Thẻ: Luân lý

  • Sự thật về Tình Yêu Thương

    Sự thật về Tình Yêu Thương

    tyMột vị giảng phòng cho Đức Giáo Hoàng (papal preacher) nói: “Tình yêu con người và tình yêu Thiên Chúa luôn song hành, và phân tách hai tình yêu ấy dẫn đến những vấn đề tạo ra sự xa cách cả bên trong và bên ngoài giáo hội”.

    Lm Raniero Cantalamessa, dòng Phanxicô (Capuchin), nói rằng người ta tin sai lầm đến nỗi mà tình yêu người ta dành cho nhau và dành cho Thiên Chúa không tương xứng với tình yêu vô điều kiện Thiên Chúa trao ban cho con người như thế đã góp phần tục hóa Tây phương và cả sự lệch lạc trong những người được thánh hiến (consecrated people).

    Hai cách diễn tả tình yêu có thể được hòa giải bằng cách đặt tình yêu của Chúa Giêsu Kitô trước mọi thứ, Lm Cantalamessa nói trong lần suy niệm đầu tiên trong mùa Chay 2011 đã bày tỏ với ĐGH và các viên chức Tòa thánh.

    Lm Cantalamessa, người giảng phòng cho ĐGH, đã được mời giảng và suy niệm trong những dịp đặc biệt – kể cả mùa Chay. ĐGH Biển Đức XVI đã cùng với một số tiến sĩ quan trọng của giáo hội giải thích tính đồng nhất của “hai gương mặt tình yêu: eros agape”. Lm Cantalamessa đã nói về thông tri Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình yêu) năm 2006 của ĐGH để giải thích tầm quan trọng của việc kết hợp các khái niệm được tiếng Hy Lạp xác định là eros, tình yêu giữa người nam và người nữ có thể nâng cao tình yêu lên Thiên Chúa, và từ agape, tình yêu quên mình được diễn tả rõ ràng nhất bằng sự hạ mình xuống làm người nơi Đức Kitô.

    Lm Cantalamessa nói: “Sự tục hóa và nhần mạnh vào eros đã tách tình yêu nhân loại ra khỏi tình yêu Thiên Chúa trong mọi hình dạng, làm giảm tình yêu đó thành hoàn toàn ‘trần tục’, mà Thiên Chúa lại ‘yêu quá nhiều’ và thậm chí phiền toái”. Mặt khác, Tình yêu Thiên Chúa được phân biệt bởi “agape mà không eros” là phổ biến đối với một số người sống đời thánh hiến chỉ là “tình yêu lạnh nhạt” (cold love).

    Lm Cantalamessa nói thêm: “Nếu tình yêu nhân loại dẫn đến các mối quan hệ và tình yêu xúc cảm đối với Thiên Chúa bị từ chối hoặc bị ngăn chặn thì hệ quả chỉ là để con người thực hiện với sự mệt mỏi vì trách nhiệm, hoặc để tìm kiếm sự đền bù có thể không phù hợp, kể cả những giai đoạn đau khổ nhất mà chúng ta đã thấy, một sự ám chỉ việc lạm dụng tình dục các em nhỏ (minors) của các người trong giáo hội (Church figures)”.

    Nguồn gốc của các động thái “lệch lạc luân lý” (moral deviations) của một số người được thánh hiến là “khái niệm méo mó về tình yêu” (distorted and contorted concept of love). “Nếu tình yêu trần tục giống như cơ thể không có linh hồn, kiểu sống tu này như linh hồn không có cơ thể”, Lm Cantalamessa nói.

    Ngài chỉ ra rằng, trong thông tri của ĐGH Biển Đức XVI đã nói eros agape là “tình yêu hướng thượng và khiêm hạ” có thể “hoàn toàn không bao giờ tách rời nhau” và “chúng được kết hợp bằng nguồn tình yêu là Thiên Chúa”.

    Việc chấp nhận tình yêu nhân loại và luyến ái được ĐGH giải thích có lợi cho những người đang yêu, kể cả các Kitô hữu trẻ đã kết hôn, bằng cách “cho thấy vẻ đẹp và sự xứng đáng của tình yêu kết hiệp”. Sứ điệp của ĐGH là “niềm hy vọng cho thế giới”.

    TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ National Catholic Register)

     

  • Con người và Luân lý – Sự thật giải thoát chúng ta

    Con người và Luân lý – Sự thật giải thoát chúng ta

    connguoi-luanlyTheo bản tính con người biết rằng có quy luật nào đó mà con người phải sống theo. Con người cũng biết rằng con người muốn sống hạnh phúc vượt ra ngoài bóng tối của sự nghi ngờ. Khi con người sa ngã, chúng ta thường cảm thấy sự căng thẳng giữa luật tự nhiên và và nhu cầu nội tâm về sự hạnh phúc.

    Trong thế giới ngày nay, có nhiều lý thuyết luân lý cố gắng trình bày vấn đề này bằng cách tách rời sự tự do với sự thật, tách rời các hành vi thật của con người với tình trạng luân lý, hoặc thậm chí bằng cách biện hộ cái ác thuộc bản chất vì “lương tâm” của mình bỏ qua điều đó, hoặc vì điều đó “phù hợp” với văn hóa phát triển của mình.

    Các vấn đề này cho thấy hai phương diện rất thú vị và căn nguyên trong tính cách của con người: (1) con người không ngơi nghỉ, luôn lo lắng tìm câu trả lời tiếng gọi đó, mời chào họ, dù họ có nhận biết hành động sáng tạo của Thiên Chúa trong cuộc đời họ hay không; và (2) con người cũng cần nhận biết (ít nhất là mặc nhiên) rằng họ cũng biết cần thiết hoàn tất luật tự nhiên để biện minh cho vị trí của mình, chứng tỏ rõ ràng rằng mỗi con người đều biết trong sâu thẳm lòng mình về nhu cầu sống luân lý tốt, đó là vấn đề chính của bản chất con người.

    Nhưng để đánh giá việc sống theo luật tự nhiên có nằm trong sự tự do của con người hay không, trước tiên chúng ta phải cân nhắc: tự do của con người để làm gì, và làm sao lương tâm của con người tác dụng để xác định điều gì họ sẽ tự do chọn lựa? Sự thật về luân lý chỉ tương đối hay là lương tâm là một thẩm phán đối với tiêu chuẩn vũ trụ? Nếu Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, chắc chắn luật tự nhiên được viết trong tâm hồn họ để chỉ cho chúng ta biết thực tế cơ bản: con người được tạo dựng để hưởng hạnh phúc, điều này có thể đạt được nếu con người sử dụng sự tự do của mình để sống theo sự thật.

    Trong thế giới ngày nay, có nhiều lý thuyết thần học phân biệt hành động của con người với tình trạng luân lý, “tách rời tự do của con người với mối quan hệ thiết yếu và cấu thành đối với sự thật”.

    Thánh GH Gioan Phaolô II viết: “Thật vậy, có điều gì đó nghiêm trọng đã xảy ra: con người không còn tin rằng chỉ trong sự thật thì con người mới có thể tìm được Ơn Cứu Độ. Sức mạnh cứu độ của sự thật được tranh luận, và sự tự do bị bật gốc khỏi tính khách quan và bị bỏ mặc để nó tự quyết định điều gì tốt hay xấu”.

    Loại tâm tính này trái ngược với con người, vì Thiên Chúa đã tạo dựng họ theo tình yêu hoàn hảo và đúng trật tự. Ngài là Sự Thật, Ngài muốn chúng ta hạnh phúc, con người được tạo nên để sống hạnh phúc nếu sống trong sự viên mãn theo mục đích của Ngài, chọn cách hành động theo trật tự đúng của luật tự nhiên. Rõ ràng các hành động nào đó không góp phần bù đắp vào luân lý của con người vì chúng là “tiền luân lý” (pre-moral) và không hợp với các giáo huấn của Đức Kitô hoặc Giáo Hội: “Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người. Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa. Ai nói rằng mình ở lại trong Người, thì phải đi trên con đường Đức Giêsu đã đi” (1 Ga 2:3-6). Cả linh hồn và thể lý, con người phải sống những gì mình tin, chứ không chỉ biết điều đó. Thật vậy, thân xác và linh hồn không thể tách rời: trong con người, trong ý muốn và trong hành động thận trọng, chúng cùng đứng hoặc cũng ngã.

    Điều này rất phù hợp khi cân nhắc rằng có những hành động theo bản chất là trái ngược với con người, do đó nó là xấu về bản chất. Chẳng hạn, chỉ có Thiên Chúa làm chủ sự sống, và chỉ một mình Ngài được tôn thờ. Các Kitô hữu thời kỳ đầu biết rằng việc cúng tế tà thần là xấu về bản chất, và cũng có nhiều người từ chối nên họ chịu tử vì đạo. Họ từ chối giả vờ thờ cúng như vậy, nêu gương về bổn phận kiềm chế thể hiện hành động đối lập với Thiên Chúa và đức tin. Sự nhận thức về sự thật luân lý khách quan này, theo luật tự nhiên được viết trong tâm hồn mỗi người, là điều cốt lõi về cách con người sinh hoa kết quả bằng cách chọn điều tốt, do đó mà đạt được hạnh phúc tối hậu.

    Những người từ chối nhận biết nhu cầu cơ bản về luân lý khách quan này và không dám từ bỏ mình, lúc đó họ trở nên chủ nhân của luân lý và sự thật của mình. Cách suy nghĩ phổ biến như vậy dẫn tới từ chối, đối lập với Kinh Thánh và các giáo huấn của Giáo Hội. Con người không thể là thần linh của mình, vì con người chỉ là thụ tạo, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa.

    Thánh Phaolô nói: “Quả thật, trong Đức Kitô Giêsu, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5:6).

    Đức tin đích thực của Kitô giáo “không chỉ là một số lời đề nghị chấp nhận với sự tán thành của lý trí” mà là “cách nhận biết Đức Kitô sống động, ghi nhớ các giới răn của Ngài, và sống sự thật”. Mối quan hệ mạnh mẽ này với Chúa Giêsu là cốt lõi luân lý đối với con người. Đức tin không linh hồn đơn độc xa lạ với các hành động của cơ thể: “Đức tin là một quyết định liên quan sự hiện hữu của con người. Đó là một cuộc gặp gỡ, một cuộc đồi thoại, một cuộc giao tiếp của tình yêu và sự sống giữa người tin (tín hữu) và Đức Giêsu Kitô, Đấng là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (x. Ga 14:6).

