Thẻ: Năm B

  • Các bài suy niệm lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Chúa Nhật 33 Thường Niên Năm B_B

    Các bài suy niệm lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Chúa Nhật 33 Thường Niên Năm B_B

    Mục lục

    1. Tương lai cuộc đời (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Chết vì yêu  (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Ngày cùng tận  (Lm. Thái Nguyên)

    4. Ngày tận thế  (Jorathe Nắng Tím)

    5. Làm chứng là gì?  (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

    6. Để Thầy đến bên con (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Lời Thầy sẽ chẳng qua(Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    8. Dấu chấm hết  (Trầm Thiên Thu)

    9. Khóc than  (Lm. Vũ Đình Tường)

     

    LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

    Năm 2018

    Mục lục

    2. Tử đạo thời công nghệ 4.0 (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Chứng nhân  (Jorathe Nắng Tím)

    4. Cuộc bách hại đạo hôm nay (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    5. Chọn Đấng Chịu Đóng Đinh (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Hy sinh mạng sống đến cùng vì đức tin (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

    7. Tin theo Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    8. Ngày ấy  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    9. Thuộc về Thiên Chúa  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    10. Suy niệm chú giải Lời Chúa  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    11. Chứng nhân Kitô giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    12. Chết yêu  (Lm. Thái Sơn)

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Chứng nhân tình yêu  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    2. Con người thích thỏa hiệp  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    4. Những đấng bậc anh hùng  (Lm Giuse Phạm Thanh Liêm)

    5. Sức mạnh niềm tin tôn giáo  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Bị bách hại vì sống công chính  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    7. Làm chứng cho Tình yêu  (Văn Hào, SDB)

    8. Sống là chết (Lm.Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    9. Ai liều mất sự sống mình vì Tôi (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc)

    10. Chết vì yêu (Huệ Minh)

    11. Tử đạo giữa đời thường (Dã Quỳ)

    12. Dũng cảm làm chứng cho Chúa hôm nay (Lm. Đan Vinh)

     

    CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Đn 12,1-3; Dt 10,11-14.18; Mc 13,24-32

    Mục lục

    1. Bên kia sự chết  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Quê trời  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    3. Kiên định  (Trầm Thiên Thu)

    4. “Cánh chung” là mối đe dọa hay niềm hy vọng vĩ đại? (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    5. Chúa Nhật 33 Thường niên_B (Lm. Antôn)

    6. Sẵn sàng đón Chúa lại đến  (Lm. Đan Vinh)

    7. Ngày cùng tận của thế giới (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    8. Ngự trên giá mây trời  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    9. Nước Chúa (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    10. Làm chứng cho Chúa (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    11. Khủng hoảng (Trầm Thiên Thu)

    12. Chuẩn bị ngày Chúa đến (Lm. Phêrô Nguyễn văn Hương)

    13. Hiện thực  (Lm. Vũ Đình Tường)

    14. Ngày giờ Chúa đến đã gần kề (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    15. Ngày thẩm định chung cuộc (JM. Lam Thy, ĐVD)

    16. Người hiền sĩ là người cầu nguyện (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

     

    TƯƠNG LAI CUỘC ĐỜI

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Sống trên đời, ai cũng mong có một tương lai tốt lành. Tương lai mà người tín hữu kỳ vọng không giống như mọi người không có đức tin mong đợi. Bởi lẽ, theo quan niệm trần gian, tương lai là những kỳ vọng thành đạt trong sự nghiệp hay học vấn, hoặc giàu có sung sướng về vật chất. Người Kitô hữu cũng cố gắng để có được một điều kiện sống hạnh phúc phong lưu. Tuy vậy, tương lai và hạnh phúc vĩnh cửu của họ là Nước Trời. Giữa cuộc sống này phủ đầy bóng tối, nhiều thử thách gian nan và dối gian lừa lọc, nhưng những tối tăm gian khổ ấy cũng có lúc kết thúc. Vương quốc mà chúng ta chờ đợi, đó là hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài. Hướng về tương lai vĩnh cửu, đó là mối ưu tiên hàng đầu của người tin Chúa.

    Với lối hành văn theo thể loại được gọi là “Khải huyền”, tác giả sách Đanien đã diễn tả lúc tận cùng của thời gian, chúng ta vẫn gọi là ngày tận thế. Lúc ấy, Thiên Chúa sẽ can thiệp và làm cho những người đã chết được sống lại. Sự can thiệp của Tổng lãnh Thiên Thần Micae như một cuộc tổng điều tra dân số. Những ai được ghi trong “Sổ hằng sống” sẽ được hưởng hạnh phúc ngàn thu, những ai không có tên trong đó sẽ phải trầm luân muôn kiếp.

    Giống như tác giả sách Đanien, thánh sử Mác-cô đã sử dụng lối văn Khải huyền để diễn tả ngày cánh chung. Vào thời đó, các thiên thể tinh tú sẽ mất hết khả năng chiếu sáng và sẽ rơi xuống đất. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú được các dân xung quanh thờ như những vị thần. Vào thời Thiên Chúa xuất hiện, các vị thần ấy sẽ bị đánh bại.

    Có thể những tiên báo trên đây bị người thời nay coi là chuyện tầm phào. Người ta nói rằng, từ xưa đến nay, rất nhiều lần có lời đồn thổi về ngày tận thế, nhưng rốt cuộc thì ngày tận thế không đến. Lời Chúa muốn cảnh tỉnh chúng ta khi quả quyết: thế gian này chẳng thể tồn tại mãi. Sẽ có ngày cuộc đời này kết thúc, dù chúng ta không biết khi nào và như thế nào. Những hình ảnh được nêu trong sách Đanien và Tin mừng Thánh Mác-cô chỉ là những biểu tượng để giúp cho các độc giả cách chúng ta mấy ngàn năm dễ hiểu.

    Nếu người ta có thể phủ nhận ngày tận thế, thì không ai có thể phủ nhận sự chết. Dù sang hay hèn, dù văn minh hay lạc hậu, ai cũng phải đến ngày kết thúc cuộc đời. Biết bao lần chúng ta đã chia tay những người thân, qua đó chúng ta càng cảm nhận sự mỏng giòn của thân phận con người. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: giờ chết là tận thế đối với cá nhân mỗi người. Lúc đó họ sẽ phải trả lời Chúa về những việc mình đã làm khi còn sống trên dương gian. Chúa dựng nên con người có hồn và xác. Thân xác có thể bị mục nát trong lòng đất, nhưng linh hồn bất tử. Mỗi người phải mang trách nhiệm về những gì mình đã làm. Thời gian, sức khoẻ, gia đình, bạn bè, nghề nghiệp và những ưu đãi khác đều là những “vốn” Chúa ban để sinh lợi. Trên trần gian, có người tốt kẻ xấu, lúc tận thế, cũng có người hưởng vinh quang, kẻ bị trầm luân muôn kiếp. Ngôn sứ Đanien đã nhìn thấy “những người thông minh sẽ sáng chói như ánh sáng vòm trời, và những kẻ khuyên dạy sự công chính cho nhiều người, sẽ nên như các vì tinh tú tồn tại muôn ngàn đời”. Niềm tin vào đời sau chính là tôn vinh phẩm giá con người. Niềm tin này cũng khích lệ chúng ta, như một lời hứa hẹn rằng, nếu chúng ta sống tốt ở đời này thì sẽ được hưởng vinh quang bất diệt đời sau.

    Tin vào đời sau, đó không phải là sự ru ngủ như có người thiếu thành kiến với Giáo Hội đã suy diễn. Chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta: ai tin vào Người thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai tin vào Người sẽ được sống muôn đời. Tác giả thư Hípri nói với chúng ta: nếu chúng ta có hy vọng được hưởng sự sống đời là nhờ hy tế của Đức Giêsu dâng trên thập giá. Người là Thượng tế, đã dâng chính máu mình để chuộc tội cho nhân loại. Những ai tin vào Người sẽ được tha thứ tội lỗi và được hưởng hạnh phúc vô biên.

    Vào lúc năm cùng tháng tận, mỗi chúng ta hãy suy nghĩ về lúc kết thúc của cuộc đời. Hai chữ “tận thế” gợi cho chúng ta nỗi sợ hãi và bi quan chán nản, nhưng hai chữ “tương lai” lại giúp chúng ta bừng lên niềm hy vọng. Người vô thần cho rằng mỗi ngày sống là đang tiến dần tới nấm mộ; người tin Chúa lại cho rằng mỗi ngày sống là một nấc thang đưa họ đến với Đấng Tối cao. Quả vậy, khi đối diện với sự chết, người Kitô hữu nhìn nhận, đó là cuộc gặp gỡ với Chúa. Đó cũng là sự biến đổi từ thân phận phải chết sang cuộc sống đời đời.

    Về mục lục

    CHẾT VÌ YÊU

    Lm. Jos DĐH.

    Lỳ và liều, đó là những đối tượng nguy hiểm, nên tránh xa họ, kẻo phải liên luỵ, hoặc cảnh giác một chút cũng không thừa. Bậc anh hùng thời nào cũng có: anh hùng thật, anh hùng dỏm, anh hùng xa lộ, anh hùng say xỉn, anh hùng liều chết vì chán đời … Kinh nghiệm của tiền nhân nói rằng: ngu mà tỏ ra nguy hiểm, thì không gì phải đáng sợ, đáng sợ hơn cả là những kẻ nguy hiểm, mà tỏ ra ngu. Xã hội luôn ghi nhận những lời hay ý đẹp của bậc khôn ngoan, đề cao tinh thần yêu dân yêu nước, biết ơn công đức các ngài với danh xưng “anh hùng dân tộc”. Đi sâu vào các tương quan, mọi người sẽ khám phá ra một sự thật, ai trong chúng ta cũng có nét đáng yêu, không phải đáng sợ để rồi né tránh.

    Các thánh tử đạo Việt Nam chết vì yêu, ai hiểu tích cực một chút thì nói các ngài khờ, mạnh hơn lại nói, kẻ khùng điên, mới dám chết vì muốn được nên giống Đấng treo trên thập giá. Trải qua muôn thế hệ, người kitô hữu ca tụng tiền nhân chúng ta chết vì yêu, là cùng với Đức Kitô xây dựng một chân lý đức tin cho con cháu. Một chân lý được diễn tả: “nếu hạt lúa rơi vào lòng đất mà không thối đi, nó chỉ trơ trọi một mình; nếu hạt lúa thối đi, nó sẽ trổ sinh nhiều bông hạt”. Để minh chứng tại sao chết vì yêu, cha ông ta phải chịu nhiều cực hình khác nhau, những tên lý hình, họ đều công nhận các ngài không sợ chết, không sợ khổ đau. Người kitô hữu thì nói nhờ tin yêu Chúa, nhờ sức mạnh của tình yêu Chúa, các ngài không sợ máu chảy đầu rơi.

    Chết vì yêu, có thể bị xem là “cuồng si” với những ai thực dụng, yêu mình, yêu vật chất, địa vị, hoặc chủ trương ở đời này, còn sống là còn tất cả, bảo toàn được mạng sống mình là trên hết. Chết vì yêu, một minh chứng đức tin sáng đẹp và rõ ràng, Đức Giêsu đã tỏ ra cho các học trò, cho muôn dân thiên hạ biết: Thiên Chúa là tình yêu. Hành trình bước theo Đức Giêsu, không phải tìm đến một vương quốc máu me, chết chóc. Tin theo Đức Giêsu, một sự tự do chọn lựa sống giới luật mến Chúa yêu người: “ai phụng sự Thầy, hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phụng sự Thầy cũng sẽ ở đó. Ai yêu mến Thầy, Cha Thầy cũng yêu mến người đó”. Cha ông chúng ta có đủ ý thức: chết vì đức tin, chết vì yêu, không phải là kẻ ngu ngốc hay nguy hiểm, hành động vì yêu, chính là con đường ngắn nhất để đạt tới hạnh phúc đời đời.

    Cứ theo suy nghĩ tự nhiên: điếc không sợ súng, cùi không sợ lở, chỉ những ai mình đồng da sắt mới không sợ đòn vọt, không sợ bị thiêu đốt. Suy xét tích cực hơn, chỉ những ai chết vì yêu, chết vì bảo vệ đức tin kitô giáo, mới thực sự gọi là bậc anh hùng, và đúng với đẳng cấp khôn ngoan, biết chọn lựa hạnh phúc nước trời cách nhanh lẹ nhất. Vấn đề đặt ra, tại sao có bách hại người theo Đức Kitô, tại sao Con Thiên Chúa đã đổ máu cứu độ nhân loại, vậy mà biết bao các chứng nhân vẫn đang chết vì yêu ? Vâng, quy luật tự nhiên hay siêu nhiên đều nói lên một sự thật: muốn được phải mất, muốn làm giầu phải chuyên chăm, đầu tư công sức. Muốn được cứu độ, ngoài việc tin Đức Giêsu, sống giới luật yêu thương, ta phải sống thánh ý Chúa cách trọn vẹn hơn.

    Chết vì yêu, sống vì yêu, sẽ không ăn nhập gì với những ai chỉ biết Chúa trên môi miệng lý thuyết, khua chiêng gõ trống. Công suất của âm thanh tốt, người nghe sẽ rõ hơn, và không xảy ra tình trạng: trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, nói một đàng, làm một nẻo. Cây trái đơm bông, sinh nhiều quả ngọt, trái thơm, phải qua giai đoạn vun trồng, chăm sóc, cắt tỉa. Người có đức tin vững chắc, sẽ tồn tại trước những sự xấu đe doạ, người có tình yêu thật, sẽ đủ quảng đại yêu thương tha thứ, và biết sống thánh ý Chúa cách chuẩn mực nhất. Cha ông chúng ta chịu bách hại vì tin yêu Đức Kitô, các ngài không ngu dại, khùng điên, hay vì thiếu tính anh hùng. Đúng hơn vì yêu, vì ý thức hạt lúa có thôi đi, mới trổ sinh bông hạt. Để vượt qua được khổ đau, cực hình, tiền nhân chúng ta đã có lòng mến Chúa, yêu người, đủ nồng ấm yêu thương, hạt giống đức tin sẽ trổ sinh công đức cho thế hệ con cháu.

    Xưa, có một ông nhà giầu lên tỉnh, ông ta cho một anh giúp việc đi theo, khi đã hoàn tất cuộc thăm viếng vị quan lớn trong thành. Lúc trở về, ông ta cằn nhằn, sao mày đi đằng sau tao, giống như tao là tù nhân của mày vậy ? Tên giúp việc không dám nói lời nào, liền đi trước ông chủ. Đi được một đoạn, ông nhà giầu lại gắt lên, mày để tao đi sau mày, có khác gì tao là tên hầu của mày hả ? Tên giúp việc im lặng và đi bên cạnh ông chủ. Đi một quãng nữa, ông nhà giầu lại quát, hoá ra mày ngang hàng với tao à, mày là bạn tao bao giờ thế ? Tên giúp việc lúc này chỉ biết khóc và gào lên: thưa ông, thế con phải đi thế nào ạ ?

    Sống ở đời này, mọi người đều biết đến một chân lý: khôn chết, dại chết, biết mới sống. Đức Giêsu nói đến một sự thật: “ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ tìm lại được sự sống đời đời”. Ngài không thích chúng ta lỳ, hay liều, Ngài mong chúng ta khôn ngoan, biết mình là ai, biết mình cần ơn Chúa, và biết hướng tìm về hạnh phúc thật. Đức Giêsu biết sự giới hạn của con người, ai chẳng sợ đau khổ, ai chẳng sợ chết, duy chỉ những ai biết tín thác vào tình yêu Chúa, người đó mới hiểu, tử vì đạo là một diễm phúc, chẳng phải ai cũng cơ hội đó. Amen.

    Về mục lục

    NGÀY CÙNG TẬN

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Hôm nay là Chúa Nhật áp chót của năm Phụng vụ, nên Giáo hội  chọn đọc bài Tin Mừng nói về ngày cùng tận. Ngày ấy sẽ đến như thế nào? Bài Tin Mừng hôm nay mô tả rằng: “Khi ấy mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các tinh tú bầu trời bị lay chuyển”. Những hình ảnh ấy khiến cho chúng ta thấy sẽ có một ngày thật khủng khiếp. Nhìn vào những biến cố trong thời hiện đại, phải chăng thế giới này sẽ tận diệt bằng một cuộc chiến tranh nguyên tử hay vũ khí hạt nhân? Chúng ta biết đây là đoạn Tin Mừng viết theo văn thể Khải Huyền, trong đó những hình ảnh không quan trọng, chỉ là phương tiện để diễn tả một ý tưởng, vì thế cần nhận ra tư tưởng nòng cốt hơn là miên man trong những tình tiết.

    Thực ra, những hình ảnh được dùng trong bài Tin Mừng này cũng không phải do Chúa Giêsu đưa ra, nhưng Ngài lấy lại những hình ảnh mà các ngôn sứ quen dùng để nói về ngày cùng tận. Chẳng hạn như một đoạn trong sách Isaia diễn tả ngày ấy như sau:“Ánh sáng ban ngày của ngươi không còn là mặt trời nữa, và ban đêm, ngươi chẳng cần đến ánh trăng soi: Đức Chúa sẽ là ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi ngươi, ánh quang huy của ngươi là Thiên Chúa ngươi thờ”. (Is 60, 19). Các ngôn sứ và cả Đức Giêsu đều không quan tâm ngày cùng tận sẽ xảy ra thế nào, mà chỉ quan tâm đến điều quan trọng nhất là ngày ấy Chúa sẽ đến, sẽ hiển trị đời đời: là một ngày khủng khiếp đối với những kẻ tội lỗi, nhưng là ngày ngập tràn ánh sáng vinh quang, ngày hân hoan vui mừng cho những người công chính ở trước Thiên Nhan Chúa. Người ta vẫn suy đoán về ngày tận thế, nhưng ngày ấy vượt tầm trí của con người, chỉ có một mình Chúa Cha biết mà thôi.

    Có ngày khởi đầu thì đương nhiên có ngày kết thúc. Ngày kết thúc có thể xem ra như tai nạn hay như hậu quả của một sự hủy diệt nhau, nhưng chúng ta tin ngày ấy nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Đó là một ngày mà Thiên Chúa làm nên một thế giới mới cho nhân loại. Nơi đó, công bằng sẽ ngự trị, hạnh phúc sẽ ngập tràn, và niềm vui sẽ trọn vẹn cho những ai “bền đỗ đến cùng”. Với cái nhìn đầy tin tưởng, Seneca – một nhà tư tưởng lớn của La-mã – đã nói: “Ngày mà bạn cho là cùng tận của mọi sự, lại là ngày khởi đầu của vĩnh cửu”.

    Chúng ta không biết ngày nào Chúa sẽ đến trong vinh quang, nhưng chúng ta biết chắc, để được vào vương quốc ấy, trước tiên bản thân mỗi người phải xét lại chính mình trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và vũ trụ vạn vật, để tiến tới một sự hòa hợp sâu xa hơn. Điều này đòi chúng ta xếp đặt lại cuộc sống mình cho phù hợp với đường hướng và ý muốn của Thiên chúa, đồng thời tích cực dấn thân trong việc xây dựng một gia đình nhân loại đầy tình yêu thương, để  công lý và hòa bình có thể triển nở khắp nơi trên thế giới.

    Cha Mark Link viết: “Khi Chúa đến, Người không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Người sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao”. Vì tình yêu là ngôn ngữ và là chất liệu của đời sống trên Thiên đàng, nên chỉ những ai có trái tim đong đầy yêu thương mới được bước vào. Chính lòng từ bi nhân hậu là tấm thẻ căn cước không thể thiếu của những công dân Nước Trời.

    Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới không ổn định, hết cơn khủng hoảng này đến cơn khủng hoảng khác; bạo lực, xung đột và chiến tranh tàn sát liên hồi dưới mọi hình thức; thực tế 2 năm nay là cơn đại dịch liên tục hoành hành trên thế giới, khiến con người không ngừng lo âu và sợ hãi, hết sức cần một cái gì đó vững chắc để dựa vào. Nhưng rồi chẳng có gì vững chắc trong cuộc đời này, người ta chỉ có thể dựa vào một mình Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống, Đấng đã hứa với chúng ta qua Đức Giêsu: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đi”. Chúng ta hoàn toàn an tâm vì biết rằng mọi sự đều nằm trong bàn tay Chúa. Ngài đã có chương trình và dự định riêng cho mỗi người chúng ta từ muôn thuở, nên ta cứ sống theo Lời Ngài, vững tâm theo đường lối Ngài. Sống thuộc về Chúa hôm nay, chắc chắn chúng ta sẽ được thuộc về Chúa mai ngày và mãi mãi.

    Cầu nguyện

    Lạy Cha!
    Con tin rằng rồi sẽ tới một ngày,
    thế giới này sẽ không tồn tại nữa,
    tất cả sẽ qua đi chẳng còn gì,
    bởi vì tất cả chỉ là tạm bợ,
    do duyên cơ hay duyên nợ tác thành,
    như phương tiện thi hành thánh ý Cha.

    Chẳng ai biết điều gì sẽ xảy ra,
    giống như ngày Giêrusalem bị tàn phá,
    Chúa cho biết mọi người phải tránh xa,
    nhưng rồi dân chúng vẫn lơ là,
    và đúng là tới ngày tan tác cả,
    vì đã không nhận ra Chúa viếng thăm.

    Con tin có ngày tận cùng thế giới,
    trước khi Chúa ngự đến trên mây trời,
    sẽ có nhiều điềm thiêng và dấu lạ,
    khắp trên đất liền và ngoài biển cả,
    dân chúng xôn xao vì trời cao chuyển động,
    ai cũng hoang mang và lo sợ phập phồng.

    Nhưng chúng con không hoảng hốt lo âu,
    vì đó là giây phút khởi đầu Chúa sắp đến,
    con cần phải đứng thẳng ngẩng đầu lên,
    để gặp Đấng mà suốt đời con trông đợi,
    trong niềm vui và vinh hiển rạng ngời.

    Ngày tận thế chẳng biết bao giờ tới,
    nhưng chắc có ngày Chúa đến với con,
    xin cho con đừng ham mê thế sự,
    nhưng sẵn sàng buông bỏ chẳng vấn vương,
    để ngẩng đầu đón nhận Chúa tình thương,
    là cùng đích đời con cõi thiên đường. Amen.

    Về mục lục

    NGÀY TẬN THẾ

    Jorathe Nắng Tím

    Không biết bao nhiêu lần chúng ta đã nghe “tận thế sắp đến”, lại có những lần chúng ta được người này người nọ báo chính xác như “đinh đóng cột” ngày giờ tận thế, nhưng rồi vẫn chưa thấy ngày tận thế đâu, và chúng ta lại tiếp tục hồi hộp đợi chờ ngày kinh khủng ấy, ngày mà ngôn sứ Đanien gọi là “thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ” (Đn 12,1), và Tin Mừng Máccô  mô tả “ngày đó sẽ là những ngày gian nan đến mức từ lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa tạo thành vạn vật cho đến bây giờ chưa khi nào xảy ra và sẽ không còn xảy ra như vậy nữa” (Mc 13,19). “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13, 24-25).

    Thực ra, không chỉ có chúng ta lo lắng, thắc mắc hỏi Chúa: “Khi nào thì ngày tận thế xảy đến?”, các Tông Đồ cũng đã nêu lên câu hỏi định mệnh này, như “lúc Đức Giêsu ngồi trên núi Ôliu, đối diện với Đền Thờ, các ông Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê hỏi riêng Người: “Xin Thầy nói cho chúng con biết bao giờ các sự việc ấy sẽ xảy ra, và khi tất cả sắp đến hồi chung cục, thì có điềm gì báo trước?” (Mc 13,3-4).

    Sau hàng loạt những cảnh báo nào là  “Hãy coi chừng kẻo bị người ta lường gạt”, “sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy”, nào là  sẽ có giặc giã, chiến tranh, động đất, đói kém ở nhiều nơi, kể cả những truy lùng, bắt bớ, khổ hình sẽ đổ trên anh em và cảnh “cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết” (x. Mc 13,5-12), Đức Giêsu căn dặn các môn đệ của Ngài một số  điều quan trọng:

    1. Đừng khiếp sợ

    Ngài dặn các môn đệ: “Đừng khiếp sợ. Những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục” (Mc 13,7), và Đức Giêsu đã cho các môn đệ hiểu tại sao “đừng khiếp sợ”.

    Đừng khiếp sợ, vì điều Chúa muốn các môn đệ Ngài phải làm ngay lúc này, và ở đây là Loan Báo Tin Mừng, chứ không  phải việc  lo lắng về ngày tận thế, như Đức Giêsu đã  khẳng định sau những  cảnh báo về  ngày gian nan: “Nhưng trước tiên, Tin Mừng phải được loan báo cho mọi dân tộc” (Mc 13,10), còn “về ngày hay  giờ ấy thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32).

    Vì loan báo Tin Mừng, nên Tin Mừng sẽ bảo đảm chắc chắn:  người loan báo Tin Mừng sẽ được vui mừng đứng trong hàng ngũ những người được Thiên Chúa “tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13,27) khi “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mac 13,26).

    Đừng khiếp sợ vì “những kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mc 13,13). Bền chí nhờ tin vào Lời Hứa, tin vào ơn Thánh Thần, tin Thiên Chúa “là Đấng con tôn thờ, và bên Ngài con ẩn náu”, vì ngoài Chúa ra, không đâu là hạnh phúc” (Tv 15,1- 2). Đó là sự bền chí của những kẻ đặt hết niềm tin vào Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót được Chúa Cha sai đến thế gian để xóa tội và cứu sống muôn người.

    2.“Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi ” (Mc 13,29)

    “Con Người” là Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng ở giữa con người, và đang đứng ngay ngoài cửa nhà mỗi người, khi mùa xuân Cứu Rỗi trở về với cây lá “xanh tươi và đâm chồi nảy lộc” (Mc 13,28).

    Như thế, Đức Giêsu không “đến gần, ở ngay ngoài cửa” để  truy lùng, bắt bớ, trừng phạt chúng ta, nhưng Ngài đến giữa mùa xuân rực rỡ Hồng Ân Cứu Độ ngay cửa nhà để gặp chúng ta, như lời Kinh Thánh: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3, 20).

    Được Chúa đến nhà dùng bữa, và được  cùng  bàn với  Chúa, hỏi còn hạnh phúc nào lớn hơn?

    Tất nhiên, chúng ta không tránh khỏi nỗi lo phải sống mỗi ngày như ngày cuối cùng của cuộc đời, sống mỗi ngày như tận thế có thể xảy đến.

    Vì biết chúng ta lo, Đức Giêsu đã trấn an chúng ta khi hứa: “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20); vì biết chúng ta sợ, Ngài bảo đảm: ở gần, ngay trước cửa nhà, để yêu thương, gìn giữ, cứu chữa chúng ta, dù mỗi ngày chúng ta sống là thời gian phải chiến đấu, mỗi bước mới trên hành trình cuộc đời chúng ta đi là mạo hiểm giữa bao thách đố, rủi ro, và mỗi khoảnh khắc sinh hoạt là dấn thân vượt qua rất nhiều nguy hiểm, trái ý nghịch lòng.

    Xin Chúa thương ban cho chúng con niềm hy vọng vào Lời Hứa và Lời Chúa căn dặn, để chúng con biết sống từng giây phút hiện tại với lòng trông cậy, phó thác tuyệt đối vào Chúa và luôn tỉnh thức.

    Sống trông cậy bằng bình an thi hành sứ vụ Loan Báo Tin Mừng; sống phó thác bằng luôn khao khát Chúa đến và ở lại trong tâm hồn; sống tỉnh thức bằng liên lỷ cầu nguyện như các thánh Tông Đồ “tề tựu ở một nơi” (Cv 2,1) và cùng nhau cầu nguyện khi Chúa Thánh Thần lấy hình lưỡi lửa “đậu xuống  từng người một” (x. Cv 2,2-3), để khi Đức Giêsu trở lại, chúng con được diễm phúc nghênh đón Ngài như người tình hạnh phúc trong Diễm Ca: “Tôi ngủ, nhưng lòng tôi chợt thức; có tiếng người yêu tôi gõ cửa: “Mở cửa cho anh vào, hỡi em gái, người bạn tình của anh, hỡi bồ câu, ôi mười phân vẹn mười.” (Dc 6,2).

    Về mục lục

    LÀM CHỨNG LÀ GÌ?

    Lm. Jos Tạ duy Tuyền

    Người ta cho rằng: Ngày nay trên thế giới hình thành một quốc gia mới gọi là quốc gia không gian mạng. Người ta ước tính quốc gia này có khoảng Ba tỷ người – khoảng 40% dân số thế giới – đang sử dụng mạng xã hội. Ở quốc gia này mọi cư dân có thể dùng mạng xã hội là nơi giãi bày mọi thứ vui buồn, hạnh phúc hay đau khổ. Họ có thể giao thương buôn bán. Họ có thể bàn chuyện trong nhà, bàn chuyện trong nước hay thế giới. Ở quốc gia này cũng đầy rãy những  thông tin gây stress bởi người ta cũng tự do để chửi, để kết án hoặc dẫn dư luận đi theo xu hướng xấu về tự do tình dục, tự do phá thai. . .

    Ngày đầu tôi ghi danh vào quốc gia này là do một người bạn giới thiệu nói rằng vô đây mình được tự do, muốn nói gì thì nói, được tự do bày tỏ quan điểm của mình, và quan yếu là được kết nối với bạn bè ở khăp nơi? Nhưng rồi thời gian gần đây đã không còn như vậy. Người ta đã chính trị hóa quốc gia này nên nó không còn trung lập. Vì đồng tiền nên người điều khiển quốc gia này đã bao che cho cái xấu và có khi đồng lõa ngăn chặn sự thật. Ở quốc gia này kẻ có tiền vẫn là kẻ mạnh. Muốn chửi ai thì chửi. Muốn kết án ai thì kẻ đó phải chết. Kẻ có quyền vẫn dùng quyền để loại trừ người bất đồng chính kiến bằng hacker, bằng khủng bố đe dọa.

    Có lần tôi đã rút khỏi quốc gia này nhưng nhiều người nói rằng cha rời đi thì những người hâm mộ cha buồn chết. Ở trang nhà facebook của cha có nhiều cái để học từ Lời Chúa, đến lời khuyên của tiền nhân, từ vui cười giải trí đến học hỏi giá trị làm người . .. Đa số cư dân ở đây chủ yếu là khoe khoang:  khoe hột xoàn, khoe ăn uống, nhà cửa, quần áo , xe cộ . .. Nhất là cha cũng là một trong số ít những người đã dám nói lên cái sai của xã hội và dẫn chúng con đi theo trend của điều Thiên Chúa muốn.

    Quả thực với một quốc gia không gian mạng có tới hơn 3 tỉ người và riêng ở Việt Nam người nào sinh ra cũng có một Visa trong quốc gia này. (những người mẹ trẻ thì lập Facebook cho con để gửi vào đó những hình ảnh theo năm tháng của con, và con cái cũng lập cho cha mẹ già một nick để đọc tin ..). Ước tính ở Việt Nam có trên 60 triệu cư dân là thành viên của quốc gia này. Thế mà, chỉ có một số rất ít dám nói sự thật, dám bảo vệ sự thật và dám làm chứng cho tin mừng trên trang nhà của mình thì thật là thiếu sót.

    “Làm chứng” là một từ được dùng rất phổ biến trong “văn chương nhà đạo”. Làm chứng là một lời mời gọi, cũng là một lệnh truyền của Đấng Phục sinh: “Anh em sẽ là chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem” (Cv 1,8). Các môn đệ đã sớm ý thức được sứ mạng làm chứng được Chúa trao phó. Họ đã sẵn sàng lấy chính mạng sống mình bảo đảm cho lời chứng ấy. Các môn đệ biết Ðức Kitô, đi theo Ngài, học tập với Ngài, tin yêu Ngài, không thể không làm chứng về Ngài cho người khác.

    Thế nhưng hôm nay chúng ta thấy nhiều người vẫn im lặng trước bất công, hay sai trái. Có khi còn hùa theo đám đông để kết án loại trừ một ai đó có suy nghĩ khác với mình. Và rất nhiều cư dân là người Công giáo nhưng không dám trang trí cho ngôi nhà mình một tấm hình hay một biểu tượng của người môn đệ Chúa, nên càng có ít người đã công khai giới thiệu Chúa qua trang nhà của mình, thì làm sao kiếm được người dám sống và làm chứng cho Chúa?

    Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử đạo tại Việt Nam. Chúng ta tự hào vì cha ông chúng ta đã dám làm chứng vì tin mừng. Vì “Tử đạo” nghĩa là “làm chứng”. Vậy thì việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, gia đình để chết đi làm chứng điều gì?

    Thưa, đó chính là sự “Trung thành tôn thờ Thiên Chúa” cho dù có thiệt thòi về kinh tế, kể cả mạng sống. Nói không với tôn giáo sẽ được sống và được vinh hoa phú quý.  Thế nhưng, các ngài thà chết chứ không chối Chúa và còn vui mừng vì phần thưởng lớn lao ở trên trời, như thánh Đaminh Hạnh đã nói: “Kẻ trung thành với Chúa, khi chết sẽ được lên thiên đàng”. Cho dẫu vì niềm tin của mình mà bị bách hại hành hạ nhưng các ngài vẫn vui tươi như thánh Nguyễn Huy Mỹ đã từ đau khổ mà viết thánh thơ:

    «Vai mang bốn điệp tai thêm ấm

    Xổng xểnh ba vòng cổ lại thanh”.

    Lạy các thánh Tử đạo Việt Nam, là cha ông chúng con. Xin cho chúng con biết tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, biết noi gương các ngài để thể hiện niềm tin trung kiên của mình trước những cám dỗ lợi lộc của thế gian. Xin giúp chúng con biết thể hiện niềm tin của mình qua đời sống thánh thiện, bác ái yêu thương, và ngay cả trên các trang mạng chúng con cũng thể hiện đức ái để không hùa theo đám đông kết án người vô tôi, không lan truyền những xu hướng tục hóa, và biết tận dụng mạng xã hội để làm chứng cho tin mừng để nhờ đó sẽ tái tạo môi trường không gian mạng là một môi trường sạch, một môi trường thấm đượm tin mừng và đầy yêu thương. Amen

    Về mục lục

    ĐỂ THẦY ĐẾN BÊN CON

    Bông hồng nhỏ

    Thầy kính mến!

    Thầy đã hỏi con: “Sao dạo gần đây sao con lo lắng và bồn chồn thế?” Thầy hiểu con lắm, chỉ nhìn ánh mắt và nét mặt của con thôi là Thầy cũng biết con đang như thế nào, đang vui hay đang có tâm sự. Và Thầy luôn là người đến bên con, lặng lẽ lắng nghe tất cả những niềm vui nỗi buồn của con. Thầy biết rõ lòng con nhưng vẫn lên tiếng hỏi thăm con, để con luôn biết rằng: Dù quanh con, mọi sự đang đổi thay, thì Thầy vẫn có đó, bên con và yêu thương con. Thầy! Con cám ơn Thầy nhiều lắm!

    Hôm nay, Thầy đã báo trước cho các môn đệ về ngày Con Người quang lâm. Thầy nói về những cơn gian nan, sau những cơn gian nan ấy thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển (x.Mc 13, 24-25). Chỉ mới tưởng tượng đến cảnh trời đất sẽ ra tối tăm, con đã thấy sợ hãi. Con rùng mình vì những gì đang diễn ra trong trí tưởng tượng. Lời Thầy kéo con về với thực tại: “Bấy giờ, thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13, 26-27). Nếu trời đất ra tối tăm thì sự xuất hiện của Con Người trong ánh vinh quang sẽ mang lại ánh sáng huy hoàng cho cả vũ trụ. Vì ngày ấy không cần đến ánh sáng của mặt trời hay các tinh tú nhưng chính ánh sáng của Con Người sẽ chiếu soi tất cả.

    Thầy! Sao Thầy lại nhìn con? Con đang nghĩ đến những lúc cuộc đời mình ra tối tăm, vì con lầm đường lạc hướng. Con đã rất sợ hãi và tuyệt vọng vì không tìm thấy lối đi. Con khóc lóc và cầu cứu nhưng dường như chẳng ai nghe được tiếng kêu yếu ớt của con. Trong nội tâm của con có một cuộc chiến đấu rất quyết liệt: Con phải chọn giữa việc can đảm đứng lên tìm kiếm con đường để ra khỏi bóng tối hay đành ở lại lịm chết trong tội lỗi. Trong đau khổ và tuyệt vọng vì không tìm được người nào có thể giúp con thoát khỏi đau khổ, con đã kêu lên cùng Thầy. Dù tiếng kêu của con vô cùng yếu ớt, Thầy vẫn nghe thấy, vì Thầy đã đưa mắt dõi nhìn con từ trước. Thầy biết con đi lạc đường, Thầy lên tiếng gọi con nhưng con đã không thể nghe thấy. Đó là do sự yếu đuối của con. Khi con thấy mình hoàn toàn bất lực, hoàn toàn tối tăm thì Thầy đã cúi xuống bên con. Ánh sáng của Thầy chiếu vào góc tối của lòng con, cho con nhìn thấy những yếu đuối của mình. Thầy đã chạm vào từng nỗi đau và chữa lành từng vết thương một. Mắt con chỉ hé mở được chút ít nhưng cũng đủ để nhìn thấy vết thương trên tay, trên chân và trên cạnh sườn Thầy. Lạ lùng quá! Chính lúc con nhìn thấy vết thương của Thầy, con thấy cả nỗi đau của con nơi chính thân thể của Thầy. Con đã từng nghĩ, nỗi đau của con chỉ mình con chịu, nhưng giờ đây con hiểu rằng Thầy đã mang lấy nỗi đớn đau của con ngay trên thân thể mình. Thầy đã đau nỗi đau của con và giờ Thầy đã chữa lành con.

    Thầy! Xin Thầy cứ nói tiếp đi ạ. Thầy nhìn mọi người một lượt và ánh mắt Thầy nhìn con như truyền thêm sức mạnh và sự can đảm. Con chăm chú nghe Thầy. Con nghe từng lời của Thầy và dừng lại thật lâu ở lời này: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13, 31). Con nhận ra một điều Thầy ạ, rằng cuộc sống của con đã trải qua nhiều biến cố, những mất mát và cả những niềm vui, hạnh phúc, tất cả đều trở thành kỷ niệm. Mỗi con người, mỗi câu chuyện đến trong đời con đều giúp con lớn lên. Con không sống với quá khứ và cũng không nắm lấy tương lai nhưng con đang sống trong hiện tại. Thầy đã luôn bên con, không phải như một kỷ niệm đẹp mà con cất giữ để một lúc nào đó mang ra nhìn ngắm nhưng Thầy chính là hiện tại, là sự sống, là sự chữa lành, là tình yêu đang lớn dần trong con.

    Thầy kính mến! Con đang có những băn khoăn và lo lắng. Con lo nếu Thầy gọi con về với Thầy ngay lúc này thì con chưa sẵn sàng, con chưa thánh thiện như mình muốn. Nhưng, “Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. Bao giờ con mới đủ thánh thiện để sẵn sàng về với Chúa?

    Sao Thầy lại nhìn con mà cười? Bà góa nghèo đã chỉ bỏ vào thùng tiền dâng cúng hai đồng tiền kẽm nhưng lại được Thầy cảm mến và khen ngợi, vì Thầy thấy tận đáy lòng mỗi người. Thầy chỉ nhận tình yêu thôi. Nếu con thánh thiện theo ý riêng con thì đâu còn chỗ cho Thầy nữa. Thầy ơi! Nếu con không được đẹp lòng Thầy thì tội nghiệp lắm. Thầy dạy con bước từng bước để theo Thầy nhé. Thầy đang đứng trước cửa và gõ. Có lúc vì yếu nhược mà con không nghe thấy, có lúc con nghe thấy nhưng không đủ sức để dậy mở cửa Thầy ạ. Cửa không cài chốt đâu, Thầy cứ đẩy cửa mà vào nhé.

    Về mục lục

    LỜI THẦY SẼ CHẲNG QUA

    Thiên San

    Con người dùng “lời”, tức là ngôn ngữ để diễn đạt điều mình suy tưởng và để giao tiếp. Đối với những người không thể nói được, họ dùng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với người khác. Còn Thiên Chúa, Người dùng Lời để sáng tạo muôn loài muôn vật. Người cũng dùng Lời để mạc khải cho con người biết về chính mình. Vì chính Lời là Thiên Chúa. Chương 1 sách Sáng thế kể lại cho chúng ta về việc Thiên Chúa đã dùng Lời để thực hiện công trình sáng tạo. Thánh Gioan còn cho chúng ta thấy rằng: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” (Ga1, 3-4). Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu mặc khải cho ta về sự hiện hữu của Lời khi nói: “Dù trời đất này qua đi nhưng những lời Thầy nói sẽ không qua đi” (Mc 13, 31).

    Đức Giêsu dùng lời để mặc khải cho chúng ta về ngày Con Người sẽ ngự đến trên đám mây với đầy quyền năng và vinh quang. Ngày ấy chắc chắn sẽ đến nhưng đến vào lúc nào thì không ai có thể biết, ngoại trừ Chúa Cha. Tuy không thể biết chắc chắn vào lúc nào, giờ nào nhưng Đức Giêsu cho chúng ta một cái nhìn khách quan qua bài học từ cây vả. Khi nhìn thấy cây vả đâm chồi nẩy lộc thì chúng ta biết chắc là mùa hè sắp đến. Cũng vậy, chúng ta thấy: “Trong những ngày ấy, sau cảnh khốn cực, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao sẽ từ trời rơi xuống và các sức mạnh trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người ngự đến trên đám mây với đầy quyền năng và vinh quang. Và bấy giờ Người sẽ sai các thiên thần của Người đi quy tụ những kẻ đã được tuyển chọn từ khắp bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13, 24-27). Khi thấy những điều đó xảy ra, chúng ta hãy biết là Người đã đến gần, và ở ngay ngoài cửa rồi (x. Mc 13, 29).

    Đức Giêsu chính là ánh sáng thật cho nhân loại. Ngày Người ngự đến trong vinh quang, ánh sáng của mặt trời mặt trăng, các ngôi sao sẽ nhường chỗ cho Ánh Sáng thật. Vì trong ngày ấy, nhân loại không còn cần đến ánh sáng của thụ tạo vì đã có Ánh Sáng thật chiếu soi. Ngày ấy, những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn sẽ được quy tụ về từ khắp bốn phương. Chúng ta là đoàn người lữ hành đang tiến về quê hương vĩnh cửu. Các anh chị em đã qua đời đang chờ ngày được quy tụ trước nhan Đức Chúa. Vậy chúng ta được mời gọi điều gì đang khi mong chờ ngày ấy? Để mai sau được cùng với mọi kẻ được Thiên Thiên Chúa tuyển chọn diện kiến Thánh Nhan, chúng ta sống trong niềm tin tưởng vào môt ngày mai tươi sáng.

    Quả thực, trời đất có qua đi nhưng những lời của Đức Giêsu vẫn còn mãi. Người chính là Lời hằng sống. Lời mời gọi chúng ta sống niềm hy vọng về sự phục sinh vinh hiển. Sách Đanien có viết: “Trong thời kỳ ấy dân ngươi, hễ ai đã có ghi tên trong sách, sẽ được cứu thoát. Nhiều kẻ an giấc trong bụi đất sẽ chỗi dậy; có người sẽ được hưởng phúc trường sinh, có kẻ phải tủi nhục muôn đời.” (Đn 12, 1-2). Trong tháng cầu hồn, chúng ta được mời gọi sống Lời của Con Thiên Chúa cách cụ thể hơn. Con Người đã đứng ngay ngoài cửa, chúng ta cần thay đổi cách sống, hoán cải mỗi ngày để tình yêu của Đức Kitô hiện diện trong cuộc đời của chúng ta và hướng dẫn chúng ta trong mọi chọn lựa. Tất cả những ai để cho Lời hướng dẫn và bước đi đúng như vậy ắt sẽ được hưởng vinh quang với Người. Chúng ta cũng hãy sống tinh thần hiệp thông giữa Giáo hội lữ hành và Giáo hội thanh luyện để cầu nguyện cho anh chị em đã ra đi trước chúng ta. Đồng thời, chúng ta nài xin sự chuyển cầu của các thánh trên trời (Giáo hội thiên quốc) để lời nguyện cầu của ta được Thiên Chúa thương đón nhận. Hơn hết, chúng ta hãy để tâm lắng nghe và thực hành lời Chúa dạy hầu tạo cho mình có được thái độ sẵn sàng đón chờ ngày Chúa đến trong vinh quang.

    Về mục lục

    DẤU CHẤM HẾT

    Trầm Thiên Thu

    Một đoạn văn có nhiều câu, kết thúc mỗi câu là một dấu chấm, và có câu khác nối tiếp. Bài viết có bao nhiêu câu thì có bấy nhiêu dấu chấm. Kết thúc bài viết cũng là một dấu chấm nhưng đó là Dấu Chấm Hết.

    Không có gì vĩnh tồn. Tất cả sẽ qua đi, kể cả những gì người ta coi là trường tồn. Thời gian sẽ kết thúc mọi thứ. Thế giới này sẽ không còn vào một ngày nào đó, chúng ta gọi thời điểm đó là tận thế – “dấu chấm hết” của thế giới này. Cái chết là “dấu chấm hết” của một đời người – tận thế riêng của một người, theo nghĩa trần gian. Thật ra hoàn toàn khác hẳn, bởi vì dù là người hữu thần hay vô thần thì cái chết vẫn là “ngưỡng” chuyển sang thế giới khác – Thiên Đàng hay Hỏa Ngục.

    Người ta nói: “Sống khôn, chết thiêng.” Câu nói của người đời mà vẫn phù hợp với tôn giáo. Sống sao, chết vậy. Chúng ta gọi là chết lành hoặc chết dữ. Rõ ràng cuộc sống đời này liên quan cuộc sống đời sau. Phúc Âm cho biết mấy điều quan trọng: [1] Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; (Mc 16:16) [2] Ai tin Chúa Giêsu sẽ được sống muôn đời; (Ga 3:16) [3] Ai đi theo Đường Giêsu sẽ dẫn tới sự sống lại; (Ga 11:1-44) [4] Ai tin Chúa Giêsu sẽ không đi trong bóng tối; (Ga 12:46) [5] Ai lãnh nhận Thánh Thể sẽ được trường sinh. (Ga 6:32-58)

    Đó mới là nhận biết, cố gắng sống theo sự nhận biết đó hay không thì lại là vấn đề khác. Nghĩa là phải giữ vững lập trường, không dao động trong mọi tình huống: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, thì tôi vẫn vững như kiềng ba chân.” (Ca dao) Nhưng đó là điều không dễ thể hiện. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 10:22; Mc 13:13) Khó lắm, nhưng làm được thì mới đáng thưởng.

    Đức tính rất quan trọng trong cuộc sống là kiên định, kiên tâm, kiên trì, kiên nhẫn, kiên cường hoặc kiên quyết. Nhà giáo dục William Arthur Ward (1921-1994, Hoa Kỳ, tác giả cuốn “Fountains of Faith” – Suối Nguồn Niềm Tin) nhận định: “Sự kiên nhẫn của ngày hôm nay có thể biến sự nản lòng của ngày hôm qua thành khám phá của ngày mai. Mục đích của ngày hôm nay có thể biến thất bại của ngày hôm qua thành quyết tâm của ngày mai.” Tính kiên trì là loại “bùa hộ mạng” mà người ta luôn phải có, không được rời nó ra dù chỉ một lúc. Cuộc sống luôn cần tự nhủ “an tâm tin cậy Chúa, vững lòng, không sợ hãi chi.” (Tv 112:7-8) Dù đời hay đạo vẫn cần tính kiên định: không liếc nhìn, không nói hùa theo, không nghe điều vớ vẩn, không nhìn cái vô bổ, không suy diễn,…

    Mỗi người có một cuộc đời, với cách sống riêng và thời gian được quản lý riêng. Tuy nhiên, chúng ta lo cũng không xong, tránh cũng chẳng được, cụ thể như đại dịch Cúm Tàu. Do đó, cứ vui vẻ chấp nhận cho thanh thản, không chấp nhận thì chỉ tự dày vò mình mà thôi. Cuộc đời đã lắm khổ rồi, đừng tự làm khổ mình hoặc làm khổ nhau nữa! “Điều gì đến sẽ đến – What will be will be – Que sera sera.” Câu này có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực. Tùy người. Là tiêu cực nếu người đó sống bất cần, là tích cực nếu người đó biết chấp nhận thực tế, đặc biệt là tín thác vào Chúa và sống theo ý Ngài.

    Ai cũng biết rằng chẳng có gì trường tồn trên cõi đời này, cứng như đá mà nước chảy cũng mài mòn nó. Cuối năm là dịp tài nhận thức về Ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu Kitô, lúc thế gian này “chấm hết.” Không ai biết mình có được diễm phúc chứng kiến thời khắc đó hay không, nhưng chắc chắn ai cũng chứng kiến ngày tận thế của cuộc đời mình, lúc chúng ta phải trả lại tất cả cho thế gian.

    Nói tới sự chết, chúng ta nhớ tới thần đồng âm nhạc Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791). Ông đã linh cảm khi soạn tuyệt phẩm REQUIEM: “Tôi e rằng tôi đang viết một bài cầu hồn cho chính mình.” Trong thư gởi cho người cha, Mozart cho biết: “Con không bao giờ đi ngủ mà không nghĩ rằng có thể con không còn thấy ngày mai nữa. Sự chết là mục đích thực sự của cuộc đời chúng ta. Từ vài năm nay, con đã quen với người bạn tuyệt vời đó của con người. Hình ảnh người bạn đó không làm con sợ mà con thấy người bạn đó hiền lành và cởi mở.” Thật tuyệt vời và khôn ngoan khi ông biết chuẩn bị cho cái chết của mình, đáng để chúng ta noi theo.

    Đối với những người không có niềm tin tôn giáo, chết là chấm hết mọi sự – như “chó chết hết chuyện” vậy thôi. Nhưng đối với các tín nhân, những người tin vào Đức Kitô, chết không là chấm hết, mà là chấm câu hoặc chấm xuống dòng, là giai đoạn quá độ, là buổi giao mùa, là khởi đầu sự sống mới và vĩnh viễn. Như vậy thì chết là hên chứ không xui chút nào, như Thánh Phaolô nói “chết là một mối lợi.” (Pl 1:21)

    Cuộc sống luôn cam go như chiến trường, Chúa Giêsu nói: “Ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối.” (Mc 9:49) Kinh Thánh cho biết: “Thời đó, Tổng lãnh Sứ thần Micae sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ THOÁT NẠN, nghĩa là tất cả NHỮNG AI ĐƯỢC GHI TÊN TRONG CUỐN SÁCH CỦA THIÊN CHÚA.” (Ðn 12:1) Đó là nói về sự sống lại của những người đã chết. Chết là để sống lại, như vậy chết không là hết, không là điều tuyệt vọng, nghĩa là chết mà đầy hy vọng.

    Về sự sống lại và sự thưởng phạt, Kinh Thánh nói rõ: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để HƯỞNG PHÚC TRƯỜNG SINH, kẻ thì để CHỊU Ô NHỤC và BỊ GHÊ TỞM MUÔN ĐỜI. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao.” (Ðn 12:2-3) Ngày nay sống thế nào thì ngày mai sẽ “phản ánh” như vậy, sống tốt thì được thưởng, sống ác thì bị phạt. Gọi là “thưởng – phạt” theo cách hiểu của phàm nhân mà thôi, chứ thật ra đó là sự công bằng, là điều tất yếu, là CÔNG LÝ CỦA THIÊN CHÚA.

    Chính điều đó cũng là tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Quả thật, ai có được Ngài thì vô cùng diễm phúc, như Thánh Vịnh gia tâm sự: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.” (Tv 16:5) Tâm niệm như vậy nên Thánh Vịnh gia luôn ghi nhớ: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:8-11)

    Có Chúa là có tất cả, ngay trong lúc cứ tưởng là “dấu chấm hết” nhưng chỉ là “dấu chấm xuống dòng” để bắt đầu niềm hy vọng hướng tới cuộc sống mới. Điều này được minh chứng qua câu chuyện Tổ phụ Ápraham vâng lời Thiên Chúa mà hiến tế chính con trai độc nhất của ông. (x. St 22:1-18) Đức tin làm cho ông nên công chính.

    Quy trình sinh – tử đó vô cùng kỳ diệu, nhưng không dễ thực hiện. Sống để rồi chết, chết để rồi sống. Nhưng quy trình đó không là “vòng luân hồi” như người ta tưởng. Ai thực hiện được như vậy thì thật là phúc đức, và xứng đáng được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Tuy nhiên, lời hứa nào cũng có điều kiện: “Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống.” (Kh 2:10c)

    Chính Chúa Giêsu cũng đã trải qua “cuộc sinh – tử” để làm hy lễ cứu độ nhân loại. Hy lễ của Ngài tuyệt đối hữu hiệu, chỉ một lần là trọn vẹn vĩnh viễn. Thánh Phaolô cho biết: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà NHỮNG LỄ TẾ ĐÓ CHẲNG BAO GIỜ XÓA BỎ ĐƯỢC TỘI LỖI. Còn Đức Kitô, sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Người đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời. Và từ khi đó, Người chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân. Quả thật, NGƯỜI CHỈ DÂNG HIẾN LỄ MỘT LẦN MÀ VĨNH VIỄN LÀM CHO NHỮNG KẺ NGƯỜI ĐÃ THÁNH HÓA ĐƯỢC NÊN HOÀN HẢO.” (Dt 10:11-14) Và ông kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì không cần dâng lễ đền tội nữa.” (Dt 10:18)

    Trình thuật Tin Mừng có hai phần nhưng liên quan với nhau: [1] Con Người Quang Lâm (Mc 13:24-27 ≈ Mt 24:29-31; Lc 21:25-28) và [2] Dụ Ngôn Cây Vả (Mc 13:28-32 ≈ Mt 24:32-36; Lc 21:29-33)

    Không phải là tin đồn mà chính Chúa Giêsu cho biết rằng vào những ngày đó – tức là thời cuối cùng, thời cánh chung, có nhiều gian nan, và rồi MẶT TRỜ SẼ RA TỐI TĂM, MẶT TRĂNG KHÔNG CÒN CHIẾU SÁNG, CÁC NGÔI SAO TỪ TRỜI SA XUỐNG, VÀ CÁC QUYỀN LỰC TRÊN TRỜI BỊ LAY CHUYỂN. Lúc đó người ta sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Ngài sẽ sai các thiên sứ đi, và Ngài sẽ tập họp những kẻ được tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. Đó là những hình ảnh vừa đáng sợ vừa đáng mừng, tùy “cách nhìn” của mỗi người.

    Rồi Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế là cây vả để nói về cuộc sống của loài người. Ngài nói: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là CON NGƯỜI ĐÃ ĐẾN GẦN, ở ngay ngoài cửa rồi.” Nhớ rằng đừng tin ai, đừng nghe ai, chỉ tin lời Chúa Giêsu: “Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng NHỮNG LỜI THẦY NÓI SẼ CHẲNG QUA ĐÂU. Còn về ngày hay giờ đó thì KHÔNG AI BIẾT ĐƯỢC, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, CHỈ CÓ CHÚA CHA BIẾT MÀ THÔI.” Đó là điều chắc chắn. Chớ nhẹ dạ cả tin mà nghe lời đồn vớ vẩn của bất cứ ai. Khôn chết, dại chết, biết mới sống!

    Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng NGÀY CỦA CHÚA GẦN ĐẾN, anh em ĐỪNG VỘI ĐỂ CHO TINH THẦN DAO ĐỘNG, cũng đừng hoảng sợ. ĐỪNG ĐỂ AI LỪA DỐI ANH EM BẤT CỨ CÁCH NÀO.” (2 Tx 2:2-3) Ông nói đó là “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành.” (2 Tx 2:7)

    Thánh Phaolô cũng nhắc nhở về việc xuất hiện của tên bịp bợm: “Tên gian ác xuất hiện là do tác động của Satan, có kèm theo ĐỦ THỨ PHÉP MẦU, DẤU LẠ, ĐIỀM THIÊNG, và ĐỦ MỌI MƯU GIAN CHƯỚC DỐI, nhằm hại những kẻ phải hư mất, vì đã không đón nhận lòng yêu mến chân lý để được cứu độ.” (2 Tx 2:9-10) Như vậy, “tất cả những kẻ KHÔNG TIN SỰ THẬT nhưng ƯA THÍCH SỰ GIAN ÁC thì sẽ BỊ KẾT ÁN.” (2 Tx 2:12) Có lần chính Chúa Giêsu cũng đã quan ngại mà đặt vấn đề: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8) Một câu hỏi thực sự rất đáng quan ngại!

    Là tín nhân, mỗi chúng ta hãy tâm nguyện theo lời Chúa Giêsu dạy Thánh nữ Faustina: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!” Đừng hoang mang, chớ lo lắng, cố gắng tập trung vào Chúa và sống đức ái qua đức tin. Chuyện gì đến sẽ đến, sợ hay lo thì cũng chẳng thay đổi được gì. Chỉ có Chúa mới có thể biến đổi mọi sự.

    Lạy Thiên Chúa, Ngài là Đầu và là Cuối, xin giúp chúng con an tâm sống trọn kiếp người theo Thánh Ý Ngài, luôn vững lòng tin yêu, không dao động trong mọi hoàn cảnh, kiên trì đến phút cuối đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    KHÓC THAN

    Lm Vũđình Tường

    Lần đầu Đức Kitô xuống trần gian qua hình ảnh một em nhỏ sanh trong thầm lặng, nơi hoang địa, ở máng cỏ. Sứ Thần Thiên Chúa được sai đi làm công việc chuẩn bị ông Juse và bà Maria cho việc Con Thiên Chúa xuống trần.

    Lần thứ hai Đức Kitô xuống thế không âm thầm như lần trước. Ngài đến với thế giới như Chúa tể môn loài, muôn vật. Toàn thể vũ trụ trên trời, dưới đất, run rẩy, phủ phục trước tôn nhan Thiên Chúa. Mặt trời, mặt trăng mất hết ánh sáng huy hoàng. Các vì sao không luân chuyển theo qui luật như trước. Mây trời tụ lại làm bệ cho Thiên Chúa ngự trị. Đức Kitô xuống thế lần thứ hai hoàn tất hành trình mọi tạo vật Chúa dựng nên. Mọi tạo vật Chúa dựng nên sẽ trở về tình trạng nguyên thuỷ của chúng. Trình thuật Sáng Thế Kí ghi nhận, vũ trụ lúc khởi đầu hoàn toàn là một vùng tối, rối loạn, hỗn độn. Ngày Đức kitô xuống thế lần thứ hai, chúng trở về tình trạng hỗn mang nguyên thuỷ lúc ban đầu. Trời cũ, đất cũ qua đi; trời mới đất mới dành riêng cho những ai thuộc về Đức Kitô Phục Sinh.

    Mặt trời, mặt trăng mất ánh sáng, tinh tú lay chuyển, hỗn loạn xảy ra, chúng không tự huỷ diệt, nhưng không tránh khỏi diệt vong bởi Thiên Chúa không tiếp tục ban cho chúng sự sống. Nhân loại chứng kiến vũ trụ thay đổi trong lo lắng, sợ hãi. Đây là lần đầu và cũng là lần cuối. Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ, khi thấy những dấu hiệu khác thường trên trời, dưới đất chính là ngày tàn, vũ trụ sắp kết thúc. Ngoài Thiên Chúa ra, nhân loại không một ai biết được ngày giờ sự việc đó xảy đến. Bởi không biết khi nào nên cần sống trong tinh thần chuẩn bị, tinh thần sẵn sàng.

    Đức Kitô xuống thế lần thứ hai xác định một sự thật không thể chối bỏ. Thiên Chúa là Chúa tể toàn thể vũ trụ. Tất cả mọi sự được đổi mới trong Đức Kitô Phục Sinh. Việc đổi mới bắt đầu từ lúc Ngài sống lại từ cõi chết, nhưng trọn vẹn, hoàn tất, hoàn hảo, ngày Đức Kitô xuống thế lần thứ hai. Vì thế Giáo Hội tuyên xưng trời mới đất mới. Trời cũ, đất cũ qua đi, nhường bước cho trời mới đất mới trong Đức Kitô Phục Sinh. Trời mới đất mới là cuộc sống tràn đầy yêu thương, không còn nước mắt, đau thương, nhưng tràn đầy hạnh phúc, sự thật và công chính. Chúng ta gọi nơi đó là Thiên Đàng.

    Tình thương Đức Kitô ban cho Kitô hữu khi Ngài kêu gọi chuẩn bị, sẵn sàng. Không ai có thể đứng vững trước khủng hoảng đất trời. Mọi người đều lo sợ, khiếp đảm, kinh hồn, nhưng Kitô hữu lo âu trong hy vọng, bởi ân sủng Chúa ban cho tâm trí họ để họ đứng vững trong giờ phút cuối cùng. Ân sủng Chúa giúp họ nhớ lại lời Đức Kitô phán bảo
    ‘Thầy bảo thật anh em:… Trời đất sẽ qua đi, những lời Thầy nói chẳng qua đâu’ Mc 13,30

    Trong những ngày đó, Kitô hữu hãy nhắc nhở nhau điều Đức Kitô hứa,
    ‘Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’ Mt 28,20

    Những ai chọn sống theo í riêng mình, hãy nhìn vào dấu chỉ kinh khủng trên, nhận biết cái nhỏ bé, hạn hẹp của mình để thay đổi. Những ai từng tin vũ trụ này tự xảy ra, không có Đấng nào dựng nên chúng, hãy tỉnh thức, khiêm nhường chấp nhận bị chính sự khôn ngoan, trí óc, lừa gạt. Tỉnh dậy đi. Nếu cố chấp sẽ sống trong lo âu, sợ hãi muôn đời, vạn kiếp. Ngay tại thời buổi đó vẫn có kẻ cố tình, ngoan cố, lừa gạt chính mình và lừa gạt người khác. Đức Kitô nhắc Kitô hữu hãy cẩn trọng đừng để bị lừa gạt bởi tiên tri giả. Ngài nói,

    ‘Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: ‘Chính ta đây’, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người’ Mc 13:5-6

    Những ai cố tình từ chối tin vào lời Đức kitô sẽ muôn đời đau khổ. Kitô hữu xin ơn tin tưởng, phó thác đời mình cho Đức Kitô. Xin sức mạnh Lời Chúa luôn ngự trong tâm hồn và ban niềm tin, hy vọng được đón nhận vào trời mới, đất mới Đức Kitô hứa ban.

    Về mục lục

     

    TỬ ĐẠO THỜI CÔNG NGHỆ 4.0

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    ĐứcThánh Cha Phanxico đã từng nói: “Một Giáo hội không có các vị tử đạo là một Giáo hội không có Chúa Giêsu”. Đức Thánh Cha cũngmời gọi cầu nguyện “cho các vị tử đạo của chúng ta đang đau khổ rất nhiều,” “cho các Giáo hội không được tự do để diễn tả chính mình”: “họ chính là niềm hy vọng của chúng ta.” Ngài nhắc lại lời của giáophụ Tertullienxưa đã viết: “Máu của các vị tử đạo, là hạt giống của các Kitô hữu.” Thếnên, Đức thánh Cha cám ơn Chúa đã hiện diện với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các anh chị em đang chịubách hại bằng nhiều cách.

    Quả thực, ngày nay vẫn còn đó những cuộc bách hại bằng khủng bố đánh bom nhà thờ, và sát hại các linh mục tu sĩ, vẫn còn đó những cuộc cấm đoán biểu lộ niềm tin như giáo hội hầm trú Trung Quốc,haytại các nước đang phát triển mà Đức Thánh Cha đãnói: “Tôi không thể quên chứng tá của Linh mục và nữ tu ở nhà thờ chánh tòa Tirana: năm này qua năm khác ở trong tù, bị lao động khổ sai, hạ nhục,”, đối với họ nhân quyền không tồn tại.

    Ngày hôm nay còn có một hình thức bách hại mới mà Giáo hội Việt Nam cũng đang phải đối diện. Đó chính là sự bách hại bởi truyền thông xã hội. Chúng ta cũng thấy nhiều linh mục, Giám mục đã trở thành “các vị tử đạo” bởi truyền thông xã hội khi các ngài mạnh dạn lên tiếng nói cho sự thật và bảo vệ công lý.Cónhững linh mục giúp cho dân mình khởi kiện sự tàn phá môi trường của Fomasa liền bị quy chụp bởi nhiều tội danh chẳng liên quan đến việc đòi lại công lý. Có những giám mục chỉ nói lên tiếng nói của sự thật liền bị truyền thông cắt xén, bóp méo và tìm cách loại trừ. Có những Giám mục bảo vệ công lý thì bị quy chụp  là xem thường pháp luật, bị các thế lực thù địch xúi giục, bao che tội phạm… mà trong nhiều hệ thống báo chí, đài phát thanh và truyền hình đãtừng đăng tải. . .

    Cónhững linh mục còn bị những truyền thông giấu mặt mà người ta hay nói là đội quân DLV luôn chửi bẩn, nói bậy khi các linh mục này dám lên tiếng nói kêu gọi tôn trọng sự sống và phẩm giá con người. Đội quân DLV đa số là thành phần thất học, chỉ cần tiền nên không biết lý lẽ, phải trái . . . và sẵn sàng lao vào người ngay chính rủa xả và dừơng như họ luôn coi các lãnh đạo tôn giáo  như kẻ thù và là mục tiêu của thách thức chế diễu, lăng mạ . . .

    Thời nào cũng có những cuộc bách hại, nhưng Giáo hội lại càng cần những chứng nhân trong những cuộc bách hại như thế. Vì càng bị bách hại người tín hữu càng được tôi luyện mình nên tốt hơn, và là dịp thuận lợi để làm chứng cho niềm tin của mình.

    Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người ta sống ảo nhiều hơn sống thực. Thế giới ảo phải chăng chính  là môi trường cần thiết để chứng tá tin mừng được ghi dấu nơi ấy?  Thế giới ảo phải chăng là lời mời gọi cuộc cách mạng tin mừng hãy dùng chính thế giới ảo ấy lan truyền tin mừng của Chúa đến cho mọi người? Đây cũng là một thế giới công bằng và cộng đồng mạng là những người thực thi công lý. Bởi vì rất nhiều những án oan, nhưng bất công đã được cộng đồng mạng đồng tâm chia sẻ và đòi lại công bằng đã thành công.

    Tại sao người Công giáo chúng ta còn ngần ngại tuyên xưng niềm tin bằng việc loan tải những sứ điệp đầy yêu thương của Chúa đến cho mọi người? Tại sao chúng ta không tận dụng truyền thông để đẩy lùi sự dữ ra khỏi xã hội loài người? Phải chăng còn rất ít người dám tuyên xưng niềm tin? Phải chăng chúng ta đã cố tình bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tìm an toàn cho bản thân?

    Cha ông chúng ta dám đổ máu đào để bảo vệ đức tin và làm chứng cho tin mừng trong điều kiện đầy khó khăn và gian khổ. Máu của các ngài đã đổ ra để bảo vệ và truyền lại đức tin cho con cháu là chúng ta. Chắc chắn các thánh TĐVN cũng mong muốn con cháu mình phải tiếp tục bảo vệ đức tin trong thế giới hiện đại. Nhất là trong truyền thông giáo hội đang bị xuyên tạc và khủng bố, nên rất cần người tín hữu công khai bảo vệ niềm tin của mình. Như cuối năm 2017 người ta dựng nên một Đạo thánh Đức Chúa Trời với một phong trào rầm rộ cả nước Việt Nam, rõ ràng đây là một âm mưu nhằm xuyên tạc tín lý giáo hội Công giáo, và khủng bố niềm tin nơi giáo dân. Rồi người ta lăng mạ các linh mục tu sĩ trong hình dạng ma quái ghê sợ trong ngày halloween, người ta cho biểu diễn game showvới hình nữ tu ăn mặc hở hang . . .  Thế giới truyền thông cũng tiềm ẩn rất nhiều sự dữ nên cần người tín hữu phải mạnh dạn lên tiếng bênh vực công lý và đẩy lùi sự dữ cho dầu có chịu nhiều lăng nhục hay bách hại. . .

    Chắc chắn khi chúng ta dám làm chứng cho sự thật, dầu ở môi trường nào cũng là đối kháng lại với thế gian nên sẽ gặp những chống đối, quy chụp, bách hại, . . . Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình vì “phần thưởng chúng ta rất lớn trên quê trời, vì Chúa Giê-su đã từng nói :phàm ai tuyên “xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa”(Lc 12,8)

    Nguyện xin các thánh TĐVN giúp sức để chúng ta can đảm tiếp nối các tiền nhân dám làm chứng cho tin mừng, cho công lý và sự thật giữa thế giới văn mình nhưng thiếu tình yêu hôm nay. Amen

    Về mục lục

    .

    CHỨNG NHÂN

    Jorathe Nắng Tím  

        Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm chứng về một người nào là thuyết phục người nghe tin điều mình nói về sự việc ấy, về con người ấy là thật, là đúng. Và để thuyết phục người nghe, người làm chứng có khi phải lấy chính mạng sống mình để minh chứng, và bảo đảm điều mình nói. Các thánh Tử Đạo là những người làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, vì yêu con người đã xuống thế làm người thật, đã chết để cứu độ nhân loại, và đã sống lại để mọi người được sống. Các ngài còn làm chứng  Giáo Hội Đức Giêsu  lập ra là Đạo thật, Đạo yêu thương, con đường đưa toàn thể nhân loại  về yêu thương.

        Cũng chính vì làm chứng  Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài, mà các chứng nhân của Thiên Chúa gặp nhiều chống đối giữa anh em mình, bởi thế gian không đón nhận « Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và soi chiếu mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận » (Ga 1,9-11).

         Thế gian không nhận Đức Giêsu là  Ngôi Lời của Thiên Chúa,  chỉ vì thế gian « không nhận biết và chẳng chịu đón nhận ».  Lý do thật đơn giản và vô tình !

         Vì thế gian không nhận biết, mà chứng nhân phải làm chứng để thế gian nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ duy nhất; vì thế gian chẳng chịu đón nhận, mà chứng nhân phải thuyết phục bằng chứng cớ đời sống,  với chứng từ có giá trị để thế gian đón nhân Đức Giêsu là Đấng đã chuộc lại quyền làm con Thiên Chúa và  ban sự sống đời đời cho mọi người bằng sự chết và phục sinh của Ngài.

       Được sai đến với các dân tộc, ở mọi thời để  làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Thiên Chúa làm người, đã chết như con người và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, các chứng nhân nhận một sứ vụ thánh thiêng, nhưng không thiếu cam go, thử thách, đe dọa giữa lòng thế giới muôn hình vạn trạng. Đức Giêsu đã không giấu diếm các môn đệ sự thật nguy hiểm về thế gian, nơi các vị sẽ phải đến làm chứng về Ngài :

      «  Thầy sai anh em vào thế gian, như chiên đi giữa bầy sói” (Mt 10,16). “ Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).

         Không những chứng nhân bị thế gian ghét, vì  thuộc về Thiên Chúa, nhưng còn bị thế gian bách hại:

       « Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy “ (Lc 21,12-13).

        Tệ hơn thế nữa, các vị còn bị chính người nhà, bạn hữu, thân thuộc của mình truy lùng, ghét bỏ, ruồng rẫy : « Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con, và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét » (Lc 21,16-17).

        Qủa thật, con đường trước mặt của chứng nhận là con đường đầy chông gai, cạm bẫy và hứa hẹn tù đầy, đổ máu, mất mạng. Con đường chứng nhân phải đi làm chứng không đẹp như mơ, không huy hoàng, hoành tráng, không thênh thang như đường về làng ngày « vinh quy bái tổ ».

         Những đe dọa, hiểm nguy do lòng « ganh ghét vô cớ » của thế gian thì vô số kể (Ga 15,25). Vô cớ nghiã là chẳng có lý do gì, chẳng có nguyên nhân nào hợp lý . Vô cớ đến độ :  « Thế gian ghét Thầy, thì cũng ghét Cha Thầy » (Ga 15, 23), và tất nhiên « ghét cả anh em » (Ga 15,18), mặc dù thế gian đã thấy những việc tốt lành Thầy đã làm cho họ (x. Ga 15,24).

        Trước bao nhiêu gian truân, thử thách giăng mắc, đe dọa,  làm  sao các chứng nhân đã  có thể mạnh dạn lên đường và kiên cường làm chứng ?

       Thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã thay mặt các chứng nhân trả lời: « Vì Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi » (2Cr 5,14), và sở dĩ chúng tôi đứng vững là  « do quyền năng phi thường của Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi », nên « chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt », bởi «  chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi » (2Cr 4,7-10).

        Thực vậy, các chứng nhân của Đức Giêsu từ giáo đoàn đầu tiên Giêrusalem đến tận cùng thời gian được tình yêu Đức Kitô thúc bách đã lên đường làm chứng Tin Mừng với những căn dặn của Đức Giêsu như hành trang không thể thiếu giữa thế gian luôn thù ghét.

    1. Thầy để lại Bình An cho anh em, Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy, Bình An mà thế gian không ban được. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27).

         a. Bình An là dấu chỉ Thiên Chúa ở với người được sai đi:

    « Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em » (Ga 14,20).

    Chính Đức Giêsu đã bộc lộ ý muốn ở với người được sai đi  trong lời cầu  xin với Chúa Cha : Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con « (Ga 17,24).

         b. Bình An là sức mạnh của Chúa Thánh Thần liên lỉ hoạt động nơi người làm chứng:

    « Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và trong anh em “ (Ga 14,16-17).

    Có Chúa Thánh Thần, chứng nhân sẽ không  sợ hãi, hay lo nghĩ phải bào chữa, biện bạch thế nào trước mặt quan quân và những kẻ chống đối, nhưng Thánh Thần sẽ chỉ bảo phải nói gì, « khiến tất cả địch thù không tài nào chống chọi hay cãi lại được » (Mc 21,15).

         c. Bình An là bảo chứng quyền năng Thiên Chúa nơi người được sai đi làm chứng:

    « Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó cón làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con (Ga 14,12-13).

       Như thế, người làm chứng Đức Giêsu tiên vàn phải nhận  từ Đức Giêsu, Đấng sai họ, Bình An của Ngài. Không có Bình An của Đức Giêsu, không  chứng nhân nào có thể làm chứng chính xác, đầy đủ về Đức Giêsu ; không mang Bình An của Đấng đã chết và Sống Lại, người làm chứng sẽ không thể  làm chứng bằng « loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại », là sứ điệp Tin Mừng mà người được sai đi phải làm chứng.

        Bình An của Đức Giêsu, vì thế, sẽ không thể thiếu trong tâm hồn chứng nhân, bởi chỉ với Bình An của Đức Giêsu sống lại, chứng nhân mới có thể kiên cường đi đến cùng hành trình làm chứng của mình  giữa phong ba bão táp của thế gian.

    1. « Thầy truyền cho anh em điều răn của Thầy: « Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em » (Ga 15,12) :

         Nếu Bình An của Đức Giêsu là bửu bối không thể thiếu trên đường làm chứng, thì giới răn « Anh em hãy yêu thương nhau » là chià khóa để lời chứng của chứng nhân có giá trị và thuyết phục.

          Đức Giêsu hơn ai hết biết rõ nguy cơ và sức công phá kinh khủng của hận thù, ghen ghét, bạo lực. Cũng chính vì muốn tiêu diệt hận thù, bẻ tan ghen ghét, đẩy lui bạo lực trong thế giới, mà Ngài đã đến để ban Bình An, Yêu Thương, nên  sẽ không có lý do những người thuộc về Ngài lại không yêu thương nhau ; không có thể những chứng nhân làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hiến mạng sống vì yêu nhân loại đến cùng lại xa lạ với tình huynh đệ ; và sẽ hoàn toàn vô ích, nếu không nói là nguy hiểm, nếu người làm chứngTin Mừng là Lòng Thương Xót lại bôi nhọ, vu khống, hiềm khích, đấu đá, ăn thua đủ với nhau.

         Không chỉ Đức Giêsu hay những người thuộc về Giáo Hội, mà tất cả mọi người, bất kể họ là ai, đều « dị ứng », kinh ngạc, sợ hãi trước cảnh môn đệ cùng sư phụ ẩu đả, lên án, cắn xé nhau. Thực vậy, sẽ không còn chứng nhân, nếu không có đức ái ; không còn lời chứng, nếu ganh ghét, hận thù thống trị ; không còn người được sai đi, nếu đường đi không còn là đường lên núi Bát Phúc, nhưng sẽ chỉ còn lại những « người chứng nói dối », « lời chứng mâu thuẫn, phi lý, không thuyết phục », và danh xưng « người làm chứng  qủa cảm, hào hùng » bắt buộc phải đổi lại thành « người phản chứng lố bịch, dị hợm ».

         « Yêu thương nhau » không còn là đồ phụ tùng,  chuyện nhỏ, phụ thuộc, nhưng là chính yếu, dấu chỉ duy nhất của môn đệ Đức Giêsu,  của người được sai đi làm chứng, nên không yêu thương nhau,  căn cước tính của người làm chứng tự động biến mất trước mặt Thiên Chúa, và dưới mắt con người, bởi cả Thiên Chúa và con người đều không thể chấp nhận người chứng của Tình Yêu lại không biết yêu thương.

        Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông , chúng con không chỉ cảm phục các Đấng đã can đảm chấp nhận chịu đánh đòn, bá đao, voi dầy , chém đầu, thiêu sống, chết rũ tù, nhưng trên hết, chúng con ngưỡng mộ lòng yêu mến nơi các Đấng. Các Đấng đã yêu mến Thiên Chúa và được Tình Yêu Đức Kitô thúc bách, khi Bình An lên đường làm chứng, Bình An đổ máu làm chứng, Bình An dâng hiến mạng sống làm chứng. Với Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các Đấng đã không than thở, trách móc, hận thù  vua quan, dân tộc, đồng bào đã làm khổ, bách hại, giết chết mình, nhưng luôn Bình An tha thứ, Bình An hoà giải, Bình An  cầu xin ơn phúc cho quê hương, dân tộc, vì các Đấng  luôn ở trong Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối và nguồn Bình An viên mãn. Bên cạnh đó là đời sống bác ái, huynh đệ, phục vụ của các Đấng  đã đánh động, cảm hóa anh em đồng bào, để Danh Đức Giêsu ngày càng được vinh hiển trên quê hương, và trong lòng người dân Việt.

        Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông cũng là dịp chúng con ý thức ơn gọi và sứ vụ làm chứng  của mình, để luôn biết rằng hành trình làm chứng « Đức Giêsu chịu đóng đinh » luôn là đường Thánh Giá, và bất kể ở thời nào, người làm chứng vẫn được mời gọi vác Thánh Giá và chết với Đức Giêsu cho anh em mình.

        Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con các Thánh Tử Đạo là cha ông anh dũng  trong huyết thống và Đức Tin.  Cúi xin các Thánh ban cho chúng con biết đón nhận Bình An của Đức Giêsu và sống điều răn « Yêu Thương nhau » trên hành trình Làm Chứng, như các thánh Cha Ông Tử Đạo  đã  làm chứng bằng chính  đời sống  và mạng sống  mình.

    Về mục lục

    .

    CUỘC BÁCH HẠI ĐẠO HÔM NAY

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Việc bách hại đạo không phải chỉ là việc của ngày xưa nhưng thời nào thì những người con Chúa cũng bị thôi thúc, bị lôi kéo, bị ép buộc bỏ đạo.

    Hôm xưa, các thánh tử đạo tại Việt Nam đã bị vua quan bắt bớ, xiềng xích, tống giam vào tù ngục… buộc phải bỏ đạo. Dầu vậy, các ngài vẫn kiên trung, anh dũng chấp nhận tù đày, chết chóc chứ không bỏ đạo, không bỏ Chúa.

    Chúng ta hôm nay cũng bị những quyền lực mạnh mẽ thúc đẩy từ bên trong, xô đẩy chúng ta chối bỏ Đạo yêu thương.

    Trước hết, cần nhớ rằng Đạo Chúa là Đạo yêu thương.

    Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa.

    Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là điều luật quan trọng nhất, là quy luật trung tâm của mọi lề luật, như Thánh Phao-lô dạy: “Ai yêu thương là chu toàn mọi điều luật dạy” (Rô-ma 13,9-10).

    Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì mục tiêu hàng đầu của Đạo Chúa là xây dựng thế giới này trở thành thế giới yêu thương, huynh đệ, mọi người yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà.

    Và hơn hết, Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì chỉ có ai có lòng yêu thương mới là con cái Chúa, là môn đệ Chúa; Ai không yêu thương thì tự loại trừ mình ra khỏi hàng ngũ những người môn đệ Chúa, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu thương nhau” (Gioan 13,35).

    Như chúng ta vừa đề cập trên đây, hiện nay có nhiều quyền lực hết sức mãnh liệt lôi cuốn, xô đẩy chúng ta từ bỏ Đạo yêu thương. Vậy đó là những quyền lực nào?

    Đó là những sức mạnh nằm ngay trong lòng ta, thống trị tâm hồn và cuộc sống của ta, hằng thôi thúc ta bỏ Đạo yêu thương: Chủ yếu là lòng tham, lòng giận ghét, hạn thù, ích kỷ, vô cảm vô tâm…

    1. Lòng tham: Lòng tham đang thống trị tâm hồn rất nhiều người. Lòng tham xui khiến người ta làm nhiều điều gian ác, bất công, làm thiệt hại cho bao người để thu lợi về cho mình.

    Một trường hợp cụ thể đang xảy ra và rất nóng bỏng, đó là việc nhiều người sản xuất các loại thực phẩm độc hại, những loại thực phẩm bẩn, có nhiều độc tố tiềm ẩn, gây hại cho đồng bào mình, cho dân tộc mình… gây ra bệnh hoạn cho vô số người, để cho người ta chết dần chết mòn vì bệnh tật, nhất là bệnh ung thư… miễn sao mình thu lợi thật nhiều cho bản thân là được, còn ai chết mặc ai.

    Ai giết người bằng những cách thế như vậy là trắng trợn từ bỏ Đạo yêu thương.

    1. Lòng giận ghét, oán thù: Lòng giận ghét sôi sục trong lòng ta, xui khiến ta chửi mắng, đánh đập, gây ra nhiều buồn khổ, đau thương cho người khác…

    Khi ta để cho lòng giận ghét oán thù xui khiến mình xúc phạm người khác, chà đạp danh dự, nhân phẩm của người khác… là ta chối bỏ Đạo yêu thương.

    1. Lòng ích kỷ: Ích kỷ có cội rễ sâu xa trong lòng người. Nó thống trị người ta, xui khiến người ta chỉ nghĩ đến mình, đến gia đình con cái mình thôi; ai đói mặc ai, ai rét mặc ai, ai đau bệnh khốn khổ mặc ai…

    Khi ta không thương xót, không cứu giúp người hoạn nạn, đau khổ… là ta đã từ bỏ điều cốt lõi của Đạo yêu thương…

    Ngoài ra, còn rất nhiều quyền lực khác, tuy vô hình, nhưng có sức mạnh lớn lao, đã hoặc đang xâm chiếm tâm hồn ta, làm chủ cuộc sống ta, luôn tìm cách lôi kéo, xô đẩy ta ra khỏi Đạo yêu thương của Chúa.

    Đây là những cơn bách hại lâu dài và sẽ còn tiếp tục kéo dài suốt cả cuộc đời, nếu ta không chiến đấu chống lại chúng, chúng ta phải thua trận và trở thành người bỏ Đạo lúc nào không hay biết.

    Hậu quả tai hại mà người bỏ Đạo yêu thương phải gánh lấy, là đến ngày phán xét, người ấy sẽ bị Chúa Giê-su lên án: “Hỡi quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì ngươi không có lòng yêu thương (Mt 25, 34. 41).

    Lạy các thánh tử đạo Việt Nam,

    Các ngài thà chết chứ không thà dẫm đạp lên Thập tự giá và không chối bỏ đạo Chúa, thì xin cầu bầu cho chúng con hôm nay, can đảm chấp nhận thua thiệt và đau khổ chứ không vì tham lam, ghen ghét, oán thù, ích kỷ… mà chà đạp lên tình người, lên danh dự, nhân phẩm của người khác, vì làm như thế là chúng con đã chối bỏ Đạo yêu thương và phải mang lấy án phạt đời đời.

    Về mục lục

    .

    CHỌN ĐẤNG CHỊU ĐÓNG ĐINH

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Năm 1837, vua Minh Mạng triệu tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh về kinh và trao cho 40 cây Thánh Giá, rồi ra lệnh phải áp dụng gắt gao chiếu chỉ cấm đạo. Từ đó, tổng đốc Khanh trở thành “Hùm xám Nam định”.

    40 cây Thánh Giá trở thành dụng cụ để thử thách niềm tin của người tín hữu. Người có đạo khi bị bắt, buộc phải “quá khoá” phải bước qua Thánh Giá. Nếu bước qua sẽ được sống, được trả lại tất cả những gì đã mất, và còn được tặng thêm phú qúi vinh hoa. Không bước qua phải bị tù đày, gông cùm đòn vọt và mất cả mạng sống.

    Thánh Giá chính là cột mốc để phân định giữa sống và chết, giữa Thiên Chúa và thế gian. Khi đối diện với Đấng Chịu Đóng Đinh, người tín hữu luôn phải thực hiện một sự chọn lựa có tính quyết định.Chỉ cần một bước chân thôi là mọi sự thay đổi. Đã có người bước qua, và cũng có người không.

    Có người bị khiêng qua thánh giá nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa.

    Đứng trước thập giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng.Giây phút đứng trước thập giá là giây phút quan trọng.Quyết định không bước qua thập giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất…

    Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa dứt khoát : theo Đức Kitô hay theo vua quan? Theo Đức Kitô là vác thập giá, sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các Ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Kitô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các Ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu tử đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Các Ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết : “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” (Mt 10,32). (x.Thiên Hùng Sử trang 4).

    Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong đó, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các đợt bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh.Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp 400 ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức.Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người Công Giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo…Như thế, con số Tử Đạo phải tính lên đến 300 ngàn người trong vòng 300 năm. Nếu tính theo tỷ lệ, 100 năm thì có 100 ngàn Vị Tử Đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo!

    Thánh Giá luôn là điểm hẹn tình yêu,là nơi gặp gỡ của những người sống cho tình yêu và chết cho tình yêu. Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng Chịu Đóng Đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui. Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá.

    Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn. Ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống. Ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời. Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, bởi lẽ “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

    Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá. Đây là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí. Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ. Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ.

    Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

    Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.

    Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh Giá, Thánh Thể không có ý nghĩa. Không có Thánh Thể, Thánh Giá chỉ là thất bại.Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.

    Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhờ sức mạnh của Thánh Thể nên đã chọn Thánh Giá cách tuyệt đối và quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Là con cháu của các Ngài, xin cho chúng con luôn khôn ngoan trong những chọn lựa của đời sống hàng ngày. Amen.

    Về mục lục

    .

    HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG VÌ ĐỨC TIN

    Lm. Phêrô Lê văn Chính

              Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngàI có 96 vị người Việt nam và 21 vị thừa sai Nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất. Con số 117 vị tử đạo chỉ là con số nhỏ của hơn 100 000 vị tử đạo tại Việt nam trong gần 300 năm dưới thời những vua quan Triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19. Thực không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Trong số các vị tử đạo, chúng ta phải kể đến những giám mục, linh mục, tu sĩ nước ngoài và cả các vị Việt nam, ngoài ra còn phải kể đến số đông những người giáo dân thuộc đủ mọi thành phần, từ những người như trùm họ, chánh trương cho đến những giáo dân, những người trong hàng ngủ quan triều đình hay binh lính.

              Những tâm tình của các thánh tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người biết coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khóat thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644, với sự chứng kiến của cha Đắc Lộ. Cái chết của thầy Anrê là một cái chết can đảm, thầy bị lính dùng đòng đâm ba nhát thấu ngực, nhưng vẫn chưa chết. Sau đó lính dùng mã tấu chém vào cổ đến hai nhát, đầu mới lìa khỏi cổ. Cha Đắc Lộ, dòng tên đã gói chiếc đầu của thầy giữ lại cẩn thận, và liệm xác thầy để gửi về Macau cất giữ như một báu vật của vị thánh tử đạo. Phần 117 vị thánh tử đạo, bắt đầu là hai vị tử đạo đầu tiên vào năm 1745 tại Thăng Long miền Bắc, đó là hai cha thừa sai dòng Đaminh là các cha Phanxicô Tế và Matthêu Dậu. Vị tử đạo cuối cùng là thánh Phêrô Đa, một giáo dân làm nghề thợ mộc, chịu tử đạo ở Qua Linh. miền Bắc năm 1862. Vào năm 1862, cuộc bách hại bùng lên ở miền Nam, hai nơi bị bách hại dữ dội là Biên Hòa và Bà Rịa với số người bị thiêu sống lên tới 846 vị.

              Các vị tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái  chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn. Thánh Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”. Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như thánh Micae Hồ đình Hy, hơn ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, nhưng ngài đã không vì chút danh lợi trần gian mà chối bỏ đức tin, quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết. Trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn một lòng khẳng khái cương trực, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí bổng lộc của triều đình vì muốn trung thành và nên giống Chúa Kitô: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”

              Có những vị rất trẻ tuổi như chủng sinh Tôma Thiện, tuy trẻ tuổi nhưng đã bắt đầu cảm nếm niềm vui của phúc tử đạo, và đã có những chọn lựa rất can đảm và sáng suốt. Quan lớn, vì thấy thầy còn quá trẻ và khôi ngô tuấn tú, nên đã đưa ra những lời dụ dỗ và hứa hẹn nhiều phần thưởng thế gian, nhưng Tôma Thiện vẫn cương quyết một lòng, không chút sờn lòng trước những cám dỗ đường mật, thầy thẳng thắn trả lời với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo… Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế”. Có những vị linh mục truyền giáo cũng rất trẻ tuổi, vừa mới được bề trên sai đến và đặt chân đến nước Việt nam xa lạ thì bị bắt như cha thánh Theôphan Vena. Khi bị bắt và xét xử, quan chỉ xin ngài bước qua thập giá thì được tha bổng. Nhưng bước qua thập giá dù là một hành vi rất nhẹ nhàng để được bảo vệ mạng sống thì ngài đã cương quyết từ chối tất cả mọi mưu mô khôn khéo của vua quan. Thánh Thêôphan Vena đã cương quyết trả lời: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Có những trường hợp lương tâm tế nhị và nan giải khi vua quan kết tội các ngài là theo Tây và phản bội lại tổ quốc, nhưng các ngài đã chân thành giải thích biện phân cách mạch lạc cho mọi người biết các ngài không hề phản bội tổ quốc, cũng như không hề phản bội lại vua gì cả mà các ngài luôn nhìn thấy sự thẳng thắn trong lòng tin trung kiên của mình. Các ngài vẫn một lòng trung thành với tổ quốc khi các ngài yêu mến phụng sự Thiên Chúa là Cha cao cả trên trời. Không hề bao giờ có thể vì trung thành với trung phụ là vua trần thế mà phản bội lại với Thượng phụ là Cha trên trời: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”. Ngay cả có những vị là lính của triều đình như thánh Trần văn Trung, ngài phân biệt rất rõ bổn phận vâng phục triều đình trong những điều đúng đắn như chiến đấu chống quân thù và bổn phận vâng phục tuyệt đối với Thiên Chúa mà ngài hằng yêu mến : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.

              Mừng lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam chúng ta tự hào là con cháu các vị tử đạo. Chúng ta vui vì các bậc tổ tiên của mình đã sống thực là xứng đáng và đã kéo nhiều ơn lành của Thiên Chúa cho các con cháu. Thiên Chúa chúc phúc cho các con cháu là chúng ta vì biết bao công đức của tổ tiên ông bà chúng ta là các vị thánh tử đạo trung kiên bất khuất. Ngay cả dù không chết ở pháp trường, các ngài cũng đã sống một đời sống xứng đáng theo những mối phúc của Tin mừng. Ngày nay chúng ta không phải đối diện với cái chết tử đạo, nhưng  là con cháu các vị tử đạo, chúng ta muốn tiếp bước và được mời gọi tiếp bước các bậc tổ tiên ông bà của chúng ta trong đời sống chọn lựa trung tín với Thiên Chúa của mình. Việc tử đạo của chúng ta ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.

    Về mục lục

    .

    TIN THEO GIÊSU

    Lm. Jos. DĐH.

    Cuộc sống cho ta thấy một sự thật: nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ ; muốn chia sẻ tình yêu thương cho gia đình, người thân, còn thấy khó, mở cửa lòng mình ra với anh chị em xa lạ, bao giờ chẳng là điều phức tạp hơn ? Dù người ta mạnh miệng xó bếp hay nhút nhát nơi công đường, chưa ai xếp đối tượng như thế là anh hùng. Dù đi gần hay đi xa, ai cũng phải cất bước mới tới đích, muốn gặt may mắn, nhất định phải gieo duyên lành. Tính bất ngờ khó hiểu, hàng ngày vẫn đang cho ta thấy sự phong phú đáng nể: có những thứ tình cảm được gọi là tình yêu, có những thứ nước được gọi là rượu mạnh. Hoàn cảnh xã hội xưa kia và hôm nay tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều được tự do chọn lựa bước trên con đường dẫn tới hạnh phúc.

    Sống nghề “ruộng nương”, mọi người đều hiểu quy luật: “hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối đi mới sinh bông hạt”. Tất cả những ai là kitô hữu, đều được mời gọi sống niềm tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Tiền nhân chúng ta trải qua cuộc bách hại đức tin dài hơn ba thế kỷ, các ngài dâng mạng sống mình, kết hiệp với tình yêu Giêsu như hạt giống thối đi, chết đi, luôn thao thức được trổ sinh hương hoa cho thế hệ con cháu. Đồng ý rằng, đường đời thênh thang, lối ngang lối rẽ không phải là ít, nhưng đường đưa tới sự sống thật, hạnh phúc thật, nhất định phải ở trong tình yêu Giêsu, ở nơi Ngài mới có nở hoa kết trái.

    Nước mắt chảy xuôi, hay máu chảy về tim, đó là quy luật muôn đời, còn tình yêu lại không có quy tắc ngược xuôi, cha ông chúng ta đã làm sống động truyền thống tin yêu nơi Đức Giêsu, tưới máu đào trên khắp quê hương. Tin theo Giêsu không chỉ có vì dấu thánh giá, đọc kinh nhiều lần trong ngày, cũng không phải là đi hàng ngang hàng dọc cho thiên hạ thấy hình thập giá, hoặc liều mình liều mạng hầu được gọi là gan dạ lì đòn. Tin theo Đức Giêsu là tin giáo huấn của Ngài là sự thật, và bằng tình yêu, tự do, mỗi người ý thức sống ơn gọi của mình: “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng ở đó”. Theo Đức Giêsu vì yêu, vì tin, là khi chúng ta cảm nhận được sức mạnh Thiên Chúa đang ở trong con người giới hạn của mình, và sống đức tin chính là chúng ta sẽ được biến đổi nên giống Chúa.

    Với lối diễn tả về tình yêu đôi lứa rất chân thật: chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha anh hiền. Chẳng tham nhà ngói xinh xinh, tham vì một nỗi anh xinh miệng cười. Các đấng bậc muốn nói đến sự khôn ngoan cần thiết nơi con người hệ tại ở tâm tính, ở nét đẹp sâu thẳm trong cõi lòng. Bằng một phong cách sống tin yêu, tiền nhân chúng ta theo Đức Giêsu không phải hướng tới bổng lộc, hay được vinh quang ở đời này, nhưng là được sống mãi trong yêu thương, hạnh phúc trước ơn gọi nên giống Chúa vẹn toàn. Tin theo Đức Giêsu để xác tín hơn: dù máu chảy đầu rơi, cũng không làm ta sờn lòng nản chí, dù tài cao trí rộng hơn người, ta cũng vui vẻ khiêm tốn sống hài hoà với mọi người.

    Sống niềm tin kitô giáo hôm nay không còn giới hạn bởi “ngăn sông cấm chợ”, ấy vậy mà nỗi ưu tư giáo dục con cái của bậc làm cha mẹ không phải là đã bình tâm. Xã hội không ban tặng danh hiệu anh hùng liệt sĩ cho tất cả những ai tài giỏi đức độ, bao lâu chưa xác minh được tính chất cao đẹp mà họ đã dũng cảm hy sinh. Giáo hội không “phong thánh” cho tất cả những ai hàng ngày có mặt ở nhà thờ, để lại nhiều tài sản vật chất tiền của, nếu chưa thấy được tính chuẩn mực mà con đường tin theo Chúa của họ là gì ! “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời”. Sống chết vì yêu, khác với sống chết vì buồn chán thất vọng, sống chết vì đức tin kitô giáo, khác với sống chết vì phạm pháp mà xã hội xử tử.

    Đường đời dài rộng, cơ hội gặt hái hạnh phúc, ai cũng giống nhau, có hay không, được hay mất, tuỳ tự do mỗi người đã sống và đang sống như thế nào ? Những người khoẻ mạnh, sống thọ, chưa chắc là do họ thông thái, hay lắm mưu nhiều kế. Người nghèo khổ, không có tiếng nói trong xã hội, chết yểu, cũng chẳng phải do họ ngu ngốc hay lạc hướng lạc đường. Điều quan trọng là mỗi chúng ta có thấy tình yêu, bình an, khi đi tới điểm đích của sống chết hay không ? Cha ông chúng ta cũng không phải là mình đồng da sắt, các ngài chết vì già bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chết vì tình yêu Đức Kitô, cũng là một nhắc nhớ mỗi người đã tin theo Đức Giêsu như thế nào ? May mắn khi chúng ta có cha mẹ tài đức, các ngài sẽ dạy cho con cháu biết thưa chuyện với Chúa, biết nói về Chúa cho anh chị em. Hạnh phúc biết bao khi tin theo Đức Giêsu, chúng ta sẽ rõ hơn Ngài là Vị Thầy chuẩn mực, biết minh hoạ, truyền cảm hứng cho ta sống thánh ý của Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu. Amen.

    Về mục lục

    .

    NGÀY ẤY

    Anna Cỏ May

    Thời gian cứ thấm thoát trôi đi. Cuộc sống của mỗi người cũng dần thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, những đám ruộng được cày bởi những con trâu, con bò. Ngày nay, thay vì những con trâu, con bò là những chiếc máy cày chạy nhanh, giúp mọi người đỡ vất vả hơn. Thời trước, trẻ em đâu biết điện thoại, laptop là gì? Ngày nay, trẻ em có thể qua chiếc điên thoại thông minh biết được cả thế giới. Cuộc sống con người được nâng cao và mọi thứ có thể đạt được trong tầm tay. Thế nhưng, thời đại lỹ thuật số là thời đại có giới hạn, không có cái gì là bền vững. Tất cả đều hư vô. Chỉ duy nhất một điều không bao giờ thay đổi là lời yêu thương của Chúa Giê-su.

    Những ai sống lời yêu thương của Chúa thì đến ngày sau hết sẽ được thoát khỏi việc xét xử (x.Gc 2,13). Ngày sau hết không ai biết trước được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (x.Mc 13,32). Vậy, dấu hiệu nào để nhận ra ngày ấy?

    Trong Tin Mừng Mác cô, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ về ngày quang lâm của Ngài rằng: “Trong những ngày ấy, sau cơn gian nan lớn lao, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng. Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển” (Mc 13,24-25). Ngày ấy, tất cả mọi thứ trên trái đất không hiện hữu nữa. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ xuất hiện đầy quyền năng, vinh quang ngự trong đám mây mà đến xét xử kẻ lành người dữ (x.Mc 13,26). Lúc ấy, những lời Thiên Chúa nói tới là sự yêu thương và bác ái của con người với nhau mà thôi. Thế ai sẽ là người tốt lành, là người sẽ hưởng hạnh phúc trên Nước Trời? Thật không ai biết rõ ai đáng được hạnh phúc trên Nước Trời ngoại trừ chính Thiên Chúa và bản thân mỗi người. Cuộc sống trần gian là thời gian, là cơ hội cho mỗi người mua lấy hạnh phúc Nước Trời. Trong các vị Tử Đạo, có những người mang thân phận là thị vệ, là Giáo dân, là quân lính,…nhưng vẫn trung thành với Chúa trong tất cả mọi nghịch cảnh, dù là gông cùm, bá đao, xử giảo,… các vị đã từ giã gia đình và động viên những người thân hãy vững tin vào Chúa luôn. Đi tới đâu, ở đâu, lúc nào, các vị đều đem niềm tin đến cho mọi người. Nhất là những giây phút đứng trước bản án, các vị vẫn luôn xác tín niềm tin vào Chúa. Thánh Phaolô Tống Viết Bường là thị vệ đã nói với quan lớn rằng: “Quan lớn có lòng thương thì tôi đội ơn quan lớn nhưng xin quan lớn để tôi được giữ trọn chữ trung với Đức Chúa Trời là Thiên Chúa tôi thờ”.

    Ngày nay, tuy không có cuộc bách đạo hiên ngang, nhưng có những cuộc chiến âm thầm làm cho niềm tin của mọi người nơi Thiên Chúa bị lung lay. Mọi người dễ rời vào niềm tin ở sức mình hơn mà thiếu niềm tin vào Thiên Chúa quyền năng. Từ đó, mọi người bị lôi cuốn vào cuộc sống tinh thần thế gian. Cuộc sống theo tinh thần thế gian là cuộc sống vị kỷ, hưởng thụ, mặc kệ người khác, không còn biết ai ngoài chính mình,… Ngoài ra, mỗi người dễ có suy nghĩ rằng tự do là một cuộc sống không có bó buộc dưới một quyền bính của ai. Và từ đó khiến cho mọi người sống cuộc sống dễ dãi, chìm ngập trong bóng tối mà không biết lối thoát ra để rồi phải chịu xét xử trước mặt Thiên Chúa trong ngày Chúa quang lâm. Còn Thiên Chúa, Ngài đâu có đòi hỏi mỗi người điều gì khác ngoài việc kính sợ Đức Chúa, đi theo đường lối của Ngài, yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa hết lòng hết dạ (x.Đnl 10,12) và yêu người thân cận như chính mình.

    Lạy Chúa, như lời Ngài đã nói: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”. Xin cho mỗi người chúng con biết phân định cuộc sống đích thực bền vững khi và chỉ khi thực hiện điều Chúa dạy. Xin cho chúng con luôn chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để khi Chúa đến hân hoan bước theo Chúa về hưởng phúc cùng với các Thánh trên Nước Trời. Amen.

    Về mục lục

    .

    THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

    Bông hồng nhỏ

    Cuộc sống con người cần những tương quan. Ai cũng thuộc về một nơi nào đó, và ở đấy họ tìm thấy vị trí của mình, tìm thấy hạnh phúc cho cuộc đời. Niềm hạnh phúc nhất của con người là khi họ biết mình được thuộc trọn về Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương.

    Thầy Giê-su đã nói về cuộc tuyển chọn đặc biệt trong ngày Con Người quang lâm. Khi những điềm lạ xảy ra: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển, bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (x.Mc 13,24-26). Ai sẽ được Người tuyển chọn? Thầy Giê-su đã từng tuyển chọn các môn đệ, đặc biệt là Thầy tuyển chọn các Tông đồ không theo tiêu chuẩn của người đời nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa, để các ông trở thành những trợ tá đắc lực, trở thành những chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Nhưng trong ngày Con Người quang lâm, Thiên Chúa sẽ tuyển chọn những ai đã can đảm sống và làm chứng cho Chúa. Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa vẫn cho mưa xuống trên cả người công chính lẫn người bất chính và Ngài kiên nhẫn chờ đợi họ đón nhận lòng thương xót của Ngài. Đón nhận tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc ta sẵn sàng yêu thương người thân cận (x.Lc 10,29-37). Nếu ta thật sự yêu Chúa, gắn bó với Chúa và đặt trọn niềm hy vọng nơi Chúa thì chính Chúa sẽ dẫn đưa ta vào chung hưởng hạnh phúc với Chúa ở đời sau, mà ngay ở đời này ta đã có sự an bình trong tâm hồn. Như đứa con thơ chạy đến bên cha hiền và níu chặt lấy tay cha, cha sẽ dắt nó đi và khi nó mệt mỏi, cha sẽ bế nó trên tay hay cõng nó trên lưng, Thiên Chúa cũng yêu ta rất cụ thể như thế. Bởi vì đứa con biết nó là con yêu của cha và nó thuộc về cha. Ở bên cha, đứa con chẳng phải sợ gì. Thiên Chúa còn hơn thế nữa. Ngài đã cứu chuộc ta bằng chính giá máu châu báu của Con yêu dấu và chẳng muốn một ai phải hư mất (x.Ga 17,120. Ta được sinh ra là để thuộc về Thiên Chúa, được ở trong Thiên Chúa, được nên một như lời cầu nguyện của Thầy Giê-su: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (x.Ga 17,20-21). Như vậy, ta không chỉ được cứu độ một mình nhưng cùng với anh chị em mình. Nghĩa là ơn gọi nên thánh vừa dành riêng cho mỗi người và mỗi người lại giúp nhau nên thánh bằng lời cầu nguyện và gương sáng.

    Lạy Chúa! Cảm tạ Chúa đã cho con biết con được Chúa yêu. Chúa lại ban cho con những tấm gương sáng ngời là các Thánh Tử Đạo, đặc biệt là các Thánh Tử Đạo Việt Nam để nhờ lời chuyển cầu và gương sáng của các ngài, con vững lòng trông cậy Chúa. Xin cho con nhớ rằng “mọi sự sẽ qua đi nhưng Thiên Chúa còn mãi” như lời Thánh Têrêsa Avila đã nhắn nhủ. Chính Chúa cũng hằng dạy dỗ con, nuôi dưỡng con luôn. Xin cho Đức tin của con nên hành động cụ thể để cho Danh Chúa được cả sáng. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA

    Lm. Inhaxiô Hồ Thông

    Kn 3: 1-9

    “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa tôi luyện như vàng trong lò lửa và “thấy họ xứng đáng với Ngài”. Họ là những người làm chứng cho lòng tin ở Chúa. Lòng tin ấy sẽ “rực sáng như tia lửa bén nhanh giữa rừng sậy”.

    1Cr 1: 17-25

    Giáo Hội Việt Nam hôm nay hân hoan mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong hàng ngũ các ngài, ngoài các vị là giám mục, linh mục, đa số là giáo dân. Các ngài không phải là những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng các ngài là những chứng nhân cho “Đức Ki-tô bị đóng đinh vào Thập Giá”. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn các ngài, những người mà thế gian coi như điên rồ, được hưởng phúc trên Nước Trời.

    Mt 10: 17-22

    Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã lần lượt bị điệu đến quan quyền để làm chứng cho đức tin. Đa số các ngài là những dân quê hiền lành chất phát, nhưng ơn Chúa đã giúp các ngài đối diện với vua quan, đã dạy các ngài phải nói gì, và cuối cùng các ngài đã bền vững trong lòng tin vào Chúa, nên gương sáng cho cháu con hôm nay. Quả thật, như lời của thánh Âu-gút-tin: “Trên mảnh đất đã gieo nhiều hạt giống đẫm máu, mảnh đất đó càng phát sinh nhiều vị tử đạo, và rồi hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng của Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng là chứng nhân cho Chúa Ki-tô hơn là lúc còn bình sinh. Ngày nay các ngài vẫn còn đang nói, vẫn còn đang giảng thuyết. Miệng lưỡi tuy im bặt, nhưng bao nhiêu sự việc còn vang dội sâu xa”.

    BÀI ĐỌC I (Kn 3: 1-9)

    Những khẳng định của sách Khôn Ngoan đánh dấu một khúc quanh quan trọng về cuộc sống mai sau của con người. Chúng kết thúc thời gian dài các nhà tư tưởng Do thái do dự về số phận của những người công chính ở bên kia nấm mồ. Vấn đề thưởng phạt thường được nêu lên suốt nhiều thế kỷ mà không có giải pháp thỏa đáng nào.

    1. Quan niệm Cựu Ước về sự sống lại

    Trong lịch sử dài này, tư tưởng chiếm ưu thế đó là “nhân quả”: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặp bảo” ngay trong cuộc đời tại thế. Người công chính vui hưởng những hoa quả công đức của mình như phúc, lộc, thọ, trong khi bọn ác nhân không sớm thì muộn sẽ phải đón nhận những tai ương hoạn nạn: lưới trời lồng lộng, không ai có thể thoát được. Quan niệm về thưởng phạt ngay từ cõi đờinàyphát xuất từ một niềm tin quá bi quan và yếm thế về cuộc sống mai hậu. Tất cả mọi người, dù thiện hay ác, khi từ giã cõi đời này đều cùng chung một số phận, bị giam cầm trong cõi Âm Ty, ở đó không còn gì ngoài bóng tối âm u.

    Nhưng kinh nghiệm thường ngày: “những đều trong thấy mà đau đớn lòng”, cực lực phản bác viễn cảnh thưởng phạt ngay từ cuộc đời trần thế này. Sách Gióp (khoảng thế kỷ thứ 6-5 Tcn) xao xuyến nêu lên vấn đề “họa vô đơn chí” giáng xuống trên người công chính. Quả thật, các ngôn sứ đã tuyên xưng rằng số phận của người công chính khác với bọn ác nhân ở bên kia nấm mồ. Các thánh vịnh gia công bố rằng người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc vinh hiển trước Nhan Thiên Chúa muôn đời (Tv 16, 17, 49, 73).

    Tiếp đó, niềm tin vào kẻ chết sống lại vào ngày chung thẩm xuất hiện. Vào thời vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại dân Do thái thật khủng khiếp, những người tử đạo chết trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một cuộc sống mai hậu (2Mcb 7: 1-38).

    Tác giả sách Khôn Ngoan còn đi xa hơn nữa. Ông thấy niềm tin của người Hy lạp vào sự bất tử của linh hồn như một sự củng cố cho niềm hy vọng vào sự sống lại mai hậu của dân Do thái, dù vẫn còn tiềm tàng hay rụt rè. Nhưng ông cũng nhận ra rằng tư tường Hy lạp này không hoàn toàn tương xứng với tư tưởng Kinh Thánh. Quả thật, người Hy lạp đề cao linh hồn đến mức xem thường thân xác được ví như một thứ hình hài tạm bợ, đáng khinh bĩ, mãi mãi sẽ bị vứt bỏ sau khi chết.

    1. Quan niệm sai lầm về con người

    Trong đoạn văn trước đó (ch. 2), tác giả sách Khôn Ngoan đã phản bác quan niệm duy vật sai lầm về con người: sinh ra là một sự ngẫu nhiên, sống chỉ là cho qua ngày đoạn tháng. Khi hơi thở biến mất, cuộc sống tan biến như mây khói; tư tưởng như ngọn lửa bên trong vụt tắt, thân xác chỉ còn tro bụi. Theo quan niệm duy vật này, không có chỗ nào được dành cho Đấng Tạo Hóa và Quan Phòng của Ngài.

    Sách Khôn Ngoan được viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên ở A-lê-xan-ri-a cho những đồng bào của mình, họ đang bị những sức hấp dẫn của nền văn minh ngoại giáo chung quanh cám dỗ. Số lượng người bội giáo (tác giả gọi “quân vô đạo”) đáng lo ngại. Theo tác giả, uy thế của triết học và các tôn giáo khác, dù hệ thống học thuyết có mê hoặc lòng người đến đâu đi nữa, cũng không thể nào biết được sự hiện hữu của một Thiên Chúa ngôi vị, Đấng có một kế hoạch riêng biệt cho con người và là một Thiên Chúa tình yêu. Đối lập với quan niệm vô tri và duy vật nầy, tác giả mô tả quan niệm đích thật về con người mà Thiên Chúa đã mặc khải.

    1. Quan niệm đích thật về con người

    Ở trung tâm tiến trình lập luận của mình, tác giả đã đặt Mặc Khải thiết yếu nhất liên quan đến con người: “Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (2: 23) như chúng ta đọc thấy trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra con người theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài” (St 1: 26). Vì thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử. Từ đó, tác giả khai triển những viễn cảnh vinh quang đang chờ đợi những người đức hạnh vẹn toàn, sống một đời thánh thiện: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa; họ đang hưởng an bình”.

    Tất cả những khai triển này mang đậm nét Kinh Thánh, đặc biệt được gợi hứng từ các chương đầu tiên của sách Sáng Thế, không liên hệ gì đến triết học nhị nguyên của Platon. Lập luận chủ yếu của tác giả căn cứ trên Mặc Khải. “Linh hồn” mà tác giả nói đến ở đây không là linh hồn bất tử ở trong một thân xác hủy hoại theo Nhị Nguyên triết thuyết Hy lạp, nhưng là nephesh, “sinh khí của Thiên Chúa” (St 2: 7).

    Từ nay, vấn đề sự chết và đau khổ được soi sáng. Cái chết không còn là án phạt nữa nhưng là ngưỡng cửa bước vào cõi trường sinh bất tử. Đau khổ là một sự thử thách như “lửa thử vàng, gian nan thử đức” nhằm tôi luyện cuộc đời của các tôi trung của Thiên Chúa thành “của lễ toàn thiêu” .

    1. Vinh quang chung cục

    “Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy”. “Thiên Chúa viếng thăm” là diễn ngữ kinh thánh, tức là một sự can thiệp chứa chan ân tình của Thiên Chúa như trong những lời trăn trối sau cùng của tổ phụ Giu-se cho các anh em mình: “Thế nào Thiên Chúa cũng viếng thăm anh em” (St 50: 24), nghĩa là Ngài sẽ ban cho anh em muôn vàn ân phúc của Ngài. Tác giả sách Khôn Ngoan nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung. Những người công chính sẽ rực sáng vinh quang, Thiên Chúa sẽ đặt họ “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, nghĩa là đức hạnh của người công chính sẽ chiến thắng ác tâm quỷ quyệt của quân vô đạo. Chính trong chiều hướng này mà thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nào anh em chẳng biết rằng dân thánh sẽ xét xử thế gian sao?” (1Cr 6: 2) và sách Khải Huyền viết:“Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân” (Kh 2: 26). Đức Giê-su sẽ sử dụng diễn ngữ tương tự để xác định vị thế các môn đệ Ngài trong Nước Trời: “Khi Con Người ngự trên ngai vinh hiển của Ngài, các anh cũng vậy, những người đã theo Thầy, ngự trên mười hai ngai tòa để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”.

    1. Thiên Chúa là tình yêu, ân phúc và từ tâm

    Niềm hy vọng lớn laonàyđược đặt để vào tình yêu, ân phúc và từ tâm của Thiên Chúa. Chính ở nơi tình yêu, ân phúc và từ tâmnàymà những người công chính sống. “Những ai trông cậy vào Chúa sẽ am tường sự thật, và những ai trung thành thì được Chúa yêu thương và cho ở gần Người, vì Người ban ân huệ, và thương xót những ai được Người tuyển chọn”. Lời kết thúc của Bài Đọc Inàyđược viết trước các sách Tin Mừng một thế kỷ, loan báo sứ điệp rất gần với sứ điệp Tin Mừng. Có một tiến trình liên tục từ Mặc Khải Cựu Ước đến Mặc Khải Tân Ước.

    BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 17-25)

    Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô vào Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, được cấu trúc rất chặc chẽ. Tuy nhiên, cần phải đặt nó vào trong văn mạch để hiểu rõ hơn tư tưởng của thánh nhân.

    Xin nhắc lại ngắn gọn: cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ nhau về các vị rao giảng của họ, tạo nên các bè phái ở giữa họ. Cực lực chống lại việc chia năm xẻ bảy nầy, thánh Phao-lô lớn tiếng chỉ trích cách hành xửnàykhông phù hợp với tinh thần Tin Mừng.

    1. Sự khôn ngoan của thế gian (1: 17-21)

    Đáp lại những kẻ tự phụ mình “thông thái”, thánh nhân nhắc nhở rằng ngài đã rao giảng cho họ không phải bằng lời lẽ khôn khéo, nhưng sự điên rồ của thập giá trái với đòi hỏi điềm thiêng dấu lạ của người Do thái và tìm kiếm lẽ khôn ngoan của người Hy lạp.

    Dân Do thái chờ đợi một Đấng Mê-si-a thực hiện những điềm thiêng dấu lạ, một Đấng Mê-si-a quyền năng và chiến thắng. Dân Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, tức là một cuộc sống quân bình, mực thước và điều độ, không có nó không một xã hội nào có thể bền vững được. Đó là điều mà tất cả mọi hệ thống triết học đều đề cao.

    Hai quan niệm, Do thái và Hy lạp, rất khác biệt nhau, nhưng không có quan niệm nào phù hợp với hình ảnh Thập Giá được.

    Trong hoạt động truyền giáo của mình, thánh Phao-lô đã gặp phải hai chướng ngại này. Biết bao người Do thái đã không thể chấp nhận Đấng Mê-si-a chịu khổ nhục trên thập giá. Ở An-ti-ô-ki-a, ở Thê-xa-lô-ni-ca và những nơi khác, thánh Phao-lô đã bị những người Do tháinàybách hại.

    Còn đối với dân Hy lạp và sự khôn ngoan của họ, thánh Phao-lô đã chạm trán với họ ở A-thê-na. Thánh nhân cố gắng thuyết phục họ nhưng vô ích. Họ mong chờ những bài diễn từ lời hay ý đẹp, trong khi thánh nhân rao giảng một con người thập toàn bị đóng đinh trên thập giá. Quả thật, bản văn cho thấy rằng việc rao giảng Thập Giá khó lòng mà thuyết phục con người. Đối với người Hy lạp, ưu phẩm hàng đầu của một vị thần chính là Mỹ, vì thế Đấng chịu đóng đinh không ra hình tượng con người không thể nào sánh ví với hình ảnh của một vị thần linh.

    1. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1: 22-25)

    Nhưng Thập Giá không là một bài diễn từ lời hay ý đẹp, nhưng là một sự kiện, một sự kiện lạ thường, ở đó ẩn dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa, hoàn toàn khác với những kỳ vọng của con người.

    Trong thư thứ nhất gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, một trong những bài học lớn lao đó là: “dạy mầu nhiệm đau khổ như một yếu tố cốt yếu của Tin Mừng”. Chung chung, thần học của thánh Phao-lô không bao giờ tách rời biến cố Tử Nạn ra khỏi mầu nhiệm Phục Sinh. Tuy nhiên, đây là trường hợp ngoại lệ và có chủ đích. Đối mặt với sự tự mãn của con người, thánh nhân nhấn mạnh hình ảnh độc nhất về “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.

    TIN MỪNG (Mt 10: 17-22)

    Mặc dù đoạn Tin Mừng dành cho ngày đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trích từ Mt 10: 17-22, nhưng để hiểu sâu xa đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ đặt nó vào trong toàn bộ phân đoạn của nó, nghĩa là từ 10: 17-25. Đây là phân đoạn thứ hai về những huấn thị bách hại (10: 17-25) được phân biệt rõ nét với phân đoạn thứ nhất về những huấn thị truyền giáo (10: 1-16).

    Phân đoạn thứ nhất nêu bật chủ đề uy quyền hay quyền năng phi thường mà Đức Giê-su ban cho những ai mà Ngài sai đi loan báo Nước Trời. Trong phân đoạn nầy, không có bất kỳ ám chỉ chính xác nào về đau khổ. Thật ra, đoạn văn 10: 13b-16 ám chỉ đến việc người đời có thể không tiếp đón các môn đệ (10: 13b-15) và cảnh báo rồi những hiểm nguy đang rình rập chờ đón họ: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói” (10: 16). Tuy nhiên, những đối kháng này vẫn mơ hồ và một bầu khí chiến thắng xem ra phải ngự trị trên hoạt động truyền giáo.

    Khởi đi từ 10: 17, những huấn thị được đặt trên một dấu nhấn hoàn toàn khác: những cuộc bách hại sắp đến. Các môn đệ không chỉ bị thù ghét, nhưng những thử thách sắp tới của họ được mô tả một cách chính xác đến nỗi chúng ta có thể định vị môi trường của chúng nữa. Chúng ta có thể phân chia phân đoạn thứ hainàythành: cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-20), cuộc bách hại trong gia đình (10: 21-22), thái độ cần phải có trong hoàn cảnh bách hại (10: 23) và phần kết luận (10: 24-25) cho toàn bộ phân đoạn thứ hai này (10: 17-25).

    1. Cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-21):

    Phần mở đầu của câu 17: “Hãy coi chừng người đời” lập lại chủ đề về sự cẩn trọng của câu 16 nhưng với những thuật ngữ hoàn toàn khác. Động từ “coi chừng” mặc lấy hai nét nghĩa: hoặc bác bỏ, từ chối điều gì đó (như 7: 15; 16: 6) hay đề phòng cảnh giác trong hoàn cảnh khó khăn nào đó (như 6: 1). Văn mạch nhấn mạnh đến nét nghĩa thứ hai: Đức Giê-su không khuyên các môn đệ của Ngài nên trốn chạy khỏi “người đời” nhưng trong những gặp gỡ của họ với người đời, nên giữ mình khỏi mọi ảo tưởng. Họ đừng quên rằng Thầy của họ đã bị những người đời này tìm cách khai trừ, loại bỏ. Phần tiếp theo của câu 17 cho thấy rằng “người đời” này không ai khác là người Do thái: “Họ sẽ nộp anh em cho các hội đường và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ”.

    Tuy nhiên, câu 18 cho thấy bối cảnh của cuộc bách hại có thể vừa ở trong xứ Pa-lét-tin nhưng cũng vừa ở bên ngoài xứ Pa-lét-tin. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, các Ki tô hữu đừng quên rằng những cách hành xử đầy bạo lực này có một ‎ ý nghĩa, đó là dịp là cơ hội “làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết” về Đức Ki-tô và Nước Thiên Chúa. Lời chứng này nêu bật tính chất vừa công chúng vừa chính trị nữa. Các vua chúa và dân chúng có dịp nghe nói về Đức Giê-su và Nước Trời.

    Câu 19-20 là lời hứa của Đức Giê-su cho các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Chính vì làm chứng cho Thầy mình mà họ không cần lo nghĩ phải nói gì, vì trong giờ đó Thiên Chúa sẽ ban cho họ Thần Khí để giúp họ như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê: “Chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói gì” (Xh 4: 12).

    Câu 20: “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em”, mới nhìn thoáng qua, khiến nghĩ đến một sự gợi hứng máy móc loại bỏ tất cả sự dự phần của chứng nhân. Nhưng không phải như thế; trái lại hai cụm từ “anh em” và “trong anh em” nhấn mạnh rằng ân huệ này được ban cho các chứng nhân không như những khí cụ thụ động nhưng còn ở trong họ và bởi họ nữa.

    1. Cuộc bách hại ngay trong gia đình (10: 21-22)

    Song đối với 10: 17-20 ở trên, các câu 10: 21-22 bao gồm một lời cảnh báo về cuộc bách hại và một lời hứa. Câu 21 cảnh báo rằng ngay cả những người thân thuộc trong gia đình cũng sẽ tố cáo họ vì họ dám chấp nhận cái chết để tin vào Đức Giê-su. Còn câu 22 đề cập đến việc họ sẽ bị mọi người thù ghét vì Ngài nhưng hứa rằng những ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ.

    1. Thái độ phải có trong hoàn cảnh bách hại (23)

    Câu 23 diễn tả thái độ phải có trong hoàn cảnh bị bách hại. Người Ki tô hữu không phải đưa thân mình ra cho những kẻ bách hại mình, nhưng “khi người ta bách hại anh em trong thành nầy, thì hãy trốn chạy sang thành khác”, bởi vì nếu thành này xua đuổi họ đi thì có thành khác để loan báo Tin Mừng. Như vậy, sứ mạng loan báo Tin Mừng vẫn phải là bổn phận cho đến cùng.

    1. Phần kết luận (10: 24-25)

    Hai câu 24-25 là phần kết luận của phân đoạn này. Các môn đệ của Đức Giê-su không mong đợi một vận mệnh nào khác ngoài vận mệnh của Thầy mình, Đấng bị khinh bỉ, bị ruồng bỏ, bị khai trừ và cuối cùng bị án tử trên thập giá. Thầy và trò, chủ và tớ được đặt vào trong cùng một số phận: “Trò được như Thầy, tớ được như chủ”. Tuy nhiên, diễn ngữ này không giới thiệu một sự so sánh nhưng là căn tính về vận mệnh trần thế giữa Thầy và trò. Nếu cả hai đều chia sẽ cùng một vận mệnh: đau khổ, bị bách hại và bị án tử, điều đó không muốn nói rằng Thầy khai mở cho môn đệ của mình sống lại cuộc mạo hiểm mà chính Thầy đã kinh qua. Cả hai giống nhau trong những diễn biến bên ngoài nhưng lại khác nhau trong ý nghĩa và tầm mức. Đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ của Đấng ở nơi Ngài Nước Thiên Chúa đã đến gần (10: 7) trong khi đau khổ của người môn đệ là đau khổ của một chứng nhân về Nước Thiên Chúa này (10: 18).

    Về mục lục

    .

    CHỨNG NHÂN KITÔ GIÁO

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Hằng năm cứ vào dịp đại lễ kính nhớ Tổ tiên ông bà Tử Đạo Việt Nam, đoàn tín hữu, con dân đất Việt lại thêm một lần được củng cố niềm tin. Ít ra, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Để sống xứng danh là cháu con các anh hùng tử đạo, Kitô hữu Việt Nam cần hiên ngang, anh dũng một cách nào đó trong niềm tin, trong cách sống đạo của mình. Trong tâm tình ấy, xin phác họa đôi nét về chân dung các Thánh Tử đạo Việt Nam như là những chứng nhân Kitô giáo.

    1. Chứng từ khả tín của các chứng nhân:

    Xin được gọi các Ngài bằng nghĩa gốc của từ “tử đạo” là “chứng nhân” (martyr). Thiết tưởng cần trở về với nghĩa gốc là chứng nhân hơn là tử đạo, cho dù hai từ tử đạo đã quá phổ biến trong cách dùng. Bởi vì hai từ tử đạo có vẻ như đang bị méo mó ý nghĩa một cách nào đó khi mà vô tuyến truyền hình tường thuật những người ôm bom tự sát để giết hại nhiều người, trong đó có cả thường dân vô tội, và họ cũng tự cho là tử vì đạo. Hơn nữa một thánh tử đạo trong tôn giáo này chưa chắc được kính trọng bởi người của tôn giáo khác cho bằng các thánh hiển tu hay các thánh xả thân vì tình yêu đồng loại.

    Nói đến chứng nhân là nói đến những người dùng chính cuộc sống của mình, dùng cả sự sống và sự chết của mình để làm chứng cho một lý tưởng cao đẹp như nền hòa bình của nhân loại hay sự độc lập tự do của dân tộc…hoặc cho một niềm tin tôn giáo. Khi có ai, có một tập thể hiến dâng cả cuộc sống, hiến dâng cả mạng sống để làm chứng về một chân lý nào đó thì chứng từ ấy có tính khả tín nghĩa là chân lý có tính thuyết phục và đáng tin theo. Tuy nhiên mức độ khả tín của các chứng từ còn tùy thuộc vào cách thế làm chứng của các chứng nhân.

    Nếu xét về hình thức chịu cực hình cho đến chết như bị “rũ tù” (bị tra tấn và giam tù cho đến chết), “xữ giảo” (bị thắt cổ cho chết),”xữ trảm” (bị chém đầu), “lăng trì” (bị ném cho voi chà đạp, xé xác), bị thiếu sống hay chịu xử “bá đao” (bị róc từng mãnh thịt cho đến chết), thì các bậc cha ông chúng ta tuy có bị khổ hình ghê rợn, thế nhưng các anh hùng dân tộc nhiều khi cũng đã can đảm đón nhận các cực hình tương tự không kém. Tuy nhiên qua cuộc sống, nhất là sự hiến dâng mạng sống của các chứng nhân Kitô giáo, của cha ông anh hùng hy sinh vì đức tin, chúng ta nhận ra mức độ trỗi vượt của tính thuyết phục nơi cách làm chứng của các Ngài.

    Nét trỗi vượt và cũng là nét khác biệt nơi chứng từ của cha ông chúng ta đó là cách thế đón nhận khổ hình. Không một ai tự mình quyên sinh và nhất là khi bị khổ hình, không một ai căm phẩn, hận thù hay hô đả đảo những người bắt bớ, giết hại mình. Các ngài khoan thai, an bình, có khi tỏ vẻ hân hoan và cầu nguyện cho cả người giết hại mình đến độ nhiều “đao phủ” đã phải thành khẩn xin tha thứ trước khi hành hình các Ngài. Một thái độ làm chứng nhân khó thấy, hiếm thấy và có thể nói là không thấy có nơi các anh hùng dân tộc khi chịu cực hình, chịu chết vì lý tưởng. Và đây chính là nét khả tín tuyệt vời của nhứng chứng nhân bỏ mình vì “danh Đức Kitô”.

    2. Một chân lý đức tin nền tảng mà các chứng nhân Kitô giáo làm chứng:

    Chân lý đức tin Kitô giáo thì nhều, nhưng có thể nói một chân lý nền tảng mà tổ tiên ta đã anh dũng làm chứng đó là: Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất, ta phải tôn thờ và yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ta, vì ngoài Người ra thì không có đấng nào khác. (x.Dnl 6,4-7; Mc 12,28-34).

    Tôn thờ một ai đó, một Đấng nào đó là nói lên sự thần phục, sự lệ thuộc của mình với Đấng ấy, với người ấy. Một trong những hình thức biểu lộ sự thần phục hay thờ phượng đó là sự phủ phục. Ta phủ phục trước một Đấng nào đó là ta nhìn nhận những gì ta đang là, ta đang có đều do Đấng ấy ban tặng. Kitô hữu chỉ dâng tâm tình thần phục, phượng thờ này lên một mình Thiên Chúa mà thôi. Và dĩ nhiên tâm tình, thái độ ấy kéo theo hệ quả tất yếu là xem các loài khác như mặt trời, mặt trăng, sông núi…chỉ là loài thọ tạo do Chúa dựng nên. Ngay cả loài thọ tạo cao trọng nhất trong các loài hữu hình là loài người thì dù là kẻ quyền thế, nhiều tiền, cao đức, trọng vị…cũng chỉ là loài phàm hèn không hơn không kém. Có thể có người, có vị đáng trọng, đáng kính vì tài đức cao dầy, nhưng không phải là người để ta phải lệ thuộc hay thần phục, nghĩa là bày tỏ sự tôn thờ.

    Sự thường một ai đó, khi đã ở ngôi cao, khi đã nắm trong tay quyền lớn thì rất dễ bị cám dỗ muốn tuyệt đối hóa uy quyền của mình. Và một trong những cách thế để tuyệt đối hóa quyền lực và danh phận của mình thi phải tự phong thần, phong thánh cho mình bằng cách này cách khác. Các vua chúa ngày xưa đã từng tự xưng là thiên tử (con trời) và thế là bắt mọi người thần phục mình cách tuyệt đối. Nếu sống và hành xử như “con của trời” thì vẫn tốt, đằng này họ lại hành xử như là những “ông trời con”. Xưa vua Nabunôcônôdo của đế quốc Ba Tư đã cho tạc tượng mình để bắt thần dân thờ lạy. Và nay vẫn có người, có tập thể muốn kẻ khác lệ thuộc mình bằng việc “thần thánh” hóa bản thân hay luật pháp hóa cái thể chế, cái tổ chức, cơ cấu của mình.

    Ngày nay người ta khi đã có quyền, có thế cũng có thể bắt kẻ khác suy tôn mình, suy tôn tập thể của mình…là muôn năm, là bất diệt… Và thế là hễ có ai không chịu thần phục, không chịu lệ thuộc thì tức khắc sẽ bị bắt bớ, đàn áp, thậm chí là loại trừ. Vác thập giá là thân phận của Kitô hữu mọi thời, mọi nơi. Tuy nhiên đó cũng là niềm vinh dự cho đoàn con cái Chúa. Vì đó là cách thế tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất hùng hồn và rõ nét.

    3. Chuyện xưa và chuyện nay:

    Có thể nói là rất hiếm người phủ nhận sự hiện hữu của Đấng Tối Cao, Đấng Sáng Tạo đất trời. Các vua chúa xưa bách hại Kitô hữu có thể vì do một vài hiểu lầm nào đó về cách sống đạo, cung cách thờ kính ông bà tổ tiên của Kitô hữu, nhưng thường ẩn đằng sau đó là có lý do thực tiển khác: cái uy quyền cai trị của mình bị ảnh hưởng. Các lãnh đạo địa phương như các quan hàng tỉnh, huyện, xã thì ít vương cái lý do này. Tuy nhiên các vị này lại lợi dụng lệnh trên để “làm tiền”. Đọc hạnh các thánh tử đạo Việt Nam chúng ta thấy chuyện bắt rồi đòi tiền chuộc như là chuyện cơm bữa. Phải chăng chuyện xưa vẫn là chuyện luôn có tính thời sự như hôm nay và trong tương lai? Đã là Kitô hữu thì phải làm chứng nhân và vác thập giá là chuyện như đương nhiên của những ai muốn theo Chúa Kitô đến cùng.

    Về mục lục

    .

    CHẾT YÊU

    Lm. Thái Sơn

    Gần đây, đám trẻ choai choai sồn sồn, quần mặc chỗ rách chỗ lành, tóc nhuộm nửa đỏ nửa xanh… đã khao tin các kiểu chết. Bần đạo góp nhặt được và xin chia sẻ với các bạn nhé.

    Chết vì “riệu” là cái chết “sành điệu”.
    Chết vì “yêu” là cái chết “liêu xiêu”.
    Chết vì “gái” là chết rất “thoải mái”.
    Chết vì “tình” là cái chết bất “thình lình”.
    Chết vì “lười” là cái chết rất “buồn cười”.
    Chết vì “học” là cái chết rất “vàng ngọc”.
    Chết vì “sầu” là cái chết rất “ngầu”.
    Chết vì “ghen” là cái chết “nhỏ nhen”.
    Chết vì “chơi” là cái chết “thảnh thơi”.
    Chết vì “bệnh” là cái chết “bực mình”.
    Chết vì “hận” là cái chết “lận đận”.

    Chết vì “nợ” là cái chết “đáng sợ”…

    Thưa các bạn!

    Chết là chuyện bình thường và đương nhiên sẽ xảy đến với bất kỳ ai. Có sinh ra thì có chết đi, không ai chối cãi hay tránh né được.

    Chết thế nào, chết ra sao, chết vì lý tưởng nào, chết vì mục đích nào?… Chết mà vẫn sướng (sướng chết), chứ không phải tức mà chết (tức chết)…

    Chết sao cho có ý nghĩa, đúng mục đích, và trong thương mến: “Khi ta sinh ra, mọi người cười còn ta thì khóc. Khi ta chết đi rồi, mọi người khóc còn ta thì cười!”.

    Chết vì những chuyện “không nên”, “không phải”, “không đáng”… là những cái chết “hư không” thì không nên chết, không phải chết, không đáng chết…

    Bài đọc 2, lễ các thánh Tử Đạo, thánh Phaolô dạy, chỉ có kết hợp với tình yêu Chúa mà thôi: “Dù sự chết hay sự sống cũng không tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa” (Rm 8,38-39).

    Trong Tin Mừng Chúa Nhật 33 Thường Niên B, Đức Giêsu nói với các môn đệ về ngày “quang lâm” của Người (Mc 13,24).

    Phải chăng, ngày quang lâm là ngày Chúa đến phán xét mỗi người, và cũng là ngày chết của từng người? Ngày và giờ đó thì không ai biết được (Mc 13,32).

    Thưa các bạn!

    Nếu không biết “ngày & giờ” Chúa đến, thì tốt nhất nên thức tỉnh chuẩn bị, như canh giữ nhà cửa luôn luôn, không để kẻ trộm đào ngạch khoét vách chui vào lấy đồ.

    Nhà cửa có lẽ là tâm hồn và cõi lòng của “bạn & tôi”, cần được canh giữ và trong tư thế chuẩn bị hay thái độ sẵn sàng, như đèn có dầu đầy đủ, hầu thắp sáng lên để đón chàng rể đến bất cứ lúc nào…

    Có thể nói, “nhà cửa & dầu đèn” của các thánh Tử Đạo Việt Nam luôn luôn sẵn sàng, bất cứ “ngày & giờ” nào Chúa mời gọi, để ra đi & làm chứng cho Chúa, bằng chính mạng sống của mình.

    Xác tín, chết vì yêu Chúa là cái chết mang lại sự sống, sự sống chân thật, sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời… “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

    Ước gì, “bạn & tôi” biết noi gương các thánh Tử Đạo, không tham sống sợ chết, chẳng ngại “ngày & giờ” nào, cách chết nào, kiểu chết nào… vẫn can đảm chết vì yêu Chúa. Nếu chết vì yêu Chúa, thì sẽ được Chúa yêu. Tạm gọi là “chết yêu”, không phải là cái chết “liêu xiêu”, mà là của lễ “toàn thiêu” dâng lên Thiên Chúa. Amen

    Về mục lục

    .

     

     

    CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Thánh lễ hôm nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam.

    Có điều máu lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa vì phát xuất từ tình yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi lòng kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những dòng máu làm chứng cho tình yêu.

    Tình yêu Thiên Chúa.

    Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.

    Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa. Thánh Hồ đình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả vì tình yêu Chúa.

    Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi bình an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).

    Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí. Đáp lại tình yêu của Đức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng tình yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).

    Tình yêu cuộc sống.

    Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lý tưởng, như tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.

    Tình yêu nhân loại.

    Cái chết của các ngài minh chứng một tình yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà còn yêu mến gia đình. Hãy nhìn cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. Tình yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lý hình. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của mình. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ lòng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lý hình.

    Tình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa nên rộng rãi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó (Fulton Sheen).

    Động lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là tình yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho tình yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta không có hy vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi gương các thánh Việt Nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho tình yêu, ta vẫn có thể sống cho tình yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không mong ta chết vì đạo mà mong ta hãy sống vì đạo.

    Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Amen.

    Về mục lục

    .

    CON NGƯỜI THÍCH THỎA HIỆP

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Cuộc sống con người luôn đầy rẫy sự thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong giao tế, trong chính trị, trong làm ăn. Thỏa hiệp đòi hỏi sự nhượng bộ, sự nhân nhượng, nhường bước. Sự thỏa hiệp đòi hỏi phải từ bỏ một phần quan điểm của mình để nhượng bộ cho đối phương. Cách riêng, trong đời sống luân lý thì không có sự thỏa hiệp. Con người không bao giờ được thỏa hiệp với sự dữ, nghĩa là không bao giờ thỏa hiệp với Satan và bộ hạ của nó. Thỏa hiệp với ma quỷ là con người tự làm cho mình ra nô lệ tội lội.

    Adam – Eva đã tự tìm đến cái chết khi thỏa hiệp với ma quỷ. Thỏa hiệp luôn là thất bại trong cay đắng. Thỏa hiệp là tự tìm đến cái chết thay vì được sống trong tự do. Biết bao người đã thỏa hiệp để bắt tay làm ăn bất chính, để làm ngơ trước sự xấu hoành hành. Họ có tiền, có quyền nhưng không bao giờ có niềm vui tâm hồn bình an.

    Tuy nhiên, cuộc đời vẫn còn đó những con người từ chối thỏa hiệp. Họ là những con người thà nghèo đói để được bình an tâm hồn hơn là kiếm tiền bằng việc phi nhân thất đức mà lòng chẳng chút bình an. Họ chấp nhận vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua chúa trần gian, cho dù phải tù đầy, gian truân khốn khó. Họ chấp nhận đánh mất mùa xuân hạn hẹp trần gian để đổi lấy mùa xuân bất diệt thiên đàng.

    Hôm nay chúng ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam. Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình. Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân. Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian. Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh. Lằn ranh đó chính là cây thập giá. Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian. Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng. Đôi khi còn được hưởng chức tước vua ban. Nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo. Không vì ham sống sợ chết mà chà đạp lên thập giá. Các ngài cam lòng chịu đòn roi, chịu án tử hình như cơ hội để lãnh phúc triều thiên vinh quang. Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: “Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy”. Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Ðức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng”.

    Là con cháu các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì có các vị tiền nhân đã dám chết để minh chứng niềm tin. Đây là gương sáng mà các ngài để lại cho hậu thế. Hãy sống trung thành với Chúa, với Giáo hội. Hãy can đảm từ chối mọi thỏa hiệp bất chính. Nhưng xem ra cuộc đời vẫn còn đó những con người vì chút bổng lộc trần gian đã bỏ đạo, đã chống đối đạo. Vẫn còn đó những con người vì miếng cơm manh áo đã chẳng giữ đạo hay chỉ giữ một cách hời hợt. Họ giữ đạo hình thức đôi khi có cũng như không. Vẫn còn đó những con người vì tiền mà bán mình, bán con để kiếm đồng tiền bất chính. Họ thà rằng lỗi luật Chúa còn hơn là bỏ lỡ cơ hội lấy tiền, lấy bạc. Vẫn còn đó những con người bỏ Chúa chứ không bỏ tiền, bỏ Chúa chứ không bỏ tình, bỏ Giáo Hội chứ không bỏ danh vọng trần gian.  

    Lạy các thánh TDVN là cha ông của chúng con, xưa các ngài đã dùng máu đào để bảo vệ đức tin xin gìn giữ chúng con luôn trung kiên theo Chúa, dám khước từ danh lợi thú trần gian để nên chứng nhân cho Nước Trời trong cuộc sống hôm nay.

    Về mục lục

    .

    CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 

    Ngày xưa, khi nhắc đến các Thánh tử đạo, nhất là các vị tử đạo Việt nam, chúng ta thường hình dung đến những cực hình ghê sợ mà người ta nghĩ ra để hành hạ các ngài. Các cực hình dã man ấy không những không làm lung lạc đức tin của các ngài, mà còn khiến các ngài càng mạnh mẽ hơn trong việc đón nhận và tuyên xưng đức tin. Ngày nay, những cái chết vì đức tin như vậy vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức tử đạo mới. Hằng năm trên thế giới vẫn có hàng ngàn người đang phải chịu khốn khổ, bị kỳ thị vì đức tin của mình. Nhiều người đã phải bỏ quê hương để đi tìm một chỗ nương thân an toàn, ví dụ như tại Irăc và Sirya trong năm vừa qua. Nhà nước IS đã tuyên bố bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe được thì bị xử bắn. Vì thế, trong năm qua, có đến hàng trăm Kitô hữu đã bị giết tại Sirya chỉ vì họ nhận mình là Kitô hữu. Cũng giống như thế, tại quốc gia Bắc Hàn, các Kitô hữu phải sống một cuộc sống hết sức khó khăn, bị o ép và khủng bố, có thể bị tù đày, bị giết chết bất cứ lúc nào. Tại quốc gia này, cuốn Kinh Thánh trở thành cuốn sách bị cấm. Ai đọc hoặc giữ cuốn Kinh Thánh trong người, có thể bị tử hình.
    Tại Việt Nam, kể từ những ngày đầu tiên khi Tin Mừng được gieo vãi trên quê hương đất nước cho đến nay, người Kitô hữu dường như liên tục bị bách hại về niềm tin của mình. Tổ tiên của chúng ta, các vị tử đạo Việt Nam, đã đón nhận đức tin trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như thế. Các ngài đã phải chọn lựa và quyết định cho mình một niềm tin, một nếp sống khác với những người đồng hương lúc đó. Trong khi những người khác hoàn toàn sống theo tâm tình tôn giáo dân gian, sống một cuộc sống thoải mái dễ dãi, thì tổ tiên chúng ta đã chấp nhận đi vào con đường của Tin Mừng. Các ngài đi theo con đường hẹp, chấp nhận tuân theo giới răn lề luật của Thiên Chúa, từ chối các thần linh của dân ngoại. Các ngài mặc dù có chọn lựa riêng cho mình, sống giới răn riêng của Tin Mừng, nhưng các Ngài không sống tách biệt khỏi các người đồng hương, trái lại, các ngài đã sống đến cùng giới răn yêu thương, bác ái đối với những người khác. Có những thời kỳ chính quyền đã coi các tín hữu như công dân hạng hai, họ khắc trên mặt người Công giáo chữ “tả đạo” để dễ dàng phân biệt đối xử. Cha ông của chúng ta vẫn không hề thù oán, không phản kháng, không báo thù, các ngài vẫn tận tình sống tình yêu thương chan hoà với hết mọi người, khiến những người dân ngoại đã gọi họ là “những người theo đạo yêu nhau”.
    Các vị tử đạo đã sống đúng như lời sách Khôn Ngoan đã nói : Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa, không một cực hình nào có thể động tới được các ngài…Trước mắt người đời, chúng tưởng như các ngài đã chết, nhưng thực ra các ngài vẫn đang sống… Người đời nghĩ rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng các ngài vẫn chứa chan hy vọng. Ba trăm năm đầu tiên là quãng thời gian hết sức khó khăn đối với các tín hữu, thế nhưng, dường như những cơn đàn áp càng khốc liệt, thì Tin Mừng lại càng được loan truyền và con số những người tin theo Chúa lại càng gia tăng. Các ngài bị hành hạ nhưng các ngài vẫn hy vọng vào phần thưởng Nước Trời mà Thiên Chúa đã hứa.
    Bước sang thế kỷ 20 – 21, tình hình bắt bớ, giết hại những tín hữu có phần lắng xuống, nhưng không phải đã được tự do hoàn toàn. Người Kitô hữu Việt Nam lại trải qua một hình thức tử đạo khác. Họ vẫn phải cố gắng sống và thể hiện niềm tin của mình trong một môi trường xã hội mới. Nhiều nơi, các tín hữu vẫn bị o ép giới hạn cách này cách khác. Nhiều người đã bị tù tội chỉ vì mang danh là người Kitô hữu, vì nhiệt tâm phục vụ. Nhiều tín hữu đã chết trong tù hoặc nơi rừng sâu nước độc, chỉ vì muốn sống đến cùng đòi hỏi của Tin Mừng. Bên cạnh những người mạnh dạn tuyên xưng đức tin và hết mình bảo vệ quyền được sống và thể hiện đức tin của mình, thì cũng có những người đã chấp nhận thỏa hiệp với cơn bách hại của quyền lợi và danh vọng. Trong số đó, không thiếu những người vì quyền lợi, địa vị xã hội, sẵn sàng che giấu đức tin của mình, không dám nhận mình là người có đạo. Những người này còn muốn thể hiện ra bên ngoài như thể là mình chưa từng biết Chúa Giêsu. Họ công khai từ chối Chúa Giêsu và Tin Mừng, từ chối nếp sống của người tín hữu ; họ xấu hổ vì Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
    Bước vào thời kỳ văn minh hiện đại hôm nay, ở một số nơi, các tín hữu Kitô vẫn đang bị bách hại bởi các nhóm khủng bố, các nhà cầm quyền; còn người Kitô hữu Việt Nam lại phải đương đầu với cơn bách hại khác. Cuộc bách hại này có lẽ không đến từ những áp lực bên ngoài, nhưng là một cuộc chiến liên tục bên trong mỗi người để chọn cho mình một cách sống. Ngày xưa, cha ông chúng ta đã chấp nhận cái chết đổ máu để giữ đạo; ngày nay, chúng ta cũng đang phải từng ngày rỉ máu vì chọn lựa sống đạo. Chúng ta chọn để sống theo Đức Kitô, có nghĩa là chọn sống giống như Ngài, sống nghèo khó và quảng đại phục vụ, sống yêu thương và tha thứ.
    Ngày nay, trong khi con người đề cao tự do một cách thái quá thì người Kitô hữu lại chấp nhận khép mình vào trong khuôn thước của Tin Mừng. Chúng ta được mời gọi sống sự tự do của con cái Chúa, tức là thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất, dục vọng để vươn lên sống đúng với tư cách là con Thiên Chúa, những người đã được cứu chuộc. Xã hội ngày nay tìm mọi cách để thoả mãn mọi nhu cầu của con người, thì người tín hữu lại chấp nhận một cuộc sống tiết chế, làm chủ bản thân, bắt mình phải quy hướng về Thiên Chúa và thần phục Ngài.
    Giàu có, sung túc đang là mục tiêu của nhiều người, nó cũng biến con người trở nên tàn ác với nhau để giành được mục tiêu đó. Người Kitô hữu không thể đứng bên ngoài dòng chảy này. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi không thể để mình sống và đối xử với nhau theo bản năng của con thú, nhưng đối xử bằng tình bác ái và tình yêu thương. Con người khi đã đạt được sự giàu có thì dễ dẫn đến cuộc sống phô trương hưởng thụ, còn người tín hữu được mời gọi sống siêu thoát, tức là sống tinh thần nghèo khó khiêm nhường, phó thác cuộc đời, công viêc, tài sản cho Chúa và sử dụng của cải theo ý Chúa. Cuộc sống khi giàu có dễ biến căn nhà của chúng ta trở thành kín cổng cao tường, làm cho con người trở nên to bụng nhưng tay chân ngắn lại, trở nên khép kín và lạnh lùng đối với nhau. Người Kitô hữu được mời gọi mở rộng cửa nhà và mở rộng đôi tay để có thể bước đến với anh em, để chia sẻ và phục vụ họ.
    Cuộc tử đạo của chúng ta hôm nay là liên tục sống tình yêu thương và tha thứ. Có lẽ vì vậy mà Giáo hội đang hoàn thiện hồ sơ để tôn phong Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fancis Nguyễn Văn Thuận, lên bậc Chân phước Tử đạo cho dù Ngài không trực tiếp chết vì đạo. Giáo hội đã nhìn thấy gương sống yêu thương và tha thứ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như cuộc tử đạo liên tục. Trong thánh lễ an táng ngài, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II và cả giáo triều lúc đó đã mặc phẩm phục màu đỏ thay cho màu tím truyền thống. Trong quan tài của Đức Hồng Y, người ta đã đặt vào đó một tấm bia bằng đồng ghi tóm tắt lịch sử cuộc đời của ngài. Việc làm này cho thấy sự kính trọng mà giáo triều đã dành cho ngài như truyền thống Giáo hội vẫn làm cho các vị tử đạo.
    Đức hồng Y Fancis đã tử đạo bằng đời sống yêu thương và tha thứ cho những kẻ bách hại ngài. Sau hàng chục năm tù tội bất công, bị biệt giam như một con chó, vậy mà không bao giờ ngài kêu than oán trách. Trái lại, ngài luôn cầu nguyện cho những kẻ giam giữ mình. Trong các tác phẩm để lại, cũng như các cuộc nói chuyện, ngài kể về những năm tháng tù đầy như là những năm tháng ngài được tĩnh tâm, được sống thân mật với Chúa và làm việc mục vụ bằng lời cầu nguyện. Ngài tuyệt đối không dùng một lời lẽ cay cú hay thù oán, nhưng thay vào đó là một tâm hồn bình an, thanh thản đón nhận ý Chúa.
    Chúng ta đang sống trong thời hiện đại, chúng ta cũng sẽ phải trải qua những cuộc tử đạo hiện đại và trở thành những vị tử đạo hiện đại. Chúng ta sẽ không chết vì gươm giáo hoặc đạn bắn, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận chết, chấp nhận thiệt thòi vì Tin Mừng, vì sống đến cùng của lời mời gọi của Chúa : Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày mà theo Ta… Ai liều mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Chúng ta cũng sẽ phải hết mình để chu toàn vuông tròn giới răn lề luật của Chúa và Hội Thánh, không thoả hiệp cũng không giảm thiểu.
    Chúng ta sẽ phải tử đạo bằng đổ mồ hôi và nước mắt trong gia đình để bảo vệ sự vĩnh viễn của hôn nhân và để xây dựng một gia đình Công Giáo đúng nghĩa. Trước sự tấn công của các trào lưu xã hội trên các gia đình, chúng ta sẽ phải là những chiến sĩ chấp nhận hy sinh, không ngại thương tích để bảo vệ hạnh phúc và phẩm giá cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Trước sức ép của cuộc sống vật chất, chúng ta vừa phải lao vào cuộc sống để tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho con cái, nhưng cũng phải chấp nhận rướm máu vì giữ giới luật công bằng, yêu thương và bác ái.
    Các bạn trẻ cũng phải tử đạo liên tục để sống đúng với ơn gọi là một người trẻ Công Giáo trong xã hội biến chuyển này. Chúng ta sẽ phải đổ máu để bảo vệ sự tinh tuyền của linh hồn và thân xác khỏi cơn bão của hưởng thụ ích kỷ, phim ảnh sách báo và lối sống buông theo dục vọng. Chúng ta vẫn phải sống, phải bước đi với mọi người trong xã hội, nhưng vẫn phải chiến đấu để khỏi đánh mất mình và mục đích cuộc đời trong dòng chảy của xã hội hôm nay.
    Như thế, cuộc tử đạo ngày nay xem ra không kém phần khốc liệt như cuộc tử đạo ngày xưa của các vị tiền nhân. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Maria và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, giúp chúng ta là con cháu của các ngài, biết sống khí tiết anh hùng của các Tiền Nhân, dám sống cho tới cùng lý tưởng của Tin Mừng trong thời đại hôm nay. Amen.

    Về mục lục

    .

    NHỮNG ĐẤNG BẬC ANH HÙNG

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Không kể 117 vị tử đạo tại Việt Nam được phong thánh năm 1988 và Anrê Phú Yên được phong chân phước năm 1999, còn hơn một trăm ngàn vị đã anh dũng dâng hiến đời mình, chấp nhận cái chết để làm chứng lòng trung thành và gắn bó với Đức Yêsu, Đấng yêu thương con người dầu phải chết.

    Họ là ai?

    Họ là những người cha người mẹ, họ là những người con, họ là những người chồng người vợ, họ là thanh niên thanh nữ, là tráng niên, là bô lão, là chủng sinh, là binh sĩ, là quan là dân, là dì phước là linh mục. Họ là những bậc tiền bối của dân con Việt Nam hiện nay. Họ là những người “dường như” không sợ chết. Họ chấp nhận gông cùm tra tấn, chấp nhận đòn vọt, đói khát, nắng mưa, bệnh tật, và sẵn sàng chấp nhận cái chết.

    Họ là ai? Phải chăng họ là những người điên nên không sợ chết? Phải chăng họ là những người không còn biết trách nhiệm làm chồng làm cha làm con làm mẹ làm vợ làm dâu? Phải chăng họ không biết trách nhiệm với vợ dại con thơ? Phải chăng họ không còn ý thức bổn phận làm con phải sống để báo hiếu cha mẹ già yếu cần nương nhờ nơi họ? Phải chăng họ không còn rung động trước tình cảm bao người thân dành cho họ, mà “ngoan cố” không chịu bỏ đạo để phải chết?

    Không! Họ là những người cha người chồng người vợ, vô cùng thương con thương vợ thương chồng. Họ là những người con rất có hiếu và rất ao ước được sống để phụng dưỡng báo hiếu cha già mẹ yếu. Họ là những người thông minh có thể làm quan, là những “anh hùng” sẵn sàng hiến mạng cho quê hương tổ quốc. Họ là những người bình thường chứ không phải là những người điên, họ rất nặng “tình người” chứ không phải là những người “vô cảm”. Họ chết vì người ta muốn giết họ, chứ không phải tự họ muốn chết; tuy vậy họ sẵn sàng đón nhận cái chết chứ không thể chối bỏ Thiên Chúa.

    Tại sao họ kiên cường và anh dũng như vậy?

    Họ là những người rất bình thường, nhưng Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu nơi những con người yếu đuối mỏng manh.

    Ai không sợ chết? Ai không sợ đòn vọt, tù đầy, gông cùm xiềng xích? Nhưng những bậc tử đạo “dường như” không sợ, vì có một giá trị nào đó cao hơn, một cái gì đó quý hơn mà cho dù tình yêu gia đình, cha mẹ, vợ con, và ngay cả mạng sống cũng không đánh đổi được. Với họ, Thiên Chúa là nhất, Thiên Chúa trên tất cả, trên tình yêu gia đình, trên tương quan ruột thịt, và trên cả mạng sống mình.

    Qua các bậc anh hùng tử đạo, người ta đọc thấy không phải “con người” anh hùng, nhưng chính “Thiên Chúa” đang thực hiện những điều kỳ diệu nơi những con người đơn sơ mong manh chất phác, làm họ như những “bức tường bằng sắt, như những bức vách bằng đồng” và kiên vững không gì khuất phục được. Người ta có thể hủy diệt mạng sống các ngài, có thể giết các ngài, có thể nghiền nát xương thịt các ngài, nhưng không thể bắt các ngài làm theo ý họ. Thiên Chúa vô hình đang hiện diện qua thực tại hữu hình. Thiên Chúa hiện diện đó, rất rõ, dù người ta không nhìn thấy Ngài bằng mắt trần.

    Sống cho đúng là con cháu của những bậc anh hùng

    Chúng ta là con dân đất Việt, là con cháu của các đấng bậc anh hùng. Phải sống sao để “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Xin cho chúng ta có tình yêu đối với Thiên Chúa, đối với Đức Yêsu, và sẵn sàng hy sinh tất cả vì Thiên Chúa.

    Ngày nay người ta không còn nhiều dịp để “tử đạo” như ngày xưa, nhưng ngày nay người ta vẫn còn phải chọn giữa Thiên Chúa và tiền bạc danh vọng chức quyền; người ta vẫn phải chọn ưu tiên tương quan với Chúa trên những tương quan khác v.v..Ngày xưa phải đổ máu để sống đúng, để làm chứng; ngày nay không còn dịp đổ máu thể lý, nhưng để sống đúng như những người con của Thiên Chúa, người ta vẫn phải đổ máu “vô hình”, vẫn phải hy sinh, phải chết “chính con người của mình” thì mới có thể sống trọn vẹn cho Thiên Chúa được.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

    (Nên hát “Đây bài ca ngàn trùng” trước khi chia sẻ)

    1. “Ngày nay tử đạo không đổ máu”, bạn hiểu sao về câu này?
    2. Với bạn, đâu là khó khăn nhất của đời sống kitô-hữu (đòi bạn phải hy sinh)?
    3. Bạn biết gì về các thánh hoặc chân phước tử đạo Việt Nam? (Kể tiểu sử một vị, hoặc điểm nào đó mà bạn thán phục của một trong các vị mà bạn biết).

    Về mục lục

    .

    SỨC MẠNH NIỀM TIN TÔN GIÁO

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc,với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.

    Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người. Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo (Lm Nguyễn Quý Thiện).

    Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào. Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

    1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

    Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo. Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin. Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân. Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang rất lạnh lẽo. Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây. Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người. Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối. Gia sản của Giáo Hội là đây.Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ. Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

    Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

    Trải qua 300 năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

    Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc. Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man. Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ,  thiêu sống, phân thây ra từng mảnh…các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ. Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

    Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

    -Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình. Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội. Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ. Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết. Họ cột chân tay ngài vào cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa. Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835. Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi. Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích”.

    -Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

    -Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

    Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin. Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

    Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm Trọng Khảm. Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

    Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

    Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn. Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

    Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô. Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

    1. Những thách đố Đức Tin thời nay.

    Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.

    Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

    –   Vô thần duy vật

    Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật. Đây một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực. Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội. Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa. Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền. Của cải và quyền lực lên ngôi. Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền. Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền. Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ… Tiền bạc qủa là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những gía trị, biến chất con người. Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

    –   Gian dối và lừa lọc lên ngôi

    Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn. Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm. Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

    Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

    Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

    Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

    Chân lý chân giò một giá thôi.”

    Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt! Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

    –   Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

    Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ. Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán. Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế. Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ! Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác. Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé. Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người. Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

    Chủ trương duy tương đối

    Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối. Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa. Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân. Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm nay; lamhong.org).

    Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

    1. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

    Mỗi ngày sống là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).

    Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy : Cần phải tăng cường việc cử hành Đức Tin. Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố. Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng. Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn. Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích. Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

    Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng. Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người. Nhờ sức mạnh đức tin tôn giáo, các Thánh Tử Đạo khi bị bắt, bị kết án nên đã không chối đạo, không bước qua Thánh giá. Các Ngài đã bị hành hạ, bị kết án tử hình bằng nhiều hình thức hung bạo dã man nhưng các Ngài không bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi.Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các Ngài chùn bước. Nhục hình không làm cho các Ngài ngã qụi. Thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các Ngài đổ ra như những hạt giống gieo vào lòng đất đã trổ sinh một Giáo hội Việt Nam phong phú như hôm nay.

    Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng. Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các Ngài. Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay. “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

    Về mục lục

    .

    BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Bài Tin Mừng được chọn để đọc trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo được trích từ bài giảng trên núi chương 05 Phúc Âm Mát-thêu, mà chúng ta vẫn quen gọi là ‘Tám Mối Phúc’; mối phúc cuối cùng trong danh sách đó là: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ’. Trong sách Tin Mừng Lu-ca chương 06, dù chỉ đề cập tới có 04 mối phúc, nhưng mối phúc sau chót cũng vẫn nói tới cùng một điều này là: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:22) Phải chăng đó là lý do tại sao các Ki-tô hữu từ thời xa xưa đã dành cho các vị anh hùng tử đạo một sự mừng kính đặc biệt trân trọng; họ gán cho các ngài danh hiệu cao quý là Chứng Nhân Tin Mừng (Martyrs). Ngày nay trong tư cách con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo, chúng ta muốn thực sự tìm hiểu các vị tử đạo nói chung, và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nói riêng, đã là các chứng nhân Tin Mừng như thế nào? Ta cần biết: khi tiến ra pháp trường để bị trảm quyết các ngài đã thật sự trung kiên bảo vệ điều gì; và ở điểm nào các ngài thực sự liên quan tới người Công Giáo Việt Nam chúng ta đang sống trong xã hội hôm nay?

    Trong tiếng Việt, chữ ‘đạo’ thường được chúng ta sử dụng để nói tới một đạo giáo, một tôn giáo, như Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Lão, Đạo Ông Bà, Đạo Thiên Chúa… Thế nhưng theo nguyên ngữ hán-nôm, ‘đạo’ là con đường, là lẽ sống, là học thuyết… dẫn tới mục đích tối hậu của cuộc sống, chẳng hạn đạo Khổng, đạo hiếu, đạo làm người. Đức Giê-su đã tự giới thiệu mình “là đường, là sự thật và là sự sống”; nếu nói theo từ vựng hán nôm Người sẽ phải tuyên bố: Người chính là ‘đạo, chân, sinh’. Vậy thì, trong cả phúc âm Mát-thêu lẫn Lu-ca, khi đề cập tới mối phúc chót này, Đức Giê-su chắc chắn không hề có ý muốn tuyên bố ‘phúc thay’ những ai dám chết cho một đạo giáo hay tôn giáo, nhất là hiểu dưới khía cạnh cơ cấu tổ chức của tôn giáo đó. Điều mà Đức Giê-su muốn biểu dương là: tất cả mọi hình thức ‘bị bách hại’, ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ đều là ‘phúc’ vì một yếu tố duy nhất, đó là ‘vì sống công chính’, hay rõ hơn: ‘vì Con Người’.

    Tới đây tôi gợi nhớ lại tư tưởng bài suy niệm về đoạn Tin Mừng Lc 18:9-14 của Chúa Nhật XXX thường niên năm C: ‘Đối với Đức Giê-su, ai mới là công chính?’ Nếu đã có một nền công chính của Cựu Ước tóm gọn trong luật Mô-sê để bẩy anh em nhà Ma-ca-bê, vị bô lão Ê-lê-a-da, và Gio-an Tiền Hô vì trung thành với nó, đã buộc phải gánh lấy cái chết…; ‘các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế’, thì riêng với Ki-tô hữu sẽ có một thứ công chính mới được chính Đức Giê-su công bố. Nói đúng ra: chính Người là hiện thân của nền công chính đó, sự công chính của Thiên Chúa từ nhân, công chính của tình yêu tha thứ và cứu độ. Ai đón nhận và sống Tin Mừng này, tức là ‘Vì Con Người’ như Người khảng định, để rồi ‘bị bách hại’ hay chịu thua thiệt dưới bất cứ hình thức nào, đều là những người được Đức Giê-su biểu dương; những ai bị giết chết vì nền công chính mới này thì phải được chính Đức Ki-tô và toàn Nhiệm Thể Người tuyên phong ‘chứng nhân’ (martyr). Chính vì thế mà Hội Thánh ngay từ buổi sơ khai và qua mọi thời đại, đã có thói quen phong thánh cho các vị anh hùng ‘tử vì đạo’; qua việc đó Giáo Hội muốn tuyên bố rằng: các anh chị em tín hữu này là chứng nhân cho Tin Mừng tình yêu vì đã dám chấp nhận thua thiệt lớn hơn hết là mất cả mạng sống mình. Với việc phong thánh như thế Giáo Hội đồng thời cũng muốn khảng định bất cứ thua thiệt nào các Ki-tô hữu phải hứng chịu trong cuộc sống thường ngày vì ‘sống công chính mới’ đều có giá trị vô song và đáng biểu dương.

    Suy nghĩ như thế tôi mới thấy rằng: có một liên hệ mật thiết giữa các chứng nhân ‘tử vì đạo’ với mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Các ngài không phải là những trường hợp biệt lệ để các tín hữu có ‘may mắn’ được sống trong thời đại an bình nhìn vào mà thán phục mà ca ngợi, mà mơ ước rằng: nếu chẳng may lâm vào cơn cấm cách, mình cũng sẽ trung thành như các ngài. Đức Giê-su đã chẳng gọi tất cả mọi Ki-tô hữu là ‘ánh sáng’, là ‘muối men’ của trần gian, là chứng nhân Tin Mừng là gì? Có thể Người hàm ý: chứng nhân tích cực rao giảng Tin Mừng thì ít, nhưng chứng nhân vì buộc phải chấp nhận các thua thiệt, khó khăn vì nền công chính Tin Mừng trong đời sống thường ngày thì nhiều. Vì thế thật là chí lý: các ‘Thánh Tử Đạo’ được coi như tấm gương, như cột sống của Ki-tô hữu qua mọi thời đại, thời buổi bị bắt bớ thử thách cũng như khi được sống an bình sung túc.

    Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì Giáo Hội Việt Nam đã có hàng trăm ngàn các chứng nhân Tin Mừng như thế, trong số đó 117 vị đã được toàn Nhiệm Thể Đức Ki-tô phong thánh. Vấn đề được đặt ra là: phải chăng các ngài đơn thuần chỉ tạo nên nơi chúng ta một niềm kiêu hãnh mang tính lịch sử, hay đã trở thành cột sống, thành cơ bắp thúc đẩy chúng ta sống công chính Tin Mừng cách cụ thể trong đời sống thường ngày? Thua thiệt vì Tin Mừng thì thời đại nào cũng có, kể cả trong các xã hội được coi là phồn vinh dễ dãi và tự do; thế thì các ‘Thánh Tử Đạo Việt Nam’ đóng góp được gì cho người Công Giáo Việt Nam chúng ta trong xã hội được cho là ‘dễ dãi thuận lợi’ hơn hôm nay? Phải chăng chỉ là một khích lệ trung kiên nào đó sẵn sàng chiến đấu chống lại mọi thế lực thù nghịch khi cần, hay để kiên trì ‘sống công chính’ khi ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ ngay trong đời sống xã hội thường ngày?

    Ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay sẽ không mấy ý nghĩa, nếu mỗi người không tìm ra được câu trả lời cho vấn nạn này!

    Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các ngài đã chịu bách hại vì dám chấp nhận ‘sống công chính’ để phải chấp nhận những từ bỏ tới độ anh hùng. Nếu Hội Thánh đã tuyên phong cái chết anh hùng của các ngài thì đồng thời cũng tuyên phong vô vàn những tủi hổ, thiệt thòi của biết bao tín hữu anh hùng vô danh khác. Tất cả các điều này không nằm ngoài mục đích thôi thúc mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng con sẵn sàng hơn trong việc, cùng với Đức Ki-tô thập giá tha thứ và yêu thương ngay giữa lòng xã hội hôm nay, chấp nhận mọi thử thách gian nan. Xin các ngài tiếp tục trở nên chứng nhân Tin Mừng cho chúng con về một tình yêu tha thứ tuyệt đối. A-men.

    Về mục lục

    .

    LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU

    Văn Hào

    Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “ Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng :“ Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”. Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.

    Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian

    Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22 ). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 hiển thánh và một chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị; Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông) có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị; Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 – 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách thoáng chung lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.”(sanguis martyrorum semen christianorum est)

    Ý nghĩa của việc tử đạo

    Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.

    Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, nhưng làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.

    Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay

    Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín vừa qua. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây ?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.

    Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “ Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi”(Mc 8,34).

    Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.

    Kết luận

    Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “ Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.

    Về mục lục

    .

    SỐNG LÀ CHẾT

    Lm. Jos. DĐH

    Tục ngữ có câu : chết vinh hơn sống nhục, nếu lập lại câu đó trên môi miệng, không khó đối với con người ở mọi lứa tuổi. Sống, chết, xưa nay ai mà chẳng coi đó là qui luật, còn chết anh hùng hay sống hèn nhát, thì tùy tự do chọn lựa của mỗi cá nhân. Đồng ý rằng chết già cũng gọi là chết, chết trẻ cũng gọi là chết, tuy không có kinh nghiệm nhưng ai chẳng sợ chết ! Thực ra, sống là chết, hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, thì sống xa hoa hay sống nhiệm nhặt rồi cũng chết. Sống mỗi năm, mỗi tháng mỗi ngày, ai cũng phải già đi, phải tiến tới cái chết theo qui luật : sinh lão bệnh tử.

    Con người tự nhiên, ai cũng ngại nói tới chết, có chăng nghĩ tới sự chết là dịp tốt để người ta sống nghiêm túc, sống để không phải hối tiếc khi nhắm mắt xuôi tay. Với người tin Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô, nếu được phúc chết vì bảo vệ đức tin gọi là tử đạo, vinh dự đó quá lớn, nên khổ đau thập giá không hề nhẹ. Khi không đặt tình yêu nơi Thầy Giêsu, người ta sẽ cho rằng Ông Giêsu thật vớ vẩn, tại sao Ông lại nói : “ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời” ?

    Làm sao chúng ta có thể tìm ra những người không sợ chết, không sợ đau khổ ? nếu không có niềm tin Kitô giáo, sẽ không có chuyện bảo vệ hay trân trọng truyền thống đức tin cho hậu thế. Và mãi mãi, chúng ta không thể hiểu, vì sao lại có những con người bất thường, dám từ chối bổng lộc, mạng sống, để nhận lấy cái chết vì tình yêu Đức Kitô. Sống đức tin Kitô giáo đâu phải tự tìm lấy cái chết như con “thiêu thân”. Cũng không phải là tìm cách ẩn náu để bảo toàn mạng sống, mà là theo Chúa Kitô, sẵn lòng trở nên mục nát như hạt lúa gieo vào lòng đất.

    Nếu không có tin yêu, hay thiếu ơn Chúa, cha ông ta đã chối bỏ Đức Kitô, các ngài sẽ nói, chúng tôi đâu có dại khờ đến độ chấp nhận bản án chết, vừa đau khổ thân xác vừa uổng phí cuộc đời ? Có thể cảnh máu chảy đầu rơi vẫn đáng sợ đối với con người mọi thời đại, nhất là tội nhân. Tuy nhiên, người vô tội, người có tình yêu thương, người có Đức Kitô, hẳn sẽ không sợ, vì ở trong Đức Kitô mọi người là “bất tử”. Niềm tin và tình yêu đã ghi dấu Đức Kitô trong tâm hồn người Kitô hữu, sống chứng nhân Tin mừng và sống đức yêu thương chính là ơn gọi nên giống Chúa Kitô.

    Khi đưa ra lý chứng về hạt lúa được gieo vào lòng đất, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một qui luật về “được, mất”, về một sự tự do : yêu hoặc ghét, mà mỗi chúng ta đang chọn lựa. Thực tế, ai trong chúng ta cũng muốn mình thành công, hạnh phúc, nên ước mơ, lời nói, người ta đều giống nhau, duy có việc làm là khác nhau. Nếu người Kitô hữu chỉ tìm sống cho cái tôi ích kỷ của mình, hẳn người ấy đang mất đi tình hiệp thông của Đức Kitô, sẽ chết vì cô đơn, vì thiếu tình yêu thương.

    Người Kitô hữu chúng ta dành tháng 11 hàng năm để hiệp thông cầu nguyện cho người đã khuất. Xã hội hôm nay dành chúa nhật tuần thứ ba của tháng 11 để cầu nguyện, tưởng nhớ đến những người chết vì tai nạn giao thông. Thật ra thì, dù tin hay không, người sống cũng vẫn nhớ tới người chết, và kẻ chết có biết hay không, người sống vẫn bày tỏ hoa nến nhang đèn như câu tục ngữ : sống khôn chết thiêng. Là con cháu của các thánh tử đạo, hẳn chúng ta có quyền tự hào về tính anh hùng của các ngài trước sự chết, có thể lịch sử giai đoạn đó khác với chúng ta hôm nay, nhưng sống niềm tin vẫn là ơn gọi căn bản của người Kitô hữu chúng ta.

    Sống là chết, liệu có mâu thuẫn đối với chúng ta không ? Sống lười biếng, sống hưởng thụ có phải là đang tiến tới cái chết thật phí phạm không ? Người xưa nói rằng : anh hùng chỉ chết một lần, kẻ hèn nhát lại chết vô số lần. (Shakespeare). Cái chết anh hùng là cái chết khôn ngoan, vì niềm tin, vì tình yêu Đức Kitô, đúng hơn họ không chết mà là đang sống. Ngày hôm nay, người đời vẫn kính phục những vị anh hùng, dám hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước quê hương. Và đến mọi thế hệ, không ai lại kính trọng người hèn nhát, người chỉ lo tìm hưởng thụ cho lợi ích cá nhân.

    Khi mạng sống bị đe dọa, bằng bất cứ giá nào, người ta cũng tìm cách để khỏi chết và bảo toàn được mạng sống của mình. Người không có niềm tin cho rằng sống chết là do số mệnh; kẻ bi quan nói rằng, đằng nào cũng chết, vì thế hãy hưởng thụ, kiêng khem tử tế rồi cũng đem chôn. Kitô giáo chúng ta tin rằng : Thiên Chúa là chủ sự sống; Chúa Giêsu thì nói : “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó”. Tin theo Chúa, dù không phải chết tử đạo như cha ông chúng ta, nhưng mỗi người đều được trở nên giống Đức Kitô, nghĩa là phải chết đi trong tính hư nết xấu của mình. Là con cháu, không phải chúng ta chỉ ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hay uống nước nhớ nguồn, mà mỗi người phải ý thức di sản đức tin chúng ta đang có là do tiền nhân đã sống, đã chết vì yêu Chúa, yêu hậu thế chúng ta hôm nay. Nhớ đến các ngài, cũng là lời nhắc nhớ sống đức tin, và hiệp thông với các ngài tiếp tục sống đức yêu thương. Amen.

    Về mục lục

    .

    AI LIỀU MẤT SỰ SỐNG MÌNH VÌ TÔI

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

    Cùng với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ này, chúng ta mừng kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Năm. Cụ thể, có tất cả 96 vị thánh tử đạo: 37 thánh tử đạo linh mục và 59 thánh tử đạo giáo dân, nam và nữ. Các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.

    Như chúng ta vừa nghe, đa số các thánh tử đạo là giáo dân nam và nữ. Vậy chúng ta hãy cầu xin cho Giáo Hội và nhất là cho tất cả các Ki-tô hữu, là chính chúng ta, có được niềm xác tín tuyệt đối nơi tình yêu muôn ngàn đời bền vững của Thiên Chúa dành cho chúng ta, bất chấp mọi sự, theo gương của các thánh tử đạo. Như lời thánh Phao-lô nói:

    Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

    1. “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”

    Hôm nay, trong Thánh Lễ này, Đức Giê-su mời gọi một lần nữa với từng người trong chúng ta một cách đặc biệt. Một cách đặc biệt, đó là bởi vì, chúng ta là nòi giống, là con cháu, là hoa trái của máu các vị thánh Tử Đạo, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống và làm chứng cho Tin Mừng đến mức độ anh hùng, theo gương của các Thánh Tử Đạo của chúng ta.
    Tuy nhiên, tất cả chúng ta, sống ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì, đều cảm thấy lời mời gọi này của Đức Giê-su thật khó hiểu: tại sao lại phải từ bỏ chính mình? Tại sao lại phải vác thập giá hằng ngày? Và không chỉ khó hiểu, nhưng còn khó sống nữa. Khó hiểu và khó sống, nhất là trong bối cảnh của thời đại chúng ta; bởi lẽ, thời này, người ta, và có khi là chính chúng ta nữa, ưa chuộng và tìm cách tôn vinh bản thân mình, hơn là từ bỏ chính mình, ưa chuộng và tìm cách hưởng thụ những lạc thú, hơn là vác thập giá của mình hằng ngày vì lòng mến Đức Ki-tô và để đi theo Đức Ki-tô.
    Nhưng kinh nghiệm sống của các Thánh Tử Đạo, của các bậc cha anh, của cha mẹ chúng ta, và của chính chúng ta nữa, cho thấy rằng lời gọi này của Đức Giê-su chỉ có thể hiểu được và sống được trong tương quan giao ước mà thôi, giao ước của chúng ta với Chúa và giao ước của chúng ta với nhau. Giao Ước hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau, đó là hôn phối, lời khấn, cam kết, tuyên hứa, hay đơn giản là bổn phận hay tình bạn. Trong khi đó, con người thời nay, lại không thích sống theo giao ước, nhưng chuộng sống theo cảm xúc, vui thì ở, còn buồn thì đi, thì đoạn tuyệt.
    Thật vậy, để sống với nhau và sống cho nhau, trong gia đình hay trong cộng đoàn tu trì theo giao ước, chúng ta luôn phải ra khỏi mình để hướng về người khác, phải quên đi chính mình để lo cho người khác, phải mang vào mình những khó khăn và khổ đau, phải trung thành với nhau và với ơn gọi khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn, khi thấy nhau dễ thương cũng như lúc thấy nhau khó thương.
    Cách sống này có vẻ khắc khổ, sầu bi, đầy vất vả và đau khổ, nhưng nếu được sống bằng tình yêu, sự trung tín, lòng mến, tình thương, tình bạn, thì một cách sống như thế sẽ biến thành niềm vui và hạnh phúc sâu xa và bền vững. Như thánh Au-gus-ti-nô nói, trong tình yêu thì không có đau khổ; và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.

    1. “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”

    Nhưng lời của Đức Giê-su còn đi xa hơn nữa: “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa, và chúng ta có thể tự do ưng thuận hay không. Nhưng hậu quả rất là nghiêm trọng và không thể đảo ngược được, đó là mất đi sự sống hay cứu được sự sống mãi mãi. Sự sống của chúng ta, dù có cố giữ lấy hay cho đi, thì rốt cục cũng sẽ qua đi. Và Đức Giê-su mời gọi chúng ta lựa chọn con đường cho đi vì Chúa và theo gương của Chúa, để có thể nhận lại sự sống.

    Cho đi sự sống để nhận lại sự sống, điều này vừa khó hiểu và vừa vừa khó sống. Tuy nhiên, đó lại là qui luật muôn đời của chính sự sống và ai trong chúng ta cũng biết và thậm chí có kinh nghiệm về qui luật này của sự sống.

    – Đó là hạt lúa mì, vốn phải chịu chôn vùi và nát tan, để nẩy mầm, lớn lên và trổ sinh nhiều hạt khác.

    – Đó là sự cho đi chính bản thân mình của cha mẹ, để sự sống được lưu truyền nơi những người con. Điều này đặc biệt đúng nơi những người mẹ: người mẹ phải cho đi chính máu thịt, chính sự sống của mình khi cưu mang sự sống mới, là đứa con; và nhất là khi có những người mẹ, phải hy sinh sự sống của mình để sinh con.

    – Đó là đời dâng hiến, là sự hy sinh cuộc đời của các linh mục, tu sĩ nam nữ, để chính Thiên Chúa làm phát sinh ra hoa trái sự sống gấp trăm nơi nhiều người.

    1. Qui luật muôn đời của sự sống

    Để cho sự sống được tiếp tục, được sinh sôi, để phục vụ cho sự sống, phải chia sẻ, trao ban, cho đi và hi sinh chính sự sống của mình. Đó chính là qui luật muôn đời của sự sống. Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa cũng không đi con đường lạ lùng nào khác ngoài con đường muôn đời của sự sống, nghĩa là con đường của hạt lúa mì: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều…, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”; và Ngài vẫn trao ban sự sống của mình cho chúng ta hằng ngày trong Thánh Lễ, dù chúng ta có như thế nào.

    Như thế, lời của Đức Giêsu không chỉ là một thách đố tận cùng, nhưng còn là Tin Mừng tận cùng; vì Ngài hứa với chúng ta rằng con đường của hạt lúa mì, qui luật muôn đời của sự sống, chính là con đường đạt tới sự sống mới, phong phú và viên mãn, con đường nhận lại sự sống từ chính Nguồn Sự Sống là Thiên Chúa hằng sống.

    * * *

    Và đó cũng là niềm xác tín của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mà chúng ta mừng kính hôm này. “

    Ai liều mất mạng sống mình vì tôi,
    thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
    Đó hiển nhiên là lời hứa ban lại sự sống ở đời sau. Nhưng sức mạnh và niềm vui của Sự Sống mới mai sau, đã được chúng ta cảm nghiệm một cách vừa cụ thể vừa sâu xa ngay hôm nay rồi, và ngay trong hành vi cho đi vì lòng mến Đức Ki-tô.

    Về mục lục

    .

    CHẾT VÌ YÊU

    Huệ Minh

    “Lửa thử vàng, gian nan thử sức !” Ông bà ta vẫn thường nói như thế trong cuộc sống thực tại. Đó thực tại trong cuộc sống và đúng với thực tại của cuộc sống. Còn đó, bên cạnh thực tại của đời sống con người chính là đời sống, sức sống của niềm tin. Để chứng minh niềm tin của mình, có khi người ta không phải chỉ minh chứng bằng lời nhưng có khi còn phải trả bằng một cái giá rất đắc đó chính là máu của mình, là mạng sống của mình nữa.

    Trang sách Maccabêô quyển thứ hai khá quen thuộc với người Kitô hữu chúng ta, nhất là khi chúng ta kính nhớ đến các anh hùng tử đạo. Câu chuyện trong sách thuật chuyện một người đáng kính, từ chối không ăn thịt heo cho dù phải chết. Ông được nhiều người quý mến nên đổi thịt heo thành thịt mà luật cho phép ăn, rồi đề nghị ông giả vờ ăn thịt heo để thoát chết. Êlêazarô từ chối mánh khóe để được sống này, vì khi làm như vậy gây gương xấu cho thế hệ tương lai. Thế hệ trẻ đâu biết đó không phải là thịt heo, nên tưởng rằng Êlêazarô tham sống sợ chết mà vi phạm luật Chúa.

    Thái độ sống của Êlêazarô rất trong sáng, rất tự do ngay cả đối với cái chết. Ông cũng là người cho thấy tình yêu và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Nơi con người mỏng dòn, Thiên Chúa đã và đang làm những điều tuyệt vời.

    Và, ta thấy không chỉ mình Êlêazarô mà còn nhiều nữa những người đã minh chứng niềm tin và tình yêu của mình với Thiên Chúa.

    Có lẽ, vị tử đạo anh hùng nhất trong lịch sử Kitô giáo có lẽ là Đức Giêsu. Đức Giêsu đã minh chứng tình yêu, niềm tin của mình với Cha bằng cái chết và cái chết nhục hình trên thập giá.

    Máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá đã nảy sinh thêm nhiều hạt giống tử đạo khác nữa. Người được phúc tử đạo tiên khởi sau cái chết của Chúa Giêsu đó chính là anh chàng Stêphanô. Trong việc đổ máu của người vô tội này, có sự góp công của chàng trai trẻ là Phaolô.

    Ta lại đi tiếp và ta thấy sau khi ngộ ra được Đấng Cứu Độ trần gian, chính Phaolô đã quay trở lại và đã hy sinh cả cuộc đời mình để minh chứng cho tình yêu Giêsu.

    Và dần dần, dòng máu tử đạo cứ lan tràn để rồi hạt mầm của đức tin đã nảy nở khắp thế gian.

    Hạt giống đức tin cũng đã được đưa vào đất nước Việt Nam. Và rồi, sự dữ, sức mạnh của thế gian muốn bóp nghẹt hạt giống đức tin để rồi có nhiều cuộc bách hại về đức tin. Thế nhưng, ta lại thấy các bậc cha ông của chúng ta đã can đảm chấp nhận chết để minh chứng cho niềm tin và tình yêu vào Thiên  Chúa.

    Cái chết của các ngài, làm rạng danh gia tộc, giúp cho những người con người chồng người vợ nhìn lên tấm gương của những bậc cha anh thân yêu mà phấn đấu sống cho nên người và nên người con ngoan của Chúa. Các thánh tử đạo là những người ảnh hưởng rất lớn trên thế hệ tương lai mà nhiều người không thấy rõ điều này, khi cho rằng các ngài chết thì đâu có dạy dỗ hoặc ảnh hưởng gì được trên ai. Nơi các anh hùng tử đạo, lời dạy không bằng ngôn từ nhưng bằng chính cuộc sống. Và chúng ta biết, lời bằng hành động hay cuộc sống thì có sức thuyết phục hơn lời nói nhiều.

    Niềm tin vào Chúa, đặc biệt ta thấy mãnh liệt nơi cuộc đời của Thánh Phaolô. Tâm tình của Thánh Phaolô trong trang thư của Ngài gửi tín hữu Roma ta thấy quá tuyệt vời. Dòng thư ấy cho ta thấy xác tín của thánh Phaolô. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức GiIêsu. Bằng cớ cho thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đó là Ngài đã ban chính Con Một Ngài cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài cho chúng ta, thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa?

    Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Không phải vì chúng ta yêu Thiên Chúa đến độ không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa giữ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Nếu chính Thiên Chúa giữ, thì ai giựt chúng ta ra khỏi tay Thiên Chúa được? Nếu chỉ là bản thân con người ghì chặt Thiên Chúa, thì người mạnh hơn có thể giựt họ ra được, nhưng đây chính Thiên Chúa giữ. “Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Yêsu Kitô”. Không ai, cho dù đó là thiên thần hay quỷ dữ, bất cứ quyền lực nào cũng không thể làm điều này, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng mạnh.

    Vì tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, nên tôi vững dạ an tâm, nên tôi ung dung thư thái bất chấp tất cả. “Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, chính là Chúa”. “Đức Chúa là ánh sáng và Đấng cứu độ tôi, tôi còn sợ chi ai, tôi còn kinh khiếp chi ai”! Chính Thiên Chúa làm cho các thánh tử đạo trung thành với Ngài, cho dù “kiếm sắc, đầu rơi, gươm đao, xá gì”. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự nơi chúng ta.

    Và, ta vẫn nghe đâu đó phảng phất trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức gIêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho tình yêu, các anh hùng tử đạo đã luôn chết cho chính mình trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của mình.

    “Được lời lãi cả thế gian, mà phải mất mạng sống mình, thì ích gì?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn thì ích lợi gì? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho tình yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.

    Lời mời gọi tử đạo vẫn còn vang vọng trên cuộc đời, trong cuộc đời của chúng ta. Không còn đổ máu đào như xưa nhưng chúng ta đổ máu cho những hy sinh, cho những từ bỏ của chúng ta để minh chứng tình yêu, niềm tin của chúng ta vào Chúa.

    Nói như Thánh Phaolô : “Không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” xem ra rất dễ nhưng để sống tâm tình cũng như xác tín đó hoàn toàn không dễ. Ta lại chạy đến để xin Chúa thêm ơn cho ta để ngày mỗi ngày ta sống gần Chúa hơn, bám vào Chúa hơn, theo sát Chúa hơn để rồi tình yêu của ta và Chúa ngày mỗi ngày gắn kết hơn. Có như thế, ta mới mong được hưởng triều thiên tử đạo như các bậc tiền nhân của chúng ta.

    Về mục lục

    .

    TỬ ĐẠO GIỮA ĐỜI THƯỜNG

    Dã Quỳ

    Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, một thời đại mà người ta cạnh tranh nhau quyền cao chức trọng ở mọi lãnh vực, một xã hội mà quyền lợi cá nhân, hưởng thụ và  sở hữu được ưa chuộng. Hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta “Từ bỏ chính mình, liều mất mạng sống…” để theo Chúa, điều này nghe ra thật phi lý và ngược đời! Thế nhưng, sẽ thật có lý và hợp với đời của một Kitô hữu vì đó là điều kiện tiên quyết để bước theo Chúa. Lời Chúa và mẫu gương của chính Chúa đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, và của các Thánh Tử Đạo Việt Nam sẽ là một bảo đảm minh chứng cho chúng ta.

    Đường Trần Gian – Đường Thập Giá.

    Cuộc đời được ví như một hành trình. Hành trình  này chẳng thẳng ngay và không hề nhẹ nhàng êm ái. Lớn hay nhỏ đang sống trong trần gian, chúng ta đều cảm nhận trần gian đầy đau khổ và nước mắt, chẳng thế mà nhạc sĩ nào đó đã viết” Đường nhân gian đày ải chông gai, ai chưa qua chưa phải là người!” Giàu cũng khổ mà nghèo thì khốn khổ hơn! Tiền bạc, chức vị cũng không làm cho người ta hạnh phúc  và cũng không mua được bình an. Đau khổ như là một  thập giá gắn liền với đời người dù người đó có là môn đệ Chúa Kitô hay không.  Thập giá đến với mỗi người mỗi cách khác nhau. Thập giá ấy có thể là từ trong những bất toàn của bản thân, trong bệnh tật, trong khó khăn của cuộc sống. Thập giá cũng có thể là từ những nghịch cảnh  thông thường của cuộc đời…

        Với người Kitô hữu, chúng ta sẽ gặp thập giá trong cuộc đời khi sống trung thành với giáo huấn của Chúa và Hội Thánh. Thập giá đến khi ta sống ngay thẳng trong buôn bán, thật thà và công bằng trong kinh doanh hay trong giao tiếp. Người ta có thể cho là ta điên rồ, ngược đời hay ngu xuẩn thậm chí bị loại trừ. Thập giá đến với ta trong những chọn lựa từ bỏ mình để yêu thương đón nhận tha nhân ngay cả khi họ vu oan, ghen ghét, làm hại ta…Và thập giá cũng sẽ được ta đón nhận khi ta biết cố gắng sống theo Lời Chúa dạy, biết sửa mình, ăn năn sám hối về những tính hư, nết xấu và tội lỗi của ta để xứng đáng là con cái Chúa.

    Đường Thập Giá – Đường Tử Đạo.

    Khi thập giá đến, chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta sẵn sàng đón nhận hay dễ dàng để ôm lấy. Đã là thập giá, thường ta luôn cảm thấy nặng nề, khó vác. Đôi khi ta không dám nghĩ tới và muốn tránh bởi không ai thích đau khổ, thất bại, bị loại trừ, nghịch cảnh, thất vọng chán nản…Và hơn thế nữa, Satan cũng tìm đủ cách lôi chúng ta xa thập giá, vì nó không muốn ta đi vào con đường của Chúa.

        Lời Chúa tha thiết mời gọi ta:” Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ chính mình, không đơn giản chút nào! Từ những cái rất nhỏ trong cuộc sống: người mắng ta một câu, ta muốn đáp lại hai, ba câu. Nhưng từ bỏ mình là bỏ qua, là chấp nhận lời nói không tốt đó và đáp lại bằng lời yêu thương, lời hòa giải. Khó lắm, nó đau ở trong lòng và như nuốt cục phèn vậy, nhưng nếu ta làm được, ta sẽ cảm nhận ngọt ngào trong tâm hồn. Từ bỏ mình trong những chọn lựa theo Tin Mừng, sống yêu thương, tha thứ sẽ như là những cuộc tử đạo âm ỉ từng ngày chứ không chỉ một lần. Trong cuộc sống với những bôn ba cho cơm áo gạo tiền, nhiều khi đặt ta trước những chọn lựa theo công bằng, bác ái đòi ta phải hy sinh mối lợi, mất miếng ăn để chu toàn luật Chúa. Ta sẽ đau lắm và dằn vặt nhưng  với ơn Chúa, ta chọn lựa tử đạo khi mất lợi danh và có khi mất cả mạng sống. Tôi nghĩ đến một người đàn ông Công Giáo, đã làm việc thật tốt trong một công ty sản xuất. Thế rồi, vì sống ngay thật, không theo những mánh khóe gian dối với đồng nghiệp nên anh đã lãnh nhận hậu quả là bị hại chết ngay trong chuyến công tác xa, sau bữa ăn cùng nhóm đồng nghiệp ấy. Ta có thể đi vào đường tử đạo khi sống trung thành với Chúa Kitô để bảo vệ sự sống, như một chị y tá nọ sau nhiều năm học tập, chị được chọn vào làm trong một bệnh viện lớn. Thế nhưng, ngay ngày thứ hai đi làm, người ta yêu cầu chị tham gia vào ca phá thai. Chị từ chối, lập tức người ta sa thải chị. Chị mất việc mà chị đã tốn nhiều công sức tiền của để có được. Chị đã vác  thập giá cùng với Chúa Kitô! Để chọn lựa vác thập giá hàng ngày, chọn lựa tử đạo suốt đời, ta không thể thực hiện với sức riêng nhưng phải cậy nhờ ơn Thánh và nếu ta tin tưởng cậy dựa vào Chúa, Ngài sẽ luôn giúp ta vì: ” Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách”(1Cr 1,4).

    Đường Tử Đạo – Đường Tới Vinh Quang.

    Ngày nay, trên quê hương chúng ta ít có những cuộc cấm hay bách hại đạo như xưa cha ông ta đã trải qua. Nhưng lại xuất hiện nhiều hơn những dịp thử thách về đức tin tinh vi mà nếu không tỉnh thức, ý thức và có một tâm hồn bén nhạy thì ta sẽ dễ đi vào việc chối đạo, phản đạo và bỏ Chúa qua chính cách sống, lời nói và việc làm của ta. Các Thánh Tử đạo Cha ông chúng ta đã kiên trung thực thi Lời Chúa dạy:” Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 24). Các ngài yêu Chúa hơn yêu mạng sống mình như lời nói và máu đổ ra của Thánh Phaolo Khoan  “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa và Chúa Cả Trời đất, con xin dâng mạng sống cho Ngài”. Có vị thánh đã từ bỏ chức quyền để giữ vững đức tin và linh hồn như thánh Hồ Đình Hy là quan lớn, thánh Phạm Trọng Tả là chánh tổng nhưng các Ngài chọn Chúa hơn là địa vị ở trần gian. Các ngài chọn gia nghiệp Nước Trời hơn là sản nghiệp trần thế nay còn mai mất“Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”(Thánh Phêrô Truật). Các ngài không dẫm lên Thập giá Chúa Kitô nhưng anh dũng bước đi trên đường Thập giá vì các ngài  xác tín chỉ qua Thập giá mới tới Vinh quang và cuối đường, chính Chúa Kitô đón các ngài vào hưởng vinh quang hạnh phúc với Người trong Nước Trời, như sách Khôn Ngoan nói:”Người đời nghĩ rằng họ bị trừng phạt, nhưng họ vẫn chan chứa niềm hy vọng được trường sinh bất tử. Và Đức Chúa sẽ là vua của họ đến muôn đời”(Kn 3,4.8)

    Trải qua suốt ba thế kỷ bách hại, đã có cả trăm ngàn anh em Kitô hữu chết vì đạo. Gương chứng nhân Đức Tin và lòng hy sinh mạng sống vì Chúa Kit-tô và vì Tin Mừng của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cha ông ta, sẽ là mẫu gương và niềm hãnh diện lôi cuốn chúng ta can trường sống chứng nhân giữa đời thường và dám chọn sống, chết vì đạo. Từ dòng máu anh hùng của cha ông, từ những khổ đau, những đắng cay của các ngài, ta có được hạt giống đức tin hôm nay. Vậy thập giá là một phần quan trọng của đời Kitô hữu và chính Chúa Giê-su đã không khước từ thập giá vì đường thập giá-đường tử đạo mới là đường dẫn tới vinh phúc: “…Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người…”(Pl 2,6-11). Lao nhọc, đau khổ, nghịch cảnh, hy sinh, chiến đấu và tử đạo…cần thiết để trở thành một phần của đời người môn đệ Chúa Kitô. Ước gì khi sống giữa đời, mỗi Kitô hữu chúng ta cũng tin tưởng thưa lên như thánh Phaolô “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy…Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta”(Rm 8,35-37). Để rồi chúng ta dám sống vì Chúa, chọn lựa theo Chúa, trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh và can trường chết vì Chúa trong những dịp tử đạo giữa đời thường. Vì ” Ai liều mất mạng sống vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”(Mc 8,35).

    Nguyện xin Thần Khí Chúa ban ơn khôn ngoan và sức mạnh giúp chúng con biết chọn lựa sống vì Chúa, vì Tin Mừng. Và xin dạy chúng con biết yêu thập giá là dấu chỉ của chiến thắng, của vâng phục, của tình yêu và của con đường dẫn đến ơn cứu độ. Amen.

    Về mục lục

    .

    DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

    Lm. Đan Vinh

    1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
    2. CÂU CHUYỆN: CUỘC TỬ ĐẠO CỦA THÁNH ANRÊ TRẦN AN DŨNG LẠC

    TRẦN AN DŨNG LẠC sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây, cậu được một Thầy giảng nhận làm con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Anrê. Sau đó cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy Anrê Dũng được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi mới có 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh mục, cha Anrê được sai đi giúp xứ. Ở đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày ăn chay theo luật định, Cha còn tự nguyện giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày thứ Sáu thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như vậy, nên cha đã gây được thiện cảm của những người chung quanh và thành công trên bước đường tông đồ: Qua cha, nhiều tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và nhiều người lương đã tin theo Chúa và xin gia nhập đạo Công giáo.

    Trong thời gian đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua Minh Mạng, cha Anrê Dũng đã phải trốn lánh nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc. Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông khi đang xưng tội với cha Phêrô Thi. Hai cha bị quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được thả. Rồi sau đó cha lại bị đám quân lính khác bắt mang về huyện giam chung với cha Phêrô Thi và cả hai được áp giải về Hà Nội.

    Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét và bắt phải bước qua Thánh Giá để bày tỏ ý định bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ lại hèn nhát chối bỏ Chúa!”. Trước sự bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi về Kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài lại cho các bạn tù hoặc lính canh.

    Ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh xử trảm của nhà vua. Rồi các ngài bị điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút, rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận sự. Đức Thánh Cha Lêô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng Chân Phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã suy tôn hai ngài lên bậc hiển thánh.

    1. THẢO LUẬN:

    1) Tại sao đạo Công giáo thường hay bị người đời thù ghét bách hại?

    2) Tử đạo là sẵn sàng hy sinh chịu chết để làm chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Vậy các tín hữu chúng ta sẽ phải dũng cảm làm chứng cho Chúa thế nào trong xã hội Việt Nam hôm nay ?

    1. SUY NIỆM:

    1) SỐ LIỆU CÁC ANH HÙNG TỬ ĐẠO VIỆT NAM: Ngay từ thời Giáo Hội Sơ Khai, các tín hữu đã phải chịu chung số phận với Thầy Giê-su là bị cấm cách, bắt bớ và giết hại. Thời nào và nơi nào đạo được truyền tới cũng đều có các vị anh hùng tử đạo. Tại Việt Nam, theo sử liệu, đạo Chúa đã được truyền giảng từ thế kỷ thứ 16. Và suốt thời gian gần 300 năm sau đó, luôn bị đàn áp bách hại với những cảnh đầu rơi máu chảy! Sau Hội Thánh Rô-ma thì có lẽ Hội Thánh Việt Nam đã dâng cho Chúa được nhiều thánh tử đạo hơn cả! Người ta ước tính có tới hằng trăm ngàn người Công giáo đã bị giết hại vì đức tin dưới các triều đại nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và bị các phong trào Cần Vương Văn Thân đàn áp bách hại. Trong số đó, 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong lên bậc hiển thánh và được mừng chung trong niên lịch toàn thể Hội Thánh. Trong số này có: 8 Giám mục, 50 Linh mục, 16 Thầy giảng, 1 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Các ngài đã chịu nhiều cực hình như: 79 vị bị trảm quyết (chém đầu): 16 vị bị xử giảo (treo cổ); 8 vị bị chết rũ rù do đói khát bệnh tật khi bị giam trong ngục; 6 vị bị thiêu sinh (chết thiêu trong hỏa lò).

    2) LÝ DO CÁC NGÀI BỊ VUA QUAN BÁCH HẠI:

    Các thánh Tử Đạo bị vua quan và dân chúng thời đó thù ghét đàn áp giết hại không phải vì các ngài là những kẻ xấu làm điều gian ác, nhưng chỉ vì các ngài đã tin vào danh Đức Giê-su và đã dũng cảm tuyên xưng đức tin ấy, thể hiện qua thái độ bất khuất, không chịu bước qua thập giá theo lệnh vua quan, hầu ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thóat” (Mt 10,22).

    Đàng khác, vua quan và dân chúng thù ghét và ra tay bách hại các tín hữu là do hiểu lầm về giáo lý của đạo khi cho rằng theo đạo là vọng ngọai, là bất hiếu vì phải bỏ việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đang khi thực ra không phải như vậy: điều răn thứ tư trong mười điều răn của đạo Chúa đã truyền dạy: con cái phải “thảo kính cha mẹ” và người tín hữu vừa phải chu tòan bổn phận thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất lại vừa phải tôn kính và tưởng nhớ cầu nguyện và tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời.

    Nhưng lý do chính yếu khiến vua quan và các phong trào Cần Vương Văn Thân thời đó thù ghét bách hại các tín hữu là do tự ái dân tộc và hiểu lầm về lòng yêu nước của các tín hữu: Họ sợ người theo đạo sẽ bị các thừa sai ngọai quốc xúi giục làm lọan, trong khi các vị thừa sai ngọai quốc đã dám bỏ quê hương và từ giã người thân đến vùng đất xa xôi và chấp nhận hy sinh ngay cả mạng sống là do đức tin và lòng mến Chúa thôi thúc. Các ngài chỉ muốn chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng của Đức Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,19-20); “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b). Và quả thật, lịch sử đã ghi nhận: các thánh Tử Đạo Việt Nam đã bị vua quan kết án chỉ vì đức tin mà thôi chứ không do tội phản lọan theo giặc làm loạn chống phá triều đình.

    3) SỐNG CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG:

    Bí quyết khiến các anh hùng Tử Đạo vượt qua gian nan thử thách là do các ngài biết “sống sự sống của Chúa Giê-su trong thân xác yếu hèn của mình”. Đức Giê-su đã hứa sẽ ban Thánh Thần giúp các môn đệ phải nói gì và nói thế nào khi bị điệu ra trước quan quyền (x Mt 10,19-20). Để được như vậy, các ngải đã phải mỗi ngày “chết đi cho bản thân”, và sống trong ơn nghĩa của Đức Giê-su.

    Ngày nay có lẽ chúng ta không có cơ hội làm chứng cho Chúa như các thánh Tử Đạo cha ông, nhưng chúng ta vẫn có thể trở thành chứng nhân của Chúa ngay giữa cuộc sống đời thường hằng ngày trong gia đình và ngoài xã hội:

    – Để có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đức tin khi cần, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải quyết tâm sống đức công bình bác ái trong các giao tiếp với hàng xóm và làm ăn buôn bán nơi phố chợ.

    – Để có thể dũng cảm làm chứng cho Chúa trước mặt người đời khi có dịp, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người chồng người vợ tốt lành, luôn chu tòan trách nhiệm lo cho gia đình, là những người con cháu có lòng hiếu thảo đối với các bậc tiền nhân ông bà;

    – Để sau này có thể trở thành công dân của Nước Trời, thì ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người công dân tốt, sẵn sàng chu tòan nghĩa vụ đối với quê hương và trở thành khí cụ bình an của Chúa bằng cách sống theo tinh thần của Kinh Hòa Bình… Nhờ đó chúng ta sẽ gây được thiện cảm đối với đồng bào lương dân cùng khu xóm với chúng ta.

    1. LỜI CẦU:

    – Lạy Chúa, xưa Chúa đã dạy các môn đệ rằng: “Anh em sống giữa thế gian, nhưng không được theo thói thế gian”. Xin cho chúng con đừng bao giờ bỏ Chúa để chạy theo cám dỗ của thế gian, ma quỉ và chiều theo các đam mê xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh”, để chúng con luôn xứng đáng là con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt người đời: Biết nở nụ cười khi tiếp xúc, sẵn sàng cởi mở đi bước trước để làm quen với những người mới gặp, mở miệng an ủi những ai đang gặp tai nạn rủi ro; biết khiêm hạ phục vụ tha nhân, đặc biệt phục vụ những người đau khổ bất hạnh đang cần được cảm thông trợ giúp.

    – Hát chung Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… “

    X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

    .

     

     

    BÊN KIA SỰ CHẾT

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Vào mỗi dịp cuối năm, Phụng vụ lại mời gọi chúng ta suy niệm về thân phận con người. Trong tháng Mười Một dương lịch, chúng ta thường đến viếng mộ người thân. Giữa “thành phố thinh lặng” của những người đã nằm xuống, các ngôi mộ lớn nhỏ nằm cạnh nhau. Đến viếng mộ để tưởng nhớ người ra đi, đồng thời cũng là để suy tư về hậu vận con người. Dù sang hay hèn, dù trí thức hay bình dân, dù hạnh phúc hay đau khổ, cuộc sống đời này đều kết thúc ở nấm mộ. Tuy vậy, người Công giáo tin rằng, nấm mộ không phải là điểm đến cuối cùng của con người. Đó chỉ là nơi dừng chân trong khi chờ đợi được sống lại. Ngôn sứ Đanien đã được thấy viễn tượng này trong một thị kiến. Vào lúc tận cùng của thời gian, mọi người đã chết đều được sống lại. Người thì sống lại để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì sống lại để chịu trầm luân vĩnh viễn. Bên kia sự chết vẫn có sự sống!
     
    Niềm tin vào đời sau giúp chúng ta cố gắng sống tốt ở đời này. Tin vào Thiên Chúa là Đấng sẽ phán xét kẻ dữ người lành sẽ giúp ta hy vọng và kiên nhẫn vươn lên để  không vấp ngã trên đường đời. Người tín hữu tin có đời sau, khi họ kết thúc hành trình dương thế. Chết không phải là hết, mà chỉ là kết thúc một giai đoạn của cuộc sống. Chết là sự biến đổi, là cánh cửa mở ra để người công chính tiến vào sự sống đời đời. Luôn suy nghĩ đến phúc tội, sẽ giúp con người dễ hoàn lương hơn. Các thánh là những người tin chắc có sự sống đời sau, và họ đã làm mọi sự để đạt được sự sống ấy, như phần thưởng Chúa dọn sẵn cho những ai mến yêu và trung tín với Ngài.
     
    Sống giữa thế gian, con người dễ bị cám dỗ dao động. Họ bị lôi kéo để chọn lạc thú tiền tài và lợi lộc trước mắt. Họ lập luận rằng: cuộc đời chẳng có bao nhiêu, không ăn chơi hưởng lạc thì cuộc đời uổng phí! Có biết bao người chọn hưởng thụ làm lẽ sống, nên đã phải gánh chịu hậu quả thê thảm. Cuộc đời họ tan nát tiêu điều và trở thành gánh nặng cho người thân.
     
    Chúa Giêsu đã khuyên nhủ chúng ta hãy kiên nhẫn và vững vàng, kể cả trong lúc biến động và thậm chí là ngày tận thế. Thánh Mác-cô đã dùng lối hành văn “Khải huyền” để diễn tả ngày tận thế, với hình ảnh những thiên thể từ trên cao sa xuống, vũ bão cuồng phong làm cho con người hoảng loạn. Những ai tin cậy yêu mến Chúa thì không sợ hãi bất cứ biến cố nào, vì họ tin vào quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa. Điều quan trọng là họ phải cậy trông và tin tưởng phó thác vào Chúa, luôn trong tình trạng “tỉnh thức” để rồi bất cứ Chúa đến giờ nào, họ cũng xứng đáng ra đón Chúa và được Ngài cho hưởng hạnh phúc Thiên đàng.
     
    Những bận rộn lo toan của cuộc sống thường nhật dễ làm cho chúng ta quên đời sau. Tuy vậy, nếu sống là đang đi trong một cuộc lữ hành, thì chúng phải biết đích điểm của cuộc lữ hành đó là gì. Người khôn ngoan biết thận trọng lo liệu để không đi lệch hướng; kẻ dại dột cứ nhắm mắt đi dù chẳng biết đâu là đích điểm. Chúa Giêsu là Đấng dẫn đường cho chúng ta. Người là vị Thày dạy chúng ta tiến bước để chúng ta không bị lạc. Tác giả thư Do Thái nói về chức tư tế của Chúa Giêsu, Đấng đã hiến mình cho Thiên Chúa để mang ơn cứu độ cho trần gian (Bài đọc II). Cái chết của Người trên thập giá đã xoá bản án nguyên tội cho loài người. Người đã ra khỏi mộ tối, sống lại quang vinh, như một lời đoan chắc với chúng ta rằng, nếu chúng ta tin vào Người, chúng ta sẽ được sống lại với Người. Đó là lý do tại sao trên mỗi phần mộ của người Kitô hữu đều có biểu tượng thánh giá, như một lời tuyên xưng vững vàng vào màu nhiệm phục sinh, đồng thời cũng là một lời cầu nguyện cho người đã an nghỉ.
     
    Bên kia sự chết là sự sống. Cửa của những nấm mồ sẽ được mở tung vào ngày tận thế. Đó là niềm xác tín của chúng ta. Có nhiều người băn khoan mất tiền mất của để được dự đoán hậu vận tương lai, đường đời dài ngắn, sau đó chuốc vào thân nỗi sợ hãi bất hạnh. Khi nào là tận thế, đó không phải là điều bận tâm tìm kiếm của chúng ta. Một người sống tốt lành trước mặt Chúa và nhân hậu đối với anh chị em mình, chắc chắn sẽ được Chúa thương ban phần thưởng trong cuộc sống vĩnh viễn.

    Về mục lục

    .

     

    QUÊ TRỜI

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Có 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra có một số nhỏ các quốc gia độc lập như nước Vatican, Taiwan và Kosovo không là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nói đúng hơn là có tất cả 196 nước trên thế giới. Có những Nước lớn, đất rộng người đông như Trung Hoa có trên 1 tỷ 341 triệu người, Ấn Độ có trên 1 tỷ 210 triệu và Hoa Kỳ có trên 314 triệu người. Tổng số dân trên thế giới khoảng trên 7 tỷ. Có những quốc gia nhỏ xíu như Nước Vatican rộng (0.2 square miles) với dân số 770 dân và Nước Monaco (0.7 square miles) có 32 ngàn dân. Số dân tăng dần mỗi năm. Số người qua đời ít hơn số trẻ sơ sinh. Dòng dõi này nối tiếp dòng dõi kia hướng đến cùng đích. Bước vào thế kỷ thứ 21, nhờ khoa học kỹ thuật siêu vượt, con người đã mở rộng tầm kiến thức và tạo mối liên hệ tới mọi quốc gia. Sự truyền thông đa chiều đã nối kết con người xích lại gần nhau hơn.

    Sống trên trần gian là cuộc lữ hành đi về quê thật. Có biết bao con đường mở ra giúp dẫn đưa con người đi đến cùng đích. Con người mọi thời đã suy tư giác ngộ ra nhiều thứ đạo, nhiều tôn giáo và nhiều cách thế để đạt mục đích. Có 20 tôn giáo chính thức, đang là chỗ cậy dựa tinh thần cho nhiều người: Kitô giáo đông nhất có trên 2 tỷ tín đồ, Hồi Giáo khoảng trên 1 tỷ 570 triệu, Hinduism có khoảng 950 triệu, Buddhism (Phật giáo) số thống kê không chính xác (350-1,600 triệu tín đồ)…Ngoài ra còn rất nhiều các nhóm tôn giáo khác nhau. Tất cả các tôn giáo cùng đi tìm ý nghĩa và cùng đích cho cuộc sống hôm nay và ngày mai. Đa số các tôn giáo đều tin có cuộc sống hạnh phúc mai hậu nơi thiên đàng, niết bàn, cõi tây phương cực lạc, quê trời, cõi trời và  nơi trường sinh bất tử.

    Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta những dấu chỉ về ngày cánh chung. Nước Trời khởi đi từ trần thế và kết thúc trên quê trời. Chúa Giêsu chỉ dậy: Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần (Mc 13, 28). Chúa quan phòng cho chúng ta thấy những dấu chỉ của thời gian, không gian và vạn vật muôn loài. Mọi thứ đều có khởi đầu và có ngày cùng tận. Mọi loài thụ tạo được phát triển trong thời gian, đừng mong có những bước nhảy vọt. Cuộc sống của con người cũng như thiên nhiên cần phát triển theo những chặng đường rất tự nhiên, từ trẻ tới già, từ non nớt tới sự chín mùi, từ ngây thơ tới tuổi trưởng thành và từ khởi sinh đến cùng đích. Chúng ta được mời gọi bước tới trên con đường trọn lành để chiếm hữu quê thật.

    Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm đối diện với những người tốt, kẻ xấu. Mỗi người đều có cơ hội thay đổi để nên tốt lành hơn. Sự thật ở đời, chúng ta khó tìm được một người hoàn toàn tốt hay một người toàn xấu. Trong tâm con người, có phần tốt và chút thói xấu lẫn lộn. Nghèo cùng tâm trí và không biết gieo duyên lành sẽ dễ bị cuốn lôi theo dòng chảy. Đôi khi vì qúa chủ quan, chúng ta không nhận ra những thói hư tật xấu của mình. Mỗi người cần xét mình và biết mình để tìm cách sửa sai và thăng tiến mỗi ngày.

    Trong thế giới ngày nay, xuất hiện rất nhiều tôn giáo dẫn đường cuộc sống. Mỗi tôn giáo với những linh đạo riêng có thể giúp các tín đồ của mình tu thân và tu tâm để thoát vòng loạn ly. Đời sống con người hiện đại đang dần bị tục hóa. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hưởng thụ và tương đối đang bủa vây và kéo chìm con người trở về với bản năng hưởng thụ. Qua truyền thông nối mạng, hình như các tệ nạn và gương xấu đang tràn lan một cách mạnh mẽ như sóng triều. Sức mạnh của sự thỏa mãn vật chất mạnh hơn các lý tưởng tinh tuyền của tôn giáo. Nhiều người tìm kiếm thỏa mãn những đòi hỏi vật thể và vui hưởng cuộc sống trong hiện tại, thay vì hướng đến cuộc sống hạnh phúc tương lai. Chúng ta cần thức tỉnh cả trong ý tưởng, tâm linh và thân xác để nhận diện ý nghĩa thật của cuộc sống.

    Nhiều bạn trẻ thả trôi cuộc đời lênh đênh không có đích điểm. Thật đáng thương cho kiếp phận con người. Hằng ngày tôi gặp gỡ nhiều người trẻ tự thắt nút cuộc đời qua những biến cố xảy ra. Đang trong tuổi đẹp trăng tròn, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu tìm hưởng thụ tính dục, rồi sớm có con, không hôn nhân, không gia đình, thay bạn đổi bồ như thay áo. Qua năm tháng, những nút thắt cuộc đời đan kết chất chồng lên nhau như mối tơ vò. Nhìn một người mẹ trẻ có ba đứa con với hai hoặc ba người bạn tình. Tương lai tại thế của các bạn trẻ này thật mờ mịt khó đường giải quyết. Xảy một ly đi một dặm, làm lại cuộc đời thế nào bây giờ. Làm sao chúng ta có thể nói với họ về tương lai của ngày sau? Các bạn trẻ tự giới hạn viễn tượng sống để giải quyết vấn đề hiện tại với nhiều điều nan giải. Cứ thế cuộc đời bị luẩn cuẩn trong mạng lưới ràng buộc, cả nể cho nên sự dở dang.

    Ngày cánh chung sẽ đến giống như dấu chỉ của cây vả xanh tươi, chúng ta biết mùa hè sắp đến. Mỗi người chúng ta nên nhìn dấu chỉ của thời đại để chuẩn bị cho đời sống mai hậu. Chúng ta biết rằng một việc tốt dù nhỏ cũng có thể sinh ra hoa trái tốt lành. Chúng ta phải gieo nhân tốt mới có thể sinh qủa tốt được. Giữa ngã ba cuộc đời, chúng ta phải biết chọn lựa và từ bỏ. Chọn lựa con đường dẫn đến hạnh phúc và an lạc. Từ bỏ đi những bận vướng của cuộc sống. Cuộc đời có nhiều vương vấn nên cần có thái độ dứt khoát. Ai cũng có thể làm lại cuộc đời. Không khi nào trễ, nếu chúng ta biết bắt đầu lại. Chấp nhận thực tại, chúng ta tháo cởi từng những nút thắt để cuộc sống tâm linh được thanh thản và an vui. Những việc làm tốt nho nhỏ hằng ngày sẽ lớn dần và đâm bông kết trái.

    Chúa Giêsu biết thân phận yếu đuối mỏng dòn và tội lỗi của con người, nên Ngài đã dâng hiến lễ đền tội để giao hòa. Thơ gởi tín hữu Do-thái viết: Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hoá được nên hoàn hảo (Dt 10, 14). Dù con người có sa phạm, lầm lạc và tội lỗi, Chúa vẫn có cách dẫn đưa họ trở về như mẫu gương của thánh Augustinô. Nếu chúng ta chỉ hối tiếc về sự sa ngã lầm lạc thì chưa đủ. Muốn làm lại cuộc đời, chúng ta cần thành tâm nhận lỗi, rồi hối lỗi, thật lòng sửa lỗi, chuộc lỗi, xin tha lỗi và tu luyện tâm tánh. Đây là một sự thách đố quyết tâm đổi đời. Hãy chạy đến với lòng Chúa thương xót xin ơn tha thứ. Chúa sẽ tẩy sạch tâm hồn, đổi mới trái tim yêu thương và thánh hóa trở nên con người mới trong ân sủng.

    Niềm tin vào Thiên Chúa là niềm hy vọng viên mãn. Tiên tri Đaniel đã có thị kiến về ngày thế mạt: Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (Dn 12, 2). Chúng ta không thể coi thường những chỉ thị, huấn lệnh và lời giảng dạy trong Giáo Hội. Niềm tin tôn giáo là cửa ngõ dẫn chúng ta vào Nước Trời. Chúng ta cần phải đi, phải bước tới và thực hành những điều Chúa truyền dạy. Nước Trời mở cửa đón nhận tất cả mọi người, nhưng chỉ những kẻ kiên trì phấn đấu đến cùng mới đáng hưởng phần phúc thiên đàng. Chúng ta không biết được ngày giờ Chúa đến, nên luôn phải sẵn sàng: Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13, 32).

    Lạy Chúa, chúng con cầu xin cho Nước Cha trị đến và ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin cho chúng con biết lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày để ngày sau được chung hưởng hạnh phúc đời đời.

    Về mục lục

    .

    KIÊN ĐỊNH

    Trầm Thiên Thu

    Giữ vững lập trường là không dao động trong mọi tình huống, như ca dao nói: “Dù ai nói ng nói nghiêng, thì tôi vn vng như king ba chân”. Tuy nhiên, đó lại là điều không dễ thể hiện. Chúa Giêsu cũng đã căn dặn: “K nào bn chí đến cùng, k y s được cu thoát” (Mt 10:22; Mc 13:13).

    Kiên định, kiên tâm, kiên chí, kiên cường hoặc kiên nhẫn là đức tính rất quan trọng trong cuộc sống. Nhà giáo dục William Arthur Ward (1921-1994, người Mỹ, tác giả cuốn Fountains of Faith – Suối nguồn Niềm tin), nhận định: “S kiên nhn ca ngày hôm nay có th biến s nn lòng ca ngày hôm qua thành khám phá ca ngày mai. Mc đích ca ngày hôm nay có th biến tht bi ca ngày hôm qua thành quyết tâm ca ngày mai”. Tính kiên trì là loại “bùa hộ mạng” mà người ta luôn cần phải đem theo mình, không được rời nó ra, dù chỉ trong thoáng chốc. Đời hoặc đạo cũng đều cần kiên định, nghĩa là luôn tự nhủ “an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng, không sợ hãi chi” (Tv 112:7-8).

    Người ta nói: “Điu gì đến s đến – What will be will – Que sera sera”. Câu này có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực. Là tiêu cực nếu chúng ta thuộc loại người bất cần, là tích cực nếu chúng ta thuộc loại người biết chấp nhận thực tế – với người có niềm tin vào Thiên Chúa, đó là Thánh Ý Chúa. Thật vậy, chúng ta lo cũng không xong, tránh cũng chẳng được, thế thì cứ vui vẻ chấp nhận cho thanh thản, không chấp nhận thì chỉ tự dày vò mình mà thôi. Cuộc đời đã lắm khổ rồi, sao lại muốn làm khổ mình thêm?

    Những ngày cuối năm Phụng Vụ, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về Ngày Quang Lâm của Đức Giêsu Kitô, tức là Ngày Tận Thế. Tuy nhiên, không biết chúng ta có được chứng kiến thời khắc đó hay không, nhưng có điều chắc chắn là ngày tận thế của cuộc đời mình – tức là ngày chúng ta nhắm mắt, xuôi tay, và trả lại tất cả cho thế gian!

    Sự chết liên quan tận thế. Tận thế liên quan sự chết. Nói tới sự chết khiến chúng ta liên tưởng tới thiên tài âm nhạc Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791). Khi soạn tuyệt phẩm REQUIEM, ông đã linh cảm: “Tôi e rng tôi đang viết mt bài cu hn cho chính mình”. Trong thư gởi cho người cha, Mozart cho biết: “Con không bao gi đi ng mà không nghĩ rng có th con không còn thy ngày mai na. S chết là mc đích thc s ca cuc đi chúng ta. T vài năm nay, con đã quen vi người bn tuyt vi đó ca con người. Hình nh người bn đó không làm con s mà con thy người bn đó hin lành và ci m. Ước gì chúng ta cũng biết tâm niệm như vậy!

    Với người không có niềm tin, chết là hết – như “chó chết hết chuyện” vậy. Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức Kitô, chết không là hết, mà chết là “ngưỡng quá độ ”, là “buổi giao mùa”, là khởi đầu sự sống mới. Chết là hên chứ không xui chút nào cả.

    Kinh Thánh cho biết: “Thi đó, Tng lãnh S thn Micae s đng lên. Người là v ch huy ti cao, là đng vn thường che ch dân ngươi. Đó s là thi ngt nghèo chưa tng thy, t khi có các dân cho đến bây gi. Thi đó, dân ngươi s thoát nn, nghĩa là tt c nhng ai được ghi tên trong cun sách ca Thiên Chúa” (Ðn 12:1). Đó là nói về sự sống lại của những người đã chết. Chết là để sống lại, như vậy chết không là hết, không là điều tuyệt vọng, nghĩa là chết mà đầy hy vọng.

    Sách Đa-ni-el nói rõ về sự sống lại và sự thưởng phạt: “Trong s nhng k an ngh trong bi đt, nhiu người s tri dy: người thì đ hưởng phúc trường sinh, k thì đ chu ô nhcb ghê tm muôn đi. Các hin sĩ s chói li như bu tri rc r, nhng ai làm cho người người nên công chính s chiếu sáng muôn đi như nhng vì sao” (Ðn 12:2-3). Ngày nay sống thế nào thì ngày mai sẽ “phản ánh” như vậy, sống tốt thì được thưởng, sống ác thì bị phạt. Gọi là “thưởng – phạt” theo cách hiểu của phàm nhân mà thôi, chứ thật ra đó là sự công bằng, là điều tất yếu, là công lý ca Thiên Chúa.

    Công lý đó cũng chính là tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Có được Ngài thì thật là hạnh phúc. Tác giả Thánh Vịnh tâm sự: “Ly Chúa, Chúa là phn sn nghip con được hưởng, là chén phúc lc dành cho con; s mng con, chính Ngài nm gi” (Tv 16:5).

    Tâm niệm như vậy nên tác giả Thánh Vịnh luôn ghi nhớ: “Con luôn nh có Ngài trước mt, được Ngài bên, chng nao núng bao gi. Vì thế, tâm hn con mng r, và lòng d hân hoan, thân xác con cũng ngh ngơi an toàn. Vì Chúa chng đành b mc con trong cõi âm ty, không đ k hiếu trung này hư nát trong phn m. Chúa s dy con biết đường v cõi sng: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn tr, bên Ngài, hoan lc chng h vơi! (Tv 16:8-11). Có Chúa là có tất cả, ngay trong lúc cứ tưởng là “dấu chấm hết” nhưng chỉ là “dấu chấm xuống dòng” để bắt đầu niềm hy vọng mới. Điều này được minh chứng qua câu chuyện Tổ phụ Áp-ra-ham vâng lời Thiên Chúa mà hiến tế chính con trai độc nhất của ông (x. St 22:1-18).

    Sống để rồi chết, chết để rồi sống. Quy trình sinh – tử đó không là “vòng luân hồi” như người ta tưởng. Quy trình sinh – tử đó vô cùng kỳ diệu, nhưng không dễ thực hiện. Ai thực hiện được như vậy thì thật hạnh phúc, và xứng đáng được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Tuy nhiên, lời hứa nào cũng có điều kiện: “Hãy trung thành cho đến chết, và Ta s ban cho ngươi triu thiên s sng” (Kh 2:10c).

    Chúa Giêsu đã tiên phong trải qua “vòng sinh – tử” đó để làm hy lễ cứu độ nhân loại. Hy lễ của Ngài hữu hiệu, chỉ một lần là trọn vẹn vĩnh viễn. Thánh Phaolô nói: “V tư tế nào cũng phi đng trong Đn Th lo vic phng t mi ngày và dâng đi dâng li cũng ngn y th l tế; mà nhng l tế đó chng bao gi xoá b được ti li. Còn Đc Kitô, sau khi dâng l tế duy nht đ đn ti cho nhân loi, Người đã lên ng bên hu Thiên Chúa đến muôn đi. Và t khi đó, Người ch đi ngày các k thù b đt làm b dưới chân. Qu tht, Người ch dâng hiến l mt ln mà vĩnh vin làm cho nhng k Người đã thánh hoá được nên hoàn ho” (Dt 10:11-14).

    Và rồi Thánh Phaolô kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha ti thì không cn dâng l đn ti na” (Dt 10:18).

    Tin Mừng hôm nay có hai phần: [1] Con Người Quang Lâm (Mc 13:24-27 – tương đương Mt 24:29-31 và Lc 21:25-28), và [2] Dụ Ngôn Cây Vả (Mc 13:28-32 – tương đương Mt 24:32-36; Lc 21:29-33).

    Chúa Giêsu cho biết rằng vào những ngày đó – tức là thời cuối cùng, thời tận thế, và sau cơn gian nan ấy, mt tri s ra ti tăm, mt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao t tri sa xung, và các quyn lc trên tri b lay chuyn. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. Những hình ảnh vừa đáng sợ vừa đáng mừng, tùy “cách nhìn” của mỗi người. Chúa Giêsu nói thật, không nói đùa bao giờ đâu!

    Sau đó, Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế là cây vả để nói về cuộc sống của chúng ta. Ngài chân thành nói: “Anh em c ly thí d cây v mà hc hi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chi ny lc, anh em biết là mùa hè đã đến gn. Cũng vy, khi thy nhng điu đó xy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gn, ngay ngoài ca ri”.

    Đừng tin ai, đừng nghe ai, cứ ghi nhớ lời Chúa Giêsu đã nói: “Thy bo tht anh em: thế h này s chng qua đi, trước khi mi điu y xy ra. Tri đt s qua đi, nhưng nhng li Thy nói s chng qua đâu. Còn v ngày hay gi đó thì không ai biết được, ngay c các thiên s trên tri hay người Con cũng không, ch có Chúa Cha biết mà thôi. Chắc chắn như vậy!

    Với tâm thức đó, Thánh Phaolô đã căn dặn: “Nếu có ai bo rng chúng tôi đã được thn khí mc khi, hoc đã nói, đã viết thư qu quyết rng ngày ca Chúa gn đến, anh em đng vi đ cho tinh thn dao đng, cũng đng hong s. Đng đ ai la di anh em bt c cách nào (2 Tx 2:2-3). Và ông gọi đó là “mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7), đồng thời nhắc nhở về việc xuất hiện của tên bịp bợm: “Tên gian ác xut hin là do tác đng ca Satan, có kèm theo đ th phép mu, du l, đim thiêng, và đ mi mưu gian chước di, nhm hi nhng k phi hư mt, vì đã không đón nhn lòng yêu mến chân lý đ được cu đ (2 Tx 2:9-10). Như vậy, “tất cả những kẻ không tin s tht nhưng ưa thích s gian ác thì sẽ b kết án” (2 Tx 2:12).

    Có lần chính Chúa Giêsu cũng đã quan ngại mà đặt vấn đề: “Khi Con Người ng đến, liu Người còn thy lòng tin trên mt đt na chăng?” (Lc 18:8). Một câu hỏi đáng quan ngại thật đấy! Câu này cũng nhắc nhở chúng ta đừng hoang mang, chớ lo lắng, hãy cố gắng tập trung vào Chúa và sống đức ái qua đức tin. Chuyện gì đến sẽ đến, sợ hay lo thì cũng chẳng thay đổi được gì cả. Cứ tâm nguyện theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ly Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”.

    Thánh Phaolô đã đề cập tầm quan trọng của đức kiên nhẫn: “Nếu ta kiên tâm chu đng, ta s cùng hin tr vi Người” (2 Tm 2:12). Đây là lời đáng tin cậy.

    Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết tnh thc và sn sàng mi nơi và mi lúc. Xin giúp con vng tin vào li Đc Kitô Giêsu đ không dao đng trong bt c hoàn cnh nào. Xin thương giúp mi người cũng vng lòng tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót đến hơi th cui cùng. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

    Về mục lục

    .

    “CÁNH CHUNG” LÀ MỐI ĐE DỌA

    HAY NIỀM HY VỌNG VĨ ĐẠI?

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Đã từ lâu, mỗi khi đề cập tới phán xét hay ngày tận thế, tôi luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi này! Trong dịp ghé thăm một tòa giám mục nọ, tôi được chỉ cho thấy một tòa nhà rộng lớn đang được xây dựng ngay trong khuôn viên; vị giám mục giới thiệu với tôi, đó là ‘tòa nhà cánh chung’ hay nôm na gọi là ‘bốn sự sau hết’. Trong ngôi nhà đó, ngài cho dựng lên ‘như thật’ các cảnh tượng phán xét, thiên đàng, hỏa ngục v.v. Trả lời thắc mắc của tôi là tại sao phải tốn phí bao nhiêu tiền của để xây dựng một công trình như thế, vị giám mục trịnh trọng giải thích: “Đó là bài giáo lý căn bản nhất; giáo dân cần phải được răn đe để tránh phạm tội!” Tôi không rõ: đó có phải là mục đích mà cả ba cuốn Tin Mừng Nhất Lãm dành trọn cả chương (Mt 24, Mc 13, Lc 21) để mô tả khá chi tiết ngày thế tận và cuộc đại phán xét đó không? Nếu quả đúng là để răn đe, để cảnh cáo, thì cho dầu có đạt được mục đích giúp cho một số người làm lành lánh dữ đi nữa, tôi vẫn không khỏi thắc mắc: các sách đó có đáng được gọi là “TIN MỪNG” hay không?

    Đề tài ‘thế tận’ này bao giờ cũng được các sách Tin Mừng bắt đầu bằng việc: các tông đồ là những người Do Thái thắc mắc về viễn tượng đền thánh Giê-ru-xa-lem bị tàn phá. Đây là vấn đề người Do Thái nào cũng quan tâm vì đã được các tiên tri đề cập tới nhiều (Is 66:8; Ed 38; Gr 4; Dcr 14), và thường qua đó đưa ra lời cảnh báo về ‘ngày phán xét’ mà các ngôn sứ gọi là ‘ngày của Đức Chúa’ (Am 5:18; Xp 1:14). Các sự kiện này được mô tả bằng một văn phong khó hiểu hầu gợi được sự quan tâm của quần chúng, nhằm chuẩn bị họ tỉnh thức sẵn sàng cho cuộc khai mạc vĩ đại của ‘triều đại Thiên Chúa đến trần gian’. Bất cứ người Do thái nào cũng sẽ rất ấn tượng về quyền năng của Thiên Chúa, qua các hiện tượng ‘kinh khủng’ xảy đến khi Ngài xuất hiện (quang lâm), các hiện tượng ném vũ trụ vào một cuộc khủng hoảng toàn diện đầy kinh hãi: “Mặt trời ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống…”

    Tuy nhiên, tương phản với cái viễn tượng đầy khiếp sợ mà người Do Thái đã quá quen thuộc, Đức Giê-su lại đưa ra một hình ảnh hoàn toàn trái ngược: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả… Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy… anh em biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. Suy nghĩ cho kỹ ta mới thấy: hình ảnh cây vả đâm chồi nảy lộc vào đầu xuân đầy sức sống đối nghịch với dáng chết chóc của cành khô trơ trụi trong những ngày đông giá. Quang lâm hay ngày phán xét mà Đức Giê-su trình bày, mặc dù khởi đi từ các hình ảnh Cựu Ước đầy kinh hãi, lại hàm chứa một nội dung tràn trề hy vọng; ngày đó sẽ không gây sợ hãi hay trốn chạy, nhưng sẽ là mừng vui và hy vọng: “anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc” (Lc 21:28). Điều đáng lưu ý là: Luca đã đề cập tới hình ảnh cây vả đâm chồi nẩy lộc ngay sau lời khích lệ trên (xem Lc 21:28-30).

    “Lúc đó Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”. Quả thực, thế tận sẽ là ngày Đức Chúa quang lâm…, ngày Người tuyển chọn…, ngày Người tập hợp! Những kẻ được Người ‘tuyển chọn’ chắc hẳn không thể là những kẻ tự cho mình là xứng đáng, đơn giản vì chẳng có ai xứng đáng trước mặt Thẩm Phán quang minh, nhưng phải là những ai đã hiểu mình được cứu độ cách nhưng không, đã biết tới lòng nhân từ vô hạn lượng của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su, và đã từng đón rước lòng nhân từ ‘đến gần, ở ngay ngoài cửa’. Con số những người này có thể là nhiều lắm: kể từ A-đam E-va ‘từ đầu mặt đất’, qua hết các thế hệ kế tiếp…, và mãi cho tới những người ở ‘cuối chân trời’. Phải, tất cả những người đó, cho dầu bất xứng và tội lỗi, nhưng bằng cách này hay cách khác, đã biết đón nhận ơn cứu độ của xót thương và thứ tha, họ sẽ đứng thẳng và ngẩng đầu lên vào giờ phút kinh hoàng, khi mà mọi kẻ khác, kể cả các bậc thánh hiền và công chính nhất, đều phải cúi gầm mặt run sợ. Phải chăng: đó mới chính là giờ phút cao điểm của Tin Mừng cứu độ?

    Thiết tưởng đối với tất cả những ai tin tưởng và tín thác vào lòng từ nhân của Thiên Chúa mà Đức Ki-tô đã mạc khải bằng chính cái chết của Người, thì ngày cánh chung ấy sẽ không bao giờ có thể là ‘dies irae, dies illa’ – ngày đó, ngày thịnh nộ, nhưng phải là ‘dies spei, dies illa’ – ngày đó, ngày hy vọng tràn trề. Mong rằng mọi Ki-tô hữu chúng ta trước hết, và nhiều người khác nữa, sẽ thuộc số những kẻ ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’, vì chúng ta đã chẳng không ngừng cử hành việc ‘Con Người đã đến gần, đã ở ngay ngoài cửa’, nhất là khi cử hành Hy Lễ Thập Giá trên bàn thờ ‘mong đợi Người lại đến’ là gì!

    Lạy Đấng Phán Xét chí công, con muốn được liệt vào số những người ‘đứng thẳng và ngẩng đầu lên’ trong ngày phán xét, không phải vì con tốt lành thánh thiện hơn ai, nhưng trong tư cách Ki-tô hữu con đã từng tin vào tình yêu cứu độ của Ngài. Xin cho ngày cánh chung sẽ trở nên ngày hiển linh Tin Mừng cứu độ cho con và cho toàn thể nhân loại, và là ngày vĩ đại của niềm hy vọng và cậy trông hoàn vũ. A-men.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Chiều hôm Thứ Sáu vừa qua, các hãng thông tấn như radio, internet, đặc biệt là các đài truyền hình lớn như CNN hay Fox News đột nhiên ngưng các chương trình thông thường, để loan tin và trực tiếp truyền hình về vụ khủng bố xảy ra tại thành phố Paris tại Pháp quốc, làm nhiều người thiệt mạng. Chủ đích của các hãng truyền thông là cho khán thính giả biết những sự kiện đang xảy ra, và cảnh giác chúng ta chú ý và đề phòng, nhất là những sự khủng bố giết người của người Hồi giáo quá khích. Chúng ta biết khủng bố có thể xảy ra bất cứ lúc nào và nơi nào, kể cả trong quốc gia Hoa kỳ này, vì quân khủng bố Hồi giáo quá khích đang hiện diện và trà trộn trong tất cả các thành phố.

    Trong những tuần cuối của năm phụng vụ, Giáo hội, qua những bài Kinh thánh Lời Chúa, muốn nhắc nhở và cảnh báo chúng ta, là những Ki-tô hữu, đến một sự kiện sẽ xảy ra liên quan đến đời sống hiện tại, nhất là đến đời sống vĩnh cửu ngày sau, để chúng ta chú ý, nhìn vào đời sống và chuẩn bị một cách tốt đẹp theo thánh ý Chúa dạy, cũng như sống trong an bình, vui mừng và hy vọng.  Sự kiện sẽ xảy ra là Ngày Tận Thế, mà theo như lời Chúa, sẽ đến bất cứ lúc nào mà chúng ta không biết.

    Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Đa-ni-êu nói cho chúng ta biết về thời cùng tận, và liệt kê những điều sau đây sẽ xảy ra. Thứ nhất thời điểm đó Tổng Lãnh Sứ Thần Michael sẽ được Thiên Chúa sai đến để che chở cho dân trong thời kỳ khốn khổ sau hết. Thứ hai đây là thời kỳ khốn khổ chưa từng thấy trong lịch sử loài người, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Và sau cùng, những ai có tên trong Sách của Thiên Chúa sẽ được thoát nạn, được giải thoát và được ban thưởng phúc trường sinh. Sách này chỉ có Con Chiên, ám chỉ Chúa Giê-su Ki-tô Chiên Thiên Chúa, đã bị giết nhưng vẫn đang sống, mới có thẩm quyền để mở mà thôi. Vào lúc đó mọi người sẽ chỗi dậy và phải chịu phán xét về việc làm của mình. Người công chính và trung thành sẽ được ban thưởng phúc trường sinh. Những người tội lỗi sẽ “chịu tủi nhục muôn đời.”

    Trong bài đọc 2, tác giả Thư Do-thái cho chúng ta biết về ơn sủng Hiến Lễ của Chúa Giê-su Kitô trên thập giá. Tuy Hiến Lễ này chỉ xảy ra một lần, nhưng có sức mạnh tẩy trừ mọi tội lỗi của con người mọi thời đại, và làm cho con người được trở nên tinh tuyền thánh thiện mỗi ngày một hơn. Hiến Lễ của Chúa Giêsu trên đồi Golgotha, được ban cho Giáo hội qua Bí-tích Rửa Tội để tẩy sạch tội lỗi con người, qua Bí-tích Giao Hòa để ban ơn tha thứ, và sau cùng Hiến Lễ của Chúa Giê-su Kitô được thể hiện qua Bí Tích Thánh Thể, ban ơn thánh cho con người chúng ta trong giai đoạn hiện tại.

    Bài Tin mừng hôm nay làm cho tôi nghĩ đến bài Tin mừng của thánh Luca Thứ Sáu hôm qua, khi những người Pha-ri-sêu đến hỏi Chúa Giêsu “Khi nào Nước Thiên Chúa đến và khi nào Thiên Chúa sẽ ngự đến?” Chúa Giê-su đã cho họ biết Thiên Chúa đang hiện diện ở giữa họ, và Người đưa ra một dấu hiệu Chúa đến trong ngày tận thế một cách thình lình như chớp sáng lòe bầu trời giữa sự vô lo của con người trần thế. Sau đó, Chúa đã đưa ra 2 sự kiện điển hình để minh chứng. Sự kiện thứ nhất về những người sống trong thời ông Nô-e. Thời đó người ta đang sống trong phồn thịnh, ăn chơi phè phỡn, tội lỗi thả dàn. Họ chỉ lo về vật chất, không nghĩ và để ý gì về đời sống tinh thần và lo cho linh hồn của họ nữa. Họ cũng không nghe, bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo của các ngôn sứ. Trong khi đó một mình ông Nô-e nghe lời Chúa bảo, lo lắng đi đóng tàu để tránh đại hồng thủy. Họ tiếp tục sống phè phỡn, ăn chơi, lo kiếm tiền thật nhiều và hưởng thụ, nghĩa là chỉ lo tới vật chất. Nhưng giữa lúc phồn thịnh và ăn chơi thì lụt đại hồng thủy xảy đến, cuốn trôi tất cả, tiêu hủy tất cả.   Thiên Chúa đến và đến gọi chúng ta bất ngờ. Ngày tận thế và ngày Chúa trở lại với loài người cũng bất ngờ như vậy.

    Sự kiện thứ 2 mà Chúa đề cập đến xảy ra thời ông Lót, cả thành phố Sô-đô-ma đang phồn thịnh, thịnh vượng, ăn chơi thả dàn, xây cất, mua bán, nghĩa là tất cả đang sống trong một cuộc sống hưởng thụ bình thản, nhưng là một loại bình thản giả tạo trong tội lỗi và lầm lạc. Giữa lúc như thế thì lửa bởi trời đổ xuống thiêu hủy tất cả, chỉ một mình ông Lót thoát chết. Còn bà Lót thì hóa thành tượng muối vì đã quay đầu nhìn lại thương tiếc, ham đống của cải bỏ lại, thay vì cứu lấy chính bản thân mình.

    Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả những sự kiện trên đây mãi mãi vẫn là một bài học nhắc nhở chúng ta. Thiên Chúa đến và đến gọi chúng ta bất ngờ. Ngày Chúa trở lại phán xét nhân loại cũng bất ngờ như vậy. Cũng như mỗi người không biết khi nào mình chết, thì cả nhân loại cũng không biết khi nào Chúa trở lại. Tất cả đều bất ngờ. Nhưng vì yêu thương, Chúa đã dùng lời của Người để dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta không bị lâm vào cảnh bất ngờ như những người bị thiệt mạng trong cuộc khủng bố ở Paris. Tin Mừng thánh Gioan quả quyết rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Vì thế, nếu chúng ta muốn được cứu thoát khỏi cảnh “tủi nhục muôn đời” thì chúng ta phải tin vào Chúa Giêsu Ki-tô Con của Thiên Chúa, và sống giáo huấn của Chúa dạy.

    Chúng ta hãy nhớ cuộc sống ở trần gian là một cuộc lữ hành, là một cuộc hành trình về nhà Cha trên Trời. Chúng ta đang sống giữa trần gian như một bông hoa sớm nở, trưa héo, chiều tàn, nghĩa là, cuộc đời chúng ta ngắn ngủi và mong manh. Hơn nữa, giờ chết của chúng ta cũng như ngày tận thế, chúng ta hoàn toàn không biết. Vì thế là những Kitô hữu, chúng hãy lắng nghe Lời Chúa báo trước, và sống thế nào để đừng bao giờ sự chết đến với chúng ta trong tình trạng đáng tiếc và đáng hội hận. Trái lại, chúng ta sống như thế nào để làm sáng danh Chúa và để kết thúc cuộc đời một cách tốt đẹp. Xin Chúa giúp chúng ta nhận những sự kiện chung quanh, để chúng ta chú ý đến cuộc sống đức tin, luôn trung thành với Chúa, và sửa soạn cho ơn cứu rỗi, cũng như đời sống vĩnh cửu của chính mình. Hôm nay chúng ta còn thời giờ để sửa soạn và giúp người khác được, nhưng đến ngày và thời điểm sau cùng đó, chúng ta sẽ không còn thời giờ và cơ hội. Chúng ta phải luôn ý thức rằng, Chúa không muốn chúng ta sống trong lo âu, sợ hãi, nhưng muốn chúng ta sống trong bình an, tin tưởng và hy vọng.

    Về mục lục

    .

     

    SẴN SÀNG ĐÓN CHÚA LẠI ĐẾN

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 13,24-32

    (24) Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, (25) Các ngôi sao từ trời sa xuống, và quyền lực trên trời bị lay chuyển. (26) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (27) Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. (28) Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. khi cành nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. (29) Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”. (30) Thầy bảo thật anh em: Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. (31) Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. (32) Còn về ngày hay giờ thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Người Con cũng không. Chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.

    1. Ý CHÍNH:

    Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong diễn từ về “Cuộc quang lâm của Đức Giêsu” (x. Mc 13,1-37). Bằng những hình ảnh tượng trưng về sự sụp đổ của Đền Thờ kèm theo những điềm báo trước, Đức Giêsu nhắc nhở các tín hữu về “Ngày của Chúa” tức là ngày tận thế. Khi đó sẽ có những cơn bách hại xảy ra, trời đất cũ sẽ bị rung chuyển và biến đổi thành “Trời Mới Đất Mới” (x Kh 21,1), trước khi Con Người đến trong đám mây.

    1. CHÚ THÍCH:

    – C 24-25: + Trong những ngày đó: Ngày nói đây là ngày Đền Thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ bị tàn phá bình địa. + sau cơn gian nan ấy: Cơn gian nan như một điềm báo trước về Ngày Tận Thế. + Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, các quyền lực trên trời bị lay chuyển: Những hình ảnh trong các sách Cựu Ước này nói về “Ngày của Đức Giavê”. Ở đây các hình ảnh này nhằm đề cao sự uy nghiêm của Đức Kitô trong Ngày Tận Thế: bấy giờ các tầng trời sẽ bị rung chuyển, công trình sáng tạo xưa kia sẽ biến mất và một Trời Đất Mới sẽ xuất hiện.

    – C 26-27: + Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến: Con Người là hình ảnh một nhân vật trong sách Đanien, trổi vượt hơn hình ảnh “Đấng Mê-si-a Con Vua Đavít”. Ngài đến trong đám mây trời, tiến lên trước toà Thiên Chúa và nhận lãnh một vương quyền phổ quát (x Đn 7,13). Trong các sách Tin Mừng, Đức Giêsu đã xưng mình là Con Người tới 70 lần (x. Mt 8,20; Ga 3,13…): Người tự xưng là Con Người với 2 ý nghĩa. Một là Người Tôi Tớ của Đức Giavê: “Tôi, Người Tôi Tớ bị loại bỏ, bị giết chết nhưng sẽ được tôn vinh và sẽ cứu độ muôn người” (x. Mc 8,31). Hai là Chúa Con, được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Tv 110,1) và đến ngày tận thế, sẽ lại đến (x. Đn 7,13). + “Đến trong đám mây”: Mây không phải là một phương tiện di chuyển, nhưng chỉ là một biểu tượng về sự hiện diện của Thiên Chúa (x. Xh 13,21; Mt 17,5) + Người sẽ sai các thiên sứ đi và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời: Từ khắp nơi, Đấng Kitô sẽ ra lệnh cho các thiên thần qui tụ tất cả những người lành thánh được tuyển chọn tập trung lại.

    – C 28-29: + Lấy thí dụ cây vả… khi thấy những điều đó xảy ra: Các ngôn sứ thường dùng hình ảnh mùa hè và mùa gặt để diễn tả ngày cánh chung hay ngày tận thế. Ở đây Đức Giêsu dùng hình ảnh cây vả báo trước mùa hè sắp tới, để ám chỉ về ngày cùng tận của Đền Thờ Giêrusalem là hình ảnh tiên báo về ngày tận thế (x Mc 13,4-19).

    – C 30-31: + Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra: Việc tàn phá Đền Thờ Giêrusalem xảy ra vào năm 70, là thời điểm những ai nghe lời Đức Giêsu giảng vẫn còn sống và chứng kiến những điều Người tiên báo được ứng nghiệm. + Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu: Vũ trụ vật chất sẽ có ngày tan biến (x Is 24,19.23), nhưng Lời Đức Giêsu sẽ luôn tồn tại nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

    – C 32: + Về Ngày Giờ đó: câu này nói về ngày tận thế sẽ xảy ra. + chỉ có Chúa Cha biết mà thôi: Ngày Giờ cánh chung hay tận thế thuộc quyền Chúa Cha định liệu. Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa (x. Pl 2,6), với tư cách là Ngôi Lời, đồng bản tính vơi Chúa Cha nên dĩ nhiên Người biết mọi sự giống như Chúa Cha. Nhưng với tư cách là Đấng Thiên Sai (x. Pl 2,8), Người “nên giống chúng ta mọi đàng chỉ trừ không có tội” (x. Gl 4,4), nên Người không biết được Ngày Giờ ấy, hầu mọi người phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng chuẩn bị cho ngày ấy (x. Mc 13,33).

    1. CÂU HỎI:

    1) Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã tự xưng là “Con Người” mấy lần? Đức Giêsu muốn mặc khải mình là ai khi tự xưng mình là Con Người?

    2) “Con Người ngự trong đám mây mà đến”: Phải chăng đám mây là phương tiện Đức Giêsu dùng để di chưyển?

    3) Đức Giêsu có biết rõ ngày cùng tận của thế giới là ngày nào không? Tại sao?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến (Mc 14,26).
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) DỌN MÌNH CHẾT LÀNH:

    Khi Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII ngã bệnh nặng, các bác sĩ không nói gì về bệnh tình của ngài, nhưng ngài biết mình khó sống thêm nên thường nói với những người chung quanh: “Tôi đã sắp sẵn hành trang”. Đến ngày cuối cùng khi giờ chết sắp đến, thư ký riêng tới bên giường hôn tay Đức Giáo Hoàng và hỏi thăm xem ngài cảm thấy trong mình thế nào. Đức Gioan trả lời: – Cha thấy dễ chịu và an bình trong tay Chúa, nhưng cũng hơi lo.

    Vị thư ký nói: – Cha không phải lo. Nhưng chúng con đang lo đây. Chúng con mới nói chuyện với các bác sĩ…

    Đức Giáo Hoàng ngắt lời hỏi: – Họ nói với con thế nào?

    Vị linh mục nghẹn ngào nói: – Thưa Đức Thánh Cha, con phải nói sự thật: Hôm nay là ngày của Chúa. Hôm nay Cha về Thiên đàng.

    Nói xong, vị thư ký quỳ xuống bên giường ôm mặt khóc. Đức Giáo Hoàng âu yếm xoa đầu vị thư ký và ôn tồn nói:

    – Mọi khi con can đảm lắm, sao giờ mềm yếu vậy? Con vừa cho ta nghe những lời hay đẹp nhất mà một vị linh mục có thể nói: Hôm nay Cha sẽ về Thiên đàng.

    Phải có một niềm tin vững mạnh, người ta mới có thể bình thản như vậy lúc từ giã cõi đời.

    2) TRÁNH NGHE NHỮNG TIN ĐỒN NHẢM VỀ NGÀY TẬN THẾ:

    Vào cuối năm 1992, hàng chục ngàn tín đồ của một giáo phái tại Hàn quốc đã tụ tập nhau trong hơn 150 nhà thờ để đón chờ ngày tận thế, đón Đức Giêsu tái lâm trong vinh quang để phán xét chung. Theo những người lãnh đạo của giáo phái này thì chính xác ngày tận thế là vào lúc nửa đêm ngày 28/10/1992. Các tín đồ của giáo phái trương lên biểu ngữ: ”Chúng ta sẽ gặp nhau trên trời”. Đồng thời hàng ngàn cảnh sát Hàn quốc cũng được đặt trong tình trạng báo động cao trên toàn quốc để phòng ngừa một cuộc tự sát tập thể, nếu ngày tận thế không xẩy ra. Bởi vì, rất nhiều người do quá tin tưởng đã bán hết nhà cửa và phát tán mọi tài sản gia đình… để chuẩn bị cho ngày tận thế này. Nhưng cuối cùng ngày tận thế đã không xẩy ra, nên sau đó giáo phái này đã tự giải thể.

    Đây chỉ là một trong nhiều tiên báo không chính xác về ngày tận thế trên thế giới. Sở dĩ người ta đóan sai là do đã hiểu lời Chúa cách lệch lạc và không đúng theo ý Chúa Giêsu dạy. Đối với các tín hữu chúng ta: nhân dịp cuối năm phụng vụ, Hội Thánh muốn nhắc nhở chúng ta ý thức về ngày tận thế chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng không xác định cụ thể ngày giờ. Việc đề cập đến ngày này nhằm giúp chúng ta canh tân đời sống và tích cực chuẩn bị cho ngày Chúa đến viếng thăm trong giờ chết của mỗi người.

    1. THẢO LUẬN: 

    1)Bạn hiểu thế nào về ngày tận thế?

    2)Chết là gì? 

    3)Bạn làm gì để chuẩn bị đón Chúa đến trong giờ chết mỗi người và ngày tận thế chung tòan nhân lọai?

    1. SUY NIỆM:

    1) Ngày tận thế chắc chắn sẽ đến:

    Tin mừng Máccô hôm nay nói về ngày tận thế: Hôm ấy các môn đồ chỉ cho Đức Giêsu thấy cảnh huy hoàng của Ðền Thờ khi được ánh sáng mặt trời chiếu vào! Nhưng Đức Giêsu đã tiên báo cảnh ấy có ngày sẽ không còn nữa và Đền Thờ sẽ bị phá hủy không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào, vì dân Giêrusalem đã từ chối đón nhận ngày Thiên Chúa đến viếng thăm.

    Ðức Giêsu đã dùng những hình ảnh về thời kỳ chiến tranh, cũng như các công thức về thời cánh chung trong các sách ngôn sứ để diễn tả cảnh tàn phá của Giêrusalem. Từ đó, Người đề cập đến ngày cùng tận của thế giới. Nhưng lời của Đức Giêsu được các thánh sử ghi lại sau khi Ðền Thờ đã bị sụp đổ và Hội Thánh bị bách hại khắp nơi. Qua Lời Chúa hôm nay, Máccô muốn trình bày các điều sau: Một là các hiện tượng trời đất như mặt trời tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú sa xuống và các thiên thể lay chuyển… là điềm báo Chúa đến trong ngày tận thế. Hai là mặt trời tối sầm, mặt trăng mất sáng, tinh tú sa xuống… cho thấy vũ trụ này sẽ quay trở lại lúc khởi nguyên hỗn mang khi chưa có ánh sáng. Và như thế, ngày tận thế là lúc vũ trụ sẽ biến mất để cho “trời mới và đất mới” xuất hiện. Ba là người ta sẽ thấy “Con Người đến trong đám mây”. Con Người chính là Ðức Giêsu Cứu thế. Hình ảnh mây trời nhấn mạnh tính cách “hiển linh” của việc Người đến. Và như vậy “ngày của Chúa” sẽ trở thành ngày của Thiên Chúa đến “trong” và “nhờ” Con Người là Đức Giêsu. Bốn là Vua Kitô sẽ sai các thiên thần đi khắp cùng mặt đất thâu họp những kẻ được chọn lại, để đưa họ vào hưởng vinh quang của Người trên trời.

    2) khi nào điều ấy xảy ra?

    Đây là thắc mắc của mọi thế hệ loài người. Theo Tin mừng Máccô: Ðức Giêsu dạy các môn đệ phải tiên liệu: Khi thấy các điềm kia xảy ra, thì hãy biết rằng “Con Người đã đến gần bên cửa” (x Mc 13: 28-29).

    Các điềm báo về ngày tận thế như: Mùa hè ám chỉ thời kỳ tận thế, các chi tiết khác như: Ðền thờ bị tàn phá, chiến tranh lọan lạc, các Kitô giả xuất hiện, niềm tin trở nên nguội lạnh, các tầng trời bị lay chuyển v.v… cho thấy tính không bền vững của vũ trụ vật chất.

    Nghe lời Chúa hôm nay, nhiều người đã lầm tưởng ngày tận thế sắp đến. Nhưng ngay sau đó Đức Giêsu đã khẳng định: “Về ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được… cả Con Người nữa, trừ phi là Chúa Cha” (Mc 13,32).

    Thực ra, với bản tính Thiên Chúa, Đức Giêsu ngang hàng với Chúa Cha, nên cũng biết rõ ngày tận thế. Nhưng với bản tính lòai người thì cũng như chúng ta, Người không biết rõ đó là ngày nào.

    3) Chúng ta phải làm gì?

    Không nên hỏang sợ nhưng hãy hy vọng chờ đón Chúa đến:

    Đức Giêsu báo trước sẽ có ngày tận thế, nhưng lại dạy môn đệ không nên hoảng sợ. Người đến để phán xét mọi người, nhưng “đối với những ai mong đợi trong yêu mến ngày Chúa lại đến” (2 Tm 4,8), thì Người sẽ là Đấng Cứu Độ và là vinh quang của họ : ”Người sẽ sai các thiên thần đi quy tụ từ bốn phương trời, những người được tuyển chọn”. Giáo hội bị bắt bớ nhưng cũng được an ủi vì “sẽ thấy vinh quang của Đức Giêsu Kitô” (Tt 2,13). Đứng trước các tin đồn về ngày tận thế, thái độ đúng đắn nhất của các môn đệ là: ”tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, trong niềm mong chờ, vì Chúa sẽ đến bất ngờ như Người đã nói: ”Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).

    – Chuẩn bị cho giờ chết của mỗi người và ngày tận thế chung tòan nhân lọai:

    Người Kitô hữu chỉ có thể “đứng vững trước mặt Con Người” khi biết thanh luyện tội lỗi, tránh xa sự dữ và các thói hư, nhất là thói ích kỷ, tham lam…, và góp phần xây dựng một thế giới mới yêu thương, trong đó mọi người luôn quan tâm, cảm thông và chia sẻ phục vụ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cho gia đình, cộng đòan và môi trường sống ngày một tốt đẹp hơn.

    – Cần ý thức tính tập thể của ơn cứu độ:

    Đường về trời không dành riêng cho từng người, nhưng là con đường chung cho hết mọi người. Trong ngày phán xét, Đức Kitô sẽ tái lâm xét xử nhân lọai dựa trên tiêu chuẩn thực thi bác ái chia sẻ và phục vụ tha nhân. Ai sống trong yêu thương, người đó sẽ được sống lại và hưởng hạnh phúc trường sinh, còn kẻ “ghét anh em chính là kẻ sát nhân” (1 Ga 3,15) cũng sống lại để chịu hình phạt “khóc lóc và nghiến răng” (x Mt 25,31-46). Còn “Ai làm cho người ta nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao”(Đn 12,3).

    – Maranatha: Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến:

    Các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai đã mong ước ngày trở lại của Chúa qua lời cầu nguyện: “Maranatha – Lay Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20). Trong Thánh lễ, sau khi truyền phép, các tín hữu chúng ta cũng dâng lời xin: ”Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. Mỗi tín hữu chúng ta cần năng hồi tâm sám hối và tích cực chuẩn bị cho ngày Chúa đến bằng việc làm các việc bác ái chia sẻ phục vụ cho tha nhân nhằm “Làm vinh danh cho Thiên Chúa và vì phần rỗi các linh hồn”, kèm theo một lời nguyện như sau: “Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến“.

    1. LỜI CẦU:

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một quả tim mới và một thần trí mới để chúng con sẵn sàng góp phần xây dựng Hội Thánh và phục vụ Chúa trong mọi người chung quanh ngay từ hôm nay. Xin cho chúng con sẵn lòng chấp nhận các đau khổ trái ý xảy đến để thành tâm sám hối tội lỗi, khử trừ thói hư và tích cực góp phần làm cho gia đình, cộng đòan, xã hội… trở nên công bình yêu thương và bình an hoan lạc hơn, hầu đón chờ Chúa sẽ tái lâm và biến trần gian trở thành một “Trời Mới Đất Mới” vào ngày tận thế.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

    Đ)XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

    .

    NGÀY CÙNG TẬN CỦA THẾ GIỚI

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Con người sinh ra để làm gì ? Lúc nào con người chết ? Bao giờ là ngày cùng cận của thế giới ? Vâng, những vấn nạn này đã được nhiều người đặt ra từ xưa đến giờ! Nhưng tất cả đều không giải đáp được những vấn nạn này ! Tại sao và tại sao ? Tin Mừng của thánh Máccô, hôm nay  Chúa Giêsu quả quyết :” Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên Sứ trên trời hay người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi “ ( Mc 13, 32 ).

