cũng “bó tay” trước vận mệnh: sinh lão bệnh tử ; người tài giỏi thông thái tới đâu, cũng không thể chế biến được thứ cơm bánh nuôi xác hồn bất tử. Ăn uống đủ chất, kiêng khem, loại bỏ được thực phẩm bẩn, ăn chín uống sôi, mới chỉ là cách phòng tránh bệnh, tự chăm sóc sức khỏe, chứ nào phải là kiếm tìm được thứ lương thực trường cửu. Ăn cơm bánh để nuôi thân xác, tiếp nhận những lời hay ý đẹp của các đấng bậc mới nuôi sống được lương tâm, được tâm trí sáng suốt.

Xã hội văn minh vẫn thừa nhận là không thiếu cơm bánh, có thiếu là thiếu lòng quảng đại, các gia đình trẻ hôm nay không sợ đói ăn khát uống, nhưng họ sợ không biết cách giáo dục con cháu nên người. Bánh vật chất là lương thực nuôi thân xác, không ai bàn cãi nữa, bánh trường sinh mà Chúa Giêsu ban để nuôi linh hồn, người Do-thái, và cả chúng ta hôm nay, đều phải có niềm tin, nếu không, sự sống đời đời cũng chỉ là vô vọng mà thôi. Của ăn tạm thời và của ăn trường tồn, sẽ không khó để phân biệt, điều hệ trọng là người ta có tin nhận Chúa Giêsu là Bánh tình thương, là Bánh trường sinh từ trời ban tặng không ?

Người xưa dùng nhiều ca dao tục ngữ để răn dạy con cháu, có những câu nghe qua là hiểu: cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ, trăm đường con hư. Có những câu nói, người ta không thể hiểu được hết ý: ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân, hay: của thiên trả địa. Nếu bao lâu, chúng ta chưa nhận ra công khó nuôi dạy con cháu, chưa tin cha ông ta phải trải qua nhiều vấp ngã mới để lại cho hậu thế những bài học quí báu, khó mà ta hiểu được tấm lòng mẹ cha của mình. Bao lâu chúng ta còn nhìn nhận Đức Giêsu là một anh thợ mộc con ông Giuse, hẳn không ai đủ hiểu thế nào là Bánh ban sự sống, cùng lắm chỉ hiểu bánh nuôi xác thân.

Có thực mới vực được đạo, nếu hiểu theo nghĩa mặt chữ, cùng lắm người ta chỉ tìm được của ăn vật chất, khó lòng hiểu được đạo làm người, đạo làm con Chúa, cần có Bánh nuôi linh hồn, Bánh Giêsu. Nếu gặp gỡ Đức Giêsu là đủ hạnh phúc, là có ơn cứu độ, Chúa Giêsu đã không phải lập đi lập lại nhiều lần: “ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì được sống muôn đời”. Tin và sống niềm tin, sẽ mãi sống động như chúng ta vẫn hiểu: học phải đi đôi với hành. Người thiếu hiểu biết chỉ nghĩ được không ăn uống sẽ chết, còn người thiếu niềm tin sẽ không phân biệt được thịt máu Chúa Giêsu là của ăn nuôi linh hồn, khác với thịt cá nuôi thân xác.

Nếu người ta cảm nhận được: trên đời này không gì quý bằng sự sống, trong tương quan không gì quý bằng tình yêu, thì người ta sẽ phải công nhận, không gì hạnh phúc bằng có sự sống, có Chúa là gia nghiệp đời đời. Là người tín hữu, chúng ta không chỉ mưu toán tính toán hầu có cơm áo gạo tiền, nhưng còn vương vấn bằng nhiều thứ đam mê khác: sức khỏe, phán đoán, đức ái, đức công bình…. Chúa Giêsu lưu ý chúng ta một của ăn duy nhất đó là Bánh tình thương, là trọn vẹn Đức Ktiô trong ơn gọi khát khao sự sống đời đời. Ngày hôm nay, ăn thịt cá, uống bia rượu, chỉ là khía cạnh nhỏ của cuộc sống, vì ai ai cũng đủ dư sự khôn ngoan để làm gì mà đạt tới hạnh phúc đời đời. Xin tình yêu của Đấng ban phát của ăn thức uống nuôi linh hồn, giúp mỗi người biết sử dụng tự do của mình để mau đón nhận Đức Giêsu là sự sống đời đời. Amen.

Về mục lục

.

ĂN MÌNH THÁNH CHÚA

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Ăn uống là nhu cầu phải có của con người. Việc ăn uống còn mang lại nhiều niềm vui cho con người. Niềm vui của sự ngon miệng. Niềm vui của sự bồi bổ và được nhân lên thêm sức sống. Vì thế, ăn không chỉ đơn thuần dừng lại ở động tác nhai hay nuốt, nhưng động tác ăn chỉ đạt tới mục tiêu cuối cùng của mình là tiến trình tiêu hóa. Thức ăn được chuyển hóa, được hấp thụ để trở thành sức sống, thành máu thịt cho người tiếp nhận.

Chúa Giê-su khi trao ban Thánh Thể mình qua tấm bánh là Ngài cũng muốn trao ban sự sống thần linh cho chúng ta. Ngài cũng muốn chúng ta tiếp nhận máu thịt Ngài để trở nên một với Ngài. Hấp thụ sức sống thần linh của Chúa con người cũng được tiếp nhận sự sống phục sinh từ Đấng đã từ cõi chết để mai sau cũng được sống lại với Người.

Phúc âm nói rằng: trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, Chúa Giê-su đã tự hiến trở nên tấm bánh, tấm bánh được bẻ ra và trao tặng, trao tặng cả cuộc đời, cả con người cho những kẻ mình yêu thương. Tấm bánh yêu thương ấy, ngày hôm nay vẫn không ngừng được ban tặng cho nhân loại. Không chỉ để được cầm lấy mà chúc tụng, cám ơn hay chiêm ngắm ở nơi cao trên bàn thờ, nhưng còn là để đón nhận như Lời Chúa mời gọi: “Anh em cầm lấy mà ăn”, để tình yêu và sức sống của Ngài dâng trào trong từng đường thớ thịt, trong suy nghĩ và việc làm, trong khối óc và con tim của chúng ta, trong mọi lối nẻo của cuộc sống đời thường.

Khi Chúa nói “hãy cầm lấy mà ăn” là Ngài muốn những ai đón rước Thánh Thể Ngài thì cũng phải trở nên giống như Ngài để có thể trao ban tình yêu ấy cho tha nhân. Nên một với Ngài trong suy nghĩ và trong hành động để có thể “yêu như Thầy đã yêu”. Như vậy, Tấm Bánh Đức Kytô, Con Thiên Chúa làm người không  chỉ được bẻ ra và trao tặng trong thánh Lễ hay trên bàn  thờ, mà còn có thể được bẻ ra và nhân lên nhiều hơn nữa trong cuộc sống của người Kytô hữu. Người ky-tô hữu một khi đã thấm nhuần sức sống của Chúa thì cũng dám sống hết mình vì người khác, dám sống gieo rắc tình yêu và lòng thương xót của Chúa nơi nhân thế.

Dám sống như Ngài là gì, nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhượng hơn, sống gần gũi và chân tình hơn với mọi người, nhất là những người anh em nhỏ bé, bị bỏ rơi bên lề cuộc sống?

Dám sống như Ngài là gì, nếu không phải là chấp nhận bị hao mòn, chấp nhận những thiệt thòi mất mát khi sống quên mình vì Chúa , vì mọi người, nhất là trong gia đình khi chúng ta dám bào mòn chính mình để mọi người được hạnh phúc?

Dám sống như Ngài là gì, nếu không phải là làm cho đời mình cũng trở nên một Tấm Bánh, luôn là niềm vui, là sức sống cho mọi người?

Đó là lời dặn dò của Con Thiên Chúa, là sứ điệp được công bố trong bữa tiệc của Chúa, và trong mọi cử hành Thánh Thể: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, và cũng là điều được gợi lên cho chúng ta hôm nay: hãy bẻ tấm bánh đời mình nên nguồn sống, niềm vui cho tha nhân.

Như vậy, bữa tiệc Thánh thể không chỉ được cử hành trong thánh lễ , mà còn được nối tiếp vào trong cuộc sống, khi con người biết sống với nhau, biết tôn trọng quyền được sống của người khác và biết cùng nhau xây dựng nền văn minh tình thương, nền văn minh sự sống như lòng Chúa hằng mong ước.

Xin Chúa thương biến đổi cuộc đời chúng ta trở nên những tấm bánh của Chúa và để mạnh dạn thưa cùng anh chị em chung quanh bằng chính Lời của Chúa: “Anh em cầm lấy mà ăn” ngõ hầu cuộc đời chúng ta cũng dám bào mòn chính mình để trở nên nguồn sống cho tha nhân. Amen.

Về mục lục

.

THẦN LƯƠNG

 Lm. Trần Việt Hùng

Chính Ta là bánh trường sinh,

Ai ăn sẽ sống, thiên linh rạng ngời.

Bánh từ trời xuống trong đời,

Thịt ban sự sống, cho người trần gian.

Nhóm người Do-thái lạm bàn,

Làm sao thịt máu, trao ban cho đời?

Còn Ta bảo thật các người,

Nếu không ăn Thịt, Ngôi Lời Ta đây,

Và không uống Máu Thánh nầy,

Sẽ không được sống, cùng Thầy mãi đâu.

Ai ăn Thịt Máu nhiệm mầu,

Muôn đời sự sống, thỉnh cầu phúc ân.

Thịt Ta là thật của ăn,

Máu Ta nguồn sống, thế nhân gọi mời,

Thân Ta lương thực bởi trời,

Dưỡng nuôi người thế, sống đời thánh nhân.

Man-na ban xuống gian trần,

Ăn rồi phải chết, xác thân bụi tàn.

Thần lương Thánh Thể Cha ban,

Chan hòa sức sống, tràn lan phúc lành.

Chúa Giêsu phán: “Ta là bánh hằng sống, ai ăn, sẽ được sống đời đời.” Đây chính là bánh trường sinh giúp chúng ta chia xẻ cuộc sống đời đời. Bánh trường sinh do từ thân thể trường sinh. Chúa Giêsu muốn ở lại với Giáo Hội và Ngài muốn thân xác của Ngài trở nên của ăn, của uống dưỡng nuôi con người. Bánh miến kết hợp bởi muôn hạt miến và rượu nho ép từ những trái nho được thánh hiến để trở nên của ăn, của uống nuôi dưỡng thân xác và linh hồn.

Không có tình yêu nào cao qúy hơn là hiến mạng sống mình làm của nuôi hồn. Chúa Giêsu muốn chia xẻ chính thiên tính và con người của Ngài cho chúng ta. Mỗi khi chúng ta nhận lãnh Mình và Máu của Chúa là chúng ta được tháp nhập vào đời sống của Chúa. Mình và Máu Chúa đã thấm nhập và hòa tan trong thân xác hay chết của chúng ta. Chúng ta sẽ cùng được chia phần sự sống đời đời với Chúa.

Ai trong chúng ta cũng muốn sống, sống mãi và sống khỏe. Con người đã đang tìm mọi cách để bảo vệ, gìn giữ và kéo dài sự sống. Đã có nhiều người mơ ước được sống trẻ mãi, không già và không chết. Họ đã tìm kiếm những thang thuốc bổ trường sinh và cây sâm ngàn năm để tăng tuổi thọ. Cuối cùng mọi người ai cũng chết thôi.

Chúa Giêsu đã chọn cách thế tuyệt hảo nhất để dưỡng nuôi hồn xác chúng ta. Như hình ảnh người mẹ nuôi con, mẹ cho con bú do chính những giọt sữa là máu thịt của mẹ. Mẹ truyền thụ cho con cái chính sự sống mình. Chúa Giêsu đã dùng Thịt và Máu của Ngài qua Bí Tích Thánh Thể như của ăn không hư nát, dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời.

Truyện kể: Ngày nọ, đang khi học hỏi về Bí Tích Thánh Thể, anh chị em dự tòng thắc mắc và đã đưa ra câu hỏi. Bí Tích Thánh Thể cao qúi và cần thiết cho đời sống thiêng liêng như thế, tại sao nhiều người bỏ lễ, đứng ở ngoài và phần lớn không lên rước Mình Thánh Chúa. Cũng thật khó trả lời. Vì đây là vấn đề thiêng liêng và riêng tư. Chúng ta có thể góp ý như thế này, thí dụ: Họ có thể yếu kém giáo lý, thiếu hiểu biết về Chúa, yếu đức tin, thiếu ý thức đới sống thiêng liêng, giữ luật dự lễ vì sợ phạt, không muốn làm hơn điều đòi hỏi hoặc vì lười biếng…

Bí Tích Thánh Thể là do chính Chúa Giêsu lập và nhắc nhở rằng các con hãy làm việc này để nhớ đến Ta. Chính Chúa mời gọi: Ai ăn Thịt Ta, sẽ có sự sống đời đời. Nếu chúng ta muốn được tham dự vào sự sống muôn đời hãy tiếp nhận Chúa. Chúa không lừa dối chúng ta đâu.

Về mục lục

.

SUY NIỆM LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA. NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành

Vào năm 1263, một Linh Mục người Đức cử hành Thánh Lễ tại Nhà Thờ kính thánh Christiana. Lúc bẻ bánh, đột nhiên cha thấy Mình Thánh Chúa không còn là hình tấm bánh trắng, mà đã biến thành Thịt và Máu thật sự ngay trước mắt cha và toàn thể giáo dân. Những giọt Máu Thánh loang ra thấm ướt tấm khăn thánh lớn trải trên bàn thờ. Cha vội nhanh tay gấp khăn lại, nhưng hễ vừa gấp tới đâu thì Máu Thánh lại thấm ra tới đó, tất cả qua 25 lần vải trắng. Vừa xúc động vừa kính sợ, cha không thể tiếp tục dâng Thánh Lễ được nữa. Sự việc kỳ lạ này sau đó được cha đích thân xin yết kiến và tâu trình lại với Đức Giáo Hoàng Urbano. Đức Giáo Hoàng liền cử ngay một vị Giám Mục đến rước Mình Thánh Chúa cùng với tấm khăn đẫm Máu Thánh về Tòa Thánh, đặt ở Nhà Thờ Chính Tòa cho giáo dân đến tôn kính. Ngày 8 tháng 9 năm 1264, Đức Thánh Cha ra sắc dụ thiết lập Lễ Kính Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu trong toàn Giáo Hội Công Giáo (Nguồn câu chuyện: Sưu Tầm trên Internet).

Hôm nay, chúng ta mừng trọng thể lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu. Đây là Bí tích cao trọng nhất trong bảy Bí tích chính Đức Giêsu đã thiết lập, chúng ta thường gọi là Bí tích Tình yêu. Bởi vì, không có một tình yêu nào cao qúy hơn thế nữa. Thánh Augustinô khẳng định rằng: “Dầu Thiên Chúa quyền phép vô cùng, cũng không thể cho ta điều gì hơn nữa, dầu Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng cũng không biết cho ta điều gì hơn nữa, và dầu Thiên Chúa giàu có vô cùng cũng không còn có gì cho ta hơn nữa.” Thánh Bênađô cũng nói: “Thánh thể là tình yêu vượt trên mọi tình yêu trên trời dưới đất.” Vì thế, Bí tích Thánh Thể đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao bài hát ra đời. Chẳng hạn, trong bài hát CÙNG THỜ LẠY CHÚA, có đoạn: “Cùng thờ lạy Chúa, trong phép Thánh thể nhiệm mầu, ân tình cao sâu, ngàn đời ai hiểu được đâu, Chúa trở nên Bánh thánh, lương thực nuôi muôn dân;” hay trong bài hát THÁNH THỂ CAO SIÊU, có đoạn: “Qua Thánh thể cao siêu con ngợi ca tình yêu của Chúa, một tình yêu bao la vời vợi, tình yêu có từ bao đời…” 

Thật vậy, vì yêu thương nhân loại nên Đức Giêsu đã lập nên phép Thánh Thể để ở lại với nhân loại mọi ngày cho đến tận thế. Trong bữa tiệc ly, Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các con cầm lấy mà ăn: Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.” Rồi Ngài cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các con cầm lấy mà uống: Này là chén Máu Thầy, máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19-20; Mt 26, 26 -28; Mc 14, 22 -24; ICor 11, 23 -25 ).

Bí tích Thánh Thể trở nên nguồn mạch và tột đỉnh của mọi sinh hoạt Hội Thánh. Vâng lệnh Đức Giêsu, Hội Thánh không những cử hành mà mời gọi mọi thành phần tham dự, yêu mến và tôn thờ Bí tích Thánh Thể. Đồng thời, Thánh Thể là của ăn chính của linh hồn, cho nên Hội Thánh mời gọi mọi Kitô hữu năng dọn mình rước lễ và rước lễ mỗi ngày. Nhưng để rước lễ nên cần phải biết dọn mình. Thánh Phaolô nói: “Ai nấy hãy tự xét mình rồi hãy ăn” (1Cr 2,28). Về thể xác: phải ăn mặc sạch sẽ, thái độ phải nghiêm trang, giữ chay thánh thể đúng theo luật. Về phần linh hồn: phải trong trạng thái ân sủng, tức là phải sạch tội trọng; có lòng tin; có lòng khiêm nhường như viên sĩ quan trong Tin mừng thánh Mathêu: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con” (Mt 8,8); phải có lòng ước ao được rước Chúa vào lòng “Như Nai rừng khao khao nguồn nước, hồn con khát Chúa trời…” (Tv 41). 

Nếu có được những điều kiện trên thì rước lễ sẽ được những ơn ích trọng đại sau đây: 

Thứ nhất, được tăng thêm ơn thánh hóa. Khi chúng ta lãnh các Bí tích: Thêm sức, Giao hòa, Xức dầu, Truyền chức thánh và Hôn phối, chúng ta cũng được tăng thêm ơn thánh hóa. Nhưng khi nhận lãnh Bí tích Thánh Thể chúng ta được tăng thêm ơn thánh hóa nhiều nhất, vì không phải chúng ta chỉ lãnh thêm ơn thánh hóa mà là lãnh nhận chính Đấng ban ơn thánh hóa, là chính nguồn mạch ơn phúc.

Thứ hai, được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu. Đức nguyện Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã nói: “Khi chúng ta ăn bất cứ thứ gì thì chúng ta biến nó trở nên thịt máu của chúng ta, nhưng khi chúng ta ăn Thịt và Máu Chúa Giêsu thì ngược lại, chính Chúa Giêsu biến đổi chúng ta thành chi thể của Ngài nhờ đó chúng ta được ở lại trong Ngài.” Đồng thời, Đức Giêsu sẽ sống trong chúng ta, như Ngài đã nói: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi và Tôi ở trong người ấy” (Ga 6,56). Khi đó, chúng ta có thể nói như Thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). 

Thứ ba, được hiệp nhất với anh chị em tín hữu trong Hội Thánh. Bởi vì, chúng ta cùng chia sẻ một lương thực là cùng chia sẻ một sự sống, nên chúng ta hiệp thông và hiệp nhất với nhau, như Thánh Phaolô đã khẳng định trong bài đọc 2 hôm nay: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17). Do đó, khi chúng ta được hiệp nhất với Đức Giêsu thì chúng ta cũng được hiệp nhất với nhau.

Thứ tư, được tha các tội nhẹ. Hằng ngày chúng ta phạm nhiều tội nhẹ trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Có những tội nhẹ vô tình nhưng cũng có những tội nhẹ cố tình. Những tội nhẹ này không những không ngăn trở chúng ta rước lễ, mà chính việc rước lễ sẽ tha các tội đó cho chúng ta. 

Thứ năm, giúp bảo vệ chúng ta khỏi phạm tội trọng. Việc rước lễ như là tấm lá chắn ngăn chúng ta phạm tội trọng. Công đồng Trentinô đã nói: “Việc rước Chúa là một liều thuốc gìn giữ chúng ta khỏi sa ngã phạm tội trọng.” 

Thứ sáu, bảo đảm cho chúng ta có sự sống đời đời. Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã khẳng định: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (x. Ga 6,54). Đức Giêsu không nói người ấy “sẽ được sống muôn đời” nhưng Ngài nhấn mạnh người ấy “được sống muôn đời.” Còn việc bảo đảm sẽ được sống lại sau này thì chính Đức Giêsu đã khẳng định: “…Tôi sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết” (x. Ga 6,54). Như vậy, phép Thánh Thể, sự phục sinh và cuộc sống vĩnh cửu có tương quan với nhau, nghĩa là bây giờ nhờ rước Chúa, chúng ta có đời sống ân sủng, sau khi chết, linh hồn chúng ta được hạnh phúc trường cửu, và ngày tận thế thân xác chúng ta sẽ được đồng vinh hiển cùng với linh hồn.

Rước lễ được nhiều ơn ích như thế. Vậy mà, trong thực tế đời sống đạo, vẫn có nhiều người bỏ rước lễ. Họ bỏ rước lễ có thể do thái độ lãnh đạm, thờ ơ hay kiêu ngạo. Cũng có thể, họ bỏ rước lễ vì sự cao trọng của Bí tích Thánh Thể nên họ mặc cảm, tự ti, sợ sệt vì tội lỗi của mình mà không ăn năn thống hối để rước lễ. Nhưng dầu có vịn vào lý do nào đi chăng nữa thì: Bỏ rước lễ là khinh dễ, xúc phạm đến tình yêu và làm trái lệnh Đức Giêsu. Chính Đức Giêsu đã nói: “Ai không ăn thịt con người và uống máu Ngài thì không có sự sống nơi mình.” (Ga 6,53); Bỏ rước lễ là coi thường Giáo Hội vì Giáo Hội là kẻ sắm, bảo quản, ban phát Thánh Thể cho chúng ta; Bỏ rước lễ trong những trường hợp sau đây là lỗi luật của Giáo Hội: trong vòng một năm không rước lễ, khi hấp hối và nguy tử (có cơ hội mà không rước lễ); Bỏ rước lễ cũng có thể trở thành gương mù gương xấu: Cha mẹ bỏ rước lễ trở thành gương xấu cho con cái. Thầy cô giáo lý viên bỏ rước lễ trở thành gương xấu cho học sinh. Người lớn bỏ rước lễ trở thành gương xấu cho trẻ em…; Người xưng mình là Kitô hữu, tin Chúa Giêsu, mà bỏ rước lễ thì tự phản lại lí lịch của mình và làm người ta hồ nghi về bản chất kitô hữu của mình. 

Bên cạnh nhiều người bỏ rước lẽ thì lại có những người rước lễ không nên như: rước lễ khi còn mắc tội trọng; rước lễ khô khan khi không dọn mình trước, cám ơn sau; không có thái độ khiêm tốn, cung kính khi lên rước lễ hay trước Thánh Thể Chúa…

Còn thái độ của của chúng ta lâu nay đối với Bí tích Thánh Thể như thế nào? Có siêng năng tham dự thánh lễ không? Có siêng năng dọn mình rước lễ sốt sắng không? Hay chúng ta lại lười biếng bỏ rước lễ? Rước lễ trong khi mắc tội trọng?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, vì yêu thương nên Chúa lập Bí tích Thánh Thể để ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế, xin cho mỗi người chúng con biết năng dọn mình rước lễ sốt sắng để được những ơn Chúa ban qua Bí tích Tình Yêu này. Amen.

Về mục lục

.

BÁNH HẰNG SỐNG

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi 

Con người muôn thời luôn ước mong có một cuộc sống trường sinh bất tử.Do đó, có nhiều Vị Vua đã tốn rất nhiều công sức, đầu tư cho các nhà bác học, các nhà nghiên cứu y khoa tìm ra thuốc trường thọ. Nhiều Vị Vua đã tàn nhẫn hy sinh biết bao nhiêu sinh mạng để nghiên cứu hầu có thể kéo dài sự sống.Tuy nhiên, tất cả đều vô vọng, tất cả đều mơ hồ. Không có một viên thuốc cải lão hoàn sinh nào được bào chế. Một Tần Thủy Hoàng xưa, một Nursultan Nazarbayev, tổng thống nước Kazakhtan nay, đã truyền lệnh cho các nhà khoa học tìm ra thuốc trường sinh bất lão. Tất cả đều chỉ là một giấc mơ hão huyền…

Trần gian không thể nào tìm được thuốc cải lão hoàn sinh, nhưng Chúa Giêsu đã hứa ban cho chúng ta thứ thuốc, thứ bánh trường sinh. Manna khi xưa, Thiên Chúa ban cho dân Israen trong sa mạc chỉ giúp nuôi họ trong cuộc hành trình tiến vào đất hứa. Nhưng, bánh hằng sống mà Ngài hứa ban sẽ cho chúng ta sự sống đời đời. Thịt của Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống. Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta sẽ có sự sống đời đời . Chúa đã xác định rõ ràng như thế trong Tin mừng thánh Gioan 6,32.51 :” Bánh Môisen ban tặng các ngươi chẳng phải là bánh từ trời xuống…Ta là bánh hằng sống từ trời xuống.Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời.Bánh Ta sẽ ban chính là Thịt Ta “.Có nhiều người đã tin vào Ngài, nhưng cũng có môn số môn đệ rút lui không đi theo Ngài vì họ cho rằng lời nói ấy thật chói tai….Chúng ta phải trở lại Nhà Tiệc Ly mới hiểu được điều Chúa hứa ban, thánh Máccô viết :” Đang khi họ đồng bàn với nhau, Chúa Giêsu cầm một miếng bánh tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói :” Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Ta”. Đoạn Ngài cầm lấy chén lên, tạ ơn Chúa, rồi trao cho họ “ Tất cả hãy cầm lấy mà uống. Đây là Máu Ta sẽ đổ ra cho nhiều người. Máu này để ký giao ước với Thiên Chúa “. Thánh Luca đã diễn tả lại sự kiện trên như sau :” Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ “( Lc 24, 30 ). Diễn tiến này xẩy ra y hệt trong bữa Tiệc ly Chúa đã làm. Thực tế, Chúa Giêsu đã cho các Kitô hữu muôn thời cảm nghiệm được chính Mình Máu Chúa ban cho họ sự sống đời đời. “ Bánh mà Ta ban cho là Thịt Ta để cho thế gian được sống “ hoặc “ Thiên Chúa đã không tha Con Một Ngài, nhưng đã trao ban Con Một Ngài “ ( Ga 3,16 ), để cứu độ trần gian, để cứu vớt mọi người, như là Bánh nuôi sống tất cả. Vâng, Chúa đã nuôi nhân loại, nuôi con người bằng “ Bánh trường sinh “, bằng “ Bí Tích Thánh Thể “. Mình Máu của Chúa là lương thực nuôi sống con người, là thuốc trường sinh mà con người, loài người vẫn mong tìm kiếm. Vâng, Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu, Chúa trao ban cho nhân loại, cho mỗi người. Bánh Hằng Sống không chỉ nuôi sống chúng ta đời, nhưng còn là nguồn lực khích lệ, an ủi, động viên chúng ta để chúng ta vượt thắng những thử thách, khó khăn, phong ba bão táp để tiến về Quê trời.

Chúng ta, để được sống sự sống đời đời thì không chỉ tin Chúa, nhưng còn cần phải sống như Chúa, sống bằng sự sống của Chúa. Chúa đã Nhập Thể làm người, đã chết để cứu chuộc chúng ta và đã sống lại để cho chúng ta cũng được sống lại với Người. Nên, Chúa sống lại về trời và ban Thánh Thần cho chúng ta để chúng ta có sức sống mới, để chúng ta được sống nhờ Ngài cũng như Chúa sống nhờ Chúa Cha.

Chính vì thế, mỗi lần chúng ta rước lễ là chúng ta đón nhận chính thân xác sống động của Chúa Giêsu. Đấy cũng chính là Đức Giêsu đã được sinh ra nơi Hang Đá Bêlem. Đấy cũng chính là Đức Giêsu đã chết trên thập giá nơi đồi Canvê và đấy cũng chính là Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.

Vâng, Chúa Giêsu đã long trọng cử hành Bí Tích Thánh Thể tại Emmaus mà Ngài đã tiên báo tại Cana, đã hứa ban tại Capharnaum và đã thiết lập tại Giêrusalem. Ngày nay và cho mãi đến muôn đời, Chúa luôn ngự trong Bí Tích Thánh Thể và ở trong Nhà Tạm để chờ đón chúng con.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ban cho chúng con Bánh Bởi Trời, Bánh Hằng Sống để nuôi dưỡng chúng con. Xin cho chúng con luôn biết mến yêu Bí Tích kỳ diệu:” Bí Tích Tình Yêu, Bí Tích Ban Sự Sống vĩnh cửu là chính Mình và Máu Đức Kitô “. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Manna trong sa mạc xưa và Thịt Máu của Chúa Giêsu khác nhau thế nào ?
2.Ai đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể ? Ở đâu ? và vào lúc nào ?
3.Bí Tích Thánh Thể là gì ?
4.Rước Mình Máu Thánh là tiếp nhận ai ?

Về mục lục

.

AI ĂN BÁNH NÀY SẼ ĐƯỢC SỐNG MUÔN ĐỜI

    Fx Đỗ Công Minh

Bài Tin mừng hôm nay tiếp tục diễn từ Bánh Hằng Sống của Đức Giêsu, với lời khẳng định: “Ai ăn Thịt và uống Máu tôi thì được sống muôn đời”.  Bánh Hằng Sống được ban cho con người chính là Thịt Máu của Đức Giêsu, nghĩa là bằng chính thân mình của Ngừơi. Như vậy, con người được nuôi sống, không chỉ bằng cơm bánh, nhưng nhất là bằng sự sống thần linh của Đức Giêsu, qua chính Thịt Máu Ngài.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Những người Do Thái lúc ấy tranh luận với nhau về việc “ Làm sao Ông này có thể cho chúng ta ăn thịt Ông ta được ?”,lời tranh luận ấy đến hôm nay và sau này vẫn còn mãi.

Một vị Linh mục thánh thiện đã kể lại, mỗi lần Cha dâng lễ, khi đưa cao bánh Thánh và công bố lời “Đây Chiên Thiên Chúa, đây đấng xóa tội trần gian “, ông nhận ra Chúa hiện thân khuôn mặt Người trong Bánh Thánh. Lúc thì Chúa Giêsu với khuôn mặt vui tươi, như đang cười với Ông. Ông hiểu rằng Chúa hài lòng về ông. Lúc khác, vị Linh mục lại nhìn ra gương mặt đau khổ, buồn sầu trong Bánh Thánh, ông hiểu ra Chúa đang đau khổ vì tội lỗi con người xúc phạm đến Chúa, trong đó có ông. Ông xin Chúa thứ tha và tha thiết cầu nguyện nhiều hơn. Cũng có lúc với khuôn mặt tư lự trong Bánh Thánh, ông nhận ra Chúa đang ưu phiền vì nhân lọai thờ ơ với Chúa. Số người đón nhận Thánh Thể Chúa sút giảm.

Phần con trong lòng tin, con biết rằng điều ấy không có gì khó hiểu, bởi con được sống trong bầu khí Thánh Kinh từ nhỏ, được học hỏi giáo lý, được Thánh Thần Chúa soi sáng. Con lại vẫn đang sống trong môi trường Xứ Đạo, nói rộng ra là trong lòng Giáo hội Công Giáo. Thế nhưng việc lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa có tác động gì đến cuộc sống của con?

Con rước Mình và Máu Thánh Chúa, nhưng con có Chúa ở trong lòng ? Con có thể hiện mình đang ở lại trong Chúa? hay sau mỗi Thánh Lễ, Chúa tiếp tục ở trong nhà Tạm, trong nhà thờ. Còn con, con ra đi giữa chợ đời. Chúa vẫn là Chúa, con vẫn là con với tất cả hỉ nộ ái ố của cuộc sống trần gian.

Nếu con có Chúa trong lòng, con có minh chứng điều ấy bằng những hành động cụ thể không? Con có mạnh dạn sống niềm tin của mình giữa xã hội  hôm nay không ? Tự nhận là con cái Chúa, con có mạnh dạn “Sống Tin Mừng Đức Giêsu giữa dân tộc mình “ như lời Đức Thánh Cha Bênêdictô đã nhắn nhủ ? tại đất nước Việt Nam của con, những người chưa nhận biết Chúa chiếm số đông, trên 90% dân số. Sống Phúc Âm chính là Sống Thánh Thể, sồng có Chúa trong lòng. Sống bác ái thực sự, hy sinh xả kỷ vì anh em. Con có làm được và dám làm ?

Những câu hỏi ấy vẫn theo con mỗi ngày trong cuộc sống này.   

Trong bầu khí tục hóa đang lan tràn, lắm khi con cũng trở nên hờ hững với việc đến với Chúa.Bị chi phối bởi các thế lực trần tục, lắm lúccon không dám đặt hết niềm tin nơi Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Xin Chúa giúp con, mỗi khi tham dự thánh lễ là mỗi lần con  ý thức mình đang dự tiệc, với lương thực thần linh mà Đức Giêsu thết đãi và nuôi sống linh hồn con.

Xin chocon ao ước và say mê rước Thánh Thể với tất cả lòng tin và sự trân trọng.Dám sống và giới thiệu Chúa cho những người sống bên con, là con đang có Chúa ở cùng.AMEN.

Về mục lục

.

TẤM BÁNH LỜI CHÚA

JM. Lam Thy

Người Do-thái vì không tin Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nên khi nghe Đức Ki-tô nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6, 51), thì ngay lập tức họ phản ứng: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 52). Không những thế, họ còn “tranh luận sôi nổi với nhau; họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6, 52). Không chỉ những kinh sư luật sĩ Do-thái, đến ngay cả các môn đệ của Đức Giê-su cũng “Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6, 60).

Cứ tưởng chỉ ở thời đó mới có đám người Do-thái nói như vậy; thật không ngờ ngày nay số người không tin vào Lời Đức Ki-tô còn nhiều gấp bội. Có lẽ con người càng văn minh thì lại càng hoài nghi về những dấu chỉ rất thật, rất đời thường về sự hiện diện của Thiên Chúa chăng? Hoá cho nên khi đọc và suy niệm Kinh Thánh cần phân biệt nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng. Chính Thiên Chúa đã dùng cái bất toàn của con người để công bố Lời toàn năng, dùng miệng lưỡi nhơ uế của con người để nói Lời Chí Thánh. Cụ thể hơn, Thiên Chúa đã thông qua những vật chất bình thường, rất đời thường, để mạc khải cho con người hiểu những mầu nhiệm ân sủng cực cao cực trọng Người đã ban cho nhân loại. Công việc mạc khải ấy Thiên Chúa không dành cho những người được coi là thông thái (cỡ như các kinh sư Pha-ri-siêu), mà dành cho những kẻ bé mọn, những con người cũng rất bình thường (thậm chí còn bị đám kinh sư coi là tầm thường, tội lỗi nữa). Thật vậy, “Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn.” (Mt 11, 25).

Thử tìm hiểu Lời Chúa vì sao khiến đám người Do-thái tranh luận sôi nổi và không tin. Theo Giáo lý HTCG (các điều 115, 116, 117) thì: “Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa được dùng trong Kinh Thánh: nghĩa văn tự, nghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng được chia thành nghĩa ẩn dụ, nghĩa luân lý, nghĩa thần bí. Sự hoà hợp sâu xa của bốn nghĩa này bảo đảm cho vịêc đọc Thánh Kinh được phong phú tối đa… Hai câu thơ trung cổ (“Littera gesta docet, quid credas allegoria, Moralis quid agas, quo tendas anagogia”) tóm tắt ý của bốn nghĩa như sau: Nghĩa văn tự dạy về biến cố; –  Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, – Nghĩa luân lý dạy điều phải làm, – Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới” (xin coi thêm Tông huấn “Lời Chúa”, mục “Nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng”, số 37; và “Cần phải vượt quá chữ viết”, số 38). Riêng Thánh Tô-ma A-qui-nô thì cho rằng : “Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự” (“Tổng luận” 1, 1; 10, 1)  

Lời Chúa “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6, 51) theo nghĩa văn tự thì thật rõ ràng nói về bánh và thịt là những thứ nhìn thấy, cầm nắm, ăn uống được, nhưng “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6, 52). Đó là vì “Nghĩa văn tự dạy về biến cố”, mà biến cố ở đây là biến cố hy tế thập giá, biến cố này chưa xảy ra, nên đám người Do thái không tin. Còn đối với chúng ta ngày nay thì vì không được chứng kiến hoặc trực tiếp tham dự vào biến cố ấy, nên rốt cuộc cũng lại bán tín bán nghi chẳng kém gì đám người Do thái. Vậy thì phải hiểu Lời Chúa theo ý nghĩa nào?  

Rõ ràng ở đây Chúa muốn nói đến sứ mạng được Chúa Cha trao phó cho Người: cứu độ nhân loại bằng sự hy sinh chính mạng sống mình trên thập giá. Chúa đã dùng hình ảnh cụ thể (bánh, thịt) để nói về ý nghĩa trừu tượng (mầu nhiệm cứu chuộc). Đó chính là “Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin”. Tiến tới một bước nữa: Chúa muốn cho con người được ăn bánh hằng sống từ trời xuống là chính Thịt và Máu Chúa, để làm gì? Phải chăng là để đem lại hạnh phúc đích thực, hạnh phúc vĩnh cửu (sự sống vĩnh hằng nơi cõi phúc Thiên đàng) cho con người? Rõ ràng (theo điều 116 Giáo lý HTCG) “các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực. Các biến cố đó được viết ra “để răn dạy chúng ta” (1Cr 10, 11)”. Cụ thể hơn, đó là “Nghĩa luân lý dạy điều phải làm”. Với nghĩa này, thì không dừng lại ở việc đọc và suy niệm Kinh Thánh, mà phải là đem những điều mình hiểu biết ra thực hành, bởi vì “Đức tin không có hành động là đức tin chết”. Cuối cùng thì phải hiểu Lời Chúa theo nghĩa thần bí, mà “Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới”. Chính ý nghĩa cuối cùng này thúc đẩy chúng ta phải củng cố đức tin để kiên trì vươn tới vậy. 

Nếu chúng ta tin rằng chính thực Đức Ki-tô là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, thì vấn đề Người truyền phép cho bánh và rượu trở nên Thịt và Máu của Người cũng chỉ là chuyện nhỏ, quá nhỏ đối với Thiên Chúa. Cũng đã có nhiều người cắc cớ đặt câu hỏi “Thế nhưng tại sao hình dáng, màu sắc, mùi vị của bánh và rượu vẫn giữ nguyên, không  có gì thay đổi?”. Vấn đề chính ở điểm này. Chỉ xin đưa ra một hình ảnh đặc thù, đó là Thánh Phao-lô. Nếu chỉ nhìn hình dáng, cử chỉ, thái độ, giọng nói của ngài trước và sau biến cố Đa-mát thì chẳng có gì thay đổi, nhưng thần trí thì thay đổi hoàn toàn. Trước đó thì năng nổ nhiệt tình đi lùng bắt những người theo Ki-tô, rồi về sau cũng lại rất nhiệt tình năng nổ, thậm chí hy sinh cả tính mạng vì Ki-tô, làm nhân chứng sống động cho Đức Ki-tô phục sinh. Chính nhân chứng độc đáo này đã khẳng định: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.” (1Cr 10, 16-17). Vâng, cái dáng vẻ bên ngoài của Thánh Phao-lô trước và sau biến cố Đa-mát vẫn không có gì thay đổi, nhưng thần trí tiềm ẩn bên trong đã hoàn toàn đổi khác. Cũng vậy, hình dáng và mùi vị bánh rượu vẫn không có gì thay đổi sau khi được truyền phép (kể từ bữa Tiệc Ly cách đây 2000 năm, cho đến mãi muôn đời), nhưng bản tính rượu và bánh đã hoàn toàn đổi khác. Một cách cụ thể, bánh rượu trước khi được truyền phép chỉ là những vật chất bình thường, vô hồn, nhưng sau khi truyền phép thì rượu bánh đã có hồn, tức là có Chúa Ki-tô thực sự hiện diện trong đó vậy.

Thật là rõ ràng “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 56-58). Vâng, không còn nghi ngờ gì nữa về nguyên lý bất biến: Giáo hội là một cộng đồng hiệp thông trong mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi. Toàn thể Giáo Hội đều cùng uống chung một chén, cùng ăn chung một tấm bánh, để cùng thi hành chung một sứ vụ Rao giảng Tin Mừng Cứu Độ (“Người đã thiết lập trong Giáo hội của Người nhiệm tích Thánh Thể kỳ diệu, vừa là dấu chỉ vừa thể hiện sự hiệp nhất của Giáo hội. Người ban cho các môn đệ Người một giới răn mới là tình yêu thương nhau, và hứa ban Thánh Thần an ủi, Ðấng vừa là Chúa vừa ban sự sống để ở với họ mãi mãi.” – SL về Hiệp Nhất”, số 2).  

Trong mỗi Thánh Lễ – một cuộc tái hiện Hy tế Thập Giá của Chúa Giê-su Ki-tô – thì việc cử hành Bí tích Thánh Thể là trung tâm điểm, là trọng điểm. Cùng với nghi thức Truyền Phép Thánh Thể, vị chủ tế nhắc lại chính Lời của Đấng Cứu Độ: “Đây là Mình Thầy sẽ bị nộp vì anh em” và “Đây là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới, Giao ước vĩnh cửu”. Mình của Đức Giê-su Ki-tô bầm giập, nát bấy vì đòn roi, gai góc, Máu từ Trái Tim Người bị đòng, giáo, gươm, đao tội lỗi loài người đâm thâu, không chỉ ở trên Golgotha năm xưa, mà cho đến tận ngày nay vẫn còn tiếp diễn. Tất cả là tấm bánh huyền diệu nằm trong một trái tim ngút ngàn Máu và Nước (Máu Dưỡng Nuôi + Nước Thanh Tẩy) của suối nguồn Tình Yêu. Mầu nhiệm Thánh Thể cũng là trung tâm của đời sống Giáo hội. Biểu tượng sống động nhất cho mầu nhiệm cứu chuộc luôn luôn và mãi mãi vẫn là: “Thập giá Đức Ki-tô, niềm vinh dự của ta, Thập giá Đức Ki-tô đã khơi nguồn ơn thánh hoá. Nhờ Máu Nước Tim Người từ khổ giá tuôn trào, thành nguồn ơn giải thoát cứu độ ta.” (“Thập giá Đức Ki-tô” – TCCĐ).

Về mục lục

.

THÔNG BAN SỰ SỐNG THẦN LINH

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Mekong là một trong 12 con sông lớn nhất thế giới, với chiều dài 4.800 km, phát xuất từ Tây Tạng, chạy dọc theo suốt chiều dài của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua Myanma, Thái Lan, Lào, Cambodia, Việt Nam và cuối cùng hoà nhập với biển Đông, đem lại sự sống cho tôm cá, làm tốt tươi các loài thảo mộc, tưới xanh ruộng đồng, đem lại lương thực nuôi sống hàng triệu cư dân thuộc nhiều quốc gia nằm trong lưu vực của nó.

Sự sống thần linh, tức sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, một sự sống tuyệt vời và miên viễn, cũng tuôn chảy dạt dào, không ngừng không nghỉ như một dòng sông không bao giờ vơi cạn và sự sống ấy được thông ban cho vô vàn tín hữu khắp nơi.

Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su dạy cho biết sự sống thần linh bắt nguồn từ Chúa Cha: “Chúa Cha là Đấng hằng sống” (Gioan 6,57) và sự sống từ Chúa Cha được thông ban cho Chúa Con cũng như Chúa Thánh Thần: “Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha.” (Gioan 6, 57). Thế là nơi Ba Ngôi, sự sống được tuôn ban dồi dào sung mãn như nước đầu nguồn của một dòng sông cả.

Như nước sông Mekong không tụ lại ở đầu nguồn nhưng tuôn đổ chan hòa xuống vùng hạ lưu, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa cũng không dừng lại nơi Ba Ngôi nhưng tiếp tục thông ban dồi dào cho nhân loại.

Làm thế nào có thể đón nhận Sự sống của Thiên Chúa?

Sở dĩ Chúa Giê-su được tiếp nhận Sự sống từ Chúa Cha là vì Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài (Gioan 14, 10 -11).

Vậy nếu chúng ta muốn được tiếp nhận sự sống thần linh từ Chúa Giê-su thông ban, thì chúng ta cũng phải tìm cách ở trong Chúa Giê-su và để cho Chúa Giê-su ở trong chúng ta.

Cách đó thật đơn giản như Chúa Giê-su đã mách bảo cho chúng ta: “Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Gioan 6, 56).

Để cho nhân loại có thể “ăn Thịt và uống Máu Ngài”, Chúa Giê-su đã lập nên Bí tích Thánh thể để Ngài thực sự hiện diện dưới hình bánh, hình rượu và mời gọi chúng ta đón rước Ngài.

Một khi đón nhận Mình Máu thánh Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh thể, chúng ta được tan hoà vào Chúa như giọt nước hoà trong chén rượu, như ao nước nhỏ hoà chung trong đại dương, và một khi đã nên một với Chúa Giê-su, thì tất nhiên, sự sống của Chúa Giê-su sẽ được chuyển thông cho chúng ta. Chúng ta được mang lấy sự sống bất tử của Thiên Chúa trong chính bản thân mình nên được sống đời đời. Chính vì thế Chúa Giê-su mới nói: “Ai ăn Thịt và uống Máu tôi sẽ được sống đời đời” (Gioan 6, 54).

Thế là nhờ Bí tích Thánh thể, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa đã được khơi dòng: Cội nguồn sự sống từ Chúa Cha được thông ban cho Chúa Con và Chúa Thánh Thần từ trước muôn đời, nay được thông ban cho những ai lãnh nhận Mình và Máu thánh Chúa Giê-su.      

Lạy Chúa Giê-su,

Sự sống của con người trên trái đất tuy mỏng giòn và tạm bợ, nhưng đối với mọi người, đó là một giá trị cao quý nhất, đáng trân trọng nhất và người ta dám hy sinh tất cả mọi thứ trên đời để giành cho được sự sống tạm thời đó.

Tuy nhiên, vì yêu thương chúng con, Chúa rộng ban thêm cho chúng con sự sống của chính Ba Ngôi Thiên Chúa, là một giá trị triệu lần cao quý hơn, vì đây là sự sống cao cấp, sự sống tuyệt vời, sự sống sung mãn và không bao giờ tàn lụi.

Chúng con hết lòng tri ân cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con quà tặng vô giá nầy.

Xin cho chúng con siêng năng đón nhận Mình Máu thánh Chúa để được nên một với Chúa và nhờ đó, sự sống tuyệt vời của Chúa được lan toả trong chúng con.

Về mục lục

.

THỊT TÔI THẬT LÀ CỦA ĂN, MÁU TÔI THẬT LÀ CỦA UỐNG

                                                                    Lm. Jos. Uyên Nguyên

Hôm nay lễ trọng kính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Lễ Mình Máu Thánh CKT được ĐGH Urbanô thứ IV lập ra năm 1264, sau khi cẩn trọng điều tra phép lạ Thánh Thể ‘ MTC chảy máu tại Polsena’. Việc tôn kính Mình Máu Chúa cũng được thánh Tôma Aquinô nghi thức hóa thành nghi lễ tôn kính trọng thể: rước kiệu và chầu Phép Lành với bài thánh ca tự biên bằng tiếng la-tinh dùng cho nghi lễ này, bài  hát ‘Pange lingua’.

Mình Máu Thánh CKT đích thực là lương thần để ăn, để uống, là lương thực.  

Trong ba bài đọc thánh lễ hôm nay nói đến việc ăn, việc uống. Bài đọc 1, Môsê nhắc nhở dân Do Thái hoài niệm về những công việc vĩ đại mà TC đã làm cho họ, xám hối những bất trung dẫn đến nhiều thử thách khốn đốn 40 năm trong sa mạc, thắm thía những thử thách của TC về lòng trung thành, gắng sức thực thi những điều Chúa dạy. Mặc bao bất tín bất trung, TC hằng yêu thương chăm sóc, tín trung bất chấp tất cả.  Khi lâm vào  nguy cơ cùng cực, Chúa quay nhìn và thương ban mọi điều khẩn thiết, như thức ăn thiêng manna thừa thải, nước uống vọt ra từ tảng đá thiêng chống khát, cứu khỏi nộc độc rắn cắn nhờ con rắn đồng treo cao trong sa mạc.  Môsê kêu gọi hãy vững tin quyền năng TC và hãy phụng thờ TC tín thành.

Bài đọc 2, Phaolô tuy không nói rõ đến việc ăn uống, mà dùng từ mang ý rất tương đồng ‘dự phần mình và máu’ Chúa Kitô. Thiết nghĩ dự phần cũng là ăn uống đồng bàn, chung tiệc, qua đó Phaolô đề cập dến tinh thần sống thông hiệp, tránh những phân biệt bất hòa, phe nhóm chia rẻ.

Bài đọc 3, CGS trong Tin Mừng Gioan nói rõ không úp mở việc ăn và uống. Cụ thể hóa việc ăn uống là ăn thịt và uống máu Người. Ăn và uống Thịt Máu Người là cách để có sự sống.

CGS nói đến thịt máu Người là của ăn của uống cho nhân loại xuất phát từ bài giảng ở thành phố Caphanaum đối diện bên kia biển hồ nơi mà ngày hôm trước đó Chúa đã cho năm ngàn người ăn no nê chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá. Để hiểu Mình Máu Thánh Chúa không chỉ là của ăn của uống nuôi dân Người, mà còn hơn thế, cần thiết ôn lại những gì mà Người đã giảng cho dân? Bên kia Caphanaum, nơi Người đã làm phép lạ hóa bánh cá nuôi dân, để rồi hôm sau đó bên này, ĐGS giàng bài giảng minh bạch chỉ giáo về bánh để ăn, thức để uống, nhu cầu không chỉ cho sự sống thể lý mong manh mà còn cho sự sống trường sinh nữa.  Điều này được hiểu từ câu hỏi không thể không có chủ tâm gợi chú ý về mình, khi ĐGS hỏi Philipphê:“Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn”? ( Ga.6,5). Từ ‘ mua đâu’ mang nội dung không thiếu hàm ý. Cặp từ gợi chú ý các tông đồ qui hướng về Người, chú tâm về việc Người sắp làm, và thành quả của việc sắp làm ấy. Sư gợi ý như vậy, có thể là câu hỏi gợi suy, chuẫn bị tâm thế thấu triệt và xác tín những gì mà Người sẽ dạy về cái để ăn để uống mới lạ trong bài giảng ở Caphanaum. Nhưng khi Người nói đến thịt Người là của ăn, máu Người là của uống, phút chốc sự việc thay đổi chóng vánh, nỗi bức xúc hiện ra giữa các môn đệ. Hậu quả thật tai hại. Các môn đệ nghe mà không hiểu, không hiểu nên không tin và kết cục họ rút lui bỏ Người, không theo nữa.

Thịt và máu CGS không chỉ là của ăn, mà còn là chính Người, Ngôi Lời của Chúa Cha, tiếng nói của Chúa Cha, và hình ảnh của Chúa Cha. Sở dĩ tin thật là thế bởi CGS nói: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và tôi ở lại trong người ấy”(Ga.6,56).  Là Ngôi Lời của Chúa Cha vì Người mạc khải chúa Cha, là bằng chứng sinh động cho tình yêu Chúa Cha hóa nên nhục thể để ở giữa nhân loại, để mạc khải tình yêu Chúa Cha cho nhân loại. Tình yêu Chúa Cha được biểu lộ không chỉ qua công cuộc tạo dựng mà còn hiện rõ trong công cuộc tái tạo mọi sự trong Con dấu ái của Ngài. Và để làm được cuộc tái tạo đó, Ngôi Lời của Chúa Cha phải trở nên nhục thể, chết trong cuộc hiến tế và phục sinh sau đó. Chính nhờ vậy, mà thịt máu Người đã trở nên lương thực trường sinh cho những ai là kẻ tin vào Người, giữ Lời Người. Thế mới biết: “ Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì sẽ được sống muôn đời. vì thịt Tôi thật là của ăn, máu Tôi thật là của uông” (Ga. 6.54,55). Những điều này đã làm sáng tỏ câu hỏi gợi suy dành cho Philipphê  của CGS: “Ta mua đâu bánh cho những người này ăn đây?”.