    Trong Đức Kitô, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, có sức mạnh để quyết định chọn điều tốt để phục hồi chúng ta. Bằng cách nhận thức sự thật, lương tâm của chúng ta có thể dẫn chúng ta tới hạnh phúc mà chúng ta khao khát đạt được sự viên mãn của con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Lúc đó, chúng ta có thể thực sự hành động với sự tự do, theo ý Chúa, để bạn sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ làm cho bạn tự do.

    TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

  • ”Ý nghĩa, ngữ nguyên” của chữ ”lương tâm: conscience”

    Gabriel Marcel là cha đẻ của ”chủ nghĩa hiện sinh” (existentialisme) vào năm 1940. Chủ nghĩa ấy được Jean Paul Sartre ”đề cao” vào ngày 29.11.1945 tại Paris, rồi ông ta cho xuất bản nó với tựa đề: ”L’existentialisme est un humanisme. Existentialism is a humanism.” (Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo.) Chủ nghĩa ấy, ”chủ nghĩa duy vật, vô thần”, nhất là ”chủ nghĩa tự do” (libéralisme) ”tôn thờ” tư tưởng CÁ NHÂN, muốn HẠN CHẾ ”thẩm quyền” của Tôn Giáo. Và, giờ đây, còn khủng khiếp hơn là ”giáo phái” nhân Danh Thiên Chúa, CHÀ ĐẠP LƯƠNG TRI THẾ GIỚI, chặt đầu người lớn và em bé ngây thơ, mà chẳng gớm tay VÌ họ tự cho mình là ”chiến binh” của Thượng Đế, là Lương Tâm của Nhân Loại nên phải tiêu diệt những ai không theo họ.

    Chính vì những lý do đã nêu, tôi ”trích” định nghĩa của ”Từ Điển, Triết Học, Đạo Cao Đài, Danh Nhân, Sách Giáo Lý Công Giáo và Kinh Thánh” về CONSCIENCE (Lương Tâm), xin nêu do đâu mà con người có Lương Tâm và, sau cùng, trình bày về ”ý nghĩa, ngữ nguyên” của chữ ấy.

    I- Theo Từ Điển Tiếng Việt (Viện Ngôn Ngữ Học, do Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 1997)

    Từ điển ấy ghi: ”Lương tâm là YẾU TỐ NỘI TÂM CHO MỖI người khả năng tự đánh giá hành vi của mình về mặt ĐẠO ĐỨC và do đó tự ĐIỀU CHỈNH mọi hành vi của mình.”

    II- Từ Điển Hán-Việt

    Trong Từ Điển ấy, tác giả Nguyễn Quốc Hùng định nghĩa Lương Tâm như sau: ”Cái lòng tốt sẵn có mà TRỜI PHÚ cho mỗi người.”

    III. Theo Triết Học

    Đạo Cao Đài cho rằng, theo triết học, lương tâm là năng lực CÁ NHÂN tự giám sát mình về mặt ĐẠO ĐỨC, ”TỰ đề ra” cho mình những yêu cầu về đạo đức, đòi hỏi mình phải hoàn thành những nhu cầu ấy và tự ĐÁNH GIÁ hành động của mình.

    IV- Theo Đạo Cao Đài

    Tuy nhiên, Đạo ấy cho rằng Tôn giáo định nghĩa Lương tâm là cái tâm tốt đẹp SẴN có của con người DO TRỜI BAN để khuyên bảo con người phải ăn ở hiền lành, hành động cho công bằng và hợp đạo lý.

    V- Theo Danh Nhân

    Xin nêu hai vị:

    A- Victor Hugo: ”Lương Tâm là Thiên Chúa ở TRONG con người.”

    B- Jean Jacques Rousseau: ”Lương Tâm là tiếng nói của linh hồn. Dục vọng là tiếng nói của cơ thể.”

    VI- Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo

    Ở Mục 6, từ số 1776-1802, Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo nêu lên ý nghĩa và nguồn gốc của LƯƠNG TÂM. Vì mục ấy khá dài, tôi xin trích những ý nổi bật như sau:

    ”Nơi đáy Lương Tâm của mình, con người khám phá được LUẬT mà họ KHÔNG TỰ BAN cho mình, nhưng mà họ PHẢI VÂNG PHỤC và TIẾNG của LƯƠNG TÂM luôn KÊU MỜI họ yêu và làm ĐIỀU THIỆN, tránh ĐIỀU ÁC… Vì con người có LUẬT mà Thiên Chúa đã KHẮC GHI vào tâm hồn họ… Lương tâm là trung tâm MẬT THIẾT NHẤT và KÍN ĐÁO NHẤT của con người, là CUNG ĐIỆN để con người Ở một mình VỚI Thiên Chúa và để TIẾNG NÓI của NGÀI được họ ĐÓN NGHE. Trong lòng con người, Lương Tâm HÀNH ĐỘNG (x. Rm 2, 14-16) RA LỆNH đúng lúc cho con người làm LÀNH, bỏ DỮ. Lương Tâm cũng PHÁN ĐOÁN các quyết định cụ thể, TÁN THÀNH quyết định TỐT, PHẢN ĐỐI quyết định XẤU (x. Rm 1, 32). Lương tâm chứng thực UY QUYỀN của CHÂN LÝ, VÌ ĐIỀU THIỆN TỐI THƯỢNG, VÌ THIÊN CHÚA LÔI KÉO HỌ NÊN HỌ TIẾP NHẬN GIỚI RĂN CỦA NGÀI. Khi LẮNG NGHE LƯƠNG TÂM thì người khôn ngoan có thể NGHE được Thiên Chúa đang nói.” (Người viết tạm dịch theo bản tiếng Đức CỦA Nguyên Giáo Hoàng .)

    VII- Theo KINH THÁNH

    A- Cựu Ước

    Sau khi Adam và Eva ”muốn được bằng Thiên Chúa”, LƯƠNG TÂM cho họ NHẬN BIẾT SỰ TỘI nên họ lấy lá vả che thân vì XẤU HỔ trước Thánh Nhan Ngài. (Sáng Thế Ký 3,8)

    B- Tân Ước

    Thư của Thánh Phaolô gởi tín hữu Roma: ”Dân ngoại không có Luật; nhưng, mỗi khi theo lẽ TỰ NHIÊN mà họ làm những gì Luật DẠY thì họ LÀ Luật cho chính mình, mặc dầu họ không có Luật. Họ cho thấy RẰNG điều gì Luật đòi hỏi THÌ đã được GHI KHẮC trong lòng họ. LƯƠNG TÂM họ cũng LÀM CHỨNG điều ĐÓ vì TÂM TƯ của họ tự CÁO GIÁC MÌNH hay BIỆN HỘ cho mình.” (Roma 2,14-15)

    VIII- LẼ ”TỰ NHIÊN” (mà Thánh Phaolô vừa nêu) là DO ĐÂU?

    Sáng Thế Ký 1,26 ghi: “Chúng ta hãy làm ra con người THEO Hình Ảnh chúng ta, giống như chúng ta để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” Do đó, Sáng Thế Ký 2,7 mới kể việc Thiên Chúa DỰNG NÊN con người như sau: ”Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi SINH KHÍ vào lỗ mũi nó, và con người trở thành sinh linh.”

    Đại từ ”chúng ta” là MỘT Thiên Chúa có BA Ngôi. Chính Ngài đã BAN cho con người HÌNH ẢNH của NGÀI! Như vậy, Thiên Chúa là TÁC GIẢ của LƯƠNG TÂM! Cho nên LƯƠNG TÂM cũng là BẨM SINH (inné; innate) nơi con người, tức là NÓ được Thiên Chúa GHI TẠC (inscrit; gravé; implanted) vào LINH HỒN của con người để HỌ giống Thiên Chúa: God-like! Chứ Lương Tâm KHÔNG do con người ”tự đề ra” như triết học giải thích. Cũng đáng tiếc là có Kitô hữu cho rằng Lương Tâm KHÔNG phải là tiếng Chúa! VÌ VẬY, tôi xin dẫn chứng THÁNH THƯ dạy như sau:

    A- Roma 9,1: ”Có (Chúa) Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối và LƯƠNG TÂM tôi, ĐƯỢC THÁNH THẦN hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi rằng…”

    B- Côrintô II,1,12: ”Điều khiến chúng tôi tự hào là Lương Tâm chúng tôi làm chứng rằng chúng tôi chiếu theo sự THÁNH THIỆN và CHÂN THÀNH mà Thiên Chúa BAN, để cư xử với người ta ở đời, đặc biệt là với anh em. Chúng tôi KHÔNG cư xử THEO LẼ khôn ngoan CỦA NGƯỜI ĐỜI, nhưng THEO ÂN SỦNG của Thiên Chúa.

    C- Timothê I,1,19: ”Một số người VỨT BỎ TIẾNG NÓI CỦA LƯƠNG TÂM nên ĐỨC TIN của họ bị CHẾT CHÌM.”

    Như vậy, LƯƠNG TÂM (trong Thánh Thư ở phần VIII A) được Thánh Thần (tức Thiên Chúa Ngôi BA) HƯỚNG DẪN, cũng là LƯƠNG TÂM chiếu theo sự THÁNH THIỆN mà Chúa BAN như CHÍNH Ngài phán: “Chúng ta hãy làm ra con người THEO Hình Ảnh chúng ta, GIỐNG chúng ta.” Và, dù có bị VỨT BỎ, Lương Tâm vẫn là TIẾNG CHÚA trong lòng Thọ Tạo MANG HÌNH ẢNH của NGÀI!

    IX- Ngữ nguyên của chữ CONSCIENCE

    Từ CONSCIENCE được dịch từ chữ Dothái (leb) có nghĩa là TÂM (coeur), chữ Hylạp συνειδησισ (suneidèsis) và chữ Latinh CONSCENTIA. Chữ ấy có tiếp đầu ngữ (préfixe) CON: ”với; cum, mit, avec; with” và ngữ căn (radical) SCIENCE (sự hiểu biết) là ”danh từ” của ”động từ” latinh SCIRE: biết. Như vậy, ”to have a CONSCIENCE” có nghĩa là CÓ SỰ HIỂU BIẾT, SỰ Ý THỨC CHUNG,CÙNG, VỚI NGƯỜI KHÁC: to possess knowledge in common or together with another! Các khái niệm ”CHUNG, CÙNG, VỚI NGƯỜI KHÁC” là phải NHƯ mọi người ĐỀU mang Hình Ảnh Thiên Chúa, tức CÓ LƯƠNG TÂM do Ngài BAN và GHI TẠC vào trong LINH HỒN, nhất là CÙNG VỚI THIÊN CHÚA bởi vì, như đã nêu trong phần VI, Lương Tâm là CUNG ĐIỆN để con người Ở một mình VỚI Thiên Chúa và để TIẾNG NÓI của NGÀI được họ ĐÓN NGHE.