    Vâng, các nhà bác học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra biết bao giả thiết, đưa ra biết bao cuộc thí nghiệm, cuối cùng tất cả đều bó tay. Con người không thể tìm được giải đáp cho giờ chết, ngày chết và ngày tận thế, ngày cuối cùng của thế giới này ! Đã có nhiều tin đồn về ngày tận thế của nhiều giáo phái.Đã có nhiều lời đe dọa của những tiên tri giả, của những đạo giáo, phe nhóm quá khích cho rằng ngày tận thế sắp đến :” Hãy ăn chơi, đừng làm gì nữa “. Chúng ta đừng nhẹ dạ tin theo những lời đồn thổi, dọa nạt nhảm nhí đó ! Thánh Augustinô đã nói cách dứt khoát :” Đức Giêsu không cho ta biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người “. Nên, chúng ta hãy ý thức thân phận mỏng giòn của ta:” Chúng ta rất yếu đuối, mong manh như cậy sậy phớt phơ trước gió, như bong bóng sà phòng trước bầu trời rộng “. Do đó, thái độ của chúng ta là tỉnh thức và cầu nguyện, sẵn sàng chờ đón Chúa đến một cách bất ngờ, đột xuất. Đức Thánh Cha Phanxicô nhiều lần cũng đã đề cập tới ngày tận thế. Đức Giáo hoàng Phanxicô nói:” Khi cảm thấy cấp thiết phải kiểm tra lá số tử vi của mình, bạn hãy chuyển ánh mắt vào Chúa Giêsu”.Ngài giải thích :” Sẽ có một ngày mà ta đối diện với Thiên Chúa “. Ngài nói rằng điều quan trọng không phải là biết khi nào hoặc làm thế nào thời cánh chung sẽ đến, nhưng tốt hơn là ‘ chính chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng ‘. Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh :” Chúa Giêsu chính là “ điểm đến của cuộc lữ hành trên đường dương thế của chúng ta “, nhưng Người cũng là sự hiện diện liên lỉ trong cuộc sống của chúng ta “…

    “ Chúa nhắc chúng ta là mọi thứ rồi cũng qua đi.Chỉ Lời Người mới là ánh sáng soi dẫn vững chắc cho hành trình của chúng ta “.

    Loài người và chúng ta không biết ngày nào Chúa gọi chúng ta, không biết ngày nào Người đến trong vinh quang, nhưng có một điều chắc chắn để được vào Vương quốc Thiên Chúa, chúng ta phải xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình. Chúng ta phải nỗ lực kiến tạo hòa bình,khát khao tìm kiếm nước Thiên Chúa vì nước của Ngài là nước tình yêu.Nên, chí có những ai biết sống đức ái, biết sống ngôn ngữ tình yêu mới được vào nước của Ngài.

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sống Lời của Người để chính ánh sáng Lời của Chúa sẽ soi đường chỉ lối cho chúng con đi.Xin cho chúng con biết sống yêu thương để những người gặp chúng con cũng nhận ra Chúa đang hiện diện trong chúng con.Xin cho chúng con biết tác tạo hòa bình vì chỉ có những ai yêu chuộng hòa bình mới được nhìn xem Thiên Chúa. Xin cho chúng con đôi mắt sáng đức tin để chúng con nhận ra Chúa nơi anh em đồng loại.Xin cho chúng con đôi tai để chúng nghe được lời yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con miệng lưỡi để chúng con biết nói lời yêu thương của Chúa. Amen.

     

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

    1.Ngày tận thế là ngày nào ?

    2.Ai nắm giữ bí mật của ngày tận thế ?

    3.Chúa Giêsu có mạc khải ngày tận thế không ?

    4.Chắc có ngày tận thế không ?

    5.Ngôn ngữ của Thiên đàng là ngôn ngữ nào ?

    Về mục lục

    .

    NGỰ TRÊN GIÁ MÂY TRỜI

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Ngày Chúa quang lâm là ngày không còn mặt trời, mặt trăng, chính Chúa là ánh sáng muôn ngàn đời soi chiếu. Ngày ấy cũng bắt đầu từ hôm nay và cũng chờ đợi ngày sau hết. Sẵn sàng là thái độ khôn ngoan để sống bình an và hạnh phúc.

    Ngự trên đám mây.

    Thông thường đám mây xuất hiện  báo hiệu sự hiện diện của Thiên Chúa. Lúc thần hiện trên núi Sinai (Xh 19, 16). Khi thì từ đám mấy có tiếng của Thiên Chúa phán (Mt 17, 5).

    Mây mang mưa tới, đó là dấu chỉ của mùa sản sinh, mùa sinh ơn phúc trong ngày Chúa ngự đến. Các tầng mây báo hiệu dồi dào ân phúc của Thiên Chúa. Những ngày còn lữ hành đám mây che nắng dẫn đường (Xh 40, 36 38). Sự hiện diện của Thiên Chúa bảo đảm cho cuộc xuất hành cũng là hành trình trần thế được Người thương giữ gìn.

    Đám mây còn báo hiệu của ngày biến đổi, do quyền năng Thiên Chúa thực hiện. Những người được lựa chọn vào Nước Chúa, họ sẽ được biến đổi hoàn toàn trong ngày Chúa ngự đến. Như ngày Chúa biến hình trên núi đám mây bao phủ (Mt 17, 1 – 8). Trong những ngày hiện tại sống trên trần gian, con người cũng được biến đổi nhờ được kết hiệp trong Chúa Kitô. Và cũng nhờ Chúa Thánh Thần phủ bóng ân sủng làm cho con người được biến đổi, như ngày truyền tin cho Mẹ maria cho thấy việc đó (Lc1, 35)

    Ánh sáng không bao giờ lịm tắt (Exsultet)

    “Ánh sáng ban ngày của ngươi không còn là mặt trời nữa, và ban đêm, ngươi chẳng cần đến ánh trăng soi: Chúa sẽ là ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi ngươi, ánh quang huy của ngươi là Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is 60, 19)

    Ánh sáng chân lý xua tan mọi sai lầm và nghi ngờ. Chỉ còn xác tín vào điều chân thật một cách chắc chắn. Ngày của Chúa xóa tan hết những u mê tâm trí, Đấng làm cho con người sáng suốt nhận ra Người hiện diện “Ngài quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng.” (Tv 36, 10)

    Thánh Gioan giới thiệu về ánh sáng ban sự sống “ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” (Ga 1, 4). Sự sáng Chúa Giê su nói chính là Ngài, bao lâu còn sống trên dương gian này còn cần đến ánh sáng và cũng là đón nhận chính Ngài: “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” (Ga 9, 4 -5)

    Ánh sáng và bóng tối, hướng theo chủ đề luân lý, là con cái sự sáng và bóng tối luôn chen lẫn vào, nếu thiếu hay không có ánh sáng. Một thế gian luôn thù nghịch với Thiên Chúa, nên khi có Chúa ở cùng bóng tối thế gian không thể làm gì được, “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8, 12)

    Ánh sáng muôn ngàn đời là chính Chúa sẽ trị vì. Là con cái sự sáng hãy tỉnh thức và cầu nguyện để chính Chúa luôn là ánh sáng soi đường dẫn đến sự sống. Ngày của Con Người sẽ đến và những người theo ánh sáng của Chúa sẽ cùng theo Người vào tham dự vào sự sống đời đời.

    Về mục lục

    .

    NƯỚC CHÚA

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Dụ ngôn Nước Chúa kể rằng:
    Người gieo giống tốt, ruộng bằng phì nhiêu.
    Chăm nom săn sóc sáng chiều,
    Trong khi đêm ngủ, ra chiêu phá vùng.
    Kẻ thù gieo vãi cỏ lùng,
    Chen vào phá hoại, rục tùng phí công.
    Cỏ lùng giữa lúa mênh mông,
    Lúa thơm kết hạt, trổ bông cỏ lùng.
    Bằng lòng đầy tớ đi cùng,
    Ra đồng nhổ cỏ, đem nung đốt lò.
    Chủ rằng đợi đó đừng lo,
    Tới mùa thợ gặt, thu kho lúa vàng.
    Cỏ lùng gom lại bó ngang,
    Đốt đi từng bó, dễ dàng hủy tiêu.
    Con người tốt xấu bao nhiêu,
    Tới ngày phán xét, thiên triều thẳng ngay.

    Nước Trời dưới thế bao gồm cả người tốt lẫn kẻ xấu. Mọi người cùng chung sống với nhau. Giống như cỏ lùng được gieo vào giữa ruộng lúa. Cả hai cứ tiếp tục mọc lên cho đến khi sinh bông hạt. Tới mùa thu hoạch, ông chủ sẽ thu góp cỏ lùng lại và đem đốt đi. Hình ảnh Nước Trời nơi trần gian cũng tương tự như thế. Nước Trời còn gọi là Hội Thánh, không phải tất cả mọi người trong Hội là thánh cả đâu. Chúng ta tuyên xưng Giáo Hội thánh thiện là vì có Chúa Kitô là đầu nhiệm thể, Ngài chính là Đấng Thánh.

    Chúa mời gọi mọi người gia nhập vào Nước Chúa. Nước Chúa bao gồm cả người thánh thiện lẫn các tội nhân. Cuộc lữ hành trần thế là một cuộc tôi luyện. Không ai sinh ra đã là thánh. Chúng ta phải trở nên thánh mỗi ngày. Chúa ban đủ ơn và tạo điều kiện cho mỗi người được nên tốt lành và thánh thiện. Chúa không ép buộc nhưng Chúa mời gọi chúng ta hãy nên trọn lành như Cha chúng ta ở trên trời.

    Truyện kể có một ông chủ giầu có đến thăm một làng quê nghèo. Ông muốn chia xẻ tài sản cho người nghèo để giúp họ có vốn làm ăn. Nhiều người nghe thế, vội vã đến xin giúp đỡ. Họ nghĩ ông chủ qúa tốt bụng và độ lượng. Nhưng có một số người khác tính toán kỹ hơn tự hỏi: Tại sao ông ta rộng lượng như thế? Chắc ông ta có ý đồ lợi dụng điều gì đây? Họ đã chối từ sự giúp đỡ. Ông chủ ra đi, những người nhận phần vốn đã sinh hoa lợi và làm lại cuộc đời. Còn những người cố hữu trong tư tưởng nghi ngờ. Họ vẫn chịu cảnh nghèo nàn và vất vả hằng ngày.

    Chúa là Cha nhân hậu và quảng đại vô cùng. Chúa đã trao ban cho chúng ta biết bao hồng ân. Chúng ta được sinh ra làm người và rồi được sinh lại làm con của Chúa. Chúng ta được gia nhập vào Nước Chúa và có quyền làm con Chúa. Chúa trao ban cho chúng ta có khả năng, có trí khôn và có linh hồn. Chúng ta phải làm gì để đáp lại lòng yêu thương vô bờ của Chúa. Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta nghĩ rằng tất cả những gì chúng ta có, đều là do công lao khó nhọc của chúng ta.

    Nước Trời như hạt giống gieo xuống sinh nhiều hoa trái. Hạt giống mà chúng ta đã lãnh nhận cho dù có nhỏ bé đều là ân sủng được trao ban. Không có gì nhưng không hay tự nhiên mà có. Tất cả đều là hồng ân của Chúa. Chúng ta đã nhận lãnh hạt giống ân sủng, chúng ta có bổn phận làm sinh hoa kết trái yêu thương.

    Về mục lục

    .

    LÀM CHỨNG CHO CHÚA

    Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Trang Tin mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu báo cho các môn đệ biết trước tương lai các ông sẽ bị các vua chúa quan quyền bắt bớ, đánh đập, hành hạ sỉ nhục. Thế nhưng, tất cả những đau khổ đó Đức Giêsu sẽ trải qua trước. Chẳng hạn như Chúa nói: “Các con hãy coi chừng người đời, họ sẽ bắt nộp các con cho các hội đồng, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ” (Mt 10, 17).

    Người Do thái đã bắt nộp Đức Giêsu cho hội đồng, người đứng đầu hội đồng là thượng tế Caipha năm ấy. Ông đã nói một câu ám chỉ về cái chết của Đức Giêsu: “Thà một người chết thay cho dân được nhờ”. Sau đó, họ điệu Đức Giêsu đến quan Philatô xét xử, quan trao cho lý hình đánh đập Đức Giêsu tả tơi đến nổi chẳng còn hình tượng người ta nữa.

    Tiếp đến: “Các con sẽ bị điệu ra trước mặt vua Chúa quan quyền để làm chứng cho họ….” (Mt 10, 18). Đức Giêsu đã bị các thượng tế điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Trước mặt quan Philatô, Ngài đã làm chứng: “Tôi là vua, Tôi đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe Tôi” (Ga 18,37).

    Rồi Chúa nói tiếp: “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh…..vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đổ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ” (Mt 10, 21-22).

    Chính Đức Giêsu đã  bị Giuđa dùng nụ hôn là dấu chỉ của tình yêu, trở thành nụ hôn phản bội, nộp Thầy mình với giá 30 đồng bạc. Cho nên, khi chúng ta nhìn vào cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta mới biết thế nào là tử đạo.

    Anh chị em thân mến,

    Theo sử liệu để lại, thì Giáo Hội Việt Nam có khoảng 130.000 tín hữu can đảm đổ máu ra làm chứng cho Chúa Kitô trên quê hương đất nước chúng ta. Trong số đó có 118 vị đã được thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh ngày 19/6/1988, mà năm nay, Giáo hội Việt nam mừng năm thánh tròn 30 năm.

    Thế thì, do động lực nào mà các vị tử đạo dám đổ máu mình ra như thế?. Thưa, chính là tình yêu. Tình yêu này khởi đi từ Đức Kitô, khi Ngài nói: “Các con hãy yêu thương kẻ thù, hãy cầu nguyện cho những kẻ làm hại mình, hãy tha thứ cho những kẻ bắt bớ mình, và chúc phúc cho những kẻ làm khổ mình” (Mt 6,44).

    Tình yêu ấy được thể hiện khi Đức Giêsu cầu nguyện trên cây thánh giá “Lạy Cha, xin Cha cho họ vì họ lầm chẳng biết” (Lc 23,34). Có thể nói đây là lời cầu nguyện hay nhất, khi Đức Giêsu nói lời tha thứ cho những kẻ hành hạ mình cho đến chết.

    Noi theo gương Đức Kitô, các vị tử đạo đã sẵn sàng tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình. Nhờ Chúa ban ơn trợ giúp, những con người vốn mỏng dòn yếu đuối đã trở nên can đảm phi thường. Chính khi các ngài chịu trăm bề đau khổ, các ngài làm chứng cho đạo Chúa là đạo của tình thương và tha thứ.

    Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, đến nổi đã hiến ban Con Một của Ngài cho thế gian. Ngay cả khi thế gian loại trừ Con của mình, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương. Cả khi thế gian đóng đinh người Con của mình vào cây thập giá, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ.

    Để làm chứng cho đạo yêu thương, nên các vị tử đạo đã yêu thương dân tộc Việt nam hơn ai hết. Các Ngài xác tín rằng: nhờ Tin mừng của Chúa mà đất nước này được tốt đẹp hơn. Tình Chúa tình người ắp đầy bình an hạnh phúc. Và vì thế, các ngài đã chấp nhận hiến dâng mạng sống không chỉ vì lòng yêu mến Đức Kitô mà cả vì lòng yêu mến quê hương đất nước này nữa. Cho nên, dù vua Chúa quan quyền có hành hạ các ngài cho đến chết, các Ngài vẫn một lòng yêu thương tha thứ.

    Thật vậy, chỉ vì tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian treo trên thánh giá, mà thánh Matthêu Gẫm can đảm không bước qua Thánh giá. Ngài trả lời với ông quan tỉnh rằng: “Thánh giá tôi tôn thờ, tôi giẫm lên sao được?”.

    Chỉ vì tin có sự sống lại ở đời sau, tin có hạnh phúc Nước trời, mà thánh Mỹ vui lòng chịu trăm bề đau khổ, để bước theo chân Chúa đến cùng. Ngài nói với quan tổng đốc rằng: “Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ đạo này bao giờ”.

    Ngày nay, Giáo Hội cần có những người dám sống, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời. Cuộc sống làm chứng cho Chúa ngày nay là một hình thức tử đạo tuy không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống, nhưng đòi chúng ta làm chứng cho Chúa về đạo yêu thương của mình.

     Cuộc sống tử đạo ngày nay không vua chúa quan quyền nào bắt bớ hành hạ chúng ta cho đến chết, nhưng đòi chúng ta biết can đảm chết đi cho những đam mê tật xấu. Và vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta sẵn sàng bao dung, tha thứ và cầu chuyện cho những người xúc phạm đến chúng ta.

    Anh chị em thân mến,

    Giáo hội Việt nam tưới thắm không biết bao nhiêu máu của các thánh tử đạo, đó là các bậc tiền nhân đi trước chúng ta. Các ngài đã dầy công vun xới để cho hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước, mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng.

    Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta chung lời tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội có những hạt giống đức tin, được gieo vãi trên quê hương Việt Nam. Tạ ơn Chúa, vì đức tin chúng ta được lớn lên trong dòng máu tử đạo của các chứng nhân tình thương.

    Chúng ta hết lòng ngưỡng mộ, vì các Ngài đã anh dũng trong đức tin, kiên trì trong đức cậy và bền đỗ trong đức mến dưới bất cứ hình khổ nào.

    Khi cử hành lễ các thánh tử đạo Việt nam, là cơ hội chúng ta nhớ về quá khứ để tỏ lòng tri ân, vì cha ông tổ tiên để lại cho chúng ta một gia sản cao quí đó là đức tin vững mạnh vào Chúa.

    Đồng thời, mừng lễ hôm nay, hướng về tương lai, noi gương các thánh tử đạo, chúng ta tiếp tục sống làm chứng cho Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương, vui lòng đón nhận những đau khổ dưới bất cứ hình thức nào, để danh Chúa được rạng rỡ vinh quang.

    Ước gì ngọn lửa đức tin mà các bậc tiền nhân đã thắp lên bằng cái chết đẫm máu, để làm chứng cho Chúa, sẽ được bừng sáng lên mãi trên tổ quốc Việt Nam thân yêu này. Nhờ đó làm cho công cuộc loan báo Tin mừng sinh nhiều hoa trái hơn nữa. Amen

    Về mục lục

    .

    KHỦNG HOẢNG

    Trầm Thiên Thu

    Đời thế tạm sẽ vào hồi kết thúc

    Cõi trường sinh rồi đến lúc khởi đầu

    Đời sống xã hội luôn có nhiều dạng khủng hoảng: kinh tế, văn hóa, xã hội, tài chính, chính trị, tâm lý, hôn nhân, gia đình,… Lĩnh vực nào cũng có thể bị khủng hoảng – kể cả tôn giáo.

    Nhưng có một dạng khủng hoảng đáng quan ngại nhất liên quan thời gian: Tận Thế. Thời gian vừa chậm vừa nhanh, tùy cảm xúc mỗi người, nhưng người ta vẫn cảm thấy “thời gian thấm thoát”. Thật vậy, mới ngày nào bắt đầu một năm mà nay đã vào cuối năm – cả năm đời và năm phụng vụ. Thời gian vào giai đoạn cuối. Thời điểm cuối gợi nhiều suy tư. Có nhiều cái cuối, đặc biệt nhất là cuối đời và cuối thời – Công giáo gọi là Thời Cánh Chung. Chúng ta đang ở trong thời này.

    Có lẽ hai từ “tận thế” chẳng ai muốn nhắc tới hoặc nghe người khác đề cập, bởi vì nó khiến người ta e ngại hoặc không vui. Tuy nhiên, tận thế chắc chắn vẫn sẽ đến – có thể là niềm mong chờ của người này, nhưng có thể lại là nỗi sợ hãi của người khác. Sự thật đúng là phũ phàng quá!

    Nhưng sự thật mãi mãi là sự thật, bởi vì Thiên Chúa là Sự Thật. Thời gian là của Chúa, nhưng Ngài ban cho mỗi người được quyền quản lý quỹ thời gian riêng mình. Ngôn sứ Daniel nói: “Thời đó, Micael sẽ đứng lên. Người là vị chỉ huy tối cao, là đấng vẫn thường che chở dân ngươi. Đó sẽ là THỜI NGẶT NGHÈO CHƯA TỪNG THẤY, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, dân ngươi sẽ thoát nạn, nghĩa là tất cả những ai ĐƯỢC GHI TÊN trong cuốn sách của Thiên Chúa” (Ðn 12:1a). Đó là những lời tiên báo về ngày tận cùng của thế gian, đặc biệt ông cho biết đó là “thời ngặt nghèo nhất”, chắc chắn rất đáng quan ngại, thậm chí là sợ hãi, nhưng lại không hề đáng sợ đối với những người thuộc về Thiên Chúa, vì họ có tên trong sách của Chúa – nghĩa là họ sẽ được tai qua nạn khỏi.

    Có thể vẫn có gì đó khó hiểu đối với một số người, thế nên ngôn sứ Daniel đã giải thích: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy”. Những người “an nghỉ trong bụi đất” là những người chết, vậy mà họ “trỗi dậy” – tức là hồi sinh, sống lại. Rõ ràng đó là ngày tận thế, ngày chung thẩm. Nhưng số phận mỗi người lại không giống nhau: “Người thì để HƯỞNG phúc trường sinh, kẻ thì để CHỊU ô nhục và BỊ ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Ðn 12:1b-2). Cùng một ngày, cùng được sống lại, nhưng có kẻ thấy hốt hoảng sợ hãi và có người thấy vui mừng hớn hở.

    Như đại diện những người thuộc về Chúa, Thánh Vịnh gia thân thưa: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ” (Tv 16:5). Tất cả đều là của Chúa, nhưng Ngài trao quyền quản lý cho chúng ta. Nếu nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta hoàn toàn an tâm: “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16:8-9). Ôi, thế thì hạnh phúc biết bao!

    Cái gì cũng có hệ lụy tất yếu, có kết quả thì ắt có nguyên nhân, có kết thúc ắt có khởi đầu, có sau thì phải có trước, có cuối thì cũng phải có đầu. Về nguyên nhân, Thánh Vịnh gia xác định: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 16:10), đồng thời hoàn toàn khiêm nhường và tín thác vào Chúa: “Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:11). Chắc hẳn phàm nhân không đủ ngôn từ để diễn tả niềm hoan lạc được cận kề bên Thiên Chúa – Đấng là Đầu và là Cuối (Kh 1:17), là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 22:13).

    Nói về việc tế lễ, phụng vụ, Thánh Phaolô cho biết: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10:11). Tế lễ là bổn phận và trách nhiệm hằng ngày của các tư tế, không chỉ dâng lễ đền tội cho mình mà còn dâng thay người khác, nhưng dù dâng bao nhiêu lần vẫn không bao giờ đủ mức độ hoàn hảo. Nhưng có một tư tế chỉ cần dâng một lần cũng đủ, đó là Đức Kitô: “Sau khi dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại, Ngài đã lên ngự bên hữu Thiên Chúa đến muôn đời” (Dt 10:12). Chính Ngài và chỉ có Ngài là Đấng cứu độ nhân loại.

    Thật vậy, bởi vì Đức Kitô là Thiên Chúa, là Thượng tế, là Đấng cao cả hơn mọi loài: “Từ khi đó, Ngài chờ đợi ngày các kẻ thù bị đặt làm bệ dưới chân” (Dt 10:13), và “Ngài chỉ dâng hiến lễ MỘT LẦN, mà VĨNH VIỄN làm cho những kẻ Ngài đã thánh hoá được NÊN HOÀN HẢO” (Dt 10:14). Dù là ai và là gì thì tất cả chúng ta vẫn chỉ là những tội nhân, không hơn không kém. Nhưng chúng ta diễm phúc được cứu độ, chiếc áo tội lỗi của chúng ta được “giặt sạch” bằng chính Bửu Huyết của Đức Kitô. Thánh Phaolô vừa giải thích vừa kết luận: “Nơi nào đã có ơn tha tội thì đâu cần lễ đền tội nữa” (Dt 10:18).

    Có mở thì cũng có kết, có khai sinh thì cũng có khai tử, có thuở tạo thiên lập địa thì cũng có lúc niên tận thế cùng. Đề cập ngày Con Người quang lâm, Chúa Giêsu cho biết các dấu chỉ: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” (Mc 13:24-25). Thế là giờ G đã đến. Đó là lúc “thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13:26). Và cũng chính lúc đó, “Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13:27). Thật lạ, ai cũng phải trình diện, Satan cũng chẳng thoát, điều này đã được thông báo từ ngàn xưa: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa” (Gióp 2:1).

    Nếu chú ý, chúng ta có thể đoán biết điều gì xảy ra khi thấy những sự việc tiếp diễn hằng ngày. Ngày tận thế cũng có những dấu chỉ khả dĩ nhận biết, Đức Kitô dùng hình ảnh thực tế hơn để mọi người đều có thể hiểu: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mc 13:28-29). Cuối cùng, Ngài quả quyết: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13:30-31). Tức là rất chắc chắn xảy ra ngày tận thế, không hề là chuyện đùa hoặc bịa đặt chi cả!

    Thế nhưng hình như loài người vẫn bán tín bán nghi. Bằng chứng là đã từng có nhiều tin đồn về ngày nọ hay tháng kia là thời điểm tận thế, về chuyện “tối ba ngày, ba đêm”,… Vì vậy, người ta lo tích lũy vật chất (nến, dầu, mì gói,…) để “đối phó”. Chao ôi! Thật là ấu trĩ, nhảm nhí và dị đoan, chứng tỏ họ chẳng biết hoặc chẳng tin điều Chúa Giêsu đã nói. Mơ hồ hay cứng lòng? Chính Chúa Giêsu đã nghiêm túc minh định: “Về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, CHỈ CÓ CHÚA CHA BIẾT MÀ THÔI” (Mc 13:32). Tỉnh cơn mộng ảo đi, đừng ngủ gà ngủ gật nữa!

    Tại sao người ta vẫn bịa đặt và phát tán những tin đồn nhảm nhí? Càng tệ hại hơn là vẫn có những người nhẹ dạ cả tin khi nghe những lời “tiên tri dỏm” ấy. Chúa Giêsu còn chưa biết thì làm sao những con người phàm phu tục tử đầy tội lỗi như chúng ta lại biết trước? Không lo sống tốt mà cứ lo chuyện nhảm hết trên trời lại dưới đất là sao? Quá vô lý vì đức tin ấu trĩ và không thèm tin lời Chúa nói. Khôn hay Khốn?

    Về Ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu, Cựu Ước và Tân Ước nói giống nhau:

    1. MẶT TRỜI SẼ TRỞ NÊN TỐI TĂM, MẶT TRĂNG HOÁ THÀNH MÁU, trước khi NGÀY của ĐỨC CHÚA xuất hiện, ngày vĩ đại, kinh hoàng. (Ge 3:31)
    2. Ngay sau những ngày gian nan ấy, MẶT TRỜI SẼ RA TỐI TĂM, MẶT TRĂNG KHÔNG CÒN CHIẾU SÁNG, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia. (Mt 24:29-31; Mc 13:24-27; Lc 21:25-28)

    Rất rõ ràng, rất rạch ròi. Nhưng có những “cái không” rất cần lưu ý: KHÔNG tin nhảm nhí, KHÔNG dị đoan, KHÔNG mê tín, KHÔNG nghe những kẻ bịa chuyện, có thể họ chỉ là những kẻ phá đạo, là tay sai của ma quỷ, chứ họ chẳng “đạo đức” gì đâu. ĐỪNG nhẹ dạ cả tin kẻo đức tin bị rung rinh, lung lay, thậm chí còn có thể bị “bật gốc” luôn đấy!

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con chuyên cần tìm hiểu và vững tin vào Lời Chúa, hoàn toàn tín thác vào Con Chúa để có thể đứng vững cho đến lúc Đức Kitô tái lâm. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, và đừng để chúng con bị khủng hoảng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHUẨN BỊ NGÀY CHÚA ĐẾN

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Tôi còn nhớ vào năm 1994 cha quản xứ của tôi đọc một bài báo nói về ngày tận thế vào ngày 5/5 năm đó, và sẽ có tối 3 ngày 3 đêm, nên cha kêu gọi mọi người phải mua đủ nến và mang đến nhà thờ để cha làm phép. Nhưng đợi đến ngày đó, không có gì xảy ra.

    Sau đó, có tin đồn tận thế sẽ xảy ra vào năm 2000, nhưng cũng không xảy ra. Gần đây, một tờ báo cho rằng ngày tận thế được xác định theo lịch của người Maya rơi vào ngày 15/5/2015. Những lời đồn đoán này đã gây hoang mang cho biết bao người. Ở Brazil, cảnh sát phải đối phó với nguy cơ tự tử tập thể khi chờ ngày tận thế. Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở tin đồn.

    Sự kiện này cho thấy rằng con người thời nào cũng muốn biết những gì sẽ xảy ra tương lai: Có ngày tận thế không? Số phận của chúng ta sẽ ra sao trong và sau ngày đó? Chúng ta tìm được câu trả lời cho những vấn nạn đó từ phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

    1. Thế giới và thế hệ này sẽ qua đi

    Trước hết, Lời Chúa hôm nay mạc khải cho chúng ta biết rằng: thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Thế giới này không vĩnh cữu qua sự quả quyết của Chúa Giêsu: “Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13,30). Đồng thời Chúa Giêsu loan báo về ngày quang lâm của Người. “Ngày quang lâm” trong tiếng Hy lạp là parusia. Có nghĩa là sự trở lại trần gian lần thứ hai của Chúa Giêsu vào ngày thế mạt.

    Nếu lần thứ nhất Chúa Kitô đến với nhân loại trong sự khiêm tốn và thấp hèn của người tôi tớ, thì lần thứ hai Chúa ngự đến trong vinh quang và quyền năng của vị thẩm phán. Người là vị thẩm phán chí công đến để xét xử nhân loại. Người sẽ xét xử chúng ta dựa trên công lý và tình yêu, theo những gì mà chúng ta đã sống trên thế gian.

    Bấy giờ số phận của những người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời, sẽ được chiếu tỏa như những vị sao. Còn những người tội lỗi thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời (x. Đn 12,3).

    Vì thế, “ngày quang lâm” sẽ trở thành ngày của sợ hãi, thất vọng đối với những người tội lỗi vì án phạt đời đời. Nhưng đó là ngày của hy vọng và cứu độ đối với những người công chính; ngày Thiên Chúa hoàn tất cách viên mãn chương trình cứu độ con người; đó là “trời mới đất mới” (Kh 21:1), thời đại của công lý, hạnh phúc và tình yêu ngự trị mãi mãi (x. 2 Cr 5,17).

    2. Thời gian và những dấu chỉ cánh chung

    Như thế, điều chắc chắn là thế giới này sẽ có ngày kết thúc. Nhưng xảy ra lúc nào? Tin Mừng hôm nay khẳng định: “Về ngày giờ đó thì không ai biết được ngay cả Thiên sứ trên trời, và Người Con cũng không thể biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13, 32). Thánh Augustinô còn xác quyết: “Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha”.

    Tuy nhiên, trong Tin Mừng Máccô, Chúa Giêsu loan báo về những dấu chỉ xảy ra để báo trước về ngày đó: 1) Những ngôn sứ giả, những Mêsia giả sẽ phỉnh gạt nhiều người (Mc 13,5-6); 2) Những cuộc bách hại chống lại các môn đệ của Đức Giêsu (Mc 13,9-13); 3) Những tai ương, chiến tranh, động đất, đói kém và những hiện tượng lạ lùng xảy ra (Mc 13,7-8).

    Trong khi đó, Tin Mừng Mátthêu chương 24 cho biết thêm 4 dấu chỉ của ngày tận thế, đó là: 1) Tin Mừng về Nước Thiên Chúa được loan báo cho hết mọi người (Mt 24,14); 2) Xuất hiện những tiên tri giả và phản Kitô; 3) Người Do thái trở lại tin nhận Chúa Kitô. 4) Thiên tai xảy ra. Đó là những dấu chỉ tiên báo về ngày thế mạt.

    3. Thái độ của chúng ta hôm nay

    Như vậy, Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu biết về biến cố cánh chung và ý nghĩa của ngày quang lâm để chúng ta khi sống trong hiện tại nhưng luôn hướng về tương lai, luôn nhớ đến sự phán xét chung, và phần thưởng cũng như hình phạt đời đời cho mỗi người.

    Trước sự chắc chắn và bất ngờ của cái chết, của việc Chúa quang lâm, chúng ta được mời gọi phải tỉnh thức và sẵn sàng: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44; Lc 12,40). Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng ấy phải được thể hiện một cách thực tế bằng một đời sống phục vụ và yêu thương tha nhân. Bởi lẽ, vào ngày xế chiều, Thiên Chúa sẽ phát xét chúng ta dựa vào lòng bác ái của chúng ta đối với tha nhân (x. Mt 25,31-46).

    Xin Chúa thức tỉnh tâm hồn chúng ta, để mỗi người biết cải biến mỗi ngày, nhận ra Chúa nơi những dấu chỉ thời đại và nơi anh chị em. Nhờ đó, khi ngày của Chúa đến, chúng con vẫn luôn bình an và hy vọng, vì biết rằng Người sẽ mang lại những gì tốt lành cho những ai yêu mến và phó thác nơi Người. Amen!

    Về mục lục

    .

    HIỆN THỰC

    Lm Vũdình Tường

    Mừng lễ kính Đức Kitô xuống thế lần thứ hai nhắc nhở cho Kitô hữu nhớ món quà hằng sống Đức Kitô hứa ban cho những ai trung tín trong đức tin. Món quà hiện thực này Đức Kitô hứa ban khi Kitô hữu hoàn thành viên mãn cuộc lữ hành trần thế. Hoàn thành viên mãn khi Kitô hữu sống trung thành với đức tin, giữ trọn lời hứa khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Món quà hằng sống có được không phải do sự khôn ngoan hay cố gắng của con người mà chính là kết quả của đời sống yêu Thiên Chúa, mến tha nhân và thiết tha với lời Đức Kitô giảng dậy. Thánh Mark cho biết món quà hằng sống được trao ban nhưng khi nào được lãnh nhận là điều không ai biết. Bởi không biết ngày giờ được trao ban nên Kitô hữu cần chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đón nhận. Thái độ đón nhận rất khác nhau nơi tâm hồn con người. Có người chuẩn bị hàng ngày đợi đến khi gọi thì đáp lại ngay. Kẻ khác thì lơ là, lúc sốt sắng, lúc thờ ơ. Họ cần thay đổi lối sống, thái độ sống đón nhận Lời Chúa với tất cả tâm tình, nếu không sẽ gặp rắc rối khi giờ chết ập đến. Kẻ khác đã không đón nhận còn chối bỏ món quà hằng sống. Bởi từ chối đón nhận quà hằng sống nên khi thời gian đến họ sống trong kinh hoàng, sợ hãi. Từ chối tin vào lời Đức Kitô khi gặp khốn khó không có nơi nương tựa, đau khổ. Khi biết sự khôn ngoan của con người bị giới hạn, con người không thể giúp hơn được nữa, lúc đó họ không còn lối thoát và sợ hãi xâm chiếm tâm hồn họ, đau khổ đè nén tâm can họ. Thất vọng ào tới tấn công tinh thần. Đau khổ, bất hạnh ào đến tứ phía. Họ phải trả giá rất đắt cho việc từ chối niềm tin. Tin vào Đức Kitô mất rất ít, lợi rất nhiều. Mất vì phải từ bỏ í riêng, mất vì phải tiêu diệt cái tôi. Lợi đầu tiên và quan trọng nhất chính là ơn cứu độ. Khi giờ chết đến có nơi nương tựa, không phải ra đi trong cô đơn nhưng có Đức Kitô đồng hành đó là điều lợi thứ hai. Đến giờ phán xét tránh được sợ hãi ngàn trùng vì có Chúa ở cùng ta, ai hãm hại được. Đó là điều lợi thứ ba. Được mọi người yêu mến khi còn sống đó là điều lợi thứ tư. Hàng năm có cả tháng cầu nguyện cho các linh hồn đó là điều lợi thứ năm. Quan trọng hơn cả là không phải sống mồ côi nhưng có Thiên Chúa là Cha hằng sống, yêu thương, bao bọc.

    Bởi không biết ngày giờ phán xét nên Kitô hữu sống tinh thần chuẩn bị đón chào ngày Chúa đến và sống trong hy vọng. Đức Kitô còn cho biết trước khi ngày Chúa xuất hiện sẽ có dấu chỉ, làm rung chuyển tấm lòng con người và cả vũ trụ rên xiết. Cùng dấu chỉ nhưng điều đó gây kinh hoàng cho người không có niềm tin, cũng dấu chỉ đó lại mang lại an ủi, niềm hy vọng cho Kitô hữu vì họ nhận biết ngày giờ Đức Kitô đến đón họ vào thiên quốc. Sợ hãi, kinh hoàng thường đi chung với thần dữ vì thế có thể coi đây là sự vùng vẫy cuối cùng của thần dữ trước khi chúng buông tay đầu hàng để chui vào ngục tối của chúng. Đức Kitô sai thiên thần đón nhận kẻ trung tín trong đức tin và chân thành trong bác ái. Sợ hãi, lo lắng biến mất và Kitô hữu sống trong hào quang chiến thắng huy hoàng của Đức Kitô. Thánh Mark nhắc nhở chúng ta mỗi ngày luôn nhớ đến ơn hằng sống và coi đó là ưu tiên hàng đầu trong ngày. Kitô hữu sống trong hiện tại nhưng hướng về tương lai bởi món quà hằng sống được trao ban nhưng chưa lãnh nhận.

    Kitô hữu tin vào sự chết thân xác và sự chết tâm linh. Người ta không thể chứng minh được tình yêu nhưng nhìn vào kết quả tình cảm con người dành cho nhau để nhận biết tình yêu. Qua hành động bác ái, yêu thương và sự hiện hữu của chính mình mà ta nhận biết tình yêu Chúa. Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa tạo dựng nên ta và cuối đời ta thuộc về Chúa bởi Ngài hứa không bỏ chúng ta mồ côi. Kẻ không tin vào Thiên Chúa không có câu trả lời đích thực về đời người. Với họ chết là hết, ngay cả câu trả lời này họ cũng bán tín, bán nghi, không hoàn toàn tin là sự thật.

    Về mục lục

    .

    NGÀY GIỜ CHÚA ĐẾN ĐÃ GẦN KỀ

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

          Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy thì mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển.  Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi và sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển  chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.

          Anh em hãy coi cây vả mà tìm hiểu. Khi cành nó trổ lá thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi những điều đó xẩy ra anh em biết là Người đã đến gần, ngay tại cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: Thế hệ này sẽ chẳng qua đi trước khi mọi điều ấy xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đi đâu.

         Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hoặc người Con. Chỉ có Thiên Chúa Cha biết mà thôi (Mc 13:24-32).

                                                                                      ***

    Câu chuyện trên lấy từ chương 13 Tin Mừng Marco (Mc 13: 24-32) là chương khó nhất và được coi là một tiên đoán về ngày tận thế.

          Chương này còn gọi là “Tiểu Khải Huyền”.  Như Daniel 7-12 và sách Khải Huyền, trọng điểm của chương này là một thế giới bị truy nã. Chúng ta nên để ý đến ý nghĩa của câu chuyện, không phải thời gian câu chuyện xẩy ra.

          Chúa Giesu tiên đoán đền thờ bị phá hủy (Mc 13:2) đã gây hoang mang khiến 4 môn đệ Phero, Giacobe, Gioan và Anre coi là chuyện riêng của Người với thời gian và dấu chỉ cho biết những chuyện xẩy ra vào ngày tận cùng (Mc 13:3-4). Để cho rõ ràng, Chúa đã giảng cho các ông một bài về thời cánh chung trước khi Chúa chịu chết. Đây là những chỉ dẫn, khuyên bảo các ông và Giáo Hội phải tin tưởng và vâng lời khi bị xã hội, người đời kết án, mang ra tòa buộc tội, vu oan và hành hạ. Anh em đừng sợ phải nói gì, làm gì. Chúa Thánh Thần sẽ an ủi và nói thay cho anh em (Mc 13:5-13).

           Dấu chỉ là sự xuất hiện những ghê tởm khốc hại của quyền lực La Mã đã xúc phạm đền thánh (Mc 13:14; Dn 9:27). Những biến động đó ở Jerusalem khiến chúng ta tin và hy vong vào Chúa hơn là nghe theo những tiên tri giả để bảo vệ thị trấn (Mc 13:14-23). Thiên Chúa chỉ can thiệp sau khi mọi hủy hoại (Mc 13:24-27) xẩy ra trước ngày tận cùng của thế hệ Kito giáo đầu tiên (Mc 13:28-31).

          Không ai ngoài Cha Ta biết chắc ngày đó (Mc 13:32), cho nên phải tỉnh thức (Mc 13:33-37). Luca cho thấy ngày đó sẽ xẩy ra cho đến “thời tận cùng của dân ngoại” (Lc 21:24). Coi thêm Mathieu 24:1-25,46.

    CON NGƯỜI

          Bài Tin Mừng hôm này dựa vào hai thực tế: Chính chúa Giesu sẽ hoàn thành những lời trong Cựu Ước nói về ngày tận cùng và các môn đệ không lo lắng để ý đến ngày giờ chính xác chúa Giesu giáng lâm lần thứ hai. Câu 26 cho biết chúa Giesu từ trời xuống trong uy quyền vinh quang.

          Giống như Con Người trong Daniel, chúa Giesu trong Marco sẽ trở lại và tụ họp những người được Chúa chọn “từ bốn phương, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”(Mc 13:27).Chúa đã không vẽ ra một tương lại sáng ngời cho các môn đệ. Người nói về thời đại lúc bấy giờ, lúc những độc giả đầu tiên của Marco sống và chính chúng ta hiện nay. Chúa nói trước về chiến tranh, động đất, đói kém… ám chỉ “ khởi đầu của những tiếng nổ tan tành, pangs”: những biến cố dấu chỉ đau khổ gần kề của thời đại mới sẽ bùng nổ mà quyền lực cổ xưa đã phấn đấu để nó không xẩy ra.

          Chúa Giesu diễn tả cho những người lúc bấy giờ tất cả mọi sự mà chúng ta ngày nay cũng hoảng sợ: nào là chiến tranh tàn phá, truy nã, chết chóc, nào là đau khổ khốn cùng…Chúa dùng những tiên đoán đó làm nền tảng cho hy vọng của chúng ta. Chúa khuyến khích chúng ta cậy trông vào Người! Thiết nghĩ tất cả  Kito hữu chúng ta đều cảm thấy an lòng vì Lời Chúa nói: “Khi thấy những điều đó xẩy ra, anh em biết là Người đã đến gần, ở ngay trước ngưỡng cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi những điều đó xẩy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời thầy sẽ chẳng qua đi đâu.” (Mc 13:29-31)

    NHỮNG THỬ THÁCH THỜI CÁNH CHUNG

           Những thử thách thời cánh chung sẽ ở nhiều dạng thức. Trước tiên là phản bội. Chúa Giesu đã bị “bội phản”, bị “nộp” cho kẻ thù, kẻ tội lỗi để thử thách. Những người đọc Marco sẽ bị phản bội, bị giải giao cho công tố viên, bị đánh đập trong nhà hội rồi bị gọi ra tòa làm chứng trước các vua quan. Họ sẽ bị bội phản và bị kêt án tử hình không phải do kẻ thù mà do chính cha mẹ, con cái, anh em họ hàng và bạn bè!

          Thứ đến, những Kito giả, tiên tri giả sẽ xuất hiện để “lừa phỉnh, khiến người ta đi lạc đường” Chúng hứa hẹn sẽ giải phóng, biểu diễn nhiều trò ảo thuật làm mờ mắt mọi người để họ không còn tin vào Chúa Giesu nữa.

          Thứ ba, những thử thách hoặc cám dỗ sẽ xẩy ra cả với những người đang vui hưởng cảnh hòa bình tương đối và vững bền. Chúa Giesu nói về loại thử thách sau cùng này trong câu chuyện dụ ngôn kết thúc chương 13 của Marco nói về một người đi du hành xa nhà, trao cho gia nhân coi sóc mọi sự, dặn phải “tỉnh thức trông nom”. Gia nhân đã gặp nguy khốn vì ngủ quên. Còn trong Mathieu (Mt 13:22) thì chúng bị cảnh giàu sang làm mờ mắt và thế gian dụ dỗ, đã ước mơ những điều mà Chúa Giesu đã cảnh cáo không được làm như trường hợp hạt giống  rơi vào bụi gai có mọc mầm đấy nhưng bị nghẹt thở không phát triển được.

          Tin Mừng Marco cho biết chúng ta là những kẻ theo Chúa Giesu sẽ bị thử thách. Thử thách bởi đau khổ, tai ương hoặc bởi danh-quyền-lợi cám dỗ dẫn đi lầm đường lạc lối. Ho bị thử thách bởi những mơ ước, ham muốn xác thịt, danh, quyền, tiền. Bất cứ hình thức cám dỗ nào Marco đều nhắc nhở chúng ta phải cẩn thận, tỉnh thức và cầu nguyện, vì nếu không, chúng ta sẽ sa ngã, không sẵn sàng đủ để đón chào ông chủ, Thầy chúng ta, và không thể tự biện hộ trước mặt Chúa ngày Chúa đến.

         Khi bị thử thách thì đừng sợ, vì chúa Giesu đã thay đổi trắc nghiệm hoàn toàn. Sức chịu đựng của chúa Giesu rất bền bỉ, chúa đã tự hiến làm của lễ hy sinh toàn hảo cho Thiên Chúa, do đó việc tế lễ trong đền thờ Jerusalem bị hủy bỏ. Từ bấy giờ về sau những “của lễ” thích hợp của những người công chính sẽ là những lời cầu nguyện của những cộng đồng tín hữu khi họ tụ họp lại với nhau, không phải là những của lễ dâng trong đền thánh như hồi xưa nữa. Chính của lễ hy sinh của chúa Giesu đã đủ để hòa giải mọi tội lỗi của loài người. Vì vậy, những ai theo chúa Giesu thì được “cứu thoát” khỏi hình phạt của Thiên Chúa. Họ có thể tin rằng họ đã được cứu rỗi.

     CỘNG ĐỒNG CẦU NGUYỆN CHUNG

          Marco cho biết sau khi đền thờ bị phá hủy, cộng đồng những người cầu nguyện sẽ là “nhà cầu nguyện cho mọi quốc gia”, là tân đền thờ được chúa Giesu thiết lập. Cầu nguyện riêng / cá nhân sẽ là dấu hiệu của tân cộng đồng này, là đền thờ được xây bằng những đá tảng sống động. Nhưng làm sao Marco và những độc giả của Marco có thể hiểu được ý niệm về “lời cầu nguyện riêng này”? Làm sao chúng ta có thể đọc kinh cầu nguyện theo phương cách đó và hậu quả của lời cầu như vậy sẽ là gì? Chúa Giesu đã hứa là cầu nguyện với lòng tin tưởng mãnh liệt, không hồ nghi thì sẽ được đáp ứng.

          Trong lúc đen tối và sầu thảm ở vưởn Gethsemane, chúa Giesu đã thành khẩn xin Thiên Chúa cứu Người thoát khỏi cơn hấp hối đau khổ này. Biết Thiên Chúa Cha có thể cứu giúp, nhưng chúa Giesu vẫn  chấp nhận và tuân theo ý của Thiên Chúa Cha. Sức chịu đựng của chúa Giesu, suy nghĩ và cương quyết theo chủ đích của mình vì ý muốn của Thiên Chúa Cha sẽ là khải hoàn vinh quang trong vườn ở chân núi Cây Dầu. Đối với Marco, lời cầu trong vườn Gethsimane chính là mẫu mực cho “các môn đệ cầu nguyện khi bị thử thách.”

    TRẮC NGHIỆM THỬ THÁCH

          Những biến cố to lớn ghê gớm nào trong đời đã làm lung lay chúng ta? Những thử thách hàng ngày của chúng ta như thế nào? Chúng ta có cảm nghiệm gì về những chối bỏ hay đau khổ, chết chóc hoặc mất mát đã khiến chúng ta buông suôi trước Lời Hằng Sống đã một lần chúng ta chấp nhận? Chúng ta có quá lo lắng để ý đến tiền bạc, thành bại trong công việc và cuộc sống không? Có quá băn khoăn về sức khỏe, việc làm, gia đình và tình bạn bè đến độ quên cả Lời Chúa không? Chúng ta có để cho những giận hờn, lo buồn hay dục vọng ngăn cản chúng ta bước theo Chúa không? Chúng ta có giữ lại được điều gì vui tươi trong cuộc sống của chúng ta không?

    Tin Mừng Marco cho thấy khi bị thử thách, chúng ta không phải lặp lại sự trung thành của chúa Giesu  bằng sức mạnh mong manh của chúng ta. Chúng ta không phải đối diện với những thử thách của ma quỉ không có quyền hạn như Thiên Chúa. Chúa Giesu thành Nazareth đã thay đổi vĩnh viễn tình trạng của chúng ta rồi. Marco đã viết Tin Mừng để ủy quyền cho những ai tin thì cầu nguyện. Mỗi cá nhân trong cộng đồng Kito hữu đều được ủy quyền để cầu nguyện riêng mà không thể bị trật đường vì sợ hãi, lo lắng, bị truy nã hoặc vì những quyền lực giả dối khi sống ở trần gian. Chúa Giesu đã cứu chuộc tội lỗi loài người và phá hủy những quyền lực cố tình ngăn cách loài người khỏi Thiên Chúa. Do đó tất cả mọi sự đều khả thi khi chúng ta đến với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện.

    NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ

          Chúng ta đừng bao giờ để mất hình ảnh vĩ đại về lịch sử ơn cứu độ khi chúng ta đối diện với những thất bại, gian nan bi thảm trong cuộc sống hàng ngày. Là Kito hữu mỗi ngày chúng ta đều được kêu gọi chống lại những kẻ thù của hy vọng và ưu sầu buồn thảm luôn luôn bám lấy chúng ta. Nỗi ưu sầu tập thể có thể dễ dàng trở thành hoảng sợ quá độ giữa bất cứ một khủng khoảng nào.

    Do đó bám chặt vào Lời Chúa là điều rất quan trọng để có thể phác họa một cuộc sống theo Lời và sống với Lời. Từ đó, chúng ta có thể thực hiện những lời tiên tri Daniel (Dn 12:1-3) trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta: “Những kẻ khôn ngoan sẽ sáng chói như ánh sáng bầu trời, và những kẻ dẫn đưa nhiều người về đường công chính sẽ nên như những vì tinh tú tồn tại đến muôn ngàn đời.”

         Do đó bám chặt vào Lời Chúa là điều rất quan trọng.

    Về mục lục

    .

    NGÀY THẨM ĐỊNH CHUNG CUỘC

    JM, Lam Thy

    Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXIII/TN-B – Mc 13, 24-32) là một trích đoạn “Bài giảng về ngày cánh chung” của Đức Giê-su Ki-tô. Ngày cánh chung (tận thế) đã được tiên báo từ Cựu Ước: “Thời đó, sẽ là thời ngặt nghèo chưa từng thấy, từ khi có các dân cho đến bây giờ. Thời đó, trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời. Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao.” (Đn 12, 1-3).

    Nếu đọc hết cả “Bài giảng về ngày cánh chung” thì sẽ thấy ngày cuối cùng của trần thế thật là khủng khiếp: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây!”, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Khi anh em nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã, thì đừng khiếp sợ. Những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có động đất ở nhiều nơi, sẽ có những cơn đói kém. Những sự việc ấy là khởi đầu các cơn đau đớn. Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng và các hội đường; anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết… Anh em sẽ nộp nhau cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét.” (Mc 13, 5-13). “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.” (Lc 21, 25-26).

    Ngày cuối cùng của trần thế là như vậy đó! Và chỉ nghĩ tới thôi cũng đã thấy sợ hãi khôn cùng, chẳng hiểu khi đối diện với sự thật thì sẽ ra sao? Điều đáng lo ngại nhất là thế giới ngày nay đã diễn ra giống như lời tiên báo của Đức Ki-tô, thậm chí còn tệ hại hơn nữa là khác. Sự sa đọa và tội lỗi của nhân loại ngày càng gia tăng. Con người dường như ngày càng mất đi cảm thức về tội lỗi. Người ta chỉ biết quan tâm chạy theo những quyến rũ của vật chất, của quyền lực danh vọng, của thú vui xác thịt… Con người trở nên ích kỷ hơn bao giờ hết. Các tôn giáo có khuynh hướng chỉ chú tâm đến những lễ nghi hay hình thức bên ngoài mà quên đi tinh thần phải có ở bên trong.

    Vì thế, khả năng soi sáng và hướng dẫn thế giới của các tôn giáo không mấy hữu hiệu. Giới tăng lữ, tu sĩ bị tục hóa đến nỗi nhiều người chỉ coi tác vụ của mình như một nghề nghiệp sinh nhai. Ấy là chưa kể những “Ki-tô, ngôn sứ, tiên tri giả” nhan nhản khắp nơi. Đó là những điều khiến Đức Giê-su đã đoán trước và lo ngại cho thế giới này: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Đó mới thật sự là nỗi lo sợ của những kẻ thức giả và nói chung là của những người còn tin vào một cõi sống có thực dành cho con người sau ngày tận thế (kẻ lành hưởng phúc, kẻ dữ chịu án phạt đời đời).

    Tham sinh uý tử (tham sống sợ chết) là bản chất con người, chuyện đó không có gì đáng trách. Tuy nhiên, chỉ cần đọc tiếp đoạn Tin Mừng trích dẫn trên thì sẽ thấy “sau cơn mưa, trời lại sáng”, sau lúc tối tăm ngặt nghèo là sự chói rạng của bầu trời hy vọng: “Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia.” (Mt 24, 29-31). Đấng Cứu Độ sẽ tái quang lâm và khi đó chính là lúc cả một bầu trời hy vọng sẽ đến với những kẻ TIN và kiên trì với niềm tin của mình mà vượt qua mọi gian nan, thử thách.

    Điều cần thiết là trong những ngày cuối cùng ấy, phải cảnh giác cao độ, kẻo mắc mưu gian của những kẻ “phản Ki-tô” hoặc “Ki-tô giả” (“Nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mạc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào.” – 2Tx 2, 3). Ấy cũng bởi vì không ít người xưng mình là “con cái”, là “tôi tớ” của Thiên Chúa là Đấng Chân Thật, nhưng lại tin nghe và hùa theo những chuyên gia “lộng giả thành chân” (lấy giả làm thật), tránh né sự thật, đánh bóng, tô hồng cho sự giả trá để biến nó thành “sự thật” với mục đích lôi cuốn những người trẻ lòng non dạ… Họ chính là những kẻ đã bị ngôn sứ I-sai-a vạch trần mưu gian: “Khốn thay những kẻ lấy dây gian tà kéo lầm lỗi, và dùng thừng kéo xe mà lôi theo tội ác… Khốn thay những kẻ bảo cái tốt là xấu, cái xấu là tốt, những kẻ biến tối thành sáng, sáng thành tối, biến cay đắng thành ngọt ngào, ngọt ngào thành cay đắng.” (Is 5, 18-20).

    Như vậy thì thái độ ứng xử cần có của Ki-tô hữu phải là tỉnh thức và chờ đợi, hay nói cách khác là hãy nhìn lại mình để thấy được mình đã sống như thế nào và tận dụng ngày cuối cùng của cuộc đời ra sao, để sẵn sàng đón nhận ngày phải đến và sẽ đến – ngày “chung thẩm” cuộc sống trần ai. Thánh Phao-lô đã gửi tín hữu Ê-phê-sô những lời khuyên chí tình chí nghĩa: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep, 15-16). Vâng, “biết tận dụng thời buổi hiện tại” và hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng: Yêu thương gia đình và những người thân cận như thể không còn dịp để yêu thương nữa. Cuối cùng, hãy cầu nguyện như thể mình cầu nguyện lần cuối.

    Tóm lại, bất cứ một sự gì trên đời có khởi đầu thì cũng có kết thúc, không có bất cứ một sự gì là miên viễn bất tử cả. Là con người thì ai cũng biết chắc chắn 100% rằng mình sẽ chết. Mà cũng vì thế nên con người cứ mò mẫm tin vào thầy nọ thuốc kia mà đi tìm thần dược trường sinh bất tử. Từ khi con người nhờ hồng ân Thiên Chúa ban, hiện diện trên trái đất này cho tới ngày nay, chưa một ai chứng minh được rằng mình thoát khỏi sự chết, thoát khỏi sự trở về với cát bụi. Con người biết chắc mình đã “sinh ký” (sống gởi) thì sẽ “tử quy” (thác về); nhưng khổ một nỗi là chẳng ai biết chắc được về ngày giờ chết của mình. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, không ai ngờ trước được. Ngày cánh chung cũng vậy (“Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả Người Con cũng không, chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.” (Mt 24, 36). Vì thế, cần phải chuẩn bị thật chu đáo ngày diện kiến Ông Chủ để được Người phán dạy: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt 25, 23).

    Thật là phù hợp khi Hội Đồng Giám Mục ấn định ngày bế mạc Năm Thánh “Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam” vào ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đúng vào Chúa nhật XXXIII mà các bài Kinh Thánh đều tập trung trình thuật ngày cánh chung vũ trụ. Xin toàn bộ Ki-tô hữu Việt Nam nhiệt tình hưởng ứng lời mời gọi của Hội Đồng Giám Mục trong Thư Công bố Năm Thánh (số 2): ”Năm Thánh 2018 mời gọi mọi tín hữu chiêm ngắm và học hỏi gương sống đức tin của các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Việc học hỏi này vừa giúp chúng ta hiểu biết hơn về lịch sử Hội Thánh và các Thánh Tử Đạo, vùa thúc đẩy chúng ta noi theo gương sống của các ngài. Chúng tôi khuyến khích các giáo xứ, dòng tu cũng như các đoàn thể, tổ chức những buổi thuyết trình và thảo luận về các Thánh Tử Đạo, để giúp mọi người hiểu biết, yêu mến và noi gương các ngài.”

    Ôi! Lạy Chúa! Con ao ước ngày “thẩm định chung cuộc” phải là ngày hạnh phúc nhất của con. Con muốn chuẩn bị bằng cách: ngày nào hay giờ nào con cũng sống như thể ngày đó hay giờ đó là ngày hay giờ cuối cùng cuộc đời trần thế của con, để “biết tận dụng thời buổi hiện tại” như lời dạy của Thánh Phao-lô. Hy vọng với cách đó, con sẽ luôn luôn sẵn sàng trở về với Chúa bất cứ giây phút nào. Ôi! Lạy Chúa! Xin thương xót con, xin giúp con sống thật sự tinh thần chuẩn bị sẵn sàng đó, để “Khi Chúa thương gọi con về, Hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô, con thật vinh phúc.” (Kim Long – “Ngày về” – TCCĐ). Amen.

    Về mục lục

    .

    NGƯỜI HIỀN SĨ LÀ NGƯỜI CẦU NGUYỆN

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

      “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì dể hưởng phúc thường sinh; kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời” (Dn 12,2).

      Điều đang nói ở đây là quang cảnh của ngày tận thế. Ngày mà “Thiên hạ sẽ thấy con Người đầy quyền năng và vinh quang ngừ trên đám mây mà đến” (x.Mc 13,26). Đây gọi là “cuộc phán xét chung”. Khi đó mọi người chết sẽ sống lại, nhưng số phận lại chia làm hai hướng khác nhau. Người thì hưởng phúc trường sinh, tức là được vào thiên đàng. Kẻ thì phải chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời, nghĩa là vào hỏa ngục. Ta hãy xem giáo lý của Giáo Hội nói gì và hai nơi này.

      Về thiên đàng. “Thiên đàng là cuộc sống viên mãn, vì được hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi; với Đức Trinh nữ Ma-ri-a, với các thiên thần và các thánh. Thiên đàng là mục đích tối hậu và là sự thực hiện các nguyện vọng sâu xa nhất của con người; là tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo và chung cuộc” (GLCG, số 1024).

      Quả thật, ““chúng ta không đủ khả năng hiểu biết và trình bày mầu nhiệm hiệp thông vinh phúc với Thiên Chúa và tất cả những người ở trong Đức Ki-tô. Khi nói về mầu nhiệm này, Thánh Kinh dùng những hình ảnh như sự sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu mới trong Nước Trời, Nhà Cha, Thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc.Thiên đàng là “Điều mắt chẳng hề thấy; điều tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ đến, đó là điều Thiên Chúa dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” (x. 1Cor 2,9)”” (GLCG, số 1027).

      Đúng vậy, thiên đàng chẳng một ai đã thấy, đã nghe hay nghĩ tới, chỉ một mình Đức Giê-su, từ trên đó xuống và nói cho chúng ta biết mà thôi. Con người ta, đâu có biết gì về thiên đàng, cứ nghĩ thiên đàng cũng như thế gian này, có điều khác là không phải đau khổ, không phải cực nhọc, không phải vất vả thôi. Cũng lấy vợ gả chồng, cũng sinh sống như ta đang sống. Không, đó chỉ là thiên đàng của con người, chứ không phải là thiên đàng của Thiên Chúa.

      Thiên đàng của Thiên Chúa, chỉ sau khi chết ta mới biết và ngày tận thế ta mới sống. Đó là nơi lòng chúng ta không hề nghĩ tới. Thế mới hấp dẫn chứ. Nếu biết rồi còn chi là hấp dẫn nữa. Trong cuộc sống, có những điều ta không dám mơ, không dám ước, thế mà lại được khi đó ta mới cảm được, đó là hạnh phúc biết chừng nào.

      Làm sao ta lại có được một người yêu thương ta như thế. Ta có làm gì đâu; ta giỏi dang hay đẹp đẽ gì. Thế mà có người lại yêu thương ta đến “chết mê chết mệt”; yêu thương ta “tít thò lò”. Có bao giờ ta dám nghĩ thế đâu, thế mà ta lại được. Đúng là ngoài sức tưởng tượng của ta, hạnh phúc biết chừng nào !!!!!!!!!

      Ta con nhà nghèo, ngoại ngữ chẳng biết mô tê gì; cũng chẳng có “danh gì với núi sông”, thế mà lại được chọn đi nước ngoài. Rồi học mãi, học hoài chẳng nói được, cả 5 năm trời chứ đâu có ít. Và một ngày đẹp trời nào đó, tự dưng, ta nói được ào ào như gió, không cần nghĩ, không cần suy, cứ thế mà nó tuôn ra. Ôi, lạy Chúa, không có hạnh phúc nào bằng !!!!!!!!!!!!!

      Lại nữa, ở Việt Nam thì cà tịch cà tang chiếc mô-bi-lét, chiếc cup 50; chiếc 67; có bao giờ nghĩ mình lái xe hơi. Rồi cũng phải học, cũng phải tập, thi tới thì hoài cũng đậu. Đã hơn 10 năm rồi, khi lái xe hơi đi chỗ này chỗ kia, cứ chạy tưng tưng, trong lòng vẫn cảm thấy sung sướng làm sao ấy!!!!!!!!!!!!

      Rồi ước muốn đi tu, nhưng cha xứ không cho giấy giới thiệu; cũng cứ đi; quá tuổi không vào chủng viện được, thì đi Dòng. “Dòng kín” không được thì sang “Dòng hở”. Ai đời, khấn trọn đời rồi, lại được chọn cho đi truyền giáo nước ngoài; lại cho luôn. Thế là thuộc về giáo phận, được truyền chức, trở thành Linh Mục Triều.Chạy lòng vòng, thế mà cũng tới đích mình muốn. Thật không còn hạnh phúc nào bằng !!!!!!!!

      Thế đấy, ngay đời sống trên trần gian này, ta còn cảm được hạnh phúc, khi những gì mình không dám mơ, không dám ước mà có được. Thế thì, hạnh phúc thiên đàng, ta cũng không dám mơ, không dám ước, mà được vào thì hạnh phúc biết chừng nào !!!!!!!

      Nói không mơ, không ước thì cũng không đúng, vì ai cũng muốn, cũng ao ước sau khi chết được vào thiên đàng. Nhưng đa số, người ta chỉ ươc mơ xuông, chỉ có lòng ước ao thôi mà không cố gắng làm gì để được vào thiên đàng. Ta cũng ước, cũng mơ và cố gắng bao có thể để được vào thiên đàng, nhưng trên thiên đàng hạnh phúc thế nào thì ta chưa biết, đến khi vào được đó thì ta sẽ biết hạnh phúc thiên đàng là gì. Lúc đó mới hạnh phúc làm sao !!!!!!!

      Còn về hỏa ngục? “Hội Thánh dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời. Ngay sau chết, linh hồn kẻ mắc tội trọng sẽ xuống hỏa ngục chịu cực hình “lửa đời đời”. Vì chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm được sự sống và hạnh phúc hằng khao khát, nên cực hình chính của hỏa ngục là đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa” (GLCG, số 1035).

      “Những điều Thánh Kinh xác quyết và Hội Thánh dạy về hỏa ngục, là lời mời gọi con người phải có trách nhiệm sử dụng tự do để đạt tới hạnh phúc đời đời; đồng thời thúc giục ta ăn năn hối cải”(GLCG, số 1036).

      Nghe đến hỏa ngục ai cũng sợ và chẳng ai muốn xuống cả. Thế nhưng lại không ra sức để mình khỏi xuống đó. Thế mới chết chứ ! Sợ thì sợ nhưng không ngán; chẳng muốn xuống nhưng lại cứ đi vào. Thiên Chúa chẳng tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục cả; Ngài chỉ muốn cho mọi người được vào thiên đàng thôi.

      Vậy ta phải làm gì để được vào thiên đàng đây ?

      Trong sách tiên tri Đa-ni-en có viết: “Các Hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ; nhưng ai làm cho người người nên công chính, sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Dn 12,3).

      Người Hiền sĩ, không phải là những Ngôi Sao minh tinh Bàn Bạc, những Ngôi Sao ca nhạc, sân khấu hay nhưng danh thủ thể thao mà là người “tỉnh thức”. Họ “tỉnh thức và cầu nguyện luôn để có thể đứng vững trước mặt Con Người” (x. Lc 21,36). Nói cách khác người Hiền Sĩ là người cầu nguyện. Cầu nguyện để làm chi ? Cầu nguyện để lãnh nhận ơn sủng của Thiên Chúa. Lãnh nhận ân sủng để làm gì ? Để ta được cứu độ.

    Thánh Phao-lô nói về ân sủng này như sau: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ đem ơn cứu độ đến cho con người. Ân sủng đó dạy ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta xuất hiện vinh quang” (x.Tt 2,11-13).

    Vì muốn từ bỏ được lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức thì phải cần có ơn Chúa ta mới làm và sống được. Nên ta phải cầu nguyện luôn, để “hũ ân sủng” của ta không bao giờ cạn, ta mới có đủ sức và dư sức để “qua cầu”. Người mà sống chừng mực, công chính và đạo đức sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ trong Nước Trời. Nghĩa là được vào Thiên đàng.

    Người Hiền sĩ đó không chỉ lo cho mình mà còn làm cho nhiều người khác được hạnh phúc, được nên công chính nữa cơ. “Họ luôn sẵn sàng làm điều thiện; không chửi bới ai; không hiếu chiến nhưng hiền hòa, luôn tỏ lòng từ bi với mọi người” (x.Tt 3,1-2). Họ đã không làm thì thôi, đã làm thì luôn làm điều tốt, điều thiện cho người khác; đem lại niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân. Họ không ganh đua với người khác, họ chỉ lo chu toàn bổn phận của mình thôi. Có bị chơi xấu, nghĩ sai hay bị khinh khi họ cũng không trả thù, không thèm để ý tới làm chi, cứ để đó cho Chúa xét xử. Họ chẳng cần ai biết đến hay có ai khen lao cả, có Chúa biết là đủ rồi.

    Người sống như thế sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao trong nước Cha của họ, tức là trong Nước Trời; trong thiên đàng.

    Quả thật, người tràn đầy ân sủng Chúa và cố gắng sống tốt lành và thánh thiện thì khi chết về với Chúa, ta sẽ được vào thiên đàng và ngày sau hết, ta được phục sinh, cả xác lẫn hồn ta được vào thiên đàng để hưởng phúc trường sinh với Chúa và các thánh.

    Vậy ta hãy chọn Thiên Đàng là mục tiêu của ta, để đang khi sống ở đời này ta biết chuẩn bị, biết dùng mọi cơ hội có được trong cuộc sống, bằng cách luôn tỉnh thức và cầu nguyện. Với ơn Chúa, ta sẽ cố gắng hết sức mình để ta nên người Hiền Sĩ, nên người công chính, thánh thiện; đồng thời, cũng giúp cho người khác nên thánh nên thiện nữa. Chắc chắn ta sẽ được vào thiên đàng. Ta đừng có loi ngoi, láu cá mà nên kẻ “lòi sỉ”, coi chừng xuống hỏa ngục như chơi đó.

    Về mục lục

    .

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Đnl 6, 2-6;  Dt 7, 23-28;  Mc 12, 28b-34

    ——-

    Mục lục

    1. .Mến Chúa yêu người (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Giới luật và Bí tích (Jorathe Nắng Tím)

    3. Điều răn trọng nhất (Lm. Thái Nguyên)

    4. Đừng đẩy Chúa vào một góc trong trái tim (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.TĐ)

    5. Điều cốt lõi  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    6. Mến Chúa yêu người- (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    7. Tóm về hai điều này mà nhớ (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    8. Chúa duy nhất, Luật bất biến  (Trầm Thiên Thu)

    9. Yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa  (Giuse Hoàng Thanh Phong, SJ)

    10. Hết cả trí khôn  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    11. Điều răn mới  (Lm. Vũ Đình Tường)

    12. Yêu mến  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    13. Mùa nào cũng yêu (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    14. “Mình với ta” tuy hai mà một (Lm. Giuse Trương Đình Hiền)

    15. Sống giới răn yêu thương  (Lm. Ngọc Dũng, SDB)

    16. Chỉ một đô-la (Lm. JB Nguyễn Minh Hùng)

     

    Mục lục

    1. Lời nói và việc làm (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Luật tối thượng  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Sống yêu thương giữa thế giới hận thù (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Luyện lòng nhân  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    5. Mến Chúa yêu người (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    6. Thể hiện tình yêu đối với Thiên Chúa qua việc phục vụ tha nhân (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    7. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

    8. Yêu thương  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    9. Suy niệm Chúa Nhật 31 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    10. Tin mừng Chúa Nhật 31 (Jorathe Nắng Tím)

    11. Việc làm của đức tin là đức ái  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    12. Thực hành mến Chúa yêu người trong cuộc sống (Lm. Đan Vinh)

    13. Giới răn mến Chúa yêu người  (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    14. Mến Chúa yêu người. (Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải, CRM)

    15. Đạo yêu thương  (PM. Cao Huy Hoàng)

    16. Giới răn hàng đầu (JM. Lam Thy, ĐVD)

    17. Tình yêu Chúa (Lm. Vũ Đình Tường)

    18. Điệu lý yêu thương (Trầm Thiên Thu)

    19. Sống tốt sống đẹp  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    20. Giới răn trọng nhất  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    21. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 31 TN_B  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    22. Mến Chúa yêu người có dễ không? (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    23. Điều răn đứng hàng đầu trong Nước Thiên Chúa (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

    24. Quán quân (Lm. Thái Sơn)

    25. Mến Chúa yêu người, giới răn quan trọng nhất (Lm. Phê rô Nguyễn Văn Hương)

    26. Chúa Nhật 31 Thường Niên_B (Lm. Antôn)

    .

    .MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Khi nói đến giới răn hay huấn lệnh là nói đến sự bó buộc. Quả vậy, một huấn lệnh thường mang nội dung yêu cầu phải làm hoặc cấm làm một điều gì đó. Như thế, phải chăng kính mến Chúa là một điều buộc? Nếu coi việc kính mến Chúa là một điều buộc, thì chẳng còn phải là một tình yêu tự nguyện, mà khi không xuất phát từ tự nguyện, thì chẳng còn phải là tình yêu, hay có chăng thì đó chỉ là tình yêu gượng ép.

    Bài đọc thứ nhất (sách Đệ nhị Luật) và bài Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay nói với chúng ta về các huấn lệnh. Trong số các huấn lệnh của Thiên Chúa thời Cựu ước, ông Môisen đã nhấn mạnh tới một lệnh truyền căn bản: “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái, cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài”. Những lời trên đây thực ra không phải là một điều áp đặt. Đây là những lời đề nghị hay một lời mời gọi, kèm theo lời hứa cho một tương lai tốt lành. Người tin Chúa không bị ép buộc, nhưng khôn ngoan suy nghĩ để lựa chọn và quyết định: nếu yêu mến Chúa và tôn kính Ngài, thì họ sẽ được Chúa chúc lành cho trong mọi ngày của đời sống dương thế, được trường thọ và hạnh phúc. Tác giả Thánh vịnh 17 (Phần Đáp ca) cũng diễn tả lý do yêu mến Chúa, là vì Ngài là sơn động cho ta trú ẩn. Ngài là đá tảng, là chiến luỹ và là vị cứu tinh đối với những ai cậy trông phó thác nơi Ngài.

    Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em”. Qua những lời này, ông Môisen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật. Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng mép, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6). Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau. Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn. Đối với người Kitô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

    Thực ra mến Chúa yêu người không phải là hai giới răn tách biệt, nhưng là một giới răn duy nhất, như hai mặt của một tấm huy chương. Lòng mến Chúa phải được chứng minh bằng việc yêu người. Tình mến mọi người phải được dựa trên nền tảng lòng mến Chúa, vì đó là lòng mến vô vị lợi, không dựa trên những tiêu chuẩn trần gian, không phân biệt và không biên giới. Thánh Gioan đã khẳng định với chúng ta: ai nói mến Chúa mà không thực hành đức thương yêu với tha nhân thì là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người nhìn thấy mà họ không thương yêu, thì làm sao họ mến Đấng mà họ không nhìn thấy?  (x. 1 Ga 4,20).

    Người tín hữu có một mẫu gương về lòng mến hoàn hảo, đó là Đức Giêsu Kitô. Người là vị tư tế thánh thiện, vô tội tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời. Trên cây thập giá Đức Giêsu đã minh chứng tình mến đối với Chúa Cha và tình mến đối với nhân loại. Tác giả thư gửi tín hữu Hípri đã chứng minh Chúa Giêsu là vị tư tế tối cao. Ngày hôm nay, vị Tư tế đó vẫn đang chuyển cầu cho chúng ta (Bài đọc II).

     “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng”. Đây là lời kinh mà những người Do Thái đạo đức phải tụng mỗi ngày, để rồi lời ấy vang lên trong mọi giây phút của cuộc sống. Lời ấy cũng là động lực chi phối mọi lời nói, hành vi và ý tưởng của những ai muốn tuân giữ lề luật. Đây cũng là câu Lời Chúa được chọn để đọc trong giờ Kinh Phụng vụ vào tối thứ Bảy hằng tuần. Xin cho lời kinh ấy luôn vang vọng trong tâm trí và cuộc đời chúng ta, để khởi đi từ lòng mến Chúa, chúng ta sẽ thực thi đức yêu người.

    Hôm nay là ngày vọng lễ Các Thánh. Các thánh là những người mến Chúa yêu người. Các ngài đã trải qua nhiều gian nan thử thách, nhưng vẫn một lòng tín trung. Có nhiều vị thà hy sinh mạng sống còn hơn là bỏ Đạo. Có nhiều vị chấp nhận một cuộc sống trầm lặng trong suy tư cầu nguyện. Có nhiều vị thánh đã trải qua một cuộc sống rất đơn sơ bình dị, như một người cha, một người mẹ trong gia đình, một công dân của xã hội, một người phong lưu hoặc một người nghèo khó. Tất cả các thánh đều có một điểm chung: đó là lòng mến Chúa yêu người. Thánh Phaolô đã khẳng định: Ai yêu thương, thì đã chu toàn lề luật (Rm 13,8b). Nên thánh chính là thực thi giới răn mến Chúa yêu người.

    Lạy Chúa là nguồn mạch sự thánh thiện, xin che chở nâng đỡ chúng con trong hành trình cuộc đời, cũng là hành trình nên thánh. Amen.

    Về mục lục

    GIỚI LUẬT VÀ BÍ TÍCH

    Jorathe Nắng Tím

    Khi sai các môn đệ đi truyền giáo, Đức Giêsu không chỉ ban một lệnh truyền mang tính luân lý khi phán: Dạy bảo họ  “tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền” nhưng còn ban chính mình như Bí Tích Tình Yêu khi dặn dò: “Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần…  Và Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19.20).

    Lệnh truyền Đức Giêsu ban là “Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”, và “yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12,29.30).

    Thánh Gioan quảng diễn giới luật yêu thương này trong thư của Ngài: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa”, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. Vậy “ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 20.21).

    Nhưng nếu dừng lại ở phạm trù giới luật, thì Tình Yêu sẽ chỉ là đòi hỏi của luân lý, và thuần túy là nghĩa vụ của con người tự nhiên, như chúng ta thường nói: “làm người thì phải ăn ngay ở lành”. Và vì là đòi hỏi nền tảng của con người tự nhiên, nên các tôn giáo đều có chung đòi hỏi tín đồ, giáo hữu phải sống giới luật “làm người ngay lành, lương thiện”. Đây là lý do đã dẫn đến kết luận : đạo nào cũng như đạo nào, vì tất cả đều dậy ăn ngay ở lành.

    Đức Giêsu đã truyền dạy giới luật tình yêu, nhưng giới luật Ngài ban không bắt nguồn từ bản tính con người, nhưng từ Ngài; không lớn lên nhờ có gắng sống tốt của con người, nhưng nhờ sức sống của chính Ngài. Và để thực hiện điều này, nghiã là “nâng tầm” giới luật lên hàng bí tích, nâng đòi hỏi luân lý lên hàng siêu nhiên, nâng việc làm tự nhiên lên hàng thánh thiêng, Đức Giêsu đã sai các môn đệ “đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28, 19).

    Làm phép rửa cho muôn dân là làm cho muôn dân đi vào đời sống bí tích, nghĩa là làm cho mọi người đi vào hiệp thông, hiệp nhất với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, như Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân – Lumen Gentium của Công Đồng Vaticanô II đã khẳng định về yếu tính của Giáo Hội: “Giáo Hội ở trong Đức Kitô như bí tích hoặc dấu chí và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể” (LG 1) – Bản dịch Việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X).

    Tại sao Phép Rửa như bí tích của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và với nhân loại?

    Thưa, vì Bí Tích Rửa Tội ban cho chúng ta ơn trở nên con Thiên Chúa. Được rửa tội trong Đức Giêsu, tức là “được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Giêsu”. Và được dìm vào nước thanh tẩy chính là “được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đuợc sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6, 3-4). Đời sống mới ấy là  đời sống làm con Thiên Chúa, nên khi chịu phép rửa,  Chúa Cha cũng  nói với mỗi người chúng ta như đã nói với Đức Giêsu, khi Ngài chịu phép rửa ở sông Giođan: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22).

    Bí tích Rửa Tội như thế đã làm cho chúng ta trở nên con Thiên Chúa, mà đã là con thì yêu mến, hiếu thảo với Cha không còn là bổn phận nhưng là niềm hạnh phúc, nỗi khát khao.

    Bí tích Rửa Tội không chỉ làm cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, nhưng cùng lúc cho chúng ta trở nên anh em với mọi người. Đây là điểm chúng ta dễ lãng quên, vì không mấy quan tâm, trong khi lại là điều Đức Giêsu không ngừng nhấn mạnh và nhắc nhở trong Tin Mừng. Do đó, tình yêu dành cho Thiên Chúa sẽ chỉ có giá trị và ý nghĩa nếu chúng ta cũng yêu thương anh chị em mình, như hạnh phúc chúng ta khao khát tìm kiếm, mà không như một lề luật nặng nề, trói buộc.

    Như kinh sư trong Tin Mừng hôm nay đã được Đức Giêsu  khuyến khích: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu” (Mc 12,34),  xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để yêu mến Chúa và yêu mến mọi người, mà hành động yêu mến cao quý, đẹp lòng Chúa hơn cả chính là “dâng lễ tế hy sinh, trước là đền tội của mình”, để tỏ lòng yêu mến Chúa, và “sau là để đền thay cho người khác” (Dt 7,27), để thực hiện ước muốn yêu thương, phục vụ tha nhân như Chúa dạy.

    Về mục lục

    ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Đức Giêsu đã tóm Luật Môsê trong động từ yêu mến. Trước tiên là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực, vì Ngài là căn cội và cùng đích của đời sống con người. Tình yêu không thể nài ép mà là nhận ra và đáp trả. Chính sự đáp trả này làm cho con người là người, là con cái của Thiên Chúa và là anh em với nhau. Vì vậy, điều răn đứng đầu gắn liền với điều răn thứ hai:“Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”. Chính trong Chúa, ta nhận ra phẩm giá đích thực của một con người, dù đó là một thai nhi, một phạm nhân hay người mất trí. Chỉ trong Chúa, ta mới yêu thương đến cùng, vì nhận ra mỗi người là hình ảnh của Ðức Kitô đang sống.

    Có một người kia sau khi ăn chay 70 tuần, thì xin Chúa cho mình hiểu ý nghĩa vài câu trong Kinh Thánh, nhưng Chúa không trả lời. Cuối cùng, người đó phải tìm đến với người anh em để xin giải thích. Khi người đó lên đường, Chúa gửi một thiên thần xuống nhắn nhủ rằng:“Bảy mươi tuần ăn chay của con cũng không làm cho con đến gần Chúa. Nhưng bây giờ con có lòng khiêm tốn đến với người anh em, nên ta được Chúa gởi đến để nói cho con ý nghĩa các lời thánh”.

    Nhân danh lòng tin vào Chúa mà không mở lòng mình ra với tha nhân, phải chăng là một thứ kiêu ngạo thiêng liêng? Đó không phải là tin vào Chúa mà là tin vào sự thánh thiện của mình. Tiếng nói của Chúa trong ta không phải là tiếng nói duy nhất của Ngài, mà Ngài còn nói với ta qua sự khôn ngoan và nhãn quan thiêng liêng của người khác. Ta cần mở lòng ra để đón nhận những tư duy mới, các khả năng mới như một cách thức của Lời Chúa. Khép kín với bất cứ một cái gì, hay bất cứ ai, là khép kín khả năng có thể tái sinh chính mình.

    Luật thánh Bênêđictô dạy, khi có ai gõ cửa thì phải nói: “Benedicite”, có nghĩa sâu xa rằng: cảm tạ Chúa vì có người đến làm phong phú lương tri của con, chỉ dẫn con cách suy nghĩ, cách sống, và làm cho con vượt ra khỏi thế giới chật hẹp của mình. Mỗi ngày ta cần mở lòng để đón tiếp một kinh nghiệm mới, một tư duy mới, một cái gì đó nơi người khác để khai sáng trí não mình.

    Cũng có một giai thoại khác kể rằng, đêm nọ xuyên qua cửa sổ, một tu sĩ già bỗng nhìn thấy thiên thần đang ngồi ghi tên những ai yêu mến Chúa vào cuốn sách vàng. Ông hỏi thử xem có tên mình không. Thiên thần giở ra nhưng không thấy. Ông nài nỉ thiên thần: “Xin Ngài ghi tên tôi là người lúc nào cũng yêu mến tha nhân”. Thiên thần cũng chiều ý ông, thế là tên ông được ghi vào sổ vàng. Tối hôm sau, giữa ánh trăng sáng, thiên thần lại hiện ra và mở cuốn sổ vàng cho vị tu sĩ xem. Lần này, ông thấy tên của mình dẫn đầu trong danh sách những người yêu mến Chúa. Sau khi vị tu sĩ già qua đời, các anh em trong tu viện xem lại nhật ký của ông, thấy câu đầu tiên là câu trích dẫn từ thư 1Ga 4, 20: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. Tiếp theo, ông ghi chú như sau: “Tôi đi tìm kiếm linh hồn tôi, nhưng tôi không thấy. Tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vượt khỏi tầm tay tôi. Tôi đi tìm người anh em tôi, tôi đã gặp Chúa và linh hồn tôi”.

    Ta không thể gặp gỡ và yêu mến Thiên Chúa trong tâm tưởng hay trong ước muốn, mà là nơi chính tha nhân, nơi những hành động cụ thể trong những tương quan hằng ngày. Thiên Chúa và tha nhân hòa hợp làm một trong cõi lòng ta. Ta yêu tha nhân trong Chúa, và yêu Chúa nơi tha nhân. Cầu nguyện là đặt mình trong Chúa để có thể yêu tha nhân như chính mình. Tình yêu với Thiên Chúa đưa ta vào cuộc sống với anh em. Tình yêu thương anh em đòi ta chìm sâu trong Thiên Chúa, để kín múc nguồn sinh lực hầu tiếp tục hiến trao. Cuối cùng tình yêu ấy lại quay trở về với Thiên Chúa như cùng đích tối hậu của nó, và như vậy phát sinh sự “hợp nhất” toàn hảo, mà Đức Kitô đã ao ước thực hiện giữa Thiên Chúa với chính Ngài và các kẻ tin (Ga 17, 21). Đẹp biết bao vương quốc của Thiên Chúa, nơi chỉ có tình yêu chiếu rạng ngời, dành cho tất cả những ai đã một đời phấn đấu để hiến dâng.

    Cầu nguyện

    Lạy Chúa Giêsu!
    Yêu Chúa lúc bình thường thì không khó,
    nhưng yêu khi đời sóng gió thì không dễ,
    nhất là khi gặp khốn khó ê chề,
    khi sa cơ thất thế trở về tay không.

    Nhưng con vẫn cứ cậy trông và hy vọng,
    vì tin Chúa hằng khơi sâu mở rộng,
    bằng ân ban và sự sống của Ngài.

    Yêu mến Chúa xem ra là điều dễ,
    vì dù sao Ngài cũng vẫn là tình yêu,
    yêu tha nhân như chính mình mới khó,
    nhất là khi bị phủ nhận khinh chê,
    khi bị xử bất công, loại trừ và thay thế,
    đó là những lúc con đau buồn vô kể,
    nỗi thù hằn như khống chế tim con.

    Nhưng khi bình tâm suy nghĩ lại,
    con thấy những tổn thương cũng rất cần,
    để con có kinh nghiệm sống tình thân,
    vì nhiều lần con cũng xử vô nhân.

    Tình yêu luôn mang tính hỗ tương,
    cả trong đau thương và hạnh phúc,
    nên yêu thương mà không chịu đau thương,
    thì cuộc đời con quả là ảo tưởng.

    Chúa đã sống tất cả mọi tình trường,
    muốn cho con nhìn ngắm để noi gương,
    trong an vui khiêm nhường mà tiến bước,
    vì đời con là nhân chứng của tình thương.

    Xin cho con sống con người mới,
    bằng tình yêu mà Chúa đã gọi mời,
    để bừng lên ánh sáng ở mọi nơi,
    là tình yêu hợp nhất đến muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    ĐỪNG ĐẨY CHÚA VÀO MỘT GÓC TRONG TRÁI TIM

    Bông hồng nhỏ

    Để vào được Nước Thiên Chúa, chúng ta cần phải làm gì? Hôm nay, Thầy Giêsu dạy chúng ta cần phải sống hai điều cốt yếu, đó là sống hai điều răn đứng đầu: Mến Chúa và yêu người. Khi có một người kinh sư lên tiếng hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12, 29), Người đã dõng dạc tuyên bố: “Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12,30-31). Người kinh sư đã tấm tắc khen điều Thầy dạy thật hay và chí lý. Người bảo ông ta: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12, 34).

    Trên một chuyến xe, một nhà thơ hỏi các anh chị em đi cùng: “Theo các bạn, để tốt nghiệp trường của Thầy Giêsu, chúng ta cần đạt mấy điểm? Mỗi người trả lời theo cách hiểu của mình. Bấy giờ, nhà thơ trả lời: “Chúng ta chỉ cần đạt hai điểm thôi, đó là mến Chúa và yêu người”. Cả xe bỗng rơi vào thinh lặng trước câu trả lời của nhà thơ. Có lẽ ai cũng đang trở về lòng mình, lắng nghe tiếng vọng của trái tim.

    Từ tấm bé, ta đã được học kinh Mười Điều Răn, và Mười Điều Răn ấy tóm về hai điều này là mến Chúa và yêu người. Ta đọc lời kinh đọc trên môi miệng hằng ngày, tâm trí hiểu điều Chúa dạy nhưng nhìn thật sâu vào lòng, ta nhận ra mình chưa yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn; chưa yêu người thân cận như chính mình. Sống lời Chúa là một thách đố, bởi Lời Chúa luôn đặt ta trong những chọn lựa: chọn chấp nhận bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Chúa hay chọn chiều theo ý muốn của bản thân; nghĩa là chọn đi trên con đường hẹp dẫn đến sự sống hay chọn đi trên con đường thênh thang, đường đưa tới chỗ diệt vong. Mỗi lần chọn bước đi trên đường hẹp, ta thấy mình được lớn lên trong tình yêu, trái tim của ta được triển nở và mở rộng hơn để đến với người khác. Mỗi lần ta vượt qua được một chướng ngại, bỏ đi được một rào cản trong suy nghĩ, thay đổi cách hành xử với người khác, ta đã biết dùng tình yêu thương để đến với họ. Thế nhưng, cũng không ít lần, ta không yêu người khác như Chúa mời gọi, bởi vì ta chưa để Chúa làm chủ đời sống và con người mình. Thánh nữ Têrêsa Giêsu đã từng nói rằng, ta không thể chắc chắn việc mình yêu Chúa nhưng ta có thể biết chắc mình có yêu anh chị em hay không. Thánh Gioan Tông đồ cũng khẳng định rằng, ai nói mình yêu mến Chúa mà không yêu thương người anh chị em bên cạnh mình, đó là kẻ nói dối. Hiểu lời Chúa dạy là một hồng ân Chúa ban, ta hãy xin ơn biết sống lời Chúa dạy trong từng ngày. Bởi, việc sống lời kinh ấy cần phải được diễn tả từ trong suy nghĩ đến hành động. Nếu ta luôn để cho lời của Chúa vang lên trong lòng, ta sẽ nuôi dưỡng ước muốn sống lời của Chúa. Khi ta suy nghĩ tích cực về người khác, ta sẽ dễ yêu thương họ hơn. Khi tâm trí ta luôn quy hướng về Chúa, ta sẽ sống trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, Người sẽ ban ơn trợ lực giúp ta có đủ sức mạnh để sống yêu thương.

    Mỗi lần tham dự thánh lễ, ta được đón Chúa Giêsu Thánh Thể ngự vào lòng, ta mang Chúa đến với những người khác, ta trở nên một món quà tuyệt vời cho người khác, vì món quà ấy là chính Chúa Giêsu đang sống trong ta. Hãy nhìn lại nhé, lần đầu được rước lễ, ta đã làm gì? Ta đã rất hạnh phúc và bằng sự đơn sơ, ta trở về nhà với ý nghĩ tôi đang mang theo Chúa Giêsu trong lòng. Gặp ai ta cũng thấy họ thật dễ thương, ta cố gắng sống thật hiếu thảo, thật dễ thương với tất cả mọi người. Nhìn ai, ta cũng thấy nụ cười của Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu đang ở cùng ta. Người làm cho ánh mắt ta nên trong sáng hơn, để ta sống với mọi người bằng cả trái tim. Thời gian dần trôi, tâm trí ta đã dành chỗ cho nhiều điều khác ngoài Chúa: học vấn, của cải, danh vọng, … Cái tôi của ta cũng được nuôi lớn tự bao giờ! Ta cũng đón rước Chúa nhưng dường như ta loay hoay bận tâm đến chính bản thân ta thật nhiều và quên mất Chúa đã ở trong ta. Đức Thánh cha Phanxicô đã từng nói trong một bài giảng của mình rằng: chúng ta đã đẩy Chúa vào một góc của trái tim. Thật đúng như thế, đã bao lần ta đã đẩy Chúa vào một góc của trái tim và chỉ sống điều mình muốn và rồi ta đau đớn. Cuộc sống của ta không phải để sống theo bản năng là làm điều mình muốn và muốn điều tốt nhất cho mình theo lẽ tự nhiên nhưng là dành điều tốt nhất cho Chúa, chỗ duy nhất cho Chúa: “Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” Hãy quay lại con đường hẹp, trở về với Chúa để thấy mình cần Chúa biết bao. Sống Lời Chúa thật khó nếu như ta không đủ khiêm tốn bỏ mình để trở về bên Chúa, nhưng bằng sự khiêm tốn và với sức mạnh tình yêu của Chúa, mọi sự ta làm trong tình yêu lại trở nên thật đơn giản.

    Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã yêu con và không ngừng dạy con biết sống mến Chúa và yêu người. Chúa đã chỉ cho con thấy tình trạng tội lỗi của mình. Chúa vẫn yêu con, dù con đã bao lần đẩy Chúa vào một góc của trái tim và quên lãng Chúa. Xin Chúa thứ tha và xót thương con, cùng khơi lên trong con ngọn lửa yêu mến Chúa và giúp con sống lời Chúa dạy. Amen.

    Về mục lục

    ĐIỀU CỐT LÕI

    Thiên San

    “Điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây, hỡi Itraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.” (Mc 12, 29-31). Đó là câu trả lời của Đức Giêsu dành cho ông kinh sư cũng như cho mỗi người chúng ta. Hai điều răn ấy làm nên điều cốt lõi của đạo Chúa – đạo yêu thương.

    Muôn vàn lề luật được đặt ra nhằm phục vụ lợi ích, hạnh phúc cho con người. Có những lề luật giúp con người hướng đến Thiên Chúa, cũng có những lề luật giúp con người hướng đến tha nhân, đến chính mình và đến tạo vật, môi trường. Trong muôn vàn lề luật ấy, có một thứ luật được gọi là cốt lõi, là tâm điểm, là điều quan trọng nhất: mến Chúa yêu người. Thật vậy, luật được đặt ra là để cho con người, nhắm đến con người. Trong điều răn mến Chúa, con người được mời gọi dành cho Thiên Chúa một chỗ đứng quan trọng nhất, cao cả nhất trong cuộc đời mình đến độ ta phải yêu mến Người hết lòng, hết cả linh hồn, trí khôn, và sức lực của ta. Thực ra, Thiên Chúa không cần đến lời ca tụng của chúng ta nhưng chính việc yêu mến, tôn thờ, ca tụng của ta mang lại ích lớn lao cho chúng ta như lời kinh tiền tụng trong Thánh lễ có nói.

    Đức Giêsu không dừng lại ở chính mình nhưng Ngài còn mời gọi chúng ta hãy yêu thương tha nhân như chính mình. Đây là điều răn không kém phần quan trọng. Có thể nói, điều răn này là cửa ngõ giúp chúng ta tiến vào tương quan với Thiên Chúa cách cụ thể và sâu sắc hơn. Như thánh Gioan Tông đồ đã từng khẳng định: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4, 20). Lại nữa, vì mỗi người là hình ảnh sống động của Thiên Chúa. Khi yêu mến tha nhân là ta đang yêu mến Thiên Chúa. Đức Giêsu mời gọi chúng ta “yêu người thân cận như chính mình”. “Như chính mình” nghĩ là yêu mình thế nào thì yêu tha nhân làm vậy. Nhưng có một bài toán tương đối khó đó là chúng ta phải biết yêu thương mình đúng cách để có thể yêu thương tha nhân đúng cách.

    Để giải quyết bài toán “yêu tha nhân như chính mình”, chúng ta hãy hướng tình yêu của mình về Thiên Chúa. Nghĩa là ta yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa dạy và nhất là yêu thương nhau như chính Chúa đã yêu thương chúng ta. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34 ). Chỉ khi nào thực sự cảm nhận, đụng chạm đến tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, thấy Ngài yêu ta như thế nào thì ta mới có thể họa lại cách yêu của Chúa. Khi yêu mến Thiên Chúa, chúng ta học được cách để yêu thương chính mình và yêu thương tha nhân. Bởi đó, không thể nói yêu mến Thiên Chúa mà lại không yêu mến tha nhân. Mến Chúa yêu người luôn đi đôi, không tách rời. Đó là hai bàn chân của ta trong cuộc đời. Để bước đi trọn vẹn trên đường đời, ta cần cả hai chân, nhấc từng chân một, chân này làm điểm tựa cho chân kia. “Chân mến Chúa” và “chân yêu người” giúp ta nên con cái Chúa. Nếu muốn bước đi, chúng ta hãy sống hai giới răn trọng nhất này. Đó là điều cốt lõi của đạo Chúa – đạo yêu thương.

    Về mục lục

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI-

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Người Do thái có 613 điều luật ghi trong sách Luật Do thái, trong đó 365 điều luật cấm và 248 điều luật truyền làm, chưa kể các điều luật phụ nữa. Vị tiến sĩ luật này đã biết các điều trên được chia thành hai vế trọng luật và khinh luật. Phạm khinh luật thì chịu phạt đền tội, nhưng phạm trọng luật như giết người, thờ tà thần, gian dâm… thì bị tử hình. Vì là tiến sĩ luật, hiển nhiên ông biết rõ mỗi nhóm thích giữ một điều luật và cho rằng điều ấy đối với họ là quan trọng hơn cả, có thể Chúa Giêsu đưa ra điều này trọng đối với nhóm này nhưng lại thường đối với nhóm kia, đó là lý do ông đặt ra câu hỏi với Chúa Giêsu hòng nắm chắc phần thắng về mình: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất ?”

    1. Hai Điều răn

    Thật không dễ để trả lời. Nếu Chúa trả lời điều này trọng, điều luật kia không trọng thì thế nào Người cũng bị qui lỗi  là về phe nhóm này, chống nhóm kia, và như vậy Người sẽ mắc bẫy của họ.

    Chúa Giêsu là Thiên Chúa thấu hiểu lòng người, nhưng Chúa vẫn trả lời. Chúng ta cũng cám ơn vị tiến sĩ luật này đã hỏi thử Chúa để chúng ta có được chỉ dẫn rõ ràng, xác thực về thứ tự các giới răn.

    Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” (Mc 12). Câu luật này trích trong sách Đệ nhị luật 6,5 có đổi một chút, thay vì “hết sức” thì Chúa nói là “hết trí khôn”. Song cốt yếu không có gì đổi.

    Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: “ Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi” (Mt 22, 39). Luật này trích ở sách Lêvi 19,18 có khác ở chỗ thay vì yêu kẻ khác thì yêu đồng loại: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình”.

    2. Ba đối tượng yêu thương

    Chúa Giêsu kết luận: “Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó” (Mt 22, 38). Điều răn thì có: thứ nhất mến Chúa, thứ hai yêu người, nhưng gồm ba đối tượng yêu thương: Thiên Chúa, kẻ khác và bản thân.

    Đối tượng thứ nhất là Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất” (Mt 22, 37-38).

    Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta nhiều điều, bởi “yêu mến là chu toàn cả Lề luật” (Rm 13, 10). Nhưng tình yêu có hai vế: Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương kẻ khác… Khi dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa, Chúa đòi hỏi chúng ta phải yêu hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Còn yêu thương kẻ khác, Chúa Giêsu không bảo ta phải yêu hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn; nhưng “yêu kẻ khác như chính mình. Tại sao vậy? Vì Thiên Chúa “là dũng lực, là Đá Tảng, chiến luỹ, cứu tinh, là sơn động, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù chúng ta “ (x. Tv 17, 2-3), nên chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa không những hết, mà còn trên hết mọi sự, hơn cả chính mình, vì theo lời Chúa Giêsu thì: “Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất” (Mt 22, 38).

    Đối tượng thứ hai là “kẻ khác” Chúa phán: “Giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi” (Mt 22, 39).

    Theo quan niệm của Người Do thái lúc bấy giờ thì “tha nhân” là những người đồng chủng, đồng hương, đồng xứ (x. Lv 19, 18).  Còn “kẻ khác” được hiểu là hết mọi người, (x. Mt 25, 40). Khi Chúa Giêsu bảo người thông luật “hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi“, Người có ý dạy phải thương yêu mọi người chứ không giới hạn trong những người đồng hương với nhau (Mt 25, 40), không những thế mà lại còn phải yêu thương cả địch thù nữa (Mt 5, 43), và yêu như thế nào? “Yêu như chính mình ngươi”.

    Chúa có truyền dạy chúng ta yêu chính mình không? Thưa: Thiên Chúa xét thấy không cần buộc con người phải yêu chính mình, vì không ai ghét mình bao giờ. Nhưng cũng có nhiều người tự đánh mất mình khi yêu mến sự ác. Chúa dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết lòng, Người truyền cho chúng ta giới luật phải yêu chính mình. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng muốn yêu mình. Thiên Chúa là Tình Yêu, chúng ta là kẻ có tình yêu. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dành cho chúng ta một tình yêu khác với chúng ta nghĩ. Tình yêu ấy nuôi dưỡng và củng cố các mối quan hệ của tình yêu chúng ta dành cho bản thân và kẻ khác. Trong thực tế, chúng ta phải yêu bản thân mình trong tình yêu Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, và chúng ta có thể bước vào trong tình yêu. Vậy, hãy yêu mến Thiên Chúa hết mình, thì trong Thiên Chúa chúng ta sẽ tìm được chính mình, và tránh được nguy cơ tự đánh mất mình. Nên, theo nguyên tắc, ta yêu kẻ khác như chính mình, yêu Thiên Chúa hết mình và yêu chính mình.

    3. Yêu kẻ khác như chính mình

    Khi truyền dạy “Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình”, Chúa Giêsu như đặt một tấm gương để tự chúng ta soi xem mình có yêu “kẻ khác” hay không? Chúa Giêsu xem tình yêu ” kẻ khác ” như “mệnh lệnh của Người,” mệnh lệnh tóm tắt toàn thể lề luật. “Đây là mệnh lệnh của Thầy, là anh em hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15, 12). Nhiều người có khi đồng hóa toàn thể Kitô giáo với luật yêu người.

    Chúng ta cố gắng đi xa hơn một chút bề mặt của sự việc. Khi nói về tình yêu kẻ khác, người ta nghĩ ngay tới những “việc làm” như bác ái, hay “phải làm” cho kẻ khác như: cho họ ăn, uống, thăm viếng họ, nói tóm tắt là giúp đỡ kẻ khác. Nhưng đó là kết quả của tình yêu, chứ chưa phải là tình yêu. Lòng từ tâm tới trước sự làm phúc. Trước khi làm phúc, người ta phải muốn làm phúc.

    Thánh Phaolô nói rõ: Đức bác ái phải là “không giả vờ,” tức là, phải chân thật, nghĩa đen, “không giả hình,” (Rm 12, 9); người ta phải yêu “với một con tim trong sạch” (1 Pr 1, 22). Trên thực tế, người ta có thể làm việc bác ái và bố thí vì nhiều lý do không dính líu gì với tình yêu: tô điểm chính mình, để ra vẻ là một người làm điều thiện, được lên thiên đàng, và có khi để trấn an một lương tâm xấu.

    “Như chính mình” Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh người được yêu đồng hóa với người yêu, vì vậy, phải yêu thương kẻ khác bằng chính tình yêu đối với bản thân, nhưng tiên vàn phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Amen.

    Về mục lục

    TÓM VỀ HAI ĐIỀU NÀY MÀ NHỚ

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Kinh Mười Điều Răn có câu kết: “Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: Trước kính mến một Thiên Chúa trên hết mọi sự; Sau lại yêu người như mình ta vậy.Amen“.

    Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc trao đổi giữa nhóm tiến sĩ luật và Chúa Giêsu về hai điều răn trong Cựu Ước như sau:

    Khi một người thông luật hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?”. Chúa Giêsu trả lời: “Giới răn quan trọng nhất chính là: Thiên Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn ấy”. Ông kinh sư hoàn toàn đồng ý với Người và còn thêm lời bình: “Đó là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Chúa Giêsu được một lần sảng khoái vì gặp một ông kinh sư thân thiện với mình, Người khích lệ: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”. Tại sao lại không còn xa? Bởi vì, Nước Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu đang ở trước mặt ông!

    Chúa Giêsu kết hợp hai điều răn trong Cựu Ước (Đnl 6,4-5 và Lv 19,18) thành một điều răn duy nhất là Yêu Thương. Chúa Giêsu đã nối kết giới răn mến Chúa trong kinh Shema ở sách Đệ nhị luật với giới răn yêu thương người thân cận trong sách Lêvi.Cái độc đáo trong câu trả lời của Chúa Giêsu chính là sự liên kết chặt chẽ hai giới luật này với nhau.

    “Mến Chúa, yêu người” là nét độc đáo nhất của Kitô giáo. Hai giới luật tạo thành một toàn thể bất khả phân ly và là hai nguyên lý nền tảng của tất cả đạo đức học. Tin Mừng của Chúa Giêsu muốn loan truyền đến mọi người là tình yêu thương. Khi công bố giới luật yêu thương, Chúa Giêsu cũng nêu gương thực hiện giới luật ấy để chúng ta thấy sáng lên tình yêu cứu độ và gặp được những điểm nhấn mà bắt chước thực hành.

    1. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.

    Thiên Chúa là chủ tể trời đất. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống và là cùng đích của muôn loài muôn vật.

    Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả con cái. Cho nên người tín hữu yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Thiên Chúa là quan trọng nhất của con người.

    Thực tế ở đời có rất nhiều điều quan trọng, tuỳ ở hoàn cảnh và tuỳ ở từng người. Nhưng nếu điều gì cũng quan trọng nhất thì cuối cùng chẳng có gì là nhất cả, mọi sự đều tương đối. Mọi sự đều tương đối, nhưng mọi sự đều quan trọng, kể cả niềm tin tôn giáo, kể cả Chúa. Đó là não trạng của con người thời nay, là cám dỗ của thời đại.

    Người tin Chúa và theo Chúa, cũng có người nghĩ như vậy: tiền quan trọng, mà Chúa cũng quan trọng. Có những người khá hơn, trên lý thuyết vẫn cho Chúa là quan trọng nhất, nhưng trong thực tế có những lúc tiền bạc, tình yêu và thành công ở đời cũng quan trọng như Chúa.

    Nhiều người nghĩ rằng ở thế gian này không có gì là duy nhất, kể cả những điều loài người thường cho là cao quý như là chân thiện mỹ chẳng hạn. Có những điều đối với người này là chân lý, đối với người kia lại là sai lầm; đối với người này là tốt, đối người kia là không; đối với một số người là đẹp, đối với những người khác là xấu. Không có gì tuyệt đối ở trần gian. Cám dỗ tương đối hoá mọi sự là cám dỗ lớn nhất của thời đại chúng ta. Cám dỗ này rất nguy hiểm. Dễ sa ngã vì con người không muốn bị ràng buộc và hướng chiều về hưởng thụ.

    Thế gian không có gì là duy nhất, không có gì là tuyệt đối.

    Thiên Chúa là Siêu Việt, là Vĩnh Hằng. Mọi sự đều qua đi. Chỉ có Chúa mới là quan trọng nhất, chỉ có Chúa mới là Tuyệt Đối. Do đó chúng ta được mời gọi yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực của mình.

    Chúa Giêsu đã lập lại lời kêu gọi đó, khi trả lời cho người thông luật muốn hỏi trong các giới răn điều nào quan trọng nhất. Yêu mến Thiên Chúa là điều quan trọng nhất.

    1. Yêu tha nhân như chính mình.

    Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.Thánh Gioan quả quyết: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là một kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng mà họ không thấy” (1Ga 4,20); “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn ở trong bóng tối”(1Ga 2,9).

    Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

    Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.

    Lề luật của Chúa cô đọng trong một thái độ là yêu mến.Giữ luật mà quên yêu mến có thể dẫn đến óc nệ luật.Giữ luật phải trở nên phương thế để bày tỏ tình yêu. Vì “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

    1. Việc làm của Đức tinlà Đức ái.

    Thánh Giacôbê nói một câu bất hủ: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). “Việc làm” mà Thánh Tông Đồ nói đến là thực hành bác ái. Thánh Phaolô ca ngợi đức mến: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13,1).

    Đức tin và Đức mến liên hệ mật thiết với nhau.

    Đức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Đức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình thương của chúng ta. “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40) : những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. Đó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc sống. Được đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, trong đó có công lý cư ngụ” (2 Pr 3,13 ; x. Kh 21,1). (x.Porta Fidei, Số 14).

    Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN nói về mối liên hệ đức tin và đức mến: Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Số 7).

    Dưới ánh sáng Lời Chúa Giêsu, tình yêu là mực thước đức tin, và đức tin là linh hồn của tình yêu. Chúng ta không còn có thể tách biệt đời sống tôn giáo ra khỏi việc phục vụ anh em, những người anh em cụ thể mà chúng ta gặp. Chúng ta không còn có thể tách biệt kinh nguyện, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong các bí tích, khỏi sự lắng nghe tha nhân, gần gũi cuộc sống của họ, nhất là những vết thương của họ.

    Luật mới của Chúa Giêsu chính là mức độ hoàn hảo nhất của Mười Điều Răn. Đoạn cuối của kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai nầy mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.”

    Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con: mến Chúa yêu người là điều răn quan trọng nhất, xin cho con biết sống và liên lỉ thực hành giới răn này trong đời sống thường ngày của con.

    Về mục lục

    CHÚA DUY NHẤT, LUẬT BẤT BIẾN

    Trầm Thiên Thu

    Thiên Chúa là Đấng duy nhất (Đnl 6:4; Nkm 9:6; Xh 20:3; Đnl 5:7; Đnl 32:39; Gđt 8:20; Kn 12:13; Is 43:10; Is 45:6; Is 46:9; Đn 3:28-29; Đn 14:41; Hs 13:4) và là Đấng Cứu Độ duy nhất: “Chính Ta, chính Ta đây là Đức Chúa, ngoài Ta ra, chẳng có ai cứu độ.” (Is 43:11) Muôn đời Ngài vẫn là Ngài. (Is 43:13) Vì thế, luật yêu thương của Ngài cũng bất biến và vĩnh tồn.

    Sau khi bất tuân và phạm tội, gây xáo trộn, con người bị đuổi ra khỏi Địa Đàng, thế nên bắt đầu cần có luật để duy trì trật tự trần gian. Chưa hết, gia đình cũng rắc rối khi Cain giết chính em ruột của mình là Abel vì ghen thét. Do đó, luật càng cần thiết hơn, cần thiết ngay từ trong gia đình nhỏ bé.

    Nhà có gia phong, nước có quốc pháp, tu viện có tu luật. Có nhiều loại luật – cả đạo và đời, ngay trong một nhóm nhỏ, thậm chí chỉ hai người, cũng vẫn có những quy ước nhất định để tránh lạm dụng vì tùy tiện hoặc tùy hứng. Trong mọi mối quan hệ, muốn hợp tác lâu dài với nhau, người ta phải tôn trọng hợp đồng với nhau – dù đó là thỏa thuận bằng miệng hoặc hợp đồng bằng văn bản.

    Xét theo luật học, luật pháp được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế. Thường thì luật pháp được thực thi thông qua hệ thống tòa án. Trong đó, quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Cách thực thi luật pháp được coi là hệ thống pháp lý, thường phát triển trên cơ sở tập quán của mỗi quốc gia.

    Luật có ở khắp nơi, mọi lĩnh vực, với nhiều mức độ: kinh tế, kinh doanh, chính trị, xã hội, môi trường, giao thông (đường thủy, đường bộ, đường hàng không) học tập, hôn nhân,… Nhưng tất cả các loại luật đều phải dựa trên Thiên Luật. Chỉ có Luật Chúa là Đệ Nhất Thánh Luật, là luật quan trọng nhất, dựa trên nền tảng yêu thương: mến Chúa và yêu người.

    Thật ngán ngẩm với luật hội đường Do Thái ngày xưa. Có tới 613 điều khoản, bao gồm 365 điều CẤM làm và 248 điều PHẢI làm. Nếu chia đều một năm thì mỗi ngày có một khoản luật cấm. Điều cấm làm nhiều hơn điều phải làm, mà “cấm làm” với “phải làm” cũng đâu khác gì nhau. Mệt mỏi thật!

    Ông Môsê nhận lệnh của Thiên Chúa và truyền cho dân chúng: “Đây là mệnh lệnh, là những thánh chỉ và quyết định mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền phải dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành trong đất anh em sắp sang chiếm hữu. Như vậy anh em cũng như con cháu anh em sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em MỌI NGÀY TRONG SUỐT CUỘC ĐỜI, tuân giữ tất cả những CHỈ THỊ và MỆNH LỆNH của Người mà tôi truyền cho anh em và anh em sẽ được sống lâu.” (Ðnl 6:1-2) Chỉ thị và mệnh lệnh là điều phải tuân giữ, xã hội trần gian còn như vậy, huống chi huấn lệnh của Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta phải ưu tiên số một, không sợ khi phải chọn lựa, chấp nhận bỏ luật đời.

    Giữ Luật Chúa là điều tuyệt đối phải làm, không phải vì miễn cưỡng mà vì yêu mến, và có lợi cho chính chúng ta. Thánh Catarina Genoa (1447-1510) cho biết: “Thiên Chúa Toàn Năng tinh khiết đến nỗi nếu người ta ý thức được dấu vết của sự bất toàn và cũng hiểu rằng luyện ngục được ấn định để loại bỏ sự khiếm khuyết đó, thì linh hồn vào nơi thanh tẩy này vui mừng đón nhận Lòng Thương Xót cao cả của Thiên Chúa. Nỗi đau khổ tồi tệ nhất của các linh hồn nơi luyện ngục là đã phạm tội chống lại Sự Tốt Lành của Thiên Chúa và CHƯA HOÀN THIỆN ở đời này.” Tình trạng bất toàn vì “chưa hoàn thiện” là chưa giữ trọn Luật Chúa. Điều đó chứng tỏ rằng giữ trọn Luật Chúa là điều vô cùng cần thiết và thực sự hữu ích cho người giữ luật.

    Chắc chắn rất khó giữ luật, khó thì khổ, nhưng khó mà giữ được mới đáng công. Thật vậy, Thiên Chúa không “đày đọa” ai, vì Ngài hứa ban những điều bất ngờ mà chúng ta không biết: “Hỡi Israel, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em Nghe đây, hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA DUY NHẤT. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức anh em Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em PHẢI ghi tạc vào lòng.” (Ðnl 6:3-6)

    Chính lời hứa của Thiên Chúa nhắc nhở một điều quan trọng liên quan đức tin: Chỉ có MỘT Thiên Chúa duy nhất mà thôi. (Đnl 6:4; Mc 12:29) Ngoài Ngài, không có bất cứ một vị thần nào khác đáng để chúng ta tin kính và tôn thờ. Đó là điều chắc chắn.

    Thiên Chúa duy nhất mà chúng ta tôn thờ chỉ là MỘT nhưng có BA NGÔI. Ngài là Đấng nhân hậu, vô thủy và vô chung, Ngài có nụ cười hiền hậu chứ không nhăn nhó khó chịu. Vì thế, Thánh Vịnh gia đã luôn tôn thờ và kính mến Ngài tuyệt đối: “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con; lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ.” (Tv 18:2-3) Không thể kiềm chế niềm hạnh phúc đó, Thánh Vịnh gia đã xác nhận và muốn chia sẻ với mỗi chúng ta: “Tôi kêu cầu Chúa là Đấng xứng muôn lời ngợi khen, và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.” (Tv 18:4) Lời xác nhận này giúp củng cố đức tin của chúng ta, những kẻ hậu sinh hèn yếu.

    Không thể im lặng, Thánh Vịnh gia tiếp tục tuyên xưng: “Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi, là Thượng Đế giúp tôi rửa sạch hận thù, bắt chư dân quy phục quyền tôi. Lạy Chúa, Ngài giải thoát con khỏi thù địch cho thắng cả đối phương, cứu khỏi người tàn bạo. Vì thế giữa muôn dân, con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa. Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập.” (Tv 18:47-51ab) Thiên Chúa là “đèn trời soi xét,” (Tv 4:2) Ngài “biết thừa mọi bí ẩn tâm can,” (Tv 44:22) và Ngài biết ai chân thật hay lọc lừa. Ngài thấu suốt mọi sự.

    Chính Chúa Giêsu đã xác định: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4b) Ước gì mỗi chúng ta đều có thể thanh thản thân thưa: “Lạy Chúa, xin dò xét và thử thách con, tâm can này, xin đem thử lửa.” (Tv 26:2) Đó là điều không dễ thực hiện, cần phải thực sự can đảm và dứt khoát, cùng với tình mến chân thành. Luật Chúa là Lời Chúa, là Ý Chúa, là lương thực của các Kitô hữu.

    Kinh Thánh cho biết rằng Thiên Chúa không thích tế phẩm và lễ vật, Ngài cũng chẳng đòi lễ toàn thiêu và lễ xá tội. (Tv 40:7) Ngài muốn chúng ta tuân giữ luật Ngài truyền, nghĩa là vâng lời Ngài. Ngài mở tai chúng ta để chúng ta lắng nghe Ngài, và Ngài muốn chúng ta mau mắn thân thưa: “Này con xin đến!” (Tv 40:8) Ước gì chúng ta luôn chân thành nói với Ngài: “Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con!” (Tv 40:9) Giữ Luật Chúa thì có lợi, không giữ thì thiệt thòi. Ngài không bắt ép, mà là sự công bằng.

    Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta dù chúng ta bất xứng, Ngài yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân kia mà, nghĩa là chúng ta còn dơ bẩn chứ đâu phải đã “tắm rửa” cho bớt hôi thối. (x. Rm 5:8) Đó là bằng chứng minh nhiên về lòng thương xót của Thiên Chúa.

    Thánh Phaolô cho biết: “Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ mãi chức vụ đó. Còn Đức Giêsu, chính vì Người hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại mãi mãi. Do đó, Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ.” (Dt 7:23-25) Nếu chúng ta yêu ai đó mà không được đáp lại, thậm chí bị phản bội và bị gièm pha, chắc chắn chúng ta nói họ là dại dột, ngu xuẩn, si tình hoặc lụy tình. Thế mà Thiên Chúa là người yêu cuồng si những kẻ phản bội Ngài. Quả thật, chúng ta quá đáng, có trái tim bằng sắt nung chứ không chỉ là gỗ hoặc đá.

    Bởi vì chúng ta bất xứng đến nỗi không thể tự đền tội, mà phải nhờ đến Vị Thượng Tế Thập Toàn là Đức Kitô Giêsu, Con Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Phải, đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến: một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời. Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để ĐỀN TỘI CỦA MÌNH, sau là để ĐỀN THAY CHO DÂN; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời.” (Dt 7:26-28)

    Điều răn đứng hàng đầu là điều răn quan trọng nhất, được nói tới trong trình thuật Mc 12:28b-34 (≈ Mt 23:34-40; Lc 10:25-28) và cũng đề cập “MỘT Thiên Chúa duy nhất” như Cựu Ước đã nói.

    Thánh sử Máccô cho biết rằng có một kinh sư đã nghe nhóm Sađốc tranh luận với Đức Giêsu. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông kinh sư đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Ông kinh sư này ra vẻ thế thôi chứ không hề tâm phục khẩu phục. Kinh sư là ai? Đó là chuyên gia nghiên cứu, khai triển, dạy dỗ và áp dụng luật Cựu Ước. Nhưng khi áp dụng luật thì giá trị của lời dạy được coi trọng hơn chính văn bản luật. Vì thế mà họ hống hách và gây nhiều rắc rối, nhất là khi họ gặp Chúa Giêsu.

    Họ hỏi không do lòng thành mà chỉ muốn gài bẫy Chúa Giêsu mà thôi. Ngài không nói điều nào trọng nhất, mà Ngài điềm nhiên trả lời bằng một mệnh lệnh: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA DUY NHẤT. Ngươi PHẢI yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Đó là luật hai-trong-một, một điều to và một điều lớn, điều nào cũng quan trọng. Thật kỳ diệu và độc đáo!

    Sau khi nghe Đức Giêsu nói vậy, ông kinh sư thực sự tâm đắc, tâm phục và khẩu phục, và ông nói: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là ĐẤNG DUY NHẤT, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.”

    Phục thiện là bắt đầu khôn ngoan. Biết mình sai là bắt đầu sáng mắt. Ngược lại, kẻ cố chấp sẽ mù vĩnh viễn. Còn hơn thế nữa, bởi vì “đứa ngu đần tuy sống mà tệ hơn là chết.” (Hc 22:11) Chúa Giêsu thấy ông kinh sư trả lời khôn ngoan nên Ngài nói: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Tất cả im lặng, không ai dám chất vấn Ngài hoặc nói ra nói vào lời nào nữa. Trứng không thể chọi với đá!

    Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin ban cho chúng con ơn khôn ngoan, thông minh, sáng suốt phân định vấn đề, và biết  ưu tiên việc tuân giữ luật Ngài. Xin thanh tẩy và đổi mới chúng con theo đúng Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    YÊU MẾN VÀ PHỤNG THỜ THIÊN CHÚA

    Giuse Hoàng Thanh Phong

    Kính thưa quý ông bà và anh chị em, các bài đọc trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay dường như nhắc nhớ mỗi người chúng ta về đời sống phụng thờ Thiên Chúa của mình. Lòng yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa là cách diễn tả rõ nét nhất lòng tin của mỗi người chúng ta.

    Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất”

    Đoạn trích trong sách Đệ Nhị Luật mà chúng ta nghe trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, chứa đựng kho tàng quan trọng bậc nhất, mà bất cứ người tin theo đạo Do-thái nào, cũng không bao giờ được quên: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en ! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em.  (Đnl 6,4-5). Thật vậy, chân lý ‘Thiên Chúa duy nhất’ là nền tảng căn cốt nhất của đạo Do-thái. Lời nhắn nhủ này được gọi là Shema, là lời kinh mà tất cả những ai theo đạo Do-thái phải thuộc nằm lòng ngay từ thuở nhỏ. Họ thường lập lại lời kinh này nhiều lần trong ngày để nhắc nhớ bản thân về chân lý ‘Thiên Chúa duy nhất’, cũng như bổn phận phải yêu mến và phụng sự Thiên Chúa.

    Để trả lời cho một người trong nhóm kinh sư về câu hỏi ‘điều răn nào quan trọng nhất’, Chúa Giê-su cũng đã dùng chính lời Kinh Thánh trên để trả lời. Thế nên, lời nhắc nhớ về ‘Thiên Chúa duy nhất’ không chỉ dành cho người theo đạo Do-thái, nhưng còn dành cho mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Điều này làm cho chúng ta xác tín rằng, không phải ai khác, hay thần nào khác, nhưng chính Thiên Chúa duy nhất đã vì yêu thương mà đã tác sinh muôn vật muôn loài. Cũng chính Thiên Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta biết về kế hoạch cứu độ, hầu mang lại niềm hy vọng cho chúng ta được tham dự vào đời sống vĩnh cửu. Cũng chính vì lòng yêu thương quảng đại của vị Thiên Chúa duy nhất ấy, mà chúng ta vẫn được sống, được hoạt động, được hạnh phúc trong cuộc sống này.

    Lời nhắc nhớ chúng ta về ‘Thiên Chúa duy nhất’ đồng thời khơi dậy trong tâm hồn chúng ta tâm tình yêu mến Người: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,5). Cần biết rằng, Thiên Chúa là Đấng toàn hảo tự tại, nên lòng yêu mến của chúng ta sẽ chẳng khiến cho Thiên Chúa thêm hoàn hảo thêm chút nào. Đúng hơn, chúng ta tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa trước hết vì những điều thiện hảo mà Thiên Chúa vẫn hằng ban cho chúng ta. Chúng ta diễn tả lòng yêu mến Thiên Chúa với hết cả tâm hồn vì tình yêu vô điều kiện mà Người đã tặng ban cho mỗi người trong chúng ta. Thiên Chúa mong ước chúng ta yêu mến Thiên Chúa không phải vì bản thân Người, nhưng vì chính mỗi người chúng ta. Đúng hơn, chúng ta sẽ chỉ được sống và hạnh phúc khi chúng ta ở với Thiên Chúa mà thôi, vì duy chỉ có Người là nguồn sống duy nhất cho muôn vật muôn loài.

    Trong Linh Thao, Thánh Inhaxio Loyola đã cụ thể hóa lời nhắn nhủ này trong ‘Nguyên Lý Và Nền Tảng’:“Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình. Mọi loài khác dưới đất cũng được tạo dựng cho con người, để giúp họ đạt tới cùng đích Đấng Tạo Hóa đặt cho họ. Bởi thế người ta chỉ được sử dụng tạo vật theo mức độ chúng giúp đạt tới cứu cánh và phải gạt bỏ khi chúng làm cản trở….” (Linh Thao, số 23)

    Nguyên lý và Nền Tảng trên đây giúp cho chúng ta thấy mục đích của đời sống con người là để “ngợi khen, tôn kính, và phụng sự Thiên Chúa”. Thế nên, việc sắp đặt trật tự trong đời sống chúng ta thật quan trọng biết bao: Thiên Chúa phải là trước hết và trên hết mọi loài thụ tạo. Khi chúng ta đảo lộn trật tự này, chẳng hạn khi đặt bản thân mình hay các thụ tạo khác lên hàng đầu, chúng ta đang đặt lòng tin của mình ở sai chỗ.

    Trong cuộc sống hôm nay, có lẽ chúng ta ít đề cập đến các ngoại thần cho bằng những ‘vị thần’ do chính chúng ta tạo ra. Mỗi người trong chúng ta thử dành ra ít giây phút tĩnh lặng để xem Thiên Chúa đang có vị trí nào trong cuộc đời của mình. Thiên Chúa có phải là quan trọng nhất đối với tôi lúc này hay chăng? Nếu Thiên Chúa không còn ở vị trí số một trong tâm hồn tôi thì ‘vị thần’ nào đã được đặt vào vị trí ấy của Thiên Chúa?

    Cần biết rằng, dù chúng ta đang chẳng ưu tiên vị trí quan trọng nhất cho Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, Thiên Chúa vẫn không ngừng yêu thương chúng ta cách vô điều kiện. Thiên Chúa vẫn mong ước chúng ta biết sắp đặt lại trật tự cuộc sống của mình, chẳng phải vì ích lợi gì cho Ngài, cho bằng vì phần rỗi của chính chúng ta. Đúng hơn, chỉ nơi Thiên Chúa duy nhất, chúng ta mới được hiện hữu và hạnh phúc viên mãn mà thôi.

    Yêu mến và phụng  thờ Thiên Chúa

    Kính thưa quý ông bà và anh chị em, niềm tin của chúng ta nơi Thiên Chúa duy nhất có thể được diễn tả bằng nhiều cách thế khác nhau, nhưng sống động nhất vẫn là trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội. Bài trích thư gửi tín hữu Híp-ri cho chúng ta biết về vai trò duy nhất của vị tư tế hằng hữu là Đức Kitô, trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội. Vị thượng tế hằng hữu có vai trò chuyển cầu cho chúng ta tới Thiên Chúa, vì tự bản thân mỗi người chúng ta chẳng thể trực tiếp đến với Người (Hr 7,25). Vì vậy, Đức Giêsu Kitô vẫn hằng hiện diện cách sống động trong mọi cử hành phụng vụ của Giáo Hội, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Khi chúng ta nghe công bố Tin Mừng thì chúng ta thực sự đang lắng nghe Lời của Chúa Giêsu đang nói với chúng ta. Khi vị linh mục truyền phép thì bánh và rượu nhờ quyền năng của Chúa Thần, đã trở nên Mình và Máu thánh Đức Giêsu Kitô, trở nên thần lương nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đức Giêsu cũng chính là người sai chúng ta ra đi loan báo Tin mừng khi buổi cử hành phụng vụ kết thúc.

    Thế nên, việc tham dự vào đời sống phụng vụ của Giáo Hội, đòi hỏi chúng ta tham dự với lòng sốt sáng kính tin của mình. Qua đời sống phụng vụ, chúng ta đang diễn tả đức tin của mình nơi Thiên Chúa, cụ thể qua việc: xám hối lỗi lầm, ca tụng Thiên Chúa, tuyên xưng đức tin, lãnh nhận ơn lành… Thế nên, chúng ta không phải đến ‘xem thánh lễ’ cho xong bổn phận mà Giáo Hội đòi buộc. Đúng hơn, chúng ta được mời gọi để tham dự thánh lễ và cùng hiệp dâng của lễ là đời sống của mình, kết hiệp với của lễ duy nhất của Đức Giêsu xưa kia trên thập giá, mà dâng lên Thiên Chúa Cha (Hr 7,27).

    Thực ra, khi chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta đồng thời cũng đã được lãnh nhận chức vụ tư tế phổ quát. Điều này có nghĩa, cuộc đời mỗi người chúng ta đã được thánh hiến để trở nên của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa. Thế nên, chẳng có của lễ nào đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng của lễ sống động là đời sống của mỗi người. Qua vị tư tế hằng hữu là Đức Giêsu Kitô, chúng ta hãy mạnh dạn dâng lên Thiên Chúa mọi vui buồn của cuộc sống này. Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương chúng ta vô điều kiện chắc chắn sẽ nhậm lời nguyện xin, cũng như đón nhận của lễ mà chúng ta dâng tiến lên Người. Ngoài việc yêu mến phụng thờ Thiên Chúa duy nhất, Chúa Giêsu đưa ra một điều răn khác không thể tách rời, đó là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12,31). Chẳng có của lễ nào đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng việc chúng ta yêu mến và hiến dâng đời sống của mình cho Thiên Chúa và mở lòng đón nhận tha nhân.

    Thế nên, cuộc đời của mỗi người chúng ta có thể được hiểu như một cử hành phụng vụ hay một thánh lễ kéo dài. Cuộc đời chúng ta vì vậy là một chuỗi những diễn tả lòng tin của chúng ta nơi Thiên Chúa duy nhất. Lòng tin ấy được diễn tả cách cụ thể bằng cả đời sống của mình, như của lễ toàn thiêu, được hiệp với lễ hy sinh của Đức Giêsu mà dâng lên Thiên Chúa. Amen!

    Về mục lục

    HẾT CẢ TRÍ KHÔN

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Mến Chúa và yêu người là một điệp khúc quá quen thuộc với Kitô hữu. Từ em bé đã qua tuổi “xưng tội rước lễ lần đầu” đến các cụ già mà chưa lẩn trí thì đều nằm lòng câu kết trong kinh Mười điều răn Đức Chúa Trời: “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy – Amen”. Là người con cái Chúa trong Giáo Hội Công Giáo, có thể khẳng định rằng, hiếm có ai tự nhận mình không yêu mến Thiên Chúa. Dù minh nhiên hay mặc nhiên, chúng ta đều xác nhận rằng mình phải yêu mến Thiên Chúa. Tuy nhiên mức độ của lòng yêu mến ấy đến đâu cũng như cái cách thức yêu mến ấy có đúng hay không thì cần phải xem xét.

    Trước câu hỏi của vị luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã lấy lại đoạn sách Đệ Nhị Luật đồng thời có thêm một chút để trả lời: “Nghe đây, hỡi Israel! Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất! Người phải yêu mến Đức Chúa, Chúa các ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi…” (x.Mc 12,28-34; x.Đnl 6,2-6). Xin mạn bàn về yếu tố Chúa Giêsu thêm đó là “hết trí khôn”, cụm từ không có trong sách Đệ Nhị Luật.

    Trí khôn là một trong hai cơ năng của linh hồn mà Thiên Chúa tặng ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài thụ tạo hữu hình. Đã là người thì ai cũng chân nhận rằng nhờ trí khôn mà con người trỗi vượt các loài vật bậc thấp. Chuyện tích về bác nông phu mưu trí đánh thắng con hỗ là một ví dụ. Cũng là làm việc nhưng nhờ trí khôn, con người ý thức mình làm việc gì với động cơ và mục đích gì. Chính vì thế cung cách làm việc của con người mỗi ngày mỗi mới, phát triển và hoàn thiện không ngừng. Trong khi đó loài vật vì thiếu khả năng này nên cách hoạt động của chúng hầu như không đổi thay mà nếu có thì cũng rất nhỏ và qua một thời gian rất dài chịu điều kiện hóa bởi các yếu tố của giới tự nhiên mà thôi.

    Khi thêm vào yếu tố “trí khôn” chắc hẳn Chúa Giêsu không chỉ đề cập đến một nét cao quý của con người mà còn lưu ý đến cung cách “giữ đạo”, “sống đức tin” của dân Chúa xưa và chúng ta mọi thời, mọi nơi. Chúa Giêsu đã từng nhiều lần hữu ý vi phạm luật sạch nhơ và luật ngày hưu lễ của Do Thái giáo thời bấy giờ. Người cố tình làm như vậy, vì người ta đã giữ luật cách máy móc, vụ hình thức mà quên mất mục đích và ý nghĩa của luật. Chẳng hạn luật sạch nhơ có ra là để dân Chúa biết giữ gìn tâm hồn trong sáng và làm thanh sạch cõi lòng khỏi các vết nhơ của tội lỗi, khỏi những tham lam và đam mê bất chính. Do đó cách thế giữ luật phải chú trọng đến tâm hồn hơn là quá tỉ mỉ, chi li với những nghi thức bên ngoài như rửa chén bát, rửa chân tay… Muốn tâm hồn được thanh sạch là phải loại khỏi tâm trí những ý định bất chính, xấu xa và Người đan cử một số điều như: “Tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”(Mc 7,21). Bên cạnh đó để làm cho tâm hồn mình trinh trong thì Người dạy phải sống đức ái qua việc liên đới chia sẻ với tha nhân: “Hãy đem những cái bên trong ra mà phân phát thì mọi sự sẽ nên thanh sạch cho các ngươi (Lc 11,41).

    Với trí khôn thì khi thực hiện các hành vi đạo đức của tôn giáo, chúng ta phải biết rõ hành vi ấy là gì (What?) Vì sao phải thực hiện điều ấy là làm việc ấy để nhằm mục đích gì (Why?). Và rồi chúng ta sẽ biết làm việc ấy như thế nào (How?), ở đâu và trong hoàn cảnh nào (Where? When?). Khi một số biệt phái trách cứ rằng các môn đệ mình không ăn chay thì Chúa Giêsu nhân đó đã dạy họ phải sống đạo với cả trí khôn. Trước hết hãy ý thức ăn chay nghĩa là gì và vì sao ăn chay để rồi biết cách ăn chay đúng đẹp thánh ý Thiên Chúa. Ăn chay là một hình thức sám hối, thú nhận tội lỗi, nhất là tội nghiêm trọng.

    Xưa vua quan dân thành Ninivê đã dùng sự ăn chay để bày tỏ sự ăn năn sám hối về tội lỗi tày trời họ đã phạm khiến Chúa đe phạt hủy diệt cả thành. Trong khi đó nhiều lãnh đạo Do Thái giáo thời Chúa Giêsu không chỉ lầm mà còn giảng dạy sai lạc. Họ lầm tường rằng ăn chay là một trong những cách thế thu tích công đức trước mặt thiên hạ và cả trước mặt Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng kể câu chuyện có người biệt phái vào đền thờ ngửa mặt kể lễ công trạng ăn chay với cả Thiên Chúa. Để khẳng định điều này thì Người nói rõ: “Không lẽ thực khách hay các phù rể có thể ăn chay khi tân lang đang còn ở với họ. Khi nào tân lang bị đem đì thì bấy giờ họ mới ăn chay” (x.Lc 5,33-39). Khi đang còn ở với Thầy Giêsu thì cách nào đó các tông đồ đang còn ở trong ân sủng. Khi phạm trọng tội là lúc chúng ta xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình và lúc đó mới thực sự cần phải ăn chay.

    Không dám hồ đồ nhưng có vẻ đến hôm nay còn không ít Kitô hữu từ giáo dân đến tu sĩ, giáo sĩ vẫn sống đạo một cách máy móc, nếu không muốn nói là thiếu ý thức đúng và đủ những gì mình thực hành. Vừa qua Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ra lệnh Kitô Hữu Công Giáo ăn chay một ngày (22/10) và mời gọi đoàn tính hữu sống mùa dịch bệnh trong tinh thần chay tịnh. Nếu không được hướng dẫn thì đoàn tín hữu dễ lầm tưởng rằng vì nhân loại tội lỗi nên bị dịch bệnh, khiến cho một số người hiểu lầm như nhiều người Do Thái thời Chúa Giêsu. Và cũng có thể có nhiều người nghĩ rằng ăn chay hãm mình hy sinh như lễ vật dâng lên Thiên Chúa hầu mong Người đoái thương khử trừ dịch bệnh. Thế mà đã gần hai năm nay biết bao lễ vật hy sinh trên khắp thế giới cùng với lời cầu nguyện dâng lên mà như chưa thấu đến Đấng Toàn Năng. Tình cảnh này có thể làm cớ cho nhiều người hoài nghi và than thở như cố nhạc sĩ họ Trịnh là “Chúa đã bỏ loài người. Phật đã bỏ loài người…”.

    Chuyện chay tịnh, hãm mình, hy sinh thì ai ai cũng mến phục. Tuy nhiên việc sống khắc khổ, kiêng khem trong tình cảnh mà người dân, nhất là người nghèo, người đang thiếu thốn lương thực cần phải có đủ sức đề kháng để chống dịch thì xem ra cần được giải thích và hướng dẫn cho thấu tình đạt lý dưới ánh sáng đức tin. Truyền thống là tốt. Thế nhưng nhiều khi nó cũng có thể kìm giữ chúng ta trong lối mòn của thứ rượu cũ. Rượu mới phải đổ vào bầu da mới, nhưng người ta lại thích rượu cũ và giữ mãi cái bầu cũ hơn. Đức Phanxicô đã từng cảnh giác về kiểu biện bạch để khỏi canh tân, đổi mới đó là: “xưa đã là như vậy rồi”. Với cả trí khôn thì việc sống đức tin đòi hỏi chúng ta phải trưởng thành mỗi ngày. Chắc hẳn có đó nhiều cơ chế, luật lệ và hình thức sống đạo trong Giáo hội cần đổi thay khi đoàn con cái Chúa biết sử dụng trí năng để sống đức tin cách ý thức trong tình liên đới và tinh thần trách nhiệm.

    Về mục lục

    ĐIỀU RĂN MỚI

    Lm Vũđình Tường

    Một Kinh Sư hỏi Đức Kitô,
    ‘Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều nào quan trọng hơn cả’ Mc 12,28.

    Ông ta hỏi Đức Kitô vì vấn đề này nhóm Kinh Sư từ lâu tranh luận với nhau, và không đồng nhất điều răn nào quan trọng hơn cả. Đức Kitô tóm gọn tất cả các điều răn dậy trong sách Dân Số 6:4-5 và sách Lêvi 19:18 trong một câu vắn gọn, đó là ‘Mến Chúa và yêu tha nhân’. Nhóm Kinh sư giải thích luật bằng cách theo sát từng câu, từng chữ; trong khi Đức Kitô chú trọng đến bản chất, tinh thần của luật lệ. Ngài nói với họ,

    ‘Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình’ Mc 12: 30-31

    Quan hệ tình cảm con người dành cho nhau rất đơn giản và cũng rất phức tạp. Đơn giản, nhẹ nhàng khi tình cảm đầy tràn thân thiện. Phức tạp khi tình thân biến mất, cãi cọ, tranh biện, ăn thua đủ liên tục xảy ra. Trong trường hợp này, thay vì dùng tình cảm, cảm xúc của con tim, con người đối xử với nhau bằng lí trí, lí luận, tranh biện, hơn thiệt, phải trái. Đức Kitô dậy để giải quyết vấn đề cách nhẹ nhàng, cần đối xử với nhau như chính Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ai cũng có kinh nghiệm đuợc Thiên Chúa yêu thương, tha thứ. Hãy dùng kinh nghiệm trên để giải quyết mọi tranh chấp, bất hoà. Yêu Thiên Chúa, mến những gì Thiên Chúa tạo dựng là giữ trọn luật yêu thương. Yêu tha nhân như chính Thiên Chúa yêu chúng ta là điều luôn đúng trong mọi trường hợp. Đặt Thiên Chúa là trọng tâm trong đời; mọi lời nói, hành động phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa chính là làm Sáng Danh Chúa trong cuộc sống của ta.

    Nhóm Kinh sư trước đây vẫn nghĩ sát tế lễ vật dâng Thiên Chúa là quan trọng hơn cả. Đức Kitô dậy dâng hiến toàn thể con người cho Thiên Chúa quan trọng hơn. Giáo huấn trên đưa cho anh cái nhìn mới. Anh rất thán phục điều Đức Kitô phán dậy. Đức Kitô nói với anh,

    ‘Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu’. Mc. 12: 35.
    Phúc Âm thuật lại, sau đó không còn ai dám hỏi Ngài nữa. Người ta không dám hỏi nữa có lẽ họ sợ biết sự thật về chính mình. Bởi càng hỏi, càng để lộ ra cái thiếu sót, thiếu hiểu biết về tình yêu Thiên Chúa. Như thế họ sẽ bị mất uy tín trong việc giảng dậy. Đức Kitô nói vị Kinh Sư đến gần Nước Thiên Chúa, nhưng chưa thuộc về Đức Kitô. Ông đến gần Ngài hơn hết trong số bạn cùng ngành.

    Kinh Sư là nhóm kịch liệt chống đối Đức Kitô. Họ chất vấn Ngài ai cho phép Ngài trừ quỉ. Họ đặt vấn đề Ngài ngồi cùng bàn ăn với kẻ tội lỗi. Họ trách môn đệ ngài ăn mà không rửa tay. Họ kết án Ngài chữa bệnh trong ngày hưu lễ. Vì thái độ chống đối đó mà hầu hết học giả Kinh Thánh cho là vị Kinh Sư khâm phục ơn khôn ngoan nơi Đức Kitô nhưng không thành tâm yêu mến, tin theo Ngài. Giải thích như trên có nghĩ là vị Kinh Sư này cũng như những vị khác. Trong khi những vị khác đến chất vấn, gài bãy, tìm cách bắt bẻ. Thực tế cho thấy, vị Kinh Sư này hành xử rất khác. Ông đến hỏi Đức Kitô, vừa thán phục vừa ca tụng Ngài. Ông thành tâm trong việc đến gần Đức Kitô. Rất có thể đây là bước đầu, đặt nền tảng cho bước tiếp theo.

    Có kiến thức về Kinh Thánh và tin Kinh Thánh là hai sự việc hoàn toàn khác biệt. Dùng Kinh Thánh để biện hộ cho hành động, lời nói, mong thắng thế khi bàn thảo, lí luận, không sinh ích gì cho đức tin. Rất có thể người đó không có niềm tin, dùng Kinh Thánh cho lợi ích cá nhân. Tìm hiểu để hiểu biết thêm về Kinh Thánh với mục đích tăng niềm tin, thực thi đúng điều Kinh Thánh hướng dẫn là điều quan trọng. Như thế mới đúng là sống đời sống đức tin.

    Đức Kitô kêu gọi Kitô hữu dâng hiến trọn vẹn, toàn thể con người cho Thiên Chúa, không phải chỉ một phần mà toàn phần: Khối óc, con tim, linh hồn, trí khôn và toàn thể sức lực. Như thế mới là dâng hiến trọn vẹn.

    Về mục lục

    YÊU MẾN

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Thiên Chúa là tình yêu: Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4, 8). Yêu là cốt lõi của cuộc sống. Vì tình yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ muôn loài. Tình yêu của Đấng Tạo Hóa được thông ban tới mọi loại thụ tạo. Mỗi loài thụ tạo đều có dấu ấn của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa. Con người có linh hồn, trí khôn, tự do và tình yêu. Mọi sinh vật đều chìm đắm trong biển tình liên đới với nhau. Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ là Đấng Vô Hình, chúng ta có thể nhận biết Người qua muôn hình vạn trạng của vũ trụ vạn vật và con người. Người là Thiên Chúa hằng hiện hữu và là Chúa của kẻ sống.

    Những chỉ thị và huấn lệnh được tóm kết trong Mười Điều Răn và mười điều này thu gọn thành hai điều quan trọng là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người. Như thế, tất cả luật lệ và các giới răn đều xoay quanh chữ ‘Yêu’. Yêu là ái, bác ái, đức ái, nhân ái và tâm ái. Yêu là nền tảng của mọi sinh hoạt. Yêu phát khởi từ tâm. Tâm thiện làm thăng hoa cuộc đời nên cao thượng và thành tựu.

    Chúng ta có thể suy về trái tim yêu thương qua bốn điều: Từ, Bi, Hỉ và Xả. Tâm từ là lòng thương xót. Thương tất cả mọi loài. Thương yêu không chỉ những người trong gia đình mà tình yêu lan trải ra mọi người chung quanh. Yêu cả người ân, kẻ oán. Yêu cả người gây thù dù chuốc oán. Tâm bi là xót thương trước những khổ đau của người khác. Biết cảm thông và xoa dịu những nỗi đau và sầu khổ của tha nhân. Tâm hỉ là vui vẻ trước sự hạnh phúc và thành công của người khác. Biết chung vui và chúc mừng những thành đạt và sự may mắn của người. Người có tâm hỉ thì không ích kỷ, hạn hẹp, ghen tương và đố kỵ. Tâm xả là không luyến ái hay chấp nhất. Giữ thái độ thanh thản và an vui tự tại trong tâm hồn. Từ bi hỉ xả sẽ giúp cho tình yêu tha nhân được triển nở và hoan lạc.

    Trong bài phúc âm, Chúa Giêsu lập lại hai giới răn nồng cốt của đạo: Yêu Chúa và yêu người. Thiên Chúa hiện diện nhưng con người không thể diện kiến và đụng chạm bằng giác quan trần tục. Để biểu hiện tình yêu, Chúa mở một cửa ngõ để chúng ta cùng cảm thông: Yêu tha nhân như chính mình. Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại được gắn liền với nhau như đồng tiền hai mặt. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta yêu mến Thiên Chúa mà ghét đồng loại. Vì mỗi con người được tác tạo đều mang hình ảnh của Thiên Chúa. Yêu người cũng như yêu chính mình.

    Thánh Marcô so sánh tình yêu cao quí hơn của lễ dâng. Đối với chúng ta, yêu người thân cận như chính mình là một đòi hỏi quá khó. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng thấy tình yêu có mức độ. Trong cuộc sống dân gian, trái tim yêu thương được diễn tả theo hình trôn ốc, từ trong cốt lõi ra ngoài. Yêu vợ chồng, con cái, gia đình, họ hàng thân tộc, đồng môn, bạn bè, người thân, kẻ nghĩa, yêu người cùng nhóm hội, cùng chí hướng, cùng tôn giáo, yêu đồng bào cùng quê hương xứ sở và yêu đồng loại… Chúng ta có thể cảm nhận thế nào là tình yêu khi chúng ta xa vắng, tam biệt, ly biệt hay vĩnh biệt người mình yêu. Càng yêu nhiều càng nhớ thương nhiều. Chỉ có những tâm hồn đại ái biết quên mình mới có thể yêu người thân cận như chính mình một cách vô điều kiện.

    Trong thơ gởi tín hữu Do-thái, tác giả đã diễn tả hình ảnh hiến tế của Chúa Giêsu linh mục thượng phẩm. Ngài đã dâng hy lễ đền tội cho dân bằng chính sự sống của mình. Tình yêu dâng hiến trọn vẹn để đền tội thay cho dân. Các linh mục thay mặt Chúa dâng lễ tế hy sinh là một việc cử hành thánh thiện, nhưng có nhiều khi bị lợi dụng và lạm dụng. Có nhiều linh mục đã cử hành thánh lễ rất nghiêm trang sốt sáng, nhưng cũng có linh mục cử hành theo thói quen chỉ để chu toàn bổn phận hoặc vì thọ ơn trả nghĩa cho ai đó tại tư gia. Linh mục không chịu đau khổ và không đổ máu, vậy mà đôi khi còn nóng nảy và bực bội chỉ vì vài sơ xót nho nhỏ trong khi cử hành. Các linh mục hãy hòa trộn tình yêu trong việc cử hành thánh lễ để sinh ích lợi cho mình, cho mọi người và cho các linh hồn đang chờ mong ân phúc.

    Đức mến là nòng cốt. Mọi sự trên trần gian sẽ qua đi, chỉ có tình yêu tồn tại mãi. Xin cho chúng con biết chia sẻ và sống dấn thân trong tình yêu. Để khi mãn cuộc đời dưới thế, chúng con sẽ được hưởng nếm tình yêu dịu ngọt của Chúa, vì Chúa là tình yêu.

    Về mục lục

    MÙA NÀO CŨNG YÊU

    Lm. Jos DĐH.

    Dù có ăn khoẻ mấy, bạn cũng chỉ ăn tới mức no bụng. Khôn hay khờ, địa vị hay bần cùng, bạn vẫn tuân theo quy luật, sinh tử. Bốn mùa xuân hạ thu đông, tự bản chất đã phảng phất tính lãng mạn đầy yêu thương của tháng năm, dù điều kiện, phong cách, địa vị, mỗi người mỗi khác. Nói đến yêu và thương, thật dễ nghe, ngay cả lão gia đến trẻ nhỏ, gợi lên hai từ ghét và thù, đúng là chẳng ai hào hứng làm chi ! Đại đa số chúng ta rất chuẩn khi nói ăn để sống, có chăng hành động của ta mơ hồ đến độ không còn biết mình sống ở đời này để làm gì ? Không ai khôn tới mức bất cần đến thầy dạy, chẳng ai ngớ ngẩn để mặc thời gian trôi qua, rồi thở ngắn than dài tại sao mình phận bạc duyên đen ? Không ngừng học hỏi là hành vi giúp ta ngộ ra mình được yêu ngay từ thuở nhỏ, là nguồn gốc của đức hạnh thúc giục ta nói lời yêu thương.

    Thời tiết bốn mùa nồng ấm đáng yêu khác nhau, được cao sang quyền quý hay vô duyên bất tài, có phải bạn vẫn muốn trải lòng cho mọi đối tượng, tôi luôn cần được mọi người mến yêu ? “Thưa Thầy, trong giới luật, đâu là điều quan trọng nhất” ? Điều muốn biết của người luật sĩ vô tình hay cố ý thử tài Đức Giêsu, đúng là có chút tự nhiên vương vấn nơi tâm tư mỗi người từ khi có trí khôn. Đức Giêsu không từ chối, không lòng vòng, trước thao thức của ông tiến sĩ luật, của tâm tư mỗi người, Ngài đã cho thấy hai từ mến – yêu không thể tách nhau. Thời khắc nào người ta cũng có nhu cầu ăn ngon ngủ yên, bình an hạnh phúc, được yêu để biết yêu, quan trọng ở chỗ yêu người và mến Chúa sao cho đúng, đẹp. Là đừng mến Chúa yêu người trên môi miệng, lý thuyết.

    Mùa nào cũng yêu, mùa nào cũng say, là quá cường điệu trong tình yêu đôi lứa, nhưng sẽ không thừa, không dư, nếu ta hiểu và sống tinh thần người môn đệ Đức Giêsu: mến Chúa yêu người. Mùa nào cũng yêu, ngày nào cũng yêu, tuổi nào cũng yêu, sẽ không bao giờ là sai, là trệch, khi chúng ta tin Đức Giêsu là Thầy là Chúa, và tất cả mọi người có cùng Một Cha trên trời. Đức Phật dạy các học trò: hãy sống tốt, sống đẹp, đừng quan tâm đến người khác nghĩ về mình. Đức Giêsu trả lời cho những ai ưu tư đến cụm từ đâu là hạnh phúc: “hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn; hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi”. Trọng tâm của đời người không phải chỉ là tiền, mà còn phải có tình. Hạnh phúc ở đời người, không phải là tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình, đúng, đủ, phải có mến Chúa yêu người.

    Nhạc sĩ Phạm Duy đã thổi hồn vào nhạc phẩm “Phượng Yêu”, đã làm ngây ngất biết bao con tim đang rạo rực “vì yêu”. Yêu người, yêu Phượng, yêu hoa đầu mùa, yêu mầu rực rỡ, yêu em mù loà, yêu bằng tiếng nói đơn sơ. … Yêu người, yêu có một lần thôi, xin yêu dù gian dối, xin yêu tôi, dẫu nghi ngờ, trong bơ vơ còn nhiều, thì đâu chối bỏ tình yêu. Người tiến sĩ luật trong tin mừng hôm nay, quả đã “thấm đậm” khi được Đức Giêsu gói gọn giới luật bởi cụm từ “mến Chúa yêu người”. Kinh nghiệm của các bậc khôn ngoan, chỉ rằng: ăn có thể ăn nửa bữa, ngủ có thể lúc nửa đêm, nhưng không ai có thể đi nửa đường chân lý, yêu bằng nửa con tim. (Ngạn ngữ Anh). Người luật sĩ đã hiểu phần nào trong tình Chúa phải có tình người, mới trọn vẹn đúng, đủ, đẹp. Đức Giêsu vô cùng hạnh phúc, khi bộc lộ niềm vui: “anh không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”.

    Mùa nào cũng yêu, tình nào chẳng là tình đẹp, yêu mến tha nhân cũng là lời gọi mến yêu đồng loại, là điều quan trọng trước giới luật yêu thương mà Thiên Chúa đặt để vào tâm tư mỗi người nhân thế. Thiên hướng của người nghệ sĩ là đưa ánh sáng vào trái tim con người. Đức Giêsu là mặt trời công chính đã soi chiếu vào thế gian, song Ngài chính là Vị Thầy thuốc tài giỏi, chữa khỏi tật bệnh mọi tâm hồn, đủ khả năng định hướng cho từng người đạt tới đỉnh cao yêu thương. Mến Chúa yêu người là căn bản trong toàn thể lề luật, Đức Giêsu cô đọng lại giúp tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài, chỉ cần sống trọn vẹn với Chúa và tha nhân: mùa nào cũng yêu, người nào cũng dễ mến, dễ thương.

    Dù nắng hay mưa, mùa đông hay mùa xuân, tình yêu vẫn cứ đong đầy kỷ niệm. Già hay trẻ, thông thái hay chậm hiểu, vẫn được yêu thương, nếu biết chọn sống theo nhịp đập rất linh thiêng của trái tim mình. Cả một quá trình dài, người tiến sĩ luật mới gặp được Vị Thầy mà anh hết sức nể phục, anh sung sướng nhận ra “đích đến thành công” của đời người trong bốn chữ: mến Chúa – yêu người. Thấy người luật sĩ khôn ngoan trước sự thông sáng của mình, Đức Giêsu tỏ cho anh biết: “anh không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”. Quả thực, điều tốt nhất, tuyệt vời nhất, trên thế giới này không thể nhìn hay nghe, mà phải cảm nhận bằng trái tim. (Helen Keller). Đức Giêsu ghi nhận thế nào là mến Chúa yêu người của người thông luật, của mỗi chúng ta, nhạy cảm hơn một chút, Ngài sẽ kiểm đếm hành vi yêu thương của nhân loại bằng lòng thương xót của Thiên Chúa nhân từ. Amen.

    Về mục lục

    “MÌNH VỚI TA” TUY HAI MÀ MỘT

    Lm. Giuse Trương Đình Hiền

    Bình thường thì ít thấy; nhưng mỗi khi “hữu sự” thì Người Việt Nam chúng ta cũng thuộc “dân tộc có hạng” trong thể hiện “nghĩa tình huynh đệ”, chia sẻ bác ái; hay gọi nôm na là “văn hóa bí bầu” hay “văn minh lá lành đùm lá rách” ! Trong thời cao điểm đại dịch vừa qua, hay trong biết bao cơn bão lũ thiên tai xé nát thôn làng khắp miền đất nước, nhất là Miền Trung dấu yêu, người ta dễ dàng nhận ra những chứng minh hùng hồn và cụ thể cái “văn hóa ứng xử” đặc biệt trên, một “loại hình văn hóa, văn minh” mà người ta đang lo lắng sẽ dần bị mai một, khan hiếm bởi sự lên ngôi của “chủ nghĩa cá nhân”, của “văn minh ích kỷ”, của “văn hóa vô cảm”

    Hèn chi, đã là người Việt Nam, lớn bé trẻ già, giàu sang trí thức hay mạt rệp cùng đinh, ai mà không thuộc câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; hay câu tục ngữ mang âm hưởng của lời Sách Thánh Lêvi trong tín ngưỡng Do Thái: “Thương người như thể thương thân” = “Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.” (Lv 19,18).

    Thật ra, đối với phần đông người Do Thái, ít ra cho tới thời Chúa Giêsu cách đây 2000 năm, câu Sách Thánh Lêvi trên chỉ là “điều răn thứ hai”, “điều luật phụ”, mà có thể họ ít lưu tâm và dấn thân thể hiện. Với họ, điều răn quan trọng nhất phải là lời của sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn người” (Đnl 6,5)Theo truyền thống tín ngưỡng của họ, họ đã chép nguyên đoạn sách Đệ Nhị Luật (6,4-6) làm thành Kinh SHEMA để đeo trên trán, nơi cườm tay, trước cửa nhà… để nhắc nhớ niềm tin kính và việc phượng thờ Chúa mọi phút giây trong đời sống của họ: “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Chúa độc nhất. Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Những lời tôi truyền cho ngươi hôm nay, phải ghi tạc vào lòng” (Bđ 1). Vâng, đối với tâm thức tín ngưỡng của họ: nội dung cốt lõi của việc thể hiện niềm tin chính là quy chiếu và thực hiện giới răn nầy: Mến Chúa bằng lễ lạc, phụng tự, luật lệ… sao cho nghiêm túc, và bất cần đến những nỗi đắng cay, lầm than của anh em đồng loại xung quanh.

    Khi thoáng thấy cách ứng xử “khá bất thường” của Thầy Giêsu, và cũng có thể, để dằn mặt và “trắc nghiệm bản lãnh đức tin” của anh chàng thợ mộc đến từ Nadarét, như Tin Mừng hôm nay vừa kể, những người Biệt phái muốn Chúa Giêsu bày tỏ thái độ có “mến Chúa trên hết mọi sự” như họ không; và họ đã dàn dựng một màn phỏng vấn: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất?”. Ngoài dự đoán của họ dành cho một kẻ “hạ tiện” dốt nát Lề Luật, Chúa Giêsu, như một người đạo đức bình thường trong truyền thống đức tin của cha ông, đã trả lời đúng phóc bằng chính câu Lời Chúa của sách Đệ Nhị Luật: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”.

    Và câu chuyện đã mang họ đi xa hơn điều họ mong đợi ! Ngài đã “móc” lại một điều luật được ghi trong một sách Thánh Kinh khác, sách Lêvi, mà có lẽ, những ông biệt phái, những thầy ký lục ít khi đọc đến hoặc xem thường, như chính cách sống của họ đã “bỏ rơi hay xem thường con người”“Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.” (Lv 19,18). Và có lẽ câu phán quyết “xanh rờn” tiếp liền sau đó đã làm họ ngỡ ngàng và chưng hửng: “Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”. Vâng “Hai” chứ không chỉ có “một”; hay nói cách khác, hai khoản luật trên quy về cùng một đích điểm duy nhất, một giới răn duy nhất: YÊU MẾN.

    Như vậy đã quá rõ ràng, với lập trường sống đạo và quan niệm đức tin của Chúa Giêsu, trong giới răn “mến Chúa trên hết mọi sự” phải bao hàm “yêu thương anh em như chính mình”; và bằng chính cuộc sống và cả cái chết của đời mình, Tin Mừng đã thuyết minh cụ thể lập trường và quan niệm đó của Ngài:
    – Chen chân giữa đám dân đen để cùng họ lội xuống dòng sông Giođan cho ông Gioan làm phép rửa, chọn kẻ thu thuế làm môn sinh và ăn uống với họ…, một điều xem ra quá xa vời và lố lăng đối với những người “Biệt Phái”, những kẻ vẫn tự hào là những người “mến Chúa trên hết mọi sự”.
    – Đụng chạm, đón tiếp những người cùi hủi đáng thương, để người phụ nữ tội lỗi hôn chân, xức dầu; chữa các bệnh nhân trong ngày Sabat, ăn uống mà chẳng cần rửa tay… những việc bác ái yêu thương mà những người tự xưng mình vỗ ngực tự xưng là “công chính” sẽ kết án là gương mù, gương xấu.
    – Tỏ thái độ cảm thông và kính trọng người phụ nữ ngoại tình bị bắt tại trận để cuối cùng trao ban một phán quyết đầy nhân ái yêu thương: “Phần Ta, Ta cũng không kết án chị đâu”; hay nói với người bất toại bằng lời mang tính thẩm quyền của Thiên Chúa “Tội con đã được tha”… những hành động và lời nói mà những người vẫn tự hào về niềm tin “trung thành với Thập Điều Sinai” sẽ kết án là phá luật cha ông, là ngược dòng truyền thống, là “lộng ngôn phạm thượng”…
    – Sẵn sàng quỳ xuống rửa chân cho các môn sinh để dạy họ bài học cụ thể yêu thương phục vụ, một hành vi xem ra không thích hợp chút nào đối với tác phong ăn trên ngồi trước của các vị tư tế đương thời, những người luôn miệng giảng rao về luật “mến Chúa trên hết mọi sự”
    – Và sau cùng, Ngài đã sẵn sàng chịu chết giữa hai tên trộm cướp để hoàn thành lời chứng cuối cùng: chết vì yêu thương anh em chính là của lễ đẹp nhất để tôn vinh và yêu mến Thiên Chúa; và chính đây lại là kết quả của một bản án mà những người Do Thái có chức quyền và sùng đạo đã nhân danh luật “mến Chúa” mà kết án Ngài: “Nó đã nói lộng ngôn !”

    Và xem ra sứ điệp về giới răn “Mến Chúa Yêu người” mà Lời Chúa hôm nay khơi gợi lại là câu chuyện miên viễn của loài người chúng ta; câu chuyện xoay quanh mối tương quan giữa con người với Thượng Đế và con người với nhau. Và lịch sử nhân loại luôn minh chứng rằng: hai mối tương quan nầy luôn đan quyện, khăng khít với nhau và tác dụng hổ tương gần như tuyệt đối: phủ nhận Thiên Chúa thì cũng đánh mất con người; cuồng tín với Thượng Đế hay đặt con người lên bệ thờ đều dẫn đến đại họa. Chúng ta biết đó, sau chủ trương “giết chết Thượng Đế của Nietzch” là những cuộc đại chiến kinh hoàng giết chết hàng bao nhiêu triệu người; cũng vậy, sau chủ trương “vô thần” để con người không còn nô lệ cho “thuốc phiện tôn giáo” của Marx-Engel-Lenin-Mao Trạch Đông-Stalin-Polpốt…, con người trở nên đao phủ để chém giết nhau không thương tiếc ! Cũng vậy, đức tin cuồng tín với Đấng Alah đã khiến những chiến binh IS Hồi Giáo cực đoan trở thành “máu lạnh” sẵn sàng “đánh bom tự sát” mặc kệ những người dân vô tội phải chết chóc đau thương. Trong khi đó, với trào lưu “nhân bản cực đoan” (Humanisme) đang dẫn dắt nhân loại tới con đường tự do phóng túng, phá bỏ những giềng mối luân lý nền tảng mà Thiên Chúa đã thiết lập để tự tung tự tác thỏa mãn những dục vọng đớn hèn…

    Sứ điệp Lời Chúa hôm nay muốn trình bày cho chúng ta một Tin Mừng trọn hảo để thể hiện niềm tin qua chân dung và lời dạy của chính Đức Kitô, “một vị Thượng tế thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời”(Bđ 2); nhưng cũng là một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,17-18). Vì là “Người Con vẹn toàn của Thiên Chúa” nên Đức Kitô đã trở thành “Người Anh Cả của muôn vạn người em” !

    Là môn sinh của Đức Kitô, những con người như linh mục Maximilien Kolbe, như Mẹ Têrêsa Calcutta hay bao nhiêu vị Đại thánh khác trong lịch sử hai ngàn năm của Giáo Hội…, để có được sức mạnh và lòng can đảm yêu thương con người đến cùng, đã phải nhờ đến sự đắm chìm cầu nguyện kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa.

    Vâng, bao lâu còn ngưỡng vọng lên trời, bấy lâu còn trung thành với trái đất ! Đó lài hai điều bất khả phả phân ly: MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI; hay nói một cách dí dỏm: “mình với ta” tuy hai mà một; một TÌNH YÊU, một ĐỨC MẾN. Amen.

    Về mục lục

    SỐNG GIỚI RĂN YÊU THƯƠNG

    Lm. Ngọc Dũng

    Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta trung tâm của niềm tin Do Thái Giáo, đó là Shema Israel. Một cách cụ thể, Môsê nhắc nhở con cái Israel phải có thái độ nào trước Thiên Chúa: “Anh em cũng như con cháu anh em sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày trong suốt cuộc đời, tuân giữ tất cả những chỉ thị và mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh em, và anh em sẽ được sống lâu” (Đnl 6:2). Môsê nói những lời này cho những người Israel đã chứng kiến kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện khi đưa họ ra khỏi cảnh nô lệ bên Ai Cập. Để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, con cái Israel phải có lòng kính sợ Ngài và tuân giữ các mệnh lệnh của Ngài. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta đến tâm tình cần phải có khi nhìn lại cuộc sống của mình với những ơn lành Thiên Chúa đã thực hiện trên cuộc đời chúng ta. Đi trong đường lối của Thiên Chúa mang lại sự sống muôn đời và được hưởng niềm vui trong đất hứa. Bên cạnh đó, Môsê còn nhắc nhở dân Israel về niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, bên cạnh Ngài không có thần nào khác: “Nghe đây, hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6:4). Những lời này khẳng định vị trí tối thượng và duy nhất của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là Đấng duy nhất được tôn thờ, nên con cái Israel “hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6:5). Là Đấng tối thượng duy nhất nên Đức Chúa phải được yêu mến trên hết mọi sự và với trọn con người của chúng ta. Chúng ta đã ghi lòng tạc dạ điều này như Môsê đã nhắc nhở con cái Israel chưa? – “Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ” (Đnl 6:6).

    Đề tài về sự khác biệt giữa chức vụ thượng tế của Chúa Giêsu và các thượng tế khác được tác giả thư Do Thái tiếp tục trong bài đọc 2 ngày hôm nay: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình, và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:27-28). Theo tác giả thư Do Thái, Chúa Giêsu là mẫu gương thánh thiện và thập toàn cho chúng ta. Ngài không phạm tội như các thượng tế phàm nhân, nhưng Ngài chấp nhận hiến thân mình làm của lễ đền tội cho mọi người. Con chúng ta thì sao? Chúng ta có đủ can đảm để hiến thân làm của lễ đền tội cho những người làm chúng ta đau khổ, những người xúc phạm chúng ta không? Những ai nói “xin lỗi” sau khi phạm lỗi là những người sống theo bổn phận và đức công bằng. Những người nói “xin lỗi” khi người khác xúc phạm đến mình vì không muốn đánh mất mối tương quan đã được xây dựng là những người sống theo tình yêu và con tim của Chúa.

    Bài Tin Mừng hôm nay tiếp tục khẳng định vị trí cao trọng của tình yêu trung thành và vô điều kiện qua việc Chúa Giêsu cho biết tình yêu là điều răn đứng đầu. Bài Tin Mừng nói lên cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với một kinh sư. Đây chính là cuộc tranh luận thứ tư của Chúa Giêsu với các kinh sư. Tuy nhiên, thái độ chân thành và khao khát học hỏi của vị kinh sư biến sự kiện đó thành một cuộc trao đổi để học hỏi hơn là một cuộc tranh luận như thường xảy ra giữa Chúa Giêsu và các kinh sư. Chúng ta thấy có một sự tương đồng và hợp lý trong bài Tin Mừng. Chúng ta có thể chia bài Tin Mừng ra làm hai phần: phần 1 (Mc 12:28b-31) là câu hỏi thưa – đáp giữa vị kinh sư và Chúa Giêsu, phần 2 (Mc 12:32-34) là phần nhận định hay phản ứng của vị kinh sư và Chúa Giêsu trên câu trả lời của người kia.

    Phần 1 là câu hỏi-đáp về sự cao trọng của điều răn yêu thương: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?” (Mc 12:28b). Chúa Giêsu trích Đnl 6:4-5 để trả lời cho câu hỏi trên: “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” Câu này đứng vị trí đầu tiên trong ba bản văn Kinh Thánh mà người Do Thái phải đọc hai lần mỗi ngày. Điều răn yêu Chúa có nguồn gốc trong chính bản chất của Ngài như là Thiên Chúa duy nhất. Bốn danh từ “lòng, linh hồn, trí khôn và sức lực” không ám chỉ những phần khác nhau của con người, những nói lên tính toàn bộ của con người. Nói cách khác, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa với trọn con người của chúng ta. Chúng ta có đang yêu Chúa với trọn con người của chúng ta không hay tình yêu của chúng ta đã bị phân mảnh cho những tạo vật khác? Chúa Giêsu không dừng lại ở việc yêu Chúa, Ngài thêm vào tình yêu dành cho người thân cận: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:31). Tuy nhiên, chúng ta cần cẩn trọng trong việc đồng hoá hoặc gắn hai điều răn này với nhau. Hai điều răn được nối kết với từ “yêu” và chúng được đặt song song với nhau chính là “hành động mang tính thần học” của chính Chúa Giêsu. Khi phân tích câu trả lời của Chúa Giêsu từ khía cạnh Kitô học, chúng ta nhận ra nét đặc biệt sau: Trong câu trả lời của Ngài, Chúa Giêsu không chỉ nói đến vị trí tối thượng của tình yêu dành cho Thiên Chúa, của Shema Israel, nhưng Ngài còn khẳng định vị trí cao trọng của tình yêu dành cho người khác. Hai điều răn này đi với nhau không thể tách rời. Điều này xảy ra vì sự nhập thể của Ngài. Nói cách khác, qua mầu nhiệm nhập thể, Chúa Giêsu đã mang tình yêu dành cho Thiên Chúa và cho con người lại với nhau trong Ngôi Vị của Ngài: Ngài là Thiên Chúa thật [tình yêu dành cho Thiên Chúa] và là người thật [tình yêu dành cho người thân cận]. Chỉ có trong Chúa Giêsu, hai giới răn yêu Chúa và yêu người trở nên một. Ngài đã mang trời hoà giải với đất, giới hạn với vô hạn, tương đối với tuyệt đối, thời gian với vĩnh cửu. Như vậy, chỉ trong Chúa Giêsu chúng ta mới có thể yêu Chúa và yêu người khác cách trọn vẹn.

    Phần thứ hai trình bày cho chúng ta sự nhận định của vị kinh sư về câu trả lời của Chúa Giêsu và sau đó là nhận định của Chúa Giêsu về nhận định của vị kinh sư. Trong nhận định của mình, vị kinh sư đồng ý với những gì Chúa Giêsu trình bày mà không tỏ thái độ chống đối bằng cách nhắc lại những gì Chúa Giêsu nói. Nhưng như Chúa Giêsu thêm giới răn yêu người thân cận vào giới răn yêu Chúa, vị kinh sư cũng thêm “hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Lc 12:33). Lời này của vị kinh sư vọng lại lời của Ngôn sứ Hôsê (6:6) và lời trong sách Samuen quyển thứ nhất (15:22). Trong câu trả lời của vị kinh sư, chúng ta nhận ra nguyên lý nằm sau mọi lễ toàn thiêu và hy lễ là tình yêu dành cho Thiên Chúa và người thân cận. Có phải tình yêu Thiên Chúa và người thân cận là động lực thúc đẩy tất cả những lời nói và việc làm của chúng ta không?

    Đứng trước câu trả lời khôn ngoan của vị kinh sư, Chúa Giêsu “khen” ông ta và khẳng định rằng: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12:34). Câu nói của Chúa Giêsu không mang tính “tương lai,” nhưng là hiện tại. Nước Thiên Chúa là một thực tại mà vị kinh sư đang đứng rất gần, ngay bên cạnh. Chính tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân sẽ chuẩn bị cho ông đón nhận Nước Thiên Chúa. Đây cũng chính là điều Chúa Giêsu nhắc nhở mỗi người chúng ta: chúng ta chỉ có thể vào Nước Thiên Chúa khi tình yêu dành cho Chúa và cho tha nhân là động lực duy nhất của đời sống chúng ta.

    Về mục lục

    CHỈ MỘT ĐÔ-LA

    Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

    Hôm nay Chúa Giêsu không chỉ dạy ta về lòng yêu mến đối vời Thiên Chúa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”, mà còn đòi phải yêu thương đồng loại: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”.

    1. Về tình yêu đối với Thiên Chúa, Câu trả lời của Chúa Giêsu không mới, bởi đây là giới răn trong kinh Shema mà một người Do Thái đạo đức phải đọc hai lần sáng tối mỗi ngày để cầu nguyện (x.Đnl 4, 5-9).

    Tuy nhiên, ở đây, Chúa Giêsu lấy lại lề luật Cựu Ước vừa để tái khẳng định điều chính yếu vừa để kiện toàn lề luật. Vì khi lặp đi lặp lại từ “hết” nhiều lần, Chúa đòi từng người phải yêu mến Thiên Chúa bằng trọn vẹn con người mình, trọn vẹn cả thân xác và trọn vẹn linh hồn mình.

    Đúng hơn, tình yêu dành cho Thiên Chúa đòi sự dấn thân toàn bộ con người: Cả con tim, tâm hồn và tư tưởng. Nghĩa là tình yêu đó không chỉ trên bình diện lý trí, hay tình cảm, nhưng còn bao gồm cả thân xác, sức lực, các giác quan, đam mê, thậm chí chính sự sống và mạng sống của con người.

    Đàng khác, từ “hết” đặt trước những cơ quan cao quý được xem là thượng đẳng của con người: cõi lòng, linh hồn, trí khôn, sức lực còn muốn nói rằng, tình yêu dành cho Thiên Chúa khiến con người phải từ chối mọi ngẫu tượng: tiền bạc, tính dục, quyền lực, tư lợi và danh vọng… Bởi chỉ có Thiên Chúa là Chúa mọi sự, trên tất cả mọi sự.

    Thiên Chúa là Cha yêu thương. Nơi Ngài, tình yêu luôn tràn đầy, luôn trao ban, luôn sẵn sàng nên chốn yên bình để ta tìm về. Bởi Thiên Chúa yêu ta trước, Ngài muốn ta đáp lại tình yêu của Ngài bằng chính tình yêu của ta, không phải để Thiên Chúa thêm gì, nhưng là để ta được chiếm ngự chính sự sống và hạnh phúc viên mãn nơi lòng Chúa êm ái và dịu ngọt.

    Nhưng chỉ yêu một mình Chúa thôi chưa đủ. Chúa đòi ta phải cụ thể tình yêu mà ta dành cho Chúa bằng cách yêu thương anh chị em. Không phải yêu anh chị em bằng lời nói suông chung chung, nhưng phải yêu họ như yêu chính bản thân ta vậy.

    2. Thực hành tình yêu anh chị em, là thể hiện tình yêu của ta dành cho Chúa. Nói cách khác, ta yêu Chúa nơi anh chị em. Trao dâng tình yêu của mình dành cho anh chị em là cách ta chứng minh cụ thể lòng yêu mến Chúa. BỞI YÊU CHÚA THÌ PHẢI YÊU ANH CHỊ EM. YÊU ANH CHỊ EM LÀ BIỂU HIỆN CỦA LÒNG YÊU MẾN CHÚA.

    Câu chuyện sau đây giúp ta hiểu và sống tình yêu đối với anh chị em, qua đó, thể hiện lòng yêu mến dành cho Thiên Chúa. Câu chuyện như sau:

    Trong túi một cậu bé chỉ còn đúng một đô-la. Cậu đến cửa hàng bên đường hỏi: “Thưa bác, bác có bán Thượng Đế không ạ?”. Người chủ cửa hàng không nói gì, lo ngại cậu bé quấy rối nên mời cậu ra khỏi cửa hàng.

    Trời lại sắp tối, cậu bé lần lượt đi hết cửa hàng này đến cửa hàng khác. Cuối cùng, nơi cửa hàng thứ 29, cậu được người chủ tiếp đón nhiệt tình. Đó là một ông lão hơn 60 tuổi, tóc bạc phơ, gương mặt hiền từ. Ông lấy làm lạ vì cậu bé không ra dáng một đứa bé hư hỏng, quậy phá, đồng thời cũng tò mò về “món hàng Thượng Đế” mà cậu muốn mua, nên hỏi lại: “Hãy nói cho ông biết, cháu mua Thượng Đế để làm gì?”.

    Cậu khẽ khóc rồi nói: “Cháu là Tony. Cha mẹ cháu mất từ khi cháu còn rất bé. Chú Leo của cháu nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến giờ. Chú của cháu là công nhân xây dựng. Mới đây, chú ngã từ trên cao xuống và đang hôn mê. Cháu nghe được lời của một trong các bác sĩ nói, chỉ có Thượng Đế mới cứu được chú của cháu. Như vậy Thượng Đế chắc phải là một thứ vô cùng kỳ diệu nên cháu muốn mua về để cho chú của cháu ăn. Cháu rất mong chú Leo của cháu nhanh chóng khỏi bệnh ạ!”.
    Ông lão đỏ hoe mắt hỏi: “Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?”.
    Cậu bé nhanh nhảu đáp: “Cháu có một đô-la ạ!”.
    Ông lão vội nói: “Thật may! Giá của Thượng Đế đúng một đô-la cháu ạ!”.
    Nói xong, ông vào lấy một chai nước có nhãn hiệu “Nụ hôn của Thượng Đế” và đưa cho Tony. Ông nói: “Cầm lấy đi cháu! Chú của cháu uống hết chai này là sẽ khỏi bệnh!”.
    Tony vô cùng mừng rỡ, ôm chai nước vào ngực tức tốc chạy nhanh về bệnh viện. Vừa bước vào phòng bệnh, cậu vui vẻ la to: “Chú ơi! Cháu đem Thượng Đế đến rồi đây! Chú sẽ chóng khỏe lại thôi!”.
    Vài ngày sau, một nhóm chuyên gia y học trình độ cao nhất đã đến bệnh viện tiến hành hội chẩn cho chú Leo của cậu bé Tony.
    Họ sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới để chữa bệnh. Cuối cùng, điều kỳ diệu đã xảy ra, chú Leo của cậu bé hoàn toàn hồi phục. Ngày chú của Tony ra viện, nhìn số tiền viện phí quá lớn ghi trên hóa đơn, anh như suýt ngất xỉu.
    Nhưng bệnh viện cho chú của Tony biết: “Mấy hôm trước, có ông lão đến thanh toán hết tiền viện phí cho anh. Ông là một tỷ phú. Trước đây, ông làm chủ tịch một tập đoàn đa quốc gia nhưng bây giờ đã về nghỉ ngơi và ẩn cư bằng cách mở một cửa hàng tạp hóa bán qua ngày. Nhóm chuyên gia y học kia cũng là do ông lão bỏ ra một số tiền lớn để mời đến chữa trị cho anh”.
    Sau khi nghe xong câu chuyện, Leo cảm kích vô cùng. Anh mang ơn ông lão vì chính ông đã hoàn lại cho anh sự sống. Lập tức anh cùng cháu trai của mình đến tạ ơn ông.
    Nhưng ông lão lại chỉ vào Tony, khẽ nói: “Trước hết, tất cả chúng ta đều phải cám ơn Thượng Đế. Ngài ban cho anh cháu Tony. Chính tình yêu đơn sơ nhưng cháy bỏng của cháu đã kéo Thượng Đế vào cuộc, và Ngài đã trao quyền năng, lòng xót thương của Ngài trên sự sống của anh và cuộc đời chúng ta.
    Kế đến, chúng ta cám ơn cháu Tony. Chính sự hiền lành và tình cảm dạt dào của cháu đã khiến tất cả những ai nghe biết đều phải mềm lòng trước nỗi đau của đồng loại.

    Chúng ta cám ơn những người đã được Thượng Đế dùng như dụng cụ của Ngài để cứu sống anh.

    Chúng ta cám ơn nhau, vì mỗi chúng ta đều cần đến nhau. Tôi tặng anh chút tiền trong khối tài sản của mình, nhưng anh đã cho tôi niềm vui trọn đời. Vì từ nay, chỉ cần nhìn thấy anh hạnh phúc bên cháu Tony nhỏ bé là tôi hạnh phúc vô cùng. Chắc chắn sẽ không còn nỗi buồn nào xâm chiếm tâm hồn tôi.

    Tôi cám ơn anh. Căn bệnh của anh càng lúc càng khiến tôi tin mãnh liệt vào Thượng Đế. Nơi cái chết mà anh trải qua và sự sống kỳ diệu của anh hôm nay là bằng chứng của tình yêu mà Thượng Đế ưu ái dành cho chúng ta.

    Cuối cùng, tôi tin rằng, trong cuộc sống này, NẾU TÌNH NGƯỜI ĐỦ LỚN, thì dù chỉ một đô-la, vẫn đủ sức cứu sống một con người, anh ạ…”.

    Về mục lục

     

    LỜI NÓI VÀ VIỆC LÀM

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Có người đã nhận định một cách khôi hài: từ miệng đến bàn tay, khoảng cách không bao xa, mà phải mất nhiều thời gian đến thế! Cũng từ miệng đến bàn tay, chẳng bao xa, mà lời nói đã phôi phai nhạt nhòa. Điều đó có nghĩa, việc làm cụ thể phù hợp với lời nói thật khó biết bao. Người ta thường nhắc đến những mỹ từ, những công thức văn chương, như những câu thuộc lòng, nhưng ít khi người ta chú trọng đến việc thực hiện những ngôn từ ấy trong cuộc sống cá nhân của mình. Trung tín và làm theo những gì đã nói, quả thật là một điều thật khó khăn. Lời Chúa hôm nay muốn chúng ta suy tư về điều này, đồng thời nhắc ta hãy cố gắng làm cho lời nói đi đôi với việc làm.

    Lâu nay, trong quan niệm truyền thống, các ngành nghề như bác sĩ, giáo viên luôn được tôn trọng, vì họ là những người làm việc theo lương tâm nhà nghề. Tuy vậy, nhiều sự kiện xảy ra gần đây cho thấy, những người mang danh hiệu cao quý này cũng đánh mất niềm tin, có nghĩa là lời nói của họ không đi đôi với việc làm. Đáng buồn hơn nữa, giữa những cộng đoàn đức tin hoặc những người lãnh đạo tinh thần của các cộng đoàn, việc làm của họ cũng không phản ánh trung thực như những gì họ thường tuyên xưng. Đó chính là một rào cản lớn cho sự phát triển của Giáo Hội và cho công cuộc truyền giáo. Làm sao mà chứng từ của chúng ta có tính khả tín, khi giữa cộng đoàn đức tin còn nhiều tranh chấp, chia rẽ, khi lối sống của chúng ta hoàn toàn đi ngược với những gì chúng ta nói và rao truyền?

    “Hỡi Israen, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy, anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em đã phán với anh em”. Qua những lời này, ông Môi-sen muốn khẳng định với những người Do Thái: những mệnh lệnh Chúa truyền dạy không thể chỉ được lắng nghe, nhưng phải được thực hành. Một số người Do Thái đạo đức quá chú trọng đến tuân giữ Lề luật một cách tỉ mỉ, mà lại lãng quên việc thực thi tinh thần của Lề luật. Vì vậy, Chúa đã khiển trách họ: “Dân này chỉ tôn kính Ta bằng môi bằng mép, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6). Thực hành lời Chúa dạy là bảo đảm cho chúng ta được hạnh phúc đời này và đời sau. Lời hứa miền đất tràn trề sữa và mật, trong truyền thống Do Thái, là niềm hy vọng nuôi dưỡng niềm tin của dân riêng Chúa đã chọn. Đối với người Ki-tô hữu, đó chính là hạnh phúc đời đời Thiên Chúa ban cho những ai thực thi lòng mến Chúa yêu người.

    Mến Chúa hết lòng và yêu tha nhân như chính mình. Có thể nói, hai vế của giới luật này bao gồm lý thuyết và thực hành. Bởi lẽ, yêu mến Chúa chỉ được thể hiện qua những công thức hoặc qua những lời cầu nguyện tôn vinh, còn yêu tha nhân thì phải được thực hành bằng những việc làm cụ thể. Nói mến Chúa xem ra không khó, nhưng yêu người thực sự là vô cùng khó khăn. Những ai chỉ khẳng định mình mến Chúa, mà trong thực tế, không thực hiện đức yêu người, xem ra họ chỉ dừng lại ở lời nói, mà chưa thể hiện qua việc làm.

    Trước câu hỏi của ông kinh sư: “Đâu là giới răn hàng đầu?”, Chúa Giê-su muốn nhắc lại giới răn quan trọng của Cựu ước, là giới răn mến Chúa yêu người. Theo nội dung Tin Mừng, dường như Chúa Giê-su muốn kết hợp hai giới răn này thành một, khi Người gọi vế thứ nhất là “điều răn đứng hàng đầu, và sau đó Người tuyên bố: “Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều đó”. Như thế, giáo huấn của Chúa thâm sâu hơn giáo huấn của Cựu ước. Lời kinh được ghi trong sách Đệ nhị luật (Bài đọc I) được gọi là “Shema Israel – Nghe đây, Israel” được coi như kinh Lạy Cha của các Ki-tô hữu hôm nay. Đó là lời kêu gọi hãy mến Chúa một cách trọn vẹn. Giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ dừng lại ở tâm tình mến Chúa, mặc dù đó là tình mến “hết lòng, hết dạ, hết sức”, nhưng thúc đẩy mọi người chứng tỏ tình mến ấy qua những hành động cụ thể với những con người bằng xương bằng thịt đang sống xung quanh.

    “Ông không còn xa nước Thiên Chúa bao nhiêu!”. Đây vừa là lời tán thưởng, và cũng là lời cảnh báo. Chúng ta không biết rõ ông kinh sư có thực thi những gì Chúa dạy, hay ông chỉ học thuộc lòng như một cái máy. Tác giả Mác-cô kết luận: “Không ai dám chất vấn Người nữa”. Đây là cách diễn tả rất độc đáo của Thánh Mác-cô, vì dưới ngòi bút của tác giả, lời giảng dạy của Chúa Giê-su luôn có sức thuyết phục ngay cả những đối phương của Người, vì Người là vị Ngôn sứ cao cả và uy quyền.

    Lời nói phải đi đôi với việc làm, mến Chúa phải được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân. Đó là thông điệp quan trọng mà Lời Chúa muốn nhắn gửi chúng ta. Thành tâm đón nhận và chuyên cần thực thi Lời Chúa sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc trong tâm hồn, và hân hoan tin tưởng hướng về đời sau.

    Về mục lục

    .

    LUẬT TỐI THƯỢNG

    Tgm. Ngô Quang Kiệt

    Không có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái. Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật. Họ giữ luật cặn kẽ chi li. Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ. Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay. Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường. Hôm nay, nhân một thắc mắc rất hợp lý, Chúa Giêsu đã giải thích cho họ những điểm then chốt trong lề luật. Đó là:

    Thiên Chúa là độc nhất vô song. Đây là một chân lý nhưng nhiều khi bị lãng quên. Thiên Chúa là chủ tể muôn loài. Ngài là Đấng duy nhất cao cả. Không ai có thể sánh bằng. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống của muôn loài muôn vật. Ngài là mục đích của muôn loài muôn vật. Vũ trụ chỉ tồn tại trong Ngài. Vì thế ta phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

    Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Tuy nhiên Chúa là chúa tể mọi loài. Quyền uy vô song tuyệt đối. Nhưng Ngài là Thiên Chúa rất mực yêu thương. Ngài ban cho ta sự sống. Ngài nhận ta làm con của Ngài. Ngài cai quản vũ trụ không bằng quyền uy nhưng bằng tình thương. Ngài là người cha luôn yêu thương con cái. Ngài mong muốn ta đáp lại bằng tình yêu mến Ngài. Yêu mến Thiên Chúa không những là điều công bằng và hợp tình hợp lý, mà còn đem lại cho ta sự sống và hạnh phúc. Xa lìa Thiên Chúa đưa ta đến diệt vong vì mất sự sống và mất hạnh phúc. Nhưng con người yếu hèn, lại bị ma quỉ cám dỗ, nên thường lãng quên Thiên Chúa, coi thường Thiên Chúa và phản bội tình yêu của Ngài.

    Yêu tha nhân như chính mình. Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.

    Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng tình yêu là quan trọng nhất. Tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật. Như câu kết của kinh Mười điều răn: Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: Trước kính mến một Thiên Chúa trên hết mọi sự. Sau lại yêu người như mình ta vậy.

    Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn cho ta hiểu rằng lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật. Như lời Chúa mời gọi: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”.

    Qua lời dạy hôm nay Chúa muốn giúp ta xây dựng một thế giới mới chan chứa tình người. Thế giới còn chiến tranh, xã hội còn nhiều bất công vì con người chưa tuân giữ luật Chúa. Nếu mọi người biết yêu mến Chúa và yêu mến nhau, thế giới sẽ tươi đẹp, cuộc sống sẽ hạnh phúc.

    Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa.

    GỢI Ý CHIA SẺ

    1) Yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Bạn có thấy điều này là hợp tình hợp lý không?

    2) Tại sao ta phải yêu mến tha nhân?

    3) Bạn hãy tưởng tượng ra một thế giới trong đó mọi người giữ luật yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân. Bạn thấy thế giới đó thế nào?

    Về mục lục

    .

    SỐNG YÊU THƯƠNG GIỮA THẾ GIỚI HẬN THÙ

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Hàng ngày đọc tin tức ta sẽ thấy chán ngán thế sự mà thốt lên như Nguyễn Du đã từng than rằng:

    “Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

    Vâng”, mạng xã hội chúng ta sẽ thấy gì?

    Tôi đã thấy mộtbác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.

    Tôi cũng thấy những nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt, những sinh viên ra trường phải trao thân mới có việc làm. Tôi còn thấy bộ trưởng gíao dục mặc nhiên cho phép sinh viên bán dân 3 lần, nếu lần thứ tư mới bị đuổi học!

    Tôi còn thấy những bảo mẫu đánh trẻ không chút nương tay. Những nghịch tử bất hiếu ra tay độc ác với đấng sinh thành.

    Tôi không chỉ thấy một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc,màcả người vợ ân ái lại chặt chồng thành nhiều khúc vất vương vãi trên đường.

    Tôi thấy người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp… Còn rất nhiều tin.

    Đây là những hình ảnh đáng buồn của con người Việt Nam hôm nay.  Sự hoà khí, hoà hợp giữa con người với nhau đang mất dần mà thay vào đó là bạo động, là tranh chấp, thù hận. . . Ngày nay, người ta có thể đánh nhau, thậm chí giết người vì những nguyên nhân nhỏ nhặt. Chuyện đi đường va chạm giao thông, va chạm không xin lỗi, nhìn đểu, nói lớn tiếng, nặng lời,…đều dẫn đến ẩu đảgây thương tích cho nhau.

    Không chỉ bạo lực trong sinhhoạt thường ngày mà ngay cả những nơi thánh thiêng của lễ hội Chùa chiền vẫn có những thảm án đẫm máu bởichen lấn, giành giựt . . . như ở Đền Trần hay Đền Gióng  , . . .

    Các chuyên gia tội phạm cho rằng đây là hệ lụy của sự vô cảm, thái độ sống ích kỷ, chỉ biết mình, tâm lý chụp giật, tôn thờ vật chất, sống thực dụng… dẫn đến thái độ sống thơ ơ trước nỗi đau đồng loại, vô cảm trước việc làm sai trái xảy ra hàng ngày.

    Xã hội là vậy nhưng còn người Công giáo thì sao? Liệu chúng ta có thể sống làm chứng cho tình yêu như Thiên Chúa mời gọi hay không?

    Trong những dịp bác ái cứu trợ tôi thấy người Công giáo ít ra không vô cảm với khổ đau của tha nhân. Ai cũng rộng lòng của ít lòng nhiều cùng chia sẻ với những người bị thiên tai. Tôi cũng thấy rất nhiều những cá nhân tự nguyện dấn thân để đem tình thương đến cho người nghèo, người tâm thần, người bất hạnh qua những chén cơm, chén cháo đầy tình nghĩa. Tôi cũng thấy nhiều giáo xứ, nhiều đoàn hội bao bọc cho một cô nhi viện hay một nhà dưỡng lão dành cho người vô gia cư.

    Đây là nét đẹp của người Công giáo. Đây là điểm son mà chúng ta cần phát huy hơn nữa. Vi chưng “người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau”.

    Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta là người ky-tô hữu phải biết sống yêu thương. Yêu thương là lẽ sống của người tín hữu. Yêu thương cũng là nét đẹp của người tín hữu. Yêu thương là trở nên giống Thầy Giê-su. Vì Thầy đã từng làm gương về một đời sống yêu thương.

    Cuộc đời Chúa Giê-su luôn yêu thương. Ngài yêu thương nhân loại nên luôn xả thân cứu người. Từng hơi thở. Từng bước chân của Ngài luôn là những nhịp cầuyêu thương. Ngài đã trở nên khuôn mẫu cho mọi tình yêu, vì “không có tình yêu nào cao quý hơn, tình yêu dám thí mạng vì bạn hữu”.

    Hôm nay Chúa bảo người biệt phái: “ông không còn xa Nước Trời bao nhiêu”. Từ ngữ không còn xa như muốn nói tình trạng của ông hiểubiết luật nhưng chưa thực sự sống yêu thương. Ông hiểu luật. Ông biết luật mến Chúa yêu người. Nhưng cái biết còn phải đi đến thực hành mới vào được Nước Trời.

    Là người ky-tô hữu Chúa cũng bảo “không phải ai nói lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời đâu”. Điều quan yếu là thực hành những điều Chúa dạy mới được ở bên Chúa trong Nước Trời.

    Ước gì chúng ta hãy noigương ThầyGiê-su để trở thành con người đẹp, con người có nhân cách, có nghĩa khí trước mặt mọi người. Xin cho chúng ta được vào Nước Trời khi sống những điều mình tin bằng việc mang ra thực hành lời Chúa dạy. Amen

    Về mục lục

    .

    LUYỆN LÒNG NHÂN

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Lòng nhân ái liên quan đến lòng mến Chúa, như là thước đo của lòng mến. Nhân ái là một thành phần quan trọng của con người vốn có và có thể mất đi nếu không chuyên lo bồi dưỡng và thực luyện. Chúa Giê su dạy: Mến Chúa hết lòng hết sức và tha nhân cũng yêu mến như vậy. Luyện lòng nhân ái thế nào như Chúa muốn?

    Nuôi dưỡng tâm tình tạ ơn từ buổi sớm:

    Lòng nhân không ở bên ngoài mà ở bên trong tâm hồn của chính mình. Thế nên, nuôi dưỡng lòng nhân trước tiên là nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng cách nhìn ra những hồng ân Chúa ban. Tạ ơn vì một ngày mới, một sự sống mới của ngày bắt đầu, những bạn bè, những công việc, biết bao điều tốt lành Chúa ban. Nuôi dưỡng là bơm vào tâm hồn mình những điều tích cực để sống ngày vui tươi. Chúa Giê su cũng đã thực hiện như thế mỗi buổi sớm lên núi cầu nguyện và dâng lên tâm tình tạ ơn: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Mt 11, 25)

    Nuôi dưỡng tâm hồn cảm thông.

    “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9, 36). Ai trong chúng ta đều cần có sự cảm thông, vì mỗi người đều có những nỗi niềm riêng và cả những lúc bồng bột trong lời nói, việc làm làm phiền lòng người khác. Lắm lúc chẳng hiểu về chính mình tại sao lại như thế! Cảm thông là một điều cần thiết tạo nên tính hiệp thông, cùng nhau chia sẻ niềm vui nỗi buồn, san sẻ những lo âu, buồn phiền, giúp nhau sống tốt hơn qua những thăng trầm.

    Thực hành cảm thông

    Cảm thông xuất phát từ lòng nhân ái và từ trong lòng sẽ xuất hiện cần làm gì cho người khác vơi bớt đau khổ. Trong nhiều trường hợp, Chúa Giêsu chữa người què, cho người mù được thấy, chữa những tâm hồn tan nát bằng lòng thương xót… Chính lòng nhân sẽ chỉ làm gì tốt nhất, từ lời nói, việc làm. Khi thực hành lòng nhân, chính mình sẽ thấy nhu cầu chung của mọi người, dù giàu sang hay thấp hèn là đi tìm hạnh phúc và hạnh phúc chỉ tìm thấy được khi sống niềm vui với người khác.

    Tình yêu cao quý là tình yêu chết cho người mình yêu, mang lấy thập giá cuộc đời của nhau. “Thật vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe; nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1Pt 2, 21 – 24)

    Nguyên Tắc Vàng

    “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12)

    Một điều rất đơn giản trong cuộc sống tương quan, thế nhưng cũng đã bao lần làm cho những người khác điều không thích cho mình. Có nhiều nguyên nhân:

    Biết nghĩ cho mình mà không biết nghĩ cho người. Biết tốt cho mình mà không biết tốt cho người… Chung quy cũng vì cái tôi ích kỷ mà đánh mất người khác trong trái tim mình. Bao nhiêu điều sống phiền lòng anh chị em cũng vì cái tôi ích kỷ.

    Để sống như Chúa dạy, đôi khi làm ơn mắc oán, đôi khi bị hiểu lầm, hoặc mình hiểu lầm người khác…

    Nuôi dưỡng đức ái.

    Bằng những thực hành cụ thể, Thánh Phaolô phác họa con đường đức ái: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1 Cor 13, 4 – 7)

    Dành buổi tối kiểm lại đời sống.

    Những gì đã làm được và chưa làm được. “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26). Quyết tâm hơn mỗi ngày “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48)

    Xin Chúa dạy chúng con có lòng thương cảm như Chúa, biết đem ra thực hành Lời Chúa mỗi ngày và sửa lại những lỗi lầm với anh chi em mà chúng con đã vấp phạm.

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Đạo Công giáo có mười giới răn. Những giới răn này do ông Môsê nhận từ  Thiên Chúa trên núi Sinai, để dạy dỗ dân chúng sống theo luật Chúa. Do Thái giáo khi xưa cũng dựa trên Thập giới để răn bảo dân chúng sống theo đường lối của Chúa. Tuy nhiên, qua nhiều thế hệ, họ đã chú giải thêm thành 613 điều luật.Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm không được làm. Họ không đồng ý với nhau được điều răn nào là điều răn trọng nhất, nên hôm nay mới có câu chuyện một luật sĩ đến hỏi Chúa Giêsu :” Trong các giới răn, điều nào trọng nhất ? “.

    Vâng, người luật sĩ là người rất thông luật trong Đạo Do Thái, tuy nhiên đứng trước nhiều luật lệ khuyên làm và cấm làm. người  luật sĩ này cũng phân vân không biết đâu là điều luật quan trọng và đâu là điều con người phải hết sức trân trọng, giữ gìn. Chúa Giêsu đã không trả lời úp mở với người này. Ngài nói ngay:”Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi.Còn giới răn thứ hai : Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi “ ( Mc 12,30-31 ). Chúa Giêsu trích dẫn đoạn văn Shema của dân Ít-ra-en : Sách Đệ Nhị Luật đoạn 6,4-5 :” Nghe đây hỡi Ít-ra-en …”. Đây chính là đoạn văn tóm kết tất cả nội dung và giáo huấn quan trọng trong Sách Luật :” Mến Chúa và Yêu người”. Thực vậy, Đức Giêsu đã nâng giới răn yêu người ngang tầm với mến Chúa. Ngài đã đưa luật yêu người lên tầm cao mới, chiều sâu mới nghĩa là “Nếu ai nói mến Chúa mà không yêu người, đó là người nói láo như thánh Gioan đã quả quyết dứt khoát, mãnh liệt :” Nếu ai nói : “ Tôi yêu mến Chúa “ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không thấy “ ( 1Ga 4, 20 ).

    Thiên Chúa không hiện ra như đã trực tiếp ở với các môn đệ khi xưa để dạy dỗ, uốn nắn các ngài và minh chứng cho các ngài Lòng Thương Xót của Ngài. Ngài dạy các môn đệ thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất và yêu mến tha nhân như chính mình. Ngày nay, Chúa cho chúng ta sống bên cạnh những người xung quanh, họ là hiện thân của Chúa. Chính vì thế, khi chúng ta giúp đỡ,chia sẻ và yêu thương họ là chúng ta cũng đang yêu thương Chúa.Thiên Chúa thật rộng lượng bởi vì qua Đức Giêsu, Ngài đã đồng hóa minh với người đói, người khát, người rách rưới, người nghèo, người tù tội vv…và mỗi lần chúng ta giúp đỡ một trong những người này là gchúng ta đang giúp chính Chúa.

    Chúng ta dành cho Chúa những tình cảm sâu xa,trái tim tinh tuyền của mỗi người chúng ta bởi vì Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, chậm bất bình và hết mực yêu thương. Đàng khác với những cử chỉ chân thành, một nụ cười, một lời nói dịu dàng, yêu thương, chúng ta có thể sưởi ấm tâm hồn của những người đang gặp thử thách, những tâm hồn băng giá cuộc đời. Lúc đó, chúng ta sẽ ra khỏi sự giới hạn của tình yêu bình thường của con người, để vươn cao tới tình yêu Thiên Chúa. Bởi vì, thước đo của tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng là thước đo tình yêu của chúng ta đối với nhau.  Yêu như Chúa yêu :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ).

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con cảm nghiệm sâu xa lời nói của thánh Augustinô :” Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo.Tình yêu có đôi mắt để thấy nỗi bất hạnh và thiếu thốn.Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở và nỗi buồn phiền của tha nhân”.Xin cho chúng con luôn xác tín : Chúng con chỉ thực sự mến

    Chúa khi chúng con hết lòng yêu mến tha nhân.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Người luật sĩ Do Thai đã hỏi Chúa Giêsu điều gì ?

    2.Chúa Giêsu đã đáp lại làm sao ?

    3.Tại sao nói mến Chúa mà không yêu anh em là người nói dối ?

    4.Thánh Gioan đã nói sao về việc này ?

    5.Tại sao không yêu thương nhau, chúng ta không thể mến Chúa ?

    Về mục lục

    .

    THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA

    QUA VIỆC PHỤC VỤ THA NHÂN

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Trong đạo Do-Thái, từ “Mười Điều Răn” Đức Chúa Trời ban cho ông Mô-sê trên núi Xi-nai, các thầy Ráp-bi diễn giải thêm thắt thành 613 điều khoản, trong đó có 248 điều buộc và 365 điều cấm.

    Khi có người thông luật đến hỏi xem điều răn nào trọng nhất trong số 613 khoản luật ấy, Chúa Giê-su trả lời ngay: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi (Đnl 6,5); Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Lv 19,18). Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mác-cô 12, 29-31)

    Chúa Giê-su nhập hai giới răn thành một

    Điều răn mến Chúa được ghi trong sách Đệ Nhị Luật, điều răn yêu người được chép ở sách Lê-vi, thuộc về hai bộ sách khác nhau đã được Chúa Giê-su liên kết thành một điều răn duy nhất là mến Chúa yêu người.

    Thế nhưng, có nhiều tín hữu vẫn xem việc mến Chúa và yêu người là hai điều riêng biệt, chẳng liên hệ gì đến nhau. Người ta tưởng có thể hết lòng tôn kính phụng thờ Thiên Chúa nhưng đồng thời vẫn ghét bỏ, bạc đãi con người.

    Chúa Giê-su phá bỏ quan điểm sai lầm đó khi nối kết giới răn mến Chúa và yêu người thành một và Người nhấn mạnh rằng chính khi yêu người cũng là lúc mến Chúa và tình yêu đối với Thiên Chúa phải được thể hiện qua tình yêu thương anh chị em chung quanh và những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa.

    Tại sao lại như thế?

    Thiên Chúa và con người chỉ là một

    Khi Sao-lê bắt bớ các tín hữu đầu tiên theo Chúa Giê-su, ông bị Chúa Giê-su quật ngã trên đường Đa-mát và Người lên tiếng quở trách: “Sao-lê! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?”

    Thực ra, lúc bấy giờ, Sao-lê chỉ lùng bắt các tín hữu của Chúa Giê-su thôi, còn Chúa Giê-su thì đã phục sinh và lên trời rồi thì làm sao có thể bắt bớ Người được. Vậy mà Chúa Giê-su không hạch ông: “Tại sao ngươi bắt bớ các tín hữu của Ta”, mà lại nói: “Tại sao ngươi bắt bớ Ta” (Cv 9, 4).

    Sở dĩ Chúa nói như vậy là vì các ki-tô hữu là hiện thân của Chúa, là những chi thể trong thân mình Người, nên ai bắt bớ họ là bắt bớ Chúa.

    Đặc biệt qua dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su dạy cho ta biết Người đồng hóa mình với những anh chị em chung quanh khi phán rằng: “Những gì các ngươi đã làm cho các anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta” và “những gì các ngươi đã không làm cho các anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã không làm cho chính Ta”. (Mt 25, 40.45)

    Dựa vào lời dạy trên đây của Chúa Giê-su, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI, qua sứ điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” cũng xác nhận rằng Thiên Chúa và con người chỉ là một. Ngài viết:

    “Chúa Giê-su đồng hóa mình với những người cùng quẫn, những người đói khát, những khách lạ, những kẻ trần truồng, đau yếu và những người đang trong vòng lao lý. Người phán: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25:40) Như thế, mến Chúa và yêu người đã trở thành một: Trong những người anh em bé nhỏ nhất, chúng ta tìm thấy chính Chúa Giêsu… (sđd số 15)

    Việc phụng thờ Thiên Chúa phải đi đôi với việc phục vụ con người.

    Phát xuất từ sự thật Thiên Chúa đồng hóa với con người và những gì ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa Giê-su, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI dạy rằng việc phụng thờ Thiên Chúa phải đi đôi với việc phục vụ con người, không được phép xao lãng một trong  hai. Ngài viết: chúng ta “không thể tách rời tình yêu mến Thiên Chúa và tha nhân vì cả hai chỉ là một giới răn duy nhất.” (sđd số 18)

    Qua số 22 trong sứ điệp nầy, Ngài viết tiếp:

    Vì thế, “tình yêu đối với các quả phụ, kẻ mồ côi, người bị tù đày, người bệnh tật và người túng thiếu dưới mọi hình thức, thì cũng thiết yếu đối với Hội Thánh như là cử hành các bí tích và rao giảng Tin Mừng. Hội Thánh không thể lơ là việc phục vụ bác ái cũng như không thể lơ là việc ban các bí tích và rao giảng Lời Chúa.” (sđd số 22)

    Lạy Chúa Giê-su,

    Chúa tự đồng hóa mình với con người và mỗi người thật sự là một phần thân thể của Chúa là một sự thật lớn lao cao cả trước mắt mọi người; thế mà tiếc thay, không mấy ai nhìn thấy, không mấy người nhận ra; mà vì không nhận ra sự thật cao cả nầy nên con người liên tục gây ra vô vàn đau thương, bất hạnh cho nhau trên cõi đời nầy.

    Xin ban Thánh Thần Chúa cho chúng con và cho toàn thể nhân loại, để Người khai mở tâm hồn mọi người nhận ra sự thật vĩ đại nầy; nhờ đó, nhân loại sẽ luôn được sống trong hòa bình và yêu thương.

    Về mục lục

    .

    TÌNH YÊU LÀ SỰ HOÀN THIỆN CỦA CON NGƯỜI

    Lm. GB. Trần Văn Hào

    Một nữ văn sĩ đã viết: “Cuộc đời con người vốn trống trải như một quán trọ. Không ai trên cõi đời này có thể sống mà không yêu một người nào hay yêu một cái gì. Bao giờ trái tim còn rung lên những nhịp đập, bao giờ đôi mắt còn nhìn thấy mặt trời mọc, mặt trời lặn bên kia đồi, bao giờ còn khoảng cách mênh mông của những vì tinh tú trên bầu trời cao, con người còn phải yêu để sống”.

    Tư tưởng của nhà văn ngụ ý nói rằng tình yêu là một nhu cầu thiêng liêng và cao quý của kiếp sống hiện sinh nơi mỗi người chúng ta. Chỉ có gỗ đá và thú vật mới không biết rung cảm và yêu thương, còn đã là người, chúng ta cần phải yêu để có thể tồn tại. Đó là quy luật thiết yếu mà Thiên Chúa đã đặt để nơi cuộc sống mọi người.

    Nhưng thật trớ trêu, người ta đã và đang lợi dụng cũng như bóp méo ý niệm thân quen này. Có những tình yêu đáng lẽ rất trong sáng, lại bị đánh đổi bằng chút ít tiền bạc. Có những tình yêu thoi thóp nơi những trái tim chỉ biết đợi, biết chờ mà không bao giờ được đáp trả. Có những bạn trẻ lao đầu vào những cuộc tình quái gở, vội trao ban những gì quý giá nhất của đời con gái để suốt đời phải ôm một nỗi sầu mênh mang. Có những con người điên điên khùng khùng rao bán tình yêu chỉ với vài ba chỉ vàng, hoặc dùng vốn tự có để đổi lấy một mảnh tình rách. Biết bao phũ phàng và xót xa vẫn đang xảy ra đặc biệt nơi các bạn trẻ, khi họ muốn vươn tới một tình yêu trong sáng nhưng không thể nào có được. Ai cũng biết và cảm thấu sự cao quý của tình yêu, nhưng tình yêu thực sự là gì?

    Các bài đọc Lời Chúa hôm nay vạch dẫn cho ta câu giải đáp. Những môn đệ của Đức Giêsu phải thâm tín rằng không thể có một tình yêu chân chính nếu không quy tập về chính Thiên Chúa, bởi lý do giản đơn như thánh Gioan tông đồ đã xác quyết: “Thiên Chúa là tình yêu”. Nói cách khác, Thiên Chúa vốn tự bản chất là Tình yêu, đã thiết định một lề luật căn bản nơi nội tâm mỗi người, đó là luật yêu thương. Càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, con người càng trở nên hoàn hảo, và trở nên giống Thiên Chúa.

    Giới răn quan trọng nhất

    Mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và vị kinh sư mà Tin mừng hôm nay thuật lại xoay quanh chủ đề ‘Đâu là giới răn quan trọng nhất’. Chủ đề này đã được Đức Giêsu lập đi lập lại khá nhiều lần, ví dụ qua bài giảng trên núi, hoặc khi Ngài nói chuyện với chàng thanh niên muốn nên trọn lành, và đặc biệt trong diễn từ Chúa nói với các học trò trước khi đi thụ nạn. Quả thật, Đức Giêsu đến trần gian không phải để sáng lập một tôn giáo, nhưng để công bố cho chúng ta một Tin mừng, đó là tin mừng về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Ngài chính là bí tích biểu thị tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một Ngài” (Ga 3, 16). Đức Giêsu chính là nhịp cầu nối kết con người với Thiên Chúa, đồng thời cái chết của Ngài trên Thập giá chính là câu định nghĩa hoàn hảo nhất về tình yêu Thiên Chúa dành trao cho ta. Tình yêu mà Ngài nói tới không phải là những biểu hiện tình cảm ngốc nghếch mà rất nhiều bạn trẻ thường hay nghĩ tưởng. Chúa nói với các môn sinh “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Chúng ta phải học, phải hiểu và phải sao chép lại chính tình yêu mà Đức Giêsu đã diễn bày.

    Tình yêu mà Chúa Giêsu khai mở và giải thích cho vị kinh sư khi ông ta đến hỏi Ngài gồm hai chiều kích: đối nhân và đối thần, tức yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại. Thực sự đây là hai cách diễn bày, nhưng tình yêu chỉ là một thực tại duy nhất. Thánh Giacôbê đã viết: “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà giận ghét anh em, đó là người nói dối” Cụ thể, chúng ta không thể nào mở miệng thưa với Chúa: “Lạy Chúa con yêu mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự”, mà lại không thể nở một nụ cười thân thiện với người hàng xóm bên cạnh. Chúng ta vẫn mở miệng đọc kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ mắc nợ chúng con”, nhưng lắm khi chúng ta vẫn ôm nơi mình biết bao dao găm và lựu đạn khi đến nhà thờ cầu nguyện với Chúa. Những lời cầu nguyện như thế rất giả dối, nhằm đánh lừa Thiên Chúa và rốt cục chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch.

    Tình yêu là sự hoàn thiện của con người.

    Thánh Phanxicô Salê, tiến sĩ về đức ái, đã viết: “ Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người. Đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”. Vì thế, càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chúng ta càng vươn đạt đến sự hoàn thiện theo lời mời gọi của Chúa Giêsu: “ Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em trên trời là Đấng trọn lành.” Hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã đến trần gian để khải thị cho ta Tin mừng về lòng yêu thương của Thiên Chúa. Khi nói chuyện với Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã vén mở cho ông điều này. “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Nhiều nhà chú giải cho rằng đây là câu tóm kết toàn bộ sách Tin mừng, diễn tả sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu. Ngài đi vào trần gian để loan báo cho ta về tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu là tột đỉnh diễn bày tình yêu tuyệt vời này. Trong 3 năm rao giảng, Đức Giêsu đã thiết lập một ngôi trường, ngôi trường đó mang tên Trường học Tình yêu. Ngài quy tập những người học trò để truyền thụ cho họ một môn học duy nhất, đó cũng chính là môn học về tình yêu. Trong bữa tiệc vượt qua cuối cùng trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu để lại cho các môn sinh bản di chúc tối hậu: “Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”; “Cứ dấu này người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em hãy yêu thương nhau.”

    Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai, cho dù người đó hiện như thế nào. Một đứa con đi hoang vẫn được vòng tay cha nó ôm đón khi nó trở về. Một cô gái điếm vẫn có thể bình thản ngồi tâm sự sát kề bên Chúa và hôn lên đôi chân thánh thiện của Ngài. Thậm chí một tên cướp khét tiếng, với một quá khứ đan kín tội ác vẫn có thể là một vị đại thánh, được chính Đức Giêsu mở cửa Thiên Đàng đón đưa vào. Tình yêu Thiên Chúa luôn là một mầu nhiệm khó hiểu, là một nghịch lý vĩ đại và tình yêu ấy trở thành khuôn mẫu nội tâm để tất cả chúng ta noi theo.

    Yêu như Chúa yêu

    Các bài đọc Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta những giáo huấn căn bản về tình yêu. Tình yêu mà Đức Giêsu mời gọi không mang dáng vẻ lãng mạn và ủy mị như nhiều bạn trẻ thường hay mơ nghĩ. Chúa Giêsu đã sống tận căn mầu nhiệm tình yêu và Ngài mời gọi các học trò hãy sao chép lại tình yêu ấy. “ Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Cái chết trên Thập giá là câu định nghĩa tuyệt vời nhất về tình yêu mà Đức Giêsu diễn bày, đồng thời Ngài mời gọi chúng ta dần dần tiến sâu vào quỹ đạo yêu thương độc đáo này.

    Thánh Gioan Tông đồ là chuyên gia về tình yêu. Khi tự giới thiệu về mình, vị tông đồ đã không theo kiểu cách thế gian. Ngài không khoe khoang chức vụ hay học vị của mình như người đời vẫn hay làm, ví dụ: ông Nguyễn Văn A, Tổng giám đốc, Tiến sĩ này, thạc sỹ nọ v..v. Thánh Gioan chỉ nói đơn giản về bản thân mình là ‘Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến’. Trong bữa tiệc ly, Gioan đã tựa đầu vào ngực Chúa, lắng nghe những nhịp đập từ con tim thổn thức của người Thầy quý mến. Đứng dưới chân Thập giá cùng với Đức Maria, Gioan cũng chứng kiến trái tim Chúa mở toang, vọt trào cho đến giọt nước và giọt máu cuối cùng, biểu tượng tình yêu dạt dào như một dòng chảy bất tận. Cảm nghiệm được tình yêu sâu xa này, nên trong Tin Mừng thứ tư và đặc biệt trong cả 3 lá thư Ngài viết, Thánh Gioan hầu như chỉ nói đi nói lại một chủ đề duy nhất, đó là tình yêu “ Hãy yêu như Thầy đã yêu.” Trong bài đọc thứ hai của phụng vụ hôm nay, tác giả thư Do Thái cũng nhắc đến hiến tế Thập giá của Đức Giêsu, như là nguyên mẫu cho tình yêu mà chúng ta được mời gọi sao chép lại.

    Kết luận

    Để kết luận, tôi xin trích dẫn một câu chuyện ngắn của tác giả Trường Long. “Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái hỏi mẹ nó: Sao mẹ lại đuổi bố? Mẹ trả lời “Tại bố hư.” Để đứa bé khỏi vặn vẹo lôi thôi, Người mẹ mua cho nó một cái bánh. Đứa anh từ đâu phóng tới chộp cái bánh bỏ vào miệng. Con bé khóc ré lên bắt đền. Mẹ nó dỗ: “Anh này hư quá, nín đi con, bỏ qua cho anh một lần”. Đứa bé phụng phịu: “Thế sao mẹ không bỏ qua cho bố? Bà mẹ trẻ nhìn xa xăm rồi thở dài: “Ừ, thì ra mẹ cũng hư.”

    Chúng ta cũng dễ thường hay ‘hư’ như thế vì đã không sống triệt để mầu nhiệm tình yêu, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Tình yêu đó đòi hỏi chúng ta phải biết sẵn sàng cho đi và biết quảng đại tha thứ cho nhau. Chúng ta hãy lập lại tâm tình trong kinh Lạy Cha mà chính Chúa Giêsu đã dạy: “Xin Cha tha cho chúng con, như chúng con cũng tha….”. Chúng ta cũng nhớ lại lời dạy của Thánh Augustinô: “Bạn hãy yêu mến đi, rồi bạn muốn làm gì thì làm (Ama et fac quod vis).

    Về mục lục

    .

    YÊU THƯƠNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Các thầy Luật Sĩ hỏi rằng:
    Điều nào trọng nhất, giới răn luật truyền.
    Hỡi Is-ra-él nghe khuyên,
    Hãy yêu Thiên Chúa, tinh tuyền trí khôn.
    Hết lòng, hết sức linh hồn,
    Giới răn tiếp nối, kính tôn mọi người.
    Yêu thương như chính mình ngươi,
    Hai điều trọng nhất, gọi mời thực thi.
    Thưa Thầy, đúng lẽ ai bì,
    Ba Ngôi duy nhất, từ bi vô ngần.
    Mến yêu Thiên Chúa, tha nhân,
    Thì hơn lễ vật, ân cần dâng lên.
    Toàn thiêu hy lễ trong đền,
    Quan tâm nghi thức, để trên bàn thờ.
    Lòng thành tâm thiện mong chờ,
    Thương yêu bác ái, đơn sơ chân thành.

    Giới răn trọng nhất chính là: Yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh chị em như chính mình. Hai giới răn gồm tóm tất cả điều luật Chúa truyền. Chúng ta có thể nói chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết lòng, nhưng khó mà yêu anh chị em. Thiên Chúa vô hình làm sao chúng ta có thể đo lường được tình yêu của chúng ta dành cho Chúa. Nếu chúng ta nói chúng ta yêu Chúa mà ghét anh em mình, chúng ta là những kẻ nói dối.

    Anh chị em là những người ngay bên mà chúng ta không yêu thương được, thì làm sao chúng ta có thể yêu thương Đấng mà chúng ta không thấy và không cảm được. Chúa mời gọi chúng ta không những yêu thương anh chị em mà còn yêu cả kẻ thù. Yêu anh chị em không dễ đâu, vì ngay cả những người trong gia đình đôi khi còn khó thương.

    Yêu tha nhân bao gồm mọi thành phần và không phân biệt. Không chỉ yêu những người chúng ta quen biết hay giầu sang phú qúi hoặc có danh vọng. Yêu mọi người không trừ một ai. Chúa đã yêu thương nhân loại. Chúa yêu thương chúng ta trước. Ngài hạ thân làm người cũng chỉ vì yêu. Chúa đã yêu đến nỗi đã hy sinh mạng sống vì người yêu. Một tình yêu vô điều kiện. Chỉ có tình yêu mới có thể làm những việc vĩ đại như thế. Đôi khi người ta nói yêu như điên rồ.

    Tại sao mẹ Têrêxa và các Nữ tử Bác Ái dám ôm những kẻ cùi hủi, bệnh hoạn, vết thương hôi thối vào trong lòng ? Các Dì đã nhìn thấy gì nơi những người hấp hối, nếu không phải là hình ảnh của Chúa Kitô. Làm sao các Dì dám động sờ vào vết thương lở loét hôi thối và bẩn thỉu đó? Tình yêu của Chúa phủ trùm tất cả.

    Tình yêu dẫn chúng ta đến việc hy sinh và phục vụ tha nhân. Chúa ẩn náu nơi những kẻ nghèo hèn và nơi những mảnh đời bất hạnh. Mỗi lần chúng ta bày tỏ tình yêu thương với họ là chúng ta đang bày tỏ tình yêu thương chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đồng hóa chính mình với những kẻ bần cùng nhất. Phục vụ tha nhân là phục vụ chính Chúa

    Yêu Chúa, yêu người sẽ hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh. Lạy Chúa, chúng con yêu mến Chúa. Xin cho chúng con biết chia xẻ tình yêu Chúa nơi anh chị em chúng con.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Kính thưa anh chị em,

    Bài Tin Mừng hôm nay chúng ta đã nghe đi nghe lại nhiều lần. Những gì Chúa muốn nói với chúng ta qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta cũng dư biết. Ở đây tôi chỉ xin được đưa ra một vài nhận định để rồi sau đó chúng ta cố rút ra một vài bài học thực tế cho chúng ta.

    1. Trước hết là vấn đề được đặt ra với Chúa hôm nay.

    Đây là vấn đề vốn được bàn cãi rất nhiều trong giới Rabbit Do thái.

    Vào thời của Chúa Giêsu thì Luật được coi là chính thức gồm 613 điều trong đó có 248 điều buộc phải làm và 365 điều cấm không được làm.

    Vấn đề mà người luật sĩ đặt ra với Chúa hôm nay không phải là vấn đề con số nhưng là giá trị. Trong số những khoản luật đó, khoản nào là quan trọng nhất?

    Để trả lời, Chúa Giêsu đã trưng ra hai điều luật tương đối được nhiều người cho là quan trọng. Điều thứ nhất như sau:

    “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Giavê Chúa chúng ta là Thiên Chúa độc nhất

    Đây là điều mà người Do thái coi là hết sức quan trọng. Chính vì thế mà

    + họ phải được đọc câu này lên mỗi khi khởi sự giờ thờ phượng trong nhà hội,

    + những người Do thái ngoan đạo còn ghép câu này lại trong các thẻ bài bằng da rồi đeo trên trán và trên cườm tay để đọc mỗi khi cầu nguyện

    + Rồi còn được chép lên một tấm bảng đặt vào trong một hộp nhỏ hình trụ gọi là Mezuzah để treo lên trước cửa nhà cũng như trên cửa các phòng trong nhà, để nhắc cho người ta nhớ đến Chúa lúc đi ra cũng như đi vào.

    Khi Chúa Giêsu trích dẫn câu này và coi như một điều răn quan trọng, thì ai cũng thấy điều đó là quá đúng rồi, không còn phải bàn cãi chi nữa.

    Tiếp đến Chúa trưng ra một câu thứ hai. Câu này được trích từ sách Lêvi 19,18.”Hãy yêu thương người lân cận như chính mình” Trong câu này, Chúa Giêsu có sửa đổi lại một chút. Sách Lêvi xác định rất rõ kẻ lân cận là người Do thái, chứ không bao giờ bao hàm cả những người ngoại bang, là kẻ mà dân Do thái được phép thù ghét. Còn Chúa khi trích dẫn câu này thì Ngài không xác định, cũng không giới hạn đối tượng của nó. Như vậy Ngài đã lấy một điều luật cũ rồi đổ vào đó một ý nghĩa mới.

    Và sau đây mới là điều hoàn toàn mới: Chúa ghép chung hai điều răn này lại với nhau. Trước đó chưa hề có một rabbit nào dám làm như vậy. Với việc ghép chung lại như thế, Chúa muốn xác định một cách dứt khoát đạo của Chúa là đạo Tình yêu: Yêu Chúa và yêu người. Và Ngài cũng ngụ ý dạy rằng phương pháp duy nhất để người ta chứng minh được mình yêu mến Thiên Chúa  yêu thương người khác.

    Ông kinh sư hôm nay quả là một người rất thông minh. Ông nắm bắt được ý của Chúa một cách rất nhanh. Ông cũng là người biết tôn trọng sự thật, dám công khai nhìn nhận những điều Chúa dạy là đúng là phải trước mặt mọi người.

    1. Nội dung câu chuyện đơn sơ như vậy, nhưng nó cho chúng ta thấy cốt lõi đạo của Chúa nằm ở chỗ nào: Nằm trong hai tiếng yêu thương.

    Thánh Gioan Tông đồ viết: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu. (1Ga 1, 7- 8).

    Albert Camus một nhà văn lớn của Pháp tuy không có cảm tình gì mấy với Chúa Giêsu nhưng ông cũng đã nói một cách rất chân thành: “Nếu tôi phải viết một cuốn sách về luân lý, thì cuốn sách ấy sẽ dài 100 trang, mà 99 trang để trống, trên trang cuối cùng, tôi sẽ viết: tôi chỉ  biết có một nghĩa vụ, và nghĩa vụ đó là yêu thương.”

    Pascal cũng đã từng nói: “Tất cả những gì không dẫn đến yêu thương đều là giả tạo.”

    Léon Bloy Bạn sống như thế nào đối với người bạn thân của bạn mỗi ngày: kính trọng hay khinh khi? Nào bạn không biết rằng Đức Kitô ở giữa mọi người, Ngài đảm nhiệm tất cả, gánh chịu tất cả, đau khổ vì tất cả. Bởi thế, xúc phạm đến một người là xúc phạm đến Ngài, hạ nhục một người là hạ nhục chính Ngài, nguyền rủa một người là nguyền rủa chính Ngài, giết hại một người là giết hại chính Ngài.”

    Mục tiêu của toàn bộ Kinh thánh cũng chính là lòng bác ái yêu thương.

    Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô viết: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, trừ phi là tình mến, vì kẻ yêu người là chu toàn lề luật.”

    Chúa Giêsu đã đến không phải là để hủy bỏ lề luật và các tiên tri, mà là để kiện toàn. Và Ngài kiện toàn lề luật bằng cách qui mọi giới răn và lệnh truyền vào giới răn: mến Chúa yêu người. Luân lý Kitô-giáo do đó không phải là một hệ thống gồm những điều phải làm và những điều không được làm, mà thiết yếu là con đường dẫn đến sự sống và hạnh phúc thật.

    1. Không có tình yêu cuộc sống sẽ không còn ý nghĩa nhưng sống yêu thương điều đó mới đẹp làm sao!

    Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:

    – Bằng vào dấu chỉ nào người khác nhận ra các con là người Công giáo?

    Không có tiếng trả lời. Rõ ràng không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự tòng một câu trả lời đúng. Bất chợt một ứng viên trả lời:

    – Đó là “Tình yêu”.

    Hãy nhớ lại lời của Chúa Giêsu: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con thương yêu nhau”.

    Tại đất nước Bangladesh, một trong những nước nghèo nhất thế giới, có một người đàn ông nọ đi bộ về nhà sau một ngày làm việc cực nhọc tại xưởng thợ.

    Vì quá mệt mỏi, ông dừng lại ngồi nghỉ dưới bóng cây ven đường và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khuôn mặt tiều tụy của ông khiến người đi đường tưởng ông là một người hành khất kiệt sức và ngất xỉu. Và người ta chạnh lòng thương, ai đi qua cũng bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu.

    Khi thức giấc người công nhân già hết sức ngạc nhiên thấy chiếc mũ cũ kỹ của mình đầy những đồng xu. Số tiền đếm được còn nhiều hơn một ngày công thợ của ông. Ông mỉm cười tự nghĩ mình đã là một người hành khất bất đắc dĩ.

    Trên đường về nhà, ông nhìn thấy nhiều người ăn mày đui mù tàn tật, ông lặng lẽ chia đều cho họ số tiền vừa mới nhận được. Và hơn ai hết, người công nhân nghèo ấy hiểu được: được nhận lãnh và được chia sẻ cũng đều là một niềm hạnh phúc không gì có thể sánh bằng.

    Lạy Chúa,

    xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin

    để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,

    nơi khuôn mặt khốn khổ

    của tất cả những người bị thử thách,

    những kẻ đói không chỉ vì thiếu của ăn,

    nhưng vì thiếu Lời Chúa;

    những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,

    nhưng còn vì thiếu sự bình an, sự thật,

    công bằng và tình thương;

    những kẻ vô gia cư,

    không chỉ tìm kiếm một mái nhà,

    nhưng còn tìm trái tim hiểu biết, yêu thương; những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,

    không chỉ trong thân xác,

    nhưng cả trong tinh thần,

    bằng cách thực thi lời hy vọng này:

    “ Điều các con làm cho

    người bé mọn nhất trong anh em

    là các con làm cho chính Ta”.

                                             Mẹ Têrêxa Calcutta

    Về mục lục

    .

    TIN MỪNG CHÚA NHẬT 31

    Jorathe Nắng Tím

    Do Thái giáo là đạo có rất nhiều lề luật, nhiều đến độ đi đâu, ở đâu, tín đồ cũng bị luật xâm xoi, xét nét; làm gì cũng bị luật trói buộc, đe loi, ngăm nghe trừng phạt. Người Do Thái giáo nói về luật như thực thể thần thiêng và chu chắm giữ từng đòi hỏi rất chi tiết của mọi điều luật. Chính vì tinh thần vị luật và trong bầu khí nặng nề, ngột ngạt vị luật này, câu hỏi đã được đặt ra cho Đức Giêsu hôm nay trong Tin Mừng Máccô : “Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?” (Mc 12, 28).

    Nhiều người đã muốn hỏi Đức Giêsu câu hỏi này, vì tận thâm tâm, tất cả đều mong đợi một cải cách để đời sống đạo nhẹ nhàng, dễ thở hơn; để gánh lề luật từ nay sẽ bớt trì nặng đôi vai, nên khi  nghe viên ký lục đặt câu hỏi, ai nấy đều vui mừng, thở phào nhẹ nhõm.

    Trả lời trước đám đông, Đức Giêsu đã rất vắn gọn trình bầy  Luật mới của Ngài:  “Giới răn thứ nhất là : Hãy lắng tai nghe, hỡi Israel, Chúa Thiên Chúa của chúng ta là  Chúa độc nhất và ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết trí khôn ngươi và hết cả sức lực ngươi. Thứ đến là ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình. Hẳn không có giới răn nào khác lớn hơn các điều ấy”  (Mc 12, 29-31).

    Đức Giêsu đã chính thức công bố đạo mới của Ngài là Đạo yêu thương : Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất và thương mến anh em đồng loại như chính mình.

    1. Yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất:

    Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng độc nhất, là Đấng Cứu Độ độc nhất, là Đấng Quan Phòng độc nhất luôn gìn giữ, chăm nom các thụ tạo của Ngài, trong số đó, con người là thụ tạo được Thiên Chúa dấu yêu đặc biệt.

    Tính độc nhất nơi Thiên Chúa nói lên Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tất cả chúng ta đến từ Ngài, thuộc về Ngài, quy chiếu về Ngài, và sẽ trở lại với Ngài. “Thuộc về Thiên Chúa” là căn tính và  hạnh phúc của con người. Thuộc về một Đấng toàn năng, chúng ta còn sợ ai, sợ gì ? Thuộc về một Đấng yêu thương, chúng ta còn lo lắng chi, xao xuyến  nỗi gì ? Thuộc về một Đấng nắm toàn quyền sinh tử của mọi thụ tạo, chúng ta còn băn khoăn, hoang mang gì trước tương lai ?

    Sở dĩ chúng ta chưa “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa, chưa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Chúa; chưa  yêu mến Chúa hết mình, yêu mến Chúa bằng cả đời sống, yêu mến Chúa bằng hết con người, là vì chúng ta chưa xác tín: Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.

    Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng tạo dựng độc nhất, nên chúng ta vẫn chờ ở đâu đó một sức mạnh dự phòng, để giúp chúng ta, nếu Thiên Chúa chơi không đẹp , khi không nghe lời ta cầu xin. Vì chưa đủ tin Thiên Chúa là Đấng cứu độ độc nhất, nên chúng ta vẫn giấu giếm ở ngõ ngách nào đó trong cuộc sống một hình bóng thần linh khác với Thiên Chúa độc nhất, để hy vọng được cứu mạng, nếu chẳng may Thiên Chúa nổi giận bỏ rơi ta. Vì không dám đặt để trọn vẹn niềm tin nơi Thiên Chúa là Tình Yêu độc nhất tuyệt đối, nên phiá sau con tim, ta vẫn giữ những dáng dấp khác Thiên Chúa, với chút hy vọng sẽ được ủi an, vỗ về ngày Chúa nổi cơn lôi đình xua đuổi ta xa khỏi mặt Ngài.

    Tóm lại, trong tương quan với Thiên Chúa, ta vẫn muốn đi nước đôi, vừa thân thiết với Thiên Chúa độc nhất, vừa thân thiện với những đối tượng không thân thiết, thân thiện với Thiên Chúa. Và tâm hồn ta sẽ ở trong tình trạng bị giằng co, căng thẳng, mâu thuẫn, cho đến khi ta thực sự và quyết tâm thuộc trọn về Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất.

    Như thế, điều kiện để có thể yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực, nghiã là yêu một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất của đời ta từng giây phút của cuộc sống, yêu Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói, việc làm , yêu Thiên Chúa mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, tình huống, thì tiên vàn chúng ta phải xác tín Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  tuyên xưng:  ngoài Ngài ra, không còn một thiên chúa nào khác.

    1. Thương mến anh em đồng loại như chính mình:

    Giới răn thứ hai chỉ là mặt sau của giới răn thứ nhất: Yêu mến Thiên Chúa, bởi một khi đã “toàn tâm toàn ý, toàn thân” yêu mến Thiên Chúa độc nhất rồi, chúng ta sẽ tự động nhận ra hạnh phúc được thương mến anh em đồng loại như mình, bởi chính tình yêu Thiên Chúa thúc bách, lôi cuốn, hướng dẫn chúng ta đến với anh em, đi vào trái tim người khác bằng chính con đường tình yêu của Chúa.

    Như chúng ta biết, định luật tự nhiên và căn bản của tình yêu là thông ban hạnh phúc của mình cho người khác, do căn tính của tình yêu là : ước mơ và làm cho người khác được hạnh phúc. Vì thế, khi đã thuộc trọn về Thiên Chúa là Tình Yêu rồi, khi đã hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực yêu mến Thiên Chúa rồi, chúng ta không thể không thương mến anh em mình, bởi Tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa thúc bách chúng ta trao ban hạnh phúc mình đang có trong tình yêu với Thiên Chúa cho mọi người chung quanh, bởi mọi người đều là đối tượng của một Tình Yêu độc nhất tuyệt đối là Thiên Chúa.

    Kinh nghiệm còn cho chúng ta thấy: tình yêu rất năng động  và không bao giờ chịu ngưng nghỉ. Chẳng thế mà khi đã thực sự yêu ai, ta yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu bất chấp mọi chống đối, rào cản, hoàn cảnh khó khăn. Tình yêu dâng hiến cho Thiên Chúa cũng vậy, sẽ không nằm yên hưởng thụ, không đóng cửa gài then, nhưng bung ra xa, mở rộng mãi, phóng  tới những đối tượng mới, những đối tượng không chỉ của tình yêu trong ta, mà còn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa . Nói cách khác, khi đã yêu Thiên Chúa rồi, ta không thể không yêu anh em đồng loại, vì lúc đó, ta không còn yêu anh em bằng tình yêu nhỏ bé, bất toàn của mình, nhưng bằng tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, Đấng sẽ  dìu ta đến gặp tha nhân, bởi Ngài cũng yêu thương họ như yêu thương chúng ta.

    Hơn thế nữa, khi yêu ai, ta muốn họ hạnh phúc, bằng  làm vui lòng họ, nên ta sẽ qúy người họ yêu, thương người họ mến. Vì thế, sẽ không ngạc nhiên khi người yêu mến Thiên Chúa sẽ mến thương anh em mình, bởi đó là ý muốn của Thiên Chúa, bởi đó là điều làm vui lòng Thiên Chúa hơn cả. Sở dĩ Ngài muốn chúng ta yêu anh em đồng loại như chính mình, vì Ngài đã tạo dựng mọi người,  yêu thương mọi người, muốn cứu độ  mọi người, trao ban hạnh phúc cho mọi người , bằng cớ là Ngài đã chết cho mọi người được sống, cũng như làm mưa nắng trên cả người lành, kẻ dữ, không loại bỏ, ruồng rẫy một ai.

    Vâng, Đức Giêsu đã đến trong thế giới, không  để loan báo khơi khơi một sứ điệp, và lập ra một tôn giáo mới với  giáo lý và lề luật nặng nề, gò bó;  nhưng vạch rõ con đường Tình Yêu  Chúa đã đến với con người và  hành trình Tình Yêu con người đến với Thiên Chúa. Trên con đường tình này, Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau cách sống động, cụ thể, trong mọi sinh hoạt của đời sống con người.

    Tóm lại, Thiên Chúa của Kitô giáo không  xa vời, huyền hoặc  nhưng  ở giữa con người để yêu thương. Tình yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu không còn là tình yêu chỉ để súyt xoa chiêm ngưỡng, nhưng là tình yêu  hiện diện, chia sẻ cứu sống về phiá Thiên Chúa, đồng thời về phiá con người, tình yêu ấy  làm rạo rực  tim người, làm phấn khởi đời người, và mang về hạnh phúc cho con người biết yêu mến Thiên Chúa và mến thương anh em mình.

    Tin Mừng là Lời Thiên Chúa, và Lời Thiên Chúa là chân lý vĩnh cửu, nên chúng ta sẽ không còn thắc mắc như những người Do Thái xưa : Giới răn nào là giới răn trọng nhất ?  Bởi chỉ có một giới răn duy nhất dành cho những người đi theo Đức Giêsu, đó là yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa độc nhất, và  thể hiện tình yêu ấy bằng làm theo ý muốn duy nhất của Thiên Chúa, ý muốn vừa đẹp lòng Ngài, vừa đem lại hạnh phúc đời đời cho chúng ta là thương yêu anh em như chính  mình.

    Về mục lục

    .

    VIỆC LÀM CỦA ĐỨC TIN LÀ ĐỨC ÁI

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Trong Do Thái giáo có tất cả 613 điều luật. Học thuộc những điều luật này đã là khó, nói chi đến việc cắt nghĩa cho chính xác và tuân thủ vẹn toàn. Vì thế trong đầu óc một tín hữu Do Thái giáo luôn thấp thoáng câu hỏi: Luật nào là quan trọng nhất?

    Không có dân tộc nào say mê luật như dân tộc Do Thái. Người Do Thái đặt ra đủ các thứ luật. Họ giữ luật cặn kẽ chi li. Họ học luật ngay từ khi còn nhỏ. Họ đeo cả lề luật trên trán, trên tay.Nhưng vì quá say mê luật nên họ bị luẩn quẩn trong một mớ bòng bong, không còn biết giữ luật thế nào cho đúng, không còn biết đâu là luật quan trọng đâu là luật bình thường.

    Ðạo Do Thái dựa trên 10 điều răn. Trải qua các thế hệ, họ chú giải thêm thành 613 luật. Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm làm. Họ không đồng ý với nhau về điều luật nào trọng nhất, nên trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, có một luật sĩ đã đến hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?”. Chúa Giêsu, trích dẫn sách Đệ nhị luật, đáp: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và tâm trí của ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất”. Chúa Giêsu nói thêm điều mà vị tiến sĩ Luật không hỏi: “Giới răn thứ hai giống như giới răn thứ nhất: ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình”. Cả giới răn thứ hai này Chúa Giêsu không sáng chế ra, nhưng ngài lấy lại từ sách Lêvi. Sự mới mẻ của Ngài hệ tại đặt hai giới răn này chung với nhau – mến Chúa và yêu người – qua đó Ngài tỏ lộ rằng hai giới răn ấy không thể tách biệt, nhưng bổ túc cho nhau. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã bình giải rất hay về vấn đề này trong Thông điệp “Thiên Chúa là tình yêu”.

    Cũng đặt vấn nạn về điều răn lớn nhất, nhưng Tin Mừng Luca cho ta một câu hỏi lý thú và sâu sắc: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10,25). Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy điều răn quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất trong toàn bộ cuộc sống con người là điều răn yêu thương: yêu thương Thiên Chúa trước hết và trên hết, rồi đến yêu thương người lân cận như Chúa Giêsu đã yêu thương ta. Yêu mến Chúa nên yêu thương người lân cận, và yêu thương người lân cận chứng tỏ ta có lòng yêu mến Chúa. Chính lòng yêu thương Chúa và tha nhân ấy làm ta trở nên giống Chúa, được chia sẻ phẩm chất của Ngài, nghĩa là có sự sống đời đời như Ngài.

    Chúa Giêsu đã nâng luật yêu người ngang với luật mến Chúa. Ngài đã kết hợp thành một luật duy nhất: “Mến Chúa yêu người”.

    1. Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.

    Thiên Chúa là chủ tể trời đất. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật. Ngài là nguồn mạch sự sống và là cùng đích của muôn loài muôn vật.

    Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả con cái. Cho nên người tín hữu yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Thiên Chúa là quan trọng nhất của con người.

    Thực tế ở đời có rất nhiều điều quan trọng, tuỳ ở hoàn cảnh và tuỳ ở từng người. Nhưng nếu điều gì cũng quan trọng nhất thì cuối cùng chẳng có gì là nhất cả, mọi sự đều tương đối. Mọi sự đều tương đối, nhưng mọi sự đều quan trọng, kể cả niềm tin tôn giáo, kể cả Chúa. Đó là não trạng của con người thời nay, là cám dỗ của thời đại.
    Người tin Chúa và theo Chúa, cũng có người nghĩ như vậy: tiền quan trọng, mà Chúa cũng quan trọng. Có những người khá hơn, trên lý thuyết vẫn cho Chúa là quan trọng nhất, nhưng trong thực tế có những lúc tiền bạc, tình yêu và thành công ở đời cũng quan trọng như Chúa.

    Nhiều người nghĩ rằng ở thế gian này không có gì là duy nhất, kể cả những điều loài người thường cho là cao quý như là chân thiện mỹ chẳng hạn. Có những điều đối với người này là chân lý, đối với người kia lại là sai lầm; đối với người này là tốt, đối người kia là không; đối với một số người là đẹp, đối với những người khác là xấu. Không có gì tuyệt đối ở trần gian. Cám dỗ tương đối hoá mọi sự là cám dỗ lớn nhất của thời đại chúng ta. Cám dỗ này rất nguy hiểm. Dễ sa ngã vì con người không muốn bị ràng buộc và hướng chiều về hưởng thụ.

    Thế gian không có gì là duy nhất, không có gì là tuyệt đối.

    Thiên Chúa là Siêu Việt, là Vĩnh Hằng. Mọi sự đều qua đi. Chỉ có Chúa mới là quan trọng nhất, chỉ có Chúa mới là Tuyệt Đối. Do đó chúng ta được mời gọi yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực của mình.

    Chúa Giêsu đã lập lại lời kêu gọi đó, khi trả lời cho người thông luật muốn hỏi trong các giới răn điều nào quan trọng nhất. Yêu mến Thiên Chúa là điều quan trọng nhất.

    2. Yêu tha nhân như chính mình.

    Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa. Còn hơn thế nữa, yêu tha nhân chính là yêu Chúa. Vì Chúa đã tự đồng hóa với con người, với những người bé nhỏ nhất trong xã hội. Điều này chính Chúa Giêsu đã công khai minh định: “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Thành ra hai giới răn chỉ là một. Đó chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.Thánh Gioan quả quyết: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là một kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng mà họ không thấy” (1Ga 4,20); “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn ở trong bóng tối”(1Ga 2,9).

    Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

    Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật.

    Lề luật của Chúa cô đọng trong một thái độ là yêu mến.Giữ luật mà quên yêu mến có thể dẫn đến óc nệ luật.Giữ luật phải trở nên phương thế để bày tỏ tình yêu. Vì “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

    3. Việc làm của Đức tin là Đức ái.

    Thánh Giacôbê nói một câu bất hủ: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). “Việc làm” mà Thánh Tông Đồ nói đến là thực hành bác ái. Thánh Phaolô ca ngợi đức mến: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng,chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13,1).

    Đức tin và Đức mến liên hệ mật thiết với nhau.

    Trong Tông thư “Cánh Cửa Đức Tin”, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viết: Năm Đức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác ái. Thánh Phaolô nhắc nhở : “Vì vậy giờ đây còn lại ba điều là đức tin, đức cậy và đức mến. Nhưng lớn hơn cả là đức mến” (1Cr 13,13). Và Thánh Giacôbê Tông Đồ, với những lời càng mạnh hơn nữa, luôn thúc đẩy các tín hữu Kitô, quả quyết rằng : “Hỡi anh chị em, nếu một người nói mình có đức tin mà lại không có việc làm thì ích gì ? Đức tin ấy có thể cứu họ được không ? Nếu một người anh em, chị em, không có y phục và lương thực hằng ngày và một người trong anh chị em nói : “Hãy đi bình an, hãy sưởi ấm và ăn no” nhưng lại không cho họ những gì cần thiết cho thân thể họ, thì hỏi có ích gì ? Đức tin cũng vậy, nếu không có việc làm đi kèm, thì tự nó là đức tin chết. Trái lại một người có thể nói : “Anh có đức tin và tôi có việc làm; hãy tỏ cho tôi đức tin không có việc làm của anh, và tôi, qua việc làm tôi chứng tỏ cho anh đức tin của tôi” (Gc 2,14-18).

    Đức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Đức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô.

    Nhờ đức tin, chúng ta có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình thương của chúng ta. “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40) : những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. Đó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc sống. Được đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, trong đó có công lý cư ngụ” (2 Pr 3,13 ; x. Kh 21,1). (Porta Fidei, Số 14).

    Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN nói về mối liên hệ đức tin và đức mến: Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công Giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Số 7).

    Dưới ánh sáng Lời Chúa Giêsu, tình yêu là mực thước đức tin, và đức tin là linh hồn của tình yêu. Chúng ta không còn có thể tách biệt đời sống tôn giáo ra khỏi việc phục vụ anh em, những người anh em cụ thể mà chúng ta gặp. Chúng ta không còn có thể tách biệt kinh nguyện, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong các bí tích, khỏi sự lắng nghe tha nhân, gần gũi cuộc sống của họ, nhất là những vết thương của họ.

    Luật mới của Chúa Giêsu chính là mức độ hoàn hảo nhất của Mười Điều Răn. Đoạn cuối của kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai nầy mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.”

    Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con: mến Chúa yêu người là điều răn quan trọng nhất, xin cho con biết sống và liên lỉ thực hành giới răn này trong đời sống thường ngày của con.

    Về mục lục

    .

    THỰC HÀNH MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI TRONG CUỘC SỐNG

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG:  Mc 12, 28b-34

    (28b) Khi ấy, có người trong nhóm kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (29) Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”.(32) Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm. Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Ngòai Người ra không có Đấng nào khác. (33) Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ tòan thiêu và hy lễ. (34) Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

    2. Ý CHÍNH:

    Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu trả lời của Đức Giê-su cho vị kinh sư Do Thái khi ông chất vấn Người về điều răn nào là quan  trọng nhất trong tòan bộ Luật pháp Mô-sê. Người đã nêu ra hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như yêu chính mình. Ông kinh sư cũng nhất trí như vậy và còn cho rằng hai điều này có giá trị hơn mọi của lễ tòan thiêu và hy lễ dâng lên Đức Chúa tại đền thờ.

    3. CHÚ THÍCH:

    -C 28b-30: +Có người trong nhóm kinh sư: Kinh sư hay Luật sĩ là những nhà chuyên môn về Thánh kinh vì nghiên cứu Thánh kinh kỹ lưỡng và lâu dài. Số ít trong nhóm kinh sư là tư tế, nhưng phần lớn là thường dân ủng hộ lập trường của nhóm Pha-ri-sêu. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Các kinh sư là người giải thích và áp dụng Luật Mô-sê vào đời sống của dân chúng. Các kinh sư cùng với thượng tế và kỳ mục là ba thành phần trong Thượng hội đồng Do thái tại Giê-ra-sa-lem (x. Cv 23,6). +trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?: Trong Tin Mừng Mát-thêu viết cho Kitô hữu gốc Do Thái, câu hỏi là “điều răn nào lớn nhất ?” (Mt 22,35). Còn ở đây Tin Mừng Mác-cô viết cho Kitô hữu gốc lương dân, đã sửa lại câu hỏi theo nghĩa ưu tiên:”điều răn đứng đầu?. Thực ra các nhà kinh sư thời đó thường tranh cãi để tìm ra trong số 613 điều răn trong Thánh Kinh, gồm 248 điều buộc và 365 điều cấm, đâu là điều luật quan trọng nhất. Cho tới lúc ấy các kinh sư vẫn chưa thống nhất ý kiến. Ông kinh sư tin Đức Giê-su là “Đấng rao giảng có uy quyền” sẽ cho câu trả lời chính xác. +Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.: Đức Giê-su đã trích khỏan Luật Mô-sê được những người Do Thái đọc mỗi ngày 2 lần (Đnl 6,5). +“Nguơi phải yêu mến Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết  sức lực ngươi”: Thiên Chúa là chủ tể muôn loài, là Đấng duy nhất cao cả. Chính Ngài đã dựng nên muôn vật, là nguồn sự sống và là cùng đích mọi loài. Vũ trụ chỉ tồn tại được nhờ Ngài và trong Ngài. Vì thế người ta có bổn phận phải biết ơn và yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

    -C 31-33: +Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình: Người Do Thái vẫn mang nặng khuynh hướng bài ngọai theo Luật Mô-sê: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù” (Mt 5,43). Ở đây Đức Giê-su thêm “Điều răn thứ hai trích trong Luật Mô-sê (Lv 19,18): Tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người thân cận là bản tóm lược mười điều răn ghi khắc trên hai bia đá là “mến Chúa và yêu người”. +Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Ngòai Người ra không có Đấng nào khác: Vị kinh sư biểu lộ thái độ đồng ý với quan điểm của Đức Giê-su và nhắc lại câu trả lời của Người để nhấn mạnh tính duy nhất của Thiên Chúa (Đnl 4,35; Xh 8,6; Is 45,21), Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân có liên hệ mật thiết với nhau. +Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình: Ông kinh sư nhắc lại khía cạnh tri thức của tình yêu. + là điều quý hơn mọi lễ tòan thiêu và hy lễ: Khi nhận định như vậy, ông kinh sư không phủ nhận nghi lễ phụng tự tại Đền Thờ, mà cho thấy nghi lễ phụng tự bị hạ thấp giá trị so với việc thực thi lòng mến Chúa và yêu tha nhân.

    -C 34: +Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu: Ông kinh sư đã hiểu biết và đánh giá đúng điều răn quan trọng trong Luật Mô-sê. Điều này cho thấy ông đã suy nghĩ giống Đức Giê-su và có khả năng trở thành thành viên trong Nước Thiên Chúa do Người sắp thiết lập (x. 10,13-16).

    1. CÂU HỎI:

    1) Kinh sư hay luật sĩ là ai? Phân biệt với người Pha-ri-sêu thế nào?

    2) Luật Mô-sê gồm bao nhiêu điều khỏan buộc và cấm? Tại sao ông kinh sư lại hỏi Đức Giê-su về điều luật nào quan trọng và đứng đầu trong bộ Luật Mô-sê?

    3) Đức Giê-su đã trả lời cho ông kinh sư khỏan luật quan trọng nhất thế nào? Ngừơi Do thái mỗi ngày phải đọc lại khỏan luật này mấy lần?

    4) Đức Giê-su cũng cho biết điều luật thứ hai cũng quan trọng không kém là khỏan luật nào? Hai điều luật này tóm lược Mười điều răn do ai trao cho ông Mô-sê và được ghi khắc trên hai tấm bia đá?

    5)Thái độ của ông kinh sư trước câu trả lời của Đức Giê-su thế nào?

    II. SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en. Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. (30) Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. (31) Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó”(Mc 12,29-31).
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) LÀM SAO CÓ THỂ YÊU CHÚA ĐƯỢC KHI CHƯA GẶP CHƯA THẤY CHÚA?

    Một người mẹ nói với cô con gái nhỏ về tình yêu Thiên Chúa. Cô bé tỏ ra bối rối thưa với mẹ: “Mẹ ơi, làm sao con có thể yêu Chúa được? Con chưa bao giờ gặp Người”. Ít ngày sau, cô bé nhận được một món quà gửi qua đường bưu điện, trong đó có một con búp-bê có thể chớp mắt rất đẹp. Bên cạnh có tấm cart Noel ghi hàng chữ: “Chúc mừng Giáng Sinh vui vẻ. Tặng Maria thân yêu con búp bê, Dì Rosa”. Bé Maria chưa bao giờ gặp dì Rosa vì sống cách nhau hàng ngàn cây số. Khi bé Maria ôm con búp bê vào lòng, em nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, con yêu dì Rosa quá! Dì đã cho con búp bê rất dễ thương này”  Bấy giờ mẹ bé Maria hỏi rằng: “Làm sao con có thể yêu dì Rosa khi chưa bao giờ gặp dì ?”. Maria liền trả lời: “Con biết, nhưng con yêu dì, vì dì đã gởi cho con con búo bê này”.

    2) THƯƠNG NGƯỜI, NHƯNG LẠI SỢ NGƯỜI:

    Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ lâu đời, trên bia mộ có khắc dòng chữ như sau: “Tôi thương người, nhưng lại khiếp sợ người”. Đây là câu nói của Hy Thanh, người nằm trong ngôi mộ. Câu chuyện như sau: thời bấy giờ, Hy Thanh học cách tìm mạch nước ngầm nơi một ông thầy giỏi nghề. Bạn bè nói với anh rằng: “Dưới đất lúc nào mà chẳng có nước. Mày học làm chi cái nghề vô tích sự ấy”. Cha mẹ anh em trong nhà cũng mắng anh: “Nếu mày cứ muốn học nghề đó thì ra khỏi nhà và đừng bao giờ vác mặt về nhà này nữa!” Hy Thanh đành phải bỏ nhà ra đi. Ban ngày anh vừa đi học vừa kiếm chỗ làm phu khuân vác để kiếm ăn. Tối đến xin vào ngủ trong nhà chùa. Anh cứ kiên trì theo học nghề tìm mạch nước ngầm ấy nhiều năm. Hai mươi năm sau, gặp lúc trời hạn hán, các giếng trong làng đều khô cạn hết. Nhiều người bị chết khát vì không kiếm đâu ra nước uống. Bấy giờ, người ta mới chợt nhớ đến Hy Thanh và cử người đến yêu cầu anh tìm mạch nước giúp dân làng. Hy Thanh đã sớm tìm ra mạch nước ngầm và khơi được nguồn nước chảy ra lênh láng. Dân các nơi khác nghe tin kéo đến xin nước uống râ71t đông. Họ vui mừng ca tụng về tài năng xuất chúng của anh. Nhưng rồi có kẻ do khát lâu ngày, đã uống quá nhiều nước bị ngã ra chết. Thế là nhiều người thay vì tỏ lòng biết ơn lại quay ra chửi bới mạt sát Hy Thanh thậm tệ. Lũ người nhà của kẻ bị chết còn hè nhau xông vào đánh đập anh đến chết. Trước khi nhắm mắt lìa đời, Hy Thanh thều thào nói: “Tôi thương người, nhưng lại sợ người”.

    1. SUY NIỆM:

    Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại câu Đức Giê-su trả lời cho ông kinh sư Do Thái khi ông chất vấn Người về điều răn nào là quan  trọng nhất trong Luật pháp Mô-sê. Người đã nêu ra hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa yêu người. Ông kinh sư cũng nhất trí như vậy và còn cho rằng hai điều này có giá trị hơn mọi của lễ tòan thiêu và hy lễ dâng tiến Đức Chúa trong Đền thờ.

    1) MẾN CHÚA HẾT LÒNG VÀ YÊU THA NHÂN NHƯ YÊU MÌNH:

    Ai trong chúng ta cũng đều ý thức về hai bổn phận đối với Thiên Chúa và tha nhân.  Tin mừng hôm nay đã ghi lại lời Đức Giê-su dạy hai điều răn trọng nhất là “mến Chúa hết lòng hết sức và yêu thương tha nhân như yêu mình”. Hai điều răn này tóm lược tòan thể bộ Luật Tô-ra của Mô-sê. Tuy nhiên Đức Giê-su còn nhấn mạnh điều răn thương người chính là điều kiện để biểu lộ lòng mến Chúa và xứng đáng được Chúa vui nhận lễ vật như sau: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Thế nhưng, cụ thể chúng ta phải yêu thương anh em thế nào?

    2) KỶ SỞ BẤT DỤC, VẬT THI Ư NHÂN:

    – Truyền thống Do Thái có câu chuyện như sau: Ngày kia một người tìm đến với thầy SA-MAI, thuộc phái giải thích luật một cách nghiêm khắc và cho biết mình có ý định tìm kiếm chân lý. Ông hỏi: “Thầy có thể dạy tôi tóm lược tất cả các lề luật trong thời gian tôi đứng trên một chân. Vì tôi không thể ở lại Giê-ru-sa-lem lâu được”. Nghe nói thế, thầy Sa-mai nổi giận và truyền đuổi ông ra khỏi nhà mình. Không mất niềm hy vọng, ông ta tìm đến với thầy GIL-LEN, một người vừa thông thái, vừa cởi mở lại vừa phóng khoáng. Trước cùng một câu hỏi được đưa ra, thầy Gil-len đã trả lời ngay:  “Đừng làm cho người khác điều anh không muốn họ làm cho anh. Đó là cái cốt lõi của lề luật. Tất cả những thứ khác, chỉ là để giải thích cho giới luật này mà thôi”.

    – Trong Cưu Ước, Tô-bi-a cha đã khuyên Tô-bi-a con như sau: “Điều con không thích thì đừng làm cho người khác” (Tb 4,15a). Điều không thích còn bao hàm các việc cụ thể như: không nói xấu, không ganh tỵ, không trộm cắp và rất nhiều những điều khác nữa. Nhờ đó cuộc sống của chúng ta sẽ được an vui hạnh phúc. Đức Khổng Tử cũng khuyên đồ đệ tương tự: “Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Còn trong Tân Ước Đức Giê-su dạy các môn đệ thực hành yêu thương theo hướng tích cực: ”Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12).

    3) THỰC HÀNH ĐIỀU RĂN YÊU NGƯỜI CỤ THỂ:

    Yêu thương không chỉ bằng lời nói suông, hay bằng tình cảm nhất thời chóng qua, nhưng bằng các việc cụ thể như kinh Thương Người có mười bốn mối, trong đó thương xác bảy mối và thương linh hồn bảy mối. Thánh Gia-cô-bê cũng đòi các tín hữu phải yêu thương cụ thể như sau: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2, 15-16). “Nhờ hành động mà con người nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin” (Gc 2,24).

    4) YÊU THƯƠNG CỤ THỂ THEO LINH ĐẠO CỦA MẸ TÊ-RÊ-SA CAN-QUÝT-TA:

    Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã dạy các nữ tu thực hành yêu thương tha nhân cụ thể như sau:

    Hãy bắt đầu yêu thương các người thân trong gia đình: “Tôi luôn luôn nói rằng, tình yêu phải khởi sự từ gia đình trước đã, rồi sau đó mới đến thành phố hay đô thị. Yêu thương những người ở xa chúng ta thì dễ, nhưng yêu thương những người sống với chúng ta hay ở ngay bên cạnh chúng ta thì lại không dễ chút nào.”

    Đừng xét đoán hay nói xấu tha nhân: “Nếu bạn xét đoán, bạn sẽ không còn giờ để yêu họ”.

    Hãy quảng đại cho đi: “Bạn phải cho đi những gì làm bạn bị thiệt thòi. Như thế, không chỉ cho đi những gì dư thừa, nhưng cho cả những gì bạn không thể sống nếu không có nó, những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế, món quà của bạn trở thành lễ hy sinh, có giá trị trước mặt Chúa”.

    4. THẢO LUẬN:

    Để thực hành lối sống yêu thương cụ thể nói trên, bạn cần tập sống tình mến Chúa yêu người theo phương cách nào hữu hiệu nhất?

    1. LỜI CẦU: Phục vụ trong yêu thương:

    Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn sống phục vụ trong yêu thương:

    Nơi cộng đoàn, biết tâm đầu ý hợp.

    Trong gia đình, biết mặn mà dễ thương.

    Ngoài xã hội, biết đối xử tốt và thương xót.

    Với mọi người, biết nhân nhượng và tôn kính nhau.

    Khi làm việc, biết siêng năng và tận tình.

    Trong mọi sự, biết tha thứ, chịu đựng và tin tưởng.

    Ở mọi nơi, luôn chiếu tỏa lòng Chúa hiền hậu và khiêm nhường.

    Trước cám dỗ, luôn chiến thắng để bền đỗ trong ơn thánh.

    Nhờ đó, chúng con trở nên tông đồ được Chúa sai đi,

    Mà làm chứng về Chúa cho mọi ngươi.- AMEN.

    (Lời cầu của Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta).

    Về mục lục

    .

    GIỚI RĂN MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

    Khi nói tới điều răn mến Chúa yêu người thì ai cũng cho là một đề tài quá quen và cũ kỹ rồi, nhưng nếu biết cầu nguyện, suy gẫm, tìm hiểu và nghiên cứu thì đây là một đề tài phong phú, nó sẽ gợi mở ra một chân trời rộng rãi và còn nhiều điều mới lạ. Hầu hết chúng ta mới học thuộc lòng điều răn ấy chứ chưa hiểu hết nội dung, nên chưa thực hành đầy đủ  điều răn ấy.

    Cốt yếu của đạo Công giáo của chúng ta là Đức ái “Mến Chúa yêu người” vì Đức Giêsu đã khẳng định : “Ngoài ra không còn điều răn nào khác quan trọng hơn hai điều răn đó” (Mc 12,31).

