Thẻ: Thánh Têrêxa

  • Thánh Đường BÔNG HOA NHỎ

    Thánh Đường BÔNG HOA NHỎ

    Tôi luôn mong tới tháng 10, nhất là ngày 1-10, đó là lễ thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, một trong nhiều lễ kính nhớ các thánh mà tôi yêu quý có vẻ tập trung vào tháng 10 này. Chị là người thành phố Lisieux, là bổn mạng các xứ truyền giáo và Tiến sĩ Giáo hội.

    Tên “cúng cơm” của chị đúng theo Pháp ngữ là Thérèse Martin, và thường được viết là Ste. Thérèse de l’Enfant-Jésus. Nữ tu Dòng Kín người Pháp này có nickname (biệt danh) là “Bông Hoa Nhỏ của Chúa Giêsu”.

    Đời sống tâm linh của chị được mệnh danh là “Con đường Bé nhỏ” – cũng gọi là “Con đường Thơ ấu”. Chị luôn yêu thích hy sinh thầm lặng, và chị tin những điều bé nhỏ đó có thể hoán cải các linh hồn. Chị mô tả điều này rõ ràng trong cuốn tự truyện “Một tâm hồn” (Story of a Soul): “Tôi thích Tôi thích sự đơn điệu của sự hy sinh vô danh tới mức xuất thần. Nhặt một cây kim vì yêu mến cũng có thể hoán cải một linh hồn”.

    Trong luận thuyết tâm linh (spiritual treatise) của chị, chị giải thích rằng không cần hoàn tất những hành động dũng cảm để đạt được sự thánh thiện và diễn tả tình yêu đối với Thiên Chúa: “Tình yêu minh chứng bằng hành động, vậy làm sao tôi chứng tỏ tình yêu của tôi? Những hành động cao cả ngăn cấm tôi. Cách duy nhất tôi có thể chứng tỏ tình yêu của tôi là gieo vãi những bông hoa, và những bông hoa này là những hy sinh bé nhỏ, mỗi ánh mắt và mỗi lời nói, và làm những hành động đó vì yêu thương”.

    Suốt cuộc đời, thánh Têrêsa chịu đựng bệnh làm yếu sức, nhưng dù yếu đuối và đau nhức, chị không bao giờ than phiền. Chị cũng không bao giờ than phiền khi các nữ tu khác bần tiện hoặc khiếm nhã với chị. Có thể điều “phá phách” chị là nhiều lần chị cảm thấy mình quá khô khan (aridity), gọi là “bóng tối tâm linh” (spiritual darkness), khi mà chị cảm thấy chị hoàn toàn không kết hiệp với Thiên Chúa.

    Tháng 4-1896, chị bắt đầu bị lao phổi. Chị qua đời ngày 30-9-1897 sau 18 tháng bị bệnh, lúc mới 24 tuổi. Khi bị bệnh, chị viết thư cho một anh bạn là LM Bellier: “Em không đang chết dần. Em đang bước vào sự sống”.

    ĐGH Piô XI phong chân phước cho chị Têrêsa ngày 29-4-1923 và phong thánh cho chị ngày 17-5-1925, chỉ 28 năm sau khi chị qua đời. Ngày 19-10-1997, Thánh GH Gioan Phalô II tôn vinh chị là một trong 33 thánh tiến sĩ của Giáo hội hoàn vũ, một trong 3 phụ nữ (hai vị kia là Têrêsa Avila và Catarina Siena). Thánh Têrêsa là bổn mạng của những phi công, những người bị đau đớn thể lý, những người nhiễm HIV/AIDS và lao phổi, những người trồng hoa và bán hoa, những người làm vườn, những người mất cha mẹ, các trẻ mồ côi và các nhà truyền giáo. Người ta có thể dễ dàng nhận ra chân dung thánh Têrêsa với bó hoa luôn trên tay.

    NHÀ THỜ TÊRÊSA

    Sau 2 năm chị được phong chân phước, ĐGM Thomas-Paul-Henri Lemonnier, GP Bayeux và Lisieux, muốn có một thánh đường dâng kính thánh nữ Têrêsa ở Lisieux. ĐGH Piô XI là người ủng hộ dự án này, và ngài đặt triều đại giáo hoàng của ngài dưới sự bảo trợ của thánh Têrêsa.

    Viêc xây dựng thánh đường khởi công năm 1929 và sau 25 năm mới hoàn tất – việc xây dựng bị ngưng vì thế chiến II, 2/3 Lisieux bị tàn phá trong chiến tranh, thánh đường cũng bị hư hại một chút. Thánh đường này được thánh hiến ngày 11-7-1954.

    Tọa lạc trên một ngọn đồi ở vành đai Lisieux, thánh đường này được xây dựng theo kiểu Neo-Byzantine (kiểu Byzantine tân thời), còn gọi là kiểu Roman-Byzantine. Thánh đường này có hình Thập giá với mái vòm phía trên, và ở phía trên Thánh đường Thánh Tâm Paris (Paris’ Sacred Heart Basilica). Thánh đường này gồm 18 bàn thờ nhỏ, do nhiều nước dâng cúng tài chính để xây dựng.

    Tôi bước vào trong nhà thờ với hy vọng thấy toàn bộ nhà thờ đầy ánh nến. Nhà thờ tương đối đông người, nhưng tĩnh lặng và an bình – mọi người như đang hiện diện trước mặt thánh Têrêsa vậy.

    Bạn có thể thấy niềm vui hiện rõ trên mỗi khuôn mặt và tâm hồn những người đến đây để tôn thờ Thiên Chúa và tôn kính Bông Hoa Nhỏ Têrêsa. Teilhard de Chardin nhắc chúng tôi: “Niềm vui là dấu chỉ chắc chắn có Thiên Chúa hiện diện”.

    Tôi ngồi chờ thánh lễ bắt đầu. Sau Lộ đức, nhà thờ này là nơi hành hương đông người thứ nhì của Pháp quốc, mỗi năm thu hút hơn 2 triệu khách hành hương và du khách. Nhà thờ có sức chứa 4.000 người. Thánh GH Gioan Phaolô II đã đến nhà thờ này ngày 2-6-1980.

    Sau thánh lễ, tôi viếng hầm mộ thánh Têrêsa, mộ này hoàn tất năm 1932. Hầu hết phía trong hầm mộ đầy đồ khảm (mosaics): Têrêsa được rửa tội, rước lễ lần đầu, phép lạ chữa bệnh, tận hiến tu trì, và qua đời. Ngoài hầm mộ là nhà nguyện, xây dựng năm 2000, có ý để mọi người yên lặng cầu nguyện.

    Các mộ của Thánh Louis Martin và Thánh Marie-Azélie Martin, song thân của thánh Têrêsa, tọa lạc trên Chặng đàng Thánh giá phía sau nhà thờ cho tới năm 2008. Di hài các ngài được khai quật để làm di hài thánh. Năm 1994, Thánh GH Gioan Phaolô II tôn vinh các ngài là bậc đáng kính, và ĐGH Bênêđictô XVI tôn phong các ngài lên bậc chân phước ngày 19-10-2008. Cuối cùng, ĐGH Phanxicô tôn phong các ngài lên bậc hiển thánh ngày 18-10-2015.

    KHOẢNG XA

    Thánh Têrêsa được đặt làm bổn mạng cho việc truyền giáo dù chị chưa bao giờ ra khỏi tu viện kín, chị chỉ khao khát cháy bỏng là được đi truyền giáo và cầu nguyện cho việc truyền giáo. Chị viết trong tự truyện: “Con có ơn gọi làm tông đồ. Con muốn đi khắp thế gian để rao truyền Danh Ngài và cắm Thánh giá vinh quang trên vùng đất không có đức tin. Nhưng, lạy Đấng con yêu mến, một sứ vụ không đủ cho con; con muốn rao giảng Phúc Âm khắp năm châu cùng một lúc và cả ở các hòn đảo nhỏ xa xôi. Con muốn là nhà truyền giáo, không chỉ vài năm mà từ khởi nguyên cho tới tận thế”.

    Đại tá phi hành gia Ron Garan, được linh hứng bởi lòng sùng kính thánh Têrêsa, đã đến Dòng Kín New Caney, bang Texas, và xin thánh tích của Bông Hoa Nhỏ để đem theo mình trên chuyến tàu vũ trụ Discovery 2008. Garan đã thả thánh tích của Chị Têrêsa vào quỹ đạo trái đất trong chuyến bay đó. Với vận tốc 17.057 dặm/giờ trong 2 năm, thánh tích Chị Têrêsa đã đi xa gần 300 triệu dặm – xa hơn một chút so với hành trình chị muốn đi trong cuộc đời ngắn ngủi của chị. Garan muốn mang thêm thánh tích Bông Hoa Nhỏ vào chuyến bay sau tới Trạm Không gian Quốc tế trong năm 2011.

    Thánh Têrêsa chỉ là nữ tu Dòng Kín 9 năm nhưng tầm ảnh hưởng của chị thật là rộng lớn. Thánh đường Thánh Têrêsa vẫn là bằng chứng về Bông Hoa Nhỏ của Thiên Chúa.

    ANGELO STAGNARO

    TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ NCRegister.com)

  • Tâm Hồn Thơ Bé

    Tâm Hồn Thơ Bé

    Là một tâm hồn thơ bé, không phải là bé nhỏ, mít ướt hay nhõng nhẽo, mà là một tâm hồn phó thác mãnh liệt vào Chúa, một dấn thân dũng cảm, mạnh mẽ, từ bỏ ý riêng, để chính Chúa thực thi quyền năng của Người trong cuộc đời. Thánh Nữ Têrêsa là mẫu gương cho tâm hồn thơ bé ấy.