Mọi kitô hữu hôm nay được mời gọi tâm đắc tư tưởng gói gọn trong lời thư 1 mà thánh Phaolô gởi giáo đoàn Côrintô được trích đọc trong thánh lễ này! Phaolô viết: ‘Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ TC, là dự phần vào Máu ĐKT, khi ta cùng bẻ Bánh Thánh là dự phần vào Thân Thể Người. Vì chỉ có một tấm Bánh, tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể’. Mọi người được kêu mời dự tiệt Mình và Máu ĐKT, là để trở nện hiệp nhất với anh em trong ĐKT, nghĩa là chung tâm tình, chung cảm xúc, chung ước muốn, chung ý hướng trong ĐKT. Điều này chỉ đến ĐKT thu tóm mọi người trong Người cho Chúa Cha. Nên việc ăn thịt và uống máu ĐKT không thể là việc lập ra phe phái, chia bè phân nhóm. Mà chỉ có kết hiệp nhau, bất chấp mọi khác biệt, vẫn hãy gắng sức cũng cố mọi người làm nên chi thể, từng phần hiệp nhất trong nhiệm thể ĐKT.

Kính lạy Mình Máu Thánh CGS! Xin làm cho con được nên thánh! Xin biến con nên khí cụ bình an, công cụ hiệp nhất mọi người hầu mang lại an bình cho trần gian vì sự rạng ngợi Danh Chúa!

Về mục lục

.

MÌNH MÁU THÁNH CHÚA – LƯƠNG THỰC CHO LINH HỒN

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Nhu cầu thường ngày của cơ thể con người cần phải có đủ ba nhóm dinh dưỡng: nhóm đường hoặc tinh bột, nhóm các vitamin hoặc chất khoáng và một nhóm không thể thiếu là đạm và chất béo. Nguồn đạm và chất béo chủ yếu là từ thịt và cá. Vì thế, thịt vẫn là nguồn cung cấp năng lượng không thể thiếu cho hoạt động của cơ thể con người. Cũng vậy, nước chiếm một phần lớn trong cơ thể con người. Mỗi ngày, một người phải nạp vào cho cơ thể từ hai đến ba lít nước thì cơ thể mới hoạt động tốt được.
1/ Nếu như trong đời sống, thể xác con người cần phải có các chất dinh dưỡng cung cấp đủ năng lượng mới có thể hoạt động và phát triển được, thì đời sống của linh hồn cũng không thể thiếu nguồn dinh dưỡng giúp sống và phát triển. Nguồn dinh dưỡng của linh hồn chính là Máu Thịt Chúa Giêsu được ban tặng cho nhân loại. Ai siêng năng ăn và uống nguồn dinh dưỡng này, không chỉ được tăng lực, trợ lực ngay hôm nay mà còn được bảo đảm cho sự trường sinh bất tử, được sống đời đời.
Manna Chúa ban trong sa mạc năm xưa không chỉ là thứ bánh để cứu đói, mà còn là thứ bánh nuôi dưỡng đức tin của dân Do Thái. Bài đọc Sách Đệ Nhị Luật hôm nay nhìn biến cố Chúa nuôi dân Ngài suốt hành trình sa mạc là biến cố Chúa nuôi dưỡng đức tin cho dân Ngài. Bối cảnh cho thấy, khi dân Do Thái ra khỏi đất Aicập, băng qua sa mạc tiến về Đất Hứa, họ đã phải đối diện với nắng nóng, bão cát, nhất là cái đói và cái khát trong hoang địa. Dân Do Thái đã ngã lòng, thất vọng, họ kêu trách Chúa và Môsê. Thiên Chúa đã không để cho dân Ngài phải thất vọng, Ngài đã cho Manna từ trời rơi xuống để nuôi họ suốt bốn mươi năm. Họ kêu khát, Chúa cho nước từ tảng đá tại Meriba vọt ra cho họ uống. Họ thèm thịt, Chúa đã cho chim trời bay đến ngập đất, cho họ ăn đến chán.
Tác giả sách Đệ Nhị Luật không dừng lại ở đó, mà còn nhắc người Do Thái và con cháu họ hãy nhìn các biến cố đó không phải là do ngẫu nhiên, nhưng là do quyền năng của Thiên Chúa. Thiên Chúa dùng sự thiếu thốn, đói khát trong sa mạc để thanh luyện đời sống đức tin của dân Chúa. Ngài ban cho họ bánh, nước và thịt để cho họ ăn và nhất là để họ thêm tin tưởng hoàn toàn vào Lời của Thiên Chúa. Từ đây, dân Do Thái rút ra được bài học trong đức tin, đó là khi hoàn toàn tin tưởng vào Lời của Thiên Chúa, họ sẽ được Thiên Chúa cứu sống, vì Thiên Chúa hết mực yêu thương con người. Các phép lạ xảy ra trong hành trình sa mạc không chỉ là để đáp ứng hay giải quyết một vấn đề trước mắt, nhưng qua các phép lạ đó, Thiên Chúa giúp cho đức tin của dân Chúa mỗi ngày vững vàng hơn.
2/  Nếu như Thiên Chúa đã nuôi dân Ngài trong hành trình sa mạc bằng manna, bằng nước từ tảng đá thì bước qua thời Tân Ước, Thiên Chúa dưỡng nuôi Dân Mới là chúng ta bằng một thứ lương thực cao quý hơn gấp bội. Lương thực ấy chính là thịt máu Chúa Giêsu được hiến dâng cho Thiên Chúa như một của lễ và được trao tặng cho nhân loại như là lương thực thần linh. Của ăn này sẽ là nguồn năng lượng không chỉ để nuôi dưỡng cơ thể, mà còn là nguồn sức mạnh cho mọi hoạt động và đem đến sự sống đời đời. Như thế, những ai từ chối lương thực này sẽ rơi vào tình trạng suy kiệt và sẽ chết đời đời.
Chúa Giêsu đã quả quyết: Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời. Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi để cho thế gian được sống. Với khẳng định này, Chúa Giêsu cho thấy bánh Người ban tặng có giá trị trổi vượt hơn gấp bội manna ngày xưa. Vì bánh này chính là Đấng từ trời mà xuống, Người chính là Thiên Chúa, Đấng làm chủ và nắm giữ mọi sự sống trên mặt đất này. Vì thế, ai đón nhận, ai ăn ăn bánh Chúa ban sẽ đón nhận được sự sống thần linh của Thiên Chúa thông chuyển cho người ấy. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã dùng quyền năng Thiên Chúa để biến bánh và rượu trở nên máu thịt thực sự của Người và đồng thời làm cho máu thịt ấy vẫn con giữ nguyên hình dạng bánh và rượu. Ai ăn bánh là ăn chính thịt Chúa Giêsu, ai uống rượu là uống chính máu Chúa Giêsu.
3/ Người Do Thái ngày xưa và nhiều người ngày nay vẫn không muốn tin và từ chối lãnh nhận thịt và máu của Chúa. Luật Do Thái cấm không được phép uống máu hoặc đụng chạm đến máu, vì máu là sự sống thuộc chủ quyền của Thiên Chúa. Người Do Thái cũng bị cấm không được phép ăn một số loại thịt cá. Do đó, khi nghe Chúa Giêsu nói về việc ăn thịt và uống máu Chúa, những người nghe đã không dễ chấp nhận, họ nghĩ là Chúa nói về việc ăn thịt người. Chúa Giêsu không mời họ ăn thịt người, nhưng mời họ đón nhận thịt và máu Chúa đã được dâng lên Thiên Chúa Cha làm của lễ cứu độ nhân loại, thịt máu ấy lại được giữ trong hình bánh và rượu mà Ngài đã trao tặng trong bữa tiệc ly. Do đó, Chúa Giêsu vẫn quả quyết với họ rằng: Ai từ chối không ăn thịt máu Người ban tặng thì không có sự sống. Chỉ những ai ăn thịt và uống máu Chúa thì được sống và còn được bảo đảm cho sự sống đời đời.
Chúa Giêsu cũng giải thích thêm về sự sống mà những người ăn thịt và uống máu Chúa sẽ được đón nhận. Ai ăn tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong kẻ ấy. Ở lại, không chỉ là ở kế bên, mà là ở trong, ở cùng, ở với Thiên Chúa. Ai đón nhận máu thịt của Chúa, Chúa Giêsu sẽ đi vào trong cơ thể, trong tâm hồn người ấy và trao chuyển cho họ sự sống thần linh của Ngài. Đồng thời, ai ăn thịt và uống máu Chúa Giêsu thì kẻ ấy cũng được đi vào trong tâm hồn, trong trái tim của Người, tức là bước vào trong tình yêu và trong thế giới của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã giải thích thêm: Như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai tôi, tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng nhờ tôi mà được sống như vậy.
4/ Hai phần ba nhân loại ngày hôm nay vẫn phải sống trong nghèo khổ, đói khát, thiếu thốn lương thực. Hàng ngày vẫn có hàng triệu trẻ em và người lớn phải chết vì đói, vì thiếu dinh dưỡng. Nhiều nơi, nhiều người quá dư thừa của ăn vật chất, còn nơi khác lại thiếu đói. Trầm trọng hơn nữa, có thể nói, cả thế giới ngày nay đang rơi vào tình trạng thiếu đói về đời sống tinh thần, suy nhược về đời sống tâm linh. 
Nhiều người đang thiếu đói về đời sống tâm linh, suy nhược trong đời sống đức tin, èo uột trong đời sống đạo đức vì họ đã từ chối hoặc lười biếng không ăn, không đón nhận, không cung cấp cho mình lương thực thần linh là Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu. Vì không có sức sống của Thiên Chúa nên họ cũng không đủ sức để làm cho gia đình mình có sự sống của Chúa. Họ để gia đình trở nên rời rạc lạnh lẽo, trở thành môi trường cho ma quỷ và các vi rút như cãi vã, chửi bới, bất hòa có cơ hội tấn công, gặm nhấm các thành viên trong gia đình.
Nhiều bạn trẻ lo chăm sóc cho ngoại hình, cơ bắp của mình, thích uống tăng lực nhưng lại không chăm lo cho linh hồn, tỏ ra coi thường việc bồi bổ tâm hồn. Có nhiều người để tội lỗi lâu ngày trong linh hồn giống như một thứ bệnh mãn tính, không đến với bác sĩ nơi Bí tích Giải tội, khiến cho linh hồn tê liệt, mất khả năng tiếp nhận dinh dưỡng thiêng liêng.
Xin Chúa cho mỗi chúng ta tin tưởng và siêng năng đến đón nhận Mình và Máu Thánh Chúa làm của ăn và là sức sống cho mình cho gia đình, giúp chống lại sự tấn công của ma quỷ, thế gian, xác thịt và tội lỗi, nhất là được bảo đảm cho sự sống đời đời với Chúa Amen.

Về mục lục

.

ĂN BÁNH THÁNH THỂ SẼ ĐƯỢC SỐNG MUÔN ĐỜI

Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 6,51-58

(51) “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. (52) Người Do thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn Thịt ông ta được ?”. (53) Đức Giê-su nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. (54) Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết. (55) Vì Thịt tôi thật là của ăn, và Máu tôi thật là của uống. (56) Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. (57) Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. (58) Đây là Bánh từ trời xuống. Không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời”. (59) Đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường ở Ca-phác-na-um.

  1. Ý CHÍNH:

Tin Mừng lễ Mình Máu Chúa hôm nay gồm mấy điểm chính như sau:

Đức Giê-su tự nhận là Bánh Hằng Sống. Ai ăn vào thì sẽ được sống muôn đời (51). Bánh đó là Thịt Mình của Người (51). Khi người Do thái thắc mắc, thì Đức Giê-su lại càng nhấn mạnh: Nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình (52). Ngay từ bây giờ họ đã được kết hiệp với Người (56) và được sống nhờ Người (57). Khác với bánh man-na mà tổ tiên họ xưa đã ăn mà vẫn bị chết, còn ai ăn Bánh Thánh Thể Đức Giê-su ban cho, sẽ được sống muôn đời (58).

  1. CHÚ THÍCH:

– C 51-52: + Bánh Hằng Sống: Đức Giê-su là sự sống và ánh sáng của Thiên Chúa (x. Ga 1,4), được ban cho loài người dưới hình dạng tấm bánh có thể ăn được. Bánh này chứa đựng sức sống thiêng liêng vĩnh cửu, và những ai ăn thì sẽ nhận được sự sống ấy. + Từ trời xuống: Đức Giê-su từ Chúa Cha mà đến (x. Ga 6,46; 16,28). + Bánh tôi sẽ ban tặng: Bánh Thánh Thể Người sẽ lập trong bữa Tiệc Ly sau này (x. Lc 22,19-20). + Chính là Thịt tôi đây: Bánh Hằng Sống được đồng hóa với Thịt của Đức Giê-su. Từ ngữ “thịt” trong tiếng Hy lạp là sarx, ám chỉ thịt của người sống, bao gồm cả hồn xác (x. Ga 1,14). + Để cho thế gian được sống: Hiệu quả của Bánh Thánh Thể là thông ban cho những ai lãnh nhận sẽ được sự sống thiêng liêng, mà Đức Giê-su đã chuộc lại bằng cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người. + Người Do thái liền tranh luận với nhau: Làm sao ông này cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?: Họ thắc mắc vì đã hiểu thịt đó là thân xác của Đức Giê-su hiện tại, người đang hiện diện ở giữa họ, trong khi Đức Giê-su nói về Thịt của Người dưới hình tấm bánh dùng trong bữa tiệc Vượt Qua. Bánh ấy sau lời truyền phép sẽ hóa thành Thịt của Đức Giê-su tử nạn và phục sinh (x. 1 Cr 11,23-26). Thịt trong bí tích Thánh Thể này mới thực là Bánh mà Người sẽ ban để cho thế gian được sống.

– C 53-54: + Thật, tôi bảo thật các ông: Đức Giê-su không cải chính khi người Do thái hiểu lầm lời Người theo nghĩa đen, mà Người càng nhấn mạnh hơn khi quả quyết: “Thật, tôi bảo thật các ông”. + Nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người…: Thịt Máu Người trong bí tích Thánh Thể là một điều kiện không thể thiếu để được sống đời đời. Nếu họ không ăn uống Thịt Máu Người trong bí tích Thánh Thể, thì họ sẽ không nhận được sự sống đời đời do Người chuộc lại nhờ cuộc Tử nạn và Phục sinh. + Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì được sống muôn đời: Đây là kiểu nói khác lặp lại tư tưởng trên. + Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết: Hiệu quả của việc ăn Thịt và uống Máu Chúa khi lên rước lễ là sẽ được Chúa Phục Sinh ban sự sống siêu nhiên, làm cho họ được sống lại trong ngày tận thế.

– C 55-56: + Vì Thịt Tôi: Chúa Giê-su nhấn mạnh Thịt và Máu Người thật là lương thực để ăn uống, và thông ban sự sống muôn đời. Qua bí tích Thánh Thể, người ta sẽ được nghe Lời Người để có đức tin, sẽ được ăn Thịt uống Máu Người để được nuôi dưỡng đức tin. Nhờ đức tin này họ sẽ có sự sống đời đời. + “Ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”: Câu này nói lên sự kết hiệp mật thiết giữa Chúa Giê-su Thánh Thể với người rước lễ. Sự kết hiệp này giống như sự kết hiệp giữa hai người bạn tâm giao luôn nghĩ đến nhau và sống vì nhau.

– C 57-59: + Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi…: Chúa Giê-su được Chúa Cha sai xuống thế gian. Người sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì Người cũng ban cho những ai rước Mình Máu Người được tham phần sự sống siêu nhiên như vậy. + Thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy: Sự sống siêu nhiên ấy phát xuất từ Chúa Cha, qua Chúa Giê-su, xuống tới người tín hữu đã lãnh nhận bí tích Thánh Thể. + Đây là Bánh từ trời xuống…: Sự sống ban cho kẻ rước lễ là sự sống đời đời phát xuất từ Thiên Chúa, khác hẳn sự sống thể xác do man-na. Man-na là bánh từ trên không trung rơi xuống, nên dân Do thái thời Mô-sê, dù đã ăn man-na suốt trong thời gian Xuất Hành 40 măm trong hoang địa, nhưng vẫn phải chết. + Ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời: Đây là câu tóm lược bài giảng về Bánh Hằng Sống. Chúa Giê-su tự ví là Bánh từ trời mà xuống. Người mang lại sự sống thiêng liêng cho loài người đang phải chết vì phạm tội, nhờ cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người. + Hội đường ở Ca-phác-na-um: Nơi Đức Giê-su giảng về Bánh Hằng Sống là một hội đường Do thái ở thành Ca-phác-na-um gần biển hồ Ga-li-lê, nơi Đức có trụ sở truyền giáo của Đức Giê-su (x Ga 6,1).

  1. HỎI ĐÁP:

– HỎI 1: Tại sao người Do thái và nhiều môn đệ Đức Giê-su đã bỏ không đi theo Đức Giê-su và họ đã tranh luận với nhau điều gì? Tại sao ông Phê-rô và Nhóm Mười Hai vẫn chọn ở lại với Đức Giê-su? Ông Phê-rô đã đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin như thế nào?

ĐÁP:

+ Sở dĩ người Do thái và nhiều môn đệ Đức Giê-su đã bỏ không đi theo Người nữa (x. Ga 6,66), vì đã hiểu lời Đức Giê-su dạy về việc ăn Bánh Thánh Thể theo nghĩa đen, nghĩa là ăn Thịt Máu của Người, giống như ăn thịt các con chiên, bò, gà… Do đó, họ đã tranh cãi với nhau: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?”. Cũng như các thân nhân Đức Giê-su ở Na-da-rét có lần đã coi Người bị mất trí (x. Mc 3,21), thì ở đây các đầu mục dân Do thái cũng coi lời Đức Giê-su thật chói tai và không thể chấp nhận được (x. Ga 6,52). Tuy nhiên, thay vì cải chính, Đức Giê-su lại càng nhấn mạnh về điều này hơn: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình… Vì Thịt tôi thật là của ăn, và Máu tôi thật là của uống” (Ga 6,53.55). Nghe vậy, một số môn đệ đã hiểu rõ Đức Giê-su nói về bí tích Thánh Thể và đã bỏ đi vì không tin lời Người.

+ Riêng Phê-rô và Nhóm Mười Hai vẫn chọn ở lại, sau khi nghe giảng về Bánh Hằng Sống, vì các ông đã tin Người là Đấng Thiên Sai và Lời Người là sự thật, dù bây giờ chưa hiểu rõ tại sao. Khi được Thầy hỏi, Phê-rô đã đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin như sau: “Bỏ Thầy chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết Thầy chính là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).

HỎI 2: Luật Mô-sê cấm dân Do thái không được ăn máu và thịt thú chưa cắt tiết (x. Lv 19,26), và nghị quyết của Công Đồng Giê-ru-sa-lem năm 49 cũng yêu cầu các Ki-tô hữu gốc dân ngoại “phải kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết và ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm” (x. Cv 15,29). Vậy tại sao Giáo Hội Công Giáo lại cho phép các tín hữu ăn tiết canh là món ăn máu đông ?

ĐÁP:

Thời Mô-sê, người ta tin rằng: Máu là sinh khí tụ lại, nên chỉ dành riêng để tế lễ dâng cho Thiên Chúa trong ngày lễ Xá Tội. Vì Chúa chính là chủ tể của sự sống (x. Lv 17,11). Đàng khác, tục uống máu các con vật được sát tế dâng cho thần linh, vẫn có trong nghi lễ tôn giáo của dân ngoại, nên Luật Mô-sê cấm dân Ít-ra-en uống máu và ăn thịt thú chưa cắt tiết giống như dân ngoại (x. Lv 19,26).

Ngày nay Hội Thánh không cấm các tín hữu ăn tiết canh hay thịt thú vật chưa cắt tiết, vì Luật Mô-sê đã được Đức Giê-su kiện toàn (x. Mt 5,17), khi truyền cho các tín hữu “ăn Thịt và uống Máu của Người” (x. Mt 26,26-28).

Còn về việc Công Đồng Giê-ru-sa-lem năm 49 ra nghị quyết không buộc lương dân theo đạo phải chịu phép Cắt Bì theo luật Mô-sê, mà chỉ yêu cầu họ “kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm”. Thực ra những yêu cầu không ăn tiết này không phải vì lý do đức tin mà chỉ là một phương thế để bảo vệ sự hiệp nhất nội bộ của cộng đoàn Hội Thánh, bấy giờ gồm các tín hữu gốc Do Thái và gốc lương dân hiệp nhất và ăn uống chung mâm bàn với nhau, như lời ông Gia-cô-bê đã phát biểu: “Phần tôi, tôi xét là không được gây phiền hà cho những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên Chúa. Nhưng chỉ viết thư bảo họ kiêng những thức ăn ô uế vì đã cúng cho ngẫu tượng, tránh gian dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết, và kiêng ăn tiết, Thật vậy, từ những thế hệ xa xưa, trong mỗi thành ông Mô-sê, đều có những người rao giảng: Họ đọc lời của ông trong các hội đường mỗi ngày Sa-bát” (Cv 15,21). Ngày nay do không còn nguy cơ phân hóa giữa các tín hữu gốc Do thái và gốc lương dân như thời sơ khai, nên Hội Thánh không cấm các tín hữu ăn thịt và uống máu huyết thú vật theo Luật Mô-sê nữa.

 

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) CHIẾC NHẪN- KỶ VẬT CỦA TÌNH YÊU.

Có một đôi vợ chồng trẻ kia mới lấy nhau được hơn một năm. Trong thời gian đó họ đã sống rất hạnh phúc. Mỗi buổi sáng trước khi rời nhà đi làm, và buổi chiều khi vừa trở về ngôi nhà thân thương, người chồng không bao giờ quên trao cho vợ một cử chỉ âu yếm và một lời nói thân thương. Nhờ đó tình yêu giữa hai vợ chồng ngày thêm nồng thắm. Nhưng rồi hạnh phúc của họ đã bị đe dọa khi một hôm người chồng bị trúng mưa trên đường từ xưởng làm về nhà. Anh bị cảm nặng phải nằm liệt giường nhiều ngày và trong thời gian này anh đã được chị vợ tận tình săn sóc. Đẩu tiên, anh được vợ mang đến bệnh viện và được bác sĩ chẩn đoán bị sưng màng phổi. Dù đã được các bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng bệnh của anh ngày thêm trầm trọng. Sau đó, bệnh viện kết luận anh đã bị ung thư màng phổi ác tính thời kỳ thứ ba và vô phương cứu chữa. Khi sắp chết, anh chồng đã cầm tay vợ và thều thào nói: “Em yêu quí ! Có lẽ sắp tới giờ Chúa gọi anh về rồi. Anh đã chuẩn bị và sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa muốn. Anh chỉ tiếc một điều là không còn được tiếp tục sống bên em nữa. Trước khi đi xa, anh không có gì trối lại cho em ngoài chiếc nhẫn mà cách đây hơn một năm, hai vợ chồng mình đã tặng cho nhau khi kết ước trước bàn thờ Chúa. Bây giờ anh xin tặng lại chiếc nhẫn kỷ vật này cho em, để mỗi lần nhìn thấy nó, em biết rằng anh vẫn luôn ở bên em và hằng cầu Chúa ban cho em an lành hạnh phúc”. Nói xong, anh tháo chiếc nhẫn đang đeo ở ngón tay ra và âu yếm xỏ vào tay vợ, giống như trước đây anh đã làm trong thánh lễ hôn phối của hai người. Sau khi chết, anh được an táng trong một nghĩa trang gần nhà. Từ ngày đó, mỗi ngày người ta đều thấy một phụ nữ còn rất trẻ, đầu chít khăn tang, tay cầm bó bông đi vào nghĩa trang. Chị đứng hằng giờ trước ngôi mộ cỏ mọc chưa xanh của chồng, để cầu nguyện cho anh. Tay chị đeo hai chiếc nhẫn: Một chiếc của ngày thành hôn và chiếc kia là kỷ vật của người chồng quá cố đã để lại cho chị khi sắp từ giã cuộc đời.

2) CẬU BÉ MÁC-SEN-LI-NÔ SẴN SÀNG CHẾT ĐỂ ĐƯỢC GẶP MẸ ĐÃ QUA ĐỜI:

Tại Tây Ban Nha có một câu chuyện về một cậu bé tên là MAR-XEL-LI-NO. Mẹ cậu đã chết đang khi sinh cậu, và do không còn người thân nên cậu đã bị người ta mang đến đặt trước cửa một tu viện, và cậu đã được các tu sĩ nhận nuôi dưỡng.

Cậu bé vốn tính hiếu động, nên thày đầu bếp đã cấm cậu không được leo trèo hoặc lai vãng đến những nơi không được thầy cho phép. Nhưng vì tính tò mò, một ngày kia Marcellino đã lén leo lên gác lẽ ra cậu không được vào. Cậu rất ngạc nhiên nhìn thấy một người khổng lồ đang bị treo trên cây thập giá. Cho rằng người ấy đang bị đói, nên đêm hôm ấy Marcellino lén vào bếp trộm mấy chiếc bánh mang lên cho ông. Người khổng lồ đã đưa tay ra nhận bánh và mỉm cười cám ơn cậu. Từ đó, ngày nào cậu cũng lén mang bánh lên cho người ấy. Người này không ai khác hơn chính là Chúa Giê-su chịu treo trên thập giá. Một hôm, Người đã âu yếm ôm cậu bé và hỏi:

– Con thích nhất điều gì trên trần gian này?

Cậu mau mắn thưa:

– Con muốn được gặp mẹ ruột của con.

Chúa liền nói với cậu:

– Con sẽ được gặp mẹ con sớm nếu con bằng lòng chết đi.

Hôm sau các tu sĩ đã tìm thấy cậu bé nằm chết như đang ngủ say trong vòng tay thương mến của Chúa Giê-su trên cây thập giá. Chính vì yêu mẹ và muốn sớm được gặp mẹ, mà Marcellino đã sẵn sàng chịu chết.

Đức Giêsu cũng vì yêu thương loài người chúng ta nên đã sẵn lòng chịu chết để chúng ta được sống. Người còn lập bí tích Thánh Thể để được ở mãi với loài người chúng ta, trở thành lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đức tin của chúng ta, hầu ai đón nhận Người sẽ được sống muôn đời như Người đã hứa: “Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ai ăn Bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.

  1. SUY NIỆM:

Hơn hai ngàn năm trước đây, Chúa Giê-su đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong sự cảm thông và hiệp nhất yêu thương như Tin Mừng Gio-an viết: Ý thức rằng “Giờ đã đến, Giờ Con Người phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, và Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Người đã lập phép Thánh Thể trong khung cảnh một bữa ăn, để lại cho Hội Thánh dấu chỉ của một tình yêu vô cùng lớn lao là Mình Máu Thánh Người dưới hình bánh rượu, để nên của ăn của uống cho các tín hữu, hầu ban cho họ sự sống đời đời.

1) BÍ TÍCH THÁNH THỂ – BỮA TIỆC THÁNH YÊU THƯƠNG:

Tin Mừng cho thấy việc chuẩn bị thiết lập và cử hành bí tích Thánh Thể của Đức Giê-su đều diễn ra trong khung cảnh bữa ăn yêu thương như sau:

– Bữa tiệc cưới tại thành Ca-na: Trong tiệc cưới này, Đức Giê-su đã thể hiện tình thương đối với đôi tân hôn, khi nể lời Đức Ma-ri-a cầu bầu, Người đã làm phép lạ biến nước lã trở thành rượu ngon giúp đôi tân hôn, và củng cố đức tin của các môn đệ mới đi theo Người.

– Bữa ăn cho đám đông nơi hoang địa: Cảm thông với đám đông dân chúng bị đói khi theo Người vào hoang địa nghe giảng Tin Mừng, Đức Giê-su đã làm phép lạ nhân năm chiếc bánh và hai con cá ra nhiều để nuôi năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà con trẻ được ăn no và còn dư mười hai giỏ đầy bánh còn lại (x. Mt 14,14-21). Sau đó, Đức Giê-su đã giảng về bí tích Thánh Thể để ban thịt máu mình làm của ăn của uống hầu mang lại sự sống đời đời cho các tín hữu: “Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống. Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì sẽ có sự sống đời đời. Và Tôi, Tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày tận thế” (Ga 6,55-56).

– Bữa Tiệc Ly chiều thứ Năm Tuần Thánh: Đức Giê-su đã yêu thương các môn đệ đến cùng nên Người đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ, trước khi từ biệt các ông để chịu khổ nạn như sau: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy’. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: ‘Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội’ (Mt 26,26-28).

– Bữa tối của hai môn đệ làng Em-mau: Chúa Phục Sinh dưới dáng vẻ như một khách bộ hành đi chung đường với hai môn đệ đang trong tâm trạng chán nản thất vọng. Người đã dùng Lời Kinh Thánh để cho các ông hiểu về ý nghĩa cái chết và sự phục sinh của Đấng Thiên Sai. Rồi “khi ngồi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất” (Lc 24,30-31). Chính trong khung cảnh bữa ăn yêu thương kèm theo cử chỉ và lời đọc Người đã từng làm, khiến mắt hai môn đệ mở ra và nhận biết người khách bộ hành chính là Thầy Giê-su đã từ cõi chết sống lại.

2) TIN HAY KHÔNG TIN MẦU NHIỆM TRONG BÍ TÍCH THÁNH THỂ:

Sau bài giảng về Bánh Hằng Sống, mặc dù biết đám đông đang xầm xì phản đối, vì cho rằng đây là một điều vô lý không thể chấp nhận, nhưng Đức Giê-su vẫn cương quyết khẳng định thêm về mầu nhiệm này (x. Ga 6,60). Về phần các môn đệ sau khi hiểu Đức Giê-su muốn lập bí tích Thánh Thể để biến Thịt Máu Mình làm của ăn của uống, nên đã bảo nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy Thịt mình mà cho chúng ta ăn được?”. Sau đó, một số đông môn đệ đã bỏ không còn đi theo làm môn đệ Người nữa (x. Ga 6,66). Đức Giê-su cho biết: để tin vào mầu nhiệm này, đòi người ta phải được Chúa Cha ban ơn (x. Ga 6,65). Sau đó, Đức Giê-su đã hỏi nhóm 12 Tông đồ về quyết định tin hay không tin, chọn bỏ đi hay ở lại với Người. Ông Phê-rô đã đại diện Nhóm Mười Hai thưa rằng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Như vậy, trước mầu nhiệm này, người ta không thể cảm nghiệm bằng giác quan, mà phải nhờ ơn Thiên Chúa ban và thành tâm tin nhận.

3) CẦN THAM DỰ BÍ TÍCH THÁNH THỂ VỚI TÌNH YÊU THƯƠNG HIỆP NHẤT:

Thánh Phao-lô dạy về thái độ phải có của các tín hữu khi tham dự Bữa Tiệc Thánh Thể như sau: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,17). Do đó, khi đến dự lễ, chúng ta cần có tình yêu thể hiện qua thái độ cảm thông và hiệp nhất, noi gương cộng đoàn Hội Thánh sơ khai tại Giê-ru-sa-lem như sau: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ, Khi làm lễ Bẻ Bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,44-47).

4) THAM DỰ THÁNH LỄ THẾ NÀO CHO ĐẸP LÒNG CHÚA?

– “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”: Cần dọn mình lên rước lễ mỗi lần tham dự thánh lễ, vì chẳng có ai đi dự tiệc mà lại không xem người khác ăn, còn mình thì không ăn uống gì ? Cũng cần kéo dài thánh lễ giữa đời thường, như Đức Cha HELDER CAMERA đã nói: “Mỗi sáng, tôi được nuôi dưỡng bằng Đức Ki-tô trong bí tích Thánh Thể, rồi suốt ngày, tôi lại gặp gỡ Đức Ki-tô nơi tha nhân. Vì tôi gặp cũng một Đức Ki-tô trên bàn thờ và ngoài đường phố”. Như vậy: Hiệp nhất với Chúa Giê-su trong thánh lễ phải dẫn chúng ta đến chỗ hiệp nhất với Người đang hiện thân nơi những người đang sống bên chúng ta, nhất là những người nghèo đói bệnh tật và bất hạnh (x.Mt 25).

– Hiệp nhất với Chúa Giê-su Thánh Thể cũng đòi hiệp thông với tha nhân, đòi chúng ta noi gương Chúa quên mình và khiêm tốn phục vụ tha nhân, làm cho tha nhân được hạnh phúc.

– Một khi được nuôi dưỡng bằng Mình Máu Chúa trong bí tích Thánh Thể, chúng ta sẽ ý thức bổn phận chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói, tích cực góp phần cải thiện xã hội là gia đình, khu xóm, trường học, nhà máy, công sở… ngày một an toàn sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn, sớm trở thành “Trời Mới Đất Mới” được sách Khải Huyền tiên báo: Bấy giờ “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt của họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4).

  1. THẢO LUẬN: Để đáp lại tình yêu tột cùng của Đức Giê-su khi lập bí tích Thánh Thể, mỗi tín hữu chúng ta cần dự lễ hay dự các giờ chầu Thánh Thể như thế nào… ?

5.CẦU NGUYỆN:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con muốn ngợi ca lòng từ bi nhân hậu và đầy yêu thương của Chúa khi thiết lập bí tích Thánh Thể. Nhờ bí tích này, Chúa ban Mình Máu Chúa làm của ăn của uống thiêng liêng nuôi dưỡng đức tin của chúng con. Cũng nhờ bí tích ấy, Chúa giúp chúng con tưởng niệm về mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa, để được sống đời đời.

– Lạy Chúa Giê-su. Bàn tiệc Thánh Thể do Chúa thiết lập và mời chúng con tham dự nhằm biểu lộ tình yêu thương và sự hiệp nhất cộng đoàn. Chúa muốn chúng con phải tránh thói ích kỷ và những việc làm gây chia rẽ nội bộ, như Tông đồ Phao-lô đã quở trách giáo đoàn Cô-rin-thô như sau: “Trước tiên tôi nghe rằng khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau… Khi anh em họp nhau, thì không còn phải là ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước. Và như thế kẻ thì bị đói, người lại no say ! Anh em không có nhà để ăn uống sao ? Hay anh em khinh Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của ?… Cho nên thưa anh em, khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau. Ai đói thì ăn ở nhà, kẻo anh em đến họp mà hóa ra để bị kết án !” (1 Cr 11,18-22.33-34). Hôm nay, xin Chúa giúp chúng con biết hiệp thông với tha nhân mỗi khi tham dự thánh lễ: Cho chúng con biết thể hiện tình bác ái huynh đệ bằng việc vào ngồi trong nhà thờ thay vì đứng ở ngoài sân; Cho chúng con biết mở miệng thưa kinh chung với cộng đoàn. Xin cho chúng con luôn biết dấn thân, sẵn sàng đi bước trước bắt chuyện làm quen với những người lạ, sẵn sàng nhường chỗ tốt cho những người già cả tật nguyền… để Thánh Lễ trở thành cơ hội giúp chúng con thể hiện tình yêu thương hiệp nhất với Chúa và hiệp thông với tha nhân.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

Về mục lục

.

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA_A

Lm. Antôn

Vì khâm phục đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam tại Hoa kỳ, cho nên một linh mục trong ủy ban Di dân và Truyền giáo của Hội đồng Giám mục  Hoa kỳ đã được cử sang Việt Nam để học hỏi và tìm hiểu đời sống đức tin của người Công giáo tại Việt Nam.  Sau khi trở về, vị linh mục Hoa kỳ này đã làm tờ báo cáo tường trình tình hình Giáo hội và đời sống đức tin của giáo dân Việt Nam bằng 3 câu ngắn gọn: “trẻ trung”, “sinh động” và “nhiệt tâm”, điển hình là một giáo xứ vùng Cao nguyên.

Biểu tượng của giáo xứ quê nghèo này là tháp chuông to và cao để báo cho mọi người giáo dân sống trong làng biết giờ lễ.  Khoảng 20 phút trước Thánh lễ, một người trong ban hành giáo đến giật chuông.  Vì cái chuông đã cũ cho nên tiếng chuông không được thánh thoát lắm nhưng làm được việc.  Trong vòng 15 phút hàng trăm người tuôn đến tham dự Thánh lễ.

Một dấu hiệu đức tin lớn mạnh của người Công giáo Việt Nam là số nam nữ tu sĩ tại các dòng, và các chủng sinh theo ơn gọi làm linh mục tại các đại chủng viện rất đông.  Một đại chủng viện có hơn 5 trăm chủng sinh trẻ đang tu học.

Một tuần trước khi linh mục Hoa kỳ trở về nước, tại một giáo phận nhỏ trên vùng Cao nguyên, Đức giám mục địa phận đã truyền chức linh mục cho 11 thày đại chủng sinh.  3 tân linh mục trong số này được gởi sang Hoa kỳ để tiếp tục học ngành Thần học, và 1 tân linh mục cũng được gởi sang Hoa kỳ để làm mục vụ vì trước đó đã theo học ở đây.  Và sự kiện này là bằng chứng sống động của Giáo hội Việt Nam trong một giai đoạn mới, gởi các nhà truyền giáo ra nước ngoài.

Một minh họa về sự sống động của Giáo hội tại Việt Nam mà linh mục Hoa kỳ chứng kiến trong ngày lễ kính Mình Máu Chúa Ki-tô tại một giáo xứ.  Linh mục này viết rằng: “Trong ngày lễ kính Mình Máu Chúa Ki-tô, giáo xứ đã có một cuộc tuần hành cung nghinh Thánh Thể long trọng và Chúa đã gởi đến một cơn mưa to.  Trong con đường khoảng hơn một cây số, đoàn người tuần hành vừa đi vừa lần hạt và vừa hát trong tiếng trống kèn vang những bài hát kính Thánh Thể.  Quần áo của mọi người đều ướt sũng nhưng thật khâm phục không một ai bỏ hàng ngũ để tránh mưa và coi như không có chuyện gì xảy ra.”  Linh mục Hoa kỳ này thú nhận trong tờ tường trình rằng chưa bao giờ được chứng kiến hình ảnh lạ lùng này bằng chính con mắt của mình ở bất cứ nơi đâu.

Ông bà anh chị em thân mến.  Là những người Việt Nam Công giáo sống ở hải ngoại, hay bất cứ người Công giáo nào sống ở đâu, chúng ta cần được nghe nhiều bản báo cáo như vậy để chúng ta biết được sự lớn mạnh của Giáo hội, biết được đời sống đức tin sống động của người Công giáo tại quê hương, và biết được lòng kính thờ và mến yêu, cũng như biết được ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Thể như thế nào trong đời sống của người Việt quê nhà.  Những bản báo cáo này không những đánh động vào tâm hồn người Công giáo Việt Nam chúng ta sống tại Hoa kỳ và tại thành phố Tulsa này, mà còn thách đố chúng ta tự hỏi: “Bí tích Thánh Thể có ý nghĩa gì với tôi?”

Chúng ta nhận biết vì bị lôi cuốn vào đời sống vật chất, tiền bạc, hay vì bận rộn với công ăn việc làm, và nhiều khi vì sự lười biếng, cho nên nhiều người dần dần thờ ơ, đánh mất sự tôn kính và tri ân cũng như lòng nhiệt tâm đối với Bí tích Thánh Thể, một hồng ân, một món quà cao quí của Chúa ban.  Nhiều người khinh thường hay từ khước tình thần hiệp nhất của người Công giáo Việt Nam.

Những bài Tin Mừng cho chúng ta biết chính Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh trong bữa tiệc ly. Chúa Giêsu đã ban và để lại cho các môn đệ và cho nhân loại một hồng ân, một món quà cao quí. Tin mừng thánh Mác-cô diễn tả sự kiện này như sau: “Đang khi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ và phán: ‘Các con hãy cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy. Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn và trao cho các ông và nói: ‘Đây là Máu Ta, sẽ đổ ra cho nhiều người.’’’ Qua lời tuyên bố này, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể để ở lại với chúng ta cho đến ngày tận thế.  Bánh và rượu đã trở nên chính Mình và Máu Thánh Chúa.

Đối với mọi Kitô hữu thời Giáo hội sơ khai, họ đã có một niềm xác tín vào Lời Chúa phán.  Sự việc này xảy ra như thế nào đối với họ không thành vấn đề, vì đây không những là một sự việc thuộc về đức tin, mà còn phát xuất từ sự cảm nghiệm sâu xa về tình yêu thương hiệp nhất như những chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô. Bởi vậy cho nên chúng ta nghe thánh Phaolô nói: “Anh chị em thân mến. Chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa, chẳng phải là sự thông hiệp với Máu Chúa Kitô sao? Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra, chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao?  Vì chỉ có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh.” 

Thánh Phao-lô trong bài đọc 2 khẳng định và cho chúng ta biết Thánh Thể chính là mối dây tuyệt hảo của sự hiệp nhất.  Và khi chúng ta hiệp thông với Mình và Máu Chúa Kitô, có nghĩa là khi chúng ta cùng ăn một bánh và cùng uống một chén, thì chúng ta cũng phải thể hiện sự hiệp thông ấy ra trong đời sống cộng đoàn bằng tinh thần hiệp nhất, yêu thương, và lòng quảng đại. Cũng như chỉ có một tấm bánh, chúng ta tuy nhiều người nhưng cũng chỉ là một thân thể hiệp nhất.

Ông bà anh chị em thân mến.  Là những người Công giáo Việt Nam, chúng ta hãnh diện về đức tin sống động và lòng yêu mến Thánh Thể Chúa của cha ông để lại.  Xin Chúa giúp chúng ta luôn xác tín vào sự hiện diện của Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể, kết hợp mọi người chúng ta lại trong tình yêu thương để chúng ta thể hiện tinh thần hiệp nhất và sống đức tin làm sáng danh Chúa.

Về mục lục

.

Các bài suy niệm Lễ Chúa Ba Ngôi Năm A

0

LỄ CHÚA BA NGÔI

Lời Chúa:  Xh 34,4b-6.8-9;  2Cr 13,11-13;  Ga 3,16-18

Mục lục

  1. Tin Và Sống (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  2. Mầu Nhiệm Cao Cả (Thiên San, MTG. Thủ Đức)
  3. Dòng sông yêu thương (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)
  4. Món quà Giêsu  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)
  5. Kinh nguyện trong Thiên Chúa Ba Ngôi  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)
  6. Thiên Chúa là tình yêu (Bông Hồng Nhỏ,  MTG.Thủ Đức)
  7. Tuy Ba Là Một  (Anna Cỏ May, MTG.Thủ Đức)
  8. Vị Thiên Chúa yêu thương và gần gũi  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)
  9. Chúa Ba Ngôi nối kết tin yêu  (Lm. Nguyễn Xuân Trường)
  10. Ba Ngôi Thiên Chúa ngọn lửa tình yêu  (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
  11. Tình yêu Thiên Chúa vô biên  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)
  12. Gia đình của Thiên Chúa (Lm. Bosco Dương Trung Tín)
  13. Thiên Chúa là Chúa yêu thương  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí) 
  14. Suy niệm chú giải Lời Chúa-Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi_A (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

 

Mục lục

1. Thiên Chúa yêu thế gian  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

2. Thiên Chúa Tình Yêu (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

3. Tình yêu bất tử  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

4. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

5. Chứng nhân tình yêu (Bông Hồng Nhỏ, Thanh Tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

6. Lễ Chúa Ba Ngôi  (Lm. Tôma Nguyễn Hoàng Phượng)

7. Tình yêu diệu vời  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

8. Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

9. Sống yêu thương theo gương mẫu Chúa Ba Ngôi (Tu sĩ Jos.Vinc. Ngọc Biển)

10. Bí mật tận cùng  (Trầm Thiên Thu)

11. Tình yêu Ba Ngôi (Anna Cỏ May, Thanh Tuyển sinh MTG.Thủ Đức)

12. Thiên Chúa yêu thế gian (Lm. Gioan Nguyễn văn Ty, SDB)

13. Chúc tụng Chúa  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

14. Đấng định nghĩa siêu nhiên  (P. Trần Đình Phan Tiến)

15. Tình yêu cho đi – Tình yêu cứu độ (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

16. Suy niệm lễ Chúa Ba Ngôi. Năm A  (Lm. Anthony Trung Thành)

17. Mầu nhiệm phát sinh mọi mầu nhiệm  (JM. Lam Thy, ĐVD)

18. Nguồn Tình Yêu  (Lm. Jos. DĐH.)

19. Trao ban tất cả vì yêu thương  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

20. Mầu nhiệm  (Lm. Trần Việt Hùng)

21. Căn tính Đức Kitô (Lm. Vũ Đình Tường)

22. Ba Ngôi Thiên Chúa, khác biệt nhưng hiệp nhất (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

23. Mầu nhiệm Tình yêu  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

24. Hãy yêu đi rồi sẽ biết sự thật  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

25. “Thiên Chúa có Ba Ngôi”  (Lm. Jos. Uyên Nguyên)

26. Mầu nhiệm của lòng xót thương (Lm. Giuse Nguyễn)

27. Gia đình là cộng đồng tình yêu phản chiếu tình yêu Ba Ngôi (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

28. Sống yêu thương noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi (Lm. Đan Vinh)

29. Chúa Nhật lễ Chúa Ba Ngôi_A  (Lm. Antôn)

TIN VÀ SỐNG

Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc

Chẳng có cha mẹ nào yêu thương con cháu mà để lại cho chúng tài sản giả tạo: nhà cao cửa rộng trên giấy, đồ ăn thức uống bằng gỗ, đá, đô la âm phủ ! Không thể có con ngoan trò giỏi, nếu thiếu vắng tình yêu thương nơi bậc sinh thành và sự tận tâm tận lực của thầy cô giáo. Cũng không bao giờ tìm thấy một gia đình chuẩn mực, hạnh phúc, nếu bầu khí yêu thương nơi gia đình của họ chưa dồi dào, sống động. Từ xưa đến nay, con người vẫn khao khát hạnh phúc, muốn và mong biết sống đúng, sống đẹp, ít là với những ai ta gặp gỡ. Trong đối nhân xử thế, tiền nhân chúng ta có nói tới một kinh nghiệm: kẻ biết ơn, trong lòng được thoả thích, mà kẻ làm ơn tâm tư lại thoả thích ngàn lần. Khổng Tử dạy các học trò: có kiến thức người ta không sống trong nghi ngờ, có lòng nhân, chẳng bao giờ phải ưu tư, có dũng cảm thì thắng được sợ hãi.

Có một sự thật nơi mỗi người: máu ai cũng đỏ, nước mắt ai cũng mặn, trái tim ai cũng bằng thịt, dù hoàn cảnh không giống nhau, chúng ta vẫn bị chi phối bởi tình yêu. Bằng một tình yêu có điều kiện, không ít người nói rằng: đố ai hạnh phúc mà không có tiền, đố ai biết sống lời yêu thương, khi bản thân chưa yêu ai bao giờ ? Đức Giêsu đã nói, đã mạc khải cho ông Nicôđêmô, cho chúng ta: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài, để những ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải hư mất…”. Yêu và được yêu, tin và sống niềm tin, chính là quy luật, là điều kiện để chứng minh, trái tim ta có cùng một nhịp đập, có khởi đầu cho đến cùng đích vẫn là yêu thương. Đức Giêsu khởi đầu từ tình yêu của Thiên Chúa làm người, Đức Giêsu chu toàn sứ mạng Chúa Cha uỷ thác: yêu đến cùng, trên thập giá, Ngài đã gục đầu trao Thần Khí, (Ga 19, 30), tất cả vì yêu, tất cả là hồng ân.

Thành công, hạnh phúc, là mơ ước ở đời này, có được quân sư tài giỏi, gặp được bạn bè tốt, biết sống hoà hợp giữa lý và tình, chắc chắn không phải là điều tự nhiên, không phải là chuyện hên xui. Tin và sống niềm tin lời giáo huấn của Thầy Giêsu: là tự do chọn lựa, là sống lời thưa vâng, trong đó có đau khổ thập giá, có bình an Đấng phục sinh hiện diện. Dù thế gian nói: phải khôn tuỳ lúc, phải khờ tuỳ hoàn cảnh, xác xuất thành công sẽ cao hơn. Suốt 33 năm tại trần thế, Đức Giêsu vẫn là một chứng minh: “Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài, để những ai tin và sống niềm tin thì được sống”. Tin Đức Giêsu là người thầy tài giỏi, tin Đức Giêsu là người bạn tốt, mới đúng nhưng chưa đủ, phải sống niềm tin Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu độ, là hiện thân của tình yêu Chúa Cha và Thánh Thần.

Người xưa có câu: một ngày tu chưa thành chánh quả, một ngày ngu, biết bao hậu quả xấu sẽ xảy ra. Biết nói yêu là chết trong lòng một tí, chưa ai gọi bạn là người trưởng thành; nói điêu, nói không thật lòng, có thể làm thiệt hại, làm nhiều người phải khổ vì mất danh dự. Tin Đức Giêsu là tình yêu đến từ Thiên Chúa, tin Đức Giêsu là Đấng quyền năng, nhưng chưa sống niềm tin Đức Giêsu ở trên thập giá, hẳn cũng không thể có bình an của Đấng phục sinh. Trong tình yêu đôi lứa, họ luôn khao khát thuỷ chung và sự bền vững của tình yêu: nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay ! Trong tình yêu không giai cấp, Đức Giêsu nói: Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho các con biết. (Ga 15, 5).

Bài học yêu thương, đoàn kết, sống có trách nhiệm, hẳn ai cũng được nghe, được nhắc bảo về tình yêu và sức mạnh mang tính cộng đồng. Còn việc sống đức yêu thương, chia sẻ những hiểu biết, quảng đại với tha nhân, luôn là thực hành sống động của mỗi người. Ở đời vẫn nói tới sự thiết thực của người cho và kẻ nhận, quyền lợi và nghĩa vụ: ăn cơm nhà Phật, đốt râu thầy chùa, ý nói đến sự phản phúc, vô ơn, sớm muộn cũng phải đối diện với công lý. Trong tin yêu và sống tin yêu, Đức Giêsu lưu ý đến sự liên đới hiệp nhất cần thiết cho sứ mạng riêng của mỗi người: “Thiên Chúa không sai Con của Người để luận phạt thế gian, nhưng để tất cả những ai tin Con của Người thì được sống đời đời”. Đau khổ thập giá không dập tắt được ánh sáng niềm tin, đại loại nó chỉ là tắt đèn, là đang xoá đi cái tôi ích kỷ, vì bình minh đã tới.

Tin và yêu, tin và sống, sẽ mãi mãi là lời mời gọi sống hiệp nhất nên một trong tình yêu Giêsu, tình yêu có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Sự vĩ đại được biết đến qua lòng cản đảm hơn là khôn ngoan, bằng cấp, sự hiểu biết được kiểm chứng qua hành động hơn là bài học suông, là điểm số khi ngồi ghế nhà trường. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một của Ngài”, nhưng chỉ có những ai tin và sống niềm tin, sống giáo huấn Đức Giêsu, người ấy mới hiểu thế nào là mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Con người có tin hay không, có muốn hiểu, có muốn sống tình liên đới hiệp thông không, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi vẫn đang hiện diện. Xin cho tình yêu mà người kitô hữu mỗi ngày vì dấu tuyên xưng, sẽ mãi là điều kỳ diệu, là sức mạnh và ơn ban giúp chúng con chu toàn bổn phận sống tin yêu cách trọn vẹn hơn. Amen.

Về mục lục

MẦU NHIỆM CAO CẢ

Thiên San, MTG. Thủ Đức

Quanh ta có muôn vàn điều kỳ diệu đang mời gọi ta khám phá. Khi nói đến những điều kỳ diệu, hẳn ai trong chúng ta cũng phải chân nhận rằng, sự kỳ diệu luôn đi kèm với sự khó hiểu. Phải mất một thời gian dài chúng ta mới dần dần khám phá ra những điều kỳ diệu quanh ta. Phát minh này làm tiền đề cho phát minh kế tiếp. Khi thực hiện chương trình cứu độ, Thiên Chúa cũng đã mất rất nhiều thời gian để mạc khải cách tiệm tiến cho con người biết tình yêu của Ngài: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Mặc khải đến từ Thiên Chúa luôn là một điều gì đó vượt quá sự hiểu biết của con người. Trong đó, mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả nhất, khó hiểu nhất.