    Thánh Phaolô nói :”Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”(1Cr 13,13). Thánh Tông Đồ còn khẳng định thêm :”Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người… được ơn nói tiên tri… đem hết gia tài ra bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi”(1Cr 13,1-3). Thế mới biết tầm quan trọng của Đức Ái.

     Điểm đặc biệt trong đạo chúng ta là Đức Giêsu đã nâng giới răn yêu người lên ngang tầm với giới răn mến Chúa và gắn liền hai giới răn đó chặt chẽ với nhau đến nỗi mến Chúa mà không yêu người thì chưa giữ trọn luật Chúa, và ngược lại cũng vậy. Hôm nay chúng ta suy niệm về luật mến Chúa yêu người nhưng chúng ta chú trọng hơn đến luật yêu người để thúc giục chúng ta thi hành luật Chúa cho đầy đủ.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

              + Bài đọc 1 : Đnl 6,2-6

    Ông Maisen nhắc nhở cho dân Do thái phải thi hành luật cao trọng nhất là :”Kính mến Thiên Chúa hết lòng hết sức”. Lòng yêu mến Chúa trong Đệ nhị luật truyền dạy bao hàm trong sự trung thành thờ phượng Thiên Chúa và tuân giữ các giáo huấn của Ngài.

    Dân Do thái tuân giữ giới răn này qua bao thế hệ. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Cựu ước còn thiếu sót vì chỉ chú trọng tới việc yêu mến Giavê, Thiên Chúa duy nhất, mà chưa nói đến việc yêu thương tha nhân.

    Sự thiếu sót này sẽ được Đức Giêsu bổ túc trong bài Tin mừng hôm nay.

              + Bài đọc 2 : Dt 7,23-28

     Thư gửi tín hữu Do thái ca ngợi chức Tư Tế của Đức Giêsu. Chứùc Tư tế của Đức Giêsu Kitô ưu việt trên chức tư tế của dòng họ Lêvi. Nếu so sánh hai chức tư tế ấy chúng ta sẽ thấy :

    – Chức tư tế của Do thái chỉ có một đời người, khi chết thì hết; còn chức Thượng Tế của Đức Giêsu thì vĩnh viễn.

    – Các tư tế Do thái là những người phàm, vướng mắc nhiều tội lỗi; còn Đức Giêsu là vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn.

    – Các tư tế Do thái phải dâng lễ nhiều lần; còn Đức Giêsu chỉ dâng lễ đền tội một lần là đủ.

              + Bài Tin mừng : Mc 12,28b-34

    Một luật sĩ đến hỏi thử Đức Giêsu xem giới răn nào trọng nhất. Câu hỏi xem ra bình thường nhưng là câu hỏi hóc búa. Lý do vì trong 613 khoản luật không nói đến điều răn nào trọng nhất, tùy theo ý chủ quan của mỗi luật sĩ, thích điều răn nào thì cho là điều răn ấy trọng nhất.

    Nhưng Đức Giêsu đã nối kết hai khoản luật ở Đệ nhị luật và ở sách Lêvi trả lời rõ ràng cho luật sĩ  đó là hãy yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và thương yêu tha nhân như chính mình.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

    Hai giới răn trọng nhất

    I. GIỚI RĂN MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

    1. Giới răn trong Cựu ước.

    Ông Maisen là nhà lập quốc và lập pháp đã truyền lại cho dân Do thái mười điều răn của Thiên Chúa. Qua bao thế hệ người ta vẫn trung thành giữ các điều răn ấy.

    Hằng ngày người Do thái sốt sắng cầu nguyện với kinh Shema tựa như kinh Lạy Cha của chúng ta. Trong đó có câu :”Hãy nghe, hỡi Israel, Giavê Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa độc nhất. Ngươi sẽ yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi. Các lời ta truyền cho ngươi hôm nay hãy ở nơi lòng ngươi, ngươi sẽ lặp lại cho con cái ngươi”.

    Đó là một kinh tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất, hết thảy mọi người đều phải tận lực yêu mến Ngài. Tuy mọi người tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa độc nhất nhưng chưa đồng ý với nhau trong một rừng luật như vậy, giới răn nào là quan trọng nhất. Đức Giêsu sẽ trả lời cho họ trong Tân ước.

    Nhân dịp này chúng ta cũng nên tìm hiểu xem thế nào là sách Đệ nhị luật hay Thứ luật.  Ôâng Maisen đã ra luật cho dân nhưng còn tổng quát và ngắn gọn, sau này luật được diễn dịch rồi  tổng hợp thành bộ luật Thorab. Sách Đệ nhị luật không thành hình trong một ngày và do một tác giả nào. Nó cũng không phải là tác phẩm trong thời Maisen. Nó lấy lại luật Maisen, suy đi nghĩ lại và cùng với lịch sử của dân Chúa. Có thể hàng tư tế đã là nguồn gốc của sách này. Thế nên nó được gọi là Đệ nhị luật hay Thứ luật, tức là luật đến sau luật trước, luật bổ khuyết và diễn giải luật pháp Sinai.

    1. Giới răn trong Tân ước.

    Trong thời Đức Giêsu, các luật sĩ là những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh và luật pháp. Chắc chắn họ phải thông hiểu rành rẽ về Kinh Thánh vì đó là lãnh vực chuyên môn của họ. Thế mà có một luật sĩ nêu ra cho Đức Giêsu một câu hỏi kể cũng hơi lạ !

    Nhưng thực ra, vào thời ấy, các luật sĩ đều sôi nổi tranh luận xem giới răn này hay giới răn nọ quan trọng hơn. Họ đã liệt kê ra một rừng giới răn, cả một cánh rừng mù mịt đối với người Do thái. Như vậy, luật Do thái có 613 khoản luật, chia ra 248 việc phải làm và 365 việc không được làm.  Xét về sự quan trọng, người ta lại chia các điều luật đó ra nhiều hạng : khinh giới và trọng giới, đại giới và tiểu giới.  Nhưng các người biệt phái lại không đồng ý với nhau về giới răn nào trọng nhất.  Vì thế, người luật sĩ mới đến dò xem Chúa cho biết điều răn nào là trọng nhất.

     Đức Giêsu đã trả lời cho ông bằng cách đọc lại những lời đầu tiên của kinh cầu nguyện Do thái. Đó là kinh Shema “Hỡi Isrel, hãy lắng nghe” trích trong Đệ nhị luật 6,4-5 :”Hỡi Israel, hãy nghe đây : Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”.

    Nhưng Đức Giêsu không ngừng ở đây, Ngài liên kết giới răn thứ nhất với giới răn thứ hai là phải yêu mến anh em :”Còn đây là giới răn thứ hai : ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi”(Lv 19,18-34).

    Trong văn chương Do thái thời ấy, người ta thường thấy  thủ pháp nối kết như thế. Nhưng ở đây Đức Giêsu quả là bậc thầy tuyệt diệu : Ngài nối kết tình yêu Thiên Chúa với tình yêu anh em, và hợp thành một giới răn duy nhất. Để nêu lên tính duy nhất căn bản đó, Marcô đã không ngần ngại dùng lẫn lộn số ít với số nhiều :”Không có giới răn nào quan trọng hơn những giới răn đó”(J. Hervieux)

    * Hãy yêu tha nhân.   Tha nhân là ai ? Trong Cựu ước chỉ có nghĩa là người gần gũi với người Do thái về huyết thống và chủng tộc.  Nhưng “tha nhân”  mà Đức Giêsu dùng ở đây có ý hiểu về hết mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, người nghĩa thiết hay kẻ thù.

    * Như chính mình ngươi.   Không có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì ngươi làm cho ngươi, nhưng đúng hơn là phải đối xử với kẻ khác cùng một “tình yêu” như ngươi đã xử với ngươi.  Đó là một nét độc đáo của tình yêu Kitô giáo, thứ tình yêu đạp đổ mọi hàng rào ngăn cách chủng tộc, mầu da, vượt lên trên óc phân biệt quốc gia hay tôn giáo, quên đi mọi hiềm khích hay những thành kiến cá nhân hoặc cổ truyền.

    II. NÓI VỀ HAI GIỚI RĂN ĐÓ

    1. Liên hệ giữa hai giới răn.

    Điều mới lạ mà Đức Giêsu làm là ghép chung hai giới răn này lại với nhau. Từ trước cho đến thời Đức Giêsu chưa có ai nhập chung hai giới răn ấy thành một.  Yêu Chúa và yêu tha nhân, hai tình yêu ấy như hai anh em sinh đôi dính liền nhau. Khi tìm được người này, chúng ta sẽ gặp được người kia. Và khi không tìm được người này chúng ta cũng chẳng gặp được người kia.

    Nhưng cần phải phân biệt rõ hai giới răn này. Người ta thường có khuynh hướng hợp nhất hai giới răn này làm một, như thể “yêu Thiên Chúa là đủ” hay “yêu thương anh em” cũng đủ. Giới răn thứ hai không thể thay thế cho giới răn thứ nhất được. Hai giới răn này chỉ là hợp nhất và song hành thôi, chứ giới răn thứ hai không đồng nhất với giới răn thứ nhất được.

    Nếu so sánh tình yêu đối với Chúa và anh em thì có nhiều người tưởng rằng yêu mến Thiên Chúa dễ hơn yêu thương anh em. Bởi vì theo họ, anh em là những con người đầy giới hạn, đầy khuyết điểm, trờ trờ trước mắt, nên dễ làm cho chúng ta khó chịu. Còn Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn tốt lành, chẳng có gì không đáng yêu. Thiên Chúa ở xa không đụng chạm, còn anh em ở gần thì đụng chạm hoài. Thiên Chúa dễ để cho mình “hối lộ”, cứ dâng lễ, cầu kinh rồi Ngài xí xóa mọi chuyện.

    Cũng không phải yêu anh em dễ hơn yêu Chúa, nhưng yêu thương anh em là việc cụ thể nhất mà Thiên Chúa chờ đợi ở nơi chúng ta. Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ lời Ngài. Không yêu thương anh em là không giữ lời Thiên Chúa, tức là không yêu mến Thiên Chúa. Rút cục, hai điều khó như nhau, vì không thể thiếu một trong hai, không thể tách rời để chỉ giữ một trong hai (Phạm văn Phượng).

    1. Tình yêu và hành động.

    Nếu thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có hành động là đức tin chết”, thì chúng ta cũng có thể nói :”Tình yêu không được thể hiện bằng hành động là thứ tình yêu giả dối, chỉ có trên đầu môi chót lưỡi như người ta nói :

    Thương thương nhớ nhớ thương thương,

    Nước kia muốn chảy mà mương không đào

    a) Mến yêu Chúa.

    Muốn mến yêu Chúa, chúng ta có muôn vàn cách để yêu mến Ngài nhưng những cách biểu lộ ấy có tính cách chủ quan, mỗi người một cách, nhưng theo Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại điều kiện tiên quyết để biết ai là người mến Chúa, đó là thực thi Lời Chúa, sống theo giới răn của Chúa. Chúng ta hãy nghe những  lời Chúa dạy :

     “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các điều răn của Thầy… Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy, mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy… Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”(Ga 14,15-21.23).

    b) Yêu tha nhân.

    Muốn yêu tha nhân cho xứng đáng, hãy sống theo khuôn vàng thước ngọc này :”Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy”(Mt 7,12). Hay nói ngắn gọn hơn :”Ngươi hãy yêu thân cận ngươi như chính mình”(Mc 12,30). Yêu mình thế nào, thì phải yêu người như vậy. Tất nhiên mình luôn luôn muốn cho mình được những điều tốt lành, hạnh phúc và lợi ích. Không ai muốn mình bị xấu xa, khổ cực, tai họa; vậy yêu người thì cũng phải làm như vậy cho người.

    Có lần một người mới gia nhập Do thái giáo yêu cầu thầy Hillel dạy ông ta toàn thể thông điệp của luật pháp trong thời gian ông ta có thể đứng trên một chân.  Câu trả lời của thầy Hillel là “Điều gì ngươi ghét thì đừng làm cho người khác. Đó là trọn vẹn luật pháp, phần còn lại là nhằm giải thích, hãy đi và học lấy”.

    Ngay bên  Đông phương, trước Đức Giêsu, Đức Khổng Tử đã để lại một câu nói để đời:”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”: điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Sau này ngài cũng nói một câu khác tương tự nhưng với khía cạnh tích cực :”Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”. Tư tưởng của ngài cũng giống như ở trên.

    c) Tình yêu tha nhân bắt đầu từ đâu ?

    Tình yêu tha nhân phải bắt đầu từ gần đến xa. Nhưng bi đát thay, việc yêu thương tha nhân của chúng ta thường lại gặp thất bại từ đầu ngay trong chính gia đình chúng ta. Không yêu các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ không thể nào yêu thương những người khác được. Và ngược lại cũng thế. Khi yêu thương các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ yêu thương được những người khác nữa.

    Chúng ta hãy đặt một câu hỏi cho mình : Chúng ta đã dành tình thương  cho những người trong gia đình mình thế nào ? Nếu chúng ta trả lời là “chưa mặn mà lắm” thì có lẽ tình yêu ta dành cho láng giềng cũng chẳng thể khá hơn. Và nếu chúng ta chẳng yêu tha nhân, chẳng yêu láng giềng mặn nồng thì chúng ta cũng không thể  yêu mến Chúa nồng nạn được. Ngược lại, nếu chúng ta yêu quí mọi người trong gia đình mình, chúng ta mới có thể yêu quí người hàng xóm, và một khi yêu được người hàng xóm, thì chúng ta cũng dễ dàng yêu mến Thiên Chúa.

    Trong ý nghĩa đó, Thomas Merton đã nói :”Không yêu thương và nhân từ với kẻ khác, thì tình yêu của chúng ta dành cho Đức Kitô chỉ là tưởng tượng”.

    1. Thành quả của hai giới răn đó.

    Nhờ hai tình yêu đó mà con người có thể tìm lại được chính mình. Các tác giả  tu đức nói rằng lệnh truyền của Đức Giêsu đòi buộc chúng ta yêu tha nhân và lệnh truyền của Ngài đòi buộc chúng ta yêu mến Chúa. Hai lệnh truyền đó tương quan mật thiết với nhau đến nỗi nếu chúng ta  không thương yêu anh em mình thì chẳng bao lâu chúng ta cũng chẳng còn  yêu mến Thiên Chúa nữa. Có một câu châm ngôn rất phổ biến diễn tả chân lý ấy thật sống động như sau :

    Nơi nào không có tình yêu, ta hãy gieo tình yêu và ta sẽ gặt được tình yêu,

    Nơi nào không có tình yêu, ta hãy đặt tình yêu vào đấy và ta sẽ tìm thấy tình yêu.

    Tôi đi tìm Chúa nhưng tôi không gặp được Ngài,

    Tôi đi tìm linh hồn tôi nhưng linh hồn trốn né tôi,

    Tôi đi tìm người láng giềng, và tôi gặp được cả ba.

    Chúng ta có thể quả quyết : Bí quyết để gặp được Thiên Chúa và gặp được chính mình là tìm gặp và yêu thương người lân cận của mình.

    III. THỰC HÀNH GIỚI RĂN CHÚA.

    Chúng ta không còn thắc mắc gì nữa. Lệnh truyền của Chúa thật rõ ràng. Phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, nhưng đồng thời  cũng phải thương yêu anh em như chính mình.  Yêu anh em như mình là chuyện khó vì anh em là những con người cụ thể với biết bao những khuyết điểm, dễ va chạm, nhiều khi tha nhân bị coi như kẻ thù của ta.

    Nhìn rõ thực tế đó nên thánh Gioan Tông đồ đã viết :”Nếu anh em cụ thể mà không yêu được thì làm sao có thể yêu  mến Chúa được”(1Ga 4,20)..

    Theo lời thánh Giêrônimô khi Thánh Tông Đồ về già, ngài nguyên giảng về bác ái :”Các con thân mến, các con hãy yêu thương nhau”. Giáo hữu thưa với thánh nhân :”Sao cha giảng điều ấy hoài” ? Thánh Tông Đồ đã trả lời :”Vì đó là điều luật Chúa dạy, và nếu thi hành được  duy một điều đó là đủ rồi”.

    Đức Giêsu đã phán :”Các con muốn được người ta  làm cho các con thế nào thì các con hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6,31). Ngài còn phán thêm :”Hãy cho đi thì các con sẽ được người ta cho lại. Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc đầy tràn tóe ra mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào thì cũng sẽ đong trả bằng đấu ấy”.

    Napoléon tuyên bố không thèm thân với ai, thì ông đã chết đơn độc trong đảo Sainte Hélène

    Hitler, con hùm xám Đức quốc xã, chủ trương dùng bạo lực thì đã chết trong khói lửa đúng theo lời Thánh Kinh “cái ác giết ác nhân”(Tv 33,22).

    Trở lại với bài Tin mừng hôm nay, nghe Đức Giêsu trả lời, vị luật sĩ rất tâm đắc với ý kiến rất khôn ngoan của Ngài và diễn tả tâm tình thiện cảm và xác tín của ông đối với tuyên phán của Đức Giêsu về giới răn trọng nhất :”Mến Chúa và yêu người thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và lễ vật hy sinh”. Việc mến Chúa yêu người có giá trị làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn những lễ hiến dâng có tính cách hy lễ và vật chất.

    Lời phát biểu của vị luật sĩ phát xuất từ sách 1 Samuel 15,22 (bản văn này kêu gọi sự vâng lời).  Lời ấy được lấy lại trong Ôâsê 6,6 (Ta thích lòng nhân từ chứ không thích lễ tế). Người ta có thể nhận biết trong lời đó sự quở trách mà Thiên Chúa, qua các tiên tri, đã ngỏ với dân Ngài : dân chỉ thực hiện những nghi thức nhưng kèm theo bóc lột và những bất công.

    Truyện : Bỏ tội thiếu tình thương

    Thứ tội mà chúng ta phạm nhiều nhất là tội không yêu thương. Tuy nhiên chúng ta lại không coi đó là tội, vì chúng ta vẫn nghĩ  cái gì làm hại đến người khác mới là tội.

    Một người kia bán một chiếc xe “dỏm” cho một người khách lạ. Một hôm anh vừa đi nhà thờ xưng tội ra thì gặp một người bạn. Người bạn nói :”Chắc là anh có kể cho Cha giải tội nghe chuyện anh bán chiếc xe dỏm” ? Anh đáp lại :”Tôi chỉ xưng các tội thôi. Còn chuyện buôn bán thì có ăn thua gì tới ông cha đó” ?

    Một nguy hiểm lớn cho tín hữu thường đi nhà thờ là không thấy sự liên hệ giữa điều họ làm ở nhà thờ ngày Chúa nhật với điều họ làm trong tương quan với người khác vào những ngày trong tuần. Nhiều người xét mình theo đủ mọi điều răn nhưng không hề xét tới những tội thiếu sót; thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu ngay thẳng trong việc làm ăn, thiếu tôn trọng những người sống chung với mình… Đối với những người đó, đạo và đời hoàn toàn tách biệt nhau (Theo Flor McCarthy).

    Mở đầu sách giáo lý Tân Định có một câu hỏi rất hay : Hỏi :”Ta sống ở đời này để làm gì” ? Thưa: “Ta sống ở đời này để nhận biết thờ phượng, kính mến Đức Chúa Trời là Cha chúng ta  và yêu thương mọi người như anh em, cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho ngày sau được hạnh phúc đời đời”.

    Như vậy, cuộc đời con người là phải mến Chúa và yêu người thì mới mong được hưởng hạnh phúc đời đời.  Chính vì thế nữ tu Rosalie mới nói :”Nước Thiên đàng không dành cho những người cằn cỗi yêu thương”.

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

    Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải

    Thưa anh chị em,

    Dân Do thái được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn giữa bao dân tộc khác. Ngoài việc thiết lập Giao ước, Thiên Chúa còn ban cho họ Mười Điều Răn được khắc trong hai Bia Đá, qua đại diện ông Môisê trên núi Sinai. Đó là luật căn bản, nhưng với thời gian, trải qua nhiều thế hệ, giới lãnh đạo Do thái đã giải thích thêm thành 613 điều, chia ra 248 điều tích cực phải làm, và 365 điều cấm làm. Khi đặt ra nhiều luật lệ như thế, thì họ không biết điều nào quan trọng hơn cả.

    Chính vì thế, có một nhà luật sĩ tìm đến hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, trong các giới răn, giới răn nào trọng nhất?”. Đức Giêsu đưa ra hai điều: một trong sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Đnl 6,5). Và một trong sách Lêvi: “Ngươi hãy yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Đó là hai điều căn bản, quan trọng nhất , thật rõ ràng và đầy đủ. Chỗ khác Chúa nói: toàn bộ Thánh kinh và các lời ngôn sứ đều qui tóm lại hai điều đó là: Mến Chúa yêu người thôi.

    Mến Chúa và yêu người tuy không đồng hạng nhưng phải đồng hành với nhau một cách khắng khít. Thánh Gioan tông đồ nói rằng: nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét tha nhân là kẻ nói dối, vì tha nhân là những người cùng chung sống mà chúng ta không yêu thương, thì làm sao yêu mến Đấng vô hình được .

    Thật vậy, Đức Chúa Trời ban 10 điều răn, nhưng chỉ dành 3 giới đầu trong việc thờ phượng kính mến Chúa, còn lại 7 giới răn sau, Chúa dành cho việc đối xử với tha nhân. Như vậy, Chúa coi việc đối xử với tha nhân là thước đo lòng yêu mến Chúa. Thế thì, tại sao ta phải thương yêu tha nhân? Thưa vì :

    Tha nhân là hình ảnh của Chúa (St 1, 26). Ta yêu Chúa thì phải yêu những gì thuộc về Chúa.

    Tha nhân là chi thể của Chúa. Nói theo tư tưởng của thánh Phaolô về mầu nhiệm hiệp thông. Chúa Giêsu là đầu nhiệm thể, còn tất cả chúng ta là chi thể của nhau (1Cr 6,15).

    Tha nhân là giá máu cứu chuộc của Đức Kitô. Đức Kitô đã trả giá rất cao để cứu độ từng người chúng ta, nên chúng ta cũng phải biết kính trọng tha nhân.

    Tha nhân là đền thờ Chúa Thánh Thần. Ngày chúng ta lãnh Bí tích rửa tội, đã trở nên đền thờ Chúa Ba Ngôi ngự trị, vậy ta phải tôn kính đền thờ sống động này (1Cr 6, 19).

    Ấy thế mà thưa anh chị em, thế giới càng văn minh thì dường như phần đông nhân loại trái tim lại hẹp hòi ích kỷ hơn, do chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ. Vì thế, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận định: “Đó là nền văn minh của sự chết “.

    Mặc dầu thế giới văn minh, nhưng vẫn còn rất nhiều nơi thiếu thốn lương thực. Đức Chúa Trời tạo dựng nên vũ trụ này tốt đẹp và ban cho con người trí óc thông minh. Thế mà tại sao vẫn còn tình trạng thiếu thốn đói khát như vậy?. Thưa bởi vì con người thiếu tình liên đới quan tâm đến nhau.

    Phần lớn của cải được cất giữ trong ngân hàng, trong két sắt, tủ áo của những nhà tỉ phú, của những đại gia kếch sù.

    Người ta bỏ ra hàng bao nhiêu tiền của để đầu tư vào những vũ khí tối tân, những thiết bị y tế, nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống con người, nhưng trong khi đó người ta sẵn sàng giết chết những đứa con ngay từ trong dạ mẹ.

    Người ta bỏ bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu tiền bạc, thời giờ đi du lịch nước này nước nọ chơi được, nhưng lại khó lòng dành ra một chút thời giờ đi thăm viếng những người đau yếu, bệnh tật, những người neo đơn bị con cháu bỏ rơi trong những khu ổ chuột ngay trong làng xóm ngỏ chúng ta.

     Có khi người ta không chết vì chén cơm manh áo, nhưng người ta chết vì đói lòng thương xót, đói tình người, đói sự quan tâm chia sẻ với nhau. Cho nên, thế giới ngày nay con người rất cần những tấm lòng yêu thương, đồng cảm, chia cơm xẻ áo cho nhau.

    Xin anh chị em nhớ cho rằng: Ngày nhắm mắt lìa đời, khi đối diện trước mặt Thiên Chúa là người Cha nhân lành. Chúa không hỏi chúng ta mỗi ngày con đi mấy lễ, con vào mấy hội đoàn, con đọc mỗi ngày bao nhiều kinh…. Nhưng chỉ hỏi một điều duy nhất là con có yêu mến Ta không?. Mà thước đo lòng yêu mến Chúa được căn cứ vào đức bác ái đối với tha nhân mà thôi.

    Cầu mong cho mỗi chúng ta, ngày sau hết được nghe những lời Chúa mời gọi: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh lấy phần gia nghiệp là sự sống đời đời mà Cha Ta đã dành sẵn cho các ngươi, vì xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta bệnh tật các ngươi viếng thăm… hãy vào hưởng sự vui mừng hạnh phúc với Ta”(Mt 25, 34-35). Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐẠO YÊU THƯƠNG

    PM. Cao Huy Hoàng

    Nhớ lại, chiều ngày 23-11-2009, Tại Sở Kiện, trong dịp khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, tôi đặc biệt tâm đắc lời phát biểu bằng cung giọng miền Nam rất đơn sơ chân chất của Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn, chủ tịch Ủy Ban Năm Thánh Toàn Quốc: “Người Công giáo Việt Nam hãy viết lại định nghĩa Đạo Công Giáo vào trong cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và cộng đoàn nơi chúng ta sống. Ước mong sử sách sẽ ghi nhận lại định nghĩa này vào trong văn hóa và tiềm thức của mỗi người: Đạo Công giáo – Đạo Yêu Thương, người Công giáo là người luôn ý thức rằng Chúa yêu thương mình và do đó ý thức được bổn phận phải yêu thương tất cả mọi người”.

    Có thể có nhiều triết gia, nhà thần học, nhà ngôn ngữ học, hoặc những người thông thái cho rằng câu nói tầm thường ấy có gì mà đáng tâm đắc. Nhưng với tôi, tâm đắc chính chỗ tầm thường ấy, giản dị ấy mà chất chứa cả một mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

    Có người cho rằng việc yêu thương nhau là chuyện hẳn nhiên như “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”  hoặc “thương người như thể thương thân”, “máu chảy ruột mềm” … theo cách văn hóa của người Việt vốn có từ ngàn xưa trong cái xã hội đình làng, lũy tre, bờ xe, bến nước…

    Nét đẹp văn hóa ấy ở đâu ra? Tự nhiên mà có hay là có cùng thời với Tiếng Việt, cùng thời với việc loan báoTin Mừng cho người Việt bằng Tiếng Việt? Thiết nghĩ, câu trả lời dành cho các nhà sử học.

    Phần chúng ta, có thể hiểu rằng, Tin Mừng đến quê hương này là đã có ngay luật điều căn bản cho người công giáo:

     “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

    Những người công giáo đầu tiên trên đất nước nầy đã sống và giữ luật điều quan trọng ấy đến nỗi người lương có thể nhận thấy và chúc tụng: Đạo Công Giáo chính là Đạo Yêu Thương.

    Bởi cách thể hiện tình yêu thương của người công giáo không giống như của người chưa thấm nhập Tin Mừng. Người công giáo yêu thương người vì kính mến Chúa. Người chưa phải công giáo thì yêu thương người để được người khác yêu thương lại, để tạo một tương quan thuận lợi trong cuộc sống. Vì kính mến Chúa, vì lề luật tích cực của Chúa trở thành một bổn phận của lẽ công bằng: yêu người vì Chúa đã yêu ta, yêu người như Chúa đã yêu ta, cho nên, người công giáo yêu thương cả người thân, kẻ sơ, cả người giàu có lẫn kẻ nghèo khó, cả người thương lẫn kẻ ghét, cả người tôn trọng tự do tín ngưỡng lẫn người bức bách cấm cách, bắt bỏ tù, tra tấn, ngục hình chém giết dã man…Nếu không phải yêu người như Chúa dạy, hẳn là người Công Giáo đã nổi loạn lên rồi, thay vì âm thầm chấp nhận làm chứng cho Đức Tin vào sự sống lại và cầu nguyện cho người dám đưa chân đạp mũi nhọn biết đàng ăn ăn trở lại.

    Nhìn lại Đạo Yêu Thương của những người Công Giáo Việt Nam đi trước chúng ta, là cha ông chúng ta, hẳn mỗi chúng ta phải đặt lại cách sống đúng với Tin Mừng như Chúa muốn, như cha ông ta đã nêu.

    Đạo Yêu Thương bắt đầu nơi các gia đình: vì yêu Chúa, kính sợ lề luật của Thiên Chúa, cha mẹ sốt sắng thờ phượng Chúa qua các giờ kinh chung tối sáng, giờ cầu nguyện chung trong gia đình, nhắc nhớ nhau đời sống bí tích, đời sống giáo hội. Nhờ đó, kín múc ân sủng của Thiên Chúa mà trung thành với nhau trong tình yêu hôn nhân để làm gương sáng cho con bằng một tình yêu tận hiến. Gương sáng Đạo Yêu Thương của gia đình này sẽ là ngọn đèn soi cho gia đình kia, tạo nên một xóm làng sống Đạo Yêu Thương, không kể là lương hay giáo.

    Đạo Yêu Thương từ gia đình đến Giáo Xứ. Uy tín của Chúa Giê-su mỗi ngày mỗi lớn lao, được mọi người tôn kính khi họ nhìn thấy cộng đoàn giáo xứ sống chan hòa yêu thương từ mục tử đến đoàn chiên, từ những người giúp việc giáo xứ đến những người nghèo khổ nhất. Không có gì đau khổ cho Chúa Giê-su bằng việc chính những người có Đạo Yêu Thương lại không yêu thương nhau, không đoàn kết với nhau, lại còn hơn thua nhau, ganh tị với nhau, tố cáo lẫn nhau, và tồi tệ hơn nữa là tranh giành nhau có chức có quyền hơn là tranh giành nhau mà phục vụ mọi người.

    Đạo Yêu Thương của Cộng Đoàn Giáo Hội Địa Phương, cấp Giáo Phận, hẳn là bằng chứng hùng hồn nhất của Giáo Hội Chúa Ki-tô Toàn Cầu. Nếu các Giáo Xứ chân thành nêu gương đời sống yêu thương, hẳn là Giáo Hội Địa Phương của Chúa Giê-su đang có một sức mạnh thẩm thấu thế giới này, cho dẫu là thế giới của những kẻ không muốn tin vào Thiên Chúa. Sự Hiệp Nhất, Nên Một trong Chúa Ki-tô nguồn mạch Tình Yêu, nguồn mạch Sự Sống, không cho phép các Ki-tô Hữu, các cộng đoàn Giáo Xứ tách lìa nhau cách tự trị, nhưng ngược lại, luôn tương trợ nhau trong đời sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

    Dường như Ông Môi-sê cũng đang nói với các gia đình, các giáo xứ, các giáo phận, với tất cả chúng ta “Các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Người mà tôi truyền dạy cho các ngươi, cho con cái cháu chắt các ngươi tuân giữ mọi ngày trong đời sống các ngươi, để các ngươi được sống lâu dài”. (x.Đnl 6, 2-6)

    Và Chúa Giê-su đang nhắc lại:

    “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. (Mc 12, 29-31)

    Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết sống Đạo Yêu Thương để dạy cho con cháu, hậu duệ bằng gương sống “Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

    Về mục lục

    .

    GIỚI RĂN HÀNG ĐẦU

    JM. Lam Thy

    Trong Thánh lễ sáng Thứ Năm (23/3/2018), Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã nói về Tình Yêu Thiên Chúa: “Tình yêu của Thiên Chúa thì giống như tình yêu của một người mẹ. Ngài không bao giờ lãng quên chúng ta. Không bao giờ. Ngài trung thành với giao ước của Ngài. Điều này mang lại cho chúng ta sự an toàn và ngay cả trong những thời khắc khó khăn thì chúng ta cũng có thể chắc chắn rằng Ngài đã không lãng quên chúng ta.” (nguồn: Đài Vatican).

    Tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại đã lên tới tuyệt đỉnh: Vì tình yêu, Người đã dựng nên loài người có nam có nữ; cũng vì tình yêu, Người đã ban cả Con Một làm giá chuộc muôn người. Và chính Con Một Thiên Chúa – Đức Giê-su Ki-tô – luôn luôn dạy: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.” (Mt 7, 12); “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12); “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 15).

    Quả thật tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người là vô cùng vô tận. Ngay khi dựng nên vũ trụ, Đấng Sáng Tạo đã vì tình yêu bao la (tình bác ái) mà dựng nên con người theo hình ảnh Người, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất (St 1, 28). Tuy vậy, nhưng Thiên Chúa vẫn không quên con người là vật thụ tạo (được dựng nên), để tồn tại và phát triển thì vẫn rất cần đến một thứ tình yêu giới tính (tình ái), và vì thế nên “Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.” Và rồi Thiên Chúa phán với con người có nam có nữ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1, 27-28).

    Trong Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu”, Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã lý giải rất rõ ràng về Tình Yêu Thiên Chúa. Luận điểm của ĐGH đã đi từ Cựu Ước tới Tân Ước theo “nhãn quan tôn giáo” (thần học – triết lý siêu nhiên) để nhận định và lý giải Tình Yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Tuy nhiên, ĐGH vẫn không quên “nhãn quan triết học” (triết lý nhân sinh), khi ngài viết: “Chiều kích triết học đáng nêu ra trong hình ảnh Thánh Kinh này, và tầm quan trọng từ quan điểm lịch sử các tôn giáo, là một mặt chúng ta thấy mình đứng trước một hình ảnh rất siêu hình của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối và là nguồn mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng Thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. “Eros” (tình ái) vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với “agape” (bác ái).” (Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu “Deus Caritas Est”, số 19).

    Thời Cựu Ước, Luật Mô-sê đuợc ban bố cho dân thi hành có tới 613 điều (trong đó có 365 điều xấu cấm làm và 248 điều tốt dạy phải làm). Tuy nhiên, giới luật của Thiên Chúa được ghi trên bia đá và trao cho ngôn sứ Mô-sê trên núi Si-nai (Xh 20, 1-21) chỉ có 10 điều, trong đó bao gồm 3 điều về yêu mến Thiên Chúa và 7 điều còn lại là yêu thương đồng loại. Như vậy, rút gọn lại, chỉ còn 2 điều cơ bản: Mến Chúa + yêu người. Và để tìm ra 2 giới luật căn bản này thì lại thấy ở 2 sách khác nhau trong Cựu Ước: Điều răn đầu trong sách Đệ nhị luật: “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng, hết dạ, hết sức của anh (em)”  (Đnl 6, 5); điều răn sau trong sách Lê-vi: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19, 18). Đến thời Tân Ước thì chính Đức Giê-su Ki-tô – hiện thân của Thiên Chúa Tình Yêu – giảng dạy: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” (Mc 12, 29-31).

    Tuy rằng Đức Ki-tô vẫn nói đó là 2 điều răn, nhưng thực chất giới răn này chỉ có một nội dung duy nhất là “Tình Yêu” được thể hiện bằng 2 chiều kích: Mến Chúa + yêu người. Hai chiều kích đó vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau, đan quyện vào nhau, không thể tách rời. Thật vậy, không thể yêu Thiên Chúa cách đích thực mà không yêu tha nhân, và ngược lại, không thể yêu tha nhân mà lại không yêu Thiên Chúa được. Vì thế ngay sau Lời dạy của Đức Ki-tô, thì chính kẻ đã thắc mắc – một kinh sư – cũng phải thốt lên: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” (Mc 12, 32-33); và được Thầy Chí Thánh chúc  phúc: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12, 34).

    Thánh Gio-an đã xác quyết: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4, 20). Và thánh Phao-lô cũng đã viết: “Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5, 14); “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô” (Gl 6,2). Ấy là chưa kể chính Đức Ki-tô trong lời dạy về ngày cánh chung cũng khẳng định: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Muốn yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và sức lực, thì phải yêu tha nhân như yêu chính mình. Và chỉ có yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình mới thực sự là yêu mến Thiên Chúa.

    Ôi! Lạy Chúa! Chúa đã dựng nên con, đã ban cho con một tấm lòng, một trí khôn biết phân biệt thiện ác, biết yêu và ghét, và nhất là đã ban cho con sự tự do tuyệt đối, để con có thể tự quyết định cuộc đời của mình bằng cách lựa chọn một con đường. Con đã sai lầm trong lựa chọn để chỉ biết yêu mình trên hết, co mình vào cái vỏ ốc “ích kỷ” đến độ có thể “hại nhân” (“ích kỷ hại nhân”: lợi mình hại người). Cúi xin Chúa đoái thương, ban cho con một tâm hồn quảng đại, một tấm lòng bao dung độ lượng; xin cho con biết yêu người như yêu chính mình, biết coi tất cả mọi người (kể cả những người thù ghét con) đều là anh em một nhà (“tứ hải giai huynh đệ”), cùng con một Cha trên trời. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÌNH YÊU CHÚA

    Lm Vũdình Tường

    Nhờ có tình yêu Chúa ban mà chúng ta có thể sống trọn vẹn hạnh phúc, tạo được mối giây liên kết mật thiết với Chúa, với tạo vật và với tha nhân. Tình yêu con người thường ích kỉ và có điều kiện. Chúng ta yêu mến thân nhân, thân thuộc và thân hữu và những ai yêu mến ta. Ngoài những người đó ra người khác ta hoặc không có cảm tình hoặc làm ngơ, coi như họ không tồn tại. Tình yêu Chúa giúp ta nhìn thấy Đức Kitô trong mọi người và như thế yêu mến Đức Kitô một cách chân thành là yêu mến tất cả mọi người, không phân biệt ai. Chính sự phân biệt này khiến người Kinh Sư gặp khó khăn làm thế nào để yêu tất cả, nên ông đến hỏi Đức Kitô

    Điều răn nào quan trọng hơn cả c.28

    Ông hỏi thế bởi phong tục của ông hướng dẫn là có những điều răn tối quan trọng và có những điều cấm kị vì thế họ chia lề luật ra thành nhóm bắt buộc phải tuân thủ và nhóm cần thực hành trong cuộc sống. Điều này gây tranh cãi trong lịch sử dân tộc và đưa ra nhiều giải thích, luật buộc khác nhau. Người Kinh Sư mất nhiều giờ nghiên cứu, tìm hiểu và ông không đồng thuận với những khác biệt kia vì thế ông đến gặp Đức Kitô xin sự khôn ngoan nơi Ngài.

    Sau khi nghe Đức Kitô giảng giải ông hiểu rõ điều các tiên tri dậy, điều ông từng nghiên cứu nhưng không hiểu thấu đáo, nay được Đức Kitô khai sáng.

    Điều Ta muốn là tình yêu chứ không phải hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là của lễ toàn thiêu Hs 6,6
    Chúa yêu mến công bình, nhân nghĩa và tâm hồn khiêm nhường Mk 6,6-8

    Đức Kitô nói với người Kinh Sư

    Đức Chúa,Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình c.32

    Đức Kitô đã dùng những điều dậy trong Cựu Ước để giải thích cho người Kinh Sư hiểu rõ hơn về giáo huấn của Chúa. Câu trả lời của Đức Kitô tóm tắt tinh thần giáo huấn của sách Deuteronomy 6,4-5 và sách Levi 19,18. Trong đó hướng dẫn yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân luôn đi chung với nhau. Điều này không thể tách biệt. Tình yêu phải thể hiện qua hành động cụ thể. Chính hành động cụ thể biến tình yêu thành hiện thực. Không ai chứng minh được tình yêu nhưng qua hành động cụ thể con người có thể cảm nhận, nhận biết hành động yêu thương. Nếu chỉ yêu mến người khác bằng cảm nghiệm thì tình yêu đó vừa mông lung vừa trống rỗng bởi nó không có hành động giúp đỡ kèm theo. Yêu người khác bằng hành động cụ thể như giúp đỡ, che chở, bảo bọc trong khả năng của mình chính là làm cho tình yêu Chúa trong ta trở nên thực tế hơn với người cần ta giúp đỡ.

    Điều Đức Kitô hướng dẫn người Kinh Sư là giải thích mới mẻ, thực tế và mang tính cách đổi mới. Thời đó người ta tin việc hiến tế súc vật là dấu chỉ lòng yêu mến thần thánh vì thế người ta không thể nào hiểu được làm thế nào không hiến tế súc vật mà có thể lòng yêu mến. Điều này hiện nay vẫn còn xảy ra qua hình thức dâng cúng gia súc, đốt vàng mã. Đức Kitô dậy Ngài muốn tình yêu chứ không phải hy lễ. Ngài muốn nhân nghĩa và khiêm nhường. Chính nhữn giáo huấn mới mẻ này làm cho người Kinh Sư kinh ngạc và nhận ra giáo lí mới của Đức Kitô. Mặc dù rất khâm phục giáo lí và sự khôn ngoan của Đức Kitô nhưng không thấy bằng chứng nào cho biết người Kinh Sư trở thành môn đệ Đức Kitô. Kính trọng và thán phục chỉ là bước đầu dẫn đến tin theo. Để có thể dấn thân, tin theo cần con tim yêu mến chân thành. Chính tình yêu chân thành phát xuất tự tim thúc đẩy chúng ta bước theo Đức Kitô. Tin theo được thể hiện bằng hành động phục vụ Giáo Hội Chúa và phục vụ tha nhân. Thiếu dấn thân phục vụ chỉ là tin nửa vời.

    Về mục lục

    .

    ĐIỆU LÝ YÊU THƯƠNG

    Trầm Thiên Thu

    Điệu lý là thể loại âm nhạc liên quan quê hương – gọi là dân ca. Các điệu lý có khi rất đơn giản nhưng luôn có sức hút kỳ lạ. Tuy nhiên, trong tất cả các điệu lý hẳn là chẳng có điệu lý nào hấp dẫn và cần thiết bằng Điệu Lý Yêu Thương – đặc biệt là trong lĩnh vực tâm linh.

    MẾN CHÚA và YÊU NGƯỜI là toát yếu của Thập Giới – tóm lược Thánh Luật của Thiên Chúa. Chỉ có hai điều và bốn chữ (theo Việt ngữ), nhưng có thể rút gọn thành Yêu Thương (hai chữ), và cũng có thể cô đọng thành Yêu (một chữ) – gọi là Luật Yêu. Nghe chừng rất đơn giản, và cũng quá quen thuộc, thế mà sao khó thể hiện quá chừng. Vâng, “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

    Có một sự trùng hợp rất kỳ lạ: Luật Chúa gồm hai điều – liên quan chiều dọc (mến Chúa) và chiều ngang (yêu người), Thập Giá cũng gồm hai nhánh – nhánh dọc (hướng tới Thiên Chúa) và nhánh ngang (hướng tới tha nhân). Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai KHÔNG yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì KHÔNG THỂ yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Rất thực tế. Yêu thì phải thật, chứ không thể yêu ảo. Thánh nhân tái xác định: “Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4:21). Rất hợp lý, rất lô-gích.

    Chính Chúa Giêsu đã từng nói đến việc “mến Chúa, yêu người”, và nói thẳng ra là Ngài đang trách mỗi chúng ta, trách thật và rất thẳng thắn: “Dân này tôn kính Ta BẰNG MÔI BẰNG MIỆNG, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng VÔ ÍCH, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là GIỚI LUẬT PHÀM NHÂN” (Mt 15:8-9; Mc 7:6-7). Cũng liên quan “luật yêu”, một lần khác Chúa Giêsu xác định: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21). Ôi, nghe mà “nhột” quá chừng, chắc hẳn ai cũng thấy giật mình vì ai cũng thấy mình… “có tật”!

    Chúa có cách nói nghe chừng “nhẹ nhàng” thế mà “nặng nề” lắm, giản dị mà phức tạp, nhẹ như “xoa” mà “đau” thấm thía! Khi nói đến “luật” thì luôn liên quan “quyền”, nói đến “quyền” thì thường liên quan sự “cạnh tranh”. Thường là thế, vì cái quyền (hành) luôn gây phiền (toái)!

    Kinh Thánh cho biết rằng Vua Đariô (người Mê-đi, lên ngôi vua năm 62 tuổi) quyết định đặt trên vương quốc của ông 120 thống đốc để họ cai trị toàn vương quốc dưới quyền 3 tể tướng (tương đương “thủ tướng” ngày nay), trong đó có ông Đanien. Họ phải phúc trình mọi việc cho 3 vị này để nhà vua khỏi bị thiệt hại. Ông Đanien vượt hẳn các tể tướng và thống đốc, nhờ có một THẦN KHÍ SIÊU PHÀM, nên vua có ý định đặt ông đứng đầu cả vương quốc. Do đó, các tể tướng và thống đốc cố tìm cách BẮT LỖI ông Đanien về việc triều chính. Bới lông tìm vết, bới bèo ra bọ. Vì ghen ghét mà con người thường nhỏ nhen và hèn hạ như thế đấy.

    Tương tự, người Việt có câu: “Con gà tức nhau tiếng gáy”. Con gà như thế thì con người cũng vậy, ai “gáy” hay thì người khác thường cảm thấy “ngứa” tai và “xốn” mắt. Chúa Giêsu bị ghét và bị giết chết nhục nhã cũng chỉ vì Ngài là “cái gai” trong cách nhìn của người khác. Những người ghen ghét cũng chẳng ai xa lạ vì đó là chính những người thân thiết nhất của mình, như Chúa Giêsu đã nói thẳng: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6:4 ≈ Mt 13:57; Lc 4:24; Ga 4:44). Quá phũ phàng! Đời là thế! Thật vậy, CHỈ CÓ NGƯỜI GIỎI MỚI KHẢ DĨ CÔNG NHẬN TÀI NĂNG CỦA NGƯỜI GIỎI. Thật đáng sợ, bởi vì “người ta có thể phạm tội chỉ vì một mẩu bánh” (Cn 28:21).

    Không ưa dưa cũng có giòi. Ngu dốt thì bị khinh, thông minh thì bị ghét. Quái gở thật! Ông Đanien bị ghét chỉ vì ông “trổi vượt” hơn người khác, âu cũng là lẽ thường. Ngày xưa, trung thần Chu Văn An đã “điểm mặt” 7 nịnh thần nên bị họ triệt tới cùng. Xưa đã vậy, nay cũng thế thôi. NGƯỜI ĐỜI “KÈN CỰA” NHAU ĐÃ ĐÀNH, NGƯỜI THEO ĐẠO CHÚA CŨNG CHẲNG HƠN GÌ, thậm chí người thời nay còn tinh vi hơn nhiều. Vậy làm sao có thể truyền giáo?

    Họ ghét thì rất ghét, nhưng họ đã không thể tìm được một cái cớ nào hoặc một sai sót nào để bắt lỗi, vì ông Đanien vốn là người trung tín; họ đã không tìm được điều gì sơ suất hay thiếu sót nơi ông. Do đó, những người ấy mới cùng nhau bày mưu lập kế: “Chúng ta sẽ chẳng tìm được một cớ nào để bắt lỗi tên Đanien này đâu, trừ phi tìm lý do tôn giáo để hại y” (Ðnl 6:6). Ác nhân quá thâm độc, thật đáng sợ tà tâm!

    Ngày nay, con người cũng vẫn đã và đang lăn vào “vết xe cũ”, nhưng theo cách thức tân kỳ hơn, kỹ xảo hơn, vậy mà vẫn “hãnh diện” về cái mưu thâm kế độc của mình, rồi biện hộ là “đúng quy trình”. Có lẽ vì thế mà Thiên Chúa soi sáng cho Giáo Hội biết phải khuyến khích việc Tân Phúc Âm hóa, xem xét lại đức tin của chính mình trước rồi mới nói chuyện liên quan người khác. Cứ ảo tưởng và ảo giác thì không thể thay đổi được gì. Nguy hiểm lắm!

    Rõ ràng ông Đanien là hiện thân của những người “ăn ngay ở lành”, sống nghiêm túc. Dù hoàn cảnh có thế nào, những con người ấy vẫn một lòng kiên cường tín thác vào Thiên Chúa: “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con” (Tv 18:2). Họ luôn tin yêu và không ngừng tin cậy Thiên Chúa: “Lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ” (Tv 18:4). Chắc chắn rằng “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Gl 3:11).

    Trong con mắt của người đời, họ là những kẻ bị lép vế, bị thua thiệt, bị khinh miệt, bị ghen ghét, bị xa tránh, bị trù dập, nhưng họ vẫn âm thầm tin tưởng cầu nguyện và nương tựa vào Chúa. Họ không ngần ngại xác định: “Chúa cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, Ngài đặt tôi đứng vững trên đỉnh núi” (Tv 18:46). Ngay trong gian truân, họ vẫn hiên ngang tuyên tín: “Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Ngài là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi” (Tv 18:47). Đúng như Thánh Vịnh gia đã chia sẻ kinh nghiệm: “Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Ngài đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng mà Ngài đã xức dầu tấn phong, là Đa-vít cùng dòng dõi đến muôn đời” (Tv 18:51). Đích thực là người của Chúa mới đáng tin, chứ “đừng mong gì nhiều nơi những người quyền thế của thế gian này – vì hầu hết họ đều bỏ mặc những người nghèo khó trong cảnh bần hàn, họ vừa hèn hạ vừa thiếu quảng đại, giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu than của những người yếu đuối và bất lực” (Chân phước Placid Riccardi, 1844-1915).

    Vừa phân tích vừa xác định, Thánh Phaolô cho biết: “Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ mãi chức vụ đó. Còn Đức Giêsu, chính vì Ngài hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Ngài tồn tại mãi mãi. Do đó, Ngài có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Ngài mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Ngài hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7:23-25). Đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến, với các đặc tính cần thiết: “Một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (Dt 7:23-26).

    Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái có những điều xem chừng không ăn nhập gì, vì nói tới chức tư tế, nói tới thừa tác vụ. Thế nhưng lại vẫn “ăn nhập” lắm đấy. Tại sao? Tư tế là những người có trách nhiệm củng cố đức tin cho giáo đoàn. Cây càng cao, gió càng lay. Tất nhiên thôi! Vì thế, Chúa Giêsu đã hỏi ngư phủ Phêrô không chỉ một lần mà ba lần: “Anh có mến Thầy HƠN các anh em này không?” (Ga 21:15). Và đó cũng là câu hỏi hằng ngày Chúa Giêsu vẫn đặt ra cho mỗi chúng ta. Mỗi người có cách trả lời khác nhau, nhưng đó là điều kiện Chúa đòi hỏi từng người phải thật lòng trả lời và nghiêm túc thực hiện, để chứng tỏ đức tin của chính mình – và cũng chia sẻ niềm tin đó cho tha nhân.

    Chắc hẳn là rất dễ đọc: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Thế nhưng vấn đề không chỉ là “thuộc lòng” và “đọc như vẹt”, mà là thể hiện lời tuyên tín đó một cách sống động bằng hành động cụ thể. Ôi chao, chẳng hề dễ dàng chút nào!

    Như để giải thích, Thánh Phaolô nói: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Ngài, Ngài đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:27-28).

    Chính Đức Kitô đã hiến tế, chúng ta không thể làm khác – nghĩa là cũng phải hiến tế. Chúa Giêsu đã hóa thành “tấm bánh” để nuôi sống chúng ta, thế thì chúng ta cũng phải CẦM LẤY, TẠ ƠN, BẺ RA và TRAO TẶNG chính Tấm-Bánh-Cuộc-Đời-Mình cho tha nhân, nhất là đối với những con người bé mọn, yếu đuối, nghèo khổ, lạc loài, cô độc,…

    Một hôm, có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xađốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12:28). Đức Giêsu ôn tồn: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi PHẢI yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi PHẢI yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:29-31). Hai điều răn quan trọng nhất với hai động từ PHẢI mạnh mẽ và dứt khoát – không thể không thi hành.

    Nghe Đức Giêsu nói vậy, ông kinh sư thấy “đã tai” nên liền nói với Ngài: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là ĐẤNG DUY NHẤT, ngoài Ngài ra KHÔNG CÓ ĐẤNG NÀO KHÁC. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12:32-33). Chắc hẳn chúng ta cũng mang tâm trạng như ông kinh sư này, cũng thấy rất thú vị và hợp lý, nhưng NGHE và CHẤP NHẬN là một chuyện, còn THỰC HIỆN lại là chuyện khác. “Khoảng cách” đó vừa gần vừa xa, vừa hẹp vừa rộng. Trách nhiệm mỗi chúng ta là “lấp đầy” khoảng cách đó.

    Có lẽ Chúa Giêsu cũng ngạc nhiên khi thấy ông kinh sư trả lời khôn ngoan như vậy, và Ngài xác nhận: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12:34). Quả thật, không khó gì khi nói “mến Chúa” và “yêu người”. Chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi. Nhưng vấn đề quyết định cuối cùng phải là THỰC HÀNH điều mình nói để chứng tỏ ĐỨC TIN một cách cụ thể. Tại sao? Bởi vì “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:26). Nói được – đó chỉ là “chuyện nhỏ”. Làm được – đó mới là “chuyện lớn”, và là điều cần thiết mà Thiên Chúa muốn thấy nơi mỗi chúng ta.

    Lạy Thiên Chúa toàn năng chí thánh, thật hạnh phúc khi chúng con được nhận biết và tin vào Ngài nhờ Đức Kitô mặc khải, xin cảm tạ Ngài và xin giúp chúng con sống đức tin qua từng động thái hằng ngày, xin giúp chúng con biết chạnh lòng thương trước nỗi đau của tha nhân và dân tộc, nhất là những con người nhỏ bé và yếu đuối vì bất công xã hội. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    SỐNG TỐT SỐNG ĐẸP

    Lm. Jos. DĐH.

    Tiền nhân chúng ta có nhiều suy tư hết sức khúc triết: vàng thời thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Đúng, muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học. Không thể có chuyện sinh ra là làm thầy thiên hạ, là được quyền giám sát, ra lệnh. Không phải hết tất cả mọi người dám tự hào về sự sáng suốt của mình, cũng như chẳng ai lại vô duyên đến độ tự vạch áo cho người xem lưng. Cuộc sống ồn ào, nhiều người lạc quan cho rằng, đó là sự hỗn loạn cần thiết cho sự phát triển. Tâm lý bất ổn, ít nhiều cũng gây đến phiền phức cho cách ứng xử nơi gia đình, người thân. Thao thức chung, hạnh phúc cụ thể là người ta tìm được một nơi cư ngụ mà ở đó người người ý thức sống tốt, sống đẹp, xem nhau như anh chị em và có nghĩa vụ nâng đỡ nhau.

    Trải qua nhiều vướng mắc cho việc chọn lựa, một Luật sĩ đến gặp Đức Giêsu để trình bày về thao thức của ông: “trong giới răn, điều nào trọng nhất” ? Và chúng ta cũng có quyền đặt vấn đề, có phải vì muốn hiểu biết để các ông sống tốt, sống đẹp, trước bổn phận làm cha, làm chồng, làm một chức sắc lo cho các tín đồ, hay vì ông hỏi cho vui ? Sự cầu tiến hay mưu mô tính toán vụ lợi trước ưu tiên 1, ưu tiên 2, thường không có kết quả đối với những tâm hồn thiếu quảng đại. Bậc làm cha mẹ, bình thường sẽ không dạy dỗ con cháu: sống ở đời này là để ăn, để hưởng thụ. Những người làm con sẽ chẳng ai đặt vấn đề: cần phải sống đức thảo hiếu bao lâu thì công bằng với các ngài.

    “Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và người hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết linh hồn, hết sức ngươi”. Lời nhắc nhớ đó không có gì mới lạ, cũng chẳng phải là một tổng hợp số lý thuyết được rút gọn, so với niềm tin Thiên Chúa của dân tộc Israel. Sống tốt với cha mẹ, sống đẹp trong các tương quan với Chúa và tha nhân, không thể được công nhận nếu con tim, khối óc của chúng ta hẹp hòi, tính toán. Kẻ “yêu cha, ghét mẹ”, không ai gọi là con thảo con hiếu. Người đã từng đầu tư tiền của xây chùa, xây nhà thờ, nhưng luôn khép kín, đóng cửa lòng với anh chị em đói nghèo ở xung quanh, ai dám trao tặng cho họ danh hiệu: đây là người có lòng từ bi nhân hậu ?

    “Còn đây là giới răn thứ hai: ngươi hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi”. Đức Giêsu đã nối kết mọi liên hệ bằng tình yêu thương, Ngài gián tiếp phủ nhận các lý do: “mắt thịt xác phàm” không nhìn thấy Chúa ở đâu làm sao yêu mến, tư tưởng phàm nhân, ai có thể hiểu Chúa đang hiện nơi anh chị em mình mà yêu với mến ! Sống tốt sống đẹp, mến Chúa yêu người, sẽ không trừu tượng lý thuyết, khi hàng ngày chúng ta có thời giờ suy xét giữa lời nói việc làm của chúng ta đang mẫu thuẫn hay phù hợp ? Cách nói của xã hội hôm nay là cha mẹ hãy “truyền cảm hứng” cho con cháu, thầy cô hãy “truyền lửa” cho học trò, nhưng thực tế nhất vẫn là “gương sáng về đức ái” phải được gia đình, nhà trường quan tâm, ý thức sống.

    Ca dao có câu: chim khôn cốt ở tiếng hót, người khôn cân nhắc nói cười đúng nơi. Khả năng, điều kiện hoàn cảnh mỗi người mỗi thời rất khác nhau, nhưng nơi mỗi người: nét đậm, nét mờ, thành hay bại, đều tuỳ thuộc vào tự do và ý chí quyết tâm sống của họ. Một người có tư duy ổn định, biết mình là ai, họ sẽ đủ tự tin để sống đẹp, sống đúng, với điều kiện của họ mà không thế lực nào có thể làm lung lay lập trường sống của họ. Ít nhiều gì chúng ta cũng đã nghe lời người xưa day: ai ơi giữ chí cho bền, dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai. Chúa Giêsu qua cuộc đối thoại với người Luật sĩ, Ngài cũng lưu ý đến sự cần thiết của lập trường sống mến yêu: “ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”.

    Mến Chúa yêu người, sống tốt sống đẹp, sẽ không cũ xưa, nhất định không phải chỉ thích hợp cho một số đối tượng cấp cao: hàng giáo sĩ, tu sĩ, hay giới tri thức, đại gia. Giới luật yêu thương, đối nhân xử thế đúng, đẹp, đã có nơi tâm hồn mỗi người, đó là hạt giống đức tin Thiên Chúa đã gieo trồng, nay Đức Giêsu vẫn đang là chuẩn mực, làm sống động chân lý đức tin đó trổ sinh bông hạt. Nếu thầy thuốc ý thức mình là người chữa bệnh, thì bệnh nhân lại luôn cần thầy thuốc giỏi, biết lắng nghe, biết nhiệt tình quan tâm đến nhu cầu sống đúng, sống đẹp, sống hết tình với niềm tin của cộng đồng xã hội. Mến Chúa yêu người, sống đúng sống đẹp, không phải chỉ là lời mời gọi của chúa nhật 31 hôm nay ; phần thưởng nước trời rộng lớn, nhưng cơ hội, thời gian, không chờ đợi ai bao giờ cả. Không nên nói ra những lời khó nghe khi tâm trạng bạn không tốt, đừng hành động khi “trí lòng” bạn mách bảo điều đó là do ghen ghét, ngược với đức ái Thiên Chúa dạy. Xin tình Chúa yêu thương, chúc lành cho tất cả nhân loại chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Dân tộc Israel được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn làm dân riêng của Ngài. Thiên Chúa giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ nhà Ai cập, dẫn đưa họ vào hoang địa đến núi Sinai gần chóp đỉnh của một bán đảo, một nơi vắng vẻ và kinh hoàng. Chính nơi đây đã diễn ra một biến cố, một sự kiện làm nên tính tôn giáo, hơn nữa nó là trung tâm của lịch sử cứu độ mà muôn đời dân Israel phải ghi nhớ, đó là Giao Ước Sinai. Thiên Chúa đã ký kết với họ một giao ước do Môsê làm trung gian. Giao ước này được ký kết vào khoảng thế kỷ 13 trước công nguyên có nội dung như sau: Thiên Chúa là Đấng nhận Israel làm dân riêng của Ngài và luôn yêu thương phù trợ họ; Israel nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất họ phải tôn thờ. Chính trong bối cảnh đó, ông Môsê kêu gọi họ: các ngươi hãy kính sợ Chúa là Thiên Chúa, hãy tuân giữ mọi huấn lệnh và giới răn của Ngài để được sống lâu, được hạnh phúc trong miền đất chảy sữa và mật.

    Thưa anh chị em, trang Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu nhắc lại một lần nữa tính ưu việt của lề luật khi trả lời người Luật sĩ: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng; ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình”. Đó là giới răn quan trọng nhất làm nền tảng cho cuộc sống tôn giáo đã được ghi chép cẩn thẩn với 613 khoản luật Do thái, và Chúa Giêsu  xác định: “không giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”. Nói cách khác, yêu mến là giới răn lớn nhất: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến đồng loại. Cựu ước cũng đã đòi hỏi dân chúng yêu thương đồng loại. Nay Chúa Giêsu tái xác nhận. Điều này không có gì mới. Tính mới mẻ của giáo huấn Chúa Giêsu chính là nối kết hai giới răn đó nên một luật lớn nhất, một giới răn duy nhất nhờ tình yêu không chỉ bằng lời nói suông, nhưng bằng hành động thực sự. Đây là một kết luận tuy đơn sơ nhưng rất sắc bén của thánh Gioan: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”. Một tình yêu chân thật đối với Thiên Chúa thôi thúc chúng ta đem hết tài năng và của cải mà phục vụ người khác.

    Có một câu chuyện kể rằng, người con gái của Karl Marx có lần tâm sự với người  bạn: “Tôi lớn lên mà không hề biết bất cứ tôn giáo nào. Tôi cũng không tin tưởng Thiên Chúa. Thế rồi tình cờ tôi đọc một quyển sách trong đó có lời kinh khác lạ. Tôi đọc hết lời kinh ấy và tự nhủ: nếu quả thật Thiên Chúa của lời kinh đó hiện hữu, tôi nghĩ rằng tôi có thể tin Ngài được”. Người bạn hỏi cho biết đó là lời kinh nào. Người con gái của Karl Marx mới từ từ đọc lại Kinh Lạy Cha.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Tình cha con và tình anh em được Chúa Giêsu mặc khải qua Kinh Lạy Cha. Hãy sống với Cha trong tình phó thác, với anh em trong tình bác ái. Tình yêu Thiên Chúa và tha nhân này còn được Chúa Giêsu đẩy xa hơn nữa: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Chúa Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em”. Chính trong khung cảnh này mà tính mới mẻ của giáo huấn Chúa Giêsu đạt tới đỉnh cao: “như Thầy đã yêu mến anh em, anh em cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà mọi người nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau”. Tựu trung, tình yêu làm cho chúng ta nên giống Chúa Kitô: yêu mến Thiên Chúa thì phải yêu mến tha nhân và muốn yêu mến tha nhân thì cũng phải tôn thờ Thiên Chúa.

    Nguyện xin Chúa xin giúp chúng ta biết yêu mến Chúa bằng chính cuộc sống thương yêu chia sẻ của chúng ta đến với anh chị em đồng loại, để chúng ta luôn thi hành lệnh Chúa truyền cách trọn hảo trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 31 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXI năm B này thắp sáng luật yêu thương: Cựu Ước mặc khải cho chúng ta “Mến Chúa”, trong khi Tân Ước mặc khải cho chúng ta “Mến Chúa và yêu người”.

    Đnl 6: 2-6

    Bài Đọc I, trích từ sách Đệ Nhị Luật, chứa đựng lời tuyên tín nổi tiếng của Ít-ra-en:“Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”.

    Dt 7: 23-28

    Thư gởi tín hữu Do thái khẳng định chức tư tế của Đức Ki-tô cao vời khôn ví hơn chức tư tế của Cựu Ước.

    Mc 12: 28-34

    Tin Mừng tường thuật cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su với một kinh sư trong đó Đức Giê-su hiệp nhất “Mến Chúa” với “yêu người”.

    BÀI ĐỌC I (Đnl 6: 2-6)

    Bản văn này, đỉnh cao sứ điệp của sách Đệ Nhị Luật, giải thích giới răn thứ nhất của Thập Giới, được đặt trên môi miệng của ông Mô-sê.

    1. Mến Chúa đối với Ít-ra-en:

    Đức Chúa của Ít-ra-en là Thiên Chúa duy nhất mà con người không chỉ kính sợ nhưng còn phải yêu mến hết lòng hết dạ và hết sức nữa. Đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa đã bảy tỏ cho dân Ngài, mỗi người phải trọn tình vẹn nghĩa với Thiên Chúa của mình.

    Dân Chúa chọn đã hiểu sự mới mẽ tận mức của giới răn này đem lại cho tôn giáo của họ một tính chất đặc thù. Họ đã tuyên xưng giới răn này và đặt giới răn này vào trung tâm của kinh nguyện được gọi kinh Shê-ma (“Nghe đây”), mà suốt nhiều thế kỷ qua những tín hữu đạo hạnh của Ít-ra-en thường ngày đọc vào ban sáng và ban chiều. Vào thời đó, lời tuyên tín này được tôn kính đến mức người ta ghi trên những mảnh vải và cuộn vào hộp kinh để mang trên cánh tay hay trên trán. “Mến Chúa” phải được bày tỏ qua thái độ “kính sợ Chúa”, tuân giữ các giới răn của Ngài và bận lòng thông truyền đức tin.

    1. Kính sợ Chúa và tuân giữ các giới răn của Ngài:

    Kiểu nói Kinh Thánh: “Kinh sợ Chúa”, không có nghĩa sự sợ hãi; đây là thái độ tôn kính đầy niềm tin, khi ý thức về sự cao cả của Thiên Chúa. Tuân giữ các giới răn là bổn phận xuất phát từ Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Sách Đệ Nhị Luật được trình bày như bài giáo lý về Giao Ước. Để đáp trả sự trung thành của Thiên Chúa đối với những lời hứa của Ngài, dân Ít-ra-en phải trung thành với Thập Giới, nền tảng của Giao Ước. Thiên Chúa đã hứa cho dân du mục này một miền đất trong đó họ sẽ được an cư lạc nghiệp và trở thành một quốc gia vĩ đại. Thay vì sa mạc khô cằn nắng cháy, Thiên Chúa đã hứa cho họ “một miền đất tràn đầy sữa và mật ong” với điều kiện là tuân giữ các giới răn của Ngài.

    1. Thông truyền đức tin:

    Tầm quan trọng của việc giáo dục tôn giáo trong gia đình là lời kêu gọi khẩn thiết của tác giả sách Đệ Nhị Luật. Lời kêu gọi này được lập đi lập lại nhiều lần (Đnl 4: 9; 6: 20; 32: 7). Tác phẩm của ông là lời cảnh giác thường hằng coi chừng những nguy hiểm của môi trường ngoại giáo chung quanh. Việc gìn giữ các truyền thống và bận lòng thông truyền đức tin thuộc vào những đòi hỏi căn bản tất yếu đối với sự tồn vong của dân Ít-ra-en.

    Sách Đệ Nhị Luật thấm đẫm tính nhân bản cũng như tính siêu việt. Thiên Chúa mà sách trình bày là một Thiên Chúa gần gũi với dân Ngài, dân mà Ngài bày tỏ lòng trìu mến và xót thương. Sách Đên Nhị Luật mang dấu ấn giáo huấn của các ngôn sứ lớn như A-mốt, Hô-sê, I-sai-a, đồng thời sách chuẩn bị sứ điệp của Tin Mừng.

    BÀI ĐỌC II (Dt 7: 23-28)

    Sau khi đã chứng minh Đức Ki-tô đã sở hữu những phẩm trật tư tế – liên đới với loài người và được Thiên Chúa đặt làm tư tế – tác giả sẽ cho thấy những nét khác biệt giữa chức tư tế của Đức Ki-tô và chức tư tế của Cựu Ước. Tác giả nhắm đến tác vụ trung gian của Đức Ki-tô phục sinh.

    1. Đức Ki-tô là Thượng Tế đời đời:

    Đức Ki-tô là Thượng Tế đời đời; Ngài là Đấng trung gian hoàn hảo vì “Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến gần Thiên Chúa”. Vị thượng tế Do thái mỗi năm một lần bước vào nơi cực thánh để cầu bầu cho dân vào ngày lễ Xá Tội, còn Đức Giê-su, “thật ra, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ”.

    1. Đức Ki-tô là Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn:

    Đức Ki-tô là Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn. Nếu trong cuộc sống tại thế, Ngài đã tự mình liên đới với những người tội lỗi, từ nay Ngài “được nâng cao vượt các tầng trời”, nghĩa là dự phần vào tính siêu việt của chính Thiên Chúa. Trái lại, các tư tế theo luật Mô-sê, những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, phải dâng lễ tế hy sinh, “trước là để đền tội của mình, sau là để đền tội thay cho dân”.

    1. Đức Giê-su được đặt làm tư tế với lời thề:

    Cuối cùng, một lần nữa tác giả trích dẫn Tv 110 để nhấn mạnh phẩm trật tư tế đặc biệt của Đức Ki-tô: Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Thượng Tế với lời thề, còn các tư tế theo luật Mô-sê thì không có lời thề. Quả thật, Thánh Vịnh nói: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê”. Bản văn này đã đến sau này, nghĩa là sau ông Mô-sê, hàm chứa một giai đoạn cao cả trong Mặc Khai và loan báo một mức độ hoàn hảo, mà Đức Giê-su thực hiện với tư cách là Con Thiên Chúa. Tác giả ngỏ lời cách tinh tế với các Ki-tô hữu gốc Do thái trong số họ chắc chắn có những tư tế của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.

    TIN MỪNG (Mc 12: 28-34)

    Thánh Mác-cô cũng như thánh Mát-thêu đặt cuộc đối thoại của Đức Giê-su với một kinh sư này vào những ngày Đức Giê-su giảng dạy tại Giê-ru-sa-lem. Cuộc đối thoại này liên quan đến điều răn nào là quan trọng nhất trong số 613 giới luật Cựu Ước (365 điều cấm và 248 điều buộc), một đề tài thường được đặt ra cho các kinh sư Do thái. Câu trả lời của Đức Giê-su phối hợp hai câu trích dẫn Cựu Ước: Đnl 6: 4-5 và Lv 19: 18, quả thật nhấn mạnh tính chính thống lời dạy của Ngài như một kinh sư Do thái và minh chứng Ngài đi cho đến tận ngọn nguồn của sự việc. Cuộc đối thoại này quan trọng không chỉ vì sự độc đáo của nó mà còn vì điểm nhấn của nó trên những tư thế nội tâm.

    Bản văn này có thể chia làm bốn phần được cấu trúc theo hình thức “đối xứng xen kẻ” như sau:

    A – Vị kinh sư hỏi (12: 28).

           B – Đức Giê-su trả lời (12: 29-31).

    A’ – Vị kinh sư bình phẩm (12: 32-33).

           B’-Đức Giê-su khen ngợi (12: 34).

    A – Vị kinh sư hỏi (12: 28):

    1. “Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giê-su và những người thuộc nhóm Xa-đốc tranh luận với nhau”: Câu này được dùng để nối kết cuộc tranh luận trước đó với cuộc đối thoại theo sau. Ông kinh sư này là một trong những người chứng kiến cuộc tranh luận của Đức Giê-su với nhóm Xa-đốc về kẻ chết sống lại.

     “Thấy Đức Giê-su đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi”: Khi thấy Đức Giê-su đối đáp với nhóm Xa-đốc về cuộc sống mai hậu cách khúc chiết, mạch lạc dựa trên nền tảng Kinh Thánh, vì thế ông chân thành muốn hỏi Đức Giê-su để mong gặp thấy một giải đáp. Thái độ thành tâm thiện chí muốn hiểu biết của ông khiến cuộc nói chuyện thành một cuộc học hỏi chân thành và cởi mở hơn là một cuộc tranh luận (khác với Mt 22: 35 và Lc 10: 25).

     “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?”: Vị kinh sư nêu câu hỏi nầy không có bất kỳ ác ý nào. Câu hỏi của ông thật sự phản ảnh nỗi bận lòng của trường phái kinh sư vào thuở đó.

    Các kinh sư đều xem lề luật là ý muốn của Thiên Chúa, vì thế, thực thi lề luật chính là trung thành với Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Tuy nhiên, có hai khuynh hướng. Một khuynh hướng tìm cách cách mở rộng lề luật cách vô hạn định ra thành muôn vàn điều luật và quy tắc để làm thế nào lề luật có thể được thực thi trong mọi cảnh huống cuộc sống của dân Chúa chọn. Còn khuynh hướng thứ hai thì cố tìm cách thu gọn lề luật vào trong một câu cô động cái tinh thần cốt yếu của lề luật.

    Thật ra, cả hai khuynh hướng: mở rộng cũng như thu gọn lề luật, vẫn thường hằng hiện diện trong những cuộc tranh luận giữa các kinh sư với nhau. Có những người tin trong luật có những vấn đề nặng nhẹ khác nhau, có nhiều nguyên tắc đáng xem là quan trọng hơn mà người ta phải lãnh hội và thi hành trước nhất. Nhưng có nhiều người khác cực lực chống lại, họ chủ trương rằng một nguyên tắc nhỏ nhặt cũng có tính bắt buộc y như một nguyên tắc quan trọng nhất, vì thế cố phân biệt chỗ khác nhau tương đối giữa chúng, là điều vô cùng nguy hiểm.

    Khi hỏi Đức Giê-su như thế, vị kinh sư chân thành muốn biết trong số 613 điều luật Cựu Ước (gồm 365 điều cấm và 248 điều buộc) điều răn nào Thiên Chúa muốn chúng ta phải làm trước và làm cách triệt để.

    B – Đức Giê-su trả lời (12: 29-31)

    1. “Điều răn đứng hàng đầu là: ‘Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất…’”: Đức Giê-su trích dẫn Đnl 6: 4-5, đây là bản văn đầu tiên trong số ba bản văn (Đnl 6: 4-9; 11: 13-21; Ds 15: 37-41) đã trở thành kinh“Shê-ma”(“Nghe đây”) được xem như kinh “Tin Kính” của Do thái giáo và được những người Do thái mộ đạo đọc mỗi ngày hai lần. Giới răn mến Chúa phát xuất từ bản tính của Người là Thiên Chúa duy nhất. Bổn phận mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” không nhằm quy chiếu đến những phần riêng biệt của con người, nhưng nhấn mạnh rằng toàn thể con người phải yêu mến Chúa tận mức, một cách tuyệt đối. Kinh Shê-ma được chép lại trên một tấm vải nhỏ cuộn vào một hộp nhỏ bằng da mà người Do thái ngoan đạo đeo trên trán và trên cườm tay khi cầu nguyện như nhắc nhở tín điều của tôn giáo mình.
    2. “Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”: Dù chỉ được hỏi một điều răn, Đức Giê-su nói thêm điều răn thứ hai khi trích dẫn Lv 19: 18b (x. Rm 13: 9; Gl 5: 14; Gc 2: 8). Khi trích dẫn câu này, Chúa Giê-su sửa đổi một điểm. Trong nguyên văn,“người thân cận”được giới hạn chỉ trong vòng người Do thái chứ không bao gồm dân ngoại như câu mở đầu của huấn lệnh này cho thấy: “Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi” (Lv 19: 18a). Nhưng trong câu trích dẫn của Chúa Giê-su, yêu “người thân cận” phải bao gồm với hết mọi người và đạt tới mức độ cao nhất như yêu chính mình: “thương người như thể thương thân”, vì theo lẽ tự nhiên, ai nấy đều quý trọng, yêu thương bản thân hơn người khác.

    Giáo Huấn của Đức Giê-su mang tính mới mẽ khi Người ghép chung hai điều răn“Mến Chúa” và “Yêu người” vào với nhau. Trước đó, chưa có một kinh sư nào làm như vậy. Trong bản văn của thánh Mát-thêu, điều răn “Yêu người” đồng nhất với điều răn “Mến Chúa”: “Còn điều răn thứ hai cũng giống như điều răn ấy” (Mt 22: 39); còn trong bản văn của thánh Mác-cô, hai điều răn “Mến Chúa” và “Yêu người”được đặt bên cạnh để chuẩn bị cho việc lượng giá chúng ngang bằng giá trị:“Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12: 31). Trong Tân Ước, lời giải thích về “Mến Chúa” và “Yêu người” của thánh Gioan là hay nhất:“Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy’” (1Ga 4: 20).

    A’ – Vị kinh sư bình phẩm (12: 32-33):

    1. “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng”: Vị kinh sư này tán đồng câu trả lời của Đức Giê-su và bình phẩm câu trả lời của Người mà không có bất kỳ hậu ý nào về sự thù ghét hay châm biếm. Thật ra, vị kinh sư chỉ lập lại hai câu Kinh Thánh Chúa Giê-su đã trích dẫn, với từ ngữ có vẻ sát với thực tế hơn.

     “Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác”: Trước hết, ông nhấn mạnh thêm khía cạnh độc tôn của Thiên Chúa.

    1. “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu mến người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”: Rồi, ông kết luận rằng“mến Chúa và yêu người”phải được coi trọng hơn mọi hy lễ. Lời này của vị kinh sư khiến chúng ta liên tưởng đến Hs 6: 6 và 1Sm 15: 22.

    Khi nhận định như vậy, vị kinh sư không cố ý khẳng định rằng nền phụng tự Đền Thờ đã bị hủy bỏ, nhưng đã trở nên tương đối hóa đi rất nhiều. Thật ra, trong Cựu Ước đã có những tư tưởng chuẩn bị cho việc phê phán nền phụng tự Đền Thờ như thế (1Sm 15: 22; Tv 51: 20t; 40: 7; Cn 21: 3), đặc biệt với các ngôn sứ như ngôn sứ Hô-sê: “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được người nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” (Hs 6: 6; x. Is 1: 11-17).

    Vì thế, không cần phải giải thích lời của ông như lên án nền phụng tự Đền Thờ. Trong trật tự của ông, mến Chúa và yêu người là những nguyên tắc hàng đầu của nền phụng tự Đền Thờ, là linh hồn của mọi hy lễ dâng tiến Thiên Chúa. Nhưng điều đáng nói ở đây, một nhà thần học Do thái đã nhận định như thế tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nghĩa là ngay tại nơi dâng hy lễ.

    B’ – Đức Giê-su khen ngợi (12: 34):

    1. “Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy”: Trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giê-su thường có cái nhìn về giai cấp lãnh đạo Do thái rất tiêu cực, nhưng ở đây Người nhận định câu trả lời của vị kinh sư này rất tích cực.

     “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”: Còn hơn tương lai, ở đây Nước Thiên Chúa đang ở trong tầm tay và xem ra có một chiều kích không gian. Việc ông hiểu đúng điều gì là quan trọng trong lề luật Cựu Ước đặt ông gần với Nước Thiên Chúa đang đến và chuẩn bị ông đón nhận nước đó một cách thích đáng (x. 10: 13-16).Ẩn sau những hỏi đáp này, chính là cuộc đối thoại sâu xa giữa Chúa Giê-su với một người kinh sư chân thành cởi mở đặc biệt, mà không hề có một hậu ý nào.

     “Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa”: Câu này chuẩn bị cho câu chuyện tiếp theo sau, trong đó Đức Giê-su chất vấn các kinh sư về chân tính của Đấng Mê-si-a.

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI CÓ DỄ KHÔNG?

    Lm.Jos Đỗ Đức Trí

     Nhiều người cho rằng xã hội tiêu thụ, hưởng thụ ngày nay được cộng thêm với chủ nghĩa duy vật vô thần đang hủy hoại trầm trọng tâm hồn con người. Đời sống đạo của nhiều người chỉ còn là hình thức, họ tính toán với Chúa trong việc dâng lễ, cầu nguyện, dâng cúng như tính toán làm ăn. Nhiều người chỉ đến với Chúa mỗi khi cần giống như đi xin giấy tờ vậy. Trong xã hội Việt Nam: Lòng tốt của con người bị lợi dụng, lừa dối, khiến cho nhiều người không dám tốt với người khác. Trong công việc nhiều người vì lợi nhuận, sẵn sàng đầu độc người tiêu dùng bằng các loại hóa chất. Trong cuộc sống thường ngày người ta dễ dàng cư xử với nhau bằng bạo lực, côn đồ, ăn nói với nhau bằng những lời thô tục. Tình trạng này xảy ra hầu hết nơi mọi lứa tuổi, từ người lớn đến học sinh, trẻ em, từ dân thường cho đến quan chức. Trầm trọng hơn nữa là con người đánh mất niềm tin vào nhau, sống với nhau bằng sự ngờ vực; các thành viên trong gia đình cư xử với nhau không bằng tình yêu mà thay vào đó là bằng tiền… vv.

    Vào những ngày cuối năm, Giáo Hội cho chúng ta nghe lại hai giới răn quan trọng nhất của Chúa: Mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người như chính mình, để chúng ta có dịp rà soát lại đời sống của ta với Chúa và cách cư xử của ta với anh chị em. Mến Chúa – Yêu người là hai giới răn chúng ta đã thuộc lòng. Tuy nhiên, từ việc thuộc lòng đi đến việc thực hiện vẫn là một khoảng cách thật xa. Mến Chúa, yêu người có dễ không?

    Phải mến Chúa như thế nào? Đã nói đến tình yêu thì không bao giờ có giới hạn, vì thế việc yêu mến Chúa sẽ không bao giờ có tận cùng. Tin Mừng kể lại: “Một thầy thông luật đến hỏi Chúa Giêsu: Thưa Thầy, trong các điều răn, điều nào đứng hàng đầu?”Là một người thông luật, chắc chắn người này thông thạo các giới răn và lề luật. Sau một thời gian, Mười Điều răn của Chúa đã bị các thầy thông luật và biệt phái giải thích và thêm quá nhiều chi tiết, khiến cho nhiều người không biết đâu là điều chính yếu. Hơn nữa, vì chỉ lo giữ luật để khỏi vi phạm luật, nên người Do thái đã giữ luật theo hình thức bên ngoài mà không có tâm tình yêu mến bên trong. Vì vậy, đời sống đạo của họ trở thành như một cái máy được lập trình, như một con rô-bốt vô hồn. Do đó, khi trả lời cho người thông luật, Chúa Giêsu khẳng định: “Nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức mình người”.

    Với câu trả lời này, Chúa Giêsu cho thấy giới răn yêu mến Thiên Chúa là giới răn quan trọng nhất, và Ngài còn cho thấy phải yêu mếu Chúa như thế nào cho tương xứng. Chúa Giêsu trả lời thầy thông luật bằng việc trích lời kinh Shema trong sách Đệ Nhị Luật chúng ta nghe trong bài đọc một, để đưa ông về với thuở ban đầu thời ông Môsê. Lúc đó, dân vừa được giải thoát ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, ông Môsê đòi họ phải yêu mến Thiên Chúa với lòng biết ơn. Môsê cũng cho dân Israel thấy, họ yêu mến, biết ơn Thiên Chúa thì sẽ được trường thọ, hạnh phúc và được vào đất hứa.

    Yêu mến với lòng biết ơn, không phải là một cảm xúc nhất thời, hoặc theo hứng, mà phải là trọn vẹn cả con người với hết khả năng, sức lực, trí tuệ và tình cảm. Đòi hỏi đó được diễn tả qua kiểu nói: “Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức mình”.Việc yêu Chúa vừa là một đòi hỏi của Chúa vừa là thái độ đáp trả của con người với Thiên Chúa; của một người biết mình được yêu đối với đấng yêu mình, là ân nhân cứu mạng. Yêu hết lòng, hết linh hồn, là dành trọn vẹn cho Chúa tất cả trái tim, đặt Chúa vào vị trí thứ nhất trên tất cả tiền bạc, công việc, kể cả gia đình, không so đo tính toán thiệt hơn với Chúa. Yêu Chúa hết trí khôn và hết sức mình là dành cho Chúa hết mọi khả năng sức lực, mọi toan tính. Yêu hết lòng là yêu với một sự tự nguyện tự do và ý thức, tự giác đón nhận và thực hành những gì Chúa muốn vì biết mình được Chúa yêu. Khi dám yêu và dành trọn vẹn cho Chúa, Chúa không lấy đi những gì của chúng ta, nhưng trái lại Chúa thánh hóa, biến đổi và ban tặng lại cho chúng ta bằng tình yêu thương và phúc lành của Chúa. Tuy nhiên, nơi nhiều người lòng yêu mến Chúa đã vơi cạn, chỉ còn là một bổn phận bắt buộc. Vì thế họ đến với Chúa cho qua lần để đánh lừa lương tâm. Họ sống đạo chỉ theo thói quen hoặc hình thức bên ngoài mà không có tâm tình thảo hiếu biết ơn.

    Cùng với đòi hỏi dành ưu tiên tuyệt đối cho Chúa, Chúa Giêsu còn chỉ cho người thông luật điều răn thứ hai: “Ngươi hãy yêu mến anh em như chính mình ngươi”.Ai cũng yêu mến bản thân, không ai ghét bản thân mình bao giờ. Ai cũng mong mình đạt được những điều tốt nhất, thoải mái nhất, ai cũng muốn mình hạnh phúc. Chúa muốn chúng ta cũng phải yêu người khác như vậy. Mỗi khi chúng ta làm gì sai, chúng ta thường tìm cách biện hộ cho bản thân, dễ thông cảm tha thứ cho mình, nhưng ta lại quá khắt khe, thiếu bao dung thông cảm với anh chị em. Trong cuộc sống, ai cũng muốn mình được nhìn nhận và tôn trọng, thế nhưng nhiều khi chúng ta đã không tôn trọng anh chị em, nhiều người còn sẵn sàng dìm anh chị em mình xuống để mình được leo cao trong bậc thang xã hội.

    Thư Do Thái cho thấy, Chúa Giêsu chu toàn cách vuông tròn hai giới răn này và còn chu toàn một cách trọn vẹn, tuyệt vời, trở nên gương mẫu cho chúng ta. Vì yêu mến và vâng phục hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa, Chúa Giêsu mang phẩm vị của một Thượng tế, chu toàn việc thờ phượng tế tự Thiên Chúa. Trong vai trò là Thượng tế, Chúa Giêsu đã hiến tế chính thân mình làm của lễ đẹp lòng Thiên Chúa và đem lại ơn cứu độ vĩnh viễn cho toàn thể nhân loại. Khi còn sống ở trần gian, mang thân xác con người, Chúa Giêsu đã hết lòng yêu thương và phục vụ nhân loại tội lỗi, như những người anh em ruột thịt. Ngài ôm lấy những người đau khổ vào lòng, chữa lành bệnh tật thể xác và tâm hồn con người; cảm thông và an ủi những người đau khổ, những người bị xã hội loại trừ, không một người nào bị rơi ra ngoài sự quan tâm và tình yêu thương của Chúa.

    Chúa Giêsu khi tóm gọn giới răn lề luật của Thiên Chúa vào hai điều Mến Chúa – Yêu người, Ngài muốn mỗi người chúng ta học nơi Ngài để biết yêu mến, tôn thờ Thiên Chúa cho phải đạo làm con và yêu mến, phục vụ anh chị em cho trọn tình vẹn nghĩa. Mỗi người được mời gọi làm mới lại tương quan của mình đối với Chúa. Chúa muốn chúng ta yêu Chúa một cách cụ thể từ trong tâm hồn được thể hiện ra bên ngoài. Cho dù xã hội có nhiều lôi kéo, cho dù cuộc sống thường ngày trong gia đình, trong công việc có nhiều thứ chúng ta phải quan tâm, thế nhưng, giữa những sự lôi kéo và các mối bận tâm ấy, chúng ta vẫn phải dành cho Chúa chỗ ưu tiên trước hết và trên hết. Hãy để cho mình bận tâm vào việc chu toàn trước tiên bổn phận làm con cái của Chúa với lòng thảo hiếu, tôn kính và biết ơn. Cần phải bận tâm, lo lắng cho mình và các thành viên trong gia đình có được một đời sống đạo đức trưởng thành, một đức tin vững chắc. Trong mọi hoàn cảnh dám đặt Chúa và đời sống đức tin là quan trọng nhất.

    Đồng thời chúng ta cũng phải chu toàn giới răn yêu thương đối với anh chị em. Chúng ta cần bắt đầu sống và thực hành yêu thương từ trong gia đình; dành sự kính trọng, thảo hiếu, biết ơn đối với cha mẹ, chăm sóc an ủi các ngài khi đau yếu, tuổi già. Cha mẹ, vợ chồng cần làm mới lại tình yêu thương với nhau, có thể sau thời gian sống chung tình nghĩa đã bị mai một, phai nhạt. Có nhiều người vợ đang bị hắt hủi ghẻ lạnh trong gia đình, có nhiều người chồng đang bị coi thường, ghét bỏ, họ đang cần được sự thăm hỏi quan tâm nhiều hơn. Hãy thể hiện giới răn yêu thương với con cái, những đứa ngoan và cả những đứa ngỗ nghịch. Nhờ việc cảm nhận được tình yêu, chúng sẽ được biến đổi. Điều khó, là thực hiện giới răn yêu thương đối với xóm giềng và những người chung quanh. Như đã nói ở trên, xã hội đang làm cho nhiều người mất đi sự nhạy bén của trái tim, khiến họ không còn biết nghĩ điều tốt, nói điều tốt và làm điều tốt cho anh chị em, mà chỉ biết nghĩ đến bản thân. Nhiều khi chúng ta vô tình hay cố ý gieo điều ác, điều xấu, điều gian dối cho người khác, mà lương tâm không chút áy náy.

    Xin Chúa cho chúng ta không chỉ thuộc, mà còn biết thực hiện hai giới răn mến Chúa và yêu người này mỗi ngày trong đời sống, để mọi người nhìn vào những việc làm yêu thương của ta, biết ta thuộc về Chúa Kitô. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐIỀU RĂN ĐỨNG HÀNG ĐẦU TRONG NƯỚC THIÊN CHÚA

    Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

    Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Đnl 6:2-6;  Dt 7:23-28;  Mc 12:28-34)

              Cứ mỗi lần nghe bài Tin Mừng hôm nay, câu hỏi đến trong đầu óc tôi vẫn là tại sao Chúa Giê-su lại bảo ông kinh sư rằng ông ta không còn xa Nước Thiên Chúa đâu.  Câu truyện bắt đầu từ việc ông hỏi Chúa điều răn nào đứng hàng đầu trong mọi điều răn.  Trả lời ông, Chúa Giê-su không chỉ kể ra một “điều răn đứng hàng đầu”, mà Người còn kể ra thêm một điều răn khác cũng đứng hàng đầu!  Ông kinh sư không phản đối câu trả lời của Chúa, trái lại ông hoàn toàn đồng ý với Chúa.  Hơn thế nữa, ông còn giải thích thêm lý do tại sao cả hai giới răn mến Chúa và yêu tha nhân lại chiếm vị trí hàng đầu:  bởi vì hai giới răn này “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”.  Đây là cách hiểu hoàn toàn đi ngược lại với lối suy nghĩ và thực hành của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư.  Như thế, ông đã bước ra khỏi thế giới của nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư, để đón nhận lối suy nghĩ của Chúa Giê-su.  Nói khác đi, ông bắt đầu bước vào Nước Thiên Chúa do Chúa Giê-su rao giảng và thiết lập!

              Chúng ta hãy trở lại với câu chuyện Tin Mừng để hiểu diễn tiến thay đổi lối suy nghĩ của ông kinh sư.  Trước hết là câu hỏi của ông: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Khi hỏi “điều răn nào”, tức là chỉ có một điều răn thôi, ông vẫn theo cách suy nghĩ của các kinh sư là chủ trương rằng chỉ có điều răn mến Chúa mới là điều răn đứng hàng đầu.  Chúa Giê-su đồng ý với ông về vị trí “đứng hàng đầu” của điều răn này, như chúng ta đọc thấy trong bài đọc 1 về vị trí của điều răn ấy. Tuy nhiên Chúa đã làm cho ông quá bất ngờ khi Người kể thêm một điều răn hàng đầu nữa, là điều răn yêu thương tha nhân;  cuối cùng Người kết luận:  Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó. Đối với Chúa Giê-su, không có điều răn “đứng hàng đầu”, mà chỉ có những điều răn “quan trọng nhất”. Nếu Chúa Giê-su làm cho ông kinh sư phải ngạc nhiên thì đến lượt ông lại làm cho Chúa Giê-su vô cùng bỡ ngỡ khi ông trích dẫn Kinh Thánh để giải thích tại sao hai điều răn ấy là quan trọng nhất:  vì chúng quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ. Đây là điều cả hai người, Chúa và ông kinh sư, đồng quan điểm với nhau.  Như chúng ta biết, nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư quá câu nệ Lề Luật đến độ coi thường cả việc thực thi bác ái và yêu thương.  Dụ ngôn Chúa Giê-su kể về người Sa-ma-ri nhân hậu cho thấy điều ấy.  Vì muốn giữ luật thanh tẩy, thầy tư tế và thầy Lê-vi không muốn dừng lại cứu giúp người bị cướp đánh và bỏ nằm bên lề đường.  Cả hai người đã quý trọng việc dâng lễ toàn thiêu và hy lễ hơn cả việc băng bó vết thương cho người bị nạn.  Đối với họ, phải lên thẳng Giê-ru-sa-lem để dâng lễ tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa là “điều răn đứng hàng đầu”, còn việc tỏ lòng yêu thương tha nhân bằng cách dừng lại cứu giúp người khác chỉ là hàng thứ yếu.  Nhưng ông kinh sư này khác hẳn với những kinh sư khác.  Nếu ông là người trên đường lên Giê-ru-sa-lem gặp người bị nạn thì chắc chắn ông sẽ dừng lại giống như người Sa-ma-ri nhân hậu và sẽ làm cùng những điều người này làm rồi!  Đây cũng là điều Chúa Giê-su đã từng giảng dạy và hôm nay Người xác nhận lại một lần nữa:  mến Thiên Chúa và yêu tha nhân là hai điều không thể tách rời, có tầm quan trọng như nhau và cùng “đứng hàng đầu” như nhau.

              Chúa Giê-su đã chu toàn cả hai điều răn đứng hàng đầu này như thế nào?  Người là Con Một được Chúa Cha sai xuống trần gian để cứu độ nhân loại. Giả như Chúa Giê-su hành động theo lối suy nghĩ của nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư, thì Người sẽ coi việc yêu mến Chúa Cha là “hàng đầu”, còn việc cứu nhân loại là “hàng thứ”. Nhưng không phải vậy đâu, vì Người yêu thương chúng ta giống như Người yêu mến Chúa Cha.  Chính vì yêu thương chúng ta, Người đã chấp nhận làm “một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời”, chịu chết trên thập giá để “đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa” (bài đọc 2). Với Chúa Giê-su, vâng lời Chúa Cha vì yêu mến Người và chịu chết để cứu chuộc nhân loại đều là những hành vi quan trọng, là hai “điều răn đứng hàng đầu”!  Người đã lấy hai điều răn này để đặt nền móng cho Nước Thiên Chúa mà Người rao giảng và thiết lập vậy.

    Sống sứ điệp Lời Chúa

              Chúa Giê-su là gương mẫu sống hai điều răn quan trọng nhất mến Chúa yêu người. Chính vì thế, thánh Phao-lô, vị tông đồ của Chúa và cũng là người rất am hiểu mầu nhiệm Chúa Ki-tô, đã cầu xin cho chúng ta và mời gọi chúng ta hãy mang lấy những tâm tình của Chúa Ki-tô, hoặc hãy trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô. Lời cầu nguyện của ngài là: “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Ki-tô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa” (Ê-phê-xô 3:17-19).

              Ước chi lời cầu nguyện này cũng là lời khích lệ chúng ta hãy tiến sâu hơn mãi vào trong Nước Thiên Chúa, mang lấy não trạng của Vua Giê-su mà yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh chị em “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực” chúng ta.

    Về mục lục

    .

    QUÁN QUÂN

    Lm. Thái Sơn

    Gần đây, trên các báo thế giới, các khoa học gia phát hiện điều gì mới mẻ nhất?

    Đầu tiên, người Nhật đăng tin: “Họ đã đào sâu 100m xuống lòng đất và phát hiện sợi cáp đồng 1000 năm tuổi, chứng tỏ 1000 năm trước người Nhật đã xài điện thoại để bàn ???!!!”.

    Vài ngày sau, người Mỹ lại đăng: “Họ đã đào sâu 200m xuống lòng đất và phát hiện sợi cáp quang 2000 năm tuổi, chứng tỏ 2000 năm trước người Mỹ đã xài truyền hình cáp !!!???”.

    Chỉ sau đó một ngày, người Việt Nam cũng đăng tin: “Họ đã đào sâu 500m xuống lòng đất và chẳng phát hiện ra gì cả, nhưng tuyên bố 5000 năm trước Việt Nam đã xài mạng wifi!!!”.

    Một mẩu chuyện khác hấp dẫn hơn.

    Có ba người: Pháp, Anh và Việt ngồi nói về công nghệ của nước mình, ai cũng cho rằng công nghệ của mình là chuẩn nhất thế giới.

    Người Pháp nói: “Ở nước tôi có thể làm đường ray xe lửa chạy dưới đáy biển”. Người Anh liền nói: “Dưới đáy biển gồ ghề thế sao làm đường ray được”. Người Pháp trả lời: “Sai số 20cm”.

    Đến lượt người Anh nói: “Nước tôi có thể làm đường ray xe lửa trên mặt trăng”. Người Pháp cãi: “Trên mặt trăng gồ ghề thế sao làm đường ray được”. Người Anh liền nói: “Sai số 20cm”.

    Người Việt ngồi im lặng nãy giờ nghe hai người kia nói vậy liền lên tiếng: “Như vậy thì nhằm nhò gì, ở nước tôi người phụ nữ có thể sinh con bằng lỗ rốn”.

    Hai người kia nghe vậy thật ngỡ ngàng và ngạc nhiên vội kêu lên: “Sao lại sinh con bằng lỗ rốn được”. Người Việt tủm tỉm và nói rằng: “Sai số 20cm”.

    Thưa các bạn!

    Phải chăng, hạng nhất, số một, number one, đứng đầu, hảo hạng, vô địch hay quán quân là mơ ước của từng người, hay dân tộc mình?

    Thiết tưởng, để đạt được thành tích cao nhất và nhận giải quán quân, đòi hỏi “bạn & tôi” phải nỗ lực, cố gắng, trau dồi, học hỏi, không ngừng luyện tập và cọ sát.

    Tin Mừng Chúa Nhật 31 thường Niên B, Đức Giêsu cũng yêu cầu ông kinh sư về điều răn quan trọng nhất, với bốn chữ “hết”: hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực.

    Điều răn thứ nhất đó là yêu mến Đức Chúa và điều răn thứ hai là yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn hai điều răn đó (Mc 12,30-31).

    Có lẽ, “mến Chúa” thì dễ hơn “yêu người”. Vì Chúa thì vô hình, vô hạn, không thấy được, không sờ tới… còn người thì hữu hình, giới hạn, xem thấy, chạm được, lại yếu đuối, mỏng giòn, tội lỗi…

    Có thể nói, tuân giữ những điều răn Chúa dạy, được xem là mến Chúa. Như thánh Gioan tông đồ đã xác định bằng chứng việc yêu Chúa là giữ các giới răn của Ngài (x. 1Ga 5,3).

    Chân thật mà nói, yêu người mà mình thích thì đơn giản, còn yêu người mà mình ghét, hoặc yêu người mà ghét mình thì quả là khó khăn và nhiêu khê vô cùng.

    Thưa các bạn!

    Người Hoa đã dùng hình ảnh “quỷ & chó” để diễn tả sự phức tạp này. Họ cho rằng: “Vẽ quỷ thì dễ, vẽ chó thì khó”.

    Thật vậy, quỷ thì khó thấy hoặc chẳng thấy, nên vẽ sao cũng được, chẳng ai trách là vẽ không giống quỷ; còn chó ai cũng biết, nếu vẽ không đẹp sẽ bị chê là xấu.

    Nếu dùng từ Hán – Việt để nói lên mức độ “mến Chúa” và “yêu người”, thì gói gọn trong bốn chữ “toàn”. Đó là “toàn tâm, toàn linh, toàn ý, toàn lực”. Xem ra, “toàn” và “hết” là hai lãnh vực chỉ dành cho Thiên Chúa thôi.

    Thiết nghĩ, nếu không có ơn Chúa, không có sức sống của Chúa, và không có quyền năng của Chúa…, thì con người chẳng làm được gì, mà chỉ xem “mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” quý hơn tình yêu.

    Ước gì, chỉ có tình yêu là động lực cao nhất sẽ giúp “bạn & tôi” xích lại gần nhau và không còn xa Nước Thiên Chúa nữa. Amen

    Về mục lục

    .

    MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI, GIỚI RĂN QUAN TRỌNG NHẤT

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Trong luật Môsê, có rất nhiều điều luật, trong 613 điều luật, có 248 điều buộc làm và có 365 điều cấm làm. Giữa một “rừng luật” như thế, nhiều lúc người ta không biết điều răn nào là quan trọng nhất. Đây là lý do tại sao người thông luật đến hỏi Chúa Giêsu: “Trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?”

    Để hiểu được bối cảnh bài Tin Mừng, trước hết chúng ta cần biết rằng vào thời Chúa Giêsu, trong Do Thái giáo, có hai khuynh hướng đối nghịch nhau. Một khuynh hướng muốn nhân rộng các khoản luật và quy định tỉ mỉ mọi chi tiết của đời sống. Khuynh hướng khác lại muốn rút ra từ “đống luật” điều chính yếu và quan trọng mà Thiên Chúa muốn hơn là quá chú trọng đến các chi tiết luật và những điều thứ yếu. Người thông luật này thuộc khuynh hướng thứ hai.
    Chúa Giêsu dùng cơ hội này để cống hiến một sự mới mẻ khi tóm tắt mọi lề luật vào trong hai giới răn: “Mến Chúa, yêu người, như là cốt lõi của lề luật.”

    1- Mến Chúa, giới răn quan trọng nhất

    Trước hết, Chúa Giêsu trả lời câu hỏi của người thông luật: “Nghe đây, hỡi Ítraen, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc 12,29-30).

    Đối với người Do Thái, câu trả lời này không có gì mới mẻ cả, bởi lẽ, những điều này được nói ở trong Cựu Ước mà họ rất quen thuộc. Cụ thể, trong sách Đệ Nhị Luật mà bài đọc I trích dẫn nói về giới răn này: “Nghe đây, hỡi Ítraen! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4). Ở đây, Chúa Giêsu vừa kế thừa vừa kiện toàn luật Cựu Ước khi nhắc lại điều quan trọng và chính yếu của lề luật.

    Vậy thì “người phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” có nghĩa là gì?

    Trong Mátthêu, từ có từ “hết” được lặp lại ba lần, còn trong Máccô, từ “hết” được lặp lại bốn lần để nhấn mạnh rằng con người phải yêu mến Thiên Chúa với toàn vẹn và trọn vẹn con người mình. Nghĩa là yêu mến Thiên Chúa đòi hỏi một sự dấn thân toàn bộ và trọn vẹn con người: cả con tim, tâm hồn, lý trí và cả thể lý chúng ta. Đây là giới răn quan trọng nhất. Điều này có nghĩa Thiên Chúa phải ở chỗ quan trọng nhất, vị trí số một trong cuộc đời tôi. Vì thế, mọi chọn lựa, suy nghĩ, tâm tư tình cảm và hành động của tôi phải được chi phối từ hệ giá trị này.

    Như thế, Chúa Giêsu muốn thiết lập lại tương quan nền tảng thứ nhất của con người với Thiên Chúa. Theo đó, con người hiện hữu nhờ Thiên Chúa. Con người được tạo dựng để yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa. Con người chỉ tìm được ý nghĩa và hạnh phúc cuộc sống khi sống kết hợp và yêu mến Người. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu gọi đó là điều răn quan trọng nhất.

    2- Yêu người, giới răn thứ hai

    Kitô giáo không phải là một tôn giáo “duy thiên” hay “duy linh” mà là một tôn giáo nhập thể và nhập thế. Con người không chỉ có tương quan chiều dọc với Thiên Chúa, nhưng còn có tương quan chiều ngang với tha nhân. Con người sống là sống bởi, sống với, sống vì tha nhân.

    Chúa Giêsu tóm tắt đạo lý này trong giới răn thứ hai: “Người phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác trọng hơn các điều răn đó” (Mc 12,31). Đây chính là sự mới mẻ mà Chúa Giêsu mang đến. Người tóm tắt mọi lề luật vào trong hai giới răn. Người liên kết giới răn thứ nhất với giới răn thứ hai lại với nhau. Theo Chúa, người ta không thể đối lập Thiên Chúa với con người, cũng không thể đối lập con người với Thiên Chúa. Cũng không có sự mâu thuẫn giữa hai tình yêu. Yêu mến Thiên Chúa thì phải yêu thương tha nhân. Yêu thương tha nhân là bằng chứng yêu mến Thiên Chúa, và hơn thế nữa, yêu thương tha nhân là yêu mến Thiên Chúa (x. Mt 25,45; 1 Ga 4,20). Và mọi tội chống lại con người là chống lại Thiên Chúa.

    Nhưng chúng ta cần phải phân tích giới răn thứ hai với cụm từ “yêu người thân cận như chính mình.” Ở đây, chúng ta để ý chữ “như chính mình” làm tiêu chuẩn đo lường cho tình yêu đối với tha nhân. Theo tiêu chuẩn này, nơi khác Chúa Giêsu nói: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Bởi lẽ, ai cũng mong muốn và làm điều tốt, điều lành cho mình; không ai muốn làm những điều xấu cho mình (trừ người điên)… Chẳng hạn, không ai trong chúng ta lại muốn mình đau khổ, thất bại và gặp tai họa, nhưng ai cũng muốn mình được bình an, thành công và hạnh phúc; ai cũng muốn được người khác tôn trọng, đối xử công bằng và quý mến mình. Từ đó, chúng ta hãy mong muốn và làm cho người khác những điều tương tự như thế.

    Như vậy, yêu mến Thiên Chúa hướng chúng ta tới việc yêu mến tha nhân như chính mình và ai yêu thương là chu toàn lề luật.

    3- Những mẫu gương mến Chúa yêu người

    Tuy nhiên, mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người như chính mình là hai điều rất khó khăn. Để thực thi điều đó, chúng ta cần ơn Chúa giúp. Vì với ơn Chúa giúp, mọi sự đều có thể. Chúng ta còn phải cố gắng không ngừng để vượt lên những rào cản là tính ích kỷ, kiêu ngạo và quy ngã. Vì thế, nhiều lúc chúng ta cảm thấy mến Chúa thì dễ hơn yêu người; nhiều lúc mến Chúa và yêu người là điều không thể. Khó khăn lắm!

    Chúng ta tìm thấy những mẫu gương sáng chói soi sáng và giúp chúng ta sống. Xin kể ra đây một số gương mặt nổi bật.

    Trước hết, phải kể đến mẫu gương Chúa Giêsu. Người đã sống trọn lý tưởng mến Chúa và yêu người một cách hoàn hảo. Người hoàn toàn vâng phục Chúa Cha và đã hiến thân chịu chết vì loài người. Người không chỉ yêu những kẻ yêu thương mình, mà còn yêu thương cả những kẻ thù địch với mình.

    Thứ đến là mẫu gương của cha Maximilianô Maria Kolbe, ngài là một sĩ dòng Phanxicô, người Ba Lan. Ngài bị bắt và bị nhốt ở trại trại tập trung Auschwitz của Đức Quốc Xã. Cuối tháng 7 năm 1941, có ba tù nhân trốn khỏi trại, khiến phó chỉ huy trại bắt 10 người đàn ông chết thay bằng cách bỏ đói trong hầm ngầm để răn đe việc trốn trại. Một trong những người bị chọn có Franciszek Gajowniczek, anh này kêu lên: “Tôi còn vợ tôi! con tôi nữa!” Kolbe động lòng thương và tình nguyện chết thay cho anh này. Đó là nghĩa cử thể hiện cách tuyệt hảo về lòng mến Chúa và yêu người.

    Mẫu gương cuối cùng có thể kể ra đây đó là Mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ là một nữ tu người gốc Albani, nhưng vì được thúc đẩy bởi tình yêu Chúa và lý tưởng phục vụ tha nhân, Mẹ đã sang Ấn Độ để hiến trọn cuộc đời phục vụ người nghèo, đặc biệt là người bất hạnh nhất. Mẹ đã lập dòng Thừa Sai Bác Ái để cùng với các nữ tu chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối ở Ấn Độ và nay khắp nơi trên thế giới đều có sự hiện diện của dòng này. Sứ mạng của Mẹ và dòng này là phục vụ Chúa trong người nghèo. Mẹ đã được cả thế giới biết đến với lòng kính trọng như là biểu tượng của lòng bác ái Kitô giáo đương thời. Mẹ đã sống trọn vẹn hai giới răn mến Chúa và yêu người cách tuyệt hảo noi gương Chúa Giêsu.

    Và trong lịch sử Giáo Hội, có rất nhiều vị thánh khác, nhiều con người và các tổ chức, dòng tu đã dân thân phục vụ con người theo tinh thần của Phúc Âm. Đó chính là những mẫu gương sáng chói của việc thực thi giới răn mến Chúa yêu người.

    Noi gương các ngài, chúng ta được mời gọi sống triệt để hơn hai giới răn quan trọng và chính yếu này trong đời sống hằng ngày, là mến Chúa và yêu người. Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người thân cận, thì đó là bằng chứng chúng ta đang sống theo giáo huấn của Chúa Giêsu. Nhưng ngược lại, nếu chúng ta chỉ chọn một trong hai, hoặc đối lập chúng, thì chúng ta đã quên điều chính yếu mà Chúa Giêsu hôm nay giới thiệu và nối kết, vì mến Chúa và yêu người là cốt lõi của Kitô giáo chúng ta. Amen!

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Tin mừng cho chúng ta biết có nhiều cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với những người chống đối thù nghịch với Ngài.  Cuộc tranh luận trong bài Tin mừng hôm nay do nhóm kinh sư, luật sĩ đặt ra về điều luật nào trong Kinh thánh quan trọng nhất.  Chủ đích của nhóm luật sĩ này không phải để học hỏi hay trao đổi, mà họ muốn gài bẫy để kết án Chúa Giêsu. Và cũng nhờ cuộc tranh luận này mà Chúa đã mạc khải cho chúng ta một chân lý.  Chúa Giêsu đã tóm tắt tất cả luật cũ vào một giới răn, đó là giới răn: Mến Chúa Yêu Người.

    Có một giáo lý viên đang dạy giáo lý cho một người dự tòng. Một hôm, người dự tòng hỏi: “Cốt lõi, điểm đặc biệt nhất của Ðạo Công Giáo là gì?”  Giáo lý viên đáp: “Là Yêu Thương.”  Người dự tòng là một thanh niên, nghĩa là đang ở tuổi yêu đương, nên gật gù tỏ ra rất thấm thía với câu trả lời của giáo lý viên. Nhưng sau một lúc suy nghĩ, anh lại đặt vấn đề: “Yêu thương thì tôi đã nghe nói rất nhiều, và rất nhiều người nói.  Những cặp tình nhân luôn miệng nói yêu nhau, những đạo khác, đạo nào cũng dạy người ta sống yêu thương, và ngay cả những tổ chức không có đạo cũng dạy người ta yêu thương nhau.”  Rồi anh này đưa ra 2 kết luận hết sức bất ngờ.  Thứ nhất, đạo Công giáo chẳng có gì hơn những đạo khác, mà cũng không hơn không có đạo.  Thứ hai, chẳng cần vào đạo Công giáo mới biết yêu thương.”  Thế là giáo lý viên bí!

    Chúng ta phải công nhận rằng người dự tòng trên đã nhận xét rất đúng. Yêu thương là tình cảm cao đẹp nhất trong con tim, trong tâm hồn của mọi người. Vì thế không cần đạo Công giáo dạy, không cần Chúa Giêsu dạy, mọi người cũng đều biết và trân trọng tình cảm yêu thương.  Nhưng câu hỏi là: chẳng lẽ đạo Công giáo của chúng ta không có gì hơn các đạo khác sao?  Chẳng lẽ Chúa Giêsu từ trời xuống thế làm người mà chẳng dạy gì hay hơn điều mà mọi người đã biết hết rồi sao?  Vì thế chúng ta phải tìm hiểu kỹ lại bài Tin Mừng hôm nay mới được.

    Trước hết, tình thương của con người có nhiều cấp bực khác nhau. Thương một người bạn hay hàng xóm thì không bằng thương anh chị em ruột. Thương anh chị em cũng không bằng thương cha mẹ, và thương ai cũng không thể nào bằng thương người tình của mình. Thương mình chứ không thể nào thương kẻ thù.  Và thứ hai, đối với một người có đạo thì họ nghĩ phải yêu Chúa trên hết, kế đó mới yêu thương những người khác.  Còn Chúa Giêsu thì dạy phải mến Chúa yêu người đồng hành và khắng khít với nhau.  Phải đặt yêu người và mến Chúa ngang nhau.  Có nghĩa là không thể mến Chúa mà lại thù ghét anh chị em hay ngược lại.  Nghĩa là chúng ta mến Chúa bao nhiêu thì cũng phải thương người bấy nhiêu. Nói cách khác, chúng ta phải coi người khác như Chúa vậy, và phải thương người khác như yêu mến Chúa. Ðó chính là điểm độc đáo của giới răn Yêu Thương Công Giáo.

    Thành thật mà nói thì yêu Chúa dễ hơn.  Vì sao?  Vì Chúa dễ yêu lắm, ai cũng có thể nói yêu Chúa được. Thế nhưng chúng ta hãy thành tâm tự hỏi: Chúng ta có chân thành yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức chúng ta không?   Chúng ta có thể cho mình là yêu mến Chúa nhưng nhiều khi chỉ yêu ngoài môi miệng, hay bằng đọc dăm ba câu kinh, hay đến nhà thờ xem lễ một tuần một lần nhưng tâm trí thì lại để ở đâu đó. Yêu Chúa rất dễ vì Chúa chẳng phản ứng gì cả với thái độ yêu bề ngoài của chúng ta.

    Còn yêu người thì sao?  Chắc chắn là khó hơn và chúng ta cũng đã nghe nhiều về vấn đề này, nhưng có thể nói chẳng bao giờ nghe đủ. Vì thế ở đây tôi xin được chia sẻ một vài điều.  Điều thứ nhất, yêu người là một giới luật, một mệnh lệnh của Chúa, không phải là một đề nghị hay một lời kêu gọi. Và cũng là thước hay tiêu chuẩn thực tế để đo lường và đánh giá tình yêu của chúng ta đối với Chúa.  Nghĩa là nếu chúng ta nói chúng ta yêu Chúa mà chúng ta sống ích kỷ, thu hẹp, sống không công bằng, gian dối hay lừa dối người khác, bất kể người đó là ai, thì chúng ta là người nói dối. Thánh Gioan khẳng định rằng: “Nếu ai nói tôi yêu mến Chúa mà lại ghét anh chị em mình, người ấy là kẻ nói dối.”

    Điều thứ nhì, yêu người không phải chỉ là yêu thương theo tình cảm, có nghĩa là chỉ yêu thương những người thương mến chúng ta, còn đối với những người khác thì không. Nếu chúng ta chỉ yêu thương những người yêu thương chúng ta đó là chuyện bình thường và thường tình vì ai cũng làm điều đó, không cần phải đề cập tới và không có gì để nói.  Yêu người theo giới luật của Chúa là yêu thương cả những người không có liên hệ gì với chúng ta, kể cả người thù ghét, làm hại chúng ta.  Điều thứ ba, yêu người không phải chỉ ngoài môi miệng mà bằng hành động cụ thể như sẵn sàng, hy sinh, có lòng bác ái, quảng đại giúp đỡ bằng việc làm tinh thần hay vật chất. Và điều sau hết rất quan trọng mà chúng ta phải ghi nhớ: tới ngày phán xét, chúng ta sẽ bị phán xét thưởng phạt về giới răn yêu thương: yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn và linh hồn và yêu thương người khác như chính mình.

    Đạo của Chúa và của chúng ta là đạo tình yêu, vì chính Thiên Chúa là tình yêu.  Vì thế, Ngài mời gọi tất cả mọi người sống trong tình yêu của Ngài.  Ngài đã hy sinh con yêu dấu của Ngài để tỏ lòng yêu thương chúng ta những người không xứng đáng, những người tội lỗi, vô điều kiện và ban cho chúng ta ơn cứu độ và sự sống vĩnh cửu đời sau. Chúa Giê-su vì yêu thương đã chịu chết trên thập giá cho chúng ta, và Chúa còn hiện diện trong Bí tích Thánh Thể để trở thành của ăn nuôi linh hồn chúng ta.  Khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể chính là kính nhớ đến tình yêu cao cả của Chúa cho chúng ta.  Như vậy, nếu sống giới răn Yêu Thương của Chúa thì sẽ trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa.

    Xin cho tình yêu của Chúa trong Thánh lễ chúng ta dâng, không kết thúc tại nhà thờ nhưng kéo dài trong cuộc sống. Tình yêu Chúa được nhận lãnh ở nhà thờ phải được tỏa lan đến từng gia đình, đến cộng đoàn và đến những người sống chung quanh chúng ta.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 28 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 28 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Kn 7,1-7; Dt 4,12-13; Mc 10,17-30

    ——- 

    Mục lục

    1. Tôi phải làm gì?  (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Ngươi chỉ thiếu một điều (Lm. Jos DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    3. Đức khôn ngoan của Thiên Chúa  (Jorathe Nắng Tím)

    4. Để được sống đời đời (Lm. Thái Nguyên)

    5. Cái vĩnh cửu và cái tạm thời  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    6. Chân dung người môn đệ  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Đầu tư vào Nước Trời (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    8. Thiếu một điều  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    9. Cửa chật, lối hẹp  (Trầm Thiên Thu)

    10. Chìa khóa mở cửa Thiên đàng  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    11. Người thừa tự  (Lm. Vũ Đình Tường)

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Lựa chọn khôn ngoan (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Hạnh phúc qua việc trao ban  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Kho báu đích thực  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    4. Bán đi và theo Thầy (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    5. Lời mời gọi theo Chúa (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

    6. Lấy của cải tạm thời đổi lấy kho tàng bền vững (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    7. Người công chính Tân ước (Lm. Giuse Nguyễn Hữn An)

    8. Bán đời  (Trầm Thiên Thu)

    9. Suy niệm Chúa Nhật 28 Thường niên_B  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    10. Cách kiếm tiền và cách sử dụng tiền (Lm. Anthony Trung Thành)

    11. Sự sống đời đời là mục tiêu tối hậu  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    12. Nhân lành  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    13. Tin Đức Giêsu (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    14. Tin mừng Chúa Nhật 28 (Jorathe Nắng Tím)

    15. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 28 Thường niên_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    16. Thập giá – Đường hy vọng (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    17. Đầu tư khôn ngoan  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    18. Sự khôn ngoan đích thực  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    19. Hai sự khôn ngoan (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    20. Hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh (JM. Lam Thy, ĐVD)

    21. Kho báu trên trời (Fx. Đỗ Công Minh)

    22. Huyền nhiệm ơn gọi (Lm. Vũ Xuân Hạnh)

    23. Đứt ruột  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    24. Trao dâng thân phận (Lm. Giuse Nguyễn)

    25. Tìm kiếm  (Lm. Thái Sơn)

    26. Có hai cách để lạc đà chui qua lỗ kim  (Lm. Alf. Nguyễn Công Minh, OFM)

    27. Cân nhắc cái giá phải trả khi làm môn đệ Chúa (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

    28 Chúa Nhật 28 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

     

    Năm 2015

    Mục lục

    1.  Chọn lựa ưu tiên  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2.  Khôn ngoan  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3.  Giàu: Tốt hay xấu  (Gm. Arthur Tonne)

    4.  Cuộc đời cho đi mới đẹp  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền, Gp. Xuân Lộc)

    5.  Tốt lành và nhân lành  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    6.  Tiền bạc là phân bón của ma quỷ  (Văn Hào, SDB)

    7.  Lối nhỏ đường sống  (Trầm Thiên Thu)

    8.  Chúa Nhật 28 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ Giuse, Tulsa)

    9.  Tin và theo Chúa Giêsu  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    10.  Lối thoát hiểm  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    11.  Sống với ước mơ và hy vọng  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    12.  Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc)

    13.  Sống siêu thoát để nên môn đệ thực sự của Chúa Giêsu (Lm. Đan Vinh)

    14.  Khôn ngoan đích thực  (Huệ Minh)

    15.  Được gấp trăm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

     

    TÔI PHẢI LÀM GÌ?

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Một bạn trẻ đã đến với Chúa Giêsu và đặt câu hỏi: Thưa Thày, tôi phải làm gì? Bạn trẻ này là đại diện của số đông những người đang đi kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời. Quả vậy, cuộc sống là một hành trình liên lỉ kiếm tìm hạnh phúc. Có điều là quan niệm về hạnh phúc nơi mỗi người lại khác nhau. Chàng thanh niên trong Tin Mừng được kể là một người đạo hạnh. Từ thuở nhỏ, anh nghiêm túc tuân giữ những gì Chúa dạy trong luật Môisen: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ. Anh rất tự tin để khẳng định với Chúa Giêsu về những thực hành đạo đức của mình. Tuy vậy, Chúa muốn cho anh tiến xa hơn trên con đường trọn lành. Xem ra Chúa chưa hài lòng về những gì anh đã và đang làm. Người đặt ra một điều kiện: ai muốn theo Chúa thì phải từ bỏ mọi sự. Khi Người yêu cầu người thanh niên bán hết mọi gia sản, tức là Người đòi hỏi anh phải từ bỏ những gì gắn bó, thậm chí từ bỏ chính bản thân để theo Chúa.

    Tôi phải làm gì? Đó cũng là câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra thường xuyên, để lượng giá những việc mình đang làm và mục đích mình đang hướng tới. Câu hỏi này cũng giúp chúng ta nhìn lại bản thân, để nhận ra sứ vụ mà Chúa muốn mình phải thực hiện trong cuộc sống. Sống trên đời, mỗi người có một sứ vụ phải hoàn thành. Tuy vậy, để nhận ra sứ vụ đích thực của cuộc đời là một vấn đề khó khăn. Có nhiều người long đong lận đận, ôm nhiều ảo mộng, nên đã ở tuổi xế chiều vẫn chưa xác định được sứ mạng cuộc đời của mình.

    Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời? Thưa cần có ơn khôn ngoan. Bài đọc I chỉ cho chúng ta thấy sự cần thiết của ơn khôn ngoan. Tác giả đã nói đến giá trị của sự khôn ngoan như sau: “Đem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không. Tôi cũng không so sánh nó với kim cương, vì mọi thứ vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn”. Theo giáo huấn của Giáo Hội, ơn khôn ngoan là một trong bảy ơn của Chúa Thánh Thần. Ơn này giúp chúng ta nhìn rõ bản chất của sự việc hay của một con người, chứ không quan sát theo cảm tính hay theo vẻ hào nhoáng bên ngoài. Vì những gì bóng bẩy bên ngoài thì hay đánh lừa giác quan. Giống như cách tiếp thị của dịch vụ quảng cảo trên các phương tiện truyền thông. Trong số những quảng cáo này, có nhiều sản phẩm là hàng giả hoặc kém chất lượng, nhiều người đã bị lừa và tiền mất tật mang.

    Cũng theo giáo huấn của Giáo Hội, sự khôn ngoan đích thực là Thiên Chúa. Sự khôn ngoan ấy được ngôi vị hoá nơi Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Kitô. Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Người là Đấng Cứu độ trần gian. Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống”. Qua lời tuyên bố này, Người khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Người dẫn tới Chúa Cha, là nguồn mạch của mọi ơn phúc.

    Tin vào Đức Giêsu Kitô, đó là bí quyết để đạt được khôn ngoan và cũng đạt được hạnh phúc đời này và đời sau. Khi nghe Chúa Giêsu so sánh việc vào nước trời khó khăn giống như con lạc đà chui qua lỗ kim, thánh Phêrô đã nói với Chúa: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”. Lời thánh Phêrô diễn tả mối băn khoăn của ông khi theo Chúa. Đó cũng là mối băn khoăn của chúng ta: theo Chúa thì được gì? biết bao nhiêu người không theo Chúa mà cũng hạnh phúc sung sướng. Chúa hứa với thánh Phêrô và các môn đệ: họ sẽ được gấp trăm những gì họ đã từ bỏ vì Chúa. Thực tế đã chứng minh: đối với linh mục và tu sĩ, là những người từ bỏ mọi sự trần gian để theo Chúa, Chúa ban cho họ gấp trăm, thậm chí gấp ngàn lần.

    Cùng với tác giả Thánh Vịnh 89, chúng ta cầu nguyện: “Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con”. Giữa thời buổi bất an và tràn ngập những ưu tư lo lắng, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn khôn ngoan và nghị lực để chúng ta can đảm chọn lựa Chúa, với xác tín Chúa sẽ thưởng gấp trăm những gì chúng ta dám hy sinh vì Ngài.

    Về mục lục

    NGƯƠI CHỈ THIẾU MỘT ĐIỀU

    Lm. Jos. DĐH.

    Tôi phải làm gì để không thua chị kém em, tôi phải chăm chỉ làm ăn như thế nào để đủ điều kiện nuôi sống gia đình ? Biết đặt câu hỏi, biết gợi lên những thắc mắc về cuộc sống hiện tại và tương lai của mình, đã khá lắm rồi. Cha ông chúng ta quả là dầy dạn kinh nghiệm, khi nói: biết đặt câu hỏi ngu ngốc, cùng lắm bị xem là ngốc nghếch dăm ba phút, nhưng kẻ không dám đặt câu hỏi, sẽ ngu ngốc suốt cả cuộc đời. Thực ra, được thành đạt về công danh sự nghiệp, khoẻ mạnh tinh thần và thể xác, bao giờ cũng là mơ ước chính đáng. Chúng ta quan niệm: người giầu là người nhiều tiền lắm của, người tài giỏi là người thông minh, thắng vượt được những khó khăn, biết cư xử hợp tình hợp lý trước mọi tình huống cuộc sống, thì không sai. Nhưng trên hết, cuộc sống có dư đủ mọi thứ, mà thiếu tình yêu, bạn vẫn là kẻ thất bại hoàn toàn.

    Có hay không: kẻ giầu sang phú quý đi đến đâu cũng thấy bạn, kẻ nghèo hèn, có thể gục ngã rồi vẫn chẳng thấy bạn đâu ! Đúng, sai, bạn ngẫm nghĩ thử coi, cùng đích đời người là gì ? Dẫu quyền quý thanh cao hay bần cùng túng thiếu, ai cũng có một lần an giấc ngàn thu. Cả giầu sang lẫn vĩ đại, đều không thể mang đến cho bạn hạnh phúc. (La Fontain). Có phải tình yêu, bình an, hay đời sống tinh thần được thanh thản, đang gợi lên mơ ước cho bạn, đang hé mở cho bạn hạnh phúc thật, ở nơi đâu ? Vâng, “tôi phải làm gì để được hạnh phúc, để có sự sống đời đời” ? Phải là người khôn ngoan, bạn mới đi tìm kiếm hạnh phúc, phải là người nhạy bén, bạn mới biết đặt vấn đề sự sống đời đời. Vị Thầy Giêsu đã thắp lên một tin vui, thúc đẩy mọi người phải dứt khoát: “ngươi chỉ thiếu một điều, hãy bán hết của cải, rồi theo Ta”.

    Người thanh niên “giầu có” trong tin mừng bỏ lỡ một cơ hội, anh ta không đủ mạnh dạn từ bỏ của cải để làm môn đệ Thầy Giêsu. Người thanh niên đó thiếu một điều quan trọng, từ bỏ bao giờ cũng khó, đồng tiền dính liền khúc ruột, tiền của vật chất có sức mạnh đáng sợ đối với con người tự nhiên là thế đó. Có khi nào bạn thắc mắc bao nhiêu tuổi đời thì được gọi là khôn, duy chỉ một con đường theo Thầy Giêsu, mới tìm thấy hạnh phúc đúng không ? Người thanh niên đã bộc bạch, anh ta không làm điều xấu, đã nghiêm túc sống giới luật Chúa ngay từ thuở nhỏ. Rõ ràng không làm điều xấu, nhưng phải làm điều thiện, cả 2 vế đều có liên hệ với nhau. Biết tìm đến Đức Giêsu, nghe, hiểu, quyết tâm rũ bỏ mọi sự theo Ngài làm môn đệ, nhất định bạn phải là người khôn ngoan, bạn sẽ được cảm nếm sự sống đời đời.

    Ngươi chỉ thiếu một điều, Thầy Giêsu có nguyên tắc quá không, có khắt khe không ? Vâng, chúng ta sẽ không phải thắc mắc, không phải tìm kiếm con đường dẫn tới hạnh phúc, hoặc tôi phải từ bỏ những gì để có sự sống đời đời, cuộc đối thoại giữa Thầy Giêsu và người thanh niên quá rõ rồi. Người Hy-lạp định nghĩa hạnh phúc là người hội đủ 3 thứ: sức khoẻ, trí thông minh, sự giầu sang. Cha ông chúng ta thì nói: hạnh phúc không phải là không có rắc rối, nhưng hạnh phúc là có đủ bình tĩnh để đối phó trước những rắc rối. Tin và theo Đức Giêsu, làm môn đệ Thầy Giêsu, nghĩa là ta đang từ bỏ mình, vác thập giá hàng ngày làm nhân chứng tình yêu. Là chúng ta đang thấy rõ hơn: hạnh phúc là được yêu khi trẻ, thành đạt lúc trung niên, và bình an trong mọi lứa tuổi.

    Ngươi chỉ một điều, đó là mến Chúa nhưng chưa yêu người. Ngươi chỉ thiếu một điều, tin Thầy, theo Thầy, nhưng lại tự ý làm việc và hoạt động theo cảm tính của mình, chẳng muốn làm đúng ý Thầy. Ngươi chỉ thiếu một điều, có thể bạn là môn đệ Thầy, là anh em con cháu của Thầy, nhưng chưa xả thân, chưa dám bỏ mình, bỏ tâm tính ích kỷ của mình, nên bạn chỉ có danh mà sẽ không có phận. Ngươi chỉ thiếu một điều, đó là bạn tin vào của cải vật chất và tìm sự sống ở đời này, do đó bạn vẫn mãi là tên hề, đang lẫn lộn giữa hạnh phúc thật và giả. Đúng, “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào nước Thiên Chúa” ! Người khôn ngoan là người biết làm việc thiện, xa tránh điều xấu, người tin theo Thầy Giêsu là đi con đường Thầy đi, con đường chật hẹp, con đường có tên là yêu thương, có sức mạnh của Giêsu.

    Ngươi chỉ thiếu một điều, hãy mặc lấy tinh thần mới của Đức Kitô, không phải bán gia tài theo nghĩa đen, hãy nhận lấy, giữ lấy, niềm tin yêu và khao khát được phục vụ trong đức ái Kitô. Hãy thử suy xét xem, tại sao cha ông ta lại nói: người làm điều thiện, phúc dù chưa tới, hoạ đã rời xa; người làm điều ác, hoạ dù chưa đến, phúc đã ra khỏi ta rồi. Đi tìm hạnh phúc, tìm sự sống đời đời là đúng, ấy vậy, hạnh phúc không tự nhiên đến, hạnh phúc sẽ đến từ chính hành động của ta. Sự sống đời đời không thể mua bằng tiền, sự sống sẽ đến từ tâm hồn có tình yêu Chúa, có những việc làm bằng tình yêu Chúa. Ngươi chỉ thiếu một điều, mến Chúa mà không yêu người, giầu tiền lắm của mà không sử dụng, ngươi có khác gì người nghèo không ? Hy vọng rằng, ai trong chúng ta cũng đủ khôn khi theo Chúa làm môn đệ: ở có nhân, mười phần chẳng khốn, ở có đức mặc sức mà ăn. Amen.

    Về mục lục

    ĐỨC KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA

     Jorathe Nắng Tím  

    Những nuối tiếc, hối hận làm ray rứt con người hơn cả, nhất là khi về già, chính là những chọn lựa và quyết định thiếu khôn ngoan, những hành vi dạo dột, thái qúa bất cập, và thiếu chuẩn mực của mình trong quá khứ, bởi càng sống, người ta càng cảm nhận đức khôn ngoan thực “quý hơn trân châu bảo ngọc”, chẳng gì  sánh được, “vì vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan, cũng chỉ là cát bụi” (Kn 7, 9).

    Thực vậy, Đức Khôn Ngoan quý hơn cả “sức khoẻ và sắc đẹp”, “vì vẻ rực rỡ của Đức Khôn Ngoan chẳng bao giờ tàn lụi” (Kn 7, 10.11). Nhưng đâu là Đức Khôn Ngoan mà Thiên Chúa muốn ở con người? Đâu là Đức Khôn Ngoan làm cho chúng ta được trở nên “bạn hữu với Thiên Chúa, và được Ngài tin cậy ” (Kn 7, 14) ?

    Thánh Phaolô trả lời cho cộng đoàn tín hữu Do Thái: Đó là Lời Thiên Chúa, vì là “lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi” (Dt 4,12. Theo thánh nhân, Lời Thiên Chúa giúp chúng ta nhận định rõ vấn đề, phân tích ngọn ngành, đến nơi đến chốn và phân định chính xác để đúng đắn chọn lựa.

    Sở dĩ Lời Chúa ban ơn khôn ngoan cho chúng ta trong mọi lựa chọn, vì tất cả con người của ta được lộ nguyên hình trước ánh sáng của Lời Chúa, như thánh nhân quả quyết: “Không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bầy trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4, 13).

    Chính vì được phơi bày trần trụi trước Lời Chúa, mà những bóng tối thành kiến, thiên kiến, những mảng tối ích kỷ, tham lam, ganh ghét, thù hận trong chúng ta được ánh sáng Lời Chúa xua đuổi, quét sạch, để chúng không ảnh hưởng trên phân định và  chọn lựa của chúng ta, nhờ thế, chúng ta  có sự khôn ngoan khi phân định, khôn ngoan khi chọn lựa, khôn ngoan khi hành động.

    Qua kinh nghiệm bản thân, chúng ta không khôn ngoan, phần lớn vì đã kiêu căng, tìm danh vọng, quyền lực, và ích kỷ, tham lam, đố kỵ, hận thù; chúng ta thiếu khôn ngoan vì đã không đủ yêu thương tha thứ, không đủ quảng đại chia sẻ, không đủ kiên trì chịu đựng, và nguyên nhân đưa đến những “thiếu khôn ngoan, không khôn ngoan” ấy, chính là vì Lời  Chúa là Ánh sáng đã không chiếu sáng tâm trí, Lời Chúa là sự sống đã không nuôi dưỡng tâm hồn, Lời Chúa là Nguồn Vui, Hy Vọng đã không làm tươi trẻ đời sống chúng ta.

    Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta thấy sự cần thiết của Đức Khôn Ngoan để người môn đệ đi theo Ngài nhận ra: đâu là mục đích của đời mình, đâu là cùng đích của đường đời, đâu là bến bờ sẽ phải đạt tới?

    Khi hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10, 17), người thanh niên giàu có đã nói lên mục đích tối hậu của đời người là được sống đời đời trong Nước Thiên Chúa. Hơn nhiều người, anh đã biết: chỉ sự sống đời đời mới là gia nghiệp đích thực, mới là Hạnh Phúc vĩnh cửu mà con người đi tìm trên hành trình cuộc sống.

    Khi trả lời anh, Đức Giêsu cũng khẳng định Nước Trời là mục đích tối hậu con người phải tìm đạt tới khi nói với anh và những người có mặt: “Anh chỉ thiếu có  một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mc 1, 21). Điều này đồng nghĩa với điều kiện để đi theo làm môn đệ Ngài.

    Như thế, Đức Khôn Ngoan mà Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta, chính là Đức Khôn Ngoan của Từ Bỏ, như Đức Giêsu “vốn dĩ là Thiên Chúa” “nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nõi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6. 7-8).

    Đức Khôn Ngoan ấy chắc chắn không phải sự khôn ngoan của loài người, bởi Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa không đi tìm những sự thế gian tìm, không mơ ước những điều thế gian mơ ước. Trái lại, những gì bị coi là “điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất” lại là  khôn ngoan “đối với những người được cứu độ” (x. 1 Cr 1,18), và thánh Tông Đồ dân ngoại quả quyết: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa . Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 22-25).

    Chính vì nhận ra sự khác biệt quá lớn giữa Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của loài người, và vực thẳm khó vượt qua của người giàu không biết từ bỏ đã được Đức Giêsu so sánh: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10,25) mà các môn đệ đã sửng sốt thưa với Ngài: “Thế thì ai có thể được cứu?” (Mc 10,26).

    Vâng, “thật khó biết bao!” (Mc 10, 24), vì “đối với loài người thì không thể được” (Mc 10, 27), với sự khôn ngoan của loài người thì chẳng bao giờ đạt tới Thiên Chúa, hay vào được Nước Trời, nhưng “đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được”, vì Đức Giêsu chịu đóng đinh chính là “sức mạnh và khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1, 24), bởi Ngài “đã cam chịu tử hình, đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ” (Dt 2, 9), là mục đích tối hậu của Đức Khôn Ngoan nơi những người lắng nghe Lời Chúa hằng thao thức, khao khát kiếm tìm.

    Về mục lục

    ĐỂ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Lm. Thái Nguyên

    Qua bài Tin Mừng, ta thấy người thanh niên có đời sống luân lý thật tốt. Anh ta còn cả một ước mơ cao vời là muốn có “được sự sống đời đời làm gia nghiệp”. Một thanh niên có được đời sống tốt lành như vậy trong xã hội hôm nay quả thật rất hiếm. Bao nhiêu thông tin hằng ngày cho thấy bộ mặt giới trẻ thật đáng ngại: trong đời sống luân lý thì phóng túng; trong quan hệ tình yêu thì gian dối; trong giao dịch kinh tế thì mánh mung lừa đảo; trong bổn phận thì thiếu trách nhiệm; trong việc chung thì đùn đẩy; trong học hành thì đối phó, gian lận… Những gì là đạo đức, hiền lành, chân thật, dường như không còn nữa.
    Đối với phái nam như trung, hiếu, hay nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, xem ra đã lạc hậu; đối với phái nữ thì công, dung, ngôn, hạnh, có lẽ đã lỗi thời. Có nhiều lý do bức bách giới trẻ, làm cho họ bị tha hóa. Đúng hơn đó là hậu quả của một xã hội hay một lối sống vô thần, chỉ biết gia tăng kinh tế mà không biết gia tăng đạo đức, chỉ biết tôn thờ khoa học kỹ thuật mà không biết đến Đấng chí tôn, nên tạo ra một lớp người hỗn loạn, yêu cuồng sống vội, nóng ruột kiếm tiền, mê man hưởng thụ, và sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được những gì mình muốn. Trong bối cảnh như vậy, chủ nghĩa duy lợi lên ngôi, là con đẻ của chủ nghĩa duy vật. Nhưng dù sao thì mỗi người vẫn có tự do để sống cuộc đời mình, không thể đổ trách nhiệm cho xã hội hay một lớp người nào.
    Dù sao giữa đám rừng vẫn có những bông hoa đẹp như người thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay. Gặp được Đức Giêsu, anh ta vui mừng hỏi… Nghe Đức Giêsu trả lời, anh ta càng vui mừng hơn vì thấy mình đã sống tốt mọi đòi hỏi của giới luật. Nhưng khi nghe Đức Giêsu mời gọi từ bỏ tất cả để đi theo Ngài… thì anh ta sa sầm nét mặt xuống, và buồn rầu bỏ đi. Không những thế mà xem ra anh ta còn có đau sâu hơn, vì thấy mình có lý tưởng sống mà lại không sống lý tưởng. Anh anh ta bị tiền của trói buộc, không có can đảm thoát ra. Biết rằng sự sống đời đời là trên hết, nhưng đành thúc thủ. Anh ta rất buồn và Đức Giêsu cũng thật buồn. Tình huống đáng buồn này sẽ còn tái diễn mãi mỗi khi ta yêu mình hơn yêu Chúa, yêu của cải hơn yêu con người.
    Đức Giêsu cho thấy người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa biết bao! Vào thời Chúa Giêsu, giàu có được coi là một phúc lành, vậy mà Ngài lại coi đây là một cản trở nguy hiểm. Của cải tiền bạc dễ làm người ta khép kín trước Thiên Chúa và tha nhân. Trong một sứ điệp Mùa Chay, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Việc coi trọng tiền bạc quá đáng không những làm ta xa lìa tha nhân nhưng còn làm cho con người mình trở nên trống rỗng, bất hạnh, sống ảo tưởng, vì đã thay thế Thiên Chúa bằng các của cải vật chất. Làm sao ta có thể hiểu được lòng nhân từ của Thiên Chúa nếu tâm hồn ta đầy tự mãn và những dự phóng riêng của mình, tưởng mình có thể đảm bảo tương lai cho mình?”
    Bi kịch của thanh niên trong Phúc Âm cũng là bi kịch của mỗi người chúng ta, vì ai cũng từng bị giằng co giữa ước mơ bay cao và sự kéo ghì của vật chất, giữa lý tưởng và thực tế, giữa cao thượng và tầm thường. Không thể có chuyện lựa chọn mà lại không từ bỏ, muốn được mà lại không chịu mất. Không chịu mất điều chi thì cũng chẳng được điều gì. Cuộc sống là một cuộc trao đổi, cái gì cũng phải trả giá. Đó là quy luật tự nhiên của đời sống con người, những gì đi ngược lại sẽ bị đào thải. Không biết người thanh niên giàu có này sẽ như thế nào, nhưng trước mắt khó mà hạnh phúc, cho dù nỗi buồn kia anh ta có tìm cách quên đi, nhưng sự khao khát vô biên vẫn không ngừng ray rứt.
    Theo Đức Giêsu là chấp nhận mọi tình trạng, có thể là trắng tay, nhưng lạ thay lại được gấp trăm ngay từ đời này. Đó là điều mà Ngài đã quả quyết với các môn đệ, nhưng điều cao quí nhất vẫn là sự sống đời đời, là chính Thiên Chúa. Thực ra, người theo Chúa mất quá ít mà được thì quá nhiều. Thân phận con người ngay từ bản chất cũng đã gắn liền với mất mát và khổ đau, nên dù có bị ngược đãi hay bách hại vì Chúa Giêsu thì cũng chẳng đáng là gì. Thánh Phaolô đã nói lên điều đó:“Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.” (Rm 18, 18).
    Cầu nguyện
    Lạy Chúa Giêsu!
    Là người ai cũng ươm mơ dệt mộng,
    ai cũng muốn sống an vui và hy vọng,
    đều muốn đạt được những ước mong.
    Hơn thế nữa,
    Chúa còn đặt nơi lòng người một khát vọng,
    muốn sống hoài trong hạnh phúc hiệp thông.
    Như người thanh niên giàu đã hỏi Chúa,
    phải làm gì để được sống đời đời?
    Nghe Chúa trả lời, anh ta chới với,
    vì phải bán hết của cải đem bố thí,
    rồi lên đường và tiến bước theo Ngài.
    Biết rằng sự sống đời đời là trên hết,
    nhưng anh không muốn bị mất hết,
    nên lặng lẽ cúi đầu rồi quay gót,
    anh rất buồn và Chúa cũng thật buồn.
    Tình huống này sẽ còn luôn tái diễn,
    khi con yêu mình hơn yêu Chúa,
    yêu của cải hơn yêu con người,
    yêu đời này hơn yêu sự sống đời sau.
    Thực tế từng ngày theo Chúa,
    cuộc đời con vẫn có những giằng co:
    ước mơ bay cao và kéo ghì của vật chất;
    muốn cho đi nhưng cũng muốn giữ lại;
    muốn dâng trao nhưng cũng muốn thu vào.
    Xin cho con có được lòng can đảm,
    bán dần đi mọi sở hữu trong đời,
    để bước đi theo Chúa ở mọi nơi,
    như Chúa vẫn kêu mời và mong đợi,
    vì con chỉ có Ngài là tất cả Chúa ơi! Amen. 

    Về mục lục

    CÁI VĨNH CỬU VÀ CÁI TẠM THỜI

    Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

    Thế giới ngày hôm nay có đầy sự hấp dẫn, khiến người ta thích những gì là tạm bợ, và không thích những gì là bền vững.
    Trong cuộc gặp gỡ các chủng sinh, khấn sinh và tập sinh tại hội trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha Phanxicô kể, ngài đã nghe một chủng sinh, một chủng sinh tốt lành nói rằng anh muốn phục vụ Đức Kitô, nhưng chỉ 10 năm thôi, và rồi anh sẽ nghĩ đến việc bắt đầu một cuộc sống khác… và ngài kết luận, thật nguy hiểm! Tuy tạm thời, nhưng điều này thật nguy hiểm bởi vì ta không đánh cược đời mình một lần cho tất cả. Tôi kết hôn chừng nào còn yêu; tôi sẽ là một nữ tu nhưng chỉ trong một “thời gian ngắn” thôi, trong “một khoảng thời gian nào đó” và tôi sẽ tính tiếp, tôi không biết câu chuyện sẽ kết thúc thế nào. Thế này thì không phải với Đức Giêsu! Đúng là cái thứ văn hóa tạm thời, nó không làm cho chúng ta nên tốt đẹp: bởi vì đưa ra một lựa chọn dứt khoát ngày nay thật là khó. Chúng ta là những nạn nhân của nền văn hóa tạm thời này.
    Cái tạm thời đã cản trở chàng thanh niên
    Chành thanh niên trong Tin Mừng là ai? Là con nhà giàu có. Nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay thì anh ta là một thiếu gia. Nhưng một thiếu gia có lối sống gương mẫu, không bồ bịch lăng nhăng, không đua đòi ăn diện. Anh rất thành tâm thiện chí tuân giữ cả Mười Giới Răn một cách nghiêm túc từ thủa nhỏ, không ai chê trách được điều gì. Tắt một lời, anh là người hết sức gương mẫu trong việc chu toàn các đòi hỏi của Mười Điều Răn.
    Hơn thế nữa, anh còn là một người nhiệt huyết và cầu tiến, không bằng lòng với cuộc sống hiện tại, nên anh thao thức đi tìm kiếm con đường trọn lành, để hoàn thiện. Chính vì những đức tính đó mà anh được Chúa Giêsu đem lòng thương mến. Người còn muốn mời gọi anh tiến xa thêm một bước nữa trên đường hoàn thiện. Đó là đem bán tất cả của cải là cái tạm thời và đem bố thí cho người nghèo để được kho tàng trên trời là cái vĩnh cửu, rồi đến theo Chúa Giêsu làm môn đệ của Người. Tin Mừng cho biết: “Anh sù nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10,22). Vậy là, cái tạm thời đã rào cản anh.
    Vượt qua rào cản
    Chàng thanh niên trong Tin Mừng hôm nay thật tuyệt vời. Nếu xưa nay người ta cứ tưởng có một đời sống luân lý hoàn hảo đã đủ bảo đảm về mặt đạo đức, tiền bạc dư thừa bảo đảm về mặt vật chất, thì anh vẫn mang trong mình khát vọng sống đời đời cho dù anh đã thủ đắc trong tay toàn bộ những thứ đó.
    Để biến khát vọng thành hiện thực, anh đã tìm đến với Đức Giêsu là Đấng mà anh gọi là nhân lành. Đức Giêsu đã chỉ cho anh : “Hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người khó khó” (Mc 10,17). Bán sạch tài sản mà cha mẹ anh và chính anh đã vất vả tích lũy một đời bằng mồ hôi nước mắt; đã thế, còn đem bố thì hết cho người nghèo, còn mình trở nên trắng tay mà có sự sống đời đời sao?Một lời mời gọi mới khó làm sao!
    Đây là một rào cản anh phải vượt qua, trở nên nghèo vì người nghèo. Vì chính lúc nghèo như thế, “anh có một kho báu trên trời” (Mc 10, 21). Kho báu đó đang hiện diện ngay trước mặt anh. Thế nên, Đức Giêsu mới nói : “Rồi đến theo Ta” (Mc 10,21). Đức Giêsu là một giá trị vượt trên tất cả những của cải trần gian, vì Người là “sức mạnh và sự không ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24). “Trong Người có cất giấu một kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết” (Cl 2, 3). Gia tài của chàng thanh niên có là gì so với Đức Khôn Ngoan? Nếu biết Đức Giêsu là Đức Khôn Ngoan hiện thân, có lẽ anh sẽ nói như tác giả sách Khôn Ngoan : “Đem so sánh sự giầu sang với sự không ngoan, tôi kể sự giầu sang như không” (Kn 7, 8). Chàng thanh niên chưa vượt qua được rào cản về tài sản, nên anh mới kinh ngạc về đề nghị và lời mời gọi của Đức Giêsu.Nguyên nhân khiến anh chấp nhận mãi mãi “thiếu một điều”,là do chính của cải, tài sản mà anh đang có.
    Chọn chung kết
    Chàng thanh niên giàu có không muốn bỏ cái tạm bợ là sự giàu sang để đi theo Chúa Giêsu, sự giàu sang và của cải là một cản trở làm cho hành trình tiến về nước Thiên Chúa trở nên khó khăn. Chính Chúa tuyên bố : “Những người giầu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao” (Mc 10, 23). Chúa biết khó, nhưng Người vẫn mời gọi chúng ta từ bỏ, vì Nước Trời có giá trị lớn lao, đòi hỏi con người phải trả giá. Vì chưng giữ đạo không chỉ dừng lại ở chỗ ăn ngay ở lành, chu toàn các đòi hỏi của luân lý, không làm điều xấu…mà quan trọng hơn, đó còn là tin nhận và dấn bước theo một con người, người đó là Đức Giêsu Kitô. Nói khác đi, sự hoàn thiện theo Tin Mừng hệ tại ở điều này: bước theo Chúa Kitô để làm môn đệ của Người.
    Thực ra, tiền bạc không phải là một sự dữ. “Có của” không đương nhiên là xấu, thái độ khi “có của” mới xác định giá trị con người. Giáo hội từng có những vị thánh xuất thân từ ngai vàng như vua Louis nước Pháp, vua Stêphan nước Hungari. Giữa đống tiền của, họ vẫn lắng nghe tiếng Chúa và dấn thân cho người nghèo.
    Của cái là phúc lành của Thiên Chúa như sách Châm ngôn viết : “Chính phúc lành của Đức Chúa cho ta được giầu sang” (Cn10, 22); “Chúa bắt phải nghèo và cho giầu có” (1Sm 2,7). Người giầu cũng không bị kết án vì có nhiều tiền của. Chính Đức Giêsu cũng giao du với những người giầu sang quyền quí như Giakêu, Nicôđêmô, Matthêu v.v…
    Như vậy, tiền bạc và sự giầu sang không phải là đối tượng nguyền rủa. Đức Giêsu muốn chúng ta dùng nó làm bàn đạp để bước lên bậc hoàn thiện chiếm được nước trời có Chúa làm gia nghiệp đời ta. Amen.

    Về mục lục

    CHÂN DUNG NGƯỜI MÔN ĐỆ

    Bông hồng nhỏ

    Hôm nay, Thánh sử Máccô thuật lại cho chúng ta câu chuyện người thanh niên giàu có muốn theo Thầy Giêsu. Sau khi anh này buồn rầu bỏ đi vì không muốn thực hiện điều Thầy dạy, Thầy Giêsu đã khẳng định với các môn đệ rằng người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa, Người cũng hứa cho ban phần thưởng cho những ai biết từ bỏ.

    Vừa lên đường, Thầy Giêsu đã nghe từ sau lưng mình tiếng bước chân chạy vội vàng của ai đó. Đó là một chàng thanh niên ăn mặc bảnh bao. Anh ta vừa chạy đến bên Thầy thì liền quỳ xuống trước mặt Người và hỏi “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?” (Mc 10, 17). Anh đã chạy hết sức để đuổi kịp Người, anh tin tưởng rằng nếu bắt kịp được Người, anh sẽ được Người dạy dỗ, được chỉ cho biết đâu là việc anh cần phải làm để đạt được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Người thanh niên ấy đại diện cho rất nhiều người thành tâm thiện chí tìm kiếm Nước Trời.  Qua cuộc trò chuyện giữa anh và Thầy, ta biết được anh là một người giàu có: giàu nhân đức, giàu thiện chí, giàu lòng khát khao, giàu nghị lực và giàu của cải. Người hỏi han anh và ân cần lắng nghe anh chia sẻ mọi điều. Thầy Giêsu nhìn anh ta và đem lòng yêu mến (x. Mc 10, 21). Anh cũng chăm chú nghe từng lời chỉ dạy của Người, đón nhận ánh mắt trìu mến của Thầy. Thế nhưng, khi nghe Người nói: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” (Mc 10,21),  anh lại buồn rầu bỏ đi. Anh là một người giàu có, của cải ấy là do anh dồn bao tâm huyết để tìm kiếm, cơ nghiệp ấy anh đã gầy dựng bao năm. Với anh, của cải là đảm bảo để anh được sống một cuộc sống đầy dư và hạnh phúc. Anh nhận thấy rõ lòng khát khao đang khuấy động trong lòng anh. Có lẽ, anh cũng nhận ra, của cải không làm anh đạt được gia nghiệp là sự sống đời đời. Anh tin rằng có một con đường khác sẽ dẫn anh đến kho tàng ấy, vì thế anh tìm đến Thầy Giêsu để được chỉ dạy. Anh buồn rầu vì anh không thể làm theo điều Thầy nói, vì Thầy không chỉ muốn anh chia sẻ cho người nghèo một phần của cải của mình nhưng là cho hết. Muốn làm môn đệ của Thầy, anh phải từ bỏ tất cả những gì mình có. Anh thất vọng vì không tìm đường con đường đúng như ý anh muốn.

    Chàng thanh niên vừa cất bước bỏ đi, mang theo nỗi thất vọng của mình thì Thầy Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” Không chỉ có chàng thanh niên buồn rầu mà chính Thầy Giêsu cũng buồn về anh. Người tôn trọng quyết định của anh nhưng cũng rất dứt khoát trong việc chọn những người làm môn đệ. Nếu ta giàu thiện chí thôi thì chưa đủ, giàu nhân đức cũng chưa thể theo Chúa trọn vẹn, giàu của cải thì sẽ chỉ làm tôi cho của cải mà thôi, giàu lòng khao khát mà không dám thực hành điều Thầy Giêsu chỉ dạy thì cũng không thể làm môn đệ của Người. Nếu ta chỉ dựa vào những gì mình có, dựa vào sức riêng, ta không thể theo Chúa được. “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10, 24-25). Các môn đệ đi từ sự sững sờ rồi đến sửng sốt khi nghe Thầy Giêsu nói. Các ông lo lắng hỏi nhau: “Thế thì ai có thể được cứu?” Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được” (Mc 10, 27). Chỉ dựa vào ơn Chúa và can đảm thi hành điều Chúa dạy là phải từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu, ta mới được Người cho hưởng hạnh phúc Nước Trời.

    Các môn đệ hiểu những điều Thầy Giêsu dạy. Ông Phêrô lên tiếng thưa Người: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (Mc 10,28). Người hứa ban thưởng cho những ai từ bỏ mọi sự mà theo Người. Người cũng giúp các ông hướng nhìn về một gia đình rộng lớn hơn, nơi đó các ông sẽ sống giới răn yêu thương và rao giảng về Tin Mừng Nước Trời, và đón nhận tất cả sự ngược đãi từ những kẻ chống đối. Các ông cũng sẽ nhận được sự sống vĩnh cửa ở đời sau.

    Lạy Chúa Giêsu! Lời của Chúa đã chất vấn con, cho con nhìn lại những chọn lựa của mình trong mỗi ngày, để con biết được mình có đang theo Chúa hay không. Con cảm tạ Chúa đã luôn kiên nhẫn chợ đợi con và dạy dỗ con để từng ngày trong mỗi chọn lựa, con biết lắng nghe và thi hành lời mời gọi của Chúa. Chúa cho con thấy rằng, con chỉ thiếu có một điều là từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Chúa. Chúa biết con không thể tự mình làm được điều đó. Đối với con thì không thể được, nhưng đối với Chúa, mọi sự đều có thể. Xin Chúa xem con như một đứa trẻ tập đi, đang cần Chúa dìu từng bước. Con tạ ơn Chúa. Amen.

    Về mục lục

    ĐẦU TƯ VÀO NƯỚC TRỜI

    Thiên San

    Có một chàng thanh niên giàu có chạy đến sấp mình dưới chân Thầy Giêsu, hỏi Người về cách làm sao để có được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Anh ta được đẹp lòng Đức Giêsu, Người đã đem lòng yêu mến anh. Bởi anh giữ đạo từ thuở tấm bé và theo như lời Đức Giêsu thì anh chỉ còn thiếu một điều thôi, đó là hãy bán hết của cải mình có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, sau đó hãy đến theo Thầy Giêsu. Nhưng anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi (x. Mc 10, 17-30). Anh đã không dám liều để đầu tư vào Nước Trời.

    Đó là câu chuyện của chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng. Chàng thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay được kể là một người giàu. Trái tim anh khắc khoải vì những gì anh có không làm anh cảm thấy hạnh phúc. Anh muốn có được hạnh phúc Nước Trời làm gia nghiệp. Mong ước ấy thật đẹp, thật chính đáng. Nhưng anh đã bỏ đi trước lời mời gọi hãy bán hết của cải để cho người nghèo mà Thầy Giêsu dành cho anh. Quả thực, đây là một thách đố lớn, một cuộc đầu tư mạo hiểm. Anh ta không dám bán những gì mình có để đổi lấy một khó tàng trên trời, điều mà anh tìm kiếm. Thật khó để liều mình vào cuộc đầu tư này khi anh chưa nhận ra kho tàng Đức Giêsu nói đến quý giá đến dường nào. Nó quý hơn mọi thứ anh đang có.

    Lật sang đoạn sách Khôn Ngoan, chúng ta gặp thấy một thái độ hoàn toàn trái ngược với chàng thanh niên trong Tin Mừng. Tác giả sách Khôn ngoan đã thốt lên: Đức Khôn Ngoan , tôi đã quý trọng còn hơn cả vương trượng, ngai vàng. Tôi coi của cải chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan (x. Kn 7,8). Vì cùng với Đức Khôn Ngoan, tác giả đã có được mọi thứ. Còn chàng thanh niên trong bài Tin Mừng đã bỏ lỡ cơ hội để có được một kho tàng trên trời. Chàng thanh niên ấy có thể là mỗi chúng ta. Chúng ta đã nhận ra và có đang tìm kiếm kho tàng mà Đức Giêsu nói đến: Hạnh phúc Nước Trời? Thiết nghĩ, chúng ta cần nhận ra sự quý giá của kho tàng ấy, cần liều lĩnh để đầu tư, để mua được kho tàng ấy. Như người lái buôn đi tìm ngọc đẹp hay như người kia tìm thấy kho báu trong ruộng liền đi bán hết tất cả những gì mình có để đổi lấy “viên ngọc quý” và “kho báu trong ruộng”, chúng ta được mời gọi đầu tư như vậy. Chấp nhận bán hết để được cái quý nhất.

    “Thầy bảo thật anh em chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này lại không được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất gấp trăm, cùng với sự ngược đãi và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10, 29-30). Đối với những ai theo chân thầy Giêsu, sống theo những đòi hỏi của Người, thì ngay ở đời này đã nhận được gấp trăm những gì mình đã từ bỏ. Quả thực, Khi coi mọi sự chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan thì tác giả sách Khôn ngoan đã nhận thấy, nhờ Đức Khôn Ngoan mọi sự tốt lành đều đã đến và của cải không đếm xuể (x. Kn 7,11).  Khi từ bỏ mọi sự để theo chân Thầy Giêsu chúng ta nhận được nhiều hơn những gì chúng ta đã từ bỏ. Chẳng hạn, khi theo Chúa vào đời tu, chúng ta có nhiều anh chị em trong Dòng. Hay khi chúng ta dành thời gian giúp đỡ một ai đó, chúng ta sẽ nhận được niềm vui tự đáy lòng. Vì chính lúc cho đi là khi lãnh nhận.

    Đầu tư vào hạnh phúc Nước Trời chúng ta phải chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng, chấp nhận cả sự ngược đãi vì danh Đức Kitô. Điều đó quả là một thách đố. Thách đố nhưng không phải là không làm được. Trải qua dọc dài lịch sử Giáo Hội, chúng ta bắt gặp không ít những chứng nhân của Tin Mừng. Đó là những anh hùng tử đạo. Các ngài là những chứng nhân sống động nhất, các nhà đầu tư vĩ đại, liều lĩnh nhất của Giáo Hội. Các Ngài không chỉ từ bỏ của cải, anh chị em, cha mẹ nhưng còn dám liều mất mạng sống mình vì danh Đức Kitô. Nay các ngài đang được hưởng hạnh phúc trên trời.  Là thế hệ con cháu, chúng ta hãy viết tiếp những trang sử anh hùng ấy, chấp nhận từ bỏ để đầu tư vào để cùng với các ngài chúng ta vui hưởng “hạnh phúc Nước Trời”.

    Về mục lục

    THIẾU MỘT ĐIỀU

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Trang Tin mừng hôm nay kể câu chuyện cảm động: “Một người chạy đến, quý xuống trước mặt Người”, không phải để xin chữa bệnh như chúng ta từng gặp, nhưng để xin chỉ giáo: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Chúng ta có thể ngỡ ngàng về cách Người trả lời anh ta. Người “chỉnh” ngay cách anh ta thưa với Người: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai là nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa”. Anh ta muốn được sự sống đời đời làm gia nghiệp, Thánh vịnh 16 đã trả lời: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con, số mạng con, chính Ngài nắm giữ. Phần tuyệt hảo may mắn đã về con, vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn”.

    Sự sống đời đời không phải là “một cái gì”, nhưng là chính Thiên Chúa. Chẳng có gì đáng là gia nghiệp cho anh ta ngoài Thiên Chúa. Phải làm gì thì Thiên Chúa đã dạy rồi. Đức Giêsu nhắc bài cho anh ta về các điều răn, nhưng Người nhắc ngay các điều răn ở bảng thứ hai, đối với tha nhân. Anh ta hãnh diện thưa: “Thưa Thầy, tất cả những điều ấy tôi đã giữ từ thưở nhỏ”. Phản ứng của Đức Giêsu thật đặc biệt: “Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”. Các môn đệ đầu tiên thì “Người đi ngang, người thấy, Người gọi và các ông bỏ mọi sự mà đi theo Người”. Anh này thì chạy đến với Người. Người nhìn anh và đem lòng yêu mến, rồi đề nghị: “Anh chỉ còn thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời.Rồi hãy đến theo Tôi”. Người đề nghị anh ta đánh đổi tất cả những gì anh ta có để lấy kho tàng trên trời. Và ngay bây giờ, kho tàng ấy đang ở trước mặt anh đây. Người tự trả lời câu hỏi Người đã đặt cho anh: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai là nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa”. Anh nói Người là Thầy nhân lành thì đúng rồi đấy, nhưng chính Người là Thiên Chúa nhân lành đang đứng trước mặt anh và tự muốn ban chính mình làm gia nghiệp cho anh đây.

    Nhưng câu chuyện mở đầu thật đẹp lại dẫn tới cái kết buồn: “Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (x. Tĩnh tâm với sách Tin mừng Maccô. Lm Giuse Nguyễn Công Đoan).
    Có lẽ các môn đệ tiếc nuối: sao Thầy không chiêu mộ người thanh niên giàu có này làm môn đệ nhỉ?

    Chàng trai trẻ tiếc của nên bỏ đi. Chúa cũng tiếc người thanh niên thiện chí nhưng “chỉ thiếu một điều”. Chúa “nhìn chung quanh” và nói: “Những kẻ cậy dựa vào của cải, thật khó vào Nước Thiên Chúa biết bao”. Theo Chúa Giêsu, người ta không thể thờ hai chủ cùng một lúc. Kẻ có nhiều của cải thì để tâm vào của cải “kho tàng ở đâu thì lòng trí ở đó” (Lc 12,34), cho nên phải chọn: một là Thiên Chúa, hai là tiền tài (x. Lc 16,13). Lời Chúa thật “sắc bén như gươm hai lưỡi”. Người giàu thiện chí cần phải cắt những ràng buộc vật chất để vươn cao lên.

    Một thanh niên công chính, ngay thẳng, không dối gian. Một người trẻ tuổi tốt lành có thiện chí, giữ trọn các giới răn của Thiên Chúa và còn muốn làm điều tốt hơn nữa để được sự sống đời đời. Chàng trai thật dễ thương, khao khát muốn vươn lên, băn khoăn muốn làm thêm gì đó để nên tốt hơn, thao thức hướng tới trọn lành. Một thiếu gia có của mà không tìm hưởng thụ, nhưng lại nuôi ước vọng cao xa hơn. Chàng trai trẻ ấy ước mơ một vùng trời lý tưởng. Ước mơ ấy cất tiếng gọi anh đi tìm bậc “Thầy nhân lành”. Chàng trai trẻ vui mừng và hy vọng đi tìm con đường trọn lành. Anh ấy có tất cả để được hạnh phúc nhưng chỉ còn thiếu một điều, đó là khả năng theo Chúa. Anh ấy gặp được Thầy Nhân Lành, người sẽ trao cho anh chìa khoá để đạt được hạnh phúc thật. Nhưng anh ấy bỏ đi buồn bả, bởi vì anh ta không dám bán của cải để chia cho người nghèo. Anh có duyên may gặp được Chúa Giêsu, một bậc thầy có lòng nhân hậu. Nhưng tiếc thay! Anh không đủ can đảm, không đủ quảng đại bác ái để đáp ứng đòi hỏi của Chúa Giêsu là từ bỏ những gì mình có để theo Người.

    Người thanh niên thật lương thiện, sống một cuộc sống không có gì đáng chê trách, không có tội lỗi gì đáng phàn nàn, không có tật xấu để sửa sai. Anh là hình ảnh người Công Chính Cựu Ước chu toàn lề luật. Chúa Giêsu âu yếm nhìn anh và muốn anh tiến thêm một bước nữa để nên người Công Chính Tân Ước: bán gia tài đem bố thí cho người nghèo, sẽ có một kho báu trên trời và hãy theo Người. Đó là điều kiện nên người Công Chính Tân Ước.
    Không ngoại tình, không giết người, không trộm cắp, không làm chứng gian, không lường gạt ai, không bất hiếu với cha mẹ. Đó mới là điều kiện thứ nhất sống tốt lành về mặt luân lý. Điều kiện thứ hai là tin và theo Chúa Giêsu.

    Giá trị của con người không hệ tại ở cái mình có, mà ở tại chính cái mình làm. Tất cả sự khôn ngoan và minh triết được đúc kết nới Chúa Giêsu. Tin vào Chúa Giêsu và sống theo giáo huấn của Người là sự khôn ngoan của người Kitô hữu.

    Con người thường bị giằng co giữa ước mơ bay cao và sự kéo gì của vật chất. Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt. Con người làm chủ nó và dần dần để nó làm chủ mình. Của cải trở thành lẽ sống mà con người không thể dứt bỏ.Những tiêu chuẩn mà con người hôm nay đang đặt ra để trói buộc nhau như là tiền tài, địa vị, danh vọng; thực tế, nó không thể làm cho con người đạt tới hạnh phúc đích thực.

    Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta một tin vui. Có những niềm hạnh phúc lớn lao mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua từng phút giây đang sống. Biết dừng lại để thưởng thức những niềm vui nhẹ nhàng trong cuộc sống. Gặp một nụ cười, ngắm một bông hoa. Thực thi một cử chỉ yêu thương, một việc làm bác ái. Đọc một cuốn sách hay. Một cuộc trò chuyện thân mật. Một buổi tối đọc kinh chung trong gia đình, trong khu xóm. Dâng một thánh lễ sốt sắng. Dự một giờ chầu sốt mến…Biết bao niềm vui an hòa mang đến hạnh phúc trong cái bình thường của đời thường. Có những người, giàu tiền bạc mà không biết vui cười, lắm của cải mà không biết yêu thương, sang trọng bề ngoài mà không có niềm vui nội tâm, thì họ cũng chỉ là bất hạnh. Con người không chỉ dừng lại nơi cơm áo gạo tiền. Con người còn có rất nhiều niềm vui tinh thần, biết bao hạnh phúc thiêng liêng.

    Người trẻ luôn ước mơ, luôn khao khát, luôn tìm kiếm và luôn có đủ nghị lực để vươn tới Chân Thiện Mỹ. Nhân loại sẽ không tìm thấy giải đáp nào thoả đáng hơn ngoài Chúa Giêsu Kitô, Đấng “là Con Đường, là Chân Lý và là Sự Sống” (Ga 14,6). Trong xã hội ngày nay, có biết bao cuộc vui chơi giải trí, có biết bao phong cách hào hoa, có biết bao chủ thuyết hứa hẹn một tương lai tươi sáng… đang lôi cuốn giới trẻ. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận một sự thật là: con người đứng trước một thế giới tương đối, hữu hạn nhưng tâm hồn lại luôn hướng về những giá trị tuyệt đối, vô biên. Đó là một mâu thuẫn lớn nhất trong con người, đặc biệt là nơi giới trẻ. Nếu không có một đời sống tâm linh vững vàng thì người trẻ dễ rơi vào tình trạng chán chường, thất vọng và phản ứng nổi loạn. Ý tưởng đó được Thánh Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày Quốc Tế Giới Trẻ 1993 xác nhận: “Chỉ có Đấng tạo dựng nên tâm hồn con người mới có thể đáp ứng cách thích đáng những mong chờ mà con người mang trong mình”.

    Vì thế, cần phải cầu xin cho có được sự hiểu biết để “coi của cải chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan”; “Đức khôn ngoan hơn vương trượng, ngai vàng…của cải bằng không. So với đức khôn ngoan, vàng trân châu bảo ngọc chẳng qua là một chút cát, bạc chẳng qua như chút bùn”. (Bài đọc 1). Khôn ngoan là sự giàu sang, là sự hiệp thông với ân sủng của Thiên Chúa. Người đời thường quý chuộng tiền bạc và sự giàu sang, còn người Công chính coi Ðức Khôn Ngoan là điều quý trọng hơn cả. Khôn ngoan quý trọng hơn tiền bạc, ngọc ngà, châu báu. Khôn ngoan quý hơn sức khoẻ và sắc đẹp. Cùng với Ðức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đến với người công chính.

    Mẹ Thánh Têrêsa nói: “Chúng ta có quyền được hạnh phúc và bình an. Chúng ta được dựng nên vì điều này, được sinh ra để hạnh phúc và chúng ta chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc thật và bình an thật khi gắn bó cuộc đời mình với Thiên Chúa”.

    Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chỉ dẫn con đường hạnh phúc đời đời. Xin cho chúng con trung thành theo đường lối khôn ngoan thánh thiện Chúa dạy, luôn giữ các giới răn, chia sẻ tình thương với tha nhân, tin và bước theo Chúa mỗi ngày. Amen.

    Về mục lục

    CỬA CHẬT, LỐI HẸP

    Trầm Thiên Thu

    Trong cuộc sống, thường thì ai cũng ưa thích những gì to, cao, rộng, dài,… Cụ thể “trước mắt” về vật chất là đất rộng đường dài, nhà cao cửa rộng, ngay cả bàn ghế mà người ta cũng đua nhau trưng bày loại salon gỗ “đồ sộ” lắm, chẳng đẹp mà cũng bất tiện. Thế đấy! Ngày nay phổ biến là Facebook, mọi thứ thượng vàng hạ cám đều được “khoe” trên đó, kể cả những chuyện nhạy cảm, nguy cơ tiềm ẩn rất cao mà cứ khinh suất. Facebook có quá nhiều thứ ô uế. Lợi bất cập hại!

    Ngay cả trong lĩnh vực tinh thần người ta cũng vẫn muốn “khoe” nhiều kiểu. Tuy nhiên, Thánh Elizabeth Seton (1774-1821) cho biết: “Cửa Thiên Đàng RẤT THẤP, chỉ những người HẠ MÌNH mới có thể vào được.” Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều khác hẳn loài người.

    Vấn đề muôn thuở vẫn là chuyện Giàu – Nghèo. Ai có “máu mặt” một chút là vênh váo, ngông nghênh, coi người khác không ra gì. Xã hội nào và thời nào cũng vậy, số người nghèo luôn nhiều hơn số người giàu. Thật vậy, từ ngàn xưa Chúa Giêsu đã xác định: “Người nghèo bên cạnh anh em lúc nào cũng có.” (Ga 12:8) Thực tế cho thấy rằng chẳng mấy ai “đẻ bọc điều” hoặc “tràng hoa quấn cổ” đâu. Quả thật, “cái tôi” của con người vẫn lớn lắm, thế nên rất cồng kềnh, càng cồng kềnh càng vướng víu, bít lối vô Nước Trời.

    Việt ngữ rất độc đáo, thường nói là Nghèo Khổ. Chắc chắn nghèo thì khổ. Đúng là người nghèo khổ thật, thậm chí họ còn bị khinh miệt nữa! Đó là một dạng vô cảm. Bà Hellen Adams Keller (1880-1968, tác giả và nhà hoạt động người Mỹ) nhận định: “Thói xấu tồi tệ nhất chính là sự vô cảm của con người.”

    Đời nghèo thiếu thốn đủ thứ, thậm chí thiếu cả những điều kiện cơ bản để sống. Nghèo không có tội, nhưng khổ y như “bị vạ” vậy! Người Việt nói về người giàu: “Miệng người giàu có gang, có thép.” Người Iran mỉa mai với sự thật phũ phàng: “Khi người giàu ăn cắp, người ta bảo họ nhầm lẫn; khi người nghèo ăn cắp, người ta bảo họ ăn trộm.” Còn tục ngữ Nam Phi nói: “Lời đề nghị của kẻ nghèo được xét đến sau cùng.” Cái xét ở đây không có ý tìm cách thuận lợi cho họ, mà là xét nét – xét để bắt bẻ họ. Ở đây, sự quan tâm mang tính ác độc. Dân đói, chỉ trộm ổ bánh mì thì bị xử vài năm tù giam; quan tham hối lộ hàng ngàn tỷ đồng thì cho là không đáng chi, chỉ cho rút kinh nghiệm, cao lắm là xử tù treo.

    Giữa đại dịch Cúm Tàu Cộng càng thấy rõ sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo: “Người nghèo ăn khi nào CÓ, người giàu ăn khi nào MUỐN.” (tục ngữ Phần Lan) Đơn giản mà thâm thúy. Nỗi đau ngấm ngầm và nhức buốt lắm. Tục ngữ Pháp nói: “Không ai kiêu ngạo hơn người giàu mà mới đây chỉ là kẻ nghèo kiết xác.” Khó vào Nước Trời là loại người giàu như vậy, chứ sự giàu có không là điều bất hạnh mà Chúa Giêsu đề cập. Người đời gọi loại đó là “trưởng giả học làm sang.” Rất chảnh!

    Sự khôn ngoan cần cho cả người giàu và người nghèo. Lý do? Bởi vì “khôn ngoan là thần khí hằng yêu mến con người,” (Kn 1:6) “trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại,” (Kn 3:15) và “đức khôn ngoan là kho báu vô tận cho con người.” (Kn 7:14) Quả thật, sự khôn ngoan vô cùng cần thiết: “Có nhiều người khôn ngoan, thế giới được cứu thoát; nhờ một vị minh quân, cả thần dân được an cư lạc nghiệp.” (Kn 6:24) Người khôn thì ngoan, còn người ngoan thì chưa chắc khôn.

    Tác giả sách Khôn Ngoan tự sự: “Tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết. Tôi kêu cầu, và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi. Đức Khôn Ngoan, tôi đã quý trọng còn hơn cả vương trượng, ngai vàng. Tôi không coi của cải là gì so với Đức Khôn Ngoan.” (Kn 7:7-8) Người khôn ngoan sẽ nhận biết mình yếu đuối, bất tài, vô dụng, và biết cầu xin Thiên Chúa xót thương. Khôn ngoan là khiêm hạ, khiêm hạ là khôn ngoan.

    Đức khôn ngoan thực sự vô giá, không gì có thể so sánh. Tác giả sách Khôn Ngoan giải thích, và cũng là lời chia sẻ chân thành: “Đối với tôi, trân châu bảo ngọc chẳng sánh được với Đức Khôn Ngoan, vì vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan, cũng chỉ là cát bụi, và bạc, so với Đức Khôn Ngoan, cũng kể như bùn đất. Tôi đã ham chuộng Đức Khôn Ngoan hơn sức khoẻ và sắc đẹp, đã quý Đức Khôn Ngoan hơn ánh sáng, vì vẻ rực rỡ của Đức Khôn Ngoan chẳng bao giờ tàn lụi. Nhưng cùng với Đức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đã đến với tôi. Nhờ tay Đức Khôn Ngoan, của cải quá nhiều không đếm xuể.” (Kn 7:9-11) Rất rõ ràng, rất chi tiết. Có đức khôn ngoan sẽ có tất cả. Đúng là kho tàng vô giá thật!

    Biết người biết ta, Thánh Vịnh gia thiết tha cầu xin: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” (Tv 90:12) Niềm khao khát đó không thoáng qua, không tùy hứng, không theo kiểu “vui thì muốn, buồn thì thôi,” mà là niềm khao khát cháy bỏng không ngừng: “Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca. Xin ban tặng chúng con niềm hoan hỷ, bù lại những tháng năm Ngài đã bắt nếm nhục nuốt sầu.” (Tv 90:14-15)

    Chúng ta hoàn toàn bất xứng, “trắng tay” đúng nghĩa. Tất cả là hồng ân, là lòng thương xót của Thiên Chúa. Biết vậy là đầu mối khôn ngoan, vì Kinh Thánh nói: “Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan. Sáng suốt thay kẻ thực hành như vậy. Mãi đến thiên thu còn vang tiếng ngợi khen Người.” (Tv 111:10) Chắc chắn Thiên Chúa sẽ đoái thương, không thể làm ngơ, vì Ngài là Đấng giàu lòng thương xót. Mọi nơi và mọi lúc, Ngài luôn mong muốn chúng ta chân thành thân thưa: “Xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hậu của Chúa là Thiên Chúa chúng con. Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố, xin củng cố việc tay chúng con làm.” (Tv 90:17)

    Đường dẫn tới sự sống là luôn nhỏ hẹp, chật chội; đường dẫn tới sự chết luôn rộng rãi, thoải mái. Chính Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” (Mt 7:13-14) Ngài còn bảo chúng ta phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào.” (Lc 13:24) Chắc chắn Ngài không xúi dại ai. Chính sự tự do cũng có “phạm vi nhất định” chứ không phải tự do thì muốn làm gì thì làm, nếu vậy thế giới này loạn hết.

    Điều cần thiết nhưng rất khó làm: Khó với chính mình nhưng dễ với người khác. Lm Leo Dehon (sáng lập dòng Linh Mục Thánh Tâm – Prêtres du Sacré-Cœur de Jésus, SCJ) nói: “Có hai điều cần để nên thánh: tách khỏi chính mình và các thụ tạo; yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân trong Thiên Chúa. Hãy nên thánh, nhưng nên thánh kín đáo, làm việc tốt hằng ngày, không ồn ào hoặc chứng tỏ ra bên ngoài.” CP Henry Suso khuyên: “Mỗi người hãy xét mình và xem Thiên Chúa mong muốn và chờ đợi mình điều gì, còn hãy kệ mặc những sự khác.”

    Lời thẳng vướng tai. Lời thật mất lòng. Trung ngôn nghịch nhĩ. Khi phụ nữ hỏi về sắc đẹp của họ, nếu chúng ta nói họ đẹp thì họ vui, nhưng chỉ là ảo; nếu chúng ta nói họ không đẹp thì họ buồn, thậm chí còn ghét người nhận xét. Họ ưa nịnh và “yêu bằng tai” là như vậy. Khi nhạc sĩ, thi sĩ và văn sĩ hỏi tác phẩm của họ thế nào, nếu chúng ta nói tác phẩm của họ hay thì họ cười; nếu nói tác phẩm của họ “chưa đạt” thì họ chán lắm, có khi họ bảo người nhận xét không biết nghệ thuật, không tinh tế.

    Chuyện đời là thế. Đôi khi người ta chỉ nịnh nhau để xã giao thôi. Mẹ hát, chẳng lẽ con lại nỡ lòng không khen hay? Trên Facebook hoặc các mạng xã hội tương tự, những cái “like” có thể cũng chỉ là giả tạo, a dua, xu thời, ít có người thật lòng. Có rất nhiều thứ vớ vẩn trên Facebook, thậm chí là giả mạo và lừa đảo!

    Nhưng với Thiên Chúa thì hoàn toàn khác. Thánh Vịnh gia đặt vấn đề: “Làm thế nào giữ được tuổi xuân trong trắng? Thưa phải tuân theo lời Chúa dạy.” (Tv 119:9) Hằng ngày, theo “phong cách” Facebook, chúng ta có “like” [yêu] Chúa thật lòng hay cũng chỉ “che mắt thánh” mà thôi? Chúa biết hết, vì Ngài “thấu suốt mọi tâm can.” (Cv 15:8; Rm 8:27) Ước gì mỗi chúng ta luôn biết chân thành tâm nguyện: “Lạy Chúa, con hết dạ kiếm tìm Ngài, xin chớ để con làm sai mệnh lệnh Chúa.” (Tv 119:10)

    Lời Chúa rất kỳ diệu. Có lúc Lời Chúa làm cho chúng ta phấn chấn, hạnh phúc, nhưng có lúc lại làm cho chúng ta đau nhói, nhức buốt – thường thì nhức buốt nhiều hơn, vì “Lời Chúa phán là lời chân thật, như bạc nấu trong lò, đã bảy lần tinh luyện.” (Tv 12:7) Thật vậy, Thánh Phaolô nói: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và SẮC BÉN hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.” (Dt 4:12) Tại sao vậy? Thánh Phaolô giải thích: “Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều TRẦN TRỤI và PHƠI BÀY trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.” (Dt 4:13)

    Quả thật là khó trong việc tìm kiếm Chúa. Khó không phải vì Chúa trốn chúng ta, mà tại chúng ta chưa thực sự muốn gặp Ngài. Muốn thì muốn, nhưng thực hành thì… hậu xét! Trình thuật Mc 10:17-30 cho thấy rõ điều đó.

    Vào một ngày nọ, khi Đức Giêsu vừa lên đường, có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Ngài hỏi lại: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” Có lẽ anh ta rất hãnh diện nói với Ngài rằng anh đã tuân giữ tất cả những điều đó từ thuở nhỏ, và còn được Ngài khen nữa.

    Thực sự anh ta rất tuyệt vời và tốt lành thật! Đúng vậy, chính Đức Giêsu đã âu yếm đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Rồi Ngài bảo anh ta: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” Thế nhưng anh ta nghe lời đó rồi sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Thật tiếc cho anh ta biết bao!

    Lúc đó, Chúa Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” Nghe Sư Phụ nói thế, các môn đệ sững sờ vì chẳng lẽ giàu là có tội sao? Căng ghê! Chưa hết ngạc nhiên thì họ lại nghe Thầy nói tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” Đúng là căng thật đấy chứ!

    Thế nhưng không hẳn là vậy. Chuyện đâu còn có đó. Vì quá ngạc nhiên nên họ rỉ tai nhau: “Thế thì ai có thể được cứu?” Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện chứ chẳng ai có thể trả lời. Chúa Giêsu biết các đệ tử đang “điên đầu” và “nhức óc” lắm, nhưng Ngài vẫn nói rất nghiêm túc: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.” Đó là sự thật, là điều tuyệt đối.

    Khó vào Nước Trời đối với người giàu không phải vì họ nhiều tiền, lắm của, mà vì họ ỷ mình giàu mà khinh người khác, và dùng tiền bạc để ăn chơi sa đọa; còn người giàu mà biết chia sẻ với người nghèo, làm từ thiện, họ vẫn dễ vào Nước Trời, vì họ biết dùng của cải đời này mà “mua” lấy kho tàng vĩnh cửu.

    Ngược lại, người nghèo mà chảnh thì vẫn vô phúc, bất hạnh. Người ta cho thì họ không lấy, họ có thấy cũng chẳng thèm xin, nhưng đồ người ta giấu kín thì họ rình mò, cứ hở ra là rinh ngay. Người nghèo như vậy chắc chắn chẳng biết lối nào mà vào Nước Trời. Người ta gọi đó là nghèo vô phúc, nghèo bạc phước, nghèo mà chảnh. Họ không đáng thương mà đáng nguyền rủa!

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết bằng lòng với những gì Ngài cho phép con sở hữu và quản lý ở đời này; xin giúp con sống giản dị, không đòi hỏi, không mưu mô, không cầu kỳ, không chảnh chọe,… Xin giúp con tự khó với chính con để được sống dồi dào nhờ Thần Khí Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    CHÌA KHÓA MỞ CỬA THIÊN ĐÀNG

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Một câu hỏi quan trọng liên quan đến vận mệnh đời đời của con người mà những người con Chúa cần phải tìm cho ra đáp án chính xác. Câu hỏi đó là: Chìa khóa nào có thể mở được cửa Thiên đàng? Nói khác đi: Muốn được lên Thiên đàng, muốn được hưởng hạnh phúc đời đời trên thiên quốc, ta cần phải làm gì?

    Có nhiều đáp án khác nhau.

    • Chìa khóa thứ nhất: Ăn năn tội vào giờ sau hết

    Một số người dựa vào Tin mừng Lu-ca, thuật lại sự việc một tên gian phi cùng chịu đóng đinh vào thập giá với Chúa Giê-su, nài xin Ngài cho anh được vào thiên đàng và anh liền được Chúa chấp thuận[1], để khẳng định rằng: Trong giờ hấp hối hoặc trong những ngày cuối đời, ta chỉ cần tỏ lòng ăn năn và cầu xin với Chúa đôi lời như tên gian phi kia là đủ để được Chúa tha mọi tội và cho lên thiên đàng; Vì thế, họ chủ trương rằng: hôm nay cứ sống thoải mái, chẳng cần mất công giữ luật làm chi cho phiền, đến khi gần chết rồi hãy lo.

    Khẳng định như thế là lầm to.

    Mặc dù tên gian phi trên đây đã gây ra tội ác, nhưng anh ta đã bị lên án tử hình, phải chết bằng khổ nạn thập giá rất đau đớn và khủng khiếp. Thế thì anh ta đã đền tội quá đủ rồi; tội anh ta đã được xóa bỏ rồi; không lẽ Chúa còn bắt anh phải chịu thêm hình phạt nào nữa hay sao!

    Ngoài ra, anh nầy còn mang lại niềm an ủi cho Chúa Giê-su bằng cách lên tiếng bênh vực Ngài khi Ngài bị lăng mạ; anh cũng là người đồng cảnh ngộ với Chúa Giê-su, cùng chịu khổ nạn với Chúa Giê-su… nên lời cầu xin của anh được Chúa Giê-su chấp thuận là điều chính đáng.

    Còn những ai không phải chịu xử phạt vì tội mình gây ra như tên gian phi nầy, chưa mang lại niềm an ủi nào cho Chúa Giê-su, chưa cùng chịu khổ nạn với Chúa Giê-su như tên gian phi đã chịu, cũng chẳng quan tâm đến luật Chúa truyền… mà đòi Chúa cho lên Thiên đàng thì không thể được. Như vậy, thứ chìa khóa nầy không thể mở được cửa Thiên đàng.

    • Chìa khóa thứ hai: Tuân giữ các giới răn

    Khi có người tìm đến với Chúa Giê-su và nêu lên câu hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” thì Chúa trả lời là phải tuân giữ các giới răn: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ…” Nói khác đi, chìa khóa Thiên đàng mà Chúa Giê-su trao cho người nầy cũng như mỗi người chúng ta, là tuân giữ lề luật, tóm gọn trong luật mến Chúa yêu người.

    Chúa Giê-su còn nhấn mạnh: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, mới được vào Thiên đàng mà thôi” (Mt 7, 21).

    Qua lời nầy, Chúa Giê-su tỏ cho thấy chỉ có một chìa khóa duy nhất, không có chìa thứ hai, để mở cửa Thiên đàng, đó là thi hành ý muốn của Chúa Cha, tóm gọn trong luật “Mến Chúa yêu người.” Vậy thì chúng ta không thể trông chờ một chìa khóa nào khác.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Chúa đã trao tận tay mỗi người chúng con chìa khóa Thiên đàng, đó là quy luật mến Chúa yêu người và bất cứ ai muốn sử dụng chìa khóa nầy để mở cửa Thiên đàng thì sẽ được toại nguyện; nhưng nếu chúng con không muốn dùng chìa khóa nầy để mở cửa, thì không còn lối nào khác để vào.

    Xin cho chúng con trân quý chìa khóa Chúa trao tay, cụ thể là thực hành luật Chúa truyền dạy, nhờ đó hạnh phúc đời đời sẽ thuộc về chúng con. Amen.

    Về mục lục

    NGƯỜI THỪA TỰ

    Lm Vũđình Tường

    Người ta thích giầu có bởi giầu có đi chung với ưu tiên, lợi lộc. Có tiền cái gì cũng ưu tiên, đi trước, hưởng trước, phục vụ trước. Thực tế có thể người ta không yêu bạn nhưng yêu tiền của bạn. Tiền của bạn có giá trị, còn phẩm giá của bạn có thể rẻ mạt. Nói với bạn, họ nhã nhăn, thưa, bầm; trong lòng họ coi bạn trọng hay khinh chỉ người đó biết. Cách bạn xử dụng vật chất, đối xử với người khác quyết định cách người đánh giá phẩm giá bạn.

    Người giầu có trong Phúc Âm hôm nay tiết lộ, thực trạng tâm trạng của anh. Bề ngoài nhìn vào, ai cũng mong muốn được như anh, nhưng trong thâm tâm chính anh lại mong muốn được như nhiều người. Vì sao? Anh giầu nhưng không vui. Nhà cao cửa rộng, hoa trước nhà, hồ tắm hiên sau. Con ăn, đầy tớ, kẻ hầu, người hạ, kẻ vâng, người dạ, anh không thiếu. Vật chất anh không thiếu. Anh thiếu bình an trong tâm hồn. Bạn bè trong giới trưởng giả, sang giầu toàn là chức này, tước nọ, học thức uyên thâm nhưng không ai giúp anh tìm được bình an trong tâm hồn. Anh đến cùng Đức Kitô vì anh tin Đức Kitô giỏi trội hơn đám bạn bè anh quen biết. Anh quì trước mặt Ngài tuyên xưng

    ‘Thưa Thầy Nhân Lành. Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp’. Mc 10,17.

    Đức Kitô bảo anh, nhân lành là quà tặng mình Thiên Chúa có.
    ‘Không có phàm nhân nào nhân lành cả trừ một mình Thiên Chúa’. c,18
    Theo tinh thần câu trên, Đức Kitô muốn chính anh tuyên xưng. Ngài là ai? Anh tuyên xưng Ngài là Thầy Nhân Lành. Vậy anh tin Đức Kitô là Thiên Chúa hay người phàm. Đến lúc này vẫn không xác minh rõ anh tin Đức Kitô là Thiên Chúa, hay anh tin Đức Kitô là một người đặc biệt.

    Cuộc đối thoại tiếp tục mở ra cho chúng ta biết nhiều hơn về cuộc sống nội tâm của anh. Đức Kitô nói với anh tuân giữ các điều răn Thiên Chúa. Anh đáp lại, tất cả những điều răn Chúa dậy anh giữ từ tấm bé. Đức Kitô nhìn anh trìu mến. Ngài nói với anh. Để trở thành môn đệ đích thực của Đức Kitô, để có an vui trong tâm hồn, để có ơn cứu độ, sự sống đời đời, anh cần phải làm hơn những gì anh đang làm. Hiện tại anh làm tốt điều răn Chúa truyền bằng cách giữ trọn lề luật. Điều duy nhất anh thiếu chính là thực hành lề luật. Thực hành bằng hành động. Đức Kitô bảo anh thực hành bốn điều. Bán, cho đi, trở lại và tin theo. Thứ nhất bán những gì anh có. Thứ hai phân phát của cải cho người nghèo. Thứ ba trở lại gặp Ngài và thứ tư tin theo Ngài.

    Nghe thế, người giầu có buồn sầu bỏ đi.
    Anh tuyên xưng Đức Kitô là Thầy Nhân Lành. Anh chỉ tuyên xưng thôi. Còn có dám thực hành điều anh tuyên xưng không là vấn đề anh chưa thực hiện. Anh không dám thực hiện. Nói được nhưng không làm được khiến anh từ giã Đức Kitô. Anh tuyên xưng Đức Kitô là Thầy Nhân lành nhưng lại không tin, không thực hành lời của Thầy Nhân Lành. Điều này cho biết trong tâm anh, anh tin Đức Kitô không phải là Thiên Chúa mà chỉ là một người đặc biệt.

    Rõ ràng vật chất anh đang có không mang lại bình an trong tâm hồn. Anh khao khát bình an chân thật. Đức Kitô chỉ cho anh con đường dẫn đến bình an vĩnh cửu. Anh không dám đi trên con đường mới nhưng trở lại con đường cũ, con đường mà anh không vui. Biết vật chất không có sức mạnh bảo đảm an toàn, nhưng vẫn bám víu nó.

    Vật chất, của cải là quà tặng Chúa ban. Quà này trở thành món quà ban ơn lành khi quà đó được chia sẻ cho tha nhân, phục vụ tha nhân, giảm bớt đau khổ của người. Quà này trở thành tai vạ khi ta thành nô lệ cho những gì mình có.

    Đức Kitô nói với các môn đệ ‘Các con ơi’c.24. Rất có thể Đức Kitô muốn nói về nhiều điểm.
    Thứ nhất, trẻ con học bằng cách học thuộc lòng, nhớ thuộc lòng. Hiện tại chúng không hiểu, sau này lớn lên hy vọng sẽ hiểu. Người thanh niên giầu có cũng giữ giới răn theo kiểu ‘con trẻ’ đọc thuộc lòng. Anh không thực hành điều anh đọc. Như thế giữ giới răn theo thói quen mà chưa thực hành điều Chúa dậy.

    Thứ hai đức tin không việc làm chính là đức tin non trẻ, đức tin kiểu trẻ em, đức tin chưa trưởng thành nơi anh nhà giầu.

    Thứ ba, điều này liên quan đến ‘của thừa tự’. Cha mẹ thường để lại gia tài, tài sản của mình cho con. Điều này được minh định trong di chúc. Gia tài chia rồi nhưng chưa được lấy, khi nào cha mẹ qua đời lúc đó con cái mới được chia phần dành cho. Người giầu có xin được hưởng phần thừa tự.

    ‘Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp’ Mc 10, 17.
    Để ban phát phần gia nghiệp cho môn đệ Đức Kitô đã hy sinh chết trên thập tự để ban phần gia nghiệp cho những ai tin theo. Phần thừa tự đã cho, nhưng để nhận phần thừa tự thì cần phải lấy. Đức Kitô kêu gọi anh nhà giầu hy sinh của cải hư nát để nhận của cải, gia nghiệp vĩnh cửu. Anh nhà giầu không dám hy sinh gia tài nhỏ để nhận gia tài lớn. Gia tài nhỏ cầm giữ anh, ngăn cản anh. Vì thế Đức Kitô mới nói,
    ‘Kẻ có của khó vào nước Thiên Chúa’. c.23

    Xin ơn khôn ngoan biết hy sinh tư tưởng nhỏ bé cá nhân, để đón nhận ơn khôn ngoan Chúa truyền dậy.

    Về mục lục

     

    LỰA CHỌN KHÔN NGOAN

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Chọn lựa Chúa, đó là hành động khôn ngoan sáng suốt và đem lại hạnh phúc lâu dài.

    Sống ở đời, chúng ta phải luôn khôn ngoan để chọn lựa điều tốt đẹp cho bản thân và gia đình. Vì cuộc sống này vàng thau lẫn lộn, nên ta phải biết suy tính và thận trọng để không bị lừa. “Vàng thì lấp lánh, nhưng không phải bất cứ thứ gì lấp lánh đều là vàng”. Nhiều người chuộng hình thức hào nhoáng bên ngoài, nên đã mắc những sai lầm tai hại và chuốc lấy hậu quả khôn lường.

    Cuộc sống này cũng được so sánh như một bàn cờ khổng lồ. Mỗi nước cờ là một nước đời. Cần phải khôn ngoan thận trọng trước khi quyết định tiến hay lùi một bước, vì một khi đã tiến hay lùi, không thể làm lại được nữa. Mỗi nước cờ chúng ta đi, có thể đem lại chiến thắng vẻ vang, nhưng cũng có thể chuốc lấy thất bại ê chề.

    Bài đọc I hôm nay nói về “Đức Khôn Ngoan”. Trong một đoạn văn gồm có 4 câu, mà chữ “Đức Khôn Ngoan” được dùng tới 11 lần. Hơn nữa, những từ này được viết hoa, có ý cho độc giả vượt qua khái niệm về sự khôn ngoan thông thường, để suy tư và hướng tới một thực tại sâu xa hơn. Dưới ánh sáng của Tin Mừng và theo lăng kính Kitô giáo, “Đức Khôn Ngoan” chính là Chúa Giêsu. Người là sự Khôn Ngoan của Chúa Cha. Chính Chúa Giêsu khẳng định điều này, khi so sánh thời đại của Người với câu chuyện mấy đứa trẻ thổi sáo, và khẳng định: “Đức Khôn Ngoan được chứng minh bằng hành động” (x. Mt 11, 16-19). Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa đã hóa thân làm người để ở với chúng ta. Ai chọn lựa Chúa Giêsu như lý tưởng và mẫu mực cho đời mình, sẽ đạt được những điều tốt đẹp cho cuộc sống hiện tại và tương lai. Vàng bạc của cải và những kho báu trên đời này, đem so sánh Đức Khôn Ngoan, chỉ là cát bụi. Lịch sử đã chứng minh, biết bao người nam cũng như nữ đã chọn Đức Giêsu và sẵn sàng chấp nhận hy sinh cả mạng sống mình để trung thành với sự lựa chọn ấy. Họ khước từ bổng lộc, ưu đãi và vinh hoa phú quý đời này, để được sự sống và vinh quang đời sau.

    Khái niệm Đức Khôn Ngoan của Cựu ước soi sáng cho chúng ta hiểu điều Chúa Giêsu đã khẳng định trong Tin Mừng. Theo Chúa luôn là một chọn lựa. Đây là chọn lựa nhiều lúc làm trái tim chúng ta rớm máu, vì phải hy sinh những gì là thiêng liêng gắn bó nhất. Chàng thanh niên trong Tin Mừng là biểu tượng cho những người mau mắn theo Chúa, nhưng dễ gục ngã và đầu hàng, vì không đủ can đảm để chấp nhận điều Chúa đề nghị, đó là từ bỏ của cải và sự giàu sang. Cuộc theo Chúa của anh đã thất bại. Anh không đủ can đảm để tiếp tục bước đi trên con đường theo Chúa.

    “Hỡi các con, những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa!”. Chúa Giêsu đã thốt lên điều này. Bản thân chúng ta, khi nghe điều này cũng sững sờ giống các môn đệ. Tuy vậy, Chúa trấn an chúng ta: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự”. Đây cũng là điều sứ thần Gabriel đã khẳng định với Trinh nữ Maria: “Đối với Thiên Chúa, không có gì mà Ngài không làm được!”. Như thế, việc hưởng Nước Trời không đến từ công trạng cá nhân của chúng ta, nhưng nhờ lòng từ bi hải hà của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng tạo dựng mọi sự từ hư vô, có thể làm cho con lạc đà chui qua lỗ kim, tức là có thể cho chúng ta là những tội nhân được hưởng Nước Trời. Nói như thế, không có nghĩa là chúng ta không cần cố gắng. Trái lại, Nước Trời là hoa trái của những nỗ lực cộng tác với ơn Chúa. Chàng thanh niên trên đây, đã không có được những cố gắng ấy, nên thất bại ngang đường.

    Kitô hữu là người chọn lựa Chúa Giêsu. Chắc chắn trong mỗi chúng ta, đã hơn một lần chúng ta cảm nhận được hạnh phúc đến từ chọn lựa này. Tuy vậy, trước những khó khăn thử thách, nhiều lúc chúng ta cảm thấy dao động bất an vì dường như Thiên Chúa vắng bóng và không đáp lời khi chúng ta nguyện cầu. Những lúc dao động ấy, có thể chúng ta đã nói với Chúa như ông Phêrô: “Thày coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”. Đây là câu nói, vừa để kể công, vừa thắc mắc đòi hỏi và nói lên những nghi ngại và có phần luyến tiếc vì đã theo Chúa. Thánh sử Máccô không nói về tâm trạng của Chúa Giêsu trước câu nói này, nhưng chắc hẳn Chúa không vui vì các môn đệ đang kể công với Thày mình. Mặc dù thế, Chúa không để các ông chán nản. Người khẳng định với các ông, nếu theo Người, họ sẽ được gấp trăm ở đời này, nhưng phải trải qua những ngược đãi. Chọn lựa Chúa, đó là hành động khôn ngoan sáng suốt và đem lại hạnh phúc lâu dài. Chọn lựa Chúa cũng phải chấp nhận nhiều hệ lụy cho bản thân, nhiều khi đến mức tử đạo. Cũng như Chúa Giêsu đã chọn lựa con đường trung thành với Chúa Cha, và Người đã phải trả giá cho chọn lựa ấy là cái chết trên thập giá, những ai chọn Chúa Giêsu cũng phải đi trên con đường thập giá mà Người đã đi. Sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa được tỏ bày ở mức độ tuyệt đỉnh nơi Đức Kitô chịu đóng đinh (x. 1Cr 1, 18-24). Nhưng Thập Giá lại bị người ta, cho là sỉ nhục và điên rồ. Trong số “người ta” này, nhiều khi có cả chúng ta.

    Trước những hệ lụy thiệt thòi đến từ việc chọn lựa Chúa Giêsu, Thánh Phaolô khuyên chúng ta: Hãy an tâm. Đừng lo lắng, vì Chúa luôn thấu hiểu chúng ta. Lời của Ngài là lời linh nghiệm. Con người có thể che giấu đối với đồng loại, nhưng những uẩn khúc của họ bị giãi bày trước nhan Thiên Chúa, vì chẳng ai có thể che giấu và dối trá trước nhan Người (Bài đọc II).

    Cảm tạ Chúa đã soi sáng cho chúng ta chọn lựa Đức Khôn Ngoan trong cuộc đời. Giữa những hệ lụy thiệt thòi vì mang danh Đức Giêsu, chúng ta hãy tín thác nơi Chúa, với cái nhìn lạc quan tin tưởng Ngài sẽ đỡ nâng chúng ta.

    Về mục lục

    .

    HẠNH PHÚC QUA VIỆC TRAO BAN

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Có một câu chuyện rất ngắn kể rằng:

    Xưa, nội nghèo, Ba đi ở cho ông bá hộ, chăn trâu để chú được đi học. Thành tài, chú cưới vợ, ra riêng.

    Ngày hỏi vợ cho thằng Hai, chú mời mấy người cùng cơ quan. Ai cũng com-lê, cà-ra-vát. Chú bảo: Anh Hai hay đau bao tử, ở nhà nghỉ cho khỏe.

    Ba ừ, im lặng vác cày ra đồng. Mồ hôi đổ đầy người.

    Cũng những giọt mồ hôi ấy, xưa mặn nồng biết chừng nào, mà giờ, sao nghe chát cả bờ môi.

    Cuộc sống không thiếu những người vong ân bội nghĩa. Họ có tiền. Họ có của nên quên bè bạn, quên anh em. Có khi còn phụ ân tình của cha mẹ, họ hàng. Họ là những người “ăn cháo đãi bát”. Cuộc đời của họ chỉ cần tiền. Họ không cần bạn bè, không cần người thân. Đối với họ tiền là “trên hết”.

    Giữa cuộc sống hôm nay, ai cũng cần tiền. Không chỉ cần tiền để xài mà còn cần tiền, kiếm tiền để được giầu sang. Người ta đua nhau giầu có hơn người. Người ta tìm mọi cách để kiềm tiền hơn người. Xã hội hôm nay cũng đánh gía nhau dựa trên đồng tiền. Kẻ có tiền được trọng vọng, được xem là kẻ thành công, người quý phái. Kẻ không tiền bị rẻ rúng, xem thường. Kẻ có tiền luôn đúng. Người không tiền luôn thiệt thòi.

    Người thanh niên trong đoạn Tin Mừng hôm nay là một người giầu có. Anh có tiền. Anh giầu sang. Anh được mọi người kính trọng. Thế nhưng, anh vẫn cảm thấy trống vắng. Anh vẫn khắc khoải một điều gì đó vượt lên đồng tiền. Đó chính là hạnh phúc. Đồng tiền anh chiếm hữu không mang lại hạnh phúc cho cuộc đời anh. Anh vẫn bất an và đi tìm hạnh phúc. Mặc dù anh đã sống đạo thật tốt. Anh tuân giữ mọi điều răn Chúa. Anh ăn ở ngay lành. Anh đã sống một cuộc đời chỉ mong hoàn thiện. Nhưng xem ra anh vẫn chưa toại nguyện về những gì mình đang có.

    Chúa Giê-su hôm nay đã chỉ cho anh con đường đi tìm hạnh phúc. Con đường đó khởi đi từ sự trao ban. Khi trao ban ta tìm được hạnh phúc. Trao ban càng nhiều càng hạnh phúc nhiều. Kẻ chiếm hữu không có hạnh phúc. Vì luôn phải toan tính, luôn phải tranh giành. Kẻ trao ban mới có hạnh phúc. Hạnh phúc là khi nhìn thấy người mình thi ân được hạnh phúc, được ấm no. Tâm hồn người thanh niên chưa thanh thản vì anh vẫn còn cố giữ. Anh chưa dám trao ban. Anh chưa tìm được hạnh phúc đích thực qua sự trao ban.

    Chúa Giê-su, Ngài đã sống một cuộc đời trao ban. Ngài trao ban cuộc đời như hạt lúa mục nát để sinh nhiều hoa trái. Ngài trao ban cuộc đời như tấm bánh được bẻ ra cho muôn người được hạnh phúc. Ngài trao ban cả mạng sống mình cho thế gian được sống và sống dồi dào. Ngài đã tìm niềm vui qua việc trao ban. Thế nên, Ngài đã tìm được hạnh phúc khi trở thành chiên gánh tội trần gian. Nhờ Ngài mà muôn người được nên một trong gia đình của Chúa, là con cái,  là anh em con một Cha Trên Trời.

    Tiếc thay, người thanh niên đã không dám trao ban. Anh tiếp tục lặng lẽ đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc trong tầm tay. Nhưng bàn tay anh chỉ nắm lại mà không bao giờ mở ra. Thế nên, tấm lòng của anh cũng đóng lại trong cô đơn và hoang vắng.

    Ước gì cuộc đời chúng ta hãy biết trao ban. Hãy tìm niềm vui trong đời sống phục vụ. Mỗi người chúng ta đều lớn lên trong sự chăm sóc phục vụ của cha mẹ, thầy cô, bè bạn thì cũng hãy cúi mình phục vụ cho nhau. Xin cho bàn tay chúng ta luôn mở ra để nắm lấy đồng loại và cùng dìu nhau qua những thăm trầm cuộc đời. Xin Chúa là Đấng đã phục vụ xin giúp chúng ta cũng biết phục vụ như Ngài. Amen

    Về mục lục

    .

    KHO BÁU ĐÍCH THỰC

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Câu chuyện người thanh niên giầu có trong Tin Mừng của thánh Marcô mà Phụng vụ Chúa nhật 28 thường niên, năm B trình bày hôm nay đã gây ấn tượng và để lại cho mọi người ở mọi thế kỷ những suy nghĩ, cảm nghiệm và trải nghiệm khôn lường. Thật vậy, trên thế giới mọi thời : giầu có, địa vị, danh vọng, của cải, tiền tài luôn luôn là những cám dỗ, thử thách và quyến rũ làm xiêu ngã nhiều người. Thường con người vẫn chạy theo những lợi nhuận, những phù phiếm chóng qua, nhưng nó lại là những việc thu hút con người, làm cho con người khó dứt bỏ những vinh hoa phú quí, mau tàn, chóng qua. Chúa Giêsu lại dạy người thanh niên  và cả nhân loại chúng ta muốn đạt được Nước Thiên Chúa, con người phải dứt bỏ những quyến rũ mau qua của trần gian và cậy trông, phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa…

    Vâng, người thanh niên giầu có đến gặp Chúa Giêsu hôm nay là một con người đạo đức, đã cố gắng rất nhiều để sống tốt, giữ luật Thiên Chúa. Anh đã thưa với Đức Giêsu : “ Tất cả những giới răn của Chúa, con đã giữ từ thuở nhỏ “ ( Mc 10, 20 ).Tin mừng viết :” Chúa Giêsu chăm chú, yêu thương nhìn anh và đem lòng thương mến sự thiện chí, lòng đạo đức của anh “. Tuy nhiên, để khuyến khích anh bước thêm một bước trên đường nhân đức, Người đã nói với anh :” Hãy đem bán hết gia tài, của cải con có  , bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta “ ( Mc10,21 ). Người thanh niên giầu có trong Tin mừng của thánh Marcô đã không mau mắn như một Phanxicô Assisi, như một Têrêsa Calcutta, như một Đa Minh, Antôn Padua hay như một Anphongsô, mà anh đã sụ nét mặt, buồn rầu bỏ đi vì anh đã có quá nhiều của cải.

    Người thanh niên giầu có ở đây, mặc dầu có lòng đạo đức thật, nhưng anh ham tiền, ham của cải phù phiếm chóng qua, anh đã không dám làm theo lời đề nghị của Chúa, thật đáng tiếc ! Trên thế giới đã có rất nhiều người dám làm theo lời đề nghị của Chúa, họ đã hy sinh, đã bán tất cả để đi phục vụ người nghèo, người bệnh tật trong các bệnh viện xa xôi, họ đã dám chống lại cả quyền lực những lời đe dọa của những kẻ có thể giết mình khi chống đối nạn kỳ thị chủng tộc, nạn buôn bán nô lệ, nạn lạm dụng tính dục, nô lệ tình dục vv…Đọc Kinh Thánh, chúng ta cũng thấy rất rõ một Mađalêna đã vì tin tưởng, vì tình yêu, sự tha thứ của Chúa, cô đã dứt bỏ tội lỗi để chỉ một lòng đáp trả tình yêu đối với Chúa, nên cô đã không sợ chết, luôn có mặt nơi nhạy cảm nhất mà Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh của mình đang phải đuyơng đầu : trên đường khổ giá, nơi chỗ Chúa chịu đóng đinh, nơi táng xác Chúa và rồi chính tình yêu, chính lòng quả cảm, sự trung thành tuyệt đối của cô, Chúa đã trao sứ mạng đầu tiên cho cô loan, báo Chúa sống lại.Thật là sự cương quyết của một con người xem ra liễu yếu đào tơ, nhưng thật lòng đi theo Chúa Giêsu. Thánh Phaolô quả đã không ngoa khi nói :” Điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm “ ( Rm 7, 15 ).

    Thánh Phaolô quả quyết tội lỗi không thể thắng được Chúa, nhưng chỉ có tình yêu, sự phó thác, tin tưởng tuyệt đối vào Chúa mới giúp con người chúng ta thoát ra khỏi những cám dỗ của satan, ma quỷ vv…Thánh Gioan những ngày cuối đời luôn nói về tình yêu: “Hãy yêu rồi muốn làm gì thì làm “, thánh Augustinô cũng nói :” Hãy yêu rồi làm những gì mình muốn “. Tình yêu sẽ thúc bách chúng ta không thể lám ngơ trước những đau khổ của anh em.Nói yêu mến Chúa mà làm ngơ trước nỗi khốn cùng của nhân loại, của tha nhân là điều không thể chấp nhận được…Chúa Giêsu khi đến thế gian, Người đã không tách rời với những gì đang thuộc thế gian ngoại trừ tội lỗi, nên Ngài đã tới với từng lớp người, đã yêu thương từng người, đặc biệt với những con người tội lỗi yếu hèn. Ngài đã từng bị Pharisêu lên án đồng bàn với những người tội lỗi, quân thu thuế vv…Chúa Giêsu không lên án những người giầu có nhưng có lòng quảng đại, chia sẻ nhưng Ngài chỉ kết án những người quá bám víu, coi tiền của là mục đích, là cứu cánh, không dám mở lòng ra đối với tha nhân, với công trình yêu thương của Thiên Chúa.

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con, xin ban sự can đảm, lòng quảng đại cho chúng con, để chúng con không khư khư giữ lấy, không biết chia sẻ đối với những người nghèo khó, và dám đi theo lời mời gọi của Chúa, đừng để chúng con buồn rầu, sụ nét mặt, bỏ đi trước sự mời gọi của Chúa. Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Người thanh niên trong Tin Mừng của thánh Marcô trình bày thuộc hạng người nào ?

    2.Anh chứng tỏ với Chúa thế nào ?

    3.Chúa đề nghị gì với anh ?

    4.Anh đã đáp trả thế nào trước lời mời gọi của Chúa ?

    5.Còn chúng ta, chúng ta đã có thái độ thế nào trước lời mời gọi của Chúa Giêsu ?

    Về mục lục

    .

    BÁN ĐI VÀ THEO THẦY

    Lm Giuse Hoàng Kim Toan

    Con đường trọn lành Chúa Giêsu mời gọi sao lại là con đường khó đến vậy? Người thanh niên buồn rầu bỏ đi. Có lẽ đây cũng là một phần đời của chúng ta.

    Giá trị của cải

    Của cải làm ra do chính bàn tay của mình làm ra. Người thanh niên không trộm cắp, không tham ô của ai, không vi phạm các giới răn. Anh sống cuộc đời tử tế, của cải, vật chất, anh làm ra do công sức của mình, tại sao lại bán đi và điều mâu thuẫn nhất là chia cho người nghèo.

    Trong một xã hội đầy nhiễu nhương, đồng tiền làm ra tự nó đã mất đi tính công bằng. Chia lại cho người nghèo là một đề nghị hợp lý, nhưng chia bằng cách nào, đó là cách mỗi người đáp lại tiếng Chúa mời gọi.

    Người nghèo đa dạng

    Người nghèo, có rất nhiều người nghèo và nhiều lãnh vực nghèo. Có ba dạng nghèo theo một nghiên cứu:

    Nhóm thứ nhất: Người nghèo thật sự, là những người khuyết tật, người già, bệnh hiểm nghèo, đơn côi… Nhóm người này cần có nhiều hỗ trợ từ phía xã hội và các hoạt động bác ái của Giáo Hội. Theo đó, có những đóng góp của người thực hành điều răn Chúa dạy: “Mến Chúa, yêu người”. Ngày xưa các cụ đã dạy trong bản kinh:

    Kinh Mười Bốn Mối

    Thương người có mười bốn mối:

    Thương xác bảy mối:

    Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn

    Thứ hai: Cho kẻ khát uống

    Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc

    Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.

    Thứ năm: Cho khách đỗ nhà

    Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi

    Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết

    Thương linh hồn bảy mối:

    Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người

    Thứ hai: Mở dậy kẻ mê muội

    Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo

    Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội

    Thứ năm: Tha kẻ dể ta

    Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta

    Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

    Nhóm thứ hai: Những người muốn vươn lên thật sự nhưng thiếu kỹ năng, phương tiện, vốn. Do xã hội còn nhiều bất cập, thiếu công bằng cơ hội cho mọi người thăng tiến. Những người này cần có sự hỗ trợ nhiều hơn từ những người thành đạt hảo tâm trong xã hội, những người có khả năng kiến thức để truyền đạt, tạo những cơ hội vươn lên cho họ trong cuộc sống. Những nhà cầm quyền cần tạo một xã hội an sinh, mọi người đều có quyền như nhau, công việc làm và học hành theo khả năng.  Như cách thường nói “cho cần câu chứ không cho con cá”. Muốn được như vậy cho mọi người, Chúa mời gọi những người có khả năng hoạt động trong mọi lãnh vực: chính trị, kinh tế, giáo dục, ý tế… đều hết lòng hết sức phục vụ thăng tiến con người toàn diện.

    Nhóm thứ ba: Nhóm không muốn thoát nghèo, ỷ lại vào người khác, ăn bám xã hội, ngồi mát ăn bát vàng. Nhóm người này là nhóm người cản trở nhiều nhất trong việc thăng tiến con người và làm chùn tay những người có lòng tốt, bác ái. Một thực tế cho thấy, con người hảo tâm luôn bị lợi dụng, hoặc bị cho là thơ ngây. Bán hết của cải mà chia cho những nhóm người này thật là quá dại. Biêt đâu thực đâu hư, nên việc bác ái cho bi bằng tiền, bằng vật chất xem ra luôn có nhiều nguy cơ bị lợi dụng.

    Lời Chúa mời gọi:

    Bán đi và đem chia cho người nghèo, chắc chắn Chúa mời gọi một điều tích cực. “Không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của được” (Lc 16, 13). Đó là lý do chính yếu Chúa mời gọi bán đi tất cả để theo Chúa. Hiểu được điều này, người Kitô hữu ý thức được giá trị của tiền của mình kiếm được. Nó để phục vụ sự sống con người chứ không phải con người làm tôi tớ cho tiền của.

    Là chủ của của cải nên con người biết sử dụng chúng để làm gì, phục vụ cho điều gì chính đáng. Con người làm chủ tiền của là con người khôn ngoan, biết dùng nó để mua lấy nước trời, kiến tạo một xã hội cho nhiều người được sống, phẩm giá con người được tôn trọng, lợi ích của cộng đồng được nâng cao. Biết giữ gìn và phát triển môi trường thiên nhiên để sống dồi dào và phong phú.

    Bán đi tất cả là một lời mời gọi dấn thân toàn vẹn cho việc “đi tìm kiếm sự công chính và nước trời trước đã” (Mt 6, 33). Con người sẽ được Thiên Chúa hỗ trợ mọi mặt để thi hành điều ấy. Thế nên, việc theo Chúa là một việc hệ trọng hơn bất cứ gì có thể níu kéo. Hãy theo Chúa để chính Người thực hiện những điều kỳ diệu trong cuộc đời của chúng ta và chúng ta sẽ nghiệm thấy” “Chúa đã làm cho tôi những điều trọng đại” (Lc 1, 49)

    Về mục lục

    .

    LỜI MỜI GỌI THEO CHÚA

    Lm. Phêrô Lê văn Chính

    Khởi đầu Chúa nhật này, đọc sách Khôn ngoan nói về lòng yêu mến quí trọng sự khôn ngoan. Tác giả nói lên tâm tình của mình, của người nghiệm thấy rằng Khôn ngoan quí trọng hơn mọi của cải, vàng bạc châu báu ở trần gian. Nếu sánh ví Khôn ngoan với những điều quí giá nhất ở trần gian thì không có gì có thể sánh được ngay cả như vương quốc hay ngai vàng, hay như những vàng bạc đắt giá như là kim cương. Tác giả còn so sánh Khôn ngoan quí giá hơn cả sức khoẻ và sắc đẹp cũng là những điều rất quí giá trong cuộc đời. Tất cả mọi điều quí giá này của trần gian không là gì so với Khôn ngoan, bởi vì ánh sáng của Khôn ngoan thì không bao giờ tắt và nhờ Khôn ngoan thì ông sẽ có tất cả.  Bài Tin mừng sau đó cũng đi theo chiều hướng này, nói đến sự chọn lựa khó khăn đặt ra cho một người giàu có. Ông đến để hỏi Chúa Giêsu phương thế để có thể đạt đến sự sống đời đời : “Thưa thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”. Câu hỏi cho thấy người đàn ông này là người khôn ngoan, biết đi tìm kiếm sự chỉ dạy khôn ngoan để đạt đến sự sống đời đời. Trả lời câu hỏi của ông, Chúa Giêsu đã giới thiệu cho ông các giới răn phải thi hành. Bản văn Tin mừng đã liệt kê phần lớn những điều cấm cốt yếu của mười điều răn và giới răn yêu kính cha mẹ. Người này đã có can đảm để thưa rằng ông đã thực hành các giới răn này từ thuở nhỏ. Chúng ta đang gặp một người đạo đức mẫu mực trong xã hội do thái đương thời, một người đã biết chu toàn các giới răn và mệnh lệnh Thiên Chúa với một lương tâm ngay thẳng. Chính Chúa Giêsu cũng nhìn ông với lòng trìu mến, người đã mời gọi ông cách thân mật: “Ngươi chỉ còn thiếu một điều, là hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo, và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi hãy đến và theo Ta”. Phải nhìn nhận lời mời gọi của Chúa Giêsu hơi bất ngờ đối với ông. Thế nhưng, suy cho cùng lời mời gọi của người rất triệt để và thiết thực, đặt ông đối diện với chính bản thân mình mà dường như ông không dám nhìn thẳng. Người này chỉ còn thiếu một điều cần thiết thôi, ông đã có tất cả những điều khác để nên hoàn thiện rồi, ông chỉ còn bán đi của cải để theo Chúa Giêsu để đảm nhận những  công việc khác quan trọng hơn mà người muốn dành cho ông, và để chiếm hữu đượcsự sống đời đời.

    Trước câu hỏi của người đàn ông này, Chúa Giêsu đã trả lời bằng cách nhắc lại con đường bình thường và đầy đủ để đạt tới sự sống đời đời là thực hành các giới răn theo như vẫn được nhắc nhở trong do thái giáo. Và người đàn ông này chắn hẳn vốn quen thuộc với việc thực hành những giới răn và mệnh lệnh như đã được nhắc nhở qua Lề luật Sách Thánh. Ông tỏ ra là một người ngay thẳng, biết chú tâm lắng nghe lời Chúa và điều này khiến Chúa Giêsu rất có thiện cảm với ông và cất lời mời gọi ông. Lời mời gọi này của Chúa Giêsu dành cho ông thường được giải thích là lời mời riêng cho cá nhân của ông, được kêu gọi cách đặc biệt. Người mời gọi ông bán mọi sự, cho người nghèo và đến theo người, như ở khởi đầu Tin mừng Marcô, Chúa kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên. Đây là lời mời gọi dành riêng cho những con người có ơn gọi đặc biệt theo Chúa, không dành cho mọi người. Người mời gọi ông can đảm từ bỏ những của cải ông đang có để theo người. Đây cũng chính là cách sống của chính Chúa Giêsu đã chọn lựa làm người rao giảng lữ hành Nước Thiên Chúa qua các thành thị và làng mạc, không định cư một nơi nào cố định với đầy đủ mọi tiện nghi cho cuộc sống. Người đàn ông đầy nhiệt tình này đã không thể theo Chúa, ông không thể đáp ứng được lời mời gọi bán đi mọi của cải, phân phát cho người nghèo để theo Chúa Giêsu. Câu chuyện tiếp nối của Tin mừng sau đó giữa Chúa Giêsu và các môn đệ cho chúng ta biết bởi vì ông là người giàu có. Điều này đã khiến Chúa Giêsu phải thốt lên sự giàu có là trở ngại làm cho người ta không có đủ can đảm để theo người trọn vẹn: “Người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa”.

    Người đàn ông này đã hụt mất ơn gọi cao cả dành cho mình. Thật đáng tiếc. Nhưng phải chăng câu chuyện này chỉ để chúng ta tiếc nuối cho một ơn gọi mất đi cách oan uổng hay còn là một bài học cho mọi người. Đàng sau bóng dáng của người do thái đạo đức này, đã biết sống trung thành ngay thẳng lề luật Môisen, thấy phác họa lên hình ảnh của những người môn đệ mới, biết theo lời mời gọi của Đấng Cứu thế, một nhà lập luật mới. Chúa Giêsu chính là Đấng mời gọi mọi người, đưa ra một lời mời gọi khẩn thiết hơn và cao trọng hơn. Những người môn đệ của Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở việc chu toàn lề luật mà còn phải tiến thêm một bước quyết định là hãy theo Người, và lời mời gọi theo người thì cũng bao hàm những điều kiện của việc theo người là biết từ bỏ chính những gì thiết thân với mình nhất như là của cải, hay cả như là những người thân yêu ruột thịt như cha mẹ, vợ con, anh em. Điểm nhấn của lời mời gọi quyết định này không chỉ là việc bán của cải mà là chính là việc bỏ mọi sự mà theo Người, gắn bó với Người. Người đàn ông trong câu chuyện này đã bỏ đi, khiến cho mọi dự kiến bổng chốc tan vỡ, khiến cho Chúa Giêsu cũng đau buồn, và người đàn ông cũng buồn bã bỏ đi. Ông không thể từ bỏ của cải mình, hay ông đành bỏ qua lời mời gọi của Chúa Giêsu để giữ lấy của cải của mình, bởi vì khi có của cải, tâm hồn con người bị chia sẻ, không thể hoàn toàn theo Chúa được, bởi vì còn muốn giữ lại của cải cho mình. Đây chính là sự giằng co diễn ra nơi nội tâm con người: vừa muốn theo Chúa lại vừa muốn bám víu vào của cải, ngay cả để cho của cải chi phối và hướng dẫn đời sống mình. Như thế, phải chăng theo Chúa Giêsu đòi hỏi  từ bỏ mọi sự, ngay cả những của cải thiết thân với chính mình. Thư Do thái nhắc nhở chúng ta là lời Chúa linh nghiệm và sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, phân rẽ linh hồn với thần trí, gân cốt với tủy não, tình cảm với ý nghĩ của tâm hồn. Phải chăng lời mời gọi của Chúa Giêsu cũng đặt mỗi người chúng ta đối diện cách thẳng thắn với chính mình. Chúng ta có can đảm theo Chúa không?

    Về mục lục

    .

    LẤY CỦA CẢI TẠM THỜI ĐỔI LẤY KHO TÀNG BỀN VỮNG

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Chàng thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay là người nhìn xa thấy rộng. Tuy có đầy đủ tiền bạc của cải nhưng tâm hồn anh luôn khắc khoải vì có một khao khát chưa được lấp đầy: khao khát được sống đời đời. Vì thế anh tìm đến với Chúa Giê-su mà anh xem như một bậc Tôn Sư lỗi lạc, “quỳ xuống trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”

    Chúa Giê-su dạy anh phải giữ các giới răn. Anh đáp: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã giữ từ thuở nhỏ.”

    “Bấy giờ Đức Giê-su nhìn anh và đem lòng yêu mến, Ngài bảo: “Anh chỉ còn thiếu có một điều: là hãy về bán những gì anh có mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Sau  đó, hãy đến theo tôi.”

    Qua lời dạy nầy, Chúa Giê-su đề nghị anh đánh đổi của cải phù du đời nầy để chiếm hữu kho tàng vô giá đời sau, nhưng khi “nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải” (Mc 10, 17-30).

    Lời đề nghị với người thanh niên giàu có năm xưa lại được Chúa Giê-su gửi đến mỗi người chúng ta hôm nay. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta phải khôn ngoan đem những của cải tạm bợ đời nầy đổi lấy kho tàng vững bền trên thiên quốc; hay nói một cách bình dân là hãy “bỏ con tép bắt con cá”,  mà cá đây lại là cá voi, vì phần bỏ ra rất nhỏ nhưng phần thu lại thật lớn lao.

    Phần thu lớn lao nầy đã được Chúa Giê-su xác nhận với thánh Phê-rô và các tông đồ: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng ai từ bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất vì Thầy và vì Tin Mừng mà không được gấp trăm và được sống đời đời” (Mc10, 29-30).

    Đổi tiền giấy lấy vàng

    Vào khoảng năm 1975-80, kinh tế Việt Nam gặp khủng hoảng trầm trọng, vật giá leo thang từng ngày, giá vàng nhích lên liên tục, đồng tiền mỗi ngày một mất giá. Vì thế, không ai dại dột giữ tiền trong tủ. Khi có chút ít tiền dư, người ta đua nhau sắm vàng. Kẻ có nhiều tiền thì sắm cả lượng vàng, người ít tiền thì sắm nửa chỉ hoặc một hai phân. Thế mới an lòng chắc dạ.

    Đổi vàng và của cải để lấy công phúc

    Những người khôn lúc đó đều có một chọn lựa sáng suốt là đổi tiền giấy lấy vàng. Thế nhưng vàng cũng không còn giá trị đối với người đã nhắm mắt xuôi tay, chẳng còn ích chi cho người đã lìa cõi thế. Do đó, một chọn lựa cũng rất sáng suốt cho chúng ta hôm nay là phải đổi tiền, đổi vàng, đổi tất cả của cải ta có đời nầy để lấy thứ “quý kim” muôn đời có giá, đó là công phúc. Ai có nhiều công phúc là có cả một kho báu trên trời không bao giờ mai một, hư hao.

    Mai đây, cái chết sẽ thình lình chụp xuống. Nếu hôm nay không kịp chuyển đổi những gì ta có thành công phúc, thì lúc đó ta sẽ trở thành người tay trắng, chẳng còn gì tồn tại với mình khi bước qua thế giới bên kia. Đến lúc ấy, có hối tiếc thì cũng đã quá muộn màng!

    Xét về một vài khía cạnh nào đó, mỗi người chúng ta đều là những người giàu có, không giàu của cải thì cũng giàu thời giờ, giàu sức lực, hay giàu khả năng, trí tuệ…

    Thời giờ ta đang có sẽ trôi qua nhanh chóng như nước chảy qua cầu, hết phút nầy đến phút khác; Sức khỏe ta đang hưởng hôm nay cũng sẽ hao mòn theo năm tháng;

    Của cải tiền bạc rồi cũng sẽ không cánh mà bay;

    Khả năng làm việc cũng suy giảm dần dần…

    Thế thì, tại sao ta không nhanh chóng đem những thứ “của cải tạm bợ” nầy đổi lấy thứ tài sản không bao giờ hao vơi trước khi chúng kịp bốc hơi?

    Lạy Chúa Giê-su,

    Xin cho chúng con biết dùng thời giờ Chúa ban để tôn vinh Chúa và phục vụ con người. Đó là cách chuyển của cải phù du thành công đức bền vững cho mai sau.

    Xin cho chúng con biết cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ… để gánh vác việc đời, để góp phần xây dựng xã hội và phục vụ mọi người. Đó là những cách biến gia sản chóng qua đời nầy thành công phúc, thành của cải không bao giờ hư nát dành cho mai sau.

    Về mục lục

    .

    NGƯỜI CÔNG CHÍNH TÂN ƯỚC

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Anh Giuse Cao Hữu Minh Trí, một dự thính viên trẻ người Việt Nam, 21 tuổi, đã phát biểu trong một cuộc họp báo tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh, nơi Bộ Trưởng Bộ Truyền Thông của Tòa Thánh, Ông Paolo Ruffini, họp báo lúc 1 giờ 30 trưa ngày 14 tháng Mười để tường trình với các nhà báo về các đề tài của buổi họp sáng nay tại Thượng Hội Đồng về Người Trẻ, Đức Tin và Biện Phân Ơn Gọi.

    Khi được hỏi: “Đâu là đam mê của bạn?”. Anh Trí trả lời: “Niềm say mê mang lại ý nghĩa là niềm say mê Thiên Chúa”. “Chính đam mê đối với Chúa” mới làm mọi người no thỏa. (x.Zenit 4.10).

    Trang Tin mừng hôm nay kể chuyện một thanh niên đạo đức và có nhiều tiền của mà vẫn thao thức đi tìm hạnh phúc với lý tưởng hằng ấp ủ từ thưở nhỏ “phải làm gì để có sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Người trẻ khát khao tìm suối nguồn hạnh phúc.

    Một thanh niên công chính, ngay thẳng, không dối gian. Một người trẻ tuổi tốt lành có thiện chí, giữ trọn các giới răn của Thiên Chúa và còn muốn làm điều tốt hơn nữa để được sự sống đời đời. Chàng trai thật dễ thương, khao khát muốn vươn lên, băn khoăn muốn làm thêm gì đó để nên tốt hơn, thao thức hướng tới trọn lành. Một thiếu gia có của mà không tìm hưởng thụ, nhưng lại nuôi ước vọng cao xa hơn. Chàng trai trẻ ước mơ một vùng trời lý tưởng. Ước mơ ấy cất tiếng gọi anh đi tìm bậc “Thầy nhân lành”. Gặp Chúa Giêsu, anh quỳ xuống và thưa: Thưa Thầy, tôi phải làm gì để đạt được ước mơ mà tôi hằng ấp ủ ? Người thanh niên hỏi Chúa Giêsu với cả tấm lòng chân thành. Người hỏi “anh có giữ các giới răn không?”. Anh đáp dứt khoát và mau lẹ : “Thưa, tất cả những điều đó tôi đã giữ từ nhỏ”.

    Chúa Giêsu nhìn anh với ánh mắt trìu mến. Khi biết anh đã giữ trọn các giới răn, Chúa “Chăm chú nhìn anh và đem lòng thương“. Chúa thương vì thấy chàng trai trẻ thành tâm thiện chí. Chúa muốn giúp anh đi xa hơn trên con đường trọn lành, con đường tìm kiếm, con đường đòi hỏi từ bỏ và quảng đại. Chúa chỉ cho anh thấy con đường: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi“ ( Mc 10, 21 ). Đây là điều duy nhất, căn bản và cốt yếu để anh được hạnh phúc, được sự sống đời đời.

    Thánh Máccô kể chuyện cách dí dỏm: “Nghe lời đó, anh ta sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” ( Mc 10, 22 ). Niềm vui lịm tắt, người thanh niên buồn bả bỏ đi (Mt 19,20-21). Và từ đó ước mơ của anh héo úa theo dòng đời. Anh muốn hạnh phúc, muốn được sự sống đời đời nhưng lòng gắn bó với của cải vật chất đã chặn bước đường đi tới.

    Có lẽ các môn đệ tiếc nuối: sao Thầy không chiêu mộ người thanh niên giàu có này làm môn đệ nhỉ ?

    Chàng trai trẻ tiếc của nên bỏ đi. Chúa cũng tiếc thanh niên thiện chí. Chúa “nhìn chung quanh” và nói : “Những kẻ cậy dựa vào của cải, thật khó vào Nước Thiên Chúa biết bao“. Theo Chúa Giêsu, người ta không thể thờ hai chủ cùng một lúc. Kẻ có nhiều của cải thì để tâm vào của cải “kho tàng ở đâu thì lòng trí ở đó” (Lc 12,34), cho nên phải chọn: một là Thiên Chúa, hai là tiền tài (x. Lc 16,13). Lời Chúa thật “sắc bén như gươm hai lưỡi”. Người giàu thiện chí cần phải cắt những ràng buộc vật chất để vươn cao lên.

    Chàng trai trẻ vui mừng và hy vọng đi tìm con đường trọn lành. Phấn khởi gặp Chúa nhưng trở về với nổi buồn.Chàng trai trẻ không muốn trả giá, không muốn mạo hiểm làm môn đệ. Anh ta chỉ muốn giữ của cải đảm bảo cho cuộc sống vật chất. Muốn theo Chúa Giêsu nhưng anh ta vấp phải một chướng ngại, một sức khống chế, đó là lòng gắn bó với vật chất. Của cải như tấm kính mờ che lấp ánh sáng khi mà ánh sáng muốn soi vào lòng anh. Người thanh niên này có tất cả để được hạnh phúc nhưng chỉ còn thiếu một điều là khả năng theo Chúa.

    Những thanh niên tốt như vậy thời nào cũng có. Người trẻ sùng đạo và khao khát sự sống đời đời. Anh có duyên may gặp được Chúa Giêsu, một bậc thầy có lòng nhân hậu. Nhưng tiếc thay! Anh không đủ can đảm, không đủ quảng đại bác ái để đáp ứng đòi hỏi của Chúa Giêsu là từ bỏ những gì mình có để theo Người.

    Chúa đòi hỏi nơi anh điều anh muốn giữ lại vì của cải là chỗ dựa của đời anh. Anh sẵn sàng làm mọi điều Chúa đòi hỏi trừ việc bỏ chỗ dựa này. Nô lệ cho của cải, người thanh niên không đủ can đảm để ra khỏi ràng buộc.

    Người thanh niên trong Tin mừng hôm nay là người trẻ đàng hoàng và lương thiện, sống một cuộc sống không có gì đáng chê trách, không có tội lỗi gì đáng phàn nàn, không có tật xấu để sửa sai. Anh là hình ảnh người Công Chính Cựu Ước chu toàn lề luật. Chúa Giêsu âu yếm nhìn anh và muốn anh tiến thêm một bước nữa để nên người Công Chính Tân Ước : bán gia tài đem bố thí cho người nghèo, sẽ có một kho báu trên trời và hãy theo Ngài. Đó là điều kiện nên người Công Chính Tân Ước.

    Không ngoại tình, không giết người, không trộm cắp, không làm chứng gian, không lường gạt ai, không bất hiếu với cha mẹ. Đó mới là điều kiện thứ nhất sống tốt lành về mặt luân lý. Điều kiện thứ hai là tin và theo Chúa Giêsu.

    Giá trị của con người không hệ tại ở cái mình có, mà ở tại chính cái mình làm. Tất cả sự khôn ngoan và minh triết được đúc kết nới Chúa Giêsu. Tin vào Chúa Giêsu và sống theo giáo huấn của Người là sự khôn ngoan của người Kitô hữu.

    Người giàu có không được cứu độ chẳng phải vì họ giàu, nhưng sự trói chặt của vật chất làm họ nô lệ cho của cải và lãng quên Thiên Chúa. Của cải có thể là cạm bẫy che mất lương tâm, cản trở bước đường đến trọn lành. Người ta thường nói: Người giàu lấy của che thân. Người nghèo lấy thân che của. Đồng tiền liền với khúc ruột. Giàu không phải là tội, nghèo chẳng phải là nhân đức. Điều quan trọng theo tinh thần Phúc âm là thái độ con người trước của cải vật chất. Chúa Giêsu đã nhiều lần ví những người giàu có như ông phú hộ tích trữ thóc lúa ăn chơi thỏa thích. Hay như ông phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, không để ý đến Lagiarô đói khổ thèm được mấy thứ từ bàn ăn rơi xuống mà vẫn không được (Lc 12, 16-21; 16, 19-26).Thiên Chúa bảo các ông phú hộ đó : “Đồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng sống ngươi” (Lc 12, 20). Khi các phú hộ ở dưới âm phủ, ngước mắt lên kêu : “Ở đây con bị thiêu đốt khổ lắm”, Tổ phụ Abraham đáp lại : “Con ơi, hãy nhớ lại, suốt đời con đã được sướng rồi, bây giờ, phải chịu cực khổ thế là phải rồi” (Lc 16, 23-25).

    Con người thường bị giằng co giữa ước mơ bay cao và sự kéo gì của vật chất. Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt. Con người làm chủ nó và dần dần để nó làm chủ mình. Của cải trở thành lẽ sống mà con người không thể dứt bỏ.Những tiêu chuẩn mà con người hôm nay đang đặt ra để trói buộc nhau như là tiền tài, địa vị, danh vọng; thực tế, nó không thể làm cho con người đạt tới hạnh phúc đích thực.

    Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta một tin vui. Có những niềm hạnh phúc lớn lao mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua từng phút giây đang sống. Biết dừng lại để thưởng thức những niềm vui nhẹ nhàng trong cuộc sống. Gặp một nụ cười, ngắm một bông hoa. Thực thi một cử chỉ yêu thương, một việc làm bác ái. Đọc một cuốn sách hay. Một cuộc trò chuyện thân mật. Một buổi tối đọc kinh chung trong gia đình, trong khu xóm. Dâng một thánh lễ sốt sắng. Dự một giờ chầu sốt mến…Biết bao niềm vui an hòa mang đến hạnh phúc trong cái bình thường của đời thường. Có những người, giàu tiền bạc mà không biết vui cười, lắm của cải mà không biết yêu thương, sang trọng bề ngoài mà không có niềm vui nội tâm, thì cũng chỉ là bất hạnh. Con người không chỉ dừng lại nơi cơm áo gạo tiền. Con người còn có rất nhiều niềm vui tinh thần, biết bao hạnh phúc thiêng liêng.

    Chúa Giêsu không chọn những thanh niên “học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu”. Chúa chọn những thanh niên, những người lao động xem ra chẳng bảnh trai hay học thức, nhưng Chúa cần nơi họ là có “tấm lòng”, vì “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Người trẻ luôn ước mơ, luôn khao khát, luôn tìm kiếm và luôn có đủ nghị lực để vươn tới Chân Thiện Mỹ. Nhân loại sẽ không tìm thấy giải đáp nào thoả đáng hơn ngoài Chúa Giêsu Kitô, Đấng “là Con Đường, là Chân Lý và là Sự Sống” (Ga 14,6). Trong xã hội ngày nay, có biết bao cuộc vui chơi giải trí, có biết bao phong cách hào hoa, có biết bao chủ thuyết hứa hẹn một tương lai tươi sáng… đang lôi cuốn giới trẻ. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận một sự thật là: con người đứng trước một thế giới tương đối, hữu hạn nhưng tâm hồn lại luôn hướng về những giá trị tuyệt đối, vô biên. Đó là một mâu thuẫn lớn nhất trong con người, đặc biệt là nơi giới trẻ. Nếu không có một đời sống tâm linh vững vàng thì người trẻ dễ rơi vào tình trạng chán chường, thất vọng và phản ứng nổi loạn. Ý tưởng đó được Thánh Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày Quốc Tế Giới Trẻ 1993 xác nhận: “Chỉ có Đấng tạo dựng nên tâm hồn con người mới có thể đáp ứng cách thích đáng những mong chờ mà con người mang trong mình”.

    Vì thế, cần phải cầu xin cho có được sự hiểu biết để “coi của cải chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan”;  “Đức khôn ngoan hơn vương trượng, ngai vàng…của cải bằng không. So với đức khôn ngoan, vàng trân châu bảo ngọc chẳng qua là một chút cát, bạc chẳng qua như chút bùn”. (Bài đọc 1). Khôn ngoan là sự giàu sang, là sự hiệp thông với ân sủng của Thiên Chúa. Người đời thường quý chuộng tiền bạc và sự giàu sang, còn người Công chính coi Ðức Khôn Ngoan là điều quý trọng hơn cả. Khôn ngoan quý trọng hơn tiền bạc, ngọc ngà, châu báu. Khôn ngoan quý hơn sức khoẻ và sắc đẹp. Cùng với Ðức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đến với người công chính.

    Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chỉ dẫn con đường hạnh phúc đời đời. Xin cho chúng con trung thành theo đường lối khôn ngoan thánh thiện Chúa dạy, luôn giữ các giới răn, chia sẽ tình thương với tha nhân, tin và bước theo Chúa mỗi ngày. Amen.

    Về mục lục

    .

    BÁN ĐỜI

    Trầm Thiên Thu

    Mua – Bán là hoạt động trao đổi vật chất theo thỏa thuận, ngày xưa trao cái này để lấy cái kia, ngày nay văn minh hơn, người ta dùng tiền để mua cái mình muốn.

    Cuộc sống trần thế “dính” nhiều tới vật chất, không dễ gì “dứt” ra được. Đó là lẽ tất nhiên, vấn đề quan trọng là đừng bám víu vào nó, đừng coi nó là chủ nhân, mà hãy coi nó là đầy tớ. Nó là phương tiện chứ không là cứu cánh. Như người Pháp nói: “L’argent est un bon serviteur et un mauvais maître” (tiền là đầy tớ tốt và là chủ nhân xấu). Còn người Latin có cách nói lạ: “Pecunia non olet” (tiền bạc không hôi thối). “Không hôi thối” cũng có thể là “thơm tho”, thảo nào người ta mê như điếu đổ!

    Chuyện tiền bạc rất nhiêu khê. Chỉ vì nó mà mất cả tình nghĩa, dù là máu mủ ruột rà. Nó chỉ là những mảnh giấy vô hồn, giá trị của nó tùy con số người ta quy ước. Vậy mà nó có ma lực khó có thể cưỡng lại, đơn giản như buôn bán ma túy, biết là nguy hiểm dủ thứ nhưng người ta vẫn như con thiêu thân, lý do là lợi nhuận cao và dễ làm giàu. Lại liên quan chuyện giàu – nghèo!

    Ai cũng có tài sản, dù ít hay nhiều. Nhưng con người còn có loại tài sản đặc biệt mà ai cũng rất giàu, đó là “cái tôi” – từ cái Tôi sinh ra Tồi (tệ), Tối (tăm), Tội (lỗi). Chỉ khác cái dấu mà nghiêng ngả cuộc đời! Theo nghĩa cơ bản nhất, tư sản là tài sản riêng, gia sản là tài sản của gia đình. Khi nói đến gia sản, người ta thường liên tưởng ngay tới vật chất – cụ thể là tiền bạc. Gia sản rất quan trọng đối với mỗi gia đình, cũng gọi là sản nghiệp. Đó cũng là tất nhiên thôi. Nhưng có một loại sản nghiệp quan trọng hơn: Thiên Chúa. Phần sản nghiệp này vô cùng quan trọng: “Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng” (Tv 16:5a) – chúng ta quen cách nói này: Chúa là gia nghiệp đời con. Thật vậy, ngày xưa Thiên Chúa đã nói với ông A-ha-ron: “Đất chia cho chúng, ngươi sẽ không có phần; ngươi không có gia nghiệp ở giữa chúng, và CHÍNH TA LÀ GIA NGHIỆP CỦA NGƯƠI giữa con cái Ít-ra-en” (Ds 18:20). Thiên Chúa luôn đại lượng và hào phóng đối với con người – dù đó là ai.

    Sản nghiệp, gia sản hoặc gia nghiệp là thứ cần thiết cho cuộc sống đời thường, thế nhưng Chúa Giêsu đã có lần nhắc nhở: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6:19-20). Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Kho tàng ở đâu thì lòng ở đó” (Mt 6:21). Rất thực tế. Tục ngữ Việt Nam cũng nói: “Đồng tiền liền khúc ruột”. Quả thật, vật chất có sức mạnh khó cưỡng lại, sức mạnh đó được gọi đó là “ma lực”. Cũng liên quan chuyện đời – chuyện đạo, Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Mác-ta! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10:41-42).

    Cũng vì vậy mà luôn phải rạch ròi, chuyện nào ra chuyện nấy, đừng lẫn lọn. “Cẩn tắc vô ưu” là thế. Muốn vậy cũng chẳng dễ, bởi vì phải cậy nhờ Đức Khôn Ngoan, mà Đức Khôn Ngoan liên quan Chúa Thánh Thần, bởi vì ơn khôn ngoan là một trong bảy ơn của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa Ngôi Ba. Thế thì thật tuyệt!

    1. TÌM KHÔN NGOAN

    Khôn ngoan là nhân đức cần thiết, là ngọc quý, và được Kinh Thánh đề cập nhiều. Đây là một số câu điển hình: “Đường khôn ngoan là đường thú vị, nẻo khôn ngoan là nẻo bình an” (Cn 3:17), “Gây tội ác là trò tiêu khiển của người ngu, còn khôn ngoan là thú vui cho người hiểu biết” (Cn 10:23), “Sự khôn ngoan làm cho người khôn được sống” (Gv 7:12), “Lẽ trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại” (Kn 3:15), “Đức Khôn Ngoan là kho báu vô tận cho con người. Chiếm được Đức Khôn Ngoan là được nên bạn hữu với Thiên Chúa, và được Người tin cậy” (Kn 7:14), “Nếu trên đời này, giàu sang là báu vật ai ai cũng khao khát thì còn có gì giàu sang hơn Đức Khôn Ngoan, vì Đức Khôn Ngoan làm nên tất cả?” (Kn 8:5).

    Và chính tác giả sách Khôn Ngoan cho biết: “Tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết. Tôi kêu cầu, và THẦN KHÍ ĐỨC KHÔN NGOAN đã đến với tôi. Đức Khôn Ngoan, tôi đã quý trọng còn hơn cả vương trượng, ngai vàng. Tôi không coi của cải là gì so với Đức Khôn Ngoan. Đối với tôi, trân châu bảo ngọc chẳng sánh được với Đức Khôn Ngoan, vì vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan, cũng chỉ là cát bụi, và bạc, so với Đức Khôn Ngoan, cũng kể như bùn đất” (Kn 7:7-9). Tác giả so sánh để chúng ta thấu hiểu Đức Khôn Ngoan rất quan trọng, hơn cả mọi thứ trên trần gian này. Quả thật, “tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1:2).

    Một cách xác định, tác giả sách Khôn Ngoan phân tích thêm với chiều sâu hơn: “Tôi đã ham chuộng Đức Khôn Ngoan hơn sức khoẻ và sắc đẹp, đã quý Đức Khôn Ngoan hơn ánh sáng, vì vẻ rực rỡ của Đức Khôn Ngoan chẳng bao giờ tàn lụi. Nhưng cùng với Đức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đã đến với tôi. Nhờ tay Đức Khôn Ngoan, của cải quá nhiều không đếm xuể” (Kn 7:10-11). Thật là ngạc nhiên về cái “khoảng” trong mối tương quan rất lạ giữa có-mà-không và không-mà-có, một dạng nghịch-lý-thuận.

    Thánh Vịnh gia khôn ngoan cầu nguyện: “Xin dạy chúng con ĐẾM THÁNG NGÀY MÌNH SỐNG, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90:12), và tiếp tục thân thưa: “Lạy Chúa, xin trở lại! Ngài đợi đến bao giờ? Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây” (Tv 90:13). Tất cả là hồng ân Chúa ban, dù chúng ta có được KHÔN NGOAN tới mức nào hoặc TÀI NĂNG XUẤT CHÚNG mà KHÔNG được Thiên Chúa thương xót thì cũng VÔ ÍCH. Quả thật, Lòng Chúa Thương Xót luôn cần thiết cho bất kỳ ai, và Lòng Chúa Thương Xót ấy đã có từ thuở hồng hoang, vẫn trải từ đời nọ đến đời kia (x. Lc 1:46-55).

    Thiết tưởng cũng nên xem lại cách cầu nguyện, dễ mà khó. Cầu nguyện không chỉ để xin những ơn này ơn nọ, mà còn phải biết chúc tụng Chúa, tạ ơn Chúa. Thánh Vịnh gia tiếp tục khôn ngoan khi thành tâm cầu nguyện: “Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca. Xin ban tặng chúng con niềm hoan hỷ, bù lại những tháng năm Ngài đã bắt nếm nhục nuốt sầu” (Tv 90:14-15). Ước gì mỗi chúng ta cũng biết ước nguyện như Thánh Vịnh gia đã mong muốn: “Ước gì chúng con là tôi tớ Chúa được thấy công trình Ngài thực hiện, và con cháu chúng con được thấy vinh hiển Ngài. Xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hậu của Chúa là Thiên Chúa chúng con. Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố, xin củng cố việc tay chúng con làm” (Tv 90:16-17).

    Tín thác vào Chúa quan phòng, chắc chắn chúng ta sẽ được ơn khôn ngoan đích thực.

    1. SỐNG KHÔN NGOAN

    Người Việt nói: “Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét”. Thiên Chúa cũng chẳng ưa gì loại người “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, thế nên Ngài nói thẳng: “Vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:16). Thánh Vịnh gia xác định: “Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan” (Tv 111:10). Chắc chắn như vậy. Và đó là sống khôn ngoan. Thánh Phaolô xác định: “Lời Thiên Chúa là lời SỐNG ĐỘNG, HỮU HIỆU và SẮC BÉN hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4:12).

    Thật vậy, Lời Chúa có lúc làm chúng ta VUI MỪNG và PHẤN KHỞI, nhưng có lúc Lời Chúa lại khiến chúng ta HỔ THẸN và NHỨC BUỐT. Lời Chúa là tấm gương phản chiếu mọi thứ và là đèn soi thấu mọi nơi khuất tịch nhất tận đáy lòng của con người. Thánh Phaolô giải thích rõ: “Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4:13). Thế nên rất cần bí quyết sống khôn ngoan. Ai “sống khôn” thì cũng “chết thiêng”. Các thánh đã sống khôn nên các ngài “thiêng” lắm!

    Trong cuộc sống đời thường, vì là phàm nhân nên chúng ta có rất nhiều sai sót và thiếu sót, ngay cả người công chính cũng lầm lỗi mỗi ngày bảy lần (x. Cn 24:16), vì thế chúng ta có rất nhiều điều phải “trả lẽ” trước mặt Chúa, thậm chí có thể phải trả lẽ với Chúa về chính những gì mà chúng ta cho là “việc đạo đức” hoặc “việc tông đồ”, vì có thể chỉ là “cái vỏ bề ngoài”! Chúng ta có thể che giấu với người đời, nhưng không thể giấu được với Thiên Chúa, bởi vì Ngài “ghi hình” và “ghi âm” chính xác từng chi tiết nhỏ của mỗi động thái nơi chúng ta, dù chỉ là ý nghĩ thoáng qua. Do đó, chúng ta càng cần phải khôn ngoan mà sống! Tội lỗi từ sau ra trước, từ trong ra ngoài: tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót. Nhưng đáng quan ngại và đáng sợ nhất là “tội trong tư tưởng”, vì không ai biết, còn mấy thứ kia ít ra cũng còn sợ người ta nhìn thấy.

    Sống khôn thì được sống đời đời. Thánh sử Mác-cô kể rằng, hôm đó, Đức Giêsu vừa lên đường thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10:17). Chàng thanh niên này thật là khôn ngoan. Thấy lạ, Đức Giêsu hỏi lại: “Sao anh nói tôi là nhân lành?” (Mc 10:18a). Rồi Ngài nói tiếp: “KHÔNG có ai nhân lành cả, TRỪ một mình Thiên Chúa” (Mc 10:18b). Và Ngài giải thích: “Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ” (Mc 10:18b-19). Anh ta nói rất tự tin: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ” (Mc 10:20). Hay quá! Tốt quá! Tuyệt quá! Thế nên Đức Giêsu “đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến” (Mc 10:21a). Rồi Ngài bảo anh ta: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi BÁN những gì anh có mà CHO người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mc 10:21b). Bán tài sản không phải để tích lũy mà để “cho người nghèo”.

    Ôi chao, mệt với Chúa quá! Khó quá! Căng quá! Mà “căng” thật, vì vừa nghe lời đó, “anh ta SA SẦM NÉT MẶT và BUỒN RẦU BỎ ĐI, vì anh ta CÓ NHIỀU CỦA CẢI” (Mc 10:22). Đức Giêsu rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” (Mc 10:23). Nghe Ngài nói thế, các môn đệ sững sờ và ngây ngô “như chú Tàu nghe kèn”. Nhưng Ngài lại nói tiếp: “Các anh ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10:23-24). Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và xầm xì với nhau: “Thế thì ai có thể được cứu?” (Mc 10:26). Đúng là khó thật chứ chẳng đùa đâu!

    Thế nhưng chúng ta đừng vội trách chàng thanh niên “đại gia” kia. Tài sản của gia đình thì đã rõ. Tài sản của cá nhân cũng không khó hiểu. Nhưng có thể chúng ta “quên” loại tài sản “quan trọng” hơn, đó là “cái tôi”. Rất có thể chúng ta nghèo vật chất nhưng “tài sản riêng” của chúng ta vẫn có thể thuộc loại “nứt đố, đổ vách”, vẫn “giàu sụ”, vẫn thuộc hàng “đại gia”. Đó là tính kiêu ngạo, lòng ghen ghét, sự thù hận, tính ích kỷ, thói gièm pha, thói xu nịnh, sự nhẫn tâm, sự vô tình, tính nhỏ mọn, lòng tự ái, óc bè phái, tính tham lam, thói lọc lừa, áp bức, lộng hành, cậy quyền, ỷ thế,… Và còn rất nhiều thứ khác nữa. Đó là loại “tài sản vô giá” mà chúng ta không muốn bỏ để có thể thanh thản bước theo Chúa. Gay quá! Nhưng muốn theo Chúa thì phải triệt hạ “cái tôi” – nghĩa là bán cả cuộc đời mình.

    Lúc đó, Chúa Giêsu biết rõ các đệ tử đang xì xầm với nhau điều gì nên Ngài nhìn thẳng vào các ông và nói: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa MỌI SỰ ĐỀU CÓ THỂ ĐƯỢC” (Mc 10:27). Rồi ông Phêrô lên tiếng thưa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (Mc 10:28). Câu đó không là một câu hỏi nhưng lại mang ý nghĩa một câu hỏi.

    Ông trưởng nhóm đã “đặt vấn đề” rất thực tế với Sư Phụ. Và chắc hẳn chúng ta cũng có nhưng lúc đã từng như vậy! Nghe Phêrô hỏi, Chúa Giêsu nói ngay: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10:29-30). Chúa chẳng để ai bị lỗ vốn đâu!

    Cái “được” cũng nhiều đấy, nhưng đừng quên điều kiện kèm theo là “cùng với sự ngược đãi” (câu này dễ bị làm ngơ hoặc bỏ quên lắm). Vấn đề là ở chỗ đó. Chỉ chú ý vế 1 mà “quên” vế 2 là sai lầm to. Phàm điều gì cũng có “điều kiện tự nhiên” kèm theo như điều kiện “ắt có và đủ” vậy: Có đau khổ mới hiểu được giá trị của hạnh phúc, có nước mắt mới quý trọng tiếng cười, có thất bại mới vui sướng khi thành công. Và nhiều điều khác tương tự.

    Lạy Thiên toàn năng và nhân hậu, xin ban cho chúng con ơn khôn ngoan, xin giúp chúng con can đảm bán cuộc đời để có thể thanh thản vui sống và theo Ngài, bởi vì chỉ có Ngài mới là cùng đích và là gia nghiệp vĩnh cửu. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm Giuse Đinh Tất Quý

    Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe là một trong những bài gây nhiều ấn tượng nhất trong Tân Ước. Vì thời giờ có hạn cho nên tôi chỉ xin được gợi lên một vài hình ảnh để chúng ta cùng suy nghĩ. Với bài Tin Mừng hôm nay thánh Marcô ghi lại cho chúng ta 3 cái nhìn của Chúa Giêsu. Ba cái nhìn nói lên ba thái độ của Ngài.

    1. Cái Nhìn Thứ Nhất Là Cái Nhìn Đầy Yêu Thương

    Chúa dành cái nhìn này cho người người thanh niên đến với Chúa. Nhưng anh ta là một con người như thế nào?- Là một con người có địa vị – có thế lực – và nhất là anh ta có nhiều của cải tiền bạc.

    Một con người như thế đối với nhiều người thì có lẽ đã là quá đủ. Nhưng đối với người thanh niên này thì chưa đủ. Anh ta còn muốn một cái gì hơn thế nữa. Chính vì thế mà anh ta mới tìm đến với Chúa.

    Đến với Chúa anh ta tỏ ra một thái độ rất khiêm nhường. Tin Mừng ghi rõ: anh “quì” xuống trước mặt Chúa. Cách anh xưng hô cũng nói lên điều đó: “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời”.

    Chúa nhẹ nhàng kéo anh về với quá khứ, một quá khứ có lẽ chính Chúa cũng đã thấy là tốt đẹp rồi. Chúng ta thấy ở đây Chúa không đả động gì đến bổn phận của con người đối với Chúa. Chúa chỉ đề cập đến những gì mà giới răn Chúa đòi buộc trong mối tương quan giữa những con người với nhau.

    Phải nhận rằng trong mối tương quan giữa người với người thì người thanh niên này đã sống thật tốt: “Lạy Thầy, những điều ấy tôi đã giữ từ thuở bé”.

    Tin Mừng ghi: Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng yêu thương.

    Vâng! Chúa chăm chú nhìn người ấy và đem lòng yêu thương. Một thái độ hết sức tốt đẹp.

    1. Cái Nhìn Thứ Hai Là Cái Nhìn Cảnh Giác.

    Sau khi người thanh niên giầu có bỏ đi, Chúa Giêsu nhìn chung quanh và nói với các môn đệ: “Người giầu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao” và để tăng thêm sức mạnh cho ý nghĩa những lời vừa nói, Chúa nói thêm: “Thầy bảo thật các con, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào nước Thiên đàng”.

    Chúng ta không có mặt lúc Chúa nói những lời như thế này. Chúng ta không thấy hết được sự ngỡ ngàng đến phát sợ của các môn đệ. Đây là những lời cảnh cáo hết sức nghiêm trọng Chúa đưa ra để dạy dỗ những môn đệ của Người. Câu truyện vừa mới xảy ra là một bằng chứng rất cụ thể về sự nguy hiểm của cuộc sống khi mà người ta đặt tiền bạc lên trên tất cả… cả sự sống đời đời.

    Chúng ta hãy nhớ lại những lời Chúa kêu gọi người thanh niên: “Anh chỉ còn thiếu có một điều. Hãy về bán tất cả những gì anh có, phân phát cho người nghèo khó…anh sẽ có một kho báu ở trên trời… rồi đến mà theo ta.”

     Anh đã không chấp nhận điều kiện cho nên anh đã không đạt tới mục đích. Cơ hội để trở thành môn đệ của Chúa đã ở ngay tầm tay nhưng anh đã để cho nó vuột mất. Lý do rất rõ rệt là bởi vì anh có nhiều của cải quá.