    Khao Khát nên thánh
    “Phần con, con vẫn một lòng quả cảm muốn làm đại thánh. Con không cậy công con, có đâu mà cậy; con hoàn toàn cậy trông ở Chúa là sức mạnh, là chính sự thánh thiện. Những cố gắng nhỏ nhặt của con cũng làm Chúa vui lòng. Người sẽ nâng đỡ con lên tới Người, Người sẽ lấy công nghiệp cực trọng Người mà bù đắp cho con. Người sẽ làm con nên thánh.” (Truyện Một Tâm Hồn, quyển 1, chương 4.)  
    Khát khao và thực hiện khát khao nên thánh là một hành trình từ những bước nhỏ đến những bước lớn. Tử Tư trong sách Trung Dung viết: “Muốn lên cao, bước từ thấp. Muốn đi xa, bước từ gần”. Không chu toàn việc nhỏ không thể chu toàn việc lớn. Chúa Giêsu dạy: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.” (Lc 16, 10). 
    Trong bất cứ điều nhỏ nào hãy cố gắng chu toàn cách cẩn thận nhất và điều khuyên của ông McRaven người lính SEAL, đầu tiên trong ngày là dọn giường ngủ dậy ngay ngắn, thật ngay ngắn.
    Thánh nữ Têrêsa tập chịu đựng từ việc nhỏ nhất: “Con là một linh hồn rất nhỏ mọn, chỉ biết dâng lên Chúa những việc rất nhỏ mọn thế thôi. Thật là việc hèn mọn chẳng đáng gì, song đã mang lại cho con được bình an vui vẻ trong lòng.”
    Làm mọi việc bằng trái tim
    “Tôi thích chấp nhận sự buồn tẻ của việc hy sinh âm thầm hơn là trải qua những trạng thái xuất thần. Nhặt một cây kim vì tình yêu cũng có thể hoán cải một linh hồn.” 
    Nhìn người khác bằng trái tim để có thể cảm thông được những khác biệt. Chúa Giêsu, Người dạy: “Hãy có lòng nhân từ” (Lc 6, 36). Lòng nhân từ tập luyện từ cảnh quan môi trường thiên nhiên đến con người. Đi qua cánh đồng lúa chín, những người thợ gặt vất vả dưới nắng, Chúa Giêsu cảm thương và nói: “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Mt 9, 37), hoặc khi Chúa bảo, cứ để cỏ lùng và lúa cùng mọc lên (Mt 13, 30). 
    “Người đã đặt trước mắt con quyển sách thiên nhiên và con đã hiểu rằng mọi bông hoa người đã dựng nên đều đẹp, vẻ rực rỡ của bông hồng và vẻ trắng tinh của bông huệ không át mất hương thơm của bông hoa tím bé nhỏ hay vẻ đơn sơ quyến rũ của bông hoa cúc đầu xuân…trong thế giới các tâm hồn là vườn hoa của Chúa Giêsu cũng vậy. Người đã muốn làm ra các vị đại Thánh ví như các bông huệ và bông hồng, nhưng Người cũng đã tạo ra các vị Thánh nhỏ hơn và các vị này phải bằng lòng làm những bông hoa cúc mùa xuân hay những bông hoa tím được dựng nên để làm vui cái nhìn của Thiên Chúa nhân lành khi Người đặt họ xuống dưới chân Người.”
    Cuộc sống, sống bằng trái tim nên mang nhiều thú vị: “ Em chẳng có cách nào khác để tỏ tình với Người, ngoài việc tung hoa, nghĩa là không bỏ qua một hy sinh nào dù nhỏ nhặt nhất, không một cái nhìn, một lời nói, nhưng lợi dụng mọi việc nhỏ bé nhất và làm tất cả vì yêu.”
    Chấp nhận không hoàn hảo
    Đường nên thánh là một con đường cần chấp nhận một nghịch lý là “không bao giờ hoàn hảo”. Luôn cần kiên nhẫn vượt qua những không hoàn hảo của chinh mình với một niềm hy vọng và tươi vui, được Chúa yêu thương chỉ dạy.
    Chị thánh có kinh nghiệm khi được các chị em chỉ ra những khuyết điểm và chị nhận ra và gọi nó là“một đĩa rau trộn, trộn rất nhiều giấm và thêm thắt nhiều vị đắng chát… đĩa rau trộn chẳng thiếu gì, chỉ thiếu chất dầu, một chất không có không thành rau trộn, chỉ thành một món chưa có tên gọi.”, chị xem đó như là “cách thức Chúa chăm sóc gìn giữ chị. Chúa chỉ muốn chị phải nén lòng bên trong, phải khiêm nhượng thật trong linh hồn.” 
    Luôn Hy Vọng.
    Tâm hồn trẻ là một tâm hồn tràn trề niềm hy vọng: “Một trinh nữ muốn hy sinh cho Tình Ái mà còn ghê sợ chút quà Bạn Thánh gởi cho sao? Lúc nào chịu nổi ngần nào, Bạn Thánh gởi cho ngần ấy, không bao giờ phải lo quá, giả như chốc nữa Người gởi thêm đau đớn, Người cũng sẽ gởi thêm sức chịu đựng.”
    Trong những lúc đen tối nhất lại là lúc đầy hy vọng và nghị lực nhất, chị thánh ước ao làm mưa hoa hồng trước cái chết vì bệnh lao của ngài: “Từ trời cao, em sẽ làm mưa hoa hồng rơi xuống trần gian!”
    Không có một sức mạnh nào có thể khuất phục được một tâm hồn nhỏ thuộc về Chúa. Xin Chúa dạy con những bài học nhỏ để thi hành sự lớn lao của chúa trong cuộc đời. Xin chị thánh chuyển cầu cho thế hệ đàn em đang tiến bước!
    Lm Giuse hoàng Kim Toan
    Xin Thánh Nữ ban ơn đặc biệt trên tất cả những người mừng Thánh Bổn Mạng và tất cả những ai yêu mêu mến con đường thơ ấu thiêng liêng, cùng tất cả mọi người ơn huệ “Mưa Hoa Hồng”.
     
  • Teresa – Mẫu gương thánh thiện của các bạn trẻ

    Teresa – Mẫu gương thánh thiện của các bạn trẻ

    teresaMỗi vị thánh được Giáo hội tôn vinh luôn luôn là một gương sáng cho chúng ta về đời sống trọn lành. Việc các ngài đạt tới sự thành toàn trong ơn gọi Kitô hữu nói lên rằng, nếu con người biết khiêm tốn cộng tác với ân sủng, họ sẽ được chia sẻ vinh quang với Thiên Chúa và còn hơn thế nữa, họ được trở nên Thiên Chúa (tư tưởng của thánh Tôma Aquinô). Cuộc đời và sự thánh thiện của thánh nữ Têrêsa là một minh dẫn cụ thể. Một cuộc sống rất dung dị với dáng vẻ tầm thường bên ngoài đã được ơn thánh biến đổi trở nên phi thường. Sự vĩ đại và phi thường nơi Têrêsa được lý giải bằng nguyên lý căn bản : Ngài là ‘con người của tình yêu’. Đây chính là chuẩn mẫu tóm kết cuộc đời của Têrêsa để Ngài trở thành khuôn mẫu nội tâm cho các bạn trẻ của mọi thời đại. Linh đạo mà Têrêsa đã vạch dẫn hơn 100 năm trước đây, hiện vẫn còn mang tính thời sự và phù hợp cho tất cả các bạn trẻ chúng ta ngày hôm nay.

    Khiêm tốn trong tín thác

    Tuổi trẻ hay có những ước mơ và hoài bão. Nơi Têrêsa cũng vậy, ước mơ điên cuồng của Ngài là được dâng hiến tình yêu để thuộc trọn về Chúa Giêsu trong dòng kín. Ngày rước lễ lần đầu tiên, bé Têrêsa đã thưa với Chúa: “ Chúa ơi, con yêu Chúa lắm, con muốn thuộc về Chúa suốt đời”. Đó quả là một tham vọng lớn lao, nhưng lại là một hoài bão thánh thiện và chính đáng. Đứng trước những quà tặng và bữa tiệc thịnh soạn ngày lần đầu tiên rước Chúa Giêsu Thánh thể, Têrêsa đã không mấy quan tâm và chị đã thốt lên với Chúa: “ Lạy Chúa, lòng con chỉ biết vui sướng và yêu thích một mình Chúa mà thôi”. Từ đó, Têrêsa đã bắt đầu đi sâu vào cảm thức về tình yêu hiến dâng cho Thiên Chúa và khai mở bầu khí thiên đàng bên trong tâm hồn mình. Chị muốn được kết bạn trăm năm với Chúa Giêsu Thánh thể và ước ao rước lễ mỗi ngày. Sự khiêm tốn và tâm tình tín thác tuyệt đối là cánh cửa đầu tiên khai dẫn Têrêsa tiến sâu vào đời sống trọn lành.

    Càng lớn lên, Têrêsa càng tăng triển mối tình thâm giao với Chúa Giêsu bằng một tâm hồn khiêm cung nhỏ bé. Ngài tha thiết xin được vào dòng kín cho dù tuổi đời mới 15, tuổi mà giáo luật lúc đó chưa cho phép. Người đầu tiên phản đối ý định của Têrêsa là ông cậu ruột của Ngài. Rồi sau đó, chính Cha Bề trên linh hướng của dòng kín cũng từ chối ước muốn của chị. Đức Cha Hugonin thì tỏ ý cảm thông nhưng Ngài không dám cho phép. Cuối cùng Têrêsa phải lặn lội đi hành hương sang tận Rôma để có thể trình bày ước vọng lên Đức Thánh Cha. Với sự khiêm cung tín thác trọn vẹn vào Chúa quan phòng, Têrêsa đã vượt qua mọi trở ngại và đã được toại nguyện. Ngài đã tâm đắc lời dạy trong sách gương phúc: “Tình yêu không lùi bước trước bất cứ điều gì, tình yêu tin tưởng thì cái gì cũng có thể, cũng được phép”. Trong đời sống tại tu viện, con đường nên thánh bằng lối sống đơn sơ khiêm tốn càng nổi bật nơi Têrêsa. Có lần chị đã tự ví mình như một đĩa rau trộn không tên. Nhưng đĩa rau trộn này là tổng hợp những hy sinh nhỏ bé hằng ngày cộng với một tình yêu cháy bỏng. Têrêsa đã nhìn vào những biến cố cho dù nhỏ bé nhất của đời sống với lăng kính tình yêu. Đằng sau lăng kính này là cặp mắt đơn sơ của trẻ thơ luôn hướng nhìn về Chúa với một tâm tình khiêm tốn và tín thác.

