Danh mục: Tin Giáo hội

  • Giới trẻ Công giáo thảo luận các vấn đề thế giới

    Giới trẻ Công giáo thảo luận các vấn đề thế giới

    Giới trẻ Công giáo thảo luận các vấn đề thế giới

    Ban đào tạo sinh viên Công giáo quốc tế (IYCS) và Hội đồng Thế giới thứ 14 khai mạc tại New Delhi hôm 16-6

    Hơn 80 sinh viên Công giáo từ gần 60 quốc gia đến Ấn Độ thảo luận vai trò của họ trong việc xử lý các vấn đề xã hội khiến thế giới lo ngại như môi trường, bạo lực và buôn bán người.

    Họ thuộc Ban Đào tạo sinh viên Công giáo quốc tế (IYCS) và Hội đồng Thế giới thứ 14 đang được tổ chức tại New Delhi diễn ra từ ngày 16-27/6.

    Trong khi trình diễn các hoạt động văn hóa khác nhau, sinh viên còn thảo luận chủ để: Khủng hoảng và xung đột trên thế giới – Sinh viên mang lại hy vọng.

    Hôm 16-6, họ khai mạc sự kiện dài 12 ngày này bằng màn trình diễn văn hóa sôi động.

    “Chúng ta có trách nhiệm lớn trong việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Chúng ta nên mang lại hy vọng và viễn cảnh mới cho một thế giới mới” – Edouard Koutsava, tổng thư ký IYCS đến từ Togo nói.

    Reyna Clemena Deloso, người điều phối Sinh viên Công giáo châu Á đến từ Philippines nói các chương trình như thế sẽ giúp nâng cao ý thức nơi giới trẻ.

    “Chúng tôi sẽ thảo luận những vấn đề chính như môi trường, ma túy và bạo lực. Sinh viên còn chia sẻ kinh nghiệm trong sự kiện này” – chị nói.

    Chị nói thêm: “Nó giống như huấn luyện một nhóm nhà đào tạo vì những người trẻ này sẽ đóng vai trò tích cực trong giải quyết các vấn đề xã hội”.

    Ines Maria, tham dự viên đến từ Tây Ban Nha, nói các cuộc thảo luận giúp chị hiểu được nhiều vấn đề thế giới.

    Linh mục James Nanbak đến từ Nigeria phát biểu các sự kiện này sẽ giúp thay đổi xã hội vì những người trẻ đến từ các quốc gia khác nhau sẽ hiểu văn hóa của nhau rõ hơn.

    Ngài nói các chính phủ nên tổ chức những chương trình như thế này và đầu tư nhiều hơn vào phát triển người trẻ.

    Nghị sĩ Ấn Độ Francisco Sardinha, khách mời chính, thúc giục tham dự viên xây dựng một xã hội không có sự phân biệt đối xử hay tham nhũng.

     

    Nguồn: ucanews

     

  • Đức Thánh Cha kêu gọi bảo vệ môi sinh

    Đức Thánh Cha kêu gọi bảo vệ môi sinh

    Đức Thánh Cha kêu gọi bảo vệ môi sinh

     

    VATICAN – ĐTC Bênêđictô XVI tái kêu gọi các chính phủ tôn trọng môi sinh và khai thác các năng lượng sạch để bảo tồn thiên nhiên.

    Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 9-6-2011, dành cho các đại sứ của 6 nước cạnh Toà Thánh là Moldavia, Guinea Equatoriale, Belize, Siry và Ghana, và New Zealand, đến trình quốc thư.

    Trong diễn văn chung chào mừng các vị tân đại sứ, ĐTC nhắc đến nhiều thảm trạng liên hệ tới thiên nhiên, kỹ thuật và các dân tộc trong 6 tháng đầu năm nay và kêu gọi suy tư về tầm mức rộng lớn của các tai ương ấy. Ngài nói: “Hoàn toàn chấp nhận một lối sống tôn trọng môi sinh và hỗ trợ việc nghiên cứu, khai thác các năng lượng sạch, bảo tồn gia sản của công trình sáng tạo và không gây nguy hiểm cho con người, những điều ấy phải là những ưu tiên về chính trị và kinh tế”.