Thiên Chúa mạc khải cho con người một cách tiệm tiến về chương trình cứu độ của Người. Công trình tạo dựng được khởi đi từ ý định yêu thương của Ba Ngôi và việc tạo dựng con người cũng không nằm ngoài ý định ấy. Khi con người sa ngã phạm tội, Thiên Chúa đã không bỏ mặc nhưng đã hứa ban Đấng Cứu Độ. Từ Apraham đến thời của Đức Giêsu, Dân Do thái vẫn sống trong niềm tin vào một Thiên Chúa độc nhất. Đức Giêsu đã vất vả dường nào để mặc khải cho dân biết về tình yêu cứu độ của Ngài. Đặc biệt là mạc khải cho họ biết chính Ngài là Đấng Chúa Cha sai đến, chính Ngài là Con Một Thiên Chúa. Ngài không chỉ dừng lại ở đó, Ngài còn mặc khải và hứa ban Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần cho các Tông đồ của Ngài. Chính trong thời đại của Đức Giêsu, mạc khải của Thiên Chúa dành cho con người trọn vẹn nhất. Bởi Đức Giêsu chính là mạc khải sau cùng và trọn vẹn của Thiên Chúa dành cho con người. Nhưng để đón nhận mạc khải ấy không phải là điều đễ dàng, đặc biệt là với một dân đã tin vào một Thiên Chúa duy nhất.

Tình yêu của Thiên Chúa không dừng lại ở một dân tộc đơn lẻ nhưng tình yêu của Ngài là tình yêu trao ban cho nhân loại. Quả thật, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Thế gian là ai nếu không phải là tất cả chúng ta, những con người được sinh ra trong ý định yêu thương của Thiên Chúa. Khi xưa, Dân Do thái đã vấp ngã trong việc đón nhận mạc khải của Thiên Chúa qua Đức Giêsu, đến nỗi họ tìm mọi cách để giết Đức Giêsu – Con Một Thiên Chúa, vì tin rằng Ngài là kẻ phạm tượng khi dám cho mình là ngang hàng với Thiên Chúa, dám gọi Thiên Chúa là Cha. Họ không thể từ bỏ niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất của mình để đón nhận mạc khải Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi không tin nhận Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa, Đấng Chúa Cha sai đến, họ từ chối đón nhận mạc khải của Thiên Chúa, từ chối tình yêu cứu chuộc của Ngài. Còn chúng ta?

Là thế hệ con cháu, chúng ta đón nhận đức tin nhờ ơn Chúa qua sự ra đi rao giảng của các tông đồ, các môn đệ của Chúa. Có thể nói, để đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là điều không mấy khó khăn đối với chúng ta. Nhưng để hiểu tường tận là điều không thể. Chúng ta chỉ có thể đón nhận và tin yêu. Thiên Chúa tuy Ba Ngôi nhưng lại chỉ là một Thiên Chúa. Mầu nhiệm này ta chỉ có thể biết được và nhận được nhờ Đức Giêsu mạc khải cho. Đức Giêsu đã nhiều lần nhắc đến Chúa Cha và nhắc đến Chúa Thánh Thần, nhưng vào thời điểm đó, có thể nói, các môn đệ là những người đầu tiên đón nhận mạc khải ấy. Tuy nhiên, chính các ngài cũng gặp khó khăn khi đón nhận mặc khải ấy. Tin Mừng kể lại, khi nghe Thầy nhắc đến Chúa Cha, các ngài đã xin Thầy tỏ cho biết Chúa Cha. Các ông không hiểu được tại sao Thầy lại nói: Thầy và Chúa Cha là một, Chúa Cha ở trong Thầy và Thầy ở trong Chúa Cha.

Sau khi sống lại, và đặc biệt là trong lễ Ngũ Tuần, Đức Giêsu Phục sinh đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ. Chúa Giêsu không chỉ mạc khải cho ta về sự hiện diện của Ba Ngôi mà còn mạc khải cho ta biết về sự nên một trong tình yêu của Ba Ngôi. Ngài cũng cho chúng ta biết về mỗi dây liên kết của Ngài với mỗi người chúng ta khi nói rằng: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5). Khi được nên một với Đức Giêsu, chúng ta cũng được nên một với Ba Ngôi. Bởi Ba Ngôi luôn hiện diện và nên một với nhau trong tình yêu.

Lạy Chúa! Chúng con cảm tạ Chúa đã ban Đức Giêsu Kitô cho chúng con. Xin cho chúng con biết bước đi trong ánh sáng tình yêu của Chúa nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Xin Chúa giúp chúng con biết sống tâm tình con thảo đối với Chúa khi tin nhận rằng: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ (Ga 3, 17). Xin cho chúng con được sống trong tình yêu và sự nên một của Ba Ngôi. Amen.

Về mục lục

DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong chu kỳ của một năm phụng vụ, thông thường, Giáo Hội hướng dẫn chúng ta để hiểu biết và nhận ra những gì Chúa đã làm vì yêu thương chúng ta. Chúa Nhật hôm nay là lễ Chúa Ba Ngôi, phụng vụ hướng chúng ta đến một chủ đích hoàn toàn khác biệt: đó là chúng ta tìm hiểu xem Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ là ai và bản chất của Ngài là thế nào. Các bài đọc Lời  Chúa tìm cách đưa ra câu trả lời: Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi tách biệt nhưng chỉ là một Chúa. Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúa Cha là Đấng Sáng tạo, Chúa Con là Đấng Cứu chuộc, Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh hóa. Như thế, mỗi người chúng ta đều là công trình của Ba Ngôi Thiên Chúa, tức là được Chúa ban cho hiện hữu làm người, được Chúa cứu chuộc và hôm nay đang được Chúa thánh hóa hướng dẫn, để nhờ Chúa mà chúng ta đạt tới mức hoàn hảo, tức là thánh thiện.

Nói đến Chúa Ba Ngôi, chúng ta thường nghĩ ngay đến một đề tài cao siêu, khó hiểu. Đối với nhiều người tín hữu, xem ra Chúa Ba Ngôi không có liên quan gì nhiều đến đời sống của họ. Thực ra, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi tuy vượt trí khôn của con người, nhưng có mối liên hệ mật thiết với đời sống người Kitô hữu. Trọn vẹn đời sống của người tin Chúa được bao bọc trong mầu nhiệm này. Nói cách khác, Chúa Ba Ngôi là nguồn mạch và là đích điểm của cuộc đời chúng ta, có nghĩa nhờ Chúa Ba Ngôi mà chúng ta tồn tại hiện hữu, và rồi lý tưởng mà chúng ta đang cố gắng đạt tới trong tương lai là hạnh phúc thiên đàng cũng là Chúa Ba Ngôi. Bởi lẽ, hạnh phúc thiên đàng là được sống trong Chúa Ba Ngôi, nơi có hạnh phúc viễn mãn tràn trề.

Giáo Hội dạy chúng ta: Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là một trong “ba mầu nhiệm Cả”, cùng với hai mầu nhiệm kia là mầu nhiệm Nhập thể và mầu nhiệm Cứu độ. Danh xưng “mầu nhiệm Cả” nói lên tầm quan trọng và cốt lõi Đức tin Kitô giáo. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là một đặc tính làm cho Đức tin Kitô giáo của chúng ta khác với Đạo Do Thái và Đạo Hồi, là hai tôn giáo  cũng được gọi là “độc thần” như chúng ta. Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đều cùng tôn thờ Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacóp, tức là Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử qua các vị tổ phụ này. Tuy vậy, chỉ có Đức tin Kitô giáo mới diễn tả Thiên Chúa Ba Ngôi, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chính Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta điều ấy. Trong giáo huấn của Người, Người dạy chúng ta nhận biết Chúa Cha và sống tình con thảo với Người. Đức Giêsu cũng nhận mình là Đấng Thiên Sai, tức là được Chúa Cha sai đến trần gian để thực hiện thánh ý của Ngài. Đức Giêsu cũng nói về Chúa Thánh Thần là Đấng bảo trợ, Đấng ban sức mạnh và soi sáng các tín hữu để họ can đảm tuyên xưng Đức tin và thực hành những gì Người đã dạy. Tổng hợp những gì Chúa Giêsu đã dạy, Giáo Hội tuyên xưng: Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa Ba Ngôi.

Nói đến Chúa Ba Ngôi là chúng ta đề cập tới một lãnh vực thuần thuý trừu tượng thiêng liêng. Để có thể hiểu được phần nào, chúng ta phải dùng phương pháp “loại suy”, tức là so sánh với những thực tại trong cuộc sống thường ngày. Hình ảnh dòng sông là một trong số nhiều hình ảnh được dùng để suy tư về Chúa Ba Ngôi. Hình ảnh này diễn đạt ân sủng phong phú của Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng thời cho thấy đời sống nội tâm của người tín hữu trong Chúa Ba Ngôi là điều cần thiết như thế nào.

Con sông mang dòng nước phù sa đến tưới cho các cánh đồng, làm cho cây cối được tươi tốt và đơm bông kết trái. Dòng sông cũng mang sự sống đến cho con người và mọi loài. Chúng ta thử tưởng tượng nếu một ngày nào đó mình không có nước thì cuộc sống sẽ ra sao? Thiên Chúa Cha chính là cội nguồn của dòng sông, và Người đổ vào dòng sông nguồn nước phù sa mầu mỡ là tình yêu và ân sủng của Người. Chúa Giêsu chính là dòng sông chứa đựng nguồn nước tình yêu và ân sủng ấy. Và Chúa Thánh Thần là sức đẩy để nguồn nước tình yêu chảy đến các tâm hồn. Như con cá sẽ không sống được nếu nó nhảy ra khỏi dòng sông, vũ trụ này sẽ không thể tồn tại nếu tách rời khởi tình yêu quan phòng và sáng tạo của Thiên Chúa. Như cây cối sẽ không thể tươi tốt và đơm bông kết trái, nếu nó không hút lấy sự sống từ dòng sông mang lại, con người sẽ không có sự sống nếu khước từ Thiên Chúa. Càng ở xa dòng sông, cánh đồng càng dễ nứt nẻ và khô cháy. Cũng vậy, con người sẽ không thể sống được nếu tách ra khỏi dòng sông tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Lễ Chúa Ba Ngôi nhắc chúng ta về sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài trong vũ trụ và trong đời sống chúng ta. Chính Thiên Chúa đã khẳng định và tình yêu thương của Ngài, khi Ngài xưng danh với ông Môisen: “Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và lòng thành tín!”. Suốt bề dày lịch sử nhân loại, Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lòng từ bi và thương xót con người, mặc dù họ nhiều lần lầm lỗi và bội phản. Đức Giêsu đã đến trần gian để mạc khải cho chúng ta rõ hơn về Thiên Chúa. Vì yêu thương nhân loại, Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến trần gian. Ai tin vào Con Thiên Chúa, sẽ tìm được bình an và sẽ được cứu độ. Như thế, Chúa Giêsu được trao phó sứ mạng quảng diễn hình ảnh từ bi nhân hậu của Chúa Cha, để hết thảy mọi người đều có thể thân thưa với Chúa Cha với tình con thảo: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”.

Khi thiện chí sống tình con thảo với Thiên Chúa và khi chuyên cần thực thi giáo huấn của Chúa Giêsu, người tín hữu như cây được tưới mát bằng dòng suối yêu thương là Chúa Ba Ngôi. Hơn thế nữa, họ được hòa mình vào dòng chảy yêu thương của Chúa Ba Ngôi, để chia sẻ sức sống thiêng liêng và tận hưởng hạnh phúc tuyệt vời Chúa ban cho người công chính. Như thế, khi trọn tình yêu mến và hiệp thông với Chúa Ba Ngôi, dù còn sống nơi trần gian, chúng ta đã được nếm trước vinh quang nước trời. Bởi lẽ hạnh phúc đời đời là gì, nếu không phải là được hòa mình vào hạnh phúc của chính Ba Ngôi Thiên Chúa, để tận hưởng tình yêu viên mãn và bất tận nơi thiên quốc?

Sống trong Chúa Ba Ngôi, đòi hỏi người tín hữu phải có Đức tin và niềm xác tín. Bởi lẽ Thiên Chúa là Đấng Vô Hình, chúng ta chỉ có thể cảm nhận Ngài bẳng trái tim và lý trí, tức là bằng tình yêu mến và cậy trông. Làm thế nào để thể hiện tình yêu mến và cậy trông nơi Chúa Ba Ngôi? Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Anh em hãy gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau. Hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương, sẽ ở trong anh em” (Bài đọc II). Thì ra, Thiên Chúa cao sang là thế, lại hiện diện trong tâm hồn chúng ta là những con người nhỏ bé tầm thường. Để được Ngài hiện diện, chúng ta chẳng phải khó nhọc tìm kiếm đâu xa, hoặc chẳng phải làm những gì to tát, nhưng đơn giản là sống hiền hòa với anh chị em mình. Thiên Chúa ngự trong tâm hồn những người công chính và gắng tâm chu toàn luật yêu thương, vì “đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời”, như lời của một bài thánh ca chúng ta vẫn thường hát.

Khi suy tư về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, chúng ta không quên nói đến việc làm dấu thánh giá. Chúng ta làm dấu thánh giá nhiều lần trong ngày: khi thức dậy, trước khi ra khỏi nhà, trước khi lái xe, trước khi ăn cơm, trước và sau khi cầu nguyện, buổi tối trước khi đi ngủ…Dấu thánh giá đơn sơ là thế, nhưng lại là một nghi thức quan trọng. Tuy vậy, không ít người vẫn chưa hiểu ý nghĩa của nghi thức làm dấu thánh giá: Đây là lời tuyên xưng Đức tin vào Chúa Ba Ngôi, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần. Đây cũng là cầu nguyện để xin Chúa ban cho chúng ta những ơn lành, nhất là biết sống ơn gọi của người Kitô hữu. Dấu thánh giá được phác họa trên thân mình, nhắc cho chúng ta niềm xác tín vào tình thương của Chúa, thể hiện qua cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đây cũng là lời kinh của lòng trông cậy, với niềm xác tín Chúa Ba Ngôi là nguồn suối yêu thương sẽ đổ chan hòa ơn thánh cho những ai yêu mến Ngài. Sau cùng, dấu thánh giá cũng nhắc nhở chúng ta: người Kitô hữu bất kể làm điều gì, bất cứ ở đâu, phải luôn luôn nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa. Nói cách khác, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải hướng về Chúa, ý thức về những lời mình nói, những việc mình làm, để những lời nói và việc làm ấy không còn là nhân danh cá nhân, nhưng là nhân danh Chúa Ba Ngôi. Hiểu và sống như thế, chúng ta sẽ thấm đượm chất men Tin Mừng trong mọi hành vi cử chỉ và lời nói của chúng ta.

Xin Chúa cho chúng ta được sống trong dòng sông ân sủng của Ba Ngôi Thiên Chúa, nhờ vậy, đời sống chúng ta sẽ luôn tìm thấy an bình. Sống trong dòng sông này, chúng ta sẽ “như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui” (Tv 131,2).

Về mục lục

MÓN QUÀ GIÊSU

Lm. Jos. DĐH.

Có những món quà được trao ban mà người nhận chỉ việc sử dụng, không phải lăn tăn, cân đo suy nghĩ, đó là tiền của vật chất, nay còn mai hết. Có những món quà mang giá trị cao, đến độ người nhận luôn xem đó như bảo vật, tài sản thiêng liêng, không thể mua bán, trao đổi, vì đó là công sức đầu tư, là sự hy sinh của bậc sinh thành dành cho con cháu, là tình yêu thương vô bờ bến. Phận làm con ai chẳng mong được cha mẹ yêu thương, như trẻ thơ mong “mẹ về chợ”: có quà bánh. Trong tình bạn, có ai lại không mong muốn được chia sẻ, được cảm thông, được giúp nhau, dù tình ấy chưa phải là bạn tâm giao, tri kỷ. Xã hội thời nào cũng vậy: yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai, ghét cả tông ti họ hàng. Dù ta không tham tiền không mê của cải vật chất, không màng danh lợi thú, nhưng vẫn thích được cha mẹ, thầy dạy, tặng quà, nhất là món quà yêu thương.

Trong gia đình, vợ chồng con cháu mỗi người mỗi tính, mỗi sở thích, nhưng các thành viên đều khao khát có được bình an, niềm vui, đó là tình yêu thương, là gia đình có tôn ti trật tự, có trên có dưới, có hiệp nhất trong bầu khí thuận hòa. Xã hội có giai cấp: giầu nghèo, tri thức, bình dân, món “quà Giêsu” ban chung cho nhân loại thật đều và đủ cho mỗi người: “Thiên Chúa không sai Con của Người đến để luận phạt, …”. Món quà Đức Giêsu sẽ không phải là cao siêu hay trừu tượng, vì mắt nhìn thấy, tai nghe được, và trí lòng đủ cảm nhận về ân ban đó: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, để tất cả những ai tin vào Con Ngài thì được sống”. Qua sự hiện diện của Đức Giêsu, nhân loại sẽ được nghe lời giáo huấn về tình yêu của Thiên Chúa, về hoạt động phong phú trong Đức Kitô Đấng cứu độ, hiểu, tin, và sống niềm tin, vẫn là sự tự do mỗi người đón nhận món quà Thiên Chúa ban tốt nhất và đẹp nhất.

Hiện diện trong ngôi thánh đường này, có thể ta chưa hiểu tâm tính, sở thích của nhau, nhưng chúng ta đang tuyên xưng một đức tin, đang hiệp nhất cầu nguyện với nhau và cho nhau. Nếu như bằng trí khôn của mình, người ta biết nên làm việc lành, tránh xa điều xấu, bằng tình cảm tự nhiên người ta biết yêu kẻ yêu mình. Đức Giêsu hôm nay, Ngài hướng chúng ta đến niềm tin, trong một đức tin, một đức ái kitô, người ta sẽ hiểu Thiên Chúa yêu người thánh thiện, yêu cả người tội lỗi. Tin Đức Giêsu và ở trong Đức Giêsu, người ta được mạc khải cho biết Một Thiên Chúa Ba Ngôi quyền năng, nhưng là Thiên Chúa yêu thương.

Quà tặng Thiên Chúa ban là Đức Giêsu, quà tặng Giêsu sẽ thiết thực hay trừu tượng là tùy mỗi người lãnh nhận. Một em bé sẽ thích được bánh kẹo, hơn là được vòng vàng, thích được cái nhìn thiện cảm, hơn là lời hứa khó hiểu về chuyện tương lai ở xa. Với người có niềm tin thì ơn Chúa, tình yêu Chúa, cần thiết hơn, vì có Chúa là có tất cả, có Đức Giêsu trong đời là có đau khổ thập giá, là có bình an ở đời này và hạnh phúc ở đời sau. Làm sao nhân loại có thể cảm nhận đúng, đủ, Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa, nếu Ngài không đến trong thân phận làm người, làm Thầy, và làm Đấng cứu độ. Làm sao ta có thể tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nếu như Ngài từ chối vâng phục thánh ý Chúa Cha chịu hiến tế trên Bàn thờ thập giá ? Làm sao ai có thể hiểu Đức Giêsu là quà tặng, nếu người ấy chưa một lần gặp, chưa hiểu, chưa tin, và chưa mộ mến Ngài và Đại gia đình của Ngài ?

Người ta có kể cầu chuyện về món quà đặc biệt như sau: có một ông thầy tổ chức ngày tổng kết giáo lý cho các em lễ sinh. Các em từng người lên rút món quà cho riêng mình. Có em nhận được cái lược, em khác nhận được chiếc gương soi, em khác nhận được cây bút, em khác nhận được cuốn sách, tất cả đều vui… riêng có một em, sau khi rút trúng món quà, em không vui và ném ngay vào thùng rác. Ông thầy lấy làm ngạc nhiên, và hỏi cho biết lý do, em trả lời tại sao ai cũng có quà, mà quà của em chỉ là trái chuối ? Thầy ân cần giải thích, và thầy sẽ cùng em khám phá món quà mà em vừa bỏ vào thùng rác nhé. Và rồi thầy trò mau chóng phát hiện trong trái chuối có cái bấm móng tay. Quà Giêsu thì nhân loại đều có, còn đón nhận và làm cho món quà trở nên ý nghĩa cho mình, trở nên nguồn an vui hạnh phúc đời đời có phải là tùy mỗi người chúng ta không ?

Theo lý lẽ tự nhiên, không ai đón nhận món quà giá trị mà lại mang cất vào tủ, không ai dám nói món quà Giêsu là tất cả, nếu người đó không đối thoại, không sống những gì họ đã nghe, đã thấy, đã gặp. Món quà Giêsu được ban cho nhân loại, ban cho người bình dân tri thức, ban cho cả người ở gần ở xa, dù là đạo gốc đạo theo. Ai cũng có tự do, có cơ hội, để nhận món quà Giêsu và cùng tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đối tượng nhận quà Giêsu hữu hiệu hơn cả là ai ? chắc không phải là người tài giỏi, nhưng là người biết khiêm tốn để lắng nghe, để biết sống niềm tin theo sứ vụ và ơn ban riêng của mình. Chỉ thế thôi, đơn giản vậy thôi, tin Đức Giêsu và sống niềm tin Đức Giêsu là Thầy là Chúa, là chúng ta đang hiệp thông sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Amen.

Về mục lục

KINH NGUYỆN TRONG THIÊN CHÚA BA NGÔI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan 

Đời sống cầu nguyện thuộc về con người, nhưng sẽ chẳng biết thế nào cầu nguyện cho đúng nghĩa. Con người đầy giới hạn, bởi con người chỉ có thể cầu nguyện với hoặc dâng lên, mà chẳng thể nào cầu nguyện ở trong Thiên Chúa được. Đời sống cầu nguyện của người Kitô hữu có một chiều kích rất đặc biệt, đó là cầu nguyện trong Thiên Chúa Ba Ngôi.

Ngay từ lúc đầu để bắt đầu giờ kinh, người Kitô hữu đã bắt đầu bằng dấu thánh giá “Nhân Danh Cha Và Con Và Thánh Thần”. Ý nghĩa của giờ kinh nguyện đưa người Kitô hữu vào mầu nhiệm tuyên xưng đức tin. Đây là khởi điểm đời sống cầu nguyện khác với các tôn giáo khác.

Cầu nguyện của người Kitô hữu không cầu nguyện với đấng xa lạ hoặc như với đấng vô hình mà cầu nguyện trong Chúa Giêsu và Chúa Giêsu cũng ở trong người Kitô hữu. Đấng hiện diện ở trong con người nên con người không cầu nguyện với đấng ở bên ngoài. Chính Chúa Giêsu dạy người Kitô hữu cầu nguyện “Lời kinh Lạy Cha” và cũng là Đấng ngự bên Chúa Cha cầu nguyện cùng Chúa Cha cho con người: “ Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.” (Ga 17, 15).

Chúa Giêsu cầu nguyện cho con người khi về cùng Chúa Cha trong bản tính Ngôi hai Thiên Chúa, như nhà thần học Romano Guardini nói “Trong Ba Ngôi Thiên Chúa có một con người”. Con người ấy chính là Chúa Giêsu, Người đã sống thân phận của con người, cảm thương đến những nỗi đau khổ, bệnh tật, yếu đuối, muộn phiền của con người. Thánh Phêrô trong thư của ngài cũng bày tỏ: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1 Pr 2,24)

Con người chúng ta cũng chẳng biết sao cầu nguyện cho phải lẽ, người Kitô hữu nhờ đến Chúa Thánh Thần trợ giúp, Thánh Phaolô viết: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi! “Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4, 6 – 7).

Khi thưa lên Abba, Cha ơi!, người Kitô hữu được gọi Thiên Chúa là Cha, nghĩa là được sinh lại trong Chúa Giêsu Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần. Người con ở trong nhà của Cha, người con được thừa hưởng những gì của người con. Cầu nguyện giờ đây không chỉ là cầu xin mà còn với tâm tình tạ ơn của những người con trong Chúa Giêsu nhờ Chúa Thánh Thần. Lòng cảm mến dạt dào được thôi thúc bằng ngọn lửa yêu mến của Chúa Thánh Thần thắp lên trong lòng người Kitô hữu.

Cầu nguyện trong Thiên Chúa Ba Ngôi, người Kitô hữu nghiệm thấy bình an và hoan hỷ trong Thiên Chúa như cảm mến của Mẹ Maria: “linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi vui mừng trong Đấng cứu chuộc tôi” (Lc 1, 46 – 47).

Kinh nguyện trọng tâm nhất của người Kitô hữu là trong Thánh Lễ với cử hành trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Thánh Thần quy tụ, Chúa Thánh Thần chuẩn bị tâm hồn, xưng thú tội lỗi, lắng nghe Lời Chúa Giêsu, áp dụng trong cuộc sống mỗi ngày để trở thành hy lễ trong Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha. Sau cùng hiệp với Chúa Giêsu “Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời muôn thuở”.

Người Kitô hữu cầu nguyện trong Thiên Chúa Ba Ngôi “sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian” (Ga 17, 16), được hưởng nếm Nước Trời, sống trong Chúa và “Chúa sống trong con” (Gal 2, 20) ngay tại thế là niềm vinh phúc. Chúng con tạ ơn Chúa, Chúa ở trong con.

Về mục lục

THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

Bông hồng nhỏ

Biết mình được yêu quả là điều hạnh phúc. Ai trong chúng ta cũng mong muốn mình được yêu thương. Chẳng ai muốn bị người khác ghét bỏ. Được người phàm yêu thương đã là một hạnh phúc. Được Thiên Chúa yêu thương lại là một hạnh phúc vô cùng tuyệt vời, không thể diễn tả hết được. Niềm hạnh phúc được Thiên Chúa ở gần, được nhận biết Ngài và được Ngài yêu thương sẽ mãi là một niềm hạnh phúc tuyệt vời, và niềm hạnh phúc ấy cứ lớn dần thêm mãi khi ta biết mở lòng đón nhận tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là ơn ban của Thiên Chúa.

Trong cuộc trò chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Ga 3, 16). Thánh Gioan trong một lá thư cũng đã khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4, 16). Nếu ta biết mở lòng đón nhận tình yêu của Thiên Chúa thì ta cũng được đón nhận sự hiện diện của chính Thiên Chúa, Người vui thích cư ngụ trong những tâm hồn yêu mến Người; Được ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa, tâm hồn ta sẽ đầy tràn hoan hỷ và bình an. Nếu ta sống trong tình yêu của Thiên Chúa thì khi đến với người khác, ta sẽ trao ban cho họ chính Thiên Chúa, vì Thiên Chúa đang cư ngụ trong tâm hồn ta. Thiên Chúa muốn dùng ta làm khí cụ bình an của Chúa, trở thành món quà tình yêu hữu hình của Thiên Chúa cho mọi người.

 Đứng trước tình yêu bao la của Thiên Chúa, ai cũng sẽ cảm thấy mình thật bất xứng. Người là Đấng cao cả vô song, là Đấng rạng ngời thánh thiện; còn ta là thân cát bụi yếu hèn, thân mang đầy tội lỗi. Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn tỏ lòng thương xót ta. “Người đã yêu ta đến nỗi đã ban Con Một”, đó là món quà quý giá nhất mà ta được nhận lãnh. Người trao ban Con Một là trao ban chính bản thân Người. Chúa Cha và Chúa Con là một. Chúa Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Thánh Phaolô cho biết: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ (Rm 10, 9). Ta không thể chỉ tuyên xưng đức tin ngoài môi miệng nhưng còn phải diễn tả bằng hành động. Như Thiên Chúa đã yêu thương ta trước thì ta cũng hãy yêu thương anh chị em mình. Khi ta yêu thương người anh chị em của mình bằng tình thương của Chúa, yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương ta, chính lúc đó ta được gọi là con cái Chúa. Tình yêu của Người là tình yêu tha thứ đến cùng. “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1 Ga 4, 7), và  “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa (Rm 8, 14). Trong cuộc sống, ta có để cho mình được Thần Khí của Đức Kitô hướng dẫn hay ta đã chặn không cho Thần Khí đến đổi mới tâm hồn ta? Đã bao lần, ta đã ngăn cản sự hoạt động của Ngài trong tâm hồn ta. Đó là khi ta cố tình ở lại trong tội, ở lại trong mặc cảm tội lỗi vì nghĩ rằng mình không xứng đáng được yêu thương. Càng nhận biết mình được yêu thương ta lại càng cảm thấy mình thật đáng chê trách. Tại sao ta từ chối tha thứ cho chính mình? Phải chăng ta không tin tưởng vào lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa, Đấng đã trao nộp chính Con Một của mình vì yêu thương chúng ta, để Người mang lấy tội lỗi của chính ta mà đưa lên cây thập giá? Nhận biết mình tội lỗi là một điều tốt nhưng hãy đặt hy vọng vào Chúa Giêsu Kitô, để từ nơi ta vấp ngã, chính Người sẽ nâng ta lên. Hãy mở lòng ra cho Thần Khí Chúa đến biến đổi tâm hồn ta, Người là Thần Khí sự sống, Người sẽ lấy khỏi mình ta trái tim chai đá mà đặt vào một quả tim biết yêu thương (x. Ed 36, 26). Hãy đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, không phải vì ta xứng đáng nhưng vì Thiên Chúa là Đấng xót thương. Hãy luôn nhớ rằng, Thiên Chúa yêu ta, Chúa Giêsu yêu ta và Thánh Thần hằng đốt lên trong lòng ta ngọn lửa yêu mến.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh! Xin cho con luôn sống yêu thương và mở lòng đón nhận tình yêu của Chúa, để con được lớn lên trong tình yêu, sống vui tươi và hạnh phúc. Để nhờ đó, con biết mang tình yêu của Chúa đến cho những người con gặp gỡ. Amen.

Về mục lục

TUY BA LÀ MỘT

Anna Cỏ May

Là người kitô hữu, chúng ta thường được nghe và ghi nhớ rằng chỉ có một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi hoạt động khác nhau nhưng là Một Thiên Chúa. Sự hoạt động của Ba Ngôi là hiệp nhất liên kết trong nhau. Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chúa Cha yêu thế gian nên đã trao ban Con Một xuống thế làm người để cứu muôn người. Chúa Con sống tâm tình con thảo đã vâng lời Chúa Cha thực hiện ý định tình yêu đó. Ngoài ra, Chúa Con mặc lấy tâm tư của Chúa Cha khi xuống thế làm người là làm cho muôn người nên một trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa (x.Ga 17,11b).

Để chuẩn bị cho Con Một xuống thế gian, Chúa Cha đã sai thiên thần đến gặp trinh nữ tên là Maria, với lời hứa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng tối cao sẽ rợp bóng trên bà (x.Lc 1,35). Lúc sống ở trần gian, mọi hoạt động của Chúa Con đều có sự hiện diện của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Tại sông Giođan, khi chịu phép rửa, Chúa Con vừa ở dưới nước lên thì có Thánh Thần ngự đến và có tiếng từ đám mây phán: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16-17). Cũng trên một ngọn núi cao, Chúa Con biến hình, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. Ngài đàm đạo với ông Môsê và ông Êlia. Sau đó, có tiếng từ đám mây phán: “Đây là con Ta, người đã được ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35). Và tất cả những lời Chúa Con nói là lời xuất phát từ Chúa Cha (x.Ga 14,24).  Trước lúc về trời, Chúa Con xin Chúa Cha ban Đấng Bảo Trợ khác đến với mọi người. Đấng sẽ dạy cho họ mọi điều và sẽ làm cho họ nhớ lại những điều Chúa Con đã nói (x.Ga 14,26). Như vậy cả Ba Ngôi tuy hoạt động khác nhau nhưng cùng hoạt động cho và trong nhau, hiệp nhất với nhau để đem lại ơn cứu độ cho con người. Mọi người nhận biết Chúa Cha nhờ Chúa Con (x.Mt 11,7) và Chúa Con được mặc khải nhờ Chúa Thánh Thần (x.Ga 16,14). Như vậy, dấu chỉ sự hiện diện của Ba Ngôi chính là tình yêu.

Nhờ ân sủng của Bí tích Rửa tội và cử chỉ làm dấu “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, chúng ta được mời gọi tham dự vào sự sống của Ba Ngôi diễm phúc. Liệu chúng ta có ý thức mỗi khi làm dấu Thánh Giá không? Trong lời chào đầu lễ, linh mục đọc: “Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em” (x.2Cr 13,13). Chúng ta có sẵn sàng đón nhận ân sủng ấy không? Trong ngày lễ Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng ta cùng nhau mau chạy đến với Ba Ngôi Thiên Chúa và sốt sắng chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận ân sủng tình yêu của Thiên Chúa, Đấng hằng khao khát chờ đợi mọi người đến và sống cuộc sống trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa. Một cuộc sống chỉ có tình yêu. Nhờ đó, chúng ta mới biết cách yêu người khác và xây dựng gia đình hay cộng đoàn của mình nên giống với gia đình Thiên Chúa.

Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa chí thánh và toàn thiện, xin cho chúng con hằng tin và tôn thờ Ba Ngôi Thiên Chúa uy quyền và vinh hiển trong cuộc sống hằng ngày. Nhờ đó, chúng con thuộc về và được sống trong gia đình của Thiên Chúa ngay từ ở đời này. Amen.

Về mục lục

VỊ THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG VÀ GẦN GŨI

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13, 13).

Đây là lời chào mà thánh Phaolô đã gửi tới các Kitô hữu ở Côrintô trong bài đọc II của đại lễ Ba Ngôi chí thánh. Một lời chào chúc chứa đựng niềm tin Ba Ngôi. Tôi muốn gửi tới mọi người chúng ta chính lời cầu chúc ấy. Quả thật, trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa được nói tới, đó là Chúa Cha (Thiên Chúa), Chúa Con (Đức Giêsu Kitô) và Chúa Thánh Thần.

Đời sống Kitô hữu được diễn ra trong tình yêu quan phòng và sự hiện diện của Ba Ngôi. Từ lúc khởi đầu cuộc sống, chúng ta được rửa tội “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, ” và khi kết thúc cuộc đời, chúng ta cũng ra đi trong lời cầu nguyện: “Con ra đi nhân danh Chúa Cha, Đấng đã tạo dựng nên con, và Chúa Con, Đấng đã cứu chuộc con và Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hóa con.”

Ba Ngôi là cung lòng mà trong đó chúng ta được tác thành, bởi vì Thiên Chúa đã chọn ta trước khi tạo thành vũ trụ để chúng ta được trở nên con cái Người theo hình ảnh của Chúa Con (x. Ep 1, 4), Ba Ngôi là quê hương để tất cả chúng ta phải trở về; Ba Ngôi là “đại dương bình an” mà từ đó tất cả mọi sự phát xuất và đổ về.

Vì thế, Ba Ngôi không phải là một mầu nhiệm xa lạ và không mấy quan trọng đối với đời sống mỗi ngày của chúng ta. Ngược lại, Ba Ngôi là vị Thiên Chúa rất “gần gũi” với mỗi người chúng ta. Quả thật, Ba Ngôi không phải ở ngoài chúng ta, nhưng ở trong chúng ta. Ba Ngôi “cư ngụ trong chúng ta” (x. Ga 14, 23), bởi vì chúng ta là đền thờ của Ba Ngôi.

Vậy tại sao người Kitô hữu tin vào Chúa Ba Ngôi? Tại sao chúng ta lại phải tin rằng có một Thiên Chúa nhưng có ba ngôi vị? Ngày nay, có nhiều người thích gạt sang một bên mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, để có thể đối thoại tốt hơn với Do Thái Giáo và Hồi Giáo là những người tuyên xưng đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất.

Câu trả lời là: các Kitô hữu tin rằng Thiên Chúa là có Ba Ngôi, bởi vì chúng ta được Chúa Giêsu mạc khải rằng “Thiên Chúa là tình yêu” (x. 1 Ga 4, 8). Đây là mạc khải đến từ Thiên Chúa nên buộc chúng ta phải đón nhận và tin vào Ba Ngôi. Chứ không phải là một phát minh của con người. Thiên Chúa của Kitô giáo không phải là một khái niệm, một ý tưởng như các nhà triết gia đã hình dung và trình bày, nhưng là một Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị rõ ràng, phân biệt nhưng hiệp nhất với nhau như một cộng đoàn. Đức Giêsu đến mạc khải cho chúng ta biết về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Bởi vì, Thiên Chúa là tình yêu. Kinh Thánh nói như thế. Rõ ràng nếu là tình yêu, Thiên Chúa phải có ai đó để yêu. Không có tình yêu nếu không có ai đó để yêu và được yêu. Nếu Thiên Chúa chỉ yêu mình thì không thể định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu. Bởi vì yêu mình thì không phải là tình yêu, nhưng là sự ích kỷ hay ái kỷ (narcissism). Tình yêu đích thực thì luôn hướng về người khác.

Và đây là câu trả lời của mạc khải Kitô giáo và Giáo Hội đã đón nhận và giải thích. Thiên Chúa là tình yêu trước khi có thời gian, vũ trụ và loài người, bởi vì từ đời đời Chúa Cha đã có Chúa Con, Ngôi Lời, Đấng mà Người hằng yêu mến bằng một tình yêu vô biên, đó là Chúa Thánh Thần. Trong tình yêu thần linh luôn có ba thực tại hay ba đối tượng: Đấng yêu thương, Đấng được yêu và là Tình Yêu hiệp nhất các Ngôi Vị nên một.

Thiên Chúa Kitô giáo là “một” và là “ba” nhờ sự hiệp thông của tình yêu. Trong tình yêu, các Ngôi Vị hòa hợp với nhau trong hiệp nhất và khác biệt; tình yêu tạo nên sự hiệp nhất trong khác biệt: hiệp nhất về ý hướng, tư tưởng, ước muốn; khác biệt về chủ thể, tính cách, vai trò hay theo phạm vi nhân loại, khác biệt giới tính.
Thần học dùng hạn từ “bản tính” (natura) để chỉ sự hiệp nhất của Thiên Chúa và hạn từ “ngôi vị” (persona) để chỉ về sự phân biệt trong Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị. Giáo huấn Kitô giáo không phải là một sự biến dạng, hay một sự hòa trộn giữa độc thần và đa thần. Ngược lại, đây là một bước tiến mới mẻ mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm cho chúng ta biết về Người.

Mặt khác, giáo huấn này giúp chúng ta chống lại sự mâu thuẫn sâu xa của chủ nghĩa vô thần hiện đại. Theo Karl Mark và nói chung theo tất cả những người vô thần hiện đại, Thiên Chúa không là gì khác ngoài sự phỏng chiếu của con người. Như một nhà tư tưởng vô thần nọ cho rằng: không phải Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh mình, nhưng chính con người đã tạo dựng Thiên Chúa theo hình ảnh con người. Giống như hình ảnh của một người bị thay đổi khi soi mình trên mặt nước của một dòng sông.

Có lẽ họ có lý khi nói những điều này, bởi lẽ, con người hôm nay đã tạo ra vị thiên chúa theo ý muốn và sở thích của mình. Nhưng đây không phải là Thiên Chúa của Kitô giáo. Con người không nghĩ ra mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Con người cũng không thể phóng chiếu hình ảnh mình thành Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng đây là giáo huấn được Chúa Giêsu mạc khải cho con người biết. Nên tự thân mầu nhiệm này là liều thuốc giải độc tốt nhất cho chủ nghĩa vô thần hiện đại.

Chúng ta rút ra một số bài học áp dụng từ việc chiêm ngắm mầu nhiệm này. Trước hết, Ba Ngôi là khuôn mẫu cho mỗi cộng đoàn nhận loại, bắt đầu từ cộng đoàn nhỏ bé và cơ bản, là gia đình, rồi tới cộng đoàn lớn hơn là Giáo Hội hoàn vũ. Chúng ta thấy có điều rất đặc biệt mà một gia đình có thể học từ khuôn mẫu Chúa Ba Ngôi. Nếu chúng ta chăm chú đọc Tân Ước, nơi mà Ba Ngôi được mạc khải, chúng ta thấy một quy luật sống. Mỗi Ngôi Vị trong Ba Ngôi thần linh không hề nói về mình nhưng là nói về Ngôi khác, không lôi kéo sự chú ý về mình, nhưng là hướng về Ngôi Vị khác.

Quả thế, trong Tin Mừng, mỗi lần Thiên Chúa Cha nói thường là để mạc khải điều gì đó về Chúa Con: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9, 7b); hoặc: “Ta đã tôn vinh danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (Ga 12, 28). Đến lượt mình, Chúa Giêsu không làm gì khác ngoài việc nói về Chúa Cha. Chúa Thánh Thần cũng vậy, khi ngự trong lòng các tín hữu, Người không bắt đầu với việc tôn xưng danh của mình. Tên của Người trong tiếng Do Thái là Ruah. Nhưng Người không dạy chúng ta xưng rằng: Ruah! Ngược lại Người dạy chúng ta thưa “Ápba – Cha ơi, ” đó là tên của Chúa Cha và Người dạy chúng ta cầu xin Maranatha, đó là một lời cầu xin trực tiếp tới Chúa Kitô để nói rằng “Lạy Chúa, xin hãy đến!”

Từ những suy nghĩ này, chúng ta có thể áp dụng cách sống đó vào trong đời sống gia đình. Người cha không còn lo lắng nhiều để khẳng định quyền bính của mình, người mẹ cũng thế. Người mẹ trước khi dạy cho người con thơ mình gọi mẹ ơi, thì hãy dạy cho nó gọi cha ơi. Đó là quy luật của tình yêu! Đức Maria đã sống như thế để hoàn thiện chính mình. Khi lo lắng cho Chúa Giêsu, sau khi tìm thấy con mình trong đền thờ, Mẹ nói với Chúa: “Cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con” (Lc 2, 48b). Ngài đã đặt nỗi lo lắng của chồng trước nỗi lo lắng của mình. “Cha con và mẹ” chứ không phải “mẹ và cha con.”

Xem ra đây là một điều rất nhỏ bé nhưng nếu chúng ta áp dụng, nó có thể thay đổi rất nhiều đời sống của các gia đình và các cộng đoàn! Chúng trở thành sự phản chiếu về Ba Ngôi trên trái đất, khi mà lề tình yêu hướng dẫn mọi sự. Khi mỗi người hướng về người khác, tôn trọng và coi người khác hơn mình, cũng như biết hiến mình phục vụ người khác. Khi đó những thiên đàng nhỏ trên trái đất sẽ xuất hiện.

Ba Ngôi đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc sống. Có một dấu chỉ nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện này và giúp chúng ta đặt mình liên hệ với Ba Ngôi đó là dấu thánh giá. Khi ghi dấu thánh giá trên mình, chúng ta tưởng nhớ cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Kitô, chúng ta đọc: “Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, ” chúng ta tuyên xưng Ba Ngôi. Chúng ta phải khám phá vẻ đẹp và sự hiệu quả của cử chỉ nhỏ bé này. Mỗi lần chúng ta làm dấu thánh giá sốt sắng, có ý thức, chúng ta phó thác cho Ba Ngôi, cầu xin Ba Ngôi bảo vệ chúng ta để chống lại những kẻ thù bên trong và bên ngoài, chúng ta làm sống động niềm tin. Những phép lạ và nhiều ơn lành thường xảy ra với việc làm dấu thánh giá. Và nhiều người làm dấu thánh giá để ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa như các cầu thủ bóng đá thường làm.

Như thế, thật là đẹp đẽ và ý nghĩa khi thấy một người cha hay một người mẹ dạy cho con mình làm dấu thánh giá. Đó là dấu sẽ bảo vệ và gìn giữ con cái khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta hãy kết thúc và hãy làm dấu thánh giá để tuyên xưng Ba Ngôi: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen!”

Về mục lục

CHÚA BA NGÔI NỐI KẾT TIN YÊU

Lm. Nguyễn Xuân Trường

Đạo Công Giáo tin một Thiên Chúa duy nhất nhưng lại có 3 ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Chúa Ba Ngôi là một màu nhiệm mặc dù rất cao siêu, nhưng cũng rất gần gũi. Gần gũi vì người Công Giáo từ trẻ tới già ngày nào cũng nhiều lần làm dấu thánh giá, đó là lúc chúng ta tuyên xưng màu nhiệm Chúa Ba Ngôi không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng cả cử chỉ vẽ hình thánh giá lên chính thân thể chúng ta: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Màu nhiệm Chúa Ba Ngôi gần gũi nữa bởi vì đã kết nối Thiên Chúa với con người, kết nối trời cao với đất thấp như lời Phúc Âm công bố: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban tặng Con Một, để ai tin vào Con của Người thì được sống muôn đời.” Thế nên, tin Chúa Ba Ngôi là sống mối liên hệ yêu thương gần gũi mật thiết với Chúa.

Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu ấy không chỉ nội tại trong 3 ngôi Thiên Chúa, nhưng tình yêu ấy đã mở rộng ra với nhân loại, với vũ trụ. Vì quá yêu thương nhân loại nên Chúa đã tặng ban Con Một, đó là món quà vĩ đại nhất, quý giá nhất. Và Con Chúa lại trao ban cả mạng sống để cứu độ nhân loại. Sự trao ban trọn vẹn của Thiên Chúa đã làm nên định luật của tình yêu, đó là: yêu nhau luôn muốn tặng quà cho nhau. Khi yêu hết mình thì trao tặng tất cả.

Quà tặng được trao ban thì cũng rất cần có người đón nhận. Thiên Chúa đã rộng lòng ban tặng Con của Ngài cho chúng ta. Và chúng ta cần mở lòng ra để đón nhận Ngài vào lòng dạ mình, vào cuộc đời mình, vào gia đình mình. Được như thế, Chúa sẽ biến đổi chúng ta trở thành quà tặng đem niềm vui hạnh phúc cho nhau. Và điều kỳ diệu của tình yêu là khi tặng quà người ta không thấy mất mà lại thấy được chan chứa niềm vui hạnh phúc.

Như thế, tin yêu Chúa Ba Ngôi là chúng ta hân hoan sống mối liên hệ yêu thương thân thiết với Chúa và với nhau, để trở nên quà tặng dâng lên Chúa và trao cho nhau. Amen.

Về mục lục

BA NGÔI THIÊN CHÚA NGỌN LỬA TÌNH YÊU

 Lm Jos Tạ duy Tuyền

Xã hội chúng ta đang sống đó là xã hội tự cách ly giữa người với người. Chẳng cần đại dịch thì con người cũng đã cách ly nhau bởi giầu và nghèo. Quan và dân. Trí thức và dân quê. Nước phát triển và nước chậm phát triển. Tư bản và xã hội . . . Xã hội mà kỳ thị, phân loại thì tình yêu cũng tính toán, đôi khi chẳng còn tình người mà chỉ còn tranh giành, đấu đá và loại trừ.

Đây là xã hội mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II nói là “văn hoá sự chết”. Người ta có thể giết chết bào thai để bảo vệ quyền lợi “người lớn”. Người ta có thể phá hủy môi sinh để gia tăng lợi tức. Người ta có thể nín sinh để được thong thả hơn. Người ta có thể hạ sát đồng loại như những anh đồ tể giết lợn chẳng chút run tay. Và rồi con người đã phải trả giá quá đắt khi môi trường sống đã bị con người phá huỷ gây nên dịch bệnh, thiên tai và lũ lụt… Và biết bao băng đảng giang hồ bảo kê, đòi nợ gây nên bao hoang mang cho người dân. Đây là dấu chỉ cho một xã hội đói khát tình yêu chân thật, vì dường như mọi tương quan giữa con ngừơi đều đặt lợi nhuận lên trên hàng đầu.

Ở những nước phát triển người ta đề cao đời sống cá nhân hơn là cộng đoàn. Ngay trong gia đình nhưng chẳng mấy khi gặp nhau. Mỗi người mỗi việc. Mỗi người một phòng khi về nhà. Thế nên, không còn cảm thông, không còn liên hệ. Mỗi người đang tình nguyện trở thành một đảo hoang xa cách, mỗi người một phòng và không ai được vào với danh nghĩa là tôn trọng quyền “riêng tư”.

Lịch sử con người đã chứng minh nếu con người sống riêng lẻ sẽ bị huỷ diệt vì  sự dữ luôn rình chờ xung quanh. Loài người thuở hồng hoang luôn sống theo bộ tộc để bảo vệ lẫn nhau. Rất may cho loài người  từ khi tìm ra lửa đã giúp con người ra khỏi chốn riêng tư để mỗi đêm quây quần với nhau bên ánh lửa. Họ chia nhau trong nom lửa, giữ lửa để nhờ ánh lửa xua tan sự dữ mang lại bình an cho con người.

Trong đức tin ky-tô giáo còn mời gọi chúng ta tiếp nhận ánh lửa từ trời để phá tan bóng tối sự dữ cho nhân gian. Ánh lửa ấy xuất phát từ chính Thiên Chúa là gốc rễ Tình Yêu như Kinh Thánh đã tỏ lộ. Chúa Ba Ngôi là Cha, và Con và Thánh Thần biểu hiện thành một cộng đồng tình yêu, đã chia sẻ sự sống ấy qua công trình sáng tạo vũ trụ và con người. Sự sống của vạn vật đều xuất phát từ Ba Ngôi Thiên Chúa nên cần phải quy hướng về Ngài để Ngài che chở bao bọc, và gìn giữ khỏi mọi hiểm nguy.

Lễ Chúa Ba Ngôi mời gọi người tín hữu hãy ra khỏi chính mình để hiệp nhất với nhau bên ngọn lửa tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì căn bản của tình yêu là  ra khỏi chính mình, là cho đi, là hy sinh quên mình. Thiên Chúa đã thể hiện tình yêu ấy nơi Chúa Giêsu. Vì thế, đón nhận Chúa Giêsu là lãnh được chất lửa này làm sinh lực chuyển lửa. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời.” (Gioan 3:16)

Tin vào tình yêu của Chúa thì hãy để Chúa bao bọc chở che con người chúng ta bằng tình yêu quan phòng của Ngài. Đồng thời, hãy tiếp tục san sẻ tình yêu ấy cho những người lân cận của mình. Thế giới hôm nay đang lạnh giá vì thiếu tình yêu và sự sum vầy. Con người tự cách ly nhau nên luôn bị cái lạnh đe doạ sự sống. Người cần tình thương chưa hẳn là người ăn xin  ngoài đường phố mà là những người đang ở trong nhà mình, có thể là chính mình nữa, vì vẫn có thể lạnh vì cô đơn và bị loại trừ.

Thế nên, hãy ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình để sống trong sự hiệp nhất với cộng đoàn. Và hãy ra khỏi chính mình để sống yêu thương người bên cạnh của chúng ta. Vì:

Dẫu xây chín bậc phù đồ

Chẳng bằng làm phúc cứu cho một người.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống hiệp nhất với nhau trong tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa và xin cho chúng ta biết gìn giữ ngọn lửa yêu thương của Thiên Chúa để toả sáng tình yêu và hy vọng cho thế gian.  Amen

Về mục lục

TÌNH YÊU THIÊN CHÚA VÔ BIÊN

 Lm Trần Ngà

Người đời có nhiều cách cho:

Cho của thừa

Khi có nhóm từ thiện đến gõ cửa xin quà cho người nghèo, chị A mang ra nhiều áo quần cũ cả ba năm nay không đụng tới để làm quà tặng. Cho như thế là cho thứ dư thừa; chỉ có chút ít tình thương trong hành vi đó.

Cho thứ cần dùng

Ông B là người cao tuổi, góa vợ, không con, gia thế thanh bần, kiếm sống qua ngày bằng cách bán vé số dạo. Thế nhưng vì thấy đứa bé nhà hàng xóm quá nghèo, phải cuốc bộ đến trường mỗi ngày cả chục cây số, ông trút hết tiền dành dụm để dưỡng già, đem mua xe đạp điện tặng cho đứa bé, với hy vọng nó sẽ đỡ vất vả, nắng nôi.

Cần phải có nhiều tình yêu thương hơn mới có thể thực hiện được nghĩa cử cao đẹp nầy.

Cho thứ tối cần

Trong những ngày qua, báo chí Việt Nam đưa tin nam phi công người Anh, 43 tuổi, không còn cha mẹ, chưa lập gia đình, bị nhiễm Covid-19 rất nặng. Hội đồng y khoa tham gia điều trị cho biết anh hiện đang trong tình trạng nguy kịch, phổi không hoạt động và cần phải cấy ghép phổi thì mới có cơ may sống sót.

Khi tin này được loan đi, tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2020, có đến 50 người Việt Nam có sức khỏe tốt, tình nguyện hiến một phần lá phổi của mình để cứu mạng sống anh.