    Trong thơ thứ nhất của thánh Phêrô, vị tông đồ đã dạy chúng ta: “ Anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhu vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo nhưng ban ơn cho những ai khiêm nhường”. Đức khiêm tốn là dấu chỉ của những tâm hồn thuộc về Thiên Chúa. Đức Maria, người nữ tì của Thiên Chúa đã thưa hai tiếng xin vâng bằng thái độ khiêm tốn thẳm sâu để mở rộng tâm hồn đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa đển ẩn cư trong cung lòng mình. Cũng vậy, nơi Têrêsa, tâm hồn của Ngài được đặt nền trên sự khiêm tốn tột bật vì tâm hồn đó đã thuộc trọn về Thiên Chúa.

    Vui tươi trong khổ đau

    Thánh Phanxicô Salê đã nói: “ Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn”. Cuộc đời của Têrêsa là một cuộc đời chan chứa niềm vui. Niềm vui và sự bình an tràn ngập tâm hồn Ngài cả những khi gặp đau khổ và sóng gió. Thánh giá đầu tiên đến trong cuộc đời chị thánh là cái chết của người mẹ yêu dấu. Lúc đó Têrêsa còn quá nhỏ để hiểu thế nào là cảnh mồ côi mẹ. Trong cuốn Nhật ký một tâm hồn, Ngài đã viết như sau: “ Khi ấy con còn quá nhỏ, phải nghển cổ lên mãi mới nhìn thấy hết quan tài của mẹ. Quan tài của mẹ to lắm mà cũng bi thương lắm”. Có lần Têrêsa đến ngồi trong vòng tay của mẹ và thỏ thẻ: “ Mẹ ơi, con muốn mẹ mau chết để được về với Chúa”. Đó là một tâm tình đơn thành của trẻ thơ. Nhưng khi người mẹ ấy đã về trời thực sự, cả một sự hụt hẫng ập đến trong tâm hồn bé bỏng đơn sơ của thánh nữ. Mười lăm năm sau, Têrêsa lại đối diện trước một cảnh chia ly khác : cái chết của mẹ Génevière, Bề trên dòng kín Lisieux. Lúc này, Têrêsa đã lớn và đã thấm thía được thế nào là mầu nhiệm thập giá. Ngài đã ghi lại trong nhật ký như sau: “ Gian nan khổ cực của cuộc đời đã tôi luyện kỹ lưỡng linh hồn Têrêsa rồi. Đời chẳng còn cái gì khó khăn có thể làm Têrêsa nản lòng và mất vui được nữa”. Niềm vui đơn sơ của Têrêsa là một niềm vui thánh thiện, và sâu kín từ trong nội tâm. Đó là niềm vui và an bình của một tâm hồn hướng thượng luôn nhìn ra dấu ấn tình yêu của Thiên Chúa trong mọi biến cố đời thường. Thưở thơ ấu, Ngài vẫn hay ngước mắt nhìn lên bầu trời lung linh những vì sao và vui sướng nói với cha mình: “ Cha ơi, cha xem tên con đã được viết ở trên trời rồi kìa.”

    Trong đời sống tu viện, Têrêsa đã nếm cảm biết bao niềm vui vì được chịu đựng những đau khổ âm thầm để làm sáng lên tình yêu dành cho bạn tình Giêsu. Một chị bạn vào thăm Têrêsa lúc chị thánh đang nằm trên giường bệnh, ngạc nhiên thấy nét mặt Têrêsa vẫn rạng rỡ vui tươi liền hỏi: “ Sao chị vui thế?”. Têrêsa bình tĩnh trả lời: “ Em luôn vui vẻ dù thân xác em đau đớn lắm. Em vẫn luôn yêu quý sự khổ đau và đón nhận đau khổ mà Chúa gửi tới cách niềm nở và trân trọng” . Thánh nữ nói tiếp: “ Khi phải đau đớn trong tâm hồn hay nơi thân xác, em cố gắng không bao giờ tỏ ra buồn bã, nhưng luôn mỉm cười và âm thầm chịu đựng. Lúc đầu rất khó khăn, nhưng đến nay, việc mỉm cười trước đau khổ em đã tập quen lắm rồi”.

    Một buổi sáng kia, mẹ Agnès de Jésus hỏi chị: “ Sao sáng nay con vui thế?” Têrêsa trả lời: “ Con rất vui vì hôm nay con được lãnh nhận hai sự khó nho nhỏ để yêu Chúa Giêsu. Không có gì làm con vui tươi cho bằng những sự khó cỏn con như vậy”. Ngài nói thêm: “ Thưa mẹ, những khổ đau ấy chẳng dữ dằn gì đâu. Một trinh nữ muốn hy sinh cho tình ái mà còn ghê sợ chút quà bạn thánh gửi cho thì làm sao coi được. Con chịu được tới mức nào, bạn Giêsu gửi cho con đến mức ấy, chẳng bao giờ con phải lo lắng cả”. Quả vậy, bí quyết nên thánh của Têrêsa là luôn gắn bó với Chúa Giêsu là Chúa của niềm vui, trong những đau khổ hy sinh âm thầm mỗi ngày. Cuộc đời của Ngài là một cuộc đời rực rỡ niềm vui như những bông hồng tỏa lan mùi hương êm dịu, nhưng ẩn sâu bên dưới là những gai nhọn của Thập giá. Với lăng kính tình yêu, Têrêsa đã khám phá và đón nhận đau khổ như là món quà hồng ân. Ngài nhìn thấy ánh vinh quang lấp lánh đằng sau bóng dáng của Thập giá. Cuộc đời tràn ngập tình yêu của Ngài minh chứng chân lý mà thánh Phaolô đã diễn tả: “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Cái chết của thánh nữ là một kết thúc trong hoan lạc của tâm hồn đã dành trọn tình yêu cho Chúa. Chúng ta có thể dùng hình tượng của một đàn chim vỗ cánh bay vút lên trời cao để nói về cái chết hạnh phúc của thánh nhân như Thánh vịnh 123 đã diễn tả: “ Hồn tôi tựa cánh chim, thoát lưới người đánh bẫy, lưới giăng đã đứt rồi, thế là ta thoát nạn.”

    Thánh Phanxicô Salê đã nói: “Chỉ có ma quỷ mới có lý do để buồn phiền”. Kinh nghiệm thiêng liêng của thánh Gioan Maria Vianney cũng vậy. Ngài nói: “ Linh hồn những ai phục vụ Chúa đều tràn ngập vui mừng. Họ luôn sống cách thảnh thơi và tâm hồn họ lúc nào cũng sẵn sàng hát ca”. Đây cũng là đặc nét nơi tâm hồn của Têrêsa, một dấu chỉ năng động về sự hiện diện của Thánh Thần. Thánh Phaolô dạy: “ Hoa quả của Thần khí là vui sướng và bình an” ( Gal 5, 22). Thiên Chúa yêu mến những ai biết cho đi cách vui vẻ. Têrêsa đã cho đi, đã hiến dâng trọn vẹn và cuộc đời của Ngài đã được gắn chặt vào Thập giá với Chúa Giêsu. Sự vui vẻ và lòng quảng đại hiến dâng tình yêu trong những hy sinh âm thầm nơi cuộc đời của thánh nữ Têrêsa là một mô thức nên thánh, kiểu mẫu cho tất cả các bạn trẻ chúng ta ngày hôm nay.

    Tình cho không biếu không

    Têrêsa là một vị thánh vĩ đại. Tính cách vĩ đại của Ngài không phải bởi sự thánh thiện siêu thường, nhưng khởi nguồn từ một cuộc sống rất bình thường và dung dị như chúng ta. Nói cách khác, Ngài là một con người rất con người, đồng thời cũng là một vị thánh rất là thánh. Sự thánh thiện của Têrêsa ở chỗ Ngài biết mở rộng tâm hồn để cho tự nhiên kết hợp với ân sủng, biến những năng lực tự nhiên của đời thường để mở thông cho mầu nhiệm Thiên Chúa.

    Là một con người, một người trẻ như chúng ta, Ngài cũng có một trái tim biết rung cảm và yêu thương. Ngài cũng khát khao mãnh liệt để yêu và muốn được yêu. Ngay từ nhỏ, Têrêsa cũng được hưởng nếm những tình cảm thân thương trong một gia đình nhân loại giữa những vòng tay thương mến của mẹ cha, của các anh chị, để từ kinh nghiệm nhân loại đó Ngài mở thông cho một gia đình thiêng liêng rộng lớn hơn với một tình yêu nồng cháy. Ngài ước muốn làm linh mục, muốn đi truyền giáo, muốn rao giảng về Đức mẹ, muốn làm tiến sĩ của Hội thánh….. tất cả chỉ vì tình yêu rộng mở đứng trước một chân trời vĩ đại. Ngài định nghĩa vắn tắt: “Ơn gọi của tôi là tình yêu. Tình yêu là tất cả. Tình yêu bao gồm mọi thời gian và không gian. Tắt một lời, tình yêu là bất diệt. Quả thât, ơn gọi của tôi chính là tình yêu”.

    Với chất kết dính tình yêu, Têrêsa đã hòa trộn những yếu tố tự nhiên của đời thường với những yếu tố siêu thường của thế giới thần linh. Cuộc đời của Ngài là một tổng hòa tuyệt diệu giữa bản năng thâm sâu của con người với sự tác động nhiệm mầu của tình yêu Thiên Chúa. Bí quyết của sự tổng hòa này, Ngài đã học được nơi linh đạo của thánh Gioan Thánh giá và đã ứng dụng trong cuộc sống mình. Vị tiến sĩ của tình yêu đã thuật lại: “ Đối với tôi không có phương thế nào trở nên hoàn thiện ngoài tình yêu. Nhiều khi tôi cố tìm ra một danh xưng nào khác để diễn tả, nhưng ở trần gian, không có từ ngữ nào diễn tả nổi những xung động sâu xa nhất ấy nơi tâm hồn tôi, nên tôi vẫn dùng hai chữ : tình yêu”.