    Của cải đáng lý ra phải là một trợ lực để giúp con người thăng tiến thì ngược lại nó lại trở thành một trở lực cản bước tiến của con người. Đó là mối nguy hiểm mà Chúa muốn cảnh giác các môn đệ của Ngài. Người ta dễ biến tiền bạc thành mục đích hơn là biết dùng nó như một phương tiện. Hoàn cảnh ngày xưa đã là như thế… ngày nay sự thế lại càng đúng hơn.

    1. Cuối Cùng Là Cái Nhìn Có Tính Cách Quyết Đáp

    Sau khi Chúa mạnh mẽ cảnh giác về mối nguy cơ do tiền bạc đem lại và cũng như những khó khăn trên con đường vào nước trời thì các môn đệ xem như không còn kiên nhẫn thêm được nữa. Họ đã phản ứng và phản ứng của họ thật rõ rệt: “Như vậy thì ai sẽ được cứu độ”. Tin Mừng ghi tiếp: Chúa Giêsu nhìn thẳngmột cái nhìn hướng thẳng vào những đối tượng được chọn lựa. Chúa nhìn thẳng vào các mộn đệ, một cái nhìn trực diện vào những đối tượng Chúa muốn dạy cho một bài học nhưng đây cũng là một cái nhìn hoàn toàn thông cảm trước lòng tin tưởng còn yếu kém của các ông và rồi Chúa nói: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa”. Qua lời những lời đó chẳng cần nói chúng ta cũng thừa biết Chúa muốn nói đến điều gì rồi: vấn đề ơn thánh… ơn của Chúa.

    Lời quả quyết của Chúa hẳn phải làm cho các môn đệ và cả chúng ta phải suy nghĩ. Làm gì có truyện con lạc đà to lớn cồng kềnh lại có thể chui qua lỗ kim. Vậy thì việc một con người vào nước Thiên Chúa cũng tương tự như thế. Tự sức của con người thì họ chẳng có thể làm được việc gì… nhất nữa việc đó lại là việc có liên quan đến vận mạng đời đời của con người. Như vậy vấn đề còn lại là ơn của Chúa và việc con người có biết hợp tác với ơn Chúa hay không.

    Người thanh niên giầu có đến với Chúa để xin Ngài chỉ cho anh một con đường để anh có thể có được sự sống đời đời. Chúa đã mở ra cho anh ta một con đường thế nhưng anh đã từ chối.  Anh đã làm mất đi một cơ hội để anh có thể trở thành những con người được lưu danh muôn thuở.

    Ngược lại với người thanh niên này là thái độ quảng đại của các tông đồ. Sau khi người thanh niên bỏ đi Phêrô đại diện cho anh em thưa với Chúa: “Lạy Thầy chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”.

    Thực ra cái mà Phêrô gọi là “mọi sự” đối với Chúa cũng chẳng là bao thế nhưng ở đây chúng ta thấy Chúa đã tỏ ra thật quảng đại. Charles Erdman khi chú giải về đoạn Tin Mừng này đã đưa ra một lời nhận định rất hay như sau: “Chính sự thỏa mãn tràn ứ trong tâm hồn của những người theo Chúa đã là phần thưởng gấp trăm gấp ngàn lần những cái mà họ từ bỏ” và sau đó Chúa còn hứa một phần thưởng rất to lớn hơn gấp bội lần những phần thưởng ở đời này đó là sự sống đời đời… điều mà mọi người ở mọi thời đều mong ước.

    Để kết thúc tôi xin được kể một câu truyện vui. Một linh mục nọ qua đời và được đưa đến trước mặt thánh Phê-rô để được Ngài thẩm vấn:

    – Ở dưới thế cha làm được điều gì nào?

    – Dạ thưa Thánh cả, con xây được một ngôi thánh đường rộng lớn.

    Thánh nhân lấy bút cho một điểm rồi Ngài hỏi tiếp:

    – Cha còn làm được gì nữa?

    – Dạ con còn xây được một ngôi trường cho 1.000 học sinh.

    Thánh Phê-rô cho thêm được một điểm nữa.

    – Và còn gì nữa?

    Linh mục bắt đầu suy nghĩ rồi trả lời:

    – Dạ con làm rất nhiều công tác xã hội và từ thiện.

    Ngài nhìn rồi cho thêm một điểm.

    – Còn gì nữa? Ngài hỏi tiếp.

    – Dạ thưa Thánh cả… bao nhiêu điểm thì được vào Thiên đàng?

    Thánh nhân vui vẻ trả lời : 1000 điểm.

    Nghe nói thế linh mục cảm thấy chột dạ… tự nghĩ trong lòng: Không biết làm sao cho đủ được 1000 điểm bây giờ… Rồi linh mục bắt đầu cảm thấy lo lắng không còn tự tin như trước nữa. Đang lúc đó thì Thánh Phê-rô lại muốn được biết kết quả ngay. Ngài hối:

    – Cha còn làm được điều gì nữa… cứ kể hết đi! Với một giọng đầy lòng khiêm tốn + một chút lo sợ, linh mục thưa:

    – Thưa thánh cả, NHỜ ƠN CHÚA con còn làm thêm được ít việc nho nhỏ nữa.

    Vừa nghe xong thánh Phêrô lấy bút ghi ngay: 1000 điểm. Rồi Ngài vui vẻ nói với linh mục: “Thế là cha đã được 1003 điểm. Cha dư điểm vào Thiên đàng rồi đấy… mời cha vào.”

    Vâng tất cả là nhờ ơn của Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    CÁCH KIẾM TIỀN VÀ CÁCH SỬ DỤNG TIỀN

    Lm. Anthony Trung Thành

    Các bài đọc Lời Chúa hôm nay chủ yếu xoay quanh vấn đề tiền bạc. Bài đọc I, tác giả cho chúng ta biết Đức Khôn Ngoan giá trị hơn sự giàu sang: “Ðem so sánh sự giàu sang với sự Khôn Ngoan, tôi kể sự giàu sang như không”.

    Bài Tin mừng, Chúa Giêsu mời gọi chàng thanh niên giàu có: đổi sự giàu sang để lấy nước trời: “Bán hết của cải bố thí cho người nghèo sẽ có sự sống đời đời”. Nhưng chàng thanh niên không chấp nhận lời đề nghị của Chúa Giêsu. Anh buồn rầu bỏ đi. Vì vậy, Chúa Giêsu khuyến cáo rằng: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao”(Mc 10, 23). Từ nội dung của hai bài đọc trên, xin được gợi ý suy niệm ba điểm sau đây:

    Đồng tiền có hai mặt:

    Tiền bạc là phương tiện thanh toán và tích luỹ trong giao dịch giữa con người với nhau. Nó luôn có hai mặt: mặt phải, mặt trái.

    Mặt phải của đồng tiền: Chúng ta thường nghe nói: “Có tiền mua tiên cũng được”. Quả thật, tiền bạc rất cần cho cuộc sống. Tiền bạc để sinh sồng, học hành, mua sắm, chữa bệnh, giúp đỡ tha nhân, xây dựng Giáo hội và xã hội… Trên thế giới có khoảng 25.000 người chết đói mỗi ngày, 2,2 tỷ người nghèo và cận nghèo, 1,2 tỷ người đang sống với mức 1,25 đô-la mỗi ngày, thậm chí còn thấp hơn. Rất nhiều người đang ở bên bờ vực thẳm của sự nghèo đói. Rất nhiều người ước mơ có một cuộc sống bình thường: đủ ăn, đủ mặc mà không được. Vì vậy, không ai phủ nhận sự cần thiết của đồng tiền. Cần tiền bạc để giúp mình và giúp người. Những người ở trong hoàn cảnh thiếu thốn mới thấy quý trọng đồng tiền.

    Mặt trái của đồng tiền: Biết sử dụng, tiền bạc trở thành phương tiện giúp mình, giúp người. Ngược lại, tiền bạc sẽ trở thành ông chủ khó tính, làm thay đổi luân thường đạo lý, thay đổi các bậc thang giá trị trong xã hội. Tác giả Quốc Nghệ đã ghi lại bài thơ sau đây, diễn tả phần nào những mặt trái của đồng tiền:

    “Độc ác chi mi lắm rứa tiền,

    Mi làm nhân loại hóa ra điên,

    Mi tô mặt nạ đen thành trắng,

    Mi khiến nhân tình thẳng hóa xiên,

    Mi đạp luân thường vô một xó,

    Mi xua nhân nghĩa dẹp đôi bên

    Mi lùa thế giới đâm nhau mãi,

    Ác nghiệt chi mi lắm rứa tiền”.

     Quốc-Nghệ

    Cách kiếm tiền:

     Trong 33 năm sống trên trần gian này, Chúa Giêsu đã từng tìm kiếm tiền bạc. Ngài đã làm nghề thợ mộc để có điều kiện giúp đỡ gia đình. Ngài bảo Thánh Phêrô đi câu cá để lấy tiền nộp thuế. Ngài đã làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho hàng ngàn người đói được ăn no. Ngài đã chấp nhận sự giúp đỡ của những người giàu có trong công tác loan báo Tin mừng. Như vậy, Chúa Giêsu đã tự tìm kiếm tiền bạc và nhận sự giúp đỡ của những nhà hảo tâm. Sau này, thánh Phaolô cũng cho biết Ngài đã tự làm việc để có của nuôi sống mình và nhiều lần Ngài đã kêu mời sự quyên góp của các tín hữu để xây dựng Giáo hội và có điều kiện để làm việc bác ái. Đó là cách kiếm tiền của Chúa Giêsu và Thánh Phaolô.

    Còn cách kiếm tiền của chàng thanh niên trong bài tin mừng hôm nay? Chắc chắc không phải do gian lận, lừa lọc, trộm cướp mà có, vì từ nhỏ anh ta đã giữ trọn các giới răn: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ″(Mc 10,19). Vậy, do đâu? Có thể do thừa kế của tổ tiên ông bà cha mẹ. Cũng có thể do anh ta vất vả làm ăn.

    Cách kiếm tiền của con người qua mọi thời đại: Ít người may mắn được thừa kế từ cha mẹ, ông bà. Đa số phải “Làm việc vất vả” mới có. Có người làm việc bằng chân tay. Có người làm việc bằng trí óc. Có người tìm kiếm tiền bạc do làm ăn chân chính, vất vả hy sinh mà có: nghề nghiệp hợp pháp, buôn bán thật thà. Nhưng cũng có những người kiếm tiền bằng những phương pháp bất công, gian lận, lừa lọc, chèn ép bóc lột người khác. Vì tiền bạc mà vợ chồng, cha mẹ, con cái đưa nhau ra toà. Vì tiền bạc mà không còn tình làng nghĩa xóm. Đúng như lời Kinh Thánh dạy: “Lòng ham mê tiền bạc là mẹ sinh ra muôn vàn tính hư nết xấu khác”. Chúa Giêsu cũng đã cảnh giác chúng ta: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”(Lc 12,15).

    Cách sử dụng tiền:

    Tiền bạc không phải là sự dữ. Tiền bạc không xấu. Xấu tốt là do người tìm kiếm và sử dụng nó. Kinh thánh cho biết giàu có là một sự chúc lành của Thiên Chúa (x. Cn 10,22; 1 Sm 2,7). Chúa Giêsu cũng không lên án tiền bạc. Ngài đã từng lui tới, gặp gỡ và ăn uống với những người giàu có như Giakêu, Mathêu. Nhờ gặp gỡ Chúa, các ông đã thay đổi thái độ sống, biết cách tiêu tiền: Giakêu đã lấy một phần ba bố thí cho người nghèo. Làm thiệt hại ai thì đền gấp bốn. Mathêu đã bỏ bàn thu thuế đi theo Chúa, tức là từ bỏ cách thu tiền bất chính.

    Và hôm nay, khi người thanh niên giàu có đến với Chúa Giêsu để hỏi Ngài “Phải làm gì để được sống đời đời”(x. Mc 10,17). Ngài không xua đuổi, không lên án anh ta có nhiều tiền bạc. Nhưng trái lại, Ngài ân cần chỉ dạy cho anh cách sử dụng tiền bạc: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi.” (Mc 10,21). Chúa chỉ cho anh ta biết cách tiêu tiền: Đổi tiền bạc để lấy nước trời. Đổi cái tạm thời để lấy cái vĩnh cửu. Chúa làm như vậy là muốn điều tốt cho anh ta. Nhưng đáng tiếc là anh ta không vượt qua được rào cản đó. Tin mừng cho biết “Anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”(Mc 10,22). Anh ta biết kiếm tiền, nhưng không biết sử dụng tiền. Chỉ thu tích chứ không biết chia sẻ. Do anh ta hà tiện, ích kỷ, keo kiệt. Thái độ chàng thanh niên cũng là thái độ của nhiều người trong chúng ta: Lo kiếm tiền, lo tích trữ tiền, nhưng không biết sử dụng tiền, không biết chia sẻ. Chắc chắn anh ta cũng chết và những người tích trữ nhiều tiền của cũng sẽ chết. Hãy nhớ câu ca dao này: “Vua Ngô ba sáu tấn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh giác người phú hộ tích trữ tiền bạc rằng: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12, 20-21). Nơi khác Ngài nói: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, nơi kẻ trộm khoét vách và lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó. (Mt 6,19-21)

    Ngược lại với thái độ trên là những người tiêu tiền phung phí. Thừa tiền bạc, thường dẫn người ta tới một lỗi sống hưởng thụ, sa đoạ, thiếu đạo đức: bài bạc, trai gái, ăn uống quá hoang phí: “Hằng ngày người ta vẫn thường thấy những người ngồi ăn uống thỏa thuê với hết thùng bia này đến hết thùng bia khác, thậm chí có người nôn mửa hoặc phải móc họng cho nôn mửa bớt để vào ăn uống tiếp” (x. Hành trình vào đời, lm. Trần Quý Thiện). Nếu biết cân bằng của cải, những người giàu biết chia sẻ cho người nghèo thì có lẽ thế giới này không còn có trẻ em chết đói mỗi ngày nữa. Nếu các nước biết dùng tiền bạc mua lương thực, thuốc men cho người dân thay vì bom đạn, khí giới thì chắc chắn sẽ không còn người chết đói nữa.

    Tóm lại, tiền bạc rất cần thiết, nhưng không phải là tuyệt đối, không phải là trên hết. Người ta nói: “Tiền có thể mua ngôi nhà, nhưng không mua được tổ ấm. Tiền có thế mua được chiếc giường, nhưng không mua được giấc ngủ. Tiền mua được chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian. Tiền có thể mua được thuốc, nhưng không mua được sức khỏe…”. Thật vậy, có rất nhiều thứ quý hơn tiền bạc. Bài đọc I, cho chúng ta biết: Trên tiền bạc còn có Đức Khôn Ngoan “Trân châu ngọc chẳng sánh được Đức Khôn Ngoan, vì vàng trên thế giới, so với Đức Khôn Ngoan, cũng chỉ là cát bụi, và bạc so với Đức Khôn Ngoan, cũng kể là bùn đất…có Đức Khôn Ngoan là có của cải”. Nên phải biết kiếm tiền cách hợp pháp, không lỗi phạm luật Chúa. Hãy biết cách tiêu tiền, dùng tiền bạc như là “đầy tớ” chứ không như “ông chủ”. Đặc biệt, khi có điều kiện cần biết quảng đại dùng tiền để giúp đỡ những người nghèo khổ, thiếu thốn.

    Lạy Chúa, xin cho con biết kiếm tiền bằng những con đường chân chính, không trộm cắp, gian tham, lừa dối. Và xin cho con biết dùng tiền bạc để giúp đỡ cho anh chị em mình. Amen.

    Về mục lục

    .

    SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI LÀ MỤC TIÊU TỐI HẬU

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Mục đích và nghĩa cuộc đời là một tiến trình tìm kiếm và khám phá đồng thời thực hiện cho tới chết, như bánh xe cuộc đời không bao giờ dừng lại. Tiến trình này cần phải rất khôn ngoan.

    Chuyện kể rằng : Ngày nọ, triết gia Diogene của Hy lạp đã đến giữa chợ Athene và dựng một căn lều có treo một bảng lớn với hàng chữ như sau: “Tại đây có bán sự khôn ngoan”. Một bậc khoa cử, tình cờ đi qua căn lều, đọc được lời rao báo, cười thầm trong bụng. Nhưng muốn biết đằng sau căn lều ấy có những gì, ông sai người đầy tớ mang tiền đến dò hỏi mua cho bằng được cái mà người bán gọi là “Sự khôn ngoan”.

    Người đầy tớ ra đi, làm theo lời dặn của chủ, anh đưa cho Diogene ba cắc bạc và nói rằng chủ của anh muốn có sự khôn ngoan. Cầm lấy ba cắc bạc bỏ vào túi, triết gia nói với người đầy tớ một cách long trọng như sau, hãy về đọc lại cho chủ anh nghe câu nầy: “Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích” .

    Vị khoa bảng thành Athene vô cùng thích thú về lời khôn ngoan này. Ông đã cho viết trước cửa nhà, như khuôn vàng thước ngọc, để chính ông suy niệm mỗi ngày và tất cả những ai qua lại trước nhà ông đều có thể đọc thấy câu trên.

    Chàng thanh niên trong đoạn Tin Mừng hôm nay trạc tuổi từ 18 đến 35. Ý thức rõ về tôn giáo của mình với những khả năng, ước muốn, tương quan với xã hội anh đang sống. Có thể anh đã có một nghề, một công việc ổn định, đã lập gia đình, nhận thức rõ về quyền lợi, bổn phận và trách nhiệm, xứng tầm với anh. Có thể anh đã thành công về mặt xã hội, hoàn thiện bản thân qua việc tuân giữ lề luật tôn giáo. Anh cảm thấy việc xác định ý nghĩa và mục đích cuộc đời là điều khẩn thiết phải làm để định hướng cho cuộc đời anh. Những câu hỏi được đặt ra : Sống để làm gì, đâu là ý nghĩa và mục đích của đời người, cụ thể hơn anh tìm đến, gặp, hỏi Chúa Giêsu : “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời? ” (Mc 10, 17)

    Tiền bạc, của cải anh đang thủ đắc xem ra không phải là sự quí nhất của con người, vì anh đã có trong tay tất cả mà chưa thỏa mãn. Có những thứ khác như văn hóa, tài năng, trí phán đoán mà người xưa gọi là Sự Khôn Ngoan, tài sản quí giá hơn mọi thứ mà con người có thể sở hữu được. Salômôn, một vị vua khôn ngoan vô tiền khoáng hậu trong giấc mơ kì diệu, đã xin Thiên Chúa ban cho mình Sự Khôn Ngoan hơn là được giàu có, ông nói : “Đem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không” (Kn 7,8). Chúa Giêsu chính là Đấng Khôn Ngoan, có được Chúa Giêsu là có được Thiên Chúa là nguồn mạch sự khôn ngoan.

    Sự sống đời đời là điều chàng thanh niên trong Tin Mừng cũng như chúng ta ngày hôm nay đang tìm kiếm. Nhưng tự chúng ta không thể có được, phải cậy nhờ vào Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Chàng thanh niên đã chạy đến với Chúa Giêsu quỳ gối để xin Chúa chỉ cho anh việc phải làm để được sống đời đời, chứng tỏ là anh biết chắc sự giàu có của anh không làm thỏa mãn, nhất là không bảo đảm cho anh, khiến anh đi tìm kiếm một thứ hạnh phúc cao hơn, có giá trị bền vững hơn là của cải vật chất, nên anh đã tìm đến với Chúa Giêsu. Nỗ lực tìm kiếm với thiện ý là một chuyện, phấn đấu để đạt được lại là một chuyện khác.

    Những cản trở như, giũ bỏ sự giàu có bên ngoài để làm giàu trong tâm hồn, từ bỏ của cải ở dưới đất để đổi lấy kho tàng trên trời là sự sống đời đời. Trước một đòi hỏi quyết liệt của Chúa Giêsu, một sự đánh đổi, một chọn lựa khó khăn, chàng thanh niên sa sầm nét mắt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải (x. Mc 10, 22).

    Chúa Giêsu đưa mắt nhìn theo anh với đầy vẻ luyến tiếc, thở dài và tuyên bố : “Người giầu có vào Nước Thiên Chúa thật khó biết bao… con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa” (x. Mc 10, 23-25). Các môn đệ nghe Chúa nói cảm thấy sốc vô cùng, Phêrô con người bộc trực không chịu nổi, bèn thưa : “Thưa Thày, phần chúng con đã bỏ mọi sư mà theo Thày! Chúng con sẽ được gì? ” (Mc 10, 28). Nhờ câu hỏi của Phêrô, các ông được Chúa chỉ cho thấy sự giàu có của Nước Trời khác với sự giàu có của thế gian, tài sản của Nước Trời không phải là tài sản mà thế gian tìm kiếm, sự sống đời này và đời sau, ý nghĩa và cùng đích cuộc đời.

    Thiên Chúa là Đấng làm chủ vũ trụ sẽ không chịu thua lòng quảng đại của con người, Ngài sẽ trả lại cho lòng quảng đại của con người gấp trăm ngàn lân những gì họ đã quảng đại với Chúa và với anh em: “Ai bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa ruộng đất… vì Thày và vì Tin Mừng thì sẽ được trả loại gấp trăm ngay bây giờ cùng với sự ngược đãi và sự sống vĩnh cửu” (Mc 10, 29-30). Đó là điều không phải ai cũng nhận ra, có người nhận ra nhưng ngại ngùng đáp trả, vì Chúa ban cho họ gấp trăm cùng với ngược đãi bắt bớ. Ai nhận ra và dám đánh đổi sự giàu có vật chất ở đời này để có được sự giàu có theo kiểu Chúa ban, đó là kẻ khôn ngoan.

    Như chúng ta đã nói ở trên, có được Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa là được chính Thiên Chúa, có Chúa là có tất cả, và điều đó quý giá hơn mọi trân châu bảo ngọc trên trần gian này, vì không có một thứ vàng bạc châu báu nào có thể sánh vì với Thiên Chúa.

    Lạy Chúa, xin phái Đức Khôn Ngoan của Ngài tới đồng lao cộng khổ với chúng con, dạy cho chúng con biết tìm kiếm Chúa là nguồn mạch mọi sự khôn ngoan, và vâng nghe sự hướng dẫn của Đức Khôn Ngoan để được sống đời đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    NHÂN LÀNH

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Một người quì gối van xin,
    Giê-su nhân hậu, con tin lời Thầy.
    Tấm lòng thành khẩn đong đầy,
    Ước mong cuộc sống, tràn đầy phúc ân.
    Làm sao cuộc sống tinh thần,
    Muôn đời hưởng phúc, dự phần ngày mai.
    Chu toàn giới luật chẳng phai,
    Ngoại tình xin tránh, họa tai gia đình.
    Giết người, trộm cắp, phụ tình,
    Chứng gian, lường gạt, nhục hình khổ đau.
    Thảo cha kính mẹ trước sau,
    Vui thay thuở nhỏ, cùng nhau thực hành.
    Chúa thương dạy bảo đường lành,
    Một điều thiếu xót, bán nhanh gia tài.
    Rồi đem bố thí tiền tài,
    Giúp người nghèo khó, ngày mai theo Thầy.

    Một người thanh niên tốt bụng chạy đến cùng Chúa Giêsu tìm hỏi cách nào đạt tới sự sống đời đời. Chúa Giêsu nhìn anh cách trìu mến và ân cần hỏi han. Anh tự động đến gặp Chúa. Anh tỏ bày cho chúng ta một chút hình ảnh về đời sống riêng tư. Anh thuộc gia đình giầu có, ngoan đạo và giữ lề luật Thiên Chúa một cách trọn vẹn. Anh không trộm cắp, không giết người và rất thảo kính cha mẹ. Xem ra anh hãnh diện và an vui trong đời sống gia đình. Anh có tất cả cuộc sống vật chất đầy đủ, tiện nghi và thoải mái.

    Chúa Giêsu muốn anh tiến thêm một bậc trên đường trọn lành. Chúa nói với anh rằng: Bán tất cả gia tài và đem bố thí cho người nghèo. Anh giật nẩy mình như một cái gì vượt ngoài sự dự đoán. Anh đã không thể chấp nhận sự từ bỏ của cải. Anh là người giầu có và anh muốn được cả hai. Vừa hưởng phước của cải trần gian và mong hưởng phước thiên đàng. Thế là anh buồn rầu bỏ ra đi. Chúng ta thông cảm hoàn cảnh của anh. Đây cũng là thói thường ở đời.

    Chúng ta cũng ở trong hoàn cảnh như anh ta thôi. Có lẽ chúng ta không giầu có nhưng cũng chẳng nghèo. Chúng ta cũng đã cố gắng chu toàn luật Chúa và tránh xa các dịp tội. Nếu Chúa đặt câu hỏi cho chúng ta như Chúa đã đòi hỏi anh ta, có lẽ chúng ta cũng xụ mặt bỏ đi. Bao nhiêu người trong chúng ta dám từ bỏ của cải do công khó mình làm ra để rồi chia xớt cho người nghèo? Nếu Chúa bảo rằng con hãy cho đi chút chút thì được nhưng cho cả thì con lấy gì mà sống chứ! Của cải gắn liền với cuộc sống. Đồng tiền nối liền khúc ruột mà.

    Bác sĩ Gordon kể ngày nọ có một ông nhà giầu nhưng lại keo kiệt, đến xin chữa mắt. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết phải giải phẫu cả hai mắt, nếu không, có nguy cơ bị mù. Ông hỏi bác sĩ: Giá cả bao nhiêu? Bác sĩ nói: Chữa một mắt giá 1000 đô. Ông nhà giầu phân vân giữa tiền bạc và sự mù lòa. Rồi ông nói với bác sĩ: Tôi chỉ xin chữa một mắt thôi vì có một mắt cũng đủ thấy tiền, kiếm tiền và lại đỡ tốn.

    Người thanh niên trong câu truyện của bài Phúc âm hôm nay, vì tiếc của và sự hẹp hòi, anh đã chọn của cải đời này, thay vì sự sống đời sau. Nên Chúa Giêsu nói rằng: Con lạc đà chui qua lỗ kim dễ hơn người giầu và nước thiên đàng là thế. Còn chúng ta nghĩ rằng chúng ta không giầu, nên chúng ta không cần phải bán và không cần phải cho ai. Chúng ta theo Chúa xa xa cầm chừng để khỏi phải bị luận phạt đời đời. Chúng ta tính toán thật kỹ về ngân khoản của cải trần gian.

    Noi gương các thánh Tông đồ, các vị truyền giáo, các tu sĩ nhà Dòng, họ bỏ tất cả và cho đi tất cả vì danh Chúa Kitô. Còn chúng ta cũng có nhiều thứ để cho như cho đi thời giờ, cho đi khả năng và cả tiền bạc. Những gì chúng ta đã lãnh nhận nhưng không, chúng ta có thể cho đi nhưng không. Chúa sẽ ban lại dồi dào cho chúng ta. Sự rộng lượng của Chúa không thua lòng quảng đại của chúng ta đâu.

    Về mục lục

    .

    TIN ĐỨC GIÊSU

    Lm. Jos. DĐH.

    Đi đâu cho thiếp theo cùng,

    đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. (ca dao).

    Đi và theo người tình, được nên vợ thành chồng với người mình yêu, túng thiếu, cực nhọc, đối với thế hệ trẻ hôm nay đều là chuyện nhỏ “như con thỏ”. Đi và theo nhau một cách mơ hồ, “mù quáng”, tình nghĩa vợ chồng như thế có khác gì câu thành ngữ đầy mỉa mai: điếc không sợ súng ? Duyên sẽ không thắm, tình sẽ chẳng nồng được, nếu người ta cứ so kè, chắc lép, sợ bị lừa, “bi quan” dài hạn, dân gian gọi là già kén kẹn hom cũng không sai. Tìm người tình lý tưởng ở đâu, biết ai văn võ song toàn, đủ đức đủ tài mà theo, sẽ mãi mãi chỉ là một bế tắc không lời giải, bao lâu tình, lý, và sự quyết tâm của bản thân chưa sẵn sàng, cởi mở.

    Đi tìm hạnh phúc, đi tìm sự sống đời đời, đâu phải là một khái niệm mơ hồ, hình ảnh người thanh niên “khắc khoải”, do dự, mà trang Tin mừng vừa gợi lên, hẳn vẫn còn tính thời sự với chúng ta. Hạnh phúc ở hiện tại và tương lai là một sự thật, trường sinh bất tử nhất định không phải do một vài cá nhân tưởng tượng, bịa đặt, tất cả là tình yêu mặc nhiên được cài đặt vào cõi lòng mỗi người. Không phải chỉ người thanh niên muốn hạnh phúc, muốn sự sống đời đời, cả chúng ta hôm nay cũng thao thức kiếm tìm, mơ ước một cuộc sống an vui như thế mà. Được cùng chia sẻ một cội nguồn yêu thương, chúng ta có chung một ơn gọi theo Đức Giêsu, ở trong Đức Giêsu, để được biết, được hiểu, được can đảm hơn, khi sống tinh thần từ bỏ, hầu đạt tới hạnh phúc đời đời.

    Có 2 thứ mắt thường không ai có thể nhìn trực tiếp, đó là nhìn thẳng vào mặt trời và lòng người. Có 2 mơ ước mà chẳng ai sở hữu được, đó là hạnh phúc thật và sự sống đời đời, nếu người ấy không tin, không theo Đức Giêsu. Cơ hội qua đi và thời gian vụt tắt, chính là lúc người ta tự chốt cửa cài then cõi lòng mình, ngăn cách với tình Chúa và tình người, thật đáng tiếc. Đấng là Thầy là Chúa đã chăm chú nhìn người thanh niên và đem lòng thương mà bảo rằng: “ngươi chỉ còn thiếu một điều là hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”. Sự sống đời đời là một ơn ban, ai cũng có cơ hội tin theo Đức Giêsu, ai cũng được tự do cân nhắc chọn lựa, biết cậy dựa vào tình yêu, và sẽ không ngu ngốc cậy vào sức mình.

    Cổ nhân chúng ta cho rằng: sự giầu có không thuộc về người có nó, mà thuộc về người biết sử dụng nó. Các môn đệ năm xưa thì lúng túng khó hiểu, sự sống đời đời thuộc về ai ? Ai mới là đối tượng của ơn cứu độ ? Đức Giêsu đã cho biết: “đối với loài người thì không thể, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự”. Tin Đức Giêsu, theo Đức Giêsu, tình yêu, sự khôn ngoan của Đức Giêsu ở trong người ấy, và hạnh phúc đời đời nhất định phải có nơi người theo Đức Giêsu cách trọn vẹn. Đức Giêsu tận tình hướng dẫn người giầu có biết sứ mạng của họ là chia sẻ, là sử dụng tiền của giúp người nghèo ở bên cạnh. Tin và theo Đức Giêsu, người nghèo khó cũng gián tiếp được Ngài cho biết: đói cho sạch, rách cho thơm, con đường dẫn tới hạnh phúc thật, đơn giản vậy thôi.

    Văn hay võ giỏi đầu óc thông thái, là tài nguyên phong phú cho công cuộc phát triển xã hội, giầu tiền lắm của là một nguồn lực giúp nhiều anh chị em thoát nghèo, bớt gian truân. Mối phúc đầu tiên của bài giảng trên núi, Đức Giêsu nói đến tinh thần khó nghèo ; để có sự sống đời đời, Đức Giêsu lại cụ thể hơn nữa: “bán hết của cải, chia sẻ cho người nghèo, rồi theo Ta”. Thực tại vật chất có phải là điều kiện để người môn đệ sống quên mình, theo Đức Giêsu, nối kết tình yêu thương, xây dựng Nước trời bằng sức mạnh của niềm tin nơi Đấng kitô không ? Yêu thầy mới có cơ hội làm thầy, tin Thầy Giêsu mới là khởi đầu theo Thầy, bước kế tiếp, có dám từ bỏ mình, sống giáo huấn của Thầy, mới được nên giống Thầy.

    Các thánh hiền đã từng trải qua nhiều kinh nghiệm mới đủ khôn ngoan nhắc nhớ con cháu: là người có thể nghèo tiền nghèo bạc, nhưng đừng bao giờ nghèo nhân cách hoặc thiếu đức độ. Đức Giêsu trong tư cách là thầy dạy, Ngài vừa có ý nhắc mỗi người hãy sử dụng nén bạc Thiên Chúa trao. Ngài cũng cho thấy mối nguy hiểm của sự giầu có: “những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào Nước trời biết bao, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước trời”. Để tin theo Đức Giêsu, ai cũng phải mạnh mẽ trả lời như người thanh niên: thưa Thầy, những điều răn giới luật Chúa dạy, chúng con đã tuân giữ từ thuở nhỏ. Để đạt tới sự sống đời đời, mỗi người phải trở nên môn đệ Đức kitô, mặc lấy tinh thần nghèo khó như Đức kitô: sống yêu thương, phục vụ, và thực sự nên một trong Đức kitô. Amen.

    Về mục lục

    .

    TIN MỪNG CHÚA NHẬT 28

    Jorathe Nắng Tím    

    Tin mừng chúa nhật 28 đặc biệt đề cập đến chuyện tiền của và những khó khăn không chỉ đối với người muốn hiến thân đi theo Đức Giêsu làm môn đệ của ngài, mà còn khó cả với mọi người đi tìm hạnh phúc đời sau.

    Qủa thực, không ai dám coi thường tiền của, vì tiền của giữ một vai trò chiến lược cho sự “sống còn”, chiếm một chỗ đứng quan trọng trong sinh hoạt đời sống. Ở bất cứ thời đại nào, và bất cứ nơi nào, của cải cũng là một vấn đề lớn của con người.

    Là vấn đề lớn, vì không tiền, không giải quyết được nhiều việc cần giải quyết: từ việc sinh con đẻ cái đến việc tống táng ma chay, cả một đời người, không lúc nào vắng bóng đồng tiền và ai cũng phải công nhận : không tiền thì hầu như tất cả đều là số không. Được trọng vọng, qúy mến vì có tiền; bị khinh miệt, ruồng rẫy, bỏ rơi vì không tiền. Có tiền thì xa cũng thành gần, lạ cũng thành thân, dốt cũng thành giỏi, hèn cũng thành sang, ma giáo cũng thành chân thật, xấu xí cũng thành xinh đẹp, tồi tệ cũng thành tuyệt vời, tầm thường cũng thành phi thường, siêu sao. Có tiền không thiếu bạn hữu xum xuê, nườm nượp xếp hàng thăm hỏi ;  thế quyền, thần quyền vị nể, vấn an, nhưng khi sa cơ thất thế, khánh kiệt, không tiền, thì một mình một bóng cô liêu, tủi buồn, hiu quạnh.

    Chính vì kinh nghiệm về sức mạnh của đồng tiền, mà không ai bảo ai, tất cả đều muốn có tiền, cần tiền, ham tiền, tìm kiếm tiền, và lệ thuộc tiền. Đứa trẻ tuy chưa nhận diện chính xác đồng tiền, nhưng đã biết tiền rất quan trọng, vì thấy cha mẹ vất vả kiếm tiền, chửi mắng, dằn vặt, đay ngiến nhau vì tiền, khóc lóc, bấn loạn vì những ngày không tiền và dành rất nhiều thời gian cho những lo lắng, lo âu, lo sợ, lo nghĩ, lo liệu vì đồng tiền. Cứ thế lớn lên, em bé cũng đi vào vòng xoay của tiền bạc và như cha mẹ, em cũng sẽ dành phần lớn qũy thời gian sống để lo sao có tiền, có tiền rồi thì lo mất tiền, dù biết rất rõ sẽ có một ngày chẳng còn gì khi phải bỏ cuộc đời ra đi.

    Cũng chính vì mãnh lực khủng khiếp, sức chi phối qúa lớn, tầm ảnh hưởng qúa sâu, qúa rộng của đồng tiền, mà người ta không mấy khi thoát khỏi tầm kiểm soát của đồng tiền, nghiã là, người ta cứ tưởng mình đã vượt lên trên tiền bạc, không còn bị tiền của khống chế, nhưng thực ra tiền đã thống lãnh, làm chủ từ lúc nào, và người ta đã vâng phục tiền bạc một cách vô thức từ tư tưởng, lời nói đến việc làm. Tư tưởng thì không thể không đặt tiền bạc ở mức rất cao trên thang giá trị, để rồi chọn lựa cũng từ đó bị hướng chiều về tiền bạc. Lời nói thì vô tình, vô ý luôn đứng về phiá người giầu với đủ ngôn từ biện minh rất thuyết phục, và việc làm tất nhiên bị tiền của điều khiển tinh vi, chặt chẽ. Rồi cũng có lúc bất ngờ hồi tâm, phản tỉnh, nhưng tức khắc bị tiền của dìm ý thức xuống thật sâu, chìm ngỉm với trăm ngàn lý lẽ bào chữa cho chỗ đứng của tiền bạc, để  ngượng ngùng vá víu một lương tâm đã rách bươm vì lỡ làm tôi mọi của cải.

    Hơn ai hết, Đức Giêsu hiểu sức mạnh dữ dội, khôn lường của tiền của, nên nhiều lần cảnh giác các môn đệ của Ngài về nguy cơ bỏ Thiên Chúa để đi theo tiền của, và không ngại đặt tiền của ngang hàng Thiên Chúa : “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này, mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6, 24).

    Tin mừng hôm nay lại một lần nữa cho chúng ta thấy cơn cám dỗ cực mạnh của tiền của. Cám dỗ đã không thể vượt qua với người thanh niên được coi là giữ đạo hoàn hảo, nhưng vì giầu có đã không thể đi theo Đức Giêsu, nên đành “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi” (Mc 6, 22).

    Bỏ đi tức là không đi theo, không ở lại, không chung sống. Bỏ đi tức là không còn, không có nữa, không hiện diện, không đồng hành, không chung bước bên nhau. Người thanh niên giữ đạo thật hoàn hảo, nhưng không có Chúa ; nghĩ mình đi đúng đường, nhưng lại bỏ Đức Giêsu, Đấng là Đường đích thực đưa đến Thiên Chúa Cha ; tự tin mình hoàn hảo, giữ trọn mọi giới răn, nhưng giới răn duy nhất quan trọng anh lại bỏ, đó là yêu chính Đức Giêsu, Dung Mạo đích thực của Thiên Chúa ; ảo tưởng sự thánh thiện của mình khi dài dòng kể lể lý lịch, công nghiệp giữ đạo tuyệt hảo của mình, nhưng lại bỏ Đức Giêsu, Đấng là Sự Sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính vì thế anh thanh niên đã không vui, và mãi mãi không vui, vì anh đã không chọn đi theo Đức Giêsu là Hạnh Phúc và Nguồn Vui bất tận, nhưng thay vào đó, anh đã chọn tiền của như gia nghiệp không thể rời xa. Thánh sử Máccô đã ghi rõ thái độ buồn rầu, tiu nghỉu của anh thanh niên khi bỏ Đức Giêsu mà đi. Ghi nhận rất tinh tế này cho chúng ta biết thêm một điều, đó là tiền của không mang lại niềm vui đích thực, vật chất không mang lại bình an đích thực cho người chọn nó làm ông chủ, coi nó là gia nghiệp, lý tưởng của đời mình. Và cuộc sống thực tế quanh ta cũng làm chứng điều này, khi bao nhiêu người đã thất kinh bát đảo, ăn không ngon, ngủ không yên, lao tâm tổn lực vì tiền của, và cái kết buồn nhiều hơn vui của đa số người giầu suốt đời sống đời nô lệ của cải, tiền bạc.

    Như đã thưa với bạn : Đức Giêsu không chỉ nhắc nhở : khó có thể đi theo Chúa, chọn Chúa nếu không biết buông bỏ tiền của, vì tiền của rất nặng nề, cồng kềnh, khó gỡ, khó quên, khó xa, khó thoát, mà còn cảnh báo chúng ta tiền của còn là chướng ngại rất lớn trên đường về Nước Trời của mỗi người.

    Ở đây, chúng ta không đi vào vấn đề chú giải chữ “Kim”, vì người viết đã phân tích hầu qúy bạn rồi, chúng ta chỉ ghi nhận với nhau tính khó khăn của người giầu trên đường tìm kiếm hạnh phúc đời đời. Cho dù Đức Giêsu có khôi hài đến độ so sánh giữa con lạc đà với lỗ kim khâu, một so sánh hầu như không thể so sánh, nếu không nói là khôi hài, hoặc hiểu chữ “Kim” là cửa nhỏ mang tên cửa Kim, bên cạnh cửa chính vào thành Giêsrusalem, thì nội dung sứ điệp của Ngài vẫn là : người giầu khó vào Nước Trời (Mc 10, 25).

    Khó vào Nước Trời, hay khó đi theo làm môn đệ của Đức Giêsu, tiền của dưới mắt Đức Giêsu thực sự là một chướng ngại rất lớn trên đường đi theo Chúa và hành trình tìm kiếm Nước Trời, nên dù chúng ta không muốn nghe, Đức Gêsu cũng vẫn lên tiếng cảnh tỉnh, nhắc nhở.

    Tuy thế, một điều an ủi rất lớn cho chúng ta là “tiền của không lớn hơn Thiên Chúa”, bởi nó chỉ có thể trong khả năng mê hoặc, khống chế  loài người, nếu loài người không tỉnh táo để biết quản lý, làm chủ nó. Ngoài ra nó không làm được gì khác, trong khi “Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được” (Mc 6, 27). “Có thể được” với Thiên Chúa, khi Ngài làm cho tâm hồn người giầu vẫn một lòng yêu mến, phụng sự Ngài ; “có thể được” với Thiên Chúa khi Ngài ban cho trái tim người “nhiều tiền lắm của” biết nhận ra tình trạng nghèo khó, đáng thương của mình trước Thiên Chúa ; “có thể được” với Thiên Chúa, khi gìn giữ tấm lòng thương xót của người giầu trước nhu  cầu của những người đói rách chung quanh ; “có thể được” với Thiên Chúa khi ban cho con tim đại gia tình yêu quảng đại để san sẻ, chia sớt với những người cùng khốn ; “có thể được” với Thiên Chúa, khi chúc phúc cho những gia đình sống trong nhung lụa như gia đình Giakêu ơn cứu độ, để đức công bình và ơn Bình An của Ngài ngập tràn thế giới.

    Thứ tư tới là “Ngày Thế Giới Chống Nghèo Đói”, chúng ta không chỉ cầu ngyện cho người nghèo đói, mà còn cầu nguyện cho người giầu có, cho các đại gia, để bàn tay người giầu chạm được bàn tay người nghèo, để con tim đại gia và trái tim kẻ bần hàn cùng chung nhịp đập và niềm xác tín của Tin Mừng : Trong chia sẻ, chúng ta có Thiên Chúa, vì tất cả là Hồng Ân.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA –

    CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVIII Thường Niên năm B này mời gọi chúng ta suy gẫm về vấn đề vinh hoa phú quý trần thế so sánh với Đức Khôn Ngoan (Bài Đọc I) hay Lời Chúa (Bài Đọc II) mà Đức Giê-su là hiện thân: “vì Thầy và vì Tin Mừng” (Tin Mừng).

    Kn 7: 7-11

    Bài Đọc I, trích từ sách Khôn Ngoan, ca ngợi giá trị khôn sánh của Đức Khôn Ngoan, còn quý hơn mọi vinh hoa phú quý trần thế.

    Dt 4: 12-13

    Trong đoạn trích thư gửi tín hữu Do thái, Lời Chúa được gợi lên với tất cả quyền năng của nó: ban sự sống, xét xử, xuyên thấu tận cõi thâm sâu nhất của con người.

    Mc 10: 17-30

    Tin Mừng Mác-cô thuật lại câu chuyện về một người giàu có. Đức Giê-su đề nghị anh từ bỏ của cải mà theo Ngài, nhưng anh không thể. Đức Giê-su nêu lên vấn đề về sự giàu có là một trở ngại trên con đường cứu độ.

    BÀI ĐỌC I (Kn 7: 7-11)

    Một hiền nhân Do thái sinh trưởng ở A-lê-xan-ri-a đã viết sách Khôn Ngoan bằng Hy-ngữ vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Để đối lại với mối hiểm nguy của việc Hy lạp hóa đang đe dọa Do thái giáo, tác giả tôn vinh những giá trị khôn sánh của Đức Khôn Ngoan Kinh Thánh.

    Tác phẩm gồm có 19 chương được chia thành ba phần: phần thứ nhất nói về Đức Khôn Ngoan và số phận con người (ch. 1-5), phần thứ hai nói về bản chất và nguồn gốc của Đức Khôn Ngoan (ch. 6-9) và phần thứ ba nói về hành động của Đức Khôn Ngoan trong lịch sử (ch. 10-19). Trong phần thứ hai tác phẩm của mình, bằng hư cấu văn chương, tác giả đặt lời trên môi miệng của vua Sa-lô-mon, vị vua được truyền tụng là người khôn ngoan bậc nhất. Đoạn văn chúng ta đang đọc được trích dẫn từ diễn từ của vua Sa-lô-mon. Vị quân vương vừa mới nhắc nhở rằng ông không khác với những con người khác, ông chia sẻ thân phận phàm nhân như bao nhiêu người khác. Đức Khôn Ngoan mà vua có được không là một đặc sủng tự nhiên được ban cho vua khi trở thành quân vương, nhưng là thiên ân do vua thành tâm cầu nguyện.

    1. Lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon

    “Tôi đã nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết; tôi đã kêu cầu, và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi”. Việc vua Sa-lô-mon cầu xin Thiên Chúa ban cho mình sự khôn ngoan là một sự kiện truyền thống được kể ra trong sách Các Vua quyển thứ nhất (1V 3: 4-14), được nhắc lại trong sách Sử Biên quyển thứ hai (2Sb 1: 1-12), và từ câu chuyện này tác giả sách Khôn Ngoan sáng tác một đoạn văn (Kn 9: 1-18). Vua Sa-lô-mon cảm kích vì được kế nghiệp thân phụ của mình là vua Đa-vít khi tuổi đời còn quá trẻ; vì thế, nhà vua còn trẻ người non dạ này cầu xin Đức Chúa ban cho mình những đức tính cần thiết để có thể cai trị dân Chúa chọn, một dân tộc quan trọng như thế.

    Tác giả sách Khôn Ngoan trình bày lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon không có trong nguyên bản, nhưng theo cách riêng của mình để đánh động độc giả thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Vua Sa-lô-mon biết rõ chẳng có gì phải tự hào tự phụ vì những gì vua có đều là những ân ban của Thiên Chúa. Vua phó thác sự yếu đuối của mình vào chỉ một mình Thiên Chúa đích thật, Đấng phân phát sự khôn ngoan; thái độ này ngược hẳn với  các bậc quân vương Hy lạp.

    1. Lòng quý chuộng Đức Khôn Ngoan

    Vua Sa-lô-mon công bố lòng quý chuộng Đức Khôn Ngoan của mình. Bản văn nhắc lại câu trả lời của Đức Chúa cho vị vua trẻ theo 1V 3: 11, được tô điểm bằng những chủ đề truyền thống minh triết.

    “Đức Khôn Ngoan, tôi đã quý trọng

    còn hơn cả vương trượng, ngai vàng” (7:8).

    Nói như thế, không có nghĩa vua Sa-lô-mon đã muốn từ chối ngai vàng của vua Đa-vít, nhưng “vì Đức Khôn Ngoan đưa ông lên hàng vương đế”. Tác giả đã khai triển chủ đề này ở trên khi để cho vua Sa-lô-môn ngỏ lời với các bậc đế vương:

    “Như vậy, chính lòng khao khát Đức Khôn Ngoan

    đưa chúng ta lên hàng vương giả.

    Thế nên, hỡi chư vị lãnh đạo các dân,

    nếu chư vị quý chuộng ngai báu và vương trượng,

    thì hãy tôn trọng Đức Khôn Ngoan,

    để chư vị được trị vì mãi mãi ” (Kn 6: 20-21).

    Những châm ngôn theo sau là di sản chung mà chúng ta gặp lại trong sách Châm Ngôn, sách Huấn Ca,…chưa nói đến các Thánh Vịnh.

    Ví dụ như:

    “Khôn ngoan quý hơn cả trân châu,

    không bảo vật nào của con so sánh nổi” (Cn 3: 15).

    Hay còn:

    “Hãy đón nhận lời nghiêm huấn của ta quý hơn cả bạc,

    hãy đón nhận tri thức quý hơn cả vàng ròng.

    Khôn ngoan quý hơn cả trân châu,

    không báu vật nào so sánh nổi” (Cn 8: 10-11).

    “Tôi đã quý Đức Khôn Ngoan hơn ánh sáng”. Với lời này, vua Sa-lô-môn nhắc nhớ rằng ông đã không cầu xin Thiên Chúa một cuộc sống trường thọ hay sự giàu sang phú quý, nhưng chỉ xin cho mình được khôn ngoan.

    1. Thành quả của Đức Khôn Ngoan

    Trong sách Các Vua, Đức Chúa ca ngợi phẩm chất lời nguyện xin của vua Sa-lô-mon. Để thưởng cho vua, Đức Chúa ban cho ông không chỉ Đức Khôn Ngoan, nhưng còn mọi vinh hoa phú quý mà nhà vua đã không xin.

    Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một bài học gần như thế. Mến chuộng Đức Giê-su hơn sự giàu sang phú quý là con đường dẫn đến Nước Trời: Những ai từ bỏ mọi sự “vì Đức Ki-tô và vì Tin Mừng”, thì ngay ở đời này sẽ nhận được gấp trăm và ở đời sau sẽ được hưởng sự sống đời đời (10: 29-30).

    BÀI ĐỌC II (Dt 4: 12-13)

    Thư gửi tín hữu Do thái được viết cho những người Ki-tô hữu gốc Do thái, họ sống xa Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và luyến nhớ các nghi lễ Cựu Ước; hơn nữa, vì những bách hại, vài người mất can đảm đã muốn bỏ rơi niềm tin Ki-tô giáo của mình. Bức Thư này nhằm an ủi họ và tăng cường đức tin của họ.

    Đoạn văn hôm nay được trích dẫn từ những lời khuyến dụ dài mời gọi hãy trung tín và kiên tâm bền chí. Tác giả vừa mới gợi lên tấn thảm kịch dành cho những người bất tuân, họ đã không được chấp nhận vào Đất Hứa, nhưng phải vùi thây trong sa mạc. Vì thế, chúng ta hãy giữ mình khỏi tội bất trung nếu chúng ta muốn đi vào Đất Hứa đích thật, vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa: “Vậy, chúng ta hãy cố gắng vào chốn yên nghỉ này, kẻo có ai cũng theo gương bất trung đó mà sa ngã” (4: 11).

    1. Nhân cách hóa Lời Chúa

    “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi”. Đây không là lần đầu tiên Kinh Thánh nhân cách hóa Lời Chúa như vậy. Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã mô tả Lời Chúa ngự xuống từ trời để đem lại sự sống cho toàn cõi thế và chỉ trở về với Thiên Chúa một khi sứ mạng đã được hoàn thành (Is 55: 10-11). Sách Đệ Nhị Luật cũng đã trình bày Lời Chúa như một nguồn sống nội tại: “Hãy để tâm vào tất cả những lời mà hôm nay tôi cảnh báo anh em, hãy truyền những lời đó cho con cái anh em, để chúng lo đem ra thực hành tất cả những lời của Luật này. Thật vậy, đó không phải là một lời trống rỗng đối với anh em, mà đó là sự sống của anh em, và nhờ lời ấy, anh em sẽ được sống trên đất mà anh em sắp qua sông để chiếm hữu” (Đnl 32: 46-47).

    1. Chức năng xét xử của Lời Chúa

    Lời Chúa có chức năng xét xử bởi vì Lời Chúa có chức năng giáo huấn. Tác giả thư gửi tín hữu Do thái chuyển từ Lời Chúa có chức năng giáo huấn sang Lời Chúa có chức năng xét xử. Đây không phải là một ví dụ độc nhất. Thánh Gioan cũng theo cách thức như vậy: “Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan tòa xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết” (Ga 12: 48).

    Tác giả thư gửi tín hữu Do thái so sánh Lời Chúa với thanh gươm hai lưỡi; đây không cốt là thanh gươm Công Lý, mà sách Khải Huyền trang bị cho Con Người vào ngày tận thế, vào ngày Chung Thẩm (Kh 1: 16; 19: 15). Tác giả thư gửi tín hữu Do thái so sánh Lời Chúa với một con dao mổ sắc bén của một nhà giải phẫu: Lời Chúa “xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó là lời phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người”. Cuối cùng, tác giả đồng hóa Lời Chúa với chính Thiên Chúa: “Vì không có loài thụ tạo nào mà không hiện rõ ra trước lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ”.

    Đây là lời cảnh báo nghiêm khắc được gửi đến các Ki-tô hữu đang chao đảo trong đức tin, nhưng ngay liền sau đó tác giả liên kết vị Thượng Tế biết cảm thương, là Đức Ki-tô, với những nỗi yếu hèn của chúng ta.

    TIN MỪNG (Mc 10: 17-30)

    Câu chuyện về một người giàu có này đều được cả ba Tin Mừng nhất lãm tường thuật, bởi vì đây là dịp, là cơ hội thuận tiện mà Đức Giê-su lợi dụng để minh họa một bài học kiểu mẫu cho những ai muốn trở thành môn đệ của Ngài. Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều kể lại câu chuyện này một cách xúc động và thống thiết, nét đặc trưng này rất dễ thấy trong câu chuyện của Tin Mừng Mác-cô.

    Đức Giê-su vừa mới cất bước lên đường tiến về Giê-ru-sa-lem thì “có một người chạy đến”. Thánh Mác-cô thích làm sinh động những bài trình thuật của mình bằng những động từ chỉ sự chuyển động; ở đây, chi tiết này có giá trị của nó. Câu chuyện bắt đầu với hành động hối hả đầy thành tâm thiện chí của người này và kết thúc với thái độ tương phản sau cùng của anh: “Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”. Chúng ta có thể nói đây là một câu chuyện về ơn gọi kết thúc không có hậu.

    1. Sự sống đời đời

    “Sự sống đời đời” là diễn ngữ then chốt của toàn bộ câu chuyện này; nó được nêu lên ngay từ đầu với câu hỏi của chàng thanh niên này và ở cuối câu chuyện qua câu trả lời của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài. Đây không chỉ là một ví dụ điển hình về lối hành văn đóng khung, nhưng còn định vị tấm thảm kịch sắp diễn ra trong chiều kích cốt yếu của nó. Vấn đề về những mối tương quan của người Ki-tô hữu với của cải được đặt ra tùy thuộc vào vấn đề cốt yếu này: cuộc sống mai hậu. Vì thế, các môn đệ xao xuyến tận đáy lòng.

    Nỗi ưu tư của người này phù hợp với những nỗi bận lòng của những môi trường đạo hạnh Do thái giáo, ở đó người ta tranh luận về những viễn cảnh cánh chung: sự sống đời đời, chính là gia nghiệp mà Thiên Chúa hứa ban vào thời cánh chung. Phải làm gì để đảm bảo cho mình có được sự sống đời đời?

    Người này ca ngợi Chúa Giê-su: “Thưa Thầy nhân lành” kèm theo một hành vi cử chỉ hết mực cung kính: “quỳ xuống trước mặt Người”. Thái độ này làm chứng rằng Đức Giê-su nổi tiếng là một vị kinh sư đặc biệt và người này tin rằng chỉ có Ngài mới có thể ban cho anh những lời khuyên có giá trị.

    Tại sao Đức Giê-su thoái thác đức tính “nhân lành” này cho mình, khi mà lòng nhân lành của Ngài thì hiển nhiên, phải chăng là để hướng tâm trí của người đối thoại về Đấng là nguồn mạch của mọi sự nhân lành? Nếu Đức Giê-su có lòng nhân lành, chính vì Ngài đón nhận lòng nhân lành từ Thiên Chúa. Thánh Mác-cô có mối bận tâm là không quên thân phận làm người của Đức Giê-su.

    Sau khi đã hiệu đính lời ca ngợi của chàng thanh niên, Đức Giê-su sắp cho anh ta một câu trả lời tích cực qua đó Ngài ngầm hàm ý rằng “Tôi đến không phải để hủy bỏ nhưng kiện toàn Lề Luật”.

    1. Lời kêu gọi được gửi đến cho người giàu có này

    Thập Giới là nền tảng hàng đầu của Lề Luật. Đức Giê-su chỉ trích dẫn phần thứ hai của Thập Giới, phần liên quan đến những bổn phận của một người với anh em đồng loại của mình. Như thế, đối với Đức Giê-su, thực thi Thập Giới mà Đức Chúa đã truyền dạy là con đường bình thường và đầy đủ để đạt đến “sự sống đời đời”. Chàng thanh niên này mau mắn trả lời: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ”. Câu trả lời này chứng tỏ tấm lòng thành tâm thiện chí của anh trên con đường khao khát sự sống đời đời. Câu trả của anh gây ấn tượng mạnh nơi Đức Giê-su. Thánh Mác-cô là thánh ký duy nhất cung cấp chi tiết cảm động này: “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”.

    Đối với chàng thanh niên đầy thành tâm thiện chí này, Đức Giê-su đề nghị anh đi xa hơn trên con đường khao khát sự sống đời đời: “Hãy về bán những gì anh có mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Sau đó, hãy đến theo tôi”. Đây không chỉ là tinh thần siêu thoát mà Đức Giê-su đòi hỏi anh, nhưng còn là một sự từ bỏ của cải để đạt cho bằng được: “kho tàng trên trời”. Đối với những ai muốn bước đi trên con đường nhân đức, Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi thêm nữa. Đối với những ai Thiên Chúa đem lòng yêu mến, Ngài không để cho kẻ ấy sống một đời sống tầm thường như bao nhiêu người khác. Thiên Chúa đã xử sự với các ngôn sứ của Ngài như thế nào; Đức Giê-su cũng hành xử với các môn đệ của Ngài cũng theo một cách như vậy.  Nhưng “nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải”. Chỉ mãi đến lúc này, chúng ta mới biết được người ấy rất giàu có và chính sự giàu có đã ngăn cản anh tích cực đáp trả tiếng gọi của Đức Giê-su.

    Tuy nhiên, lý tưởng của sự nghèo khó không xa lạ gì đối với Do thái giáo. Các ngôn sứ đã ca ngợi lý tưởng này. Họ đã công kích những kẻ giàu có; họ đã công bố ơn cứu độ của Ít-ra-en nhờ một nhóm nhỏ còn lại, nhóm người bị tước đoạt tất cả, chỉ còn lại niềm tin tưởng phó thác vào Đức Chúa. Ấy vậy, chúng ta gặp thấy ở nơi những người Do thái đạo hạnh sống theo lý tưởng Do thái giáo, là lấy Lề Luật làm quy luật sống của mình để hướng tới “sự sống đời đời”  là gia nghiệp Thiên Chúa hứa ban cho dân Ngài.

    Còn ở đây, Chúa Giê-su được trình bày như là Đấng Mê-si-a đến mặc khải một lý tưởng còn cao hơn lý tưởng của dân Ít-ra-en: “Anh chỉ còn thiếu có một điều”: trung thành với Lề Luật của Thiên Chúa thì chưa đủ, còn phải bước theo Đấng mà Thiên Chúa sai đến. Trọng tâm của câu chuyện này không phải hệ tại ở việc từ bỏ của cải nhưng là gắn bó với Đức Giê-su, yêu mến Ngài trên tất cả mọi sự kể cả mạng sống của mình.

    Chúng ta đừng quên rằng câu chuyện về ơn gọi bất thành này được ghi lại trên con đường Đức Giê-su nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem, tiến đến cuộc khổ nạn của Ngài. Như vậy, đức tin Ki-tô giáo vừa kiện toàn vừa hoàn tất đức tin Do thái giáo. Người ta không thể trở thành người Ki-tô hữu nếu không xem Đức Giê-su là trung tâm và là cứu cánh cuộc đời của mình được. Như một người gặp được viên ngọc quý hay kho tàng chôn dấu trong ruộng, người ta sẵn sàng đánh đổi tất cả để sở hữu cho bằng được Ngài như lời của thánh Phao-lô: “Ai có thể tách tôi ra khỏi lòng mến đối với Đức Ki-tô”.

    1. Lời mời gọi được gửi đến với mọi người

    “Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh”. Đây là một ghi nhận đặc trưng của thánh Mác-cô (3: 5; 5: 32; 9: 8; 10: 23; 11: 11). Đây không là một chi tiết điểm tô cho câu chuyện; ý nghĩa của nó thì rõ ràng: Đức Giê-su ngỏ lời với dân chúng, chắc chắn đám đông đang vây quanh Ngài, nhưng không được kể ra, và cả đám đông vô hình của những Ki-tô hữu thuộc mọi thời: “Những người có của mà vào được Nước Thiên Chúa, thật khó biết bao!”. Vì nhận thấy các môn đệ hết sức kinh ngạc, nên Đức Giê-su lập lại đến hai lần lời cảnh giác của Ngài: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa, thật khó biết bao!”.

    Việc sánh ví với con lạc đà chui qua lổ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa là một kiểu nói khoa trương Đông Phương để kích thích sự chú ý: sự giàu có là một trở ngại trên con đường cứu độ. Đức Giê-su đã nói rồi: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6: 24). Sự kiện các môn đệ vừa mới chứng kiến là một bằng chứng tỏ tường. “Thế thì ai có thể được cứu?”, các môn đệ nêu lên câu hỏi này không chỉ vì người gắn bó với của cải thì đầy dẫy chung quanh họ; nhưng còn vì, theo truyền thống của cha ông họ, sự giàu có là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa chúc phúc cho những người trung thành tuân giữ Lề Luật. Đức Giê-su trấn an họ bằng cách khai mở tâm trí của họ để họ thấu hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa, mầu nhiệm ân sủng, mầu nhiệm của lòng xót thương: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì khác, vì Thiên Chúa làm được mọi sự”.

    Chúng ta đừng quên thánh Lu-ca tường thuật câu chuyện của ông Da-kêu không xa mấy sau câu chuyện này, như vậy cho một ví dụ về ơn cứu độ của một người giàu có. Ông Da-kêu đã không bao giờ nghĩ đến việc bố thí một phần của cải của mình cho những người nghèo, nếu Đức Giê-su đã không viếng thăm gia đình của ông. Vấn đề là con người đáp trả như thế nào trước lời mời gọi chan chứa yêu thương của Thiên Chúa.

    1. Phần thưởng dành cho những ai bỏ mọi sự mà theo Chúa Giê-su

    Các tông đồ không thể không so sánh thái độ của họ với thái độ của người giàu có này: họ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài. Thánh Phê-rô nhân danh tất cả môn đệ nhắc lại điều đó. Đức Giê-su trả lời bằng cách nêu lên hai loại phần thưởng: phần thưởng được ban cho “bây giờ, ngay ở đời này” và phần thưởng được ban cho trong thế giới tương lai: “sự sống đời đời”.

    Có nên hiểu một chuỗi những phần thưởng đầu tiên theo nghĩa đen? Chắc chắn, ai từ bỏ những người thân yêu và của cải quý giá của mình vì Đức Giê-su, người ấy sẽ gặp thấy ở giữa lòng cộng đoàn Ki-tô hữu, một đại gia đình. Nhưng lời giải thích theo nghĩa tinh thần thì có vẻ thật hơn. Thánh Mác-cô xem ra hiểu như vậy bởi vì thánh ký đặt sự bách hại vào giữa những phần thưởng trần thế. Chính ở nơi những phần thưởng tinh thần này mà những Ki-tô hữu đã sở hữu rồi, thánh Phao-lô ám chỉ đến khi thánh nhân viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, kỳ thực chúng tôi vẫn luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 6: 8-10).

    Về mục lục

    .

    THẬP GIÁ – ĐƯỜNG HY VỌNG

    Bông hồng nhỏ

     “Con lạc đà chui qua lỗ kim lại còn dễ hơn người giàu vào được Nước Trời”. Bài hát sinh hoạt mà mấy em thiếu nhi vừa cất lên khiến lòng ta nôn nao khác lạ: Chẳng phải hôm nay ta mới nghe nó lần đầu tiên nhưng lời này đã đến trong đời ta rất nhiều lần. Chỉ khác một điều là hôm nay Chúa nhắn nhủ ta qua tiếng hát trẻ thơ.

    Đọc đoạn Tin Mừng theo Thánh sử Máccô hôm nay, hình ảnh đẹp gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí ta là hình ảnh lên đường của Thầy Giê-su. Thầy Giê-su lên đường để thực hiện những cuộc tìm kiếm. Người mục tử nhân lành vẫn miệt mài trên từng chặng đường xa để kiếm cho kỳ được con chiên lạc. Có một chàng thanh niên hăm hở chạy theo, mong bắt kịp Thầy và khi bắt kịp rồi thì quỳ xuống trước mặt Thầy mà xin. Anh xin Thầy chỉ giáo để có được sự sống đời đời làm gia nghiệp (x.Mc 10,17). Từ trước tới giờ, người ta thường tới xin Thầy chữa lành bệnh tật. Còn anh, anh xin cho được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Đây quả là một khát vọng đáng quý biết bao. Thấy anh thành tâm thiện chí và là người đạo đức, Thầy Giê-su nói anh chỉ còn thiếu có một điều là đi bán tất cả những gì mình có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi Thầy tiếp tục mời gọi anh hãy trở thành môn đệ Thầy (x.Mc 10,19-21). Được làm môn đệ Thầy thì còn hạnh phúc nào bằng. Tuy nhiên, nghe xong lời mời gọi của Thầy, sắc mặt anh biến đổi, anh buồn rầu bỏ đi không một lời từ biệt (x.Mc 10,22). Có được cơ nghiệp như ngày hôm nay chắc hẳn anh đã phải trải qua bao gian khó. “Đồng tiền đi liền khúc ruột” là vì vậy. Dường như trong bước chân thoái lui ấy có gì đó như giằng co, có gì đó như sự tiếc nuối. Tại sao Thầy Giê-su không giữ anh lại để chinh phục trái tim anh? Thầy yêu mến anh cơ mà. Thầy Giê-su ngỏ lời mời gọi, chỉ đường cho ai muốn làm môn đệ nhưng Thầy hoàn toàn tôn trọng sự tự do chọn lựa của họ.

    Người môn đệ đi theo Chúa là bước đi trên con đường của hy vọng. Dẫu cuộc đời nhiều đa đoan, có nhiều khi người môn đệ thấy Thầy Giê-su như vắng mặt, chẳng hề lên tiếng đỡ nâng, thập giá trên vai đè nặng, người môn đệ sẽ phải đối diện với những giằng co của chọn lựa thì Thầy Giê-su vẫn có đó, Thầy vẫn dõi mắt theo. Dẫu là đường thập giá từng ngày gập ghềnh bước đi thì đường thập giá vẫn là đường hy vọng. Vì đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể làm được, chỉ cần người môn đệ biết từ bỏ. Ta có thể đã từ bỏ một mái gia đình êm ấm, từ bỏ một mối tình đẹp, từ bỏ một công việc ổn định, từ bỏ một cuộc sống giàu sang tự do thoải mái để bước theo Thầy Giê-su nhưng nếu ta chưa biết bỏ mình là ta chưa bỏ gì cả. Ta có thể chẳng phải là người giàu của cải như chàng thanh niên để cứ tiếc nuối nhưng ta lại là người giàu tham vọng. Bước theo Chúa là chọn con đường tự hạ, khiêm nhường, chỉ khát mong chọn Thánh Ý Chúa là gia nghiệp. Điều Chúa hứa ban cho ai dám từ bỏ mọi sự mà theo Chúa là nhà cửa, anh chị em,… và có cả sự ngược đãi, sự sống vĩnh cửu đời sau (x.Mc 10,30).

    Lạy Chúa, con đã hăm hở chạy đến với Chúa để được đi theo Chúa trên con đường trọn lành. Lời Chúa vẫn từng ngày mời gọi con hãy từ bỏ mọi sự. Sự gì cản bước tiến của con trên đường theo Chúa, xin Chúa giúp con đẩy chúng xa khỏi con. Con xin Chúa giúp con hiện thực hóa tâm tình này: “Thưa Chúa, con yêu Ngài thật thẳm sâu trong tâm trí. Thưa Chúa, con yêu Ngài thật thẳm sâu trong trái tim”. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐẦU TƯ KHÔN NGOAN

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Năm vừa qua vẫn là một năm biến động với nền kinh tế đất nước, tình trạng lạm phát, trượt giá gia tăng, nợ công ngày càng nhiều khiến cho nhiều nhà đầu tư chùn tay. Có nhiều người không hiểu biết gì về thị trường chứng khoán cũng liều đổ tiền của vào đầu tư, cuối cùng thất bại. Nhiều người khác đầu tư vào thị trường nhà đất, bất động sản khiến cho nhà đất lên cơn sốt, đến nay cơn sốt giảm xuống dẫn đến tình trạng bị đọng vốn hoặc đất đóng băng. Nhiều người khác lăn tăn: “Tôi có một ít tiền nhàn rỗi, tôi sẽ đầu tư vào lãnh vực nào để sinh lợi nhiều và an toàn trong hoàn cảnh kinh tế xã hội biến động hiện nay?”. Các nhà kinh tế cũng đã trả lời câu hỏi này và đưa ra những lời khuyên, tuy nhiên việc nghe và làm theo hay không là tùy ở mỗi người.

    Tin Mừng hôm nay kể lại việc một chàng thanh niên giàu có muốn tìm một kênh đầu tư, anh đến với Chúa Giêsu, quỳ gối trước Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Trước hết, thái độ của anh phần nào cho thấy anh đang bế tắc trong cuộc sống, không biết phải chọn đường nào, đầu tư ở nơi đâu. Anh đang bị giằng co phải làm cách nào để vừa có nhiều tiền bạc của cải, vừa được Nước Trời. Vì vậy, anh quỳ gối trước Chúa Giêsu để xin một lời khuyên. Việc anh quỳ gối để xin, chứng tỏ anh khá thành tâm tìm kiếm và tin rằng Đức Giêsu có thể chỉ cho anh và giải quyết sự giằng co trong anh.

    Chúa Giêsu muốn thẩm định về lòng tin của anh khi nói với anh: “Không có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa”. Vậy khi anh gọi Đức Giêsu là “Thầy nhân lành”, tức là anh đã tin Đức Giêsu là Thiên Chúa. Nếu anh đã tin Đức Giêsu là Thiên Chúa, thì đòi anh phải sẵn sàng đón nhận lời chỉ dạy của Ngài. Chúa Giêsu cũng giúp anh thẩm định lại đời sống của mình trước sự đòi hỏi của giới răn lề luật của Thiên Chúa: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ ngoại tình, hãy thờ cha kính mẹ”. Đây là những điều răn hướng dẫn các tương quan của con người đối với những người chung quanh. Những giới răn này có thể coi là những giới răn nền tảng để xây dựng đời sống tự nhiên, nhân bản. Sau khi nghe Chúa Giêsu nói, chàng thanh niên rất tự tin để thưa với Chúa: “Thưa Thầy, những điều răn này tôi đã giữ từ thuở nhỏ”.

    Thấy người thanh niên này có một nền tảng đời sống đạo đức khá vững, Chúa Giêsu rất có thiện cảm với anh, Ngài nhìn anh với lòng yêu mến. Cái nhìn này như một sự khích lệ mời gọi anh tiến thêm một bước nữa trên con đường trọn lành. Chúa Giêsu đã đưa ra cho anh một lời mời gọi và cũng là một sự thách thức trong chọn lựa của anh, đó là: “Anh chỉ còn thiếu một điều là, hãy về bán những gì anh có, phân phát cho người nghèo, anh sẽ có kho tàng trên trời, rồi đến đây theo tôi”. Có thể nói theo ngôn ngữ kinh tế, câu trả lời của Chúa Giêsu giống như một lời mời gọi đầu tư. Trong cuộc đầu tư này Chúa Giêsu bảo đảm chắc chắn, người đầu tư sẽ có được kho tàng trên trời và trở nên môn đệ đích thực của Chúa.

    Lời mời gọi này đặt người thanh niên vào một chọn lựa quyết liệt, hoặc là đầu tư tìm kiếm Thiên Chúa làm gia nghiệp và trở nên môn đệ của Chúa Giêsu, hoặc là để cho tiền bạc của cải trần gian chi phối. Chọn Chúa làm gia nghiệp và trở nên môn đệ của Chúa đòi chàng thanh niên phải dám buông bỏ của cải thế gian, bán những gì mình đang sở hữu để không còn dính bén; phân phát trao tặng cho người nghèo tất cả để trở nên trống rỗng, không còn gì và sau cùng là đến để theo Chúa.

    Có người đặt vấn đề: “Tại sao Chúa đòi hỏi quyết liệt và dứt khoát như thế?”. Thưa – nhiều lần Chúa đã dạy: Các ngươi không thể làm tôi hai chủ, không thể vừa thờ Thiên Chúa và đồng thời lại thờ tiền bạc, không thể vừa chọn Chúa lại vừa chọn thế gian. Chỉ những người dám giũ bỏ những sự ràng buộc của thế gian và vật chất mới có thể toàn tâm toàn ý theo Chúa. Những người dám chọn Chúa làm gia nghiệp thì phải dám xem thường của cải thế gian. Một khi dám bán mọi sự, dám cho đi tất cả, tức là là dám trở nên trống rỗng trước mặt Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ lấp đầy sự trống rỗng đó bằng tình yêu và ơn thánh của Chúa và nhất là bằng gia nghiệp là nước trời. Tuy nhiên, câu chuyện của người thanh niên đã có cái kết buồn: Khi chàng thanh niên nghe lời mời gọi của Chúa Giêsu, anh đã không dám đầu tư tài sản và cuộc đời của mình nơi Chúa. Anh muốn theo Chúa nhưng lại không bước qua nổi bản thân, anh muốn chọn Chúa nhưng lại không dám từ bỏ tài sản của cải trần gian. Vì vậy, anh sa sầm nét mặt, buồn rầu bỏ đi. Tác giả Tin Mừng giải thích: “Vì anh ta có nhiều của cải”.

    Chúa Giêsu đã lấy làm tiếc cho anh, vì chàng thanh niên này dù đã có nhều điều tốt, nhưng anh đã không theo đuổi đến cùng chọn lựa của mình. Nhân dịp này, Chúa giải thích cho dân chúng và các môn đệ thấy tiền bạc, của cải, vật chất thế gian, chính là một trở ngại rất lớn trong việc theo Chúa. Việc trở nên môn đệ của Chúa và đạt được nước trời đòi mỗi người phải dám phiêu lưu, tín thác, dám đem cả tài sản, tương lai, cuộc đời của mình “đánh cược” với Chúa. Khi nghe Chúa nói như thế, Phêrô và các môn đệ cũng rất băn khoăn, các ông muốn “kiểm tra lại tài khoản” của mình sau một thời gian theo Chúa. Phêrô đã hỏi Chúa: “Thưa Thầy, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?”.

    Chúa Giêsu đã trả lời cách chắc chắn: “Bất cứ ai bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, ruộng vườn vì Thầy và vì Tin Mừng, thì ngay bây giờ, ở đời này, sẽ được nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái ruộng đất gấp trăm lần, cùng với sự ngược đãi và sự sống vĩnh cửu ở đời sau”. Câu trả lời cho thấy, Chúa là nơi uy tín, bảo đảm nhất để cho mọi người có thể đầu tư, sinh lợi. “Lợi nhuận” từ nơi Chúa là được gấp trăm những gì chúng ta đã dám từ bỏ, đã dám bán đi, đầu tư cho người nghèo vì Chúa Kitô và Tin Mừng. Chúa Giêsu quả quyết: lợi nhuận này không chỉ ở đời sau, mà là ngay ở đời này. Tuy nhiên, lợi nhuận về nhà cửa ruộng vườn, cha mẹ, anh chị em, còn phải gắn liền với một vinh phúc đó là sự bắt bớ, ngược đãi của thế gian và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. Tại sao lại gọi là vinh phúc? Vì khi chịu bắt bớ, ngược đãi vì Chúa Giêsu và vì Tin Mừng là được trở nên giống Chúa Giêsu, là đi theo và đi cùng con đường của Chúa, con đường thập giá. Những ai bước theo Chúa Giêsu trên con đường khổ giá, thì chắc chắn cùng được chia sẻ vinh quanh phục sinh và vinh hiển trên trời với Chúa như Chúa đã hứa.

    Thưa quý OBACE, theo cái nhìn của người đời, việc đầu tư cho nước trời bị coi như khờ dại, nhưng đối với những người tin vào Thiên Chúa thì đó là sự đầu tư khôn ngoan, chính đáng. Bài đọc một cho thấy, chỉ những ai được ơn khôn ngoan của Thiên Chúa thì biết chọn chính Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan làm gia nghiệp.

    Dẫu vẫn biết Thiên Chúa là vĩnh cửu trường tồn, thế gian và của cải vật chất thì mau qua chóng hết, tuy nhiên nhiều người đã không dám chọn để đầu tư cho Nước trời và hạnh phúc đời đời của mình và gia đình. Nhiều cha mẹ chọn đầu từ nhà cửa đất đai cho con cái, mà quên đầu tư việc xây dựng và bảo vệ hạnh phúc của gia đình, nhất là quên đầu thư cho đời sống đạo. Nhiều người khác lo đầu tư việc học, bằng cấp cho con, nhưng không đầu tư cho việc giáo dục nhân bản và đời sống đạo đức cho con mình. Nhiều bạn trẻ lo đầu tư cho việc học, tương lai nghề nghiệp mà quên đầu tư nhân cách và đời sống đức tin. Chính vì thế, cuộc sống của nhiều người và của nhiều gia đình bị thiên lệch, mất quân bình. Việc đầu tư để đem lại hạnh phúc và cuộc sống sung túc cho gia đình là điều quan trọng, cũng vậy các bạn trẻ đầu tư cho việc học và sự nghiệp tương lai là điều cần. Nhưng nếu dồn tất cả thời gian, công sức vào những mục tiêu đó mà thôi, thì chưa đủ, trái lại mỗi người cần phải đầu tư cho hạnh phúc nước trời, cho tương lai vĩnh cửu của mình mai sau, đó mới là điều quan trọng và cần thiết nhất.

    Xin cho mỗi chúng ta dù giàu hay nghèo về của cải vật chất thì cũng dám buông bỏ, sống tự do siêu thoát, không để cho của cải và những ham muốn làm giàu cản bước chúng ta trong việc trở nên môn đệ Chúa Giêsu và ngăn trở chúng ta trên hành trình về Nước Trời. Amen

    Về mục lục

    .

    SỰ KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Người ta thường nói “Có tiền mua tiên cũng được”. Và có lẽ mối bận tâm lớn nhất của con người trong cuộc sống là kiếm tiền. Ai cũng thích có nhiều tiền của, tất một điều là thái độ con người đón nhận và sử dụng tiền của sao cho đúng thánh ý Thiên Chúa. Sách Khôn ngoan trong bài đọc 1 hôm nay thuật lại rằng, Salomon đã không xin cho mình được sống lâu, không xin được nhiều của cải, không xin chiến thắng quân thù nhưng đã xin ơn khôn ngoan. Vì Salomon đặt giá trị của sự khôn ngoan lên trên sự giàu sang, vàng bạc cũng như trên sức khoẻ và sắc đẹp. Có khôn ngoan là có tất cả. Vì thế, tác giả sách Khôn ngoan xác tín: “Tất cả mọi sự tốt lành đều đến cùng tôi làm một với nó, và nhờ tay của nó, tôi được đoan chính không kể xiết”.

    Thưa anh chị em, chỉ có sự khôn ngoan đến từ Thiên Chúa mới có giá trị đích thực. Sự khôn ngoan này là ơn cần thiết phải xin từ Thiên Chúa. Đấng ấy chính là Đức Giêsu, Người là sự khôn ngoan đích thực đến từ Thiên Chúa Cha, Người chỉ bảo cho chúng ta biết sự khôn ngoan đích thực là tìm kiếm Nước trời. Trước lời tung hô “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”. Câu hỏi cho thấy người thanh niên này là người khôn ngoan, biết đi tìm kiếm sự chỉ dạy khôn ngoan để đạt đến sự sống đời đời. Trả lời câu hỏi của người thanh niên, Chúa Giêsu đã giới thiệu cho anh các giới răn phải thi hành: “đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ”. Giờ đây, Thầy nhân lành trở thành Đấng khôn ngoan của Thiên Chúa đang chỉ bảo anh. Đối với người thanh niên đã tuân giữ mọi giới răn ngay từ nhỏ, Chúa Giêsu chờ đợi nơi anh một thái độ quảng đại tiến thêm một bước nữa để trở thành môn đệ của Người: “ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”. Nhưng người thanh niên nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Qua đó, Chúa Giêsu là Đấng khôn ngoan tuyệt đối, Người cho thấy sự khôn ngoan đích thực là tìm kiếm Nước trời, vì: Nước Thiên Chúa không hệ tại ở của cải, giàu sang. Trái lại của cải giàu sang thường làm cản đường cho người ta không đủ can đảm để tiến đến sự sống đời đời: “những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa”. Và vì thế, người thanh niên đã hụt mất ơn gọi cao cả dành cho mình để chiếm được gia nghiệp đời đời và đi theo Người.

    Có câu chuyện kể rằng, Ngày 6 tháng 6 năm 1976. Một người giàu nhất xưa nay đã qua đời, thọ 83 tuổi; ông I. Paul Getty để lại khoảng 2 đến 7 tỷ đôla. Có lần một phóng viên làm ông phải thú nhận là ông đã không đạt được hạnh phúc gia đình. Suy nghĩ vài giây, ông trả lời: “Vâng, thật đáng buồn”. Một lần khác ông xác nhận: Tiền bạc không thể mua hạnh phúc, hơn nữa ông còn tin rằng tiền bạc có bà con với bất hạnh nữa.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Tiền bạc không phải là tất cả những gì trên trần gian này như nhiều người lầm tưởng “có tiền mua tiên cũng được”. Vì, tiền bạc không thể mua được hạnh phúc nhưng tiền bạc lại có bà con với bất hạnh nữa. Cụ thể là người thanh niên trong bài Tin mừng đã “sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi” dù anh đã tuân giữ mọi giới răn từ thuở nhỏ, chỉ vì anh giàu có, không giám bỏ của cải giàu sang. Sự giàu có và những trói buộc của nó gây ra sức độc chiếm đến nỗi con người hầu như không còn có sức lực và sự chú tâm đáp ứng đòi hỏi của Nước trời. Quả thật, tiền bạc rất cần cho cuộc sống. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng khuyến cáo chúng ta rằng tiền bạc rất nguy hiểm, có thể làm cho chúng ta mất Nước thiên đàng.

    Nguyện xin Chúa là Đấng đã trở nên nghèo khó để chúng ta được dư dật ân sủng của Người, ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để chúng ta biết dùng của cải Chúa ban mà phục vụ những người nghèo khổ, và tích cực sống lời Chúa dạy để trở nên những chứng nhân cho tình yêu của Người. Amen.

    Về mục lục

    .

    HAI SỰ KHÔN NGOAN

     Lm. Bosco Dương Trung Tín

    Cùng với Đức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đã đến với tôi”   (Khg 7,11)

    Đức Khôn Ngoan đây là gì ? Đức Khôn Ngoan đây là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Con người chúng ta sống cần có sự khôn ngoan của con người và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

    Để có sự khôn ngoan của con người, chúng ta cần học ở trường học và ở trường đời. Học ở trường học, ta sẽ có được những kiến thức; học ở trường đời ta sẽ có những kinh nghiệm, gọi là những “kinh nghiện sống”. Quả thật, khi còn nhỏ, ta chưa biết gì, nên cần phải đến trường để học. Ta học những kiến thức do các thầy cô truyền đạt. Đó như là hành trang để ta bước vào đời. Dù sao thì việc học trên trường, cũng chỉ tối đa là 20 năm, tính cả những năm đi mẫu giáo và những năm học đại học.

    Cũng có những người không có cơ may để có 20 năm học trên trường đó, họ chỉ có 3 năm, 5 năm hay 12 năm thôi. Thế nhưng việc học của con người không dừng lại ở trường học, mà khi vào đời, họ cũng có thể học ở trường đời. Học ở trường đời, đó là những thực tế của cuộc sống. Ta học trực tiếp từ cuộc sống hàng ngày, để ta có những kinh nghiệm sống; hơn nữa, còn là những kinh nghiệm xương máu. Những kinh nghiệm này, ta không chỉ đổ mồ hôi, mà còn đổ cả “máu”; ta phải “nằm gai nếm mật” mới có được.

    Cuộc sống không đơn giản như mình nghĩ. Nó “thượng vàng, hạ cám”; nó lằng nhằng, rắc rối; nó có đủ cách, đủ kiểu; nó cực kỳ phức tạp. Để có một cuộc sống êm đẹp và hạnh phúc, rất cần đến sự khôn ngoan. Người mà có sự khôn ngoan ở trường mà không có sự khôn ngoan ở đời, cũng khó mà sống; người có sự khôn ngoan ở đời, mà không có sự khôn ngoan ở trường, cũng sống được chứ không đến nỗi. Những gì trước đây không có cơ hội để học, thì bây giờ, có cơ hội là họ học. Ở đời có biết bao điều phải học, lại học trực tiếp nữa, nên nếu để ý mà học thì sẽ có kiến thức, có sự hiểu biết thôi.

    Nếu chỉ có kiến thức ở trường học mà vụng về trong trường đời, thì giống như học mà không hành vậy. Học mà không thực hành thì chỉ có kiến trên sách vở, không làm gì được. Như người có bằng này cấp nọ, nhưng ra đời chẳng làm việc gì cho ra hồn; mang danh là tiến sĩ, nhưng chẳng bằng anh chỉ học đến lớp 12. Cứ tưởng, có bằng cấp là ngon, nhưng đó chỉ là kiến thức; cần phải đem kiến thức đó ra thực hành mới là ngon. Ông bà ta nói: “Đi một ngày học một sàng khôn” mà.

    Nhờ sự khôn ngoan này mà ta biết cách ăn; biết cách nói; biết cách cư xử sao cho đẹp; biết làm sao cho đúng và mang lại nhiều kết quả tốt. Thiếu sự khôn ngoan ta sẽ gặp những khó khăn trên đường đời, sẽ thất bại trong công việc. Thất bại, ta sẽ không có tiền, không có của và sẽ buồn bã thôi. Bởi đó mà ta phải có tinh thần học hỏi, đi đâu ta cũng học; làm gì ta cũng học; ở đâu ta cũng học, vv…Cứ cái gì tốt, cái gì hay là ta học; ta học hoài, ta học mãi,…..học cho tới khi nào nhắm mắt xuôi tay mới thôi.

    Càng học thì ta càng có nhiều kiến thức; càng có nhiều kinh nghiệm và ta càng khôn ngoan hơn. Học là một trong những cách để “Trẻ mãi không già”. Đúng vậy, khi học thì đầu óc ta làm việc, cả “100 năm vẫn chạy tốt”, không có lú lẫn. Không chịu khó học, thì ta sẽ mau già; còn trẻ đó nhưng cho mình đã học nhiều rồi, chỉ lo rong chơi, thì coi như đã già rồi vậy. Kiến thức dần dần quên đi; khôn ngoan cũng dần dần mai một và khả năng cũng ngày càng thui chột theo.

    Vậy, ta phải có tinh thần học, học nữa, học hoài, học mãi………

    Ta không chỉ cần sự khôn ngoan của con người, mà ta còn cần đến sự khôn ngoan của Thiên Chúa nữa. Để có sự khôn ngoan của Thiên Chúa ta phải cầu nguyện và thực hành Lời Chúa dạy.

    Ta phải cầu nguyện. Điều này được thấy rõ nơi vua Sa-lô-mon. Khi Sa-lô-mon lên làm Vua, Chúa nói muốn xin gì Chúa sẽ ban cho. Vua Sa-lô-mon đã xin: “Xin ban cho con một tâm hồn biết lắng nghe để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái” (x. 1V 3,9). Chúa rất hài lòng với lời xin này và ban cho Vua: “Một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước Vua chẳng có ai bằng và sau Vua cũng chẳng có ai bì kịp” (x. 1V 3,12).

    Có thể nói Lời Chúa trong sách Khôn Ngoan là của vua Sa-lô-mon. Quả thật, “Vua nguyện xin và Thiên Chúa đã ban cho Vua sự hiểu biết. Vua kêu cầu và Thần Khí Đức Khôn Ngoan đã đến với Vua” (Kng 7,7). Và với kinh nghiệm của mình vua Sa-lô-mon đã nói về Đức Khôn Ngoan như sau:

    Đức Khôn Ngoan tôi đã quí trọng, còn hơn cả vương trượng, ngai vàng. Tôi coi của cải chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan” (x.Kng 7,8).

    Có được sự Khôn Ngoan thì không có gì bằng; Khôn Ngoan quí hơn cả vương trượng, ngai vàng; quí hơn cả của cải. Vì có quyền, có thế mà không có sự khôn ngoan làm sao mà vững chắc; làm sao cho người ta “tâm phục khẩu phục” được.

    Sự khôn ngoan mà so với của cải thì sự khôn ngoan vẫn hơn. Ta hãy so sánh một người giàu mà dại với một người nghèo mà khôn thì ai sẽ hơn ai ? Người giàu mà dại hay thiếu sự khôn ngoan thì làm sao biết giữ và biết dùng của cải, không chóng thì chầy, sẽ bị người ta lừa hay dùng vào những việc không sinh lời, dần dần sẽ hết tiền; có nước đi ăn mày thôi. Còn người nghèo mà khôn, thì biết cách làm, biết cách giữ tiền của và dùng của cải để sinh lời, thì của cải sẽ có nhiều thêm; không ai gạt, không ai lợi dụng được.

     Người còn thế, huống hồ là tiền của mà so với sự khôn ngoan, đương nhiên sự khôn ngoan sẽ hơn hẳn rồi. Tiền của chỉ là đồ vật, vô tri vô giác. Có là tỉ bạc; có giá trị ngàn đô, thì cũng chỉ là đồ vật thôi. Còn khôn ngoan, thì thiên biến vạn hóa, muốn làm cái gì cũng được, cũng thành công; khôn lại thêm khôn.

    Bởi đó ta hãy ham chuộng khôn ngoan hơn mê tiền mê của.

    Đối với tôi, trân châu bảo ngọc, chẳng sánh được được với Đức Khôn Ngoan. Vì vàng trên thế giới, so với Đức Khôn Ngoan cũng chỉ là cát bụi và bạc so với Đức Khôn Ngoan cũng kể như bùn đất” (x. Kng 7,9).

    Như thế nghĩa là khôn ngoan quí hơn cả trân châu bảo ngọc, quí hơn cả vàng, quí hơn cả bạc. Quí hơn đây là quí hơn về giá trị. Có khôn ngoan thì sẽ có trân châu bảo ngọc; có vàng, có bạc. Ta dùng sự khôn ngoan của mình để suy nghĩ và làm việc. Ta sẽ có tiền. Có tiền ta sẽ đi mua trân châu, bảo ngọc; ta đi mua vàng mua bạc. Ngược lại thì không. Tức là dù có trân châu bảo ngọc, dù có vàng , có bạc, cũng không mua được sự Khôn Ngoan đâu.

    Bởi đó ta hãy để ý đến Khôn Ngoan hơn là để ý đến vàng, đến bạc.

    Tôi đã ham chuộng Đức Khôn Ngoan hơn sức khỏe và sắc đẹp; đã quí Đức Khôn Ngoan hơn ánh sáng, vì vẻ rực rỡ của Đức Khôn Ngoan chẳng bao giờ tàn lụi” (x. Kng 7.10).

    Sắc đẹp thì cũng có ngày tàn phai; trẻ thì đẹp đấy, già thì không ai dám nhìn. Càng trau chuốt, bôi son chát phấn bao nhiêu, ngày sau càng hư da mặt, càng xấu xí bấy nhiêu; nói không ngoa “giống như quỉ dạ xoa” vậy. Ca sĩ Thẩm Thúy Hằng là một ví dụ. Trước đây, cô đẹp tuyệt trần, có  bao nhiêu người say mê; bây giờ thì phải bịp mặt lại, ngay cả chính bà cũng không dám soi gương nhìn mặt mình nữa. Rồi, dù cho có là Hoàng Hậu đi nữa, khi chết thân thể cứng đờ, lạnh toát, bao nhiêu vẻ đẹp đã tan thành mây khói. Điều này ai cũng biết, nhưng vẫn có nhiều người ham làm đẹp vẻ bên ngoài hơn là tập đẹp tính, đẹp nết. Các bà, các cô, bỏ bao nhiêu tiền cũng không tiếc để làm đẹp; thế nhưng lại không lo làm đẹp tâm hồn.

    Còn về sức khỏe thì sao đây? Có sức khỏe, mạnh như voi, như cọp mà không có khôn ngoan thì có ích chi. Câu chuyện “Trí khôn của ta đây” đã nói lên điều đó. Con Cọp đã không hiểu tại sao con người bé xíu như thế lại có thể dắt mũi một con bò, một con trâu to lớn như thế. Chính nó lại muốn xem cái “khôn ngoan” của con người, nên đành chịu cho con người trói vào gốc cây. Đúng là ngu hết biết ! Đó cũng là sự khôn ngoan của con người; là trí khôn của con người.

    Là con người, phải có trí khôn, phải có khôn ngoan mới được.

    Cùng với Đức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đã đến với tôi” (Khg 7,11).

      Với Đức Khôn Ngoan, với sự Khôn Ngoan của Chúa ban, ta sẽ làm những việc lành việc tốt; việc công chính, việc công bình, thì mọi sự tốt lành sẽ đến với ta. Ta sẽ sống trong bình an và hạnh phúc. Ta khôn thì ta biết lo chu toàn các việc bổn phận của mình; ta không xía vào chuyện của người khác; ta làm sao cho tốt; làm cho cho thành công. Rồi nếu có người cần giúp đỡ thì ta giúp; không nề hà, không lợi dụng, không lừa gạt, không gian dối.

    Nếu chỉ có sự khôn lỏi, khôn ranh của con người không thì coi chừng, sẽ gặp nhiều “oan trái”; có thể là có nhiều tiền, nhiều của; được ca tụng, hoan hô, nhưng không có bình an, không có hạnh phúc trong tâm hồn đâu. Ta mà đi nói hành nói xấu người khác; ta đi lợi dụng, lừa gạt người ta, ta đâu có được sự bình an và hạnh phúc đâu.

    Hãy dùng sự khôn ngoan của con người trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sẽ đem lại bình an và hạnh phúc trong tâm hồn.

    Dầu vậy, vào cuối đời, vua Sa-lô-mon đã bị mê hoặc, đã sa ngã không đẹp lòng Chúa. Vì Vua đã không theo lề luật Chúa và đã bỏ Chúa. Thật là uổng phí cho một con người mệnh danh là “khôn ngoan”. Thế mới hay, chính Thiên Chúa mới là nguồn mạch sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan của con người được ví như một cái bình ắc-qui vậy. Bình ắc-qui thì có ngày sẽ hết điện, nó phải được nạp điện, phải được sạc lại mới dùng được. Sự khôn ngoan của con người chúng ta cũng thế, cũng phải luôn nối kết với sự khôn ngoan của Chúa, qua việc cầu nguyện. Nếu không có ngày sẽ hết điện, sẽ chẳng dùng vào việc gì; con người của ta có ngày sẽ ra hư đốn, băng hoại và đại bại. Bao nhiêu công sức, bao nhiêu cố gắng đều đổ xuống sông, xuống biển hết. Tay trắng vẫn hoàn trắng tay.

    Bởi đó ta phải để ý, phải lo sạc điện, lo sạc “khôn ngoan” cho bình ắc-qui khôn ngoan của mình, đừng để cho nó hết điện, hết khôn ngoan bao giờ.

    Cách sạc điện tốt nhất đó là thực hành Lời Chúa. Lời Chúa chính là sự khôn ngoan của Chúa. Khi ta nghe và thực hành Lời Chúa, ta sẽ có sự khôn ngoan của Chúa và sạc thêm cho bình ắc-qui khôn ngoan của ta. Nếu ta nghe Lời Chúa mà không hiểu, học hỏi Lời Chúa; ta phải nghe giảng; ta phải cầu nguyện, phải suy niệm để hiểu ý nghĩa. Khi hiểu rồi, ta sẽ đem ra thực hành trong đời sống của mình. Càng sống Lời Chúa bao nhiêu, ta sẽ càng khôn ngoan bấy nhiêu. Đây đích thực 100% là sự Khôn Ngoan của Chúa, chứ không phải của người đời.

    Do đó, ta phải đọc, nghe, học và thực hành Lời Chúa luôn.

    Sự khôn ngoan rất cần thiết cho đời sống của con người chúng ta. Chúng ta không chỉ cần sự khôn người của con người, mà nhất là ta còn cần đến sự khôn ngoan của Chúa nữa. Có sự khôn ngoan của con người, ta sẽ có tiền, có của, có thành công. Có sự khôn ngoan của Chúa, ta sẽ có bình an, hạnh phúc và mọi sự tốt lành. Vậy ta hãy ra sức để có hai sự khôn ngoan này. 

    Về mục lục

    .

    HÂM HẨM CHẲNG NÓNG CHẲNG LẠNH

    JM. Lam Thy

    Bài đọc 1 hôm nay (CN.XXVIII/TN-B – Kn 7, 7-11) trich sách Khôn Ngoan, trình thuật lời của Sa-lô-môn nói về Đức Khôn Ngoan. Theo ý kiến người Do Thái, Sa-lô-môn nổi tiếng thông minh nhất thời. Không phải tự ông có sự khôn ngoan vượt bực ấy, mà chính là do ông đã xin cùng Thiên Chúa và Người đã thương ban cho ông vì ông biết quý trọng sự khôn ngoan hơn hết mọi sự ở đời. Truyền thuyết cho rằng khi mới lên ngôi, Sa-lô-môn đã đến Ga-ba-ôn, một thánh điện nổi tiếng thời bấy giờ. Ông dâng rất nhiều tế vật lên Thiên Chúa. Người đã hiện ra với ông và hỏi ông xin gì? Ông khiêm tốn thú nhận mình còn trẻ trung mà phải cai trị một dân tộc rất “đông đúc”; nên ông cầu xin Thiên Chúa ban cho ông một lòng trí biết phân biệt phải trái, biết nghe lời Chúa để cai trị dân. Ðiều Sa-lô-môn xin đã đẹp ý Chúa và ông đã nhận được ơn khôn ngoan.

    Nói đến khôn ngoan, ai cũng liên tưởng tới quan niệm cho rằng con người sống ở đời thường được chia làm 2 hạng: Khôn ngoan và khờ dại. Kẻ khôn ngoan là kẻ biết chọn cho mình những đìều lợi (cả tinh thần lẫn vật chất), còn những người được cho là khờ dại là những người ngu ngơ, ngờ nghệch trong mọi tình huống và thường chịu đủ thứ thiệt thòi. Tuy nhiên, trong cuộc sống nhiều khi những người ngu dại lại được sống một cuộc sống yên ổn, an bình (“ngu giả an chi”, “Ngu si hưởng thái bình” – thành ngữ), còn những người khôn ngoan thì chẳng bao giờ tâm hồn được yên ổn, cuộc sống vật chất có thể vinh hoa phú quý, nhưng tinh thần luôn bị giằng xé chao đảo vì tính toán, lo toan. Vì thế nên nhiều khi nhìn lại mình, đành chẹp mịêng buông một câu chán chường “Biết ai là dại, biết ai khôn!” (Trần Tế Xương), thậm chí còn muốn quay về với cái dại (an nhàn) hơn là cái khôn (tranh danh đoạt lợi): “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn người tới chốn lao xao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).

    Ca dao Việt Nam có câu: “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà, Lường thưng, tráo đấu, chẳng qua đong đầy”. Câu này khuyên con người nên ăn ở thật thà, đừng theo những người dùng sự khôn ngoan để lừa lọc người khác, thu lợi cho mình, nhất là trong việc giao dịch, mua bán: Dùng những đồ dùng đong gạo {thưng} hay đong thóc {đấu} thiếu cân lượng để lường gạt (“lường thưng, tráo đấu”); cũng giống như kiểu mài quả cân {cân xách tay} cho nhẹ bớt hoặc sửa kim đồng hồ {cân bàn) ngày nay người ta hay sử dụng. Và như vậy thì làm sao so sánh được với những người thật thà, chất phác (vốn được coi là khờ dại).

    Quả thực đã không thiếu những kẻ tự cho mình là khôn ngoan khi dùng mưu này, chước nọ lừa dối người khác để trục lợi cho mình. Họ đã quên mất một điều khi dùng mưu mô lường gạt người khác thì cũng chính là lúc mình tự lừa dối mình (“Còn hạng người xấu xa và bịp bợm sẽ ngày càng xấu hơn, họ vừa lừa dối, vừa bị lừa dối” – Tm 3, 13;  “Đừng để ai lấy lời hão huyền mà lừa dối anh em, chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống những kẻ không vâng phục.” – Ep 5, 6). Hoá cho nên “thật thà là cha quỷ quái”. Cuối cùng thì sẽ trở nên phân vân không biết nên khôn ngoan hay khờ dại và trở thành một thứ dở dở ương ương, lơ lửng con cá vàng.

    Kẻ viết bài này hồi nhỏ thường được thân phụ lấy tục ngữ, ca dao ra răn dạy sau những trận đòn nhừ tử: “Khôn cho người ta dái (nể sợ), dại cho người ta thương, (đừng có) dở dở ương ương cho người ta ghét”. Lớn lên, cứ thắc mắc hoài không hiểu mình khôn hay dại, chẳng lẽ lại cứ lơ lửng con cá vàng “dở dở ương ương”? Về già, được tiếp cận nhiều với Lời Chúa trong Thánh Kinh, lại gặp một câu trong sách Khải Huyền khiến tâm thần bấn loạn: “Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3, 16).

    Ôi chao! Ước nguyện được ở trong Chúa mà sống đến độ Người muốn “mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” thì quả là… hết biết! Thầm nghĩ nếu quả thật mình cứ “dở dở ương ương” thì chắc chắn mình sẽ giống như những người “hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh” trong Hội Thánh Lao-đi-ki-a. Bèn đề ra một châm ngôn sống và quyết tâm thực hiện như lời khuyên của Thánh Phao-lô: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối.” (Ep 5, 15-16); “Đừng ai tự lừa dối mình. Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật.” (1Cr 3, 18).

    Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 10, 17-30) trình thuật về một thanh niên giàu có khôn ngoan. Cái khôn ngoan của anh là đã nhận ra Đức Giê-su là “Thầy nhân lành” và cầu xin Người chỉ cho phương cách tìm được sự sống đời đời. Đức Giê-su trắc nghiệm anh về cuộc sống qua những điều răn, anh thực tâm trả lời: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ.” Vì thế, “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”. Tuy nhiên, khi Đức Ki-tô nói: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.”, thì “Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” Xét cho cùng, anh nhà giàu vẫn khư khư ôm lấy cái khôn ngoan của loài người. Anh đã khôn ngoan mới trở nên giàu có ở cuộc sống trần thế. Anh vẫn khôn ngoan muốn tìm đến với Thầy nhân lành để có được sự sống vĩnh cửu. Tuy nhiên, anh lại muốn ôm lấy cả hai, nên anh trở thành người “hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh”.

    Quả đúng là “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại” (Lc 16, 8). Và cũng vì không thể chọn cả hai, nên anh nhà giàu sa sầm ngay nét mặt, bỏ đi một nước. Anh đã phải đối diện với một chọn lựa gay go; mà trong đó, anh chỉ được chọn một trong hai – hoặc sự giàu sang ở đời này, hoặc sự sống vĩnh cửu đời sau – chớ không thể chọn cả hai. Anh đã tìm đến với Đức Ki-tô, chứng tỏ anh cũng muốn có một cuộc sống vĩnh cửu tốt đẹp. Sở dĩ anh bỏ đi một nước vì cái sự sống đời đời anh chỉ mới nghe nói chớ chưa thấy được tận mắt (“thực mục sở thị”), còn sự giàu sang ở đời này anh đã nắm chắc trong tay. Giữa một cái thực tại nhãn tiền với một cái viễn tượng mơ hồ, thì – theo sự khôn ngoan của loài người – ai cũng chọn hiện thực, đó cũng là lẽ thường tình.

    Và cũng chính những kẻ từng cho mình là khôn ngoan như vậy, đã cười nhạo các thánh “Tử vì Đạo” là những kẻ khờ dại. Họ cho rằng chỉ cần khôn ngoan bước qua (thậm chí có thể đạp lên) cây thập tự bằng gỗ vô tri vô giác, thì sẽ có một cuộc sống “an an tự tại”. Vậy mà các thánh Tử vì Đạo lại không muốn, mà đi chọn lấy cái chết nhục nhã như thế, thì thật là khờ dại! Phải chăng họ chính là những kẻ mà Thánh Phao-lô nói đến trong thư gửi tín hữu Ti-tô (“Thật vậy, có nhiều kẻ bất phục tùng, nói năng rỗng tuếch, lường gạt, mà đa số là những kẻ được cắt bì.” – Tt 1, 10). Ôi chao! Khôn hay dại, dại hay khôn đây?

    DẠI KHÔN

    “Thế sự đua nhau nói dại khôn,

    Biết ai là dại, biết ai khôn?

    Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,

    Dại chốn văn chương, ấy dại khôn.

    Này kẻ nên khôn đều có dại,

    Làm người có dại mới nên khôn.

    Cái khôn ai cũng khôn là thế,

    Mới biết trần gian kẻ dại khôn.”

    (Trần Tế Xương).

    Quả thật “Đời là thế, thế thời phải thế! Cuộc trần ai, ai dễ biết ai?” (Đối đáp giữa Đặng Trần Thường và Ngô thì Nhậm). Đứng trước một chọn lựa gay go như trên, ai chẳng muốn chọn sự khôn ngoan, nhưng với Ki-tô hữu thì nên biết rằng “sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng: Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng.” (1Cr 3, 19); và vì thế nên “hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối.” (Ep 5, 15-16).

    Một cách cụ thể là đừng phân vân để rồi trở thành một thứ “dở dở ương ương, hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh”, mà phải dứt khoát từ bỏ tất cả những gì theo sự khôn ngoan của thế gian, để chọn lấy sự khôn ngoan như Lời Chúa dạy. Cũng đừng lo sợ khi sẵn sàng từ bỏ tất cả thì sẽ phải mất tất cả những thứ đó. Ngược lại, khi dứt khoát từ bỏ tất cả để đi theo Chúa, thì lại được lời lãi gấp bội không những ở đời này, mà còn có được sự sống vĩnh cửu ở đời sau (“Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.” – Lc 18, 29-30)

    Không còn nghi ngờ gì nữa, mà cũng chẳng nên do dự, bởi “vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống” (Gc 1, 6). Do dự thì chắc chắn sẽ trở nên một thứ “hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, dở dở ương ương, ấm ớ hội tề”. Hãy dứt khoát chọn cho mình hoặc sự khôn ngoan theo thói đời để trở thành điên rồ trước mặt Thiên Chúa, hoặc khờ dại, điên rồ theo cách đánh giá của thế nhân, để có được sự khôn ngoan đích thực (“Đừng ai tự lừa dối mình. Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật.” – 1Cr 3, 18). Vâng “Thần khí phán rõ ràng: vào những thời cuối cùng, một số người sẽ bỏ đức tin mà theo những thần khí lừa dối và những giáo huấn của ma quỷ.” (1Tm 4, 1). Cần phải biết cầu xin Thiên Chúa ban Thần Khí soi sáng và dẫn dắt tìm đến với “Con Đường + Sự Thật + Sự Sống” Giê-su Ki-tô qua Lời Hằng Sống, để rồi “hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Gc 1, 22).

    Ôi! Lạy Chúa! Con luôn biết rằng con người của con thật yếu đuối mỏng giòn, nhưng vẫn tự coi mình là khôn ngoan khi sống một cuộc sống khép kín, chỉ nghĩ cho riêng mình và thu tích những gì có lợi cho bản thân, mà không hề nghĩ tới anh em khó nghèo, tật bệnh. Trong khi đó, con lại luôn mong muốn khi nhắm mắt lìa đời được hưởng một cuộc sống vĩnh cửu. Sự ích kỷ và hèn nhát đã khiến con trở thành một thứ dở dở ương ương, hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, đã không muốn mất đi sự sống đời đời, mà cũng chẳng từ bỏ những gì thuộc về thế gian. Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí cho con, soi sáng và hướng dẫn con biết sẵn sàng và đủ dũng khí từ bỏ tất cả những gì thuộc về trần thế như cánh phù dung sớm nở tối tàn; mà biết tìm về với sự sống đời đời nơi Trái Tim Nhân Lành của Chúa!

    Ôi! Lạy Chúa! Xin cho con luôn biết “cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại” (Ep 5, 15-16) để ngày sau được diễm phúc hưởng tôn nhan Chúa trên cõi phúc truờng sinh. Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng, ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN XXVIII.TN-B).

    Về mục lục

    .

    KHO BÁU TRÊN TRỜI

    Fx Đỗ Công Minh

    Bài Tin mừng hôm nay, chúng con được theo dõi một cuộc gặp gỡ và đối thọai của Đức Giêsu Kitô với một chàng thanh niên đạo đức. Cuộc đối thọai cho thấy Chúa  luôn đi đến với mọi người, lúc trong đêm tối như ông Nicôđêmô, lúc ở một ngôi làng như với một thiếu phụ bên bờ giếng Gia Cóp, lúc thì với một viên sĩ quan đến xin Người chữa lành bệnh cho con của ông, lúc với người đàn bà bị băng huyết nhiều chục năm có lòng tin tuyệt đối, nên được Chúa chữa lành. Và lần này, với chàng thanh niên “đã tuân giữ những lề luật từ khi còn tấm bé”, một người được Chúa tỏ lòng yêu qúi ngay buổi đầu gặp gỡ. Anh hẳn đã nghe biết về Chúa từ lâu và mong muốn được nghe lời chỉ dạy của Người, hầu được hạnh phúc bất diệt ( được sống đời đời ). Chính vì vậy, anh đã thưa với Chúa bằng lời tung hô:” Lạy Thầy nhân lành “, một cách chúc tụng, theo tâm lý học đó là một cách giao tiếp tế nhị, khôn ngoan; một cách gây thiện cảm với người gặp gỡ lần đầu tiên. Chúa Giêsu nhắc khéo anh: ”Sao anh nói tôi là nhân lành ? “ và Người chỉ cho anh rằng chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng nhân lành. Sau  khi đã nhắc lại cho  anh một số điều răn dạy trong đạo, chàng thanh niên đã tự nhận là người tuân giữ các lề luật. Chúa đã nhắc anh chỉ còn thiếu có một điều, đó là thực hành những điều anh đã học, đã biết trong cuộc sống: “ Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi “. Nhưng anh đã sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi .

    Thái độ bỏ đi của anh, Chúa không hề tức giận, không lên án. Nhưng Người TIẾC cho anh, một con người có nền tảng luân lý, đạo đức nhưng lại không bén rễ sâu trong cuộc sống. Anh có nhiều của cải, những của cải ấy là chính đáng do anh tạo lập được. Anh đã từng tuân giữ lề luật trong đạo, tức là không trộm cắp, lừa dối, gian lận; không làm hại ai để thu tích của cải, để làm giàu bất chính. Anh giàu có, điều đó không phải là một cái tội. Chúa tiếc cho anh vì anh chỉ lo tích lũy cho bản thân, gia đình mình mà không quan tâm đến những người  khốn khổ bên cạnh anh. Được Chúa chỉ dẫn con đường  nên trọn lành, anh đã không dám mạnh dạn bước theo vì sợ mất đi những gì mình đang có. Anh sợ rằng lời Chúa nói với anh là không có thực? Một kho tàng ở trên trời là những gì? có đảm bảo cho anh một cuộc sống thảnh thơi như hiện nay trên bước đường đi theo Chúa? Anh đã không tin tưởng vào Lời Chúa  giải đáp cho. Anh không có đủ can đảm để tiếp tục cuộc đối thọai, vì cho rằng điều Chúa dạy mà làm theo thì sẽ không biết “sẽ ra sao ngày sau “. Anh không hiểu rằng nếu tiếp tục nán lại lắng nghe Chúa nói, anh sẽ đón được những lời sau :”Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ ở đời này, lại không nhận  được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ,con hay ruộng đất  gấp trăm, cùng với sự ngược đãi , và sự sống vĩnh cửu đời sau “.

              Lạy Chúa,

    Đã bao lần trong cuộc đời con xin gặp gỡ Chúa để được nghe lời Người chỉ dạy, rồi con cũng đã bỏ đi. Con không tin thực vào lời Chúa, không dám nán lại trong tình yêu Chúa. Con chưa đủ can đảm dứt bỏ đi những gì con đang có, những thói quen, những dễ dãi của bản thân.  Chính vì vậy con vẫn ở xa lòng Chúa yêu thương, con  luôn cảm thấy lòng mình bất an, lo sợ. Cuộc sống thiếu đi niềm vui, niềm hy vọng, sự phấn khởi.

    Xin Chúa  giúp con nhìn lại cuộc đời mình, để  con có thể tìm ra được một kho tàng đích thực trên trời. AMEN.

    Về mục lục

    .

    HUYỀN NHIỆM ƠN GỌI

    Lm. Vũ Xuân Hạnh

    Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba phần, được coi là ba phần khác nhau nhưng thánh Marcô xếp chúng lại gần nhau để làm thành một nội dung duy nhất. Phần đầu (Mc 9, 17-22) là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người thanh niên giàu có. Người thanh niên này có một đời sống thật tốt. Chính vì thế, anh ta được Chúa Giêsu “đem lòng yêu mến”, Người MỜI GỌI anh theo mình. Nhưng trước khi làm môn đệ của Chúa, anh phải là người nghèo, cùng trở nên nghèo với những ai nghèo khó, mới được, vì thế, anh “hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo”, rồi theo Chúa. Nhưng đối với anh, một điều kiện xem ra quá khắc nghiệt và cũng chưa từng bao giờ mường tượng như thế, anh không thể làm được. Anh đã thua cuộc, đã rút lui.

    Phần thứ hai (Mc 9, 23-27) như được rút ra từ phần thứ nhất. Sau khi nói chuyện với người thanh niên giàu có, bây giờ nhân cơ hội này Chúa dạy hãy sống siêu thoát, đừng để lòng mình dính bén với của cải vật chất. Muốn siêu thoát phải sống tinh thần nghèo khó, phải từ bỏ của cải vật chất, vì “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước trời” (Mc 10, 25). Khi ai đó dám chấp nhận sống siêu thoát như thế, họ mới thực sự là người nghèo, nghèo toàn diện: tinh thần, vật chất. Vì chỉ có người nghèo mới có thể ĐÁP TRẢ ƠN GỌI của Chúa. Và lúc ta trở nên người nghèo để đáp trả ơn gọi, đó cũng chính là lúc ta bắt đầu SỐNG ƠN GỌI.

    Phần thứ ba (Mc 10, 28-31), cũng trong mạch văn nói về sự từ bỏ để sống ơn gọi theo Chúa, Chúa Giêsu cho ta biết một KẾT QUẢ cuối cùng của người bước theo Chúa qua câu trả lời cho câu hỏi khá tế nhị: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy?” (Mc 10, 28) của thánh Phêrô. Người nói: Không ai bỏ mọi sự đi theo Thầy mà “ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương, cùng với sự bắt bớ, và đời sau được sự sống vĩnh cửu” (Mc 10, 19 – 31).

    Theo chiều hướng suy nghĩ về ơn gọi dựa trên Lời Chúa như thế, tôi muốn nói về HUYỀN NHIỆM của ơn gọi, và mời bạn cùng tôi tiếp tục nhìn vào ơn gọi của chính mình, nhất là những ai đang sống lý tưởng tu trì, để một lần nữa khám phá lại lòng Chúa Giêsu yêu ta khi mời gọi ta dấn bước theo Người, trực tiếp sống ơn gọi mà chính Người đã nhận lãnh từ nơi Chúa Cha. Qua đó ta càng ý thức sâu xa hơn niềm hãnh diện, sự cao cả và hạnh phúc về ơn gọi của mình, để mỗi một ngày, ta biết vun bồi cho ơn gọi ấy đầy đặn hơn, xinh tươi hơn, ý nghĩa hơn…

    Có một lần, trước khi bắt đầu bài nói chuyện cùng một số bạn trẻ nam dự tu vào Đại chủng viện, tôi đã đặt câu hỏi cho các bạn thế này: “Theo anh em, anh em nghĩ, ơn gọi là gì?” Và chính tôi đã tự đưa ra câu trả lời: “Nếu ai đó nghĩ rằng, ơn gọi là cái đích phải đạt tới cho bằng được, người đó sẽ thất bại. Có khi do chính suy nghĩ ấy, ta tự mình chuốc lấy sự đau buồn. Vì cứ bình thường mà nói, không phải bất cứ cái gì ta muốn đều có thể đạt được, huống hồ ơn gọi thuộc chiều kích thánh thiêng, không phải chỉ có con người muốn mà trước hết là do ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng nếu ta biết rằng ơn gọi là thánh ý Thiên Chúa dìu đưa từng giây từng phút trong cuộc đời của mình, còn ta là kẻ thụ nhận và từng lúc, từng giai đoạn trong cuộc đời mình, ta sẽ phải xin vâng theo thánh ý của Người, ta phải phó thác vận mạng đời mình cho Người, thì lòng ta sẽ bình an, sẽ cảm nhận hạnh phúc, niềm hy vọng sẽ vẫn không tắt dẫu lý tưởng ơn gọi có đạt được hay không”.

    Đưa ra câu hỏi và trả lời như thế, có lẽ sẽ khó hiểu cho người ngoài cuộc. Bạn có biết, tôi đang nói đến hoàn cảnh đặc thù của ơn gọi tại chính nơi tôi đang sống? Rất nhiều trường hợp, một thanh niên đã được xét là đã đủ hạnh kiểm, đủ khả năng, đủ tư cách để được vào Đại Chủng viện, phải dừng lại vì một vài lý do tế nhị nào đó. Có nhìn thấy những giọt nước mắt đau buồn, tiếc xót của những bạn trẻ ấy, bạn mới có thể hiểu điều mà tôi đã nói: huyền nhiệm ơn gọi. Huyền nhiệm ấy đã thúc bách, đã nung đốt tâm hồn của biết bao nhiêu người trẻ. Với hai năm mới có một đợt tuyển vào Đại Chủng viện, và mỗi đợt như thế, số người được tuyển cũng rất giới hạn, nhưng họ vẫn sẵn sàng chờ đợi cho đến lúc có tên mình dù phải xếp hàng chờ đợi trong nhiều năm liền. Tất cả những người trẻ muốn đi tu đều đã qua đại học. Có người đang làm bác sĩ, giáo sư, thẩm phán, kiến trúc sư, kỷ sư… nghĩa là họ có quyền mơ và xây dựng cho mình một cuộc sống tiện nghi, giàu có. Nhưng các bạn đã dám từ chối tất cả để chỉ đạt được một điều duy nhất mà thôi: theo Chúa Kitô trong ơn gọi tu trì. Phải hy sinh nhiều bao nhiêu, phải vượt qua khó khăn nhiều bao nhiêu, bị người đời ghét bao nhiêu, thì khi được thực hiện lý tưởng đời mình, niềm vui càng lớn, hạnh phúc càng trào dâng bấy nhiêu. Ngược lại, với những chua cay và khó khăn như thế, cuối cùng vẫn bị từ chối, vì thế, nỗi đau như muốn xé nát tâm hồn các bạn là điều hợp lý đấy thôi. Bởi vậy tôi hiểu, hiểu lắm những giọt nước mắt đáng yêu, đáng quý của những bạn trẻ bị chối từ. Huyền nhiệm của ơn gọi thật lạ lùng quá đỗi. Nó là một hấp lực lớn, không phải chỉ có hôm nay, nhưng là hàng ngàn năm lịch sử, đã làm rung động triệu triệu con tim của biết bao nhiêu người trẻ. Và Chúa Kitô muôn đời vẫn là lý tưởng mà lớp lớp người đã chọn để theo và sống.

    Bạn ạ, ơn gọi là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa yêu thương trao ban cho con người. Dù đến từ Thiên Chúa, nó vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của con người. Mời gọi để ta bước theo Chúa, đó là việc của Chúa. Nhưng đáp trả ơn gọi hay không, hoặc đáp trả như thế nào là chuyện của ta. Và một khi đã đáp trả, nghĩa là đã chọn lựa bước theo Người, ta phải sống ơn gọi. Vì ơn gọi dù đã quang trọng ở ngay việc ta đáp trả, nhưng vẫn không quan trọng cho bằng nỗ lực sống ơn gọi ấy từng ngày sau lời đáp trả của chính bản thân. Nói cách khác, Chúa mời gọi ta bước theo Người và ta đã đáp bằng lời “xin vâng”, nhưng như thế chưa đủ, điều cần thiết là phải sống lời xin vâng ấy bằng cả cuộc đời của mình.

    Nếu Tin Mừng cho ta biết người thanh niêu giàu có nào đó, đã không dám dấn mình cho ơn gọi, thì lịch sử của Giáo Hội, mãi cho đến hôm nay, đó vẫn còn là thực tế. Nhưng tôi tin thực tế ấy chắc không nhiều. Ngược lại ơn gọi trên quê hương tôi thật dồi dào, thật phong phú. Trong hoàn cảnh và điều kiện còn đầy khó khăn cho những ai dám hy sinh bước theo ơn gọi, tôi nhận ra nơi các bạn trẻ như đã nói trên, là những người quá đỗi giàu có. Họ nghèo tiền của, không có địa vị xã hội, nhưng họ mới chính là những người giàu có. Trước hết họ giàu ơn Chúa, giàu nghị lực, giàu lòng quả cảm, giàu đời sống nội tâm, và giàu trên mọi thứ giàu: đó là đạt tới con đường Chúa Kitô đã đi. Một khi đạt tới sự giàu sang như thế, phải chăng họ không dừng lại bằng cách đáp trả lời “Xin vâng” trên môi miệng, nhưng đã làm cho tiếng “Xin vâng” thành lời của sự sống mà họ đã sống từng giây phút của cuộc đời mình!!

    Nếu đặt trong khung cảnh của bài Tin Mừng mà tôi vừa phân tích bên trên để chỉ ra bốn tiến trình: CHÚA MỜI GỌI – CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ ƠN GỌI – CON NGƯỜI SỐNG ƠN GỌI – KẾT QUẢ cuối cùng của người bước theo Chúa, tôi vui mừng thấy những bạn trẻ muốn dấn mình cho ơn gọi trên quê hương tôi đã thực sự nên thánh ngay trong chính ơn gọi của họ. Tận trong tâm hồn, các bạn trẻ ấy đã lắng nghe tiếng Chúa mời gọi. Và cũng sâu thẳm nơi tận tâm hồn, họ đã đáp trả tiếng gọi ấy. Không một chút ồn ào, không hề lên tiếng thốt ra một lời khoe mẻ, không một hành động khoa trương nào dù nhỏ nhất, họ đã âm thầm hiến dâng cuộc đời của họ, âm thầm hy sinh, âm thầm gánh chịu sự bị chối từ, can đảm sống nghèo, sống dứt bỏ mọi vướng bận cản trở họ tiến về phía Chúa Kitô… Tất cả những điều đó đủ làm bằng chứng lớn lao cho ta thấy họ đã sống ơn gọi từng ngày trong bầu nhiệt huyết trẻ trung của họ. Tin rằng Chúa đã nhận và ban cho họ những kết quả lớn lao còn ở phía trước như Người đã hứa.

    Bạn ạ, suy nghĩ như thế về những người anh em của chúng ta, bạn và tôi thấy gì, áp dụng gì cho mình? Ai cũng có một sứ mạng để sống giữa đời. Sứ mạng ấy là chính ơn gọi Chúa trao cho bạn và tôi. Rất cụ thể: Bạn là công nhân, bạn là nông dân, là dân chài lưới, hay là người phá đất vỡ hoang… Hãy sống hết mình, hãy yêu mến đến tận cùng những gì bạn đang có trong tay, và hãy thánh hiến tất cả bằng một đời sống đức tin. Được như thế, đó là dấu chứng cho thấy bạn đang sống ơn gọi Chúa trao và nên thánh trong chính ơn gọi của bạn.

    Tôi muốn nói với bạn về niềm vui mà Chúa vừa ban cho chúng ta: Đức Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được cất nhắc lên tước vị Hồng y. Cách đây năm năm, ngày mà Đức Hồng y lãnh chức vụ Tổng Giám mục, ngài đã dâng một lời nguyện rất thắm thía. Nhân niềm vui chan chứa hôm nay, tôi muốn nhắc lại lời cầu nguyện ấy để chúng ta cũng biết tự tra vấn lòng mình như chính Đức Hồng y đã từng làm: “Dù bạn run sợ, lẽ nào bạn không đứng lên”. Nhờ đó, ta cũng sẽ làm một cuộc “Đứng lên” đáp lại ơn gọi của Chúa:

    Thiên Chúa cần một người cha cho dân của mình, Người chọn một cụ già. Thế là Abraham đứng lên.

    Thiên Chúa cần một người phát ngôn, Người chọn một anh chàng vừa nhút nhát vừa có tật nói ngọng. Thế là Môsê đứng lên

    Thiên Chúa cần một thủ lãnh để hướng dẫn dân mình, Người chọn một cậu thanh niên nhỏ nhất, yếu nhất trong nhà. Thế là Đavit đứng lên.

    Thiên Chúa cần một tảng đá làm nền cho ngôi nhà Giáo Hội, Người chọn một anh chối đạo. Thế là Phêrô đứng lên.

    Thiên Chúa cần một gương mặt để diễn tả tình yêu nhân loại, Người chọn một cô gái điếm. Đó là Maria Mađalêna.

    Thiên Chúa cần một chứng nhân để hô lên sứ điệp của Người, Người chọn một kẻ chuyên bắt đạo. Đó là Phaolô gốc thành Tarsô.

    Thiên Chúa cần một ai đó để quy tụ dân và đi đến với những người khác. Người đã chọn bạn. Dù bạn run sợ, lẽ nào bạn không đứng lên?…

    Về mục lục

    .

    ĐỨT RUỘT

    Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Đói thì đầu gối phải bò. Hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ. Có thực mới vực được đạo. Nhiều câu thơ, nhiều ngạn ngữ dân gian như muốn khẳng định rằng cuộc sống con người như mãi long đong, vất vả vì các nhu cầu căn bản để sinh tồn xét như là một sinh vật. Chuyện cơm áo, gạo tiền nó nhũng nhiễu con người mãi không ngơi. Chưa hết, bên cạnh cái trí khôn ý thức về sự cao quý của phận làm người thì cái ý chí tự do lại thúc bách con người tìm kiếm, thủ đắc các như cầu ngày càng cao và đa dạng. Ăn no, mặc ấm vẫn chưa đủ, còn phải ăn ngon và mặc đẹp. Trong cuộc sống, người ta không chỉ trông mặt mà bắt hình dong mà còn thường hành xử theo kiểu đồng tiền đi trước, mực thước theo sau. Cảnh đời tréo ngoe mà không hiếm: “Bần cư náo thị vô nhân vấn. Phú tại sơn lâm hữu khách tầm”.

    Không giới hạn trong tương quan giữa người với người, ngày nay khi có những chuyện bất bình giữa các quốc gia hay tập thể, người ta cũng lại sử dụng đòn chiêu: trừng phạt kinh tế. Đồng tiền dính liền khúc ruột. Để có được sự tự do với tiền của thì dường như không dễ, ngay cả với những người thường lên tiếng trong các lãnh vực đạo đức, tôn giáo. Xin chớ vội trách người thanh niên có nhiều của cải mà Tin Mừng tường thuật. Nếu như giờ này Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Hãy về bán đi tất cả những gì ngươi có mà cho người nghèo, rồi đến mà theo Ta”, thử hỏi có được bao nhiêu người đáp trả dứt khoát và triệt để như thánh Phanxicô Axidi năm nào.

    Người ta dễ dàng chấp nhận với nhau rằng tiền của chỉ là cái góp phần xây dựng hạnh phúc chứ không phải chính là sự hạnh phúc. Người ta cũng dễ dàng đồng thuận với nhau rằng tiền bạc chỉ là tên nô lệ chứ không phải là ông chủ. Người ta không chối cãi sự thật là tiền của mang tính “phù hoa” và nhất là nó không thể theo chúng ta đi vào huyệt lạnh. Thế nhưng, nói thì dễ nhưng sống thì không dễ chút nào. Không ai muốn tự chặt đứt khúc ruột của mình cả. Chẳng ai muốn từ bỏ một thứ sức mạnh vốn rất hiệu nghiệm trong rất nhiều trường hợp đó là đồng tiền, được ví như “là tiên là Phật, sức bật của tuổi trẻ, sức khỏe của tuổi già, là cái đà của danh vọng, cái lọng che thân…”.

    Dù là một kiểu nói ngoa ngữ, phóng đại để muốn nhấn mạnh, nhưng chúng ta không thể không giật mình trước lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Đàng” (x.Mc 10,23-26). Ngay các tông đồ cũng kinh ngạc và nói với nhau: Thế thì ai có thể được cứu rỗi, nghĩa là được hưởng phúc Thiên đàng? Khi giải đáp thắc mắc cho các tông đồ rằng đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được, Chúa Giêsu muốn khẳng định với chúng ta nhận ra sự thật này: hạnh phúc Nước Trời tiên vàn là quà tặng Thiên Chúa trao ban chứ không phải do công sức của loài người chúng ta.

    Đã hơn một lần Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta về mối nguy cơ của tiền bạc khi nó được phong làm thần thánh: “Không được làm tôi hai chủ …”(x.Mt 6,24; Lc 16,13). Nếu có tiền mua tiên cũng được, thì có thể mua được cả nước thiên đàng! Khi chiều theo chước cám dỗ đề cao sức mạnh của đồng tiền thì người giàu có bị cám dỗ xem hạnh phúc nước trời là điều mình có thể mua, có thể trao đổi bằng công sức hay tiền bạc.

    Ít có ai phủ nhận nội hàm một ngạn ngữ Trung Quốc rằng tiền bạc có thể mua được đồng hồ quý nhưng không mua được thời gian; tiền bạc có thể mua được giường sang, nệm êm, chăn ấm, nhưng không mua được giấc ngủ ngon; tiền bạc có thể mua được cao lương mỷ vị nhưng không mua được sự ngon miệng… Thế nhưng trong thực tế chúng ta lại hành xử theo kiểu như tiền bạc là nền tảng, là nguyên nhân đem lại hạnh phúc. Nếu đã xác tín rằng hạnh phúc đích thật là hạnh phúc nước trời, tiên vàn là ân ban của Thiên Chúa, thì những gì chúng ta thu được mà chủ yếu bằng việc trao đổi, mua bán bằng của cải, tiền bạc chắc chắn không phải là hạnh phúc vĩnh cửu. Với luận lý này, chúng ta mới hiểu lời khẳng định của Đấng Cứu độ: “người giàu có khó vào Nước Trời hơn cả con lạc đà chui qua lỗ kim”. Lời Chúa thật sắc bén hơn cả thanh gươm hai lưỡi! (x.Dt 4,12).

    Ngoài ra chúng ta cũng cần chân nhận hiện thực này: khi đã đủ đầy, sung túc của tiền thì con người rất dễ bị biến tướng, bị tha hóa. Vốn là một trong những thiện hảo tự nhiên Chúa dựng nên và ban tặng, nhưng của cải, tiền bạc rất dễ trở thành miếng mồi nhử của thần dữ như trái táo trong vườn địa đàng khiến chúng ta đi trệch hay đi ngược với huấn lệnh Chúa truyền. Không chỉ có chuyện “no cơm ấm cật, dậm dật khắp nơi” mà các mối tương quan cũng dễ bị sứt mẻ do bời của cải tiền bạc. Tình bác cháu như Abraham với Lót, tình anh em ruột thịt như Êsau và Giacóp cũng đã khó bền vì của cải. Thánh Kinh ghi cùng một câu trong cả hai trường hợp: “họ có quá nhiều tài sản nên không thể ở chung với nhau được” (St 13,6; 36,7). Một khi đã không thể “ở chung” với nhau được thì làm sao có thể ở cùng Thiên Chúa, Đấng là Cha của hết mọi người? Và biết bao nhiêu chuyện chẳng hay, làm nứt vỡ tình mẹ cha, nghĩa huynh đệ… vẫn xảy ra trước mắt chúng ta mà nguyên nhân chính là vì tranh chấp của cải. Thánh Tông đồ dân ngoại đã nói với môn đệ Timôtê rằng: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (Tim 6,10).

    Trong kiếp lữ thứ này, chúng ta không thể sống như thiên thần, chẳng màng gì đến chuyện vật chất của tiền, vì không chừng sẽ rơi xuống thành loài vật (Pascal). Vấn đề đặt ra đó là phải biết làm chủ vật chất, tiền bạc cũng như phải biết tự do với nó. Một mẫu gương đáng cho chúng ta noi theo mà Tin Mừng hôm nay ghi lại đó là Phêrô. “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy”. Chúa Giêsu không phản bác nghĩa là Người chân nhận điều ấy. Không phải Phêrô đã vất bỏ mọi sự, của cải vật chất. Nhà của ngài còn đó, thuyền của ngài còn đó…nhưng ngài sẵn sàng trao dâng cho Chúa khi Chúa cần dùng vì lợi ích của tha nhân, sẵn sàng gác nó một bên để lên đường đi rao giảng tin mừng.

    Biết rằng đồng tiền dính liền khúc ruột, tuy nhiên nếu khi khúc ruột ấy là khúc ruột thừa đã bị viêm hay là khúc ruột non dính ung bướu thì không thể không cắt bỏ đi. Nhiều thánh giáo phụ như Hiêrônimô, Âugustinô khẳng định rằng những gì chúng ta đang sở hữu trên mức cần thiết đều là của người nghèo. Ước gì thỉnh thoảng chúng ta biết tập sống anh hùng một chút khi sẵn sàng dâng trao vài trăm ngàn, dăm bảy triệu vì một việc từ thiện nào đó hay vì công cuộc truyền giáo nào đó. Quả là không dễ, nhưng không cái khó nào là không thể vượt qua, nhờ ơn Chúa giúp và quyết tâm của chính chúng ta.

    Về mục lục

    .

    TRAO DÂNG THÂN PHẬN

    Lm. Giuse Nguyễn

    Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã từng chia sẻ trong Thánh lễ khai mạc Năm Đức Tin 2012 như sau: “Đời sống tinh thần của con người ngày hôm nay đang bị sa mạc hóa, năm đức tin như một cơn mưa tưới gội vào sa mạc đó”. Còn Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên, GM. GP. Hải Phòng từng nói: “Xã hội và đất nước Việt Nam hôm nay đang rất cần những chứng nhân của Đức Kitô, Đấng đã đến để kêu gọi con người sống yêu thương và bác ái”, nghĩa là cần những người biết chia sẻ của cải vật chất với người khác. ĐHY.GB. Phạm Minh Mẫn trong một lá thư mục tử gởi cho Tổng Giáo phận Sài Gòn đã từng viết : “Lời tuyên xưng đức tin bày tỏ quyết tâm trong mọi hoàn cảnh, không nghe theo, không chạy theo sự lôi cuốn, quyến rũ, dụ dỗ của ma quỷ, xác thịt, thế gian”. Mà một trong những lôi cuốn, quyến rũ, dụ dỗ của ma quỷ, xác thịt và thế gian là tiền bạc, vật chất. Linh mục nhạc sĩ Dao Kim đã lấy ý trong sách Châm Ngôn để sáng tác bài hát: “Trao dâng thân phận”, trong đó có đoạn: “Con không xin Chúa sang giàu, cũng đừng để con quá nghèo. Vì nếu quá sang giàu con sẽ bỏ quên Chúa. Vì nếu quá đói nghèo, con sẽ liều trộm cắp, làm ô danh Chúa Trời”, để chúng ta thấy những lo toan cho cuộc sống đời này dễ làm chúng ta xa Chúa, như phụng vụ lời Chúa gởi đến chúng ta hôm nay.

    PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

    1. Bài Đọc I: Kn 7, 7-11

    Đoạn sách Khôn Ngoan mà chúng ta vừa nghe nói lên sự khôn ngoan đích thực của người công chính. Trong khi người đời quý chuộng tiền bạc và sự giàu sang, thì người công chính lại xem sự Khôn Ngoan là quý trọng hơn cả tiền bạc, ngọc ngà, châu báu; hơn sức khỏe, sắc đẹp… Ngược lại khi có đức Khôn Ngoan thì người công chính sẽ có tất cả mọi sự may lành, và thậm chí là của cải nhiều đến mức đếm không xuể.

    1. Đáp ca: TV. 89

    Tác giả TV.89 nhận thấy cuộc sống này có giới hạn và đầy dẫy những ưu phiền. Đó không chỉ là nhận định của riêng tác giả, mà còn là sự thật của đời sống chúng ta do hậu quả của tội nguyên tổ. Từ đó, tác giả không xin Chúa cho mình sống lâu, vì sống lâu đến đâu thì cũng phải chết; cũng không xin giàu có, vì giàu cỡ nào, chết cũng chẳng mang theo được gì, nhưng xin cho được no say tình Chúa và vui hưởng lòng nhân hậu của Ngài.

    1. Tin Mừng: Mc 10, 17-30

    Bài Tin Mừng hôm nay được khởi đầu bằng việc có một người đến xin Chúa để được sự sống đời đời. Đức Giêsu nhắc lại cho anh ta những điều răn của Thiên Chúa được Môsê truyền lại. Anh ta nói đã thuộc lòng, đã giữ ngay từ nhỏ rồi. Thấy một người tốt lành như vậy, Đức Giêsu đem lòng yêu mến. Vì yêu mến nên Ngài muốn trước hết cho anh ta được hạnh phúc đời đời, kế đến còn muốn chọn anh ta làm môn đệ của mình nữa, nên Ngài đã đòi hỏi anh ta hành động quyết liệt hơn: “Anh chỉ còn thiếu một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo tôi”. Suýt chút nữa là chúng ta có một tông đồ giàu có rồi nếu anh muốn theo Chúa thực sự. Nhưng “Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi”. Maccô nói rõ lý do: “Vì anh ta có nhiều của cải”.

    Anh ta đang hứng thú để tìm cho mình cái gọi là “Sự sống đời đời”. Còn Đức Giêsu đang phấn khởi vì được tiếp xúc, được hướng dẫn cho một tâm hồn ngay lành. Bỗng hai “cục hứng” bị đứt cái bực vì mớ tài sản kếch xù của anh ta. Có thể nói người thanh niên này chưa thực sự đi tìm hạnh phúc đời đời, thậm chí anh chưa hiểu hạnh phúc đời đời là gì nữa, mà chỉ muốn đi tìm một thứ gì đó để thêm vào tài sản của mình; giàu quá không biết mua gì, nên kiếm gì lạ mua chơi vậy! Cho nên khi bị đòi hỏi phải từ bỏ của cải thì anh đã thất vọng, vì tưởng đâu được thêm vào, ai dè bị mất đi! Đức Giêsu không phải thử thách anh ta, nhưng đó là đòi hỏi của Nước Trời. Nước Trời là quý giá, nhưng không giống như một thứ quý giá bỏ tiền ra mua, mà nó là gia đình của Thiên Chúa dành cho những ai biết sống tình con thảo với Thiên Chúa và huynh đệ với anh em. Từ phụng vụ lời Chúa hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta thái độ phải có đối với tiền của, vật chất.

    THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI CỦA CẢI, VẬT CHẤT

    1. Là đầy tớ tốt

    Trước hết, của cải vật chất là một đầy tớ tốt mà Chúa ban để phục vụ cho cuộc sống của con người. Từ thời cựu ước, những gia đình sung túc là dấu hiệu phúc lành của Thiên Chúa. Ngược lại, khi mất hết tài sản, ông Gióp bị người đời coi như Thiên Chúa đã trừng phạt ông. Đến thời Đức Giêsu, Ngài không chỉ thương mến những người nghèo, mà còn thường xuyên lui tới với những gia đình giàu có như Giakêu, Lêvi; Ngài sẵn sàng đón nhận những giúp đỡ về vật chất của người khác trên bước đường truyền giáo… Cho đến ngày hôm nay, của cải vật chất vẫn là một phúc lành của Thiên Chúa ban. Thành thật mà nói, nhờ của cải vật chất mà người ta bớt lo toan hơn, giúp tâm hồn được thanh thản, bình an, vì cái lo cơm áo gạo tiền chi phối cuộc sống người ta quá nhiều. Nhờ cuộc sống ổn định mà người ta an tâm để thờ phượng Chúa hơn. Có thì giờ đi lễ, rãnh rỗi đi đọc kinh, lần chuỗi… Nhờ có tiền của mà người ta dễ dàng làm việc bác ái hơn: giúp đỡ các họ đạo vùng sâu vùng xa, phát học bổng cho học sinh nghèo, chia sẻ với những người đau khổ, bệnh tật… Nếu những ai biết sử dụng của cải vật chất đúng đắn thì nó là một đầy tớ rất tốt để phục vụ cho hành trình tiến về hạnh phúc đích thực của chúng ta, chứ nó không phải là hạnh phúc đích thực mà chúng ta tìm kiếm.

    1. Là ông chủ xấu:

    Ngược lại, của cải vật chất sẽ là ông chủ xấu cho những ai quá bám víu vào nó, để rồi cuộc đời của họ giống như một cuộc tìm kiếm  của cải vật chất. Kiếm cho thật nhiều, thật nhiều, rồi…chết chứ không biết sử dụng nó để “mua lấy Nước Trời”. Cứ bo bo giữ của mà không biết san sẻ cho người khác. Đó là tình trạng khốn cùng của người thanh niên giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay; thậm chí là của chúng ta khi chạy đến với Chúa chỉ để xin cho được tiền bạc vật chất, mà quên xin cho mình biết sống theo ý Chúa. Tệ hơn nữa là những người bất chấp tất cả để có được đồng tiền: Làm ăn gian dối, làm nghề bất chính, ăn trộm ăn cắp, lường gạt, chiếm đoạt của người khác…

    1. Cái nhìn đúng đắn:

    “Có cũng như không dù không hay là có, chớ để âu lo cho lòng thêm vấn vương”. Đó là điều mà Chúa muốn nhắn gởi đến chúng ta, chính xác hơn là đòi hỏi của Nước Trời. Dù có hay không chúng ta cũng vẫn trao dâng thân phận mình trong vòng bàn tay Chúa. Nhưng đối với những người giàu có thì Chúa nói là “Khó vào Nước Trời hơn”, vì nguy cơ họ xem tiền của là “chúa” của họ rồi, dẫn đến việc họ không cần Chúa nữa. Càng tệ hơn là họ không biết tận dụng điều kiện Chúa ban để thi hành bác ái, chính là nền tảng của đạo chúng ta. Họ cứ tích trữ mà không biết cho đi. Vì vậy đồng tiền của họ là đồng tiền chết.

    Tóm lại, phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay không phải lên án những người giàu, nhưng là nhắc nhở cho những ai có tiền của phải coi chừng kẻo họ có đời này mà mất đời sau. Còn nếu có đời này mà biết tận dụng để có cả đời sau thì quá tốt. Và lời nhắn gởi chung cho tất cả mọi người là hãy biết tin tưởng, phó thác trong bàn tay của Chúa. Đừng để những thứ phù vân trở thành nguy cơ làm mất đức tin của chúng ta, khiến tâm hồn chúng ta trở thành sa mạc. Ngược lại, hãy tận dụng tất cả những phương thế Chúa ban để thể hiện đức tin của mình, một đức tin được xây dựng trên tình bác ái, điều mà đất nước, xã hội và Giáo hội đang cần đến.

    Về mục lục

    .

    TÌM KIẾM

    Lm. Thái Sơn

    Bần đạo mới “ngâm kíu” được câu chuyện vui, với nội dung: “Ra mắt người yêu”.

    Một anh đi ra mắt bố của người yêu:

    – Chào bác!

    + Ừ, chào cháu.

    – Bác cho cháu xin điếu thuốc.

    + Cậu hút thuốc lá hả?

    – Khi uống bia cháu hay hút thôi.

    + Cả bia nữa àk?

    – Vâng, thua bạc cháu uống bia.

    + Cả bài bạc nữa hả?

    – Trong tù thì có việc gì làm đâu bác?

    + Sao lại vào tù?

    – Tại cháu đi ra mắt bố của người yêu trước, nhưng ông ấy không đồng ý…

    Thưa các bạn!

    Phải chăng, cuộc sống là một chuỗi tìm kiếm, đặc biệt tìm kiếm tiền của dường như không biết mệt mỏi? Có khi càng tìm kiếm ta càng đi vào con đường lầm lỗi, sai trái và tội ác…

    Thiết tưởng, xã hội ngày nay có quá nhiều tệ nạn luôn giăng bẫy, nếu không có đức khôn ngoan để chọn lựa, thì ta rất dễ bị cám dỗ và làm gục ngã tấm thân yếu đuối nơi “bạn & tôi”.

    Bài đọc I, Chúa Nhật 28 Thường Niên B, sách Khôn Ngoan dạy: “Trân châu bảo ngọc chẳng sánh được với Đức Khôn Ngoan, vì vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan cũng chỉ là cát bụi” (Kn 7,9).

    Khi xưa, Salomon là một ông vua có sự khôn ngoan đặc biệt. Ông đã xin Thiên Chúa, điều ông xin đẹp lòng Chúa, và Ngài đã thương ban cho ông, ông rất biết quí nó hơn hết mọi sự ở trên đời.

    Đến thời Tân Ước, Chúa Giêsu đã chỉ cho người thanh niên để được sự sống đời đời làm gia nghiệp, là “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời” (Mc 10,21).

    Thưa các bạn!

    Người thanh niên trong Tin Mừng hôm nay là người tuân giữ Lời Chúa từ thuở nhỏ, nếu đem so sánh thì hơn hẳn và hơn xa “bạn & tôi”, vì các điều răn của Chúa và Giáo Hội anh ta sống rất tốt.

    Thế nhưng, khi Chúa giới thiệu con đường nên trọn lành, anh ta bị dằng co, dằn vặt, thậm chí tâm hồn bị day dứt, trăn trở, đến mức sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

    Tiền của vốn không xấu, cũng chẳng tốt, người giàu đâu phải cái họa, người nghèo cũng chẳng phải cái phúc. Họa hay phúc là do con người gieo. Vậy, làm sao con lạc đà to đùng, mà có thể chui qua được lỗ kim?

    Dẫu biết rằng, đây là cách nói thậm xưng hay nhấn mạnh, nhưng chỉ có làm cho lỗ kim thật to, để con lạc đà chui qua, hay làm phép mầu cho con lạc đà biến thành thật nhỏ, để có thể chui qua được lỗ kim.

    Có lẽ, “bạn & tôi” phải nỗ lực và cố gắng làm cho lỗ kim thật to. Lỗ kim ấy có thể là trái tim của ta, khi trái tim phồng lên, đủ lớn để có thể an ủi, nâng đỡ, sẻ chia, hay động lòng trắc ẩn với tha nhân… Một khi trái tim đủ lớn, thì lỗ kim cũng đủ rộng cho con lạc đà chui qua được.

    Có lẽ, “bạn & tôi” phải nỗ lực và cố gắng làm cho con lạc đà thu nhỏ lại. Con lạc đà đó có thể tượng trưng cho sự ích kỷ, tham lam, hay kiêu căng của ta… Một khi bớt đi tính ích kỷ, giảm đi lòng tham lam, cắt đi thói kiêu căng, thì ta sẽ có cơ may vào được vương quốc của Thiên Chúa.

    Ước gì, “bạn & tôi” được ơn khôn ngoan để có thể tìm kiếm và chọn lựa đúng đắn kho báu là Nước Trời, nơi đó ta sẽ được “ra mắt người yêu” là chính Chúa. Amen

    Về mục lục

    .

    CÓ HAI CÁCH ĐỂ LẠC ĐÀ CHUI QUA LỖ KIM

    Lm. Alf. Nguyễn Công Minh

    Nếu Bill Gates hôm nay đi lễ tại các Nhà Thờ Công Giáo, chắc hẳn phải giật mình vì một so sánh Chúa Giêsu dùng quả là gây thất vọng cho kẻ có tiền. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Đàng. Con lạc đà, dẫu là con con, nhỏ xíu, cũng không thể chui qua lỗ kim, ấy vây mà Chúa nói con lạc đà lớn chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Chúa. Có người đã cố mài dũa cho dễ nuốt trôi câu sánh ví trên, bằng cách sử dụng từ ngữ học. Họ nói, con lạc đà và sợi dây thừng trong tiếng Do Thái, đọc na ná giống nhau, cho nên, có lẽ Chúa nói: cuộn dây thừng chui qua lỗ kim. Thánh Cyrillo ủng hộ lối giải thich này. Còn giả như cứ để con lạc đà, chứ không phải dây thừng, thì lại có một mài dũa khác: lỗ kim là tên một cổng thành hẹp tại Giêrusalem. tức là con lạc đà chui qua cổng hẹp…

    Nhưng những lối giải thích đó đều không đúng. Thật ra những hình ảnh tương tự cũng đã có trong loại trình thuật của các thầy Rabbi. Ví dụ để đánh dấu một việc không thể làm nổi, bộ Talmud Babylon dùng lối ví von : voi chui qua lỗ kim. Ngay chính Chúa Giêsu trong diễn từ nhắm tới nhóm Biệt phái đã trách cứ họ “kinh kệ dài dòng lại nuốt chửng gia tài những bà góa” (Mt 23,14). Và Chúa nói thêm “các ngươi gạn lọc từng con muỗi nhưng lại nuốt chửng cả con lạc đà” (Mt 23,24).

    Vì thế đích thị là Chúa muốn nói lạc đà—chứ không phải dây thừng; và lỗ kim—chứ không phải cổng hẹp của Thành. Vậy là: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa.

    Nhưng, có 2 cách để con lạc đà có thể chui qua lỗ kim:

    (1) làm cho lỗ kim thật to.

    (2) thu con lạc đà lại thật nhỏ.

    1. Lỗ kim to

    Ta từng thấy thế giới của những vật khổng lồ, như chiếc bánh Trung Thu năm nào tại Maximart đủ cho 10 ngàn người. Bánh tét tại Nha Trang dài đủ cho 5000 người, thì một cây kim khổng lồ, với lỗ kim thật to, thì có đến 2 con lạc đà, một bướu hay hai bướu cũng băng qua lọt, chứ đừng nói gì một con.

    Vậy người giàu có nếu muốn lọt vào Nước Trời, thì cũng hãy làm cho lỗ kim rộng ra. Rộng ra là quảng đại. Tiền chỉ lo thu vào mà không cho đi, thì chẳng khác gì làm lỗ kim thu nhỏ lại. Một ngón tay cũng không chui lọt, chứ đừng nói cả bàn tay, cả con người.

    Giakêu Trưởng Ty Quan Thuế, giàu nứt đố đổ vách, làm sao chui lọt lỗ kim, nếu ông không thưa với Chúa rằng : “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo ; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Đức Giê-su mới nói về ông ta rằng : “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” Giakêu đã nới rộng lỗ kim 4 lần, nên dễ dàng để ơn cứu độ lọt vào nhà.

    Trên bia mộ trong một nghĩa trang kia có khắc mấy giòng chữ sau đây cũng đáng cho chúng ta suy nghỉ:

    Những gì tôi có, nay đã thuộc về người khác.

    Những gì tôi đã mua sắm, nay người khác hưởng dùng.

    Những gì tôi đã cho đi, nay thuộc về tôi.

    Chính những cái mình cho đi, mình quảng đại ban phát, thì mới làm cho lỗ kim rộng rãi ra thêm, hầu con lạc đà có thể chui lọt. Và như thế, người càng giàu có càng ban phát càng dễ vào Nước Chúa. Khi cho đi là khi nhận lãnh. (Phanxicô)

    2. Thu nhỏ con lạc đà lại

    Chắc một số người trong chúng ta đã từng đi xem triển lãm về thế giới thu nhỏ lại gọi là miniature, nơi mà trên một cọng tóc, người ta khắc được cả một đoàn lạc đà, và ở đầu một cây kim khâu, nằm gọn 3 chú lạc đà nơi lỗ kim nhỏ. Dĩ nhiên muốn xem chúng phải dùng kính lúp hoặc hiển vi. Vậy muốn lạc đà chui qua lỗ kim khâu, hãy thu nhỏ con lạc đà lại.

    Thu nhỏ lại là nó đang lớn biến nó thành nhỏ. Có một bộ phim mang tựa đề tương tự: Tôi đã thu nhỏ con tôi. Có nhiều cách thu. Có nhiều cách biến. Riêng đối với tiền của, có một cách biến nó thành nhỏ là: đổi ngôi cho nó. Nó đang làm chủ, oai nghi bệ vệ, hãy biến nó làm tôi, làm đầy tớ trong tay. Nếu để tiền của làm chủ, đừng hòng chui lọt lỗ kim. Nhưng nếu biến nó thành tên đầy tớ hèn mọn, nhỏ bé, ta sử dụng thế nào tuỳ ý ta, ta sai nó đi đâu nó đi đó, ta chuyển nó cho ai, nó nghe theo, vậy là ta có thể cho nó đi qua lọt tủm vào lỗ kim nhỏ.

    Một người giàu có nọ thường đến xưng tội với thánh Philipphê Nêri. Có tiền, có thiện chí, nhưng người này cảm thấy mình không đạt được sự tiến bộ nào trên đường thiêng liêng. Từ chán nản đến thất vọng, cuối cùng ông bỏ cuộc và không trở lại xưng tội với thánh nhân nữa.

    Ngày nọ, thánh nhân tìm gặp ông, sau một hồi chuyện vãn, thánh nhân nhìn lên cây thánh giá treo trên tường, ngài ước tính độ cao của Thánh giá, rồi đề nghị với người đàn ông giàu có: “Ông là người cao lớn, ông thử với coi có tới Thánh giá không ?”.

    Người đàn ông đứng dậy giơ cánh tay lên, nhưng không thể nào chạm tới Chúa Giêsu trên Thánh giá. Bấy giờ, thánh nhân mới dùng hết sức đẩy cái hòm tiền của người giàu có đến bên cạnh ông và bảo ông hãy đứng lên trên cái hòm tiền để với cây Thánh giá. Người đàn ông làm theo ý thánh nhân, ông đã sờ được Chúa Giêsu trên Thánh giá. Hôm nay nhà này được ơn cứu độ.

    Thánh nhân đưa ra bài học như sau: “Để có thể nắm lấy được Chúa Giêsu, để có thể tiến bộ trên đường thiêng liêng, chúng ta cần phải đứng trên tiền bạc của cải” Sai tiền bạc đi, chứ không phải để nó sai ta đi kiếm nó.

    Địa chỉ mà đồng tiền đi tới, Chúa đã nói rõ trong đoạn Tin Mừng khi âu yếm nhìn chàng thanh niên giàu có: Anh chỉ thiếu một điều, là bán hết của cải đem phân phát cho kẻ nghèo. Địa chỉ là kẻ nghèo chứ không phải cửa sau của các nhà cầm quyền, e sẽ theo Năm Cam tròng đầu vào lỗ giây thừng, chứ không phải chui qua lỗ kim nữa.

    Vậy là, thu nhỏ con lạc đà, đối với tiền của, sẽ là câu nói ta thường nghe: “Tiền bạc là tên đầy tớ tốt, nhưng là một ông chủ xấu.” Mà không chỉ xấu, ông chủ này còn ác độc nữa, có thể giết chết ta như chơi.

    Có ba người bộ hành, bạn chí thân với nhau, trên đường đi tìm hạnh phúc, bất chợt nghe tiếng la thất thanh của vị đạo sĩ từ trong núi chạy ra: Chết! Chết! Chết! Tôi đã gặp thần chết! Ba người bộ hành trên yêu cầu vị đạo sĩ dẫn mình vào hang để xem thần chết. Vào hang đá sâu, vị đạo sĩ chỉ cho ba người thấy một kho vàng chôn giấu. Vị đạo sĩ lại kêu to: Thần chết! Thần chết! Thần chết! rồi bỏ chạy.

    Ba người quá đỗi bàng hoàng vì kho vàng quá lớn. Họ cùng nhau hối hả đào. Nhưng cần phải có lương thực ăn hầu đủ sức mà tiếp tục đào chứ. Một người tình nguyện đi mua thức ăn. Nhưng bất hạnh thay, khi ông ta đi mua thức ăn thì hai người ở lại tìm cách giết ông. Quả nhiên, khi mang thức ăn về, ông đã bị giết như kế hoạch và số vàng ấy được chia đôi và cho vào bao cẩn thận. Bấy giờ hai người cùng nhau ăn trước khi xuống núi. Nhưng không ngờ trong thức ăn ấy đã có thuốc độc của gã đàn ông kia muốn số vàng ấy thuộc trọn về riêng mình.

    Cả nới rộng lỗ kim hay thu nhỏ con lạc đà cũng qui về điểm này: đổi tiền. Đến nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền đang lưu hành tại nước đó. Tiền của ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên trời, nếu nó không đổi thành việc lành. Đó là ý nghĩa Lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có: cho đi gia sản của anh để mua Nước Trời.

    Về mục lục

    .

    CÂN NHẮC CÁI GIÁ PHẢI TRẢ

    KHI LÀM MÔN ĐỆ CHÚA

    Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

    Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Kn 7:7-11;  Dt 4:12-13;  Mc 10:17-30)

              Nhiều khi chúng ta nhận được những quảng cáo rất tuyệt vời.  Nhưng nếu chúng ta không đọc thật kỹ, nhất là vài dòng chữ lí nhí ở cuối trang, rồi đưa bút ký là vỡ nợ vì bút sa gà chết!  Đối với Thiên Chúa và Chúa Giê-su thì mọi sự phải rõ ràng, không thì nói không, có thì nói có, thêm bớt là trò của ma quỷ.  Vì thế trong việc chọn lựa Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa cũng như chọn lựa làm môn đệ Chúa Giê-su, mọi điều kiện đều rõ ràng. Quyết định theo hay không theo là tùy thuộc quyền lựa chọn của con người.  Hôm nay Phụng vụ Lời Chúa trình bày việc lựa chọn ấy qua bài đọc Cựu Ước và bài Tin Mừng, đồng thời cũng giới thiệu với chúng ta một phương thức lựa chọn qua đoạn thư gửi tín hữu Do-thái.

              Bài đọc Cựu Ước chia sẻ với chúng ta tâm tình của một người quyết định chọn Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa, thay vì chọn tất cả những gì quý báu nhất và được trân trọng nhất của người đời.  Đối với vị này, Đức Khôn Ngoan có một giá trị tuyệt đối không gì có thể so sánh được.  Trên đời có biết bao nhiêu cái nhất:  giầu có nhất, địa vị cao nhất, quyền lực nhất, nên thông thường ai cũng muốn có được ít ra một cái nhất.  Vậy mà đối với vị này, vương trượng ngai vàng, trân châu bảo ngọc, vàng bạc, ngay đến sức khỏe và sắc đẹp, tất cả chỉ là “cát bụi, bùn đất”, nếu đem so với Đức Khôn Ngoan.  Bởi đâu Đức Khôn Ngoan có một chỗ đứng tối cao như thế?  Bởi vì xuất xứ của Đức Khôn Ngoan là từ Thiên Chúa mà đến;  vị này đã kêu cầu Thiên Chúa và Người đã “ban cho” vị này Đức Khôn Ngoan.  Khôn Ngoan là sở hữu của Thiên Chúa nên Thiên Chúa tặng cho ai nhận biết giá trị của Khôn Ngoan.  Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu nên Đức Khôn Ngoan của Người cũng tồn tại muôn đời, khác hẳn với những gì quý giá của thế gian là những thứ sẽ bị rỉ sét mối mọt theo thời gian.  Tuy nhiên vị này đã phải trả một cái giá thật đắt, là đánh đổi tất cả những gì có giá trị tạm bợ để được Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa;  vị này đã bỏ đi cái lợi gần để nhận lấy cái lợi xa.  Vì lựa chọn ấy, Thiên Chúa để cho “mọi sự tốt lành đã đến với tôi.  Nhờ tay Đức Khôn Ngoan, của cải quá nhiều không đếm xuể”.  Đúng vậy, của cải quá nhiều ở đây là những phúc lành Thiên Chúa ban xuống tràn đầy trên kẻ biết chọn đường lối Người.

              Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa đã nhập thể làm người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Gio-an 1:14.  Cho nên chọn Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc chọn Chúa Giê-su để đi theo làm môn đệ Người.  Bài Tin Mừng cho chúng ta hình ảnh sống động về sự chọn lựa ấy.  Chúa Giê-su lên đường.  Con đường Người đi cũng là con đường các môn đệ phải đồng hành với Người.  Đã có lần Người nói với các môn đệ:  “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Gio-an 14:6).  Bỗng nhiên có một người đến gặp Chúa.  Anh ta quỳ xuống trước mặt Chúa Giê-su và gọi Người là “Thầy nhân lành”.  Đây là cử chỉ tôn thờ dành riêng cho Thiên Chúa.  Chúa Giê-su không ngần ngại chấp nhận lời tuyên xưng của anh.  Người không ngần ngại làm một cuộc “điều tra lý lịch” người môn đệ tương lai này.  Thực ra thì Chúa muốn giúp anh nhận ra chính con người anh có đầy đủ điều kiện để lựa chọn Người.  Nhưng để dứt khoát theo Người, anh cần một điều kiện cuối cùng:  bán mọi sự anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy theo Chúa.  Nói khác đi, người thanh niên giàu có này chỉ có một lựa chọn duy nhất, là hoặc bán đi tất cả để theo Chúa, hoặc bỏ Người mà đi để giữ lấy của cải.  Nếu so sánh với câu chuyện lựa chọn Đức Khôn Ngoan trong bài đọc 1, chúng ta nhận ra sự trái ngược.  Trong khi kẻ chọn Đức Khôn Ngoan coi của cải danh vọng như bùn đất, thì người thanh niên này lại thấy của cải lớn hơn cả Chúa Giê-su là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa nhập thể.  Chúa Giê-su có lẽ tiếc thay cho anh ta, nhưng Người không níu kéo, không ép buộc, vì Người tôn trọng sự tự do lựa chọn của anh.  Cái giá phải trả để làm môn đệ Chúa quá đắt đối với anh.

              Việc lựa chọn đặt căn bản trên sự nhận định giá trị đích thực.  Đúng thế, phải là giá trị đích thực!  Để giúp chúng ta biết được đâu là giá trị đích thực, đoạn thư Do-thái cho chúng ta một bí quyết:  hãy lấy lời Thiên Chúa mà phân biệt mọi sự phải hay trái, đúng hay sai, tạm bợ hay vĩnh cửu.  Nhưng Lời Thiên Chúa giúp chúng ta phân biệt như thế nào?  Đặc điểm của lời Thiên Chúa là “sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi:  xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy;  lời đó phê phán tâm linh cũng như tư tưởng của lòng người”.  Do đó, lời Thiên Chúa có thể giúp chúng ta nhận ra rõ ràng giá trị vĩnh cửu của Tin Mừng Chúa Giê-su khác với giá trị tạm bợ của tiền bạc của cải.  Lời Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu được sự giàu có đích thực là “kho tàng trên trời” khác với sự giàu có của thế gian là tiền tài vàng bạc chóng qua.

    Sống sứ điệp Lời Chúa

              Chúng ta đã lựa chọn làm môn đệ Chúa qua Bí tích Rửa tội, khi ta hứa từ bỏ ma quỷ, tội lỗi để tin vào Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Người nhờ Chúa Giê-su và Chúa Thánh Thần.  Tuy nhiên lựa chọn ấy không phải là một lần cho tất cả.  Bí tích Rửa tội không phải là cái vé bảo đảm cho ta vào thiên đàng, mà chỉ là bước đầu.  Ta phải tiếp tục thể hiện sự chọn lựa ấy bằng đời sống Ki-tô đích thực!

    Về mục lục

    .

     

    CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Có một người giàu có thường đến xưng tội với thánh Phi-líp-phê Nê-ri, nhưng ông vẫn cảm thấy mình không đạt được sự tiến bộ nào trên đường thiêng liêng, và nhất là chưa tìm được sự bình an thật sự trong đời sống. Tâm hồn của ông còn chất chứa nhiều khắc khoải, ưu tư.  Từ đó ông cảm thấy chán nản đến thất vọng.  Cuối cùng ông không đến xưng tội với thánh nhân nữa.

    Thấy ông đã lâu không đến xưng tội, thánh nhân đến nhà để gặp ông.  Sau một hồi trò chuyện, ngài nhìn lên cây Thánh giá treo trên tường, rồi nói với người đàn ông giàu có: “Ông hãy đứng lên và đưa tay lên xem có chạm tới Thánh giá không.”   Người giàu có đứng dậy giơ cánh tay lên cố với nhưng không thể nào chạm tới Chúa Giêsu trên Thánh giá.  Bấy giờ thánh Nê-ri khom lưng dùng hết sức đẩy cái hòm tiền của người giàu đến bên cạnh ông và bảo ông hãy đứng lên trên cái hòm tiền để với lên cây Thánh giá.  Ông làm theo ý thánh nhân và sờ được chân Chúa Giêsu trên Thánh giá.  Sau đó ngài nói với ông: “Để có thể chạm và nắm lấy được Chúa Giêsu, tiến bộ trên đường thiêng liêng và có sự bình an thật thì phải can đảm đứng trên tiền bạc của cải.”
    Trong bài Tin Mừng hôm nay, một thanh niên giàu có đến hỏi Chúa Giêsu: làm sao vừa có đời sống giàu sang sung sướng ở đời này và còn được hạnh phúc trong cuộc sống đời sau.  Sở dĩ anh hỏi Chúa Giêsu như vậy là vì thứ nhất anh cũng muốn làm môn đệ của Chúa, và thứ hai có lẽ anh thấy trong đời sống của các môn đệ theo Chúa có một sự siêu thoát, đơn giản, an bình và vui mừng anh đang mong ước. Chúa nhìn anh một cách trìu mến vì thấy anh là một thanh niên mà đã biết nghĩ đến và khao khát đời sống trọn lành, và biết lo lắng cho cuộc đời đời sau.  Sau đó Chúa bảo anh hãy về bán hết của cải, đem chia sẻ cho người nghèo rồi đến theo Chúa.  Đối với Chúa, đó là điều kiện cho riêng anh để được trọn lành và làm môn đệ của Ngài.  Nhưng anh không chấp nhận điều kiện này vì anh có nhiều tiền bạc, của cải, cho nên anh buồn bã quay lưng bỏ đi.  Rõ ràng giữa Chúa và của cải, giữa đời sống trọn lành và tiền bạc, anh đã chọn của cải và tiền bạc.

    Qua trường hợp của người thanh niên này, Chúa Giêsu nghĩ tới sự khó khăn, thử thách, cám dỗ và lôi cuốn của tiền bạc, nên Chúa nói với các môn đệ: “Những người giàu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao!” Sau đó, Chúa nhấn mạnh: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có được vào Nước Thiên Chúa.”

    Câu hỏi được đặt ra là: “Tại sao giàu có, nhiều của cải, tiền bạc lại khó vào nước trời?”

    Trước hết, chúng ta phải công nhận rằng tiền bạc cần thiết cho đời sống con người.  Tiền bạc sẽ đem lại cho con người nhiều tiện nghi và những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống.  Có thể nói rằng chỉ có người ngây thơ mới cho rằng tiền bạc không cần thiết. Thực tế, tiền bạc rất quan trọng và cần thiết cho mọi người mọi nơi, là phương tiện thiết yếu cho đời sống cá nhân, gia đình và cho cả việc thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo hội, kể cả nhà thờ, giáo xứ.  Chúng ta thấy nhiều giáo xứ tại Hoa kỳ phải đóng cửa hay sát nhập vào giáo xứ khác vì không có đủ tiền trả cho những chi phí cần thiết.  Nếu không nhờ vào sự hy sinh quảng đại giúp đỡ tiền bạc của giáo dân, của ông bà anh chị em, thì làm sao giáo xứ có thể gìn giữ, bảo trì, phát triển và chu toàn những sứ vụ Lời Chúa đòi hỏi. Tiền bạc cần thiết như thế nên chắc chắn Chúa không bao giờ lên án tiền bạc hay người có tiền bạc, hay người giàu có.  Sự túng thiếu, bần cùng là một sự dữ vì có thể đưa đến tội ác, đưa đến tội lỗi và Chúa không muốn chúng ta mắc phạm. Tuy nhiên, tiền bạc vẫn luôn là con dao hai lưỡi: được sử dụng như một phương tiện tốt sẽ giúp chúng ta sống đúng với phẩm giá của mình hơn, ích lợi cho chính bản thân và tha nhân.  Trái lại, khi chúng ta lao đầu chạy theo tiền bạc như cứu cánh, mà quên đi những giá trị khác trong cuộc sống, nhất là những giá trị thiêng liêng, thì nó sẽ biến chúng ta thành nô lệ, mất đi trí phán đoán, và tổn thương đến đời sống đức tin và gia đình. Sự tham lam, ham mê tiền bạc dễ làm cho người ta trở nên kêu ngạo, ích kỷ, thu hẹp, thật khó vào Nước Trời.

    Nói rõ hơn, tiền bạc tự nó tốt và giúp ích cho con người. Nó chỉ xấu và có hại khi tham lam, gian dối, hay đem sử dụng vào những mục tiêu xấu, hay biến con người trở nên nô lệ, ích kỷ và tự cao.  Vì tiền bạc, người ta có thể chối bỏ niềm tin, trở nên điếc với cả tiếng nói của lương tâm. Vì tiền bạc, người ta có thể làm những điều gian dối và tội lỗi. Người nào tham lam, ham mê tiền bạc đến quên cả Chúa và Lời Chúa, thờ ơ với đức tin và quên cả anh chị em, thì đó chính là thứ lạc đà đứng trước lỗ kim, khó vào Nước Trời.  Đó là nguy cơ, cạm bẫy mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.

    Vì thế, qua câu truyện người thanh niên giàu có trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy dùng tiền bạc và cư xử cách nào để đem lại ích lợi cho cuộc sống hôm nay, và đồng thời đầu tư cho cuộc sống vĩnh cữu mai sau nữa.  Một phương cách tốt để sống lời Chúa dạy là hãy thành thật khiêm nhường nhận biết tất cả những gì chúng ta đang có là của Chúa ban cho, và sống đời sống cảm tạ tri ân, có lòng hy sinh và quảng đại qua những việc tốt lành và bác ái.  Chúng ta xác tín rằng nếu chúng ta chia sẻ, quảng đại cho một, thì Chúa sẽ trả lại cho chúng ta gấp nhiều lần hơn đời này và đời sau. Có người nói rằng đến nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền đang lưu hành tại nước đó. Tiền của chúng ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên Nước Trời, nếu nó không đổi thành việc hy sinh, tốt lành và bác ái.  Ðó là ý nghĩa Lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có: cho đi gia sản của anh để mua Nước Trời.  Xin Chúa, qua lời cầu bầu của Đức Maria trong Tháng Mân Côi này, ban cho chúng ta sự khôn ngoan, sáng suốt để nhận ra con đường đưa tới hạnh phúc, bình an thật đời này và đời sau.

    Về mục lục

    .

     

    CHỌN LỰA ƯU TIÊN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Trong cuộc sống, mỗi người đều có những đam mê. Người thì thích nghệ thuật, người thì mê âm nhạc, người lại thích hội họa, kiến trúc… Ai đam mê cái gì thì thường chú tâm vào điều đó và dành hết tâm huyết cho những đam mê của mình, coi đó là chọn lựa ưu tiên, thậm chí như lẽ sống của mình.
     
    “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” – một người kia hỏi với Chúa Giêsu. Người này đang đi tìm ý nghĩa cuộc đời. Anh không tìm thấy bình an và niềm vui, mặc dù anh rất giàu có. Dù sở hữu rất nhiều, anh vẫn cảm thấy tâm hồn trống vắng. Anh muốn đi tìm những gì đem lại cho anh hạnh phúc lâu bền, tức là sự sống đời đời.
     
    Chúa Giêsu đã cho anh câu trả lời và Người chỉ dẫn cho anh thấy những gì anh cần tìm kiếm để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Thế nhưng, điều Chúa đề nghị lại quá khó khăn đối với anh: đó là từ bỏ. Thay vì từ bỏ giàu sang để theo Chúa, anh đã từ bỏ Chúa để giữ lấy sự giàu sang. Cuộc tìm kiếm chân lý của anh đã thất bại. Anh không đủ can đảm từ bỏ những gì anh gắn bó, mặc dù chúng không đem lại cho anh sự thanh thản và niềm vui đích thực.
     
    Nhân dịp này, Đức Giêsu đưa ra giáo huấn của Người về sở hữu của cải. Của cải phục vụ con người chứ không làm chúa tể của con người. Của cải cần thiết, nhưng không phải lúc nào cũng đem lại cho ta niềm vui. Kinh nghiệm trong cuộc sống quanh ta đã chứng minh điều này. Vì tài sản, đất đai, mà anh em xung đột, huynh đệ tương tàn, thậm chí đến mức coi nhau như kẻ thù. Vì tiền bạc mà nhiều người bán rẻ lương tâm, dùng đủ mọi thủ đoạn mánh mung, miễn sao kiếm nhiều tiền. Chúa Giêsu đã nêu lên mối nguy hiểm của tiền bạc trong cuộc sống con người. Người dùng một hình ảnh bình dân đã trở thành ngạn ngữ đời thường trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa”. Các môn đệ cũng ngỡ ngàng trước câu nói này, nhưng Chúa trấn an các ông: đó là nhìn theo quan điểm con người, còn đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được. Lời nói này đã khẳng định rõ, nếu chúng ta biết cậy trông vào Thiên Chúa và trung tín theo Ngài, thì mặc dù tội lỗi đến đâu, chúng ta cũng được Ngài thương tha thứ và cứu thoát.
     
    Mỗi tín hữu được mời gọi tự vấn lương tâm trước mặt Chúa: vậy chọn lựa ưu tiên trong đời của tôi là gì? Chắc chắn chúng ta cần rất nhiều thứ để có cuộc sống ổn định, xứng với phẩm giá con người. Tuy vậy, mỗi người cần thấy rõ đâu là điều ưu tiên trong cuộc sống, để coi đó như kim chỉ nam định hướng cho đời mình. Bài đọc I nói với chúng ta, nếu có điều gì đáng dành mọi tâm huyết để tìm kiếm trong cuộc đời, thì đó là Đức Khôn Ngoan. So sánh với Đức Khôn Ngoan, của cải, danh vọng và trân châu bảo ngọc đều như rơm rác. Xin lưu ý, danh từ “Đức Khôn Ngoan” này được viết hoa. Điều đó muốn diễn tả Đức Khôn Ngoan ở đây vượt xa quan niệm về khôn ngoan theo kiểu thông thường. Đức Khôn Ngoan trước hết chính là Thượng Trí của Thiên Chúa, đã hành động từ thuở khai thiên lập địa, tức là trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Sau này, nhờ mạc khải, Đức tin Kitô giáo nhận ra Đức Khôn Ngoan chính là Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Chúa Giêsu là Đấng “đồng bản thể với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”. Như thế, đối với người tín hữu, sự chọn lựa ưu tiên chính là Đức Giêsu và giáo huấn của Người. Bởi lẽ, nhờ Bí tích Thanh tẩy, chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Đó chính là lý tưởng cao cả của chúng ta. Vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã đề nghị người đang tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”.
     
    Để khích lệ các môn đệ và những ai tin vào Người, Chúa Giêsu đã hứa: những ai quyết chí và trung tín đi theo làm môn đệ của Người, họ sẽ được gấp trăm ở đời này, nhất là được sự sống vĩnh cửu đời sau.
     
    Ai trong chúng ta cũng cần có của cải để nuôi sống mình. Giáo Hội tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, luôn hành động để giúp đỡ người nghèo và góp phần thăng tiến xã hội. Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta hãy biết sử dụng của cải thế nào để vật chất không làm mờ con mắt. Chọn lựa Đức Giêsu, đó là chọn lựa ưu tiên nhất của người tín hữu. Làm môn đệ Chúa Giêsu, đó là “đam mê” của mỗi chúng ta.

    Về mục lục

     

    KHÔN NGOAN

    Tgm. Ngô Quang Kiệt.

    Câu chuyện chàng thanh niên giàu có tốt lành có một khởi đầu tốt đẹp. Đẹp cho đến nỗi Chúa nhìn và đem lòng yêu thương anh. Nhưng lại có một kết thúc đáng buồn. Anh thanh niên bỏ đi buồn bã vì không thể theo Chúa. Chúa Giêsu cũng buồn vì anh gắn bó với tiền bạc hơn yêu mến Chúa.

    Câu chuyện người thanh niên có thể là câu chuyện của mỗi người. Cũng như chàng thanh niên, bình thường ta giữ đạo rất dễ dàng. Sáng đi lễ, chiều đọc kinh, không làm điều gì gian ác, không bất công tham lam của người khác. Nhưng khi gặp mâu thuẫn giữa cuộc sống với việc đạo, phải chọn lựa giữa Thiên Chúa và những giá trị trần gian, nhiều khi ta nao núng và rất nhiều người đã vì những giá trị trần gian mà bỏ Chúa. Có những người khi còn nghèo túng thì giữ đạo rất tốt. Nhưng khi đứng trước những cám dỗ của tiền của thì vì ham mê tiền của mà sống gian dối, đánh mất lương tâm Công giáo. Có những người khi còn nhỏ thì rất ngoan ngoãn đạo đức, nhưng khi đến tuổi trưởng thành thì vì thú vui mà bỏ quên việc đạo. Nhưng nhất là có những người vốn con nhà đạo gốc rất sốt sắng, nhưng khi gặp cám dỗ về chức quyền thì vì một chút danh vọng, đành bỏ Chúa, bỏ đạo.

    Theo suy nghĩ của người đời, những ai tìm được tiền của, đạt được danh vọng, nay lên chức mai lên quyền, là những người tài khéo khôn ngoan. Nhưng đó chỉ là khôn ngoan nhất thời kiểu trần gian. Vì cuộc sống trần gian có hạn. Con người ai cũng phải chết. Chết rồi có ai mang theo được của cải, danh vọng, chức quyền vào thế giới bên kia đâu. Thế mà cuộc sống sau cái chết mới là quan trọng, vì là cuộc sống vĩnh cửu không bao giờ phai tàn.

    Chúa muốn ta đừng gắn bó với của cải nhưng phải gắn bó với Chúa, không phải vì Chúa muốn con cái phải khổ sở, hèn hạ. Nhưng vì Chúa muốn cho ta chọn con đường khôn ngoan, để đạt tới hạnh phúc đích thực, vĩnh cửu.

    Ta đi đạo để chọn Chúa. Vì chọn Chúa ta phải từ bỏ tất cả những gì ngăn cản ta đến với Chúa. Những cản trở có thể là tiền bạc, danh vọng, chức quyền. Những cản trở cũng có thể là một người mà ta gắn bó, một nơi mà ta không thể dứt bỏ. Những cản trở đó cũng có thể là một lòng tự ái, một sự ghen ghét, bất mãn.

    Nếu ta biết bỏ tất cả những gì cản trở để đến với Chúa ta sẽ đạt được chính Chúa. Được Chúa là được tất cả. Vì Chúa là hạnh phúc viên mãn. Được Chúa rồi ta sẽ không còn khao khát gì khác nữa.

    Vì thế khi thánh Phêrô hỏi Chúa: Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Chúa, chúng con sẽ được gì. Chúa đã trả lời: ai bỏ mọi sự mà theo Chúa, sẽ được gấp trăm và được sự sống vĩnh cửu.

    Người khôn ngoan thì phải biết nhìn xa trông rộng. Biết bỏ những mối lợi trước mắt để tìm những giá trị vĩnh cửu.

    Như thế yêu mến Chúa là chìa khóa của sự khôn ngoan. Chọn Chúa là chọn giá trị tuyệt đối, vĩnh cửu không gì có thể so sánh được.

    Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Vì Chúa chính là hạnh phúc của con. Amen.

    Về mục lục

    GIÀU: TỐT HAY XẤU

    Gm. Arthur Tonne.

    Ngày 6 tháng 6 năm 1976. Một người giàu nhất xưa nay đã qua đời, thọ 83 tuổi; ông I. Paul Getty để lại từ khoảng 2 đến 7 tỷ đôla. Sau năm lần ly dị, mấy năm trước đây ông tuyên bố với một người phỏng vấn: “Tôi mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một hôn nhân hạnh phúc. Tôi sợ thất bại. Tôi sợ không thể tạo được hạnh phúc hôn nhân”. Có lần một phóng viên làm ông phải thú nhận là ông đã không đạt được hạnh phúc gia đình. Suy nghĩ vài giây, ông trả lời: “Vâng, thật đáng buồn”. Một lần khác ông xác nhận: Tiền bạc không thể mua hạnh phúc, hơn nữa ông còn tin rằng tiền bạc có bà con với bất hạnh nữa.

    Chúng ta nhớ đến nhà tỷ phú này khi đọc câu chuyện người thanh niên giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay. Người thanh niên giàu có này sống đời luân lý tốt đẹp, nhưng anh cảm thấy thiếu một cái gì. Chúa Giêsu đã nói cho anh điều anh thiếu: “Bạn về và bán những gì bạn có. Giúp người nghèo và bạn sẽ có một kho tàng ở trên trời. Rồi đến theo tôi”. Chàng thanh niên bỏ đi, vì anh giàu có.

    Điều này áp dụng cho bạn và tôi làm sao? Trước khi trả lời, chúng ta lưu ý hai sự kiện: Một là từng người một trong chúng ta, không kể giàu nghèo. Chúng ta phải làm điều Chúa Giêsu đòi hỏi người thanh niên: Chúng ta sẽ phải từ bỏ mọi sự chúng ta có – Cái chết.

    Hai là có hàng ngàn người nam, nữ trong suốt dòng lịch sử và trong thời đại chúng ta, tình nguyện bỏ mọi sự để làm linh mục, làm tu sĩ nam nữ. Cả một số giáo dân cũng làm như vậy để phụng sự Chúa tự do hơn.

    Chúa Giêsu có truyền tất cả chúng ta phải bỏ mọi sự mình có không? Người có mong tất cả chúng ta là tu sĩ không?

    Không, hoàn toàn không. Nhưng người truyền chúng ta biết dùng của cải một cách nào đó để đừng quên Cha trên trời, Đấng ban cho chúng ta những cái đó.

    Có phải tiện tặn là là sai? Phải chung góp vốn là sai? Để dành tiền phòng khi già yếu? Hay xây dựng gia đình là sai? Không, hoàn toàn không. Cái sai của sự giàu có là tôn thờ, phục vụ và tin tưởng vào đồng đôla vạn năng thay thế cho Thiên Chúa quyền phép.

    Khi các Tông đồ hỏi Chúa: “Vậy ai có thể được cứu rỗi?”. Chúa tuyên bố: “Với người ta thì không thể được, nhưng không phải với Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa làm được mọi sự”.

    Như thế người giàu cũng có thể được cứu rỗi, nhưng phải nhờ ơn Chúa giúp. Tôi đề nghị chúng ta hãy xin Cha trên trời giúp chúng ta sử dụng của cải đúng cách, giúp chúng ta ý thức rằng của cải vật chất cũng là hồng ân và ơn huệ của Chúa. Tôi xin được phép giới thiệu một lời kinh:

    Lạy Cha trên trời, con cảm tạ Cha vì gia đình con đầy đủ và và quá đầy đủ nữa, xin giúp con biết sử dụng của cải theo ý Chúa. Xin giúp con biết chia sẻ cho những người ít hơn hoặc không có. Xin giúp con tiếp tay trong công cuộc của Chúa trên trần gian. Xin giúp con tin tưởng nơi Chúa chứ không phải nơi tiền bạc. Xin giúp con sống rộng rãi với mọi người như Chúa hằng quảng đại với con”.

    Bạn đọc kinh này khi dâng bánh và rượu trong Thánh Lễ.

    Xin Chúa chúc lành bạn.

    Về mục lục

    CUỘC ĐỜI CHO ĐI MỚI ĐẸP

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Một cuộc đời đẹp không phải là có địa vị, có nhiều của cải mà là người dám sẵn lòng cho đi cái mình có. Không so đo, không tính toán. Họ sẵn lòng cho đi tất cả để phục vụ tha nhân một cách quảng đại. Đó mới là một cuộc đời đáng ca ngợi. Đó mới là một bông hoa đẹp dâng tặng cho cuộc đời.
    Đây cũng là nét đẹp của cuộc đời Cha Gioan Lee, linh mục dòng Salêriêng Don Bosco, Hàn Quốc. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhưng cha đã bỏ tất cả công danh sự nghiệp sau lưng, và cha đã đáp lại tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa để trở thành một linh mục truyền giáo trong dòng Salêriêng Don Bosco. Ngay sau khi được truyền chức linh mục tại Tòa Thánh Vatican, cha đã tình nguyện đến truyền giáo tại miền Nam Sudan thuộc Phi Châu. Cha đã tình nguyện đến sống và phục vụ tại một xứ sở nghèo đói nhất thế giới, giữa những người đói khổ và bệnh tật trong làng Tonj thuộc miền Nam Sudan- Phi Châu trong suốt 8 năm trước khi cha qua đời vị căn bệnh ung thư ruột già.
    Cuộc đời của người thanh niên trong Tin Mừng tưởng chừng như cũng rất đẹp, vì anh hằng tuân giữ lề luật của Chúa. Anh không giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không làm chứng gian, không làm hại ai, và anh hằng luôn thờ cha kính mẹ. Thế nhưng, trong tâm hồn anh lại mất đi nét đẹp của lòng quảng đại trao ban. Anh giầu sang của cải, nhưng chưa giầu sang tấm lòng. Anh có của nhưng không biết làm đẹp con người bằng bác ái trao ban. Anh chưa dùng sự giầu sang của mình để cống hiến, để phục vụ tha nhân.
    Đối với Chúa Giê-su một người môn đệ đích thực không dừng lại ở một số việc tuân giữ luật lệ, mà còn phải có một đời sống yêu thương tha nhân bằng cách cho đi những gì mình có, dù đó là của cải vật chất hay tinh thần. Đây là nét đẹp của người môn đệ, nét đẹp thanh thoát cống hiến trao ban.
    Chúa Giêsu không dạy chúng ta khinh thường của cải trần gian, nhưng nhắc nhở chúng ta đừng để nó trở thành dụng cụ của ích kỷ, nguồn gốc của bất chính hoặc phô trương lừa gạt. Của cải có thể trở thành sự dữ, khi nó khép kín con tim và tâm trí chúng ta trong ngục tù của tham lam và hưởng thụ, khi nó ngăn cản chúng ta sống yêu thương và quảng đại, khi nó không cho chúng ta sống hoàn toàn tự do khỏi mọi tù ngục trói buộc con người.
    Tiếc thay, con người hôm nay vẫn như chàng thanh niên tưởng rằng: “Lắm tiền, lắm gạo là tiên trên đời”. Thế nên, vì tiền mà họ tham lam, bất chính. Vì tiền mà sống thiếu bác ái và thiếu cả công bình. Vì tiền mà sống bẩn với tha nhân.
    Chá đã bảo chúng ta: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước thiên đàng”. Phải chăng Chúa cũng đang nhắc nhở chúng ta hãy sống thanh thoát với những vật chất mau qua này? Hãy biết dùng của cải đời này mà mua lấy bạn hữu Nước Trời, qua những việc lành phúc đức, những hành vi bác ái, chia sẻ với tha nhân.
    Xin cho chúng ta biết khôn ngoan chọn Chúa và theo Chúa hơn là vì giầu sang mà lạc xa Chúa. Ước gì chúng ta biết dùng của cải đời này mà làm đẹp cuộc đời mình bằng lòng quảng đại, bái ái, vị tha. Amen

    Về mục lục

    TỐT LÀNH VÀ NHÂN LÀNH

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty 

    Chàng thanh nhiên (Mt 19:20) hay một thủ lãnh (Lc 18:18) được nói tới trong giai thoại này chắc hẳn là một người tốt và gương mẫu theo tiêu chuẩn Do Thái, điển hình là từ thuở nhỏ anh/ông đã giữ trọn mọi giới răn. Nếu thế, anh thực sự kiếm tìm gì khi tới gặp Đức Giê-su; nói cách khác, điều gì anh muốn diễn đạt qua câu nói: ‘được sự sống đời đời làm gia nghiệp”? Trong thâm tâm có thể anh đã ngờ ngợ rằng: tốt lành mà thôi có lẽ là chưa đủ; vì anh là người đầu tiên đã chủ động thân thưa với Đức Giê-su như người ‘Thầy nhân lành’.

    Theo dõi cuộc dối thoại giữa Đức Giê-su với chàng thanh niên nọ, Ki-tô hữu chúng ta nhận ra một điều rất căn bản: ‘tốt / lương thiện’ và ‘nhân lành’ là hai điều hoàn toàn khác nhau; ‘tốt lành’ thuộc lãnh vực con người, lãnh vực Cựu Ước nhờ nắm giữ trọn các điều răn, còn ‘nhân lành’ hoàn toàn thuộc lãnh vực thần linh, “Không ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” như Đức Giê-su đã minh định. Biện phân này giúp ta hiểu được cái mới mẻ rất mực độc đáo của Tin Mừng.

    Tất cả tùy thuộc vào việc ta hiểu ‘được sự sống đời đời làm gia nghiệp’ là thế nào: phải chăng là được lên thiêng đàng, khỏi phải sa hỏa ngục vì đã sống tốt, sống lương thiện, đạo đức hay là một điều gì khác?

    ‘Được sự sống đời đời làm gia nghiệp’ có nghĩa là được lên Thiên Đàng; phần thứ nhất trong lời giải đáp của Đức Giê-su có vẻ như tập trung vào quan niệm phổ thông này: thiên đàng được hiểu như phần thưởng dành cho kẻ tốt / người lương thiện. Do đó chỉ cần không phạm tội là đủ để được vào thiên đàng, còn kẻ xấu sẽ không được vào; thế nhưng phân biệt xấu / tốt là lãnh vực thuần luân lý; xã hội nào thì cũng phân loại người tốt kẻ xấu, tùy vào tiêu chuần xã hội đó đề ra. Trong xã hội Do Thái thời Cựu Ước, kẻ tốt rõ ràng là người tuân giữ căn kẽ các giới răn và lề luật. Hiểu như thế thì vào thời buổi nào và ở bất cứ nơi đâu cũng đều có những người đáng lên thiên đàng cả! Nếu căn cứ theo tiêu chuẩn này, thì chàng thanh niên trong câu chuyện chắc chắn sẽ được lên thiên đàng thôi! Hơn nữa hệ luận của lối suy nghĩ này sẽ là: Tin Mừng không nhất thiết là cần, và ơn cứu chuộc của Đức Ki-tô là không mấy thiết yếu, và chỉ đóng vai trò hỗ trợ người ta trở nên tốt mà thôi.

    ‘Được sự sống đời đời làm gia nghiệp’ có nghĩa là: được vào Nước Thiên Chúa; trong phần hai của câu giải đáp, hình như Đức Giê-su lại muốn triển khai khái niệm này. Người khảng định: chỉ một mình Thiên Chúa, chứ không ai khác, là ‘nhân lành’. Điều đó có nghĩa là: tự mình không một ai, dầu có tốt lành tới mấy, có thể vào được Nước Thiên Chúa. Nhân lành không thuộc lãnh vực tự nhiên, mà phải thuộc lãnh vực thần linh! Dĩ nhiên Thiên Chúa là vô cùng tốt lành, vì Ngài là chân – thiện – mỹ; điều này thì nhờ suy luận triết học con người cũng có thể biết được: Deus bonum est… Đức Giê-su đã đến trần gian không để nói về sự tốt lành hay thánh thiện này của Thiên Chúa. Điều Ngưởi muốn mạc khải là Thiên Chúa nhân ái và cứu độ! Theo Người, Nước Thiên Chúa trước hết phải là vương quốc của nhân ái thần linh; nói cách khác, sự thánh thiện đạo đức của vương quốc đó hệ tại ở ‘nhân lành của từ ái xót thương’, chứ không phải ‘tốt lành của luân lý’.

    Chàng thanh niên tuy có tốt lành thánh thiện theo tiêu chuẩn Do Thái, nhưng chưa có lòng nhân ái của Tin Mừng. Để có thể trở nên nhân lành, Đức Giê-su đã mời gọi anh: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo tôi”. Hai tiêu chuẩn chính của nhân lành Đức Giê-su đề ra là: chấp nhận Tin Mừng Đức Ki-tô và sống chan hòa với tha nhân; và vì thấy mình không thể đạt được hai chuẩn đó nên ‘chàng buồn rầu bỏ đi’. Các môn đệ Đức Giê-su sẽ phải học biết nhân ái Tin Mừng nhờ đi vào con đường Thập Giá theo Thầy và từ bỏ mọi sự. Như vậy ơn gọi Ki-tô hữu của chúng ta sẽ hệ tại ở sống Tin Mừng bác ái theo Người Thầy nhân ái, hơn là chỉ lo sống tốt – lương thiện qua việc giữ trọn các giới răn, cho dầu đó có là các điều luật thánh của Thiên Chúa hay của Hội Thánh đi nữa.

    Trong tư cách linh mục, chính tôi phải sống thế nào để tất cả sẽ bảo đảm ‘được sự sống đời đời làm gia nghiệp’, đồng thời phải dạy giáo dân sống như thế. Đó quả là vấn đề mục vụ có tầm quan trọng bậc nhất đấy!

    Lạy Cha là Đấng chân thiện mỹ, hôm nay Cha dạy cho con biết nhân ái là điều còn cao quí hơn chân thiện mỹ tới cả ngàn lần; chính nhờ Lời mạc khải của Con Một Cha con mới biết được điều quan trọng này. Xin cho con biết sống lòng nhân ái như giá trị lớn hơn hết thảy, có khả năng làm cho con nên giống Đức Ki-tô Con Cha. Cũng xin cho con sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh để trở nên nhân ái như Chúa Cha trên trời. A-men.

    Về mục lục

    TIỀN BẠC LÀ PHÂN BÓN CỦA MA QUỶ

    Văn Hào

    Đã có một thời, người dân Philippines hết lời ca tụng ông Joseph Estrada. Ông là vị tổng thống thứ 9 của một đất nước có rất đông người công giáo. Bản thân ông cũng là một tín hữu sùng đạo nên đông đảo dân chúng quý mến và ngưỡng mộ ông. Trong con mắt người dân, ông là một vị lãnh đạo liêm chính, sống giản dị và rất quảng đại. Lễ tuyên thệ nhậm chức của ông không ồn ào rình rang và quá tốn kém. Ông lưu tâm đến người nghèo, đặc biệt các cư dân vùng nông thôn hẻo lánh, và ông tuyên bố: “ Tôi là vị tổng thống của người nghèo”. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi ông lên cầm quyền, niềm tin của dân chúng đặt để nơi ông đã hoàn toàn sụp đổ. Ông Estrada bị báo chí phanh phui vì hàng tháng ông vẫn nhận một khoản tiền lớn từ các sòng bài phi pháp, để nhắm mắt làm ngơ cho họ kiếm chác. Đồng tiền đã làm tối mắt ông và làm sói mòn niềm tin dân chúng nơi ông. Thậm chí, Đức Hồng Y James Sheen Tổng Giám mục giáo phận Manila đã mạnh mẽ lên tiếng đòi ông phải từ chức, vì sự nhơ bẩn ông tạo ra khiến ông không còn xứng đáng là người cầm quyền. Chính đồng tiền đã biến một vị lãnh đạo mẫu mực trở nên một con người đầy tai tiếng, một nhân vật được mọi người nể trọng trở nên đối tượng khiến dân chúng khinh ghét.

    Đây chỉ là một trong muôn vàn ví dụ liên quan đến tham nhũng đang xảy ra nhan nhản trong xã hội hiện nay. Đồng tiền dù ở bất cứ thời đại nào, xã hội nào vẫn luôn là tên cám dỗ khủng khiếp nhất gặm nhấm phẩm chất đạo đức và tư cách của con người.

    Hình ảnh chàng thanh niên mà bài Tin mừng hôm nay thuật lại, lột tả bức chân dung hiện sinh của các Kitô hữu chúng ta ngày hôm nay. Anh ta ao ước muốn nên trọn lành. Anh đã sống tử tế và nghiêm túc, tuân thủ các luật lệ từ nhỏ. Khi đến trình diện Đức Giêsu và bày tỏ ao ước của mình, Chúa Giêsu đã đặt ra cho anh một thách đố: “ Nếu muốn nên trọn lành, anh hãy về bán hết của cải, phân phát cho người nghèo, rồi đến theo tôi”. Người thanh niên sa sầm nét mặt và lặng lẽ bỏ đi (Mc 10, 22). Tiền bạc và của cải vật chất đã trở nên như một rào chắn khổng lồ cản che, khiến anh không thể bước tới và thực hiện ước muốn tốt lành của mình.

    Tiền bạc là phân bón của ma quỷ

    Đây là câu nói của thánh Phanxicô Assisi. Ma quỷ đã dùng loại phân bón độc chiêu này gây ra biết bao sự dữ trên trần gian. Những cuộc chiến tranh tàn khốc xảy ra khắp nơi trên thế giới, cũng chỉ vì tranh chấp những nguồn tài nguyên béo bở giữa các quốc gia. Sự đổ vỡ trong các gia đình đa phần cũng chỉ vì đồng tiền bát gạo. Chúng ta không lạ lẫm gì khi thấy cảnh những anh em ruột thịt, hoặc ngay cả cha mẹ và con cái đưa nhau ra tòa kiện cáo cũng chỉ vì tranh giành vài ba thước đất. Một ông chồng không có khả năng làm ra tiền, ngày nào cũng phải ngửa tay xin vợ, chắc chắn sẽ rơi vào mặc cảm và chẳng còn gì là khí phách nam nhi để điều khiển gia đình. Dân gian vẫn nói: “ Tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của cụ già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý…” Nói chung, tiền là tất cả, đồng thời nó cũng chính là bóng ma vô hình đang phủ bóng trên tất cả mọi ngõ ngách của cuộc sống đời thường chúng ta. Khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài đã mạnh mẽ tuyên chiến với tiền bạc. Ngài nói “ Không ai có thể làm tôi hai chủ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6, 24). Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu còn mạnh mẽ khẳng quyết: “ Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa” (Mc 10, 25). Lời tuyên bố của Đức Giêsu mang chở sứ điệp gì đối với chúng ta hôm nay khi đang sống giữa một xã hội luôn đề cao sự giầu có?

    Mối phúc đầu tiên

    Nghèo khó chính là mối phúc dẫn đầu trong tám mối phúc: “ Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì nước trời là của họ”. Đây là mối phúc quan trọng nhất và cũng là điều kiện đầu tiên Chúa đặt ra cho những ai muốn trở nên môn đệ Ngài. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu” (Lc 10, 58). Trong ba năm rao giảng, Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta một cách cụ thể. Ngài không phải là lý thuyết gia, cũng không phải là một nhà mô phạm chỉ nói suông trên đầu môi cửa miệng. Ngài đã sống tận căn lối sống khó nghèo, như Thánh Phaolô đã xác quyết: “ Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự nguyện trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình làm cho anh em nên giàu có” ( 2C 8, 9).

    Khi còn sống ẩn dật tại Nazareth, Đức Giêsu cũng phải lao động, phải mướt mồ hôi để kiếm sống. “Ngài sống giống hệt như chúng ta ngoại trừ tội lỗi” ( Dt 4, 15 ). Trong những năm rao giảng, Ngài đã thể hiện một lối sống xem ra có vẻ khá bấp bênh: “Con chồn có hang, chim trời có tổ nhưng con người không có nơi gối đầu”. Đức Giêsu còn là một ‘chuyên gia’ đi vay mượn. Ngài mượn một chiếc thuyền chèo ra xa để giảng dạy dân chúng. Tiến vào Giêrusalem, Ngài cũng sai học trò đi mượn một con lừa. Tổ chức bữa tiệc vượt qua trước khi đi thụ nạn, Ngài cũng mượn ngôi nhà của một người giàu có. Thậm chí sau khi chết, Ngài cũng được mai táng trong phần mộ mượn đỡ của một người khác chứ không phải của mình. Về tài sản vật chất, Đức Giêsu hoàn toàn không sở đắc bất cứ thứ gì.

    Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng đã vui vẻ nhận sự trợ giúp của những phụ nữ giàu có và đạo đức. Ngài còn cắt đặt Giuđa quản lý túi tiền để chi dùng cho cả nhóm 12. Ngài vẫn đến dùng bữa tại nhà những người nhiều tiền lắm của như Giakêu hay những người biệt phái. Ngài còn chọn hai người con ông Giêbêđê làm môn đệ, những người không phải thuộc thành phần bần cố nông, nhưng ít ra cũng thuộc dạng tiểu tư sản, vì nhà có thuyền, có lưới, có cả những người làm công. Thế thì tại sao Chúa lại kết án những người giàu một cách đanh thép như trong bài Tin mừng hôm nay.

    Chắc chắn tiêu chí đầu tiên để trở thành môn đệ Chúa Giêsu là phải từ bỏ tất cả: cha mẹ, vợ con, ruộng vườn, từ bỏ hết không chừa lại cái gì. Khi sai các học trò đi thực tập truyền giáo, Ngài chỉ trang bị cho các ông món hành trang duy nhất là ‘năng quyền để trừ quỷ và chữa trị các bệnh tật’, ngoài ra không có gì hết: không tiền bạc, không mặc hai áo, không bao bị, giầy dép… Các thánh ký diễn tả với một vài chi tiết thay đổi, tùy theo não trạng văn hóa của từng loại độc giả, nhưng những chi tiết đó không quan trọng. Điểm nhấn duy nhất Chúa nhắm đến chính là sự thanh thoát, cắt đứt mọi dính bén nơi của cải vật chất. Đây là cốt lõi của tinh thần nghèo khó phúc âm mà Chúa nhấn mạnh.

    Có nhiều hiền sĩ hay những bậc thánh hiền đời xưa sống một cuộc sống rất thanh bạch. Hoặc có những vị quan thời trước đã rũ bỏ quyền cao chức trọng và cuộc sống vương giả nơi triều đình để rút lui về ở ẩn, sống một cuộc sống giản dị và khiêm tốn. Nhưng những lối sống ấy chưa phải là tinh thần khó nghèo mà Chúa mời gọi. Đối với nhiều người, cái nghèo đến với họ chỉ là một tình trạng kinh tế bất đắc dĩ mà họ phải gánh chịu, và chắc chắn đó không phải là nghèo khó phúc âm mà họ tự nguyện dấn bước vào. Có thể họ đã từ bỏ mọi sự thế gian, nhưng còn thiếu một điều rất quan trọng, đó là điều mà các tông đồ đã thưa với Chúa trong bài Tin mừng hôm nay :“Thưa Thầy chúng con đã bỏ mọi sự và theo Thầy, chúng con sẽ được những gì?” Bỏ mọi sự thì tốt, nhưng chưa đủ. Còn phải tiếp bước dấu chân của Chúa để trở nên môn đệ Ngài. Đây cũng là điều Đức Giêsu nói với chàng thanh niên hôm nay: “ Hãy bán đi những gì anh có cho người nghèo, rồi đến theo tôi”. Người môn đệ phải sao chép lại phong thái nghèo khó nơi Đức Giêsu. Không phải chỉ là từ bỏ của cải vật chất, nhưng là khước từ tất cả những gì chúng ta đang có, đang chiếm hữu, thậm chí ngay cả mạng sống: “ Ai theo tôi hãy bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày và theo tôi”. Đó là căn gốc của tinh thần nghèo khó mà Chúa nói đến, và đây cũng chính là linh đạo Thập giá mà chúng ta phải suy niệm để sống mỗi ngày.

    Nếp sống trưởng giả

    Đức Thánh Cha Phanxicô trong hơn hai năm trên cương vị Giáo hoàng đã khá nhiều lần cảnh báo về một lối sống trưởng giả, đặc biệt nơi các linh mục, các Giám mục, và cả các Hồng y. Sau khi đắc cử Giáo hoàng, Ngài đến quầy tiếp tân của khu nhà nghỉ trong Vatican để lấy tiền túi trả tiền phòng giống như mọi người. Khi còn là Hồng y tại Argentina, Ngài vẫn sử dụng chiếc xe hơi cũ kỹ như một người nghèo. Trong bất cứ cuộc tông du nào, Ngài luôn xếp chương trình để đến thăm các khu ổ chuột, đến các nhà tù hoặc những vùng dân cư nghèo khổ nhất, và Ngài gọi đó là vùng ven (periphery). Trong chuyến tông du tại Mỹ, Ngài đã từ chối bữa ăn sang trọng mà các nghị viên khoản đãi để đến dùng bữa với những người vô gia cư, những kiều dân khố rách áo ôm lang thang lếch thếch. Không phải chỉ một lần, Ngài đã nói thẳng thừng về hiện tượng các vị mục tử rất đáng kính, sử dụng những chiếc xe hơi quá sang trọng và xa xỉ, những thứ chỉ dành cho giới thượng lưu. Đây là lối sống trưởng giả mà Ngài nói khá nhiều lần. Nhiều bậc vị vọng đã chột dạ, đổi xe khác rẻ tiền hơn, hoặc có một Giám mục ở Hoa Kỳ đã phải bán dinh thự Giám mục xa xỉ của mình để mua lại một tòa nhà khác khiêm tốn hơn, giản dị hơn. Chắc chắn, Đức Thánh Cha không cổ vũ một lối sống bần cùng hay cơ cực, nhưng Ngài nhìn thấy nguy cơ của một phong thái thích sống hưởng thụ (consumerism), làm lu mờ căn gốc nghèo khó và làm mất đi chứng tá những giá trị Tin mừng nơi các vị mục tử trong Giáo hội.

    Kết luận: Ngẫu tượng tiền bạc

    Nhà văn Anderson viết một câu chuyện rất ngắn khá ý nghĩa. Một người hành khất đói khổ đến gõ cửa nhà một người giàu có để ăn xin. Anh chàng nhà giàu nứt khố đổ vách nhưng lại rất keo kiệt, nhất định không cho cái gì. Nhìn quần áo lôi thôi lếch thếch và khuôn mặt lem luốc của người ăn mày, tên nhà giầu đã không bố thí còn từ trong nhà mỉa mai nói vọng ra: “ Hình như anh vừa mới từ dưới hỏa ngục chui lên thì phải. Nhìn bộ mặt và quần áo của anh, tôi đoán thế”. Người hành khất nuốt nhục trả lời: “ Thưa ông, đúng vậy. Ông nói quả không sai chút nào, tôi mới ở dưới hỏa ngục chui lên đây. Ở dưới đó hết chỗ rồi. Những người giầu có và keo kiệt như ông đã đầu tư tiền bạc mua hết đất rồi. Đất ở dưới đó ngày càng mắc, nhất là đất mặt tiền. Không còn chỗ để ở, tôi phải chui lên đây.”

    Sự giàu có mà Chúa kết án trong bài Tin mừng hôm nay chính là sự keo kiệt, cứ mãi bấu víu vào của cải vật chất một cách ích kỷ. Khi con người thượng tôn tiền bạc, lấy tiền bạc làm thước đo mọi giá trị, họ sẽ dần dần gạt bỏ Thiên Chúa ra bên ngoài. Đây chính là cách sống vô thần trong thực hành. Điều đó chẳng khác gì việc tôn thờ ngẫu tượng (idolatry), giống như dân Do Thái tôn thờ con bò vàng năm xưa. Đây cũng là lời cảnh báo mà Chúa Giêsu đã nói trong bài Tin mừng hôm nay. Cũng tương tự, thánh Augustinô dạy chúng ta: “Bạn hãy mở to mắt nhìn xem một người giàu có keo kiệt đang giẫy chết. Tôi cam đoan rằng đó là cái chết thảm khốc và ghê sợ nhất, bởi vì họ sẽ ra đi mà chẳng mang theo được cái gì họ vẫn đeo bám.”

    Về mục lục

    LỐI NHỎ ĐƯỜNG SỐNG

    Trầm Thiên Thu

    Giàu – Nghèo là vấn đề muôn thuở. Người nghèo luôn nhiều hơn người giàu, mọi thời và mọi lúc. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Người nghèo bên cnh anh em lúc nào cũng có” (Ga 12:8). Thực tế cho thấy rằng mấy ai “đẻ bọc điều” đâu. Thế nhưng có những người mới “hơn người” một chút đã tỏ vẻ “chảnh”, kênh kiệu thấy rõ!

    Nghèo thì khổ, thiếu thốn đủ thứ, thậm chí thiếu cả những điều kiện sống cơ bản. Với người giàu, người Việt nói: “Ming người giàu có gang, có thép”. Người Iran mỉa mai qua câu tục ngữ: “Khi người giàu ăn cp, người ta bo h nhm ln; khi người nghèo ăn cp, người ta bo h ăn trm”. Còn tục ngữ Nam Phi nói: “Li đ ngh ca k nghèo được xét đến sau cùng”. Được xét là còn may, bởi vì thường thì mọi lời nói, đơn từ, vụ việc,… của người nghèo chẳng ai thèm quan tâm chi cho mất thời giờ. Nghèo không có tội, nhưng khổ y như “bị vạ” vậy!

    Người nghèo khổ thật, thế mà còn bị khinh miệt nữa! Đó là một dạng vô cảm. Bà Hellen Adams Keller (1880-1968, tác giả và nhà hoạt động người Mỹ) nhận định: “Thói xu ti t nht chính là s vô cm ca con người”.

    Có điều gì khác nhau giữa người nghèo và người giàu? Tục ngữ Phần Lan giải thích: “Người nghèo ăn khi nào có, người giàu ăn khi nào mun”. Rất đơn giản mà rất thâm thúy. Nỗi đau ngấm ngầm và nhức buốt lắm! Tục ngữ Pháp phân tích: “Không ai kiêu ngo hơn người giàu mà mi đây ch là k nghèo kiết xác”. Khó vào Nước Trời là loại người giàu như vậy, chứ sự giàu có không là điều bất hạnh mà Chúa Giêsu đề cập.

    Người giàu hay người nghèo đều cần sự khôn ngoan. Tại sao? Vì “khôn ngoan là thần khí hằng yêu mến con người” (Kn 1:6), “trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại” (Kn 3:15), và “đức khôn ngoan là kho báu vô tận cho con người” (Kn 7:14). Quả thật, sự khôn ngoan vô cùng cần thiết: “Có nhiu người khôn ngoan, thế gii được cu thoát; nh mt v minh quân, c thn dân được an cư lc nghip” (Kn 6:24).

    Tác giả sách Khôn Ngoan bộc bạch: “Tôi nguyn xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi s hiu biết. Tôi kêu cu, và thn khí Đc Khôn Ngoan đã đến vi tôi. Đc Khôn Ngoan, tôi đã quý trng còn hơn c vương trượng, ngai vàng. Tôi không coi ca ci là gì so vi Đc Khôn Ngoan” (Kn 7:7-8). Thật là khôn ngoan khi biết mình yếu đuối, bất tài, vô dụng, và biết cầu xin Thiên Chúa xót thương. Khôn ngoan là khiêm nhường, khiêm nhường là khôn ngoan.

    Khôn ngoan vô giá, không gì có thể so sánh. Tác giả sách Khôn Ngoan giải thích, đồng thời cũng là lời chia sẻ chân thành: “Đi vi tôi, trân châu bo ngc chng sánh được vi Đc Khôn Ngoan, vì vàng trên c thế gii, so vi Đc Khôn Ngoan, cũng ch là cát bi, và bc, so vi Đc Khôn Ngoan, cũng k như bùn đt. Tôi đã ham chung Đc Khôn Ngoan hơn sc kho và sc đp, đã quý Đc Khôn Ngoan hơn ánh sáng, vì v rc r ca Đc Khôn Ngoan chng bao gi tàn li. Nhưng cùng vi Đc Khôn Ngoan, mi s tt lành đã đến vi tôi. Nh tay Đc Khôn Ngoan, ca ci quá nhiu không đếm xu” (Kn 7:9-11). Rất rõ ràng, rất chi tiết. Có đức khôn ngoan là có tất cả. Đúng là kho tàng vô giá!

    Biết vậy, tác giả Thánh Vịnh tha thiết cầu xin: “Xin dy chúng con đếm tháng ngày mình sng, ngõ hu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90:12). Niềm khao khát đó không thoáng qua, không tùy hứng, vui thì muốn, buồn thì thôi, nhưng là niềm khao khát cháy bỏng và không ngừng: “T bui mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, đ ngày ngày được hn h vui ca. Xin ban tng chúng con nim hoan h, bù li nhng tháng năm Ngài đã bt nếm nhc nut su” (Tv 90:14-15).

    Tất cả là hồng ân, là lòng thương xót của Thiên Chúa, chứ chúng ta hoàn toàn bất xứng. Biết vậy là đầu mối khôn ngoan. Chắc chắn Thiên Chúa sẽ đoái thương, không thể làm ngơ, vì Ngài là Đấng giàu lòng thương xót. Mọi nơi và mọi lúc, Ngài mong muốn chúng ta chân thành thân thưa: “Xin cho chúng con được vui hưởng lòng nhân hu ca Chúa là Thiên Chúa chúng con. Vic tay chúng con làm, xin Ngài cng c, xin cng c vic tay chúng con làm” (Tv 90:17).

    Lối nhỏ là đường dẫn tới sự sống, lối rộng là đường dẫn tới sự chết. Đúng vậy, vì Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Hãy qua ca hp mà vào, vì ca rng và đường thênh thang thì đưa đến dit vong, mà nhiu người li đi qua đó. Còn ca hp và đường cht thì đưa đến s sng, nhưng ít người tìm được li y” (Mt 7:13-14). Ngài còn bảo chúng ta phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào” (Lc 13:24). Chắc chắn Ngài không xúi dại chúng ta đâu. Chính sự tự do cũng có “phạm vi nhất định” kia mà, đâu phải tự do thì muốn làm gì thì làm, nếu vậy thế giới này loạn hết.

    Trung ngôn nghịch nhĩ. Lời thật mất lòng. Phụ nữ hỏi về sắc đẹp của họ, nếu nói họ đẹp thì họ vui, nhưng chỉ là ảo; nếu nói họ không đẹp thì họ buồn, thậm chí còn ghét người nhận xét. Nhạc sĩ, thi sĩ và văn sĩ hỏi tác phẩm của họ thế nào, nếu nói tác phẩm của họ hay thì họ cười; nếu nói tác phẩm của họ “chưa đạt” thì họ chán lắm, có khi họ bảo người nhận xét không biết nghệ thuật, không tinh tế. Chuyện đời là thế. Đôi khi người ta chỉ nịnh nhau để xã giao thôi. Mẹ hát, chẳng lẽ con lại nỡ lòng không khen hay? Trên Facebook hoặc các website khác, những cái “like” [thích] có thể cũng chỉ là giả tạo mà thôi, ít có người thật lòng. Vả lại, thấy Facebook có nhiều rác quá, toàn là chuyện ba sàm, vớ vẩn!

    Với Thiên Chúa thì khác hẳn. Lời Chúa có lúc làm cho chúng ta phấn chấn, hạnh phúc, nhưng Lời Chúa có lúc làm cho chúng ta đau nhói, nhức buốt – thường thì nhức nhiều hơn, vì “Lời Chúa phán là lời chân thật, như bạc nấu trong lò, đã bảy lần tinh luyện” (Tv 12:7). Thật vậy, Thánh Phaolô nói: “Li Thiên Chúa là li sng đng, hu hiu và sc bén hơn c gươm hai lưỡi: xuyên thu ch phân cách tâm vi linh, ct vi tu; li đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng ca lòng người” (Dt 4:12). Tại sao như vậy? Thánh Phaolô giải thích: “Vì không có loài th to nào mà không hin rõ trước Li Chúa, nhưng tt c đu trn tri và phơi bày trước mt Đng có quyn đòi chúng ta tr l” (Dt 4:13).

    Tác giả Thánh Vịnh đặt vấn đề: “Làm thế nào gi được tui xuân trong trng? Thưa phi tuân theo li Chúa dy” (Tv 119:9). Hằng ngày, theo kiểu Facebook, chúng ta có “like” [yêu] Chúa thật lòng hay cũng chỉ “che mắt thánh” đây? Chúa biết hết, vì Ngài “thấu suốt mọi tâm can” (Cv 15:8; Rm 8:27). Ước gì mỗi chúng ta luôn biết chân thành tâm nguyện: “Ly Chúa, con hết d kiếm tìm Ngài, xin ch đ con làm sai mnh lnh Chúa” (Tv 119:10).

    Tìm kiếm Chúa thật khó. Khó không phải vì Chúa “trốn” chúng ta, mà tại chúng ta chưa thực sự muốn gặp Ngài. Muốn thì muốn, nhưng thực hành thì… hậu xét! Trình thuật Mc 10:17-22 “minh họa” điều này.

    Một hôm, khi Đức Giêsu vừa lên đường, có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thy nhân lành, tôi phi làm gì đ được s sng đi đi làm gia nghip?”. Ngài nói: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành c, tr mt mình Thiên Chúa. Hn anh biết các điu răn: Ch giết người, ch ngoi tình, ch trm cp, ch làm chng gian, ch làm hi ai, hãy th cha kính m. Anh ta hãnh diện nói với Ngài rằng anh đã tuân giữ tất cả những điều đó từ thuở nhỏ.

    Tuyệt vời lắm, tốt lành thật! Thật vậy, chính Đức Giêsu đã âu yếm đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Rồi Ngài bảo anh ta: “Anh ch thiếu có mt điu, là hãy đi bán nhng gì anh có mà cho người nghèo, anh s được mt kho tàng trên tri. Ri hãy đến theo tôi”. Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Thôi rồi, bó tay rồi!

    Có lẽ lúc đó Chúa Giêsu đã lắc đầu tiếc cho anh ta lắm. Ngài rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Nhng người có ca thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” (Mc 10:23). Nghe Sư Phụ nói thế, các môn đệ sững sờ vì chẳng lẽ giàu là có tội sao? Căng thật đấy! Chưa hết ngạc nhiên thì họ lại nghe Thầy nói tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa tht khó biết bao! Con lc đà chui qua l kim còn d hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10:25). Ui da! Căng thật chứ chẳng đùa đâu đấy!

    Tất nhiên họ lại càng sửng sốt hơn nữa và rỉ tai nhau: “Thế thì ai có th được cu?”. Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện chứ ai mà trả lời được! Chúa Giêsu biết các đệ tử đang “đâu cái điền” (điên cái đầu) và “nhức óc” lắm, nhưng Ngài vẫn nghiêm túc nhìn thẳng vào các ông và nói: “Đi vi loài người thì không th được, nhưng đi vi Thiên Chúa thì không phi thế, vì đi vi Thiên Chúa mi s đu có th được” (Mc 10:27).

    Chắc chắn là thế. Có lẽ lúc này thực sự giá trị để chúng ta mượn lời Thánh Phêrô mà thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thy, b Thy thì chúng con biết đến vi ai? Thy mi có nhng li đem li s sng đi đi” (Ga 6:68).

    Người giàu khó vào Nước Trời vì ỷ giàu mà khinh người, dùng tiền bạc để ăn chơi sa đọa; còn người giàu mà biết chia sẻ với người nghèo, biết làm từ thiện, họ dễ vào Nước Trời thôi. Người nghèo mà chảnh thì cũng vô phúc, cho thì họ không lấy, thấy cũng không thèm xin, nhưng đồ người ta giấu kín thì rình mò, hở là rinh ngay, nghèo kiểu đó thì chắc chắn chẳng biết lối nào mà vào Nước Trời. Người nghèo như vậy là nghèo vô phúc, nghèo bạc phước, chứ chẳng có phúc chút nào ráo trọi!

    Ly Thiên Chúa, xin giúp con biết chp nhn nhng gì Ngài ban cho con theo lòng nhân hu ca Ngài, ch không đòi hi, không se sua, không mưu mô,… Xin giúp con c gng đi trên “li nh” đ được s sng di dào ca Ngài. Con cu xin nhân danh Thánh T Giêsu, Đng cu đ nhân loi. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Là những Ki-tô hữu, chúng biết rất rõ mục đích của cuộc sống là được cứu rỗi, được bình an và hạnh phúc đích thực vĩnh cửu đời sau trên Thiên đàng. Nhưng câu hỏi quan trọng đặt ra cho chúng ta là làm thế nào để đạt được đích điểm đó. Chúng ta thấy có nhiều câu trả lời và ý kiến khác nhau. Có người cho rằng chỉ cần tin vào Chúa Giê-su Kitô là được cứu rỗi, có người nghĩ rằng chỉ cần đi lễ Chúa nhật mỗi tuần và đọc kinh mỗi ngày, có người cho rằng chỉ cần ăn ngay ở lành. Nhưng thánh Giacôbê đã nói: “Đức tin không việc làm là đức tin chết.” Chúa Giêsu cũng tuyên bố: “Không phải ai nói Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời; nhưng chỉ có những ai lắng nghe và thực hành Lời Chúa.” Và câu châm ngôn chúng ta thường nghe “Ăn ngay ở lành” cũng rất tổng quát và mơ hồ, vì nếu chỉ giới hạn trong đời sống cá nhân hay gia đình của mình, thì cuộc sống như thế không chu toàn lời Chúa dạy chúng ta trong Kinh Lạy Cha, đó là chúng ta phải sống như thế nào để “Cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Các bài đọc Lời Chúa hôm nay chú trọng và dạy chúng ta: Phải làm thế nào, phải sống như thế nào để đạt được cuộc sống đời đời? Và nếu chúng ta chú ý lắng nghe những bài Kinh thánh Lời Chúa, thì chúng ta có thể tìm ra được câu trả lời, đó là, phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy.

    Bài đọc I, trích sách Khôn Ngoan, cho chúng ta thấy sự quan trọng của việc thực hành, sống Đức Khôn Ngoan của Chúa. Đức Khôn Ngoan của Chúa đáng quý trọng hơn mọi sự trên trần gian này, vì hai lý do, thứ nhất, có Đức Khôn Ngoan là có mọi sự; và thứ hai, chỉ có Đức Khôn Ngoan tồn tại muôn đời. Chúng ta biết Đức Khôn Ngoan trong Kinh thánh là Thần Khí của Thiên Chúa, là Lời Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa giúp chúng ta nhận ra sự gì là cần thiết, quan trọng, là trước tiên và trên hết cho đời sống chúng ta, thúc đẩy chúng ta làm những việc tốt lành, phúc đức và đẹp lòng Chúa. Cho nên đời sống của Ki-tô hữu chúng ta ở đời này phải được soi sáng bằng sự khôn ngoan của Lời Chúa.

    Tuy nhiên, chúng ta phải biết phân biệt sự khôn ngoan thế gian và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Con người chúng ta thường dùng sự khôn ngoan thế gian để sống ích kỷ, tự kiêu và lừa dối người khác, để lợi ích hay dành phần thắng cho mình. Sự khôn ngoan xảo trá thế gian nhiều khi làm hại người khác, có ảnh hưởng xấu đến cộng đoàn, xã hội, và cuối cùng bị phơi bày ra trước mặt Thiên Chúa, lãnh hình phạt ở cuộc sống đời sau. Còn sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, là vâng theo thánh ý lời Chúa dạy, đưa đến những sự hiệp nhất yêu thương, đưa đến công bằng bác ái, làm sáng danh Chúa, và kết quả là hạnh phúc trong cuộc sống đời đời.  

    Trong bài đọc 2, tác giả Thư Do-thái xác quyết cho chúng ta biết Đức Khôn Ngoan là Lời Chúa, hay Ngôi Lời chính là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Khôn Ngoan Lời Chúa giúp chúng ta biết phân biệt những điều tốt-xấu, lành-dữ và phải-trái. Lời Chúa đòi con người chúng ta phải suy tư, thúc đẩy chúng ta phải quyết định, hành động, và sẽ làm chứng cho chúng ta, sẽ là chứng nhân trước tòa phán xét thưởng hay phạt của Thiên Chúa ở đời sau.

    Bài Tin mừng hôm nay diễn tả về một người thanh niên không những đạo đức mà còn giàu có. Thế nhưng anh vẫn cảm thấy một khoảng trống trong tâm hồn, và điều đó làm cho anh thao thức. Ngày kia, anh cảm thấy có một sự lôi cuốn mãnh liệt đi tìm và đã gặp Chúa Giêsu. Anh muốn biết phải làm sao, phải sống như thế nào để có cuộc sống vĩnh cửu. Chúa Giêsu cho anh biết phải giữ tất cả các điều răn. Anh thưa với Chúa anh đã chu toàn những luật lệ như không giết người, không ngoại tình, không trộm cắp, không lường gạt, không làm chứng gian, và đã chu toàn bổn phận với cha mẹ. Có nghĩa là anh “ăn ở ngay lành” như câu châm ngôn chúng ta thường nghe. Điều đó thật đáng khen.

    Sau đó, Chúa nói với anh: “Hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta.” Có lẽ người thanh niên này đã bối rối, phân vân, trước Lời Chúa kêu mời ra khỏi cuộc sống cá nhân, chú ý tới cuộc sống tha nhân làm việc bác ái, và hy sinh theo Chúa phục vụ, làm cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Và anh tự hỏi “tôi phải quyết định làm sao bây giờ?” Lời Chúa đòi hỏi anh ta phải có một sự lựa chọn: một là chọn của cải vật chất, chọn sống cho cá nhân chính mình, hay chọn sống cho Chúa. Cuối cùng, anh đã đặt trọng tâm vào cá nhân và những giá trị trần gian hơn lời mời của Chúa và kho tàng cao quí là hạnh phúc vĩnh cữu trên trời. Anh đã từ khước ân sủng khôn ngoan lời của Chúa và quay lưng bỏ đi.  

    Ông bà anh chị em thân mến. Đứng trước sự khôn ngoan Lời Chúa hôm nay, chúng ta cũng phải có một quyết định. Là những Ki-tô hữu, chúng ta phải đặt Chúa trước hết và trên hết mọi sự trong cuộc sống. Chúng ta biết trong xã hội ngày nay, có rất nhiều sự cám dỗ và lôi cuốn mạnh mẽ làm chúng ta xa Chúa, thờ ơ với đời sống đức tin, đời sống đạo. Cho nên chúng ta cần sự khôn ngoan lời Chúa hướng dẫn và quyết định cho cuộc sống, biết từ bỏ và theo Chúa. Nếu chúng ta quyết định làm theo lời Chúa kêu mời, chúng ta phải hy sinh thời giờ lắng nghe và can đảm sống theo Lời Chúa kêu mời, để Lời Chúa biến đổi và thánh hóa đời sống. Thiên Chúa yêu thương và rất nhân hậu với chúng ta.  Chúa đã, đang và sẽ ban cho chúng ta nhiều ơn lành hồn xác hơn lòng chúng ta mong ước và xứng đáng. Xin Chúa giúp và mở tâm hồn chúng ta, để chúng ta sống yêu thương và hiệp nhất, bác ái và quảng đại, và biết dùng đời sống cũng như những ơn lành Chúa ban, để làm sáng danh Chúa và để cho Nước Chúa trị đến, và để chúng ta có một kho tàng bình an và hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên Đàng.

    Về mục lục

    .

    TIN VÀ THEO CHÚA GIÊSU

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Báo Tuổi Trẻ Cười có bài thơ.

    “Ông Tiền, ông Phật, ông Tiên,
    Ba ông đứng lại, ông Tiền cao hơn.
    Tiền nhiều: mặc kệ… vẫn hơn,
    Dẫu cho nhân sự ngã nghiêng tứ bề.
    Tiền nhiều chẳng ngán chẳng lo,
    Phất tay một cái nhằm nhò gì ông”.

    Con người dù sở hữu nhiều “ông tiền” và “mua tiên cũng được”, nhưng chắc gì đã hạnh phúc?

    Ngày 06.6.1976, tỷ phú Paul Getty qua đời, để lại một gia sản từ hai đến bốn tỷ đôla. Sau năm lần ly dị, ông đã tuyên bố với báo chí: Tôi mong dùng tất cả gia tài của tôi để xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tôi thất bại. Tôi không đạt được hạnh phúc gia đình. Tiền bạc không thể mua được hạnh phúc. Trái lại, nó còn có họ hàng bà con với những nỗi bất hạnh nữa.

    Cơ quan vũ trụ Nasa của Mỹ đã từng tiết lộ: khi phi hành gia lần đầu tiên trên trái đất đặt chân lên mặt trăng, nhìn cảnh vật, ông ấy đã thốt lên “Ôi, yên bình quá, ở đây không có tiền”.

    Một cuộc sống đầy đủ không thể không có tiền, nhưng nhiều tiền chưa hẳn đã có hạnh phúc. Sự giàu sang không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho con người.

    Trang Tin mừng hôm nay kể chuyện một thanh niên đạo đức và có nhiều tiền của mà vẫn thao thức đi tìm hạnh phúc với lý tưởng hằng ấp ủ từ thuở nhỏ.

    Một thanh niên công chính, ngay thẳng, không dối gian. Một người trẻ tuổi tốt lành có thiện chí, giữ trọn các giới răn của Thiên Chúa và còn muốn làm điều tốt hơn nữa để được sự sống đời đời. Chàng trai thật dễ thương, khao khát muốn vươn lên, băn khoăn muốn làm thêm gì đó để nên tốt hơn, thao thức hướng tới trọn lành. Một thiếu gia có của mà không tìm hưởng thụ, nhưng lại nuôi ước vọng cao xa hơn. Chàng trai trẻ ước mơ một vùng trời lý tưởng. Ước mơ ấy cất tiếng gọi anh đi tìm bậc “Thầy nhân lành”. Gặp Chúa Giêsu, anh quỳ xuống và thưa: Thưa Thầy, tôi phải làm gì để đạt được ước mơ mà tôi hằng ấp ủ? Người thanh niên hỏi Chúa Giêsu với cả tấm lòng chân thành. Người hỏi “anh có giữ các giới răn không?” Anh đáp dứt khoát và mau lẹ: “Thưa, tất cả những điều đó tôi đã giữ từ nhỏ”.

    Chúa Giêsu nhìn anh với ánh mắt trìu mến. Khi biết anh đã giữ trọn các giới răn, Chúa “Chăm chú nhìn anh và đem lòng thương“. Chúa thương vì thấy chàng trai trẻ thành tâm thiện chí. Chúa muốn giúp anh đi xa hơn trên con đường trọn lành, con đường tìm kiếm, con đường đòi hỏi từ bỏ và quảng đại. Chúa chỉ cho anh thấy con đường: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi” (Mc 10, 21 ). Đây là điều duy nhất, căn bản và cốt yếu để anh được hạnh phúc, được sự sống đời đời.

    Thánh Máccô kể chuyện cách dí dỏm: “Nghe lời đó, anh ta sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10, 22). Niềm vui lịm tắt, người thanh niên buồn bả bỏ đi (Mt 19, 20-21). Và từ đó ước mơ của anh héo úa theo dòng đời. Anh muốn hạnh phúc, muốn được sự sống đời đời nhưng lòng gắn bó với của cải vật chất đã chặn bước đường đi tới.

    Có lẽ các môn đệ tiếc nuối: sao Thầy không chiêu mộ người thanh niên giàu có này làm môn đệ nhỉ?

    Chàng trai trẻ tiếc của nên bỏ đi. Chúa cũng tiếc thanh niên thiện chí. Chúa “nhìn chung quanh” và nói: “Những kẻ cậy dựa vào của cải, thật khó vào Nước Thiên Chúa biết bao“. Theo Chúa Giêsu, người ta không thể thờ hai chủ cùng một lúc. Kẻ có nhiều của cải thì để tâm vào của cải “kho tàng ở đâu thì lòng trí ở đó” (Lc 12,34), cho nên phải chọn: một là Thiên Chúa, hai là tiền tài (x. Lc 16,13). Lời Chúa thật “sắc bén như gươm hai lưỡi”. Người giàu thiện chí cần phải cắt những ràng buộc vật chất để vươn cao lên.

    Chàng trai trẻ vui mừng và hy vọng đi tìm con đường trọn lành. Phấn khởi gặp Chúa nhưng trở về với nỗi buồn. Chàng trai trẻ không muốn trả giá, không muốn mạo hiểm làm môn đệ. Anh ta chỉ muốn giữ của cải đảm bảo cho cuộc sống vật chất. Muốn theo Chúa Giêsu nhưng anh ta vấp phải một chướng ngại, một sức khống chế, đó là lòng gắn bó với vật chất. Của cải như tấm kính mờ che lấp ánh sáng khi mà ánh sáng muốn soi vào lòng anh. Người thanh niên này có tất cả để được hạnh phúc nhưng chỉ còn thiếu một điều là khả năng theo Chúa.

    Những thanh niên tốt như vậy thời nào cũng có. Người trẻ sùng đạo và khao khát sự sống đời đời. Anh có duyên may gặp được Chúa Giêsu, một bậc thầy có lòng nhân hậu. Nhưng tiếc thay! Anh không đủ can đảm, không đủ quảng đại bác ái để đáp ứng đòi hỏi của Chúa Giêsu là từ bỏ những gì mình có để theo Người.

    Chúa đòi hỏi nơi anh điều anh muốn giữ lại vì của cải là chỗ dựa của đời anh. Anh sẵn sàng làm mọi điều Chúa đòi hỏi trừ việc bỏ chỗ dựa này. Nô lệ cho của cải, người thanh niên không đủ can đảm để ra khỏi ràng buộc.

    Người giàu có không được cứu độ chẳng phải vì họ giàu, nhưng sự trói chặt của vật chất làm họ nô lệ cho của cải và lãng quên Thiên Chúa. Của cải có thể là cạm bẫy che mất lương tâm, cản trở bước đường đến trọn lành. Người ta thường nói: Người giàu lấy của che thân. Người nghèo lấy thân che của. Đồng tiền liền với khúc ruột. Giàu không phải là tội, nghèo chẳng phải là nhân đức. Điều quan trọng theo tinh thần Phúc âm là thái độ con người trước của cải vật chất. Chúa Giêsu đã nhiều lần ví những người giàu có như ông phú hộ tích trữ thóc lúa ăn chơi thỏa thích. Hay như ông phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, không để ý đến Lagiarô đói khổ thèm được mấy thứ từ bàn ăn rơi xuống mà vẫn không được (Lc 12, 16-21; 16, 19-26). Thiên Chúa bảo các ông phú hộ đó: “Đồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng sống ngươi” (Lc 12, 20). Khi các phú hộ ở dưới âm phủ, ngước mắt lên kêu: “Ở đây con bị thiêu đốt khổ lắm”, Tổ phụ Abraham đáp lại: “Con ơi, hãy nhớ lại, suốt đời con đã được sướng rồi, bây giờ, phải chịu cực khổ thế là phải rồi” (Lc 16, 23-25).

    Con người thường bị giằng co giữa ước mơ bay cao và sự kéo ghì của vật chất. Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt. Con người làm chủ nó và dần dần để nó làm chủ mình. Của cải trở thành lẽ sống mà con người không thể dứt bỏ. Những tiêu chuẩn mà con người hôm nay đang đặt ra để trói buộc nhau như là tiền tài, địa vị, danh vọng; thực tế, nó không thể làm cho con người đạt tới hạnh phúc đích thực.

    Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta một tin vui. Có những niềm hạnh phúc lớn lao mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua từng phút giây đang sống. Biết dừng lại để thưởng thức những niềm vui nhẹ nhàng trong cuộc sống. Gặp một nụ cười, ngắm một bông hoa. Thực thi một cử chỉ yêu thương, một việc làm bác ái. Đọc một cuốn sách hay. Một cuộc trò chuyện thân mật. Một buổi tối đọc kinh chung trong gia đình, trong khu xóm. Dâng một thánh lễ sốt sắng. Dự một giờ chầu sốt mến… Biết bao niềm vui an hòa mang đến hạnh phúc trong cái bình thường của đời thường. Có những người, giàu tiền bạc mà không biết vui cười, lắm của cải mà không biết yêu thương, sang trọng bề ngoài mà không có niềm vui nội tâm, thì cũng chỉ là bất hạnh. Con người không chỉ dừng lại nơi cơm áo gạo tiền. Con người còn có rất nhiều niềm vui tinh thần, biết bao hạnh phúc thiêng liêng.

    Chúa Giêsu không chọn những thanh niên “học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu”. Chúa chọn những thanh niên, những người lao động xem ra chẳng bảnh trai hay học thức, nhưng Chúa cần nơi họ là có “tấm lòng”, vì “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Người trẻ luôn ước mơ, luôn khao khát, luôn tìm kiếm và luôn có đủ nghị lực để vươn tới Chân – Thiện – Mỹ. Nhân loại sẽ không tìm thấy giải đáp nào thoả đáng hơn ngoài Chúa Giêsu Kitô, Đấng “là Con Đường, là Chân Lý và là Sự Sống” (Ga 14,6). Trong xã hội ngày nay, có biết bao cuộc vui chơi giải trí, có biết bao phong cách hào hoa, có biết bao chủ thuyết hứa hẹn một tương lai tươi sáng… đang lôi cuốn giới trẻ. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận một sự thật là: con người đứng trước một thế giới tương đối, hữu hạn nhưng tâm hồn lại luôn hướng về những giá trị tuyệt đối, vô biên. Đó là một mâu thuẫn lớn nhất trong con người, đặc biệt là nơi giới trẻ. Nếu không có một đời sống tâm linh vững vàng thì người trẻ dễ rơi vào tình trạng chán chường, thất vọng và phản ứng nổi loạn. Ý tưởng đó được Thánh Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày Quốc Tế Giới Trẻ 1993 xác nhận: “Chỉ có Đấng tạo dựng nên tâm hồn con người mới có thể đáp ứng cách thích đáng những mong chờ mà con người mang trong mình”.

    Vì thế, cần phải cầu xin cho có được sự hiểu biết để “coi của cải chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan”; “Đức khôn ngoan hơn vương trượng, ngai vàng… của cải bằng không. So với đức khôn ngoan, vàng trân châu bảo ngọc chẳng qua là một chút cát, bạc chẳng qua như chút bùn”. (Bài đọc 1). Khôn ngoan là sự giàu sang, là sự hiệp thông với ân sủng của Thiên Chúa. Người đời thường quý chuộng tiền bạc và sự giàu sang, còn người Công chính coi Ðức Khôn Ngoan là điều quý trọng hơn cả. Khôn ngoan quý trọng hơn tiền bạc, ngọc ngà, châu báu. Khôn ngoan quý hơn sức khoẻ và sắc đẹp. Cùng với Ðức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đến với người công chính.

    Người thanh niên trong Tin mừng hôm nay là người trẻ đàng hoàng và lương thiện, sống một cuộc sống không có gì đáng chê trách, không có tội lỗi gì đáng phàn nàn, không có tật xấu để sửa sai. Anh là hình ảnh người Công chính Cựu ước chu toàn lề luật. Chúa Giêsu âu yếm nhìn anh và muốn anh tiến thêm một bước nữa để nên người Công chính Tân Ước: bán gia tài đem bố thí cho người nghèo, sẽ có một kho báu trên trời và hãy theo Ngài. Đó là điều kiện nên người Công chính Tân ước.

    Không ngoại tình, không giết người, không trộm cắp, không làm chứng gian, không lường gạt ai, không bất hiếu với cha mẹ. Đó mới là điều kiện thứ nhất sống tốt lành về mặt luân lý. Điều kiện thứ hai là tin và theo Chúa Giêsu.

    Giá trị của con người không hệ tại ở cái mình có, mà ở tại chính cái mình làm. Tất cả sự khôn ngoan và minh triết được đúc kết nơi Chúa Giêsu. Tin vào Chúa Giêsu và sống theo giáo huấn của Người là sự khôn ngoan của người Kitô hữu.

    Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chỉ dẫn con đường hạnh phúc đời đời. Xin cho chúng con trung thành theo đường lối khôn ngoan thánh thiện Chúa dạy, luôn giữ các giới răn, chia sẻ tình thương với tha nhân, tin và bước theo Chúa mỗi ngày. Amen.

    Về mục lục

     

     

    LỐI THOÁT HIỂM

    Lm. DĐH

    Để phòng hờ những bất trắc xảy ra, từ phương tiện giao thông đường bộ, đường hàng không, nhà ở chung cư, hoặc các nhà máy khu công nghiệp, người ta luôn đăt để lối thoát hiểm. Tại các công trình xây dựng, hiện nay họ thường để câu “an toàn là trên hết”, tuy là câu khẩu hiệu, nhưng chắc hẳn tác động không nhỏ tới sự cảnh giác của người lao động. Chúng ta suy nghĩ, tìm cách bảo vệ an toàn cho cộng đồng xã hội, cho bản thân, hoặc góp phần làm giảm đi những rủi ro không đáng có, thật là hợp lý,

    Người thanh niên trong Tin mừng hôm nay, có thể xếp vào bậc thông thái đáng nể, anh ta không suy nghĩ tìm cho mình lối thoát hiểm đói nghèo, tìm an toàn bình an cho cuộc sống. Thì ra người thanh niên ấy không tìm giữ lấy mạng sống của mình trong thời gian 90 năm, 100 năm, mà anh ta tìm cách để có sự sống đời đời. Lối thoát nghèo đói, đề phòng nguy hiểm trong lao động, xã hội thời nào người ta cũng nghĩ tới, ngay cả việc tuân giữ luật công bằng, đạo làm con thảo hiếu, người thanh niên năm xưa đã từng giữ từ thuở nhỏ !

    Lối thoát hiểm của từng đối tượng xã hội sẽ không giống nhau, người thanh niên không thể đón nhận được sự hướng dẫn của Thầy Giêsu : “sụ nét mặt”, buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. Đức Giêsu không nói các môn đệ là các anh có sống đức công bình, có thảo kính cha mẹ như thế nào, về bán của cải rồi đến theo ta. Đúng là mỗi người trước hết, rất cần phát hiện ra lối thoát hiểm của mình là gì ? Đến với Đức Giêsu để tư vấn, người thanh niên nhận ra anh ta quá giầu và dư điều kiện để có thể đạt được “sự sống đời đời”, nếu anh mạnh dạn chọn lựa theo Chúa và dám sống từ bỏ !

    Kinh nghiệm cho thấy, loài chim trời được thượng đế ban cho đôi cánh để chúng tung bay, nhưng nếu chim lười biếng chỉ đợi chờ cha mẹ tha mồi về, hẳn đôi cánh cao quí của con chim lười ấy cũng trở thành vô dụng ! Là người kitô hữu, Thiên Chúa ban điều kiện để sử dụng, cũng được gọi là ơn ban giúp chúng ta sống, và đạt tới hạnh phúc đời đời, nếu chỉ “ki cóp phòng thủ”, ơn ban dư dật mấy cũng vô ích mà thôi.

    Biết tìm kiếm hạnh phúc ai cũng có, mơ ước và đặt câu hỏi : tôi phải làm gì để có sự sống đời đời, đại đa số người Kitô hữu đã nghĩ tới. Đức Giêsu nói : “người giầu có vào Nước Thiên Chúa khó biết bao”…., Chúa cũng quả quyết với các môn đệ, đối với loài người chẳng ai có thể tự vào Nước Trời, nhưng đối với Thiên Chúa Ngài có thể làm được mọi sự. Người thanh niên “lăn tăn” với lời đề nghị của Chúa Giêsu, chỉ vì anh ta quá giầu, không thể chia tay với của cải vật chất, không thể thoát được hiểm nguy đang đe dọa.

    Ngày hôm nay, mỗi khi gặp gỡ Chúa Giêsu trong cầu nguyện, ta có xin ơn làm con Chúa và làm con Hội thánh không ? Có xin Chúa chỉ cho ta lối thoát khỏi những “ham hố vật chất” không ? Chúng ta có thưa với Ngài : thưa thầy, tất cả những điều đó tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ ? Để tìm ra lối thoát an toàn, chúng ta đừng do dự, đừng “lấn cấn” trước lời mời gọi sống đời đời hạnh phúc, không những ta phải làm chủ lấy mình, mà còn phải từ bỏ tất cả để chọn Chúa một cách trọn vẹn.

    Thời nào cũng vậy, chúng ta không thể tìm ra mẫu người vừa lùn vừa cao, vừa gầy vừa mập. Chúng ta có thể lầm tưởng là : không gian tham, không làm điều xấu xa, biết thờ cha kính mẹ, như thế sẽ đẹp lòng Chúa ! Trong đời sống thiêng liêng, Chúa không thể chấp nhận người môn đệ của Ngài giầu của cải vật chất mà lại không giầu lòng quảng đại. Chúa Giêsu không kết án tiền của vật chất, vì cơm bánh là nhu cầu nuôi sống thân xác con người, có thực mới vực được đạo.

    Khó khăn và thách đố mà Chúa Giêsu đặt ra cho người thanh niên giầu và cả chúng ta hôm nay nữa : các bạn có dám chịu thiệt thòi để đạt được sự sống vĩnh cửu mà các bạn được mời gọi không ? Các bạn có nghĩ rằng đi theo Tôi quả là mạo hiểm không, khi các bạn cần phải chia sẻ của cải vật chất và tinh thần, có khi cả mạng sống nữa mới đáng làm môn đệ Ta ? Người thanh niên xưa kia đã trả lời Chúa Giêsu tương tự là : thưa Thầy, em rất muốn theo Thầy, nhưng nếu em phải bán hết của cải để lếch thếch theo Thầy, đúng là quá mạo hiểm ! Thôi cám ơn Thầy để em tìm lối khác, tìm người thầy khác, may ra có lối nào mang lại hạnh phúc đời đời chăng ?

    Cuộc sống giầu sang phú quí hay bần hàn túng thiếu đều có chung một số qui luật : nếu chúng ta không theo đuổi điều mình mơ ước, tất nhiên ta sẽ không bao giờ có nó. Nếu chúng ta không mạnh dạn bàn hỏi với bậc hiền tài về những khúc mắc của mình, hẳn ta sẽ không bao giờ có được câu trả lời đâu là đúng đường, đâu là sai lối. Nếu chúng ta không có quyết tâm tiến lên phía trước, nghĩa là ta chấp nhận dậm chân tại chỗ, đầu hàng số phận ! Chúng ta biết né tránh những nguy hiểm gây ảnh hưởng đến tính mạng, chúng ta biết kiếm tìm tiền của vật chất cách công bằng, như thế chúng ta hãy sử dụng tiền bạc một cách chính đáng, vì tiền của vật chất cũng chính là hồng ân Chúa ban góp phần làm nên hạnh phúc đời đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    SỐNG VỚI ƯỚC MƠ VÀ HY VỌNG

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Có một thời các triết gia Hiện sinh và các nhà tư tưởng Macxist cho rằng, Kitô giáo là một tôn giáo an phận, khuyến khích con người chấp nhận tình trạng nghèo đói, không kêu ca, không phản kháng và coi đó là ý Chúa. Suy nghĩ như thế chứng tỏ rằng, họ hiểu không đúng về giáo huấn của Chúa Giêsu. Trong mỗi con người đều có những ước mơ và hy vọng. Chính những ước mơ và hy vọng này giúp người té ngã được chỗi dậy, người thất vọng tìm lại được lẽ sống, người kiên trì sẽ được thành công. Ước mơ và hy vọng còn là mục tiêu sống và phấn đấu cho con người. Giáo huấn của Chúa Giêsu không dập tắt những ước mơ và hy vọng của con người, nhưng Chúa điều chỉnh những ước mơ và hy vọng đó cho đúng hướng và giúp con người đạt được ước mơ, hy vọng của mình.

    Trong cuộc gặp giới trẻ Cuba từ ngày 22/9/2015, Đức Thánh Cha Fancis đã nhấn mạnh đến ước mơ và hy vọng. Ngài nói : Cha cám ơn những lời chào mừng của các con. Cha biết các con có nhiều khó khăn, lo sợ, hoài nghi, nhưng các con vẫn luôn hy vọng. Các con đã nói với Cha về những giấc mơ và khát vọng trong tâm hồn người trẻ Cuba, cho dù có những khác biệt về giáo dục, văn hóa, niềm tin và ý thức hệ. Cha cảm ơn các con vì khi Cha nhìn các con, điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí cha cũng là chữ “hy vọng”. Cha không thể tưởng tượng được việc một người trẻ lại không có sức sống, không có ước mơ hay lý tưởng, không khát mong một điều gì đó vĩ đại hơn. 

    Hôm nay, Tin Mừng cũng thuật lại câu chuyện một chàng thanh niên đến với Chúa Giêsu và hỏi Ngài về ước mơ và hy vọng của mình : Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ? Câu hỏi của chàng trai cho thấy anh đang khát khao tìm kiếm một điều hết sức đúng đắn và thánh thiện, đó là khát khao sự sống đời đời. Thao thức này cho thấy, của cải và những thực hành đạo đức căn bản vẫn không làm cho anh thoả mãn, anh muốn đi tìm một điều gì khác hơn, sâu xa hơn nên anh đã tìm đến với Chúa Giêsu.  Câu chuyện cho thấy anh đã có một nền tảng đời sống khá vững chắc cả về thiêng liêng và vật chất. Khi Chúa Giêsu đưa ra cho anh các đòi hỏi về đời sống đạo đức : Chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ, thì anh đã hết sức mạnh dạn trả lời : Thưa Thầy, tất cả những điều ấy, tôi đã giữ từ thủa nhỏ. Chúa Giêsu đưa ra đề nghị thứ hai : Anh chỉ thiếu một điều, là hãy bán những gì anh có và cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo tôi.

    Lời mời gọi bước theo Chúa Giêsu trên con đường nên thánh, tìm được hạnh phúc đời đời, sẽ không thể dừng lại ở một số thói quen đạo đức. Theo Chúa không chỉ là không vi phạm lề luật, nhưng phải có những việc làm, hành động cụ thể. Do đó, Chúa Giêsu đã đề nghị điều mà người thanh niên còn thiếu, đó là : Bán những gì anh có, cho người nghèo, rồi đi theo Chúa. Đề nghị này gồm ba việc đi liền nhau. Bán những cái mình có, tức là những gì chúng ta đang được sở hữu, đang quản lý, có thể là tiền bạc, thời giờ, sức khoẻ, khả năng. Bán đi để không còn giữ riêng cho mình, để không còn bị bận vướng lôi kéo bởi những điều tuỳ phụ. Kế đến là cho người nghèo, tức là biết chia sẻ, là không chỉ nghĩ đến mình, mà còn phải biết nghĩ đến anh em, phải đưa tay ra để giúp đỡ và phục vụ anh em. Cho người nghèo không chỉ tiền bạc của cải, mà còn cho họ thời giờ, sức lực và cả trí tuệ, con người của mình. Sau khi đã thực hiện các việc vừa nêu, rồi mới có thể bước vào giai đoạn sau cùng là : Hãy đến theo tôi. Như thế, muốn bước theo Chúa Giêsu, con người phải để cho mình hết sức nhẹ nhàng gọn gàng, không còn những hành trang là của cải cồng kềnh, không còn những bận vướng tính toán theo thói đời, mà phải hoàn toàn thanh thoát.

    Chúa Giêsu đã điều chỉnh ước mơ và chỉ cho chàng thanh niên một con đường để đạt được hạnh phúc đời đời. Tuy nhiên, trước lời mời gọi của Chúa Giêsu, chàng trai này đã không dám bước tới, anh đã “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải”. Anh ta ước mơ, nhưng lại không dám làm mọi cách để đạt được ước mơ của mình, chỉ vì anh ta bị cản trở bởi của cải. Của cải vật chất không phải là điều xấu, nó cũng có thể là ước mơ của nhiều người. Nhưng nếu chỉ dừng lại nơi ước mơ của cải vật chất, sẽ có thể dẫn con người đi vào con đường sai lạc, khi chúng ta biến của cải vật chất thành mục tiêu cuối cùng của cuộc đời. Nếu chỉ đặt mục tiêu cuộc đời vào của cải vật chất, nó sẽ biến con người thành kẻ tham lam, sống theo bản năng và biến ước mơ của chúng ta không còn là ước mơ hướng thượng nữa, mà chỉ còn là tìm kiếm hưởng thụ. Vì thế, Chúa Giêsu mới so sánh : Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước trời, để ám chỉ những người chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm của cải vật chất như là mục tiêu tối hậu của đời mình.

    Mỗi người chúng ta luôn có những ước mơ và hy vọng. Nhưng có thể ước mơ của chúng ta chưa đúng, hy vọng của chúng ta không có điểm tựa vững chắc. Có thể trong chúng ta có những người cũng đã từng tuân giữ giới răn : không giết người, không gian dối, không vi phạm lề luật. Có thể chúng ta vẫn đi lễ mỗi ngày, vẫn đọc kinh rất nhiều, nhưng chúng ta còn thiếu một điều, đó là dám từ bỏ cái mình đang có để biết nghĩ đến và chia sẻ với người khác, và bước theo con đường phục vụ của Chúa Giêsu.

     Điều mà chàng thanh niên giàu có này còn thiếu, có thể cũng là điều nhiều người, nhiều gia đình cũng đang thiếu. Nhiều gia đình không thiếu của cải tiện nghi, nhưng lại đang thiếu sự từ bỏ, thiếu sự phục vụ, thiếu niềm vui, thiếu tiếng cười và nhất là thiếu tình yêu thương và hạnh phúc. Vì thế, gia đình không tìm được sự bình an. Có những người để mình bị cản trở bởi của cải vật chất, không dám sống thanh thoát, biến của cải, giàu sang thành ước mơ và hy vọng tối hậu của gia đình, vì thế, họ từ chối lời mời gọi của Chúa.

    Con người không thể sống mà không có ước mơ và hy vọng, nhưng phải là ước mơ điều gì và hy vọng như thế nào mới là quan trọng. Đức Thánh Cha Fancis trong cuộc gặp với giới trẻ Cuba Ngài đã nói : Không có sự hơn hay kém trong niềm hy vọng của bất cứ người nào, tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Vì hy vọng là điều phát xuất từ trong trái tim con người. Hy vọng sẽ thực hiện được nỗi khát mong, niềm hoài bão của mình; hy vọng có được một cuộc đời tốt đẹp, hy vọng thực hiện được những ước mơ cao đẹp, những điều làm tâm hồn ta ngập tràn niềm vui và nâng ta lên đến chân, thiện, mỹ, công lý và tình yêu. Nhưng cũng đừng để mình bị quyến rũ bởi những ước mơ hạnh phúc mau qua, những lối sống giả dối, lạc thú và ích kỷ, bởi vì cuộc sống tầm thường và tự lấy mình làm trung tâm, là một cuộc sống chỉ có thể đem đến buồn bã mà thôi.

    Hy vọng phải là biết nhìn xa hơn lợi ích bản thân và những tìm kiếm nhỏ mọn. Hy vọng phải mở lòng ta cho những lý tưởng lớn lao, giúp làm cho đời ta nên tươi đẹp và đáng sống hơn. Cha muốn hỏi mỗi người trong các con: Hy vọng và khát vọng của các con đặt ở đâu ? Các con có sẵn sàng phục vụ một lý tưởng lớn lao hơn không ?

    Đức Thánh Cha nhắn nhủ các bạn trẻ: Có thể chúng con được các lý tưởng đó lôi cuốn mạnh mẽ. Các con cảm nhận được lời mời gọi của chúng trong trái tim. Nhưng các con thấy mình yếu đuối, con chưa sẵn sàng quyết định đi theo con đường hy vọng. Các con hãy ý tứ đừng để mình bị cám dỗ nhụt chí, nó là thứ làm tê liệt lý trí và ý chí ta, nó biến chúng ta thành vô cảm và bi quan trước tương lai.

    Xin Chúa cho mỗi chúng ta luôn mang trong mình những ước mơ và hy vọng thánh thiện : ước mơ được nên thánh, ước mơ có một gia đình hạnh phúc và nhất là ước mơ đạt được hạnh phúc đời đời, nhờ đó cả cuộc đời chúng ta sẽ dành để theo đuổi và thực hiện được những ước mơ và hy vọng tốt lành đó. Amen.

    Về mục lục

     

     

    ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA MỌI SỰ ĐỀU CÓ THỂ ĐƯỢC

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

    17 Đức Giê-su vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? ”

    18 Đức Giê-su đáp: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. 19 Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.” 20 Anh ta nói: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ.” 21 Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” 22 Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

    23 Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” 24 Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! 25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” 26 Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau: “Thế thì ai có thể được cứu?” 27 Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.”

    Phần đầu của bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay có cấu trúc song song đối xứng như sau:

    (A) Người thanh niên đến với Đức Giê-su và nêu câu hỏi (c.17)

    (B) Lời của Đức Giê-su về Thiên Chúa nhân lành (c. 18)

    (C) Các giới răn (c. 19-20)

    (B’) Lời mời gọi đi theo Ngài (c. 21)

    (A’) Nghe câu trả lời, anh bỏ đi, buồn rầu (c. 22)

    Phần trung tâm (C): biết và giữ các giới răn vẫn chưa đủ, nhất là khi biết và giữ mà không có Thần Khí, không có kinh nghiệm sâu đậm về tình yêu Thiên Chúa, nghĩa là không biết vì ai, nhờ ai và cho ai?

    Các phần bao quanh (A tương ứng với A’ và B tương ứng với B’): Đức Giê-su là Đường, Sự Thật và Sự Sống giúp chúng ta hoàn tất Lề Luật theo Thần Khí (x. Mt 5, 17-48).

    1. Sự sống đời đời   

    a) Người thanh niên đạo hạnh

    Chúng ta hãy nhìn ngắm một người, có lẽ còn trẻ (x. Mt 19, 20), đến với Đức Giê-su và tỏ bày lòng thao thức sự sống đời đời. Chúng ta có thể trách cứ, xếp loại, thậm chí lên án anh quá gắn bó với tiền của đến độ từ chối lời mời gọi đi theo Đức Giêsu, nhưng trước hết, chúng ta cần thán phục anh và nhất là, cùng với Đức Giê-su, nhìn anh với lòng thương cảm: “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”.

    Anh là người có nhiều của cải (nếu anh còn trẻ, thì đó có thể là gia tài cha mẹ để lại cho anh), và vì thế, có thể yên tâm hưởng thụ. Nhưng không, anh giầu có, nhưng lại thao thức về sự sống đời đời. Và anh không chỉ thao thức trong lòng, nhưng còn diễn tả ra bên ngoài ngang qua việc đích thân đi tìm gặp Đức Giê-su. Cuộc gặp gỡ này giả thiết anh đã có cả một thời gian tìm kiếm và tìm hiểu trước đó. Ngoài ra, anh sống rất đạo hạnh, phù hợp với thao thức về sự sống đời đời của mình: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó (nghĩa là những điều răn) tôi đã tuân giữ từ thủa nhỏ”.

    Đức Giê-su sẽ giúp anh làm rõ và cụ thể hóa khát khao “sự sống đời đời” của anh, đồng thời làm bật ra sự quyến luyến của con tim với những phương tiện chóng qua, làm cản trở anh sống lòng khao khát của mình.

    b) Thiên Chúa nhân lành

    Thật vậy, Đức Giê-su dùng chính danh xưng mà người thanh niên gọi Ngài: “Thầy nhân lành” để hướng anh tới chính Thiên Chúa nhân lành: “Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa”. Với câu nói này, Đức Giê-su vừa cho thấy sự khiêm tốn của Ngài, không tự nhận mình là nhân lành, nhưng qui về Thiên Chúa nhân lành, là Cha của Người, vừa thông truyền cho anh con đường để đạt tới sống đời đời. Câu trả lời của Đức Giê-su cho thấy vấn đề thiêng liêng của người thanh niên:

    (1) Từ nhỏ, anh đã chu toàn mọi lề luật trong tương quan với người khác: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ” Nhưng đâu là sự thật về tương quan của anh với Thiên Chúa?

    (2) Sự sống đời đời, không phải là lương bổng Thiên Chúa phải trả cho những người giữ luật hay tự ý giữ nhiều hơn cả những gì luật đòi hỏi, như anh đã nghĩ: “tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Sự sống đời đời là chính sự sống của Thiên Chúa, được trao ban một cách nhưng không, nhờ Đức Ki-tô, với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô, cho những ai có lòng khao khát và sống theo khao khát này, trong đó có việc giữ luật.

    (3) Chính tương quan ân huệ và tình yêu với Thiên Chúa mới làm cho anh “hoàn tất” lề luật một cách đích thực, khởi đi từ con tim yêu mến và biết ơn Thiên Chúa, đồng thời giúp cho anh có tương quan đúng với những điều mà luật không nói tới hay không thể đụng tới, đó là những quyến luyến của con tim với những gì không phải là Thiên Chúa, hay với những gì không hướng tới Thiên Chúa.

    1. Lời mời gọi của Đức Giê-su

    Đức Giê-su thấu suốt cõi lòng anh, thương mến anh, nên mời gọi một cách triệt để, nhằm làm bật ra vấn đề có nơi con tim của anh và chữa lành: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. Người thanh niên từ chối lời mời gọi của Đức Giê-su, điều này chứng tỏ rằng, dù anh giữ hết các giới răn và khao khát sự sống đời đời, sự gắn bó của lòng anh với của cải vẫn mạnh hơn nỗ lực thực hiện lòng khao khát này.

    Lời mời gọi của Đức Giê-su đích thân dành cho riêng anh, chứ không phải là lời mời gọi phổ quát dành cho hết mọi người, để giúp anh làm rõ tương quan của anh với Thiên Chúa và với của cải. Nhưng những vấn đề mà lời này làm bật ra đụng chạm đến hết mọi người chúng ta: chúng ta có thực sự nhận Thiên Chúa làm cứu cánh cuộc đời không, hay là điều gì khác?