    Trong số các thiên tai và tai nạn khủng khiếp trong những tháng qua có vụ sóng thần và lò năng lượng hạt nhân bị hư hại tại Nhật Bản.

    Trong chiều hướng trên đây, ĐTC kêu gọi “hoàn toàn duyệt lại đường lối tiếp cận của chúng ta đối với thiên nhiên. Thiên nhiên không phải chỉ là một không gian có thể khai thác hoặc đùa giỡn. Nó chính là nơi sinh ra của con người, có thể nói là nhà của con người, là điều thiết yếu đối với chúng ta. Sự thay đổi não trạng trong lĩnh vực này, kể cả những bó buộc mà nó kéo theo, phải giúp mau lẹ đi tới một nghệ thuật sống cùng nhau, tôn trọng giao ước giữa con người và thiên nhiên, nếu không gia đình nhân loại có nguy cơ biến mất”.

    ĐTC cũng nhấn mạnh: “Tất cả các nhà cầm quyền phải dấn thân bảo vệ thiên nhiên và giúp thiên nhiên chu toàn sứ mạng thiết yếu cho sự sống còn của nhân loại. Tôi thấy LHQ là một khuôn khổ tự nhiên để suy tư như thế, và suy tư này không thể bị lu mờ vì những lợi lộc chính trị và kinh tế sự mù quáng phe phái, trái lại cần dành ưu tiên cho tình liên đới hơn là tư lợi”.

    Kêu gọi chính phủ Siri và Trung Đông

    Ngoài diễn văn chung trên đây, ĐTC còn trao cho mỗi vị đại sứ một diễn văn riêng, liên tới tình hình của quốc gia liên hệ.

    Dư luận đặc biệt chú ý đến ông Hussam Edin Aala, 45 tuổi, tân Đại sứ Siri cạnh Toà Thánh, và cũng là đại sứ của nước này tại Tây Ban Nha.

    Trong bài diễn văn trao cho ông Đại sứ Aala, ĐTC nhắc đến những biến cố gần đây tại một số quốc gia quanh Địa Trung Hải, trong đó có Siri. Những biến cố đó “biểu lộ ước muốn một tương lai tốt đẹp hơn trong các lĩnh vực kinh tế, công bằng, tự do và sự tham gia vào đời sống công cộng. Các biến cố đó cũng chứng tỏ cần cấp thiết có những cải tổ thực sự trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, điều rất đáng mong ước là những diễn biến đó không được thực hiện trong sự bất bao dung, kỳ thị hoặc xung đột, và càng không phải bằng bạo lực, nhưng trong sự tôn trọng tuyệt đối đối với sự thật, sự sống chung, các quyền hợp pháp của cá nhân và tập thể, và tôn trọng sự hoà giải. Các nguyên tắc đó phải hướng dẫn chính quyền, để ý đến những khác vọng của xã hội dân sự cũng như các thẩm quyền quốc tế”.

    ĐTC cũng cầu mong có giải pháp hoà bình cho vùng Trung Đông, và cần tìm được một giải pháp toàn bộ. Ngài nói: “Giải pháp này không được làm thương tổn quyền lợi của một phía nào liên hệ và phải là kết quả của một sự thoả thuận, chứ không phải do những chọn lựa đơn phương áp đặt bằng vũ lực. Vũ lực không giải quyết được gì cả, và cả những giải pháp đơn phương hoặc bán phần cũng không đủ. Ý thức về những đau khổ của tất cả các dân chúng, cần phải tiến hành với phương pháp toàn bộ, không loại trừ ai trong việc tìm kiếm một giải pháp thương thuyết và để ý đến những khát vọng và quyền lợi hợp pháp của các dân tộc liên hệ”.

    ĐTC không quên tinh thần bao dung và sự sống chung hài hoà giữa các tôn giáo tại Siri, đặc biệt là giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo tại nước này. (SD 9-6-2011).