    Trong suốt cuộc đời ngắn ngủi còn lại trong tu viện, Têrêsa đã hiến dâng tình yêu trọn vẹn cho Thiên Chúa như một vũ khí mạnh mẽ chống lại tội lỗi. Một nhà triết tự học khi nghiên cứu văn thức khấn dòng do chính Têrêsa viết đã nhận xét: “ Đây là nét chữ nói lên sự rụt rè của một đứa bé thơ, đồng thời cũng bộc lộ sự cương quyết của một dũng sỹ”. Têrêsa đã vượt thắng sự sợ hãi trẻ thơ để chiến đấu như một người lính can trường nhờ vào một thứ vũ khí duy nhất và đầy hiệu quả, đó là tình yêu. Thánh nữ đã tâm đắc lời dạy trong sách gương phúc: “ Tình yêu có thể làm được mọi sự, kể cả những việc xem ra không thể làm được”. Quả vậy, ơn gọi của chị là tình yêu, đúng như chị đã nói: “ Tình yêu đã đổ đầy vào tâm hồn của tôi rổi.”

    Linh mục Hồng phúc đã lý giải việc nên thánh của Têrêsa quy kết vào bốn yếu tố căn bản : một là nhận thức được sự yếu đuối nhỏ bé của mình như một em bé thơ, hai là để Chúa hướng dẫn hoàn toàn với tâm tình phó thác của một người con nhỏ, ba là yêu mến Chúa như một trẻ thơ chỉ biết yêu, bốn là làm tất cả, chịu đựng tất cả, cho dù những việc cỏn con, với một tình yêu lớn lao. Đức Thánh Cha Piô X kết luận: “Đó là con đường đơn sơ nhỏ bé của thánh nữ, nhưng là con đường của tình yêu vĩ đại, và là con đường nên thánh của mọi thời đại”.

    Thánh Phanxicô Salê đã viết: “ Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ, tình yêu là sự hoàn thiện của con người, đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”. Đức ái chính là tột đỉnh của tình yêu được Têrêsa hiến dâng cho Thiên Chúa, và đó cũng là tổng thể lớn lao bao trùm toàn bộ cuộc đời của thánh nhân. Tình yêu đó cũng chính là ân ban của Thánh Thần , đấng làm việc trong những tâm hồn bé mọn. “Tình yêu Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần Người đã ban cho ta.”(Rm 5,5).

    Kết luận

    Têrêsa, vị tiến sỹ của tình yêu, đã sống với một trái tim đầy rung cảm yêu thương của một người trẻ như bạn, như tôi, như tất cả chúng ta. Ngài khát khao muốn yêu và được yêu mãi mãi. Nhưng tình yêu ấy có một hướng đích rõ rệt, quy tập nơi Chúa Giêsu, nguồn mạch của tình yêu bất tận. Cuộc sống của Ngài rất dung dị nhưng trong huyền nhiệm tình yêu, ân thánh đã biến trở cái bé nhỏ thành vĩ đại. Ngài sống khiêm tốn đơn sơ, nhưng tình yêu đã nâng dậy những người thấp kém để mặc cho họ vinh quang cao sang của Thiên Chúa. “ Đức ái tin mọi sự, hy vọng mọi sư, chịu đựng mọi sự” (1 Cor 13.4.6). Chân lý ấy đã được sao chép tường tận qua cuộc sống của Têrêsa. Thánh Augustinô đã viết: “Ama et fac quod vis” (bạn hãy yêu mến đi, rồi bạn muốn làm gì thì làm). Têrêsa đã yêu mến và Ngài đã làm được một việc vĩ đại, đó là trở nên thánh. Tình yêu tự nó là một dòng chảy bất tận và có sức năng động mãnh liệt. Dòng nước được vây kín và tụ lại trong ao tù chật chội, sẽ trở nên vẩn đục hôi thối và không có sự sống. Cũng vậy, tình yêu phải mở thông và cho đi mãi mãi. Têrêsa xứng đáng là một tiến sỹ của tình yêu, và tình yêu của Ngài đang phát sinh sự sống nơi tâm hồn bạn, nơi tâm hồn tôi, nơi tâm hồn những bạn trẻ đang khao khát nên thánh theo con đường tình yêu của Ngài.

    Lm Văn Hào SDB

  • Gia Đình Thánh (Lễ Thánh Têrêxa Hài Đồng)

    Gia Đình Thánh (Lễ Thánh Têrêxa Hài Đồng)

    sainte-therese-lisieux-huitNăm 1925, nhân dịp phong Thánh cho Têrêxa, Đức Hồng Y Pacelli (sau này là Đức Giáo Hoàng Piô XII) đại diện Tòa Thánh sang Pháp làm phép đền thờ kính Thánh nữ tại Lisieur. Ngài đã nói: “Hỡi Thánh nhỏ, Người lớn lắm, ngay lúc này đây, từ đầu thế giới này sang đầu thế giới kia, con cái của Người nhiều như cát biển sao trời. Bốn vị Giáo hoàng đã quỳ cầu khẩn dưới chân Người, các nhà tiến sĩ luật học đã trở lại thiếu thời vì học với Người… Xin Người hãy mưa hoa hồng xuống nữa, xuống thế giới chúng tôi… Hỡi Thánh nhỏ, Người lớn lắm”. Đức Giáo Hoàng Piô X đã chỉ vào chân dung Têrêxa và nói: “Đây là vị Thánh lớn nhất thời hiện đại”.

    Chính lòng yêu mến Chúa và con đường nhỏ đã đưa Têrêxa lên thành một vị thánh lớn.


    1. Bậc Thầy của Giáo Hội

    Sau 28 năm từ trần, Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã được Giáo Hội phong thánh năm 1925. Hai năm sau, Ngài được chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo cùng với thánh Phanxicô Xaviê. Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng Ngài lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh vào ngày 19 tháng 10 năm 1997. Như vậy, Giáo Hội tuyên phong thánh Têrêxa là bậc thầy trong đời sống đức tin và là bậc thầy trong nghệ thuật truyền giáo.

    Tại sao một Nữ Tu nhà kín suốt đời sống trong bốn bức tường tu viện mà lại được Giáo Hội tôn lên Bậc Thầy như thế? Suốt đời, Têrêxa không đi đâu cả, 15 tuổi đã vào dòng kín. Vị Nữ Tu trẻ tuổi qua đời lúc mới 24 tuổi, sau 9 năm vào dòng Cát Minh. Một Nữ Tu Dòng Kín chẳng đi đâu, chẳng nói với ai, thế mà Giáo Hội tôn phong là Tiến sĩ và Bổn mạng các xứ truyền giáo! Thánh Têrêxa trở thành Bậc Thầy của Giáo Hội chính là vì Ngài đã sống trọn vẹn tình yêu và đi bằng con đường thơ ấu thiêng liêng.

    2. Yêu mến Chúa

    Thánh Têrêxa hết lòng yêu mến Chúa. Ngài luôn tâm niệm: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa; vâng, con yêu mến Chúa”. Ngài yêu mến Chúa thiết tha, mãnh liệt và rất tự nhiên, thật đơn sơ. Ngài yêu Chúa như một trẻ thơ yêu cha mẹ, rất hồn nhiên trong sáng. Ngài tâm đắc những lời Chúa Giêsu nói về các trẻ em: “Cứ để mặc trẻ em, đừng ngăn cấm chúng đến với Thầy, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng.” (Mt 19,14); “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.” (Mt 18,3).

    Khi đọc thư thánh Phaolô, Têrêxa khám phá ra điều này: Giữa lòng Giáo Hội có một trái tim rực cháy tình yêu. Nếu không có tình yêu, các Tông đồ sẽ không ra đi loan báo Tin Mừng; nếu không có tình yêu, các vị Tử đạo đã chối từ đổ máu. Cho nên tình yêu là tất cả.“Tôi cảm thấy tình yêu thấm vào trái tim tôi. Tôi cảm thấy cần phải quên mình để làm đẹp lòng tha nhân. Và kể từ đó, tôi sống hạnh phúc”. Và Ngài còn nói thêm: Giữa lòng Hội Thánh tôi sẽ là tình yêu. Vì thế tôi sẽ là tất cả.