    X- Lời kết

    Xin trích dẫn Cựu Ước có Cách Ngôn 28,1: ”Ác nhân CHẠY TRỐN dù KHÔNG ai đuổi bắt nó.” Ngược lại, sau khi ăn thịt người, con cọp vẫn nằm ngủ yên! Như vậy, ”con-người-mang-Hình-Ảnh-Thiên-Chúa” KHÁC với súc vật vì họ được Ngài BAN CHO BỬU BỐI LÀ LƯƠNG TÂM!

    Pierre Filion nói: ”Lương Tâm là sự sống. Thất Lương Tâm là sự chết.” Một số thiên thần đã VỨT BỎ LƯƠNG TÂM nên trở thành Satan là Hoàng Tử của Sự Chết và Bóng Tối!

    Emmanuel Kant phát biểu: ”Tôn giáo mà KHÔNG có Lương Tâm thì chỉ là tín ngưỡng mê tín.” Chính Thánh Giacôbê từng dạy: ”Đức tin không có hành động là đức tin chết.” (Hành động đúng với Lương Tâm mà Chúa ghi tạc vào lòng người!)

    Rabelais cảnh cáo: ”Khoa học mà không có Lương Tâm thì chỉ là cảnh tan hoang của tâm hồn.”

    Albert Einstein khuyên đời: ”Đừng bao giờ làm điều gì trái với Lương Tâm ngay cả khi nhà nước yêu cầu bạn.”

    Chúng ta, không trừ ai, sẽ RA TRÌNH DIỆN Chúa Cứu Thế trong ngày Ngài trở lại để PHÁN XÉT LƯƠNG TÂM người sống và người chết (iudicare vivos et mortuos: pour juger les vivants et les morts) như trong Kinh Credo (Tin Kính) và như trong Matthêô 25, 31-46 về Ngày Cánh Chung.

    Đức Quốc, 11.9.2014

    Đaminh Phan văn Phước

    .

    Xin mời quý vị nghe Credo III:

    Credo en Latin con Benedicto 16.mp4 (Chữ ”iudicare” do ai sơ ý viết thành ”indicare”.)

    Credo III (De Angelis) (Có nốt nhạc và cách viết ”judicare” thay vì ”iudicare” theo mẫu tự latinh.)

    Credo Latin with English Translation

    Credo III – ICEL Chant – New English Translation of the Roman Missal (Hát bằng tiếng Anh.)

  • Khiết tịnh là sự điều hòa tính dục cách lành mạnh

    Khiết tịnh là sự điều hòa tính dục cách lành mạnh

    Có lẽ hơi lạ khi đang suy tư dựa vào những nghiên cứu khoa học của con người hiện nay mà lại dùng một hạn từ có vẻ đã lỗi thời rồi, như chữ “khiết tịnh”, và lại dành cho nó một chỗ lớn nữa. Theo dư luận thông thường, khiết tịnh không phải là thái độ dành riêng cho các linh mục và nam nữ tu sĩ hay sao? Tôi xin chứng minh đó là một ý kiến hoàn toàn sai. Ngoài ra, tôi cũng muốn cho thấy rằng đứng trên quan điểm của khoa nhân học hiện nay, có lẽ không có từ ngữ nào thích đáng hơn là “khiết tịnh”, để nói về việc điều hoà tính dục cách lành mạnh. Tuy nhiên, trước khi làm hai việc này, ta cần định nghĩa lại hai từ thường bị đại chúng hiểu sai.


    * HAI ĐỊNH NGHĨA


    – Tiết dục. 
    Chữ này xuất phát từ chữ  La-tinh: “continere”, nghĩa là cầm giữ. Đó là tình trạng của một người cầm giữ các xung lực tính dục của mình. Nếu vậy, người tiết dục là người tránh mọi khoái cảm sinh dục cố tình tạo ra, nghĩa là người ấy sẽ không thủ dâm hay không tiến sang hành vi tính dục nào với người khác. Nên nhớ khiết tịnh không phải chỉ là tiết dục. Quả thế, có thể có những trường hợp một người tiết dục nhưng không khiết tịnh, như sau này tôi sẽ cho thấy. Thứ đến, khiết tịnh không phải là điều dành riêng cho người độc thân. Mọi người, dù đã kết hôn hay không, dù quân bình hay không, đều phải nhắm tới đức khiết tịnh, nếu đứng về phía đạo đức học để xét.


    – Khiết tịnh. 
    Chữ này ám chỉ thái độ nội tâm của một người, thúc đẩy người ấy điều hoà tính dục của mình một cách có sức khai phóng (cho mình và cho người khác). Nếu hiểu đúng, nói khiết tịnh không phải là nói tới một người có ý muốn vượt qua hay tệ hơn, phủ nhận tính dục, nhưng là muốn điều hoà cái tổ chức của các xung lực dục tính cục bộ mà ai cũng có (10). Vì thế, sống khiết tịnh không phải là tìm cách tránh tính dục, mà là tìm cách đảm nhận lấy tính dục, cho dù đang sống trong bậc sống nào và đã đạt được sự quân bình nhân bản đến mức nào rồi. Ngoài ra, mục tiêu: mà việc điều hoà tính dục nhắm tới là một mục tiêu hết sức tích cực: để được tự do nhiều hơn. Như vậy, cố gắng trở nên khiết tịnh là cố gắng sử dụng tính dục thế nào để trở nên đàn ông hơn hay đàn bà hơn; tắt một lời, là để gia tăng khả năng quan hệ của chúng ta.


    * KHIẾT TỊNH LÀ NGƯỢC LẠI VỚI QUAN HỆ KHÔNG BIẾT PHÂN BIỆT

    Nghe những định nghĩa trên đây, một số người hẳn sẽ phản đối: “Rõ ràng là quí vị muốn tránh những sự mơ hồ lẫn lộn, quí vị đã đưa ra một hình ảnh tích cực về sự khiết tịnh, nhưng đó vẫn chỉ là những điều trừu tượng. Vì rốt cuộc, một cách cụ thể, thế nào là tính dục đã được điều hoà với sức khai phóng? Đâu là tiêu chuẩn cho biết tính dục nay đang được nhân bản hoá, tính dục kia chưa được nhân bản hoá?”.

    Hơn nữa, để cho lời ta nói khỏi rỗng tuếch, cần phải xác định thêm khiết tịnh hệ tại điều gì. Tôi sẽ quay về với nguồn gốc của từ ngữ, vì thật lạ lùng, từ nguyên của chữ “khiết tịnh” chứa đựng rất nhiều sự thật của con người. Chữ “chaste” (khiết tịnh) bắt nguồn từ chữ la-tinh “castus”. Thế mà phản nghĩa của “castus” là “incastus”, được dịch sang tiếng Pháp là “incestueux”. Nói cách khác, nếu dựa vào từ nguyên, một người khiết tịnh là người không loạn luân.

    Nhận xét dựa vào từ nguyên trên đây sẽ không lý thú gì nếu ta chỉ hiểu chữ “inceste” theo nghĩa hạn hẹp trong ngôn ngữ thường dùng, tức có quan hệ với người bà con gần của mình (“loạn luân”). Đang khi đó, từ nguyên của chữ “khiết tịnh” sẽ rất có ý nghĩa nếu hiểu chữ “incestueux” một cách rộng rãi hơn. Trong bài này, tôi sẽ gọi “incestueux” là bất cứ hành vi nào tìm cách kéo dài hay diễn lại tình trạng bất phân định đã xảy ra ở đầu đời chúng ta, giữa lúc ta còn trong bụng mẹ và khi đã trở thành trẻ nhỏ. Nếu vậy, khiết tịnh là cố gắng đưa mình ra khỏi tình trạng bất phân định (“incestueux”) là tình trạng của mọi người khi mới bắt đầu hiện hữu.


    * TỪ PHA TRỘN TIẾN TỚI CHỖ THÀNH NGƯỜI

    Để hiểu rõ hơn, ta hãy nhờ tới một lược đồ tuy đơn giản hoá nhưng rất sáng sủa. Đối với đứa trẻ, sống cho ra người, có được sự tự lập là dần dần phân biệt mình với cái thế giới pha trộn giữa mình và nguồn gốc sinh ra mình. Đó là chấp nhận mất vĩnh viễn “đối tượng” của mình, tức là nguồn gốc của mình.

    Vì thế, cần phải có một sức mạnh nào đó đến cắt đứt, đến “cắt cụt” cái thế giới pha trộn ấy để đứa trẻ không còn ước ao tự đồng hoá mình với nguồn gốc và hướng tới các “đối tượng” khác. Khi nói “đối tượng”, tôi không muốn ám chỉ một đồ dùng vật chất như cái bàn hay một vật nào đó, mà là tất cả những gì nằm bên ngoài con người của đứa trẻ. Sức mạnh sẽ cắt đứt đứa trẻ với thế giới bất định, giúp nó có điều kiện khám phá rakhông gian bao la, nghĩa là các “đối tượng” khác ở chung quanh nó. Nó sẽ ý thức rằng mọi sự đều không phải là nó, giữa nó với thế giới còn lại có rất nhiều khác biệt. Sức mạnh đoạn giao ấy giúp đứa trẻ khám phá ra thời gian, nghĩa là cho nó thấy cần phải trở thành người và xây dựng nhân cách qua những quan hệ nhân bản vừa chậm chạp vừa rất nhiều.

    Sức mạnh sẽ cắt đứt đứa trẻ khỏi thế giới pha trộn ấy là gì? Ta gọi đó là “luật lệ”, nghĩa là toàn bộ những cơ sở xã hội phải tham chiếu, đã có sẵn khi đứa trẻ ra đời: đó là ngôn ngữ, những lệnh cấm, người cha, tất cả những quan hệ họ hàng, v.v…, nghĩa là tất cả những cơ sở tham chiếu nằm ngoài đứa trẻ và nó buộc phải đi qua đó để từ từ được tự lập, được nói hai chữ “Tôi”. Như vậy, muốn thành người, muốn sống cho ra người, phải luôn luôn biết từ khước: từ khước tình trạng bất phân định, từ khước đồng hoá mình với nguồn gốc sinh ra mình.

    Ta có thể quảng diễn câu Tin mừng: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai dám mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ cứu được nó” như sau: “Ai muốn cứu cuộc sống pha trộn ấy thì sẽ mất cuộc sống làm người. Ai dám mất cuộc sống pha trộn ấy vì lề luật thì sẽ cứu được cuộc sống làm người”.