    Qua lời mời gọi đi theo Ngài với lòng yêu mến, Đức Giê-su không chỉ thông truyền cho anh con đường để đi vào (thay vì sở hữu) sự sống đời đời, nhưng còn mặc khải cho anh rằng, chính Ngài là đường đi. Nói theo ngôn ngữ Linh Thao của thánh I-nhã, “ca tụng, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình” (LT 23), đó là hiểu biết, yêu mến và đi theo Đức Ki-tô.

    Đi theo Đức Ki-tô, chúng ta sẽ nhận ra tình yêu và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đích thân dành cho từng người chúng ta như thế nào nơi ngôi vị và mầu nhiệm Thập Giá của Người; bởi vì Ngài chính là hiện thân của sự sống đời đời, là hình ảnh của Thiên Chúa nhân lành, điều mà người thanh niên khao khát.

    Với kinh nghiệm tình yêu đến cùng của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô và chỉ với kinh nghiệm này, chúng ta mới có thể yêu mến Thiên Chúa hết sức và trên hết mọi sự, và có thể thân thưa với Người, trong tâm tình cảm mến và tín thác: “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại cho Chúa tất cả” (LT 234).

    * * *

    Như người thanh niên trong bài Tin Mừng, chúng ta cũng có mối lo về “của cải”, tượng trưng cho tất cả những gì không phải là Thiên Chúa, không thuộc về Thiên Chúa, không hướng chúng ta về Thiên Chúa, không giúp chúng ta yêu mến Chúa hơn. Nhưng khi sống như thế, chúng ta có loại trừ Người ra khỏi cuộc sống của chúng ta được không?

    – Khi mà mọi sự sẽ qua đi, và chỉ có Ngài là cùng đích và là điểm tới, là vĩnh hằng.

    – Khi mà Ngài bao bọc chúng ta cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài đặt trên chúng ta, bằng ân huệ sự sống mỗi ngày (x. Tv 139).

    – Khi mà chúng ta sống không nguyên bởi cái thú thỏa mãn mọi nhu cầu, cho dù cần thiết đến mức nào, nhưng nhất là còn sống bằng tương quan nhưng không, yêu thương, tha thứ, đón nhận, bao dung, cảm thông, biết ơn… được tác tạo và duy trì bởi và chỉ bởi Lời và Ngôi vị của Chúa mà thôi.

    – Khi mà, những thử thách của cuộc đời, là điều không thể tránh được, sẽ buộc chúng ta phải đặt ra những câu hỏi tận căn: Tôi đang tìm gì hay đang tìm ai? Tôi sống cho bản thân, cho cái gì hay cho ai đó? Tôi sẽ phải chết, vậy đâu là lối đi và ý nghĩa đời tôi? Tôi sống theo ơn gọi hay theo thị hiếu, trào lưu?

    – Khi mà sẽ đến lúc, lúc này có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, phải buông xuôi tất cả, như thánh Phao-lô nói: “thời gian chẳng còn bao lâu nữa… bộ mặt thế giới này đang qua đi” (1Cr 7, 29.31)

    Vậy, đâu là những mối lo của chúng ta trong thời điểm này ? Chúng ta có sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các mối lo không ? Chúng ta có những mối lo về những điều nhân bản hơn, cao quí hơn và “thiêng liêng” hơn không? “Thiêng liêng” có nghĩa là trọn vẹn con người của tôi sống hay ước ao sống tương quan với Chúa trong mọi sự và ở mọi nơi mọi lúc ? Và nhất là, ngang qua những mối lo không thể tránh được của chúng ta, chúng ta tìm gì ? Đức Ki-tô hỏi từng người trong chúng ta vào thời điểm quan trọng này của thời gian : « Con tìm gì ? »

    1. “Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được”

    Sau khi người thanh niên giàu có khước từ lời mời gọi đem bán tài sản mình có, phân phát cho người nghèo và đi theo Đức Giê-su, Người nói: Đức Giê-su rảo mắt nhìn chung quanh, rồi nói với các môn đệ:

    “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!… Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim1  còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.”

    Câu nói này của Đức Giê-su dường như chỉ liên quan đến “những người giàu có”, chứ không liên quan đến các môn đệ, và cũng không liên quan đến nhiều người trong chúng ta, vốn không phải là “những người giàu có”. Thế nhưng tại sao các môn đệ lại vô cùng sửng sốt và kêu lên: “Thế thì ai có thể được cứu?”

    Bởi vì, lời của Đức Giê-su không xét đoán của cải, vì của cải tự nó không phải là điều xấu hay sự dữ, nhưng liên quan đến tương quan gắn bó của con tim đối với của cải, mà “những người giàu có” rất dễ mắc phải. Nhưng vì vấn đề là tương quan với của cải, chứ không phải của cải, nên lời của Đức Giê-su liên quan tất cả mọi người: người có của, người có ít của, và kể cả người không có của. Người thanh niên, tuy đã giữ tất cả Lề Luật từ nhỏ và giữ một cách hoàn hảo, nhưng lòng anh lại gắn bó mật thiết với điều anh có, vốn là đối tượng mà Lề Luật không thể đụng chạm tới được. Bằng lời mời gọi thật triệt để dành cho anh cách đích danh, Đức Giê-su cảm thương anh (x. Mc 10, 21) và muốn giải thoát anh khỏi sự quyến luyến lệch lạc làm cho anh không bình an, mặc dầu đã tuân giữ các giới răn, và hướng lòng anh tới “kho tảng trên trời”.

    Các môn đệ, dường như hiểu ra được vấn đề là sự gắn bó của con tim đối với của cải, vốn liên quan đến mọi người, nên đã thốt lên: “Thế thì ai có thể được cứu?” Và Đức Giê-su đã xác chuẩn cách hiểu này và hướng lòng các môn đệ tới sức lôi cuốn mạnh mẽ của chính Thiên Chúa, được thể hiện nơi ngôi vị của Đức Ki-tô (x. Pl 3, 7-6), khiến chúng ta có khả năng tự do với những điều chúng ta có, và thậm chí với chính sự sống của chúng ta. Thật vậy, Người nói:

    Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được.

    Điều này có nghĩa là, Thiên Chúa có khả năng làm cho “con lạc đà chui qua lỗ kim” được! Đó là điều Thiên Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ, đã và đang thực hiện cho các môn đệ của Đức Giê-su thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay.

    ____________

    1 “Lỗ kim” có lẽ là một cái lỗ nhỏ ở cổng thành mà người ta có thể chui qua.

    Về mục lục

    .

    SỐNG SIÊU THOÁT ĐỂ NÊN MÔN ĐỆ THỰC SỰ CỦA CHÚA GIÊSU

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 10,17-30

    (17) Đức Giê-su vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quì xuống trước mặt Người và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. (18) Đức Giê-su đáp: “Sao anh nói tôi là nhân lành? không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. (19) Hẳn anh biết điều răn: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ”.(20) Anh ta nói: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ”. (21) Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. (22) Anh ta sa sầm nét mặt vì lời đó và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. (23) Đức Giê-su rảo mắt nhìn xung quanh, rồi nói với các môn đệ: “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” (24) Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại nói tiếp: “Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao! (25) Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa”. (26) Các ông lại càng sửng sốt hơn nữa, và nói với nhau: “Thế thì ai có thể được cứu?” (27) Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được”. (28) Ông Phê-rô lên tiếng thưa Người: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (29) Đức Giê-su đáp: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, (30) mà bây giờ ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau”.

    1. Ý CHÍNH:

    Chàng thanh niên trong Tin Mừng hôm nay tuy muốn nên hoàn thiện, và đã có thiện chí tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa từ nhỏ. Nhưng anh lại không đủ dũng cảm và lòng tín thác vào Chúa quan phòng để làm theo lời khuyên của Đức Giê-su là: Chia sẻ của cải cho người nghèo để biến nó thành kho báu ân sủng trên trời, rồi đi theo làm môn đệ của Người. Sau đó, trả lời cho Phê-rô về phần thưởng của môn đệ, Đức Giê-su hứa sẽ ban gấp trăm những điều họ đã tự nguyện từ bỏ. Người cũng tiên báo những khó khăn họ sẽ gặp phải trên đường truyền giáo và sau này sẽ được sự sống muôn đời!”.

    1. CHÚ THÍCH:

    – C 17-18: + Đức Giê-su vừa lên đường, thì có một người chạy đến: Mác-cô chỉ nói trống là “có một người”, đang khi Tin Mừng Lu-ca nói rõ hơn là: “Có một thủ lãnh” (x. Lc 18,18), và Tin Mừng Mát-thêu nói là “một thanh niên” (x. Mt 19,20). + quì xuống trước mặt Người: Đây là thái độ biểu lộ lòng tôn kính đối với Đức Giê-su, mà người Do Thái quen làm đối với một Rab-bi họ kính trọng. + Thưa Thầy nhân lành: Khi gọi Đức Giê-su là “nhân lành”, anh thanh niên tỏ ý ngưỡng mộ tác phong của Người, thể hiện qua lời nói, thái độ và hành động của Người đối với các bệnh nhân và trẻ thơ… + tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?: sự sống đời đời (x. Đn 12,2) có thể hiểu là sự sống sau khi sống lại, không nhất thiết hàm ý “bất tử”. Cũng có thể coi đồng nghĩa với “Nước Thiên Chúa” (x. 9,43-47). Anh ta xin Đức Giê-su tư vấn giúp anh biết phải làm gì để được vào Nước Thiên Chúa mà Người rao giảng và thiết lập. + Sao anh nói tôi là nhân lành?: Về bản tính lòai người, Đức Giê-su khiêm tốn từ chối không nhận hai từ “nhân lành” mà chàng thanh niên khen tặng. + Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa: Người cho chàng thanh niên biết rằng: Sự nhân lành tuyệt đối chỉ có nơi một mình Thiên Chúa. Thiên Chúa vừa là mẫu mực, vừa là nguồn gốc của mọi điều thiện hảo. Thực ra, với tư cách là “Con Thiên Chúa”, Đức Giê-su cũng xứng đáng được gọi là “Đấng Nhân Lành” ngang bằng Thiên Chúa.

    – C 19-20: + Hẳn anh biết các điều răn: “chớ giết người…”: Các điều này phần lớn được rút từ phần hai của Thập Giới (Xh 20,12-17; Đnl 5,16-21), về những quan hệ giữa người với người. Nêu ra những giới răn này, Đức Giê-su muốn chàng thanh niên kiểm điểm đời sống về những điều cấm chứ chưa đề cập đến những bổn phận cần làm. + “Tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ”: Câu trả lời của chàng thanh niên cho thấy anh có lòng thành thật, không phô trương tự mãn như người Pha-ri-sêu trong Đền Thờ (x. Lc 18,11-12). Qua câu n2y, anh thanh niên chỉ muốn hỏi rằng: Từ trước đến nay, tôi chưa làm thiệt hại cho ai điều gì. Vậy tôi cần làm gì thêm nữa để nên hoàn thiện? (x. Mt 19,20-21).

    – C 21-22: + Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến: Người biểu lộ tình cảm đối với anh thanh niên đầy thiện chí này, + Anh chỉ thiếu có một điều: Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi: .Để nên trọn lành, ngoài việc giữ các giới răn như anh đã làm, Đức Giê-su khuyên anh làm ba việc này: Một là về bán gia sản để không còn bị lòng tham của cải ràng buộc; Hai là đem số tiền ấy chia sẻ cho người nghèo để biến nó trở thành kho báu thiêng liêng trên trời; Ba là quyết tâm đi theo làm môn đệ Đức Giê-su. + Anh ta sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải: Chàng thanh niên thất vọng chán nản bỏ đi, vì anh không thể từ bỏ lòng tham của cải thế gian như đòi hỏi của Đức Giê-su. Anh muốn nên trọn lành nhưng không muốn từ bỏ của cải vật chất. Nói cách khác: Anh ta yêu tiền bạc hơn quyết tâm muốn nên hoàn thiện.

    – C 23-25: + Những người có của thì khó vào nước Thiên Chúa biết bao!”: Câu nói tỏ ý thương tiếc một tâm hồn tuy thiện chí, nhưng lại bị lòng ham mê tiền bạc trói buộc, đến nỗi không thể vươn cao lên đỉnh trọn lành! + Các môn đệ sững sờ: Các ông sững sờ kinh ngạc, vì lời dạy của Đức Giê-su khác hẳn suy nghĩ của các ông và người Do thái thời đó: Giàu có là một hồng ân do Thiên Chúa thưởng ban cho người công chính, như tác giả Thánh Vịnh 37 đã viết: “Từ nhỏ dại tới nay tôi già cả, chưa thấy người công chính bị bỏ rơi, hoặc dòng giống phải ăn mày thiên hạ. Ngày ngày họ thông cảm và cho mượn cho vay. Dòng giống mai sau hưởng phúc lành. Hãy làm lành lánh dữ, bạn sẽ được một nơi ở muôn đời. Bởi vì Chúa yêu thích điều chính trực, chẳng bỏ rơi những bậc hiếu trung…” (Tv 37,25-28). + “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa”: Trước đây các nhà giảng thuyết và chú giải đã tìm ra một cái cửa nhỏ bên cạnh cổng lớn ở tường thành Giê-ru-sa-lem, mà một con lạc đà không thể đi qua, và một vài thủ bản Kinh Thánh đọc là “sợi dây thừng” (kamilos) thay vì “con lạc đà” (kamêlos), chúng ta phải công nhận đây là một kiểu nói ngoa ngữ (x. Mt 23,24; Lc 6,41-42): Đức Giê-su dùng hình ảnh con lạc đà to lớn không thể chui lọt qua lỗ kim khâu nhỏ để dạy rằng: Người giàu có hay những kẻ tham lam dựa vào thế lực của đồng tiền sẽ không thể vào được Nước Thiên Chúa!

    – C 26-27: + Thế thì ai có thể được cứu?: Nghe lời giải thích của Đức Giê-su, các môn đệ càng kinh ngạc và thất vọng hơn khi nghĩ đến bản thân các ông cũng tham lam tiền bạc, nên cũng khó vào Nước Thiên Chúa, nên đã thốt lên: “Thế thì ai có thể được cứu!?”. + “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa: “mọi sự đều có thể được”: Đức Giê-su cho thấy hiệu lực của ơn chúa: Những gì lòai người không thể vượt qua, thì lại chẳng là gì trước quyền năng của Thiên Chúa. Vì đối với Thiên Chúa “mọi sự đều có thể được” (x Lc 1,37).

    – c 28-30: + Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!: Phê-rô kể ra những gian lao vất vả trên bước đường theo Thầy, để yêu cầu Thầy bù đắp phần thiệt thòi ấy. + Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng: Đức Giê-su hứa chắc rằng: những ai đã quảng đại từ bỏ của cải, tình cảm ruột thịt vì lòng mến Người và dấn thân đi loan báo Tin Mừng, thì sẽ được lại gấp trăm những gì đã dâng hiến. Họ sẽ có thêm một gia đình mới là Cộng Đoàn Giáo Hội, sẽ được quản lý các công trình lớn lao của Hội Thánh… và cuối cùng còn được hạnh phúc vui hưởng sự sống đời đời. + cùng với sự ngược đãi: Tin Mừng Mác-cô cũng tiên báo những đau khổ sỉ nhục mà các môn đệ phải chịu do các đầu mục Do Thái gây ra để cùng với Thầy đi con đường “Qua đau khổ vào vinh quang” (x. Mc 8,31).

    1. CÂU HỎI: 1) Thái độ quì gối xuống trước mặt Đức Giê-su của chàng thanh niên trong Tin Mừng nói lên điều gì? 2) Tại sao anh ta gọi Đức Giê-su là “Thầy nhân lành”? 3) Đức Giê-su kể ra một số điều cấm làm nhằm mục đích gì? 4) Câu trả lời của chàng thanh niên cho thấy tình trạng tâm hồn anh thế nào? 5) Đức Giê-su biểu lộ cảm tình đối với anh ta ra sao? 6) Ba điều Đức Giê-su dạy chàng thanh niên làm để nên trọn lành là những việc gì? 7) Tại sao anh không làm theo lời Đức Giê-su dạy mà buồn rầu bỏ đi? 8) Câu Đức Giê-su nói: “Những người có của thật khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!” cho thấy Người lấy làm tiếc cho chàng thanh niên này về điều gì? 9) Tại sao các môn đệ lại kinh ngạc sững sờ khi nghe Đức Giê-su cho biết người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa? 10) Đức Giê-su còn dùng hình ảnh nào cho thấy người giàu thật khó có thể vào được Nước Thiên Chúa? 11) Các môn đệ đã thốt lên câu nào ho thấy sự hoang mang của các ông? 12) Lời trấn an các môn đệ cho thấy sức mạnh của ơn Thiên Chúa thế nào? Câu này tương tự câu nào trong biến cố Truyền Tin? 13) Đức Giê-su hứa sẽ làm gì để bù đắp sự mất mát của các môn đệ khi phụng sự Người? 14) Qua câu “kèm theo sự ngược đãi” Đức Giê-su muốn ám chỉ điều gì?

     II.  SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo. anh sẽ được một kho tàng trên trời. rồi hãy đến theo Tôi (Mc 10,21).
    2. CÂU CHUYỆN:

    1) COI THƯỜNG CỦA CẢI LÀ BƯỚC ĐẦU ĐỂ TRỞ NÊN HOÀN THIỆN:

    Một người nhà giàu đã nhận thánh PHILIPPHÊ NÊRI làm linh hướng và đến xưng tội với ngài hằng tháng. Ông này là người giàu có và có thiện chí muốn nên thánh thiện giống như Chúa Giêsu. Nhưng sau một thời gian học tập mà cứ dậm chân tại chỗ, ông đâm ra thất vọng không còn đến bàn hỏi thánh nhân nữa. Mấy tháng liền không thấy ông đến, thánh Philipphê liền tìm đến nhà để thăm. Ngài thấy ngôi nhà của ông bài trí rất sang trọng và tại góc phòng có kê một chiếc tủ nhỏ bằng gỗ, bên trong đựng các vật quý giá của chủ nhân. Rồi khi thấy trên tường phòng khách có treo một cây thánh giá có tầm cao quá tầm tay với, ngài liền nói với ông: “Tôi thấy ông cao lớn. Vậy ông thử đứng với tay xem có chạm tới cây thánh giá kia không ?”. Nhưng dù đã cố gắng hết sức, ông nhà giàu vẫn không sao với tay tới được cây thánh giá. Bấy giờ thánh nhân liền cùng ông kéo chiếc tủ gỗ ở góc phòng kia đến làm bệ kê và lần này ông đã có thể dễ dàng chạm được tới cây thánh giá. Khi trở lại chỗ ngồi, thánh nhân mới nói với ông nhà giàu rằng: “Để có thể nên trọn lành giống như Chúa Giêsu, điều quan trọng nhất là ông phải coi thường của cải và sẵn sàng dùng tiền Chúa ban để quảng đại chia sẻ cho những người nghèo khổ bất hạnh, rồi ông mới có thể đi theo con đường hẹp và leo dốc trở thành môn đệ của Chúa Giêsu như Người đã nói với chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo. anh sẽ được một kho tàng trên trời. rồi hãy đến theo Tôi” (Mc 10,21).

    2) CẦN NHIỆT TÌNH VÀ QUYẾT TÂM CAO MỚI LÀM ĐƯỢC NHỮNG VIỆC LỚN LAO:

    Có một người kia làm nghề bán sách rong. Anh ta đi từ nhà này sang nhà khác, mang theo một túi to chứa nhiều loại sách quí. Một hôm anh ta bước vào nhà một bác nông dân. Ông này đang ngồi đu đưa trên chiếc ghế xích đu ở sân trước nhà, với dáng điệu của người ung dung nhàn hạ. Người bán sách tiến đến gần ngỏ lời: “Thưa ông, tôi xin giới thiệu với ông một cuốn sách dạy về một phương pháp canh tác mới, sẽ làm phát sinh hoa trái gấp 10 lần phương pháp canh tác hiện nay”. Nhưng bác nông dân cứ tiếp tục đu đưa chiếc xích đu mà không quan tâm đến lời của người bán sách dạo. Sau một lúc im lặng, cuối cùng bác nông dân mới liếc mắt nhìn người bán sách và nói rằng: “Này anh bạn trẻ, nói thật với anh: Chẳng cần đến sách của anh, tôi cũng biết cách làm cho cây cối ra hoa trái gấp mười lần hiện nay đấy. Nhưng hiện giờ tôi chỉ muốn được hưởng những giờ phút yên tĩnh nhàn hạ”.

    1. THẢO LUẬN:

    1) Mỗi buổi tối trước khi nghỉ đêm, bạn hãy dành vài ba phút để tự vấn lương tâm như sau: Hôm nay tôi đã làm được việc nào hữu ích cho cha mẹ, chồng vợ hay một ai đó cần được trợ giúp hay không?

    2) Để thực hành câu “mỗi ngày làm vui lòng ít là một người”, ngòai sự dốc quyết, chúng ta cần phải làm gì?

    1. SUY NIỆM:

    1) Thái độ của các tín hữu đối với tiền của:

    – Trong cuộc sống hằng ngày, tiền bạc luôn có giá trị và sức mạnh như người ta thường nói: “Có tiền mua tiên cũng được” và ”Đồng tiền là Tiên là Phật”… vì nó có khả năng mang lại cho con người một cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn. Do đó, ngòai các tu sĩ được ơn kêu gọi dấn thân phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân trong đời dâng hiến, nên cần sống siêu thoát thể hiện qua việc từ bỏ của cải vật chất như Đức Giêsu đề nghị chàng thanh niên trong Tin Mừng hôm nay: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mc 10,21). Còn đối với những người bình thường chúng ta đều không cần bán đi tài sản để phân phát đi tất cả. Vì như bao người khác, mọi người chúng ta đều cần tiền để thỏa mãn những nhu cầu về thể xác như: đi lại, ăn ở, may mặc, học hành, giải trí… và để khỏi trở thành gánh nặng cho xã hội (x 2 Tx 3,8), để không bị vong thân bán rẻ phẩm hạnh của mình nếu rơi vào hoàn cảnh “khố rách áo ôm”, “chạy ăn từng bữa”… là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hôi như người ta thường nói: “Đói ăn vụng, túng làm liều”, “Bần cùng sinh đạo tặc!” …

    2) vừa làm tôi tiền của” (x. Lc 16,13) và đừng coi tiền bạc là ông chủ, nhưng hãy coi nó như đầy tớ. Vì: “Đồng tiền sẽ là một ông chủ xấu, nhưng lại là một người đầy tớ tốt”. Một khi coi đồng tiền chỉ là phương tiện, nó sẽ giúp chúng ta làm được những việc lớn lao, giúp chúng ta chu toàn nhiệm vụ “Làm vinh danh Thiên Chúa và vì phần rỗi các linh hồn” (thánh Inhaxiô Loyôla).

    2) Lòng tham của cải vật chất là một trở ngại lớn rất khó để vào Nước Trời:

    Ai trong chúng ta cũng cảm nghiệm được sự giằng co giữa một bên là ước muốn nên thánh thiện và bên kia là sức quyến rũ lôi kéo của tiền bạc và hưởng thụ tiện nghi vật chất. Chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng hôm nay đã tuân giữ các giứoi răn, nhưng lại không vượt qua được lòng ham mê của cải và sự hưởng thụ không muốn chia tiền của cho người nghèo khó, vì anh coi giàu có là phúc lành do Thiên Chúa ban, đang khi Đức Giê-su lại coi sự siêu thoát khỏi lòng tham lam của cải vật chất là trở ngại để theo làm môn đệ của Người: “Chồn cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8.20). Người đòi các môn đệ phải có nếp sống đơn giản nghèo khó khi thi hành sứ vụ tông đồ như chỉ thị của Đức Giêsu: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo (Lc 9,3). Sự từ bỏ của cải và người thân của các môn đệ sẽ được Thiên Chúa bù đắp gấp bội như lời hứa của Đức Giêsu: “Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con hay ruộng đất gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau” (Mc 10,30).

    Như vậy, tiền của tuy tốt và mang lại nhiều ích lợi cho con người nếu biết sử dụng. Nó chỉ xấu và có hại cho con người khi bị sử dụng để làm điều xấu. Thực vậy, có nhiều người đã vì đồng tiền thúc đẩy nên đã đánh mất lý tưởng cuộc đời, chà đạp lên phẩm giá của mình và người khác. Vì đồng tiền mà nhiều người đã chối bỏ đức tin, phớt lờ tiếng lương tâm cáo trách để thực hành những điều bất chính, tội lỗi… Đây là nguy cơ mà bất cứ ai cũng đều có thể nắc phải. Đối với những người có lòng ham mê tiền của người đó đã trở thành con lạc đà to lớn không thể chui qua lỗ kim nhỏ bé để vào được Nước Trời như lời Chúa phán.

    3) Người môn đệ Đức Giêsu phải có thái độ nào đối với tiền bạc của cải:

    – Trong cuộc sống đời thường, tiền bạc cũng như mọi thứ khác đều có thể phát sinh lợi ích nếu người ta biết sử dung chúng như sau:

    Một đồng tiền mang ra kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi.

    Một ánh lửa được chia sẻ là một ánh lửa tỏa lan.

    Một vết dầu được thả vào chất lỏng là một vết dầu loang xa.

    Đôi môi có sẵn sàng mở ra thì mới có được nụ cười.

    Bàn tay có mở ra chia sẻ thì tâm hồn mới cảm thấy niềm vui hạnh phúc.

    – Về phạm vi thiêng liêng, Tin Mừng hôm nay cũng ghi lại Lời Chúa dạy: hãy biết sử dụng tiền của để mang lại ích lợi thực sự cho mình bây giờ và mai sau. Chúa Giêsu không bảo chàng thanh niên giàu có hãy vứt bỏ gia sản tiền của đang chiếm hữu, nhưng Người muốn anh đổi nó thành tiền và biến tiền của vật chất thành đồng tiền thiêng liêng bằng cách quảng đại chia cho những người nghèo khổ bất hạnh. Thái độ dứt khoát đó chính là điều kiện để anh có thể theo làm môn đệ của Người: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mc 10,21).

    4) Chúng tôi phải làm gì ?

    – Đức Giê-su luôn mời gọi các môn đệ hãy sống khiêm hạ nghèo khó thể hiện qua thái độ coi thường tiền bạc vật chất để có lối sống siêu thoát. Vì “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì” (Mt 16,26). Những ai quyết tâm sống yêu thương thể hiện qua việc sẵn sàng nhường cơm sẻ áo với những người nghèo khổ bất hạnh… cũng được kể như đã làm cho chính Đức Giêsu như Người đã nói: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

    – Vì đối với Chúa Giê-su: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Đàng khác, khi chúng ta chấp nhận từ bỏ của cải vật chất ở đời này, thì cũng sẽ có được mối lợi là Đức Giêsu, như thánh Phao-lô đã dạy: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” (Pl 3,8). Khi chúng ta biết quảng đại chia sẻ của cải cho người khác, thì Thiên Chúa cũng sẽ quảng đại ban lại cho chúng ta muôn vàn ân sủng nhiều hơn gấp bội, như lời Chúa Giêsu: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38).

    – Bước theo Đức Giêsu hôm nay đòi chúng ta phải từ bỏ mình không phải một lần trong đời, nhưng là mọi ngày trong suốt cuộc sống ở trần gian như lời Chúa dạy: “ Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập gía mình hàng ngày mà theo tôi”. Mỗi người chúng ta đều được Chúa mời gọi hãy từ bỏ những gì mình đang có, nhất là từ bỏ những thói hư như tham lam của cải tiền bạc bất chính, thói ham thích hưởng thụ các khoái lạc xác thịt… để có thể thuộc về Chúa Giêsu cách trọn vẹn.

    Cụ thể, mỗi người chúng ta hãy loại trừ lối sống đạo vụ hình thức bề ngoài theo thói quen mà thiếu sự xác tín, thiếu lòng mến Chúa yêu người, nhất là thiếu tính dấn thân trong cuộc sồng và làm chứng cho Chúa, để loan báo Người cho tha nhân đang sống chung quanh ta.

    1. NGUYỆN CẦU:

    Lạy Chúa Giê-su. Hôm nay con hiểu rằng: Vào Nước Trời thật khó biết bao! Cái khó ấy phát sinh từ lòng tham không đáy của con: Là người giàu có, con sẽ coi của cải là tài sản riêng mình. Còn nếu nghèo khó, con lại ước mơ giàu sang vượt quá khả năng của con. Xin Chúa giúp con ý thức rằng: Của cải vật chất tuy có giá trị nuôi sống con người, nhưng lại không mấy bền vững. Chúa muốn con trước tiên phải “lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. Còn việc ăn gì, mặc gì, làm gì thì có Chúa sẽ lo giúp con sau”. Xin dạy con luôn biết quảng đại dấn thân phục vụ Chúa trong mọi người để đáp lại lời mời gọi của Chúa trong Tin Mừng hôm nay, vì biết rằng: “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh; Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; Chính khi thứ tha là khi được tha thứ; Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình).

    X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

     

    KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC

    Huệ Minh

                Ta vừa được nghe lại câu chuyện khá thú vị về cuộc gặp gỡ hay nói đúng hơn là cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và chàng thanh niên.

                Thánh Máccô ghi lại rằng đây là chàng thanh niên nhưng có lẽ chàng thanh niên này lại là chàng rất đặc biệt. Đặc biệt bởi lẽ ở tuổi xuân thôi nhưng anh lại nghĩ đến đời sau. Chính vì thế, anh ta không ngần ngại hỏi Chúa Giêsu : “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”

                Nghe câu hỏi thật lý thú, Chúa Giêsu không trả lời ngay câu hỏi của anh nhưng Chúa Giêsu trả lời khác đi một tí : “Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ”.

                Nghe như vậy, chàng trai cũng hết sức thẳng thắn, chàng bộc bạch : “Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ”.

                Phải nói rằng, có lẽ Chúa Giêsu cũng khá sốc bới lẽ dường như chưa bao giờ trong đời mà Chúa lại gặp một chàng trai trẻ mà lại ngoan ngoãn đạo đức đến như vậy. Nhìn thấy anh và nhất là câu trả lời của anh để rồi ta nhìn thấy ánh mắt của Chúa Giêsu thật dễ thương. Thánh Máccô kể tiếp : Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: “Ngươi chỉ thiếu một điều, là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”.

                Câu chuyện đang hay bỗng dưng kết thúc và theo như ngôn ngữ bình thường là kết thúc không có hậu bởi lẽ chàng thanh niên đã bỏ đi vì buồn. Không buồn sao được khi anh ta có quá nhiều của cải.

                Thoạt đầu ta thấy anh ta khôn để hỏi về sự sống đời đời nhưng rồi sau đó xem chừng ra anh ta dại.

                Ở đời, cần lắm sự khôn ngoan để minh định về cuộc đời, để định hướng cho mình một lối sống.

                Trang sách Khôn ngoan mà chúng ta nghe ở bài đọc thứ nhất đó chính là lời của Salomon. Ông nổi tiếng thông minh nhất đời, ít là theo ý kiến người Dothái. Không phải tự ông có sự khôn ngoan vượt bực ấy. Ông đã xin cùng Thiên Chúa và Người đã thương ban cho ông vì ông biết quý nó hơn hết mọi sự ở đời.

                Nói về điểm này, ta thấy ông đã nói đúng. Sách Các Vua quyển I còn kể (3,4-14): khi mới lên ngôi, Salomon đã đến Gabaon, một thánh điện nổi tiếng thời bấy giờ. Ông dâng có cả hàng nghìn tế vật lên Thiên Chúa. Người đã hiện ra với ông và hỏi ông xin gì? Ông khiêm tốn thú nhận mình còn trẻ trung mà phải cai trị một dân tộc “đông đúc”; nên ông không xin điều gì khác ngoài một lòng trí biết nghe lời Chúa để trị dân và phân biệt phải trái mà thôi.

                Có thể nói rằng may mắn cho ông vì điều ông xin đã đẹp ý Chúa và Salomon đã nhận được ơn khôn ngoan.

                Câu đầu của đoạn sách hôm nay nhắc lại câu chuyện ấy. Và những câu sau làm chứng Salomon đã nhớ kỹ những lời Chúa phán hôm ở Gabaon. Người bảo: vì ngươi đã xin sự khôn ngoan chứ không xin được sống lâu giàu bền hay là chiến thắng trên quân thù nên Ta se cho ngươi một lòng trí khôn ngoan đến nỗi trước và sau ngươi không có ai trong thiên hạ khôn ngoan bằng ngươi. Salomon đã nhớ lời này. Ông hằng suy niệm. Và hôm nay trong đoạn sách Khôn ngoan chúng ta vừa nghe, ông lặp đi nói lại rằng ông quý sự khôn ngoan hơn hết. Sức khỏe và sắc đẹp, vàng bạc và ánh sáng, tất cả đều như cát mạt sánh với sự khôn ngoan. Ðược nó là có mọi sự vì nó nắm giữ mọi sự trong tay.

                Ðối với Salomon, khôn ngoan là một sự gì rõ rệt. Ðó là tài cai trị dân theo đúng ý Chúa. Nói đúng hơn đó là ơn trung thành biết lắng nghe lời Chúa và hiểu ý Người để lãnh đạo dân. Sự khôn ngoan đó chắc chắn không dành cho mọi người. Và không phải ai ai cũng cần cầu xin ơn ấy. Khôn ngoan khuyên bảo hết thảy chúng ta ao ước sự khôn ngoan, thì nó muốn nói đến sự khôn ngoan nào?

                Đây là câu hỏi không dễ trả lời chút nào cả. Theo dõi sách Khôn ngoan từ đầu tới cuối, chúng ta thấy tác giả không bao giờ định nghĩa sự khôn ngoan bằng những công thức cụ thể. Dường như khôn ngoan là một huyền nhiệm. Người ta phải cố gắng mon men tới gần. Và tùy như mức cải tạo thực hiện được khi tiến lên với đức khôn ngoan, người ta mới hiểu thêm được và lãnh nhận dần được ơn cao cả này.

                Và cuối, ta có thể nói, khôn ngoan chính là Thiên Chúa, là thần trí của Người, là sự sống của Người, không phải như một thực tại ở xa chúng ta, nhưng đang muốn đến với chúng ta để làm cho chúng ta nên khôn ngoan hơn, tức là thánh thiện hơn và do đó hạnh phúc hơn.

                Qua đây, ta lại có cơ hội để nhìn lại mình để xem ta khôn ngoan ở mức độ nào và khôn ngoan như thế nào ? Ta khôn ngoan theo kiểu thế gian hay khôn ngoan theo kiểu người đời.

    Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,
    mạnh giỏi chăng là được tám mươi,
    mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
    cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.


    Cơn giận Ngài, ai lường được sức mạnh,
    trận lôi đình, ai hiểu thấu căn nguyên ?
    Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
    ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. (Tv 89, 10-12)

                Cuộc đời con người là như vậy. Dù giàu dù nghèo và gia tài kếch xù như chàng thanh niên đi chăng nữa cũng sẽ phải ra đi, sẽ phải khuất chứ không thể nào lột da sống đời để hưởng thụ. Chính vì thế, ta lại cần đi tìm sự khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa. Khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa đó là ta được mời gọi bán mọi sự để theo Chúa.

                Vẫn là con người, vẫn mang trong mình những bám víu của trần gian. Ta lại xin Chúa thêm ơn cho ta để ta từ bỏ những gì làm cho ta không thanh thoát, những gì làm ta không đến gần Chúa được.

    Về mục lục

    .

    ĐƯỢC GẤP TRĂM

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

    Suy Niệm

    Khi đọc bài Tin Mừng trên đây
    ta nếm được nỗi buồn của Ðức Giêsu và của anh nhà giàu.
    Ðức Giêsu buồn vì bị từ chối bởi người mà mình yêu mến,
    Anh kia buồn vì có sự rạn nứt nơi bản thân.
    Anh đã phấn khởi gặp Chúa, rồi ra đi đầy muộn phiền.
    Thầy Giêsu đòi anh đúng điều anh muốn giữ lại,
    vì của cải vốn là chỗ dựa của đời anh.
    Anh sẵn sàng làm mọi điều Thầy đòi hỏi,
    trừ việc bỏ chỗ dựa này.
    Bây giờ anh thấy rõ hơn mình nô lệ cho điều gì.
    Tiếc thay anh không có can đảm ra khỏi sự nô lệ này
    dù anh vẫn khát khao sự sống đời đời.
    Bi kịch của anh cũng là của chúng ta.
    Ai trong chúng ta cũng từng bị giằng co
    giữa ước mơ bay cao và sự kéo ghì của vật chất.
    Của cải vật chất có sức hấp dẫn mãnh liệt.
    Tôi làm chủ nó, nhưng sau đó nó lại làm chủ tôi
    và trở thành thịt xương mà tôi không thể dứt bỏ.
    Không chắc người giàu này sẽ bị luận phạt,
    nhưng chắc chắn anh ta khó hạnh phúc.
    Hạnh phúc chỉ đến với người dám sống theo ý Chúa.

    Người có của khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!
    Vào thời Ðức Giêsu, giàu có được coi là một phúc lành.
    Vậy mà Ngài lại coi đây là một cản trở nguy hiểm.
    Của cải dễ làm người ta khép kín trước Thiên Chúa
    và nỡ tâm chà đạp lên quyền lợi anh em.
    Tệ nạn tham nhũng, hối lộ ở Châu Á
    là một thí dụ về nguy hiểm của tiền bạc.
    Ðức Giêsu và các môn đệ đã sống nghèo,
    sống như những người lữ hành, không chỗ cậy dựa,
    để tín thác vào Cha và dễ dàng đến với anh em.
    Theo Ðức Giêsu là chấp nhận tay trắng, bấp bênh.
    Nhưng đừng quên theo Ngài cũng là trở nên giàu có.
    Không phải sự giàu có do ích kỷ giữ lại,
    nhưng là sự giàu có do mở ra trao hiến.
    Không phải sự giàu có do tìm kiếm chiếm đoạt,
    nhưng là sự giàu có đến như một quà tặng biếu không.
    Theo Ngài không phải chỉ là bỏ nhà cửa, ruộng vườn,
    bỏ những người thân yêu, bỏ đến cả mạng sống.
    Theo Ngài còn là được gấp trăm ngay từ đời này,
    và nhất là đời sống vĩnh cửu mai hậu.
    Khi Phêrô ra khỏi hồ Galilê, với nghề đánh cá,
    ông được biết những biển khơi mênh mông hơn nhiều.
    Khi Phêrô bỏ lại cha mẹ, vợ con,
    ông đứng đầu một cộng đoàn đông đảo là Hội Thánh.
    Chắc Têrêxa Hài Ðồng không ngờ mình trở nên Thánh Sư.
    Chắc Têrêxa Calcutta không ngờ đám táng của mình
    sẽ có cả triệu người tham dự.

    Theo Ðức Giêsu, ta sẽ được lại cả những điều đã mất.
    Cái được quan trọng nhất là được Ðức Giêsu (x. Pl 3,8).

    Cầu Nguyện

    Lạy Chúa Giêsu,
    giàu sang, danh vọng, khoái lạc
    là những điều hấp dẫn chúng con.
    Chúng trói buộc chúng con
    và không cho chúng con tự do ngước lên cao
    để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

    Xin giải phóng chúng con
    khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,
    nhờ cảm nghiệm được phần nào
    sự phong phú của kho tàng trên trời.

    Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
    bán tất cả những gì chúng con có,
    để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.

    Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng
    trước những lời mời gọi của Chúa,
    không bao giờ ngoảnh mặt
    để tránh cái nhìn yêu thương
    Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.

    Về mục lục

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 26 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 26 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Ds 11,25-29;  Gc 5,1-6;  Mc 9,38-43.45.47-48

    ———

    Mục lục

    1. Thiên Đàng và Hỏa Ngục (Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Chủ nghĩa loại bỏ  (Jorathe Nắng Tím)

    3. Yêu thương là thế  (Lm. Jos DĐH. Gp.Xuân Lộc)

    4. Làm cớ sa ngã  (Lm. Thái Nguyên)

    5. Ơn gọi nên thánh  (Bông Hồng Nhỏ, Học viện MTG.Thủ Đức)

    6. Để vào Nước Chúa  (Thiên San, Học viện MTG.Thủ Đức)

    7. Nguyên tắc cởi mở  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    8. Quyền lợi  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    9. Cấp độ  (Trầm Thiên Thu)

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Quyết liệt dứt khoát với tội lỗi  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    2. Ảnh hưởng gương xấu (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Cái giá người môn đệ phải trả  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    4. Gương mù, gương xấu  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    5. Thuộc về Chúa Kitô  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    6. Đừng bao giờ là cớ vấp phạm  (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    7. Dịp tội  (Lm. Trần Việt Hùng)

    8. Gương xấu  (Lm. Nguyễn Thái)

    9. Gương xấu và dịp tội  (Lm. Đinh Lập Liễm)

    10. Ghen tương – Căn bệnh trầm kha  (Lm. GB. Trần Văn Hào, SDB)

    11. Diệt trừ gương xấu  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    12. Suy niệm Chúa Nhật 26 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

    13. Suy niệm Chúa Nhật 26 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    14. Hãy tránh xa dịp tội  (Lm. Vũ Xuân Hạnh)

    15. Hãy biết chọn lựa can đảm vì đời vĩnh cửu  (Lm. Phêrô Lê Văn Chính)

    16. Gỉa thuyết  (Trầm Thiên Thu)

    17. Chia sẻ yêu thương  (Anna Cỏ May, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    18. Thói ghen tỵ  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    19. Tránh tư cách đạo đức xấu  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nguyên)

    20. Óc cục bộ, phe nhóm  (JM. Lam Thy, ĐVD)

    21. Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta  (Fx. Đỗ Công Minh)

    22. Tự kiểm và lòng khiêm tốn  (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh)

    23. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 26 TN_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    24. Nạn độc quyền  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    25. Sáng danh Cha  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    26. Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.  (Lm. Phêrô Võ Tá Đương)

    27. Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta- (Lm. Phêrô NguyễnVăn Hương)

    28. Không độc quyền ơn Chúa  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    29. Chúa Nhật 26 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

     

    Năm 2015

    Mục lục

    1. Bao dung và quảng đại  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Khổ chế với bản thân  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Nhỏ mà to  (Trầm Thiên Thu)

    4. Sống theo Thần khí  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

    5. Nhân ái trong thực hành  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    6. Tin Mừng dữ dội  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    7. Chúa Nhật 26 Thường Niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ Giuse, Tulsa)

    8. Ghen tỵ trong đời sống đạo (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    9. Nới rộng yêu thương (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    10. Tránh thói bè phái và tập ứng xử bao dung (Lm. Đan Vinh)

    11. Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em (Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ)

    12. Ích kỷ (Huệ Minh)

    13. Làm cớ sa ngã (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)

    14. Kitô hữu trước điều thiện và điều ác (Lm. Giuse Nguyễn Thành Long)

     

    THIÊN ĐÀNG VÀ HỎA NGỤC

    Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Con người sống ở đời luôn luôn phải lựa chọn. Làm thế nào để khôn ngoan chọn lựa cho mình những điều tốt đẹp và hạnh phúc lâu dài. Bối cảnh xã hội, cùng với những nguyên nhân, chủ quan và khách quan, nhiều khi làm cho người ta lầm lạc. Có những khi tưởng là chắc chắn vững bền mà thực ra chỉ là đuổi mồi bắt bóng. Đối với người tin Chúa, cuộc sống luôn là sự chọn lựa giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa Thiên đàng và hoả ngục. Vì con đường hạnh phúc là con đường hẹp, còn con đường hư hỏng lại rộng rãi thênh thang, nên sự chọn lựa này nhiều khi rất cam go, khiến chúng ta phải hy sinh mất mát vật chất cũng như tình cảm.

    Bài Tin Mừng hôm nay như một tổng hợp nhiều bài học giáo huấn trong một đoạn văn ngắn. Tác giả Luca chắc hẳn đã thu góp sưu tập những lời giảng dạy của Chúa, rồi đặt chúng bên cạnh nhau theo một lối hành văn cô đọng có chủ ý gửi gắm những thông điệp cụ thể.

    Trước hết, Chúa Giêsu dạy chúng ta về tình liên đới hài hoà để chống lại sự ghen tị chia rẽ. Đây cũng là giáo huấn mà chúng ta đã nghe trong Lời Chúa Chúa nhật trước. Tông đồ Gioan khó chịu khi thấy những người khác nhân danh Đức Giêsu mà trừ quỷ. Lập luận của ông thuần tuý trần tục, với tư tưởng phe cánh: ai không cùng nhóm với các môn đệ Thày thì không thể nhân danh Thày. Gioan cũng như một số môn đệ khác tự cho mình là được ưu tuyển, là chính danh, để coi thường những người khác và muốn phủ nhận những điều tốt lành họ đang làm. Chúa Giêsu không quan niệm như thế. Người khẳng định: Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta. Sự ganh tị cũng được nhắc tới trong Bài đọc I. Ông Giosuê, người sau này sẽ trở thành thủ lãnh kế vị ông Môisen, cũng ghen tương với những người khác và không chấp nhận cho họ nói tiên tri, trong khi chính Chúa ban cho họ khả năng ấy. Điều đó cho thấy sự nhỏ nhen của của người. Họ muốn giành quyền Thiên Chúa để phán xét theo cái nhìn thiển cận và ghen tương của mình. Chúa dạy chúng ta hãy có cái nhìn công bằng hơn. Bất cứ ai làm điều tốt, dù họ thuộc về phe phái chính trị hoặc về tôn giáo nào, đều đáng trân trọng. Thiên Chúa là nguồn gốc của Chân, Thiện, Mỹ, nên những ai làm những thiện hảo và tốt đẹp đều đang hướng về Chúa và mặc dù không ý thức điều đó, họ vẫn đang diễn tả vẻ đẹp và sự tốt lành của Ngài.

    Từ khái niệm hài hoà yêu thương, Đức Giêsu nhắc đến tình liên đới của những ai muốn làm môn đệ Chúa. Hình ảnh một chén nước lã quá đơn giản, mà khi được trao tặng với tư cách là môn đệ của Chúa, sẽ mang lại những lợi ích lớn lao. Trong bài giảng về ngày phán xét chung (x. Mt 25,31-46), Chúa Giêsu còn nhắc tới giáo huấn này. Hơn nữa, Người còn đồng hoá mình với những người bé mọn, cô thế cô thân và bất hạnh đau khổ.

    Chọn lựa Thiên đàng chính là chọn lựa tình liên đới và yêu thương. Hoả ngục là nơi dành cho những người ghen ghét hận thù. Lời giáo huấn của thánh Giacôbê mang âm hưởng của vị Thẩm phán trong ngày cánh chung. Tác giả nghiêm khắc khiển trách những người giàu, vì họ chỉ lo tích trữ của cải mà vô cảm với những người nghèo xung quanh. Một cách đặc biệt, thánh Giacôbê lên án những người làm giàu bất chính, thu lợi từ những hành vi gian lận của người nghèo. Họ sẽ phải nhận được hậu quả do những việc ác họ đã làm.

    Sống ở đời, con người không phải là những ốc đảo riêng rẽ cô đơn, nhưng liên đới với nhau trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ. Mỗi hành vi cử chỉ không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, mà còn liên luỵ hoặc làm dịp cho người khác vấp phạm. Đối với Chúa Giêsu, những người làm gương xấu thật đáng lên án, đến nỗi thà buộc cối đá lớn vào cổ mà quăng xuống biển. Điều đó có nghĩa những việc xấu gây nên những hậu quả vô cùng tai hại cho những người xung quanh, nhất là đối với những người đơn sơ và trẻ em.

    Như đã nói ở trên, cuộc sống là sự chọn lựa giữa ánh sáng và bóng tối, cái thiện và cái ác, sự thánh thiện và tội lỗi, Thiên đàng và hoả ngục. Chân, tay, mắt là ba phương tiện chính yếu để thực thi mối tương giao với người khác. Vì vậy, cần phải có con mắt trong sáng và phải có những hành vi thiện lành. Chắc chắn Chúa không đòi chúng ta phải chặt chân, chặt tay hay móc mắt, nhưng Chúa muốn chúng ta dành cho Chúa một tình yêu ưu tiên, vượt lên trên mọi tình cảm và quyền lợi trần gian, nhờ đó chúng ta sẽ đạt được gia nghiệp vĩnh cửu Chúa dành cho ai trọn tình yêu mến Ngài.

    Một tác giả đã viết: Người quân tử khắt khe với bản thân và rộng rãi với người khác. Ý tưởng này được nhấn mạnh trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Cách nói tạo hình ảnh gây ấn tượng như chặt chân, chặt tay, móc mắt… diễn tả sự chọn lựa cương quyết giữa hạnh phúc đời này với hạnh phúc đời sau, giữa sự thanh thỏa nội tâm với những bổng lộc trần thế. Đây cũng là cách khẳng định mạnh mẽ về sự dứt khoát từ bỏ những nguyên nhân gây nên tội ác, để trung tín với Đấng đã hy sinh mạng sống vì yêu thương chúng ta.

    Tương lai của chúng ta là Thiên đàng hay hoả ngục? đó là kết quả do sự lựa chọn của chúng ta.

    Về mục lục

    CHỦ NGHĨA LOẠI BỎ

    Jorathe Nắng Tím

     “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9, 40), Đức Giêsu cho chúng ta thấy đường vào Nước Trời luôn rộng mở cho mọi người, và muốn chúng ta trở nên những hướng dẫn viên, bạn đồng hành có tâm hồn hào sảng, cởi mở, từ tâm của mọi người trên đường đến gặp Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất.

    Khuynh hướng loại bỏ là khuynh hướng sẵn có ở mỗi người, phát sinh từ ích kỷ, khi chỉ nghĩ đến mình và tìm bảo vệ mình cách an toàn nhất, xây dựng cho mình vị thế vững chắc nhất, thu gom cho mình bao nhiêu lợi lộc có thể. Khuynh hướng loại bỏ ấy sẽ nảy mầm và lớn lên tạo thành nếp sống, mà người ta gọi là “văn hoá”, để rồi đạt đến đỉnh cao được gọi là chủ nghĩa loại bỏ.

    Ngay những trang đầu của Kinh Thánh, khuynh hướng loại bỏ đã được đề cập khi Cain quyết đinh loại bỏ em mình, bằng việc dụ em ra ngoài đồng và “xông đến giết Aben” (St 4,6). Cain đã loại bỏ em khỏi thế giới người sống, không muốn em cùng sống trên cõi đời, vì sự hiện diện của em đang trở thành đe dọa cho anh, khi Thiên Chúa Giavê đã nhận lễ vật của Aben, mà không nhận lễ vật của Cain (x. St 4, 3-5).

    Ngày nay, khuynh hướng loại bỏ đã đạt đến đỉnh điểm khi biến thành chủ nghĩa: người ta không còn ngẫu nhiên, ngẫu hứng hay vô ý, vô tình loại bỏ những người chống lại mình, không đồng tình với mình, không cùng đảng phái, phe nhóm, vùng miền, nhưng phần đông đã không còn  lấn cấn, do dự, không ngại ngùng, dè dặt, không hối tiếc, ân hận loại bỏ người chung quanh một cách thoải mái, dễ dàng, bởi loại bỏ đã trở thành chủ nghĩa, chủ trương, đường lối để đạt thành công.

    Chúng ta hãy nhìn vào đường lối cai trị của những nhà độc tài, toàn trị trên thế giới, như Hitler khi ông loại bỏ không tiếc thương tất cả những con người mà theo ông không còn có lợi cho nước Đức. Họ là những người tàn tật, bệnh hoạn, thiểu năng, đồng tình luyến ái, những người Do Thái mà ông thù ghét, và những ai có ý đồ, hoặc hành vi chống lại chế độ Đức Quốc Xã của ông. Những trại tập trung khổng lồ, và lò hơi ngạt sát sinh đã là phương tiện thực hiện hữu hiệu chủ nghĩa loại bỏ kinh khủng này.

    Nhưng chủ nghĩa loại bỏ đã không dừng lại ở bàn tay những nhà độc tài phi nhân. Trái lại, nó len lỏi khắp nơi và đang dữ dội tàn phá xã hội loài người. Len lỏi vào đời sống gia đình, khi người già bị bỏ rơi, không được quan tâm, vì không còn khả năng sinh lời, sản suất; thai nhi bị loại bỏ vì phiền hà, rắc rối; người nghèo, người bệnh, người mù chữ bị loại bỏ, vì là gánh nặng và lực cản đà tiến của xã hội.

    Chưa hết, ngay trong sinh hoạt tôn giáo, trong cách cư xử giữa những người đồng đạo, chúng ta cũng bị chủ nghĩa loại bỏ của xã hội thực dụng ảnh hưởng trầm trọng, mà nhiều khi chúng ta không nhận ra.

    Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã không chỉ không đồng tình với khuynh hướng  và chủ nghĩa loại bỏ, nhưng còn đi xa hơn, đi rất xa, và điều Ngài nói đã làm sửng sốt các môn đệ có mặt, và đặt ra cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ:

    Đức Giêsu không đồng tình với đề nghị “ngăn cản” những người nhân danh Ngài mà trừ quỷ, dù họ không đi theo Ngài của các môn đệ,  khi các ông thưa với Ngài: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người nhân danh Thầy mà trừ qủy. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9, 38).

    Các môn đệ cho mình là có lý, và nắm chắc Đức Giêsu sẽ ủng hộ quan điểm và đường lối “loại bỏ” của mình, khi đưa ra lý do được coi là chính đáng: “vì người ấy không theo chúng ta”. Theo các ông, “không theo chúng ta” nên không có quyền nhân danh tập thể của chúng ta, không theo Thầy như chúng con, nên không được phép nhân Thầy như chúng con, nhưng rất tiếc, các ông đã ngỡ ngàng vì câu trả lời bất ngờ của Ngài: “Đừng ngăn cản người ta” (Mc 9, 39).

    Các môn đệ còn hết hồn, ngã ngửa khi Đức Giêsu đưa ra lý do: “Vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy” (Mc 9,39).

    Lý do Ngài đưa ra rất đơn giản, dễ hiểu đối với mọi người: vì không ai ngu dốt, dại khờ đến độ nói xấu, hạ nhục người mình vừa mới nhân danh để làm phép lạ, bởi nếu nói xấu người mình “lấy danh nghĩa, cậy đến tên” mà làm một việc tự mình không làm được, thì khác nào tự bôi bác, tự hạ thấp giá trị, và tư phủ nhận chính mình.

    Ở đây, chúng ta thấy Đức Giêsu đặt trọng tâm vào việc “làm vinh danh Thiên Chúa”, nghĩa là đặt “Thánh Danh Thiên Chúa, Tên Thiên Chúa” trên tất cả, trước tất cả, bởi chính Danh Thánh ấy mới là mục tiêu con người phải tìm kiếm, và chỉ nhờ Danh Thánh ấy, phép lạ mới được thực hiện, nên bất cứ con người nào, ở vị thế, hoàn cảnh, giai tầng nào cũng không quan trọng, vì không là yếu tố quyết định, không là sức mạnh thánh thiêng đã  làm nên những phép lạ cả thể, phi thường như trừ quủy, chữa các bệnh nan y…

    Quả thực, Đức Giêsu trong Tin Mừng đã công khai chống lại chủ nghĩa loại bỏ, chủ nghĩa đang làm tàn úa mùa xuân “Nước Trời đã ở giữa chúng ta”, chủ nghĩa đang phá vỡ không ít công trình cứu độ của Thiên Chúa, chủ nghĩa đang phủ nhận chính Thiên Chúa khi loại bỏ con người, bằng cách dạy chúng ta tinh thần cởi mở đón nhận, cởi mở đồng hành, cởi mở hợp tác với mọi người thiện tâm, bởi khi tâm thiện, khi trái tim mang thiện chí, người ta sẽ tự khắc nhận ra Thiên Chúa, biết tên Ngài và  “nhân danh” Ngài, như lời chúc của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh: “Bình an cho người thiện tâm dưới thế” (Lc 2,14).

    Khẳng định: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9, 40), Đức Giêsu cho chúng ta thấy đường vào Nước Trời luôn rộng mở cho mọi người, và muốn chúng ta trở nên những hướng dẫn viên, những bạn đồng hành có tâm hồn hào sảng, cởi mở, từ tâm của mọi người trên đường đến gặp Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất.

    Về mục lục

    YÊU THƯƠNG LÀ THẾ

    Lm. Jos DĐH.

    Câu truyện ngụ ngôn “Bõ đũa”, ít nhiều gì chúng ta cũng đã đọc, đã nghe. Truyện kể về người cha già có 3 người con, chúng không thương yêu nhau, và còn ganh ghét nói hành nói xấu nhau. Một hôm người cha gọi các con lại và nói, đây là bõ đũa, nếu ai bẻ gẫy được, cha sẽ thưởng cho túi tiền này. Và rồi từ người anh cả, đến anh kế, cho đến em út, tất cả đã lấy hết sức mà bẻ bõ đũa, nhưng anh em họ không thể bẻ gãy. Sau đó, người cha đã rút ra từng chiếc đũa và bẻ thì thật dễ dàng, người cha ân cần nói: nếu các con chia rẽ, không yêu thương nhau, chúng con sẽ giống như chiếc đũa riêng lẻ này, sớm bị giông lốc cuộc đời bẻ gẫy mất mà thôi. Biết sống hiệp nhất, yêu thương nhau, chúng con sẽ thành công, chúng con mới thực sự là con của cha.

    Cuộc sống quanh ta không thiếu những bài học trân quý: lấy của che thân, không ai lấy thân che của ; hoặc người sống của còn, người chết của hết. Lấy quyền cha mẹ răn dạy con cháu thì đúng rồi, tuy nhiên, sẽ không thích hợp, khi bậc sinh thành dùng uy quyền để hù doạ con cháu. Trong tương quan xã hội: mạnh được yếu thua, nhất thế nhì thân, cậy quyền cậy thế, đã thực sự “làm hỏng” mơ ước của tiền nhân “hậu sinh khả uý” ! Khuynh hướng muốn được nổi danh nổi tiếng, hoặc ghen ăn tức ở với anh chị em mình, nếu bạn có tính xấu xa đó, bạn đã vô tình để công sinh thành dưỡng dục, bị xem là uổng phí. Bởi vì mỗi chúng ta từng được nhắc bảo: đắng cay cũng thể ruột già, dù cay, cay lắm, vẫn là anh em. Hãy vui với người vui, khóc với người khóc.

    Có yêu thầy, mới hy vọng được làm thầy. Có lầm lỡ, sai quấy, có vấp ngã, và phải vất vả khi đứng lên, bạn sớm nhận ra phận người yếu đuối, bạn sẽ khiêm tốn hơn, để hiểu tại sao cha ông ta nói: không thầy đố mày làm nên. Nếu không phải là bậc thầy, không phải vì yêu thương, làm sao Đức Giêsu đủ bình tĩnh khi nghe trò nói: “lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và con đã ngăn cấm y”. Điều Thầy Giêsu mong chờ Gioan và các học trò là họ đủ can đảm, đủ yêu thương, biết ngăn cản người anh em mình đừng làm điều xấu. Điều mà các đấng bậc sinh thành mơ ước, anh chị em hãy sống đoàn kết yêu thương nhau, cùng chung tay xây dựng gia đình, dòng tộc, quê hương đất nước vững mạnh hơn.

    Quan sát các hoạt động xã hội thật ý nghĩa, cứ tưởng các đấng bậc ví von cho vui: một cây làm chẳng nên non, 3 cây chụm lại nên hòn núi cao. Trong nông nghiệp, các ngài cũng đề cao xã hội tính: xấu đều hơn tốt lỏi, hay trước tình hình phức tạp giữa các huynh đệ với nhau, bằng một thông điệp, khích lệ nhau: phúc cùng hưởng, hoạ cùng chia. Để được lớn lên, trưởng thành hơn trong hiểu biết, trong tình hiệp thông liên đới trách nhiệm: làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật. Đức Giêsu dẫn đưa các học trò đến một quy luật cơ bản: “ai không chống đối các con là ủng hộ các con”. Đừng ngăn cấm y, đừng ngăn cản người anh chị em mình đang làm điều tốt, yêu thương là thế, làm môn đệ Thầy Giêsu là thế, hãy liên đới tình hiệp thông yêu thương. Kinh nghiệm về tình đoàn kết gắn bó tin yêu, người đời vẫn có câu: ăn cơm có canh, tu hành có bạn.

    Quy định nơi cuộc sống, ai cũng có trách nhiệm, bổn phận với gia đình, ai cũng cần nghe, để biết, để hiểu, và thực hành, khởi đi từ sự công bằng: nhận và cho, được ơn ban phải chia sẻ ơn ban. Cũng có những phần tử đang biểu lộ quyền uy: lấy thịt đè người, rung cây nhát khỉ, hù ma Đức giáo hoàng, chẳng qua tiền nhân ta muốn nói đến những kẻ làm điều đó chỉ vô công tốn sức mà thôi. Trên phương diện thực hành đức ái, Đức Giêsu đã chỉ cho thấy tính chất yêu thương, được đặt trong hành động, vô cùng quan trọng. “Ai nhân danh Thầy mà cho các con dù chỉ một ly nước lã, vì lẽ các con thuộc về Đấng Kitô, kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Vị chi muốn ứng xử đúng, đẹp, không thể bỏ việc tập luyện ý chí, quyết tâm, muốn có gương sáng đức tin trong thực hành, không thể chỉ cậy dựa vào khả năng riêng lẻ, mà ai cũng phải cậy dựa vào tình yêu Đức Giêsu.

    Sống ở đời: sắc vàng, sắc đỏ, rực rỡ có, thuỳ mị có, tất nhiên sắc đen, sắc xám, cũng tồn tại theo. Đừng ích kỷ, hãy khiêm tốn học hỏi, rút kinh nghiệm, để cùng minh chứng với hậu thế: tại sao ta cần phải khôn ngoan, chuẩn mực. Đức Giêsu đã chẳng nghiêm túc, khi nói: “nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn”. Chớ trêu ở đời: vợ người thì đẹp, văn mình thì hay. Bao lâu chưa thấm đủ tình yêu thương, người ta dễ để lòng ngờ vực anh chị em mình. Bao lâu ta chưa đặt để tình yêu thương của Đức Giêsu vào tâm hồn, ta dễ có đầu óc bè phái, hoặc nhìn người anh chị em mình bằng ánh mắt hình viên đạn, thật đáng tiếc ! Chúng ta cũng từng nghe: không có phụ nữ nào xấu, chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp. Kitô giáo thì quả quyết: không có cá nhân nào hư hỏng đến độ không thể được cứu độ, có chăng là họ chưa có động lực để làm việc tốt, để sống có ý nghĩa. Xin tình yêu của Thầy Giêsu trợ giúp, và hãy ở mãi nơi tâm hồn chúng con. Amen.

    Về mục lục

    LÀM CỚ SA NGÃ

    Lm. Thái Nguyên

    Suy niệm

    Cuộc sống dù trong tập thể nào vẫn luôn có những gương xấu. Gương xấu gây ra một bầu khí ô nhiễm tinh thần. Một trong những khuynh hướng xấu rất thông thường nơi con người là óc bè phái và muốn độc quyền. Sợ người khác hơn mình, làm mất ảnh hưởng và uy tín của nhóm mình, nên có lần các môn đệ cũng đã dùng quyền để hạn chế hoạt động của người khác. Đức Giêsu không chấp nhận điều đó. Ngài đã đưa ra một cái nhìn lạc quan và tích cực để xóa bỏ sự phân biệt, kỳ thị, phe nhóm. “Ðừng ngăn cản người ta… ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Với con tim rộng mở, với cái nhìn siêu thoát, Đức Giêsu chủ trương tiếp nhận tất cả, hòa hợp tất cả, gần gũi tất cả, yêu thương tất cả. Nếu có loại trừ thì loại trừ sự kỳ thị, phân chia, ngăn cách, tranh giành và và chống chọi với nhau.

    Có khi chính chúng ta cũng rơi vào não trạng bè phái và muốn chiếm hữu độc quyền trong việc hành thiện. Ngay trong Kitô giáo cũng chia thành nhiều giáo phái. Điều trớ trêu là các giáo phái nói xấu lẫn nhau, mạt sát lẫn nhau, kết án lẫn nhau, có khi khủng bố lẫn nhau. Đây quả là một gương xấu quá lớn, một điều mỉa mai cho Đức Giêsu và cho tất cả những ai tin vào Ngài, đồng thời  là một phản chứng nặng nề đối với những người ngoài Kitô giáo. Ngay trong Hội Thánh cũng không thiếu những gương xấu, khiến cho nhiều người thất vọng đi tìm con đường khác, đời sống đức tin gặp khủng hoảng. Ðức Giêsu tỏ thái độ không khoan nhượng đối với kẻ nào gây ra gương xấu: “… thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn”.

    Gương xấu làm cớ cho người khác sa ngã, và có khi là nguyên do gây ra một phản ứng quá đà mang tính xã hội, trong đó có trách nhiệm của chúng ta. Trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, Công Đồng cũng đã thú nhận các tín hữu chúng ta có thể chịu trách nhiệm một phần không nhỏ trong việc khai sinh vô thần. Có thể bản thân ta cũng đã từng gây dịp tội khiến cho người khác phải sa ngã. Thân xác ta cũng có thể là dịp tội cho chính mình. Ðức Giêsu đòi chặt tay, chặt chân, móc mắt, nếu những bộ phận đó làm ta phạm tội. Không thể hiểu những điều đó theo nghĩa đen, nhưng cũng không thể coi nhẹ tính chất quyết liệt của những đòi hỏi mà Chúa Giêsu đã nêu lên.

    Chúng ta đã biết có nhiều người vì bệnh tiểu đường dám cắt bỏ một phần thân thể để cứu lấy sinh mạng của mình. Loại bỏ một điều quý giá để giữ lại một điều quý giá hơn. Cuộc sống là điều quí giá trên mọi điều quí giá, đáng cho chúng ta loại bỏ một phần thân thể đã bị hoại tử. Nếu cần một cuộc giải phẫu để cứu lấy thân xác, thì càng cần hơn nữa một cuộc cắt bỏ những điều hư hại để cứu lấy linh hồn mình.

    Chúng ta có thể cắt bỏ một tật xấu, cắt bỏ một lời nói cay độc, cắt bỏ một ánh mắt căm hờn, cắt bỏ một cử chỉ khinh thị, cắt bỏ một lối sống buông tuồng, cắt bỏ một mối quan hệ bất chính… Cắt bỏ như thế có khi còn đau hơn “móc con mắt, chặt cánh tay”. Đau vì nó quá thân thiết với cuộc đời ta; đau vì nó quá gắn liền với bản thân ta; đau vì nó quá ăn sâu trong bản chất con người mình. Nhưng nếu can đảm vượt thắng nỗi đau, chúng ta sẽ lớn lên trong phẩm cách làm người, đạt tới sự tự do và trưởng thành hơn trong địa vị làm con cái Thiên Chúa.

    Tuy nhiên, giải phẫu không chỉ là cắt bỏ, mà còn là thay thế các bộ phận hư hỏng: thay trái tim sỏi đá căm hờn bằng trái tim dịu hiền yêu thương; thay bộ óc với tầm nhìn hẹp hòi, cạn cợt, bằng bộ óc rộng mở, thoáng đạt và hồn nhiên; thay cái nhìn đầy thành kiến về người khác bằng cái nhìn hiểu biết và cảm thông, để khám phá ra những điều lành thánh nơi họ. Cuộc sống mới sẽ triển nở khi ta đoạn tuyệt với lối sống cũ, không còn phải sống chung với lũ hay ru ngủ đời mình cách ngây ngô.

    Chúa Giêsu đưa ra những đòi hỏi tận căn, vì nếu ta muốn vươn tới Tuyệt Ðối thì cần hy sinh cái tương đối; muốn đạt tới Thiên Chúa thì phải loại trừ những thần tượng, và những gì gây cản trở cho đời mình.

    Cầu nguyện 

    Lạy Chúa!
    Vẫn có những gương xấu trong Hội Thánh,
    không tránh được bè phái và phân tranh,
    những chia rẽ và lạm dụng quyền hành,
    đưa tới ganh ghét và tranh giành địa vị.

    Gương xấu làm cho nhiều người thất vọng,
    có khi gây khủng hoảng mất lòng tin,
    nên có nhiều kẻ đi theo con đường khác,
    để tìm cho đời mình sự bình an.

    Xem ra gương xấu vẫn lan tràn,
    làm bao người tốt phải hoang mang,
    nhưng rồi chẳng ai là vô tội,
    nên bản thân con cần sám hối.

    Như cành lá sâu xia cần cắt bỏ,
    Chúa đòi con làm sáng tỏ đời mình,
    dám loại ra những gì gây hư hại,
    để đem lại một sức sống tươi hồng.

    Xin cho con thấy mình được khích lệ,
    bởi biết bao gương sáng không thể kể,
    dù bóng tối vẫn còn trong Giáo Hội,
    những vết nhăn vẫn hằn trên khuôn mặt,
    nhưng Giáo Hội không cần phải che chắn,
    không sợ phải hạ thấp bản thân mình,
    để dưới ánh sáng rực rỡ của Tin Mừng,
    Giáo hội lại được kiên vững và tinh luyện.

    Xin cho chúng con luôn xác tín,
    mình thuộc về đoàn dân thánh thiện,
    dựng xây một Giáo Hội hoàn thiện,
    làm chứng về chúa Đấng toàn thiện,
    cho con người sự sống mới linh thiêng. Amen.

    Về mục lục

    ƠN GỌI NÊN THÁNH

    Bông hồng nhỏ

    Hôm nay, ông Gioan thưa với Thầy Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9, 38) nhưng Thầy Giêsu khuyên các ông đừng ngăn cản họ và hãy đón nhận sự ủng hộ của họ, dù họ không thuộc nhóm. Điều Thầy Giêsu muốn nhắn nhủ các ông là đừng làm cớ cho người khác và cho mình sa ngã.

    Quả thật, tội lỗi là nguyên cớ làm cho con người rời xa Thiên Chúa và phải đau khổ. Người ta phạm tội do lỗi của mình và một phần cũng do bởi gương xấu. Tình yêu đích thực mà mỗi người cần dành cho nhau đó là cùng nhau nên thánh mỗi ngày. Khi nhận thấy điều gì đó tốt đẹp của người khác, ta hãy vui mừng vì hồng ân họ nhận được. Khi thấy người ngoài nhóm cũng lấy danh Thầy mà trừ quỷ thì các tông đồ đã cố ngăn cản. Thầy Giêsu biết rõ lòng các môn đệ. Khi các ông cãi nhau dọc đường, xem ai mới là người lớn hơn cả, thì về nhà, Thầy Giêsu đã gọi các ông lại mà dạy dỗ. Thầy dạy rằng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 34 – 37). Thầy không muốn giữa các ông có điều bất hòa nhưng phải yêu thương nhau. Các môn đệ lặng nghe lời Thầy dạy. Ngay sau đó, ông Gioan đã đem việc các ông đã cố ngăn cản người ta lấy danh Thầy mà trừ quỷ thì Thầy cũng khuyên các ông hãy giữ hòa khí với họ. “Vì ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Làm sao để chia sẻ vinh dự với người khác đang khi các ông còn dành nhau chỗ lớn nhất? Sứ mạng của Chúa Giêsu là thi hành thánh ý Chúa Cha, là cứu độ nhân loại. Sự thánh thiện của Thiên Chúa không bị giới hạn trong một nhóm người, trong một tổ chức nhưng dành cho tất cả mọi người. Ai cũng được mời gọi rộng mở tâm hồn để đón nhận làn gió của Thánh Thần, để sống thánh thiện. Trong tông huấn “Hãy Vui Mừng Hoan Hỉ” (Gaudete Et Exsultate) về lời mời gọi nên thánh trong thế giới hôm nay, Đức thánh cha Phanxicô cũng khẳng định rằng sự thánh thiện là ơn gọi nền tảng của mỗi người.

    Để sống thánh thiện, mỗi người cần biết phân định và chọn lựa đâu là điều Chúa muốn tôi làm. Chúa muốn tôi hãy yêu thương người bé nhỏ, yêu thương mọi người bằng những cử chỉ yêu thương, ví như một chén nước lã tôi dành cho họ. Mỗi việc tôi làm đều xuất phát từ lòng yêu Chúa, vì ý thức rằng mọi người đều thuộc về Chúa Kitô, rằng tận sâu bên trong những con người yếu đuối và bất toàn ấy vẫn mang một hạt giống của sự thánh thiện, rằng ẩn sau những khuôn mặt hốc hác hay ghê sợ kia, Chúa Kitô vẫn đang hiện diện. Chúa Kitô vẫn đang chịu đau khổ nơi những anh chị em này. “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9, 42). Không ai có thể tự mình sống thánh thiện và cũng không ai nên thánh một mình. Nỗ lực nên thánh và giúp người khác nên thánh luôn đòi hỏi mỗi người phải biết sống theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, dựa vào ơn Chúa để vượt qua những cám dỗ, sống dưới sự soi sáng của Chúa để đón nhận con người yếu đuối của mình, can đảm sống thật với con người mình, can đảm và khiêm tốn nhìn nhận mình yếu đuối. Thầy Giêsu đòi hỏi người môn đệ phải biết dứt khoát với tội lỗi, xa tránh dịp tội.

    Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã ban cho con ơn được sống trong ân huệ của Chúa. Chúa muốn con sống thánh thiện. Mỗi ngày Chúa vẫn nói với con, chỉ dạy cho con, nhất là những lúc con vấp ngã, Chúa đã nâng con dậy, chỉ dạy con biết lỗi lầm của mình. Xin Chúa tiếp tục đồng hành và giúp con biết can đảm nhận lỗi và sửa lỗi, đó là con đường dẫn con quay về với Chúa, cùng yêu thương anh chị em con. Amen.

    Về mục lục

    ĐỂ VÀO NƯỚC CHÚA

    Thiên San

    Tin Mừng hôm nay chỉ lối cho chúng ta về cách thức để vào được Nước Thiên Chúa. Khi môn đệ Gioan thấy có người lấy danh của Thầy của mình mà trừ quỷ, ông đã cố ngăn cản vì người ấy không thuộc về nhóm của ông. Ông đã kể chuyện đó với Thầy Giêsu nhưng Người mời gọi ông đừng ngăn cản họ làm điều đó. Đoạn, Người khẳng định rằng: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô thì Thầy bảo thật anh em, Người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9, 41). Tiếp đến, Người mời gọi những kẻ thuộc về Người phải có thái độ dứt khoát với những gì gây cản trở họ trên đường tiến về Nước Thiên Chúa.

    Thiên Chúa có quyền định đoạt và ban phát các ân huệ của Người theo cách Người muốn. Thời Cựu Ước, Đức Chúa không chỉ ban Thần Khí cho một mình ông Môsê mà còn ban Thần Khí cho cả các kỳ mục. Khi thấy các kỳ mục phát ngôn trong trại, một thanh niên chạy đi báo cho ông Môsê biết. Giôsuê, kẻ đã theo hầu Môsê từ hồi còn nhỏ liền thưa: Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ” (Ds, 11, 28). Nhưng ông Môsê trả lời: “Anh ghen giùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ! (Ds 11,29). Thời Tân Ước, Thiên Chúa qua Đức Giêsu cũng đã làm điều đó. Ngoài nhóm Mười Hai, Đức Giêsu còn cho phép những kẻ tin ở Ngài có thể nhân danh Ngài mà làm điều tốt đẹp như trừ quỷ. Đối với Thầy Giêsu, “ai không chống lại chúng ta là ửng hộ chúng ta” (Mc 9,40).

    “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô thì Thầy bảo thật anh em, Người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9, 41). Khi chúng ta làm bất cứ điều gì tốt đẹp cho ai vì lẽ họ thuộc về Đấng Kitô thì phần thưởng của chúng ta đã được ban. Thực ra trước đó, các môn đệ đã cãi nhau về chuyện ai sẽ là người lớn nhất. Vì chuyện đó, nhóm Mười Hai mất hòa khí với nhau. Bởi vậy, chúng ta thật dễ hiểu vì sao Gioan lại ngăn cản khi thấy người ta dùng danh Thầy mà trừ quỷ. Đức Giêsu mời gọi các ông giữ hòa khí với cả những người “không thuộc về chúng ta”. Nếu nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tha nhân, có thể chúng ta sẽ sẵn sàng thực thi những điều tốt đẹp cho người khác mà không cần đắn đo suy nghĩ. Cũng bởi, tất cả nhân loại đều là con cùng một Cha trên Trời. Họ cũng mang hình ảnh của Thiên Chúa.

    Để vào được Nước Trời, Đức Giêsu còn mời gọi chúng ta có một thái độ dứt khoát với những gì gây cản trở ta trên con đường tiến về Quê Trời. Có thể nói, đó là một trận chiến khốc liệt ngay trong chính mỗi người. Cuộc chiến khốc liệt, đau đớn và để lại những khiếm khuyết. “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hỏa ngục” (Mc 9, 45). Cũng như tay hay mắt của ta làm cớ cho ta sa ngã thì cũng vậy. Hạnh phúc thiên đàng quan trọng đến độ ta phải chấp nhận “chặt”, “móc” đi những gì cản trở ta và chấp nhận khiếm khuyết để được vào Nước Trời. Nhưng thử hỏi, ai trong chúng ta có đủ nhuệ khí, đủ dũng cảm để tự chặt tay chân hay móc mắt của mình? Điều đó thật đau đớn nhưng chúng ta luôn luôn phải dứt khoát với tội lỗi. Lời Chúa cho chúng ta thấy: Nước Thiên Chúa là tất cả. Đời sống này là hành trình để ta tiến về Nước Thiên Chúa, quê hương đích thực của mỗi chúng ta. Đang khi sống đời này, chúng ta không thể tránh khỏi những cản trở đó. Những cản trở đó có khi xuất phát từ chính chúng ta. Thêm nữa, chúng ta cũng đừng bao giờ trở nên cớ vấp phạm cho người khác.

    Lạy Chúa! Chúng con cảm tạ Chúa về tình thương Chúa dành cho chúng con. Nước Thiên Chúa là phần thưởng cho mỗi người chúng con, là quê hương đích thực của mỗi người chúng con. Để tiến về quê hương ấy, chúng con rất cần đến ơn Chúa. Xin giúp chúng con hiểu rằng, mỗi người trên thế giới này đều là con cái của Chúa. Chúa có quyền ban ơn cho những ai Ngài muốn. Xin giúp chúng con biết bước ra khỏi hàng rào của “phe nhóm” để bước ra vùng ngoại biên, đối thoại với mọi người. Chúa đang ở vùng ngoại biên và Người chờ chúng con nơi hình ảnh của những anh chị em đang đau khổ. Chúa sẽ giúp chúng con biết sống hoà thuận, yêu thương và trở nên gương sáng cho nhau. Nhất là, xin cho chúng con biết can đảm chấp nhận mất mát, chấp nhận đau đớn để chiếm được Nước Thiên Chúa. Amen.

    Về mục lục

    NGUYÊN TẮC CỞI MỞ

    Lm Giuse Nguyễn Hữu An

    Công đồng Vatican II đã mở ra cho Giáo hội một cái nhìn mới về mối tương quan giữa người Công giáo với những anh chị em Tin Lành và cả những người thuộc các tôn giáo khác nữa.Những văn kiện của Công đồng, đặc biệt là sắc lệnh Đại kết (Unitatis redintegratio) và tuyên ngôn Tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra aetate), đã giúp chúng ta nhìn anh chị em ngoài Giáo Hội với thái độ cởi mở, thân thiện và đoàn kết hơn. Công đồng đã đưa chúng ta trở về nguồn cội của bình an và hòa thuận là Thần Khí của Thiên Chúa và tinh thần của Chúa Giêsu, như được diễn tả trong bài đọc Cựu Ước và bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay.

    Bài đọc 1 kể chuyện, thời ông Môsê dẫn dân Ítraen ra khỏi Aicập. Thiên Chúa đã lấy một phần Thần Khí Người ban cho ông Môsê để chia sẻ cho các kỳ mục. Có hai kỳ mục tên là Enđát và Mêđát không có mặt tại Lều hội ngộ lúc Thần Khí xuống trên bảy mươi kỳ mục kia, nhưng Thần Khí vẫn ngự xuống trên hai ông đang khi họ ở trong trại.  Được đầy Thần Khí, hai ông bắt đầu nói tiên tri trong trại. Người ta báo cáo việc này cho ông Môsê và ông Giôsuê còn lên tiếng xin ông Môsê hãy ngăn cản hai kỳ mục kia. Ông khuyên họ hãy nhận biết đó là việc Thiên Chúa làm và việc hai kỳ mục thi hành tác vụ ngôn sứ là điều đẹp lòng Thiên Chúa. Bản thân ông Môsê không coi việc Thiên Chúa “lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục” là một sự thiệt hại cho ông. Trái lại, ông còn vui mừng ước mong Thần Khí không những xuống trên ông và các kỳ mục, mà còn xuống “trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ nữa”. Đối với ông, hai kỳ mục kia đã làm công việc của Thiên Chúa,vì thế ông không được “ngăn cản” họ chỉ vì họ không cùng có mặt với ông và bảy mươi kỳ mục khác. Đúng như Chúa Giêsu sẽ nói sau này: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.

    Bài Tin Mừng thuật chuyện, khi thấy một số người mặc dù không thuộc nhóm các môn đệ của Chúa Giêsu mà lại ra tay trừ quỷ, ông Gioan tìm mọi cách để cản ngăn. Ông hãnh diện về việc này và kể công với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cấm, vì người ấy không theo chúng ta”. Ông Gioan đã cùng với các bạn cố “ngăn cản” người nhân danh Chúa mà trừ quỷ, vì người ấy “không theo chúng ta”. Ông Gioan và các bạn tông đồ không muốn nhìn nhận tác vụ trừ quỷ của người kia chỉ vì người ấy không cùng phe với họ. Các ông quên mất rằng việc trừ quỷ là do Thiên Chúa đã ban đặc ân cho người trừ quỷ. Chúa Giêsu đưa ra một Nguyên tắc cởi mở: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. (x.Tĩnh tâm với sách Tin mừng Maccô. Lm Giuse Nguyễn Công Đoan). “Chúng ta” là chính Ngài và những người đi theo Ngài, vốn sẽ làm nên Giáo Hội. Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ các môn sinh:  bất cứ ai làm công việc của Thiên Chúa thì đương nhiên là “theo chúng ta” rồi!  Làm công việc của Thiên Chúa không lệ thuộc vào phe nhóm hoặc nhờ cái nhãn hiệu. Trừ quỷ là nhờ “dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ” (Mt 12,28), chứ đâu phải dựa vào phe nhóm. Tinh thần phe nhóm là khí giới ma quỷ sử dụng thường xuyên nhất để tạo nên ganh ghét hận thù.

    Chứng kiến điều kỳ diệu, đó là Danh Thầy Giêsu được tuyên xưng vượt khỏi giới hạn nhóm của mình, và Danh Thầy Giêsu có sức mạnh trừ quỉ, nhưng thay vì tạ ơn Chúa, ca tụng Thầy và chúc mừng người ta, thì môn đệ Gioan và các môn đệ khác lại “cố ngăn cản”, vì “người ấy không theo chúng ta”. “Không theo chúng ta”, nhưng họ đang làm việc trừ quỷ, tức là họ đang làm được những việc tốt lành, việc thiện. Mà mọi điều tốt lành phải từ Thiên Chúa mà đến. “Họ không theo chúng ta”, nhưng họ đều được Thiên Chúa tạo dựng và có quyền gọi Thiên Chúa là cha như “ chúng ta”. Chúa cũng muốn các tông đồ bao dung tha thứ. “Họ đã lấy danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ”, cho dù chưa được sự cho phép của Chúa Giêsu, nhưng chứng tỏ Danh Chúa đã được họ tôn trọng yêu mến. Điều đó chứng tỏ họ cũng được Thiên Chúa trao cho bổn phận loan báo hồng ân cứu độ nơi Chúa Giêsu một cách nào đó.Do vậy “chúng ta” không được phép ngăn cản, ghen tị hay tự đắc độc quyền với việc loan báo hồng ân ấy.

    Ngày nay người ta lên án mọi hình thức độc quyền: độc quyền về điện nước, xăng dầu, sách giáo khoa… Những thứ độc quyền này đã và đang làm suy yếu nền kinh tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác nữa. Trong đời sống tôn giáo, cũng có một thứ độc quyền mà Chúa Giêsu mạnh mẽ đả phá, đó là độc quyền về ơn sủng, độc quyền làm điều thiện.Đàng sau sự độc quyền là lòng kiêu căng, tham danh, hám lợi. Chỉ có ta hay phe nhóm chúng ta mới là duy nhất đúng, vì thế chỉ có ta hay phe ta mới có quyền giáo dục, mới có quyền lãnh đạo… và rồi chỉ có ta, phe ta mới được hưởng lợi lộc và được tôn vinh. Hậu quả của thái độ độc tôn, độc quyền thật đáng sợ mà lịch sử cho thấy qua những cuộc chiến tranh, đàn áp bất công, loại trừ tha nhân cách này cách khác…

     “Nguyên Tắc Cởi Mở”của Chúa Giêsu là việc tốt, việc thiện, việc lành do bất cứ ai làm nhân danh Ngài đều có giá trị.Hơn thế nữa, một việc tốt, việc lành, nhất là việc phục vụ anh chị em đồng loại, dù nhỏ bé tầm thường đến mấy vẫn không mất công phúc: “Thầy bảo thật anh em, ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9,41). Ta có thể cho nhiều hay cho ít, điều đó không quan trọng. Ðiều quan trọng là ta đã cho “như thế nào”, bao nhiêu tình yêu mến được đặt vào nghĩa cử mà ta làm cho người khác. Ðôi khi chỉ cần cho một chén nước lã mà lại được ghi công. “Cho một chén nước lã” là một cử chỉ tầm thường, nhỏ bé, song lại lớn lao trước mắt Thiên Chúa khi được thực hiện nhân danh Người, khi thực hiện với tình thương. Giá trị của nó còn nằm ở chỗ : “Làm cho những kẻ bé mọn là làm cho chính Chúa” (Mt 25,40).

    Những người sống “Nguyên Tắc Cởi Mở” thì sẵn sàng đón nhận những khác biệt, nhất là những khác biệt có thể mang lại ích lợi chung. Điều này càng đúng cho thời đại hôm nay, vì thế giới ngày càng đa cực, đa diện hơn trong cách ứng xử, tiếp cận chân lý. Đừng sợ sự khác biệt, hãy bao dung đón nhận những người không thuộc phe nhóm với mình, nhưng cùng hoạt động cho thiện ích chung của xã hội, Giáo hội. Chúng ta hãy tỉnh táo phân định xem mục tiêu của công việc, những phương thế để đạt mục tiêu, ngõ hầu cùng hợp tác làm việc chung. Không nên vội vàng hấp tấp loại trừ họ chỉ vì họ không phải “phe ta”! Dấu chỉ để nhận ra bàn tay của Thánh Thần thúc đẩy là sự hiệp nhất, yêu thương và xây dựng. Phá đổ, nói xấu, dèm pha, ngăn cản điều tốt là do ma quỷ. Việc của ma quỷ đôi khi đội lốt đạo đức, đó là khi người ta lấy Danh Chúa mà cản trở việc tốt của anh em.

    Người Công giáo chúng ta đang sống trong một xã hội đa tôn giáo, nên cần phải loại bỏ tinh thần độc tôn, không nên nghĩ rằng chỉ có người trong đạo mình mới làm được những việc tốt đẹp, rồi đánh giá thấp những công việc tích cực của anh chị em thuộc các tôn giáo bạn. Thật ra, Chúa không chỉ muốn những người Công giáo làm việc tốt, mà Chúa còn muốn cho tất cả mọi người đều làm việc tốt, để nhân loại được hưởng nhờ, vì thực thi việc tốt là bổn phận không của riêng ai. Hãy loại bỏ tinh thần độc tôn, đừng cho rằng Đoàn Thể của mình là quan trọng nhất, đừng nghĩ rằng chỉ có Nhóm của mình là có đặc ân tối ưu, rồi xem thường những người không “cùng hội cùng thuyền” với mình. Bởi lẽ, trong việc nên thánh, không ai có thể nên thánh một mình, cũng không ai được độc quyền khi nên hoàn thiện.

    Tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, sứ mạng của Giáo Hội là làm cho Nước Thiên Chúa được loan báo đến cho mọi người. Trong một thế giới đa nguyên về ý thức hệ, văn hóa và tôn giáo, sống tinh thần bao dung của Chúa Kitô thật quan trọng. Thay vì loại trừ người khác chỉ vì họ không thuộc về nhóm của mình, chúng ta được mời gọi để nhận ra trong thế giới đầy dẫy khác biệt này vẫn có đông đảo những người đứng về phía sự thật, họ là những người ủng hộ Chúa Kitô bởi vì họ không chống lại Ngài.

    Khi thường nhìn người khác một cách nghi kỵ và khắt khe: “Họ không ủng hộ tôi tức là họ chống đối tôi”, nếp sống của con người trở nên bi quan và khép kín. Hôm nay, Chúa dạy chúng ta một cái nhìn rất bao dung và rất lạc quan với “Nguyên Tắc Cởi Mở”: Ai không chống đối các con là ủng hộ các con. Chắc chắn với cái nhìn này đời chúng ta sẽ vui tươi hơn và sẽ làm việc thoải mái hơn.

    Về mục lục

    QUYỀN LỢI

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Ông Môisê mệt mỏi vì phải giải quyết qúa nhiều vấn nạn của dân chúng đang phải đối diện trong cuộc sống. Ông đã chọn 70 vị bô lão trong dân để cùng chia sẻ trách nhiệm này. Các vị bô lão được lãnh nhận Thần Trí của Chúa đã nói tiên tri. Xảy ra là có hai vị bô lão tên là Elđađ và Mêđađ vẫn ở trong lều trại của mình cũng nhận được Thần Trí. Có đứa trẻ báo tin cho ông Môisê rằng hai ông này cũng đang nói tiên tri, vì quyền lợi nên ông Giôsuê đã lên tiếng nói rằng: Ông Giôsuê con ông Nun, từng theo hầu ông Môisê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Môisê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ! (Ds 11, 28). Ông Môisê bình tĩnh và không bị phiền hà. Ông nhận biết được các ơn đặc sủng tùy theo ý Chúa ban cho từng người. Gió muốn thổi đâu thì thổi, Thần Khí của Chúa cư ngụ nơi những tâm hồn chân thiện.

    Khi ra rao giảng tin mừng cứu độ, Chúa Giêsu phải đối diện với mọi tầng lớp trong xã hội. Chúa đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo trong xã hội dân sự và các phẩm trật trong tôn giáo truyền thống. Chúa đi vào đời sống cộng đồng đang bị ràng buộc bởi nhiều luật lệ, phong tục tập quán, truyền thống, tục lệ của cha ông và thói quen vốn có. Những điều này đã kết dệt nên những quan niệm và cách sống thường ngày của người dân. Chúa Giêsu rao giảng tin vui của đạo mới đã đụng chạm đến các thói tục cố hữu này. Có nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo bị đụng chạm quyền lợi và bị thách thức thay đổi não trạng, nên đã gây những làn sóng chống đối, tẩy chay và thù oán. Chúa Giêsu giầu lòng nhân ái đã mở rộng cửa đón nhận nhiều người bằng những lời rất chân tình: Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta (Mc 9, 40). Chúa biết có nhiều tâm hồn rất đơn sơ và chân thành. Họ không lên tiếng nhưng vẫn âm thầm bước theo Chúa như ông Nicôđêmô.

    Chúa Giêsu đưa ra một loạt những ngăn ngừa dịp tội qua quan năng bên ngoài. Giác quan là những cửa ngõ tiếp xúc với môi trường và tha nhân. Chúng ta phải phòng hộ sáu giác quan của mình là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Mỗi một giác quan như người lính gác canh giữ thành quách. Chỉ cần một anh lính canh ngủ gục, giặc có thể xâm nhập vào thành. Cũng thế, dù chỉ một giác quan lơ là, thì sự xấu và tội lỗi cũng có thể xâm nhập vào tâm. Không phải chúng ta cứ nhắm mắt, bịt tai, ngậm miệng là có thể tránh được các cơn cám dỗ. Chúng ta phải ý thức tự căn và tu tâm khởi giác. Cám dỗ đến từ tâm lòng qua cửa ngõ là giác quan bên ngoài khởi động.

    Chúa Giêsu đã dùng từ ngữ mạnh như chặt chân, chặt tay và móc mắt, ám chỉ sự từ bỏ và hy sinh một cách dứt khoát những dịp tội. Ai cũng có những kinh nghiệm bản thân về sự chiến đấu với các cơn cám dỗ. Đôi khi chúng ta chủ quan nghĩ mình có đủ bản lãnh để dễ dàng vượt qua các cơn cám dỗ. Con người chúng ta yếu đuối, mỏng dòn và dễ chiều sa ngã lắm. Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh rằng các con hãy cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ. Sự dữ, kẻ xấu và tội lỗi luôn luôn mang những vẻ mặt rất quyến rũ và dễ thương. Dịp tội luôn là lời mời mọc nhẹ nhàng giúp thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của những ước muốn. Cám dỗ đáp ứng những đam mê thèm khát của lục giác: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý. Các dịp tội dẫn chúng ta đi vào sự thỏa mãn không bao giờ cùng tận. Nếu không biết dừng lại đúng lúc, chúng ta sẽ rẽ vào con đường lầm lạc lúc nào mà không hay biết.

    Thánh Giacôbê tông đồ kinh nghiệm cuộc sống rất rõ: Trên cõi đất này, các người đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các người đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại (Gc 5,5). Có những người bước vào con đường lầm lạc nhưng không biết mình đang bị lạc, nên họ dễ bị ngập chìm trong tội lỗi và trụy lạc. Một cách tốt nhất là chúng ta phải hồi tâm luôn và quay đầu là bờ. Xét mình để biết mình đang ở đâu, làm gì và đang sống trong tình trạng nào. Chúng ta thường không muốn nhìn nhận những sai trái và sự lầm lạc của mình. Chúng ta luôn nại vào những lý do riêng tư, tự bào chữa và chối từ (denial). Có thể vì ngại ngùng, xấu hổ, phán đoán lệch lạc và sợ hãi, chúng ta xuất hiện bằng sự giả dối và đóng kịch.

    Muốn nên thánh, chúng ta phải nên người trước. Muốn làm người, chúng ta phải học làm người. Để trở thành một người tốt, chúng ta phải tu thân tích đức và luyện tập miệt mài các nhân đức. Muốn có triều thiên vinh quang hay thành qủa sống đạo, chúng ta phải kinh qua những tháng năm kiên trì rèn luyện và nhiệt tâm tu tập. Không ai có thể cắt ngắn, rút gọn hay đi đường tắt đạt tới sự tốt lành thánh thiện. Bất cứ trong hoàn cảnh nào, niềm tin phải được tôi luyện như lửa thử vàng. Đừng khi nào tự phụ để mình rơi vào hoang tưởng là đã đạt tới viên mãn của sự thánh thiện.

    Lạy Chúa, xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng con. Vì không có Chúa chúng con không thể làm gì được. Xin cho chúng con biết mở lòng tin đạo, sống đạo và hành đạo với hết tâm tình, phần còn lại Chúa sẽ bù đắp.

    Về mục lục

    CẤP ĐỘ

    Trầm Thiên Thu

    Cuộc sống có nhiều cấp độ – từ thấp tới cao, từ nhỏ tới to, từ đơn giản tới phức tạp, từ chậm chạp đến mau chóng. Cấp độ từ nhỏ tới to có thể khiến người ta từ lo tới mừng, hoặc từ lo tới sợ. Nói đơn giản, cấp độ là mức độ hoặc trình độ nào đó trong các lĩnh vực của cuộc sống – đời thường hoặc tâm linh.

    Cuộc sống không đơn giản như người ta tửng. Có những thứ to mà nhỏ, có những cái nhỏ mà to. Té bào là thứ nhỏ bé và giản dị nhưng lại thực sự rất cần thiết. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền. Cấp độ cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng, tiêu cực và tích cực, như cái vòng lẩn quẩn xoay tít theo thời gian và trong không gian.

    Cấp độ về tinh thần hoặc thể lý đều có những lúc tăng hoặc giảm, thậm chí là khựng lại – level off, không tăng cũng chẳng giảm. Theo nghĩa xấu, đó là mức tồi tệ; theo nghĩa tốt, đó là mức ổn định. Xã hội Việt Nam có những cấp độ “kỳ lạ” lắm! [*]

    Cấp độ có thể liên quan cấp số. Cấp số có thể là cấp số cộng hoặc cấp số nhân. Giữa các cấp số cộng hoặc cấp số nhân cũng khác nhau, khác ít hay nhiều tùy vào mức độ to hay nhỏ của công sai – đối với cấp số cộng, và của công bội – đối với cấp số nhân. Cuộc đời thực sự vô cùng nhiêu khê!

    Tỷ lệ thuận và tỷ lệ nghịch cũng có khi tốt, có khi xấu. Tỷ lệ thuận TỐT: “Càng gần Thiên Chúa càng trở nên giản dị.” (Thánh TS Teresa Avila) Tỷ lệ thuận XẤU: Càng ngu dốt càng độc ác, kẻ đó có chức quyền càng cao thì cấp độ nguy hiểm càng tăng. Cấp độ đáng sợ: “Tất cả vạn vật đều hữu hạn, chỉ có cái ngu là vô hạn.” (Bác học Albert Einstein) Tỷ lệ nghịch TỐT: “Càng là bạn tốt của nhau chừng nào, anh em càng nói thẳng với nhau chừng nấy.” (Thánh Phanxicô Xaviê) Tỷ lệ nghịch XẤU: “Hiểu biết càng ít, cái tôi càng to.” (Bác học Albert Einstein) Tội lỗi càng tăng, nhân đức càng giảm.

    Sự thật thường phũ phàng, khiến người ta thất vọng. làm chúng ta đau lòng, nhưng ai dám đối mặt với sự thật thì mới khả dĩ nên khôn, bởi vì chỉ có sự thật mới khả dĩ giải thoát con người đúng nghĩa mà thôi. (x. Ga 8:32)

    Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Môsê. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục. Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn, nhưng việc đó không tái diễn nữa.” (Ds 11:25-26) Thần Khí đó là Thánh Linh, là Chúa Thánh Thần, là Ngôi Ba Thiên Chúa. Ngài thường xuất hiện trong các dạng Gió, Lửa, Nước, hoặc Bồ Câu. Ngài không ngừng tác động nơi mỗi chúng ta, ngay từ trong ý nghĩ, dù ngày hay đêm.

    Lúc đó có hai người ở lại trong trại – Enđát và Mêđát. Cả hai đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng họ đã không đến Lều. Thần Khí đậu xuống trên họ và họ bắt đầu phát ngôn trong trại. Một thanh niên chạy đi báo tin cho ông Môsê: “Ông Enđát và ông Mêđát đang phát ngôn trong trại.” (Ds 11:27) Ông Giôsuê, con ông Nun, từng theo hầu ông Môsê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Môsê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ.” (Ds 11:28) Nhưng ông Môsê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ.” (Ds 11:29)

    Chắc chắn ai cũng muốn được lãnh nhận Thần Khí, ông Môsê cũng đã mong cho mọi người đều được ơn “nói tiếng lạ” để trở nên ngôn sứ của Thiên Chúa. Về cơ bản, bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy thì đều có ba thiên chức: Ngôn sứ, Tư tế, và Vương giả. Đây là lĩnh vực thần học, như Công đồng Vatican II đã đề cập trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội (số 10) Đại ý: Thiên chức Tư tế (linh mục là tư tế thừa tác, Kitô hữu là tư tế cộng đồng) là để hiến dâng của lễ cứu độ loài người; Tiên tri (hoặc Ngôn sứ) là để loan báo Tin Mừng Nước Trời; Thiên chức Vương giả (hoặc Vương đế) là để phục vụ dân riêng của Thiên Chúa. Mọi tín nhân đều có trách nhiệm loan báo Tin Mừng về Nước Trời.

    Tất cả các Kitô hữu (giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân, thành viên của các hội đoàn) đều được Thánh Phêrô nhắn nhủ: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em em như những VIÊN ĐÁ SỐNG ĐỘNG mà xây lên NGÔI ĐỀN THỜ THIÊNG LIÊNG, và hãy để Thiên Chúa dắt anh em làm HÀNG TƯ TẾ THÁNH, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô.” (1 Pr 2:5)

    Trong những năm qua, chúng ta thấy xuất hiện nhiều “vấn đề lạ” như Sứ Điệp Từ Trời, Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Nhóm trừ quỷ Bảo Lộc,… nếu cứ “chạy đua” theo các “sự lạ” như vậy, coi chừng sẽ lạc giáo.

    Do đó, đừng ham chạy “thành tích” hoặc “sự lạ” mà tự làm hại đức tin của chính mình. Phúc đâu chưa thấy mà chỉ thấy họa mà thôi. Trừ một số ít các vị thánh có ơn đặc biệt (Thánh Gianuariô, Thánh Martin de Porres, Thánh Faustina, Thánh Piô Năm Dấu,…), đa số các thánh đều có cuộc sống bình thường, thậm chí là rất bình thương, không có gì gọi là “lạ” hoặc khác thường. Vấn đề quan trọng vẫn là sống lòng thương xót để chứng tỏ đức tin vững mạnh và trọn vẹn đến hơi thở cuối cùng.

    Ngay cả Thánh GH Gioan XXIII, Thánh GH Gioan Phaolô II, Thánh GH Phaolô VI, Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta, Bậc đáng kính HY P.X. Nguyễn Văn Thuận,… là những người vừa sống cùng thời với chúng ta, cuộc đời các ngài không có gì liên quan cái gọi là “sự lạ,” có chăng là “cách sống lạ” – tức là thâm tín, chịu đựng, hy sinh, dấn thân,… vì mến Chúa và yêu người.

    Ai thực sự được gặp Chúa thì chắc chắn cuộc đời biến đổi hẳn, chứ không “nửa vời” như những người vẫn vỗ ngực tự nhận là được “ơn lạ,” nhưng cách sống của họ không có gì khác. Quả là chí lý khi tiền nhân cảnh báo chúng ta: Cẩn tắc vô ưu! Chắc hẳn Thánh Vịnh gia cũng sống đời thường như chúng ta, nhưng có “cái lạ” là biết giữ trọn Luật Chúa và ý thức sâu sắc: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn.” (Tv 19:8) Nhận thức được như vậy thì quyết tâm tuân thủ, không so đo, không tính toán: “Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh.” (Tv 19:10)

    Thánh Vịnh gia thật là khôn ngoan khi biết tìm kiếm và cầu xin những gì thực sự có lợi cho linh hồn: “Tôi tớ Ngài đây xin ra công học hỏi; ai giữ những điều này sẽ ĐƯỢC NHIỀU LỢI ÍCH. Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay. Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài KHỎI KIÊU NGẠO, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ NÊN VẸN TOÀN, không còn vương trọng tội.” (Tv 19:12-14)

    Chúa Giêsu là Đấng chí tôn, tối thượng, nhưng Ngài đã hạ mình đến tột cùng để sẵn sàng coi tội nhân chúng ta là thân hữu của Ngài: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15:15) Chúng ta dành cả đời để tạ ơn Ngài cũng không đủ, chứ nói chi dám năn nỉ Ngài ban cho điều gì nữa. Vì thế, chớ có ngu xuẩn mà ảo tưởng, tự cho mình là “ông kia, bà nọ,” hoặc đòi phải thế nọ, thế kia.

    Thánh Giacôbê vừa nhắc nhở vừa cảnh báo: “Giờ đây, hỡi NHỮNG KẺ GIÀU CÓ, các người hãy THAN VAN RÊN RỈ về NHỮNG TAI HỌA sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát, quần áo của các người đã bị mối ăn. Vàng bạc của các người đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người; nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các người. Các người đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này.” (Gc 5:1-3)

    Giàu sang, lắm của và nhiều tiền, đó không là tội. Nhưng tiền bạc có ma lực khó cưỡng lại, vì thế mà Thánh Phaolô đã xác định: “CỘI RỄ SINH RA MỌI ĐIỀU ÁC LÀ LÒNG HAM MUỐN TIỀN BẠC, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.” (1 Tm 6:10) Đừng tưởng rằng những người đi tu mà “quên” tiền bạc, thậm chí có người còn tệ hơn giáo dân nữa kìa, dù họ là giám mục hoặc linh mục. Cụ thể như Gm Tebartz-van Elst “nổi tiếng” là xa hoa hào nhoáng ở Đức, ĐGH Phanxicô đã cho mãn nhiệm hồi tháng 10-2014, Lm Gioan Baotixita Võ Hồng Khanh vì lem nhem chuyện tiền bạc đã bị tước năng quyền cử hành phụng vụ tại bất kỳ cơ sở nào của TGP Los Angeles, Hoa Kỳ, hồi tháng 06-2015, Lm Ng. của TGP Saigon, còn trẻ nhưng đã bị nghỉ hưu non vài tháng qua vì lem nhem tiền bạc. Sự thật quá bẽ bàng!

    Những chiếc “phong bì” bình thường mà rất đáng quan ngại. Thảo nào người ta bảo “tiền là tiên, là Phật,…” Thật ngu xuẩn đối với những người xếp hàng để được vào gặp “quan lớn” như vậy! Thánh TS Tôma Aquinô cho biết: “Nhận ra những ai là người chúng ta phải tránh, đó là phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình.”

    Tiền nhân nhận xét chí lý: “Tin ĐẠO chứ KHÔNG tin NGƯỜI CÓ ĐẠO.” Vâng, Thánh Giacôbê nói thêm: “Các người đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh. Trên cõi đất này, các người đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các người đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người.” (Gc 5:4-6) Tiền nhân cũng xác định: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.” Cái nào cũng to, cũng khó, nhưng khó nhất vẫn là “tu thân” vì đó là tiêu chí hàng đầu.

    Tiền bạc rất phức tạp, chuyện nhỏ mà to, thêm lo chứ chẳng an tâm. Thánh Phêrô nói: “Anh em hãy sống TIẾT ĐỘ và TỈNH THỨC, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr 5:8)

    Với những người giàu, Thánh Phaolô đưa ra lời khuyên để Thánh Timôthê truyền đạt lại: “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ ĐỪNG tự cao tự đại, cũng ĐỪNG đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ PHẢI làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, PHẢI ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy họ tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai, để được sự sống thật.” (1 Tm 17:19) Khác nhau là giàu hoặc nghèo ở đời này hay đời sau.

    Trình thuật Mc 9:38-48 cho biết rằng môn đệ Gioan nói với Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” Gioan hơi bị vô duyên, vì cứ tưởng không ai khác được quyền trừ quỷ. Cái ảo tưởng của Gioan cũng là cái ảo tưởng của nhiều người trong chúng ta ngày nay. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “ĐỪNG ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.”

    Chúa Giêsu xác định: “Ai cho anh em uống MỘT CHÉN NƯỚC vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ KHONG MẤT PHẦN THƯỞNG đâu.” Dù là nước gì thì một chén nước cũng chẳng đáng chi, thế mà vẫn thực sự quan trọng, và được Chúa Giêsu “chấm công.” Hành động nhỏ mà được thực hiện với tình yêu lớn thì càng tuyệt vời hơn gấp bội. Đức ái rất quan trọng, hầu như ở cấp độ tuyệt đối: “Nếu KHÔNG có đức ái thì KHÔNG có bất kỳ đức hạnh nào, giống như nếu KHÔNG có mặt trời thì cũng KHÔNG có một tinh tú nào cả.” (Thánh LM TS Tôma Aquinô) Về phương diện tỷ giảo cấp, đó là cách so sánh cực cấp – superlative.

    Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.” Cách so sánh rất “nặng nề,” nhưng Ngài nói thật chứ chẳng giỡn chơi hoặc hù dọa. Trẻ nhỏ ở đây không hẳn chỉ là trẻ thơ, trẻ em, hoặc con nít, mà còn là những người chân chất thật thà – dù đã trưởng thành hoặc cao niên. Càng đơn sơ giản dị càng dễ vào Nước Trời. Thánh Nicholas Flue nói: “Hãy tỉnh táo và chăm chỉ, hãy tránh mọi thứ hào nhoáng trong cách ăn mặc, đó là cái sẽ loại trừ anh em ra khỏi Thiên Đàng.”

    Và rồi Chúa Giêsu còn nói mạnh hơn: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.” Thật đáng sợ biết bao!

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp con nhận diện và ý thức chính mình, giúp con làm những việc bình thường với cách thức phi thường; xin cứu con thoát mọi dạng ảo tưởng và ảo giác, giúp con biết tự thu nhỏ lại để Ngài lớn mạnh lên, biết tự hạ thấp xuống để Ngài cao vút lên. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

     [*] Một đất nước NHỎ có một thủ đô TO, thủ đô TO có những con đường NHỎ, con đường NHỎ có những căn nhà TO, căn nhà TO có cô vợ NHỎ, cô vợ nhỏ dành cho ông quan TO, ông quan TO mang chiếc cặp nhỏ, chiếc cặp NHỎ có những dự án TO, dự án TO nhưng hiệu quả NHỎ, hiệu quả NHỎ nhưng thất thoát TO, thất thoát TO nhưng lỗi lại NHỎ… Trong đất nước NHỎ có những ông lãnh đạo TO, những ông lãnh đạo TO có cái đầu NHỎ, cái đầu NHỎ nhưng túi tham TO, túi tham TO bởi vì đầu óc NHỎ, đầu óc NHỎ nên tác hại TO, tác hại TO mà trách nhiệm NHỎ, trách nhiệm NHỎ nhưng quát tháo TO, quát tháo TO vì trí tuệ NHỎ, trí tuệ NHỎ nhưng lợi nhuận TO, lợi nhuận TO nhưng số người chia chác lại NHỎ, số người tuy NHỎ nhưng tổn thất TO, tổn thất TO nhưng báo cáo là NHỎ , báo cáo NHỎ nhưng thành tích thật vẫn TO. Và… cán bộ TO đi xe NHỎ (xe riêng), cán bộ NHỎ lại đi xe TO (xe đò), ông quan TO thường ở với vợ NHỎ (vợ bé), ông quan NHỎ phải ở với vợ TO (vợ cả) và ở nhà TO (nhà tập thể). Cứ thế và cứ thế…

    Về mục lục

     

     

    QUYẾT LIỆT DỨT KHOÁT VỚI TỘI LỖI

    Tgm. Ngô Quang Kiệt

    Nếu mỗi chi thể phạm tội đều phải bị cắt bỏ, chắc chắn không một ai lành lặn. Không thể hiểu theo nghĩa đen những lời Đức Giêsu nói hôm nay. Tuy nhiên cũng không được loại trừ tính chất quyết liệt của những lời đó. Đức Giêsu bảo ta phải chặt tay, chặt chân, móc mắt khi những chi thể này phạm tội, có nghĩa là phải quyết liệt với sự xấu.

    Phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Vì sự xấu giống như căn bệnh hay lây. Đã nhiễm vào một phần thân thể, sẽ nhanh chóng lây lan tới cả cơ thể. Lây lan đến đâu làm độc đến đấy. Phải ngăn chặn ngay từ đầu, nếu không sẽ khó mà cứu vãn được mạng sống.

    Phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Vì sự xấu giống như nọc độc loài thú dữ. Đã vào mạch máu sẽ mau chóng tràn vào tim. Khi chất độc đã ngấm đến tim, sẽ làm tê liệt mọi hoạt động của cơ thể, sẽ cướp đi mạng sống con người.

    Phải quyết liệt dứt khoát với sự xấu. Vì sự xấu giống như loại thuốc mê. Một khi để sự xấu nhiễm vào, người ta sẽ mất khả năng chống cự. Sự xấu làm cho con người ra nhu nhược yếu hèn, làm tê liệt ý chí phấn đấu. Để cho sự xấu xâm nhập, nó sẽ thống trị ta, sẽ bắt ta làm nô lệ. Một khi đã rơi vào ách nô lệ sự xấu, con người khó lòng thoát ra.

    Quyết liệt dứt khoát với sự xấu cũng giống như chặt tay, chặt chân, móc mắt, nghĩa là phải sẵn sàng chịu đau khổ, Dứt khoát với tội lỗi không dễ. Tội lỗi khi đã thấm vào người, nó trở nên như một phần bản thân, gắn bó với bản thân. Dứt bỏ cũng đau đớn như chính cơ thể bị chặt bỏ, xé lìa. Ta hãy xem người cai nghiện. Cơn nghiện vật vã dày vò tưởng chết đi được. Vì đối với người nghiện, ma túy trở thành một phần thiết thân của đời sống đến nỗi khi phải dứt lìa họ đau đớn khổ sở như phải tách lìa một phần thân thể, như đánh mất chính sự sống.

    Chặt tay, chặt chân, móc mắt cũng có nghĩa là dứt lìa với những người, những nơi, những đồ vật khiến ta phạm tội. Những con người, những đồ vật, những nơi chốn đó trở thành một phần đời của ta. Để dứt bỏ, trái tim ta đau đớn đến rướm máu. Cuộc dứt bỏ làm tâm hồn ta như bị thương tích đau đớn vô cùng.

    Cũng như người bệnh phải chịu phẫu thuật, cắt bỏ khối u, cắt bỏ phần thân thể nhiễm độc để bảo toàn mạng sống, Chúa bảo ta phải quyết liệt với tội lỗi, phải chặt tay, chặt chân, móc mắt không phải vì muốn hành hạ ta, muốn ta phải đau khổ. Trái lại chính vì yêu thương ta, muốn ta được hạnh phúc mà Chúa dạy ta phải dứt khoát với tội lỗi.

    Dứt bỏ tội lỗi là dứt bỏ những phần hư hỏng xấu xa, nhiễm bệnh trong cơ thể. Dứt bỏ tội lỗi là ngăn ngừa không cho sự xấu xâm nhập vào linh hồn. Dứt bỏ sự xấu là ngăn chặn sự độc hại tàn phá linh hồn. Dứt bỏ tội lỗi là giúp linh hồn có cơ hội được lớn mạnh, được phát triển.

    Ham vui một chốc lát để rồi chịu kết án suốt đời khổ sở. Hay là chịu đau khổ một chốc lát để suốt đời được tự do hạnh phúc. Ta chọn đàng nào? Chắc chắn ta phải chọn con đường hạnh phúc lâu dài. Chính Chúa muốn hạnh phúc cho ta, nên đã truyền cho ta phải dứt khoát với tội lỗi để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.

    Lạy Chúa, xin cho con biết nghe lời Chúa dạy, biết dứt khoát với tội lỗi, để được sống đời đời với Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    ẢNH HƯỞNG GƯƠNG XẤU

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Những ngày qua cộng đồng mạng bàn tán nhiều về kiểu dạy “công nghệ thực nghiệm” cho học sinh lớp 1 , đa số không đồng ý cách dạy theo kiểu “Con Vẹt”, đọc mà không hiểu gì, hơn nữa còn rất nhiểu nội dung thiếu chuẩn mực làm người nhưng đã được thí điểm ở 49 tỉnh, thành.

    Nhiều người cho rằng có những bài học nội dung không phù hợp với trẻ. Ví dụ bài “Quả bứa” (trang 87, sách “Tiếng Việt – CNGD lớp 1, tập 2”) kể câu chuyện 2 cháu Năm và Sáu đi qua vườn quả. Năm thấy quả liền la (hô) to và Sáu nhặt quả bứa. Hai cháu giành qua giành lại, cậu Cả đi qua và phân xử. Cậu Cả bổ quả bứa và phán: “Năm, mày thấy quả bứa, hãy nhận lấy nửa vỏ này. Sáu, mày nhặt quả bứa, hãy nhận lấy nửa vỏ này. Dành phần ruột trả thù lao cho quan tòa phân xử, của tao. Cậu Cả vừa ăn vừa bỏ đi”.

    Chúng ta thấy gì? Lời lẽ trong câu chuyện rất phản cảm, gọi nhau bằng mày – tao, ý nghĩa thì chỉ dạy các cháu cách sống tiểu xảo, ăn đểu của cậu Cả! Chưa hết, sách còn có nhiều bài học mà trong câu chuyện lại ẩn hiện ý nghĩa “mớm” cho trẻ những thói xấu như tọc mạch, xu nịnh, nói dối, châm biếm người khác… Nhiều từ ngữ mang tính tiêu cực chứ không có ý nghĩa giáo dục. Điển hình như câu thơ:

    NÚI CAO, SÔNG HÃY CÒN DÀI

    NĂM NĂM BÁO OÁN, ĐỜI ĐỜI ĐÁNH GHEN

    – Đây là giáo dục hay đầu độc! Nếu kiểu “giáo dục theo nội dung công nghệ thực nghiệm này được tiếp tục và nhân rộng, lớp trẻ Việt Nam sẽ ra sao?

    Ngày xưa các bài giáo dục làm người là những câu ca dao, những lời đồng dao mộc mạc nhưng đầy tính nhân văn, không lẽ không còn giá trị để phải thay vào đó một lối dạy văn hóa “ma quỷ”, “đánh ghen một đời”, và ăn nói mày tao sao?

    Người Công Giáo phải đồng hành với dân tộc điều đó nói lên chúng ta không thể để cho dân tộc suy thoái mà chúng ta phải có trách nhiệm với cộng đồng, cách riêng với thế hệ mầm non của đất nước. Chúng ta không thể hủy diệt một thế hệ với nội dung giảng dạy quá thô thiển được!

    Hôm nay Chúa Giê-su bảo “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn”. Chúa Giê-su dường như nhấn mạnh đến ảnh hưởng của người đi trước với người đi sau. Vì những gì chúng ta làm hôm nay sẽ thay đổi cách sống và lối suy nghĩ của thế hệ sau.

    Nhưng những gì đang diễn ra ỏ xã hội và gia đình khiến chúng ta thật xót xa cho thế hệ trẻ mai sau, vì chúng được thấy quá ít điều tốt mà chỉ thấy cái xấu lặn vào trong từng gia đình và trường học.

    Thử hỏi một sự giáo dục không nhất quán năm nào cũng thay sách gọi là cải biên nhưng không nhằm giúp học sinh tốt mà quan trọng là vì tiền theo như lời ông Hồ Ngọc Đại đã nói?Thử hỏi một sách giáo khoa áp dụng cho phân nữa học sinh lớp 1 ngây thơ  bằng những câu chuyện đánh ghen, ma quỷ, tráo trở  . . . sẽ dẫn các em đi về đâu?

    Là người Công giáo, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta phải sẵn sàng hy sinh cả những cái gần gũi và thân yêu nhất, khi những điều đó trở thành dịp tội và làm cho trẻ thơ vấp ngã. Nhìn lại các gia đình chúng ta không khỏi giật mình với thói xấu cha mẹ đang làm hư con cái như: Nghiện công nghệ, thích buôn chuyện, hay vượt đèn đỏ, nói tục… mà chúng ta thấy nhan nhản trong các gia đình.

    Nếu người Phật Giáo họ tin rằng những việc xấu họ làm sẽ nhận quả báo thì người Công Giáo chúng ta phải biết rằng : những gương mù gương xấu của mình đều phải trả lẽ trước mặt Chúa vì đã làm hư con cháu của mình.

    Con người sinh ra trên mặt đất đều được mời gọi làm cho vạn vật này tốt đẹp thêm, điều đó có nghĩa là chúng ta không được làm điều xấu và càng không được dạy điều xấu sẽ làm ô uế địa cầu.

    Chúa Giê-su cả cuộc đời luôn giảng dạy để canh tân xã hội. Ngài còn làm gương về nhiều điều chân thiện mỹ cho con người. Và hôm nay, Ngài vẫn mời gọi chúng ta hãy canh tân thế giới bằng việc sống hòa hợp và bác ái chia sẻ với nhau, nhất là hãy làm gương sáng cho con cháu.

    Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết thăng tiến bản thân để trở thành gương sáng cho anh em. Xin cho xã hội chúng ta biết tôn trọng luật pháp để đừng ai vì tiền mà đánh mất lương tri đến nỗi dẫn dắt thế hệ sau đi trong lầm lạc. Xin Chúa giúp chúng ta biết tự vấn lương tâm mình hằng ngày hầu kiện toàn con người mình mỗi ngày một tốt hơn. Amen

    Về mục lục

    .

    CÁI GIÁ NGƯỜI MÔN ĐỆ PHẢI TRẢ

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Trần gian và cuộc đời của con người quả thực có quá nhiều cạm bẫy, nhiều cám dỗ, nhiều thử thách, nhiều dịp tội khiến con người vấp phạm, sa ngã, phản nghịch lại Thiên Chúa. Do đó, Chúa đã nói:” Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi “ ( Mc 9,43 ). Người môn đệ của Chúa phải sẵn lòng chấp nhận mọi hy sinh vì Nước Trời. Việc chặt tay, chặt chân, móc mắt chỉ là kiểu nói, chứ không cứ theo từng nghĩa chữ đen. Chúa muốn mọi người phải quyết tâm khử trừ, đẩy xa những cám dỗ để đừng bị sa vào tội lỗi, khiến con người lỗi luật Chúa…

    Các môn đệ của Chúa Giêsu phải luôn luôn sẵn sàng hy sinh, luôn quả cảm, can đảm và cương quyết dứt bỏ tội lỗi và nếu cần thí cả mạng sống để được vào Nước Thiên Chúa. Gương của nhiều vị thánh như Maria Goretti, như Augustinô và nhiều vị vị vọng của thế giới như Thomas More vv…đã vứt bỏ cái gì quý nhất để cốt được Nước Trời. Sự sống đời đời, cuộc sống vĩnh cửu là điều quý giá khiến chúng ta dám vứt bỏ những gì là tạm bợ, những gì là không cần thiết lắm để chiếm đoạt được nó…Con người sống giữa trần gian với thân xác yếu hèn, với bệnh hoạn, chắc chắn con người cần đến thuốc, cần đến phương diện y khoa,cần đến bác sĩ để kê toa mua thuốc, hoặc nếu cần có những bệnh phải giải phẫu, phải cắt bỏ những phần bệnh, những khối u, những ung nhọt vv…Cắt bỏ hoặc uống thuốc để loại bỏ những gì không cần thiết, để bảo vệ thân thể, về phần hồn con người cũng cần cắt bỏ những tính hư, tật xấu, những ánh mắt hờn căm, những lời nói độc địa, những cử chỉ khinh khi, những thái độ buông thả, những mối quan hệ không lành mãnh vv…Những cắt bỏ đó nhiều khi làm cho con người, làm cho chúng ta đau đớn, nhưng dứt khoát chúng ta phải cắt bỏ vì nếu không cắt bỏ, không bỏ đi chúng ta vẫn còn sống trong tội lỗi, u mê vv… Nước Trời quý giá hơn bất cứ những gì quý giá, do đó, chúng ta phải hy sinh tất cả để không xúc phạm đến Chúa, không phạm tội mất lòng Chúa. Được Nước Trời là mục đích cuối cùng của mọi Kitô hữu. Hy sinh vì đồng loại, vì tha nhân, hy sinh vì đại nghĩa có thể làm đau đớn, mất mát nhưng thực tế đem lại cho con người, cho chúng ta hạnh phúc.Chúa Giêsu đã nói :” “ Ai cho kẻ đói ăn, kẻ khát uống, kẻ rách rưới ăn mặc, thăm kẻ tù tội là kẻ ấy làm cho chính Ta “. Giúp đỡ kẻ nghèo, an ủi kẻ bị thử thách, cho kẻ không nhà không cửa được trú ngụ, người ấy sẽ được Nước Trời làm gia nghiệp. Chúa đã làm gương cho nhân loại, cho con người, cho chúng ta bằng chính sự dâng hiến toàn thân mình, mạng sống mình…

    Sứ điệp của Chúa Giêsu trong đoạn Tin mừng hôm nay:” Chúng ta phải sẵn lòng, can đảm chấp nhận mọi hy sinh để tránh tội lỗi, xa lánh cám dỗ và để được Nước Trời.Chúng ta cũng phải sẵn sàng như thánh Maria Goretti coi thường mạng sống để bảo vệ đức khiết tịnh, không dám phạm tội làm mất lòng Chúa.

    Lạy Chúa là Vua tình yêu vì khi nghe danh Chúa Giêsu mọi gối phải bái quỳ.Mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng, ca tụng Ngài là Vua.

    Xin Chúa Giêsu hãy ngự trị trong tâm hồn chúng con. Xin hãy làm cho tâm hồn chúng con nên thánh thiện. Xin hãy đến cứu giúp chúng con trong những cơn  nguy khốn, khi chúng con gặp cám dỗ, thử thách. Xin Chúa Giêsu hãy tha thứ tội lỗi cho chúng con.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Muốn đựơc Nước Trời chúng ta phải làm gì ?

    2.Tội lỗi gây nên hậu thế nào đối với chúng ta ?

    3.Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với ai ?

    4.Cắt bỏ ở đây có nghĩa gì ?

    5.Chặt tay, chặt chân, móc mắt chúng ta phải hiểu theo nghĩa nào ?

    Về mục lục

    .

    GƯƠNG MÙ, GƯƠNG XẤU

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    “Không thể không có gương mù” (Lc 17, 1).  Đó là một nhận định không thể chối cãi và cũng là một trong những điểm yếu đuối con người thường hay vấp phạm, dù nặng hay nhẹ. Gương mù, gương xấu, đúng là cần lên án, nhưng trước khi lên án, Chúa dạy: Hãy đề phòng” (Lc 1, 3).

    Hãy đề phòng là một lời mời gọi tích cực của Chúa gửi đến:

    Cho người yếu đuối.

    Người yếu đuối bao gồm những người đức tin chưa vững mạnh, những người đang lơ lửng giữa tội lỗi và sự thiện… Những con người yếu đuối dễ nại vào những gương mù để tiếp tục theo con đường mù tối của mình. Theo những nhận định về tương đối hóa sự thiện, con người cũng dễ buông mình vào những gì là tương đối, không muốn mạnh mẽ thoát khỏi vòng vây tội lỗi. Sống theo chiều hướng “người sao, ta vậy”, nại vào những gương xấu và tiếp tục con đường xấu của mình đang đi.

    Chúa mời gọi “Hãy vững tin, vì Chúa đã thắng thế gian” (Ga 16, 33). Yếu đuối và vấp ngã, không phải là vấn nạn không thể cứu chữa, chính Chúa đến tìm kiếm và chữa lành những thương tích đó. Trong mọi yếu đuối, cậy trông vào Chúa như Thánh Phao lô: “tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi.” (2 Cor 12, 9)

    Cho người bị giết chết niềm hy vọng.

    Hy vọng là điều mong mỏi một tương lai tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn. Gương mù làm tắt niềm hy vọng đó nơi những con người dễ rơi vào thất vọng.

    Thật ra, ở khía cạnh tích cực hơn, gương mù có thể là một cản trở nhưng có thể là một chướng ngại cần vững mạnh để vượt qua. Thay vì mất niềm hy vọng, con người vững mạnh vẫn tiếp tục hy vọng như ở giữa chiến trận, một người ngã xuống ngàn người tiến lên. Không thể chùn chân, bởi vì chiến thắng không dành cho những người dễ buông xuôi.

    Chúa là niềm hy vọng duy nhất cho con người. Đó là niềm hy vọng chắc chắn, con người vẫn là những phàm nhân, dù họ là ai, vẫn có những sai lầm cách này hay cách khác. “Không dựa vào con người, con người sẽ chết, không dựa vào cành cây, cành cây sẽ gẫy”.

    Chỉ một mình Thiên Chúa, là một điểm hướng tới duy nhất, nên trong mọi trường hợp gặp những gương mù làm mất hy vọng, hãy tìm về Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện, để thêm xác tín: “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” (Rm 8, 38 – 39)

    Đề phòng lá cách khôn ngoan

    Sự dữ, gương xấu, lúc nào cũng có, thời nào cũng có và giới nào cũng có. Đề phòng cho chính mình là sự khôn ngoan dựa vào Thiên Chúa. Lời Chúa là chỉ dẫn những phương cách đề phòng và tránh cám dỗ, như Chúa Giêsu đã dùng Thánh kinh để đối lại với những cám dỗ của ma quỷ trong hoang mạc, sau bốn mươi ngày chay tịnh.

    Tích cực đi tìm kiếm điều tốt lành thay vì sự xấu.

    Thông thường, những tin tức xấu thường gây tò mò hơn những tin tốt lành. Đây cũng là những cám dỗ thường ngày dễ dẫn con người đến những suy nghĩ tiêu cực hơn tích cực.

    Chúa Giê su luôn đưa ra những lời mời gọi tốt lành, hướng tới sự thiện để kêu mời sống tích cực hơn là nhìn vào những yếu đuối tội lỗi. Chúa bảo người thanh niên bại liệt: “Tội anh đã được tha” (Lc 5, 20), Chúa nói với người phụ nữ ngoại tình “không ai kết án chị sao? Hãy về và đừng phạm tội nữa” (Ga 8, 11), trên Thánh giá Chúa xin với Chúa Cha “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” ( Lc 23, 34).

    Lạy Chúa, giữa những lúc đầy gương mù, gương xấu, xin cho chúng con biết nhìn đến những điều tích cực trong niềm tin và cuộc sống. Giữa những thật giả, xin cho chúng con luôn biết chọn lựa chính Chúa là sự thiện toàn vẹn để nắm chắc niềm hy vọng.

    Về mục lục

    .

    THUỘC VỀ CHÚA KITÔ

    Bông hồng nhỏ

    Nhóm Mười Hai được Thầy Giêsu tuyển chọn để trở nên những cánh tay đắc lực cho Thầy trên hành trình rao giảng Tin Mừng. Thầy ban cho các ông quyền trừ quỷ, xức dầu cho những người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh (x. Mc 6, 7 – 13). Quyền năng và tình thương các ông nhận lãnh nơi Thầy lại được trao ban cho những người các ông gặp gỡ. Nhưng cũng có lần, các ông không trừ nổi tên quỷ dữ tợn. Giống quỷ này, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi (x. Mc 9, 14 – 29).

    Vậy mà hôm nay, có kẻ không thuộc nhóm Mười Hai, cũng không phải là một trong số bảy mươi hai môn đệ, đã nhân danh Thầy Giêsu để trừ quỷ. Đứng trước tình huống này, các Tông đồ đã cố ngăn cản vì lẽ người này không thuộc nhóm mình (x. Mc 9, 38). Phải chăng các ông đang cố bảo vệ uy tín của Thầy Giêsu hay các ông ghen tỵ trước thành công của người ngoài? Thầy Giêsu là Đấng thiện hảo và trái tim Thầy luôn rộng mở, ánh mắt Thầy luôn thấy thiện chí của mỗi người. Thầy hiểu rõ lòng người môn đệ và chậm rãi khuyên bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9, 39 – 40). Để nhìn thấy thiện chí của người khác, xem người khác là bạn cùng chí hướng, ta cũng phải mở rộng trái tim để đón nhận mọi người, dù cho họ thành công hơn ta, tốt lành hơn ta. Điều này ta chỉ học được nơi trái tim nhân lành của Thầy Giêsu.

    Thầy Giêsu còn chỉ dạy người môn đệ phải biết trân trọng những cử chỉ bác ái mà người ta dành cho mình vì lẽ các ông thuộc về Đấng Kitô. “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9, 41). Điều này cúng giúp các ông ý thức rằng, những gì các ông nhận lãnh đều là ân huệ Chúa ban, các ông thuộc về Đấng Kitô. Là người thuộc về Đấng Kitô, các ông phải sống sao để không làm cớ cho người khác và cho mình sa ngã. Đâu là tinh thần người môn đệ phải có khi theo Thầy? Đó là tinh thần tự hủy. Phải chăng khi nhấn mạnh thái độ quyết liệt chống trả tội lỗi, từ khước các cám dỗ cách dứt khoát, Thầy Giêsu muốn nói đến một điều gì đó rất quan trọng? Giả như cứ phạm lỗi đều chặt tay, chặt chân, móc mắt thì ai trong chúng ta còn đủ tay chân để chặt, còn có mắt để móc đi? Mang trong mình thân phận tội lỗi, ta ý thức mỗi phút giây ta sống đều bởi ơn Chúa. Chỉ cần xa rời Chúa, ta sẽ như cành nho tách lìa khỏi thân cây và ta sẽ khô héo (x. Ga 15, 6). Để được sống trong Chúa, nhất quyết ta phải bỏ mình để lắng nghe thánh ý Chúa Cha và mau mắn vâng lời. Người thuộc về Đấng Kitô sẽ làm những gì xuất phát từ lòng yêu mến Chúa Kitô. Chỉ một việc bác ái bé nhỏ, âm thầm nhưng ta làm vì lòng mến Chúa Kitô, việc nhỏ bé ấy cũng trở nên đẹp lòng Chúa.

    Lạy Chúa Giêsu yêu mến! Con được thuộc về Chúa và con khao khát cho nhiều người cũng được chung niềm hạnh phúc này. Những khi tâm hồn con dao động trước một cám dỗ, xin Chúa thêm sức cho con để con can đảm khước từ, để không khi nào con trở nên cớ cho người khác vấp ngã. Xin Chúa mở rộng trái tim con để con đón nhận người anh chị em và sẵn lòng chia sẻ vui buồn với họ. Xin Chúa dạy con thực thi đức ái từ những điều nhỏ bé cho anh chị em con vì biết rằng con đang làm cho chính Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỪNG BAO GIỜ LÀ CỚ VẤP PHẠM

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Sau khi Chúa Giêsu loan báo cuộc Khổ nạn lần thứ nhất (x. Mc 8, 31-33) rồi lần thứ hai (x. Mc 9, 30-32), là bài học về tư cách của người đứng đầu Chúa dành cho các môn đệ (x. Mc 9, 35-37). Hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục giáo huấn các ông về cách sử dụng danh Chúa trong cộng đoàn tín hữu dù là môn đệ hay không (x. Mc 9, 38-40); phần thưởng dành cho những ai sống xứng với danh Kitô hữu của mình (x. Mc 9,41); và đương nhiên kẻ làm cớ vấp phạm cho người khác, nhất là trẻ em sẽ bị trừng phạt thích đáng (9,42); đồng thời Chúa nhấn mạnh đến sự cần phải khước từ những gì gây lên tội lỗi khiến chúng ta mất chỗ trên Nước Trời (x. Mc 9, 43-48).

    Chớ ghen ghét

    Ghen ghét được coi là một trong 7 mối tội đầu. Lần giở lại những trang đầu Kinh Thánh, chúng ta khám phá ra thói ghen ghét. Vì không bằng lòng với những gì mình có, muốn bằng và thậm trí hơn Thiên Chúa nữa, nên Adong và Evà ghen tuông với Thiên Chúa hái trái cấm để ăn. Thế nhưng, ăn xong rồi thì mọi sự được sáng tỏ. Con người mãi mãi là thụ tạo trong lòng bàn tay của Thiên Chúa là Đấng  Tạo Hóa.

    Ghen ghét nảy sinh khi so sánh mình với người khác. Sở dĩ có ghen ghét vì người ta người khác hơn mình, mình bị nép vế, bị mất ảnh hưởng, Giôsuê là một bằng chứng. Khi ông Môsê được thần khí của Thiên Chúa ngự xuống nói chuyện, thì ông dùng một phần thần khí ngự trên ông mà đặt trên 72 kì mục trong lều trại. Còn hai kì mục nữa là ông Enđát và ông Mêđát không có mặt ở trong lều trại mà cũng nhận được thần khí nói tiên tri (x. Ds 11,27). Ðiều đó làm ông Giôsuê thắc mắc. Ông Môsê khuyên ông Giôsuê đừng quan tâm, vì càng nhiều người nói tiên tri, thì Thiên Chúa càng được vinh danh.

    Thánh Giacôbê có kinh nghiệm xương máu về tôi ghen ghét, ngài viết : Vậy “ở đâu có ghanh tị và cãi vã, ơ đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoa… Nào không phải tại điều này: tức tại các đam mê đang giao chiến trong chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được hưởng, nên anh em giết nhau. Anh em ganh tị mà không được mãn nguyện, nên anh em cạnh tranh và cãi cọ” (x. Gc 3, 16-4,3).

    Thánh Gioan tông đồ cũng không nằm ngoài cái thường tình ấy. Ông quan ngại về việc Ðức Giêsu ban quyền năng cho người nghe. Ông ghen tị vì có người không cùng nhóm các tông đồ đã dùng danh Chúa mà trừ quỉ (x. Mc 9,38). Ông nghĩ rằng họ không được phép vì họ không thuộc nhóm các tông đồ mà lại hành động theo thần trí của Thiên Chúa. Chúa bảo ông : “Không ai lấy danh nghĩa Thày mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó có thể nói xấu về Thày” (Mc 9,39).

    Quảng đại, hy sinh vì Nước Trời

    Người đời thường có óc bè phái, ích kỷ, bảo vệ quyền lợi và danh dự của nhóm mình, và đố kỵ ganh ghét với những nhóm khác. Phương châm của thế gian là “Ai không theo ta tức là nghịch với ta”. Chúa Giêsu dạy các môn đệ đừng nhìn người khác bằng cặp mắt đố kỵ, nhưng hợp tác với những người thiện chí. Phương châm Chúa đưa ra là “Ai chẳng chống đối các con là ủng hộ các con” (x. Mc 9, 40 ).

    Nước Trời và sự sống đời đời là mục tiêu tối hậu. Chúng ta thấy đó đây có người tháo chân, móc mắt, cắt ruột để kéo dài sự sống tạm bợ, xem ra nhẹ nhàng. Để có được sự sống đời đời, chúng ta phải chấp nhận hy sinh nhiều thứ khác, từ bỏ hy sinh những gì cản trở sống đời đời của chúng ta.

    Tay, chân, mắt là những bộ phận rất quan trọng trong cơ thể không thể thiếu để có một đời sống bình thường, tuy nhiên, chúng có thể trở thành duyên cớ cho ta vấp phạm, sa ngã đưa chúng ta vào cõi chết đời đời. Chặt tay, chặt chân hay móc mắt là những điều kinh khủng, gây đau đớn. Bị què tay, què chân hay chột mắt ở đời này là điều chẳng ai muốn. Nhưng Chúa Giêsu mời chúng ta nghĩ đến giá trị của đời sống vĩnh cửu, can đảm cắt bỏ với những thụ tạo đang làm hư hỏng ta chẳng những đời này mà cả đời sau nữa. Chúng ta phải can đảm, quảng đại sống cho giá trị của Tin Mừng, dẫu cho có thiệt thòi, mất mát những vinh hoa trần thế, nhưng có được chỗ đứng trong vương quốc của Thiên Chúa.

    Đừng là cớ vấp phạm

    Sống yêu thương, quảng đại, hy sinh vì Nước Trời, nên ngay ở đời này chúng ta phải sống tốt, sống gương mẫu, đừng làm cớ vấp phạm cho ai. Nhấn mạnh đến điều này, Đức Thánh Cha Phanxicô giảng trong thánh lễ sáng thứ năm 27 tháng 2 năm 2014 tại Nhà nguyện Mácta, ngài nói : “Người Kitô hữu bất nhất sẽ làm cớ vấp phạm, và cớ vấp phạm thì giết hại người khác

    Mang danh là Kitô hữu, thì cần phải sống như Kitô hữu, suy nghĩ như Kitô hữu, cảm nhận như Kitô hữu và hành động như Kitô hữu. Đó là sự thống nhất trong đời sống của một Kitô hữu, nếu thiếu một trong những điều này, thì chúng ta không còn là Kitô hữu nữa. Cần phải sống trước sau như một, sống bất nhất sẽ gây rất nhiều tai hại cho người khác.

    Thánh Giacôbê đã nặng lời khiển trách những người Kitô hữu sống bất nhất huênh hoang, Ngài viết : “Này tiền công thợ gặt ruộng cho các ngươi mà các ngươi đã gian lận, tiền đó đang kêu gào và tiếng kêu gào của người thợ gặt đã lọt thấu đến tai Chúa các đạo binh. Các ngươi đã ăn uống say sưa ở đời này, lòng các ngươi đã tận hưởng khoái lạc trong ngày sát hại. Các ngươi đã lên án và giết chết người công chính, vì họ đã không kháng cự lại các ngươi”. Trong cộng đoàn có người sống bất nhất như thế thì rất tai hại, trở nên cớ vấp phạm cho người khác”.

    Chúa Giêsu lên án người làm cớ vấp phạm : “Kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn”.

    Lạy Chúa, xin ban ơn trợ giúp, để chúng con biết sống yêu thương, sống quảng đại mưu tìm kiếm nước Trời, và đừng là cớ vấp phạm cho người khác, nhất là trẻ em. Amen.

    Về mục lục

    .

    DỊP TỘI

    Lm. Trần Việt Hùng

    Gio-an thưa Chúa điều này,

    Quyền năng trừ quỷ, có hay phép mầu.

    Nhân danh Thiên Chúa khẩn cầu,

    Xua trừ ma quỷ, quyền đâu chứng từ.

    Chúng con ngăn cấm nghiệp dư,

    Chúa thương dậy bảo, riêng tư giãi bầy.

    Ai làm phép lạ vì Thầy,

    Thì không nói xấu, không gây muộn phiền.

    Ai không chống đối xỏ xiên.

    Là người ủng hộ, kết liên một lòng.

    Kẻ nào gây cớ a tòng,

    Mở đường vấp phạm, suy vong tâm hồn.

    Thà rằng cối buộc dấu chôn,

    Thả sông ném biển, không công cán gì.

    Tứ chi lỗi phạm điều chi,

    Thà rằng cắt bỏ, mỗi khi gây phiền.

     

    Các môn đệ thấy có người không trong nhóm nhân danh Chúa mà trừ qủy, các ngài đã ngăn cấm. Chúa Giêsu rất rộng lượng đã bênh vực người ấy. Chúa nói: Đừng ngăn cấm y. Ai chẳng chống đối các con là ủng hộ các con. Mọi việc tốt đều bởi Chúa. Chúa Giêsu không chấp nhận đầu óc bè phái trong lãnh vực liên hệ ơn cứu độ. Vì có óc đảng phái sẽ có phân rẽ và loại bỏ nhau. Danh xưng của Chúa không ai có quyền sở hữu. Bất cứ ai với ý hướng ngay lành đều có thể tuyên xưng danh Chúa.

    Danh Chúa có sức biến đổi và chữa lành. Nhân danh Chúa, các Tông đồ có thể chữa lành các bệnh tật, xua trừ ma qủy. Trong tất cả các kinh nguyện của Giáo Hội đều kết thúc bằng câu : nhờ danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Những người thuộc về Chúa Kitô phải có đường lối rõ ràng và dứt khoát. Phải loại bỏ những người gây ảnh hưởng không tốt trong xã hội. Những người làm cớ vấp phạm cho các trẻ nhỏ, thà buộc cối đá vào cổ mà ném xuống biển. Chúa dùng ngôn từ rất mạnh mẽ để bảo vệ danh xưng của Chúa. Những người làm gương mù, gương xấu, chúng ta phải có thái độ dứt khoát.

    Người có trách nhiệm dậy dỗ và hướng dẫn cần đề phòng những ảnh hưởng xấu làm băng hoại bản thân và con cái. Những ảnh hưởng xấu sẽ len lỏi vào cuộc đời người trẻ qua sách báo, phim ảnh, truyền hình xấu và các mạng lưới điện tử. Đây là những cánh cửa tự do nếu không cẩn thận, chúng ta dễ dàng bị lôi cuốn vào những điều không tốt. Các phương tiện truyền thông dễ làm thỏa mãn những thị hiếu và nhu cầu dục vọng. Chúng ta dễ dàng bị lôi cuốn vào những cách thế quảng cáo của thế tục.

    Chúa nhắn nhủ rằng: nếu tay chân con làm dịp tội, con hãy chặt bỏ. Nếu mắt con làm dịp tội hãy móc mắt. Một chọn lựa dứt khoát vì nước trời. Chúng ta phải tu luyện bản thân, phải từ bỏ và cắt chặt những rườm rà trong cuộc sống. Chúa muốn chúng ta có những thái độ chọn lựa rõ ràng để bảo vệ sự trong sáng của linh hồn.

    Hãy nhận biết sự thật về chính mình, nhìn về qúa khứ, xin Chúa tha tội. Nhìn vào hiện tại, chúng ta ý thức vai trò là cha là mẹ và là người hướng dẫn tốt cho con cái biết tránh xa dịp tội. Hướng về tương lai, chúng ta tin tưởng vào Chúa trong sự cầu nguyện và phó thác.

    Về mục lục

    .

    GƯƠNG XẤU

    Lm. Nguyễn Thái

    Có hai nhà doanh thương nọ thường hay ganh tị nhau trong việc buôn bán. Khi một người bán được một thứ hàng này thì người kia phải cố bán được gấp đôi. Người này mở một cửa tiệm, thì người kia phải mở hai cửa tiệm. Một ngày kia thiên thần hiện ra với một trong hai người và ban cho họ một đặc ân: “Con có thể xin bất cứ điều gì con muốn, sẽ được ta ban cho. Tuy nhiên, người đối thủ của con sẽ được gấp đôi bất cứ điều gì con xin.” Ông thương gia thắc mắc: “Thưa ngài, nếu con xin 1 triệu đô la, con cũng sẽ được phải không?” Thiên thần trả lời: “Đúng vậy! Nhưng người đối thủ của con sẽ được 2 triệu đô la.” Ông thương gia hỏi lại: “Vậy thì bao giờ con phải trả lời cho ngài?” Thiên thần đáp: “Ngay sáng sớm ngày mai ta sẽ trở lại và nhà ngươi phải có sẵn câu trả lời!”

    Đêm hôm đó ông thương gia không có cách gì ngủ được. Ông suy nghĩ mãi cho đến sáng thì thiên thần xuất hiện. Vì trong lòng đầy ganh tị và căm tức đối thủ của mình, ông không còn muốn nghĩ đến điều lợi mà chỉ muốn làm sao hạ được đối thủ xuống, ông liền thưa với thiên thần rằng: “Xin mặc cả với ngài, con sẵn lòng chịu đui mù một con mắt!” Điều này có nghĩa là đối thủ của ông sẽ bị mù cả hai con mắt. Ông thỏa mãn vì cảm thấy mình vẫn còn hơn được hắn!

    Tội lỗi gây ra thảm họa cho nhân loại. Ghen tương là một trong Bẩy Mối Tội Đầu. Tội lỗi làm cho những hoạt động tốt của con người trở nên xấu, và những hành động xấu trở nên gương mù lan truyền sự dữ đến khắp nơi. Điểm chính trong bài Phúc Âm hôm nay, Mc 9:38-43, 45, 47-48, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải xa tránh tội lỗi, nhất là làm gương xấu, và phải gia tăng thực hành những việc đạo đức, bác ái.

    Để giúp chúng ta xa tránh tội lỗi, Chúa Giêsu đã dùng một lối văn phóng đại để nhấn mạnh đến giá trị của hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Nếu cứ mỗi lần chúng ta phạm tội, đều chặt tay chân đi, hay móc mắt ra thì thế giới của những người Kitô giáo sẽ chỉ còn là những con người tàn tật mà thôi!

    Phạm tội đã là điều xấu, nhưng chỉ dạy cho người khác phạm tội lại còn ghê gớm hơn nhiều (Kh 22:15). Thánh Phaolô gọi những kẻ ấy là quân chó má (Pl 3:2). Chúa Giêsu cảnh giác chúng ta chống lại gương xấu bằng một lời lẽ mạnh mẽ nhất chưa từng thấy trong Phúc Âm với hình phạt thật nặng nề: “Kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn” (Mc 9:42).

    Theo William Barclay cối đá được đề cập ở đây là cối đá lớn. Có 2 loại cối đá xay ở Palestine. Cối đá xay bằng tay dành cho các bà nội trợ dùng trong nhà. Và cối đá xay thật lớn, chỉ những con vật khỏe mạnh mới kéo nổi. Cối đá Chúa Giêsu đề cập đến trong Phúc Âm hôm nay là cối đá lớn. Bị cột vào cổ mà kéo xuống biển thì vô phương cứu chữa. Đó là một hình phạt, một cách hành quyết ở Roma và Palestine ngày xưa. Sử gia Josephus ghi rằng khi những người Galilaean làm cuộc cách mạng thành công, “họ đã cột những người theo đảng của Hêrôđê vào đá và ném xuống cho chết chìm dưới hồ nước.”

    William Barclay trích lại câu chuyện của ông Henry đã kể như sau: “Câu chuyện kể về một em bé gái chết mẹ khi còn nhỏ. Người cha của em khi đi làm về thường ngồi xuống ghế, cởi áo khoác ra, đốt thuốc ống điếu lên, và gác chân lên kệ đọc báo cho đến khi đi ngủ. Em bé gái muốn đến xin cha chơi với bé một chút, đọc chuyện cho bé nghe để bé bớt nỗi cô đơn. Nhưng người cha đã nói với con rằng: ” Ba mệt mỏi lắm rồi! Ba phải làm việc suốt ngày, để ba nghỉ ngơi đi con!” Rồi người cha bảo con hãy ra ngoài đường mà chơi. Con bé đã chơi suốt ngày ngoài đường phố, làm bất cứ điều gì nó muốn.

    Thế rồi, điều không thể tránh được đã xảy ra. Khi con bé lớn lên, nó bắt đầu đón nhận tất cả những tình cảm từ bất cứ ai dành cho nó. Và từ chỗ chơi la cà ngoài đường phố, cô bé đã trở thành gái điếm đứng đường. Đến một ngày cô gái đó mang bệnh và chết. Khi cô đến trước tòa phán xét, Thánh Phêrô trông thấy cô đi vào bèn nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, cô con gái này xấu lắm. Cô gái điếm đấy! Con đề nghị cho cô ấy xuống thẳng hỏa ngục được không?” “Không được,” Chúa Giêsu nhẹ nhàng trả lời, “Hãy để cô ấy vào.” Thế rồi con mắt của Ngài bỗng trở nên nghiêm khắc: “Nhưng này Phêrô, con hãy đợi người đàn ông sắp bước vào đây. Ông đã nhẫn tâm từ chối chơi với con bé gái của mình, lại còn xua đuổi nó ra chơi ngoài đường. Hãy tống cổ hắn xuống hỏa ngục ngay lập tức!”

    Thiên Chúa không khó khăn với người tội lỗi, nhưng Ngài sẽ nghiêm khắc với những kẻ làm gương xấu, và chỉ dạy kẻ khác phạm tội, nhất là đối với trẻ thơ. Những hãng sản xuất phim và những mạng lưới truyền hình lớn cùng nhau hoạch định những phim có tính cách bạo lực hơn, khiêu dâm hơn. Họ quảng cáo rầm rộ, rộng rãi qua các phương tiện truyền thông. Những con người làm thương mại dự trù những kế hoặch này vì họ muốn hái được nhiều tiền. Chúa Giêsu nói rằng Ngài sẽ dành một hình phạt nặng nề cho những người làm hư hỏng đức hạnh của giới trẻ, gây nguy hại đến đời sống tinh thần, và có thể hủy diệt cuộc đời của họ bằng sự tuyệt vọng và xa tránh Thiên Chúa!

    Nhưng chúng ta cũng nên thức tỉnh khi thi hành việc đạo đức và bác ái (1 Cr 13:4). Đừng làm với lòng ghen tương và thái độ độc tài như của Gioan trong bài Phúc Âm hôm nay (Mc 9:38). Tất cả mọi sự tốt lành đến từ Thiên Chúa (Jn 1:16; Jc 1:17). Ngài tự do ban phát theo thánh ý của Ngài. Chúng ta chỉ là những môn đệ của Chúa Giêsu khi chúng ta biết yêu thương và phục vụ tha nhân.

    Chúng ta không nên dùng chiêu bài “làm sáng danh Chúa” để che giấu “cái tôi đáng ghét”. Chúng ta cũng không nên mượn danh Đức Kitô để làm sáng danh cái tôi Kitô hữu như cha Anthony De Mello đã nói trong câu chuyện ngụ ngôn “Thiền Sư và Kitô Hữu”: Một Kitô hữu đến thăm một vị Thiền Sư và nói: “Xin thầy cho phép tôi đọc thầy nghe Bài Giảng Trên Núi.” Thiền Sư đáp: “Tôi rất thích nghe.” Người Kitô hữu đọc một câu rồi ngước mắt lên nhìn. Thiền Sư mỉm cười nói: “Đấng đã phán những lời đó chắc chắn phải là một vị Giác Ngộ.”

    Người Kitô hữu cảm thấy khoái trá. Ông tiếp tục đọc. Thiền Sư xin ông ngừng lại rồi nói: “Những lời nói đó phải phát xuất từ Đấng Cứu Thế của nhân loại.” Người Kitô hữu cảm thấy thích thú. Ông tiếp tục đọc cho đến hết. Lúc bấy giờ Thiền Sư tuyên bố: “Người đã rao giảng như thế phải là Thiên Chúa.” Nỗi vui mừng của người Kitô hữu thật vô bờ bến. Ông ra về, cương quyết sẽ trở lại một ngày khác để thuyết phục Thiền Sư trở thành Kitô hữu. Trên đường trở về nhà, ông gặp Chúa Giêsu đứng bên vệ đường. Ông đã thưa với Chúa một cách khoái trá: “Lạy Chúa, con đã làm cho người đó xưng ra Chúa là Thiên Chúa!” Chúa Giêsu mỉm cười và nói: “Con đã làm gì hay đâu, ngoại trừ việc con thổi phồng cái tôi Kitô hữu của con mà thôi!” (“Như Tiếng Chim Ca” bản dịch của Đỗ Tân Hưng và Trần Duy Nhiên, tr. 107).

    William Barclay kể lại câu chuyện sau đây khi chú giải đoạn Phúc Âm, Mc 9: 39-48: “Một nhà truyền giáo kể lại câu chuyện thật thú vị. Bà dạy giáo lý trong một lớp mẫu giáo ở Phi châu, nói về hành động cho một ly nước mát nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Bà đang ngồi trước hiên nhà thì thấy một nhóm người đàn ông bản xứ vai mang hành lý nặng nề tiến vào khoảng đất trống giữa làng. Họ mang những gói hành lý rất nặng. Họ rất mệt và khát nước nên ngồi xuống nghỉ ngơi. Họ là những người thuộc bộ lạc khác đến, và vì có sự ngăn cách giữa các bộ lạc nên họ đã bị những người bản xứ từ chối cho nước uống. Trông thấy họ ngồi mệt lả giữa sân, nhà truyền giáo động lòng thương xót. Thình lình, từ phía trường học xuất hiện một toán các em gái nhỏ bé Phi châu, đầu đội bình nước, đang bẽn lẽn và rụt rè tiến đến những người mệt mỏi. Các em quỳ xuống và đưa cho họ những bình nước. Trong sự ngạc nhiên, họ nhận lấy những bình nước và uống vội vàng cho đã cơn khát, rồi trao lại cho các em. Sau khi rời gót, các em gái đã chạy tới nhà truyền giáo. “Chúng con đã cho người khát nước uống,” các em nói, “nhân danh Chúa Giêsu.” Rồi chính các em bé đã viết ra câu chuyện này.

    Đó là lòng nhân ái rất đơn sơ, các em mẫu giáo áp dụng đúng Lời Chúa dạy. Xưa kia Mahomet cũng đã nói: “Dẫn người lạc lối trở lại đúng đường, cho người khát một ly nước uống, nở một nụ cười khi gặp anh em, đó cũng là bác ái.”

    Ca dao Việt Nam có câu: “Hoa thơm thơm lạ thơm lùng, thơm cây thơm rễ người trồng cũng thơm”. Ở Romania có một thung lũng tràn ngập hoa hồng. Nếu bạn đi trong thung lũng vài giờ đồng hồ trong mùa hoa nở, bạn sẽ có cảm giác mùi hương thơm ngào ngạt theo bạn suốt ngày, dù bạn đi đến bất cứ nơi đâu. Những người tiếp xúc với bạn đều nhận biết là bạn đã đến thung lũng hoa hồng đó.

    Việc bác ái và lòng đạo đức cũng giống như hương thơm, sẽ lan tỏa, gây ảnh hưởng tốt và thu hút người khác. Gương tốt là hương vị của Kitô giáo. Nó làm cho người Kitô hữu trở nên giống Đức Kitô. Gương tốt thực sự làm cho người khác nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta. Theo lời cầu Đức Hồng Y John Henry Newman, chúng ta cùng nguyện xin: “Lạy Chúa, xin hãy chiếu soi qua con và hiện diện trong con để mỗi linh hồn con gặp gỡ cảm thấy sự hiện diện của Ngài trong con. Amen.”

    Về mục lục

    .

    GƯƠNG XẤU VÀ DỊP TỘI

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói: ”Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá vào cổ nó mà ném xuống biển thì hơn” (Mc 9,42). Vậy “những kẻ bé mọn” đây là ai? Chúa muốn ám chỉ những người hèn kém, khờ dại, dốt nát, không được học hỏi những vấn đề luật pháp: Hạng ngươi này, trong Do Thái Giáo, họ có khuynh hướng bị khinh bỉ. Những kẻ bé mọn có lòng tin này là những người thuộc giai cấp bình dân có thiện chí muốn học hỏi Kinh Thánh, luật pháp, thường được các thầy thông luật giải thích Thánh Kinh, luật pháp, nhưng lại bị giải thích sai lạc vì những gương xấu.

    Vì thế, việc cảnh giác đề phòng làm gương xấu cho những “kẻ bé mọn” này, Chúa Giêsu muốn nhắm tới các thủ lãnh tôn giáo mà Ngài đã có lần tố cáo họ đã độc quyền chiếm đoạt sự giải thích Thánh Kinh và đóng cửa không cho kẻ muốn vào (Mt 23:2-3,13).

    Chúa Giêsu đã răn đe rất nghiêm ngặt những ai gây gương mù gương xấu: ”Thà buộc cối xay vào cổ người ấy mà ném xuống biển còn hơn” (Mk 9:42). Lời răn đe rất thẳng thắn và quyết liệt. Thớt cối xay nặng như thế mà kéo dìm một tội nhân dưới nước thì không thể nào ngóc đầu lên được: ý nói đến sự xấu xa, ghê tởm, nặng nề của tội làm gương xấu.

    Trong bức thư của Lentulô, tổng trấn Do Thái gửi cho hoàng đế Tiberiô, để diễn tả chân dung Chúa Kitô, có câu này: ”Khi ông (Đức Kitô) quở trách sửa phạt, thật cả là một sự ghê sợ; nhưng khi khuyên bảo dạy dỗ ông lại rất hoà nhã đằm thắm, làm cho thiên hạ tin phục say mê.” Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng thấy lộ ra hai tính cách đó: nửa trước Chúa khuyên bảo nhân từ dịu dàng; nửa sau Chúa rất nghiêm thẳng đối với hai vấn đề gương xấu và dịp tội.

    Trên một chuyến xe lửa, cha Béc-na Vo-gan gặp một hành khách ăn nói rất tự do và thô tục. Ông ta nói những chuyện đồi bại, lấy làm thích thú và cười khoái trá. Mọi thái độ khôn ngoan và lịch sự nhắc ông ta để ông ta im lặng đều không hiệu quả. Xe đến ga, người hành khách ấy xuống. Cha Vo-gan thò đâu ra cửa xe gọi theo: ”Này ông, ông còn quên cái gì đây này.” Người đó vội lên toa, nhìn quanh và hỏi: ”Quên cái gì đâu?” Cha Vo-gan nói với giọng tử tế nhưng cứng rắn: ”Ông để lại một ấn tượng xấu cho hành khách trong toa.” Người ấy xấu hổ đi xuống ngay.

    Đối với dịp tội Chúa Giêsu nói tiếp: ”Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi, thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục” (Mc 9, 43).

    Chúng ta thấy Đức Giêsu nói một cách quyết liệt như thế, ta phải hiểu thế nào? Thực ra, Ngài dùng lối nói cường điệu của những nhà hùng biện như thế là muốn cho chúng ta thấy sự trầm trọng của gương xấu, của chước cám dỗ, của những dịp tội, và xác định mối nguy hại có khi không nhỏ mà nó gây ra cho mọi người.

    Thực ra, những lời nói của Chúa Giêsu không thể được hiểu theo nghĩa đen. Đường hướng mà Đức Giêsu muốn đưa ra là người ta phải tránh xa tội nặng bằng bất cứ giá nào. Chúng ta phải sẵn sàng làm bất cứ điều gì có thể làm được để loại trừ điều ác ra khỏi đời sống chúng ta. Mục đích của Ngài là in sâu vào tâm trí chúng ta không thể nào tẩy xóa được, rằng Nước Thiên Chúa đáng cho chúng ta hy sinh mọi thứ khác.

    Không ai có thể phủ nhận được sự hiện hữu của dịp tội, của cám dỗ (Lc 17:1). Chính ma quỉ đã cám dỗ để làm hư hoại loài người, dĩ nhiên là Thiên Chúa cho phép cám dỗ để thử thách lòng trung thành của con người. Chúng đã cám dỗ ông Adong và bà Evà, và ông bà đã sa ngã, đã bất trung với Chúa. Ngay Chúa Giêsu cũng bị ma quỉ cám dỗ trong hoang địa nhưng đã chiến thắng một cách vẻ vang. Chính vì vậy mà Chúa Giêsu đã dạy: ”Hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Mt 26,41; Mc 14,38; Lc 22,40). Nếu nói rằng Chúa cám dỗ chúng ta thì không đúng, không bao giờ Chúa cám dỗ chúng ta (Jc 1:13-15) mà Ngài chỉ cho phép ma quỉ cám dỗ chúng ta trong mức độ chúng ta có thể chịu đựng được để thử thách chúng ta thôi (ICor 10:13), vì ”lửa thử vàng, gian nan thử nhân đức” (IPet 1:6-7). Như vậy, cám dỗ tự nó không xấu, nó chỉ là một sự thử thách và nó có lợi cho những ai cố gắng chiến thắng nó để vượt qua thử thách vì như người ta nói: ”Vô hoạn nạn, bất anh hùng.”

    Con người sống trong xã hội có tương quan với nhau, do đó có ảnh hưởng tương tác, hoặc là ảnh hưởng tốt hoặc là ảnh hưởng xấu. Vì vậy mà Chúa Giêsu đã nói: ”Khốn cho thế gian, vì làm cớ cho người ta sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã” (Mt 18,7). Và Chúa còn lên án mạnh mẽ hơn: ”Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9,42; Mt 18,6).

    Ngày nay người ta sống gần gũi với nhau hơn bao giờ hết. Người ta có thể đi từ châu lục này đến châu lục kia trong vòng mấy giờ đồng hồ, cho nên ảnh hưởng giữa con người càng nhanh chóng và càng mạnh. Dù chúng ta có biết điều đó hay không, chúng ta vẫn là tảng đá gây vấp phạm hay tảng đá giúp cho người khác vượt qua trên con đường đến ơn cứu độ (x. Mt 21,42-44).

    Chúng ta có thể trở thành tảng đá vấp ngã hay tảng đá giúp cho người khác vượt qua là tùy ở cách sống của chúng ta: nếu chúng ta gây gương mù gương xấu thì chắc chắn đã trở thành tảng đá vấp ngã. Ngược lại, nếu chúng ta nêu gương sáng giúp người khác sống tốt hơn thì chúng ta trở thành tảng đá giúp người ta vượt qua.

    Cám dỗ hiện diện khắp nơi mà không ai có thể thoát được. Chúa đã nhắc bảo các Tông đồ: ”Simon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31). Như vậy công việc của chúng ta là chỉ việc chống lại chước cám dỗ. Cuộc chiến chống ba thù là một cuộc trường kỳ kháng chiến, không bao giờ kết thúc. Và trong cuộc chiến này phải phân thắng bại, không được thoả hiệp: một là thắng, hai là bại. Adong Evà đã để lại gương thất bại, còn Đức Giêsu đã nêu gương chiến thắng rực rỡ (Mt 4:11).

    Dĩ nhiên trong cuộc chiến một mất một còn này đòi phải gian khổ, hy sinh, từ bỏ có khi ngay cả đến bản thân mình, không có từ bỏ không chiến thắng được. Thế giới chung quanh ta đang sống có nhiều cạm bẫy, nhiều cám dỗ, nhiều dịp tội làm chúng ta sa ngã. Ngay chính thân xác chúng ta cũng có thể là những dịp tội khiến chúng ta lỗi luật Chúa. Chúa Giêsu nói hơi mạnh: ”Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi” (Mc 9,43).

    Nói tới cắt tỉa, chặt bỏ, từ bỏ là những động từ gợi lên cho chúng ta sự đau đớn, nhưng như người ta nói: ”Thuốc đắng đã tật” (Tục ngữ). Đau đớn lại là một điều cần thiết cho sự lành mạnh; nó là một điều kiện ”bất khả thiếu.” Chính vì vậy, Ludovic Giraud đã viết: ”Nỗi đau đớn với chúng ta như lưỡi cày đối với mặt đất, nó cầy xới nhưng để làm cho đất mầu mỡ; cũng như việc cắt tỉa cây cối: làm cây cối nhẹ nhàng, mạnh khoẻ và đẩy nhanh những dòng nhựa lên cao.”

    Xét ra Lời của Chúa cũng không xa thực tế lắm. Có người dám hy sinh cái nhỏ để chiếm được cái lớn. Đó là ông O Neil, nhà thám hiểm đã tìm ra đất Ái Nhĩ Lan. Khi nhóm thám hiểm đến gần phần đất mới, vị thuyền trưởng tuyên bố: ”Hễ ai chạm tay trước hết vào phần đất trên bờ thì người ấy làm chủ phần đất ấy.” Ông O’Neil quyết tâm chiếm cho bằng được. Ông chèo chiếc thuyền nhỏ vào bờ. Nhận thấy có kẻ khác vượt lên trên mình, ông quyết định lấy rìu chặt đứt cánh tay trái và liệng vào bờ, chạm đất trước hết, ông thắng cuộc. Nhà thám hiểm cụt một tay để được một nước thế gian, thì trong việc chiếm lấy Nước Trời, Chúa dạy chúng ta cũng phải sẵn sàng hy sinh tất cả những gì thân thiết và quí mến.

    Người ta thường nói: ”Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” hoặc “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Ở trong một môi trường tốt thì người ta dễ nên tốt, người ở trong một môi trường xấu thì dễ trở nên xấu. Đó là định luật tâm lý vì người ta hay bắt chước một cách vô ý thức.

    Kinh Thánh nói: ”Đụng nhựa, nhựa dính tay, ai cặp kè với quân nhạo báng sẽ học theo đường nó” (Sir 13:1): chơi với lửa có ngày sẽ bỏng, chơi với dao có ngày đứt tay, chơi với bùn có ngày lấm áo… Đó là kinh nghiệm ngàn đời của dân gian. Nên người ta khuyên: “Chim khôn tránh lưới tránh dò. Người khôn tránh chốn xô đồ mới khôn (ca dao). Tại sao không cố mà tránh cơ hội gây ra cám dỗ để khỏi bị mắc bẫy? “Chim ham mồi sa lưới. Cá ham thính mắc câu. Con người phải nghĩ cho sâu. Đừng ham danh lợi, sắc hầu sa cơ. Tài danh là cạm giữa trời, hồng nhan là bả những người tài hoa (ca dao).

    Người xưa cũng còn dạy: “Cẩn thận thì khỏi phải lo.” Không ai dám nói được mình khôn ngoan, không bị sa vào cạm bẫy. Chúa Giêsu đã từng khuyên: ”Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mt 26,41; Mc 14,38). Cẩn thận đề phòng là phương pháp tốt nhất để khỏi bị rơi vào cạm bẫy của ma quỉ đang giăng ra khắp nơi, như lời Thánh Phêrô khuyên: ”Anh em hãy tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỉ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1Pr 5,8-9a).

    Có một người giầu có rất yêu mến mẹ già. Một hôm ông muốn đi thuê một người tài xế chở bà mẹ già đi chơi mỗi buổi chiều. Có ba người đến xin chân tài xế đó. Người giầu nói: ”Tôi không muốn có một tai nạn nào xẩy ra trong khi các ông mang mẹ tôi đi chơi cả. Tôi sẽ thử cả ba ông, xem các ông lái xe giỏi đến mức nào. Tôi muốn xem các ông lái sát hào bao nhiêu mà không bị rơi xuống.”

    Người tài xế thứ nhất tự nhủ: ”Cái đó thì dễ ợt.” Ông ngồi bẻ tay lái và chạy vù xuống đường, cách cái hào một tấc. Người thứ hai thầm bảo: ”Mình lái ngon hơn hẳn là cái chắc.” Ông này cũng lái vèo xuống đường và chỉ cách cái hào có nửa tấc. Trong khi đó, người thứ ba suy nghĩ cẩn thận. Ông lái cách hào những một mét.

    Hai người tài xế trước thấy thế cười đắc chí, nhưng người giầu lại bảo bác tài xế thứ ba rằng: ”Tôi xin nhận bác làm tài xế cho mẹ tôi. Tôi cần người tài xế có bảo đảm, mà một người lái có bảo đảm thì không bao giờ lái sát hào quá” (W.J. Diamond, Đồng cỏ non, 1968, tr 19-20).

    Hôm nay Chúa nói với chúng ta tránh xa dịp tội, đừng bao giờ liều thân nhảy vào dịp tội. Ngoài ra, chúng ta còn phải nỗ lực hy sinh nhiều để giữ lòng trong sạch và trung thành với Chúa. Thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Chúa.

    Chúng ta hãy kết thúc với những lời rút ra từ bài hát cổ xưa mà Giáo Hội thường sử dụng trong Giờ Kinh Chiều của một số ngày Chúa Nhật trong năm phụng vu: “Nghe danh hiệu Giêsu, mọi gối phải quì xuống, mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ngài là vua vinh quang” (Phil 2:9-11). Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang của Ngài. Ngài là Thiên Chúa cứu độ. Ngài là Đấng Kitô Chủ Tể chúng ta.

    Về mục lục

    .

    GHEN TƯƠNG – CĂN BỆNH TRẦM KHA

    Lm. G.B. Trần Văn Hào

    Cái tôi vị kỷ thật đáng ghét. Nhưng thoát bỏ cái tôi ấy không đơn giản chút nào. Từ khuynh hướng vị kỷ này, chúng ta rất dễ tỏ ra ghen tị trước những thành công của người khác. Sự ghen tương thường vẫn xảy ra trong mỗi giáo xứ hay ngay tại các cộng đoàn tu sĩ. Chúng ta trải nghiệm điều này rất rõ và rất cụ thể. Gioan, vị tông đồ được Đức Giêsu yêu mến đặc biệt, là một trong ba người học trò thân tín nhất, vẫn biểu tỏ sự ghen tương nhỏ nhặt như Tin mừng hôm nay thuật lại: “ Thưa Thầy, chúng con thấy có người nhân danh Thầy mà trừ quỷ, chúng con đã cố gắng ngăn cản vì người  ấy không theo chúng ta”(c 38). Câu trả lời của Chúa Giêsu gợi mở một chân trời đức ái, trong đó chúng ta phải cố gắng thắng vượt sự ghen ghét, vốn đã ăn sâu nơi bản tính mỗi người.

    Ghen ghét là thuốc độc giết chết trái tim

    Đây là tư tưởng của triết gia Voltaire. Cho dù sau này ông ta sống như một kẻ vô thần nhưng ông rất có lý khi đưa ra xác quyết này. Ghen ghét như một thứ thuốc độc cực mạnh bóp chết con tim yêu thương của chúng ta. Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Dân số cũng thuật lại câu chuyện về ông Giôsue. Ông cảm thấy khó chịu và trình bày với Môisê khi thấy hai vị bô lão nói tiên tri. Hai vị này không nằm trong số những người được tuyển chọn. Sự ghen tương bộc lộ khi Giôsuê thấy Thần khí được ban cho hai lão già vô danh tiểu tốt kia. Theo lẽ thường, Giôsuê có lý, nhưng đó là sự hợp lý theo logic của loài người, còn trong trật tự nước trời thì không phải thế. “ Gió muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3,8).Tác động của Thần khí và ân sủng được ban tặng không theo bất cứ một quy chuẩn nào do con người thiết định. Câu trả lời của Môisê: “ Anh ghen dùm tôi hay sao”( Ds 11,29) cũng tương hợp với lời khẳng định của Chúa Giêsu: “ Đừng ngăn cản người ta” ( Mc 9,39), gợi mở cho chúng ta chiều kích đức ái, loại bỏ sự ghen ghét.

    Thái độ của Giôsuê và của Gioan trong bài Tin mừng hôm nay vẫn luôn mang tính thời sự đối với tất cả mỗi người chúng ta ngày hôm nay. Trong một cộng đoàn giáo xứ, nếu có một vị nào ít trổi trang, nhất là lại vướng một tì vết nho nhỏ nào đó mà được chọn đảm nhận một chức vụ, chắc chắn sẽ bị dư luận ném đá dữ dội. ‘Cái ngữ ấy mà làm ông trùm ai coi được’. Trong cộng đoàn tu sĩ hay trong hàng ngũ linh mục cũng thế, sự ghen tương cho dù không lộ ra cách minh nhiên, nhưng ngấm ngầm và cũng không kém dữ dội. Có khi sự tỵ nạnh và ghét ghen còn ghê rợn hơn nơi giáo dân rất nhiều. Có một điều chắc chắn là ghen tương cuối cùng sẽ gây ra chia rẽ. Nó giống như những ngòi nổ chỉ chờ dịp bùng phát và hậu quả sau cùng tất nhiên chiến tranh sẽ xảy ra.

    Bài ca đức ái

    Khuất phục sự ghen ghét này là cả một cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt. Tội đầu tiên đến trong trần gian đó là tính kiêu căng. Con ngươì muốn ngang bằng Thiên Chúa. Adam đã rơi vào sự sa ngã này. Tội kế tiếp chính là sự ghen ghét. Cain đã giết Abel em mình cũng vì ghen tương. Đây là 2 giống tội đi đôi với nhau. Trong ba năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng đã phải đối kháng mạnh mẽ với nhóm biệt phái. Ngài kịch liệt đả kích thói kiêu ngạo, sự giả dối và tính ghen tương nhỏ nhặt nơi họ. Chúa chữa lành các bệnh nhân phát xuất từ tấm lòng yêu thương vô điều kiện của Ngài. Ngài bứt phá những rào cản trói buộc, bước qua những luật lệ cứng ngắc mà những người biệt phái vẫn khăng khăng ôm giữ. Bởi vì, đối với Chúa, chỉ có một lề luật duy nhất, đó là luật của tình yêu. Ngược lại, khi thấy Chúa Giêsu làm những điều tốt lành, nhóm biệt phái lại cau có và khó chịu. “Họ giận điên lên và tìm cách để hại Ngài” (Lc 6,11). Tất cả đều xuất phát do sự ghen ghét mà ra.

    Để chiến thắng căn bệnh thâm canh cố đế này, thánh Phaolô đã phác vẽ cho chúng ta một “lược đồ chữa trị” còn được gọi là “Bài ca Đức ái”. Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, Ngài viết: “ Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”(1C 13,4-7 ).

    Tương tự, thánh Augustinô cũng đã nói: “ Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ. Tình yêu là sự hoàn thiện của con người. Đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”. Đức ái mà thánh Phaolô nói đến là chìa khoá dẫn đưa chúng ta đến sự hoàn thiện. Đó cũng chính là liệu pháp chữa trị tận gốc căn bệnh ghen ghét mà chúng ta thường hay mắc phải.

    Đức ái được Chúa Giêsu tiếp tục quảng diễn trong bài Tin mừng hôm nay bằng sự quảng đại biết cho đi, tức là bứt phá khỏi cái tôi ích kỷ: “ Ai cho anh em một bát nước lã…Thầy bảo thật anh em người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (c.41). Thánh Giacôbê, vị lãnh đạo cộng đoàn Giêrusalem, là một chuyên gia mục vụ về đức ái cũng truyền đạt cho chúng ta những huấn dụ tương thích trong bài đọc thứ 2 hôm nay. “Đừng bám vào của cải vật chất với tấm lòng keo kiệt. Vàng bạc, những thứ rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người. Nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các ngươi” (Gc 5,1-3). Tất cả các nết xấu ấy đều khởi nguồn từ tính ích kỷ nhỏ nhen mà ra.

    Như vậy, Đức ái chính là khung căn bản định hình sự thánh thiện, và đó cũng là phương thế giúp chúng ta chiến thắng tội lỗi, nhất là tội ghen ghét.

    Con người ba phải

    Cha Anthony de Mello, một tu sĩ Dòng Tên đã viết một câu truyện ngắn khá thâm thuý. Chúa Giêsu cùng thánh Phêrô đi xem một trận bóng đá. Trận cầu khá hấp dẫn giữa đội bóng Công giáo và đội bóng Tin Lành. 1-0. Đội bóng Công giáo làm bàn trước, Chúa Giêsu reo hò cổ vũ. Vài phút sau, đội Tin lành gỡ hòa 1 đều. Chúa Giêsu ngồi trên khán đài cũng vỗ tay nồng nhiệt tán dương. Người bên cạnh hỏi Chúa: “ Ông ủng hộ đội nào ?” Chúa nói: “ Cả hai”. Vị khách khó chịu và lẩm bẩm chửi thề: “ Đồ ba phải”. Về đến nhà thánh Phêrô hỏi Chúa: “ Tại sao Thầy trả lời như thế? Thầy quên rằng khi trả lời như vậy Thầy đã bị người Do Thái đóng đinh hay sao. Chúa thở dài nói với Phêrô: “ Người Công giáo hay Tin lành đều là những người có tôn giáo cả, và Ta cũng đã bị đóng đinh bởi dân Do Thái, là những người có tôn giáo cảđấy thôi”.

    Lối sống ích kỷ và ghen ghét nơi các đầu mục tôn giáo chính là nguyên do dẫn đến cái chết của Đức Giêsu. Lối sống này vẫn đang còn được lặp lại nơi mỗi người chúng ta hôm nay qua nhiều dạng thức. Chúng ta rất dễ nhìn những thành công nơi người khác với “đôi mắt mang hình viên đạn”, cảm thấy khó chịu và ghen tức khi người khác hơn mình. Sự ghen ghét cũng chính là con đẻ của thói kiêu căng. Vì vậy, Thánh Phaolô dạy chúng ta: “ Đừng làm chỉ vì ganh tỵ hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình” (Phil 2,3).

    Kết luận : Có một bài ca…

    Có một thời, người ta rất ưa chuộng một bài hát khá phổ thông được bắt đầu bằng câu: Có một bài ca không bao giờ quên. Nhiều người dí dỏm đổi ca từ thành bài hát: ‘Có một bài ca không ca thì quên’. Đối với Kitô hữu chúng ta, cũng có một bài ca nếu không thường xuyên hát lên, chúng ta sẽ quên hẳn. Đó là ‘Bài ca Đức ái’ mà Thánh Phaolô đã viết trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô. Đây là bài ca mà chúng ta phải học để biết, phải hát lên để khỏi quên, phải nghiền gẫm để ngấm sâu vào máu thịt của mỗi người. Bài ca đó vạch dẫn con đường trọn lành, giúp ta khuất phục những nết xấu, nhất là sự ghen ghét mà chúng ta thường hay mắc phải.

    Về mục lục

    .

    DIỆT TRỪ GƯƠNG XẤU

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Gương xấu rất tai hại vì dễ lây lan

    Gương xấu lây lan nhanh như bệnh dịch, bùng phát mạnh như cháy rừng. Nguy cơ lây nhiễm cao đến nỗi người ta thường nói: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.”

    Gương xấu ảnh hưởng rộng rãi lên những người chung quanh y như men trong bột. Chỉ cần một nhúm men nhỏ cũng đủ sức làm dậy lên cả một thúng bột lớn.

    Chúa Giê-su xem thái độ giả dối của những người biệt phái cũng như tâm địa độc ác của vua Hê-rô-đê là những thứ men độc hại có thể khiến cho những người chung quanh bị tiêm nhiễm y như men ảnh hưởng lên bột nên Ngài cảnh báo các môn đệ phải đề phòng: “Anh em phải coi chừng men biệt phái và men Hê-rô-đê” (Mc 8, 15).

    Chúa Giê-su kịch liệt bài trừ gương xấu

    Chính vì gương xấu của người nầy gây ảnh hưởng tai hại lên nhiều người khác nên Chúa Giê-su kịch liệt bài trừ. Ngài muốn nhổ bỏ thói xấu tận gốc rễ, muốn diệt trừ duyên cớ gây nên gương xấu bằng mọi giá.

    Trước hết, Ngài răn đe những người gây ra gương xấu bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9, 42).

    Và Ngài muốn diệt trừ các duyên cớ gây ra tội lỗi cách quyết liệt : “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9, 43-48).

    Khi phán dạy như thế, Chúa Giê-su không có ý nói là chúng ta phải huỷ hoại thân mình để loại trừ thói xấu, nhưng Ngài có ý nói phải diệt trừ thói xấu cách triệt để, bằng bất cứ giá nào.

    Nhổ bỏ thói xấu rất khó

    Tuy nhiên, trong thực tế, việc nhổ bỏ tội lỗi và thói xấu là điều thật khó khăn, vì việc xấu ta vừa dứt bỏ hôm nay, ngày mai lại quay về.

    Tẩy trừ thói xấu cũng như xua đuổi một con chó ghẻ trung thành. Khi con chó trong nhà bị ghẻ lở trông thật ghê tởm và hôi hám, người nhà quyết xua đuổi nó đi, nhưng lát sau nó cũng quay về. Dù người nhà tiếp tục đánh đập và xua đuổi nó đi xa … nó cũng lại trở về!

    Tẩy trừ thói xấu cũng y như nhổ cỏ cú (một thứ cỏ có nhiều rễ củ ăn sâu xuống lòng đất, rất khó diệt) trên mảnh đất tốt. Hôm nay nhổ sạch cỏ rồi, mai gặp một trận mưa to, cỏ lại mọc lên phơi phới.

    Phương pháp kiến hiệu để diệt trừ thói xấu: lấy cái tốt đẩy lùi cái xấu

    Như vậy, không lẽ con người đành bó tay trước thói hư tật xấu?

    Bệnh nào cũng có thuốc chữa. Sâu nào cũng có thuốc trừ.

    Đối với những đám đất nhiều cỏ cú diệt hoài không được, người nông dân kinh nghiệm có thể diệt hết cỏ bằng cách biến nó thành thửa ruộng lúa nước. Người ta bơm nước vào đám đất có nhiều cỏ, ngâm nước một thời gian cho cỏ thối đi, rồi cày và trục chôn cỏ mục xuống bùn. Sau đó, người ta sạ lúa xuống. Chờ lúa mọc lên chừng mươi phân, người nông dân lại cho nước vào phủ hết mặt ruộng, rồi vãi phân cho lúa bốc lên nhanh; lá lúa vươn ra um tùm che phủ mặt ruộng khiến cỏ dại không thể nào mọc lên được.

    Có người diệt cỏ bằng cách trồng mía. Mía con vừa mới lên liền được bón thúc phân thật sớm khiến bụi mía phát triển sum suê. Thế là cỏ dại dưới đất bị chết ngộp vì thiếu ánh sáng.

    Thế là dù không cần tốn công làm cỏ mà vẫn thu hoạch được lúa hoặc mía dồi dào.

    Vậy thì một trong những phương pháp kiến hiệu để loại trừ gương xấu, thói hư là áp dụng phương thức lấy cái tốt đẩy lùi cái xấu: quyết tâm tạo cho mình những việc làm tốt để đẩy lui những việc làm xấu; tập thói quen tốt để đẩy lùi thói quen xấu; lấy sách báo lành mạnh thay thế cho sách báo đồi truỵ; lấy phim giáo dục đẩy lùi phim vô luân; chọn bạn tốt lành thay cho bạn bè xấu tính…

    Hy vọng nhờ đó, cuộc đời chúng ta ngày càng được cải thiện; tâm hồn chúng ta ngày thêm trong sáng; bản thân chúng ta ngày càng trở nên người có phẩm chất cao.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Xin giúp chúng con thấy rõ những thói hư tật xấu đang đâm mầm mọc rễ trong tâm hồn chúng con để cố sức diệt trừ trước khi quá muộn. Xin cho chúng con chăm lo trau dồi, vun xới cho các đức tính tốt lớn mạnh, để có thể lấn át dần dần những thứ thói xấu đang mọc tràn lan như cỏ dại trong tâm hồn chúng con.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Sứ điệp Tin mừng mà Chúa Giêsu muốn gởi đến cho chúng ta: tinh thần bao dung và hợp tác với mọi người trong xã hội và loại bỏ óc bè phái, cục bộ, ganh tị… Chính Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó có thể nói xấu về Thầy: “Quả thật, ai không chống alị chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9, 39-40).

    Cha Anthony de Mello, Dòng Tên, người Ấn Độ trong tập truyện “Bài ca của loài chim” (The song of Bird) đã thuật lại câu chuyện như sau:

    Nghe Đức Giêsu cho biết chưa một lần nào được xem một trận bóng đá, chúng tôi đưa Ngài đến xem một trận đấu gay cấn giữa hai đội tuyển Tin Lành và Công Giáo. Khi đội Công Giáo làm bàn trước (1-0). Đức Giêsu đã hoan hô vang dội và tung cả mũ lên trời. Vài phút sau, trong một đợt phản công đẹp mắt, đội Tin lành gỡ hòa (1-1); lần này Đức Giêsu lại reo hò và tung mũ lên trời như lần trước. Thấy vậy, một khán giả ngồi bên lấy làm khó chịu nên hỏi Ngài rằng: “Này ông bạn, ông ủng hộ cho đội bên nào?”.Đức Giêsu trả lời trong khi mắt vẫn không rời trận đấu: “Tôi ấy à? Ồ, tôi không ủng hộ bên nào cả. Tôi đến đây chỉ để thưởng thức trận đấu banh mà thôi!”.

    Trước thái độ của Chúa Giêsu, ông kia lại càng khó chịu hơn. Ông ta quay sang người bên cạnh rồi nói nhỏ: “Tên này đúng là một gã vô thần”.

    Trên đường về, chúng tôi thưa: “Lạy Chúa, những người có tôn giáo thật buồn cười phải không? Họ cứ tưởng rằng Chúa phải đứng về phe họ và chống lại những ai không cùng tôn giá với họ”.

    Đức Giêsu gật đầu và bảo: “Đó chính là lý do tại sao Ta không ủng hộ đội tuyển Tin Lành hay đội tuyển Công Giáo, mà chỉ ủng hộ bất cứ cầu thủ nào chơi hay mà thôi, dù họ thuộc bên nào đi nữa”.

    Câu chuyện trên tuy chỉ do trí tưởng tượng, nhưng lại mang nội dung phù hợp với sứ điệp Tin Mừng hôm nay là cần phải có thái độ khoan dung và cộng tác với mọi người thành tâm thiện chí trong xã hội bất kể họ là ai, thuộc thành phần nào.

    Bài đọc 1 cho thấy Giôsuê khó chịu khi thấy 2 người Endat và Medat không thuộc nhóm 70 kỳ mục, không đến lều Thánh mà lại nói tiên tri. Ông đề nghị với Môsê ngăn cấm hai người ấy. Nhưng Môsê không ngăn cấm mà còn nói: “Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ”. Muốn xây dựng xã hội an bình và tốt đẹp cần loại bỏ óc ganh tỵ bè phái, óc địa phương.

    Tính ganh tỵ bè phái trong dân Do Thái vẫn còn tồn tại thời Tân ước. Bài Tin mừng kể lại: khi có một số người không thuộc nhóm 12 tông đồ. Họ thấy Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ, thấy các tông đồ cũng làm phép lạ nhân danh Đức Giêsu. Thế là họ cũng nhân danh Đức Giêsu để thực hiện được một vài phép lạ. Thấy vậy ông Gioan bực tức, đã ngăn cấm họ và báo cáo lại cho Chúa Giêsu rõ. Gioan tưởng cấm như vậy là đúng, bởi vì những người đó không phải là tông đồ của Chúa, cho nên họ không có quyền nhân danh Chúa mà làm phép lạ. Nhưng Đức Giêsu bảo đừng ngăn cấm họ. Khi Ngài nói: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.

    Như vậy, Đức Giêsu cũng như Môsê đều không chấp nhận lối suy nghĩ hẹp hòi, cục bộ, bè phái của các môn đệ. Vì làm sao một người có thể nói tiên tri hay trừ quỷ được nếu người đó không thuộc về Chúa và không được ban Thần Khí cho. Thái độ khép kín cục bộ về đức tin không phù hợp với tinh thần bao dung, cộng tác của Đức Giêsu.

    Nguyên tắc của Cúa Giêsu đi ngược lại với nguyên tắc của con người trong xã hội. Người ta thường nghĩ “ai không theo ta là kẻ chống ta” hoặc “ai không phải bạn ta thì là kẻ thù của ta” hay “ai làm bạn với kẻ thù ta thì cũng là kẻ thù của ta”. Nguyên tắc này bộc lộ một tâm lý tự tôn, độc tôn: chỉ có phe nhóm của mình là hay, loại trừ tất cả những ai không thuộc nhóm mình. Còn nguyên tắc của Chúa Giêsu là một nguyên tắc cởi mở, bao dung, hợp tác với hết mọi người thực hiện những điều tốt lành mà Chúa muốn họ làm hầu xây dựng một thế giới công bình, nhân ái, chan hòa tình người, cùng với mọi người lương cũng như giáo thực hiện những việc tốt lành, hữu ích cho tha nhân, cho xã hội.

    Thế giới hôm nay chưa có sự bao dung, vì thế Liên Hiệp Quốc đã thành lập năm Quốc Tế Bao Dung để kêu gọi các nước trên thế giới thực hiện tinh thần bao dung và cộng tác với nhau để xây dựng một thế giới hòa bình. Sự bất bao dung của một số anh em Hồi giáo quá khích đã gây ra biết bao đau thương thảm khốc cho nhân loại: khủng bố khắp nơi, đánh bom liều chết, giết hại biết bao thường dân vô tội… Họ nhân danh Đấng Allah để giết hại anh em mình. Đó là tính tự tôn, độc tôn, bất bao dung tôn giáo (vụ 11/9/2001 ở Mỹ), đốt phá các nhà thờ Công giáo ở Pakistan, Phi châu, tấn công tòa đại sứ Mỹ ở Lybia vừa qua làm chết đại sứ Mỹ và 3 nhân viên, nhóm Hồi giáo Shii chống lại nhóm Sunny…

    Trong cuộc sống đời thường, người Kitô hữu luôn phải thực thi nguyên tắc của Đức Giêsu: bao dung và hợp tác, luôn xác tín rằng bất cứ hành động tốt đẹp nào do tín đồ các tôn giáo khác, hay do bất cứ tổ chức nhân đạo nào thực hiện đều bắt nguồn từ Chúa để chúng ta chân thành hợp tác với nhau xây dựng một xã hội an vui hạnh phúc, nhờ đó mới có đủ sức mạnh đẩy lùi thế lực tội ác của của satan, đẩy lùi sự dữ, gương mù, gương xấu… để mọi người sống chan hòa tình người, yêu thương nhau! Được như thế, hòa bình sẽ đến với mọi người, mọi nhà và mọi nước!

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu dạy chúng ta hai bài học:

    A. Trước hết là bài học về lòng bao dung và hợp tác:

    Người đời, nhất là ngày hôm nay, thường có óc bè phái, ích kỷ chỉ lo bảo vệ quyền lợi của nhóm mình, đồng thời chèn ép, đố kỵ ganh ghét với những người không thuộc nhóm mình. Phương châm của họ là “Ai không theo ta tức là nghịch với ta”.

    Còn Chúa Giêsu thì khác: Ngài dạy các môn đệ chớ nhìn ai bằng cặp mắt thành kiến đố kỵ. Hãy sẵn sàng hợp tác với mọi người nhất là những người thiện chí. Phương châm Chúa đưa ra là “Ai không chống đối ta tức là ủng hộ ta”. (Mc 9,40)

    Tại sao Chúa Giêsu lại dạy như thế? Thưa vì mọi người sinh ra đều là con Thiên Chúa và mọi người đều có quyền sống và phục vụ theo đúng ơn gọi Chúa dành cho mình. Dưới con mắt của Chúa thì không có người nào xấu đến nỗi phải loại trừ. Đã là người thì ai mà không muốn sống tốt và sống có ích cho mọi người. Thế nhưng thực tế chưa được như thế không phải vì họ mà vì những nguyên nhân khác. Tự bản chất con người là “Nhân chi sơ tính bản thiện” như cổ nhân vẫn nói. Sở dĩ có người hư hỏng là vì họ đã không nhận được sự quan tâm, yêu thương, giáo dục tốttừ xã hội, từ nhà trường nhất là từ gia đình.

    Đây là câu chuyện đã xảy ra tại một thiền viện.

    Một buổi sáng, khi vừa thức dậy, một số thiền sinh phát hiện mình bị mất cắp một vài vật dụng cá nhân. Họ bảo nhau cùng để ý rình rập, và họ đã bắt được quả tang một chú thiền sinh mới đến đang lấy cắp đồ dùng của họ. Họ liền ập vào bắt giữ, giải lên cho thầy viện trưởng. Thầy im lặng, và cho chú thiền sinh nọ trở về phòng.

    Ít lâu sau đó, chú thiền sinh lại bị phát giác đang ăn trộm lần thứ hai, và lại bị dẫn đến viện trưởng. Lần này cũng như lần trước, thầy vẫn im lặng, không nói năng gì, chỉ đưa tay ra hiệu cho phép chú trở về phòng. Mọi người đều thấy tấm tức bực bội về thái độ xử lý quá rộng lượng của thầy mình… Đến lần thứ ba, chú thiền sinh có tật ăn cắp kia lại tái phạm. Tất cả các môn sinh đều tập trung lại, đòi thầy phải có thái độ trừng phạt xứng đáng. Họ đưa ra yêu sách:

    – Thưa thầy, hoặc là tất cả chúng con, thầy phải lựa chọn, nếu không chúng con sẽ rời bỏ nơi này ngay lập tức!

    Im lặng một lát, thầy viện trưởng điềm đạm trả lời:

    – Tất cả các con đều đã sống tốt lành với nhau, còn chú này thì chưa được như thế vậy, thầy muốn chú ấy sẽ ở lại với thầy để thiền định tập tành cho được tốt hơn. Các con thì không cần phải làm như thế nữa, các con có thể chia tay với thầy được rồi đấy!

    Mọi người đều chưng hửng, cúi đầu, lần lượt từng người không dám nói gì nữa, lặng lẽ ai về phòng nấy.

    Riêng chú thiền sinh tội lỗi kia vẫn quì đấy, đôi giòng lệ lăn dài trên gò má.

    Vâng! Hãy biết mở cõi lòng đón nhận mọi người chúng ta sẽ thấy đời của chúng ta đẹp và cuộc sống của chúng ta phong phú dồi dào và hạnh phúc sẽ đến với chúng ta.

    B. Bài học thứ hai: là vấn đế gương mù gương xấu.

    Lời của Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay với một cung giọng nghiêm khắc khác thường làm cho nhiều người cảm thấy như nó quá cứng cỏi nếu không nói là hơi tàn bạo.

    Điệp khúc: “Làm cớ sa ngã” được nhắc đi nhắc lại tới 4 lần và lần nào cũng kèm theo những lời cảnh cáo khắt khe khiến chúng ta thấy tính cách nghiêm trọng của vấn đề.

    Chúa nói như thế để làm gì? – Rõ ràng Chúa muốn bênh vực những ai tin Chúa và bảo vệ họ. Không phải chỉ bảo vệ họ khỏi những hiểm nguy của thân xác mà còn bảo vệ cái giá trị đích thực của cuộc sống làm con của Thiên Chúa nơi mỗi kẻ tin Ngài.

    Tự mình phạm tội đã là chuyện khủng khiếp rồi, nhưng dạy kẻ khác phạm tội, lại càng vô cùng tệ hại hơn.

    Chúa rất thương và khoan dung với những người tội lỗi nhưng lại rất nghiêm khắc với những người làm cớ vấp phạm cho những người khác phạm tội.

    O. Henry, nhà văn Mỹ lừng danh về truyện ngắn đã sáng tác câu truyện về một em bé gái mồ côi mẹ như thế này. Cha cô bé có thói quen mỗi khi đi làm về là ngồi ngay xuống ghế, mở cặp, lôi giấy tờ ra, đốt ống điếu và gác chân lên ngăn kệ đặt gần lò sưởi. Một lần kia con ông là một bé gái mở cửa bước vào. Em xin ông chơi đùa với em một lát vì em cảm thấy rất cô đơn. Lần này cũng như những lần trước ông luôn bảo ông rất mệt, hãy để cho ông yên. Và ông bảo con ông hãy ra đường mà chơi. Thế là cô bé đi ra chơi ở ngoài đường, và truyện không tránh được đã xảy ra là sau những ngày tháng chơi ở ngoài đường, em đã trở thành một cô gái đứng đường. Thời gian trôi qua, ông bố chết và cô cũng chết. Linh hồn cô được đưa lên đến Thiên Đàng. Thánh Phêrô vừa trông thấy cô liền thưa với Chúa Giêsu:

    – Thưa Thầy, đây là cô gái thật xấu nết. Con nghĩ phải đưa thẳng cô ta xuống hỏa ngục.

    Nhưng Chúa Giêsu ôn tồn đáp:

    – Không, hãy cho cô ấy vào.

    Rồi đôi mắt ngài trở nên nghiêm nghị:

    – Và con hãy đi tìm người cha đã từ chối không chịu chơi đùa với con gái nhỏ của mình, đuổi nó ra thiên đường, và đưa hắn xuống hỏa ngục.

    Ai làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin vào Thầy, thà buộc cối đá xay vào cổ nó…”

    Vâng! Nhìn vào cuộc sống của con người trên thế giới hôm nay quả thực không ai mà không thấy có thật nhiều dịp tội làm con người có thể sa ngã. Ngay chính bản thân chúng ta cũng có thể là những dịp tội, khiến chúng ta lỗi luật Chúa.

    Khi bảo phải móc mắt, chặt chân, chặt tay, Chúa không bảo chúng phải áp dụng triệt để theo từng câu từng chữ theo nghĩa đen. Ở đây Đức Giêsu chỉ có ý đòi buộc chúng ta phải quyết tâm mạnh mẽ để khử trừ các dịp tội, các cơm cám dỗ.

    Chúa muốn chúng ta “cắt bỏ” một thói hư tật xấu, cắt bỏ một lời nói cay độc, cắt bỏ một ánh mắt căm hờn, cắt bỏ một cử chỉ khinh khi, cắt bỏ một lối sống buông thả, cắt bỏ một mối quan hệ bất chính. Cắt bỏ như thế có khi còn đau hơn “móc con mắt, chặt chân chặt tay”. Đau vì nó quá thân thiết với cuộc đời chúng ta, đau vì nó quá gắn liền với bản thân chúng ta, vì nó quá ăn sâu trong bản chất con người chúng ta. Nhưng nếu can đảm vượt thắng nỗi đau, chúng ta sẽ lớn lên trong tư cách làm người, và trưởng thành hơn trong địa vị làm con cái Chúa. Ludovic Giraud có viết: “Nỗi đau đối với chúng ta như lưỡi cày đối với mặt đất, nó cầy xới… nhưng để làm cho đất màu mỡ, cũng như việc cắt tỉa cây cối: làm cây cối nhẹ nhàng, mạnh khỏe và đẩy nhanh những dòng nhựa lên cao”.

          Lạy Chúa Giêsu,
    sống cho Chúa thật là điều khó.
    Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
    Chúa đòi con cho Chúa tất cả
    để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

    Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa
    để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
    Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà
    để cây đời con sinh thêm hoa trái.
    Chúa cương quyết chinh phục con
    cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

    Xin cho con dám ra khỏi mình,
    ra khỏi những bận tâm và tính toán cho riêng mình
    để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,
    dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

    Ước gì con cảm nghiệm được rằng
    trước khi con tập sống cho Chúa
    và thuộc về Chúa
    thì Chúa đã sống cho con
    và thuộc về con từ lâu. Amen.

    Về mục lục

    .

    HÃY TRÁNH XA DỊP TỘI

    Lm. Vũ Xuân Hạnh

    Một đàng Chúa Giêsu đưa ra những hình phạt rất quyết liệt và kinh khủng dành cho những ai phạm tội: “Nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn. Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn có đủ hai tay mà phải vào hỏa ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn có đủ hai chân mà phải ném xuống hỏa ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào Nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hỏa ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt”. Chúa không nói là tội gì sẽ xử như thế nào, không hề phân biệt mức độ của tội và hình phạt dành cho tội, mà chỉ nói một cách quá chung chung. Hình như cứ có tội là phạt và chi thể nào làm cớ cho ta phạm tội, bất luận là tội gì, cần phải loại trừ chi thể ấy? Khi nói những lời như thế, xem ra Lời của Chúa không chỉ quyết liệt mà còn độc ác?

    Dù Chúa dạy như thế, nhưng trong thực tế, Giáo Hột chẳng bao giờ thực hiện. Suy nghĩ xa hơn một chút, ta thử tưởng tượng mà xem, nếu Giáo Hội sử dụng hình phạt dành cho tội như Chúa đã dạy, sẽ xảy ra hai tường hợp: Trường hợp 1: Thế giới này sẽ có một Giáo Hội bi đát, khủng khiếp và rùng rợn không thể tưởng tượng: một Giáo Hội toàn là những người bị thương, bị tật, bị què, bị cụt…, vì không ai là không phạm tội, và phạm tội rất nhiều lần trong suốt cuộc đời của mình. Trường hợp 2: Giáo Hội sẽ không tồn tại, vì không có người. Chắc chắn không ai dám gia nhập vào một Giáo Hội tàn nhẫn như thế. Chẳng những không bao giờ thực hiện những điều ấy, mà Giáo Hội còn dạy những điều ngược lại, ngược hoàn toàn. Sách Giáo lý Công giáo của Giáo Hội đòi phải “Tôn trọng sự toàn vẹn của thân thể”. Sách Giáo lý cho biết: “…Tra tấn thể xác hay tinh thần để điều tra, để trừng phạt tội phạm, đe dọa đối phương, để trả thù, là điều nghịch với sự tôn trọng con người và phẩm giá con người”.

    Ngoài những trường hợp trị liệu, việc cố tình cắt bỏ, hủy hoại hoặc triệt sản, thực hiện trên những người vô tội đều nghịch với luật luân lý” (GLCG 2297).

    Ta vẫn biết Lời Chúa là sự thật, là Lời ban sự sống, nhưng trong trường hợp này ta phải hiểu thế nào? Giáo Hội và Chúa Giêsu, ai đúng, ai sai?

    Thực ra chẳng ai sai hết. Lời Chúa mãi mãi vẫn là Lời chân lý, Lời ban sự sống. Ngày nào Giáo Hội còn tin Chúa Kitô, còn nhận Chúa Kitô làm Cứu Chúa của mình, ngày ấy Giáo Hội vẫn phải sống và rao giảng Lời Chúa Kitô, và giáo lý của Giáo Hội vẫn phải phù hợp thánh ý Chúa. Về phía Chúa Giêsu, khi nói những lời xem ra quá sức quyết liệt và nặng nề như thế, Người muốn cho thấy sự trầm trọng của gương xấu, của chước cám dỗ, của những dịp tội, và xác định mối nguy hại có khi không nhỏ mà nó gây ra cho mỗi người. Qua đó, Người cho thấy cuộc chiến chống lại dịp tội, chống lại chước cám dỗ là một cuộc chiến lớn. Cuộc chiến ấy đòi hỏi một thái độ dứt khoát triệt để; một sự từ bỏ đến mức như không còn kể đến chi thể của mình; một sự hy sinh chẳng những không khoan nhượng nhưng có khi còn thiệt thòi, còn đau xót, còn cảm thấy mất mát về mặt vật chất và thân xác. Tất cả những điều ấy là để chiếm lấy đời sống vĩnh cửu. Nói như thế là hiểu nghĩa bóng. Còn hiểu nghĩa đen: giá trị của sự sống vĩnh cửu quan trọng cho đến mức, nếu cần phải đánh đổi, ta sẵn sàng chấp nhận hy sinh chính bản thân mình để giữ lấy sự sống ấy.

    Ngoài ra, ta còn phải lưu ý: Lời Chúa Giêsu là lối nói cụ thể, thường gây cho người nghe cảm giác nghịch lý. Vì thật vô ích, khi phải tìm xem những tội nào có nguy cơ xuất phát từ bàn tay, bàn chân hay con mắt… Mặt khác, dù có cắt bỏ bất cứ một phần chi thể nào, hình như đều là sự vô ích, vì như thế chưa hẵn là đã loại trừ được nguy cơ phạm tội. Vì người ta phạm tội đâu phải chỉ do bàn tay, bàn chân hay đôi mắt, nhưng là cả con người của mình từ suy nghĩ, lời nói đến hành động. Nói cho cùng, sự trừ tuyệt đối với sự dữ là một đòi hỏi đắt giá. Qua đó Chúa Giêsu cho thấy giá trị tuyệt đối của sự sống, của hạnh phúc Nước Trời. Đó cũng là tiêu chuẩn vượt trên mọi tiêu chuẩn mà con người phải chọn lựa.

    Bạn thân mến, người ta kể rằng, trong một khu rừng nọ có một con thỏ cái sống bên cạnh một đàng thỏ con. Ngày nọ, khi các con đã lớn, thỏ mẹ dẫn chúng ra đồng tìm mồi. Bỗng dưng từ đàng xa, xuất hiện một tiếng rống nghe rất dữ tợn. Tức khắc, gương mặt thỏ mẹ hiện rõ nét lo sợ. Nó vội làm hiệu cho các con về hang ẩn núp. Tuy nhiên, có một chú thỏ con tò mò và hiếu kỳ, muốn biết tiếng rống to đó là gì. Nó tách khỏi đàng, trốn mẹ, trốn anh em nấn ná ở lại để xem cho bằng được. Tiếng rống mỗi lúc một gần hơn. Chẳng bao lâu sau, từ phía tiếng rống ấy, không chỉ có tiếng rống mà còn xuất hiện một con hổ to. Thỏ con không biết là hổ nhưng bắt đầu cảm thấy sợ, khi chứng kiến một bộ mặt đầy sát khí, mắt và miệng thật to, hàm răng lởm chởm và những chiếc răng nanh thật dài trông khủng khiếp. Thỏ con quá sợ hãi, co chân chạy thật nhanh. Nhưng chính lúc thỏ con di động, là lúc nó gây sự chú ý cho con hổ. Chỉ cần một cú nhảy thật nhanh của con hổ độc ác, thỏ con đã nằm gọn trong miệng nó.

    Hôm nay Chúa nói với tôi và bạn: Nếu tay hay chân, hay mắt ta nên dịp tội thì hãy chặt, hãy móc nó mà quăng đi, có khác nào Chúa muốn ta hãy tránh xa dịp tội! Vì thế, bạn và tôi đừng bao giờ liều thân nhảy vào dịp tội, đừng bao giờ tò mò đối với những hoàn cảnh nguy hại đến đức tin, đúng hơn đến sự sống vĩnh cửu của mình. Chú thỏ con tội nghiệp kia chỉ vì tò mò muốn biết tiếng rống khủng khiếp là gì, đã không tránh xa hoàn cảnh có thể đưa tới cái chết. Không tránh xa sự nguy hiểm, thỏ con đã tự nộp mình cho sự chết. Bạn và tôi, nếu không lánh xa dịp tội, nếu không ý thức mình yếu đuối, mỏng dòn, sự sa ngã do cố ý là điều khó tránh khỏi. Tội là sự chết của tâm hồn. Tránh xa dịp tội là tự cứu mình thoát chết.

    Bên cạnh nỗ lực của bản thân để không phạm tội, chúng ta không được phép quên một nguyên tắc khó lòng thay đổi: Đời sống cầu nguyện. Con người không thể làm gì mà không cần đến ơn Chúa. Điều ấy càng đúng đối với đời sống thiêng liêng của ta. Bởi thế, lãnh bí tích; đọc kinh cầu nguyện; thánh lễ; đọc, lắng nghe và suy niệm Lời Chúa… là những phương tiện giúp ta thêm mạnh mẽ để chống lại chước cám dỗ, và cũng để ta luôn tắm mình trong ơn Chúa. Hãy nhớ rằng, khi gần Chúa ta sẽ dễ xa cách tội. Nhưng nếu để mình xa Chúa, ta sẽ dễ gần tội.

    Về mục lục

    .

    HÃY BIẾT CHỌN LỰA CAN ĐẢM VÌ ĐỜI VĨNH CỬU

    Lm. Phêrô Lê văn Chính

              Chọn lựa can đảm và biết hy sinh trong đời sống hiện tại nhằm hướng tới đời sống vĩnh cửu mai sau là viễn tượng của người Kitô hữu theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu huấn luyện các môn đệ để các ngài biết cách sống của người môn đệ cũng như biết chọn lựa can đảm trong hành động hằng ngày để hướng về tương lai của đời vĩnh cửu. Ngay từ bài đọc thứ nhất từ sách Dân số, chính Môisen là người phải sửa dạy thái độ của Giôsuê là người phục vụ lâu năm của mình. Khi Thiên Chúa ban phát Thánh Thần cho Môisen thì người cũng lấy một phần Thánh Thần ban cho Môisen để ban cho bảy mươi kỳ mục khác khiến cho họ cũng nói tiên tri. Lúc bấy giờ có hai người không ở cùng với nhóm bảy mươi trong lều, nhưng vốn có ở trong danh sách với bảy mươi kỳ mục và hiện đang ở trong trại, thì Thánh Thần cũng được ban cho họ, và họ cũng nói tiên tri khiến cho Giôsuê sinh lòng ghen tức và báo cáo sự việc cho Môisen khiến ông phải nhắc nhở Giôsuê không được ghen tức với người khác vì việc ban Thánh Thần là tùy thuộc quyền của Thiên Chúa để mời gọi những người khác nhau cùng tham dự vào công việc theo thánh ý Thiên Chúa.

              Trong câu chuyện Tin mừng theo thánh Marcô, hoàn cảnh xảy ra cũng khá tương tự. Gioan là một môn đệ của Chúa Giêsu, theo tâm lý bình thường, ông báo cáo với thầy có kẻ không thuộc nhóm nhưng lại làm phép lạ nhân danh thầy, Gioan muốn xin phép thầy để đi ngăn cản không cho người này làm phép lạ. Chúa Giêsu đã ngăn không cho Gioan ứng xử hẹp hòi như vậy: “Đừng ngăn cản anh ta, không có ai làm phép lạ nhân danh thầy mà lại nói xấu thầy được. Ai không chống lại chúng ta là cùng thuận với chúng ta”. Tinh thần phe nhóm hẹp hòi vốn là tinh thần mà người ta tìm cách bảo vệ. Trong hoàn cảnh một Giáo hội đang phải chịu nhiều bách hại, thì các kitô hữu càng dễ  co cụm hơn nữa. Lời Chúa Giêsu có một tầm quan trong đặc biệt, thúc đẩy các môn đệ có một tinh thần cởi mở nhiều hơn để có thể gặp gỡ với những người, dù họ thuộc nhóm người nào đi nữa. Tiêu chuẩn để đánh giá đó là những việc làm tốt mà những người khác làm được nhân danh Chúa Giêsu. Có thể nói có hai dạng môn đệ của Chúa Giêsu. Những người tuy không thuộc nhóm các môn đệ của người cách rõ rệt, nhưng lại làm được những phép lạ nhân danh người, và những người thuộc cùng nhóm những môn đệ của Chúa Giêsu. Vì thế, thách đố của các môn đệ của thầy Giêsu là họ càng phải hành động như chính thầy của mình hơn nữa, họ cũng phải sống những giá trị như thầy của họ đã sống và làm những điều tốt đẹp cho người khác như thầy của họ đã làm.  Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ hiểu được giá trị lớn lao của một việc làm bác ái nhỏ bé của bất kỳ người nào làm cho các môn đệ của người, dù là một ly nước lả, thì họ cũng không mất phần thưởng trong ngày phán xét. Trong một thế giới có nhiều thù hận, một việc làm bác ái nhỏ bé của bất kỳ ai cho một người môn đệ của Chúa Giêsu thì được chính người đón nhận và vì thế người môn đệ của thầy Giêsu phải biết vượt qua những hạn hẹp phe nhóm của mình để sống chính tinh thần của thầy.

              Chúa Giêsu còn cảnh giác nguy cơ của việc làm gương xấu, nhất là làm gương xấu cho các môn đệ Chúa Giêsu là những người đức tin còn yếu ớt, mới bắt đầu tin vào người:”Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đâyphải sa ngã, thì thà buộc cối đá vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” . Vì thế mỗi người, khi sống với những người khác, cần phải cẩn thận cân nhắc những việc làm của mình, xem việc làm của mình có gây ảnh hưởng hay tác hại gì đến những anh em chung quanh không. Đồng thời cũng phải cảnh giác xem những việc làm nào của mình là nguyên cớ cho chính mình bị hư mất không. Cần phải can đảm loại bỏ những nguyên cớ của việc làm xấu này với bất cứ giá nào, ngay cả khi phải hy sinh chính một phần thân thể của mình : “ Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi, thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hỏa ngục; nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi, thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn có đủ hai chân mà phải bị ném vào hỏa ngục; nếu mắt anh làm cớ cho anh vấp ngã, thì móc nó đi, thà chột một mắt mà được vào cõi sống còn hơn có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt”. Hỏa ngục là dịch từ “Gêhenna” là một địa danh nằm phía nam của ngọn đồi Giêrusalem. Vào thời Chúa Giêsu, ngọn đồi này được dùng làm nơi đổ rác của thành Giêrusalem. Nơi đây tập trung mọi thứ rác thải, kể cả xác loài động vật và các loại hoa màu để rồi các loài giòi bọ tha hồ rúc rỉa. Nơi đây người ta thường phải đốt để thiêu hủy và vào thời xảy ra nạn dịch thì còn chứa cả những xác người.

    Những lời cảnh giác này thật là nghiêm trọng. Mắt, tay, chân đều là những phần cơ thể quan trọng và cần thiết cho mọi hoạt động của con người. Vì thế nói đến mắt, tay, chân cũng là nói đến con người toàn vẹn. Phải có can đảm loại bỏ những nguyên nhân gây cớ phạm tội để cứu được cuộc sống đời đời của mình. Đây là những lời lẽ rất cứng rắn, nghiêm trọng cảnh giác về cái chết của tội nhân với sự hư nát đời đời, bị giòi bọ đục khoét và lửa thiêu đốt đời đời, nhằm thúc đẩy người môn đệ Chúa Giêsu biết mạnh mẽ quả quyết xa lánh tội lỗi và nguyên nhân tội lỗi để bảo vệ cho mình được hạnh phúc sự sống muôn đời. Đây chính là thành công hay thất bại của đời người. Nếu người ta có tất cả : hai tay, hai chân hay hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục thì cũng bằng không. Cuộc sống hạnh phúc đời đời đổi lại với sự đau khổ tủi nhục muôn đời quả là điều đáng cho chúng ta phải chọn lựa cương quyết và hy sinh biết chừng nào. Làm môn đệ của Chúa Giêsu không phải chỉ là việc mình thuộc về nhóm này hay nhóm khác, mà chính là sống và hành động như Chúa Giêsu đã làm. Người đã dùng những lời nói rất mạnh mẽ như cụt tay, cụt chân, mất một mắt để cảnh giác chúng ta phải biết loại bỏ những gì không phù hợp với những đòi hỏi của hạnh phúc vĩnh cửu. Bất kỳ hành động nào, nguyên nhân nào gây cho mình hay gây cho người khác phạm tội thì đều cần phải loại bỏ. Mỗi người được mời gọi can đảm loại trừ những nguyên nhân của tội lỗi nơi chính mình và nơi người khác để được hưởng sự sống đời đời. Đó là một sự chọn lựa quyết định không chút khoan nhượng vì hạnh phúc đời đời vô cùng lớn lao.

    Về mục lục

    .

    GIẢ THUYẾT

    Trầm Thiên Thu

    Giả thuyết khác giả thiết. Giả thuyết là sự giải thích về một hiện tượng nào đó. Để giả thuyết đó có tính khoa học, nó cần được kiểm chứng. Các giả thuyết khoa học thường được các nhà khoa học dựa vào những quan sát trước đó mà không thể giải thích được với các lý thuyết khoa học hiện có. Giả thuyết cũng được gọi là thuyết, học thuyết, có khi là chủ nghĩa, còn giả thiết chỉ là sự giả định, ví dụ.

    Thuyết đa nguyên, thuyết nhị nguyên, thuyết vô ngã, thuyết duy ngã, thuyết duy vật, thuyết duy tâm, thuyết định mệnh, thuyết biện minh, thuyết hư vô, thuyết tiến hóa,… Chuyên gia vẽ bản đồ Andreas Cellarius (1595-1665) nổi tiếng với thuyết Harmonia Macrocosmica, được Johannes Janssonius xuất bản năm 1660 tại Amsterdam. Thuyết này mô tả chuyển động của trái đất theo quỹ đạo ngoại luân.

    Giả thuyết có thể đúng, cũng có thể sai. Không sờ được nhưng có giả thuyết đáng tin và có giả thuyết không đáng tin. Thật và giả khó phân định – nhất là trong xã hội ngày nay. Có những sự giả dối mà người ta tin lắm, nhưng có những sự thật minh nhiên mà người ta lại không muốn tin. Người ta nói: “Lời thật mất lòng”. Thật vậy, thuận ngôn gây nghịch nhĩ. Thế nên ít có người muốn nghe lời thật – lời của sự thật, lời của chân lý.

    Thạt chí lý khi tiền nhân nói: “Mật ngọt nên mới chết ruồi – Những nơi cay đắng là nơi thật thà”. Đúng vậy, người NỊNH ta là kẻ thù của ta, người KHEN ta mà khen đúng là bạn của ta, người CHÊ ta mới là thầy của ta. Khó nghe quá! Khó chịu lắm! Thế nhưng đó lại là sự thật. Sự phục thiện rất quan trọng – vì ai cũng sai lầm đầy mình. Phải tâm niệm “mất lòng trước, được lòng sau” thì mới là người chính trực công minh – loại người được Thiên Chúa yêu quý (x. G 36:7; Tv 34:16; Cn 2:8; Cn 3:33).

    Thiên Chúa không tạo nên sự ác, mà sinh ra do thói kiêu ngạo của con người. Do đó, ác nhân càng ngày càng hoành hành, tự tung tự tác, tại ra điều xấu khắp nơi, như Thánh Phaolô đã nói: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7). Thậm chí chỉ nhìn thấy “ngứa mắt” mà kẻ thủ ác không ngại rút dao lụi cho một cú, dù người bị hại không hề có lỗi gì. Đúng như tiền nhân nói: “Nhân dục thắng, thiên lý vong” [Ham muốn của con người thắng thì lẽ công (trời) sẽ bị mất]. Tương tự, ngạn ngữ Trung quốc nói: “Con cưng chiều khó giữ cơ nghiệp, vợ quay quắt khó giữ cửa nhà”. Luôn có tính liên đới, và cái gì cũng có hệ lụy tất yếu: Gia luật bất minh, con cái hư hỏng; quốc pháp bất nghiêm, đất nước suy vong. Hệ lụy đó không chỉ ở đời thường, mà cả trong Giáo Hội hữu hình trên thế gian này.

    1. Ý NGHĨ TRỰC CHỈ LỜI NÓI

    Như một phản ứng hóa học – A tác dụng với B sinh ra C. Tư tưởng, lời nói và hành động cũng “phản ứng” lẫn nhau. Về sinh học, vì các phản ứng não quá nhanh, nhanh như chớp, chúng ta không thể nhận ra điều đó, nhưng quả thật có phản ứng như vậy!

    Kể lại chuyện xưa, sách Dân Số cho biết: Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Môsê. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục. Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn, nhưng việc đó không tái diễn nữa. Bấy giờ có hai người ở lại trong trại, một người tên là En-đát, một người tên là Mê-đát. Các ông đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng đã không đến Lều. Thần Khí đậu xuống trên các ông và các ông bắt đầu phát ngôn trong trại.

    Khi đó có một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Môsê: “Ông En-đát và ông Mê-đát đang phát ngôn trong trại!” (Ds 11:27). Ông Giôsuê, con ông Nun, từng theo hầu ông Môsê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Môsê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!” (Ds 11:28). Nhưng ông Môsê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” (Ds 11:29). Ái chà, sự đời mệt dữ nghen!

    Lời nói xuất ra từ lối suy nghĩ, nó có thể cho biết tính cách một con người, thậm chí có thể tạo nên số phận: “VINH hay NHỤC đều ở LỜI NÓI cả, và CÁI LƯỠI chính là MỐI HOẠ cho con người” (Hc 5:13). Lời nói có thể chỉ như “gió bay”, nhưng lời nói vẫn quan trọng: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”. Một lời nói ra, bốn ngựa cũng không đuổi kịp. Thế mà người ta không thích “uốn lưỡi 7 lần” nên mới “nói nhịu” hoặc “lỡ lời”. Và rồi phải ân hận và thở dài não nuột!

    Sự thật là chính Thần Khí mới tạo nên sự sống, vì có sống thì mới nói được. Mọi người đều được Thiên Chúa trao trách nhiệm làm ngôn sứ cho Ngài, nghĩa là ai cũng phải dùng lời nói mà tuyên xưng và loan báo Đấng nhân lành và thương xót.

    Xã hội đời hay đạo cũng có luật. Luật vị nhân sinh, nhân sinh bất vị luật. Tại sao? Luật có sau con người nên luật phải vì con người, chứ con người không lệ thuộc luật. Bởi con người không còn “nhân chi sơ tính bổn thiện” nên phải có luật – ví như hàm thiếc tra vào mõm con ngựa chứng, nếu không thì mọi tôn ti trật tự đều bị đảo lộn. Thật vậy: “Ở đâu KHÔNG có Lề Luật thì cũng KHÔNG có vi phạm” (Rm 4:15). Có nhiều thứ luật: Luật giao tế, luật kinh tế, luật kinh doanh, luật quốc gia, luật quốc tế, luật xã hội, luật tôn giáo, luật đoàn thể, luật gia đình,… Ngay cả chuyện giản dị như ăn và nói cũng có luật. Nhưng tất cả đều phải dựa vào Luật Chúa, gọi là Thánh Luật, vì Chúa Giêsu xác định: “Trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:18).

    Ý Chúa là Thánh Luật, Ý Chúa luôn tốt lành. Thánh Lm Arnold Janssen (1837-1909, sáng lập Dòng Ngôi Lời – SVD, Societas Verbi Divini) xác định: “Mặc dù ý Chúa KHÔNG PHÙ HỢP với bạn thì vẫn LUÔN ÍCH LỢI cho bạn”. Thật vậy, Thánh Vịnh gia cho biết: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8). Luật đời có thể khiến người ta khổ sở, nhưng Luật Chúa luôn làm người ta hạnh phúc. Ai yêu mến Chúa thì chuyên chăm thi hành Thánh Luật, luôn miệt mài tìm kiếm Ý Chúa để tuân phục: “Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh” (Tv 19:10).

    Đại diện chúng ta, Thánh Vịnh gia thân thưa: “Tôi tớ Ngài đây xin ra công học hỏi; ai giữ những điều này sẽ được nhiều lợi ích. Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay. Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ nên vẹn toàn không còn vương trọng tội” (Tv 19:12-14). Chúng ta chỉ là những tội nhân, thế nên rất cần Luật Chúa để cải thiện cách sống, và đó mới là hạnh phúc đích thực mà các tôi trung của Chúa hằng mơ ước: “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp Chúa Trời” (Tv 119:1).

    Thánh Faustina phân tích: “Bản chất của nhân đức là Ý Chúa. Ai trung tín thực hiện Ý Chúa thì cũng thực hành các nhân đức” (Nhật Ký, số 678). Thánh Phaolô khuyên “đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5:17), và quan trọng là luôn “xin cho ý Chúa được thể hiện!” (Cv 21:14), chứ không thỏa ý mình.

    1. LỜI NÓI ĐÒI HỎI HÀNH ĐỘNG

    Chắc hẳn ai cũng có kinh nghiệm về hệ lụy của lời nói và hành động. Đó là thứ “kinh nghiệm xương máu” khiến người ta nên khôn. Không ngã làm sau biết đau? Đó là tất yếu. Kinh nghiệm không bao giờ có giá rẻ!

    Cơ thể con người có những cơ phận gồm hai phần, chúng ta gọi là bên PHẢI và bên TRÁI (não, mắt, mũi, tai, tay, chân, thận). Thật thú vị! Cuộc sống cũng luôn có cái này và cái kia – ĐÚNG và SAI. Thánh Giacôbê khuyên một lèo: “Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các người hãy than van rên rỉ về những tai hoạ sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát, quần áo của các người đã bị mối ăn. Vàng bạc của các người đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người; nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các người. Các người đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các người đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người” (Gc 5:4a). Vì thế, “tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh” (Gc 5:4b).

    Ôi chao, thánh nhân phân tích quá tỉ mỉ, quá rõ ràng, không hề bóng gió. Những lời đó hẳn chúng ta cảm thấy “chói tai” khi nghe, hoặc “xốn mắt” khi đọc. Sự thật mất lòng là thế đấy! Và ngài còn nói thêm: “Trên cõi đất này, các người đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các người đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người” (Gc 5:5-6). Nhức nhối! Càng đọc/nghe, chúng ta càng thấy hổ thẹn với lương tâm của chính mình. Dù cho chúng ta có đấm ngực bao nhiêu lần mà không thay đổi cách sống, không bớt hung ác mà thêm tốt lành, không bớt ngu mà thêm khôn, thì cũng chỉ vô ích mà thôi!

    Trình thuật Mc 9:38-48 cho biết rằng… Một hôm, ông Gioan tâm sự với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9:38). Đức Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39-40). Ôi chao, Sư Phụ Giêsu dễ ghét quá đi thôi! “Không chống lại là ủng hộ”, hay quá là hay, thích ơi là thích, bởi vì như vậy là Ngài chẳng đòi hỏi chi quá “trình độ” của chúng ta.

    Thật vậy, Ngài không đòi hỏi điều chi lớn lao, thậm chí chỉ một hành động nhỏ cũng được Ngài ghi công: “Ai cho anh em uống MỘT CHÉN NƯỚC vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ KHÔNG MẤT PHẦN THƯỞNG đâu” (Mc 9:41). Ôi, quá đã! Cái giả thuyết Ngài đưa ra thật độc đáo, và dù là một giả thuyết nhưng hoàn toàn chắc chắn. Tuy nhiên, Ngài cũng thẳng thắn cảnh báo: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9:42). Cách so sánh rất thật, tất nhiên cũng rất… “chói tai”. Và chắc là có nhiều người cảm thấy… khó chịu!

    Cũng chưa hết, chưa xong, Ngài còn tiếp tục so sánh cụ thể hơn: “Nếu tay anh LÀM CỚ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh LÀM CỚ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh LÀM CỚ cho anh sa ngã thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9:43-48). Nghe mà giật thót mình như sét đánh: LÀM CỚ. Nhưng đó là nghiêm luật của Chúa, không bao giờ lay chuyển. Ngài là Đấng trung tín và công minh, hễ NÓI là LÀM. Chúng ta không thể biện minh bằng bất kỳ lý do gì – dù chúng ta cho là chính đáng!

    Ấy thế mà khi cảm thấy (nghĩa là chưa xác đáng) ai không “hợp ý” mình hoặc không theo phe mình, chúng ta liền tìm mọi cách gièm pha, lườm nguýt, “hạ bệ”, hoặc trù dập. Tất nhiên Thiên Chúa biết rõ chúng ta là gìthế nào – chỉ là cát bụi và tội lỗi, ích kỷ và kiêu ngạo, thế mà “chảnh” lắm. Tuy nhiên, chúng ta đừng vội thất vọng, mà hãy luôn nhớ rằng lòng thương xót của Ngài còn lớn hơn mọi tội lỗi của cả thế gian này, như Thánh Giám mục Phanxicô Salê nói: “Đừng bao giờ lo buồn vì sự bất toàn của mình, nhưng phải luôn luôn can đảm đứng dậy sau khi vấp ngã”. Vế thứ hai trong câu nói của thánh nhân rất quan trọng. Có thể có lúc chúng ta cảm thấy rất thất vọng về chính mình, nhưng tuyệt đối là ĐỪNG BAO GIỜ TUYỆT VỌNG, tức là CỨ VỮNG TIN vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

    Hãy luôn ghi nhớ lời minh định của Thiên Chúa: “Tôi muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9:13). Chúa Giêsu đến thế gian là để TÌM và CỨU những gì đã mất (Lc 19:10). Đó là niềm hy vọng và niềm an ủi đối với chúng ta. Ngài không chỉ muốn chúng ta sống mà còn phải được sống dồi dào (Ga 10:10). Nhưng Ngài cũng bắt chúng ta tự vấn lương tâm: “Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội” (Mt 12:7).

    KIÊU NGẠO là nền tảng của Tòa-Nhà-Cố-Chấp. Đó là tội “siêu trọng”, tội nặng nhất, tội phạm đến Chúa Thánh Thần: “Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha. Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12:31-32).

    Ôi, thật đáng sợ, bởi vì bụng cứ bảo dạ: “Nếu con có tội thì khốn cho con! Mà nếu có công chính, con cũng chẳng dám ngẩng đầu: Tủi hổ đầy tràn, lỗi lầm chồng chất” (G 10:15).

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con đủ thông minh để có thể tự đặt vấn đề với chính mình, luôn biết cẩn trọng đối với mọi thứ ngay từ trong ý nghĩ, để chúng con miệt mài tìm kiếm Thánh Ý Ngài và hết dạ thi hành Thánh Luật. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    CHIA SẺ YÊU THƯƠNG

    Anna Cỏ May

    Trước việc một người không thuộc nhóm Mười Hai, cũng không phải là môn đệ Chúa Giê-su  đã lấy Danh Thầy Giê-su trừ quỷ, các môn đệ đều tỏ ra phản đối. Ông Gio-an thay mặt anh em nói với Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9,38). Có lẽ, ông Gio-an nghĩ rằng chỉ những ai theo Thầy như các ông mới được lấy Danh Thầy làm phép lạ, chỉ những ai được Thầy ban mới có quyền làm (x.Lc 9,49). Ông cũng là một người đơn sơ, luôn nói tất cả những sự hiểu biết của mình với Thầy. Khi nghe ông nói, Chúa Giê-su liền bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy” (Mc 3,39). Quả thực, có những người không Rửa tội, nhưng không có nghĩa là họ không tin Chúa. Họ tin vào tình yêu của Chúa, tin vào quyền năng của Chúa. Họ đã được nghe Chúa Giê-su giảng dạy. Lời Chúa đã cảm hóa trái tim họ. Họ còn được chứng kiến nhiều phép lạ của Chúa Giê-su. Được nghe lời và chứng kiến việc Chúa Giê-su làm, họ đã tin. Trái tim họ đã biết rung động bởi tình yêu của Chúa Giê-su, cảm thông trước những người bị quỷ ám. Trong tâm hồn họ đang bừng lên một sức sống mới.

    Việc ông Gio-an ngăn cản họ trừ quỷ thì có nghĩa ông đã cấm cản họ sống niềm tin của mình, dập tắt ngọn lửa Đức tin trong lòng họ. Đây cũng là lối hành xử của những ai sống tinh thần phe nhóm. Trong một nhóm thường không muốn chia sẻ bí quyết thành công cho nhóm khác, cũng không muốn nhóm khác tốt hơn hay bằng nhóm mình. Bởi vậy, Chúa Giê-su đã dùng những lời giảng dạy yêu thương mà nói với các môn đệ (x.Mc 42-48).

    Ngày nay, có nhiều người ngoại đạo vẫn đến tìm các Thánh để xin ơn. Họ mang trong lòng một niềm tin mạnh mẽ vào vị Thánh họ đến cầu khẩn. Phần chúng ta, chúng ta đến với Chúa với một niềm tin như thế nào? Khi thấy một ai tốt lành thánh thiện, chúng ta có phản ứng gì? Chúng ta có chia sẻ niềm tin đơn sơ của họ và giúp họ không? Liệu chúng ta có ích kỷ, hẹp hòi mà từ chối họ để họ phải ngậm ngùi thốt lên “người có đạo mà vậy đó”. Vậy chúng ta đã đang có sống tâm tình của Chúa: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,40)?

    Lạy Chúa, ngày hôm nay còn rất nhiều người chưa nhận biết Chúa. Xin cho chúng con cùng chia sẻ yêu thương, giúp đỡ mọi người đến và nhận biết Chúa bằng chính cuộc sống mỗi ngày. Amen.

    Về mục lục

    .

    THÓI GHEN TỴ

    Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

    Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Con gà tức nhau tiếng gáy”, để chỉ những người ghen tỵ về sự thành công của người khác hoặc khi thấy người khác trổi vượt hơn mình. Con gà trống khi nghe con gà bên cạnh gáy, nó tỏ ra tức tối, lồng lộn và muốn xông vào đá nhau để thể hiện sức mạnh áp đảo của mình. Trong cuộc sống, có nhiều người cũng dễ dàng bộc lộ sự tức tối, ngông cuồng của mình như vậy khi thấy người khác hơn mình. Sự ghen tỵ được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, ví dụ như nói xấu, đặt điều cho người khác, tìm cách dìm họ xuống… Những người có quyền lực thì thể hiện sự ghen tỵ bằng cách tinh vi hơn khi tìm cách phá hoại sự thành công của người khác, trù dập đồng nghiệp khi thấy họ chạm đến sự thành công. Chúng ta cũng có thể thấy các biểu hiện đó nơi những người hoạt động chính trị như vua Saul trù dập Đavít khi ông được nhiều người ca tụng.

    Thói ghen tỵ không chỉ xảy ra trong đời sống xóm ngõ, xã hội, chính trị, mà còn xảy ra trong đời sống tôn giáo, nơi những con người được xem như đạo đức. Các bài đọc Chúa nhật hôm nay cảnh báo cho chúng ta điều đó. Vì, chính sự ghen tỵ sẽ dẫn đến chia rẽ và đổ vỡ trong cộng đoàn, gây thù hằn và bất an trong tâm hồn.

    Bài đọc một kể lại câu chuyện thời Xuất Hành: lúc bấy giờ Thiên Chúa truyền cho ông Môsê tuyển thêm bảy mươi vị kỳ lão trong dân để cộng tác với Môsê hướng dẫn dân Chúa. Ông Môsê đã quy tụ họ lại và cầu nguyện cho những người này. Sau khi cầu nguyện, Thần Khí của Thiên Chúa đã ngự xuống trên bảy mươi vị này và họ đã bắt đầu phát ngôn. Tuy nhiên, có hai người có tên trong danh sách, nhưng đã không đến tập họp, hai ông này ở lại lều, vậy mà hai ông cũng vẫn được Thần Khí tác động để phát ngôn như những người kia. Ông Giosuê lấy làm ghen tỵ, khó chịu nên đã đề nghị ông Môsê: “Xin thầy cấm hai ông đó và loại họ ra, vì hai ông ấy không đến tập họp mà vẫn đón nhận được Thần Khí”.Ông Giosuê tưởng rằng khi đề nghị như vậy, thì Môsê sẽ rút Thần Khi lại khỏi hai ông không đến tập trung, nhưng trái lại, Môsê đã không những không bực bội mà còn trách Giosuê: “Anh ghen giùm tôi làm gì? Tôi còn mong Thiên Chúa ban Thần Khí xuống trên toàn dân để mọi người đều được Thần Khí tác động mà nói lời của Thiên Chúa”.

    Câu chuyện cho thấy Ông Giôsuê có cái nhìn rất hẹp hòi, ông muốn thầy của ông là người độc quyền sở hữu Thần Khí và không ai có thể là ngôn sứ như thầy mình được. Đàng khác, ông cũng ghen tỵ cho chính mình, có lẽ vì ông nghĩ mình là học trò thân tín của Môsê mà mình còn chưa được đặc ân này, thì người khác không thể hơn ông được. Phản ứng của Giosuê cho thấy ông không muốn cho ai hơn ông trong thứ bậc, địa vị, vì lúc này ông đang là trợ tá cho ông Môsê. Phản ứng đó còn thể hiện tham vọng muốn độc quyền chiếm hữu Thiên Chúa và độc quyền trong sự thánh thiện. Môsê đã điều chỉnh lại suy nghĩ của Giosuê khi nói với ông: “Anh đừng ghen tỵ, tôi còn muốn xin Chúa ban Thần Khí cho toàn dân chứ không chỉ riêng bảy mươi người này”.

    Tin Mừng hôm nay cũng kể về sự ghen tỵ của các tông đồ khi thấy những người khác hơn mình hay bằng mình: “Ông Gioan đến thưa với Chúa: Thưa Thầy, chúng con thấy có những người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản họ vì những người ấy không theo chúng ta”. Hành động của Gioan cho thấy các tông đồ vẫn để trong mình những suy nghĩ hết sức cục bộ, nhỏ nhen, hẹp hòi. Các ông tìm cách phản đối những ai không thuộc nhóm của mình, cho dù họ làm việc tốt nhân danh Chúa Giêsu. Các tông đồ muốn rằng, việc trừ quỷ, rao giảng là việc độc quyền của Chúa Giêsu và của nhóm các ông mà thôi. Các ông không chỉ ghen tức khi thấy những người khác trừ quỷ thành công, mà các ông còn tìm cách ngăn cản họ.

    Chúa Giêsu đã không chấp nhận suy nghĩ hẹp hòi ghen tỵ đó, Ngài nói với Gioan: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi liền sau đó có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Chúa Giêsu muốn các tông đồ phải có tâm hồn mở rộng để có thể đón nhận những người khác và những điều khác biệt, những người khác nhóm của mình. Vì, làm việc lành, kể cả việc nhân danh Thiên Chúa để làm điều tốt, không phải là việc độc quyền của một nhóm nào, nhưng là của tất cả mọi người. Chúa Giêsu còn đưa ra cho các ông một nguyên tắc rất rộng để đánh giá việc làm và thái độ của người khác: “Ai không chống lại ta, đó là kẻ ủng hộ ta”.

    Thói ghen tỵ giống như một thứ sâu mọt nguy hiểm, có nguy cơ làm mục rỗng cả một tập thể, biến một tập thể xa lìa việc đạo đức và rơi vào việc kèn cựa, bè phái, phe nhóm. Sự ghen tỵ biến nhiều người trở nên kiêu căng tự mãn cho mình là nhất, là đúng và không chấp nhận người khác và những ý kiến của họ; cảm thấy bực bội, tức tối khi thấy các nhóm khác thành công hơn nhóm mình. Cuối cùng dẫn đến việc nói xấu, nói hành, đặt điều bôi nhọ để hạ bệ lẫn nhau. Sự ghen tỵ còn đưa đến một sự tự mãn, cho mình là nhóm sở hữu Thiên Chúa, độc quyền làm những việc liên quan đến Thiên Chúa hoặc “sử dụng Thiên Chúa vào những việc cá nhân” (TH. Vui Mừng Hân Hoan)

    Để vượt qua sự hẹp hòi, ghen tỵ ích kỷ, phe nhóm này, Chúa Giêsu chỉ cho các tông đồ thấy: Tất cả mọi người đều được mời gọi làm việc nhân danh Chúa, cho dù một việc thật nhỏ bé tầm thường trước mắt thế gian, nhưng đối với Thiên Chúa, nó vẫn có giá trị và ý nghĩa lớn lao. Chúa Giêsu so sánh: “Ai cho anh em một chén nước lã vì danh Thầy, thì người đó cũng không mất phần thưởng đâu”. Nói cách khác, bất cứ ai, trong địa vị hoàn cảnh nào, dù làm những việc lớn lao hay nhỏ bé tầm thường nhân danh Thiên Chúa, thì được Chúa kể như là cộng tác viên của Chúa, là làm cho Chúa. Những việc làm yêu thương và bác ái là điều mọi người có thể làm và phải làm, chứ không phải là việc độc quyền của người nào, nhóm nào.

    Thưa quý OBACE, thói ghen tỵ dẫn đến chia rẽ bè phái hoặc dẫn đến sự kiêu ngạo, đang diễn ra trong đời sống cá nhân, cộng đoàn, trong giáo hội và xã hội. Trong nhiều gia đình, anh chị em ruột, có người thành công, người thất bại dẫn đến sự ghen tỵ ngay trong gia đình, anh em giận hờn không nhìn nhận nhau. Sự ghen tỵ cứ ngấm ngầm trong mỗi người khi thấy người khác may mắn thành công hơn mình dẫn đến nói xấu, nói hành, dèm pha, bôi nhọ người khác. Trong cuộc sống cá nhân cũng vậy, khi thấy người khác sử dụng điện thoại đẹp hơn, đắt tiền hơn mình, mình cũng cảm thấy bứt rứt khó chịu và thèm muốn mình phải hơn nó.

    Trong lối xóm càng dễ xảy ra chuyện ghen tỵ. Ví dụ: khi thấy nhà hàng xóm xây nhà cao hơn, to hơn, đẹp hơn nhà mình, từ đó tức tối, sinh ra kèn cựa chấp nhất nhau từng phân đất, từng xẻng hồ; khi thấy nhà bên cạnh có xe đẹp, máy móc thiết bị hơn nhà mình… cũng thấy khó chịu, chửi bới, xỏ xiên nhau, khiến cho cuộc sống lối xóm trở nên căng thẳng. Trong chính trị, sự ghen tị giữa cá nhân và phe nhóm dẫn đến các hình thức trù dập, loại trừ, thủ tiêu nhau. Trong sinh hoạt giữa các hội đoàn cũng thường xảy ra ghen tỵ. Ai cũng muốn hội đoàn mình phải được ưu tiên hơn các hội đoàn khác, phải được nhiều quyền lợi hơn, nhưng phải ít công tác hơn các hội đoàn khác. Các hình thức so đo phân bì giữa các hội đoàn là biểu hiện thói ghen tỵ. Ví dụ: tại sao hội này ít công tác mà hội của chúng con lại nhiều vậy? Tại sao giáo xứ chỉ cho ca đoàn thiếu nhi và GLV đi chơi mà không tổ chức cho hội đoàn của mình…vv

    Các hình thức ghen tỵ dù trong đời sống thường ngày hay nơi các sinh hoạt tôn giáo đều cho thấy sự hẹp hòi trong tâm hồn. Ai để trong mình sự ghen tỵ nhỏ nhen, thì không có chỗ cho Chúa và tình yêu thương cư ngụ. Thiên Chúa muốn cho mọi người được sống vui và hạnh phúc ngay ở đời này và Ngài còn ban nhiều ơn trợ giúp để mỗi người đạt được hạnh phúc đời đời. Xin Chúa cho chúng ta có một tấm lòng quảng đại như Chúa để biết đem niềm vui, hạnh phúc đến cho mọi người, và cho chúng ta cũng biết chia sẻ, cảm thông với mọi người như thánh Phaolô dạy: “biết vui với người vui và khóc với những ai đang khổ sầu”. Amen

    Về mục lục

    .

    TRÁNH TƯ CÁCH ĐẠO ĐỨC XẤU

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nguyên

    -Câu chuyện vui: “Có hai người đàn bà hàng xóm nói chuyện với nhau:
    Một bà nói: “Hôm qua, chồng tôi đi uống rượu say bí tỉ, ông ấy đang trên đường về nhà thì bị con chó ngoạm cho một phát.”
    Bà kia nói; “ Rõ khổ, thế ông ta có sao không?”
    Bà vợ trả lời: “Ông ấy không sao nhưng con chó thì bị ngộ độc và say rượu giờ chưa tỉnh.”
    (Ông chồng uống nhiều rượu đến độ chó cắn phải ông ta nó còn bị say.)
    -Đó là câu chuyện vui. Nhưng trong thực tế hằng ngày không ít những ông chồng bê bối rượu chè không kém người chồng trong câu chuyện. Ngoài ra họ còn những bê bối khác như: cờ bạc, trai gái, hút xách và những tính hư tật xấu ảnh hưởng tới chính bản thân họ và là gương mù cho người khác.
    -Trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói mạnh mẽ tới thói hư tật xấu, gương mù và hậu quả của nó: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.” Những thói hư tính xấu của những người có trách nhiệm ảnh hưởng không tốt, là gương mù làm mất Đức tin của người khác, nhất là những người mà Chúa Giêsu gọi là “bé mọn”. Do đó, Tin mừng hôm nay cũng nhắc tới tật xấu thường xảy ra. Đó là tính cục bộ và phe phái.
    -Người mang tính cục bộ và phe phái thường đi đến tranh dành, làm hại, chém giết những người không ở trong phe nhóm của mình, người đụng chạm đến quyền lợi của mình, người có nguy cơ cướp lấy địa vị của mình, người có ảnh hưởng tốt hơn mình, người tài ba hơn mình, người không cùng quan điểm với mình,v.v.. Cục bộ và phe phái xảy ra trong mọi lĩnh vực môi trường và hoàn cảnh sống của con người: chính tri, thương trường, công xưởng, nhà trường, và tôn giáo,v.v..
    -Trong bài đọc một trích sách Dân số, ông En-đát và Mê-đát không có mặt trong lúc ông Mô-sê “lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục”. Ông En-đát và Mê-đát phát ngôn thì có người nói với ông Mô-sê ngưng hai ông này lại. Nhưng ông Mô-sê đã nói: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ nói tiên tri!” Do đó, “Thần Khí không thể bị bóp nghẹn bởi giới hạn con người.”
    -Bài Tin mừng đã nhắc tới việc các Tông đồ ngăn cấm người nhân danh Chúa trừ quỷ, nhưng người này không thuộc trong nhóm họ. Chúa Giêsu đã dạy các ông: “Đừng ngăn cấm người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thày mà làm phét lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thày.” Cho nên hành động cục bộ và phe phái bóp nghẹt việc tốt lành của người khác, ngăn cấm việc rao giảng Tin mừng, là gương mù, gương xấu cho những người mà Chúa gọi là “người bé nhỏ đang tin” vào Chúa. Những người gây gương xấu cho người bé nhỏ này “phải cột cối đá vào cổ quăng xuống biển thì tốt hơn.”
    -Để thoát ra khỏi tình trạng gương xấu và tội lỗi, Chúa cũng dạy con người phải biết nhìn tới mục đích lớn hơn là phần rỗi. Mà muốn đạt được phần rỗi, con người phải có thái độ can đảm và cương quyết tránh tội và không làm gương xấu:
    -“Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ cả hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt.” Hiểu trực tiếp, tay là chính tay mình. Mỗi chúng ta tự đặt câu hỏi: Tay tôi làm điều gì xấu xa tội lỗi? Cách gián tiếp, tay cũng có thể được hiểu là những người thân thiết, anh chị em ngang hàng, hay bạn hữu, nếu họ nên dịp tội cho mình, thì mình cũng cần dứt khoát không theo.
    -“Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn có đủ cả hai chân mà phải sa hoả ngục.” Hiểu trực tiếp, chân là chân của chính mình, và tự hỏi: Chân tôi đã làm điều gì xấu xa tội lỗi? Cách gián tiếp, chân cũng có thể hiểu là những người dưới mình, nếu họ lái mình vào đường tội bởi lợi dụng, nịnh bợ, khéo chiều để đưa mình chìm sâu trong tội hay tật xấu, mình cũng phải dứt khoát thoát ra.
    -“ Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà vào nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném vào hoả ngục.” Mắt có thể là chính mắt của mình, và tự hỏi: Mắt tôi đã làm tôi xấu xa và tội lỗi gì? Mắt cũng có thể hiểu là những người trên mình, người dạy dỗ hướng dẫn mình. Nếu họ dạy sai tinh thần của Chúa và Giáo hội, sai với luân lý và tín lý, chúng ta cũng cần can đảm không theo.
    -Trong bài đọc hai, thánh Gia-cô-bê cảnh báo những người giàu chỉ biết dùng của cải phục vụ cho thói hư tật xấu, sống bê bối, hưởng thụ, sống sa hoa, buông theo khoái lạc, giết hại người công chính. Hành động này sẽ là bằng chính để kết án họ trong ngày phán xét.
    Xin cho mỗi người Tín hữu biết tránh tội và không làm gương xấu cho người khác.

    Về mục lục

    .

    ÓC CỤC BỘ, PHE NHÓM

    JM. Lam Thy

    Con người sống trên đời thường có khuynh hướng sống khép kín, cục bộ, phe nhóm và độc quyền. Đó là khuynh hướng đã ăn sâu vào lối sống của nhiều cá nhân cũng như nhiều tập thể. Bài đọc 1 hôm nay (CN XXVI.TN-B – Ds 11, 25-49) trình thuật câu chuyện xảy ra trong thời Cựu Ước: Khi dân Do Thái mới xuất hành khỏi Ai-cập, “ĐỨC CHÚA ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Mô-sê.” Người lấy Thần Khí từ ông Mô-sê và cho đậu trên 70 kỳ mục. Trong số đó, có hai người ở lại trong trại không đến Lều, một người tên là En-đát, một người tên là Mê-đát, cũng được Thần Khí đến ngự trên đầu, các ông liền phát ngôn trong trại. Thấy vậy, một thanh niên tới báo tin cho ông Mô-sê. Chứng kiến sự việc, ông Giô-suê con ông Nun, từng theo hầu ông Mô-sê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Mô-sê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!” Nhưng ông Mô-sê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!”

    Đến thời Tân Ước, khuynh hướng phe nhóm lại biểu lộ nơi các môn đệ Đức Giê-su (cụ thể là thánh Gio-an). Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXVI.TN-B – Mc 9, 38-43.45.47-48) trình thuật: Trên con đường loan báo Tin Mừng, các môn đệ thấy có những người không thuộc nhóm của mình lại nhân danh Thầy mà làm được những phép lạ như trừ quỉ, chữa bệnh… Các ông quan niệm chỉ những ai ở trong nhóm 12 như mình mới được quyền làm việc đó. Nếu có ai khác làm được điều ấy, thì ngay lập tức các ông cảm thấy bực bội vì đặc quyền của mình bị xâm phạm và tìm mọi cách ra tay ngăn cản, đồng thời báo cáo với Thầy: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” (Mc 9, 38). Điều đó khiến Đức Giê-su không hài lòng và dạy bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.” (Mc 9, 39-40).

    Đối với người ngoài nhóm, không thuộc “phe ta”, mà như thế thì còn có thể hiểu đuợc; nhưng đến như cùng trong một nhóm với nhau, mà cũng tức tối, ấy mới là có vấn đề. Vẫn còn đó câu chuyện 2 người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến xin được một người ngồi bên tả, một người ngồi bên hữu Đức Giê-su khi Người được vinh quang. Hành động đó khiến cho “Nghe vậy, mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó” (Mt 20, 20-24). Trước tình hình không được đẹp ấy của cả 2 phe (một bên thì muốn làm lớn, một bên thì tức tối, ghen tị), khiến Đức Giê-su phải gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”(Mt 20, 25-28).

    Sở dĩ có chuyện phe nhóm cũng chỉ vì lòng đố kỵ, ghen ghét phát sinh, “Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. ” (Gc 3, 16). Mà cũng chẳng cần phải chờ đến Tân Ước mới có chuyện ấy (Mt 20, 15; Mc 15, 10; Cv 5, 17; 1Cr 5, 3; 2Cr 12, 20 … ), ngay từ thời Cựu Ước cũng không thiếu chuyện ghen tương đố kỵ: Ngoài câu chuyện Giô-suê ghen tức khiến ngôn sứ Mô-sê phải nói thẳng: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!” (Ds 11, 26-29); còn biết bao chuyện đố kỵ khác (St 30, 2; Xh 20,5; Sm 18, 1-9; Cn 26, 26; Hc 40, 4; Is 11, 13…). Thật đúng là “Ai công hầu, ai khanh tướng, cuộc trần ai, ai dễ kém ai! – Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gâp thời thế, thế thời phải thế!” (Câu chuyện đối đáp giữa Đặng Trần Thường và Ngô Thời  Nhiệm, cuối đời hậu Lê + Chúa Trịnh, đầu đời Tây Sơn). Ôi chao! Đời mà! Đời là thế! (C’est la vie! That’s life!).

    Sự đố kỵ, ghen ghét biểu lộ tính ích kỷ, mà tính ích kỷ tạo nên óc bè phái. Rõ ràng óc bè phái bộc lộ khi con người sống với nhau thiếu tình thương yêu, và từ đó đi đến chỗ thù hằn, chém giết lẫn nhau cũng chẳng bao xa. Chiến tranh, khủng bố xảy ra vì óc bè phái, lòng đố kỵ, tính ích kỷ, là điều tất yếu. Với tôn giáo thì cũng đã có những cuộc chiến tranh tôn giáo xảy ra giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, thậm chỉ giữa hệ phái này với hệ phái khác trong cùng một tôn giáo (hệ phái nào cũng cho mình là đúng và muốn hành xử như một thứ độc quyền về đức tin), chẳng khác nào cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt” vì thiếu vắng tình thương. Nếu không thế, thì ca dao VN đã chẳng có câu: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Vì thế, nên ngay sau chuyện các môn đệ tức tối vì có kẻ không cùng “phe ta” mà dám nhân danh Thầy làm được phép lạ trừ quỷ, chữa bệnh; Đức Giê-su liền giảng dạy về đề tài “Bác ái đối với môn đệ” và “Đừng làm cớ cho người khác và cho mình sa ngã (Mc 9, 40-48). Cũng vậy, ngay sau chuyện 2 người con ông Dê-bê-đê đòi làm lớn, Đức Giê-su cũng giảng dạy đề tài “Ai làm lớn phải phục vụ” (Mt 20, 24-28).

    Chung quy, Đức Giê-su dư biết lòng dạ con người thường “trâu cột ghét trâu ăn”, “lươn ngắn lại chê trạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm” (ca dao, tục ngữ VN)… Vì thế, Người mới dạy “Đừng làm cớ cho người khác và cho mình sa ngã“, hoặc “Ai làm lớn phải phục vụ”, mọi người phải sống với nhau trong tình tương thân tương ái, yêu thương nhau như yêu chính bản thân mình, tất cả phải coi đức Mến là nhân đức hàng đầu (“Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” – 1Cr 13, 13). Khoan thử nói tới lãnh vực thần linh siêu hình; chỉ cần nhìn vào đời sống con người nơi xã hội trần thế cũng đã thấy nổi bật một chân lý “có yêu thì mới tin và càng tin thì càng yêu gấp bội”. Rõ ràng đức tin phải đi đôi với đức mến hoặc dẫn tới đức mến mới là đức tin đích thực. Đến như tin vào Chúa, thực hành Lời Chúa mà thiếu đức mến (tức là thực hành vì bổn phận, theo luật, thực hành cách miễn cưỡng, chiếu lệ) thì cũng vô dụng (“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” – 1Cr 13, 3).

    Trong Tông thư Cánh Cửa Đức Tin “Porta Fidei” (số 14), ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI cũng dạy: “Ðức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Ðức tin và đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình.” Từ đó, ĐTC kêu gọi cộng đồng tín hữu: “Năm Ðức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác ái.” Đức tin và đức mến là 2 nhân đức quấn quít lấy nhau, vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau như lời dạy của Thánh Phao-lô: “Trong Đức Ki-tô Giê-su, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái.” (Gl 5, 6); “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Ðức Ki-tô.” (Ep 3, 17-19). Chính vì thế, vào ngày chung thẩm, Thiên Chúa chỉ căn cứ trên những “chứng tá bác ái” mà con người có thực hiện được hay không nơi cuộc sống trần thế, để từ đó thẩm định công tội (xc Mt 25, 31-46).

    Vâng, có Mến yêu thì mới Tin và có thực sự Tin thì mới Cậy nhờ giúp đỡ. Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa ban cho con một đức Mến hoàn hảo như Chúa đã từng dạy con (“Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu anh em như yêu chính mình”). Con biết rằng chỉ khi nào con sống Lời Chúa một cách chân thật, chỉ khi nào con thực hành Lời Chúa bằng cả tâm trí và hành động trong cuộc sống rẫy đầy những đố kỵ, ghen ghét, bè phái, cục bộ, con mới đúng là môn đệ, là bạn hữu đích thực của Chúa (Ki-tô hữu), để được cùng với Chúa xứng đáng là con cái của Chúa Cha toàn năng hằng hữu. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

    .

    AI KHÔNG CHỐNG LẠI CHÚNG TA LÀ ỦNG HỘ CHÚNG TA

      Fx Đỗ Công Minh

    Bài Tin mừng Thánh Maccô  hôm nay cho chúng con hiểu thêm về Giáo lý của Đức Kitô khi Người đến trần gian để cứu độ con người. Chúa không hề lọai trừ ai, Người kêu gọi hết mọi người hãy trở nên hòan thiện như Cha ngự trên trời. Người đã từng khẳng định “ Mẹ và anh em tôi là nghững người nghe và làm theo ý Cha”, chính vì thế khi nghe ông Gioan báo :” Có những người lấy danh Thầy mà trừ quỉ, chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Đức Giêsu bảo :” Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta “.

    Đức Giêsu Kitô dạy cho ông Gioan và càc môn đệ mở rộng tâm hồn đón nhận mọi người đến với Tin Mừng (Đức Giêsu Kitô) bằng bất cứ con đường nào. Đạo là con đườngdẫn tới đích điểm là Đức Giêsu. Có những con đường quanh co thay vì thẳng tắp, có con đường nhỏ hẹp, nhưng cũng có những con đường chính, rộng thênh thang. Miễn là những con đường đó đều tôn trọng sự thật,sự sống thì đều là con đường của Đức Giêsu và hòa nhập vào Người.( LM NNS-Lời Chúa hằng ngày).

    Cũng trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu còn nhắc các tông đồ và cũng là nhắc cho mỗi người chúng con, hãy biết trân trọng những người thuộc về Đức Kitô, tức là những người được sai đi vì Tin mừng:” Ai cho anh em uống một chén nước lã vì lẽ anh em thuộc về Đức Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Mỗi người theo Chúaphải là những người xa lánh những thói xấu, không làm gương xấu cho kẻ khác. Người cương quyết hơn nữa khi khẳng định  thà cụt tay, cụt chân, chột mắt mà được vào nước trời còn hơn lành lặn mà phải vào hỏa ngục. Lời Chúa không hiểu theo nghĩa đen, Giáo hội cũng không có thái độ qúa khích dạy phải chặt tay chân, móc mắt  nhưng là cần cương quyết xa lánh dịp tội. Mạnh dạn tránh xa những cám dỗ thế gian, xác thịt. . .

    Lạy Chúa,

    Trong đời sống đạo của con hôm nay, nhiều lúc con trở thành những người theo phái tách biệt, coi rẻ người khác. Con chỉ muốn giữ đạo cho mình, cho nhóm nhỏ, đòan thể của con. Con đã từngnghĩ  chỉ những người như con, như trong nhóm con, theo cùng một sinh họat với chúng con, mới là tốt, mới là phải, mới là đạo đức. Con muốn nên Thánh một mình hay trong cục bộ tổ chức, tập thể của con. Rồi rộng ra, con nghĩ chỉ những người đồng đạo với con mới là những ngườiđược ơn cứu độ, còn ngòai ra đều không đón nhận được tình yêu thương của Chúa. Con cũng đã từng có hành vi ngăn cản, phê phán người khác khi thấy họ làm những điều thiện, điều tốt là sai lạc, như Gioan và các môn đệ của ông .

    Nhận là người thuộc về Chúa, thuộc về Hội Thánh, nhưng con đã không trở thành những tấm gương sáng, thậm chí lại làm những điều không tốt, khiến cho những người sống bên con không nhận ra con là người thuộc về Chúa.

    Xin Chúa cho con biết nhìn lại mình, để nhận ra Chúa hiện diện trong những người anh em con giữa đời, những người đang thực thi ý Chúa. Cả những người chưa gia nhập vào Hội Thánh Chúa, họ cũng được Chúa yêu thương,  họ cũng có thể được Chúa cho thực hiện những điều lạ lùng, mà qua họ con nhận ra được ý định mầu nhiệm của Chúa nơi trần gian.

    Xin cho con biết thay đổi cách sống mỗi ngày, tránh làm gương xấu cho người khác, dám là chứng nhân cho Chúa giữa lòng xã hội hôm nay để “Danh Thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến “AMEN.

    Về mục lục

    .

    TỰ KIỂM VÀ LÒNG KHIÊM TỐN

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

    Ngôn sứ là người được Thiên Chúa gọi để làm sứ giả và cắt nghĩa Lời Chúa. Lời Chúa đến với họ buộc họ phải nói ra.

    Ngôn sứ Amos nói: “Thiên Chúa là Chúa tôi đã phán: ai không nói được tiên tri?” (Am 3:8). Jeremiah thất vọng vì không nói ra được sứ điệp của Chúa cho dân; nó như mắc nghẹn trong cổ: “Nếu tôi nói, tôi sẽ không nghĩ đến Người, hoặc có nói cũng không nhân danh Người. Nhưng Lời Người cứ như lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến hao mòn, nhưng con không thể nén được” (Gr 20:9).  Sứ điệp ở bất cứ hình thức nào, cái nhìn của một ngôn sứ thực của Israel phải là cái nhìn của Thiên Chúa vì nó đã thấm nhuần trong tư tưởng của họ. Mọi sự họ nhìn đều theo quan điểm của Thiên Chúa. Căn bản của sứ mệnh của các ngôn sứ là vâng theo Lời Chúa.