    Têrêxa đã sống và âm thầm loan truyền sứ điệp của mình là yêu và chấp nhận được yêu. Càng ngày càng trở nên nhỏ bé để được Thiên Chúa bồng bế trên tay Người. Đời sống tận hiến làm hy lễ tình yêu lân tuất của Thiên Chúa. Tận tụy làm vinh danh Giáo Hội bằng cách cứu vớt các linh hồn. Têrêxa đã sống một tình yêu mãnh liệt đối với Thiên Chúa, đối với tất cả mọi người. Têrêxa cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con mong ước được yêu mến Chúa như chưa từng bao giờ Chúa được yêu mến như thế. Con ước mong làm cho mọi người cũng yêu mến Chúa như thế “. Biết mình nhỏ bé, Ngài luyện tập những nhân đức bé nhỏ. Thích âm thầm chuyên lo làm vui lòng Chúa bằng những hy sinh nhỏ mọn mà chỉ một mình Chúa biết. Ngài không bỏ qua một dịp hy sinh nào có được và cố gắng làm cho đời mình thành một cuộc tử đạo vì tình yêu Chúa. Chẳng hạn: uống thuốc đắng từng giọt để “kéo dài một việc hãm mình nhỏ mọn”; trong công việc chung, chọn những phần khó nhọc hơn, hay khi trời nóng, “chọn nơi ngồi bất tiện hơn cho mình để dành chỗ mát mẻ cho chị em”; chấp nhận cho kẻ khác đến quấy rầy mình; tránh tìm kiếm tiện nghi… Có tình yêu thì việc nhỏ sẽ trở thành việc có giá trị lớn. Thánh Nữ gọi làm những việc như thế là “tung hoa” cho Chúa: “Vâng lạy Đấng lòng con yêu mến, cuộc đời con sẽ tiêu hao như vậy đó … Con không có phương pháp nào khác để minh chứng với Chúa tình yêu của con ngoài việc tung hoa, nghĩa là không để mất một hy sinh nhỏ nào, một cái nhìn nào, một lời nói nào; con sẽ lợi dụng tất cả mọi việc nhỏ nhặt nhất và làm chúng với cả một tâm tình yêu mến… Con muốn chịu đau khổ vì yêu mến, như vậy con sẽ tung hoa trước ngai Chúa; hễ gặp bất cứ bông hoa nào là con cũng rứt cánh dâng cho Chúa … rồi tay thì tung hoa, miệng thì ca hát (làm sao có thể khóc được khi làm một việc vui như thế), và con sẽ hát ngay cả khi phải hái những bông hoa giữa gai góc, mà gai góc càng dài càng đâm đau bao nhiêu, tiếng hát của con càng du dương bấy nhiêu…. Ôi Giêsu của con, con mến Chúa, con yêu Giáo Hội Mẹ con; con nhớ rằng “hành động nhỏ bé nhất mà do tình yêu tinh tuyền sẽ có ích hơn là tất cả những công trình khác hợp lại với nhau’ (Thủ bản Tự Thuật).Chính tình yêu Chúa đã chắp cánh cho Têrêxa đi khắp nơi và nói chuyện với mọi người. “Tôi muốn sống cả thời gian trên thiên đàng để làm ích cho dưới thế”; “Tôi sẽ làm mưa xuống những trận hoa hồng”; “Sứ mệnh của tôi là mến yêu”.Tình yêu không đi bằng bước chân nhưng đi bằng trái tim. Tình yêu không nói bằng lời nhưng bằng cầu nguyện. Thiên Chúa đã ban cho Têrêxa một huyền nhiệm về tình yêu. Têrêxa đã đến với mọi người, đến với mọi trái tim bằng tình yêu.

    3. Con đường thơ ấu thiêng liêng

    Têrêxa yêu mến Chúa với một tâm hồn trẻ thơ. Suốt cuộc đời, Ngài đã sống như một trẻ thơ và giữ một tâm hồn thơ trẻ đối với Chúa. Chính điều đó đã làm cho Ngài nên cao trọng.

    Chẳng bao lâu, sau khi Têrêxa qua đời, tiếng tăm của Ngài đã vang lừng khắp Giáo Hội, làm dấy lên một phong trào rầm rộ những người đi theo “con đường thơ ấu thiêng liêng”của Ngài. Đó là một trong những “trường tu đức” (linh đạo) quan trọng nhất của Giáo Hội thời hiện đại. Theo thánh Nữ, làm thánh không phải là những chuyện phi thường mà đơn giản chỉ là chấp nhận để Thiên Chúa yêu thương mình. “Con đường thơ ấu thiêng liêng” là một sứ điệp phù hợp với thời đại, nhất là với giới trẻ. Thánh Têrêxa đã khám phá lại chân lý trọng tâm của Phúc Âm, đó là: trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta được làm con cái Thiên Chúa, và chúng ta phải yêu mến Cha chúng ta trên trời như những đứa con thảo đầy tin tưởng và phó thác. Thánh Têrêxa bám chắc vào giáo lý này với tất cả sức lực của Ngài và cố gắng thực hành nó gần như sát mặt chữ. Sống thật sự như trẻ thơ là cách chắc chắn nhất, đơn giản nhất để làm đẹp lòng Chúa Cha. Ngài vui mừng vì mình bé nhỏ bởi vì Chúa Giêsu đã dạy chỉ các trẻ em và những ai giống như chúng mới được vào Nước Trời. Đứa bé càng nhỏ, càng yếu đuối thì lại càng phải và có thể cậy dựa vào lòng thương xót, sự giúp đỡ và chăm sóc tận tình của cha mẹ và những người khác chung quanh. Áp dụng “phương pháp lên trời” hay sử dụng “chiếc thang máy”, thánh Têrêxa không cần phải tìm kiếm những việc cao siêu, to tát, nổi bật, chỉ cần rèn luyện cho mình thái độ làm con, và làm con bé nhỏ của Cha trên trời, ấy là hết lòng yêu mến, tin tưởng, phó thác. Mọi sự đều để mặc Cha lo, dù đầy khuyết điểm hay tội lỗi cũng không sợ! Càng tiến sâu vào con đường này, Ngài càng được tình yêu Chúa chiếm đoạt trọn vẹn hơn. Thánh nhân đưa tình yêu đó thấm nhuần mọi việc làm, mọi khó khăn thử thách gặp phải, mọi sự khó chịu của cuộc sống chung. Biến tất cả thành những lễ vật dâng lên Chúa. Thánh Têrêxa đã đưa lý tưởng nên thánh đến gần và vừa tầm với mọi người.

    Trẻ thơ hoàn toàn tín thác vào cha mẹ. Trẻ thơ không biết phân biệt thân thù. Người lớn không thể trở nên như trẻ thơ về phương diện thân xác, nhưng có thể trở nên như trẻ thơ về phương diện tinh thần. Đó là điều kiện cần và đủ để được vào Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn Trên” (Ga 3,3). “Sinh ra một lần nữa bởi ơn Trên” có nghĩa là con người cần phải “lột xác” để trở nên như một trẻ thơ, một người bé mọn. Chúa Giêsu đã từng nói, chỉ có người bé mọn mới nhận được ơn mạc khải chân lý của Thiên Chúa: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Khi các môn đệ hỏi: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”, Chúa Giêsu đã trả lời: “Thầy bảo thật anh em: Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời” (Mc 18,3-4). Trẻ nhỏ không có những tham vọng danh lợi, quyền bính, dục tình, không có những mưu mô thủ đoạn… Vì thế, trẻ nhỏ không có tội lỗi. Trẻ nhỏ không có tính kiêu ngạo. Trẻ nhỏ đơn sơn thánh thiện. “Người ta càng gần Chúa, càng hóa đơn sơ”.

    4. Gia đình Thánh

    Lúc sinh thời, Thánh Têrêxa đã vẽ một họa tiết gồm hai bông hồng và năm cánh huệ, ghép vào Thánh Giá Chúa Kitô trên chiếc áo choàng biếu mẹ là Chân Phước Zélie. Hai bông hồng tượng trưng cho song thân là Ông Louis Martin và Bà Zélie Guérin. Năm bông huệ trắng là năm con gái của Chân Phước: bốn người là nữ tu Dòng Kín Carmel (Lisieux) và một Dòng Đức Bà Thăm Viếng (Le Mans). Một gia đình thánh thiện tuyệt vời.

    Mọi người Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh. Đó là một ơn gọi rất cao cả như lời Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Công Ðồng Vatican II cũng lập lại ý tưởng đó: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11.3). Trong các thư của Thánh Phaolô, ngài gọi các tín hữu là những vị thánh. Qua Bí Tích Rửa Tội, mọi tín hữu được tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II nói rằng: thành công đẹp nhất của một cuộc đời là sự thánh thiện. Tin Chúa, yêu Chúa và sống theo lời Chúa dạy qua Tám Mối Phúc Thật, mọi tín hữu sẽ nên thánh.

    Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN hướng dẫn các gia đình: “Trong suốt lịch sử mấy trăm năm của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, gia đình vẫn là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ, là nơi đào tạo những Kitô hữu vững mạnh trong đức tin và gương mẫu trong đời sống đạo đức. Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp này của gia đình công giáo. Hãy xây dựng gia đình mình thành ngôi nhà thờ phượng Chúa, trường dạy đức tin, và mái ấm tình thương. Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta.” (số 9).

    Gia đình thật quan trọng. Chính gia đình quyết định tương lai của trẻ thơ. Gia đình là vườn ươm. Hạt giống tuổi thơ lớn mạnh được là nhờ vườm ươm có đầy đủ nước, phân bón và sự ân cần chăm sóc.Gia đình là bầu khí quyển. Bầu khí có trong lành thì trẻ thơ mới phát triển được mọi mặt. Gia đình là con đường. Đường có ngay thẳng có định hướng thì tương lai trẻ mới tươi sáng không đi vào ngõ cụt cuộc đời.Từ mái ấm gia đình, cha mẹ con cái siêng năng tham dự Thánh Lễ, chuyên chăm Kinh Nguyện tại gia, biết dùng Lời Chúa làm ánh sáng soi đường chỉ lối, luôn sống hoà thuận yêu thương nhau, thì “Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta”. Gia đình là nơi trẻ em và thanh thiếu niên hấp thụ nền giáo lý chân chính từ cha mẹ. Công đồng Vaticanô II mong muốn các bậc cha mẹ là những người đầu tiên “dùng gương lành và lời nói, truyền dạy đức tin cho con cái” (Hiến chế tín lý về Giáo hội số 11). Gia đình chu toàn được sứ mệnh cao cả này nhờ yêu thương, cùng nhau học hỏi và cầu nguyện để hạt giống đức tin được triển nở (Sắc lệnh tông đồ giáo dân số 11). Cha mẹ chăm lo giáo dục nhân bản và giáo dục tâm linh cho con cái. Với con cái, cha mẹ là những sứ giả đầu tiên của Chúa (GLTC # 2225). Hạt giống đức tin nơi trẻ em được gieo và chăm sóc trong môi trường gia đình sẽ phát triển thành cây đức tin. Gia đình là vườn ươm, là thửa đất tốt. Dạy giáo lý như cung cấp chất dinh dưỡng. Tuỳ theo mức độ hấp thụ, tuỳ theo thời điểm, cây đức tin nơi đứa trẻ sẽ phát triển và đơm bông kết trái. Dạy giáo lý tại gia đình, cha mẹ góp phần với Hội Thánh trong sứ vụ đào tạo đức tin cho con cái.

    Con đường nên thánh của Têrêxa khởi đi từ Phúc Âm. Con đường tu đức theo hạnh “trẻ thơ” phù hợp vời hết mọi gia đình Công giáo. Nhiều người đã đi và đã nên hoàn thiện đời mình. Nhiều gia đình đã sống và làm cho mọi thành viên trở nên thánh thiện tốt lành.