Dám để cho bác sĩ cắt bớt một phần phổi của mình để hiến tặng người không quen biết nhằm cứu sống anh ta, là một nghĩa cử hào hiệp và rất giàu tình yêu thương. Phải có tình thương rất lớn lao mới có thể thực hiện được hành vi tốt lành và cao đẹp này.

Trao ban là thước đo của tình yêu: Ai cho nhiều, chứng tỏ người đó yêu mến nhiều; ai cho ít, chứng tỏ yêu mến ít ; ai đem những gì rất cần thiết cho bản thân mình để tặng ban cho người khác, thì tình yêu của người đó quả là lớn lao.

Thiên Chúa yêu thương con người vô hạn vì đã trao ban Con Một cho thế gian

Loài người đã phạm tội và chiếu theo luật thì phải gánh lấy hậu quả của tội là chịu án phạt đời đời trong hỏa ngục.

Nhưng nếu để cho loài người phải sa hỏa ngục đời đời vì tội lỗi của họ thì tội nghiệp cho loài người quá đỗi và Thiên Chúa cũng đau xót vô cùng.

Do đó, Thiên Chúa Cha quyết định cho Con Một của Ngài xuống thế làm người, không phải để lên án hay xét xử thế gian, không phải để trừng trị người phạm tội, nhưng là để cứu muôn người khỏi chết và cho họ được sống đời đời.

Chính Chúa Giê-su đã xác nhận điều này khi nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian” (Ga 3, 17).

Để cứu muôn người khỏi phải sa hỏa ngục đời đời, Chúa Giê-su phải mang lấy tội lỗi của họ vào thân và một khi đã mang lấy tội lỗi loài người, Chúa Giê-su phải gánh chịu những hậu quả do những tội lỗi đó gây ra. Vì thế, Ngài phải chịu phạt và chịu chết thay cho muôn người.

Thế là, nhờ Chúa Giê-su chịu khổ nạn mà con người được tha thứ, nhờ Ngài chịu chết mà muôn người được cứu sống.

Thiên Chúa Cha đã yêu thế gian đến nỗi đã cho Con Một Ngài chịu chết đau thương để đền tội cho muôn dân, để cho ta được thoát khỏi án phạt đời đời trong hỏa ngục và được sống hạnh phúc hoan lạc trên thiên đàng. Điều này chứng tỏ tình thương Chúa dành cho chúng ta quả là vô bờ vô bến.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa là Đấng tạo hóa quyền năng, vô cùng lớn lao, cao cả, là Đấng thánh thiện, tốt lành không thể nào tả xiết; còn chúng con là loại thụ tạo hèn kém, bé nhỏ, chẳng đáng gì trước mặt Chúa.

Thế mà vì yêu thương chúng con, Đấng vô cùng cao cả đã hiến thân chết thay cho loài người bé mọn. Thương đến mức chịu chết thay cho người khác là tình thương vô bờ, vô biên…

Xin cho chúng con nhận ra tình thương cao vời đó, để quyết tâm sống đẹp lòng Chúa và cố gắng đền đáp phần nào tình Chúa yêu thương chúng con.

Về mục lục

GIA ĐÌNH CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Bosco Dương Trung Tín

  “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2Cor 13,13).

   Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng kính lễ Chúa Ba Ngôi.

  Trong Giáo Hội, Thiên Chúa Ba Ngôi là một tín điều, có nghĩa là toàn thể các tín hữu công giáo đều phải tin. Vậy tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi là gì?

   Theo sách Giáo Lý Công Giáo thì “Ba Ngôi là một. Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có BA NGÔI: Ba Ngôi đồng bản thể. Các Ngôi Vị Thiên Chúa không chia nhau một thiên tính duy nhất, nhưng mỗi vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn. Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy. Chúa Con là gì thì Chúa Cha là thế ấy và Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy. Nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính. Mỗi Ngôi Vị là thực tại đó nghĩa là bản thể, yếu tính, bản tính đó” (x.GLCG, số 253).

   Đó là Đức Tin Công Giáo của chúng ta. “Đức Tin Công Giáo hệ tại điều này: Thờ kính Một Chúa Ba Ngôi và Ba Ngôi Một Chúa mà không lẫn lộn giữa các Ngôi Vị, không chia cắt bản thể. Vì Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần khác biệt nhau, nhưng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần có cùng một thiên tính, một vinh quang, một uy quyền vĩnh cửu” (x.GLCG, số 266).

    Nói tóm, Thiên Chúa của chúng ta là Cha, Con và Thánh Thần. Nếu nói Thiên Chúa của chúng ta là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, thì nói rõ ràng ràng Cha là CHÚA. Con cũng là CHÚA và THánh Thần cũng là CHÚA, nhưng dễ làm cho chúng ta hiểu lầm là có 3 CHÚA.

   Không. Đức tin của người Công Giáo chúng ta là chỉ có Một CHÚA, nhưng là BA NGÔI. Ba Ngôi khác biệt nhau nhưng không tách biệt. Khác biệt nhau về NGÔI VỊ, nhưng không tách biệt nhau về THIÊN TÍNH.

   Ngày xưa, khi làm dấu, người Công Giáo chúng ta đọc: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. A-men”. Biểu thức này không thấy từ CHÚA. Bây giờ thì “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. A-men”. Biểu thức này lại dễ gây hiểu lầm là có 3 CHÚA.

   Để khỏi hiểu lầm và đầy đủ, chúng ta có thể đọc thế này chăng? “Nhân danh Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần. A-men”. Hay “Nhân danh Thiên Chúa là Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. A-men”. (Một suy tư cá nhân tôi).

   Trong tiếng la-tinh : “In nómine Patris, et Fí-li-i et Spí-ri-tus Sancti. Amen”.

   Trong tiếng Pháp : “Au Nom du Père et du Fils et du Saint-Esprit. A-men”.

  Trong tiếng Anh : “In the name of the Father, and of the Son and of the Holy Spirit. A-men”.

  Trong tiếng Tay ban nha : “En el nombre del Padre y del Hijo y del Espiritu Santo. Amén.

  Trong tiếng Nhật : “Chichi to Ko to Seirei no mi Na ni yotte. A-men”.

  Chúng ta thấy trong các ngôn ngữ nước ngoài không có từ CHÚA hay Thiên Chúa hoặc Ngôi. Ngay cả trong tiếng La- tinh, cũng không thấy.

   Theo thánh Phao-lô, Cha là Thiên Chúa, Thiên Chúa của tình thương. Con là Thiên Chúa, Thiên Chúa của ân sủng và Thánh Thần là Thiên Chúa, Thiên Chúa của sự hiệp nhất. Có thể nói đó là “gia đình” của Thiên Chúa.  Cũng như trong một gia đình, có BỐ, Mẹ và Con cái vậy.

   Mỗi người tín hữu Công Giáo chúng ta : Nhờ ân sủng bí tích Thanh Tẩy “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, chúng ta được mời gọi chia sẻ sự sống của Ba Ngôi diễm phúc, ở trần thế này trong bóng tối của đức tin và sau khi chết trong ánh sáng vĩnh cửu.(x. GLCG, số 265).

   Vậy, hôm nay trong khi mừng kính lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy tin và tuyên xưng tín điều Một Chúa Ba Ngôi. Đồng thời, ca ngợi, tôn vinh và thờ lạy Một Thiên Chúa Ba Ngôi mà thôi. Có như thế, từ bây giờ và mãi mãi, chúng ta sẽ sống trong tình thương của Thiên Chúa Cha, trong ân sủng của Chúa Con và trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần.

Về mục lục

THIÊN CHÚA LÀ CHÚA YÊU THƯƠNG

Lm.Jos Đỗ Đức Trí

Có lẽ trên thế gian này, khi so sánh tình yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại thì không có hình ảnh nào có thể diễn tả hết, ngoài hình ảnh của cha mẹ dành cho con cái. Mặc dù tình yêu của cha mẹ dành cho con cái cũng còn rất nhiều giới hạn, nhưng tình yêu đó vẫn là một tình yêu lớn lao, quảng đại không tính toán. Nhiều người khi thấy những sự bất công trong cuộc sống, đã đặt câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa không tiêu diệt hết sự ác trên thế giới này? Tại sao Thiên Chúa không trừng phát người gian ác? Những câu hỏi như thế chỉ có thể trả lời là: Vì Thiên Chúa là Cha, Ngài yêu thương những kẻ đau khổ và còn yêu cả kẻ gây ra đau khổ cho người khác, vì họ cũng là con của Ngài. Người khác lại đặt câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại để dịch bệnh kéo dài như thế mà Thiên Chúa vẫn không ra tay ngăn chặn? Thiên Chúa vẫn đang cùng với các y bác sĩ và những người có trách nhiệm ngăn chặn đại dịch, Thiên Chúa còn cho thấy qua đại dịch này, mọi người có thể nhìn thấy được những tấm gương hy sinh quên mình vì các bệnh nhân.
Chúng ta biết rằng màu nhiệm Một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là màu nhiệm chính yếu trong đạo của chúng ta. Với trí khôn nhỏ bé, hạn hẹp của con người, chúng ta sẽ mãi mãi chẳng bao giờ có thể hiểu hết về màu nhiệm Thiên Chúa. Và nếu, chúng ta có thể hiểu hết về Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ không còn phải là Thiên Chúa vô biên vô hạn nữa. Mừng lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, giáo Hội không giải thích về màu nhiệm này, nhưng qua các bài đọc, Lời Chúa cho chúng ta thấy rằng: Thiên Chúa là Cha nhân hậu, Ngài chậm giận và giàu lòng thương xót đối với mọi người mọi loài.
Sách Xuất hành đã kể lại rằng: Ông Mose đã trung thành vâng theo lệnh Chúa, dẫn dắt dân Israel ra khỏi đất Aicập. Ông chính là Người được nhìn thấy Thiên Chúa qua hình ảnh bụi gai bốc cháy, ông nhiều lần được trò chuyện với Thiên Chúa qua đám mây, nhưng chưa bao giờ ông được nhìn thấy mặt Thiên Chúa. Vì thế, ông bày tỏ khao khát của ông, cũng là khao khát của thụ tạo: Lạy Chúa Tôi đã tin Chúa theo Chúa, đã trung thành với lệnh truyền của Thiên Chúa, tôi chỉ còn khao khát một điều làm tôi mãn nguyện, đó là cho tôi được nhìn thấy mặt của Chúa. Thiên Chúa đã đáp lại lời khẩn xin của Mose, Ngài đặt ông vào một hốc đá, ngài lấy tay che mặt ông, và đi ngang qua ông. Khi Thiên Chúa bỏ tay ra thì Mose chỉ nhìn thấy phía sau lưng của Thiên Chúa. Lúc Thiên Chúa ngự xuống trên đám mây và đi ngang qua ông, Thiên Chúa đã xưng danh Người là: Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và lòng thành tín. Ông Mose nghe thấy thế thì sấp mình xuống đất mà thờ lạy.
Thiên Chúa không để cho con người nhìn thấy dung nhan Ngài, nhưng lại cho thấy trái tim và tấm lòng của Ngài đối với con người. Thiên Chúa không muốn con người suy luận về Ngài bằng trí óc, nhưng đón nhận Ngài bằng việc nhìn thấy những điều tốt lành Ngài đã thực hiện và suy phục Ngài bằng trái tim yêu mến và thái độ tôn thờ. Điều Thiên Chúa mong chờ nơi con người, là đáp lại tình thương của Thiên Chúa bằng việc hoàn toàn suy phục, tin tưởng và trung thành để cho Ngài dẫn dắt. Qua dòng lịch sử, Thiên Chúa luôn cho thấy, Ngài là một vị Thiên Chúa luôn trunh thành với lời đã hứa, luôn yêu thương chăm lo cho con người như cha mẹ yêu thương con cái và gần gũi thân thiết với con người như người thầy, người bạn.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu, Đấng từ nơi Thiên Chúa Cha mà đến, đã nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa. Qua câu chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu nói với ông rằng: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời. Với khẳng định này, Chúa Giêsu cũng không mô tả về Thiên Chúa, nhưng chỉ cho thấy hành động yêu thương của Thiên Chúa là Cha, Ngài không tiếc gì với nhân loại. Khi thấy con người sai đường lạc lối, đi vào chỗ chết, Thiên Chúa không nỡ thấy con người phải đau khổ trong sự chết dưới bàn tay ma quỷ, Ngài đã trao tặng chính Con Một của Ngài cho nhân loại. Người Con ấy là Chúa Giêsu, là hiện thân tình yêu của Thiên Chúa đến ở với nhân loại, yêu thương và phục vụ nhân loại và cuối cùng là chấp nhận cái chết trong thân phận con người để cứu chuộc nhân loại.
Chúa Giêsu đến trần gian với nhân loại, Ngài đã thể hiện tình yêu của Thiên Chúa như một một người thầy, người bạn. Ngài đã chia sẻ đến tận cùng thân phận con người với nhân loại: cùng vui, cùng buồn, cùng chịu đau khổ, nếm mùi thành công và thất bại, được yêu thương và bị loại trừ, cuối cùng Ngài chết vì nhân loại và chết thay cho nhân loại. Ngài yêu con người đến tận cùng bằng việc chấp nhận cái chết thập giá, biến cây thập giá trở thành biểu tượng của tình yêu đến cùng mà Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã chỗi dậy từ cõi chết để đem lại cho nhân loại sự sống mới của Ngài. Từ đây, nhân loại nhờ tin vào Chúa Giêsu sẽ không phải chết đời đời, nhưng được chia sẻ vào sự sống của Chúa Giêsu thông ban. Sau khi hoàn tất sứ mạng cứu độ, Ngài được vinh thăng về trời để tiếp tục dùng quyền năng để bảo vệ và yêu thương nhân loại.
Thiên Chúa không thể ngừng tuôn đổ tình yêu của Ngài cho con người, Ngài lại tiếp tục ban Chúa Thánh Thần đến với nhân loại và ở cùng nhân loại cho đến ngày tân thế. Chúa Thánh Thần là Đấng Ban Sự Sống đã đến với thế giới và hoạt động cách mạnh mẽ trong Giáo Hội. Ngài giúp cho mỗi người nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã dạy và ban sức mạnh giúp họ có thể bước theo lời răn dạy của Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội, Ngài là vị Thầy Khôn Ngoan, Ngài soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội cũng như các tín hữu vượt qua những lúc thăng trầm và thử thách. Ngài như ngọn gió thổi vào cánh buồm của con thuyền giáo Hội, đưa Giáo Hội lên đường ra khơi để loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu cho thế giới.
Mừng lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta xin Chúa gia tăng đức tin để chúng ta xác tín cách chắc chắn và phó thác cuộc đời chúng ta cho Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa Cha vì công trình tạo dựng, cách riêng Ngài đã tạo dựng và mời gọi chúng ta bước vào thế gian này, để được nhận biết Chúa là Cha và được sự yêu thương của Ngài. Chúng ta cảm tạ Chúa Giêsu Kitô vì công trình cứu chuộc Ngài đã thực hiện vì yêu thương nhân loại. Tạ ơn Đức Giêsu vì Ngài chính là Thiên Chúa đã đến để đồng lao cộng khổ với con người, dùng cái chết và sự phục sinh để cứu chuộc con người. Chúng ta cảm tạ Chúa Thánh Thần vì nguồn ơn dồi dào ta đã lãnh nhận được từ Thánh Thần: Ơn Sức mạnh, ơn Khôn Ngoan, ơn Hiểu Biết… và đầy tràn các ơn khác nữa mà Chúa Thánh Thần đã ban tặng để hương dẫn dạy dỗ chúng ta.
Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi sống và tuyên xưng màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong đời sống thương ngày và gia đình. Mỗi khi chúng ta làm dấu thánh giá trên mình là chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, vì thế, xin cho chúng ta làm dấu thánh giá với sự sốt sắng, ý thức và mạnh dạn tuyên xưng Thiên Chúa của chúng ta trước mặt người đời. Khi chúng ta sống đức tin, đức cậy, đức mến một cách trọn vẹn và chăm chỉ, là chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi đang sống và đang hoạt động trong cuộc đời chúng ta.
Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là lý thuyết tôn giáo hay thần học, mà thực sự là vị Thiên Chúa đang hoạt động trong cuộc đời và gia đình chúng ta. Chính gia đình mỗi người được tạo dựng và thiết lập theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi chúng ta sống và thể hiện tình yêu thương hiệp thông, xây dựng gia đình thành một cộng đoàn đạo đức hạnh phúc là chúng ta đang diễn tả màu nhiện Ba Ngôi Thiên Chúa cách sống động và cụ thể bằng đời sống. Nơi gia đình mỗi thành viên luôn nghĩ đến nhau, yêu thương nhau, quan tâm và hi sinh cho nhau là chúng ta đang thể hiện những đặc tính nơi màu nhiệm Thiên Chúa.
Xin Thiên Chúa Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần luôn ở trong các gia đình và chúc lành cho các gia đình và mỗi người chúng ta. Amen.

Về mục lục

SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI_A

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Chúa Nhật đầu tiên sau lễ Ngũ Tuần được liên kết khá sớm với việc cử hành lễ Chúa Ba Ngôi. Lễ tôn vinh Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được cử hành vào thế kỷ thứ bảy. Lễ này dần dần được xem như một ngày lễ đặc biệt trong lịch phụng vụ. Kể từ thế kỷ thứ mười, có khá nhiều nhà thờ cử hành thánh lễ này một cách long trọng. Vào năm 1334, Đức Giáo Hoàng Gioan XXII chuẩn nhận việc cử hành này ở Rô-ma và mở rộng đến Giáo hội hoàn vũ.

Xh 34: 4-6, 8-9

Bài Đọc I là đoạn trích dẫn nổi tiếng từ sách Xuất Hành, trong đó Thiên Chúa mặc khải cho ông Mô-sê Danh của Ngài: “Đức Chúa”, và định nghĩa chính mình: “Thiên Chúa từ bi nhân hậu, nhẫn nại, giàu ân nghĩa và thành tín”.

2Cr 13: 11-13

Đây là Phần Kết thư thứ hai của thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô. Phần Kết này chứa đựng một trong những công thức Chúa Ba Ngôi chính xác nhất của toàn bộ Tân Ước.

Ga 3: 16-18

Đoạn trích Tin Mừng Gioan hôm nay gợi lên tình yêu của Chúa Cha, Đấng trao ban Con của Ngài cho nhân loại để họ được sống đời đời. Ở nơi sự tuôn tràn tình yêu hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trên toàn thể nhân loại, Giáo Hội nhận ra cách thức diễn tả Chúa Thánh Thần.

BÀI ĐỌC I (Xh 34: 4-6, 8-9)

Sách Xuất Hành thuật lại cuộc ra khỏi đất Ai-cập và thời kỳ đầu tiên dân Do thái hành trình trong hoang địa. Biến cố này được định vị có lẽ vào thế kỷ 13 tCn. Nhưng bài trình thuật cũng ghi lại kinh nghiệm tôn giáo của một dân tộc, kinh nghiệm duy nhất mà vị lãnh đạo của dân, ông Mô-sê, người mà Thiên Chúa đã mặc khải Danh Ngài, được thụ hưởng trước tiên.

Sách Xuất Hành tường thuật đến ba lần mặc khải Danh Thiên Chúa này, và mỗi một lần, từ những nguồn khác nhau. Người ta biết rằng ba chứng liệu cốt yếu làm nên nền tảng của sách Xuất Hành cũng như Ngũ Thư: chứng liệu Gia-vít (Thiên Chúa được gọi Gia-vê), chứng liệu Ê-lô-hít (Thiên Chúa được gọi Ê-lô-him) và chứng liệu Tư Tế (Thiên Chúa cũng được gọi Ê-lô-him).

Thiên Chúa mặc khải Danh Ngài cho ông Mô-sê lần thứ nhất vào lúc Ngài trao phó cho ông sứ mạng giải phóng dân Do thái khỏi ách Ai-cập, theo trình thuật Ê-lô-hít (Xh 3: 14-15); lần thứ hai sau cuộc thất bại của ông Mô-sê khi hội kiến với Pha-ra-on, theo trình thuật Tư Tế (Xh 6: 2-5); lần thứ ba ở nơi bản văn mà chúng ta đọc vào Lễ Ba Ngôi hôm nay, theo trình thuật Gia-vít. Tác giả chỉ long trọng nhắc lại Danh Thiên Chúa là “Gia-vê”, bởi vì ông đã luôn luôn gọi Thiên Chúa dưới danh xưng này trước đây rồi, nhưng ông mang đến cho mặc khải cảm động này những phẩm tính của chính Hữu Thể thần linh, Ngài là một vị Chúa rất mực yêu thương, hay tha thứ và giàu lòng nhân hậu.

  1. Thần Hiển trên núi

“Khi ấy, ông Mô-sê dậy sớm và lên núi Xi-nai theo lệnh Chúa đã truyền cho ông; ông mang hai bia đá trong tay”. Trước đây, ông Mô-sê đã lên núi Xi-nai và đã lãnh nhận ở đó hai tấm bia đá ghi khắc Lề Luật rồi. Nhưng trong lúc xuống núi, ông đã đau đớn đến sửng sốt khi nhìn thấy cảnh tượng dân Do thái múa hát chung quanh “con bê bằng vàng” và xưng tụng nó như vị thần linh đã giải thoát mình khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập. Tức giận, ông đã ném vỡ hai tấm bia Lề Luật (Xh 32: 19).

Chương 34, mà bài trình thuật hôm nay được trích dẫn, mô tả việc tái lập Giao Ước. Những chi tiết của bài trình thuật này mang dấu ấn của tác giả Gia-vít. Cũng chính tác giả này trong sách Sáng Thế trình bày Đức Chúa “đi dạo với hai ông bà nguyên tổ trong vườn lúc gió chiều hiu hiu thổi” (St 3: 8). Cũng chính ông trong bài trình thuật hôm nay mô tả “Chúa ngự xuống trong đám mây”, đám mây chiếu sáng này vừa báo hiệu nhưng đồng thời vừa che phủ sự hiện diện của Thiên Chúa. Qua hình ảnh này, tác giả diễn tả sự gần gũi thân tình của Thiên Chúa, nhưng đồng thời sự siêu việt khôn tả của Ngài. Và cũng chính ông trong bài trình thuật hôm nay mô tả Thiên Chúa “đứng đó với ông Mô-sê” theo cùng cung cách thân mật như Ngài đã đứng gần bên A-đam và nói chuyện với ông. Hoạt cảnh của cuộc Thần Hiển vừa giản dị vừa uy nghi hùng vĩ.

  1. Danh Thiên Chúa

“Người xưng danh Người là Gia-vê”. Danh Thiên Chúa là “Gia-vê” được diễn tả bởi bốn phụ âm thánh: YHWH. Danh này khá bí ẩn đến nổi người ta có thể kết luận rằngThiên Chúa không thực sự trao ban Danh Ngài. Lại càng không nữa, vì theo não trạng Sê-mít, tên chính là người mang tên ấy, biết tên của một vị thần linh, chính là có quyền điều khiển vị thần linh mang tên đó theo ý muốn của mình. Thiên Chúa không thể trao phó chính mình vào trong tay con người. Như thế, danh bí ẩn này muốn nói rằng Thiên Chúa là một mầu nhiệm khôn tả. Dù thế nào, Thiên Chúa định vị mình như Hữu Thể siêu việt, độc lập tuyệt đối, không hư vô như các ngẫu tượng, Ngài tự hữu.

Vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, dân Do thái có thói quen không xướng danh Gia-vê để tôn kính Thiên Chúa. Danh này được thay thế bằng một tước hiệu cao quý khác theo tiếng Do thái: “Adonai”, hay theo tiếng Hy lạp: “Kurios”. Bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, vì muốn gìn giữ sự tôn kính danh Thiên Chúa theo văn hóa dân Do thái, đã thay thế danh Thiên Chúa này bằng danh xưng “Đức Chúa”.

  1. Thiên Chúa từ bi nhân hậu, nhẫn nại, giàu ân nghĩa và thành tín

Dù danh Thiên Chúa được hiểu như thế nào, thì Thiên Chúa cũng tự giới thiệu mình cho ông Mô-sê ngay liền sau đó: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa từ bi nhân hậu, nhẫn nại, giàu ân nghĩa và thành tín”. Trong ngữ cảnh trực tiếp, qua lời giới thiệu này, Thiên Chúa muốn nói với ông Môsê là Ngài tha thứ cho dân Ngài tội bội giáo mà việc thờ lạy con bê vàng là chứng cớ hiển nhiên. Trong ngữ cảnh chung của Kinh Thánh, mặc khải này được ghi khắc như cải chính hình ảnh của một Thiên Chúa đáng sợ và thù hằn. Mặc khải này loan báo những sứ điệp của các đại ngôn sứ và giáo huấn của sách Đệ Nhị Luật về lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Mặc khải này đánh dấu một trong những đỉnh cao của Cựu Ước.

  1. Lời cầu bầu của ông Mô-sê

Ông Mô-sê là người trung gian giữa Thiên Chúa chí thánh và một dân tội lỗi. Trước nỗi xao xuyến của ông Mô-sê về tội lỗi của dân mình, Thiên Chúa đáp trả bằng cách nêu ra lòng từ bi nhân hậu của Ngài. Như được yên lòng, ông Mô-sê tin tưởng nhưng khiêm hạ nói lên lời cầu bầu của mình.

Lời cầu bầu này thật có ‎ý nghĩa trong bối cảnh vừa mới xảy ra trước đây: dân Do thái, khốn khổ vì khát, đã than trách và ngờ vực: “Có Đức Chúa ở giữa chúng tôi không?” (Xh 17: 7) và những kẻ dựng tượng bò vàng là muốn “có một vị thần minh mà họ thấy được dẫn đầu họ” (Xh 32: 23). Vì thế, phải chăng Thiên Chúa của dân Ít-ra-en quá siêu việt đến nỗi phải thay thế Ngài bằng một ngẫu tượng vật chất để mà dân có thể cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa? Vì thế, ông Mô-sê bạo dạn khẩn nguyện cùng Chúa: “Lạy Chúa, nếu quả tôi được nghĩa với Chúa, thì dám xin Chúa cùng đi đường với chúng tôi. Dân này là một dân cứng cổ, nhưng xin tha thứ tội tình lầm lỗi chúng tôi, và nhận chúng tôi làm dân riêng của Ngài”. Đó là tất cả ‎ý nghĩa của Giao Ước Xi-nai. Đó cũng sẽ là Giao Ước Mới.

BÀI ĐỌC II (2Cr 13: 11-13)

Thư thứ hai của thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô có lẽ được viết vào cuối năm 56 hay 57. Đoạn trích dẫn hôm nay là Phần Kết thúc của thư này.

  1. Những lời khích lệ

Thánh Phao-lô thông thường kết thúc các thư của mình với những lời khích lệ. Cũng vậy, trong lời kết của bức thư này, thánh nhân mời gọi họ hãy vui mừng và nỗ lực hoàn thiện bản thân mình, tiếp đó hãy đồng tâm nhất trí với nhau và ăn ở hòa thuận. Lời khuyên bảo này ám chỉ cách kín đáo đến những chia rẽ trước đây của cộng đoàn Cô-rin-tô, giờ đây mọi việc đã qua rồi.

“Anh em hãy hôn chào nhau một cách thánh thiện”. Đó là dấu chỉ của tình bạn. Lời khuyên của thánh nhân thường đem lại cho nụ hôn huynh đệ này tất cả ý nghĩa của nó (x. 1Th 5: 26; 1Cr 16: 20; Rm 16: 16). Tiếp đó, “Tất cả tín hữu ở đây gửi lời chào anh em”. Các tín hữu này là cộng đồng Ki-tô hữu mà thánh Phao-lô viết bức thư này gửi cho họ khi thánh nhân ở Trô-a hay đúng hơn, ở Ma-xê-đô-ni-a.

  1. Lời chúc kết thư

Lời chúc kết thư được diễn tả bởi biểu thức Ba Ngôi, một trong những biểu thức Ba Ngôi rõ nét nhất trong toàn bộ Tân Ước: “Xin chúc toàn thể anh em được đầy ân sủng của Đức Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Chúa Cha, và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần.” Lời cầu chúc này có thể bắt nguồn phụng vụ, điều này làm chứng cho tính cổ xưa của nó.

Kể từ cuộc canh tân phụng vụ, chính với lời chào này mà linh mục tiếp đón các tín hữu ở đầu Thánh Lễ: “Nguyện xin ân sủng của Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh em”. Biểu thức cổ xưa đơn giản là biểu thức mà vị linh mục công bố khi làm dấu Thánh Giá: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Biểu thức này cũng là Ba Ngôi nhưng không nhất thiết đón tiếp Cộng Đoàn.

TIN MỪNG (Ga 3: 16-18)

Đoạn trích Tin Mừng Gioan vào Lễ Ba Ngôi hôm nay là phần cuối cuộc đối thoại của Đức Giê-su với ông Ni-cô-đê-mô, một người Biệt Phái có thế giá đến gặp gỡ Đức Giê-su vào ban đêm.

  1. Tiến trình đức tin

Thiết tưởng chúng ta nên nhắc lại phần đầu. Ông Ni-cô đê-mô là một người Biệt Phái thế giá có thiện cảm với Đức Giê-su. Ông đến gặp gỡ Đức Giê-su để được hiểu thêm nữa về Ngài, nhưng lại đến vào ban đêm vì ông sợ giai cấp lãnh Do thái dị nghị về mình. Trong cuộc gặp gỡ đó, Đức Giê-su không úp mở nói thẳng với ông về những khó khăn để tin. Chúng ta lưu ‎ý‎ rằng thánh Gioan không bao giờ dùng danh từ “niềm tin” theo cách trừu tượng và ở trạng thái tỉnh, nhưng luôn luôn dùng động từ “tin”, hàm chứa một chuyển động đầy tính năng động gắn bó keo sơn bền chặc: phải tái sinh “từ trên cao” và đặt mình dưới hơi thở của Thần Khí (3: 7); phải nhận ra nguồn gốc thần linh của “Con Người” và chấp nhận “sự siêu thăng của Ngài” trên thập giá (3: 13-14). Một tiến trình đức tin như thế được Thần Khí dẫn đưa vào trong mầu nhiệm tình yêu.

  1. Tình yêu của Chúa Cha

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người”. Việc khai triển ở đây phải chăng vẫn còn thuộc vào bài diễn từ của Đức Giê-su hay trình bày những suy tư cá nhân của tác giả Tin Mừng? Giả thuyết thứ hai xem ra đúng hơn. Chủ đề và từ ngữ gần với Tựa Ngôn của sách Tin Mừng cũng như thư thứ nhất của thánh Gioan.

Từ ngữ “thế gian” trong Tin Mừng Gioan thường có ‎ý nghĩa tiêu cực để chỉ những con cái của bóng tối tìm cách chống lại chương trình cứu độ của Thiên Chúa; nhưng rõ ràng đó không là trường hợp của đoạn Tin Mừng hôm nay. Ở đây, thế gian chỉ toàn thể nhân loại mà Thiên Chúa yêu thương đến mức đã sai Con của Ngài đến“để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Đây là lời khẳng định về tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với nhân loại và chiều kích phổ quát của ơn cứu độ.

Tình yêu bao la của Chúa Cha đối với nhân loại được nhấn mạnh qua cách diễn tả: “Ngài đã ban Con Một của Ngài”. Thánh Gioan là tác giả Tin Mừng duy nhất dùng danh xưng “Con Một” (hai lần trong Tựa Ngôn Tin Mừng 1: 16 và 18, hai lần trong đọan văn này: 3: 16, 18, và được lặp lại trong thư thứ nhất: 1Ga 4: 6.). Danh xưng này gợi ra tức khắc I-xa-ác, người con một rất mực thiết thân của ông Áp-ra-ham. Trong câu chuyện của sách Sáng Thế (22: 1-14), chính người cha đã đích thân dẫn đứa con duy nhất của mình đến cái chết (St 22: 1-14), trong đó, nỗi đau thầm lặng của người cha chỉ gợi ý. Cũng như trong bài trình thuật Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan chỉ nói bóng gió nỗi đau tận đáy lòng của Chúa Cha, Đấng trao nộp Con Một của Ngài vào tay con người cho đến tận cái chết, như lời khẳng định của thánh Phao-lô: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8: 32), và sau này Giáo Phụ Ô-ri-giê-nê nhận định: “Cuộc Tử Nạn của Chúa Cha là cuộc tử nạn của tình yêu”.

  1. Đấng Cứu Độ chứ không là vị Thẩm Phán

“Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ”. Truyền thống Do thái dự kiến rằng Đấng Thiên Sai đến là Đấng Thiên Sai-Thẩm Phán, tức là kỷ nguyên thiên sai khai mở thời Chung Thẩm. Chính thánh Gioan Tẩy Giả đã mạnh mẽ nhắc lại điều này: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa… Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẩm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3: 10 và 12).

Thần học Tin Mừng Gioan thì hoàn toàn khác. Một mặt, thánh k‎ý đặt ưu tiên hành động cứu độ của Đức Giê-su; mặt khác, nội tâm hóa việc xét xử. Đức Kitô đã đến với tư cách là Đấng Cứu Độ chứ không là Thẩm Phán: Ngài dẫn đưa con người đến “sự sống đời đời”. Sự sống đời đời, theo Tin Mừng Gioan, không chỉ là cuộc sống tương lai trong một thế giới sắp đến, nhưng còn được dự phần vào sự sống Thiên Chúa ngay từ thế giới hiện nay.

  1. Chiều kích nội tâm của việc xét xử

Ý định Thiên Chúa cứu độ con người không thể nào được thực hiện nếu không có sự đồng thuận của con người. Chính họ phải chọn lựa: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi”.

Lời cảnh báo được gửi đến với hết mọi người, nhưng mạch văn của chương 3 này, như mạch văn của chương 2, hướng tư tưởng về tấm thảm kịch của sự chọn lựa được đặt ra cho nhóm Biệt Phái cũng như cho mọi người Do thái khi đối mặt với sự hiện diện của Đức Giê-su, giáo huấn của Người và những dấu chỉ mà Người ban làm chứng Ngài được Chúa Cha sai đến. Nếu cương quyết không chịu tin, nhất mực từ chối ánh sáng, thái độ này sẽ kết án những ai chọn lựa như vậy. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt Tin Mừng thứ tư được dệt nên bằng sự căng thẳng này.

  1. Khía cạnh Ba Ngôi

Chúng ta có thể ngạc nhiên về việc chọn lựa bản văn này vào Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngôi thứ nhất (Chúa Cha) và Ngôi thứ hai (Chúa Con) được nêu tên ở đây, nhưng Ngôi thứ ba (Chúa Thánh Thần) xem ra không thấy nói đến. Thật ra, tác giả Tin Mừng tô thật đậm tình yêu của Chúa Cha và tình yêu của Chúa Con tuôn tràn trên nhân loại. Chính ở nơi tình yêu tròn đầy giữa Cha và Con mà Giáo Hội nhận ra cách thức diễn tả Chúa Thánh Thần, “Đấng nhiệm xuất từ Cha và Con”. Chúa Thánh Thần là Đấng thông truyền và khuếch trương Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con đối với nhân loại.

Về mục lục

 

THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Nói đến Chúa Ba Ngôi là chúng ta nói đến đời sống nội tại của chính Thiên Chúa. Thật vậy, khi cử hành các mầu nhiệm khác như Giáng sinh, Phục sinh, là chúng ta tôn vinh những điều Chúa đã làm vì yêu thương con người; còn khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, là chúng ta tìm hiểu và suy tư xem Chúa là ai và Ngài như thế nào. Lý trí con người hữu hạn, nên chỉ có thể suy tư về Chúa, dựa trên những kinh nghiệm trần gian. Chúng ta có thể hiểu  phần nào về Chúa Ba Ngôi, từ những lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Trong cuộc đàm đạo với ông Nicôđêmô, một thành viên của Công nghị Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Người là Đấng Thiên Sai. Việc Người đến trần gian là bằng chứng về tình yêu Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa yêu thế gian. Vì thế Ngài đã tạo dựng thế gian và sai Con của Ngài đến cứu thế gian (Bài Tin Mừng).
 
Lòng yêu thương của Chúa cũng là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Cựu ước. Vì tình yêu thương, Ngài đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Ngài đã chăm sóc họ như một người cha. Ngài bao dung tha thứ khi họ lỗi lầm. Qua trung gian ông Môisen, Ngài còn ban cho họ lề luật để giúp họ sống theo đường ngay nẻo chính (Bài đọc I). Tất cả những gì Chúa đã làm trong lịch sử là bằng chứng tình yêu thương vô bờ của Ngài.
 
Lời Chúa Giêsu trong Ga 3,16 được coi như tóm lược toàn bộ nội dung của Tin Mừng Thánh Gioan. Bởi lẽ nó diễn tả chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua Đức Giêsu Kitô. Câu Tin Mừng này cũng diễn tả cho chúng ta đời sống phong phú nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Khác với giáo lý của Do Thái giáo và của Hồi giáo, cũng là hai tôn giáo độc thần, Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi mà duy nhất. Đó là sự duy nhất không đơn độc. Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về Chúa Cha, là Đấng đã sai Người đến thế gian. Chúa Giêsu cũng nói về Chúa Thánh Thần, là Thần Chân Lý, sẽ đến để tiếp tục công việc Người đã khởi đầu, tức là hướng dẫn Giáo Hội để Giáo Hội loan báo giáo huấn của Chúa Giêsu. Tất cả những hoạt động của Thiên Chúa, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đều xuất phát từ tình yêu của Ngài đối với thế gian.
 
Khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ nhắc nhớ chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Phụng vụ cũng nhắc nhớ chúng ta, Thiên Chúa Ba Ngôi là đích điểm của đời sống Kitô hữu. Điều đó có nghĩa, nếu chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu và tuân giữ lời Người, chúng ta sẽ được hòa mình vào dòng chảy hiệp thông của Chúa Ba Ngôi, ngay khi chúng ta còn sống ở đời này. Đó cũng là bảo đảm chắc chắn rằng, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Ba Ngôi trong hạnh phúc vĩnh cửu, như lời Chúa Giêsu đã hứa.
 
Lời chào của thánh Phaolô đối với cộng đoàn tín hữu Côrinhtô (Bài đọc II) đã diễn tả những điều kỳ diệu thiêng liêng của Giáo Hội: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em”. Lời chào này đã trở thành công thức mở đầu thánh lễ. Là thành viên của Giáo Hội, mỗi người tín hữu đang sống trong ân sủng của Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Cha và trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Chúa Ba Ngôi. Nhờ đó, cuộc sống của chúng ta không còn buồn chán thất vọng hay lầm lạc tội lỗi. Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lý thuyết xa vời, nhưng rất cụ thể trong đời sống chúng ta, gần gũi với chúng ta như hơi thở, nước uống, khí trời và những nhu cầu khác. Thánh Phaolô cũng nói đến điều kiện để được Chúa Ba Ngôi che chở, đó là luôn đồng tâm nhất trí và hòa thuận với nhau. Một cộng đoàn được liên kết bằng mối giây yêu thương sẽ có Chúa Ba Ngôi hiện diện. Hơn nữa, chính Chúa Ba Ngôi là mối dây yêu thương này.
 
“Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Mỗi ngày, chúng ta làm dấu thánh giá nhiều lần, mà ít khi ý thức đây là lời tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đây cũng là một lời cầu nguyện ngắn. Dấu thánh giá vừa nhắc cho chúng ta: Thiên Chúa yêu thương thế gian; vừa mời gọi chúng ta: hãy nhân danh Chúa Ba Ngôi trong mọi hành xử, suy nghĩ, nói năng và trọn vẹn cuộc đời. Nếu thực sự “nhân danh Chúa Ba Ngôi” trong cuộc sống, chúng ta sẽ tiến dần tới sự hoàn thiện, nhờ đó, sự thánh thiện của Chúa tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA TÌNH YÊU

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Một bạn trẻ hỏi tôi: “Thưa Cha, tại sao đạo Phật khi xây chùa thì chọn những nơi rừng núi thâm u, xa hẳn thị thành, còn đạo Công Giáo khi xây nhà thờ lại chọn những nơi dân cư đông đúc, phồn hoa đô hội?” Tôi trả lời: “Bạn quả là có con mắt nhận xét. Việc xây cất chùa chiền, nhà thờ như vậy, thực ra, phát xuất từ quan niệm nền tảng của đạo. Đạo Phật là đạo xuất thế. Đức Phật vì thấy những cảnh khổ ở đời trong sinh, lão, bệnh, tử nên đã tìm môt con đường mong giải thoát chính mình và nhân loại khỏi cảnh khổ não ở đời. Vì thế Ngài đã từ giã cung đình, rũ sạch bụi trần, xa lánh phồn hoa. Trái lại đạo Công Giáo là đạo nhập thế. Thiên Chúa thấy con người trầm luân khổ ải nên chạnh lòng thương, đã sai Con Một là Chúa Giêsu xuống trần để cứu độ chúng sinh. Chúa Giêsu xuống trần không chỉ là nhập thế, mà còn hoá thân một người nghèo sống giữa người nghèo, người tội lỗi để đưa mọi người về với Chúa, đó là nhập thể. Có thể nói đạo Công Giáo diễn tả việc Thiên Chúa đi tìm con người.

Thiên Chúa đi tìm con người vì Thiên Chúa yêu thương con người. Không yêu thương thì chẳng việc gì phải đi tìm. Đi tìm tức là có quan tâm. Xa vắng thì nhớ. Thấy khổ vì thương. Vì thương, vì yêu nên phải cất bước đi tìm.

Không phải Thiên Chúa chỉ yêu thương khi con người gặp đau khổ. Thực ra Thiên Chúa đã yêu thương con người từ trước, từ khi chưa có con người. Vì Thiên Chúa là tình yêu thương.

Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu thì không thể sống đơn độc nên phải có Ba Ngôi. Vì yêu thương không chỉ là cho đi nhưng còn là nhận lãnh. Muốn cho đi, phải có đối tượng để nhận lãnh. Muốn nhận lãnh cũng đòi phải có người sẵn sàng cho đi. Vì Thiên Chúa là tình yêu, nên Thiên Chúa là Ba Ngôi để có thể cho đi và nhận lãnh.

Thiên Chúa là tình yêu tuyệt hảo nên sự cho đi và nhận lãnh ở nơi Ba Ngôi Thiên Chúa cũng đạt đến mức tuyệt hảo. Thiên Chúa Cha trao ban cho Chúa Con tất cả những gì mình có, nên Chúa Con là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha, đến nỗi Chúa Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha Thầy, Thầy và Cha là một”. Vì yêu, Chúa con dâng lại cho Chúa tất cả những gì mình nhận lãnh. Việc hiến dâng này ta thấy rõ trong thái độ khiêm tốn, tự hạ, vâng phục vô biên của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha. Chúa Giêsu đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Chúa Giêsu đã quả quyết: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu”. Và Người đã vì Chúa Cha mà hiến mạng sống.

Thiên Chúa là tình yêu tuyệt đối. Tình yêu ấy không chỉ đóng kín nơi bản thân mình. Cũng không chỉ dừng lại ở một đối tượng hạn hẹp. Nhưng vượt mọi ranh giới, lan toả đến mọi góc biển chân trời. Ba Ngôi Thiên Chúa là một bầu trời tình yêu hạnh phúc. Nhưng tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa không chỉ thu gọn trong cộng đoàn Ba Ngôi, mà lan toả đến khắp vũ trụ, ấp ủ cả thế giới, nâng niu cả sinh linh vạn vật. Ba Ngôi là một lò lửa tình yêu. Lò lửa tinh luyện tình yêu càng ngày càng phong phú, là nguồn mạch của mọi tình yêu trên đời.

Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi như thế không xa vời. Trái lại rất gần gũi, thiết thân với đời sống chúng ta, là nguồn mạch sự sống của ta, là khuôn mẫu ta phải noi theo, là cùng đích ta phải đạt tới.

Ta ra đời là do tình yêu của Thiên Chúa. Có thể nói nhân loại là kết tinh của tình yêu Thiên Chúa. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã nói: “Ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh Ta”. Thiên Chúa là tình yêu. Con người giống Thiên Chúa vì có trái tim biết yêu thương. Cây cỏ không có trái tim biết yêu thương. Cầm thú không có khả năng yêu thương. Chỉ có con người mới có khả năng yêu thương vì con người giống Thiên Chúa.

Nhưng tình yêu ở nơi con người chưa hoàn hảo vì còn chen lẫn nhiều ích kỷ, hận thù, ghen ghét. Vì thế con người còn phải thanh luyện cho tình yêu ngày càng thêm tinh tuyền, thêm quảng đại, thêm phong phú. Càng yêu thương con người càng nên giống Thiên Chúa. Càng quảng đại con người càng gần với trái tim Thiên Chúa. Càng quên mình con người càng tham dự vào sự sống Thiên Chúa.

Được sinh ra trong tình yêu nên con người phải sống bằng tình yêu. Như thế con người mới sống trọn định mệnh đời mình. Như thế con người mới đạt được cùng đích đời mình là sống hạnh phúc trong tình yêu muôn đời của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, là nguồn mạch tình yêu, là sự sống sung mãn, là thiên đàng hạnh phúc, con đã được sinh ra trong tình yêu của Chúa. Xin cho con biết sống tình yêu hy sinh theo gương Chúa Giêsu Kitô, để con được kết hợp với Chúa, sống chan hoà hạnh phúc trong tình yêu muôn đời của Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Thiên Chúa là tình yêu. Bạn cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa thế nào?

2) Bạn có là hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa chưa?

3) Bạn làm gì để sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi?

Về mục lục

.

TÌNH YÊU BẤT TỬ

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Tình yêu luôn bất tử. Nó tồn tại mãi bởi tình yêu luôn đẹp về tình người, về hy sinh, về dâng hiến. Tình yêu càng nhiều hy sinh thì tự bản chất nó sẽ vĩnh cửu vì người đời luôn tán dương, ca tụng. Tình yêu càng giầu về tình người càng bất diệt vì muôn thế hệ sẽ truyền tụng nhau về một tình yêu cao đẹp tuyệt vời.

Có một câu chuyện xảy ra ở một bệnh viện nhỏ ở vùng quê hẻo lánh. Ở khoa hóa trị có một phụ nữ trẻ đang trong giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư. Tuy luôn bị những cơn đau hành hạ nhưng những khi chồng cô tới thăm, mắt cô luôn rạng ngời hạnh phúc.

Hằng ngày người chồng mang đến cho cô những bó hoa tươi thắm cùng nụ cười rạng rỡ, anh đến bên giường nắm lấy tay cô và trò chuyện. Những lúc quá đau đớn, cô khóc và trở nên cáu gắt, anh ôm chặt cô vào lòng, an ủi động viên cho đến khi cơn đau dịu đi. Anh luôn bên cô mỗi khi cô cần, anh giúp cô uống từng ngụm nước và không quên vuốt nhẹ đôi chân mày của cô.

Cho đến khi căn bệnh muốn cướp lấy sinh mạng cô. Người bác sĩ bước vào phòng  thấy người  chồng vẫn ngồi bên cô mỉm cười nói: “Cho đến bây giờ món quà tuyệt vời nhất tôi dành cho cô ấy chính là tình yêu của tôi”.

Và người chồng đã cất lên bài hát “Beautiful brown eyes”. Sau đó anh đã nói với bác sĩ trong nước mắt: “Tôi đã hát bài này mỗi đêm cho cô ấy nghe kể từ ngày chúng tôi quen nhau. Mọi ngày tôi vẫn thường cố giữ cho giọng mình thật nhỏ để khỏi làm phiền bệnh nhân khác. Và tôi chắc rằng đêm nay trên thiên đường cô ấy cũng vẫn nghe tôi hát. Tôi xin lỗi đã quấy rầy mọi người. Tôi chỉ không biết sống ra sao khi thiếu vắng cô ấy, nhưng mỗi đêm tôi vẫn tiếp tục hát. Bác sĩ có nghĩ rằng cô ấy nghe thấy tiếng tôi không?”.

Tình yêu của họ trở thành bất tử khi họ cùng chăm sóc nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Họ nắm tay nhau khi hạnh phúc và cả khi gặp đau khổ bủa vây. Họ vẫn tiếp tục ở bên nhau dầu âm dương tách biệt.

Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Ngài vẫn trường tồn vượt mọi thời gian. Qua mỗi thời đại, Thiên Chúa luôn bày tỏ tình yêu của mình xuống cho nhân loại với cách thế khác nhau. Tình yếu ấy luôn thủy chung, sắt son cho dù con người có quay lưng nhưng tình yêu ngài vẫn trường tồn dành cho con người.

Hôm nay mừng lễ Chúa Ba Ngôi, là dịp để chúng ta tạ ơn tình thương của Chúa vẫn luôn bao phủ trên cuộc đời chúng ta. Chúa cho chúng ta được sinh ra làm người  và làm con cái Thiên Chúa. Chúa luôn quan phòng gìn giữ chở che cuộc đời chúng ta “như con ngươi  trong mắt Ngài”. Chúa biết rõ từng cuộc đời chúng ta như mục tử biết từng con chiên. Chúa vẫn ngàn đời tín trung với tình yêu ban đầu, vì cho dầu “như người cha người mẹ có bỏ con cái, còn Ta cũng không bao giờ bỏ các ngươi”. Tình thương đó Chúa muốn mời gọi chúng ta đón nhận với lòng tri ân và cũng biết trao lại tình yêu đó cho tha nhân. Vâng, có lẽ, điều Chúa muốn nơi chúng ta chính là hãy hoạ lại chân dung tình yêu của Chúa cho anh em. Vì con người là “hoạ ảnh của Chúa”, nên con người phải biết sống yêu thương. Yêu thương sẽ làm chúng ta giống Chúa hơn. Yêu thương sẽ giúp chúng ta sống hoàn thiện con người mình hơn. Chính tình yêu phục vụ tha nhân sẽ là cách chúng ta đáp đền tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.

Nguyện xin Chúa Ba Ngôi là suối nguồn tình yêu dẫn chúng ta đi sâu vào huyền nhiệm tình yêu của Chúa để chính chúng ta cũng biết thở ra hơi ấm tình thương cho anh em của mình. Xin cho chúng ta biết ghi dấu ấn muôn đời nơi thế gian khi biết sống hết mình yêu thương như Chúa đã yêu. Amen.

Về mục lục

.

NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta long trọng cử hành lễ Thiên Chúa Ba Ngôi Rất Thánh, giúp chúng ta nhận biết và tôn thờ Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể và uy quyền bằng nhau. Chúa Cha là Thiên Chúa độc nhất. Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con tự đời đời như một Nguyên lý duy nhất, Ba Ngôi nhưng là Một Thiên Chúa.

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần hòa quyện vào nhau một cách hoàn hảo trong Tình Yêu và hành động, cùng tác động trên thế giới. Đây là Một trong những mầu nhiệm cao cả nhất của đức tin chúng ta. Mục đích của Giáo hội muốn rằng, sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống chúng ta phải đi loan báo Thiên Chúa thật cho mọi người, không kể là Do thái hay dân ngoại, cho họ biết Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa Ba Ngôi hiệp nhất trong Tình Yêu và ca lên : « Chúc tụng Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, vì Người hằng thương xót chúng ta » ( Ca nhập lễ).

Một trong những mầu nhiệm người tín hữu phải tin cho được rỗi linh hồn là mầu nhiệm Một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi. Nhưng làm sao chúng ta có thể diễn tả hay thấu hiểu về Thiên Chúa Ba Ngôi này. Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thực của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Tự sức trí khôn con người là không thể. Phải nại đến Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, qua Ngài mầu nhiệm Thiên Chúa được vén mở, nhờ Người mà chúng ta biết có Một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần.

Thánh Augustinô viết : « Thiên Chúa là một mầu nhiệm mà con người không thể nào thấu hiểu được ».

Đúng, Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm vĩ đại, sâu thẳm, chúng ta không thể nào diễn tả được. Trí tuệ và miệng lưỡi con người không tài nào giải thích được những mối tương quan giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; tuy nhiên các giáo phụ đã tìm cách diễn tả nội dung chính yếu này và một trong những cách đó là Dấu Thánh Giá : Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Thường ngày, chúng ta làm Dấu Thánh Giá rất nhiều lần, khởi đầu ngày mới cho đến khi đi ngủ, bước vào nhà thờ cho đến lúc nhận lãnh phép lành, trước và sau khi ăn, khi đi ngang qua Thánh Giá, vườn thánh, trước cơn cám dỗ nguy hiểm … Như vậy, Dấu Thánh Giá bao trùm toàn thể xác và linh hồn; tất cả con người ta được thánh hiến nhân danh Một Chúa Ba Ngôi. Vì thế, Dấu Thánh Giá gói ghém lời tuyên xưng đức tin và nền tảng cầu nguyện của chúng ta.