    DÂN CHÚA PHẢI LÀ NGÔN SỨ

    Trong bài đọc 1 hôm nay (Ds 11:25-29), Thiên Chúa đã lấy thần khí tiên tri của Maisen mà phân phát cho những người khác. Maisen trước đó đã than phiền với Chúa lá Chúa đã không cung cấp cho dân Israel tất cả mọi sự. Vì vậy Thiên Chúa đã hứa sẽ lấy thần khí tiên tri của Maisen truyền cho 70 vị bô lão, kể cả Eldad và Medah là hai người không hiện diện ở trại lúc đó.

    Khi người giúp việc của Maisen là Joshua muốn chống lại hai vị này thì Maisen nói: “ Chú lại ganh ty thay cho ta à? Chớ gì toàn thể dân Chúa đều là tiên tri, và Thiên Chúa đã ban thần khí của Người cho họ!” (Ds 11:29). Maisen vui mừng vì thần khí đã được chia sẻ cho cả những người không hiện diện lúc đó cùng với các bô lão. Joshua đã tỏ ra ganh tỵ. Uy quyền về thần khí đã bị lợi dụng thái quá. Nó cần phải được dùng một cách cẩn trọng, khiêm tốn và công minh công bằng chính trực. Đây là điều cho thấy sự chia sẻ thần khí của Thiên Chúa thì rất khôn ngoan khéo léo và không có giới hạn. Thiên Chúa chính là thước đo.

    THẾ GIAN GIẢ TRÁ

    Bài đọc 2 nói về những kẻ giàu có bất chính (Gc 5:1-6) giúp ta nhớ lại các tiên tri trong Cựu Ước ( Am 8:4-8). Đây không có ý gây ảnh hưởng đến người giàu có, nhưng là một cảnh báo cứu độ đối với số phận của những tín hữu, những kẻ lợi dụng sự giàu sang quyền thế mà ức hiếp kẻ thấp kém nghèo khó là những kẻ sẽ được Thiên Chúa an ủi, được hưỡng vương quốc trên trời như đã hứa với những ai yêu mến Chúa và có niềm tin(Gc 2:5-7). Giacobe đã nêu lên hai cảnh đi song hành nhưng đối nghịch nhau (5:1-6; 4:13-17). Tuy nhiên với một giọng gay gắt nhưng không có nghĩa không cho họ lối thoái để hối cải. Dùng những từ như “mối ăn”, “hư nát” (5:2-3) là ý chỉ sự giàu sang trần thế là phù du mau qua. Ngoài ra vàng bạc là những thứ người đời quí trọng, chẳng bao giờ rỉ sét nhưng thánh nhân lại dùng tĩnh từ “rỉ sét” (c.3) để ám chỉ nó cũng chẳng có giá trị gì đối với Chúa.

    Bài của thánh Giacobe không đi song song với hai bài kia, nhất là ở chỗ phần thưởng tinh thần đối với những người ở ngoài vòng trực tiếp của chúa Giesu và các tông đồ. Ở đây thánh nhân nặng lời với những kẻ giàu có lạm dụng nhân công, ăn cướp tiền lương của thợ và ỷ thế cậy quyền không trả lương cho thợ đúng với khả năng của họ. Người giàu đối sử bất công với thợ thuyền để có được nhiều tiền lắm của, giàu sang phú quí. Nhưng họ không biết rằng tất cả vàng bạc, áo quần sạng trong rồi cũng qua đi, cũng bị rỉ sét hoen ố. Họ không nhận ra Thiên Chúa là của người nghèo khó, vượt quá tất cả những gì người giàu cướp công của người nghèo mà không nhận ra.

    VẤN ĐỀ CỘNG ĐỒNG THÁNH MARCO

     Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 9:39-43, 45, 47-48) gồm nhiều tư tưởng được góp lại với nhau một cách lỏng lẻo và phản ảnh vấn đề công đồng thánh Marco. Trước tiên là việc Gioan méc chúa Giesu có kẻ không thuộc nhóm của Chúa làm nhiều điều kỳ lạ (9:38), đã bị Chúa gạt đi không nghe (c 39-40). Thứ đến (c 4) là bất cứ ai cho các môn đệ uống thì thuộc về Chúa Kito. Thứ ba (c. 42), Chúa Giesu bế đứa trẻ vào lòng rồi phán chớ có làm gương xấu cho trẻ thơ.

    Chúa Giesu giảng giải cho các môn đệ về việc họ muốn ngăn cản người ngoài nhóm làm nhiều điều kỳ lạ. Những câu 9:14-29 cho thấy Chúa đã quở trách các môn đệ đã không đuổi được quỉ ám khỏi một đứa trẻ. Nhưng họ lại ngăn cản người khác thành công chỉ vì người ta không thuộc về nhóm mình. Vấn đề quá rõ ràng là người lạ này đã không nhân danh Chúa Giesu mà hành động, nhưng nhân danh phe nhóm họ. Thái độ độc đoán và chấp nhất của các môn đệ cho thấy sự thành công của những kẻ không thuộc nhòm các ông đã trở thành mối đe dọa cho tình trạng chính danh của các môn đệ. Chúa Giesu đã đưa ra một kết luận: Chẳng ai lấy danh Thầy mà làm phép lạ, rồi sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Ai không chống chúng ta là ủng hộ chúng  ta ( (9:39-40).

    GIÁ TRỊ CỦA TỰ KIỂM

    Phần hai của bài Tin Mừng cho thấy chúng ta nện tự xét, tự kiểm để trở nên khá hơn. Các môn đệ là những người được Chúa Giesu trực tiếp kêu gọi nên xet lại cách sống và công việc mục vụ của mình. Hãy nói và làm thế nào để đừng ngăn cản con trẻ của Giáo Hội sống tốt và thánh thiện. Marco đã dùng lời Chúa Giesu quở trách những kẻ không sử dụng đúng cách công trình của Thiên Chúa. Tay,mắt, chân bạn nếu làm gương xấu cho người khác thì hãy chặt tay chân, móc mắt đi, bởi vì cụt tay chân hay mắt chột mà được vào thiên đàng còn hơn có đủ tay chân và mắt mà bị vào hỏa ngục khốn khổ đời đời. Dĩ nhiên Chúa không biểu phải chặt tay chân hay móc mắt; nhưng Chúa muốn chúng ta hãy dùng tay, chân, mắt, những cơ quan Thiên Chúa ban cho để làm điều hữu ích cho đời, cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, đừng kiếm lợi lộc trần gian, bởi lẽ thế gian là giả trá. Vanitas vanitatum.

    Mặc dù tư tưởng có vẻ rời rac, đoan Phúc Âm hôm nay đã cho chúng ta một thang thuốc chữa bệnh cám dỗ, ích kỷ, tham lam…rất hiệu nghiệm. Bản tinh con người là hay phán xét người, cho mình lúc nào cũng đúng và là tuyệt vời hơn người. Chúng ta thích làm khó, không hề nghĩ đến người khác. Thay vì đặt vấn đề, thắc mắc về những thành công của người hay nhóm khác, chúng ta nên coi lại chính việc làm và cuộc sống của chúng ta xem thế nào để biết mình biết người mà khiêm tốn.

    TƯ TƯỞNG VỀ LÒNG KHIÊM TỐN

     Chúa Giesu đã nói: “Hãy học nơi Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường. Và tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11:29). Đa số các thánh nhân đều cầu nguyện cho được khiêm nhường trong cuộc sống. Chúng ta hiện sống trong một xã hội và nền văn hóa đặt giá trị ở tự cao tự đại. Muốn thăng tiến phải cương quyết, ganh đua, khoe khoang thành tích của mình, trên đội dưới đạp và làm những điều đặc biệt khác thường.

    Khiêm tốn là một đức tính khi một người tự biết mình là thiếu sót, muốn đặt mình trước Chúa và mọi người vì Thiên Chúa. Làm sao chúng ta có thể cân bằng giữa khiêm tốn và hiền hòa, cương quyết đủ để thành công trong thế giới hiện nay? Chúng ta có cần phải hy sinh cho người khác không? Trong cuộc sống công chính và ngay thẳng, chúng ta có thể làm việc thành công mà vẫn là nhà lãnh đạo khiêm tốn. Giữ địa vị cao và tinh thần trách nhiệm cũng phải cao cùng với những thành công và địa vị của mình…

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 26 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVI Thường Niên Năm B này có thể được gọi là “chia sẻ”.

    Ds 11: 25-29

    “Chia sẻ” những ân ban của Thần Khí hướng đến chia sẻ những trách nhiệm, mà không bất kỳ áp lực phàm nhân nào có thể giới hạn tác động của Thần Khí Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa của chuyện tích trong sách Dân số về việc tấn phong các Kỳ Mục Ít-ra-en để các ông trở thành những người cộng tác với ông Mô-sê trong việc hướng dẫn dân Chúa chọn.

    Gc 5: 1-6

    Thánh Gia-cô-bê khuyên “chia sẻ” những của cải trong các cộng đoàn Ki-tô hữu để hướng đến lý tưởng Tin Mừng về đức khó nghèo.

    Mc 9: 38-43, 45, 47-48

    Đức Giê-su giáo huấn các môn đệ biết “chia sẻ” những ân ban Thần Khí, thậm chí cả bên ngoài cộng đoàn Ki-tô hữu.

    BÀI ĐỌC I  (Ds 11: 25-29)

    Sách Dân Số là sách thứ tư của bộ Ngũ Thư, sách này được đặt ở giữa sách Lê-vi và sách Đệ Nhị Luật. Nhan đề của sách: “Dân Số”, do từ cuộc điều tra dân số mà ông Mô-sê tiến hành trước khi dân rời bỏ núi Xi-nai. Việc điều tra dân số chiếm trọn những chương đầu tiên của sách.

    Tiếp đó, sách thuật lại cuộc hành trình của dân Do thái qua sa mạc. Vài tình tiết, đã được tường thuật rồi trong sách Xuất Hành, được lập lại trong sách này, thường với những biến thể hay với những viễn cách khác. Như vậy chúng ta có hai bản văn thuật lại việc ông Mô-sê chọn những cộng tác viên để giúp đỡ ông trong công việc hướng dẫn dân chúng: một bản văn “phàm trần” (Xh 18: 13-26) và một bản văn “đặc sủng”; chính bản văn đặc sủng mà chúng ta đọc ở chương 11 của sách Dân Số.

    1. Bản văn phàm trần  (Xh 18: 13-26):

    Trong bản văn phàm trần (Xh 18: 13-26), chính bố vợ của ông Mô-đến gặp con rể của mình là ông Mô-sê. Ông Gít-rô lo lắng khi nhận thấy ông Mô-sê đảm nhận công việc hướng dẫn dân chúng quá nặng nhọc và kiệt sức, vì thế, ông khuyên ông Mô-sê chọn “những ai là người có tài, biết kính sợ Thiên Chúa, đáng tin cậy, không ham của bất chính, thì đặt họ làm những người chỉ huy… Họ sẽ thường trực xử kiện cho dân” (Xh 18: 21-22). Ông Mô-sê vâng theo lời khuyên khôn ngoan này.

    1. Bản văn đặc sủng  (Ds 11):

    Bản văn đặc sủng của sách Dân Số do một nhà biên soạn khác. Ông Mô-sê phàn nàn với Thiên Chúa về trọng trách quá khó nhọc mà ông phải đảm nhận trong việc hướng dẫn dân cứng cổ cứng đầu này. Việc dẫn dắt dân này, một dân không ngừng kêu ca ta thán, là một công việc quá nặng nề, một mình ông khó gánh vác nổi. Đức Chúa khuyên ông Mô-sê chọn cho mình những cộng tác viên ở giữa các Kỳ Mục của dân Ít-ra-en. Ông Mô-sê chọn, nhưng chính Thiên Chúa tấn phong.

    1. Việc Tấn Phong

    Cách thức Thiên Chúa tấn phong bảy mươi Kỳ Mục thật lạ lùng nhưng thật ý nghĩa. Đức Chúa lấy một phần Thần Khí đang ngự trên ông Mô-sê mà đặt trên bảy mươi vị Kỳ Mục. Cách thức này nhấn mạnh rằng các Kỳ Mục này lãnh nhận cùng một sứ mạng như ông Mô-sê và chia sẻ những trọng trách với ông, trong khi vẫn lệ thuộc vào ông và đường lối của ông.

    “Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông, thì các ông bắt đầu phát ngôn”, nghĩa là cuộc tấn phong của các ông được biểu hiện bằng những dấu chỉ bên ngoài. Được Thần Khí chiếm đoạt, các Kỳ Mục này bắt đầu phát ngôn, nghĩa là “xuất thần ngôn sứ” (1Sm 10: 10-13; 19: 20-24). Hiện tượng này “không tái diễn nữa”. Ân ban Thần Khí được biểu hiện qua việc “xuất thần ngôn sứ” chỉ diễn ra trong một giai đoạn ngắn, như được gặp thấy trong các ngôn sứ thời xưa, và sẽ biến mất với sự xuất hiện của truyền thống ngôn sứ bút ký sau đó. Trong đoạn văn này, chúng ta nên ghi nhận rằng hiện tượng xuất thần ngôn sứ này chỉ là phụ, không bao giờ do những nghi thức phù chú hay theo những phương thức đồng bóng của dân ngoại. Các ngôn sứ Ít-ra-en vẫn luôn luôn ý thức về nguồn gốc thần hứng của mình.

    1. Thần Khí hoàn toàn tự do trong ân ban của Ngài

     Hai thành viên của nhóm Kỳ Mục, được ghi trong danh sách các Kỳ Mục, nhưng đã không có mặt với bảy mươi thành viên khác ở Lều Thánh, lý do không được nêu lên. Do hờn dỗi? Hay sợ trách nhiệm? Dù sao đi nữa, Thần Khí không quên họ; mặc dầu không đến tham dự cuộc hội họp ở Lều Thánh theo lời hiệu triệu của ông Mô-sê, hai ông cũng được ân ban Thần Khí.

    Một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Mô-sê. Chàng thanh niên này là ông Giô-suê, người hầu cận trung thành của ông Mô-sê. Cậu lo lắng rằng hai người được ân ban Thần Khí này đã không tham dự buỗi nhóm họp chính thức trong Lều Thánh, liệu họ sẽ hành xử ơn gọi ngôn sứ mà không vâng phục ông Mô-sê chăng? Vì thế, Giô-suê nói với ông Mô-sê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn ngăn cản họ!”. Ông Mô-sê phê phán tinh thần bất khoan dung và hẹp hòi của ông Giô-suê khi trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều làm ngôn sứ!”. Qua câu trả lời này, chúng ta hiểu ông Mô-sê, ông ước mong rằng dân cứng cổ cứng đầu này cần phải được Thần Khí thực sự ở cùng. Nếu toàn dân được sự khôn ngoan của Thiên Chúa hướng dẫn, họ sẽ thay lòng đổi dạ biết mấy.

    Ước nguyện của ông Mô-sê sẽ được thực hiện vượt quá khung cảnh này, trong truyền thống ngôn sứ sau này và sẽ được ứng nghiệm một cách viên mãn vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi Thần Khí ngự xuống đầy tràn trên các Tông Đồ (Cv 2: 16-21) và trong toàn thể Giáo Hội (Ep 4: 3-4; 1Cr 12: 4-11). Tác động Thần Khí không bị giới hạn vào bất cứ đối tượng nào được xem là chính thức, vì Thần Khí hoàn toàn tự do trong việc ban phát ân huệ của Ngài. Đây là bài học vĩ đại của đoạn văn sách Dân Số này; bài học này được Tin Mừng hôm nay xác nhận.

    BÀI ĐỌC II  (Gc 5: 1-6)

    Đoạn trích thư của thánh Gia-cô-bê hôm nay trình bày một trong những đề tài chủ đạo của thư: bênh vực những người nghèo và nhắc nhở lý tưởng Tin Mừng về sự nghèo khó.

    Thánh Gia-cô-bê vừa mới bài xích sự khôn ngoan của thế gian (4: 13-17); giờ đây thánh nhân lên án những người giàu có tích trữ của cải bằng cách áp bức bốc lột những người nghèo. Thánh nhân định vị những lời cảnh báo của mình vào trong viễn cảnh của cuộc phán xét chung cuộc. Những lời kêu trách của thánh nhân thật dữ dội: “Hỡi những người giàu có, các ông hãy khóc lóc than van”. Những lời này nhắc nhớ những lên án nghiêm khắc của các ngôn sứ. Ý tưởng thì cũng như nhau ở đây, viễn cảnh cũng là cánh chung. Những án phạt đang chờ đợi những người giàu có là những bất hạnh họ phải chịu vào Ngày Phán Xét.

    1. Sự phù du của tài sản

    Được nhìn trong ánh sáng của vương quốc Thiên Chúa, việc chất đống của cải và tích trử tiền bạc chẳng có nghĩa lý gì: “Tài sản của các ông đã hư nát, quần áo của các ông đã bị mối ăn”. Hình ảnh Kinh Thánh này rất kinh điển. Đức Giê-su cũng đã sử dụng những hình ảnh như vậy: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6: 19-20).

    Thánh Gia-cô-bê còn gợi ý thêm nữa: “Vàng bạc của các ông bị rỉ sét”. Thật ra, vàng không bị rỉ sét và tiền bạc thì khá bền vững, nhưng hình ảnh thì rất mạnh: trước tòa án Thiên Chúa, việc tích trữ của cải cho riêng mình mà không chia sẻ với những anh em khốn khổ của mình là một trọng tội. Vì thế, thánh nhân khuyên: “Các ông đã lo tích trữ làm giàu trong những ngày sau hết”, tức là trong thời kỳ này, thời kỳ khai mạc kỷ nguyên Thiên Sai và sẽ hoàn tất vào ngày Quang Lâm của Chúa. Xưa kia, trong thời Cựu Ước, sự giàu có của cải được xem là lời chúc phúc của Đức Chúa, phần thưởng cho những ai trung thành tuân giữ Lề Luật. Một quan niệm như vậy không còn nữa. Vương quốc Thiên Chúa đã đến, những của cải tinh thần được dâng hiến cho con người cách phong phú và đòi hỏi một tinh thần siêu thoát khỏi những của cải trần thế. Từ đó, thái độ ích kỷ của những người giàu có không chỉ là có tội, nhưng cũng là ngu xuẩn.

    1. Người nghèo

    Thánh Gia-cô-bê còn phê phán người giàu có nặng lời hơn nữa: “Các ông đã giữ lại tiền lương của những người thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ông”. Ở đây, thánh Gia-cô-bê không còn nhắm đến những nhà tài chính hay những thương nhân, nhưng những điền chủ. Luật đòi buộc rằng tiền lương của người thợ phải được trả ngày nào theo ngày đó. Vì người nghèo sống theo tiền công nhật của mình, như huấn lệnh của sách Đệ Nhị Luật: “Chính ngày hôm ấy, anh em phải trả công cho họ, đừng để mặt trời lặn mà không trả công, vì họ nghèo khổ và nóng lòng mong đợi được trả công; như vậy họ sẽ không kêu lên Đức Chúa tố cáo anh em, và anh em sẽ không mang tội” (Đnl 24: 15).

    Người giàu giữ lại tiền lương của người thợ, dù chỉ một thời gian, là vị phạm sự công bình giao hoán. Hiền nhân Si-rác đã bày tỏ nỗi công phẫn trước những kẻ giàu có bắt tay với những kẻ quyền thế mà tước đoạt những phương tiện sống của những người nghèo: “Người túng nghèo còn chút bánh độ thân, ai lấy đi là kẻ hút máu. Cướp phương tiện sống của kẻ khác là giết người; đoạt lương của người làm thuê là gây đổ máu” (Hc 34: 21-22).

    1. Thiên Chúa của những người nghèo

    Thánh Gia-cô-bê đối lập thái độ của những kẻ giàu có “trên cõi đất” này, những kẻ sống xa hoa vô độ trên xương máu của anh em đồng loại của mình, với thái độ của Thiên Chúa, Chúa Tể càn khôn, Đấng bênh vực những người nghèo. Giờ phán xét sẽ bất ngờ ập xuống trên họ, những kẻ “đã ăn uống linh đình, đã buông theo khoái lạc, lòng họ đã được thỏa thuê vui thú trong ngày sát sinh”. Quả thật, hình ảnh “Ngày của Chúa” đôi khi được diễn tả bằng hình ảnh “ngày sát sinh”, vì vào ngày ấy, Đức Chúa sẽ minh oan cho những người công chính và hủy diệt mọi kẻ gian ác.

    Câu kết thúc của đoạn văn này quả thật khó hiểu: “Các ngươi đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các ngươi”. Vậy, ai là người công chính đã bị những người giàu có kết án và giết hại mà không hề cưỡng kháng? Có người nghĩ rằng thánh Gia-cô-bê trở lại hình ảnh của người nghèo bị người giàu áp bức, bóc lột, tước đoạt đất đai như phương tiện sống, đó là tội sát nhân, theo cách diễn tả của hiền nhân Si-rác. Người khác nghĩ rằng người công chính này được hiểu theo nghĩa tổng quát, đối lập với quân gian ác như các sách minh triết thường gợi lên. Ý tưởng căn bản vẫn là: vào ngày phán xét, người nghèo và người công chính sẽ được Thiên Chúa thi ân báo oán.

    TIN MỪNG  (Mc 9: 38-43, 45, 47-48)

    Trong bản văn Tin Mừng này, thánh Mác-cô quy tụ những giáo huấn khác nhau của Chúa Giê-su, mà mối liên hệ giữa chúng thì khá lỏng lẽo. Tuy nhiên, thánh ký không đánh mất mục đích của mình: Đức Giê-su huấn luyện các môn đệ của Ngài, tức Giáo Hội tương lai của Ngài. Nỗi bận lòng của Chúa Giê-su đối với Giáo Hội là tuyến phát triển nối kết các yếu tố xem ra rời rạc.

    1. Tinh thần khoan dung của người môn đệ Chúa Ki-tô

    Giáo huấn đầu tiên trong các giáo huấn này được khơi lên từ một sự kiện: một người trừ quỷ, không thuộc nhóm các ông, đã nhân danh Đức Giê-su mà trừ quỷ. Thánh Gioan và các môn đệ khác đã cố ngăn cản, vì người đó không thuộc nhóm chúng ta, không theo phe chúng ta. Thái độ bất khoan dung này của thánh Gioan, một trong hai anh em trước đây đã được phong biệt danh là “Con của Sấm Sét”(3: 17), sau này chính ông là người hỏi Chúa Giê-su có muốn các ông sai lửa từ trời xuống thiêu hủy những người Sa-ma-ri, vì họ không đón tiếp Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài trên đường lên Giê-ru-sa-lem (Lc 9: 54). Phản ứng của thánh Gioan đối với người trừ quỷ không thuộc nhóm chúng ta cũng giống như thái độ của ông Giô-suê đối với hai kỳ mục không đến Lều Hội Ngộ được mô tả trong Bài Đọc I.

    Chúa Giê-su giữ thái độ thanh thản của một bậc thầy khôn ngoan khi trả lời với thánh Gioan bằng một lương tâm ngay lành: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy”. Nếu người này nhận ra quyền năng siêu nhiên của Đức Giê-su, thì người ấy đã bước một bước khởi đầu chấp nhận sứ điệp của Ngài rồi. Ngài truyền cho các môn đệ phải trải lòng ra tối đa với bất cứ ai không công khai bày tỏ sự thù địch với các ông: “Ai không chống đối chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Những lời dạy này được giải thích tốt nhất chắc chắn được gặp thấy trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô: “Chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: ‘Giê-su là đồ khốn kiếp!’; cũng không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giê-su là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1Cr 12: 3).

    Chúa Giê-su còn đi xa hơn khi cho họ một ví dụ: “Ai cho anh em uống một ly nước vì lẽ anh em là người của Đức Ki tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Cử chỉ của người đó đã là một cử chỉ tiếp đón, một thái độ bày tỏ sự thân thiện rồi.

    1. Thần Khí hoàn toàn tự do trong hành động

    Được liên kết với Bài Đọc I, bài học mà Chúa Giê-su đưa ra thì thật rõ ràng: Giáo Hội không được tin rằng mình giữ độc quyền về những ân ban của Thần Khí, vì Thần Khí hoàn toàn tự do trong lãnh vực hoạt động của Ngài.

    Quả thật, ơn gọi của các ngôn sứ Cựu Ước cho chúng ta thấy điều đó. Trong Cựu Ước, ơn gọi ngôn sứ không là một định chế cha truyền con nối như định chế tư tế, nhưng là đặc sủng. Vì thế, không phải tất cả các ngôn sứ đều là tư tế. Trong số những vị ngôn sứ bút ký thời danh, chỉ có hai người: Giê-rê-mi-a và Ê-dê-ki-en là tư tế trước khi lãnh nhận sứ vụ ngôn sứ, còn đa số còn lại đều là những thường dân, với gia thế và nghề nghiệp khác nhau trước khi được gọi làm ngôn sứ. Trong những hoàn cảnh Thiên Chúa thấy cần lên tiếng, Ngài chọn những ngôn sứ của Ngài để nhân danh Ngài chuyển giao sứ điệp của Ngài đến những đối tượng mà Ngài muốn. Câu trả lời của ngôn sứ A-mốt với ông A-mát-gia, tư tế đền thánh Bết-Ên cũng đủ nói lên điều đó: “Tôi không  phải ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Thiên Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn súc vật, và Đức Chúa đã truyền cho tôi: Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en, dân Ta” (Am 7: 14-15).

    Một trong những nét đặc trưng của các ngôn sứ Cựu Ước đó là, họ ý thức rất rõ họ được Chúa sai đi để chỉ nói lời Thiên Chúa không được nói lời của mình hay lời của bất kỳ ai khác. Tuy nhiên, trong bối cảnh mà các ngôn sứ giả cũng tự cho mình là phát ngôn viên của Thiên Chúa, một trong những tiêu chuẩn để phân biệt giữa ngôn sứ giả và ngôn sứ thật khiến chúng ta phải suy nghĩ: ngôn sứ thật nhân danh Thiên Chúa lên án những bất công xã hội, bênh vực những kẻ nghèo khổ, những người bị áp bức, dù phải chịu sĩ nhục, nhạo báng và bách hại nữa. Trái lại, các ngôn sứ giả lại tâng bốc bợ đỡ những kẻ có quyền có thế, những kẻ áp bức và bốc lột những người nghèo hèn cô thế. Cuộc tranh cãi giữa ông Kha-nan-gia, vị ngôn sứ giả, và ông Giê-rê-mi-a, vị ngôn sứ thật, cho thấy điều đó (Gr 28: 1-17). Chính nhờ truyền thống ngôn sứ này mà Do thái giáo không đóng khung việc phụng thờ Thiên Chúa trong các lễ lạc hội hè, nhưng còn mở ra mối dây liên đới với anh chị em của mình. Chúng ta có thể nói họ chuẩn bị giáo huấn: “mến Chúa và yêu người”, của Đức Kitô.

    Thêm nữa, ân ban ngôn sứ đôi khi không chỉ giới hạn trong dân Chúa chọn, nhưng tràn ra bên ngoài nữa, như câu chuyện của ông Bi-lơ-am (Ds 22-24). Quả thật, ngày hôm nay, chúng ta cũng gặp thấy những người, đôi khi không phải là người Ki-tô hữu, nhưng vì lương tâm ngay thẳng và nhạy bén trước tình đồng loại, họ xả thân bênh vực những người nghèo, lên án những bất công trong xã hội, dù phải chịu nhiều hy sinh mất mát kể cả mạng sống của mình. Làm thế nào chúng ta không thể thấy rằng những thiện ý của họ phát xuất từ Thần Khí được chứ? Nói cho cùng, Thần Khí hoàn toàn tự do trong hoạt động của Ngài, như lời khẳng định của Đức Giê-su trong cuộc nói chuyện với ông Ni-cô-đê-mô: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu” (Ga 3: 8).

    1. Kính trọng những kẻ bé mọn. Nghiêm túc đối với chính mình

    Trong tất cả mọi cộng đoàn, đều có những người vững mạnh và những những người yếu nhược. “Những kẻ bé mọn đang tin đây” chắc chắn là những người mà đức tin của họ cần được soi sáng và được nâng đỡ bởi mẫu gương của những người vững mạnh trong đức tin. Đức Giê-su nhấn mạnh trách nhiệm của những người mà qua cách hành xử của mình, khiến những kẻ bé mọn đang tin có nguy cơ lầm đường lạc lối. Mỗi người phải xét mình một cách nghiêm túc. Bằng kiểu nói ngoa dụ gợi nhớ các ngôn sứ, Đức Giê-su khuyên chặt tay, chặt chân, móc mắt, nếu chúng gây cớ vấp ngã cho những người bé mọn đang tin này. Bởi vì có gì quý giá hơn sự sống đời đời. Chúa Giê-su dùng những hình ảnh truyền thống: giòi bọ và lửa hỏa ngục để mô tả cái chết tinh thần của những kẻ gây cớ vấp phạm cho anh em mình.

    Việc bảo vệ những kẻ bé mọn cho đến đức tin mõng dòn, dể bị thương tổn của họ rõ ràng thuộc về sứ điệp Tin Mừng. Đức Giê-su phối hợp sứ điệp này với những yêu sách cứng rắn mà một môn đệ chân chính và đặc biệt những người hướng dẫn cộng đoàn trong cuộc hành trình về Nước Trời đòi buộc phải ghi nhớ.

    Về mục lục

    .

    NẠN ĐỘC QUYỀN

    Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Độc quyền kinh doanh sản xuất, độc quyền phân phối, buôn bán, độc quyền lãnh đạo đất nước, độc quyền làm việc thiện, độc quyền phụ trách công tác giáo dục…Con người xưa lẫn nay đều dễ vướng vào chước cám dỗ độc quyền. Khi đã nắm độc quyền dù ở lãnh vực nào đi nữa thì vị thế, vai trò của chúng ta là như bất khả xâm phạm, chưa kể trong nhiều lãnh vực, khi đã được độc quyền thì lợi ích của chúng ta luôn được bảo đảm. Đằng sau những thứ độc quyền ấy, có một thứ độc quyền chủ yếu chi phối tất cả, đó là độc quyền chân lý, nghĩa là chỉ riêng mình ta mới đúng và như thế những ai khác ta hay ngược với ta đều là sai lạc.

    Xưa dân do Thái đúc con bò vàng trong hoang địa không phải là muốn bỏ Thiên Chúa để tôn thờ sản phẩm do tay mình làm nên. Nhưng thực ra họ muốn làm một cái bệ, cái ngai bằng hình con bò để Thiên Chúa ngự. Từ đây khi họ đem cái ngai hình con bò ấy đi đâu thì buộc Thiên Chúa phải đi theo đấy. Thế là họ đã nắm được Thiên Chúa, thần của các thần, chúa của các chúa, nghĩa là họ đã độc quyền được Đấng toàn năng.

    Cám dỗ độc quyền còn thể hiện nơi các sinh hoạt của con người dưới nhiều hình thức như thuốc gia truyền, môn võ bí truyền, nhãn hiệu, thương hiệu, bằng sáng chế, phát minh… Có nhiều thứ độc quyền xem ra hữu lý nhằm để bảo vệ quyền lợi nhà sản xuất, quyền tác giả…Tuy nhiên từ việc bảo vệ những quyền lợi chính đáng người ta cũng dễ dàng bị cám dỗ ganh tương đố kỵ và tìm cách loại trừ những ai có quyền lợi tương đồng như mình bằng nhiều hình thức.

    Khi Đức Chúa ban Thần khí cho cả những người không đến Lều Hội Ngộ, Giosuê đã xin Môsê ngăn cấm họ. Giosuê đã ngỡ ngàng trước câu trả lời Môsê: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần khí của Người trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ !” (Ds 11,29). Chắc chắn Môsê muốn nhắc bảo Giosuê rằng chớ nên độc quyền ân ban của Đức Chúa. Thần Khí Thiên Chúa luôn tự do như gió trời, muốn thổi đâu thì thổi (x.Ga 3,8).

    Người hành xử bằng sự độc đoán, độc quyền, chuyên chế vốn thường canh cánh trong lòng nỗi lo sợ kẻ khác tranh quyền, tranh lợi. Nguyên việc người ta như mình hay ngang hàng với mình họ cũng không chịu nỗi huống là qua mặt mình hay hơn mình. Lòng ganh tương, đố kỵ xui khiến chúng ta tìm đủ lý do, đủ mọi cách thế để kìm hãm tha nhân, dìm kẻ khác xuống hoặc ít ra là ngăn cản không cho người ta phát triển hay tiến lên. Thánh Giacôbê khẳng định “Ở đâu có ganh tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ xấu xa” (Gc 3,16). Điều xấu xa, tồi tệ nhất đó là cả người ganh tương và người bị đố kỵ, cả hai đều bị hạn chế phát triển và khó có thể làm được sự gì tốt đẹp cách đúng nghĩa.

    “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta” (Mc 9,38). Ngài Gioan nêu một lý do xem ra có phần hữu lý. Nhưng đằng sau hai từ chúng ta, không biết thầy Giêsu có được bao nhiêu phần, nhưng phần của tập thể nhóm Mười Hai và cách riêng phần của ngài Gioan thì không nhỏ. Ẩn sâu dưới sự độc quyền chính là sự kiêu ngạo, tham danh, hám lợi. Chỉ có ta hay phe nhóm chúng ta mới là duy nhất đúng, vì thế chỉ có ta hay phe ta mới có quyền giáo dục, mới có quyền lãnh đạo… và rồi chỉ có ta, phe ta mới được hưởng lợi lộc và được tôn vinh. Đã từng có thời, Kitô hữu chúng ta cũng rơi tình trạng độc quyền chân lý. Chỉ có chúng ta, người Công Giáo mới nắm được sự thật, còn ngoài ra đều là tà đạo hay lạc đạo. Hậu quả của thái độ độc tôn, độc quyền thật đáng ghê sợ mà lịch sử đã minh chứng mà đáng kể là những cuộc chiến tranh, những sự đàn áp bất công, loại trừ tha nhân cách này cách khác… Đã sám hối và thú lỗi cách minh nhiên, thì chúng tin chắc rằng trong tương lai sẽ chẳng còn xuất hiện những bước chân của đoàn quân thập tự hay các phiên tòa xử người dị giáo.

    Biết rằng muốn được hạnh phúc đích thực và trường tồn thì phải qua Chúa Kitô, vì không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Người, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (x.Ga 14,6). Thế mà Chúa Giêsu đã nói với Gioan: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,40). Lời khẳng định của Người giúp ta xác quyết rằng cho dù chân lý là duy nhất nhưng vẫn có đó nhiều ngõ lối để tiếp cận. Hạnh phúc Nước Trời chỉ có một, nhưng Thiên Chúa có nhiều cách thế để ban chính mình cho nhân loại mọi thời và mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Chúa Giêsu trong chuyện dụ ngôn ngày thế mạt đã minh họa sự thật này. Ngay cả những người tự nhận là khi sinh thời đâu có biết Người, thế mà họ cũng “ủng hộ” Người, nghĩa là tiếp bước theo Người và sống cho Người, để rồi đáng được hưởng phúc muôn đời (x.Mt 25, 31-46).

    “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Mt 6,13). Một trong những chước cám dỗ mà ta cần xin Chúa cứu đỡ, đó là mặc cảm tự tôn. Tự tôn là một hình thái của kiêu ngạo. Khi mặc cảm tự tôn được hổ trợ bằng chút thế, chút lực thì người ta sẽ tìm cách giữ độc quyền trong hành động và sẽ độc đoán trong phán quyết. Độc quyền, độc đoán là một lối sống, một cung cách hành xử của kẻ độc tài và hệ quả tất yếu là những hành vi độc ác. “Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”. Lịch sử cho thấy chưa từng có kẻ độc tài nào đem lại điều tốt đẹp cho con người, cho xã hội, mà toàn là những sự xấu xa, tồi tệ, vì đã là kẻ độc tài thì ít nhiều cũng là người ác độc. Dù rằng vẫn có một vài ý kiến không đồng thuận, nhưng người ta cũng thấy có lý phần nào khi gần đây đã đưa lên phim ảnh để gợi lên sự tương đồng giữa nhà độc tài Hitler với nạn dịch chết người HIV- AIDS.

    Xin được lưu ý điều này: cầu nguyện không phải là bắt Chúa làm theo ý chúng ta, nhưng để chúng ta nhận biết ý Chúa mà nỗ lực thực hiện. Nạn “độc quyền” là một trong những nguyên nhân làm cho con người sa ngã và nhân loại sẽ lầm than trong sự băng hoại nhiều phương diện. Chủ nghĩa giáo sĩ trị là một hình thái độc tôn, độc quyền. Thời gian gần đây, Đức Phanxicô và Hồng Y Bộ trưởng Bộ Giáo Sĩ cũng đã thú nhận rằng nó là một nguyên nhân chính làm phát sinh nhiều điều băng hoại trong Giáo Hội. Ngoài việc cảnh giác và khử trừ sự độc tôn, độc tài nơi bản thân, thì bạn, tôi, chúng ta cần làm gì để hạn chế và tiến dần đến chỗ loại bỏ những hình thái độc quyền, độc tôn trong Giáo Hội và những cơ chế độc tài phi nhân, bất chính ngoài xã hội? Hãy chặt chúng đi! Hãy móc chúng đi! Đây là mệnh lệnh mang tính sống còn, không chỉ cho bản thân chúng ta mà còn cho những kẻ bé mọn là những người luôn được Thiên Chúa ưu ái.

    Về mục lục

    .

    SÁNG DANH CHA

    Lm. Jos. DĐH.

    Phe cánh, kỳ thị, bè phái, cùng “một ben”, cùng “một ê-kíp”, nghe đến những cụm từ như thế, mấy ai không “dị ứng” ! Tính phe nhóm, tâm địa xấu xa, đầu óc hẹp hòi, ích kỷ, chính là nguyên nhân gây nên biết bao phiền toái, chia rẽ, ngờ vực, bất hoà, khổ đau. Cho dù mọi người đều hiểu ý nghĩa của câu thành ngữ: một sự nhịn, chín sự lành. Trong kinh doanh buôn bán, các đấng bậc tự tin cho rằng: trăm người bán, vạn người mua ; có mợ thì chợ cũng đông, không mợ, chợ vẫn đông như thường. Trong gia đình, con cái chăm học, chăm làm, đâu phải vì tiếng khen, vì muốn lập công, có chăng là vì hạnh phúc ở tương lai, là thao thức góp chút công sức làm rạng danh dòng tộc, thể hiện được tình yêu quê hương đất nước.

    Ở đời muôn sự của chung, quý nhau một tiếng anh hùng mà thôi. Sự nhiệt thành nơi Gioan bị xem là khuynh hướng xấu, phe nhóm, khi ông cản ngăn người anh em làm việc tốt, ông còn lầm tưởng đang góp công gìn giữ thanh danh cho Thầy và cho anh em mình. Không phải người môn đệ Gioan, mà cả nhóm 12, cả chúng ta hôm nay đều cần được ơn biến đổi, cần được lớn lên và trưởng thành trong tình yêu thương của Thầy Giêsu. Chuẩn mực cuộc sống không hệ tại cao sang nghèo hèn, học rộng hiểu sâu, cho đi nhiều hay ít, mà là tuỳ thuộc mỗi người đang sử dụng “món quà” mình có thế nào. Lập trường theo Đức Giêsu là tất cả được nên một tình yêu, mọi người, mọi thời, biết ca tụng Danh Cha cả sáng: đừng ngăn cản “việc tốt”, “ai không chống đối các con là ủng hộ các con”.

    Tiền nhân chúng ta nói: ở cho có đức có nhân, mới mong thừa tự được ăn lộc trời. Đức Giêsu cũng truyền dạy: “ai nhân danh Thầy mà cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Đức Kitô, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Sống có tâm, có đức, có tình Chúa, tình người, đúng là một chọn lựa khôn ngoan, là một hành động yêu thương thuộc về Đức Kitô, đang làm vinh Danh Chúa, đang làm rạng rỡ tình yêu ta lãnh nhận. Các môn đệ, và tất cả chúng ta hôm nay, đều có chung một tình yêu, một sứ mạng, đó là nhờ Đức kitô, ở trong Đức kitô, khi ta trân trọng niềm tin, Thiên Chúa gieo vãi hạt giống tốt lành vào tâm hồn, và nhờ Danh Đức kitô, hạt giống sẽ trổ sinh bông hạt.

    Tình yêu và cuộc sống vẫn luôn mách bảo chúng ta rằng: tất cả mọi người đều là “thiên tài” trong lãnh vực riêng của họ, nhưng nếu ta đánh giá “con cá” qua khả năng leo cây của nó, thì cả đời con cá sẽ nghĩ nó ngu dốt và đần độn. Vì thế, chúng ta nên đánh giá khả năng bơi lội của nó. Trong tương quan xã hội, nhiều khi chỉ vì thiếu thiện cảm, người ta đã “nghĩ cong” về việc làm của anh chị em mình rồi, chỉ vì không “cùng hệ” với ta, nên rất khó lòng ta đủ khách quan về đức độ và tâm tính của người đang sống sát gần mình. Cũng không phải là khó hiểu khi người ta sống vô tình với nhau: tưởng rằng chị ngã em nâng, ai ngờ chị ngã em bưng miệng cười ! Nghĩ tốt, cư xử tốt với nhau, thương nhau, yêu nhau, biết đồng sức, đồng lòng, như anh chị em một nhà chỉ xảy ra khi trái tim và khối óc của ta có Đức Giêsu.

    Lấy Danh Chúa mà trừ quỷ, chia sẻ đức yêu thương cho kẻ đói nghèo là giúp người, đó là sứ mạng chung cho ơn gọi làm môn đệ Đức kitô. Lấy Danh Chúa hại người, làm việc xấu, chắc chắn không thể gọi là thần dân của Đức kitô, dù người đó vịn lý do thiếu hiểu biết hoặc vô tình, đều bất xứng, không đủ thuyết phục. Được phần thưởng cho hành động bác ái dù bé nhỏ, cũng là một nỗ lực xây dựng Nước Cha trị đến. Phải khiển trách bởi làm ngơ trước nhu cầu cần được yêu thương giúp đỡ, luôn hệ tại cách sống của mỗi người đang chia sẻ hoặc khép kín. Không ai có thể lấy Danh Thầy trừ quỷ, sau đó lại nói xấu Thầy, vì kết quả của việc làm luôn phát xuất từ tình yêu và vinh danh tình yêu thương.

    Các chuyên viên “gỡ rối” tơ lòng cho chúng ta kinh nghiệm, nếu số phận cho ta những quân bài rời rạc, không như ý, hãy cậy nhờ sự khôn ngoan ở sâu thẳm trong tâm hồn biến bạn thành người chơi bài giỏi như câu tục ngữ: cái khó, ló cái khôn. Đức Giêsu tỏ thái độ không khoan dung đối với kẻ làm gương mù, không sống đức ái Chúa trao: “thà buộc cối đá mà xô xuống biển thì hơn”. Thực tế thì người nói hay chưa chắc đã làm giỏi, người biết Chúa, tin Chúa, và biết hành động vì tình yêu Chúa, làm sáng Danh Chúa, hoàn toàn khác nhau. Người môn đệ, người thuộc về Chúa, phải là người có Đức kitô trong suy nghĩ và hành động, mới thực sự là người đang góp công sức xây dựng tình yêu thương của Nước Cha hiển trị hôm nay và mai sau. Amen.

    Về mục lục

    .

    AI KHÔNG CHỐNG LẠI CHÚNG TA LÀ ỦNG HỘ CHÚNG TA.

    Phêrô Võ Tá Đương

    Đọc lại lịch sư, ta thấy một thực trạng chung của các dân tộc là thường có tranh dành nhau trong việc làm chính trị. Người ta sẵn sàng làm tất cả mọi sự, kể cả việc thanh toán nhau để chiếm được chức quyền, địa vị và danh vọng.

    Tham vọng chức quyền là một trong những dục vọng lớn của con người. Nó được cắm rễ sâu vào trong bản tính tự nhiên của con người. Vì thế bất cứ ai cũng có thể bị chức quyền và danh vọng cám dỗ. Trước khi được Đức Ki tô biến đổi, các Tông đồ của Chúa cũng không ngoại lệ trong số đó. Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy được phần nào điều đó. Cụ thể là qua sự việc tông đồ Gioan báo với Chúa Giêsu về việc ông đã ngăn cấm một người xa lạ lấy danh Thầy mình mà trừ quỷ. Tại sao vậy? Tin mừng cho thấy rõ lý do ấy, rất đơn giản đó là: “Vì người ấy không theo nhóm chúng ta”.[1]

    Chính óc độc quyền phe nhóm và lòng ganh tị đã thúc đẩy tông đồ Gioan hành động như thế. Ông tưởng rằng, mình đã làm được một việc tốt, việc đúng và hữu ích cho nhóm mình để bảo vệ danh tánh thầy mình. Ông hy vọng là Thầy mình sẽ ban lời khen tặng. Thế nhưng không, Chúa Giêsu không ban tặng lời khen ngợi cho Gioan nhưng qua đó, Người đã dạy cho Gioan và các tông đồ một bài học và đưa ra một nguyên tắc để phân biệt: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.”[2]

    Thái độ và hành động của Gioan trong bài Tin Mừng hôm nay có lẽ cũng là thái độ của các môn đệ và cả chúng ta nữa. Nó phản ánh một thái độ khép kín, không muốn cho người khác được hưởng ân huệ Thiên Chúa nếu người đó không chịu theo các ông, không thuộc về nhóm các ông. Nói cách khác, các ông tự coi mình là những người thừa kế duy nhất của Chúa Giêsu. Ai muốn hưởng ân huệ của Thiên Chúa thì phải theo các ông hay nhập vào nhóm các ông. Chính vì thế khi thấy một người xa lạ không thuộc nhóm các ông nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ thì các ông đã ngăn cản họ. Đó là một quan niệm sai lầm và ích kỷ. Trước quan niệm sai lầm đo, Chúa Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh Thầy mà làm phép lạ rồi sau đó lại có thể nói xấu về Thầy.”[3] Như vậy, việc trừ quỷ nhân danh Chúa, dù thế nào đi nữa cũng là việc tôn vinh Chúa, vì khi giải thoát cho một người bị quỷ ám là làm một việc tốt, một việc nên làm cho nên không được ngăn cản mà còn phải ủng hộ nữa là khác.

    Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta cũng đã để cho óc độc quyền và lòng ganh tị chi phối như thế, nên đã hạn chế lòng nhiệt thành của người khác, áp đặt ý riêng của mình lên người khác, gây chia rẽ và đánh mất bình an trong gia đình, trong cộng đoàn. Tin mừng hôm nay là lời cảnh giác của Chúa Giêsu đối với tông đồ Gioan, cũng là lời cảnh giác cho mỗi người chúng ta, nhắc nhở cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa kêu gọi và ban ơn cho những ai có lòng thiện chí, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền đó, nhưng ơn Chúa thì vô biên, không hạn chế, không dành riêng cho người nào, nhóm nào. Bất cứ ai tin tưởng cầu xin hoặc nhân danh Chúa mà làm việc tốt đều được Chúa nhận lời. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện trong Giáo hội và trong lịch sử nhân loại, không ai có thể sống ngoài quỹ đạo của Ngài. Người ta chỉ có thể chọn lựa hoặc là theo Ngài hoặc là chống lại Ngài. Nhiều người không biết Chúa nhưng họ vẫn theo tiếng lương tâm mà ăn ở ngay lành và làm việc thiện, những người ấy cũng thuộc về Chúa. Trái lại có biết bao người mang danh Kitô hữu, kêu tên Chúa nhưng lại không theo đường lối của Chúa, thậm chí còn dửng dưng trước lời mời gọi của Chúa, vô tâm trước người nghèo khổ, lạnh nhạt với anh em, hờ hững với cuộc sống…thì quả thực những người đó cũng đang chống lại chính Chúa.

    Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm mình, xem chúng ta đang ủng hộ hay chống đối Chúa? Danh hiệu Kitô hữu của chúng ta có là một thực tại sống động hay chỉ là một tiếng kêu rỗng tuếch? Đức tin của chúng ta có đi đôi với cuộc sống của chúng ta hay không? Ung hộ Chúa là sống kết hiệp mật thiết với Ngài, thực thi Lời Ngài dạy, sống bác ái yêu thương và giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Để thực thi lời Chúa, chúng ta phải có một thái độ dứt khoát với tội lỗi, với những đam mê dục vọng… chấp nhận những hy sinh khổ chế để lướt thắng những cảm bẩy của thế gian. Vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Nếu tay chân anh làm dịp cho anh thì hãy chặt nó đi, nếu mắt anh làm nên dịp tội thì hãy móc nó đi”.[4] Nghĩa là chúng ta phải dứt khoát ngay mọi dịp tội, không chần chừ, không khất lần vì những điều đó là cớ làm cho ta vấp phạm, đánh mất sự sống đời đời, mất ơn cứu độ Thiên Chúa ban mà bị đọa đày trong chốn khốn cùng “nơi giòi mọi không hề chết và lửa không hề tắt”.[5]

    Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con biết rộng mở cõi lòng mình ra để đón nhận Chúa và mọi ân huệ của Ngài, để rồi chúng con cũng biết sẵn sàng mở rộng con tim của mình ra để tiếp đón những người khác, sẵn sàng chia sẻ với những người xung quanh chúng con.

    Lạy Chúa Giê su Thánh Thể, xin giúp chúng con dẹp bỏ tính ích kỷ, phe nhóm, sự độc quyền, độc đoán và độc tài để chúng con biết đón nhận nhau, chân thành yêu thương nhau, cộng tác với nhau để cùng nhau xây dựng Nước Chúa, cho danh Chúa được rạng ngời trên khắp hoàn cầu, và để tất cả mọi người được hưởng ơn cứu độ Chúa ban. Amen.

    ————————————————–

    [1] Mc 9, 38b

    [2] Mc 9, 40

    [3] Mc 9, 39

    [4] Xc Mc 9, 43-47

    [5] Mc 9, 48

    Về mục lục

    .

    AI KHÔNG CHỐNG LẠI CHÚNG TA LÀ ỦNG HỘ CHÚNG TA-

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Tin Mừng hôm nay kể lại việc thánh Gioan, một trong số các Tông Đồ, kể lại với Chúa Giêsu sự kiện họ đã chứng kiến một người không thuộc nhóm các môn đệ nhưng đã lấy danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ và các ông đã ngăn cản không cho người đó làm như thế. Nghe những điều này, Chúa Giêsu liền bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,39-40).

    1- Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ?

    Đây là một chủ đề rất quan trọng hiện nay. Chúng ta nghĩ gì về những ai ở ngoài Giáo Hội, những người cố gắng làm những việc tốt lành và chứng tỏ một tinh thần cao cả, dẫu họ không tin vào Chúa Kitô và gia nhập vào Giáo Hội. Họ có được cứu độ không?

    Ngày xưa, trong một lá thư gửi chống lại lạc giáo, thánh Ciprianô (+258) có một câu nói nổi tiếng: “Extra ecclesiam nulla salus: ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ.” Khi quả quyết như thế, thánh nhân muốn chống lại những người theo lạc giáo chủ trương không cần phép rửa của Giáo Hội và ngài xác tín rằng ai chịu phép rửa từ những người lạc giáo là không thành sự.

    Tuy nhiên, câu nói này đã được giải thích cách giảm thiểu, nếu không muốn nói là méo mó về dụng ý của ngài. Thường khi trích lại câu nói này, người ta thường nhấn mạnh việc phải ở trong Giáo Hội Công Giáo hữu hình để được cứu độ. Quan niệm này đã tồn tại trong Giáo Hội rất lâu, hàng thế kỷ. Phải đợi đến Công Đồng Vaticanô II, chúng ta mới có một cái nhìn quân bình và mới mẻ về ơn cứu độ của những người ngoài Giáo Hội. Dĩ nhiên, sự thay đổi này là kết quả của một quá trình suy tư thần học, sau những khám phá về những vùng đất mới và nhờ những khả năng liên lạc với các dân tộc khác trên thế giới. Người ta thấy rằng có vô số con người chưa bao giờ được nghe loan báo Tin Mừng, không phải vì lỗi lầm của họ, hoặc đã được truyền giáo theo một cách thế không phù hợp từ những nhà truyền giáo thực dân, nên làm cho họ gặp khó khăn trong việc đón nhận Tin Mừng.

    Thật vậy, với sự thay đổi này, thần học quả rằng đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể. Thiên Chúa muốn cứu độ hết mọi người, cụ thể, Người cũng muốn cứu độ cả những người ở ngoài Giáo Hội, khi họ chưa có đức tin vào Chúa Kitô, chưa được rửa tội và không phải là thành viên của Giáo Hội. Cái nhìn này có nền tảng Kinh Thánh và thần học rất vững chắc: “Thiên Chúa muốn tất cả mọi người nhận biết chân lý và được cứu độ” (x 1 Tm 2,4). Thiên Chúa có những cách thế riêng để cứu độ họ và ơn cứu độ của Đức Kitô mang đến không giới hạn bởi khu vực, chủng tộc, quốc gia, nhưng mang tính phổ quát, cho hết mọi người. Đức Kitô chết cho hết mọi người không loại trừ ai. Trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 22, Công Đồng Vaticanô còn thêm: “Chúa Thánh Thần ban cho mỗi người khả năng để được kết hợp với mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô theo một cách thức mà chỉ Thiên Chúa mới biết và vì thế, họ được cứu độ.”

    2- Họ là ai và làm gì?

    Một cách cụ thể, Hiến Chế Lumen Gentium, Ánh Sáng Muôn Dân, số 16 nói đến những người sau đây dù không thuộc về Giáo Hội một cách hữu hình nhưng vẫn hy vọng được cứu độ: trước hết phải kể đến những người tin nhận Thượng Đế và tôn thờ Người như là Đấng Tạo Hóa của đời mình, họ là những người Do Thái Giáo và Hồi Giáo. Kế đến là những người vô tình không biết Tin Mừng Đức Kitô và Giáo Hội, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và sống theo tiếng lương tâm ngay thẳng, họ có thể được cứu độ. Một cách vô hình họ cũng thuộc về Giáo Hội.

    Như thế, đức tin Kitô Giáo chúng ta đã thay đổi chăng? Không. Cũng như xưa, chúng ta tiếp tục tin vào hai điều: Thứ nhất, rằng một cách khách quan và quả thật Chúa Giêsu là Đấng Trung Gian duy nhất và là Đấng Cứu Độ của toàn thể nhân loại, và rằng những ai không biết Người, nếu họ được cứu độ, thì được cứu nhờ Người và nhờ cái chết cứu độ của Người.

    Thứ đến, chúng ta tin rằng những ai chưa thuộc về Giáo Hội hữu hình, nhưng họ đang hướng về Giáo Hội một cách thực tế, họ cũng làm thành viên của Giáo Hội rộng lớn hơn, mà chỉ có Thiên Chúa mới biết.

    Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu xem ra yêu cầu hai điều từ những người ở ngoài Giáo Hội: điều thứ nhất là họ không “chống lại Người,” nghĩa là họ không chống lại một cách chủ động đức tin và các giá trị Tin Mừng, nghĩa là họ không đặt mình chống lại Thiên Chúa. Họ có thể được cứu.

    Thứ đến, nếu họ không thể phục vụ và yêu mến Thiên Chúa, ít ra họ phục vụ và yêu mến hình ảnh của Người, là con người, tha nhân, đặc biệt những người nghèo. Họ cũng được cứu. Quả thậy, điều này được Chúa Giêsu quả quyết ở câu kế tiếp như nói về những ai ở ngoài Giáo Hội: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bỏa thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9,41; x. Mt 10,42).

    3- Chúng ta phải làm gì?

    Tuy nhiên, sau khi đã giải thích giáo huấn này, tôi tin rằng cũng cần thiết để chúng ta điều chỉnh điều gì đó nữa, là thái độ bên trong chúng ta, tâm lý chúng ta xét như là những người tin. Ngày nay tư tưởng và thái độ Giáo Hội đã thay đổi, nhưng nhiều người Công Giáo trong chúng ta không muốn thay đổi; nhiều lúc chúng ta muốn độc quyền về chân lý và ơn cứu độ, tỏ ra hơn người khác, hơn tôn giáo khác một cách thái quá vì mình tin vào Chúa Kitô và là thành viên của Giáo Hội. Trái lại, có những người lại thắc mắc trước những thay đổi này khi nói: “Như thế, trở thành người Kitô hữu tốt để làm gì?”

    Một cách tích cực, chúng ta phải thực sự vui mừng vì những sự cởi mở mới mẻ này của thần học Công Giáo khi biết rằng những anh chị em chúng ta ở ngoài Giáo Hội cũng có khả năng để được cứu độ. Điều này là điều đang giải phóng và đang khẳng định sự quảng đại vô biên của Thiên Chúa và ý định của Người là muốn cho “mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4) đó sao?

    Chúng ta phải làm cho khát khao của Môsê trở thành khát khao của chúng như bài đọc I hôm nay diễn tả: “Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ! Vì Đức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ” (Ds 11,29).

    Hiểu như thế, phải chăng chúng ta nên dừng việc truyền giáo, cứ để cho mọi người trong bình an, trong xác tín riêng của họ, và thôi việc giới thiệu Chúa Kitô, bởi vì người ta cũng có thể được cứu độ theo cách thế riêng của họ? Dĩ nhiên không! Chúng ta phải tiếp tục thực thi lệnh truyền của Chúa là làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người. Nhưng điều mà chúng ta phải làm là nhấn mạnh lý do tích cực hơn là tiêu cực. Lý do tiêu cực là: “Bạn hãy tin vào Chúa Giêsu Kitô, vì ai không tin vào Người thì sẽ bị luận phạt đời đời.” Còn lý do tích cực là: “Bạn hãy tin vào Chúa Kitô, bởi vì thật tuyệt vời khi tin vào Người, biết Người, và có Người bên cạnh như là Đấng Cứu Độ, khi chúng ta sống cũng như khi lìa đời.” Điều đó tạo nên sự khác biệt và có sức thuyết phục hơn là dọa dẫm. Amen!

    Về mục lục

    .

    KHÔNG ĐỘC QUYỀN ƠN CHÚA

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Thiên Chúa hằng chăm sóc mọi người và mời gọi chúng ta cũng biết quan tâm đến những người chúng ta có trách nhiệm. Ngài có toàn quyền tự do ban phát ân huệ của Ngài cho những ai tuỳ ý. Tuy nhiên, Ngài muốn loài người sống tình liên đới chia sẻ và không được độc chiếm. Bài trích sách dân số hôm nay thuật lại những biến cố quan trọng xảy ra từ núi Sinai đến đồng bằng Moab trên đường vào đất hứa của dân Do thái xưa. Ông Môsê không thể gánh chịu một mình mọi công việc nên Thiên Chúa truyền lệnh cho ông chọn 70 vị bô lão để chia sẻ việc phục vụ dân chúng. Thiên Chúa đã lấy thần khí trong ông Môsê mà phân phát cho 70 vị bô lão đó. Kết quả là họ có khả năng nói tiên tri, kể cả 2 vị không đến trong nhà xếp. Sự kiện này gây bất bình nơi Giôsuê, và ông thưa rằng: “Hỡi ông Môsê, xin hãy cấm chỉ các ông ấy đi”. Với tài lãnh đạo khôn ngoan và độ lượng, không muốn giữ độc quyền ân huệ Thiên Chúa ban cho mỗi người để họ cùng tham dự vào công việc theo thánh ý Thiên Chúa, Môsê đáp lại rằng: “Ngươi phân bì giùm ta làm chi? Chớ gì toàn dân được nói tiên tri và Chúa ban Thần khí Ngài cho họ”.

    Thưa anh chị em, vào thời Chúa Giêsu chúng ta thấy Gioan cũng có thái độ và não trạng của ông Giôsuê khi ông thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y”. Đây là thái độ độc quyền và phân biệt kẻ trong người ngoài, kẻ theo người chống. Chúa Giêsu muốn phá vỡ những thái độ đó như những bước tiến đầu tiên trong việc xây dựng tình huynh đệ đại đồng, Người nói: “Ðừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy”. Chúa còn khẳng định thêm: “Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con”. Khuynh hướng muốn độc chiếm Đức Kitô của họ đối nghịch trực tiếp với thái độ của Chúa Giêsu đang tiến dần đến cái chết cứu độ để đem lại ơn giải thoát cho hết thảy mọi người, không phân biệt kẻ trong người ngoài, không phân biệt tự do hay nô lệ, không phân biệt sắc tộc hay ngôn ngữ. Hai đề nghị của Giôsuê và Gioan đã nói lên sự tham vọng của loài người: muốn độc chiếm ơn huệ, độc quyền ơn Chúa, không muốn người khác được như mình. Đây là biểu hiện tính kêu ngạo cố hữu nơi loài người mà Lời Chúa hôm nay muốn phá vỡ.

    Có câu chuyện kể rằng, một ni cô nọ có một tượng bộc bằng vàng. Cô rất quý pho tượng nên đi đâu cũng mang theo. Trong ngôi chùa mà cô chủ trì có nhiều tượng Phật, cô dọn riêng cho pho tượng của mình một bàn thờ đặc biệt. Thậm chí lúc đốt hương trước tượng Phật của mình, cô còn muốn không cho làn khói bay qua những tượng khác. Cô xoay xở để sao cho làn khói bay thẳng vào pho tượng của mình. Kết quả là lâu ngày, pho tượng vàng trở nên đen xì xấu xí bởi những làn khói này.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Lòng quá ích kỷ cũng vậy, sẽ làm chúng ta trở nên nhỏ mọn như khói. Thánh Gia-cô-bê trong bài đọc 2 hôm nay cảnh cáo nghiêm khắc đối với những người giàu có mà sống xa hoa, trụy lạc và ích kỷ, không biết chia sẻ của cải vật chất mà Thiên Chúa đã ban cho họ với những người túng thiếu cần đến sự giúp đỡ của họ. Người Kitô hữu được mời gọi làm môn đệ của Chúa Giêsu không phải chỉ là việc mình thuộc về nhóm này hay nhóm khác, mà chính là sống và hành động như Chúa Giêsu đã làm, biết quảng đại: Ơn Chúa ban cho để phục vụ chứ không để hưởng thụ, để độc quyền. Đồng thời, biết biểu dương và tán đồng với những ai được ơn huệ nào của Chúa, ơn tự nhiên hay ơn siêu nhiên.

    Nguyện xin Chúa ban ơn giúp sức cho chúng ta biết ra khỏi chính mình, để chúng ta được lớn lên trong ân tình của Chúa và đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa hứa ban. Amen.

    Về mục lục

    .

     

    CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Một nhà tâm lý nổi tiếng đã viết một cuốn sách có tựa đề là: “Cái gì trở thành tội?” “Whatever Became of Sin?”  Luận đề chính của cuốn sách là: “Xã hội ngày nay đã mất đi ý thức về tội.”  Ông bắt đầu cuốn sách bằng một câu chuyện về một người đàn ông đứng ở ngã tư đường giữa thành phố Chicago.  Người đàn ông này cao, gầy và trông rất nghiêm nghị quan sát những người qua lại trên đường. Thỉnh thoảng ông chỉ vào một người và nói: “Phạm tội.”  Ông cho rằng có lẽ những người bị chỉ tay thầm nghĩ:  “Làm sao ông biết được. Hay không biết ông này nói gì?”

    Trong cuốn sách, bác sĩ tâm lý này cho biết ngày nay tội đã không biến mất đi như nhiều người lầm tưởng, nhưng vẫn còn hiện diện.  Ông cho rằng tội đã trở nên một vấn đề nghiêm trọng to lớn trong xã hội, bởi vì ngày nay người ta vô tư, không còn ý thức, quan tâm hay dửng dưng trước thực tại của tội lỗi.

    Chúng ta thấy tội cũng là đề tài mà những bài Kinh thánh hôm nay đề cập đến.  Tội, như thánh Gia-cô-bê khẳng định trong bài đọc 2 hôm nay, là sự tham lam, gian dối, ích kỷ và thờ ơ trước những đau khổ và sự bất công trong xã hội. Bài đọc một cho chúng ta thấy tội ganh tị của ông Giô-suê muốn ông Môi-sen ra lệnh ngăn cấm 2 người phục vụ Chúa. Nhưng ông Môi-sen đã trả lời với ông Giô-suê: “Ngươi phân bì giùm ta làm chi?  Chớ gì toàn dân được nói tiên tri và Chúa ban Thần Trí Người cho họ.”  Phần đầu của bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su dạy chúng ta phải từ bỏ tính ganh ghét và chia rẽ bè nhóm để hiệp nhất và can đảm làm những gương sáng tốt lành, rao giảng Tin mừng và làm sáng danh Chúa.  Trong phần hai, Chúa nói hãy buộc cối xay vào cổ mà sô xuống biển, hay chặt tay, chặt chân và móc con mắt bỏ đi nếu những cái đó làm cớ cho chúng ta phạm tội và sẽ bị ném xuống hỏa ngục.

    Chúng ta phải chú ý đây chỉ là những dụ ngôn mà Chúa dùng để dạy chúng ta những bài học quan trọng cho cuộc sống Ki-tô hữu.  Chúa không có ý định dạy chúng ta chặt chân, chặt tay hay móc mắt vất đi, vì căn nguyên của tội lỗi không từ đó mà ra, nhưng từ trong tâm trí chúng ta mà ra.  Tội là một quyết định làm những gì nghịch lại giáo huấn của Chúa hay không làm những gì Chúa dạy chúng ta phải làm, hay nói một cách khác, không sống theo những giới răn, giáo huấn của Chúa.

    Thật sự khi Chúa Giê-su đưa ra những sự kiện này là muốn chúng ta biết rằng Người yêu thương, quan tâm và muốn chúng ta sống trong an bình và ân sủng của Người.  Chúa cho chúng ta biết rõ rằng nếu chúng ta muốn có hạnh phúc vĩnh cửu đời sau thì húng ta phải gìn giữ một sự liên hệ mật thiết với Chúa hơn tất cả mọi vật chúng ta có và chiếm giữ ở đời này.  Và Chúa nhấn mạnh đến việc làm gương xấu cho trẻ em, con cái, cháu chắt.  làm cho chúng xa Chúa, hay lấy lý do này lý do kia, bận việc này hay việc kia không chú tâm dạy dỗ, hướng dẫn con cái.  Vì thế là những bậc làm cha mẹ, chúng ta hãy tự hỏi:  “Chúng ta có làm điều gì hay không làm điều gì trở thành gương xấu cho con cái lánh xa Chúa hay trở thành cớ cho người khác vấp phạm?” “Lời nói, việc làm của chúng ta có gây ra những sự tranh chấp, ghen ghét, chia rẽ không?  Chúng ta hãy hình dung Chúa Giê-su, một Đấng đầy lòng yêu thương, nhân từ và hay thương xót và cũng là Đấng tuyên bố với chúng: “Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn.”   Chúng ta biết Chúa Giê-su rất nhân từ và luôn tha thứ, nhưng Người không vô tư, không nhẹ nhàng với tội lỗi hay cho tội lỗi là tầm thường.

    Chúng ta thấy tội lỗi được phơi bày trên phim ảnh, báo chí, trên TV, internet hay facebook.  Đối với nhiều người, tội lỗi hình như đã biến mất hay không còn chỗ trong đời sống của họ. Nhưng đối với chúng ta, những người có đức tin, những người tin vào Chúa, được nghe Lời Chúa dạy trong Thánh lễ hàng tuần thì tội là những điều chúng ta phải chú ý và cố tránh.  Nếu chúng ta có tội, thật sự tất cả chúng ta đều là những người có tội, thì lời Chúa hôm nay không có chủ đích là lên án chúng ta hay làm cho chúng ta xấu hổ, nhưng vì lòng yêu thương, Chúa kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức và biết ăn năn cải thiện đời sống, đồng thời nhắc nhở chúng ta về sự hiện hữu, thực tế của tội trong xã hội.  Nếu chúng ta làm ngơ trước thực tại của tội lỗi, thì chúng ta cũng làm ngơ, vô tư hay lạnh nhạt với Lời Chúa.  Chúa Giê-su đã dạy chúng ta bằng cả cuộc sống của Người. Người đã khiêm nhường mặc lấy bản tính hèn mọn của con người, trừ tội.  Chính Chúa cũng đã sống một cuộc đời hy sinh, quảng đại phục vụ và yêu thương. Yêu thương đến nỗi cho đi cả tính mạng của mình trên thập giá để tha thứ tội lỗi. Tình yêu thương tha thứ đó Chúa trải rộng trên tất cả mọi người, người lành kẻ dữ và người có tội.

    Nói tóm lại, lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta là những Ki-tô hữu sống với nhau, thờ phượng với nhau và phục vụ bên nhau, phải cố gắng tránh những lời nói, hành động trở thành những gương mù, gương xấu cho ai, nhất là cho con cái.  Đồng thời phải đề cao, cảnh giác trước thực tại và những cám dỗ của tội lỗi.  Chúng ta phải lắng nghe và sống Lời Chúa dạy, có lòng bác ái, quảng đại, hy sinh, phục vụ làm gương sáng cho người khác và làm sáng danh Chúa.

    Vì yêu thương và với lòng nhân từ thương xót, Chúa đã dùng những hình ảnh và phương cách để nhắc nhở và dạy dỗ chúng ta cẩn thận tránh xa tội lỗi, vì tội lỗi có thể gây ra những sự chia rẽ, bất hòa, hủy diệt đức tin và sự liên hệ mật thiết với Chúa, lấy đi ân sủng bình an đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau mà Chúa đã hứa ban cho chúng ta.

    Về mục lục

    .

     

    BAO DUNG VÀ QUẢNG ĐẠI

     

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Trong cuộc sống đời thường, do tham lam ích kỷ, chúng ta thường bưng tai bịt mắt trước nỗi đau của đồng loại. Chúng ta cũng thường chủ quan đánh giá một người hoặc một sự việc với nhiều thiên kiến. Việc nhận định vội vàng về một con người sẽ gây nên biết bao hậu quả khôn lường. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy có cái nhìn bao dung thông cảm đối với tha nhân và tấm lòng quảng đại với người nghèo khó.
     
    Trên thế giới hiện nay, có một khoảng cách rất lớn giữa các nước bắc bán cầu và nam bán cầu. Các nước phía bắc giàu có và văn minh hơn. Các nước phía nam nghèo nàn và lạc hậu hơn. Chẳng phải tìm đâu xa, xung quanh chúng ta vẫn còn những cách biệt ấy. Trong xã hội Việt Nam, hiện có rất nhiều người giàu có và cũng rất nhiều người nghèo nàn. Ngoại trừ một số ít người giàu có lòng quảng đại quan tâm đến người nghèo, phần lớn những người kinh tế khá giả đều dửng dưng trước nỗi khổ của những người kém may mắn. Không ít những người giàu có phất lên là do gian lận, tham ô và làm ăn bất chính. Thực ra, nếu người ta biết quảng đại chia sẻ và biết phân chia công bằng, thì của cải vật chất trên thế gian này luôn luôn đủ để nuôi sống tất cả mọi người. Nạn đói, chiến tranh, di dân, khủng bố… đều có nguyên nhân là sự ích kỷ và thù hằn. Thánh tông đồ Giacôbê trong Bài đọc II hôm nay đã phê phán một số người giàu có mà dửng dưng đối với người nghèo. Vị tông đồ còn vạch trần những hành động khuất tất của họ, như gian lận, lèo lái bất công để chiếm đoạt tài sản của người nghèo. Ông kết luận: những người gian ác sẽ chẳng tránh khỏi tội. Họ không có tội vì họ giàu, nhưng vì họ gian lận áp bức những người cô thế cô thân.

    Giáo huấn của Chúa luôn mang nội dung bênh vực những người nghèo khổ về tinh thần cũng như thể xác. Chúa Giêsu quả quyết với chúng ta, sự giúp đỡ cho người nghèo, dù đơn sơ như bát nước lã, cũng được ghi nhận và thưởng công trong ngày sau hết. Giá trị của bát nước lã rất nhỏ mọn, nhưng khi nó được trao ban với tâm tình quý mến, nó có thể đem lại cho chúng ta phần thưởng từ chính Thiên Chúa. Tình yêu mến đồng loại dựa trên nền tảng Đức tin vào Chúa sẽ tạo nên sức mạnh giúp con người có thể làm được những điều phi thường. Tác giả Michel Quoist đã viết: “Chỉ có hai giải pháp cho đời sống: yêu mình đến hoàn toàn quên lãng tha nhân, hay yêu tha nhân đến hoàn toàn quên lãng bản thân”. Sự hiện diện âm thầm hy sinh của các nữ tu trong các trại phong, hay tấm gương hy sinh của thánh Maximilien Kolbe sẵn sàng chết cho người khác, đã chứng minh điều này. Những tấm gương hy sinh này đã hoàn toàn quên lãng bản thân và đã đạt tới những nhân đức anh hùng.

    Quảng đại trong nghĩa cử chia sẻ tinh thần và vật chất, chúng ta cũng được mời gọi bao dung trong nhận định đối với những người xung quanh. Ông Gioan được nhắc tới trong Tin Mừng đã thể hiện sự ghen tương theo lẽ tự nhiên của con người. Ông thưa với Chúa Giêsu: “Chúng con thấy có người nhân danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Cách lập luận “người ấy không theo chúng ta” cho thấy tính cục bộ, phe cánh và tư tưởng muốn loại trừ người khác. Chúa dạy chúng ta hãy có cái nhìn công bằng hơn. Bất cứ ai làm điều tốt, dù họ thuộc về phe phái chính trị hoặc về tôn giáo nào, đều đáng trân trọng. Thiên Chúa là nguồn gốc của Chân, Thiện, Mỹ, nên những ai làm những thiện hảo và tốt đẹp đều đang hướng về Chúa và mặc dù không ý thức điều đó, họ vẫn đang diễn tả vẻ đẹp và sự tốt lành của Ngài. Bài đọc I trích từ sách Dân Số cũng kể lại một trường hợp tương tự, vào thời ông Môisen làm thủ lãnh dẫn đưa người Do Thái ra khỏi Ai Cập. Một chàng thanh niên đã ghen tỵ khi thấy hai người khác phát ngôn (tức là rao giảng và truyền đạt thánh ý của Chúa).  Ông Môisen đã trả lời: “Anh ghen giùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Ngài, để họ đều là ngôn sứ!”.

    Điều ông Môise ao ước ngày xưa, nay đã được thực hiện. Quả vậy, mỗi Kitô hữu đều được lãnh nhận Thần Khí của Chúa trong ngày họ chịu phép Thanh tẩy, đặc biệt khi họ  lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Giáo Hội có sứ mạng Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế, và mỗi thành viên của Giáo Hội được san sẻ ba chức vụ này. Người Kitô hữu có bổn phận loan truyền Lời Chúa, góp phần thánh hóa xã hội và tham gia xây dựng Giáo Hội ngày một lớn mạnh giữa trần gian.

    Một tác giả đã viết: Người quân tử khắt khe với bản thân và rộng rãi với người khác. Ý tưởng này được nhấn mạnh trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Cách nói tạo hình ảnh gây ấn tượng như chặt chân, chặt tay, móc mắt… diễn tả sự chọn lựa cương quyết giữa hạnh phúc đời này với hạnh phúc đời sau, giữa sự thanh thản nội tâm với những bổng lộc trần thế. Đây cũng là cách khẳng định mạnh mẽ về sự dứt khoát từ bỏ những nguyên nhân gây nên tội ác, để trung tín với Đấng đã hy sinh mạng sống vì yêu thương chúng ta.

    Về mục lục

     

    KHỔ CHẾ VỚI BẢN THÂN

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Thành công nào cũng đòi phải trả giá bằng hy sinh, bằng khổ luyện. Vì qua gian khổ mới tới vinh quang. Đôi khi muốn đạt được mục đích người ta phải từ bỏ rất nhiều, kể cả niềm vui và đam mê.
    Trong kỳ Sea Games 2015 người ta ca ngợi một siêu kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên. Cô đã đạt được 8 HCV cá nhân. Với kỳ tích này cô đã trở thành thần tượng của nhiều người. Vinh quang này cô đã phải đánh đổi và hy sinh hầu hết những niềm vui bình dị đời thường của thời tuổi trẻ.
    Không sử dụng internet, không điện thoại, không face book, thậm chí xe máy cũng chưa biết đi và hơn cả là những chuyến xa nhà dài dằng dặc khiến cô nhiều lần nhớ nhà rơi nước mắt. Một ngày Ánh Viên phải bơi từ 20-25 cây số với nhiều tốc độ và “biến thiên” khác nhau. Khối lượng bài tập được phân chia trong hai buổi/ngày, thời gian còn lại, Ánh Viên tiếp tục rèn thể lực với việc tập tạ.
    Quả đúng như người ta nói: muốn có vinh quang cần phải hy sinh nhiều thứ. Một em bé muốn thành bác sĩ, kỹ sư phải hy sinh thời giờ vui chơi để học tập. Một bác sĩ muốn giỏi phải hy sinh thời gian để trau dồi kiến thức. Một nghệ sỹ muốn thành danh phải dày công khổ luyện . Một linh mục muốn nên giống Chúa thì phải từ bỏ rất nhiều mới mong trở thành mục tử như lòng Chúa mong ước.
    Và hôm nay Chúa Giê-su bảo muốn vào Nước Trời thì cũng phải nghiêm khắc với chính mình qua việc rèn luyện bản thân. Rèn luyện để sống khổ chế hy sinh. Rèn luyện để sống gương mẫu trước tha nhân. Rèn luyện đến mực tuyệt đối nghiêm khắc với bản thân. Có khi còn phải hy sinh cả một phần thân thể như : “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi ; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi ; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã thì móc nó đi ; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt”.
    Xem ra con đường vào nước trời đòi hy sinh rất nhiều. Hy sinh cái tôi của mình để không ganh ghét, tị hiềm tha nhân. Hy sinh của cải của mình để sống quảng đại với tha nhân. Hy sinh cả những phần thân thể mình để được vào Nước Trời.
    Nhưng xem ra có mấy ai lại hy sinh cái tôi của mình, có mấy ai lại không lo cho mình mà chỉ lo cho tha nhân, và nhất là có mấy ai chịu mất đi một phần thân thể của mình, dẫu biết rằng vì chiều chuộng thân xác mà hư mất đời đời. Con người luôn đề cao cái tôi, luôn lo lắng cho bản thân, luôn chiều chuộng bản thân. Đó là lý do mà cuộc đời vẫn còn đó những ganh ghét, tị hiềm; vẫn ích kỷ thiếu lòng quảng đại với tha nhân; vẫn chiều theo bản năng, chọn dễ dãi cho tính xác thịt  . . .
    Ước gì đời người tín hữu luôn biết khổ chế bản thân. Khổ chế tính bè phái để sống bao dung. Khổ chế tính xác thịt để sống gương mẫu. Ước gì mỗi người chúng ta biết rèn luyện bản thân mình nên giống Chúa Ky-tô để hoàn thiện mình mỗi ngày nên tốt hơn.

    Về mục lục

    .

    NHỎ MÀ TO

    Trầm Thiên Thu

    Có những điều tưởng nhỏ mà hóa to, có những điều tưởng to mà lại nhỏ. Như tục ngữ Việt Nam nói: “Lỗ nhỏ làm đắm thuyền”. To hoặc nhỏ cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng, tiêu cực và tích cực. Chuyện nhỏ và to giống như vòng lẩn quẩn, có cái khôi hài mà “thấm thía”.

    Trong cộng đồng mạng, người ta có luận về “chuyện nhỏ – to” như thế này: “Đất nước NHỎ có thủ đô TO, thủ đô TO có những con đường NHỎ, con đường NHỎ có những căn nhà TO, căn nhà TO có… có…” (*). Đúng là cười ra nước mắt, cười mà đau, cười mà chẳng vui chút nào! Sao thế nhỉ? Chỉ khổ cho đám “dân đen”, kêu chẳng ai thèm nghe!

    Chu kỳ “nhỏ-to” như vậy không chỉ nói tới xã hội, đừng vội cười người kẻo bị người cười, vì trong đó cũng thấy “thấp thoáng” bóng dáng những người có chức vị trong tôn giáo. Dù to hay nhỏ, dù rộng hay hẹp, loại “ô dù” nào cũng đáng sợ. Kiểu nào thì cũng chỉ khổ đám dân đen thấp cổ bé miệng mà thôi!

    Tuy nhiên, sự thật mãi mãi là sự thật, và sự thật thường làm chúng ta đau lòng, ngại đối mặt, thế nhưng ai dám đối mặt với sự thật thì mới khả dĩ “nên khôn”, vì chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta (x. Ga 8:32) – Thầy chí thánh Giêsu đã bảo thế.

    Trình thuật Ds 11:25-29 cho biết: “Ngày xưa, Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Mô-sê. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục. Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn, nhưng việc đó không tái diễn nữa”. Thần Khí đó là Thánh Linh, là Chúa Thánh Thần, là Ngôi Ba Thiên Chúa. Ngài không bao giờ xuất hiện trong dạng hình người – chỉ như Gió, Lửa, Nước, hoặc Bồ Câu – nhưng Ngài vẫn không ngừng tác động nơi mỗi chúng ta, ngay từ trong ý nghĩ.

    Bấy giờ có hai người ở lại trong trại, một người tên là En-đát, một người tên là Mê-đát. Các ông đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng đã không đến Lều. Thần Khí đậu xuống trên các ông và các ông bắt đầu phát ngôn trong trại. Một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Mô-sê: “Ông En-đát và ông Mê-đát đang phát ngôn trong trại!”. Ông Giô-suê, con ông Nun, từng theo hầu ông Mô-sê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Mô-sê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!”. Nhưng ông Mô-sê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!”.

    Được lãnh nhận Thần Khí là điều ai cũng muốn, ông Mô-sê cũng đã mong cho mọi người đều được ơn “nói tiếng lạ” để trở nên ngôn sứ của Thiên Chúa. Về cơ bản, bất cứ ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy thì đều có thiên chức: Ngôn sứ, Tư tế, và Vương giả.

    Đây là lĩnh vực thần học, như Công đồng Vatican II đã đề cập trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội (số 10). Đại ý: Thiên chức Tư tế (linh mục là tư tế thừa tác, Kitô hữu là tư tế cộng đồng) là để hiến dâng của lễ cứu độ loài người; Tiên tri (hoặc Ngôn sứ) là để loan báo Tin Mừng Nước Trời; Thiên chức Vương giả (hoặc Vương đế) là để phục vụ dân riêng của Thiên Chúa.

    Với mỗi Kitô hữu (dù là giáo hoàng, giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân, thành viên Đạo Binh Đức Mẹ, Lòng Chúa Thương Xót, Phạt Tạ Thánh Tâm, Con Đức Mẹ, Dòng Ba Đa-minh, Cursillo, Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội đồng Giáo xứ,…), đều được Thánh Phêrô nhắn nhủ: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em em như những viên đá sống động mà xây lên ngôi đền thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa dắt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô” (1 Pr 2:5).

    Thời gian gần đây, chúng ta thấy xuất hiện phong trào “Sứ Điệp Từ Trời”, hoặc vấn đề “Canh Tân Đặc Sủng Với Ơn Té Ngã Và Nói Tiếng Lạ” mà Lm P.X. Ngô Tôn Huấn đã vài lần đề cập và cảnh báo. Quả thật, nếu chúng ta cứ “chạy đua” theo các “sự lạ” như vậy, coi chừng sẽ hóa thành Tin Lành.

    Vì thế, đừng ham “thành tích” hoặc “sự lạ” mà tự làm hại đức tin của chính mình. Phúc đâu chưa thấy mà lại thấy họa! Trừ một số ít các vị thánh có ơn đặc biệt (như Thánh Martin de Porres, Thánh Faustina, Thánh Piô Năm Dấu,…), đa số các thánh đều có cuộc sống bình thường, thậm chí là rất bình thường, không có gì gọi là “lạ”. Vấn đề quan trọng vẫn là sống lòng thương xót để chứng tỏ đức tin vững mạnh và trọn vẹn đến hơi thở cuối cùng. Ngay như đối với Thánh Gioan XXIII, Thánh Gioan Phaolô II, Chân phước Phaolô VI, Chân phước Têrêsa Calcutta, Bậc đáng kính P.X. Nguyễn Văn Thuận,… là những người vừa sống cùng thời với chúng ta, cuộc đời các ngài không có gì gọi là “sự lạ”, có chăng là cách sống “lạ” – tức là thâm tín, chịu đựng, hy sinh,… vì mến Chúa và yêu người. Ai thực sự được gặp Chúa thì chắc chắn cuộc đời biến đổi hẳn, chứ không “nửa vời” như những người vẫn vỗ ngực tự nhận là được “ơn lạ”, nhưng cách sống của họ không thấy rõ nét biến đổi. Quả là chí lý khi tiền nhân cảnh báo chúng ta: Cẩn tắc vô ưu!

    Chắc hẳn tác giả Thánh Vịnh cũng có cuộc sống đời thường như chúng ta, nhưng có cái “lạ” là biết giữ trọn Luật Chúa và nhận thức sâu sắc: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19:8). Nhận thức được như vậy thì quyết tâm tuân thủ, không so đo, không tính toán: “Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh (Tv 19:10).

    Tác giả Thánh Vịnh thật là khôn ngoan khi biết tìm kiếm và cầu xin những gì thực sự có lợi cho linh hồn: “Tôi tớ Ngài đây xin ra công học hỏi; ai giữ những điều này sẽ được nhiều lợi ích. Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay. Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ nên vẹn toàn, không còn vương trọng tội” (Tv 19:12-14).

    Là Đấng chí tôn, tối thượng, nhưng Chúa Giêsu đã hạ mình đến tột cùng để sẵn sàng coi tội nhân chúng ta là thân hữu của Ngài: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15:15). Chúng ta dành cả đời để tạ ơn Ngài cũng không đủ, chứ nói chi dám năn nỉ Ngài ban cho điều gì nữa. Vì thế, chớ có ngu xuẩn mà ảo tưởng, tự cho mình là “ông kia, bà nọ”, hoặc đòi phải thế nọ, thế kia.

    Thánh Giacôbê vừa nhắc nhở vừa cảnh báo: “Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các người hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát, quần áo của các người đã bị mối ăn. Vàng bạc của các người đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các người; nó sẽ như lửa thiêu huỷ xác thịt các người. Các người đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này” (Gc 5:1-3).

    Giàu sang, lắm của và nhiều tiền, đó không là tội. Nhưng tiền bạc có ma lực khó cưỡng lại, vì thế mà Thánh Phaolô đã xác định: Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10). Đừng tưởng rằng những người đi tu mà “quên” tiền bạc, thậm chí có người còn tệ hơn giáo dân.

    Ví dụ: Gm Tebartz-van Elst “nổi tiếng” là xa hoa hào nhoáng ở Đức, đã chi hơn 31 triệu euro để tu sửa dinh cơ của ông. ĐGH Phanxicô đã cho mãn nhiệm hồi tháng 10-2014. Lm Gioan Baotixita Võ Hồng Khanh vì lem nhem tiền bạc đã bị tước năng quyền cử hành phụng vụ tại bất kỳ cơ sở nào của TGP Los Angeles (Hoa Kỳ) từ ngày 25-6-2015. Lm Ng. của TGP Saigon, còn trẻ nhưng đã bị nghỉ hưu non vài tháng qua vì lem nhem tiền bạc, quyên góp tiền cách bất chính để dùng cho mục đích cá nhân ông. Và rồi các dịp đặc biệt (lễ, tết,…), Việt Nam cũng đã có giám mục được người ta đến chúc mừng bằng vật chất “béo bở” (không chỉ “phong bì dày” mà “vàng thật”). Thảo nào người ta bảo “tiền là tiên, là Phật,…”. Thật ngu xuẩn đối với những người xếp hàng để được vào gặp “quan lớn” như vậy! Có nên đặt “dấu hỏi LỚN” hay không nhỉ? Quả thật, đáng quan ngại biết bao!

    Đó là cách “gian lận” tinh vi, cách xảo thuật “hối lộ”. Có lẽ lúc này mới thực sự thấm thía lời của Thánh Giacôbê: “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2:17 và 26). Muốn có đức tin sống động, không còn cách nào hơn là có đời sống cầu nguyện liên lỉ, luôn kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi.

    Thánh Giacôbê nói thêm: “Các người đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh. Trên cõi đất này, các người đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các người đã được no đầy thoả mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người” (Gc 5:4-6). Thật chí lý khi tiền nhân xác định: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Cái nào cũng to, cũng khó, nhưng khó nhất vẫn là “tu thân”. Chắc hẳn không phải ngẫu nhiên mà người ta đặt tiêu chí “tu thân” lên hàng đầu.

    Hãy luôn ghi nhớ lời của Thánh Phaolô: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1 Tm 6:10). Và cũng đừng quên lời của Thánh Phêrô: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8). Chuyện NHỎ mà lại TO, không hề NHỎ chút nào ráo trọi!

    Với những người giàu, Thánh Phaolô đưa ra lời khuyên để Thánh Timôthê truyền đạt lại: “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy họ tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai, để được sự sống thật” (1 Tm 17:19). Khác nhau là giàu cái gì, đời này hay đời sau.

    Một hôm, chàng trai trẻ Gioan nói với Thầy Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Gioan hơi bị vô duyên, vì cứ tưởng không ai khác có quyền trừ quỷ. Ảo tưởng! Cái ảo tưởng của Gioan cũng là cái ảo tưởng của nhiều người trong chúng ta ngày nay. Và rồi Đức Giêsu bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39-40).

    Sau đó, Chúa Giêsu nói rõ: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9:41). Chén nước chẳng là gì, chỉ là “chuyện nhỏ”, thế nhưng lại là “chuyện lớn”, chuyện quan trọng, và được Chúa Giêsu “chấm công”. Tất nhiên “việc nhỏ” đó phải được thực hiện với tình yêu thương, lòng trắc ẩn, lòng thương xót, chứ không vì bất cứ lý do gì khác.

    Liên quan vấn đề nhỏ – to, Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9:42). Cách so sánh rất “nặng”, nhưng Ngài nói thật, không hề nói giỡn chơi hoặc hù dọa chi cả. Thiết tưởng rằng trẻ nhỏ ở đây không chỉ là trẻ thơ, trẻ em, hoặc con nít, mà còn là những người chân chất thật thà – dù đã trưởng thành hoặc cao niên.

    Và còn hơn thế nữa, vốn dĩ tính thẳng thắn thật thà, Chúa Giêsu nói “mạnh” hơn nữa: “Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9:43-48).

    Những lời này đầy “lửa”, có thể thiêu đốt bất cứ người nào, bất cứ lúc nào, và bất cứ nơi nào!

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết thực hiện những điều bình thường một cách phi thường, làm với tình đồng loại thực sự, mong sao được nên giống Ngài phần nào, vì con biết con rất dễ ảo tưởng. Xin thương xót, định hướng và nâng đỡ con, lạy Chúa! Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    ——-

    (*) Đất nước NHỎ có thủ đô TO, thủ đô TO có những con đường NHỎ, con đường NHỎ có những căn nhà TO, căn nhà TO có cô vợ NHỎ, cô vợ nhỏ dành cho ông quan TO, ông quan TO mang chiếc cặp nhỏ, chiếc cặp NHỎ có những dự án TO, dự án TO nhưng hiệu quả NHỎ, hiệu quả NHỎ nhưng thất thoát TO, thất thoát TO nhưng lỗi lại NHỎ… Trong đất nước NHỎ có những ông lãnh đạo TO, những ông lãnh đạo TO có cái đầu NHỎ, cái đầu NHỎ nhưng túi tham TO, túi tham TO bởi vì đầu óc NHỎ, đầu óc NHỎ nên tác hại TO, tác hại TO mà trách nhiệm NHỎ, trách nhiệm NHỎ nhưng quát tháo TO, quát tháo TO vì trí tuệ NHỎ, trí tuệ NHỎ nhưng lợi nhuận TO, lợi nhuận TO nhưng số người chia chác lại NHỎ, số người tuy NHỎ nhưng tổn thất TO, tổn thất TO nhưng báo cáo là NHỎ , báo cáo NHỎ nhưng thành tích thật vẫn TO. Và… cán bộ TO đi xe NHỎ (xe riêng), cán bộ NHỎ lại đi xe TO (xe đò), ông quan TO thường ở với vợ NHỎ (vợ bé), ông quan NHỎ phải ở với vợ TO (vợ cả) và ở nhà TO (nhà tập thể)…

    Về mục lục

    .

    SỐNG THEO THẦN KHÍ

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Làm sao để sống hạnh phúc, làm sao để sống tốt, làm sao để hình thành quan điểm sống đúng đắn để qua đó một người có thể sống bình an hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại?

    I. Mọi sự tốt lành đều do Thiên Chúa mà có
    Thiên Chúa là ai? Ngài là Đấng vượt lên tất cả, Ngài là Cha của tất cả, là Đấng ban cho con người tất cả những gì con người đang sở hữu hoặc đang có khả năng thực hiện. Chính Thiên Chúa là Đấng làm cho Eldad và Medad nói tiên tri ngay khi ở trong lều riêng của các ông, và cũng là Đấng làm cho những người khác có tên trong danh sách mà đi ra nhập hàng ngũ cùng với Môsê được nói tiên tri.
    Giôsuê đã suy nghĩ và hành động với tinh thần phe phái: nếu không ra gia nhập hàng ngũ như những người khác thì không được nói tiên tri. Giôsuê đâu có biết rằng khi anh muốn cản người khác làm điều họ được Thiên Chúa thúc đẩy, là vô tình anh đã muốn cản cả tác động của Thiên Chúa nữa. Cũng tương tự vậy khi Yoan ngăn cản một người nhân danh Đức Giêsu mà làm phép lạ, vì “người đó không là một trong chúng ta”. Ai có thể làm phép lạ nếu không phải chính Thiên Chúa đã làm phép lạ qua trung gian người đó. Đức Giêsu đã trả lời Yoan: “đừng cản họ, vì nếu họ nhân danh Thầy mà làm phép lạ, thì họ cũng không phải là kẻ chống lại Thầy”. Ai không chống lại chúng ta, là thuận theo chúng ta.
    Tinh thần phe phái là tinh thần muốn loại Thiên Chúa ra khỏi hành động của con người, hoặc muốn kéo Thiên Chúa về phe mình. Thực ra Thiên Chúa ở trên tất cả, Ngài là Đấng cho tất cả, Ngài thuộc về tất cả để tất cả được thuộc về Ngài. Tất cả tốt lành đều từ Thiên Chúa mà tới, đều do Thiên Chúa mà có. Muốn độc quyền Thiên Chúa, muốn điều tốt chỉ từ phe phái của mình, là muốn giới hạn Thiên Chúa, là muốn điều khiển Thiên Chúa theo ý mình. Tư tưởng Thiên Chúa không như tư tưởng của con người, Ngài vượt trên tất cả.

    II. Những người bám víu vào của cải đời này
    Trần gian với những tiện nghi vật chất, là điều người đời thường tham muốn. Người ta muốn sống hưởng thụ những thú vui vật chất, thỏa mãn xác thịt. Người ta thường nghĩ rằng với tiền bạc, người ta sẽ có tất cả. Tiền bạc giúp người ta có nhà cao cửa rộng, tiện nghi vật chất, được người đời kính trọng.
    Người ta thường cho rằng, có tiền muốn gì mà chẳng được: “đồng tiền là tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý”. Với đồng tiền, người ta có thể mua chuộc được tất cả, lấy lòng được con người, kể cả những người thế giá nhất, uy quyền nhất. Nếu một người đặt tiền bạc là quan trọng, hoặc danh vọng là quan trọng, thì tiền bạc là một giá trị và phương tiện có thể mua chuộc hoặc điều khiển được người đó.
    Làm sao để con người có một bậc thang giá trị đúng đắn, nghĩa là đặt tiền bạc danh vọng chức quyền vào đúng chỗ của nó. Trên đời này, điều gì là quan trọng nhất, điều gì mà mỗi người phải chú ý để có thể đạt được hạnh phúc trong cuộc sống? Nếu một người đặt sai bậc thang giá trị và theo đuổi những điều không chính đáng, thì những người liên hệ với người đó khổ, và chính người đó cũng không thể hạnh phúc. Chỉ những ai đặt Tuyệt Đối là một giá trị tuyệt đối, và đặt tha nhân là một giá trị cũng gần như một giá trị tuyệt đối, thì người đó mới sống hạnh phúc, và những người khác sống với họ cũng mới hạnh phúc đích thực.

    III. Dứt khoát với dịp tội
    “Nếu tay ngươi nên dịp tội cho ngươi, thì hãy chặt nó đi vì thà rằng cụt một tay vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hỏa ngục”. Lời dạy của Đức Giêsu cho thấy lập trường dứt khoát của Ngài đối với tội. Ngài coi cái gây ra tội nguy hiểm đến thế nào!
    Nơi vườn dầu, Đức Giêsu đã nói với Phêrô và các tông đồ: “hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Thân xác có những nặng nề của thân xác, người ta khó có thể vượt qua những nặng nề của thân xác nếu người ta không cầu nguyện; hơn nữa, người ta khó có thể không phạm tội nếu người ta không tránh dịp tội. Trường hợp Phêrô ở vườn dầu: sau khi đã ăn thịt chiên vượt qua và uống rượu, thì khó ai có thể chống lại cơn ngủ; đó là lý do tại sao Phêrô đã “không thể thức với thầy được một giờ”. Những lề luật, thường là những gì bảo vệ đời sống ơn gọi của tu sĩ, giúp tu sĩ khỏi sa vào những dịp tội mà không thể tránh khỏi; ai không giữ lề luật thì đôi khi cũng là liều mình ở vào dịp tội.
    Những tội phạm hình sự không có âm mưu, thường xảy ra khi người ta trong cơn say hoặc nghiện; tránh say sưa cũng là tránh những dịp tội, và cũng là tránh tội đối với một số người. Những người phạm tội trong những trường hợp này thường được giảm khinh vì lúc đó họ không hoàn toàn tự do, họ sống dưới những ảnh hưởng của thể xác mà không tự chủ hoàn toàn được. Những trường hợp này rất khác với những hành vi của những người có âm mưu nhưng mượn rượu hay một cớ nào đó để làm điều họ muốn làm, mà nếu họ làm lúc tỉnh thì họ sợ sẽ lãnh hoàn toàn trách nhiệm. Dứt khoát với dịp tội, là lời dạy của Đức Giês đối với con người của mọi thời đại.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ

    1. Theo bạn, làm sao để sở hữu một bậc thang giá trị đúng đắn? Làm sao để đánh giá đúng đắn thực tại trần gian, cụ thể là con người và vạn vật?
    2. Theo bạn, điều gì làm cho đương sự và người khác khổ nhất? Tại sao?
    3. Theo bạn, quan điểm lập trường sống nào làm cho chính mình cũng như những người thân và những người sống với mình sống hạnh phúc đích thực?

    Về mục lục

    .

    NHÂN ÁI TRONG THỰC HÀNH

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Thánh Phao-lô đã từng phát biểu, ‘Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu… , tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả… nhưng vui khi thấy điều chân thật’ (1 Cr 13:4-7), phải chăng qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su muốn đề cập cách thực tế tới các đặc tính của đức mến này, cũng như coi chúng không chỉ như thuộc tính của con người, mà còn áp dụng cho cả Thiên Chúa nhân ái nữa?

    ‘Đức mến tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả!’ Sự khác biệt giữa môn đệ Gio-an và thầy Giê-su không chỉ hệ tại nơi hành động ngăn cản hay đừng ngăn cản một việc thiện không rõ mục đích, ‘có người lấy danh Thầy mà trừ quỉ’. Sự khác biệt lớn giữa hai người là ở chỗ, Thầy Giê-su có lòng nhân còn Gio-an thì không. Môn đệ của một Đấng Ki-tô nhân ái và hay xót thương không thể là người hành động thế này hay thế khác, nhưng phải là người có lòng nhân. Bao lâu còn khắt khe, xét nét… thậm chí lên án người anh em trong cách cư xử của họ, thì chưa đáng coi mình là môn đệ chân chính của Đức Ki-tô. “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”; trước một việc thiện, dù nhỏ nhất hay xuất phát từ một con người bất xứng nhất, Tin Mừng không những đòi ta có thái độ khoan nhượng, mà còn đòi phải đón lấy như một sự ủng hộ tích cực. Trong tinh thần đó, Don Bosco, vị thánh hết lòng yêu thương giới trẻ, đã lên tiếng: “Hãy yêu mến những gì trẻ yêu thích”, hay “Các con cứ việc la hét chơi đùa thỏa thích… miễn là đừng phạm tội”. Cũng trong tin tưởng và hy vọng của Tin Mừng mà ta nhận ra giá trị to lớn của các việc phục vụ thường ngày, dầu nhỏ bé nhất… như ‘cho người anh em uống một chén nước lã’. Đương nhiên ‘vì lẽ anh em thuộc về đấng Ki-tô’ được hiểu là nhân danh lòng nhân ái xót thương vô biên của Thiên Chúa ‘được tỏ hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su’.

    ‘Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu’; chính trong đức mến đối thần này mà ta nhận ra sự trầm trọng của cái gọi là ‘làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã’, trầm trọng tới độ, trong cách nói ngoa ngữ của người Do Thái, ‘thà buộc cối đá lớn vào cổ mà ném xuống biển còn hơn’. Cũng vậy để tránh dịp tội, nếu cần, ta cũng phải sẵn sàng hy sinh mất mát tất cả, ‘thà chặt tay, chặt chân, móc mắt…’ Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, khi bàn về vấn đề ăn thịt cúng (chương 8), Phao-lô cho chúng ta thấy, vì đức mến, ông đã tự buộc mình vào sự từ bỏ quyết liệt như thế nào; “Nếu của ăn mà làm cớ cho anh em tôi sa ngã, thì tôi sẽ không bao giờ ăn thịt nữa, để khỏi làm cớ cho anh em tôi sa ngã” (1 Cr 8:13). Và lý lẽ ông đưa ra cũng rất thuyết phục: “Thế là sự hiểu biết của bạn làm hư mất một người yếu đuối, một người anh em mà đức Ki-tô đã chịu chết để cứu chuộc! Như vậy, phạm đến anh em và làm tổn thương lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Ki-tô!” (câu 11-12).

    Như vậy theo Phao-lô, Đấng đã tôn trọng sự yếu đuối của con người tội lỗi trước hết lại là chính Thiên Chúa xót thương. Cái chết tự hiến của Giê-su – Con Một Ngài cho thấy Thiên Chúa đã nhẫn nhục và hiền hậu trước sự yếu hèn của từng người chúng ta như thế nào. Và còn hơn cả ‘chặt tay, chặt chân, móc mắt…’, còn hơn cả ‘không bao giờ ăn thịt nữa’, Thiên Chúa đã trao nộp chính người Con Một chí ái để chết trên thập giá vì chúng ta (xem Ga 3:16). Mạch văn của Phao-lô cũng cho chúng ta hiểu rằng, ‘làm cớ sa ngã’ không chỉ mang nội dung làm gương mù gương xấu trong lãnh vực luân lý, mà còn hàm cả Tin Mừng và thần học nữa. “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã’, câu xác quyết này của Đức Giê-su rõ ràng chất chứa nội dung đức mến nhân ái của Tin Mừng khi chính Người tự giời thiệu mình như sau, ‘không bẻ gẫy cây lau bị dập, khộng giập tắt tim đèn còn khói’ (Mt 12:20). Nếu Thiên Chúa nhân ái đã thà hy sinh Con Một mình để cứu lấy nhân loại tội lỗi, trước cả khi họ hoán cải để trở nên hoàn thiện, thì tôi là ai mà dám nhân danh sự thánh thiện, công chính, đạo đức hay hiểu biết của mình để loại bỏ người anh em? Làm như thế là tôi đang gây cớ vấp phạm, ‘làm tổn thương lương tâm yếu đuối của người anh em’. Chỉ cần nhìn vào thái độ Đức Giê-su cư xử với người phụ nữ Sa-ma-ri thấp kém bên bờ giếng Gia-cóp, khi kêu mời bà hãy kín múc Nước Hằng Sống bất chấp tình trạng sống chung chạ của chị (Gio-an chương 4), là tôi hiểu ra ngay ‘đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu’ phải như thế nào. Trong môi trường Tin Mừng chân chính, ‘kẻ bé mọn đang tin’ phải được trân trọng và bảo vệ hơn hết. Do đó tôi không được phép nhân danh bất cứ giá trị nào, dầu lớn lao tới mấy, để kết án hay loại trừ họ.

    Nếu tôi muốn trở nên mục tử nhân lành như Đức Ki-tô mong ước, bài học nhân ái này dứt khoát phải được tôi thuộc lòng, và tôi cũng mơ ước được cùng các anh em tiến bước và phục vụ trong một Hội Thánh nhân ái.

    Lạy Chúa Giê-su nhân ái! Có lẽ còn lâu con mới hiểu thấu lòng nhân ái của Chúa, cũng như phải sống đức mến thần linh này với hết mọi người ra sao. Trong công tác mục vụ, xin cho con nằm lòng câu xác quyết của Phao-lô: “Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến… thì chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13:1-3); chỉ như thế con mới thực sự dõi theo bước chân của vị Mục Tử Nhân Hậu. A-men.

    Về mục lục

    .

    TIN MỪNG DỮ DỘI

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Đọc Tin Mừng Chúa Giêsu, đọc giả có lúc cười lúc khóc, có khi cảm nhận được sự xoa dịu ủi an hay thôi thúc tỉnh thức, có lúc cảm thấy bị chói tai, bị cay cú…Tin Mừng luôn nói lên những chân lý và dạy những bài học thích đáng.

    Suy niệm trang Tin Mừng (Mc 9,42-48), Lm Nguyễn Hồng Giáo dùng cụm từ “Tin Mừng dữ dội”.

    Đầu đề “Tin Mừng dữ dội” chắc sẽ làm cho nhiều người ngạc nhiên thắc mắc. Tin Mừng của Chúa Giêsu mà dữ dội sao? Chẳng phải là Tin Mừng toát ra một bầu khí yêu thương, hiền hoà, bao dung, yêu chuộng hoà bình và bất bạo động bao trùm đó sao? Tôi đồng ý như thế, tôi vẫn biết là có vố số những người đã tìm thấy trong lời dạy về tình thương và thái độ bất bạo động nguyên lý cho sự dấn thân xã hội, chính trị của họ, ví dụ như ba khuôn mặt còn khá quen thuộc với nhiều người trong chúng ta là Mẹ Têrêxa Calcutta, mục sư Tin Lành Martin Luther King và nhà anh hùng Ấn Độ Mahatma Gandhi. Dầu vậy, tôi cứ vẫn thấy Tin Mừng của Chúa là dữ dội, ngay cả hay đúng hơn nhất là Bài giảng trên núi (Mt các chương 5, 6, 7) mà Gandhi lấy làm một nguồn cảm hứng cho cuộc đấu tranh hoà bình của mình chống lại thực dân Anh, dành độc lập cho đất nước.

    Tin Mừng dữ dội với các đòi hỏi gắt gao: “Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà vào cõi sống còn hơn là có đủ hai hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hoả ngục” (Mt 18, 8-9; x. Mt 5, 19-20). Cần hy sinh những gì đưa chúng ta tới tội trọng và phải biết dám liều mình, hy sinh đến cả mạng sống mình để đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa. (x.nguoitinhuu.com)

    Lời Chúa hôm nay cho thấy tính chất “dữ dội” của Tin Mừng.

    Phải tránh gương mù gương xấu “Nếu ai làm cớ cho người khác phạm tội, thì thà buộc cối đá vào cổ nó mà quẳng xuống biển còn hơn”.

    Phải quyết liệt và dứt khoát với dịp tội “chặt tay, chặt chân, móc mắt” khi những chi thể này là nguyên nhân phạm tội. ĐGM Arthur Tonne gọi đó là những lời đẫm máu và rùng rợn. Noel Quesson nói: dù là những kiểu nói vùng Sêmít có vẻ quá mạnh, nhưng chúng ta cũng không nên làm nhẹ bớt đi ý nghĩa của những câu đó.

    Quesnel tự hỏi: Sao chỉ có ba chi thể đó? Chắc hẳn vì chúng tiêu biểu cho những gì loài người thường vi phạm, đó là trộm cướp, bạo lực, ước muốn xấu (Mc 7,21-22). Chúa Giêsu bảo là hãy dứt khoát “chặt đi” bất kỳ sự vật, người hoặc hoàn cảnh nào có thể là dịp tội cho ta. Đó là ý nghĩa của điều mà Phúc Âm gọi là “từ bỏ chính mình” (x. Mc 8,34).

    Tay mắt và chân là thứ mà ta có từng đôi, mà nếu mất đi một thì cũng không đến nỗi tàn phế. Việc hài tên chúng lần lượt từng cái một là một kiểu nói hùng biện có tác dụng mạnh đối với người nghe (Fiches Dominicales). Tay mắt và chân tượng trưng cho tất cả các dịp tội mà một Kitô hữu có thể khám phá nơi bản thân hoặc trong các quan hệ bên ngoài. “Chặt bỏ” một tật xấu một thói quen, “cắt đứt” một mối liên hệ nguy hiểm. Tính dữ dội biểu lộ nơi thái độ chọn lựa dứt khoát và quyết liệt với tội lỗi.

    Cũng như người bệnh, phải phẫu thuật, phải cắt bỏ khối u, cắt bỏ phần thân thể nhiễm độc để bảo toàn mạng sống, Chúa bảo chúng ta phải quyết liệt với tội lỗi cho dù phải “chặt tay, chặt chân, móc mắt”. Chúa muốn nhấn mạnh đến giá trị tuyệt đối của “sự sống”, của “Nước Thiên Chúa”, đó là tiêu chuẩn tối hậu của mọi chọn lựa của con người. Biết bao nhiêu người đã chịu thiệt thòi, thậm chí dám chấp nhận cái chết vì trung thành với tất cả các đòi hỏi “dữ dội” của Tin Mừng.

    Đời sống Kitô hữu cần được cắt xén, gột rửa, từ bỏ để tăng trưởng, sinh nhiều hoa trái “Nhánh nào không sinh quả thì Thiên Chúa chặt bỏ, còn nhánh nào sinh quả thì Ngài tỉa sạch để nó sinh quả nhiều hơn” (Ga 15,1-2).

    Có những lời dạy của Tin Mừng, mới nghe qua thì rất “nhẹ nhàng”, nhưng gẫm sâu hơn lại thấy vô cùng dữ dội, ví dụ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 26). “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6, 24); “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: ‘Chớ giết người’; ai giết người thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5, 21-22); “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: ‘Chớ ngoại tình’. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5, 27-28); “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Đức Giêsu đáp: ‘Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy’” (Mt 18, 21-22); “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: ‘Mắt đền mắt răng đền răng’. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài…” (Mt 5, 38-40). Hoặc: “Anh em đã nghe Luật dạy: ‘Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù’. Con Thầy. Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em...” (Mt 5, 43-44).

    Tin Mừng dữ dội là do sự đòi hỏi vô cùng của sự hoàn thiện và tình thương của Cha trên trời mà các môn đệ Chúa Giêsu, vốn là những con người yếu đuối và tội lỗi, phải noi theo (x. Mt 5, 48 và Lc 6, 36). Giáo lý Tin Mừng không hề kêu gọi bạo lực nhưng nó đòi hỏi người tín hữu phải quyết liệt với mình, làm mạnh với mình, dám dùng “bạo lực” với mình, nếu nói được như thế, bởi lẽ nó bắt ta đi ngược với xu hướng tội lỗi vốn ăn sâu trong ta, đi ngược với sự khôn ngoan thế gian nữa. (Lm Nguyễn Hồng Giáo).

    Gương xấu và làm dịp tội cho người khác gây tai hại và nguy hiểm vô cùng. Cả hai đều đáng khinh đáng ghét ở đời này và lãnh án phạt nặng nề đời sau. Phải tránh gương mù gương xấu. Mỗi người có thể gây dịp tội khiến người khác sa ngã, và đôi khi thân xác mình lại có thể là dịp tội cho chính mình. Càng tránh dịp tội càng ít phạm tội.

    Có câu chuyện ngụ ngôn “Đại hội cái búa” kể về nỗi lo sợ của các loại cây trong rừng, từ cây cổ thụ cho đến những cây nhỏ đều sợ Cái Búa của người đốn cây. Hễ búa đi đến đâu là là cây cối đều ngã rạp đến đó.

    Một hôm cây cối họp đại hội, bàn cách đối phó với Cái Búa. Để chứng tỏ rằng việc làm của tất cả cây rừng là công khai, và Búa cũng được mời tham dự Đại hội này.

    Sau một lúc bàn bạc sôi nổi, Đại hội đi đến kết luận: Cương quyết không cho Búa bất kỳ một khúc gỗ nào để làm cán cả. Búa mà không có cán thì làm được việc gì bây giờ. Tất cả cây rừng từ nhỏ đến lớn đều hoan hỉ về quyết định này. Dù một khúc gỗ cũng không cho!

    Bấy giờ, Búa đưa tay xin phát biểu với giọng nài nỉ đáng thương: Xin quý vị niệm tình, thân tôi mà không có cán như người tật nguyền không tay chân, xin hãy cho tôi một lần này nữa thôi, tôi sẽ chỉ dùng Búa vào những việc tốt, tôi chỉ chặt những gai góc làm vướng chân quý vị mà thôi!

    Trước lời thỉnh cầu tội nghiệp của Búa, cả Đại hội liền có sự chia rẽ vì khác quan điểm. Hội nghị phải đi đến việc biểu quyết lại. Kết qủa là đa số bằng lòng cấp cho Búa một khúc gỗ duy nhất làm cán. Nhưng hỡi ôi! Khi Búa đã có cán rồi, nó bèn lần lượt đốn hết những cây trong rừng, từ cây non cho đến cây cổ thụ.

    Bạn chỉ cần cho tội ác một cơ hội thôi là bạn sẽ hối tiếc cả cuộc đời ! Tội lỗi huỷ hoại đời người như sự hung hãn của núi lửa. Tội lỗi tàn phá cơ thể như bệnh ung thư. Tội lỗi gây hậu quả lâu dài như những đổ vỡ trong Gia đình, hầu như không bao giờ hàn gắn được!

    Bạn đừng cho tội ác một cơ hội nào hoành hành, dù chỉ là một một sự dễ dàng cỏn con. Hãy chống trả, hãy cự tuyệt và tránh xa nó ! “Đừng để ma quỷ lợi dụng!” (Ep 4, 27).

    Cái xấu có khả năng lây lan rất nhanh. Tiếp cận với lời “dữ dội” của Tin Mừng sẽ giúp bạn tránh xa dịp tội và gương xấu. Nhờ đó, bạn sẽ làm chủ những đam mê như vui, buồn, sợ, giận, yêu, ghét, ham muốn trong mọi mối tương quan.

    Cái đẹp, cái tốt, cái chân thật thường loan truyền theo chiều rộng và chiều xa. Sống Tin Mừng giúp bạn đem đến cho cuộc đời những nét đẹp, cuộc sống thêm ý nhị đậm đà và nhiều niềm vui hạnh phúc hơn.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Đức thánh cha Phan-xi-cô hiện đang tông du quốc gia Hoa kỳ trong mấy ngày vừa qua. Ngài đã đến thăm viếng thủ đô Washington D.C. và thành phố New York. Hôm nay, Đức thánh cha đang ở thành phố Philadelphia, được gọi là “thành phố tình bạn hữu” để tham dự Đại hội Gia đình Thế giới. Như chúng ta biết, gia đình là nền tảng của xã hội, và gia đình Công giáo cũng được gọi là “Giáo hội thu gọn.” Gía trị và nền tảng gia đình ngày nay, như lời Đức thánh cha diễn tả trong bài diễn văn trước quốc hội Hoa kỳ, đang bị đe dọa bên ngoài cũng như bên trong. Vì vậy Đại hội Gia đình Thế giới rất quan trọng giúp cho mọi gia đình, nhất là gia đình Công giáo, nhìn vào đời sống gia đình, và qua đời sống đức tin và lời Chúa, giữ vững những giá trị tinh thần và nền tảng, trở thành những gia đình nhân chứng cho Chúa, và những phần tử trong gia đình trở thành những phần tử giúp ích cho Giáo hội và xã hội ngày nay. Vì vậy, chúng ta cầu nguyện cho Đức thánh cha và cách đặc biệt, cho Đại hội Gia đình Thế giới được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và có những kết quả tốt đẹp.

    Ông bà anh chị em thân mến. Như chúng ta nhận thấy trong các quốc gia, xã hội, cũng như trong giáo hội và trong bất cứ hội đoàn, cộng đoàn nào, cũng bị những tranh chấp, phe nhóm, ganh tị và tham lam đe dọa đến sự hiệp nhất và sự sống tốt lành. Thái độ và tính phe nhóm, ghen tị, và tham lam làm cho con người dễ quên đi mục đích, gây ra những sự chia rẽ, tranh chấp và tẩy trừ hay tẩy chay. Người Ki-tô hữu chúng ta phải luôn tâm niệm và ghi nhớ sứ vụ quan trọng hàng đầu của mình. Thứ nhất là sống và nuôi dưỡng đức tin mỗi ngày một lớn và trưởng thành hơn, để làm chứng cho Chúa, và thứ hai là sống bác ái, quảng đại, dùng mọi ơn lành và nỗ lực trong cuộc sống làm cho Tin Mừng được lan rộng khắp nơi. Là những Ki-tô hữu, chúng ta cần tránh thái độ lấy danh Chúa để ganh tị và chia rẽ bè nhóm. Chúng ta cũng cần tránh thái độ tự đề cao, chỉ có mình hay nhóm mình mới quan trọng và mới làm được việc. Thiên Chúa cần nhiều thợ khiêm nhường, nhiệt thành và hy sinh để làm việc trong vườn nho của Ngài.  Chúng ta, nhất là người Việt chúng ta sống trong thành phố Tulsa này, cần hy sinh, quảng đại, hỗ trợ và hợp tác với nhau trong việc sống đức tin, rao giảng Tin mừng và làm sáng danh Chúa.

    Ông bà anh chị em thân mến. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay dạy tất cả chúng ta phải từ bỏ tính phe nhóm, ghen tị, và tham lam để nhận ra ơn sủng tình yêu của Chúa, can đảm làm những gương sáng tốt lành để rao giảng Tin mừng và làm sáng danh Chúa.

    Bài đọc I trích sách Dân số kể câu chuyện xảy ra lúc ông Môi-sên đang dẫn dân Chúa đi lang thang trong sa mạc về Đất hứa. Khi ấy Thiên Chúa bảo Môi-sen chọn 72 người trong dân để họ nói tiên tri, nói lời Chúa. Môi-sen nghe lời Chúa chọn ra 72 người, và Chúa đã ban cho họ ơn Thánh Thần để thi hành sứ vụ nói lời Chúa. Nhưng có 2 người khác không ở trong nhóm cũng nói tiên tri, thấy vậy, một đứa bé chạy về báo cho Môi-sen và người phụ tá của ông là Giôsuê biết sự việc. Vì ganh tị, ông Giôsuê liền đề nghị với ông Môi-sen ra lệnh ngăn cấm 2 người đó. Nhưng ông Môi-sen hiểu Thánh Thần, cũng như Thiên Chúa, hoạt động và điều khiển mọi người trong mọi nơi, chứ không phải chỉ trên những người ông đã chọn, nên ông đã trả lời với ông Giô-suê: “Ngươi phân bì giùm ta làm chi? Chớ gì toàn dân được nói tiên tri và Chúa ban Thần Trí Người cho họ.” Chúng ta phải tự thú nhận thường có khuynh hướng giới hạn hoạt động của Thiên Chúa nơi một số người hay chỉ trong Giáo Hội, nhưng hoạt động của Thiên Chúa bao trùm mọi người và mọi nơi.

    Trong bài đọc 2, thánh Giacôbê nhắc cho chúng ta biết tài nguyên vật chất và của cải trong trời đất là của Thiên Chúa ban cho mọi người, không ai có quyền vơ vét và tích trữ của cải cho mình, hay đối sử bất công với người khác phải chịu thiệt thòi và túng thiếu. Vì vậy, như chúng ta thấy, Đức thánh cha Phan-xi-cô thường xuyên và nhất là trong bài phát biểu ở Liên hiệp quốc, kêu gọi mọi người, mọi quốc gia trên thế giới, nhất là những quốc gia giàu có, hãy quảng đại chia sẽ và giúp đỡ những người nghèo khổ và không có nơi nương tựa, và phải hết sức bảo vệ môi sinh.

    Bài Tin mừng hôm nay rất phong phú, và Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta nhiều bài học quan trọng, nhưng tôi xin chia sẻ những bài học quan trọng sau đây. Thứ nhất, chúng ta phải loại trừ tính, thái độ bè nhóm. Khi Gioan nói với Chúa Giêsu ngăn cấm một người đã lấy danh Chúa Giêsu trừ quỉ, vì người đó không ở trong nhóm môn đệ của Chúa, Chúa đã trả lời ông: đừng ngăn cản họ vì “Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con.” Bài học thứ hai, mọi người có tự do để tin và chấp nhận sự thật. Chúng ta thấy, khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu trình bày sự thật để thuyết phục mọi người tin vào Ngài, đồng thời kèm theo những phép lạ, nhưng nếu họ cứng lòng, Chúa Giêsu không bắt hay cưỡng ép họ phải tin vào Ngài. Chúng ta cũng thế, chúng ta cũng chỉ có thể trình bày sự thật, hay phân tích cái lợi và cái hại của việc không sống theo sự thật, không sống theo lời Chúa dạy, nhưng mọi người có tự do quyết định muốn tin theo hay không. Chúng ta không thể bắt người khác làm theo ý mình. Bài học quan trọng thứ ba, có nhiều phương cách để rao giảng Tin mừng, và trong cuộc hành trình tìm kiếm sự thật và đức tin, có nhiều cách để dẫn con người đến sự thật và khơi dậy niềm tin vào Thiên Chúa, chứ không phải chỉ có một cách. Chúng ta hãy kiên nhẫn và khiêm nhường để Thiên Chúa làm việc qua chúng ta và trong tha nhân, cho họ có thời gian để nhận ra sự thật. Chúng ta cần tránh thái độ chủ quan và tự cao, chỉ có lời nói hay phương cách của chúng ta mới làm cho người khác nhận ra sự thật hay mới tin vào Tin mừng. Và bài học thứ tư, là những Ki-tô hữu, chúng ta phải có lòng bác ái và hy sinh quảng đại, cũng như làm những gương sáng tốt lành và tránh tội lỗi làm gương xấu cho người khác. Đây là những phương cách hữu hiệu để rao giảng Tin mừng và làm sáng danh Chúa.

    Xin Chúa mở mắt tâm hồn để chúng ta nhận thấy Thánh Thần của Thiên Chúa hoạt động ở mọi nơi và trong mọi người, nhận biết sứ vụ, mục đích quan trọng của Ki-tô hữu chúng ta là làm sao cho Nước Chúa trị đến, và ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Chúa cũng giúp chúng ta biết hiệp nhất và cộng tác với nhau, làm những gương sáng tốt lành, cũng như biết sử dụng những ơn lành Chúa ban với những người nghèo khổ, để chúng ta cùng làm sáng danh Chúa.    

    Về mục lục

     

    GHEN TỴ TRONG ĐỜI SỐNG ĐẠO

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Gần đây, nhà nước Hồi Giáo IS tại Syria đã nhân danh Hồi giáo để chém giết, loại trừ tất cả những ai không theo Hồi giáo, đặc biệt họ thù ghét các Kitô hữu và ra lệnh : Bất cứ ai kêu tên Giêsu mà người khác nghe thấy, có thể bị xử tử ngay lập tức. Với lệnh này của IS, các Kitô hữu tại Syria đang phải trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn vì đức tin của mình.

    Các tôn giáo luôn dạy con người sống bao dung độ lượng, nhưng các tín đồ của nhiều tôn giáo đã muốn giành cho mình độc quyền sở hữu thần linh. Nhiều người tỏ ra khó chịu khi thấy người khác, tôn giáo khác cũng làm các việc tốt lành. Từ đó dẫn đến việc loại trừ nhau, chỉ trích, gièm pha giữa các tín đồ, họ tìm cách bôi nhọ, nói xấu tôn giáo của nhau.

    Ngày xưa, người ta cũng quá khích như vậy. Câu chuyện trong sách Dân Số kể lại : Khi ấy, Chúa truyền cho ông Môsê tuyển chọn 72 vị kỳ mục trong dân để cộng tác với ông. Thiên Chúa đã lấy một phần Thần Khí của Môsê mà ban cho những người kia. Tuy nhiên, trong ngày Thiên Chúa ban Thần Khí, thì chỉ có 70 ông đến dự, còn hai ông không đến. Tuy nhiên, Thần Khí vẫn được ban xuống cho hai ông. Các ông ở nhà mình nhưng vẫn nhận được Thần Khí và phát ngôn cho mọi người. Những người khác khó chịu chạy đến báo cho Môsê. Ông Giosuê là cộng tác viên của Môsê đã xin ông Môsê ngăn cấm hai vị kỳ mục kia. Nhưng Môsê không những không ngăn cản mà còn trả lời : Anh ghen giùm tôi làm gì ? Tôi còn ước ao Thiên Chúa ban Thần Khí cho toàn dân để tất cả họ đều là ngôn sứ.

    Câu chuyện cho thấy : Không ai có quyền nắm giữ Thiên Chúa làm của riêng và không ai có quyền giới hạn Thiên Chúa trong một lãnh vực hay một nhóm nào đó. Thiên Chúa có thể dùng mọi người, mọi cách để thực hiện quyền năng của Người. Thiên Chúa cũng có thể dùng cả các tín đồ của tôn giáo khác để nói về sự hiện diện của Ngài và thể hiện quyền năng của Ngài. Khi theo Chúa Giêsu, các tông đồ dường như rất tự mãn và nghĩ rằng chỉ có nhóm mình mới là nhóm độc quyền rao giảng và trừ quỷ. Vì thế, khi thấy các nhóm khác cũng nhân danh Thầy để trừ quỷ, các ông đã tỏ ra khó chịu, các ông đã ngăn cản họ với lý do vì họ không cùng nhóm với chúng ta.

    Chúa Giêsu đã không đồng ý với thái độ của các tông đồ và đưa ra cho họ một nguyên tắc : Đừng ngăn cản họ, vì không ai nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại nói xấu về Thầy. Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta. Chúa Giêsu muốn các tông đồ loại trừ khỏi mình ánh mắt ghen tị, để có cái nhìn bao dung rộng mở hơn đối với người khác, đồng thời cũng cần biết chấp nhận nhau trong sự khác biệt. Sự ghen tị sẽ làm cho con người trở nên nhỏ nhoi tầm thường. Trái lại, khi sống quảng đại bao dung, tâm hồn sẽ được mở ra, cuộc sống và hành động của con người sẽ trở nên cao thượng hơn.

    Cũng dịp này, Chúa Giêsu còn dạy cho các tông đồ những đức tính cần phải có, đó là nhìn thấy Chúa Kitô nơi anh chị em. Dù họ là người đồng đạo hay ngoại đạo, tất cả đều là hình ảnh và là con cái của Thiên Chúa. Họ cũng được Thiên Chúa yêu thương cứu chuộc, cho dù họ chưa nhận ra Ngài hoặc không tin Ngài, thì Thiên Chúa vẫn yêu họ. Vì thế, chúng ta cần nhìn thấy Thiên Chúa ở nơi họ, để chúng ta có thể yêu thương, kính trọng và nhất là để chia sẻ. Khi phục vụ và chia sẻ với những anh chị em chung quanh với cái nhìn thánh thiện này, và với lòng yêu mến tôn trọng, dù là việc lớn hay việc nhỏ, thì Thiên Chúa sẽ đều thưởng công cho chúng ta.

    Ngược lại, khi làm cớ cho người khác sa ngã, đó là điều đáng trách và đáng bị trừng phạt. Chúng ta là con cái Thiên Chúa, khi chúng ta trở thành cớ cho người khác phạm tội, là chính chúng ta đã coi thường hình ảnh Thiên Chúa, đã làm hoen ố hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. Khi làm cớ cho người khác sa ngã, tức là chúng ta đã tiếp tay với ma quỷ và sự xấu để làm hại tâm hồn anh chị em mình, khiến anh chị em phải hư mất. Trước mắt Chúa, đó là trọng tội và đáng phải chịu hình phạt : Thà buộc cối đá vào cổ mà quăng xuống biển còn.

    Chúa còn đòi các môn đệ của Ngài phải dứt khoát và quyết liệt hơn với điều xấu, không nuôi dưỡng, không nuông chiều theo điều xấu. Việc đòi mỗi người phải dám “chặt tay, chặt chân”, thà què quặt đui mù mà được vào cõi sống, còn hơn đủ tay chân mà vào hoả ngục, không phải Chúa muốn những người theo Chúa toàn là những người què cụt, nhưng khi phải chọn lựa giữa sự sống đời đời và cái chết đời đời, thì người môn đệ phải dám chấp nhận từ bỏ, chấp nhận đau đớn hy sinh, kể cả đau đớn như chặt tay chân mình thì vẫn phải can đảm đánh đổi.

    Thiên Chúa là Đấng Thánh, những ai muốn vào Nước của Ngài phải được thánh hoá và biến đổi nên thánh cũng như muốn mọi người được nên thánh. Vì thế, bổn phận sống thánh thiện là bổn phận của tất cả mọi người chứ không là đặc quyền của một thành phần nào. Do đó, mỗi chúng ta cùng với ơn Chúa cố gắng mỗi ngày để thánh hoá bản thân và giúp anh em mình nên thánh, loại bỏ khỏi mình những thói ghen tị nhỏ nhen phàm tục, những tranh giành hơn thua trong đời sống đạo.

    Sự ghen tị vẫn đang xảy ra nhơi nhiều nhóm, nhiều hội đoàn, nhiều cá nhân. Nhiều người khó chịu khi thấy các hội đoàn này làm những công tác bác ái từ thiện, ghen tị khi thấy có nhiều người tham gia vào hội đoàn kia mà không tham gia vào hội đoàn của mình. Có những người không tham gia các công tác chung, nhưng lại hay phê bình chỉ trích những người hăng say phục vụ.

    Đáng lẽ khi thấy những người chung quanh làm điều tốt, hăng say phục vụ, thấy họ thành công, chúng ta cảm tạ Chúa và cầu nguyện cho họ thì trái lại, có những người vẫn mang trong mình ánh mắt ghen tị khi thấy người hàng xóm thành công hơn mình, được Chúa cho may mắn thuận lợi hơn mình. Từ ánh mắt ghen ti ấy dẫn đến nghi kị, dò xét nhau, tìm cách nói xấu hoặc loại trừ nhau.

    Lời Chúa hôm nay mời gọi các bạn trẻ sống quảng đại, loại trừ các hình thức đua đòi trong giới trẻ là biểu hiện của sự ghen tỵ. Mỗi người cần biết chấp nhận sự khác biệt của nhau, gạt bỏ khỏi mình những nghi kỵ, hẹp hòi, độc tôn, để dám sống cống hiến, sống có lý tưởng, có mục đích, sống vì lợi ích của nhiều người hơn là chỉ biết nghĩ đến mình và những người thuộc nhóm mình. Mỗi người đừng chỉ nghĩ riêng cho bản thân và gia đình nhưng còn phải nghĩ đến ích chung, cùng nhau chung tay góp sức làm cho cuộc sống xã hội này thêm đẹp hơn, giàu tình nhân ái hơn.

    Lời Chúa cũng mời gọi mỗi người có một quyết tâm dứt khoát với tội và những nguy cơ đưa đến tội, can đảm nói không với những điều xấu như: rượu chè, cờ bạc, cá độ, chơi bời, nghiện hút và những lối sống hưởng thụ buông thả của ngày nay… Chúng có nguy cơ hủy hoại cuộc sống của mỗi người và của các gia đình.

    Xin Chúa cho mỗi người chúng ta có một tâm hồn quảng đại để đón nhận sự khác biệt ; một cái nhìn thông cảm với anh em, một đôi tay rộng mở để biết chia sẻ và biết cầm lấy tay người anh em, cùng dắt nhau bước đi trên con đường thánh thiện. Amen.

    Về mục lục

     

    NỚI RỘNG YÊU THƯƠNG

    Lm. Jos. DĐH

    Rừng nào cọp nấy, hay đất có thổ công, sông có hà bá. Câu tục ngữ nói lên tính nghiêm minh thật đáng sợ, tưởng chừng gianh giới cuộc sống này luôn được bao bọc bởi luật lệ và hai chữ tình nghĩa phải ẩn vào bóng khuất. Theo tư tưởng của nhà thơ Xuân Diệu thì cuộc sống này rất lạc quan : đố ai sống được mà không yêu, không nhớ không thương một người nào. Còn văn hào Victor Hugo lại cho rằng : ganh ghét là tự thú nhận sự thua kém của mình. Yêu và ghét chính là nguyên nhân khiến người ta trở nên ích kỷ nhỏ mọn hoặc quảng đại bao dung.

    Tính cục bộ và óc bè phái nơi các học trò của Đức Giêsu hôm nay, đúng là để lại nhiều suy nghĩ cho những ai đang đóng khung tình yêu Chúa nơi một số đối tượng nhỏ bé. Lòng nhiệt thành của Gioan và các môn đệ ngăn cấm một kẻ đã nhân danh Chúa để trừ quỉ, đó là hành động xấu, các ông đã được Đức Giêsu điều chỉnh. Việc sống đạo của người Kitô hữu hôm nay vẫn đáng để chúng ta phải xét lại mình, tại sao có câu : đi đạo, tin đạo, chứ không tin người có đạo !

    Nhân danh Chúa để trừ quỉ, để giúp người danh em giải thoát khỏi đau khổ, một việc làm tốt, nhưng chỉ vì họ không thuộc về nhóm 12. Còn nếu họ không nhân danh Chúa để khử trừ sự xấu, nhưng họ vẫn đang thường xuyên làm việc bác ái, chia sẻ vật chất tiền của, giúp người đói rách thì sao ? Đức Giêsu xưa không hài lòng về tính nông cạn, ích kỷ, của các học trò, Ngài còn lên án những ai gây cớ vấp phạm cho các em nhỏ, cho những người có niềm tin còn yếu kém, “thà rằng cột cối đá xô xuống biển thì hơn”.

    Lòng nhiệt thành làm giới hạn tình yêu thương của Chúa không đến được với anh chị em mình, tham lam, vụ lợi, dù cho cá nhân hay tập thể, đều là hình thức gương mù gương xấu, cản trở người khác sống đức tin ! Sách có câu : người ta nên thợ nên thầy vì có học, có suy; no ăn no mặc, bởi hay làm. Người tin theo Chúa không những hàng tuần đến nhà thờ để hiệp thông cầu nguyện, mà chúng ta còn phải biết thực hành giới răn : mến Chúa yêu người.

    Đức Giêsu chắc chắn không khiển trách lòng nhiệt thành của các học trò, nhưng Ngài gián tiếp nói lên đừng ai ngăn cản tình yêu thương đang cần đến với anh chị em mình. “Ai không chống đối anh em là ủng hộ anh em”. Các môn đệ và chúng ta hôm nay tin Chúa, theo Chúa, nếu không biết trải rộng tình yêu thương đến với anh chị em mình, đã là bất xứng với ơn gọi làm con Chúa rồi, huống chi là cản trở người khác làm việc thiện nguyện.

    Không Tử dạy các học trò của ông : học mà không suy nghĩ thì vô ích, suy nghĩ mà không học thì nguy hiểm. Tin theo Đức Giêsu là một diễm phúc, nhưng thiếu tình yêu thương đối với anh chị em, lại còn gây nên gương mù gương xấu cho kẻ khác, dù có chặt tay, chặt chân, hay móc mắt của mình cũng vô ích. Thời đại nào cũng thế, lời nói đều phải đi đôi với việc làm mới có giá trị : không ai có thể nói tiên tri, chẳng ai có thể trừ quỉ, nếu người ấy không được Chúa ban ơn.

    Người nghèo khổ quanh chúng ta không hề ít, kẻ ốm đau bệnh tật mỗi lúc một nhiều, họ luôn mong phép lạ tình yêu thương ! Chúa Giêsu mong người môn đệ của Chúa hãy ra khỏi lòng mình, ra khỏi gia đình, ra khỏi ngôi thánh đường, để tình Chúa được nới rộng đến các phần tử xã hội đang cần đến tình yêu thương đồng loại. Thực ra Đức Giêsu không chờ đợi các học trò và chúng ta tìm người tốt để yêu thương, không muốn các môn đệ thụ động chờ người bệnh tìm đến mình, Ngài cần chúng ta không phân biệt đối xử với những ai đang đồng hành trần thế với chúng ta, thế là Ngài vui rồi.

    Bài thơ “Không đề” của thi sĩ Văn Cao nói rằng : con thuyền đi qua để lại sóng, đoàn thuyền đi qua để lại tiếng, đoàn người đi qua để lại bóng, tôi không đi qua tôi để lại gì ? Muốn để lại cái gì tốt đẹp cho con cháu, cho hậu thế, ai cũng phải đi qua chính mình, vượt qua cái bản tính ích kỷ để tình yêu ngự trị. Đối với người trẻ : yêu thì khổ, không yêu thì lỗ, và họ đã đồng lòng nói rằng thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Đối với người học trò theo Đức Giêsu, yêu là đi con đường của Thầy mình. Nhưng như thế chưa đủ, yêu là phải hiểu lời Thầy nói để biết sống quảng đại : “ai không chống đối anh em là ủng hộ anh em”.

    Sách có câu : những thiên tài hết sức vĩ đại cũng không coi thường những ai hèn kém hơn họ. (khuyết danh) Đức Giêsu không tán dương kẻ lấy danh Chúa mà trừ quỉ, nhưng Ngài nhẹ nhàng cắt nghĩa cho các họ trò hiểu, cần phải trân trọng những việc làm tốt đẹp của anh chị em mình. Đừng phân biệt sang hèn, phe nhóm, nhưng hãy cùng nhau nới rộng tình yêu thương mà mỗi người đang có để chia sẻ cho anh chị em đồng loại. Đó cũng là dịp để chúng ta minh chứng tình yêu của Đức Kitô, đang hoạt động trong cuộc đời chúng ta. Amen.

    Về mục lục

    .

    TRÁNH THÓI BÈ PHÁI VÀ TẬP ỨNG XỬ BAO DUNG

    Lm. Đan Vinh

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG: Mc 9,38-43.45.47-48:

    (38) Ông Gio-an nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. (39) Đức Giê-su bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. (40) Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. (41) “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu. (42) Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. (43) Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; Thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hỏa ngục, phải vào lửa không hề tắt. (45) Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; Thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hỏa ngục. (47) Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; Thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, (48) nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt”.

    1. Ý CHÍNH:

    Tin Mừng hôm nay trình bày lời Đức Giê-su giáo huấn các môn đệ. Sau khi dạy Gio-an bỏ tính ganh tị cục bộ, Đức Giê-su đã đưa ra nguyên tắc ứng xử bao dung: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Người hứa phần thưởng cho những ai sẵn sàng tiếp đón các môn đệ. Người cũng đe phạt các đầu mục Do Thái làm cớ khiến các tin hữu sa ngã. Người còn dạy các môn đệ phải coi trọng ơn cứu độ hơn các bộ phận quí giá trong thân thể như tay, chân hay mắt của mình.

    1. CHÚ THÍCH:

    – C 38-39: +Chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ: Trừ quỷ là một việc quen thuộc mà Đức Giê-su và các Tông đồ thường làm, giống như nhiều người Do thái khác thời bấy giờ cũng làm (x Mt 12,27). Gio-an thấy có những người không cùng nhóm môn đệ với mình mà cũng dùng tên Giê-su mà trừ quỷ, nên ông đã cấm họ làm như vậy. +”Đừng ngăn cản người ta”: Đức Giê-su cho thấy việc ngăn cản như thế là tâm địa hẹp hòi, cục bộ khi đòi độc chiếm quyền năng của Người. Người truyền cho các ông không được ngăn cản họ, vì ai chống lại quỷ dữ và sự gian ác thì cũng thuộc về Người như các ông. +Nói xấu về Thầy: Có nhiều cách để người ta liên kết với Đức Giê-su. Bao lâu họ không “nói xấu” hay chống lại Người thì họ vẫn đang liên kết với Người.

    C 40-41: +Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta: Đây là nguyên tắc ứng xử khoan dung của Đức Giê-su dành cho các môn đệ, khi sai các ông đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Những ai không chống đối Đức Giê-su thì cũng là môn đệ của Người cách gián tiếp. Người trách lối suy nghĩ hẹp hòi mang tính bè phái của môn đệ khi các ông chỉ ủng hộ những việc tốt do nhóm mình làm và lọai trừ mọi việc dù tốt nhưng do nhóm khác làm. +Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô…”: Các môn đệ được Đức Giê-su đồng hóa với Người, nên kẻ nào giúp đỡ các ông dù chỉ một bát nước lã mà thôi, thì cũng kể như đã phục vụ Người (x Mt 25,35-45).

    C 42: +Ai làm cớ cho những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã: Đức Giê-su nói về các đầu mục dân Do Thái khi họ độc quyền giải thích Kinh Thánh. Họ không những không tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai mà còn tìm cách ngăn cản dân chúng tin theo Người (x Lc 11,52). +thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn: Đây là tội nặng nề vì đã xúc phạm đến Thánh Thần là Đấng thánh hóa tội nhân, nên kẻ đó đáng bị hình phạt cột cối xay vào cổ mà quăng xuống biển.

    C 43-47: +Nếu tay anh… chân anh…mắt anh…: Đức Giê-su muốn nói đến việc người ta phải tránh dịp tội, dù phải hy sinh những gì quý giá nhất. Vì thà bị mất một chi thể mà được vào cõi sống còn hơn đủ các phần thân thể mà phải sa hỏa ngục. Kiểu nói “Tay, chân, mắt” cho thấy dịp tội không ở đâu xa mà ngay trong ngũ quan, trong bản thân mỗi người. +được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hỏa ngục: Diễn tả sự đối nghịch giữa thiên đàng và hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi tội nhân chịu khổ hình vì đã tự tách lìa khỏi “cõi sống” là nước thiên đáng.

    C 48: +Lửa và giòi bọ: là hai lọai đau khổ dành cho các tội nhân bỏ qua lời cảnh báo của Thiên Chúa mà cố tình phạm tội trọng (x Mt 13,42; 18,8).

    1. CÂU HỎI:

    1- Tin mừng hôm nay cho thấy: ngòai Đức Giê-su và các môn đệ, còn ai khác cũng làm việc trừ ma quỷ nữa không?

    2- Việc cấm cản người khác lấy danh Đức Giê-su để trừ qủy cho thấy tâm địa của các môn đệ ra sao?

    3-Đức Giê-su có đồng ý với việc làm của các ông hay không?

    4- Qua câu: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”, Đức Giê-su muốn các môn đệ của Ngườii phải có thái độ nào?

    5- Tại sao cho các môn đệ chỉ uống một bát nước lã mà thôi lại cũng được Đức Giê-su thưởng công sau này?

    6- Những kẻ làm cho người bé mọn tin theo Đức Giê-su bị sa ngã nói đây là ai và họ đáng bị phạt thế nào? 

    7- Qua câu “chặt tay, chặt chân, móc mắt…” Đức Giê-su muốn nhấn mạnh điều gì? 8- Lửa và giòi bọ là hai hình khổ dành cho những ai?

    II.  SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” (Mc 9,42).
    2. CÂU CHUYỆN: THÁI ĐỘ BAO DUNG CỦA ĐỨC GIÊSU TRONG TRẬN BÓNG ĐÁ:

    Một linh mục Dòng Tên người Ấn Độ là Cha Anthony De Mello, chuyên viên huấn luyện tu đức, đã tưởng tượng câu chuyện “Đức Giêsu đi xem bóng đá” như sau:

    “Nghe Đức Giêsu than phiền là Ngài chưa một lần nào được xem một trận bóng đá, chúng tôi liền đưa Người đến một sân bóng gần nhà để xem một trân đấu giữa hai đội tuyển Tin Lành và Công Giáo. Khi đội Công Giáo làm bàn trước 1-0, Đức Giêsu liền hoan hô vang dội và tung cả mũ lên trời. Vài phút sau, trong một đợt phản công đẹp mắt, đội Tin Lành đã gỡ một đều (1-1), Đức Giêsu cũng lại reo hò và tung mũ lên trời y như lần trước. Một khán giả ngồi bên cạnh tỏ vẻ khó chịu trước thái độ của Đức Giêsu, ông ta quay sang hỏi Người:

    – Này ông bạn, ông là cổ động viên của đội bóng nào vậy ?

    Đức Giêsu liền trả lời đang lúc vẫn mãi mê theo dõi trận đấu diễn ra trên sân cỏ:

    – Tôi à ? Ồ, tôi chẳng ủng hộ đội nào cả. Tôi đến đây là để thưởng thức trận đấu mà thôi”.

    Người khán giả tỏ vẻ khó chịu về thái độ của Đức Giêsu lại càng bực hơn, ông ta quay sang nói nhỏ với người bên cạnh: “Hắn ta chắc là một gã vô thần!”

    Trên đường về nhà, chúng tôi nói với Đức Giêsu:

    – Thưa Thầy, những người có tôn giáo thật là buồn cười, họ tưởng rằng Thầy chỉ đứng về phe họ và chống lại tất cả nhưng ai không cùng một tôn giáo với họ”.

    Đức Giêsu gật đầu tỏ ý đồng tình và bảo:

    – Đó là lý do tại sao Thầy không ủng hộ đội bóng Tin Lành hay đội bóng Công Giáo, mà chỉ ủng hộ các cầu thủ nào đá hay thôi, dù họ thuộc đội nào đi nữa”.

    1. THẢO LUẬN: 1) Ban có đồng ý với lập trường bao dung khi công nhận mọi tôn giáo đều có những điều tốt bắt nguồn từ Thiên Chúa và đều đáng tôn trọng không ? 2) Bạn có sẵn sàng hợp tác với những người khác vô tín hoặc Phật Tử… để cùng nhau làm việc tốt phục vụ cho xã hội, nhất là phục vụ những người nghèo khổ bệnh tật và bị bỏ rơi hay không ? Tại sao ?
    2. SUY NIỆM:

    1) Thái độ cục bộ bè phái thông thường:

    Tin Mừng hôm nay cho thấy óc phe nhóm và tinh thần bè phái cục bộ ngay trong hàng ngũ các môn đệ Đức Giêsu: Khi thấy có người khác không theo Đức Giêsu nhưng đã nhân danh Thầy mà trừ quỷ, ông Gioan đã ra sức ngăn cản họ và báo cho Đức Giêsu hay biết sự việc để có hướng xử lý (x. Mc 9,38). Ông không thể chấp nhận có người không thuộc Nhóm Mười Hai, lại dám cậy nhờ danh Thầy của ông để trừ quỷ, mặc dù họ cũng đã trục xuất được quỷ ra khỏi người bị nó ám. Ông muốn giữ độc quyền nhân danh Thầy để trừ quỷ cho Nhóm của ông.

    Vào thời ông Môsê cũng vậy. Giôsuê cũng muốn dành độc quyền nói tiên tri cho nhóm bẩy mươi Kỳ Mục, nên đã yêu cầu Môsê hãy ngăn cấm hai ông Enđát và Mêđát, không thuộc Nhóm Bảy Mươi, mà cũng được Thần Khí tác động để nói tiên tri. Môsê đã trả lời cho môn đệ như sau: “Anh ghen giùm tôi hay sao ? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ !” (Ds 11,29).

    2) Thái độ bao dung đón nhận tha nhân của Đức Giêsu:

    Như Môsê thời xưa, Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cũng không đồng tình với lối hành xử bè phái cục bộ của môn đệ khi nói với các ông: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,40).

    3) Sự tiến triển về thái độ của Hội Thánh xưa và nay:

    Trong quá khứ, Hội Thánh cũng đã lần do muốn bảo vệ sự độc quyền chiếm hữu Thiên Chúa của mình, nên đã có những hành động cục bộ khép kín, có những quyết nghị nặng tính trừng phạt răn đe đối với những ý kiến bất đồng…, làm mất đi sự trong sáng của khuôn mặt bao dung nhân hậu của Đức Giêsu trước mặt anh em dân ngoại. Nhưng từ Công Đồng Vatican II, Hội Thánh đã mở ra một trang sử mới, khi trong những văn kiện không còn những lời kết án, miệt thị những tư tưởng khác biệt. Thay vào đó Hội Thánh khiêm tốn chân thành nhìn nhận giới hạn của mình, và công nhận có những điều chân thiện mỹ nơi các tôn giáo và các nền văn hoá khác.

    Trong Tông thư “Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba” (10/11/1994). Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Giáo Hội phải ý thức sâu sắc trách nhiệm về tội lỗi của con cái mình, khi hồi tưởng lại trong lịch sử những thái độ lạc xa Thánh Thần của Đức Kitô và Tin Mừng… Trong số những tội lỗi đòi hỏi phải có một nỗ lực sám hối và hoán cải đặc biệt hơn, hiển nhiên phải kể đến những tội phá hỏng sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có nơi dân của Ngài. Qua những ngàn năm đã qua, kể cả ở ngàn năm thứ nhất, mối hiệp thông Giáo Hội đôi khi bởi lỗi lầm của thành phần này hay thành phần khác, đã bị xé rách một cách đau đớn, điều đó rõ ràng đi ngược lại với ý muốn của Đức Kitô và là cớ vấp phạm cho thế giới” (số 34).

    4) Hãy mở lòng đón nhận và sẵn sàng hợp tác với mọi người:

    Chúng ta là những môn đệ của Đức Kitô hôm nay cần học tập Thầy Giêsu để sẵn sàng giơ tay ra với mọi người thiện chí và mời gọi mọi người cùng hợp tác trong các việc tốt. Đồng thời tránh sự loại trừ, bất hợp tác với người khác trong các việc mang lại ích lợi cho môi trường sống và trật tự xã hội. Tinh thần bao dung này phải mang tính bao dung không biên giới, không đóng khung trong một phe nhóm hay tổ chức nào. Tinh thần đó phải vượt lên trên mọi khác biệt, vì “Thần Khí Chúa được ban cho mọi người không phân biệt ai”.

    Tại Việt Nam chúng ta hôm nay cũng không thiếu những hình ảnh của các tăng ni phật tử đứng bên các linh mục, tu sĩ nam nữ, các tín hữu Công giáo, cùng nhau làm các công tác từ thiện bác ái, cùng nhau thăm viếng bệnh nhân, chăm sóc các cô nhi quả phụ, xóa đói giảm nghèo… Điều đó cho thấy Thần Khí Thiên Chúa cũng đang tác động trong mọi tôn giáo khác, như lời thánh Phaolô: “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn đều là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,14).

    Ngày hôm nay cũng vậy, đôi khi chúng ta thấy có những anh em Phật tử hay vô tín ngưỡng làm được những việc tốt như: vệ sinh môi trường, hiến máu nhân đạo, chia sẻ cơm áo gạo tiền cho người nghèo khó bất hạnh, mổ mắt miễn phí… hoặc khiêm tốn phục vụ những bệnh nhân ung bướu, HIV-AIDS… thì hãy nhớ rằng: những anh em đó cũng thuộc về Thiên Chúa như chúng ta và họ đang làm công việc tốt lành của Thiên Chúa Tình Thương giống như chúng ta, như lời thánh Gioan: “Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,7-8).

    1. LỜI CẦU:

    LẠY CHÚA GIÊ-SU. Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay dạy chúng con tránh thái độ khép kín cục bộ, khi chỉ biết đóng khung các giao tiếp và sinh hoạt trong phạm vi người cùng tổ chức, cùng đoàn thể, cùng tôn giáo với chúng con, nhưng cho chúng con biết mở lòng bao dung đón nhận mọi người khác dân tộc, niềm tin, mầu da, tiếng nói… noi gương Chúa khi xưa. Xin cho chúng con biết sẵn lòng hợp tác với những người thiện chí, bất kể họ thuộc tôn giáo hay đoàn thể nào, miễn là họ sẵn sàng hợp tác làm những việc tốt bảo vệ môi trường là khu phố ngày càng an toàn sạch đẹp và văn minh hơn. Xin cho chúng con tránh thái độ tự tôn khi nghĩ mình hơn người khác, nhưng biết khiêm tốn tự hạ và chân thành phục vụ tha nhân cách vô vụ lợi noi gương Chúa khi xưa, hầu chúng con tích cực góp phần làm chứng cho Chúa, dẫn đưa được nhiều người nhận biết tôn thờ Chúa Cha, và tích cực xây dựng thế giới nên “Trời Mới Đất Mới”, hầu sau này cũng được hưởng niềm vui ơn cứu độ với chúng con.

    X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

    ANH EM HÃY GIỮ MUỐI TRONG LÒNG ANH EM

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

    1. “Đừng ngăn cản người ta”

    Chứng kiến điều kì diệu, đó là Danh Thầy Giê-su được tuyên xưng vượt khỏi giới hạn nhóm của mình, và Danh của Người có sức mạnh trừ quỉ, nhưng thay vì tạ ơn Chúa, ca tụng Thầy và chúc mừng người ta, thì môn đệ Gioan và các môn đệ khác lại “cố ngăn cản”, vì người này không thuộc nhóm các môn đệ đi theo Đức Giê-su!

    Trong đời sống đức tin và cả trong đời sống ơn gọi nữa, cái nhìn của chúng ta về người khác, về những gì họ làm và những gì thuộc về họ cũng thường hay bị chi phối phối nặng nề bởi những khuôn khổ, những qui luật, những nguyên tắc, những tư tưởng, những cách hiểu hay cả một ý thức hệ có sẵn của chúng ta. Tương tự như cái nhìn của người con lớn về người em, trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (x. Lc 15, 11-32), phản ứng của ông trưởng hội đường đối với người phụ nữ còng lưng được Đức Giê-su chữa lành (x. Lc 13, 10-17), cái nhìn của ông Simon về người phụ nữ tội lỗi (x. Lc 7, 36-50) hay như quyết định cực đoan (cùng nhau bàn tính, lập mưu để giết chết) của những người Pha-ri-sêu đối với Đức Giê-su, sau khi chứng kiến Người chữa lành người bị bại tay trong hội đường, vào ngày Sa-bát (x. Mc 3, 1-6). Vì thế, chúng ta không thể mở mắt, mở tai và mở lòng ra để nhận ra sự hiện diện của Thánh Thần Thiên Chúa, hoạt động kỳ diệu của Người nơi mọi người và mọi nơi, vượt xa mọi khuôn khổ, với tâm tình tạ ơn và ca tụng.

    * * *

    Đức Giê-su mời gọi các môn đệ: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy”. Như thế, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ của Người, các môn đệ lắng nghe trực tiếp lời của Đức Giê-su và các môn đệ thuộc mọi thời, là chúng ta hôm nay, những người nghe được lời của Đức Giê-su trong các sách Tin Mừng, một đàng nhận ra rằng, có những người “thuộc về” Đức Ki-tô, cho dù không công khai thuộc về “nhóm chúng ta”, và đàng khác, các môn đệ được mời gọi nhận ra điều kì diệu. Điều kỳ diệu ở đây là Danh Thầy Giê-su có sức mạnh đẩy lui sự hiện diện và hành động của ma quỉ. Không chỉ Danh Thầy được “chúng ta” tuyên xưng, nhưng mọi sự trong mọi người, ở mọi nơi và mọi thời, thuộc về Danh Thầy, với tư cách là Ngôi Lời Thiên Chúa, đều có sức mạnh đánh tan bóng tối, bầu khi chết chóc, ma quỉ và Sự Dữ. Bởi vì “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành” (Ga 1, 3).

    Thay vì khép kín, chúng ta được mời gọi nhận ra Danh Thầy Giê-su, với tư cách là Ngôi Lời, được tuyên xưng và phát huy sức mạnh nơi mọi người, nơi các nền văn hóa, nơi các dân tộc, nơi các tôn giáo, và cả trong sáng tạo nữa, bởi vì:

    Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
    không trung loan báo việc tay Người làm.

    …………………

    Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
    mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu
    và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.

    (Tv 19, 2-5; x. Rm 10, 18)

    * * *

    Cuối cùng Đức Giê-su nêu ra “một qui tắc” nhận định, có giá trị cho mọi nơi và mọi thời, để nhận biết ai thuộc về, hay rộng hơn, những gì thuộc về “chúng ta”; “chúng ta” là chính Ngài và những người đi theo Ngài, vốn sẽ làm nên Giáo Hội.

    Đức Giê-su nói: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”. Qui tắc này vượt xa những khác biệt về nguồn gốc, chủng tộc, văn hóa và tôn giáo, để nhận ra những giá trị phù hợp với Tin Mừng mà Đức Ki-tô và Giáo Hội của Người rao giảng, để nhận ra, dưới tác động của Thần Thần, Đức Giê-su, Ngôi Lời Thiên Chúa hiện diện ở khắp nơi trong sáng tạo và trong lịch sử (x. Tv 136), lịch sử cứu độ, lịch sử loài người và trong cuộc đời của từng người chúng ta.

    2. Phần thưởng và hình phạt

    Sau khi nêu ra qui tắc phổ quát : « Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta », Đức Giê-su hướng tới những người làm ơn cho các môn đệ của Người :

    Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu

    (c. 41)

    Lời này của Đức Giê-su mang lại cho chúng ta nhiều an ủi. Thật vậy, một quà tặng rất nhỏ, là một « chén nước », mà chúng ta trao ban cho những người thuộc về Đức Ki-tô, cũng được Chúa ghi nhận, coi trọng, và sẽ làm cho sinh hoa trái kết quả : « người đó sẽ không mất phần thưởng đâu ». Và vì đó là « phần thưởng » đến từ Đức Ki-tô, con Thiên Chúa, nên sẽ tồn tại mãi mãi.

    Chắc chắn ai trong chúng ta cũng trao ban hơn thế nhiều, cho những người thuộc về Chúa, hay rộng hơn, cho những gì thuộc về Chúa và cho chính Chúa. Vậy, dựa vào lời của Chúa, một đàng, chúng ta hãy xác tín về « phần thưởng », nghĩa là những hoa trái Chúa sẽ ban cho chúng ta, cho sự sống hôm nay và mai sau, cho dù chúng ta còn đầy thiếu sót, yếu đuối và tội lỗi ; và đàng khác, chúng ta được mời gọi chia sẻ, trao tặng hơn nữa.

    * * *

    Tuy nhiên, ngay sau đó, Đức Giê-su lại nói về những hình phạt, những hình phạt thật nặng nề :

    Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn.

    Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi…
    Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi…
    Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi…

    Lời của Đức Giê-su thật là triệt để với những ai và với những gì làm cớ cho người người khác sa ngã, nhất là những người bé mọn. Bởi vì, làm cớ cho người khác sa ngã là hành động của Con Rắn, của Satan. Thật vậy, bà Evà nói với Đức Chúa : « Con Rắn đã lừa dối con, nên con ăn » (St 3, 13). Và trong thực tế, như Đức Giê-su nói trong Tin Mừng theo thánh Luca : “Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã”.

    Nhưng nếu, chúng ta biến lời này của Đức Giê-su thành lề luật, thì loài người sẽ chột mắt, cụt chân, cụt tay hết, thậm chí loài người sẽ « chôn sống » nhau ! Vậy, chúng ta phải hiểu và sống lời của Chúa như thế nào ?

    3. Lời Chúa là Thần Khí

    Phải chăng những lời này của Đức Giê-su là lề luật? Nếu đó là những điều luật như những điều luật khác, thì người ta sẽ phải khắc chúng xen vào tảng đá Mười Điều Răn! Có nhiều người đã hiểu luật của Đức Giê-su như thế đấy: chỉ có nội dung thay đổi, còn cách thức vẫn vậy. Nếu hiểu lời của Đức Giê-su theo nghĩa « chữ viết » như thế, người ta sẽ lấy đâu ra sức mạnh để tuân giữ? Và hậu quả sẽ thật lệch lạc và chết chóc.

    Ngôn sứ Giêrêmia đã loan báo giao ước mới và luật của giao ước mới sẽ không còn được khắc trên đá nữa, nhưng trong tận đáy lòng con người. Những lời của Đức Giê-su không mô tả cho chúng ta những hành vi phải thực hiện, nhưng buộc phải tiến tới, nếu cần thiết, thật xa như là những lời của Người gợi ra, nghĩa là đoạn tuyệt với sự dữ dưới mọi hình thức, mà vẫn không khuôn theo một cách vật chất.

    Lời của Đức Giêsu không thể được tuân giữ do áp đặt từ bên ngoài. Dù sao, nghe những lời này của Đức Giê-su, người Kitô hữu chúng ta có lý để than vãn: quá khó để thực hành những gì Ngài muốn; nhưng thật ra, hiểu cũng đã khó quá rồi! Vậy làm sao tìm ra “lối đi”. Chính Chúa Thánh Linh sẽ dẫn chúng ta đạt tới đích trong tự do; vì áp đặt sẽ làm hỏng luật của Đức Kitô tận gốc rễ.

    Để có thể sống theo lời của Đức Giê-su, chúng ta phải khởi đi từ “nguồn gốc”; nguồn gốc là tình yêu nhưng không và đến cùng Người dành cho từng người chúng ta: « Anh em hãy yêu mến nhau, như Thầy yêu mến anh em” (Ga 15, 12), là kinh nghiệm được Ngài “rửa chân”: “Anh em hãy rửa chân cho nhau, như Thầy rửa chân cho anh em” (Ga 13, 14) ; và khởi đi từ lòng ước ao cũng yêu Chúa đến cùng, ngang qua ơn gọi Chúa ban cho mỗi người chúng ta.

    Chúng ta có thể hiểu như thế, khi nghe lời mời gọi này của Đức Giê-su :

    Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em,
    và sống hoà thuận với nhau.
    (Mc 9, 50)

    Về mục lục

    .

    ÍCH KỶ

    Huệ Minh

    Chắc có lẽ ít nhiều gì đó chúng ta nghe đến cái tên Anthony De Mello.  Anthony De Mello đó chính là cha Anthony De Mello, một linh mục Ấn Độ, Dòng Tên.

    Cha Anthony De Mello chuyên về huấn luyện tu đức. Ngài đã viết nhiều tác phẩm và đã để lại cho chúng ta nhiều suy nghĩ dẫu rằng đó cũng chỉ là những tác phẩm được viết ra do sự tưởng tượng.

    Trong tác phẩm của  Cha Anthony De Mello có câu chuyện dù là chuyện tưởng tượng nhưng khá thú vị. Chuyện là Giêsu đi xem bóng đá” (trong tập truyện “Bài ca của loài chim” The Song of Bird).

    Chuyện kể như sau: “Nghe Đức Giêsu than phiền là Ngài chưa một lần nào được xem một trận bóng đá, chúng tôi liền đưa Ngài đến xem một trân đấu rất gay go giữa hai đội tuyển Tin Lành và Công Giáo. Khi đội Công Giáo làm bàn trước 1- 0, Đức Giêsu hoan hô vang dội và tung cả mũ lên trời. Vài phút sau, trong một đợt phản công đẹp mắt, đội Tin Lành đã gỡ một đều (1-1), Đức Giêsu cũng reo hò và tung mũ lên trời. Một khán giả ngồi bên cạnh lấy làm khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu, ông ta hỏi Ngài:

    – Này ông bạn, ông ủng hộ bên nào? Chúa Giêsu trả lời trong khi mãi mê theo dõi trận đấu: “Tôi à? Ồ, tôi không ủng hộ bên nào cả. Tôi đến đây là để thưởng thức trận đấu mà thôi”. Người khán giả tỏ vẻ khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu lại bực hội hơn, ông quay sang người bên cạnh và nói nhỏ: “Hắn ta là một tên vô thần!”

    Trên đường về nhà, chúng tôi nói với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, những người có tôn giáo thật là buồn cười, họ tưởng rằng Chúa chỉ đứng về phía họ và chống lại tất cả nhưng ai không thuộc về tôn giáo của họ”. Chúa Giêsu gật đầu tỏ ý đồng tình. Ngài bảo: “Đó là lý do tại sao tôi không ủng hộ đội tuyển Tin Lành hay đội tuyển Công Giáo, mà chỉ ủng họ các cầu thủ thôi, dù họ thuộc bất cứ đội tuyển nào”.

    Câu chuyện rất ngắn nhưng để lại cho ta nhiều suy nghĩ nhất là suy nghĩ về chuyện hờn ghen, ganh ghét nhau trong cuộc sống.

    Chuyện là có người không thuộc về Nhóm Mười Hai Tông Đồ đã nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ. Biết chuyện nên ông Gioan đã ngăn cản người ấy. Cứ nghĩ rằng mình là người có công lớn khi đem “câu chuyện làm quà ” với Thầy mình. Nhưng rồi, thật bất ngờ trước phán quyết của Thầy Giêsu: “Đừng ngăn cản người ta làm gì! Vì không có ai nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu Thầy. Ai không chống đối chúng ta là ủng hộ chúng ta”.

    Trở lại một chút, ta về với thời ông Môisê. Qua bài đọc thứ nhất ta thấy khi ông Giôsuê muốn dành độc quyền nói tiên tri cho nhóm bẩy mươi vị Kỳ Mục, đã xin Môisê ngăn cản hai ông Elđát và Mêđát nói tiên tri. Nhưng ông Môisê đã trả lời: “Anh ghen giùm tôi à? Phải chi Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều làm ngôn sứ!”.

    Cả hai câu trả lời thật đáng giá, vì chính thức lên án một tấm lòng hẹp hòi, một khối óc cục bộ. Làm sao người ta có thể nói tiên tri, có thể trừ quỷ, nếu không thuộc về Chúa, không do Chúa ban.

    Chính vì thái độ khép kín, phe nhóm như thế không đúng tinh thần cởi mở của Chúa Giêsu. Ta vẫn thường thấy rằng “Thần Khí muốn thổi đâu thì thổi”, “đừng dập tắt Thánh Thần”.

    Thật ra, không chỉ có Giôsuê của thời Môisê hay Gioan của thời Chúa Giêsu, mà Giáo Hội cũng đã nhiều lần muốn bảo vệ cái độc quyền nhân danh Đức Chúa của mình.

    Nhìn lại suốt hành trình của Lịch sử Giáo Hội, ta thấy quá nhiều biến cố đau thương làm cho những trang sử của Giáo Hội mất đi vể trong sáng. Trong những trang sử đó, ta thấy con người luôn bị cám dỗ áp đặt cho chính Thiên Chúa cái suy nghĩ hẹp hòi của chính mình. Và rồi Công Đồng Vatican II đã đánh dấu một trang sử mới của Giáo Hội về chính mình, về thế giới, về những tôn giáo khác, về những người không tin.

    Giáo Hội không còn bưng bít, bảo thủ trong thái độ lên án, khinh thường miệt thị nữa, mà là một thái độ trân trọng thực sự và đối thoại chân thành. Từ thái độ tự cao tự đại, tưởng mình độc quyền chân lý chuyển sang thái độ khiêm tốn biết giới hạn của mình, đồng thời nhìn ra cái chân, cái thiện, cái mỹ nơi người khác, nơi các dân tộc khác, trong các nền văn hoá khác.

    Là môn đệ thật sự của Đức Kitô, người môn đệ đó phải có trái tim rộng lớn, cởi mở như Thầy, sẵn sàng bắt tay hợp tác với mọi người và mời gọi mọi người cộng tác vào những việc tốt, việc hữu ích cho con người, cho xã hội, không hạn chế, không loại trừ hay cấm cản ai, nhất là những người thành tâm thiện chí.

    Nhìn vào tinh thần quảng đại của Đức Kitô không cần biên giới, không chấp nhận bị ràng buộc trong một phe nhóm, một tổ chức nào. Tinh thần đó phải vượt lên trên mọi khác biệt, vì “Thần Khí Chúa được ban cho mọi người không phân biệt ai”.

    Ở dải đất hình chữ S nghèo khổ thân thương, ta vẫn thấy nhiều và rất nhiều nhóm xuất phát từ trong các chùa, các tăng ni phật tử vẫn bên cạnh các linh mục, tu sĩ nam nữ, các Kitô hữu để làm công tác từ thiện bác ái, thăm viếng bệnh nhân, chăm sóc các cô nhi quả phụ, xóa đói giảm nghèo…

    Thật dễ thương khi nhìn thấy chân lý yêu thương của Đức Kitô được mọi người anh em Phật Giáo, Khổng Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Công Giáo cùng nhau chia sẻ và phấn đấu thực hiện cho bằng được: “Phàm ai hoạt động trong đức ái là đã thuộc về Đức Kitô” (x.Mc 9,41).

    Thế nhưng, với bản tính ích kỷ, nhỏ nhen ta đã đánh mất đi ơn Thánh mà Chúa ban riêng cho mỗi người. Cũng chính từ cái ích kỷ của ta mà ta đã phá bĩnh không biết bao nhiêu việc tốt lành của anh chị em ta. Và, ta xin Chúa thương tha thức cũng như thêm ơn để ngày mỗi ngày ta bớt đi cái lối sống ích kỷ, ghen tuông.

    Về mục lục

    .

    LÀM CỚ SA NGÃ

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Suy Niệm

    Chúng ta sống trong một thế giới có nhiều gương xấu.
    Gương xấu lan nhanh nhờ các phương tiện truyền thông,
    tạo nên một bầu khí ô nhiễm thấm vào buồng phổi.
    Ngay trong Hội Thánh cũng có kẻ gây gương xấu,
    khiến cho đức tin một số người gặp khủng hoảng.
    Ðức Giêsu tỏ thái độ không khoan nhượng đối với kẻ này:
    “… thà buộc cối đá lớn vào cổ nó
    mà ném xuống biển còn hơn.”
    Có thể chúng ta đã ít nhiều gây gương xấu.
    Cha mẹ làm ăn bất chính khiến con cái mất niềm tin.
    Nhà tu hành mê say vật chất khiến tín hữu thất vọng.
    Những phe phái chia rẽ khiến giới trẻ nghi ngờ tình yêu.
    Có biết bao duyên cớ đẩy đưa một người sa ngã.
    Nhiều khi chúng ta, vì vô tình hay thiếu khôn ngoan,
    không biết hạn chế tự do của mình,
    nên đã làm tổn thương lương tâm của những người yếu đuối.

    Tôi có thể gây dịp tội khiến anh em tôi sa ngã,
    nhưng chính thân xác tôi lại có thể là dịp tội cho tôi.
    Ðức Giêsu đòi ta chặt tay, chặt chân, móc mắt,
    nếu những bộ phận đó làm ta phạm tội.
    Hội Thánh không bao giờ hiểu đòi hỏi này theo nghĩa đen
    (nếu thế thì khó mà có một Kitô hữu lành lặn!).
    Nhưng chúng ta lại không được coi thường
    tính chất mạnh mẽ và quyết liệt của đòi buộc này.
    Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên
    nếu thấy có người dám chịu cắt bỏ một phần thân thể
    hầu cứu lấy sinh mạng của mình.
    Người khôn là người dám từ bỏ một điều quý
    để giữ lại một điều quý hơn.
    Chỉ ai coi cuộc sống vĩnh cửu là điều quý nhất,
    người ấy mới dám hy sinh mắt và tay chân,
    những gì vốn là tốt, nhưng nay lại thành vật cản trở.
    Có bao điều thiết thân, gắn liền với đời ta,
    nhưng nay đã trở thành vật cản trở.
    Cả những điều ấy, ta cũng phải cắt đứt, đoạn tuyệt.
    Chấp nhận đoạn tuyệt là chấp nhận đớn đau.
    Bỏ một tật xấu, một thói quen, một kế hoạch
    có khi còn đau hơn móc mắt hay chặt tay.
    Nếu chúng ta can đảm thắng vượt nỗi đau,
    chúng ta sẽ được tự do thanh thoát.
    Nếu cần một cuộc giải phẫu cho linh hồn.
    Giải phẫu không phải chỉ là cắt bỏ,
    mà còn là thay thế:
    thay ước muốn nơi trái tim, thay lối nghĩ nơi bộ óc,
    thay cái nhìn nơi đôi mắt, thay cách hành động nơi tay.

    Ðức Giêsu đưa ra những đòi hỏi tận căn.
    Ðể vươn tới Tuyệt Ðối thì cần hy sinh cái tương đối.
    Ước gì chúng ta ra khỏi thái độ lấp lửng, nửa vời,
    và dứt khoát chọn Thiên Chúa là Tuyệt Ðối.

    Cầu Nguyện

    Lạy Chúa Giêsu,
    sống cho Chúa thật là điều khó.
    Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
    Chúa đòi con cho Chúa tất cả
    để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

    Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa
    để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
    Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà
    để cây đời con sinh thêm hoa trái.
    Chúa cương quyết chinh phục con
    cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

    Xin cho con dám ra khỏi mình,
    ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan
    để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,
    dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

    Ước gì con cảm nghiệm được rằng
    trước khi con tập sống cho Chúa
    và thuộc về Chúa
    thì Chúa đã sống cho con
    và thuộc về con từ lâu. Amen.

    Về mục lục

    .

    KITÔ HỮU TRƯỚC ĐIỀU THIỆN VÀ ĐIỀU ÁC

    Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

    Tin nhận Đức Kitô không chỉ là đi theo Ngài đến những nơi mà Ngài đã đi qua, mà còn là tham dự vào cách sống của Đức Kitô, tức là thực thi giáo huấn của Ngài. Cụ thể giáo huấn của Ngài hôm nay là giáo huấn về điều thiện và điều ác.

    – Chúa Giêsu đề cao giá trị các việc thiện, dù việc thiện ấy do bất cứ ai làm và nhỏ đến đâu đi nữa.

    Ngày nay người ta lên án nhiều về mọi hình thức độc quyền: độc quyền về điện nước, độc quyền về xăng dầu, độc quyền về sách giáo khoa, v.v… Những thứ độc quyền này đã và đang hành hạ người dân, và làm tê liệt sự phát triển về kinh tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác nữa. Trong đời sống tôn giáo, cũng có một thứ độc quyền mà Chúa Giêsu mạnh mẽ đả phá, đó là độc quyền về ơn sủng, độc quyền làm điều thiện.

    Đây là một vấn đề rất phổ biến trong lịch sử Dân Thánh. Câu chuyện về ông Giôsuê trong Cựu Ước và ông Gioan trong Tân Ước mà Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay trưng dẫn cho ta thấy điều này. Sau khi được báo cáo cho biết có những người trong trại đã nói tiên tri, ông Giôsuê rất lấy làm khó chịu và bẩm báo sự việc cho ông Môisê (x. Ds 11,26-28). Cứ theo lời lẽ ông nói, thì ông muốn việc nói tiên tri là độc quyền của một số người nhất định, chứ không phải ai muốn nói là nói.

    Tương tự, khi thấy một số người mặc dù không thuộc nhóm các môn đệ của Chúa Giêsu mà lại ra tay trừ quỷ, ông Gioan tìm mọi cách để can ngăn. Ông hãnh diện về việc này và kể công với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cấm, vì người ấy không theo chúng ta ” (Mc 9,38). Cứ ngỡ sẽ được Chúa Giêsu khen, ai ngờ ông bị Chúa Giêsu “sửa lưng”: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi sau đó lại nói xấu về Thầy” (Mc 9, 39). Rất rõ ràng, quan điểm của Chúa Giêsu là việc tốt, việc thiện, việc lành do bất cứ ai làm nhân danh Ngài đều có giá trị.

    Hơn thế nữa, một việc tốt, việc lành, nhất là việc phục vụ anh chị em đồng loại, dù nhỏ bé tầm thường đến mấy vẫn không mất công phúc: “Thầy bảo thật anh em, ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mc 9,41). Ta có thể cho nhiều hay cho ít, điều đó không quan trọng. Ðiều quan trọng là ta đã cho “như thế nào”, bao nhiêu tình yêu mến được đặt vào nghĩa cử mà ta làm cho người khác. Ðôi khi chỉ cần cho một chén nước lã mà lại được ghi công. “Cho một chén nước lã” là một cử chỉ tầm thường, nhỏ bé, song lại lớn lao trước mắt Thiên Chúa khi được thực hiện nhân danh Người, nghĩa là thực hiện vì lòng yêu thương. Giá trị của nó còn nằm ở chỗ : “Làm cho những kẻ bé mọn là làm cho chính Chúa” (x. Mt 25,40). Đây là một mạc khải đầy bất ngờ. Bất ngờ vì chính Chúa Giêsu đã “đồng hoá” mình với những kẻ thấp hèn bé mọn. Từ nay việc bác ái yêu thương mà ta làm cho anh em đồng loại nhân danh Chúa, nhất là cho những kẻ bé nhỏ, không chỉ đơn thuần là việc thuộc về “đức ái đối nhân”, tức là việc nhân ái giữa người với người; mà, hơn thế, còn là việc thể hiện “đức ái đối thần”, tức là việc yêu thương đối với chính Chúa. Cái phúc cái phần ấy thế mà được nhân lên gấp bội.

    – Chúa Giêsu cảnh tỉnh chúng ta trước những việc xấu việc ác dù nhỏ.

    Cũng trong chiều hướng trên, Chúa Giêsu cảnh tỉnh chúng ta trước những việc xấu việc ác dù nhỏ, nhất là làm cớ, hay là làm gương xấu cho những kẻ bé mọn sa ngã là tội lớn, tội đáng “buộc cối đá vào cổ mà ném xuống biển”. “Buộc cối đá vào cổ mà ném xuống biển” là cầm chắc cái chết, dù có là vận động viên bơi lội, vì không còn trồi lên được. Đây là một trong hai hình phạt nặng nề đối với người Dothái thời bấy giờ. Qua giáo huấn này, Chúa Giêsu muốn đặc biệt lưu tâm đối với các bậc cha mẹ, thầy cô, bề trên,… là những người có trách nhiệm giáo dục hướng dẫn người khác.

    Không chỉ dừng lại ở đó, Chúa Giêsu còn mời gọi chúng ta can đảm và dứt khoát tránh chiều theo những cám dỗ, những thói hư tật xấu làm cho chính mình sa ngã. Dứt khoát với sự xấu, sự tội cũng giống như chặt tay, chặt chân, móc mắt… nghĩa là phải sẵn sàng hy sinh.

    “Mắt” đối với ngưới Do Thái, là cửa ngỏ của con tim, là lối vào của tâm hồn (gần với quan niệm của người Việt Nam: mắt là cửa sổ tâm hồn). Tội tư tưởng thường đến từ đôi mắt. Cũng theo quan niệm của người Do Thái, “tay chân” diễn tả hành động. “Chặt tay chặt chân” nghĩa là phải dứt khoát với các duyên cớ dẫn đến hành động tội lỗi. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho ta thấy rằng dứt khoát với tội lỗi không dễ chút nào. Tội lỗi một khi đã thấm vào người, nó trở nên như một phần bản thân. Dứt bỏ nó cũng đau đớn như chính những chi thể trong thân thể bị chặt bỏ, cắt lìa. Ta hãy xem những người bị nghiện ngập ma tuý chẳng hạn. Cơn nghiện vật vã dày vò tưởng chết đi được. Vì đối với người nghiện, ma túy trở thành một phần thiết thân của đời sống, đến nỗi khi phải dứt lìa, họ đau đớn khổ sở như thể đánh mất chính sự sống của họ vậy.

    Đặt mình trước giáo huấn của Chúa Giêsu hôm nay, chúng ta được mời gọi có những phản tỉnh nào? Đối với những điều thiện tôi đã bỏ qua không làm, hay làm không ý thức: tôi đã đánh mất bao nhiêu cơ hội để làm điều thiện, vì cho rằng đó là điều nhỏ? Bao nhiêu lần tôi làm điều thiện, điều tốt mà tôi không ý thức làm vì danh Chúa Kitô?

    Đối với những điều xấu, điều tội: bao nhiêu lần tôi đã tích lũy án phạt vì đã làm cớ cho người khác vấp phạm, sa ngã? Bao nhiêu lần tôi đã thiếu dứt khoát đối với các dịp tội và đã chiều theo cám dỗ để rồi sa ngã phạm tội đều đều?

    Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết thành tâm kiểm thảo mình mỗi ngày và can đảm điều chỉnh lại lối sống của mình cho phù hợp với giáo huấn của Tin Mừng hôm nay.

    Về mục lục

    .

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 22 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 22 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa:  Dnl 4,1-2.6-8;  Gc1,17-18.21b.22-27;  Mc 7,1-8a.14-15.21-23

    ———

     

    Mục lục

    1. Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Hãy sống chân thật (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    3. Tẩy rửa con tim  (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    4. Cội nguồn của tội ác (Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

    5. Giữ luật với lòng mến Chúa (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    6. Luật phàm nhân và luật Thiên Chúa  (Lm. Giuse Hoàng Kim Toan)

    7. Hình thức  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    8. Kẻ giả hình  (Lm. Nguyễn Thái)

    9. Lề luật và truyền thống (Lm. Đinh Lập Liễm)

    10. Suy niệm Tin mừng Chúa Nhật 22 TN_B  (Jorathe Nắng)

    11. Suy niệm Chúa Nhật 22 TN_B (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    12. Thờ phượng Chúa hết lòng  (Phó tế Đaminh Nguyễn Bình An)

    13. Sạch và đẹp  (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    14. Tâm hồn thanh khiết (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    15. Tuân giữ giới răn và thực hành lời Chúa (Lm. Đaminh Trần Đình Nhi)

    16. Con tim bệnh tật  (Lm. Vũ Đình Tường)

    17. Suy niệm chú giải Lời Chúa – Chúa Nhật 22 TN_B (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    18. Bác ái trong lề luật (Anna, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    19. Chỉ nghe suông là lừa dối chính mình (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    20. Tôn kính bằng đầu môi chót lưỡi  (JM. Lam Thy, ĐVD)

    21. Tuân giữ giới răn lề luật của Chúa  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

    22. Thiện căn hệ tại lòng ta  (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

    23. Ai là người Pharisieu?  (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    24. Chúa Nhật 22 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

     

    Mục lục

    1. Đức tin tinh tuyển  (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng) 

    2. Với cả tâm tình  (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt) 

    3. Cái nào quan trọng  (Gm. Arthur Tone)

    4. Đừng bất công với linh hồn  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    5. Cao cả và bi đát  (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Vệ sinh  (Trầm Thiên Thu)

    7. Đường hay pháo đài  (Văn Hào, SDB)

    8. Chúa Nhật 22 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

    9. Biến thái trong đời sống đức tin  (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc) 

    10. Thế nào là một người có lòng đạo đức thực sự  (Lm. Đan Vinh)

    11. Tôn kính bằng môi bằng miệng  (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    12. Từ trái tim con người  (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

     

     

    TÂM BẤT BIẾN GIỮA DÒNG ĐỜI VẠN BIẾN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Một người khi được hỏi: Trên đời sợ gì nhất? đã trả lời: sợ nhất là con người. Con người vừa cao cả vừa thấp hèn, vừa đáng kính vừa đáng sợ. Con người là tác nhân làm nên những kỳ vĩ, nhưng cũng là lý do gây nên bao đau khổ. Trí thông minh của con người có thể đem lại những kỳ tích giúp thăng tiến và phát triển, đồng thời cũng có thể gây tai họa hủy diệt chết chóc hoàng loạt. Con người vừa là điểm kết nối yêu thương, vừa là nguyên nhân gây chia rẽ bất hòa. Chính vì vậy mà con người trở nên “đáng sợ” nhất. Nhiều khi người ta đem hình ảnh ma quỷ ra để đe dọa người khác. Tuy vậy trong thực tế, chưa bao giờ thấy ma quỷ hiện hình giết người, mà chỉ có những người đang sống giết nhau một cách dã man. Lòng đố kỵ, tham lam đã khiến con người đoạt mạng sống của đồng loại một cách không thương tiếc, để lại những hậu quả khôn lường. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy nhận ra đâu là nguồn gốc của tội lỗi. Tội lỗi không phải là điều gì từ bên ngoài, nhưng xuất phát từ trong chúng ta. Chính con người là nguyên nhân gây ra tội lỗi và đau khổ cho bản thân và cho đồng loại. Trong kinh “Cải tội bảy mối” chúng ta thấy những “mối tội đầu” đều đến từ tà ý và ích kỷ của con người: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng việc đạo đức. “Tâm bình thế giới bình”. Tập luyện để có được tâm hồn bình an, đó là điều kiện quan trọng để góp phần xây đắp an bình trong cuộc sống và trong xã hội.

    Vào thời Chúa Giêsu, một số lớn những kinh sư và người biệt phái thường chú trọng tới những thủ tục bề ngoài mà coi thường tinh thần của lề luật và lãng quên đức bác ái.  Chúa đã nhắc lại giáo huấn của ngôn sứ Isaia: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.Rồi Chúa kết luận: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”. Kinh sư và biệt phái là những người học hành uyên thâm, họ có uy tín trong các cộng đoàn Do Thái, và có vị trí quan trọng trong các buổi hội họp. Chính những “bậc vị vọng” ấy đang bị Chúa kết án nặng nề và coi họ như những kẻ đạo đức giả. Họ lạm dụng khái niệm thánh thiêng và trần tục, và đã tự đặt ra rất nhiều quy định rườm rà và tỉ mỉ. Những quy định này, thay vì giúp cho con người nên thánh, lại đặt trên vai họ những gánh nặng không kham nổi. Những công việc bình thường hằng ngày như rửa tay, rửa chén, rửa bát, họ đã biến thành những nghi thức tôn giáo để kết tội người dân. Chúa Giêsu đã phê phán quan niệm ấy, và mời gọi họ chú trọng đến nhân vị, tức là chính con người. Bởi lẽ, những quy định, luật lệ được thiết lập là phục vụ con người và giúp họ hướng thượng và nên trọn lành.

    Cũng giống như những kinh sư và người biệt phái ngày xưa, nhiều khi chúng ta chỉ chú trọng tới những gì là “xã giao”, “lễ nghi”, “thủ tục” mà quên đi mục đích quan trọng của lề luật, đó là giúp ta nên thánh trước mặt Chúa và trước mặt anh chị em. Vì quá chú trọng đến những thủ tục và truyền thống, nhiều khi những tương giao của chúng ta trở nên giả hình, gượng ép, thậm chí là giả dối.

    Niềm tự hào của dân tộc Do Thái ngày xưa, cũng là niềm vinh dự của người Kitô hữu hôm nay, đó là được Chúa luôn hiện diện giữa cộng đoàn những người tin vào Người. Ông Môisen nhắc người Do Thái đừng quên điều ấy. Giáo Hội hôm nay cũng nhắc chúng ta như vậy. Trải qua những sóng gió trong cuộc lữ hành sa mạc, trên đường về Đất Hứa, người Do Thái càng nhận ra quyền năng của Chúa cũng như tình yêu thương Ngài dành cho họ. Trước tình thương ấy, Ông Môisen đã dặn dò: “Anh em phải giữ và đem ra thực hành những mệnh lệnh của Đức Chúa, vì nhờ đó mà anh em em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh”. Nhờ tin vào Chúa mà dân tộc Do Thái trở nên vĩ đại. Hôm nay, Giáo Hội của Chúa như cây nho vươn cành ra khắp thế giới, bao phủ địa cầu và đang sinh hoa kết trái, trở thành một vương quốc vĩ đại của Thiên Chúa.

    Biết bao lần chúng ta tham dự các nghi thức phụng vụ mà tâm hồn chúng ta xa Chúa. Có nhiều khi chúng ta giống như những người kinh sư và người biệt phái, chỉ chú trọng đến những nghi thức bề ngoài mà coi nhẹ tâm tình cầu nguyện, là điều cốt lõi để làm thành việc tôn thờ đích thực. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta: “Hãy khiêm tốn đón nhận Lời được gieo vào lòng chúng ta… Hãy đem Lời ấy ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Bài đọc II). Đối với thánh nhân, lòng đạo đức thật phải sinh ra hoa trái là lòng bác ái và dấn thân phục vụ người nghèo, giúp họ tìm được niềm vui trong cuộc sống.

    Vì tội lỗi đến từ con người. Nếu mỗi chúng ta chú tâm đến việc canh tân đổi mới cuộc đời, cuộc đời này sẽ bớt đi những mâu thuẫn hận thù và bạo lực. Với tư cách là Kitô hữu, hãy thắp sắng cuộc đời bằng những nhân đức và bằng tình yêu thương, để rồi cuộc sống chan hòa và thấm đượm tinh thần Tin Mừng yêu thương. Trái tim an bình và thánh thiện là điều kiện không thể thiếu để kiến tạo hòa bình xung quanh chúng ta.

    Sống không giậnkhông hờnkhông oán trách
    Sống mỉm cười với thử thách chông gai
    Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai
    Sống chan hòa với những người chung sống
    Sống là động mà không xao động
    Sống là thương mà chẳng vấn vương
    Sống hiên ngang danh lợi ta coi thường
    Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến (Sưu tầm).

    Về mục lục

    .

    HÃY SỐNG CHÂN THẬT

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Đôi khi tôi vẫn tự hỏi: tại sao Thiên Chúa tạo dựng con người có trí tuệ thông minh, có thể biết mọi sự nhưng Ngài lại không cho con người biết được lòng nhau? Có đôi khi ta vẫn nghe ai đó nói rằng “Tôi đi guốc trong bụng anh đấy!”, nhưng chỉ là “suy bụng ta ra bụng người” chứ chẳng ai đi guốc được trong bụng nhau! Vì con người là một diễn viên tài ba có thể che dấu sự thật về mình.

    Thế nên, người đời mới chua cay nói rằng: “Sông sâu còn có kẻ dò – Lòng người nham hiểm ai đo cho tường”. Con người dường như luôn có bí mật để dấu mọi người. Có khi cả tội lỗi mà chẳng ai nhận ra.

    Có một người đàn ông khi hấp hối hỏi vợ:

    – Em yêu, trước khi chết, anh muốn biết sự thật và sẵn sàng tha thứ cho em. Thằng thứ tư có phải là con anh không?

    – Tất nhiên nó là con anh. Em xin thề!

    Người đàn ông lộ vẻ sung sướng và trút hơi thở cuối cùng. Người vợ vừa vuốt mắt cho chồng vừa thở phào:

    – May là ông ấy không hỏi mình về ba đứa đầu…

    Quả thực giữa muôn loài trong thế gian chỉ có con người mới có giả hình, lừa đảo, gian dối, mưu mô, thủ đoạn . . . Chỉ có con người mới có kiểu nói vậy mà không phải vậy nên rất khó biết lòng nhau.

    Hôm nay Chúa Giê-su khẳng định: “không phải những gì từ bên ngoài vào làm cho người ta ra ô uế, nhưng từ trong mới xuất phát những cái làm cho người ta ra ô uế”. Điều này dường như Chúa muốn nói tội xuất phát từ bên trong. Tội chỉ là hành vi làm điều gì đó có lỗi mà từ trong tâm hồn con người đã nuôi dưỡng. Có khi tội cũng chỉ dừng lại ở việc nuôi dưỡng trong tâm hồn những điều bất chính hay những điều ngược với đức ái Ky-tô.

    Hôm nay nhân việc các kinh sư trách các môn đệ Chúa không rửa tay trước khi ăn. Đối với người Do Thái việc rửa tay là luật mà họ phải tuân giữ để chứng tỏ mình sạch trước mặt mọi người. Nhưng Đức Giê-su đã cho họ biết thế nào là sạch, thế nào là dơ. Cá có zòi rửa sạch nhưng bên trong đã hư thối. Sạch dơ đều phải dựa vào cái bên trong. Thế nên, cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay dữ, tốt hay xấu, sạch hay dơ. Từ lòng mà sinh ra các tội: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, lăng loàn , . . .

    Đức Giê-su không phản đối việc rửa tay trước khi ăn, Người chỉ phản đối thói vụ hình thức, vì họ quá quan trọng cái bên ngoài mà quên làm sạch bên trong. Làm người cần có tấm lòng như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết rằng: “sống trên đời cần có một tấm lòng”. Một tấm lòng chân thành, biết trao yêu thương. Khi tạo dựng con người Thiên Chúa cũng truyền cho con người: “Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31). Một trái tim biết yêu thương, một tấm lòng chân thành yêu thương nhau. Con người phải để gió cuốn đi tấm lòng yêu thương chân thành đến với tha nhân.

    Người ky-tô chúng ta đang sống trong mọi thế giới mà sự lừa dối lên ngôi đến mức cảnh báo ở khắp mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Thế giới hôm nay người ta cũng đề cao hình thức nên cũng cố đánh bóng mình bằng nhà cửa, xe cộ, phương tiện đắt tiền để khoe mẽ, để tạo niềm tin cho đối tác nhưng có mấy ai thực sự là sở hữu riêng mà không phải vay mượn.

    Một xã hội nặng hình thức và lừa dối cần lắm một đời sống chứng nhân cho sự chân thành và lòng quảng đại không điều kiện của người tín hữu chúng ta. Thiên Chúa biết rõ mọi sự hãy sống dưới cái nhìn của Chúa. Thế nên, hãy sống chân thành với nhau. Vợ chồng đừng che dấu nhau điều gì nhưng luôn cởi mở thân tình. Bạn bè cần sống chân thành để gìn giữ niềm tin cho nhau. Đối tác cần sống thật để cho mối quan hệ làm ăn bền vững . . .

    Người Ky-tô hữu mỗi khi đưa tay để đón nhận tình thương và sự thanh sạch của Thiên Chúa nên cũng cần phải thanh sạch từ ngoài đến tâm hồn không hoen ố vấn đục bởi tội lỗi, bởi toan tính thấp hèn. Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống thanh sạch trong tâm hồn và chân thành trong đời sống của mình. Amen

    Về mục lục

    .

    TẨY RỬA CON TIM

    Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

    Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác, từ khám phá này tới khám phá kia : có những câu chuyện xem ra nực cười nhưng cũng dở mếu dở khóc bởi vì những lố bịch của người Biệt phái, của những Tư tế, Pharisêu luôn gây cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Chẳng hạn như việc rửa tay trước bữa ăn, hay việc đóng thuế thập phân, việc lên Đền thờ cầu nguyện, tất cả những sự việc ấy đều được các Biệt phái, Ký lục, Tư tế vv…làm ra to chuyện, coi là quá quan trọng. Việc rửa tay trước bữa ăn là việc vệ sinh bình thường, tuy nhiên khi Chúa Giêsu đang ở Galilêa, họ đã cất công từ Giêrusalem tới gặp Chúa hơn 170 cây số để hỏi Ngài chỉ có một việc là tại sao các môn đệ của Chúa không rửa tay trước bữa ăn.Điều này chứng tỏ người Do Thái rất coi trọng việc tuân giữ các tập tục tiền nhân về vấn đề thanh tẩy…

    Người Pharisêu có tập tục, truyền thống rất kỹ về việc rửa tay trước bữa ăn. Họ sẽ không ăn bất cứ thức ăn nào khi chưa rửa tay.Thực ra, tục rửa tay đã có từ lâu dành riêng cho các Tư tế khi họ làm việc thờ phượng trong Đền thờ, rửa tay để tảy hết các ô uế, tạp khí, uế nhơ để các Tư tế xứng đáng làm việc tôn giáo, thờ phượng, tôn vinh Chúa. Sau này, người Do Thái cũng bắt chước rửa tay trước khi cầu nguyện. Với sự suy nghĩ như thế, họ cũng rửa tay trước các bữa ăn vì đối với người Do Thái khi ra đường, ra chợ, tới nơi công cộng, con người ra ô uế. Phải rửa tay vì không rửa tay đồ ăn bị ô uế lây, đồ ăn ô uế sẽ khiên con người ô uế. Chúa Giêsu quả quyết :” Không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế “. Người Do Thái, đặc biệt những Ký lục và Pharisêu đã biến việc giữ những tập tục tiền nhân trở nên gánh nặng, họ chỉ giữ bề ngoài, ai giữ luật, ai giữ tập tục họ cho người đó là đạo đức, công chính, thánh thiện, là đẹp lòng Thiên Chúa, còn ai không giữ thì họ cho là phạm tội vv…

    Do đó, Chúa Giêsu mới vạch mặt thói giả hình của họ bởi vì họ chỉ giữ những gì là bề ngoài, như người Pharisêu đã quá chú trọng cái bề ngoài mà quên đi cốt lõi của lề luật là tình yêu. Chúa khiển trách, lên án người Pharisêu và Luật sĩ vì gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, và duy trì truyền thống của phàm nhân. Truyền thống của người phàm là truyền thống chỉ mang hình thức, giả hình, chiếu lệ.Họ giữ bề ngoài mà bề trong đầy tham lam, gian dối.Họ rửa tay trước bữa ăn mà quên đi việc tẩy rửa tâm hồn.Rửa tay để an tâm vì đã sạch tay. Họ rửa tay để khỏi phải rửa tâm hồn bởi vì theo Chúa Giêsu nói thì sự xấu, sự dơ dáy không phải từ bên ngoài vào mà từ bên trong xuất phát ra. Chính Chúa Giêsu đã kể ra 12 ý định xấu từ trong trái tim, từ trong tâm hồn. Chính những ý định xấu ấy dẫn con người đến hận thù, ghen ghét, chia rẽ, liều lĩnh, gây ra tội lỗi. Giữ những tập tục, truyền thống người phàm mà quên đi giữ giới răn, lề luật của Thiên Chúa thì không thể nào chấp nhận được. Tất cả những việc chúng ta làm nếu không phải vì Chúa, vì tha nhân, vì tình yêu Thiên Chúa, thì quả thực không có ý nghĩa gì. Lời Chúa

    Hôm nay cảnh tỉnh mỗi người chúng ta rằng truyền thống, luật lệ và nghi lễ không phải là cốt yếu của lề luật của Chúa. Cốt lõi của lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết trí khôn và thương yêu người thân cận, yêu thương ngay cả kẻ thù như chính mình. Thánh Phaolô quả thực đã có lý khi nói dù chúng ta có là gì mà thiếu đức bác ái cũng chỉ như tiếng thanh la, não bạt chập cheng…

    Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết thanh tẩy con tim, tẩy uế tâm hồn để lời nói, việc làm của chúng con luôn rập theo ý của Chúa. Xin cho chúng con biết lăng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống của chúng con.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Tại sao người Pharisêu và Ký lục lại rửa tay trước bữa ăn ?
    2.Những người Do Thái bắt chước rửa tay trước bữa ăn để làm gì ?
    3.Cốt yếu của lề luật là gì ?
    4.Truyền thống, lề luật và nghi thức có phải là cốt yếu để trở nên thánh không ?

    Về mục lục

    .

    CỘI NGUỒN CỦA TỘI ÁC

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Trong một cuộc biểu tình chống chiến tranh, có hàng ngàn người xuống đường tuần hành qua các đường phố, hô to các khẩu hiệu chống chiến tranh. Ban đầu, đám đông hô vang: “Hủy bỏ bom đạn giết người!”

    Sau đó, trong nhóm tham gia biểu tình có cuộc tranh luận nhỏ: “Làm gì có bom đạn giết người! Bom đạn có giết ai bao giờ đâu? Chỉ có những người ác chế ra bom đạn, rồi ném bom lên đầu người khác mới gây nên thảm họa giết người.”

    Thế là sau đó, người ta hô khẩu hiệu khác, hợp tình hợp lý hơn: “Đả đảo những kẻ giết người!”

    Nhưng rồi lại có người bàn thêm: “Đâu phải tự dưng mà người lại giết người. Phải có động cơ nào đó thúc đẩy mới có việc giết người chứ! Nếu không có lòng tham lam, ghen tị và những dục vọng xấu xa thúc đẩy, nào ai lại đi giết người!”

    Ý kiến nầy được xem là chí lý.

    Thế là cuối cùng, mọi người hô to khẩu hiệu khác: “Đả đảo lòng tham lam! Đả đảo lòng ghen tị! Đả đảo sự hận thù!” (dựa theo Cha Anthony de Mello)

    Chính những dục vọng đen tối trong lòng người mới là nguyên nhân chính gây nên mọi xấu xa trong cuộc đời và trên thế giới. Cội nguồn sự ác nằm trong thâm tâm con người là thứ phải truy diệt trước hết.

    Vì chưa hiểu điều nầy, những người biệt phái và luật sĩ thời Chúa Giê-su cứ lo rửa ráy bên ngoài mà không lo rửa sạch nội tâm. Họ chú mục vào việc rửa tay trước khi dùng bữa, cho rằng đó là việc quan trọng hàng đầu và trách móc các môn đệ Chúa Giê-su đã bỏ qua tập tục đó.

    Nhân cơ hội nầy, Chúa Giê-su dạy cho các ông một bài học: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mác-cô 7, 14-15. 21-23)

    Sự kiện sau đây được thuật lại trong sách Sa-mu-en tỏ cho chúng ta thấy mầm mống ganh tị bên trong là động cơ phát sinh ra tội ác bên ngoài:

    Thời ấy, Gô-li-át, một kiện tướng của quân Phi-li-tinh, một người khổng lồ có sức mạnh vô địch, khiêu chiến với quân Ít-ra-en. Trong hàng ngũ quân Ít- ra-en, không ai dám đương đầu với tên khổng lồ ấy.

    May thay, Đa-vít xuất hiện kịp thời. Cậu dùng ná bắn lủng trán Gô-li-át,  rồi dùng chính gươm của y mà chặt đầu y. Quân Ít-ra-en bấy giờ thừa thắng xông lên như nước vỡ bờ, đánh tan quân địch không còn manh giáp.

    Sau đó, phụ nữ từ các thành Ít-ra-en tuôn ra các ngã đường chào mừng vua Sa-un chiến thắng và ca tụng Đa-vít như vị anh hùng kiệt xuất: “Vua Sa-un giết được một ngàn, còn Đa-vít giết được hàng vạn” (Samuen I, 18, 6-8).

    Lời ca tụng đó làm cho lòng ghen tị sục sôi trong lòng vua Sa-un khiến nhà vua tìm mọi cách tiêu diệt Đa-vít và đem quân truy lùng tận những hang núi sâu, mưu toan tiêu diệt vị anh hùng tài năng và dũng cảm nầy.

    Đúng là những gì xấu xa trong lòng người mới làm cho người ta ra nhơ uế. Cội nguồn sự ác nằm trong thâm tâm con người là điều mà người ta phải quan tâm tiêu diệt trước hết.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Xin cho chúng con mỗi ngày biết dành thời gian thinh lặng để nhìn sâu vào tận đáy lòng mình, nhờ đó, chúng con có thể phát hiện ra những ham muốn xấu xa, những kiêu căng và ghen tị, những tham lam và thù ghét đang âm ỉ trong lòng mình. Chính những thứ đó mới là nguyên nhân gây nên biết bao tội ác, tạo nên mọi điều xấu xa trong xã hội loài người.

    Xin giúp chúng con kiên quyết nhổ bỏ những dục vọng xấu xa đen tối khỏi tâm hồn mình ngay từ hôm nay, để mai đây chúng con khỏi bị chúng điều khiển, chi phối và xô đẩy vào vũng lầy tội lỗi.

    Về mục lục

    .

    GIỮ LUẬT VỚI LÒNG MẾN CHÚA

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Phụng vụ Lời Chúa thường niên B năm tuần vừa qua bị gián đoạn bởi chương 6 Tin Mừng Gioan xen vào, hôm nay chúng ta trở lại với chương 7 Tin Mừng Macô, Chúa Giêsu giúp các môn đệ cũng như người đương thời đào sâu ý niệm về sự trong sạch và những luật lệ liên quan. Về vấn đề này, thư thánh Giacôbê trong bài đọc II cũng soi sáng cho chúng ta khi ngài viết : « Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là: thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế đời này» (Gc 1,27 ).

    Đạo trong sạch

    Từ thế kỷ thứ II, người Do thái đưa ra luật cấm không được giao du và ăn uống với dân ngoại, để khỏi bị ô uế. Người Pharisiêu cho rằng tôn giáo của họ phát xuất từ Thiên Chúa, tẩy sạch là một nghi lễ công cộng, “vì theo đúng tập tục của tiền nhân, những người biệt phái và mọi người Do thái không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước” (Mc 7), thế nên họ chướng tai gai mắt khi thấy môn đệ Chúa Giêsu  “dùng bữa với bàn tay không trong sạch” (Mc 7,3). Người Do thái chỉ ăn sau khi đã rửa tay (x. Mc 7,3), các tập tục của họ gắn bó với “truyền thống” (Mc 7,4), thể hiện lòng trung thành với “Thiên Chúa, Đấng ở gần họ” (x. Dnl 4, 7) như Môise đã nói.

    Cần phải ghi nhận rằng, Chúa Giêsu không đến để hủy bỏ Lề Luật. Nhưng dạy người ta chống lại thói đạo đức giả hình, vụ hình thức, quan trọng hóa luật lệ của con tim với nghi lễ bên ngoài. Người lên án việc làm khiến người ta xa rời Thiên Chúa, và nghĩ rằng thực hành tỉ mỉ của các quy tắc Luật định là vinh quang ; mặt khác, theo Chúa Giêsu, sự trong sạch không tùy thuộc vào lễ nghi thanh tẩy, nhưng tùy thuộc vào tấm lòng.

    Lòng trong sạch

    Khi tuyên bố : “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế ” (Mc 7), cái đó không chạm tới lòng người ta, nhưng vào trong bụng và kết thúc trong cống rãnh. Theo Chúa Giêsu, điều gì làm cho chúng ta ô uế : ” Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế“.

    Những gì là nhơ bẩn, ô uế, hay những ý định và hành động xấu xa không đến từ bên ngoài, mà đến từ lòng dạ xấu xa và xa rời Thiên Chúa. Thiên Chúa không hiện diện khi lòng người rời xa Chúa.

    Tôn giáo được Chúa Giêsu thiết lập không giảm thiểu vào các nghi lễ bên ngoài, gồm một mớ những học thuyết và đạo đức giả ; đây là sự mặc khải về khuôn mặt của Thiên Chúa trong nhân loại nơi con người Chúa Giêsu. Việc thực hành đạo dù lớn hay nhỏ, chỉ có ý nghĩa và có giá trị khi được sinh ra từ tình yêu, được tháp tùng bởi tình yêu và được tiêu thụ trong tình yêu.

    Yêu thương là chu toàn Luật Chúa

    Tập tục của tiền nhân người Do thái thích giữ với lòng đạo đức ấy lại trái với Luật Môise. Đó là lý do tại sao Êsai nói : “Bạc của ngươi hóa thành ten chì, rượu đã trá pha nước lã (Is 1,22), cho thấy người xưa kết hợp sống giới luật của Chúa với một truyền thống nhạt nhòa, nghĩa là họ đã thiết lập một luật biến chất trái với Luật Chúa. Chúa Giêsu trách họ : Tại sao các ông phạm đến lệnh truyền của Thiên Chúa nhân lệ truyền của các ông?  (Mt 15,3) Họ bỏ qua những điều cần thiết, thêm vào những khoản phụ và  giải thích theo lối khác, việc họ làm lột tẩy họ là những kẻ đạo đức giả hình.

    Họ cương quyết bảo vệ các tập tục, nhưng không tuân thủ Luật Chúa. Thậm chí họ đổ lỗi cho Chúa Giêsu vi phạm ngày Sabát khi chữa bệnh, điều mà Luật không cấm. Tuy nhiên, họ không nhận lỗi về mình đã vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa, luật của họ thiếu hẳng tình yêu. Tình yêu này, trên thực tế, là điều răn thứ nhất và trọng nhất, và thứ hai là tình yêu của người lân cận.

    Thánh Phaolô cũng nói : Yêu mến là chu toàn cả Lề luật (Rm 13,10) và khi tất cả chỉ còn lại Tin, Cậy, Mến. Ấy là bộ ba! Nhưng trong bộ ba ấy, Mến lớn hơn cả! ( 1Cor 13,13). Và giả như tôi được ơn tiên tri, và biết mọi sự nhiệm mầu, toàn cả trí tri; và giả như tôi được tất cả lòng tin, khiến chuyển được đồi núi, mà tôi lại không có lòng mến, thì tôi vẫn là không! (1Co 13,2). Nếu không có bác ái thì tất cả chỉ là không.

     Chính bác ai mang lại sự hoàn hảo cho con người, vì ai yêu mến Thiên Chúa là hoàn hảo trong thế giới hiện tại và tương lai. Vì chúng ta sẽ không bao giờ ngừng yêu mến Thiên Chúa, nhưng hơn thế nữa sẽ chiêm ngắm và yêu mến Ngài đồng thời thương tha nhân.

    Về mục lục

    .

    LUẬT PHÀM NHÂN VÀ LUẬT THIÊN CHÚA

    Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

    Chúa Giêsu đứng về phía người nghèo và những người cô thế cô thân. Chính vì vậy, Chúa luôn chỉ rõ đâu là điều quan trọng, hình thức hay nội dung, bề ngoài hay bên trong nội tâm, rửa tay hay rửa cõi lòng. Luật phàm nhân hay luật Thiên Chúa?

    Đứng về phía con người

    Thời Chúa Giêsu, xứ Palestine có những nét tương phản: Giữa đa số người nghèo và số ít thành phần người Do Thái thống trị thông đồng với Đế quốc Roma kiếm chác thu lợi. Có những phong trào cách tân, xa rời tôn giáo truyền thống.

    Chúa Giêsu Đấng giải thoát, Người là Đấng hoàn toàn tự do với lề luật, cung cách tiếp cận với những người tội lỗi và bị bỏ rơi giữa xã hội. Không theo những xét đoán nghiêm khắc của nhóm biệt phái, những lên án của thượng tế và luật sĩ.

    Người hướng tới một điều duy nhất: “Sự thật sẽ giải thoát” (Ga 8, 32). Theo não trạng người Do Thái hiểu sự thật nghĩa là trung tín. Khi Chúa nói rửa nội tậm chứ đừng rửa chén đĩa bên ngoài, được hiểu là cần trung tín trong lời nói cũng như việc làm, chứ đừng chỉ nói mà không làm.  “Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 3)

    Luật Của Chúa

    Luật của Chúa là luật của tự do đích thực, không bị kiềm hãm trong tội lỗi và sự dữ. Lề luật trọn hảo và toàn thiện, trợ giúp con người biết sống yêu thương nhau, không thù hận, oán ghét, giành giật, khinh khi, ngạo mạn. Một lề luật cởi trói hoàn toàn khỏi những điều xấu xa..

    Chúa Giêu đã thực hiện giới luật ấy trọn vẹn để cho con người được thấy. Người đi đến với người nghèo khổ, đau bệnh. Người đồng bàn với người  tội lỗi, thu thuế. Người tiếp xúc với phụ nữ đúng với phảm vị của họ được tôn trọng, trao cho họ lời loan báo Chúa phục sinh…

    Chúa không lệ thuộc vào lời nói ra vào của người khác, không in trí một điều xấu nào nơi người Chúa gặp gỡ. Tự do trong mọi hành động và giao tiếp bình đẳng với mọi người, trả lại quyền tự do cho con người. Chúa muốn thiết lập sự công bằng trên trái đất cho mọi người. Thái độ đó nói lên, mọi người trên trái đất này đều có quyền sống, bình đẳng, sở hữu, và tự do như nhau. Đó là điều cơ bản cho mọi bản tuyên ngôn độc lập cho nhiều quốc gia.

    Chúa Giê su không phải là một chính trị gia, cũng chẳng phải là vị lãnh đạo trần thế nào, mà cũng không dựa trên quyền bính thế gian nào. Chỉ có một điều Chúa Giêsu nhân danh, đó là Nước Chúa ngự đến, Ý Chúa cha được thực hiện trên trần gian này.

    Luật Thiên Chúa luôn là một luật của tự do. Con người được tự do đáp lại lời gọi của Thiên Chúa, thực hiện Lời Chúa Giêsu giảng dạy, đi theo lối đường của Chúa. Sống tự do là con cái Chúa cũng giúp cho mọi người sống trong tự do đó. Cuối cùng luật của tự do là luật yêu thương như Chúa yêu thương.

    Về mục lục

    .

    HÌNH THỨC

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Tiền nhân tập tục thực thi,
    Rửa tay rửa chén, trước khi dự phần.
    Bàn tay tinh sạch bụi trần,
    Xác thân tắm rửa, tinh thần thảnh thơi.
    Mấy Thầy Biệt Phái gọi mời,
    Thực hành tập tục, trong đời sống đây.
    Phê bình môn đệ điều này,
    Tay dơ không sạch, ăn ngay tiệc mời.
    Không theo luật lệ ở đời,
    Bàn tay dơ dáy, mọi nơi nhúng vào.
    Giả hình môi miệng cao rao,
    Tôn thờ Thiên Chúa, trên cao hững hờ.
    Tấm lòng trống rỗng lật lờ,
    Miệng ngoài giả dối, tôn thờ thần ma.
    Sự gì ô uế xuất ra,
    Bên trong tâm trí, thật là gớm ghê.

    Luật lệ trong tôn giáo là để giúp chúng ta nên trọn lành. Luật không phải là gánh nặng hay sự lừa dối. Giáo hội kêu mời chúng ta giữ đạo và tôn thờ Chúa với cả tấm lòng và trái tim chứ không phải giữ đạo bằng môi miệng. Chúa muốn lòng nhân lành, chứ không muốn của lễ. Tâm đức và ý hướng là cốt lõi của việc giữ đạo. Chúa hiểu rõ nội tâm của chúng ta.

    Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu đối chất với các thầy Biệt phái về việc tuân giữ lề luật. Các Biệt phái chú ý chu toàn từng chi tiết nhỏ của luật như rửa tay, rửa chân, tắm rửa, lau chén bát… Họ giữ luật vì luật. Họ thờ kính Chúa qua các hình thức bên ngoài như may dài tua áo, giang tay cầu nguyện nơi phố xá. Họ làm thế cốt để khoe khoang. Lòng của họ thì trống rỗng. Chúng ta gọi đó là giả hình.

    Các nhà lãnh đạo Do Thái cảm thấy bực dọc và gai mắt khi nhìn thấy các môn đệ của Chúa ăn uống mà không chịu rửa tay trước. Chúa Giêsu phản đối sự câu nệ của họ. Họ đồng hóa tôn giáo với việc chu toàn những hành vi bên ngoài. Chỉ khi chúng ta thi hành các công việc với lòng yêu mến Chúa thì việc làm của chúng ta mới có giá trị. Điều quan trọng không phải việc chúng ta làm mà chính là tình yêu thúc đẩy chúng ta thực hiện.

    Truyện kể một vị Rabbi bị bắt tù ở Roma. Ông được phụng dưỡng tối thiểu, có cơm và có nước. Nhìn thấy vị Rabbi xanh xao yếu ớt. Bác sĩ khám nói rằng ông bị thiếu nước. Các người cai ngục bối rối. Không hiểu sao, vì họ vẫn cung cấp nước đầy đủ. Họ quan sát và phát giác ra Rabbi đã dùng nước uống để rửa tay theo nghi thức.

    Thi hành lề luật trong đức ái. Lề luật sẽ dẫn chúng ta vào con đường chính trực. Có nhiều người coi chu toàn lề luật là quan trọng, còn tình trạng tâm hồn không đáng kể. Chúa Giêsu đi vào nội tâm của con người. Chúa nhìn đến một tôn giáo rộng lớn hơn, một tôn giáo sống tinh thần bác ái. Tình yêu là tâm điểm.

    Trong thánh lễ hay khi cầu nguyện, chúng ta cố gắng tham dự một cách tích cực. Chúng ta tôn thờ Thiên Chúa với trái tim nồng cháy. Tin tưởng Chúa là Cha luôn thương mến chúng ta. Chúa không phải là tượng gỗ không hồn mà là Thiên Chúa hằng sống, cảm nhận và yêu thương.

    Về mục lục

    .

    KẺ GIẢ HÌNH

    Lm. Nguyễn Thái

    Trong nỗ lực làm sạch sẽ thành phố Los Angeles chuẩn bị cho ngày thế vận hội Olympic Games, và để gây ấn tượng tốt đẹp cho thành phố lớn nhất nhì thế giới này, vấn đề được đặt ra là phải giải quyết thế nào đối với những người vô gia cư nghề nghiệp và những kẻ say sưa đi lang thang trong thành phố. Những người này không thể bị đuổi ra khỏi thành phố hay nhốt vào những trại tập trung. Có một hãng sản xuất quần áo địa phương đã có sáng kiến tặng 350 bộ tuxedo của đàn ông và áo dạ tiệc của phụ nữ để họ ăn mặc ngoài đường phố trong suốt 2 tuần lễ. Với biện pháp này, người ta hy vọng sẽ giấu được một góc cạnh xấu xa dơ bẩn của đời sống trong thành phố.

    Đây chính là sự giả hình mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay, Mc 7: 1-8; 14-15; 21-23. Ngài đã nói với những người Biệt Phái và Luật sĩ, những chuyên viên về luật pháp, những người đã tố cáo các môn đệ của Chúa Giêsu là không giữ những phong tục, nghi thức bề ngoài: “Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: ‘Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người’” (Is 7: 6-7).

    Trong cuốn “Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh” do Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X dịch thuật đã định nghĩa sự giả hình dựa trên hai yếu tố: sự câu nệ hình thức và cứng lòng.

    William Barclay đã chia sẻ một câu chuyện liên quan đến vấn đề câu nệ hình thức như sau: Một vị Rabbi Do Thái cao niên bị giam trong một nhà tù của người La Mã. Mỗi ngày ông đều nhận một khẩu phần ăn uống. Sau một thời gian, vị rabbi trở nên yếu ớt, gầy còm xuống ký rõ rệt. Những nhân viên cai tù thắc mắc muốn biết ông có bệnh gì không, nên cho mời một bác sĩ đến khám. Bác sĩ chuẩn đoán là bệnh nhân bị mất nước trầm trọng. Những nhân viên coi tù không thể hiểu được tại sao lại có thể xảy ra như vậy được. Họ tin là phần nước uống của vị rabbi đã được cung cấp đầy đủ. Những người canh gác bèn được lệnh phải canh chừng kỹ lưỡng xem vị rabbi đã làm gì với phần nước của ông; khi đó thắc mắc mới được giải tỏa: Những người canh gác đã trông thấy vị rabbi cử hành nghi thức tôn giáo rửa tay trước khi cầu nguyện và ăn. Do đó, ông ta còn rất ít nước để uống.

    Nhiều người cũng lầm lẫn nghi thức, phong tục, và tập quán bề ngoài với sự thánh thiện (2 Tm 3:5). Chúng ta có một loạt danh sách các kinh phải đọc, những việc phải làm: lần hạt Mân Côi, đọc kinh Truyền Tin, tuần Chín Ngày, đeo Thánh Giá, đi Chặng Đàng Thánh Giá v.v… Chúng ta sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng chỉ có cách duy nhất để làm đẹp lòng Thiên Chúa là giữ những nghi thức này; hay là sẽ phạm tội nặng nếu không tuân giữ. Nhưng Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng sự thờ phượng Thiên Chúa đích thực chính là sự liên hệ yêu thương và mật thiết với Ngài (Ga 4:23). Sự liên hệ này mang lại cho chúng ta niềm vui và sự sẵn sàng hy sinh phục vụ Ngài.

    Qua những lời của tiên tri Isaia, Chúa Giêsu đã tố cáo sự giả hình trong tất cả mọi hình thức vì người giả hình chỉ sống bề ngoài mà không thực lòng (Rm 12:9). Họ giống như những người vô gia cư ăn mặc tuxedo đi lang thang trong thành phố Los Angeles. Sự giả hình không gì khác hơn là một sự dối trá trong hành động. Họ đánh lừa người khác bằng những thái độ tôn giáo bề ngoài để chiếm được lòng quý mến.

    Những người giả hình là những người “tâm ngôn bất nhất”. Họ không thực hành điều họ giảng dạy. Họ tuyên xưng thờ kính Thiên Chúa, nhưng chỉ ngoài môi miệng. Họ dạy và giải thích lề luật, nhưng không hiểu tinh thần của luật. Trong nhiều trường hợp, chính họ cũng không tin những điều họ nói và làm. Họ thường giả bộ tốt lành với những người khác. Trong ý nghĩa này một người giả hình thường hành động để đề cao chính họ. Những việc ăn chay, cầu nguyện, bố thí… được họ đánh tráo nhằm đề cao họ (Mt 6:2,5,16). Họ không bao giờ nhìn thấy điều tốt đẹp nơi những người khác, nhưng luôn luôn bới móc tìm kiếm những khuyết điểm để phê bình chỉ trích. Và sau cùng mọi sự sẽ tập trung vào chính họ (Mt 23:1-36).

    Đức Ông Arthur Tonne kể câu chuyện sau đây về một linh mục đã kêu gọi sự giúp đỡ khẩn trương vào giờ sáng sớm. Sau khi dâng Thánh Lễ, từ nhà thờ trở về nhà xứ, ngài bị một tên ăn cướp dí dao đằng sau lưng: “Tiền hay mất mạng!” Khi nhìn thấy cái cổ trắng của chiếc áo đen, nó ra lệnh cho ngài phải vứt cái ví xuống đất. Sau đó, vị linh mục cảm thấy nhẹ nhõm lấy một điếu thuốc lá ra hút và mời tên cướp một điếu. Nó bèn từ chối mà rằng: “Cám ơn cha. Vì là Mùa Chay nên tôi tạm bỏ hút thuốc.”

    “Sự câu nệ hình thức thì có thể sửa đổi được, nhưng sự giả hình thì gần như sự ‘cứng lòng’… Các ‘mồ mả tô vôi.’ Họ muốn lường gạt người khác. Họ tưởng mình công chính” (Lc 18:9; 20:20) (Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh).

    Thế kỷ vừa qua, Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939 – 1958) đã cảnh giác loài người cứng lòng, đang huênh hoang về nền khoa học kỹ thuật của mình: “Tội của thế kỷ này là tội đánh mất cảm giác về tội lỗi.” Đức Gioan Phaolô II đã lớn tiếng nói rằng: “Chủ nghĩa trần tục hóa -secularism – chủ trương không có Thiên Chúa cũng không có tội lỗi. Tâm lý học chống lại những cảm giác tội lỗi. Xã hội học quy trách tất cả trách nhiệm cho xã hội và nghĩ mình là nạn nhân. Nhân chủng học đổ lỗi cho môi trường. Cả những nhóm thần học mới lên diễn đàn giải thích rằng không có tội.”

    Không những thời đại văn minh khoa học ngày nay đã đánh mất cảm giác về tội, mà còn đề cao một số tội lên hàng nhân đức. Tội tà dâm được coi là sinh hoạt tính dục trước hôn nhân. Phá thai được coi như quyền của phụ nữ. Sự thụ thai được coi như một con bệnh có thể điều trị được. Trong cuốn “Final Exit”, cuốn sách được báo The New York Times coi là sách bán chạy nhất, xuất bản lần đầu 40 ngàn cuốn, bán sạch trong một thời gian rất ngắn, Derek Humphry đã hướng dẫn những cách thức để một người có thể tự tử bằng 18 cách khác nhau. Ông Humphry quan niệm rằng tự tử là một hành động cao quý, có thể chấp nhận được!

    Những người chủ trương trên là ai? Họ có thể là những người mang danh Kitô hữu, nhưng chẳng bao giờ biết đến bản chất của Kitô giáo là gì. Họ được rửa tội nhưng chẳng bao giờ giữ đạo. Thế nhưng hằng năm đến ngày Lễ Tro cả trăm ngàn người lũ lượt đứng sắp hàng để lãnh tro trên trán. Họ là những thành phần trí thức như bác sĩ, y tá, các giáo sư đại học, các thương gia, kỹ sư, chuyên viên v.v… trong các hãng lớn đang bôn ba với tiền bạc, đứng sắp hàng dài ngoài phi trường chờ đợi lãnh tro. Xức tro là gì mà những con người văn minh trí thức ngày nay lại biến nó trở thành như bản chất thiết yếu của tôn giáo vậy? Họ nghĩ rằng không cần phải giữ điều gì cả, chỉ cần lãnh tro một năm một lần, hay đến nhà thờ vào dịp lễ Giáng Sinh hay Phục Sinh. Đối với họ thế là đủ, thế là tròn việc giữ đạo!

    Một người không phải là Kitô hữu, đã biết tự vấn lương tâm mình bằng một danh sách của 7 trọng tội. Đó là sự giàu có mà không làm việc, hưởng khoái lạc mà không có lương tâm, làm thương mại mà không có luân lý, khoa học mà không có sự khiêm tốn, thờ phượng mà không có hy sinh, có kiến thức mà không có lễ phép, làm chính trị mà không có nguyên tắc. Chúng ta đã phạm những tội nào? Tôn giáo không phải chỉ là những nghi lễ. Đời sống tinh thần không phải chỉ là giữ những luật lệ. Và những hình thức bề ngoài chưa hẳn là sự thánh thiện (Mt 7:15; 24:4).

    Có hai vị tu sĩ nọ, một trẻ và một già, đang thả bộ xuống phố vào một ngày mưa tầm tã. Nước mưa ngập lụt phố phường. Họ gặp một cô gái trẻ đẹp ăn mặc tơ lụa gấm vóc. Cô muốn băng qua khúc đường lầy lội để về nhà phía bên kia đường. Vị tu sĩ trẻ bèn trạnh lòng thương: “Này cô, tôi giúp cô một tay nhé!” Với cánh tay khỏe mạnh của mình, người tu sĩ trẻ đã ẵm cô gái trẻ băng ngang khúc đường lầy lội. Rồi hai vị tu sĩ bước đi trong sự “thinh lặng đáng sợ” cho đến khi họ trở về đến tu viện. Vị tu sĩ cao niên không thể nào chịu đựng nổi bèn lên tiếng: “Các nhà tu hành không nên gần gũi những phụ nữ trẻ, nhất là những người đẹp như cô gái này! Tại sao thầy lại làm như vậy?” Thầy dòng trẻ trả lời: “Thưa thầy, em đã bỏ cô gái ở dưới phố rồi, nhưng thầy, thầy lại mang cô ấy về đến nhà dòng này.”

    Chúng ta thấy có hai khuynh hướng trái nghịch nhau trong đời sống thiêng liêng Kitô hữu, tạm gọi là THOÁT TỤC và VÀO ĐỜI. Tinh thần “thoát tục” hay xa tránh cõi trần nhấn mạnh vào lòng đạo đức qua việc tuân giữ những luật lệ tôn giáo nghiêm nhặt, và tránh xa khỏi những người được coi là tội lỗi hoặc không đứng đắn vì sợ sẽ bị lây nhiễm.

    Còn tinh thần “vào đời” lại nhấn mạnh đến sự liên đới chặt chẽ với những người đáng thương, những người thường bị coi như là xấu xa trần tục. Với tinh thần “vào đời”, nhập thế, người tín hữu không xa tránh, nhưng dang rộng cánh tay tới những người đang cần giúp đỡ.

    Đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu cốt ở sự quân bình, và dung hòa hai khuynh hướng này như Thánh Giacôbê Tông Đồ đã nhắn nhủ trong bài đọc II: “Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế của thế gian” (Gc 1:27).

    Về mục lục

    .

    LỀ LUẬT VÀ TRUYỀN THỐNG

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Thèm Lòng Chứ Ai Thèm Thịt.

    Trong Cựu Ước, bộ luật có tới 613 khoản, nhưng những khoản luật đó chỉ nói trên nguyên tắc, còn trong áp dụng thực hành người ta còn thêm vào những lời cắt nghĩa mà ta gọi là truyền thống hay truyền khẩu. Như vậy có hai thứ luật.

    Luật quan trọng hơn là Lề luật thành văn, căn cứ trên sách Torah (Ngũ Kinh), nghĩa là 5 cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước, đôi khi còn gọi là luật Maisen. Thật ra, Ngũ kinh hàm chứa một ít qui tắc và chỉ dẫn chi tiết, nhưng về các vấn đề đạo đức, những gì được nêu lên chỉ là một loạt nguyên tắc mà người ta phải tự giải nghĩa và ứng dụng cho riêng mình. Trong một thời gian dài, dân Do Thái bằng lòng với những “kiểu mẫu” này. Họ áp dụng vào đời sống vì thấy chúng thích hợp.

    Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, có một nhóm chuyên nghiên cứu Lề luật, dưới biệt hiệu là Luật sĩ (Kinh sư). Nhóm người này thấy những điều luật tổng quát trong bộ luật ấy quá mơ hồ, thiếu tính rõ ràng, cần phải được soạn thảo lại cho rõ ràng hơn, với nhiều chi tiết hơn. Do đó, họ muốn triển khai, phóng đại, phân tích các nguyên tắc lớn ấy biến chúng thành hàng ngàn lề luật, qui tắc nhỏ nhặt, để điều khiển từng hành động, từng hoàn cảnh của đời sống. Chúng vẫn được gọi là Luật truyền khẩu, đây chính là cái gọi là tương truyền của người xưa.

    Trong khoảng thời gian này, trong dân chúng Do Thái, có rất nhiều người muốn bắt chước các tư tế của họ về sự thánh thiện bề ngoài có tính cách nghi thức. Chẳng hạn theo lề luật thành văn, mọi tư tế đều phải rửa tay khi vào nơi thánh trong đền thờ. Mục đích của luật này là tẩy rửa đi tất cả những gì là ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng thờ phượng Chúa hơn. Dần dần, dân chúng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Và bằng những suy nghĩ tương tự như thế, họ cũng rửa tay trước khi dùng bữa.

    Có nhiều luật lệ rõ ràng và nghiêm nhặt về việc rửa tay. Trước khi dùng bữa và giữa hai món ăn, người ta phải rửa tay, và phải rửa theo một nghi thức nhất định. Đây là vấn đề không phải chỉ là vệ sinh mà là tập tục tôn giáo về “sạch” và “dơ”, được ghi thành luật của Maisen trong sách Lêvi, được thêm vào nhiều chi tiết và qui định rõ ràng qua truyền thống.

    Vào thời Đức Giêsu, dân Do Thái tuân giữ những lệnh truyền khẩu này cũng tỉ mỉ và thành tín chẳng khác nào lề luật thành văn của Ngũ Kinh. Ý tưởng hàm chứa đàng sau việc tuân giữ này quả thực cao đẹp, bởi vì nó nhằm mục đích làm cho tôn giáo thấm nhập vào mỗi hành vi của cuộc sống, nhưng trong quá trình thực thi luật lệ này, một điều bi đát đã xẩy ra vì tôn giáo đã dần dần thoái hoá thành một hoạt động chỉ đơn thuần là chu toàn những nghi thức bên ngoài: tuân giữ những nghi thức này thì được kể là làm đẹp lòng Thiên Chúa, còn không giữ chúng đồng nghĩa với phạm tội. Nói tóm lại, tuân giữ những nghi thức bên ngoài này được đồng hóa, được đánh giá là đạo đức, là biết phụng sự Chúa.

    Có một thầy tiến sĩ luật Do Thái bị đi tù ở Rôma. Ông chỉ được ăn uống tối thiểu, nhằm mục đích kéo dài cuộc sống cho qua ngày. Thời gian trôi qua, thầy luật sĩ yếu dần. Cuối cùng, người ta phải mời một y sĩ đến khám. Y sĩ bảo rằng cơ thể ông bị thiếu nước. Các sĩ quan cai ngục không hiểu nổi tại sao ông ta lại có thể thiếu nước. Bởi vì khẩu phần nước mỗi ngày tuy là tối thiểu, nhưng vẫn tương đối đủ cho một cơ thể. Thế là đám lính gác liền chú ý quan sát thầy luật sĩ một cách kỹ lưỡng hơn, xem ông ta làm gì với số nước ấy. Cuối cùng, người ta khám phá ra: Thầy luật sĩ ấy đã sử dụng phần lớn số nước để rửa tay theo nghi thức tôn giáo trước khi cầu nguyện và ăn uống. Như thế ông ta chỉ còn lại rất ít nước để uống.

    Thực ra, việc rửa tay không phải chỉ nhằm việc vệ sinh thân thể nhưng là việc vệ sinh tâm hồn. Rửa tay là có ý rửa cho linh hồn mình được sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Trong Thánh Lễ, khi chủ tế rửa tay với chút nước thì đọc: ”Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội con phạm xin Ngài thanh tẩy” (Ps 51:3-4). Nhưng tiếc thay, nhiều người Do Thái chỉ chú trọng rửa tay là rửa tay theo truyền thống mà không để ý đến việc thanh tẩy tâm hồn mình. Vì thế, nhà thần học William Barclay nói: ”Người ta có thể căm thù tha nhân tận xương tủy mà không một chút áy náy vì họ đã tuân giữ một cách chặt chẽ các nghi thức rửa tay và các nghi thức thanh tẩy khác.”

    Chúng ta phải nể phục sự nghiêm túc giữ luật của các luật sĩ Do Thái: họ giữ luật Maisen cẩn thận từng chi tiết, cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Ngoài những điều khoản của Lề Luật, họ còn giữ cả những chi tiết nhỏ mọn trong truyền thống Do Thái Giáo.

    Nhưng Đức Giêsu đã cho họ thấy rằng sự thánh thiện không hệ tại việc giữ một cách chi tiết như thế, hay giữ theo hình thức bên ngoài, mà hệ tại một cái gì đó sâu xa hơn nhiều (Mk 7:17-23). Cái đó ở trong nội tâm chứ không phải ở bên ngoài.

    Điều đáng tiếc là những người đặt nặng những chi tiết hay những hình thức bên ngoài của lề luật, thì lại thường coi nhẹ cái cốt tủy của lề luật. Đức Giêsu đã tố giác điều ấy: ”Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái giả hình! Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ” (Mt 23,23). Như vậy, theo Đức Giêsu, ba điều quan trọng nhất trong lề luật, tinh thần của lề luật, cũng là cốt tủy của sự thánh thiện, chính là chân lý, công lý và tình thương.

    Đối với lòng nhiệt thành giả tạo có vẻ quá hình thức này, Đức Giêsu trách cứ họ hai điều: một là giả hình, hai là làm đảo lộn giá trị. Họ giả hình vì cũng như thời tiên tri Isaia, người ta không nghĩ đến sự hối cải trong các tâm hồn, mà chỉ bận tâm đến việc thực hiện mấy việc bên ngoài: ”Dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người” (Is 29,13). Hơn nữa, Thiên Chúa là chân lý tuyệt đối, có nghĩa là sự gian dối không có chỗ nơi Ngài, không được Ngài ưa thích và ủng hộ. Trái lại, Thiên Chúa lên án cách sống giả hình, sai lạc với sự thật. Thiên Chúa không khinh chê người yếu đuối, tội lỗi, nhưng khinh chê những người đạo đức giả (Lc 16:15). Thiên Chúa yêu thương, tha thứ cho những yếu đuối, tội lỗi, nhưng Thiên Chúa không thể chấp nhận kẻ sống giả hình.

    Nếu chỉ có những hành động bên ngoài mà không có tinh thần cốt tủy bên trong, thì việc giữ luật đó sẽ ít giá trị trước mặt Chúa. Còn những người luật Chúa thì không giữ, lại chỉ lo giữ những tập tục tôn giáo truyền thống, chẳng hạn một số thói quen mà ta gọi là “việc đạo đức”, những hình thức do con người sáng tạo…thì việc giữ những tập tục ấy lại càng ít giá trị hơn.

    Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/08/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ ở Nhật, đó là “Sư Máy.” Vị Sư Máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ: đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi, một tay thì gõ mõ, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật Giáo khác nhau tại Nhật. Như tác giả bài báo ghi nhận, những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương (Mỗi ngày một tin vui).

    Họ chỉ giữ tập tục của tiền nhân là những tập tục của con người đặt ra. Các tiền nhân của người Do Thái đặt ra nhiều tập tục tỉ mỉ mà các biệt phái và luật sĩ tuân giữ rất nhiệm nhặt. Biệt phái là những người Do Thái rất sùng đạo, nhưng sùng đạo cách giả hình, vụ hình thức, vì họ chỉ chú trọng đến những hình thức bên ngoài như nhiệm nhặt gìn giữ các tục lệ của tiền nhân, chuộng hình thức bên ngoài mà không có tinh thần bên trong.

    Chúa khiển trách họ: ”Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người, vì các ngươi bỏ qua các giới răn của Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người” (Mk 7:6-9). Chúa khiển trách họ là người làm đảo lộn giá trị vì họ chỉ chú ý đến việc tuân giữ các tập tục của tiền nhân mà lại bỏ qua những giới răn căn bản của Chúa. Họ coi trọng việc thuộc về con người hơn việc thuộc về Thiên Chúa.

    Nhân dịp các luật sĩ chê trách các Tông Đồ không rửa tay khi dùng bữa, Đức Giêsu muốn dạy cho họ một bài học: cái xấu xa không phải từ ngoài mà vào mà ở trong mà ra. Ngài nói: ”Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình… Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mk 7:20-23). Do đó, chính cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay việc dữ.

    Theo lời Chúa dạy, chúng ta thấy yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bề ngoài. Chính ý hướng ở bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài có giá trị hay không. Nhiều người có những hành động rất tốt nhưng lại làm vì những động lực ích kỷ hay gian ác, thì hành động ấy trở nên xấu. Chẳng hạn những hành động giả nhân giả nghĩa nhằm được một lợi lộc nào đó, như bố thí thật nhiều để được khen, để có tiếng là đạo đức hầu lừa đảo người khác; hay làm việc tích cực chỉ nhằm để được lên chức, để nắm quyền hành nhằm thao túng lũng đoạn tập thể. Ngược lại, có những người “tình ngay mà lý gian”, hành động thì có vẻ như xấu, bị kết án, nhưng lại được Thiên Chúa chúc lành.

    Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng sự thánh thiện hệ tại tình trạng tốt đẹp tâm hồn hơn là tại những hành động bên ngoài. Xin cho chúng con một tâm hồn ngay thẳng, luôn thành thật, luôn tôn trọng và bênh vực công lý, luôn yêu thương mọi người. Tâm tốt lành ấy mới chính là điều cốt yếu làm nên sự công chính thánh thiện của chúng con, hơn là giữ luật lệ một cách chi tiết hay việc làm cho thật nhiều (JKN).

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 22 TN_B

    Jorathe Nắng

    Tin Mừng Máccô cho chúng ta thấy Đức Giêsu là người thầy luôn bênh vực môn đệ của mình khi các ông không làm theo những gì Luật Môsê quy định. Ngài đã làm như thế không phải một lần, nhưng rất nhiều lần. Vì thế mâu thuẫn giữa Ngài và các Biệt Phái, Kinh Sư Do Thái ngày càng căng thẳng.

    Các ông Biệt Phái và Kinh Sư là giai cấp lãnh đạo, được trọng vọng trong xã hội tôn giáo Do Thái, và tất nhiên họ phải bảo vệ Luật Môsê một cách triệt để, nếu không nói là cực đoan, vì chỉ có Luật Môsê mới đảm bảo hữu hiệu vị thế và lợi thế của họ. Chính vì thế, bất cứ ai vi phạm Luật Môsê đều bị họ lên án, không kể gì Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai.

    Thực ra Đức Giêsu không chủ trương, cũng không kích động các tông đồ chống lại Luật Môsê và Truyền Thống của cha ông; trái lại Ngài công nhận và tuân giữ. Nhưng Ngài muốn đặt lại cho xã hội tôn giáo lúc bấy giờ, cũng như cho các ông Biệt Phái, Kinh Sư Do Thái ý nghiã, mục đích của Truyền Thống, Lề Luật :

    1. Truyền Thống, Lề Luật phải phục vụ hạnh phúc của con người:

    Điểm thiết yếu Đức Giêsu đặt ra cho các ông Biệt Phái, Luật Sĩ là mục đích của Truyền Thống, Lề Luật. Nếu Truyền Thống, Lề Luật không đem lại hạnh phúc cho con người, không làm cho con người được sống xứng danh con người, không tạo điều kiện để nhân phẩm được bảo vệ và phát triển, không xây dựng đời sống con người ngày càng trở nên tốt đẹp, thoải mái hơn, nhất là không phát huy tình huynh đệ, tương trợ giữa người với người thì Truyền Thống, Lề Luật ấy không đáng được tồn tại, gìn giữ.

    Có rất nhiều Truyền Thống, Lề Luật không góp phần xây dựng đời sống con người, không tạo điều kiện cho cuộc đời đáng sống hơn, nhưng nghiền nát, xóa bỏ con người và làm cuộc sống trở nên ngột ngạt, nặng nề. Dưới áp lực này, con người và hạnh phúc của con người không còn là mục tiêu phục vụ của Truyền Thống, nhưng Truyền Thống là ông chủ khắc nghiệt của con người, mà mọi ý muốn của ông chủ khó tính phải được đầy tớ là con người thoả mãn, đáp ứng chính xác, trọn vẹn, từng chi tiết. Cuộc sống làm người và hạnh phúc của xã hội loài người không còn là đích điểm của Lề Luật, nhưng Lề Luật truy sát, khống chế xã hội và biến những con người sống trong xã hội đó thành những tù nhân bất hạnh.

    Chủ nghiã vị luật, nghiã là chủ nghiã thượng tôn Lề Luật, thần tượng Lề Luật, coi Lề Luật là chân lý tuyệt đối, uy lực tuyệt đối, phán quyết tuyệt đối và cho Lề Luật quyền sinh sát trên con người là chủ nghiã cực kỳ phi nhân, vì hoàn toàn loại bỏ con người, phủ nhận chỗ đứng không thể thay thế, hoán nhượng của con người, và sẵn sàng nhẫn tâm khước từ hạnh phúc của con người để mù quáng phục vụ một hệ thống Lề Luật, một cơ chế Truyền Thống lạnh lùng, vô cảm, xa rời nhu cầu và khắc khoải đích thực của con người.

    Con người ở trong cơ cấu vị luật, cơ chế suy tôn Truyền Thống ấy sẽ chỉ còn là những thân phận nô lệ của Lề Luật, tôi đòi của Truyền Thống, bởi chủ nghiã và khuynh hướng vị luật cực đoan, mù quáng này thường nhân danh con người để củng cố Lề Luật, Truyền Thống, khi con người vừa được gọi tên, tuyên dương là công chính, đạo đức theo tiêu chuẩn đánh giá của Truyền Thống, Lề Luật, vừa bị Truyền Thống, Lề Luật phủ nhận, quật ngã, chà đạp.

    Đức Giêsu chống lại chủ nghiã vị luật này, vì con người bị xúc phạm, nhân phẩm bị tổn thương, hạnh phúc bị chối bỏ. Với Ngài, con người là quan trọng hơn hết dưới mắt Thiên Chúa, và Lề Luật, Truyền Thống, tuy cần thiết nhưng phải nhắm đến hạnh phúc của con người:

    Sau khi chữa lành một người bất toại đã ba mươi tám năm bên hồ nước tại Bétdatha, “hôm đó là ngày sabát, người Do Thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh” : “Hôm nay la ngày sabát, anh không được phép vác chõng!” Nhưng anh đáp: “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : Anh hãy vác chõng mà đi”!.. “Do đó, người Do Thái chống đối Đức Giêsu, vì Người hay chữa bệnh ngày sabát” (Ga 5, 9-10.16).

    Luật Môsê quy định cả đến vác chõng về nhà, sau khi được chữa lành cũng không được làm trong ngày sabát. Tinh thần vị luật quá đáng khi nghiêm cấm làm việc trong ngày sabát đã bị Đức Giêsu chống lại khi Ngài qủa quyết : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17) trước đám đông người Do Thái đang phẫn nộ lên án Ngài vì Ngài đã chữa bệnh này sabát, trái với Lề Luật.

    Đức Giêsu cũng cho những người Do Thái thời đó hiểu rằng : việc tốt lành, thiện hảo là điều Thiên Chúa mong ước con người thực hiện cho nhau, nên Luật ngày sabát không thể ngăn cấm những việc làm bác ái, tương trợ , khi Ngài đặt cho họ câu hỏi: “Ngày sabát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi”? (Mc 3, 4), khi Ngài chữa người bị bại tay trong ngày sabát.

    Nhưng rõ nét hơn là khi Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua một cánh đồng lúa.

    “Dọc đường, các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. Người Pharisiêu thấy vậy, mới nói với Đức Giêsu: Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát!” (Mt 12,1-2). Sau khi trưng dẫn cho người Pharisiêu câu chuyện vua Đavít đã cho phép các thuộc hạ vì đói được ăn bánh đã cung tiến Thiên Chúa, bánh mà chỉ các tư tế mới được ăn và là điều Lề Luật nghiêm cấm, Đức Giêsu đã khẳng định : “Con người làm chủ ngày sabát” (Mt 12,8), chứ không phải ngày sabát làm chủ con người. Điều đó có nghiã Lề Luật được làm nên để phục vụ con người, để con người được sống trong trật tự, an bình, hạnh phúc, chứ không để khống chế, áp đảo, giam hãm, hủy diệt con người.

    Tóm lại, Đức Giêsu không chủ trương hủy bỏ Lề Luật, nhưng Lề Luật, Truyền Thống chỉ có giá trị khi phục vụ con người, giúp con người sống tốt, sống đẹp, sống hạnh phúc. Lề Luật là phương tiện để con người trưởng thành trong đức ái, huynh đệ. Lề Luật cần cho xã hội, với điều kiện Lề Luật không vi phạm, làm tổn thuơng con người trong xã hội ấy. Vì thế, Lề Luật phải luôn giữ được tính nhân văn, để luôn luôn có thể khéo léo uyển chuyển trong những trường hợp cần thiết hầu giữ được ý nghiã, mục đích của Lề Luật là phục vụ con người, thăng tiến đời sống con người và mưu cầu hạnh phúc đích thực cho con người.

    2. Tinh thần vị Truyền Thống, Lề Luật có thể làm phân liệt nhân cách :

    Khi dùng lời của ngôn sứ Isaia để nói với những người Pharisiêu: “Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dậy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mc 7,6-7) , Đức Giêsu đã nói lên nguy cơ phân liệt nhân cách, nói cách khác,nguy cơ giả hình ngay tự bản thân của người sống tinh thần vị luật cách mù quáng, cực đoan.

    Thực vậy, một khi quá đóng khung vào hệ thống rườm rà, trói buộc và mang tính trình diễn hời hợt bên ngoài của Truyền Thống, Lề Luật, người ta sẽ dễ dàng và mau chóng bỏ quên những gì chân thực từ trái tim, những sự thật đáng trân trọng của tâm hồn, những rung cảm trung thực của tấm lòng, những tốt đẹp khó tìm thấy của tim óc. Bị cuốn hút vào chủ nghiã duy Lề Luật, người ta sẽ chỉ chăm chú soi từng nét chữ trong Lề Luật, cẩn thận giữ từng dấu phẩy của quy tắc, nghiêm khắc với từng chi tiết vụn vặt, cỏn con của Truyền Thống, mà quên đi chính con người của mình và anh em. Tình trạng phân liệt giữa bên ngoài và bên trong, giữa hành động và ý nghĩ, giữa đòi hỏi của Lề Luật và thao thức vi tha thầm kín làm nên mâu thuẫn nội tại rất căng thẳng. Để làm dịu căng thẳng của mâu thuẫn nội tại này, người ta bắt buộc phải giả dối, sống nhiều mặt, và đó là hiện tượng giả hình mà Đức Giêsu đã nhiều lần lên án (x. Mt 23).

    Cũng vì giả hình mà môi miệng bai bải yêu mến Chúa, lải nhải các điều răn, nhưng tâm hồn thì trống vắng, trái tim thì lạnh nhạt.Cũng vì giả hình mà bên ngoài thì cung kính lễ nghi, nhưng bên trong thì thờ ơ, chai đá. Cũng vì giả hình mà chu chắm tuân giữ truyền thống, nhưng lại “khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa” (Mc 7,9).Chính Đức Giêsu đã công khai lên tiếng : “Như thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà hủy bỏ lờI Thiên Chúa” (Mc 7, 13).

    Thực vậy, Đức Giêsu đã mặc khải cho chúng ta: điều làm chúng ta bất hạnh, và ngăn cản chúng ta hiến thân cho nhau, chính là chúng ta sống giả dối và giả hình là thứ giả dối đã đi vào chiều sâu của bản ngã. Chính Đức Giêsu đã muốn xua đuổi vi trùng giả hình này ra khỏi đời sống chúng ta khi Ngài phân tích sự thật bên trong và bên ngoài của con người:

    – Bên ngoài là vùng của những gì được biểu lộ, trình diễn; cũng là vùng của mặt nạ, những mặt nạ mà chúng ta muốn đeo cho mình, những hình ảnh mà chúng ta mơ ước và tự phóng các hình ảnh lý tưởng ấy qua lời nói, việc làm của chúng ta.

    – Bên trong là vùng của sự thật, vùng của chính hiệu, chính gốc, vùng ở đó con người thật của chúng ta được xuất hiện “nguyên con” trước mặt Thiên Chúa, là nơi hạt giống Lời Thiên Chúa được gieo vãi. Bên trong còn là nơi của những quyết định, chọn lựa. Nhưng bên trong cũng là sào huyệt của ganh ghét, hận thù, ích kỷ, tham vọng thống trị, ham muốn sở hữu : “Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác tang, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7, 20-23).

    Vâng, mâu thuẫn giữa bên ngoài và bên trong, giữa sự thật chúng ta là và những điều chúng ta mơ ước, giữa những gì chúng ta có và những điều chúng ta khát khao và tự khoác lên mình là sự thật không thể chối cãi.Vì thế, giả hình là cám dỗ nặng nề và liên lỷ của mỗi người, vì ai cũng cần một dáng vẻ ăn khách, một nhân thân hấp dẫn, một quá khứ thành tích, một hiện tại vinh quang, một tương lai hứa hẹn để sống được với đời nhiều tranh giành, đấu đá. Chúng ta cũng dễ rơi vào giả hình, vì thường xuyên chúng ta cũng cần giả hình với chính mình, khi mình chẳng có gì để có thể tự tuyên dương, tự biện minh, tự bào chữa. Đó là thảm cảnh rất bi đát của đời sống con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể giải phóng chúng ta ra khỏi.

    Thiên Chúa giải phóng chúng ta khỏi tình trạng phân liệt vì giả hình, khi chúng ta nhận ra: sẽ không có sự thật toàn diện, bao lâu con người không lắng nghe Thiên Chúa hằng sống và chân thực; sẽ không có tình yêu đích thực, bao lâu tình yêu của chúng ta không gắn kết vào chính Chúa là nguồn Tình Yêu; sẽ không có đời sống chính hiệu, nguyên gốc Tự Do, bao lâu chúng ta không để Thiên Chúa hành động và dẫn dắt định mệnh đời chúng ta. Được dựng nên cho Thiên Chúa, chúng ta không thể hạnh phúc nếu không thuộc về Ngài, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới làm cho chúng ta thực sự tự do, khi giao hoà trong chúng ta nhũng gì bên ngoài với những gì bên trong, những gì được trình ra bề ngoài và những gì được giữ kín ở trong.Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể lấy khỏi chúng ta những mặt nạ mà không làm chúng ta thất vọng; cũng chỉ một mình Ngài mới có thể chữa lành căn bệnh ảo tưởng, giả hình trong chúng ta và làm cho chúng ta trở nên những tạo vật mới có đủ khả năng và nhiệt huyết để yêu mến. Chính Ngài đã vạch cho chúng ta con đường, tuy hẹp, nhưng là con đường chân thật dẫn đến Hạnh Phúc thật (x. Mt 5,1-12).

    Để kết luận, chúng ta cần lưu ý sự cần thiết của Truyền Thống, Lề Luật, nhưng đồng thời cũng cẩn trọng trước cám dỗ của chủ nghiã vị Truyền Thống, vị Lề Luật, nghiã là chỉ biết Lề Luật, chỉ tôn thờ Lề Luật, mà không quan tâm đến con người và ích lợi nhân sinh cũng như thiêng liêng của con người. Vì Lề Luật có thể trở thành nguyên nhân của tình trạng giả hình, phân liệt nhân cách, nhất là miệng ca tụng Chúa, nhưng lòng thì xa Chúa ngàn dặm.

    Xin Chúa cho chúng ta ý thức chúng ta được gọi vào đời để “yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi người”, nên con người trong tất cả chọn lựa phải được yêu mến vì chúng ta yêu mến Thiên Chúa .Thế nên, cho dù là Lề Luật nào đi nữa, chúng ta cũng không thể bỏ quên hay làm tổn thương con người, là hình ảnh sống động của Thiên Chúa yêu thương.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 22 TN_B

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Ðoạn Tin Mừng hôm nay khởi đi từ một câu chuyện nhỏ, chuyện những người Biệt Phái và luật sĩ thắc mắc về việc các môn đệ của Chúa không rửa tay theo tập tục của tiền nhân trước khi ăn. Qua câu trả lời, Chúa Giêsu đã muốn cho mọi người hiểu rằng cuộc sống có những việc còn quan trọng hơn những việc có tính cách tập tục và bên ngoài đó. Và cũng nhân câu chuyện này Chúa còn nói thêm về việc phải sống như thế nào mới là cuộc sống đẹp lòng Chúa và mang lại cho cuộc sống đó nhiều ý nghĩa hơn. Chúng ta tự hỏi Chúa muốn cuộc sống phải như thế nào?

    I. Điều Chúa muốn chắc chắn không phải là cuộc sống sống giả tạo, cuộc sống không có sự ăn khớp giữa bên ngoài với bên trong của một con người.

    Trong một chương trình buổi tối trên một kênh truyền hình Hoa Kỳ, một cô gái điếm đã được mời đến phát biểu ý kiến dựa theo một số câu hỏi của những phóng viên. Cô trang điểm diêm dúa và mặc một chiếc váy cực ngắn. Cô đã tỏ ra không những bình tĩnh, mà còn khiêu khích trước những câu hỏi của phóng viên.

    Chợt có một phóng viên nhìn thầy trên cổ của cô có đeo một sợi dây chuyền vàng với một cây Thánh giá thật đẹp, anh ta liền thay đổi một đề tài. Anh ta hỏi cô: “Tôi thấy cô đeo Thánh giá trên cổ, hẳn cô là người có Tôn giáo”.

    Khán giả thấy rõ sự bối rối xuất hiện trên khuôn mặt cô, vì đây là vấn đề mà cô chưa bao giờ nghĩ tới. Sau một hồi do dự, cô trả lời: “Tôi không theo đạo nào cả”.

    Người phóng viên hỏi dồn: “Vậy tại sao cô lại mang Thánh giá trên người?”.

    Cô thinh lặng cúi xuống sàn nhà một hồi lâu, rồi trả lời: “Lúc nhỏ tôi có đạo, nhưng đó là chuyện xưa rồi”.

    Một con người không còn tin Chúa nhưng vẫn đeo Thánh Giá của Chúa. Rõ ràng đó là việc không hợp lý tí nào. Cuộc sống như thế đáng cho mọi người gọi là cuộc sống giả hình. Và một cuộc sống với những phẩm chất giả tạo như thế nhất định sẽ chẳng đem lại niềm vui nào cho những người sống cuộc sống đó. Chính vì thế mà trong bài tin mừng hôm nay Chúa đã kịch kiệt lên án cuộc sống như thế. “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.”(Mc 7,7)

    Ngày xưa thì như thế còn hôm nay thì sao?

    Chắc anh chị em đã thấy ngày hôm nay người ta nói nhiều tới căn bệnh thành tích, căn bệnh phát sinh từ cuộc sống hình thức giả tạo mà ra. Bao nhiêu hệ lụy xấu xa đã phát sinh từ căn bệnh này thì mọi người chúng ta đã biết. Sống như thế có khác gì ngày xưa và nếu cứ sống mãi như thế thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ không thể tốt đẹp mà ngược lại nó sẽ là một cuộc sống gây nên nhiều đau khổ.

    Rồi nhìn vào cuộc sống của thế giới hôm nay chúng ta thấy cũng chẳng kém gì. Đây là những nhận được Internet truyền đi khắp nơi như một hệ lụy của những lối sống mà con người hôm nay đang sống. Bên ngoài thì xem ra thật tốt nhưng nội dung thì có nhiều phải suy nghĩ. Tác giả gọi những nhận xét này là: “Những nghịch lý của thời đại chúng ta”

    Chúng ta có những tòa nhà cao hơn, nhưng tư cách những người cư ngụ trong đó thì lại nhỏ hơn. Những con đường cao tốc rộng hơn, nhưng quan điểm của con người thì lại hẹp hòi hơn.

    Chúng ta nói quá nhiều, yêu quá ít và ghét quá thường xuyên.

    Chúng ta đã đi lên mặt trăng và quay trở về, nhưng lại cảm thấy phiền hà khi băng qua đường để gặp một người hàng xóm mới dọn đến.

    Chúng ta làm trong sạch không khí, nhưng lại gây ô nhiễm tâm hồn của nhau.

    Chúng ta viết lách nhiều hơn, nhưng học hành thì ít hơn.

    Chúng ta dự tính nhiều hơn, nhưng thực hiện ít hơn. Chúng ta chỉ biết vội vã, mà không biết chờ đợi.

    Chúng ta có thu nhập cao hơn, nhưng đạo đức thì lại thấp hơn.

    Chúng ta trở nên thừa về số lượng, nhưng lại quá thiếu về chất lượng.

    Đây là thời cơ có tới hai nguồn thu nhập từ cả hai vợ chồng trong gia đình, nhưng ly dị thì nhiều hơn; Thời của những căn nhà sang trọng, nhưng tổ ấm thì tan vỡ nhiều hơn.

    Vâng nếu cuộc sống chỉ là như thế thì thật là tủi nhục cho Thiên Chúa khi Chúa đã cho chúng ta được làm người .

    II. Vậy chúng ta phải sống như thế nào mới đẹp lòng Chúa?

    Xin muợn một câu chuyện để trả lời. Chuyện kể rằng có hai nhà sư, một già một trẻ, cùng nhau đi xuống núi. Dọc đường các ngài gặp một cô thiếu nữ rất đẹp đứng bên bờ một vũng nước sâu. Thiếu nữ muốn đi qua nhưng không sao đi được. Thấy vậy, một nhà sư già liền bế thiếu nữ lên và đi qua vũng nước và bỏ cô ở phía bên kia. Rồi hai người tiếp tục cuộc hành trình. Trở về gần đến chùa, nhà sư trẻ trách bạn: “Sao anh lại bế một thiếu nữ như thế?”. Nhà sư già trả lời: “Tôi đã để cô ta lại bên vũng nước, còn anh, sao anh còn mang cô ta về đến tận chùa”.

    Câu chuyện ý nhị trên đã minh hoạ rõ nét ý hai lối thể hiện cuộc sống của mình: Một lối sống đạo theo hình thức và một lối sống đạo theo nội tâm. Nhà sư trọng hình thức không dám động đến thiếu nữ, nhưng tâm hồn ông lại nặng vấn vương. Thế mà ông vẫn cứ yên tâm cho rằng mình đã giữ trọn luật giới sắc. Ông tự hào về mình và trách móc bạn đã vi phạm luật tu hành.

    Những người Biệt phái và Luật sĩ trong đạo Do thái xưa cũng giữ đạo theo hình thức như thế. Họ rất trọng những luật lệ theo hình thức bề ngoài. Họ cho rằng giữ những hình thức bề ngoài là đủ. Đối Với họ, đạo là lề luật. Giữ trọn lề luật là giữ đạo. Đặc biệt là luật thanh sạch.

    Đức Giêsu đã trách họ là giả hình. Họ chỉ lo giữ sự trong sạch bề ngoài mà không lo giữ sự trong sạch bề trong. Họ lo rửa tay chân mà không lo rửa lương tâm. Họ sợ tiếp xúc với người bệnh nhưng họ vẫn ấp ủ những ý đồ xấu xa trong tâm hồn. Có lần Đức Giêsu đã sánh ví họ với những mồ mả, bên ngoài thì tô vôi sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương cốt hôi hám, xấu xa.

    Đạo Chúa không phải là hình thức. Đạo Chúa là tình yêu. Tình yêu chân thật phát xuất từ đáy lòng. Giữ hình thức mà không có tình yêu thì chưa phải là giữ đạo. Làm những việc lớn lao mà không có tình yêu cũng chỉ là vô ích, như lời thánh Phao-lô dạy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoang. Giá như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tính đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi đến chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,1-3).

    Lạy Chúa Giêsu,

    xin giúp con biết bỏ đi những bề bộn nơi tim con.

    Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,

    hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.

    Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,

    bằng trái tim bao dung của Chúa.

    Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,

    trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn

    để yêu mến mọi người.

    Vì con biết rằng với tất cả tâm tình, con mới thực sự sống đạo. Với tất cả tâm tình, đạo mới đưa con đến gần Chúa.

    Lạy Chúa, xin ban cho con thêm lòng yêu mến Chúa.

    Về mục lục

    .

    THỜ PHƯỢNG CHÚA HẾT LÒNG

    Phó Tế Đaminh Maria Nguyễn Bình An

    Dân Do Thái có rất nhiều luật. Luật quy định tỉ mỉ từ đời sống tâm linh như cách thờ phượng Thiên Chúa tới những việc làm cụ thể hàng ngày như tập tục rửa tay trước bữa ăn… Họ giữ rất nghiêm chỉnh các luật lệ này đến nỗi họ nhiều khi chỉ vì luật, và những hình thức bên ngoài mà quên đi ý nghĩa sâu xa của những luật lệ ấy. Chúa Giêsu trong Tin Mừng tuần này chê trách người Do Thái chuộng bề ngoài hơn bề trong: “Dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, mà lòng chúng rời xa Ta” (Mt 15,8). Đức Giêsu không lên án những người giữ luật vì đây là những luật chính đáng được lưu truyền trong dân. Ngài chỉ chê trách những người coi trọng luật bên ngoài  mà bỏ quên cốt lõi, ý nghĩa đích thực của những luật đó. Những người này có thể nghĩ rằng giữ đạo là trung thành với một số các điều luật được truyền lại, ngay cả nhiều khi những luật này không cần thiết. Trong khi căn bản của lời rao giảng của Đức Giêsu chỉ gồm tóm trong hai điều duy nhất: Mến Chúa, Yêu Người. Mọi chuyện chúng ta làm, mọi luật lệ chúng ta giữ cần phải quy hướng và thể hiện hai mục đích này.