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

  • Đường thiêng liêng thơ ấu và thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu

    Đường thiêng liêng thơ ấu và thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu

    1. Đường thiêng liêng thơ ấu

    teresaThánh trinh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu là người đã khởi xướng lên đường thiêng liêng thơ ấu, nguồn gốc cho nhiều cuộc mạo hiểm thiêng liêng trong thế kỷ XX, bắt đầu ở nước Pháp và sau ở nhiều nước trên thế giới. Các sách đạo ở Việt Nam thường nói đến “đường thơ ấu thiêng liêng” (dịch từ tiếng Pháp Voie spirituelle d’enfance hay voie d’enfance) hoặc nói đến “đường nhỏ” (petite voie). Thật ra đường thơ ấu thiêng liêng cũng chỉ là một đường thiêng liêng như nhiều đường thiêng liêng từ thời đầu của Hội Thánh, chỉ khác là có thêm từ “thơ ấu“.

    Đường thiêng liêng là lối sống đạo của Kitô hữu tùy theo mỗi người thuộc nền văn hóa và hoàn cảnh xã hội khác nhau, ở mỗi thời mỗi nơi khác nhau mà thần học gọi là linh đạo, nghĩa là đường lối sống đạo theo Chúa Thánh Linh hướng dẫn. Ngày nay trong Hội Thánh, thường nhắc đến linh đạo của Thánh Augustinô, của Thánh Bênêđictô, của Thánh Phanxicô, của Thánh Đôminicô, của Thánh Inhaxiô, của Thánh Boscô, của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, nhưng riêng đường thiêng liêng của Thánh Têrêxa có tên là thơ ấu để phân biệt với các đường thiêng liêng khác đã kể trên.

    Thơ ấu ở đây không thể hiểu theo giải nghĩa của từ điển là: rất ít tuổi, còn bé dại; cũng không thể hiểu là đường thiêng liêng cho con nít, mà phải hiểu theo Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, người đã được Phúc âm của Chúa Giêsu và được Chúa Thánh Thần hướng dẫn soi sáng, để suy niệm, sống theo, và dạy cho các tập sinh trong Dòng Kín ở Li-xi-ơ sống theo.

    Như vậy đường thiêng liêng thơ ấu có nghĩa là linh đạo, là lối sống theo Chúa Thánh Thần “thổi hơi và gợi hứng” cho mỗi người, và mỗi người đón nhận hơi thổi và gợi hứng của Người để sống theo Phúc âm Chúa Kitô. Linh đạo này bao gồm ba việc chính là: lắng nghe Lời Chúa, cách kết thân với Chúa, và sống theo Hội Thánh Chúa Kitô. Tuy nhiên mỗi Kitô hữu còn thuộc về một dân tộc có nền văn hóa riêng, còn sống trong những hoàn cảnh khác nhau tùy thời tùy nơi, nên cần phải biết hội nhập và thích ứng cho phù hợp. Còn “thơ ấu”, như đã nói ở trên, không có nghĩa là con nít, còn ít tuổi, còn bé dại mà phải hiểu đường thơ ấu của chị như chính chị đã gọi là “con đường nhỏ” hoặc “giáo thuyết bé nhỏ”. Thực ra trong các thủ bản chị không dùng “đời thiêng liêng thơ ấu”. Vì thế vào hai năm cuối đời, chị đã vâng lời Bề trên Dòng để viết ba tập thủ bản A, B, C, sau được đúc kết thành Truyện Một Tâm Hồn (TMTH), trong đó chị đã trình bày những yếu tố chính: trước hết là lòng nhân từ thương xót của Cha trên trời; sau là chính bản thân và gia cảnh của chị, bối cảnh của tu viện, hoàn cảnh xã hội đương thời, tất cả đã góp phần giúp chị hình thành đường thiêng liêng thơ ấu của chị. Ta sẽ cùng nhau khám phá đời sống và giáo thuyết nhỏ của chị.

    2. “Em chỉ là một cô gái không đủ sức làm việc và yếu đuối” (xem TMTH trang 388) .

    Để khám phá đời sống và đường thiêng liêng thơ ấu của chị, chúng ta rất may mắn có những tài liệu do chính tay chị viết để lưu lại cho nhà dòng, theo lệnh các Bề trên Dòng là chị ruột của chị. Đầu tiên Bề trên bảo chị tóm tắt cuộc đời thơ ấu (Thủ bản A), sau đó xin chị viết thêm về đời tu trong dòng (Thủ bản C), cuối cùng chị viết bổ túc để trình bày “giáo thuyết nhỏ” tức là đường thiêng liêng thơ ấu (Thủ bản B). Chị viết vào hai năm cuối cùng, khi bệnh tật, trước khi qua đời vào năm 24 tuổi. Chị viết vì vâng lời Bề trên chứ không để phổ biến cho mọi người nên chị trình bày rất chân thành, hồn nhiên. Cũng nên nhớ chị còn là một nhà thơ đã có hơn 50 bài thơ đạo.

    Cuộc đời chị. Têrêxa là con gái út của gia đình ông bà Lu-y Mac-ti-nô, sinh ngày 2-1-1873 tại A-lăng-xông thuộc nước Pháp. Gia đình có 9 người con, hai trai bảy gái. Hai con trai dã theo hai chị về trời lúc còn non yếu. Còn lại là năm chị em gái lần lượt đều dâng mình cho Chúa trong các dòng. Chưa đầy 4 tuổi chị đã mồ côi mẹ. 8 tuổi phải đi học nội trú ở trường Li-xi-ơ. 10 tuổi bị bệnh nặng suýt chết. 11 tuổi được rước lễ lần đầu và thêm sức. 13 tuổi mắc bệnh bối rối về vấn đề đức khiết tịnh. 14 tuổi trải nghiệm đầu tiên về tội nhân cứng lòng không hối cải. 14 tuổi quyết định xin được đặc ân vào tu Dòng Kín sớm hơn luật định (đáng lẽ là 21 tuổi). 15 tuổi được nhận vào dòng kín Li-xi-ơ với tên Têrêxa Hài đồng Giêsu và Thánh Nhan. 17 tuổi tuyên khấn và đội lúp. 21 tuổi, ba của chị qua đời. 23 tuổi được làm tập sư coi tập sinh và được lệnh bề trên viết tự thuật, cuối năm 23 tuổi gặp thử thách rất nặng là bị thổ huyết vào thứ 6 Tuần Thánh tháng 3-1896. Rồi chị có ý thức là mình được ngồi bàn của những người tội lỗi với Chúa Giêsu, cũng ý thức mình có ơn gọi truyền giáo và ước ao truyền giáo. 24 tuổi sống những ngày cuối đời trong bệnh tật gây đau đớn hơn cũng như trong các cám dỗ về đức tin mạnh mẽ hơn. Cuối cùng sau cơn hấp hối kéo dài, chị qua đời ngày 8-7-1879.

    Qua tự thuật của chị, ta thấy từ chỗ là con gái út trong gia đình đông con, vóc dáng thấp nhưng xinh đẹp, sức khỏe mong manh, tính tình tế nhị, bốn tuổi đã mồ côi mẹ, lớn lên đi học nội trú, gặp bệnh nặng suýt chết, bối rối kéo dài khi dậy thì, biết có những người tội lỗi cứng lòng không trở lại, muốn vào Dòng Kín mà chưa đủ tuổi, làm tập sư (coi tập sinh) chưa có nhiều kinh nghiệm vì quá trẻ, mắc bệnh ho lao thổ huyết phải liệt giường và trải qua cơn hấp hối lâu dài… tất cả không thể không làm chị phải mặc cảm tự ti như chính chị đã thú nhận: “em chỉ là cô gái không đủ sức làm việc và yếu đuối” . Tuy nhiên, chị không hề nản chí thất vọng nhưng ý thức “tất cả là hồng ân” của lòng Chúa là Cha nhân từ hay thương xót, và suy nghĩ cố gắng đáp lại tình yêu Chúa bằng đường thiêng liêng thơ ấu của chị.

    3. Để lên trời chị đã chọn con đường bé nhỏ là tin cậy phó thác cho Chúa như trẻ thơ(xem TMTH trang 413,365,369,71).

    Ý thức mình chỉ là cô gái không đủ sức làm việc và yếu đuối, phải trải qua bệnh tật và cám dỗ nặng nề, đáng lẽ chị phải mặc cảm tự ti, nản chí thất vọng. Nhưng trong suốt cuộc đời, chị lại cảm nghiệm được tình yêu nhân từ và thương xót của Chúa và Đức Maria, chị cũng nhờ ảnh hưởng lòng đạo đức của gia đình, chị đón nhận tất cả với trái tim tràn ngập biết ơn và yêu mến, bởi vì “ tất cả là hồng ân” (TMTH trang 366), nên chị quyết tâm nên thánh.

    Từ 3 tuổi chị đã nhất định không từ chối Chúa điều gì – khi so sánh mình với các thánh chị thấy các ngài như núi mà chị như hạt cát – Chị biết Chúa nhân lành không bao giờ gợi lên trong chị những gì chị không thể làm được, và Người có thể dùng sự bé nhỏ yếu đuối để làm chị trở nên một vị thánh. Vì thế chị vui vẻ chấp nhận thân phận hạt cát và suy nghĩ: “tìm kiếm một con đường thẳng và ngắn nhất, cũng như hoàn hảo nhất để nên thánh (TMTH trang 413). Chị mở Kinh Thánh và thấy trong Phúc âm thánh Mát-thêu Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Nếu anh em không quay trở lại mà nên như trẻ em thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18, 3). Lời Chúa nói đây là nói cho tất cả mọi người lớn nhỏ. Nên chị nghĩ rằng việc của chị là phải làm sao cứ mãi mãi như trẻ nhỏ , dù lúc này chị đã là nữ tu 23 tuổi. Chị tưởng tượng ra cảnh một em bé chưa biết đi muốn lên với mẹ đang ở trên đầu thang. Em cố gắng nhấc chân lên bậc thang thứ nhất nhưng lần nào cũng té xuống không lên được. Thấy vậy cuối cùng mẹ em bước xuống bồng em lên với mẹ trên tay… Chị giải thích rằng Chúa như người cha nhân từ toàn năng và hay thương xót , Người mời gọi và thúc đẩy ta nên thánh, dù biết ta yếu đuối. Nếu ta có thiện chí cố gắng tin cậy và phó thác hoàn toàn cho Người để cứ leo lên, thế nào Người cũng sẽ mau mắn cứu giúp (TMTH – trang 414).