    * TỪ KHƯỚC MỘT THẾ GIỚI PHA TRỘN

    Để những điều vừa nói trên đây không phải chỉ là lý thuyết, tôi sẽ đưa ra vài thí dụ cho thấy thế nào là sống khiết tịnh: khiết tịnh là từ khước thế giới pha trộn với bốn đặc điểm chính sau đây:

    – một thế giới không hề có khiếm khuyết, vì thế không hề có thất bại và chết chóc;
    – một thế giới không có chi khác biệt, nên cũng không phân định không gian và thời gian;
    – một thế giới toàn năng: mọi sự dường như đều có thể thực hiện; đứa trẻ tưởng tượng rằng mình có thể làm mọi sự vì mình là tất cả đối tượng ham muốn của mẹ mình;
    – một thế giới có sự đồng nhất với nguồn gốc sinh ra mình.


    * Từ khước một thế giới không hề có khuyết khuyết…

    Nghĩa là chấp nhận thất bại và chết chóc trong cuộc sống. Đây không phải là điều dễ! Phải biết nhìn nhận mình rất bị giới hạn về khả năng biến cải bản thân mình, khả năng xây dựng hay phá hoại thế giới. Chẳng hạn, nếu đang thi hành công tác giáo dục thì đó là nhìn nhận mình không thể toàn năng đối với những người thụ huấn của mình. Đối với các Kitô hữu, đó cũng là nhìn nhận tội mình, nhìn nhận trong khiêm tốn chứ không phải trong nhục nhã. Quả thế, có nhiều cách nhìn nhận mình là tội nhân nhưng không thanh khiết, khiến ta cảm thấy nhục nhã, như “bị đè bẹp” trước mặt Chúa, làm ta phải bực bội với chính mình. Thế mà, bực bội như vậy là một cách chứng tỏ mình không chịu đựng được những khiếm khuyết của mình và muốn huỷ mình đi để được quyền năng như Chúa. Giữa khiết tịnh và khiêm nhượng quả là có một sự liên hệ rất sâu xa. Sau cùng, khiết tịnh sẽ giúp ta gạt bỏ chủ trương tinh ròng cực đoan trong đời sống tu đức. Những chủ trương tinh ròng cực đoan, chủ trương cầu toàn thái quá đều xuất phát từ thế giới nguyên thuỷ mà ta cần phải giã từ.


    * Từ khước một thế giới không có sự phân biệt…

    Sau đây là hai trong nhiều thí dụ minh hoạ điều này:

    – Sống khiết tịnh trong cộng đoàn nghĩa là gì? Có nghĩa là chống lại cái “huyền thoại” đòi mọi người trở nên trong suốt hoàn toàn đối với nhau,  như ta thường thấy các nhà tu đức giả hiệu đề cao…Phải nói  với nhau tất cả, phải trở nên trong suốt hoàn toàn đối với nhau. Thế mà đây cũng là nguyên nhân đưa tới lo âu và bạo loạn; đây là một thái độ có dính dáng với cái thế giới pha trộn mà ta phải giã từ…

    – Sống khiết tịnh là từ khước chinh phục tất cả mọi sự và chinh phục ngay tức thời. Đòi có ngay mọi sự là đã khước từ những khác biệt trong thời gian. Muốn xây dựng cuộc sống và cuộc sống tâm linh thì phải mất nhiều thời gian. Vì thế, nóng nảy thiếu nhẫn nại là đi ngược với khiết tịnh. Thánh Phanxicô Salêsiô đã từng nói như thế: “Anh em đừng nổi nóng, cũng đừng nổi nóng khi thấy mình không thể sống kiên nhẫn”.

    Như thế, khiết tịnh là “làm cho khác đi” (một từ được tạo ra từ chữ La-tinh “alter”, nghĩa là “khác” ) : làm cho người khác càng khác hơn và làm cho tôi càng tôi hơn. Thay vì thay đổi người khác, vùi dập người khác, đức khiết tịnh sẽ “làm cho họ thêm khác”, sẽ thăng tiến người khác.


    * Từ khước một thế giới toàn năng…

    Vì từ khước mọi cám dỗ trở thành toàn năng, người khiết tịnh sẽ hoài nghi mọi thứ tu đức đòi làm chủ bản thân mình cách tuyệt đối. Một số nhà khổ hạnh tên tuổi cuối cùng đã bị đánh giá là “đòi bất phân định” : họ không chịu cho một sự gì thoát khỏi tay họ.

    Cũng thế, khiết tịnh sẽ đưa ta tới chỗ vẫn có liên quan với những rối loạn và khoái cảmđúng mức của chúng. Một cuộc sống đòi loại trừ hết mọi rối loạn hay mọi khoái cảm cuối cùng sẽ chỉ là một cuộc sống không khiết tịnh về mặt tâm lý, vì sống như thế là đòi chối bỏ mọi sự lệ thuộc nhau. Tôi xin giải thích thêm: Khi bị bối rối bởi ai hay bởi việc gì, khi cảm thấy khoái lạc, dù thuộc trật tự nào, là tôi không còn có thể tự cho là độc lập với mọi sự: sự bối rối hay khoái lạc này là do một hình ảnh, một âm thanh, một phân tử hương thơm, hoặc do đường cong của một thân thể, hoặc do một đồ uống nào đó, v.v… Sự bối rối và khoái lạc có thể dạy cho tôi biết tôi không phải là kẻ toàn năng vì còn quá lệ thuộc vào các thực tại của thế giới này, kể cả những thực tại vô hồn.

    Như thế, thật là kỳ cục, sự tiết dục – nghĩa là việc kiêng tránh các khoái lạc sinh dục –đôi khi có thể là triệu chứng của tình trạng không chịu sống khiết tịnh thật sự, cũng như việc không tiết dục cũng có thể là triệu chứng của tình trạng ấy… Nếu vậy, người ta chưa hẳn đã khiết tịnh khi sống tiết dục.


    * Từ khước đồng hoá mình với nguồn gốc sinh ra mình…

    Sau đây là ba thí dụ:

    – Không phải là khiết tịnh khi người ta muốn dùng mọi cách và khi người ta có ước muốnđồng hoá mình với Thiên Chúa bằng mọi giá, muốn hoà lẫn với Đấng mà người ta gọi là Tạo hoá của mình. Nói cách khác, mọi nền tu đức ít nhiều dựa vào ma thuật hay đặt quyền năng của Thiên Chúa cho mình trực tiếp sử dụng (như có một số nhóm đoàn sủng bị cám dỗ làm thế) đều không phải là khiết tịnh; hay mọi kiểu tu đức gây cảm tưởng rằng ta có thể gặp Thiên Chúa trực tiếp không cần phải qua những trung gian nhân loại vừa cay chua vừa dài dằng dặc như thông qua các tìm hiểu về chính trị, xã hội, tình cảm… cũng vậy. Tất cả những hình thức tu đức này đều là những loại tu đức “đòi bất phân định”, không sống khiết tịnh vì đã đồng hoá mình với Thiên Chúa.

    – Cũng thế, mọi linh đạo cho người ta cảm tưởng rằng mình có thể đồng hoá trọn vẹn với thân xác có giới tính của mình, tới mức làm chủ nó hoàn toàn và có thể nói “tôi là thân xác của tôi”, đều là không có tính khiết tịnh. Cho dù ta không có thân xác như có một y phục, nhưng phải luôn luôn ý thức rằng thân xác chúng ta đang phần nào thoát khỏi sự làm chủ của “tôi”, thoát khỏi ý muốn của chủ thể.

    – Sau cùng, cũng chẳng khiết tịnh gì khi người ta đòi thi hành tính dục trong bối cảnh “chỉ có…” vì lúc đó ta đang đi tìm một đối tượng sẽ thoả mãn khát vọng của ta một cách no nê. Mỗi khi trong cộng đoàn được dịp nghe ai đó đòi “chỉ thế này thế kia” trong các ý kiến tu đức của mình, thì hãy nhớ đó hầu chắc là những ý kiến theo kiểu “bất phân định”: “Tôi chỉ muốn biết Thiên Chúa”.  “Có Thiên Chúa là đủ cho tôi rồi”. “Chỉ có cầu nguyện là quan trọng”. Tất cả những kiểu nói ấy đều là một cách từ khước không nhìn nhận sự khiếm khuyết, sự thiếu hụt nơi mình.


    * Một công trường bao la, một công việc không bao giờ hoàn thành…

    Bây giờ ta hãy nói một cách tích cực, hãy nhìn từ quan điểm luân lý, khiết tịnh là yêu thương, là sống sự thiếu hụt nơi mình, là biết phân định. Hay để mô tả chi tiết hơn, khiết tịnh là tập sống tính dục của mình sao cho có thể xây dựng được các quan hệ với vũ trụ và với người khác, trong khi vẫn nhìn nhận sự thiếu hụt nơi mình hay những sự dị biệt làm nên mình.

    Quả thật, một người khiết tịnh sẽ tìm cách xây dựng những quan hệ không những với các ngôi vị mà cả với vũ trụ, với bất cứ thực tại nào ở chung quanh mình như mặt trời, bông hoa, cát bụi, biển cả, rượu chè, âm nhạc…

    Nếu thế, đức khiết tịnh có một lãnh vực rất rộng. Nó có liên hệ tới những tương quan của tôi với người thân, với các hoạt động của tôi, với việc cầu nguyện của tôi (có nhiều cách cầu nguyện không thanh sạch), với tất cả những gì ở chung quanh tôi, làm nên tôi như lương thực, giấc ngủ, hương thơm, âm nhạc, quần áo, mặt trời… chứ không phải là sự khiết tịnh có thể chỉ mặt đặt tên hay chỉ là sự tiết dục!

    Sau cùng, nên nhớ khiết tịnh là một công việc phải làm, chứ không phải là một tình trạng. Đó lại là một công việc không bao giờ kết thúc, mà mỗi người sẽ tìm cách thực hiện, bắt đầu từ cơ cấu tổ chức tâm lý – tính dục mỗi người đang đụng chạm tới lúc này, bắt đầu từ chính tình trạng tính dục của người ấy. Vả lại, làm sao có thể khác được? Một số người điều hành công việc ấy bằng cách bắt đầu từ cơ cấu tâm lý – tính dục của chính mình vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống. Chẳng hạn, có người sẽ thực hiện công việc sống “khiết tịnh” từ “cơ cấu” đồng tính luyến ái hay từ những ức chế đang chế ngự họ – những ức chế khác nhau như sợ phụ nữ, sợ đàn ông, v.v…- hoặc từ những chuyển biến như đang tiến tới hành vi thủ dâm một cách mãnh liệt, không dừng được, v.v… Tuy nhiên, dù tình trạng tâm lý – dục tính của mỗi người có thể nào đi chăng nữa, họ cũng phải liệu sao để làm chủ các nét đặc biệt ấy. Làm chủ đôi khi đòi phải vượt qua những nét đặc biệt ấy, nhất là khi thấy có thể làm được và hữu ích. Cũng có khi đương sự phải xây dựng đời sống tính dục của mình, vốn có hai giá trị – vừa tốt vừa xấu – khi thấy không thể nào vượt qua được những nét đặc biệt ấy. Như trường hợp của những người đồng tính luyến ái chẳng hạn.