Dấu Thánh Giá là dấu kẻ có Đạo.

Đức Giêsu đến trần gian nhằm cứu chuộc chúng ta, Người đã chết trên Thánh Giá để trao ban sự sống cho chúng ta. Chính nhờ hy tế của Người trên Thánh Giá mà chúng ta là những người « kitô hữu », nghĩa là thuộc về Đức Kitô. Dấu Thánh Giá là dấu chỉ người kitô hữu. Chính nhờ dấu này mà chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, đã đến thế gian để cứu chuộc chúng ta.

Trong năm Phụng vụ, có hai thời điểm giúp người kitô hữu ý thức về giá trị của Dấu Thánh Giá.

– Mùa Phục Sinh chỉ cho ra rằng chúng ta được cứu chuộc nhờ cây Thánh Giá.

– Lễ Chúa Ba Ngôi, giúp chúng ta tuyên xưng Một Chúa Ba Ngôi.

Dấu Thánh Giá là dấu của người chịu phép Rửa tội, người thuộc về Chúa. Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta được « vẽ » và « ghi » dấu Thánh Giá. Dấu này bề ngoài không thể thấy được, nhưng in trong tâm hồn người kitô hữu. Đồng thời cũng là hành động Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

Hành động Đức Tin

Dấu Thánh Giá tóm lược Ba Mầu Nhiệm Cả trong Đạo Công giáo.

1 – Chúng ta vẽ Dấu Thánh Giá trên mình, vì Chúa Giêsu đã mặc lấy thân xác người phàm đến để cứu chuộc ta. Đây là mầu nhiệm Nhập Thể.

2 – Dấu Thánh Giá nhắc lại rằng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã chết trên Thánh Giá để cứu chuộc chúng ta. Đây là mầu nhiệm Cứu Chuộc. Thánh Giá là chiến thắng của Đức Giêsu trên sự dữ và ma quỉ. Chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa nhờ hy tế của Chúa Giêsu trên Thánh.

3 – Dấu mà chúng ta vẽ trên mình kèm theo lời đọc : « Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần ». Chúng ta khẳng định mầu định Thiên Chúa Ba Ngôi.

Hiểu như thế sẽ giúp chúng ta làm dấu Thánh giá nghiêm túc hơn.

Hành động của Đức Cậy.

Niềm hy vọng của chúng ta là về Trời như các thánh đã ái mộ những sự trên Trời. Chính vì Đức Giêsu đã đến trần gian để cứu độ chúng ta, nên chúng ta có thể về Trời. Khi vẽ trên mình Dấu Thánh Giá, chúng ta nhớ đến cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá để cứu chúng ta, Ngài đã mở cửa Trời cho chúng ta.

Vậy, chúng ta khẳng định với nhau rằng, cuộc sống lữ hành của chúng ta là đi về Trời nơi chúng ta hy vọng sẽ tới sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế.

Hành động Đức Mến.

Thánh Giá gốm hai thanh gỗ ngang và dọc. Thanh dọc trình bầy tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa, thanh ngang diễn tả tình yêu của chúng ta đối với « tha nhân ».

Cần phải ghi nhận rằng khi được đưa lên khỏi đất, thanh dọc của cây Thánh Giá đỡ lấy thanh ngang : ngụ ý nói rằng tình yêu của chúng ta đối với tha nhân được « nâng đỡ » bởi tình yêu Thiên Chúa.

Nếu thanh dọc của cây Thánh Giá thiếu (tình yêu Thiên Chúa), thanh ngang bị bỏ nằm trên đất, không thể đưa lên khỏi đất. Ý muốn nói, trong hành động của đức Ái : « yêu tha nhân là yêu chính Chúa ».

Nhưng nếu có thanh dọc mà không có thanh ngang, (yêu tha nhân), hỏi rằng có còn là cây Thánh Giá nữa hay không ?

Hai điều cần thiết : là mến Chúa  và yêu người ». Mỗi ngày chúng ta làm dấu trên mình nhiều lần : “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Ước gì chúng ta cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa Tình Yêu trong cuộc đời ta, để chúng ta không ngừng kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Amen.

Về mục lục

.

CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

Bông Hồng Nhỏ

Những cuộc gặp bí mật giữa hai người: một vị thầy vĩ đại và một người môn đệ bí mật. Những điều Thầy dạy làm lòng người học trò phấn chấn. Một tình yêu tuyệt đẹp mà mãi đến sau này người môn đệ ẩn mình mới cảm nghiệm và thưởng nếm được hương vị tuyệt vời của tình yêu ấy cách đầy đủ nhất.

Một tình yêu mầu nhiệm và cao vời được Đức Giêsu mặc khải cho ông Nicôđêmô. Tâm hồn ông được mở ra, được hiểu biết về tình yêu của Chúa Cha và chương trình cứu độ của Người. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời…” Người Con ấy chính là Chúa Giêsu.

Thiên Chúa Cha đã khiêm nhường và tín trung đến cùng. Ngài đã yêu nhân loại dù cho họ nhiều lần rời xa bóng cánh của Ngài. Đến cả Người Con Một duy nhất, Thiên Chúa cũng không tiếc mà tặng ban cho nhân loại. Có người cha nào giàu lòng thương xót hơn Chúa Cha?

Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ cách rõ ràng và cụ thể nơi Đức Giêsu. Ngài đã nhập thể, mặc lấy thân phận con người, đã vâng lời Chúa Cha cách đẹp nhất khi Ngài dang tay trên thánh giá. Ngài dạy chúng ta tiếng nói xin vâng thật tuyệt. Khi yêu như Chúa, chúng ta cũng được mời gọi sống lời xin vâng.

Vừa mới chào đời, Giêsu đã sống với một trái tim bằng thịt đầy thương yêu. Trái tim ấy vang lên bài ca yêu thương đến hơi thở cuối cùng. Tình yêu Chúa Cha và nhân loại đã hối thúc con tim Ngài cháy lửa yêu mến. Ngọn lửa nào đang cháy sáng và thiêu đốt tâm hồn chúng ta? Có phải là ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã ném vào mặt đất, đặt vào trong tâm hồn mỗi người? Phải chăng là ngọn lửa của hận thù và ghen ghét đang tiêu tan tình yêu nơi tâm hồn chúng ta?

Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống luôn ở với, ở trong và ở giữa mọi người. Ngài hoạt động trong lòng nhân loại và trong tâm hồn mỗi tín hữu, nhờ đó họ được nhuần thắm muôn ơn. Đến với Đấng Thánh Linh, tâm hồn chúng ta sẽ được đổi mới và nên cháy lửa yêu mến.

Thiên Chúa là tình yêu. Sống trong Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi sống yêu thương theo khuôn mẫu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi gia đình luôn được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất nên một.

Để được sống đời đời trong tình yêu Thiên Chúa, phúc cho những ai tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Chúng ta hãy sống niềm tin ấy cách mãnh liệt và cụ thể. Bằng những hy sinh và từ bỏ, chúng ta sẽ trở nên những chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa.

Về mục lục

.

LỄ CHÚA BA NGÔI

Lm Tôma Nguyễn Hoàng Phượng

            Cách đây 15 thế kỷ, Thánh Patrick từ Anh Quốc đến truyền đạo cho dân tộc Ái-Nhĩ-Lan. Một hôm, Ngài giải thích cho các tín hữu về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Có một Thiên Chúa duy nhất, nhưng có Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Ba Ngôi vị khác biệt, nhưng cùng một bản tính duy nhất. Sau khi thao thao bất tuyệt giảng dạy. Thánh Patrick hỏi lại các tín hữu xem họ có hiểu hay không. Nhưng vốn là những nông dân đơn sơ, quê mùa, các tín hữu trả lời là: Có ba Thiên Chúa! Thánh Patrick không biết làm sao để giúp các tín hữu của Ngài hiểu phần nào Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Một hôm khi ở ngoài đồng, Ngài thấy những lá cây có ba nhánh. Ngài liền cầm lá cây đó đem về để giảii thích cho các tín hữu biết. Như chiếc lá có ba nhánh khác nhau, nhưng chỉ có một chiếc lá duy nhất. Cũng vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa khác biệt, nhưng chỉ có một Chúa duy nhất.

            Do truyện trên đây, ngày nay mỗi năm vào ngày lễ Thánh Patrick (17/03), các tín hữu đảo Ái Nhĩ Lan vãn gắn hình chiếc lá ba nhánh vào nón hoặc vào áo để kỷ niệm biến cố này.

            Nói đến Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi, có nhiều người nghĩ rằng Chúa có Ba Ngôi hay năm Ngôi; điều đó có hệ gì đến loài người chúng ta đâu!

            Tuy nhiên, nếu chúng ta tin nhận lời Kinh Thánh dạy, con người đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, thì chúng ta không thể dửng dưng đối với Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được. Vì đó là mẫu mực của cuộc sống con người. Và cuộc đời tín hữu phải phản ảnh cuộc sống và bản chất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côrintô cũng đã bộc lộ phần nào phẩm chất của Ba Ngôi Thiên Chúa: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Thiên Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em”. Đó là những phẩm tính mà Thiên Chúa muốn thấy chúng hiện hữu trong mỗi người tín hữu, là những người đã được tạo dựng nên theo hình ảnh của Ngài.

            Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Sáng danh Thiên Chúa, Đấng đã đó, đang có và sẽ đến.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU DIỆU VỜI

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Một sinh viên vô thần nói với một vị linh mục: thưa cha, tôi thấy trong Kitô giáo có một chân lý khó tin, lạ lùng gọi là “mầu nhiệm Ba Ngôi”. Phải hiểu thế nào kiểu nói “Thiên Chúa có một bản tính nhưng ba ngôi vị”? Một mà ba, ba mà một! Thật khó hiểu, nếu không nói là phi lý!.

Vị linh mục hỏi: Anh còn trẻ, chắc đang sống kinh nghiệm tình yêu?

Ủa! Sao cha hỏi lại thế ? Đúng là tôi đang yêu thật!

Theo anh, tình yêu trước hết đòi hỏi phải có những gì? 

Đòi hỏi phải có từ hai người trở lên! Tự ái chỉ là ích kỷ, không thể gọi là tình yêu được!

Đúng lắm! Nhưng tình yêu hướng đến cái gì?

Hướng đến sự hiệp nhất! Tất cả phải nên một! Tình yêu nam nữ hướng đến hiệp nhất tâm hồn, thể xác và cuộc sống. Tình đồng chí, tình bằng hữu… hướng đến hiệp nhất cuộc sống và tâm hồn!

Nhưng theo anh, sự hiệp nhất này có bao giờ đạt được chăng?

Phải nói ngay đó chỉ là ước vọng. Ví dụ, những năm đầu cuộc sống hôn nhân thì “anh nói em nghe, em nói anh nghe”, nhưng năm sau thì “cả hai cùng nói, hàng xóm nghe!”. Trong một tập thể nhiều người, đồng tâm nhất trí lại càng khó thực hiện.

Cái chỉ là ước vọng nơi con người, thì đã thành hiện thực nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa độc nhất, nhưng vì Ngài là Tình Yêu nên có Ba Ngôi. Ngài là Ba Ngôi, nhưng vì là Tình Yêu, nên đã hợp nhất thành một Thiên Chúa.

Cho tôi hỏi câu cuối cùng: Tại sao là ba mà không phải là hai, như trong tình yêu nam nữ?

Sau này có gia đình, anh và vợ chỉ yêu nhau mà không muốn có con, sợ thêm hy sinh, thêm trách nhiệm, tình yêu anh chị có chân thật và bền vững không?

Thưa không! Tình yêu chúng tôi phải chảy tràn qua và thể hiện thành một đứa con, ít nhất một đứa; nếu không thì chỉ là tình yêu mình trong người bạn đời của mình. Ngoài ra, tình yêu ấy còn phải trải rộng cho mọi người chung quanh nữa! 

Anh bạn thân mến, anh sắp hiểu được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi rồi. Nhưng đừng áp dụng quá sít sao đấy nhé!

Trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng mà trí khôn con người vẫn không bao giờ hiểu thấu. Để diễn tả các điều khó hiểu của cuộc sống, cha ông ngày xưa mới đố nhau :

                            Đố ai biết lúa mấy cây,

                   Biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng.

                           Đố ai quét sạch lá rừng,

                  Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.

Có lẽ trong tất cả mọi điều khó hiểu của cuộc sống con người thì tình yêu là khó hiểu nhất. Chỉ nguyên định nghĩa tình yêu thôi cũng đủ để hao tổn bao công sức và giấy mực qua các thời đại mà vẫn không có được một định nghĩa diễn tả trọn vẹn ý nghĩa. Và vì không có được một định nghĩa nên người ta mới coi tình yêu như là mầu nhiệm.Thế nhưng, mầu nhiệm tình yêu có đáng là gì so với các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong các mầu nhiệm của Thiên Chúa thì mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là cao cả nhất, khó hiểu nhất. Như sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định : Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu. Bởi vì đây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa mà cũng là mầu nhiệm của Thiên Chúa “cho chúng ta”.

Kinh thánh mạc khải cho biết “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Mà nếu Chúa là tình yêu, thì tình yêu không thể hiện hữu một mình. Yêu là phải cho đi, phải san sẻ; và yêu cũng phải là đón nhận.Thánh Augustinô đã ví Chúa Cha là nguồn mạch, là điểm phát xuất của Tình Yêu; Chúa Con là hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu.

Tình yêu xuất phát từ Chúa Cha, đến với Chúa Con, qua Chuá Thánh Thần. Trong mầu nhiệm tình yêu, Cha trao tất cả cho Con; Con dâng hiến tất cả cho Cha; và Thánh Thần là sự hiệp thông của trao ban và lãnh nhận hai chiều giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha không hiện hữu cho chính mình, nhưng cho Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Cũng vậy, Chúa Con không hiện hữu cho mình, nhưng cho Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Và Chúa Thánh Thần cũng hiện hữu vì Chúa Cha và Chúa Con.

Qua con người và cuộc đời của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, chúng ta cảm nhận rằng Thiên Chúa là Đấng rất nhân từ, giàu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung. Thiên Chúa không là gì khác ngoài Tình Yêu. Ngài có thể làm tất cả vì Ngài Toàn Năng, nhưng đúng hơn, Ngài chỉ có thể làm những gì mà tình yêu có thể làm, và Ngài không thể làm những gì trái với tình yêu, vì bản chất của Ngài là yêu thương.

Không ai lý giải cặn kẽ được tình yêu nhưng vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài nên cứ nhìn vào tấm gương tình yêu phản chiếu nơi con người, ta có thể bập bẹ đôi điều về Thiên Chúa :

1)   Yêu là ra khỏi mình để hướng tới người khác :

Nói đến yêu là chúng ta nói đến người thứ hai, thứ ba, là nói đến một đối tượng khác với chúng ta. Nếu Thiên Chúa là Tình Yêu mà Ngài chỉ yêu một thân mình Ngài thì đó là ích kỷ, và như vậy không phải là Thiên Chúa của tình yêu. Nếu “Thiên Chúa là Tình Yêu” thì Thiên Chúa ấy không cô độc một mình. Từ đời đời Ngài đã hướng về Chúa Con, đã yêu thương Chúa Con bằng Tình Yêu khôn tả là chính Chúa Thánh Thần.

2)   Yêu là chấp nhận sự khác biệt của nhau :

Nếu chúng ta chỉ yêu cái gì giống mình, cái gì hợp với sở thích của mình, chỉ yêu những người tốt bụng thì không phải là yêu người mà chỉ là yêu mình, là chúng ta đã bóp chết tình yêu, không làm nảy nở tình yêu. Yêu thương là chấp nhận cái hay lẫn cái dở, sự giàu có lẫn sự nghèo nàn của người mình yêu vì họ khác với mình.Chúa Cha yêu Chúa Con, nghĩa là Chúa Cha khác với Chúa Con. Chúa Con phải là một Ngôi Vị khác với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần thì Thiên Chúa mới là Tình Yêu.

3)   Yêu nhau là muốn nên một với nhau :

Càng yêu nhau thì càng hài hòa trong chính sự khác biệt, vì “yêu nhau củ ấu cũng tròn”. Chúng ta vẫn thường nói về tình yêu vợ chồng: “Ta với mình tuy hai mà một”. Bản chất con người là giới hạn nên sự hiệp nhất của con người không toàn vẹn, song quyền năng vô hạn của Thiên Chúa làm cho sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi là trọn vẹn tuyệt đối. Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau hết mình, yêu đến quên mình nên đã trở nên một trong Tình Yêu là Chúa Thánh Thần.

Như thế chỉ trong tình yêu, chúng ta mới dễ hiểu : tự bản chất, Thiên Chúa không thể là một ngôi vị đơn độc; và rằng chỉ trong tình yêu ‘chín bỏ làm mười’, chúng ta mới hiểu được Thiên Chúa vừa là ba, lại vừa là một.

Chúng ta có thể quan niệm mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như một gia đình: Gia Đình Thiên Chúa. Gia đình tuy có ba thành phần khác nhau, song luôn luôn hiệp nhất với nhau. Yếu tố nòng cốt để có sự hiệp nhất trong gia đình chính là tình yêu, và tình yêu làm nên hạnh phúc, mà bản chất của Thiên Chúa lại là Tình yêu. Chúng ta cũng thuộc về Gia Đình Thiên Chúa khi sống yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Thực vậy, sống yêu thương là sống ở trong Thiên Chúa; và đó là Nước Trời, vì “ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8). Gia đình yêu thương là làm cho hạnh phúc ngắn hạn của trần gian này được biến đổi trở thành hạnh phúc vĩnh cửu trong Gia Đình Thiên Chúa (x. Mầu nhiệm Ba ngôi, Giáo lý GP Đà lạt).

Thiên Chúa duy nhất nhưng không phải là Thiên Chúa đơn độc mà là cộng đồng Ba Ngôi thương yêu nhau hướng về nhau.Ba Ngôi là một gia đình.Giáo hội là một gia đình của Thiên Chúa.Thiên Chúa là Cha, Đức Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh chị em của nhau.Đạo lý Đông phương vốn trọng chữ trung chữ hiếu và chữ nhân, rất gần gũi với tinh thần Kitô giáo.Trung với Chúa, hiếu thảo với tổ tiên ông bà cha mẹ, nhân ái với mọi người.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và duy nhất là một mầu nhiệm vĩ đại thâm sâu mà trí tuệ con người không thể nào hiểu hết, chỉ có thể đón nhận bằng đức tin.Thực tại Ba Ngôi không là một điều nghịch lý nhưng là nghịch thường và siêu lý.Mầu nhiệm Ba Ngôi là ánh sáng chói loà rực rỡ, ánh sáng ban sự sống cho những ai khiêm nhường đón nhận và sẽ là bóng tối dày đặc đầy mâu thuẫn đối với những kẻ kiêu căng muốn dùng lý trí làm thước đo siêu việt.

Nhìn lên cung thánh, ta thấy Thánh Giá, Nhà Tạm, Bàn Thờ. Đó là trung tâm niềm tin của người Kitô hữu.Trên Thánh Giá, Đức Kitô đã tự hiến làm hy lễ dâng lên Chúa Cha.Ngài tự nguyện chịu đau khổ, chịu chết trong tinh thần vâng phục và yêu mến đối với Cha, để thiết lập giao ước mới với Giáo hội trong máu của Ngài. Ngài đã phục sinh về với Cha nhưng vẫn luôn ở lại với Giáo hội qua Bí Tích Thánh Thể mà Nhà Tạm là nơi Ngài hiện diện thường trực. Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô, khi linh mục cử hành thánh lễ là tưởng niệm hy lễ thập giá và cử hành mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô.

Ba Ngôi sống bằng một lương thực thần linh, cùng một sự sống, đó là tình yêu thần linh.Chúng ta được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi khi đi vào cử hành mầu nhiệm vượt qua trong thánh lễ.Với chúng ta, sự sống ấy là sự sống của Đức Kitô, Mình và Máu Đức Kitô trao ban qua Thánh Thể “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6,34). Khi chia sẻ chén hiệp thông của Ba Ngôi,chúng ta được mời gọi hiệp thông với nhau để trở nên một như Ba Ngôi là một (Ga 17,21).

Người tín hữu đến Nhà thờ để tìm Chúa và gặp Chúa. Đức Hồng y Henry de Lubac diễn tả: Con người tìm Chúa là một người bơi lội giữa đại dương.Mỗi lần tiến tới là đẩy lui một đợt sóng.Bơi lội giữa đại dương làm cho con người khiếp đảm lo sợ không tới bến.Nhưng Thiên Chúa vừa là bến bờ vừa là đại dương. Ai bơi lội trong đại dương là bơi lội trong Thiên Chúa. Hướng tới Chúa đã là ở trong Chúa,tìm Chúa gặp Chúa là hướng về Chúa. Không có sự tìm kiếm nào mà không phải phấn đấu,không gặp mâu thuẫn và đau khổ.Nhưng chúng ta tin vào Thiên Chúa đang ở với chúng ta trong Đức Kitô và lôi kéo chúng ta với sức mạnh Chúa Thánh Thần.

Qua phép rửa nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, chúng ta trở thành nghĩa tử của Chúa Cha (x.Rm 8,15), em của Chúa Con (x.Rm 8,29) và đền thờ của Thánh Thần (x.1Cr 6,19), hợp thành Giáo Hội là “dân thánh được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi” (Hiến chế GH 4). Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong gia đình, cha mẹ, con cái yêu thương nhau thì càng hiệp nhất nên một. Tình yêu là dây liên kết mọi người nên một gia đình hạnh phúc ấm êm. Gia đình là nơi sống và diễn tả huyền nhiệm Ba Ngôi rõ nét nhất.

Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong tình yêu. Mỗi ngày người tín hữu chúng ta làm dấu Thánh giá nhiều lần trên thân xác “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Ước gì mỗi người cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, sống tình yêu thương trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA SAI CON CỦA NGƯỜI ĐẾN THẾ GIAN

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Hôm nay, Giáo hội tuyên xưng và tôn vinh mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm quan trọng nhất trong đạo. Phụng vụ lời Chúa trình bày tình thương của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trong sách Xuất Hành, Thiên Chúa mạc khải cho Môisê: Ngài là Thiên Chúa giàu lòng thương xót “Thiên Chúa từ bi nhân hậu, giàu ân nghĩa và thành tín”.

Thánh Phaolô trong thư gởi Corintô đã kêu gọi người tín hữu hãy vui mừng và sống hoà thuận thương yêu nhau bởi vì họ được Thiên Chúa yêu thương và ban đầy ân sủng cho mỗi người.

Bài Tin mừng ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô. Chính Chúa Giêsu đã xác nhận tình thương của Thiên Chúa đối với con người: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời”.

Thánh Gioan đã định nghĩa: “Thiên chúa là tình yêu”. Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Bài Tin mừng hôm nay đã nói lên đặc tính của Thiên Chúa tình thương.

– Yêu thương là cho, cho chính bản than, cho những gì quý báu nhất, cho tất cả: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian”.

– Yêu thương là làm cho sống và sống dồi dào, phong phú… “Để ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Khi người ta yêu thương nhau, thì người ta làm cho nhau những điều tốt lành nhất. Thiên Chúa yêu thương con người đã sai Đức Giêsu, Con của Ngài đến để con người được hưởng ơn cứu độ.

– Yêu thương là tha thứ. Bài đọc 1 cho thấy dân Do Thái đã phản tội Thiên Chúa: thờ bò vàng nhưng Thiên Chúa vẫn yêu thương và tha thứ, bởi vì Ngài là Thiên Chúa từ bi nhân hậu, nhẫn nại, giầu ân nghĩa và thành tín.

Như thế, lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm của tình thương. Thiên Chúa yêu thương con người và muốn con người được hạnh phúc.

Đoạn Tin mừng về cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô nói đến Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu con của Thiên Chúa là nguyên lý cứu độ. Chính Chúa Cha sai Chúa con đến trần gian. Tuy không đề cập tới Chúa Thánh Thần, nhưng nếu đọc tiếp cuộc đối thoại này sẽ có đoạn nói về ơn tái sinh bởi nước và thần khí, tức là Chúa Thánh Thần. Vì thế qua đoạn Tin mừng này, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa sai Con Một đến trần gian, bằng cách thông ban Thánh Thần. Và Thánh thần đưa thế gian lên cùng Chúa Cha nhờ Chúa Giêsu Kitô. Tin mừng hôm nay nói lên hoạt động của ba Ngôi Thiên Chúa trong việc cứu rỗi trần gian nên được phụng vụ chọn để suy niệm vào lễ Chúa Ba Ngôi.

Mừng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là sống tâm tình cảm tạ tình thương bao la của Thiên Chúa và đối xử với tha nhân trong tình huynh đệ bác ái chân thành. Tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa bằng cách làm dấu thánh giá một cách sốt sắng và ý thức hơn, mến Chúa hơn.

Quyết tâm sống lương thiện, trong sạch, sống đạo đức để tâm hồn chúng ta trở nên đền thờ cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự, để được sống trong tình thương của Thiên Chúa Ba Ngôi “Ai ở trong tình thương thì ở trong Thiên Chúa”.

Bác nông phu Donninggos ở Brasil sống bằng nghề trồng bắp. Một buổi sang sắp ra đồng làm việc, đứa con trai chạy theo nói với bố:

– Hôm nay là ngày sinh nhật của con, bố đừng quên mang 2 con chim nhỏ về làm quà cho con nhé!

– Được, cha sẽ bắt chim về tặng con.

Người Cha vốn thương con, vui vẻ nhận lời và hứa với con. Khoảng 4 giờ chiều, nhớ tới lời dặn của con, bác vào rừng và leo lên ngọn cây cao ở đây có một ổ chim rất lớn. Bác vừa với tay vào ổ chim, thì một con rắn độc cắn vào bàn tay phải của bác. Bác nông phu phải chặt bàn tay để cứu mình. Tuy nhiên, bác không quên đem 2 con chim về làm quà sinh nhật cho con. Bác Donningos đã yêu thương con, hy sinh bàn tay để giữ lời hứa và đem hạnh phúc cho cậu con trai.

Thiên Chúa Ba Ngôi cũng thế: yêu thương chúng ta hơn mọi người cha trên trần gian. Sống mầu nhiệm Ba Ngôi là sống mầu nhiệm tình thương trong gia đình, trong xã hội.

Về mục lục

.

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO GƯƠNG MẪU CHÚA BA NGÔI

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan trọng nhất trong các mầu nhiệm của Đạo Công Giáo. Bởi vì mầu nhiệm này là mẹ sinh ra các mầu nhiệm khác, nói cách khác, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm nguồn của mọi mầu nhiệm.

Khi nói đến mầu nhiệm, người ta cảm thấy không thể lý giải được theo sự hiểu biết tự nhiên, vì thế, nó đã trở nên rào cản và cớ vấp ngã cho những ai mong thỏa mãn sự hiếu tri và đang cố gắng đi tìm cho được lời giả đáp “Ba Ngôi Một Chúa”; hay “Một Chúa Ba Ngôi”. Nhưng với những người có niềm tin, qua ánh sáng mặc khải soi chiếu, và luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của nó, thì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không xa lạ, nhưng lại rất gần gũi, mặc dù cao siêu và vượt quá sức tưởng của con người. Qua mầu nhiệm này, chúng ta khám phá được sự hiệp nhất, yêu thương nơi Thiên Chúa, và mỗi lần Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này, Giáo Hội luôn mời gọi con cái mình yêu thương nhau theo khuôn mẫu của Ba Ngôi Thiên Chúa để được cứu độ.

  1. Bản chất Thiên Chúa là “Tình Yêu”

Khi nhắc đến Thiên Chúa, hẳn mỗi chúng ta đều có một định nghĩa riêng về Người, tuy nhiên, thánh Gioan đã cho chúng ta biết một mặc khải rất quan trọng khi nói về Thiên Chúa, đó là: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8).

Khi nói đến tình yêu, chúng ta ai cũng hiểu rằng tình yêu thì không “đơn phương độc mã”, không ích kỷ cũng chẳng bon chen; không quy chiếu về mình mà luôn hướng tha.

Muốn có được tình yêu, ắt phải đón nhận. Khi có cả hai chiều cho và nhận, thì tình yêu mới thực sự triển nở và ý nghĩa. Như vậy, tình yêu phải có điểm xuất phát, điểm hội tụ và mức độ lan tỏa.

Khi diễn tả ý tưởng trên, thánh Âutinh đã ví: “Nguồn mạch chính là Chúa Cha, Người chính là điểm xuất phát tình yêu; Chúa Con chính là điểm hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu và làm cho tình yêu được tỏa sáng”.

Trong lối diễn tả của thánh Âutinh cho thấy tình yêu được khởi đi từ Thiên Chúa Cha, đến với Chúa Con và qua Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa Cha vì yêu nên đã trao ban tất cả, ngay cả Người Con duy nhất của mình cho nhân loại. Chúa Con đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha trọn vẹn đến nỗi bằng lòng chết trên thập giá để thực hiện ý định yêu thương của Chúa Cha cho nhân loại. Chúa Thánh Thần là mối dây liên lạc, thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu.

Như vậy, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu hướng ra để làm cho lan tỏa.

Thiên Chúa không để dành tình yêu cho chính mình, cho riêng Cha, Con và Thánh Thần, nhưng chính là cho chúng ta, những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Người, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8); “… nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Như vậy, Thiên Chúa là tình yêu.

  1. Thiên Chúa “yêu” đến cùng

Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua hành vi tự hiến của Thiên Chúa Cha: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3,16a). Từ “đến nỗi” ở đây cho thấy Thiên Chúa yêu đến tột cùng, yêu “đến nỗi” không còn gì để diễn tả, để trao ban hơn được nữa, vì thế chỉ còn cách duy nhất là trao ban chính Con của mình đến để diễn tả tình yêu cho nhân loại bằng chính cái chết mà thôi.

Tại sao Thiên Chúa lại trao ban Con Một? Thưa! “…để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16b). Như vậy, Tình yêu chân chính là mong sao người mình yêu được hạnh phúc hơn cả bản thân mình. Thật vậy, Thiên Chúa yêu thế gian cách tuyệt đối và mong sao cho chúng ta được hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối là được vào ở trong tình yêu của Thiên Chúa. Bởi vì: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” Ga 3,17).

  1. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mời gọi ta sống yêu thương

Qua mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất như Thiên Chúa là tình yêu.  Không yêu thương nhau, chúng ta vẫn mãi là người xa lạ với mầu nhiệm này, bởi vì mầu nhiệm này là mầu nhiệm tình yêu, muốn hiểu được thì phải yêu. Nói như thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), nên “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8).

Vì thế, trong đời sống gia đình, mỗi người hãy yêu thương nhau. Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và như Hội Thánh phục tùng Đức Kitô thế nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy. Sự xuất hiện của người con trong đời sống hôn nhân chính là kết quả của tình yêu giữa vợ và chồng, vì thế, như một điều kiện cần để được hạnh phúc, con cái hãy yêu mến cha mẹ mình và tỏ lòng thảo hiếu với cha mẹ để đáng được hưởng sự chúc lành của Thiên Chúa.

Tình yêu ấy lại không chỉ dừng lại với chính người thân của mình, mà còn phải hướng ra xa, rộng lớn hơn tới hết mọi người, kể cả yêu kẻ thù của mình nữa.

Như vậy, để tình yêu có giá trị, cần phải có sự hy sinh, quên mình và phục vụ lẫn nhau. Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là tình yêu thật sự.

Khi yêu như thế, tình yêu của vợ chồng và con cái cũng như với tha nhân đang phỏng chiếu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống thực tại của mình.

Muốn giữ được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi mình, người kitô hữu phải luôn ý thức mình thuộc về Thiên Chúa, khi thuộc về Người, thì ta cũng sẽ trở nên những người có: “… lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau” Cl 3,12-13).

Mong sao, mỗi khi chúng ta đặt tay lên trán, trên ngực và ngang vai, để tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc chúng ta nhớ đến bản chất của mầu nhiệm này là tình yêu; đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong tình yêu đó của Thiên Chúa để“… đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13,13), hầu chúng ta cùng mạnh dạn tuyên xưng: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”.

Về mục lục

.

BÍ MẬT TẬN CÙNG

Trầm Thiên Thu

THIÊN CHÚA CHÍ LINH TAM VỊ NHẤT THỂ

CHÚNG NHÂN TÔN KÍNH MỘT CHÚA BA NGÔI

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi – Đấng Tam Vị Nhất Thể (La ngữ: Trinitas, Hy ngữ tương đương: Triados, Anh ngữ: Trinity, Pháp ngữ: Trinité) – là mầu nhiệm trung tâm của đức tin, và được mệnh danh là “bí mật tận cùng”.

Hằng ngày, từ lúc thức dậy ban sáng tới lúc đi ngủ ban đêm, nhiều lần chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi qua việc làm dấu Thánh Giá: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Đó là kinh phổ biến nhất, và kinh được học từ khi còn nhỏ xíu. Mỗi khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta vừa chúc tụng vừa tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, thường quen gọi tắt là “làm dấu”, thế nhưng có điều cần lưu ý: đôi khi người ta không làm DẤU mà lại làm GIẤU – nhất là khi có “người lạ” (khác đạo) hoặc nơi công cộng (tiệc tùng, hàng quán,…). Việt ngữ độc đáo và ý vị biết bao!

Hằng ngày, ngoài việc làm dấu Thánh Giá – dấu đơn và dấu kép, chúng ta còn nhiều lần chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi khi chúng ta cầu nguyện – chung hoặc riêng: “Sáng danh Ðức Chúa Cha, và Ðức Chúa Con, và Ðức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và hằng có, và đời đời chẳng cùng” (Kh 1:8). Chính Chúa Giêsu cũng đã căn dặn chúng ta phải nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi khi hành động: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28:19).

Kinh Thánh cho biết rằng, vào một buổi sáng sớm, ông Môsê lên núi Sinai theo lệnh truyền của Thiên Chúa, và ông mang theo hai bia đá. Chính hai bia đá này được ông dùng để ghi khắc Thánh Luật (Thập Giới, Mười Điều Răn). Khi Thiên Chúa ngự giá trên đám mây, ông Môsê đứng trước mặt Chúa và kêu cầu danh Chúa. Ngài đi qua trước mặt ông và hô: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông” (Xh 34:6-7). Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót nhưng cũng rất công bình, Ngài “không bỏ qua điều gì” và “trừng phạt tam tộc”. Người Việt chúng ta cũng có câu: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Điều đó cho thấy tội lỗi có tính liên đới chứ không đơn giản như chúng ta tưởng.

Ngay khi nghe tiếng Đức Chúa, ông Môsê vội vàng phục xuống đất thờ lạy và thân thưa: “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài” (Xh 34:9). Thiên Chúa quá đỗi nhân từ, thấy dân bướng bỉnh nhưng vẫn tha thứ và trao ban cơ nghiệp. Hằng ngày không thiếu những kẻ ngang ngược mà vẫn được ung dung tự tại, còn những người tốt lành đôi khi lại chịu cảnh “họa vô đơn chí”. Mưa và nắng không riêng ai, Thiên Chúa ban cho mọi người – kẻ xấu và người lành, công chính và bất chính (x. Mt 5:45).

Thiên Chúa đã tạo dựng con người, nhưng vì thích ăn “trái cấm” và kiêu căng, vì thế mà con người mất ơn nghĩa với Ngài và bị “con rắn” quấn chặt. Đó là chiếc vòng kim cô tội lỗi. Tuy nhiên, Ngài vẫn hết mực yêu thương chúng ta nên Ngài lại “tháo gỡ” cho chúng ta bằng Bí tích Thánh tẩy và Bí tích Hòa giải, đặc biệt là cho Ngôi Hai nhập thể làm người và chịu chết để cứu độ chúng ta, khôi phục nguyên trạng cho chúng ta là lại được quyền làm con như xưa. Ngài đã sinh chúng ta hai lần – và nhiều lần khác, mỗi khi chúng ta xưng tội. Đó là đại đặc ân của lòng thương xót mà chúng ta không thể hiểu hết. Vả lại, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội lỗi của cả nhân loại” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 1485). Do đó, chúng ta phải biết chúc tụng Chúa trong mọi hoàn cảnh. Việc chúng ta chúc tụng Chúa cũng chẳng thêm gì cho Ngài nhưng sinh ích lợi cho phần rỗi của chúng ta (Kinh Nguyện Thánh Thể).

Thuở xưa, ngay lúc ở trong lò lửa, A-da-ri-a vẫn hát vang bài thánh ca: “Lạy Chúa, chúc tụng Ngài là Thiên Chúa tổ tiên chúng con, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang, xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời. Chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng, xin dâng lời ca tụng suy tôn muôn đời. Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá mà thấu nhìn vực thẳm, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh, xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời” (Ðn 3:52-56).

Được hiện hữu trên cõi đời này cũng đủ để chúng ta phải dâng lời ca tụng Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là bổn phận, là trách nhiệm, đồng thời cũng là niềm hạnh phúc của chúng ta. Chúc tụng Thiên Chúa khi chúng ta êm ả như dòng sông hiền hòa thì không khó, nhưng thật khó nếu cuộc đời chúng ta gặp điều bất trắc mà vẫn ca tụng Ngài. Thánh Gióp là tấm gương sáng điển hình mà chúng ta cần soi vào. Vì thế, chúng ta phải cố gắng không ngừng. Dù bị trắng tay và khốn khổ cùng cực, nhưng Thánh Gióp vẫn chấp nhận và dâng lời chúc tụng Thiên Chúa: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa” (G 1:21). Ước gì mỗi chúng ta đều hành động như Thánh Gióp!

Chân thành chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi là thể hiện niềm tín thác vào Ngài, niềm tin đó còn phải được thể hiện với nhau trong cuộc sống đời thường. Đó không chỉ là điều cần thiết mà còn là bổn phận với nhau, vì mọi người đều có mối liên đới với nhau – dù chiều ngang, chiều dọc, chiều cao, chiều rộng, hoặc chiều xéo. Thánh Phaolô nói: “Thưa anh em, anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an sẽ ở cùng anh em. Anh em hãy hôn chào nhau cách thánh thiện” (2 Cr 13:11-12). Đó là ước muốn thánh thiện, phù hợp với mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Và Thánh Phaolô cầu chúc mọi người: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần. Amen” (2 Cr 13:11-13). Thật hạnh phúc khi chúng ta đang được sống trong lời cầu chúc đó, vì cuộc sống chúng ta luôn đầy ơn Chúa, tình Chúa và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần.

Khi đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Chúa Giêsu đã dẫn chứng minh nhiên: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Quả thật như vậy, và còn hơn thế nữa: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3:17-18). Quá rõ ràng và cụ thể!

Là Kitô hữu, chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng, hằng hữu và hằng sinh, chúng ta luôn phải tạ ơn Ngài mọi nơi và mọi lúc. Chúng ta vui mừng tuyên xưng Đức Tin về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa mặc khải vinh quang của Ngài như vinh quang của Chúa Con và Chúa Thánh Thần: Ba Ngôi bằng nhau về uy quyền, không phân chia sự huy hoàng, nhưng chỉ là Một Thiên Chúa, được phụng thờ trong vinh quang muôn đời. Sống yêu thương nhau là giữ Thánh Luật và thực hành mệnh lệnh của Chúa Giêsu đã truyền (Ga 13:34-35), đồng thời cũng là sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.

Ở số 221, Giáo lý Giáo hội Công giáo dạy: “Chính bản chất của Thiên Chúa là yêu thương. Bằng cách sai Con Một và Chúa Thánh Thần Yêu thương một cách trọn vẹn, Thiên Chúa đã mạc khải bí mật tận cùng của Ngài: Chính Thiên Chúa – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – trao đổi tình yêu hằng hữu, và Ngài tiền định chúng ta cùng chia sẻ sự trao đổi đó”. Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng yêu thương, một bản thể mà có ba ngôi vị riêng biệt, và Đấng Tam Vị Nhất Thể không thể tách rời.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương, nghĩa là không thể ghét bất cứ ai – dù người đó như thế nào (về cả ngoại tại và nội tại). Thiết tưởng đây là điều đáng suy tư: “Người xấu bụng thì ưa chỉ trích người khác vì muốn chứng tỏ mình tốt lành, còn người tốt bụng thì luôn rộng lòng tha thứ cho người khác – kể cả người ghét mình”. Pharisêu luôn hẹp hòi, xét nét chi li, bởi vì họ sống giả hình, nhưng lại muốn chứng tỏ mình chân thật; còn Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương người khác, bỏ qua tất cả, thậm chí còn tha thứ cho những kẻ đã giết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Và rồi chính Ngài không chỉ tha thứ mà còn phong thánh cho tên cướp cùng chịu hành hình với Ngài: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Hai thái cực rõ rệt!

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi hằng hữu, chí thánh và toàn năng, xin giúp con luôn biết chúc tụng và tôn vinh ngay từ khi thức dậy, vì đó là bổn phận và trách nhiệm, đồng thời cũng là hạnh phúc của con, cả khi vui lẫn lúc buồn. Xin thương ban Thần Khí Chúa để con can đảm sống đức tin trong mọi hoàn cảnh, suốt chặng đường lữ hành trần gian. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU BA NGÔI

Anna Cỏ May

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Đó là câu ca dao mà người xưa đã mượn hình ảnh thiên nhiên để so sánh với con người. Một cây riêng lẻ dù to lớn đến đâu, gặp một cơn bão lớn vẫn bị bẻ gãy. Trái lại ba cây chụm lại và đan xen rễ vào nhau tạo nên một sức mạnh vững chắc thì không có gì có thể làm nó ngã đổ được. Qua hình ảnh quen thuộc ấy, ca dao gợi cho chúng ta một ý nghĩa về sự gắn kết và đoàn kết mà làm nên sức mạnh tình yêu giữa anh em, mọi người và mọi dân tộc.

Hôm nay đây, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết về sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chỉ có Một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mỗi Ngôi có phân nhiệm riêng nhưng Ba Ngôi có một tình yêu duy nhất, cùng một sự sống tình yêu là thần linh và luôn tỏ lộ tình yêu cho chúng ta.

Vậy Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ lộ tình yêu như thế nào? Như trong Sách Sáng Thế cho chúng ta biết Chúa Cha tạo dựng nên tất cả mọi sự và cho con người hưởng dùng. Nhưng con người đã bất vâng phục mà gây bao nhiêu tội lỗi. Chúa Cha đã không muốn con người phải chịu đau khổ nên đã sai Con Một của Ngài là Chúa Giêsu đến để cứu chuộc con người(x Ga 3, 16-17). Khi Chúa Giêsu hoàn tất công trình cứu chuộc, Chúa Thánh Thần được sai đến ở lại, hướng dẫn và thánh hóa con người.

Với sự hiểu và nhận biết của con người thì không thể hiểu biết được mầu nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì thế, chính Chúa Giêsu đã mạc khải cho con người biết tình yêu của Thiên Chúa và còn cho con người biết, con người không thể tự mình cứu thoát được, chỉ một mình Thiên Chúa mới cứu thoát con người mà thôi. Nhưng để được cứu thoát con người phải sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa (x. Ga 3, 18).

Chúng ta đã được Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương như vậy, chúng ta phải làm gì để mọi người nhận biết Ba Ngôi Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta? Sống mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong tình yêu. Chúng ta cứ đi tìm những việc làm hành động vĩ đại để cho mọi người nhận biết mà chúng ta không để ý những việc nhỏ bé, dễ dàng và gần gũi nhất trong cuộc sống hằng ngày như “làm Dấu Thánh”.

Trong ngày sống, chúng ta thường làm dấu Thánh trong Thánh lễ, trong giờ kinh, trước bữa ăn…Chính khi chúng ta làm dấu Thánh là lúc chúng ta tôn vinh Ba Ngôi Thiên Chúa, để chứng tỏ lòng tin của chúng ta và mọi người cũng nhận biết Thiên Chúa. Làm dấu Thánh cũng chỉ sự khiêm nhường. Chúng ta một thân phận yếu đuối, không thể làm mọi việc, chúng ta luôn cần đến tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Có rất nhiều cầu thủ trên sân trường, trong lúc thi đấu đã có cử chỉ làm dấu Thánh để xin ơn ban của Thiên Chúa và chúng ta cũng thường làm vậy. Ngoài ra chúng ta làm dấu Thánh để tỏ lòng biết ơn về mọi sự chúng ta đã được hưởng dùng của Thiên Chúa ban cho.

Nơi mà mọi người nhận biết Ba Ngôi Thiên Chúa nhất thì có một số người trong chúng ta lại ít làm chứng được như trong các buổi tiệc, nơi đông người, trong công xưởng hay trường học…Có lẽ, chúng ta vì e ngại, chưa tự tin hay vì quá vui mà quên đi việc làm dấu Thánh. Và như thế, chúng ta bỏ lỡ mất cơ hội thể hiện tình yêu và niềm tin của chúng ta vào Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy sống và chìm đắm trong tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, hãy thực hiện lại những điều nhỏ bé để tôn vinh và sống trong Ba Ngôi Thiên Chúa mỗi ngày.

Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng con tri ân cảm tạ Chúa đã cho chúng con bài học về sự hợp nhất và yêu thương, cho chúng con thấy rõ tình yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa trong mỗi ngày. Xin cho chúng con hằng đón nhận và biết thể hiện, tuyên xưng tình yêu Thiên Chúa ở mọi nơi mọi lúc. Amen.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Gõ vào Google chữ Holy Trinity tôi tìm thấy cả một rừng giải thích về Chúa Ba Ngôi nhưng hầu hết chỉ là lịch sử hình thành tín điều, vài công thức và suy tư thần học khô khan. Lời Chúa trong Ga 3:16-18 trình bày Chúa Ba Ngôi cách sinh động hơn nhiều, có cả một nội dung của cái mà ngày nay người ta quen gọi là tính hiện sinh (existentiality), vì nó chạm tới hiện hữu sống động của từng con người nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…

Trong những ngày này, tôi đang đọc và dịch cuốn “Heart Speaks to Heart” của tác già Windy M. Wright nói về linh đạo Sa-lê; tôi rất tâm đắc với trình bày của thánh Phan-xi-cô Sa-lê về ‘viễn ảnh một thế giới của các con tim’, đặc biệt lối diễn tả của ngài về nguồn gốc của cái thế giới đó, tuy đậm nét thần học về Chúa Ba Ngôi nhưng lại rất sinh động và đầy tính thuyết phục:

“Cho dầu trong bản chất Thiên Chúa vượt xa những gì con người có thể hình dung, ta vẫn có thể nói một cách biểu tượng rằng: Người có một Con Tim là nguồn mạch mọi thứ tình yêu. Con Tim Thiên Chúa trao ban sự sống, đó là cõi lòng. là mạch nước, là sinh lực sôi sục, nóng bỏng. Con Tim đó thở, đập nhịp và co thắt. Con Tim Thiên Chúa là Ba Ngôi vì được cấu thành bởi tình yêu hỗ tương trao ban cho nhau giữa Chúa Cha và Chúa Con ‘được thực hiện trong cùng một khát vọng duy nhất là trao hiến tình yêu cho nhau… khát vọng duy nhất đó không gì hơn là chính Thần Khí cùng được phóng ra do hai hơi thở đồng xuất ra một lúc’. Tự bản chất, yếu tính  của Thiên Chúa được mường tượng như một mối tương quan rất năng động. Trong sự sung mãn vô biên, Ba Ngôi tự bùng nổ và tuôn trào. Thực tế thì tạo vật chẳng qua chỉ là kết quả của năng lượng nội tại của Tình Yêu tuôn trào và trao ban chính mình cách dư dật; hơn thế nữa, Con Tim thần linh đó tiềm tàng trong tạo vật còn hành động trong tương quan sinh động. Trong hiến dâng, Tình yêu cũng muốn lãnh nhận và lôi cuốn về mình tất cả mọi điều Người đã dựng nên; do đó ta có thể nói: Con Tim Thiên Chúa say mê, yêu mến con tim nhân loại, và hằng mong được kết hiệp với nó” (Oeuvres, V, Traité pages 203-208).

Thật là một lối diễn tả tuyệt vời: Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu sinh động sung mãn. Và ta có thể hình dung điều gì sinh động hơn là một quả tim rung động vì yêu đương, từ đó vọt ra một sức yêu mãnh liệt, chan hòa và bất tận… để rồi Con Tim đó lại muốn thu hút, thâu tóm về mình tất cả những gì mang nét yêu thương cho dầu nhỏ mọn nhất? Tạ ơn Chúa đã dựng nên con người trên cõi đời này, cho dầu thể lý hay tinh thần của họ có thế nào đi nữa…, vì tất cả họ đều được xuất phát từ Con Tim yêu đương; và còn đáng tạ ơn hơn nữa khi Người cho phép chúng quay quanh quĩ đạo của hành tinh Mặt Trời Tình Yêu chói lọi bằng chính sự yếu hèn của mình, vì nhờ đó, chúng có khả năng đón nhận lực hấp dẫn của lòng nhân ái xót thương mạnh mẽ hơn. Mạc khải vĩ đại nhất, chân lý toàn vẹn nhất chính là nhận biết điều kỳ diệu này, không phải bằng trí óc hiểu biết hay suy luận… (như hình ảnh ‘múc cạn nước đại dương đổ vào lỗ cát’ trong câu chuyện truyền thuyết về thánh Âu Tinh), nhưng bằng con tim và cõi lòng mà mọi người chúng ta, bất kỳ ai, cũng đều có. Quả thực Chúa Ba Ngôi là chân lý sống động mà bất cứ con người nào cũng đều có thể nắm bắt được ít nhiều bằng chính con tim nhân loại của mình; tuy nhiên để thật sự khai thác để trở thành sức sống sung mãn thì cách duy nhất là đi vào trong tác động của Thần Chân Lý và Tình Yêu; “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16:13). Phải chăng đây mới chính là sự thật toàn vẹn mà Đức Giê-su đang đề cập tới: Ba Ngôi Tình Yêu là sự thật toàn vẹn vì chân lý này mang lại cho mọi người chúng ta sức sống mãnh liệt và sung mãn nhất! Chính qua và nhờ các mảnh vụn tình yêu bé nhỏ mà Thánh Thần còn tìm thấy trong tôi giữa cả một rừng những yếu đuối và tội lỗi, mà tôi được đưa vào mầu nhiệm cao quí này cách sung mãn và dồi dào nhất, được thăng hoa tới Con Tim – Lò Lửa tình yêu vĩ đại nhất là Chúa Ba Ngôi.

Như thế, Ki-tô hữu chúng ta rất đáng tự hào về ‘mầu nhiệm’ cao cả: Thiên Chúa Ba Ngôi (cho dầu bản thân tôi khi sử dụng từ ‘mầu nhiệm – mystery’ vẫn thấy không ổn thế nào ấy, vì nó cho tôi cái cảm giác mung lung, căn cứ vào những gì tôi thường được nghe giải thích: mầu nhiệm là điều không thể hiểu được!). Ki-tô hữu chúng ta quá hãnh diện về mạc khải lớn lao và quan trọng bậc nhất này, và vì thế mà chúng ta luôn khởi sự và sống niềm tin của mình luôn trong “nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Và còn hơn thế nữa, ta có quyền vui mừng khôn xiết vì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi thực sự trọn vẹn bao phủ hiện hữu ta, tiếp hơi ấm cho đời, ban cho ta niềm vui và cậy trông không hề tàn lụi giữa kiếp sống thường khi phủ kín mây đen, và tiếp cho ta sức mạnh vô địch khi thân xác và tinh thần tàn rữa và yếu đuối. Chỉ khi nào Ba Ngôi Thiên Chúa trở thành tất cả cho mình và cho đời mình, tôi mới có thể quả quyết được rằng: tôi đang tuyên xưng mầu nhiệm cao cả này như một Ki-tô hữu thực thụ: “Tôi tin kính một Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha toàn năng….

Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay phải là ngày chúng ta cảm nhận được niềm tin này cách sinh động hơn bao giờ hết!

Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, con tôn thờ tình yêu vĩ đại; con ca ngợi và cảm tạ Chúa vì ơn gọi Ki-tô hữu đã cho con khả năng nhận biết Con Tim Thiên Chúa đầy yêu thương. Con ước muốn làm sao cho mọi người được cùng con cất lời cảm tạ và tôn thờ sức sống tuyệt diệu và sung mãn này. Xin cho con luôn đáp lại mệnh lệnh khẩn thiết: “Hãy đi và… làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”; nhưng trước hết xin cho con được trọn vẹn hòa tan trong Con Tim rực lửa yêu của Ba Ngôi nhiệm mầu trong chính sự hèn yếu của con. A-men.

Về mục lục

.

CHÚC TỤNG CHÚA

Lm. GB. Trần Văn Hào

‘Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Kh 1,8a)

Một đan sĩ nọ đã nói: “Nếu ngày xưa Moisen đã không bước vào chỗ tăm tối và mù mịt trên núi Sinai, ông đã không gặp thấy Chúa. Cũng vậy, nếu chúng ta không thấy mình dốt nát và mù tối khi suy hiểu về Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ nhận biết được Ngài”. Điều này rất đúng khi chúng ta suy niệm về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi mà Giáo hội hôm nay mừng kính. Đây là mầu nhiệm căn bản nhất của đức tin Công giáo, đồng thời cũng là chân trời vĩ đại và tối tăm nhất đối với đầu óc suy lý của con người. Mầu nhiệm Ba Ngôi rất khó hiểu và thực ra chúng ta không thể hiểu nổi. Khi đối diện trước các thực tại của Thiên Chúa, chúng ta không thể nhận thức bằng lý trí nhưng chỉ có thể trải nghiệm bằng đức tin. Thái độ cần thiết nơi chúng ta không phải là đứng lên cách ngạo nghễ để vắt óc tìm tòi, nhưng phải quỳ gối xuống cách khiêm tốn trong cung chiêm và thờ lạy.

Thực hành đức tin khi tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trước khi bắt đầu làm bất cứ công việc gì, người Công giáo chúng ta luôn bắt đầu bằng dấu Thánh giá với lời tuyên tín : Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Thánh Phaolô thường gửi lời chào thăm đến các cộng đoàn với văn thức xưng tụng Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo hội cũng dùng lại văn thức này để khởi đầu Thánh lễ khi vị linh mục chào chúc cộng đoàn : “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em (2 Cor 13,13; Eph 1,2). Chúng ta nhớ lại giai thoại về thánh Augustinô. Khi Ngài đi bách bộ bên bờ biển và suy tư về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Ngài gặp một em bé đang dùng cái vỏ sò để múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ tí xíu. Em bé nhắc nhở cho thánh nhân biết rằng, việc lấy một cái vỏ sò bé tí teo đong đầy nước biển xem ra khá xuẩn ngốc, nhưng việc dùng đầu óc chật chội của con người để cố nhét vào cả bầu trời bao la của mầu nhiệm Thiên Chúa còn xuẩn ngốc hơn gấp bội. Vì vậy, đi vào thế giới của mầu nhiệm, chúng ta phải hết sức khiêm tốn và nhận ra những bất toàn nơi đầu óc mình.

Các thánh giáo phụ vay mượn ý nghĩa của 3 lời khuyên phúc âm để minh họa tình yêu đối với Thiên Chúa Ba Ngôi. Sống tinh thần khó nghèo chính là thể hiện niềm tin vào Chúa Cha, đấng quan phòng và luôn yêu thương con cái mình. Đức Khiết tịnh diễn bày tinh thần từ bỏ để sống với một tình yêu thuần khiết theo gương Chúa Giêsu. Sự Vâng phục của người tu sĩ mời gọi chúng ta mở lòng cho Chúa Thánh Thần tác động. Đó chính là ân ban của Thần Khí giúp chúng ta luôn biết tìm kiếm và quy thuận thánh ý của Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng đã mặc khải cho chúng ta về Chúa Cha và về Thần khí tác sinh. Khi Ngài lãnh phép rửa tại sông Jorđan, mầu nhiệm Ba Ngôi từ từ được vén mở, qua tiếng Chúa Cha từ trời vọng xuống và Thánh Thần đậu xuống trên Ngài dưới hình chim bồ câu. Ngoài những điều mà Kinh thánh mạc khải, giáo huấn của Giáo hội cũng đầy ắp những gợi mở cho chúng ta về mầu nhiệm cao cả này. Đây là giáo lý căn bản và chúng ta vẫn thường xuyên tuyên xưng mầu nhiệm ấy mỗi khi chúng ta giơ tay làm dấu Thánh giá để cầu nguyện cùng Chúa Ba Ngôi.

Phẩm tính căn bản của mầu nhiệm Ba Ngôi chính là tình yêu.

Trong lá thư thứ nhất của Thánh Gioan, vị tông đồ đã định nghĩa về Thiên Chúa qua một hạn từ rất đơn giản và cô đọng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Đức Thánh Cha Phanxicô cũng khẳng quyết rằng, ‘Lòng thương xót’ là tên gọi thứ hai của Thiên Chúa, bởi vì thương xót là cách hiển thị rõ nét về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho con người. Khi chiêm niệm về mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng ta hãy cảm nghiệm như Thánh Phaolô đã từng diễn tả: “Thiên Chúa đã đổ đầy tình yêu của Người vào tâm hồn chúng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho chúng ta (Rm 5, 5b). Để mặc khải về tình yêu của Chúa Cha, Đức Giêsu đã nói với Nicôđêmô : “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một của Ngài để ai tin vào người Con, sẽ được sống. (Ga 3,16). Vì thế, khi chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi, chúng ta bắt đầu sống ơn gọi làm con và khởi đầu sứ vụ thực hành tình yêu như Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đã nói: “Mỗi người chúng ta được trao ban một sứ vụ để chu toàn, đó là sứ vụ của tình yêu”.

Kết luận

Một bữa nọ, Ông Voltaire, một triết gia vô thần đi bách bộ với một anh bạn trên con đường quê ven rừng. Giữa giao lộ có một cây Thánh giá phủ đầy tuyết. Voltaire đã công khai bỏ đạo từ lâu, và hoàn toàn không còn tin vào Thiên Chúa nữa. Ông còn ngạo nghễ chế diễu niềm tin của các Kitô hữu. Nhưng người bạn đang đi với ông lại có niềm tin rất sâu xa. Voltaire chỉ vào cây Thánh giá phủ đầy tuyết và nói với anh bạn: “Đây là hình ảnh của tôn giáo ngày nay. Thiên Chúa của các anh đã bị văn minh khoa học phủ kín mặt mày và niềm tin tôn giáo đã bị sự lạnh lùng băng giá của con người hôm nay che lấp. Vì vậy, Thiên Chúa của các anh không còn lý do để hiện hữu nữa”. Chợt lúc đó, có một cơn gió mạnh thổi đến hất tung chiếc mũ trên đầu Voltaire và quăng xuống đất, đồng thời cơn gió đã làm tan chảy lớp tuyết bao phủ cây Thánh giá. Gương mặt Chúa Giêsu từ từ hiện lộ một cách rõ nét. Người bạn của Voltaire lúc đó mới trả lời ông : “Này bạn, đây mới là hình ảnh đích thực của niềm tin tôn giáo ngày hôm nay. Cho dù con người vẫn lạnh lùng và chai cứng như lớp tuyết trắng che kín Thánh giá, nhưng sức mạnh của Thiên Chúa vẫn dư sức hất tung sự kiêu ngạo của con người và làm tan chảy sự lạnh lùng nơi con tim sỏi đá của mọi người. Ngài luôn hiện hữu cho dù con người vẫn đang ra sức loại trừ Ngài”.

Một nhà tu đức đã nói : “Chúng ta hãy kiếm tìm Thiên Chúa chứ đừng tìm nơi ở của Ngài”. Chúa ở khắp mọi nơi và đang ở trong tâm hồn mỗi người. Chúng ta hãy không ngừng đi kiếm tìm Ngài.

Về mục lục

.

ĐẤNG ĐỊNH NGHĨA SIÊU NHIÊN

P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn,Đoạn Lời Chúa Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay theo Tin Mừng Gioan là Đoạn Lời Chúa nói về “tình yêu”. Vâng, tình yêu hai chữ thật “cao siêu” bởi vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, vì “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”.

Vâng, tình yêu tưởng chừng đơn giản, nhưng thật không giản đơn, bởi vì chính Con Một Thiên Chúa, Đấng đã đến thế gian để “dịnh nghĩa” về tình yêu thật lớn lao, thật vất vả khó nhọc, thật phi thường và cũng thật khủng khiếp, đó là Mầu Nhiệm Tử Nạn của Đức Kitô.

Tình yêu mang chiều kích tâm linh, siêu nhiên, chứ không phải tự nhiên như người ta nghĩ, vì vậy, tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa chứ không phải từ thế gian.

Đức Kitô, Đấng đã đến từ Thiên Chúa, tức siêu nhiên, như vậy Người là Đấng định nghĩa siêu nhiên, vì tình yêu thuộc về siêu nhiên.

Lời Chúa ( Ga 3,16) đã định nghĩa điều ấy :”Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.”

Theo đó, rõ ràng, Chúa Giêsu là Đấng “định nghĩa tình yêu”, vâng, tình yêu đến từ và bắt nguồn nơi Thiên Chúa, vì vậy, tình yêu là trạng thái siêu nhiên. Vì vậy, không một ai ngoài Thiên Chúa ra có thể định nghĩa siêu nhiên được. vì, Đấng từ Trời mà đến, thì mới có thể kéo nhân loại lên được.

Lễ Chúa Ba Ngôi cho chúng ta hiểu được chiều kích đó. Khi nói về Chúa Giêsu, thì không thể chỉ có mình Người đơn độc, mà là chính Ba Ngôi ngự trị trong Người. bởi vì, Thiên Chúa là một Mầu Nhiệm hiệp thong, chứ không đơn độc, duy nhất một Thiên Chúa, nhưng là Ba Ngôi. Một sự trọn vẹn nơi bản tính của tình yêu. Vì , nếu chỉ Một Ngôi duy nhất, một Chúa Duy nhất, thì không cần có tình yêu, như vậy , tức không có sự sống, vì tình yêu mang lại sự sống. Nếu tự bản chất nơi Thiên Chúa không cần tình yêu, thì lúc ấy không còn là Thiên Chúa nữa.

Ba Ngôi Thiên Chúa ban cho nhân loại sự sống, vì tình yêu chính là sự sống viên mãn, nên chi , khi phàm nhân bất nghịch với Thiên Chúa, thì lúc đó, phàm nhân phải chết, nhưng vì bản chất là tình yêu, Thiên Chúa không bỏ mặc con người dưới quyền sự chết, bởi vì, trong Thiên Chúa là một mầu nhiệm hợp nhất yêu thương, đó là Ba Ngôi. Vì thế, Ngôi Thứ Hai ra đời cứu chuộc nhân thế. Một nền thần học căn bản cho nhân loại, đó là :Thiên Chúa Ba Ngôi.

Nếu Đấng Cứu Thế không ra đời, nhân thế không thể nhận biết mầu nhiệm  Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng đã mạc khải tình yêu từ Thiên Chúa duy nhất. Vì vậy, mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi không khó hiểu như người ta tưởng.

Ba Ngôi không phải là “Ba Chúa” mà là Một Chúa, bở vì bản chất Thiên Chúa là tình yêu, vì tình yêu là sự “trao ban”. “Thiên Chúa đã trao ban Con Một của Ngài cho thế gian”.

Như vậy, Đấng “được trao ban ban “ ấy đã “mạc khải”  Thiên Chúa có Ba Ngôi, chinh là Đức Kitô – Giêsu là Đấng đã “định nghĩa siêu nhiên” cho nhân loại nhận biết những điều siêu nhiên.

Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa là một Mầu Nhiệm căn bản mang đúng bản chất Thiên Chúa là Tình Yêu qua sự mạc khải của Đức Giêsu- Kitô. Đồng thời Mầu Nhiệm một Chúa Ba Ngôi biểu lộ sự toàn năng trong sự yêu thương mà ra. Tình yêu chân chính không phải chỉ là “nụ hôn”, vì “nụ hôn Giu –đa” không phải là nụ hôn tình yêu chân thật. Rõ ràng, “nụ hôn Giu-đa” là nụ hôn phản bội, bất trung, bất tín, như vậy là “ nụ hôn tội lỗi”. Vì, tình yêu chân chính là tình yêu mang lại ích lợi cho đối tượng mình yêu thương, hay nói cách khác tình yêu chân chính là ” tình yêu vô vị lợi”. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu tự hiến như Đức Kitô, Người đã tự nguyện dâng chính mình là Hy Lễ Cứu Chuộc. Như vậy, Chúa Cha đã yêu thương thế gian và đã ban Người Con cho thế gian, để ai tin vào Người Con ấy thì sẽ được ơn Cứu Độ muôn đời. Và, Người Con ấy đã đến thế gian tự hiến mạng sống hữu hình của Người để “CỨU “ thế gian. Chúa Thánh Thần là nguồn ân sủng siêu nhiên làm cho nhân thế nhận biết mọi kỳ diệu trong vũ trụ, trong đó sự tạo dựng vũ trụ và con người, sự tái tạo con người tức ơn cứu chuộc, được diễn bày trong mầu nhiệp Nhập Thể và Nhập Thế của Đức Kitô – Giêsu.

Khởi đi từ Bài đọc I, ( Xh 34, 4b – 6 . 8-9 ) Thiên Chúa ngự xuống trên đám mây mà xưng Danh Thiên Chúa đang khi Môi-sê mang hai bia đá lên núi Sinai. Quả thật, Thiên Chúa tự mạc khải chính mình, thì nhân loại mới nhận biết, nếu không phàm nhân không thể tỏ tường.

Theo đó, Cựu Ứơc chưa mạc khải cho nhân loại, Một Chúa Ba Ngôi , mà chỉ mạc khải cho biết có một Thiên Chúa, Đấng Cực Thánh qua một phàm nhân là Môi-sê.

Bài đọc II, ( 2Cr 13, 11-13), thánh Phao-lo cho biết Thiên Chúa là ”Nguồn yêu thương và bình an” sẽ ở cùng chúng ta.

Như vậy, Mầu Nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là một nguyên lý siêu nhiên, mà cần biểu lộ , hầu tỏ bày sự an bài cho nhân thế trong càn khôn nầy. Cho biết , Thiên Chúa là tình yêu không đơn độc như “ bá chủ” hay một Vị Vua độc tài, mà là một tình yêu trao ban và tự hiến cho nhân loại trong nguyên lý từ Thiên Chúa.

Tháng sáu là tháng Kính thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một dấu chỉ bày tỏ cách tuyệt đối tình yêu siêu nhiên từ Thiên Chúa, mà không có thụ tạo nào thể hiện được, Tình yêu tự hiến của Chúa GIsêu biểu lộ qua Thánh Tâm của Người là một sự trào tràn cho nhân nhận ra một tình yêu siêu nhiên chỉ có nơi Thiên Chúa Ba Ngôi.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, Chúa đã biểu lộ bản tính yêu thương qua cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ của Đức Kitô, Ngơi Lời hằng sống vĩnh cửu. Xin thương ban cho chúng con nhận ra tình Chúa cao vời  mà đáp đền muôn một. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con ./. Amen.

Về mục lục

.

TÌNH YÊU CHO ĐI – TÌNH YÊU CỨU ĐỘ

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIOAN (Ga 3,16-18)

16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. 

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

2.1 “Trong mặc khải Thánh Kinh, có lẽ các bản văn trình bày Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chiếm một chỗ rất khiêm tốn. Câu văn nổi tiếng nhất nói về Thiên Chúa Ba Ngôi được tìm thấy trong Tin Mừng Mát-thêu, chương 28, câu 19: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Và phụng vụ đã không ngần ngại chọn lời chúc lành trong thư thứ hai của Thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Cô-rin-tô làm lời chào nhân danh Chúa Ba Ngôi đầu Thánh lễ: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần…” (2 Cr 13,13).”

“Tín điều Một Chúa Ba Ngôi là cách người Ki-tô chúng ta hiểu về Mầu Nhiệm Thiên Chúa. Cũng như anh em Do-thái giáo và Hồi-giáo, chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất, chứ không phải là ba Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa này được mạc khải cho chúng ta trong quan hệ ba chiều của yêu thương giữa ngôi Cha, ngôi Con, và Thánh Thần. Ba Ngôi đồng hình đồng dạng thành một đơn vị yêu thương duy nhất, nhưng lại có sự khác biệt: Cha không phải là Con, Con không phải là Thánh Thần. Trong tương quan giữa Ba Ngôi, cả ba không phải là các cá vị đơn lẻ, nhưng là mối tương quan hài hoà – hiệp nhất trong khác biệt, đấy chính là bản thể của Thiên Chúa.”   (Trích Huyền Nhiệm Ba Ngôi của tác giả Bảo Lộc). Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng uy linh, siêu việt, vô hình, toàn năng, toàn trí và tràn đầy tình yêu trong Mối Thông Hiệp Khôn Tả.

2.2 Thiên Chúa Ba Ngôi tỏ mình ra bằng/qua Công Trình Tạo Dựng, Cứu Độ và Thánh Hóa. Nói một cách đơn giản dễ hiểu hơn là Thiên Chúa Ba Ngôi tỏ mình ra qua/bằng Tình Yêu Cho Đi, Tình Yêu Hiến Dâng, Tình Yêu Cứu Độ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

2.3 Các tín hữu được mời gọi đi vào Mối Hiệp Thông của Ba Ngôi Thiên Chúa và đón nhận rồi quảng bá Tình Yêu Cho Đi, Tình Yêu Hiến Dâng, Tình Yêu Cứu Độ của Người, bằng cách tin vào Đức Giê-su Ki-tô Con Một Thiên Chúa:  “Ai tin vào Con của Người thì không bị kết án” (Ga 3,18). Không chỉ là tin xuông mà là tin và hành động đi song song và hòa quyện vào nhau trong một đời sống đức tin thống nhất.

III. THỰC THI LỜI CHÚA

3.1 Nhờ gia đình và Giáo Hội, tôi đã đón nhận Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi từ thưở sơ sinh. Tôi cũng đã tin vào Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã nhập thể làm người, sinh ra và lớn lên, lao động và rao giảng Nước Trời trong các vùng đất Pa-lét-tin, chịu đóng dinh và chịu chết trên thập giá trên đồi Can-vê và đã sống lại.

3.2 Tôi thể hiện niềm tin Ki-tô trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đoàn, qua các thực hành của đời sống đức tin. Tôi cố gắng làm cho niềm tin ấy càng ngày càng sâu sắc, bằng việc cầu nguyện, lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, đọc và suy niệm Lời Chúa, phục vụ anh em và truyền giáo.   

3.3 Từ nhiều thập niên tôi quan tâm đặc biệt đến việc phục vụ một cách vô vị lợi qua các Khóa Thánh Kinh và Huấn Luyện Lãnh Đạo, các Khóa Thánh Kinh 100 Tuần, các Khóa Huấn Luyện Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, Khóa Tìm Hiểu Công Đồng Va-ti-can II và Khóa Đào Tạo người Đào Tạo (T.O.T) trong tinh thần của Tình Yêu Cho Đi, Tình Yêu Hiến Dâng.

Tôi soạn các Bài Sống Lời Chúa Hôm nay, Suy Niệm Phúc Âm Chúa Nhật, các Bài Chia Sẻ và thực hiện các số GIÁO DÂN HỢP TUYỂN cũng  trong tinh thần ấy.

IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, chúng con xin dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa uy linh, siêu việt, toàn trí, toàn năng và yêu thương!

Chúa đã mạc khải cho loài người chúng con biết được Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Chúng con cảm tạ Chúa!

Chúa đã sai Con Một Chúa đến trần gian để cứu chuộc chúng con.  Chúng con đội ơn Chúa!

Chúa đã ban Thánh Thần cho những kẻ tin là chúng con. Chúng con ngợi khen Chúa!

Chúa đã mời chúng con sống hiệp thông với Chúa.  Chúng con chúc tụng Chúa!

Chúng con xin dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa uy linh, siêu việt, toàn trí, toàn năng và yêu thương!

Xin Chúa giúp chúng con biết sống hiến dâng phục vụ và chia sẻ với những người xung quanh. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM LỄ CHÚA BA NGÔI. NĂM A

 Lm. Anthony Trung Thành

Thiên Chúa Ba Ngôi là một tín điều và là một trong những mầu nhiệm chính trong đạo Công giáo. Là mầu nhiệm nên chúng ta không thể thấu hiểu được. Là tín điều nên buộc mỗi người kitô hữu phải tin. Không hiểu nhưng chúng ta tin vì đã được Đức Giêsu mạc khải và được Giáo hội định tín. Để thêm sự xác tín và sống Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi xin được gợi ý chia sẻ một số điểm sau đây.

Trong cuộc sống hằng ngày, có những điều chúng ta không thể thấu hiểu hết nhưng chúng ta vẫn tin. Chẳng hạn, cơm cá chúng ta ăn vào làm sao lại trở nên xương thịt ta? Cùng một chất đất mà cây cối hấp thụ lấy thì làm ra sản phẩm khác nhau: cây lúa làm ra gạo, cây lạc làm ra dầu, cây mía làm ra đường…mỡ bỏ vào nồi rán lên thì chảy ra nước, trứng bỏ vào thì đông lại…Chúng ta không thấu hiểu hết vì trí khôn chúng ta có hạn, nhưng chúng ta tin vì những điều đó là có thật. Những vấn đề này thường gọi là những mầu nhiệm tự nhiên.

Trong đời sống đức tin, ngoài ba mầu nhiệm chính (Một Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai xuống thế làm người, Ngôi Hai chuộc tội cho nhân loại), còn có vô số các mầu nhiệm khác, đặc biệt những mầu nhiệm liên quan đến cuộc đời của Đức Giêsu, đó gọi là những mầu nhiệm siêu nhiên. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cho biết, cả cuộc đời của Đức Giêsu là một mầu nhiệm (x. số 512-570): Mầu nhiệm Giáng sinh; những mầu nhiệm của tuổi thơ ấu như sự cắt bì, lễ Hiển linh, sự dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, sự trốn sang Ai-cập; những mầu nhiệm của đời sống ẩn dật như sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với Đức Maria và Thánh Giuse, sự kiện tìm lại được Chúa Giêsu trong đền thờ; những mầu nhiệm liên quan đến cuộc đời công khai như việc Đức Giêsu chịu phép rửa, Ngài bị cám dỗ, sự biến hình; những mầu nhiệm liên quan đến sự chết và sống lại, lên trời…

Ngoài ra, các Bí tích cũng là những mầu nhiệm. Chúng ta thường gọi là các Bí tích hay các Nhiệm tích. Bởi vì, Bí tích hay Nhiệm tích là dấu chỉ bề ngoài Chúa Giêsu đã lập để ban ơn bề trong. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận được các Bí tích nhờ đức tin mà thôi. Cho nên, trong thánh lễ, sau khi truyền phép, linh mục đọc: “Đây là mầu nhiệm đức tin.” Và trong bài “Đây Nhiệm Tích” chúng ta hát “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì.”

Trở lại với Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, tuy chúng ta không thấu hiểu nhưng qua mạc khải chúng ta biết được đây là mầu nhiệm của tình yêu:

Từ thời Cựu Ước, dân Chúa chỉ biết có một Thiên Chúa độc nhất. Ngài là một vị Thiên Chúa yêu thương. Ngài yêu thương con người “như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh”(x. Lc 13,34). Ngài yêu thương con người đến nỗi “dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa thì Ngài vẫn không bỏ rơi con người” (x. Tv 26,10). Chúng ta thấy rõ hơn điều này nơi nội dung của bài đọc I hôm nay: Thiên Chúa là Đấng nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín. Chính Ngài đã giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ Ai-cập, nhưng dân Israel lại phản bội Ngài. Thay vì thờ lạy Ngài, họ đúc con bò vàng để thờ lạy. Dầu vậy, nhờ lời chuyển cầu của ông Mô-sê, Thiên Chúa không những đã tha thứ cho họ mà còn lập giao ước đối với họ nữa (x. Xh 34, 4-6.8-9).

Sang thời Tân Ước, qua Đức Giêsu nhân loại mới biết rõ ràng về một Thiên Chúa có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần: “Cả Ba Ngôi khác biệt nhau nhưng luôn hiệp nhất với nhau nên chỉ có một Thiên Chúa. Cả Ba Ngôi ngang bằng nhau: không có ngôi nào có trước, ngôi nào có sau; không có ngôi nào hơn, ngôi nào kém vì cả Ba Ngôi có tự đời đời và có cùng một bản tính thần linh.”(x. bài Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, http://www.simonhoadalat.com). Đức Giêsu đã nhiều lần nói về Chúa Cha. Ngài cũng mạc khải về Ngài là Ngôi Hai, là Chúa Con và Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần. Vì yêu thương, Chúa Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật cho con người hưởng dùng. Vì yêu thương, nên Chúa Cha đã sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu xuống thế làm người chuộc tội cho nhân loại. Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.” (Ga 3,16-18). Cũng vì yêu thương nhân loại nên Chúa Con đã vâng phục Chúa Cha để chấp nhận làm người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Thánh Phaolô đã diễn tả sự vâng phục của Chúa Con rằng: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

Vì yêu thương, và nhờ lời chuyển cầu của Đức Giêsu, Chúa Cha đã ban Thánh Thần xuống để thánh hóa nhân loại. Chúng ta thấy vai trò thánh hóa của Chúa Thánh Thần qua những thay đổi nơi các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần và trong Giáo hội sơ khai. Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục vai trò thánh hóa trong Giáo hội và nơi mỗi người Kitô hữu mãi cho tới tận thế.

Tóm lại, trong thực tế cuộc sống có nhiều vấn đề chúng ta không hiểu nhưng chúng ta vẫn chấp nhận, đó là những mầu nhiệm tự nhiên. Trong đời sống siêu nhiên, có những vấn đề vượt quá trí hiểu của chúng ta, chúng ta không thấu hiểu nhưng nhờ mạc khải mà chúng ta biết, đó là mầu nhiệm siêu nhiên. Đặc biệt, trong số các mầu nhiệm siêu nhiên đó, có mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vậy, sứ điệp nào mời gọi chúng ta trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi hôm nay?

Thứ nhất, luôn luôn tin kính, mến yêu và cầu nguyện với Thiên Chúa Ba Ngôi. Hãy siêng năng đọc Kinh Sáng Danh, làm dấu thánh giá một cách sốt sắng. Không chỉ cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi cho mình, mà còn nhân danh Chúa Ba Ngôi để cầu nguyện cho người khác như lời cầu chúc của Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em” (2Cr 13,13).

Thứ hai, Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu. Vì vậy, đời sống của chúng ta phải phản chiếu đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng ta hãy yêu thương nhau và yêu thương hết mọi người. Tình yêu đó phải có hành động cụ thể trong đời sống gia đình và xã hội: giữa vợ chồng với nhau, giữa cha mẹ và con cái, giữa mỗi thành viên trong gia đình, giáo xứ, và những người chúng ta gặp gỡ hằng ngày, nhất là những người nghèo đói, bệnh tật, cô thế cô thân. Tình yêu đó được diễn tả qua sự hy sinh mà cao điểm của sự hy sinh là “chết cho người mình yêu.” Khi chúng ta yêu thương nhau là chúng ta đang làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi ta thiếu bác ái yêu thương là chúng ta đang chối từ niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Thứ ba, Thiên Chúa Ba Ngôi là hiệp nhất. Hiệp nhất đến nỗi Đức Giêsu đã nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy.”(x. Ga 14,7-14). Mặc dầu giáo lý phân biệt các công việc của Ba Ngôi: Chúa Cha là Đấng tạo dựng; Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc; Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hóa. Nhưng trong thực tế thì trong việc tạo dựng vẫn có công của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong việc Cứu chuộc vẫn có công của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và trong việc Thánh Hóa vẫn có công của Chúa Cha và Chúa Con. Nghĩa là, cả Ba Ngôi cộng tác với nhau để Tạo dựng, Cứu chuộc và Thánh hóa nhân loại. Ước mong rằng, trong mọi phương diện của đời sống mỗi thành viên trong gia đình, Giáo hội và xã hội biết phát huy tinh thần cộng tác, hiệp nhất như Chúa Ba Ngôi.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin thêm lòng tin, cậy, mến cho chúng con và giúp chúng con biết sống yêu thương hiệp nhất với nhau. Amen.

Về mục lục

.

MẦU NHIỆM PHÁT SINH MỌI MẦU NHIỆM

 JM. Lam Thy

Đề cập tới mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 234) đã khẳng định: “Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Ki-tô hữu. Ðây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, cội nguồn phát sinh mọi mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Ðây là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo “phẩm trật các chân lý đức tin” (DCG 43). “Trọn lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử về đường lối và các phương tiện mà Thiên Chúa chân thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mạc khải, để giao hòa và kết hợp với Người những ai từ bỏ tội lỗi” (DCG 47)”.

Cũng vì tính cách quan trọng hàng đầu ấy, Giáo hội quy định trong Thánh lễ hàng ngày tái hiện hy tế Thập Giá Chúa Ki-tô trên bàn thờ, với nghi thức mở đầu, vị chủ tế làm dấu thánh nhân danh Chúa Ba Ngôi (“Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”). Tiếp theo là lời cầu chúc cộng đoàn Dân Chúa tham dự Thánh lễ: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh (chị) em.” Đây chính là lời chúc cuối Thư thứ 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô (xc bài đọc 2 – 2Cr 13, 11-13). Cuối Thánh lễ, thì vị chủ tế lại xin Thiên Chúa Ba Ngôi ban phép lành cho cộng đoàn tín hữu: “Xin Thiên Chúa toàn năng, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ban phép lành cho anh chị em”. Xin cùng suy niệm về ý nghĩa của mầu nhiệm cực thánh này:

Đó chính là lời tuyên tín của Giáo hội về đức tin trong sứ vụ độc nhất vô nhị của Hội Thánh là: sống chứng tá Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Lời tuyên tín đó khởi đi từ mạc khải về mầu nhiệm Ba Ngôi, là một mạc khải đặc biệt và cũng là cốt lõi của sứ mạng cứu độ: Có Một Thiên Chúa duy nhất và Người có Ba Ngôi. Trong số các mầu nhiệm đức tin thì “Một Chúa Ba Ngôi” là mầu nhiệm quan trọng nhất và là nền tảng của các mầu nhiệm khác. Vì là lời tuyên tín nên tất nhiên “Ai tin thì sẽ được cứu độ” (Mc 16, 16). Đã là mầu nhiệm thì đương nhiên khó lòng thấu hiểu được; tuy nhiên, nếu biết xin ơn Thánh Thần soi sáng, và cố gắng tìm tòi học hỏi, thì cũng có thể lãnh hội được phần nào ý nghĩa, và sẽ không thấy có gì đối nghịch giữa khoa học và đức tin tôn giáo.

Dựa vào Lời Chúa Giê-su mạc khải trong Tân Ước, Hội Thánh đã rút ra chân lý mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: “Chỉ có Một Thiên Chúa và “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 7), nhưng Người lại có Ba Ngôi: Ngôi thứ Nhất là Cha, Ngôi thứ Hai là Con, Ngôi thứ Ba là Thánh Thần (Mt 3, 16-17; 28, 19). Vì Ba Ngôi cùng trong một nhiệm thể (ở trong nhau – đồng bản thể), cùng chung một bản tính, cùng một quyền năng, nên trong Ba Ngôi, không Ngôi nào lớn hơn (Ga 14, 10-12). Vai trò của mỗi Ngôi như sau:

†  Ngôi Thứ Nhất: Chúa Cha – Đấng Sáng Tạo muôn loài: Khi sáng tạo vũ trụ, vạn vật và loài người. Thiên Chúa xuất hiện là Ngôi Thứ Nhất như một người Cha. Người dùng Lời quyền năng (Ngôi Thứ Hai) làm cho vạn vật xuất hiện từ cõi hư không (St 1, 3), và tiếp tục quan phòng gìn giữ để các tạo vật ấy tồn tại, phát triển và tiến hóa ngày một hoàn thiện hơn. Người cứu độ loài người bằng việc sai Con Một (Ngôi Thứ Hai) nhập thể cứu chuộc và ban Thánh Thần (Ngôi Thứ Ba) tiếp tục chương trình cứu độ loài người qua Hội Thánh.

†  Ngôi Thứ Hai: Chúa Con – Đấng Cứu Chuộc nhân loại: Khi tới giờ đã định, Chúa Cha (Ngôi Thứ Nhất) sai Con Một là Chúa Con (Ngôi Thứ Hai) xuống thế làm người là Đức Giê-su Ki-tô (Ga 3, 16). Người thi hành sứ mệnh Thiên Sai (từ Ngôi Cha) bằng việc đi khắp nơi công bố Tin Mừng Nước Trời, làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế, và cuối cùng tình nguyện chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho loài người và sống lại để ban ơn cứu độ loài người cho khỏi sự chết đời đời. Đức Giê-su chính là “Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16), điều này đã được chính Chúa Cha mạc khải: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3, 17). Người là phản ảnh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa (Dt 1, 3). Ai thấy Người là thấy Chúa Cha (Ga 14, 9). Người luôn hiệp nhất với Chúa Cha (Ga 17, 22).

†  Ngôi Thứ Ba: Chúa Thánh Thần – Đấng Thánh Hóa mọi sự: Thánh Thần tuôn đổ thần khí ân sủng xuống trên các Tông đồ trong lễ Ngũ Tuần, Người ban ơn soi sáng giúp lương dân gia nhập Hội Thánh (Nhiệm Thể Đức Ki-tô), đồng thời tiếp tục bảo trợ Giáo Hội chu toàn ba chức vụ của Chúa Giê-su, cũng là ba sứ vụ của Giáo Hội, của mỗi Ki-tô hữu: *1- Làm Ngôn sứ (sứ giả được sai đi rao giảng về Lời, tức loan báo Tin Mừng); *2- Làm Tư tế (dâng hiến bản thân làm của tế lễ Thiên Chúa) nhằm thánh hóa bản thân mỗi Ki-tô hữu nhờ các phép bí tích do Chúa Giê-su thiết lập; *3- Làm Vương giả (làm vua bản thân, tức là làm chủ bản thân, “thống trị mặt đất và làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” – St 1, 28), để đi tới phục vụ đoàn chiên cộng đồng (theo gương Đức Vua Phục Vụ Giê-su Ki-tô). Để thưc thi và hoàn tất sứ vụ này, người tín hữu phải tuyệt đối trông cậy vào Đấng Bảo Trợ Hội Thánh. Đấng ấy chính là Thiên Chúa Ngôi Ba, là Thánh Thần, Thánh Linh hay Thần Chân Lý.

Vì Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, nên con người không thể dùng trí khôn bất toàn của mình mà “suy sự Đức Chúa Trời” giống như Thánh Au-gus-ti-nô đã từng làm và đã được Thiên Chúa sai sứ thần trong vai một em bé nhắc nhở (*1). Tuy nhiên, căn cứ vào ân sủng cứu độ được thực hiện bởi Ngôi Hai Thiên Chúa, Giáo Hội đã đi đến khẳng định chiều hướng mạc khải: “Chúa Cha được mạc khải qua Chúa Con; Chúa Cha và Chúa Con được mạc khải nhờ Chúa Thánh Thần” (GL/HTCG, số 238-248). Thực thế, loài người – thông qua các thánh Tông đồ và dân tộc Ít-ra-en cách đây trên 2000 năm – đã được thực mục sở thị (trông thấy nhãn tiền), được gặp gỡ trò chuyện, ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ với một trong Ba Ngôi là Ngôi Hai Thiên Chúa – một con người với bản tính người-rất-người, người 100% (không kể bản tính Thiên Chúa). Chính Con Người ấy trong mọi sinh hoạt trên đời này đều luôn minh chứng cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều tồn tại trong Ngôi Lời Nhập Thể:

Khi chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan (“và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” – Lc 3, 22); khi ăn uống và cả những khi cầu nguyện thì luôn dâng lời chúc tụng tôn vinh Chúa Cha trên trời (“Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” – Ga 12, 28). Đặc biệt hơn cả là khi dạy dỗ, trò chuyện, giao tiếp với các môn đệ, với mọi người, “Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 21-23); “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11, 13); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9); “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28, 18-19)…

Nhiều lắm những dẫn chứng rất sinh động và thật cụ thể để minh họa, do chính các Thánh sử, các Thánh Tông đồ – những con người đã sống liền bên, ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ, cùng trò chuyện, được dạy bảo, nhất là “đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chiêm ngưỡng, đã chạm đến” Ngôi Hai Thiên Chúa (1Ga, 1) – ghi lại trong Thánh Kinh. Rõ ràng là cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều cùng tồn tại trong Ngôi Hai, một con người đã được tượng thai bằng xương bằng thịt và sinh hạ bởi một người phụ nữ như tất cả những con người hiện diện trên trái đất này, cách đây hơn 2000 năm. Từ đó suy ra trong Ngôi Cha cũng có Ngôi Hai và Ngôi Ba, trong Ngôi Ba cũng tồn tại Ngôi Cha và Ngôi Con. Cả 3 Ngôi đều có ở trong nhau, tồn tại trong nhau, vì thế Ba Ngôi vẫn chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện.

Nói 3 Ngôi ở trong nhau như một thân thể duy nhất chính là nói đến sự thông hiệp giữa Thiên Chúa Ba Ngôi, và từ cội nguồn mầu nhiệm đó, dòng suối hiệp thông tuôn tràn trên Giáo Hội phổ quát (“Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã dùng những lời của Thánh Cy-pri-a-nô để nhắc lại: “Giáo Hội phố quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánk Thần”. Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của Thánh Phao-lô Tông Đồ: ‘Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em’ (2Cr. 13, 13)” – T/H “Ki-tô hữu Giáo dân”, số 18).

Sự sống hiệp thông của Giáo Hội đã trở nên như một dấu chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa cho thế giới, đồng thời là một hấp lực thu hút mọi người tới niềm tin vào Chúa Giê-su Ki-tô qua Lời Người: “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ trở thành một trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17, 21). Dấu chỉ ấy, sự thu hút ấy phải chăng là công cuộc truyền giáo, là sứ vụ loan báo Tin Mừng, như lời khẳng định của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II: “Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo” (T/H “Ki-tô hữu Giáo dân”,  số 18).

Trên thế giới có nhiều hình ảnh cụ thể minh họa cho vấn đề tuyên tín (công bố niềm tin bằng lời thề) như một y bác sĩ tuyên thệ khi tốt nghiệp ngành Y khoa: “Nhân danh Đấng Tối Cao mà tôi tin tưởng, nhân danh Y Tổ Hippocrates, tôi xin thề…”; hoặc như một thẩm phán trước khi xét xử một vụ án cũng “Nhân danh công lý, tôi xin tuyên thệ trước tòa…”. Ấy là chưa kể vào những lễ tuyên thệ của các vị nguyên thủ quốc gia sau khi đắc cử, cũng đặt tay lên Hiến Pháp mà thề sẽ tuyệt đối trung thành với Tổ quốc “Nhân danh Quốc Tổ và Hiến Pháp nước…, tôi xin tuyên thệ…”. Người Ki-tô hữu hôm nay cảm nghiệm được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc ý thức được sứ vụ duy nhất của mình đã được chính Ngôi Hai Thiên Chúa trao phó: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 19-20). Khi nghe Lời truyền dạy “Làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, thì cần phải hiểu mình làm những gì (cho bản thân hay cho tha nhân) cũng đều phải làm vì danh thánh Thiên Chúa Ba Ngôi.

Vậy thì người Ki-tô hữu còn chần chờ gì nữa mà không làm dấu thánh nhân danh Chân Lý Tình Yêu (“Nhân danh † Chúa Cha, † Chúa Con  và †Chúa Thánh Thần”) trước khi thi hành sứ vụ “Đi khắp tứ phương loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (dâng Thánh lễ, làm công tác Tông đồ, bác ái), kể cả trong sinh hoạt hàng ngày (trước khi ăn, trước khi ngủ, khi đọc kinh sớm tối, trong mọi công việc…). Ôi! “Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa đã sai Con Một là Lời chân lý và sai Thánh Thần, Ðấng thánh hoá muôn loài đến trần gian,  mạc khải cho chúng con biết mầu nhiệm cao vời của Chúa. Xin cho chúng con hằng tuyên xưng đức tin chân thật là nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi uy quyền vinh hiển. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Con Cha, Chúa chúng Con, Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Chúa Ba Ngôi).

——————————–

Chú thích: (*1)- Thánh Au-gus-ti-nô (354-430) – một nhà Thần học và Triết học – muốn hiểu thật tường tận về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Một hôm, thánh nhân đi đi lại lại trên bãi biển, vừa cầu nguyện vừa cố suy nghĩ xem có cách nào để hiểu và cắt nghĩa được tường tận mọi điều về Thiên Chúa Ba Ngôi. Đang đăm chiêu bách bộ, chợt ngài thấy có một em bé trông rất khôi ngô tuấn tú, đang dùng một vỏ sò múc nước biển đổ vào một lỗ nhỏ (hang cua, hang cáy). Ngạc nhiên, Thánh Au-gus-ti-nô liền dừng lại hỏi em đang muốn làm gì vậy. Em bé mỉm cười trả lời: “Cháu đang muốn tát cạn nước biển.” Thánh Au-gus-ti-nô phì cười: “Sao cháu làm một việc vô ích như vậy. Làm sao cháu có thể múc nước cả đại dương này để đổ hết được vào cái lỗ nhỏ như thế?” Em bé cũng cười rất tươi nói: “Thì việc cháu đang làm cũng đâu có gì khác với việc bác đang suy nghĩ?” Với sự đáp trả đầy thông minh hóm hỉnh của em nhỏ, Thánh Au-gus-ti-nô giật mình hiểu ra Thiên Chúa đã thức tỉnh ngài thông qua cậu bé (thiên sứ) này. Kể từ đó, thánh nhân không dám “suy sự Đức Chúa Trời” theo kiểu triết lý nhân sinh nữa.

Về mục lục

.

NGUỒN TÌNH YÊU

Lm. Jos. DĐH.

Tục ngữ có câu: có chí thì nên. Nên như thế nào, thành đạt ra sao, vẫn chỉ là khái niệm chung chung trong xã hội, nơi những con người có đủ nghị lực một lòng sống quyết tâm của mình. Đất nước phát triển, mở ra kỷ nguyên mới cho muôn dân được an vui hạnh phúc, nhờ có tướng tài, quân giỏi. Gia đình no cơm ấm áo, vợ chồng con cháu trên thuận dưới hòa, đều hệ tại các thành viên biết sống thủy chung và tình yêu thương được sẻ chia. Từ thuở nhỏ, chúng ta đã từng nghe đọc: một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao ; chân lý ấy phủ nhận sự đơn lẻ, đề cao sức mạnh đoàn kết, thì ít nhiều chúng ta đã được nhắc đến thế nào là nên một trong tình yêu.

Người ta thường đưa hình ảnh đôi trai tài gái sắc để diễn tả tình yêu gọi là trọn vẹn, thực tế: “Thạch Sanh đức độ song toàn thật xứng với công chúa Quỳnh Nga”; “Sơn Tinh đủ tài đức để cưới được Mỵ Nương”. Trong tình nghĩa phu thê, cha ông ta có câu: yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch vẫn kê cho vừa. Chữ tình nơi anh chị em được bày tỏ hết sức trân trọng: anh nhường em nhịn, chị ngã em nâng. Tương quan yêu thương rất thiêng liêng nơi gia đình được sẻ chia thật ngọt ngào: cha là núi, mẹ là sông, các con thuận thảo muôn việc thành. Dù nên vợ thành chồng gọi là duyên phận, gia đình hạnh phúc được gọi là cơm lành canh ngọt, tình huynh đệ có tôn ti trật tự, tất cả vẫn là lời mời hãy khám phá giá trị của tình yêu có nguồn từ đâu ?

Con người có tổ có tông, như cây có cội, như nước có nguồn, dòng tộc, tổ tiên, vừa là điểm tựa, vừa là nơi chốn để con cháu thể hiện niềm tin đối với các đấng bậc: uống nước nhớ nguồn. Về phương diện tự nhiên, nhiều người cho rằng: có tiền để làm gì, có sức khỏe làm gì, có địa vị làm chi, nếu nơi cuộc sống của mình thiếu vắng tình yêu ? Xét về phương diện tâm linh, Đức Giêsu đến trần gian làm gì, nếu không phải để mạc khải cho nhân loại biết Thiên Chúa là cội nguồn tình yêu, nếu không phải để cứu độ, giới thiệu mẫu gương Ba Ngôi hiệp nhất, là chuẩn mực được ban tặng cho con người.

Thánh sử Gioan thật khéo khi đưa chúng ta vào mầu nhiệm duy nhất: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời”. Sự sống và tình yêu cứu độ, Thiên Chúa đã đặt để trong Đức Giêsu, Nguồn sống đó, khởi đầu từ việc Tin và đi trong đường lối Con của Người thì có sự sống đời đời. Tin và đón nhận niềm tin, luôn là sự tự do: có người lao vào tìm kiếm vật chất địa vị, có người chỉ lo đầu tư kiến thức, bỏ qua cơ hội đến với tình yêu gia đình, tình yêu sâu thẳm trong tâm tư.

Ngày hôm nay, tình yêu vẫn là căn bản để con người tìm thấy bình an nội tâm, gặp gỡ nguồn hạnh phúc thật, dù khái niệm và thời gian, mỗi người sử dụng cách tùy tiện: gió chiều nào theo chiều ấy. Nếu tất cả máy móc chỉ vận hành khi được cắm vào nguồn điện, tất cả những người con trưởng thành, nên người hữu ích, đều nhờ bởi ơn cha nghĩa mẹ, hẳn tình yêu thật, hạnh phúc thật, không thể không có nguồn cội. Kinh nghiệm ở trường đời cho thấy: mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn. Không ai yêu con bằng cha, cũng không ai hiểu con bằng mẹ. Yêu hay hiểu, cũng là ta đang sống trong mối dây thông hiệp giữa tình yêu nguồn cội từ Thiên Chúa, dù ý thức hay niềm tin của ta còn hời hợt.

Nhân loại vẫn mãi mãi tìm kiếm hạnh phúc, Thiên Chúa từ đời vẫn là Thiên Chúa yêu thương, Người thấu biết sự hụt hẫng của con người là cô đơn, là thiếu vắng bình an, niềm vui, và qua Đức Giêsu, nhân loại biết rõ hơn: “Thiên Chúa đã yêu thế gian”. Sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa chính là tình yêu Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi để cảm nhận qua lời nói và hành động của Đức Giêsu. Nếu con cái thụ động theo kiểu thiên lôi chỉ đâu đánh đó, thì quả là vô vị ; nếu  bậc sinh thành chỉ nói cha mẹ yêu con, tình yêu ấy cũng nhàm chán thiếu thuyết phục. Nếu ông Nicôđêmô, nếu các môn đệ, nếu chúng ta hôm nay chỉ nghe nói và gặp Đức Giêsu hàng ngày, mà không tin, không sống giáo huấn của Đức Giêsu, thì cùng lắm chúng ta mới giống các luật sĩ biệt phái, chỉ là những con người lý thuyết mà thôi.

Bậc làm cha mẹ còn biết nuôi dạy con cả về đời sống vật chất cũng như tinh thần, đấng bậc sinh thành luôn thao thức dạy dỗ con biết bằng hành động, hiểu bằng niềm tin: cha mẹ hiền để đức cho con. Thiên Chúa qua Đức Giêsu, Người diễn tả Nguồn tình yêu trong Đức Kitô phục sinh: là Cha rất mực yêu thương, là Con đầy tình bao dung, và là Thánh Thần dồi dào sức mạnh nâng đỡ dẫn đưa tới niềm vui hạnh phúc. Vũ trụ rộng lớn bao la so với đầu óc hạn hẹp của con người, dù chúng ta có sử dụng công nghệ hiện đại nhất cũng không thể hiểu tại sao Thiên Chúa yêu thế gian, ban Con Một Người để cứu độ nhân loại ? Chúng ta có hiểu, có tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta hay không, song mầu nhiệm Ba Ngôi vẫn hiện hữu, Thiên Chúa vẫn là Nguồn cội yêu thương. Sống yêu thương, là cách thế chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm và tình yêu thương của Ba Ngôi đang hoạt động trong cuộc đời mỗi chúng ta. Amen.

Về mục lục

.

TRAO BAN TẤT CẢ VÌ YÊU THƯƠNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Sau nhiều năm trời mòn mỏi đợi trông, mãi cho đến trăm tuổi, Cụ Áp-ra-ham mới được diễm phúc có con nối dõi tông đường. I-xa-ác chào đời đem lại niềm vui chan hoà cho Cụ Áp-ra-ham. I-xa-ác là lẽ sống, là cây gậy chống đỡ tuổi già, là tương lai cho giống nòi và là tất cả niềm hy vọng của Cụ. (Sáng thế 22, 1-18)

Thế mà, oái oăm thay, Thiên Chúa truyền cho Cụ phải sát tế đứa con quý yêu để tế lễ cho Ngài. Trời đất như quay cuồng sụp đổ khi Cụ Áp-ra-ham nghe lệnh truyền của Thiên Chúa.

Phải tự tay sát tế đứa con một rất đỗi yêu dấu là một nỗi đau thương làm tan nát cõi lòng, thế nhưng vì tình thương và lòng thần phục đối với Thiên Chúa, Cụ Áp-ra-ham đã chấp nhận hy sinh.

Tuy nhiên, Thiên Chúa chỉ thử lòng Cụ Áp-ra-ham thôi. Ngài không nỡ để cho một người cha già phải gánh chịu một nỗi đau thương lớn lao đến thế.

Trao ban Người Con Một

Trích đoạn Tin mừng trong ngày lễ hôm nay (Gioan 3, 16-18) cũng đề cập đến một người Cha khác là Thiên Chúa, đã thực hiện một hy sinh lớn lao hơn nhiều, chỉ vì tình yêu thương.   

Vì quá yêu thương nhân loại lỗi lầm, vì không muốn cho muôn người phải lâm vào cảnh trầm luân muôn đời vì tội lỗi ngút ngàn của họ, Thiên Chúa Cha đã hiến tế Người Con Một yêu dấu của mình, cho Con Một chết thay cho nhân loại lầm than và để cho những ai tin vào Con của Ngài thì được sống muôn đời:

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ”. (Gioan 3, 16-17)

Xưa kia, Thiên Chúa không nỡ để cho I-xa-ác phải chết dưới lưỡi dao oan nghiệt của Cụ Áp-ra-ham, không để cho thân xác của I-xa-ác phải chịu thiêu đốt trên bàn thờ để làm hy lễ cho Thiên Chúa, nhưng đến một thời, Thiên Chúa Cha lại để cho Con Một Ngài, là Ngôi Hai Thiên Chúa, phải chịu đóng đinh, chịu quằn quại đau thương và chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại và để ban cho muôn dân được sống đời đời. Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã ban Người Con Một…

Người tôi tớ thấp hèn liều mình chết thay cho chủ nhân quyền quý, hay người dân đen cùng khốn chết cho hàng vua chúa cao sang… là điều dễ chấp nhận; đằng nầy Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất lại hiến thân chết thay cho loài người hèn mọn thì quả là điều vượt quá trí tưởng tượng con người. Chỉ vì quá đỗi yêu thương loài người, Thiên Chúa mới có thể hy sinh đến thế.

“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng vì bạn hữu mình” (Gioan 15, 13) và không có tình yêu nào sánh ví được với tình yêu khôn vời của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Đền đáp hồng ân 

Khi được người khác biếu tặng một món quà, ai trong chúng ta cũng đều nhớ ơn ân nhân và tìm cách đền đáp lại bằng món quà tương xứng. Người nào quên đền ơn đáp nghĩa sẽ bị xem là kẻ vô ơn, là người không biết điều.

Thế thì khi được Chúa Trời ban tặng chính Con Một Ngài để cứu mạng cho chúng ta, khi được Chúa Giê-su hiến thân chịu chết để cứu ta khỏi chết muôn đời, có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc đền đáp công ơn trời biển đó chưa?