    Như trong Phúc âm, sau khi làm phép lạ cho ai, Chúa thường bảo họ: “lòng tin của con đã chữa con” (Mt 9,22) “anh tin thế nào thì được như vậy“ (Mt 10,29), “lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì sẽ được như vậy “ (Mt 15,28) … dường như Chúa muốn thi hành quyền năng của Người tùy lòng tin cậy phó thác của ta đối với Người ( TMTH 369,371,372). Và chị đã khám phá ra “cách trở nên trẻ em” là cách sống bé nhỏ như trẻ thơ, đó là luôn có lòng tin cậy phó thác hoàn toàn cho Chúa. Chị coi đó là cái thang máy đem chị lên với Chúa mà “thang máy đó chính là cánh tay của Chúa Giêsu” (TMTH trang 414).

    Tại sao như vậy? Chị thấy rằng tin cậy và phó thác hoàn toàn cho Chúa là dấu hiệu cốt yếu nhất của t́nh yêu đích thực. Nếu hai người yêu nhau mà còn nghi ngờ, sợ hãi nhau thì chưa phải là yêu. Chúa đã yêu con người hết mình và vô điều kiện thì con người phải yêu Chúa với tình yêu cũng hết mình và vô điều kiện. “Lấy tình yêu đáp lại tình yêu” (TMTH trang 372). Chị đã tìm thấy trong thư 1.Cor.13,31 thánh Phaolô nói đến con đường trổi vượt hơn cả đó là đức ái, hiểu theo nghĩa là tình yêu đối với Chúa. Chị suy nghĩ thêm rằng: Tình yêu đối với Chúa bao gồm mọi ơn gọi, không có tình yêu ấy thì các tông đồ chẳng còn rao giảng Phúc âm nữa, các vị tử đạo sẽ từ chối đổ máu mình ra (TMTH trang 386). Tình yêu đòi lòng tin cậy phó thác hoàn toàn cho Chúa cả xác hồn chứ không phải cách trừu tượng và phải được biểu lộ cụ thể trong cách kết thân với Chúa là cầu nguyện mà chị coi là “vũ khí có sức mạnh vô địch” Chúa ban cho chị (TMTH trang 476). Đồng thời tình yêu cũng đòi hỏi phải thể hiện trong hành động (TMTH trang 455). Cho nên chị cố gắng chu toàn những việc nhỏ mọn trong bổn phận hằng ngày bằng một tình yêu hết mình. Trong tu viện chị chỉ có những việc như may giặt, quét nhà, làm cỏ, dọn bàn ăn, múc nước, dọn phòng thánh, dạy các tập sinh, viết tự thuật, chịu đau khổ vì bệnh tật, cám dỗ về đức tin… Do đó khi chị may giặt, quét nhà, làm cỏ, dọn bàn ăn …chịu bệnh tật, cám dỗ… chị sẽ yêu bằng một tình yêu phi thường, vì chỉ có tình yêu mới quan trọng, chỉ có tình yêu mới cứu rỗi “Chị yêu đến chết vì yêu” ( TMTH trang 429) .

    4. Ba ham mê của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu

    Ý thức mình chỉ là cô bé không đủ sức làm việc và yếu đuối, và cũng ý thức mình được Chúa mời gọi để về trời bằng con đường nhỏ bé, đó là sống hoàn toàn tin cậy và phó thác cho Chúa như trẻ thơ. Tuy chỉ là một nữ tu ẩn mình trong những bức tường của Dòng Kín, thế mà chị luôn hướng cuộc đời tới Chúa, tới cánh đồng truyền giáo trên thế giới, trong đó có các linh mục, có biết bao người chưa biết Chúa, biết bao người tội lỗi. Vì thế chị đã không chỉ lo về trời một mình, nhưng chọn thể hiện con đường nhỏ bé của chị trong ba ham mê lớn: đó là cầu nguyện cho các linh mục, cầu nguyện cho các người tội lỗi, và làm việc truyền giáo.

    4.1 “Em say mê cầu nguyện cho các linh mục lẽ ra phải trong sáng như pha lê” (TMTH trang 240).

    Chị đã có dịp gặp nhiều linh mục thánh thiện và chị nghĩ rằng “Nếu phẩm chức cao vời của các ngài nâng cao các ngài lên trên các thiên thần thì các ngài cũng còn là những con người yếu đuối mỏng manh… Nếu các linh mục thánh thiện mà trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã gọi là “muối của trần gian” chứng tỏ bằng hành vi của các ngài còn hết sức cần đến những lời cầu nguyện, thì phải nói gì về những linh mục nguội lạnh? Chúa Giêsu đã chẳng nói thêm “Nếu muối đã ra lạt thì lấy gì ướp cho nó mặn lại được” (Mt 5,13) . Chị ý thức rằng: “mục đích duy nhất của các kinh nguyện và hy sinh của ơn gọi Cát Minh là làm tông đồ cho các tông đồ” (TMTH trang 241). Và trong thư gởi Mẹ Bề trên, chị viết: “Chúng ta đặc biệt phải cứu rỗi các linh hồn của các linh mục, các linh mục này lẽ ra phải trong sáng hơn pha lê”. Vì thế chị đã nhận “một em trai đầu lòng” là linh mục Maurice Barthélémy Bellière đi truyền giáo bên Alger, Phi Châu (TMTH trang 495), và em trai thứ 2 là cha Adolphe Roulland đi truyền giáo bên Trung Hoa (TMTH trang 500).

    4.2 Em cháy bỏng niềm ao ước muốn giải thoát các linh hồn trong tội (TMTH trang 200)

    Ngay từ khi được 14 tuổi. chưa đi tu, khi chị hay tin có anh Henri Pranzini 31 tuổi đã giết 2 phụ nữ và một bé gái để cướp của, anh bị kết án tử hình, nhưng anh nhất định không xưng tội và tỏ dấu hối cải nào. Chị biết mình chẳng làm gì được, nhưng cậy nhờ ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu và công phúc của Hội Thánh, chị còn xin lễ cho anh. Thế rồi vào giờ chót trước khi lên máy chém, khi linh mục đưa thánh giá cho anh, anh đã cầm lấy và hôn ba lần (THTM trang 201 -202). Sau khi vào dòng, chị có thêm nỗi lo là số phận của bao người tội lỗi, vô thần, duy vật… Chị phải tham dự vào công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu và Hội Thánh, chị say mê cầu nguyện rằng: “Xin Chúa cho con được nghiền nát vì cảm thương các tội nhân, vì các linh hồn chung quanh con”. Chị gọi những người tội lỗi là “anh chị em tội lỗi của Giêsu”, và chị cũng gọi họ là” anh chị em của chị” và xin Chúa “tha thứ cho các anh chị em của chị”. Chị chấp nhận “ăn bánh đau khổ và hoàn toàn không muốn rời khỏi bàn ăn cay đắng nơi những người tội lỗi đáng thương ngồi ăn” (TMTH trang 422- 423) , như Chúa Giêsu xưa đã ngồi cùng bàn với người thu thuế và tội lỗi (Mt 9,10). Đến cuối đời khi đang hấp hối, chị nhìn sang Mẹ Bề trên và nói “chén đắng đã đầy miệng rồi. Không bao giờ con dám tưởng mình có thể chịu đau khổ tới mức này… con chỉ có thể hiểu rằng con chịu được là bởi lòng con rất thiết tha với phần rỗi các linh hồn”.

    4.3 Em có ơn gọi làm tông đồ. Em muốn làm nhà truyền giáo.

    Cầu nguyện cho các linh mục, cho người tội lỗi, chị còn rất thiết tha với việc làm tông đồ: “Em cảm thấy muốn làm chiến binh, linh mục, tông đồ, tiến sĩ, tử đạo… muốn thực hiện mọi công trình anh hùng nhất (TMTH trang 381)… “Em muốn đi khắp mặt đất, rao giảng danh Chúa Giêsu và trồng cây thập giá vinh hiển của Người trên mãnh đất vô đạo, đồng thời em muốn loan báo Phúc âm trên khắp Năm Châu cho tới tận những hải đảo xa xôi nhất… Em muốn là nhà truyền giáo không phải chỉ trong vài năm, nhưng em muốn là như vậy từ khi có vũ trụ này cho đến tận thế… Em muốn đổ cho tới giọt máu cuối cùng vì Người” (TMTH trang 382). Về cuối đời chị phải vâng lời nữ tu coi sóc chị đi bộ mỗi ngày 15 phút. Thấy chị đi lại quá mệt nhọc, có một chị khuyên: chị nên về nằm nghỉ thì hơn. Chị đáp lại: đúng thế. Nhưng chị có biết em lấy sức mạnh ở đâu mà đi được như vậy không?. Em đi để cầu nguyện cho một xứ truyền giáo, với ý nghĩ rằng ở nơi xa xăm đó có vị truyền giáo có lẽ đang kiệt sức vì miệt mài lo mở mang Nước Chúa, em muốn dâng lên Chúa những bước đi mệt nhọc này để cho vị tông đồ ấy đỡ mệt mỏi”…

    5. ĐỂ KẾT

    Trước tiên là trình bày ý kiến của các vị chủ chăn trong Hội Thánh về Thánh nữ Têrêsa và đường thiêng liêng thơ ấu của chị. Sau sẽ bàn về đường thiêng liêng thơ ấu và và việc Tân Phúc Âm hóa.

    5.1. ý kiến của các vị chủ chăn trong Hội Thánh.

