Mùa Vọng là khoảng thời gian lắng đọng, mời gọi mỗi người Kitô hữu dừng lại để chuẩn bị tâm hồn đón chờ Chúa đến. Không chỉ bằng những lời cầu nguyện hay những thực hành đạo đức quen thuộc, mà còn được sống cách cụ thể qua những bước chân lên đường, đem tình yêu của Chúa đến với những hoàn cảnh còn nhiều khó khăn và cần được nâng đỡ. Những ngày cuối cùng của Mùa Vọng, tôi được cùng Quý Dì và các chị có một chuyến tông đồ đến với những gia đình khuyết tật. Trong bầu khí chờ đợi Chúa đến, chuyến đi ấy trở thành một cuộc gặp gỡ rất đặc biệt, nơi tôi được chạm đến những mảnh đời mang nhiều đau khổ nhưng cũng chan chứa yêu thương.
Khi bước chân vào những căn nhà trọ đơn sơ nhưng thật ấm cúng, tôi bắt gặp những con người mang trên mình những khiếm khuyết về thể xác, nhưng nơi họ lại toát lên một nghị lực sống mạnh mẽ và một niềm tin đơn sơ mà sâu sắc. Có những nụ cười rất hiền, có những lời chào tuy ngắn ngủi nhưng ấm áp lạ thường. Tôi được lắng nghe câu chuyện của gia đình cô chú. Cô thì mang trên mình căn bệnh teo cơ, không đi lại được. Trước đó, cô còn nhìn thấy thì cô còn đi bán vé số nuôi gia đình trên xe 3 bánh. Thế nhưng, căn bệnh tiểu đường đã làm mắt cô dần không nhìn thấy được nữa, cô vẫn mang trên mình những nụ cười tươi rói. Còn chú thì mang trên mình khiếm khuyết không nhìn thấy vì căn bệnh bẩm sinh. Hai con người đều mang trên mình những căn bệnh bẩm sinh và rất khó khăn trong hoạt động sống. Vậy mà nơi họ, tôi không thấy sự oán trách hay tuyệt vọng, trái lại là một tinh thần lạc quan và một niềm phó thác âm thầm nhưng vững bền. Trong những giới hạn của bệnh tật và nghèo khó, cô chú vẫn yêu thương, đỡ nâng và nương tựa vào nhau mỗi ngày. Và cô chú có một người con trai khá thành đạt và yêu thương ba mẹ, anh không nỡ lập gia đình vì sợ không chăm sóc được cho ba mẹ. Cô nói “ nó nói nó lấy vợ rồi lại mang tình thương cho vợ, rồi không quan tâm ba mẹ được nhiều nữa”. Không chỉ vậy, mỗi lần đi lễ, anh đều đưa ba đến nhà thờ trước, rồi quay về đưa mẹ đi sau. Chính sự hy sinh thầm lặng ấy khiến tôi không khỏi xúc động. Trong một xã hội hiện đại như ngày nay, nhiều người mải mê tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, người con trai ấy đã chọn ở lại, chọn yêu thương và phụng dưỡng cha mẹ như một bổn phận thiêng liêng. Nơi gia đình nhỏ bé ấy, tôi cảm nhận rõ ràng một tình yêu rất thật, không ồn ào nhưng bền bỉ, được xây dựng trên sự hy sinh và lòng hiếu thảo.
Những câu chuyện tưởng chừng như chỉ dừng lại ở sự hài hước. Nhưng không! Tận sâu bên trong là những bài học đắt giá dành cho tôi. Cô kể “chú đã từng suýt mất mấy lần, nhưng Đức Mẹ luôn nâng đỡ và bảo vệ chú”. Nghe những lời ấy, tôi cảm nhận được một niềm tin rất thật, được tôi luyện qua đau khổ và thử thách. Giữa những lần đối diện với sự sống và cái chết, cô chú không đánh mất niềm hy vọng, nhưng càng gắn bó hơn với Đức Mẹ và phó thác cuộc đời mình trong bàn tay yêu thương của Người. Chính niềm tin đơn sơ ấy đã chạm đến trái tim tôi. Tôi nhận ra rằng đức tin không phải là khi cuộc sống êm đềm, mà là vẫn tin tưởng ngay cả khi mọi sự trở nên mong manh nhất. Qua câu chuyện của cô chú, tôi học được cách nhìn đau khổ bằng một ánh nhìn khác: “Con không xin cho mình hết đau khổ, nhưng xin cho con được đau khổ trong bình an”.
Mỹ Hạnh, Thanh Tuyển sinh MTG. Thủ Đức