Để đền đáp phần nào tình thương bao la của Thiên Chúa Cha, Đấng đã trao ban Con Một mình cho nhân loại, để đền đáp sinh mạng của Chúa Giê-su đã trao hiến cho bạn và cho tôi, chúng ta hãy dâng cho Ngài một hiến lễ tương tự. Đó là “hiến dâng thân mình chúng ta làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rôma 12, 1). Đó cũng là nguyện ước của chân phước An-rê Phú Yên hôm xưa: “Đem cuộc sống báo đền cuộc sống; lấy tình yêu đáp trả tình yêu.”

Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa,

Chúa Cha yêu thương chúng con đến nỗi hiến ban Người Con Một xuống thế cứu sống chúng con; Chúa Con đã yêu thương chúng con đến nỗi hiến dâng cả mạng sống và trao ban cho chúng con  đến giọt máu cuối cùng…

Xin cho chúng con đừng thờ ơ hững hờ, vô tâm vô cảm trước tình yêu trời bể ấy nhưng biết đền đáp tình yêu của Chúa bằng cách hiến dâng cuộc sống mình để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.

Về mục lục

.

MẦU NHIỆM

 Lm. Trần Việt Hùng

Ba Ngôi một Chúa nhiệm mầu,

Ai mà thấu hiểu, cao sâu tầng trời.

Ngước nhìn vũ trụ tuyệt vời,

Muôn ngàn tinh tú, bầu trời bao la.

Tôn thờ Thiên Chúa, Ngôi Cha,

Tạo nên muôn vật, hải hà trùng dương.

Ngôi Hai Con Một mở đường,

Yêu thương mạc khải, tinh tường trí khôn.

Loài người có xác có hồn,

Muôn loài thụ tạo, kính tôn Chúa Trời.

Giê-su giáng thế làm người,

Ban ơn cứu độ, cho người Chúa yêu.

Ai tin nhận lãnh thiên triều,

Chối từ, luận phạt, tự kiêu phí đời.

Nhân Danh Con Một cao vời,

Trung gian giao kết, mọi người với Cha.

Tình yêu phát xuất Ngôi Ba,

Thánh Thần Phù Trợ, ngợi ca muôn đời.

Ba Ngôi mầu nhiệm cao vời,

Phụng thờ kính mến, đời đời hát khen.

Khi chúng ta làm dấu thánh giá là chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Dấu thánh giá là bảo chứng tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây là mầu nhiệm cao trọng nhất trong đạo. Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta hiểu biết về Chúa Cha nhân hậu và Chúa Thánh Thần là nguồn tình yêu.

Tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm mà con người không thể hiểu thấu. Đây là mầu nhiệm tình yêu trong gia đình Thiên Chúa. Có nhiều người thắc mắc là tại sao ba ngôi mà là một Chúa hay một Chúa mà là ba ngôi. Vậy là ba Chúa hay một Chúa.

Lại có người mạnh miệng nói rằng tôi không thể chấp nhận, nếu tôi không được giải thích tường tận. Không có ai giải thích cho tôi hiểu, tôi sẽ không tin. Rồi có một linh mục gợi ý nói rằng vậy ông bạn có tin vào mặt trời không? Ông trả lời: Có chứ! Linh mục nói những tia nắng xuyên qua cửa kính đó đến từ mặt trời, ở cách xa chúng ta 90 triệu dặm. Chúng ta cảm nhận sức nóng từ cả tia nắng và mặt trời. Ba Ngôi giống như thế. Mặt trời là Thiên Chúa Cha, sai Con của Ngài là tia nắng. Từ mặt trời và tia nắng liên kết tạo ra sức nóng như Chúa Cha và Chúa Con liên kết với Chúa Thánh Thần. Ông bạn giải thích thế nào?

Giải thích thế nào cũng chỉ là một chút vén mở về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi. Hình ảnh Chúa Ba Ngôi đậm nét trong tất cả các sinh hoạt của vũ trụ. Từ những cảnh vật vô tri, đến các loài thảo mộc và các loại động vật khác nhau hiện hữu đều phản ảnh sự hiện diện của Thiên Chúa. Mầu nhiệm cao trọng này không xa vời để chúng ta mà chiêm ngắm, nhưng là một mầu nhiệm chan hòa trong yêu thương của đời sống để cảm nghiệm. Thiên Chúa chia xẻ tình yêu của Ba Ngôi trong chính cuộc sống của mỗi người. 

Mỗi người đều được chia xẻ tình yêu trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Phản ánh qua tình yêu của người cha, người mẹ và con cái trong gia đình. Càng kết hợp chặt chẽ trong tình yêu, chúng ta càng tìm thấy niềm an vui và hạnh phúc.

Trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Cha tác tạo muôn loài muôn vật, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Xin thánh hóa chúng con trong tình yêu và chân lý. Chúng con tôn thờ Chúa, chúng con chúc tụng Chúa và chúng con cảm tạ Chúa mãi muôn đời.

Về mục lục

.

CĂN TÍNH ĐỨC KITÔ

Lm Vũđình Tường

Đức Kitô tự mặc khải cho nhân loại biết Ngài là Con Thiên Chúa. Bởi là Con Thiên Chúa nên Thiên Chúa là Cha Ngài. Có sự liên hệ hết sức mật thiết, bền chặt đến độ không gì có thể tháo gỡ giữa tình Cha Con. Chính nhờ sự mật thiết này mà Kitô hữu khám phá, tìm tòi, học hỏi biết được khá nhiều về bí ẩn của một Thiên Chúa Ba Ngôi. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và Thiên Chúa đó có Ba Ngôi riêng biệt, cùng bản tính nhưng không cùng bản thể. Ba Ngôi khác bản thể bởi có Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Ba Ngôi cùng bản tính bởi Ba Ngôi suy nghĩ như nhau, cảm nhận như nhau và chia sẻ một tình yêu duy nhất. Chính Đức Kitô xác nhận sự liên kết mật thiết trong lời nói và trong hành động

Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy Gn 5,19

Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy Gn 14,7 Ai Thấy Thầy là thấy Chúa Cha c.9 Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy c.11

Chúa Con yêu mến Chúa Cha hết tâm tình và đặt niềm tin tuyệt đối vào Chúa Cha, đồng thời trao phó mạng sống mình trong tay Chúa Cha. Chúa Con vâng lời Chúa Cha xuống thế gian vác thập giá chuộc tội cho thiên hạ. Chúa Con không phải chỉ chuộc tội một phần nhân loại mà cứu chuộc toàn thể nhân loại làm của lễ Dâng Chúa Cha. Vì thế mọi hành động bác ái yêu thương, dù nhỏ mọn của các Kitô hữu thực hiện đều được Thiên Chúa tác động biến thành hiệu quả tuyệt vời.

Đức Kitô xuống trần gian mặc lấy thân phận con người như chúng ta chỉ trừ tội lỗi. Qua Đức Kitô mặc khải chúng ta biết Chúa Cha yêu mến nhân loại như chính Đức Kitô yêu mến nhân loại. Chúa Cha yêu mến nhân loại đến nỗi sai con một là Đức Kitô xuống trần gian.

Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi dã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời Gn 3,16

Đức Kitô yêu mến nhân loại đến nỗi ban cho nhân loại chính Thánh Thần Ngài. Chính món quà thượng hảo hạng Thánh Thần Đức Kitô trao ban mà nhân loại biết Ngôi Ba Thiên Chúa là Thánh Thần. Ngôi Ba Thiên Chúa cùng đồng hành với các Kitô hữu mọi ngày cho đến tận thế như lời Đức Kitô phán hứa.

Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy Gn 15,26

Đức Kitô chính là Đường là Sự Thật và là Sự Sống Gn 14,6 và con đường đó, sự thật và sự sống đó được Thánh Thần Chúa thánh hoá làm cho trở nên thánh thiện và tinh tuyền cho những ai bước đi trên con đường đó, lắng nghe và giữ sự thật sẽ được sống muôn đời. Ngoài ra những ai bước đi trên con đường đó còn được liên kết với Ba Ngôi Thiên Chúa, không phải do sức riêng mình mà do chính Đức Kitô liên kết họ với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta Gn.17,21

Lậy Cha, Con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con, cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con. C.24

Nhận biết Đức Kitô và tin vào Ngài sẽ học biết về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và mối liên hệ giữa Ba Ngôi Thiên Chúa cùng ơn cứu độ Chúa ban cho toàn nhân loại.

Về mục lục

.

BA NGÔI THIÊN CHÚA, KHÁC BIỆT NHƯNG HIỆP NHẤT

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Suy tư về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là khám phá nguồn gốc sâu xa nhất của chúng ta, bởi lẽ, chúng ta phát xuất từ Ba Ngôi và hướng về Ba Ngôi như là cùng đích đời mình, như nước dòng sông phát xuất từ biển cả mênh mông và rồi trở về với nguồn gốc của nó.

1. Một chân lý được Chúa Giêsu mặc khải

Kinh Thánh giới thiệu với chúng ta những nguồn mạc khải về mầu nhiệm lớn lao và cao cả này. Trước hết, cần lưu ý hạn từ “Thiên Chúa” trong Tân Ước muốn nói về Thiên Chúa Cha.

“Vậy, một khi được công chính nhờ Đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta… Chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa… Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,1.5).

Ba Ngôi Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con – Đức Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần hoà nhập với nhau, mà chúng ta tôn thờ với ba nhân đức đối thần là tin, cậy, mến.
Trong Tin mừng, một lần nữa, trong diễn từ biệt ly, Chúa Giêsu nói về các Ngôi Vị Thần Linh luôn hiệp nhất với nhau: “Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ dẫn anh em tới chân lý toàn vẹn… Tất cả những gì Chúa Cha có thì cũng thuộc về Chúa Con: vì thế, Thầy đã nói rằng Người sẽ dùng những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,12-15).

Khi suy niệm những lời này và những bản văn khác có cùng nội dung này: Giáo Hội tin rằng Thiên Chúa duy nhất nhưng có ba Ngôi Vị. Nhiều người nhận thấy có sự khó hiểu trong giáo huấn về Ba Ngôi. Họ hỏi rằng: Ba Ngôi hiệp nhất với nhau nên một nhưng vẫn là ba có nghĩa là gì? Sao không đơn giản chỉ tin vào một Thiên Chúa duy nhất như người Do Thái và Hồi giáo tin?

Câu trả lời rất đơn giản. Giáo Hội tin vào Ba Ngôi không phải là giáo huấn do Giáo Hội làm nên, nhưng đây là chân lý được Chúa Kitô mặc khải. Không ai có thể tưởng tượng ra mầu nhiệm Ba Ngôi. Mầu nhiệm này khó hiểu vì nó vượt quá khả năng lý trí con người, nhưng nó không chống lại lý trí. Tertulianô từ xa xưa nói rằng: “Tôi tin bởi vì nó là vô lý.” Ông muốn nói rằng: “Tôi tin bởi vì điều đó vượt trên lý trí của chúng ta và nếu Thiên Chúa hiện hữu, thì quả là rất bình thường vì Người vượt trên lý trí của chúng ta.” Để có thể hiểu về Thiên Chúa, lý trí chúng ta phải mở ra với Thiên Chúa.

2- Một Thiên Chúa hiệp nhất nhưng khác biệt

Chúng ta được mặc khải cho biết rằng Thiên Chúa là duy nhất nhưng lại khác biệt. Điều này vượt trên chính ý tưởng mà chúng ta có về sự hiệp nhất. Trong Thiên Chúa, hiệp nhất và khác biệt nên một và hài hoà với nhau. Bởi vì cả hai vừa hiệp nhất và vừa khác biệt. Nơi Người, sự đa dạng không phải là sự phân chia, mà là sự phong phú.

Có một lý do khác giúp chúng ta hiểu về chân lý này. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì không thể là một Thiên Chúa đơn độc, bởi vì tình yêu không hiện hữu nếu không có hai hoặc nhiều người. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, Người hiện hữu như một Người Yêu và một người Được Yêu và Tình Yêu nối kết họ.Về điểm này, thánh Augustinô có một sự phân biệt rất sâu sắc: “Ở đây có ba ngôi: Đấng đang yêu, Đấng được yêu và Đấng là tình yêu. Nếu bạn thấy Thiên Chúa Ba Ngôi, bạn thấy tình yêu.”
(Augustinô, De Trinitate, 8,10,14; 6,5,7.) Kitô hữu cũng là những người độc thần; người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, nhưng không phải là một Thiên Chúa đơn độc, mà là Thiên Chúa có ba ngôi vị. Theo đức tin Kitô giáo, sự hiệp nhất của Thiên Chúa rất giống với sự hiệp nhất của một gia đình, hơn là giống sự hiệp nhất của từng cá thể. Bởi lẽ, trong gia đình, sự hiệp nhất dựa trên các mối tương quan giữa các ngôi vị với nhau, như cha với con, vợ với chồng, cha mẹ với con cái; trong khi đó, sự hiệp nhất của các cá thể thì không xác định được các mối tương quan rõ ràng xây dựng sự hiệp nhất.

Nhưng tôi không muốn dài dòng với những giải thích này nữa. Tôi muốn dùng giáo huấn quan trọng nhất và phù hợp nhất về đời sống Ba Ngôi, được diễn tả trong Kinh Tiền Tụng của thánh lễ Chúa Ba Ngôi: “Khi tuyên xưng Ngài là Thiên Chúa thật và vĩnh cửu, chúng con tôn thờ Thiên Chúa có Ba Ngôi vị, hiệp nhất trong bản tính, nhưng bình đẳng với nhau trong quyền năng thần linh.” (Sách Lễ Rôma, 1992.)

“Ba ngôi và duy nhất, bình đẳng và khác biệt,” đây là hạt nhân của mầu nhiệm. Thiên Chúa Ba Ngôi được tuyên xưng là Thiên Chúa bình đẳng và khác biệt, bình đẳng về phẩm giá và khác biệt về tư cách và vai trò. Nhưng đâu là những yếu tố làm cho Ba Ngôi hiệp nhất và khác biệt?

Xin thưa, đây là những yếu tố làm cho Ba Ngôi hiệp nhất và giống nhau: cùng một bản thể Thiên Chúa, cùng ở trên một cấp bậc hữu thể, cùng chia sẻ quyền năng, vinh quang và danh dự, cùng hiệp nhất trong đời sống nội tại và cùng chia sẻ với nhau trong nhiệm cục cứu độ.

Những yếu tố làm cho Ba Ngôi khác biệt đó là: xét về tương quan, mỗi ngôi vị có một cương vị, Cha, Con, Thánh Thần. Cương vị Cha là Cha và không ai có thể thay thế, cũng thế đối với cương vị Con và Thánh Thần. Mỗi ngôi vị là duy nhất và độc đáo, phân biệt và đối lập với các ngôi vị khác. Xét nguồn gốc, mỗi ngôi đều có sự khác biệt. Cha là nguồn gốc, là nguyên lý phi nguyên lý, nên Cha tự hữu. Con được sinh ra bởi Cha từ đời đời, nên là nguyên lý của nguyên lý. Thánh Thần được nhiệm xuất từ Cha (và Con hay qua Con), là Ngôi Vị tình yêu của Cha và Con. Xét về sứ vụ, mỗi ngôi vị đều có sứ vụ đặc trưng: Cha là tạo thành, Con cứu chuộc, Thánh Thần thánh hóa. Hay trong chương trình cứu độ, Cha dự định, sắp xếp, Con thực hiện, và Thánh Thần hoàn tất. Tuy nhiên, trong bất cứ hành vi và sứ vụ nào của Thiên Chúa, các ngôi vị đều hiệp thông và hợp tác với nhau, tương tại trong nhau. Đó là vẻ đẹp của Thiên Chúa, có khác biệt nhưng không có chia rẽ, có bình đẳng và hiệp nhất nhưng không triệt tiêu tính độc đáo và tính cá vị của từng chủ thể.

Từ giáo huấn này, chúng ta học được bài học gì để sống tốt hơn trong thế giới này?

Con người có thể khác biệt về da màu, văn hoá, giới tính, chủng tộc, hay có phẩm giá bằng nhau, nhưng con người là gì xét như là những nhân vị?

Chúng ta lấy hình ảnh gia đình để giải thích giáo huấn về Ba Ngôi. Gia đình phải là sự phản chiếu ở trần gian về Ba Ngôi. Gia đình được làm nên từ những con người khác biệt về phái tính (đàn ông và đàn bà) và nhờ các thế hệ (cha mẹ và con cái), với những khác biệt về tình cảm, về đòi hỏi và sở thích. Sự thành công của một cuộc hôn nhân và một gia đình lệ thuộc ở mức độ mà sự khác biệt của mỗi người hướng tới sự hiệp nhất: hiệp nhất trong tình yêu, trong dự định, và hiệp nhất trong sứ vụ.

Sẽ là sai lầm khi một người đàn ông và đàn bà lại giống nhau về tính tình và năng khiếu; và để đi đến hoà hợp, hai người phải là năng động, hướng ngoại, theo bản năng, hoặc cả hai lại phải là hướng nội, trầm tỉnh, suy tư… Như thế sẽ làm mất sự khác biệt. Chúng ta biết những hậu quả tiêu cực của chúng có thể phát sinh cả trên bình diện thể lý. Chẳng hạn những cuộc hôn nhân thuộc cùng họ hàng, nếu họ máu quá gần sẽ gây ra những hậu quả về di truyền như có nguy cơ bệnh tật cao và yếu kém về chỉ số thông minh (IQ).

Người chồng người vợ khác biệt nhau nhưng bình đẳng với nhau, như một tấm huy chương có hai mặt, mỗi người là sự bổ túc cho người kia. Điều này giúp hiểu điều Thiên Chúa nói: “Đàn ông ở một mình thì không tốt: ta muốn tạo dựng cho nó một người trợ giúp giống nó” (St 2,18). Tuy nhiên, tất cả những điều này đòi hỏi một cố gắng để chấp nhận sự khác biệt của người khác, vì đối với chúng ta, đây là một điều khó nhất và chỉ có những người trưởng thành mới có thể đón nhận được.

3- Một vị Thiên Chúa gần gũi

Nhiều lúc, chúng ta quan niệm sai lầm rằng mầu nhiệm Ba Ngôi là một mầu nhiệm hoàn toàn tách biệt khỏi đời sống chúng ta và chỉ để cho các nhà thần học suy tư.
Trái lại, đây là một mầu nhiệm gần gũi nhất. Lý do rất đơn giản: chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi. Chúng ta mang trong mình dấu ấn hình ảnh Ba Ngôi. Như thế, chúng ta cũng được mời gọi để trở thành hoạ ảnh của sự hiệp nhất và đa dạng này.

Hoạ sĩ Andrej Rublev, người Nga, đã để lại một bức ảnh nổi tiếng về Ba Ngôi. Ông được gợi hứng từ một đoạn Kinh Thánh. Một ngày kia, khi ở gần cây sồi Mamrê, ông Abraham đón tiếp ba nhân vật huyền bí viếng thăm. Ông chào họ rằng: “Lạy Chúa tôi.” Họ là ba người nhưng cũng là một vị duy nhất (x. St 18,3). Các Giáo phụ đặc biệt nhìn nhận sự hiện ra này như là biểu tượng hoặc là sự tiên báo về Ba Ngôi.

Ba Ngôi thần linh trong Icôna giống như ba thiên thần. Mầu nhiệm Thiên Chúa “duy nhất” và “ba ngôi” được diễn tả ở đây từ ba nhân vật phân biệt nhưng lại bình đẳng với nhau.

Các khuôn mặt hướng về nhau một cách tuyệt vời tạo nên một vòng tròn, muốn nói lên sự hiệp thông giữa họ; nhưng sự vận chuyển khác nhau và sự hướng về nhau nói lên sự phân biệt giữa họ. Người ta nghĩ rằng Chúa Cha là thiên thần ở bên trái là người duy nhất có đầu đứng thẳng, trong khi đó Chúa Con – Đức Giêsu Kitô được đồng hóa với thiên thần ở giữa và Chúa Thánh Thần là thiên thần bên phải. Ca hai, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, với cái đầu cúi xuống, nói lên rằng Chúa Cha là nguồn suối và nguồn gốc của Ba Ngôi và cả hai được phát xuất từ Chúa Cha. Cả Ba đều mặc một chiếu áo màu xanh, dấu chỉ của bản tính thần linh mà các ngôi vị có chung với nhau. Nhưng ở trên hoặc ở dưới, mỗi ngôi mặc một màu sắc phân biệt với các ngôi khác: Chúa Cha mặc màu không thể định nghĩa được, như màu ánh sáng, dấu chỉ của sự vô hình và khôn tả của Người (không ai đã nhìn thấy Chúa Cha bao giờ); Chúa Con mặc một chiếc áo dài màu tối, dấu chỉ của nhân tính mà Người đảm nhận; Chúa Thánh Thần mặc chiếc áo dài màu xanh lơ, dấu chỉ của sự sống, vì Người là Đấng ban sự sống. Màu xanh là màu của sự sống.

Tất cả trong Icôna mang tính biểu tưởng. Cây màu xám ở đằng sau nhắc nhớ cây sồi ở Mamrê; hình chữ nhật đằng trước bàn thờ chỉ trái đất. Bàn thờ, trên đó có một chén hiến tế con chiên, gợi lên Bí tích Thánh Thể. Một hình thức tuyệt vời để nói về Ba Ngôi ban cho chúng ta Thánh Thể và hiến mình cho chúng ta nơi Thánh Thể. Trong Thánh Thể, chúng ta trở thành những người “dự bàn tiệc” của Ba Ngôi; chúng ta ngồi vào chỗ phía trước còn trống, để cần khép lại vòng tròn của Icôna.

Thánh Sergio là người được tôn kính trong lịch sử nước Nga vì đã có công giúp cho các nhà lãnh đạo bất hoà được hiệp nhất với nhau và như thế đã giúp cho cuộc giải phóng của nước Nga được thực hiện khỏi những người Tartati bành trướng khắp nơi. Khi đứng suy niệm lâu trước Icôna này, ngài có câu khẩu hiệu: “Khi chiêm ngắm Ba Ngôi Cực Thánh, hãy chiến thắng sự chia rẽ thù địch của thế giới này.”

Tôi nghĩ rằng đây cũng là sứ điệp lớn nhất mà mầu nhiệm Ba Ngôi ban cho thế giới hôm nay: Hãy chiêm ngắm Ba Ngôi để chiến thắng sự chia rẽ trong gia đình, trong xã hội và hãy vượt qua những sự kỳ thị dưới mọi hình thức đang làm đau khổ thế giới. Chúng ta cần lắng nghe lời mời gọi của Chúa, mỗi lần chiêm ngắm icôna này, đó là: “Anh em hãy nên một, như chúng ta là một” (x. Ga 17,11).

Về mục lục

.

MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tình yêu bởi vì qua dấu Thánh Giá, dấu chỉ Mầu nhiệm Ba Ngôi. Dấu Thánh Giá là biểu hiệu đức tin của người Công Giáo. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá chúng ta ca ngợi, tung hô và tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi :” Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần “.

Lúc còn nhỏ khi đi học Giáo lý, các thầy cô giáo lý viên thường ví dụ Chúa Ba Ngôi giống như một ngón tay có ba đốt. Tuy có ba đốt nhưng chỉ là một ngón tay hoặc có khi Chúa Ba Ngôi được ví như một trái trứng gà vv…có lòng đỏ lòng trắng và có vỏ nhưng chỉ là một cái trứng. Những ví dụ nhằm cho các trẻ em dễ nhớ nhưng thực tế chẳng thuyết phục gì. Càng lớn lên, càng được học Giáo lý và càng cầu nguyện, chúng ta hiểu được rằng muốn cảm nghiệm về Chúa Ba Ngôi, muốn biết được Chúa Ba Ngôi, chúng ta phải dựa vào mặc khải của Chúa Giêsu, đồng thời dựa vào Kinh Thánh để tìm hiểu, gặp Chúa Ba Ngôi. Chúng ta thường gặp những bản văn qui chiếu về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nhiều nhất nơi Tin Mừng của Thánh Gioan. Phúc Âm của thánh Gioan thường cho hay Chúa Giêsu nói về Cha Ngài và cũng nói về Chúa Thánh Thân. Tuy nhiên bản văn nổi tiếng nhất vẫn là bản văn của Thánh Matthêu :” Vậy các con hãy đi khắp muôn dân, qui tụ họ thành môn đệ của Ta, hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha và con và Thánh Thần”. Bản văn sinh động lại nằm trong Tin Mừng của thánh Máccô, khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, lập tức Chúa Thánh Thần đậu xuống trên ngài dưới hình chim bồ câu và một tiếng nói từ trời vọng xuống :” Con là Con yêu dấu của Ta “ ( Mc 1, 11 ).Tiếng nói, Chúa Con và chim bồ câu tạo thành bức tranh sinh động nói về Chúa Ba Ngôi. Thánh Luca lại diễn tả thời Cựu Ước là thời của Chúa Cha.Thời rao giảng Tin Mừng là thời kỳ hay kỷ nguyên của Chúa Con và thời kỳ sau cùng khởi đầu bằng lễ Hiện Xuống là thời kỳ của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô cũng nói về Chúa Ba Ngôi trong các thư của Ngài. Lời chúc nổi tiếng của thánh Phaolô bàn về Chúa Ba Ngôi nằm trong thư 2 Co 13, 13 :” Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em”.

Thực tế, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đức tin . Chỉ có con mắt đức tin chúng ta mới nhận ra Chúa Ba Ngôi. Với trí con người không đời nào chúng ta có thể hiểu thấu được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Augustinô đã cho chúng ta thấy rõ điều đó qua hình ảnh một em bé múc nước biển đổ vào lỗ đào trên bãi cát…

Vâng, tình yêu Thiên Chúa dành cho thế giới, cho nhân loại, cho con người quả quá tuyệt vời, cao sâu :” Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để ai tin vào Con của Người sẽ không phải chết, nhưng được sống muôn đời “. Chúa không muốn bất cứ ai bị hư đi, nhưng muốn cứu vớt mọi người. Tình yêu của Người là tình yêu xả kỷ, tình yêu tự hiến :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ). Thiên Chúa yêu thương con người, mỗi người đều có một chỗ trong trái tim dịu hiền của Người.

Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta ca ngợi tình thương vô biên của Chúa vì tình thương của Người bao phủ trên cuộc đời mỗi người chúng ta. Thiên Chúa đã cho chúng ta được sinh ra làm người và làm con cái của Người. Thiên Chúa lại quan phòng chở che chúng ta bằng chính tình yêu nhưng không của Người, đồng thời cho chúng ta được tiến về đất hứa, tiến về Quê Trời nhờ Chúa Thánh Thần và ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu để cùng với Người chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa Cha.

Chúng ta ca ngợi, biết ơn Thiên Chúa Ba Ngôi và mỗi lần làm dấu Thánh Giá. Đọc Kinh Sáng Danh và kInh Tin Kính là chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Gợi ý để chia sẻ :

1. Ai tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa Ba Ngôi ?
2. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm gì ?
3. Dấu hiệu của người Công Giáo do đâu ?
4. Chúa Thánh Thần là Đâng nào ?

Về mục lục

.

HÃY YÊU ĐI RỒI SẼ BIẾT SỰ THẬT

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Chúa Thánh Thần sẽ dẫn chúng ta đến sự thật toàn vẹn (x.Ga 16,13). Nhờ lời mạc khải của Chúa Kitô, chúng ta biết rằng Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa duy nhất mà là Ba Ngôi riêng biệt là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chỉ một Thiên Chúa duy nhất mà là Ba Ngôi. Tuy Ba Ngôi riêng biệt nhưng chỉ là một Thiên Chúa. Một mầu nhiệm vượt quá trí suy của nhân loại.

Vì sao Ba Ngôi mà chỉ là một Thiên Chúa hay vì sao chỉ một Thiên Chúa mà là Ba Ngôi? Xin được trả lời cách thành thật rằng bản thân không biết. Vì tin vào Đức Kitô, Đấng có lời quyền năng và yêu thương tôi cho đến cùng, cho đến chết trên thập giá, nên tôi tin vào lời của Người. Chính Chúa Kitô đã phải trả giá rất đắt, là cái chết thập giá, cho sự mạc khải này trong bối cảnh Do Thái giáo chỉ tin có một Thiên Chúa duy nhất và độc nhất. Chúng ta đừng quên một trong những lý do khiến đám đông dân chúng và nhiều người lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ đã từng lấy đã ném Chúa Giêsu và lên án tử hình cho Người, vì Người tự cho mình là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (x.Ga 10,31-33; Mt 26,62-66).

Thánh Kinh, đặc biệt Chúa Kitô không cho biết vì sao một Thiên Chúa mà là Ba Ngôi, nhưng đã mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như thế nào. Đó là mầu nhiệm tình yêu liên đới, hiệp thông trọn hảo, đầy năng động và sáng tạo. Và chúng ta, loài thụ tạo cao cả nhất trong các loài hữu hình, ngay trong kiếp lữ thứ này, có thể cảm nghiệm phần nào đó mầu nhiệm ấy, khi sống trong Thánh Thần, Đấng là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa Chúa con và Chúa Cha.

“Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và Đức Giêsu Kitô mà Cha sai đến” (Ga 17,3). Làm sao để nhận biết sự thật này nếu không được Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa tác động. Chúng ta đã được nhận làm con trong Đức Giêsu. “Vì là con, nên Thiên Chúa sai Thánh Thần của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta và kêu lên: Abba, Cha ơi!” (Gl 4,6). “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,16). Không ai có thể tuyên xưng Đức Kitô là Chúa nếu không được Thánh Thần thúc đẩy (x.1Cor 12,3). Thánh Thần chính là nguồn tình yêu. Vì thế chỉ những ai ở trong tình yêu mới có thể hiểu biết sự thật. Và khi hiểu biết sự thật thì chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta và đưa chúng ta vào sự sống đời đời.

Làm sao ta có thể biết nghĩa phu thê là gì khi ta chưa sống hết tình với người phối ngẫu? Làm sao ta có thể biết được thế nào là quê hương khi ta chưa hết lòng hết tâm với vận mệnh quốc gia dân tộc? Làm sao ta có thể biết được giá trị của con người trong cõi nhân sinh này khi ta chưa trải rộng con tim với người đồng loại, với người anh chị em cận kề, nhất là với những người cô thế cô thân? …

Hãy yêu đi rồi bạn sẽ biết nhiều lẽ huyền nhiệm của sự trao ban và đón nhận. Hãy hiệp thông cách thực sự thì bạn sẽ biết thế nào là tình liên đới. Đây là một cái lẽ biết theo nghĩa Thánh Kinh, tức là không chỉ nhìn thấy thực tại, thấy vấn đề bằng trí khôn, mà còn gắn bó thiết thân, chung lưng đấu cật, khi u buồn lẫn khi hoan lạc, lúc thuận lợi cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, gian truân.

Ngay trong cuộc sống này, có nhiều điều mà lý trí phải chào thua. Sự khôn ngoan đích thực không hệ tại ở trí óc, nhưng là ở trái tim. Có thể có trường hợp người ta đâm ra mù quáng vì yêu. Nhưng đó chỉ là thứ tình yêu vị kỷ, nghiêng chiều đam mê vụ lợi hoặc bất chính. Khi đã biết yêu với tình yêu trong sáng, quảng đại quên mình, với một tình yêu bắt nguồn từ tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa thì không một ai là không ở trong ánh sáng. Và chính ánh sáng sẽ soi dẫn chúng ta đến cùng chân lý.

Là kitô hữu, không gì hơn là biết quy chiếu về Tình Yêu Thiên Chúa Ba Ngôi để rồi biết yêu thương nhau bằng:

1. Một tình yêu thúc đẩy ta không chỉ muốn mà còn biết chủ động, tích cực làm cho người mình yêu phát triển và nên hoàn thiện.

2. Một tình yêu thúc đẩy ta tìm mọi cách để cho người mình yêu nên đáng yêu và được nhiều người yêu mến.

3. Một tình yêu thúc đẩy ta nỗ lực hết mình làm cho người mình yêu có đủ khả năng và sự nhiệt tình để yêu mến kẻ khác.

Khi ta sống được chút tâm tình yêu mến này, thiết tưởng rằng chúng ta sẽ chẳng còn băn khoăn với câu hỏi tại sao Ba Ngôi mà chỉ một Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc vì biết cội nguồn của mình chính là Thiên Chúa Ba Ngôi.

Về mục lục

.

THIÊN CHÚA CÓ BA NGÔI

Lm. Jos. Uyên Nguyên

          Sau khi kết thúc mùa Phục Sinh bằng lễ CTT hiện xuống trọng đại, tiếp nối, GH mừng ba lễ trọng rất tâm điểm của niềm tin công giáo. GH mừng ba lễ trọng như một tổng hợp về giáo lý của ba mầu nhiệm thuộc Ba Ngôi TC được mạc khải từ CGS, Đấng cứu độ. Một trong ba lễ trọng đó, ưu tiên GH long trọng mừng lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay. Chúa Ba Ngôi là niềm tin của những người-Thiên-Chúa-Giáo, là trọng tâm đức tin công giáo, là niềm tin bất khuất. Các Thánh Tử Đạo là bằng chứng về một đức tin bất khuất này và vượt thắng mọi thâm ý xấu xa muốn hủy diệt, loại trừ qua chống đối.

Điều đáng được lưu tâm ở đây, đức tin vào Thiên Chúa của người công giáo là một TC vô hình. TC vô hình không là đối tượng thực nghiệm của khoa học. Thiên Chúa của người công giáo là TC của niềm tin, niềm tin hòa quyện đời sống, tin cùng với cảm nghiệm, tin cùng với nhận thức, vì tin không cần thấy. Tin như vậy là để sống, sống như vậy là để trao dồi thăng tiến đức tin, rập khuôn tư tưởng CGS nói “phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20,29).Vì những lẽ như thế mà giáo lý của GH công giáo, Youcat nhìn nhận: “ Vì nhận biết TC vô hình là một thách đố lớn đối với tâm trí con người, khiến cho không ít người đã tháo lui. Đàng khác, một số người không muốn biết TC, vì họ không muốn thay đổi cuộc sống” (s.5 trg 31).

          Chính ngày lễ TC Ba Ngôi, ngày con người đem hết tâm trí tôn thờ, tán dương TC ba Ngôi cả tinh thần lẫn thể xác. Tuy nhiên các bài đọc để chiêm niệm TC ba Ngôi thì chẳng thấy trình bày gì hay mô tả gì về một TC rõ nét để có chút hình dung hầu ngắm nhìn và ngưỡng mộ! Chắc cũng không phải chỉ các bài đọc hôm nay thôi, mà trong toàn bộ Kinh Thánh cũng chẳng thấy nơi nào hơn giới thiệu về TC Ba Ngôi làm mãn nguyện ước muốn con người.

          Khảo sát cụ thể ba bài đọc trong thánh lễ, cả ba nhân vật tên tuổi lỗi lạc nồng cốt, Môsê-ĐGS-Phaolô, cũng không cho thấy gì hiện sinh hơn. Với bài đọc 1 ở sách Xuất Hành Cựu Ước, Môsê giới thiệu TC cho dân ông, dân Chúa tuyển chọn riêng, chỉ nêu lên danh xưng TC là Chúa, là Đức Chúa cùng với phẩm tính của Ngài là TC từ bi, nhân hậu, giàu lòng tha thứ và trung tín. Phaolô trong bài đọc 2 chỉ cho biết TC là nguồn yêu thương và bình an. CGS trong TM Gioan cũng thế, chỉ làm rõ TC là tình yêu, tình yêu vô cùng bội hậu dành cho con người, là thí ban Con Một Ngài đến trần gian để làm cho người phàm được sống muôn đời. Ở đây xem xem, vì ‘sự sống’ của phàm nhân, mà TC đặc biệt quan tâm họ hơn Con của Ngài, cho dù mọi phàm nhân cũng rất rõ biết đó là Con dấu ái của TC là Cha.

          TC chỉ được trình bày không úp mở độc yếu tính nhất phẩm, TC là Tình Yêu. Ngay chính tình yêu thôi thì cũng rất là huyền nhiệm. Quả vậy, xưa nay có ai hình dung nỗi được tình yêu là gì? Thế mà tình yêu là động lực, là chất liệu kết nối, là sức mạnh, là chăm sóc, là giữ gìn, là đỡ nâng, là gắn bó.  Bằng chứng, tuy Con Chúa tối quan trọng, mà sự sống của những phàm nhân, thụ tạo của TC tác thành, cũng không vì thế bị hạ thấp, là kém quan trọng. Bởi lẽ, một khi thụ tạo đã chết, thì thật là một sự kinh khủng, vì đã chết mất. Vì tình yêu, Chúa Cha thí ban Con một để liên kết mọi thụ tạo phàm nhân lại trong Con yêu dấu của Ngài, là điều vô cùng lợi ích lớn lao. Ôi Mầu nhiệm của tình yêu cao cả của TC là thế, Đấng càn khôn cực cao, cực cả là thế. Về điểm này phàm nhân thì cảm thụ, nhưng không dễ có ai suy thấu.                   

          Theo đó, chính nơi Con của Ngài được sai xuống trần gian sống giữa phàm nhân là dấu chỉ lớn lao rất thời sự và lịch sử mà TC tự biểu lộ Ngài là TC Tình Yêu (viết hoa). Người Con đó là Lời TC, là dung mạo TC: “Ai thấy Ta là thấy Chúa Cha sao anh bảo: Ta tỏ cho anh Chúa Cha? (vấn đề mà CGS nói với ông Philiphê)”. Lời và hình ảnh tình yêu ấy tuy tự biểu lộ, trong nhục thể lờ mờ khó tránh khỏi sự vấp ngã trong hình ảnh Con TC trở nên người phàm. Song chính sự cứu chữa mọi người, kẻ què đi được, người câm nói được, người phong cùi được sạch, khuất phục và xua trừ quỷ, tha thứ kẻ có tội, cứu chữa kẻ chết, và sau hết, tự mình hiến mạng đền thay cho mọi người phàm trong hình ảnh ‘con rắn đồng của Môsê khi được treo lên cao’, hay‘con thỏ rừng trong bụi rậm’ nộp mình cho Abraham đổi mạng hiến tế, rồi sau đó sống lại. Tất cả làm sắc nét rạng ngời về một hình ảnh TC tình yêu.  

          Tóm lại, dù TC có tỏ mình ra như thế nào nơi Chúa Con và Chúa Ngôi Ba, nhưng những ai tuyên xưng niềm tin mình vào TC Ba Ngôi đích thực là một ân ban đến từ TC kêu gọi, niềm tin của họ là một ân huệ nhưng không của TC ban tặng.  Vì TC Ba Ngôi là TC vô-hình uy-quyền vinh-hiển, là nguồn của mọi sự hiện sinh, là Hiện Hữu vượt trên mọi hiện hữu trên trời dưới đất. TC đó lại là TC yêu thương nhân hậu, tình thương cũng như lòng thương xót nơi Ngài không hề cạn kiệt, bất biến, tồn tại bền vững song đối với bản tính hằng hữu của Ngài. TC như thế là TC hằng có, kề cận mọi sự mọi loài, quan tâm chăm sóc, gìn giữ, và kịp thời cứu chữa như lời kinh Tin Kính tuyên tín mọi điều của những người tin: “Tôi tin kính một TC Ba Ngôi! Ngôi Cha nhân từ dựng nên trời đất muôn loài”

          Kính lạy TC Ba Ngôi mầu nhiệm, con xin chúc tụng tạ ơn Ba Ngôi. Chính Cha đã ban Con Một là Lời chân lý mạc khải cho người trần biết mầu nhiệm TC Ba Ngôi. Chính Cha đã ban Thánh Thần xuống thánh hóa canh tân muôn loài. Xin nâng đỡ niềm tin yếu kém của chúng con nên mạnh mẽ và bền vững để chúng con không ngừng tuyên xưng đức tin chân thật vào TC độc nhất Ba Ngôi uy quyền và vinh hiển.

Về mục lục

.

MẦU NHIỆM CỦA LÒNG XÓT THƯƠNG

Lm. Giuse Nguyễn

Có một giai thoại kể rằng: Thánh Augustino một nhà thần học nổi tiếng và cũng là một vị Giám Mục luôn suy tư về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi mà không thể giải thích được bằng lý luận suy tư của mình. Quá thất vọng và nản lòng, thì bỗng, một hôm thánh nhân đang dạo chơi trên bờ biển, người rất ngạc nhiên khi thấy một em bé đang cặm cụi, chăm chỉ ngồi xuống trên cát dọc bờ biển, em đang dùng một vỏ sò để múc nước biển đổ vào trong những vũng nước mà tự tay em làm. Làm sao em có thể múc cạn nước biển mênh mông rộng lớn bằng chính cái vũng nước này, và câu hỏi đã nảy ra trong đầu óc thánh Augustino: “Này con, làm sao con có thể múc hết nước biển đổ vào cái vũng nhỏ xíu kia?”. Cậu bé liền trả lời: “Việc múc cạn nước biển bao la này bằng những vỏ sò thật là khó, nhưng con còn thấy dễ hơn là với một trí óc nhỏ bé bằng cái gáo dừa của con người thì làm sao hiểu được mầu nhiệm của Đấng Tuyệt Đối Cao Siêu”. Với giai thoại này, chúng ta thấy rằng đứng trước những mầu nhiệm về Thiên Chúa – Đấng vô biên, con người chỉ là một thực thể hữu hạn.

Trong sự hữu hạn đó, với ánh sáng lời Chúa, tôi cố gắng khám phá mỗi ngày sự phong phú, mới mẽ của những thực tại linh thánh, nhất là mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi cho chính bản thân tôi và cũng để chia sẻ với những người tôi có trách nhiệm.

I.  PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

  1. Bài Đọc I : Xh 34, 4b-6.8-9

Đoạn sách Xuất hành này tường thuật lại việc Thiên Chúa mặc khải cho Môsê biết Ngài là “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34, 6). Đứng trước Vì Thiên Chúa đó, Môsê đã xin Ngài: “Tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp” (Xh 34, 9b)

  1. Tin Mừng: Ga 3, 16-18

Qua cuộc đối thoại với Nicôđêmô, Đức Giêsu đã mặc khải cho ông biết: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Ngài còn khẳng định, Thiên Chúa là Đấng muốn cứu độ chứ không phải trừng phạt: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3, 17).

  1. Bài Đọc II: 2Cr 13, 11-13

Đứng trước những mặc khải về Thiên Chúa trong sách Xuất hành và Tin mừng Gioan, thánh Phaolô nhắn gởi tín hữu thành Côrintô: “Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2Cr 13, 11)

Qua lời Chúa hôm nay, với khả năng hạn hẹp, tôi không khám phá và cũng không hiểu biết thêm điều gì về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, nhưng tôi xác tín một điều: mọi hoạt động của Thiên Chúa đều là để cứu độ con người. Vì vậy, mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi cũng chính mầu nhiệm của Lòng Xót Thương.

II.  HOẠT ĐỘNG CỦA BA NGÔI

  1. Chúa Cha

Khi đọc Kinh Cám Ơn, tôi cảm nghiệm được Thiên Chúa Cha là Đấng giàu lòng thương xót: “Con cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời mà lại sinh ra con cho con đặng làm người cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con. Lại cho ngôi hai xuống thế làm người, chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá vì con, lại cho con được đạo thánh Đức Chúa Trời cũng chịu nhiều ơn nhiều phép hội thánh nữa…”

  1. Chúa Con

Khi chiêm ngắm cuộc đời của Đức Giêsu, càng cho tôi xác tín Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót; vì “Thiên Chúa đã làm người, để con người được làm Con Chúa” (Thánh Irênê). Quả thật, Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình. (Ga 15, 13). Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người, chịu nạn chịu chết và sống lại để đem ơn cứu độ cho con người, nhưng ơn cứu độ đó không xa lạ, không làm cho con người sợ hãi, nhưng “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16), nghĩa là chỉ cần đi vào tình yêu, đi vào mối hiệp thông với Ngôi Hai Thiên Chúa.

  1. Chúa Thánh Thần

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần sau khi sống lại, Đức Giêsu đã hiện ra với các môn đệ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 23). Vì thế, ơn tha tội là hoạt động của Thánh Thần, cũng như khi Linh mục đọc lời tha tội cho hối nhân: Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hoà thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội…”

Một lần nữa chúng ta xác tín hành động của Ba Ngôi Thiên Chúa là đưa con người đến ơn cứu độ. Chính vì thế chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi khi chúng ta khám phá ra lòng thương xót của Thiên Chúa.

III.  MẦU NHIỆM CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

  1. Cho những ai đón nhận

Có một thanh niên Công giáo nhưng rất bê trễ trong việc sống đạo, vì muốn thử cảm giác lạ nên đã nghiện ma túy. Gia đình đưa anh ta vào Trung tâm cai nghiện. Tại đây, qua bạn bè, qua chính bản thân, anh thấy những con người khi lên cơn nghiện “không còn hình dạng con người ta nữa”. Nhưng cũng tại đây, từ việc sợ hãi, lo lắng, anh đã tìm đến với Chúa. Anh có nhiều thời gian để cầu nguyện, anh nhờ gia đình gởi cho anh một quyển Kinh Thánh, anh đã kêu xin Chúa cứu giúp mỗi khi lên cơn nghiện… Vì thế anh đã sớm cai nghiện thành công và trở về với gia đình, với xã hội. Từ khi cai nghiện trở về anh sống đạo rất đàng hoàng tử tế, lo làm ăn phụ giúp gia đình. Với “kinh nghiệm” nghiện ma túy của mình, anh đã giúp cha sở để cảm hóa những bạn trẻ ăn chơi lêu lỏng, tụ tập quậy phá.

Câu chuyện của anh thanh niên này là một cảm nghiệm nho nhỏ giúp tôi thấy được hoạt động của Chúa Ba Ngôi là như thế. Ngài muốn con người được cứu độ, và làm mọi cách để họ đón nhận được ơn cứu độ đó. Anh đã cộng tác với Ngài để Ngài giải thoát anh khỏi cơn nghiện, từ đó anh cố gắng để tìm kiếm ơn cứu độ vĩnh cửu bằng chính đời sống của anh, vì anh biết rằng mình được Chúa xót thương.

  1. Cho những ai thờ ơ

Tuy nhiên còn rất nhiều người thờ ơ với lòng thương xót của Chúa. Điều đó thấy rõ nơi những người đã được rửa tội nhưng không sống đạo, không thờ phượng Chúa vì nhiều lý do. Vì xa cách Chúa nên họ đã vi phạm lề luật Chúa, làm nhiều điều sai trái. Từ mặc cảm tội lỗi đó, họ càng xa cách Chúa, trốn tránh Giáo hội.

Nhiều gia đình ngày hôm nay phải khốn khổ khi có những thành viên khô khan, nguội lành như vậy. Tôi cảm nghiệm được nỗi đau khổ của những người có người thân không sống đạo, và hơn thế nữa, lại có một đời sống bê tha, tệ hại, vì tôi là một mục tử, tôi cũng đã phải tìm kiếm những con chiên lạc.

Là người trong gia đình mà chúng ta đã phải lo lắng, vất vả đau khổ khi thấy người thân của mình từ khước ơn cứu độ, thì chắc chắn trái tim của Chúa càng phải thổn thức hơn.

Thực tế đó đòi hỏi những ai đã cảm nghiệm và đang sống lòng thương xót của Chúa phải tích cực hơn. Chúng ta tin chắc Thiên Chúa là Cha vẫn luôn tạo điều kiên, từ Trái Tim của Chúa Giêsu vẫn tuôn chảy những ơn lành, và Chúa Thánh Thần vẫn luôn luôn thúc đẩy họ. Phần chúng ta phải hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, phải thường xuyên mời gọi họ, phải gương mẫu trong đời sống. Hãy tận dụng những cơ hội khi gia đình có dịp hiếu, hỷ, hay những biến cố gì đó để mời gọi họ quay về với Chúa.

Lòng thương xót của Chúa không bao giờ muốn trừng phạt hay hủy diệt con người, “nhưng kẻ không tin thì đã bị lên án ồi, vì đã không tin vào danh cảu Con Một Thiên Chúa” (Ga 3, 18).

Mừng lễ Chúa Ba Ngôi trong Năm Gia Đình này mời gọi chúng ta hãy không ngừng chúc tụng quyền năng của Chúa đã dành cho gia đình mình chính là lòng thương xót vẫn tuôn chảy trên cuộc đời của mỗi người chúng ta. Đồng thời phải nhiệt tâm hơn trong việc giúp người khác hoán cải, quay trở về để họ cũng được đón nhận lòng thương xót, nhất là những người thân trong gia đình mình.

Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, xin đưa con vào tình yêu của Ngài để con được tham dự vào hạnh phúc tròn đầy, viên mãn của mầu nhiệm tình yêu. Và xin thương đến những người còn xa cách hoặc trốn tránh tình yêu đó.

Về mục lục

.

GIA ĐÌNH LÀ CỘNG ĐỒNG TÌNH YÊU

 Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Trong lịch sử, người ta thường dùng những hình ảnh khác nhau để trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chẳng hạn hình ảnh của một ngọn lửa. Trong lửa luôn luôn có ba yếu tố: lửa – ánh sáng – sức nóng. Ba yếu tố đó không lẫn lộn vào nhau: ánh sáng là ánh sáng, lửa là lửa, sức nóng là sức nóng. Ba yếu tố phân biệt rõ ràng, nhưng cũng không bao giờ tách biệt khỏi nhau, ngược lại gắn chặt vào nhau. Có lửa là có ánh sáng, có sức nóng. 

Từ hình ảnh ngọn lửa, người ta áp dụng để giải thích mầu nhiệm Thiên Chúa ba Ngôi. Ba Ngôi chỉ là một Chúa duy nhất, nhưng phân biệt rõ ràng: Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi nhưng cũng chỉ là một. Và một Thiên Chúa nhưng vẫn cứ là Ba Ngôi. Cũng như không thể lấy đi ánh sáng khỏi lửa và bảo rằng lửa cứ cháy mà không cần ánh sáng được. Cũng vậy, vì ba Ngôi vẫn chỉ là một Thiên Chúa, nên mọi hoạt động nơi Thiên Chúa đều quy về Ba Ngôi…

Dẫu sao mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi vẫn chỉ là một huyền nhiệm lớn lao đối với con người. Đi tìm câu trả lời cho huyền nhiệm ấy, con người làm một sự cố gắng vượt trên sức hiểu biết của mình. Bởi thế, những hình ảnh mà con người cố gắng suy nghĩ để giải thích, dù có hay đến mấy, vẫn chỉ là một cố gắng còn khiếm diện và bất toàn mà thôi.

Điều hay nhất chúng ta cần làm có lẽ không phải là khám phá tới cùng mầu nhiệm Thiên Chúa cho bằng quay về với chính mình để sống làm sao cho xứng đáng với tình yêu của Chúa Ba Ngôi. 

Bởi vậy, tôi muốn mời bạn cùng tôi suy nghĩ về gia đình, vì gia đình là một cộng đồng tình yêu, phản chiếu tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. 

Từ xưa, trong Hội Thánh đã có thói quen áp dụng hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa Ba ngôi là kiểu mẫu của tình yêu cha – mẹ – con cái. Ngay từ trong cung lòng mình, tình yêu Thiên Chúa đã là một tình yêu trao ban, tình yêu mở ra, vì thế một mà lại là ba: Trao ban giữa Cha, Con, Thánh Thần. 

Nếu Ba Ngôi là kiểu mẫu của gia đình thì mọi thành viên trong gia đình cũng phải yêu nhau bằng tình yêu trao ban, tình yêu hiến thân, tình yêu mở ra đối với người mà mình yêu.  

Tình yêu gia đình đòi hỏi có nhau, cho nhau và vì nhau. Nếu một thành viên nào trong gia đình chỉ biết có bản thân, yêu nhưng chỉ yêu chính mình, tình yêu đó đang phản lại kiểu mẫu của tình yêu Ba Ngôi.  

Không thể chấp nhận được một người chồng, một người cha quên trách nhiệm của mình, chỉ biết có say sỉn, còn vợ con có khổ, có đói không đoái hoài tới. 

Cũng không ai có thể chấp nhận được một người vợ, một người mẹ tệ cho đến mức quên hết vai trò của mình, chỉ biết bài bạc, có khi thức thâu đêm suốt sáng chỉ để thỏa đam mê thấp kém này. 

Chúng ta cũng không thể chấp nhận hình ảnh một đứa con trả treo với cha mẹ. Có khi bất chấp cha mẹ có khả năng hay không, nó đòi cho bằng được điều mà nó muốn có. 