    Lời Chúa hôm nay không phải chỉ nói cho người Do Thái nhưng cũng đang nhắc nhở mỗi người chúng ta. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta có thể cũng chỉ vì hình thức bên ngoài. Chúng ta nghĩ rằng thờ phượng Chúa hết lòng là tới nhà thờ dự lễ hàng ngày, sáng tối kinh nguyện hoặc đóng góp xây dựng cộng đoàn, hay rộng tay giúp đỡ người nghèo khổ. Điều này đúng nếu khi chúng ta làm với một ý thức bên trong. Tôi tới nhà thờ không phải để cho người khác biết tôi siêng năng, đạo đức, nhưng thật sự tôi tới để thờ phượng, cám tạ Chúa vì mọi ơn lành Chúa ban xuống cho tôi và gia đình. Tôi rộng tay chia sẻ của cải của tôi có cho những người vô gia cư, già yếu, cô đơn, nghèo khổ, vì họ là anh em tôi, là hình ảnh của Thiên Chúa… Hành động của chúng ta đi kèm với ý thức bên trong hỗ trợ, thì việc làm ấy không bị Chúa chê trách là chỉ kính thờ Chúa bằng môi miệng, bằng hình thức bên ngoài.

    Câu truyện “Để Người Ta Không Thể Nói” trong Hạt Giống Âm Thầm (trang 296) làm cho tôi xúc động. Chúng ta thề hứa với Chúa bao nhiêu lần là sẽ tha cho người khác khi chúng ta đọc kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con…” Tuy nhiên, khi nhìn vào xã hội hiện nay, lời kinh chúng ta đọc có lẽ chỉ trên môi miệng, và có lẽ Chúa cũng nói với chúng ta y chang như Ngài nói với người Do Thái…

    Hai thanh niên điệu một tên sát nhân đã giết cha mình ra trước tòa án. Với đầy đủ bằng chứng nên tên sát nhân lãnh án tử hình. Tội nhân không khiếu nại nhưng chỉ xin hoãn hành quyết ba ngày để hắn về lo liệu cho một thiếu nữ, mà hắn đã được trao phó cho săn sóc từ nhỏ. Mọi người bối rối, nhưng một bàn tay giơ lên với giọng quả quyết: “Tôi xin bảo đảm cho anh này. Nếu sau ba ngày anh không lại, tôi sẽ chịu tội thay”. Tên tử tội được phép ra về. Sau đúng ba ngày, trong khi mọi người đang nôn nóng chờ đợi giờ hành quyết thì tên tử tội hiên ngang bước đến và dõng dạc tuyên bố: “Tôi đã giải quyết xong công việc. Giờ đây, theo đúng lời cam kết, tôi trở lại đây để xin chịu tội. Tôi muốn trung thành với lời cam kết, để người ta không thể nói, chữ tín không còn trên mặt đất này nữa.” 

    Sau lời phát biểu của tên tử tội, người đàn ông đứng ra bảo lãnh cũng tiến ra tuyên bố: “Phần tôi, sở dĩ đứng ra bảo lãnh cho người này là vì tôi không muốn để người ta có thể nói: lòng quảng đại không còn có mặt trên mặt đất này nữa”.

    Sau hai lời tuyên bố trên, đám đông bỗng trở nên im lặng. Dường như ai cũng được mời gọi để thể hiện những gì là cao quý nhất trong thẳm sâu tâm hồn. Và rồi hai người thanh niên bước lên trước quan tòa và nói: “Thưa ngài, chúng tôi xin được tha thứ cho kẻ đã giết hại cha chúng tôi, để người ta không thể nói: lòng tha thứ không còn hiện diện trên mặt đất này nữa”.

    Hôm nay Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta cách chúng ta sống đạo. Bạn và tôi, chúng ta chắc phải dừng lại đôi phút để xét lại xem, chúng ta thật sự sống đạo như thế nào?

    Về mục lục

    .

    SẠCH VÀ ĐẸP

    Lm. Jos. DĐH.

    Xuất phát bởi tình yêu gia đình, dòng tộc, người xưa để lại nhiều kinh nghiệm cao quý: đói cho sạch, rách cho thơm ; tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. Sạch và đẹp, tiếng tốt danh thơm, không phải chúng được đề cao vì “mỹ từ”, hoặc được tán dương bởi nét đẹp mờ mờ ảo ảo, đúng hơn, nơi thẳm sâu tâm hồn, con người luôn được thôi thúc bởi tính thiện toàn, sự sạch đẹp. Vì tình bạn, kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, thiếu nữ vì tiết hạnh, không quản ngại hy sinh mạng sống mình. Sạch đẹp thu hút con người qua muôn thế hệ, nhưng làm sao để người ta không nhầm lẫn giữa “cái chính và cái phụ”, không làm đảo lộn giá trị đạo đức xã hội, tôn giáo ?

    Khởi đi từ quan niệm sạch đẹp quá tuỳ tiện, phóng khoáng, đến độ khắt khe, các luật sĩ biệt phái xưa kia đã tỏ thái độ khinh bỉ người anh em của mình, chỉ vì họ không rửa tay trước khi ăn. Vấn đề sạch dơ, đẹp xấu, sẽ không dừng lại ở khía cạnh vệ sinh, hay tính thẩm mỹ hài hoà, đi xa và sâu rộng hơn, sạch đẹp, chuẩn mực, đáng được ghi nhận phải là sạch đẹp toàn diện: cả hình thức và nội dung. Với cái nhìn hời hợt về thanh sạch bên ngoài, hoặc đầy ô-uế tội lỗi bên trong, nếu không đủ khách quan, thiếu tình yêu và lòng quảng đại, việc lượng định cũng chỉ là hình thức máy móc, vô giá trị. Người ta sẽ sai lầm khi xem tập tục tiền nhân và giới luật yêu thương là một, hoặc nghĩ rằng của lễ dâng cúng cho đền thờ có thể thay cho việc thảo kính cha mẹ ông bà.

    Tục ngữ có câu: sạch sẽ là mẹ con người ; sạch đẹp và linh thiêng hơn, các ngài còn nói: tâm trong sạch là một cái gối êm, không làm việc thẹn lòng, đâu sợ quỷ ma gọi cửa. Sạch bên ngoài, bên trong, đều đáng trân trọng, dơ bẩn tay chân, dơ bẩn tâm hồn, đều cần được tẩy rửa cho sạch đẹp. Đức Giêsu có ý nhắc nhớ đừng ai nhầm lẫn bằng môi miệng, bằng lý thuyết, có thể thay thế cho việc sống đạo. Đức Giêsu không trả lời trực tiếp cho các luật sĩ biệt phái lý do tại sao các môn đệ không rửa tay, nhưng gián tiếp cho thấy sự thanh sạch tâm hồn cần thiết hơn việc rửa tay chân, biết và sống thánh ý của Chúa quan trọng hơn là chỉ giữ tập tục tiền nhân.

    Đức Giêsu không bình luận về sự thanh sạch hay dơ bẩn, nhưng Ngài lên án những ai tin thờ Chúa bằng môi miệng mà lòng xa cách Chúa, có tình yêu trong việc sống giới luật, quan trọng hơn việc dâng mọi của lễ toàn thiêu. Sạch tay chân, trang điểm cho khuôn mặt xinh đẹp, chỉ là tâm lý giúp người ta tự tin khi đi ăn tiệc, nhưng sạch tâm hồn mới là phương thế hữu hiệu, bình an, hạnh phúc nhất, khi tham dự bàn tiệc thiên quốc. Kinh nghiệm cho thấy, không phải sạch sẽ là do một ngày tắm nhiều lần, không phải xinh đẹp là do “quần là áo lượt”, mang trên mình trang sức đắt tiền. Sạch và đẹp, đúng và chuẩn, chỉ là mơ ước, là khẩu hiệu, khi người ta chưa tập luyện, chưa được biến đổi, hoặc chưa có thời gian thực hành đức ái.

    Cái nhìn thông suốt của tiền nhân cho rằng: nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, nơi ăn chốn ở, cơ hội để học, để hiểu và để sống, cùng với một chuỗi thời gian trải nghiệm: bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người. Thực ra thì điểm căn bản của việc sống đạo không hệ tại chúng ta đọc bao nhiêu câu kinh, đi bao nhiêu thánh lễ, bố thí chia sẻ cho anh chị em chúng ta nhiều hay ít tiền của, đúng và đẹp ở chỗ lời nói việc làm của chúng ta có bày tỏ được lòng mến hay không ? Nếu như ngày hôm nay, người ta lên án những ai làm việc như con “rô-bốt” hay chỉ như con “búp-bê” không biết yêu, không cảm xúc, là bởi vì họ quá lệ thuộc vào hình thức bên ngoài mà quên đi ý nghĩa của hành động tin và yêu.

    Truyền thống có đạo, có đức, sống thảo sống hiếu, được xem là gia đình lắm phúc nhiều lộc, nhưng chưa đặt để tình yêu vào cuộc sống, nào có khác gì ta chỉ là con rối vô cảm, vô hồn ? Đức Giêsu xưa kia chắc chắn không chối bỏ nét đẹp phong phú của gia đình, cũng không phủ nhận sự thanh sạch, Ngài có ý nhắc “sạch đẹp tâm hồn” phải là ưu tiên. Đừng chú trọng đến tập tục loài người mà bỏ qua giới luật yêu thương, đừng lẫn lộn ý muốn của con người với thánh ý của Chúa. Xưa kia cũng vì chú trọng đến “môn đăng hộ đối” mà xảy ra việc ép duyên ; xã hội hiện đại hôm nay lại không thiếu cảnh con cái đặt đâu cha mẹ phải đồng ý ! Cả hai quan niệm ấy đều không đẹp mà cũng chẳng gọi là đúng, nếu hôn nhân không đến trong tự do và yêu thương.

    Tục ngữ có câu: muốn chắc ở nhà gạch, muốn sạch quét chổi cùn. Tự bản chất của con người thích sạch đẹp, vẫn ý thức mình cần phải được xây dựng trên nền đá vững chắc, đó là sự thật. Hướng đến sự sạch đẹp toàn diện và bền vững, Chúa Giêsu đã gọi là đồ giả hình, đã nhắc lại lời Isaia: “dân này thờ kính ta bằng môi miệng, còn lòng chúng lại xa Ta”. Lời đó có làm chúng ta hôm nay giật mình không, nếu chúng ta sống đạo mà không được xây dựng bằng tình yêu thương ? Đồng ý rằng: danh thơm là lẽ sống của kẻ sĩ, nhưng kẻ sĩ không thể im lặng cất giấu triết lý sống của mình. Người kitô hữu không thể sống đạo loáng thoáng hời hợt, lời nói việc làm cần minh bạch rõ ràng ; nếu rửa tay cho sạch thì cũng nên suy xét xem đã tẩy rửa tội lỗi chưa, hầu có một tâm hồn sạch đẹp, xứng hợp với tình yêu và ơn cứu độ của Đức Kitô. Amen.

    Về mục lục

    .

    TÂM HỒN THANH KHIẾT

    Bông Hồng Nhỏ

    Hai cô bé rủ nhau chơi đồ hàng, lấy vỏ trứng làm nồi và tập tành nấu cơm. Người cha đi làm về thấy gạo vương vãi trên sàn nhà bếp liền gọi hai cô con gái vào. Nghe cha hỏi cả hai cô bé đều lo lắng và cúi gầm mặt xuống, đôi mắt ngắn lệ chờ khóc. Cô em lí nhí thưa:

    • Dạ thưa cha, chị lấy gạo làm đổ ra nhà, không phải con.

    Cứ thế cô em đổ lỗi cho chị. Thấy chị bị cha phạt quỳ, cô em hối hận vì đã đổ lỗi hết cho chị mình. Lòng muốn thú tội với cha nhưng lại sợ bị phạt, dù còn nhỏ nhưng cô bé đã thấy hối hận lắm. Lời các chị giáo lý viên từ đâu vang lên bên tai: “ Các em, ai nói dối sẽ làm cho Chúa buồn lòng.” Một lúc sau, cô em thưa với cha:

    • Là con lấy gạo làm đổ ra nhà, không phải chị ấy làm, cha ạ!
    • Hạt gạo là hạt cơm. Lần sau các con đừng lấy chơi nữa.

    Chẳng những không phạt mà cha còn tha tội cho hai chị em.

    Từ trong tâm hồn con người, tiếng nói lương tâm giúp cho biết làm lành lánh dữ. Hôm nay, Thầy Giêsu lên án thói đạo đức giả và chỉ cho dân chúng biết cái gì mới làm cho con người ra ô uế.

    Những đồ ăn thức uống khi được đưa vào cơ thể con người giúp nuôi dưỡng thân xác khoẻ mạnh, nhưng cũng có thể làm thiệt hại sức khoẻ. Khi muốn ăn thịt gà, bạn có thể mua ở chợ nếu bạn có tiền, hay bạn sẽ làm thịt con gà mà bạn nuôi. Nhưng nếu bạn không có tiền, bạn cũng chẳng nuôi gà, mà bạn lại rất thèm được ăn thịt gà . Lúc đó bạn sẽ làm gì? Từ ước muốn được ăn thịt gà đó, thịt gà không phải là của làm cho bạn ra ô uế nhưng điều làm cho bạn ra ô uế là khi bạn đi ăn trộm con gà của hàng xóm để làm thịt. Muốn ăn thịt gà cũng không phải là điều xấu xa, nhưng chính việc bạn ăn trộm đã làm cho bạn thành kẻ xấu. Thầy Giêsu đã tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch (x.Mc7,19b). Trước khi tiến đến hành động trộm gà, chẳng hẳn lương tâm của bạn cũng mách bảo cho bạn biết điều đó là sai, điều quan trọng là bạn nghe theo tiếng lương tâm mách bảo hay chiều theo thói mê ăn uống.

    Thầy Giêsu khẳng định: “Từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam… Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7,21-23)

    Làm thế nào để có một tâm hồn trong sạch, một lương tâm ngay thẳng? Ta hãy lắng nghe lời ca của Thánh vịnh 18 câu 8: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn”. Lòng ai khao khát Chúa, Chúa sẽ cho gặp và Chúa sẽ dạy dỗ họ sống theo nẻo chính đường ngay. Các người Pharisêu và một số kinh sư giữ luật tỉ mỉ, nắm giữ truyền thống của các tiền nhân nhưng lại bị Thầy Giêsu khiển trách: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc7,8). Những khi ca tụng tán dương Thiên Chúa, liệu ta có đặt trọn tâm hồn và lòng trí của ta hướng về Chúa hay ta chỉ “tôn kính Chúa trên môi miệng mà lòng trí lại cách xa Chúa” (x. Mc 7,6b). Trong thinh lặng của tâm hồn, ta hãy để  cho Lời Chúa chất vấn ta, để thấy được thái độ ta dành cho Chúa và can đảm ra khỏi con người cũ.

    Lạy Thiên Chúa chí thánh! Xin cho con biết yêu luật Chúa truyền và can đảm sống điều Chúa dạy, để mỗi ngày, tâm hồn con trở nên thanh khiết, bình an. Xin cho những lời ca tụng Chúa được kéo dài trong cuộc sống của con, để dầu sống giữa cảnh thăng trầm, lòng con vẫn trung thành, gắn bó với Chúa cách chân thực. Amen.

    Về mục lục

    .

    TUÂN GIỮ GIỚI RĂN VÀ THỰC HÀNH LỜI CHÚA

    Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 

              Ông Mô-sê trong Cựu Ước và Chúa Giê-su trong Tân Ước đều có chung một sứ mệnh:  kêu gọi người ta tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa và hãy thực hành những điều Người phán dạy.  Ông Mô-sê là người truyền lại cho dân Ít-ra-en mười giới răn do Thiên Chúa ban trên núi Xi-nai.  Còn Chúa Giê-su là Mô-sê Mới thì ban cho chúng ta lề luật của Tin Mừng được tóm lại trong hai điều mến Chúa và yêu người.  Tuy nhiên, giống như dân Ít-ra-en đã nhiều lần không trung thành trong việc tuân giữ Mười giới răn, chúng ta là các Ki-tô hữu nhiều lần không để cho lời Chúa trở thành hành động trong cuộc sống chúng ta.  Đây là một vấn đề quan trọng, nên Phụng vụ Lời Chúa dành nguyên một Chúa Nhật để đặc biệt nhắn nhủ chúng ta hãy tích cực sống lời Chúa;  đó cũng chính là cách tốt nhất để chúng ta tôn kính và phụng thờ Thiên Chúa.

              Trước hết chúng ta hãy trở lại với thời dân Ít-ra-en trên đường chinh phục Đất Hứa.  Từ Ai-cập trở về Đất Hứa, dân Chúa đã phải trải qua biết bao khó khăn, cộng thêm những cuộc chiến đấu để khắc phục những dân họ đi qua.  Tới đâu họ cũng đạt chiến thắng nhờ luôn phụng thờ Thiên Chúa và tuân giữ những mệnh lệnh của Người.  Đúng vậy, vì họ trung thành sống những giới răn Thiên Chúa ban, nên đã được Người luôn ở cùng và giúp đỡ họ “được sống và được vào chiếm hữu miền đất Đức Chúa ban cho họ” .  Ý thức mạnh mẽ điều ấy, ông Mô-sê là người lãnh đạo đã luôn nhắc nhở dân chúng hãy tiếp tục trung thành giữ Lề Luật và các thánh chỉ của Thiên Chúa, để chỉ có họ “mới là một dân khôn ngoan và thông minh” được thiên hạ ngưỡng mộ!  Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan và quyền năng nên Lề Luật và thánh chỉ của Người sẽ làm cho dân của Người thành một dân khôn ngoan, thông minh và vĩ đại, đó là điều dĩ nhiên rồi.  Vì sức mạnh và uy thế của Lề Luật Chúa đã rõ ràng như vậy, nên ông Mô-sê nghiêm ngặt ra lệnh cho dân Ít-ra-en “đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em”.  Dù dân Ít-ra-en có nghe lời ông Mô-sê cũng như ông Giô-suê sau này hay không, thì sứ điệp rõ ràng vẫn là nếu họ tuân giữ giới răn và thánh chỉ của Đức Chúa, họ “sẽ được sống và được vào chiếm hữu miền đất Người ban cho họ”.

              Nếu ông Mô-sê của Cựu Ước đã nghiêm cấm dân Ít-ra-en không được thêm bớt gì vào những giới răn và thánh chỉ của Thiên Chúa, thì Chúa Giê-su, Mô-sê của Tân Ước, cũng không ngừng tố cáo giới lãnh đạo tôn giáo Do-thái đã làm sai lạc ý nghĩa thi hành Lề Luật Thiên Chúa.  Đáng lẽ những người Pha-ri-sêu và kinh sư là những người cầm cân nảy mực phải là gương mẫu cho việc tuân giữ Luật Chúa, thì họ lại biến dân Chúa thành một dân “tôn kính Thiên Chúa bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Người”.  Không những họ thêm bớt vào giới luật của Thiên Chúa, mà họ còn đặt ra những “giới luật phàm nhân” để biến thành những gánh nặng chất lên vai dân chúng nữa!  Nhân việc người Pha-ri-sêu chỉ trích các môn đệ Chúa vì các ông không rửa tay trước khi ăn nên đã trở thành ô uế, Chúa Giê-su đưa ra một nhận định để ám chỉ sự ô uế không phải hệ ở việc rửa tay, mà sự ô uế đã nằm sẵn trong tâm hồn những người Pha-ri-sêu kia rồi.  Đó là “những ý định xấu:  tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”.  Việc Chúa Giê-su tố cáo nhóm Pha-ri-sêu được tóm tắt trong nhận định này:  “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”.

              Đây chắc chắn là lời tố cáo không chỉ dành riêng cho nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư, nhưng cũng nhắm vào chúng ta hôm nay nữa.  Trong lối sống Ki-tô hữu, biết bao lần chúng ta đã gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa để tuân theo những truyền thống của loài người.  Do đó, thánh tông đồ Gia-cô-bê đã kêu gọi chúng ta “hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”.  Phải, chúng ta lừa dối chính mình khi gạt bỏ và coi thường luật Chúa để sống theo lề luật xấu xa của thế gian.  Thí dụ chúng ta coi thường sự sống Chúa ban mà phá thai, bởi vì phá thai đã được luật pháp bảo vệ!  Lời Chúa là đèn soi đường chúng ta đi.  Vì thế tuân giữ lời Chúa là cách để chúng ta đi trong ánh sáng mà đến với Chúa và anh chị em.  Thánh Gia-cô-bê còn cho chúng ta những ví dụ cụ thể thế nào là thi hành lời Chúa để chúng ta “không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha”.  Vài việc làm cụ thể được ngài đề nghị, là “thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian”.  Nói khác đi, vì Chúa dạy chúng ta hãy sống yêu thương và bác ái, cho nên thăm viếng người nghèo khó chính là thi hành lời Chúa dạy.

    Sống sứ điệp Lời Chúa

              Hôm nay chúng ta sẽ làm gì để thực sự “tôn kính” Thiên Chúa, không phải bằng môi miệng, những bằng việc làm cụ thể?  Chúng ta sẽ làm gì để loại bỏ “những ý định xấu” như tham lam, độc ác, xảo trá, ganh tị, kiêu ngạo… mà Chúa Giê-su đã kể ra?  Như dân Chúa đã trung thành giữ các giới răn Thiên Chúa, chúng ta hãy  trung thành giữ giới luật yêu thương Chúa Giê-su đã truyền dạy chúng ta.

    Về mục lục

    .

    CON TIM BỆNH TẬT

    Lm Vũdình Tường

    Bệnh và tật đi chung với nhau. Không biết bệnh gây nên tật hay tật sinh bệnh hay cả hai. Điều không thể chối cãi là tật xấu chính là nguồn gốc gây bệnh. Xấu nhiều bệnh nặng, xấu ít bệnh nhẹ hơn. Xấu nhiều mau phát sinh bệnh; xấu ít bệnh đến chậm hơn. Tất cả đều là mầm mống gây bệnh và làm gây bệnh. Lây bệnh là do thiếu vệ sinh hoặc ăn phải thực phẩm nhiễm trùng. Thực tế là cơ thể con người có sức chịu đựng giới hạn. Đi quá mức giới hạn nó ngã quị. Tâm trí con người cũng không khác mấy. Nó cũng cần cho ăn, nuôi dưỡng tâm trí bằng thực phẩm lành mạnh nó mạnh khoẻ, điều xấu, sách báo xấu, hình ảnh xấu, môi trường xấu tạo nên một tâm lí què quặt, bệnh tâm lí phát sinh từ đó. Thực tế này cũng đúng, gây tai hại cho tâm linh con người. Điều xảy ra cho tâm linh tai hại nhất con người lại coi nhẹ nhất bởi bệnh tâm linh không gây nhức nhối thân xác nên nhiều người lơ đi, coi như không có bệnh. Bệnh tâm linh phát sinh do coi thường giáo huấn của Đức Kitô. Giáo huấn của Ngài là thần khí và sự thật. Thiếu tôn trọng sự thật bởi coi nhẹ giáo huấn của Đức Kitô. Nhóm Biệt Phái và Pharisiêu gây xích mích với Đức Kitô khi họ gây sự với môn đệ Ngài. Họ đặt vấn đề

    ‘Sao môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa’ Mk 7,5

    Đặt vấn đề vì các môn đệ nhưng thực ra họ chủ trương chất vấn chính Đức Kitô vì Ngài là đầu của các môn đệ. Biết rõ thâm í họ Đức Kitô dùng ngôn từ của tiên tri Isaiah đáp lại họ

    Dân này tôn kính Ta bằng môi, bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta c. 6b

    Câu đáp trên nhắc cho họ biết hai điều quan trọng. Thứ nhất, miệng lưỡi giảo hoạt, ngọt ngào nơi miệng không phải là tâm tình thật, không đến từ con tim chân thành, yêu mến. Đức Kitô cũng nhắc cho biết là không phải những gì đến từ ngoài làm cho tâm hồn ra ô uế mà chính là những gì phát xuất từ sâu thẳm làm cho tâm hồn ra ô uế. c.15. Con tim được hiểu là trung tâm điểm của con người, từ nơi đó tâm tình tốt xấu phát sinh. Sự lành, sự dữ đều từ đó mà ra. Sự lành đến từ con tim chân thành, mạnh khoẻ, sự dữ đến từ con tim bị băng hoại, hướng dẫn bởi tâm tình tội lỗi.

    Thứ hai, các môn đệ về từ phố chợ và họ không rửa tay khi ăn trưa. Phố chợ là nơi người đau yếu, bệnh tật, nghèo khó thường tụ họp mong nhận được của bố thí. Vì thế khi liên kết phố chợ với những thành phần cần nâng đỡ Đức Kitô cách nào đó chuyển đề tài từ nói suông hay nói về sự trong sạch, chuyển sang hành động thi ân, bác ái, lòng thương xót Ngài dành cho muôn dân. Một cách nào đó Đức Kitô cho họ biết nói suông hay giữ truyền thống tiền nhân không tốt hơn hành động bác ái, mến Chúa yêu người như giáo huấn của Ngài.

    Hơn nữa chú trọng nhiều đến việc tẩy uế, rửa ráy bề ngoài mà để bên trong dơ bẩn thì có ích chi. Nó chỉ che mắt được người vô tình, xem qua loa mà không thể nào giữ cho phẩm chất chứa đựng bên trong sạch sẽ được. Vì thế giữ cho con tim trong sáng quan trọng hơn cả. Thay vì chú trọng đến việc lành, thánh thiện thì nhóm Biệt Phái lại chia rẽ cộng đoàn của họ khi họ phân biệt thành phần trong sạch và thành phần ô uế dựa vào cách họ giữ lề luật tẩy uế. Không phải việc đạo đức làm trọn lề luật mà chính là kính mến Chúa và thực thi bác ái, yêu thương là con đường Đức Kitô hướng dẫn. Không luật xã hội nào hay truyền thống tiền nhân nào có khả năng giúp cho con tim trong sáng. Rất nhiều luật xã hội và truyền thống gây gánh nặng cho người nghèo, kẻ thế cô. Con tim trong sáng, con tim đầy lòng yêu mến cần được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng giáo huấn yêu thương của Đức Kitô. Giáo huấn này đòi tuân giữ không phải bằng môi miệng mà chính là thực thi bằng hành động bác ái, yêu thương, tha thứ, đến mọi thành phần trong xã hội, đặc biệt kẻ nghèo khó, goá bụa cần nâng đỡ. Đi theo con đường Đức Kitô đi là phỏng theo lối sống của Ngài. Tin theo Đức Kitô không phải giữ cho thân thể, tay chân sạch sẽ, mà chính là tay chân lấm bùn phục vụ của một thân thể có con tim sạch sẽ, trong sáng. Chúng ta xin ơn nhận biết điều tốt lành, mở tâm hồn đón nhận món quà yêu thương Chúa ban và phân phát món quà đó cho tha nhân. Đón nhận càng nhiều tình yêu Chúa ta càng trở nên trong sáng, bởi trong sáng nên gần Chúa hơn và càng gần Chúa ta càng cảm thấy mình tự do, không bị ràng buộc bởi vật chất trần thế.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 22 TN_B

    Lm. Inhaxio Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII này đều hướng về một đề tài chung: những huấn lệnh của Thiên Chúa là quy luật sống cho mỗi người tín hữu.

    Đnl 4: 1-2, 6-8

    Lề Luật diễn tả sự khôn ngoan và thánh thiện của Thiên Chúa; mỗi người phải lắng nghe và sống.

    Gc 1: 17-18, 21b-22, 27

    Người tín hữu không chỉ đón nhận Lời Chúa nhưng còn phải thực hành Lời Chúa trong đời sống nữa.

    Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23

    Người ta không được thay thế những huấn lệnh của Thiên Chúa bằng những quy tắc phàm nhân, bởi vì những quy tắc phàm nhân xem việc tuân giữ bên ngoài là quan trọng, thì những huấn lệnh Thiên Chúa biến đổi con người từ bên trong.

    BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 1-2, 6-8)

    Tác phẩm này chủ yếu được cấu thành bởi diễn từ của ông Mô-sê, được đặt vào trong bối cảnh hư cấu ở đó ông Mô-sê ngỏ lời với dân Do thái trước khi họ tiến vào Đất hứa, để cảnh giác họ coi chừng những nguy hiểm đang rình rập họ khi sống ở giữa môi trường ngoại giáo và khẩn khoản kêu mời họ trung thành tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa. Thật ra, con cái Ít-ra-en đã định cư ở đất Ca-na-an từ lâu rồi; họ đã để cho mình bị quyến rủ bởi việc phụng thờ các thần linh của dân bản địa rồi; họ cũng đã để cho mình bị tiêm nhiểm bởi lối sống duy vật, dễ dãi, thậm chí xa đọa.

    Bối cảnh hư cấu này cho phép trình bày một bài giáo lý đích thật về Giao Ước, được đặt dưới sự bảo lãnh của ông Mô-sê và mặc lấy cung giọng khuyên bảo khẩn thiết.

    1. Lề Luật là nguồn sống

    “Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe…”. Biểu thức này thường được lập đi lập lại trong sách Đệ Nhị Luật, thường nhất được dùng một cách tuyệt đối, không có túc từ: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en” (Đnl 5: 1; 6: 4; 9: 1; 20: 3; 27: 9). Kinh nguyện hằng ngày của người Do thái bắt đầu với lời mời gọi này: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en”, được mượn ở Đnl 6: 4-9.

    “Như vậy, anh em sẽ được sống”. Điều mà bản văn Đệ Nhị Luật này nhắm đến là cuộc sống của dân Ít-ra-en với tư cách dân Giao Ước. Không tuân giữ Lề Luật đồng nghĩa với việc vi phạm Giao Ước, tức là đánh mất những phúc lộc mà Thiên Chúa hứa ban. Vì thế, tiếp liền ngay sau những lời này là: “Như vậy, anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, là Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em”. Việc thực hành các huấn lệnh gắn liền với niềm xác tín rằng Thiên Chúa đảm bảo cho họ một cuộc sống trường thọ và thịnh vượng. Vào thời điểm này, những viễn cảnh vẫn còn bị giới hạn trong chân trời trần thế; những hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được dự kiến.

    Đối với dân Ít-ra-en, việc tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa là vấn đề sống chết. “Thế phải chọn lựa” này được đặt ra nhiều lần một cách nghiêm túc: “Anh em không được theo những thần khác trong số các thần của các dân chung quanh anh em, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng ở giữa anh em, là một vị thần ghen tương; hãy coi chừng kẻo Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nổi cơn thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em” (Đnl 6: 14-15) hay còn: “Nhưng nếu chẳng may anh em quên lãng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh em: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong” (Đnl 8: 19).

    Những hoàn cảnh lịch sử đã đem lại cho thế chọn lựa này tính cách bi thảm. Quả thật, có thể nghĩ rằng sách Đệ Nhị Luật, trong cấu trúc đầu tiên của nó, được các tư tế của vương quốc phương Bắc soạn thảo. Với tư cách những chứng nhân về những tội bất trung của dân Ít-ra-en, họ đã đưa ra lời mời gọi như cơ hội cuối cùng. Ấy vậy, vào năm 721 trước Công Nguyên vương quốc phương Bắc bị các đạo quân Át-sua triệt hạ. Vài tư tế trốn thoát được lánh nạn sang vương quốc phương Nam và đem theo bản văn của mình. Bản văn này được cất dấu trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vào triều đại Mơ-na-sê, vị vua vô đạo (687-642 tCn.), bị quên lãng một thời gian dài và sau cùng được khám phá vào lúc trùng tu Đền Thờ. Lúc đó, nó được dùng làm nền tảng cho cuộc cải cách tôn giáo của vua Giô-si-gia-hu (622 tCn.). Bản văn này đã được duyệt xét lại và bổ túc. Đây là điều mà người ta gọi ấn bản thứ hai của sách Đệ Nhị Luật.

    Những huấn lệnh Tin Mừng cũng xuất hiện như những quy luật sống. Đức Giê-su sử dụng hầu như cùng những từ ngữ như ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật, nhưng Ngài cho từ “sống” ý nghĩa tròn đầy của nó, vượt quá không gian và thời gian của cuộc sống trần thế này, khi nói với chàng thanh niên giàu có: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19: 16-17).

    1. Lề Luật bất khả xâm phạm

    “Anh em đừng thêm gì…cũng đừng bớt gì…”. Lời căn dặn kép này nói lên nỗi bận lòng của nhà lập pháp. Biểu thức này được gặp thấy trong Bộ Luật của vua Hammourabi ở Ba-by-lon vào thế kỷ XVIII tCN, cũng như trong những hiệp ước giữa các dân tộc. Người ta cũng gặp thấy biểu thức này trong Tân Ước, như câu sau cùng của sách Khải Huyền: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy những tai ương mô tả trong sách này! Ai mà bớt điều gì trong các lời của sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng nơi cây Sự Sống và Thành Thánh, là cây và thành được mô tả trong sách này” (Kh 22: 18-19).

    Thật ra ông Mô-sê không là người công bố tính bất khả xâm phạm của Lề Luật, ông chỉ là người trung gian truyền đạt những huấn lệnh của Thiên Chúa.

    1. Lề Luật là lẽ khôn ngoan

    Lề Luật là lẽ khôn ngoan cho mỗi người, vì nó là kim chỉ nam cho cuộc sống đức hạnh (đây là ý nghĩa của từ Híp-ri To-ra để chỉ Lề Luật).

    Trong toàn bộ đoạn văn này, tác giả đặt trên môi miệng của ông Mô-sê ngôn từ của một bậc hiền nhân; văn phong rất gần với sách Châm Ngôn và sách Ba-rúc: lời mời gọi để tâm suy niệm lẽ khôn ngoan được diễn tả bằng những ngôn từ tương tự: “Nghe đi nào, hỡi Ít-ra-en, những mệnh lệnh tặng ban sự sống, hãy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan. Đức khôn ngoan là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật, Luật tồn tại cho đến muôn đời. Ai gắn bó với Lề Luật thì sẽ được sống; còn ai lìa bỏ ắt sẽ phải chết” (Br 3: 9; 4: 1).

    1. Nhờ Lề Luật, dân Ít-ra-en được xem là một dân tộc vĩ đại:

    “Khi nghe nói về tất cả những chỉ thị đó, họ sẽ bảo rằng: Dân tộc vĩ đại này chỉ có thể là một dân khôn ngoan và thông minh”. Sứ mạng phổ quát của dân Ít-ra-en không là nỗi bận lòng ưu tiên của sách Đệ Nhị Luật, sách đặt trọng tâm vào Giao Ước. Vì thế, sứ mạng phổ quát này rất hiếm kể ra trong tác phẩm này. Chính nhờ tính siêu việt của Lề Luật mà dân tộc này trở nên một dân mẫu mực và dân tộc nhỏ bé này được gọi là “một dân tộc vĩ đại”. Chúng ta gặp lại ở đây văn phong nồng nàn và cường điệu, nét đặc trưng của vài đoạn văn Đệ Nhị Luật. Dân Ít-ra-en bé nhỏ so với các đế quốc to lớn chung quanh, mặc dầu thế, được gọi “một dân tộc vĩ đại” vì Lề Luật đảm bảo cho nó tính ưu việt tinh thần trên mọi dân nước.

    1. Nhờ Lề Luật, Thiên Chúa ở gần dân

    “Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người”. Lời khẳng định này đáp trả cho câu hỏi đầy xao xuyến của dân Ít-ra-en. Các thần linh ngoại giáo được đúc tượng vẽ hình xem ra ở gần với các tín đồ hơn vị Thiên Chúa phi vật chất, không hình không ảnh của dân Ít-ra-en, đến mức Ngài không cho phép bất cứ hình tượng nào được đúc hoặc vẽ để tôn kính Ngài. Thật ra, Thiên Chúa của Ít-ra-en rất gần với những ai kêu cầu Ngài. Hiệu quả của lời cầu nguyện đó là làm cho Thiên Chúa hiện diện ở trong lòng của mỗi người tín hữu.

    Vả lại, trọng tâm của sách Đệ Nhị Luật là ý tưởng về một Thiên Chúa yêu thương dân Ngài và vui thích ở giữa họ, một vị Thiên Chúa mà họ phải “yêu mến hết lòng hết dạ”. Nói cho cùng, luật của Thiên Chúa không áp đặt từ bên ngoài vì “Lời rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành”, lời này chúng ta đọc thấy ở Đnl 30: 14, một bản văn loan báo giáo huấn Tin Mừng.

    BÀI ĐỌC II (Gc 1: 17-18, 21-22, 27)

    Chúng ta bắt đầu đọc thư thánh Gia-cô-bê trong suốt năm Chúa Nhật. Chung chung, tác giả của bức thư này được cho là thánh Gia-cô-bê, người anh em họ của Đức Giê-su. Thánh nhân là người lãnh đạo đầu tiên của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem; vì thế, ngài không phải là thánh Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại, ở đầu thư, tác giả không giới thiệu mình là Tông Đồ: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô” (Gc 1: 1). Để phân biệt hai vị thánh tiên khởi có cùng tên Gia-cô-bê này, người ta đặt biệt danh cho Gia-cô-bê Tông Đồ là “Gia-cô-bê Tiền”, và Gia-cô-bê anh em họ của Đức Giê-su là “Gia-cô-bê Hậu”. Chính Gia-cô-bê Hậu mà Đức Giê-su đã hiện ra sau khi Ngài sống lại, theo thánh Phao-lô (1Cr 15: 6-7) và thánh nhân đã bị ném đá vào năm 62 do sự xúi dục của vị Thượng Tế đương nhiệm vào thời đó.

    Thư được gởi cho các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái, sống rải rác trong thế giới Hy lạp-Rô ma (2: 2). Chung chung, người ta nghĩ rằng bức thư được viết vào khoảng giữa năm 58 và 62.

    Những lời khuyên trong thư cấu thành nền tảng giáo lý theo cung giọng cổ xưa: không có bất kỳ ám chỉ nào đến việc sống chung giữa những Ki-tô hữu gốc Do thái và những Ki-tô hữu gốc lương dân. Giáo huấn được định vị vào truyền thống của các sách minh triết Cựu Ước, được sứ điệp Tin Mừng đổi mới và soi sáng.

    1. Chúa Cha, nguồn mạch của mọi ân huệ tốt lành

    Thánh Gia-cô-bê bắt đầu gợi lên nguồn mạch đầu tiên của cuộc sống Ki-tô giáo: mọi ân huệ đều xuất phát từ “Chúa Cha, Đấng tạo dựng muôn tinh tú”, ám chỉ đến công trình tạo dựng: trước hết là ánh sáng, đoạn các vầng sáng lớn nhỏ, trong chương thứ nhất của sách Sáng Thế; nhưng chắc chắn cũng phải được hiểu theo nghĩa của những ánh sáng tâm linh.

     “Nơi Người không hề có sự đổi thay, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng”. Những từ ngữ được sử dụng ở đây khiến chúng ta nghĩ đến sự xoay vần của các tinh tú. Người xưa đồng hóa sự bền vững với chân lý, sự chuyển động với sự sai lạc. Tác giả bảo đảm tấm lòng của Thiên Chúa là muôn đời bền vững, không hề “vật đổi sao dời”.

    1. Người Ki-tô hữu được sinh ra từ Thiên Chúa

     “Người đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thụ tạo của Người”. Các Ki tô hữu được sinh vào cuộc sống đầy ánh sáng nhờ Lời chân lý, ân huệ tuyệt vời nhất của Chúa Cha, tức Chúa Con, là Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, họ trở thành “của đầu mùa trong các loài thọ tạo của Người”.

    Phải chăng tác giả muốn nói rằng các cộng đoàn Ki-tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân muốn ngỏ lời hình thành nên một sự khởi đầu của nhân loại mới? Hay đúng hơn, phải chăng nên hiểu: theo ý muốn của Chúa Cha, những người Ki-tô hữu được xem như là hiến lễ đầu tiên của toàn thể nhân loại? Diễn ngữ “của đầu mùa”gợi lên ý tưởng thánh hiến cho Thiên Chúa.

    1. Đức tin năng động

    Từ lời nhắc nhở đạo lý ngắn gọn về ơn gọi Ki-tô hữu, thánh Gia-cô-bê rút ra những kết luận thực tiễn: quan trọng là phải có một đức tin tích cực và, đặc biệt, phải quan tâm đến những người nghèo, hai lời khuyên được lập đi lập lại như điệp khúc xuyên suốt thư này.

    Thật có ý nghĩa biết bao khi tác giả viện dẫn việc giúp đỡ cô nhi quả phụ như là mẫu gương, đây là lời căn dặn truyền thống Cựu Ước (Xh 22: 21; Đnl 14: 29; 16: 11; 24: 19; Tv 68: 6; 14: 6, 9; Is 1: 7; Gr 7: 6; vân vân). Như vậy, thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh sự liên tục từ luân lý Mô-sê đến luân lý Tin Mừng. Luân lý Tân Ước không hủy bỏ nhưng kiện toàn luân lý Cựu Ước. Đây là sự ghi nhận căn bản của bức thư này. Hành xử như vậy chính là “giữ mình khỏi mọi vết nhơ của thế gian”, cách nói này vang dội Tin Mừng Mác-cô được trích dẫn hôm nay về sự thanh sạch trong lòng.

    TIN MỪNG (Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23)

    Chúng ta lại tiếp tục đọc Tin Mừng Mác-cô, bị gián đoạn để nhường chỗ cho diễn từ “Bánh Hằng Sống” được trích từ Tin Mừng Gioan. Thánh Mác-cô tường thuật cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với những người Biệt Phái và một số kinh sư liên quan đến việc tuân giữ truyền thống các tiền nhân.

    1. Sự thanh sạch và ô uế theo Do thái giáo

    Khi quan sát thấy vài môn đệ của Chúa Giê-su không rửa tay trước khi dùng bữa, những người Biệt Phái và kinh sư phàn nàn với Ngài tại sao các môn đệ của Ngài đã không tuân giữ truyền thống tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa.

    Vấn đề họ nêu lên ở đây không là việc vệ sinh, mà là một nhận định liên hệ đến phượng tự (Lv 11-15; x. 19: 23-25; 20: 7; Đnl 14: 3-21; 19; 5: 1-4). Khái niệm thanh sạch và ô uế chiếm một chỗ quan trọng trong Do thái giáo. Khác với nhị nguyên thuyết của Hy-lạp, Do thái giáo quan niệm con người là một thực thể thống nhất, vì thế, cái thanh sạch hay ô uế bên ngoài là dấu chỉ cho thấy cái thanh sạch hay ô uế bên trong. Vì thế, chẳng lạ gì khi sách Lê-vi trong bộ Cựu Ước quy định những gì thanh sạch và những gì không thanh sạch.

    Thật ra, mọi dân tộc đều đã phân biệt những cử chỉ thanh sạch và không thanh sạch để thiết lập ranh giới giữa phàm tục và thánh thiêng. Trong não trạng người xưa, điều ô uế và điều thánh thiêng là hai khái niệm liên kết mật thiết với nhau. Cả hai đều hàm chứa một sức mạnh huyền bí và đáng sợ, được phát huy do sự tiếp xúc. Cái ô uế và cái thánh thiêng đều “không thể đụng chạm được”; kẻ nào tiếp xúc với hai “cái” này, kẻ ấy cũng trở thành “không thể đụng chạm đến được”. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy: người ta không thể dụng chạm đến Hòm Bia Giao Ước, cũng như không được đụng chạm đến tử thi; người mẹ phải được thanh tẩy sau khi sinh con, vì việc sinh nở đã làm cho bà ra ô uế, cũng như vị tư tế phải thay y phục sau khi dâng hy lễ, vì hy lễ đã làm cho vị này ra thánh thiêng. Đây không phải là một sự hoen uế về thể lý hoặc luân lý, và sự thánh thiện đạt được như thế không phải là một nhân đức của tâm hồn, đó là những “trạng thái”, mà người ta phải ra khỏi để trở về đời sống thông thường (R. de Vaux).

    Sau cuộc lưu đày, người Do thái đã mất đi nền độc lập quốc gia nên họ càng gắn bó hơn nữa vào chủ nghĩa đặc thù của dân tộc mình và đã tăng thêm những nghi thức cho phép họ phân biệt mình chừng nào có thể với thế giới ngoại giáo. Qua những nét đặc thù này, họ nhấn mạnh phẩm chất của dân tộc mình là dân được Thiên Chúa chọn và tách riêng khỏi mọi dân tộc khác, vì thế họ không được sống như dân ngoại.

    Thánh Mác-cô chen vào cuộc tranh luận lời giải thích dài dòng để giúp người đọc hiểu những tập tục tiền nhân mà người Do thái tuân giữ hằng ngày (7: 3-4). Điều này để lộ căn tính của độc giả, họ không là người Ki-tô hữu gốc Do thái nhưng là người Ki-tô hữu gốc lương dân.

    1. Sự thanh sạch và ô uế theo Chúa Giê-su

    Chẳng cần quanh co, Chúa Giê-su vạch trần thói sống đạo giả hình của họ. Đây là lời tố cáo rất nghiêm khắc. “Giả hình” là từ vựng kịch nghệ được dùng để chỉ những diễn viên mang mặt nạ theo nhân vật mà mình diễn. Giả hình là người mà ngôn hành bất nhất, bộ điệu cử chỉ bên ngoài không đi đôi với tâm tình bên trong, cuộc đời chỉ là trò diễn kịch bên ngoài để che dấu con người thật bên trong.

    Vì những đối thủ của Ngài là những người am tường Kinh Thánh, Chúa Giê-su viện dẫn lời ngôn sứ I-sai-a để áp dụng vào lối sống đạo của họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư chỉ phụng sự Thiên Chúa bằng môi miệng nhưng không thật lòng với Ngài. Họ tuân giữ các nghi thức thanh tẩy bên ngoài mà bỏ qua các huấn lệnh của Thiên Chúa. Để minh chứng cho lời kết án của mình, Chúa Giê-su liền trưng ra một ví dụ súc tích về các lời khấn hứa (7: 10-13). Đây là một lãnh vực dễ bị lạm dụng nhiều nhất. Dựa vào một thứ “chủ nghĩa vị luật” quen thuộc, đám Pha-ri-sêu đã bẻ cong một điểm then chốt của Lời Thiên Chúa: sự giúp đỡ cha mẹ trong Thập Giới để đạt được những tặng phẩm dâng cúng cho Đền Thờ. Chắc chắn qua việc lèo lái tinh vi này, những kẻ nhiệt tình bênh vực truyền thống đã rơi vào tình trạng hủy bỏ Lời Thiên Chúa.

    Chúa Giê-su không giới hạn cuộc tranh luận chỉ với những người này, nhưng còn mở rộng cuộc tranh luận tới quần chúng ngõ hầu có thể loan truyền sứ điệp của Ngài một cách có hiệu quả hơn: “Sau đó, Đức Giê-su lại gọi đám đông tới mà bảo..”. Trước hết Ngài tuyên bố rằng “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được”: Đức Giê-su xem ra loại bỏ luật Cựu Ước liên quan đến sự ô uế bên ngoài và những quy định về thức ăn đồ uống (x. Lv 11; Đnl 14), luật này không chỉ chiếm nhiều phân đoạn của bộ Ngũ Thư nhưng cũng đã trực tiếp làm bận lòng những người trong cuộc sống thường ngày của mình.

    Sau khi đã phê phán lối sống đạo giả hình, chỉ biết tuân giữ cái bên ngoài, Chúa Giê-su tập trung vào “cái bên trong”. Chính cái gì xuất phát từ trong lòng con người mới làm cho con người ra ô uế, tức là chính từ tà tâm mà mọi ý đồ đen tối nham hiểm xuất ra. Việc phân biệt con người giữa cái bên ngoài và cái bên trong xem ra rất mới mẽ đối với truyền thống Do thái giáo.

    1. Ý nghĩa của cuộc tranh luận này

    Bản văn này chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt. Điểm nhấn thần học mà tác giả nhắm đến là luật Cựu Ước trong mối tương quan với Đức Giê-su. Ngài loại bỏ truyền thống Pha-ri-sêu chung quanh việc tuân giữ luật nghi thức như rửa tay, lên án việc lấy giáo huấn phàm nhân thay thế huấn lệnh của Thiên Chúa bằng cách sử dụng luật như cách thức trốn tránh bổn phận của mình (thực hành luật co-ban), và Ngài hủy bỏ luật thức ăn của Cựu Ước. Hậu ý của cuộc tranh luận này đòi hỏi Ki-tô học mặc nhiên, Đức Giê-su là người có thẩm quyền giải thích luật Cựu Ước.

    Ngoài ra, đoạn văn này đã được tác giả Mác-cô đặt ngay trước đoạn tường thuật hoạt động của Đức Giê-su bên đất dân ngoại. Rõ ràng tác giả đã dùng bản văn này như một lời công bố nguyên tắc: Đức Giê-su đã loại bỏ sự phân biệt giữa “thanh sạch và ô uế”. Không có hàng rào nào mà lại do Thiên Chúa muốn có giữa loài người. Chỉ có những hàng rào đã được loài người dựng lên (mà như thế là không biết ý muốn của Thiên Chúa), mà bây giờ phải lật đổ, bởi vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” (1: 15).

    Đức Giê-su bắt đầu hủy bỏ ranh giới giữa những thức ăn thanh sạch và những thức ăn ô uế, cuộc cách mạng này sẽ được các Tông Đồ (x. Cv 10: 10) và thánh Phao-lô (x. 1Cr 6: 12 và 10: 12-20) tiếp tục. Việc mở ra cho thế giới lương dân đòi buộc phải trả bằng giá này và còn hơn nữa việc nội tâm hóa luật luân lý mà Đức Giê-su không ngừng công bố.

    Về mục lục

    .

    BÁC ÁI TRONG LỀ LUẬT

    Anna Cỏ May

    Trong các trường học, nơi các công ty, xí nghiệp hay những quán vui chơi… luôn có những nội quy yêu cầu dành cho mọi người khi đến học, làm việc hay vui chơi… Tất cả những nội quy ấy nhằm phục vụ và đem lại sự an toàn cho mọi người. Những người Pharisêu cũng đã sống và giữ luật tiền nhân, họ đã giữ luật ấy với tâm tình thái độ gì?

    Sau những chuyến đi cùng với Thầy Giêsu, các môn đệ đã mệt mỏi và đói. Trong khi dùng bữa, tay các môn đệ còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. Thấy vậy, các người Pharisêu và các kinh sư đã hỏi Chúa Giêsu: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” (Mc 7,6). Họ trung thành giữ luật và muốn người khác cũng phải giữ luật như họ. Họ không còn một lý do nào khác hơn cho việc giữ luật. Và dường như không có sự tự do của con người trong những luật ấy. Một khi có ai đến nơi đó sống, điều phải giữ luật tiền nhân.

    Đứng trước câu hỏi của nhóm Pharisêu và các kinh sư, Chúa đã lấy những lời của Ngôn sứ Isaia mà nói với họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng lại xa ta” (Mc 7,6).  Đối với Chúa,  họ đã gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì những truyền thống của con người.

    Bấy giờ Chúa gọi đám đông lại, mà nói cho họ hay về những điều gây ra sự ô uế thật sự và xuất phát từ đâu, Ngài nói: “ Không có cái gì từ bên ngoài vào vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,15). Vậy cái từ bên ngoài là gì? Đó là đồ ăn, nước uống… Tất cả những  thứ  đó vào bụng rồi bị thải ra ngoài, nó đâu vào tấm lòng của con người hay vào trong lương tâm. Những thứ ấy chỉ nuôi thân xác mà thôi. Cái bên trong thật nguy hiểm, đó chính là những suy nghĩ, ý định xấu như: gian dối, kiêu ngạo, ngông cuồng…”(x. Mc 7,21-23). Đó là những thứ dẫn mọi người đến chỗ ô uế, ô uế cả thân xác lẫn linh hồn. Bởi vì suy nghĩ, ý định xấu sẽ đưa ta đến hành động xấu. Mặt khác, thân phận chúng ta rất yếu đuối, dễ theo điều xấu hơn điều tốt.

    Thiên Chúa yêu thương con người bằng tấm lòng của người cha nhân hậu. Chúa muốn nhắn nhủ với con cái của Ngài là tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa bằng trái tim tình yêu, bằng tấm lòng bác ái và không lệ thuộc vào các lề luật. Lời mời gọi ấy còn tha thiết hơn trong bối cảnh xã hội hiện nay. Một xã hội đang dửng dưng, vô cảm trước mạng sống con người.

    Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con những lề luật yêu thương qua các Bí tích, các điều răn và các mối phúc. Chúa cho chúng con được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của Gíáo hội. Xin cho chúng con biết sống trong tâm tình biết ơn,và một tinh thần sống và tuân giữ lề luật trong tình bác ái yêu thương. Nhờ đó danh Cha được rạng ngời và chúng con cùng mọi người được ơn cứu độ. Amen.

    Về mục lục

     

    CHỈ NGHE SUÔNG LÀ LỪA DỐI CHÍNH MÌNH

      Lm. Bosco Dương Trung Tín

    “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em. Lời đó có sức cứu độ linh hồn anh em” (Gc 1,21b).

      Thánh Gia-cô-bê khuyên chúng ta rằng: chúng ta hãy khiêm tốn đón nhận Lời Chúa gieo vào lòng chúng ta. Vì sao ? Vì Lời Chúa đó có sức cứu độ linh hồn chúng ta. Ngài còn nói rõ hơn rằng: “Thiên Chúa đã tự ý dùng Lời Chân Lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thọ tạo của Người” (x. Gc 1,18).

     Lời Chân Lý chính là Lời Chúa; chính là Lời Tin Mừng mà Đức Giê-su đã rao giảng và đã được ghi lại trong các sách Phúc Âm. Lời Chúa là Chân Lý cho người tín hữu chúng ta. Lời Chúa đó mới có sức cứu độ linh hồn chúng ta mà thôi.

      Cũng nhờ nhờ Lời Chúa đó mà chúng ta được sinh ra trong phép Rửa Tội, để ta trở nên thọ tạo mới; ta trở nên con Thiên Chúa và đem lại cho chúng ta sự sống đời đời.

      Bởi đó mà ta phải có lòng khiêm tốn như Đức Ma-ri-a để có thể nhận lãnh Lời Chúa; để Lời Chúa được gieo vào lòng chúng ta. Trong biến cố Truyền Tin, Đức Ma-ri-a đã nói: “Này tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (x.Lc 1,38).

    Lời Chúa không phải như lời người phàm, Lời Chúa vượt lên trên sự hiểu biết và sự khôn ngoan của con người chúng ta. Có khi chúng ta khó chấp nhận, vì cách suy nghĩ của chúng ta không hợp với cách suy nghĩ của Thiên Chúa. Một ví dụ điển hình như trường hợp một trinh nữ mà sinh con;Một người nữ chưa ăn ở với người nam mà có thai thì không thể chấp nhận được và cũng không thể lý giải được. Điều này chính đức Ma-ri-a đã thưa với Thiên Thần chứ không phải chúng ta bây giờ. Nhưng “Đó là Lời Chúa”. Đức Ma-ri-a chỉ biết khiêm tốn và xin vâng.

      Quả thực, phải có lòng khiêm tốn và lòng tin thì ta mới có thể đón nhận Lời Chúa được. Và nhờ Lời Chúa đó mà ta được cứu độ, nghĩa là làm cho ta nên thánh nên thiện. Thực thế trong bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy rõ điều đó.

      Lời của tiền nhân; lời của người xưa, qua các câu ca dao, tục ngữ; đó là những đúc kết những kinh nghiệm mà các ngài để lại.Đó là những kinh nghiệm sống ở đời này, chứ không đem lại cho ta sự sống đời đời. Nào là phải rửa tay, rửa bình, rửa chén cho sạch trước khi ăn. Đó chỉ là phép vệ sinh trước khi ăn, chứ không làm cho ta nên thánh nên thiện được. Vì đồ ăn thức uống, nếu xấu, tức là hư thối hay tay chân ta vấy bẩn, có thể làm cho ta đau bụng hay “Tào Tháo đuổi” thôi, chứ không làm cho tâm hồn hay con người của ta nên tốt hay ra xấu xa được.

    Chỉ có, “những gì từ bên trong, từ lòng người phát xuất ra những ý định xấu như: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngồng cuồng”, mới làm cho con người và tâm hồn ta xấu xa mà thôi.

      Thế đấy, Lời Chúa và lời của con người khác xa nhau biết mấy; cách nghĩ của con người cũng “một trời một vực” với cách nghĩ của Thiên Chúa. Cho nên muốn được cứu độ, muốn nên thánh nên thiện ta phải nghe và thực hành Lời Chúa, chứ không có cách nào khác. Việc này phải có “hai thì” chứ “một thì” không được. Tức là NGHE và THỰC HÀNH.

      Nếu ta chỉ có nghe Lời Chúa không thôi, thì Lời Chúa chẳng sinh ích gì cho ta; chẳng làm cho ta nên thánh nên thiện được. Ta mà chỉ NGHE SUÔNG thì ta tự lừa dối chính mình. Thánh Gia-cô-bê nói: “Anh em hãy đem Lời đó là thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (x.Gc 1,22). Tại sao lại là lừa dối chính mình?

     Vì ta cứ tưởng chỉ được rửa tội, chỉ nghe Lời Chúa; ta chỉ đi đọc kinh, dâng lễ hằng ngày hay hàng tuần là chắc mẻm ta được cứu độ; ta sẽ nên thánh nên thiện; ta sẽ được lên thiên đàng. Điều này không đúng. Chúa đâu có nói như vậy bao giờ. Cứ tìm trong các sách Phúc Âm, không có chỗ nào Đức Giê-su nói như thế cả. Chắc chắn 100%.

      Giáo Hội, có lúc cũng đã nói như thế và có khi Linh mục cũng đã giảng như thế. Nói như thế và giảng như thế thì không đúng với ý Chúa, không đúng với Phúc Âm rồi. Nói như thế và giảng như thế là mị dân, là nói dối. Giáo Hội đã có lúc sai lầm và các Linh mục giảng, có hồi cũng đã sai lầm. Cũng vì tiền, vì của; vì danh, vì lợi mà đã bóp méo Lời Chúa; nói dối, nói láo.

      Ngày xưa khi Giáo Hội cần tiền để xây Đền Thờ, đã mại thánh và nói rằng: “Khi một đồng tiền bỏ vào thùng kêu một tiếng keng, là có một linh hồn lên thiên đàng”. Nếu thế thì những tay nhà giàu lên thiên đàng thẳng cẳng hết rồi. Thế nhưng Đức Giê-su lại nói: “Người giàu có khó vào thiên đàng. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào thiên đàng”(x. Mt19, 23-24). Vậy thì ta tin ai đây ? Ai đúng ai sai ? Chúa sai hay Giáo Hội sai?

      Nói đúng ra Chúa không sai và Giáo Hội cũng không sai, chỉ có những con người lãnh đạo Giáo Hội, các Giáo Hoàng; các Giám Mục, các Linh Mục là sai thôi, vì các ngài cũng là những con người. Nên ta phải tin vào Chúa và thực hành Lời Chúa là chắc ăn nhất. Giáo Hội: Giáo Hoàng, Giám Mục hay Linh Mục mà giảng Lời Chúa; giúp ta sống Lời Chúa thì ta hãy theo và thực hành, nếu không ta cũng sẽ bị lừa dối và lừa dối chính mình.

    Những ai có nhiệm vụ giảng Lời Chúa, cũng phải coi lại lời giảng của mình, xem có đi ngược lại với Lời Chúa nói không? Ta có giảng Lời Chúa hay là giảng “lời ta”. Ta mà giảng lời ta thì ta phải lãnh trách nhiệm nặng nề trước mặt Chúa lắm đấy. Vì ta đã bóp méo Lời Chúa; ta đã uốn cong Lời Chúa, mà nói sai, nói bậy; đã lừa dối các tín hữu; không làm cho đức tin của họ mạnh lên; ta không được vào thiên đàng mà còn kéo cả họ xuống với ta nữa thì khốn cho ta biết chừng nào. Ta phải là người đầy tớ trung thành của Chúa và trung thực rao giảng Lời Chúa.

      Quả thực, nếu ta lười biếng không thực hành Lời Chúa, ta chỉ nghe suông, nói suông thì ta tự lừa dối chính mình. Ta cứ đinh ninh rằng, ta đã được rửa tội; ta là Linh mục, hằng ngày, hàng tuần dâng lễ, nghe Lời Chúa; rước Mình Thánh Chúa; lần hạt mân côi, là ta chắc ăn được lên thiên đàng. Nếu đến khi chết, ta lên gặp Chúa, Chúa không cho ta vào thiên đàng, vì ta chưa nên thánh nên thiện. Lúc đó thì “hỡi ôi!!!”; “công cốc, công cò”. Mà ta có cố gắng sống Lời Chúa gì đâu; tại ta nghĩ, tại ta tự lừa dối mình đấy chứ.

      Vậy ta phải thức tỉnh ngay hôm nay; nếu trước ta đã nghĩ như thế thì ngay bây giờ, ta phải bỏ ngay những ý nghĩ đó đi; phải làm lại ngay; phải đổi hướng ngay; ta đã trật hướng, đã đi sai đường rồi. Ta phải nghe và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống của mình ngay kẻo không kịp. Ta phải lấy lòng khiêm tốn và đức tin để đón nhận Lời Chúa gieo vào lòng ta, để ta càng ngày càng nên thánh nên thiện. Ta sẽ an tâm và cố gắng và như thế ta mới nắm chắc sẽ có chiếc vé vào thiên đàng. Đừng có lười lĩnh mà lừa dối chính mình; cũng đừng để ai lừa dối mình, kẻo ta mất cả chì lẫn chài; mất cả đời này lẫn đời sau đấy.

    Về mục lục

     

    TÔN KÍNH BẰNG ĐẦU MÔI CHÓT LƯỠI

    JM. Lam Thy

    Do Thái giáo có những luật lệ rất khắt khe: không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước; không được ăn thịt heo, thịt thú chết ngạt; không được đụng vào xác chết, chạm vào người phong cùi; không được ngồi chung bàn với dân ngoại, không được vào nhà những người bị coi là tội lỗi v.v… Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng. Đối với người Pha-ri-sêu, ai đụng vào, sờ vào hay ăn những đồ cấm kỵ là trở nên ô uế. Nếu chỉ nhìn trên bình diện đời sống trần tục thì nói chung những luật lệ đó  là tốt đẹp; ngoại trừ tục “không được đụng vào xác chết, chạm vào người phong cùi; không được ngồi chung bàn với dân ngoại, không được vào nhà những người bị coi là tội lỗi” nằm trong vấn đề giao tiếp, đối xử trong cộng đồng, thì không thể chấp nhận được.

    Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXII/TN-B – Mc 7, 1-8a.14-15.21-23) trình thuật một nhóm người Pha-ri-sêu và một số kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến. Họ thấy vài môn đệ của Đức Giê-su dùng bữa mà chưa rửa tay; họ liền hỏi Người: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” Vấn đề đặt ra ở đây là động cơ thúc đẩy bọn người Pha-ri-sêu căn vặn Đức Ki-tô. Họ không nói đến vấn đề vệ sinh ăn uống, mà là muốn đặt vấn đề giới luật để gài bẫy đối tượng mà họ đố kỵ, ganh ghét. Hiểu quá rõ về tâm lý đó, nên Đức Ki-tô đã nói thẳng: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: ‘Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân’. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.” (Mc 7, 6-8).

    Đức Giê-su còn nhấn mạnh: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7, 15), Để ý một chút sẽ thấy Đức Ki-tô dùng tiếng ô uế (Từ nguyên: Ô: vẩn, đục; Uế: bẩn thỉu – Ô uế: nhơ nhớp, dơ bẩn – Vd: Cuộc đời ô uế của gái mại dâm) là có ý nói đến cả cuộc sống của con người chớ không chỉ là việc ăn uống (Nếu thức ăn do bàn tay không sạch sẽ đưa vào trong cơ thể sẽ khiến cho cơ thể đau yếu, bệnh tật, chớ không phải làm cho con người ra ô uế). Người còn giải thích rõ hơn: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7, 20-23). Rõ ràng Đức Ki-tô đã cho họ thấy rằng động lực thúc đẩy con người trở thành ô uế là từ nội tâm tư tưởng.

    Rửa tay trước khi ăn là ăn cơm bánh để nuôi dưỡng thể xác. Nhưng điều Chúa muốn nói đến ở đây là ăn của ăn thiêng liêng, mà với của ăn tâm linh thì điều tất yếu là phải rửa sạch mọi vết nhơ của cõi lòng. Điều đáng tiếc là những người đặt nặng những hình thức bên ngoài, thì lại thường coi nhẹ cái cốt lõi bên trong lề luật. Đức Giê-su đã lên án điều ấy: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.” (Mt 23, 23-24). Đức Giê-su đã phê bình đám kinh sư chỉ câu nệ vào Lề Luật nơi những điều phụ thuộc, còn điều quan trọng thì không màng tới. Người nhấn mạnh: “Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ”. Rõ ràng là Người không những chỉ nhắc nhở phải lưu tâm tới điều trọng yếu trong Lề Luật, mà còn nhắc nhở không được bỏ qua những điều thứ yếu.

    Một cách cụ thể thì việc giữ luật không câu nệ theo hình thức bên ngoài, hoặc những tiểu tiết, những điều phụ thuộc, mà hệ tại một cái gì đó sâu xa hơn nhiều, là cái quan trọng nhất trong luật, là cốt tủy của lề luật. Cái đó chính là tuân giữ tinh thần chủ yếu của lề luật bằng cả tấm lòng. Nói cách khác, đó là “Đạo Tại Tâm” vậy. Khi nói “Đạo Tại Tâm”, thường thì cần phải phân biệt nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng: Theo nghĩa chiểu tự thì “Đạo” chỉ có nghĩa là con đường, nhưng theo nghĩa thiêng liêng thì Đạo mang màu sắc tôn giáo. Gộp chung cả 2 nghĩa thì Đạo chính là đường đi nước bước của một tôn giáo. Vậy “Đạo Tại Tâm” là muốn nói đến tinh thần, đường hướng của một tôn giáo cốt ở trong lòng, ở nội tâm, chớ không chỉ ở hình thức bên ngoài (“Nhưng người Do Thái chính hiệu là người Do Thái tận đáy lòng, phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật. Người như thế được Thiên Chúa chứ không phải người phàm khen ngợi.” – Rm 2, 29). Nếu quá câu nệ vào hình thức bên ngoài mà trong lòng trống rỗng, không thành thật, thì đó chỉ là thứ “giả hình”, là “made in Pha-ri-sêu” mà thôi.

    Nói như vậy cũng không có nghĩa là “Đạo Tại Tâm” chỉ giữ đạo ở trong lòng mà không cần giữ các lề luật bên ngoài. Thực ra những lề luật của Ki-tô giáo đều là những quy tắc giúp tín hữu tuân giữ các giới luật của Thiên Chúa, mà giới luật của Thiên Chúa chỉ quy về một điều răn quan trong nhất là Tình Yêu: “Mến Chúa yêu người” (muốn mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” thì phải biết “yêu anh em như yêu chính mình”, đổi lại, chỉ những ai thực sự yêu người như yêu chính mình mới là thực lòng mến Chúa). Do đó, “Đạo Tại Tâm” phải là “sống đạo và thực hành các giới răn của Chúa” với tất cả tấm lòng, chứ không phải chỉ để phô trương bề ngoài. Sống đạo thực sự là yêu mến và tuân giữ các giới răn của Chúa, và thực thi lòng yêu mến đó bằng cách yêu thương giúp đỡ mọi người, nhất là những người sống trong hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật. Sống đạo thực sự là phải tuân giữ và thực hành “những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật”, đồng thời “Các điều này (chủ yếu) vẫn cứ phải làm, mà các điều kia (phụ thuộc) thì không được bỏ” (ibid).

    Tóm lại, Lời Chúa hôm nay muốn nhắc nhở mọi tín hữu hãy tuân giữ các giới răn của Chúa và đem ra thực hành Lời Chúa như lời khuyên của Thánh Gia-cô-bê Tông đồ  khưyên các tín hữu hãy sống đạo bằng cách thực hành, đó là xa tránh tội lỗi và thực hành đức bác ái (“Anh em hãy tẩy trừ mọi điều ô uế, gian ác… Anh em hãy mau mắn lãnh nhận Lời Chúa và đem ra thực hành, chứ đừng nghe suông… Hãy giữ lòng mình khỏi mọi ô uế ở đời này… Hãy thăm viếng cô nhi, quả phụ trong cơn quẫn bách…” – Gc 1, 17 -18.21-22.27). Chúa Giê-su chỉ phê phán bọn kinh sư Pha-ri-sêu giả hình (“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” – Mc 7, 6); Người không hề bác bỏ Lề Luật (“Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” – Mt 5, 18).

    Ôi! Lạy Chúa! Nhìn lại mình, con thấy cách này cách khác con cũng chẳng hơn gì đám người Pha-ri-sêu chỉ câu nệ vào truyền thống, vào hình thức, mà quên đi cái cốt tuỷ bên trong là giới răn của Chúa. Quả thật, không ít lần con đã ”gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7, 8). Ôi! Lạy Chúa! “Xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin chỉ cho con nước bước của Ngài, xin hướng dẫn con trong Chân Lý, xin dạy bảo con những điều cao quý, vì Chúa là Đấng cứu độ con, là Đấng ngày đêm con cậy trông.” (“Xin chỉ cho con” – Hùng Lân – TCCĐ). Cúi xin Chúa đồng hành với con trong mọi tình huống để giúp con luôn chú trọng đến “những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật” mà đem ra thực hành trong suốt đời con. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

    Về mục lục

     

    TUÂN GIỮ GIỚI RĂN LỀ LUẬT CỦA CHÚA

     Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

    Kỳ thi phổ thông quốc gia vừa qua đã để lại nhiều tai tiếng cho ngành giáo dục và xã hội. Nhiều thí sinh là con của các quan chức tại các tỉnh phía bắc có số điểm cao bất thường. Khi chấm điểm lại, người ta thấy có sự chênh lệch điểm đến không thể tin được, có những học sinh dưới trung bình được nâng thành điểm xuất sắc. Những người có liên quan tìm cách lấp liếm, quanh co chối bỏ trách nhiệm.

    Thưa quý OBACE, xã hội ngày nay đang lan tràn sự gian dối, giả trá từ cấp cao nhất đến những những nhân viên thấp nhất. Người dân dường như không muốn nghe những bài tuyên giáo sáo rỗng, dối trá của những người lãnh đạo, báo đài, bởi vì sự dối trá đang làm mất lòng tin của người dân. Những người có trách nhiệm, họ nói một đàng lại làm một nẻo, ngôn hành bất nhất, khiến cho người dân mất lòng tin, xã hội trở nên rối ren, lộn xộn, vô luật pháp.

    Xã hội Do Thái ngày xưa cũng rơi vào tình trạng rối ren như thế. Những người lãnh đạo chỉ lo vơ vét của cải cho bản thân và gia đình. Đời sống của họ trở nên bê bối, thành gương xấu cho người khác. Họ tùy tiện uốn nắn, thay thế lề luật của Thiên Chúa bằng các thói quen tập tục có lợi cho bản thân. Trách nhiệm chính của các nhà lãnh đạo là giảng dạy, hướng dẫn dân đi theo đúng giới răn lề luật của Chúa. Tuy nhiên, chính họ lại vi phạm lề luật và tìm cách thêm nhiều chi tiết vào luật để biện minh, che đậy cho sự sai trái của mình.

    Tin Mừng hôm nay kể về cách hành xử của những người lãnh đạo Do Thái: Các người Pharisêu trách Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài không giữ tập tục thanh sạch, không thực hành nghi thức thanh tẩy chén bát và rửa tay trước khi vào bàn ăn. Họ cho rằng Chúa Giêsu và các môn đệ đã vi phạm tập tục của tiền nhân. Theo luật tinh sạch của người Do Thái: tất cả đồ ăn, đồ dùng hoặc khi ra ngoài trở về, họ phải thực hiện một nghi thức thanh tẩy: tắm rửa, thay quần áo, rảy nước trên đồ vật… Đây không phải là việc làm theo phép vệ sinh ngày nay, nhưng họ thanh tẩy vì cho rằng có thể dân ngoại hoặc người bị ô uế đã đụng chạm đến các đồ vật ấy.

    Chúa Giêsu đã muốn đưa những người Pharisêu này trở lại với ý nghĩa nguyên thủy của việc thanh tẩy này. Ngài trích lời Isaia để nói với họ: “Dân này tôn kính ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa ta. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm”. Điều Thiên Chúa muốn nơi mỗi người không phải là những hình thức giả dối bên ngoài nhưng phải là tấm lòng thành. Chúa muốn mỗi người cần phải thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi ô uế hơn là những hình thức thanh tẩy bên ngoài. Chúa muốn mỗi người biết đặt ưu tiên cho việc chu toàn giới răn lề luật của Thiên Chúa, sống ngay thẳng công minh, chính trực, hơn là giữ các tập tục vô nghĩa. Nói như thế, Chúa không phủ nhận các giá trị tốt đẹp của tiền nhân, nhưng Chúa chê trách những người nại vào tập tục mà bỏ qua việc chu toàn giới răn lề luật của Thiên Chúa hoặc giữ luật mà không hiểu ý nghĩa của luật.

    Đàng khác, Chúa trách những luật sĩ và biệt phái vì họ đã làm ngơ trước lề luật của Thiên Chúa và dạy người khác làm theo luật của riêng mình. Ví dụ họ cho rằng những ai chỉ cần tuyên bố sẽ dâng cúng tất cả tài sản của mình cho đền thờ, thì người ấy không phải nuôi dưỡng báo hiếu cha mẹ nữa. Đây chắc chắn không phải là điều Thiên Chúa dạy. Thiên chúa đòi buộc mỗi người phải thảo kính cha mẹ. Ai không chu toàn là có lỗi với cha mẹ và có tội trước mặt Thiên Chúa. Nhưng vì muốn cho có nhiều người dâng cúng vào đền thờ mà các luật sĩ và thượng tế đã đặt ra luật như thế.

    Chúa Giêsu gọi đám đông đến và nói cho mọi người một nguyên tắc căn bản: Đó là phải tôn trọng tiếng lương tâm trong sáng, nghe và làm theo tiếng nhắc bảo của lương tâm. Chúa Giêsu dùng cách so sánh cụ thể: “Không phải những cái từ bên ngoài vào trong con người có thể làm cho họ ra ô uế, mà chỉ những cái từ trong xuất ra mới có thể làm cho con người ra ô uế mà thôi”. Chúa Giêsu cũng giải thích thêm “cái bên trong”  đó là: “tư tưởng xấu, tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng nó phát xuất từ trong tâm hồn và làm cho tâm hồn ô uế”. Đúng như vậy, tư tưởng sẽ chi phối hành động. Tư tưởng xấu xa mờ ám, thì dẫn đến hành động xấu xa gian dối; tư tưởng suy nghĩ quanh co thì hành động cũng quanh co không ngay thẳng; tư tưởng dâm ô thì từ lời nói đến hành động sẽ là những điều dâm ô.

    Đối với Chúa Giêsu, điều quan trọng là mỗi người cần thanh tẩy, điều chỉnh suy nghĩ của mình trước; thanh tẩy từ trong tâm hồn. Thay đổi được suy nghĩ, sẽ thay đổi được hành động và đời sống. Suy nghĩ những điều tốt đẹp, tích cực thì sẽ hành động tích cực tốt đẹp cho người khác. Suy nghĩ những điều thánh thiện, thì cuộc sống và việc làm sẽ thánh thiện.

    Ngày xưa trong Cựu ước, Thiên Chúa cũng đã dùng ông Môsê để cánh báo về việc giữ giới răn lề luật của Thiên Chúa sao cho cho tinh ròng, đừng tự ý thêm hoặc bớt lề luật Chúa. Vì lề luật của Thiên Chúa là do ý muốn của Thiên Chúa. Ai tuân giữ cách vuông tròn, đó là người khôn ngoan và lề luật của Chúa sẽ gìn giữ người ấy. Hơn nữa, Môsê còn kêu gọi mọi người hãy luôn cảm thấy tự hào vì không có dân tộc nào được Thiên Chúa ưu ái ban lề luật của Ngài như Chúa đã ban cho dân Do Thái. Tuy nhiên, những lời căn dặn của Môsê đã không được người Do thái lưu ý. Họ tìm cách sửa luật Chúa theo ý muốn và theo lợi ích riêng của mình, biến việc giữ luật chỉ còn là hình thức bên ngoài không còn ý nghĩa ban đầu. Sau nhiều thế kỷ, người Do thái đã thêm vào lề luật của Chúa nhiều chi tiết và nhiều các thứ luật khác khiến cho đa số người dân không thể phân biệt đâu là giới răn của Chúa đâu là luật của các thượng tế, luật sĩ.

    Thưa quý OBACE, không chỉ những người Do thái ngày xưa, mà chúng ta hôm nay cũng bị tình trạng như thế. Nhiều người trong chúng ta tin Chúa, theo Chúa nhưng không muốn giữ lề luật của Thiên chúa. Nhiều người cho rằng luật Chúa ngày nay con người không thể giữ được. Vì vậy, họ tìm cách xén gọt luật Chúa cho vừa với ý của mình. Nhiều người khi bước vào cuộc sống hôn nhân, họ cam kết chu toàn luật Chúa và Giáo Hội. Họ công khai nói lên sự thuỷ chung và vĩnh viễn của hôn nhân công giáo. Thế nhưng, có nhiều người đã tìm cách phá vỡ mối dây hôn nhân, tìm cách hủy bỏ lời cam kết. Họ đưa ra rất nhiều lý do để biện mình cho lối sống, suy nghĩ và hành động sai trái của mình. Ngày nay có cả những phong trào nổi lên gây sức ép, nhằm phá hủy luật hôn nhân của Chúa để thay thế bằng luật của con người.

    Sống trong một tổ chức nào cũng cần phải có lề luật để duy trì sự trật tự và giúp phát triển tổ chức đó. Cũng vậy, là thành viên trong gia đình Hội Thánh của Thiên Chúa, chúng ta cũng phải chu toàn những lề luật của Hội Thánh. Vì Hội Thánh là của Chúa Kitô, do Chúa Kitô thiết lập để thi hành sứ mạng Chúa Kitô trao phó. Vậy mà, có những người đang tìm cách gây sức ép để Hội Thánh thay đổi lề luật của mình với lý luận: Luật do Hội Thánh đặt ra thì Hội Thánh có quyền thay đổi. Ví dụ như luật về hôn nhân gia đình, luật bảo vệ sự sống… Luật của Hội Thánh là do ý định của Thiên Chúa, nhằm xây dựng Hội Thánh. Vì thế, Hội Thánh không thể đi ngược với ý định của Chúa Kitô.

    Trong một cộng đoàn nhỏ hơn là giáo xứ, gia đình cũng cần có những quy định phù hợp với lề luật của Thiên chúa nhằm bảo vệ, củng cố và phát triển cộng đoàn và gia đình. Vì thế, mỗi người đừng vì ý thích cá nhân, cũng đừng nhân danh tự do cá nhân hoặc quyền lợi nào đó mà coi thường luật Chúa và Giáo hội hoặc những quy định của cộng đoàn và gia đình. Vì tất cả những lề luật của Thiên chúa và Hội Thánh là nhằm giúp ta tiến triển và đạt tới đời sống thánh. Những quy định trong giáo xứ và gia đình là chuẩn mực, nhằm giúp ta hoàn thiện con người mình mà thôi.

    Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra ý Chúa qua các giới răn lề luật của Chúa và giúp chúng ta thi hành, chu toàn luật Chúa cách vui tươi và tự do. Amen.

    Về mục lục

     

    THIỆN CĂN HỆ TẠI LÒNG TA

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

    Hôm nay, Chúa Nhật XXII thường niên B, chúng ta tìm hiểu về Luật Chúa là luật đích thực của tôn giáo. Luật này được kiện toàn trong bí tích tình yêu và chỉ tồn tại trong tâm hồn tinh truyền và thánh thiện. Vì thế, các bài đọc hôm nay hướng dẫn chúng ta suy tư về cách thế tốt nhất để tuân giữ luật Chúa, nhờ đó chúng ta đạt tới ơn cứu độ.

    Trong bài đọc I, Môsê nhắc nhở dân người về các huấn lệnh của Thiên Chúa và yêu cầu họ phải kiên tâm bền chí tuân giữ để được sống hạnh phúc. Ông cũng nghiêm túc lưu ý họ không được thêm hoặc bớt điều gì. Tuy nhiên, lời cảnh báo này đã không được thực hiện một cách nghiêm túc, bởi vì sau này những người Pharisêu đã biến 10 điều răn thành 613 khoản quy định tỉ mỉ.
    Vì thế, họ đã làm cho cuộc sống trở nên khó khăn và phức tạp một cách thái quá đối với dân Chúa. Đó là lý do tại sao trong thư Galát chương 3, thánh Phaolô đã đối diện với trường hợp như thế nên ngài đã mạnh mẽ chống lại “lề luật.” Ngài không hoàn toàn lên án lề luật, nhưng lên án cách thức mà những người Pharisêu quan niệm, lạm dụng và trình bày lề luật. Ngài cho rằng tinh thần Lề Luật còn quan trọng hơn các chữ viết.

    Cũng thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chống lại nhóm Biệt Phái vì sự giả hình của họ. Họ không bao giờ giữ luật mà họ đã đề ra cho dân. Đây là cách thức nguy hiểm của đời sống mà chúng ta (những linh mục, tu sĩ và những Pharisêu thời nay) phải cẩn thận xa tránh. Chúng ta không được sống một cuộc sống giả hình, cũng như làm cho cuộc sống trở nên phức tạp hơn cho người khác; hay đôi khi chúng ta chỉ thích bắt bẻ, chỉ trích và lên án người khác, nhưng lại không ý thức về giới hạn của mình.

    Đặc biệt, trong khi nhóm Biệt Phái chỉ chú trọng đến hình thức và nệ luật bên ngoài, Chúa Giêsu chỉ cho thấy căn nguyên sâu xa nhất của mọi sự xấu xa và thiện hảo khi Người nói: “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,15). Người mời gọi chúng ta phải kiểm điểm chính mình. Bởi lẽ, từ bên trong, nơi lòng chúng ta, những ý định xấu xa, ghen ghét, kiêu ngạo, những khuynh hướng đồi bại mà chúng ta lưu giữ trong lòng thực sự là những gì biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta là ai. Chúng là những tật xấu làm cho chúng ta trở nên xấu xa. Chúng ta phải loại trừ chúng trước khi chúng cắm rễ sâu và làm cho toàn bộ con người chúng ta ra hư hỏng. Chúng là những kẻ thù đích thực và ẩn mặt mà chúng ta phải chiến đấu và chiến thắng mỗi ngày.

    Phẩm chất của đời sống chúng ta được đo lường nhờ phẩm chất của tâm trí chúng ta. Nếu tâm trí chúng ta bị phá hoại và bệnh hoạn, thân xác chúng ta sẽ bị bệnh hoạn gấp trăm lần, ngay cả khi chúng ta không ý thức điều đó. Như thế, điều quan trọng nhất mà Thiên Chúa cần nơi chúng ta là tâm hồn trong sạch như Chúa Kitô dạy chúng ta: “Phúc thay những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).

    Cách thức tốt nhất để trung thành với huấn lệnh Thiên Chúa là để cho tâm hồn chúng ta được biến đổi nhờ Lời Chúa. Như thế, thay vì quá chú tâm đến những chữ viết của lề luật và sự trong sạch thể lý, chúng ta nên chú ý tới lời khuyên của Phaolô: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Thánh ý Thiên Chúa chính là luật Người. Luật Chúa phải thúc đẩy chúng ta yêu mến người khác và làm lành lánh dữ. Luật Chúa phải kêu gọi sự sám hối đích thực và ước muốn chân thành để tha thứ cho người khác. Luật Chúa giữ chúng ta vững vàng trong đức tin. Tắt một lời, luật Chúa phải thúc đẩy chúng ta chỉ theo đuổi điều tốt lành, phải đạo, cao thượng và thánh thiện.

    Hôm nay, thánh Giacôbê Tông Đồ đòi hỏi chúng ta nơi bài đọc II: “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em… Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành” (Gc 1,21-22).

    Vì thế, cách tốt nhất để thực hiện điều này là chúng ta hãy có gắng sống đức tin của mình vào trong đời sống hằng ngày, hãy diễn tả nó qua cách thức chúng ta sống, yêu và hành xử với người khác. Cuối cùng, Thánh Vịnh Gia nhắc nhở chúng ta rằng người công chính sẽ sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa chúng ta thực hành Lời Chúa và các giới răn với một tâm hồn trong sạch và chân thành. Vì thế, chúng ta hãy khiêm tốm cầu nguyện như vua Đavít: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ” (Tv 51,12). Amen!

    Về mục lục

     

    AI LÀ NGƯỜI PHARISIEU?

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

    Chúng ta thường nói người Pharisieu là đạo đức giả! Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 7:1-8, 14-15, 21-23) giúp chúng ta hiểu nhiệm vụ của người Pharisieu trong Do Thái Giáo. Tại sao chúa Giesu và nhiều người lại ghét thái độ giả hình của người Phrisieu? Ai là Pharisieu trong thời Chúa Giesu và thời đại ngày nay?

     Người Pharisieu muốn cho lề luật được sống động nên đã cố gắng làm cho lề luật thích hợp với mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Giáo lý của người Pharisieu thì không trái với giáo lý Kito giáo. Thời chúa Giesu, người Pharisieu thuộc phe “bảo thủ” trong Do Thái Giáo. Họ tỏ ra rất đạo đức, giữ luật Torah và Talmud thật khít khao. Họ là thủ lãnh phe đa số và được những tín đồ ngoan đạo, nhiệt thành nể trọng. Đối lập với  phe này là phái Sa Đóc, đại diện phái “tự do” trong Do Thái Giáo. Người Sa Đóc thì bình dân và nổi tiềng trong phái thượng lưu xã hội nhưng là thiểu số. Pharisieu và Sa Đóc được nhắc tới trong tin mừng Mathieu (Mt 3:7-10), khi Gioan Tiền Hô kết án họ lúc họ đến xin chịu phép rửa: “ Loài rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp ráng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa trái xứng với lòng xám hối…. Tại sao Gioan lại mắng những người Pharisieu là rắn độc, là quân giả hình nhân đức? 

     Chúa Giesu cũng dùng những lời trách móc rất nặng để chửi những người Pharisieu. Trong Mathieu 16:6 Chúa đã cảnh giác các môn đệ: “Hãy để ý đến căn nguyên của dân Pharisieu và Sa Đóc.” Người môn đệ phải để ý đến cái gì? Có phải cái tính vô đạo đức của dân Pharisieu và Sa Đóc không?

    GIỮ LỀ LUẬT THẬT KHẮT KHE

     Thời chúa Giesu, người Pharisieu thường cổ động cách giữ luật thật khit khao và sống đạo hàng ngày thực sự trong lòng. Nhưng một số người chỉ giữ đạo bề ngoài và bị những Pharisieu khác đả kích. Tiên tri Isaiah cũng từng gọi họ là kẻ giả hình nhân đức. Chúa Giesu cũng phản đối việc cắt nghĩa luật của họ, nhưng Chúa không kết án chủ thuyết của họ hoặc tất cả những người Pharisieu.

     Người Pharisieu “dựa vào chính họ, coi họ là người công chính.” Họ tin rằng bồn phận của họ là làm điều mà Thiên Chúa truyền và cấm điều Thiên Chúa cấm. Những điều làm được và gìn giữ được sẽ tiến dâng lên Thiên Chúa. Họ tự cho mình là người công chính, khinh miệt tất cả những ai không tuân giữ luật theo cách của họ. Họ không ngồi ăn với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi là những kẻ xấu. Họ xì xào nói xấu những người ngồi ăn với chúa Giesu. Thấy vậy Chúa bèn nói: “Người khỏe mạnh không cần bác sĩ mà là kẻ yếu đau bệnh hoạn. Ta đến không vì người công chính nhưng vì kẻ tội lỗi cần ăn năn thống hối” (Lc 5:31-32).

    THỰC TÂM QUAN TRONG HƠN BỀ NGOÀI

    Đoạn Tin Mừng hôm nay (Mc 7:1-8, 14-15, 21-23) cho biết những người Pharisieu và những nhà thông luật đến từ Jerusalem là để điều tra về Chúa Giesu. Chúa Giesu đã bãi bỏ cách thực hành nghi thức thanh tẩy và phân biệt thức ăn sạch và dơ theo truyền thống tôn giáo nên Chúa muốn thi hành luật một cách thông thoáng hơn. Thấy một số môn đệ ngồi vào bàn ăn mà không rửa tay (Mc 7:2) mấy ông Pharisieu và thông luật bèn hạch hỏi chúa Giesu: “Tại sao các đệ tử của ông không giữ truyền thống của các tổ phụ, ngồi ăn với hai bàn tay dơ?” (c.5). Chúa Giesu đã không trả lời nhưng gọi mấy tên Pharisieu và nhà thông luật đó là “quân giả hình nhân đức” (c.6). Nhắc lời Isaiah, chúa Giesu lột mặt nạ họ. Các ông bám lấy nguyên tắc của người đời rồi tin tưởng vào truyền thống của các tổ phụ mà quên đi lề luật của Thiên Chúa (c.8). Chống lại cách hành đạo kiểu bề ngoài, theo thuyết thanh tẩy (Mc 7:2-5), hẹp hỏi của các Pharisieu, chỉ giữ các giới răn thờ phương bằng môi miệng (7:6-7), Chúa Giesu đã lấy luật của Thiên Chúa phản bác lại (7:8-13): “Các ông đã gạt bỏ giới răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm….”

     Chúa còn nêu lên sự tương phản giữa luật và cách cắt nghĩa luật của người Pharisieu. Thực vậy, Macco 7:14-15 đã để luật qua một bên mà vẫn tôn trọng thức ăn sạch và bần. Quan điểm của chúa Giesu rất rõ ràng, chính đa số các Pharisieu cũng công nhận cái tâm mình, lòng mình quan trọng hơn vẻ bề ngoài.

    Ý NIỆM TỘI CỦA DÂN PHARISIEU

     Chúa Giesu bác bỏ quan niệm tội của người Pharisieu và các nhà thông luật. Đối với chúa Giesu, tội từ tâm mà ra. Không biết phân biệt các loại thức ăn không phải là tội. Thái độ của Chúa về tội là quan niệm về ngày Sabbath. Giữ luật mà không có lòng trắc ẩn cảm thông và yêu thương thì thiếu lòng nhân đạo và không có tình người.

     Chúng ta có thể hiểu dễ dàng sứ điệp của Chúa Giesu muốn nói với các Pharisieu và những nhà thông luật (c.1-8) cũng như đám đông: Tất cả các ngươi kể cả các môn đệ (c.21-23), hãy nghe ta đây, để mà hiều (c.14-15). Đây là tin vui cho tất cả mọi người, là Thiên Chúa không cứng ngắc theo sát luật. Người uyển chuyển, bởi vì qua đức Giesu Kito, Thiên Chúa Cha đã cho chúng ta một đời sống mới. Không nên quá lo lắng làm sao để vâng theo luật lệ và giữ mình thanh sạch.

    Giữ mình thanh sạch là chúng ta tự do dùng bàn tay mình để phụng sự tha nhân. Chúng ta có thể bị dơ bẩn trở lại, nhưng Thiên Chúa cho chúng ta tự do giữ luật, lại ban cho chúng ta ân sủng. Đây cũng là một tin vui chúng ta phải chia sẻ khi chúng ta phụng sự những người có tâm hồn giữ luật, đám đông, và cả những môn đệ chúa Giesu ở chung quanh ta.

    NGƯỜI PHARISIEU THỜI ĐẠI

    Ai là Pharisieu và đệ tử của họ ở thời đại ngày nay? Pharisieu thời đại và đệ tử của họ là những người rất sùng đạo và giữ phẩm hạnh nhưng cũng hay ganh ghét. Họ cố gắng giữ luật Chúa nhưng lại hay phân bua khi thực hành đạo. Họ rất siêng năng đi lễ Chúa Nhật. Họ là những công dân làm việc chăm chỉ, bề ngoài tỏ ra rất ngay thẳng. Họ giữ mình tránh các tội ác và luôn luôn giảng giải về luân lý và luật lệ, nhưng lại có đặc điểm hay phân bì ganh tỵ.

     Ngoài ra họ không tin là ơn cứu độ phụ thuộc vào hành động của chúa Kito. Họ cho rằng ơn cứu độ là do cố gắng của con người và những điều mà kẻ tội lỗi thêm vào công việc của chúa Kito.

     Ngược lại,  người Kito hữu thực sự là những người tin và tuyên xưng chúa Kito bị đóng đanh. Không có cách nào khác. Họ tin rằng hành động của chúa Kito là bảo đảm cho ơn cứu độ cho tất cả mọi người mà họ là một đại diện. Chỉ một điều đó làm nổi bật sự khác biệt giữa cứu độ và luận phạt. Họ biết rằng cố gắng của riêng họ tuyệt đối không can dự vào chuyện họ được chấp nhận trước mặt Thiên Chúa. Họ an nghỉ trong một chúa Kito mà thôi khi niềm tin duy nhất của họ là nhận biết công việc của chúa Kito nhờ ân sủng của Thiên Chúa làm bảo đảm cho ơn cứu độ. Chúa Giesu biểu lộ cho chúng ta biết  ai là kẻ tội lỗi cần được chữa lành, ai không tự mình trở thành công chính, ai không có quyền hành Thiên Chúa, ai không đáng được làm bạn với Thiên Chúa, ai là người mà đức Giesu đến để kêu gọi họ thống hối.

     ĐÔI LỜI KẾT- KHOAN DUNG HƠN LUẬN PHẠT

    Đọc bài Tin Mừng hôm nay nói về lề luật, chúng ta nên coi lại Công Đồng Vatican II khai mạc ngày 11-10- 1962. Trong lời mở đầu, Đức Gioan XXIII nói rõ ràng ngài không kêu gọi Vatican II bào chữa cho những sai lầm hay làm sáng tỏ những điểm chính của giáo lý. Ngài nhấn mạnh, Giáo Hội ngày nay phải “ khoan dung hơn là luận phạt.”

     Gioan XXIII khi được yêu cầu, đã từ chối nghe ý kiến của những người chung quanh là những vị “luôn luôn tiên đoán về tương lai xấu.” Ngài goi họ là những “tiên tri bi quan”, thiếu cảm quan về lịch sử mà lịch sử là “thầy dạy đời sống”. Ngài quả quyết, sự quan phòng của Thiên Chúa đã dẫn thế giới đi vào một trật tự mới tốt đẹp hơn trong tình liên đới giữa loài người với nhau. “Và tất cả mọi sự, ngay cả những khác biệt của con người, đều dẫn đưa tới điều thiện vĩ đại hơn của Giáo Hội.”

    “Papa Roncalli” là con người, để ý đến niềm tin của mình hơn là hình ảnh của mình, đến những người chung quanh mình hơn là những ham muốn của mình. Với một nhiệt tình và viễn kiến truyền cảm, ngài nhấn mạnh Giáo Hội cần phải thích ứng với một xã hội đang thay đổi từng giờ và làm cho những sự thật thâm sâu nhất của Giáo Hội được sáng tỏ trong thế giới tân kỳ ngày nay. Ngài biết rằng luật mà không có tình thương, thiếu lòng trắc ẩn cảm thông thì không còn nhân tính.

     Papa Giovanni được vị kế tiếp là Gioan Phaolo II phong chân phước năm 2000, và năm 2014 được vinh thăng hiển thánh cùng với Gioan Phaolo II bởi đức Phan Sinh. Xin ngài tác động lên tâm hồn những Pharisieu và Sa Đốc tân thời là những vị đang sống và sống khỏe trong Giáo Hội và thế giới ngày nay!

    Về mục lục

     

    CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Trong đời sống hằng ngày của mỗi người chúng ta bị ảnh hưởng không ít thì nhiều bởi môi trường và bởi tình cảnh.   Những ảnh hưởng này rất cần thiết và hữu ích, chẳng hạn tại ngã tư đường đèn đỏ báo hiệu chúng ta biết phải dừng lại. Nếu không sẽ có thể đưa đến tai nạn lưu thông và hậu quả trầm trọng. Khi đi chợ hay đến những văn phòng, chúng ta phải xếp hàng chờ đợi.  Khi tới một nơi công cộng hay nhà thờ không được xả rác. Nếu chúng ta ý thức được điều đó thì sẽ bị coi là người kém hiểu biết, hay kém văn minh, nhất là trong xã hội Hoa kỳ này. Ngoài ra chúng ta còn bị chi phối bởi luật lệ của quốc gia, phong tục gia đình, luân lý của xã hội và luật lệ trong tôn giáo.  Như chúng ta đều biết, luật lệ cần thiết cho đời sống vì mục đích là bảo vệ những giá trị căn bản cho cá nhân, và bảo đảm cho chúng ta sự tự do và an toàn.

    Những bài Kinh thánh tuần này nhắc nhở và giúp chúng ta hiểu sự khác biệt và hiệu quả đưa đến từ những gì chúng ta tiếp nhận từ bên ngoài vào, và những hành động và thái độ phát xuất ra từ trong con người chúng ta.

    Bài đọc 1 nhắc nhở chúng ta về 10 điều răn của Thiên Chúa dạy, mục đích là hướng dẫn cuộc sống hằng ngày của chúng ta.  Nếu chúng ta tuân giữ và sống 10 điều răn Chúa dạy, chúng ta sẽ kết hợp mật thiết với Chúa và sống trong ơn sủng và bình an của Người.

    Trong bài Tin mừng, chúng ta thấy Chúa cảnh cáo những người Biệt phái đã giữ những điều luật rất tỉ mĩ, cặn kẽ, nhưng không chú ý đến ý nghĩa và giá trị tinh thần hay mục đích của việc giữ luật.  Họ giữ luật cặn kẽ cốt ý là tỏ ra mình là đạo đức trước mặt mọi người và để được người ta ca tụng. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã gọi họ là những người giả hình.  Giả hình hay giữ luật lệ một cách hình thức bề ngoài đều bị Chúa Giêsu lên án và Chúa không ngại ngùng thẳng thắn tuyên bố rằng: “Dân này kính ta ngoài môi miệng nhưng lòng chúng thì xa ta. Nó sùng kính ta cách giả dối.” //

    Thái độ đó của những người Biệt phái và luật sĩ ngày xưa có thể đang được tái diễn lại trong đời sống của người kitô hữu ngày nay, nhất là trong một xã hội chú trọng tới vật chất, tiền bạc và tự do cá nhân này.  Đây là điều mà chúng ta phải lưu ý. Khi nói đến đời sống tôn giáo, thông thường chúng ta nghĩ ngay đến một số các luật lệ và nghi thức, và chúng ta cũng thường có khuynh hướng đánh giá mức độ đạo đức, thánh thiện qua sự tham dự các lễ nghi, qua việc giữ các luật lệ hay đọc kinh.  Chính vì thế mỗi khi thấy người nào không giữ như chúng ta, chúng ta liền phê bình, chỉ trích và cho là “khô khan”  hay không đạo đức. Đó cũng chính là quan niệm của những người Biệt phái thời Chúa Giêsu, điển hình là khi thấy các môn đệ của Chúa Giêsu dùng bữa mà không rửa tay theo luật.

    Nếu chỉ chú ý tới giữ những nghi thức, tuân theo lề luật hay đọc kinh mà quên đi việc phải sống hy sinh, bác ái, quảng đại như Lời Chúa dạy trong cuộc sống hàng ngày thì phải thành thật thú nhận rằng cũng là điều mà tôi và quí ông bà anh chị em thường rất dễ mắc phải. Thực ra, thì tất cả chúng ta chẳng ai muốn sống giả hình hay hình thức, nhưng vì giữ những hình thức đó xem ra dễ hơn là sống những đòi hỏi, luật lệ của Chúa dạy, hơn nữa vì sống trong xã hội này, chúng ta muốn sống đạo theo phương cách, đường lối, luật lệ của chính chúng ta.  Do đó, chúng ta chỉ mới giữ đạo, chứ chưa sống đạo. Chúng ta chưa thật sự để Tin mừng của Chúa biến đổi cuộc sống của chúng ta, và cũng chính vì thế mà chúng ta vẫn còn phải nghe những nhận xét thật đau lòng của anh chị em chưa có đức tin, đó là: Tin đạo chứ không tin người có đạo.   Họ không tin chúng ta vì chúng ta chưa thật sự sống điều chúng ta tin, hay đời sống của chúng ta không phản ảnh những gì chúng ta tin.  Ngoài ra, nếu chỉ lo giữ những nghi thức bên ngoài, mà không có một tấm lòng chân thật bên trong, thì những nghi thức này sẽ còn dẫn chúng ta đến những thói xấu khác là kiêu căng, tự phụ, tự cao và dễ kết án người khác.

    Chúng ta biết những hình thức bên ngoài không phải là không cần thiết, nhưng những hình thức bên ngoài, muốn có giá trị và ơn ích, cần phải phát xuất từ tâm tình tốt bên trong.  Bởi vì nội tâm trong con người là nguồn mạch, căn nguyên của mọi hành động, việc làm và lời nói, cho nên nội tâm có tốt thì những hành động, lời nói, việc làm phát xuất ra từ đó mới tốt, mới có giá trị.

    Thật vậy, bài Tin mừng nhấn mạnh đến điểm quan trọng này: chính lòng con người là nguồn gốc của việc lành hay dữ, việc tốt hay việc xấu.  Đồng ý rằng chúng ta bị ảnh hưởng, chi phối, lôi cuốn, thúc đẩy của hoàn cảnh, nhưng thật ra thiện căn ở tại lòng của chúng ta. // Và cũng chính từ trong lòng này sinh ra 12 nết xấu mà Tin mừng kể ra là: ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loan, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng.

    Cho nên câu mà chúng ta thường nghe nói: “không gì xấu bằng lòng người’’ chưa hẳn quá đáng.  Ca dao tục ngữ của người Việt nam chúng ta cũng có câu nói về lòng dạ con người: “Sông sâu còn có thể dò, lòng người nham hiểm ai đo cho lường.”

    Vì thế, chúng ta phải gieo vào cánh đồng tâm hồn con người chúng ta những hạt giống tư tưởng tốt lành, những luật lệ điều răn của Thiên Chúa, thì mới sinh ra những hoa trái là những việc tốt lành, thánh thiện và hữu ích cho chúng ta và tha nhân.

    Ngày xưa Chúa Giêsu đã dùng lời ngôn sứ Isaia để trách dân Do Thái rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.  Thế thì chúng ta tự hỏi: “Phải chăng chúng ta cũng đáng bị trách như thế không?”  Xin Chúa giúp chúng ta từ bỏ những cách sống giả dối, hình thức bề ngoài. Vì chúng ta có thể giả hình, giả dối với người khác, nhưng không thể dấu được Thiên Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta có tâm hồn yêu mến và thành tâm lắng nghe và tuân giữ, sống luật Chúa dạy.

    Về mục lục

     

     

    ĐỨC TIN TINH TUYỀN

    Gm Giuse Vũ Văn Thiên

    Vài năm trở lại đây, cuộc sống kinh tế có phần cải thiện và những quy định khắt khe về tôn giáo cũng đã được tháo cởi, nhờ đó các cộng đoàn tín hữu có nhiều biến chuyển trong những thực hành đạo đức. Tuy vậy, tại một số nơi, điều được chú trọng hơn lại là những gì sầm uất bề ngoài. Những đội trống, đội kim nhạc, những hội đoàn đồng phục… càng ngày càng nhiều như trăm hoa đua nở, nhưng chiều sâu nội tâm và tình bác ái nội bộ lại bị coi nhẹ. Không ai phủ nhận giá trị của các hội đoàn nêu trên, vì những hội đoàn này là biểu tượng và bằng chứng cho đời sống Đức tin. Tuy vậy, nếu chỉ chú trọng đến bề nổi mà quên đời sống nội tâm thì lại là coi nhẹ điều chính mà chú tâm đến những điều phụ.
     
    Chúa Giêsu đã gay gắt lên án các kinh sư và những người biệt phái. Kinh sư và biệt phái là những người học hành uyên thâm, họ có uy tín trong các cộng đoàn Do Thái, và có vị trí quan trọng trong các buổi hội họp. Chính những “bậc vị vọng” ấy đang bị Chúa kết án nặng nề. Người mượn lời ngôn sứ Isaia để lên án họ là những “kẻ đạo đức giả”. Họ lạm dụng khái niệm thánh thiêng và trần tục, và đã tự đặt ra rất nhiều quy định rườm rà và tỉ mỉ. Những quy định này, thay vì giúp cho con người nên thánh, lại đặt trên vai họ những gánh nặng không kham nổi. Những công việc bình thường hằng ngày như rửa tay, rửa chén, rửa bát, họ đã biến thành những nghi thức tôn giáo để kết tội người dân. Họ coi thường những điều răn của Chúa để quá chú trọng đến những tập tục do chính họ đặt ra. Chúa Giêsu đã phê phán quan niệm ấy, và mời gọi họ chú trọng đến nhân vị, tức là chính con người. Bởi lẽ, những quy định, luật lệ được thiết lập là phục vụ con người và giúp họ hướng thượng và nên trọn lành.
     
    Với lời giáo huấn của mình, Chúa Giêsu đã đảo ngược quan niệm “thanh sạch và ô uế” của người đương thời. Trong khi những người này chủ trương những gì ở ngoài sẽ gây ô uế cho con người, Chúa Giêsu lại khẳng định, chính bên trong con người là nguồn gốc của sự ô uế và tội lỗi. Quả vậy, con người là nguyên nhân của biết bao tội lỗi từ khởi đầu của lịch sử cho đến ngày nay. Những tham vọng, ích kỷ và mưu mô từ bên trong con người đã gây nên biết bao đau khổ cho bản thân và cho những người xung quanh. Cuộc sống thường ngày của chúng ta đã chứng minh điều khẳng định của Chúa.
     
    Khi phê phán những biệt phái và luật sĩ, Chúa Giêsu mời gọi những ai nghe Người hãy đổi mới quan niệm của mình về việc thờ phượng, để có thể tôn thờ Chúa với tâm hồn ngay thẳng và với thiện chí sống tình bác ái với những người xung quanh. Một thứ thờ phượng môi mép giả hình sẽ biến người ta thành những con rối. Của lễ Chúa muốn, đó chính là tấm lòng chân thành và yêu mến dành cho Chúa, với thiện chí quyết tâm đổi mới cuộc đời.
     
    Biết bao lần chúng ta tham dự các nghi thức phụng vụ mà tâm hồn chúng ta xa Chúa. Có nhiều khi chúng ta giống như những người kinh sư và người biệt phái, chỉ chú trọng đến những nghi thức bề ngoài mà coi nhẹ tâm tình cầu nguyện, là điều cốt lõi để làm thành việc tôn thờ đích thực. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta: “Hãy khiêm tốn đón nhận Lời được gieo vào lòng chúng ta… Hãy đem Lời ấy ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Bài đọc II). Đối với thánh nhân, lòng đạo đức thật phải sinh ra hoa trái là lòng bác ái và dấn thân phục vụ người nghèo, giúp họ tìm được niềm vui trong cuộc sống.
     
    Vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã ban Lề Luật qua ông Môisen. Ngài ban Lề Luật để giúp họ nên thánh. Đây là niềm tự hào của dân tộc Do Thái, là dân riêng Chúa đã chọn. Ông Môisen kêu gọi người Do Thái hãy nhìn lại sự ưu ái của Chúa trong lịch sử, nhất là trong hành trình sa mạc để tiến về Đất hứa. Các dân xung quanh phải ghen tị, vì Chúa luôn ở với dân Ngài và hướng dẫn họ, nhờ đó, dân tộc Do Thái trở thành một “dân tộc vĩ đại, khôn ngoan và thông minh”. Các kinh sư và biệt phái đã chất lên vai người dân những gánh nặng của luật lệ, trong khi Chúa đã truyền qua ông Môisen: “Đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em”. Ngài cũng hứa ban hạnh phúc cho những ai chuyên tâm thực thi các thánh chỉ của Ngài. Chúa Giêsu đã đến trần gian để kiện toàn Lề Luật Cựu ước, và Người đã ban “giới răn mới” là đức yêu thương. Đây là giới răn quan trọng và cần thiết đối với mỗi tín hữu, vì “yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).
     
    Giữa biết bao trào lưu đang lôi cuốn con người ngả theo những hình thức đạo đức bề ngoài, xin Chúa cho chúng ta một Đức tin tinh tuyền, để luôn hướng về Chúa, một lòng bền vững tin yêu và thuộc trọn về Ngài.
     
    “Có đức tin là ký vào một tờ giấy trắng và để cho Thiên Chúa muốn viết gì vào đó tuỳ Ngài” (Thánh Augustinô).

    Về mục lục

     

    VỚI CẢ TÂM TÌNH

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Truyện thiền kể có hai nhà sư xuống núi. Dọc đường các ngài gặp một thiếu nữ đứng bên vũng nước sâu. Thiếu nữ muốn đi qua mà không sao đi được. Thấy vậy, một nhà sư liền bế thiếu nữ vượt qua vũng nước. Trở về gần đến chùa, nhà sư kia trách bạn: “Sao anh lại bế một thiếu nữ như thế?” Nhà sư trả lời: “Tôi đã để cô ta lại bên vũng nước, sao anh còn mang cô ta về đến tận chùa”.
    Câu chuyện ý nhị trên đã minh họa rõ nét về hai lối sống đạo. Lối sống đạo theo hình thức và lối sống đạo theo nội tâm. Nhà sư trọng hình thức không dám động đến thiếu nữ, nhưng tâm hồn ông lại nặng vấn vương. Thế mà ông vẫn yên tâm cho rằng mình đã giữ trọn luật giới sắc. Ông tự hào về mình và trách móc bạn đã vi phạm luật tu hành. Ông đã hoàn toàn giữ luật theo hình thức bề ngoài mà không xét đến nội tâm của mình.
    Những người Biệt phái và Luật sĩ trong đạo Do Thái cũng giữ đạo theo hình thức như thế. Họ rất trọng những lề luật theo hình thức bề ngoài. Họ cho rằng giữ những hình thức bề ngoài là đủ. Theo họ, đạo là lề luật. Giữ trọn lề luật là giữ đạo. Đặc biệt là luật thanh sạch. Người Do Thái có nhiều cấm kỵ ô uế. Bị coi là ô uế những người mắc bệnh phong, những người phụ nữ sau khi sinh con, người ngoại đạo. Ai tiếp xúc với những người ô uế sẽ bị lây nhiễm ô uế. Ngay cả những đồ vật bị người ô uế động đến cũng trở thành ô uế. Ai động đến những đồ vật đã bị ô uế cũng sẽ bị lây nhiễm ô uế. Ô uế là tội lỗi. Những người bị ô uế sẽ không được dâng lễ vật cho Chúa. Để tránh ô uế, người Do thái luôn rửa tay, rửa bát bên ngoài cho sạch.
    Đức Giêsu chê trách họ là giả hình. Vì họ chỉ lo giữ sự trong sạch bề ngoài mà không lo giữ sự trong sạch bề trong. Họ lo rửa tay chân mà không lo rửa lương tâm. Họ sợ tiếp xúc với người bệnh nhưng họ vẫn ấp ủ những ý đồ xấu xa trong tâm hồn. Có lần Đức Giêsu đã sánh ví họ với những mồ mả, bên ngoài thì tô vôi, sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương cốt hôi hám xấu xa.
    Vì quá chú trọng đến những luật lệ tỉ mỉ bên ngoài, họ biến đạo thành một mớ những nghi thức trống rỗng vô hồn. Đọc kinh cho đủ bổn phận mà không cầu nguyện. Ăn chay để giữ đúng luật hơn là để hạn chế tính mê tật xấu. Làm việc bác ái để phô trương hơn là để chia sẻ với người anh em cơ nhỡ. Tệ hại nhất là họ giữ đạo mà không thật lòng yêu mến Chúa. Nên hôm nay, Đức Giêsu đã nặng lời chỉ trích họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta”.
    Những hình thức bên ngoài không phải là không cần thiết. Nhưng những hình thức bên ngoài, muốn có giá trị, cần phải phát xuất từ tâm tình bên trong. Nội tâm con người là nguồn mạch của mọi hành vi. Nội tâm có tốt thì hành vi mới tốt. Nội tâm có chân thật thì hành vi mới có giá trị
    Đạo Chúa không phải là hình thức. Đạo Chúa là tình yêu. Tình yêu chân thật phát xuất từ đáy lòng. Giữ hình thức mà không có tình yêu thì chưa phải là giữ đạo. Làm những việc lớn lao mà không có tình yêu cũng chỉ là vô ích, như lời thánh Phaolô dạy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi”.
    Vì thế, khi làm việc gì, điều cần thiết là cho cử chỉ phản ánh trung thực tâm hồn. Tất cả mọi việc làm lời nói ra bên ngoài phải phát xuất từ tâm hồn chân thực. Nhất là phải làm sao cho mọi nghi thức tôn giáo phát nguồn từ trái tim yêu mến chân thành. Việc từ thiện phải phát nguồn từ một tình yêu mến huynh đệ, thành thực muốn chia sẻ. Lời cầu nguyện phải phát xuất từ một trái tim yêu mến của người con hiếu thảo đối với Cha trên trời. Việc ăn chay phải khởi đi từ ý muốn chế ngự các nết xấu. Nghi thức thanh tẩy phải cử hành trong tâm tình sám hối. Có như thế, khi môi miệng đọc kinh, lòng ta mới gần gũi Chúa. Khi ăn chay, tâm hồn ta mới tan nát vì tội lỗi. Khi làm việc bác ái, ta tránh được thói phô trương. Khi rửa tay, tâm hồn ta mới được thanh tẩy nên trong trắng.
    Với tất cả tâm tình, những nghi thức mới trở nên có hồn, thành thực. Với tất cả tâm tình, ta mới thực sự sống đạo. Với tất cả tâm tình, đạo mới đưa ta đến gần Chúa.
    Lạy Chúa, xin ban cho con thêm lòng yêu mến Chúa.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
    1) Rửa tay hay rửa linh hồn, điều nào quan trọng hơn?
    2) Điều gì quan trọng nhất trong đạo? Làm những việc phi thường hay là mến yêu Chúa và yêu thương anh em?
    3) Bạn thường đi lễ cho đầy đủ bổn phận hay đi lễ vì yêu mến Chúa?
    4) Bạn làm việc thiện vì yêu mến người nghèo hay vì muốn khoe khoang?

    Về mục lục

     

     

    CÁI NÀO QUAN TRỌNG

    Gm. Arthur Tone

    Khoảng 2 giờ, một buổi sáng lạnh và gió lớn, chuông điện thoại nhà xứ reo, có tiếng hốt hoảng la lên: “Tôi tưởng ông ngoại qua đời”. Vì chỉ cách 2 căn phố. Cha Murray đi bách bộ, khi ngài qua một ngõ hẻm, chợt xuất hiện một bóng hình cầm cây súng bước tới truyền lệnh: “Đưa tiền đây!”. Vị linh mục nói với người cầm súng: “Ví của tôi để ở trong túi áo khoác”. Khi ngài mở nút áo khoác để lấy ví, để lộ chiếc cổ áo Roma. Kẻ cướp ấp úng: “Ôi con không biết cha là linh mục, con xin lỗi, cha cất tiền đi”. Bình tĩnh lại vị linh mục đưa cho y một điếu thuốc xì gà, nhưng y lắc đầu: “Không, cám ơn cha, trong mùa chay con không hút thuốc”.

    Kẻ cướp đường đã hành động như một người Biệt phái. Người Biệt phái giữ hết sức chi tiết những điều lệ nhỏ nhặt của luật Do Thái, trong khi đó lại bỏ bê những giới răn quan trọng. Đó là lý do Đức Kitô khiển trách họ. Họ ghét Chúa Giêsu vì Người đe dọa địa vị của họ, như những người lãnh đạo tôn giáo. Họ dò xét Chúa, cố gắng bắt bẻ Người trong lời nói. Họ chỉ trích Người đã hòa mình với người thu thuế và tội lỗi. Người đã bỏ qua lệ rửa tay chân như trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ nói Chúa Giêsu không thể tha tội. Người dùng quyền lực của quỷ mà trừ quỷ. Họ làm điều lành chỉ cốt cho người ta thấy.

    Ngày nay còn người Biệt phái không? Bất hạnh thay, vẫn còn. Đây là một vài kiểu Biệt phái tân thời: Những người Công giáo lẫn lộn những cái không quan trọng với cái thật sự quan trọng.

    Giả sử tôi nói với một người nào đến trễ lễ: “Bạn bất lịch sự”. Chắc người ấy cho rằng bị xỉ nhục. Nhưng vì lỗi mình, đến lễ trễ, là một sự xúc phạm đến Chúa, làm lo ra những người trong nhà thờ và cho vị chủ lễ. Có người mỉm cười với bất kỳ ai gặp trong nhà thờ, dĩ nhiên điều đó tốt. Nhưng họ không nói một lời với Chúa trên bàn thờ cũng như đi dự đại tiệc, chỉ nói chuyện với mọi người, trừ ông chủ tiệc. Cái nào quan trọng?

    –   Có những người Công giáo và những người khác nữa, họ không nghĩ rằng họ sẽ tổ chức hay dự một bữa tiệc nêu có một vết nhơ trên bàn, hay trên dĩa hoặc trên quần áo của họ. Nhưng ngôn ngữ của họ không phải chỉ có vết nhơ, mà nó thật sự thô bỉ, một sự thô bỉ bên trong hơn là bên ngoài như Chúa Giêsu đã chỉ rõ trong bài Tin Mừng hôm nay.

    –  Có người trong chúng ta ra ngoài thì hoang phí, rộng rãi với anh bồi ở quán rượu, hào phóng với cô chaỵ bàn; nhưng lại rất keo kiệt với người thân thương, và với Chúa.

    Nhiều người không bao giờ quên câu nói: “Xin vui lòng, cám ơn, xin lỗi”, khi ở ngoài gia đình. Nhưng giữa những người thân yêu, ít khi bạn nghe được những từ quan trọng ấy. Bạn có thể nghĩ đến những hoàn cảnh, trong đó bạn phải sạch sẽ, lịch sự, hào hiệp, chỉ khi nào những hoàn cảnh đó được trình diễn trước mặt mọi người, để đạt được tín nhiệm hoặc tránh khỏi phê bình. Hãy cố gắng đừng làm Biệt phái.

    Cám ơn Chúa vì phần lớn những người chân thành, họ đặt người khác và sự vật vào đúng vị trí trật tự của nó. Như đặt Thánh Lễ lên đầu bảng danh sách những việc quan trọng.

    Xin Chúa chúc lành bạn.

    Về mục lục

     

     

    ĐỪNG BẤT CÔNG VỚI LINH HỒN

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Con người có hồn và xác. Đẹp thân xác là một vinh dự. Đẹp tâm hồn là một hồng ân. Thật quý biết bao nếu con người biết trau truốt cả tâm hồn lẫn thân xác! Người đẹp từ thể xác đến tâm hồn thì đáng giá hơn muôn ngàn vàng bạc. Nhưng tiếc thay, con người dường như chỉ làm đẹp thân xác mà quên làm đẹp tâm hồn.
    Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Một nhà kia có hai người con. Người con út được cha mẹ đem hết lòng yêu thương chăm sóc: cho ăn, cho mặc, cho học hành, cho thuốc men, cho tiêu xài thoải mái, cho tất cả những gì nó muốn và không từ chối nó bất cứ điều gì.
    Trong khi đó, đứa con cả không được cha mẹ đoái hoài: không được nuôi ăn, chẳng được cấp dưỡng chút gì, bị cha mẹ bỏ mặc như thể nó không hề có mặt trên đời, mặc dù nó không làm điều gì sai trái.
    Cha mẹ phân biệt đối xử như thế là quá bất công, đáng bị lên án. Nếu chúng ta ở vào địa vị người cha người mẹ trên đây, chắc chắn không bao giờ chúng ta đối xử bất công như thế.
    Thế nhưng, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có “hai người con” trong đời mình, đó là linh hồn và thân xác. Thân xác này nay còn mai mất thì được nhiều người chăm sóc chiều chuộng tối đa, còn linh hồn trường sinh bất tử thì chẳng được đoái hoài.
    Xem ra người ta luôn chiều chuộng thân xác, kể cả những điều tội lỗi trụy lạc. Xem ra người ta luôn dành mọi thời giờ cho thân xác, và cứ như thế hết tháng nầy qua tháng khác, hết năm nầy qua năm kia.
    Trong khi linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài! Đó là một bất công không thể chấp nhận được và mang lại hậu quả đau thương cho cuộc sống mai sau, vì không sớm thì muộn, cái chết cũng sẽ đến để cướp hết những gì người ta đang có và hủy hoại thân xác ra không. Cuối cùng thân xác con người chỉ là một nhúm bụi đất còn linh hồn thì phải trầm luân muôn đời muôn kiếp.
    Qua sứ điệp Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su kêu gọi mọi người hãy đối xử công bằng với linh hồn mình. Đừng như những người Do Thái quá chú trọng đến sự sạch sẽ thân xác mà xem thường sự trong sạch tâm hồn. Họ giữ luật vụ hình thức nên chỉ chú trọng bề ngoài mà quên gìn giữ vẻ đẹp của tâm hồn. Chúa Giê-su cho họ thấy rằng: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu : tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”
    Ước gì chúng ta hãy để cho Lời Chúa sửa lòng mình, để bên trong lẫn bên ngoài được tốt đẹp. Đó là điều mà Chúa muốn chúng ta hãy để cho Chúa uốn nắn, sửa dạy nên tốt hơn. Xin đừng chú tâm đến vẻ đẹp thân xác mà quên để Chúa uốn nắn thêm xinh tươi cho tâm hồn. Amen

    Về mục lục

     

     

    CAO CẢ VÀ BI ĐÁT

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Thánh với phàm, thiêng với tục là những phạm trù tôn giáo mà mọi thời và mọi nơi đều biết đến.

    Cái thánh thiêng là cái cao cả siêu việt, khác lạ, đáng kính và nhiều khi đáng sợ.

    Cái phàm tục là cái thông thường, cái tầm thường, nhiều khi còn có thể đáng khinh và bị coi là ô uế dơ dáy.

    Trong các tôn giáo sơ khai, cái thánh thiêng hiện diện ở khắp nơi trong mọi sự từ núi cao đến sông dài, từ đền thờ tới gốc đa, gốc đề, từ tượng thần đến cái bình vôi, từ cá sấu đến các tinh tú.

    Trái lại, ngày nay trong thế giới tục hoá, mọi sự đều được giải thiêng, chẳng có gì thánh thiêng ngoài khoa học thực nghiệm duy lý với các định luật, các công thức.

    Trong tiếng Do thái,Thánh có nghĩa là tách biệt. Cái linh thiêng là cái gì tách biệt khỏi cái thường ngày, tách khỏi cái tầm thường thông tục.Cái thánh thiêng là cái gì khác lạ cao xa, ở bên ngoài, ở bên kia, ở bên trên cái thông thường. Do đó,Thiên Chúa được gọi là Đấng Thánh, bởi vì Người cao cả, siêu việt tuyệt đối khác lạ. Người là Đấng siêu việt. Đấng cao cả, linh thiêng phải ngự ở những nơi linh thiêng cao cả. Đó là những ngọn núi thánh, những Đền thờ, những nơi tách biệt khỏi chốn phàm trần. Những người được tuyển chọn để phục vụ Đấng Thánh cũng phải là những người tách biệt khỏi người phàm. Hàng Tư tế trong dân Do thái chỉ được chọn từ chi tộc Lêvi. Họ phải là những người không tỳ vết, không tật nguyền, phải giữ những luật lệ khắt khe hơn người thường.Tất cả những gì dành riêng cho Đấng Thánh, những gì được coi như thuộc về Người, đều là những cái thánh: núi thánh, đền thánh, nơi thánh, ngày thánh, đồ vật thánh. Phạm đến những cái đó là phạm đến chính Đấng Thánh.

    Quan niệm linh thánh như vậy muốn tách biệt cái thánh thiêng ra khỏi cái phàm tục.Từ đó người ta đẩy xa Đấng Thánh ra khỏi cuộc đời và ngày càng đóng khung Người vào trong phạm vi của núi thánh, Đền thờ, nơi thánh, nơi cực thánh. Không gian của Người ngày càng bị thu hẹp lại.

    Dân Israel được gọi là Dân Thánh, dân riêng của Chúa, thuộc về Chúa. Họ tự coi mình là sở hữu Thiên Chúa: Người là của riêng họ, thuộc về họ. Dân Israel chờ đợi một vị thiên sai ngự đến trong cung thánh đền thiêng.

    Trong một thế giới mà cái thánh thiêng và cái phàm tục được xác định rạch ròi tỉ mỉ như thế, chúng ta mới thấy việc Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Thánh làm người, một người phàm ở giữa những người phàm gặp phải sự chống đối quyết liệt.

    Ngay từ giây phút nhập thể, Đức Giêsu đã không đến trong Đền thờ mà lại đến trong căn nhà nhỏ bé ở Nazareth. Thiên Chúa làm người trong lòng một thôn nữ vô danh đối với người Do thái. Rồi khi chào đời, Người đã lấy chuồng bò lừa làm nhà ở, lấy máng cỏ làm nôi, lấy những kẻ mục đồng vốn bị người Do thái coi là uế tạp làm bầu bạn.Trong suốt cuộc đời, Đức Giêsu sống như một người tầm thường giữa những người nghèo khổ, đồng hành ăn uống với những người bị coi là tội lỗi, thâu nhận người thu thuế làm môn đệ.

    Trang Tin mừng hôm nay kể về một sự kiện trong chuỗi những chống đối quyết liệt đó. Các Biệt phái Kinh sư trách các môn đệ Đức Giêsu không rửa tay trước khi ăn. Rửa tay trước khi ăn, đối với người Do thái là một quốc tục, một thánh lệ. Các người Pharisiêu và Kinh sư nói riêng và dân Do thái nói chung, thường rất khắt khe với tục lệ này. Họ cho đó là một nghi thức truyền thống quan trọng phải tuân giữ triệt để, chứng tỏ mình thanh sạch trước mặt mọi người. Vì thế, họ chất vấn Đức Giêsu: Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay mà dùng bữa?

    Đức Giêsu đã cho biết thế nào là sạch thế nào là dơ, thế nào là thánh thiêng, thế nào là phàm tục. Của ăn được nấu chín là sạch. Cái làm cho dơ đó là lòng người. Cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay dữ, tốt hay xấu, sạch hay dơ.

    Có câu chuyện trong sách Tông đồ công vụ (10,11-16). Vào trước giờ ăn trưa, Thánh Phêrô cầu nguyện và xuất thần: “Ông thấy trời mở ra và một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, đang được thả xuống, trong đó có mọi giống vật bốn chân, rắn rết và mọi thứ chim trời. Có tiếng phán bảo ông: Phêrô, đứng dậy làm thịt mà ăn! Phêrô thưa: lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô uế và không thanh sạch. Có tiếng phán với ông lần thứ hai: những gì Thiên Chúa tuyên bố là thanh sạch, ngươi đừng gọi là ô uế. Việc đó xảy đến ba lần, và lập tức vật ấy được đưa lên trời.”. Như vậy những gì Thiên Chúa sáng tạo đều là sạch, con người không thể coi là nhơ bẩn.

    Đức Giêsu bác bỏ hoàn toàn quan niệm về sạch dơ của người Do thái. Đối với Người, không có gì bên ngoài lại làm cho con người ra dơ trước mặt Thiên Chúa. Cái gì dơ, cái gì tội lỗi chính là từ trong lòng người mà phát xuất ra. Đó là: tà dâm, trộm cắp giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác xảo trá, trác táng, ganh tị, kêu ngạo, ngông cuồng.Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế.

    Người đời đã phải than thở rằng : “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho tường”; “Lòng người thăm thẳm mù khơi, không bờ không bến biết nơi nào dò”. Tục ngữ có câu: “Khẩu Phật tâm xà” hay “ Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm” để diễn tả hạng người mang mặt nạ che dấu lòng dạ ác độc bên trong, loại người mà “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”.

    Một trong những đặc trưng của kỹ thuật hiện đại là kỹ thuật làm đồ giả. Chân giả, tay giả, tóc giả, lông mi giả, hoa giả, trái cây giả…. Những thứ giả ấy đi vào cả những sinh hoạt thiêng liêng như mâm ngũ quả, hoa nến nhang đèn đều giả… Mức độ “giả” còn tinh vi nên lắm khi cái giả xem ra còn đẹp hơn cái thật, khó mà phân biệt được thực hư, tốt xấu. Nhưng tệ nhất vẫn là thứ “Giả nhân giả nghĩa”, thứ “giả hình” mà Chúa đã nặng lời khiển trách (Mt 23,13-29). Thánh Gioan đã lật tẩy: “Ai nói rằng mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1Ga 2,4); “Ai bảo mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (Ga 4,20).

    Cõi lòng hay thế giới nội tâm làm cho con người nên cao cả nhưng nó cũng làm nên sự bi đát. Cao cả và bi đát đan xen trong lòng người như ánh sáng và bóng tối.

    Con người nên cao cả là nhờ thế giới nội tâm với tư duy, cảm xúc, phân tích, đúc kết, kinh nghiệm… Nhờ có thế giới nội tâm mới có khoa học, có sáng tạo văn hoá nghệ thuật. Cũng chính cái thế giới nội tâm này làm cho con người trở nên bi đát. Bề ngoài và bề trong liên quan với nhau và tác động lẫn nhau, nhưng về mặt luân lý đạo đức, bề trong mới là phần quyết định. Chỉ có con người mới có giả hình, lừa đảo, gian dối, mưu mô, thủ đoạn. Đức Giêsu đã nhận xét: “ Không phải những gì từ bên ngoài vào làm cho người ta ra ô uế, nhưng từ trong lòng mới xuất phát những cái làm cho người ta ra ô uế” (Mt 15,19).

    Đức Giêsu nhấn mạnh sự thanh tẩy từ bên trong. Người chẳng phản đối chuyện rửa tay. Người chỉ phê bình thói hình thức bên ngoài. Điều quan trọng là rửa cõi lòng. Cái ô uế thực sự đáng sợ không đến từ việc đụng chạm hay ăn uống mà nó lại nằm trong lòng người. Nó không từ ngoài vào mà từ bên trong ra.

    Đối với Đức Giêsu, yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bên ngoài. Ý hướng bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài có gía trị hay không. Đức Giêsu luôn sống tình thương với mọi người, luôn “chạnh lòng thương”.Tình thương chính là sự thánh thiện. Tình thương là thanh sạch. Đấng Thánh hôm nay có tên gọi là Tình Thương.Tình thương là chia sẽ, là hiệp nhất. Sự thánh thiện của Đức Giêsu luôn rộng mở lan toả hương thơm tình thương, thanh sạch.

    Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có viết trong cuốn “Giọt máu” một câu rất sâu sắc “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa. Đấy là chí thánh”.Tác giả hiểu ý nghĩa của từ chí thánh theo đúng những gì là phàm tục, thế gian là cõi hồng trần bụi bặm. Cái chí thánh chính là dìm mình, hoà vào trong bùn lầy, trong tội lỗi để làm cho từ vũng bùn lầy, từ vực thẳm tội lỗi ấy nở hoa, rực lên sự thánh thiện. Tôn giáo nhắm trực tiếp vào nội tâm con người, vì thế có lẽ nó còn hữu hiện hơn xã hội rất nhiều trong việc chế ngự cái xấu, cổ vũ cái tốt. Bởi vì tôn giáo chân chính nào cũng đều kêu gọi, động viên, giáo dục con người làm lành lánh dữ, vươn lên làm chủ phần hạ đẳng nơi mình để thăng hoa phần cao thượng trong sáng. Người ta có thể không sợ dư luận hay luật pháp (vì còn có thể che dấu luồn lách), nhưng một khi đã tin vào Ðấng Linh Thiêng và nếu đó là một niềm tin sống động, người ta khó có thể không sợ sự phán xét của lương tâm và nhất là của Ðấng họ thờ kính.

    Thường thì khi vừa sinh ra, người ta có cái tâm hồn hậu nhưng cái trí dại khờ. Càng lớn lên, trí càng khôn ngoan nhưng tâm càng vẩn đục. Đi cho trọn đường trần là trí học biết được càng nhiều càng tốt những khôn ngoan mà tâm vẫn giữ được cái hồn hậu của tuổi ấu thơ.

    Đối với người Kitô hữu, nếu như xã hội mong muốn và chờ đợi chúng ta sống đạo đức một, thì chính Chúa còn đòi buộc chúng ta phải “thánh thiện” trăm ngàn lần hơn:”Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện” (Mt 5,48); “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian…Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mắt thiên hạ, để họ nhìn thấy công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời” (Mt 5,14.16).

    Con người sống ở đời cần có một tấm lòng, một trái tim yêu thương chân thành. Thiên Chúa đã ra lệnh truyền cho con người: “ Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31). Người còn phán: “Ta sẽ thanh tẩy các ngươi, Ta sẽ ban cho các ngươi môt trái tim mới” (Ed 36,25). Một trái tim mới biết yêu thương hay một tấm lòng để người ta sống tốt đẹp với nhau.

    Tình thương của Chúa Giêsu là tình thương cứu thế, muốn thanh tẩy con người tội lỗi, rửa sạch tâm hồn và trao ban sự sống mới.

    Trong đời sống tâm linh, người Kitô hữu cần phải tu dưỡng cái tâm, phải có tâm ngay lành, luôn tôn trọng sự công bằng, yêu thương mọi người. Cần có một tấm lòng, tâm tốt thì mọi việc làm sẽ đẹp lòng Chúa.

    Người Kitô hữu mỗi ngày đến nhà thờ dự tiệc Thánh Thể. Đưa tay đón nhận Bánh Thánh là đón nhận tình thương và thanh sạch của Chúa.Bàn tay đón nhận Bánh Thánh cũng là bàn tay bác ái yêu thương góp phần thánh hoá trần gian.

    Về mục lục

     

     

    VỆ SINH

    Trầm Thiên Thu

    Vệ sinh (*) là “bài học” chúng ta được học từ những năm đầu đời, thậm chí ngay khi chúng ta còn nằm nôi. Đơn giản là chính “cô giáo” mẹ đã dạy chúng ta nên làm thế này, đừng làm thế kia.

    Vệ sinh là vấn đề giản dị mà quan trọng, liên quan nhiều vấn đề khác, thậm chí liên quan cả “chuyện sinh tử”. Câu “ăn bẩn sống lâu” chỉ là nói đùa hoặc biện hộ cho thói ở bẩn của mình mà thôi.

    Nói về vệ sinh, ai cũng chỉ nghĩ tới sự sạch sẽ. Tuy nhiên, như vậy mới ĐÚNG và ĐỦ, ở dạng cơ bản, chứ chưa trọn vẹn. Vệ sinh không chỉ là giữ SẠCH SẼ, như vậy vẫn là tiêu cực, mà phải giữ cho KHÔNG BẨN, đó mới là tích cực. Vấn đề vệ sinh liên quan tình trạng SẠCH và BẨN, bao gồm các quy tắc giữ gìn sạch sẽ cơ bản nhất của con người – như vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh để đề phòng bệnh tật, bảo vệ và tăng cường sức khỏe.

    Người ta tắm rửa hằng ngày để loại bỏ chất bẩn và vi khuẩn – các tế bào chết đó được chúng ta gọi là “ghét”. Vâng, chúng nó đáng “ghét” thật. Việt ngữ độc đáo quá chừng! Không chỉ vậy, người ta còn phải giữ vệ sinh nhiều thứ khác như đánh răng, cạo râu, đi vệ sinh đúng chỗ, ăn mặc sạch sẽ,… Việc giữ vệ sinh được dạy từ rất sớm, điều đó dần dần trở thành một tập tính. Người ăn ở không vệ sinh sẽ gây “dị ứng” với người khác, và còn nguy hiểm là mắc bệnh – tự làm khổ mình.

    Vệ sinh cần được giữ gìn trong nhiều dạng: vệ sinh thể lý, nhà cửa, vệ sinh môi trường, vệ sinh xã hội, vệ sinh giáo dục, vệ sinh âm nhạc, vệ sinh văn chương, vệ sinh tâm lý, vệ sinh tinh thần, vệ sinh linh hồn,… Trái ngược với sạch sẽ là dơ bẩn, mất vệ sinh. Tương tự, bẩn cũng có nhiều dạng và nhiều mức độ: Ô nhiễm môi trường là bẩn, ô nhiễm không khí là bẩn, ô nhiễm thực phẩm là bẩn, ô nhiễm nguồn nước là bẩn, ô nhiễm quản lý là bẩn, ô nhiễm tư tưởng là bẩn, ô nhiễm ánh mắt là bẩn, ô nhiễm lương tâm là bẩn, ô nhiễm giáo dục là bẩn, ô nhiễm âm nhạc là bẩn, ô nhiễm văn chương là bẩn,… Ô nhiễm nào cũng bẩn, cũng xấu, cũng có hại!

    “Laudato Si’, mi’ Signore! – Chúc Tụng Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” là lời của Thánh Phanxicô Assisi, và cũng là lời mở đầu Tông thư Laudato Si’ của ĐGH Phanxicô (ký ngày 24-5-2015; thông điệp thứ hai của ngài sau Thông điệp Lumen Fidei – Ánh Sáng Đức Tin). Tông thư này nhắc chúng ta về “ngôi nhà chung” là Trái Đất, mệnh danh là “Hành Tinh Xanh”. Gần 800 năm trước, Thánh Phanxicô Assisi đã khéo léo nhân cách hóa khi gọi Hành Tinh Xanh là Chị Đất (Bài Ca Mặt Trời, Thánh Phanxicô Assisi sáng tác lời năm 1226, và được cố Nhạc sư Hùng Lân phổ nhạc năm 1982 với tựa đề “Bài Ca Vạn Vật” ( click nghe).

    Thông điệp này có sức ảnh hưởng đáng kể đến các quốc gia và các tổ chức. Thật vậy, vì ai cũng đã và đang trải nghiệm về tình trạng khủng hoảng môi trường – lũ lụt, động đất, sóng thần, el niño, la niña,… Và kể từ năm 2015, ngày 1-9 trở thành Ngày Chăm Sóc Thiên Nhiên. Bảo vệ thiên nhiên là bảo vệ công trình sáng tạo của Thiên Chúa, là bảo vệ chính mình, và đó cũng chính là trách nhiệm của mỗi chúng ta: Tạ lỗi Thiên Chúa và xin lỗi thiên nhiên.

    Sách Đệ Nhị Luật xác định rằng giữ luật Chúa là khôn ngoan: “Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em. Anh em đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em” (Ðnl 4:1-2). NGHE và THỰC HÀNH là “khoảng cách” vừa gần vừa xa. Thật vậy, khoảng xa nhất không phải từ chỗ chúng ta đứng tới một nước khác, tới cung trăng hoặc sao Hỏa, mà “khoảng cách xa nhất là từ miệng tới tay”. Lạ thật, mà cũng khó thật!

    Kinh Thánh cho biết thêm: “Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoanthông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói: ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh!’. Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?” (Ðnl 4:6-8).

    Những câu hỏi nhẹ nhàng mà vẫn đủ sức xoáy sâu vào tâm khảm. NGHE rồi mà có HIỂU hay không, HIỂU rồi mà có LÀM hay không, những “khoảng” rất nhỏ hẹp mà sao vẫn xa xăm và mông mênh quá, cứ “đi” rồi “đi” mãi mà vẫn chưa tới đích. Nói suông luôn dễ hơn làm thật, chỉ tay ra lệnh bao giờ cũng dễ hơn làm trước để nêu gương!

    Nghe và thực hành lời Chúa mới đích thực là người khôn ngoan và thông minh, và có thể vào Nhà Chúa và lên Núi Thánh của Ngài. Khó quá nhỉ! Vậy ai mới được vào ngụ trong Nhà Chúa và được ở trên Núi Thánh? Kinh Thánh liệt kê danh sách rõ ràng: “Là kẻ sống vẹn toàn, luôn làm điều ngay thẳng, bụng nghĩ sao nói vậy, miệng lưỡi chẳng vu oan, không làm hại người nào, chẳng làm ai nhục nhã, coi khinh phường gian ác, trọng ai kính Chúa Trời, lỡ thề mà bị thiệt thì cũng chẳng rút lời, cho vay không đặt lãi, chẳng nhận quà hối lộ mà hại đến người ngay. Phàm ai làm những điều này không hề nao núng chuyển lay bao giờ” (Tv 15:2-5). Ui da! Nhưng biết sao được, ai cũng phải rá… á… áng hết sức mà thôi! Không cố gắng vào Nhà Chúa và lên Núi Thánh thì đi mô bi chừ – đi đâu bây giờ?

    Muốn thì chắc chắn ai cũng muốn “được vào Nhà Chúa”, nhưng thiếu ơn Chúa thì chúng ta cũng đành “bó tay” mà thôi. Vâng, ơn Chúa vô cùng cần thiết, vì Chúa Giêsu đã xác nhận: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Thật vậy, Thánh Giacôbê đã phân tích rạch ròi: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng. Người đã tự ý dùng Lời Chân Lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thọ tạo của Người” (Gc 1:17-18).

    Về chuyện “nói và làm”, Thánh Giacôbê cho biết: “Hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình” (Gc 1:21-22). Rõ ràng là hành động luôn có giá trị hơn lời nói. Như một điều kiện ắt có và đủ, ở một chỗ khác, Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:17 và 26). Ai cũng ghét lời nói suông, nhưng có bao nhiêu người chứng tỏ bằng việc làm?

    Về lòng đạo đức, Thánh Giacôbê giải thích: “Có lòng đạo đức tinh tuyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian” (Gc 1:27). Đến nhà thờ là điều tốt, nhưng đừng tưởng như vậy là đạo đức, là thánh thiện, nếu không chú ý hành động. Đừng “ảo thuật” như David Copperfield, nghĩa là đừng “tàng hình”, đừng chỉ là con chiên ngoan khi ở trong nhà thờ rồi hóa thành cọp dữ khi ở ngoài nhà thờ.

    Tin Mừng hôm nay đề cập vấn đề tranh luận về những truyền thống của người Pharisêu. Họ chỉ chú trọng bề ngoài mà coi thường bề trong, lấy cái PHỤ làm cái CHÍNH, hiểu nghĩa đen mà không hiểu nghĩa bóng. Họ và một số kinh sư đến từ Giêrusalem. Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. Người Pharisêu và người Do-thái giữ truyền thống của tiền nhân là nhất định “không ăn gì khi chưa rửa tay cẩn thận”, thức gì mua ngoài chợ về cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. Đúng là “hình thức áp bức nội tâm, ngoại tại làm hại nội tại”. Sai bét nhè mà cứ tưởng mình ngon lành. Dốt mà chảnh, thích khoe mẽ văn chương. Làm lớn mà làm láo. Chết chắc!

    Người Pharisêu và kinh sư hỏi vặn Chúa Giêsu về chuyện các môn đệ không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa. Đúng là ngu mà tưởng mình ngon, lo vệ sinh bề ngoài mà mất vệ sinh tâm hồn. Bẩn hết sức mà vẫn mạo nhận là mình sạch sẽ, hôi rình mà ngỡ mình thơm tho.

    Nghe vậy, Chúa Giêsu thản nhiên trả lời họ: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7:6-8).

    Vậy cái gì làm cho con người ra ô uế? Cần hiểu hai dạng ô uế cơ bản: ô uế thể lý và ô uế tinh thần. Tố cáo nhóm Pharisêu và kinh sư xong, Chúa Giêsu gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:14-15). Ngài nói “toạc móng heo” luôn, nhưng Ngài vẫn tế nhị dùng từ ngữ. Khi Đức Giêsu đã rời đám đông mà vào nhà, các môn đệ hỏi Ngài về dụ ngôn ấy, Ngài nói: “Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao? Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:18-19). Ui da, các môn đệ bị Thầy rủa là “ngu tối”. Đau lắm, nhưng đáng lắm. Phải nói thẳng, nói thật như vậy mới được “sáng mắt, sáng lòng”.

    Từ cái bẩn thể lý tới cái bẩn linh hồn, tức là tội lỗi, Chúa Giêsu lý giải: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7:21-23). Quả thật, mất vệ sinh tinh thần và linh hồn mới thực sự đáng sợ, chứ sự mất vệ sinh thể lý chỉ là “chuyện nhỏ” mà thôi. Thể lý bẩn thì tắm rửa bằng nước và xà bông. Xong! Nhưng tâm linh bẩn thì chỉ có thể “tắm” bằng hồng ân, phải thành tâm dìm mình trong Biển Tình của Lòng Chúa Thương Xót.

    Kể cũng lạ, có những người rất bẩn mà vẫn ảo tưởng cho là mình sạch. Có những tư tưởng bẩn thỉu và hôi thối mà vẫn được lưu truyền, phát tán. Dạng này nguy hiểm vô cùng, nguy hiểm theo cấp số nhân, vì họ không chỉ “duy trì” cái bẩn cho chính mình mà còn gây ô nhiễm cho người khác. Người bẩn mà không bẩn, người sạch lại bẩn, đôi khi càng có chức có quyền càng bẩn!

    Ô nhiễm nhất và bẩn nhất chính là TỘI LỖI. Thiên Chúa vô cùng ghê tởm dạng ô uế này. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ, và đem lòng kính sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn” (2 Cr 7:1). Tuy nhiên, chúng ta không thể tự rửa sạch, mà phải cầu xin để được Thiên Chúa rửa sạch: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).

    May thay, chúng ta được phép tẩy rửa chính mình trong Máu và Nước tuôn trào từ Thánh Tâm Đức Giêsu Kitô ngay trên Đồi Sọ. Hãy chân thành sám hối: “Pater, peccavi – Thưa Cha, con đã phạm tội”. Chắc chắn Thiên Chúa vẫn đại lượng và tha thứ, vì Chúa Giêsu đã hứa với Thánh nữ Maria Faustyna Kowalska (1905-1938): “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới” (Nhật Ký, số 1485). Xin tạ ơn Thiên Chúa muôn đời! Hãy cùng nhau bảo vệ môi trường thiên nhiên và môi trường tâm linh: Xin chúc tụng Thiên Chúa! – Laudato Sí!

    Lạy Thiên Chúa từ nhân chí thánh, xin thanh tẩy hồn xác con nên trinh trong dù tội con đỏ như máu, xin giúp con thuộc lòng bài học vệ sinh linh hồn và biết giữ vệ sinh tâm linh cho chính con và cho người khác. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    (*) Khái niệm “vệ sinh” được xác định là sử dụng lần đầu trong tiếng Anh vào khoảng năm 1677. Chữ “vệ sinh” (hygiene) bắt nguồn từ tiếng Pháp “hygiène”, vốn là phiên bản của Tây phương từ Hy ngữ là ὑγιεινή (τέχνη) – hugieinē (technē), nghĩa là “nghệ thuật của sức khỏe”. Từ ὑγιεινός (hugieinos) là “khỏe mạnh”, chữ ὑγιής (hugiēs) là “lành mạnh, có lợi”. Trong tôn giáo Hy Lạp cổ đại, Hygeia (Ὑγίεια) là nữ thần đại diện cho sức khỏe, sự sạch sẽ.

    Về mục lục

     

     

    ĐƯỜNG HAY PHÁO ĐÀI

    Văn Hào, SDB

    Có một Rabbi Do Thái tên là Agiba, bị giam trong một trại tù ở Rôma. Ông rất trung thành với lề luật và truyền thống tổ tiên để lại. Tù nhân vẫn được cho ăn uống tử tế và đầy đủ, nhưng chỉ một thời gian ngắn, sức khoẻ ông bị giảm sút nghiêm trọng. Sau một thời gian theo dõi, giám thị trại giam đã tìm ra nguyên nhân. Lý do đơn giản, vì phạm nhân đã dùng hầu hết số nước được cấp phát thay vì uống, lại để rửa tay trước khi ăn. Cơ thể ông ta thiếu nước một cách trầm trọng. Vị Rabbi Do Thái này đã cương quyết tuân thủ lề luật bằng bất cứ giá nào.

    Giai thoại trên do tác giả Barlay kể lại, dẫn chúng ta đi vào bối cảnh câu chuyện được trình thuật trong Tin mừng hôm nay. Những người biệt phái tỏ ra rất khó chịu khi thấy các môn đệ Đức Giêsu dùng bữa mà không rửa tay trước. Câu trả lời của Đức Giêsu mời gọi chúng ta phải canh tân nội tâm để thực hiện những giới luật của Thiên Chúa. Chúng ta đừng bao giờ tỏ ra xơ cứng, chỉ thỏa mãn trên việc thực thi lề luật cách máy móc theo hình thức bên ngoài.

    Lex Occidit (chữ viết luật lệ thì giết chết)

    Trong các sách Tin mừng nhất lãm, các thánh ký khá nhiều lần thuật lại sự đối kháng giữa Đức Giêsu và các đầu mục Do Thái, đặc biệt nhóm biệt phái. Trình thuật trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ điển hình. Những người biệt phái “nhắc khéo” Chúa Giêsu: “Tại sao môn đệ ông không rửa tay trước khi ăn?”. Có lẽ lời nhắc nhở này phát xuất từ lòng thương hại của họ hơn là để phê phán hay chỉ trích. Đối với họ, phải giữ lề luật cách cẩn trọng và tỉ mẩn, con người mới trở nên công chính và thánh thiện. Cũng vậy, có lần họ thấy những học trò của Chúa Giêsu bứt lúa để ăn cho đỡ đói trong ngày hưu lễ. Họ bực bội khó chịu, và không thể chấp nhận một hành vi phạm luật như thế. Ngày Sabat theo luật viết, là một ngày để nghỉ ngơi, không được làm bất cứ công việc gì. Nhóm biệt phái còn soạn thảo thêm 36 chi tiết tỉ mỉ, nêu ra những điều cấm kỵ tuyệt đối không được đụng tay vào trong ngày hưu lễ. Gặt lúa bị nghiêm cấm, quạt thóc cũng không, ngay cả nấu nướng cũng chẳng được phép làm. Họ tự nghĩ ra những rào cản rất vô lý, không những để tự trói buộc mình, mà còn chất bao gánh nặng lên vai người khác. Chúa Giêsu phản kháng hoàn toàn. Ngài chống đối kịch liệt, và cao điểm nhất, Ngài kết án thái độ giả dối của họ một cách thẳng thừng. Thánh Matthêu đã liệt kê 7 điều “chúc dữ” Chúa đã nói một cách gay gắt nhắm vào họ, không một chút khoan nhượng. “Khốn cho các ngươi, các kinh sư và các Pharisiêu giả hình, các ngươi khóa cửa nước trời không cho ai vào. Các ngươi làm bộ để nuốt hết tài sản của các bà góa.. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bề ngoài ra vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác…”(xem Mt 23,13-32).

    Xem ra mũi dùi tấn công của Chúa Giêsu nhắm vào họ quá cứng rắn và đanh thép, biểu tỏ một thái độ bất nhân nhượng, không thể chấp nhận. Nhưng Chúa có lý do. Ngài ghét cay ghét đắng những con người giả dối chỉ biết giữ lề luật một cách cứng ngắc và giả dối bề ngoài, còn tâm hồn bên trong lại rỗng tuếch. Ngài khẳng định rằng, Ngài đến không phải để hủy bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn, tức mặc cho lề luật một chiều kích nội tâm. Biệt phái ngày xưa đã hết từ lâu, nhưng kiểu cách biệt phái vẫn còn nơi cuộc sống chúng ta, nơi từng mỗi giáo dân, đặc biệt nơi anh em linh mục hay tu sĩ. Chúng ta giữ ngày Chúa nhật bằng việc lê xác tới nhà thờ cho có lệ, nhưng tâm hồn vẫn để ở đẩu ở đâu. Chúng ta vẫn ăn chay kiêng thịt vào ngày hội thánh buộc, bao tử có thể trống rỗng và đói cồn cào, nhưng tâm hồn lại chất đầy hận thù và tham lam bẩn thỉu. Chúng ta đến nhà thờ đấm ngực thật to và cùng đọc với mọi người : lỗi tại tôi, lỗi tại tôi.., nhưng vừa bước chân ra bên ngoài, chúng ta lại đấm lộn qua ngực người khác bằng cách chỉ trích hết người này, đến kết án người nọ. Việc tuân thủ lề luật một cách xơ cứng và vô nghĩa như thế có khác gì thái độ của những người Pharisiêu năm xưa. Quả thật, Lex Occidit, luật lệ cứng ngắc sẽ giết chết chúng ta.

    Spiritus Vivificat (tinh thần lề luật mới làm cho sống)

    Tuân giữ lề luật một cách máy móc sẽ giết chết, sẽ nhấn chìm chúng ta trong bóng tối của mù lòa, nhưng thực thi tinh thần lề luật sẽ làm cho chúng ta sống. Đây là điều Thánh Phaolô đã khẳng quyết trong thư Rôma. Thánh giáo phụ Irênê cũng nói “ Vinh quang của Thiên Chúa là con người chúng ta được sống”, hoặc tác giả sách Khôn ngoan cũng diễn tả: “Thiên Chúa chẳng vui gì khi thiên hạ tiêu vong” (Kn 1,13). Đức Giêsu đến trần gian để cho chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10,10). Vì muốn chúng ta được sống, nên Đức Giêsu đã mặc cho lề luật một chiều kích nội tâm. Ngài gọi mời chúng ta đi vào tinh thần lề luật để được sống. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô đã khẳng định khá nhiều lần: “ Anh em cần phải cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần lề luật, chứ không phải theo chữ viết của lề luật (Rm 2,29b)”. “Chúng ta phục vụ Thiên Chúa theo tinh thần mới, chứ không theo bản văn cũ của lề luật (Rm 7,6). Cuối cùng, thánh tông đồ đã tóm kết toàn bộ lề luật vào một định thức giản đơn. Ngài viết “ Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13.16).

    Như vậy, tinh thần của lề luật, chính là tình yêu. Trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu đã chuyển giao cho các học trò lề luật mới này: “ Thầy để lại cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”. Lề luật mà Đức Giêsu thiết định bằng máu Ngài đổ ra trên Thập giá chính là tình yêu, tình yêu mà Ngài đã thực thi như một nguyên mẫu. “Anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em.”

    Nói tóm lại, không phải Đức Giêsu đả kích lề luật cũ của cựu ước, nhưng Ngài kiện toàn và nội tâm hóa lề luật, đồng thời Ngài mời gọi chúng ta đi vào cốt lõi của lề luật, đó là thực hành yêu thương.

    Thiên Chúa thấu rõ tâm hồn mỗi người. Thánh Augustinô đã thưa với Chuá: “ Lạy Chúa, Ngài biết rõ con hơn cả chính con biết con”. Chúng ta không thể giấu diếm Thiên Chúa được một điều gì. Thiên Chúa không bao giờ đo đếm những thành tích đạo đức bề ngoài để đánh giá con người chúng ta, nhưng Ngài thấu tỏ mọi bí ẩn trong tâm can từng người. Thước đo duy nhất để Ngài định giá chúng ta chính là thước đo tình yêu. Những biệt phái ngày xưa, bề ngoài rất đạo đức, không chê vào đâu được : “Lạy Chúa, con ăn chay mỗi tuần 2 lần, con dâng cúng một phần mười huê lợi của con…”, nhưng Chúa nói thẳng vào mặt họ: “ Đồ giả hình và gian ác” (Mt 23,30). Chúng ta hãy lục soát lương tâm để xem có bao giờ Chúa phải nói với chúng ta như thế hay không?

    Cha Anthony de Mello, một tu sỹ dòng Tên đã viết một câu chuyện khá ý nghĩa. Một ông vua nọ chơi bời tác tráng, cả ngày chỉ nhậu nhẹt và lao đầu vào những cuộc ăn chơi trụy lạc, chẳng lo gì cho dân. Khuôn mặt của ông lúc nào cũng đỏ gay và sặc sụa mùi rượu. Một bữa nọ, nhà vua cưỡi ngựa đi ra ngoài thành. Ông gặp một tu sỹ già khuôn mặt nhợt nhạt xanh xao, áo quần lôi thôi lếch thếch. Nhà vua dừng lại và trịch thượng chào vị tu sỹ với giọng điệu mỉa mai: “ Xin chào ông tu sỹ. Nhìn áo quần nhàu nát và khuôn mặt cáu bẩn của ông, tôi thấy ông chẳng khác gì một con heo”. Vị tu sỹ cúi đầu lắng nghe, gương mặt bình thản và cũng chẳng tỏ vẻ khó chịu chút nào. Một lát sau, ngài ngẩng đầu lên, nhìn chăm chú vào đức vua và đáp lễ: “ Thần xin cám ơn bệ hạ, còn bề tôi thấy khuôn mặt đức vua giống như một vị thánh”. Nhà vua kinh ngạc hỏi lại: “ Ta miệt thị ngươi, ngươi không buồn cũng chẳng giận, còn khen ta có khuôn mặt giống một vị thánh, tại sao thế?. Vị tu sỹ điềm nhiên và thong thả trả lời: “Tâu đức vua, một con người sống với trái tim và tâm hồn của loài heo, nhìn thấy ai cũng giống heo. Ngược lại, một con người có tâm hồn và trái tim của một ông thánh, sẽ thấy mọi người giống các vị thánh. Nói xong vị tu sỹ lặng lẽ bỏ đi còn nhà vua đứng chết lặng.

    Chúng ta giữ đạo và giữ luật với trái tim của loài heo hay của một ông thánh? Chúng ta tuân thủ các điều luật trong giáo hội với tâm hồn của những người Pharisiêu năm xưa hay với trái tim nhân hậu của của Chúa Giêsu? Chúng ta hãy tự lục soát lương tâm và nhìn thẳng vào nội tâm chính mình để tìm câu trả lời.

    Đường hay pháo đài?

    Đây là tựa đề của một quyển sách do Nguyễn Ngọc Lan biên soạn. Ông là một cựu tu sỹ Dòng Chúa Cứu Thế, đã suy tư và viết cuốn sách này năm 1972. Trong tác phẩm, ông đặt vấn đề với tất cả chúng ta, đạo Công giáo là đường hay pháo đài? Pháo đài là một thứ lô cốt cứng ngắc chúng ta chui vào đó để cố thủ, để ôm giữ. Nếu chúng ta chỉ giữ đạo một cách khô cứng với những lề luật hình thức bên ngoài, chẳng khác nào chúng ta đang khăng khăng ôm giữ một pháo đài. Điều đó cũng giống như những anh chàng Hồi giáo IS quá khích ngày nay quyết giữ bom trong mình để liều chết. Còn nếu chúng ta không phải giữ đạo mà sống đạo, thì đạo đích thực là một con đường. Con đường trước mắt luôn mở rộng thênh thang để chúng ta bước đi, đi đến gặp gỡ Thiên Chúa và đi đến gặp gỡ anh em. Đạo công giáo của Chúa Giêsu là đường, chứ không phải pháo đài.

    Kết luận

    Nếu bình thản đọc lại bộ giáo luật 1983, chúng ta thấy ngay từ lời tựa đầu tiên, Giáo hội đã đưa ra những tiêu chí chung cho tất cả 1752 khoản luật viết trong đó. Tiêu chí đó là: “ Để giúp việc chăm sóc các linh hồn, không chỉ là đức công bằng, nhưng luôn phải dành chỗ cho đức ái, tiết độ, nhân đạo…Vì thế, các mục tử nên loại bỏ các khoản quá cứng ngắc. Hơn nữa, mỗi khi không cần những khoản luật nhằm phục vụ công ích và kỷ luật chung của Giáo hội, chỉ nên sử dụng lời khuyên hay khuyến cáo mà thôi”. Chúng ta hãy đọc kỹ lại những hướng dẫn này.

    Lời nhắc nhở này dành cho mọi tín hữu, đặc biệt cho các anh em linh mục là những “người quản lý các mầu nhiệm Thiên Chúa”(1 Cor 4,1-2), để trong công việc mục vụ, chúng ta luôn mang chở nơi mình một trái tim giống trái tim của Vị Mục Tử Nhân Lành, là nguyên mẫu cho tất cả chúng ta.

    Về mục lục

     

     

    CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị thân mến. Chúng ta nhận thấy nhiều Ki-tô hữu giới hạn đạo vào việc có tên vào trong danh sách giáo xứ, hay thờ phượng trong nhà thờ, như đi tham dự Thánh lễ mỗi tuần, hay chỉ chịu phép rửa tội để có danh hiệu Kitô hữu. Và chúng ta cũng nhận thấy ngày nay có nhiều biến chuyển thay đổi trong đời sống Ki-tô hữu. Nhưng người Ki-tô hữu chân chính phải có một đời sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, cũng như sống giới răn Chúa dạy trong đời sống hàng ngày. Nếu tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa, thì chúng ta phải tuân giữ giới răn của Người, phải là một chi thể sống động trong Thân Thể Chúa Ki-tô, cũng như chu toàn sứ vụ rao giảng Tin mừng và xây dựng Nước Chúa.  Mỗi bài đọc Kinh thánh Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta một khía cạnh của việc sống đức tin, sống đạo.

    Trong Bài Đọc I, chúng ta thấy ông Môi sen đưa ra những lý do để kêu gọi con cái Israel phải tuân giữ giới răn của Thiên Chúa. Thứ nhất, ông dạy cho dân biết rằng giới răn phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng duy nhất biết những gì tốt lành cho con người. Thứ hai, Thiên Chúa ban giới răn vì yêu thương. Ông Môi sen cho dân biết đây là một đặc quyền cao quí nhất, chỉ dành cho Dân Riêng của Thiên Chúa. Thứ ba, vì là giới răn của Chúa, cho nên không ai được thêm vào hay bớt đi. Và lý do thứ tư là phải sống giới răn Chúa vì là điều kiện phải có để được vào Đất Hứa. Vì vậy, ông nhắc nhở họ, giới răn Chúa ban không phải để học thuộc lòng, cũng không để đóng khung thờ lạy, nhưng phải thực hành, để được liên kết mật thiết với Chúa và được Người hướng dẫn và che chở trong cuộc hành trình.

    Trong Bài Đọc II, chúng ta nghe thánh Giacôbê chú trọng đặc biệt đến việc nghe và thực hành những lời Chúa dạy. Ngài khẳng định Lời Chúa là sự thật và ban sự sống. Ngài nhấn mạnh lắng nghe và sống Lời Chúa phải đi đôi với nhau, cũng như hành động và lời nói của Ki-tô hữu phải đồng nhất. Một người không thể tách rời niềm tin ra khỏi những việc làm hay lối sống. Hay nói một cách khác, hành động hay lối sống của chúng ta không thể nào đi ngược lại, hay đối nghịch với đức tin của chúng ta. Chúng ta cần biết qua cộng đồng các tín hữu thời sơ khai. Nhiều người lầm lẫn về sự chỉ dạy của thánh Phaolô, nhất là trong Thư gởi tín hữu Rôma và Galata, khi ngài nói: con người được trở nên công chính nhờ niềm tin vào Đức Kitô. Họ cắt bỏ cả câu văn và chỉ chú trọng vào câu này, cho nên họ nói chỉ cần niềm tin vào Đức Kitô là đủ, việc làm không quan trọng, vì nó không ảnh hưởng đến sự cứu độ của con người. Chúng ta thấy ngày nay, vẫn còn nhiều anh chị em thuộc giáo phái Tin Lành và nhiều Ki-tô hữu chủ trương sống theo lối sống này. Đây là một cách cắt nghĩa sai lầm lời Chúa, vì Đức Kitô và thánh Phaolô không chủ trương và dạy bảo như thế. Thánh Giacôbê cũng phải đương đầu với ý kiến như thế trong cộng đoàn của ngài. Trong một đoạn thư khác, ngài còn nhấn mạnh hơn nữa: “Đức tin không việc làm là đức tin chết.” Thánh Gia-cô-bê xác quyết rằng Lời Thiên Chúa là chân lý và là sự thật, giúp chúng ta biết phân biệt sự thật khỏi những sự gian trá làm mê hoặc tâm hồn con người. Cũng một ý với ông Môi sen trong Bài Đọc I, thánh Giacôbê khuyên các tín hữu hãy đem Lời Chúa ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, nhân cơ hội những người Pha-ri-siêu kêu trách các môn đệ của Chúa Giêsu về việc không tuân giữ những lề luật về việc thanh sạch bên ngoài, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta 3 điều quan trọng. Điều quan trọng thứ nhất, đừng thờ phượng Thiên Chúa bằng môi miệng bên ngoài. Chúa thấu suốt những gì trong tâm hồn con người chúng ta. Chúng ta có thể lừa dối người đời bằng lối sống giả hình bên ngoài, nhưng không bao giờ dấu diếm, qua mặt được Thiên Chúa. Điều quan trọng thứ hai, đừng vịn vào truyền thống để thay thế giới răn của Thiên Chúa. Một điều qua trọng chúng ta phải chú ý ở đây là Chúa Giê-su không đến để hủy bỏ truyền thống, nhưng Ngài muốn dạy chúng ta phải đặt giới răn của Thiên Chúa lên trên mọi luật lệ và truyền thống của con người. Khi nào có sự xung đột giữa giới răn của Thiên Chúa với luật lệ hay truyền thống của con người, thì người Ki-tô hữu phải can đảm tuân giữ giới luật của Thiên Chúa. Và điều quan trọng thứ ba, thanh tẩy tâm hồn bên trong cần thiết hơn tẩy sạch đồ dùng bên ngoài. Chúa nói cùng đám đông dân chúng “Hết thảy hãy nghe và hiểu rõ lời Ta. Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế.” Điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là chúng ta phải chú trọng đến việc thanh tẩy trong tâm hồn, vì hậu quả của tội lỗi làm con người trở nên ô uế trầm trọng hơn sự ô uế do đồ ăn thức uống gây ra. Những kinh-sư và biệt-phái chú trọng đến việc thanh tẩy bên ngoài để che đậy những ô uế trong tâm hồn, vì họ nghĩ không ai có thể thấy những gì họ giấu kín bên trong, nhưng họ không thể giấu diếm được Thiên Chúa, Người có thể thấu suốt mọi bí ẩn trong tâm hồn của họ.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta hãy tự hỏi cái gì trong cuộc đời này đáng sợ nhất? Có nhiều câu trả lời khác nhau như khủng bố, bệnh hoạn, vv. Nhưng với đa số đó là: cái lưỡi và cái tôi. Trong ca dao Việt Nam có câu “Lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo.” Thật vậy, chỉ có ba tấc lưỡi thôi mà làm cho cuộc sống của bao nhiêu người phải đau khổ. “Cái tâm hay cái tôi” của con người là căn rễ của mọi điều thiện ác, tốt xấu, ngay thẳng gian dối. Nếu cái tôi tốt, thì có những suy nghĩ tốt, sẽ có lời nói và hành động tốt. Và nếu cái tôi xấu, thì sẽ dễ tuôn ra nhưng lời nói và hành động xấu hay lối sống gian dối.

    Chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta đến và thờ phượng Chúa trong Thánh lễ hôm nay với một tâm hồn, và với một tình yêu mến Chúa chân thật. Có một niềm tin vững chắc vào giới răn, Lời Chúa dạy là chân lý, là sự thật, đem lại bình an, hạnh phúc và ban sự sống đời đời, để chúng ta can đảm sống giới răn của Chúa, cũng như có đời sống Ki-tô hữu chân chính. Xin Chúa cũng ban cho chúng ta sự khôn ngoan, biết dùng lời nói và việc làm để ca tụng ngợi khen Chúa và để làm đẹp lòng và sáng danh Chúa, cũng như tạo sự yêu thương và hiệp nhất, an ủi, khích lệ và hy vọng.

    Về mục lục

     

    BIẾN THÁI TRONG ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Chúng ta thấy hiện nay, nhiều hoạt động văn hoá lễ hội tại Việt Nam đang trong tình trạng hết sức lộn xộn và bị biến thái. Các nhà quản lý hầu như không quản lý nổi nên họ để mặc các lễ hội tự do tự phát. Vì thế, các lễ hội văn hoá tôn giáo tâm linh ngày càng mang tính chất kinh doanh và đáp ứng những nhu vật chất, bình dân mê tín. Người ta chú trọng nhiều đến yếu tố thu lợi hơn là giá trị văn hoá tôn giáo. Ví dụ, ngày Giỗ tổ Hùng Vương được coi như ngày quốc lễ, nhưng việc tổ chức nhắm đến kinh doanh hơn là tâm tình biết ơn tổ tiên. Người ta khoe mẽ những chiếc bánh chưng bánh dày to kỷ lục, nhưng nhân bên trong thì bằng giấy vụn, hoặc đồ giả. Cùng với hình thức bên ngoài là tình trạng buôn thần bán thánh, cầu lộc cầu tài để thu tiền.

    Tình trạng biến thái trong đời sống đạo cũng rất dễ xảy ra khi con người không bám sát chuẩn mực của Đấng Sáng lập, khi muốn thêm những ý kiến cá nhân vào các chuẩn mực đó, tạo ra những hình thức dễ dãi đáp ứng cho đám đông. Thời Chúa Giêsu cũng đã xảy ra tình trạng biến thái trong đời sống đạo nơi những người Do Thái, đặc biệt nơi những người có trách nhiệm. Hôm nay Tin Mừng cho thấy, các Pharisiêu chú trọng đến những chi tiết của luật, họ trách môn đệ Chúa Giêsu không giữ luật, không rửa tay rửa chén.

    Khi trách các môn đệ của Chúa, thầm hiểu là họ muốn trách cả Chúa Giêsu là người không giữ luật lệ của tiền nhân, không biết dạy các học trò của mình. Rửa tay trước khi ăn theo tục lệ do Thái, không phải là việc rửa tay giữ vệ sinh khi ăn, mà là rửa tay theo nghi lễ, có tính cách tượng trưng. Người Do Thái quan niệm rằng chỉ có người Do Thái mới là tinh sạch, còn các dân khác đều là ô uế, vì thế, khi ra đường về, họ phải tắm rửa vì sợ đã đụng chạm tới dân ngoại. Khi ăn, họ rửa chén bát vì sợ bám bụi của dân ngoại, rau thịt mua ở chợ về cũng phải thanh tẩy như vậy.

    Có một thực tế là những Pharisiêu chuyên tâm giữ chi tiết của lề luật, nhưng điều chính yếu họ lại không giữ. Hơn nữa, họ giữ lề luật đến từng chi tiết không phải vì họ tin yêu Thiên Chúa cho bằng muốn thể hiện khả năng và sự đạo đức của mình. Họ cho rằng họ có khả năng giữ mọi điều Chúa truyền và khi chu toàn chi tiết như thế, Thiên Chúa sẽ mắc nợ những công phúc của họ. Như vậy, họ giữ luật không phải vì Thiên Chúa mà vì bản thân mình. Chúa Giêsu đã không chấp nhận lối sống giả hình như thế, Ngài không muốn một lối sống đạo hình thức bên ngoài nhưng vô hồn, trống rỗng bên trong. Ngài không muốn giữ luật chỉ vì sợ luật, nhưng Ngài muốn mọi người tôn trọng lề luật vì lòng yêu mến thúc đẩy.

    Chúa Giêsu đã trích sách Isaia để cảnh báo họ : Dân này tôn kính ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa ta. Thiên Chúa là Cha yêu thương, Ngài muốn chúng ta đến với Ngài trong tâm tình của người con thảo đến với cha mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta giữ luật để hoàn thiện bản thân và để sống xứng với tư cách là con Thiên Chúa, chứ không muốn những hình thức giả trá bên ngoài. Ngài muốn chúng ta đến với Chúa bằng tấm lòng tin kính mến yêu, chứ không như dân ngoại đến với thần linh của họ như để đút lót, mua chuộc thần linh.

    Cũng dịp này, Chúa Giêsu sửa lại suy nghĩ của người Do Thái khi nói : Điều làm cho con người ra ô uế không phải từ cái chén, cái bình hoặc mớ rau con cá, mà cái làm cho con người ra ô uế là những cái phát xuất từ bên trong con người. Từ suy nghĩ sai, tư tưởng xấu sẽ dẫn đến hành động xấu ; từ những tư tưởng tà dâm, gian tham, độc ác, xảo trá, ganh tị, kiêu ngạo, ngông cuồng trong tâm hồn sẽ làm ô uế tâm hồn con người. Khi những tư tưởng này thể hiện ra bên ngoài qua hành động, nó sẽ là những hành động ô uế và gian ác. Nói như thế, Chúa Giêsu cho thấy việc tẩy rửa bên ngoài chén bát hoặc rửa tay trước khi ăn, không quan trọng cho bằng việc tẩy rửa tâm hồn. Việc đến với Thiên Chúa bằng tâm hồn đơn sơ, trong sạch thì đẹp lòng Chúa hơn là những nghi lễ rườm rà, hình thức bên ngoài. Việc chu toàn giới răn lề luật vì lòng yêu mến Thiên Chúa thì tốt hơn là hình thức bên ngoài.

    Ngày xưa, biết lòng dân hay thay đổi, ông Môsê cũng đã từng cảnh báo Israel : Anh em hãy nghe những thánh chỉ của Thiên Chúa và đem ra thực hành để được sống và được vào đất Chúa hứa. Đừng thêm gì cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa. Hãy giữ và đem ra thực hành, nhờ đó anh em được các dân tộc coi là khôn ngoan. Cũng cùng tư tưởng ấy, thư Giacôbê nhắn nhủ : Anh em hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em, lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Hãy đem lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.

    Lời Chúa hôm nay cảnh báo chúng ta về sự biến thái trong đời sống đức tin. Chúng ta thường tự hào mình là đạo gốc, đạo dòng trong khi nhiều người đã rơi vào lối sống hình thức như các người biệt phái. Nhiều người chỉ còn giữ đạo theo hình thức bên ngoài mà không có tâm tình bên trong. Nhiều người đã thích giữ những tập tục mà không hề hiểu ý nghĩa của việc mình làm, nhiều người khác lại coi trọng những điều tuỳ phụ mà bỏ qua những điều chính yếu. Nhiều tín hữu tin Chúa, theo Chúa theo kiểu cha truyền con nối, nhưng đời sống kém xa các tân tòng và người ngoại đạo. Nhiều Kitô hữu tin Chúa nhưng không hiểu biết giáo lý và Tin Mừng. Vì thế, họ sống chỉ với hình thức mà không thực sự có lòng yêu mến bên trong. Họ thích những cuộc kiệu linh đình nhưng bỏ qua việc cầu nguyện, dâng lễ và rước lễ. Bên cạnh đó, nhiều Kitô hữu cho rằng đạo mình khó, nên họ đi tìm một lối sống đạo dễ dãi, chấp nhận bắt tay thoả hiệp với các hình thức ngoại giáo, an phận với một vài thói quen nào đó.

    Sự biến thái trong đời sống đạo còn thể hiện nơi đời sống cộng đoàn khi chúng ta chỉ chú tâm vào những phô trương cờ quạt, kèn trống, nhưng lại quên việc canh tân, chỉnh sửa đời sống, lơ là trong việc xây dựng đời sống đạo trưởng thành và tình bác ái. Nhiều cộng đoàn bên ngoài sinh hoạt rất rầm rộ, nhưng bên trong thiếu sức sống và nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, thiếu tình bác ái và sự sẻ chia. Nhiều người sống trong cộng đoàn đòi hỏi quyền lợi cho mình cho gia đình, nhưng lại tránh né, không chu toàn trách nhiệm với cộng đoàn.

    Chúng ta có thể dễ dàng vỗ ngực xưng mình là người Công giáo, nhưng trong đời sống gia đình, trong xóm ngõ, nhiều người sống không khác gì dân ngoại. Khi phải chọn lựa giữa lề luật Thiên Chúa và tiền bạc danh vọng, nhiều người đã nhắm mắt bước qua luật Thiên Chúa chỉ vì một chút lợi lộc hoặc một chút khó khăn. Nhiều người vẫn đến nhà thờ, vẫn đọc kinh dâng lễ, nhưng ra khỏi nhà thờ thì sống chanh chua lươn lẹo, nuôi trong mình sự thù ghét, oán hận không xứng là người Công giáo.

    Lời cảnh báo này cũng là lời cảnh báo các linh mục chúng tôi. Chúng tôi thường bị cám dỗ chạy theo những hình thức tổ chức bên ngoài mà quên xây dựng đời sống tâm hồn của mình và của tín hữu. Chúng tôi cũng bị cám dỗ thích những cuộc lễ hoành tráng bên ngoài nhưng không đọng lại gì bên trong tâm hồn sau buổi lễ. Chúng tôi còn bị cám dỗ ghi danh, ghi công của mình trên các công trình, mà quên làm cho danh Chúa được vinh quang. Có khi chúng tôi lo kêu gọi người khác sám hối nhưng bản thân lại ngại thay đổi. Nhiều người trong anh em linh mục tu sĩ, vẻ bên ngoài rất đạo mạo, giảng dạy rất hùng hồn, nhưng đời sống thì lại khác xa với lời rao giảng.

    Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho từng người, cần xem xét và điều chỉnh lại tương quan của mình đối với Chúa. Chúng ta đang theo Chúa vì mục đích gì ? Chúng ta chu toàn luật Chúa vì yêu mến Chúa hay vì lý do nào khác ? Chúng ta đang sống, đang làm việc và phục vụ vì động lực nào thúc đẩy ? Có phải vì tình yêu đối với Thiên Chúa hay vì danh tiếng cá nhân ? Amen.

    Về mục lục

     

    THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI CÓ LÒNG ĐẠO ĐỨC THỰC SỰ

    Lm. Đan Vinh – HHTM

    I- HỌC LỜI CHÚA

    1/ TIN MỪNG: Mc 7,1-8.14-15.21-23

    (1) Có những người Pharisêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến. (2) Họ thấy một vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. (3) Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống tiền nhân: Họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; (4) thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng.  (5) Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?” (6) Người trả lời họ: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. (7) Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.- (8) Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm”… (14) Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ: (15) Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được. Nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế… (21) Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, (22) ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. (23) Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế”.

    2/ Ý CHÍNH

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tranh luận với các người Pharisêu và kinh sư, về việc “thanh sạch” và “nhơ uế” theo Lề Luật. Đức Giêsu đã dùng lời ngôn sứ Isaia để phê phán thứ tôn giáo hình thức vụ luật của các người Pharisêu và kinh sư. Họ lầm lạc khi bỏ thi hành giới răn Thiên Chúa để tuân giữ cặn kẽ tập tục của loài người. Theo Người, lòng đạo đích thực không dựa trên việc làm hình thức theo Luật, nhưng ở tại tâm tình mến Chúa khi làm các việc ấy.

    3/ CHÚ THÍCH

    – C 1-2: + Những người Pharisêu: Pharisêu hay Biệt phái là “Những kẻ sống tách biệt”. Thành viên trong nhóm phần đông là thường dân thuộc giai cấp trung lưu. Tuy nhiên cũng có một số tư tế, Lêvi và kinh sư. Thời Đức Giêsu, nhóm này được dân chúng kính trọng vì có đời sống đạo đức gương mẫu. Họ thường thành lập những cộng đoàn nhỏ, chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và tuần giữ cặn kẻ mọi điều Luật Môsê dạy, Họ tin kẻ chết sống lại, có thiên sứ và quỷ thần, trái với người phái Xađốc (x. Cv 23,7-8). + và kinh sư: Kinh sư hay luật sĩ là những nhà chuyên môn về Thánh kinh vì nghiên cứu Thánh kinh kỹ lưỡng và lâu dài. Số ít trong nhóm kinh sư là tư tế, nhưng phần lớn là thường dân ủng hộ lập trường của nhóm Pharisêu. Họ có uy tín và ảnh hưởng lớn trong dân. Các kinh sư là người giải thích và áp dụng Luật Môsê vào đời sống của dân chúng. Các kinh sư cùng với thượng tế và kỳ mục là ba thành phần trong Thượng hội đồng Do thái tại Giêrasalem (x. Cv 23,6). + Về quan hệ giữa Đức Giêsu với các người Pharisêu và kinh sư: Nói chung Tin mừng phê phán mạnh mẽ các người Biệt phái và kinh sư: Gioan Tẩy giả gọi họ là “nòi rắn độc”, do thái độ cố chấp không chịu hồi tâm sám hối để sinh hoa trái của họ (x. Mt 3,7-10). Đức Giêsu đòi môn đệ phải công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu (x. Mt 5,20). Người đã kiện toàn Luật Môsê và sửa đổi các lời giải thích hẹp hòi vụ Luật của họ về sự giận ghét tha nhân (x. Mt 5,21-26), về tội ngoại tình (x. Mt 5,27-30) về việc ly hôn (x. Mt 5,31-32), về sự thề thốt ( Mt 5,33-37), về sự trả thù (x. Mt 5,38-40) và cách đối xử với kẻ thù (x. Mt 5,43-48). Đức Giêsu cũng quở trách họ về nhiều tật xấu như: tự mãn về công đức của mình (x. Lc 18,9-14), khinh thường tha nhân (x. Mt 9,10-13), khinh “dân đen” không biết Luật (x. Ga 7,49), nói mà không làm (x. Mt 23,2-3), ham mê danh vọng (x. Mt 23,6-7), dẫn đường đui mù (x. Mt 23,16-22), coi trọng điều tùy phụ mà bỏ qua điều chính yếu (x. Mt 23,23-26), đạo đức giả hình (x. Mt 23,27-28). Về phần các kinh sư: Họ nói Người bị quỷ ám (x. Mc 3,22). Họ liên kết với nhóm Hêrôđê tìm cách chống lại Đức Giêsu (x. Mc 3,6). Sau phép lạ cho Ladarô sống lại, các người Pharisêu cùng với Thượng Hội Đồng quyết định giết Đức Giêsu (x. Ga 11,53). Tuy nhiên, trong số các người Pharisêu thuộc Thượng Hội Đồng Do thái cũng có ông Nicôđêmô đã lên tiếng bênh vực Đức Giêsu (x. Ga 7,50-52) và ông Gamaliên đã bào chữa cho các Tông đồ (x. Cv 5,34-39). Thời Giáo Hội Sơ Khai, cũng có một người Pharisêu tên là Saun, quê thành Tácxô, đã cải đạo Do Thái và trở thành môn đệ Đức Giêsu là thánh Phaolô (x. Cv 22,1-21). + Họ từ Giêrusalem mà đến: Nghe biết về các hoạt động của Đức Giêsu ở Galilê, các người có trách nhiệm về tôn giáo ở thủ đô Giêrusalem đã phái người đi điều tra thực hư. + Dùng bữa mà tay còn ô uế: Các kinh sư ở Giêrusalem coi việc dùng bữa mà không rửa tay là làm cho con người ra ô uế theo Luật. Việc rửa tay ở đây không nhằm giữ vệ sinh, mà để thanh tẩy tâm hồn theo lễ nghi của đạo Do thái.

    C 3-4: + Người Do thái: Ở đây chỉ về mọi người dân Do thái. Nhưng ở nhiều chỗ khác nhất là trong Tin Mừng Gioan, “Người Do Thái” ám chỉ những kẻ thù ghét chống đối Đức Giêsu (x. Ga 2,18; 5,18; 6,41; l 8,22.48; 9,18). + Rửa tay: Luật Môsê đề ra nhiều điều khoản buộc phải thanh tẩy bằng nước như: Khi chuẩn bị lãnh chức vụ (x. Xh 29,4), trong lễ Xá Tội (x. Lv 16,4.24), khi lỡ tay chạm đến xác chết (x. Lv 11,40 ; 17,15), khi thanh tẩy khỏi ô uế bởi bệnh phong cùi (x. Lv 14,8), thanh tẩy khỏi ô uế dục tình (x. Lv 15,1-32). Về sau tập tục còn quy định lễ nghi thanh tẩy cách tỉ mỉ hơn như: Phải lấy nước ở trong bình bằng đồng hay bình sành…. Phải rửa từ khuỷu tay xuống…. Phải rửa hai lần: Lần trước để làm sạch tay bẩn, lần sau để làm sạch nước bẩn còn dính trên tay…

    C 5-8: + Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế dùng bữa?: Mọi người Do Thái đều giữ các tập tục tẩy rửa, nhưng người Do Thái miền Giuđê vì gần Giêrusalem nên tuân giữ khỏan luật này chặt chẽ hơn miền Galilê, vì người miền Galilê thường xuyên tiếp xúc với dân ngoại và vì đất đai khô cằn ít nước hơn. Từ đó ta hiểu lý do tại sao các môn đệ của Đức Giêsu vốn xuất thân từ miền Galilê, đã không giữ tập tục rửa tay trước khi dùng bữa. + Những kẻ đạo đức giả: Đức Giêsu gọi các người Pharisêu và kinh sư từ Giêrusalem kia là những kẻ đạo đức giả, nghĩa là chỉ lo làm các việc đạo đức hình thức bề ngoài, mà thiếu tâm tình mến Chúa bề trong. + “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”: Những điều ngôn sứ Isaia tuyên sấm Lời Đức Chúa trách dân Do Thái thời xưa, đã được Đức Giêsu áp dụng cho các người Pharisêu và kinh sư Do Thái hôm nay khi họ tiếp tục coi trọng các truyền thống của loài người hơn giới răn của Thiên Chúa.

    C 14-15: + Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người….: Luật Môsê (Lv 11,1-30) qui định một số loài vật thanh sạch và ô uế như sau: Loài vật thanh sạch mà người Do thái được ăn là: Mọi thú vật có mòng chân chẻ làm hai và nhai lại, các vật sống dưới nước có vây có vảy. Loài vật ô uế không được ăn và không được đụng đến xác chết của chúng là: Lạc đà, ngân thử, thỏ rừng, heo; Tất cả các loài sống dưới nước mà không có vây, không có vẩy; Một số loài chim như đại bàng, diều hâu, ó biển… Chuột, thằn lằn, tắc kè…+ Về vấn đề đồ ăn thanh sạch và ô uế: Đức Giêsu có một quan điểm vừa khác biệt với Luật Môsê vừa kiện toàn Luật này khi tuyên bố: Mọi đồ ăn tự nó là sạch (x. Mc 7,18). Cái có thể bị dơ, phát ra điều dơ, làm cho người ta ra dơ, chính là “lòng” người, vì: “Lòng đầy thì miệng mới nói ra” (x. Lc 6,45).

    C 21-23: + Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu…: Đức Giêsu giải thích thêm về Luật cấm : Đó là những người có lòng dạ hư hỏng, tư tưởng xấu xa, tâm tình gian ác, ý định bất chính…. + Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ trong xuất ra: cái làm ô uế con người, bắt nguồn từ trong tâm hồn hay lương tâm, chứ không phải là các thức ăn từ bên ngòai ăn vào.

    4/ CÂU HỎI

    1Bạn biết gì về các người Pharisêu và kinh sư Do thái thời Đức Giêsu?

    2 Trong thời gian giảng đạo, quan hệ giữa Đức Giêsu với các Biệt phái và kinh sư thế nào?

    3 Các Biệt phái và kinh sư trong Tin Mừng hôm nay từ đâu đến với Đức Giêsu và chất vấn Người về vấn đề gì?

    4Luật Môsê buộc người Do thái phải thanh tẩy bằng nước trong những trường hợp nào? Về sau, các kinh sư còn giải thích thêm về khoản luật này ra sao?

    5 Tại sao môn đệ Đức Giêsu lại không giữ tập tục rửa tay trước khi dùng bữa?

    6 Tại sao Đức Giêsu gọi các Biệt phái và kinh sư là bọn đạo đức giả?

    7 Đức Giêsu đã trích dẫn lời nào của ngôn sứ Isaia trách dân Do thái?

    8 Theo Luật Môsê thì đồ ăn nào được coi là sạch và đồ ăn nào bị coi là nhơ uế?

    9 Quan điểm của Đức Giêsu về sự sạch hay nhơ uế của đồ ăn ra sao? Điều thực sự làm cho tâm hồn người ta ra nhơ uế là gì?

    II- SỐNG LỜI CHÚA

    1/ LỜI CHÚA: Chúa phán: “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm” (Mc 7,8):

    2/ CÂU CHUYỆN

    1- LỐI GIỮ ĐẠO HÌNH THỨC

    BÁC-CƠ-LÂY (Barclay) kể một câu truyện khác như sau: Có một người Hồi Giáo kia tìm cách giết một kẻ thù để giành quyền kết hôn với một cô gái đẹp. Một hôm, gặp kẻ thù ở chỗ vắng vẻ và nhân lúc kẻ kia không đề phòng, hắn ta rút dao chém một nhát khiến người kia bị thương vội vàng bỏ chạy. Người Hồi Giáo đã đánh lén kia liền tiếp tục truy đuổi, quyết tâm tiêu diệt tình địch bằng được. Trong lúc đang hăng hái đuổi theo thì bỗng nghe thấy một hồi chuông nhà thờ Hồi giáo gần đó báo giờ phải cầu kinh ban chiều, hắn ta lập tức nhảy xuống khỏi mình ngựa, trải chiếc chiếu luôn mang theo bên mình, quỳ hướng mặt về thủ đô Méc-ca đọc bài kinh chiều thật mau, rồi sau đó lại leo lên mình ngựa tiếp tục cuộc truy đuổi tiêu diệt kẻ thù!!!

    2- TÊN CƯỚP ĂN CHAY

    Một hôm, Cha MƠRÂY (Murray) đang âm thầm đi trên một phố vắng vào lúc đêm khuya để mang Mình Chúa cho một bệnh nhân sắp chết. Khi đi tới một góc phố vắng, bỗng một tên cướp nhảy xồ ra chĩa súng về phía cha ra lệnh: “Đứng lại! Mau nộp tiền ra đây, nếu không tao bắn chết! “Cha Mơ-rây sợ hãi vội vàng mở nút chiếc áo khoác đang mặc và lấy ra một chiếc ví. Tên cướp trông thấy chiếc áo đen của giáo sĩ cha mặc trong chiếc áo khóac, trên cổ có “côn” màu trắng, thì hắn biết là linh mục. Hắn lập tức dịu dọng và ấp úng nói: “Thưa cha, con rất tiếc vì con không biết là cha. Con thành thật xin lỗi cha. Xin cha vui lòng cất tiền đi”. Bây giờ cha Mơ-rây mới hòan hồn trở lại. Ngài móc trong túi ra một gói thuốc lá và mời hắn một điếu! Nhưng thật bất ngờ! Tên cướp xua tay từ chối với lời giải thích như sau: “Xin cám ơn cha, con đã dốc lòng chừa bỏ tật hút thuốc lá trong Mùa Chay này rồi !!!”.

    3- LÒNG MẾN THỰC SỰ BIỂU LỘ QUA HÀNH ĐỘNG YÊU THƯƠNG

    Một nhà triệu phú kia khi chết đi đã di chúc để lại toàn bộ gia tài to lớn cho một người con đi du học nước ngoài từ nhỏ, nên không ai trong dòng họ còn nhớ được khuôn mặt của anh. Sau khi tin tức về cái chết của nhà triệu phú được đăng lên báo thì có ba chàng thanh niên đến tự nhận là con traqi duy nhất của nhà triệu phú để yêu cầu được lãnh phần sản nghiệp. Sau khi suy nghĩ một lát viên quan tòa đã cho phóng lớn bức hình chụp chân dung của nhà triệu phú, rồi trao ba khẩu súng cho ba chàng thanh niên kia và bảo: Ai trong ba người bắn trúng mắt của nhà triệu phú thì sẽ được lãnh phần gia nghiệp của ông để lại. Chàng thanh niên thứ nhất đến và giơ súng bắn. Chàng thanh niên thứ hai cũng thế. Cả hai viên đạn đều bắn gần trúng mắt của bức hình. Đến phiên anh chàng thứ ba cầm súng với vẻ mặt u buồn. Anh ta im lặng suy nghĩ và cuối cùng nói: “Tôi chịu thua vì tôi không thể cầm súng nhắm bắn vào mặt của ba tôi”. Viên quan toà liền tuyên bố: “Chính người thanh niên thứ ba mới thực sự là con trai duy nhất của nhà triệu phú, vì suy nghĩ và hành động của anh đã chứng tỏ anh thực sự là con trai của ông triệu phú”. 

    Cũng vậy, lòng mến Chúa đích thực phải biểu lộ qua việc yêu người thân cận như yêu bản thân mình, như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta và mời gọi chúng ta học tập sống theo. Chính lòng mến Chúa bên trong được thể hiện qua hành động bác ái cụ thể bên ngoài mới là bằng chứng tích cực chứng tỏ một người có lòng đạo đức thực sự.

    3/ THẢO LUẬN

    1 Phải chăng chúng ta nên bỏ các việc đạo đức bề ngoài như: làm dấu Thánh giá, dự lễ, rước sách, ngắm nguyện, ăn chay, kiêng thịt, bố thí…. mà chỉ cần “giữ đạo tại tâm” là đủ? 2- Tuần này bạn sẽ làm gì để chứng tỏ lòng mến thực sự?

    4/ SUY NIỆM

    1- Lòng đạo đức thực sự không hệ tại ở kinh kệ dài dòng

    Người Hồi Giáo trong câu chuyện trên đã tuân giữ luật đọc kinh 5 lần mỗi ngày của đạo Hồi, nhưng lại không ngần ngại phạm tội ác nhúng tay vào máu của kẻ thù. Rồi tên cướp công giáo trong câu chuyện thứ hai đã quyết tâm bỏ thuốc lá để tỏ lòng sám hối Mùa Chay, nhưng lại đi trấn lột tài sản của kẻ khác. Rồi các người Pharisêu và kinh sư Do thái tuy giữ nghiêm ngặt tập tục thanh tẩy bằng nước trước khi dùng bữa, nhưng lại coi thường điều răn quan trọng của Thiên Chúa là “thảo kính cha mẹ”, khi cho phép con cái lấy của cải lẽ ra dùng để nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, biến của đó thành “Cô-ban”, nghĩa là “Của Thánh đã hiến dâng cho Thiên Chúa”, rồi không cho con cái phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu nữa! Cũng vậy, ngày nay có những người chỉ chú trọng làm một số việc đạo đức theo luật như đọc kinh, dự lễ Chúa Nhật, ăn chay kiêng thịt, bố thí… mà không chú trọng thanh tẩy tâm hồn, không giữ luật công bình bác ái trong cách ứng xử với tha nhân.

    2- Mến Chúa thực sự bên trong phải được biểu lộ qua yêu người bên ngoài

    Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng: Truyền thống cha ông, luật lệ và các lễ nghi đối với Thiên Chúa đều tốt và cần được duy trì, nhưng không được quên điều quan trọng không kém là phải thực thi giới răn yêu người. Tôn kính Thiên Chúa bằng việc dự lễ đọc kinh là bổn phận căn bản của người tín hữu, nhưng cần làm những việc đạo đức ấy với một “trái tim mới” và một “Thần Khí mới” (x. Ed 18,31) theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giêsu. 

    3- Muốn có lòng mến Chúa thực sự phải bắt đầu từ trái tim

    Lệnh truyền của Đức Chúa cho dân Ítraen: “Ta sẽ thanh tẩy các ngươi. Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới” (Ed 36,25tt). Đổi mới được trái tim tức là đổi mới được tất cả. Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở mỗi người tín hữu chúng ta: Truyền thống, luật lệ và nghi thức cử hành tại nhà thờ đều là việc cần thiết phải làm, nhưng không được quên điều căn bản của Luật Pháp là thực hành mến Chúa yêu người. Tôn kính Thiên Chúa qua việc đạo đức phụng vụ tại nhà thờ là điều cần phải làm, nhưng điều quan trọng hơn là ta phải có lòng mến Chúa kèm theo đức yêu người trong cuộc sống tại gia đình, khu xóm và xã hội… như lời Chúa dạy: “Từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”. Người tín hữu chúng ta cần phân biệt trong Luật pháp đâu là điều chính đâu là điều phụ. Cần ưu tiên thực hành điều chính trước, rồi sẽ đương nhiên thực hiện được mọi điều tùy phụ liên quan theo sau.

    4- Muôn có lòng mến thực sự phải năng xin ơn Chúa giúp

    Nguyên việc tuân giữ các việc đạo đức như dự lễ đọc kinh, ăn chay kiêng thịt, làm việc bác ái… cũng chưa chứng tỏ người ta có lòng đạo đức thực sự, vì họ có thể làm các việc đó để khoe khoang công đức và được người đời ca tụng… hơn là làm vì lòng mến Chúa, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm lời Chúa trách dân Ít-ra-en: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì ở xa Ta” (Mc 7,6; Is 29,13). Để chứng tỏ lòng đạo đức thực sự, chúng ta phải cầu nguyện kết hiệp với Chúa Giêsu, như thánh Phaolô đã dạy: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,14).- “Từ nay tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Mỗi ngày chúng ta nên làm việc bổn phận như đi học, đi làm, phục vụ tha nhân… kèm theo một lời nguyện tắt như: “Lạy Chúa Giêsu. Con xin làm việc này để biểu lộ lòng con yêu mến Chúa và cầu nguyện cho một người lương quen biết sớm nhận biết yêu mến Chúa”.

    5/ LỜI CẦU

    LẠY CHÚA GIÊSU. Xin biến đổi trái tim con nên giống trái tim Chúa. Ước gì con nhìn mọi sự mọi người với một cái nhìn bao dung đầy yêu thương noi gương Chúa xưa. Xin ban Thánh Thần Tình yêu đốt nóng lòng con. Xin giúp con siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ mỗi ngày cách sốt sắng, để kín múc được sức sống ân sủng từ nguồn mạch yêu thương vô tận là Thánh Tâm Chúa, để con gieo rắc tình thương của Chúa đến cho mọi người, an ủi những người đau khổ, chia sẻ cơm bánh cho kẻ khó nghèo, phục vụ những người bệnh tật và bị bỏ rơi… hầu con có thể trở nên môn đệ thực sự của Chúa.

    X/ HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
    Đ/ XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục

     

    TÔN KÍNH BẰNG MÔI BẰNG MIỆNG

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Cuốn Christian Community Bible chú thích đoạn Lời Chúa hôm nay (Mc 7:1) như sau: “Không một nhóm nào, kể cả Giáo Hội, có thể đứng vững mà không có truyền thống tập quán. Nhưng dù tốt đến mấy, các truyền thống này đều do con người tạo ra. Như cách cử hành thánh lễ, các ngày lễ, các tuần cửu nhật v.v…, tất cả những gì một giáo hoàng, một giám mục, một cộng đoàn Ki-tô hữu đã đặt ra trong quá khứ, thì một vị giáo hoàng khác, một giám mục khác, một cộng đoàn Ki-tô hữu khác có thể thay đổi được. Chính vì tất cả những điền này có thể thay đổi nên ta hiểu ngay rằng đây không phải là điều chính yếu của đời sống Ki-tô giáo.” Cũng theo chú thích của hai anh em nhà Hurault, ta đừng lẫn lộn các truyền thống phức tạp, hay nói đúng hơn các tập tục và thói quen trải dài qua các thế kỷ của lịch sử Giáo Hội, với truyền thống của Hội Thánh; “Có một cách thức hiểu Kinh Thánh mà Chúa Giê-su và các Tông Đồ cũng đã hiểu như thế: đó là điều mà người ta gọi là truyền thống các Tông Đồ (Apostolic Tradition). Và Hột Thánh được các Tông Đồ thành lập luôn gìn giữ truyền thống này, tức là Tinh Thần của các Tông Đồ.”

    Những lời khảng định trên thật xác đáng và quan trọng. Đức Giê-su và sau đó là các Tông Đồ, đặc biệt Tông Đồ Phao-lô – cách riêng trong thư gửi các tín hữu Ro-ma và Ga-lat – đã không ngừng phân biệt rõ giữ đạo – là giữ các tập tục (mà rất nhiều khi khoác cho danh nghĩa ‘truyền thống’) – với sống niềm ‘tin’ đích thực. “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm”…, như thế giữ đạo có thể khác xa sống đức tin chân chính; “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.”

    Đối với người Do Thái của Cựu Ước thì tinh thần kính sợ và tôn thờ Đức Chúa Gia-vê là điều quan trọng hơn hết. Không có tinh thần này thì việc tuân giữ khắt khe mọi lề luật, qui định – điển hình như các luật liên quan tới việc thanh tẩy và ngày Sa-bát – thì cũng kể bằng không… Hoặc cùng lắm, cũng chỉ được coi như nắm giữ các tục lệ – tập quán do con người xuôi dòng lịch sử bày ra mà thôi.

    Thế còn đối với Ki-tô hữu – ta tự hỏi – điều răn Thiên Chúa hay truyền thống Tông Đồ cụ thể là gì? Đức Giê-su, cho dầu tuyên bố không phá bỏ giới răn hay lề luật cũ, đã hơn một lần khảng định điều răn mới mà Người để lại cho các môn đệ chính là giới luật yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34). Không sở đắc trong thâm sâu cõi lòng giới luật mới này thì việc giữ căn kẽ mọi qui định của Giáo Hội (kể cả việc đi lễ ngày Chúa Nhật hay giữ các ngày chay tịnh) cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Truyền thống Tông Đồ đã không ngừng đề cao điều đó: “Giả như… tôi biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non… mà không có đức mến… thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (1 Cr 13:1-3). Và chính vì để duy trì và phát huy tình mến này trong lòng mà toàn bộ cuộc sống Ki-tô hữu đều không ngừng qui hướng về hiến tế Thập Giá, nhất là qua việc cử hành Thánh Lễ. Khi dâng lễ, tín hữu cử hành ‘như Thầy yêu thương anh em’ hầu có thể ‘hãy yêu thương nhau’ trong cuộc sống. Một khi đã hiểu được ‘Thầy yêu thương’ như thế nào, và có được ‘đức mến trong lòng’, họ sẽ “cứ yêu đi, và bạn làm gì cũng được ”, như Thánh Âu-tinh đã từng tuyên bố. Tất cả các qui định của Giáo Hội lúc đó sẽ không còn được coi như gánh nặng luật lệ áp đặt từ bên ngoài (không giữ thì mắc tội), nhưng được đón nhận như những chỉ dẫn khơi nguồn tình yêu trong con tim.

    Chỉ khi đó, phải, chỉ khi đó mà thôi, các tín hữu mới thật sự hiểu được lời Đức Giê-su đã từng tuyên bố “Thầy đến không phải là để bãi bỏ Luật, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17)… Kiện toàn không phải vì khắt khe chi li hơn, nhưng là vì đưa tới sức mạnh tình yêu; và như thế đương nhiên là họ cảm thấy thảnh thơi trong việc giữ đạo, “vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:30).

    Thế nhưng chính tôi, sau bao nhiêu năm sống niềm tin Ki-tô hữu, tôi vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn thảnh thơi thoải mái, ấy là vì… tôi chưa có được khả năng thực sự ‘tin và thờ phương Thiên Chúa tình yêu trong tinh thần và chân lý’.

    Lạy Chúa! Trong hơn 70 năm cuộc đời, con đã trải nghiệm không biết bao nhiêu là đổi thay về luật lệ, truyền thống và tập tục, về mặt dân sự cũng như Giáo Hội, cả về thời gian lẫn không gian. Phải chăng điều này là một hồng ân Chúa ban, hầu con nhận ra rằng: điều quan trọng hơn hết trong niềm tin Ki-tô hữu là biết Chúa yêu con và con được sống chan hòa trong yêu thương với hết mọi người? Xin cho con không bao giờ để cho bất cứ điều luật nào lấn lướt luật tình yêu này, và còn dạy cho các tín hữu biết sống như thế nữa. A-men.

    Về mục lục

     

    TỪ TRÁI TIM CON NGƯỜI

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

    Suy Niệm

    Ðoạn Tin Mừng hôm nay khởi đi từ một chuyện nhỏ,
    chuyện các môn đệ không rửa tay trước khi ăn.
    Ðối với người Pharisêu, sau khi ra nơi phố chợ,
    người ta thường trở nên ô uế do đụng chạm.
    Phải rửa tay, vì tay ô uế làm đồ ăn ô uế,
    và đồ ăn ô uế sẽ khiến cả con người ô uế.
    Ðức Giêsu đã long trọng khẳng định:
    “Không có gì từ bên ngoài vào trong con người
    lại có thể làm cho con người ra ô uế” (c.15).
    Khẳng định này là một cuộc cách mạng trong Do Thái giáo,
    bởi lẽ đời sống người Do Thái bị bao vây bởi nhiều cấm kỵ”
    không được ăn thịt heo, hay thịt thú chết ngạt;
    không được đụng vào xác chết, vào người phong cùi;
    không được ăn chung với dân ngoại hay vào nhà người tội lỗi…
    Ðụng vào hay ăn vào là ô uế ngay.
    Ðức Giêsu đã phạm nhiều điều cấm kỵ,
    đã phá đổ nhiều bức tường ngăn cách kẻ xấu – người tốt,
    dân Do Thái và dân ngoại, nam và nữ, nô lệ và tự do…
    Ngài hồn nhiên đến với những người bị coi là ô uế
    để làm họ nên sạch.

    Thật ra Ðức Giêsu chẳng phản đối gì chuyện rửa tay,
    nhưng Ngài thấy nó có vẻ giả hình
    vì người ta chẳng để ý đến chuyện tẩy rửa trái tim.
    Rửa tay để được yên tâm, mãn nguyện,
    tránh khỏi phải rửa tâm hồn là điều khó hơn.
    Ðức Giêsu cho ta thấy cái ô uế thực sự
    lại không đến từ đụng chạm hay ăn uống.
    Cái ô uế đáng sợ nằm ngay trong trái tim mỗi người.
    Nó không từ ngoài vào, nhưng từ trong ra.
    Ngài kẻ ra 12 ý định xấu xa bắt nguồn từ trái tim,
    ý định xấu dẫn đến hành động không đẹp (cc.21-22).

    Cần trở về với trái tim của mình.
    Ðó không phải là một cuộc dạo chơi,
    nhưng là một thách đố dám nhìn cái tôi sau lớp mặt nạ.
    “Hãy tạo cho mình một trái tim mới” (Ed 18,31).
    Ðó là lệnh truyền của Ðức Chúa,
    nhưng con người chẳng thể tự mình thay tim.
    “Ta sẽ thanh tầy các ngươi.
    Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới” (Ed 36,25tt).
    Ðổi được trái tim là đổi được tất cả.

    Lời Chúa hôm nay là một lời nhắc nhở Hội Thánh.
    Truyền thống, luật lệ và nghi thức là điều cần thiết,
    nhưng không được quên điều cốt tủy của luật Chúa là yêu thương.
    Tôn kính Thiên Chúa qua phụng vụ là điều phải làm,
    nhưng phải đặt trái tim và cuộc sống mình trong đó.
    Chúng ta vẫn có thể lẫn lộn cái chính với cái phụ.
    “Xin mọi người nghe tôi nói đây và hiểu cho rõ” (c.14).
    Ðó là lời Ðức Giêsu nhắn nhủ đám đông ngày xưa
    và chúng ta hôm nay.

    Cầu Nguyện

    Lạy Chúa Giêsu,
    xin dẫn con vào nhà của con,
    căn nhà của trái tim,
    căn nhà vừa quen vừa lạ.

    Xin hãy cho con thấy
    những phức tạp, rắc rối, những che đậy, giằng co,
    những mâu thuẫn và vô lý nơi con.
    Xin hãy cho con thấy
    những nhỏ mọn, ích kỷ,
    những yếu đuối, khô khan,
    những cứng cỏi và tự ái nơi con.

    Xin cho con ý thức
    những lo âu, sợ hãi
    đang đè nặng làm con ngột ngạt,
    những nỗi đau thầm kín khiến đời con mất vui,
    những vết thương không biết bao giờ lành,
    những đỗ vỡ khiến lòng con khép lại.

    Lạy Chúa Giêsu,
    xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con.
    Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,
    hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.

    Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,
    bằng trái tim bao dung của Chúa.
    Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,
    trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn
    để yêu mến mọi người. Amen.

    Về mục lục

     

  • Các bài suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên Năm B

    Các bài suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên Năm B

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN – B

    Lời Chúa: Gs 24,1-2a.15-17.18b; Ep 5,21-32; Ga 6, 54a. 60-69

    ———

     

    Năm 2018

    Mục lục

    1. Tin và trung thành với đức tin (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên)

    2. Bỏ Thầy con biết theo ai? (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

    3. Lời Chúa là Lời Hằng Sống (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

    4. Lời Hằng Sống  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    5. Chọn lựa căn bản  (Lm. Louis M. Nhiên, CRM)

    6. Bỏ Ngài con biết theo ai? (Lm. Đinh Lập Liễm)

    7. Đi theo ai  (Lm. Nguyễn Thái)

    8. Suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên_B  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam)

    9. Suy niệm Chúa Nhật 21 Thường niên_B.  (Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

    10. Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa  (Fx. Đỗ Công Minh)

    11. Quyết bước theo Chúa (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

    12. Gắn bó với Chúa Kitô (Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang)

    13. Lời Chúa là Thần khí và sự sống  (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

    14. Niềm xác tín  (Trầm Thiên Thu)

    15. Bỏ Thầy con sẽ theo ai? (Lm. Trần Bình Trọng)

    16. Lòng trung thành  (Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

    17. Suy niệm chú giải lời Chúa – Chúa Nhật 21 TN_B  (Lm. Inhaxio Hồ Thông)

    18. Lòng trung thành.  (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    19. Chọn lựa khôn ngoan (Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

    20. Đức tin sống động  (Bông Hồng Nhỏ, Tập sinh MTG.Thủ Đức)

    21. Hoang đường   (Lm. Vũ Đình Tường)

    22. Cả các anh cũng tính bỏ đi hay sao? (Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD)

    23. Trao ban sự sống thần linh  (Lm. Inhaxio Trần Ngà)

    24. Thanh tẩy bằng Lời Chúa  (Lm. Bosco Dương Trung Tín)

    25. Chọn lựa: Một hành vi không dễ  (Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

    26. Chúa Nhật 21 Thường niên_B  (Lm. Antôn)

     

     

    Năm 2015.

    Mục lục

    1. Chọn lựa và trung thành (Gm. Giuse Vũ Văn Thiên, Gp. Hải Phòng)

    2. Hành trình đức tin (Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt)

    3. Chúa chính là hạnh phúc (Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

    4. Các con cho Thầy là ai? (Lm. D. Nguyễn Ngọc Long)

    5. Bánh Lời Chúa (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

    6. Trong anh em có những kẻ không tin (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB)

    7. Trung thành hay phản bội  (Văn Hào, SDB)

    8. Trung Ngôn Nghịch Nhĩ  (Trầm Thiên Thu)

    9. Chúa Nhật 21 Thường niên_B  (Lm. Antôn, giáo xứ thánh Giuse, Tulsa)

    10. Mầu nhiệm Giêsu  (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

    11. Lời Hằng Sống  (Lm. Giuse Trần Việt Hùng)

    12. Chúa mới có lời ban sự sống (Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, Gp. Xuân Lộc)

    13. Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời (Lm. Đan Vinh)

     

     

    TIN VÀ TRUNG THÀNH VỚI ĐỨC TIN

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Tin là chấp nhận một chuỗi những điều xem ra “vô lý” đối với lý trí con người. Chấp nhận sống theo đức tin là giống như người đứng bên này đỉnh đồi lao mình vào vòng tay Thiên Chúa, khi Ngài đứng đỉnh đồi bên kia. Chính vì thế, đức tin phải đi đôi với lòng trung thành và sự tín thác. Nên thánh chính là trung thành với đức tin đã lãnh nhận, và cố gắng mỗi ngày để đức tin ấy được trọn vẹn tinh tuyền nơi cuộc đời chúng ta.

    Theo giáo lý của Giáo Hội, “Tín điều” là những điều buộc người tín hữu phải tin. Ai không tin những tín điều đã được Giáo Hội tuyên tín, thì người đó được kể như người không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Trong năm Chúa nhật kế tiếp, Phụng vụ giáo huấn chúng ta về Thánh Thể, khẳng định nơi Hình Bánh và Hình Rượu, có sự hiện diện trọn vẹn của Đức Giêsu. Công đồng Tridentinô ở thế kỷ thứ 16 đã khẳng định sự hiện diện này bằng ba trạng từ: đích thực (vraiment), thật sự (réelle) và theo bản thể (substantielle). Trong Bí tích Thánh Thể, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô hiện diện. Sự hiện diện này không thể giải thích bằng lý trí.

    Trong lịch sử, đã có những phép lạ Thánh Thể cho thấy sau khi truyền phép, Bánh trở nên thịt thật, và những phân tích khoa học cho thấy phần thịt này có những tế bào như thịt người. Tuy vậy, không chỉ có những trường hợp vừa nêu mới là phép lạ, nhưng mỗi khi linh mục cử hành Thánh lễ, đọc lời “truyền phép”, thì phép lạ xảy ra, đó là sự “biến đổi bản thể” của bánh và rượu để trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu. Đức tin khẳng định với chúng ta điều ấy.

    Cũng trong lịch sử, đã có những ý kiến bất đồng về Thánh Thể và làm cho Bí tích này trở nên một trong những nguyên nhân gây chia rẽ nghiêm trọng giữa các Kitô hữu. Vì Bí tích Thánh Thể là “Mầu nhiệm của đức tin”, nên chỉ có đức tin và sự tuân phục mới giúp ta nhận ra sự cao quý của Bí tích này. Ngay khi Chúa Giêsu nói về Bánh hằng sống, người Do Thái, và ngay cả các môn đệ cũng đã có phản ứng rồi. Vì vậy, thời nào cũng có những người tin và những người không tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong Bí tích này.

    Đoạn Tin Mừng được đọc trong thánh lễ hôm nay là phần kết thúc cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh hằng sống. Trước những lời tuyên bố của Chúa Giêsu, một số người thấy chói tai và dần dần bỏ đi. Phần lớn những người này đến với Chúa với ước mong được nhận lãnh bánh nuôi sống thể xác, giống như phép lạ ngoạn mục Người mới làm cách đó vài ngày. Ở đây, Chúa lại nói về một thứ bánh thiêng liêng. Ai lãnh nhận Bánh này sẽ được sự sống đời này và sự sống vĩnh cửu đời sau. Khá nhiều người bỏ đi vì họ coi những điều Chúa Giêsu đang nói là ảo tưởng, phi thực tế. Niềm tin vào Bánh hằng sống cũng vấp phải phản ứng của chính một số môn đệ. Thánh Gioan đã viết một cách buồn bã: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”. Họ đã ra đi trong thất vọng, vì hình ảnh của họ vốn có về Đấng Thiên sai hoàn toàn khác biệt với sứ mạng và giáo huấn thực sự của Chúa Giêsu. Khi đối diện với những thử thách gian truân, người tín hữu được mời gọi bày tỏ lòng trung thành với Người. Lòng trung thành cần phải có để đón nhận những chân lý cao siêu mặc dù chưa lý giải thỏa đáng.

    Thánh Phêrô, vị Tông đồ trưởng, đã chứng tỏ lòng trung thành ấy trong bối cảnh có nhiều người bỏ đi. Người ta thường nói ở đời “phù thịnh chứ không ai phù suy”. Phêrô là một người can đảm. Ông đã “phù suy” khi tuyên thệ theo Chúa vào lúc dường như mọi người đã bỏ Người. Ông đã tìm được sự chọn lựa tốt nhất cho đời mình. Theo Chúa là lý tưởng và là sự sống còn của ông, như lời ông nói: “Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Có lẽ ông cũng đã đắn đo cân nhắc xem theo Chúa thì được những gì và mất những gì, như có lần ông đã đặt câu hỏi với Thầy mình. Giờ đây, Phêrô như một người từng trải kinh nghiệm chắc chắn trong cuộc đời. Ông khẳng khái tuyên xưng Đức tin vào Chúa, dù mọi người rút lui. Sau này, chúng ta còn được nghe lời tuyên bố của Phêrô trong bữa tiêc ly: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng!” (Lc 22,34). Lời tuyên bố này về sau không được tuân giữ, do việc Phêrô chối thày mình ba lần, nhưng không vì thế mà làm giảm lòng nhiệt thành, hăng say và tâm huyết của vị Tông đồ trưởng.

    Đời sống Kitô hữu là một lựa chọn. Chúng ta chọn Chúa là lý tưởng của đời sống chúng ta. Trước những cám dỗ và bon chen vì cơm áo gạo tiền, có những lúc chúng ta quên mất sự lựa chọn ấy. Bài đọc I kể với chúng ta, sau khi vào Đất hứa, ông Giôsuê đã tập hợp dân Do Thái ở một nơi gọi là Sikhem để cùng nhau nhìn lại hành trình sa mạc kéo dài 40 năm. Trong hành trình này, người Do Thái gặp nhiều gian nan thử thách. Có nhiều người phạm lỗi với Chúa do kiêu ngạo, ích kỷ và phạm các giới răn. Họ còn thờ lạy  thần linh của các dân ngoại. Tại Sikhem, ông Giôsuê kêu gọi một cuộc thanh tẩy toàn dân, để dứt bỏ quá khứ, bước sang một trang sử mới. Vị thủ lãnh mời gọi dân hãy chọn lựa Chúa và sống theo giới luật Ngài đã truyền ban cho các bậc tổ tiên. “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác”. Lời tuyên xưng của dân chúng thật mạnh mẽ quyết liệt, thể hiện sự gắn bó trung thành với Đấng đã cứu họ khỏi Ai Cập và dẫn đưa họ vào Đất hứa.

    Có thể vào những lúc đen tối của cuộc đời, Chúa hỏi chúng ta: “Con có muốn bỏ Thầy mà đi không?”. Xin cho chúng ta có đủ can đảm để thưa như thánh Phêrô: ““Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Được như vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta.

    Về mục lục

    .

    BỎ THẦY CON BIẾT THEO AI?

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi  

    Cái trớ trêu của con người vẫn là những gì họ nhìn, thấy, rồi mới tin Đặc biệt trên lãnh vực siêu nhiên, mầu nhiệm là điều phải có đức tin mới hiểu được.Người ta không thể dùng lý trí tự nhiên để lý luận, phân tích vv…Tất cả các mầu nhiệm, người Kitô hữu chỉ có thể hiểu nhờ đức tin. Do đó, khi nói tới lương thực, cơm, bánh, con người cảm nhận được liền, nhưng nói tới những gì trên Cung Trăng, trên  Sao Hỏa chẳng hạn, người bình dân rất khó nhận biết!

    Chính vì thế, khi nói tới Bánh Trường Sinh, Bánh Ban Sự Sống những người đồng thời với Chúa Giêsu hầu như không hiểu gì ! Các môn đệ cũng rơi vào kinh nghiệm khủng hoảng đức tin ấy…

    Thực vậy, khi nghe Đức Giêsu tuyên bố, Người sẽ để lại cho nhân loại, cho con người Thịt và Máu Người, nhiều môn đệ đã phản ứng lại :” Lời này chói tai quá, ai mà nghe được “ ( Ga 6, 60 ). Từ lúc đó, theo thánh Gioan tường thuật :” …Có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa “ ( Ga 6, 66 ). Những người này đã theo Chúa Giêsu một thời gian, đã tin và đã trở thành môn đệ của Người, nhưng họ đã không theo Người tới cùng. Theo Chúa là một hành động chọn lựa hoặc theo Người hoặc chọn những thứ mà thế gian ban tặng: địa vị, danh vọng, của cải vv…Chúa Giêsu đã muốn các môn đệ xác định lại mục đích khi theo Chúa :” Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?”.

    Vâng, theo Chúa không phải là sự chọn lựa một lần, đó là đòi hỏi xác định lại sự lựa chọn của mình hằng giờ, hằng ngày và mãi mãi chon Người. Có những người đã là con Chúa, nhưng thực tế họ đã không trung thành với Chúa, đã không theo Chúa tới cùng. Bước Đức Kitô là bước vào một cuộc thử thách gay go : trung tín hay bỏ Người giữa đường. Theo Chúa là đòi hỏi đi tới cùng, trung tín với Người mãi mãi.

    Tại sao nhóm thứ nhất bỏ đi, nhóm thứ hai ở lại với Chúa tới cùng. Bởi vì, nhóm thứ nhất theo Chúa nhưng còn tính toán lợi hại, theo Chúa nhưng đắn đo tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm địa vị, danh vọng vv…Nên, khi Chúa nói :” Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời “. Họ rút lui, không theo Chúa nữa vì chẳng hiểu gì, họ tính toán hơn thịêt, bỏ Người không thương tiếc. Còn nhóm thứ hai khi nghe lời khẳng định, tuyên bố của Chúa Giêsu, Phêrô thay mặt các môn đệ khác, đã thưa với Chúa :” Bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? “ ( Ga 6, 68 ). Thánh Phêrô và các môn đệ khác đã nhận ra Chúa mới là hạnh phúc đích thực mà họ đang tìm kiếm. Các Ngài tin và xác tin chỉ có “ Thầy mới là Đấng có Lời ban sự sống “ như Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo viết :” Thiên Chúa luôn lôi kéo con người vì nơi Người con người mới tìm được chân lý và hạnh phúc đích thực. Và hạnh phúc đích thực là được sống mật thiết với Chúa “. Phêrô đã nhận ra Chúa là Tình Yêu, Chúa là Đường,Sự Thật và là Sự Sống . Do đó, đứng trước thử thách gay go, Phêrô vẫn tuyên xưng :” Thầy là Đấng Kitoô, Con Thiên Chúa”( Ga 6, 52 ).

    Ngày nay, trong cuộc hành trình đức tin theo Chúa, có những lúc chúng ta cũng gặp những thử thách căm go như bị lung lay về đức tin, vì những trào lưu hưởng thụ, những cám dỗ của văn minh sự chết: tiền tài, xác thịt, danh vọng vv…Những lúc đó chúng ta hãy nhìn lên Chúa và thân thưa với Chúa với tất cả tấm lòng :” Bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Vì Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời “.

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết một niềm tín thác vào Chúa.Amen.

    GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

    1.Tại sao khi Chúa tuyên bố:” Ta là Bánh Trường Sinh “ lại có những môn đệ rút lui, bỏ Chúa ?

    2.Thái độ của Phêrô thì sao ?

    3.Chúng ta phải có thái độ nào trước những cám dỗ của thế gian?

    4.Bí Tích Thánh Thể giúp chúng ta thế nào ?

    Về mục lục

    .

    LỜI CHÚA LÀ LỜI HẰNG SỐNG

    Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

    Từ xưa đến nay, sống trường thọ luôn là mơ ước của toàn nhân loại. Không hiếm các bậc đế vương trong lịch sử hao công tốn của đi tìm kiếm. Hiện nay, dù cho khoa học có rất nhiều tiến bộ, đời sống con người ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống cũng như tuổi thọ được nâng cao, nhưng cái đích cuộc sống bất tử có lẽ còn rất xa con người hay bất cứ ai muốn đạt được điều kỳ diệu ấy. Bất tử, đồng nghĩa với không phải chết, hay sống đời đời.

    Phụng vụ lời Chúa hôm nay chỉ cho chúng ta một bí quyết, chọn Chúa thì sẽ được sống tự do, sống vui và sống sống hạnh phục (x. Gs 24, 1-2a. 15-17. 18b), theo Chúa, kết hợp với Chúa thì sẽ được sống đời đời, lời thánh Phêrô khẳng định, “chỉ có Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (x. Ga 6,68).
    Chọn Chúa để được sống

    Sinh ra sống ở trên đời, con người được đặt trước những lựa chọn. Chọn cho mình một lý tưởng, một hướng đi là điều rất quan trọng nhất, chọn đúng thì hạnh phúc, chọn sai sẽ có điều ngược lại. Ai trong chúng ta cũng phải đối diện với sự chọn lựa ấy, dân Do thái thời được Giôsuê đặt trước những chọn lựa : ” Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tùy ý chọn thần mà thờ…”. Dân đáp lại : “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Thiên Chúa, mà phụng thờ các thần khác. Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông của chúng tôi lên từ đất Ai Cập, từ nhà nô lệ…” (Gs 24, 15-17). Dân đã chọn Chúa để được sống trong tự do làm con cái Chúa là Chúa sự sống.

    Chọn Giêsu Bánh Hằng Sống

    Đoạn Tin Mừng hôm nay dẫn chúng ta về Capharnaum, nơi có rất nhiều người theo Chúa Giêsu vì họ đã thấy phép lạ Chúa làm, đặc biệt sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng. Về phương diện xã hội, chính tại nơi đây Chúa Giêsu có nguy cơ “chết vì thành công”, như Tin Mừng mô tả, họ muốn tôn Người lên làm vua (x. Ga 6, 15). Đây là thời điểm quan trọng trong cuộc đời rao giảng của Chúa Kitô. Chính thời điểm này, Người bắt đầu mạc khải rõ nét về về Bánh Hằng Sống là chính Người với những lời xác quyết về sự sống siêu nhiên qua điệp của Người.

    Khát vọng của con người là được sống trường sinh. Ngay từ thủa ban đầu, Adam va Evà đã hái và ăn trái cấm, vì tin rằng trái này sẽ làm cho mình sống mãi, không phải chết. Bất tử trên đời này là một điều thú vị và ai cũng khao khát, nhưng xem ra không tìm thấy ở trần gian này.

    Chúa Giêsu mời gọi chúng ta ăn và uống chính thịt và máu Người để được sống đời đời. Điều này có nghĩa là chúng ta được mời gọi “ăn” và “uống” không phải một sự vật, nhưng là “ăn thịt và uống máu con người có tên Giêsu” một ngôi vị sống động. Người tha thiết mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, ở lại trong Người như thánh Phaolô : “Không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi” (), nghĩa là ai đón rược Chúa vào trong cuộc đời, được Chúa trở thành xương thịt, thành sự sống cho người ấy. Chẳng những thịt máu Chúa nuôi sống mà Lời Chúa cũng mang lại cho chúng ta sự sống đời đời cho những kẻ nghe Người. Thế nhưng không phải ai cũng có thể lĩnh hội được.

    Lời từ miệng Chúa phán ra với đám đông dân chúng khiến Chúa gặp rắc rối với họ, đến nhóm môn đệ Chúa cũng còn nói : “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6, 60).

    Một ai đó nói rằng, trong lịch sử Giáo hội, những người vĩ đại giống như những những cây cột không thể phá hủy khi đổ xuống : “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa” (Ga 6,66). Chúng ta có thể gục ngã, “bỏ qua”, ra đi, chỉ trích, hay tiếp thu những Lời Chúa Giêsu nói trên vào trong tâm trí chúng ta. Với sự khiêm nhường và tin tưởng, chúng ta hãy thưa với Chúa Giêsu rằng, lạy Chúa chúng con muốn trung thành với Chúa hôm nay, mai ngày và mãi mãi. Xin Chúa giúp chúng ta hiểu rằng thật vô ích khi tranh luận về lời giảng dạy của Thiên Chúa hay Giáo hội nên chúng ta nói với nhau rằng “Tôi không hiểu” ; “Lạy Thầy, chúng ta sẽ đi theo ai?” (Ga 6,68). Chúng ta nên xin một ơn phân định siêu nhiên hơn. Chỉ trong Thiên Chúa và Giáo hội chúng ta sẽ tìm thấy Lời ban sự sống đời đời : “Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68).

    Lời Đức Kitô mang lại sự sống đời đời

    Giống như Phêrô, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu nói với chúng ta bằng ngôn ngữ siêu nhiên, một ngôn ngữ mà chúng ta phải đồng ý và đồng hóa để hiểu ý nghĩa, nếu không chúng ta chỉ nghe thấy những tiếng ồn không mạch lạc và khó chịu. Giống như Phêrô, trong đời sống Kitô hữu chúng ta có những khoảnh khắc, chúng ta phải tự làm mới và bày tỏ chính mình với Chúa Giêsu để thưa với Chúa rằng chúng con ở với Chúa và chúng con muốn tiếp tục theo Chúa. Phêrô yêu mến Chúa Giêsu, và đó là lý do tại sao ông ở lại với Chúa, những người khác yêu Chúa chỉ vì cơm bánh, trẻ em theo Chúa vì “kẹo”, số người khác vì lý do chính trị đã bỏ rơi Chúa. Bí mật của lòng trung thành là tình yêu và sự tin tưởng.

    Chúng ta hãy xin Đức Maria là Đức Nữ trung tín thật thà giúp chúng ta từ bây giờ trung thành với Chúa và với Giáo hội.

    Về mục lục

    .

    LỜI HẰNG SỐNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Chúa ban Thịt Máu nuôi hồn,
    Bánh thiêng hằng sống, suy tôn Ngôi Lời.
    Môn đồ lẩm bẩm nặng lời,
    Chói tai bực bội, lạ đời khó nghe.
    Số người chán nản lập phe,
    Rời Thầy bỏ lối, vào bè rút lui.
    Môn đồ trung tín mừng vui,
    Có Thầy dẫn bước, tin vui cuộc đời
    Lời Thầy thần trí cao vời,
    Tuôn ban sự sống, cho người trần gian.
    Thần lương Chúa đã thương ban,
    Của ăn sức sống, ngập tràn yêu thương.
    Tin mừng mạc khải dẫn đường,
    Lắng nghe Lời Chúa, hiến chương Nước Trời.
    Lời ban sự sống đời đời,
    Tự do chọn lựa, gọi mời bước theo.

    Chúa phán: Những lời Ta nói với các ngươi là thần trí và là sự sống. Khi Chúa Giêsu kết thúc bài nói về bánh hằng sống, chính là Thịt Máu của Ngài. Ai ăn sẽ được sống đời đời. Có nhiều môn đệ cảm thấy lời đó khó nghe nên lẩm bẩm khó chịu nói rằng: Lời này chói tai qúa. Lời của Chúa làm chói tai, có nghĩa là họ không thể chấp nhận được. Lời Chúa là lời hằng sống có sức thánh hóa và biến đổi tâm hồn. Khi không chấp nhận nó sẽ trở thành một thách thức và gánh nặng.

    Thiên Chúa tạo dựng con người, Ngài ban cho những đặc quyền trên muông thú. Ngài ban cho con người có lý trí và có tự do. Có trí khôn để suy xét và có tự do để chọn lựa điều hay lẽ phải. Khi Chúa tạo dựng nên chúng ta, Chúa không cần hỏi ý kiến của chúng ta, nhưng muốn cứu chuộc, Chúa dành cho chúng ta có quyền được lựa chọn.

    Truyện kể về bác sĩ Victor France, người Do Thái, khi ông bị bắt giam tại trại tập trung của Đức Quốc Xã. Ông đã bị tước đoạt tất cả và bị lột hết quần áo. Bị kinh bỉ tới cùng tận. Ông không còn gì. Chính trong giây phút đó, ông đã nhận ra rằng ông có một thứ mà không ai có quyền tước đoạt. Ông có toàn quyền chọn cho mình một thái độ. Thái độ chọn lựa là của chính ông. Ông có thể tha thứ hay kết án, bỏ cuộc hay tiếp tục, ghen ghét hay hy vọng. Đây chính là sự lựa chọn và là sức mạnh vô song của con người.

    Biết bao vị thánh tử đạo đã chọn lựa con đường theo Chúa. Dù có phải khổ đau, chém đầu, xử giảo hay tù đầy, các ngài vẫn chọn lựa niềm tin trung kiên vào Chúa Kitô. Các Tông đồ xưa sau khi nghe Chúa nói về bánh hằng sống từ trời xuống, các ngài đã chấp nhận và chọn Chúa là Thầy và là Chúa. Các ngài biết rằng chọn Chúa, các ngài sẽ bị bắt bớ, bị cầm tù, bị khinh bỉ và bị giết vì danh Chúa nhưng các ngài luôn xác tín rằng họ sẽ được chung hưởng hạnh phúc đời đời.

    Chúng ta cũng có quyền lựa chọn theo Chúa hay không theo. Biết rằng chọn theo Chúa là chọn con đường đi vào sự sống. Theo Chúa thì cần phải quyết tâm và từ bỏ. Quyết tâm sống theo lời Chúa dậy, thực hành các giới răn và tuân theo ý Chúa. Từ bỏ những danh, lợi, thú ở đời để chúng ta cùng vác thánh giá hằng ngày mà theo Chúa. Hãy đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chúa có lời ban sự sống đời đời. Lạy Chúa, bỏ Chúa chúng con biết theo ai.

    Về mục lục

    .

    CHỌN LỰA CĂN BẢN

    Lm. Louis M. Nhiên

    Một chủ nông trại nọ thuê một người thanh niên đến nhặt khoai tây cho nông trại. Công việc xem ra thật đơn giản: chỉ cần phân loại các củ khoai tây và cho vào sọt. Lớn theo lớn, trung bình theo trung bình, và nhỏ theo nhỏ. Sau một vài ngày làm việc, người thanh niên đến gặp ông chủ và xin nghỉ việc, gương mặt anh hốc hác và mệt mỏi. Được hỏi lý do, anh giải thích như sau: “Công việc ông giao phó không phải là công việc nặng nhọc, nhưng điều làm cho tôi nhức óc đó là phải chọn lựa.” (Lẽ Sống, trang 117).

    Đời là một chuỗi những chọn lựa và quyết định. Trước ngưỡng cửa đại học các sinh viên học sinh phải đối diện với những chọn lựa:  Chọn ngành gì, chọn trường nào, bạn cùng phòng với ai? Các bạn trẻ lại phải đối diện với việc chọn lập gia đình hay đi tu, sống độc thân?  Các gia đình chọn sống ở nơi này hay di chuyển đến nơi khác, nên mua nhà hay thuê nhà?

    Trong những sự lựa chọn đó, đã có những lần mỗi người chúng ta phải đối diện với những chọn lựa đầy quan trọng có ảnh hưởng chi phối tới cả cuộc sống con người.

    Bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến một sự chọn lựa căn bản cho cuộc sống người Công Giáo chúng ta: Chọn theo Chúa hay chọn từ bỏ không theo Chúa. Bài đọc thứ nhất ông Giosuê đã nói với dân chúng:  “Nếu các người không muốn tôn thờ Thiên Chúa, các người có quyền chọn lựa… Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa.” Rồi bài Tin Mừng ghi lại: “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Ngài nữa,”vì những điều Chúa dạy về phép Thánh Thể làm cho họ chói tai không thể chấp nhận được.

    Chọn Chúa đã khó, theo Chúa lại càng khó khăn hơn nữa. Nhiều môn đệ đã không theo Chúa vì đã không hiểu được giáo lý cao siêu về phép Thánh Thể, nhưng ngày nay có những người từ bỏ không theo Chúa không phải vì không hiểu giáo lý cao siêu, nhưng chỉ vì những lý do tầm thường, vì nhu cầu vật chất, vì miếng cơm manh áo.

    Khi mới qua Mỹ năm 1975, có cha giảng rằng: “Vì để giữ được đạo, để theo Chúa, chúng ta đã phải bỏ quê hương Việt Nam, sang tị nạn nơi nước Mỹ này, nhưng nếu không cẩn thận để ý, thì chúng ta lại bỏ Chúa vì những nhu cầu vật chất tầm thường.”

    Điều này đã đang xảy ra. Cách đây khá lâu, một cha ở Texas chia sẻ rằng người Việt Công Giáo nơi cha đang thi hành mục vụ: “May mà không may.” Khi xin cắt nghĩa, cha giải thích:  “May là họ có nghề may, nhưng không may ở chỗ vì làm nhiều ăn nhiều, may nhiều ăn nhiều nên nhiều người đã may ngày chưa đủ, bỏ ngủ may đêm, may quên giờ nghỉ, rồi bỏ cả đi lễ Chúa Nhật, bỏ quên Chúa.  May mà không may là như thế.”

    Chọn Chúa đã khó, theo Chúa lại càng khó hơn nữa nhất là trong xã hội hôm nay. Một lần tôi gặp một chị Việt Nam, trong khi trò chuyện chị cho biết chị là người Công Giáo, nhưng chị không đi lễ Chúa Nhật lý do là chị đã phải đi làm một tuần 6 ngày, còn ngày Chúa Nhật chị ở nhà thu dọn nhà cửa, lo mua đồ ăn cho tuần tới thành ra không có thời giờ đi lễ, nhưng chị vẫn luôn tin nơi Chúa và vẫn giữ đạo tại tâm. Tôi khuyên bảo chị là nên biết ơn Thiên Chúa và cố gắng sắp xếp thời giờ tham dự thánh lễ hàng tuần như một hành động tạ ơn cám tạ Chúa vì muôn ơn lành chị và gia đình đã đang lãnh nhận.

    Câu hỏi mà ông Giosuê đã hỏi người Do Thái và câu hỏi Chúa đã hỏi các môn đệ: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” cũng là câu hỏi cho từng người chúng ta hôm nay.  Các người Do Thái đã trả lời không có chuyện bỏ Chúa để thờ thần ngoại vì Chúa đã thương giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ và đã làm nơi họ những điều kỳ diệu, còn thánh Phêrô đã đại diện trả lời: “Bỏ Thầy, chúng con biết đi theo ai. Thầy mới có những lời ban sự sống.”Chúa cũng đã yêu thương kêu gọi chúng ta theo Chúa, cho chúng ta được sống trong đất nước văn minh tự do này, và điều quan trọng chúng ta cần để ý đó là: Tình yêu cũng như niềm tin không thể bị ép buộc, và trước cuộc sống đời đời, không ai, không ai có thể chọn lựa hay quyết định giùm cho chúng ta được trừ chính chúng ta, và Thiên Chúa đã đang chờ đợi câu trả lời bằng cuộc sống của mỗi người chúng ta.

    Về mục lục

    .

    BỎ NGÀI CON BIẾT THEO AI?

    Lm. Đinh Lập Liễm

    Bài đọc 1 hôm nay thuật lại cho chúng ta biết: vào khoảng năm 1200 trước kỷ nguyên, dân Do Thái đã vượt qua sông Giorđan để vào đất hứa dưới sự hướng dẫn của ông Giosuê. Ông đã triệu tập toàn thể dân chúng lại và nói với họ: ”Hôm nay, các ngươi hãy tùy ý chọn lựa phải tôn thờ ai, Thiên Chúa hay các tà thần?” Toàn dân đã thưa với ông Giosuê: ”Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Thiên Chúa mà tôn thờ những thần ngoại lai, vì Chúa là Thiên Chúa chúng tôi” (Jos 24:1-18).

    Trước lời tuyên bố của Đức Giêsu: ”Thịt Ta là của ăn, máu Ta là của uống” thì không những đám dân chúng mà nhiều trong số các môn đệ đã phản ứng như những người Do Thái khác: ”Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6,60)? Khi nghe Đức Giêsu nói vậy, nhiều môn đệ, tuy được sống gần Ngài một thời gian, cũng rút lui, từ giã Ngài: ”Từ bấy giờ, có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Ngài nữa” (Ga 6,66). Họ đã theo Ngài một thời gian, đã tin, đã trở thành môn đệ, nhưng họ không thể đi tới cùng.

    Đứng trước sự tan rã bi đát này, Đức Giêsu quay về Nhóm Mười Hai, những người được coi là thân tín nhất của Ngài: ”Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không?” Thánh Phêrô đã thay mặt cho cả Nhóm nói lên thái độ của họ: ”Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa“ (Jn 6:67-69).

    Như vậy, Thánh Phêrô đã đại diện cho anh em nói lên một lời tuyên xưng rất trọn vẹn và đầy đủ, Ngài có những lời ban sự sống đời đời. Do đó, những lời tuyên bố, quả quyết và khẳng định trong bài giảng về Bánh Hằng Sống này thực sự là theo nghĩa đen thông thường nói về phép Thánh Thể.

    Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà chọn lựa là liều lĩnh, vì không bao giờ ta nắm chắc được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn suy nghĩ, cân nhắc theo như ta có thể, rồi ta cứ tiến bước.

    Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Có lẽ chỉ trừ việc sinh ra và cái chết là người ta không lựa chọn được (Ph 1:22-23), còn tất cả mọi việc khác thì người ta phải lựa chọn. Và chính sự lựa chọn này sẽ định hướng và đánh giá cuộc đời của mình. Nghĩa là nếu chọn đúng, chọn khéo thì đời mình sẽ tốt, sẽ hạnh phúc; còn nếu chọn ẩu, chọn sai thì cuộc đời sẽ xấu, sẽ bất hạnh.

    Nói đến lựa chọn là giả thiết phải có sự tự do trong đó. Nếu ai bị ép buộc phải làm một việc gì ngoài ý muốn thì không còn là tự do lựa chọn nữa, mà là sự bó buộc (ICor 9:17). Chính sự tự do trong lựa chọn làm cho chúng ta phải suy nghĩ, phải day dứt vì phải có trách nhiệm trong việc lựa chọn, phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.

    Bất cứ cách nào, lựa chọn là phải liều, phải chấp nhận một tương lai bấp bênh, phải chấp nhận hậu quả của việc lựa chọn ấy, mặc dầu phải hy sinh rất nhiều. Trong chọn lựa việc kết hôn, chúng ta sẽ thấy rõ đặc tính của sự lựa chọn ấy: “Nhà anh chẳng chiếu chẳng giường. Chỉ ấm ổ rạ, nàng thương chăng là? Yêu nhau chẳng quản cửa nhà. Chuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo.”

    Đức Gioan Phaolô II thường khuyên những người đến với Ngài rằng: Chúng con phải lựa chọn. Chọn là một quyết định lớn và quan trọng của đời người. Chúng ta đã chọn. Và chúng ta còn phải tiếp tục chọn, vì đời là một tiến trình, đời là một cuộc đổi mới không ngừng nghỉ. Khẩu hiệu của Đức Gioan 23 là: Giờ đây tôi mới khởi sự (Rev 21:5). Mỗi ngày chúng ta phải khởi đầu với sự lựa chọn.

    Mà sự lựa chọn căn bản và quan trọng nhất của cuộc sống là chọn Đấng chúng ta tôn thờ. Chúng ta phải chọn Chúa là thần tượng vì Ngài là một vị thần siêu việt, tuyệt đối đáng tôn thờ. Ta không được bắt chước dân Do Thái xưa thờ con bò vàng thay vì Ngài (Ex 32:1-6). Chính Đức Giêsu cũng khuyên: ”Không ai có thể làm tôi hai chủ… Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6, 24).

    Nhưng Thiên Chúa là Đấng vô hình, ta không thể tiếp cận với Ngài, ta cần phải có một thần tượng nào gần chúng ta hơn, vị thần ấy đã nói: ”Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Jn 14:9) và Đấng ấy đã nói: ”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

    Sự lựa chọn của chúng ta sẽ mang lại phần thưởng mà Thánh Phêrô và các Tông Đồ xưa đã nhận lãnh, đó là được chia sẻ tấm bánh hằng sống, Mình và Máu Đức Kitô. Được chết đi với Chúa mỗi ngày (ICor 15:31) để được sống lại với Chúa trong hạnh phúc và vinh quang. Chính Thánh Thể là cớ vấp phạm cho các môn đệ khiến họ từ bỏ Chúa, và ngày nay cũng có những người không chấp nhận được mầu nhiệm này. Đây là một lựa chọn quan trọng có liên quan đến cuộc đời mai hậu của ta.

    Nhiều môn đệ đã bị thử thách về bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống cũng sẽ có những giây phút chúng ta cũng bị thách đố như các môn đệ, và có thể chúng ta cũng bị cám dỗ từ bỏ Chúa, không theo Ngài nữa. Những lúc đó, chúng ta đừng để mình vấp phạm những lỗi lầm giống như các môn đệ xưa đã vấp phải, nghĩa là đừng chỉ lo chú tâm đến những vấn đề xẩy đến cho chúng ta, mà hãy đưa mắt nhìn vào Đức Giêsu; chúng ta hãy xác nhận lại niềm tin vào Ngài như Thánh Phêrô đã làm: ”Lạy Thầy, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Jn 6:68-69).

    Trong ngày chịu phép Rửa tội, Linh mục hỏi chúng ta có từ bỏ ma quỉ và những việc làm của chúng không? Cha mẹ chúng ta hay chính chúng ta đã quả quyết thưa từ bỏ. Ta lại còn tuyên xưng và tin theo Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Chúng ta đã chọn Thiên Chúa là gia nghiệp của mình. Rồi trong mỗi dịp lễ Phục Sinh, từng người chúng ta lại có dịp bầy tỏ sự lựa chọn của mình một lần nữa khi tuyên xưng đức tin và lại tuyên bố từ bỏ ma quỉ và các việc của của chúng.

    Chúng ta đã chọn Chúa và chỉ chọn một mình Chúa chứ không thể chọn cả hai, không được thờ hai chủ. Lựa chọn một lần chưa đủ, còn phải lặp đi lặp lại nhiều lần; nó phải được thể hiện qua những lựa chọn nho nhỏ trong mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: chọn Chúa. Chọn lựa đúng thì được sống và chọn lựa sai thì chết (Sir 15:16-17; Deut 21:26-28).

    Ở đô thị Jaffa xứ Palestina, có một khu đất gọi là khu đất quyết định. Các sông ngòi chảy vào khu đất ấy lưỡng lự một lúc rồi mới chảy sang một trong hai hướng. Những sông ngòi theo một hướng thì chảy vào khu vườn Sharon xinh đẹp. Còn những sông ngoài theo hướng kia thì chảy vào Biển Chết, biển này không có một sinh vật nào sống nổi. Cuộc đời chúng ta cũng thế. Chúng ta phải chọn một hướng, không ai có thể làm tôi hai chủ: “Một nhà hai chủ không hoà. Hai vua một nuớc ắt là không yên.”

    Chọn lựa tự do, nhưng chọn lựa lại là giới hạn. Khi đã có một chọn lựa là chúng ta phải biết tự giới hạn mình. Chính Đức Giêsu khi chọn con đường cứu độ nhân loại, Ngài cũng đã phải chấp nhận thân phận giới hạn con người, và cả cái chết nhục nhã trên thập giá như lời Thánh Phaolô trong bài đọc 2: ”Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và phó mình vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh,…ngõ hầu bầy tỏ cho mình một Hội Thánh vinh quang, không vết nhơ, không nhăn nheo…, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Eph 5:25-27).

    Nếu ta bỏ Chúa thì sẽ ra sao? Linh mục nhạc sĩ Thành Tâm đã suy diễn câu hỏi bất hủ của Thánh Phêrô thành một bài thánh ca rất ý nghĩa như sau:

    Bỏ Ngài con biết theo ai? Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cách chim bơ vơ trong khung trời lộng gió. Bỏ Ngài con sẽ theo ai, đời lộng gió cánh chim ngàn khơi. Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một con tuyền lao đao trên biển cả mênh mông. Bỏ Ngài con biết theo ai, thuyền buông lái biết trôi về đâu? Bỏ Ngài con biết theo ai, trên đời kia tương lai khuất mờ. Và bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cuộc hành trình cô đơn, buồn bã. Bước đi không Ngài, đời con buồn tênh.

    Còn nếu chọn Ngài, thì cuộc đời của chúng ta tuy cũng vẫn là một cuộc hành trình, cũng vẫn như cánh chim bay trong khung trời lộng gió, cũng như một con thuyền giữa biển cả mênh mông; nhưng trong cuộc hành trình ấy, đã có Chúa đồng hành, cánh chim đã biết hướng mà bay, con thuyền đã có người lèo lái và như thế sẽ bảo đảm đi tới bến đò bình an (Lm Carolô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 606-607).

    Chọn Chúa, đi theo Chúa, trước mắt là một sự hy sinh, một sự mất mát và bị người đời coi như một sự điên rồ, nhưng như Thánh Phaolô nói thì đó là sự khôn ngoan trước mặt Chúa (ICor 1:24). Có lẽ người ta nói đúng: ”Khôn thế gian làm quan địa ngục, dại thế gian làm quan thiên đàng!”

    Bước theo Chúa là phải đi vào con đường khổ giá, phải qua cửa hẹp, nhưng chính con đường hẹp hòi khắc khổ lại đem đến vinh quang. “Xả thân nếu muốn theo Thầy. Vác cây khổ giá hằng ngày mà theo (Lc 9:23).

    Về mục lục

    .

    ĐI THEO AI

    Lm. Nguyễn Thái

    “Một giọt sương buổi sáng sớm lung linh trên ngọn cỏ, bỗng reo lên “Ôi mát quá!” Nó ngắm nhìn mình thỏa thuê ra vẻ đắc ý vì thấy mình to lớn, rồi tự nhủ: “Ta sẽ đi cho mọi người thấy vẻ đẹp và sự to lớn của ta.” Nó đã đi qua khu rừng đầy cây cối. Những lá cây, ngọn cỏ xin hạt sương chút nước để uống, giọt sương lắc đầu ngạo mạn nói: “Các ngươi dám xin ta sao, liệu các ngươi có uống nổi cả giọt nước của ta không?” Rồi nó kênh kiệu bỏ đi.

    Gặp vũng nước đang bị từng đám súc vật hút cạn nguồn sống, giọt sương ngỡ ngàng tiến đến hỏi: “Chị ơi! Chị là ai mà to lớn, đẹp đẽ và quảng đại thế?” Vũng nước đáp: “Tôi chỉ là giọt nước luôn sống cho đi.” Nó đang phân vân tự hỏi “cho đi” là gì nhỉ? Nó lại ngỡ ngàng trước tiếng reo hò của người đánh cá. Vũng nước bảo nó hãy đến mà xem. Giọt sương liền đi và hết sức ngạc nhiên, trước mặt nó là một dòng sông hiền hòa trong vắt, đầy những tiếng cười của bọn trẻ đang nô đùa bơi lội. Giọt sương tiến đến hỏi: “Chị ơi, chị là ai?” Dòng sông khiêm tốn trả lời: “Tôi là những giọt sương bé nhỏ luôn biết cho đi.”

    Lúc này giọt sương hối hận và xấu hổ, vì từ lâu nó không hề dám cho đi, không vì kẻ khác. Thấy giọt sương bé nhỏ đau khổ, hối hận, dòng sông dịu dàng bảo: “Đừng buồn nữa em. Hãy xuống đây ở với chị, chị sẽ đưa em đi thăm biển cả.” Lúc đầu giọt sương có vẻ ngần ngại, nhưng sau nó nghĩ: “Thật mình vừa bé nhỏ lại quá kiêu ngạo. Thôi ta hãy tập sống cho đi.” Nó đã chấp nhận cho dòng sông chính bản thân mình. Dòng sông nhận nó trong vòng tay yêu thương và cho nó được đầy tràn. Giữ đúng lời hứa, dòng sông đưa nó ra biển khơi. Được hòa nhập với biển, nó tự nhủ: “Đúng là lúc ta chấp nhận cho đi thì sẽ được đầy tràn, lúc ta biết hy sinh cho người khác là ta được lãnh nhận tất cả” (Minh Hoàng tóm lược, Abba số 54).

    “Cảm nghiệm từ giọt sương” trên đây đã nói lên tâm sự của Phêrô và các môn đệ sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi sự để theo Chúa Giêsu, sống hiến thân phục vụ Nước Trời: “Thầy ơi! Bỏ Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6: 68).

    Đoạn Tin Mừng hôm nay, Ga 6: 60-69, diễn tả một thời điểm quyết định trong đời mục vụ của Chúa Giêsu. Lúc ban đầu rất nhiều người muốn đi theo Chúa, muốn làm môn đệ của Ngài để được ăn bánh no nê, và được chữa khỏi các bệnh tật. Họ mong được của ăn phần xác và sự đảm bảo cho cuộc sống trần thế. Họ chờ đợi một Đấng Thiên Sai sẽ đến để đáp ứng lòng mong ước về vật chất và chính trị của họ.

    Nhưng khi Chúa Giêsu muốn biến đổi cái nhìn của họ hướng về đời sống tinh thần và sự sống đời đời: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6:51), và khi Ngài muốn mạc khải cho họ biết ý nghĩa đích thực của Đấng Thiên Sai đến để hy sinh và trao ban chính Mình và Máu Ngài, họ liền quyết định từ bỏ Ngài: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được” (Ga 6:60).

    Sách Giáo Lý Công Giáo số 1336 viết: “Thánh Thể và Thập Giá là những hòn đá vấp phạm. Vẫn là một mầu nhiệm đó, và nó vẫn là dịp của những chia rẽ: ‘Chính anh em cũng muốn bỏ đi sao?’ (Ga 6:67). Câu hỏi này của Chúa vẫn vang lên qua các thời đại, và đó cũng là lời mời gọi chân tình của Ngài thúc giục ta hãy khám phá ra rằng chỉ có mình Ngài có ‘những lời ban sự sống đời đời’ (Ga 6:68), và đón nhận hồng ân của Thánh Thể trong niềm tin là đón nhận bản thân Chúa Kitô.”

    Ăn Mình và uống Máu Ngài là trở nên một thân thể với Ngài, là cùng phải chấp nhận một giá trị mới: cho đi và hy sinh bản thân mình cho tha nhân, vì Nước Trời. Đời sống của mỗi người là một sự chọn lựa dựa theo những bậc thang giá trị tối thượng của mình. Những con người ích kỷ chỉ chọn lựa của ăn thể xác, cuộc sống trần gian làm cùng đích (Ph 3:19) thì không thể nào chấp nhận được sự hy sinh để phát triển đời sống tinh thần cho phần rỗi đời đời của mình cũng như của tha nhân.

    Dân chúng thời Chúa Giêsu cũng như thời nay, họ chỉ đến với Chúa Giêsu vì cái mà Chúa Giêsu đã làm cho họ, họ không muốn đi xa hơn. Lịch sử Giáo Hội Công Giáo đã ghi lại những công việc truyền giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới: Nhiều người bản xứ theo Kitô Giáo vì các nhà truyền giáo ngoại quốc cho họ gạo để ăn, cho ruộng đất để canh tác. Đến khi hết gạo, họ cũng bỏ đạo. Từ đó phát xuất một danh từ mỉa mai là “đạo gạo”!

    William Sloan Coffin, đã nói đến sự sai lầm của việc truyền giáo khi nhấn mạnh đến việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất và trần thế: “Điều bất ổn trong việc gọi là Phúc Âm hóa của Kitô Giáo tại Mỹ Châu là nó bắt đầu bằng sự ích kỷ – Hãy đến với Chúa Giêsu thì cuộc đời của bạn sẽ được ổn định, sự rạn nứt trong hôn nhân sẽ được hàn gắn, con cái bạn sẽ sống trong sạch – và tôi không thấy được sự hợp lý khi bạn khởi sự rao giảng bằng sự ích kỷ như vậy mà lại kết thúc bằng việc Chúa Giêsu giảng dạy rằng: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống” (Mk 8:35). Có một khoảng cách biệt lớn lao giữa những người đến gặp Chúa để thỏa mãn những nhu cầu của họ và những người đã được gọi theo Ngài để trở thành những môn đệ của Ngài.”

    Đang khi có những người bỏ Chúa Giêsu ra đi, thì Phêrô đại diện cho mười hai Tông Đồ là những người đã sống với Chúa lâu hơn, biết Chúa nhiều hơn, đức tin của họ có lẽ cũng mạnh hơn, cho dù có lẽ họ cũng chưa hiểu rõ lắm những lời Chúa đã nói, đã quyết định ở lại với Chúa. Họ chọn lựa con đường hy sinh, bước theo Chúa.

    Có một cô giáo tên là Thompson. Thường vào đầu niên học, các thầy cô đều có hồ sơ của các học sinh của mình. Em Teddy Stollard, một trong những học sinh của cô Thompson, đầu tóc rối bù, thường trả lời nhát gừng khi được hỏi tới. Cô đã đọc trong học bạ của em: “Lớp 1, Teddy là một học sinh trung bình. Chưa phát huy hết khả năng. Gia đình em có vấn đề. Lớp 2, Teddy chia trí lo ra, không chịu học bài, mẹ em bị ung thư. Lớp 3, Teddy càng trở nên tệ hơn, không theo kịp các bạn trong lớp. Mẹ em chết. Cha em không để ý đến em. Lớp 4, Teddy sẽ phải ở lại lớp, trừ khi có gì khác…”

    Nhân dịp Lễ Giáng Sinh, tất cả học sinh mang quà đến tặng cô giáo, chất đống trên bàn. Teddy cũng mang một món quà được gói kỹ và dán lại trong miếng giấy đi chợ mầu nâu. Cô Thompson mở ra, một cái vòng đeo cổ bằng đá, có những hột đá đã bị đánh mất. Và một nửa chai nước hoa loại rẻ tiền. Cô giáo vừa mở quà ra thì các em khác trong lớp phì cười. Nhưng cô giáo cũng trân trọng đeo chiếc vòng vào cổ và cầm lọ nước hoa giơ lên cao cho các em xem. Sau buổi học hôm đó, Teddy ở lại gặp cô giáo và nói: “Thưa cô, khi cô xức nước hoa vào người cô, em cảm thấy mùi vị giống như của mẹ em. Và cái vòng của mẹ em cũng rất là đẹp trên cổ cô!”

    Sau Giáng Sinh, lớp học bắt đầu lại, cô đã thay đổi hoàn toàn, cô dồn hết nổ lực và tâm trí trong việc dạy dỗ học sinh. Cô bắt đầu với Teddy, cho thêm bài tập, dạy kèm riêng. Và đến cuối năm thì Teddy đã theo kịp lớp học và còn vượt xa nhiều em khác.

    Nhiều năm sau đó, cô giáo nhận được một lá thư. “Cô Thompson thân mến! Em học rất chăm, em đứng hạng nhì trong lớp. Em muốn cô là người đầu tiên biết tin này.” Vài năm sau, cô lại nhận được một thư khác. “Cô thân mến! Em vừa được nhà trường cho biết là em tốt nghiệp hạng nhất trong lớp em. Em nghĩ rằng cô sẽ vui khi hay tin nầy. Em biết rằng lên đại học thì việc học hành sẽ khó hơn, nhưng em rất thích.” Rồi tám năm sau đó, cô lại nhận được một lá thư nữa: “Cô thân mến! Em vừa tốt nghiệp, em sẽ là Bác sĩ Teddy Stollar, MD. Em xin mời cô đến dự đám cưới của em và đóng vai của mẹ em. Cô giáo đã đi dự đám cưới với vai trò là mẹ của Dr. Teddy. Cô xứng đáng lắm, vì cô đã cho đi cuộc đời cô cho học sinh. Qua sự hy sinh của cô, cuộc đời của các em học sinh đã thay đổi. Hy sinh và cho đi là lý tưởng chung của tất cả mọi người Kitô hữu, môn đệ Chúa Kitô.

    Một ngày nọ, một nữ tu đến hỏi Thánh Catherine rằng: “Làm thế nào con có thể đền đáp lại cho Chúa tất cả những sự tốt lành của Ngài đã làm cho con? Làm thế nào con có thể vinh danh Ngài vì tất cả lòng nhân từ, thương xót và bao dung của Ngài?” Thánh Catherine đã trả lời: “Dù con có làm bất cứ việc ăn năn sám hối nào, con cũng sẽ không cảm thấy đủ. Dù con có xây lên một ngôi nhà thờ chánh tòa, thêm giờ im lặng cầu nguyện, con cũng không cảm thấy đủ. Nhưng mẹ nói với con một điều con có thể làm để đền đáp tình yêu của Chúa đã yêu con: Đó là con hãy tìm một người thật khó thương giống như con và ban tặng cho người đó một loại tình yêu giống như Thiên Chúa đã ban cho con.”

    Lời khuyên của Thánh Nữ Catherine cũng khó nghe và khó thực hiện nữa! Nhưng đây là ý nghĩa của việc chia sẻ Mình và Máu Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Không thể nói đến tình yêu đích thực, mến Chúa – yêu người, nếu không có sự hy sinh lẫn cho nhau.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

    Tin mừng Chúa nhật hôm nay ghi lại phần cuối trong bài giảng của Chúa Giêsu về bánh hằng sống và những phản ứng của thính giả trong hội đường Capharnaum. Hôm đó thành phần tham dự nghe bài giảng của Chúa Giêsu đa số là dân chúng, còn có một số môn đệ và 12 tông đồ. Ở đây thánh sử Gioan muốn nói đến phản ứng của các môn đệ và các tông đồ.

    Có 2 phản ứng trái ngược nhau:

    – Thái độ không tin, không chấp nhận giáo lý của Chúa Giêsu vì họ không hiểu, không nhận ra nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu. Nhóm này gồm đa số dân chúng và một số môn đệ. Họ tranh luận với nhau: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được!”. Họ hiểu lời Chúa giảng về bánh hằng sống hoàn toàn theo nghĩa vật chất, nên họ cho là chói tai, họ lẩm bẩm kêu trách và xúc phạm. Thánh Gioan ghi nhận cụ thể rằng: “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui không còn theo Người nữa”.

    – Thái độ tin và chấp nhận lời rao giảng của Chúa Giêsu. Sau khi thấy phản ứng cứng lòng của các môn đệ, Chúa Giêsu nói với các tông đò, xem các ông phản ứng ra sao: “Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không?”. Phêrô đã đại diện anh em tông đồ bày tỏ niềm tin vào Thầy mình: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.