    G. Trần Đức Anh OP

    Nguồn: RV

     

  • Thánh nhạc “làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hoá các tín hữu”

    Thánh nhạc “làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hoá các tín hữu”

    Thánh nhạc “làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hoá các tín hữu”

     

     

    ĐTC gửi thư cho Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc nhân dịp 100 năm thành lập Học viện

    VATICAN – ĐTC Bênêđictô XVI cổ vũ quan hệ đúng đắn giữa truyền thống lành mạnh và sự tiến bộ hợp pháp trong ngành thánh nhạc và ngài khích lệ Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc tiếp tục chu toàn sứ mạng đào tạo các sinh viên trong ngành này.

    Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong thư công bố hôm 31-5-2011, gửi ĐHY Zenon Grocholewski, Tổng trưởng Bộ Giáo dục Công giáo kiêm Đại Chưởng ấn Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc ở Rôma, nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Học viện này.

    Học viện được ĐGH Piô X thành lập năm 1910 như một Trường Cao đẳng về Thánh nhạc, và được mở cửa ngày 3-1-1911. 20 năm sau đó, trường được Đức Piô XI nâng lên hàng “Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc”.

    Trong thư, ĐTC nhắc lại căn tính cũng như quá trình hoạt động của Học viện này: đặc biệt Học viện đã hấp thụ, soạn thảo và thông truyền nội dung đạo lý và mục vụ của các văn kiện Toà Thánh, cũng như của Công đồng chung Vatican II về Thánh nhạc, để có thể soi sáng và hướng dẫn công việc của các nhà sáng tác, các ca trưởng, các nhà phụng vụ và nhạc sĩ cũng như tất cả các nhà đào tạo trong lĩnh vực này”.

    ĐTC nhấn mạnh đến mục đích của Thánh nhạc là “làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hoá các tín hữu”, như Hiến chế Thánh Công đồng (Sacrosanctum Concilium, n.112) đã khẳng định, và ngài nhắc lại rằng “Phụng vụ, và từ đó, Thánh nhạc, ‘sống bằng một quan hệ đúng đắn và trường kỳ giữa truyền thống lành mạnh và sự tiến triển hợp pháp’, luôn để ý rằng hai ý niệm đó bổ túc cho nhau vì truyền thống là một thực tại sinh động, vì thế nó bao gồm nơi mình nguyên tắc phát triển và tiến bộ” (Diễn văn dành cho Giáo hoàng Học viện về Phụng vụ 6-5-2011).

    Trong thư, ĐTC cũng đề cao giá trị của nhạc bình ca như kiểu mẫu cao nhất của Thánh nhạc và sau cùng, ngài khẳng định: “Tôi khuyến khích anh chị em hãy tiếp tục thi hành đà tiến được đổi mới và quyết tâm chu toàn sứ vụ của anh chị em trong việc huấn luyện chuyên nghiệp cho các sinh viên, để họ thủ đắc được một khả năng nghiêm túc và sâu xa, trong các môn khác nhau thuộc thánh nhạc. Như thế, Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc sẽ tiếp tục cống hiến một sự đóng góp giá trị cho việc đào tạo các vị mục tử và các tín hữu giáo dân trong các Giáo Hội địa phương, tạo điều kiện dễ dàng cho sự phân định phẩm chất của các thánh ca được dùng trong việc cử hành phụng vụ”.

    Trong số các sinh viên Việt Nam xuất thân từ Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc có Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hoà, Linh mục Nhạc sĩ Kim Long, Tiến Dũng… Hiện nay có 2 nữ tu và 2 LM Việt Nam đang theo học tại trường này.

    (SD 31-5-2011)

    G. Trần Đức Anh OP

    Radio Vatican

     

  • Đức Thánh Cha nhắc lại tầm quan trọng của Đức Maria đối với người tín hữu

    Đức Thánh Cha nhắc lại tầm quan trọng của Đức Maria đối với người tín hữu

    Đức Bênêđictô XVI nhắc lại tầm quan trọng của Đức Maria đối với người tín hữu

    Tiếp kiến Hội dòng Thánh Mẫu Ratisbonne

    TTCG (Rôma, 30-5-2011, Zenit.org) – “Người Công giáo không thể hiện hữu mà không có một thái độ của Đức Maria” – đó là điều mà Đức Bênêđictô XVI đã khẳng định khi người tiếp kiến một số thành viên của Hội dòng Thánh Mẫu Ratisbonne tại Điện Vatican hôm 28-5.