    Muốn thực hiện công việc điều hoà tính dục như thế, ta phải rất sáng suốt và đôi khi phải rất can đảm nữa. Phải luôn luôn yêu thương và biết khôi hài nhiều hơn.


    * Ý NGHĨA KITÔ GIÁO CỦA SỰ KHIẾT TỊNH

    Một điểm xác tính quan trọng rút ra được từ chính sứ điệp Thánh kinh, đó là không thể gặp Chúa nếu không biết chấp nhận một nhân tính đã bị chi phối bởi giới tính. Hãy tìm những chỉ dẫn cho biết niềm xác tín đó trong 2 trang Thánh kinh cơ bản: Sáng thế 2,25 – 3,13; Philipphê 2,5-11.


    * Ađam và Eva bị cám dỗ

    Thuật trình này cho thấy dưới hình thức huyền thoại thân phận của Ađam và Eva trong vườn địa đàng. Chúng ta thấy họ đang sống sung mãn vì đang khát khao và ước vọng – ước vọng ấy còn mãi nhờ biết tôn trọng những dị biệt và những thiếu hụt của mình:

    – Khác biệt giữa Thiên Chúa và tạo vật;
    – Khác biệt về tính dục, được hai người đảm nhận lấy không chút xấu hổ;
    – Khác biệt giữa các cây “được phép” và cây “bị cấm”.

    Cây mà người đàn ông và người đàn bà không làm chủ được chính là đối tượng họ hằng mơ ước (c.6). Như thế, bản văn đã cho biết đâu là thân phận của những con người thật sống trước mặt Chúa (c.3), đó là vừa ước ao vừa nhìn nhận những khác biệt.

    Cơn cám dỗ đã đến với Eva và Ađam. Con rắn mời hai người thôi khát vọng bằng cách chấm dứt những sự khác biệt. Tên Cám dỗ đã làm cho hai ông bà hoa mắt vì những lời hứa hẹn tưởng tượng: “Nếu ông bà thoả mãn khát vọng của mình bằng cách ăn trái cây bị cấm ấy, ông bà sẽ trở nên giống thần minh”. Nội dung cám dỗ thật rõ ràng: đó là hãy giã từ thân phận con người để tiến tới một thân phận không phải của mình – trở thành “thần minh”. Câu chuyện cho biết: muốn vậy, phải từ chối lệnh cấm, từ chối nuôi ước vọng, từ chối sự khác biệt của Thiên Chúa. Và hậu quả của những sự từ chối ấy là mọi quan hệ đối với các thực tại nhân loại quan trọng đều bị lệch lạc: quan hệ đối với lao động, đối với sự sinh sản, và cả đối với tính dục. Từ nay, Ađam và Eva sẽ cảm thấy không thoải mái đối với tính dục của mình (cc.7-10), vì tính dục nhắc họ nhớ tới sự khác biệt, nhớ tới những gì họ không phải là, mà chỉ giản dị là tạo vật.

    Như thế, muốn đối diện một cách lành mạnh với Thiên Chúa thì phải chấp nhận trọn vẹn làm những thụ tạo thiếu hụt, những thụ tạo đã có giới tính. Đó cũng là dấn thân sâu xa vào thực tại nhân loại, thay vì chạy trốn nó. Điều này còn được nhắc nhở rõ hơn nữa trong thư thánh Phaolô gởi Hội thánh Philipphê (2,5-11).


    * Đức Giêsu, Ađam mới, là Thiên Chúa và là con người trọn vẹn.

    Trong bài thánh thi này, Phaolô đối chọi thái độ của Đức Kitô – Ađam mới – với thái độ của Ađam đầu tiên. Nếu Ađam đầu tiên muốn giành lấy địa vị của Thiên Chúa bằng cách chối bỏ thân phận con người của mình là luôn ao ước, luôn thiếu hụt và sẽ phải chết, thì ngược lại Đức Giêsu đã lặn sâu vào thực tại nhân loại. Thay vì “coi việc ngang hàng với Thiên Chúa là một miếng mồi phải nắm lấy”, Đức Giêsu đã mặc thân phận con người trong mọi sự. Ađam muốn phi nhân bản chính mình; còn Đức Giêsu muốn nhân bản hoá chính mình cách trọn vẹn và nhân bản hoá chính mình bằng tình yêu thương. Bởi chưng, chính vì yêu thương và muốn liên đới với những người đang sống trong tình cảnh thiếu hụt trầm trọng – những người bị khai trừ – mà Đức Giêsu chấp nhận bước lên thập giá. Khi tôn vinh Đức Giêsu, Chúa Cha đã gán tiếp tuyên dương việc Đức Giêsu chia sẻ thân phận loài người cách trọn vẹn. Như thế, mầu nhiệm Vượt Qua – trọng tâm của bản văn này – chính là lời tuyên bố rằng chấp nhận trở thành con người trong sự khiêm tốn (cũng không còn con đường nào khác) là ngả đường phải đi qua để gặp gỡ Thiên Chúa.


    * NHỮNG HỆ LUẬN RÚT RA CHO ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN

    Hai bản văn sau đây cũng cho ta một tiêu chuẩn Thánh kinh để đánh giá đời sống có giới tính của chúng ta và để phê phán ý nghĩa Kitô giáo trong đời sống ấy.

    Trong đời sống của chúng ta, bất cứ điều gì nói lên tham vọng muốn giã từ thân phận con người hiện nay là đã đồng thời khẳng định mình không chấp nhận được sáng tạo, và nếu thế cũng đi ngược với tinh thần Kitô giáo. Và bất cứ điều gì làm cho chúng ta sống trong một thứ cánh chung đã được thực hiện xong xuôi trọn vẹn – đang khi mình còn ở dưới thế này – đều là những dấu hiệu chứng tỏ ta đang có ước muốn được toàn năng như Ađam và Eva ngày xưa. Nếu là người độc thân, ta phải đặt đời sống độc thân của mình bên dưới mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là biết đón nhận lời hứa của Thiên Chúa: Thiên Chúa hứa sẽ nhân bản hoá chúng ta tới cùng, cho giống Đức Kitô, bằng cách phải nhìn nhận cái chết vừa vượt lên trên cái chết. Như thế, độc thân phải là một trong nhiều cách giúp ta khiêm tốn đảm nhận lấy thân phận thụ tạo có giới tính của mình.

    Đảm nhận lấy thân phận ấy là từ bỏ tham vọng đòi quyền năng mạnh mẽ hơn sự thật của mình.

    Nếu tin thật sự vào Đức Giêsu Kitô – là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ – ta sẽ được nâng đỡ rất nhiều trong cuộc tìm kiếm cam go này, được thực hiện dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần tự do.


    (Trích trong tác phẩm Để xây dựng một nền luân lý trong thế giới mới, ch. 1.4)

    Tác giả: Xavier Thévenot 

    Nguồn: UBMVGĐ/HĐGMVN

  • Lương tâm được nhìn dưới góc độ Công Giáo

    Lương tâm được nhìn dưới góc độ Công Giáo

    luong_tamNói một cách tổng quát, các khái niệm triết học bao gồm những ý tưởng trừu tượng thuộc lãnh vực siêu hình, nên thường rất khó lãnh hội. Để có thể tiếp cận được ý nghĩa một ý niệm triết học nào đó, người ta thường phải đi qua chặng đường tìm hiểu nguồn gốc của ngôn từ làm biểu tượng cho ý niệm ấy. Chính ngữ nguyên học (Etymologie) là bảng chỉ đường tương đối rõ ràng và cụ thể trong việc tiếp cận và nắm bắt được các khái niệm triết học phức tạp. Qua các cách sử dụng ngôn từ trong một bản văn, người ta sẽ lần hồi theo các dấu vết ý nghĩa của ý niệm muốn diễn tả được gói ghém trong đó. Chẳng hạn ý niệm “lương tâm“, mà tiếng Latinh gọi là “Conscientia.

    Ý niệm “conscientia” được Notker III(1) dịch theo nghĩa của từ “syneidesis” trong tiếng Hy Lạp, và gồm hai từ “con”, mà nguyên ngữ của nó là “cum” và có nghĩa là “với”, “cùng với”, “cùng nhau” hay “với nhau”; còn từ “scientia” xuất phát từ động từ “scire” và có nghĩa là biết, hiểu hay ý thức. Như vậy, “conscientia” có nghĩa là cùng biết, cùng ý thức, tức một sự hiểu biết hay ý thức toàn diện của chủ thể tri thức: lương tâm.(2)

    Qua đó chúng ta thấy rằng ý niệm “lương tâm” nếu hiểu sát với từ ngữ trong tiếng Latinh hay Đức ngữ thì có nghĩa là “cùng biết“. Nói cách khác, sự hiểu biết và ý thức được san sẻ – với một bản ngã độc lập và tự quyết (chủ quan tính) hay với một trật tự ngoại thuộc chi phối sự nhận thức của bản ngã (khách quan tính). Vậy, lương tâm là sự nhận thức hay ý thức toàn diện và phổ quát gồm hai yếu tố chủ quan và khách quan của một chủ thể.

    Với tư cách là sự ý thức toàn diện của chủ thể nhận thức, lương tâm không còn là một sự tri thức thuần túy của trí năng mà thôi, nhưng là một tri thức của chủ thể toàn diện, nó vươn tới cả lãnh vực siêu hình, lãnh vực tâm linh, vâng, lãnh vực linh hồn con người nữa. Chính danh xưng “lương tâm” đã nói lên ý niệm ấy.

    Trong ý niệm “lương tâm“, phương diện chủ quan của từng cá thể gặp gỡ và hòa hợp với thực trạng của tập thể, của cộng đồng, tức phương diện khách quan. Trong khi đó, nếu chỉ dựa theo sự hình thành khởi đầu ý tưởng của chủ thể, thì lương tâm được coi như mang tính cách thuần túy chủ quan, chẳng hạn khi ta phát biểu “tôi nhận thấy điều đó” hay “tôi cảm nhận thế này.” Qua tính cách tương đối hóa và thiếu sự gắn liền mật thiết với trật tự quy phạm và ngoại cảnh khách quan, chủ quan tính có thể dập tắt thực trạng của khách quan tính ngay từ trong trứng nước. Nói cách khác, một xung đột giữa chủ quan tính và khách quan tính được hình thành và bùng phát.