    Phêrô cùng với anh em tông đồ tin vào Chúa Giêsu bởi các ông xác tín Thầy mình là Đấng Messia: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”. Ở đây chúng ta thấy các tông đồ cũng nghe những lời mà các môn đệ cho là chói tai, nhưng các ông không vấp phạm mà còn cảm thấy không thể bỏ Thầy được, vì các ông tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, chỉ có Thiên Chúa mới có thể trở nên thần lương ban cho nhân loại sự sống đời đời: “Ai ăn Thịt Tôi và uống Máu Tôi sẽ được sống đời đời”.

    Sống trong một thế giới vô thần, duy vật, tục hóa và hưởng thụ. Một xã hội có nhiều mâu thuẫn đối nghịch với Tin mừng, với đạo Công giáo, chống lại Thiên Chúa, loại bỏ những giá trị thánh thiêng. Lời Chúa hôm nay đòi hỏi người tín hữu phải dứt khoát chọn lựa: chọn Chúa hay thế gian, sống theo tinh thần của Chúa hay tinh thần thế tục, đi theo Chúa hay theo ma quỷ.

    Sống là phải chọn lựa, chọn lựa là hy sinh và từ bỏ. Như thế, hành vi chọn lựa không phải dễ dàng, luôn phải trả giá. Chọn lựa một nghề để mưu sinh, chọn lựa một người bạn đời hay chọn lựa cuộc sống tu trì, chọn một lý tưởng… không phải là chuyện đơn giản, tin theo Đức Giêsu lại càng nhiêu khê và đòi nhiều hy sinh…

    Dân Do Thái thời cựu ước cũng đã trải qua cuộc chọn lựa dứt khoát: Theo Chúa, tôn thờ Thờ Chúa hay tôn thờ các thần khác. Trong bài đọc I, Giôsuê nói với toàn thể dân Irael: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tùy ý chọn thần mà thờ… Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Thiên Chúa”. Dân đáp lại:“Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Thiên Chúa, mà phụng thờ các thần khác. Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông của chúng tôi lên từ đất Ai Cập, từ nhà nô lệ…”.

    Cũng như dân Do Thái xưa, người Kitô hữu chúng ta không có ý lìa bỏ Thiên Chúa vì Người đã giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi. Nhưng trong cuộc sống thực tế có thể nhiều lần chúng ta đã lìa bỏ Thiên Chúa khi không tuân theo lề luật Chúa, không giữ lời Người, phạm tội, sống bất công với anh em.

    Có thể chúng ta “không hề có ý lìa bỏ Thiên Chúa”, không theo chủ nghĩa vô thần, nhưng lại là những người “vô thần thực sự”, nghĩa là sống như không có Thiên Chúa, vì thực tế đã không sống theo lời Chúa dạy, không sống đạo chân thành “Có đạo mà không sống đạo”. Thậm chí có những người vẫn “giữ đạo” qua việc tham dự thánh lễ, rước lễ, đọc kinh… Nhưng lại không “hành đạo” trong cuộc sống hàng ngày qua việc thực hành lời Chúa, việc bác ái, phục vụ tha nhân. Nói cách khác, chúng ta chưa dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa, chưa yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B.

    Lm. Giuse Đinh Tất Quý

    Bài Tin Mừng hôm nay được coi như đoạn kết cho một câu chuyện tương đối dài trong TM của Gioan. Câu chuyện bắt đầu bằng một phép lạ rất đặc biệt được cả bốn Tin Mừng ghi lại. Đó là phép lạ bánh hóa nhiều. Sau phép lạ Chúa giảng một bài giảng rất đặc biệt với đề tài cũng rất đặc biệt. Đó là bài giảng về bánh hằng sống. Bài giảng này đã gây ra một sự phân hoá chưa từng thấy trong thái độ của những người nghe Chúa lúc đó. Ngoài thái độ của những kẻ đã có sẵn một ác ý và luôn thù nghịch với Chúa, chúng ta còn có thể thấy ba thái độ rất khác nhau về vấn đề này.

    1. Trước hết là thái độ của đa số quần chúng.

    – Được Chúa cho ăn bánh no nê, họ cảm thấy vui. Hơn nữa họ còn muốn tôn Chúa lên làm vua để cai trị họ, với hy vọng họ sẽ có được một tương lai sáng sủa và oai hùng hơn.

    – Chính vì quá mong mỏi một tương lai có tính cách trần thế như vậy cho nên khi thấy Chúa không đáp ứng được những mong ước của mình, dân chúng đã bắt đầu lạnh nhạt với Chúa. Khi Chúa nói với họ về một thứ bánh mà Chúa gọi là bánh hằng sống thì họ tỏ ra lãnh đạm lạ thường. Thái độ đó dần dần đã làm cho họ trở thành những người sẵn sàng đối đầu với Chúa sau này.

    2- Thái độ thứ hai là thái độ của một số các môn đệ. 

    – Lý ra thì họ phải là những người hiểu Chúa, tha thiết với Chúa nhiều hơn. Cho dù những lời Chúa giảng có khó chấp nhận thì họ cũng phải luôn gắn bó với Chúa. Thế nhưng thật không may cho Chúa, Chúa mới chỉ đề cập đến một vấn đề hơi khó hiểu một chút thế mà họ đã bỏ Chúa, bỏ một cách không một chút nuối tiếc. Charles Erdman bảo họ bỏ Chúa vì họ thất vọng. Họ thất vọng vì Chúa không trở thành một nhà lãnh đạo chính trị như lòng họ vẫn thầm mong.

    – Trước sự ra đi của họ, xem ra Chúa hơi đau xót một chút nhưng Chúa vẫn giữ nguyên thái độ và không chịu lùi bước.

    3- Thái độ cuối cùng là thái độ của nhóm 12.

    – Sau khi một số các môn đệ bỏ đi, Chúa hướng mắt của Người về nhóm 12.

    – Phêrô đại diện cho tất cả nhóm nói lên một lời mà cho dù không phải là Chúa chúng ta cũng dư biết là Chúa rất vui lòng.

    – Thái độ của Phêrô làm Chúa cảm động. Phêrô đã dứt khoát chọn Chúa… Một chọn lựa không có gì làm cho ông thay đổi.

    B- Vấn đề của ta: Tại sao cùng đứng trước một Chúa Giêsu mà lại có nhiều thái độ khác nhau như thế? Tại vì những lời Chúa nói và vấn đề Chúa đặt ra khó tin quá.

    + Dân chúng không hiểu được vì họ không muốn hiểu.

    + Một số môn đệ không những đã không muốn hiểu mà còn cho đó là những lời quá chói tai nghe không được nên họ bỏ đi.

    + Chỉ còn lại một nhóm nhỏ tuy không hiểu nhưng vẫn tin và vẫn chấp nhận. Họ chấp nhận bởi vì họ cảm thấy không thể bỏ Chúa. Lòng tin của họ rất chân thành. Niềm tin của nhóm 12 chẳng khác gì niềm tin của Giosuê thuở xưa trong thời Cựu ước. Tại Sikem nơi mà trước đây Abraham đã dựng bàn thờ đầu tiên để dâng đất Canaan này cho Thiên Chúa (Kn 12,6), nơi mà Giacob và con cái của ông đã để lại rất nhiều kỷ niệm (Kn 33;35), nơi mà trước đây ông đã chọn để tuyên bố luật pháp. Chính tại nơi đây một lần nữa Giosuê biểu lộ lòng trung thành của ông và gia đình ông. Ông nói với những người Do thái như thế này: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ ĐỨC CHÚA, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần khác mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA.”

    Vâng đó là một chọn lựa thật đẹp, đẹp trong thái độ của ông và gia đình ông, và còn đẹp cả ở trong ý nghĩa nữa: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA.”

    Giosuê quả xứng đáng là một nhà lãnh đạo. Lòng tin và lòng trung thành của ông đã trào qua và thấm vào lòng của toàn dân. Dân chúng cũng cảm thấy họ không thể chọn con đường nào khác. Họ đã đáp lại: “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ ĐỨC CHÚA để phụng thờ các thần khác! Vì chính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. ĐỨC CHÚA đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mô-ri ở trong xứ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi.”

    Đó là những gì đã xẩy ra từ ngàn xưa, cách chúng ta cả gần 3000 năm.

    Thế còn bây giờ thì sao?

    Vào năm 1924 ở nước Anh, có một người tên là Eric Liddell. Eric Liddell là vận động viên xuất sắc trong môn chạy 100 mét. Mọi người đều hy vọng anh sẽ đem về cho quê hương chiếc huy chương vàng tại đại hội Olympic được tổ chức tại Paris nước Pháp năm đó. Nhưng rồi họ ngỡ ngàng bực tức khi nghe tin anh từ chối không tham dự đại hội đó. Lý do là vì đại hội đó tổ chức nhằm ngày Chúa nhật. Anh không thể bỏ lễ Chúa nhật để đi tìm một huy chương vàng. Mọi người đều gây sức ép trên anh. Cả hoàng tử xứ Walles cũng cố gắng thuyết phục anh đi dự đại hội đó. Thế nhưng anh nhất định không chịu đổi ý, báo chí Anh quốc cho anh là tên phản bội.

    Vài năm sau, anh còn làm cho mọi người sửng sốt hơn nữa, khi anh đến Trung Hoa làm trong vai trò của một nhà truyền giáo.

    Thế rồi thế chiến thứ hai xảy ra. Khi Nhật nhả̉y vào cuộc chiến, anh bị bắt và bị giam trong một trại tập trung. Tại đây anh vẫn tiếp tục việc mục vụ bên cạnh các tù nhân. Vài năm sau, anh đã anh dũng chết tại trại tập trung nầy. Năm 1980, có người đã dựng lên cuốn phim về cuộc đời hy sinh vì Chúa của anh. Cuốn phim tựa đề là “Chuyến xe chở lửa”.  Cuốn phim đã phá kỷ lục về lợi nhuận mà còn đoạt giải thưởng Hàn Lâm năm 1982.

    Cuộc đời của Eric Liddell đã làm sáng tỏ thái độ dứt khoát mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ của Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay

    Một khi đã quyết định theo Chúa Giêsu, Eric cứ nhắm thẳng phía trước mà tiến bước, không bao giờ ngó lại phía sau dù phải đối diện với áp lực khủng khiếp của dân chúng, dù bị gọi là tên phản bội.

    Bí quyết nào giúp anh can đảm, trung thành bền đỗ đến thế?

    Anh luôn thức dậy sớm mỗi ngày, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện. Đó là bí quyết của anh. Và chắc chắn đó cũng là bí quyết cho chúng ta, nếu chúng ta muốn làm môn đệ Chúa bền vững. Và “ai bền đỗ dến cùng sẽ được cứu thoát” (Theo “Sunday  homilies”).

    Về mục lục

    .

    THẦY LÀ ĐẤNG THÁNH CỦA THIÊN CHÚA

    Fx Đỗ Công Minh

            Bài  Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với các môn đệ  ngay tại hội đường Cac-pha-na-um sau khi  nghe Người nói: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì được sống muôn đời “. Lời Chúa nói họ không tin và không thể hiểu, thậm chí còn lớn tiếng phê phán “ Lời này chướng tai quá , ai mà nghe nổi “, không ít người khác xầm xì, dè bỉu. Người biết các ông, không phải chỉ là đám đông theo Người, mà chính là những môn đệ ít nhiều đã đi theo Chúa, nhưng các ông không thể tin vào Lời Chúa nói về chính thân thể Người là máu, là thịt,  là của ăn để con người phải dùng hầu được sống đời đời. Đức Giêsu đã lên tiếng về việc này : “Thầy đã bảo với anh em: không ai đến được với Thầy, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho “,  và cuối cùng số đông bỏ đi chỉ còn nhóm mười hai, những người kiên trung ở lại.

            Quả thật, việc các môn đệ thấy chướng tai khi nghe Lời Chúa nói với các ông, họ không có được cái nhìn đức tin. Họ chỉ nghĩ theo trí hiểu của con người trần gian, làm sao dám ăn thịt và uống máu  người đồng lọai với mình? Chúa không trách họ. Họ không thể hiểu “Chính Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt nào có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống“.Và không chỉ các môn đệ ngày ấy không tin, bỏ đi, mà cho đến hôm nay số người chưa tin vào Lời Chúa vẫn còn là số đông trên thế giới này .

           “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Câu hỏi mà Đức Giêsu đặt ra cho nhóm Mười hai cũng là đặt ra cho mỗi người chúng con đây. Con đang sống trong một thế giới mà nhiều người  vin vào chủ thuyết duy nghiệm, đòi hỏi bất cứ việc gì cũng phải kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ được, cảm nhận được qua các ngũ quan thì mới tin, còn ngòai ra thì bỏ ngòai tai những lời dạy của Hội Thánh đã được Thiên Chúa mạc khải qua Đức Giêsu Kitô, nên nhiều người hôm nay cũng cảm thấy chướng tai khi nghe Lời Chúa Trong Thánh Kinh.

             Phần chúng con, những người được đón nhận Tin Mừng của Chúa qua các Tông đồ, qua Giáo hội Công Giáo tông truyền, chúng con tin rằng “Không ai đến được với Thầy (Đức Giêsu), nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho “.Tuy thế, lòng tin của con hầu như vẫn còn mỏng dòn, do dự, vẫn còn yếu ớt, ngờ ngợ. Con có dám mạnh dạn như Tông đồ Phêrô tuyên xưng :”Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời ” ? Con có dám nói những lời mà Thánh Phaolô đã từng nói “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa sống trong tôi “ ?

            Xin cho con biết lắng nghe và đón nhận Lời Chúa. Xin giúp con nhận ra rằng đón nhận Lời và Thánh Thể chính là con được ăn thịt và uống máu Người.  Con được đón nhận Bánh Trường sinh, là lương thực nuôi dưỡng linh hồn con. Nhiều lần con cũng đã từng bỏ đi khi nghe được tiếng Chúa nhắc nhở, vì những cám dỗ của trần thế, vì sự yếu đuối  cuả bản thân mà con tỏ ra thái độ “Lời này chướng quá “ . Chính vì lòng tin cuả con còn non yếu. Xin Chúa ban thêm đức tin cho con để con có thể thưa lên như Thánh Phêrô Tông Đồ: “ Phần chúng con, chúng con đã tin nhận và biết rằng chính Thầy là đấng Thánh của Thiên Chúa “. AMEN.

    Về mục lục

    .

    QUYẾT BƯỚC THEO CHÚA

    Lm Giuse Đinh lập Liễm

    A. DẪN NHẬP

              Bốn bài giảng liên tiếp về Bánh Hằng Sống của Đức Giêsu đã tạo ra nhiều phản ứng nơi những cử toạ Do thái. Khi Ngài tiết lộ cho họ biết Ngài có Bánh hằng sống, ăn vào sẽ không đói khát nữa, họ bèn xin Ngài cho họ thứ bánh đó. Tiến thêm một bước, Ngài cho họ biết Bánh đó chính là Ngài từ trời xuống, họ có phản ứng chống lại ngay vì họ cho rằng Ngài chỉ là con bác thợ mộc Giuse ở Nazareth, làm sao lại có chuyện đó được ?  Nhưng khi Đức Giêsu cho họ biết Bánh Hằng sống đó chính là thịt máu Ngài, phải ăn thì mới có sự sống trong mình, thì họ có phản ứng kịch liệt vì họ cho đây là một việc tởm gớm, không thể chấp nhận được. Thậm chí cả một số môn đệ cũng có phản ứng tương tự :”Lời này chướng tai quá, ai mà nghe đuợc”. Kết quả là một số môn đệ bỏ đi, không theo Ngài nữa.

              Sau thất bại tàn tệ đó, Đức Giêsu quay sang nhóm Mười Hai, là những người thân tín nhất,  xem họ có thái độ thế nào ?  Rất may, ông Phêrô đã thay mặt cho nhóm Mười Hai thưa ngay với Ngài rằng:”Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Như vậy, các Tông đồ đã tin vào lời Chúa và quyết tâm theo Ngài.

              Ngày nay, trước mầu nhiệm Thánh Thể, vẫn còn có những người có thái độ như dân Do thái và một số môn đệ xưa : họ không tin nhận phép Thánh Thể vì họ cho là một việc phi lý, một sự bầy đặt. Còn chúng ta, chúng ta hãy học theo gương thánh Phêrô và các Tông đồ mà tuyên xưng đức tin và quyết tâm theo Chúa đến cùng, mặc dầu việc tin theo đó đòi hỏi nơi chúng ta nhiều từ bỏ, nhiều hy sinh.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

              + Bài đọc 1 : Gs 24,1-18.

              Sau khi ông Maisen qua đời, ông Giosuê lãnh nhận trách nhiệm lãnh đạo dân chúng và đưa họ vào Đất Hứa. Sau khi chinh phục được Đất Hứa và chia phần đất cho từng chi tộc, ông Giosuêâ tập họp dân chúng lại tại Sikem và đòi họ phải tuyên bố dứt khoát lập trường : tin theo Đức Chúa và trung thành với Giáo ước của Ngài hay tin theo các thần của dân ngoại ở Babylon hay các thần của xứ sở mà họ vừa chiếm cứ ?

              Toàn dân dứt khoát và đồng bộ chọn Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai cập. Từ nay họ sẽ trở thành dân riêng của Đức Chúa, trung thành thi hành giao uớc đã ký kết với Ngài ; và từ nay sự hiệp nhất sẽ phát xuất từ một niềm tin chung vào Giavê Thiên Chúa.

              + Bài đọc 2 : Ep 5,21-32.

              Bài đọc hai chỉ là đề tài phụ nhưng nói lên mối dây chặt chẽ giữa các tín hữu với Chúa Kitô. Chắc chắn thánh Phaolô biết đề tài Kinh Thánh về lễ cưới giữa Thiên Chúa và dân Ngài, và một cách tự nhiên, ngài nói sang hôn lễ giữa Đức Kitô và Hội thánh để nhấn mạnh rằng chính nơi Đức Kitô mà tình yêu Thiên Chúa đối với dân Ngài đã đến mức viên mãn.

              Theo đó, giáo huấn của thánh Phaolô về đạo vợ chồng có 2 điểm :

    1. a) Vợ phải phục tùng chồng như Hội thánh tùng phục Đức Kitô.
    2. b) Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô thương yêu Hội thánh và như người ta yêu thương thân xác mình.

              Kiểu nói của thánh Tông đồ Dân ngoại có thể gây ngỡ ngàng cho người nghe, nhưng sẽ không gây khó chịu  và có thể chấp nhận được khi qui chiếu về Tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh.

              +. Bài Tin mừng : Ga 6,60-69.

              Sau bài giảng về Bánh Hằng Sống với lời khẳng định quyết liệt của Đức Giêsu :”Thịt Ta thật là của ăn và Máu Ta thật là của uống”(Ga 6,55), sự cứng lòng tin của người Do thái lây sang cả nhóm các môn đệ. Họ cảm thấy chướng tai vì những lời quá táo bạo, đảo lộn hết cả mọi quan niệm của họ từ trước đến giờ.

              Bị đặt trước giờ phút phải lựa chọn : tin hay không tin, theo hay rời bỏ ? Nhiều người Do thái không tin và cùng với một số môn đệ cũng rời bỏ Ngài. Nhưng Đức Giêsu không rút lại  điều gì trong lời khẳng định của Ngài.

              Nhưng một câu hỏi được đặt ra một cách đột ngột cho các Tông đồ :”Cả các con nữa, các con cũng muốn bỏ đi hay sao”(Ga 6,67) ? Thánh Phêrô đã đại diện cho nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin một cách tuyệt vời :”Lạy Thấy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”(Ga 6,68).

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

                                                    Bỏ Ngài con biết theo ai ?

              Cả bốn bài Tin mừng của bốn Chúa nhật trước và bài Tin mừng hôm nay là phần cuối bài giảng của Đức Giêsu về Bánh hằng sống. Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết thái độ và phản ứng của các thính giả, cách riêng của các môn đệ và đặc biệt của các Tông đồ.

    I. CÂU CHUYỆN LỰA CHỌN.

    1. Dân Do thái chọn Thiên Chúa.

              Bài đọc 1 hôm nay thuật lại cho chúng ta biết : vào khoảng năm 1200 trước kỷ nguyên, dân Do thái đã vượt qua sông Giorđan để vào đất hứa dưới sự hướng dẫn của ông Giosuê. Sau khi chia đất đai cho các chi tộc, ông cảm thấy phải đau lòng truớc sự ngỗ nghịch phản bội của dân Do thái, ông đã triệu tập toàn thể dân chúng lại, truyền cho các kỳ lão, thủ lãnh các gia tộc, các quan án, các sĩ quan đến trước tôn nhan Chúa, rồi ông  nói với họ:”Hôm nay, các ngươi hãy tùy ý chọn lựa phải tôn thờ ai, Thiên Chúa hay các tà thần”? Toàn dân đã biết hối cải, chừa bỏ tội lỗi và đồng thanh quyết định chọn Thiên Chúa để tôn thờ Ngài, khi thưa với ông Giosuêâ â:”Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Thiên Chúa mà tôn thờ những thần ngoại lai, vì Chúa là Thiên Chúa chúng tôi”.

              Dân Do thái hồi tưởng lại biết bao ơn lành Chúa đã ban cho họ, đã cứu họ thoát ách nô lệ Ai cập. Ngài đã làm biết bao việc kỳ diệu, những phép lạ do cánh tay hùng mạnh của Ngài; Ngài đã thi thố biết bao ơn phúc khi dẫn đưa dân tộc họ vào Đất hứa, đất chảy sữa và mật mà Chúa đã hứa với cha ông họ. Mặc dầu họ phản bội, Chúa vẫn luôn rộng lòng tha thứ, yêu thương chờ đợi họ trở lại để tôn thờ Ngài. Chúa đã chấp nhận lòng sám hối của họ khi họ đồng tâm từ bỏ tà thần, trở lại chọn Chúa để tôn thờ Ngài. Dân Do thái đã quyết định và lựa chọn đúng.. Nhưng thực sự, dân Do thái có trung thành với lời giao ước mà họ đã ký kết khi quyết định chọn Chúa để tôn thờ Ngài hay không ? Lịch sử dân Do thái đã trả lời cho câu trả lời này.

    1. Lựa chọn và tin theo Đức Giêsu.

    a) Thái độ của dân Do thái.

              Trong suốt bài giảng Đức Giêsu nói về Bánh hằng sống, chúng ta thấy các thính giả có những phản ứng  như sau :

              – Khi Đức Giêsu nói với họ phải tin vào Ngài thì dân chúng thưa với Ngài:”Vậy thì ông làm dấu gì cho chúng tôi thấy mà tin ông ? Ông làm gì nào” (Ga 6,30).

              – Khi Ngài hứa ban bánh sự sống thì dân chúng thưa Ngài :”Thưa Ngài, hãy luôn luôn cho chúng tôi bánh ấy”(Ga 6,34).

              – Khi Ngài tự xưng là Bánh bởi trời thì họ kêu ca :”Ông ấy lại không phải là Giêsu con ông Giuse đó sao ? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết ! Làm sao bây giờ ông ấy dám nói : Ta từ trời xuống”(Ga 6,40-42) ?

              – Khi Ngài phán:”Bánh Ta sẽ ban, chính là thịt mình Ta”. Lúc này người Do thái mới la lối rùm beng lên:”Làm sao ông ấy có thể cho chúng ta ăn thịt mình được”(Ga 6,52).

              Đọc tất cả những cảm nghĩ đó ta thấy rằng trong giới thính giả, một số người lưỡng lự, một số dứt khoát bỏ Chúa, không nghe Ngài nữa (Trần văn Khả).

    b) Thái độ của các môn đệ.

              Trước lời tuyên bố của Đức Giêsu :”Thịt Ta là của ăn, máu Ta là của uống” thì không những đám dân chúng mà nhiều trong số các môn đệ đã phản ứng như những người Do thái khác:”Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi”(Ga 6,60) ? Khi nghe Đức Giêsu nói vậy, nhiều môn đệ, tuy được sống gần Ngài một thời gian, cũng rút lui, từ giã Ngài:”Từ bấy giờ, có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Ngài nữa”(Ga 6,66). Họ đã theo Ngài một thời gian, đã tin, đã trở thành môn đệ, nhưng họ không thể đi tới cùng.

    c) Thái độ của Nhóm Mười Hai.

              Đứng trước sự tan rã bi đát này, Đức Giêsu quay về Nhóm Mười Hai, những người được coi là thân tín nhất của Ngài. Vậy phản ứng của họ thế nào trước câu hỏi của Đức Giêsu:”Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không”?  Thánh Phêrô đã thay mặt cho cả Nhóm nói lên thái độ của họ:”Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng : Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên  Chúa “ (Ga 6 , 70).

              Như vậy, thánh Phêrô đã đại diện cho anh em nói lên một lời tuyên xưng rất trọn vẹn và đầy đủ , Ngài có những lời ban sự sống đời đời. Do đó, những lời tuyên bố, quả quyết và khẳng định trong bài giảng về Bánh Hằng Sống này thực sự là theo nghĩa đen thông thường nói về phép Thánh Thể.

    II. LỰA CHỌN VÀ TIN THEO.

    1. Nói về sự lựa chọn.

              Ngày nay người ta nói nhiều đến dân thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà chọn lựa là liều lĩnh, vì không bao giờ ta nắm chắc được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn suy nghĩ, cân nhắc theo như ta có thể, rồi ta cứ tiến bước.

              Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Có lẽ chỉ trừ việc sinh ra  và cái chết là người ta không lựa chọn được, còn tất cả mọi việc khác thì người ta phải lựa chọn. Và chính sự lựa chọn này sẽ định hướng và đánh giá cuộc đời của mình. Nghĩa là nếu chọn đúng, chọn khéo thì đời mình sẽ tốt, sẽ hạnh phúc; còn nếu chọn ẩu, chọn sai thì cuộc đời sẽ xấu, sẽ bất hạnh.

              Nói đến lựa chọn là giả thiết phải có sự tự do trong đó. Nếu ai bị ép buộc phải làm một việc gì ngoài ý muốn thì không còn là tự do lựa chọn nữa, mà là sự bó buộc. Chính sự tự do trong lựa chọn làm cho chúng ta phải suy nghĩ, phải day dứt vì phải có trách nhiệm trong việc lựa chọn, phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.

    Truyện : thần Hercule.

              Theo truyện thần thoại của Hy lạp, Hercule là một vị thần, một lần đứng giữa ngã ba đường và tự hỏi xem đi về đâu. Hai người chỉ đường đến với ông. Một người nói :

              – Hãy theo tôi, đây là con đường thoải mái, hạnh phúc và lối đi dễ dàng.

              Người thứ hai nói :

              – Đây là con đường cố gắng, nỗ lực, khó khăn. Tuy là đường khó khăn, nhưng đưa tới hạnh phúc.

              Hercule đã chọn con đường khó khăn và quả thực ông khôn ngoan, ông đã thành công.

              Bất cứ cách nào, lựa chọn là phải liều, phải chấp nhận một tương lai bấp bênh, phải chấp nhận hậu quả của việc lựa chọn ấy, mặc dầu phải hy sinh rất nhiều . Trong chọn lựa việc kết hôn, chúng ta sẽ thấy rõ đặc tính của sự lựa chọn ấy :

                                          Nhà anh chẳng chiếu chẳng giường,

                                          Chỉ ấm ổ ra, nàng thương chăng là ?

                                          – Yêu nhau chẳng quản cửa nhà,

                                          Chuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo.

    1. Chúng ta chọn Đức Giêsu.

              Đức Gioan Phaolô II thường khuyên những người đến với Ngài rằng : Chúng con phải lựa chọn. Chọn là một quyết định lớn và quan trọng của đời người. Chúng ta đã chọn. Và chúng ta còn phải tiếp tục chọn, vì đời là một tiến trình, đời là một cuộc đổi mới không ngừng nghỉ. Khẩu hiệu của Đức Gioan 23 là : Giờ đây tôi mới khởi sự. Mỗi ngày chúng ta phải khởi đầu với sự lựa chọn.

              Mà sự lựa chọn căn bản và quan trọng nhất của cuộc sống là chọn Đấng chúng ta tôn thờ. Chúng ta phải chọn Chúa là thần tượng vì Ngài là một vị thần siêu việt, tuyệt đối đáng tôn thờ. Ta không được bắt chước dân Do thái xưa thờ con bò vàng thay vì Ngài. Chính Đức Giêsu cũng khuyên :”Không ai có thể làm tôi hai chủ… Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”(Mt 6, 24).

              Nhưng Thiên Chúa là Đấng vô hình, ta không thể tiếp cận với Ngài, ta cần phải có một thần tượng nào gần chúng ta hơn, vị thần ấy đã nói:”Ai thấy Thầy là thấy Cha” và Đấng ấy đã nói:”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”(Ga 14,6).

              Có một người suốt 2000 năm đã được bao nhiêu người hâm mộ tin theo, thậm chí còn nhận lấy cái chết để tỏ ra trung thành với vị thần ấy !

              Vị thần đó là ai ?

              Đó là Đức Giêsu Kitô.

              Sự lựa chọn của chúng ta sẽ mang lại phần thưởng mà thánh Phêrô và các tông đồ xưa đã nhận lãnh, đó là được chia sẻ tấm bánh hằng sống, Mình và Máu Đức Kitô. Được chết đi với Chúa mỗi ngày để được sống lại với Chúa trong hạnh phúc và vinh quang. Đó là niềm vui của mỗi chúng ta. Đây là  một lựa chọn quan trọng có liên quan đến cuộc đời mai hậu của ta.

    1. Chúng ta tin theo Đức Giêsu.

              Chúng ta đã chọn Đức Giêsu làm thần tượng, làm Chúa của mình, điều đó chứng tỏ không những chúng ta phải có niềm tin và còn hơn nữa chúng ta phải có đức tin. Mà giả như chúng ta chưa có đức tin cho đủ thì hãy theo lời khuyên của triết gia Blaise Pascal:”Nếu bạn muốn có đức tin, hãy qùi xuống và cầu nguyện”.

              Sống theo đức tin là đi trong đêm tối, vì đức tin là “khước từ cách hiểu biết thông thường, nhờ giác quan và lý trí, lý luận“ để “tin vào một người khác”, đó là tin mà không thấy, như thánh Gioan sẽ nói rất nhiều lần.

              Đối với Đức Giêsu, như chúng ta đã thấy, luôn gây đụng chạm ! Đức tin không hẳn nhiên là thế. Đức tin luôn luôn cho ta thấy chướng. “Đức tin” không phải là một bài học được lặp đi lặp lại “nhưng” là một “dấn thân” trong cuộc sống, là một thôi thúc phải chấp nhận từ bỏ ánh sáng riêng của mình, được coi là có tính khoa học, để đón nhận mạc khải của một người khác mà không thể kiểm chứng được bằng những phương thế nhân loại. Chính Thánh Thể là cớ vấp phạm cho các môn đệ khiến họ từ bỏ Chúa, và ngày nay cũng có những người không chấp nhận được mầu nhiệm này.

             Đức tin cũng đòi hỏi phải có thử thách. Qua câu chuyện được kể trong bài Tin mừng hôm nay, tức câu chuyện Đức Giêsu nói với các môn đệ Ngài về bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống cũng sẽ có những giây phút chúng ta cũng bị thách đố như các môn đệ, và có thể chúng ta cũng bị cám dỗ từ bỏ Chúa, không theo Ngài nữa.  Những lúc đó, chúng ta đừng để mình vấp phạm những lỗi lầm giống như các môn đệ xưa đã vấp phải, nghĩa là đừng chỉ lo chú tâm đến những vấn đề xẩy đến cho chúng ta, mà hãy đưa mắt nhìn vào Đức Giêsu, chúng ta hãy xác nhận lại niềm tin vào Ngài như thánh Phêrô đã làm:”Lạy Thầy, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa”.

    III. TRUNG THÀNH VỚI SỰ LỰA CHỌN.

              Trong ngày chịu phép Rửa tội, Linh mục hỏi chúng ta có từ bỏ ma qủi và những việc làm của chúng không ? Cha mẹ chúng ta hay chính chúng ta đã quả quyết thưa từ bỏ. Ta lại còn tuyên xưng và tin theo Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Chúng ta đã chọn Thiên Chúa là gia nghiệp của mình. Rồi trong mỗi dịp lễ Phục sinh, từng người chúng ta lại có dịp bầy tỏ sự lựa chọn của mình một lần nữa khi tuyên xưng đức tin và lại tuyên bố từ bỏ ma qủi và các việc của của chúng.

              Chúng ta đã chọn Chúa và chỉ chọn một mình Chúa chứ không thể chọn cả hai, không được thờ hai chủ. Lựa chọn một lần chưa đủ, còn phải lặp đi lặp lại nhiều lần, nó phải được thể hiện qua những lựa chọn nho nhỏ trong mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta chỉ có một sự lựa chọn duy nhất : chọn Chúa. Chọn lựa đúng thì được sống và chọn lựa sai thì chết.

              Ở đô thị Jaffa xứ Palestina, có một khu đất gọi là khu đất quyết định. Các sông ngòi chảy vào khu đất ấy lưỡng lữ một lúc rồi mới chảy sang một trong hai hướng. Những sông ngòi theo một hướng thì chảy vào khu vườn Sharon xinh đẹp. Còn những sông ngoài theo hướng kia thì chảy vào Biển Chết, biển này không có một sinh vật nào sống nổi. Cuộc đời chúng ta cũng thế. Chúng ta phải chọn một hướng, không ai có thể làm tôi hai chủ :

                                          Một nhà hai chủ không hoà,

                                          Hai vua một nuớc ắt là không yên.

              Chọn lựa tự do, nhưng chọn lựa lại  là giới hạn. Khi đã có một chọn lựa là chúng ta phải biết tự giới hạn mình. Chính Đức Giêsu khi chọn con đường cứu độ nhân loại, Ngài cũng đã phải chấp nhận thân phận giới hạn con người, và cả cái chết nhục nhã trên thập giá như lời thánh Phaolô trong bài đọc 2 :”Đức Kitô yêu thương Hội thánh, và phó mình vì Hội thánh, để thánh hóa Hội thánh,…ngõ hầu bầy tỏ cho mình một Hội thánh vinh quang, không vết nhơ, không nhăn nheo…, nhưng thánh thiện và tinh tuyền”.

              Phải chăng chọn Chúa và theo Chúa là một nghịch ly ùvì Chúa chỉ hứa cho những sự mất mát ? Người ta thuật lại câu chuyện của một ông tướng kỳ lạ, đó là đại tướng Garibaldi. Một ngày kia, ông nhóm họp quân đội ăn mặc rách rưới mà hiểu dụ rằng :”Ta cho các ngươi sự đói khát, lạnh lẽo, thương tích và chết  trận. Ai vui lòng nhận các điều ấy thì hãy theo ta”. Kết quả : chẳng ai chịu rời bỏ hàng ngũ của mình.

              Chúng ta nghĩ thế nào về câu nói của vị đại tướng ấy ? Có kỳ lạ không ? Có vô lý không ? Có điên khùng không ? Và chúng ta nghĩ thế nào về câu nói của Đức Giêsu:”Ai gìn giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai vì Ta mà mất mạng sống mình thì lại tìm lại được”(Mt 10,39) ?

              Và để kết thúc, chúng ta phải đặt ra câu hỏi : Nếu ta chọn Chúa thì sẽ ra sao ? Và nếu ta bỏ Chúa thì sẽ ra sao ? Linh mục nhạc sĩ Thành Tâm đã suy diễn câu hỏi bất hủ của thánh Phêrô thành một bài thánh ca rất ý nghĩa như sau :

    “Bỏ Ngài con biết theo ai”

              – Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cách chim bơ vơ trong khung trời lộng gió.

              – Bỏ Ngài con sẽ theo ai, đời lộng gió cánh chim ngàn khơi.

              – Bỏ Ngài thì đời con sẽ như một con tuyền lao đao trên biển cả mênh mông.

              – Bỏ Ngài con biết theo ai, thuyền buông lái biết trôi về đâu ?

              – Bỏ Ngài con biết theo ai, trên đời kia tương lai khuất mờ.

              – Và bỏ Ngài thì đời con sẽ như một cuộc hành trình cô đơn, buồn bã.

              Bước đi không Ngài, đời con  buồn tênh.

              Còn nếu chọn Ngài, thì cuộc đời của chúng ta tuy cũng vẫn là một cuộc hành trình, cũng vẫn như cánh chim bay trong khung trời lộng gió, cũng như một con thuyền giữa biển cả mênh mông, nhưng trong cuộc hành trình ấy, đã có Chúa đồng hành, cánh chim đã biết hướng mà bay, con thuyền đã có người lèo lái và như thế sẽ bảo đảm đi tới bến đò bình an (Lm Carolô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 606-607)

              Chọn Chúa, đi theo Chúa, trước mắt là một sự hy sinh, một sự mất mát và bị người đời coi như  một sự điên rồ, nhưng như thánh Phaolô nói thì đó là sự khôn ngoan trước mặt Chúa. Có lẽ người ta nói đúng :”Khôn thế gian làm quan địa ngục, dại thế gian làm quan thiên đàng” !

    Truyện : vua Charles V.

              Vua Charles một lần kêu hoàng tử đến và cho hoàng tử được chọn. Trên bàn vua đặt một thanh kiếm và một vương miện (Triều thiên), Vua nói :

              – Con chọn cái nào ?

              Ngần ngừ một lúc hoàng tử cầm lấy thanh kiếm.

              Vua cha hỏi :

              – Sao con lại chọn thanh kiếm ?

              Hoàng tử cầm thanh kiếm chỉ vào vương miện đáp :

              – Nhờ thanh kiếm này, con sẽ được vương miện kia.

              Chúng ta đã quen với khẩu hiệu :”Per crucem ad lucem” : qua thập giá để tới vinh quang. Bước theo Chúa là phải đi vào con đường khổ giá, phải qua cửa hẹp, nhưng chính con đường hẹp hòi khắc khổ lại đem đến vinh quang. Theo gương hoàng tử, chúng ta cũng phải nhờ øthanh kiếm đau khổ để có thể chiếm được triều thiên vinh phúc muôn đời, thánh giá phải đi trước triều thiên

    Xả thân nếu muốn theo Thầy,

    Vác cây khổ giá hằng ngày mà theo. (Mt 16,24)

    Về mục lục

    .

    GẮN BÓ VỚI CHÚA KITÔ

    Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Cuộc sống là những chuỗi ngày lựa chọn, nhưng có nhiều người cứ mãi chọn sai nên không thể hạnh phúc. Cuộc sống của dân Israel năm xưa, cũng như cuộc sống của mỗi người chúng ta hôm nay luôn bị giằng co giữa Thiên Chúa và thế tục, hứa trung thành với Thiên Chúa nhưng rồi lại bỏ Chúa. Vì thế, chúng ta cần phải khẳng định thái độ sống.

    Dân Israel được Thiên Chúa yêu thương giải thoát họ khỏi ách nô lệ của người Ai cập. Dẫn đưa họ vào đất hứa với bao vui sướng: đất đai phì nhiêu, cây trái tốt tươi, đời sống thoải mái khác xa với những ngày lang thang trong hoang địa. Nhưng họ đã sớm quên đi bao kỳ công Thiên Chúa đã làm cho cha ông họ và chính họ để có được ngày hôm nay, bởi họ tiếp cận với một nếp sống cầu an, hưởng thụ và với những nghi lễ theo bản năng thấp hèn. Vì thế, ông Giôsuê, người kế vị Môsê dẫn dân vào đất hứa đã triệu tập các vị đại diện dân chúng tại Sikem và mời gọi họ quyết định lựa chọn: thờ Thiên Chúa hay thờ các thần ngoại?. Ông Giôsuê nói cho mọi người biết quyết định của ông và gia đình ông: “Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa”. Các đại biểu đã đồng thanh tuyên bố rằng: “Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Chúa mà tôn thờ những thần ngoại”. Dân Israel đã khôn ngoan sáng suốt lựa chọn Thiên Chúa và nhớ lại những kỳ công mà Thiên Chúa đã làm cho cha ông họ và chính họ. Họ đã không tỏ ra vô ơn, tham lợi mà vội bỏ Thiên Chúa để chạy theo những thần của dân ngoại.

    Thưa anh chị em, vào thời Chúa Giêsu cơm cám dỗ bỏ Chúa cũng đã có lần xảy ra. Sau khi Chúa Giêsu tuyên bố: “Thịt Ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống”. Uống máu xúc vật đã là điều cám kỵ, vậy mà Chúa Giêsu quả quyết: “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sống đời đời”. Nghe đến đây, nhiều người Do thái đã lần lượt bỏ Người mà đi. Chính các môn đệ của Chúa Giêsu cũng nói với nhau rằng: “Lời này chói tai quá! Ai nghe được!”. Thánh Gioan còn ghi lại: “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa”. Đứng trước lời tuyên bố của Chúa Giêsu xem ra có vẻ “chói tai”, thì Phêrô đại diện Nhóm Mười Hai vẫn không tỏ ra nao núng khi Chúa Giêsu hỏi nhóm Mười Hai rằng: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?”. Simon Phêrô thay mặt nhóm Mười Hai đã cảm nhận được quyền lực của Chúa Giêsu và thưa với Người: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Ðấng Kitô Con Thiên Chúa”.

    Có câu chuyện kể rằng, một người da trắng và một người thổ dân cùng nghe giảng. Người thổ dân cảm động xin nhập đạo ngay. Còn người da trắng cũng cảm động nhưng cả năm sau mới nhập đạo. Trong một buổi phụng vụ, người da trắng hỏi: Tôi phải mất một thời gian mới có lòng tin, sao anh có lòng tin sớm thế?. Người thổ dân đáp: Này bạn, có vị hoàng tử hứa cho chúng ta chiếc áo mới. Bạn nhìn vào áo mình, tự nhủ: “Áo mình còn đẹp, để mai sau hãy lấy”. Còn tôi, tôi nhìn vào tấm chăn cũ kĩ của mình, thấy nó chẳng ra gì, nên vội vàng đến nhận áo mới. Bạn ạ, bạn đã có chút khôn ngoan, nên bạn còn muốn dùng chúng. Còn tôi, tôi không có, nên tôi mau mắn đón nhận sự khôn ngoan của Chúa Giêsu.

    Kính thưa quý ông bà anh chị em,

    Niềm tin và tình yêu đã là động lực giúp con người khôn ngoan lựa chọn Chúa và trung thành gắn bó với Người. Thế nhưng, sống trong một thế giới không ngừng đổi thay, con người dễ bị lôi kéo vào thái độ thay lòng đổi dạ, giao ước hôn nhân bị đổ vỡ: đến với nhau, sống với nhau, rồi bỏ nhau. Nhiều Kitô hữu cũng đối xử với Chúa như thế: theo Chúa rồi bỏ Chúa. Có lẽ chúng ta đây cũng nhiều lần bị cám dỗ bỏ Chúa. Thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy phục tùng nhau trong sự kính sợ Thiên Chúa. Ngài cũng dùng hình ảnh của vợ chồng trong đời sống hôn nhân gia đình, để nói lên mối dây chặt chẽ giữa các tín hữu với Chúa Kitô. Hôm nay, chúng ta hãy suy nghĩ lại cuộc hành trình đi theo Chúa, và chúng ta tha thiết xin Chúa đừng để chúng ta bỏ Chúa bao giờ, bởi vì, như lời Thánh Phêrô tuyên xưng: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.

    Nguyện xin Chúa là nguồn mạch tình yêu và sự khôn ngoan, giúp chúng ta khôn ngoan sáng  suốt lựa chọn Chúa và trung thành đi theo Chúa để được hưởng sự sống hạnh phúc muôn đời. Amen.

    Về mục lục

    .

    LỜI CHÚA LÀ THẦN KHÍ VÀ SỰ SỐNG

     Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

    ” Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”

    I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a-60-68:

    54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết… 60 Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” 61 Nhưng Đức Giê-su tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ?  62 Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? 63 Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.

    64 Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. “Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người.  65 Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.”  66 Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.

    67 Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” 68 Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. 69 Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”

    II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a.60-68:      

    2.1 Chương 6 Tin Mừng Gio-an không chỉ nói/viết về Bánh và Sự Sống, Bánh Trường Sinh và Sự Sống Muôn Đời mà còn nói về ”Lời là Thần Khí và Sự Sống.” Trong bài Phúc âm Chúa Nhật XXI Thường Niên B chúng ta thấy hai loại người: Một loại là những người không đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống”. Đó là những môn đệ bỏ không theo Đức Giê-su nữa (Ga 6,66). Một loại là những người đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống”. Đó là Si-mon Phê-rô và 11 Tông Đồ: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” (Ga 6,68-69).

    2.2 Vậy thì chúng ta không chỉ quan tâm đến việc đón nhận Bánh là Mình Chúa, mà chúng ta còn phải quan tâm đến việc đón nhận Lời Chúa nữa. Trong Hiến Chế tín lý Mạc Khải ”Lời Thiên Chúa” (Dei Verbum)  các Nghị Phụ của Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh hai điều này:

    * một là Giáo Hội tôn kính Lời (Chúa) cũng như tôn kính Mình (Chúa);

    * hai là tín hữu phải rước Mình (Chúa) và rước Lời (Chúa) làm của ăn linh hồn.

    III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a.60-68:     

    3.1 Rước Lời không chỉ là nghe giảng trong các thánh lễ. Rước Lời là mỗi ngưuời giáo dân phải thực hành việc đọc và suy niệm Lời Chúa, nếu không được mỗi ngày thì cũng phải là mỗi tuần. Rước Lời còn đòi giáo dân tham dự các Khóa học hỏi, chia sẻ Thánh Kinh để biết phương pháp đọc, chia sẻ và cầu nguyện với Lời Chúa.

    3.2 Rất tiếc là trong các giáo xứ khó mà tim ra một Lớp/Khóa Thánh Kinh cho giáo dân tham dự. Lý do có lẽ là vì các linh mục của chúng ta quá bận rộn với việc quản trị giáo xứ nên quên mất bổn phận giảng dậy Lời Chúa cho giáo dân. Hoặc là vì các linh mục cho rằng giảng Phúc âm trong thánh lễ là đủ rồi. Thật ra là không đủ. Và nghe giảng trong Nhá Thờ thì rất khác với nghe giảng trong lớp.

    3.3 Vì giáo dân ít quan tâm đến việc đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống” nên chúng ta không lạ gì khi thấy đời sống đức tin của nhiều giáo dân khô cứng và nghèo nàn. Thật đáng buồn và đáng lo.

    IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN 6,54a.60-68:     

    Lạy Chúa Giê-su là Lời Thiên Chúa (Dei Verbum), chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa đã mạc khải Cha và Kế Hoạch Cứu Độ của Người cho chúng con.

    Chúng con biết Chúa muốn chúng con đón nhận ”Lời là Thần Khí và Sự Sống” để đời sống của chúng con sinh nhiều hoa trái. Chúng con cảm tạ và ngợi khen Chúa. Xin Chúa ban Thấn Khí và Sự Sống cho chúng con.  Amen.

    Về mục lục

    .

    NIỀM XÁC TÍN

    Trầm Thiên Thu

    Đề cập đức tin – một trong ba đức đối thần, Thánh LM TS Tôma Aquinô (1225-1274) phân tích: “Mặc dù cái nhìn chúng ta bị giới hạn và mờ nhạt về những sự rất linh thánh, nhưng chỉ thoáng thấy những sự ấy cũng đã là hoan lạc lắm rồi. Có ba điều cần thiết cho phần rỗi con người: hiểu biết điều nào PHẢI TIN; hiểu biết điều nào PHẢI ƯỚC AO; và hiểu biết điều nào PHẢI THỰC HIỆN. Có những điều ta phải nắm giữ bằng ĐỨC TIN, nhưng lý trí vẫn có thể tìm hiểu; nhờ đó, mọi người đều có thể chia sẻ tri thức về Thiên Chúa một cách dễ dàng, không hoài nghi và lầm lạc”.

    Cũng liên quan đức tin, Chân phước LM Charles Eugène de Foucauld (1858-1916) cho biết: “Giây phút tôi nhận biết Thiên Chúa hiện hữu, tôi biết tôi không thể làm gì khác hơn ngoài việc sống cho một mình Người. ĐỨC TIN tước lột mặt nạ khỏi thế giới này và tỏ ra Thiên Chúa trong mọi sự. ĐỨC TIN làm cho không còn sự gì là không thể, làm cho những từ ngữ như lo lắng, nguy hiểm và sợ hãi trở nên vô nghĩa. Nhờ đó, tín hữu sống cuộc đời yên hàn thanh thản, với một niềm tin sâu xa – như một con trẻ được mẹ cầm tay”.

    Đặc biệt là Thánh GH Gioan XXIII (1881-1963) đã từng nhắn nhủ riêng với Giáo Hội Việt Nam: “Xin mượn lời Thánh Phaolô để nhắn nhủ rằng: ‘Các con hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy can trường và mạnh mẽ’ (1 Cr 16:13). Và để biểu dương hơn nữa lòng thương yêu, săn sóc và cảm phục, cha nhắc lại đây lời Thánh Phaolô: ‘Hằng ngày, cha phải cám ơn Thiên Chúa vì các con. Thực thế, đức tin các con mãnh liệt thêm mãi, tình thân ái của các con với tha nhân mỗi ngày một dồi dào, khiến Cha được hãnh diện vì chúng con trước mặt Giáo hội của Chúa, hãnh diện vì các con bền chí, vững lòng tin trong mọi cơn bách hại, trong những giờ gian lao khốn khó: như thế mới xứng đáng vào nước Thiên Chúa, chính vì Ngài mà các con đã chịu đau khổ’ (2 Tx 1:3-5)”.

    Đức tin trừu tượng, không thể sờ được, nhưng có thể cảm nhận một cách cụ thể. Thật lạ! Tin hay không tin là “chấp nhận” hoặc “từ chối”. Một “biên độ” rất mong manh. Rất đơn giản, nhưng cũng rất phức tạp. Sự giằng co đó luôn xảy ra, thế nên cần phải có lòng can đảm để có thể đứt khoát mau mắn. Chỉ trong tích tắc mà các vị tử đạo dám dứt khoát khước từ sự sống để bước theo Đức Kitô. Các ngài đã can đảm, và một niềm xác tín rằng “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa” (Ep 4:5). Bổn phận của chúng ta – Kitô hữu Công giáo – là TIN YÊU và THỜ KÍNH chỉ MỘT THIÊN CHÚA mà thôi, chứ không có bất cứ một thần linh nào khác!

    Chúng ta diễm phúc là nhận biết Chúa và tin theo Ngài, nhưng đức tin đó phải được chứng tỏ. Giáo lý Công giáo dạy: “Làm dấu Thánh Giá là tuyên xưng Thiên Chúa”. Đó là đức tin của Giáo hội và của mỗi chúng ta. Hằng ngày chúng ta thể hiện đức tin nhiều lần bằng cách làm dấu: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Cũng cần lưu ý là chúng ta “làm dấu” chứ không “làm giấu” (phát âm gần giống nhau nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau). Tuyên tín một cách đơn giản là “làm dấu Thánh Giá”, thế mà đôi khi chúng ta làm cho xong lần, vội vã như “phù phép”, thậm chí có khi tay “vẽ dấu Thánh Giá” mà miệng còn càm ràm hoặc lầm bầm điều gì đó. Ôi thôi!

    Biết rằng con người yếu đuối, dễ thay lòng đổi dạ, nhưng không thể cứ viện cớ đó để tự biện hộ. Miệng thì nói tin Chúa nhưng lại hành động khác, chắc hẳn nên xét lại lắm. Ngày xưa, ông Giôsuê đã quy tụ ở Sikhem mọi chi tộc Israel và triệu tập các kỳ mục Israel, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ đứng trước nhan Thiên Chúa. Ông Giôsuê nói với toàn dân về lời tuyên phán của Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel: “Thuở xưa, khi còn ở bên kia Sông Cả, cha ông các ngươi, cho đến Terác là cha của Ápraham và của Nakho, đã phụng thờ các thần khác” (Gs 24:2). Ngày nay, chúng ta gọi họ là những kẻ phản bội hoặc bội bạc, nhưng ngày nay chúng ta cũng có hơn họ, bởi vì chúng ta cũng đã bao lần phạm tội phản nghịch với Thiên Chúa nhân hậu.

    Tuy nhiên, ông Giôsuê vẫn không ép buộc mà cho họ tự do chọn lựa: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa thì hôm nay anh em CỨ TUỲ Ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người Emôri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24:15). Nghe vậy mà họ thấy “rét”. Họ được “đánh động” nên cảm thấy hối hận, và họ đáp lại: “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. Đức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người Emôri ở trong xứ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi” (Gs 24:16-18).

    Cũng là phàm nhân với nhau nên cũng giống nhau y chang. Nghĩa là chúng ta cũng đã và đang yếu đuối, nói một đàng làm một nẻo, cứ liên tục qụy ngã rồi lại té lên té xuống, vậy mà vẫn chưa thực sự “nên người”. Chúng ta yếu đuối nhưng không được thất vọng, vì chúng ta may mắn có “sức mạnh vô song của Đức Kitô”. Tội lỗi tày trời, tội lỗi ngập đầu, tội lỗi đỏ như máu, thế mà chúng ta vẫn được Thiên Chúa xót thương mà tha thứ tất cả, không chỉ vậy mà chúng ta còn được phục hồi nguyên trạng cương vị người con. Vì thế, chúng ta phải tự hứa: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Ngài chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:2-3). Bất kỳ ai cũng phải “làm lành lánh dữ, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 34:15). Đó là sống theo huấn lệnh của Thiên Chúa, cũng có nghĩa là chúng ta đã xác tín là tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất.

    Tuyệt đối Thiên Chúa là Đấng nhân lành (x. Ga 10:11 & 14), và chỉ có Ngài là Đấng nhân lành (Mt 19:17), vì thế Ngài “đối đầu với quân gian ác, xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời”, nhưng Ngài vẫn luôn “để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu” (Tv 34:16-17). Thật vậy, “họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:18). Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót nên Ngài luôn “gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi” (Tv 34:19-21). Đặc biệt là “xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy” (Tv 34:21). Đó là cách quan phòng và tiền định của Thiên Chúa.

    Phàm nhân là loài yếu đuối, chúng ta là phàm nhân nên chúng ta cũng yếu đuối, mà càng yếu đuối thì càng cần có đức tin, và chính đức tin làm cho chúng ta nên vững mạnh. Đức tin và đức ái liên quan tinh thần phục vụ – sống cho và sống vì nhau – khởi đầu từ gia đình. Thánh Phaolô nói: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy TÙNG PHỤC LẪN NHAU” (Ep 5:21).

    Tùng phục nhau bằng cách nào? Thánh nhân giải thích “dài hơi” một chút: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (Ep 5:22-25). Như vậy là chính Đức Kitô “thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng NƯỚC và LỜI hằng sống, để trước mặt Ngài, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5:26-27). Thiên Chúa là Đấng chí thánh nên những gì thuộc về Ngài đều phải là thánh.

    Tương tự, “chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5:28). Rất hợp lý, bởi vì vợ chồng “tuy hai mà một”, trở nên “một” qua bí tích Hôn phối. Nên một thì không thể là hai hoặc ba, nghĩa là “người này cũng là người kia”. Chẳng có ai ghét thân xác mình bao giờ, chỉ có kẻ ngu xuẩn mới hành hạ chính mình, nhưng “người ta NUÔI NẤNG và CHĂM SÓC thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Ngài” (Ep 5:29-30). Sách Thánh xác định rạch ròi: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ LÌA cha mẹ mà GẮN BÓ với vợ mình, và cả hai sẽ thành MỘT XƯƠNG MỘT THỊT” (Ep 5:31). Và Thánh Phaolô minh định: “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5:32). Hình ảnh phu thê là hình ảnh Đức Kitô và Giáo Hội – và ngược lại. Do đó, những người sống đời hôn nhân phải cố gắng thể hiện đức tin qua ơn gọi hôn nhân của mình. Hôn nhân là bí tích do Thiên Chúa thiết lập chứ không phải do loài người tạo nên. Thế nên không thể “vui ở, buồn đi” theo ý mình.

    Cái gì cũng có tính liên đới, dù đó là điều tốt hay xấu. Tương tự, đức tin cũng có nhiều hệ lụy. Tất cả đều liên kết với nhau một cách mạch lạc và rất kỳ diệu. Thân xác không hơi thở là xác chết – bởi vì “Chúa lấy sinh khí lại, chúng tắt thở ngay” (Tv 104:29), và “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Đó là hai cái chết: chết thể lý và chết tinh thần. Cái chết nào cũng đáng sợ!

    Hôm đó, khi Chúa Giêsu giảng dạy trong hội đường ở Ca-phác-na-um, Ngài nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời” (Ga 6:54). Nghe vậy, nhiều môn đệ của Ngài cũng cảm thấy “nóng gáy” nên nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6:60). Các “đệ tử ruột” mà còn phát biểu vậy đó! Ngài biết tỏng các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, nên Ngài bảo họ: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. Nhưng trong anh em có những kẻ KHÔNG TIN” (Ga 6:61-64). Quả thật, vấn đề đức tin là vấn đề thực sự quan trọng. Không phải cứ nói tin là tin, vì lời nói đó có thể chỉ là “hàng giả” – giả vờ vậy thôi. Cách xác tín cho biết “sức khỏe tâm linh” của chúng ta ra sao, khỏe hay yếu, hoặc cứ làng xàng – chẳng khỏe cũng chẳng yếu.

    Thật vậy, ngay từ lúc đầu, Chúa Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Ngài. Thế nên Ngài cho biết: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Ga 6:65). Từ lúc đó, nhiều môn đệ đã “bỏ của chạy lấy người”, không còn đi theo Ngài nữa. Thấy vậy, Ngài hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6:67). Nhưng ngư phủ Simôn Phêrô nói ngay: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68). Thật tuyệt vời! Ngư phủ Phêrô lâu lâu nói một câu nghe “quá đã”, đúng là “trên cả tuyệt vời”. Ông không dám bỏ Sư phụ Giêsu vì ông đã xác tín. Thật vậy, chính ông đã công khai tuyên tín: “Phần chúng con, chúng con ĐÃ TIN và NHẬN BIẾT chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6:69).

    Ôi, lão ngư Phêrô ơi! Xin giúp chúng con cũng được sáng con-mắt-đức-tin để có thể chân nhận Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ duy nhất, và luôn biết tín thác vào chính Thiên-Chúa-Con-Người ấy.

    Cũng liên quan đức tin, Thánh LM Piô Năm Dấu (1887-1968) cho biết: “Thiên Chúa muốn kết ước với linh hồn TRONG ĐỨC TIN, linh hồn nào muốn cử hành hôn lễ thiên đàng ấy phải bước đi TRONG ĐỨC TIN tinh ròng, đó là phương thế duy nhất thích hợp cho sự kết hợp tình yêu”.

    Lạy Thiên Chúa duy nhất và toàn năng, xin thắp lên ánh sáng đức tin trong mỗi chúng con, xin nâng đỡ để chúng con hãnh diện tuyên tín qua từng ánh mắt và mọi động thái, xứng đáng là môn đệ của Đức Giêsu Kitô, Con Yêu Dấu của Ngài, và tất cả chỉ vì Thánh Danh Ngài mà thôi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    Về mục lục

    .

    BỎ THẦY CON SẼ THEO AI?

    Lm Trần Bình Trọng

    Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã ban cho loài người được tự do lựa chọn: hoặc chấp nhận hay khước từ ơn Chúa. Sau khi chu toàn sứ mệnh Môsê trao phó để đưa dân Chúa chọn vào miền đất hứa,

    ông Giôsuê đã triệu tập các vị đại diện dân chúng tại Si-khem để khẳng định lại niềm tin vào Chúa. Ông nói với họ rằng: Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ.. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Thiên Chúa (Gs 24:15). Dân Ít-ra-en cũng đã lựa chọn. Họ quyết định phụng thờ Thiên Chúa vì Người đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ bên Ai cập, đã làm những việc kỳ diệu và dẫn đưa họ vào miền đất hứa.

    Tuy nhiên khi gặp khó khăn và thử thách trong sa mạc, họ lại bất trung, phản nghịch cùng Chúa. Và mỗi lần họ ăn năn sám hối thì Chúa lại giang tay đón nhận họ trở về với lòng bao dung tha thứ. Khi Ðức Giêsu đến, hứa cho họ ăn bánh hằng sống là thịt và uống máu Người thì mới có sự sống muôn đời, họ liền tranh luận hỏi nhau: làm sao ông này có thể cho họ ăn thịt Người được? (Ga 6:52).

    Lớp thính giả thứ hai trong Phúc âm hôm nay là các môn đệ khi nghe Ðức Giêsu giảng dạy về việc ăn thịt và uống máu Người để được sống muôn đời, cũng lẩm bẩm cho rằng lời nói thật là chướng tai (Ga 6:60). Và theo Phúc âm thuật lại: Nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa (Ga 6:66). Từ ngữ môn đệ được hiểu là người theo Ðức Giêsu và con số được ghi là bảy mươi hai môn đệ. Và khi có những môn đệ bỏ cuộc, Ðức Giêsu không ngạc nhiên, cũng không buồn giận, và không thay đổi lập trường. Người không giải thích, cũng không rút lại lời giảng dạy để mong bắt được mẻ cá lớn là các môn đệ.

    Ðến lượt lớp thính giả thứ ba là các tông đồ thì Ðức Giêsu còn thách đố các ông thêm nữa. Người đòi hỏi nơi các tông đồ một đức tin không dè dặt, không lưỡng lự. Ðức Giêsu gần làm hoảng hồn các tông đồ, khi Người hỏi thêm các ông: Còn chúng con, chúng con có muốn bỏ Thầy mà đi không? (Ga 6:67). Hoặc ở lại hay bỏ đi, một câu hỏi mà họ không thể nào tránh né được. Ðể trả lời câu hỏi, ông Phêrô tiến lên, đóng vai trò lãnh đạo, đáp lại: Thưa Thầy, nếu bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời (Ga 6:68). Ông muốn nói là không có ai khác để mà theo cả. Ðức Giêsu đòi hỏi một quyết định quả quyết nơi các tông đồ. Và Người đã nhận được lời cam kết của thánh Phêrô. Một lời cam kết đã làm tiêu tan những nghi ngờ của các tông đồ khác.

    Cũng vậy, tất cả những người đã quyết định theo Chúa qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức đều phải đương đầu với những thử thách về đức tin. Hằng ngày ta gặp nhiều cám dỗ để chối bỏ đức tin công giáo tông truyền. Ta gặp nhiều tiếng gọi dụ dỗ từ báo chí, truyền thanh, truyền hình và mạng tin, bảo ta điều gì phải tin, điều gì không cần tin, việc gì phải làm, việc gì không nên làm, điều gì phải thắc mắc, điều gì cần phải được xét lại. Ta bị cám dỗ để giữ đạo theo xu hướng nhất thời, tuỳ theo hứng khởi: vui thì đi lễ thờ phượng, không thì ở nhà. Ta bị cám dỗ chỉ giữ đạo nếu Giáo hội thay đổi lập trường về một vài nguyên tắc luân lý nào đó, nếu Giáo hội chiều theo ước muốn của ta.

    Ta bị cám dỗ chối bỏ đức tin vào sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh thể vì không hiểu sao bánh rượu sau khi linh mục đọc lời truyền phép vẫn giống bánh rượu trước khi truyền phép? Và đó chính là mầu nhiệm đức tin mà loài người không thể dùng lí trí để giải thích và hiểu được một cách thoả đáng. Nếu người ta có thể hiểu được mầu nhiệm trong đạo, thì cái được gọi là mầu nhiệm, không còn phải là mầu nhiệm nữa, mà chỉ là một triết thuyết hay một hệ thống khoa học. Vì thế mầu nhiệm vẫn mãi mãi là mầu nhiệm, nếu không thì đức tin không còn phải là đức tin nữa, mà chỉ là sự hiểu biết thôi. Tuy nhiên, nếu không hiểu, tại sao lại tin? Tin là chấp nhận dựa trên lời nói hay thế giá của người khác. Các tông đồ không hiểu, nhưng vẫn tin vì dựa trên lời nói, quyền năng  và thế giá của Thầy mình.

    Khi cảm thấy khó chấp nhận về đường lối giáo huấn chính thức của Giáo hội, là phản ảnh của đường lối Phúc âm, về một vài vấn đề như tính dục, li dị, phá thai .., đó là lúc mà câu hỏi Chúa đặt ra cho các tông đồ sẽ lại vọng lên bên tai ta: Còn con, con có muốn lìa bỏ Giáo hội mà Thầy đã thiết lập trên nền tảng các tông đồ không? Khi bất đồng ý kiến với Giáo hội về một số chính sách của Toà Thánh Vatican, đó là lúc mà một câu hỏi tương tự sẽ vọng lên bên tai ta: Còn con, con có muốn chấp nhận đường lối của Giáo hội mà Thầy thiết lập không? Khi thấy những gương mù, gương xấu xẩy ra ngay trong hàng giáo sĩ, câu hỏi khác sẽ vọng lên: Còn con, con có muốn ở lại trong Giáo hội để cầu nguyện và xây dựng Giáo hội của Thầy không?

    Khi phải đối chất với những lời giảng dậy khó chấp nhận trong đạo, hoặc giáo lí khó khăn của đạo thì người theo đạo nửa mùa, hoặc mạo nhận theo đạo, toan cắt nghĩa sao cho phiên phiến đi, để cho trở nên dễ dãi, hoặc áp dụng lẽ đạo qua loa, sao cho phù hợp với ước muốn và quan niệm của họ cũng như của quần chúng. Thính giả trong Phúc âm hôm nay hiểu rõ lời Ðức Giêsu giảng dạy, hiểu ý Người muốn nói gì nên mới cho là chướng tai đấy. Vậy mà Chúa cũng không cải chính về sự chướng tai đó đâu. Họ hiểu Chúa không nói đến việc ăn thịt và uống máu theo nghĩa tượng trưng thôi đâu. Khi cảm thấy Chúa mà mình tôn thờ, sao mà khó thế nếu so sánh với những chúa và thần của những đạo khác, đó là lúc mà câu hỏi giả sử của ông Giôsuê cũng vọng bên tai ta: Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ (Js 24:15).

    Phúc thay cho những gia đình, cộng đoàn giáo xứ và trong Giáo hội mà có được những người nói được những lời bất hủ như vậy để bầy tỏ đức tin quả quyết như ông Giôsuê, hoặc Thánh Phêrô: Bỏ Thấy, con sẽ theo ai, hầu giúp củng cố đức tin của người khác trong gia đình, trong cộng đoàn giáo xứ và trong cả Giáo hội.

    Lời cầu nguyện xin cho được ơn giữ vững niềm tin vào Bí tích Thánh thể:

    Lạy Chúa Giêsu Thánh thể.

    Con xin cảm tạ Chúa đã lập Phép Thánh thể

    để làm của ăn uống thiêng liêng cho loài người.

    Xin Chúa làm no thoả những đói khát của con

    khi con lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa

    Và xin cho con giữ vững lời Chúa.

    Ðừng để con nghe theo lời quyến rũ rỉ tai

    mà chối bỏ đức tin và xa lìa Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    LÒNG TRUNG THÀNH

    Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

    Chúng ta vẫn thường hay nghe nói người này hứa dỏm, người kia hứa lèo. Chính bản thân nhiều khi cũng tỏ ra bực mình vì ai đó không giữ đúng lời hứa. Từ những chuyện nhỏ nhất, tầm thường nhất của cuộc sống, đến những vấn đề quan trọng nhất, người ta đều có thể bất trung thất tín.

    Ví dụ: Ai cũng biết, hôn nhân là mối dây ràng buộc chặt, nhưng người ta vẫn phản bội nhau. Một hợp đồng kinh tế vừa mới ký xong, có thể vì lợi lộc riêng tư, người ta vẫn phản bội hợp đồng đó. Một hiệp ước hòa bình giữa hai đảng phái đã được ký kết để đừng chém giết nhau nữa, thì cũng không ai dám tin chắc rằng, hai đảng phái đó hoàn toàn tuân theo hiệp ước, dù nó là hiệp ước quốc tế đi nữa. Vậy là chiến tranh nổ ra, chém giết vẫn còn, những cái chết oan uổng vẫn không ngừng tiếp diễn. Nhìn vào thực tế của đời sống như thế, nhiều lúc ta như chán nản, bật thốt lên: Người đời là vậy! Họ phản bội nhau, bất trung với nhau, không cần đếm xỉa gì đến hậu quả.

    Đối với nhau đã vậy, đối với Thiên Chúa, con người cũng phản bội, cũng bất trung không kém. Từ thuở bình minh của nhân loại, thế giới, theo Thánh Kinh diễn tả, chỉ có hai người: Ađam, Eva. Tưởng chừng cả hai sẽ an phận trong hạnh phúc tuyệt đối Chúa đã an bài. Nhưng không, lòng tham, sự kiêu ngạo đã làm hai ông bà không chấp nhận hạnh phúc đó, mà lại muốn bằng Thiên Chúa. Để bằng Thiên Chúa, chỉ còn cách không vâng lời, chống lại Thiên Chúa, bất trung với Người. Vì tội chống Thiên Chúa một cách tày trời, đã gây ra hậu quả không lường: cả loài người cùng bị vạ lây trong tội nguyên tổ.

    Bất trung của Ađam và Eva là mở đầu cho vô vàn những bất trung mà con người phản bội Thiên Chúa. Chẳng hạn, thời gian dài dân Chúa phải lang thang trong sa mạc là một bằng chứng. Bốn mươi năm trường nếm đủ mùi vị của khổ đau: nào là đói, rét, khát, rắn độc cắn…, đã làm cho dân của Chúa mất kiên nhẫn, nhiều lần lên tiếng trách móc ông Môsê và ông Aaron. Không dừng ở đó, họ còn oán trách nặng lời đối với Thiên Chúa của họ. Họ nghi ngờ lòng thương xót của Chúa: không biết Chúa có thương mình không, hay Thiên Chúa đem họ ra khỏi Aicập để mượn nỗi khổ gay gắt của sa mạc để giết chết họ? Lòng dân nổi loạn đến mức, có lần ông Môsê thất vọng cùng cực, than thở với Chúa: Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu?… Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn…” (Ds 11, 12tt). Trong sa mạc, lòng dân quên mất tình yêu của Chúa, vì thế đã không biết ơn Thiên Chúa của mình, ngược lại, nhiều lần họ đi từ thái độ bất trung đến đối nghịch Thiên Chúa.

    Hôm nay bài đọc một là một phần của câu chuyện dài về lòng thương xót của Thiên Chúa và sự bất trung của dân Người. Sau những năm tháng lang thang rày đây mai đó trong sa mạc, bây giờ sắp định cư trong đất hứa, hạnh phúc chỉ còn là một bước nhảy về phía trước. Trong hoàn cảnh này, dân Chúa phải xác định lại lập trường của mình: Họ có muốn trung thành theo Chúa, thờ phượng Chúa nữa hay không? Dẫu hôm nay, họ dỏng dạc tuyên bố sự chọn lựa của mình: “Không đời nào chúng tôi bỏ Đức Chúa mà đi thờ các thần khác”, và dù cho lý do buộc họ phải xác định lại đức tin của mình là bởi đã quá nhiều lần họ bất trung với Chúa, thì không phải vì thế, mà từ nay về sau họ không còn bất trung. Lời quyết tâm trung thành hứa trước nhan Chúa vẫn còn đó, nhưng lòng dân thì hay thay đổi. Suốt dọc dài của lịch sử, sự phản bội ngấm ngầm hay ra mặt đã làm cho dân của Chúa nhiều lần bước ra khỏi tình yêu của Người, sống cách xa Thiên Chúa. Chính sự bất trung liên tục mà dân Chúa đã bao lần chuốc lấy cơn phẫn nộ của Người. Nhưng nổi bậc lên trên tất cả, lớn hơn cả những lần phẫn nộ, lớn hơn cả sự phản bội của dân vẫn là tình yêu khoan dung, và tha thứ mà Thiên Chúa dành cho họ. Đọc Thánh Kinh ta có cảm tưởng như Thánh Kinh hình thành bởi một công thức gồm ba động từ: phản bội – nổi giận – tha thứ. Dân không ngừng phản bội, nhiều lần Thiên Chúa nổi giận, sau đó lại xót thương và tha thứ. Suốt chiều dài của lịch sử mà Thánh Kinh diễn tả cứ lặp đi lặp lại y như thế.

    Đó là bài đọc I trích trong sách Giosuê. Trong bài Tin Mừng, một lần nữa, ta lại thấy lời khẳng định về lòng trung thành một cách dứt khoát của thánh Phêrô: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và chúng con biết rằng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”. Dù khẳng khái là thế, nhưng không phải mọi lúc Phêrô đều cứng rắn và hết lòng trung thành. Vì khi Thầy Giêsu của mình lâm nguy trong cuộc tử nạn, có lẽ chính là lúc Thầy cần Phêrô nhất: cần một sự đồng cảm, cần một sự chia sẻ nào đó, cần lắm một thái độ, ít nữa là một ánh mắt tin tưởng để Thầy bớt cô đơn trên mỗi bước đường thập giá… Chính những giờ phút quan trọng ấy, những giờ phút cần thiết ấy, Phêrô lại quên mất lời tuyên xưng mới đó, tính cho đến thời điểm diễn ra cuộc thương khó của Thầy, chưa được bao lâu. Vì một chút sợ hãi và yếu lòng, Phêrô đã chối Thầy, không phải một lần, mà là ba lần, không phải trong ba năm, nhưng chỉ cách nhau có hai canh gà!

    Ôn lại những gì dân Chúa đã sống ngày xưa, và nhìn lại lời tuyên xưng cũng như lỗi lầm của thánh Phêrô nhân dịp Hội Thánh mời gọi ta suy niệm các bài Kinh Thánh nói về lòng trung thành trong ngày Chúa nhật XXI, bạn và tôi, một lần nữa, hãy thâm tín một cách chắc chắn rằng, Chúa vẫn yêu chúng ta, yêu từng người một. Dẫu ta có lỗi lầm bao nhiêu, có bất trung cách mấy, Chúa vẫn một lòng khoan dung tha thứ. Chúa đã chấp nhận nguyên tổ ngay cả khi nguyên tổ chống đối Chúa; Người cũng không vì lỗi lầm của dân riêng mà khước từ tình yêu đối với họ, cũng không phải vì Phêrô yếu đuối mà Chúa tước quyền làm tông đồ trưởng, hơn nữa làm giáo hoàng tiên khởi của Hội Thánh, thì hôm nay bạn và tôi vẫn có quyền hy vọng. Chúa vẫn thế, vẫn mãi mãi là Thiên Chúa của lòng trung thành, của tình yêu và tha thứ, chỉ sợ chúng ta không hy vọng nữa mà thôi. Ta bất trung với Chúa nhiều lần, đó là sự thật. Nhưng còn một sự thật khác lớn hơn nhiều: Tình yêu của Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của ta. Bởi thế, biết mình yếu đuối, lỗi lầm bao nhiêu, ta càng vững tin vào Chúa bấy nhiêu. Nếu lỡ có lần nào vấp ngã, ta nhanh chóng đứng lên và chạy về phía Chúa. Bí tích giải tội là cách tốt nhất để ta lấy lại bình an, lấy lại lòng trung thành cùng Chúa mà chính mình đã đánh mất.

    Về mục lục

    .

    SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 21 TN_B

    Lm. Inhaxiô Hồ Thông

    Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXI có thể được tóm gọn ở nơi diễn ngữ này: “Tấn thảm kịch của sự chọn lựa”. Có những chọn lựa mang tính quyết định đối với cá nhân hay dân tộc.

    Gs 24: 1-2a, 15-17, 18b

    Bài Đọc I nhắc lại việc ông Gio-suê đưa ra cho dân Ít-ra-en ngay khi họ định cư ở miền đất ngoại giáo một sự chọn lựa dứt khoát: phụng thờ ngẫu tượng hay phụng thờ Đức Chúa, Đấng đã bảo vệ họ và dẫn đưa họ đến tận miền đất mà Ngài đã hứa ban cho tổ tiên của họ.

    Ep 5: 21-32

    Trong đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, Thánh Phao-lô sánh ví tình yêu chung thủy giữa chồng và vợ trong hôn nhân Ki-tô giáo với sự kết hiệp bất khả phân ly của Đức Giê-su với Hội Thánh của Người.

    Ga 6: 54a, 60-69

    Tin Mừng trình bày một chọn lựa khác: tin vào Đức Giê-su và vào lời hứa ban thịt và máu của Người, hay từ chối tin vào Người và không chấp nhận mầu nhiệm này. Đây là thời điểm chọn lựa giữa lòng trung tín và thái độ khước từ.

    BÀI ĐỌC I (Gs 24: 1-2a, 15-17, 18b)

    Sách Gio-suê được đặt liền ngay sau bộ Ngũ Thư; sách này thuật lại việc dân Thiên Chúa định cư ở đất Ca-na-an (thế kỷ thứ mười ba trước Công Nguyên), những diễn biến của cuộc chinh phục, đoạn việc phân chia lãnh thổ giữa mười hai chi tộc Ít-ra-en.

    1. Một sự chọn lựa dứt khoát

    Ông Gio-suê, kế nghiệp ông Mô-sê, lãnh đạo dân Do thái. Ông là vị anh hùng chính của sách mang tên ông. Vào cuối đời, noi gương ông Mô-sê, ông Gio-suê muốn căn dặn dân Do thái lần cuối, vì thế, ông quyết định triệu tập toàn thể các chi tộc Ít-ra-en ở Si-khem.

    Địa danh mà ông chọn, ở trung tâm Đất Hứa. Xét về phương diện địa lý, địa danh này rất thuận tiện (sau này miền này được gọi là Sa-ma-ri). Ngoài ra, miền này chất chứa biết bao kỷ niệm tôn giáo rất có ý nghĩa: Si-khem là nơi tổ phụ Áp-ra-ham trú ngụ đầu tiên khi đặt chân lên đất Ca-na-an và là nơi vị tổ phụ dựng bàn thờ đầu tiên kính Chúa (St 12: 6-8). Đó cũng là nơi mà tổ phụ Gia-cóp đã tậu một thuở đất và đã chôn dưới gốc cây những tượng thần linh ngoại giáo mà thân nhân của ông còn đem theo với mình, đây là dấu chỉ của việc từ bỏ phụng thờ các thần linh của họ (St 33: 18-20). Hành động này báo hiệu cách đặc biệt việc thờ phượng chỉ một mình Đức Chúa, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Cũng một cách như vậy, ông Gio-suê đòi hỏi dân Ít-ra-en phải dứt khoát từ bỏ thờ lạy các thần linh và cam đoan phụng thờ một mình Đức Chúa, Thiên Chúa của họ.

    1. Tấn thảm kịch của sự chọn lựa

    Đoạn văn hôm nay trích từ bài diễn từ của ông Gio-suê được đặt vào trong khung cảnh phụng vụ: ông Gio-suê và tất cả các lãnh tụ dân Ít-ra-en “ra trình diện trước nhan Thiên Chúa”. Đây là biểu thức quen thuộc chỉ ra rằng có một đền thánh ở Si-khem (chắc chắn Hòm Giao Ước được đặt ở nơi thánh địa này).

    Ông Gio-suê đưa ra cho toàn dân Ít-ra-en một chọn lựa triệt để: phụng thờ các vị thần linh của dân ngoại hay chỉ một mình Đức Chúa. Sự quyến rũ của việc phụng thờ các thần linh có thể xuất xứ từ đa thần giáo của tổ tiên họ, hay từ dân bản địa mà họ cùng chung sống trên đất Ca-na-an. Dân Ít-ra-en phải chọn lựa một trong hai. Ông Gio-suê đòi hỏi họ long trọng tái cam kết. Lập luận cốt yếu mà ông đưa ra dựa trên sự trung tín của Đức Chúa, chính Ngài đã giải thoát họ ra khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, đã dẫn đưa họ đến tận Đất Hứa này, bất chấp mọi trở ngại đã giữ trọn lời hứa của Ngài với cha ông họ. Dân Ít-ra-en phải đáp trả sự trung tín của Thiên Chúa bằng cách tái cam kết phụng thờ chỉ một mình Ngài “vì Đức Chúa là Thiên Chúa chúng tôi”.

    1. Giao ước ở Si-khem

    Trên bình diện lịch sử, một cuộc triệu tập như vậy cho thấy là cần thiết để tái tổ chức toàn thể dân Chúa chọn thành một dân duy nhất, bởi lẽ dân Do thái vào Đất Hứa, đất mà các tổ phụ đã sống, và gặp lại những hậu duệ đã không cùng họ rời quê hương sang Ai-cập. Việc sáp nhập những hậu duệ này vào các chi tộc của cuộc Xuất Hành quả là cần thiết. Cuối cùng, cũng cần phải hiệp nhất các chi tộc trước khi họ phân tán khắp xứ sở Ca-na-an. Để được như vậy, chỉ có chung một niềm tin mới có thể gắn kết những yếu tố rời rạc của dân Thiên Chúa.

    Nhưng về phương diện lịch sử, Giao Ước Si-khem chắc chắn là bản sao chép phụng vụ mà dân Ít-ra-en cử hành hằng năm để long trọng lập lại lời cam kết trung thành tuân giữ Giao Ước. Sách Đệ Nhị Luật xem ra làm chứng điều này, một bài thuyết giáo về Giao Ước theo sát sơ đồ của bài diễn từ ông Gio-suê; hay nói chính xác hơn, ông Mô-sê căn dặn dân Ít-ra-en hằng năm phải tưởng nhớ lời cam kết của mình đối với Đức Chúa. Một ngàn năm sau, việc tưởng niệm như vậy cấu thành yếu tố cốt yếu của “lễ Ngũ Tuần”. Hằng năm, vào ngày đại lễ đó, người ta lập lại lời cam kết trung thành tuân giữ Giao Ước Xi-nai (thật lạ thường, bài diễn từ của ông Gio-suê ở Si-khem không được nhắc đến).

    Cuối cùng, chúng ta ghi nhận rằng vào năm 931 trước Công Nguyên sự thống nhất của dân Chúa chọn bị thách đố: mười chi tộc tự tách mình ra khỏi vương triều Đa-vít để thiết lập vương quốc Ít-ra-en, mà kinh đô là Sa-ma-ri; trong khi hai chi tộc còn lại vẫn trung thành với vương triều Đa-vít, được gọi vương quốc Giu-đa, mà kinh đô là Giê-ru-sa-lem. Sự phân ly đau đớn này là phản đề cuộc triệu tập vĩ đại ở Si-khem.

    BÀI ĐỌC II (Ep 5: 21-32)

    Chúng ta tiếp tục đọc phần thứ hai thư thánh Phao-lô gởi các tín hữu Ê-phê-xô, đây là phần luân lý và khuyến dụ.

    Sau khi đã nói về đời sống mới của người Kitô hữu qua phép Rửa, thánh nhân đưa ra vài lời căn dặn liên quan đến đời sống gia đình: thánh nhân tuần tự gợi lên những mối liên hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, chủ và tớ. Đoạn trích hôm nay đề cập đến mối liên hệ giữa chồng và vợ.

    Chúng ta cần phải nhận ra hai khía cạnh khác nhau trong bản văn này: khía cạnh lỗi thời, việc khai triễn của những phong tục tập quán đã khiến cho những lời đề nghị của thánh nhân không còn thích hợp nữa; và khía cạnh bất khả đổi thay, luôn luôn có giá trị và luôn luôn mang tính thời sự: sự hiệp nhất của Đức Ki-tô với Giáo Hội của Người được sánh ví với sự hiệp nhất bất khả phân ly của chồng với vợ trong hôn nhân Ki-tô giáo.

    1. Khía cạnh lỗi thời

    Bản văn của thánh Phao-lô không còn đáp ứng tâm thức hiện nay của chúng ta. Quả thật, trong bối cảnh tôn giáo, văn hóa và xã hội của thánh nhân, lời khuyên “vợ phải tùng phục chồng” cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với “quyền bình đẳng nam nữ” trong thế giới hiện nay. Mặc dầu viết từ Rô-ma, thánh nhân vẫn quan niệm bổn phận của người vợ theo truyền thống Do thái. Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng, về phương diện pháp lý, bổn phận người vợ phải phục tùng chồng trước đây ở Đông Phương rất phổ biến, ngay cả ở Việt Nam: “xuất giá tòng phu”, đã bị hủy bỏ từ lâu rồi. Do đó, chúng ta cũng phải khảo sát hậu cảnh tôn giáo của lời đề nghị này: Giáo Hội tùng phục Đức Ki-tô, chấp nhận Tin Mừng của Người và tuân giữ các huấn lệnh của Người như thế nào thì người vợ phải phục tùng chồng như vậy.

    Còn đối với lời khuyên: “người chồng phải yêu vợ mình như yêu chính thân thể mình” không phải là xúc phạm đến người bạn đời của mình sao? Phải nói thực, linh đạo hôn nhân, sau một lịch sử lâu dài, đã vượt qua những quan niệm như vậy. Tình nghĩa vợ chồng sống theo tinh thần Ki-tô giáo là lời mời gọi thường hằng ra khỏi cái tôi của mình, quên đi bản thân mình mà yêu người bạn đời của mình như chính người ấy. Không phải thánh Phao-lô đã tiên cảm điều đó khi nói rằng người chồng phải bắt chước Đức Ki-tô, Người đã “yêu thương và hiến thân mình vì Hội Thánh” đó sao?

    Vì thế, trước tiên phải vượt qua những quan niệm này mà cố gắng thấu hiểu tư tưởng của thánh nhân, chủ yếu thuộc loại suy.

    1. Truyền thống Kinh Thánh

    Thánh Phao-lô áp dụng cho Đức Ki-tô và Hội Thánh của Ngươi ngôn từ của các ngôn sứ, các ngài đã diễn tả tình yêu của Đức Chúa dành cho dân Ít-ra-en bằng những từ ngữ hôn nhân. Khởi đi từ thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, ngôn sứ Hô-sê đã trình bày hình ảnh hôn ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài bằng những ngôn từ thật thống thiết; từ đó, hình ảnh này trở thành kinh điển. Chúng ta gặp lại hình ảnh này nhất là tại các ngôn sứ: Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, I-sai-a đệ nhị. Hình ảnh này xuất hiện một lần nữa và được thiêng liêng hóa trong sách Khôn Ngoan (thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên). Chính trong truyền thống Kinh Thánh này mà viễn cảnh của thánh Phao-lô được định vị.

    Việc so sánh tình nghĩa vợ chồng phàm nhân với tình nghĩa của Đức Chúa với Dân Người thật là tuyệt vời, dù rằng không phải mọi yếu tố đều xứng hợp. Quả thật, sự so sánh vẫn kiếm khuyết ở nơi mức độ đồng hóa Đức Ki-tô với người chồng được tô điểm bằng sự hoàn thiện, cao cả, uy quyền, và Dân Người với người vợ xem ra hoàn toàn phụ thuộc, có nhiều khuyết điểm, cần được tinh tuyền và thánh thiện “để ra mắt Người”.

    Cũng vậy, trong Cựu Ước, Đức Chúa là vị hôn phu rất mực thủy chung, không bao giờ quên những lời thề non hẹn biển của mình; trong khi dân Do thái là vị hôn thê thường bội thề, bất trung với Thiên Chúa của mình, vi phạm các huấn lệnh của Ngài, chạy theo các ngẫu tượng.

    Vì so sánh như vậy, người chồng phải yêu thương vợ mình “như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh”. Lời mời gọi chan chứa tình nghĩa chồng vợ này tạo nên một dấu nhấn mới gây xôn xao ở giữa lòng xã hội ở đó chỉ người chồng mới có quyền rẩy vợ và ở đó chỉ người phụ nữ ngoại tình bị trừng phạt (dù rằng tội đồng lõa cũng bị trừng trị: Lv 20: 10; Đnl 22: 22, tuy nhiên chúng ta ghi nhận rằng việc người chồng ngoại tình hiếm khi bị kết án).

    1. Hội Thánh là Hiền Thê và Thân Thể của Đức Ki tô

    Đoạn trích thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô này khai triển một trực giác đã xuất hiện kể từ thư thứ hai gởi các tín hữu Cô-rin-tô (2Cr 11: 2), đó là cách diễn tả đạo lý rõ ràng nhất của thánh Phao-lô về Hội Thánh là “Thân Thể Đức Kitô”.

    Đức Ki-tô đã thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh “bằng nước và lời hằng sống”, theo nguyên ngữ của bản văn Hy lạp “bằng việc tắm rửa kèm theo lời”. Thánh Phao-lô sử dụng từ “tắm rửa” vì phép Thánh Tẩy được thực hiện bởi việc nhận chìm vào bể nước, nhưng cũng ám chỉ đến nghi thức tắm rửa của vị hôn thê theo tập tục Do thái cũng như Hy lạp. Còn việc kể ra “kèm theo lời” rõ ràng là biểu thức phép Thánh Tẩy. Dù xác định thoáng qua nhưng thật quý báu biết bao.

    Có thể cũng có một sự quy chiếu đến phép Thánh Thể, khi thánh nhân gợi lên “người chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, không ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi dưỡng và săn sóc thân xác mình”; đó là điều Đức Giê-su làm đối với Hội Thánh của Người khi nuôi dưỡng Hội Thánh bằng Mình và Máu của Người.

    1. Chiều kích cao cả của hôn nhân

    Sự kết hiệp của Đức Giê-su với Hội Thánh là dấu chỉ của sự hiệp nhất giữa đôi vợ chồng trần thế, đó là ý muốn của Đấng Tạo Hóa, vì “cả hai sẽ trở thành một xương một thịt”, như cách diễn tả của sách Sáng Thế mà thánh nhân nhắc lại. Như vậy, sự hiệp nhất chồng vợ được tháp nhập vào trong một thực tại thánh, thực tại này siêu thăng đời sống hôn nhân. Mầu nhiệm hôn nhân thật là cao cả vì là hình ảnh hôn ước giữa Đức Giê-su và Hội Thánh.

    TIN MỪNG (Ga 6: 54a, 60-69)

    Đây là một trong những trang Tin Mừng thống thiết nhất. Đức Giê-su đã hoàn tất diễn từ Bánh Hằng Sống; Người đã loan báo ân ban thịt và máu của Người bằng những từ ngữ hiện thực nhất. Như vậy, Đức Giê-su đặt để các môn đệ của Người trước một sự lựa chọn: tin vào những lời công bố không thể nào tin được này hay từ chối mà ra đi vì “lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”.

    1. Nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Đức Giê-su nữa

    Chúa Giê-su vừa mới công bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống”. Các môn đệ, tức một nhóm đông hơn nhiều nhóm Mười Hai, đã hiểu những lời của Đức Giê-su theo nghĩa thuần túy duy vật: “lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”.

    Đức Giê-su thử làm cho họ hiểu rằng để có thể hiểu những lời của Người, có một cách giải thích khác với cách giải thích của họ, không quá duy vật và “xác thể”, nhưng một cách “thần thiêng”“Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư?”. Từ “chướng” theo nghĩa đầu tiên, có nghĩa sự ngăn trở mà người ta vấp phải, như vấp phải hòn đá trên đường. “Thế khi anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” Người muốn hướng tâm trí của họ về tương lai và ở bên kia cuộc tử nạn của Người, khi Người trở về nơi Người đã đến. Lúc đó ý nghĩa của những lời Người nói mới được sáng tỏ: “thịt” và “máu” mà Người ban tặng chính là Thân Thể của Đấng Phục Sinh, là nguồn sống thần linh trao ban vô tận cho loài người, như vậy loài người đón nhận sự sống Người ban mới có sự sống trường sinh trong chính mình.

    “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”. Lời của Đức Giê-su “là thần khí và là sự sống”, tức là “Thần Khí làm cho sống”, vì chỉ có Thần Khí mới làm cho người tín hữu thấu hiểu được những lời Đức Giê-su đã nói, những phép lạ Người đã làm (3: 6) và những thực tại thần thiêng Người đã biểu lộ qua bản thân Người (Ga 15: 26a). Trái lại, “xác thịt”, tức phàm nhân, chỉ đóng khung trong ánh sáng của riêng mình, không thể hiểu ân ban mà Đức Giê-su hứa. Như vậy, cộng đoàn Ki-tô hữu hậu phục sinh trung thành với bàn tiệc Thánh Thể dễ hiểu hơn các môn đệ chán chường này.

    1. Nỗi buồn của Đức Giê-su

    “Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người”. Sự phản bội của ông Giu-đa được kết nối với những môn đệ không tin này: “vì lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi”. Điều này hé mở cho thấy rằng ông Giu-đa đã vấp ngã trên mầu nhiệm Thánh Thể khởi đi từ nghi ngờ giáo huấn của Thầy về Bánh Hằng Sống.

    “Từ đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa”. Trước việc các môn đệ rút lui không theo Người nữa và trước viễn cảnh về một sự phản bội, Đức Giê-su buồn rầu hỏi nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa , anh em cũng muốn bỏ thầy đi sao?”. Nhân danh các môn đệ, thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin của mình: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại đời sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Thánh nhân đặt “tin” trước, rồi mới đến “nhận biết”. Chỉ trong ánh sáng của đức tin, người ta mới có thể nhận biết những chân lý vượt quá khả năng hiểu biết của phàm nhân.

    Mặc khải Thánh Thể đã đặt ra một sự chọn lựa bi thảm. Mặc khải này vẫn sẽ là “mầu nhiệm đức tin” đối với các tín hữu của mọi thời đại.

    Về mục lục

    .

    LÒNG TRUNG THÀNH.

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Mỗi lần tham dự Thánh lễ hôn phối, ta được nghe từng lời của chú rể : Anh … nhận em … làm vợ và hứa sẽ giữ lòng trung thành với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như khi mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em suốt đời anh. Đáp lại, cô dâu cũng nói lên lòng trung thành với chồng của cô.

    Lòng trung thành dường như là điều cần thiết cho cuộc sống chung. Trong mọi tương quan, trong mọi bậc sống đều cần lòng trung thành, sự chung thủy với nhau. Bạn bè chơi với nhau cần trung thành để không phản bội nhau. Vợ chồng cần trung thành để không có lỗi với nhau. Thầy trò cần lòng trung thành để gắn bó mật thiết với nhau. . . Và như vậy, chúng ta thấy lòng chung thủy, sự trung thành luôn là điều mà mọi người chúng ta phải gìn giữ trong mọi mối tương quan với nhau.

    Nhưng xem ra xã hội chạy theo lợi nhuận đã khiến con người khó giữ lời hứa trung thành. Vì lợi nhuận có người đã thay đổi công ty mỗi năm vài lần, cho dù đó là những ông chủ đã từng cưu mang họ lúc khó khăn. Bạn bè chơi với nhau ngày hôm nay cũng thế ! Rất khó kiếm được bạn tri kỷ như thế hệ cha anh. Họ chơi với nhau  nhưng dễ dàng đạp đổ nhau vì cái lợi cá nhân, vì công danh của họ. Ngày hôm nay càng khó kiếm những đứa học trò về thăm thầy cô sau khi công thành danh toại, đôi khi còn phản thầy, phản bạn và vu khống nhau . . .

    Điều báo động là lòng trung thành, sự chung thủy trong hôn nhân hôm nay cũng đang bị phá hủy một cách đáng báo động. Ở những thành phố lớn như Sài Gòn người ta tính cứ 3 đôi kết hôn thì 1 đôi không trung thành với nhau trọn đời. Và theo thống kê tại nơi thử máu AND để xác định cha con ruột với nhau thì cứ 10 trường hợp thì có 3 trường hợp nuôi con hàng xóm. . .

    Quả thực, lòng trung thành nói thì dễ nhưng giữ lại chẳng dễ chút nào. Ngay trong tôn giáo có mấy người thực sự giữ lòng trung thành với Thiên Chúa? Ở Việt Nam vào thập niên 1980-1990 của thế kỷ trước rất nhiều người đã ghi vào lý lịch bản thân là không tôn giáo để tìm kiếm công danh cho dễ. Ở đâu đó ta vẫn thấy người Công Giáo nhưng không trung thành giữ luật Chúa, họ vẫn tham ô, lừa gạt, sống thiếu yêu thương . .  .

    Lời Chúa hôm nay, ta cũng nghe lời hết sức tình cảm từ môi miệng của Simon Phêrô : “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời “. Nhưng Phê-rô thực sự đã không giữ lời hứa. Ông đã ngã đi ngã lại tới 3 lần và cuối cùng bỏ chạy biệt tăm trên đường thập giá mà Chúa phải đi một mình!

    Cuộc đời mỗi người chúng ta dường như cũng có nét gì đó giống Simon Phêrô xưa. Nói yêu Chúa thì dễ nhưng khi phải làm chứng thì lại chạy xa. Đi lễ thì đông nhưng giữ trọn luật Chúa còn mấy ai? Ngày nay không còn có những cuộc bách hại đạo tàn khốc nhưng cuộc cạnh tranh cơm áo gạo tiền đã khiến bao người đánh mất lòng trung thành với Thiên Chúa. Và lòng trung thành với nhau của vợ chồng, của bạn bè , của đối tác làm ăn càng khó giữ vì lợi nhuận mà người ta dễ dàng phản bội nhau.

    Chúa Giê-su hôm nay nói với các môn đệ và cũng là chúng ta muốn trung thành với Chúa và với nhau không thể dựa vào bản thân mà hãy dựa vào chính Chúa. Chính ơn ban của Chúa Cha mới giúp chúng ta sống trung thành với lời hứa. Thế nên, chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối của mình để trông cậy với ơn Chúa. Hãy gia tăng cầu nguyện, hãy phó thác vào Chúa để Ngài nâng đỡ sự yếu đuối của chúng ta và hoàn thiện chúng ta nên tốt hơn.

    Xin ơn Chúa giúp chúng ta giữ lòng trung thành với Chúa và với nhau. Nhất là luôn nhận ra Chúa mới là nguồn sống trường sinh để biết chọn Chúa hơn là của cải trần gian mau qua. Amen

    Về mục lục

    .

    CHỌN LỰA KHÔN NGOAN

    Lm. Jos. DĐH.

    Lửa thử vàng, gian nan thử đức, chẳng ai lại hiểu đó là khái niệm mơ hồ, cho dù vàng bạc quý hiếm, khổ đau trong cuộc sống lại quá nhiều. Câu thành ngữ quen thuộc: không có gì quý hơn độc lập tự do, vẫn mãi còn là một minh chứng, ai cũng sẽ thành công trên hành trình đời này, khi họ biết sử dụng con tim khối óc để chọn một lối đi đúng, để lựa một phong cách sống đẹp. Có sa cơ thất thế mới rõ ai là bạn hiền, có nuôi con mới hiểu công khó của cha mẹ, có vấp ngã trong đời, hẳn sẽ “thấm thía” hơn với trấn an: thất bại là mẹ thành công. Một quyết định đúng, một chọn lựa đúng đẹp, mang đến niềm vui hạnh phúc, sẽ không phải vòng vo trong hy vọng, hay bởi tình cờ may mắn, nhưng sẽ là kết quả của tính hợp lý.

    Lạc quan, tự tin, do hoàn cảnh thuận lợi thì quả dễ dàng, được ăn uống đủ chất, được đủ điều kiện học tập, được sống trong bầu khí gia đình hạnh phúc, đối tượng đó thành công đâu khó khăn gì ? Cụ Phan Bội Châu để lại 2 câu thơ vừa khích lệ con cháu hãy tin tương lai sáng lạn ở phía trước, vừa động viên ý chí nghị lực cần phải có để được thành danh: nếu phải đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt nào có hơn ai. Lời giảng dạy của Đức Giêsu về bánh trường sinh, khởi đi từ thực tế thiết thực đến cao sâu, có người im lặng, có kẻ phản kháng, cả một số môn đệ cũng bất mãn vì “lời khó nghe” ! Sứ mạng hay ơn gọi của mỗi người sẽ không êm đềm, xuôi thuận, do đó một chuỗi dài hành trình phía trước, ai cũng cần phải có những chọn lựa khôn ngoan.

    Có tình yêu, có bình an, có gắn bó với anh chị em, hiệp thông với Đấng chúng ta tin tưởng, cuộc đời mỗi người mới là lời chứng khôn ngoan: có khó mới có anh hùng, qua bao gian khổ tỏ lòng trung kiên. Con người hôm nay ham hố lợi lộc, bất trung, bội phản, đầy giới hạn yếu hèn có khác gì người thời xưa ! Nhưng nhờ tình yêu Đức Kitô, chúng ta vẫn đang được soi sáng, dẫn dắt, cũng nhờ thế mà “cái đầu” của chúng ta được thông suốt, “trái tim” chúng ta mới không loạn nhịp. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn mời gọi chúng ta tiếp tục chọn lựa: “cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không”?

    Chân lý mà người xưa hay nay đều biết: thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng, thực tế thuốc đắng bao giờ cũng khiến người ta ngại uống, sự thật thì khó nghe, khó chấp nhận. Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, Đức Giêsu là Bánh trường sinh, nghe, hiểu, tin, vẫn mãi là ơn ban, là cơ hội dành cho mỗi người. Tình yêu Thiên Chúa không hề đổi thay, dù niềm tin chúng ta chưa khá hơn đám đông năm xưa, Đức Giêsu vẫn là Chúa, là Thầy, là bạn hữu, là Đấng vì yêu, đã chịu chết mà đền thay tội lỗi nhân loại. Chúng ta nên hiểu: đã là bạn thì mãi mãi là bạn, không thể như sông lúc cạn lúc sâu ! Đã là những người tin theo Chúa, không thể sống trong hoài nghi, dù là đám đông Do-thái, là môn đệ, là nhóm 12, hoặc chúng hôm nay, tất cả đều phải dứt khoát lập trường theo Chúa, không thể sống lấp lửng, nửa vời.

    Giáo huấn của Đức Giêsu về bánh hằng sống không chỉ hướng đến đám đông Do-thái, vì con người tự nhiên, tất cả đều mơ ước được hạnh phúc, được trường sinh bất tử, do đó chúng ta hôm nay cũng là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa. Cám dỗ chối bỏ Đức Giêsu, không tin Đức Giêsu là Thần lương nuôi linh hồn, vẫn là một điều đáng sợ của sự thông thái, quyền lực, tự mãn. Ở trong tình yêu, người ta không thua khi bị thế gian, ma quỷ, tấn công, mà chỉ thua khi tự đầu hàng chúng. Nhờ tình yêu, mỗi khi phải đối mặt với nghịch cảnh, trong chúng ta luôn có một sức mạnh tiềm ẩn, chính niềm tin sẽ dẫn chúng ta đến một chọn lựa khôn ngoan nhất. Đức Giêsu đã nói tới sự thật về tình yêu thương rất cao sâu đó: “không ai có thể đến với Ta, nếu không được Cha Ta ban cho”.

    Tục ngữ có câu: có vụng, sau mới khéo. Có té ngã, thất bại, mới thấy mình chưa khôn, có hiểu sai, có bầm dập khổ đau, mới thấy mình cần tình yêu thương. Cha mẹ thương con thương cháu là đúng, nhưng đâu phải cứ ngọt ngào, cứ đáp ứng đòi hỏi của con cháu mới là thương yêu, nhưng cha mẹ có tình, có lý, có thẳng, có thật, mới thực sự gọi là thương yêu. Sứ mạng của Đức Giêsu sẽ không thể im lặng, rút êm, khi mà đám đông Do-thái, các môn đệ, các tông đồ, đang nghi ngờ về tình yêu của Thiên Chúa, về Bánh hằng sống sẽ được ban cho nhân loại. Đức Giêsu tôn trọng sự chọn lựa của các tông đồ, và cũng như các học trò của Đức Giêsu hôm nay, chúng ta được tự do sống sự chọn lựa thật khôn ngoan: “lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai ? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Amen.

    Về mục lục

    .

    ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG

    Bông hồng nhỏ

    Có một câu chuyện kể rằng: Có một ông bố giao cho ba đứa con của mình một nhiệm vụ rất quan trọng, hễ ai hoàn thành nhiệm vụ thì ông sẽ trọng thưởng. Cả ba người con nghe xong yêu cầu thì vội vã ra đi. Người con cả lên rừng tìm con thú để về làm món thịt nướng cho cha vì anh nghĩ, chốn rừng sâu nước độc, Chúa sẽ chẳng ở trên ấy. Nhiệm vụ của anh hoàn thành. Người con thứ lặn xuống sông bắt cá vì nghĩ rằng, dưới nước sâu Chúa sẽ chẳng hiện diện. Người con út ra đi, anh xuống thung lũng sâu vẫn gặp thấy Chúa, lên rừng Chúa vẫn hiện diện. Cuối cùng anh trở về tay không. Chỉ có anh con út được cha trọng thưởng dù anh trở về tay không. Bởi anh đã mang về cho cha cả một kho báu, đó là niềm tin vào Thiên Chúa hằng hữu.

    Hôn nay, sau khi nghe Thầy Giê-su khẳng khái tuyên bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,54a), nhiều môn đệ phản đối, có kẻ đã rút lui, không còn đi theo Thầy Giê-su nữa. Có lẽ thầy Giê-su đã rất buồn khi các môn đệ không hiểu tấm lòng Thầy Giê-su yêu thương họ,  và càng buồn hơn khi họ bỏ đi, chối từ nguồn sống được ban cho họ. Đối với họ, việc ăn thịt và uống máu con người là điều kinh khủng, chỉ xảy ra ở những kẻ man di mọi rợ. Họ chẳng nhận biết rằng Thầy Giê-su chính là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x. Ga 6, 69b) và Ngài có thể trao ban chính máu thịt Ngài nuôi sống con người vì yêu con người đến cùng (x. Ga 13, 16). Khi chứng kiến sự ra đi, sự chối từ của các môn đệ, Nhóm Mười Hai có lẽ cũng không tránh khỏi sự bối rối. Thầy Giê-su biết trước sẽ có kẻ không tin và kẻ nào sẽ nộp mình nhưng với tình yêu bao la, Thầy muốn cho tất cả đều được nghe lời sự sống. Thầy Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6, 67). Trước câu hỏi của Thầy, Nhóm Mười Hai đứng trước hai chọn lựa: một là nhất quyết trung thành với Thầy, hai là dứt áo ra đi.  Ông Phê-rô đã thay mặt anh em thưa với Thầy: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6, 69). Trước dư luận phản đối Thầy Giê-su, câu trả lời của Tông đồ Phê-rô chính là một xác tín mạnh mẽ, quyết liệt, đã nâng đỡ đức tin của anh em mình. Không những thế, câu trả lời còn cho thấy niềm tin vào Thầy Giê-su và ơn gọi đi theo Thầy nơi nhóm Mười Hai, trước sau như một, quyết chí trung thành.

    Về phần ta, ta được lắng nghe lời Thiên Chúa dạy dỗ, được chính Thánh Thể Chúa dưỡng nuôi. Đó là hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho ta. Nhịp sống ngày càng vội vã, hối hả đã kéo ta như càng lìa xa Thiên Chúa. Đức tin mà ta tuyên xưng liệu có trở thành một lời tuyên tín chân thực, thống nhất trong cuộc sống của ta? Ngày hôm nay ta mạnh mẽ ca vang tình yêu Chúa nhưng có đôi lần ta lại lãnh đạm thờ ơ với Chúa. Như thế là thế nào? Chẳng phải lúc ta ngại ngùng giấu giếm mình là Ki-tô hữu khi không làm dấu Thánh, hay khi không rộng lòng chia sẻ với anh em mình vật chất ta có, tình yêu thương của ta,.. là khi ta bỏ Thầy Giê-su rồi sao? Chính Tông đồ Phê-rô cũng đã chối Chúa ba lần vì sợ hãi nhưng cũng ba lần ông thưa với Chúa Giê-su Phục Sinh: “Thầy biết con yêu mến Thầy” (x. Ga 21, 15-17).  Noi gương Ngài, ta hãy sống tinh thần sám hối và yêu mến Chúa mỗi ngày bằng một đức tin sống động.

    Lạy Chúa, sau khi hân hoan lắng nghe lời Chúa và dự tiệc Thánh Thể no say, xin cho con can đảm sống lời Chúa bằng một đức tin sống động, một tình yêu mến chân thực. Nếu khi nào con vấp ngã, xin Chúa kéo con về để con được thánh hóa trong Chúa. Amen.

    Về mục lục

    .

    HOANG ĐƯỜNG

    Lm Vũdình Tường

    Kẻ thì cho là hoang đường, kẻ khác lại nói nghe chói tai, kẻ khác nữa cho là khó nghe, kẻ khác thấy không thoải mái. Đây là phản ứng của đám đông khi họ nghe Đức Kitô nói về lương thực trường sinh.

    Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. c.53

    Đức Kitô biết phản ứng của họ, Ngài đã không rút lại lời đã nói, trái lại còn nhấn mạnh thêm

    Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thị tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống. c.54

    Nghe vậy đám đông xa lánh Ngài. Đức Kitô không để cho đám đông lung lạc công việc Ngài làm và Ngài cũng muốn môn đệ xác định rõ í định của họ nên Ngài nói với các ông

    Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? c.62

    Đức Kitô đưa ra những lời trên để cho đám đông tự chọn thái độ sống cho riêng họ. Tin theo Đức Kitô hoặc chối bỏ Ngài. Sau khi thấy đám đông ra đi, Đức Kitô hỏi riêng các môn đệ

    Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? c.67

    Đừng coi thường người ngư phủ này, Phêrô đại diện anh em lên tiếng

    Thưa thầy, bỏ thầy chúng con biết đến với ai? Thầy mới có lời đem lại sự sống đời đời c.68

    Câu đáp của Phêrô làm mọi người kinh ngạc về sự khôn ngoan sâu hơn đáy biển, rộng hơn bầu trời. Phêrô đáp lại Đức Kitô ngoài Ngài ra không còn ai hơn được. Phêrô không cho biết ông đã theo những ai. Tuy nhiên câu so sánh cho biết ông biết có những người khác cũng đưa những hứa hẹn nên mới so sánh. Ông cũng nhận định Đức Kitô là Đấng tốt lành nhất. Hơn nữa ông còn xác quyết Thầy là Đấng có lời ban sự sống đời, không phải sự sống thường mà là sự sống đời đời. Đám đông cho là lời nói chói tai, trong khi Phêrô cho là lời hằng sống. Điều mà ông cầu mong. Hơn nữa Phêrô còn nhận biết Đức Kitô đến từ Thiên Chúa. Rất có thể câu nói: nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? giúp Phêrô mở ánh sáng con mắt đức tin nhận biết Đức Kitô là Đấng Thánh của Thiên Chúa c.69

    Tương tự như Joshua tuyên xưng đức tin trước cộng đoàn của ông. Phêrô cũng tuyên xưng đức tin trước mặt Đức Kitô. Joshua nói với toàn dân

    Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ í chọn thánh thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông, hoặc các thần của người

    Amorites mà anh em đã chiến đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa Jos 24,15

    Cả hai nhóm tin vào Đức Kitô và không tin vào Đức Kitô đều có những điểm chung và những điểm khác biệt.

    Điểm chung thứ nhất cả hai cùng đi tìm sự sống thật, khi tìm gặp kẻ tin, người không. Thứ hai, cả hai đều tìm gặp được Đấng ban sự sống thật. Thứ ba, cả hai nhóm đều hiểu lờ mờ giáo huấn của Đức Kitô. Thứ tư, cả hai phải làm quyết định quan trọng trong chọn lựa.

    Điểm khác biệt. Thứ nhất, mhóm chọn tin theo; nhóm chọn không tin. Thứ hai, nhóm chọn tin thầm lặng; trong khi nhóm chọn không tin nhiều lời chỉ trích, phê bình, chê bai. Thứ ba, nhóm chọn tin theo chấp nhận thay đổi, đổi cách sống mới. Nhóm không tin, không thay đổi nhưng trở về với lối sống cũ. Thứ tư, nhóm không tin chọn lối sống của tiền nhân và tiếp tục tìm kiếm; nhóm tin chọn thay đổi theo lối sống do Đức Kitô hướng dẫn và tiếp tục nhận được giáo huấn của Ngài. Nhóm thay đổi vẫn giữ truyền thống nhưng được Đức Kitô giải thích theo lối mới: Bác ái và yêu thương làm lề luật căn bản. Thứ năm. Nhóm chọn theo Đức Kitô sống vui vẻ, nhóm chọn lối sống cũ đã không vui sống còn sống trong phàn nàn, than phiền.

    Đi theo Đức Kitô là tự nguyện sống theo đường lối Chúa; đường lối đó là tin vào Chúa và yêu thương tha nhân. Tin vào Chúa là chấp nhận thay đổi theo tình yêu Chúa hướng dẫn, đặt í Chúa trên í ta và sống thực thi í Chúa. Để í Chúa hướng dẫn cuộc sống. Đôi khi điều này không dễ chấp nhận, nhất là khi điều đó đòi hỏi hy sinh, đau khổ. Con người luôn muốn làm chủ đời mình, muốn làm chúa tể mọi loài. Để Chúa làm chủ đòi hỏi khiêm nhường, hạ mình phục vụ anh em. Chúng ta xin ơn khôn ngoan biết coi trọng và đặt í Chúa trên í riêng.

    Về mục lục

    .

    CẢ CÁC ANH CŨNG TÍNH BỎ ĐI HAY SAO?

    Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

    Bài Tin Mừng Gioan hôm nay (Ga 6:60-69) nói lên những phản ứng khác nhau của các môn đệ về bài giảng Bánh Hằng Sống mà chúng ta đã nghe ở hai tuần trước. Chúa Giesu ban bánh, nhưng không phải như manna mà Thiên Chúa ban trong hoang địa cho dân Israel mà là chính Người, là sự Sống. Ai ăn bánh này “sẽ được sống đời đời”.

    Danh từ Bánh và Sự Sống trong Tin Mừng Gioan, chỉ là những từ bình thường, nhưng lại mang một ý nghĩa thần học. Lời Chúa nói ra lúc đó không đơn giản như vậy; nó khá phức tạp, có thể đụng chạm người nghe. Thấy cử chỉ và thái độ của khán thính giả, chúa Giesu nói: “ Những lời đó đã xúc phạm các ngươi hay sao?”

    Câu hỏi thách thức đó của Chúa đã đặt ra một vấn đề cực kỳ quan trọng. Không phải chỉ có một người theo Chúa đã phản bội Chúa, nhưng thực tế có những người đã từng theo Chúa nay “quay lưng lại với Chúa, không theo Chúa nữa.”

    Nhóm người này co cụm lại khi cao điểm đã tới. Dù Chúa cắt nghĩa thế nào đi nữa cũng có kẻ hủy lời hứa quay mặt bỏ đi. Gioan dùng từ “các môn đệ” là ám chỉ những kẻ quay lưng bỏ đi. Họ không phải là những người tình cờ đến nghe Chúa hoặc thường xuyên nghe. Họ là những môn đệ đã từng biết Chúa và Chúa biết họ rất rõ.

    CẢ CÁC ANH NỮA CŨNG TÍNH BỎ ĐI CHĂNG?

    Đoạn Chúa gọi 12 tông đồ lại và đặt vấn đề thẳng với các ông: “Cả các anh cũng tính bỏ đi hay sao?”

    Phero, coi như phát ngôn viên của nhóm trả lời: “Thưa Thầy, chúng tôi có thể đi theo ai bây giờ đây? Thầy là lời hằng sống.” Lời Chúa nói thì mỗi lúc có một ý nghĩa khác, nhưng sự trao đổi này giống hệt như lời tuyên xưng của Phero trên đường đi tới các làng  xã ở vùng Caesare Philippi khi Chúa hỏi “Người ta nói thầy là ai?” Phero trả lời: “Thấy là Kito, đấng Thiên Sai” (Mc 8:27-30) Cả hai trường hợp này, phép lạ hóa bánh chỉ là thay đổi bối cảnh của một câu hỏi quyết định: Chúa Giesu thực sự là ai?

    ĐÒI HỎI CỦA PHAOLO VỀ PHÉP HÔN PHỐI

    Đọc thư thánh Phaolo (bài đọc 2) nói về tình nghĩa vợ chồng, chúng ta phải hiểu thánh nhân  có ý nói tới sự liên hệ chúa Kito và Giáo Hội. Tình yêu hỗ tương vợ chồng thế nào thì sự liên kết giữa Giáo Hội và chúa Kito cũng vậy.

    Khởi điểm và trung tâm của hôn nhân Kito giáo là Tình Yêu. “Chồng phải yêu thương vợ, như chúa Kito thương yêu Giáo Hội và hy sinh mạng sống vì Giáo Hội.” Bài giảng của Phaolo có vẻ khó khăn đối với hoàn cảnh thời nay.

    Như trong Sáng Thế (St 2:24), hôn nhân là một cơ chế thánh (Ep 5:31), Phaolo diễn tả  tình nghĩa vợ chồng theo hôn nhân Kito giáo một cách tượng hình, ám chỉ  sự liên hệ mật thiết giữa đức Kito và Giáo hội. Người vợ phải phục vụ chồng đúng như tinh thần phục vụ của Giáo Hội đối với chúa Kito (Ep 5:22, 24), và người chồng phải săn sóc vợ mình suốt đời như Chúa Kito trung thành với Giáo Hội vậy (Ep 5:25-30).

    Phaolo đã thêm vào đoạn sách Sáng Thế một ý nghĩa cao xa nhất phù hợp với sự nối kết giữa chúa Kito và Giáo Hội, trong đó sự trung thành và tận hiến của đôi vợ chồng Kito giáo phải giống như đức Kito đối với Giáo Hội (Ep 5:31-33).

    Câu thánh Phao nói “vợ phải phụ thuộc chồng” có thể bị hiểu lầm nếu tách ra khỏi bản văn. Vì như vậy là chồng đã lạm dụng, hành hạ vợ (Ep 5:22). Nhưng cả đoạn (c.21-33) lại nói lên tình yêu hỗ tương giữa chồng vợ như tình yêu chúa Kito và Giáo Hội: “Người chồng phải yêu vợ mình như yêu chính mình,  như chúa Kito yêu Giáo Hội.”

    Kinh Thánh không thể dùng để diễn nghĩa hoặc gán ép cho bạo hành và lạm dụng. Tin Mừng kêu gọi tất cả chúng ta yêu thương nhau, săn sóc nhau và kính trọng nhau, thì tình nghĩa hôn nhân cũng bắt buộc như vậy mà còn phải hơn thế nữa, vì đó là tình liên đới có giao ước.

    Tình yêu và sự kính trọng hỗ tương này cũng cần phải trải rộng thành tình liên đới giữa các quốc gia và các dân tộc. Nó phải được thể hiện nơi cấu trúc và luật lệ của xã hội. Yêu thương nhau, phục vụ nhau là chìa khóa mở cửa vào một hôn nhân đầy tình người, tình thương đích thực, một tình liên đới chính danh và ngay thẳng

    GIA ĐÌNH LÀ NỀN TẢNG XÃ HỘI

    Biển Đức XVI viết trong “Bác Ái trong Sự Thật / Caritas in Veritate”:

    “Vì vậy, điều này đang trở thành một nhu cầu xã hội và cả kinh tế nhất là khi nó được giới thiệu cho những thế hệ trẻ vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình để họ thấy rằng các cơ chế đó đáp ứng được những nhu cầu xâu xa nhất và phẩm giá của con người.

    “Trong viễn tượng này, các quốc gia được kêu gọi đưa ra những chính sách nhắm vào trung tâm điểm và sự vẹn toàn của gia đình được đặt trên nền tảng hôn nhân giữa người nam và người nữ, là tế bào căn bản và sống động của xã hội, hẩu bảo đảm nhu cầu kinh tế tài chính trong khi tôn trọng đặc tính tương giao chính của gia đình.” (44)

    “Bác Ái trong Sự Thật / Caritas in Veritate” được coi như một đáp ứng cho khủng khoảng kinh tế

    của thời đại, nhưng còn hơn thế nữa đã bảo vệ gia đình, thánh hóa đời sống và ngăn cản hành động hạ thấp phẩm giá con người. Biển Đức đã cẩn thận dò xét mọi địa hạt, mổ xẻ từng vấn đề liên hệ cũng như mối tương quan giữa nó và kinh tế.

    Không kể bất cứ một khía cạnh kinh tế nào, sự khôn ngoan được chia sẻ đều liên quan đến chính những địa hạt đó. Nó giúp chúng ta rất nhiều khi cố gắng muốn phát triển con người đích thực. Đây không phải là giảng huấn cổ xưa hay một tàn dư của quá khứ. Nó là nền tảng sống động cho con người ở hiện tại và mai sau. Giông như nhiều lời chúa Giesu nói, ở đây có lời đã xúc phạm thiên hạ và “họ bỏ đi”.

    Không có con người có hôn phối, chúng ta không thể tạo dựng tương lai của xã hội và Giáo Hội. Tu sĩ tốt cũng do những gia đình tốt và vững chắc. Họ có ơn gọi để phục vụ Giáo Hội. Nạn khủng khoảng ơn gọi ở nhiều nơi trên thế giới phần lớn là do gia đình đổ vỡ và bị hủy hoại.

           VẤP NGÃ VÀ THỬ THÁCH

    Chiều sâu và ý nghĩa của đoản văn của đức Kito cũng như giảng huấn về Giáo Hội có thể đã bị hiểu lầm, khiến những kẻ không tin bị vấp ngã, nhưng lại là một thử thách cho những ai có niềm tin.

    Chủ đề gương xấu -trong Tân Ước- được liên kết với niềm tin, nghĩa là tự do chấp nhận mầu nhiệm chúa Kito. Trước Phúc Âm, chúng ta không thể vô cảm, hờ hững hay thoái thác lảng tránh. Thiên Chúa gọi đích danh từng cá nhân mỗi người chúng ta và yêu cầu chúng ta phải tuyên xưng về người (Mt 10:32-33).

    Khi chúng ta đối diện với những giảng huấn khó khăn của chúa Giesu và Giáo Hội, chúng ta có muốn bỏ đi không? Có thể nói, rất nhiều lần, vì vấn đề phức tạp và áp lực của xã hội quanh ta, chúng ta muốn “bỏ đi?”

    Khi chúa Giesu hỏi các môn đệ–“các anh có muốn bỏ đi không?” Phero đại diện đã không nói“Vâng”, mà cũng không hoàn toàn nói “Không”. Ông đã trả lời: “Chúng con có thể đi theo ai đây bây giờ?” Đây không phải là một trả lời có tính nịnh bợ vuốt ve Chúa nhưng là lời chân tình và thành thật. Phero và các môn đệ đã ở lại với Chúa vì Chúa là nguồn mạch sự sống của họ. Chúa Giesu giải phóng họ và ban cho họ một đời sống mới.

    Bước theo Chúa và tuân theo giảng huấn của Giáo Hội không phải luôn luôn dễ, thoải mái, sung sướng, được ăn trên ngồi trước, làm cha thiên hạ. Nhưng một khi đã đi vào nghiệp vụ đời sống vĩnh cửu thì không thể có cách nào khác thay thế là Thập Giá.

    Tuần này chúng ta ráng nhớ lời Chúa Giesu:

    Ai ăn ta thì sẽ sống vì ta.” Hãy là chứng nhân cho niềm tin Giáo Hội và kế hoạch của Thiên Chúa về hôn nhân là một nối kết thánh giữa người nam và người nữ, cũng như đời sống gia đình là nền tảng của xã hội.

    Về mục lục

    .

    TRAO BAN SỰ SỐNG THẦN LINH

    Lm. Inhaxiô Trần Ngà

    Hôm ấy, tại hội đường Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su nói với những người hiện diện: “Thật, tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi,thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy… ”

    Mọi người trong hội đường cảm thấy bị “sốc” trước những lời này của Chúa Giê-su. Ngay cả các môn đệ thân tín của Chúa Giê-su cũng nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Và thế là kẻ trước người sau lần lượt bỏ đi không muốn theo Ngài nữa!

    Chúa Giê-su rất đau lòng trước tình cảnh đó, Ngài nói với Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”

    Hôm nay, ngay cả những người có đạo khi nghe những lời này cũng cảm thấy “ghê”.  Tại sao Chúa lại nói những lời gây khó chịu cho bao người như thế?

    Phải hiểu thế nào cho đúng lời Chúa Giê-su trong Tin mừng hôm nay.

    Trước hết ta cần phân biệt thân xác của Chúa Giê-su trước và sau khi phục sinh khác biệt rất xa.

    Trước phục sinh, thân xác Ngài hoàn toàn giống như thân xác chúng ta: cần ăn khi đói, cần uống khi khát, thân xác đó có thể bị thương tích vì roi đòn, bị đâm thủng bởi ngọn giáo của người lính Rô-ma và thân xác đó đã thực sự bị giết chết…

    Tuy nhiên, sau khi phục sinh, thân xác Chúa Giê-su biến đổi hoàn toàn nên không còn giống như thân xác chúng ta: Dù các môn đệ họp nhau trong phòng cửa đóng then cài cẩn thận, Chúa Giê-su phục sinh vẫn hiện đến giữa họ không cần qua cửa; thân xác phục sinh của Chúa Giê-su không lệ thuộc không gian; thân xác đó không thể bị thương tích và không bao giờ chết nữa…

    Nói tóm lại, sau khi phục sinh, Chúa Giê-su mang một thân xác thần linh, thiêng liêng, vô hình vô tướng.

    Vì thế, khi Chúa Giê-su nói “Thịt Ta là Của ăn, máu Ta thật là Của uống …” là Chúa Giê-su nói về thân xác phục sinh của Ngài, nói về Thịt Máu thiêng liêng của Ngài, chứ không phải là nói về thân xác chưa sống lại, vì thân xác trước phục sinh của Chúa Giê-su có thể chỉ cao chừng 1,8m, nặng chừng 80 kg thì có đâu mà cắt chia ra cho nhiều người ăn được.

    Chúa Giê-su xác nhận Mình và Máu mà Ngài hứa ban chính là thân xác sau phục sinh, như lời Ngài nói : “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.”

    Như thế khi chúng ta ăn uống Mình Máu Chúa Giê-su là chúng ta ăn uống Mình Máu của Chúa Giê-su phục sinh. Đây không phải là thứ thịt máu của con người trần gian, mà là thịt máu của Thiên Chúa, rất thiêng liêng, vô cùng cao cả.

    Tại sao Chúa Giê-su mời chúng ta ăn uống Thịt Máu đã phục sinh vinh hiển của Ngài ?

    Bởi vì,

    Sự sống của thân mình không thể chuyển qua nuôi sống bàn tay khi bàn tay đó bị cắt lìa khỏi cơ thể, không còn nên một với thân thể.

    Tương tự như thế, Sự Sống của Chúa Giê-su không thể thông truyền cho chúng ta nếu chúng ta không được tháp nhập nên một với Ngài.

    Vì thế, Chúa Giê-su mời ta ăn uống Thịt Máu Ngài, để nhờ đó ta trở nên một với Ngài, cùng chung máu thịt với Ngài… Và một khi được nên một với Chúa Giê-su mật thiết như thế, thì những gì của Chúa Giê-su cũng là của chúng ta; Sự Sống của Chúa Giê-su cũng là sự sống của chúng ta. Bấy giờ chúng ta được sống đời đời mãi mãi với Chúa Giê-su.

    Lạy Chúa Giê-su,

    Người mắc bệnh ung thư vào thời kỳ cuối chỉ cầu mong sao sống thêm được chừng 5 hoặc 7 năm nữa là phúc lắm rồi và người bệnh sẵn sàng bỏ ra tiền tỷ để mưu cầu sống thêm được một thời gian ngắn trên dương gian.

    Thế mà hôm nay, Chúa mời chúng con đón nhận Mình máu thánh Chúa để được sống muôn đời với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cùng với Mẹ Maria và các thánh trên thiên quốc thì còn gì quý bằng!

    Xin cho tâm hồn chúng con tràn đầy hoan lạc trước hồng phúc vô giá và khao khát tiếp nhận hồng ân nầy với hết lòng cảm tạ tri ân.

    Về mục lục

    .

    THANH TẨY BẰNG LỜI CHÚA

    Lm. Bosco Dương Trung Tín

    “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

      Tại sao thánh Phê-rô cũng như các tông đồ dám nói lên câu nói đó ? Vì các Ngài “đã tin và nhận biết rằng Đức Giê-su là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x.Ga 6,69). Nói cách khác, Đức Giê-su không chỉ là người mà còn là Thiên Chúa nữa. Nên Lời của Đức Giê-su, cũng chính là Lời của Thiên Chúa, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Theo nghĩa đen, tức là Đức Giê-su là Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể (x.Ga,1,1). Theo nghĩa bóng, tức là Đức Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Lời của Ngài nói cũng là Lời của Thiên Chúa. Tóm lại, Lời mà Đức Giê-su nói là LỜI CHÚA.

      Lời Chúa mới đem lại cho ta sự sống đời đời. Nếu ta bỏ Chúa thì ta sẽ đến với ai đây ? Ta sẽ đến với người đời, đến với người này người kia. Thế nhưng, lời của những người này không đem lại cho ta sự sống đời đời. Vì “Thần Khí mới là cho sống, chứ xác thịt nào có ích chi. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống” (x.Ga 6,63). Lời của Đức Giê-su là Thần Khí và là sự sống, nên Lời của Đức Giê-su đem lại cho ta sự sống đời đời. Còn lời của người đời là “xác thịt”, không có ích chi cho sự sống đời đời của ta cả.

    Khi ta nghe và thực hành Lời Chúa, thì sức mạnh của Chúa làm việc trong ta, ta cũng làm việc trong Chúa và sống với Chúa, Lời Chúa trở thành nguyên lý cho sức sống và cho sự sống của ta. Không chỉ ở đời này mà còn cả đời sau, nghĩa là đời đời. Khi ta nghe lời người đời, ta sẽ xa rời Chúa, may ra ta chỉ có sống ở đời này, chứ không được sống ở đời sau với Chúa. Ở đời này ta đã xa rời Chúa thì đời sau ta cũng xa rời Chúa luôn. Quả thực lời của người đời chẳng có ích gì cho đức tin của ta, cũng chẳng đem lại cho ta sự sống đời đời được.

    Chỉ có Lời Chúa mới có sức thánh hóa và thanh tẩy ta nên xinh đẹp, nên lộng lẫy; không có vết nhăn hay tì vết nào, tức là làm cho ta nên thánh nên thiện. Thánh Phao-lô nói: “Người thánh hóa và thanh tẩy Giáo Hội bằng Nước và Lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp, lộng lẫy, không tì ố, không vết nhăn hoặc bất cứ khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (x. Ep 5, 26-27). Nói về Hội Thánh cũng là nói về mỗi người chúng ta.Vì mỗi người chúng ta là thành phần của Hội Thánh.

    Mỗi người chúng ta đã được thánh hóa bằng Nước, tức là bằng phép rửa tội, điều đó cần nhưng chưa đủ. Ta còn cần đến Lời Chúa thanh tẩy nữa. Qua phép rửa, ta được thánh hóa và trở nên con cái Thiên Chúa. Để rồi từ ngày đó trở đi ta sống đời làm con Chúa. Làm con Chúa thì ta phải nghe và sống Lời Chúa. Quả thực, chỉ có nghe và thực hành Lời Chúa, ta mới trở nên đích thực là con Chúa, nếu không, ta chỉ là con Chúa trên giấy tờ. Chỉ có “Made in Con Chúa” thôi.

    Phép rửa ta chỉ chịu có một lần, được thánh hóa một lần, nhưng ta cũng cũng cần Lời Chúa thanh tẩy ta mỗi ngày. Mỗi khi ta sống Lời Chúa là mỗi lần ta được thanh tẩy. Có tẩy đi tẩy lại ta mới nên thánh thiện. Con người của chúng ta hèn mọn và yếu đuối mà. Có nghĩa là ta cần sinh lại mỗi ngày qua Lời Chúa. Mỗi lần sinh lại là ta “lột xác” như rắn, như cua, để ta lớn lên, để ta nên thánh nên thiện.

    Điều này cũng giải thích cho ta hiểu, tại sao trong Giáo Hội Công Giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ nói riêng, lại có sự lạm dụng tình dục trẻ em của hàng giáo sĩ. Vì các Đấng các Bậc đó, mới được thánh hóa trong bí tích rửa tội, trong bí tích truyền chức, chứ chưa được thanh tẩy bằng Lời Chúa. Có nghĩa là các Vị đó chưa sống Lời Chúa trong cuộc sống của mình, nên đã làm những việc xấu xa như vậy và làm cho Hội Thánh không xinh đẹp, không lộng lẫy và mang những vết nhăn, mang những vết tì ố.

    Điều này cũng thức tỉnh mỗi người chúng ta, hãy coi chừng, nếu ta không nghe và không sống Lời Chúa trong cuộc sống của mình thì ta sẽ không đáng là con Chúa đâu. Ta sẽ làm những điều xấu xa, gian ác và làm cho Hội Thánh Chúa có nhiều vết nhăn và nhiều vết tì ố đấy. Mỗi người chúng ta đều phải trả lẽ trước mặt Chúa về những việc mình làm và những gì mình sống.

    Có khi ta sẽ bị Chúa xét xử nghiêm khắc hơn. Tại sao ta được rửa tội rồi mà ta không sống đời làm con Chúa chứ, ta rửa tội để làm gì ? Chẳng lẽ cứ được rửa tội là ta được lên thiên đàng và sống đời đời sao? “Không bao vờ”, “né vờ” (Never). Chỉ khi nào ta nên thánh nên thiện ta mới được lên thiên đàng và sống đời đời với Chúa thôi.

    Tại sao ta đã chịu chức làm Hồng y, làm Giám mục, làm Linh Mục, làm Phó tế mà ta không nên thánh nên thiện cơ chứ ? Thế thì ta chịu chức để làm gì? Chẳng lẽ để bị lên án và bị kết án sao? Càng chức trọng quyền cao bao nhiêu thì ta sẽ càng bị xét xử nghiêm khắc bấy nhiêu.

    Tại sao ta khấn rồi mà ta không nên thánh nên thiện cơ chứ. Vậy ta khấn để làm gì ? Chẳng lẽ để ta làm việc và học hành thôi sao ? Ta sống đời thánh hiến mà ta không nên thánh thì sao cơ chứ, có uổng phí, có nực cười quá chăng !!!!

    Quả thực, khi được rửa tội, được truyền chức, được khấn dòng là ta có cơ hội rất tốt để nghe và thực hành Lời Chúa, để dần dần ta nên thánh nên thiện. Ta được gia nhập vào Cộng Đoàn Dân Chúa, cũng giống như các môn đệ được gặp Đức Giê-su vậy. Các Tông Đồ gặp Đức Giê-su, được nghe Lời Người để các ngài có thể nói rằng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

    Mỗi người chúng ta cũng vậy, khi được rửa tội, khi được chịu chức, khi được khấn dòng là ta được gia nhập vào Giáo Hội và được phúc nghe Lời Chúa. Ta cũng phải thâm tín và nói rằng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Ta đừng thấy những việc lạm dụng xấu xa của một số người mà bỏ Chúa, bỏ Giáo Hội. Không. Chúa không xấu; Giáo Hội không xấu; chỉ có những người không sống Lời Chúa mới xấu xa mà thôi. Coi chừng trong đó có ta, nếu ta không sống Lời Chúa.

    Vậy ta hãy khắc cốt ghi tâm rằng: Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống. Lời Chúa mới đem lại cho chúng ta sự sống đời đời mà thôi. Ta hãy lắng nghe và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống và trong ơn gọi của mình, để dần dần chúng ta nên thánh nên thiện. Nên thánh nên thiện phải là mục đích tối hậu ta phải nhắm đến. Có làm gì, có học hành chi, có phục vụ thế nào thì mục đích cuối cùng của ta là phải làm cho ta nên thánh nên thiện, chứ không vì một mục đích nào khác.

    Có thế, ta mới sống bình an và hạnh phúc ở đời này và ngày sau cũng được sống đời đời với Chúa trên thiên đàng nữa. Đồng thời, chúng ta cũng góp công làm cho Giáo Hội Chúa nên xinh đẹp, lộng lẫy, bớt đi những vết nhăn; bớt đi những vết tì ố, bớt đi những khuyết điểm, để nên thánh thiện và tinh tuyền trước thế gian và trước Thiên Chúa.

    Về mục lục

    .

    CHỌN LỰA: MỘT HÀNH VI KHÔNG DỄ

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

    Cả anh em nữa, anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không? Chúa Giêsu không hỏi: anh em có tiếp tục theo Thầy không mà lại hỏi thẳng thừng: anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không. Một câu hỏi không thuộc dạng mời gọi như trước đây mà là đặt vấn đề chọn lựa rõ ràng, dứt khoát.

    Kitô hữu chúng ta theo đạo không phải là theo một học thuyết mang tính triết lý hay thần học nào đó, nhưng là theo một “con người”, theo một “ai đó”, một “Đấng nào đó”. Đấng hay con người mà chúng ta lựa chọn đi theo, lựa chọn để gắn bó, đó là Đức Giêsu Kitô. Chọn lựa một công việc để làm kế sinh nhai quả không mấy dễ. Chọn lựa một bậc sống thật lắm phân vân đủ bề. Chọn lựa một con người để làm bạn đời trăm năm cũng lắm sự nhiêu khê. Và chọn lựa Đấng để trao gửi hạnh phúc hôm nay và vĩnh cửu chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều. Vì thế, khi phải chọn lựa trong một vấn đề quan trọng, chúng ta cần có đủ cơ sở một cách nào đó.

    Sau khi nhắc lại cho dân tình yêu của Thiên Chúa qua các kỳ công Người đã thực hiện để bảo vệ dân, Giosuê khẳng khái trước toàn dân rằng: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24,15) . Và dân đã đáp lại rằng họ không hề có ý định bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác. Họ sẽ thờ phụng Thiên Chúa, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của họ dùng quyền năng thực hiện những dấu lạ lớn lao để đem họ cùng với cha ông họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ mà vào đất hứa. Như thế, cơ sở để dân Chúa xưa chọn thờ phụng Người đó là vì Người đã giải thoát họ khỏi cảnh đời nô lệ.

    Trước câu hỏi của Chúa Giêsu, một kiểu đặt vấn đề đòi hỏi có sự chọn lựa dứt khoát thì Phêrô đã thay mặt nhóm Mười Hai trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Không kể trường hợp một phần tử trong nhóm không tin, thì câu trả lời của Phêrô nói lên sự chọn lựa của cả tập thể Tông Đồ. Và sự chọn lựa ấy đặt cơ sở trên điều này: vì Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Để nói lên được những lời này, chắc chắn cùng với các bạn, Phêrô đã từng chứng kiến uy quyền của Thầy khi khiến nước lã hóa thành rượu ngon (x.Ga 2,1-12). Các vị đã từng nghe Thầy nói với viên sĩ quan cận vệ nhà vua rằng: “Ông cứ về đi, con ông sống” và đứa con trai của ông ta đang đang hấp hối đã đuợc cứu sống (x.Ga 4,46-54 ). Và các ngài chưa thể quên lời tạ ơn mới đây của Thầy đã giúp cho năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà và con trẻ no nê chỉ từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá (x.Ga 6,1-15).

    Không ai tự nguyện dấn thân theo một lý tưởng, thực hiện một trách vụ hay gắn bó với một con người mà không ấp ủ một hoài bão, một ước mơ hay niềm hy vọng nào đó. Xưa, dân Do Thái chọn tôn thờ Thiên Chúa là để một mặt khỏi bị Người giáng họa, trừng phạt, mà trái lại sẽ được Người chúc phúc và che chở trước các “kẻ thù” lân bang (Gs 24,19-20).

    Cái hoài bão, uớc mơ, đúng hơn là cái mục đích việc Phêrô thay mặt anh em chọn gắn bó với Thầy đó là vì “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Sự sống đời đời là một ước mơ của con người, mọi thời và mọi nơi. Dù đủ đầy của cải vật chất, dù nắm trong tay quyền sinh sát của bậc đế vương thì con người vẫn cảm nhận cái hữu hạn của cuộc sống đời này. Danh vọng quyền lực, của cải hay tiền tài không thể giúp ta kéo dài cuộc sống đến vô tận. Một thanh niên có nhiều sản nghiệp đã đến tham vấn Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Sau khi biểu anh ta giữ các giới răn, Chúa Giêsu đã mời gọi anh ta hãy bán của cải, phân phát cho người nghèo rồi đến mà theo Người (x.Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,28-30).

    Chọn lựa là hy sinh. Một câu nói cho thấy một lẽ tất yếu của việc chọn lựa. Chọn ra đi thì phải hy sinh chuyện không ở lại, chọn việc cất tiếng nói thì đương nhiên phải mất thái độ giữ im lặng, đã chọn tôn thờ Thiên Chúa thì phải bỏ các thần của dân ngoại (x.Gs 24,23)… Tuy nhiên sự hy sinh trong việc chọn lựa không chỉ dừng lại ở các nội dung xem như đối lập của sự chọn lựa mà còn có đó sự hy sinh ngay trong chính hành vi chọn lựa. Sự hy sinh ở đây được hiểu như một sự đánh cược, một sự dân thân, một sự “liều lĩnh” nào đó. Vì chưng, chúng ta vốn khó có được các cở sở một cách chắc chắn kiểu trăm phần trăm khi chọn lựa một điều gì đó. Chúng ta dễ nhận ra ngay hiện thực này qua việc các bạn thanh niên nam nữ chọn bạn đời hay chọn ơn gọi tu trì. Như thế, sự hy sinh ở đây có thể hiếu như sự can đảm dấn thân, chấp nhận nhiều “cái giá” phải trả khi chọn lựa.

    Cái giá mà chúng ta phải trả khi chọn lựa đi theo Chúa Giêsu, gắn bó với Người đó chính là “vác thập giá”. “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). Cái giá mà Phêrô sẽ phải trả được Đấng Phục sinh báo trước: “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đế nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi Người bảo ông: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,18-19).

    “Thiên Chúa dựng nên tôi không cần có tôi, nhưng Người không thể cứu tôi mà cần có tôi” (thánh Âugustinô ). Tự do là một quà tặng cao quý Chúa ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài hữu hình Người dựng nên. Tự do là một ân ban cao quý và cũng là một thử thách ắt có của tình yêu. Được sống đời đời hay phải chết đời đời có nghĩa là được hạnh phúc bất diệt hay bị trầm luân mãi mãi, các khả thể này đang tùy ở sự lựa chọn của chúng ta. Ai lại không muốn được sự sống đời đời, được hạnh phúc bất diệt, nhưng vấn nạn khó vượt qua đó là chúng ta thường e ngại phải trả giá vì phải chọn lựa.

    Về mục lục

    .

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Bài Tin mừng hôm nay kết thúc chương 6 Tin mừng thánh Gioan về Bánh Hằng Sống là chính Chúa Giê-su.  Trong bài Tin mừng Chúa nhật tuần trước, Chúa Giê-su tuyên bố: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống… Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống.”  Đám đông dân chúng nghe lời tuyên bố quả quyết như thế, họ lẩm bẩm, phản đối, xô xát nhau. Họ không thể nào chấp nhận được những lời tuyên bố rất quả quyết của Chúa: thịt máu Ngài là của ăn của uống ban sự sống muôn đời.  Còn thái độ của các môn đệ như thế nào?  Bài Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta biết phản ứng của các môn đệ nói chung và của nhóm 12 nói riêng.  Nhiều môn đệ đã phản ứng như đa số dân chúng.  Khó chịu, lẩm bẩm lời gì mà chướng tai thế!  Ông ta làm sao lấy thịt mình cho người ta ăn được?  Như vậy, không những dân chúng tỏ ra chán ngán vô lý mà cả các môn đệ của Chúa cũng bị khủng hoảng, và từ lúc ấy một số môn đệ đã rút lui không đi theo Chúa nữa.

    Những lời mặc khải của Chúa Giê-su là một thử thách lớn lao cho lòng tin của các môn đệ ngày xưa, và cho nhiều người chúng ta ngày nay đối với Bí tích Thánh Thể.  Nhiều người không tin hay không còn tin Chúa Giê-su thực sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể nữa.  Chúng ta thành tâm tự hỏi: “Chúng ta có dễ dàng tin rằng trong Thánh lễ, Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi trở nên thức ăn thức uống cho chúng ta không?”  Thật sự là thế!  Đây là một điều kỳ diệu lạ lùng, chỉ có tình yêu cao cả của Thiên Chúa mới làm nổi và có thể làm nổi.  Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô vàn, cho nên Ngài đã biến bánh rượu nên thịt máu Ngài để nuôi sống linh hồn chúng ta.  Vì thế nếu chúng ta xác tín, thì mỗi lần rước lễ, chúng ta hãy để cho tâm hồn của mình sững sờ thán phục, và cảm tạ tình thương vô biên của Chúa.

    Những môn đệ bỏ Chúa ra đi vì họ không cảm nhận ra được tình yêu thương đó. Sau khi họ bỏ đi, Chúa Giê-su hỏi nhóm 12:  “Chúng con muốn bỏ đi không?”  Si-mon Phê-rô trả lời thay cho các bạn:  “Không đời nào chúng con bỏ Thầy.”  Có nghĩa là các ông quả quyết chọn Chúa và theo Chúa.  Nghe được những lời này, chúng ta có thể đoán được Chúa cảm thấy được an ủi và ấm lòng biết bao!  Các Tông đồ thân tín đã tuyên xưng lòng tin của họ vào Chúa: Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.

    Ngày nay, mỗi lần chúng ta đến nhà thờ để cùng với mọi người trong cộng đồng giáo xứ dâng Thánh lễ, chúng ta cũng hãy đến với một lòng tin như các tông đồ, nhất là khi rước lễ, chúng ta hãy xác tín rằng chúng ta ăn thịt và uống máu Chúa Giê-su.  Thánh Thể nối kết chúng ta mật thiết với Chúa và với nhau. Đây là Bí tích tình yêu cao cả!  Chúng ta đừng bao giờ quên Thiên Chúa đang yêu thương chúng ta vô cùng và Chúa muốn chúng ta hãy yêu thương nhau.

    Như các Tông đồ ngày xưa, trong cuộc sống hôm nay, chúng ta có tự do để lựa chọn và quyết định, và chúng ta biết có những quyết định hay lựa chọn ảnh hưởng đến cuộc sống đức tin, ảnh hưởng đến hạnh phúc của vợ chồng và đến đời sống của con cái trong gia đình. Trong bài đọc I, sau khi vào Đất hứa, ông Giô-suê đã trở thành người lãnh đạo thay thế Môi-sen.  Ông nhận thấy cuộc sống của dân chúng dần dần xa lìa Thiên Chúa và đi thờ thần ngoại bang, cho nên ông đã triệu tập dân chúng lại tại Si-kem để lập một giao ước.  Ông tuyên bố cho mọi người biết phải quyết định dứt khoát: một là kính thờ một Thiên Chúa, hai là thờ các thần ngoại bang. Và như chúng ta vừa nghe, họ đã đồng thanh hứa trung thành và chỉ kính thờ một Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai cập mà thôi.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô khuyên các đôi vợ chồng một khi đã quyết định chọn nhau làm bạn đời, thì phải suốt đời trung thành với nhau trong giao ước hôn nhân.  Thánh Phao-lô kêu gọi vợ chồng phải từ bỏ sự ích kỷ sống cho riêng mình, biết hy sinh cho nhau để giao ước hôn nhân đem đến kết quả là yêu thương, hạnh phúc và sự hòa thuận.  Vợ chồng phải bảo vệ giao ước hôn nhân bằng sự chung thủy, tôn trọng, chu toàn bổn phận làm vợ, làm chồng, làm cha mẹ dạy dỗ đức tin cho con cái.

    Hôm nay, chúng ta cũng quyết định đến đây để dâng Thánh lễ cảm tạ đội ơn Chúa vì những ơn lành hồn xác, nhất là ban cho chúng ta Lời Chúa và Thánh Thể.  Thánh lễ được cử hành trong một bữa tiệc và dưới hình thức một bữa ăn. Những người ngồi cùng bàn phải là anh chị em và phải là những người thương mến nhau.  Trước khi lên rước lễ chúng ta chúc bình an cho nhau.  Chúc bình an là tha thứ hòa giải với nhau để nối kết lại tình đoàn kết và thương mến như anh chị em trong một nhà.  Chúc bình an hòa giải để mọi người trong cộng đồng giáo xứ dẹp bỏ mọi bất hòa, đồng tâm nhất chí trong tình yêu Thiên Chúa vì được nối kết với nhau như những chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô.  Chúc bình an trước khi rước Thánh Thể vì Thánh Thể là Bí tích tình yêu và hiệp nhất.

    Mỗi khi dự Thánh lễ, chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn sốt sắng và xứng đáng để được rước Mình Thánh Chúa, để Mình Thánh Chúa kết hợp chúng ta với Chúa và với nhau, và nhắc nhở chúng ta phải sống hiệp nhất, sống hy sinh, bác ái và quảng đại để xây dựng giáo xứ làm sáng danh Chúa.  Xin Chúa ban cho chúng ta một niềm xác tín Chúa Giê-su là Bánh Hằng Sống từ trời xuống và hiện diện trong Bí tích Thánh thể, là nguồn ơn sức mạnh giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, để luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh, và có những chọn lựa khôn ngoan theo thánh ý và đẹp lòng Chúa, đưa đến bình an và hạnh phúc đời này và đời sau.

    Về mục lục

    .

     

    CHỌN LỰA VÀ TRUNG THÀNH

    Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

    Thánh Thể là mối dây liên kết các tín hữu và là biểu tượng của tình hiệp thông trong Giáo Hội. Tuy vậy, trong lịch sử, do sự ích kỷ của con người, nên đã có những ý kiến bất đồng về Thánh Thể và làm cho Bí tích này trở nên một trong những nguyên nhân gây chia rẽ nghiêm trọng giữa các Kitô hữu. Phải chăng vấn đề bất đồng ý kiến này đã có từ thời ban đầu do việc có những người khước từ giáo huấn của Chúa Giêsu về Bánh hằng sống? Trong thực tế, vẫn còn đó những người tin và những người không tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu nơi Bí tích này.

    Đoạn Tin Mừng được đọc trong thánh lễ hôm nay là phần kết thúc cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về đề tài Bánh hằng sống. Chúa Giêsu đã khởi đi từ nhu cầu ăn uống để nuôi thân xác, rồi dần dần dẫn vào mầu nhiệm cao siêu là Bí tích Thánh Thể, tức là Thịt và Máu Người. Xem ra kết thúc cuộc đối thoại này không khả quan. Bởi lẽ, trước những lời tuyên bố của Chúa Giêsu, một số người thấy chói tai và dần dần bỏ đi. Phần lớn những người này đến với Chúa với ước mong được nhận lãnh bánh nuôi sống thể xác, giống như phép lạ ngoạn mục Người mới làm cách đó vài ngày. Ở đây, Chúa lại nói về một thứ bánh thiêng liêng. Ai lãnh nhận Bánh này sẽ được sự sống đời này và sự sống vĩnh cửu đời sau. Khá nhiều người bỏ đi vì họ coi những điều Chúa Giêsu đang nói là ảo tưởng, phi thực tế. Niềm tin vào Bánh hằng sống cũng vấp phải phản ứng của chính một số môn đệ. Thánh Gioan đã viết một cách buồn bã: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”. Họ đã ra đi trong thất vọng, vì hình ảnh của họ vốn có về Đấng Thiên sai hoàn toàn khác biệt với sứ mạng và giáo huấn thực sự của Chúa Giêsu. Khi đối diện với những thử thách gian truân, người tín hữu được mời gọi bày tỏ lòng trung thành với Người. Lòng trung thành cần phải có để đón nhận những chân lý cao siêu mặc dù chưa lý giải thỏa đáng.
     
    Thánh Phêrô,vị Tông đồ trưởng, đã chứng tỏ lòng trung thành ấy, trong bối cảnh có nhiều người bỏ đi. Người ta thường nói ở đời “phù thịnh chứ không ai phù suy”. Phêrô là một người can đảm. Ông đã “phù suy” khi tuyên thệ theo Chúa vào lúc dường như mọi người đã bỏ Người. Ông đã tìm được sự chọn lựa tốt nhất cho đời mình. Theo Chúa là lý tưởng và là sự sống còn của ông, như lời ông nói: “Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Có lẽ ông cũng đã đắn đo cân nhắc xem theo Chúa thì được những gì và mất những gì, như có lần ông đã đặt câu hỏi với Thầy mình. Giờ đây, Phêrô như một người từng trải kinh nghiệm chắc chắn trong cuộc đời, Ông khẳng khái tuyên xưng Đức tin vào Chúa, dù mọi người rút lui. Sau này, chúng ta còn được nghe lời tuyên bố của Phêrô trong bữa tiêc ly: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng!” (Lc 22,34). Lời tuyên bố này về sau không được tuân giữ, do việc Phêrô chối thày mình ba lần, nhưng không vì thế mà làm giảm lòng nhiệt thành, hăng say và tâm huyết của vị Tông đồ trưởng.

    Đời sống Kitô hữu là một lựa chọn. Chúng ta chọn Chúa là lý tưởng của đời sống chúng ta. Do biết bao cám dỗ trong cuộc bon chen vì cơm áo gạo tiền, có những lúc chúng ta quên mất sự lựa chọn ấy. Bài đọc I kể với chúng ta, sau khi vào Đất hứa, ông Giôsuê đã tập hợp dân Do Thái ở một nơi gọi là Sikhem để cùng nhau nhìn lại hành trình sa mạc kéo dài 40 năm. Trong hành trình này, người Do Thái gặp nhiều gian nan thử thách. Có nhiều người phạm lỗi với Chúa do kiêu ngạo, ích kỷ và phạm các giới răn. Họ còn thờ lạy  thần linh của các dân ngoại. Tại Sikhem, ông Giôsuê kêu gọi một cuộc thanh tẩy toàn dân, để dứt bỏ quá khứ, bước sang một trang sử mới. Vị thủ lãnh mời gọi dân hãy chọn lựa Chúa và sống theo giới luật Ngài đã truyền ban cho các bậc tổ tiên. Lời tuyên xưng của dân chúng thật mạnh mẽ quyết liệt, thể hiện sự gắn bó trung thành với Đấng đã cứu họ khỏi Ai Cập và dẫn đưa họ vào Đất hứa.

    Trong suốt 5 Chúa nhật vừa qua, Phụng vụ giúp chúng ta suy tư về ý nghĩa của Bí tích Thánh Thê ở nhiều khía cạnh khác nhau, và mời gọi chúng ta sống mầu nhiệm Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày. Nhờ Thánh Thể, chúng ta tìm được sức mạnh để dấn thân. Mẹ Têrêsa đã viết: “Một số người hỏi: ‘Các sơ tìm đâu ra sức mạnh và niềm vui để phục vụ?’. – Niềm vui chúng tôi có được là nhờ Thánh Thể mà chúng tôi nhận lãnh hằng ngày”. Nhờ Thánh Thể, chúng ta kiên  định trong Đức tin vào Chúa và làm cho Đức tin ấy mỗi ngày một tỏa sáng trong cuộc sống hôm nay.
     
    Có thể vào những lúc đen tối của cuộc đời, Chúa hỏi chúng ta: “Con có muốn bỏ Thầy mà đi không?”. Xin cho chúng ta có đủ can đảm để thưa như thánh Phêrô: “Bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68). Được như vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta.

    Về mục lục

     

    HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

    Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

    Đức tin là một con đường: con đường dẫn ta tới Chúa. Đây là một con đường dài. Vì ta sẽ phải đi suốt cuộc đời mới hết. Đường đức tin có những quãng đầy hoa thơm cỏ lạ và tiếng chim hót véo von. Đó là những khi niềm tin dâng đầy. Ta cảm thấy phấn khởi vì được gặp gỡ Chúa, được Chúa an ủi, mọi sự diễn ra êm xuôi tốt đẹp. Nhưng đức tin sẽ phải trải qua những quãng đường gian nan đầy chông gai sỏi đá. Ta gặp khó khăn thử thách. Ta gặp đau khổ thất bại. Ta không tìm đâu ra lối thoát. Ta như chìm trong đêm tối mênh mông chẳng có ánh sáng nào soi đường dẫn lối. Đó là khi niềm tin bị thử thách, bị nghiêng ngả chao đảo. Ta cảm thấy mệt mỏi chán chường. Ta muốn bỏ cuộc, rẽ sang đường khác. Ta bị cám dỗ tìm con đường dễ dàng hơn, rộng rãi hơn, thoải mái hơn.

    Đó là trường hợp của những người Do Thái và một số môn đệ hôm nay.

    Khi Đức Giêsu hoá bánh và cá ra nhiều nuôi năm nghìn người, niềm tin của đám đông dâng lên cao vời vợi. Họ phấn khởi mừng vui. Họ tin tuyệt đối rằng Người chính là Đấng Cứu Thế đến cứu dân tộc Do Thái. Niềm tin của họ mạnh mẽ đến nỗi khi Đức Giêsu trốn đi, họ vẫn đuổi theo sát nút với ý định tôn Người lên làm vua cai trị họ.

    Thế mà hôm nay, khi Đức Giêsu tuyên bố: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”, đám đông đã bỏ Chúa. Một số môn đệ cũng bỏ Chúa mà đi. Đức tin bồng bột tưởng chừng như không gì dập tắt nổi của những ngày hôm trước nay đã tan tành như mây khói. Sự gắn bó tưởng chừng như không gì chia cắt nổi bỗng trở nên nhạt nhẽo lạnh lùng. Đức tin gặp thử thách và họ đã không đủ mạnh tin để vượt qua thử thách. Họ đã thất vọng bỏ cuộc. Nhưng Đức Giêsu vẫn bình tĩnh chấp nhận sự quay lưng trở gót của những người thân tín. Người không vì thế mà nói những lời nhẹ nhàng hơn. Đức tin phải trải qua thử thách. Lửa thử vàng, gian nan thử lòng trung tín. Chỉ có những người bạn trung thành qua những khó khăn mới là những người bạn đích thực. Chỉ có niềm tin kiên vững bất chấp mọi thử thách mới là niềm tin đúng nghĩa.

    Giữa cơn khủng hoảng ấy, thánh Phêrô đã đại diện nhóm 12 tuyên xưng niềm tin sắt đá vào Đức Kitô. Dù chưa hiểu những điều Đức Giêsu nói, nhưng các ông vẫn đặt trọn niềm tin vào Người. Thế mới gọi là tin. Vì chưa thấy nên mới cần tin. Đã thấy rõ, đã biết rõ thì đâu cần tin nữa. Tuy nhiên niềm tin không phải là cái gì vô lý. Sau khi thấy Đức Giêsu làm phép lạ hoá bánh ra nhiều và sau khi chứng kiến Người đi trên mặt nuớc, các ông hoàn toàn có cơ sở để đặt niềm tin nơi Người. Đó là hai khía cạnh trái ngược của niềm tin. Tin là một ngọn đèn soi cho ta bước đi trong đêm tối. Ngọn đèn chỉ sáng đủ cho ta bước đi từng bước nhỏ trong niềm tin. Nhưng màn đêm vẫn tăm tối đủ cho ta nghi ngại. Chính vì thế mà niềm tin mới có giá trị và cần thiết.

    Lời tuyên xưng của thánh Phêrô lại càng có giá trị trong lúc mọi người gặp khủng hoảng và bỏ Chúa. Tin tưởng khi thời cơ thuận lợi thì thật dễ dàng. Nhưng vẫn tin tưởng gắn bó với Chúa trong những lúc gặp khó khăn thử thách đó mới thật sự là niềm tin chân chính.

    Hành trình đức tin của chúng ta chắc chắn sẽ không khác hành trình đức tin của các Tông đồ. Có những thời gian thuận lợi, ta thấy niềm tin dâng cao mãnh liệt. Khi ấy Lời Chúa là những lời êm ái ngọt ngào làm phấn chấn lòng ta. Lời Chúa mang đến cho ta niềm vui, niềm bình an, niềm hy vọng. Lời Chúa đem đến cả thành công và may mắn nữa.

    Nhưng rồi tới những ngày u ám tăm tối, ta cảm thấy niềm tin lung lay chao đảo. Đó là khi ta gặp khó khăn thử thách. Lúc ấy Lời Chúa làm cho cuộc đời ta mất bình an. Lời Chúa gõ vào tính tự ái, tự cao, tự đại của ta. Lời Chúa gõ vào sức khoẻ ta. Lời Chúa gõ vào gia sản ta. Lời Chúa như lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn ta, tạo ra những vết thương sâu thẳm không bao giờ ngưng rỉ máu. Những lúc ấy, ta dễ bị cám dỗ từ bỏ Chúa như những người Do Thái trong bài Tin Mừng hôm nay.

    Trong những giờ phút gặp gian nan thử thách như thế, ta hãy nhớ đên những lời tuyên xưng của thánh Phêrô. Niềm tin tuyên xưng trong đau đớn thử thách mới là niềm tin đúng nghĩa. Sự trung tín vượt qua được những cơn khủng hoảng mới minh chứng một tình yêu chân thực.

    Trong những giờ phút tăm tối nhất, hãy mạnh dạn thưa với Chúa như thánh Phêrô: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết đi theo ai. Chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời”. Amen.

    KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

    1- Đã có khi nào bạn cảm thấy niềm tin chao đảo, lung lay? Bạn đã làm gì để vượt qua những giờ phút khó khăn đó?

    2- Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Bạn có xác tín điều đó không?

    3- Sau khi những khó khăn qua đi, bạn nhìn thấy tất cả đều là ơn Chúa. Bạn có kinh nghiệm đó không?

    Về mục lục

     

     

    CHÚA CHÍNH LÀ HẠNH PHÚC

    Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

    Cuộc sống là một hành trình tìm kiếm. Con người luôn dáo dát đi tìm kiếm. Tìm kiếm những niềm vui hạnh phúc trong cuộc đời. Nhưng xem ra chẳng có gì trọn vẹn! Hạnh phúc chẳng nơi đâu tròn đầy! Tất cả đều vô vị, chán chường. Còn bé thì chỉ mong chóng làm người lớn để tung hoành. Khi lớn thì lam lũ vất vả chỉ mong gom được chút tiền còm để dưỡng già. Mà về già thì lại ngồi tiếc nuối quá khứ vàng son! Nghĩa là chẳng bao giờ bằng lòng với những cái đang có trong hiện tại.
    Năm xưa thánh Augustino cũng đã tìm, đã kiếm niềm vui hạnh phúc trong nhiều cách và đam mê nhưng chỉ khi ngài  tìm được Chúa mới thực là niềm vui trọn vẹn, hạnh phúc tròn đầy. Ngài đã thốt lên trong tiếc nuối thời gian: Lạy Chúa, con yêu Chúa quá muộn màng!
    Có một anh sinh viên bị bắt vào lính đi quân dịch. Anh ta bất mãn vì bị như thế, nên tính tình trở nên bất thường, suốt ngày cứ nhớn nhác như muốn tìm một cái gì. Khi phải xếp hàng đi tập trên đường mà anh thấy được một tờ giấy văng vãi là thế nào anh ta cũng chạy tới nhặt lên xem. Đọc xuôi một hồi rồi lại lật tờ giấy đọc ngược nữa. Rồi càu nhàu vất đi: không phải cái này! 
    Cứ thế, ngày này qua ngày khác, lần nào anh ta cũng nhặt lên được mấy tờ giấy đọc rồi lại vất xuống: “không phải cái này.” Người đội trưởng bực mình la hét phạt chán rồi cũng vậy thôi. Còn đồng đội thì cũng đành chịu cái tên “hết thuốc chữa” này mỗi ngày một “mát” quá ra! Một hôm văn phòng gọi anh ta lên. Vị chỉ huy hằn giọng nói ngay: Mày “mát” quá không ai chịu nổi nữa. Đây, mày cầm cái giấy này về ngay!  
    Anh ta cầm giấy giơ lên đọc. Thì ra là giấy miễn dịch. Anh ta sung sướng reo lên: A, đúng là cái này rồi. Và anh ta vội vã chạy mất. 
    Phê-rô năm xưa cũng từng vui sống trong bậc gia đình, từng đeo đuổi theo con sóng để đánh bắt cá, từng vui với thợ thuyền trên sông nước, nhưng dường như ông vẫn không tìm ra lẽ sống và hạnh phúc. Chỉ từ khi bước theo Thầy, cuộc đời ông đã rẽ sang trang sử mới. Những ngày bên Thầy cho ông cảm nghiệm được chỉ ở bên Chúa mới trọn vẹn niềm vui và hạnh phúc. Ông cảm nghiệm niềm vui bên Chúa lớn hơn tất cả những niềm vui mà ông từng có. Thế nên, khi Chúa hỏi: cả anh em cũng muốn bỏ đi sao? Ông liền mau mắn trả lời: Bỏ Thầy con biết theo ai, vì Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.
    Hóa ra những niềm vui mau qua kia chẳng thấm là bao so với niềm vui có được sự sống đời đời. Niềm vui trần gian thì mau qua. Sự sống đời đời là niềm vui trọn vẹn và vĩnh viễn. Nếu ai đã có được nó trong cuộc đời thì chẳng phải lo bon chen tìm kiếm những niềm vui giả tạo mau qua của trần gian. Chính Chúa sẽ làm thỏa mãn mọi sự đến nỗi ở bên Chúa không còn phải ham muốn điều gì khác nữa.
    Cuộc sống luôn cho chúng ta nhiều niềm vui, nhưng nó chỉ khiến ta thêm thèm khát niềm vui. Cuộc đời con người xem ra cũng giống như anh lính, ngày nào cũng dáo dát đi tìm kiếm, mừng vui cầm lấy một điều gì đó, nhưng rồi lại thất vọng vất đi và bảo: không phải cái này! Cuộc đời con người dường như cứ ngụp lặn trong đại dương mãi chơi vơi mà chẳng bao giờ dừng. Điều quan yếu là phải tìm được Chúa, nắm bắt được Ngài thì mới được no thỏa niềm vui và hạnh phúc. Có Thiên Chúa thì mới òa lên niềm vui như anh lính đã tìm được sự giải phóng, như Phê-rô đã tìm được Chúa làm gia nghiệp, như Augustino đã tìm được lẽ sống sau bao nhiêu ngày tìm kiếm.
    Xin Chúa giúp chúng ta có đủ con mắt đức tin để nhận ra Chúa là lẽ sống, là cùng đích cuộc đời. Xin cho chúng ta nhận ra Chúa thật quyền năng để chúng ta tín thác, cậy dựa vào Chúa trong những khó khăn thử thách. Ước gì cuộc đời chúng ta đủ xác tín về niềm tin của mình như Phê-rô để ở lại và bước đi theo Chúa cho đến cùng. Amen.

    Về mục lục

     

     

    CÁC CON CHO THẦY LÀ AI?

    Lm. D. Nguyễn Ngọc Long

    Tạp chí Reader’s Digest – Das Best số tháng 4/1999 trang 116 đăng kết quả Bản thăm dò ý kiến của người dân Đức về Đức Tin vào Thiên Chúa:
    50 phần trăm người được hỏi ý kiến vào lứa tuổi từ 14 đến 39 tin vào sự sống vĩnh cửu mai sau; trái lại chỉ 38 phần trăm người vào lứa tuổi 60 còn tin vào điều này.
    70 phần trăm đều cho rằng xã hội bây giờ không tin vào Thiên Chúa nữa. 78 phần trăm những người trẻ thuộc thế hệ từ 14 đến 29 tuổi cảm thấy đời sống tôn giáo càng ngày càng biến mất trong đời sống; và họ cho là tình trạng này xảy đến quá sớm…
    Hội Thanh Thiếu Niên Công giáo thuộc Giáo phận Munich thăm dò ý kiến 1200 bạn trẻ về vai trò Chúa Giêsu trong đời sống tinh thần của họ… Phần đông cho biết Chúa Giêsu Kitô không còn chiếm địa vị trung tâm đời sống tinh thần họ nữa! Bản đúc kết đi kết luận: Trong đời sống tôn giáo của người trẻ ngày nay, niềm tin Kitô giáo không còn hấp dẫn hay gây nhiều ảnh hưởng nơi họ. Chúa Giêsu dần dần ít được nhắc tới trong các buổi thuyết trình, hay nếu có cũng chỉ được nêu ra như một nhân vật lịch sử.
    Như thế có thể nói hình ảnh về Thiên Chúa, về Chúa Giêsu, trung tâm điểm của niềm tin Kitô giáo không còn ăn rễ sâu nơi tâm thức con người, ít là nơi những người trẻ tương lai của xã hội, Giáo hội nữa!
    Vậy đâu là ý nghĩa câu hỏi của Thầy Giêsu năm xưa cho chúng ta ngày nay: “Các con cho Thầy là ai?”
    Ông Phêrô xưa kia nhân danh anh em môn đệ trả lời Thầy mình: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống!”
    Tôi không tin Ông Phêrô trả lời theo cách suy tư lý luận thần học khúc mắc khô cứng với nhiều trích dẫn dài dòng ngày nay. Nhưng câu trả lời đó do Thần Linh Thiên Chúa đánh động tâm hồn Ông nói ra. Câu trả lời ngắn gọn biểu lộ niềm xác tín của tâm hồn đơn sơ mộc mạc của bác sống nghề thuyền chài lưới ngoài sông biển!
    Vậy niềm tin đó từ đâu mà ông có? Lòng tin đó không phải tự dưng từ trời rơi xuống, nhưng là kết quả của năm tháng ngày giờ tiếp xúc, nghe nhìn tận mắt Thầy Giêsu.
    Lúc đầu các môn đệ theo Thầy Giêsu cũng nghĩ Thầy mình là một nhà giáo có nhiều tài năng thu hút con người, hay một Tiên Tri như các tiên tri thời Cựu ước, và cũng có thể là một Gioan Tẩy Giả! Nhưng với thời gian gần Thầy, các Ông nhận ra Thầy mình không phải như vậy. Thầy Giêsu giảng dậy không căn cứ vào luật lệ truyền từ xa xưa, vào sách vở. Nhưng lời Ngài nói phát ra luồng mãnh lực, một Người đầy uy quyền: “Các con nghe nói, luật xưa truyền dậy rằng… nhưng Thầy bảo cho các con hay… (Mt 5,21…) Ngài quả quyết, chính Ngài có quyền trên ngày Sabbath (x.x.Mt 12, 8). Và dân chúng kính phục uy tín quyền năng Ngài, chính lời Ngài đã đi sâu vào tim óc người dân (x.x. Mt 7, 29).
    Đời sống, lời giảng dậy của Ngài hoàn toàn khác biệt với các Tiên tri thời Cựu ước. Lời Ngài không phải chỉ là mớ điều khôn ngoan, điều răn đe, kêu gọi phải ăn năn sám hối, nhưng là lời ban ơn tha thứ làm hòa, khoan dung nhân ái, điều này ai có thể làm được, nếu không phải chỉ một mình Thiên Chúa! (Mt 9, 2).
    Mối liên hệ giữa Ngài với Thiên Chúa Cha không phải là tôi tớ, nhưng là liên hệ thân tình cha con. Ngài là sứ giả rao giảng tình yêu Thiên Chúa, nhưng vị Sứ giả đó lại chính là trung tâm của sứ điệp tình yêu (Mc 8, 35; Mt 10, 37).
    Các môn đệ thán phục Thầy mình, ngày càng nhận ra và tin vào Ngài. Dân chúng kính phục đổ xô đến nghe ngài giảng thuyết. Nhưng những lời quả quyết về Ngài phát xuất từ chính Ngài làm cho người nghe không khỏi bất mãn khó chịu đến nghi ngờ.
    Phêrô và các môn đệ tin vào Thầy mình không qua do hiểu biết nghiên cứu học hỏi lý luận, nhưng qua gặp gỡ, đối thoại, nghe Ngài giảng thuyết. Chính từ mảnh đất đó Thần Linh Thiên Chúa tác động soi chiếu tâm hồn các ông nhận ra Thầy mình là Đức Kitô Con Thiên Chúa.
    Tò mò theo Chúa để tin vào Ngài, hay tin vào Chúa để theo Ngài. Cả hai thái độ đều biểu lộ một tâm hồn sẵn sàng gặp gỡ Chúa, qua việc đọc Lời Chúa, nghe Lời Chúa và ngắm nhìn Chúa trong thiên nhiên, nơi con người.
    Và qua đó tìm ra trả lời cho câu hỏi: “Các con cho Thầy là ai?”

    Về mục lục

     

     

    BÁNH LỜI CHÚA

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

    Bài Phúc Âm hôm nay kết thúc Tin Mừng Gioan chương 6 với lời tuyên tín của Thánh Phêrô : chỉ có Chúa Giêsu mới đem lại Lời ban sự sống đời đời.

    Khi Chúa Giêsu tuyên bố : “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống đời đời”, lập tức nhiều môn đệ phản ứng: “Lời này chói tai quá, ai mà nghe được” (Ga 6,60). “Từ bấy giờ có nhiều môn đệ rút lui, không còn theo Người nữa” (Ga 6,66). Thấy một số môn đệ bỏ đi, Chúa Giêsu hỏi nhóm mười hai: còn các con, các con có muốn bỏ Thầy mà đi nữa không?

    Thánh Phêrô trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì con biết theo ai, vì Thầy có Lời ban sự sống đời đời”. Phêrô xác tín: Thầy có Lời ban sự sống, nên đã quyết tâm chọn Thầy: bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai?

    Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh – Bánh Thánh Thể và là Lời Ban Sự Sống – Bánh Lời Chúa, lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng nhân loại.

    Khi nói đến Lời Chúa, nhiều người nghĩ ngay đến Sách Thánh Kinh. Đối với người Công giáo, Lời Chúa có nhiều ý nghĩa và vượt trên Sách Thánh Kinh.

    Cụm từ Lời Chúa có thể được dùng để nói về:

    – Lời Hằng Hữu, là Ngôi Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi.

    – Lời Thiên Chúa lúc tạo dựng, nhờ Người mà mọi sự hiện hữu được tạo thành.

    – Chúa Giêsu, Ngôi Lời làm người và ở cùng chúng ta.

    – Thánh Kinh, Lời được Thiên Chúa linh hứng và viết thành văn tự.

    – Truyền Thống của Giáo Hội, vang vọng cách trung thực Lời của Thiên Chúa cho mọi thế hệ.

    1. Lời Hằng Hữu

    Lời Chúa là Ngôi Lời Thiên Chúa, là Lời Hằng Hữu của Thiên Chúa. Tin Mừng Thánh Gioan mở đầu: “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1).

    Ngôi Lời Hằng Hữu vì Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa, và Ngôi Lời chính là Thiên Chúa. Ngôi Lời chính là Đức Giêsu Kitô. Đây là tâm điểm của tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhưng chỉ là Một Thiên Chúa Duy Nhất.

    1. Lời Tạo Dựng

    Sách Sáng thế mở đầu: “Lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Thiên Chúa tạo dựng tất cả mọi sự bằng cách dùng Lời mà phán : “Rồi Thiên Chúa phán: Hãy có ánh sáng, và liền có ánh sáng… Rồi Thiên Chúa phán: Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước” (St 1,3a.6a). Mỗi ngày, Thiên Chúa tạo dựng bằng cách phán Lời Ngài. Vào ngày thứ sáu : “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1,26a). Lời được phán ra và người nam người nữ đã hiện hữu theo chính hình ảnh Thiên Chúa.

    Sách Sáng thế và Tin Mừng Gioan có một mối liên hệ đặc biệt. Sách Sáng thế mở đầu với một câu chuyện tạo dựng tất cả mọi sự, bắt đầu với ánh sáng. Tin Mừng Thánh Gioan là câu chuyện tái tạo dựng về tinh thần đã được mạc khải và hoàn thành nhờ Đức Giêsu Kitô, ánh sáng thế gian.

    Trong Sách Sáng Thế cũng như trong Tin Mừng Gioan, nhờ Lời Tạo Dựng mà muôn vật được tạo thành :“Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành,và không có Người, thì không có gì được tạo thành” (Ga 1,3a). Ngôi Lời Hằng Hữu của Thiên Chúa chính là Lời Tạo Dựng.

    1. Ngôi Lời làm người

    Ngôi Lời Hằng Hữu, Lời Tạo Dựng, nguồn mạch của tất cả những gì hiện hữu, đã làm người và ở giữa chúng ta:“Ngôi Lời đã trở thành nhục thể và ở giữa chúng ta.Và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người,như vinh quang của Con Một Chúa Cha, đầy ân sủng và chân lý” (Ga 1,14).

    Ngôi Lời đã làm người đó là Đức Giêsu Nazareth. Người đã ở giữa nhân loại trong một giai đoạn của lịch sử, ở vùng đất Palestine, làm người Do thái, và sống dưới quyền đô hộ của Đế quốc Rôma. Người đã chết và đã phục sinh.Người luôn ở giữa nhân loại trong Thánh Kinh, trong các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, trong Giáo Hội, trong tha nhân và trong mỗi người chúng ta.

    1. Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa

    Thánh Kinh là Lời mạc khải của Thiên Chúa. Thánh Kinh là Lời được Thiên Chúa linh hứng. Thánh Kinh là Lời Chúa được các Thánh Sử ghi lại bằng văn tự qua dòng Lịch sử Cứu độ.

    Thánh Kinh là bức tâm thư Thiên Chúa gởi cho Dân được tuyển chọn. CĐVTC II đã dạy:”Trong các Sách Thánh,Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ.Vậy sức mạnh và quyền năng chứa đựng trong Lời Chúa lớn lao đến độ trở thành điểm tựa đầy năng lực cho Hội thánh và là sức mạnh của đức tin,lương thực nuôi linh hồn,nguồn sống thiêng liêng,tinh tuyền và trường cửu cho con cái của Hội Thánh”(MK21).

    1. Yêu mến, học hỏi và sống Lời Chúa

    Lời Chúa là chính Chúa Kitô. Thánh Giêrônimô nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô”. Học hỏi Lời Chúa để tìm được nguồn năng lực cho sức mạnh đức tin, lương thực thần thiêng nuôi linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu (MK 21).

    Lời Chúa là Sự Thật, “là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119 ;105). Chúng ta kín múc ánh sáng và sự khôn ngoan từ Lời Chúa để đời mình được chiếu soi và hướng dẫn.

    “Lời Chúa trở thành niềm vui và hạnh phúc của lòng con” (Gr 15,16). Không có lời nào của loài người có thể đến với con người bằng một sự thâm sâu như Lời Thiên Chúa đến với họ.

    “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4,12).

    Lời Chúa có sức sống và quyền năng vô cùng bởi lẽ: “Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là Sự Sống”.

    Lời Chúa quý giá như một viên ngọc, như kho báu. Ai yêu mến khám phá sẽ say mê, đến nỗi có thể bán hết mọi của cải tài sản để có được viên ngọc quí, có được kho báu ấy.Có những người chỉ cần khám phá một câu Tin Mừng thôi là thay đổi cả một cuộc đời. Chẳng hạn như thánh Phanxicô Assidi, câu “Phúc cho những người nghèo khó” đã khiến ngài bỏ hết gia tài của cha mẹ để dấn thân vào một cuộc sống nghèo khó nhưng vô cùng hạnh phúc. Thánh Phanxicô Xaviê được đánh động bởi câu: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì”.Thánh nhân từ bỏ tất cả danh vọng thế tục dấn thân truyền giáo và đã đưa về cho Chúa hàng trăm ngàn linh hồn.Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng tìm thấy linh đạo “con đường thơ ấu” từ câu “Nước Trời thuộc về những trẻ nhỏ”…

    Ngày Chúa Nhật 05/10/2008, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI chủ sự Thánh lễ khai mạc Thượng Hội đồng Giám Mục Thế giới lần thứ 12 với chủ đề “Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội”. Đức Thánh Cha đã gọi Đức Trinh Nữ Maria là người môn sinh tuyệt hảo của Lời Chúa.

    Mẹ Maria là một khuôn mẫu tuyệt vời cho chúng ta trong sứ vụ học hỏi, suy niệm và rao truyền Lời Chúa. Mẹ là người đã đón nhận Lời, đã cưu mang Lời thành xác phàm trong lòng dạ mình. Nhờ đó Mẹ đã sinh Lời cho nhân loại. Quá trình đón nhận, cưu mang, và sinh hạ chính là quá trình mà mỗi Kitô phải đi qua nếu muốn Lời Chúa mang lại hiệu quả cho mình và cho tha nhân. Vì thế, chiêm ngắm Mẹ Maria, học tập với Mẹ và cầu nguyện cùng Mẹ là một trong những cách thế tốt nhất giúp chúng ta chu toàn sứ mạng học hỏi, suy niệm và rao truyền Lời Chúa.

    Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc. Chúng ta được mời đến dự bàn tiệc Lời Chúa trước khi dự bàn tiệc Thánh Thể. Cả hai đều là lương thực bổ dưỡng cho người tín hữu. Công đồng Vaticanô (PV 7) khẳng định rằng, khi chúng ta nghe đọc Lời Chúa trong Phụng Vụ thì Chúa Giêsu “hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội”. Như thế Chúa Giêsu vẫn loan báo Tin Mừng trong từng thánh lễ (PV 33). Chúa Giêsu vẫn trao cho chúng ta Tấm Bánh là Lời của Người.

    Bổn phận của các linh mục là phải trình bày Lời Chúa như thế nào để giáo dân thấy được giá trị hấp dẫn của Lời Chúa.

    Bổn phận của giáo dân là phải biết chăm chú lắng nghe để chính mình cũng khám phá ra được giá trị tuyệt vời của Lời Chúa.

    Bổn phận của tất cả mọi tín hữu, linh mục cũng như giáo dân, là phải học hỏi, yêu mến và sống Lời Chúa. Nhờ học hỏi Lời Chúa mà mỗi người biết Chúa Giêsu. Nhờ suy niệm và cầu nguyện mà mỗi người gặp gỡ Chúa Giêsu. Nhờ sống Lời Chúa mà mỗi người yêu mến và bước theo Chúa Giêsu. Đời sống thiêng liêng cốt yếu dựa trên Chúa Giêsu và gắn bó với Người như “Cành nho gắn với thân nho” (Ga 15,5). Học hỏi, gặp gỡ, chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta được Lời Chúa biến đổi mỗi ngày. Từ đó dần dần nên giống Chúa Giêsu hơn, được nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, có được những tâm tình, thái độ và phản ứng của Chúa Giêsu.

    Lời Chúa là tấm bánh thơm ngon cho những ai biết lắng nghe và đem ra thực hành. Càng sống Lời Chúa, chúng ta càng gặp được ánh sáng và sức mạnh, nhất là được hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu để cuộc đời mỗi người được biến đổi, có ý nghĩa, có giá trị.

    Về mục lục

     

    TRONG ANH EM CÓ NHỮNG KẺ KHÔNG TIN

    Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

    Lời mời gọi tiếp nhận ‘bánh hằng sống’, hay đúng hơn ‘ăn thịt và uống máu’ của Đức Giê-su, đã bị đám thính giả Do Thái nói chung, thậm chí cả một số môn đệ nói riêng, khước từ; “Lời này chướng tai quá, ai mà nghe cho nổi!… Từ lúc đó nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa”. Chắc chắn không phải vì họ không muốn có bánh ăn là thứ mà họ đang kiếm tìm, nhưng họ khước từ ‘ăn thịt và uống máu’ vì là hình thức ghê tởm đối với bất kỳ ai. Điều đó thật ra cũng dễ hiểu thôi, và chẳng có gì đáng chê trách! Tuy nhiên điều làm chúng ta suy nghĩ chính là, từ sự ghê tởm tự nhiên đó, họ đã không còn tin vào Đức Giê-su nữa, “Trong anh em có những kẻ không tin”… và nhiều người quyết định lìa bỏ Người.

    Nếu chỉ là vì hình thức ‘ăn thịt và uống máu’ làm họ ghê tởm, thì cách giải quyết cũng nhẹ nhàng thôi: chỉ cần trao bánh và rượu, rồi nói: “này là thịt và máu Ta”, như Người sẽ làm trong bữa ăn ly biệt, là sẽ dễ dàng được chấp nhận ngay. Thế nhưng, trong nhận thức của Đức Giê-su, thì rõ ràng đó không phải là lý do đáng quan tâm nhất để họ từ khước. Đối với Người, các môn đệ đang cần củng cố một điều gì còn thâm sâu hơn nhiều mà Người gọi là đức tin nhờ Thần Khí; “Thần Khí mới làm cho sống chứ xác thịt chẳng có ích gì”, vì cũng chỉ có Thần Khí mới có thể mở miệng Phê-rô thốt lên lời tuyên xưng: “Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”

    Ngày nay trong số các Ki-tô hữu cũng có nhiều kẻ không tin, nhưng vấn đề chúng ta phải giáp mặt có lẽ lại trái ngược hẳn với các môn đệ Do Thái thời xưa. Khi giảng giải về Thánh Thể, người ta nhấn mạnh, bánh và rượu thật là ‘mình và máu’ Chúa (cũng có thể là do phản ứng của Công Giáo trước việc anh em Tin Lành chối bỏ học thuyết ‘biến thể’ transubstantiation). Điều này ngày nay không quá khó chấp nhận, ngay cả đối với các dự tòng, chỉ cần đưa ra một lý luận đơn giản: có điều gì mà Thiên Chúa không làm được? Cũng vậy khi tiến lên rước lễ, chẳng ai trong chúng ta còn có cái cảm giác ghê tởm của ‘ăn thịt và uống máu’. Thế nhưng, như đã từng xẩy ra cho các môn đệ xưa, vấn đề chính của chúng ta sẽ là: tôi có thật sự ‘tin và theo Thầy’ cách triệt để hay không? ‘Uống nước hằng sống’ và ‘ăn bánh trường sinh’ thực chất chỉ là những kiểu nói tượng hình để diễn đạt một điều hệ trọng hơn nhiều. Môn đệ Phê-rô đã biểu lộ niềm tin này qua lời tuyên xưng chân thành: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68). Chính Đức Giê-su cũng chỉ rõ: “… Trong anh em có những kẻ không tin… Vì thế, Thầy bảo anh em: không ai đến với Thầy được nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”. Tác giả Gio-an hình như cũng có cùng một nhận định khi nói về các môn đệ: “Quả thực ngay từ đầu đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp người”. Như vậy ‘tin Đức Giê-su’ có nghĩa là lấy cái chết tự hiến thập giá của Người làm sức sống cho đời mình, làm con đường duy nhất dẫn đến Chúa Cha – sự sống vĩnh cửu; “Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” Chỉ ai tin như thế (= ăn thịt và uống máu) mới bảo đảm cho mình được sống muôn đời; “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

    Xác tín điều này, tôi không hề có ý hạ thấp tầm quan trọng của bí tích Thánh Thể trong nội dung triết học và thần học; ngược lại là đàng khác. Khi cử hành Thánh Thể, thay vì chỉ suy nghĩ rằng mình đang làm một việc đạo đức tốt lành và thánh thiện bậc nhất (hàng đầu trong số các bí tích hay phụng vụ), tôi cần minh định rõ rằng mình đang tuyên xưng niềm tin vào Đức Ki-tô cách long trọng nhất, cũng như đang đón nhận ơn cứu độ cách thâm sâu nhất. Đức tin của tôi không đơn thuần chỉ là xác tín bánh và rượu đã trở thành Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô. Đức tin phải đưa tôi tới việc đón nhận Đấng đã hiến dâng mình trên thập giá để tôi được thông phần vào sự sống từ ái vô biên của Chúa Cha… Và điều này thiết thực tới độ, cho dầu tôi, nếu có chết trước cả khi có dịp ‘ăn thịt và uống máu’ Người nơi bí tích Thánh Thể, và nếu tôi đã từng hết lòng ‘ăn bánh trường sinh’ trong niềm tin phó thác thâm sâu nhất đó, thì chính niềm tin này mới đảm bảo cho tôi “không còn chết nữa, nhưng được sống muôn đời”.

    Điều tối quan trọng là đôi lúc tôi cần thật sự duyệt lại niềm tin của mình đạt nơi bí tích Thánh Thể, nhất là trong Thánh Lễ tôi cử hành hàng ngày.

    Lạy Cha chí ái, mỗi ngày khi con cử hành Thánh Thể, cho dầu có là một thói quen như hầu hết các linh mục khác, xin Cha luôn làm con ý thức rằng, đây chính là lời tuyên xưng đức tin thâm sâu nhất của con. Thánh Thể khi đó sẽ diễn đạt việc con đón nhận ơn cứu độ vô giá của thập giá Chúa Ki-tô cách trọn vẹn nhất, sẽ trở thành con đường để con đi vào sức sống vô biên của Chúa Cha, và bảo đảm cho con cuộc sống vĩnh hằng. Xin Cha giúp con luôn cử hành Thánh Lễ trong niềm tin như vậy. A-men.

    Về mục lục

     

     

    TRUNG THÀNH HAY PHẢN BỘI

    Văn Hào

    Người ta vẫn thường nói, trên đời này không có gì ghê tởm và đáng cho chúng ta khinh bỉ cho bằng sự phản bội. Trò phản thầy. Con cái phản bội công ơn cha mẹ, nhất là vợ chồng phản bội nhau trong nghĩa tình phu thê, .. tất cả đều đáng bị nguyền rủa và coi khinh. Tuy nhiên, trong đời sống đức tin, đặc biệt trong ơn gọi thánh hiến, chúng ta cũng có nguy cơ dễ rơi vào sự bội phản này. Lời tuyên tín của thánh Phêrô trong trình thuật tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta phải luôn canh tân lòng trung thành và bền bỉ theo Chúa Giêsu từng ngày: “ Bỏ Thầy chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6,68)

    Nghịch lý của Lời

    Sau khi Đức Giêsu tuyên bố : “ Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời”, nhiều môn đệ dị ứng và ngán ngẩm bỏ đi. Có lẽ họ đã theo Chúa một thời gian khá lâu với những động cơ khác nhau, nhưng cuối cùng hầu hết đã thoái lui và đầu hàng vô điều kiện. “Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi”(c.60). Họ bỏ của chạy lấy người, vì không thể chấp nhận nghịch lý theo suy luận tự nhiên nơi đầu óc của họ. Lời Đức Giêsu tuyên bố làm sụp đổ hoàn toàn những toan tính trần thế mà họ vẫn đeo bám khi đến với Đức Giêsu. Quả thật, Đức Giêsu vẫn luôn là một mầu nhiệm ẩn kín và khó hiểu. Mầu nhiệm về Ngài và những lời Ngài nói luôn hàm ngậm một nghịch lý, và cao điểm của nghịch lý này là cái chết trên Thập giá. Một con người mà họ mơ tưởng sẽ trở thành thủ lãnh chính trị, khai lập một vương quốc mới đầy oai phong, lại bị kết án như một tên tội phạm, và bị treo thân cách nhục nhã giống hệt một tên cướp đáng sợ. Một số môn đệ bỏ đi cũng dễ hiểu. Lời Đức Giêsu nói ra nghe thật chói tai và nhức nhối. Giả như chúng ta ở vào hoàn cảnh đó, có lẽ chúng ta cũng sẽ hành xử giống như họ. Khi tuyên bố như thế, ông Giêsu đúng là một con người điên điên khùng khùng chẳng giống ai. Ngay cả các thân nhân đồng hương với Chúa cũng đã có lần phải lắc đầu và ngao ngán thốt lên “ Ông ấy đã mất trí rồi” ( Mc 3,21).

    Nhưng nếu tìm hiểu căn nguyên một cách sâu xa hơn, một số môn đệ bỏ đi, bởi vì họ đã chưa thực sự cắm sâu vào mầu nhiệm Đức Giêsu. Họ chỉ nghe Chúa nói bên ngoài, nhưng bên trong, tâm hồn họ vẫn hoàn toàn đóng khép. Con tim họ chưa mở toang ra để lời Chúa có thể thẩm thấu vào sâu tận nơi con người họ. Thánh Biển Đức cũng dạy các con cái Ngài: “Chúng con phải siêng năng lắng nghe lời Chúa, nhưng không phải nghe với đôi tai của thân xác mà với đôi tai của cõi lòng”.

    Tự bản chất, Đức Giêsu chính là Lời hằng sống được hiến trao cho nhân loại. “Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Lời Thiên Chúa không phải là một hệ thống những triết ngôn, hay những tư tưởng khuyến thiện để răn đời. Lời Chúa ở trên một mức độ khác cao cả hơn rất nhiều, bởi vì Lời Chúa và duy nhất chỉ có Lời của Thiên Chúa mới đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Đây là lời tuyên tín của Thánh Phêrô, được khởi hứng bởi Thần khí, đồng thời cũng là một mặc khải sâu xa Thiên Chúa ngỏ trao. Những kiến thức khoa học, chúng ta có thể nghiên cứu để sở đắc. Những chân lý triết học, chúng ta có thể dùng lý luận để suy tư. Nhưng lời Chúa không phải là một mớ kiến thức để nhồi nhét, nhằm thỏa mãn sự tò mò nơi đầu óc con người. Muốn đón nhận lời của Chúa để được sống luôn mãi, thái độ căn bản cần phải có chính là “tin” vào Ngài. Trong diễn từ về bánh nơi chương 6 trong Tin mừng Gioan, Đức Giêsu nói khá nhiều về thái độ căn bản này: “Ai tin vào tôi sẽ được sống muôn đời”. Lời khuyến mời của Đức Giêsu cũng tương thích với lời tuyên tín của thánh Phêrô. “ Chỉ Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”. Ăn thịt và uống máu Chúa, cũng như mở lòng đón nhận nhận Lời của Thiên Chúa sẽ được trường sinh. Đây là hai cách thái giống hệt nhau biểu tỏ một thực tại duy nhất : Tin vào Đức Giêsu.

    Canh tân lòng trung thành

    Lời của Chúa là nghịch lý luôn hàm ngậm mầu nhiệm tự hủy. Thánh giáo phụ Grêgoriô thành Nysse đã quảng diễn nghịch lý đức tin này khi Ngài viết: “Hành trình đức tin của chúng ta đến với Chúa giống như chúng ta đang dấn bước tìm đến một khoảng tối đầy ánh sáng”. Ánh sáng và bóng tối, sự sống và sự chết, ân sủng và tội lỗi… là những cặp phàm trù tương phản và đối kháng nhau ẩn chứa nơi nghịch lý của Lời, cũng như trong nghịch lý của mầu nhiệm Đức Giêsu. Trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta phải liều lĩnh dấn bước vào bóng tối để tiến đến ánh sáng, phải chấp nhận đi qua Thập giá và cái chết để tiến nhận sự sống và vinh quang. Đối diện trước nghịch lý này, chúng ta sẽ phải chạm mặt với những cám dỗ muốn thoái lui và không muốn chấp nhận điều nghịch thường đó.Vì thế, chúng ta cần phải canh tân lòng trung thành mỗi ngày. Đức tin không phải chỉ đón nhận một lần là xong. Thánh Phaolô cũng đã căn dặn giáo đoàn Rôma: “Những người có đức tin vững mạnh phải nâng đỡ những người yếu đuối không có niềm tin vững mạnh” (Rm 15,1).

    Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã từng cảnh báo chúng ta về ba nguy cơ gây xói mòn đức tin và làm suy giảm căn tính đích thực nơi mọi Kitô hữu, đó là sống theo chủ nghĩa duy vật (materialism), sống theo chủ nghĩa hưởng thụ (consumerism) và sống theo chủ nghĩa tục hóa (secularism). Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta phải đặt Thiên Chúa vào chỗ tối thượng (in primacy). Điều này ai cũng biết trên lý thuyết, nhưng trong thực tế, chúng ta lại hay sống theo kiểu khác. Khi chúng ta thượng tôn tiền bạc, đặt tiền bạc làm thước đo mọi giá trị theo kiểu sống duy vật, thì đó chính là một sự phản bội. Khi chúng ta chủ trương sống an nhàn với những tiện nghi vật chất để thỏa mãn nhu cầu thể xác theo kiểu sống hưởng thụ, đó cũng là một sự phản bội. Đặc biệt, khi chúng ta mất dần cảm thức linh thánh, không còn thiết tha đến việc cầu nguyện và rơi vào nếp sống tục hóa, thì chắc chắn đó cũng chính là con đường phản bội mà chúng ta đang từ từ đi vào. Chúng ta phải can đảm đạp đổ những “con bò vàng” giống như con bò vàng của những người Do thái năm xưa trong sa mạc Sinai, để từng giờ từng phút, chúng ta luôn lặp lại quyết tâm sống trung thành.

    Nguy cơ phản bội

    Một đứa bé 12 tuổi ngồi tham dự phiên tòa xét xử vụ án ly dị của bố mẹ, đã viết lại những dòng tâm sự đầy nước mắt sau đây:

    “Con nhớ mãi buổi chiều thu ấy, lá rơi nhiều. Bên ngoài trời mưa tầm tã. Bố đến hôn con, một nụ hôn cay đắng và nghiệt ngã. Tâm hồn con tan nát và chết lặng.

    Bố ơi, sao bố dùng cái hôn ấy để xé nát gia đình chúng ta. Sao bố dùng nụ hôn giả dối ấy để trao cho con thay vì hôn trên đôi môi của mẹ. Chữ ký ngày xưa trên bàn thờ Chúa ngày bố mẹ thành hôn nay trở thành những nét chữ không hồn.

    Mẹ ơi, sao mẹ không đến nhận nụ hôn thay cho con, nụ hôn ngày xưa mẹ đã hạnh phúc lãnh nhận trước bàn thờ Chúa. Sao mẹ vẫn lạnh lùng đứng đó như một kẻ xa lạ nhìn bố hôn con, một nụ hôn như mũi dao nhọn đâm nát trái tim bé bỏng nơi con.

    Bố ơi, mẹ ơi, con phải trung thành với ai đây khi con sẽ đứng nhìn những nụ hôn bố trao cho mẹ ghẻ, mẹ sẽ trao cho một người đàn ông khác hoàn toàn xa lạ.

    Chúa ơi, con còn quá nhỏ bé, sao Chúa để con phải nhận những nụ hôn Giuđa này?”

    Đúng vậy, trên đời này không có gì đáng chúng ta ghê tởm cho bằng sự phản bội.

    Nhưng, những nụ hôn Giuđa hình như vẫn đang được lặp lại trong cuộc sống mỗi người chúng ta, qua nhiều dạng thức khác nhau, đặc biệt trong đời sống đức tin, nhất là trong đời sống thánh hiến.

    Kết luận

    Cha Matthêu King, một linh mục dòng Salêdiêng DonBosco đã qua đời cách đây hơn 7 năm. Ngài được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời sang Rôma để làm cố vấn đặc biệt cho giáo triều về những vấn đề của Trung quốc. Trong những năm tháng cuối đời nằm trên giường bệnh quặn đau với căn bệnh ung thư, Ngài vẫn thường nói: “ Tôi luôn cám ơn Chúa về ba hồng ân Chúa đã ban cho tôi. Trước hết, tôi được biết Chúa và trở nên môn đệ Đức Giêsu ngày tôi lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Thứ đến, Chúa đã chọn tôi trong ơn gọi Salêdiêng và trở nên một linh mục phục vụ Giáo hội. Cuối cùng, Chúa đã gửi đến cho tôi căn bệnh đau đớn này để tôi được thông dự vào những khổ đau với Chúa Giêsu trên Thánh giá. Tôi luôn cảm tạ Chúa vì ba ân huệ quý giá này”. Ngài cũng luôn nói với những ai đến thăm Ngài: “Xin anh em cầu nguyện cho tôi, để tôi được mãi trung thành”.

    Đức tin không phải chiếm được một lần là xong. Chúng ta còn phải chiến đấu mãi, phải luôn bươn chải mãi, để với ơn Chúa, chúng ta có thể trung thành đến cùng.

    Về mục lục

     

     

    TRUNG NGÔN NGHỊCH NHĨ

    Trầm Thiên Thu

    Câu thành ngữ “trung ngôn nghịch nhĩ” (Hán-Việt) bắt nguồn từ câu chuyện được ghi chép lại trong Sử Ký Tư Mã Thiên (*), trong giai thoại thứ 55 về quân sư tài ba Trương Lương (262-189 trước công nguyên). Ý nói rằng những lời khuyên chân thành thường nghe không thuận tai và khiến người ta khó chấp nhận.

    Đời nhà Hán (năm 206 trước CN đến năm 23 sau CN), Hán cao tổ Lưu Bang sống xa hoa với hàng ngàn cung phi mỹ nữ. Phàn Khoái khẩn thiết tấu trình: “Tâu bệ hạ, ngài thấy trong cung có vô số châu báu và hàng nghìn mỹ nữ. Tất cả những thứ này chính là điều đã làm nhà Tần suy vong. Thần mong bệ hạ lập tức trở về doanh trại, bệ hạ không thể ở lại trong cung”.

    Tuy nhiên, Lưu Bang bỏ ngoài tai những lời can gián của Phàn Khoái. Nghe vậy, Trương Lương vẫn dám nói thẳng: “Tần vương sống xa hoa, hung bạo và hủ bại. Đó là lý do dân chúng nổi dậy lật đổ ông ta và đánh bại quân Tần. Bệ hạ vừa mới lật đổ một Tần vương hung bạo bức bách dân chúng”. May thay, Lưu Bang đã nhận ra sai lầm mà quay về doanh trại và chấn chỉnh cách sống.

    “Trung ngôn nghịch nhĩ” nghĩa là lời nói ngay thẳng thì nghe chướng tai. Người ta cũng nói “thuận ngôn nghịch nhĩ”, và được Việt hóa thành “nói thật mất lòng”. Vâng, thuốc đắng dã tật (có người nói là giã, đã, đả). Người dám nói thật là người can đảm, nhưng phải khôn ngoan để phân định nên nói lúc nào, nơi nào và với ai. Nói không đúng lúc, không đúng chỗ và không đúng người sẽ phản tác dụng. Tuy nhiên, phải nói thật vì công ích chứ không để chứng tỏ “bản lĩnh” của mình, và có thể lợi bất cập hại.

    Một hôm, ở Si-khem, ông Giô-suê quy tụ mọi chi tộc Ít-ra-en, đồng thời triệu tập các kỳ mục Ít-ra-en, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ hiện diện trước nhan Thiên Chúa. Ông Giô-suê nói với toàn dân: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ, hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24:15).

    Tự do là điều Thiên Chúa cho chúng ta “tùy ý”, được toàn quyền sử dụng. Rất thoải mái, nhưng phải khôn ngoan mới biết sử dụng đúng đắn. Thật ra gọi là tự do nhưng chính sự tự do cũng có giới hạn nhất định của nó. Cái khó là ở chỗ đó.

    Thật may là dân không có ý như ông Giô-suê nghĩ. Họ đáp lại: “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. Đức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mô-ri ở trong xứ. Về phần chúng tôi,chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi” (Gs 24:16-18).

    Ước gì tất cả chúng ta, những người đã được lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, trở nên con cái của Thiên Chúa, sẽ biết quan tâm như ông Giô-suê và dân Ít-ra-en xưa, để có thể kiên trì giữ vững đức tin cho đến hơi thở cuối cùng. Có lẽ lúc này chúng ta có thể lặp lại câu ca dao Việt Nam: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, thì tôi vẫn vững như kiềng ba chân”. Cũng có thể coi chiếc kiềng-ba-chân đó là Tin-Cậy-Mến, ba đức đối thần cần thiết lắm.

    Ngày xưa, nhiều lần có những lúc nổi lên các bè rối, tà thuyết. Ngày nay không thấy các dạng tương tự, nhưng vẫn luôn có những “làn sóng” nguy hiểm hơn sóng thần, bởi vì càng văn minh hiện đại thì người ta càng tinh vi trong cách chối bỏ Thiên Chúa. Từ nghi ngờ đến chối bỏ đức tin không xa bao nhiêu, có thể chỉ như một làn ranh mong manh mà thôi!

    Vì thế, chúng ta luôn phải tự nhủ: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa” (Tv 34:2-3a), đồng thời vì yêu thương mà nhắn nhủ với người khác: “Xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:3b).

    Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, luôn chạnh lòng thương những người hèn mọn, thấp cổ, bé miệng, “họ kêu xin, và Chúa đã nhận lời, giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:18). Thật vậy, “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 34:19), còn người công chính, “khi gặp nhiều nỗi gian truân, Ngài giúp họ luôn thoát khỏi” (Tv 34:20). Có được một vị Thiên Chúa như vậy thì làm sao có thể rời xa? Chỉ có những kẻ khờ dại hoặc ngu xuẩn mới có mưu đồ phản loạn, muốn chống lại Ngài, muốn chối bỏ Ngài!

    Tác giả Thánh Vịnh minh chứng: “Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gãy. Quân gian ác chết vì tội ác, kẻ ghét người lành chuốc án phạt vào thân. Chúa cứu mạng các người tôi tớ, ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ” (Tv 34:21-23).

    Ai cũng đã từng được Chúa cứu thoát nhiều lần, bằng cách này hay cách khác, kể cả những người chưa chân nhận Ngài và tôn thờ Ngài. Chính Ngài đã xác định: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng biết Ta” (Ga 10:27). Nghe và sống Lời Chúa là chứng tỏ niềm tin vào Ngài, là sống đạo. Sống đạo từ đâu? Từ chính việc tu thân và ngay tại gia đình mình.

    Trình thuật Ep 5:21-32 là lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô về việc “gia đình sống đạo” theo tinh thần Kitô giáo giữa đời thường: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau”. Tùng phục nhau không phải theo hệ lụy chủ nhân với tôi tớ, mà đơn giản là lắng nghe nhau, vâng lời nhau, yêu thương nhau, và phục vụ nhau.

    Trước tiên, Thánh Phaolô nói về hệ lụy phu thê: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Rất chi tiết và chí lý, vì vợ chồng tuy hai mà một, họ không còn là hai mà chỉ là một mà thôi (x. Mt 19:6).

    Thánh Phaolô phân tích và dẫn chứng: “Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh”. Và ông kết luận: “Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng”. Nói chung, dù là ai cũng phải tôn trọng nhau, đặc biệt là vợ chồng – những người luôn ở bên nhau cả tinh thần và thể lý. Có tôn trọng nhau mới biết yêu thương nhau và phục vụ nhau theo lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô.

    Người Anh có thành ngữ: “A friend in need is a friend indeed – Khi hoạn nạn mới biết bạn thật”. Người bạn thật không chỉ ở bên ta khi ta gặp khó khăn, mà còn dám nói thật mà không sợ ta mất lòng.

    Trình thuật Ga 6:61-70 là phần cuối của diễn từ mà Đức Giêsu đã giảng dạy trong hội đường ở Ca-phác-na-um. Sau khi nghe Ngài nói chính Ngài là Bánh Trường Sinh và phải ăn uống Thịt Máu Ngài để được sống dồi dào, người Do Thái lùng bùng lỗ tai. Ngay cả nhiều môn đệ của Ngài còn nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?”. Ôi chao, các môn đệ còn như vậy huống chi người ta! Ngài biết tỏng là các môn đệ cũng đang xầm xì về vấn đề ấy, nên Ngài bảo họ: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”.

    Và Ngài nói thẳng: “Nhưng trong anh em có những kẻ không tin. Xấu hổ quá! Mắc cở hết sức! Mang tiếng là theo Thầy, được Thầy mở lòng trí và được thụ giáo bao điều hay lẽ phải, thế mà lại bị Thầy trách nặng nề như vậy. Sự thật mãi là sự thật, không thể biện hộ, và đừng tưởng mình “ngon lành” hơn người khác. Chúa Giêsu nói sự thật rành rành ra đó đấy thôi!

    Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Ngài, vì Ngài thấu suốt mọi sự. Rồi Ngài nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”. Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Ngài nữa. Họ chịu không nổi vì “choáng”, vì nghe toàn là những lời “khó lọt lỗ tai”, thôi thì đành “bỏ của chạy lấy người” vậy.

    Tùy. Không ép. Hoàn toàn tự do mà. Ngài biết có những người mạnh miệng nhưng nhát đảm, chết khiếp trước khi chết thật, thế nên Ngài hỏi thẳng Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?”. Ui da! Thầy ơi là Thầy, răng mà hỏi chi khó rứa hỉ? Có lẽ ai cũng ngại trả lời nên ông Simôn Phêrô liền gãi đầu và đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Một câu xác định và tuyên tín mạnh mẽ, “bù lỗ” lần ông hồ nghi nên suýt chết đuối trên biển và bị Thầy chê là kém tin (Mt 14:25-31), và lần ông dám cản bước Thầy nên bị rủa là Satan (Mc 8:33).

    Đức Giêsu đặt vấn đề: “Chẳng phải Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao? Thế mà một người trong anh em lại là quỷ!”. Ngài muốn nói về Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt, một môn đệ trong Nhóm Mười Hai, sẽ nộp Ngài. Chắc chắn lúc đó nhìn Chúa Giêsu “thấy thương” lắm, vì mặt Ngài buồn rõ nét nhưng chưa đến lúc tiện nói ra!

    Thật không dễ để có thể bình thản sống theo câu “trung ngôn nghịch nhĩ”. Phải thực sự can đảm lắm. Học giả Tuân Tử (313-235 trước CN, Trung Hoa) đã phân định rạch ròi ba loại người chúng ta thường gặp trong cuộc sống: “Người chê ta mà chê đúng, đó là thầycủa ta; người khen ta mà khen đúng, đó là bạn của ta; còn những kẻ nịnh bợ ta chính làkẻ thù của ta vậy”. Thầy – Bạn – Kẻ thù, các khoảng cách rất nhỏ. Cẩn tắc vô ưu!

    Có một tư tưởng hay trong sách Luận Ngữ của Khổng Tử (551-479 trước CN) đáng để chúng ta cùng suy tư: “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên; trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi – Ba người cùng đi, có một người là thầy ta; còn các khuyết điểm của họ, hãy lấy đó làm gương mà hoàn thiện chính mình”.

    Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết chân thành đón nhận những ý kiến xây dựng của mọi người, dù họ già hay trẻ, để con có thể rút kinh nghiệm mà cố gắng hoàn thiện dần dần. Xin tha thứ tội-nhân-con, lạy Chúa, và ban tràn đầy Thần Khí Chúa để làm con nên mới từng ngày. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

    (*) Bộ Sử Ký của sử gia lỗi lạc Tư Mã Thiên (135-86 trước công nguyên) gồm hơn 130 thiên, ghi lại giai đoạn lịch sử từ năm 2600 đến năm 86 trước công nguyên.

    Về mục lục

     

     

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN_B

    Lm. Antôn

    Ông bà anh chị em thân mến. Những bài Tin mừng trong 5 tuần Chúa nhật vừa qua được trích trong chương 6 Tin mừng thánh Gioan, có chủ đề là Bánh Hằng Sống. Chương 6 bắt đầu với phép lạ Chúa Giê-su biến 5 chiếc bánh và 2 con cá ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng theo Ngài. Sau đó Chúa nói với họ Chúa muốn ban cho họ một loại thức ăn đặc biệt có sự sống đời đời, đó là Bánh Hằng Sống, là chính Ngài. Chúa nhật vừa qua, chúng ta nghe Chúa nhấn mạnh “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống.” Đám đông dân chúng nghe Chúa nói những lời như thế, trong đó có một số môn đệ đã từng đi theo và tin Chúa, đã phản ứng và phản đối cho rằng chói tai, khó nghe, không thể chấp nhận được và họ đã bỏ đi. Và chúng ta thấy, Chúa đã không chạy theo nài nỉ gọi những môn đệ bỏ đi trở lại để đính chính lại “họ đã nghe lầm” hay đó chỉ là “biểu hiệu” mà thôi. Chúa biết họ nghe và hiểu lời Chúa nói rõ ràng và minh bạch, và do đó Chúa để họ ra đi. Sau đó, Chúa quay lại hỏi các môn đệ còn ở lại “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” Simon Phêrô đại diện cho nhóm 12 thưa “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta thấy ngày nay cũng có rất nhiều môn đệ của Chúa bỏ ra đi vì họ nghĩ rằng sứ điệp lời Chúa dạy khó nghe, chói tai quá không thể chấp nhận qua bình diện lý luận, và nhất là không phù hợp với cuộc sống của họ. Họ có sự sống và có lối sống riêng của chính họ không cần đến lời Chúa ban sự sống. Hôm nay trong một xã hội có xu hướng đặt nặng vật chất tiền bạc, chú trọng vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu thụ và ích kỷ, tất cả mọi người Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi lập lại lời tuyên xưng của thánh Phê-rô với Chúa “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” để chúng ta có một đức tin vững chắc vào Chúa Giê-su là Bánh Hằng Sống và có sự sống đời đời. Và để có một lời tuyên xưng có nội dung thật sự, thì các bài Kinh thánh hôm nay cung cấp cho chúng ta những yếu tố quan trọng. Một trong những yếu tố quan trọng là chúng ta phải có sự lựa chọn, quyết định khôn ngoan theo thánh ý Chúa, chứ không theo sự khôn ngoan của thế gian.    

    Chúng ta thấy trong bài đọc I hôm nay, sau khi vào Đất hứa, ông Giô-suê đã trở thành người lãnh đạo thay thế Môi-sen. Ông nhận thấy cuộc sống của dân chúng dần dần xa lìa Thiên Chúa, nhiều người đã phản bội và đi thờ thần ngoại bang, cho nên ông đã triệu tập dân chúng lại tại Sikem, để lập một giao ước, buộc dân chúng phải quyết định dứt khoát, lựa chọn một là thờ phượng một Thiên Chúa hai là thờ phượng các thần ngoại bang. Và như chúng ta vừa nghe, họ đã đồng thanh hứa trung thành và chỉ thờ một Thiên Chúa, Người đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai cập mà thôi. Không biết họ có thành tâm hay chỉ ngoài môi miệng, nhưng lịch sử Do thái cho chúng ta biết những thế hệ con cái, cháu chắt của họ đã phản bội, không còn nhiệt tình trung thành với Chúa nữa.

    Ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta đang sống trong một quốc gia tự do và không bị kiềm chế hay áp lực, cho nên chúng ta có tự do quyết định cho chính mình, cho gia đình một cách sống, hay chọn những gì ưa thích. Chúng ta biết những sự quyết định hay lựa chọn này sẽ định hướng và đánh giá cuộc đời của mình. Mỗi quyết định hay lựa chọn của chúng ta hôm nay đều có những ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta hiện tại hay trong tương lai, và có những ảnh hưởng đến đời sống gia đình, con cái và cháu chắt chúng ta. Có những lựa chọn mà chúng ta cảm thấy khó khăn, thiệt thòi hay phải hy sinh hiện tại, nhưng lại đem đến những điều tốt đẹp và lợi ích trong tương lại, hay ngược lại, có những lựa chọn đem đến cho chúng ta sự thoải mái, ưa thích hiện tại, nhưng có thể sẽ có những hậu quả xấu ở tương lai, đem lại những đau khổ và hối hận. Chúng ta biết, ngoài cuộc sống vật chất, chúng ta còn có đời sống đức tin, và Chúa cũng cho chúng ta sự tự do để chúng ta lựa chọn và quyết định tin theo Chúa và sống lời Chúa, hay ngược lại, không tin, không sống lời Chúa. Như chúng ta thấy, Chúa không nài nỉ, cưỡng bách hay áp lực những người không chấp nhận và phản đối lời Chúa phán là chói tai, khó nghe và bỏ ra đi, quay trở lại, vì họ không thành tâm, và tin vào lời Chúa. Vì vậy, là những Ki-tô hữu, chúng ta phải suy nghĩ và thận trọng, cũng như thành tâm lắng nghe những lời Chúa dạy bảo và hướng dẫn.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô đề cập đến hôn nhân gia đình, một vấn đề rất khó khăn và gai góc hiện nay vì ly dị và sống chung tự do. Thánh Phao-lô đã so sánh đời sống hôn nhân gia đình vợ chồng như sự liên kết giữa Chúa Giê-su Ki-tô và Giáo hội, và khuyên các đôi vợ chồng một khi đã quyết định chọn nhau làm bạn đời, thì phải suốt đời trung thành với giao ước đó, phải biết hy sinh cho nhau, để giao ước đó đem đến kết quả là yêu thương, hạnh phúc và sự hòa thuận trong gia đình. Vợ chồng phải bảo vệ giao ước hôn nhân bằng sự chung thủy, tôn trọng, chu toàn bổn phận làm vợ, làm chồng, nhất là bổn phận đức tin cho con cái. Chúng ta bận rộn và dành nhiều thời giờ cho công việc làm ăn, kiếm tiền, lo cho đời sống vật chất, nhưng là Ki-tô hữu và nếu chúng ta quyết định và chọn Chúa, chúng ta cũng phải quyết định chú tâm vào việc chu toàn bổn phận đời sống đức tin cho gia đình, nhất là cho con cái. Tôi kêu gọi ông bà anh chị em để tâm tham gia, cộng tác với các giáo lý viên, thày cô và những người hy sinh tình nguyện làm mọi công việc trong chương trình giáo lý và Việt ngữ, và làm những gương sáng tốt lành, để giúp con cái của ông bà anh chị em biết giáo lý, hiểu Lời Chúa và yêu mến Chúa hơn.

    Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả chúng ta đã quyết định chọn tin theo Chúa, đó là lý do chúng ta hiện diện trong Thánh lễ sáng hôm nay. Như thánh Phê-rô, chúng ta cùng tuyên xưng “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.” Chúng ta tin thật và chắn chắn Chúa Giê-su là Đấng cứu thế và là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, hiện diện trong Bí tích Thánh thể. Xin Chúa Giê-su Thánh Thể ban ơn, thêm sức cho chúng ta, vượt qua mọi khó khăn và luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh, và luôn có những quyết định, chọn lựa khôn ngoan theo thánh ý và đẹp lòng Chúa, đưa đến cho chúng ta bằng an và hạnh phúc đời này và đời sau.

    Về mục lục

     

     

    MẦU NHIỆM GIÊSU

    Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

    Đức Giêsu là một thực tại. Ngài hiện hữu như một sự kiện lịch sử. Ngài là người không dễ hiểu tuy dù người ta biết cha mẹ và dòng tộc Ngài. Ngài đã có những lời mà người đương thời không hiểu được, nhưng qua đó những người tin vào Ngài biết rằng Ngài có nguồn gốc thần linh: Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

    1. Lời nói của Đức Giêsu khó hiểu

    “Mình Ta là thật của ăn, máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, sẽ được sống đời đời”. Làm sao chấp nhận được câu nói này, khi người ta biết Ngài từ nhỏ đã sống ở Nadarét, khi người ta biết cha mẹ Ngài là Yuse và Maria! Ngài không được học hành gì, không có gì trổi trang hơn người khác khi sống tại Nadarét. Không thể chấp nhận được lời nói này của Ngài, đó là chuyện thường tình. Kể cả một số môn đệ, những người đã từng thán phục lời giảng của Ngài trước đó, cũng không thể chấp nhận lời này: “lời chi sống sượng thế, ai nghe cho nổi”. Họ đã bỏ đi, không muốn làm môn đệ của Ngài nữa.

    Đức Giêsu nói với nhóm 12: cả các anh nữa, các anh có muốn bỏ đi không? Phêrô được một ơn riêng nên trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đi theo ai. Thầy có lời ban sự sống đời đời. Thầy là Đấng thánh của Thiên Chúa”. Để chấp nhận lời của Đức Giêsu về chính Ngài, con người phải có ơn đặc biệt từ trên, vì những gì Ngài nói vượt trên cái bình thường. Đức Giêsu cũng biết điều này: “Không ai đến được với Ta, trừ phi được Cha Ta ban ơn đó”. Ngài cũng biết những gì Ngài nói không phải chuyện “thuộc hạ giới”.

    Những biểu lộ bên ngoài diễn tả điều gì sâu kín bên trong. Lời nói diễn tả nội tâm và bản tính mỗi người. Đức Giêsu không chỉ là một con người; qua lời Ngài, người ta nhận ra còn cái gì rất đặc biệt nơi Ngài. Làm sao lý giải những gì Đức Giêsu nói về chính Ngài, khi những lời này cho thấy như thể Ngài còn hơn là một con người? Chỉ một mình Thiên Chúa có quyền tha tội, thế mà Ngài lại nói: “Tội con đã được tha” (Mc.2, 7); Abraham là ông tổ của cả dân Do Thái, thế mà Đức Giêsu lại nói: “trước khi có Abraham, Ta là Ta” (Ga.8, 58); Thiên Chúa là Đấng vượt trên tất cả, thế mà có lúc Đức Giêsu lại nói: “Ta và Cha Ta là một” (Ga.10, 30). Nếu không phải là người mất trí, thì ắt hẳn còn một điều gì đó mà người ta chưa hiểu về con người Đức Giêsu.

    2. Đức Giêsu là một sự kiện khó lý giải

    Biến cố Đức Giêsu phục sinh, giúp những người thân thiết với Đức Giêsu, cụ thể là các tông đồ, hiểu hơn về Đức Giêsu. Nếu Ngài thuộc loại gian dối, phạm thượng, thì Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài. Nếu Ngài được phục sinh, ắt hẳn những gì Ngài nói về Ngài phải là sự thật. Vậy Đức Giêsu là ai? Tương quan của Đức Giêsu với Thiên Chúa như thế nào? Đức Giêsu là một vấn đề cho con người thời đó, và cho cả con người thời nay nữa.

    Với những người đơn thuần nghĩ Ngài là người phạm thượng, cái án tử hình dành cho Ngài thật là chính đáng. Nhưng biến cố phục sinh cho thấy cách nghĩ như vậy là không thỏa đáng và sai lầm. Vậy Ngài là ai? Các môn đệ thân tín, nhóm 12, có câu trả lời về người thầy thân yêu của họ. Ngài là tiên tri và còn hơn một tiên tri, Ngài là Đấng Kitô và còn hơn một Đấng Kitô, Ngài là con Thiên Chúa và còn hơn là con Thiên Chúa như những người công chính từng được gọi là con Thiên Chúa. Vậy Ngài là ai?

    Tin Mừng Gioan diễn tả Ngài là Lời đã thành xác phàm (Ga.1, 14). Một số người diễn tả Ngài là con Thiên Chúa theo một nghĩa rất đặc biệt. Đức Giêsu cũng thắc mắc về điều người ta nói về Ngài: “người ta bảo Con Người là ai?” Đức Giêsu có vẻ hài lòng với câu trả lời của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Tuy nhiên, điều này cũng không rõ ràng lắm với con người ngày nay, vì có nhiều Đức Kitô, nghĩa là nhiều người được xức dầu, nhiều người là Đấng Thiên Sai, chẳng hạn Môsê, Đavít. Cũng có nhiều người được gọi là con Thiên Chúa, chẳng hạn các thiên thần, những người công chính, các vị vua. Công Đồng Chung Nicea sau này (năm 325) xác định, Ngài là con đồng bản tính với Thiên Chúa. Công Đồng Chung Chalcedoine xác định Ngài có hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính con người, Ngài thực sự là người và thực sự là Thiên Chúa. Công Đồng Chung Epheso xác định Ngài là một ngôi vị Thiên Chúa trong hai bản tính. Dù thế nào chăng nữa, những tín điều về Đức Giêsu Kitô của Hội Thánh sau này, là để giúp các tín hữu hiểu đúng những mặc khải đã được tỏ lộ cho các tông đồ. Đức tin của Giáo Hội tựa trên nền tảng các tông đồ. Đức tin của các Kitô hữu, là đức tin tông truyền.

    3. Mở lòng đón nhận sự kiện Giêsu Kitô

    “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”. Không thể hiểu lời này, vì xưa nay chưa có lương thực nào cho con người sự sống vĩnh cửu. Vậy làm sao có thể chấp nhận lời nói này! Hơn nữa, con người Giêsu cũng mong manh như bao người, vậy Giêsu lấy gì để bảo đảm cho lời nói của Ngài là đáng tin, là sự thật?

    Đức Giêsu là một sự kiện, một biến cố, và là một mầu nhiệm. Những từ ngữ và lý giải, là để hiểu đúng và hiểu hơn về Đức Giêsu Kitô. Người ta chưa hiểu hết về Ngài, người ta đang cố gắng hiểu và diễn tả về Ngài. Có thể, mỗi một diễn tả giúp con người hiểu hơn về mầu nhiệm Giêsu; và có thể, cũng che khuất Ngài dưới một khía cạnh nào đó. Một điều đáng mừng là ngày nay người ta vẫn còn đang truy tìm về Đức Giêsu Kitô, người ta đang cố gắng diễn tả về Đức Giêsu Kitô với hy vọng giúp con người ngày nay hiểu và chấp nhận Đức Giêsu Kitô hơn. Tất cả những điều này cho thấy, Thánh Thần Thiên Chúa vẫn đang hoạt động nơi con người ngày hôm nay một cách rất sống động.

    Xin cho con người ngày nay biết mở lòng và đón nhận mầu nhiệm Giêsu Kitô, và xin cho mầu nhiệm Giêsu Kitô soi sáng mầu nhiệm con người, giúp con người sống an bình và hạnh phúc trên đường trần gian này.

    Câu hỏi gợi ý chia sẻ

    1. Bạn có câu hỏi hoặc thao thức gì về Đức Giêsu?
    2. Đức Giêsu có ảnh hưởng nhiều trên đời bạn không? Xin bạn cho biết điều đó.

    Về mục lục

     

     

    LỜI HẰNG SỐNG

    Lm. Giuse Trần Việt Hùng

    Sau khi ông Môisen qua đời, ông Joshua, con của ông Nun, lên kế vị dẫn dân Do-thái vượt qua sông Jordan vào miền Đất Hứa. Toàn dân và gia đình ông Joshua đến trước Thiên Chúa ở giữa công đường, ông Joshua gợi ý cho dân chọn lựa tôn thờ Thiên Chúa hay tôn thờ các thần dân ngoại:Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Thiên Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Thiên Chúa (Jos 24, 15). Dân chúng và gia đình ông Joshua đã chọn Thiên Chúa làm phần gia nghiệp. Ông Joshua đã trở thành người lãnh đạo tín trung và can đảm dẫn đưa dân vào miền đất chảy sữa và mật như lời đã hứa.

    Dân Do-thái đã chọn đi theo Chúa tiến vào miền Đất Hứa nhưng rồi chẳng được bao lâu, dân chúng quên lời đã thề hứa. Họ bỏ Chúa, chạy theo các thú vui trần thế, tôn thờ các tà thần và sống theo thói tục của dân ngoại. Chúa phạt tội lỗi của họ, nhưng rồi Chúa lại tha thứ. Lịch sử cứu độ cứ thế lập đi lập lại với hết dòng dõi này sang dòng dõi khác. Thiên Chúa vẫn luôn kiên nhẫn đợi chờ. Qua các thử thách, Thiên Chúa hé mở những mầu nhiệm cao siêu trong cuộc sống bình thường. Từ những biến cố xảy ra hằng ngày, Thiên Chúa lại mở thêm những cánh cửa để dẫn con dân đi tìm về nguồn yêu thương. Không có một sự cố nào xảy ra mà không ghi dấu ấn tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Con đường cứu độ là con đường tình yêu và tha thứ. Yêu thương là ban tặng và dâng hiến. Thiên Chúa trao cho nhân loại bánh hằng sống, chính là Con Một của Thiên Chúa.

    Sau khi Chúa Giêsu đã mạc khải về bánh ban sư sống bởi trời là thịt và máu Chúa, có nhiều người khó chịu về giáo lý này. Họ nói rằng: Lời này chói tai qúa! Ai nghe được. Chúa Giêsu biết rõ lòng họ nhưng Chúa không rút lại lời đã nói. Chúa không ngại để họ được tự do ra đi. Ngay cả các tông đồ, Chúa đã hỏi: Cả chúng con, chúng con có muốn bỏ đi không? Phêrô thưa: Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai. Chúa không muốn mị dân để làm vừa lòng mọi người. Chúa cho chúng ta được tự do chọn lựa thái độ. Chúng ta không thể đi nước đôi theo kiểu bắt cá hai tay. Tông đồ Phêrô đại diện cho anh em tuyên xưng niềm tin một cách xác tín: Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.

    Thái độ của Chúa Giêsu khác biệt thái độ của nhiều nhà lãnh đạo. Các lãnh tụ thế gian muốn mình trở thành số một, có quyền hành và muốn được người khác phục vụ. Người cầm quyền dùng nhiều thủ đoạn tìm vinh quang và thu gom cho mình mọi thứ ở trần gian. Họ thường dùng những lời hứa suông vượt trên khả năng và quyền hạn của họ để bảo đảm sự an toàn cho người khác. Họ muốn giới hạn tự do và ngay cả quyền thiêng liêng của con người để phục vụ cho chính sách và đường lối chính trị của phe nhóm họ. Trái lại, Chúa Giêsu không tìm vinh quang cho chính mình. Ngài qui mọi vinh quang và danh dự về Chúa Cha.

    Khi Chúa chữa lành cho người phung hủi. Chúa nói với anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết (Mc 1, 44). Chúa chối từ sự tôn vinh của người đời. Khi Chúa hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng ăn no nê, họ muốn tôn Chúa làm vua, Chúa đã từ chối. Chúa Giêsu từ trời hạ sinh làm người, nhưng Chúa lại chọn con đường phục vụ từ dưới thấp đi lên. Chúa khiêm hạ trong phục vụ. Chúa cúi xuống rửa chân cho các tông đồ. Khi Chúa xua đuổi qủy ám ra khỏi người đàn ông Gerasene, ông ta muốn ở lại với Chúa: Nhưng Chúa không cho phép, Người bảo: “Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào (Mc 5, 19). Chúa mời gọi mọi người đi theo Chúa để được lãnh nhận ơn cứu độ, nhưng Chúa không ép buộc hay cưỡng bức. Chúa để họ được hoàn toàn tự do lựa chọn.

    Chúa Giêsu là thủ lãnh, là chủ chiên tốt lành và là Chúa đầy lòng xót thương. Chúa đã thí mạng sống vì đàn chiên. Trong vườn Cây Dầu, trước lúc bị bắt trói và dẫn đi, Chúa đã yêu cầu quân lính cho các tông đồ được tự do.Đức Giêsu nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi (Ga 18, 8). Chúa còn có những sứ mệnh khác cho các tông đồ. Các Ngài sẽ nên nhân chứng cho sự đau khổ, sự chết và sự sống lại của Thầy. Chúa không hứa một cuộc sống sung túc, đầy đủ, an bình và hưởng lạc, nhưng là con đường thánh giá có nhiều chông gai. Chúa đáp lời môn đệ muốn đi theo: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (Lc 9, 58).

    Lời Chúa là thần trí và là sự sống. Tác giả thơ Do-thái đã viết: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử (Dt 1, 1-2). Qua Thánh Tử Giêsu, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta về tình yêu của ơn cứu độ. Lời của Chúa Giêsu là lời hằng sống. Lời Chúa có uy quyền tác động biến đổi và có hiệu qủa ngay: Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy (Ga 6, 56). Chúa Giêsu đã từng chữa lành các bệnh nhân qua lời của Ngài.Người bảo anh bại tay: “Anh giơ tay ra! ” Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường (Mc 3, 5). Khi Chúa Giêsu đang ngủ trên tàu gặp sóng gió:Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi! ” Gió liền tắt, và biển lặng như tờ (Mc 4, 39). Thánh Phêrô chỉ cho chúng tabiết rằng Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.

    Thánh Phaolô trong thơ gởi cho tín hữu Êphêsô đã khuyên dạy chúng ta: Anh em hay phục tùng nhau trong sự kính sợ Thiên Chúa (Eph 5, 21). Phaolô dùng hình ảnh của Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội để nói về việc vợ chồng phục tùng lẫn nhau trong đời sống hôn nhân gia đình:Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy (Eph 5, 25). Giáo Hội luôn gắn kết với Chúa Kitô là đầu. Lời Chúa là kim chỉ nam và là nguồn sống của Giáo Hội. Thánh Kinh và Thánh Truyền là hai nguồn bảo chứng giúp Giáo Hội tồn tại.Giáo Hội tin tưởng vào quyền năng thánh hóa qua lời hằng sống:Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống (Eph 5, 26).

    Chúng ta lắng nghe, học hiểu, nhận biết và thực hành lời Chúa. Lời Chúa là lời quyền năng giúp chúng ta biến đổi nội tâm. Chúng ta cần học hỏi để có những kiến thức về đạo, nhưng điều quan trọng là tri và hành. Giống như chúng ta cầm được tấm bản đồ, chúng ta học biết các vị thế và nơi chốn nhưng chúng ta chỉ ngồi một chỗ thì sẽ chẳng bao giờ tới nơi. Lời của Chúa Giêsu mở cửa tâm hồn dẫn chúng ta đến hạnh phúc. Thực thi lời Chúa là chúng ta đang đi trên con đường chính thật. Chúng ta không thể đốt giai đoạn, mà hãy suy niệm và sống lời Chúa trong từng giây phút và qua từng cách ăn nết ở trong cuộc sống hằng ngày. Dấu chỉ của người môn đệ của Chúa là:Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau (Ga 13, 35).

    Lạy Chúa, bỏ Chúa, chúng con biết theo ai. Chỉ có Chúa là Đấng Cứu Độ và là nguồn an lạc cho đời chúng con. Chúng con xin chọn Chúa làm gia nghiệp và là nơi chúng con nương náu ẩn thân. Chúng con xin chúc tụng và ngợi khen danh Chúa đến muôn ngàn đời.

    Về mục lục

     

    CHÚA MỚI CÓ LỜI BAN SỰ SỐNG

    Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

    Có nhiều bạn trẻ đặt vấn đề : Tại sao người Công giáo kết hôn với người ngoại giáo lại yêu cầu họ phải theo đạo mới được kết hôn ? Tại sao mình không theo đạo của họ ?

    Người ta bảo rằng : Yêu nhau thì yêu cả nước bước đường đi. Yêu nhau không những chọn nhau, thuộc về nhau, nhưng người ta còn chọn cả niềm tin tôn giáo của nhau. Người Công Giáo tin rằng đạo của mình vượt trội hơn tất cả tôn giáo khác vì đạo của mình do chính Thiên Chúa mặc khải và chỉ cho biết : Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế. Chính Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta đường đi và còn đồng hành với mỗi người trên hành trình đạt hạnh phúc đời đời. Ai tin và thực hành theo lời của Chúa thì sẽ được sống muôn đời. Vì thế, người Công Giáo không thể bỏ Chúa để chọn một tôn giáo khác. Đó cũng là điều Phêrô và các tông đồ đã nhận ra, đã tin và đã tuyên xưng : Bỏ Thầy con biết theo ai, vì Thầy mới có lời ban sự sống đời đời.

    Tuy nhiên trong thực tế, nhiều người Công Giáo không ý thức đủ về sự cao quý của niềm tin mình. Họ chấp nhận một thứ cào bằng tôn giáo khi cho rằng : “Đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành”. Dẫu rằng, đạo nào cũng dạy làm việc tốt, dạy ăn ngay ở lành, nhưng không thể đánh đồng : “Đạo nào cũng giống đạo nào”. Các đạo khác chỉ là những chỉ dạy về luân lý, tức là những điều phải tránh và những việc phải làm. Đạo Công giáo không chỉ như thế, cũng không chỉ là cố gắng của con người, nhưng đạo Công giáo còn dạy về một Thiên Chúa là Cha yêu thương. Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu độ, chúng ta được mời gọi sống thân tình với Thiên Chúa như với người cha, sống với Chúa Giêsu như với người Thầy, người anh và người bạn. Đây là những niềm tin mà không có một tôn giáo nào có được.

    Khác với Phật giáo và các tôn giáo khác, Đức Phật không bao giờ nhận mình là thần linh, và cũng không chỉ cho người khác về một thần linh nào. Chúa Giêsu đến để chỉ cho chúng ta biết về Thiên Chúa và còn tỏ cho biết Ngài chính là Thiên Chúa, đến từ Chúa Cha, Đấng Tạo dựng và cứu độ. Ngài có quyền năng ban sự sống và nắm giữ mọi mối dây sinh tử của cả vũ trụ và mọi loài. Ai tin và thực hành Lời Ngài thì có sự sống đời đời.

    Các môn đệ và những người Do Thái ngày xưa bị giằng co bởi nhiều triết thuyết và nhiều tôn giáo của các dân tộc chung quanh. Mặc dù tin một Thiên Chúa Duy Nhất, nhưng họ lại bị lôi kéo bởi các tập tục của dân ngoại, bị cám dỗ chạy theo những tôn giáo dễ dãi. Vì thế, khi nghe Chúa Giêsu nói về bánh là chính máu thịt của Ngài, nói đến việc phải ăn và uống máu của Ngài, nhiều môn đệ đã không chấp nhận và bỏ đi. Họ lấy làm khó chịu về giáo lý của Chúa Giêsu, họ cảm thấy chướng tai về điều đó.

    Như chúng ta đã suy niệm tuần trước, Người Do Thái không được phép đụng đến máu của súc vật, huống nữa là máu của con người. Họ chỉ được ăn một số con vật, nay Chúa lại nói ăn thịt của Ngài. Chúa Giêsu đã giải thích thêm và cho thấy, nếu không được Thần Khí của Thiên Chúa soi sáng, thì con người không thể hiểu được. Nếu chỉ nhìn Đức Giêsu là con bà Maria thì cũng không thể hiểu được, nhưng phải tin nhận Ngài là Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến. Vì chỉ chỉ có Thiên Chúa và từ nơi Thiên Chúa mà đến, Chúa Giêsu mới có thể đem đến sự sống cho nhân loại được. Có được đức tin này, đó là một ân huệ của Thiên Chúa. Như thế, đức tin là một ân huệ, là quà tặng của Thiên Chúa, chỉ những ai mở lòng và sẵn sàng đón nhận thì mới có thể lãnh nhận được.

    Sau khi Chúa Giêsu cho thấy sự khác biệt giữa giáo lý của Ngài với các giáo thuyết khác, Chúa để cho mọi người tự do chọn lựa. Có những môn đệ dù đã theo Ngài một thời gian, nhưng cuối cùng đã bỏ cuộc vì không tin. Chúa cũng muốn sát hạch lại niềm tin của các tông đồ khi nói với các ông : Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao ? Nhưng Simon Phêrô đã thay cho các anh em tuyên xưng niềm tin của mình : Bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai, vì chỉ Thầy mới có lời ban sự sống đời đời. Chúng con đã tin và nhận biết rằng, chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Tuyên xưng Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa, Phêrô đã muốn nói rằng, chúng con tin Thầy chính là Thiên Chúa.

    Tin và sống chết với niềm tin của mình luôn là một chọn lựa quyết liệt và dứt khoát. Trong niềm tin không thể có nước đôi, không đánh đồng, không thỏa thuận, trái lại, phải là một chọn lựa dứt khoát. Ngày xưa biết lòng dân hay thay đổi, biết dân Israel dễ bị lôi kéo bởi các tôn giáo khác, nên ông Giosuê sau khi đưa dân vào đất hứa, đã đòi dân Israel phải công khai nói lên chọn lựa niềm tin của mình. Ông quy tụ toàn dân lại tại Sikhem và đặt ra cho họ một chọn lựa : Nếu anh em không bằng lòng thờ phượng Thiên Chúa, thì hôm nay, anh em có quyền chọn các thần mà thờ, còn tôi và gia đình tôi sẽ phụng sự một mình Đức Chúa.

    Dân Israel đã công khai nói lên sự chọn lựa của mình : Chúng tôi không hề có ý bỏ Thiên Chúa để phụng thờ các thần khác, vì chính Đức Chúa là Đấng đã đưa chúng tôi và cha ông chúng tôi ra khỏi đất Aicập…Chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa và Người là Thiên Chúa của chúng tôi.

    Thưa các bạn, trong ngày lãnh Bí tích rửa tội, và đặc biệt trong ngày Thêm sức, chúng ta cũng đã thề hứa từ bỏ mọi tà thần và những quyến rũ của ma quỷ để tin thờ một mình Thiên Chúa mà thôi. Tuy nhiên trong thực tế, có chắc rằng chúng ta chọn một mình Thiên Chúa hay còn chọn thêm các thứ thần linh và quyến rũ của ma quỷ nữa ?

    Chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa và Lời Ngài là lời ban sự sống, song nhiều người đã không muốn lắng nghe Lời Ngài, không muốn đón nhận những giáo huấn của Ngài. Tin rằng Lời Chúa là Tin Mừng, nhưng nhiều Kitô hữu đã không thực sự tìm thấy niềm vui và sức sống nơi Lời của Chúa, vì họ không chủ tâm đọc, suy gẫm không lắng nghe và không thực hành. Nhiều người khác lại chỉ dùng Lời Chúa như vật trang trí cho mình, lấy Lời Chúa để biện minh cho hành động của mình thay vì phải uốn mình theo Lời của Chúa. Chính vì thế mà Lời Chúa đã không đi vào được tâm hồn, không chi phối được đời sống của họ.

    Nhiều người xưng mình là Kitô hữu, tức là người có Chúa Kitô, nhưng gặp khó khăn thử thách, họ không tìm đến sự hướng dẫn của Chúa Kitô, trái lại, họ tìm kiếm sự hướng dẫn của các thầy bói và tin kiêng những đều vớ vẩn. Là người tin Chúa, nhưng nhiều người lại vẫn thực hành đời sống theo kiểu dân ngoại, vì họ không hiểu biết gì về giáo lý và lời dạy của Chúa. Không chỉ sai lạc trong niềm tin, trong cách sống, nhiều Kitô hữu đã không còn chọn một mình Thiên Chúa là Chúa duy nhất. Họ không còn dành cho Thiên Chúa ưu tiên tuyệt đối trong cuộc đời, họ chọn tiền bạc, của cải vật chất và đặt Chúa xuống hàng tùy phụ, coi việc tôn thờ Thiên Chúa như việc làm thêm.

    Điều đó chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ nơi đời sống gia đình. Nhiều cặp vợ chồng đã không còn trung thành với lề luật của Thiên Chúa, họ chọn những giải pháp dễ dãi để giải quyết khó khăn thử thách. Nhiều người cậy dựa vào quyền lực thế gian để giải quyết những ràng buộc của giới luật Thiên Chúa. Vì thế mà ngày càng có nhiều gia đình Công Giáo đưa nhau ra tòa để giải gỡ hôn nhân. Hành đông như thế là họ đã công khai phá bỏ luật và lời dạy của Thiên Chúa, từ chối Lời ban sự sống của Ngài.

    Việc chọn lựa Thiên Chúa, tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu và hoàn toàn đặt cuộc đời theo sự chỉ dạy của Chúa đang là một thách thức với nhiều bạn trẻ. Nhiều người trẻ đã tin bạn bè hơn cha mẹ, tin vào bài báo hơn tin vào Lời Thiên Chúa, tin vào khoa học công nghệ hơn tin vào mạc khải của Thiên Chúa. Chính vì thế nhiều người đang bị lầm lẫn, đang mất phương hướng sống cho cuộc đời.

    Xin Chúa cho chúng ta mỗi ngày sống là mỗi ngày chúng ta tái khẳng định lòng trung thành tuyệt đối vào Thiên Chúa và vào Tin Mừng của Ngài. Amen.

    Về mục lục

     

     

    THẦY MỚI CÓ NHỮNG LỜI

    ĐEM LẠI SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

    Lm. Đan Vinh – HHTM

    I. HỌC LỜI CHÚA

    1. TIN MỪNG : Ga 6,54a.60-69

    (54a) Khi nghe Đức Giêsu tuyên bố : “Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời”, (60) nhiều môn đệ của Người liền nói : “Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?” (61) Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông : “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? (62) Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao ? (63) Thần Khí mới lam cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là Sự Sống. (64) Nhưng trong anh em có những kẻ không tin”. Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. (65) Người nói tiếp : “Vì thế, Thầy đã bảo anh em : Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”. (66) Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa. (67) Vậy Đức Giêsu hỏi Nhóm 12 : “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?” (68) Ông Si-mon Phê-rô liền đáp : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. (69) Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng : Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”.

    1. Ý CHÍNH :

    Sau khi nghe Đức Giêsu giảng về Bánh Hằng Sống, tức là bí tích Thánh Thể mà Người sẽ ban, thì thính giả chia thành hai phe : Một số khá đông, trong đó có cả các môn đệ của Người, cho rằng lời ấy chói tai, không thể chấp nhận được và đã bỏ không còn theo Người nữa (c. 66). Riêng Nhóm 12, khi được hỏi thì Si-mon Phê-rô đã đại diện Nhóm tuyên xưng đức tin : “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời” (c. 68).

    1. CHÚ THÍCH :

    C 54a.60 : + Ai ăn Thịt Tôi và uống Máu Tôi thì được sống muôn đời : “Thịt và Máu” Đức Giêsu là Bánh Thánh Thể sẽ được Người ban trong bữa tiệc Vượt Qua (x Mt 26,26). Do đó Thịt và Máu Đức Giêsu nói đây chính là Thánh Thể của Người, sẽ trải qua cuộc khổ nạn và phục sinh, như một hy lễ đền tội để ban sự sống cho trần gian. + Nhiều môn đệ của Người : Môn đệ là những người nhận Đức Giêsu làm Thầy (Ráp-bi), nghe và thực hành Lời Chúa, tích cực cộng tác với Người thi hành sứ vụ tông đồ. Đức Giêsu có hai nhóm môn đệ là nhóm bảy mươi hai (x. Lc 10,1) và Nhóm mười hai (x Ga 6,66). + “Lời này chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?” : Khi nghe Đức Giêsu nói sẽ lấy Thịt Máu mình cho người ta ăn uống, thì các môn đệ cũng như đám đông dân Do Thái không chấp nhận. Phần vì không ai xẻ thịt mình ra cho người khác ăn, hay lấy máu mình cho người khác uống ! Đàng khác, Luật Mô-sê cấm ăn máu huyết, vì máu được coi là sinh khí tụ lại, chỉ được dành riêng cho Đức Chúa là chủ tể của sự sống. Luật Mô-sê qui định : “Các ngươi không được ăn máu huyết của bất cứ xác thịt nào, vì mạng sống của mọi xác thịt là máu của nó. Bất cứ ai ăn máu huyết sẽ bị khai trừ” (x. Lv 17,14).

    C 61-62 : + Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư ? : Ba điều người Do Thái và môn đệ xầm xì không chấp nhận : Một là Đức Giêsu tự nhận mình là Bánh hằng sống, đang khi cha ông họ xưa dù đã ăn Man-na mà vẫn phải chết (x. Ga 6,49). Hai là Người tuyên bố mình từ trời mà đến, đang khi họ biết rõ tông tích của Người (x Ga 6,42). Ba là Người khẳng định : “Thịt Tôi thật là của ăn và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6,55), đang khi luật Mô-sê cấm uống máu và ăn thịt các con vật chết ngạt, vì còn có máu trong thịt (x. Lv 17,10). + Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao ? : Đức Giêsu cho các môn đệ bằng chứng để tin Người là Đấng Thiên Sai và tin lời Người giảng là sự thật. Bằng chứng ấy là Người sẽ từ cõi chết sống lại và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Ga 3,13), đúng như thị kiến về vai trò và sứ mệnh của Con Người trong sách Ngôn Sứ Đa-ni-en (x. Đn 7,13).

    C 63-64) : + Thần khí : Là một từ ngữ mang nhiều ý nghĩa như sau : Một là gió : Có đặc tính vô hình (x Ga 3,8). Gió có khi trở thành bão để Đức Chúa trút cơn lôi đình hủy diệt những kẻ gian ác (x. Ed 13,13). Hai là hơi thở : Tuy yếu ớt, nhưng lại là sức mạnh nâng đỡ và là điều kiện giúp thân xác sống động. Con người sẽ chết khi không còn hơi thở do Thiên Chúa phú ban (x. St 2,7; 6,3). Ba là linh hồn : Bao lâu Thần khí còn ở với con người, nó biến xác thịt bất động thành sống động, Thần Khí ấy gọi là linh hồn (x. St 2,7). Chết là khi con người trút hơi thở trả linh hồn về cho Thiên Chúa (x. Tv 31,6 ; Lc 23,46). Bốn là một đặc tình của Thiên Chúa : “Thiên Chúa là Thần Khí” (Ga 4,24) nên người ta phải thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật (x. Ga 4,24). + Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì ! : Việc tạo dựng con người đã được sách Sáng Thế thuật lại như sau : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Như vậy xác thịt chỉ là bụi đất, không thể sống động nếu không được Thiiên Chúa phú ban thần khí gọi là linh hồn. Chính thần khí ấy mới làm cho con người sống động. Khi thân xác ngừng thở là lúc thần khí xuất ra khỏi thân xác, và thân xác ấy trở thành xác chết, nên chẳng còn ích gì ! + Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là Sự Sống : Lời Chúa chính là Thần Khí thiêng liêng, là Lời phát xuất từ Thiên Chúa, nhằm mặc khải các mầu nhiệm và các việc làm của Thiên Chúa cho loài người (x. Xh 20,2), các giới răn và các điều sắp xảy đến (x. St 15,13-16). Lời Chúa sẽ ban Sự Sống đời đời cho con người (x. Ga 6,68), nếu họ biết lắng nghe (x. Mt 13,23), tìm hiểu và xin vâng (x. Lc 1,34.38), tuân giữ (x. Lc 8,15), và nhất là đem ra thực hành (x. Lc 6,47.49). + Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người : Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã có cái nhìn tiên tri và thấy trước sự bất tín của Giu-đa (x. Mt 26,14-16). Tin mừng Gio-an viết như sau : “Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói “Không phải tất cả anh em đều sạch” (Ga 13,11).

    C 65-66 : + Không ai đến với Thầy được nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho : Đức tin là một ơn do Thiên Chúa ban cho loài người, để họ tin Đức Giêsu là “Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (x. Mt 16,16), lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy để được vào Nước Trời và sẽ được sống muôn đời (x Ga 6,44.47). + Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa : Lý do nhiều môn đệ bỏ Đức Giêsu là do họ không tin Người là Đấng Thiên Sai (x. Ga 6,29.40), không tin Người là Bánh Trường Sinh từ trời mà đến (x. Ga 6,32-38), không chấp nhận lời tuyên bố Người sẽ lấy Thịt mình mà cho họ ăn (x. Ga 6,52). + Nhóm Mười Hai : Đức Giêsu đã lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn (x. Mc 3,13) Sau khi cầu nguyện suốt đêm, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ (x. Lc 6,12-13). Nhóm Mười Hai này tượng trưng cho mười hai chi tộc Ít-ra-en Mới là Hội Thánh. Sau này các ông sẽ được ngồi trên mười hai tòa, mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en (x. Mt 19,28). Các ông sẽ được sự sống đời đời (x Mt 19,29), được Người ban “quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1; Lc 9,1), “Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2).

    C 67-69 : + Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ? : Trước mặc khải về bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu đòi Nhóm Mười Hai phải tỏ thái độ dứt khoát : Tin hay không tin, thể hiện qua việc tự do chọn ở lại với Thầy hay bỏ đi. + Ông Si-mon Phê-rô liền đáp : Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời” : Dù chưa hiểu hết ý nghĩa của Lời Chúa, nhưng Si-mon vẫn đại diện Nhóm 12 chọn ở lại làm môn đệ Thầy và khẳng định niềm tin Lời Thầy là sự thật và sẽ mang lại sự sống đời đời cho những ai đón nhận (x. Ga 5,24). + “Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” : Trước đó, Si-mon đã tuyên xưng : “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Ở đây, Si-mon lại công nhận Đức Giêsu là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x Ga 6,69) giống như sứ thần Gap-ri-en khi truyền tin đã cho Đức Ma-ri-a biết về trẻ Giêsu : “Vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ là thánh, sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).

    1. CÂU HỎI : 1) Tại sao dân Do thái và một số khá đông môn đệ đã bỏ không đi theo Đức Giêsu nữa ? 2) Môn đệ là những ai và Đức Giêsu có bao nhiêu môn đệ ? Tông đồ là ai và khác với môn đệ thế nào ? 3) Người Do thái và các môn đệ lấy làm gai chướng không chấp nhận ba điều nào của Đức Giêsu ? 4) Đức Giêsu đưa ra bằng chứng nào cho thấy Người có quyền nói ra những điều mầu nhiệm ấy ? 5) Trong Kinh thánh, thần khí mang bốn ý nghĩa nào ? 6) Đức Giêsu đã nói gì về thần khí và xác thịt nơi mỗi con người ? 7) Tại sao Đức Giêsu lại nói Lời Người chính là Thần khí và là Sự sống ? 8) Đức Giêsu biết rõ ai trong Nhóm Mười Hai là người không tin và sẽ phản nộp Người ? 9) Đức Giêsu chó biết đức Tin phát xuất từ đâu ? Ta phải làm gì để giúp người khác tin vào các mầu nhiệm được mặc khải ? 10) Lý do nào khiến nhiều môn đệ đã bỏ không còn theo Đức Giêsu ? 11) Nhóm 12 Tông đồ do Đức Giêsu tuyển chọn từ Nhóm nào ? Nhóm Tông đồ được Người hứa ban các quyền lợi nào và phải chu toàn sứ mệnh gì ? 12) Si-mon Phê-rô đại diện Nhóm Mười Hai trả lời thế nào khi được Đức Giêsu hòi có muốn bỏ đi hay không ? Ý nghĩa của câu trả lời đó thế nào ? 13) Si-mon đã tuyên xưng Đức Giêsu là ai ?

     II.  SỐNG LỜI CHÚA

    1. LỜI CHÚA : Ông Si-mon Phê-rô liền đáp : “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (x. Ga 6,68) :
    2. CÂU CHUYỆN : CHỌN TIN THEO CHÚA :

    Bài đọc một trong sách Gio-su-ê là một bản tường thuật mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Vào khoảng năm 1200 trước Công Nguyên, Dân Do Thái đã được Mô-sê dẫn đi ngang qua sa mạc trong 40 năm và đã đến được bờ sông Giô-đan, giáp ranh giới xứ Ca-na-an là Miền Đất Thiên Chúa đã hứa ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông đến muôn đời. Sau đó, Mô-sê trao quyền cho Gio-su-ê lãnh đạo dân tiếp tục đánh chiếm Hứa Địa Ca-na-an. Được Đức Chúa hỗ trợ, dân Ít-ra-en đã chiếm được miền đất này. Cuối cùng, Gio-su-ê đã triệu tập các chi tộc Ít-ra-en và các đầu mục trong Đại Hội tại Si-khem. Ông cho dân được tự do chọn lựa : Hoặc là tôn thờ yêu mến Một Đức Chúa duy nhất, hoặc tin theo các tà thần của chư dân. Dân được tự do chấp nhận hay từ chối Lề Luật, được chọn trung thành hay chống lại Giao Ước mà họ đã ký với Đức Chúa tại núi Khô-rép vùng Si-nai… Bấy giờ toàn dân thưa lại rằng : “Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác ! Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-Cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc mà chúng tôi đi ngang qua. Đức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mo-ri” (x Gs 24,14-28).

    1. THẢO LUẬN : 1) Người ta thường bị khủng hoảng đức tin là do những nguyên nhân nào ? 2) Một tín hữu bị khủng hoảng về đức Tin sẽ biểu lộ qua những thái độ và hành vi nào ? 3) Chúng ta phải làm gì để giúp một người đang bị khủng hoảng đức Tin sớm lấy lại đức Tin vào Chúa và Hội Thánh ?
    2. SUY NIỆM :

    1) Tự do chọn “tin hay không tin”:

    Như dân Ít-ra-en xưa, ngày nay mỗi tín hữu chúng ta cũng có quyền tự do chọn tin hay không tin vào Đức Giêsu để đức tin có giá trị giúp đón nhận ơn cứu độ của Chúa. Khi chịu phép Thánh Tẩy, các dự tòng cũng phải công khai chọn thái độ từ bỏ ma quỉ tội lỗi và tuyên xưng đức tin vào các chân lý đức tin như Hội Thánh dạy, trước khi được chủ sự ban bí tích đổ nước trên đầu hoặc dìm mình trong giếng nước rửa tội để được Thánh Thần tái sinh làm con Thiên Chúa.

    Trong đời sống thường ngày, các tín hữu chúng ta cũng cần khẳng định đức tin như dân Ít-ra-en xưa đã khẳng định niềm tin vào Đức Chúa như sau: “Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Đức Chúa, mà tôn thờ các tà thần của dân ngoại”. Sự chọn lựa tin theo Chúa đòi người tín hữu không ngừng hồi tâm sám hối để thanh luyện đức tin của mình.

    2) Cần dứt khóat chọn tin theo Chúa Giêsu:

    Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng đòi Nhóm Mười Hai Tông đồ phải dứt khoát lập trường trước sự thật về bí tích Thánh Thể do Người mặc khải: “Thịt Tôi thật là của ăn và Máu Tôi thật là của uống !”. Trước mầu nhiệm này, nhiều môn đệ đã phản đối và rút lui không còn đi theo Người nữa. Riêng ông Phê-rô khi được hỏi đã đại diện Nhóm Mười Hai để tuyên xưng đức tin: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Qua câu nói này, ông Phêrô đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin dù chưa hiểu rõ nội dung đức tin vào mầu nhiệm bí tích Thánh Thể. Ông chỉ dựa vào thế giá của Thầy để tin lời Thầy dạy về bí tích này cũng như về các chân lý đức tin khác.

    Ngày hôm nay, Chúa Giêsu cũng hỏi mỗi người chúng ta khẳng định lập trường có trung thành tin theo Chúa hay không như vậy. Chúng ta có dám chọn ở lại với Thầy đang khi nhiều bạn bè khác đã bỏ Chúa qua việc bỏ dự lễ Chúa Nhật, hành xử theo ý riêng của mình chứ dựa vào lời Chúa và lề luật Hội Thánh nữa ? Chúng ta có dám trung thành với Chúa và với tuân giữ các chuẩn mực đạo đức đang khi nhiều bạn bè đã chọn lối sống dễ dãi theo tính xác thịt tội lỗi, chọn làm các điều phi pháp để kiếm được tiền bạc bất chính, chọn chối bỏ Chúa trong lý lịch để được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi và để có được địa vị xã hội ? Có lẽ phần đông chúng ta đã chọn thái độ lập lờ im lặng. Phải chăng thái độ đó đồng nghĩa với thái đô của ông Giuđa, đã được Tin Mừng Gioan hôm nay nói thêm: “Quả thật ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người” (Ga 6,64b). Tuy trong thâm tâm Giuđa đã không còn tin vào Thầy và đã rắp tâm phản bội Thầy, nhưng thực tế ông ta vẫn ở lại trong Nhóm Mười Hai để chờ cơ hội thuận tiện sẽ bán nộp Thầy ! (x. Ga 13,21-27; Mt 26,14-16).

    3) Đức tin vào bí tích Thánh Thể dựa trên tin vào Lời Chúa :

    Tông đồ Phê-rô tuyên xưng đức tin không phải do ông đã hiểu được mầu nhiệm bí tích Thánh Thể, nhưng chỉ vì tin “Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Ông tin Thầy là Đấng đã từng nhân bánh ra nhiều cho dân chúng ăn no; Đã từng đi trên mặt biển và chỉ cần phán một lời là dẹp yên sóng gió biển khơi; Đã từng xua trừ ma quỷ ra khỏi nhiều người bị ám; Đã từng đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân và phán một lời là phục sinh kẻ chết… Chính nhờ đức tin vào quyền năng của Thầy Giêsu, mà Phê-rô và Nhóm Mười Hai đã tin cả những điều xem ra khó nghe, khó hiểu và khó chấp nhận về bí tích Thánh Thể:“Ai ăn thịt và uống máu Tôi sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,54a).

    4) Cần làm gì để gia tăng đức tin vào bí tích Thánh Thể? :

    Đây là một mầu nhiệm đức tin, vượt trên sự hiểu biết khả giác của lòai người, nên để tin vào bí tích này, mỗi tín hữu chúng ta cần có ba điều kiện như sau :

    Một là phải thành tâm lắng nghe và suy niệm Lời Chúa như lời thánh Phaolô: “Có đức Tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố Lời Đức Kitô” (Rm 10,17). Do đó, để tin vào mầu nhiệm trong bí tích Thánh Thể, chúng ta cần lắng nghe Lời Chúa khi tham dự thánh lễ hoặc dự các buổi họp nhóm học sống Lời Chúa, rồi còn phải “suy niệm Lời Chúa trong lòng” noi gương Đức Ma-ri-a xưa (x Lc 2,51).

    Hai là phải xác tín vào Lời Chúa Giêsu noi gương ông Phêrô trong Tin mừng hôm nay:“Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những Lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng : Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).

    Ba là phải ý thức đức tin là ơn Chúa ban như lời Đức Giêsu: “Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Ga 6,65). Do đó, để tin vào mầu nhiệm Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể, chúng ta phải năng cầu xin Chúa Giêsu tăng thêm đức tin cho mình, như người cha có đứa con bị quỷ ám đã thưa với Đức Giêsu:“Tôi tin ! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24).

    1. LỜI CẦU :

    LẠY CHÚA GIÊSU. Nhiều lần khi xin các ơn phần xác lâu ngày chưa được nhậm lời, con đã nản lòng thất vọng rồi Chúa, bỏ dự lễ và không còn tin tưởng cầu xin Chúa nữa. Tin mừng hôm nay cho thấy: Chúa đã ngán ngẩm trước thái độ vụ lợi của đám đông dân chúng và các môn đệ. Có lẽ hôm nay Chúa cũng đang ngán ngẩm khi thấy con chỉ lo tìm kiếm lợi lộc tiền bạc phần xác, và dửng dưng những lơị ích thiêng liêng phần hồn. Xin giúp con “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

    Lạy Chúa. Mỗi lần tham dự thánh lễ hay chầu Thánh Thể, xin cho con luôn xác tín vào Lời Chúa để tin vững vàng Chúa đang hiến thân dưới hình bánh rượu trên bàn thờ, dù các giác quan của con không cảm nhận được. Nhờ tin vào Lời Chúa mà con sẽ siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ sốt sắng, để có sự sống thần linh của Chúa, là bảo đảm cho cuộc sống vĩnh hằng đời sau, như lời Chúa hứa trong Tin Mừng hôm nay: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống, để ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời…. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,51.54).

    X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

    Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

    Về mục lục