    Trong bài diễn văn của mình, ĐGH đã nhắc lại rằng ngài đã được tiếp đón tại hội dòng này khi ngài lên 14 tuổi, vào những năm mà Hitler đã buộc một phần lớn châu Âu phải khuất phục. “Dường như châu Âu đã nằm trong tay của quyền lực này, một quyền lực làm cho mọi người phải nghi ngờ về tương lai của Kitô giáo”, ĐGH cắt nghĩa.

    Ít lâu sau khi ngài vào chủng viện, chiến tranh đã bắt đầu với Nga, và do đó, Hội dòng đã phải “tản mác ra khắp nơi”. Nhưng Hội dòng chỉ giải thể về mặt bên ngoài – ĐGH nói thêm.

    Và Đức Bênêđictô XVI khẳng định: Sở dĩ được như thế là vì “lúc nào chúng ta cũng thấy rõ rằng người Công giáo không thể hiện hữu mà không có một thái độ của Đức Maria, rằng là Kitô hữu có nghĩa trở nên như Đức Maria, rằng tình yêu dành cho Mẹ có nghĩa là trong Mẹ và nhờ Mẹ mà chúng ta gặp được Chúa”.

    Một niềm xác tín được xác nhận là của ĐGH, do các nhà Thánh Mẫu học nghiên cứu sau thời chiến, được ảnh hưởng bởi Romano Guardini và quyển sách của Linh mục Joseph Weiger, “Maria, Mutter der Glaubenden”.

    Đức Bênêđictô XVI cho biết là sau chiến tranh, “môn Thánh Mẫu học được giảng dạy trong các Đại học tại Đức hơi cứng nhắc và khô khan”. Một hiện trạng dường như không thay đổi được bao nhiêu, ngay cả khi người ta đề cập đến đức tin của Đức Maria – ngài khẳng định.

    “Phúc thay cho em là người đã tin!”: qua những lời nói trên đây của bà Elisabeth, ĐGH đã nhắc lại rằng Đức Maria là “tín người tín hữu vĩ đại”, là ngài đã “cụ thể hoá đức tin của Abraham vào trong đức tin của Đức Giêsu Kitô, và như thế, chỉ ra cho chúng ta con đường đức tin”.

    Đức Maria “đã tỏ lộ cho chúng ta thấy lòng can đảm khi phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, Đấng tự hiến mình cho chúng ta, và biểu lộ cho chúng ta thấy niềm vui được làm chứng nhân cho Người”, lòng “can đảm khi ở bên cạnh Chúa, khi Chúa dường như đã thất bại, và chính vì thế, đã trở thành chứng nhân cho sự Phục sinh” – ĐGH nói thêm.

    Cuối cùng, ĐGH thổ lộ rằng trong những lần các giám mục trên toàn thế giới viếng thăm ad limina, ngài đã có thể cảm nghiệm được cách thế mà người tín hữu phó thác con người mình cho Đức Maria, yêu mến Người, và qua Người, “hãy học để biết, để hiểu và để yêu mến Đức Kitô”.

    Chúng ta hãy học để hiểu rằng Đức Maria tiếp tục “đem Thiên Chúa vào trong thế giới”, tiếp tực cưu mang Đức Kitô trong trần gian này. 

    G.B. Lưu Văn Lộc

  • Truyền giáo là ơn gọi của Giáo Hội ngay cả trong thời đại ngày nay

    Truyền giáo là ơn gọi của Giáo Hội ngay cả trong thời đại ngày nay

    Truyền giáo là ơn gọi của Giáo Hội ngay cả trong thời đại ngày nay

    Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI ca ngợi vai trò của truyền giáo qua các thế kỷ cho đến nay, nêu mẫu gương của Mẹ Têrêsa Calcutta và Đức Gioan Phaolô II”, một nhà truyền giáo vĩ đại”. “Bất cứ nơi đâu Tin Mừng đến, cuộc sống khởi sắc, như vùng đất khô cằn, được mưa tuôn tuới, lên màu xanh tươi”. Đức Giáo Hoàng cũng loan báo Đức Hồng y Wyszynski, người Ba Lan sẽ sớm được tuyên chân phước.