    Lương tâm là trung tâm điểm của ta, nhưng không do ta tạo nên

    Nếu chân lý hay sự thật được định nghĩa là sự đồng thuận giữa sự nhận thức chủ quan của chủ thể nhận thức với thực trạng khách quan của ngoại cảnh, thì sự xung đột tương khắc giữa chủ quan tính và khách quan tính cần phải được san bằng. Nói cách khác, người ta cần tìm kiếm một hình thái tái nối kết – cũng được gọi là sự thông tin hay sự rèn luyện – của lương tâm có thể giúp từng cá thể có khả năng phản ảnh lại một cách trung thực những quy phạm hiện hành, tức không chủ quan tự cho mình là người duy nhất suy tư và hành xử đúng đắn. Và ngoài sự chấp nhận các điều kiện cần thiết, người ta còn phải luôn khẳng định sự tự do và trách nhiệm, tức cần phải biết sử dụng lý trí trong việc tìm kiếm chân lý. Bởi vì, nếu khi người ta không nhìn nhận chân lý như là mục đích lớn nhất của tính cách hợp lý thực tiễn, thì tất nhiên người ta sẽ không bao giờ coi trọng lương tâm.

    Cái chìa khóa của hình thái tái nối kết được ẩn chứa trong sự tương quan của lương tâm với chân lý. Ai xác tín được rằng giữa lý trí và chân lý luôn có một nền tảng chung, và đồng thời cũng là nền tảng luôn củng cố và đồng hành với lương tâm, tức Thiên Chúa, thì người ấy sẽ tìm được lý do cho việc khách quan hóa. Tuy nhiên sự khách quan hóa này chỉ có hiệu quả nhờ vào chủ thể, tức cá thể sử dụng lương tâm. Điều đó cũng muốn nói rằng sự khách quan hóa ấy tùy thuộc vào ý kiến và quan điểm của chủ thể sử dụng lương tâm.

    Suy luận từ triết học Hy Lạp-Roma thời cổ đại, một nền triết học đã có những ảnh hưởng nhất định trên Kitô giáo, cho tới thời trung cổ, chúng ta sẽ luôn luôn tìm gặp được quan điểm cho rằng lương tâm là thẩm quyền nội tại trong ta, hướng dẫn các tư tưởng và hành động của ta, nhưng lương tâm lại độc lập, chứ không phải chịu sự chi phối của ta. Lương tâm hoạt động trong chính thẩm cung bản ngã của ta, giữa trung điểm của con người ta, nhưng lại không do ta tạo nên, nhưng như là một cái chi xa lạ và độc lập với mọi suy tư, lời nói và hành động của ta. Nhờ thế, lương tâm có thể giúp đỡ ta qua những phán quyết kịp thời, trung lập và khách quan.

    Đối với Kitô giáo thì lương tâm chính là “tiếng nói của Thiên Chúa“, là thẩm quyền luân lý nội tại trong mỗi một người để hướng dẫn toàn diện cuộc sống của ta, từ tư tưởng, lời nói cho tới hành động. Vì thế, lương tâm một đàng rất riêng tư, cá nhân và thân thiết gần gũi với ta, nhưng đàng khác lại cách biệt, độc lập và không để ta chi phối. Vâng, ta có thể làm cho lương tâm mình ra chai đá và sự phán đoán hay tiếng nói của nó trở nên lệch lạc, không còn phù hợp với lý trí và chân lý khách quan nữa, nhưng ta không thể đè nét hay loại bỏ được tiếng nói của lương tâm, dù là tiếng nói ấy lệch lạc, vì nó luôn mang tính chất độc lập. Để sửa đổi tiếng nói lương tâm mình được trung thực, thì ta phải giáo dục và rèn luyện lương tâm cho đúng đắn. Đây là vấn đề quan trọng sẽ được bàn đến sau.

    Người ta có thể nói được rằng những tính chất đối nghịch ấy của lương tâm cũng tương tự như sự quan hệ lưỡng diện mật thiết hay cũng được gọi là sự hiệp nhất thần bí, giữa người Kitô hữu và Thiên Chúa, Đấng họ tôn thờ, nghĩa là giữa tạo vật và Đấng Sáng Tạo, giữa hữu hạn và vô hạn. Vâng, đối với người Kitô hữu, một đàng Thiên Chúa là Đấng bất khả tiếp cận, hay như nhà thần học Tin Lành Rudolf Otto (1869-1937) nói là “Đấng hoàn toàn được che khuất“, nhưng một đàng khác, Thiên Chúa lại tự mặc khải mình ra cho họ như một người trong họ và cư ngụ giữa họ qua mầu nhiệm “Thiên Chúa làm người” của Đức Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa. Nói cách khác, một đàng Thiên Chúa xét về phương diện bản thể của Người, thì Người là Đấng siêu việt, bất khả tiếp cận đối với trí năng con người, vì Người là Thiên Chúa thật, nhưng một đàng khác qua mầu nhiệm “Nhập Thể” của Đức Kitô, Thiên Chúa lại cùng đồng bản thể với con người và cư ngụ giữa họ, tức một người thật như bao người thật khác. Phải chăng đây là điểm đặc thù trong tương quan hy hữu giữa con người và Thiên Chúa đã được Đức Kitô ám chỉ khi Người nói “Thầy đi lên cùng Cha của Thầy và cha của anh em, đi lên cùng Thiên Chúa của Thầy và Thiên Chúa anh em“(3), chứ Người không nói là “Thầy đi lên cùng Cha của chúng ta” và “đi lên cùng Thiên Chúa của chúng ta“? Điều chắc chắn là theo chú giải Kinh Thánh thì dù Đức Giêsu là người thật như mọi người khác khi Người mặc lấy xác phàm, nhưng mối tương quan giữa Người với Thiên Chúa Cha không thể đồng hóa với mối tương quan giữa các môn đệ của Người với Thiên Chúa Cha được.

    Thực tại của sự tương quan đặc thù này “gần gũi nhưng xa lạ, thân thiết nhưng cách biệt” giữa con người nói chung và người Kitô hữu nói riêng với Thiên Chúa được gọi là mầu nhiệm đức tin, tức một chân lý khách quan – vì đã được chính Thiên Chúa, chân lý tối hậu, mặc khải cho ta biết – nhưng lại không thể minh chứng được, vì nó vượt ra khỏi phạm vi mọi phạm trù của trí năng con người. Chính lương tâm là nơi thuận lợi để mầu nhiệm đức tin ấy tự phát huy và tăng triển, cũng như cảm nhận được một cách đặc biệt rằng sự tương quan giữa con người và Thiên Chúa mang tính chất nội tại trong cá vị của người liên hệ, nhưng đồng thời lại có sự giằng co giữa tính chất tuyệt đối của trách nhiệm lương tâm, tức của sự mặc khải, và nguyên tắc bất khả thấu triệt của thực tại vốn được coi như nguyên nhân khơi ra những đòi hỏi và soi sáng trong lương tâm của mỗi người, tuy âm thầm như vô cùng mạnh mẽ, đến nỗi không áp lực nào có thể dập tắt được, mà người ta thường gọi là “tiếng nói lương tâm”, “sự nhắc bảo của lương tâm” hay “sự dằn vặt cắn rứt của lương tâm.”

    Lương tâm là phản ảnh thánh ý Thiên Chúa

    Qua đó, quan điểm cho rằng lương tâm là “tiếng nói của Thiên Chúa” đã nêu lên một thực tại hiển nhiên là ý niệm về Thiên Chúa được hàm chứa trong chính cấu trúc của ý niệm về lương tâm. Hay nói rõ hơn, khi người ta đề cập tới lương tâm, nơi phát xuất tiếng nói của chân lý, thì tất nhiên người ta phải nói đến Thiên Chúa, đệ nhất nguyên lý hay nguồn mạch của chân lý, tức chân lý tối hậu.

    Theo giáo huấn về luân lý công giáo thì một chân lý đạo đức khách quan với tính cách khả nhận thức và tính cách ràng buộc của nó, một đàng, luôn đòi hỏi phải được tuân giữ; nhưng một đàng khác, sự tự do của mỗi cá nhân cũng luôn đòi hỏi phải được tôn trọng, chứ không thể bị áp đặt bởi bất cứ quyền lực ngoại tại nào một cách tùy tiện được. Vậy, chỉ có một thẩm quyền nội tại trong con người mới có quyền đòi hỏi và thúc đẩy con người phải tuân giữ chân lý đạo đức khách quan. Đó chính là lương tâm. Như đã được trình bày ở trên, người ta có thể nói rằng lương tâm là một “thẩm quyền ngoại tại được nội hóa“, là bia đá đã được khắc đậm những quy luật tự nhiên của Đấng Sáng Tạo.

    Tiếp đến, nhờ nguồn mạch của Thánh Kinh, người ta nhận thức được rằng chính Thiên Chúa là Đấng ban hành các giới răn và đồng thời qua lý trí con người Thiên Chúa lại ban cho họ sự hiểu biết để nhận thức được sự cần thiết của các giới răn ấy. Người ta gọi hành động nhận thức được giới luật tự nhiên của Đấng Sáng Tạo như là chân lý khách quan cần phải được vuông tròn là công việc của lương tâm. Qua lương tâm, con người biết khắc phục và hòa hợp được sự tự do cá nhân của mình với chân lý khách quan, và sau cùng là biết khắc phục và hòa hợp được tính chất đạo đức chủ quan của con người với giới luật khách quan của Thiên Chúa. Lương tâm và các luật lệ chân chính không bao giờ chống đối hay phủ nhận nhau, ngược lại, cả hai cùng bổ túc cho nhau và cả hai cùng có chung một nền tảng biện minh trong luật tự nhiên. Đó chính là nền tảng của giáo huấn Công Giáo về luân lý. Sự hòa điệu của lý tính tự lập (qua sự soi sáng của Thiên Chúa) cũng như của tính chất quy phạm ngoại thuộc (được đúc kết nên trong bản tính con người) chính là điều kiện cho lương tâm luôn tự trau dồi và hoàn hảo thêm mãi, một điều mà người ta cũng gọi là sự “giáo dục hay rèn luyện lương tâm“, tức một diễn tiến cần thiết trên đường tiến tới chân lý luân lý đạo đức.