    – Đức giáo hoàng Piô XI. Khi phong thánh cho thánh nữ Têrêxa năm 1925 đã nói: “Vị Thánh Têrêxa mới đã thấm nhuần đạo lý Phúc Âm và đã thực hành đạo lý ấy trong đời sống hằng ngày của chị. Hơn nữa, bằng lời nói và gương sáng chị đã dạy con đường thiêng liêng thơ ấu cho các tập sinh trong tu viện, và đã trình bày cho mọi người bằng các tập viết được phổ biến trên khắp thế giới… theo lời chứng của vị tiền nhiệm của chúng tội là đức thánh cha Bênêdictô XV, chị đã học được một khoa học tuyệt vời về những điều siêu nhiệm khiến chị có thể vạch ra cho người khác một con đường cứu rỗi chắc chắn”. Hai năm sau, chị được ngài tôn làm Bổn mạng các xứ truyền giáo (1927).

    Đức thánh giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã tấn phong Thánh Têrêsa làm Tiến sĩ Hội Thánh trẻ nhất, mới 24 tuổi, trong số 33 thánh Tiến sĩ Hội Thánh. Khi tuyên phong năm 1997 ngài đã nói “lý do trước tiên thánh nữ là một phụ nữ, rồi là một vị thánh rất trẻ đã sống hầu như cùng thời với chúng ta, và có một ảnh hưởng đối với quần chúng hôm nay”. Thánh nữ không hề cắp sách đến Đại học, không hề dự khóa thần học quy củ nào cũng chẳng có bằng cấp gì.

    Đức giáo hoàng Bênêdictô XVI, khi còn làm hồng y đứng đầu Bộ Giáo lỹ Đức tin, nhân dịp phong Tiến sĩ cho thánh Têrêxa có nói:”Đối với danh hiệu tiến sĩ Hội Thánh tôi nghĩ cần hai tiêu chuẩn cơ bản: sự tỏa sáng thiêng liêng trên khắp thế giới, và chiều sâu giáo thuyết. Chắc chắn thánh nữ Têrêxa đáp ứng đủ hai tiêu chuẩn này”.

    Cũng nên nhớ đức đương kim giáo hoàng Phanxicô đã phong chân phước cho ông bà Lu-y Mac-ti-nô, cha mẹ của thánh nữ, vào ngày 19-8-2008 tại Li-xi-ơ.

    5.2 Đường thiêng liêng thơ ấu với Tân phúc âm hóa.

    Toàn Hội thánh đang tiến hành công cuộc Tân phúc âm hóa nghĩa là lấy nhiệt tình mới để vận dụng Phúc âm một cách mới mẻ, phù hợp hơn với con người và xã hội thời nay, những con người đang bị lôi cuốn theo dòng chảy của tục hóa, của vô thần, duy vật, của hưởng thụ, vô cảm… muốn gạt bỏ Thiên Chúa và tình yêu thương của Người; đang gây ra nhiều hậu quả tang thương cho cả thế giới loài người. Thiên Chúa là tình yêu đã tạo dựng con người giống hình ảnh Người để họ biết yêu Chúa, yêu nhau, sống hạnh phúc với nhau như trong địa đàng. Nhưng ông A-dong và bà E-và, nguyên tổ loài người, đã không muốn vâng phục Chúa, không muốn kết thân với Chúa, khiến cả thế giới loài người trở thành địa ngục trần gian.Tuy nhiên,vì Thiên Chúa luôn yêu thương đã cử Chúa Giêsu xuống trần gian để cứu rỗi loài người bằng con đường vâng phục, hạ mình xuống vác khổ giá và chịu chết, để chứng tỏ tình yêu vô biên và trung tín. Đó chính là Phúc âm của Chúa Giêsu, Phúc âm đã kêu gọi mọi người muốn được hạnh phúc trong Nước Chúa thì phải trở nên như trẻ thơ. Trẻ thơ cốt tại lòng tin cậy và phó thác hết mình cho Chúa.

    Như vậy đường thiêng liêng thơ ấu của thánh nữ Têrêxa là con đường nhỏ, là một cách hữu hiệu và phù hợp nhất để Phúc âm hóa con người và xã hội ngày nay, chắc chắn giúp họ thoát khỏi cảnh một thế giới hỗn loạn vô chủ, và sống với nhau theo luật rừng vì không có Chúa… Thánh nữ Têrêxa đã nghe Lời Chúa, chọn con đường thiêng liêng thơ ấu, để ham mê sống kết thân với Chúa bằng tin cậy, yêu mến, phó thác hoàn toàn cho Chúa, để cầu nguyện cho các linh mục, cầu nguyện cho mọi người tội lỗi, cầu nguyện cho việc Phúc âm hóa. Chị đã hứa: “khi về trời sẽ làm mưa hoa hồng xuống trần gian”. Hoa hồng đây là những ân sủng Chúa ban cho những ai thực hành con đường thiêng liêng thơ ấu với lòng yêu mến và hy sinh. Còn Kitô hữu chúng ta đang đi theo con đường thiêng liêng nào? Có ham mê trở thành đèn sáng, nên muối mặn để phục vụ nhân loại không (Mt 20, 28), hay chỉ ham mê trở thành “ông vua nhỏ” trong giáo phận, trong giáo xứ, trong gia đình, trong xã hội để cai trị (Mt 20, 25).

    Xin mượn một đoạn thơ bốn câu trong bài thơ “Bài ca hôm nay của em” của Thánh Têrêxa để kết thúc bài này:

    Đời em như gió thoảng
    Đời em tựa mây bay
    Có chi mà lo lắng,
    Yêu Chúa trọn hôm nay.
    (Bản dịch sang thơ Việt của nhà thơ Sảng Đình, cha J.M.Thích).

    Lạy thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu, xin mưa hoa hồng xuống trần gian, xin cầu cho chúng con. Amen.

    Linh mục Antôn Nguyễn mạnh Đồng
    Nhà Hưu Dưỡng linh mục Cần Thơ
    Lễ Thánh Têrêxa 2014

     (gpcantho.com)

  • Thư gởi Chị Tê-rê-xa

    Thư gởi Chị Tê-rê-xa

                           

                                                                       TTV  ngày…tháng…năm…

    images2Chị Tê-rê-xa yêu mến,

    Em là cô em gái bé nhỏ của chị nè. Em xin gửi đến chị tình yêu và lòng mến mộ của em. Nơi Thiên Quốc tình yêu, bên Đấng Phu Quân đáng tôn thờ, chị hãy nghe em tâm sự nhé !

    Một giờ, hai giờ, ba giờ… Em  đọc “Tự Thuật” của chị hay quá chừng, khâm phục chị quá chừng !

    Một ngày, hai ngày, ba ngày… Em tập sống theo gương của chị. Thật lạ lùng, em thấy lòng hạnh phúc và ấm áp khi đọc từng lời tâm sự của chị. Em tập các nhân đức, các việc hy sinh nho nhỏ, lòng em vui thích. Một sự chuyển biến trong tâm hồn em khi em thấy Chúa ở gần em, thật gần gũi biết bao!

    Chị biết không ? Chị là một người rất đặc biệt và quan trọng đối với em, một người chị luôn dạy dỗ cô em gái của mình những điều nhỏ nhặt nhất, tế nhị nhất. Chị ơi ! Em vừa mất đi một chị gái, người chị gái ấy cũng luôn dành cho em sự quan tâm, tình yêu thương, chăm sóc. Chị ấy đã giúp em nhận thấy cuộc sống này thật chật vật và đầy những lo toan, những đắng cay của cuộc đời và cả những hạnh phúc giản dị nhỏ bé. Còn chị, chị cho em nhìn thấy “HẠNH PHÚC THẬT” và “CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH”. Đó chính là “ hãy làm những việc nhỏ tầm thương với tình yêu phi thường”.

    Em tập sống yêu, tin yêu như chị. Các việc hy sinh nho nhỏ của em là : Ngồi không dựa lưng, bằng lòng với các đồ dùng có phần thiếu thốn của mình, không bực bội khi gặp điều trái ý… Các việc này nhỏ nhưng cũng đòi hỏi em phải thực sự cố gắng, phải hy sinh và yêu mến. Những lần hy sinh chưa đủ, em tiếp tục tập và cứ thế em tập luyện nhiều hơn.

    Em tìm được niềm vui khi em thấy mình tập từ bỏ ý riêng, “đặt tính tự ái về đúng chỗ của nó”, nghĩa là ở “dưới chân” như chị đã dạy em. Nhưng chị ơi, việc này khó hơn nhiều việc em ngồi không dựa lưng, nhặt một cọng rác…Nó bắt em phải hy sinh nhiều hơn, mất nhiều thời gian hơn.

    Một lần, em được một chị trong cộng đoàn góp ý và lời góp ấy đã khiến em buồn và lo lắng nhiều. Em cảm thấy cô đơn. Nhưng chị đã nhắc nhở em, thay vì cau có, khó chịu, em lặng im để kiểm soát cảm xúc của mình và thầm xin ơn Chúa soi sáng. Em cố tìm những ưu điểm và ý tốt từ sự góp ý của chị ấy. Phải hơn 15 phút sau em mới có thể cám ơn chị ấy. Việc hy sinh nhỏ này đã giúp em cảm nhận được một niềm vui, sự bình an trong lòng. Giê su nhỏ đã mỉm cười với em như đã cười với chị thủa xưa. Tất cả các nhân đức, các việc hy sinh nhỏ em làm, em tập luyện mỗi ngày với chủ ý dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện cho các linh hồn.

    Một ngày, hai ngày, ba ngày… Từng ngày em luyện tập, sống hy sinh âm thầm bên Đấng Phu Quân đáng tôn thờ chị em mình. Chị hãy cầu nguyện cho em nhé ! Em cám ơn chị thật nhiều…Ở trên Thiên Quốc đọc được thư em chị đừng quên hồi âm cho em nhé !

                                                                                                                Em gái của chị

                                                    Nụ hồng bé nhỏ của Thanh Tuyển Viện

    MTG Thủ Đức