    Vatican City (AsiaNews) – Trong buổi đọc Kinh Nữ Vương Thiên Đàng hôm 29/05/2011 tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chú trọng đến niềm vui và tầm quan trọng của việc rao giảng Kitô giáo: “Ngay cả ngày nay, ơn gọi của Giáo Hội là truyền giáo, hướng đến những người chưa được tuôn tưới bởi nước sự sống là Tin Mừng, cũng như những người dù có cội rễ Kitô giáo cổ xưa của mình, cần nhựa sống mới để sinh quả mới và tái khám phá vẻ đẹp và niềm vui của đức tin”. Để giải thích cho tầm quan trọng của truyền giáo, Đức Giáo Hoàng lưu ý rằng “Đức Chân Phước Gioan Phaolô II là một nhà truyền giáo vĩ đại, như được minh chứng bằng tài liệu bởi cuộc triển lãm đang được trưng bày tại Rôma. Ngài đã làm hồi sinh sứ mạng đến với muôn dân (ad gentes) và đồng thời thúc đẩy công cuộc Tân Phúc Âm Hóa”.

    Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đưa ra gợi ý từ bài đọc Công Vụ Tông Đồ, nhất là đoạn mô tả sau cuộc đàn áp bạo lực ở Giêrusalem, “Philipphê, một trong những phó tế, đi xuống một thành thuộc xứ Samaria, rao giảng Đức Kitô Phục Sinh cho họ, và lời rao giảng đi với nhiều việc chữa lành để có kết thúc đoạn văn thật ý nghĩa ‘cả thành được vui mừng khôn tả’”.

    Với ý nghĩa này, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho hay: “Diễn tả này gây ấn tượng cho chúng ta mỗi lần đọc. Trong bản chất tự nhiên thiết yếu, nó thông truyền cho chúng ta một cảm giác hy vọng, như thể nó nói rằng ‘Đó là điều có thể! Nó có thể cho nhân loại biết niềm vui đích thực, vì bất cứ nơi đâu Tin Mừng đến, cuộc sống khởi sắc, như vùng đất khô cằn, được mưa tuôn tuới, lên màu xanh tươi’”

    Từ điều này, Đức Thánh Cha tiếp tục xem xét các thế kỷ sau đó cho đến thời đại của chúng ta, nhìn chúng trên quan điểm của truyền giáo. “Đọc đoạn này, sẽ trở nên tự nhiên khi nghĩ về quyền năng chữa lành của Tin Mừng, mà trong nhiều thế kỷ ‘đã tuôn tưới’, như một dòng sông ân huệ, cho rất nhiều người. Một số vị thánh vĩ đại đã mang lại hy vọng và bình an cho toàn thể các thành phố, như Thánh Charles Borromeo đã đến Milan vào thời của bệnh dịch hạch, và Mẹ Têrêsa ở Calcutta, cũng như nhiều nhà truyền giáo, mà tên tuổi được biết đến nhờ Thiên Chúa, những người dâng đời sống để công bố Chúa Kitô và đem lại niềm vui sâu sắc ở giữa con người. Trong khi các thế lực hùng mạnh cố gắng chinh phục những vùng đất mới vì các lý do chính trị và kinh tế, thì các sứ giả của Chúa Kitô đã đi bất cứ nơi đâu nhằm mục đích mang Chúa Kitô cho mọi người, để biết rằng chỉ mình ngài mới có thể mang lại tự do đích thực và sự sống đời đời”.

    Khi kết thúc buổi đọc Kinh Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Thánh Cha đã chào đón người hành hương bằng các ngôn ngữ khác nhau. Ngài cũng nhắc những người đến từ Ba Lan rằng ngày 28/05 là ngày kỷ niệm 30 năm Đức Hồng y Wyszynski qua đời: “Gợi lên món quà tuyên chân phước ngài, chúng ta hãy học từ ngài là hoàn toàn dâng cho Mẹ Thiên Chúa. Hãy để cho niềm tín thác của ngài được thể hiện qua câu ‘Tôi đặt mọi thứ vào Đức Maria’ là mẫu gương đặc biệt của chúng ta”.