    Như vậy, giáo huấn Công Giáo về luân lý khẳng định rằng lương tâm chịu sự điều khiển và chi phối của Thiên Chúa, nguồn mạch của chân thiện mỹ tuyệt đối, chứ không phải của con người. Nhưng đồng thời giáo huấn ấy lại nhìn nhận sự tác động của lương tâm mang tính chất nội tại trong con người. Đây là giáo huấn đã được dựa trên quan điểm thần học của thánh Thomas Aquinô trong sự cân bằng giữa những yếu tố ngoại thuộc (heterom) nói chung và thần thuộc (theonom) nói riêng (tức các giới luật và ân sủng của Thiên Chúa) và những yếu tố độc lập (tức ý chí và sự tự do của con người). Để hòa hợp và duy trì những yếu tố này giữa Thiên Chúa và con người lại với nhau phải cần đến sự can thiệp của lý trí, nghĩa là nhờ vào sự hướng dẫn của lý trí con người mới có thể khám phá được lý tính thực tiễn của hành động của mình, nói cách khác, chính lý trí  soi sáng cho con người có được sự hiểu biết và nhận thức được chân lý. Ý tưởng này đòi hỏi một sự cân nhắc khôn ngoan và đúng đắn về những luận cứ chủ quan và khách quan. Một sự nỗ lực biết cân nhắc khôn ngoan như thế người ta cũng thường tìm gặp trong các văn kiện của Công Đồng Vatican II khi đề cập tới vấn đề lương tâm và tìm kiếm một sự dung hòa giữa các quan điểm về lương tâm.

    Bởi vì, trong giáo huấn Công Giáo về luân lý, ý niệm “lương tâm” đóng một vai trò rất quan trọng, nên nó đã được đưa ra thảo luận một cách sôi nổi trong các khóa họp Công Đồng giữa các ý kiến trái chiều. Sau cùng hai hiến chế “Ánh sáng muôn dân” (Lumen Gentium) và “Nỗi vui mừng và niềm hy vọng” (Gaudium et Spes) của Công Đồng đã nhấn mạnh một cách đặc biệt đến ý niệm lương tâm và đặt nó vào hàng “Hiến Chương” mang tính chất ràng buộc thần học. Nhờ Hiến Chế mục vụ “Gaudim et Spes” đã tổng hợp được những quan điểm trái chiều nhau, nên người ta đã tìm gặp được trong đó một sự xác định rất rõ ràng về lương tâm, điển hình trong đoạn viết sau đây: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật, con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng bị xét xử theo lề luật ấy nữa (x.Rm 2,14-16). Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ. Lương tâm làm cho con người nhận biết một cách tuyệt vời luật mến Chúa yêu người (x. Mt 22,37-40; Gal 5,14). Trung thàmh với lương tâm, các Kitô hữu phải liên kết với những người khác để tìm kiếm chân lý và giải quyết trong chân lý biết bao vấn đề luân lý được đặt ra trong đời sống cá nhân cũng như trong giao tiếp xã hội. Bởi vậy, lương tâm ngay thẳng càng thắng thế thì những cá nhân và cộng đoàn càng tránh được sự độc đoán mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Tuy nhiên, lương tâm nhiều khi lầm lạc vì bất tri vô khả thắng, nhưng cũng không vì thế mà mất hết phẩm giá. Nhưng không thể nói như vậy khi con người ít lo lắng tìm kiếm điều chân và điều thiện cũng như khi vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng.”(4)

    Định nghĩa về lương tâm trên đây của Công Đồng bao hàm tất cả những gì mà người ta cần phải có để hiểu được quan điểm Công Giáo về lương tâm. Trong câu định nghĩa ấy hàm chứa một thái độ được coi là mang tính chất đặc trưng nhờ sự phổ quát hóa một cách hợp lý các khía cạnh và phương diện của vấn đề, một sự hợp lý về chủ quan tính và khách quan tính và vượt lên trên cả biên giới của tôn giáo hay tín ngưỡng. Nói cách khác, một đàng, sự phán quyết của lương tâm không tùy thuộc vào niềm tin tín ngưỡng của người liên hệ, nhưng một đàng khác, lương tâm không thể hành xử đúng đắn được nếu không có chân lý, nhưng chân lý lại chỉ có nơi một mình Thiên Chúa mà thôi, ngoài Thiên Chúa không có chân lý đích thực, vì Thiên Chúa là chân lý tối hậu.

    Điều đó muốn nói rằng, một người sẽ bị phê phán và xét đoán không vì người ấy là tín hữu Công Giáo hay không, nhưng là vì người ấy đã biết lắng nghe theo tiếng lương tâm của mình và nhờ thế đã sống xứng đáng với nhân phẩm của mình hay không. Tuy nhiên, con người luôn được kêu mời không những phải “làm lành lánh dữ“, nhưng còn phải “tìm kiếm điều chân thật và điều thiện hảo” nữa, nghĩa là Thiên Chúa, để không bị lầm lạc về phương diện luân lý đạo đức do sự vô tri trong việc sử dụng lương tâm. Và trong việc tìm kiếm điều chân thật và điều thiện hảo ấy, con người luôn được Giáo Hội cùng đồng hành và trợ lực. Nhưng sự trợ lực của Giáo Hội không thể thay thế cho sự nỗ lực bản thân của con người được trong việc sống theo lương tâm mình, và như thế, cũng không biện minh được cho sự lầm lẫn không thể tránh được của con người do sự bất cẩn và sao nhãng của mình.

    Vậy, ai muốn đứng vững được trước sự xét xử công minh của Đấng Sáng Tạo, thì phải thực hiện tốt điều này là nỗ lực thực thi giáo huấn Công Giáo về luân lý, dù cho người ấy là tín hữu Công Giáo hay không. Bởi vì giáo huấn Công Giáo về luân lý có đủ thầm quyền để định hướng một cách chắc chắn và trực tiếp nhằm tới chân lý và qua đó hướng dẫn con người đạt tới sự cứu rỗi. Sự tương quan sống động này giữa cộng đồng tôn giáo và đức tin cá nhân của một người hình thành nên một sự liên kết bền vững giữa Thiên Chúa và lương tâm. Như thế, nhờ sự tương quan sống động ấy, Giáo Hội nói chung và Công Đồng nói riêng đã thành công trong một vấn đề mà người ta đã chí lý gọi là điều bất khả tìm gặp được đối với bản tính hữu hạn con người, tức sự cứu rỗi sau cùng. Với tư cách là Cộng Đồng của Thiên Chúa, Giáo Hội Công Giáo quả thực là thầy dạy chân lý và hướng dẫn con người  tìm gặp được chân lý tối hậu. Ở đây, để dễ hiểu hơn, người ta có thể đưa ra một ví dụ điển hình cụ thể để so sánh, chẳng hạn khi một người nào đó được dành cho một căn phòng trong một toà nhà mà viên quản gia đã dự định, vì viên quản gia nắm vững cơ cấu kiến trúc cũng như bản thiết kế của toàn thể toà nhà. Nếu như người ấy chẳng may khi đi ra khỏi phòng của mình và rồi sau đó khi trở lại bị lạc, không còn tìm ra được căn phòng đó nữa và cứ đi mở thử các cửa của những căn phòng khác không dành cho anh ta, thì điều đó không có nghĩa là bản thiết kế hay họa đồ tòa nhà bị vẽ sai hay thiếu rõ ràng, nhưng là do người ấy đã không chịu khó đọc kỹ càng và hiểu được bản thiết kế, cũng như do anh ta đã lơ là và khinh thường bỏ qua những dẫn giải và cắt nghĩa của viên quản gia với vai trò là người dày kinh nghiệm và thấu triệt mọi ngóc ngách của tòa nhà. Ở đây, chính Giáo Hội là nữ quản gia của tòa nhà luân lý mà Thiên Chúa là chủ nhân duy nhất.

    Sự diễn tiến của Công Đồng Vatican II đã thành công trong việc nỗ lực đưa ra một sự dung hòa giữa quan điểm chủ quan và khách quan về lương tâm, và hơn nữa, chủ đề lương tâm còn được nghiên cứu cẩn thận và được trình bày trong những phát biểu công khai của Huấn Quyền, tức những Tông huấn hay Thông điệp của các Đức Giáo Hoàng, đặc biệt Thông điệp “Đấng Cứu Thế” (Redemptor hominis, 1979); “Ánh Rạng Ngời của Chân Lý” (Veritatis splendor, 1993); “Tin Mừng Sự Sống” (Evangelium vitae, 1995) cũng như nền thần học luân lý Công Giáo trong nhiều thập niên liên tiếp sau Công Đồng Vatican II đã chính thức bày tỏ một tinh thần rất cởi mở đối với phương diện cá nhân riêng tư, nhưng đồng thời cũng không quên nhắc nhủ cần phải luôn tôn trọng chân lý khách quan, mà quyền giải thích chân lý khách quan ấy là một yêu sách bất khả nhượng của giáo huấn Công Giáo về luân lý.

    Việc rèn luyện lương tâm

    Điều đó muốn khẳng định rằng Giáo Hội có trách nhiệm giúp đỡ và định hướng cho con người cũng như lương tâm của họ. Một cách cụ thể, đây là một sứ mệnh cao cả của các giáo huấn của Giáo Hội về luân lý. Ngoài ra, Giáo Hội còn luôn phải nhấn mạnh đến bổn phận của lương tâm đối với chân lý khách quan. Vì nhiều khi do những lý do và hoàn cảnh chủ quan cũng như khách quan – như môi trường giáo dục trong xã hội hay sự triền miên dầm mình trong một cuộc sống tội lỗi, v.v…– lương tâm con người có thể bị lệch lạc và không còn đưa ra những phán quyết trung thực phù hợp với chân lý khách quan nữa, nên lương tâm cũng cần phải được rèn luyện, vì “khi đứng trước một chọn lựa, lương tâm có thể phán đoán đúng, hợp theo lý trí và luật Thiên Chúa, hoặc ngược lại, phán đoán sai.”(5). Vì thế, lương tâm con người luôn cần phải được giáo dục và rèn luyện một cách đúng đắn và cẩn thận. Chính Sách Giáo Lý Công Giáo (1993) đã dạy một cách rõ ràng như sau: “Lương tâm phải được rèn luyện và phán đoán luân lý phải được soi sáng. Một lương tâm được rèn luyện tốt sẽ phán đoán ngay thẳng và chân thật. Lương tâm này sẽ đưa ra những phán quyết theo lý trí, phù hợp với điều kiện đích thực như Đáng Sáng Tạo đầy khôn ngoan muốn. Việc giáo dục luơng tâm rất cần thiết cho những người chịu các ảnh hưởng tiêu cực và bị tội lỗi cám dỗ làm theo ý riêng và bỏ những giáo huấn chân thực.”(6)

    Nhưng để rèn luyện cho lương tâm trở nên ngay chính và đúng đắn, hầu lương tâm có thể đưa ra những phán quyết phù hợp với lý trí và luật Thiên Chúa, thì sự rèn luyện hay giáo dục lương tâm ấy nhất thiết cần phải được soi sáng và hướng dẫn bởi chính lời của Thiên Chúa(7). Đây là con đường duy nhất giúp ta có được một lương tâm tốt và ngay lành hầu có thể hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói và hành vị của ta, ngoài ra không có sự lựa chọn nào khác.