Tất cả những hình ảnh trên đều đi ngược lại tình yêu Ba Ngôi. Vì đó chỉ là một thứ ích kỷ, vụ lợi cho bản thân. Trên hết mọi sự, hãy bắt chước tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa: Yêu là cho đi, là rộng ban, là mở ra.  

Hãy sống làm sao để gia đình trở thành cộng đồng tình yêu, phản chiếu tình yêu Ba Ngôi.

Về mục lục

.

SỐNG YÊU THƯƠNG NOI GƯƠNG THIÊN CHÚA BA NGÔI

I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Ga 3,16-18

(16) Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con Một của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ. (18) Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án, nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.

  1. Ý CHÍNH:

Tin Mừng lễ Chúa Ba Ngôi trích trong cuộc đàm thoại ban đêm giữa Đức Giê-su với Ni-cô-đê-mô về ơn tái sinh. Sau khi cho ông biết điều kiện để được cứu độ là phải tái sinh bởi nước và Thánh Thần, Đức Giê-su đã mặc khải về tình yêu của Thiên Chúa: Thiên Chúa đã cứu độ thế gian bằng cách sai Con Một của Người xuống trần để chịu chết đền tội thay cho thế gian (14-16). Ai tin vào Người Con ấy mới được ơn cứu độ (17-18).

  1. CHÚ THÍCH:

– C 16: + Thiên Chúa đã yêu: Đây là một chân lý mặc khải mới mẻ, vì truyền thống Do thái trước đó chỉ nói đến Thiên Chúa yêu thương Ít-ra-en là con dân của Người, chứ không nói đến việc Người còn yêu cả thế gian, không phân biệt chủng tộc, quốc gia, màu da hay tiếng nói nữa. + Thế gian: chỉ chung toàn thể vũ trụ mà nhân loại là thành phần quan trọng nhất. Thế gian trong câu này ám chỉ đối tượng được Thiên Chúa yêu thương (x. Ga 3,16), nhưng ở câu khác lại ám chỉ bọn đầu mục dân Do thái là những kẻ luôn thù ghét Đức Giê-su (x. Ga 12,31; 1 Ga 2,16-17). + Con Một của Người: Trong kinh tin kính, Giáo Hội dạy các tín hữu tuyên xưng đức tin “tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha (x. 2 Sm 7,12-16; Mt 3,13-17). Như vậy Đức Giê-su có hai bản tính: Một là tính Thiên Chúa và hai là tính loài người, nhưng Người chỉ có một Ngôi Vị là Ngôi Con hay Ngôi Lời. Việc ban Con Một để cứu độ thế gian là dấu chứng rõ ràng nhất biểu lộ tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa đối với thế gian (x. 1 Ga 4,9-10). + Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết: Niềm tin vào Ngôi Con là điều kiện cần để được hưởng ơn cứu độ và được sống muôn đời.

– C 17: + Không phải để lên án thế gian: Sứ mệnh của Con Thiên Chúa đến thế gian không phải để kết án nhưng để cứu chuộc thế gian (x. 1 Ga 4,14). + Tại sao nơi khác Đức Giê-su lại phán: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử, cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù” (Ga 9,39) ?: Thực ra điều Thiên Chúa muốn là sai Con Một đến để ban ơn cứu độ cho thế gian. Nhưng thế gian có nhận được ơn cứu độ đó hay không tùy theo thái độ đáp trả của họ là tin nhận hay từ chối Người. Chính sự lựa chọn này làm nên việc xét xử: Tin nhận Chúa Giê-su thì được cứu, nghĩa là được ơn tha tội, được giao hòa với Chúa Cha và được sống muôn đời, giống như: người mù dù không nhìn thấy, thì giờ đây lại được xem thấy. Còn nếu từ chối Chúa Giê-su là đã tự lên án chính mình, tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ của Chúa Giê-su, như các đầu mục Do thái, tuy sáng mắt nhưng vì cứng lòng không tin Đấng Thiên Sai, nên đã tự hóa nên mù tối.

– C 18: + Ai tin vào Con của Người thì không bị kết án: Tin ở đây không phải chỉ bằng lời nói “Lạy Chúa, Lạy Chúa !”, nhưng bằng việc làm theo thánh ý Chúa, biểu lộ qua sự thực hành lời Chúa dạy” (x. Mt 7,21.24). Thánh Phao-lô cũng nói: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng mới được nên công chính, có xưng ra ngoài miệng mới được ơn cứu độ… Vì tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát” (x. Rm 10,9-10.13). + Nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi: Sứ mệnh của Đức Giê-su là ban sự sống, ban ơn cứu độ cho những ai tin Người. Ai cố tình không chấp nhận Ngôi Lời Nhập Thể, tức là không tin vào Danh Con Một Thiên Chúa (x Ga 6,64), là đã tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ, đồng nghĩa với việc tự kết án chính mình. + Vì đã không tin vào Danh của Con Một Thiên Chúa: Danh Con Một Thiên Chúa là chính Chúa Giê-su (x. Ga 2,23; 1 Ga 3,23). Tin vào danh của Con Một Thiên Chúa tức là liên kết với Chúa Giê-su, nhìn nhận và kêu cầu quyền năng của Người. Chỉ nhờ Danh Chúa Giê-su, loài người chúng ta mới được ơn cứu độ (x. Pl 2,9-11; Cv 10,43). Trái lại, những kẻ không tin vào Danh Người thì sẽ không được hưởng ơn cứu độ ấy.

  1. HỎI ĐÁP:

– HỎI 1) Chúa Giê-su đã dạy thế nào về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi?

ĐÁP:

Trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su đã nói nhiều về mối liên hệ mật thiết giữa Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần sau bữa tiệc ly Vượt Qua (x. Ga 14.15.16.17). Tin Mừng Mát-thêu ghi lại lời Đức Giê-su mặc khải rõ nhất về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi trước khi lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (x. Mt 28,19). Tin Mừng Mát-thêu cũng ghi lại cuộc thần hiện tại sông Gio-đan như sau: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì kìa các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và kìa có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16-17). Tiếng phán, Đức Giê-su và chim bồ câu là biểu tượng của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Phao-lô cũng dạy về mầu nhiệm Ba Ngôi trong lời nguyện chúc: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. Amen” (2 Cr 13,13). Tin Mừng Lu-ca và sách Công Vụ Tông Đồ lại trình bày lịch sử cứu độ theo chiều kích Ba Ngôi như sau: Thời Cựu Ước là kỷ nguyên của Chúa Cha, thời cứu thế rao giảng Tin Mừng là kỷ nguyên của Chúa Con, và thời Giáo Hội khai sinh phát triển đến Rô-ma, hay đến “tận cùng thế giới” là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.

– HỎI 2) Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi được Thánh Kinh trình bày như mầu nhiệm Tình Yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa ra sao?

ĐÁP:

– Chúa Cha luôn hiện hữu và sinh ra Chúa Con từ trước khi có thời gian (x. Tv 2,7).

– Chúa Cha yêu mến Chúa Con và ban cho Chúa Con mọi quyền xét xử (x. Ga 5,20.22).

– Chúa Con chính là hình ảnh của Chúa Cha (x. Ga 14,9-10).

– “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11).

– “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30).

– Chúa Giê-su luôn vâng phục và làm theo thánh ý Chúa Cha (x. Ga 5,19).

– Tình yêu hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con xuất phát ra Chúa Thánh Thần (x. Ga 15,26).

– HỎI 3) Ta có thể dùng một số hình ảnh nào để minh họa về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi ?:

ĐÁP:

– Nhà thần học PHĂNG-SÍT (Frank Sheed) đã dùng hình ảnh mưa rơi để giúp người ta hiểu phần nào về mầu nhiệm đơn nhất và đa dạng của Chúa Ba Ngôi khi nói rằng: “Nước đang mưa đây đích thực là nước, nhưng có thể xuất hiện bằng ba dạng khác nhau là: dạng hơi nước, dạng băng đá và dạng nước thường như ta thấy”.

– Thánh I-nha-xi-ô một lần kia trong lúc cầu nguyện bỗng nhận ra “ba nốt nhạc có thể làm thành một hợp âm duy nhất” cũng giống như Ba Ngôi hiệp nhất trong một bản thể duy nhất.

– Thánh Pa-tríck thường dùng hình ảnh lá cây tam diệp thảo do ba lá nhỏ ghép lại thành một lá lớn.

– Có người lại dùng một hình tam giác đều có ba cạnh ba góc bằng nhau để diễn tả mầu nhiệm này.

– Ngòai ra chúng ta cũng có thể dùng hình ảnh sau đây để minh họa phần nào về mầu nhiệm này như sau: Một người đàn ông khi lập gia đình có con thì tuy anh ta chỉ là một người, nhưng đóng ba vai trò khác nhau: Vai trò làm “cha” nên được con gọi “Cha ơi”; Vai trò làm “con” nên được bố anh ta gọi “Con ơi”; Vai trò làm “chồng” nên được vợ gọi “Mình ơi”.

– HỎI 4) Ba Ngôi Thiên Chúa làm gì cho chúng ta ?

ĐÁP:

– Thiên Chúa Cha (Ngôi thứ Nhất) đã sáng tạo nên vũ trụ vạn vật. Đặc biệt loài người đã được Thiên Chúa tạo thành theo hình ảnh của Người là có linh hồn thiêng liêng bất tử và có tình yêu thương (x. St 1,37).

– Khi nguyên tổ loài người nghe theo ma quỷ cám dỗ mà phạm tội bất phục tùng phải mang án chết, thì Thiên Chúa Cha lại hứa ban Chúa Con (Ngôi thứ Hai) xuống thế để cứu chuộc loài người là Chúa Giê-su. Sứ mệnh của Chúa Giê-su là cứu độ loài người bằng việc mở ra con đường về trời là đạo Công giáo. Người đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời trong thời gian 3 năm để nhân loại nhận biết tôn thờ và sống hiếu thảo với Thiên Chúa Cha. Vào lúc cuối đời, Người đã sẵn sàng vâng theo ý Chúa Cha để đi con đường “Qua đau khổ vào vinh quang”, sẵn sàng chịu chết trên thập giá để đền tội thay loài người và sống lại để cứu độ loài người.

– Sau khi sống lại, Chúa Giê-su Phục Sinh đã thổi hơn ban Chúa Thánh Thần (Ngôi thứ Ba) cho các Tông đồ. Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác, là Thần Chân Lý, do Chúa Cha sai đến để thay Chúa Giê-su tiếp tục dạy dỗ các môn đệ (x. Ga 14,16). Trong thời Cựu Ước, Thánh Thần đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy loài người. Đến thời Tân Ước, Thánh Thần đã lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Đức Giê-su khi Người chịu phép Rửa tại sông Gio-đan để tấn phong Người làm Đấng Thiên Sai (x Mt 3,16-17). Sau đó, Thánh Thần hướng dẫn Đức Giê-su vào sa mạc để chịu ma quỷ thử thách cám dỗ (x Mt 4,1-11), và đi khắp nơi rao giảng Tin mừng Nước Trời (x Mt 4,17). Thánh Thần cũng làm cho Đức Giê-su từ cõi chết sống lại. Vào buổi chiều ngày phục sinh, Chúa Giê-su đã hiện ra sai các Tông đồ tiếp tục sứ mạng của Người và đã thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông kèm theo quyền tha tội (x Ga 20,20-23). Vào lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần lại hiện xuống trên Hội Thánh Sơ Khai dưới dạng một cơn gió mạnh ào vào nhà nơi các Tông đồ đang cầu nguyện và làm xuất hiện trên đầu mỗi vị một hình lưỡi lửa (x Cv 2,1-4). Từ đây Thánh Thần luôn hiện diện trong Hội Thánh để thánh hóa các tín hữu qua các phép bí tích, giúp các vị Mục Tử chu toàn sứ mệnh là thay Chúa Giê-su chăm sóc đoàn chiên Hội Thánh và làm chứng nhân cho Người đến tận cùng thế giới (x. Ga 15,26).

II.  SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,7-8).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) THẾ NÀO LÀ TÌNH YÊU TỘT ĐỈNH ?

Thánh MÁC-XI-MI-LI-EN KON-BÊ thụ phong linh mục năm 1918. Cha đã bị Đức Quốc Xã bắt ngày 17.2.1941 và bị giam trong một trại tập trung là Auschwitz.

Đây là một nhà tù hãi hùng nhất vì gồm đủ mọi hình phạt và kỷ luật dã man dành cho các tù nhân. Tù nhân không được mang tên mình mà mang một con số. Cha Maximilien Kolbe mang số tù là 16.670. Tại nhà tù này, Đức quốc xã đưa ra một quy định hết sức bất công: Nếu một tù nhân trốn trại, thì mười tù nhân khác sẽ bị chết thay.

Vào một đêm tháng 8.1941, một tù nhân đã vượt ngục thành công. Thế là mười người khác được chỉ định chết thay. Trong số mười người này có một người tù tên là GAJOWNICZEK. Khi bị chỉ định, anh liền khóc lóc thảm thiết cho biết mình còn mẹ già, vợ dại, con thơ không ai nuôi dưỡng. Trước cảnh tượng đó, do đức bác ái thôi thúc, Cha Kolbe đã tình nguyện xin được thế chỗ chết thay cho người tù kia. Được chấp nhận, cha cùng đoàn tử tù bước vào phòng hơi ngạt số 14. Hôm sau, người ta mở cửa phòng để lôi xác ra ngoài, nhưng Cha Maximilien Kolbe vẫn còn thoi thóp, người ta chích cho ngài một mũi thuốc ân huệ. Cha tắt thở đúng vào chiều ngày áp lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 14.8.1941.

Trong lễ phong thánh cho chân phước Kolbe do Đức Thánh Cha Phao-lô VI cử hành, một cụ già trong đoàn người dâng lễ vật hôm ấy đã được Đức Thánh Cha ôm hôn. Đó chính là người tù đã được cha thánh Kolbe chết thay. Trong giây phút trang trọng ấy, toàn thể cộng đoàn sốt sắng hát bài thánh ca: “không có tình yêu nào trọng đại cho bằng chết vì người mình yêu”. Đây là một chứng tích tình yêu cao cả khiến mọi người hiện diện đều phải xúc động và rơi lệ.

2) CÂU CHUYỆN “ANH PHẢI SỐNG”:

Trong tác phẩm “Anh phải sống”, nhà văn Nhất Linh đã kể lại một câu chuyện cảm động, nói lên tình nghĩa phu thê và tình mẫu tử bao la như sau: Có hai vợ chồng tiều phu nghèo khó, sống bên một dòng sông. Hằng ngày, ngay từ sáng sớm, hai vợ chồng đã phải thức dậy cùng nhau bơi thuyền vào rừng, chặt củi cột thành từng bó, rồi chất lên thuyền mang ra chợ bán lấy tiền về nuôi hai đứa con thơ dại. Rồi một ngày nọ, đang lúc chèo thuyền từ rừng về thì trời nổi cơn giông bão, chiếc ghe đầy củi của họ không thể chịu nổi sóng to gió lớn đã bị lật úp ngay giữa dòng sông nước đang chảy siết hung dữ. Cũng may là họ đã ôm được một khúc cây to và dìu nhau bơi vào bờ. Nhưng khi gặp chỗ nước sóay, cả hai bị nước cuốn trôi mất khúc cây. Bấy giờ anh chồng một tay ôm vợ, tay kia tiếp tục bơi. Thấy chồng dần dần kiệt sức và cả hai sắp bị chết chìm, chị vợ nghĩ đến hai đứa con thơ nên đã nói với chồng: “Anh hãy cố sống mà nuôi con anh nhé !”, rồi chị âm thầm buông tay chồng chịu chết để anh đủ sức bơi vào bờ. Chị đã sẵn sàng chết để chồng con được sống.

3) TÌNH THƯƠNG THỂ HIỆN QUA LÒNG THƯƠNG XÓT:

Một người cha hứa cho đứa con gái 12 tuổi một số tiền nếu cô bé xén sạch đám cỏ trước nhà. Cô bé vui vẻ mang máy cắt cỏ ra làm việc. Đến chiều, cả đám cỏ đã được cắt xén gọn gang – ngoại trừ một mảng có tí tẹo còn sót trong góc sân. Sau đó ông bố không trả số tiền đã hứa vì đám cỏ chưa được cắt xong. Cô bé cho biết cô sẵn sàng chịu mất số tiền đó và cô nhất định không cắt nốt mảng cỏ còn sót lại kia. Tò mò muốn biết lý do tại sao, ông bố kiểm tra chỗ cỏ chừa lại. Hóa ra, ở giữa chòm cỏ ấy, một chú cóc đang ung dung ngồi ngắm cảnh hoàng hôn! Cô bé quá thương con cóc, đã không đành đưa lưỡi dao của máy cắt vào chòm cỏ ấy.

Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8). Người không nỡ hủy diệt, lại sai con Một là Đức Giêsu Kitô xuống thế để cứu chuộc con người. Người lại gởi Thánh Thần đến để thánh hóa cho nên tạo vật mới, dẫn đưa họ về hưởng vinh quang Nước Trời. Đó là mầu nhiệm Tình yêu mà Ba Ngôi Thiên Chúa đã thương dành cho con người. Vì thế, lễ Chúa Ba Ngôi cũng là lễ của tình yêu.

4) HÃY TRAO CHO NGƯỜI KHÁC TÌNH YÊU CỦA CON:

Tại một ngôi làng nhỏ ở Miền Nam Trung Quốc, một em bé gái tiều tụy, đói rách và mang bệnh phong hủi bị dân làng dùng gậy gộc và gạch đá xua đuổi em ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của em. Giữa cảnh hỗn loạn ấy, một nhà truyền giáo đã xông ra ẵm em bé trên tay để bảo vệ em khỏi những trận đòn và những viên gạch đá ném bừa bãi em. Thấy có người mang em bé đi, dân làng mới chịu rút lui, nhưng miệng vẫn còn gào thét: “Phong hủi! Phong hủi!”

Với những giọt nước mắt lăn tròn trên đôi má, lần này là những giọt nước mắt vui mừng chứ không phải là những giọt lệ sầu đau, em bé hỏi vị cứu tinh của mình:

– Tại sao ông lại lo lắng cho con?

Nhà truyền giáo đáp:

– Vì Ông Trời đã tạo dựng nên cả hai chúng ta. Và cũng vì thế em sẽ là em bé gái của ta và ta sẽ là người anh lớn của em.

Suy nghĩ hồi lâu, em bé cất tiếng hỏi:

– Con có thể làm gì để tỏ lòng biết ơn sự cứu giúp của ông?

Nhà truyền giáo mỉm cười đáp:

– Con hãy trao tặng cho những người khác tình yêu của con, càng nhiều càng tốt.

Kể từ ngày ấy cho đến ba năm sau, khi em bé gái tắt hơi thở cuối cùng, em đã vui vẻ băng bó các vết thương cho những bệnh nhân khác, ân cần đút cơm cho họ, nhất là em luôn tỏ ra dễ thương và yêu mến tất cả mọi người trong trại.

Lúc từ giã cõi đời, em bé chỉ mới tròn mười một tuổi. Các bệnh nhân đã từng chung sống với em kháo láo với nhau rằng:

– “Bầu trời nhỏ bé của chúng ta đã về trời!”

Vâng, “con hãy trao tặng cho người khác tình yêu của con” phải chăng cũng là sứ điệp mà lễ Chúa Ba Ngôi mời gọi chúng ta? Hãy sống cho tha nhân. Hãy trao tặng cho nhau một nụ cười cảm thông. Một cái bắt tay thân mật. Một nghĩa cử bác ái đầy tình người. Hãy sống cho anh em của mình một cách quảng đại. Hãy là chứng nhân cho tình yêu của Chúa giữa một thế giới mà con người đang xa dần nhau vì quyền lợi bản thân, vì bon chen và hưởng thụ. Hãy giới thiệu cho nhân thế một tình yêu tinh ròng không bị hoen ố bởi những toan tính ích kỷ, tầm thường. Hãy giới thiệu cho thế giới một tình yêu hy sinh đến quên cả chính mình cho người mình yêu được hạnh phúc.

5) CÁI CHẾT CỦA TÌNH MẪU TỬ:

Ngày 20.06.1980, chị Brown, một người mẹ trẻ vừa từ trần vì chứng bệnh ung thư khi mới 25 tuổi. Các bác sĩ đề nghị chữa trị bằng quang tuyến X, nhưng vì chị muốn cho bào thai đang mang trong bụng không bị nhiễm chất phóng xạ, nên chị từ chối. Chị thà chết hơn là để bác sĩ chữa ung thư bằng quang tuyến X, ảnh hưởng nặng đến đứa con trong bụng sắp ra đời.

Cuối cùng, chỉ 5 giờ trước khi chết, chị đã sinh được một cháu trai mạnh khỏe, kháu khỉnh. Bản tin của hãng AP nói rằng: ”Vào mấy ngày cuối cuộc đời, dù biết mình sắp bị tử thần đánh bại, nhưng chị vẫn tin tưởng thế nào chị cũng sinh được một đứa con không bị nhiễm phóng xạ”. Bác sĩ Ronald Lapin gọi cái chết của chị Brown là “Cái chết của tình mẫu tử, dám hy sinh mạng sống cho đứa con chưa một lần thấy mặt”.

6) PHỤC VỤ VÔ VỤ LỢI ĐỂ DIỄN TẢ TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA:

Một bà kia không biết đến sự yêu thương của đồng lọai. Bà là một người không tin Chúa, sống trong cảnh nghèo khổ bị bỏ rơi ngược đãi, bị đối xử bất công trong một thời gian dài đến nỗi bà thù ghét tất cả mọi người mà mọi người cũng ghét bỏ bà. Một lần kia, cha sở đến gặp bà để nói về tình yêu thương của Thiên Chúa, nhưng bà bảo:

– Tôi không hiểu ông nói gì. Chưa hề có ai yêu thương tôi và tôi cũng không hiểu yêu thương là gì nữa.

Cha sở về lại nhà xứ và cầu nguyện liền mấy ngày rồi chợt nảy ra một ý, ngài cho mời nhóm Tông đồ trong xứ kể cho họ nghe câu chuyện này. Rồi ngài đề nghị mọi người giúp cho bà ấy biết được thế nào là tình yêu của Chúa, bằng cách mỗi người thay nhau đến thăm và phục vụ bà, để cho thấy vẫn có nhiều người yêu thương, thăm viếng, an ủi và giúp đỡ cho bà.

Mấy tháng trôi qua, một ngày kia, khi cha sở lại thăm, bà xúc động đến rướm nước mắt:

– Thưa cha, bây giờ thì con đã hiểu yêu thương là gì rồi, và bây giờ con có thể xin cha cho con được đón nhận tình yêu của Thiên Chúa hay không?

  1. SUY NIỆM:

1) THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU:

– Tình yêu trong Ba Ngôi : Tình yêu thì không thể sống đơn độc nên phải có Ba Ngôi. Vì yêu thương không chỉ là cho đi nhưng còn là nhận lãnh. Muốn cho đi, phải có đối tượng để nhận lãnh. Muốn nhận lãnh cũng đòi phải có người sẵn sàng cho đi. Vì Thiên Chúa là tình yêu, nên Thiên Chúa không đơn độc mà là Ba Ngôi để có thể cho đi và nhận lãnh.

– Tình yêu của Chúa Cha : Chúa Cha ban cho Chúa Con tất cả những gì mình có: “Mọi sự của Cha đều là của Con”, nên Chúa Con là hình ảnh của Chúa Cha như Chúa Giê-su nói: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha Thầy, Thầy và Cha là một”.

– Tình yêu của Chúa Con: Vì yêu, Chúa con dâng lại cho Chúa tất cả những gì mình nhận lãnh qua thái độ khiêm tốn, tự hạ, vâng phục hoàn toàn: “Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá và đã hy sinh cả mạng sống của mình để đền tội thay cho chúng ta: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu”.

– Tình yêu rộng mở: không chỉ thu gọn trong cộng đoàn Ba Ngôi, mà lan toả đi khắp vũ trụ đến tất cả mọi sinh linh vạn vật.

2) SỐNG YÊU THƯƠNG NOI GƯƠNG THIÊN CHÚA:

Cụ thể là sống tình mến Chúa yêu người như sau:

a- Năng cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi: Một phương cách dễ dàng thực hành là mỗi ngày dành ra ba phút cầu nguyện trước khi đi ngủ theo nội dung sau:

+ Phút thứ nhất: Suy nghĩ tìm ra những việc tốt đẹp đã làm được trong ngày qua, như đã giữ được bình tĩnh khi bị người khác đặt điều vu khống, rồi dâng một lời cầu để tạ ơn Chúa Cha.

+ Phút thứ hai: Tìm ra những điều sai lỗi trong ngày, như đã có thái độ dửng dưng khi thấy kẻ khác gặp nạn, rồi dâng một lời cầu xin Chúa Giê-su tha tội cho mình.

+ Phút thứ ba: Nhớ đến những sự khó khăn đang gặp phải và dâng lời cầu xin Chúa Thánh Thần ban ơn khôn ngoan và can đảm để vâng theo thánh ý Thiên Chúa.

Việc cầu nguyện này bao gồm cả ba phương diện là tạ ơn, ăn năn sám hối và xin ơn lành hồn xác. Việc cầu nguyện như thế sẽ giúp ta sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong cách suy nghĩ nói năng và hành động. Ngòai ra ta cũng có thể làm dấu thánh giá để tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.

b- Thể hiện tình yêu tha nhân như Chúa đã yêu chúng ta: Tin Mừng hôm nay cho biết Tình yêu thực sự phải có các đặc tính của tình yêu của Thiên Chúa như sau:

+ Tình yêu dâng hiến: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người đến trần gian để hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 3,16a; 10,11). Chúa Giê-su đã dạy: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Vậy tình yêu của bạn dành cho tha nhân thế nào ? Bạn có dám hy sinh chịu thiệt vì người mình yêu không ?

+ Tình yêu vị tha: tình yêu chân thực đòi năng nghĩ đến người mình yêu để mong cho họ được hạnh phúc như lời Chúa Giê-su: “Mục tử tốt lành sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Tình yêu chân chính luôn tìm làm cho người yêu vui lòng và được may lành hạnh phúc noi gương Chúa Giê-su: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Bạn có yêu cha mẹ và những người thân của bạn như vậy không ?

+ Một tình yêu cao cả: Thánh Gio-an viết: “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19). Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta đáng yêu, nhưng “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những tội nhân” (Rm 5,8). Cũng vậy, chúng ta phải yêu hết mọi người, nhất là những người tàn tật, cô đơn, tội lỗi, và yêu cả những kẻ đang thù ghét bách hại mình (x. Lc 6,27-42). Tình yêu của bạn có cao cả như thế không ?

+ Một tình yêu tôn trọng: Tình yêu của Thiên Chúa không chiếm hữu hay cầm tù người yêu và luôn tôn trọng tự do của con cái lòai người: “Ai tin thì được sống đời đời. Còn kẻ không tin thì đã bị kết án”. Tình yêu của bạn dành cho người khác có tự nguyện không ? Bạn có ghen tuông cấm người yêu gặp gỡ tiếp xúc với người khác không ? Bạn có tin tưởng và tôn trọng người yêu không ? Thánh Phao-lô cũng viết: “Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7).

c- Thực hành yêu thương cụ thể theo kinh Thương Người có 14 Mối:

+ Thương xác bảy mối: Cho kẻ đói ăn; Cho kẻ khát uống, Cho kẻ rách rưới ăn mặc; Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc; Cho khách đỗ nhà; Chuộc kẻ làm tôi; Chôn xác kẻ chết.

+ Thương linh hồn bảy mối: Lấy lời lành mà khuyên người; Mở dậy kẻ mê muội; Yên ủi kẻ âu lo; Răn bảo kẻ có tội; Tha kẻ dể ta; Nhịn kẻ mất lòng ta; Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

TÓM LẠI: chúng ta sẽ xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với tình yêu thực sự như thánh Gio-an đã viết: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Ước gì cuộc đời chúng ta sẽ thấm đượm tình yêu, để mọi việc chúng ta làm đều bắt nguồn từ tình yêu và qui hướng về tình yêu, khi chúng ta biết luôn nghĩ đến tha nhân, sẵn sàng chia sẻ và khiêm nhường phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ bất hạnh và đang bị bỏ rơi.

  1. THẢO LUẬN:

1) Những hình ảnh nào thường được dùng để diễn tả mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, bạn thích hình ảnh nào nhất ? Tại sao ? 2) Noi gương Tình yêu của Chúa Ba Ngôi, bạn sẽ làm gì để sống kết hiệp với Chúa Ba Ngôi và luôn yêu thương phục vụ mọi người ?

  1. CẦU NGUYỆN:

– LẠY CHÚA BA NGÔI LÀ TÌNH YÊU, Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi lộc vật chất, xin dạy con biết phục vụ trong khiêm tốn và vô vụ lợi. Giữa một thế giới muốn thống trị và ham hưởng thụ, xin dạy con yêu thương cách quảng đại và khiêm nhường tự hiến. Giữa một thế giới có nhiều phe phái chia rẽ nhau, xin dạy con luôn sống hiệp thông và có tinh thần trách nhiệm. Giữa một thế giới đầy thành kiến và kỳ thị giai cấp, màu da, phái tính… xin dạy con biết nhìn mọi người đều là anh em và chân thành yêu thương họ.

– LẠY CHÚA BA NGÔI CHÍ THÁNH. Chúa là mẫu gương của một tình yêu hoàn hảo. Xin hãy biến đổi trái tim sơ cứng như đá của chúng con thành trái tim bằng thịt biết yêu thương. Xin dạy chúng con yêu thương mọi người, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh. Xin cho chúng con luôn thấy Chúa Giê-su đang hiện diện trong chúng con và trong mọi người. Nhờ tình yêu Chúa thôi thúc, chúng con hy vọng sẽ trở nên con hiếu thảo của Chúa Cha và nên anh chị em của mọi người.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về mục lục

.

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến. Thiên Chúa Ba Ngôi là một trong những mầu nhiệm cao trọng và là nền tảng đời sống đức tin người Công giáo chúng ta. Như chúng ta đã biết Ba Ngôi là Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần.  Ngôi Cha là Thiên Chúa.  Ngôi Con là Thiên Chúa và Ngôi Thánh Thần cũng là Thiên Chúa. Tuy ba ngôi nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, không phải ba Thiên Chúa.

Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta hình dung đến những sự kiện cụ thể như một “tông nhạc.”  Một tông nhạc là hợp âm của một số nốt nhạc có những âm điệu khác nhau.  Hay chúng ta có thể nghĩ đến nước là một thí dụ khác.  Nước tồn tại trong ba dạng khác nhau và có những công dụng khác nhau, đó là: khí để thở, đông đá để giữ tươi tốt, và nước để có sự sống. Một dạng hơi, một dạng cứng đặc, và một dạng lỏng, nhưng 3 dạng này cùng có chung một chất nước. Những diễn tả nhân tạo này giúp chúng ta hiểu phần nào về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thế nhưng không có tính cách cao trọng của thiên tính. 

Chúng ta nhận biết Kinh Thánh không cho chúng ta một định nghĩa rõ ràng về Chúa Ba Ngôi, nhưng ám chỉ cho chúng ta biết một phần nào về mầu nhiệm này.  Tin mừng của thánh Mát-thêu  mà chúng ta đã nghe 2 tuần vừa qua trong ngày Lễ Chúa Thăng Thiên nói rằng: “Anh em hãy đi rao giảng muôn dân và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”  Tin mừng thánh Lu-ca cho chúng ta thấy một hình ảnh rõ ràng của Chúa Ba Ngôi trong phép rửa của Chúa Giêsu tại sông Giodan, đoạn đó diễn tả rằng: “Đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dạng chim bồ câu.  Lại có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là Con của ta, ngày hôm nay Cha sinh ra Con.’” (Lc. 3,21-22)  Tin mừng của thánh Gioan thường xuyên đề cập đến Chúa Ba Ngôi như trong đoạn Chúa Giêsu nói về Thiên Chúa Cha và Thánh Thần như sau: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.  Đó là Thần Khí sự thật.” (Ga. 14,16-17)  Trong Tin mừng của thánh Gioan, Chúa Giê-su thường gọi và xác nhận Thiên Chúa Cha là Cha của mình và đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa, điều đó đã làm cho những người Do thái tức giận và họ tìm cách diệt trừ Người. Cuối cùng, chúng ta có thể tìm được một số dữ kiện ám chỉ về Chúa Ba Ngôi trong các thánh thư của thánh Phao lô, đặc biệt là trong bài đọc 2 mà chúng ta vừa nghe.  Thánh Phao-lô nói: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em.” 

Tất cả các câu Kinh thánh ám chỉ về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi hướng dẫn, liên kết và hiệp nhất chúng ta với Chúa Ba Ngôi trong sự cầu nguyện, trong sự tôn thờ và trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu.  Một chút nữa đây, chúng ta sẽ cùng tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha là Đấng Tạo Dựng trời đất; Chúa Con, Đấng Cứu Chuộc trần gian; và Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.

Ông bà anh chị em thân mến.  Chúa Ba Ngôi không những là tín điều phải tin mà còn là một mầu nhiệm phải sống để được bình an, hạnh phúc đời này và đời sau. Thật vậy, những bài Kinh Thánh Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta có lòng xác tín, yêu mến và sống kết hợp với Chúa Ba Ngôi.  Tin mừng cho chúng ta biết chỉ vì yêu thương mà Thiên Chúa Cha đã sai Con Một Ngài xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta như lời Chúa Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời.”  Chúng ta thấy lòng yêu thương của Thiên Chúa cũng là một điểm quan trọng trong Cựu ước. Vì tình yêu thương, Ngài đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Ngài đã chăm sóc họ như một người cha. Ngài bao dung tha thứ khi họ lỗi lầm. Qua trung gian ông Mô-sê, Ngài còn ban cho họ lề luật để giúp họ sống theo đường ngay nẻo chính và trong ân sủng của Ngài. Sau cùng, Thiên Chúa còn ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để chúng ta được kết hợp với Ngài. Tất cả những gì Thiên Chúa đã làm trong lịch sử là bằng chứng tình yêu thương vô bờ của Ngài. Vì thế khi cử hành Lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta cử hành tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại và cho mỗi người chúng ta.  Tình yêu Thiên Chúa cũng là đích điểm của đời sống Ki-tô hữu, và phải được thể hiện ra qua đời sống mỗi ngày, để chúng ta luôn được kết hợp mật thiết với Chúa Ba Ngôi.

Trong bài đọc 2, lời chào chúc của thánh Phao-lô: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em” diễn tả mầu nhiệm và những điều kì diệu thiêng liêng của Chúa Ba Ngôi hiện diện trong Giáo hội và trong đời sống chúng ta.  Lời chào chúc này đã được Giáo hội đưa vào việc thờ phượng, trở thành công thức mở đầu Thánh lễ mà chúng ta thường nghe.  Là thành viên của Giáo Hội và là chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô, mỗi người chúng ta đang sống trong ân sủng của Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Cha và trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Chúa Ba Ngôi.  Nhờ đó, cuộc sống Ki-tô hữu của chúng ta không còn buồn chán, thất vọng hay lầm lạc tội lỗi.  Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lý thuyết xa vời, nhưng rất cụ thể, rất gần gũi với chúng ta như hơi thở, nước uống, khí trời, và những nhu cầu cần thiết khác, mà còn liên hệ mật thiết với chúng ta như liên hệ giữa vợ- chồng, cha- mẹ, con -cái.  Thánh Phaolô còn cho chúng ta biết đến những điều kiện để được Chúa Ba Ngôi che chở, đó là phải luôn sống yêu thương, đồng tâm nhất trí và hòa thuận với nhau.  Một gia đình hay một cộng đoàn giáo xứ được liên kết bằng sợi giây yêu thương hiệp nhất sẽ có Chúa Ba Ngôi hiện diện, và sẽ có vui mừng, hòa thuận và hạnh phúc.  Hơn nữa, chính Chúa Ba Ngôi là mối dây yêu thương hiệp nhất này, để chúng ta biết hy sinh phục vụ, sống bác ái và quảng đại làm sáng danh Chúa Ba Ngôi.  Xin Chúa Ba Ngôi che chở và gìn giữ chúng ta. 

Về mục lục

.

Lời nguyện tín hữu – Lễ Mình-Máu Thánh Chúa Kitô

0

Mẫu 1

DẪN VÀO THÁNH LỄ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ!

Hôm nay, toàn thể Giáo hội mừng kính trọng thể lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, để tưởng nhớ việc Chúa Kitô đã ban Mình và Máu của Ngài cho nhân loại. Qua đó, chúng ta được đón nhận chính Đức Giêsu là nguồn mạch của mọi ân phúc. Chính trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta được thêm sức trên đường tiến về quê hương đích thực trên trời, như dân Do Thái xưa nhờ ăn bánh Manna mà về đến Đất Hứa.

Giờ đây, kính mời cộng đoàn cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ, và dọn lòng đón rước Chúa ngự trong Bí tích Thánh Thể.

DẪN BÀI ĐỌC:

Bài đọc 1.  Đnl 8, 2-3. 14b-16a:
Con người sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra. Đó là ý nghĩa bài đọc chúng ta sắp nghe.

Bài đọc 2.  1Cr 10, 16-17:
Thánh Phaolô nhắc chúng ta nhớ: Khi dự phần vào Mình và Máu Chúa Kitô, chúng ta trở nên một thân thể.

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh Chị em thân mến, Chúa Giêsu đã trao ban chính Thịt và Máu của Người để nuôi sống chúng ta. Chúng ta cùng tạ ơn Chúa và tha thiết dâng lời nguyện xin:

  1. “Thiên Chúa đã ban Manna cho dân trong sa mạc”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa ban muôn ơn lành cho các mục tử trong Hội Thánh, để các ngài có thể chu toàn nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên mà Chúa trao phó.
  2. “Chỉ có một tấm bánh, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các Kitô hữu biết năng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, để thêm yêu mến Chúa và yêu tha nhân như chính mình.
  3. “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho những ai đang khao khát thật tâm đi tìm hạnh phúc Nước Trời, biết tìm đến với Bí Tích Thánh Thể, để được thông dự vào hạnh phúc đích thực là chính Chúa.
  4. Bí tích Thánh Thể là bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho cộng đoàn chúng ta/ biết siêng năng kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể, để trở nên chứng nhân của tình yêu Chúa cho mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con chính Thịt và Máu Chúa để nuôi sống linh hồn chúng con, xin thương nghe lời khẩn cầu, mà cho chúng con được xứng đáng lãnh nhận Mình và Máu Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Mẫu 2

DẪN VÀO THÁNH LỄ:

Kính thưa cộng đoàn! Bí tích Thánh Thể là ân ban vô cùng cao quý mà Chúa Giêsu đã để lại cho Giáo Hội và cũng là một mầu nhiệm khôn thấu đối với lý trí con người.

Ngay trong bữa ăn cuối cùng với các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã thiết lập và trao lại cho các Tông Đồ chính Mình và Máu Người một cách thực sự trong bí tích. Ngày nay Giáo Hội vẫn luôn cử hành bí tích Thánh Thể mỗi ngày để tưởng niệm và hiện tại hóa hy lễ vượt qua của Chúa Giêsu. Người vẫn hiện diện cách nhiệm mầu trong tấm bánh nhỏ bé, để trở nên lương thực nuôi dưỡng linh hồn các tín hữu, hầu thêm sức cho chúng ta trên hành trình tiến về quê Trời.

Cử hành thánh lễ Mình Máu Chúa Kitô hôm nay, chúng ta cũng hiệp ý cầu xin cho mỗi tín hữu, cách riêng cho từng người trong cộng đoàn chúng ta biết sống trong sạch, hầu xứng đáng đón rước Thánh Thể Chúa mỗi ngày. Đồng thời cũng biết trở nên tấm bánh bẻ ra để nâng đỡ, sẻ chia với anh chị em, nhất là những người nghèo. Qua đó, thánh lễ được nối dài trong đời sống, và mầu nhiệm Thánh Thể được tỏa sáng nơi các chi thể của Chúa Kitô.

Trong tâm tình đó, chúng ta cùng hiệp nhau sốt sắng dâng thánh lễ.

DẪN BÀI ĐỌC:

Bài đọc 1.  Đnl 8, 2-3.14b-16a:

Ông Môsê động viên mọi người ghi nhớ rằng: họ là dân Thiên Chúa, là những người cần nuôi dưỡng không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra. Đó là nội dung bài đọc sau đây.

Bài đọc 2.  1Cr 10, 16-17:

Trong phép Thánh Thể, tất cả chúng ta đều chia sẻ cùng một tấm bánh, và như vậy, mặc dù là đông đến đâu, chúng ta vẫn tạo thành một thân thể trong Đức Kitô. Đó là ý nghĩa đoạn thư sau đây.

      LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế:  Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban chính Mình và Máu Người làm lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta. Trong tâm tình tạ ơn và với lòng tin- cậy- mến, chúng ta cùng tha thiết dâng  lời nguyện xin:

  1. “Chúa đã ban cho các ngươi Manna làm của ăn”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các Linh mục luôn sốt sắng cử hành Thánh Thể, để dân Chúa được dưỡng nuôi bằng Bánh Thánh và sự sống đời đời.
  2. “Chỉ có một tấm Bánh và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các gia đình trên toàn thế giới, cách riêng là các gia đình trẻ / biết hợp nhất với nhau trong đức tin và trong tình yêu thương, để cùng trở nên chứng tá cho Thiên Chúa trong thế giới hôm nay.
  3. Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống”.Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho tất cả mọi người, nhất là những người nghèo đói về vật chất và nghèo đói thiêng liêng, biết tin nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ nhân loại, là Bánh Hằng Sống Thiên Chúa tặng ban, để nhờ đó mà được đón nhận sự sống đời đời.
  4. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi sẽ được sống muôn đời”. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta/ luôn cảm nhận được tình yêu của thiên Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể, để mỗi ngày biết sống gắn bó hơn với Người.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã thực hiện lời hứa ở cùng chúng con cho đến tận thế/ qua việc thiết lập bí tích Thánh Thể để nuôi sống linh hồn chúng con. Xin cho chúng con luôn biết sống trong sạch để xứng đáng đón rước Chúa mỗi ngày, và được kết hiệp với Chúa muôn đời trên Thiên đàng mai sau. Chúa là Đấng Hằng Sống và hiển trị muôn đời . Amen.

Mẫu 3:

DẪN VÀO THÁNH LỄ:

Kính thưa cộng đoàn,

Hôm nay, cùng với Giáo Hội hoàn vũ, chúng ta long trọng mừng kính lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Đây là mầu nhiệm đức tin vượt quá trí khôn nhân loại, là hy tế tạ ơn, nguồn gốc và tuyệt đỉnh của đời sống Kitô hữu, chứa đựng toàn thể kho tàng thiêng liêng của Hội Thánh.

Khi cử hành mầu nhiệm Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, Hội Thánh làm cho Tam Nhật Vượt Qua trở thành hiện tại, hy tế duy nhất trên thánh giá nay được tái diễn cho đến tận thế, nên linh dược đem lại sự bất tử.

Khi đến gần bàn tiệc thánh, chúng ta không những nhận lãnh Chúa Kitô, nhưng còn được Ngài đón nhận. Và một khi mang Chúa Kitô trong mình, chúng ta – như Đức Maria xưa kia – trở nên “nhà tạm” của Ngôi Lời Nhập Thể, để đời sống của mỗi người trở nên lời kinh Magnificat liên tục dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

Giờ đây, trong tâm tình thờ kính, mời cộng đoàn chúng ta cùng dâng thánh lễ tạ ơn với Chúa Giêsu, Đấng đã tự hiến để trao ban chính Mình Và Máu Ngài, hầu nên của ăn, của uống thiêng liêng nuôi sống linh hồn chúng ta hôm nay và mãi mãi.

DẪN BÀI ĐỌC :

Bài đọc 1.  Đnl 8, 14-16 :

Ông Môsê động viên mọi người ghi nhớ rằng: họ là dân Thiên Chúa, là những người cần nuôi dưỡng không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra. Đó là nội dung bài đọc sau đây.

Bài đọc 2.  1Cr 10, 16-17 :

Trong phép Thánh Thể, tất cả chúng ta đều chia sẻ cùng một tấm bánh, và như vậy, mặc dù là đông đến đâu, chúng ta vẫn tạo thành một thân thể trong Đức Kitô.

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế Anh Chị em thân mến, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể, để thông ban sự sống của Người cho chúng ta, và qua Bí Tích Mình Máu Thánh, Chúa còn ở lại với con người mọi ngày cho đến tận thế. Trong niềm yêu mến tri ân, chúng ta sốt sắng tin thờ và dâng lời khấn nguyện:

  1. “Chúa đã ban cho các ngươi Manna làm của ăn”. Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho các Linh mục luôn sốt sắng cử hành Thánh Thể, để dân Chúa được dưỡng nuôi bằng Bánh Thánh và sự sống đời đời.
  2. “Hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh”. Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho các Kitô hữu được hiệp thông trong cùng một tấm bánh Giêsu, biết chia sẻ tình yêu Giêsu cho mọi người.
  3. “Bánh Ta sẽ ban chính là thịt Ta để cho thế gian được sống”. Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho những ai đang khát vọng đi tìm hạnh phúc Nước Trời, biết đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, để được thông ban sự sống đời đời.
  4. “Kẻ ăn Ta chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta”. Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho mỗi người trong chúng ta được đón nhận Bí Tích tình yêu mỗi ngày, đồng thời biết noi gương Chúa, sẵn sàng hiến thân từng giây phút, và được nghiền nát để nên tấm bánh tiến dâng Chúa và đền tội của mình.

Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương Chúa đã trao ban Thịt và Máu Chúa làm của ăn nuôi sống chúng con. Xin cho chúng con biết tin thờ, yêu mến và sốt sắng lãnh nhận sự sống của Chúa mỗi ngày, để chúng con luôn được sống trong Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

CÁC BÀI ĐỌC

Bài Ðọc I:    Ðnl 8, 2-3. 14b-16a

“Người sẽ ban cho các ngươi của ăn mà các ngươi và cha ông các ngươi chưa từng biết tới”.

Trích sách Ðệ Nhị Luật.

Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Các ngươi hãy nhớ tất cả đoạn đường mà Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã dẫn đưa các ngươi qua sa mạc suốt bốn mươi năm, để rèn luyện và thử thách các ngươi, để biết các điều bí ẩn trong lòng các ngươi và xem các ngươi có tuân giữ lề luật của Người hay không? Người đã để các ngươi vất vả thiếu thốn, và ban cho các ngươi manna làm của ăn mà các ngươi và cha ông các ngươi chưa từng biết tới, để tỏ cho các ngươi thấy rằng: Con người sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

“Các ngươi hãy nhớ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, Ðấng đã dẫn đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Và Người là Ðấng đã dẫn các ngươi vào nơi hoang địa mênh mông và kinh khủng có nhiều rắn hổ lửa, bò cạp, rắn lục, và không có một giọt nước nào; Người đã khiến nước từ tảng đá cứng rắn vọt ra. Trong hoang địa, Người đã nuôi các ngươi bằng manna mà cha ông các ngươi chưa từng biết tới”.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 147, 12-13. 14-15. 19-20.

Ðáp: Giêrusalem hỡi, hãy ngợi khen Chúa  (c. 12a).

Xướng:

1) Giêrusalem hỡi, hãy ngợi khen Chúa.
Hãy ngợi khen Thiên Chúa của ngươi, hỡi Sion!
vì Người giữ chặt các then cửa ngươi,
Người chúc phúc cho con cái ngươi trong thành nội.                                       

2) Người đã sai lời Người xuống cõi trần ai,
và lời Người lanh chai chạy rảo.
Người khiến tuyết rơi như thể lông cừu,
Người gieo rắc sương đông như tro bụi trắng.                                             

3) Người đã loan truyền lời Người cho Giacóp,
những thánh chỉ và huấn lệnh Người cho Israel.
Người đã không làm cho dân tộc nào như thế,
Người đã không công bố cho họ các huấn lệnh của Người.                           

Bài Ðọc II:   1 Cr 10, 16-17

“Có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều, cũng chỉ là một thân thể”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.

Anh em thân mến, chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa chẳng phải là thông hiệp với máu Chúa Kitô sao? Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh.

Ðó là lời Chúa.

Ca Tiếp Liên

“Lauda Sion: Hỡi Sion, Hãy Ngợi Khen”

Trước Alleluia, có thể hát hoặc đọc Ca Tiếp Liên này, tất cả hoặc từ câu 21 (“Này đây bánh”) cho đến hết.

1. Hỡi Sion, hãy ngợi khen Ðấng cứu độ ngươi, Ðấng lãnh đạo và mục tử của ngươi / với những bài vãn và những khúc ca!

2. Ngươi có sức chừng nào, hãy rán ngợi khen chừng nấy, vì Người vĩ đại hơn mọi lời khen ngợi, và ngươi cũng không đủ sức ngợi khen Người.

3. Ðề tài của sự ngợi khen đặc biệt, đó là bánh sống và tác thành sự sống, ngày hôm nay đã đặt ra cho ngươi.

4. Ðó là bánh mà trên bàn tiệc thánh, cho đoàn thể mười hai người anh em, Chúa đã ban tặng chẳng khá nghi ngờ.

5. Hãy xướng lên lời ca khen ngợi đầy đủ, lời ca hoan hỉ và râm ran, tâm thần hãy vui mừng rạng rỡ!

6. Vì đây là ngày trọng thể, ngày kỷ niệm bàn tiệc thánh / lần đầu tiên được thiết lập ra.

7. Tại bàn tiệc này của Ðấng Tân Vương, lễ Vượt Qua mới theo luật pháp mới / chấm dứt lễ Vượt Qua của thời đại cũ.

8. Lễ nghi cũ nhường chỗ cho sự thực; đêm tối tăm nhường chỗ cho sự sáng sủa.

9. Ðiều mà Chúa Kitô đã làm trong bữa tiệc ly, thì Người đã ra lệnh cho thực thi điều đó để nhớ lại Người.

10. Nhờ lời thánh huấn của Người dạy bảo, chúng ta làm phép cho bánh và rượu / trở nên lễ vật hy sinh ban ơn cứu độ.

11. Ðây là tín điều dạy người Kitô hữu rằng / bánh trở nên thịt Chúa, và rượu trở nên máu Người.

12. Ðiều bạn không hiểu, không xem thấy, thì đức tin mạnh mẽ xác nhận xảy ra, ngoài luật lệ thiên nhiên.

13. Dưới những hình sắc khác nhau, chúng chỉ là biểu hiệu, không còn thực chất, có ẩn nấp những thực tại cao siêu.

14. Thịt Chúa là của ăn, máu Người là thức uống, nhưng Chúa Kitô vẫn còn đầy đủ dưới mỗi sắc hình.

15. Người không bị kẻ lãnh nhận nghiền nát, không bị bẻ gẫy, không bị phân chia, nhưng Người được thiên hạ lãnh nhận toàn thân.

16. Một người lãnh nhận, ngàn người lãnh nhận, những người này cũng lãnh bằng những người kia, thiên hạ ăn thịt Người mà Người không bị tiêu hao.

17. Người lương thiện lãnh, kẻ ác nhân cũng lãnh, nhưng số phận họ không đồng đều: hoặc được sống hay là phải chết.

18. Kẻ ác nhân phải chết, người lương thiện được sống; hãy coi, cùng một của ăn như nhau, mà kết quả khác xa biết mấy.

19. Hình bánh bị vỡ, chớ khá lo âu, nhưng hãy nhớ rằng / trong miếng vỡ cũng như trong toàn thể / Chúa vẫn hiện diện đầy đủ như nhau.

20. Bản chất không hề bị bẻ vỡ, duy có biểu hiệu bị phân chia, nhưng không giảm thiểu tình trạng và dáng vóc của Ðấng ẩn dật bên trong.

21. Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thực là bánh của những người con cái, không nên ném cho loài khuyển.

22. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế Isaac, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng manna.

23. Lạy Chúa Giêsu là mục thủ tốt lành, là bánh thực, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy / những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh.

24. Chúa là Ðấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận / với những công dân thánh của nước trời. Amen. Alleluia.

Alleluia:   Ga 6, 51-52

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 6, 51-59

“Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân Do-thái rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Vậy người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?” Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.

Ðó là lời Chúa.