    Lã Thụ Nhân

     

  • Sức mạnh của lời cầu nguyện cho ơn cứu rỗi của tha nhân

    Sức mạnh của lời cầu nguyện cho ơn cứu rỗi của tha nhân

    Sức mạnh của lời cầu nguyện cho ơn cứu rỗi của tha nhân

    Sức mạnh của lời cầu nguyện cho ơn sứu rỗi của người khác biểu lộ và diễn tả ước muốn của Thiên Chúa đối với kẻ tội lỗi: đó là tha thứ, cứu rỗi, trao ban sự sống và biến sự dữ thành sự lành.
    Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trước gần 30.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 18-5-2011.
    Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Anh chị em thân mến, trong các bài giáo lý trước đây chúng ta đã suy tư về lời cầu nguyện như là một hiên tượng phổ quát hiện diện trong các nền văn hóa của mọi thời đại, dưới nhiều hình thức khác nhau. Hôm nay, tôi muốn bắt đầu một lộ trình kinh thánh về đề tài này. Nó sẽ hướng dẫn chúng ta đào sâu cuộc đối thoại của giao ước giữa Thiên Chúa và con người, và nó linh hoạt lịch sử cứu độ cho tới tột đỉnh, cho tới Lời định đoạt là Đức Giêsu Kitô. Lộ trình này sẽ dẫn chúng ta dừng lại trên vài văn bản quan trọng và các gương mặt mô thức của Cựu Ước và Tân Ước. Tổ phụ Abraham, cha của tất cả mọi người có lòng tin, sẽ là người đầu tiên cống hiến cho chúng ta thí dụ đầu tiên về lời cầu nguyện, trong giai thoại ông can thiệp cho dân hai thành Sodoma và Gomorra. Tôi cũng mời gọi anh chị em tập hiểu biết Thánh Kinh nhiều hơn, trong gia đình có sách Thánh Kinh, đọc và suy niệm Thánh Kinh trong tuần để hiểu biết lịch sử tuyệt vời tương quan giữa Thiên Chúa và con người.
    Văn bản đầu tiên là chương 18 sách Sáng Thế kể lại tình trạng sống gian ác và tội lỗi của dân chúng hai thành Sodoma và Gomorra, đến độ Thiên Chúa phải can thiệp bằng cách quyết định đánh phạt họ. Nhưng Thiên Chúa cũng quyết định vén mở cho ông Abraham biết điều đó, cho ông biết sự nghiêm trọng của sự dữ và các hậu qủa kinh khủng của nó, bởi vì ông là người đã được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành phước lành cho toàn thế giới. Sứ mệnh của ông như thế là sứ mệnh cứu vớt, qua ông, Thiên Chúa muốn đem nhân lại trở về với đức tin, sự vâng phục và công lý.
    Tổ phụ Abraham đặt vấn đề nghiêm trọng ngay với Thiên Chúa và thưa với Người: ”Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có 50 người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không tha thứ cho thành đó, vì 50 người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy chắc không được đâu. Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?” (St 18,23-25). Qua các lời đó, với lòng can đảm lớn tổ phụ Abraham đã đặt Thiên Chúa trước sự cần thiết phải tránh một thứ công lý tóm tắt: Nếu thành phố có tội, thì đánh phạt tội lỗi của họ là điều chính đáng, nhưng Thiên Chúa là thẩm phán công minh không thể đánh phạt người vô tội với kẻ có tội được.
    Tuy nhiên, nếu đọc kỹ văn bản, chúng ta sẽ thấy rằng lời xin của tổ phụ Abraham sâu sắc hơn, vì ông không chỉ xin ơn cứu rỗi cho người vô tội mà còn xin ơn tha thứ cho toàn thành phố nữa. Nghĩa là ông đưa ra một tư tưởng mới về công lý không chỉ đánh phạt người có tội như loài người thường làm, mà là một công lý khác, công lý của Thiên Chúa tìm kiếm sự thiện và tạo ra sự thiện qua ơn tha thứ biến đổi người tội lỗi, hoán cải họ và cứu vớt họ. Đức Thánh Cha khai triển lời cầu nguyện của tổ phụ Abraham như sau:
    Như thế, với lời cầu của mình tổ phụ Abraham không khẩn cầu một sự công chính hoàn toàn có tính cách thưởng phạt, nhưng một sự can thiệp cứu độ chú ý tới những người vô tội, kể cả người gian ác được tự do khỏi tội lỗi bằng cách tha thứ cho họ. Có thể tóm tắt tư tưởng của tổ phụ như sau: không thể đối xử với người vô tội như kẻ có tội, vì như thế là bất công; trái lại cần phải đối xử với kẻ có tội như người vô tội, và đưa ra một sự công chính ”cao ơn”, bằng cách cống hiến cho họ một khả thể được cứu rỗi, bởi vì nếu kẻ phạm tội chấp nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa và thú nhận tội lỗi bằng cách để cho mình được cứu rỗi, họ sẽ không tiếp tục làm sự dữ nữa, và cũng sẽ trở thành công chính, mà không cần phải bị đánh phạt.
    Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: đó là lời xin công lý mà Abraham diễn tả trong lời bầu cử của ông. Ông không xin Thiên Chúa một điều trái nghịch với bản thể của Người, nhưng gõ cửa con tim của Thiên Chúa vì biết rõ ý muốn của Người. Chắc chắn 50 người công chính đối với một thành phố lớn như Sodoma xem ra ít ỏi, nhưng sự công chính của Thiên Chúa và sự tha thứ của Người lại không phải là sự biểu lộ sức mạnh của sự thiện hay sao, cả khi xem ra nó bé nhỏ và yếu đuối hơn sự dữ? Sự tàn phá Sodoma phải chặn đứng sự dữ hiện diện trong thành phố, nhưng Abraham biết Thiên Chúa có các phương cách khác để ngăn chặn sự dữ lan tràn. Đó là sự tha thứ bẻ gẫy vòng xoáy của tội lỗi, và trong khi nói chuyện với Thiên Chúa ông nại vào điều đó. Nhưng khi không tìm thấy 50 người, tổ phụ Abraham giảm xuống 40, 30, 20 và 10 người công chính. Và con số càng nhỏ, thì lòng xót thương của Thiên Chúa lại càng lớn lao hơn, vì Người là Đấng kiên nhẫn lắng nghe lời cầu nguyện, chấp nhận nó và lập lại sau mỗi lần khẩn nài của ông : ” Ta sẽ tha thứ… Ta sẽ không phá hủy… Ta sẽ không làm” (cc. 26.28.29.30.31.32).
    Như vậy, nhờ lời bầu cử của Abraham thành Sodoma sẽ có thể được cứu rỗi, nếu có ít nhất 10 người vô tội. Đó là sức mạnh của lời cầu nguyện. Bởi vì qua lời bầu cử, lời cẩu nguyện dâng lên Thiên Chúa cho ơn cứu rỗi của những người khác, ước mong cứu rỗi mà Thiên Chúa luôn nuôi dưỡng đối với người tội lỗi, được biểu lộ và diễn tả ra. Thật thế, không thể chấp nhận sự dữ, phải ghi nhận và phá hủy nó qua sự đánh phạt. Nhưng Thiên Chúa không muốn cái chết của người gian ác, nhưng muốn họ hoán cải và được sống (x. Ed 18,23; 33,11). Ước muốn của Người là luôn luôn tha thứ, cứu rỗi, trao ban sự sống và biến đổi sự dữ thành sự lành… Với lời khẩn cầu của mình, tổ phụ Abraham cho ý muốn của Thiên Chúa mượn tiếng nói và con tim của ông: ước muốn của Thiên Chúa là sự xót thương, tình yêu và ý mốn cứu rỗi; và nó đã tìm thấy nơi Abraham và trong lời cầu nguyện của ông khả thể biểu lộ ra một cách cụ thể bên trong lịch sử loài người, để hiện hữu tại những nơi cần được ơn thánh… Cuộc đối thoại của Thiên Chúa với Abraham là một biểu lộ tình yêu thương xót của thiên Chúa, được nối dài và không thể lầm lẫn được.
    Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Tai sao Abraham lại dừng lại ở con số 10 người công chính để cứu toàn thành phố, chúng ta không biết được; nhưng ngày nay số 10 là số cần thiết cho lời cầu nguyện công khai của tín hữu do thái.
    Đề cập tới ý muốn cứu rỗi của Thiên Chúa Đức Thánh Cha nói: Thiên Chúa đã sẵn sàng tha thứ, Người ước mong làm điều đó, nhưng các thành phố khép kín trong một sự dữ toàn diện và làm tê liệt, cả đến không có được ít người vô tội để từ đó có thể biến đổi sự dữ thành sự thiện. Vì đó chính là con đường cứu rỗi,mà cả tổ phụ Abraham cũng xin: được cứu rỗi không chỉ đơn thuần có nghĩa là thoát khỏi sự đánh phạt, mà là được giải thoát khỏi sự dữ sống trong chúng ta. Không phải loại bỏ sự trừng phạt, nhưng là loại bỏ tội lỗi, loại bỏ sự khước từ Thiên Chúa và tình yêu, là cái đã mang trong chính nó sự trừng phạt. Chính ngôn sứ Giêremia đã nói lên điếu đó: ”Sự gian ác của ngươi phải sửa tri ngươi, hành vi phản bội của ngươi sẽ trừng phạt ngươi. Ngươi phải biết, ngươi phải thấy rằng: Lìa bỏ Giavê Thiên Chúa của ngươi, không còn kính sợ Người, thì thật là xấu xa và cay đắng” (Gr 2,19). Thiên Chúa muốn cứu con người bằng cách giải thoát nó khỏi sự buồn sầu, cay đắng, khỏi tội lỗi. Nhưng cần phải có sư biến đổi nội tâm, một chút sự thiện từ đó có thể bắt đầu thay đổi sự dữ thành sự thiện, thù hận thành tình yêu, báo oán thành tha thứ. Vì thế các người công chính phải ở trong thành phố. Do đó Abraham lậ đi lập lại ”Có lẽ ở đó sẽ tìm thấy…” Ở đó, ở trong thực tại đau yếu phải có một vài mầm giống của sự thiện có thể tái trao ban sự sống. Đây cũng là lời hướng tới chúng ta: ước chi trong các thành phố của chúng ta có mầm giống sự thiện, ước chi chúng ta làm tất cả những gì có thể để không phải chỉ có 10 người công chính để làm cho các thành phố của chúng ta sống còn và cứu thoát chúng ta khỏi nỗi cay đắng nội tâm là sự vắng bóng Thiên Chúa. Nhưng lòng xót thương của Thiên Chúa còn đi xa hơn nữa trong lịch sử dân Người, như ngôn sứ Giêrema sẽ nói: chỉ cần một người công chính thôi cũng đủ để được Thiên Chúa cứu: ”Hãy rảo quanh đường phố Giêrusalem mà xem cho biết. Trên các quảng trường thành phố ấy, hãy tìm xem có gặp được một người, một người biết thi hành luật pháp, biết sống cho chân thật, Ta sẽ dung tha cho cả thành” (Ge 5,1)…
    Sẽ cần chính Thiên Chúa trở thành người công chính ấy. Đó là mầu nhiệm nhập thể: để bảo đám một người công chính, chính Con Thiên Chúa đã làm người, Đấng Công Chính định đoạt, Đấng hoàn toàn Vô Tội sẽ đem lại ơn cứu rỗi cho toàn thế giới bằng cách chết trên thập giá, tha thứ và cầu bầu cho những người ”không biết việc họ làm” (Lc 23,34)…. Lời cầu nguyện của tổ phu Abrham dậy cho chúng ta biết luôn rộng mở con tim cho lòng thương xót tràn đầy của Thiên Chúa, để trong lời cầu nguyện hàng ngày chúng ta biết ước mong ơn cứu rỗi của nhân loại và kiên trì cầu xin với lòng tín thác nơi Chúa, là Đấng cao cả trong tình yêu.
    Sau khi chào các tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Đức Thánh cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

    Linh Tiến Khải