    “Lạy Chúa, Lời 
    Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi (Tv 119,105).

    Lm. Nguyễn Hữu Thy

    ______________

    1. Notker III (950-1022), cũng được gọi là Notker Teutonicus, là một Tu Sĩ Dòng thánh Biển Đức, hiệu trưởng trường của Tu Viện tại St. Gallen, ngày nay là một tỉnh thuộc bắc Thụy Sĩ. Ông là một nhà dịch thuật nổi tiếng vào thời trung cổ. Chính Notker là người đầu tiên đã dịch những bình luận của đại triết gia Aristote và các tuyệt tác thời cổ đại ra tiếng Latinh.
    2. Cũng tương tự như thế, trong tiếng Đức từ “Gewissen” xuất phát từ tiếng Đức cổ “giwizzani.” Khởi đầu từ “giwizzani” được phát triển theo thời gian, trước hết thành “gewizzen” và sau cùng thành “Gewissen” như hiện đang được sử dụng trong tiếng Đức. Từ “gewizziani” đã được Notker III diễn dịch từ ý niệm “conscientia” trong tiếng Latinh và nếu theo sát ngữ vững thì có nghĩa là cùng biết. Và Notker đã đổi từ “wizzani” thành “wizzan”, và sau cùng là “wissen”, có nghĩa là biết, hiểu hay ý thức. Còn vần tiếp đầu ngữ “gi” (giwizzani) về sau được đổi thành “ge”, và được thêm vào một từ nào đó để nhấn mạnh hay bao quát hóa ý nghĩa của từ ấy, ví dụ: từ “Berg” có nghĩa là núi, nay thêm tiếp đầu ngữ “ge” vào thành “Gebirge” và có nghĩa là miền núi; hay từ “Wetter” có nghĩa là thời tiết, nay được thêm tiếp đầu ngữ “ge” vào thành “Gewitter” và có nghĩa là mưa bão sấm chớp. Cũng vậy, từ “wissen” có nghĩa là biết hay tri thức, nay được thêm tiếp đầu ngữ “ge” vào thành “Gewissen” và có nghĩa là sự hiểu biết hay tri thức toàn diện và tổng quát. Như vậy, qua chặng đường biến đổi tuần tự như thế, từ “giwizzani” cuối cùng đã trờ thành từ “Gewissen” như đang được sử dụng trong Đức ngữ hiện nay, và có nghĩa là lương tâm, tức sự tri thức bao quát và tổng thể của một người.
    3. Gio-an 20,17: theo bản Kinh Th ánh tiếng Đức “Hausbibel-Einheitsübersetzung.
    4. Gaudium et Spes, số 16.
    5. Sách Giáo Lý Công Giáo, số 1786.
    6. Như trên, số 1783.
    7. xem số 1785.

  • Bảo vệ hôn nhân trong thời đại điên rồ

    Bảo vệ hôn nhân trong thời đại điên rồ

    Bảo vệ hôn nhân trong thời đại điên rồ

    ChiaSeTrongHonNhanMột giáo sư thần học dựa trên luật tự nhiên để lập luận chống lại “hôn nhân” đồng tính.

    Rome , 30/5/2013, ( zenit.org) Ann schneible.

    Những người chống đối “hôn nhân” đồng tính vì lí do tôn giáo đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn mạnh, ngày càng có nhiều các cá nhân và tổ chức lên tiếng ủng hộ “quyền của người đồng tính”, cũng đồng thời lên tiếng chống lại điều mà họ nói là họ bị phân biệt đối xử và loại trừ bởi một lòng tin mù quáng.

    Chưa đầy một tuần kể từ khi Hướng đạo sinh Hoa kỳ bỏ phiếu công khai chấp thuận cho Hướng đạo sinh đồng tính, mặc dù những người lớn sống theo kiểu đồng tính luyến ái vẫn còn bị cấm đoán giữ các vị trí lãnh đạo. Những người chủ trương “hôn nhân” đồng tính khen ngợi quyết định này và họ coi đó như là một bước tiến hướng tới chấm dứt sự kì thị trong các tổ chức tôn giáo.

    Hồi đầu tháng này, Gary Meier, một linh mục thuộc giáo phận St. Louis, Missouri ở Hoa kỳ, đã tự nhận mình là tác giả của ấn phẩm nặc danh Những tiếng nói không tên tuổi: những suy nghĩ của một linh mục công giáo đồng tính (ấn bản thứ hai đã được tái bản dưới tên thật của ông). Meier, hồi năm ngoái đã xin nghỉ mục vụ ở Nhà thờ Saints Teresa và Bridget thuộc St. Louis, đã công khai phê bình điều ông cho là lập trường “chống đồng tính” của Giáo hội.

    Những người chủ trương “quyền của đồng tính” thường xuyên xử dụng phối hợp kinh nghiệm cá nhân và số liệu thống kê để bảo vệ quan điểm của họ. Tuy nhiên, phương pháp này, dưới sự giám sát của các nhà nghiên cứu như Paul Gondreau, giáo sư thần học Công giáo thuộc Providence College, Rhode Island, người đã nói những lập luận như thế thì nặng cảm tính hơn là lí trí.

    Mặc dù, lập trường của nhiều người chống “hôn nhân” đồng tính dựa trên đức tin tôn giáo, nhưng mới đây Gondreau đã phát biểu về “hôn nhân” đồng tính tại Viện Acton ở Rome, và cho rằng việc xây dựng luật về “hôn nhân” đồng tính là bất chấp không chỉ đức tin mà còn cả lí trí.

    Gondreau nói với Zenit rằng: “Người ta rất thường hay cho rằng, chống “hôn nhân” đồng tính, hay bảo vệ hôn nhân truyền thống, nhất thiết phải dựa trên đức tin, trong khi nhiều người vẫn có lập trường như vậy dẫu họ không là tín hữu”.

    Chẳng hạn như Đức Giáo hoàng Beneđictô là người “đã không mệt mỏi nhắc nhở thế giới rằng cấu trúc tự nhiên của hôn nhân được thiết lập dựa trên bản tính tự nhiên của con người, điều đó lí trí có thể hiểu được và hợp lương tri của toàn thể nhân loại”.

    Gondreau nói “Lương tri nói với chúng ta rằng, chỉ cần tôi để ý đến bản chất của những lá phổi của mình – tôi không thể hít ngửi bất cứ cái gì tôi muốn, bất kể mùi của nó như thế nào – cũng thế, tôi cần tôn trọng bản chất tính dục của tôi và xử dụng nó với một cách thế như đã được ấn định”.

    “Bạn không thể cứ xử dụng thiên nhiên cách tùy tiện không thích đáng, chỉ cần nhìn vào thiết kế sinh học của thân xác con người ta sẽ thấy khá rõ cơ quan sinh dục được dựng nên để làm gì”.

    Tuy nhiên, những người ủng hộ “hôn nhân” đồng tính lại cho rằng thiết kế sinh học “không thích đáng, chúng ta có thể vứt bỏ nó như thể nó chẳng hề có một giá trị luật buộc nào ”.

    Gondreau tiếp, “chúng ta đang phải đối mặt với quan điểm đối nghịch lại với tính nhân văn, chúng ta đang đối mặt với quan điểm đối nghịch lại với hạnh phúc, với luân lí. Những người ủng hộ hôn nhân đồng tính dựa trên quan điểm cho rằng lạc thú là nguyên lí thiện hảo mà tính dục nhắm đến, và cho rằng sự ưng thuận là tiêu chuẩn phải có để hoạt động tính dục được coi là đạo đức”.

    Giáo hội Công giáo công nhận lạc thú này là một điều tốt khách quan, nhưng phản bác đó “không phải là điều thiện hảo đệ nhất mà hoạt động tính dục nhắm đến… Nói cho đúng, có hai mục đích cao cả hơn mà hoạt động tính dục hướng tới một trật : đó là sự sinh sản và tình yêu hợp nhất. Thiên nhiên – cái cách thức mà chúng ta được tạo dựng, điều mà sự giao hợp tính dục được tiên định – nhắm tới những mục tiêu cùng lúc, với ý định  kết hiệp chúng lại với nhau”.

    Giáo sư nêu lên rằng: tuy nhiên, bầu khí văn hóa hiện nay đang gây khó khăn cho việc trình bày bất kì ý kiến nào bảo vệ hôn nhân truyền thống dựa trên lí trí, bởi lẽ những ai cố gắng làm điều ấy bị buộc phải im lặng giữa những cáo buộc cho là mình cố chấp, đức tin mù quáng. Gondreau nói, “họ cho là vấn đề không có lập luận nào khả dĩ phản bác lối sống đồng tính hay hôn nhân đồng tính, mà vấn đề chỉ là sự kì thị”.

    Tâm hồn người ta đã khép lại trước vấn đề hôn nhân đồng tính, giáo sư nói tiếp, và điều này ngăn cản người ta tiếp cận vấn đề theo lí trí. Ông trích dẫn Tôma  Aquinô — người đã viết rằng con người có thể trở nên vô cảm đối với cảm thức luân lí chung được ghi khắc trong bản tính con người – chính cái cảm thức luân lí cũng tỏ lộ cho ta thấy rằng hành vi tính dục đồng giới là không thích hợp với cấu trúc thiên nhiên đã định cho con người. Sự vô cảm này có thể là hệ quả do “hành động xấu xa của chúng ta, qua những cách sống tội lỗi của chúng ta. Nhưng chúng ta cũng có thể vô cảm do nền văn hóa trong đó chúng ta đang sống”.

    “ Trước hết và trên hết chúng ta cần cầu nguyện,” ông nói, “Điều cần thiết ở đây, khi con tim đã khép lại, là sự hoán cải. Nhưng chúng ta vẫn cần có một lập luận, và thách thức những ai không muốn tham gia vào tranh luận dân sự, vào cuộc đối thoại dân sự”.

    Vũ văn Kích –Lữ Y